Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:10:49 AM



Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:10:49 AM
Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm xuất bản: 1994
Số hóa: macbupda
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thành viên: tuaans, daibangden, crawling0805, doiviendukichmat trong việc số hóa cuốn sách này.

Chỉ đạo nội dung:
BAN TỔNG KẾT CHIẾN TRANH
THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chủ biên:
TRẦN HẢI PHỤNG - LƯU PHƯƠNG THANH

Biên soạn:
HỒ SƠN ĐÀI - TRẦN PHẤN CHẤN

Với sự tham gia:
NGUYỄN ĐỨC Y - PHẠM VĂN THẮNG
TRẦN THANH ĐẠT - LỮ CÔNG TRỰC
NGUYỄN ĐỨC MINH - NGUYỄN TỨ PHƯƠNG

Chủ nhiệm công trình:
NGUYỄN VĂN TRÍ


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:11:56 AM
LỜI GIỚI THIỆU

Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1975 là lịch sử chiến tranh cách mạng gắn liền với hai cuộc kháng chiến cứu nước thần thánh của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược. Nó chứa đựng những đặc điểm chung của cuộc kháng chiến toàn quốc lại vừa mang những nét riêng của một vùng đất là một thành phố lớn, một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở phía Nam của Tổ quốc.

Đối với kẻ thù, Sài Gòn là một đại bản doanh của đội quân xâm lược, là thủ đô của các chế độ ngụy. Hơn ở đâu hết, chúng ra sức kìm kẹp, khủng bố với mọi thủ đoạn tinh vi, tàn bạo nhất, hòng biến nơi đây thành hậu cứ an toàn, thành sào huyệt bất khả xâm phạm của chúng. Thành phố Sài Gòn là nơi thực dân Pháp nổ súng gây chiến trước tiên, cũng là nơi đế quốc Mĩ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh xâm lược.

Đối với ta, Sài Gòn là nơi tập trung dân cư đông đúc, gồm đủ các thành phần xã hội (công nhân, nông dân, bình dân thành thị, học sinh, nhân sĩ trí thức và tư sản dân tộc), vốn giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm được hun đúc và thử thách lâu dài qua nhiều thời kì khác nhau của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa lí chi phối, Sài Gòn là nơi đặc biệt nhạy cảm với mọi diễn biến chung của thời cuộc, và mỗi biến động của nó đều có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, ra cả nước, và ở một chừng mực nào đó, ra thế giới. Đây là nơi mở đầu cũng là địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng trong suốt 30 năm (1945-1975). Cuộc đấu tranh chống xâm lược ở Thành phố Sài Gòn vì vậy diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, và thu hút sự tham gia không chỉ toàn thể quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định mà còn có lực lượng của toàn miền, của cả nước. “Cả nước chiến đấu vì Sài Gòn và Sài Gòn chiến đấu vì cả nước, cùng cả nước” là bản anh hùng ca tuyệt đẹp về truyền thống đoàn kết keo sơn gắn bó, về sức mạnh dời non lấp biển của nhân dân ta trong thời điểm vận nước đang trải qua những thử thách nghiêm trọng, mang tính chất sống còn.

Từ nhiều năm nay, Ban Tổng kết chiến tranh Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đồng thời với việc triển khai công tác tổng kết về hai cuộc kháng chiến vừa qua, đã tổ chức biên soạn công trình lịch sử vô cùng quan trọng này. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng. Nó chẳng những góp phần sưu tầm, giữ lại nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý báu, qua đó đời đời ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc, của hàng triệu đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từng sống và chiến đấu trên mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, mà còn góp phần bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc về truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu cho các thế hệ trẻ hiện nay và mai sau. Đồng thời, những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ trong các cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại vừa qua mà công trình này đề cập, chắc chắn sẽ rất bổ ích đối với mỗi chúng ta ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong cuốn sách này, các tác giả đã cố gắng phản ánh một cách có hệ thống và toàn diện cuộc chiến tranh nhân dân chống xâm lược ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định khắc họa những yếu tố truyền thống dẫn tới thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược vừa qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch.

Cuốn sách được hoàn thành và ra mắt bạn đọc vào đúng dịp quân đội ta tròn 50 tuổi. Tôi mong muốn công trình này là nén hương thành kính dâng lên anh linh đồng bào và chiến sĩ Thành phố đã anh dũng hi sinh, là bó hoa tươi thắm gửi tặng các gia đình liệt sĩ, gia đình có công trong kháng chiến, các đồng chí thương binh và toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ từng hoạt động, chiến đấu trên mảnh đất Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định cũ, nay là Thành phố Hồ Chí Minh quang vinh của chúng ta!

Mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, bản thảo lại được nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo chỉ huy của Thành phố, nhiều cơ quan và cán bộ khoa học đọc, góp ý sửa chữa bổ sung, cuốn sách này vẫn không thể nào ghi được hoàn toàn đầy đủ, càng không thể nào ghi tuyệt đối chính xác từng chi tiết của lịch sử Thành phố trong 30 năm chiến tranh ác liệt vừa qua, và chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi hoan nghênh cố gắng của các tác giả và xem đây như là một cơ sở ban đầu cho quá trình tiếp tục chỉnh lí bổ sung, hầu tiến tới có được một công trình lịch sử xứng đáng với những gì mà lịch sử Thành phố đã và đang có.


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7-1994

VÕ TRẦN CHÍ
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:13:21 AM
MỞ ĐẦU

SÀI GÒN - CHỢ LỚN - GIA ĐỊNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ngày nay, gồm phạm vị đất thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Chợ Lớn lúc Cách mạng Tháng năm 1945 thành công.

Trung tâm quần cư sầm uất ngày nay đã mang nhiều tên khác nhau qua các thời kì lịch sử: Bến Nghé, Phiên Trấn Dinh, Tân Bình huyện, Gia Định thành, Gia Định kinh, Gia Định trấn rồi lại Gia Định thành, Phiên An thành, Sài Gòn.

Đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh ba mươi năm hào hùng của dân tộc ta, Sài Gòn - Chợ Lớn, Sài Gòn - Gia Định đã mang những tên: thành phố, đặc khu, quân khu, thành… trong hệ thống tổ chức chiến trường, lấy Sài Gòn làm trung tâm, có giới hạn từng lúc thay đổi theo nhiệm vụ, yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, đồng thời cũng đã có những thay đổi rất lớn về hình thể các mặt.

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ở vào vị trí chếch hướng Tây Nam của miền Đông Nam Bộ, Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Tây và Nam giáp tỉnh Long An, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam ăn thông ra biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo tổ chức hành chính hiện nay, thành phố có 12 quận nội thành (1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận) và 6 huyện ngoại thành (Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ).

Thành phố ở vào 10o, 38’ - 11o, 10’ vĩ độ Bắc, 106o 22’ - 186o 54’ kinh độ Đông. Diện tích 2.828,9km2 (239km2 nội thành, 1889km2 ngoại thành).

Trung tâm thành phố cách biển Đông 50km đường chim bay, cách thủ đô Hà Nội 1730km đường bộ. Thành phố có 12km bờ biển. Cao độ trung bình so với mặt biển là 5,3m. Vùng đất phía bắc thành phố (Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức) có độ cao 10 - 25m, vùng trung tâm thành phố từ 5 - 10m, vùng thấp phía Nam và Tây Nam từ 2 - 0,5m.

Cao trình trên các vùng với những quan sát địa chất hiện lên điều rất quan trọng để nghiên cứu tiền sử của thành phố: nằm trên lằn ranh giới giữa hai tầng phù sa cũ và mới ăn từ Tây Ninh xuống Thành phố và từ Thành phố xuống Phước Lễ - Long Điền (Bà Rịa), và đại bộ phận đất đai thành phố là cùng một địa mạo với miền Đông Nam Bộ (vùng phù sa cổ), còn về phía Nam thành phố thì về cơ bản cùng một địa bạo với miền Tây Nam Bộ (vùng phù sa mới).

Nhìn tầm rộng, thành phố nằm ở vị trí trung tâm giữa đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên. Điều này quyết định vị thế thiên nhiên của thành phố trong tổng thể địa hình Nam Đông Dương. Trong chiến tranh giải phóng, đất và rừng miền Đông đủ đảm bảo hoàn chỉnh hệ thống căn cứ kháng chiến cả về chiến lược lẫn chiến thuật tiếp cận Thành phố, nơi địch đặt các cơ quan đầu não và là sào huyệt cuối cùng của chúng.

Rừng miền Đông bằng phẳng, tuy không dày đặc, nhưng kéo dài liên tục từ phía Bắc Tây Ninh, Sông Bé dọc biên giới Campuchia sang tận vùng ven biển Đông, vừa có chiều sâu của bản thân, vừa có lưng dựa Trường Sơn và rừng Nam Đông Dương. Từ những căn cứ Dương Minh Châu, chiến khu Đ… có thế vững chắc liên hoàn có thể thần tốc tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn. Trong thế chung của miền, các chiến khu lớn đó vươn sâu đến từng khu vực chung quanh Sài Gòn - Gia Định bằng các căn cứ chiến thuật. Không kể “căn cứ lòng dân” trong nội đô, một hệ thống lõm căn cứ với địa hình thiên nhiên đa dạng tiếp cận thành phố, những “căn cứ vệ tinh”, lõm du kích… hình thành thế trận bao vây, áp sát đầu não địch: đồn điền cao su, Rừng Sác, rừng Bời Lời, Củ Chi, tam giác An Điền - An Tây - An Thành, các lõm rừng Hắc Dịch, bưng sáu xã Thủ Đức, lòng chảo Nhơn Trạch, vườn Thơm Bà Vụ… những vườn cây ăn trái của Bình Chánh, Hóc Môn, Gò Vấp, Lái Thiêu, Thủ Đức, Long Thành, Thạnh Lộc, An Phú Đông…

Cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua cho thấy dải căn cứ chiến thuật bao quanh Sài Gòn là vùng tranh chấp quyết liệt giữa lực lượng phản cách mạng chiếm đô thị làm sào huyệt, với lực lượng cách mạng lấy nông thôn, rừng núi làm căn cứ. Ở vị trí trung gian, lực lượng làm chủ vùng rừng xen kẽ đồn điền cao su là lực lượng chiếm ưu thế để uy hiếp đối phương. Ở vị trí “sân sau” sào huyệt kẻ thù, Rừng Sác ngập nước, một “trận đồ” sông nước đảo triều hoang vu rộng trên 60.000 ha bao trùm sông Lòng Tàu, con đường độc đạo cho tàu đại dương từ Sài Gòn thông ra biển. Với thế hiểm của vùng ở vị trí “đấm là trúng” đối với sào huyệt kẻ thù, Rừng Sác trở thành chiến khu trên mặt nước mặn nổi tiếng trong lịch sử chống xâm lăng: những “năm căn”, “ba trại” của Trương Định, chiến khu Rừng Sác, đặc khu Rừng Sác trong chiến tranh ba mươi năm… nơi mà những tên lính Mĩ đã gặp phải “một cuộc chiến đấu kì lạ trong một cuộc chiến tranh kì lạ” (“Tường trình người lính” của Westmoreland, đoạn nói về Rừng Sác).

“Tam giác sắt”, một cái tên gọi do quân viễn chinh đặt trong chiến tranh vừa qua để chỉ một vùng đất “căn cứ của Việt Cộng” chỉ cách Sài Gòn không tới 40km về phía Tây Bắc, thuộc ba huyện Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, cái gạch nối giữa hai vùng chiến khu nổi tiếng của miền Đông, Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, có địa hình xen kẽ nhiều dạng về hình dáng: làng xóm, ruộng rẫy, vườn tược, sông và rừng, tạo nên thế liên hoàn “hai chân ba mũi” trong chiến tranh cách mạng mà quân địch đã tốn bao nhiêu sắt thép, sinh mạng không phá vỡ nổi. Một người Mĩ thừa nhận: “Vị trí này mạnh ở chỗ trên mặt đất thì hầu như không thể nào xâm nhập được, mà ở dưới mặt đất thì có một hệ thống hầm hào vô cùng phức tạp. Đây là một dinh lũy (của lực lượng cách mạng), với đầy đủ ý nghĩa của nó”, “một mũi tên đáng sợ chĩa thẳng vào Sài Gòn”. “Hệ thống hầm hào phức tạp” đó chính là hàng trăm ki-lô-mét địa đạo, một công trình của ý chí độc lập, tự do mà nhân dân Củ Chi đã tạo dựng nen suốt mấy mươi năm.

Bản thân Sài Gòn là một hải cảng quan trọng. Sông Sài Gòn đổ ra các đoạn Nhà Bè (16km), Lòng Tàu (33km), Ngã Bảy (16km), có độ sâu có thể tiếp nhận tàu biển trên 30 ngàn tấn - một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố ở sâu trong nội địa.

Nhìn cửa bể Cần Giờ người ta hiểu tại sao Bến Nghé xưa kia đã được khách nước ngoài ca ngợi là cánh cửa lớn của Việt Nam mở ra Thái Bình Dương, tại sao hồi thế kỉ 18, hai lần Nguyễn Huệ lấy thành Gia Định của Nguyễn Ánh đều ngược sông Lòng Tàu, tại sao hồi thế kỉ 19 quân Pháp và Tây Ban Nha lại cũng chọn ngả sông này làm con đường thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn… và tại sao cũng lại trên khu vực đầu sông Lòng Tàu, Mĩ đã xây dựng những kho tàng chiến tranh lớn nhất Đông Dương.

Cảng Sài Gòn nằm sâu trong lòng đất liền 80km theo đường sông, nhưng lại có bến Rạch Dừa ở gần cửa biển là nơi có thể phát triển thành hải cảng lớn. Sau năm 1954, cảng Sài Gòn có quân cảng dài 2km, 11 cầu tàu và thương cảng dài 1991m, 6 bến, 14 cầu tàu, khả năng tồn trữ 48.000 tấn trong 3 tháng. Cảng Nhà Bè cách cảng Sài Gòn 10 hải lí, có kho chứa xăng dầu 63.000m3. Khi quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, trên sông Sài Gòn - Nhà Bè lại hình thành thêm 6 cảng mới thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự. Với mặt nước tự nhiên chiếm 29.000 ha trên toàn khu vực, hệ thống đường sông đảm bảo thông thương từ Sài Gòn lên miền Đông, xuống miền Tây, sang Campuchia.

Thủy triều có ảnh hưởng đến lưu thông đường sông, gồm 2 loại: thủy triều nửa ngày (khoảng cách thời gian giữa hai lần thủy tiên lên cao nhất là 12 giờ 25 phút), thủy triều hỗn hợp (khoảng cách trên là 24 giờ, biên độ 3m, mực nước trung bình 0,17m.

Thành phố là nơi gặp gỡ đầu mỗi của nhiều xa lộ, quốc lộ, liên tỉnh lộ… ở khu vực Nam Đông Dương, đảm bảo lưu thông từ Sài Gòn ra miền Bắc, đi các tỉnh, lên Lào và Campuchia. Những con đường huyết mạch sống còn của Đông Dương đều qua Sài Gòn: quốc lộ số 1 Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh, lên ải Bắc, xuống miền Tây, quốc lộ 13 lên Campuchia, Lào, quốc lộ 22 lên Campuchia, xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa là đường vận chuyển lớn bổ sung quốc lộ 1 qua các cầu trọng tải 50 tấn (Sài Gòn, Rạch Chiếc, Đồng Nai). Hệ thống cầu vào các cửa ngõ thành phố có trọng hạng đảm bảo xe tăng, tên lửa ra vào nội ngoại đô an toàn.

Sân bay Tân Sơn Nhất cách trung tâm thành phố 7km, là một trong 6 sân bay loại 3 trên toàn miền Nam (sân máy bay phản lực có thể hạ cánh và có đủ phương tiện cho ngày đêm, mọi thời tiết), đứng vào loại lớn trên thế giới, nơi quá cảnh của các đường bay quốc tế qua khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đã có thời 20 hãng hàng không thương mại quốc tế sử dụng sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay có thể tiếp nhận hàng trăm máy bay phản lực, quân sự và dân sự hạng nặng lên xuống trong một ngày.

Khí hậu thành phố nóng ẩm, chịu ảnh hưởng gió mùa, thuộc vùng khí hậu gần biển, nhiệt độ trung bình 27oC với biên độ 3o8C, ẩm độ 18,5%, lượng mưa trong năm 1779mm. Thời tiết nói chung thuận hòa, ít ngập lụt.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:15:27 AM
*
*   *

Thành phố Hồ Chí Minh còn rất trẻ, chưa đầy 300 năm, nhưng đô thị này đã hình thành trên một vùng văn hóa rất xưa.

Cư dân Sài Gòn - Gia Định gốc từ nhiều vùng trên đất nước Việt Nam đến đây. Trừ một số có tiền của, quyền thế, đi khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn, những con người đi xa là những nông dân cùng khổ, những kẻ bị tội lưu đày, những binh lính sau cuộc viễn chinh không còn đường trở lại… đã giã từ những “khuôn lũy tre” không chỉ để “tha phương cầu thực” mà còn để đi tìm tự do. Miền đất mới vẫy gọi những con người có chí mạo hiểm.

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đã trải Đồng Nai đã từng.

Và ở đó dường như họ đã bỏ lại đằng sau mình những gì quá nặng nề, những xiềng xích, tập tục nho giáo đã tồn tại hàng bao thế kỉ.

Ở xứ đất rộng người thưa, buổi đầu chim trời cá nước, những người đi xa vốn ít nhiều có đầu óc mạo hiểm phát huy được cái vốn vô giá mang theo là niềm tự hào dân tộc có bốn ngàn năm lịch sử, đã từng thắng giặc Hán, Tống, Nguyên, Minh, từng chế ngự sông Hồng, sông Mã. Niềm tự hào dân tộc trên đất mới, hoàn cảnh mới đã hình thành nét đặc sắc trong tính cách: tâm lí năng động và hào hiệp, ít chuộng hình thức của những con người “tứ chiếng”, tính khí khảng khái, trung thực, “trọng nghĩa khinh tài”, sĩ khí hiên ngang.

Trải qua vài thế kỉ trước khi quân “bạch quỷ” kéo đến, mảnh đất này đã ghi bao chiến công chống xâm lược và chống phong kiến phản động: 4 lần quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh tan tác quân Nguyễn Ánh (từ năm 1777 đến năm 1785), một trận Rạch Gầm - Xoài Mút chỉ trong 1 ngay “quân Xiêm khi đi cả thảy lẫn bộ 5 vạn chỉ còn hơn 1 vạn”.

Tháng 2 năm 1859, ngay từ khi đặt chân lên đất Sài Gòn, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã phải đối đầu với lực lượng 5800 nông dân Gia Định gậy gộc giáo mác tập hợp cùng quân triều đình dưới sự chỉ huy của các sĩ phu yêu nước, quân xâm lăng rơi vào tình thế bị bao vây 1 năm trời “Sĩ phu và dân chúng liều mình đứng lên, khảng khái chịu chết không kể xiết được…, (Nguyễn Thông), “Gươm giáo dùng bằng lưỡi dao phay… trong tay cầm một gậy tầm vông mà chọi với súng sắt tàu đồng” (Nguyễn Đình Chiểu). Quân Pháp phải trả một giá đắt mới lấy được đồn Chí Hòa dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương (từ năm 1859 đến năm 1861). Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau, đứng đầu là các sĩ phu yêu nước Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Đạt… ở miền Đông, phối hợp với các cuộc khởi nghĩa ở đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, đốc binh Kiều, Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Tòng… Khi thực dân Pháp đặt xong ách đô hộ ở Nam Kì không có nghĩa là các phong trào đã chấm dứt. Cuộc khởi nghĩa “18 thôn vườn trầu” năm 1886 do Phan Công Hớn và Phan Công Bường tổ chức là một trong những chứng minh. Chỉ một đêm 30 Tết, nghĩa quân đã đốt trụi đồn Hóc Môn, trừng trị tên đốc phủ Việt gian Trần Tử Ca. Đầu thế kỉ hai mươi, phong trào yêu nước tiếp tục nổ ra: phong trào Phan Xích Long và Thiên Địa Hội (năm 1913), các phong trào Duy Tân, Đông Du (từ năm 1925 đến năm 1926), đảng Thanh Hoa (Thanh niên cao vọng đảng) của các nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn An Ninh, Võ Công Tồn… Do hạn chế lịch sử, các cuộc khởi nghĩa, các phong trào ấy đều thất bại, nhưng đã chứng minh câu trả lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực trước những lời dụ dỗ của tên thống đốc Chier “Bao giờ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

Đất Sài Gòn là nơi sinh ra và hun đúc nhiều nhân vật văn hóa, chính trị lớn: Võ Trường Toản bậc “phu tử” miền Nam, Trịnh Hoài Đức, một trong “Gia Định Tam gia”, tác giả tập sách quan trọng “Gia Định thành thông chí”, Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ yêu nước kiệt xuất, Nguyễn Cư Trinh nhà cai trị, nhà văn có tài. Sĩ phu “mang bút tòng quân” đánh giặc và hun đúc sĩ khí con người trên đất mới: Nguyễn Thông, Hồ Huân Nghiệp, Võ Duy Ninh, Trần Xuân Hòa, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị… Ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” tỏ rõ khí phách, tâm hồn, “hào khí Đồng Nai” giữa những tháng năm đau thương mà oanh liệt.

*
*   *

Trên đất Nam Kì 70% nông dân không có đất cắm dùi, 80% đất đai trong tay các điền chủ, thực dân Pháp thực hiện một chính sách thuộc địa gọi là “ưu đãi”, hòng tách Nam Kì và Sài Gòn ra khỏi tổng thế đất nước dựa vào lập luận đơn giản: miền đất khai phá gồm dân lưu tán chống đối chế độ vua chúa và địa chủ hà khắc sẽ tiếp nhận không mấy khó khăn “chế độ thuộc địa” với những điều kiện sinh hoạt “cao hơn”. Một thế kỉ sau đế quốc Mĩ cho “nhập cảng” chính sách thực dân mới với cùng một ảo vọng như vậy.

Lịch sử sẽ chứng minh kết quả trái ngược suy tính của những đầu óc thực dân.

Dân số Sài Gòn - Gia Định từ 317.000 cuối thế kỉ 19 lúc Pháp mới đặt ách đô hộ, lên non nửa triệu năm 1940, gần 2 triệu năm 1954 rồi 4 triệu năm 1975. Như vậy trong 45 năm từ kết thúc chiến tranh 30 năm trở về trước, dân số tăng gấp 8 lần.

Sự tăng dân số nhanh từ năm 1954 đến năm 1975 là một hiện tượng đáng chú ý. Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế công thương nghiệp và của các ngành phục vụ chiến tranh, do việc mở rộng các căn cứ quân sự của địch, do mở rộng đô thành và đặc biệt do chiến tranh khốc liệt, lâu dài tàn phá nông thôn… nhân dân các nơi đổ về thành phố ngày một đông. Từ hơn 1 triệu rưỡi trước năm 1954 - 1955, dân số Sài Gòn đã lên 2.074.000 người vào cuối năm 1960, 3 triệu vào năm 1970, 4 triệu vào năm 1975. Một bộ phận lớn nông dân đã trở thành công nhân và lao động làm thuê, làm cho lực lượng công nhân và lao động thành phố tăng nhanh và chiếm tỉ lệ cao nhất. Tiếp sau chính sách “Nam Kì thuộc địa” của thực dân Pháp, sự “nhập cảng” chủ nghĩa tực dân mới và việc Mĩ cố tạo ra một tầng lớp xã hội gắn liền với nó, Sài Gòn trở nên điểm tập trung giai cấp tư sản - đặc biệt là tư sản mại bản quan liêu quân phiệt, tư sản mới hình thành từ trong hàng ngũ sĩ quan và ngụy quyền cao cấp - bọn địa chủ phản động tay sai. Quyền lợi của chúng đối lập với quyền lợi của dân tộc, càng gắn liền với đế quốc xâm lược.

Một đặc điểm đáng chú ý khác của Sài Gòn là sự hiện diện cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn. Với khoảng hơn nửa triệu người, số bà con người Hoa ở đây chiếm gần một nửa tổng số người gốc Hoa ở Việt Nam. Bên cạnh số quân lính triều nhà Minh của Trung Hoa chạy sang vào thời Mãn Thanh, phần đông họ là con cháu của những người lao động nghèo khổ, không chịu nổi cảnh cơ cực, khốn cùng ở đất nước Trung Hoa nửa thuộc địa nửa phong kiến, quân phiệt, cát cứ, nội chiến triền miên, buộc phải rời bỏ quê hương sang đất nước Việt Nam làm ăn. Qua quá trình đấu tranh và phát triển, khối người Hoa này dần dần phân hóa thành các giai cấp khác nhau. Bên cạnh đại đa số bà con lao động, dân nghèo, thủ công, một số đảng người Hoa là trung thương, tiểu thương, tiểu chủ nặng lo buôn bán làm ăn, không muốn dính líu chính trị. Trong số đó có người trở nên giàu có và chiếm một tỉ lệ không ít trong tầng lớp tư sản thành phố. Đặc biệt một số người trở thành triệu phú, tư sản mại bản, tài phiệt, có quyền lợi gắn chặt với cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động gốc Hoa rất cần cù, chất phác, và cũng như người Việt, có mâu thuẫn với giai cấp bóc lột và đế quốc xâm lược. Họ đã trở thành những cơ sở trung kiên và tích cực tham gia cách mạng qua vận động cách mạng và cuộc sống thực tế.

Sài Gòn cũng là nơi có nhiều tôn giáo, chủ yếu là Phật giáo và Thiên chúa giáo.

Sau năm 1975, nhân dân từ nông thôn đã hồi cư một số lớn, một số khá đông đi xây dựng kinh tế mới, tính vào thời điểm 30 tháng 8 năm 1984 số dân thành phố Hồ Chí Minh còn là 3.541.855 người, trong đó 12 quận nội thành có hơn 2,5 triệu, mật độ thuộc loại cao trên thế giới (mật độ trung bình hơn 16.000 người/km2, riêng quận 5 mật độ 47.000 người/km2), 6 huyện ngoại thành số dân hơn 1 triệu (mật độ 510 người/km2).


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:19:16 AM
*
*   *

Quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp kéo theo sự hình thành và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam đồng thời tạo ra cơ sở xã hội cho một đảng của giai cấp công nhân ra đời - Đảng Cộng sản.

Những người công nhân Việt Nam đầu tiên, công nhân theo định nghĩa thời đại cơ khí, đã ra đời ở Sài Gòn từ nửa cuối thế kỉ XIX. Đầu thế kỉ XX, công nhân thành phố đã có một số lực lượng tập trung khá đông đảo và lập tức mở ra các cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, công nhân xưởng Ba Son, 40.000 lao động đào kinh Đời bãi công, học sinh trường Bá Nghệ (sau này là trường Cao Thắng) bãi khóa năm 1912, cuộc bãi công của thợ nhuộm ở Chợ Lớn năm 1922… Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân”, Nguyễn Ái Quốc đã đánh giá phong trào công nhân lao động thành phố lúc đó như là “dấu hiệu của thời đại”(1). Công hội đỏ, tổ chức công hội bí mật thiên tả đầu tiên ở nước ta được đồng chí Tôn Đức Thắng vận động thành lập năm 1920. Dưới luật lệ cấm bãi công rất hà khắc ở xưởng công binh Ba Son của hải quân Pháp, cuộc bãi công của 1000 công nhân ngày 4 tháng 8 năm 1925 do Công hội đỏ lãnh đạo, được công nhân viên chức các xưởng và đông đảo lao động thành phố ủng hộ, đã thắng lợi đúng vào lúc chiếc tàu Pháp J. Michelet cần sửa chữa gấp để lên đường sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu ghi nhận sự việc đó như một tuyên ngôn của giai cấp công nhân Sài Gòn - tuy còn “tự nó” - về sự đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, hơn nữa gắn đấu tranh giai cấp với tinh thần quốc tế vô sản.

Bởi là nơi xâm nhập của trào lưu văn hóa và lí luận cách mạng tư sản lẫn lí luận vô sản rất sớm, Sài Gòn trở thành điểm tụ hội của những người yêu nước mang những xu hướng khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà trước cả các phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục… Sài Gòn là nơi bắt đầu cuộc ra đi tìm đường cứu nước của một nhân vật lịch sử vĩ đài thầy giáo Nguyễn Tất Thành, đồng chí Nguyễn Ái Quốc - chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 5 tháng 6 năm 1911 tại Bến Nhà Rồng, Người đã xuống tàu “Đô đốc Latusơ Tơrêvil” (Latouche Trèville). Ai biết rằng, người chiến sĩ ấy - thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu cuộc đấu tranh đầy gian lao cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam trước tiên qua bến cảng Sài Gòn từ những năm hai mươi với báo Người Cùng Khổ, Việt Nam Hồn, Nhân Đạo… Từ đó phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thành phố đi vào chiều sâu với tổ chức “Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội” ra đời năm 1927 cùng với sự hình thành các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản năm 1929: Việt Nam Cách mạng Đảng (sau là Tân Việt Đảng), An Nam Cộng sản Đảng, bộ phận Nam Kì của Đông Dương Cộng sản Đảng với các đồng chí Châu Văn Liêm, Ngô Gia Tự…

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, Sài Gòn là một trong những nơi Trung ương Đảng đặt trụ sở đầu tiên. Xứ ủy Nam Kì, Thành ủy Sài Gòn, Tỉnh ủy Gia Định, Tỉnh ủy Chợ Lớn được thành lập ngay trong những tháng đầu của năm 1930. Từ năm 1930 đến năm 1939 đã có nhiều lần hội nghị Trung ương họp tại Sài Gòn - Gia Định(1). Từ khi có Đảng, được Trung ương và Xứ ủy trực tiếp lãnh đạo, Thành phố Sài Gòn đã cùng cả nước mở ra một trang sử mà đồng chí Hồ Chí Minh đánh giá là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng(3).

Phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp phần không nhỏ vào các cao trào cách mạng thời kì năm 1930 đến năm 1945.

Ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5 năm 1930, cuộc đình công của công nhân nhiều xí nghiệp Sài Gòn do Đảng lãnh đạo kéo dài 5 ngày gây tiếng vang lớn.

Thời kì Mặt trận Dân chủ Đông Dương, trong 700 ủy ban hành động được thành lập thời đó, đã có 600 ủy ban ở Sài Gòn và Nam Kì. Tờ Dân Chúng ra đời từ tháng 7 năm 1938, tờ báo công khai của Trung ương Đảng ở Sài Gòn, đã mở đầu cho phong trào tự do báo chí ở Nam Kì, có số lượng phát hành lớn nhất có với tất cả các báo khác. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đánh giá: “Tôi nghĩ rằng báo Dân Chúng cũng là tờ báo được nhiều người đọc ở Đông Dương - mỗi số một vạn bản. Phản đối chính phủ tìm cách ngăn cản các ứng cử viên của Mặt trận Dân chủ trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt trong vòng đầu, báo Dân Chúng đã đưa ra khẩu hiệu bỏ phiếu trắng và 2985 cử tri đã làm theo”(4).

Cuộc khởi nghĩa Nam Kì, do tình thế chưa chín muồi, tình huống trắc trở, đã không nổ ra được theo kế hoạch ở trung tâm thành phố Sài Gòn, nhưng đã nổ ra đồng loạt ở Hóc Môn, Gò Vấp, Vinh Lộc, Phú Lâm, Trung Quận (Bình Chánh), tức là vùng ngoại thành và 18 tỉnh khác của Nam Kì. Đó là một cuộc quần chúng vũ trang khởi nghĩa có quy mô rộng lớn, tuy không thành công, nhưng có ý nghĩa rất lớn trước cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở Nam Bộ.

Trong suốt 15 năm thời kì vận động cách mạng, từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có biết bao người con ưu tú của Đảng, của nhân dân, anh dũng hi sinh tại thành phố, tiêu biểu là các đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng; Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư; Ngô Gia Tự; Bí thư Xứ ủy đầu tiên; Tạ Uyên, Bí thư Xứ ủy; Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Thành ủy, cùng nhiều đồng chí khác: Lí Tự Trọng, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu…

Tháng 8 năm 1945, chuẩn bị cướp chính quyền ở Sài Gòn, Ủy ban khởi nghĩa Sài Gòn có trong tay trên 12.000 hội viên công đoàn đã sẵn sàng đội ngũ, hơn 100.000 đoàn viên Thanh niên Tiền phong bao gồm cả học sinh, viên chức và trí thức, hàng chục vạn nông dân ngoại thành với gậy gộc, dao rựa và một số quan trọng cơ sở cảm tình trong lực lượng “bảo an binh” của ngụy quyền.

Trong đêm ngày 24 rạng ngày 15 tháng 8, không chỉ hàng chục vạn đồng bào các quận, huyện Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, mà còn đồng bào ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An, Mĩ Tho… kéo về Sài Gòn cùng lực lượng tại chỗ giành chính quyền. 0 giờ ngày 25 tháng 8 năm 1945 toàn bộ chính quyền Sài Gòn đã về tay nhân dân.

Nhưng nhân dân Sài Gòn - Gia Định chỉ mới được hưởng quyền độc lập tự do có 29 ngày. Dưới mắt những tên thực dân Pháp, từng thống trị Đông Dương, chúng vẫn tâm niệm “Nam Kì là cái trục thực sự của chính sách chúng ta ở Đông Dương”(5).

Trong kế hoạch tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp coi Nam Bộ là cái cầu phải chiếm trước trong đó Sài Gòn là điểm nút hành động khởi hấn. Lịch sử lần nữa giao cho Sài Gòn và Nam Bộ nhiệm vụ “đi trước”, mở đầu cuộc kháng chiến 9 năm. Suốt cả cuộc tái xâm lược này, Sài Gòn là thủ phủ, là sào huyệt của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Pháp cuốn gói sau cuộc chiến tranh trở lại Việt Nam lần thứ 2 thất bại, đế quốc Mĩ xông vào thay thế và Sài Gòn trở thành cái gọi là “thủ đô” của “nước Việt Nam cộng hòa”, con bài tay sai cốt tử của chủ nghĩa thực dân mới. Tại đây tập trung 32 cơ quan đầu não cao nhất của bọn xâm lược và tay sai, trong đó có Tòa đại sứ Mĩ - Nhà Trắng và Bộ Tư lệnh Mĩ - Lầu Năm Góc phương Đông, Phủ tổng thống ngụy, các bộ tư lệnh, quân binh chủng… Sài Gòn Gia Định là “thủ đô” của chế độ tay sai, đồng thời là trung tâm đầu não quân sự với hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ từ gần ra xa. Ngoài hệ thống ngụy quyền kềm kẹp, ở đây tính ra trung bình 2 người dân thành phố có 1 tên lính và tay sai, công an, cảnh sát, mật vụ hỗ trợ cho bộ máy đó.

21 năm dài sống và đương đầu dưới ách chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mĩ, trong tình thế cả nước đang có chiến tranh khốc liệt, dĩ nhiên, tinh thần, tư tưởng, nếp suy nghĩ của người dân Thành phố không thể không chịu những tác động sâu sắc các chính sách của kẻ thù, một số không ít người bị kềm kẹp, uy hiếp, mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt rơi vào cầu an, xa lánh cách mạng, thậm chí có kẻ sa đọa gây tội ác. Nhưng “Người Sài Gòn” vẫn là “Người Sài Gòn” bất khuất. Truyền thống yêu nước quật khởi, “hào khí Đồng Nai” đã được phát huy mạnh mẽ trong cuộc chiến đấu mới, kéo dài, vô cùng ác liệt, nhưng tất thắng.

21 năm đánh Mĩ, miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định ngày càng thể hiện rõ và nổi bật vị trí chiến lược là vùng tập trung các mục tiêu đầu não của kẻ thù, phải được giải quyết bằng những đòn quyết định chiến lược nhất của chiến tranh.

“Đi trước” “Về sau” trong cuộc chiến tranh 30 năm, cùng với cả nước, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã làm tròn vẻ vang nhiệm vụ mà lịch sử giao phó.


(1) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I, NXB Sự thật, 1980, tr. 198.
(2) Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 2, tháng 3 năm 1931 do đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên chủ trì ở nhà 236 đường Richaud (đường Nguyễn Đình Chiểu hiện nay); Hội nghị BCH TƯ Đảng mở rộng họp tại Tân Thới Nhứt (Bà Điểm) tháng 3 năm 1937; Hội nghị BCH TƯ Đảng mở rộng do đồng chí Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ tham dự tháng 3 năm 1938; Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ 6 có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn dự tháng 11 năm 1939.
(3) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập I, NXB Sự thật, 1980, tr. 152.
(4) Hồ Chí Minh tuyển tập, tập III, NXB Sự thật, 1980, tr. 134.
(5) Trích chỉ thị của Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet gửi Cao ủy D’Argenlieu năm 1946.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:21:04 AM
Phần thứ nhất

KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945-1954)

Chương một

SÀI GÒN MỞ ĐẤU CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(23-9-1945 - 12-1946)

I. THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC NƯỚC TA MỘT LẦN NỮA.
HAI MƯƠI CHÍN NGÀY SÔI SỤC CÁCH MẠNG
VÀ KHÓ KHĂN PHỨC TẠP TRƯỚC “NAM BỘ KHÁNG CHIẾN”


Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa Việt Nam bước sang một kỉ nguyên mới. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm đứt tung sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á, ở một khâu trọng yếu, báo hiệu nền thống trị của chủ nghĩa đế quốc đứng trước quá trình sụp đổ. Đế quốc Pháp, dù bị suy yếu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, vẫn ngoan cố tìm cách thủ tiêu thành quả Cách mạng Tháng Tám, lập lại chế độ trống trị thực dân ở Việt Nam.

Ngay từ khi nước Pháp còn đang bị phát xít Đức chiếm đóng, tướng De Gaulle tại Algérie, ngày 8 tháng 12 năm 1943 đã tuyên bố: “Sẽ giải phóng Đông Dương”. Để chứng minh cho tuyên bố trên, De Gaulle cho thành lập phái đoàn quân sự Pháp đặt ở Côn Minh (Trung Quốc), ở Kandy Srilanka, trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC) ở Calcutta (Ấn Độ) và lữ đoàn cơ động Viễn Đông (BMEO) ở Madagascar. Tất cả sẵn sàng trở lại tái chiếm Đông Dương. Cùng với quá trình tiến triển thuận lợi của phe Đồng Minh trong chiến tranh thế giới, âm mưu trên càng được ráo riết thực hiện. Cuối năm 1944, De Gaulle thành lập ủy ban hành động giải phóng Đông Dương. Và ngày 24 tháng 3 năm 1945, De Gaulle tuyên bố:

“Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm 5 xứ khác nhau (Nam Kì, Bắc Kì, Trung Kì, Cao Miên, Ai Lao). Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền lợi đối ngoại sẽ do Pháp đại diện.

Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang đứng đầu là một viên toàn quyền và gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó. Chính phủ liên bang sẽ là người trọng tài gồm 5 xứ. Bên cạnh viên toàn quyền có một hội đồng nhà nước, trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất 50% số ghế. Một quốc hội được bầu ra phải phản ánh quyền lợi của nước Pháp”.

Ý định trở lại xâm lược Đông Dương của giới quân phiệt Pháp càng trở nên hối thúc từ sau khi nước Pháp được giải phóng. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (FEFEO) - gồm sư đoàn thuộc địa số 9 (9è DIC) do Valluy chỉ huy, binh đoàn thiết giáp do Massu chỉ huy và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3è DIC) được thành lập và đưa sang Đông Dương. Ngay sau đó, FEFEO đổi thành đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông. Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông là tướng Leclerc. Đô đốc D’Argenlieu được cử làm cao ủy kiêm tổng tư lệnh hải lục quân, không quân Pháp ở Đông Dương.

Cùng ngày thành lập lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, Lelerc đi Kandy và được tướng Mountbatten tư lệnh lục quân Anh ở Đông Nam Á hứa giúp đỡ quân Pháp trở lại Đông Dương, dù Mountbatten biết hội nghị Potsdam ngăn cấm hành động này.

Hạ tuần tháng 8 năm 1945, một kế hoạch dùng biệt kích nhảy dù xuống vùng rừng núi Việt Nam, Lào phối hợp với bọn tàn binh tại chỗ chuẩn bị tiếp đón quân viễn chinh được vạch định. Một đại đội biệt kích theo quân Anh sang làm nhiệm vụ tiền trạm ở Đông Dương nhận được lênh của Leclerc khẩn tốc lên đường.

Ngày 22 tháng 8 năm 1945, một máy bay không quân Hoàng gia Anh thả một nhóm nhân viên quân sự và dân sự xuống Tây Ninh, khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia. Đại tá Cédille, người được chính phủ Pháp cử làm ủy viên Cộng hòa Pháp tại miền Nam Việt Nam có mặt trong nhóm nhảy dù này.

Cédille bị thanh niên địa phương bắt, được bọn Nhật giành lại và đưa về Sài Gòn.

Ngày 24 tháng 8 năm 1945, kế hoạch trở lại Đông Dương do Leclerc và Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp vạch ra(1) được Ủy ban Đông Dương - cải tổ từ Ủy ban hành động giải phóng Đông Dương thông qua.

Vậy là, đến trước ngày Sài Gòn tổng khởi nghĩa, việc trở lại Đông Dương của thực dân Pháp đã không còn chỉ nằm trong ý định! Với sự giúp đỡ của quân đội Anh và sự hứa hẹn viện trợ của đế quốc Mĩ, giới quân phiệt Pháp đã quyết tâm chính thức tái lập ách thống trị thực dân kiểu cũ lên Việt Nam, Lào và Campuchia, mơ tưởng bòn chiếm sức người, sức của ở khu vực này để hàn gắn vết thương chiến tranh, hầu cứu vãn nền kinh tế xã hội Pháp vừa bị cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai tàn phá nặng nề.


(1) Kế hoạch gồm 5 nội dung: 1. Dựa vào sự có mặt của quân Anh để xâm chiếm từ Nam vĩ tuyến 16, 2. Thả dù nhân viên quân sự và lực lượng quân sự xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, 3. Xác nhận việc duy trì chủ quyền của nước Pháp ở Đông Dương, trước hết là đối với Đồng minh, 4. Từng bước giành lại những vùng do Trung Quốc kiểm soát, 5. Về phương diện chính trị, tùy hoàn cảnh mà thương thuyết với các nhân vật bản xứ.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:24:30 AM
*
*   *

Ngày 2 tháng 9 năm 1945

Tại Sài Gòn, hơn một triệu người đổ về quảng trường Norodom (nay ở trên đường Lê Duẩn) dự lễ mít tinh mừng ngày độc lập dân tộc. Xen giữa rừng cờ đỏ sao vàng là các biểu ngữ được viết bằng nhiều thứ tiếng “Độc lập hay là chết!”.

Thay mặt Chính phủ, ủy viên Lâm ủy hành chánh Phạm Ngọc Thạch bày tỏ Chính phủ sẽ trung thành với chương trình của Mặt trận Việt Minh, kiên quyết bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Đại diện Xứ ủy và kì bộ Việt Minh Nguyễn Văn Nguyễn đọc diễn văn kêu gọi đồng bào các giới ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ ra sức ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Kế đến, Chủ tịch Lâm ủy hành chính Trần Văn Giàu kêu gọi nhân dân xiết chặt hàng ngũ xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ vững tinh thần, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do. Cả rừng người, rừng cờ lay động, hừng hực khí thế. Đây là cuộc mít tinh lớn nhất được tổ chức trọng thể giữa thành phố Sài Gòn 8 ngày sau tổng khởi nghĩa thắng lợi.

Đoàn người chuẩn bị chuyển sang tuần hành thì bất ngờ, từ lâu cao bên cạnh nhà thờ Đức Bà, bọn phản động Pháp chĩa súng bắn thẳng vào đoàn biểu tình. Anh Phạm Nhã, phụ trách công đoàn nhà hàng Sài Gòn ngã xuống. Anh là liệt sĩ đầu tiên của thành phố Sài Gòn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. 47 người chết và bị thương. Căm thù trước hành động của bọn phản động Pháp, hàng trăm người tay không, lập tức tỏa ra, trèo lên các tòa lầu truy lùng bắt và tước khí giới gần 1000 người Pháp(1). Cuộc biểu tình vẫn tiếp tục!

Từ sau ngày 2 tháng 9, máy bay không quân Hoàng gia Anh bay lượn thường xuyên trên bầu trời Sài Gòn và các tỉnh kế cận. Ngày 4 tháng 9, tướng Gracey tư lệnh sư đoàn 20 quân đội Hoàng gia Anh, trưởng phái bộ Đồng minh, vu cáo chính phủ ta không giữ được trật tự và lệnh cho thống chế Têuruchi, tư lệnh phương diện quân Nam của Nhật điều 7 tiểu đoàn quân Nhật từ các tỉnh Nam Bộ về Sài Gòn. Các đơn vị lính Nhật vừa thua trận kéo về đi lại nghênh ngang trong đường phố. Gracey láo xược đòi Ủy ban hành chính địa phương tước khí giới và giải tán các lực lượng vũ trang Việt Nam.

Ngày 6 tháng 9, quân đội Anh tới Sài Gòn. Trà trộn trong đơn vị này, trong bộ quân phục quân đội Hoàng gia Anh là một đại đội gồm 120 binh sĩ thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC) của Pháp, sang làm nhiệm vụ tiền trạm. Tại Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, đông đảo Pháp kiều vốn là công chức của bộ máy cai trị cũ, mật thám, chủ nhà băng, chủ đồn điền… kéo ra đón tiếp quân đội Pháp. Bọn phản động tay sai người Việt cũng ngo ngoe ngóc đầu dậy chuẩn bị đón chủ cũ. Bóng mây của một cuộc chiến tranh xâm lược đang đến gần.

Trong khi đó, từ sau cuộc mít tinh tuần hành ngày 2 tháng 9, trên khắp các địa bàn nội ngoại thành phố, phong trào cách mạng như một dòng thác sôi sục, đang chảy mạnh mẽ, lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Từ thành phố đến quận, bộ, làng, xã, ta gấp rút củng cố tổ chức Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cách mạng và Đảng đã có từ trước và sau ngày 25 tháng 8. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh (Thượng Vũ) phụ trách Bí thư Thành ủy Sài Gòn. Tỉnh Gia Định vẫn giữ nguyên hai tỉnh ủy Tiền Phong (Phạm Văn Khung làm Bí thư) và Giải Phóng (Huỳnh Văn Thơm làm Bí thư). Hệ thống Ủy ban nhân dân Mặt trận Việt Minh được lần lượt thành lập và củng cố(2). Lâm ủy hành chánh Nam Bộ đổi thành Ủy ban nhân dân Nam Bộ, do Phạm Văn Bạch làm chủ tịch, Trần Văn Giàu làm phó chủ tịch kiêm ủy trưởng quân sự. Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn giữ nguyên bộ máy tổ chức cũ do người của cách mạng nắm giữ (Kha Vạn Cân làm Chủ tịch, Phan Văn Chương làm Phó Chủ tịch). Thành phần tham gia Mặt trận Việt Minh được mở rộng gồm trí thức, nhân sĩ, chức sắc tôn giáo và quan chức cũ (do Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách). Các tổ chức đoàn thể cách mạng như công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố và hoạt động rầm rộ. các đội Thanh niên Tiền Phong (riêng trong các xí nghiệp con số lên tới 20 vạn) chuyển thành Thanh niên Cứu quốc.

Chỉ trong một thời gian ngắn, các tổ, đội vũ trang được gấp rút hình thành. Đại bộ phận trong số họ là từ đoàn viên công đoàn, Thanh niên Tiền phong ban xí nghiệp đã được tổ chức trong tổng khởi nghĩa, những công nhân, nông dân, thanh niên học sinh, lao động thành thị, trí thức… chỉ có gậy tầm vông, giáo mác hoặc tay không, nhưng tinh thần đặc biệt hăng hái. Cán bộ nòng cốt trong các lực lượng này do Tổng công đoàn tổ chức ngay từ đầu.


(1) Ngay trong đêm ngày 2 tháng 9 năm 1945, ta thả hết số người Pháp bị bắt này để giữ “hòa khí” với quân Đồng Minh.
(2) Ngày 27 tháng 8 năm 1945, đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh vào đến Sài Gòn. Đồng chí đã chỉ thị đổi Lâm ủy hành chánh Nam Bộ thành Ủy ban nhân dân Nam Bộ và thành lập ủy ban nhân dân các cấp, mở rộng thành phần Mặt trận Việt Minh.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:25:54 AM
Ngay chiều ngày 2 tháng 9, đồng chí Nguyễn Lưu, phụ trách Tổng công đoàn Nam Bộ, được lệnh của đồng chí Trần Văn Giàu thành lập ngay lực lượng vũ trang của công nhân để bảo vệ chính quyền, bảo vệ thành quả cách mạng. Chỉ trong hai ngày, Tổng công đoàn Nam Bộ đã tổ chức xong 360 tổ xung phong công đoàn, lúc đầu mới chỉ có 60 cây súng, còn lại là gậy gộc, dao búa. Một Ban chỉ huy được chỉ định gồm: Nguyễn Lưu (chỉ huy trưởng), Từ Văn Ri (chỉ huy phó), Huỳnh Đinh Hai (tham mưu trưởng) và các ủy viên Trần Minh Quyền, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Tư. Đêm 4 tháng 9, lực lượng công nhân vũ trang Sài Gòn hội tụ tại trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ số 72 đường Lagrandière (nay là đường Lí Tự Trọng) lập bàn thờ Tổ quốc, họp mít tinh, tuyên thệ: “Là chiến sĩ xung phong công đoàn, xin thề trước bàn thờ Tổ quốc quyết cùng anh em lao động không nản chí trước khó khăn, không lùi bước trước nguy hiểm để cùng đồng bào bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn non sông”.

Cùng lúc, ở ngoại ô thành phố tại các tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, hàng loạt thanh niên nông dân ngoại thành và công nhân trong thành phố tự nguyện thoát li cũng lần lượt tập hợp thành những nhóm vũ trang nhỏ lẻ do các đảng viên cũ kêu gọi và chỉ huy, như các bộ phận của Cao Đức Luốc, Huỳnh Tấn Chúa, Tô Kí, Nguyễn Văn Thược, Huỳnh Văn Một (phía Tây Bắc), Phạm Văn Khung, Nguyễn Văn Công, Thái Văn Lung, Đào Sơn Tây, Trần Thắng Minh (phía Đông Bắc), Trương Văn Bang, Dương Văn Dương, Nguyễn Văn Mạnh (phía Đông Nam Sài Gòn - Gia Định).

Các đội xung phong công đoàn và nhóm vũ trang kể trên trở thành những đơn vị vũ trang nòng cốt tại chỗ của Sài Gòn - Gia Định trong nội và ngoại ô thành phố.

Cũng ngay trong những ngày đầu độc lập, Ủy ban nhân dân Nam Bộ tiếp nhận một đơn vị vũ trang có tên là Đệ nhất Sư đoàn dân quân cách mạng, lúc đầu do Kiều Công Cung, sau đó Trương Văn Giàu chỉ huy, và đặt tên là Cộng hòa vệ binh. Thành phần của Cộng hòa vệ binh gồm 3 đoàn bảo an binh của chính quyền cũ, được bổ sung thêm nhiều thanh niên, học sinh, công nhân và một số đảng viên cộng sản đưa vào làm nòng cốt, có số lượng khoảng 10.000 người, với khoảng 400 súng các loại.

Bên cạnh những đơn vị vũ trang chủ yếu kể trên mà thành phần hợp thành là những công nhân lao động, nông dân, học sinh, nhân sĩ trí thức, đầy nhiệt huyết cách mạng “Ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến” do các đảng viên cộng sản hoặc những cán bộ cách mạng cốt cán chỉ huy, còn có những tổ chức vũ trang gồm binh lính cũ hoặc vô sản lưu manh do các phần tử chính trị cơ hội, các tay anh chị lục lâm cầu đầu, được vội vã thành lập để tạo thế lực và kiếm chác quyền hành. Họ tự xưng là “đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn…”(1).

Trước tình hình hết sức khẩn trương và phức tạp, quân Anh, Pháp gây hấn, xét trong các đơn vị đệ nhị, đệ tam, đệ tứ sư đoàn, phần lớn binh sĩ nguyên là những nông dân thuần phác, vốn tiềm lưu trong huyết quản ý thức dân tộc, lòng yêu nước và giờ đây trước vận mệnh đất nước đang bị đe dọa, vấn đề đoàn kết mọi lực lượng trở thành nhu cầu tối thượng và khẩn bách. Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã chủ trương thừa nhận các “sư đoàn” tự lập kể trên là “dân quân cách mạng” và tổ chức cho họ làm lễ tuyên thệ trung thành với Chính phủ.

Ngày 11 tháng 9, Gracey đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Đi theo Gracey là một lữ đoàn thuộc sư đoàn 20 Hoàng gia anh và hai đại đội còn lại của tiểu đoàn biệt kích thuộc trung đoàn thuộc địa số 5 Pháp. Hai đại đội biệt kích này không cần phải ngụy trang nữa, mà công khai mặc quân phục Pháp. Liên tiếp từ khi Gracey tới Sài Gòn, quân Anh Pháp ngang ngược tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm từng bước chiếm Sài Gòn. Trước đó một ngày (ngày 10 tháng 9), viên trung tá Roe đại diện phái bộ Anh đóng ở dinh toàn quyền cũ, do Nhật giao lại, đòi chiếm Nam Bộ phủ (dinh thống đốc Nam Kì cũ, hiện là Bảo tàng cách mạng, 65 Lí Tự Trọng), nơi Ủy ban nhân dân Nam Bộ đang đặt trụ sở. Tới bản doanh phái bộ Anh, việc làm đầu tiên của Gracey là ra lệnh cho quân đội Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố, cho quân Anh chiếm luôn sân bay Biên Hòa, đòi tước khí giới của quân Cách mạng, lấy vũ khí của Nhật trang bị cho số tù binh Pháp bị Nhật giam giữ, giúp thực dân Pháp từng bước tổ chức lại bộ máy cai trị.

Trước yêu cầu của phái bộ Anh, để giữ “hòa khí” với quân Đồng Minh trong tình thế đang rất phức tạp, Ủy ban nhân dân Nam Bộ dời trụ sở về dinh Đốc Lí (dinh xã Tây, hiện là trụ sở của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh), nhường Nam Bộ phủ cho Gracey lập trụ sở phái bộ Đồng Minh. Nhưng sau khi ta rút đi, Gracey về đóng ở Nam Bộ phủ và trao dinh toàn quyền (đang là trụ sở của phái bộ Đồng Minh) cho Cédille (Pháp). Tại đây, Cédille nhận chức thống đốc Nam Kì và cho treo ngay một lá cờ nước Pháp. Lá cờ ba sắc bay phần phật trước dinh toàn quyền cũ như một thách thức, một hành động khiêu khích trước sự phẫn nộ của nhân dân thành phố. Lập tức, hàng ngàn người kéo đến tập hợp ngoài rào sắt sẵn sàng xông vào hạ cờ Pháp. Trước nguy cơ xảy ra cuộc đụng độ, Cédille, theo yêu cầu của Gracey, buộc phải hạ cờ xuống.

Sau khi giao dinh toàn quyền cũ cho Pháp, Gracey tiếp tục ban hành những lệnh hết sức ngang ngược, can thiệp thô bạo vào chủ quyền của nhân dân ta. Ngày 15 tháng 9, ra sắc lệnh cấm người Việt Nam mang vũ khí và biểu tình. Ngày 17 tháng 9, đình chỉ xuất bản tất cả các báo chí ở Nam Bộ, tuyên bố giữ quyền kiểm soát Sài Gòn, đòi thả những người Pháp đang bị giam giữ, buộc quân ta rút khỏi thành phố, đòi đặt lực lượng tự vệ ta dưới quyền chỉ huy của chúng.


(1) Đệ nhị sư đoàn, nguyên là tổ chức do nhóm Đại Việt, tay sai cũ của Nhật, tuyển mộ thanh niên, binh lĩnh cũ thành lập, có khoảng 1.000 người do Vũ Tam Anh cầm đầu. Đệ tam sư đoàn, vốn là thanh niên “phòng vệ đoàn” của Nhật, do Nguyễn Hòa Hiệp chỉ huy, ban đầu có khoảng 600 người, sau lôi kéo thêm thanh niên nên có khoảng gần 5.000 người. Đệ tứ sư đoàn do một số người thân Nhật tập hợp lính cũ cùng những phần tử Tơrốtkít, những phần tử phản động đội lốt tôn giáo lập nên, lực lượng khoảng 2.000 người do Lí Huê Vinh (mật thám Nhật) cầm đầu.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:27:23 AM
Để tranh thủ thêm thời gian củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng mọi mặt, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã hết sức mềm dẻo. Nhưng ta càng tự kiềm chế, nhân nhượng thì quân Anh - Pháp càng lấn tới. Nhận thức tính chất phức tạp của tình hình, Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã lệnh cho sư đoàn Cộng hòa vệ binh và các sư đoàn dân quân cách mạng rút ra ngoại ô, đồng thời ra lệnh tản cư người già và trẻ em ra khỏi thành phố. Các đơn vị vũ trang được khẩn trương bổ sung quân số và trang bị. Khắp nơi, các trạm thu quân được thành lập. Trong không khí Sài Gòn háo hức muốn đánh Pháp, hàng ngàn thanh niên kéo đến các địa điểm ghi danh tòng quân. Lợi dụng tình hình, một số tay anh chị cũng đứng ra lập điểm thu quân, xây dựng đơn vị vũ trang riêng. Nhiều công nhân, thanh niên, học sinh do hăng hái muốn ra mặt trận chiến đấu, không nhận biết kịp thời bản chất của họ, đã sung vào các tổ chức này.

Tiến thêm một bước trên con đường can thiệp, ngày 19 tháng 8, Cédille tổ chức họp báo, tuyên bố “Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam (!) và do đó, Pháp sẽ thành lập một chính phủ. Chính phủ này phù hợp với tinh thần tuyên bố ngày 24 tháng 3 của De Gaulle”. Ngày 20 tháng 9, Gracey triển khai các biện pháp thực sự kiểm soát Sài Gòn, làm áp lực buộc ta trao lại các bót cảnh sát quận 2, quận 3 và đòi quân ta rút khỏi thành phố. Chúng thả hết và trang bị vũ khí cho những tốp tù binh Pháp cuối cùng còn bị giam giữ. Ngày 21 tháng 9, Gracye ban hành lệnh thiết quân luật trong toàn thành phố.

Đến ngày 22 tháng 9, lực lượng quân địch đóng tại những địa điểm ở Sài Gòn đã liên tới 10.000 gồm 1 tiểu đoàn biệt kích Pháp thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5è RIC 600 người), tù binh Pháp tái vũ trang thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11 (11è RIC - 1500 người), Pháp kiều có vũ trang (500 người), một lữ đoàn quân đội Hoàng gia Anh (2500 người) và 7 tiểu đoàn Nhật (5000 người). Toàn bộ quân địch đã sẵn sàng. Việc nổ súng đánh chiếm toàn thành phố chỉ còn là vấn đề thời gian!

Trong lúc nền độc lập dân tộc đang đứng trước thử thách nghiêm trọng, toàn thể nhân dân ta vô cùng căm phẫn trước những hành động láo xược của quân đội Anh - Pháp, thì một số phe đảng phản động mưu toan thừa cơ nổi dậy hoặc ráo riết hoạt động chuẩn bị đón chủ cũ trở lại hoặc lợi dụng để kiếm chác, giành nắm lấy lực lượng vũ trang. Nổi bật trong số này là bọn Tơrốtkits. Dựa vào thế lực Anh - Pháp, chúng tung ra các khẩu hiệu quá khích và mị dân như “tiêu diệt người da trắng”, “chánh quyền về tay công nông”, “thực hiện cách mạng ruộng đất”. Chúng còn hô hét “vũ trang toàn dân”, vu khống và đả kích Ủy ban nhân dân và kì bộ Việt Minh Nam Bộ. Một số tên đầu sỏ phản động trong giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và những nhóm vũ trang thân Nhật cũ cấu kết với bọn Tơrốtkít âm mưu đảo chánh, thành lập một chính phủ tay sai cho Pháp gọi là “Chính phủ quốc gia liên hiệp”, xóa bỏ Ủy ban nhân dân và kì bộ Việt Minh Nam Bộ, xóa bỏ thành quả Cách mạng Tháng Tám vừa giành được.

Âm mưu của chúng đã bị ta khám phá và đập tan kịp trước khi thực dân Pháp nổ súng chiếm Sài Gòn. Dù vậy, hoạt động của chúng đã góp phần tiếp tay cho giặc, làm cho tình hình càng trở nên khó khăn phức tạp hơn.

Vào lúc đó, lực lượng của ta, sau khi các đơn vị tập trung đã rút ra ngoại ô, trong nội thành Sài Gòn chỉ còn một số tiểu đội Cộng hòa vệ binh làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác các vị trí công sở và khoảng 8000 người (6000 công đoàn xung phong, 2000 thanh niên xung phong và công an xung phong), với 120 súng các loại, 3000 lựu đạn, còn lại là giáo mác, gậy tầm vông vạt nhọn. Tất cả được tổ chức lại thành 320 đội tự vệ chiến đấu bố trí khắp các khu vực trong thành phố. Cuộc chiến đấu chắc chắn không tránh khỏi sắp diễn ra trong điều kiện tương quan lực lượng nghiêng về phía quân địch.

0 giờ ngày 23 tháng 9 năm 1945, trong trang phục quân đội Hoàng gia Anh, các toán quân Pháp lợi dụng đêm tối bất ngờ nổ súng tập kích các vị trí công sở của ta trong thành phố. Các chiến sĩ bảo vệ của ta dũng cảm chống trả, nhưng sức yếu, núng thế, cuối cùng phải rút lui. Ngay trong đêm, quân địch lần lượt chiếm được các vị trí trọng yếu: sở cảnh sát, trụ sở Quốc gia tự vệ Cuộc, đài phát thanh, nhà bưu điện, ngân hàng, nhà đèn, khám lớn, một số bót cảnh sát ở khu vực trung tâm. 3 giờ sáng ngày 23, quân Pháp đánh chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và tiến ra cầu Mac Mahon (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Khánh Hội… Tiếng súng nổ ran xen kẽ khắp thành phố, chính thức báo hiệu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp bắt đầu ngay giữa Sài Gòn.

29 ngày từ 25 tháng 8 đến 22 tháng 9 năm 1945 là quãng thời gian sôi bỏng, chất chứa những sự kiện quan trọng của lịch sử cả nước nói chung, của thành phố Sài Gòn nói riêng trong những ngày đầu độc lập. Thực dân Pháp, được quân đội Anh trợ giúp, ngang nhiên đưa quân vào đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện cuồng vọng thống trị nước ta một lần nữa. Nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, sau chưa tròn một tháng hưởng quyền tự do độc lập, lại phải một lần nữa đứng lên chiến đấu chống ngoại xâm. Thời gian dù quá ngán ngủi, nhưng Đảng bộ và nhân dân thành phố đã nỗ lực tạo được một số điều kiện rất quan trọng, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng các đoàn thể kháng chiến, hình thành các đơn vị vũ trang và đặc biệt, động viên được một ý chí, một tinh thần quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc vừa giành được.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:28:28 AM
II. SÀI GÒN KHÁNG CHIẾN,
CUỘC CHIẾN ĐẤU BAO VÂY QUÂN ĐỊCH TRONG THÀNH PHỐ


Trong điều kiện chính quyền nhân dân vừa mới thành lập, tổ chức đảng các cấp chưa được thống nhất, lực lượng vũ trang mới ra đời còn phân tán và phức tạp về thành phần, vũ khí thô sơ, chưa có kinh nghiệm tổ chức và thực hành chiến đấu, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã phải đương đầu với một kẻ thù đông gấp bội, được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại và bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới với tư cách là kẻ chiến thắng (!) Đó là một thử thách hết sức nặng nề.

Sáng ngày 23 tháng 9, trong khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp còn nổ ra ở quanh khu vực dinh Đốc Lí (xã Tây) và các đầu cầu quan trọng của thành phố, tại số nhà 269 đường Cây mai diễn ra cuộc họp khẩn cấp của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn, Huỳnh Văn Tiểng… Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh dự hội nghị quan trọng này.

Hai ý kiến trái ngược nhau được tranh luận gay gắt trong hội nghị: một bên muốn chỉ nên đình công, bãi thị, bất hợp tác chờ lệnh của Trung ương; một bên do Trần Văn Giàu chủ trương muốn phát động ngay cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình thế khẩn bách. Hành động xâm lược của kẻ thù đã đẩy nhân dân ta vào con đường phải kiên quyết đứng lên chiến đấu, không còn con đường nào khác. Bên ngoài nhiều người tụ tập chờ đợi quyết định của hội nghị, tiếng la hét “xin cho đánh” dội vào phòng họp. Cuối cùng, hội nghị đi đến quyết định: một mặt điện báo gấp ra Trung ương và Hồ Chủ tịch xin chỉ thị, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến. Rất khẩn trương, Hội nghị thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ (do Trần Văn Giàu làm chủ tịch) và Ủy ban kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn (gồm Nguyễn Văn Tư, Huỳnh Văn Đạt, Từ Văn Ri) với chức năng chỉ đạo mọi mặt cuộc kháng chiến chống Pháp, hạ lệnh tổng đình công và bất hợp tác với địch, đối phó và đánh địch trên đường phố, ngăn chặn, bao vây chúng trong nội thành, kêu gọi đồng bào vạch mặt bọn Việt gian nguy hiểm, triệt để bãi công, bãi thị, bãi khóa, “tẩy chay mọi kêu gọi của địch”, bao vây và phá hoại kinh tế. Hội nghị kết thúc lúc 10 giờ sáng ngày 23 tháng 9.

Ngay sau khi Hội nghị Cây Mai kết thúc, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát lời kêu gọi nhân dân thành phố và các tỉnh:

“Đồng bào Nam Bộ,

Nhân dân thành phố Sài Gòn,

Anh em công nhân, thanh niên, tự vệ, dân quân, binh sĩ!

Đêm qua thực dân Pháp đánh chiếm trụ sở chính quyền ta ở trung âm Sài Gòn. Như vậy là Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta một lần nữa!

Ngày 2 tháng 9 đồng bào đã thề quyết hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ độc lập của Tổ quốc!

Độc lập hay là chết!

Hôm nay

Ủy ban kháng chiến kêu gọi

Tất cả đồng bào già, trẻ, trai, gái hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân giặc xâm lược.

Ai không có phận sự do Ủy ban kháng chiến giao phó, thì hãy lạp tức ra khỏi thành phố. Những người còn ở lại thì:

Không làm việc, không đi lính cho Pháp.

Không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp.

Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt.

Hãy đốt sạch, phá sạch các cơ sở, xe cộ, tàu bè, kho tàng nhà máy của Pháp.

Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm.

Hỡi đồng bào!

Từ giờ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hỡi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu nước.

Cuộc kháng chiến bắt đầu!

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945”(1)


(1) Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, tr. 356.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:29:57 AM
Cuộc kháng chiến bắt đầu! Ngay trong sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, các đội tự vệ chiến đấu, thanh niên xung phong, công an xung phong, công đoàn xung phong đã chống trả quyết liệt với địch tại dinh Đốc Lí, đường Verdun (nay là đường Cách mạng Tháng Tám), đường Norodom (nay là đường Lê Duẩn). Đặc biệt, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt tại cột cờ Thủ Ngữ. Một tiểu đội bảo vệ cột cờ chỉ có súng săn, dao găm lựu đạn đã chống chọi với một đại đội quân Anh. Cả tiểu đội hi sinh. Tên chỉ huy Anh phải tập hợp đại đội của chúng bồng súng trước khi kéo lá cờ ba sắc của Pháp lên thay cờ đỏ sao vàng của ta. Buổi chiều, trong tiếng súng kháng chiến đồng loạt nổ khắp thành phố, tại Chợ Lớn, anh em công nhân hối hả in hàng vạn bản “Tuyên cáo quốc dân” của Ủy ban nhân dân Nam Bộ để kịp phát hành trong đêm! Nội dung “Tuyên cáo như sau:

“Đồng bào Nam Bộ!

Vì coi quân Anh là đại biểu của Đồng Minh tới nước chúng ta giải giáp quân Nhật để đem lại hòa bình cho dân chúng Đông Dương, nên chúng tôi - Ủy ban nhân dân Nam Bộ - luôn giúp cho quân đội Anh làm nhiệm vụ được dễ dàng. Mặc dù có nhiều điều bất mãn, chúng tôi đã nhiều lần kêu gọi quốc dân nên nén lòng căm giận để chờ đợt cuộc vận động ngoại giao với Đồng Minh trên trường quốc tế. Nhưng do sự nhân nhượng và dung túng của quân Anh, bọn thực dân Pháp đã làm nhiều điều quá đáng…

… Không lẽ chịu nhục hoài à, vì danh dự của dân tộc chúng ta phải coi trọng quyền lợi quốc gia, nên chúng tôi phải đánh điện ra Chính phủ Trung ương xin phép cho kháng chiến…

Đồng bào thân mến!

Cương quyết phấn đấu, toàn dân hãy đoàn kết để bảo vệ Quốc gia!”(1)

Tại Hà Nội, sau khi nhận được điện của Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập khẩn cấp Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tại Bắc Bộ Phủ. Hội nghị nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Nam Bộ, đồng thời kêu gọi đồng bào cả nước chi viện sức người sức của cho miền Nam. Hội nghị cũng đã quyết định thành lập các đơn vị Nam tiến và cử cán bộ vào tăng cường cho Nam Bộ.

Ngay sau hội nghị, Thường vụ Trung ương Đảng chuyển chỉ thị đến Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ (ngày 23 tháng 9) và Chính phủ lâm thời gửi Huấn lệnh cho quân và dân Nam Bộ (ngày 24 tháng 9).

Ngày 26 tháng 9 năm 1945, qua đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cản ước!

“Hỡi đồng bào Nam Bộ!

Nước ta vừa tranh quyền độc lập, thì đã gặp nạn ngoại xâm. Khi còn chiến tranh với Nhật thì bọn thực dân Pháp hoặc đầu hàng hoặc chạy trốn. nay vừa hết chiến tranh thì bọn thực dân Pháp hoặc bí mật hoặc công khai lại mò lại. Trong bốn năm, họ đã bán nước ta hai lần. Nay họ lại muốn thống trị dân ta lần nữa.

Tôi chắc và đồng bào cả nước đều chắc vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ. Chúng ta nên nhớ lời nói oanh liệt của nhà đại Cách mạng Pháp: “thà chết tự do hơn sống nô lệ”.

Tôi chắc cà đồng bào Nam Bộ cũng chắc rằng Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp đỡ những chiến sĩ và nhân dân đang hi sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập của nước nhà.

Tôi chắc và tất cả đồng bào đều chắc rằng những người và những dân tộc yêu chuộng bình đẳng tự do trên thế giới đều đồng tình với chúng ta.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân.

Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính đáng”…(2)

Quyết định của Hội nghị Cây Mai và Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử chống Pháp của dân tộc ta. Nó kịp thời khẳng định quyết tâm sắt đá, mở ra đường hướng cho cuộc kháng chiến phát triển trong thời khắc có ý nghĩa quyết định đòi hỏi một sự lựa chọn của lịch sử. Lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến, Ủy ban nhân dân Nam Bộ và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp ứng kịp thời nguyện vọng, nhiệt huyết chiến đấu của nhân dân ta, có tác dụng khích lệ quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn nói riêng, đồng bào Nam Bộ nói chung tự tin bước vào cuộc kháng chiến đầy cam go thử thách sau đó.


(1) Bản tuyên cáo này được đăng trên báo Cứu Quốc ngày 29 tháng 9 năm 1945.
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984, t. 4, tr. 25-26.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:31:47 AM
Kế hoạch đánh chiếm Nam Bộ cho Leclerc chia làm 3 bước:

1. Dựa vào quân Anh, Nhật đánh chiếm Sài Gòn, cố thủ trong thành phố chờ viện binh. 2. Đánh chiếm các đường giao thông quan trọng chung quanh thành phố, lập các cứ điểm quân sự làm bàn đạp chuẩn bị mở rộng phạm vi lấn chiếm các tỉnh toàn Nam Bộ. 3. Đánh chiếm các tỉnh còn lại, thiết lập hoàn chỉnh hệ thống chính trị quân sự, tiến hành bình định và từ đó mở rộng phạm vi chiến tranh, đánh chiếm miền Trung và Bắc Việt Nam.

Trong ba ngày đầu, dựa vào ưu thế hơn hẳn về quân sự và áp lực của quân Anh, Nhật, mặc dù gặp phải sức chống trả quyết liệt của quân ta, thực dân Pháp nhanh chóng làm chủ các vị trí then yếu trong thành phố. Chúng thiết lập các đồn bót, chia quân đóng giữ và thường xuyên tuần tiễu trên các đại lộ nối các đồn bót chính với nhau. Tuy vậy, do lực lượng còn mỏng, quân Pháp chỉ làm chủ được khu vực trung tâm thành phố giới hạn bởi rạch Thị Nghè và sông Sài Gòn về phía Đông, đường Verdun tới cầu Ông Lãnh về phía Tây, Kinh Đôi qua khu thương cảng về phía Nam. Về đêm, quân ta vào được hầu khắp các địa điểm khu vực chúng làm chủ.

Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng và nghị quyết Hội nghị Cây Mai, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ triển khai chỉ đạo việc dời chuyển các cơ quan và cơ sở kháng chiến ra các khu vực ngoại vi thành phố, tổ chức nội thành thành 16 khu vực tác chiến để bảo đảm việc chỉ huy và phục vụ chiến đấu. Các lực lượng chiến đấu nhận được chỉ thị kềm chân địch tại chỗ trong một thời gian, tạo điều kiện cho việc di chuyển và chuẩn bị lực lượng mọi mặt.

Sáng ngày 24 tháng 9, Tổng công đoàn Nam Bộ ra lời kêu gọi nhân dân triệt để thực hiện lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, tiến hành tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa, tản cư ra khỏi thành phố và kiên quyết bất hợp tác với giặc.

Khắp thành phố, mọi sinh hoạt, chợ búa, giao thông, trường học đều ngưng hẳn. Công nhân nhà máy đồng loạt nghỉ việc. Nhà đèn bị phá. Mọi thứ vật dụng như bàn ghế, quầy hàng, xe bò, xe kéo, xe thổ mộ, tủ kem đều được kéo ra đường. Cây bị cưa, cột đèn bị đập ngã. Cả thành phố xây dựng vật cản, chiến lũy.

Trận đánh mở đầu trong ngày diễn ra trên đường Jean Eudel. Từ 3 giờ sáng ngày 24 tháng 9, hơn một nghìn đồng bào ở Xóm Chiếu - Khánh Hội, Tân Thuận, Tây Quy, công nhân hãng FACI, CARIC, NISAKI, thanh niên quyết tử, công nhân xung phong… tuần hành tiến về phía cầu Quay. Dẫn đầu đoàn người là một thanh niên tay cầm cờ Tổ quốc. Đoàn tuần hành vừa tới Thương Khẩu thì lính chà chóp(1) nổ súng chặn lại. Người thanh niên cầm cờ hi sinh ngay trong loạt đạn đầu của chúng. Nhiều người khác bị thương. Căm phẫn trước hành động của địch, đoàn người nhanh chóng giãn ra, phân tán thành nhiều cánh bao vây bót Thương Khẩu và bót số 6. Một đội cảm tử quân leo lên hàng rào ném lựu đạn diệt bọn lính trong lô cốt của bót Thương Khẩu, lấy súng địch bắn yểm trợ cho các mũi của ta tiến vào. Đến hơn 8 giờ sáng, đoàn biểu tình tiếp cận các bót. Tiếng hô xung phong vang dậy. Một số tên địch hoảng hốt kéo ra hàng. Quân ta bắt nhiều tù binh (trong đó có viên quan ba Paul Jean, trưởng bót Thương Khẩu), thu nhiều vũ khí. Thừa thắng, quân ta ào lên tấn công bót số 6. Một tổ quyết tử leo lên nóc bót Thương Khẩu dùng đại liên vừa thu được của địch bắn hỗ trợ thị oai. Ta nhanh chóng tiêu diệt bót số 6, giải thoát 70 thanh niên bị địch giam giữ ở đây. Đến 10 giờ sáng, ta làm chủ vùng Khánh Hội. Tiếp sau trận bảo vệ dinh Đốc Lí và các trận cầu Mac Malon, cầu Kiệu (trong đêm 23 rạng ngày 24 tháng 9), trận Thương Khẩu đã góp tiếng súng mở màn cho cuộc phản công của ta ở Sài Gòn - Chợ Lớn và cũng là những tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.

Liền đó, chiến sự nổ ra liên tiếp ngay ở các khu vực trung tâm thành phố như dọc đường Verdun, xung quanh ga xe lửa, trước chợ Bến Thành, ở đường Bonard (nay là đường Lê Lợi), cầu Ông Lãnh, khu bến tàu, chợ Cũ, xóm cầu Muối, cầu Thị Nghè, cầu Bông, Tân Định, Nhà đèn, Chợ Quán, chợ Bàn Cờ. Ác liệt hơn cả là các trận ở cầu Kiệu, xóm cầu Muối, sở cứu hỏa. Tại sở cứu hỏa đường Gallieni (nay là đường Trần Hưng Đạo), chiến sĩ tự vệ công nhân leo lên tháp cao 100 mét để cắm cờ. Người trước ngã, người sau tiến lên. Bốn chiến sĩ hi sinh anh dũng.

Nhà máy đèn bị phá, đêm đến cả thành phố chìm trong bóng tối. Ta vẫn tiếp tục phản công địch. Lực lượng vũ trang Thị Nghè bao vây đánh tập hậu khu Nguyễn Văn Lạc, nhà dưỡng lão. Trụ sở công an Cuộc, xưởng vật liệu cao su Labbé ở cầu Muối và một số kho gạo của Pháp ở Chợ Lớn bị đốt cháy.

Cũng ngay đêm 24, nhiều cánh quân từ các tỉnh Nam Bộ vừa khẩn cấp thành lập đã kịp về Sài Gòn tham gia chiến đấu. Một số đơn vị vũ trang đầu tiên từ Hậu Giang, Tân An lên, Biên Hòa, Thủ Dầu Một xuống và từ Cần Giuộc, Nhà Bè qua, đã cùng tiến công và nội thành.


(1) Lính Hoàng gia Anh gốc Ấn Độ.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:34:24 AM
Nhà báo Trần Tấn Quốc có mặt ở Sài Gòn ngày 24 tháng 9 năm 1945 kể lại:

“Sáng 24, Sài Gòn khá yên tĩnh, nhưng từ xế chiều thì tình hình thay đổi hẳn… Súng nổ khắp nơi. Đại tướng Gracey triệu tập một cuộc họp báo: “Chúng tôi không có lấy một ngọn đèn”. Trong cảnh tối tăm ấy, mọi người đều tự hỏi vậy chớ chuyện gì đã xảy ra, những gì sẽ đến và mỗi người đặt cho Gracey nhiều câu hỏi dồn dập. Xa xa, nhiều đám lửa rực trời. Một cảnh tượng kinh hoàng bao trùm nhà băng Continetal. Rất đông đàn bà, trẻ em Pháp lánh nạn tại nhà băng. Ở đây không còn một miếng nước, không có một tia sáng của đèn điện, và ở đây chốc chốc lại được tin người Pháp này người Pháp nọ bị chết. Những tin làm điên đầu cứ truyền ra. Tiếng súng không ngớt, làm rối loạn thần kinh. Khi ấy Việt Minh chiếm đóng tất cả các khu vực ngoại ô. Gracey không có ý muốn để xảy ra lớn chuyện, nhưng từ nay làm sao tránh khỏi dùng võ lực được? Còn đại tá Cédille thì không ngớt yêu cầu có thêm quân tuần tiễu thật đông đi tuần tra khắp nơi. Người Pháp chết nhiều nhất là ở khu vực Tân Định (ổ kháng chiến Tân Định - Đất Hộ và ổ kháng chiến Phú Nhuận phối hợp đánh…)”(1).

Sáng ngày 25 tháng 9, cuộc tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa được tiến hành triệt để. Dân chúng Sài Gòn kéo tản ra vùng ngoại ô. Một cuộc phong tỏa lương thực được từng bước thực hiện. Vẫn là nhà báo Trần Tấn Quốc:

“… Mãi đến ngày 25 Sài Gòn vẫn chưa có điện nước, lại thêm không có lương thực. Túng cùng quá, người Pháp phải đến các quán cóc dơ dáy của Hoa kiều. Ở đây còn có thể tìm được bát cơm lạp xường và ở đây, người ta thấy các quan Pháp không khó tánh như trước, họ ngồi ghế đẩu, ăn cơm bằng bát đũa. Ban đêm, người Pháp luôn xao xuyến, không ngủ được và rất mệt mỏi. Tuy vậy, đại tá Cédille vẫn hoạt động, ông viết nhiều tuyên cáo kêu gọi người Việt Nam trở lại làm việc. Nhưng đáp lới Cédille, người Việt Nam kéo nhau ra khỏi thành phố. Trong một thành phố tối om bao trùm lên bởi không khí chiến tranh và cách mạng, các gia đình cứ phải khóc vì một người thân vừa tử nạn. Ai nấy đều phập phồng lo sợ cho ngày mai. Súng vẫn nổ. Dân quân Việt Nam dùng chiến thuật du kích mà đánh, khi ẩn, khi hiện, đột nhập thình lình phá hoại rồi rút đi. Chẳng những thường dân Pháp kinh hoàng vì không biết du kích sẽ xuất hiện lúc nào, ở đâu, mà đến cả quân lính Pháp - Anh - Ấn cũng không làm sao biết trước để mà ngăn ngừa”(2).

Trung tuần cuối tháng 9, chiến sự vẫn diễn ra liên tục và ác liệt khắp nội thành.

Ngày 25 tháng 9, quân ta lại lọt vào khu Tân Định, đánh đường Mayer, nay là đường Võ Thị Sáu), bến Tầm Ngựa (nay ở cuối đường Huỳnh Tịnh Của).

Ngày 26 tháng 9, du kích đốt cháy cầu Lái Thiêu, sau đó phối hợp với hai cánh quân từ Thủ Dầu Một xuống và Lái Thiêu qua chặn đánh đoàn xe cam nhông gồm 7 chiếc chở quân Anh đi Bình Đức lấy vũ khí về tiếp tế cho Pháp. Đoàn xe địch không về được Sài Gòn, buộc phải nằm lại dọc đường. Chiều, ta tập kích ngã ba Nhà Làng (trụ sở xã Thạnh Mĩ Tây), diệt nhiều tên Pháp, bắt sống một số tên khác trong đó có tên cò Thị Nghè Orcetty, giải thoát nhiều đồng bào bị giam giữ. Đêm, ta đánh chiếm cầu Bông.

Ngày 27 tháng 9, quân Pháp, có lính Nhật đi đầu, tiến công qua cầu Thị Nghè. Chúng dùng súng lớn bắn phá mãnh liệt vào khu vực từ ngã ba Nhà Láng xuống Hàng Xanh. Toán đi đầu qua ngã ba Nhà Làng lọt vào trận địa phục kích của ta. Các chiến sĩ tự vệ chiến đấu giựt mìm, ném lựu đạn, xông ra đánh giáp lá cà với địch. Quân địch hốt hoảng vừa chống trả vừa chạy trở lại Sài Gòn. Tại khu vực Khánh Hội, du kích ém phục dọc bờ sông chặn đánh 3 chiếc xe chở viện binh địch tại cầu Quay. Quân địch buộc phải quay lui, bỏ lại 10 xác chết.

Ngày 28 tháng 9, một chiếc xe jeep chở 2 sĩ quan địch từ cầu Kiệu theo đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng), lên Gò Vấp để dò xét tình hình. Đến hẻm Cây Dương ngang chùa Bà Chúa, cách ngã ba Chú Ía vài trăm mét, xe lọt vào trận địa phục kích của ta. Du kích đã bắn chết tên sĩ quan da trắng và bắt sống tên sĩ quan Nhật(3).

Ngày 30 tháng 9, ta tiếp tục tập kích địch trên đường Catinat và nhiều nơi khác: Khánh Hội, nhà đèn Chợ Quán, nhà máy rượu. Tại Tân Bình, ta tiến đánh một kho gạo - vải, thu toàn bộ số gạo và vải có trong kho, cùng 10 súng.

Những ngày cuối cùng của tháng 9, chiến sự lan dần ra ngoại ô, diễn ra khá quyết liệt tại khu vực các cầu: cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Mac Mahon, cầu Eyrriaud des Vergnes (cầu nối đường Trần Quốc Thảo với đường Lê Văn Sĩ hiện nay), cầu chữ Y, cầu Ông Lãnh, cầu Quay. Tại cầu Chữ Y, khi hai xe nhà binh của Pháp định vượt sang Chánh Hưng, lực lượng tự vệ cùng đồng bào, với số lượng áp đảo, ào ra bao vây. Đoàn thanh niên “Đoàn Dũng” và nhân dân Chánh Hưng chặn chiếc xe đi đầu chở đầy lính mũ đỏ. Đoàn thanh niên “Đoàn Tiến” và nhân dân Chợ Quán đánh chiếc xe đi sau. Ta thu cả hai, diệt hầu hết tốp địch. Cùng trong thời gian này, lực lượng vũ trang Bà Quẹo, Gò Vấp, Hóc Môn phối hợp đánh địch ở khu vực cầu Bến Phân và chợ Gò Vấp.

Chỉ trong vòng một tuần lễ, sau khi lời kêu gọi của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát ra, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã nhanh chóng bước vào cuộc chiến đấu đầy tự tin và quyết liệt. 138 xí nghiệp, công sở lớn, 22 kho tàng, 4 chợ, 30 tàu lớn, 51 tàu nhỏ, 200 xe hơi và một số cầu đường bị đốt phá. Gần 300 tên giặc bị đền mạng. Tuy cách đánh, kĩ thuật chiến đấu còn non kém, vũ khí ít và thô sơ, nhưng quân và dân ta thật hăng hái, bồng bột và cực kì gan dạ. Tuần lễ kháng chiến đầu tiên tại Sài Gòn là khúc dạo đầu sôi nổi trong bản đại hợp xướng kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Gặp phải sức đề kháng quyết liệt của nhân dân ta, sau tám ngày gây hấn, thực dân Pháp chỉ chiếm đóng được các vị trí, công sở then yếu ở khu vực trung tâm thành phố. Phạm vi kiểm soát chỉ thu hẹp trong một rẻo từ đường Nguyễn An Ninh đến chợ Bến Thành ngược lên Tân Định. Thành phố không họp chợ, không buôn bán, không điện nước. Lương thực, thực phẩm bị hao cạn. Viện binh chưa tới kịp. Bọn Việt gian tay sai ra mặt hoạt động đã bị thanh niên ta truy bắt, nghiêm trị. Nhiều lần dựa vào quân Anh - Nhật đánh lấn ra ngoài, cố phá vỡ vòng vây đang hình thành ngày càng chặt xung quanh Sài Gòn, nhưng đều thất bại, quân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn.

Trước tình hình đó, thực dân Pháp nhờ Gracey làm trung gian, xin thương lượng với Ủy ban nhân dân Nam Bộ.

Biết rõ thủ đoạn của địch dùng kế hoãn binh để chờ quân tăng viện tới, nhưng để biểu thị lập trường chính nghĩa, đồng thời tranh thủ thời gian hòa hoãn để tản cư nhân dân ra khỏi thành phố, củng cố lại lực lượng chiến đấu, Ủy ban nhân dân Nam Bộ chấp hành chỉ thị của Chính phủ lâm thời Trung ương, thỏa thuận với Pháp ngừng bắn một tuần lễ để đàm phán.

Sáng ngày 2 tháng 10, cuộc đàm phán bắt đầu. Đại diện Pháp là Cédille gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm trưởng đoàn. Tướng Anh Gracey cũng tham dự để gây áp lực. Phía Pháp đưa ra những luận điểm vô lí: vu cáo hành động chiến đấu tự vệ bảo vệ độc lập của ta, đòi ta chấp nhận bản tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của De Gaulle. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đòi Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam, công nhận Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đình chỉ gây hấn, rút quân về các vị trí trước ngày 23 tháng 9. Cédille xin trả lời sau.


(1) Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, t. 1, tr. 357-358.
(2) Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sách đã dẫn, tr. 358.
(3) Ngay hôm sau, báo chí địch ở Sài Gòn đưa tin: Người bị giết là đại tá Mĩ Peter Dewey. Dewey là cháu viên thống đốc Dewey bang New York, là cố vấn tình báo của Pháp và Đồng Minh. Đó là tên sĩ quan cao cấp Mĩ đầu tiên bị giết chết ở Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:34:59 AM
Ngày 3 tháng 10, hai tàu phóng ngư lôi Triomphant của Pháp cập bến Sài Gòn, mang theo một tiểu đoàn lính Âu Phi thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5, một đại đội Commando Ponchardier, một số đơn vị lính dù, lính thủy Pháp. Kế đó, ngày 5 tháng 10, tướng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp đến Sài Gòn. Dưới cơn mưa tầm tã, người phía Pháp ra đón Leclerc như một vị cứu tinh. Leclerc bắt tay ngay vào việc chuẩn bị kế hoạch tấn công: Phá vòng vây Sài Gòn, đánh nống ra các tỉnh. Quân Anh với danh nghĩa giải giới quân Nhật sẽ đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và vùng tam giác chiến lược Sài Gòn - Thủ Dầu Một - Biên Hòa trong lúc Pháp chưa tập kết đủ quân số tại Nam Bộ. Tối ngày 6 tháng 10, cuộc đàm phán lại tiếp tục. Thái độ của phía Pháp lập lờ, cố tình nhùng nhằng để hoãn binh. Lấy cớ cần có thì giờ để xin ý kiến của chính phủ Pháp về các đề nghị của ta, Cédille xin kéo dài thời gian ngừng bắn thêm 48 giờ. Ngày 6 tháng 10, hai bên gặp nhau lần thứ ba. Đại diện Pháp vẫn tỏ ra ngoan cố. Bên ta quyết định chấm dứt đàm phán.

Trong thời gian ngừng bắn, lần nữa, bọn đầu cơ chính trị lại xuất đầu lộ diện, tung áp phích tuyên bố thành lập “Chính phủ quốc gia liên hiệp”. Bốn ngày sau khi tuyên bố, chúng bị thanh niên xung phong nội thành bắt gọn tại một nhà chứa ở Chợ Lớn. Cũng trong thời gian này, lữ đoàn cuối cùng của sư đoàn 20 Hoàng gia Anh tới Sài Gòn.

Ngày 10 tháng 10 năm 1945, thời gian ngừng bắn kết thúc. Cuộc đàm phán đã phơi bày trước dư luận thế giới dã tâm xâm lược với nước ta của thực dân Pháp, đồng thời biểu thị ý nguyện hòa bình và quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập của nhân dân ta. Đây cũng là quãng thời gian quý báu để các cơ quan, các đơn vị vũ trang của ta kịp thời di chuyển tài liệu, vũ khí, trang thiết bị cần thiết, tháo dỡ và di chuyển máy móc, nguyên vật liệu ra ngoại ô cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Quân dân Sài Gòn vẫn tiếp tục giữ thế bao vây quân địch trong nội thành.

Trong lúc đó, từ khắp mọi miền đất nước, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, tiếp thêm sức mạnh cho Sài Gòn kháng chiến dấy lên mạnh mẽ.

Ngay sau khi cuộc kháng chiến bắt đầu, các tỉnh kế cận thành phố Sài Gòn như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An… tổ chức nhiều đội tự vệ chiến đấu về Sài Gòn đánh Pháp. Công nhân cao su các tỉnh Nam Bộ gửi về 3.000 người. Nhiều tốp thanh niên tự động tập hợp đội ngũ, tìm mua vũ khí kéo về xin gia nhập các mặt trận xung quanh Sài Gòn. Trong số này, còn có những đoàn thanh niên dân tộc thiểu số ở Phan Thiết, Biên Hòa và phía Bắc Thủ Dầu Một trang bị chủ yếu bằng ná, tên tẩm thuốc độc về tham gia đánh địch ở mặt trận phía Đông thành phố. Nhiều chiến sĩ người Thượng đã hi sinh tại mặt trận phía ngã ba Hàng Xanh. Tổng công đoàn Nam Bộ vận động nhân dân các tỉnh quyên góp lương thực, thực phẩm, tiền bạc chuyển về Sài Gòn nuôi bộ đội đánh giặc. Phong trào cung cấp sức người, sức của cho Sài Gòn đánh Pháp phát triển rộng khắp các tỉnh Nam Bộ.

Ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung, hàng vạn người xung phong đầu quân vào Nam giết giặc. Hầu hết các tỉnh đều lập “phòng Nam Bộ” ghi tên các chiến sĩ tình nguyện vào Nam. Họ là những công nhân, nông dân, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, thầy thuốc, nhà giáo, kĩ sư, viên chức, Việt kiều, cựu binh sĩ… gồm cả già, trẻ, gái, trai. Ngay từ tuần lễ đầu của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đã có nhiều chi đội lên tàu vào Nam chiến đấu, gồm các đơn vị Giải quyết quân từ các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, chiến khu Đông Triều, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Nghệ Tĩnh… Hầu như ngày nào trên các chuyến tàu vào Nam cũng đều có quân Nam tiến.

Dọc tuyến đường sắt Bắc - Nam, nhân dân mang cờ, biểu ngữ, bánh trái chào đón nồng nhiệt đoàn quân Nam tiến. Đồng thời đồng bào khắp nơi hưởng ứng rầm rộ phong trào ủng hộ tiền cho Nam Bộ kháng chiến. Tại Hà Nội, đêm 29 tháng 9, báo Cứu Quốc (cơ quan của Tổng bộ Việt Minh), ra số đặc biệt in toàn chữ đỏ đưa tin: thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, đồng bào Nam Bộ đã cầm súng đứng lên chiến đấu. Tiếng báo tin và tiếng rao báo trong đêm đã dựng cả Hà Nội dậy. Bà con tranh nhau mua báo, chuyền tay nhau đọc. Ngày hôm sau, phong trào ủng hộ Nam Bộ được phát động. các hoạt động ủng hộ Nam Bộ diễn ra sôi nổi dưới nhiều hình thức phong phú. Từ ngày 7 đến ngày 14 tháng 10, nhân dân tổ chức “tuần lễ văn hóa” ủng hộ Nam Bộ. Ngày bế mạc, đông đảo đồng bào Thủ đô đến thăm các gian hàng triển lãm, sau đó đến “Đài kháng chiến” quyên góp tiền gửi Nam Bộ. Các tổ chức đoàn thể như Hội phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Hội tôn giáo đều tổ chức ngày quyên góp cho Nam Bộ. Hàng trăm tấm vải lụa, len sợi, quần áo, cùng nhiều tiền vàng được ưu tiên chở trong những toa tàu đặc biệt chạy tốc hành vào Nam.

Sức người, sức của của cả nước kịp thời gửi về Sài Gòn đã góp phần quan trọng trong cuộc chiến đấu bao vây quân địch những ngày đầu kháng chiến. Trên thực tế cả nước đã kháng chiến tại địa bàn Sài Gòn.

Cùng thời gian này, ở tỉnh Gia Định và tính toàn Nam Bộ, bộ máy chính quyền nhân dân và tổ chức đoàn thể kháng chiến các đã được xây dựng và củng cố. Nhiều đồng chí từ Côn Đảo và các nhà tù đế quốc trở về cùng với cán bộ tại chỗ hình thành bộ máy lãnh đạo, bộ máy chỉ huy quân sự, công an, vận động quần chúng… Họ là những cán bộ trung kiên, tài năng, có tri thức và năng lực tổ chức lãnh đạo chỉ huy, từ mọi miền đất nước tới. Sự có mặt kịp thời của họ trong buổi đầu kháng chiến có ý nghĩa cực kì quan trọng: giữ vai trò quyết định trong việc hình thành bộ máy lãnh đạo kháng chiến các cấp suốt thời kì chiến tranh.

Sau khi có viện binh, Leclerc liên tiếp tổ chức các cuộc tiến công phá vòng vây quanh khu vực trung tâm Sài Gòn. Chiến sự lan dần ra ngoại ô, diễn ra quyết liệt ở khu vực cầu Tân Thuận, Nhị Thiên Đường, Phú Lâm, Tham Lương, Bến Phân, Gò Vấp, An Nhơn, cầu Thị Nghè, Hàng Xanh.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Ba, 2012, 06:36:23 AM
Xung quanh Sài Gòn, cùng với sự phát triển, củng cố và điều chỉnh nhanh chóng lực lượng vũ trang, các mặt trận ngăn chặn bao vây Sài Gòn hình thành.

Mặt trận số 1 (còn gọi là mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Gia Định hay mặt trận miền Đông) kéo dài từ ngã ba sông Thị Nghè đến cầu Bông. Ranh tuyến bên trái trải dọc sông Sài Gòn, quốc lộ 14 từ ngã ba Thị Nghè, ngã ba Hàng Xanh, cầu Bình Lợi. Ranh tuyến bên phải từ cầu Kiệu ra ngã tư Phú Nhuận, ngã ba Chú Ía, ngã năm Chuồng Chó đến An Nhơn đi Lái Thiêu. Trên mặt trận này, đồng bào xây dựng chiến tuyến (đào hầm hố, đắp mô) thành nhiều tầng, dựa trên ba trục chính: trục đường 13 (khu vực Thị Nghè, Hàng Xanh), trục cầu Bông, Bà Chiểu, cầu Hang, Gò Vấp đến cầu Bến Phân; trục cầu Kiệu, Phú Nhuận, nga ba Chú Ía ra An Nhơn.

Chiến đấu tại mặt trận này gồm các bộ đội Nguyễn Văn Dương, bộ đội Trần Cao Vân, bộ đội Hoàng Cao Nhã, bộ đội Hoàng Mạnh, bộ đội Triệu Cải, bộ đội Thị Nghè (Nguyễn Bân), bộ đội Hai Nhỏ, bộ đội Hai Rim (đại đội dân tộc thiểu số Thủ Dầu Một). Ngoài ra còn có lực lượng Đệ tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp và bộ đội của Hồng Tảo (HT29). Bộ chỉ huy mặt trận tiền tuyến miền Đông gồm Nguyễn Đình Thâu (chỉ huy trưởng), Phạm Văn Khung (chính ủy), Phan Văn Năm, Nguyễn Văn Công, Nguyễn Hòa Hiệp, Hồng Tảo. Chỉ huy sở đặt tại Gò Vấp, sau chuyển sang An Phú Đông.

Xa hơn, về phía Thủ Đức, có bộ đội Nam tiến(1), bộ đội Đào Sơn Tây, bộ đội Trần Thắng Minh, bộ đội Thái Văn Lung.

Mặt trận số 2 (còn gọi là mặt trận tiền tuyến phía Bắc hay mặt trận Tham Lương), án ngữ cửa ngõ quốc lộ 1 đi Tây Ninh, Campuchia. Khu vực Bà Điểm, Hóc Môn và trục lộ 15 từ chợ Cây Xoài đến Quán Tre, Trung Chánh, dọc từ ngã tư Bảy Hiền đến cầu Tham Lương, các chiến sĩ cùng với đồng bào địa phương lập các chiến tuyến, công sự chiến đấu, phá bung nhiều đoạn đường trên quốc lộ 1, đặc biệt ở khu vực cầu Tham Lương.

Tại mặt trận này, nhân dân tự vũ trang, xây dựng lực lượng bằng cách tập hợp thành từng nhóm đánh giặc lấy súng và mua vũ khí của Nhật, phát triển thành phong trào.

Khu vực Bà Quẹo, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Nhị có bộ đội Nam Bội, Tư Báu, Tư Thược, Tám Đào, Tám Don, Bảy Ưng. Ở Bà Điểm có bộ đội Huỳnh Tấn Chúa. Hóc Môn có bộ đội Cao Đức Luốc, Sáu Ngói, Sáu Bằng. Ở Tây Mĩ, Bình Mĩ có bộ đội Tô Kí (gồm cả lực lượng Nguyễn Văn Bứa, Phan Hữu Hòa, Võ Văn Của). Ở Đông Thạnh có bộ đội Bảy Mĩ. Ở An Phú xã có bộ đội Bảy Sanh, Sáu Sai. Xa hơn, phía Đức Hòa, có bộ đội Huỳnh Văn Một. Số đông trong cán bộ chỉ huy các bộ đội trên là đảng viên cộng sản bị tù đày vượt ngục hoặc được thả ra sau ngày Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, hoặc sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chất lượng chính trị của bộ đội cao. Đây là lực lượng tiền thân của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa.

Bộ chỉ huy mặt trận tiền tuyến phía Bắc do Nguyễn Văn Tư làm chỉ huy trưởng. Sở chỉ huy đặt tại Phú Thọ Hòa.

Ngoài ra, hoạt động ở khu vực Phú Thọ Hòa còn có bộ đội Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) gồm cả lực lượng của Dương Văn Ti ở chợ Dũi, Nguyễn Phú Duyên và Thái Sĩ Từ  Phú Thọ Hòa kéo ra… Khu vực Bà Quẹo có bộ đội Huỳnh Văn Trí (Mười Trí, đóng ở Tân Hòa, Vĩnh Lộc, Bà Quẹo).

Mặt trận số 3 (còn gọi là mặt trận tiền tuyến phía Tây hay mặt trận Phú Lâm - Chợ Đệm) án ngữ lộ Đông Dương 16, con đường sắt Sài Gòn - Mĩ Tho và lộ số 10 Bình Trị Đông - cầu Xáng. Toàn tuyến mặt trận trải từ Tân Thới Hòa qua Phú Lâm, Tân Hòa Đông, Phú Định xuống An Lạc, chợ Đệm, ngăn chặn hành lang chiến lược từ Sài Gòn xuống đồng bằng sông Cửu Long.

Chiến đấu ở mặt trận này có lực lượng Cộng hòa vệ binh Nam Bộ do Trương Văn Giàu chỉ huy và các bộ đội Tổng công đoàn do Nguyễn Lưu, Mười Thìn chỉ huy. Ngoài ra còn có những bộ đội khác chiến đấu trong nội thành rút dần ra và từ các tỉnh miền Trung, Tây, Nam Bộ lên. Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ Trần Văn Giàu kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận này. Chỉ huy sở đặt tại đường Cây Mai rồi về Bình Điền. Khi trận tuyến phía trước bị phá vỡ, lực lượng chiến đấu Trương Văn Giàu kéo về lập tuyến ngăn chặn địch ở khu vực Bình Điền rồi kéo xuống Gò Công. Lực lượng Tổng công đoàn trụ bám lại do Nguyễn Lưu chỉ huy lùi vào khu vực Gò Cát - Bình Trị Đông - Bình Thủy Hòa.

Mặt trận số 4 (còn gọi là mặt trận tiền tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn hay mặt trận phía Nam gồm mặt trận Bình Đông, mặt trận cầu chữ Y, mặt trận Tân Thuận, Thủ Thiêm) trải dài trên toàn bộ phía Nam Sài Gòn và Chợ Lớn. Các chiến tuyến chủ yếu của ta được bố trí từ Tân Thuận, Ngã ba Kinh Tẻ sông Sài Gòn đến bến đò Tân Quy, từ cầu Chữ Y đến cầu Hiệp Ân dọc bờ kinh đối diện với quân Pháp hướng sang Thương Cảng đến cảng xà lan và Nhà đèn Chợ Quán.

Chiến đấu chủ yếu trên mặt trận này có lực lượng vũ trang tại địa bàn Nhà Bè và lực lượng vũ trang tại địa bàn Cần Giuộc.

Lực lượng vũ trang Nhà Bè gồm bộ đội Bình Xuyên Dương Văn Dương (Ba Dương, xóm Bến Đò, cầu Rạch Đỉa), bộ đội Trần Văn Đối (Sáu Đối, Tân Thuận, gồm cả bộ đội Sáu Đối và Sáu Thơ), bộ đội Quách Văn Phải, Tám Mao, Năm Mười Ba), bộ đội Nguyễn Văn Soái (Phú Xuân), bộ đội Đoàn Văn Ngọc (Tám Thuận, gồm cả lực lượng Chín Mập, Dương Văn Đức), bộ đội Chín Hiệp (bến đò Tân Thanh, ngã ba rạch Ba Lao - rạch Dơi), bộ đội Mười Đen (khu vực kho, cảng), bộ đội Ngô Văn Lực (Mười Lực) - Võ Văn Môn (Bảy Môn) - Nguyễn Văn Hoe (Thủ Thiêm), bộ đội Nguyễn Văn Huỳnh… Lực lượng vũ trang Cần Giuộc gồm bộ đội Bình Xuyên Nguyễn Văn Mạnh (Tám Mạnh, Chánh Hưng), bộ đội Tư Hoạnh (cầu ông Thìn), bộ đội Trương Văn Bang (Ba Bang, Cần Giuộc) và bộ đội Nguyễn Văn Trân (Bảy Trân, cầu Bình Đăng).

Chỉ huy trưởng mặt trận do Nguyễn Văn Trân (Bảy Trân) phụ trách. Chỉ huy sở đóng tại khu vực cầu Bình Đăng, sát cạnh liên tỉnh lộ 5A Sài Gòn đi Cần Giuộc).

Bốn mặt trận bao quanh thành phố tạo thành một vành đai nhốt quân địch tại chỗ. Các vị trí xung yếu của vành đai này là các cầu - cửa ngõ nối thành phố với các tỉnh bên ngoài. Từ các chiến tuyến, quân ta vừa tổ chức ngăn chặn, bẻ gãy các cuộc tiến công giải tỏa vòng vây của địch, vừa đưa các mũi len lỏi thọc sâu vào thành phố tập kích các vị trí quân sự, cơ sở kinh tế, kho tàng rồi nhanh chóng rút ra. Các trạm chốt trên vành đai còn làm nhiệm vụ tiếp chuyển đồng bào trong thành phố tản cư ra ngoại ô, tiếp nhận hàng hóa tiếp tế từ các cơ sở nội thành gửi ra vành đai nuôi bộ đội.


(1) Đơn vị Nam tiến vào Nam Bộ thuộc lực lượng 3 chi đội hợp lại: Nam Long, Lương Văn Khâm, Vũ Đức. Lực lượng Lương Văn Khâm ở lại Biên Hòa cùng với cơ quan Ủy ban kháng chiến miền Đông do Đào Duy Kì tự xưng làm chủ tịch. Lực lượng Vũ Đức tách ra về đóng ở sở cao su Thuận Lợi phía Bắc Thủ Dầu Một. Lực lượng Nam Long vào Thủ Đức, tham gia mặt trận tiền tuyến miền Đông.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:00:43 AM
*
*   *

Cùng với sự hình thành các mặt trận và cuộc chiến đấu diễn ra xung quanh Sài Gòn, trong nội đô, quân và dân ta đẩy mạnh các cuộc tập kích quấy rối không cho địch rảnh tay củng cố lực lượng và tổ chức tiến công giải vây.

Từ ngày 10 tháng 10 năm 1945, lấy danh nghĩa Đồng Minh, quân Anh đi tước vũ khí của quân Nhật tại các thị xã thuộc miền Đông Nam Bộ, dọn đường cho quân Pháp tiến công đánh chiếm các tỉnh xung quanh Sài Gòn.

Chiều ngày 10 tháng 10, hết thời gian ngừng bắn, một đội thanh niên xung phong cùng với bộ đội công đoàn xung phong tiến công vị trí quân Pháp cách Sài Gòn 3km về phía Tây Bắc. Đêm, quân ta ở mặt trận phía Đông vượt cầu Bông, cầu Kiệu tiến công các điểm đồn trú của Pháp tại khu vực Đa Kao - Tân Định. Bót cảnh sát trên đường Benard, câu lạc bộ sĩ quan trên đường Norodom, cùng lúc bị tập kích. Tại Khánh Hội, ta đánh vào khu vực trại giam, giải thoát một số thanh niên, đốt cháy các kho lương thực, 23 giờ, chiếc tàu Albert của Pháp đậu tại cảng Sài Gòn bị đốt cháy. Rải rác trong khắp các khu vực nội thành, lửa cháy suốt đêm.

Ngày 12 tháng 10, quân Anh có lính Nhật mở đường đánh chiếm Gia Định và Gò Vấp. Quân Pháp đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Phú Mĩ. Chiến tuyến phía Đông Bắc bị vỡ một mảng lớn.

Trong các ngày 13, 14, 15 tháng 10, quân ta vẫn uy hiếp mạnh ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 13 phục kích tại cầu Hang - Gò Vấp, diệt một số tên Pháp, chiếm hai xe thiết giáp. Ngày 14, một trận tập kích diễn ra tại Chợ Lớn - Phú Lâm, quân Nhật bị thiệt hại nặng. Ngay 15, bao vây và tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Đêm, đốt kho chứa xăm ô tô và dầu xăng của Anh, đốt kho lương thực của Pháp, phá nhà máy nước, nhà máy điện.

Ngày 16 tháng 10, quân Pháp tiến công ra An Nhơn bị ta chặn đánh phá hỏng 7 xe thiết giáp và 3 xe khác. 21 giờ đêm, bộ đội Bình Xuyên phối hợp với du kích tập kích địch ở xóm Bến Đò - Cây Khô rồi đánh thẳng tới bót cảnh sát trên đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo). Cũng trong ngày 16, quân Pháp chọc thủng tiếp chiến tuyến phía Đông Bắc, đánh chiếm cầu Bông, Bà Chiểu. Tuyến ngăn chặn phía trước mặt trận tiền tuyến miền Đông bị phá vỡ. Quân ta rút về củng cố chặn địch ở Gò Vấp, trục đường 13 từ ngã ba Chú Ía đến An Phú Đông và khu vực Hàng Xanh. Chỉ huy sở mặt trận phía Đông cùng các cơ quan kháng chiến tỉnh Gia Định, quận Gò Vấp dời chuyển sang ấp Đông Nhất, xã An Phú Đông xây dựng căn cứ địa kháng chiến.

Ngày 17 tháng 10, tại mặt trận phía Bắc, quân ta phục kích ở cầu Tham Lương đánh lui đoàn xe của địch gồm 8 chiếc chở lính và xe thiết giáp yểm trợ hành quân lên Hóc Môn, ta phá hủy 5 xe và diệt một số tên. Mười giờ, kho đạn Thị Nghè nổ dữ dội. Đây là kho chứa bom đạn từ bến tàu bốc lên đặt tại khu vực đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bình Khiêm) cạnh vườn thú, được bố trí hệ thống phòng thủ nghiêm ngặt. Xung quanh khu có hào sâu, tường cao 2 mét, chăn kẽm gai và hệ thống tháp canh có đèn quét ban đêm. Một đại đội Âu Phi th tuần tra canh gác. Đội viên cảm tử Lê Văn Tám mới ba tuổi được giao nhiệm vụ giả câu cá, cắt cỏ ở bến sông để quan sát. Đêm 17 tháng 10, Tám tự quyết định một mình đánh kho đạn, lừa bọn lính gác lọt vào ẩn nấp bên trong với chai xăng và bao diêm. Buổi sáng, chờ lúc địch sở hở, em tiếp cận, tưới kho xăng vào khu vực chứa đạn và châm lửa. Lửa cháy loang, một tiếng nổ long trời, kéo theo hàng loạt tiếng nổ liên tiếp, làm rung chuyển cả thành phố. Lê Văn Tám người bị dính xăng, bắt lửa, tự biến mình thành cây đuốc sống đã hi sinh anh dũng. Kho bị phá hủy hoàn toàn. Đài phát thanh bên đường bị sập một phần lớn. Đại đội Âu Phi bảo vệ bị tiêu diệt. Gương hi sinh của em bé “đuốc sống” trở thành một hình tượng tiêu biểu cho tinh thần yêu nước chiến đấu quên mình của thiếu niên nhi đồng trong những ngày đầu chống Pháp.

Ngày 18 tháng 10, sau nhiều lần nống ra nhưng bị đẩy lùi, Pháp huy động lực lượng lớn có tàu chiến, xe tăng, pháo binh yểm trợ tiến công đánh chiếm Thị Nghè. Đây là phòng tuyến khá vững chắc, có con sông Thị Nghè - một vật cản thiên nhiên chắn ngang. Bộ đội Thị Nghè phối hợp bố trí lực lượng phòng thủ theo lối trận địa chiến. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt ngay từ đầu. Nhân dân địa phương cùng lực lượng vũ trang do Nguyễn Bân chỉ huy và một số đơn vị bộ đội khác chống giữ rất kiên cường. Quân địch có xe tăng dẫn đầu tăng cường hỏa lực, đột kích chiếm đầu cầu của trận địa ta. Quân ta đẩy lùi được nhiều đợt tiến công của địch, đánh bật chúng ra khỏi cầu. Hai phân đội phòng thủ Hai Hổ và Bảy Trường hi sinh đến người cuối cùng. Giặc Pháp cuối cùng buộc phải rút lui, bỏ lại nhiều xác chết. Trận địa ta được giữ vững. Chiến thắng Thị Nghè gây chấn động trong cả nước. Phóng viên nước ngoài tại Sài Gòn bình luận đây là một thắng lợi lớn của quân kháng chiến. Tại Hà Nội, báo [/i]Cứu Quốc[/i] số ra ngày 19 tháng 10 viết: “Trận Thị Nghè sẽ ghi vào chiến sử Việt Nam”.

Ngày 19 tháng 10, 10 giờ sáng, quân ta tiến công ga xe điện Nancy gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại. Cùng ngày tại Bà Quẹo, ta chặn đánh bẻ gãy cuộc hành quân của quân Anh ra Tham Lương.

Từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 10, các lực lượng chiến đấu nội thành vẫn giữ thế bám trụ tiến công địch. Hãng dầu Cinan, kho chứa vải, chứa xăm lốp xe hơi bị đốt cháy. Cảm tử quân ném lựu đạn vào dinh Xã Tây, khách sạn Continental, diệt một số lính Pháp. Tại mặt trận cầu Tham Lương và mặt trận cầu Chữ Y, ta vẫn liên tiếp chặn đánh địch, bẻ gãy nhiều mũi tiến công của chúng.

Ngày 23 tháng 10, binh đoàn kị binh thiết giáp của đại tá Massu đến Sài Gòn, đưa tổng số quân Pháp tại Sài Gòn lên tới 6000 (không kể quân Anh, Ấn, Nhật). Có thêm quân, Leclerc bắt đầu thực hiện kế hoạch phá vây, mở rộng vùng chiếm đóng ra các tỉnh xung quanh Sài Gòn, đánh chiếm các tỉnh còn lại của Nam Bộ, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, thực hành bình định. Một bộ phận lớn của binh đoàn Massu (thuộc sư đoàn 2 chiến xa), trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 và tiểu đoàn lính thủy đánh bộ phối hợp với quân Anh, Nhật, đã tổ chức các cuộc tiến công mở rộng phạm vi chiếm đóng.

Trong những ngày cuối tháng 10, quân Pháp - Anh dùng xe tăng và thiết giáp chọc thủng các phòng tuyến bao quanh Sài Gòn, đánh chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An, Mĩ Tho. Quân ta, trừ một bộ phận ở lại nội đô, lần lượt rút ra ngoài bảo tồn và củng cố lực lượng sau hơn một tháng chiến đấu bao vây quân địch trong thành phố.

Hơn một tháng trời chiến đấu, quân và dân Sài Gòn có sự góp sức của các tỉnh phụ cận đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ “đi trước”: cần chân địch trong thành phố, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng, tạo ra một khoảng thời gian quý báu để nhân dân Nam Bộ có điều kiện chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến sắp tới. Cuộc chiến đấu của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong hơn một tháng đầu kháng chiến là bản tráng ca bất hủ trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Hình ảnh của tiểu đội bảo vệ cột cờ Thủ Ngữ, phân đội cắm lá cờ Tổ quốc lên tháp sở chữa lửa, phân đội bảo vệ mặt trận Thị Nghè, em bé “Đuốc Sống” và âm điệu những lời ca “Mùa thu rồi ngày hăm ba, “Lên đàng”, “Này Thanh niên ơi”… không bao giờ mờ phai trong kí ức mọi người.

Giờ đây, quân địch đã phá vỡ vòng vây Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và tiến chiếm các tỉnh Nam Bộ. Các đơn vị vũ trang ta phải tạm phân tán, rút lui ra nhiều hướng. Nhưng những kinh nghiệm đầu tiên về phát động cuộc chiến tranh nhân dân ở một thành phố lớn và sự từng trải trong hơn một tháng đầu thử lửa là hành trang vừa gom góp được để quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định vững bước vào giai đoạn lịch sử kế tiếp.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:01:49 AM
III. ĐẤU TRANH GIỮ VỮNG VÀ XÂY DỰNG PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN

Sau khi tiến công giải tỏa vòng vây bao quanh Sài Gòn, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp khẩn trương thực hiện kế hoạch đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ, với ba điểm chính: 1. Quân Anh lấy danh nghĩa Đồng Minh tước vũ khí quân Nhật, đánh chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một rồi giao cho Pháp. 2. Quân Pháp tập trung lực lượng chia thành ba mũi đánh chiếm các tỉnh miền Trung Nam Bộ (một tiểu đoàn bộ binh thuộc trung đoàn số 5 (5è RIC) và binh đoàn thiết giáp Massu theo lộ Đông Dương 16 đánh chiếm Tân An, phát triển xuống Mĩ Tho. Đội Commando của Paul Satdier dùng tàu LIC kéo cờ Anh theo kinh Chợ Gạo tiến chiếm cầu tàu và đánh vào trung tâm thị xã Mĩ Tho. Lực lượng hải quân từ Ô Cấp đánh chiếm Gò Công, một bộ phận ngược sông Tiền Giang từ cửa Tiểu, cửa Đại thọc vào Mĩ Tho. 3. Khi sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) đến Sài Gòn sẽ phối hợp với cánh từ Campuchia, theo quốc lộ 1, đường 22 đánh chiếm Tây Ninh và vùng cao su Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Thuận Lợi, Dầu Tiếng… theo đường 13 lên.

Từ Sài Gòn, cuộc chiến tranh đã lan rộng ra toàn Nam Bộ! Nhiệm vụ chiến đấu của quân và dân Sài Gòn nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung chuyển từ kềm chân địch trong thành phố sang làm chậm bước tiến quân xâm lược của chúng và khẩn trương củng cố lực lượng, chuẩn bị mọi mặt cho giai đoạn kháng chiến mới.

Ngày 25 tháng 10 năm 1945, tại xã Hậu Mĩ, huyện Cái Bè, Mĩ Tho (gần chợ Thiên Hộ, nay là xã Hậu Mĩ Bắc B) Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng được triệu tập nhằm kịp thời lãnh đạo cuộc kháng chiến đang lan rộng.

Trước đó, ngày 15 tháng 10, đã có một hội nghị cán bộ Đảng Nam Bộ tại cầu Vi (ngoại vi Mĩ Tho) có các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Thị Thập, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Kỉnh… tham dự Hội nghị tập trung thảo luận về xây dựng Đảng, củng cố tổ chức Việt Minh và các đoàn thể kháng chiến. Khắc phục tình trạng song song tồn tại hai xứ ủy Tiền Phong và Giải Phóng, Hội nghị quyết định giải thể cả hai Xứ ủy cũ, thành lập một Xứ ủy thống nhất 11 đồng chí (gồm cả Tiền Phong, Giải Phóng cũ và các đồng chí ở Côn Đảo mới về). Hội nghị cũng quyết định thống nhất lại các tỉnh ủy và Tổng bộ Việt Minh.

Tại Hội nghị Hậu Mĩ, các đại biểu tập trung bàn về tổ chức kháng chiến. Sau khi kiểm điểm tình hình, rút khởi nghĩa chỉ đạo cuộc kháng chiến từ sau hội nghị Cây Mai, biểu dương tinh thần chiến đấu anh dũng của quân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, hội nghị đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tổ chức du kích rộng khắp, thực hành du kích chiến tranh, giải quyết cụ thể việc tổ chức kháng chiến ở một số tỉnh và quyết định giữ lại ở Nam Bộ phần lớn các đồng chí vừa ra tù để tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh. Riêng về lực lượng vũ trang, các đại biểu đã chỉ ra những sai sót trong việc xây dựng lực lượng vũ trang sau Tổng khởi nghĩa, việc thành lập các “sư đoàn dân quân cách mạng” và dự kiến sự tan rã tất yếu của các đơn vị này. Hội nghị đã đề ra những biện pháp cụ thể nhằm củng cố, xây dựng bộ đội như đưa đảng viên vào nắm bộ đội, đặt lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai hội nghị cán bộ Đông Nam Bộ và giữa và cuối tháng 10 năm 1945 có ý nghĩa rất quan trọng. Nó vạch ra một số yếu tố làm cơ sở lí luận và tổ chức cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt phức tạp lúc đó.

Ngày 29 tháng 10, qua Đài Tiếng nói Việt Nam và báo Cứu Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào Nam Bộ:

“Hỡi đồng bào trong Nam!

Quân Pháp nấp dưới bóng quân đội Anh đang tàn sát đồng bào ta trong Xứ. Ở Mĩ Tho, ở Tân An, ở Biên Hòa, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiên đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam, để tỏ rõ cho hoàn cầu biết rằng dân tộc Việt Nam đầy đủ tinh thần hi sinh chiến đấu.

Mặc dù quân Pháp có đủ khí giới tối tân, tôi biết chắc không bao giờ chúng cướp được nước ta đâu. Từ Nam chí Bắc đồng bào ta luôn sẵn sàng. Mấy triệu người như một, quyết tâm đánh tan quân cướp nước. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hi sinh của toàn thể một dân tộc.

Vì công lí, cuộc kháng chiến tự vệ của dân tộc ta phải toàn thắng. Quân Pháp đi đến đâu sẽ gặp cảnh đồng không nhà trống, không người, không lương thực. Chúng ta quyết không hợp tác với chúng, không chịu sống chung với lũ thực dân Pháp.

Đồng bào trong Nam, trong một tháng nay, đã tỏ rõ tinh thần vững chắc, hùng dũng, đang làm gương cho lịch sử thế giới. Ngày nay trước tình trạng khó khăn, toàn thể quốc dân Việt Nam hồi hộp theo dõi cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Nhưng thời cuộc càng khó khăn chừng nào, tôi chắc rằng tinh thần anh chị em càng cương quyết hơn chừng ấy. Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất, mà không đội quân xâm lăng nào đánh tan được”(1)

Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch đã kịp thời khích lệ quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong giai đoạn lịch sử khó khăn này.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t. 4, tr. 45-46.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:03:22 AM
*
*   *

Đầu tháng 11 năm 1945, trung đoàn kị binh thiết giáp số 9 (9è Dragon) đến Sài Gòn. Pháp đưa quân tiến chiếm Gò Vấp, Gia Định và những vị trí khác do quân Anh giao lại, đồng thời mở cuộc hành quân lên phía Bắc và Tây Bắc phối hợp với cánh quân từ Campuchia xuống đánh chiếm Tây Ninh, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Dầu Tiếng. Các trung đoàn bộ binh thuộc địa số 21 (21è RIC), 23 (23è RIC) đóng quân án ngữ phía Bắc, Tây Bắc Sài Gòn. Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) tỏa quân hoạt động càn quét vùng ven Sài Gòn, chà đi xát lại từng khu vực các cửa ô, đầu cầu, thôn xóm nhằm tiêu diệt lực lượng bám trụ của ta, xây dựng “vành đai an toàn” xung quanh thành phố.

Các cơ quan chính quyền, đoàn thể kháng chiến, lực lượng vũ trang của Nam Bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định phải tản ra nhiều hướng. Ủy ban nhân dân Nam Bộ chuyển về Thủ Dầu Một. Ủy ban kháng chiến miền Đông chuyển về Biên Hòa, Xuân Lộc, rồi Phan Thiết. Thành ủy, Ủy ban kháng chiến Sài Gòn chuyển ra An Lạc, Bình Điền. Bộ chỉ huy mặt trận miền Đông cùng cơ quan tỉnh Gia Định, quận Gò Vấp rút về An Phú Đông. Bộ chỉ huy mặt trận số 4 rút xuống Rừng Sác cùng một bộ phận chiến đấu ở đây. Phần lớn lực lượng công đoàn xung phong rút ra ngoại thành rồi lên Tân Uyên, phân tán hoạt động ở khu vực Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Bộ chỉ huy mặt trận phía Bắc cùng lực lượng vũ trang Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa trụ đánh ở phía Bắc thành phố rồi về An Phú Xã.

Giữa lúc đó, trong bộ đội Đệ nhị, Đệ tam, Đệ tứ sư đoàn, HT 29 diễn ra sự phân hóa sâu sắc. Trước sức tiến công của giặc Pháp, các đơn vị này bỏ chạy, tan rã. Nhiều bộ phận bộc lộ tính chất phức tạp, vô chính phủ, cơ hội, trở thành tai họa cho nhân dân.

Tư lệnh Đệ nhị sư đoàn Vũ Tam Anh vào thành hàng giặc, được cơ quan phòng nhì Pháp giao nhiệm vụ móc nối lôi cuốn một số nhân vật như Trần Quang Vinh, Phạm Công Tắc… hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.

Đệ tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Hiệp rút ra Gò Vấp, Hóc Môn, Đức Hòa. Tại đây, chúng ngang nhiên uy hiếp chính quyền địa phương, tước khí giới của du kích (cướp 40 khẩu súng của du kích Hóc Môn), tranh giành lực lượng với bộ đội Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, chặn cướp lương thực tiếp tế của ta. Sau đó rút về phía Bắc Hóc Môn (Phước Hiệp, Thái Mĩ), Rạch Gầm (Đức Hòa), rồi kéo xuống Đồng Tháp Mười, Cao Lãnh (Sa Đéc). Dọc đường, chúng cướp xe đạp, xe bò, xe thổ mộ, ghe xuồng, và cướp lúa gạo, trâu bò làm cho nhân dân sợ hãi, xa lánh. Sau cuộc càn của Pháp vào Cao lãnh, Đồng Tháp Mười tháng 2 năm 1946, Đệ tam sư đoàn quay trở lại Vàm Cỏ Đông. Về đến Thạnh Lợi, hầu hết chiến sĩ nhận chân bộ mặt thật của ban chỉ huy đã bỏ về gia nhập lực lượng vũ trang Đức Hòa. Năm nghìn quân tan rã, tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hòa Hiệp nắm một trung đội về thành đầu Pháp. Phạm Hữu Đức, phó tư lệnh sư đoàn, nắm một trung đội về hợp với một bộ phận bộ đội Hải ngoại thành lập chi đội 5(1).

Đệ tứ sư đoàn chia làm hai cánh, một rút ra Gò Vấp, Lái Thiêu về Bến Cát, một theo lộ 15 về Chợ Cầu, Bến Cỏ, An Nhơn Tây rồi cùng hợp điểm ở Dầu Tiếng, núi Cậu (Thủ Dầu Một). Được giao nhiệm vụ chặn địch ở mặt trận Tham Lương, nhưng Lí Huê Vinh không chiến đấu mà lui về phía sau chặn lấy nguồn tiếp tế của Ban tiếp tế Hóc Môn đang chuyển ra tiền tuyến. Trên đường rút lui, đơn vị này thả sức uy hiếp, cướp bóc, bắn giết nhân dân. Tại núi Cậu, sau khi tước vũ khí của tự vệ, chúng bắt công nhân cao su đồn điền Mitchelin chở tất cả của cải cướp được lên núi đào hầm chôn cất rồi giết hết để giữ bí mật. Giặc Pháp chiếm Dầu Tiếng, lực lượng Đệ tứ tiếp tục bỏ chạy, tư lệnh sư đoàn Lí Huê Vinh tìm đường ra đầu hàng Pháp tại Trung Lập Hóc Môn. Phó tư lệnh Nguyễn Thành Long và tham mưu trưởng Trần Xuân Năm chạy về Đức Hòa hàng giặc. Đại bộ phận chiến sĩ được giác ngộ gia nhập bộ đội Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa.

Bộ đội HT29 rút ra Gò Vấp, rồi về An Thành (Bến Cát), Phú Mĩ Hưng (Hóc Môn), Lộc Thuận (Trảng Bàng). Quá trình rút chạy của lực lượng HT29 đồng thời với quá trình thổ phỉ hóa. Đi đến đâu, chúng cướp bóc, cưỡng hiếp phụ nữ đến đó. Ai chống lại thì chúng đem giết bằng các thủ đoạn man rợ như cột vào bao bố thả trôi sông. Khi Pháp chiếm đóng phía Bắc Củ Chi, một bộ phận kéo ra hàng giặc (trong đó có tên tham mưu trưởng, sau đó trở thành nhân viên phòng nhì khét tiếng gian ác), một bộ phận khác bị bộ đội Mười Trí tước vũ khí khi rút chạy ra phía Tây Vàm Cỏ Đông.

Đệ nhất sư đoàn chiến đấu ở mặt trận phía Tây Nam thành phố. Trước sức tấn công ồ ạt của địch, trong bộ đội diễn ra sự phân hóa: một bộ phận về Gò Công, Bến Tre. Một bộ phận Cộng hòa vệ binh chạy ra miền Trung rồi quay lại Bình Tuy, Bà Rịa và tan rã. Trừ một số trở lại làm ngụy binh, đại bộ phận tham gia các đơn vị vũ trang tại chỗ tiếp tục kháng chiến.

Như rơm nhanh chóng bén lửa, bùng lên rồi tắt lịm, một số phần tử phản động, cơ hội, quân phiệt trong những đơn vị vũ trang kể trên bị cuốn hút vào cơn lốc cách mạng hừng hực khí thế sau Tổng khởi nghĩa, giờ đây, trước khó khăn thử thách, dần dần lộ mặt và bị lịch sử sàng lọc.


(1) Phạm Hữu Đức được giao giữ chức chi đội trưởng chi đội 5, bị một chiến sĩ bảo vệ giết chết trên đường về căn cứ Khu 7.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:06:17 AM
Ngày 20 tháng 11 năm 1945, tại An Phú xã (quận Hóc Môn ), Nguyễn Bình với danh nghĩa phái viên của phái viên của Trung ương(1) mở hội nghị quân sự. Dự hội nghị có 49 đại biểu đủ các thành phần quân dân chính, hầu hết ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Hội nghị thảo luận về kế hoạch thống nhất quân đội, thống nhất chỉ huy, vạch chương trình hành động chống Pháp, diệt tề trừ gian, củng cố chính quyền, đoàn kết quân dân, tiếp tế cho bộ đội, chuẩn bị phát động du kích chiến tranh và phân chia khu vực hoạt động của các đơn vị vũ trang. Hội nghị nhất trí cử Nguyễn Bình làm Tổng tư lệnh và Vũ Đức làm Chính ủy Giải phóng quân Nam Bộ. Hội nghị An Phú xã đã chấn chỉnh một bước tổ chức lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, củng cố thêm lòng tin của bộ đội đối với sự nghiệp kháng chiến.

Trong khi các sư đoàn dân quân cách mạng, bộ đội HT29 chạy dài và tan rã, thì lực lượng công đoàn xung phong, thanh niên xung phong, công an xung phong, các đội cảm tử quân, dân quân du kích… trong nội thành, các đơn vị vũ trang ngoại thành do có các cán bộ cách mạng, các đảng viên làm nòng cốt xây dựng, chỉ huy hoặc do các cơ quan kháng chiến tổ chức lãnh đạo, tiếp tục vượt khó khăn, kiên quyết chiến đấu và phát triển.

Ngay từ tháng 11 năm 1945, trong lúc quân Pháp đang dàn mỏng lực lượng tiến chiếm các tỉnh còn lại ở Nam Bộ, thì tại nội thành Sài Gòn, những bộ phận ở lại bám trụ vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc tập kích địch. Mục tiêu chủ yếu nhằm vào các vị trí quân sự, lính Pháp đi lẻ và bọn tay sai phản động. Ngày 8 tháng 11 năm 1945, một nhóm vũ trang tấn công vào trụ sở tên cao ủy Pháp D’Argenlieu đặt tại phòng thương mại cũ. Ngày 21 tháng 11, quân ta đột nhập một kho vũ khí Pháp ở Sài Gòn, lấy được 15 súng đại liên và 72.000 viên đạn. Ngày 8 tháng 12 lúc 21 giờ, ta tấn công và thiêu hủy trại lính Pháp trên đường Droubet. Ngày 9 tháng 12 năm 1945, Ủy ban nhân dân Nam Bộ ra thông báo: “Đây là một trận tấn công lớn chưa từng có ở Nam Bộ”. Ba ngày sau (11-12-1945), quân ta phục kích một đoàn tàu địch trên sông Cần Đước (tỉnh Chợ Lớn), đánh chìm một tàu, một xà lan và 3 chiếc ghe lớn chở quân Pháp, quân ngụy và nhiều lương thực. 17 tên giặc Pháp bị đền tội.

Ở ngoại thành phía Bắc, các đơn vị vũ trang chiến đấu ở Hóc Môn, Bà Điểm, Đức Hòa và khu vực kề cận đã hợp thành một đơn vị bộ đội thống nhất, lấy tên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân làm lễ ra mắt tại xã Mĩ Hạnh (Đức Hòa) trong không khí vui mừng của nhân dân địa phương. Thành phần của đơn vị hầu hết là thanh niên nông dân ngoại thành, một bộ phận nhỏ là công nhân từ thành phố ra, trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết cơ bản về tri thức quân sự, nhưng tấm lòng nhiệt huyết cách mạng. Trong những ngày giữ “Mặt trận Tham Lương sương gió lạnh lùng”(2), các chiến sĩ ở đây đã trụ bám và chiến đấu rất kiên cường. Các đơn vị Giải phóng quân liên quận được sự chỉ đạo và chỉ huy từ đầu của một số cán bộ Xứ ủy và Tỉnh ủy, trực tiếp là 3 ủy viên quân sự: Tô Kí, Cao Đức Luốc, Huỳnh Văn Một và 3 ủy viên chính trị: Hoàng Dư Khương, Hoàng Tế Thế, Nguyễn Đức Huy(3) (sau Trần Văn Trà thay Hoàng Dư Khương).

Sau ngày thành lập, Giải phóng quân liên quận tiếp nhận thêm nhiều đơn vị nhỏ lẻ khác và trở thành một đơn vị bộ đội đông và mạnh hoạt động trên các mặt trận phía Bắc Sài Gòn.

Ở phía Nam, các đơn vị vũ trang chiến đấu ở mặt trận số 4 và các khu vực liên quan cũng thống nhất lại. Một ngày đầu tháng 11 năm 1945, một hội nghị quân sự được triệu tập tại ấp Phước Cơ (xã Đa Phước, quận Cần Giuộc). Hơn 40 đại biểu về dự đại diện cho bộ đội mặt trận số 4 và một số đơn vị khác chiến đấu ở mặt trận phía Tây, mặt trận phía Đông rút về hoạt động ở khu vực phía Nam thành phố. Trừ một số đại biểu là đảng viên như Nguyễn Văn Trân, Trương Văn Bang, Từ Văn Ri, Nguyễn Văn Mạnh, còn phần đông vốn là những thủ lĩnh “anh chị”. giang hồ hảo hớn, nắm trong tay nhiều binh sĩ và vũ khí. Bên cạnh một số “thủ lĩnh” cơ hội, vô chính phủ kiểu lục lâm, nhiều chỉ huy trưởng vốn có tính cách nghĩa hiệp, yêu nước, chân thành phục vụ kháng chiến như Dương Văn Dương, Mai Văn Tĩnh, Huỳnh Văn Trí… Hội nghị Phước Cơ bầu chỉ huy chung các lực lượng phía Nam (gồm hơn 3000 cán bộ chiến sĩ) do Dương Văn Dương làm chỉ huy trưởng, Nguyễn Văn Mạnh làm tham mưu trưởng. Sở chỉ huy lực lượng thống nhất đặt tại Rạch Đỉa. Giữa tháng 11 năm 1945, giặc Pháp đưa quân đánh xuống Nhà Bè, Soài Rạp. Để bảo toàn lực lượng, Dương Văn Dương đưa bộ đội xuống Rừng Sác, rồi về Phước An (Long Thành - xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng.

Cuối tháng 11 năm 1945, Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến tỉnh Gia Định(4) quyết định chọn các đoàn viên thanh niên Cứu quốc huấn luyện quân sự để thành lập các đơn vị chiến đấu. tại Gò Vấp, các đoàn thanh niên trong hội học sinh các trường và tự vệ chiến đấu khu phố, làng xóm được chọn để tổ chức lại thành lực lượng thống nhất gọi là bộ đội Gò Vấp, do Hứa Văn Yên và Trần Đình Xu chỉ huy. Bộ đội Gò Vấp gồm 8 phân đôi, lấy phiên hiệu từ A 16 đến A 23. Mỗi phân đội có 40 đến 50 người, trang bị từ 25 đến 30 súng. Tại Dĩ An có hai lực lượng do Trần Thắng Minh và Đào Sơn Tây chỉ huy. Bộ đội Trần Thắng Minh và bộ đội Đào Sơn Tây có thành phần chủ yếu từ các đoàn thanh niên vũ trang và công nhân đề pô xe lửa Dĩ An. Tại Thủ Đức, các đơn vị thanh niên vũ trang vùng bưng được tổ chức lại thành 3 đơn vị bộ đội lấy phiên hiệu 44, 45, 46. Một bộ phận bộ đội Tân Bình do Nguyễn Thế Truyện chỉ huy rút sang nhập vào lực lượng vũ trang Thủ Đức, gọi là bộ đội 43. Chỉ huy chung bốn lực lượng bộ đội này là luật sư Thái Văn Lung. Sau khi Thái Văn Lung hi sinh(5), Tạ Nhứt Tứ lên thay làm chỉ huy trưởng bộ đội Thủ Đức.


(1) Nguyễn Bình, một cán bộ quân sự cấp cao được Trung ương cử vào Nam Bộ. Ông đến Thủ Dầu Một ngày 20 tháng 10 năm 1945, liên lạc được với một số cán bộ quân sự địa phương và đứng ra triệu tập một hội nghị tại sở cao su Võ Thành Tây (Bưng Cầu - Thủ Dầu Một). Tại hội nghị này, Nguyễn Bình đã cùng với một số cán bộ quân sự bàn bạc chuẩn bị hội nghị quân sự Nam Bộ tại An Phú xã.
(2) Lời một câu vọng cổ phổ biến ở giai đoạn này, phản ánh tình hình khó khăn ác liệt ở mặt trận phía Bắc.
(3) Nguyễn Đức Huy tham gia kháng chiến ở chiến trường miền Đông Nam Bộ đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như Phó bí thư khu ủy khu 7, Bí thư Đảng ủy Phân khu Duyên Hải. Sau tập kết (1954), bị phát hiện là đã phản bội từ trước Cách mạng tháng Tám.
(4) Tỉnh Gia Định lúc này có 4 quận: Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè. Quận Hóc Môn gồm cả phạm vi Củ Chi ngày nay. Quận Nhà Bè gồm cả huyện Cần Giờ hiện nay.
(5) Thái Văn Lung là một trí thức tiến bộ, một tín đồ công giáo kính Chúa yêu nước, có uy tín trong giới trí thức và đồng bào thành phố. Đồng thời, ông là một vị chỉ huy giỏi, chỉ huy bộ đội đánh nhiều trận quyết liệt khi quân Anh - Pháp tiến chiếm Thủ Đức. Ông bị giặc Pháp bắt, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, nhưng vẫn giữ vững khí tiết và hi sinh anh dũng tại khám đường.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:08:38 AM
Lực lượng Tổng công đoàn Nam Bộ chia thành hai bộ phận. Bộ phận miền Đông dời trụ sở ở Gò Vấp về An Phú Đông, tổ chức các đội xung phong công đoàn thành các đơn vị như bộ đội Trần Cao Vân, bộ đội Nguyễn Văn Giỏi, bộ đội Nguyễn Năng Tạo… Bộ phận miền Tây lần lượt dời trụ sở từ Cây Mai về Phú Lâm, Bình Điền, Gò Cát, tổ chức công nhân trong các hãng xưởng thành từng đơn vị vũ trang chiến đấu như bộ đội Đaiken (hãng Đaiken), bộ đội Cân Vân (hãng đúc Cân Vân), bộ đội Mười Thìn, Mai Xuân Thưởng, Quang Trung, các đơn vị lave, xích lô, thợ nón… các đơn vị hộ 4, hộ 10, hộ 15… tại phía Nam. Tổng công đoàn cũng tổ chức và chỉ đạo các đơn vị vũ trang tại các hộ 3, 13, 16, 17, 18(1).

Mặc dù các tuyến phòng thủ đã bị phá vỡ, nhiều tổ chức vũ trang hoặc phân hóa tán rã hoặc rút lui về các chiến trường xa thành phố, xung quanh Sài Gòn, các đơn vị vũ trang của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định vẫn quyết tâm bám trụ và hơn thế, được tổ chức lại phù hợp với đòi hỏi của tình hình. Trên thực tế, tại các mặt trận bao quanh Sài Gòn vẫn còn lực lượng chiến đấu.

Cuối năm 1954, đồng chí Đàm Minh Viễn mang chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” của Ban chấp hành Trung ương Đảng vào đến Nam Bộ. Chỉ thị nêu rõ: “nhiệm vụ chiến thuật của ta ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ là phải cắt đứt dây liên lạc giữa các thành phố đã lọt vào tay địch, phong tỏa những thành phố ấy về kinh tế, bao vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự… phải áp dụng chiến tranh du kích đến triệt để và cổ động nhân dân thi hành bất hợp tác ở các thành thị quân địch làm chủ và thi hành “Vườn không nhà trống” nếu quân Pháp tràn về quê. Điều cốt tử là phải giữ vững liên lạc giữa các chiến khu để thống nhất chỉ huy, nơi nào rút khỏi thành thị thì quân ta phải chiếm đóng ở những điểm chiến lược lợi hại tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Các vùng chiến tranh chưa lan đến cũng phải chuẩn bị đối phó khi tiến, khi lui, kế hoạch tiến công cũng như kế hoạch rút lui cũng phải hết sức chu đáo (phòng thủ mọi việc, địa điểm, cán bộ, lương thực, thuốc men, quần áo, vũ khí, vật liệu, cơ điện v.v…)(2)

Cùng thời gian này, Chính phủ lâm thời quyết định chia cả nước thành các chiến khu và đổi tên Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn.

Tiếp nhận chỉ thị của Trung ương, ngày 10 tháng 12 năm 1945 tại Bình Hòa Nam bên bờ hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, Hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập. Các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt cùng nhiều xứ ủy viên, cán bộ quân sự đã về dự. Sau khi quán triệt chỉ thị của Trung ương, Hội nghị quyết định giải thế Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam do Cao Hồng Lĩnh làm chủ tịch, Đàm Minh Viễn chủ nhiệm tham mưu, Trần Ngọc Danh chủ nhiệm chính trị, đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách chủ nhiệm hậu cần. Chấp hành quyết định của Trung ương, Hội nghị chia Nam Bộ thành 3 khu 7, 8 và 9, chỉ định khu trưởng và chủ nhiệm chính trị từng khu, đồng thời đề ra các biện pháp nhằm củng cố lực lượng vũ trang, xây dựng các chi đội Vệ quốc đoàn và căn cứ địa kháng chiến. Hội nghị Bình Hòa Nam đánh dấu mốc quan trọng: thống nhất lực lượng vũ trang toàn Nam Bộ.

Từ đây, Khu 7 (còn gọi là Chiến khu 7, một tổ chức hành chánh - quân sự, như quân khu ngày nay) gồm thành phố Sài Gòn, tỉnh Gia Định, tỉnh Chợ Lớn và các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ(3). Bộ chỉ huy gồm: Nguyễn Bình, khu bộ trưởng, Trần Xuân Độ, chủ nhiệm chính trị bộ, Dương Văn Dương khu bộ phó(4). Thực hiện nghị quyết của Hội nghị Xứ ủy, Nguyễn Bình ra thông tri xóa bỏ nghị quyết Hội nghị An Phú xã, thông báo các nội dung quyết định của Hội nghị Bình Hòa Nam, đổi tên Tổng hành dinh thành khu bộ, dời sở chỉ huy từ An Phú xã lên Tân Uyên (Biên Hòa) xây dựng căn cứ (ngày 17 tháng 12 năm 1945).

Trên cơ sở một số bộ đội sẵn có, Nguyễn Bình quyết định thành lập các chi đội Vệ quốc đoàn của khu. Sau chi đội 1 (xây dựng từ bộ đội Thủ Dầu Một do Huỳnh Kim Trương chỉ huy) bộ đội Dương Văn Dương được xây dựng thành hai chi đội mang phiên hiệu 2 và 3. Bộ chỉ huy liên chi 2- 3 gồm Dương Văn Dương chỉ huy trưởng, Từ Văn Ri tham mưu trưởng. Riêng chi đội 2 gồm 3 đại đội do Lê Văn Chàng chi đội trưởng, Nguyễn Văn Soái chi đội phó, Nguyễn Lộc chính trị viên. Đại đội 1 gồm bộ đội Nhà Bè sau bổ sung bộ đội Cần Đước, Nguyễn Văn Soái kiêm đại đội trưởng. Đại đội 2 lấy từ bộ đội Tân Quy do Quách Văn Phải làm đại đội trưởng. Đại đội 3 lấy từ bộ đội Tân Thuận do Trần Văn Thơ làm đại đội trưởng… Chi đội 3 do Từ Văn Ri làm chi đội trưởng. Sau khi Từ Văn Ri hi sinh (tháng 3 năm 1946) Ngô Văn Lực thay, Lê Văn Lung là chi đội phó, Lâm Văn Hậu chính trị viên. Đại đội 1 lấy từ bộ đội Thủ Thiêm do Võ Văn Môn làm đại đội trưởng. Đại đội 2 lấy từ bộ đội Gò Công do Trương Công Trứ làm đại đội trưởng. Đại đội 3 lấy từ bộ đội Phú Nhuận do Nguyễn Văn Huỳnh làm đại đội trưởng. Bộ đội Huỳnh Văn Tri ở Bà Quẹo xây dựng thành chi đội 4 do Huỳnh Văn Tri làm chi đội trưởng, Nguyễn Văn Triệu làm chi đội phó, Tư Lạc làm chính trị viên. Chi đội gồm 3 đại đội đủ quân số. Đây là 3 chi đội đầu tiên trên địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.


(1) Hộ (Quariter) là đơn vị hành chánh ở thành phố, gần như quận ngày nay, do Pháp đặt ra. Trong thời kì kháng chiến ta vẫn giữ nguyên tổ chức hành chánh này.
(2) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, Hà Nội, 1986, NXB Sự thật, t. 1, tr.37.
(3) Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Bà Rịa.
(4) Khu 8 Đào Văn Trường - khu bộ trưởng, Lê Văn Sĩ - chủ nhiệm chính trị bộ, Trương Văn Giàu - khu bộ phó. Khu 9: Vũ Đức - khu bộ trưởng, Phan Trọng Tuệ - chủ nhiệm chính trị bộ, Nguyễn Ngọc Bích sau là Huỳnh Văn Hộ - khu bộ phó.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:09:59 AM
Đầu năm 1946, một số đơn vị vũ trang vùng ven gồm bộ đội Dương Văn Dương, bộ đội Tô Kí, bộ đội Đào Sơn Tây phối hợp với bộ đội Biên Hòa của Huỳnh Văn Nghệ và bộ đội Thủ Dầu Một của Huỳnh Kim Trương tấn công quân địch trong thị xã Biên Hòa. Đây là trận đánh do khu bộ trưởng Khu 7 tổ chức nhằm gây tiếng vang trong tình hình địch đang mạnh. Giữa đêm 1 tháng 1, từ nhiều hướng, quân ta bất ngờ tập kích các trạm gác, công sở, nhà lao đầu cầu. Sau một lúc lúng túng, quân Pháp tổ chức phản kích. Chúng cố thủ trong các thành, các công sự kiên cố, dùng hỏa lực mạnh bắn khống chế lực lượng tiến công. Quân ta buộc phải rút lui sau khi diệt một số tên Pháp, bắn cháy nhà lồng chợ và một vài công sở của địch. Trận đánh không thu được kết quả lớn, nhưng có tác dụng khích lệ tinh thần đồng bào ở Biên Hòa và vùng ven thành phố.

Ở nội thành, từ đầu năm, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội khóa I diễn ra thầm lặng nhưng rất khẩn trương. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, 40.000 cử tri nội thành (chiếm 82% tổng số cử tri) đã bỏ phiếu bầu những đai biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Khu phố nào cũng có thùng phiếu lưu động được cán bộ chiến sĩ đưa tới từng hẻm để đồng bào bỏ phiếu. Kết quả, tại khu vực thành phố, các đại biểu Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Tư trúng cử đại biểu Quốc hội. Trong cuộc bầu cử này, 38 cán bộ hi sinh. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Sài Gòn, hi sinh trong khi làm nhiệm vụ chỉ đạo bầu cử. Thắng lợi của cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 biểu thị lòng tin tưởng sắt đá vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ kháng chiến, vào con đường tranh đấu cho độc lập thống nhất của đồng bào thành phố Sài Gòn.

Cũng trong ngày 6 tháng 1, ban Trinh sát quân chính thành được thành lập. Thanh viên bao gồm các đồng chí vừa tốt nghiệp khóa học quân chính Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1945. Trong thời gian này, thực dân Pháp tiếp tục tiến đánh các tỉnh còn lại ở Nam Bộ. Trước đó, vào cuối năm 1945, tiếp tay cho Pháp, Mĩ cho 8 tàu chiến chở sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) của tướng Valluy và một tiểu đoàn dù gồm 500 tên đến Sài Gòn. Từ ngày 5 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm thị xã Sóc Trăng, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau, Bến Tre và Bà Rịa.

Đồng thời với việc mở rộng phạm vi chiếm đóng, thực dân Pháp bắt đầu tuyển ngụy quân, ráo riết tập hợp bọn tay sai thành lập bộ máy cai trị bù nhìn ở các địa phương. Cơ quan Phòng Nhì Pháp ra sức tổ chức mạng lưới tình báo, gián điệp, do thám, chỉ điểm đế từng hẻm phố, xóm ấp, vừa thực hiện thủ đoạn nhằm phát triển cơ sở trong tri thức, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên chúa giáo, lực lượng vũ trang Bình Xuyên và một số thanh niên Cộng hòa vệ binh. Tháng 2 năm 1946, sau nhiều lần thất bại trong cuộc vận động trí thức Sài Gòn hợp tác, Cédille mới lập được “Hội đồng tư vấn Nam Kì” gồm 12 người, trong đó có 8 người Việt thì 7 người mang quốc tích Pháp! Hội đồng tư vấn gấp gáp bầu Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng chính phủ “Cộng hòa Nam Kì”.

Ngày 5 tháng 2 năm 1946, đoàn tàu chở sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3è DIC) do Nyo chỉ huy cập bến Sài Gòn. D’Argenlieu và Leclerc chủ trương khẩn trương hoàn tất việc chiếm đóng vùng nông thôn Nam Bộ. Chúng tổ chức các cuộc hành quân “bình định” khắp nơi. Hệ thống đồn bót của địch giăng khắp.

Ngày 6 tháng 2 năm 1946, Leclerc ra thông báo tuyên bố: “Cuộc hành quân đánh chiếm Nam Kì và Nam Trung Bộ đã hoàn tất”. Tuy vậy, thực dân Pháp gặp rất nhiều khó khăn. Tác giả cuốn Biên niên chiến tranh Đông Dương nhận định: “Đó là một ảo tưởng của một tên tướng được giao nhiệm vụ chiếm đất đai, tự cho là sức mệnh đã hoàn thành. Dùng sức mạnh bằng chiến xa, tàu chiến đi qua mà không hề chiếm được. Sư đoàn số 9 ((9è DIC) có nhiệm vụ truy quét đẩy lùi các toán Việt Minh, nhưng không tiêu diệt được họ, thời gian và sức mạnh ấy không đủ để nó tác động đến dân chúng, quân số quá ít không đủ để kiểm soát toàn bộ lãnh thổ 1/400 người hay 1/7 km2). Những cuộc hành quân bằng cơ giới, tàu đổ bộ được pháo binh yểm trợ, bao vây khép chặt lại một vùng rồi lục soát bắn giết. Quân lính phải đi theo bờ ruộng ngoằn nghèo, chậm chạp. Dưới trời nắng gay gắt của khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, xung quanh là những làng mạc, cánh đồng hoang vắng, sự có mặt vô hình của kẻ thù đột nhiên xuất hiện bắn mấy loạt nổ vào đội hình, quân lính hoảng hốt nhảy xuống ruộng, bì bõm trong bùn ngập đến đầu, đến cổ, để chống lại vu vơ với kẻ thù im lặng. Vào đến xóm làng tưởng kẻ thù rút vào đó, đến nơi chỉ thấy có người già, trẻ em còn lại. Cuộc tiến quân nặng nề vì phải cõng vác những kẻ bị thương trên lưng, trên vai… Chỉ trong hai tháng mà sư đoàn số 9 ((9è DIC) làm nhiệm vụ truy quét bảo vệ toàn Sài Gòn đã mất 1/8 quân số chết và bị thương. Một cuộc chiến tranh lạ lùng, vô lối nhưng đó lại là một cuộc chiến tranh thực sự mà hành động của họ mang lại nhiều tổn thất nặng nề cho quân đội Pháp. Đến tháng 2 năm 1946, sư đoàn 3 bộ binh thuộc địa ((3è DIC) thay thế cho sư đoàn 9è DIC. Cuộc hành quân tái chiếm đã kết thúc, nhưng cuộc bình định vẫn tiếp tục không biết đến bao giờ”(1).

Trong thực tế đến tháng 2 năm 1946, quân Pháp chỉ chiếm đóng được thành phố Sài Gòn, các thị trấn trọng yếu và đường giao thông chiến lược. Phần lớn lực lượng phải phân tán để đóng giữ các địa phương. Hoạt động quân sự tập trung vào việc xây dựng và củng cố các căn cứ không quân, kho tàng hậu cần, hệ thống đồn bót và thiết bị bảo vệ xung quanh căn cứ quân sự, hành quân tuần tiễu đường giao thông và tổ chức không thường xuyên các cuộc tấn công vào căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Vùng nông thôn ngoại thành, về cơ bản, vẫn do ta làm chủ.


(1) Xem Lịch sử cuộc chiến tranh chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ (tài liệu đánh máy) Phòng Khoa học - Lịch sử quân sự Quân khu 7, tr. 29-30.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:13:03 AM
Các căn cứ địa kháng chiến lần lượt ra đời, tạo thành một hệ thống chiến khu bao quanh thành phố.

Chiến khu An Phú Đông nằm ở phía Đông Bắc thành phố, gồm vùng đất thuộc hai xã An Phú Đông và Thạnh Lộc (quận Gò Vấp). Cách Sài Gòn 4km đường chim bay, cách Gò Vấp 1km đường bộ, nằm về phía hữu ngạn, lọt giữa một bên phía Đông là sông Sài Gòn, một bên là Rạch Cát chảy vòng từ phía Tây lên phía Bắc, An Phú Đông và Thạnh Lộc như một cù lao có dáng hình bầu dục rộng khoảng 10km2. Đây là vùng địa hình có vườn cây và đồng ruộng, sông rạch, bờ mương chằng chịt, xung quanh có bờ bao nước sông vào ra theo thủy triều lên xuống của sông Sài Gòn. Đất đai màu mỡ, vườn cây, đặc biệt là cây ăn trái xanh tốt, trù phú. Dân cư tập trung đông đúc. Từ đây, có thể giao lưu thuận tiện về phía Tây Bắc Thạnh Lộc đến Quới Xuân, Nhị Bình, Bình Lí, Tân Mĩ (Hóc Môn) sang phía Đông sông Sài Gòn các xã Vĩnh Phú, Tam Bình nối liền lên xã Tân Đông Hiệp (Dĩ An); phía Đông Nam có Hiệp Bình, Bình Lợi nối liền với xã Bình Hòa và Thạnh Mĩ Tây.

Thực hiện chủ trương “lập những khu căn cứ kháng chiến ngay ở ngoại ô, phụ cận Sài Gòn”, “Không rút đi xa, cố bám đất, bám dân, làm chiến tranh du kích, làm chiến tranh nhân dân”(1) của tỉnh ủy Gia Định đề ra từ đầu cuộc kháng chiến, sau ngày 5 tháng 10 năm 1945, đại bộ phận các cơ quan quân, dân, chính, đảng và sở chỉ huy các đơn vị vũ trang tỉnh Gia Định và quận Gò Vấp chuyển lần về An Phú Đông - Thạnh Lộc. Kế đến, sở chỉ huy mặt trận tiền tuyến miền Đông, trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ, liên hiệp công đoàn Sài Gòn và nhiều tổ chức kháng chiến khác, kể cả Ủy ban kháng chiến xã Hanh Thông cũng lần lượt rút về đây xây dựng căn cứ.

Nhân dân An Phú Đông - Thạnh Lộc sau khi lập trạm đón tiếp từng đoàn người tản cư từ thành phố ra, lại nhanh chóng bắt tay vào việc tiếp tế, bố trí nơi trú đóng của các cơ quan, đơn vị. Nhân dân ấp Đông Nhứt chọn những ngôi nhà khang trang nhất, những gian rộng rãi, kể cả chỗ gần nơi thờ cúng thiêng liêng, bàn tủ, giường chiếu và tiện nghi có thể có được giành cho cán bộ, chiến sĩ ăn ở, làm việc. Thanh niên phụ nữ các ấp tham gia tiếp tế, cấp dưỡng. Nam giới từ 18 đến 50 tuổi luân phiên canh gác những nơi xung yếu ven sông Sài Gòn và những giao lộ dẫn vào xã. Các trạm gác được lập dọc theo bờ sông Sài Gòn từ Vàm Thuận đến Thạnh Lộc, nối báo với nhau bằng tín hiệu mõ, tù và. Các công sự, ụ chiến đấu được đào khắp các nơi.

Tại đây, Tỉnh ủy Gia Định, Ủy ban kháng chiến tỉnh (do Nguyễn Văn Dung và Nguyễn Văn Công làm chủ tịch và phó chủ tịch) đã đề ra những chủ trương, chỉ đạo cuộc kháng chiến trong những tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946. Tổng công đoàn Nam Bộ (do Lí Chính Thắng làm tổng thư kí) lập trạm đón tiếp công nhân từ thành ra. Tại nhà ông Tư Quyền làm thân hào làng Thạnh Phú, tòa soạn báo Cảm tử xuất bản 4000 tờ mỗi số (mối tháng 6, 7 số) bí mật đem vào phát hành trong thành phố và gửi đi các tỉnh Nam Bộ. Xưởng vũ khí gần nhà ông Mười Bò và trong chòi giữ thơm của ông Mười Nguyễn mỗi ngày nhồi được 50 viên đạn, sản xuất 50 lựu đạn, và một số vũ khí thô sơ khác. Cũng từ đây, các đơn vị vũ trang Lí Thường Kiệt, Kí Con, Trần Cao Vân, Quang Trung, Nguyễn An Ninh… xuất phát đi hoạt động đán giặc ở Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Tân Định.

Giặc Pháp nhiều lần đưa quân tấn công An Phú Đông hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến ở đây. Trong cuộc càn đầu tiên vào căn cứ này ngày 15 tháng 12 năm 1945, quân Pháp cùng quân Anh, Ấn có pháo binh, máy bay, tàu chiến yểm trợ bao vây chặt ấp Đông Nhứt. Hàng ngàn tên sục vào một khu vực nhỏ lục soát, bắn giết, đốt phá, từ sáng sớm đến 1 giờ chiều. Chúng đốt phá hơn 30 nhà dân, phá hủy hơn một nửa số lương thực thực phẩm, doanh trại, kho tàng, ghe xuồng, bắt đi 35 thanh niên và 10 cụ già. Sau trận càn, Pháp đóng chung quanh An Phú Đông một loạt đồn bốt: đồn Bình Lợi, bót ông Dầu, bót Bình Phước, bót Lập Be, bót Vĩnh Phú (Lái Thiêu), bót Bến Cát, Bót An Nhơn, bót Ba Thôn, chốt trục giao thông Gò Vấp đi Nhị Bình và Lái Thiêu.

Thực hiện chỉ thị của khu về xây dựng căn cứ địa, hội nghị cán bộ tỉnh Gia Định tại vườn Cau Đỏ, xã Thạnh Lộc (ngày 25 tháng 12 năm 1945) quyết định chính thức thành lập chiến khu An Phú Đông, lấy hai xã An Phú Đông và Thạnh Lộc làm trung tâm căn cứ, mở rộng phạm vi cơ động về phía sau: Quới Xuân, Tân Thới Hiệp, nối liền với Nhị Bình, Đông Thạnh, Bình Lí, Tân Mĩ, tạo thành một hành lang thuận tiện di chuyển bảo toàn lực lượng và chặn đánh địch. Cán bộ chiến sĩ bám lại. Các cơ quan kháng chiến tiếp tục hoạt động. Nhân dân sáng tạo nhiều cách đánh địch, xây dựng hệ thống phòng thủ trên mặt đất và hầm hào bí mật, hầm hào chìm dưới nước (hầm cá trê).

Cụm danh từ “Chiến khu An Phú Đông” cùng với những câu thơ của nhà thơ Xuân Miễn trở thành biểu tượng của cuộc chiến đấu gian khổ những ngày đầu kháng chiến ở ngoại vi Sài Gòn(2).


(1) Xem Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tr. 361.
(2) Thơ An Phú Đông của Xuân Miễn năm 1946 có những câu:
“Bạn đã từng nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ở ven sông.
Một năm chinh chiến! Ôi chinh chiến!
Sóng nước Sài Gòn nhuộm máu hồng.
Từ đấy đất này vang tiếng súng
Âm thầm mưa gió… bóng quân đi
Trên đường gặp lại bao nhiêu mộ
Của những người đi chẳng trở về
An Phú Đông! Đây An Phú Đông!
Trả lời tiếng gọi của non sông
Trẻ già đã biết hi sinh hết.
Biết trả thù chung đổ máu hồng”.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2012, 09:16:18 AM
Chiến khu Rừng Sác ở phía Đông Nam thành phố, là một vùng rừng đước, chà là ngập mặn rộng đến 600 héc ta, phía Bắc là khu lòng chảo Nhơn Trạch, phía Đông là quốc lộ 15, phía Tây là sông Soài rạp, phía Nam kéo dài sát biển Đông. Rừng Sác là nơi tập hợp của hàng trăm sông rạch lớn nhỏ, chằng chịt ngang dọc ngoằn ngoèo như mạng nhện, tạo nên những đảo triều lúp xúp nổi giữa mênh mông nước (diện tích mặt sông rạch chiếm 1/4 diệt tích toàn Rừng Sác). Quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống sông rạch ở Rừng Sác là sông Lòng Tàu - tên gọi gộp nhiều đoạn sông dài 45km nối biển Đông ở cửa biển Gành Rái đến ngã ba sông Đồng Tranh, sông Nhà Bè vào Cảng Sài Gòn, một cửa biển quốc tế, cái “cuống họng” của Sài Gòn và Nam Bộ. Phủ lên Rừng Sác là cả một vùng cây ngập mặn như mắm, bần, đước, dà, chà là, dừa nước… đan níu nhau từng từng lớp lớp, tạo nên những “đám lá tối trời”, những “mái nhà”, hang động. Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm cho Rừng Sác rở thành một khu vực cực kì hiểm trở, một “trận đồ bát quái”. Trận đồ bát quái” này lại nằm kế cận thành phố Sài Gòn, bao bọc xung quanh con đường thủy chiến lược - Lòng Tàu - nối liền Sài Gòn với quốc tế.

Rừng Sác vì thế, từ những thế kỉ trước đã được Nguyễn Huệ, rồi Trương Định chọn làm căn cứ địa. Trước Cách mạng Tháng Tám, nơi đây là địa bàn trú ẩn của những người có chí khí khai sơn phá thạch, khuấy nước chọc trời, cát cứ một cõi; những người trốn lính, phu, thuế, cờ bạc, hút chích bị chính quyền thực dân truy nã; những người là hảo hớn giang hồ, đảng cướp lưu manh, bị xã hội dồn đến chân tường, sông ngoài vòng pháp luật.

Cuối tháng 11 năm 1945, sau khi mặt trận Rạch Đỉa - Cây Khô (Nhà Bè) bị vỡ, bộ chỉ huy mặt trận số 4 rút xuống Rừng Sác. Bộ đội Dương Văn Dương (gồm cả lực lượng Nhà Bè, Thủ Thiêm, Tân Thuận…) về Phước An - một xã thuộc quận Long Thành, phân nửa nằm trên đất liền phía Nam lòng chảo Nhơn Trạch, phân nửa là Rừng Sác ngập nước. Sở chỉ huy và các đơn vị chiến đấu đóng rải rác trong các ấp Bà Trường, Bàu Bàng, Vũng Gấm… Bộ đội Nguyễn Văn Mạnh về đứng chân ở khu vực Bà Trao - Núi Nứa. Bộ đội Tư Hoạch cũng rút về Rừng Sác.

Chấp hành chỉ thị của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, 22 giờ đêm ngày 5 tháng 2 năm 1946 (tức mồng 3 tết Bính Tuất), hai phần ba lực lượng liên chi đội 2 - 3 vượt sông Soài Rạp, hành quân xuống chi viện cho Bến Tre. Cùng lúc, lực lượng ở lại đồng loạt tập kích tàu thuyền trên sông Soài Rạp và các cứ điểm đồn bót tại Vàm Sát, Rạch Rào, Đồng Tròn, Rạch Cốc để thu hút địch. Cùng thời gian này, bộ đội Tám Mạnh và Tư Hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang Cần Đước, Cần Giuộc đồng loạt tập kích 12 vị trí của giặc ở vùng phía Nam thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Số quân còn lại của liên chi đội 2 - 3 chia làm hai bộ phận trụ lại Rừng Sác xây dựng căn cứ: Bộ phận thứ nhất gồm bộ đội Mười Đen và lực lượng còn lại của 6 đơn vị chiến đấu chia quân đứng chân trên khu vực Rừng Giồng giữa lòng chảo Nhơn Trạch, do Đinh Văn Nhị chỉ huy. Bộ phận thứ hai đóng quân dưới Rừng Sác vùng ngập nước gồm các bộ phận binh công xưởng, tàu kéo, ghe thuyền, trọng pháo, quân y viện, kho tàng đặt tại Rạch Xu, Rạch Vàm Tượng, do Dương Văn Hà (em Dương Văn Dương) chỉ huy. Công tác xây dựng căn cứ địa được xúc tiến khẩn trương, có kế hoạch chu đáo.

Sau khi Bến Tre thất thủ, Dương Văn Dương hi sinh(1). Bộ đội liên chi đội 2 - 3 do Trần Văn Đối giữ quyền chỉ huy quay về Rừng Sác. Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 2 năm 1946, đoàn quân về đến Rừng Sác. Cuối tháng 2, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) đưa bộ đội Phú Thọ từ căn cứ Vườn Thơm xuống Rừng Sác. Từ đây Rừng Sác trở thành căn cứ chủ yếu của bộ đội Bình Xuyên(2).

Cùng với bộ đội Bình Xuyên, tại Rừng Sác, còn có hàng chục tổ chức kháng chiến về đứng chân hoạt động như các bộ phận hậu cứ cơ quan lãnh đạo các tỉnh Chợ Lớn, Bà Rịa, Thị xã Cấp, các cơ quan kháng chiến Sài Gòn (liên hiệp công đoàn, công tác Thành, công an xung phong…), các cơ quan quân dân chính đảng các quận Nhà Bè (Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (Chợ Lớn), Hòa Tân (Gò Công) và cơ quan kháng chiến các xã đất liền ven phía Tây sông Soài Rạp…(3)

Đến cuối tháng 2 năm 1946, Rừng Sác trở thành một căn cứ sôi động ở ngoại vi Đông Nam thành phố. Tại đây, bộ đội tỏa ra hoạt động đánh địch khắp nơi: tập kích huyện lị Nhà Bè, huyện lị Cần Guộc, đánh đồn bót dọc sông Lòng Tàu, dọc liên tỉnh lộ 19, phục kích diệt tàu ghe của địch trên các sông rạch.

Căn cứ Bình Mĩ: ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình thuộc quận Hóc Môn nằm cập theo sông Sài Gòn bên tả ngạn (liền ranh bên hữu ngạn sông Sài Gòn với căn cứ An Sơn, An Thạnh, Phú Cường, thuộc Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một). Phía Bắc có tỉnh lộ 8 từ Đức Hòa chạy qua quốc lộ 1 đến bến đò sông Sài Gòn sang thị xã Thủ Dầu Một. Phía Tây có đường 15 từ Sài Gòn qua Hóc Môn lên Bến Cỏ đến bến đò Bến Súc, đường số 5 chạy xéo qua từ cầu Xáng đến Bình Mĩ giáp tỉnh lộ 8. Phía Tây Nam là sông Rạch Tra chảy qua cầu Xáng, cầu Bông (nay là ranh giới thiên nhiên giữa hai huyện Củ Chi và Hóc Môn). Theo phía Bắc có thể phát triển nối với Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Hòa Phú, An Phú xã, Khu 5(4), xa hơn nữa là Bến Cát, Trảng Bàng; từ phía Tây, căn cứ nối qua Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Tân An Hội, đền Giồng, Ông Hòa, Bàu Công (Đức Hòa).

Đứng chân tại căn cứ Bình Mĩ, ngoài các cơ quan kháng chiến và các lực lượng vũ trang huyện Hóc Môn, có Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Nhân dân Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình tích cực phá hoại cắt đứt các đường bộ, đào hầm hào, rào làng chiến đấu, tuần gác chống càn bảo vệ căn cứ. Trong tháng 2 năm 1946, cầu Rạch Tra trên sông Sài Gòn - cửa ngõ đi vào Bình Mĩ - bị ta phá sập. Dọc các ngã đi vào căn cứ đều được cắm chông, đắp ô ụ. Trên quốc lộ 22, nhân dân và du kích đào hố, chặt đổ cây cao su dọc ven đường làm ngáng trở giao thông địch.

Căn cứ Vườn Thơm: ở phía Tây thành phố, cách trung tâm Sài Gòn 10km, án ngữ trên hành lang nối Sài Gòn với chiến khu Đồng Tháp Mười, thuộc đất Trung Quận và một phần quận Đức Hòa của các xã Hậu Thanh, Đức Hòa Hạ (tỉnh Chợ Lớn)(5). Toàn bộ căn cứ gồm 6 xã trung tâm (Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Bửu, Lương Hòa, Hậu Thạnh Hạ, Đức Hòa Hạ với điểm trung tâm là Trụ Năm Thôn) và 9 xã ngoại vi (Bình Trị Đông, Tân Kiên, An Lạc, Tân Túc, Mĩ Yên, Thanh Hà, Long Hiệp, Long Phú, An Thạnh) với diện tích khoảng gần 200km2. Đất Vườn Thơm là chiếc gạch nối giữa vùng giồng cao của miền Đông Nam Bộ với vùng trũng thấp của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là đất bưng biền, kinh rạch, hố trấp, sinh lầy, lại có đất vườn với những vườn mía, vườn thơm (vườn thơm nhiều thành tên đất), rừng cây mù u, cây trám, dừa nước đan ken dày đặc. Bưng Bà Lác, Vinh Lộc, Bình Thủy (về phía Bắc), sông Vàm Cỏ Đông (về phía Tây) đường số 10 (Chợ Lớn đi Đức Hòa), kinh Xáng, kinh Bà Hom, kinh cầu An Hạ, kinh Bà Vụ rồi Bàu Cỏ, Láng Le… là những địa danh của căn cứ Vườn Thơm trở thành quen thuộc trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn.

Từ đầu năm 1946, bộ đội chiến đấu ở mặt trận phía Tây, Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh và các cơ quan kháng chiến của Sài Gòn, Chợ Lớn, của Trung Quận và vùng phụ cận rút về đây, trụ bám, xây dựng căn cứ, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Dựa vào địa thế nhiều bưng trấn kinh rạch và cỏ lạc phức tạp, rậm rạp, khuất khúc bất ngờ, quân và dân tại Vườn Thơm, dưới sự chỉ đạo của trưởng ban căn cứ địa Nguyễn Văn Thơm, tiến hành đào vét kinh mương ngòi lạc, mở đường đi ngang dọc ở trong căn cứ, đồng thời dựng kè cản, đắp đập trên các kinh lớn, đào hầm hào khắp nơi, vừa để trú giấu lực lượng vừa để chống địch cơ động càn quét. Căn cứ Vườn Thơm đứng vững cho đến năm 1949, được coi là một địa bàn cơ động nhất vào nội thành.

Ngoài những căn cứ kể trên, còn hàng loạt căn cứ nhỏ khác nằm rải rác bao quanh thành phố. Đó là các điểm trú đóng quân, ém giấu lực lượng, nơi cất giữ hoặc chuyển tiếp cơ sở vật chất, kho tàng công xưởng của các địa phương từ xã đến huyện, tỉnh, thành phố, đồng thời là điểm xuất phát đánh địch trong nội thành và các khu vực ngoại vi thành phố. Đáng ghi lại là khu vực các xã Phú Thọ Hòa, Bình Hưng Hòa, Tân Hòa, Vĩnh Lộc, Bưng Sáu xã. Sự hình thành hệ thống căn cứ bao quanh thành phố biểu thị quyết tâm kháng chiến lâu dài của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định; nó tạo điều kiện cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng mọi mặt để tiến hành cuộc kháng chiến đang ngày càng mở rộng quy mô trên các chiến trường.


(1) Dương Văn Dương bị máy bay địch bắn chết tại sở chỉ huy cuộc hành quân đóng ở ấp Bình Khương, xã Châu Bình ngày 17 tháng 2 năm 1946. Ông được Chính phủ truy tặng quân hàm Thiếu tướng và Hồ Chủ tịch gửi thư chia buồn với gia quyến. Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ đặt tên Dương Văn Dương cho một con kinh lớn ở trung tâm chiếm khu Đồng Tháp Mười, thay cho tên cũ là Lagrange (tên một chủ tỉnh người Pháp ở Tân An).
(2) Bình Xuyên vốn là địa danh một ấp thuộc xã Chánh Hưng thuộc quận Cần Giuộc, vũng sình lầy, dân thưa, là “giang sơn” riêng của những người bất phục tùng chế độ thực dân phong kiến, giới giang hồ và các đảng viên hoạt động bí mật, được Dương Văn Dương đặt tên cho bộ đội của ông gọi là bộ đội Bình Xuyên. Bộ đội Bình Xuyên chính gốc chỉ gồm bộ đội Dương Văn Dương và bộ đội Chánh hưng của Nguyễn Văn Mạnh - Mai Văn Vĩnh. Về sau, đặc biệt từ Hội nghị Đa Phước trở đi (tháng 11 năm 1945), các đơn vị vũ trang có thành phần xuất thân là những “anh chị” giang hồ đứng chân hoạt động trên địa bàn Rừng Sác, gia nhập vào bộ đội “chính gốc” hoặc tự nhận là bộ đội Bình Xuyên, đều được mọi người gọi chung là bộ đội Bình Xuyên.
(3) Theo Lương Văn Nho (chiến khu Rừng Sác, NXB Đồng Nai 1983, tr. 47) có gần 100 bộ phận đứng chân ở căn cứ Rừng Sác.
(4) Đầu năm 1946, ta chia Hóc Môn làm 5 khu quân sự, mỗi khu có một ban chỉ huy quân sự khu. Khu 1: khu vực thị trấn Hóc Môn và các xã Tân Thới Nhất, Tân Thới Nhì, Tân Thới Tam, Xuân Thới Thượng. Khu 2: Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình, Nhị Bình, Đông Thạnh. Khu 3: Hòa Phú, An Phú xã, Tân Thạnh Đông. Tân Thạnh Tây. Khu 4: Tân Phú Trung, Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Phước Hiệp, Thái Mĩ. Khu 5: Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Phú Mĩ Hưng, Trung Lập, Nhuận Đức (các khu 3, 4, 5 thuộc huyện Củ Chi ngày nay).
(5) Tỉnh Chợ Lớn lúc ngày gồm các quận: Trung Quận (thuộc Bình Chánh ngày nay), Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa (Long An ngày nay).


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:12:22 PM
*
*   *

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, thực hiện chủ trương “Hòa để tiến”, Chính phủ ta kí kết với Pháp Hiệp định sơ bộ. Theo Hiệp định này, chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việc thống nhất đất nước sẽ được quyết định bằng một cuộc trưng cầu ý dân… Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí chờ cuộc đàm phán nhằm thực hiện toàn bộ các điểu khoản đã được kí kết.

Ngay ngày hôm sau (ngày 7 tháng 3 năm 1946), Hồ Chủ tịch viết giấy ủy nhiệm hai đồng chí Hoàng Quốc Việt và Huỳnh Văn Tiểng về Nam Bộ (đi cùng đoàn đại biểu Pháp) “đặng giải thích và thi hành bản hiệp định”.

Ngày 10 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào chiến sĩ ở Nam Bộ, giải thích ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định và kêu gọi nhân dân đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ. Người viết:

“Tôi xin báo để đồng bào và anh em chiến sĩ các bộ đội biết rằng: Việc điều đình giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp đã đi đến một kết quả đầu tiên là hai bên đình chiến ngay để mở đường cho những cuộc đàm phán chính thức sau này. Đối với nước Việt Nam ta, sự kí kết đã có một kết quả hay là nước Pháp đã thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ.

Ấy cũng là nhờ sự đấu tranh anh dũng của tất cả đồng bào toàn quốc, nhất là đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ và của cả thảy anh em chiến sĩ khắp các mặt trận trong sáu tháng liền. Trong giờ phút này, tôi kính cẩn cúi đầu chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hi sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hi sinh đó không phải là uổng.

Không phải là uổng, vì đây là:

1. Bước đầu của cuộc đàm phán để đi đến thắng lợi.

2. Cuộc đàm phán đầu tiên đã gây dựng được những điều kiện chính trị mà chúng ta phải biết lợi dụng để đạt tới các mục đích Việt Nam hoàn toàn độc lập.

3. Muốn như vậy, Chính phủ cần được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân. Cho nên trong thời kì đình chiến này nhất là trong lúc quân đội hai bên cần phải đứng lại trên vị trí hiện thời, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỉ luật là cần thiết hơn lúc nào hết. Và rồi đây, sau khi hòa bình đã thỏa hiệp được, thì tinh thần phấn đấu của anh em vẫn là những lực lượng quý báu để đảm bảo cho nền độc lập hoàn toàn của nước nhà sau này.

Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hoạt động nữa.

Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả tốt đẹp hơn nữa”(1).

Tại Nam Bộ, đến ngày 5 tháng 3 năm 1946, đơn vị cuối cùng của quân Anh rút khỏi Sài Gòn, để lại cho Pháp nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Quân Pháp đã “hoàn thành” việc chiếm đóng và đang ráo riết xúc tiến thành lập hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai từ trung ương xuống xã ấp, xây dựng cơ sở xã hội chính trị cho chúng, bước đầu trở lại hoạt động sản xuất khai thác thuộc địa, chủ yếu ở hai ngành kinh tế: cao su ở miền Đông và lúa gạo ở miền Tây.

Tuy kí kết, nhưng thực dân Pháp cố tình không thực hiện Hiệp định 6-3. Cédille Ủy viên cộng hòa Pháp ở Nam Bộ ra tuyên ngôn đại ý: Hiệp định mới được kí kết không dính dấp gì đến Nam Bộ (!). Hội đồng tư vấn do Pháp mới đề cử ra ở Nam Bộ họp phiên đầu tiên chấp thuận bản kiến nghị của thủ tướng ngụy quyền Nguyễn Văn Thinh yêu cầu Pháp “để cho cuộc tự trị của Nam Kì nguyên vẹn” và viện lí do tình hình còn rối ren chưa thể tổ chức cuộc trưng cầu dân ý theo quy định của Hiệp định sơ bộ. Tướng Nyo vừa lên thay Valluy làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại miền Nam Việt Nam (tháng 3 năm 1946) ra lệnh tăng cường các hoạt động chia rẽ Nam - Bắc, vận động tách Nam Bộ thành một xứ tự trị có chính phủ, nghị viện quân đội và tài chính riêng.

Tại Sài Gòn, đơn vị chuyền tay nhau đọc các bài viết vạch trần âm mưu và thái độ lật lọng của Pháp đăng trên báo Chống Xâm Lăng, Cảm Tử. Nhiều tờ báo xuất bản công khai ở Sài Gòn cũng lên tiếng chỉ trích Pháp, dòi Pháp phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định.

Nhằm xoa dịu tình hình, đánh lừa dư luận quần chúng, tạo bầu không khí chính trị có lợi trong việc thành lập chính phủ “Nam Kì tự trị”(2), tướng Nyo đề nghị đàm phán với ta. Biết rõ âm mưu của giặc, nhưng cần tranh thủ thời gian ngừng bắn để củng cố lực lượng và tỏ rõ thiện chí, ta đồng ý đàm phán.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t. 4, tr. 114-115.
(2) Ngày 26 tháng 3 năm 1946, do “thủ tướng” Thinh không lập được nội các, D’Argenlieu cho ra đời cái gọi là “chính phủ lâm thời Nam Kì tự trị” chuẩn bị cho việc thành lập chính thức chính phủ Nam Kì riêng.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:13:23 PM
Ngày 10 tháng 4 năm 1946, tại miếu Bà Cô, một địa điểm bên bờ sông Đồng Nai (xã Thiện Tân, Vĩnh Cửu, Biên Hòa), cuộc đàm phán bắt đầu. Phía Pháp do đại tá Peyler làm trưởng đoàn. Phía ta gồm Đặng Ngọc Tốt (trưởng đoàn), Phạm Thiều (phái viên chính trị), Lâm Thái Hòa (phái viên quân sự), Lê Đình Chi (phiên dịch). Tại cuộc đàm phán, thực dân Pháp đưa ra luận điểm không công nhận Vệ quốc đoàn Khu 7 là một bộ phận của quân đội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đòi ta phải giải giới. Phía ta kiên quyết phản bác luận điệu xuyên tạc vô lí của phái đoàn Pháp, chứng minh sự hiện diện hợp pháp của Vệ quốc đoàn, lên án địch vi phạm về điều khoản ngừng bắn và âm mưu của chúng trong việc thành lập chính phủ lâm thời Nam Kì tự trị. Cuộc đàm phán thất bại. Bằng cuộc đấu tranh trực diện, ta chứng minh cho thực dân Pháp và dư luận rộng rãi biết lập trường chính nghĩa, tinh thần sẵn sàng thương lượng nhưng kiên kiên quyết kháng chiến của ta, đồng thời vạc trần bản chất xâm lược phi nghĩa và thủ đoạn chính trị nhằm đánh lừa dư luận của chúng.

Những ngày tháng hai và tháng ba năm 1946, ta gặp nhiều khó khăn. Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng thiếu sự chặt chẽ, hệ thống, do một số nơi quán triệt không đầy đủ sách lược “giải tán Đảng” (từ tháng 11 năm 1945) và do dời chuyển phân tán căn cứ. Các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn và nhiều cán bộ cao cấp khác ra Hà Nội hoặc do Trung ương triệu tập hoặc tự đi đi để báo cáo tình hình. Dù vậy, những cán bộ ở lại, cấp ủy Đảng địa phương vẫn năng động phân tích tình hình, tiếp nhận sự lãnh đạo của Trung ương qua nhiều con đường khác nhau, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị mình một cách linh hoạt thích hợp.

Tranh thủ thời gian hòa hoãn sau ngày 6 tháng 3, các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định khẩn trương chấn chỉnh tổ chức, củng cố và phát triển lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh chính trị chống âm mưu của địch.

Trong tháng 3 năm 1946, Thành bộ Việt Minh Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Thọ Chân làm bí thư, các ủy viên gồm Tạ Văn Hảo, Hoàng Quốc Tân, Huỳnh Tấn Phát. Như vậy, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn lúc này có hai tổ chức Đảng dùng song song tồn tại: Thành bộ Việt Minh (vùng Sài Gòn, do Nguyễn Thọ Chân làm bí thư) và Ban cán sự Đảng mặt trận số 4, cũng gọi là Ủy ban Việt Minh (vùng Chợ Lớn, do Trịnh Đình Trọng làm bí thư). Tháng 5 năm 1946, Ủy ban Việt Minh và Thành bộ Việt Minh hợp nhất lại, thành lập Thành ủy lâm thời Sài Gòn - Chợ Lớn. Thành ủy gồm các đồng chí Trịnh Đình Trọng (bí thư), Nguyễn Thọ Chân (phó bí thư) và Nguyễn Văn Chi.

Tại Gia Định vẫn tồn tại hai tỉnh ủy Tiền Phong và Giải Phóng. Tỉnh ủy Tiền Phong đề ra chủ trương: củng cố và phát triển lực lượng vũ trang ở các địa phương, đồng thời đẩy mạnh xây dựng chính quyền các cấp trên cơ sở phải do Đảng lãnh đạo; trong xây dựng lực lượng vũ trang ưu tiên tăng cường cán bộ và phương tiện để tăng cường sức mạnh cho bộ đội; điều một số cán bộ của tỉnh xuống xây dựng củng cố phong trào ở các huyện còn gặp nhiều khó khăn như Thủ Đức, Nhà Bè; tổ chức đường dây liên lạc với cấp lãnh đạo Nam Bộ để nhận chỉ thị trực tiếp của trên. Tháng 9 năm 1946, hai tỉnh ủy Tiền Phong và Giải Phóng tiến hành hội nghị hợp nhất tại xã Tân Thới Hiệp (Gò Vấp). Hội nghị bầu một tỉnh ủy thống nhất của Gia Định gồm 11 người (Phạm Văn Chiêu, Phạm Văn Khung, Tô Kí, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Bảo, Huỳnh Văn Thới, Phạm Văn Năm, Nguyễn Oắng, Phạm Văn Giáo, Võ Văn Thời, Trịnh Thị Miểng), do Trần Văn Thời sau đó vài tháng là Phạm Văn Chiêu làm bí thư.

Từ sau Hiệp định ngày 6 tháng 3, Đảng chủ trương đưa nhân dân và cán bộ quân, dân, chính, đảng trở lại nội thành, đồng thời chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến ngay tại sào huyệt địch.

Lần lượt, đồng bào tản cư ra ngoại ô và các tỉnh trở về thành phố. Lẫn trong đoàn người trở về, nhiều cán bộ, đảng viên, đội viên vũ trang đã trở về từng khu phố, nhà máy, bệnh viện, công sở để tổ chức xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang.

Từng bước ta gầy dựng, củng cố lại tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc từ cơ sở đường phố, xí nghiệp lên đến hộ, quận. Các ban chấp hành của Mặt trận Việt Minh và đoàn thể cứu quốc được bầu mới. Nhiều nhân sĩ, trí thức uy tín được mời tham gia. Nhiều tờ báo kháng chiến ra đời và lưu hành đều đặn đến tận cơ sở trong khắp thành phố. Đặc biệt, báo Cảm Tử của Tổng công đoàn Nam Bộ (Lí Chính Thắng làm chủ bút) và báo Thông Tin Kháng Chiến sau đổi là Chống Xâm Lăng của Mặt trận Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn (Trịnh Đình Trọng làm chủ bút) được nhân dân náo nức đón đọc và quý trọng, trở thành tiếng nói chính thức của cơ quan lãnh đạo kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Ngoài ra, trong thành phố còn lưu hành các tờ báo kháng chiến khác như Vệ Quốc, Tiền Đạo, Kèn Gọi Lính, Tổ Quốc, Tiếng Súng Kháng Địch… từ các tỉnh chuyển về. Các tờ báo nói tên đã kịp thời tuyên truyền về công cuộc kháng chiến, hướng dẫn nhận thức và hành động, khích lệ đồng bào thành phố hang hái ủng hộ và tham gia kháng chiến, đập lại các luận điệu phản động, cơ hội của các tờ báo Pháp cho xuất bản công khai ở Sài Gòn như “Phục Hưng”, “Tương Lai”, “Tiếng Gọi”…

Trong điều kiện thành phố vừa bị chiếm đóng, tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng chưa mạnh và phát triển sâu rộng đến từng cơ sở, báo Cám Tử, Chống Xâm Lăng và nhiều tờ báo kháng chiến khác đã thực sự giữ một vai trò quan trọng trong công tác vận động xây dựng phong trào ở thành phố ngay trong những ngày cuối năm 1945, đầu năm 1946.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:14:57 PM
Phong trào kháng chiến trong nội thành từng bước được hồi phục. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh, nhân dân lao động, công nhân ổn định cuộc sống, hình thành mạng lưới cơ sở nuôi giấu cán bộ và vận động quyên góp vận chuyển máy móc, dụng cụ y tế, văn phòng ra căn cứ. Mặt khác, ta cảnh giác đấu tranh với địch đang thi hành chinh sách hai mặt: vừa mị dân, lôi kéo trí thức công nhân lành nghề về hợp tác với chúng, vừa củng chố hệ thống đồn bót xây dựng bộ máy tề điệp, tăng cường khủng bố đàn áp những người bị tình nghi và gia đình có người thân đi kháng chiến.

Lực lượng vũ trang chuyên trách hoạt động nội thành phát triển một bước. Sau nhóm trinh sát Quân chính (do khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thành lập từ tháng 1 năm 1946), các đội trinh sát quân sự, đội cảm tử lần lượt ra đời. Một trung đội vũ trang lấy biệt danh trung đội cảm tử Nguyễn Bình I được phái về hoạt động và gây dựng cơ sở. Tháng 3, Khu bộ trưởng thành lập tiếp một ban trinh sát vũ trang lấy từ số anh em chi đội 1 gốc thành phố tăng cường cho nhóm trinh sát Quân chính và nhóm Hùng Vương thành ban trinh sát vũ trang số 1. Một số chiến sĩ thanh niên Tiền phong đoàn Nguyễn Huệ ở hộ 10 cùng một số chiến sĩ trong tổ chức trinh sát của bộ đội Lê Văn Viễn ở ngoại ô hợp thành ban trinh sát vũ trang số 2. Một số anh em trinh sát của công đoàn xung phong và tự vệ chiến đấu Tân Xuân Hòa hoạt động ở Tân Sơn Nhất hợp thành trung đội cảm tử Nguyễn Bình II. Ban ám sát quận Tân Bình thành lập từ tháng 1 năm 1946 sáp nhập vào trung đội cảm tử Nguyễn Bình I.

Sau khi trực tiếp đi thị sát ở Sài Gòn về, tháng 4 năm 1946, khu bộ trưởng Nguyễn Bình quyết định đổi các loại đơn vị vũ trang nội thành thành các Ban công tác, giải tán tất cả các đơn vị vũ trang tự lập khác, giải thể Đội quốc gia tự vệ Cuộc của chi đội 4, thành lập đội trinh sát quân sự chi đội 4. Các ban Công tác Thành lần lượt ra đời:

Ban trinh sát Quân chính thu nhận thêm các nhóm Hùng Vương, ban Vô hình, ban Ám sát, ban Trừ gian, đội Cảm tử… thành Ban công tác số 1. Ban công tác số 1 do Nguyễn Đình Chính làm chỉ huy trưởng, hoạt động chủ yếu trong nội thành Sài Gòn, tập trung ở khu vực quận I, chợ Bến Thành, Tân Định, Đa Kao, Phú Nhuận.

Ban trinh sát vũ trang số 2 thu nhận thêm đảng Dao găm cùng một số thanh niên ở ngoại ô Sài Gòn thành Ban công tác số 2. Ban công tác số 2 do Nguyễn Văn Tôn (Hai Tôn) chỉ huy, hoạt động chủ yếu ở khu vực chợ Thiếc, Phú Thọ, Cầu Tre, xã Bình Trị Đông.

Ban công tác liên xã Tân Sơn Nhị - Bà Quẹo lấy từ du kích liên xã, lập thành Ban công tác số 3. Ban công tác số 3 do Nguyễn Văn Hâm (Sáu Hâm) làm chỉ huy trưởng, hoạt động trên địa bàn hai xã, sau phát triển ra Tân Sơn Nhất, Tân Bình, Phú Nhuận.

Cùng thời gian này, theo chỉ thị của Khu bộ trưởng Khu 7, cơ quan Ban chỉ huy quân sự Thành Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập. Ban chỉ huy gồm các đồng chí Đặng Kim Thành (chỉ huy trưởng), Nguyễn Xuân Diệu, Vũ Kiều Chinh (Nguyễn Mạnh Liên) và Trịnh Văn Hà, Nguyễn Văn Tư (chỉ huy phó). Các ban công tác Thành được đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của tổ chức này.

Sang táng 5 năm 1946, Ban công tác số 4 được thành lập. Thành phần chủ yếu là công nhân các nghiệp đoàn, thợ thủ công, lao động tự do và anh em tự vệ chiến đấu trong tổ chức Liên hiệp công đoàn Thành. Ban công tác số 4 lúc đầu do Triệu Cải chỉ huy, hoạt động ở khu vực Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Phú Thọ, Chợ Thiếc.

Ban công tác số 5 thành lập trong những ngày đầu tháng 6 năm 1946, gồm lực lượng thuộc ban trinh sát quân sự của chi đội 4 tách ra. Các thanh niên nông dân vùng Hóc Môn, Bà Điểm, công nhân và lao động tự do ở vùng Chợ Lớn, hộ 17, 18. Các đồng chí Nguyễn Văn Phân (Sáu Phân), Nguyễn Văn Xình (Sáu Xình) phụ trách Ban công tác này.

Một bộ phận của Ban công tác số 2 và Ban công tác số 3 tách ra thành lập Ban công tác số 6. Ban công tác số 6 do Nguyễn Văn Nam làm chỉ huy trưởng, hoạt động rải rác ở vùng Trường đua Phú Thọ, Bình Thới, đường Frédéric - Drouhte, cầu Ông Lãnh, Vĩnh Hội…

“Ban công tác” trở thành loại tổ chức vũ trang đặc biệt của Sài Gòn - Chợ Lớn có nhiệm vụ quân sự chính trị rõ ràng, vừa tác chiến đánh địch, đặc biệt là loại trừ các tên tay sai phản động, các tên thực dân Pháp hiểm độc, phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật của địch, vừa tuyên truyền vận động nhân dân, kể cả những người bị địch lôi kéo, giữ vững thanh thế cách mạng, phát triển lực lượng của ta. Tổ chức của mỗi ban công tác thông thường gồm ban chỉ huy và bộ phận văn phòng, tiểu ban bài trừ (có 3 tiểu đội: trinh sát, điều tra, ám sát), tiểu ban phá hoại, tiểu ban liên lạc, tiểu ban quân nhu. Ngoài ra có hai tiểu đội trực thuộc: tiểu đội công tác đặc biệt làm nhiệm vụ tình báo, phản gián và tiểu đội du kích vũ trang làm nhiệm vụ hỗ trợ cho tiểu ban phá hoại và tiểu ban liên lạc. Tất cả 6 ban chịu sự chỉ đạo trực tiếp của khu bộ trưởng Khu 7 thông qua một đại diện: đồng chí Nguyễn Văn Hâm, trưởng ban công tác số 3.

Song song với việc tổ chức các ban công tác Thành, lực lượng tự vệ Thành cũng sớm được triển khai xây dựng theo từng địa bàn dân cư và sĩ nghiệp. Cuối tháng 6 năm 1946, tại một khách sạn tại Chợ Lớn, hơn 20 cán bộ (phần lớn từ trường Quân chính Khu 7 lần lượt về hoạt động nghiên cứu địa bàn và đã từng bước xây dựng được một số lực lượng tự vệ nội thành) họp hội nghị. Hội nghị quyết định sắp xếp những cơ sở lực lượng tự vệ ở các hộ(1), xí nghiệp, công sở lại xây dựng thành 15 khu và đội tự vệ. Mỗi khu (địa bàn dân cư) và đội (đường phố, xí nghiệp) là một trung đội(2) Ngoài ra còn có 2 trung đội nữ là Minh Khai (chiến đấu), Mê Linh (liên lạc) cùng một trung đội thiếu niên mang tên Tiểu Quỷ. Tất cả những khu và đội tự vệ đều trực thuộc và chịu sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy quân sự Thành, từ tháng 11 năm 1946 lấy tên là Thành hộ tự vệ.

Ngoài lực lượng các ban công tác và tự vệ Thành, còn có lực lượng các nghiệp đoàn Lê Phụng Hiểu (một tổ chức nửa vũ trang của Liên hiệp công đoàn Thành vừa làm nhiệm vụ vận động công nhân vừa làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, chiến đấu ở khu vực cầu Chữ Y, nhà đèn Chợ Quán, vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội…) và các đội công an xung phong (tổ chức vũ trang chuyên hoạt động quân sự của Ty công an Thành) và các đội hoạt động ven thành phố và trên các chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Cũng trong thời gian này, khu bộ trưởng Khu 7 chính thức công nhận Ban tình báo Sài Gòn - Chợ Lớn - do Cao Văn Tây (tức Ba Cóc) chỉ huy. Ban này tự đặt tên là Ban công tác Đặc biệt, thường gọi tắt là CTĐB, về sau đổi tên là Ban thông tin (cũng gọi tắt là BTT) để tránh bị địch theo dõi.

Đến mùa thu năm 1946, trong nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn đã có một hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang khá mạnh và phát triển rộng khắp.


(1) Lúc này nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 18 hộ.
(2) - Khu mang các tên gọi: Võ Nhai, Đình Cả, Bắc Sơn, Bạch Đằng, Lạc An, Lam Sơn, Tây Hồ, Hóc Môn.
- Đội mang các tên gọi: Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Kí Con, Tô Hiệu, Thái Văn Lung.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:17:30 PM
Ở vùng ngoại thành, tiếp sau chi đôi 2, 3, 4, lần lượt các bộ đội khác được tổ chức lại, phát triển thành các chi đội 6, 12, 13…

Tại tỉnh Gia Định, đầu tháng 3 năm 1946, chấp hành quyết định của khu bộ trưởng Khu 7, Tỉnh và Ủy ban kháng chiến của tỉnh Gia Định đã triệu tập hội nghị quân sự tại chiến khu An Phú Đông nhằm thống nhất lực lượng vũ trang xây dựng thành chi đội. Bộ đội Gò Vấp, Dĩ An, Thủ Đức hợp nhất lại thành chi đội 6. Ban chỉ huy chi đội gồm Nguyễn Văn Dung (chỉ huy trưởng), Phạm Văn Khung (Bí thư tỉnh ủy trực tiếp kiêm chính trị viên), Nguyễn Văn Công (chỉ huy phó). Các chiến sĩ hầu hết là công nhân từ các đội công đoàn xung phong, công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An, nông dân ngoại thành vùng Đông Bắc thành phố và học sinh trí thức từng tham gia chiến đấu ở mặt trận tiền tuyến miền Đông. Chi đội gồm 3 đại đội(1), mang phiên hiệu 5, 10, 15. Đại đội 5 do Hứa Văn Yến làm đại đội trưởng, Trần Đình Xu đại đội phó. Đại đội 10 do Trần Thắng Minh làm đại đội trưởng, Đào Sơn Tây đại đội phó. Đại đội 15 do Thái Văn Lung làm đại đội trưởng, Tạ Nhựt Từ làm đại đội phó. Ngoài ra, chi đội 6 còn tổ chức nhiều đội trinh sát vũ trang hoạt động trong nội thành và xây dựng mạng lưới hậu cần, tổ chức “Hội ủng hộ chiến sĩ” có đến hàng trăm cơ sở.

Cùng thời gian này, bộ đội Nguyễn Văn Mạnh (đóng ở chiến khu Rừng Sác xây dựng thành chi đội 7, do Mai Văn Vĩnh làm chi đội trưởng.

Lực lượng vũ trang Cao Đài (đóng ở khu vực Trung Hòa, Củ Chi và Cây Sơn, Trảng Bàng) được sự đồng ý của khu bộ trưởng Khu 7 cũng xây dựng thành chi đội, lấy phiên hiệu chi đội 8. Ban chỉ huy gồm Mười Bạch, Lâm Văn Phát, Đặng Quang Dương(2).

Bộ đội Lê Văn Viễn (đóng ở chiến khu Rừng Sác) xây dựng thành chi đội 9, do Lê Văn Viễn làm chi đội trưởng.

Tại căn cứ Bình Mĩ, lực lượng còn lại của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa(3) xây dựng thành chi đội 12. Ban chỉ huy chi đội gồm Tô Kí (chỉ huy trưởng), Huỳnh Tấn Chúa (chỉ huy phó), Hoàng Tế Thế (chính trị chỉ đạo viên). Thành phần của chi đội hầu hết là công nhân và nông dân ngoại thành, trong đó có nhiều đảng viên trước Cách mạng Tháng Tám và chiến sĩ tham gia Nam Kì Khởi nghĩa năm 1940. Chi đội gồm 3 đại đội hoạt động ở khu vực Hóc Môn, Gò Vấp, Trảng Bàng.

Chi đội 13 thành lập trên cơ sở lực lượng công đoàn Sài Gòn, do Đặng Văn Thìn (Mười Thìn) làm chi đội trưởng. Hầu hết các chiến sĩ của chi đội là anh em công nhân từng tham gia chiến đấu ngay từ ngày đầu chống Pháp trong mặt trận nội đô, mặt trận tiền tuyến miền Đông và một số ở mặt trận phía Tây.

Tại Cần Giuộc, bộ đội Cần Giuộc xây dựng thành tiểu đoàn lấy phiên hiệu Nguyễn An Ninh. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên được gọi là tiểu đoàn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Bộ đội Cần Giuộc thành lập ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công do đồng chí Trương Văn Bang (từng giữ chức vụ Bí thư Xứ ủy Nam Kì) chỉ huy. Chiến đấu độc lập trên địa bàn phía Nam thành phố, bộ đội Cần Giuộc ngay từ đầu đã thể hiện bản chất bộ đội cách mạng, vừa chiến đấu vừa tuyên truyền xây dựng chính quyền, đoàn thể kháng chiến, xây dựng tình đoàn kết quân dân, được nhân dân địa phương yêu mến, gọi là “bộ đội Đỏ”. Tiểu đoàn Nguyễn An Ninh gồm 3 đại đội do Trương Văn Bang làm chỉ huy trưởng, Lưu Quang Tuyến làm chính trị viên.

Ngoài ra, xung quanh Sài Gòn có các chi đội 15 (một phần lực lượng Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, hoạt động ở khu vực Trung Huyện, phía Nam Đức Hòa, phía Bắc Cần Đước do Huỳnh Văn Một làm chi đội trưởng); chi đội 21 (đóng ở Lí Nhơn, Rừng Sác, do Nguyễn Văn Hoạnh làm chi đội trưởng); chi đội 25 (đóng ở phía Bắc Đức Hòa, phía Tây Trảng Bàng, do Tư Ti làm chi đội trưởng).

Đến giữa năm 1946, về hình thức, các chi đội đã xây dựng xong trên toàn chiến trường Nam Bộ. Trong số 17 chi đội và một tiểu đoàn ở miền Đông Nam Bộ(4), xung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có 11 chi đội và 1 tiểu đoàn đứng chân hoạt động. Đó là các chi đội 6, 12, 13, 15, tiểu đoàn Nguyễn An Ninh và 7 chi đội thuộc lực lượng Bình Xuyên 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25.

Việc hình thành và phát triển các tổ chức vũ trang nội và ngoại thành đã tạo điều kiện đặc biệt quan trọng cho quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định tiến hành đấu tranh vũ trang trong bối cảnh đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích toàn dân và toàn diện ngay sau ngày địch vi phạm Hiệp định sơ bộ. Mặc dù thành phần một số đơn vị bộ đội còn phức tạp, chất lượng về chính trị chưa cao, bộ đội thiếu những hiểu biết cơ bản về tri thức quân sự và trang bị vũ khí, sự hình thành các tổ chức vũ trang nói trên đã đặt tiền đề quan trọng cho quá trình xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang một cách thích hợp, có hiệu quả ở nội thành và vùng ven thành phố, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.


(1) Mỗi đại đội tương đương một tiểu đoàn ngày nay.
(2) Nhằm tranh thủ, lôi kéo một số đơn vị vũ trang có thành phần phức tạp về hàng ngũ kháng chiến, mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân, thêm bạn bớt thù, khu bộ trưởng Nguyễn Bình chấp thuận và cho phiên hiệu chi đội 8 cùng một số chi đội khác. Nhưng sau khi thành lập không lâu, Bạch, Phát đầu hàng Pháp, biến lực lượng vũ trang Cao Đài thành tay sai cho giặc chống lại kháng chiến.
(3) Tháng 3 năm 1946, đồng chí Lê Duẩn trên đường ra Hà Nội đến sở chỉ huy Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Tại đây, đồng chí đã phổ biến tình hình và cử đồng chí Trần Văn Trà về Khu 8 xây dựng lực lượng kháng chiến. Đồng chí Trần Văn Trà đưa hai phân đội (lấy từ Giải phóng quân liên quận) về Đồng Tháp Mười. Hai phân đội này trở thành một bộ phận của chi đội 14.
(4) Toàn Nam Bộ có 25 chi đội. 17 chi đội ở miền Đông Nam Bộ. Trừ 11 chi đội kể trên, còn lại gồm: chi đội 1, Thủ Dầu Một), chi đội 10 (Biên Hòa), chi đội 11 (Tây Ninh), chi đội 16 (Bà Rịa), chi đội 5 (Quân khu Đông Thành), chi đội 8 (Cao Đài).


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:19:26 PM
*
*   *

Vừa xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, ta vừa tích cực đánh địch, dần dần phối hợp gắn bó phong trào nội đô với chiến đấu ở vùng ven thành phố.

Mặc dầu có Hiệp định sơ bộ, từ tháng 3 năm 1946, quân địch vẫn không ngừng tổ chức các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn vào các chiến khu của ta. 6 giờ sáng ngày 1 tháng 3 năm 1946 tại An Phú Đông, trong khi các đơn vị bộ đội chi đội 6 chuẩn bị dự lễ thành lập chi đội thì quân địch kéo đến càn quét. Hơn 1000 lính Pháp, đủ binh chủng, bất ngờ bao vây và tấn công ta từ bốn mặt. Hàng chục tàu chiến án ngữ mặt sông Sài Gòn. Các vị trí hiểm yếu bến đò Bến Cát, An Nhơn, đường 13, đường Gò Vấp - Lái Thiêu bị bộ binh và xe thiết giáp khóa chặt. Pháo 105 li đặt ở sân bay Tân Sơn Nhất và súng cối các loại dưới tàu chiến bắn tới tấp vào căn cứ dọn đường cho bộ binh. Trên trời, bốn chiếc máy bay “cồng cộc” (Spitfire) gầm rú nhả đạn như mưa vào các nhà dân ở ven sông từ cầu lớn đến bến đò Phước Bình. Đây là cuộc càn quét lớn nhất của địch vào thời gian này ở khu vực vùng ven thành phố.

Rút kinh nghiệm từ cuộc chống càn lần trước, đồng bào rút xuống các hầm hào đã chuẩn bị sẵn. Các đơn vị Vệ quốc đoàn chi đội 6 bố trí ở các nơi xung yếu như cầu Rạch Giá, cầu Chùa, cầu Rạch Tâm, cầu Kinh… lợi dụng địa hình cây cối rậm rạp, sông rạch chằng chịt, dựa vào hệ thống công sự phòng thủ có sẵn. Bộ đội và du kích chờ địch đến gần sát mới nổ súng, diệt gọn từng toán, vừa chặn đánh địch chính diện, vừa linh hoạt vận động bọc đánh địch xuyên hông, gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Càng về chiều, do bị đánh bất ngờ và địa hình phức tạp, đội hình địch bị rối loạn. Các mũi tiến công của chúng đều bị bẻ gãy. Quân địch tránh né đụng độ, tìm cách đánh mở đường đến điểm tập trung để vượt sông Sài Gòn, bỏ mặc số tử vong.

5 giờ chiều cùng ngày, quân địch rút khỏi An Phú Đông, để lại hàng chục xác chết, 30 nhà dân bị đốt, 10 dân thường bị giết, một số phụ nữ bị chúng hãm hiếp và 20 chiến sĩ của ta đã anh dũng hi sinh. Mặc dù có tổn thất, cuộc chống càn đã giành được thắng lợi lớn. Nó chứng tỏ tinh thần quyết chiến của quân và dân ta tại địa bàn An Phú Đông, một chiến khu dù nhỏ vẫn tồn tại kiên cường ngay sát nách quân địch. Đây cũng là cuộc chiến đấu ra quân thắng lợi đầu tiên của lực lượng Vệ quốc đoàn chi đội 6.

Ngày 9 tháng 3 năm 1946, địch huy động trên 1000 quân có tàu chiến, máy bay và pháo binh yểm trợ mở cuộc tấn công lớn xuống Rừng Sác, khu vực Phước An, Phước Thọ, Phước Long. Chi đội 7 do Mai Văn Vĩnh chỉ huy vận động ra lộ 19 chặn đánh đại đội Âu Phi hành quân bằng xe GMC tại cầu Lò Rèn. Sau hơn 2 tiếng giao tranh quyết liệt, trước sự phản kích có hỏa lực mạnh của địch, quân ta rút lui, củng cố lại lực lượng, chờ lúc địch loay hoay sửa cầu cho xe qua liền chia làm hai mũi bất ngờ tập kích từ phía sau tới. Quân địch bị đánh bất ngờ không kịp chống cự, bỏ chạy tán loạn. Bộ đội ta truy kích diệt gọn đại đội Âu Phi. Tại Phước Thọ, hơn một trung đội thám sát địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Sau lệnh xung phong, bộ đội ào lên mặt đường, bắt sống 5 tên, diệt gần một trung đội Âu Phi. Duy nhất chỉ còn tên Việt gian Nguyễn Văn Rô (Cai Rô) thoát chết, lủi xuống Rừng Sác, đến nửa đêm mới chạy được về đồn Phước Thiền.

Trên đường 15, cánh quân thứ hai bị chi đội 2 Bình Xuyên cùng tự vệ hai xã Tuy Long, Tập Phước chặn đánh. Ta diệt và làm bị thương 35 tên lính Âu Phi, phá hủy hai xe quân sự. Hai cánh quân khác từ Bà Rịa lên và từ Sài Gòn qua phà Cát Lái đều lọt vào trận địa phục kích của liên chi đội 2 - 3 Bình Xuyên. Trận đánh kéo dài suốt ngày 9 tháng 3, tới chiều tối, địch vẫn không tiến được, buộc phải rút quân đem theo nhiều xác chết.

Cuộc hành quân càn quét (ngay sau 5 ngày kí Hiệp định sơ bộ) của địch bị giáng một đòn nặng nề ở chiến khu phía Nam thành phố.

Tại phía Bắc Cần Đước, ngày 11 tháng 3 năm 1946, chi đội 15 bố trí phục kích đánh chìm 1 đoàn tàu địch gồm 1 tàu kéo, 1 xà lan, 3 ghe chài chở quân Pháp và lính ngụy. Ta diệt 17 tên Pháp, thu nhiều vũ khí, đạn dược, lương thực.

Tại khu vực phía Bắc Thủ Đức - Dĩ An, ngày 15 tháng 4 năm 1946, bộ đội đại đội 10 (chi đội 6) phục kích chặn đánh cuộc hành quân của một trung đoàn địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Trong khi tiếng súng đánh địch của các chi đội Vệ quốc đoàn rền vang xung quanh thành phố thì trong nội đô, cùng với việc xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, các ban công tác, tự vệ Thành, đội trinh sát, công an xung phong đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, đánh phá kho tàng, diệt bọn Việt gian phản động, trừng trị bọn gián điệp, phản bội, bọn thực dân gian ác.

Trưa ngày 29 tháng 3 năm 1946, lực lượng công tác Thành đã trừng trị tên Trần Tấn Phát, Ủy viên hội đồng tư vấn Nam Kì, một trong những tên cầm đầu hoạt động tuyên truyền cho thuyết phân li “Nam Kì tự trị”. Báo [/i]Phục Hưng thứ Bảy[/i] ra ngày 30 tháng 3 năm 1946 sau khi đưa tin về cái chết của Phát đã lên tiếng ca ngợi Trần Tấn Phát là một “chiến sĩ chính trị” “đã tận tâm phục vụ cho Pháp quốc”(1).

Đầu tháng 4 năm 1946, đội trinh sát vũ trang chi đội 4 đột nhập nhà tên De Lique ở đường Mac Mahon giết chết 3 tên, bắn nhiều tên khác bị thương trong lúc chúng đang dự tiệc, thu 4 súng và 6 lựu đạn.

Ngày 8 tháng 4 năm 1946, chiến sĩ cảm tử đã đột nhập đốt cháy kho đạn đường Docteur Angier cạnh đài phát thanh. Đây là kho đạn và thuốc súng lớn nhất của Pháp ở Nam Đông Dương lúc bấy giờ, mỗi bề dài vài trăm mét, do lính Âu Phi luân phiên canh gác. 10 giờ sáng, một tiếng nổ long trời phát ra từ kho và làm cả kho đạn nổ đến chập tới ngày 11 tháng 4 mới chấm dứt. Đài phát thanh vá nhiều phố xá kế cận bị sập. Trụ sở bộ chỉ huy của trường Leclerc “nát như cám”. 600 tấn bom đạn, thuốc nổ và 40 tên lính Pháp “thành mây khói”. Phía ta những chiến sĩ đi phá kho bom không ai trở về. Báo Tin Điển ra thứ ba ngày 9 tháng 4 năm 1946 đưa tin: “Một tai nạn dữ dội… kho đạn Sài Gòn (đường Docteru Angier tả ngạn kinh Avalache) phát nổ. Tai nạn có thể kéo dài đến nhiều ngày”(2). Trong một bài diễn văn đọc chiều ngày 8 tháng 4 năm 1946 tại Sài Gòn, Cédille than vãn: “Tôi không ngờ đã có một tai nạn ghê gớm như vậy xảy ra ở Sài Gòn…”(3)


(1) Xem báo Phục Hưng, thứ Bảy ngày 30 tháng 3 năm 1946 - Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
(2) Xem báo Tin Điển ra thứ Ba ngày 9 tháng 4 năm 1946 - Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, t.1.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:22:17 PM
Ngày 12 tháng 3 năm 1946, nữ trinh sát quân chinh Nguyễn Thị Lan (biệt danh Lan Mê Linh) bắn gục tên bồi bút Hiền Sĩ, chủ nhiệm gờ báo phản động Phục Hưng giữa ban ngày tại khu vực chợ Bến Thành trên đại lộ Bonard. Phục Hưng là tờ báo phản động, công cụ tuyên truyền đắc lực cho âm mưu chia cắt đất nước, thành lập chính phủ Nam Kì tự trị. Hiền Sĩ đã bị ta cảnh cáo nhiều lần và kết án tử hình vắng mặt. Chị Lan Mê Linh vừa học xong khóa Hồ Chí Minh trường Quân chính Khu 7, mới 17 tuổi, được giao nhiệm vụ thi hành bản án. Sau một thời gian liên tục bám sát theo dõi, chị quyết định giết tên Hiền Sĩ ngay chỗ đông người để trấn áp bọn Việt gian bán nước khác. Khi Hiền Sĩ từ tòa soạn báo đi ra đường chưa kịp lên xe, chị đã chờ sẵn, bình tĩnh rút khẩu súng ngắn 6,35 li bắn liên tiếp 3 phát. Hiền Sĩ ôm ngực bỏ chạy lảo đảo, 2 tên vệ sĩ xông lại chụp bắt chị. Trung đội Âu Phi mũ đỏ đi tuần tra đậu xe bên kia đường, nghe tiếng súng nổ, ập tới khi Lan Mê Linh đang dùng súng đập vào thái dương tên bồi bút. Lan Mê Linh bị bắt, nhưng tiếng súng của chị là một đòn cảnh cáo đối với bọn tay sai bán nước, cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân Sài Gòn, đặc biệt trong giới thanh niên học sinh và sinh viên.

Tháng 5 năm 1946, anh Nguyễn Đình Chính (tức Chính Heo) cùng một chiến sĩ thuộc Ban công tác số 1 đột nhập nhà tên Việt gian Nguyễn Thượng Hiền ở số 218 đường Lagrandière, giết chết tên này cùng 5 đồng bọn, sau đó rút lui an toàn. Hiền là một tên phản bội cách mạng chuyên dẫn giặc đi lùng bắt cán bộ của ta. Hắn được Pháp trọng dụng và bố trí canh gác bảo vệ rất chu đáo. Cái chết của Hiền và tay chân, cùng với vụ xử tên Hiền Sĩ đã làm cho bọn Việt gian tay sai chùn lại, không dám ngang nhiên chống phá kháng chiến như trước.

Trước tình hình cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát triển và dư luận thúc bách, chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận mở cuộc đàm phán chính thức với ta. Cũng dịp này, theo lời mời của chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm Pháp. Trước khi đi, sáng ngày 31 tháng 5 năm 1946 tại Hà Nội, Người gửi thư cho đồng bào Nam Bộ. Trong thư Hồ Chủ tịch khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi”(1).

Trong khi buộc phải nhận đàm phán chính thức với ta, thực dân Pháp vẫn ra sức phá hoại hiệp định đã kí kết, đeo đuổi âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, chính phủ Cộng hòa Nam Kì tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng ra đời. Trong buổi lễ ra mắt chính phủ tổ chức trước Nhà thờ Đức Bà, các quan chức Pháp, Việt, binh lính và dân thường tổng cộng không quá 100 người đứng nghe thủ tướng Nguyễn Văn Thinh tuyên thệ bằng tiếng Pháp! Để hợp thức hóa chính phủ này, ngày 3 tháng 6, Ủy viên cộng hòa Pháp Cédille kí với Nguyễn Văn Thịnh một “hiệp ước”, theo đó Cédille công nhận ”Nam Kì quốc” là một chính phủ tự trị, một “Nam Kì tự do” có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp! Thinh cam kết bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Nam Bộ.

Tháng 6 năm 1945, đại tá Edward G. Lansdale thuộc tổ chức CIA Mĩ tới Sài Gòn, cầm đầu đội gián điệp “hoạt động bán quân sự” và “chiến tranh tâm lí chính trị” tại Việt Nam.

Nằm trong chương trình bình định vùng đã chiếm đóng, thực dân Pháp ráo riết xúc tiến việc thành lập “Mặt trận quốc gia liên minh” thâu gộp các đảng phái phản động, bọn tay sai đầu hàng phản bội thành một lực lượng chống phá cách mạng tạo cơ sở xã hội cho chính phủ bù nhìn, phá mặt trận đoàn kết dân tộc ta. Từ đầu năm 1946, Bazin, giám đốc Sở mật thám Liên bang Đông Dương đã có kế hoạch từng bước lôi kéo nắm lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên. Tháng 5 năm 1946, Trần Quang Vinh (một chức sắc cao cấp của Tòa thánh Tây Ninh, Bộ trưởng quốc phòng thời kì phát xít Nhật chiếm đóng Việt Nam) về hàng Pháp. Ngày 28 tháng 8 năm 1946, giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc được Pháp đưa về nước (trước đó Phạm Công Tắc bị Pháp đày ở Madagascar). 5000 thanh niên Cao Đài được Pháp gấp rút huấn luyện, trang bị, xây dựng thành quân đội, một tổ chức vũ trang, thực chất là ngụy quân.

Tại Chiến khu Rừng Sác, Lại Hữu Tài được cơ quan Phòng Nhì Pháp cài vào chi đội 9, làm nhiệm vụ lung lạc, lôi kéo chi đội trưởng Bảy Viễn. Tài được Bảy Viễn cử giữ chức thư kí văn phòng chi đội trưởng. Lại Hữu Tài cùng anh ruột là Lại Văn Sang ra sức mua chuộc, lôi kéo một số người trong ban chỉ huy chi đội 9 và các chi đội khác. Trung tuần tháng 6 năm 1946, dưới sự đạo diễn của Tài, Lê Văn Viễn nhân danh chi đội trưởng 9 mời chi đội trưởng, chi đội phó các chi đội 2, 3, 4, 7, 21, 25 đến Ba Giồng họp hội nghị bàn việc lập “liên quân các chi đội” nhằm “thống nhất và tăng cường lực lượng đánh Pháp”. Chính trị viên các chi đội là đảng viên cốt cán không được mời họp. Tại hội nghị, các đại biểu đã quyết định thành lập liên khu Bình Xuyên bao gồm lực lượng các chi đội 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25 và cử Lê Văn Viễn làm tổng chỉ huy. Danh từ Bình Xuyên vốn chỉ bộ đội Dương Văn Dương (liên chi 2 - 3) và bộ đội Nguyễn Văn Mạnh (chi đội 7) nay được dùng để chỉ luôn cho các chi đội nêu trên. Cuối tháng 6 năm 1946, nhằm “giữ” liên khu Bình Xuyên, khu bộ trưởng Nguyễn Bình ra quyết định chấp thuận kết quả hội nghị Ba Giồng và bổ nhiệm Lê Văn Viễn giữ chức khu bộ phó Khu 7. Từ đây, dưới sự đạo diễn của anh em Tài, Sang và một số nhân viên Phòng Nhì Pháp, “Tổng hành dinh khu bộ phó” Bảy Viễn và “Bộ tham mưu liên khu Bình Xuyên” thường xuyên phát ra những chỉ thị, mệnh lệnh làm phương hại đến công cuộc kháng chiến, từng bước biến chiến khu Rừng Sác thành “chiến khu ma” và trong nội bộ Bình Xuyên bắt đầu nảy sinh sự phân hóa giữa một bên là một số ít quen thói giang hồ hưởng lạc bị địch lợi dụng và một bên là đại đa số cán bộ chiến sĩ một lòng đi theo kháng chiến.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd, tr. 139.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:22:54 PM
Tháng 11 năm 1946, tại Chiến khu Đồng Tháp Mười, theo sáng kiến của đồng chí Ung Văn Khiêm (đại diện Xứ ủy Tiền Phong) và đồng chí Trần Văn Trà (đại diện Xứ ủy Giải Phóng), hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập. Hội nghị đã củng cố lại và bổ sung Ban chấp hành Xứ ủy lâm thời Nam Bộ gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Thuận, Trần Văn Trà. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách thường trực Xứ ủy. Hội nghị cũng củng cố lại các Liên tỉnh ủy miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận được chỉ định làm Bí thư liên tỉnh ủy miền Đông.

Hội nghị Xứ ủy tháng 1 năm 1946 có ý nghĩa quan trọng: thống nhất sự lãnh đạo của Đảng về một khối và có hệ thống thống nhất từ xứ đến cơ sở, xóa bỏ tình trạng phân liệt Tiền Phong, Giải Phóng, Việt Minh cũ, Việt Minh mới trong tổ chức Đảng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp Nam Bộ tới tỉnh, huyện, xã từ đây được duy trì một cách đều đặn và có hệ thống. Chiến khu Đồng Tháp Mười trở thành “thủ đô kháng chiến” ở Nam Bộ.

Sau Hội nghị Xứ ủy, cuộc kháng chiến của ta trên các chiến trường phát triển có nền nếp và nhịp nhàng hơn. Công tác xây dựng, phát triển Đảng bắt đầu được chú ý. Chính quyền nhân dân và đoàn thể cứu quốc được khôi phục và củng cố. Ủy ban nhân dân Nam Bộ do Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch, Phạm Ngọc Thuần giữ chức Phó chủ tịch kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ (thành lập từ tháng 8 năm 1946). Ủy ban được củng cố lại, gồm Ung Văn Khiêm - ủy viên nội vụ, Diệp Ba - ủy viên công an, Phạm Thiều - ủy viên tuyên truyền, Nguyễn Bình - ủy viên quân sự, Kha Vạn Cân - ủy viên kinh tế, Nguyễn Thành Vĩnh - ủy viên tài chính, Nguyễn Văn Hưởng - ủy viên y tế, Huỳnh Phú Sổ - ủy viên đặc biệt.

Cũng trong tháng 11 năm 1946, ngày mùng 7, tại Chiến khu An Phú Đông, một cuộc hội nghị cán bộ của Tổng công đoàn Nam Bộ được triệu tập để bầu lại cơ quan lãnh đạo, đổi tên Tổng công đoàn Nam Bộ thành Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Bộ, thống nhất tổ chức theo điều lệ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Lưu được bầu làm thư kí thay đồng chí Lí Chinh Thắng hi sinh ngày 30 tháng 9 năm 1946. Ngày 25 tháng 11 năm 1946, các tổ chức công đoàn ở Sài Gòn và tổ chức công nhân cứu quốc thống nhất lại thành Liên hiệp nghiệp đoàn Sài Gòn - Chợ Lớn bao gồm gần 200 nghiệp đoàn cơ sở với gần 25.000 đoàn viên. Hệ thống thành công của công đoàn thành phố chia thành các khu:

- Khu Sài Gòn từ hộ 1 đến hộ 6: Về sau chia thành 2 quận: quận 1 gồm hộ 1 đến hộ 3, quận 2 từ hộ 4 đến hộ 6.

- Khu Chợ Lớn từ hộ 7 đến hộ 18, về sau chia thành quận 3, quận 4 và quận 6.

- Liên khu Tân Bình gồm Thị Nghè, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nguyên thuộc tỉnh Gia Định được giao sang thành phố. Về sau đổi thành quận 5 gồm hộ 19 (Thị Nghè), hộ 20 (Bình Hòa), hộ 21 (Phú Nhuận), hộ 22 (Bình Lợi Trung). Toàn thành phố có 6 quận, 22 hộ.

Mùa thu năm 1946, lực lượng vũ trang nội thành được chấn chỉnh thêm một bước nữa. Các ban công tác, đội tự vệ Thành, công an xung phong, và đội trinh sát vũ trang các chi đội phân khu vực hoạt động. Các bộ phận vũ trang vùng ven đô của sáu ban công tác Thành phối hợp lại, lập một đơn vị vũ trang lấy tên là “Liên tác chiến đấu quân” do Hoàng Gia Nhi làm chỉ huy trưởng.

Liên tác chiến đấu quân gồm 4 trung đội, được trang bị hỏa lực mạnh, có súng liên thanh, làm nhiệm vụ bảo vệ các khu vực căn cứ bàn đạp, chống giặc càn quét khủng bố, bảo vệ các đường giao thông liên lạc từ thành phố ra vùng ven, yểm trợ cho các tổ chức của ban công tác tác chiến đánh địch trong nội đô.

Phong trào kháng chiến diễn ra khắp các tỉnh Nam Bộ và ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định làm cho địch lâm vào tình thế lúng túng. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh và bình định Nam Kì trong thời gian ngắn không thực hiện được. Tướng Nyo gặp khó khăn trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng tiến hành các cuộc hành quân tiêu diệt đối phương và dàn trải quân số củng cố các vị trí chiếm đóng thực hành bình định. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự tử. Pháp đưa Nguyễn Văn Xuân lên làm thủ tướng chính phủ bù nhìn, nhưng sau đó lại đưa Lê Văn Hoạch lên thay. Ngày 13 tháng 11 năm 1946, đại tá Cédille bị bãi chức. Torès thuộc phái bảo hoàng sang thay làm ủy viên cộng hòa Pháp ở Nam Việt Nam. Chính sách Nam Kì tự trị của Pháp chỉ có giá trị trên hình thức. Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn ráo riết leo thang chiến tranh, từng bước mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn quốc.

Ngày 17 tháng 12 năm 1946, nắm biết lực lượng chi đội 6 lưu động gồm hai đại đội 5 và 15 đứng chân tại khu vực hai xã Trung Lập và An Nhơn Tây (khu 5 Hóc Môn), địch tổ chức một cuộc càn lớn. Toàn bộ lực lượng bán lữ đoàn Lê dương số 13 (13è DBLE) đóng tại ngã ba Thành Quan Năm (Hóc Môn) và lực lượng chiếm đóng tại sở Mây Sắc và bót Cầu Trắng (Hố Bò) được huy động vào cuộc càn. Ý định của địch là dùng lực lượng ở Mây Sắc, cầu Trắng đánh tan đại đội 1, đại đội 2 của chi đội 12 tại khu vực này, sau đó triển khai đội hình phục kích từ Xóm Trại đến Ba Sòng đón lõng lực lượng chi đội 6; lực lượng bán lữ đoàn Lê dương số 13 có pháo binh bắn yểm trợ và máy bay trinh sát dẫn đường dồn lực lượng chi đội 6 qua đồng ruộng Ba Sòng, hợp với lực lượng Mây Sắc, Cầu Trắng diệt gọn quân ta tại đây. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy của tên De Sarigné, đại tá chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương 13.

Từ 5 giờ sáng, địch dùng xe cơ giới chở lực lượng 13e DBLE đổ thành 3 cụm trên đường 7. Từ đây, chúng chia làm 3 mũi tiến vào các mục tiêu đã chọn: từ Trung Hòa theo đường đất vào Tầm Lanh, tư ngã tư Trung Huyện băng ruộng vào ấp Trung Hưng, hai mũi này hợp điểm tại Xóm Ràng, nơi chi đội 6 đóng chỉ huy sở. Mũi dự bị từ đường 7 dùng cơ giới cơ động đánh thọc sườn lực lượng của ta từ Xóm Ràng về Bàu Đưng, Rừng Làng.

5 giờ 15 phút, ở hướng Xóm Trại, Ba Sòng, hai đại đội thuộc chi đội 12 do Hai Bứa, Tư Thược chỉ huy chặn đánh lực lượng địch từ sở Mây Sắc và bót Cầu Trắng ra. Bộ đội ta dựa vào các vật che khuất chờ địch đến gần mới nổ súng diệt gọn từng toán. Quân địch không tiến lên được, buộc phải quay đầu rút chạy về bót.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2012, 02:24:31 PM
Ở hướng Trung Lập, Trung Hòa, hai đại đội 5 và 15 thuộc chi đội 6 do Nguyễn Văn Công chỉ huy đã kịp thời triển khai đội hình phục kích địch dọc bìa Xóm Ràng, 5 giờ 30 phút, toán đi đầu của địch vừa vượt qua khu ruộng trốn đã chạm súng với bộ phận trinh sát chặn địch từ xa của ta. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ngay từ đầu. Quân địch với lực lượng áp đảo (4 tiểu đoàn) trang bị hỏa lực mạnh bắn như vãi đạn vào đội hình ta, vòng vây ngày càng khép chặt. Lực lượng ta chỉ có hai đại đội, chiến đấu sau hai tiếng đồng hồ, đạn cạn dần. Trong tình thế nguy ngập đó, đại đội B thuộc chi đội 11 (Tây Ninh) do Trần Minh Ngọc chỉ huy đóng tại An Tịnh, nghe tiếng súng nổ, liền cấp tốc vận động từ Tịnh Phong qua bàu Cá Chạch thọc vào sở cao su Trung Hưng (qua quãng đường dài 8km) vừa lúc mũi thọc sườn của địch gồm 1 tiểu đoàn trên 14 xe cơ giới đổ xuống. Đại đội B nhanh chóng triển khai đội hình, bất ngờ đánh vào bên sườn phía sau bên quân địch. Đại đội trưởng Ngọc dùng khẩu đại liên bắn hạ chính xác từng tốp lính Lê dương ngoài đồng trống. Bị tập kích bất ngờ, quân địch bỏ chạy tán loạn. Mũi đánh bọc sườn của chúng bị bẻ gãy.

Tại hướng chính diện, quân địch bị hở sườn, núng thế lùi dần và lần lượt rút chạy. Quân ta thừa cơ truy kích, đốt cháy 14 xe vận tải tại Trung Hưng. Bọn địch mất xe bỏ chạy thục mạng từ đó ra đường số 7 chờ xe Hóc Môn lên đón.

Kết thúc trận đánh, ta diệt gần 300 tên địch, đốt cháy 14 xe, thu 2 đại liên 12,7 li, 6 trung liên, gần 300 súng trường và tiểu liên các loại. Hai tiểu đoàn Lê dương bị thiệt hại nặng.

Lần đầu tiên tại vùng ven Sài Gòn, bộ đội ta tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực của địch, làm cho bán lữ đoàn Lê dương 13 - một đơn vị nhà nghề nổi tiếng thiện chiến - và tên quý tộc De Chargnier mất tinh thần không còn dám hống hách nghênh ngang càn phá như trước. Thắng lợi của trận Trung Hưng - Ràng phần nào phản ánh tinh thần chiến đấu kiên cường và khả năng hiệp đồng chiến đấu của bộ đội ta trong những ngày đầu mới xây dựng ở mặt trận phía Bắc thành phố.

Cùng với những hoạt động nội thành, trận chống càn Trung Hưng - Ràng (Bắc Hóc Môn) kết thúc năm 1946, năm đầu “đi trước”, để từ đây, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bước vào giai đoạn lịch sử mới cùng cả nước kháng chiến!

Tại Bắc Bộ, thực dân Pháp đã ngang nhiên đánh chiếm Hải Phòng - Lạng Sơn, trấn giữ hai cửa ngõ đường biển và đường bộ quan trọng của nước ta. Trưa ngày 12 tháng 12 đến sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư láo xược đến chính phủ ta. Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Trưa ngày 19 tháng 12, Thường vụ Trung ương Đảng điện cho các chiến khu và tỉnh ủy, “Tất cả hãy sẵn sàng”. Và 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, đài tiếng nói Việt Nam truyền đi mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Quốc phòng:

“Tổ quốc lâm nguy!

Giờ chiến đấu đã đến!

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung - Nam - Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận, giết giặc cứu nước”
(1).

Cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu!

Ngày 23 tháng 9 năm 1945 đến ngày 19 tháng 12 năm 1946 là chặng đường lịch sử đặc biệt đầy khó khăn thử thách. Ở đó, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định cùng quân và dân Nam Bộ đã “đi trước” và hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ mà lịch sử giao phó.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và kịp thời của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, của Xứ ủy và các cấp ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định với quyết tâm sắt đá báo vệ nền độc lập dân tộc vừa giành được, đã đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trong điều kiện không ngang sức với kẻ thù xâm lược, đi từ không đến có, vừa đánh địch vừa gây dựng lực lượng mọi mặt, nhanh chóng khắc phục những mặt sai, yếu, ấu trĩ, từng bước hình thành một phương lối kháng chiến đúng đắn có hiệu quả.

Thắng lợi của 15 tháng đầu kháng chiến ở Sài Gòn và miền Nam miền Nam đã giáng hiệp đầu vào dã tâm thống trị nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, làm xáo trộn kế hoạch chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng, buộc chúng phải sử dụng cả lực lượng mà theo dự kiến ban đầu để đánh chiếm toàn Đông Dương vào cuộc chiến tranh bó hẹp ở chỗ Sài Gòn và Nam Bộ. Nó cổ vũ mạnh mẽ lòng yếu nước và tạo ra một khoảng thời gian hết sức quý báu để nhân dân cả nước có điều kiện xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn bị toàn diện cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

Cuộc kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và Nam Bộ đã cống hiến những kinh nghiệm nóng hổi đầu tiên cho nhân dân cả nước về tổ chức và chỉ đạo kháng chiến, về xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang, về tiến hành chiến tranh du kích và xây dựng cơ sở chính trị ở vùng tạm bị chiếm đô thị.

15 tháng đầu chiến đấu, củng cố và xây dựng lực lượng mọi mặt đã tạo ra những tiền đề hết sức quan trọng về tinh thần và lực lượng vật chất để quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định vững bước vào giai đoạn kháng chiến tiếp theo!


(1) Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy - Bộ Tông tham mưu xuất bản, 1963, T1, tr. 37.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:41:54 PM
Chương hai

CÙNG CẢ NƯỚC ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN,
CHỐNG CHÍNH SÁCH BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH,
CAO TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
VÀ CAN THIỆP CỦA MĨ NỘI ĐÔ
(Từ tháng 1 năm 1947 đến tháng 8 năm 1950)

I. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG MỌI MẶT CHO CUỘC KHÁNG CHIẾN

Với trên 90.000 quân viễn chinh được trang bị vũ khí hiện đại, có kinh nghiệm chiến tranh và quen thuộc chiến trường Đông Dương, đang đứng chân tại một số vị trí chiến lược trên đất nước ta, được đế quốc Anh, Mĩ giúp sức, thực dân Pháp đã bất chấp dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Pháp, quyết mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn cõi Việt Nam.

Tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), ngày 18 và 19 tháng 12 năm 1946, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến.

Sáng ngày 20 tháng 10 năm 1946, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn trong đêm 19 tháng 12.

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước…”
(1)

Trước ngày toàn quốc kháng chiến, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ đã nhận được thư và điện của Trung ương Đảng. Trong thư “Gửi các đồng chí Nam Bộ”, Trung ương Đảng chỉ rõ:

“Nam Bộ là căn cứ của Pháp thực dân để lấy nhân, vật, tài lực chiến tranh với cả toàn quốc của ta và Đông Dương… Những ý định lấy Sài Gòn làm trung tâm chính trị đã biểu lộ, tất nhiên chúng ta phải có chính sách không những làm cho chúng không thể lấy Nam Bộ dùng đánh Trung, Bắc mà lại là Nam Bộ cản trở thêm khó khăn nguy hại cho chúng. Cho nên công tác phá hoại, bất hợp tác về mọi phương diện là công tác chính và chính sách này muốn thực hành đầy đủ phải làm cho toàn dân có ý thức giác ngộ, hiểu rõ mọi người đều có thể làm và phải làm để cứu nước… Không quên có những đội cảm tử xung phong, phải hợp tác công tác xung phong cảm tử với quảng đại quần chúng bằng phương pháp lãn công, đình công, đòi quyền lợi kinh tế trong các công xưởng, các sở với những hình thức đấu tranh chính trị chung, tẩy chay chính phủ bù nhìn, đòi các quyền lợi tự do dân chủ, chống khủng bố, trong lúc này cũng cần rất quan trọng nghĩa là phải kết hợp những cuộc đấu tranh không bạo lực với những cuộc chiến đấu bằng lực lượng, võ khí.

Những cuộc tác chiến đánh úp trong những du kích có thể dùng võ lực bảo vệ tài sản, sinh mạng dân chúng đi đôi với các cuộc giết bọn Việt gian, tay sai lợi hại của chúng

Một điều đáng chú ý là luôn luôn bảo vệ và xây đắp chính quyền chúng ta ở khắp thôn quê, thành thị, phải có những cơ quan hành chính bí mật hay công khai, bao giờ cũng tiêu biểu chính quyền của ta vẫn có ở Nam Bộ.

Muốn thực hành những nhiệm vụ này, Đảng ta cần phải mạnh và thống nhất. Không có một Đảng thống nhất và mạnh mẽ không thể đương đầu với tình thế hiện tại được. Thống nhất, củng cố Đảng, phát triển Đảng thành một Đảng quần chúng đủ oai quyền đầy đủ năng lực lãnh đạo là điều kiện cốt yếu để kháng chiến kiến quốc…”(2)

Gần sát ngày toàn quốc kháng chiến, bức điện ngày 16 tháng 12 năm 1946 của Trung ương Đảng gửi Xứ ủy lâm thời Nam Bộ nhấn mạnh: “Nhiệm vụ Nam Bộ là không để cho Pháp đem hết tải sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc. Việc hành binh phải tìm cách có ý thức uy hiếp Sài Gòn. Nhất là phá quân nhu, đạn dược ở Sài Gòn…”

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn quốc kháng chiến”, trình bày ngắn gọn những nội dung cốt lõi về đường lối kháng chiến của Đảng.

Trong bối cảnh quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bước vào giai đoạn cùng cả nước kháng chiến, lời kêu gọi của Bác Hồ và các chỉ thị của Trung ương Đảng có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí quyết chiến chống xâm lược, vạch ra đường hướng cơ bản về cuộc kháng chiến, khẳng định và phát triển những khởi nghĩa tiến hành kháng chiến ở Sài Gòn và Nam Bộ trong thời gian hơn một năm trước đó.

Mở rộng cuộc chiến tranh ra toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, “tách Nam Kì ra khỏi cuộc chiến tranh”, biến Bắc Bộ thành chiến trường chính, Bộ tham mưu của tướng Valluy đã vạch kế hoạch bình định Nam Bộ với tham vọng hoàn thành vào mùa thu 1947. Bình định Nam Bộ trở thành một khâu then chốt trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp.

Về chính trị, chúng dùng mọi thủ đoạn lôi kéo tập hợp các phe phái tôn giáo, đảng phái phản động, lập mặt trận quốc gia giả hiệu, các khu quốc gia, khu an ninh nhằm tạo thêm cơ sở xã hội, chia rẽ hàng ngũ kháng chiến, vô hiệu hóa các căn cứ kháng chiến.

Về kinh tế, chúng duy trì, phát triển các cơ sở kinh tế ở Sài Gòn, củng cố và đẩy mạnh hoạt động khai thác cao su ở miền Đông và lúa gạo ở miền Tây.

Về quân sự, Nyo bố trí lại chiến trường, bỏ bớt những đồn bót nhỏ lẻ, tập trung lực lượng chủ yếu ở xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ(3), phát triển ngụy quân, phát triển chiến tranh gián điệp, mở các cuộc hành quân lớn và sâu vào vùng căn cứ kháng chiến để tìm diệt lực lượng vũ trang, triệt phá cơ sở địa phương, và thường xuyên đánh phá vùng du kích nhằm diệt lực lượng du kích và chính quyền cách mạng, từng bước mở rộng vùng kiểm soát, dồn lực lượng của ta vào một khu vực, từ đó dùng lực lượng lớn bao vây tìm diệt. Nam Bộ được chia làm 3 tiểu khu và Đặc khu Sài Gòn - Gia Định(4). Cơ quan chỉ huy đặt tại Sài Gòn và Thủ Đức. Riêng Sài Gòn - Gia Định trực thuộc Tổng hành dinh tướng Nyo. Sau đó Nyo lại chia tiểu khu thành 6 tiểu khu không theo ranh giới hành chính mà dựa trên yêu cầu phòng thủ quân sự(5). Theo đó, Chợ Lớn thuộc tiểu khu Vàm Cỏ, Gia Định thuộc tiểu khu Gia Định, Sài Gòn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân viễn chinh tại miền Nam.

Ngay đầu năm 1947, đồng thời với việc mở các cuộc hành quân càn quét vào căn cứ và vùng du kích của ta ở xung quanh thành phố, trong nội thành, địch tăng cường canh gác các ngả đường, cửa ô, bố ráp liên tục các xóm lao động nghèo, đặc biệt theo dọc vùng kênh rạch. Chúng còn phát giấy thông hành mới, buộc nhân dân lập tờ khai gia đình, già mật vụ vào theo dõi chỉ điểm ở cổng nhà máy, trường học, đầu đường, góc chợ… gây không khí khủng bố, căng thẳng khắp nơi.

Trước tình hình đó, đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, chỉ thị: “Đẩy mạnh đánh địch ở khắp các mặt trận” của Lâm thời Xứ ủy Nam Bộ, tháng 1 năm 1947, Tư lệnh bộ Khu 7 triệu tập Hội nghị quân sự toàn Khu. Hội nghị đề ra nhiệm vụ năm 1947 với các nội dung chủ yếu: tiếp tục xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, chống chính sách địch mua chuộc giáo phái, đánh mạnh vào hậu phương của địch, các cơ sở kinh tế của chúng ở nội thành Sài Gòn, vùng cao su và dọc đường giao thông.


(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t. 4, tr. 203.
(2) Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, t. 2, tr. 69, 70, 71, 72.
(3) Lực lượng của tướng Nyo tại Nam Bộ có 38.000 quân viễn chinh, ngoài ra có 6.000 lính bảo an và khoảng 10.000 dân vệ.
(4) Tiểu khu 1: Chợ Lớn, Tân An, Mĩ Tho, Gò Công. Tiểu khu 2: Cần Thơ, Vĩnh Long, Long Xuyên. Tiểu khu 3: Biên Hòa, Xuân Lộc, Bà Rịa, Thủ Đức.
(5) Tiểu khu Biên Hòa: Biên Hòa, Bà Rịa. Tiểu khu Thủ Dầu Một: Thủ Dầu Một. Tiểu khu Gia Định: Gia Định, Tây Ninh. Tiểu khu Vàm Cỏ: Chợ Lớn, Tân An, Mĩ Tho. Tiểu khu Vĩnh Long: Tiền Giang, Bến Tre. Tiểu khu Nam: Hậu Giang.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:43:50 PM
*
*   *

Hòa cùng tiếng súng cả nước, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định tiếp tục đẩy mạnh công tác kháng chiến(1).

Trong nội thành, sau khi 6 ban công tác được thống nhất lại, có tổ chức chỉ huy chung và phân chia khu vực hoạt động, công tác xây dựng cơ sở, vũ trang tuyên truyền, điều tra nắm địch, diệt tề, trừ ác diễn ra có trọng điểm hơn và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ, liên tổ, ban công tác và các đơn vị tự vệ, công an xung phong. Ngay trong tháng 1 năm 1947, Ban công tác 6 đột nhập vào nhà hàng La Rosette trên đường Mac Mahon, đặt mìn đánh sập 1/3 ngôi nhà, diệt 7 phi công Pháp.

Cũng trong tháng 7 năm 1947, các chiến sĩ Liên tác chiến đấu quân 2 - 3 - 6 đột nhập trụ sở “Mặt trận bình dân” tại Ngã Sáu, bắn chết tên Cò Ngọc, chủ tịch Mặt trận bình dân Nam Kì và băn gãy chân tên cò Sáu Bé. Ta thu 1 súng và giải tán tổ chức phản động này.

Ngày 16 tháng 2, ta đốt cháy 2 kho hàng ở cảng Nhà Rồng, làm thiệt hại trên 5 triệu đồng tiền Đông Dương ngân hàng.

Ngày 26 tháng 3 năm 1947, anh Võ Hồng Tâm, đội viên tự vệ đội Tây Hồ dùng dao cạo giết chết tên đại tá Hans Impelt, ủy viên cộng hòa Pháp ở Lào mới đến Sài Gòn, tại khách sạn Hotel des Nations đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ). Sự kiện tên Impelt bị giết chết, gây chấn động mạnh, làm kinh hoàng bọn sĩ quan Pháp tại Sài Gòn và dư luận nước Pháp.

Cũng trong tháng 3 năm 1947, một tổ trừ gian của lực lượng Ban công tác Thành bắn chết tên Lê Văn Hậu và 10 tên tay sai đồng bọn tại hộ 16 Chợ Lớn.

Trong tháng 4 năm 1947, bọn ngụy tổ chức hội chợ ở vườn Beaux Jeux (Tao Đàn). Khu bộ Khu 7 chỉ thị giải tán hội chợ này. Do địch kiểm soát chặt chẽ nên các chiến sĩ của ta không đưa vũ khí vào được. Ban vũ khí tự vệ thành nghiên cứu sản xuất ra hàng loạt lựu đạn ngụy trang giống hộp bật lửa và bút máy. Dựa vào bản đồ đường ống cống do cơ sở nội tuyến cung cấp, các chiến sĩ của ta luân phiên đội nhập hội chợ đánh phá. Lựu đạn tự tạo tuy tiếng nổ nhỏ và sát thương không lớn, nhưng làm cho quân địch rất hoảng sợ. Hội chợ định kéo dài sang tháng 5 đã phải giải tán sau khi khai mạc được ít ngày. Kế đó, trên 100 công nhân hãng Sôđa Khánh Hội biểu tình đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi. Tại Chợ Lớn, lực lượng tự vệ và công tác Thành thực hiện “chiến dịch” phá các nhà máy xay xát, cảnh cáo các chủ nhà máy chế biến cung cấp gạo cho thực dân Pháp. Hàng loạt nhà máy xay bị đốt như Đồng Hưng, Trung Hưng, Thành Hưng Thái, Cảnh Hưng, Kiến Quang bị đốt. Kho gạo của nhà máy Kiến Quang được chuyển ra căn cứ. Sau “chiến dịch” này, các ban công tác Thành nói chung được Ủy ban kháng chiến Hành chánh Nam Bộ tuyên dương công trạng toàn Nam Bộ và được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba - huân chương đầu tiên của lực lượng 10 ban công tác Thành.

Ở ngoại thành, các đơn vị vũ trang củng cố thêm một bước về tổ chức và đẩy mạnh hoạt động tác chiến tiêu diệt địch. Nhằm xây dựng và bảo vệ căn cứ ở ngoại thành, tạo bàn đạp và bảo vệ đường giao liên vào thành phố. Ban chỉ huy Thành bộ tự vệ quyết định thành lập một tiểu đoàn vũ trang tập trung. Thành phần xây dựng tiểu đoàn gồm 1 trung đội mạnh của chi đội 10, các đội viên chiến đấu ở các khu, đội tự vệ nội thành, cả 1 tiểu đội lính ngụy bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất đi theo kháng chiến. Ngoài sổ riêng chi viện của chi đội 10, Ban chỉ huy tự vệ Thành tổ chức cho các khu, đội chuyển ra căn cứ số vũ khí lấy được của địch (trong đó có cả súng lớn như FM đầu bạc, trọng liên 12,7 li, cối 81 li, và chỉ thị cho ban võ khí tự vệ Thành sản xuất thêm một số súng phóng lựu (tromblon Việt Bắc). Tháng 3 năm 1947, tiểu đoàn vũ trang tập trung của tự vệ Thành lấy phiên hiệu Hoàng Văn Thụ chính thức thành lập. Ban chỉ huy tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ gồm Trần Bá Hào (tiểu đoàn trưởng), Lê Lăng (tức Châu Văn Hổ, tiểu đoàn phó) và Phạm Thái Chu (chính trị viên). Ngay sau khi thành lập tiểu đoàn đã ra quân hoạt động đánh địch trên dọc tỉnh lộ 10 Bà Hom đi Đức Hòa, đường xe lửa Sài Gòn - Mĩ Tho, và đánh các đồn bót ở bìa căn cứ như Bà Hom, Bình Trị, ngã năm Vĩnh Lộc, cầu Xáng… Bộ đội các chi đội 6, 12, 13, 2, 3, 7 liên tiếp chặn đánh các cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ căn cứ đứng chân, chống địch gom dân về các khu vực xung quanh đồn bót làm “hàng rào” của chúng.

Tháng 3 năm 1947, một trung đội của chi đội 6 do Đặng Tri Nhơn chỉ huy đánh tiêu diệt bót Sở Cô Tám ở ấp Tân Thông (Củ Chi). Thủ đoạn đánh được gọi bằng cái tên ngộ nghĩnh: “đánh cu mồi!” Ta sử dụng lính Lê dương (hơn 10 người) và lính Nhật (3 người) ra hàng và đi theo kháng chiến cùng một số chiến sĩ biết tiếng Pháp cải trang thành sĩ quan Pháp. Lính Lê dương và lính Partisan đi theo đường số 1 vào bót, ra lệnh cho xếp bót tập hợp số lính lại để kiểm tra. Bọn lính vừa tập hợp xong, tên xếp bót đứng ra báo cáo thì hàng loạt tiểu liên, trung liên của ta nổ tới tấp, tiêu diệt gọn 31 tên. Ta thu 1 đại liên, 3 tiểu liên, 20 súng trường và nhiều đạn dược. Sau trận này, chi đội 6 thành lập thêm bộ đội Tân Thông (gồm cả số lính Lê dương, lính Nhật đã theo ta) do Tư Thiện chỉ huy. Trong các chi đội Vệ quốc đoàn khác xung quanh thành phố, đều có nhiều binh linh và sĩ quan Pháp, Đức, Nhật, theo ta kháng chiến. Nhiều người có trình độ quân sự giỏi, chiến đấu dũng cảm, lập được thành tích xuất sắc.

Sang tháng 4 năm 1947, ta đánh một trận chớp nhoáng diệt đồn Suối Cụt (xã Phước Hiệp, Củ Chi) trên đường số 1 cách trung tâm Sài Gòn 43km. các chiến sĩ của ta cải trang làm lính ngụy đi càn về chặn lấy xe khách, lên xe chạy đến cửa bót đi vào bót tự nhiên. Trong lúc tên xếp bót và bọn linh còn ngơ ngác thì lực lượng cả ta nhanh chóng tỏa ra, dựa vào các công sự, vật cản, dùng trung liên, tiểu liên và lựu đạn diệt toàn bộ bọn lính đóng giữ bót gồm 30 tên, thu 3 trung liên, 27 súng trường.

Ngày 22 tháng 4 năm 1947, bộ đội liên quân B phục kích tại Phú Mĩ hưng. Phú Mĩ Hưng là một xã thuộc căn cứ khu 5(1) Hóc Môn, nằm về ven sông phía Bắc Sài Gòn, có bến đò nối Bến Súc và đường 15 xuống An Nhơn Tây, nối liền Bùng Binh, là xã ranh giới ngã ba huyện Hóc Môn (Gia Định), án ngữ vị trí tiền tiêu của căn cứ khu 5 - cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn. Đêm 21 rạng ngày 22, địch huy động 200 lính Âu Phi và một đại đội lính Cao Đài phản động chia làm hai cánh tấn công vào khu vực cao su Bót Sắc, Cầu Trắng, Hố Bò nhằm tiêu diệt bộ đội ta. Ở đây ta có một đại đội của chi đội 12, một đại đội của chi đội 6 và một đại đội của chi đội 11 (thuộc liên quân B) đóng rải từ xóm Cầu Trắng vào đến Hố Bò. Được tin trinh sát phát hiện và các trạm gác của dân quân ở Làng Cát, Bờ Cảng đánh mõ báo động, ta đã chuẩn bị sẵn sàng phương án chống càn. Các đơn vị bộ đội nhanh chóng triển khai đội hình phục kích. Trận địa kéo dài từ bìa rừng đến sát lộ 15. 5 giờ sáng, toán quân đi đầu đụng lực lượng du kích ở Bờ Cảng, Làng Cát. Quân địch với lực lượng áp đảo vượt qua điểm chốt chặn từ xa của ta, đến 8 giờ sáng, toàn bộ đội hình lọt vào trận địa phục kích. Quân ta đồng loạt nổ súng, ném lựu đạn, đẩy địch lùi xuống mương và sở cao su, sau đó dùng súng bắn tỉa. Một xạ thủ đại liên của chi đội 6 dùng đại liên quét dọc mương diệt rất nhiều tên địch. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 10 giờ. Địch buộc phải rút lui. Ta thu 1 đại liên.


(1) Thời kì này, Khu 7 trực tiếp chỉ huy các lực lượng công tác Thành và tự vệ Thành. Lực lượng Công an xung phong trực thuộc Thành.
(2) Nay là Bắc Củ Chi.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:46:00 PM
Trong khi phong trào đánh giặc đang diễn ra sôi nổi, trên khắp cá chiến trường thì ở phía Bắc Hóc Môn, một số lực lượng Cao Đài phản động ngày càng công khai trở mặt, chống phá kháng chiến.

Từ cuối năm 1946, khu ủy Khu 7 và tỉnh ủy Tây Ninh đi chủ trương mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, nhiều lần tiếp xúc, mời các chức sắc Cao Đài tham gia mặt trận Việt Minh tỉnh, vận động đồng bào tín đồ tham gia kháng chiến, vạch rõ âm mưu chia rẽ tôn giáo, thành lập mặt trận giáo phái phản động của thực dân Pháp và một số chức sắc cao cấp phản động. Nhiều tín đồ Cao Đài hiểu rõ chính sác của Chính phủ Hồ Chí Minh và âm mưu của giặc đã nhiệt tình ủng hộ tham gia kháng chiến. Tuy vậy, một số chức sắc Cao Đài vẫn rắp tâm theo giặc chống lại cách mạng, biến lực lượng thanh niên vũ trang và đồng bào tín đồ thành công cụ đắc lực của thực dân Pháp trong chính sách bình định ở Nam Bộ.

Sau khi được thực dân Pháp trang bị vũ khí, từ tháng 2 năm 1947, quân Cao Đài phản động càn quét, đánh phá và đóng bót khắp nơi. Ở Đức Hòa, Trảng Bàng, Hóc Môn, binh lính Cao Đài tổ chức thành đại đội đi càn quét các vùng căn cứ địa của ta. Đi đến đâu chúng thẳng tay bắn giết nhân dân, đốt nhà cướp của đến đó. Cùng đi với lực lượng quân đội là tín đô Cao Đài bị kích động ồ ạt đi theo sau làm “con hôi” hò hét phụ trợ và chuyên chở những thứ cướp bóc được.

Hành động chống phá của lực lượng Cao Đài phản động gây cho ta rất nhiều khó khăn. Chính quyền cách mạng địa phương, các cán bộ đảng viên và bộ đội gặp nhiều lúng túng trong việc thực hiện chính sách Cao Đài vận, xây dựng mặt trận đoàn kết kháng chiến và chiến đấu, bảo vệ lực lượng, bảo vệ nhân dân.

Trước tình hình đó, tháng 2 năm 1947, Tư lệnh bộ Khu 7 quyết định thanh lập một số liên quân đặc nhiệm làm nhiệm vụ ngăn chặn hành động đánh phá của quân Cao Đài phản động, đồng thời đẩy mạnh tác chiến đánh địch ngay trên các chiến trường. Theo quyết định này, liên quân B được thành lập trên cơ sở hợp nhất một số bộ phận thuộc các chi đội 1, 6, 11, 12, 13, 15 lúc đầu do Huỳnh Kim Trương rồi từ tháng 5 năm 1947 là Tô Kí làm chỉ huy trưởng, hoạt động ở khu vực phía Bắc Hóc Môn, Trảng Bàng, Đức Hòa. Liên quân 17 gồm một bộ phận thuộc các chi đội 1, 6, 10 do Đào Sơn Tây làm chỉ huy trưởng, hoạt động ở khu vực Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Châu Thành, Tân Uyên. Liên quân 18 gồm một bộ phận thuộc các chi đội 6, 12, do Nguyễn Thược (Lâm Quốc Đăng) làm chỉ huy trưởng, hoạt động ở khu vực Hóc Môn, Bến Cát, Gò Vấp(1).

Các liên quân tỏa ra chủ động đánh địch càn quét, ngăn chặn các đơn vị quân Cao Đài phản động đánh nống vào khu vực xung quanh thành phố.

Cùng thời gian này, Lâm thời Xứ ủy Nam Bộ chỉ thị cho Khu 7 và các tỉnh: hết sức bình tĩnh tranh thủ sự ủng hộ tham gia kháng chiến của đồng bào tín đồ đạo Cao Đài, mặt khác kiên quyết trừng trị những tên manh tâm làm tay sai cho giặc Pháp, đối địch với kháng chiến. Do quán triệt không đầy đủ chỉ thị trên, ở Khu 7, một vài đơn vị bộ đội đã thực hiện một số vụ “Tảo thanh Cao Đài” một cách quá tả, gây cho một số tín đồ Cao Đài mất niềm tin hoặc mang mối hận thù với cách mạng. Có gia đình bỏ chạy về khu Tòa thánh hoặc về xung quanh khu vực đồn bót. Một số ít khác đi theo địch, vào quân đội Cao Đài hoạt động chống phá kháng chiến quyết liệt hơn.

Một số sự kiện “tảo thanh” diễn ra ở Hóc Môn, Trảng Bàng, Thủ Đức cũng như ở một số huyện khác như Đức Hòa, Đông Thành (Chợ Lớn), Mộc Hóa (Tân An)… phản ánh trình độ ấu trĩ tả khuynh của một vài cán bộ và đơn vị bộ đội trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến… Ngay sau đó, Khu ủy Khu 7 và tỉnh ủy các tỉnh đã kịp thời chỉ đạo sửa sai, đưa cán bộ về bám địa bàn, giải thích, vận động đồng bào tín đồ, lấy lại lòng dân. Đại đa số đồng bào đã hiểu và thông cảm với tình hình trên, một lòng theo Đảng và Bác Hồ, nhiệt tình tham gia kháng chiến chống Pháp.

Tháng 4 năm 1947, đồng chí Lê Duẩn từ Việt Bắc về đến Nam Bộ. Tại chiến khu Đồng Tháp Mười, Hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập. Hội nghị đã kiểm điểm 3 tháng thực hiện “tổng tiến công, khuấy rối, phong tỏa, phá hoại” trên các chiến trường, quán triệt đường lối chỉ đạo chung của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện trường kì và tự lực cánh sinh, đề ra các biện pháp nhằm xây dựng lực lượng kháng chiến về mọi mặt, vừa kháng chiến, vừa xây dựng lực lượng chiến đấu, xây dựng lực lượng quân sự mạnh trên cơ sở xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp. Hội nghị nhấn mạnh cần phải củng cố lại hệ thống tổ chức Đảng từ Xứ tới cơ sở, phát triển thêm nhiều đảng viên mới, đặc biệt trong lực lượng vũ trang, tăng cường chất lượng chính trị trong các tổ chức Đảng. Hội nghị thành lập Xứ ủy chính thức, bổ sung thêm một số ủy viên Xứ ủy mới và bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư.

Kế sau Hội nghị Xứ ủy, hội nghị cán bộ Đảng Sài Gòn - Chợ Lớn được triệu tập tại Bà Vụ (Vườn Thơm). Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Xứ ủy đã tới dự. Hội nghị tập trung bàn về việc xây dựng lực lượng mọi mặt và phương hướng hoạt động trong thành phố. Hội nghị chỉ rõ, Đảng cần đi sâu vào phong trào quần chúng, tiến hành kết hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế với đấu tranh quân sự, diệt ác, trừ gian, kết hợp hình thức đấu tranh bí mật, công khai với nửa công khai, bất hợp pháp, hợp pháp với nửa hợp pháp. Về xây dựng Đảng, Hội nghị chủ trương tiếp tục phát triển thành một Đảng của quần chúng, nhưng tránh lối phát triển ồ ạt và phải bảo toàn cơ sở, đồng thời cần nghiêm khắc sửa chữa những biểu hiện sai trái trong Đảng như chủ quan, hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa. Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: cần phải phát triển cơ sở Việt Minh, tập hợp trí thức vì kháng chiến của ta rất cần, trí thức là tinh hoa của dân tộc. Về hoạt động nội thành, đồng chí nói: “báo chí là người cán bộ tuyên truyền, giải thích những chủ trương của Đảng, đồng thời là người cán bộ hướng dẫn công tác”. Thành phố phải tăng cường và duy trì hoạt động của báo chí. Hội nghị cử Ban chấp hành Thành ủy(2) do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư(3).

Cũng trong thời gian này, Tỉnh ủy Gia Định tổ chức hội nghị tại chiến khu An Phú Đông. Hội nghị đã kiểm điểm rút kinh nghiệm một năm xây dựng củng cố lực lượng trên địa bàn tỉnh. Riêng về công tác xây dựng chính quyền, hội nghị chỉ rõ: trong tình hình chiến tranh ác liệt, nếu biết dựa vào dân, dựa vào lực lượng vũ trang thì mới xây dựng được cơ sở. Thực tế ở hai huyện Thủ Đức, Nhà Bè cho thấy phải biết kết hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể quần chúng thì mới giữ vững được chính quyền. Phải tăng cường hoạt động của lực lượng công an để trừng trị bọn Việt gian phản động, phân hóa cô lập các đảng phái chính trị chống đối thì chính quyền hoạt động mới có hiệu quả và phát huy được tác dụng. Hội nghị chủ trương tăng cường chất lượng lãnh đạo ở các huyện, xã trên cơ sở cán bộ lãnh đạo phải do cấp ủy Đảng, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể bầu ra một cách dân chủ. Xây dựng nền kinh tế kháng chiến độc lập, tự chủ trên địa bàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu ở các khu căn cứ. Tăng cường hoạt động vũ trang, diệt tề trừ gian hỗ trợ cho chính quyền các cấp, chỉ đạo nhân dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng. Về vấn đề Cao Đài, Hội nghị chủ trương chỉ bắt bọn cầm đầu phản động, cử một số cán bộ chiến sĩ làm công tác Cao Đài vận, giải thích cho đồng bào tín đồ hiểu chủ trương của ta, đồng thời vạch trần âm mưu nham hiểm của thực dân Pháp và bọn phản động gây chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Hội nghị đã đề cử, bổ sung thêm một số tỉnh ủy viên. Tỉnh ủy vẫn do đồng chí Phạm Văn Chiêu làm bí thư.

Hội nghị Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định lần này đã đặt ra những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp đấu tranh cách mạng ở một thành phố lớn và vùng ven tạm bị chiếm. Nó cụ thể hóa đường lối kháng chiến của Đảng ta qua các văn kiện chỉ thị toàn dân kháng chiến, Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 2 và hàng loạt bài giải thích đường lối kháng chiến của đồng chí Trường Chinh(4) vào hoàn cảnh cụ thể ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, xuất phát từ nhu cầu thực tế ở địa phương. Từ đây, công cuộc kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định diễn ra ngày càng có nền nếp, quy củ và hòa nhịp với phong trào kháng chiến toàn quốc.


(1) Tất cả có 5 liên quân: A, B, C, 17, 18. Liên quân A lấy từ chi đội 6, 11 bộ đội Hải ngoại do Nguyễn Văn Dung làm chỉ huy trưởng, hoạt động ở chiến trường biên giới phía Bắc Tây Ninh đến biên giới Việt Nam - Campuchia (tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông). Liên quân C lấy từ chi đội 5, 12, 13 bộ đội Bình Xuyên, hoạt động ở quân khu Đông Thành đến giáp biên giới Việt Nam - Campuchia (bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông).
(2) Gồm 15 đồng chí: (13 chính thức, 2 dự bị): Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Thọ Chân, Ngô Sĩ Hùng, Ngô Thị Huệ, Chương Dương, Huỳnh Văn Vàng, Cao Đăng Chiếm, Quế Lâm, Liễu Châu, Lê Tuấn, Lê Bá Hoa, Phùng Lượng, Phạm Văn Chúc, Đào Năng An.
(3) Đến tháng 5 năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Linh về Xứ ủy nhậm nhiệm vụ mới, đồng chí Lê Văn Sĩ được trên bổ sung về thay làm bí thư. Ngày 21 tháng 10 năm 1948, đồng chí Lê Văn Sĩ hi sinh.
(4) Loạt bài này đăng trên báo Sự Thật, đến tháng 9 năm 1947 tập hợp in thành sách xuất bản lần đầu với tiêu đề Kháng chiến nhất định thắng lợi phát hành bí mật ở Sài Gòn - Gia Định.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:47:14 PM
*
*   *

Tháng 5 năm 1947, giặc Pháp giảm bớt hoạt động càn quét ở miền Tây Nam Bộ, tập trung quân về đánh phá vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Để có thêm quân thay thế cho các đơn vị chính quy đã rút ra miền Bắc làm nhiệm vụ bình định lãnh thổ, thực dân Pháp tiến hành tuyển mộ lính ngụy. Đến giữa năm 1947, chúng đã tuyển mộ được 9.000 vệ binh cộng hòa và trên 10.000 quân phụ lực. Trong thành phố, nhằm phỉnh mị dân chúng, lôi kéo tập hợp lực lượng chống đối kháng chiến. Cao ủy Pháp Bollaert ban hành mệnh lệnh bãi bỏ kiểm duyệt báo chí, nới rộng hơn quyền dân sinh dân chủ cho công nhân viên chức ở các nhà máy, công sở.

Dù vậy, phong trào kháng chiến của đồng bào thành phố vẫn đang trên đà phát triển. Để giám sát phong trào, ta chia Sài Gòn - Chợ Lớn thành bốn khu vực chỉ đạo. Khu 1: từ hộ 1 đến hộ 6 do Hồ Bắc làm bí thư. Khu 2: từ hộ 7 đến hộ 12 do Thiếu Hà làm bí thư. Khu 3: từ hộ 13 đến hộ 18 do Việt Hùng làm bí thư. Khu 4: từ hộ 19 đến hộ 21 (ba xã Bình Hòa, Phú Nhuận, Thạnh Mĩ Tây) do Phạm Văn Chức làm bí thư (khu 4 về hành chính thuộc tỉnh Gia Định, nhưng về Đảng thuộc thành phố Sài Gòn quản lí).

Công tác xây dựng và phát triển Đảng được triển khai đều khắp. Các nhân tố nòng cốt trong công nhân viên chức, trong các đơn vị vũ trang, ban công tác, Liên tác chiến đấu quân, công an, tự vệ được chú trọng bồi dưỡng giáo dục và kết nạp Đảng. Lần lượt các chi bộ Đảng ra đời hoặc được củng cố lại. Nhiều chi bộ vừa thành lập đã phát huy tác dụng tốt như các chi bộ hộ 7, hộ 8, hộ 9 ở khu Chợ Lớn nội thành, chi bộ hộ 10, vùng trường đua Phú Thọ, Chợ Thiếc, chi bộ hộ 3 khu vực Khánh Hội, chi bộ hộ 4, hộ 6 vùng Bàn Cờ, bến Tắm Ngựa, Chí Hòa, Hòa Hưng, chi bộ hộ 20 vùng Bình Hòa, Bà Chiểu, chi bộ hộ 21 vùng Phú Nhuận… Đến giữa năm 1947, các chi bộ Đảng đã được thành lập khắp 22 hộ trong nội thành và trong nhiều nhà máy, công sở. Chi bộ tự vệ Thành Sài Gòn ban đầu chỉ có 4 đảng viên đã nhanh chóng phát triển rộng khắp các khu, đội tự vệ.

Trong các đơn vị vũ trang ngoại thành, công tác Đảng cũng được chú trọng đẩy mạnh, đặc biệt trong các chi đội bộ đội Bình Xuyên. Bị bon tay sai phản động và nhân viên Phòng Nhì Pháp nằm trong “Tổng hành dinh”, khu bộ phó và ban tham mưu liên khu Bình Xuyên lũng đoạn, xúi giục, Bảy Viễn thực hiện các biện pháp chống đối, loại trừ các đảng viên cộng sản và chế độ chính trị viên trong nội bộ bộ đội Bình Xuyên. Dù vậy, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy Khu 7, nhiều chi bộ Đảng, cán bộ công đoàn ở thành phố đã về các chi đội mở cuộc vận động tuyên truyền về mục tiêu lí tưởng, chủ trương đường lối của Đảng và Chính phủ trong các đơn vị, những chiến sĩ nòng cốt, qua đó lựa chọn những người có đủ điều kiện để bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Nhiều cuộc kết nạp được tiến hành một cách bí mật, ngăn cắt, nhưng vẫn đầy đủ nghi thức trong các nền rạch Rừng Sác. Trên thực tế, trong hầu hết các đơn vị vũ trang, tổ chức Đảng các cấp đã được hình thành một cách có hệ thống từ trên xuống dưới. Đảng thực sự nắm quyền lãnh đạo hầu hết lực lượng vũ trang(1).

Đi đôi với việc phát triển hệ thống tổ chức Đảng và các đảng viên, ta ra sức củng cố hệ thống chính quyền, Mặt trận, đoàn thể cứu quốc, dân quân tự vệ, công an các cấp. Đặc biệt trong công nhân, tổ chức công đoàn phát triển một bước mới. Các liên hiệp nghiệp đoàn được củng cố từ hộ, quận lên đến thành phố. Trong công đoàn thành phố có các bộ phận chuyên trách công tác trí thức, viên chức, thanh niên, phụ nữ… Một số công đoàn ngành cấp thành phố được thành lập như liên đoàn thợ nón, liên đoàn thợ mộc, liên đoàn nhân viên ngân hàng, liên đoàn tài xế, liên đoàn công nhân nước đá, liên đoàn công nhân thuốc lá… số lượng đoàn viên công đoàn năm 1947 lên đến 15.000 người. Ở Thị Nghè, tổ chức của những người công giáo yêu nước mang tên “Liên đoàn công giáo kháng chiến” ra đời làm nhiệm vụ vận động bà con giáo dân quyên góp tiền bạc, thuốc men ủng hộ kháng chiến.

Tại Gia Định, tổ chức Mặt trận Việt Minh được hoàn chỉnh từ trên xuống dưới. Bộ máy quyền lực được củng cố. Ủy ban kháng chiến hanh chánh có uy tín trong nhân dân. Số đảng viên toàn tỉnh phát triển lên gần 2.000 (năm 1946 mới có hơn 500 đảng viên).

Hệ thống thành công Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, mặt trận, đoàn thể vừa được xây dựng và củng cố đã tạo điều kiện quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào kháng chiến trong thành phố. Các cuộc đấu tranh chính trị diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú. Ngày 19 tháng 5 năm 1947, cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở cổng xe lửa số 10 Phú Nhuận và trên dây cáp điện hãng diệt bao bố ở Vĩnh Hội. Từ đây về sau, cờ đỏ sao vàng, truyền đơn khẩu hiệu xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt trong các ngày lễ lớn. Những khẩu hiệu :”Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Kháng chiến nhất định thắng lợi!” “Đả đảo thực dân Pháp và chính phủ bù nhìn tay sai”… được viết lên tường hay cột báo bay thả lên không, cắm trên bè chuối thả trôi dọc sông. Trong các ngày lễ cách mạng như ngày 19 tháng 5, ngày 25 tháng 8, ngày 2 tháng 9, ngày 23 tháng 3… anh chị em công nhân viên chức ăn mặc trang trọng.


(1) Đảng trong các đơn vị lực lượng vũ trang vẫn trực thuộc hệ thống khu ủy.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:48:52 PM
Cùng với truyền đơn khẩu hiệu vẽ, in tại chỗ và các tài liệu kháng chiến, báo chí của ta từ các căn cứ chuyển về được chuyền tay xem khá rộng rãi. Ngoài những tờ báo lớn của Nam Bộ, của Khu ủy Khu 7, Thành Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, còn có những tờ báo “nhỏ” in bột xù xoa của các chi đội Vệ quốc đoàn, công an, các tổ chức đoàn thể cũng được đồng bào trân trọng chuyền tay nhau đọc. Mua, ủng hộ báo và đọc báo trở thành phong trào, đáp ứng nhu cầu và tình cảm của đặc biệt thành phố vừa để gửi tiền đóng góp kháng chiến, vừa để tìm hiểu diễn biến mọi mặt của công cuộc kháng chiến và nhiệm vụ đấu tranh. Bên cạnh các mục tin vắn, các bài tường thuật, bình luận, xã luận, nhiều bài thơ, truyện ngắn, phóng sự, ghi chép, tùy bút, gây xúc động mạnh mẽ trong lòng người đọc. Đồng bào thành phố bắt đầu quen biết với những tên Xuân Miễn, Khương Minh Ngọc, Phạm Công Binh, Chi Linh (tức Mai Văn Tạo), Phạm Tường Hạnh, Trần Hữu Nghiệp, Đoàn Giỏi, Nguyễn Ngọc Tấn (tức Nguyễn Thi), Trần Vân Anh, Hoàng Văn Bổn, Lí Văn Sâm, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Bính, Nguyễn Trọng Tuyển, Hoàng Tố Nguyên, Bảo Định Giang, Nguyễn Hải Trừng, Rum Bảo Việt…

Báo chí công khai ở Sài Gòn, bên cạnh những tờ rất phản động như Tiếng Loa, Phục Hưng, Tiếng gọi… bênh vực cho hành động xâm lược của thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước, có nhiều tờ biểu hiện khuynh hướng ủng hộ Chính phủ Cụ Hồ, chống phân li, chia cắt đất nước như Tín Điện, Nam Kì, Tân Việt, Kiến Thiết, Tin Mới, Dư Luận, Việt Thanh, Sài Thành, Công Chúng, Echo du Việt Nam, PusFice. Tờ Lendemain của nhóm Văn Hóa Mác xít thiên hẳn khuynh hướng chống chiến tranh xâm lược và chia cắt Việt Nam. Trong số ra ngày 19 tháng 5 năm 1947, tờ Nay Mai dám đăng hinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và bai thơ của tác giả Hoàn Châu ca ngợi Đài Tiếng nói Việt Nam(1).

Ngày 22 tháng 5 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Chỉ thị số 4 - NV “Cách đối phó với công chức và nhân viên đương hiệp tác với Pháp trong guồng máy cai trị và các sở tư của Pháp”. Chỉ thị chỉ rõ: “Công cuộc kháng chiến tranh thủ nền độc lập cho nước nhà đã đến giai đoạn quyết liệt. Mỗi công dân nước Việt Nam, không phân biệt đảng phái tôn giáo, đều có nhiệm vụ trực tiếp tham gia đấu tranh hoặc ở tiền tuyến, hoặc ở hậu phương và tuyệt đối không được hiệp tác với giặc hoặc với chính phủ bu nhìn phản quốc Lê Văn Hoạch. Xin các cấp hành chánh, quân sự công an hãy kêu gọi họ trở về với Tổ quốc và truyền rao cho họ hoặc bản thân của họ biết: 1/ Công chức, giáo chức, tư chức hiện còn hiệp tác với thực dân Pháp và chính phủ bù nhìn Lê Văn Hoạch, dẫu trong sở công hay sở tư phải lập tức thoát li, thi hành huấn lệnh của Chánh phủ bất hợp tác với Pháp và “chánh phủ” bù nhìn Lê Văn Hoạch. 2/ Kì hạn một tháng sau khi công bố chỉ thị này, các công chức và tư chức kể trên phải thu xếp trở về với Chánh phủ…”(2)

Kế đó, ngày 21 tháng 6 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ ra chỉ thị số 404/TV “giải rõ chỉ thị 4-NV”, coi chỉ thị 4 -NV là:

1/”Chánh trị:

a/ Gây phong trào mãnh liệt bất hợp tác với giặc của tất cả công dân Việt Nam yêu nước, để biểu dương sự đoàn kết của dân tộc, của các tầng lớp dân chúng từ thôn quê tới thành thị quyết tâm theo đuổi cuộc kháng chiến giành độc lập.

b/ Biểu thị uy tín của Chánh phủ đối với các tầng lớp dân chúng một khi đã ra lệnh cho công nhân mặc dầu đang làm việc dưới bóng cờ của giặc, cũng đáp lại tiếng gọi của Chánh phủ, của Tổ quốc, để hi sanh ra lãnh nhiệm vụ công dân trong lúc nước nhà cần đến.

c/ Có dịp cho anh em công chức chân chính yêu nước ra hi sanh tham gia kháng chiến.

d/ Làm thất bại sự xuyên tạc xảo quyệt của thực dân Pháp cho rằng công chức thành thực hợp tác với chúng và bè lũ bù nhìn chống lại Chính phủ Việt Nam.

2/ Kinh tế:

Làm tê liệt cơ sở kinh tế của giặc ngay trong vùng chúng kiểm soát, phá tan hay làm gián đoạn các đầu mối giao thông của địch để các sự tiếp tế của địch phải bị trở ngại.

3/ Cai trị:

Làm tê liệt guồng máy cai trị của giặc trong khi các công chức bỏ sở…”(3)

Thực hiện chỉ thị 4-NV của Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ, trên 6.000 viên chức và 1.000 thợ chuyên môn rời thành phố ra chiến khu. Trong số này có nhiều trí thức, nhân sĩ danh tiếng như bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, đô trưởng Sài Gòn Phan Văn Chương… Căn cứ Vườn Thơm trở thành “trạm” đón tiếp trung chuyển số viên chức công nhân này về chiến khu Đồng Tháp Mười và tỏa đi các chiến trường Nam Bộ, một phần sung vào các đơn vị chiến đấu, một phần trở thành lực lượng nòng cốt, xây dựng các ngành quân giới, kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục kháng chiến. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng ngàn người đồng loạt rời bỏ cuộc sống yên nổ ở Sài Gòn để ra bưng biền biểu thị tấm lòng tha thiết đi theo kháng chiến của nhân dân thành phố. Tuy nhiên, việc ra đi ồ ạt này đã làm xáo trộn không ít đến các tổ chức kháng chiến nội thành; mặt khác, kẻ thù lợi dụng cài một số gián điệp do thám trà trộn trong đoàn người ra bưng biền. Bọn này tìm cách len lỏi vào các cơ quan kháng chiến để phá hoại ta về sau.

Trên mặt trận kinh tế, phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố diễn ra không kém phần mạnh mẽ. Công nhân các nhà máy Bastos, Hội Đồng, Denis, Sôđa Khánh Hội, Mic, Côphat, bia Chợ Lớn… đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện chế độ làm việc. Giới tiểu thương, thợ thủ công đấu tranh mạnh mẽ chống tăng thuế, ngăn cản thông thương. Nhân dân vùng quanh sân bay Tân Sơn Nhất và vùng cảng Sài Gòn, Khánh Hội, Nhà Bè, nằm trong quy hoạch mở rộng xây dựng sân bay, quân cảng, kho tàng của địch, trì hoãn việc dời chuyển nhà, đòi bồi thường cao hơn mức uy định. Đáng kể nhất là phong trào phá hoại kinh tế địch. Ngoài việc đình công, công nhân tìm cách tháo gỡ máy móc, lấy nguyên liệu, hóa chất, thuốc men, dụng cụ y tế, dụng cụ văn phòng… gửi ra chiến khu. Những thứ không lấy được thì tìm cách đốt phá, làm hư hỏng. Ở Vĩnh Hội, ta đốt cháy 5 kho chứa đầy mủ cao su và đồ hộp, đốt kho Lucia, phá 100 cỗ máy trong hãng Faci bằng cách lấy mạt cưa, cát, nấu thành keo hòa vào dầu đổ vào máy.

Hoạt động phá hoại kinh tế địch trong năm 1947 chưa rầm rộ và đạt kết quả cao, nhưng đã góp phần làm giảm công suất hoạt động các nhà máy, hạn chế nguồn lợi kinh tế của tư bản thực dân Pháp, đồng thời cung ứng một phần quan trọng nhu cầu của ta ở các căn cứ.


(1) Bài thơ có đoạn:
Tiếng nói của cả bốn ngàn năm lịch sử.
Tiếng Đồng Nai, Nhị Thủy, Hương Giang
Tiếng nòi giống, tiếng giang san
Tiếng Tổ quốc, tiếng Việt Nam cộng hòa
Tiếng nguyện vọng, tiếng thiết tha chính đáng
Tiếng tâm hồn tươi sáng thanh cao
Tiếng khí khái, tiếng anh hòa
Tiếng reo độc lập, tiếng gào tự do.

(2) Cập năm 1947, Phòng tư liệu, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
(3) Cập năm 1947, Phòng tư liệu, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:49:43 PM
Trên mặt trận quân sự, lực lượng vũ trang cũng lập được nhiều thành tích. Các đơn vị vũ trang tập trung ngày một lớn mạnh. Từng ban công tác Thành, tự vệ Thành, công an xung phong đều có lực lượng trang bị mạnh (từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội) đứng chân ở ngoại thành vừa để hỗ trợ cho tác chiến trong nội đô vừa để xây dựng và bảo vệ căn cứ cho từng đơn vị. Nhu cầu thống nhất các đơn vị có trang bị mạnh bên ngoài thành một lực lượng tập trung để đẩy mạnh hoạt động phối hợp nhịp nhàng với lực lượng trong nội đô trở nên bức xúc. Trước tình hình ấy, Ủy ban kháng chiến hành chánh thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn đề nghị Tư lệnh bộ Khu 7 cho thành lập một trung đoàn bộ đội tập trung chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy và Ủy ban kháng chiến hành chánh Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhiệm vụ của trung đoàn là bảo vệ cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo của thành phố, bảo vệ khu vực căn cứ Bàu Có, Láng Le, Vườn Thơm, Bà Vụ, đánh các đồn bót ven đô hỗ trợ cho phong trào nội thành. Ngày 19 tháng 5 năm 1947, trung đoàn bộ đội tập trung của Sài Gòn - Chợ Lớn chính thức ra mắt, lấy phiên hiệu Phạm Hồng Thái. Trung đoàn Phạm Hồng Thái có 3 tiểu đoàn: Hoàng Văn Thụ, Kí Con và Ngô Gia Tự. Tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ của tự vệ Thành do Trần Bá Hào làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn Kí Còn gồm lực lượng Liên tác chiến đấu quân của các ban công tác và một đại đội của Ủy ban kháng chiến miền Nam tăng cường, do Phạm Quang Thuần làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn Ngô Gia Tự gồm lực lượng vũ trang tập trung của Ban công tác số 4 và của Liên hiệp công đoàn Thành đứng chân ở An Phú Đông, Bình Trị Đông, Phú Thọ, do Nguyễn Minh Đức làm tiểu đoàn trưởng. Ban chỉ huy trung đoàn gồm Huỳnh Văn Vàng (trung đoàn trưởng), Nguyễn Văn Hâm (trung đoàn phó), và Hà Ngọc Tiếu (chính trị viên).

Cũng từ giữa năm 1947 trở đi, lực lượng vũ trang Thành được củng cố lại, thay đổi tổ chức, hầu đẩy mạnh hơn nữa hoạt động quân sự ở nội thành. Tháng 7 năm 1947, Tư Lệnh bộ Khu 7 thành lập thêm Ban công tác số 7 lấy từ số anh em trinh sát của bộ đội Phú Thọ, những chiến sĩ công đoàn xung phong đứt liên lạc và số anh em phát hành báo Vệ Quốc. Do đã có trung đoàn tập trung Phạm Hồng Thái, các ban công tác và tự vệ Thành cần phải tổ chức lại thành địa phương quân, tháng 11 năm 1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị đổi các ban công tác Thành và tự vệ Thành thành các đại đội du kích trực thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn. Theo chỉ thị này:

Ban công tác số 1 thành đại đội du kích 1
Ban công tác số 2 thành đại đội du kích 2
Ban công tác số 3 thành đại đội du kích 3
Ban công tác số 4 thành đại đội du kích 4
Ban công tác số 5 thành đại đội du kích 5
Ban công tác số 6 thành đại đội du kích 6
Ban công tác số 7 thành đại đội du kích 7

Riêng lực lượng tự vệ Thành, 15 trung đội của 15 khu và đội tự vệ sáp nhập lại thành Liên đại đội du kích 8 - 9 - 10 (sau này sẽ tách thành từng đại đội du kích 8, 9, 10). Ban chỉ huy liên đại đội là ban chỉ huy tự vệ Thành cũ, gồm Nguyễn Tứ Phương (chỉ huy trưởng), Hoàng Trọng Khải (chỉ huy phó), Nguyễn Hoài Nam (chính trị viên). Trong thời gian biên chế lại tự vệ Thành, hai đồng chí Hoàng Trọng Khải và Nguyễn Hoài Nam hi sinh trong chiến đấu. Đồng chí Đỗ Tân được chỉ định làm chính trị viên.

Đến đây, Sài Gòn - Chợ Lớn có 10 đại đội du kích mang phiên hiệu từ 1 đến 10. Việc đổi tên gọi và tổ chức các đại đội du kích đã thống nhất các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hoạt động nội thành, đặt lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cáp ủy và chính quyền địa phương thành phố.

Các lực lượng vũ trang nội thành vẫn tiếp tục vũ trang tuyên truyền, tác chiến đánh địch trong thành phố. Ngày 23 tháng 6 năm 1947, ta phục kích đánh một xe nhà binh ở Chợ Lớn, diệt 2 lính Pháp. Ngày 7 tháng 8 năm 1947, một chiến sĩ dùng lựu đạn tấn công làm bị thương nhiều lính Pháp tại cửa tiệm “Tô Châu” ở đường Lí Thành Nguyên. Đầu tháng 9 năm 1947, các đội viên đại đội du kích 2 bắn ngã gục tên Hiền phản động tại nhà thờ Huyện Sĩ. Hiền là một gián điệp đội lốt công giáo, chuyên lợi dụng các buổi rao giảng ở nhà thờ để nói xấu, xuyên tạc kháng chiến, chia rẽ giáo dân với đồng bào không theo đạo. Ngày 29 tháng 9 năm 1947, anh Trần Công Thành đội viên đại đội du kích 6 đột nhập tòa soạn báo Quốc Hồn, tờ báo phản động của Pháp, chuyên tuyên truyền chống kháng chiến đặt tại số nhà 50 đường Frères Louis. Bọn bồi bút phản động được gọi ra nghe bản án và bị xử tử ngay tại trụ sở. Cũng trong tháng 9 năm 1947, lực lượng ta đột nhập vào nhà tên đại úy Pháp ở đường Charner ngay cạnh dinh Xã Tây, lấy khẩu súng. Ngày 9 tháng 10 năm 1947, tên “Bareau bị bắn chết tại nhà ở Chợ Lớn lối 20 giờ, lúc đang ăn tối, trong miệng còn đang ngậm miếng thịt gà”(1).

Ngày 10 tháng 10, tên Nguyễn Văn Sâm, chủ nhiệm tờ báo Quần Chúng - một tờ báo phản động - bị 5 phát súng vào đầu khi đang ngồi trên ô tô tại góc đường Cây Mai - Tổng Đốc Phương. Ngày 22 tháng 10, một tổ thuộc đại đội du kích 8 cải trang lính ngụy ngồi trên xe nhà binh đột nhập vào trại lính Bà Chiểu, phối hợp với nội tuyến lấy 7 súng và nhiều đạn rồi rút lui an toàn. Cuối tháng 10, ta tổ chức một trận đánh ở đường Catinat, có nhiều nhà hàng, bọn sĩ quan Pháp tập trung đông và được canh gác cẩn mật. Lực lượng của ta cải trang thành dân thường, bí mật tiếp cận từ nhiều hướng, hợp điểm đúng giờ, đồng loạt tấn công bằng lựu đạn, làm chết và bị thương 40 tên Pháp trong các hàng ăn và tiệm nhảy…

Từ giữa năm đến mùa thu năm 1947 là quãng thời gian Sài Gòn - Chợ Lớn củng cố, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể kháng chiến và lực lượng vũ trang, đưa mọi mặt hoạt động vào guồng máy kháng chiến một cách toàn diện, đều đặn và thống nhất, có nề nếp. Nó đã tạo ra những tiền đề hết sức quan trọng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến.


(1) Báo Phục Hưng, số ra ngày 10 tháng 10 năm 1947. Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:51:31 PM
*
*   *

Phối hợp với phong trào nội thành, trên khắp các địa bàn xung quanh thành phố, đi đôi với công tác xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng mọi mặt, các đơn vị vũ trang đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tổ chức nhiều trận chống càn, phục kích giao thông địch, thu được nhiều thắng lợi quan trọng.

Tại khu Chợ Lớn ven đô, ngoại ô (khu 3 gồm các hộ 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18), Đảng bộ khu và các tổ chức chính quyền liên hộ và hộ, công an, mặt trận, đoàn thể được xây dựng và củng cố. Khu 3 xây dựng 2 khu vực liên hoàn ở Hố Bần thuộc hộ 16 và hộ 17 làm căn cứ đứng chân cho các cơ quan khu, liên hộ. Hai trung đội vũ trang của khu thường xuyên cơ động bảo vệ căn cứ Hố Bần, làm nhiệm vụ chống càn, phục kích tập kích diệt địch trong vùng, lập được nhiều thành tích trong các trận Rạch Năng, bót Bình Đông, Cây Dương, Nhà thương Phú Lâm…

Phía Đông Bắc cách Sài Gòn 9km, ở Thủ Đức có căn cứ Long Phước Thôn(1) và ở Dĩ An có căn cứ Tân Đông Hiệp, Bình An, nơi đứng chân của nhiều đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Thành. Căn cứ Long Phước thôn nằm phía hữu ngạn sông Đồng Nai, phía Tây có sông Tắc chạy vòng qua ấp Phước Khánh đến Long Đại, kéo dài từ Tam Đa, Phú Hữu, Long Trường, Tân Lập đến Tăng Nhơn Phú vòng lên phía Bắc nối liền với Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Dĩ An. Long Phước Thôn còn là nơi đứng chân của một số cơ quan cấp Thành(2), vừa là hậu cứ quan trọng của lực lượng vũ trang biệt động tấn công vào nội thành từ cửa ngõ phía Đông thành phố.

Căn cứ khu 5 Hóc Môn gồm một vùng đất thuộc 5 xã giải phóng(3), chạy cập theo sông Sài Gòn bên hữu ngạn, kéo dài từ Bùng Binh Bến Súc xuống đến Bến Cỏ. Phía Tây Bắc giáp với xã Lộc Hưng, Đôn Thuận, nối liền với căn cứ Trảng Cò, Bời Lời (Trảng Bàng, Tây Ninh) kéo dài lên phía Bắc nối với chiến khu Dương Minh Châu. Phía Đông tiếp giáp căn cứ liên xã An Thành, Phú An, An Điền, Thanh Tuyền, Long Nguyên, Kiến An (Bến Cát, Thủ Dầu Một). Phía Tây là các xã An Tịnh, Phước Hiệp. Phía Tây Nam kéo dài đến quốc lộ 1 đoạn từ Củ Chi đi Trảng Bàng. Địa hình khu 5 Hóc Môn khá phức tạp. Vùng ven dọc sông Sài Gòn là bãi sình lầy lội. Dần sang phía Tây đất cao hơn, là sở cao su xen kẽ rừng chồi như rừng Dòng, rừng Chà Dơ (An Nhơn Tây), rừng Trích (Nhuận Đức), rừng Bàu Đưng, rừng Cây Sộp (Phú Mĩ Hưng)… xóm làng chỉ tập trung theo bìa lộ. Phía Trung Lập đất thấp, ruộng lúa trống trải xen kẽ xóm nhà và vườn tre trúc.

Giữ một vị trí cơ động nối liền với các căn cứ địa quan trọng khác trên chiến trường miền Đông, nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, căn cứ khu 5 Hóc Môn với địa danh Hố Bò nổi tiếng trở thành một địa bàn luôn uy hiếp địch. Giặc Pháp đưa quân đóng bót, bao vây xung quanh, ở Bến Cỏ, Bến Mương, Củ Chi, Sở Ba Lăng, Bùng Binh Cầu Ván, Trảng Bàng, Phước Hiệp, Suối Sâu; bên kia sông Sài Gòn là các bót Rạch Bắp, Rạch Kiến, Bến Súc… Từ đây chúng liên tục xuất phát càn quét vào căn cứ của ta.

Lúc đầu mới là căn cứ của chi đội 12, từ nửa cuối năm 1947 trở đi, khi chiến khu An Phú Đông bị địch phong tỏa tấn công ráo riết, khu 5 Hóc Môn trở thanh căn cứ các cơ quan của lãnh đạo tỉnh Gia Định Ninh. Các cơ quan tỉnh ủy, ủy ban kháng chiến, mặt trận, công an, bộ đội lần lượt rút về đây đứng chân hoạt động. Để tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị bộ đội bám trụ, cán bộ chiến sĩ và nhân dân ở đây đã tích cực xây dựng các loại ấp xã chiến đấu, đặc biệt sớm kết hợp ổ chiến đấu với địa đạo và giao thông hào.

Đoạn địa đạo có quy mô đầu tiên ở Củ Chi được đào ở liên xã Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An vào đầu năm 1947, đây là khu vực có nhiều hầm bí mật của anh em du kích. Hầm bí mật có nhiều kiểu, lúc đầu được bố trí thuận tiện và ngụy trang tinh vi để ẩn tránh. Sau đó, xuất phát từ nhu cầu phải bám trụ tại chỗ để bảo tồn lực lượng và tạo điều kiện đánh được địch, anh em du kích đã móc dính các hầm bí mật với nhau trong một khu vực nhỏ. Dần dần, cá chi nhánh địa đạo nối dài ra nhiều khu vực, cả những hướng bố trí chặn đánh địch. Từ đây, các chi nhánh được thiết bị thêm các ụ và hào chiến đấu từ xa kéo đến miệng hầm, xung quanh bố trí cạm bẫy, hầm chông, lựu đạn gài. Khi phải rút xuống hầm, bộ đội du kích có kế hoạch chặn đánh địch chui theo bằng cách rút cầu, bên dưới là hầm chông, cạm bẫy, xung quanh có tên nỏ từ các ống tre bay ra, gươm, lựu đạn rút chốt, cây từ trên đập xuống. Các khe ngách gần miệng hầm được móc “hàm ếch” ẩn được từng người, tránh đạn bắn thẳng của địch, đồng thời phục kích bất ngờ, dùng dao, súng diệt địch khi chúng bước vào. Trong một đoạn địa đạo dài vài trăm mét, một tiểu đội du kích có thể thoái mái chiến đấu liên tục nhiều ngày chống lực lượng địch đông hơn gấp bội.

Giặc Pháp tìm mọi cách để hủy diệt. Chúng dùng mọi cách dồn đuổi nhân dân ta ra các ấp xã chiến đấu, nhưng căn cứ khu 5 Hóc Môn vẫn đứng vững, trở thành “bất khả xâm phạm” trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Kinh nghiệm xây dựng ấp chiến đấu kết hợp hầm bí mật và địa đạo được phổ biến ra nhiều nơi trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hệ thống địa đạo ở khu 5 Hóc Môn đã đặt bước khởi đầu quan trọng làm nên “đất thép Củ Chi” nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.

Ở sát phía Tây ven thành phố, cũng sớm có một số đoạn địa đạo ở xã Phú Thọ Hòa. Giữa năm 1947, chi bộ Phú Thọ Hòa chỉ đạo chọn ấp Lộc Hòa, nơi có khu đất cao, cây cối rậm rạp và nhân dân có truyền thống đấu tranh cách mạng cao, làm địa điểm xây dựng địa đạo. 16 người được chọn làm nòng cốt đào địa đạo, trong đó có các cán bộ Lê Thanh, Nguyễn Văn Thược, Trần Văn Bốn, Nguyễn Văn Lự… tự nguyện đứng tên trong dòng họ mới - họ Cù. Họ Củ mang ý nghĩa như con Cù Long đào hang dưới đất, để bảo toàn lực lượng và đánh địch. Phương pháp làm la bàn địa đạo từng khúc giống như đào hầm từng toa xe lửa đứt đoạn. Từ hai điểm, hai tổ (mỗi tổ 2 người) đào dần, gặp nhau ở điểm giữa. Đất đào lên được mang đổ xuống ruộng, thấp, vun thành vồng khoai, vồng sắn hoặc đổ lên bờ hào giao thông đào công khai hoặc rải đều trên mặt đất. Một đường địa đạo ở Phú Thọ Hòa có chiều dai gàn 600 mét, từ Lộc Hòa nối đến ấp Phú Thạnh và Bình Đông, trở thành nơi ém quân hoặc đứng chân của nhiều cán bộ quân dân chính Đảng hoạt động nội thành.

Nằm giữa hành lang ven sông Sài Gòn, từ căn cứ An Phú Đông lên căn cứ khu 5 Hố Bò, còn có các lõm căn cứ chuyển tiếp thuộc các liên xã: Tân Mĩ - Bình Lí, Mĩ Bình - An Sơn - Hòa Phú - An Phú xã (khu 3 Hóc Môn) và lõm dọc đường số 1, liên xã Tân Phú Trung - Phước Vĩnh An - Tân Thông. Vùng này đã có thời gian là căn cứ chỉ đạo của chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn - Chợ Lớn Phạm Ngọc Thạch cho đến năm 1950.

Trong nội thành, lực lượng công an xung phong, các đại đội du kích cùng tổ chức đào hàm bí mật để ém giấu quân. Trong điều kiện hết sức ngặt nghèo, các đơn vị vũ trang nội thành đã đào được nhiều hầm bí mật trong các nhà của gia đình cơ sở, nhiều hầm hàm ếch dựa vào các bụi tre ở ven đô. Đến mùa thu năm 1947, các căn cứ địa xung quanh thành phố được củng cố, xây dựng thành một hệ thống đan nối, liên hoàn hỗ trợ nhau, trở thành nơi đứng chân luân lưu khá ổn định của các cơ quan đầu não, các tổ chức kháng chiến và lực lượng vũ trang. Từ nơi đây, lực lượng vũ trang nội, ngoại thành không ngừng được củng cố, xây dựng trụ bám và xuất phát đánh địch liên tục trên khắp chiến trường ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.


(1) Mật danh khu B.
(2) Thành ủy đã đóng ở đây năm 1948-1949.
(3) Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông, trong kháng chiến chống Mĩ là vùng phía Bắc Củ Chi, căn cứ của Quân khu Sài Gòn - Gia Định.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Ba, 2012, 06:52:37 PM
Ngày 8 tháng 6 năm 1947, quân ta đánh một trận chống càn lớn của địch ở Gia Bẹ - Xóm Mới (xã Trung Lập, khu 5 Hóc Môn). Từ đêm 7 tháng 6 năm 1947, quân Pháp huy động lực lượng từ Sài Gòn lên, Trảng Bàng xuống, gồm 500 tên tập kết xung quanh Suốt Cụt, Củ Chi và dọc đường số 1. Suốt đêm, xe nhà binh chạy rầm rập. Lực lượng của ta gồm liên quân B lưu động (đóng tại Gia Bẹ - Xóm Mới) và hai phân đội thuộc chi đội 6 và chi đội 12 (đống tại Bàu Chứa) nhận được tin báo của trinh sát và các vọng gác của dân quân lập tức tổ chức đội hình chiến đấu. Lực lượng liên quân B chia làm 4 cánh A, B, C, D để bố trí thành 4 trận địa chặn đánh địch. 4 giờ sáng, các bộ phận từ các nơi đóng quân triển khai ra vị trí chiến đấu. 7 giờ sáng, súng cối, pháo của Pháp liên tục từ Bến Cỏ bắn vào Xóm Mới, dọn đường cho các cánh quân từ Củ Chi, Suối Cụt, Trung Lập chia ra làm hai mũi tiến vào Gia Bẹ. Mũi thứ nhất hơn 100 lính Pháp theo ngã Bàu Điều vào tới bìa xóm, từ đây chúng cập theo đường đất số 2 dẫn tới trận địa A của ta bố trí ở hướng chính diện chặn quân địch từ Trung Lập, Củ Chi vào. Loạt súng đầu tiên của quân ta hạ 10 lính Pháp, đẩy chúng lùi lại bìa xóm. Sau nhiều lần tổ chức tấn công bị bẻ gãy, quân Pháp để lại một bộ phận nổ súng cầm chừng, còn lại luồn vòng qua phía bên phải hợp với mũi thứ hai. Mũi thứ hai cũng khoảng 100 tên, có sự tăng cường của nhóm thứ nhất vòng qua xóm Gia Bẹ bọc hông lực lượng của ta đang chiến đấu ở trận địa A. Mũi bọc sườn vừa men theo ngọn suối Ba Xa đổ xuống, bất ngờ gặp phải trận địa sẵn sàng của quân ta. Hai khẩu đại liên cùng nhiều loại súng trường, tiểu liên nã đạn xối xả vào quân địch, diệt hàng loạt tên Pháp. Dù vậy, với lực lượng lớn và hỏa lực mạnh, quân Pháp tản ra thành hàng ngang dùng súng quét mạnh vào bên hông lực lượng ta ở trận địa B. Trước áp lực của địch, ta để lại một bộ phận lực lượng ở trận địa A, còn lại chuyển sang trận địa B. Ở trận địa C (cùng với trận địa D bố trí chặn đánh địch ở mặt hậu), một bộ phận lực lượng theo bờ suối vận động lên hợp với lực lượng ở trận địa B hình thành một phòng tuyến hình thước thợ. Bị phản kích bất ngờ, đội hình quân Pháp rối loạn. Quân ta vượt suối xung phong ào ạt. Quân Pháp bỏ chạy về phía đồn Suối Cụt, bỏ lại cả vô tuyến điện, nhiều súng trường và đạn dược. Ở trận địa A, B, quân địch đã tạm lui, nhưng ở phía sau, lực lượng phòng thủ ở trận địa D đã đụng địch và hai bên chiến đấu quyết liệt. Để tránh bị địch phản kích tấn công cả 4 mặt. chỉ huy trưởng trận đánh ra lệnh điều chỉnh trận địa, dồn toàn bộ lực lượng về hướng Đông tạo thành một chiến tuyến kéo dài. Lực lượng ở trận địa A và C tạm ở vị trí cũ yểm trợ cho lực lượng trận địa B di chuyển trước. Khi lực lượng vận động được nửa đường liền gặp đội hình phục kích của địch đã chờ sẵn dọc bờ mương xóm Ông Văn, Ông Mĩ, nhằm chặn đường rút lui của ta về hướng Đông. Lực lượng B lợi dụng bờ ruộng nằm chịu cho quân Pháp bắn xối đạn qua đầu. Trong lúc đó lực lượng A vận động lén bọc qua mé trái đội hình quân Pháp và lực lượng C vòng qua phía tay mặt bắn xuuyên hông chúng Đội hình phục kích của địch bị bao vây cả ba phía, hoảng sợ, chúng tìm cách tháo lui. Bất ngờ, một cánh quân khác của ta gồm lực lượng chi đội 6 và chi đội 12 từ Bàu Chứa tiến lên đánh vào sau lưng bọn chúng. Bị tấn công cả 4 mặt, đội hình quân Pháp nhanh chóng tan rã, quân lính dẫm lên nhau bỏ chạy tán loạn. Trên cánh đồng phía Đông Xóm Mới - Gia Bẹ đã diễn ra trận truy đuổi như một cuộc săn bắn ngoạn mục. Hai giờ chiều, trận đánh kết thúc. Quân Pháp bỏ lại chiến trường 30 xác chết (không kể số mang đi), 1 súng máy, 10 súng trường, 1 vô tuyến điện, 6 thùng đạn và nhiều băng đạn súng máy. Bên ta, một chiến sĩ liên lạc hi sinh.

Lợi dụng cơ hội lúc này, 3 giờ chiều cùng ngày 8 tháng 6 năm 1947, khi lực lượng ta mới vừa từ Bàu Tòn về đến Gò Nổi, một lực lượng Cao Đài phản động khoảng 500 tên từ cuối xóm Ba Sòng kéo lên chặn đánh. Lực lượng của ta tuy mệt, chưa kịp nghỉ ngơi, nhưng đã bình tĩnh bố trí đội hình đánh địch. Quân lính Cao Đài vấp phải sự chống trả quyết liệt của ta. Cánh quân của ta sau một lúc giao chiến, lần lượt rút lui về đóng tại bìa xóm và rừng cao su chặn ngang lối đi An Nhơn Tây. Trời chiều, quân Cao Đài không dám lên theo. Cuộc giao chiến kết thúc.

Ngày 19 tháng 8, kỉ niệm ngày giành chính quyền ở Hà Nội, hai trung đội thuộc chi đội 6 (60 người), 2 trung liên FM, 10 tiểu liên, 40 súng trường) hóa trang đột nhập, tập kích tiêu diệt đồn Thới Hòa huyện Bến Cát (Thủ Dầu Một), sau đó rút nhanh về An Tây Thôn trú quân. Ngay trong đêm 19, quân địch (115 tên gồm 20 lính Pháp, 50 Miên gian, 45 lính ngụy, với 7 trung liên FM, 24 tiểu liên, 60 súng trường, 2 súng cối 50 li) do một viên quan hai Pháp chỉ huy, đuổi theo quân ta. Đến 4 giờ sáng gặp lực lượng canh phòng của ta chặn đánh, chúng rút xuống xóm nhà ấp An Tây dọc mé Đông sông Sài Gòn tạm nghỉ và cướp gà lợn của nhân dân để ăn uống. do ta chia làm 2 cánh triển khai đội hình phục kích chặn đường rút về của chúng. Sau khi lùng sục không tìm thấy đối phương, 10 giờ trưa, bọn Pháp trở về và lọt vào trận địa phục kích của ta. Loạt đạn súng máy đầu tiên của a diệt gọn toán quân đi đầu, trong đó có tên sĩ quan chỉ huy. Quân địch chưa kịp dàn quân đối phó thì từ 2 cánh, bộ đội ta vừa đánh vừa vận động khép chặt vòng vây. Toàn bộ lực lượng của địch bị dồn xuống ruộng lầy ngập tới bắp vế, làm “mục tiêu chết” cho bộ đội ta tiêu diệt và bắt sống. Sau một tiếng đồng hồ chiến đấu, ta diệt 90 tên địch, bắt sống 20 tên (chỉ có 5 tên chạy thoát), thu toàn bộ vũ khí và đồ dùng quân sự.

Tại Thủ Đức, phía Đông thành phố, ngày 22 tháng 9, một trung đội thuộc bộ đội chi đội 6 chặn đánh địch càn vào căn cứ Long Phước Thôn. Quân địch gồm trên 2.000 tên cả lính Pháp, ngụy và quân đội Cao Đài phản động (có 4 máy bay, 14 ca nô tuần tiễn và xà lan đồ bổ, 13 pháo lớn) tập trung bao vây càn quét một khu vực nhỏ ở Cù lao Long Phước Thôn nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta ở đây. Từ 5 giờ sáng đến 12 giờ trưa, chúng liên tục cho máy bay oanh tạc và pháo kích dữ dội vào căn cứ của ta. 12 giờ rưỡi, dưới sự yểm trợ của máy bay, bộ binh chia làm 3 mặt đổ bộ lên Cù lao. Tiến đến đâu chúng điên cuồng xả súng bắn phá, đốt cháy nhà cửa đến đó. Bộ đội ta chia làm 2 bộ phận, dựa vào địa hình cải tạo sẵn bố trí chặn đánh địch ở hai trận địa Nam và Bắc Cù lao. Tại trận địa hướng Bắc, quân địch khoảng gần 1.000 tên, đội hình hàng ngang, vượt đồng ruộng tiến vào, vừa bị ta chặn đánh chính diện, vừa bị một lực lượng bọc sườn đánh tạt ngang chia cắt đội hình, buộc phải chạy dạt về phía sau, ra ngoài đồng trống, nằm im không dám tiến quân đến 16 giờ 30 phút chiều. Tại trận địa phía Nam, quân địch khoảng 500 tên nhiều lần tổ chức tấn công đều bị bộ đội ta dựa vào công sự đánh trả không tiến lên được… Xác địch nằm ngổn ngang dọc ngoài bìa xóm. Trời sập tối, địch buộc phải rút quân. Đến 12 giờ đêm, chúng mới chuyển hết số bị thương và hàng chục xác chết ra khỏi trận địa. Ta thu 2 trung liên và nhiều quân dụng. Một thời gian khá dài sau trận càn ngày 22 tháng 9 năm 1947, giặc Pháp không dám bén mảng đến Long Phước Thôn. Ta phát huy chiến quả, lấy thêm bót Tân Lập. Du kích bao vây cô lập các đồn bót, phá hoại cầu đường khu vực xung quanh căn cứ. Không có tiếp tế, bọn địch hoảng sợ rút bỏ luôn một loạt bót Phú Hữu, Tam Đa, Ích Thạnh, Trường Lưu. Căn cứ Long Phước Thông mở rộng ra sáu xã(1). Danh từ Bưng Sáu xã ra đời.

Liên tục từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1947, chi đội 6, chi đội 12, phối hợp với các đơn vị bạn thường xuyên đánh địch càn quét ở các địa bàn xung quanh thành phố, đặc biệt ở căn cứ Hố Bò, Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây, khu 5 Hóc Môn và căn cứ Long Phước Thôn, phía Đông Thủ Đức. Trong vòng tháng, các lực lượng vũ trang ngoại thành diệt hàng trăm tên địch trong đó có nhiều sĩ quan Pháp, thu nhiều súng trung liên, tiểu liên trang bị cho bộ đội tập trung và du kích địa phương. Thắng lợi của các trận chống càn kể trên phản ánh sự trưởng thành của bộ đội tập trung của ta về trình độ kĩ thuật của chiến sĩ, năng lực chỉ huy của cán bộ, về khả năng đánh vận động phục kích, tập kích và hợp đồng tác chiến các thứ quân trong từng khu vực.


(1) Gồm các xã: Long Trường, Long Phước Thôn, Phú Hữu, Tam Đa, Ích Thạnh, Trường Lưu.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:45:18 PM
*
*   *

Kỉ niệm hai năm ngày Nam Bộ kháng chiến, ngày 23 tháng 9 năm 1947, Hồ Chủ tịch gửi thư cho đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ. Người viết:

“Hôm nay, cuộc kháng chiến oanh liệt ở Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ vừa đúng hai năm.

Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ và nhân dân cả nước nghiêng mình trước những linh hồn các chiến sĩ và các đồng bào đã hi sinh vì Tổ quốc.

Tôi gửi lời an ủi những chiến sĩ và đồng bào hoặc bị thương, hoặc bị địch giam cầm, hoặc đang bị khổ sở nơi địch chiếm đóng.

Tôi gửi lời thân ái khen ngợi toàn thể đồng bào và chiến sĩ đang hăng hái chiến đấu.

Đã hai năm này, chiến sĩ và đồng bào ta hi sinh nhiều tính mệnh tài sản, chịu nhiều cực khổ gian nan. Song lòng yêu nước ngày càng nồng nàn, chí dũng cảm ngày càng bền chặt, sức chiến đấu ngày càng gia tăng, chí quyết thắng ngày càng vững chắc. Các bạn là đội xung phong của dân tộc, con yêu của nước nhà.

Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý!

Lòng Hồ Chí Minh và Chính phủ cùng toàn thể quân đội và nhân dân các nơi luôn ở bên cạnh các bạn, theo dõi các bạn, yêu mến các bạn. Chúng ta hãy cầm tay mạnh dạn tiến lên!”(1)

Cuộc kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã tròn hai năm! Thư của Bác Hồ đến với Sài Gòn (khi cuộc kháng chiến ở đây đang đà phát triển mạnh mẽ) đã khơi trong lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ, đồng bào niềm tự hào về một chặng đường chiến đấu và trách nhiệm lớn lao phía trước.

Mùa thu năm 1947, sau một thời gian ráo riết chuẩn bị, thực dân Pháp mở cuộc tiến công vào chiến khu Việt Bắc nhằm “bịt kín biên giới, ngăn chặn không cho Việt Minh tiếp xúc với Trung Quốc… loại trừ mọi sự chi viện từ bên ngoài vào, truy lùng Việt Minh đến tận sào huyệt, đánh cho tan tác mọi tiềm lực kháng chiến của họ”(2) đánh một đòn quyết định kết thúc cuộc chiến tranh.

Ngày 1 tháng 10 năm 1947, trả lời bức điện của chi bộ Đảng xã hội Pháp ở Sài Gòn (yêu cầu cho biết về lập trường của Chính phủ Việt Nam), Hồ Chủ tịch viết: “… Bộ chỉ huy Pháp vừa mở cuộc đấu tấn công mùa đông rộng lớn và người ta tìm cách giấu không cho nhân dân Pháp biết rõ sự thật ấy. Chính phủ và nhân dân Việt Nam lúc nào cũng sẵn sàng chấm dứt cuộc xung đột và đặt lại nền hòa bình một khi mà nước Pháp trịnh trọng tuyến bố nhìn nhận nền độc lập và thống nhất của chúng tôi”.

Cuối tháng 10 năm 1947, Tư lệnh bộ Khu 7 phổ biến chỉ thị “phải phá cuộc tiến công mua đông của giặc Pháp”, của Thường vụ Trung ương Đảng xuống các đơn vị và nhấn mạnh các đơn vị, địa phương phải “đánh địch để phối hợp với Việt Bắc”. Riêng Sài Gòn phải “mở một đợt đấu tranh chính trị và quân sự rộng khắp, không cho địch yên tâm để chi viện cho chiến trường chính”(3).

Cùng thời gian này, trên chiến trường Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có thêm sự phát triển về tổ chức lực lượng vũ trang. Tại Nhà Bè và chiến khu Rừng Sác ở hướng Tây Nam và Đông Nam thành phố, theo chỉ thị của Tư lệnh bộ khu 7, chi đôi 13 cùng với một số phân đội bộ đội Hải ngoại mới về nước và tiểu đoàn Nam tiến Dương Văn Dương(4) hợp nhất xây dựng thành trung đoàn phiên hiệu 300 mang tên liệt sĩ Dương Văn Dương. Ban chỉ huy trung đoàn gồm Đặng Văn Thìn (tức Mười Thìn, trung đoàn trưởng, Nguyễn Chí Sinh (tức Mười Ngọt, trung đoàn phó), Nguyễn Việt Hồng (chính trị viên). Trung đoàn có hai tiểu đoàn mang phiên hiệu Lê Hồng Phong và Lí Chính Thắng.

Chấp hành chỉ thị của Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ và hướng dẫn của Phòng dân quân, tỉnh Gia Định lập Tỉnh đội bộ dân quân. Các quận, xã đều lần lượt lập quân đội bộ, xã đội bộ dân quân, hệ thống dân quân tự vệ Thành lập từ cấp thành xuống hộ và khu phố. Cán bộ phần lớn do cấp phó của bộ đội chuyển sang phụ trách. Tại tỉnh Gia Định, tỉnh Chợ Lớn, các quận đội bộ đều có du kích tập trung quân, lực lượng từ một tiểu đội đến hai trung đội, ở xã trung bình có trên một trung đội dân quân tự vệ. Sự kiện thành lập trung đoàn bộ đội tập trung và thống nhất các ban công tác Thành (thành 10 đại đội du kích) dưới sự lãnh đạo của Thành phố và hệ thống dân quân du kích được xây dựng đánh dấu bước phát triển quan trọng của các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Nó không chỉ đơn thuần là sự biển đối về mặt tổ chức lực lượng mà phản ánh sự thay đổi về chất của các lực lượng vũ trang, phản ánh sự đòi hỏi trách nhiệm ngày càng cao của cuộc kháng chiến mà các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định sau hai năm chiến đấu trưởng thành đã có điều kiện để đáp ứng, gánh vác. Từ đây, cũng như toàn chiến trường miền Đông Nam Bộ, ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã xuất hiện 3 “loại” tổ chức vũ trang, tiền đề cơ bản cho sự hình thành tổ chức ba thứ quân: bộ đội tập trung (chi đôi, trung đoàn), đội du kích tập trung quận huyện và dân quân tự vệ không thoát li sản xuất xã ấp.

Phối hợp với chiến dịch thu đông Việt Bắc, trong hơn hai tháng cuối năm 1947, khắp nội và ngoại thành Sài Gòn đã diễn ra một phong trào đấu tranh mạnh mẽ nhịp nhàng giữa các mặt trận quân sự, chính trị và kinh tế.

Ngày 26 tháng 10 năm 1947, một đại đội thuộc chi đội 6 đóng quân tại xóm Gò Nổi xã An Nhơn Tây được tin địch từ bót Trung Hòa có 17 tên Pháp, 22 Miên gian, 30 Việt gian kéo sang. Bộ đội ta liền triển khai địa hình phục kích tại bìa xóm. Chờ địch vượt qua quãng đồng trống tiến gần sát, ta đồng loạt nổ súng diệt tốp đi đầu. Một bộ phận khác lập tức rời khỏi công sự vận động bọc sườn đánh xuyên hông quân địch. Địch bỏ chạy. Ta diệt thêm tốp chạy sau, bắt sống một số tù binh trong đó có 1 sĩ quan Pháp, thu 1 trung liên và 12 súng các loại.

Ngày 28 tháng 10 năm 1947, lúc 4 giờ chiều, trinh sát của ta phát hiện một đại đội địch (gần 100 tên gồm cả lính Pháp, lính Miên, lính ngụy) từ đồn Tân Lập hành quân trên đường 33 (Thủ Đức) quan sát vùng cầu đường bị phá hoại khu vực xung quanh căn cứ Long Phước Thôn và đi khủng bố tàn sát đồng bào ở vùng phía Đông Thủ Đức. Đã có sẵn phương án chống càn, đại đội 15 chi đội 6 do Nguyễn Thế Truyện chỉ huy lập tức triển khai chiếm lĩnh trận địa phục kích. Phân đội 1 bố trí tại Gò Cát thành đội hình chữ L chặn đánh phía chính diện. Phân đội 2 chia làm hai cánh bố trí tại cầu thành đội hình vòng cung chặn đường tiếp vận ở bót Trường Lưu ra. Phân đội 3 sẵn sàng vận động đánh bọc hậu nhằm tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch, không cho chúng rút lui về Tân Lập. Ta vừa chiếm lĩnh xong trận địa thì quân địch đi tới. Phân đôi 1 đồng loạt nổ súng, làm bị thương nhiều tên. Đội hình địch dồn lên. Chúng lợi dụng các mô đất và hố đào phá trên đường để trụ lại chống tra. Hai mươi phút sau, một bộ phận của phân đội 1 vòng ra phía sau lưng địch bắn tới, quân địch bỏ chạy. Bộ phận phục kích hai bên đường bắn xối xả vào hai bên sườn. Phía chính diện, ta đuổi theo truy kích. Kết thúc trận đánh, ta diệt gần 20 tên địch, bắt sống một số tù binh, trong đó có tên quan ba Pháp, thu 1 trung liên, 2 tiểu liên và 14 súng trường.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t.4, tr. 423, 424, 425.
(2) Hồi kí của Salan, trích theo Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (tháng 9 năm 1945 - tháng 7 năm 1954), NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr. 85.
(3) Hồ sơ LS - 103, Phòng Khoa học lịch sử quân sự Quân khu 7.
(4) Cuối năm 1945, Trung ương thành lập một tiểu đoàn Nam tiến, thành phần nòng cốt là số cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên do Dương Văn Dương cử đi học tại trường Quân chinh Trung ương tại Quảng Ngãi. Kết thúc khóa học, tiểu đoàn được bổ sung vũ khí, biên chế lại mang tên liệt sĩ Dương Văn Dương do Nguyễn Chí Sinh và Nguyễn Việt Hồng chỉ huy.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:47:05 PM
Ngày 13 tháng 11 năm 1947, một trận chống càn lớn lại diễn ra ở Phú Hữu, gây tiếng vang trong vùng. Phú Hữu là một xã nhỏ nằm bên phía tả ngạn sông Đồng Nai, xung quanh là đồng ruộng với nhiều sông rạch. Phía Tây cách Phú Hữu 2km là bót Tân Lập, phía Bắc cách 3km là bót Trường Lưu, phía Nam là chi khu Cát Lái. Đêm 12 rạng ngày 13, đại đội 10 chi đội 6 do Trần Thắng Minh và Đào Sơn Tây chỉ huy vừa hành quân về đến Gò Thắng thì được tin trinh sát cho biết Pháp đang huy động lực lượng bao vây Phú Hữu. Lực lượng địch gồm 1 trung đoàn Âu Phi, dưới sự yểm trợ và chỉ đường của máy bay, từ bốn mặt tiến vào. Cánh thứ nhất, từ bót Tân Lập hành quân bằng xe cơ giới theo đường 33 tiến công vào Phú Mĩ từ phía Tây. Cánh thứ hai từ bót Trường Lưu theo đường số 3 đánh xuống. Cánh thứ ba trên 3 tàu thủy và 5canô, từ Cát Lái theo sông Đồng Nai đổ quân phong tỏa từ Cát Lái đến Long Tân chặn đường rút lui của ta xuống Rừng Sác. Pháo địch từ phía Nam dội liên tục vào Phú Mĩ để dọn đường và hủy diệt mục tiêu. Trong tình thế khẩn cấp, đại đội 10 cùng với 2 tiểu đội du kích địa phương triển khai bố trí chặn đánh địch trên hướng khu vực cầu Ông Nhiều và dọc ngọn rạch dẫn đến cầu, nhằm mở vòng vây rút ra ngoài bảo tồn lực lượng.

Trời sắp chuyển tối, khi lực lượng của ta vừa triển khai đội hình xong thì quân địch đã tới sát trận địa. Bộ đội ta chủ động nổ súng. Bị chặn đánh bất ngờ, quân địch lúng túng khựng lại rồi dàn đội hình hàng ngang để bắn trả. Trong khi đó, cánh quân bố trí ém dọc ngọn rạch tiến lên nổ súng đánh tạt sườn quân địch. Tên đại úy chỉ huy cánh này bị bắn gục trong loạt đạn đầu. Bọn lính mất tinh thần hò hét nhau vừa bắn vừa lui về sau. Một hồi kèn xung phong vang lên, quân ta nhất loạt nhảy lên mặt đường truy kích. Tốp chạy đầu thoát về bót Tân Lập. Bộ phận còn lại bị ta diệt gọn. Bộ đội và du kích nhanh chóng thu vũ khí, gồm 1 trung liên, 1 súng cối, 1 tiểu liên, 16 súng trường, 1 súng lục.

Theo tài liệu trong chiếc cặp của tên đại úy chỉ huy mà ta thu được, quân địch sẽ hội đủ 4 cánh tại khu vực cầu Ông Nhiều. Thấy không thể ở lại tiếp tục chiến đấu trong điều kiện so sánh lực lượng quá chênh lệch, Ban chỉ huy đại đội lệnh cho bộ đội lấy quần áo của 40 xác chết địch mặc cải trang, tuần tự rút lui khỏi Phú Hữu, hành quân qua đồng trống dưới sự dòm ngó của 4 máy bay địch ra sát trên đầu, về đến Long Tân an toàn

Trong thành phố, cùng với tiếng súng diệt địch vang dội ở ngoại thành, phong trào đấu tranh chính trị dấy lên mạnh mẽ. Đáng kể nhất là cuộc đấu tranh của 400 trí thức Sài Gòn cùng kí tên vào bản tuyên bố gửi chính phủ Pháp, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, đòi chính phủ Pháp phải nghiêm chỉnh đàm phán với Chính phủ Cụ Hồ.

Sang tháng 12 năm 1947, quân và dân miền Đông liên tiếp đánh địch thu được nhiều thắng lợi ở các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Chợ Lớn, Tân An. Tại Sài Gòn và ven đô, 22 giờ đêm thứ năm, 4 tháng 12, lực lượng các chi đội 4, chi đội 6, chi đội 15, tiểu đoàn Kí Con cùng 10 đại đội du kích Thành, đồng loạt tấn công nhiều mục tiêu khắp nội và ngoại thành, từ Thị Nghè, Bà Chiểu, Gò Vấp, ngã ba Chú Ía, Bà Quẹo, Bà Điểm, Phú Thọ Hòa, Phú Lâm, cầu Chữ Y, Nhà Bè đến các trại lính Pháp, câu lạc bộ, rạp chiếu bóng, công sở, biệt thự nằm ở trung tâm thành phố. Báo Phục Hưng số ra thứ Bảy ngày 6 tháng 12 năm 1947 đưa tin: “Súng, lựu đạn nổ tung đêm thứ năm ngày 4 tháng 12 năm 1947 ở Sài Gòn - Chợ Lớn từ 7 giờ tối đến 12 giờ khuya”. Thực ra tiếng súng tấn công của ta nổ liên tục đến 5 giờ sáng ngày 5 tháng 12 mới chấm dứt.

Ngày 6 tháng 12 năm 1947, ta tổ chức tiêu diệt cái gọi là “chiến khu quốc gia” Bình Quới Tây của địch. Vòng cung Bình Quới Tây nằm biệt lập như một bán đảo ở phía Đông thành phố được bao bọc xung quanh bởi con sông Sài Gòn. Tại đây, chính phủ Lê Văn Hoạch(1) đã lập một chiến khu tập hợp một số đơn vị ngụy quân và những người kháng chiến đầu hàng giặc, dùng làm nơi lôi kéo lực lượng kháng chiến của ta quay trở về làm công cụ đắc lực cho chính sách bình định của thực dân Pháp. Biết được âm mưu của địch, qua tổ chức trinh sát quân báo của mình ở Sài Gòn, chi đội 1 (Thủ Dầu Một) từ tháng 3 năm 1947 đã đưa người cài vào tổ chức của địch, trong đó có Hoàng Của làm đến chức vụ “tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bình Quới Tây”. Lực lượng của ta tổ chức đưa vào lên đến trên 1 đại đội. 14 giờ chiều ngày 10 tháng 12 năm 1947, ta tổ chức một cuộc đá bóng cùng đại đội địch. Nhân lúc lực lượng của ta đổi sân, dồn sang phía trước doanh trại tiểu đoàn địch, Bộ tham mưu của ta cùng Ban chỉ huy đại đội đã nổ súng bắn chết 5 sĩ quan Ban chỉ huy và tham mưu tiểu đoàn địch ngay tại sở chỉ huy của chúng. Cùng lúc, các chiến sĩ của ta, kể cả số đang đá bóng và đứng xem cổ vũ, nhanh chóng ào lên cướp súng, tiêu diệt bọn lính kháng cự và kêu gọi bọn sống sót đầu hàng. Các “sĩ quan” còn lại cùng đại đội Bình Quới Tây thu toàn bộ vũ khí, tài liệu và đồ dùng quân sự (đủ trang bị cho 1 tiểu đoàn ta). Vững tin có một bộ phận yểm trợ đã ém quân đón rước từ đêm trước, toàn đại đội ung dung thu dọn chiến trường rồi vượt sông Sài Gòn bí mật hành quân về căn cứ Thuận An Hòa (Lái Thiêu) an toàn. Sự kiện Bình Quới Tây làm cho nội bộ địch lủng củng, nghi ngờ lẫn nhau. Kế hoạch “Chiến khu quốc gia” ở Bình Quới Tây bị tan vỡ.

Những ngày cuối cùng năm 1947, tiếng súng đánh địch vẫn vang trong thành phố. Ngày 22 tháng 12 năm 1947, trung đoàn Phạm Hồng Thái phối hợp với lực lượng vũ trang nội thành đánh bót cầu Rạch Chiếc, đồn Chợ Đệm, bót Phú Thọ Hòa và sân bay Tân Sơn Nhất. Các đại đội du kích, công an xung phong dùng lựu đạn đồng loạt tấn công các bót, công sở, khách sạn tập trung nhiều sĩ quan Pháp và sĩ quan ngụy ở hộ 17, 18 Chợ Lớn. Ngày 31 tháng 12 năm 1947, đại đội du kích 1 tấn công nhà hàng La Pagode tọa lạc ở góc đường D’Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn) và Catinat. Đây là nơi bọn sĩ quan Pháp thường lui tới ăn nhậu, xung quanh có thiết bị lưới chắn lựu đạn và lực lượng bảo vệ canh gác cẩn mật. Các chiến sĩ ta cải trang, bất ngờ ập vào ném lựu đạn, diệt 4 thiếu tá, 2 đại úy và nhiều tên Pháp khác.

Thắng lợi của đợt hoạt động phối hợp hơn hai tháng cuối năm 1947 đã góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch thu đông Việt Bắc. Kẻ thù bị tấn công liên miên cả về quân sự lẫn chính trị, kinh tế ngay ở hậu phương của chúng đã không thể hoàn toàn rảnh tay chi viện cho chiến trường chính. Thắng lợi của đợt hoạt động còn biểu thị tấm lòng của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đối với đồng bào cả nước, với thủ đô kháng chiến Việt Bắc, với Bác Hồ. Năm 1947 đánh dấu một bước phát triển quan trọng về xây dựng lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Hệ thống Đảng, chính quyền, mặt trận đoàn thể kháng chiến đều được xây dựng khá hoàn chỉnh từ tỉnh thành xuống đến cơ sở. Căn cứ kháng chiến được củng cố và phát triển liên hoàn với nhiều hình thức sáng tạo, độc đáo, tạo thành hệ thống địa bàn đứng chân bao quanh thành phố. Lực lượng vũ trang nội thành có một bước phát triển quan trọng, tạo cơ sở cho sự hình thành ba thứ quân. Phong trào đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế diễn ra ngay tại trung tâm sào huyệt của kẻ thù. Mặc dù chưa nhịp nhàng phối hợp đồng bộ với nhau nhưng đợt hoạt động đã làm cho địch bối rối, gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện chiếm đóng bình định trên chiến trường Nam Bộ và chi viện cho chiến trường miền Bắc. Một năm đầu cùng cả nước kháng chiến, các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã rút được nhiều bài học quý báu về việc tăng cường sự thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền, về tổ chức xây dựng lực lượng, về huấn luyện kĩ thuật tác chiến và hiệp đồng đánh địch trên chiến trường đặc thù nội đô và ven đô.

Nghị quyết hội nghị Trung ương mở rộng (họp từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 1 năm 1948) đánh giá: “Trong Nam Bộ, bộ đội ta sau thời kì tổ chức phức tạp lúc đầu nay đã được chỉnh đốn lại và đã thu được khá nhiều thành tích và kinh nghiệm. Nó đã thật sự có tính chất một đội quân du kích của nhân dân, trưởng thành và rèn luyện trong lò lửa của kháng chiến, từ cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân mọc lên. Từ chủ trương đánh các đồn, chỉ phục kích đánh lẻ cướp vũ khí nay đã tiến lên trình độ đuổi địch ra khỏi các vị trí lẻ, dồn chúng về các thành thị, đánh những trận tiêu hao và tiêu diệt hàng trăm địch, thu được khá nhiều vũ khí và thỉnh thoảng đột kích vào các châu thành.

Cuộc phản công thắng lợi ở Việt Bắc và chiến tranh mạnh mẽ ở miền Nam đã gây thêm tinh thần nỗ lực phấn khởi trong toàn dân, tăng thêm tin tưởng ở tiền đồ kháng chiến vẻ vang của dân tộc(2).


(1) Lê Văn Hoạch lên làm thủ tưởng chính phủ bù nhìn sau khi Nguyễn Văn Thinh tự sát tháng 11 năm 1946. Đêm ngày 29 tháng 9 năm 1947, Lê Văn Hoạch từ chức. Ngày 1 tháng 10 năm 1947, Nguyễn Văn Xuân lên làm thủ tướng.
(2) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t. 1, tr. 166.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:49:03 PM
II. ĐẤU TRANH KINH TẾ, PHÁ ÂM MƯU BIẾN SÀI GÒN
THÀNH TRUNG TÂM DỰ TRỮ CHIẾN TRANH CỦA ĐỊCH.
ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ Ở NGOẠI THÀNH


Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, thực dân Pháp buộc phải xét lại chiến lược chiến tranh ở Việt Nam. Thực tế của một năm thực hành cuộc chiến tranh xâm lược trên phạm vi cả nước chứng tỏ không thể dùng biện pháp quân sự để giải quyết cuộc chiến tranh trong thời gian “chớp nhoáng”. Trong lúc đó, chi phí của một cuộc chiến tranh xâm lược (dốc sức đánh nhanh thắng nhanh ở Đông Dương) đã trở nên quá tải đối với nền kinh tế ốm yếu của nước Pháp đang gượng dậy sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tình hình ấy buộc thực dân Pháp phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh, từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, vừa bình định vùng chiếm đóng, vừa lấn chiếm vùng tự do của ta, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Từ dùng biện pháp quân sự là chủ yếu, chúng chuyển trọng tâm hoạt động sang việc đối phó với ta nhằm giữ vững và củng cố vùng tạm chiếm, thực hành chiến tranh tổng lực, đánh phá cơ sở kinh tế, chính trị và lực lượng dự trữ của ta.

Đối với Nam Bộ, trên cơ sở nhận định đây là nơi đông dân, nhiều của, xa trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, lực lượng vũ trang mới xây dựng, trang bị vũ khí yếu, thực dân Pháp chủ trương biến Nam Bộ mà Sài Gòn là trung tâm thành nơi cung cấp sức người, sức của và dữ trữ chủ yếu cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam và ba nước Đông Dương.

Thực hiện chủ trương bình định, Pháp đưa Blaizot sang thay Valluy cầm đầu bộ máy chiến tranh ở Đông Dương (Từ tháng 10 năm 1948, chúng lại đưa Pignon, viên quan cai trị cũ thay thế Bollaert nhận chức cao ủy). Mùa xuân năm 1948, thực dân Pháp tăng thêm quân, điều chỉnh lại lực lượng, chuyển quân vào chiến trường miền Nam. Ngay trong tháng 1 năm 1948, chúng điều 4 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh từ miền Bắc vào Sài Gòn, đưa lực lượng địch ở Sài Gòn và các tỉnh khu 7 lên tới 25.438 tên lính Pháp và Lê dương: 5574 tên, lính ngụy: 19.864 tên(1). Chúng liên tiếp mở những cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn vào căn cứ của ta ở xung quanh Sài Gòn và các căn cứ lớn như chiến khu Đồng Tháp Mười, chiến khu Đ, đồng thời thiết lập một hệ thống đồn bót dày đặc(2) nhằm kiểm soát vùng ven đô thị, các trục đường giao thông quan trọng, các cửa rừng cao su, xung quanh căn cứ và dọc hành lang giao thông của ta.

Ngay từ tháng 12 năm 1947, khi tin tức thắng lợi từ Việt Bắc bay về và hoạt động phối hợp đang độ cao trào trên toàn miền, từ ngày 16 đến ngày 20 tháng 12 năm 1947, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị đánh giá một năm đầu cùng cả nước kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho năm 1948. Hội nghị nhận định: Sang năm 1948, địch sẽ tập trung càn quét và đánh phá Nam Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng quanh đô thị và dọc các trục đường giao thông, lấn chiếm vùng căn cứ của ta, tiếp tục xây dựng ngụy quân, ngụy quyền, triệt phá dự trữ kinh tế, dùng thủ đoạn chiến tranh gián điệp để đánh phá hậu phương của ta. Từ nhận định trên hội nghị chủ trương ra sức xây dựng lực lượng dân quân du kích rộng khắp, nhất là ở vùng tạm bị chiếm. Đẩy mạnh công tác chống bắt lính và tăng cường địch ngụy vận. Tiếp tục đánh phá giao thông địch. Tổ chức xây dựng bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh bẻ gãy các cuộc càn quét, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.

Tại Việt Bắc, ngày 15 tháng 1 năm 1948, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng nhằm kiểm điểm tình hình kháng chiến và đề ra nhiệm vụ trong giai đoạn mới:

“a/ Về quân sự chuyển sang giai đoạn thứ 2, giai đoạn cầm cự, đánh táo bạo, phản công bộ phận nếu nước Pháp có biến cố lớn.

b/ Về chính trị: củng cố toàn dân đoàn kết, phá chính sách “dùng người Việt hại người Việt” của thực dân Pháp, phá mọi chính quyền bù nhìn.

c/ Về kinh tế: phá kinh tế tài chính địch, thực hiện khẩu hiệu tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh, tịch thu tài sản của bọn phản quốc cấp cho dân nghèo và bộ đội.

d/ Về hành chính: kiện toàn cơ quan hành chính từ trên xuống dưới.

đ/ Về văn hóa: giáo dục động viên văn hóa thật sự tham gia kháng chiến, ủng hộ kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ cung cấp cho các ngành kháng chiến”(3).

Phương châm tác chiến chiến lược được đề ra là “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”.


(1) Theo Lịch sử chiến tranh Đông Dương của tướng Yves Grass, bản dịch của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, đánh máy lưu tại phòng Khoa học lịch sử quân sự Quân khu 7, địch cần xung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn 35.000 Âu Phi, 25.000 bảo an và quân đội Cao Đài.
(2) Hệ thống tháp canh De Latour, với tư tưởng chiến thuật là tổ chức phòng vệ trục lộ giao thông các khu trọng yếu, tạo một hệ thống cứ điểm ô vuông nhằm kiểm soát giao thông, chia cắt khống chế hoạt động của đối phương. Mỗi tháp canh có từ 1 bán tiểu đội đến 1 tiểu đội tăng cường do 1 trung hoặc hạ sĩ chỉ huy, được trang bị súng trung liên phóng lựu, vũ khí cá nhân và nhiều lựu đạn. Mỗi tháp canh cách nhau 1km, có thể khoảng cách ngắn hơn nếu địa hình quanh co khuất lấp, tạo thành thế liên hoàn khống chế địa vực và yểm trợ lẫn nhau khi một cứ điểm bị tấn công. Do bị ta tấn xông thường xuyên, tháp được cải tiến ngày càng hoàn thiện hơn: hình vuông, xây gạch, cao khoảng 10 mét, xung quanh có lũy đất cao, bên ngoài có chông tre, hào lũy, kẽm gai, mìn cóc, mìn sáng. Giữa nhiều tháp canh còn có 1 tháp mẹ chỉ huy. Tháp canh mẹ lớn hơn, đóng ở điểm yếu, xây dựng kiên cố, xung quanh có nhiều lô cốt chiến đấu, được trang bị máy vô tuyến, hỏa lực cầu vồng. Hệ thống tháp canh được xây dựng trước hết ở xung quanh đô thị quan trọng, đường giao thông quanh căn cứ ta, sau đó, theo vết dầu loang từng kilômét vuông bung ra từng bước tùy điều kiện cho phép.
(3) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t. 1, tr. 169-170.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:49:52 PM
Nội dung của nghị quyết Hội nghị Xứ ủy và Hội nghị Trung ương mở rộng đã kịp thời phát hiện sự chuyển biến lớn của tình hình, xác định phương hướng quyết tâm đẩy mạnh cuộc kháng chiến phát triển lên một bước mới một cách nhạy bén và thích hợp. Tinh thần của nghị quyết trên đã được phổ biến quán triệt xuống cấp ủy đảng các cấp ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Nhiệm vụ trọng tâm được xác định là đẩy mạnh đấu tranh kinh tế với địch, kết hợp đấu tranh chính trị quân sự, không cho chúng biến Sài Gòn thành trung tâm dự trữ, đấu tranh phá ngụy quân ngụy quyền, tiến hành địch ngụy vận. Đối với tỉnh Gia Định: đẩy mạnh du kích chiến tranh, xây dựng bộ đội, đánh giao thông, chống càn quét lấn chiếm, gia tăng sản xuất, bảo vệ cơ quan, bảo vệ lực lượng, dự trữ của ta.

Thực hiện sự chỉ đạo về chống lại chiến lược của địch, Sài Gòn - Chợ Lớn phát động một phong trào triệt phá kinh tế của địch trong nội đô và vùng nông nghiệp ngoại thành. Bước sang năm 1948, hàng loạt nhà máy xí nghiệp đình công, bãi công. Công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi tự do nghiệp đoàn. Tiêu biểu nhất là những cuộc đấu tranh của công nhân hãng thuốc lá Mic, nhà máy bia Chợ Lớn, nhà máy rượu Bình Tây, công nhân xe lửa Sài Gòn, công nhân công xưởng Đô Thành, hãng xà bông Việt Nam, nhà đèn, xưởng đắp vỏ xe ô tô Nguyễn Văn Bình, công nhân xe buýt và các hãng Simac, Effel, Faci, Asam…

Các vụ phá hoại máy móc, đốt cháy kho nhiên liệu, đốt cháy thành phẩm của các nhà máy diễn ra liên tục. Chỉ kể riêng trong tháng 3 năm 1948, ngày 8 tháng 3, ta đốt cháy nhà máy xay lúa Thạnh Hưng, làm thiệt hại 7 triệu đồng. Ngày 17 tháng 3, ta đốt cháy nhà máy xay lúa Tha Nam ở Chợ Lớn, báo Sài Gòn Mới đưa tin: “Lửa cháy rực trời, cứ xem sự hư hao, người ta có thể coi nhà máy này bị hư hỏng gần trọn vẹn”. Ngày 20 tháng 3, đốt cháy 2 đầu máy xe lửa ở ga Nancy. Ngày 20 tháng 3 năm 1948, kho đạn tại Bảy Hiền bị tấn công, 300 trái bom phát nổ gây chấn động dữ dội trong thành phố… hầu như ở nhà máy, cơ quan, xí nghiệp nào, công nhân viên chức cũng tìm cách phá hoại tài sản của địch. Công nhân xe lửa Sài Gòn phá hỏng 2 máy cưa, 11 máy khoan, 2 máy tiện và lấy nhiều dụng cụ khác, tự tạo 1 tiểu liên gửi cho công an xưởng Thủ Đức. Công nhân hãng Asam phá 2 máy hàn, công nhân Effel phá hoại 1 máy đục lỗ sắt làm cầu trị giá 15.000 đồng, 1 máy cắt tôn trị giá 18.000 đồng, 1 mô tơ điện trị giá 10.000 đồng, ném xuống sông 1 tấn sắt thành phầm. Công nhân ở xưởng Đô Thành mỗi ngày cho máy chạy không 1 giờ, làm lãng phí nhiên liệu hơi hàn của địch. Công nhân bến tàu trong 3 tháng 8, 9, 10 năm 1948 đã liệng xuống sông tổng số 60 bánh vải, 478 thùng rượu và nhiều thùng thuốc Tây, đồ điện, đồ quân dụng… Các cuộc bãi công, đình công ngấm ngầm hoặc công khai phá hoại máy móc tài sản cùng với phong trào phá hoại cao su diễn ra mạnh mẽ ở ngoại thành và các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã làm cho hoạt động sản xuất của tư bản thực dân Pháp giảm sút rõ rệt. Nền kinh tế thuộc địa của chúng bị thiệt hại nặng nề. Bằng hoạt động đấu tranh kinh tế như trên, công nhân và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn đã góp phần chống lại có hiệu quả âm mưu biến Nam Bộ thành hậu phương dự trữ của địch cho cuộc chiến tranh.

Vừa đấu tranh phá hoại kinh tế địch, ta vừa tích cực xây dựng lực lượng dự trữ cho cuộc kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn thành hậu phương của ta, nơi cung cấp chủ yếu của cải vật chất, đặc biệt là các loại hàng hóa như nguyên liệu cho các xưởng quân giới, vải vóc thuốc men, dụng cụ văn phòng… ra chiến khu. Các đơn vị bộ đội đều có “Hội ủng hộ Vệ quốc đoàn” cho đơn vị mình tại thành phố như hội ủng hộ chi đội 1, 6, 12, 13. Các ngành quân nhu, quân giới, quân y, rồi cơ quan kháng chiến của các địa phương, kể cả các tỉnh bạn, huyện bạn của Nam Bộ đều có tổ chức tiếp liệu trong nội thành. Đặc biệt ngành quân nhu đã tổ chức được hệ thống cơ sở tiếp liệu rộng khắp trong các quận, hộ. Các cơ sở tiếp liệu này làm nhiệm vụ khai thác các nhu cầu từ ăn mặc đến công tác sản xuất và chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ bằng cách vận động bà con ủng hộ, tiếp nhận, thu mua để chuyển về căn cứ. Ngoài các cơ sở tiếp liệu này, các cơ quan, tổ chức đoàn thể kháng chiến trong nội thành đều có bộ phận chuyên trách nhiệm vụ cung cấp hàng hóa thiết yếu.

Đồng bào thành phố, từ công nhân viên chức, tiểu thương đến cả một số thương gia lớn, chủ hãng, đều nhiệt tình đóng góp cho kháng chiến. Nhiều hộ ở khu vực Chợ Lớn, Bến Thành, Tân Định tổ chức thành từng ngành, từng giới ủng hộ riêng. Ngành nào, giới nào có khả năng về loại hàng hóa vật phẩm nào thì ủng hộ loại đó. Bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế giúp đỡ thuốc men và dụng cụ y tế. Công nhân ủng hộ máy móc dụng cụ vật liệu kim khí. Thương nhân góp vải vóc, thực phẩm, văn phòng phẩm, dụng cụ văn phòng. Cả học sinh, sinh viên cũng góp gửi cả chiến khu sách vở bút mực. Nhiều gia đình gửi cả lư đồng, mâm thau, bạc trắng. Chị em phụ nữ tham gia cuộc vận động “mùa đông binh sĩ” góp gửi áo ấm, khăn quàng cổ cho bộ đội. Những câu thơ như sau được chị em truyền miệng khá phổ biến:

      Mùa Đông đã đến rồi đây
      Sầu trong gió bắc ngàn cây lạnh lùng
      Lần đầu tiên em sung sướng quá
      Đan ngự hàn gửi tặng phương xa
      Và từ đây những chiến sĩ không nhà
      Sẽ thấu hiểu lòng em qua áo ấm
(1).

Đối với những loại vật phẩm quý hiếm và đặc biệt, như thuốc súng, kim loại, vỏ đạn, hóa chất… đồng bào không có khả năng ủng hộ, ta tổ chức mua thông qua các nhà buôn. Nhiều nhà buôn nhất là thương nhân Hoa kiều có mối giao dịch rộng rãi và ít bị địch theo dõi đã nhiệt tình mua và chuyển giao cho ta. Ngoài ra trong thành phố, một số đơn vị bộ đội, công an, cơ quan địa phương còn tổ chức các cơ sở sản xuất tại chỗ. Cơ sở sửa chữa V.T.Đ chuyên mua máy thu thanh và linh kiện gửi ra chiến khu, đồng thời sửa chữa các máy hỏng từ chiến khu gửi vào. Có những cơ sở như thế trong ngành quân khí, y dược, dệt và may mặc. Về lương thực, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ vận động được nhiều thương gia Hoa kiều dùng giấy tờ của địch cấp, đi mua lúa ở các tỉnh miền Tây, miền Trung Nam Bộ, dùng thuyền chở bằng đường sông về Sài Gòn - Chợ Lớn, xay xong bán lại cho ta.


(1) Truyền thống cách mạng của Phụ nữ Nam Bộ Thành Đồng
Tổ sử Phụ nữ Nam Bộ xuất bản, 1989, tr. 164-165.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:50:32 PM
Lúa gạo, hàng hóa, vật phẩm từ Sài Gòn được chuyển ra vùng căn cứ bằng nhiều hình thức phong phú. Lợi dụng giấy tờ của địch, ta tranh thủ vận tải công khai bằng đường sông với quy mô lớn, hàng hóa xếp sẵn trong kho của các nhà buôn. Trên đường bộ, ta dùng xe lửa của nhà buôn hoặc lấy xe của địch chở hàng ra khỏi thành phố, đến vùng du kích nơi vắng địch, tranh thủ đổ hàng xuống. Ở các bến đó đã có đồng bào chiến sĩ của ta đợi sẵn, tiếp nhận và chuyển tiếp. Ta vận động ngụy binh trong các đồn bót, tháp canh dọc theo các tuyến Sài Gòn - Bà Rịa, Sài Gòn - Nam Vang, Sài Gòn - Tây Nguyên, Sài Gòn - Lộc Ninh, Sài Gòn - Mĩ Tho, Sài Gòn - Phan Thiết, bảo vệ cho ta xuống hàng ở đoạn gần địch. Còn hàng trăm hình thức vận tải có hiệu quả khác như đồng bào ngoại ô đi chợ hằng ngày ra vào nội thành, đồng bào nội thành đi nghỉ mát, lễ chùa, thăm viếng người thân, buôn bán, làm ăn ra ngoại thành, rồi xe ngựa, xe ba gác, xe bò ra vào thành phố đều phối hợp vận chuyển nhỏ. Nhiều người, nhiều chuyến, nhiều ngày tích góp lại đã góp phần chuyên chở khối lượng hàng hóa từ thành phố ra chiến khu.

Trong điều kiện bị địch bao vây phá hoại, sự chi viện tiếp tế của Trung ương xa và gặp khó khăn, nguyên vật liệu ở vùng căn cứ ít phát triển, sự đóng góp nêu trên của đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn có ý nghĩa quan trọng. Nó đã góp phần xây dựng nền hậu cần kháng chiến, làm thất bại âm mưu bao vây phong tỏa kinh tế ta của kẻ thù, đồng thời nói lên tình cảm tha thiết với kháng chiến, một lòng hướng về kháng chiến của nhân dân thành phố.

Công cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ sang năm 1948 đang phát triển lên giai đoạn mới. Yêu cầu của tình hình đặt ra nhiệm vụ cần củng cố, tổ chức lại chiến trường, phát triển lực lượng nhằm tiếp tục đưa cuộc kháng chiến tiến tới. Ngày 27 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 mở hội nghị mở rộng toàn khu. Hầu hết cán bộ Đảng, chính quyền, chỉ huy bộ đội ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và các tỉnh trong khu đã về dự. Hội nghị quyết định điều chỉnh chiến trường, xây dựng các trung đoàn tập trung, xử lí trường hợp bọn gián điệp và phản động lũng đoạn phá hoại trong nội bộ một số đơn vị thuộc bộ đội Bình Xuyên (Tổng hành dinh Bảy Viễn, Bộ tham mưu liên khu Bình Xuyên và Ban chỉ huy chi đội 9). Sau Hội nghị Khu ủy cuối tháng 3 năm 1948, Tư lệnh bộ khu 7 cùng Thành bộ đội Sài Gòn - Chợ Lớn triệu tập hội nghị quân sự Thành nhằm tổ chức lại lực lượng các ban công tác Thành và quán triệt chương trình hoạt động quân sự ở Sài Gòn - Chợ Lớn trong tình hình mới.

Chiến trường Khu 7 chia ra 4 địa bàn hoạt động (4 phân khu):

1/ (Phân khu đặc biệt) gồm: Sài Gòn - Chợ Lớn và các quận Gò Vấp, Thủ Đức (tỉnh Gia Định) và Đức Hòa (tỉnh Chợ Lớn.

2/ (Phân khu Duyên Hải) gồm: Bà Rịa, Vũng Tàu và các quận Nhà Bè, Cần Giờ (vùng Rừng Sác tỉnh Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (tỉnh Chợ Lớn), Long Thành (tỉnh Biên Hòa).

3/ (Phân khu biên giới) gồm: Tây Ninh, quân khu Đông Thành (tỉnh Tân An) và quận Hóc Môn (tỉnh Gia Định).

4/ (Phân khu cao su) gồm: Thủ Dầu Một, Biên Hòa.

Theo quyết định của trung tướng Nguyễn Bình, tháng 4 năm 1948, 10 đại đội du kích Thành đổi trở lại thành 10 Ban công tác và chuyển trực thuộc Bộ Tư lệnh Khu 7.

Đại đội du kích 1 thành Ban công tác 1
Đại đội du kích 2 thành Ban công tác 2
Đại đội du kích 3 thành Ban công tác 3
Đại đội du kích 4 thành Ban công tác 4
Đại đội du kích 5 thành Ban công tác 5
Đại đội du kích 6 thành Ban công tác 6
Đại đội du kích 7 thành Ban công tác 7
Đại đội du kích 8 thành Ban công tác 8
Đại đội du kích 9 thành Ban công tác 9
Đại đội du kích 10 thành Ban công tác 10

Quản lí đầu mối chung 10 ban công tác là một tổ chức mang tên Ban thường vụ (bí số 200/CT) gồm 10 trưởng ban công tác do Nguyễn Tứ Phương làm Tổng thư kí, Phạm Ngọc Thảo (trưởng phòng mật vụ Nam Bộ) làm ủy viên kiểm soát và Phạm Tuân giữ chức vụ ủy viên chính trị. Trực thuộc Ban thường vụ 200/CT có văn phòng, ban liên lạc, đội cảnh vệ.

Việc thành lập lại các ban công tác Thành và chuyển trở về trực thuộc khu đã làm cho cán bộ chiến sĩ các đơn vị vũ trang phấn khởi, hăng hái chiến đấu, do điều kiện đảm bảo hoạt động khá hơn thời kì trực thuộc Thành đội bộ dân quân.

Ngày 20 tháng 5, các chiến sĩ Ban công tác 9 đột nhập nhà tên sĩ quan Pháp ở đường Chasseloup Laubat (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) giữa ban ngày giết chết tên này, lấy 1 tiểu liên, 4 súng ngắn và 500 viên đạn. Ngày 16 tháng 6 năm 1948, Ban công tác 8 dùng quả moócchiê của địch bị lép chế tạo thành quả mìn nổ chậm đặt tại trụ sở thông tin Sài Gòn. Quả mìn không nổ do dây cháy chậm bị ẩm. Hãng AFP đưa tin trên báo Thời Sự số ra ngày 18 tháng 6 năm 1948: “Nếu trái bom này nổ thì sự thiệt hại không biết đến thế nào!”. Dự luận còn đang xôn xao thi ngày 21 tháng 6 năm 1948, tên phản động đội lốt linh mục Maurrice Thiên ở nhà thờ Huyện Sĩ bị đền tội.

Vang dội nhất là trận tấn công bọn sĩ quan Pháp trong rạp chiếu bóng Majestic trên đường Catinat. Majestic là rạp chiếu bóng sang trọng bậc nhất Sài Gòn lúc bấy giờ, chỉ dành riêng cho bọn Pháp và Việt gian phản động cao cấp, giới thượng lưu chính khách ở Sài Gòn. Trước rạp là bến tàu, có nhiều lính địch canh gác và mật thám theo dõi. Riêng trước cửa rạp luôn có một tiểu đội hiến binh làm nhiệm vụ giữ trật tự và chặn xét người Việt Nam vào rạp. Được đội trinh sát báo tin, đêm ngày 10 tháng 6 năm 1948 có 30 sĩ quan Pháp đến rạp Majestic vào xem bộ phim được quảng cáo trước là “Adieu chèrie” (vĩnh biệt em yêu) và tổ trinh sát cũng biết rõ vị trí chỗ ngồi của chúng qua số ghế ghi ở vé, trung đội nữ Minh Khai do chị Dư Thị Lắm chỉ huy quyết định đánh. Một tổ 4 đội viên gồm Bùi Thị Huê, Nguyễn Thị Kim Dung, Hoàng Thị Thanh, Mạc Thị Lan xung phong thực hiện nhiệm vụ. Chính trị viên trung đội Nguyễn Thị Huê trực tiếp chỉ huy trận đánh. Lớn tuổi nhất là chị Huê, thợ may, mới 27 tuổi, chị khác còn rất trẻ, từ 15 đến 16 tuổi. Với 3 trái lựu đạn OG của Mĩ bỏ trong bóp, trong trang phục sang trọng, 4 người đã lọt vào rạp và ung dung vào tại các vị trí đã định sẵn. 20 giờ 45 phút, vừa đến phần chiếu phim chính, chị Bùi Thị Huê ra ám hiệu, cùng lúc, 3 quả lựu đạn được rút chốt và ném thẳng vào trúng khu vực riêng của bọn sĩ quan Pháp, lựu đạn nổ tung. Bọn địch la hét giãy giụa. Người xem náo loạn, chen lấn chạy ào ra cửa. Kết quả 29 tên sĩ quan Pháp, trong đó có 2 quan năm bị chết, 50 tên lính - phần đông là lính Pháp - bị thương nặng. Trận đánh làm cho bọn địch kinh hãi, dư luận báo chí xôn xao bàn tán trong một thời gian dài.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:52:08 PM
Liên tục từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1948, các đại đội du kích đã tấn công khá nhiều vị trí địch trong thành phố. Tính riêng 1 tháng từ ngay 15 tháng đến ngày 15 tháng 4 năm 1948, đã tác chiến 135 trận, giết chết và làm bị thương 150 tên Pháp và Việt gian, thu 9 súng, làm thiệt hại cho địch 4 triệu rưỡi đồng tiền Đông Dương ngân hàng. Tạp chí quân sự Guérilla của Pháp coi cách chiến sĩ công tác Thành như những kẻ xuất quỷ nhập thần: “Họ mặc thường phục, trang bị súng ngắn, lựu đạn, dao găm, lúc ẩn, lúc hiện, bất ngờ chớp giật, tấn công vào câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp, đánh vào nơi hội họp, vui chơi giải trí… của quân đội Pháp, rồi tan biến như sương mù không để lại dấu vết”(1).

Ở các tỉnh xung quanh Sài Gòn và khu vực ngoại thành, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Khu ủy Khu 7, ngày 27 tháng 3 năm 1948, các chi đội Vệ quốc lần lượt biên chế lại thành các trung đoàn. Ngoài trung đoàn Phạm Hồng Thái và trung đoàn 300 đã có sẵn, chi đội 1 (Thủ Dầu Một) được chuyển thành trung đoàn 301, biên chế đủ 3 tiểu đoàn 901, 902, 903, 1 đại đội cơ động và cơ quan trung đoàn bộ, do Nguyễn Văn Thi làm trung đoàn trưởng, Lê Đức Anh chính trị viên.

Trung đoàn 302 ra đời trên cơ sở sáp nhập liên chi đội 2 - 3 do Ngô Văn Lực làm trung đoàn trưởng. Sau đó không lâu, trung đoàn 302 sáp nhập với chi đội 9 thành trung đoàn 309 do Mai Văn Vĩnh (Hai Vĩnh) làm chỉ huy trưởng.

Trung đoàn 304 ra đời trên cơ sở sáp nhập chi đội 4 và chi đội 25. Huỳnh Văn Trí làm trung đoàn trưởng.

Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái ra đời, trên cơ sở biên chế lại chi đội 6 thành 2 tiểu đoàn, sáp nhập thêm lực lượng của trung đoàn Phạm Hồng Thái rút gọn còn 1 tiểu đoàn Nguyễn Văn Công, sau đó là Trần Đình Xu làm trung đoàn trưởng, Nguyễn Văn Bảo làm chính trị viên. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn mang phiên hiệu 916, 917, 918 (Phạm Hồng Thái).

Trung đoàn 307 ra đời trên cơ sở sáp nhập các chi đội 7, chi đội 25 với lực lượng vũ trang tỉnh Bà Rịa do Mai Văn Vĩnh, sau đó Ngô Văn Lực làm trung đoàn trưởng. Từ tháng 7 năm 1948, hai trung đoàn 307 và 309 sáp nhập thành trung đoàn 397, do Hứa Văn Yến làm trung đoàn trưởng.

Trung đoàn 308 ra đời trên cơ sở sáp nhập chi đội 15 và tiểu đoàn “Nguyễn An Ninh” do Huỳnh Văn Một làm trung đoàn trưởng.

Trung đoàn 312 ra đời trên cơ sở phát triển từ chi đội 12. Tô Kí, sau là Nguyễn Văn Bứa làm trung đoàn trưởng, Lê Thanh Kiết làm chính trị viên. Trung đoàn có 3 tiểu đoàn mang phiên hiệu 934, 935, 936.

Trong quá trình thành lập các trung đoàn, tại Chiến khu Rừng Sác, Khu ủy Khu 7 tiến hành thanh lọc và củng cố một số đơn vị và nội bộ Bình Xuyên, loại trừ những phần tử phản động gián điệp, nhân viên Phòng Nhì Pháp.

Sau khi nắm được lực lượng Bình Xuyên trong tổ chức “liên khu”, khu bộ phó Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) bị sự thao túng của các nhân viên Phòng Nhì Pháp như Lại Hữu Tài, Lại Văn Sang, Lâm Ngọc Đường, Maurice Thiên, ngày càng sa đà vào con đường ăn chơi xa hoa trụy lạc, ra rời kháng chiến, biến chiến khu Rừng Sác thành “chiến khu ma, án binh bất động. Nhiều cán bộ đảng viên bị thủ tiêu, khủng bố. Hành động của Bảy Viễn và bọn tay chân đàn em trong ban chỉ huy chi đội 9, Tổng hành dinh Khu bộ phó và Ban tham mưu liên khu gây sự bất bình mạnh mẽ trong đại đa số cán bộ và chiến sĩ Bình Xuyên. Sau một thời gian kiên trì giác ngộ không thu được kết quả, một số cán bộ trong Ban quân sự Nam Bộ và khu ủy Khu 7 thấy cần thiết phải thanh trừng một số phần tử phản động và gián điệp trong nội bộ Bình Xuyên. Nhằm tách Bảy Viễn ra khỏi Rừng Sác, giữ níu Bảy Viễn lại con đường kháng chiến, Ban quân sự Nam Bộ đã đề bạt Lê Văn Viễn lên chức khu bộ trưởng Khu 7 và triệu tập về căn cứ Nam Bộ tại Đồng Tháp Mười để họp hội nghị và dự lễ tấn phong. Trong khi Bảy Viễn cùng đoàn tùy tùng đang ở Đồng Tháp Mười, thì tại Rừng Sác, cuộc thanh trừng bắt đầu. Ba đại đội của trung đoàn 300 (do Trần Sơn Tiêu chỉ huy) phối hợp với 1 đại đội thuộc chi đội 9 (do Trần Công Đức chỉ huy) triển khai đội hình bao vây chặt vòng ngoài, rồi cho một bộ phận đột kích vào 3 mục tiêu: Tổng hành dinh Bảy Viễn, Bộ tham mưu liên khu Bình Xuyên và sở chỉ huy chi đội 9. Trước giờ hợp đồng nổ súng, có lệnh của Xứ ủy Nam Bộ đình chỉ cuộc thanh trừng. Nhưng bức điện đã bị giữ lại lâu ở Khu ủy Khu 7, mặt khác Rừng Sác mênh mông, các đơn vị ém quân bí mật phân tán khắp các kênh rạch chằng chịt, thông tin liên lạc chậm trễ, nên không đến kịp. 4 giờ sáng ngày 24 tháng 5, vòng vây của lực lượng tiến hành thang trừng khép chặt. Các cánh quân thọc sâu bất ngờ tiến thẳng vào ba mục tiêu, bắt hầu hết bọn phản động và nhân viên Phòng Nhì Pháp. Tên Lâm Ngọc Đường dùng ghe riêng chạy trốn, sau 7 ngày đêm bị sa lưới với đầy đủ tang vật trong tay: cặp đứng tài liệu Pháp gửi cho Bảy Viễn, danh sách bọn Phòng Nhì và phản động trong nội bộ Bình Xuyên, nhật kí ghi các vụ việc phá hoại, kế hoạch “chiến khu ma” và một cặp đầy ắp tiền Đông Dương ngân hàng(2).


(1) Xem Bước đường quyết thắng của lực lượng vũ trang nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1985, tr.21.
(2) Trong số tài liệu ta thu lượm được, có 1 văn bản kí kết giữa đại diện quân đội Liên hiệp Pháp tại khu vực Đông Nam Bộ và Tổng chỉ huy liên khu Bình Xuyên Lê Văn Viễn với nội dung: 1/ Quân đội Liên hiệp Pháp (chịu trách nhiệm về tình hình quân sự ở tỉnh Gia Định) cách mạng kết không tiến hành các hoạt động quân sự nhằm vào các lực lượng của liên khu Bình Xuyên trong căn cứ Rừng Sác. 2/ Lực lượng quân sự liên khu Bình Xuyên (và các lực lượng quân sự có liên quan hiệp đồng trong căn cứ Rừng Sác) cam kết không tiến hành các hoạt động quân sự nhằm vào các khu vực thuộc quyền kiểm soát của quân đội Liên hiệp Pháp tại các tỉnh Gia Định - Chợ Lớn… nằm dọc phía Tây hai con sông Nhà Bè và Soài Rạp. 3/ Chỉ huy quân đội Liên hiệp Pháp (chịu trách nhiệm về tình hình quân sự ở tỉnh Gia Định) có trách nhiệm báo cáo toàn bộ tình hình và đệ trình thỏa ước này lên Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp ở miền Đông Nam phần Việt Nam. Thỏa nước này có hiệu lực từ ngày Tư lệnh quân đội Pháp ở miền Đông Nam phần Việt Nam chuẩn y. Ngoài ra ta còn thu được dự thảo thỏa ước giữa Bảy Viễn và quân đội Pháp, nội dung: 1/ Tổng chỉ huy liên khu Bình Xuyên bảo đảm không để xảy ra các hoạt động quân sự dọc tuyến sông Lòng Tàu, để gây thiệt hại về người và phương tiện vận chuyển thuộc quyền kiểm soát của người Pháp. 2. Đổi lại, Pháp giành cho Liên khu Bình Xuyên các khoản viện trợ về tài chính, hàng tiêu dùng theo ke hằng năm.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:54:26 PM
Ngày 31 tháng 5 năm 1948, cuộc thanh trừng kết thúc. Mặc dù phạm một số khuyết điểm như công tác phân loại đối tượng chưa chu đáo, ở một số nơi, một số người bị bắt và xử lí oan, cuộc thanh trừng một số phần tử phản động và gián điệp trong nội bộ Bình Xuyên đã giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu gây chia rẽ nội bộ, thành lập “chiến khu ma” của thực dân Pháp, thanh lọc được kẻ thù và bọn cơ hội phản động trà trộn trong hàng ngũ kháng chiến.

Sau cuộc thanh trừng, các đơn vị còn lại của bộ đội Bình Xuyên hòa nhập vào các trung đoàn. Trên thực tế không còn bộ đội Bình Xuyên riêng rẽ. Phân khu Duyên Hải thành lập trước thanh trừng nay được củng cố lại, do Dương Văn Hà (vừa được đề bạt chức Khu bộ phó Khu 7 sau khi Lê Văn Viễn bỏ chạy về Sài Gòn theo giặc)(1) làm chỉ huy trưởng, Nguyễn Sơn Xuyên làm chỉ huy phó.

Cũng trong tháng 6 năm 1948, Chính phủ gửi điện công nhận Ban quân sự Nam Bộ và cử trung tướng Nguyễn Bình làm Tư lệnh (trước đó ngày 12 tháng 12 năm 1947, Ban quân sự Nam Bộ được thành lập do Nguyễn Thanh Sơn làm trưởng ban).

Sự kiện làm trong sạch nội bộ, củng cố lại bộ đội Bình Xuyên, và thành lập các trung đoàn đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng đối với lực lượng bộ đội tập trung của Khu 7 nói chung và Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định nói riêng. Nó mở ra thời kì thống nhất của các lực lượng vũ trang trên toàn bộ chiến trường dưới sự chỉ đạo tuyệt đối của Đảng, tạo điều kiện để các đơn vị bộ đội tập trung tổ chức đánh địch những trận lớn và thu được thắng lợi quan trọng trong năm 1948.

Ngày 13 tháng 4 năm 1948, 10 Ban công tác Thành tập kích đồng loạt vào các mục tiêu ở hộ 17 Chợ Lớn và khu vực Phú Nhuận, xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay sau đó, giặc Pháp liên tục mở các cuộc hành quân càn quét ra xung quanh thành phố, đặc biệt vào các căn cứ của ta ở Thủ Đức, Hóc Môn, Trung Quận (Chợ Lớn).

Ngày 15 tháng 4, chúng huy động 3.000 tên, phần lớn là lính Âu Phi, có pháo binh và máy bay yểm trợ, do một đại tá chỉ huy, tấn công vào Láng Le (căn cứ Vườn Thơm) nhằm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và lực lượng vũ trang của Sài Gòn - Chợ Lớn đứng chân ở đây. Từ 6 giờ sáng, máy bay trinh sát địch đã quần đảo trên bầu trời Láng Le. 7 giờ, các cánh quân của địch từ lộ số 10 qua lộ Đông Dương 16 vào và từ sông Vàm Cỏ Đông lên bắt đầu tiến vào Tân Kiên, Tân Tạo, Tân Nhựt và chợ Lí Văn Mạnh - trung tâm căn cứ. Các mũi bộ binh, xây dựng thiết giáp trên bộ, xe lội nước dưới kinh rạch theo đội hình hàng ngang xếp thành một vòng cung từ Phú Lâm - Bình Trị phía Đông Bắc xuống Tân Kiên, Mĩ Tho, bọc xuống phía Nam và Tây Nam đến Lương Phú. Mặt bọc hậu, các loại tàu thủy, tàu lồng cu, xà lan chở lính theo sông Chợ Đệm qua kinh Xáng rải quân tạo thành phòng tuyến khóa đuôi và đánh vào sau lưng quân ta.

Lực lượng của ta gồm có 4 đại đội của trung đoàn 308, 2 tiểu đoàn của trung đoàn Phạm Hồng Thái, 4 tiểu đoàn của trung đoàn 312, cùng du kích vũ trang ban công tác Thành đóng ở khu vực cầu Bà Điểm, rạch Cai Tâm (giữ một kinh Xáng, chợ Đệm), cầu Bà Bộ, Tân Lợi (giữ mặt Bà Hom), Mĩ Phú (giữ mặt Bình Điền). Ngoài ra con có các bộ phận du kích và đơn vị bao vây cơ quan khác đóng giữ rải rác ở các điểm trung tâm căn cứ.

Khi cánh quân của địch ở phía Đông Bắc từ cầu Chùa và Bà Hom vào đến Tân Lợi, liền bị đại đội 3 (trung đoàn 308) và lực lượng trung đoàn 312 chặn đánh. Sau gần một giờ giao tranh quyết liệt, trước thế áp đảo của quân địch, lực lượng ta rút về Láng Le. Tại phía Đông Nam, cánh quân địch đã từ Bình Điền vào đến cầu Mĩ Phú bị lực lượng trung đoàn Phạm Hồng Thái và đại đội 4 (trung đoàn 308) chặn đánh. Một lúc sau, quân ta buộc phải rút lui về Láng Le hợp với lực lượng đại đội 3 triển khai đội hình chặn đánh địch. Tại phía Nam, lực lượng địch chia làm 2 mũi, một theo kinh Bà Tà lên hợp với bộ binh đánh vào Bàu Cỏ, một từ cầu Bà Điểm, theo rạch Cai Tâm lên đánh vào khu vực phòng thủ của đại đội 1, đại đội 2 (trung đoàn 308) ở Tân Nhựt. Quân địch hình thành thế bao vây, khép kín, vùng trung tâm căn cứ. Càng xế trưa, vòng vây càng khép chặt. Lực lượng của ta bố trí dựa lưng vào nhau, lợi dụng địa hình nhiều kinh rạch, làm bụi, làm chướng ngại vật để kiên quyết chặn đánh địch. Các khẩu trung liên, tiểu liên chiếm trước các vị trí thuận tiện liên tục nhả đạn rà quét vào đội hình dày đặc của địch, chặn đứng nhiều đợt xung phong của chúng. Một số bộ phận đơn vị và du kích rời khỏi công sự, vận động di chuyển chia cắt địch thành từng toán nhỏ để tiêu diệt. Các cuộc đánh xen kẽ giáp lá cà diễn ra dọc bờ kinh trong các bụi dừa nước, lùm cỏ năng đưng. Chiến sĩ Nguyễn Hữu Mai với khẩu trung liên Breun đã chiến đấu dũng cảm, diệt hàng chục tên Âu Phi cho đến khi bị trúng đạn ngã gục xuống bờ kinh.

Trời ngả chiều, quân ta tập trung lực lượng đánh phá vây, chuyển về phía Trịnh Khánh Ân, chiếm mé Tây kinh Xáng. Các loại hỏa lực đều được huy động bắn xối xả vào đội hình địch để mở đường. Sau đó, lực lượng ta ào lên đánh giáp lá cà với chúng. Trước sức đột kích mãnh liệt của ta, quân địch không chống cự nổi, quay đầu bỏ chạy. Quân ta thừa thắng quay sang đánh tạt bên sườn và đánh vu hồi sau lưng địch làm cho đội hình của chúng rối loạn. Sau đó, quân ta lần lượt rút về Rạch Rịt, Rạch Chung, đánh trả sự truy đuổi của 3 máy bay địch. Đến 17 giờ chiều, quân ta rút về vùng rừng Bà Vụ an toàn. Trận đánh kết thúc, ta diệt trên 300 tên địch (trong đó có nhiều sĩ quan), bắt sống 30 lính Pháp, làm hỏng và phá hủy 5 xe quân sự, thu 1 vô tuyến điện, 85 súng máy và súng trường, nhiều đạn dược và đồ dùng quân sự khác. Phía ta 32 cán bộ và chiến sĩ hi sinh, 40 người bị thương, 17 người mất tích. Hàng tăm ngôi nhà, lán trại bị đốt phá. Vườn ruộng của đồng bào vùng căn cứ bị xéo nát.

Cuộc chiến đấu bẻ gãy cuộc phản kích quy mô của địch ngày 15 tháng 4 năm 1948 ở Láng Le, Bàu Cỏ là trận thử sức đầu tiên của lực lượng vũ trang Gia Định, Chợ Lớn từ sau khi thành lập các trung đoàn. Thắng lợi của trận đánh thể hiện tinh thần quyết chiến, trụ bám địa bàn bảo vệ căn cứ, tiêu diệt địch, bảo vệ dân, bảo vệ cơ quan lãnh đạo của thành phố. Trận Láng Le vang dội vào nội thành, củng cố thêm niềm tin kháng chiến của đồng bào trong thành phố, đồng thời cổ vũ tinh thần hăng hái chiến đấu của du kích địa phương vùng Trung Quận, Đức Hòa. Thắng lợi của trận đánh còn chứng tỏ sự trưởng thành nhanh chóng của bộ đội ta trong những ngày đầu xây dựng trung đoàn. Tờ Truyền Tin, cơ quan thông tin của Tỉnh Chợ Lớn số ra ngày 23 tháng 4 năm 1948 viết đó là trận đánh “để trả lời cho thực dân Pháp biết Vệ quốc đoàn lúc nào cũng đủ điều kiện nếu cần phải đánh chánh quy khi thình lình đối đầu với quân cướp Pháp”(2). Bộ tư lệnh Khu 7 đã gửi thư khen ngợi các lực lượng tham gia trận đánh. Nhân dân địa phương đặt vè: “Trận Láng Le Tây khóc ngất, trận Tầm Vu Tây mất ca nông”.


(1) Nắm được tin tức về cuộc thanh trừng, bị bọn Phòng Nhì Tài, Sang xúi giục, lôi kéo Bảy Viễn cùng 60 tùy tùng chạy về Sài Gòn đầu hàng Pháp. Trên đường đi, ta đã cử nhiều cán bộ tiếp xúc và thuyết phục Viễn, nhưng y vẫn quyết theo giặc. Biết được ý định đầu hàng của Viễn, 2 tiểu đội trong trung đội tùy tùng do Bảy Cao chỉ huy đã rách ra quay trở lại với kháng chiến.
(2) Tài liệu cặp E 1948, phòng tư liệu Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:56:34 PM
Ngay sau “sự kiện Láng Le”, liên tục trong ba ngày 20, 24 và 25 tháng 4 năm 1948, giặc Pháp mở cuộc hành quân càn quét tiếp vào căn cứ Vườn Thơm. Rút kinh nghiệm thất bại lần trước, quân địch không dám ồ ạt xông lên mà thận trọng tiến từng bước một. Đặc biệt, chúng dùng pháo binh bắn phá mãnh liệt vào trận địa của ta. Lực lượng của a có tiểu đoàn 918 (trung đoàn Phạm Hồng Thái biên chế lại), dựa vào công sự nằm im chờ địch tiến đến sát mới nổ súng. 8 giờ sáng, cuộc đụng độ bắt đầu. Sau loạt đạn bắn phủ đầu, một trung đội dự bị của ta vòng ra đánh xuyên hông tiểu đoàn Lê dương Pháp, Marốc. Bị tổn thất nặng, bọn lính Marốc bỏ chạy tán loạn. Các mũi tiến công khác của địch cũng chùn lại và bỏ chạy ra xa, kêu pháo binh bắn vào trận địa ta đến hết đạn mới rút lui. Cuộc càn của địch bị bẻ gãy ngay từ loạt đạn đầu tiên của ta. Nhưng bộ đội tiểu đoàn 917 hi sinh gần 30 người vì bị pháo kích của chúng.

Tháng 5 năm 1947, địch lại tấn công căn cứ Tân Mĩ, Bình Lí, Bình Mĩ nhằm tiêu diệt tiểu đoàn 916 của trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái đang đứng chân ở đây. Chúng dùng xe thiết giáp đổ quân ở khu vực cầu Bà Bếp, trên đường số 5 và rải dọc đường số 8 từ ngã tư Tân Quy đến Bình Mĩ. Phía Đông Nam, trên sông Sài Gòn và sông Rạch Tra, tàu chiến địch đi lại như mắc cửi. Từ trong làng nhìn ra, trên các hướng, quân địch đi vàng cả cánh đồng. Tiểu đoàn 916 bố trí chặn đánh địch trên cả 3 hướng chính. Quân giặc bị đánh tan tác. Bên ta 30 chiến sĩ hi sinh. Trời tối, bộ đội ta phá vây, luồn rút về An Phú xã để củng cố lực lượng.

Ngày 3 tháng 6 năm 1948, quân địch càn vào khu vực Long Phước Thôn (phía Đông Thủ Đức) nhằm bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 917 (trung đoàn 306). Bộ đội ta thông thạo địa hình chia ra từng phân đội đánh nhỏ lẻ, bất ngờ tập kích hoặc dụ địch từ tốp nhỏ vào sâu trong khu vực địa hình bất lợi để tiêu diệt. Đến trưa, khắp Long Phước Thôn, chỗ nào cũng có quân ta và quân địch xen kẽ, không phân biệt được chiến tuyến. Hết đạn, quân ta đánh giáp lá cà bằng báng súng, lựu đạn, dao găm, dao rựa. Địch bị thiệt hại nặng. Bên ta gần 30 chiến sĩ hi sinh.

Trong vòng không đầy 2 tháng, từ ngày 15 tháng 4 đến ngày 3 tháng 6 năm 1948, tiến hành càn quét với quy mô lớn không dưới 4 lần xung quanh Sài Gòn, địch bị tiêu hao, tiêu diệt và thương vong gần 1.000 tên các loại. Âm mưu tập trung lực lượng nhằm bao vây càn quét tiêu diệt lực lượng kháng chiến không thực hiện được. Bộ đội ta, đặc biệt trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái rút được nhiều bài học kinh nghiệm về tác chiến vận động chống càn quét. Tuy vậy, số cán bộ chiến sĩ hi sinh trong toàn đợt lên tới con số của 1 đại đội.

Thắng lợi của các trận chống càn kể trên có tác dụng quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các phong trào kháng chiến của nhân dân vùng ngoại thành. Phong trào du kích chiến tranh ở cơ sở ngày càng phát triển, đã phối hợp có kết quả với bộ đội chống càn, diệt tề trừ gian và phá hoại kinh tế địch. Nhiều nơi, du kích huyện đã độc lập tác chiến, diệt được bót nhỏ và các toán địch đi lẻ tuần tiễu như Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè. Riêng ở Nhà Bè, du kích sáng tạo nhiều cách đánh độc đáo như phục kích dùng dây cáp chăng ngang sông buộc tàu dừng lại gỡ, rồi dùng lựu đạn và các loại hỏa lực diệt địch khi chúng đang loay hoay giữa sông, hoặc như đêm đêm dùng súng cối, pháo kích vào đội hình địch làm cho chúng lục đục di chuyển suốt đêm, gây ra tâm lí hoang mang sợ bị tập kích bất ngờ…

Có thể nói rằng, trong hơn nửa năm đầu 1948 là quãng thời gian các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định chấn chỉnh, tổ chức lại lực lượng, làm trong sạch nội bộ, thống nhất và phát triển một bước các tổ chức vũ trang nội thành (các ban công tác) và ngoại thành (các trung đoàn). Đây cũng là thời gian các trung đoàn tập trung tổ chức đánh những trận chống càn với quy mô lớn và thu được thắng lợi vang dội về mặt quân sự. Nhiều đơn vị đã được Hồ Chủ tịch khen ngợi trong lời kêu gọi các tướng lĩnh ngày 19 tháng 6 năm 1948:

“Nhân dịp kỉ niệm 1.000 ngày kháng chiến, tôi được Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy báo cáo thành tích trong cuộc huấn luyện lập công vừa rồi. Tôi rất vui lòng rằng các bộ đội đều cố gắng tiến bộ.

Những bộ đội đã làm cho giặc Pháp thiệt hại nhiều, đã có thành tích vẻ vang nhất là các bộ đội sau đây:

- Các đơn vị Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định



- Trung đoàn 10, 15, 1 ở Khu 7 Nam Bộ(1)

- Các đơn vị Dương Văn Dương, Mĩ Tho



- Các đơn vị Kí Con



Tôi cũng phải nhắc đến những bộ đội du kích phụ lão và phụ nữ cùng các chú liên lạc đã tỏ ra rất oanh liệt đã làm cho thế giới biết rằng: người già, đàn bà và trẻ con Việt Nam đều là những chiến sĩ yêu nước và dũng cảm tranh đấu hi sinh cho Tổ quốc…”(2)


(1) Tức các trung đoàn 310, 308, 301 (TG).
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1985, t. 5, tr. 106-107.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:57:16 PM
*
*   *

Cuối tháng 7 năm 1948, giữa chiến khu Đồng Tháp Mười, bên bờ kinh Năm Ngàn, Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ Nam Bộ được triệu tập. Đông đảo đại biểu Đảng từ cấp tỉnh, cấp trung đoàn trở lên đã về dự. Nhiều cán bộ quân sự, nhân sĩ, tri thức đại diện ủy ban kháng chiến hành chính, Mặt trận Liên Việt cũng tham dự đại hội. Đồng chí Lê Duẩn, bí thư Xứ ủy, thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì đại hội.

Đại hội nhận định, từ mùa thu năm 1948 trở đi, thực dân Pháp càng đẩy mạnh chính sách bình định, ráo riết thực hiện chiến thuật bao vây mọi mặt. Nỗ lực của chúng trong giai đoạn tiếp theo nhằm tiến tới tiêu diệt chính quyền và bộ máy kháng chiến của ta, áp đặt bộ máy chính quyền bù nhìn từ Trung ương đến làng xã, phá hoại kinh tế, ngăn cản giao thông tiếp tế của ta, bảo đảm giao thông tiếp tế của chúng, củng cố mở rộng vùng chiếm đóng, đẩy lực lượng kháng chiến ra xa các đô thị, nhất là Sài Gòn, hòng tạo ra một cục diện mới, dứt điểm công cuộc bình định Nam Bộ để tập trung lực lượng trở lại chiến trường miền Bắc. Như vậy “Nam Bộ trở nên trung tâm hoạt động chính trị và cũng là vị trí quân sự quan trọng” và chiến lược của địch nhằm “đánh đòn chính vào dự trữ chiến lược của ta”. Đại hội chủ trương: “Chiến lược của ta nhằm vào chống lại chiến lược giặc, vào sự bảo vệ dự trữ của ta”.

Đại hội cũng đã kiểm điểm công tác xây dựng Đảng trong hơn một năm qua (tính từ hội nghị tháng 4 năm 1947), phê phán những biểu hiện sai trái trong việc đóng cửa hoặc phát triển ồ ạt thiếu chọn lọc đảng viên ở một số địa phương đơn vị, biểu hiện tư tưởng cục bộ địa phương, định kiến hẹp hòi và quân phiệt “anh chị” ở một số ít cán bộ, đồng thời đề ra những biện pháp nhằm củng cố hệ thống tổ chức Đảng từ trên xuống dưới. Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ Nam Bộ và trực tiếp bầu đồng chí Lê Duẩn làm Bí thư Xứ ủy, các đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Đức Thuận làm Phó Bí thư.

Đại hội đại biểu Xứ Đảng bộ Nam Bộ đã vạch ra những nội dung cơ bản về đường lối tiến hành kháng chiến ở Nam Bộ trong giai đoạn chống chiến lược bình định của địch. Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định quán triệt sâu sắc nhiệm vụ do Đại hội đề ra: “nhằm vào chống chiến lược giặc” ngay tại trung tâm đầu não, cũng là trung tâm dự trữ chiến lược của chúng ở Nam Bộ.

Từ sau Đại hội Xứ ủy cuối tháng 7 năm 1948, các mặt hoạt động của công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đi vào nền nếp và chủ động hơn. Tổ chức các cơ quan lãnh đạo các cấp được chấn chỉnh thêm một bước, hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả thiết thực. Ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, phong trào đấu tranh nội thành tiếp tục phát triển. Trong những tháng cuối năm 1948, các Ban công tác Thành liên tục đánh phá các cơ sở kho tàng dự trữ của địch. Ngày 13 tháng 9 năm 1948, các chiến sĩ của ta đốt cháy kho xăng ở Tân Sơn Nhất, gây cho địch thiệt hại hơn 18.000 lít xăng, 400 công nhân hãng thuốc lá Bastos, 1000 công nhân hãng Faci, phối hợp với công nhân các hãng Effel, Asam, Míc, Caric, Ô tô Sài Gòn đình công đấu tranh đòi tăng lương. Ngày 15 tháng 11 năm 1948, đoàn viên công đoàn hộ 3 đốt cháy tàu Bretel trọng tải 8000 tấn. Ngay 17 tháng 12, lực lượng tự vệ Thành dùng mìn đánh chìm một xà lan chứa xăng dầu làm cháy lan ra một số tàu khác. Cuối năm 1948, lực lượng công tác Thành được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba về thành tích phá hoại dự trữ của địch.

Cùng với việc phá hoại kinh tế địch, các lực lượng vũ trang nội thành tích cực đánh địch, gây cho chúng thiệt hại về người và phương tiện chiến tranh. Tại Hòa Hưng, công nhân đường sắt gài lựu đạn diệt 3 tên Pháp và công an ngụy. Công an xung phong quận 6 xử tử hình tên hội đồng Thiện, một ác ôn khét tiếng. Ngày 15 tháng 8 năm 1948, các chiến sĩ ban công tác Thành đột nhập câu lạc bộ Boule Gauloise dành cho bọn sĩ quan Pháp, ném 2 quả lựu đạn, làm bị thương nhiều tên. Tại Phú Nhuận, nhiều tên tay sai ác ôn gây nhiều nợ máu, như Đội Năng, đội Paul, ách Vân, ách Mĩ, Sáu Ghẻ… bị ta trừng trị. Đáng kể nhất là vụ xử tên đội Trực ở bót Tầm Vông. Hắn thường tổ chức lùng bắt những người bị chúng tình nghi đem xếp hàng ở ngoài đường đầu cầu Kiệu cho bọn chỉ điểm trùm bao bố nhận dạng. Sau một lần bị ta bắt đem xử, bị thương nặng giả chết và lết được về nhà chữa trị, hắn càng điên cuồng trả thù kháng chiến, trở thành “một con quý sống Phú Nhuận”. Tên đội trực bị đền mạng làm cho đồng bào Phú Nhuận rất hả dạ.

Ngày 20 tháng 10 năm 1948, trung tướng Nguyễn Bình triệu tập khởi nghĩa quân sự tuyên bố giải nhiệm Ban thường vụ 200/CT, lập Ban chỉ huy 10 ban công tác Thành, do Nguyễn Văn Công (trung đoàn trưởng trung đoàn 306) kiêm chỉ huy trưởng, Nguyễn Tứ Phương chính trị viên và Nguyễn Xuân Thanh (sau đó hai tháng) làm chỉ huy phó. Ban chỉ huy giữ nguyên các bộ phận trực thuộc có từ trước, như văn phòng, bam tham mưu, ban chính trị, binh công xưởng, trường quân chính, quân y xã, ban sinh sản…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 06:59:22 PM
Để tạo sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động tác chiến giữa nội và ngoại vi thành phố, thực hiện “trong đánh, ngoài đánh”, một mặt trận chung được thành lập, lấy tên là Mặt trận quân sự Thành Sài Gòn - Chợ Lớn. “Mặt trận gồm 10 ban công tác Thành trong nội đô và 5 tiểu đoàn bao vây xung quanh thành phố (1 của trung đoàn 306 ở Gò Vấp, 1 của trung đoàn 312 ở Hốc Môn, 1 của trung đoàn 300 ở Cần Giuộc, 1 của trung đoàn 308 ở Trung Huyện và 1 của trung đoàn 306 ở Thủ Đức). Ban chỉ huy Mặt trận quân sự Thành Sài Gòn - Chợ Lớn gồm Nguyễn Văn Công (chỉ huy trưởng, Nguyễn Tứ Phương (chính trị viên) và Nguyễn Chi Sinh (chỉ huy phó). Căn cứ của Ban chỉ huy đặt bên cạnh căn cứ của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Thành Sài Gòn - Chợ Lớn gần Thủ Thừa, bên cạnh sông Vàm Cỏ Tây phía tả ngạn. Nhiệm vụ của Ban chỉ huy là xây dựng kế hoạch tác chiến phối hợp trong và ngoài thành phố, rồi từng người trở về đơn vị mình phổ biến nhiệm vụ và tổ chức thực hiện (Nguyễn Văn Công về trung đoàn 306 - 312, Nguyễn Tứ Phương về 10 ban công tác thành và Nguyễn Chí Sinh về trung đoàn 300).

Ở ngoại thành, các trung đoàn vừa tuyển thêm tân binh, huấn luyện, chấn chỉnh lại lực lượng, vừa tích cực chủ động đánh địch càn quét, bảo vệ vùng căn cứ. Ngày 21 tháng 9 năm 1948, hai đại đội 2752 và 2753 của Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái đánh địch càn quét vào khu căn cứ Vườn Thơm. Quân địch gồm 200 tên cả Pháp và ngụy, chia làm 5 cánh từ Tân Kiên, Tân Bửu, An Thạnh, Lương Hòa, cầu Xáng tiến vào trung tâm căn cứ. Ý định của địch là thực hành bao vây, dồn ép lực lượng của ta vào một khu vực nhỏ và bất lợi về địa hình để tập trung tiêu diệt. Chúng tiến quân một cách dè dặt, thận trọng từ 7 giờ sáng đến 9 giờ 35 phút mới đụng trận địa phòng thủ của đại đội 2752 ở phía Lương Hòa. Bộ đội ta phối hợp với du kích địa phương áp dụng chiến thuật vừa chặn đánh địch vừa tổ chức lực lượng đột phá vây đánh vào bên sườn và sau lưng quân địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng rồi di chuyển trận địa. Trận đánh kéo dài đến 18 giờ 30 phút. Ta diệt nhiều tên địch. Trong trận chống càn này, đồng chí Lê Văn Sĩ, Bí thư Thành ủy cùng 4 chiến sĩ khác hi sinh.

Hoạt động của lực lượng chính trị, quân sự ở nội thành và lực lượng vũ trang ở ngoại thành trong năm 1948 đã gây cho địch thiệt hại nặng về người, phương tiện chiến tranh và kinh tế, làm cho chúng gặp nhiều lúng túng ngay tại sào huyệt. Phong trào kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng trong nhiệm vụ chống lại chiến lược bình định của địch. Tình hình ấy đặt ra nhu cầu cần tổ chức lại chiến trường nhằm bảo đảm sự thống nhất và tiện lợi sâu sát trong việc theo dõi và chỉ đạo địa bàn, bảo đảm sự hoạt động một cách chủ động và kịp thời với đặc điểm chiến trường nội ngoại thành Sài Gòn. Tháng 12 năm 1948, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập gồm Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, một phần tỉnh Tây Ninh tách từ Khu 7 cũ, trực thuộc Bộ Tư lệnh Nam Bộ(1). Bộ tư lệnh Khu Sài Gòn lúc đầu gồm: Tô Kí (quyền tư lệnh), Phan Trọng Tuệ (chính ủy), Huỳnh Văn Một (phó tư lệnh), Lê Đức Anh (tham mưu trưởng, Vũ Huy Xứng (chủ nhiệm chính trị). Sau đó đồng chí Trần Văn Trà về giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy khu.

Lực lượng vũ trang nội thành cũng được chấn chỉnh tổ chức. Mười Ban công tác Thành gom lại thành 5 ban lấy phiên hiệu từ 16 đến 20, trực thuộc Bộ tư lệnh Khu Sài Gòn do đồng chí tham mưu trưởng khu trực tiếp chỉ huy.

Ban 7 và Ban 9 thành ban 16

Ban 1 và Ban 6 thành Ban 17

Ban 8 và Ban 10 thành Ban 18

Ban 2, 3 và Ban 5 thành Ban 19

Ban 4 và Ban 145(2) thành Ban 20

Mỗi ban gồm chủ yếu các bộ phận chiến đấu tại chỗ trong nội thành, đồng thời có những bộ phận đảm bảo và phục vụ chiến đấu ở ngoại thành, vùng ven. Các ban được phân công phụ trách từng phạm vi khu vực xác định, không chồng chéo lên nhau hoặc không để sót kẽ hở giữa các địa bàn.

Hệ thống dân quân Thành (nội đô) tiếp tục phát triển. Công an xung phong được củng cố. Mỗi ngành đều có tổ chức công xưởng để tự chế vũ khí cho thích hợp.

Đầu năm 1949, từ ngay 14 đến 18 tháng 1, Hội nghị cán bộ Trung ương họp đề ra “phương châm chiến lược của giai đoạn mới: a/ Đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt đường giao thông quan trọng, b/ Hướng hoạt động chính là những vùng chiến lược và kinh tế quan trọng mà địch đang ra sức củng cố, c/ Vận động và đánh tan ngụy binh, gây cơ sở du kích ở những vùng Pháp dùng nhân lực làm ngụy binh… d/ Phương châm chính vẫn là du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phụ trợ. Nhưng cần mạnh dạn đẩy mạnh đẩy vận động đi tới và khi đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công(3). Trước đó ngày 3 tháng 1 năm 1949, hội nghị quân sự mở rộng Nam Bộ cũng đã nhận định: Sang năm 1949, địch sẽ đánh mạnh vào vùng kinh tế của ta, dùng nhân tài, vật lực tại chỗ để bổ sung lực lượng của chúng. Về chính trị, chúng dùng con bài Bảo Đại, đẩy mạnh chiến tranh gián điệp, mở rộng bộ máy tề xã trong vùng chúng kiểm soát. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cho năm 1949. Riêng về quân sự, “Ra sức phát triển phong trào dân quân, ra sức phát triển du kích chiến tranh ở vùng đô thị và tạm chiếm, nhất là Sài Gòn - Chợ Lớn, tiến tới đánh phá chính sách ngụy quân, ngụy quyền, đánh phục kích giao thông, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch… Chấn chỉnh rèn luyện quân đội, cấp bách xây dựng chủ lực để đáp ứng với yêu cầu tác chiến mới”(4).


(1) Cùng thời gian này, Tư lệnh Khu 7 đổi thành Bộ tư lệnh khu. Khu 7 còn lại các tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một.
(2) Là Ban hành động của Phòng Quân báo Khu 7 được tăng cường về Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, do Vũ Hải Sơn làm chỉ huy trưởng, Võ Thái làm chính trị viên.
(3) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t. 1, tr. 279-280.
(4) Báo cáo của Hội nghị quân sự Xứ ủy Nam Bộ tháng 4 năm 1950 - Hồ sơ Bc-Xu 04, Phòng khoa học lịch sử quân sự Quân khu 7.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 07:03:09 PM
Hội nghị quân sự Nam Bộ đã nhận định đúng âm mưu hành động của địch. Trước cuộc kháng chiến ngày càng phát triển của nhân dân ta, quân Pháp vấp phải những khó khăn nghiêm trọng, nội bộ mâu thuẫn gay gắt. Chúng lúng túng trước mâu thuẫn tập trung và phân tán, giữa tung quân lấn chiếm và co cụm bảo vệ hậu phương lớn Sài Gòn, giữa chiến lược tập trung bình định Nam Bộ và đưa quân ra chiến trường miền Bắc. Trong cuộc hội nghị phòng vệ Đông Dương ngày 4 tháng 2 năm 1949, tại Sài Gòn, chủ trương của cao ủy Pignon thắng thế với nội dung: tập trung mọi nỗ lực bình định Nam Bộ, chờ đợi kết quả sử dụng con bài Bảo Đại. Từ chủ trương này, kế hoạch bình định nam Bộ được hoàn thiện thêm một bước trên cơ sở phát triển kế hoạch của năm 1948, trong đó bổ sung nhấn mạnh việc thực hiện chiến thuật De Latour, theo đó, lực lượng địch được tăng cường hơn ở Nam Bộ. Riêng ở khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định - Tây Ninh, tổng số quân địch lên tới 46.000 quân(1) trong đó quân viễn chinh chiếm 58% (toàn Nam Bộ là 114.000 quân). Số đồn bót tháp canh của chúng ở khu Sài Gòn - Chợ Lớn (Chợ Lớn - Gia Định - Tây Ninh) lên tới 707 chiếc(2) (toàn Nam Bộ có 3932 chiếc).

Quán triệt hội nghị cán bộ Trung ương Đảng và hội nghị quân sự Nam Bộ, tháng 2 năm 1949, trong hai ngày 27 và 28, Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn họp hội nghị tại Thiên Hộ, Đồng Tháp Mười. Đồng chí Lê Duẩn và Hoàng Dư Khương thay mặt Xứ ủy đến dự. Hội nghị đánh giá phong trào công nhân Sài Gòn trong hai năm 1947-1948, chỉ ra những khó khăn trong đời sống công nhân, những thiếu hổng về cơ sở, tổ chức do việc rút lực lượng công nhân ra chiến khu theo chỉ thị 4/NV mà ta đã chưa xây dựng lại kịp. Hội nghị cũng kiểm điểm việc các tổ chức công đoàn còn nặng về đấu tranh chính trị, chưa chú trọng đúng mức quyền lợi kinh tế của công nhân, cán bộ công đoàn không sát với cơ sở, chỉ huy từ xa nên hiệu quả thấp. Trên cơ sở nhiệm vụ chung của Khu Sài Gòn năm 1949, hội nghị chủ trương: tăng cường hoạt động vũ trang trông nội thành, “Làm cho vùng địch u tối, vùng ta tươi sáng”, tiếp tục bao vây phá hoại kinh tế địch, phát triển dân quân, phá rối trật tự trong lòng địch, mở rộng, phát triển phong trào công nhân. Hội nghị đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ Thành Sài Gòn - Chợ Lớn gồm 15(3) đồng chí do Nguyễn Hộ làm bí thư.

Cũng vào thời gian này, phái đoàn cán bộ Trung ương do đồng chí Lê Đức Thọ dẫn đầu được Trung ương Đảng và Chính phủ cử vào Nam đã đến Nam Bộ. Phái đoàn mang theo nhiều thư từ của Hồ Chủ tịch gửi cho đồng bào chiến sĩ miền Nam như “Thư vào Nam”, “Thư gửi các ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, các tỉnh, quận và xã ở Nam Nam Bộ”, “Cùng các chiến sĩ Vệ quốc quân và dân quân du kích Nam Bộ”. Tất cả đều được Người viết trong một ngày 15 tháng 9 năm 1948. Trong thư, Hồ Chủ tịch khen ngợi: “Đã hơn 3 năm đơn vị và chiến sĩ Nam Bộ đang anh dũng kháng chiến để giữ vững nền độc lập, thống nhất và dân chủ mà Cách mạng Tháng Tám đã đưa lại cho nước nhà”(4), Sau hội nghị Thành ủy, công tác tổ chức xây dựng củng cố khu, thành, tỉnh và lực lượng vũ trang nội thành được tiếp tục thực hiện. Đến tháng 4 năm 1949, việc sắp xếp tổ chức các cơ quan khu Sài Gòn đã hoàn tất. Lực lượng vũ trang trong thành phố từ 5 ban công tác tiếp tục được gom lại thành 3 ban, lấy phiên hiệu 18, 19, 20. Ở ngoại thành, khu cũng điều chỉnh lực lượng và phân nhiệm cho 5 tiểu đoàn của các trung đoàn 300, 306, 312, 308 làm nhiệm vụ gắn bó với địa phương, chiến đấu và bảo vệ các địa bàn xung quanh Sài Gòn, đứng chân ở các quận Thủ Đức, Hóc Môn, Trung Huyện, Nhà Bè, Cần Giuộc.

Về lực lượng chính trị, các tổ chức nghiệp đoàn được củng cố lại, quán triệt nhiệm vụ đấu tranh kinh tế, đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, nâng cao đời sống cho công nhân. Công nhân các hãng Cofat, sở bưu điện Sài Gòn, xe buýt, hãng Deniss, Frères, Bastos, Faci, Mic, BGI Chợ Lớn, Sôđa Khánh Hội… chuyển hướng đấu tranh đòi chủ hãng, sở nhượng bộ nhiều yêu cầu về tăng lương, bảo đảm ngày nghỉ, bãi bỏ chế độ thầu khoán trung gian.

Từ tháng 3 năm 1949 trở đi, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị việc đưa Bảo Đại về lập chính phủ bù nhìn. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, hiệp ước Elysée được kí kết giữa Tổng thống Pháp và Bảo Đại. Khắp thành phố dấy lên phong trào đấu tranh chính trị sôi nổi chống âm mưu này của địch.

Ngày 19 tháng 4, Pháp và ngụy quyền tay sai khai mạc hội nghị Nam Kì bàn về quy chế Nam Kì. Nhân dân toàn thành cũng ngừng mọi hoạt động 1/2 giờ để biểu thị thái độ tẩy chay việc bỏ phiếu bầu hội đồng lãnh thổ Nam Kì. Chỉ có 593 trong số 4980 đơn vị cử tri đi bỏ phiếu. Ngày 19 tháng 5 năm 1949, kỉ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 1000 trí thức, công chức Sài Gòn kí bản kiến nghị ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh, đả đảo Bảo Đại. Ngày 13 tháng 6 năm 1949, Bảo Đại về tới Sài Gòn.

Ngày 1 tháng 7 năm 1949, chính phủ bù nhìn mới Nam phần Việt Nam được chính thức thành lập do Bảo Đại làm quốc trưởng và Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Nhân sĩ, trí thức Sài Gòn một lần nữa, ra tuyên bố tẩy chay chính phủ Nam phần Việt Nam, đòi Pháp phải đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh.


(1) Tài liệu đã dẫn.
(2) Tài liệu đã dẫn.
(3) Gồm: Nguyễn Hộ, Lê Bá Hoạn, Huỳnh Văn Vàng, Nguyễn Kiệm, Lê Duẩn, Nguyễn Việt Hùng, Chương Dương, Phùng Lương, Lê Minh, Tạ Nhựt Từ, Trần Văn Các, Đoàn Văn Bơ, Ngô Sĩ Hùng, Phạm Văn Chức, Hồng Quyên.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1985, tập 5, tr. 133, 134, 135.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Ba, 2012, 07:04:32 PM
Cùng với các cuộc đấu tranh kinh tế, chính trị trong thành phố, trên khắp địa bàn Khu Sài Gòn, phong trào dân quân du kích cũng phát triển một bước mới.

Các tổ chức dân quân được phát triển rộng rãi, kể cả trong nội thành Sài Gòn (dân quân nội ứng và tự vệ bí mật) và các quận ngoại thành. Cơ quan quận đội bộ, xã đội bộ được kiện toàn. Nhiều lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ dân quân được mở đã cung cấp nhiều cán bộ cho cơ sở quận, xã. Đến cuối năm 1949, số dân quân ở tỉnh Gia Định lên đến 80.789 người, tỉnh Chợ Lớn 22.128 người, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn 7.388 người (trong đó 829 ở các xí nghiệp, 5894 ở các khu phố).

Ngoài nhiệm vụ đánh và phá hoại, hoạt động nổi bật nhất của dân quân là tiến hành tuyên truyền, xây dựng cơ sở, vận động đồng bào tham gia kháng chiến và địch ngụy vận. Tính đến cuối năm 1949, dân quân toàn Khu Sài Gòn đã tổ chức 390 lần tuyên truyền xung phong, diễn thuyết, 123 lần phát thanh, 779 cuộc mít tinh, 12 buổi kịch, 1 cuộc tuần hành thị oai, làm và đốt cháy 37 hình nộm, thả 15 con vật ra đường phố mang theo khẩu hiệu, in và rải được 149.406 cờ, truyền đơn, biểu ngữ, thông báo, hiệu triệu, chuyển vào nội thành 5000 tờ báo kháng chiến, 38583 tờ Thông Tin Dân Quân, 420 cuốn sách như Xã Chiến Đấu, Khuyên Dân Quân Canh Gác, Điều Lệ Hội Bảo Trợ Dân Quân… Riêng công tác địch ngụy vận, tỉnh Gia Định đã vận động giác ngộ được 244 lính địch, lấy 46 súng, 2009 viên đạn, 39 lựu đạn, diệt một bót. Tỉnh Chợ Lớn vận động được 43 lính địch (trong đó có 4 Lê dương), lấy 80 súng, 6468 viên đạn, nhổ 3 bót.

Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế kháng chiến, tự túc các nhu cầu tối thiểu về ăn mặc, chữa bệnh và chiến đấu, công tác tham gia sản xuất, tự túc lương thực, thực phẩm bắt đầu được chú trọng, phát triển thành phong trào. Riêng quận đội bộ Thủ Đức canh tác hơn 100 ha ruộng. Vụ mùa năm 1949 được mùa lớn, hầu hết các cơ quan kháng chiến ở xã quận đều tự túc được phần lớn lương thực. Gò Vấp có lương thực cung cấp nuôi 1 đại đội độc lập. Tính chung cả 2 tỉnh Gia Định và Chợ Lớn, lực lượng vũ trang vừa chiến đấu vừa sản xuất đã canh tác được 289 ha ruộng lúa, 48 ha hoa màu các loại, trồng 1280 cây chuối, nuôi 2836 con gà vịt, 33 con trâu bò, xây dựng được một lò đường, thu hoạch tổng cổng 9.188 giạ lúa, 36.899 lít gạo và 1.135.620 đồng. Trong nội thành, cơ quan Thành đội bộ tổ chức các xưởng dệt, máy may, thuộc da và làm dịch vụ hớt tóc, sửa xe để lấy tiền tự cung ứng một phần kinh phí.

Cùng thời gian này, tại các vùng căn cứ, vùng độc lập xung quanh Sài Gòn, ta thực hiện chính sách “bao vây kinh tế địch”, không tiêu thụ hàng xa xỉ phẩm mua từ nội thành và không bán các sản phẩm nông nghiệp về nội thành. Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ phát hành giấy bạc Việt Nam. Giấy bạc được tiêu dùng lưu thông rộng rãi trong các vùng căn cứ, vùng du kích tranh chấp. Đồng bào tại vùng bị tạm chiếm xung quanh thành phố và trong nội thành cũng bí mật tiêu tiền giấy Việt Nam vừa để ủng hộ kháng chiến vừa để lưu giữ những tờ giấy bạc có in hình Cụ Hồ làm kỉ niệm.

Để tự túc vũ khí, trực liếp phục vụ nhu cầu đánh địch, các dân quân xưởng, côn an xưởng, công binh xưởng các ban công tác, ban rờsạc (Recharge - nhồi lại đạn) quận, tổ võ khí xã được chú ý xây dựng và phân công trách nhiệm sản xuất, sửa chữa các loại vũ khí phù hợp với khả năng. Tỉnh Gia Định có 1 dân quân xưởng với 45 công nhân, 3 ban rờ sạc ở 3 huyện Hóc Môn, Thủ Đức, Nhà Bè và 18 xã (trong tổng số 88 xã) có tổ võ khí. Trong năm 1949, đã sản xuất được 1208 lựu đạn gài, 3000 lựu đạn ném, 24 địa lôi, 260 súng thô sơ, nhồi 2442 viên đạn, sửa chữa 97 súng các loại. Thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 1 dân quân xưởng và 73 công nhân, một số quận, hộ đều có ban rờ sạc và tổ võ khí. Trong tháng 9 năm 1949, đã sản xuất được 140 lựu đạn gài, 710 lựu đạn ném, 9 địa lôi, nhồi 1400 viên đạn.

Tự vệ Thành có Ban võ khí (thành lập từ năm 1947) phát triển thành Binh công xưởng của 10 ban công tác với 80 công nhân. Binh công xưởng có đủ các bộ phận chuyên môn như tổ rờ sạc, tổ hóa chất, tổ cơ khí… Đây là nơi sản xuất các loại vũ khí thích hợp với chiến đấu nội thành như lựu đạn nhỏ cầm lọt bàn tay, mìn đốt bằng hóa chất, mìn định hướng, định giờ… Tháng 12 năm 1949, Binh công xưởng sáp nhập về Ban Quân giới Nam Bộ.

Cùng với tổ chức dân quân các loại ở đường phố, xí nghiệp, ấp xã, du kích tập trung quận(1) và du kích không thoát li ở xã cũng phát triển cả về số lượng và chất lương. Hầu như ở xã nào cũng có ít nhất 1 tiểu đội du kích võ trang từ 2 tới 6 súng, với nhiều lựu đạn, địa lôi. Riêng ở Gia Định, bình quân mỗi xã có từ 2 đến 4 tiểu đội du kích không thoát li. Đặc biệt các xã dọc đường giao thông của địch, dọc các tuyến hanh lang vận tải của ta, lực lượng du kích có thêm các tổ chuyên môn đánh mìn, gài lựu đạn rất giỏi.

Tính đến cuối năm 1949, toàn Khu Sài Gòn có tổng cộng 3505 đội viên du kích xã, trong đó riêng tỉnh Gia Định có 214 tiểu đội nam, 20 tiểu đội nữ gồm 2031 đội viên. Thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 36 đội viên thoát li bám ở bìa ô và ở xóm lao động, 36 đội viên không thoát li. Bên cạnh lực lượng không thoát li ở xã, các quận đều xây dựng du kích tập trung quận Thủ Đức có hai tiểu đội. Nhà Bè, Hóc Môn, Gò Vấp, Trung Quận mỗi nơi có 1 tiểu đội. Các tiểu đội du kích tập trung này làm nhiệm vụ cơ động phối hợp với bộ đội tỉnh và du kích, dân quân xã tác chiến diệt địch, trừ gian, địch vận, phá hoại, xây dựng làng xã chiến đấu.

Các tiểu đội du kích dựa bám vào địa phương, chủ động đánh địch bằng nhiều hình thức phong phú, hiệu quả, góp phần chống giặc ruồng bố càn quét, bảo vệ mùa màng, bảo vệ căn cứ và giao thông vận tải của ta. Trong năm 1949, lực lượng du kích huyện xã của tỉnh Gia Định đã độc lập tác chiến 207 trận, phối hợp tác chiến 171 trận, đánh khuấy rối 288 trận, diệt 561 tên địch, làm bị thương 301 tên, bắt sống 18 tên, phá hủy 2 bót, 17 xe, 139 căn nhà của bọn Việt gian phản động, thu 66 súng, 38 lựu đạn, 266 viên đạn và nhiều loại tài sản khác. Du kích thành Sài Gòn - Chợ Lớn trong 6 tháng cuối năm 1949 độc lập tác chiến 2 trận, phối hợp tác chiến 6 trận, đánh khuấy rối 2 trận, địa lôi chiến 60 trận, diệt 23 tên địch, làm bị thương 44 tên, bắt sống 24 tên, thu 2 súng.

Du kích còn tổ chức phá hoại các đường giao thông, các cơ sở kinh tế của địch. Đặc biệt dọc con đường số 1 Sài Gòn - Biên Hòa, Sài Gòn - Tây Ninh - Campuchia, đường sắt Sài Gòn - Nha Trang, Sài Gòn - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh, Sài Gòn - Mĩ Tho, ta phá hỏng nhiều đoạn, có lúc làm tê liệt đường sắt hàng tháng. Hệ thống tháp canh bảo vệ giao thông bị bao vây, tập kích thường xuyên. Tính chung năm 1949, tỉnh Gia Định đã đào, đắp 8.130m2 đất trên đường giao thông, dựng 41 cản trên sông, cắm 54.708 chông chống nhảy dù, đào hố chống xe cơ giới, làm chướng ngại ghe tàu, xe lửa, cắt 43.003m dây điện thoại, phá 114 trụ dây thép, 49 cầu cống các loại, chặt và vạc vỏ 1076 ha cao su, đập bể, bẻ phá 83.360 chén đựng mủ, kiềng, máng ở các đồn điền cao su của tư bản Pháp. Du kích Thành Sài Gòn - Chợ Lớn phá hủy 622m vải, 905 lít dầu máy, 216kg cao su, 2600 mét dây thép, 17 động cơ máy nổ, 28 đầu đạn, 5 máy in, 2 máy tiện, 4 bộ nhíp xe ôtô, 2 chân vịt tàu và 856 đơn vị các loại dụng cụ máy móc khác. Tổng số ngày lãn công của các nhà máy, hãng sở lên đến 3.070 ngày.

Lực lượng dân quân và du kích còn phối hợp với công an thường xuyên canh phòng, kiểm soát, theo dõi và thi hành các bản án đối với bọn phản động, ác ôn đầu sỏ, góp phần giữ vững trật tự, an ninh ở địa phương. Khắp nơi, công an và du kích xây dựng các chốt điểm canh gác, kiểm soát, mật hộ viên, tổ chức ngũ gia liên bảo, tổ chức lực lượng trinh sát đường dài, mở các lớp huấn luyện “công an làng”. Các sách báo, tài liệu hướng dẫn canh gác, trừ gian diệt ác được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Nhiều vụ gián điệp, buôn lậu, trộm cướp… đã được công an làng phát hiện và xử lí. Tỉnh Gia Định phát hiện được 83 vụ gián điệp, 251 vụ buôn lậu. Du kích công an thành Sài Gòn diệt 76 tên, làm bị thương 24 tên, bắt 94 tên mật thám, lính kín và bọn tề ác Việt gian đủ loại.

Ngoài ra dân quân và du kích các huyện Hóc Môn, Gò Vấp còn tiếp tục xây dựng các làng xã chiến đấu (Hóc Môn 7 xã, Gò Vấp 2 xã). Tính chung tỉnh Gia Định trong năm 1948 đã đào được 70.463m3 địa đạo, rào 223.238 mét xung quanh các xóm ấp, đào vét 24.893m kinh rạch, đắp 6640m đường, làm 75 chiếc càu… xây tạo mới địa hình địa vật, nhằm đánh lạc hướng và chống địch ruồng bố càn quét, bảo vệ xóm ấp, bảo vệ căn cứ của ta.

Hoạt động của dân quân và du kích trong năm 1949 phản ánh sự lớn mạnh của phong trào du kích chiến tranh phản ánh sự phát triển đồng đều lực lượng vũ trang các thứ quân trên chiến trường Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, góp phần quan trọng vào việc làm chuyển đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch.

Từ năm 1948 đến mùa thu năm 1949 là quãng thời gian quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định tập trung xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh và đấu tranh kinh tế với chúng; là quãng thời gian ta giành được thắng lợi quan trọng nhất trên mặt trận đấu tranh quân sự và đấu tranh kinh tế, chính trị. Thắng lợi ấy góp phần quan trọng hạn chế và từng bước đánh bại chiến lược bình định của thực dân Pháp ở Nam Bộ.


(1) Lúc này do chưa tổ chức bộ đội địa phương quân, nên tổ chức các đại đội du kích tập trung để hoạt động, tiền thân của các đại đội địa phương, đại đội độc lập, biệt động đội sau này.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:54:09 AM
III. PHÁT TRIỂN ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ,
CAO TRÀO CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MĨ CAN THIỆP


Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc kháng chiến ở Đông Dương cùng với những chuyển biến tích cực của phong trào cách mạng Trung Quốc buộc thực dân Pháp phải tìm cách cứu vãn tình thế bằng một kế hoạch chiến lược mới. Mùa hè 1949, tướng Revers, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp cầm đầu một phái đoàn thanh tra quân sự sang Đông Dương. Revers cùng Bộ tham mưu của y vạch ra một kế hoạch với nội dung chủ yếu tập trung mọi nỗ lực để giữ vững Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng vùng đồng bằng và trung du, bao vây căn cứ địa Việt Bắc, phong tỏa biên giới Việt Trung. Để thực hiện kế hoạch này, Revers chủ trương phát triển phạm mẽ quân ngụy, dùng quân ngụy làm nhiệm vụ chiếm đóng để rút quân Âu Phi tập trung lại thành lực lượng cơ động lớn chuẩn bị mở những cuộc tiến công quyết định, củng cố ngụy quyền, tích cực đánh ta về quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa.

Tháng 10 năm 1949, tướng Chanson đến Sài Gòn thay De Latour giữ chức Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở miền Nam. Chúng bắt đầu rút quân ra chiến trường miền Bắc, chỉ giữ lại miền Nam 28 tiểu đoàn quân chính quy. Để có đủ quân số chiếm đóng bình định, địch triển khai bắt lính ồ ạt, xây dựng ngụy quân. Theo kí kết với Pháp, chính phủ Bảo Đại được tổ chức quân đội riêng do sĩ quan ngụy chỉ huy, nhưng vẫn khống chế quân ngụy bằng cách đưa nhân viên kĩ thuật người Pháp vào làm cố vấn, đẻ ra cơ quan phối hợp hoạt động giữa quân đội Pháp và “quân đội các quốc gia liên kết” dưới quyền điều khiển của Pháp. Pháp] “sẻ” cho Bảo Đại một số quyền hạn như chuyển giao sở công an, sở lao động, trại giam… để tăng cường hiệu lực bộ máy ngụy quyền.

Khắp Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, địch triển khai chiến dịch tuyên truyền xây dựng “quân đội quốc gia độc lập trong Liên hiệp Pháp” và ra sức bắt lính. Bảy Viễn (ra đầu hàng Pháp được phong hàm đại tá trong lễ ra mắt của “quân đội Bình Xuyên” ngày 3 tháng 6 năm 1948) lập các ban mộ lính ở chợ Phạm Thế Hiển, Rạch Ông, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận, chiêu tập được 1 tiểu đoàn gồm 500 người do Thái Hoàng Minh làm tiểu đoàn trưởng. “Quân đội Bình Xuyên” do Bảy Viễn làm thủ lĩnh quản lí khu vực Chợ Lớn, ra sức tác oai tác quái, chỉ điểm, bắt bớ các cơ sở và cán bộ cách mạng, tự do thu thuế, mở các sòng bạc, động mãi dâm như Kim Chung, Đại Thế Giới để ăn chơi và hốt bạc. Với sự chi viện tối đa về phương tiện chiến tranh của Pháp, Bảy Viễn mở các cuộc hành quân càn quét vào Rừng Sác, khai thông con đường 15 dài 120km từ Sài Gòn đi Vũng Tàu, tổ chức bảo vệ các đoàn Công voa và độc quyền kinh doanh ngành giao thông vận tải trên tuyến đường này. Hành động của Bảy Viễn làm ô danh tên gọi bộ đội Bình Xuyên, những cán bộ chiến sĩ Bình Xuyên đang chiến đấu trong hàng ngũ Vệ quốc đoàn Nam Bộ, đồng thời gây thêm khó khăn cho kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn.

Cùng với việc xây dựng ngụy quân, chính phủ Bảo Đại ra sức củng cố hệ thống ngụy quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở, phát triển các đảng phái phản động làm hậu thuẫn cho công cuộc bình định. Những tổ chức đảng phái như “Quốc gia liên hiệp”, “Liên minh dân chủ quốc gia”, Việt Nam quốc dân Đảng”, “Việt Nam độc lập dân chủ”, “Liên đoàn thanh niên bảo quốc”, Đại Việt”, rồi các tổ chức nghiệp đoàn công nhân do chúng lập ra như “Tổng liên đoàn lao động”, “Tổng liên đoàn lực lượng thợ thuyền”… lên tiếng ủng hộ chính phủ Bảo Đại, kêu gọi lực lượng kháng chiến trở về xây dựng “quốc gia độc lập”!

Công cuộc kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định nói riêng, của cả Nam Bộ nói chung đứng trước tình hình mới.

Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “về xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân trong giai đoạn tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công”, trong đó chỉ thị: “Cuộc chiến tranh của ta đã sang giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công! Trong giai đoạn này, Đảng ta lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ. Nhưng vận động chiến phải nâng lên ngang với du kích chiến và trở nên chủ yếu!”(1)

Ngày 25 tháng 8 năm 1949, Xứ ủy họp hội nghị triển khai nhiệm vụ “tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công”. Kế đó tháng 9 năm 1949, Xứ ủy triệu tập hội nghị quân sự Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy đọc một bảo báo cáo quan trọng nhận định tình hình quân sự trên toàn chiến trường và nêu lên 6 mặt công tác quan trọng trước mắt: chỉnh đốn lại bộ máy quân sự các cấp, xây dựng 3 thứ quân, tổ chức lại bộ máy quân giới quân nhu, gia tăng công tác chính trị, địch ngụy vận, tuyên truyền đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cụ thể cho từng khu. Đối với khu Sài Gòn - Chợ Lớn, hội nghị nhấn mạnh đây là chiến trường trọng điểm trong nhiệm vụ chống chiến lược bình định toàn diện của địch. Nhiệm vụ chính trị của khu Sài Gòn - Chợ Lớn là: “Đẩy mạnh phong trào xây dựng cơ sở, tác chiến ngay trong vùng địch, phá các trục giao thông quan trọng từ Sài Gòn ra các tỉnh và vùng cao su, phá chính sách ngụy quyền ngụy quân”. Hội nghị cũng chỉ rõ cần phải tổ chức lại chiến trường, tăng cường thêm cán bộ cho khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Tháng 11 năm 1949, tại Long Trường (Thủ Đức), Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn họp hội nghị. Hội nghị đánh giá: mặc dù tình hình thành phố gặp nhiều khó khăn, nhưng phong trào đấu tranh của các tầng lớp quần chúng đang ngày càng phát triển mạnh, khí thế cách mạng của quần chúng lúc này đang lên cao. Trong lúc đó, cán bộ lãnh đạo phong trào các cấp còn thiếu. Hội nghị chủ trương đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp, tranh thủy mọi khả năng công khai, lợi dụng các hình thức bình phong, biến tướng để tiếp tục phát triển phong trào. Hội nghị đã thảo luận các biện pháp cụ thể để thực hiện chủ trương trên, trong đó nhấn mạnh việc tăng cường cán bộ cho Ban cán sự nội thành.

Ban cán sự nội thành được củng cố lại(2), do đồng chí Nguyễn Kiệm làm bí thư. Hội nghị cũng đã tiến hành bầu Thành ủy nhiệm kì mới, bổ sung thêm nhiều thành ủy viên trẻ(3).

Hội nghị Xứ ủy và hội nghị Thành ủy đã kịp thời chỉ ra những chuyển biến về chính sách bình định của địch, kịp thời quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng trong giai đoạn mới, đề ra nhiệm vụ sát thực với chiến trường, khắc phục tư tưởng coi nhẹ công tác chính trị nội thành, coi nhẹ vai trò dân quân du kích và mối quan hệ hợp lí giữa ba thứ quân.


(1) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Sự Thật, Hà Nội 1986, t. 1, tr. 327.
(2) Gồm: Nguyễn Kiệm, Lê Tuấn, Đoàn Văn Bơ, Trần Minh Quyền, Nguyễn Thị Bình.
(3) Gồm: Phạm Thiều, Nguyễn Việt Hùng, Đặng Văn Bi, Phùng Lương, Phạm Văn Chức, Lê Tuấn, Hoàng Quốc Tân, Nguyễn Kiệm, Đoàn Văn Bơ, Nguyễn Văn Thụ, Phạm Văn Ba, Nguyễn Văn Công, Trần Minh Quyền…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:55:05 AM
*
*   *

Sau Hội nghị Xứ ủy (tháng 9 năm 1949), Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra chỉ thị tổ chức lại chiến trường, củng cố nhân sự cấp khu và tỉnh, giải thể phân khu Duyên Hải của Khu 7. Khu Sài Gòn được mở rộng về phía Tây Bắc, gồm thêm toàn tỉnh Tây Ninh (Khu 7 chỉ còn lại 3 tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa). Đồng chí Trần Văn Trà về trực tiếp giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy khu Sài Gòn. Các tỉnh tiến hành củng cố lại nhân sự các cấp.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Nam Bộ về thành lập các Liên trung đoàn, tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập, ở khu Sài Gòn, Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái và Trung đoàn 312 nhập lại thành Liên trung đoàn 306 - 312. Liên trung đoàn có 1 tiểu đoàn chủ lực và 6 đại đội độc lập hoạt động ở các huyện phía Bắc và Tây thành phố, tỉnh Gia Định. Trung đoàn 300 Dương Văn Dương có 1 tiểu đoàn chủ lực và 2 đại đội độc lập, 1 đại đội “đặc biệt”, 1 đại đội binh chủng chuyên môn hoạt động ở Nhà Bè, Cần Giuộc và khu vực phía Nam Thành phố. Trung đoàn 308 có 1 đại đội chủ lực và 2 đại đội độc lập hoạt động ở tỉnh Chợ Lớn, và khu vực phía Tây thành phố. Trung đoàn 311 có 1 đại đội chủ lực và 2 đại đội độc lập hoạt động ở Tây Ninh. Ngoài ra, khu còn thành lập một tiểu đoàn chủ lực cơ động lấy phiên hiệu 870.

Trong nội thành, ngày 19 tháng 12 năm 1949, các bna công tác cũng biên chế lại, lập tiểu đoàn Quyết tử 950 trực thuộc khu. Tiểu đoàn gồm 3 đại đội mang phiên hiệu 3018, 3019, 3020 Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm Nguyễn Xuân Thanh tiểu đoàn trưởng, Nguyễn Ngọc Lộc chính trị viên, Vũ Hải Sơn trưởng ban tham mưu, Trần Anh Linh trưởng ban chính trị.

Hệ thống dân quân và du kích vẫn giữ nguyên như cũ.

Việc bố trí lại chiến trường, tổ chức lại lực lượng nhằm tạo điều kiện để xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch phù hợp với giai đoạn “tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” trên chiến trường chung.

Bước sang đầu năm 1950, cuộc kháng chiến của ta trên chiến trường miền Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn. Giặc Pháp tuy có điều lực lượng ra Bắc Bộ và Trung Bộ nhưng quân số không giảm do vẫn tiếp tục tăng cường viện binh từ Pháp sang Việt Nam và phát triển thêm ngụy quân tại chỗ. Riêng trong tháng 1 năm 1950, chúng đưa Sài Gòn 16.679 tên, trong đó 395 sĩ quan hải, lục, không quân, gần 370 tấn đạn dược và 174 tấn quân nhu. Lực lượng mới sang kết hợp với số ngụy quân mới tuyển mộ huấn luyện, tổ chức đánh lấn chiếm, đóng tháp canh đồn bót lấn sâu vào vùng du kích và vùng độc lập của ta, càn quét khủng bố liên tục vào các khu vực thuộc quận Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè, Trung Quận nhằm tạo ra một vành đai an toàn xung quanh thành phố.

Tại tỉnh Gia Định, trong tháng 1 năm 1950, địch đóng thêm 13 đồn bót tháp canh, đưa tổng số đồn bót tháp canh lên 285 chiếc. Tổng quân số gồm 14.242 tên (1.816 Pháp, Lê dương, 97 Marốc, 1.703 Việt gian, 1003 Miên gian, 2151 Cao Đài phản động, 171 Công giáo phản động, 6.401 bảo an). Chúng tổ chức 20 trận càn quét lớn, 436 lần hành quân phục kích, cướp bóc nhỏ, tập trung nhất ở các xã Thạnh Lộc, Bình Hưng Hòa, An Hội, Tân Thới Hiệp, Tân Chánh Hiệp (Gò Vấp), Tam Bình, An Phú, Đông Hòa, Khánh Hiệp (Thủ Đức), Tân Phú Trung, Hòa Phú, An Phú xã, Tân Thanh, Tây An, An Nhơn Tây, Tây An Hội, Bình Lí, Tân Mĩ, Tân Thạnh Đông (Hóc Môn), Bình Khánh, An Thới Đông (Nhà Bè). Quân và dân Gia Định đã đánh địch càn quét và phục kích đường giao thông, diệt 131 tên (có 76 Pháp), làm bị thương 60 tên, phá hủy 9 xe cơ giới các loại.

Tại tỉnh Chợ Lớn, cũng trong tháng 1 năm 1950, địch đóng thêm 13 tháp canh, đưa tổng số đồn bót lên 231 chiếc. Tổng số quân gồm 4856 tên (643 Pháp, Lê dương, 2384 Việt gian, 491 Marốc, 729 Miên gian, 609 Cao Đài phản động). Riêng ở Trung Huyện, địch đóng thêm 3 tháp canh cùng với lực lượng chiếm đóng ở Đức Hòa hòng làm chủ đường số 8, 9, 10, Giồng Lốt và dọc đường Bà Hom ở Chợ Đệm, ngăn chặn tuyến giao thông, vận tải tiếp tế của ta ở Khu 8 về Gia Định và lên miền Đông.

Tại thành Sài Gòn - Chợ Lớn, trong tháng 1 năm 1950, các lực lượng vũ trang nội thành đã tổ chức 42 trận tác chiến đánh địch và phá hoại kinh tế (riêng các trung đội của tiểu đoàn Quyết tử 950 tổ chức 30 trận), 7 lần vũ trang tuyên truyền, diệt thêm 35 tên, làm bị thương 46 tên, thiêu hủy 3 xe cơ giới, 6 tàu ghe, 600 vỏ xe hơi, thu 3 súng và nhiều đồ quân dụng, dân dụng khác. Đáng nêu là cuộc tấn công nhà hàng Royal, Bombay, Khánh Hội, rạp chiếu bóng Nam Quang, nhà tên quan ba Mon Bertnard ở số 286 đường Gènèral de Gaulle, cảng Sài Gòn, đường Mac Mahon, đường Hòa Hưng - Chí Hòa, các bót ở Phú lâm, Cây Gõ, cảng Tân Thuận, bùng binh Sài Gòn, nhà sĩ quan Pháp ở 145 đường Arras ngang chợ Thái Bình, ngã Bảy, cầu Mới, ngã tư Bình Hòa, nhà dây thép Sài Gòn và nhiều khu vực ở hộ 17 Chợ Lớn…

Ngày 21 tháng 1 năm 1950, Bộ Tư lệnh Khu Sài Gòn họp hội nghị quân sự chuẩn bị mở chiến dịch Dầu Tiếng - Bến Cát. Trước đó, ngày 29 và 30 tháng 12 năm 1949, Bộ Tư lệnh khu đã quyết định đề nghị mở một chiến dịch phối hợp lực lượng của hai liên trung đoàn 306 - 312 của Khu Sài Gòn và 301 - 310 của Khu 7 trên đường số 7 và đường 14. Đây là con đường vận tải tiếp tế cao su của địch chạy từ Bến Cát lên sở cao su Dầu Tiếng nằm giữa ranh giới căn cứ địa 2 tỉnh Gia Định và Thủ Dầu Một. Chiến dịch nhằm: “1/ Mở rộng khu giải phóng từ đường số 1 (Gia Định) qua tới đường số 13 và đường xe lửa Lộc Ninh - Thủ Dầu Một. 2/ Bảo đảm sự an toàn cho căn cứ An Thành và Hóc Môn là hai căn cứ chủ yếu của Khu Sài Gòn và nhiều cơ quan chính đảng huyện Bến Cát và tỉnh Gia Định. 3/ Chiếm được miền kinh tế phì nhiều từ Rạch Kiến lên tới Bến Súc để làm kho tiếp tế lương thực dồi dào sau này. 4/ Để làm bàn đạp đánh mạnh vào vườn cao su Dầu Tiếng, Hớn Quản và đường số 13 và đường xe lửa Lộc Ninh - Thủ Dầu Một. 5/ Ngưng trệ chương trình lấn chiếm hoàn toàn huyện Hóc Môn của địch”(1).


(1) Biên bản hội nghị ngày 29 tháng 12 năm 1949 dự trữ để mở chiến dịch Bến Cát - Dầu Tiếng. Hồ sơ 58 Phòng Nam Bộ, Kho lưu trữ Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:55:33 AM
Đường số 7 và đường số 14 nối nhau chạy dài từ thị trấn Bến Cát lên thị trấn Dầu Tiếng (trụ sở đồn điền cao Dầu Tiếng thuộc công ty Michelin), có chiều dài tổng cộng 36km. Phía Đông là thị trấn Bến Cát, đường số 13 và đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh. Phía Bắc là đồn điền cao su Dầu Tiếng, các sở cao su tư nhân cùng những dải rừng rộng lớn có căn cứ của ta ở Long Nguyên, Thanh Thuyền, Kiến An. Phía Tây, Tây Nam và Nam có sông Sài Gòn chạy song song với đường 14, ruộng vườn và rừng chồi giáp với căn cứ của ta ở Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây (Gia Định), Bời Lời, Lộc Thuận (Tây Ninh), An Thành, Phú An, An Điền (Thủ Dầu Một).

Ngoài hai vị trí quan trọng là Bến Cát (100 lính, 5 xe tăng thiết giáp, 12 ca nông) và Dầu Tiếng (640 lính, trong đó có 150 lính Lê dương, 12 xe tăng thiết giáp, 2 máy bay, 47 ca nông), dọc đường 7 và đường 14, địch đóng chốt 4 đồn (Rạch Bắp, Rạch Kiến, Bến Súc, Bà Thiện) và 16 tháp canh, với lực lượng 5 trung đội (ở 4 đồn) và 80 tên khác (ở 16 tháp canh), có trang bị hỏa lực mạnh. Mỗi tuần có 2 chuyến công voa, một chạy từ Dầu Tiếng xuống Bến Cát, Sài Gòn (buổi sáng) và một chạy ngược lại (buổi chiều), mỗi chuyến có từ 14 đến 16 xe gồm xe vận tải và xe thiết giáp hộ tống. Ngoài ra còn có các toán quân từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội tuần tiễu thường xuyên bảo đảm an ninh trên tuyến giao thông này.

Hội nghị xác định: mục đích của chiến dịch là mở rộng và nối liền hai căn cứ của ta từ Gia Định sang Thủ Dầu Một, cắt đứt đường vận tải và tiếp tế ở Dầu Tiếng, tiêu diệt và tiêu hao địch, bổ sung lực lượng ta. Mục tiêu của chiến dịch nhằm tiêu diệt các đoàn công voa và lực lượng tiếp vận của địch, tiêu diệt đồn Bến Súc, phá cầu, bao vây bức rút các đồn, tháp canh còn lại (Bến Cát, Suối Dứa, Cần Nôm, Ông Cộ, Xinô, Rạch Kiến, Xóm Bưng), phá đường sá, máy móc, tài sản trong sơ cao su của địch.

Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 1 tiểu đoàn chủ lực tăng cường của liên trung đoàn 306 - 312, 1 tiểu đoàn chủ lực và một đại đội độc lập liên trung đoàn 301 - 310, 1 đại đội độc lập của huyện Bến Cát, lực lượng dân quân du kích hai huyện Hóc Môn, Gò Vấp và lực lượng công đoàn cao su đồn điền Dầu Tiếng. Ban chỉ huy chiến dịch gồm Nguyễn Văn Thi (chỉ huy trưởng), Trần Đình Xu (chỉ huy phó), Lê Đức Anh (tham mưu trưởng). Sở chỉ huy đặt tại Thanh Tuyền (đầu chiến dịch) và An Thành (cuối chiến dịch). Ngày mở màn chiến dịch được ấn định: ngày 25 tháng 1 năm 1950).

Ngay sau hội nghị, công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành ráo riết. Liên trung đoàn 306 - 312 tuyển chọn huấn luyện bộ đội và thực hành điều nghiên địa bàn và tình hình địch. Phòng chính trị chuẩn bị phương án động viên bộ đội, tuyên truyền địch ngụy vận, động viên nhân dân ủng hộ và tham gia chiến dịch.

Đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và các cơ sở quân nhu của bộ đội tích cực chuẩn bị lương thực và thực phẩm. Hàng ngàn lít gạo, đậu phộng, mè, đường, muối được chuyển về khu vực tập kết bộ đội. Đến ngày 24 tháng 1 năm 1950, mọi chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất.

15 giờ 30 phút ngày 25 tháng 1, quân ta đồng loạt nổ súng tấn công đồn Bến Súc, đồn Rạch Bắp, nổ mìn đánh cầu Bến Cát và chặn đánh đoàn xe tuần tiễu của địch trên con đường 14 từ Bến Súc lên cầu Suối Dứa. Cuộc chiến đấu ngay từ đầu đã diễn ra hết sức quyết liệt. Trên đường 14, cuộc giao tranh kéo dài đến 6 giờ tối. Quân ta diệt được 9 tên địch, phá hủy 1 đại bác và 3 xe thiết giáp. 4 chiến sĩ trong đó có 1 tiểu đội trưởng của ta bị hi sinh, 24 người khác bị thương. Cầu Bến Cát chỉ bị sụt lở, nhưng không sập. Tại các đồn Bến Súc, Bến Cát, Rạch Bắp, quân địch cố thủ trong thành xăng đá dùng hỏa lực mạnh khống chế các mũi tiến công của ta. Quân ta chỉ bắn moócchiê rồi rút lui.

Sang ngày 26, địch dùng 4 xe thiết giáp và 8 xe cam nhông chở đầy lính từ Bến Cát theo đường số 7 hành quân lên Bến Súc và Dầu Tiếng nhằm đánh giải vây các tháp canh. Quân ta tổ chức phục kích chặn đánh địch trên đoạn đường số 7, diệt 41 tên, phá hỏng 3 xe cơ giới của địch. Đêm đến, bộ đội và du kích tiến công đồn Bến Cát, đồn Rạch Kiến, bao vây các tháp canh kế cận, phá cầu Suối Cát, cầu Xinô. Cuộc chiến đấu kéo dài sang ngày 27. Trưa ngày 27 tháng 1, địch huy động lực lượng lớn từ Thủ Dầu Một và Bến Cát lên chi viện cho các đồn bót, tháp canh ở dọc đường 7 và đường 14. Hệ thống phòng thủ của chúng được tăng cường. Yếu tố bất ngờ không còn nữa. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch.

Chiến dịch Dầu Tiếng Bến Cát thực chất là đợt hoạt động quân sự trong 3 ngày từ 25 đến 27 tháng 1, trên toàn bộ chiến trường, bộ đội và du kích đã tiêu diệt 61 tên, làm bị thương 23 tên, phá hỏng 3 xe thiết giáp, 3 cầu, thu nhiều súng đạn (trong đó có 6 súng máy) và một số đồ dùng quân sự khác. Mặc dù không đạt được triệt để mục đích đề ra ban đầu, đợt hai hoạt động đã làm gián đoạn giao thông địch trong một thời gian dài (địch phải dùng máy bay tiếp tế cho sở Dầu Tiếng). Quân địch buộc phải bị động đối phó, giảm bớt hoạt động trên đường số 5 Hóc Môn và đoạn đường xe lửa Dĩ An - Lái Thiêu. Với ta, những bộc lộ khuyết nhược điểm về khả năng kĩ thuật chiến đấu, chiến thuật và trình độ thực hành chiến dịch trong đợt hoạt động đã để lại những kinh nghiệm thiết thực cho quá trình tiến hành “vận động chiến tiến tới” về sau. Nó là cuộc diễn tập quan trọng cho chiến dịch Bến Cát diễn ra sau đó.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:55:56 AM
*
*   *

Trên mặt trận chính trị, từ năm 1949 trở đi, nhân dân ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống âm mưu lập chính phủ bù nhìn toàn quốc của Pháp, chống chính phủ Bảo Đại và hành động xâu xé, tranh giành địa vị quyền lợi của các nhóm bù nhìn tay sai. Cùng với đợt hoạt động quân sự diễn ra ở ngoại thành, trong nội thành, cao trào đấu tranh chính trị của công nhân, sinh viên, học sinh, trí thức và các tầng lớp đồng bào đô thị diễn ra mạnh mẽ.

Trong tháng 11 năm 1949, đồng thời với cuộc bãi công bãi thị của công nhân và tiểu thương, học sinh nhiều trường công và tư, đặc biệt là 2 trường Marie Curie và Chasseloup Laubat tổ chức bãi khóa. Kỉ niệm ngày Nam Kì khởi nghĩa, ngày 23 tháng 11 năm 1949, hầu hết học sinh khắp Sài Gòn nghỉ học. Viên Nguyễn thành Duy, giám đốc Nha học chính Nam phần ra lệnh đóng cửa các trường học kể trên và bắt 12 học sinh vì “cuộc bãi khóa mang tính chất chính trị”. Học sinh tổ chức biểu tình kéo lên Nha học chính đòi nhà cầm quyền hủy bỏ lệnh đóng cửa trường và thả số học sinh bị bắt. yêu cầu không được giải quyết, học sinh lại kéo lên Dinh thủ hiến của Trần Văn Hữu đấu tranh.

Phối hợp với cuộc đấu tranh của học sinh, gần 5000 công nhân các hãng SIT, BGI, SEGI, Sidec, Míc, Mélia, Ba Son được sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự Thành ủy nổi dậy đấu tranh. Công nhân kéo lên trụ sở thanh tra lao động của chính phủ bù nhìn đòi nhà cầm quyền can thiệp với chủ nhà máy đáp ứng các yêu cầu của công nhân.

Khắp các hộ trong thành phố, truyền đơn, khẩu hiệu chống Bảo Đại về làm quốc trưởng, tẩy chay chính phủ bù nhìn được bà con truyền tay nhau đọc và đem dán, rải ở nơi công cộng, các công sở, đồn bót địch. Nhân dân có sáng kiến thả chó, khỉ mang ảnh Bảo Đại và các khẩu hiệu chạy rông khắp thành phố.

Chính phủ bù nhìn vẫn ngoan cố không chịu chấp thuận yêu cầu của học sinh. Ngày 9 tháng 1 năm 1950, hơn 2.000 học sinh, phụ huynh học sinh và giáo viên biểu tình kéo đến Nha học chính. Khi đoàn biểu tình đi ngang qua tòa đô chính Sài Gòn liền bị cảnh sát chặn lại. Học sinh liền lấy đá ném lại cảnh sát và sau đó tập trung ở bãi cỏ rộng trước Dinh thủ hiến ra yêu sách đòi gặp mặt đối chất với Trần Văn Hữu. Nhân dân kéo đến tham gia cuộc biểu tình của học sinh ngày càng đông. Trước áp lực của học sinh, thủ hiến Nam phần Trần Văn Hữu hứa miệng là sẽ mở cửa trường và thả số học sinh bị bắt. Tuy vậy, Chasnon, ủy viên cộng hòa Pháp, không chịu nhượng bộ. Đoàn biểu tình không chịu giải tán, ở lại đòi giải quyết yêu sách. Ba giờ chiều, 500 cảnh sát và binh lính bất ngờ tấn công đoàn biểu tình, từ trong dinh bắn ra rồi xáp lại đánh đập học sinh bằng dùi cui và báng súng. Cuộc đàn áp diễn ra đẫm máu. Hơn 30 học sinh bị thương nặng, một số học sinh bị bắt.

Học sinh Trần Văn Ơn bị thương nặng, được đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy và chết tại đây.

Hành động khủng bố dã man của địch và cái chết của trò Ơn gây xúc động mạnh mẽ trong nhân dân thành phố. Ban lễ tang trò Ơn được thành lập do kĩ sư Lưu Văn Lang làm trưởng ban. Hàng trăm học sinh đến bệnh viện Chợ Rẫy giữ xác trò Ơn không để địch cướp đi. Lễ truy điệu trò Ơn được tổ chức liên tiếp khắp nơi trong thành phố.

Ngày 12 tháng 1, toàn thành phố bãi công, bãi thị. Hơn nửa triệu người xuống đường tham gia đám tang Trần Văn Ơn. Từ 5 giờ sáng, các loại phương tiện giao thông từ các ngả chở không lấy tiền số người biểu tình về tập trung tại khu trường Pétrus Kí. Sau phút mặc niệm, đoàn người xếp thành đội ngũ kéo về bệnh viện Chợ Rẫy với băng khẩu hiệu viết bằng máu trên nền vải trắng:

Chết vì Tổ quốc, chết cũng như sống,
Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời.


Nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà báo, thầy tu, có cả người Pháp tiến bộ, tư sản Việt Nam yêu nước đã tham gia đám tang biểu tình. Hai bên đường, nhân dân đặt bàn bày nước, thuốc lá, trầu cau phục vụ mọi người. Những người không đi đưa tang đều đổ ra đứng hai bên đường nghiêm trang cúi đầu tiễn biệt trò Ơn về nơi an nghỉ cuối cùng.

Cuộc biểu tình đưa tang học sinh Trần Văn Ơn là cuộc biểu tình đông nhất, cuộc đấu tranh biểu dương lực lượng chính trị lớn nhất kể từ sau Cách mạng Tháng Tám và quốc khánh ngày 2 tháng 9 năm 1945. Ngày 9 tháng 1 năm 1950 đi vào lịch sử dân tộc như biểu tượng về phong trào đấu tranh của học sinh sinh viên đô thị, trở thành ngày học sinh, sinh viên toàn quốc.

Sau đám tang Trần Văn Ơn, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn vẫn diễn ra sôi động. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của học sinh người Hoa ở Chợ Lớn. Bọn đặc vụ Quốc dân đảng do tên La Uy cầm đầu ra lệnh giải tán các lớp trung học trường Phước Kiến. Dưới sự chỉ đạn của Ban Hoa vận Sài Gòn - Chợ Lớn, học sinh và phụ huynh tổ chức đấu tranh chống lệnh giải tán. Bọn phản động Quốc dân đảng cầu viện ngụy quyền, dùng lực lượng cảnh sát bắt đi 100 học sinh. Chúng dùng cực hình dã man tra tấn số học sinh bị bắt, trong đó có nữ sinh Trần Bội Cơ, 19 tuổi, người đứng đầu cuộc đấu tranh. Sau 1 tuần tra hỏi không có kết quả, chúng sát hại chị. Một lần nữa, cái chết của một nữ sinh đã làm chấn động dư luận trong đồng bào Hoa - Việt ở thành phố. Hội học sinh Hoa - Việt Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức trọng thể cuộc mít tinh truy điệu nữ sinh Trần Bội Cơ, lên án tội ác của bọn đế quốc Pháp, chính quyền bù nhìn tay sai và bọn Quốc dân đảng phản động.

Cùng thời gian này, nhân dân thành phố hưởng ứng rầm rộ phong trào cứu tế đồng bào Bầu Sen. Giặc Pháp và bọn tay sai tổ chức đốt trụi xóm Bàu Sen nhằm đày khu dân cư lao động có nhiều cơ sở cách mạng ra xa thành phố. Được sự cứu trợ kịp thời, ta đã xây dựng lại xóm Bàu Sen, phá tan âm mưu của địch.

Giữa những ngày khí thế đấu tranh của nhân dân đang diễn ra sôi sục khắp thành pố, thì ngày 6 tháng 3, phái đoàn viện trợ Mĩ do tướng Griffins đến Sài Gòn, mở đầu cho quá trình can thiệp trực tiếp của đế quốc Mĩ vào Đông Dương. Mười ngày sau, 1 tàu sân bay chở 71 máy bay chiến đấu tiến vào thả neo ngoài khơi Đà Nẵng. Ngày 17 tháng 3, hai tàu chiến của Mĩ Sticken và Anderson cập quân cảng Sài Gòn kế hoạch của Mĩ là tổ chức một cuộc thao diễn quy mô kết hợp hải, không quân Mĩ trên cảng Sài Gòn và dọc hải phận miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng đến cửa biển Cần Giờ, nhằm phô trương lực lượng, trấn áp tinh thần đấu tranh của nhân dân ta, hà hơi tiếp sức cho thực dân Pháp và bè lũ tay sai.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:57:43 AM
Trước tình hình đó, Khu ủy Sài Gòn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở thành phố lên cao hơn, chống đế quốc Mĩ can thiệp. Tinh thần đấu tranh chống đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai của nhân dân thành phố giờ đây như lửa đổ thêm dầu. Cùng với hoạt động đấu tranh chính trị, quân và dân ta biểu thị thái độ chống Mĩ can thiệp bằng hàng loạt hành động quân sư. Ba ngày sau khi đến Sài Gòn, ngày 9 tháng 3, phái đoàn tướng Griffins ở tại khách sạn Continental bị tấn công bằng lựu đạn. Ngày 17 tháng 3, lính Mĩ từ hai tàu chiến lên bờ bị rượt đánh khắp đường Paul Blanchy, Bonard, Catinat, Pallerin. Đêm ngày 18 tháng 3, đơn vị súng cối trung đoàn 300 phối hợp với lực lượng dân quân Thành do Nguyễn Văn Bứa và Lê Tấn Ích chỉ huy mở đợt tấn công quân sự phủ đầu. 22 giờ đêm, trận địa súng cối 82 li của Trần Sơn Tiêu đặt tại Thủ Thiêm nã 20 phát đạn vào tàu chiến Mĩ. Cùng lúc, các lực lượng quyết tử, dân quân, công an xung phong đồng loạt tấn công nhiều vị trí địch trong thành phố.

Sáng ngày 19 tháng 3, 300.000 đồng bào Sài Gòn xuống đường tập trung về sân trường Tôn Thọ Tượng để dự mít tinh chống Mĩ can thiệp.

Bất chấp bọn cảnh sát, hiến binh Pháp kéo đến bao vây đàn áp, đồng bào vẫn bình tĩnh dự lễ mít tinh và sau đó tổ chức cuộc biểu tình diễu qua các đường phố chính ở trung tâm thành phố. Đoàn người đi qua chợ Bến Thành, rồi chia làm 3 cánh, một theo đường Bonarrd, một theo đường d’Espagne, một theo đường Lagrandière rồi hợp điểm ở đường Catinat tiến ra cảng Sài Gòn. Đồng bào giương cao cờ đỏ sao vàng, ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc Pháp và bọn bù nhìn tay sai”, “Phản đối Mĩ viện trợ cho Pháp kéo dài chiến tranh ở Đông dương”, “Đế quốc Mĩ cút đi”… Đoàn biểu tình đi đến đâu, ảnh Bảo Đại, cờ Pháp, cờ Mĩ bị hạ xuống, xé nát đến đó. Một số tên mật thám, khiêu khích hòa trộn đám đông tìm cách giựt cờ của ta bị trừng trị ngay lập tức. Tên quan tư Pháp Périeux bị đánh chết ngay trước Dinh Xã Tây. Đến trưa, cuộc biểu tình kết thúc.

Hoảng sợ trước phản ứng của ta, đêm ngày 19 tháng 3, hai chiến hạm Mĩ lặng lẽ kéo neo bỏ chạy.

Cuộc biểu tình chống Mĩ ngày 19 tháng 3 giành được thắng lợi! Nó biểu thị tinh thần đấu tranh bất khuất, biểu thị sức mạnh to lớn của cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Thắng lợi của cuộc biểu tình chẳng những có ý nghĩa cổ vũ tinh thần đấu tranh đang lên cao của nhân dân ta mà còn giáng một đòn phủ đầu mạnh mẽ vào ý đồ can thiệp vào Đông Dương của đế quốc Mi, và mưu toan cấu kết với đế quốc Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương của thực dân Pháp. Như lời của luật sư Nguyễn Hữu Thọ: “đây là cuộc đụng độ đầu tiên giữa nhân dân ta và đế quốc Mĩ, và cũng là lần đầu tiên đế quốc Mĩ đầu sỏ bị một vố thất bại nhục nhã ngay khi nó bắt đầu thực hiện âm mưu can thiệp trực tiếp nhằm kéo dài và mở rộng cuộc chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương”(1).

Ngày 19 tháng 3 năm 1950 trở thành ngày toàn quốc chống Mĩ.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn trong những tháng đầu năm 1950 gây tiếng vang lớn khắp trong và ngoài nước. Ngay sau ngày 19 tháng 3, Trung ương Đảng gửi điện cho các Liên khu ủy và Xứ ủy Nam Bộ:

Ngày 19 tháng 3 vừa rồi, ở Sài Gòn, xảy ra một cuộc biểu tình lớn của đồng bào và sinh viện, học sinh Việt Nam theo khẩu hiệu “Phản đối sự giúp đỡ của Mĩ cho Bảo Đại”, “Đánh đổ Bảo Đại”, “Hồ Chí Minh muôn năm”, kết quả 40 người bị thương và một số người bị bắn chết.

Để thống nhất phong trào đấu tranh của nhân dân miền tạm bị chiếm và miền tự do, như Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 đã quyết định, đồng thời phát triển phong trào đấu tranh chống đế quốc Mĩ can thiệp vào Đông Dương, các địa phương cần tổ chức nhiều cuộc mít tinh hưởng ứng cuộc biểu tình ở Sài Gòn, tố cáo mưu mô của đế quốc Mĩ, phản đối sự đàn áp dã man của đế quốc Pháp và bọn bù nhìn đối với sinh viên học sinh biểu tình, gửi kiến nghị về cho Chính phủ ta và đăng báo địa phương. Nhân dịp này, nhắc lại vụ thảm án ngày 9 tháng 1 năm 1950 ở Sài Gòn và vạch rõ vai trò chó săn của bọn bù nhìn. Nơi nào có điều kiện nên dùng thêm hình thức vũ trang diệt đồn, phá tề,… để hướng ứng khẩu hiệu: “Tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược”, “Phản đối đế quốc Mĩ can thiệp vào Đông Dương”, “Đả đảo bọn bù nhìn”, “Tinh thần yêu nước của đồng bào Sài Gòn muôn năm”.

Ngoài ra, những nơi nào mà phái đoàn hay chiến hạm của Mĩ đến thì cần tổ chức những cuộc đấu tranh như biểu tình, mít tinh, bãi công, bãi khóa, truyền đơn, áp phích… để phản đối sự can thiệp của Mĩ vào Đông Dương”(2).

Khắp nơi, đặc biệt ở Hà Nội và các đô thị lớn, học sinh, sinh viên và nhân dân tổ chức lễ tang các học sinh đã hi sinh, tiến hành bãi khóa, mít tinh, biểu tình phản đối giặc Pháp và bọn tay sai, phản đối đế quốc Mĩ can thiệp. Nhiều tổ chức xã hội đoàn thể ở nước ngoài cũng lên tiếng biểu thị thái độ đồng tình, khâm phục phong trào học sinh Sài Gòn như sinh viên Trường đại học Sorbone - Paris, Chi hội Liên hiệp Việt Tân Đảo,…


(1) Xem: Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, t1, tr. 372.
(2)  Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tập 2, tr. 426-427.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:58:52 AM
*
*   *

Trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1950, cùng với sự kiện đám tang Trần Văn Ơn và hai chiến hạm Mĩ bị đuổi khỏi Sài Gòn, bất chấp hành động ruồng bắt bắn giết của giặc Pháp và bè lũ tay sai, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định vẫn tiếp tục đẩy mạnh cao trào đấu tranh cả về chính trị và quân sự trên khắp địa bàn nội ngoại thành.

Đêm 21 rạng ngày 22 tháng 3, hàng loạt tháp canh trên quốc lộ 1 Sài Gòn - Biên Hòa, quốc lộ 15 Sài Gòn - Vũng Tàu bị lực lượng du kích địa phương tấn công. Lực lượng du kích này bị học viên lớp đào tạo đánh tháp canh do Khu 7 tổ chức bằng kĩ thuật đặc công dùng mìn FT. Trận đánh đã làm cho quân địch khiếp sợ, lúng túng đối phó và để lại bài học kinh nghiệm quan trọng để lực lượng vũ trang Khu 7 hoàn thiện phương pháp đánh tháp canh, mở đầu thời kì tiến công có hiệu quả chiến thuật tháp canh De Latour của địch.

Đêm 28 và 30 tháng 3, quân ta tập kích nhiều vị trí của địch ở Thủ Thiêm, sở Ba Son, quân cảng, Kho cầu Ông Lãnh bị đốt, lửa cháy suốt đêm sang nửa hôm sau mới bị dập tắt.

Các đơn vị của tiểu đoàn Quyết tử và thanh niên xung phong trừng trị một số thực dân khét tiếng và tay sai đắc lực của chúng, như De La Chevrotière, Bazin, bộ trưởng giáo dục ngụy quyền Vương Quang Nhường, thủ lĩnh Thanh niên bảo quốc đoàn Đỗ Văn Năng,…

De La Chavrotière là một tên cáo già khét tiếng quỷ quyệt, chủ bút tờ báo phản động bằng tiếng Pháp xuất bản ở Sài Gòn. Hằng ngày y đi xe riêng từ tòa soạn ở gần khách sạn Continental về nhà. Tổ công tác của ta do đồng chí Lê Văn Vinh phụ trách tổ chức đánh cắp chiếc xe jeep của sứ quán Mĩ, rồi lên xe, bám sát xe của y. Đến ngã tư, chiến sĩ của ta lái xe vượt lên ngang với xe của De La Chevrotière, dùng lựu đạn ném lọt vào trong xe. Lựu đạn nổ, xe chạy đâm vào trụ đèn. Tên thực dân bị đền tội tại chỗ. Tên cò Bazin trùm mật thám Đông Dương cũng bị giết vào thời gian này. Ngày 18 tháng 4 ngay tại góc đường Catinat và D’Espagne, tổ công an xung phong gồm các anh Vân, Dinh, dùng súng ngắn khống chế tên quan ba không quân Roger và bắn đuổi theo 5 phát súng vào lưng Bazin. Bazin bị chết tại nhà thường Đồn Đất. Cái chết của những tên đầu sỏ Pháp và ngụy làm cho bọn địch lo sợ, không dám nghênh ngang đi lại vào ban đêm ở những nơi đường vắng như trước.

Đi đôi với hoạt động quân sự, các cuộc đấu tranh chính trị trong nội thành vẫn tiếp tục. Đáng kể nhất là phong trào đấu tranh trên mặt trận báo chí, văn hóa, văn nghệ và đấu tranh của các chính trị phạm trong các nhà tù ở Sài Gòn.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chi bộ Trí vận, giới văn nghệ sĩ Sài Gòn tập hợp trong các tổ chức Nghiệp đoàn kí giả chuyên nghiệp, Liên hiệp báo chí, Liên hiệp văn nhân, do các anh Trúc Chi, Thành Nguyên, Nam Quốc Cang, Dương Tử Giang, Mai Văn Bộ, Vũ Tùng… phụ trách, đã tích cực đấu tranh với địch, khéo léo tuyên truyền chủ trương của Thành ủy trong từng giai đoạn lịch sử. Từ đầu năm 1950, báo chí công khai Sài Gòn đã góp phần đưa cuộc đấu tranh chống Pháp, can thiệp Mĩ và chính phủ bù nhìn lên thành cao trào. Ngày 9 tháng 1 năm 1950, báo Thế giới ra số đặc biệt đăng ảnh Trần Văn Ơn, tố cáo hành động dã man của thực dân Pháp. Ngày 19 tháng 5, tuần báo Thứ Năm đang hình Chủ tịch Hồ Chí Minh trên trang nhất và nhiều tiểu luận mạnh mẽ cổ vũ phong trào đấu tranh của các giới. Ngày 20 tháng 3, giới báo chí tiến hành cuộc đình công quy mô, phản ánh lệnh cấm tường thuật cuộc biểu tình ngày 19 tháng 3…

Nhân dân Sài Gòn thuộc lòng những câu thơ do Viên Hương sáng tác ca ngợi cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh đăng trên báo Thế giới ra ngày 27 tháng 3 năm 1950:
Khi đoàn trẻ đi ngang qua hăng hái
Mắt nhìn ngang mà đầu cất cao lên
Mặt hiên ngang và chân nhẹ bước mau
Ai chẳng đứng lại nhìn đầy mến phục.,

và những truyện của Lí Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc, Trúc Giang, Bảo Việt, Thanh Nhã; những tiểu luận và kí của Nguyễn Văn Hiếu, Mai Văn Bộ, Bùi Đức Tịnh, Dương Tử Giang, Trần Chi Lăng, Thành Nguyên, Phạm Huy Thông, Trần Văn Khê; những vở kịch có nội dung yêu nước cổ vũ tinh thần đấu tranh của gánh kịch Năm Châu, Con Tằm với các nghệ sĩ Nguyễn Thành Châu, Trần Hữu Trang, Ba Vân, Phùng Há, Thanh Loan, Ngọc Sương, Tư Út…

Những tháng nửa đầu năm 1950 là thời điểm phát triển cao của báo chí, văn nghệ chiến đấu công khai trong thành phố. Cùng với những tác phẩm văn học, báo chí của những nhà văn, nhà báo kháng chiến gửi từ chiến khu về qua các báo Tiếng súng kháng địch, Cứu Quốc, Văn nghệ miền Nam, Lá Lúa, Phụ nữ, Thanh niên, Vệ quốc quân,… văn và báo công khai ở thành phố đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

“Trong khí thế sôi sục đấu tranh đòi hòa bình và độc lập của nhân dân Sài Gòn và Nam Bộ, giữa không khí kháng chiến sôi nổi của toàn dân, Đảng đã tập hợp được một đội ngũ văn báo hùng hậu chiến đấu dũng cảm theo các chủ trương của Đảng bất chấp mọi biện pháp khủng bố kềm kẹp của thực dân Pháp. Tùy theo thế đứng của mình, các nhà văn này đã xây dựng cho thành phố Sài Gòn nói riêng, cho Nam Bộ và cả nước nói chung một vườn hoa văn học kháng chiến phồn thịnh, một sự bùng nổ trong văn học chưa từng có trước đó, với những tác phẩm chiến đấu chính diện mang tính chính trị thời sự của các nhà văn cách mạng và những tác phẩm chiến đấu trắc diện của các nhà văn tiến bộ đánh át những tác phẩm lẻ tẻ của bọn bồi bút phản động, góp phần đắc lực vào cuộc kháng chiến chung. Với loạt thơ và truyện này, dòng văn học yêu nước từ sau Nguyễn Đình Chiểu đã được nâng cao thành một cao trào văn học kháng chiến mạnh mẽ chưa từng có trong văn học yêu nước ở nước ta”(1).

Từ tháng 6 năm 1950 trở đi, địch càng tăng cường khủng bố bắt bớ các cán bộ lãnh đạo, cơ sở cách mạng, các nhân sĩ trí thức tiến bộ, nhà báo nhà văn có tư tưởng kháng chiến. Ở các nhà tù khám lớn Sài Gòn, Chí Hòa, Hạnh Thông Tây, Thủ Đức… chật ních chính trị phạm. Ở trận địa này, cuộc đấu tranh chống địch vẫn tiếp diễn quyết liệt. Một số đảng viên cốt cán liên lạc được với tổ chức Đảng bên ngoài đã đứng ra thành lập các chi bộ Đảng trong nhà tù. Phối hợp với phong trào đấu tranh bên ngoài, anh em trong tù đoàn kết đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù, đòi cải thiện đời sống và tinh thần cho tù nhân chính trị. Chương trình hoạt động của anh chị em trong tù rất phong phú. Cán bộ lãnh đạo, trí thức viết sách lí luận, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, viết sách giáo khoa, bổ túc văn hóa. “Các lớp học chính trị”, “lớp học văn hóa” được tổ chức thường xuyên có khai giảng, bế giảng và đạt kết quả cao. Anh chị em còn làm báo Cố Gắng, báo Tin Tức, sáng tác văn nghệ, tổ chức liên hoan văn nghệ đều đặn (có đủ tiết mục đơn ca, hợp xướng, diễn kịch, ngâm thơ, ca vọng cổ. Nhiều sách báo được sao gửi ra ngoài làm tài liệu học tập tham khảo).

Các hoạt động trong nhà tù đã góp phần động viên anh chị em giữ vững khí tiết cách mạng, nâng cao trình độ về chính trị văn hóa, kinh nghiệm công tác thực tiễn, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của quân và dân thành phố. Đó là những nơi thử thách và bồi dưỡng quan trọng cho những cán bộ chiến sĩ bị địch bắt giam giữ trở về tiếp tục chiến đấu công tác ở địa bàn thành phố và khắp các chiến trường Nam Bộ sau này.

Đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị và các mặt đấu tranh khác trong thời gian cuối năm 1949 và nửa đầu năm 1950 trên toàn chiến trường đã đưa cuộc kháng chiến của nhân dân ta lên một bước phát triển mới. Đây cũng là giai đoạn cao trào chống thực dân Pháp xâm lược, chống đế quốc Mĩ can thiệp và bè lũ tay sai ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

*
*   *

Từ đầu năm 1947 đến mùa thu năm 1950 là quãng thời gian thực dân Pháp tập trung mọi nỗ lực để bình định Nam Bộ, hòng biến Nam Bộ, mà trung tâm là Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định thành hậu phương dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng ở ba nước Đông Dương. Từ đánh nhanh, thắng nhanh phải chuyển sang đánh kéo dài rồi cầu viện sự can thiệp của đế quốc Mĩ, thực dân Pháp đã áp dụng đủ các thủ đoạn sâu hiểm của một chiến lược bình định toàn diện trên địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định cùng cả nước đã kiên cường bền bỉ tiếp tục tiến hanh cuộc kháng chiến trong điều kiện Sài Gòn ngày càng trở nên một đô thị hoàn toàn bị chiếm đóng và đã được “bình định ổn định” trở thành trung tâm đầu não chính trị kinh tế văn hóa quân sự của địch, từng bước phát triển cuộc tranh đấu liên tục ở mức độ khá toàn diện và mạnh mẽ, có lúc thành cao trào. Phát huy cao độ ý tức tự lực, tự cường, tích cực xây dựng lực lượng mọi mặt, xây dựng lực lượng vũ trang thích hợp, đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa với phương châm và hình thức linh hoạt, sáng tạo phù hợp với đặc điểm chiến trường đô thị bị tạm chiếm, trong gần bốn năm qua, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã lập được nhiều thành tích, góp phần xứng đáng của cả nước đánh bại từng bước chiến lược bình định của địch.

Quãng đường gần bốn năm đã để lại nhiều bài học về xây dựng lực lượng chính trị trong các tầng lớp cư dân đô thị, về xây dựng các lực lượng vũ trang ở thành phố và vùng nông thôn ven đô, về việc phát động và duy trì phong trào đấu tranh toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân ở vùng sau lưng địch.


(1) Hoài Anh - Thành Nguyên - Hồ Sĩ Hiệp, Văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ đến giữa thế kỉ XX (1900-1954) , NXB thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 292.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:00:59 AM
Chương ba

ĐẤU TRANH GIẰNG CO QUYẾT LIỆT VỚI ĐỊCH,
TỪNG BƯỚC PHỤC HỘI LỰC LƯỢNG VÀ PHÁT TRIỂN
PHONG TRÀO CÁCH MẠNG, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(Từ tháng 8 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954)

I. ĐƯƠNG ĐẦU VỚI HÀNH ĐỘNG ĐÁNH PHÁ ÁC LIỆT CỦA ĐỊCH,
DUY TRÌ VÀ TỪNG BƯỚC KHÔI PHỤC PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN


Từ năm 1950, tình hình thế giới có những chuyển biến lớn tác động đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Hệ thống xã hội chủ nghĩa được củng cố và tăng cường. Phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ hòa bình thế giới tiếp tục phát triển. Trong lúc đó, đế quốc Mĩ tìm mọi cách can thiệp sâu vào Đông Dương. Chúng bắt đầu tăng cường viện trợ cho Pháp ở Đông Dương nhằm duy trì cuộc chiến tranh xâm lược có lợi cho Mĩ(1).

Tại Việt Nam, sau thất bại của chiến dịch Biên Giới, quân xâm lược Pháp lâm vào thế bị động về chiến lược. Tuy vậy, với bản chất ngoan cố hiếu chiến, chúng ra sức tranh thủ viện trợ của Mĩ, tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh. Ngày 6 tháng 2 năm 1950, chính phủ Pháp đưa De Lattre de Tassiginy sang giữ chức Tổng chỉ huy quân viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Được sự hà hơi tiếp sức của Mĩ, thực dân Pháp dồn mọi nỗ lực cho công cuộc bình định, đẩy cao cường độ chiến tranh xâm lược. Xung quanh Sài Gòn, chúng duy trì và mở rộng thực hiện công thức “cứ điểm nhỏ kết hợp với đội ứng chiến nhỏ”. Hàng loạt tháp canh, đồn bót nhỏ được xây dựng thêm, tạo thành một hệ thống cứ điểm dày đặc, vừa bảo vệ địa bàn, đường giao thông, hình thành thế bao vây chia cắt và ngăn chặn hoạt động của ta, vừa làm chỗ dựa cho bọn tề ngụy địa phương, làm nơi xuất phát các cuộc càn quét nhỏ, đánh phá, cướp bóc, bắt lính. Cùng với các đội biệt kích Commando là các đội ứng chiến nhỏ được thành lập làm nhiệm vụ ứng cứ đồn bót tháp canh khi bị tiến công, đồng thời tổ chức thường xuyên các cuộc hành quân gọn nhẹ, đột kích vào căn cứ đánh úp của cơ quan và phá hoại kho tàng, công xưởng của ta. Bên cạnh đó, chúng ráo riết thi hành những biện pháp về kinh tế, chính trị, nhằm củng cố phát triển hệ thống ngụy quyền đến từng cơ sở ấp xã, chia rẽ nhân dân, vơ vét sức người, sức của cung ứng cho cuộc chiến tranh.

Sau khi loại bọn Việt gian thân Mĩ ra khỏi chính phủ bù nhìn (Trần Văn Hữu thay Nguyễn Phan Long làm thủ tướng, Nguyễn Văn Tâm thay Trần Văn Đây phụ trách công an), địch củng cố lại bộ máy cảnh sát, tăng cường hoạt động mật thám ở nội thành. Chúng đẩy mạnh tấn công các địa phương mà ta có thể dùng làm vị trí chỉ huy ở ngoại thành, triển khai xây dựng kho tàng dự trữ quân sự (kho dầu Khánh Hội), vị trí căn cứ đóng quân (thành Cây Mai - Chợ Lớn, thành Chí Hòa, Petrus Kí), nâng cấp các xí nghiệp sửa chữa quân dụng chiến tranh, mở rộng đầu mối giao thông vận tải, đặc biệt là các sân bay và bến tàu - căn cứ thủy quân (bến tàu Khánh Hội mở rộng xuống Nhà Bè, sân bay Cát Lái v.v…). Để xây dựng Sài Gòn - Chợ Lớn thành trung tâm chính trị và căn cứ quân sự chỉ huy toàn Nam Bộ, địch bắt đầu cho mở rộng phạm vi quản lí của Sài Gòn - Chợ Lớn ra các vùng ven(2).

Bên cạnh việc xây dựng mở rộng các căn cứ quân sự, địch tích cực khai thác nhân tài vật lực tại chỗ để phục vụ cho cuộc chiến tranh. Về nhân lực, chúng kiểm tra dân số, bắt lính, sử dụng các công nhân chuyên môn và các sở quốc phòng phục vụ chiến tranh. Về vật lực, ngoài các xí nghiệp sản xuất và sửa chữa quân cụ, quân dụng như Arsenal, Sở Mộ, các công xưởng, địch vận dụng cả một số nhà máy tư nhân như Caric, Faci, Feel, Nguyễn Văn Dụng… Chúng huy động một số thầu khoán để thuê nhân công sửa chữa, cất nhà, xây doanh trại, tiếp liệu, tiếp tế. Về tài lực, chúng tăng cường thu thuế, phạt vạ (ngân sách địa phương Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1944 thu 12,7 triệu, năm 1950 tăng lên 100 triệu, năm 1951: 189,3 triệu), ra sức bóc lột, bần cùng hóa đời sống người lao động, tuyên truyền cuộc sống xa hoa, ăn chơi trụy lac đẩy dân xa rời cuộc kháng chiến, tiếp tục làm tay sai cho chúng.

Trong nội thành, địch bắt đầu thay chính sách mị dân bằng đàn áp khủng bố, phát xít hóa. Chúng tăng cường lực lượng cảnh sát công an và số lượng đông và hoạt động gắt gao (cuối năm 1950 đầu năm 1951, bội chi cho lực lượng công an địa phương 16 triệu đồng). Chúng bố trí các đội công an tuần phòng chặt chẽ, thành lập nhiều bót, nhánh ở trung tâm các xóm lao động để khống chế nhân dân và chống lại hoạt động quân sự của ta. trên các ngả đường chính vào thành phố, chúng đóng thêm đồn bót, tăng cường kiểm tra khám xét, tích cực càn quét để mở rộng hành lang hoạt động ra tới ngoại thành, tạo thành một vành đai an ninh bảo vệ khu trung tâm đầu não Sài Gòn.

Cuộc kháng chiến của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định từ đây bước vào thời kì ngày càng khó khăn, quyết liệt hơn.

Để thực hiện chủ trương của ta là tích cực cầm cự nhằm phá tan các âm mưu của địch, ráo riết hoàn thành nhiệm vụ chuẩn bị về mọi mặt để “tiến tới tổng phản công thắng lợi”(3), Hội nghị quân sự Xứ ủy Nam Bộ (họp tháng 4 năm 1950) đề ra nhiều biện pháp tổ chức thực hiện, trong đó có điểm quan trọng là tổ chức lại chiến trường và lực lượng, nâng cao chất lượng chính trị và trình độ quân sự cho các thứ quân, xây dựng nền kinh tế kháng chiến vững mạnh, nhằm tạo ra những điều kiện chuẩn bị cơ bản cho quá trình đưa công cuộc kháng chiến phát triển lên giai đoạn cao hơn.

Chấp hành nghị quyết trên đây, tháng 8 năm 1950, Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập gồm Thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và một phần các huyện vùng ven thuộc tỉnh Gia Định như Thủ Đức, Gò Vấp, Trung Huyện, Nhà Bè… do bác sĩ Phạm Ngọc Thạch làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Đặc khu. Ban chỉ huy quân sự Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn được bổ nhiệm gồm các đồng chí Nguyễn Văn Thi (chỉ huy trưởng), Nguyễn Văn Linh (chính ủy), Đào Tấn Xuân (chỉ huy phó), Lương Đường Minh (Trần Hải Phụng, tham mưu trưởng), Nguyễn Tứ Phương (chủ nhiệm chính trị).

Sau khi thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Khu 7 được mở rộng do sáp nhập thêm các tỉnh còn lại của Khu Sài Gòn (Chợ Lớn, Gia Định, Tây Ninh). Đông chí Hoàng Dư Khương làm Bí thư Khu ủy. Bộ Tư lệnh gồm các đồng chí Trần Văn Trà (tư lệnh kiêm chính ủy), Tô Kí và Huỳnh Văn Nghệ (phó tư lệnh), Lê Đức Anh (tham mưu trưởng).

Lực lượng vũ trang trực thuộc Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn bao gồm toàn bộ hệ thống dân quân và du kích thuộc thành đội bộ, huyện đội bộ và dân quân tại chô, cùng với tiểu đoàn Quyết tử 950 và các đội biệt động đội 2763, 2768, 2/300 (Quyết tử Dương Văn Dương).

Ngoài một số đại đội chuyển thành các đại đội độc lập huyện trực thuộc các tỉnh Khu 7, phần lớn các trung đoàn, liên trung đoàn còn lại của Khu 7 được tập trung xây dựng thành trung đoàn chủ lực của Nam Bộ mang tên trung đoàn Đồng Nai. Đây là một trong ba trung đoàn chủ lực của Nam Bộ. trung đoàn do Trần Đình Xu giữ chức trung đoàn trưởng, Lê Xuân Lựu chính trị viên, đứng chân và hoạt động trên chiến trường Khu 7 - miền Đông Nam Bộ.

Ngày 21 tháng 8 năm 1950, tại căn cứ Tân Long (thuộc huyện Lái Thiêu - Thủ Dầu Một), Hội nghị cán bộ Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn được triệu tập. Hội nghị tiến hành kiểm điểm đánh giá công tác lãnh đạo ở thành phố trong một năm qua, đặc biệt công tác lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị trong nửa năm đầu 1950. Hội nghị đề ra chủ trương: thống nhất sự lãnh đạo của Đảng đối với các ngành quân, dân, chính, Đảng các cấp, giản chính cơ quan lãnh đạo và bộ máy tổ chức quần chúng, tích cực phát triển du kích chiến tranh, tạo cơ sở về quân sự để thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Phương châm công tác là phối hợp việc lãnh đạo đấu tranh của quần chúng với việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng và quần chúng, coi trọng củng cố và phát triển tổ chức cơ sở khi vận động quần chúng đấu tranh, lấy đấu tranh giành quyền lợi thiết thực làm chính, tránh chạy theo lối đấu tranh hình thức rầm rộ, “không tiêu non lực lượng”, kết hợp chặt chẽ hoạt động bí mật, lợi dụng triệt để khả năng công khai hợp pháp để tuyên truyền, tập hợp và vận động quần chúng đấu tranh.

Hội nghị chính thức thành lập Khu ủy, bầu Ban chấp hành Đảng bộ Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, gồm 13 đồng chí(4) do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư, Trần Quốc Thảo, phó bí thư. Hội nghị cũng bầu ra Ban cán sự nội thành do Nguyễn Kiệm làm bí thư. Hội nghị bế mạc vào ngày 28 tháng 8 năm 1950.

Kế đó, Đặc khu ủy khôi phục lại Ban cán sự nội thành, chia Ban cán sự thành hai bộ phận. Ban cán sự nội thành I do Nguyễn Kiệm phụ trách. Ban cán sự nội thành II do Trần Quốc Thảo phụ trách.

Sự kiện thành lập Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, thành lập Đảng bộ thống nhất cũng như những thay đổi lớn về tổ chức chiến trường, tổ chức lực lượng đã tạo ra những nhân tố quan trọng, đưa quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bước vào giai đoạn lịch sử mới, đương đầu với nhiều khó khăn hơn.


(1) Tháng 6 năm 1950, chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên của Mĩ cập bến Sài Gòn. Tính đến hết năm 1950, Mĩ viện trợ cho Pháp và bọn tay sai 150 triệu đô la về quân sự, 23 triệu đôla về kinh tế.
(2) Phía Tây Bắc: thêm một phần huyện Đức Hòa. Phía Tây và Tây Nam: sáp nhập thêm Gò Đen vào Chợ Lớn. Phía Nam và Đông Nam: mở rộng khu vực Thành Tuy Hạ (Long Thành). Phía Bắc: gồm Gò Vấp, mở rộng đến phía Nam Hóc Môn.
(3) Nghị quyết hội nghị Xứ ủy Nam Bộ, tài liệu bc/XƯ-04, Phòng Khoa học lịch sử quân sự Quân khu 7.
(4) Nguyễn Văn Linh, Trần Quốc Thảo, Nguyễn Văn Thi, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Thọ Chân, Đoàn Văn Bơ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Minh Quyên, Đào Tấn Xuân, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Kiệm…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:01:54 AM
*
*   *

Ngay sau khi thành lập, Đặc khu ủy chỉ đạo củng cố lại toàn bộ hệ thống cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và cơ sở kháng chiến. Từ tháng 10 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951, Đặc khu tiến hành một đợt rà soát lại các cơ sở trong nội thành, tiến hành một số biện pháp nhằm ngăn ngừa sự phá hoại của địch thông qua nội gián. Các cấp, các ngành tập trung thực hiện công tác đột xuất, đối phó với các vụ nội gián đang đánh phá các cơ sở Đảng của ta từ cấp hộ đến cấp thành, như nhanh chóng cắt đứt liên lạc với các bộ phận bị tình nghi, tạm giải tán ban chấp hành thành hội của các đoàn thể, đưa cán bộ về bám sát cơ sở, chỉnh đốn lại các cấp ủy Đảng và các tổ chức cơ sở vùng. Riêng liên hiệp công đoàn không bị ảnh hưởng do các vụ nội gián vẫn giữ tổ chức như cũ nhưng chuyển hướng đấu tranh. Đối với các tổ chức chính trị công khai do địch lập ra (Mặt trận bình dân, Thanh niên bảo quốc đoàn), ta đưa người vào để tuyên truyền, vạch trần hoặc cô lập địch, lôi kéo quần chúng trong các tổ chức này đi theo phương hướng kháng chiến.

Để tuyên truyền sâu rộng chủ trương của cách mạng đối với các tổ chức quần chúng, tháng 12 năm 1950, Đặc khu thành lập Ban thông tin đặc biệt và phát hành tờ báo Cứu Quốc (ra số đầu tiên vào đầu tháng 1 năm 1951). Đặc khu cũng xây dựng một Đài phát thanh mang tên Đài tiếng nói Sài Gòn tự do do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát phụ trách. Đài đặt tại rừng Bàu Cá Trê (Chiến khu Đ), ban đầu phát mỗi tuần 3 buổi, về sau phát hằng ngày vào buổi chiều. Cùng với Đài tiếng nói Nam Bộ, Đài Tiếng nói Sài Gòn tự do đã tuyên truyền chủ trương chinh sách của Đảng và chính phủ kháng chiến, phản ánh tình hình ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định và trong cả nước một cách kịp thời, nhanh nhạy. Thực dân Pháp liên tục cho máy bay ném bom và dùng các đội biệt kích lùng sục tìm diệt, nhưng Đài Tiếng nói Sài Gòn tự do vẫn tồn tại và phát sóng đều đặn.

Tháng 10 năm 1950, Khu 7 hoàn thành việc điều về Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn các đơn vị vũ trang, gồm tiểu đoàn Quyết tử 950, các biệt động đội và cơ quan thành đội bộ dân quân. Tiểu đoàn Quyết tử 950 được biên chế lại thành các đại đội Quyết tử độc lập: 3721, 3824, 3927. Trên cơ sở rút một số lực lượng từ các trung đoàn cũ ở xung quanh thành phố về, các đại đội biệt động được xây dựng với các phiên hiệu: 2/300, 2763, 2766.

Thành đội dân quân (cơ sở bị bể nhiều, lực lượng sút kém, khả năng chiến đấu yếu ớt) cũng được tiến hành củng cố lại các quận đội và hộ đội.

Sau khi trực tiếp quản lí lực lượng quân sự nêu trên, Đặc khu chủ trương mở một cuộc chiến đấu thống nhất nhằm biểu dương lực lượng đồng thời đánh giá lại khả năng chiến đấu của từng đơn vị và sự phối hợp hoạt động của phong trào toàn thành.

Ngay từ đầu tháng 11 năm 1950, phong trào đấu tranh dấy lên trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự. Mở đầu là cuộc đấu tranh của công nhân toàn Thành đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ. Công nhân hãng Caric bãi công đòi chủ hãng tăng lương 25%. Địch đưa người các xưởng khác đến làm việc. Ta vận động công nhân không làm. Cuối cùng, sau 25 ngày bãi công của công nhân, chúng buộc phải nhượng bộ và tăng lương 25% cho công nhân trong hãng. Công nhân các hãng, xưởng khác như Faci, Míc, Effel, Scama cũng hưởng ứng tích cực cuộc đấu tranh và thu được thắng lợi. Ngày 23 tháng 12 năm 1950, ta lại phát động một cuộc đấu tranh thống nhất toàn Thành chống bắt lính. Cuộc đấu tranh chỉ giành được thắng lợi ở một số nơi.

Phối hợp với phong trào đấu tranh chính trị, các lực lượng biệt động, quyết tử liên tiếp đánh vào các cơ sở, kho tàng và vị trí quân sự của địch. Tháng 11 năm 1950, biệt động đội 2766 đột nhập đánh vào khu Thị Nghè. Tháng 12 năm 1950 lại phối hợp với lực lượng nội thành cải trang thành lính ngụy dùng xe jeep, lựu đạn, tiểu liên đánh một loạt các trại lính và bót cảnh sát dọc đường Albert, ném lựu đạn vào nhà hàng Imperial góc đường Catinat. Tháng 12 năm 1950, đơn vị 3721 đánh vào các nhà hàng Mê Kông, vũ trường đường D’Espagne và 1 khách sạn trên đường Galiéni, đơn vị 3927 đánh lựu đạn ở các mục tiêu trên đường Verdun, đơn vị 3824 tấn công bọn Pháp nhà hàng Imperial. Biệt động đội 2/300 đốt cháy chiếc tàu LCI và pháo kích vào bến tàu. Biệt động đội 2763 liên tục đánh lẻ tẻ ngoài bìa ô thành phố, xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất.

Đợt hoạt động nêu trên đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, do lực lượng vũ trang chuyển về trực thuộc Đặc khu có số lượng tương đối đông (mỗi đơn vị cả chiến đấu viên, làm công tác bao đảm và cơ sở, khoảng 300 đến 400 người) nhưng phần lớn là thành phần dự bị, ngoại vi, cơ sở ủng hộ tài chính, các đơn vị lại là những biệt động đội của các nơi chuyển về, phần công phạm vi hoạt động còn thiếu chặt chẽ, cho nên các cuộc chiến đấu diễn ra còn mang đặc điểm riêng lẻ, phần nhiều dựa vào sự tích cực tự động cá nhân của cán bộ, đội viên.

Đầu năm 1951, các cuộc đấu tranh trong nội thành vẫn tiếp tục nổ ra. Ngày 9 tháng 1 năm 1951, đồng bào thành phố tổ chức lễ truy điệu học sinh Trần Văn Ơn. Các hãng xe hơi, thuốc lá Míc, trường Petrus Kí đều tổ chức lễ truy điệu trò Ơn ngày 9 tháng 1 năm 1951. Cùng ngày 12 tháng 1 năm 1951, một tổ quyết tử quân đơn vị 3927 do Lê Văn Vinh chỉ huy lấy một chiếc xe jeep đuổi theo xe tên chủ bút tờ báo phản động Pháp Le Dépêche và hạ sát tên này bằng lựu đạn.

Phong trào cách mạng ở thành phố đang được khôi phục từng bước về mọi mặt, tuy vậy, tình hình nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong khi thực hiện nghị quyết của cấp trên, nhiều nơi bộc lộ một số nhược điểm. Việc chẩn chỉnh tổ chức làm vội vàng, thiếu kế hoạch. Việc giải tán hệ thống các tổ chức đoàn thể quần chúng ở trường học đã tạo ra những khoảng trống lớn làm cho địch dễ dàng kiểm soát. Chủ trương đưa học sinh xuống vùng dân cư đã làm hao hụt số đông đoàn viên mà ta đã nắm được. Số đông đoàn viên học sinh mất liên lạc hoặc tự ý bỏ liên lạc với đoàn thể. Ta chưa đưa được người vào các tổ chức quần chúng công khai như hội tương tế ái hữu, các hội đồng hương, các nhóm đồng nghiệp, các hội đình chùa, hội ám công, hội lân… để vận động họ đoàn kết ủng hộ kháng chiến, và từ đó chọn lọc tổ chức đưa vào hội Cứu quốc của ta.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:04:03 AM
Tháng 12 năm 1951, Đặc khu ủy triệu tập hội nghị cán bộ toàn Đặc khu để kiểm điểm công tác lãnh đạo phong trào. Đánh giá tình hình nội thành, hội nghị nhận thấy từ khi thành lập Đặc khu đến nay, phong trào đấu tranh của đồng bào thành phố phát triển thuận lợi. Bên cạnh đó, hội nghị cũng nhận thấy rằng “Đáng lẽ phải nặng về bảo vệ cơ sở trong tình hình địch đánh phá nội bộ, nhưng ở nội thành, các đồng chí lãnh đạo vẫn mang tư tưởng chạy theo bộ đội chính quy, thích những cuộc đấu tranh thống nhất toàn thành có tính chất ồ ạt. Do đó lực lượng tiếp tục bộ lộ, nhiều cán bộ bị bắt, cơ sở bị vỡ, làm cho lực lượng ta ngày càng thiếu”(1). Hội nghị đã uốn nắn những quan niệm sai về tổng phản công, khẳng định lại tính chất hoạt động ở nội thành (khác với vùng giải phóng), đặt bộ máy kháng chiến hành chính dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy. Chủ trương của Hội nghị là tập trung củng cố và phát triển các tổ chức cứu quốc, động viên quần chúng tham gia phong trào bằng những hình thức biến tướng, phối hợp với các hình thức đấu tranh bí mật, công khai với bán công khai, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang.

Trong khi hội nghị đang họp thì văn phòng Quận ủy quận 1 bị đánh phá. Cán bộ trong quận bị mất liên lạc với cấp trên. Tiếp đó, địch đánh phá ác liệt và kiểm soát gắt gao nhiều nơi trong nội thành. Chúng phát triển nhiều tổ chức cảnh sát, mật vụ, tăng cường hoạt động mật thám nhằm làm tê liệt lực lượng vũ trang và phong trào cách mạng nhân dân ở nội thành và các vùng ven. Nhiều bót cảnh sát mới được lập ở Đa Kao, Bàn Cờ, hộ 19, Thị Nghè, các nơi dân cư đông ở quận 3, quận 4… Chúng còn đưa bọn tay chân tích cực thâm nhập vào hàng ngũ tổ chức kháng chiến, phá hoại các cơ sở cách mạng, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động của cảnh sát và mật thám ra ngoài phạm vi nội thành. Để thực hiện ý đồ ngăn chặn cán bộ kháng chiến xâm nhập vào nội thành, và kiểm soát sâu rộng các tầng lớp nhân dân trong thành phố, chúng tiến hành phong tỏa các đường phố, đầu cầu bằng thủ đoạn chặn dọc đường, kiểm tra lưu động bất thường ở khắp mọi nơi, cho cảnh sát và mật thám nhìn mặt và lục xét, rình rập ở các quãng đường vắng để chộp bắt hoặc ám sát bất ngờ. Trong các xóm lao động ở ngoại ô, chúng đưa lính bao vây chặn các đường ra vào, rình rập đón lõng cán bộ của ta ở ngoài vào để bắt bớ. Bên cạnh đó, chúng dùng chính sách mua chuộc, dụ dỗ tạo nội phản, tra tấn tàn nhẫn những người bị bắt để phát hiện cơ sở và các đầu mối hoạt động của ta.

Sau hội nghị tháng 2 năm 1951, ta chưa kịp ổn định tình hình và triển khai thực hiện nghị quyết thì một số cơ sở lại bị đánh phá. Một tháng sau, nhiều cán bộ quan trọng bị bắt, trong đó có hai Đặc khu ủy viên. Các chủ trương mới của Đặc khu do đó chưa kịp thực hiện một cách đầy đủ, có nơi chưa thực hiện được vì thiếu cán bộ và năng lực hoạt động yếu. Để khắc phục nhược điểm trên, Đặc khu ủy chỉ đạo mở các đợt tập huấn, liên tiếp bồi dưỡng giáo dục, mở các lớp huấn luyện cho cán bộ nội thành (theo định kì hai tháng một lớp). Giữa năm 1951, lớp huấn luyện đầu tiên được khai giảng, mang tên “Lê Văn Sĩ”. Trong một thời gian không dài, ta đã đào tạo được một đội ngũ cán bộ làm nòng cốt cho phong trào ở cơ sở. Dần dần, các cơ sở Đảng được gầy dựng trở lại. Một số nơi lập lại cấp ủy Đảng. Các đoàn thể quần chúng được khôi phục và có củng cố một bước so với trước. Tuy nhiên, tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên còn lại vẫn rất ít.

Để tiếp tục củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng củng cố cơ sở, Đặc khu ủy quyết định giải thể Ban chỉ huy tiểu đoàn Quyết tử 950, giản chính hết các cơ quan trực thuộc tiểu đoàn, chấn chỉnh các phương tiện chỉ huy (trinh sát, liên lạc), sắp xếp các đơn vị chiến đấu của tiểu đoàn thành các đại đội Quyết tử độc lập (3721, 3824, 3927) trực thuộc Ban chỉ huy quân sự Đặc khu. Hầu hết cán bộ trong ban chỉ huy lên nhận nhiệm vụ ở Ban chỉ huy quân sự Đặc khu. Tổ chức biên chế, địa bàn đứng chân, phạm vi hoạt động và nhiệm vụ cụ thể của từng đại đội Quyết tử độc lập được điều chỉnh lại phủ hợp với khả năng của tình hình cho phép. Lực lượng biệt động đội cũng được chấn chỉnh một bước về thành công và khu vực hoạt động, hầu có điều kiện phối hợp chặt chẽ hơn với tổ chức dân quân các hộ, quận nội thành. Biệt động đội 2763 phụ trách hướng Gò Vấp, sân bay Tân Sơn Nhất và Tân Bình, Phú Nhuận. Biệt động đội 2766 được phân công về đánh địch và xây dựng du kích tại quận 5(2). Biệt động đội 2/300 chia làm hai bộ phận: Bộ phận 1 thành lập độ Quyết tử Dương Văn Dương phụ trách khu bến tàu Khánh Hội, Tân Thuận, kho Nhà Bè; Bộ phận 2 về phụ trách địa bàn và xây dựng chiến tranh du kích quận 6.

Cùng với việc sắp xếp lại lực lượng, Đặc khu tập trung mở các lớp huấn luyện để nâng cao trình độ quản lí chỉ huy và thực hành chiến đấu cho cán bộ chiến sĩ các đơn vị. Trong một thời gian ngắn, Đặc khu đã đào tạo được một lớp cán bộ trinh sát, ba lớp quân chính tiểu đội và đội viên ở tiểu ban quân sự, một khóa trinh sát đặc công, một lớp quân chính tổ và đội viên.

Do phải tập trung củng cố sắp xếp lại lực lượng nên hoạt động chiến đấu quân sự bị giảm sút. Việc vận chuyển vũ khí vào thành phố gặp nhiều khó khăn. Các đơn vị phải liên tục di chuyển vị trí đứng chân do địch càn quét gắt gao các vùng bàn đạp. Hầu hết các tổ chức chiến đấu bên trong đều nằm im. Một số cán bộ chỉ huy có tư tưởng thụ động, chờ chủ trương hoạt động thống nhất toàn Thành, hoạt động đánh địch của một số đơn vị ở ven đô diễn ra lẻ tẻ, hông phối hợp được với nhau nên chỉ mang tính chất quấy rối, không có hiệu quả lớn (trừ một vài cuộc tấn công đột xuất khá táo bạo, như cuộc đột nhập vào nhà tên chưởng lí Pháp Béziot ở đường Verdun của đơn vị 3721 chiều ngày 15 tháng 3 năm 1951).

Trong lúc các lực lượng kháng chiến của Đặc khu nỗ lực củng cố, gìn giữ phong trào thì thực dân Pháp tăng cường khủng bố, đánh phá ác liệt trong khắp các khu vực nội thành. Tháng 5 năm 1951, quận ủy quận 3 bị địch đánh phá nặng nề, sự hoạt động của quận ủy trở nên tê liệt. Tháng 6 năm 1951, quận 2 cũng bị đánh phá. Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1951, hai đồng chí trong Ban cán sự nội thành, ba bí thư quận, năm quận ủy viên và nhiều cán bộ cơ sở ở hội bị bắt. Từ tháng 5 năm 1951, Liên hiệp công đoàn thành phố - một đoàn thể đang hoạt động khá ổn định, cũng bắt đầu bị địch đánh phá. Nhiều cán bộ lãnh đạo và cán bộ xí nghiệp bị bắt. Tổ chức cơ sở đứt liên lạc. Tờ Cảm Tử, cơ quan tuyên truyền của Liên hiệp công đoàn bị đình bản. Đến tháng 9 năm 1951, Liên hiệp công đoàn chỉ còn liên lạc được với 6 xí nghiệp trong số hơn 20 xí nghiệp. Ban cán sự nội thành không còn đủ người để hoạt động. Các hộ ngoại thành cũng bị địch càn quét gắt gao, nhất là hộ 16.

Trước tình hình khó khăn nêu trên, không ít cán bộ, chiến sĩ, cơ sở cách mạng tại chỗ hoang mang dao động. Một số người xin tạm nghỉ công tác, nằm im hoặc thoái thác nhiệm vụ. Cá biệt có người bỏ ra đầu hàng giặc. Số cán bộ còn hoạt động hoặc buộc phải hạn chế xuất hiện đi lại, hoặc bị địch theo dõi gắt gao phải tránh xa khỏi địa bàn, chuyển vùng, ẩn náu trong các quận hộ bạn, tách khỏi cơ sở, không nắm được quần chúng và tình hình phong trào.

Mặc dù vậy, ngoài các trọng điểm đánh phá của địch, tại nhiều nơi khác trong thành phố, nhất là những nơi giáp với vùng ven đô, phong trào đấu tranh cách mạng của ta vẫn được giữ vững. Ở quận 4, các chi bộ trường học vận động học sinh tổ chức nhiều buổi lễ đoàn kết. Học sinh, sinh viên thành lập các tổ chức biến tướng như hội âm nhạc, nhóm đá banh, nhóm học Việt ngữ thu hút nhiều người tham gia. Đảng bộ Hoa Kiều nối được liên lạc với Đặc khu ủy. Các đoàn thể Hoa Kiều tổ chức sinh hoạt kháng chiến thường xuyên và chặt chẽ hơn. Công nhân, nhân dân các hộ trong quận 2, quận 3 tổ chức nhiều cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, quyền lợi về kinh tế như xây lắp thêm vòi nước, không đuổi nhà, bảo đảm vệ sinh. Sau vụ hỏa hoạn tháng 3 năm 1945, ở xóm Bèo đường Dismnde (nay là đường Đề Thám), quần chúng lao động bị đuổi nhà phát động đấu tranh tố cáo địch trên báo chí, đã đưa lên Tòa đốc lí đòi cứu hộ và ở lại chỗ cũ. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi.


(1) Số đoàn viên cứu quốc và đảng viên tụt xuống còn 1/3 so với tháng 8 năm 1950.
(2) Thị xã Gia Định, Bình Hòa, Bà Chiểu, Thạnh Mĩ Tây và vùng Thị Nghè, Đa Kao.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:41:58 AM
*
*   *

Tại tỉnh Gia Định, từ mùa thu 1950, thực dân Pháp tăng quân đóng lại các đồn bót đã mất và thành lập thêm nhiều tháp canh mới. Từ các đồn bót này, chúng bung ra lấn chiếm các vùng ở Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè, khống chế, kiểm soát nghiêm ngặt ở các ngã đường giao thông dẫn vào thành phố, đưa quân càn quét mãnh liệt vào các căn cứ Bình Mĩ, Bén Cát, Vườn Thơm, Rừng Sác. Đặc biệt các cuộc hành quân càn quét của địch uy hiếp mạnh căn cứ của ta ở Hóc Môn và Bến Cát, ngăn cắt hành lang vận tải và thông tin liên lạc từ thành phố lên căn cứ Hố Bò, An Nhơn Tây và Long Nguyên.

Tháng 10 năm 1950, phối hợp với chiến dịch biên giới, Bộ tư lệnh Khu 7 mở chiến dịch Bến Cát, nhằm mục đích cắt đứt và giải phóng đường số 7, đường số 14 của địch, mở rộng căn cứ liên hoàn của ta hai bên sông Sài Gòn, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong toàn khu, mở thông đường tiếp tế từ Khu 8 lên Sài Gòn và vùng văn cứ miền Đông Nam Bộ.

Bến Cát nằm về phía Tây Bắc Sài Gòn, kẹp giữa đường 13 về phía Đông và sông Sài Gòn về phía Tây. Với riêng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, chiến dịch Bến Cát sẽ có tác dụng chia cắt đường 5 Hóc Môn, giải tỏa áp lực của địch ở Hóc Môn vào căn cứ của ta, nối thông hành lang từ Sài Gòn lên căn cứ của Đặc khu. Tham gia với lực lượng tiến hành chiến dịch, ngoài số các đơn vị bộ đội chủ lực biên chế trong các tiểu đoàn của trung đoàn Đồng Nai, tỉnh Gia Định có một số đại đội độc lập của huyện Hóc Môn và hàng trăm dân công được huy động sẵn sàng đi vận tải lương thực, vũ khí, tải lương, phá đường. Nhiệm vụ của tỉnh là tập trung lực lượng đánh bót Rạch Kiến, hỗ trợ cho lực lượng của trên tiêu diệt một số mục tiêu khác dọc đường số 7 và đường số 14, đánh quấy rối tiêu hao địch trên các đường giao thông, kềm chân quân địch tại khu vực Hóc Môn.

Rạch Kiến là một bót lớn được địch xây dựng kiên cố (trong hệ thống đồn bót nằm giữa Bến Súc và Rạch Bắp). Nằm sát bờ sông Sài Gòn, đối diện xã Phú Mĩ Hưng. Tại đây có hai trung đội địch được trang bị súng máy và pháo cối. Quan niệm đây là chiến dịch “chính quy” phải có súng lớn tham gia, Ban chỉ huy quân sự tỉnh Gia Định cho moi một khẩu súng ca nông 75 li (chôn giấu từ năm 1949) để sử dụng trong trận đánh. Theo kế hoạch, đại bác của ta khai hỏa bắn vào bót, yểm trợ cho bộ binh vận động tiếp cận diệt bót.

21 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1951, chiến dịch Bến Cát bắt đầu. Quân ta tiến công địch ở tháp canh Sunaud và đồn Bến Súc. Ngày 18 tháng 10, lực lượng vũ trang Gia Định nổ súng tiến công bót Rạch Kiến. Ca nông mới bắn được vài chưa trúng địch thì bị hỏng. Quân địch trong đồn dùng hỏa lực bắn trả mãnh liệt, bộ binh ta không xông vào được. Sau khi chờ sửa ca nông mãi không được, ban chỉ huy trận đánh quyết định cho bộ đội rút lui. Trận đánh không thành công.

Ngày hôm sau, giặc Pháp tổ chức trận càn quét lớn vào căn cứ của ta. Chúng điên cuồng sục sạo cố tìm bằng được khẩu pháo của ta. Nhiều nhà cửa, ruộng vườn bị chúng đốt cháy, phá phách. Ta bảo vệ được khẩu pháo an toàn.

Các lực lượng tham gia chiến dịch của tỉnh Gia Định vẫn tiếp tục chiến đấu, phá hoại giao thông địch và bảo đảm chiến đấu trong cả ba đợt của chiến dịch. Đầu tháng 11, bót Rạch Kiến bị hạ bằng lối đánh đặc công kết hợp xung kích của đơn vị bạn. Ngày 15 tháng 10 năm 1950, chiến dịch Bến Cát kết thúc thắng lợi.

Lần đầu tiên, quân và dân Gia Định tham gia một chiến dịch hợp đồng nhiều đơn vị, cũng là chiến dịch được coi là duy nhất diễn ra trên chiến trường miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp. Ý nghĩa thắng lợi của chiến dịch không những đạt được cơ bản yêu cầu đề ra ban đầu, mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho quân và dân miền Đông nói chung, tỉnh Gia Định nói riêng về khả năng hợp đồng tác chiến, về đánh đồn bót, sử dụng đặc công và bộ binh, pháo binh, chuẩn bị hậu cần và huy động lực lượng quần chúng tham gia với quy mô lớn.

Sau chiến dịch Bến Cát, địch phản kích đánh phá các khu căn cứ của tỉnh và các huyện. Nhiều vùng du kích của tỉnh trước kia nay trở thành vùng “xôi đậu” hay vùng bị tạm chiếm. An Phú Đông, một căn cứ của tỉnh từ đầu kháng chiến tồn tại trong thế giằng có suốt 5 năm nay bị giặc đóng bót. Vùng Tân Mĩ - Bình Lí, căn cứ của tỉnh trước đây, nay cũng bị đánh phá nặng. Các xã Long Phước Thôn, Tam Đa, Phú Hữu, căn cứ của huyện Thủ Đức, bắt đầu bị lấn chiếm. Các xã phía Nam huyện Hóc Môn, Đông Thạnh, Tân Hiệp, Tân Thạnh Đông, Xuân Thới Sơn cũng bị địch uy hiếp mạnh.

Phát huy thắng lợi chiến dịch Bến Cát, quân và dân Gia Định nỗ lực đánh địch giữ đất, giữ dân, bảo vệ căn cứ địa của tỉnh, của huyện. Cuộc chiến đấu giằng co giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Tổng kết công tác kháng chiến năm 1950, tỉnh Gia Định được Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ tặng giải nhất về “thành tích du kích chiến tranh, kinh tế tài chính, văn hóa xã hội” và được tuyên dương là một trong những tỉnh đứng đầu của Nam Bộ. Trong cuộc hội nghị dân quân chính của tỉnh, đồng chí Dương Quốc Chính, trưởng phái đoàn quân sự Trung ương nói: “Đồng bào Gia Định rất xứng đáng với truyền thống đấu tranh bất khuất của Mười tám thôn vườn trầu, của Nam Kì khởi nghĩa”.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:43:14 AM
Sang năm 1951, địch liên tiếp mở các cuộc đánh phá bình định. Chúng đóng bót sâu vào các vùng căn cứ dọc sông Sài Gòn, đường số 1, 5, 7, 8, 9 và An Phú Đông, Long Phước Thôn, An Nhơn Tây, Phú Hòa Đông, Rạch Bắp, kéo dài tới Dầu Tiếng. Địa bàn căn cứ của tỉnh bị thu hẹp không còn chỗ đứng chân. Vùng khu 5 Hóc Môn nhiều năm là căn cứ kháng chiến vũng chắc của tỉnh nay nằm trong vùng địch kiểm soát. Tỉnh phải dời căn cứ sang An Thành (Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một). Tháng 5 năm 1951, Pháp điều 3 tiểu đoàn có máy bay tàu chiến hỗ trợ mở cuộc càn vào căn cứ khu 5 Hóc Môn. Du kích và bộ đội ta chặn đánh quyết liệt trong ba ngày đêm, gây cho địch một số thiệt hại. Sau khi rút quân, địch để lại một đại đội lính ngụy đóng bót ở chợ An Nhơn Tây. Đại đội đóng bót này thường xuyên bị du kích và bộ đội ta tập kích quấy phá liên miên. Ban ngày, chúng ra khỏi bót thì bị đánh, ban đêm cố thủ trong bót thì bị đột kích. Suốt hai tháng đóng bót, quân địch không dám mở một trận càn nào, ngày đêm lo sợ bị đánh, bị tiêu diệt. Thêm vào đó, việc cung cấp lương thực, thực phẩm bị thiếu thốn do bị động chở tiếp tế của Sài Gòn bằng đường sông. Nhiều chuyến tàu tiếp tế bị bộ đội ta chặn đánh trên dọc đường hoặc khi vừa tới bến.

Đối phó với âm mưu lấn chiếm ra ngoại ô của địch, trong những tháng đầu năm 1951, tỉnh Gia Định tổ chức nhiều trận đánh đồn bót và đưa người về hoạt động ở các vùng sâu giáp ranh Sài Gòn. Bộ đội và du kích đánh bót Cây Bài (Phước Vĩnh An), bót Tân Quy (Tân Thạnh Tây), bót Cây Sộp (Tân An Hội), bót Tân Xuân (cách thị trấn Hóc Môn 2km). Ở Thủ Đức, ta đánh bót Ích Thạnh, bót ông Nhiêu, bót Cái Lơn. Ở Nhà Bè, lực lượng du kích trấn áp bọn tề, điệp ở các xã Phú Xuân, Tân Thuận.

Hoạt động chia cắt, lấn chiếm của địch trên toàn Nam Bộ tạo ra cho ta nhiều khó khăn. Tỉnh nào cũng có một hoặc hai huyện khó liên lạc được với tỉnh mình, buộc phải gắn liền với một tỉnh lân cận để phối hợp về mặt quân sự và tiếp tế. Mặt khác địa bàn hoạt động của tỉnh cũng không tương ứng với yêu cầu hoạt động quân sự. Việc phân chia lại chiến trường và tổ chức lại lực lượng trở nên nhu cầu bức xúc.

Cuối tháng 6 năm 1951, theo chủ trương của Trung ương Cục(1), Nam Bộ được chia làm hai phân liên khu, miền Đông và miền Tây. Các tỉnh miền Đông Nam Bộ tiến hành điều chỉnh lại tổ chức địa giới. Tỉnh Gia Định được chia ra, nhập về ba tỉnh mới. Hai huyện Gò Vấp và Hóc Môn nhập về tỉnh Gia Ninh (gồm tỉnh Tây Ninh, hai huyện Đức Hòa Thành và Trung Huyện của tỉnh Chợ Lớn, hai huyện Gò Vấp và Hóc Môn của tỉnh Gia Định); huyện Thủ Đức nhập vào tỉnh Thủ Biên (Thủ Dầu Một - Biên Hòa); huyện Nhà Bè và Rừng Sác nhập về tỉnh Bà Chợ (Bà Rịa - Chợ Lớn). Việc thành lập tỉnh mới kéo theo sự sắp xếp lại bộ máy hành chính, tổ chức quân sự và xây dựng căn cứ đứng chân của tỉnh, Trung đoàn Đồng Nai giải thể. Các tỉnh xây dựng các tiểu đoàn tập trung mạnh. Tỉnh Gia Ninh có tiểu đoàn 306. Tỉnh Bà Chợ có tiểu đoàn 300. Tỉnh Thủ Biên có tiểu đoàn 303.

Sự sắp xếp lại chiến trường, tổ chức lại lực lượng đã tạo điều kiện khắc phục tinh trạng bị động do địch phong tỏa chia cắt địa bàn, bảo đam sự chỉ đạo thông suốt xuống các chiến trường, các lực lượng, bảo đảm cho mỗi tỉnh có đủ căn cứ đứng chân, lực lượng và cơ sở vật chất đã tiến hành cuộc kháng chiến một cách chủ động, linh hoạt hơn tại địa phương.

Tại tỉnh Gia Ninh, tỉnh ủy mới được chỉ định gồm 13 người (Gia Đinh 9, Tây Ninh 2, Chợ Lớn 2) do đồng chí Phạm Văn Chiêu làm bí thư, đồng chí Tô Ki làm tỉnh đội trưởng. Chiến trường của tỉnh lúc này được mở rộng và chia thành 2 vùng tác chiến rõ rệt:

- Vùng ven đô và các vùng bị tạm chiếm cùng vùng du kích khác (Gò Vấp, Hóc Môn, Đức Hòa Thành, Trung Huyện, Trảng Bàng, Dương Minh Châu, Châu Thành).

- Vùng “Đất thánh Cao Đài” (gồm gần nửa triệu tín đồ Cao Đài sống chung quanh Tòa thánh Tây Ninh và rải rác các vùng lân cận; có quân đội của số chức Cao Đài phản động chống lại kháng chiến.

Từ năm 1951, trên chiến trường Gia Ninh, ta vừa phải đương đầu với giặc Pháp, lại vừa phải đương đầu với quân đội mang danh nghĩa Cao Đài do Pháp tổ chức.

Nhằm tạo ra và khoét sâu mâu thuẫn giữa Cao Đài và lực lượng kháng chiến, từ năm 1951, giặc Pháp dùng quân đội Cao Đài đánh phá các vùng du kích và vùng ta kiểm soát, nhất là khu vực chung quanh căn cứ Dương Minh Châu. Phân liên khu ủy miền Đông đề ra chính sách Cao Đài vận, mục đích làm lính Cao Đài và tín đồ Cao Đài nhận rõ âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp. Tỉnh Gia Định Ninh và các đơn vị vũ trang tổ chức nhiều đội vũ trang tuyên truyền đột nhập vào các vùng tập trung tín đồ Cao Đài, các cứ điểm của bộ đội Cao Đài, gọi loa giải thích chính sách của Cách mạng và kêu gọi họ đoàn kết chống kẻ thù xâm lược. Các đơn vị vũ trang được chỉ đạo cố gắng tránh đụng độ, không đánh bộ đội Cao Đài nếu bộ đội Cao Đài không đánh ta và khi đụng đầu với bộ đội Cao Đài thì kêu gọi họ đừng đánh phá vào vùng Cách mạng kiểm soát, đứng làm bia đỡ đạn cho giặc.

Thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt để đẩy quân đội Cao Đài lao vào con đường chống phá kháng chiến quyết liệt. Chúng mở các cuộc càn quét dài ngày và thực hiện đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Ngày nào cúng cũng bắn giết hàng chục người và bắt nhiều thanh niên đem chặt đầu, ném xác xuống sông ở cầu Xáng, cầu Bà Bếp. Ngày 10 tháng 8 năm 1951, địch huy động 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội công binh và nhiều xe tăng từ Sài Gòn theo quốc lộ 1 kéo lên đánh phá khu Tân Phú Trung, Tân An Hội, Phước Vĩnh An, một căn cứ du kích nằm ngay phía Bắc Sài Gòn. Địch bao vây liên tục suốt 15 ngày, bắn hàng chục ngàn trái đại bác, dùng hơn 2000kg bộc phá đánh vào địa đạo của ta. Du kích và bộ đội địa phương Hóc Môn kiên cường bám trụ chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao hàng trăm tên địch.


(1) Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2 năm 1951), Xứ ủy Nam Bộ đổi thành Trung ương Cục.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:45:24 AM
Do phải chấp hành nghiêm chủ trương của trên, bộ đội ta trong nhiều trường hợp buộc phải né tránh hoặc rút lui mỗi khi thấy quân đội Cao Đài đi ngang qua càn quét.

Lợi dụng chủ trương Cao Đài vận của ta, quân Pháp thường bố trí quân đội Cao Đài đi trước trong các cuộc hành quân càn quét. Chúng dùng thủ đoạn ra lệnh cho quân đội Cao Đài không nổ súng chờ cho bộ đội Cao Đài đi qua, sau đó mới quay trở lại phối hợp với bộ phận quân Pháp đi sau bao vây đánh lại ta từ hai phía. Không đánh quân đội Cao Đài, ta đã không đánh được Pháp mà còn bị thiệt hại nặng về người, mất vũ khí, mà bắn lại bộ đội Cao Đài thì sợ sai chính sách. Nhiều cán bộ chỉ huy quân sự hoang mang, chưa tìm ra được biện pháp giải quyết. Trong lúc đó, đồng bào tỏ thái độ rõ ràng: “Lôi kéo thì cứ lôi kéo, còn đánh thì cứ phải đánh và phải đánh mạnh mới lôi kéo được. Các anh sợ bộ đội Cao Đài thì rút đi, giao súng lại cho chúng tôi”(1).

Những biểu hiện hữu khuynh trong thực hiện chủ trương Cao Đài vận đã làm cho tình hình chiến trường ở Gia Ninh ngày càng căng thẳng hơn.

Tại vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, địch ráo riết thực hiện “bình định”, lập thêm nhiều trường học để thu hút đồng bào từ vùng du kích và căn cứ về vùng chúng kiểm soát. Hầu hết các huyện phía Nam của tỉnh đều bị đánh phá nặng, nhiều nơi bị lấn chiếm.

Tuy nhiên, trong điều kiện vô cùng khó khăn như vừa nêu phong trào du kích chiến tranh ở Gia Định (cũ) vẫn được duy trì. Các vùng Thủ Đức, Trung Huyện, Hóc Môn vẫn giữ được hoạt động du kích như trước. Đồng bào vùng Đông Hưng Thuận, Vĩnh Lộc, Nhị Hòa (Gò Vấp) nằm sâu trong vùng địch kiểm soát vẫn kiên trì đấu tranh chống đuổi nhà, cướp đất. Chung quanh các thị trấn huyện lị, tiếng súng diệt tề, trừ gian của du kích vẫn tiếp tục nổ ra. Đồng bào trong các huyện vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, tích cực ủng hộ kháng chiến, góp công, góp của cho cách mạng, đưa con em mình vào du kích, vào bộ đội.

Tại chiến khu Rừng Sác, theo chủ trương của trên, để phát triển chiến tranh du kích và tiếp tục xây dựng căn cứ, trung đoàn 300 chia thành các đại đội và đội biệt động đi hoạt động khắp nơi… Phát huy thắng lợi trận đánh tàu Sai - Loubarbier, các đội binh chủng chuyên môn (ngày càng phát triển về số lượng và được trang bị thêm một số súng SZB, SZA) tổ chức nhiều trận đánh tàu liên tiếp trên sông Lòng Tàu. Ta làm chủ được từng thời gian một số đoạn trên sông Lòng Tàu và sông Thị Vải.

Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động đánh tàu địch của các đội binh chủng chuyên môn, trung đoàn còn tổ chức các đội bắn tỉa dọc sông. Bị bắn tỉa thường xuyên, bọn lính hoảng sợ chui hết xuống dưới boong mỗi khi tàu vào đến ngã Bảy hoặc ra đến Nhà Bè. Nhờ đó, các đơn vị binh chủng hoạt động dễ dàng hơn. Trung đoàn còn kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tổ chức các đội đặc công thủy chuyên làm nhiệm vụ chuyên đánh tàu hàng của địch trên sông Soài Rạp (chủ yếu là số tàu tuyến Nam Vang - Sài Gòn, lục tỉnh - Sài Gòn) lấy lương thực, máy móc cung cấp trang bị cho ta.

Tháng 6 năm 1951, tỉnh Bà Chợ thành lập gồm 4 huyện Long Đất, Vũng Tàu, Long Thành, Liên Huyện, do Võ Văn Khánh làm bí thư tỉnh ủy, Trần Thắng Minh làm tỉnh đội trưởng. Tiểu đoàn 300 được Khu 7 giao về làm tiểu đoàn tập trung của tỉnh Bà Chơ. Khu Rừng Sác nhập vào liên huyện gồm Nhà Bè - Cần Đước - Cần Giuộc do Hồng Vũ làm Bí thư huyện ủy. Huyện ủy xây dựng một đại đội độc lập gồm nhiều binh chủng thủy lôi, bộ binh, biệt động, hoạt động ở hướng Nhà Bè, Cần Giờ.

Phối hợp với tiểu đoàn 300, các lực lượng vũ trang Liên Huyện đẩy mạnh hoạt động đánh địch, đặc biệt đánh tàu và kho tàng của địch trong Rừng Sác. Giặc Pháp dùng máy bay ném bom ven Rừng Sác và dùng pháo bắn sâu vào những nơi chúng nghi có ta đóng quân. Tàu tuần tiễu của chúng rà quét ngày đêm trên sông nhằm ngăn chặn lực lượng ta tấn công vào đất liền. Tuy vậy, nhiều căn cứ kho tàng của địch dọc sông Lòng Tàu vẫn bị ta tấn công, đốt cháy. Tháng 6 năm 1951, tổ chức đặc công của tiểu đoàn 300 đột nhập đánh cháy kho xăng Nhà Bè. Kho xăng Nhà Bè được bảo vệ rất chu đáo, xung quanh có 5 lớp rào kẽm gai kết hợp với mìn và lựu đạn gài. Các lô cốt được dựng lên cách đều nhau, bảo đảm quan sát và báo động liên hoàn trong toàn khu vực, ban đêm có đèn pha chiếu sáng. Ba đại đội Âu Phi thay nhau canh gác suốt ngày đêm. Nửa đêm, tổ đặc công gồm 5 chiến sĩ do Tiến chỉ huy đã bí mật lọt vào khu vực kho và dùng mìn điện gây nổ cháy các bồn xăng. Ngọn lửa của hơn nửa triệu lít xăng bốc cháy kéo dài đến 16 giờ ngày hôm sau mới tắt.

Cùng với việc đánh tàu và căn cứ kho tàng của địch ở Rừng Sác, tại các xã thuộc vùng tự do, công tác “hậu cần tại chỗ” được chú trọng đẩy mạnh. Bước sang năm 1951, vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực càng gặp khó khăn, phần do địch kiểm soát gắt gao. Bộ đội ở Rừng Sác phải ăn các loại hải sản như cá, cua, còng và các loại rau rừng, kể cả đọt chà là(2) trừ cơm. Bà con ở các xã có diện tích trồng lúa đã đem phần lớn sản phẩm thu hoạch được ủng hộ kháng chiến và nhận về các “biên lai gạo” do những đơn vị ở Rừng Sác mua chịu hoặc mượn.

Ngoài lương thực, nước ngọt cũng là một vấn đề nóng bỏng, gay gắt giữa một vùng bao la nước mặn. Tạo và trữ nước ngọt được coi là vấn đề then chốt trong đời sống đối với nhân dân và chiến sĩ hoạt động ở Rừng Sác. Để lấy được nước ngọt, ở vùng như An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, Thạnh An… phải vượt hàng chục cây số kênh, rạch, sông ngòi, phải tổ chức lực lượng lấy, vận chuyển và bảo vệ có kế hoạch tác chiến như đi chiến đấu. Trên mặt trận này, thường xuyên xảy ra những trận nổ súng giữa các chiến sĩ ta với các chốt và các toán phục kích của giặc, đôi khi phải hi sinh cả tính mạng.

Mùa thu năm 1951, lực lượng vũ trang Liên Huyện được củng cố, thành lập hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn chuyên đánh thủy lôi có trang bị súng không giật 72 li và một tiểu đoàn bộ binh. Ban chỉ huy Liên Huyện (Phạm Văn Binh huyện đội trưởng) điều hai đại đội lên hoạt động trên kinh Bo Bo (Đồng Tháp Mười). Lực lượng còn lại đóng quân ở Rừng Sác, hoạt động ở cả ba huyện cũ, hướng chính vẫn là các xã đất liền thuộc Nhà Bè và vùng bến cảng.

Huyện Thủ Đức được chuyển về tỉnh Thủ Biên từ tháng 6 năm 1951, trở thành vùng tạm bị chiếm ở phía Đông Bắc Sài Gòn. Hoạt động quân sự ở đây vẫn duy trì liên tục, nhưng diễn ra nhỏ lẻ. Bộ đội địa phương phân tán thành các đội công tác lẻ, bám chiến trường, làm nòng cốt cho các bộ phận du kích xã, ấp đánh giặc, xây dựng phong trào chiến tranh du kích.


(1) Về công tác Cao Đài trong kháng chiến chống Pháp - Tài liệu TD 212 Phòng Khoa học lịch sử quân sự Quân khu 7.
(2) Chà Là là một loại cây mọc phổ biến ở vùng rừng ngập mặn ven biển.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:46:19 AM
*
*   *

Tháng 8 năm 1951, tướng Bondis đến Sài Gòn thay Chanson làm tư lệnh lục quân Pháp tại Việt Nam. Bondis tiếp tục đường lối bình định cũ, nỗ lực cô lập Sài Gòn với các tỉnh Nam Bộ, phá hoại nền kinh tế kháng chiến của ta.

Cũng từ tháng 6 năm 1951, công việc phân chia sáp nhập tỉnh, tổ chức bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể, vũ trang về cơ bản được hoàn tất ở các huyện ngoại thành.

Trung tuần tháng 8 năm 1951, Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn hội nghị cán bộ quân sự toàn Đặc khu. Hội nghị đã phân tích những bộc lộ nhược điểm trong xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang như tư tưởng xây dựng bộ đội chính quy đánh lớn, thích tác chiến theo lối hợp đồng lớn, “chính quy”… không phù hợp với điều kiện chiến trường ở Sài Gòn và vùng ven (bị địch kiểm soát và chia cắt mạnh), công tác bảo đảm hậu cần của ta chủ yếu dựa vào sự cung cấp phân tán trong nhân dân. Hội nghị đã đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm phát huy hiệu quả thực tế hoạt động của các lực lượng vũ trang trong điều kiện địch kiểm soát đánh phá gắt gao, cơ sở đoàn thể bị vỡ nhiều. Đây là hội nghị chuyên đề công tác quân sự nội thành đầu tiên của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn… Các cơ quan quân, dân, chính ở ngoại thành cũng được giản chính. Nhiều cán bộ được điều về làm nhiệm vụ củng cố cơ sở. Nghị quyết của hội nghị đã kịp thời uốn nắn những biểu hiện không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của chiến trường, tổ chức lại và đẩy mạnh hoạt động lực lượng vũ trang nội thành trong điều kiện cuộc chiến đấu ngày càng trở nên gay gắt hơn.

Hội nghị quân sự của Đặc khu ủy diễn ra trong lúc địch tăng cường đánh phá các cơ sở trong nội thành. Chính phủ bù nhìn Trần Văn Hữu ra lệnh tổng động viên (theo (Dụ số 12 ngày 15 tháng 7 năm 1951) và chuẩn bị kiểm tra dân số. Các bộ máy tuyên truyền của địch ngày đêm ra rả động viên xây dựng “Quân đội quốc gia”. Hàng trăm thanh niên ở thành phố bị ép buộc nhập ngũ và đưa đi các trại huấn luyện ở Sóc Trăng, Cây Diệp.

Hoạt động của địch gây cho ta nhiều khó khăn trong việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị quân sự của Đặc khu ủy. Liên tiếp 9 cán bộ quân sự bị địch bắt giam khi chưa kịp phổ biến tinh thần Nghị quyết xuống các đơn vị. Trước âm mưu và hành động của địch, Đặc khu ủy chỉ đạo cho các đơn vị, địa phương chuyển trọng tâm công tác sang chống bắt lính và phá kế hoạch xây dựng quân đội bù nhìn của địch. Tuy nhiên, do cán bộ của ta lo giữ bí mật, tránh sự kiểm tra của địch nên hoạt động ít thu được kết quả. Trong hai tháng 8 và 9, một số cơ sở của ta bị phá vỡ ở quận 1 và quận 2. Ban Thường vụ Đặc khu ủy mất liên lạc với các quận 1, 2 và 4. Rải rác tại các quận, hộ trong thành phố, thanh niên và những gia đình có con em đến tuổi đăng lính đã tìm mọi biện pháp khôn khéo đấu tranh với địch. Mặc dù các cuộc đấu tranh này không phát triển thành phong trào rộng, nhưng trên thực tế có ảnh hưởng lớn đối với đồng bào, cán bộ, các đoàn viên, đội viên trong thành phố.

Tháng 10 năm 1951, chiến dịch kiểm tra bắt lính của địch lắng xuống. Tình hình trở nên ổn định hơn. Đặc khu bắt đầu triển khai các đội Quyết tử vào phụ trách từng khu vực hỗ trợ cho phong trào nội thành.

Đại đội 3721 hoạt động ở khu quân sự B (phía Sài Gòn - Nancy), khu Chợ Lớn mới, khu kĩ nghệ, hộ 15; lấy Vĩnh Lộc, Bình Trị Đông, Phú Thọ Hòa, hộ 15, chợ Thiếc làm căn cứ bàn đạp.

Đại đội 3824 hoạt động ở khu người Âu, khu hành chính, khu thương mại Hoa - Việt, khu trường bay, Phú Nhuận, Hòa Hưng, Vĩnh Hội; lấy An Phú Đông, Tân Thới Hiệp và vùng Bàn Cờ làm căn cứ bàn đạp.

Đại đội 2763 nặng về củng cố tổ chức, chấn chỉnh từng bộ phận, nâng cao trình độ kĩ thuật chiến đấu của trung đội 60 tập trung (chuẩn bị sau này tách cho các hộ), phát triển trung đội 55 đưa sâu vào quận 3 và các hộ 16, 15, 7, 8 làm nòng cốt cho việc xây dựng dân quân du kích cơ sở.

Do chủ yếu làm nhiệm vụ củng cố, xây dựng lực lượng nên trong thời gian này các đơn vị ít hoạt động tác chiến. Gần cuối năm 1951, chỉ có một số đơn vị bắt đầu chiến đấu lẻ tẻ (tháng 11 năm 1951 ném lựu đạn trước nhà hát Tây và trước dinh Xã Tây). Nhiều cán bộ chiến sĩ trong khi chưa ổn định xong thế đứng chân đã bị địch bắt ngay. Chỉ tính trong 5 tháng cuối năm 1951, ta bị địch bắt và sát hại 25 cán bộ trung đội và 35 cán bộ tiểu đội.

Để tránh bị lộ, vỡ lan rộng và tạo điều kiện phát huy hết khả năng của các ngành chuyên môn, đầu tháng 12 năm 1951, Thường vụ Đặc khu chủ trương tạm thời cắt đứt liên lạc ngang giữa các ngành chuyên môn với các cấp ủy quận, hộ nội thành. Các cơ quan chuyên môn đầu não ở ngoại thành chỉ huy thẳng ngành dọc của mình. Đồng thời, Đặc khu tiến hành tổ chức lại cơ quan Đặc khu ủy, lập ra các Ban cán sự (về Đảng) và cơ quan quân sự Đặc khu, họp nhất hai cơ quan tham mưu, chính trị làm một gọi là Ban tham mưu chính. Toàn bộ cơ quan Đặc khu ủy và cơ quan quân sự Đặc khu được chia thành 3 bộ phận bố trí ở 3 hướng xung quanh thành phố.

Ở hướng Bắc: Ban cán sự 1 do Đào Tấn Xuân chỉ đạo. Ban tham chính I do Nguyễn Chanh phụ trách. Căn cứ đặt tại Tân Long (Thủ Dầu Một).

Ở hướng Đông: Ban cán sự II do Nguyễn Hộ chỉ đạo. Ban tham mưu chính II do Nguyễn Tứ Phương phụ trách. Căn cứ đặt tại Nhơn Trạch (Long Thanh - Biên Hòa).

Ở hướng Tây: Ban cán sự (gồm bộ phận chính của cơ quan Đặc khu ủy) do Trần Quốc Thảo chỉ đạo. Ban tham chính III (cũng là bộ phận chính của cơ quan quân sự Đặc khu do Lương Đường Minh phụ trách. Căn cứ đặt bên sông Vàm Cỏ Đông (Chợ Lớn).

Việc chấn chỉnh lại hệ thống tổ chức Đảng và quân sự ở nội thành theo hướng gọn nhẹ, chia nhỏ đã tạo điều kiện bảo đảm sự chỉ đạo sát thực, làm cho các hoạt động kháng chiến ở từng nơi diễn ra chủ động, kịp thời và linh hoạt phối hợp với nhau.

Nhìn chung, từ tháng 8 năm 1950 đến cuối năm 1951 là giai đoạn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bị địch bắt khủng bố, đánh phá ác liệt. Phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề. Các cấp ủy Đảng và chính quyền kháng chiến đã nỗ lực điều chỉnh tổ chức chiến trường, lực lượng, cũng như phương thức, biện pháp tiến hành đấu tranh nhằm đối phó với âm mưu và hành động của địch, đấu tranh giằng co quyết liệt với chúng, từng bước khôi phục và gìn giữ phong trào kháng chiến.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:47:11 AM
II. THỰC HIỆN PHƯƠNG CHÂM PHƯƠNG THỨC ĐẤU TRANH THÍCH HỢP
TRÊN BA VÙNG KHÁNG CHIẾN, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO
CÁCH MẠNG NỘI ĐÔ, GÓP PHẦN CÙNG TOÀN MIỀN VÀ CẢ NƯỚC
ĐÁNH THẮNG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN PHÁP


Bước sang năm 1952, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta trên cả nước đang phát triển thuận lợi. Tại chiến trường Bắc Bộ, giặc Pháp thua đau trong chiến cuộc đông xuân 1951-1952. Riêng ở Nam Bộ, chúng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách bình định, củng cố các vùng chiếm đóng, lấn sâu vào các khu căn cứ của ta hòng tìm cách tiêu hao sức chiến đấu và ngăn chặn hoạt động của lực lượng kháng chiến từ ngoại ô vào thành phố. Chúng tăng cường cướp bóc và tận dụng khả năng về nhân, vật lực tại chỗ nhằm duy trì tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược.

Tại Sài Gòn, địch tăng cường thêm quân, mở rộng các căn cứ quân sự và đẩy mạnh đánh phá trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa. Lực lượng ngụy quân trong năm 1952 ở Sài Gòn và các tỉnh xung quanh là 41.866 tên (trong tổng số 77.234 tên trên toàn Nam Bộ), số Âu Phi là 21.165 tên (trong tổng số 33.807 tên trên toàn Nam Bộ). Sân bay Tân Sơn Nhất được mở rộng đến đường quốc lộ 1 đi Phnôm Pênh và qua con đường địa phương số 15 đi Hóc Môn. Một con đường xe lửa được xây dựng mới cùng với một con đường đã rộng 30 mét nối cầu Bình Lợi với Tân Sơn Nhất. Bình Lợi biến thành một quân cảng quan trọng dùng để chuyển tải vũ khí, đạn dược, nguyên liệu và quân dụng chiến tranh của Pháp vào khu vực kho tàng hậu cần lớn vừa được mở rộng ở An Hội và Hạnh Thôn, Gò Vấp. Cùng với việc mở rộng căn cứ quân sự, địch tăng cường hoạt động mật thám, tung do thám chỉ điểm thâm nhập vào nội bộ của ta. Chúng phân chia nhiệm vụ và phạm vi hoạt động giữa các loại tay sai như cảnh sát, mật thám, Bình Xuyên… nhằm tận dụng hết “sở trường” của bọn này trong nhiệm vụ đánh phá cách mạng. Ở ngoại thành, địch tiếp tục bình định khu vực vùng ven, đẩy lực lượng ta ra xa, tăng cường quyền lực cho chính quyền bù nhìn các cấp và ra sức tuyên truyền chia rẽ đường lối kháng chiến, chống phá Mặt trận đoàn kết toàn dân của nhân dân ta.

Để chống âm mưu, hành động của địch, đầu năm 1952, Ban chỉ huy quân sự Đặc khu đề ra nhiệm vụ chung là:

- Chống lại sự phát triển sâu rộng của bọn tai mắt cảnh binh, mật thám, công an, cảnh sát, Bình Xuyên, những hoạt động xâm nhập lấn vào cơ sở tổ chức của ta tích cực trừ gian, duy trì bằng được sự bảo tồn lực lượng và hoạt động kháng chiến của ta ở thành phố.

- Tăng cường ý thức phòng gian, phản gián và công tác bí mật, xây dựng khí tiết cách mạng, tinh thần quyết tử trong lúc bị địch bắt, tra tấn để bảo vệ tổ chức.

- Chỉnh đốn các cơ quan chuyên môn, giản chính triệt để, tăng cường chất lượng cán bộ, phân tán để nắm cho sát các đơn vị và bám sát được địa bàn hoạt động chung quanh thành phố. Đưa biệt động đội 2763 vào thành lập Ban quân sự quận 3 để xây dựng lực lượng vũ trang trong nội thành.

Quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn tiếp nhận nhiệm vụ nêu trên trong hoàn cảnh không bớt khó khăn: phải luôn luôn đương đầu với địch mạnh hơn gấp bội về mọi phương diện và luôn tấn công ta hằng ngày hằng giờ, tình trạng thiếu cán bộ, thiếu chủ động và khó khăn trong việc đào tạo bổ tức cán bộ, huấn luyện đội viên, bộ máy chỉ huy lãnh đạo phần nhiều nằm ở ngoại thành, lại thiếu cơ sơ bàn đạp nên việc chỉ huy thường bị động, không sát thực tế và không kịp thời, phương tiện giao thông liên lạc yếu kém, việc phổ biến chủ trương không kịp thời và đúng lúc. Các đơn vị vũ trang của Đặc khu đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, ổn định một bước thế chân, bảo toàn lực lượng và thực hành một số trận chiến đấu đánh địch có hiệu quả.

Đêm tháng 3 năm 1952, đại đội Quyết tử Dương Văn Dương 2/300 phối hợp với một đại đội của tiểu đoàn 300 đánh tàu Lataken trên sông Soài Rạp. Tàu Tataken có trọng tải lớn nhất trong đoàn tàu của hãng SITA, chuyên vận chuyển hàng hóa, vũ khí, lương thực từ Sài Gòn đi Phnôm Pệnh (bằng đường sông Sài Gòn - Soài Rạp - Vàm Cỏ Đông - Mê Kông). Nhờ bố trí được trinh sát nằm trong hãng SITA, nắm được quy luật hoạt động vận chuyển của địch, đại đội 2/300 quyết tâm đánh tàu. Đơn vị xây dựng một đội đặc công nước gồm những chiến sĩ có khả năng bơi lặn giỏi hàng kilômét trên sông trong điều kiện có sóng gió mạnh. Trận đánh diễn ra nhanh gọn. Các chiến sĩ đặc công nước bơi ra giữa sông, ném móc leo lên tàu Talaken, dùng súng và lựu đạn khống chế bắt tài công và thủy thủ lái tàu vào xóm Rạch Lá, nơi có lực lượng phục kích của ta chờ sẵn. Ta thu 4 ôtô Peugeot, 100 xe đạp Peugeot, nhiều tấn bột mì, nhiều dụng cụ máy phay, máy tiện và các loại hàng hóa khác, sau đó đánh chìm tàu và dùng ghe chở chiến lợi phẩm về căn cứ an toàn. Đây là trận đánh đặc công nước đầu tiên của đại đội 2/300.

Đêm ngày 15 tháng 3 năm 1952, tổ đặc công Lê Văn Thọ cùng nhiều chiến sĩ huyện đột Gò Vấp đột nhập đốt cháy kho bom An Hội. Sau đó đêm 31 tháng 8 năm 1952, đại đội Quyết tử 3721 (chuyển thành đơn vị 205 đặc công) tổ chức một nhóm 3 đồng chí (Cung, Thanh, Liên) dùng mìn làm nổ tung 52000 tấn bom đạn các loại và trên 2000 phuy xăng tại khu vực Phú Thọ Hòa. Tiếng nổ kéo dài hơn một ngày đêm, cả Sài Gòn và vùng lân cận rung chuyển dữ dội. Một đại đội lính Âu Phi canh gác khu vực bị thương vong nặng.

Ngày 18 tháng 9 năm 1952, đơn vị quyết tử Thành lại tổ chức một tổ do Nguyễn Văn Cứng chỉ huy, cùng chiến sĩ Bùi Văn Ba vào nội thành, phối hợp với một chiến sĩ nội tuyến tiến công câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp tại góc đường Mac Mahon - Mayer (Nam Kì khởi nghĩa và Võ Thị Sáu ngày nay), diệt 60 sĩ quan Pháp.

Cuối năm 1952, các đồng chí Nguyễn Văn Linh (Bí thư Đặc khu ủy) và Phạm Ngọc Thạch (Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh Đặc khu) và chiến khu Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Trần Quốc Thảo đảm nhận nhiệm vụ Quyền Bí thư Đặc khu ủy. Tổ chức lãnh đạo và chỉ đạo của Đặc khu vẫn nằm trong tình trạng bị phân tán, mặc dù có sát cơ sở hơn.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:47:59 AM
Tại Gia Ninh, từ năm 1952 trở đi, trừ vùng Dương Minh Châu và huyện Châu Thành, còn lại đều trở thành vùng tạm bị chiếm. Địch tăng cường đánh phá, thực hiện âm mưu “tát nước bắt cá”, dồn lực lượng kháng chiến vào thế phải đầu hàng. Sự tranh chấp giữa ta và địch rất quyết liệt. Chúng tăng cường mức độ càn quét gấp nhiều lần so với những năm trước, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương chính sách của ta nhằm gay mất đoàn kết giữa cán bộ, bộ đội với đồng bào, phong tỏa gắt gao vùng ta kiểm soát, hòng không để một hạt gạo, một viên thuốc lọt ra vùng du kích, vùng căn cứ. Máy bay địch ngày đêm đánh phá, ném bom bừa bãi những nơi chúng nghi là cơ quan, chỗ đóng quân của ta. Chúng tung do thám, gián điệp, quân biệt kích vào các cuộc hành quân càn quét. Mặc dù sống trong vùng kìm kẹp ngặt nghèo của địch, đơn vị vùng tạm chiếm vẫn tham gia công tác kháng chiến. Từ những bà má chuyên lo đào hầm bí mật đến các em nhỏ chăn trâu ngoài đồng, tất cả đều biết lợi dụng sơ hở của địch để hoạt động có lợi cho cách mạng. Nhờ rút kinh nghiệm về phương pháp đấu tranh sát hợp và thiết thực, phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh chống bắt lính, chống đuổi nhà, chống tập trung dân, kết hợp với đấu tranh vũ trang được đẩy mạnh. Nhiều tên tề điệp nguy hiểm bị trừng trị ngay giữa thị trấn Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức… Nhiều bản án xử tội bọn Việt gian được đưa tận tay bọn chóng. Du kích bắt đầu đánh những trận bất ngờ, chớp nhoáng vào ngay những nơi mà địch cho là an toàn như Phú Xuân, Tân Thuận (Nhà Bè), Long Bình, Tam Đa (Thủ Đức).

Ở các vùng căn cứ, nhân dân cùng với bộ đội, du kích tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, tăng gia sản xuất, từng bước xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Nổi bật nhất là hoạt động tạm cấp ruộng đất và đóng thuế nông nghiệp. Đến mùa thu năm 1952, toàn tỉnh Gia Ninh đã cấp được trên một nghìn khẩu phần đất cho nông dân nghèo. Nhân dân hăng hái nộp thuế bằng các sản phẩm tự sản xuất được (hoặc bằng tiền) một cách tự nguyện. Phong trào đóng thuế nông nghiệp cho Chính phủ kháng chiến lan rộng vào cả vùng tranh chấp và tạm bị chiếm. Tại vùng tạm bị chiếm, định mức thuế bằng lúa gạo được tính thay bằng hàng hóa khác, hoặc bằng tiền. Giặc Pháp biết đồng bào có nộp thuế cho cách mạng, nhưng không ngăn chặn được. Bà con nông dân nói thẳng với bọn tề ngụy là phải làm nghĩa vụ cho cả “hai bên”, và không làm như vậy thì vùng tạm chiếm không thể sống “yên” được. Bọn ngụy sợ chết, sợ Việt Minh đánh bất ngờ, phải chịu thua trước lí lẽ của nhân dân.

Tháng 10 năm 1952, một cơn bão ập đến, tàn phá dữ dột, gây nên nạn úng lụt nghiêm trọng ở nhiều tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cả vùng phía Bắc Đặc khu bị chìm trong mưa, bão và ngập nước trong suốt nửa tháng trời. Nhiều nhà cửa, kho tàng bị đổ sập, hàng loạt vườn ruộng đang trồng cây lương thực và hoa màu bị cuốn sạch, hoặc bị thối rữa do chìm dưới 2, 3 mét nước. Hậu quả trực tiếp và nghiêm trọng nhất của bão lụt là gay ra nạn đói. Hàng vạn chiến sĩ đồng bào ở vùng căn cứ lâm vào cảnh thiếu ăn từng ngày. Tiêu chuẩn gạo của bộ đội ngày càng giảm dần, có lúc chỉ còn 2,5kg gạo trong một tháng. Thậm chí có nơi không đủ gạo nấu cháo cho thương binh ăn. Để ổn định đời sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong tỉnh, Tỉnh ủy Gia Ninh chủ trương:

- Tắt cả cơ quan, dân, chính đều phải đẩy mạnh sản xuất, trồng cây hoa màu ngắn ngày và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

- Tổ chức đường dây vận tải tiếp tế lấy gạo từ các tỉnh miền Tây về để cứu đói.

- Tập trung thu thuế nông nghiệp ở vùng tranh chấp và vùng giải phóng không bị thiên tai (ở mỗi vùng có biện pháp khác nhau).

- Vận động nhân dân tích cực đóng góp ủng hộ cho cách mạng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, sau cơn bão lụt, tất cả cán bộ, công nhân cơ quan của tỉnh đều được huy động vào công tác vận tải tiếp tế và sản xuất. Hình ảnh đội quân tải gạo từ kinh Ba Đồng Tháp Mười về các khu căn cứ miền Đông còn ghi lại dấu ấn sâu dậm trong lòng cán bộ và chiến sĩ Sài Gòn - Gia Định. Đó là những đoàn người gánh hoặc đội gạo băng qua “đồng chó ngáp”, suốt đêm không một chỗ nghỉ chân, không một chỗ đất khô để có thể đặt được 20kg gạo đội trên đầu xuống, những cuộc chiến đấu quyết liệt chống lại địch phục kích, tập kích đánh chặn dọc đường vận tải, máu chảy thấm đỏ những bông gạo. Khắp vùng căn cứ, đơn vị cơ quan nào cũng tích cực tham gia sản xuất. Nước rút đến đâu, khoai lang, bắp được trồng ngay đến đấy. Vịt, gà, heo được nhân giống và nuôi rộng rãi khắp các đơn vị cơ quan. Song song với việc khắc phục nạn đói, các mặt công tác văn hóa, xã hội cũng được tỉnh chú trọng chỉ đạo thực hiện. Các huyện xây dựng được bệnh viện, xã có nhà bảo sanh để phục vụ nhân dân. Chính quyền cách mạng được củng cố. Ta còn lập các tòa án cách mạng để xét xử bọn Việt gian phản động. Công tác xóa nạn mù chữ được duy trì và phát triển khắp nơi. Hoạt động quân sự bắt đầu có chuyển biến. Tỉnh xây dựng tốt tiểu đoàn tập trung, các đại đội địa phương huyện. Hầu hết các xã đều có tiểu đội du kích. Lực lượng ba thứ quân ngày càng phát triển về số lượng và nâng cao về chất lượng.

Tại Bà Chợ, bộ đội địa phương Nhà Bè kết hợp với một trung đội của huyện Cần Giuộc và một tiểu đội của huyện Cần Đước thành lập bộ đội địa phương liên huyện. Các đơn vị lựa một số cán bộ chiến sĩ làm nòng cốt xây dựng các đội binh chủng chuyên môn của huyện (trinh sát, đặc công, thủy lôi, hỏa tiễn). Đầu năm 1952, bộ đội địa phương chuẩn bị chiến trường phối hợp với tiểu đoàn 300 đánh chi khu Cầu Giờ. Chi khu này do hai đại đội thân binh (Partisan) đóng giữ, dưới quyền chỉ huy của tên quan hai người Pháp Alséry. Đây là một căn cứ quan trọng nằm trong hệ thống phòng thủ cửa biển ra vào sông Lòng Tàu của Sài Gòn. Lực lượng tiến công của ta gồm 1 đại đội của tiểu đoàn 300 do Nguyễn Văn Bứa chỉ huy và đại đội địa phương Liên Huyện do Trần Minh Tâm chỉ huy. Đêm 29 tháng 1 năm 1952, quân ta ở Long Thạnh và Đồng Hòa được nhân dân địa phương giúp đỡ phương tiện di chuyển bất ngờ đột nhập từ phía biển lên. Sau khi được nhân dân Cần Thạnh cung cấp tin tức chi tiết về lực lượng bố phòng và tình hình nội bộ của địch, nửa đêm ta bất ngờ đột kích (có nôi ứng hợp đồng mở cửa) nổ súng tấn công. Hai đại đội Partisan bị diệt gọn cùng tên trung úy Pháp. Ngay lúc bắt đầu nổ súng vào đồn chính, mũi xung kích đã phát loa kêu gọi làm rã một trung đội lính Cao Đài. Ta phá hủy một tháp canh. Bọn lính trong 5 tháp canh khác phải tháo chạy. Lực lượng ta làm chủ quận lị suốt đêm mồng 3 tết cho tới sáng. Đây là trận tiêu diệt căn cứ cấp huyện đầu tiên ở miền Đông Nam Bộ kể từ sau ngày Nam Bộ kháng chiến. Sáng hôm sau khi chiến trường vừa mới được thu dọn xong, quân Pháp đem 38 tàu chiến và tàu đổ bộ đến phong tỏa lực lượng của ta ở đây. Tàu chiến của địch đến vừa lúc các đơn vị của ta đang vượt sông Đồng Tranh. Địch phát hiện liền cho bủa vây toàn bộ các sông rạch ở vùng này. Một cánh quân lực lượng ta thoát khỏi vòng vây. Riêng hai cánh quân của Ngô Quang Phiếu và Trần Minh Tâm bị kẹt lại. Mười đêm ròng rã thiếu nước, đói cơm, các chiến sĩ phải sống bằng cua biển và bần chua. Đang trong lúc hiểm nghèo thì đơn vị Ngô Quang Phiếu gặp hai cha con ông già bán dưa hấu. Chiếc ghe chở dưa hấu của cha con ông già ở bên kia sông Đồng Tranh bị cuộc vây tỏa của giặc nên bị kẹt lại. Nhờ có dưa hấu, nhiều chiến sĩ trong tình trạng hôn mê được cứu sống. Sau cùng, cô gái tình nguyện ôm một cặp dưa bơi qua sông để báo cho đồng bào bên đó chuẩn bị đón bộ đội về. Riêng ông lão thì dẫn bộ đội qua một ngã mà ông biết giặc bố phòng lỏng lẻo. Ở đó cứ 15 phút có một chiếc tàu tuần tiễu chạy qua. Lợi dụng chiếc tàu tuần vượt qua, chiếc xuồng của ta lao băng qua sông. Cứ như vậy sau hơn 20 chuyến, chiếc xuồng của cha con ông bán dưa hấu đã đưa toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị Ngô Quang Phiếu vượt sông an toàn.

Cánh quân của Trần Minh Tâm chạm địch và chiến đấu quyết liệt trên sông Lò Vôi. Do địch đông và hỏa lực mạnh nên 150 người của ta phải phá vây thoát ra biển. Cả đại đội lạc vào rừng bốn bề là nước mặn, mọi người phải bắt sò hút nước và ăn đọt chà là để sống. Đến ngày thứ 9, cả đại đội men theo sông lên hướng Bắc để tìm dân, nhưng giữa chừng phải nằm lại vì bị tàu giặc chặn sông. Đến ngày thứ 10, gặp một người dân đi lấy củi, được người này đưa đường cắt rừng vượt vòng vây của giặc về căn cứ an toàn.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:48:59 AM
Sau thắng lợi trận đánh chi khu Cần Giờ, bộ đội địa phương Liên huyện chấn chỉnh lại tổ chức, học tập rút kinh nghiệm cho những trận đánh sau. Tháng 7 năm 1952, lại tiến công bót Bà Nghĩa, tiêu diệt hai tiểu đội Âu Phi, thu toàn bộ vũ khí. Sau trận đánh, địch huy động 2 tiểu đoàn do một quan năm Pháp chỉ huy càn quét trả đũa, ta diệt thêm một trung đội địch. Ngày 23 tháng 9 năm 1952, phối hợp với đặc công, đội binh chủng chuyên môn Liên Huyện tiêu diệt bót Bình Thạnh, diệt gần một trung đội lính Cao Đài. Liên tiếp trong các ngày 25, 26 tháng 9, ta chống địch càn quét, đánh chìm ba tàu trên sông Chàng Hảng và Bà Nghĩa, bẻ gẫy đợt càn quét của địch (có cả lính Âu Phi), một tên quan ba, một tên quan tư và nhiều hạ sĩ quan Pháp. Trong những tháng cuối năm 1952, lực lượng vũ trang Liên Huyện phối hợp với các bộ phận trinh sát, đặc công diệt bót Mĩ Khánh (giết chết hai tiểu đội lính Cao Đài), đánh tiêu hao nặng tiểu khu Cần Đước (diệt hầu hết số sĩ quan chỉ huy và hơn một trung đội lính địch).

Hơn một năm thành lập, lực lượng vũ trang Liên Huyện được nhân dân giúp đỡ đã tích cực bám sát địa phương, linh hoạt chiến đấu, tiêu diệt tiêu hao nhiều sinh lực địch, thu nhiều vũ khí, bảo vệ chính quyền cách mạng cơ sở, góp phần đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn sát phía Nam thành phố. Cuối năm 1952, lực lượng vũ trang Liên Huyện được Bộ Tư lệnh phân liên khu miền Đông đề nghị Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba.

Sang năm 1953, diễn biến thực tế trên chiến trường chung có nhiều thay đổi có lợi cho ta. Giặc Pháp đang ở thế bị động. Do phải đưa lực lượng ở Nam Bộ ra chi viện cho chiến trường Trung và Bắc Bộ, các đơn vị tinh nhuệ của địch phần lớn được rút lui; số quân viễn chinh Pháp giảm xuống rõ rệt. Để bù vào chỗ thiếu hụt, chính phủ bù nhìn Bảo Đại ban hành lệnh động viên, ra sức bắt lính, xây dựng gấp rút các đơn vị ngụy quân. Với lực lượng còn lại rất mỏng, địch tập trung vào củng cố các đô thị và các nơi trọng yếu gần vùng căn cứ kháng chiến của ta.

Tại Sài Gòn, đầu năm 1953, hoạt động bắt lính của địch ở nội thành và các nơi đông dân diễn ra ráo riết. Các cuộc lùng sục vây ráp lục soát sảy ra thường xuyên cả ngày lẫn đêm. Địch bắt được một số lượng thanh niên đánh kể đưa vào phục vụ trong các đơn vị ngụy quân mới được thành lập. Do địch vây ráp ác liệt, một số ít cán bộ chiến sĩ và cơ sở của ta nao núng ra đầu hàng. Địch lợi dụng tin tức khai thác được, ra sức đánh phá các cơ sở của ta còn lại trong nội thành. Với trên hai vạn cảnh sát, công an, chúng ngăn chặn được phần lớn sự hoạt động đi lại của ta, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Đánh giá về tình hình bảo đảm an ninh ở Sài Gòn - Chợ Lớn, địch huênh hoang khẳng định: đã ngăn chặn được mọi sự phá hoại, ám sát và các hoạt động chính trị của Việt Minh (!)

Tình hình thiếu cán bộ lãnh đạo chỉ huy ở nội thành vẫn diễn ra. Một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đặc khu được điều động đi nhận công tác khác từ cuối năm 1952. Một số bị địch bắt, một số được rút đi học, số lượng cán bộ của Đặc khu còn lại rất ít, hoạt động phân tán, địa bàn cách xa nên không đủ sức để chỉ đạo trực tiếp phong trào nội thành.

Trước tình hình đó, Đặc khu ủy chủ trương: 1) Giải thế các ban tham chính, tập trung một số cán bộ cốt cán về một đầu mối để hoạt động có hiệu quả hơn. 2) Rút một số cán bộ trong nội thành và các ban tham chính cùng các đồng chí lãnh đạo Đặc khu ra ngoài chiến khu để học lớp chỉnh huấn mang tên Trường Chinh của Trung ương Cục. 3) Đặc khu ủy phân công đầu mối trực tiếp chỉ đạo ở nội thành.

Thực hiện chủ trương của Đặc khu ủy, đa số các đồng chí lãnh đạo chủ chốt được triệu tập ra chiến khu để học tập. Cho đến cuối năm 1953, Đặc khu ủy chỉ còn lại hai đồng chí. Mặc dù thiếu cán bộ, cơ sở bị lộ vỡ và đứt liên lạc nhiều, nhưng đồng bào thành phố, đặc biệt công nhân trong các hãng xưởng, vẫn chủ động đấu tranh. Đáng kể là những trận đấu tranh của 3000 công nhân lao động dịch vụ ở các trại nhà binh (tháng 9 năm 1953), công nhân các nhà in Danh, Viễn Đông ấn quán (tháng 10 năm 1953), công nhân hãng dầu Shell (tháng 10 năm 1953), công nhân ô tô buýt, công nhân dệt (tháng 11 năm 1953). Cùng với các cuộc đấu tranh của công nhân, xí nghiệp, đồng bào lao động vùng Xóm Chiếu, cầu Cống (Khánh Hội) đấu tranh đòi chính quyền phải sửa chợ, xây dựng trường học, nhà bảo sanh… Lúc đầu hình thức làm đơn kí tên, phân công từ 10 đến 20 chị em phụ nữ đón gặp các “ông nghị” để đưa đơn. Về sau địch cho lính đuổi bắt, ta tổ chức đồng bào biểu tình để vạch mặt chúng. Trước tinh thần đấu tranh của đồng bào, địch không dám cho cảnh sát xuống đuổi chợ nữa và cho sửa lại chợ Xóm Chiếu, đồng thời cho dọn về sinh ở các khu lao động. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:49:59 AM
Tại Gia Định, cuối năm 1952 sang đầu năm 1953, tình hình trong tỉnh vẫn trong tình trạng hết sức khó khăn. Tuy địch có rút bớt lính Âu Phi, song khu vực xung quanh Sài Gòn, ngụy quân, ngụy quyền và các loại tay sai phản động còn dày đặc. Chúng mở các đợt đánh ta quyết liệt, triền miên ở nhiều nơi, có trận rất nặng nề. Trong lúc đó, chúng ta vẫn chưa chuyển kịp phương châm đấu tranh trên từng vùng cho phù hợp với hoàn cảnh. Việc tổ chức chống lại địch do đó thường bị động, lúng túng, ít hiệu quả, và bị tổn thất nặng. Riêng ở Gò Vấp trong ba tháng cuối năm 1952 và đầu năm 1953, giặc giết gần 200 cán bộ quân dân chính huyện, xã. Ở Trung Huyện, 2 tháng, cán bộ ta chết gần 1000 người. Một bộ phận lớn nhân dân buộc phải bỏ ra vùng tạm bị chiếm. Số cán bộ chiến sĩ ta dao động bỏ ngũ ngày một đông hơn. Đặc biệt ở Đức Hòa Thành, trong thời gian 3 tháng đã có gần 400 cán bộ, đội viên, nhân viên cơ quan bỏ ngũ (trong đó có 1 ủy viên thường vụ huyện ủy và 1 huyện ủy viên). Trong một vài xã căn cứ (Đông Thành cũ), dân bỏ đi đến 80-92%.

Trước tình hình khó khăn trên, tháng 4 năm 1953, tỉnh ủy họp hội nghị cán bộ, uốn nắn biểu hiện tư tưởng giảm sút ý chí chiến đấu, bồi dưỡng nhiệt tình và phương pháp đấu tranh cách mạng. Hội nghị đã quán triệt nhiệm vụ và phương thức chuyển hướng hoạt động theo phương châm ba vùng của Trung ương Đảng, tạo lại thế đấu tranh mới, nhằm giữ vững phong trào du kích chiến trong lòng địch, chuyển vùng tạm bị chiếm sang vùng du kích, tiến tới giải phóng từng nơi.

Đa số cán bộ trong tỉnh hiểu không đầy đủ nội dung chuyển hướng phương pháp công tác của trên đã có những biểu hiện hữu khuynh trong chỉ đạo phong trào ở các địa phương. Tỉnh ủy lại bận lo sắp xếp thu hẹp lại tổ chức cán bộ để tránh bị tổn thất. Một số cán bộ có tư tưởng thúc thủ, chịu chấp nhận cho địch lấn chiếm các vùng du kích, vùng bàn đạp để bảo vệ người, bảo vệ cơ sở.

Việc triển khai thực hiện chủ trương của tỉnh tại các địa phương thiếu sự thống nhất, đồng bộ. Đến mùa hè năm 1953, phong trào du kích chiến tranh trên toàn tỉnh bị giảm sút rõ rệt. Địch chiếm được một số vùng căn cứ bàn đạp của ta ở Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp. Mọi hoạt động kháng chiến ở vùng tạm bị chiếm gần như ngừng hẳn. Tại các căn cứ, bộ đội, cán bộ gặp nhiều khó khăn về lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa cần thiết khác.

Tháng 10 năm 1953, Tỉnh ủy Gia Ninh triệu tập Hội nghị cán bộ kiểm điểm tình hình thực hiện sự chuyển hướng. Tỉnh ủy đã tự kiểm điểm về những khuyết nhược điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo 6 tháng vừa qua và đề ra một số biện pháp nhằm kịp thời chỉ đạo uốn nắn lệch lạc ở các địa phương, từng bước đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở cả ba vùng kháng chiến, đẩy mạnh tiến công ở vùng sau lưng địch. Sau hội nghị, Tỉnh ủy Gia Ninh thận trọng sắp xếp lại cán bộ Đảng và chính quyền các cấp, cử cán bộ phối hợp với các đội đặc phái, đội vũ trang tuyên truyền tỏa về cơ sở vùng du kích và vùng tạm bị chiếm hoạt động khôi phục và xây dựng mới các cơ sở, phát triển lực lượng du kích. Lực lượng vũ trang tỉnh và huyện đẩy mạnh tiến công địch trở lại. Cuối năm 1953, ta chủ động tấn công vào các căn cứ của quân đội Cao Đài phản động ở bót cầu Ván, bót cầu Xe, An Tịnh (Trảng Bàng), đánh những trận giao thông chiến trên đường 22 (Tây Ninh), đường số 10 (Đức Hòa)… Ngoài lực lượng địa phương tỉnh, tiểu đoàn chủ lực của phân liên khu miền Đông 302 phối hợp lưu động đánh một số trận lớn. Tháng 8 năm 1953, đại đội 80/302 đã chặn đánh tiểu đoàn 61BVN ngụy càn vào căn cứ Đức Hòa, diệt 105 tên. Tiếp đó, ngày 13 tháng 9, tiểu đoàn 302 lại đánh gãy cuộc càn quét của một tiểu đoàn Lê dương, tiêu diệt 70 tên, làm bị thương 33 tên, bắt sống 25 tên khác. Những trận đánh lớn trên đây làm tăng thêm tin tưởng của nhân dân đối với cách mạng. Tinh thần của quần chúng lên cao. Trong vùng địch kiểm soát, quần chúng tự động bao vây đồn bót địch, bao vây bọn tề điệp, trừng trị bọn ác ôn, làm tê liệt mọi hoạt động của chúng. Những tên có nợ máu với nhân dân buộc phải chuyển vùng, chạy ra thành thị. Phong trào kháng chiến phát triển rầm rộ trở lại. Nhiều người dân trước kia bỏ ruộng vườn đi nơi khác nay trở về quê cũ làm ăn. Hàng rào ngăn cách giữa đồng bào vùng địch tạm chiếm, vùng thành thị với đồng bào vùng căn cứ, vùng nông thôn do ta kiểm soát bị phá vỡ. Chính sách phong tỏa bao vây kinh tế của địch mất dần tác dụng. Không khí phấn khởi lạc quan lan nhanh trên cả hai vùng: vùng ta kiểm soát và vùng giặc tạm chiếm.

Tại chiến trường Rừng Sác, quân địch do bị giảm quân số nên ít tổ chức tấn công, càn quét bằng bộ binh. Thay vào đó chúng cho máy bay, pháo binh bắn phá vào căn cứ của ta. Song song với việc bắn phá, địch tăng cường công tác do thám, gián điệp và điều tra cán bộ, nhân viên ta cho về hoặc đào ngũ để khai thác tài liệu, giúp các đội biệt kích đột kích đánh phá. Riêng trong tháng 4 năm 1953, liên tiếp trong 20 ngày liền, máy bay địch ném hàng trăm trái bom xuống Rừng Sác ở Rạch Cát. Chúng tập trung hàng chục khẩu đại bác ngày đêm nhả đạn vào nơi nghi vấn. Các đơn vị vũ trang của Liên Huyện vẫn giữ vững tinh thần, tiếp tục bám địa bàn, tăng gia sản xuất để tự cấp, tự túc. Tháng 8 năm 1953, hai trung đội của Liên Huyện đánh tan hai trung đội biệt kích của địch, bảo vệ an toàn các cơ quan dân chính đảng của huyện và các xã. Tháng 11 năm 1953, bộ đội Liên Huyện phối hợp với lực lượng binh chủng chuyên môn đánh chìm hai tàu địch, diệt hơn một trung đội biệt kích. Tiểu đoàn 300 của tỉnh cũng liên tiếp đánh vào địch trên sông Lòng Tàu, Soài Rạp, Bà Nghĩa, Đồng Tranh. Chỉ tính từ tháng 6 năm 1953 đến tháng 7 năm 1954, tiểu đoàn 300 cùng với lực lượng vũ trang Liên Huyện đã đánh chìm 32 tàu giặc, diệt hàng trăm tên địch, trong đó có 1 trung tá, 1 thiếu tá, 4 đại úy và nhiều sĩ quan Pháp khác.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:50:37 AM
*
*   *

Cuối năm 1953, cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang có những bước phát triển quan trọng. Tại Nam Bộ, Trung ương Cục điều một số cán bộ từ các nơi về bổ sung cho Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn để tăng cường khả năng lãnh đạo phong trào nội thành. Phần lớn số cán bộ của Đặc khu ra vùng giải phóng chỉnh huấn xong cũng được đưa về nội thành tiếp tục hoạt động. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh về làm bí thư Đặc khu ủy. Trên cơ sở đó, Đặc khu thành lập hai ban cán sự nội thành:

- Ban cán sự A phụ trách công tác chỉ đạo phong trào trong giới công nhân lao động, bao gồm cả lao động ở địa bàn dân cư, do Huỳnh Văn Tâm (Hai Lợi) làm bí thư.

- Ban cán sự B phụ trách vận động các tầng lớp trí thức lớp trên và học sinh, sinh viên, công chức, do Huỳnh Tấn Phát làm bí thư.

Để có đủ cán bộ chỉ đạo phong trào nội thành đáp ứng với nhu cầu trong tình hình mới, sang năm 1954, Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn cử Huỳnh Văn Tâm đưa một số cán bộ ra ngoài chiến khu mở lớp tập huấn công tác, đồng thời đề nghị Trung ương Cục cho thêm một số cán bộ ở tỉnh về học tập để bổ sung cho thành phố. Vừa tập huấn, vừa tranh thủ củng cố lại tổ chức Đảng, Đặc khu ủy xây dựng kế hoạch thành lập các chi bộ từ ngoài chiến khu từng bước đưa về bố trí hoạt động trong nội thành. Mặt khác, Đặc khu còn cử Trần Quốc Thảo trực tiếp vào nội thành xây dựng các chi bộ hoàn toàn mới nhằm tránh bị lộ hoặc bị địch cài gián điệp vào phá hoại. Toàn bộ công tác sắp xếp phát triển lực lượng nêu trên được thực hiện chuẩn bị cho hai khả năng có thể xảy ra:

1/ Nếu có hiệp định hòa bình, phải chuẩn bị gấp cho phong trào ra hoạt động công khai.

2/ Xây dựng các tổ chức hoàn toàn mới để phù hợp với tình hình diễn biến có thể xấu đi.

Bước sang năm 1954, nhờ có lực lượng cán bộ hùng hậu, tổ chức chặt chẽ và hợp lí, phong trào ở Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn từng bước được củng cố, ổn định và phát triển trở lại.

Tại Gia Ninh, sang năm 1954, phong trào kháng chiến cũng có những bước phát triển mới. Du kích chiến tranh phát triển đều và khá rộng khắp. Nhiều nơi, quần chúng tự động nổi dậy cướp đồn bót địch. Ban đêm, nông dân tay cầm dao, tay cầm cuốc xông vào bao vây bót, kêu gọi địch đầu hàng, thiêu hủy đồn bót. Phong trào bao vây đồn bót địch nổi lên khắp toàn tỉnh. Chỉ trong tháng 3 năm 1954, gần 20 đồn bót địch đã bị nhân dân tiêu diệt. Cùng với phong trào lấy bót giặc, tiểu đoàn 306 liên tục chống càn và tiến công địch khắp mọi nơi. Ngày 10 tháng 3 năm 1954, tiêu diệt gọn một đơn vị địch từ bót Lí Văn Mạnh hành quân vào cầu Xáng (Trung Huyện). Cũng trong tháng 3, tiểu đoàn đã tiêu diệt một trung đội Cao Đài phản động ứng chiến liên khu vực đi bắt xâu tại ấp Lộc Vinh. Ngày 21 tháng 5 năm 1954, tiêu diệt gần 1 đại đội Cao Đài trên đường số 6 phía Nam Trảng Bàng…

Tại Liên Huyện, theo chủ trương của Tỉnh ủy Bà Chợ, sau một thời gian dài chiến đấu trên chiến trường Rừng Sác, các đơn vị thay nhau lần lượt rút về hậu cứ một thời gian ngắn để củng cố rồi trở lại địa bàn giúp dân đấu tranh với địch, hỗ trợ cơ sở tại chỗ diệt tề, trừ gian, phá thế kềm kẹp. Tháng 2 năm 1954, tại chợ Mới Long Định, lực lượng vũ trang Liên Huyện bắt sống tên Cai Tổng, một Việt gian khét tiếng độc ác. Sau đó, các trung đội tỏa về phía Nam huyện đánh mạnh vào các cứ điểm của địch và đẩy mạnh phong trào quần chúng nổi dậy trừ gian, diệt tề. Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1954, lực lượng vũ trang huyện đã tiêu diệt 4 bót, 4 tháp canh và đánh 5 trận lớn nhỏ, tiêu hao nặng 5 bót khác, diệt 150 tên, bắt sống trên 100 tên và thu nhiều vũ khí.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:51:11 AM
*
*   *

Nhịp độ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn ra mau lẹ, khẩn trương trong những ngày đầu mùa hè 1954. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Tin tức từ Điện Biên Phủ và hội nghị Genève bay về làm nức lòng đồng bào Nam Bộ, thúc dục đồng bào Nam Bộ tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh một cách toàn diện công cuộc kháng chiến, giành những thắng lợi cao nhất.

Trong nội thành Sài Gòn, phong trào đấu tranh chính trị của các giới diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Các báo tiếng Việt, tiếng Pháp xuất bản ở Sài Gòn đưa tin thất bại thảm hại của Pháp ở Điện Biên Phủ và diễn biến cuộc hòa đàm ở Genève. Công nhân ở các nhà máy, học sinh ở các trường học bãi công, bãi khóa hàng loạt. 352 trí thức Sài Gòn kí vào bản tuyên ngôn đòi quân đội Pháp ngừng cuộc chiến tranh xâm lược. Cơ sở của ta phục hồi và phát triển rộng khắp trong các quận, hộ nội đô. Các lõm du kích hình thành và lấn sâu vào sát thành phố. Tinh thần quân Pháp và ngụy quân, ngụy quyền ở Sài Gòn lung lay, có nơi đã bộc lộ sự rệu rã. Hệ thống đồn bót xung quanh thành phố bị co rút lại. Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Nam Bộ, tướng Bondis phải kêu lên: “Nguy cơ có thể mất Sài Gòn”.

Ỏ vùng ngoại ô thuộc tỉnh Gia Định và Bà Chợ, Thủ Biên, phong trào du kích chiến tranh phát triển đều khắp. Bộ đội kết hợp với du kích địa phương vừa chống càn, phục kích, tập kích, vừa cùng nhân dân “làm địch ngụy vận”, diệt được nhiều địch, bức rút hàng chục đồn bót, làm tan rã phần lớn lực lượng tề ngụy. Nhiều vùng nông thôn ở Hóc Môn, Trung Huyện, Liên Huyện, Thủ Đức, Nhà Bè được giải phóng. Các căn cứ địa, lõm du kích bàn đạp được mở rộng, trở thành một hệ thống thông nối khá liên hoàn xung quanh thành phố, làm chỗ dựa cho các lực lượng nội thành đẩy mạnh hoạt động vũ trang.

Chỉ hơn ba tuần sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Quyết Tử quân Sài Gòn đã đánh bồi cho quân Pháp một đòn choáng váng, vào đêm 31 tháng 5 rạng ngày 1 tháng 6 năm 1954. Đó là “sự kiện kho bom Phú Thọ Hòa”. Kho Phú Thọ Hòa nằm trong một cánh rừng cao su rộng trên 3km2 ở phía Tây Nam sân bay Tân Sơn Nhất. Kho bom chia làm ba khu vực, gồm nhiều dãy nhà kho lớn chứa bom đạn các loại và xăng dầu của quân viễn chinh Pháp. Nó được mệnh danh là “dạ dày của cuộc chiến tranh” của quân đội Pháp ở Nam Bộ. Để bảo vệ kho, địch tổ chức một hệ thống phòng thủ kiên cố, nghiêm ngặt. Xung quanh khu vực kho có những bót gác (cách nhau 100 mét) và các trụ điện (cách nhau 25 mét) có gắn đèn pha cực mạnh, đường giao thông giành cho xe cơ giới qua lại tuần tiễu thường xuyên, 6 lớp rào gai và đường mương (rộng 5 mét) già mìn dày đặc. Một đại đội lính Âu Phi và chó bécgiê làm nhiệm vụ túc trực canh gác trong kháng chiến kho. Lính ngụy tuần tiễu vùng ngoài hàng rào và thường xuyên lùng sục càn quét ở các khu vực xóm ấp xung quanh.

Từ cuối tháng 5 năm 1954, Ban chỉ huy đội đặc công Quyết tử 205 của Đặc khu đã cài được hai chiến sĩ trinh sát viên vào làm cu li khuân vác trong khu vực kho. Hai chiến sĩ đã tiến hành nghiên cứu mục tiêu suốt gần một năm và hướng dẫn các bộ phận chiến đấu của ta nhiều lần đột nhập và xác định các điểm đánh. Tháng 2 năm 1954, một tổ đặc công gồm Bùi Văn Ba, Phạm Văn Hai, Tạ Ninh Dục được nội tuyến hướng dẫn đường đã đột nhập khu kho, rà lại một lần nữa kế hoạch tiến công trên thực địa. Công việc chuẩn bị cho trận đánh được tiến hành rất khẩn trương dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ huy quân sự Đặc khu và Ban chỉ huy đại đội 205. Đêm ngày 29 tháng 5 năm 1954, 12 chiến sĩ do chính đại đội trưởng Nguyễn Văn Cự (Ba Huỳnh) chỉ huy rời vừng bàn đạp xuống chiến trường. Đêm ngày 30 tháng 5 năm 1954, lực lượng luồn vào ém bí mật trong một đường hầm dài 200 mét gần mục tiêu. Tối ngày 31 tháng 5 năm 1954, đột nhập vào khu vực kho. Vượt qua toàn bộ hệ thống phòng thủ dày đặc của địch, các chiến sĩ chia thành 3 tổ tiếp cận từng mục tiêu đã phân công, lắp kíp vào mìn hẹn giờ, đặt trái vào từng kho, và lẹ làng rút lui an toàn. Mìn nổ gần như đồng loạt. Toàn bộ khu vực kho bom chìm trong biển lửa và âm thanh dữ dội của tiếng bom nổ. Hơn một triệu lít xăng dầu, 10.000 tấn bom đạn, 1 đại đội lính Âu Phi biến thành tro bụi.

Ngày 1 và 2 tháng 6, tất cả các báo ở Sài Gòn và Hà Nội đều đưa tin kho bom Phú Thọ Hòa bị “Việt Minh tấn công”. Thắng lợi của trận đánh gây một tiếng vang lớn, càng làm tăng thêm tinh thần náo nức, phấn chấn trong các giới đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Đây là trận đánh đặc công xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ. Nó cũng là tiếng nổ thắng lợi kết thúc một chặng đường chiến đấu oanh liệt ở nội thành của Quyết tử quân Sài Gòn trong 9 năm kháng chiến. Đơn vị tham gia trận đánh được Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng hai.

Ở phía Nam thành phố, tại chiến khu Rừng Sác, lực lượng đặc công nước và công binh cũng lập được nhiều thành tích trong đánh tàu, diệt sinh lực địch, chặn con đường giao thông thủy huyết mạch từ thành phố ra biển. Trong tháng 6, các chiến sĩ đặc công Rừng Sác đánh chìm 3 tàu chiến chở toàn quân Pháp trên sông Lòng Tàu.

Tiếng nổ ở kho bom Phú Thọ Hòa và trên dọc sông Lòng Tàu Rừng Sác cũng là những nốt nhạc cuối cùng của bản đại hợp xướng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được kí kết. Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam!

Ở thành phố Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh, bí thư Đặc khu ủy, được Trung ương điều đi nhận nhiệm vụ mới. Đặc khu ủy còn lại ba đồng chí do Trần Quốc Thảo giữ chức vụ Quyền Bí thư, tiếp tục lãnh đạo nhân dân thành phố cùng các bộ phận cán bộ chiến sĩ ở lại thực hiện Hiệp định Genève. Bộ phận cán bộ chiến sĩ được phân công tập kết ra miền Bắc tập hợp thành một tiểu đoàn lưu luyến chia tay đồng bào thành phố với lời hứa hẹn sớm trở về.

Tỉnh Gia Định tách ra thành hai tỉnh như cũ: Tây Ninh và Gia Định. Tỉnh ủy Gia Định khôi phục lại phạm vi cũ của tỉnh, nhanh chóng kiểm tra lực lượng, và chia làm hai bộ phận. Một bộ phận cùng với số cán bộ chiến sĩ tổ chức lại thành trung đoàn 5 đi tập kết ra Bắc. Bộ phận ở lại, do Phan Khải làm bí thư, tiếp tục điều chỉnh tổ chức, bố trí lực lượng xuống tận các xã ấp, lãnh đạo nhân dân bước vào thời kì đấu tranh mới.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:51:45 AM
*
*   *

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, kể từ ngày 23 tháng 9 năm 1954 khi lớp lớp nhân dân “nóp với giáo, mang ngang vai” ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”, đến đây đã trải qua hơn 3.000 ngày đêm. Hơn 3.000 ngày đêm, Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã vượt qua muôn vàn gian khổ hi sinh, kiên cường kháng chiến, liên tiếp giành được những thành tích không nhỏ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Máu của hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào thấm đẫm khắp mọi góc phố nội đô, mọi vùng quê ngoại ô thành phố đã vun bồi thêm truyền thống chống ngoại xâm bất khuất của đồng bào Nam Bộ nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung.

Hơn 3.000 ngày đêm kháng chiến ấy đã tinh cất nhiều bài học lịch sử quý báu về tổ chức và chỉ đạo đấu tranh, về xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân ở thành phố và vùng ven đô, về xây dựng lực lượng chính trị trong các tầng lớp cư dân đô thị, về tiến hành chiến tranh du kích, phát động và duy trì phong trào đấu tranh toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính ở vùng sau lưng địch, vận dụng thích hợp đường lối chiến tranh của nhân dân của Đảng tại một trong những sào huyệt lớn của kẻ thù.

Cuộc kháng chiến của cả nước chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi vẻ vang. Nhưng nửa phía Nam của Tổ quốc còn do quân thù chiếm đóng. Đế quốc Mĩ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, nhảy vào miền Nam lập chính quyền và quân đội bù nhìn tay sai, lấy Sài Gòn làm thủ đô, thực hiện chính sách xâm lược thực dân mới.

Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kì mới. Quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với hành trang kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai, nhằm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước!

(http://img268.imageshack.us/img268/9081/44091904.jpg)

Cuộc biểu dương lực lượng khởi nghĩa ở Sài Gòn sáng ngày 25-8-1945

(http://img171.imageshack.us/img171/236/61272068.jpg)

Lực lượng vũ trang thành phố tại chiến khu An Phú Đông (12-1946)

(http://img714.imageshack.us/img714/4268/78487582.jpg)

Vệ quốc đoàn Gia Định tại chiến khu Vườn Thơm (người ngồi giữa là đồng chí Trần Hải Phụng - Tham mưu trưởng Đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn)


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2012, 08:52:46 AM
(http://img705.imageshack.us/img705/5121/39494624.jpg)

Cuộc đấu tranh của học sinh - sinh viên Sài Gòn ngày 9-1-1950

(http://img337.imageshack.us/img337/5386/13670205.jpg)

Cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn chống Mĩ (ngày 19-3-1950)

(http://img201.imageshack.us/img201/2913/95242184.jpg)

Du kích ngoại thành chuẩn bị chống quân Pháp càn quét

(http://img263.imageshack.us/img263/2249/78438320.jpg)

Thủy lôi quân ta đánh chìm tàu St. Loubrie của Pháp trên sông Lòng Tàu


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:34:34 AM
Phần thứ hai

KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MĨ
(1954-1975)

Chương bốn

TỪ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ ĐẾN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG,
TẠO THẾ TẠO LỰC CHUYỂN GIAI ĐOẠN
(Từ 20 tháng 7 năm 1954 đến tháng 3 năm 1961)

I. TỪ CAO TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ
ĐẾN THOÁI TRÀO CÓ VŨ TRANG TỰ VỆ


Hiệp định Genève thừa nhận những yêu cầu cơ bản mà nhân dân ta đã đổ bao nhiêu xương máu để giành cho được qua chín năm kháng chiến: hòa bình, độc lập, hai năm sau sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Tuy nhiên, một ngày sau khi cắm cờ chiến thắng trên nóc hầm De Castrie ở Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã nhắc: “Thắng lợi tuy lớn, nhưng mới là bước đầu” (Thư chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ, chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ). Bên cạnh nỗi vui mừng, phấn khởi và lòng tin vào Đảng, vào Bác Hồ, vào sự tất thắng trước sau như một, đồng bào, chiến sĩ Sài Gòn - Gia Định không tránh khỏi những băn khoăn, những dấu hỏi đang đặt ra trước một thực tế thấy trước: rồi đây ở miền Nam sẽ không còn chính quyền cách mạng, không còn lực lượng võ trang nhân dân… “Hai năm sau sẽ tổn tuyển cử” là quy định rõ ràng của hiệp định, nhưng vẫn là điều bấp bênh, khi mà tên trùm sỏ đế quốc thế giới đã từ lâu chực hất Pháp ở Đông Dương, đang phá hoại hiệp định.

Việc chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu mới đã bắt đầu từ những ngày chuyển quân tập kết: những cuộc bàn bạc gấp rút, phân công âm thầm đang diễn ra trong các đảng bộ Sài Gòn - Gia Đinh. Ai bí mật nằm lại phải chuẩn bị cùng đồng bào vượt qua cơn giông bão không tránh khỏi, ai chuyển quân ra Bắc thì học tập rèn luyện sẵn sàng chiến đấu…

Bao nhiêu việc bộn bề: vũ khí, hầm hố, cơ sở bí mật, hình thức đấu tranh, bảo tồn thực lực cách mạng, sắp đặt thế trận… cùng lúc đặt ra phải xác định ngay trước thời điểm lịch sử đã sang trang.

Trụ sở phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cắm cờ đỏ sao vàng đặt ở đường Chi Lăng quận Phú Nhuận, bên cạnh trụ sở Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến.

Mười ngày sau khi hiệp định được kí kết, một tổ chức mang tên “Phong trào Bảo vệ Hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn” đã được sáng lập, đứng đầu là những nhà trí thức yêu nước, trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kĩ sư Lưu Văn Lang, giáo sư Phạm Huy Thông, giáo sư luật khoa Nguyễn Văn Dưỡng, cựu chính trị phạm Nguyễn Thị Lựu, chủ tịch Hội tăng già Việt Nam Thích Huệ Quang… Dưới chủ tịch đoàn danh dự gồm những người trí thức có uy tín lớn, Ban chấp hành trung ương của phong trào gồm đại biểu các đoàn thể tiến bộ, các tổ chức quần chúng, các xưởng lớn, trường lớn, các khu phố quan trọng. Trong thành phố có 32 ủy ban hòa bình cơ sở. Bản hiệu triệu của phong trào nói lên nguyện vọng, ý chí của nhân dân miền Nam: hòa bình, tự do, dân chủ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước… Phong trào nhanh chóng lan ra 21 tỉnh Nam Bộ và Huế. Hàng loạt cuộc biểu tình hoan hô hiệp định diễn ra khắp thị thành, nông thôn.

Ngày 1 tháng 8 năm 1954 là ngày ngừng chiến, theo chủ trương của Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn, 50.000 người phần lớn là công nhân các xí nghiệp quan trọng, cơ sở hạ tầng xung yếu như nhà đèn, bến cảng… cả công nhân đang làm việc trong các đơn vị hậu cần quân Pháp (SLOM, Intendence Militaire…) và các tầng lớp khác, biểu tình tại đường Kitchner (Nguyễn Thái Học bây giờ) hoan hô hòa bình, đòi thi hành đúng hiệp định Genève.

Cùng lúc đó, Sài Gòn lại diễn ra một cảnh tượng trái ngược: hết ngay này sang ngày khác, những chiếc tàu há mồm chật ních những người công giáo miền Bắc bị lừa mị và cưỡng ép, di cư vào Nam gọi là “tị nạn cộng sản”, đang nối đuôi nhau cập bến cảng Sài Gòn. Hối hả hốt từ Bắc vĩ tuyến 17 và dồn vào Nam cho được ít ra một triệu dân di cư để tính chuyện lâu dài, bọn tay sai Mĩ đang gây ra bao cảnh li hương, nheo nhóc. Hàng chục vạn người phút chốc rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, gia đình li tán… bị dồn chặt ở các bãi đậu xe chờ đưa đi các trại di cư. Họ lê lết trên vỉa hè, che lều, giăng võng, nhiều người buộc phải ngửa tay xin bố thí.

Trong và sau 300 ngày (thời gian mà Hiệp định Genève quy định hoàn thành việc tập kết, chuyển quân) bọn đầu cơ chính trị, tay sai đế quốc đã lừa gạt, cưỡng ép, lôi kéo hàng chục vạn người từ nhiều tỉnh miền Bắc, đa số là Thiên chúa giáo, di cư có tổ chức hoặc vượt biên vào miền Nam, tổng số lên đến 888.505 người. Sau khi đưa một số đi các tỉnh, số đồng bào thiên chúa giáo còn lại ở Sài Gòn đã lên trên 243.000 người trong số 2 triệu dân Sài Gòn, phân bố thành 22 xứ, 7 hạt, có 517 linh mục (343 mới đi tu). Riêng ở Củ Chi, số mới di cư là 10.000 người. Tờ báo cánh hữu Pháp Le Monde thừa nhận; “Diệm coi giáo dân là một nguồn dự trữ cho quân đội và những tổ chức chính trị của chế độ Sài Gòn”.

Chỉ riêng sự việc này đủ báo trước tính chất quyết liệt của cuộc chiến đấu mới.

Chiến lược ban đần của Mĩ nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, được phác hóa trong bị vong lục của Hội đồng an ninh quốc gia Mĩ số 561/1 ngày 3 tháng 9 năm 1956: “Giúp đỡ nước Việt Nam tự do (Nam Việt Nam) phát triển một chính phủ hợp hiến, ổn định và hùng mạnh, để có thể khẳng định sự tương phản ngày càng hấp dẫn so với các điều kiện trong khu vực hiện nay của cộng sản ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Việt Nam, để cuối cùng đi đến thống nhất nước Việt Nam bằng phương pháp hòa bình, thành lập nước Việt Nam tự do, độc lập dưới sự lãnh đạo của chính phủ chống cộng sản”.

Trước ngày kí Hiệp định Genève, tháng 4 năm 1954, cơ quan MAAG (phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự - Military Assitance Advisory Group) do O’Daniel cầm đầu đã đến Sài Gòn. Ngày 8 tháng 6 năm 1954, Ngô Đình Diệm, một quan lại phong kiến đã từng làm tay sai cho Pháp, cho Nhật, được Mĩ vun đắp thành một con chủ bài trong âm mưu mới đã được đưa về Sài Gòn. Một tháng sau Diệm lên làm “thủ tướng” (ngày 7 tháng 7 năm 1954) với những công việc cần làm ngay đã vạch sẵn để đi đến thành lập “nước Việt Nam Cộng hòa”, vĩnh viễn chia cắt đất nước, thực thi chiến lược bao trùm là “diệt cộng”. Tháng 11 năm 1954, tướng Mĩ Collins được cử sang Sài Gòn làm đặc sứ cho Ngô Đình Diệm.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:39:16 AM
Ngày ở miền Nam chia tay tập kết ra miền Bắc, kẻ ở người đi, quân dân ta chưa lường được cuộc chiến đấu mới sẽ kéo dài đến 21 năm, nhưng đều đã nhìn thấy trước được con đường lịch sử “không đơn giản”. Các đồng chí lãnh đạo đã xác định; Đi, ở đều là nhiệm vụ”. Từ đó coi việc tập kết là một sự bố trí lại lực lượng. Đảng viên, cán bộ nòng cốt có điều kiện hoạt động bí mật thì ở lại. Ở lại Sài Gòn còn khoảng 200 đồng chí, cộng thêm các đồng chí được trên tăng cường tất cả lên 400 đồng chí. Ở Gia Định, số người được giữ lại công với số được tăng cường là 3.700 người, 90 phần trăm số xã có chi bộ.

Tháng 10 năm 1954, cuộc họp Xứ ủy tại Cán Gáo - Biển Bạch (Tây Nam rừng U Minh) chính thức thành lập lại Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn(1). Tỉnh Gia Định vẫn duy trì tỉnh ủy đương nhiệm do đồng chí Phạm Khải (Ba Ka) làm bí thư. Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư; Nguyễn Ngọc Thanh - phó bí thư, Trần Quốc Thảo - ủy viên thường vụ (một năm sau làm phó bí thư)…

Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp xác định nhiệm vụ cách mạng dân tộc giải phóng của ta chưa hoàn thành, cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà kết thúc mà đang tiếp tục, song về phương châm đấu tranh thì “phải thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị”, mọi hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần phải thay đổi ngay” (NQ9, BCT).

Tháng 11 năm 1954 Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định đều họp, tiếp thu nghị quyết trên và đề ra nhiệm vụ hai năm tới(2) đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh đòi hỏi thi hành Hiệp định Genève, bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi các quyền dân sinh, dân chủ; về sách lược, phải khôn khéo, triệt để lợi dụng mâu thuẫn địch, đề ra khẩu hiệu sát hợp với yêu cầu của quần chúng; về tổ chức và hành động: tận dụng cả ba thế: hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp, với ba hình thức: công khai, nửa công khai, bí mật. Theo phương châm đó, thành lập các Ban vận động trong các ngành các giới: công vận, phụ vận, tư sản vận, trí vận, riêng hoa vận do Xứ ủy nắm các Ban báo chí, Văn nghệ, ban học sinh sinh viện; đưa đảng viên vào bám và xây dựng cơ sở ở các trọng điểm; gấp rú đào tạo cán bộ hoạt động đô thị; tổ chức cài cắm người và xây dựng cơ sở nội tuyến trong các cơ quan đầu não địch như: Sở công an Nam phần, Bộ tư lệnh đệ nhất quân khu (Nam Bộ), Phủ tổng thống, Sở Nghiên cứu chính trị, văn hóa xã hội, Bộ tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất… Tỉnh ủy Gia Định chủ trương chống khủng bố kết hợp đòi thi hành hiệp định, giữ ruộng đất mà cách mạng đã tạm cấp cho nông dân, vận động nông dân trở về vườn cũ làm ăn… củng cố các căn cứ cũ, địa đạo, hầm bí mật…

Phong trào hòa bình bắt liên lạc với Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến. Đại biểu của phong trào đi thăm tù chính trị, yêu cầu Ủy ban quốc tế đòi các nhà chức trách Liên hiệp Pháp phải thả người do họ đang cố giữ.

Qua theo dõi, ngày 7 tháng 11 năm 1954, Diệm ra lệnh khám xét trụ sở của phong trào ở đường Galliéni, bắt một số cán bộ của phong trào đưa ra tòa, nhưng không đủ lí để buộc tội, Diệm lại dựng lên “tội lập hội không xin phép”, bắt giam 8 người, trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng(3), giáo sư Phạm Huy Thông, kĩ sư Lưu Văn Lang…

Không kết tội được những người yêu nước, Diệm dựng lên các bằng chứng man trá, như tổ chức rải truyền đơn nói vu là của phong trào Hòa bình, để tiếp tục khủng bố. Số người bị bắt tiếp tục tăng vọt. Cuộc đấu tranh ở tòa án Sài Gòn ngày càng quyết liệt. Các trò gian trá, vu khống liên tiếp bị lật tẩy, nhưng địch thua keo này bày keo khác, cố đưa các vị ra tòa án quân sự, uy hiếp phong trào đấu tranh chính trị đang dâng cao.

Cuộc đấu tranh phản đối hành động phát xít của ngụy quyền trở thành phong trào lớn, thu hút từ lớp nghèo thành thị đến lớp thợ thầy, công thương gia. Các sạp của 50 chợ, mỗi người góp một số tiền để mướn 6 luật sư bênh vực những người bị bắt. Suốt hai tháng 11, 12 năm 1954, Diệm mở phiên tòa xử “Phong trào Hòa binh Sài Gòn - Chợ Lớn”, nhưng các ủy ban cơ sở của phong trào lại càng hoạt động mạnh.

Cuối tháng 12 năm 1954, gần 25.000 công nhân trong 28 cơ sở quân sự của Pháp ở Sài Gòn - Chợ Lớn đình công đòi tăng lương 20%, đòi giảm giá sinh hoạt, đòi thi hành Hiệp định Genève. Cuộc đấu tranh lan ra Thủ Dầu Một, Biên Hòa, kéo dài đên ngày 4 tháng 1 năm 1955 mới tạm dừng, sau khi đạt được một phần yêu sách.

Ba tháng đầu năm 1955, đã có trên 80.000 người dân Sài Gòn - Chợ Lớn, trong đó công nhân lao động giữ vai trò nòng cốt, với 30 cuộc bãi công, đấu tranh đòi giải quyết đời sống, đòi thi hành hiệp định.

Phong trào đấu tranh của nông dân ngoại thành đòi thi hành hiệp định bắt đầu từ huyện Củ Chi lan nhanh đến Gò Vấp, Thủ Đức, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè(4).

Tháng 6 năm 1955, Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn họp thường kì tại nhà số 300A đường Ngô Tùng Châu, làng Bình Hòa (nay là quận Bình Thạnh) để kiểm điểm, đánh giá tình hình công tác của đảng bộ trong 3 tháng đầu năm 1955, và đề ra những nhiệm vụ trước mắt. Cũng tại nơi đây, tháng 7 năm 1955, Khu ủy hợp lần thứ hai và định ra chế độ họp thường kì 3 tháng một lân trong hai năm 1955-1956 để chỉ đạo phong trào được liên tục.

Cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đòi thả những người của “Phong trào Hòa Bình Sài Gòn - Chợ Lớn” và đòi hiệp thương hai miền tiếp tục phát triển mạnh.


(1) Khi kí Hiệp định Genève còn Đặc khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn do đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh làm bí thư.
(2) Cuộc họp Tỉnh ủy Gia Định tổ chức tại xã Tân Phú Trung, có đại biểu liên tỉnh miền Đông về dự.
(3) Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng đã hi sinh trong nhà giam.
(4) Lúc này huyện Nhà Bè gồm 3 xã Bình Chánh, An Thới Đông, Lí Nhơn, còn các xã ven biển đang thuộc huyện Vũng Tàu.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:40:30 AM
Trong lúc đó, các thế lực thân Pháp, từ giới quân sự chóp bu đến các lực lượng thân Pháp - Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia thường gọi là “Cao Hòa Bình” (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên) đang là mối đe dọa lớn và là chướng ngại trước mắt của Diệm. Diệm quyết thanh toán các lực lượng này để thâu tóm và củng cố quyền lực.

Tháng 3 năm 1955, keo vật hiệp đầu giữa Mĩ - Diệm và Pháp - Hinh đã diễn ra, và tất nhiên là Mĩ Diệm thắng. Diệm thẳng tay tuyên chiến với Cao Hòa Bình. Đại bác, xe tăng, súng ống lớn nhỏ của Diệm và lực lượng “vua sòng bạc Đại thế giới” Bảy Viễn quyết liệt chọi nhau ngay trên đường phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Khỏi lửa ngút trời kéo dài từ Tân Thuận đến Xóm Củi. Tai họa đổ xuống đầu nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, nhưng khốn khổ nhất là những xóm lao động nghèo, nhà gỗ vách lá. Tháng 5 năm 1955, Diệm đuổi được Bình Xuyên ra khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn, xuống Rừng Sác; đến tháng 10 mới căn bản thanh toán được, trừ một bộ phận khoảng 200 người (cả người nhà binh sĩ) chủ yếu thuộc lực lượng Bảy Môn được cách mạng giúp đỡ, đưa về Chiến khu Đ tham gia chống Diệm. Trong cuộc hỗn chiến, tướng Cao Đài liên minh đã theo Diệm là Trịnh Minh Thế bị tử vong(1).

Cuộc loại trừ đối thủ của Diệm ở Sài Gòn đã làm 20.000 nhà dân bị thiêu hủy, hàng trăm người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất.

Vừa đánh với Bình Xuyên, Diệm vừa chống đối quyết liệt với phong trào quần chúng. Phong trào hòa bình tạm lắng sau cao điểm, bị đàn áp tháng 5 năm 1955, sau đó đã linh hoạt chuyển sang “Phong trào cứu tế nạn nhân, bảo vệ sinh mạng và tài sản dân chúng” trong hỗn chiến, tranh ăn giữa các thế lực tay chân Pháp - Mĩ, quy mô tầm vóc không kém. Ủy ban cứu tế ra đời do một nữ đồng chí công khai đứng đầu, được sự đồng tình của nhiều tầng lớp nhân dân. Hội phụ nữ Việt Nam, hội sinh viên, học sinh, nghiệp đoàn giáo dục Việt Nam… tuyên bố gia nhập Ủy ban cứu tế. “Lá lành đùm lá rách”, người có tiền góp tiền, người có của góp của, thầy thuốc đi chích thuốc phòng dịch… Người nghèo góp nồi niêu, thanh niên học sinh góp công dựng lều cho người tị nạn, quét dọn vệ sinh… 30.000 người tham gia ngày lao động cứu trợ. Phong trào lan nhanh ra các tỉnh Gia Định, Bình Dương, Biên Hòa, Tân An, Mĩ Tho. Có 200 tổ chức các ngành, các địa phương tham gia. Mỗi ngày có đến 300 xe tắc xi phục vụ cứu trợ. Chính bản thân việc quần chúng tham gia các việc cứu trợ, mặc nhiên đã vạch mặt bọn phản nước hại dân. Khẩu hiệu đòi bảo vệ tính mạnh, tài sản của nhân dân vẫn gần khẩu hiệu đòi hòa bình và thi hành hiệp định. Quy mô ngày càng lớn của phong trào và sự gắn bó nhau của nhiều tầng lớp trong một việc làm vừa mang tính chất cứu trợ nhân đạo vừa có tính chất tố cáo, làm cho chính quyền Diệm lo sợ. 5 người trong Ủy ban cứu tế đã bị bắt. Chị Ái Lan bị xử tù 5 năm do tội “hăng hái hành động cho Ủy ban cứu tế”. Phong trào chỉ tồn tại 4 tháng, nhưng đã tỏ rõ sự thương yêu đùm bọc của đồng bào ta trước địch họa. Các Ủy ban cứu tế chuyển thành Ủy ban nhân dân của các xóm lao động chống hỏa hoạn, chống đốt nhà đuổi dân. Đảng bộ Sài Gòn tiếp tục phát động đợt đấu tranh tháng 7, tháng 8 năm 1955, mở màn là các cuộc biểu tình ngày 3 tháng 7 đòi thả 5 đại biểu của phong trào cứu tế bị giam giữ. Địch không trả lời, lập tức 7 ngày sau, ngày 10 tháng 7 năm 1955, 70% nhân dân Sài Gòn tổng bãi công, bãi chợ, bãi khóa. Bên cạnh những khẩu hiệu đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất hai miền, trên đường phố xuất hiện những băng trắng mang dòng chữ “đả đảo phát xít”. Chính những ngày này, chị Nguyễn Thị Diệu, nguyên ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ Nam Bộ bị giặc sát hại trong trại giam Catinat, trong lúc chị mang thai 4 tháng (ngày 10 tháng 7 năm 1955). Ngày 15 tháng 7 năm 1955, Diệm “trả lời” những cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn bằng việc chính thức phát động chiến dịch tố cộng giai đoạn 1. Những cuộc vây ráp liên tục xảy ra trong các khu phố chính của Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhưng hành động này không ngăn nổi cuộc biểu tình của 7.000 người ở Ba Son và Nancy đòi hiệp thương hai miền ngày 20 tháng 7 năm 1955, ngày mà đáng lí hai miền phải gặp nhau bàn việc tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève.

Từ cuối năm 1955, Diệm cắt mọi quan hệ với Pháp, trực tiếp nhận viện trợ của Mĩ, không qua trung gian Pháp nữa. Ngày 26 tháng 10 năm 1955 Diệm tuyên bố thành lập “nước Việt Nam Cộng hòa”, lấy Sài Gòn làm “thủ đô”. Đến đây đế quốc Mĩ không qua trung gian thực dân Pháp trực tiếp nắm bộ máy tay sai, thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành vùng đất nằm trong quỹ đạo của Mĩ.

Sau việc đăng bài của Max Clos tố cáo các trò gian lận của Diệm biến 450.000 phiếu thành 605.025 phiếu, tờ báo Le Figaro ngày 26 tháng 10 năm 1955 đã đăng bài nói về việc tẩy chay của nhân dân Sài Gòn đối với việc thành lập “nước Việt Nam Cộng hòa”: “Để ăn mừng chính thể cộng hòa được thành lập, nhà cầm quyền miền Nam động viên công chức, người di cư và trẻ em các trường học làm một cuộc biểu tình không lấy gì làm quan trọng. Còn dân chúng thì ai ở nhà nấy, không buồn ra đường… không làm sao so sánh được với những cuộc tuần hành ở Hà Nội…”

Ngay trong những ngày đầu tháng 11 tiếp đó, công nhân nhà đèn Chợ Quán bãi công đòi quyền lợi dân sinh dân chủ, được trên 20.000 công nhân và lao động thành phố hưởng ứng.

Ở ngoại thành, Diệm bắt đầu sớm hơn nội thành cuộc đàn áp những người kháng chiến cũ. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt cóc, thủ tiêu. Giữa tháng 9 năm 1955, trong một cuộc càn quét vào ấp Tây xã Tân Sơn Nhì (Tân Bình), địch bắt hai cán bộ kháng chiến (anh Pháo và anh Chờ) đánh đập dã man. Đồng bào đấu tranh buộc chúng phải thả cả hai. Nhưng đến đêm 20 tháng 9, chúng xông vào nhà bắt cả hai anh đem ra cánh đồng Tham Lương cắt cổ, mổ bụng, đồng thời bắn chết một người kháng chiến khác (anh Út Bướm). Tháng 4 năm 1956, cai tổng Cộng, ác ôn khét tiếng ở Củ Chi cho tay chân mổ bụng 16 người dân Phú Hòa Đông vì “tội” đấu tranh đòi thi hành Hiệp định.


(1) Có ý kiến cho rằng đây là âm mưu thanh toán của Diệm.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:42:30 AM
Những vụ sát hai dã man nói trên liên tiếp diễn ra đã báo trước yêu cầu sống còn tất yếu của nhân dân miền Nam là phải võ trang, chứ không thể đơn thuần đấu lí với kẻ thù được. Từ đó nhiều tổ chức đảng cơ sở mạnh dạn tự động chủ trương tổ chức những tổ, đội tự vệ mật mang những tên công khai: “đội chống trộm cướp”, “đội phòng cháy chữa cháy”, “đội cứu tế”… ai có gì trang bị nấy. Gia Định trở thành một trong những tỉnh sớm có lực lượng vũ trang. Tối ngày 31 tháng 3 năm 1956, tại Phú Hòa (Củ Chi), một tổ tự vệ 5 người đã dùng dao giết tên cai tổng Công. Ở Duyên Hải, bước đầu ta đã lập ra các tổ chức biến tướng trong đồng bào lao động cho phù hợp với tình hình: các “hội lân”, hội “chài lưới”, hội “đá banh”… để tạo điều kiện gầu gũi, giác ngộ quần chúng chống địch khủng bố, chống cho vay nặng lãi, chống thuế, đoàn kết lương giáo, tiến lên đấu tranh chính trị. Nhờ có các chủ trương kịp thời, đúng đắn trên, suốt những năm 1955, 1956 đảng viên bám được cơ sở, xây dựng đuợc mỗi xã ít nhất một căn cứ, trừ một số xã như An Thới Đông, Bình Khánh bị địch kềm kẹp chặt nên các cơ sở phải rút vào bí mật từ đầu, phong trào có bị hạn chế. Công tác binh vận là một mặt mạnh của Cần Giờ, nòng cốt là hội “Thanh lao” (Thanh niên lao động). Đại úy quận trưởng quận Cần Giờ là Trần Văn Lợi cùng thư kí quận và đồn trưởng đồn Đông Hòa đã được ta giác ngộ.

Cuối tháng 1 năm 1956, Diệm kí một đạo luật công khai khước từ tổng tuyển cử: đạo luật bầu cử quốc hội riêng rẽ. 8 ứng cử viên bị tình nghi tán thành hòa bình thống nhất bị buộc phải rút lui trước. Hãng thông tấn Mĩ thừa nhận, chỉ có “người của Diệm tranh cử với nhau”. Biết địch sẽ khủng bố nếu chống bầu cử, cán bộ ta khuyên dân cứ đi nhưng đi trễ, bỏ phiếu trắng, phiếu không hợp lệ. Mặc dù vậy, nhiều người vẫn không đi. Diệm đặt giải thưởng một triệu đồng cho ai bắt được người xé áp phích, nhưng chỉ trong 3 ngày, trươc và sau bầu cử (ngày 4 tháng 3 năm 1956), 80% số áp phích quảng cáo bầu cử bị xé. Lần tháng 3 năm nay, người đi bỏ phiếu ít hơn lần tháng 10 năm ngoái từ 15 đến 30 phần trăm, nhưng tất nhiên là phe Diệm “toàn thắng”.

Để nắm chặt quân đội ngụy, Mĩ liên tục tăng cố vấn quân sự và kiện toàn tổ chức MAAG (tổng số cố vấn từ 200 năm 1954 lên 669 tên năm 1956); giải tán “phái bộ huấn luyện hỗn hợp” Pháp - Mĩ (TRIM), tổ chức ra “phái bộ huấn luyện” tác chiến lục quân (CATO: Combat Army Training Organisation) gồm toàn người Mĩ, cho triển khai thêm “phái bộ trang bị và cung cấp” (TERM: Tempory Equipment Recovery Misson). Cả hai tổ chức này đặt dưới quyền của MAAG.

Để “tranh thủ trái tim khối óc người nông dân”, tách nông dân khỏi ảnh hướng cách mạng, chương trình “cải tiến nông thôn” của Diệm được sớm triển khai. Lấy việc thực hiện chính sách “cải cách điền địa” làm khẩu hiệu trung tâm, ngày 8 tháng 1 năm 1955 Diệm ra dụ số 2, tiếp đến ngày 3 tháng 2 năm 1955 ra dụ số 7 “cải cách điền địa” về giảm tô và giao đất bỏ hoang cho tá điền canh tác. Ngày 22 tháng 10 năm 1956 lại ra dụ số 57 về quyền truất hữu ruộng đất của chính phủ và “tiểu điền chủ hóa tá điền”. Những cái gọi là “cải cách” trên quanh đi quẩn lại đã làm cho 650.000 ha mà cách mạng đã cấp cho nông dân miền Nam trong kháng chiến và trước ngày tập kết, bị giặc cướp không rồi lại bán đấu giá ngược trở lại; nhưng người nghèo không có tiền mua, người giàu không đủ đất mua. Thành quả cách mạng bị xóa. Việc này, nông dân không thể nhịn được, do đó “cải cách điền địa” chẳng những đã không “tranh thủ được trái tim khối óc người nông dân” mà còn làm cho mâu thuẫn giữa nông dân và tay sai đế quốc thêm quyết liệt. Nhà sử học Mĩ Gabriel Kolko thừa nhận: “chỉ có 12% tá điền được nhận đất, nhưng phải mua trong khi chính sách của Việt Minh là cho không”(1), do đó, “trước 1955 địa chủ là đối tượng chủ yếu của sự cay đắng của nông dân, bây giờ còn thêm những quan chức hung hăng của Diệm”(2).

Nông dân Gia Định vào cuộc đấu tranh về ruộng đất ngay sau khi “dụ 1” ra đời. Ngày 9 tháng 3 năm 1955 trong một cuộc họp tá điền tại Sài Gòn, có hơn 100 đại biểu nông dân đòi hủy bỏ chế độ đấu giá công điền. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, trong cuộc biểu tình lớn tại Sài Gòn, nông dân Gia Định mang khẩu hiệu đòi sửa đổi luật công điền.

Địch lại bắt 96 nông dân các xã Đông Hưng Thuận, Trung Mĩ Tây, Tân Thới Hiệp rời làng để chúng lấy đất xây dựng khu căn cứ quân sự liên hoàn Lê Lợi và Quang Trung, mở xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa. Nông dân hai xã Đông Hưng Thuận và Trung Mĩ Tây cử đại biểu lên tận “quốc hội”, phủ tổng thống Diệm, Bộ quốc phòng phản đối dời làng. Cuộc đấu tranh chống dời làng kéo dài đến hàng năm, có người như chị Trương Ngọc Thanh bị bắt đến cả chục lần, có những nông dân cầm giáo, mác, gậy đuổi cố vấn Mĩ. 96% nông dân các huyện xung quanh Sài Gòn đã nhập cuộc trong cuộc đấu tranh chống “cải cách điền địa”, buộc việc đấu giá công điền phải tạm ngưng. Đến cuối 1956, Diệm mới lấy lại được khoảng một phần ba đất công của nông dân Gia Định.

Ở nội thành, ngày 26 tháng 3 năm 1956, công nhân nhà đèn lại nhất loạt bãi công với các khẩu hiệu dân sinh. Cuộc đấu tranh kéo dài 1 tháng dẫn đến việc cung cấp điện ở Sài Gòn bị ngưng trệ. Công nhân chống trả lực lượng quân đội đến đàn áp, chống việc lính thợ đến làm thay, kiên quyết không nhượng bộ. Ngụy quyền buộc phải hứa giải quyết yêu sách, đồng thời sau vụ này Diệm cho phép được tuần hành, mít tinh trong ngày lễ 1 tháng 5 để lấy lòng công nhân. Không bỏ lỡ thời cơ, Đảng bộ thành phố chủ trương một cuộc biểu dương lực lượng lớn. Hàng ngàn công nhân thành phố cùng đông đảo các tầng lớp đồng bào, kể cả một bộ phận tín đồ đạo Thiên chúa mới di cư, Hoa kiều cùng với 200 xe khách, 200 xe tắc xi, 200 xích lô đạp, 100 xe ngựa, xe ba bánh… rầm rộ biểu tình trên đường phố, hô to cá khẩu hiệu ngoài quy định của ngụy quyền, đòi hòa bình, dân chủ, thống nhất đất nước. Khách vãng lai cũng nhập cuộc. Lần đầu tiên trên đường phố xuất hiện khẩu hiệu chống lệ thuộc thực dân: “không được nhập cảng bừa bãi hàng viện trợ Mĩ”. Cả Sài Gòn sôi động. Cuộc biểu dương lực lượng trở thành một trong những cuộc tập dượt quần chúng đấu tranh quy mô nhất có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.


(1) Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1989, tr 123.
(2) Gabrel Konko, Sách đã dẫn.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:46:49 AM
Ngày 20 tháng 7 năm 1956, theo quy định của Hiệp định Genève là ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước, ngụy quyền Sài Gòn lại ầm ĩ “20 tháng 7 ngày quốc hận”, “không có hiệp thương với cộng sản”… Trước ngày 20 tháng 7 năm 1956 10 ngày, địch đã bắt đầu chiến dịch đàn áp mang tên Trương Tấn Bửu (từ ngày 10 tháng 7 năm 1956 đến ngày 24 tháng 2 năm 1957) trên phạm vi miền Đông Nam Bộ kể cả phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, mục tiêu là diệt lực lượng cách mạng cùng tàn dư Bình Xuyên, Cao Đài, do thiếu tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy. Trong khi đó Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định đang sục sôi vào một cao điểm đấu tranh mới, với các khẩu hiệu đòi thống nhất đất nước, kết hợp với các khẩu hiệu đòi dân sinh. Tiếp sau cuộc hội thảo công khai là cuộc đình công của 5.000 công nhân xe lửa kéo dài 12 tháng, đến cuộc đình công của 5.500 công nhân bốc xếp của 20 khu cảng Sài Gòn, cuộc đình công 3 ngày của công nhân nhà đèn Chợ Quán… nhiều mặt sinh hoạt của Sài Gòn bị ngưng trệ. Đúng vào ngày 20 tháng 7, một cuộc tuần hành lớn chưa từng có, có phối hợp nội ngoại thành, hầu hết lực lượng nòng cốt tham gia. CIA chỉ đạo Diệm theo dõi lực lượng nòng cốt từ các đợt đấu tranh trước. Hợp điểm quy định của các đoàn biểu tình là Dinh thủ tướng ngụy, nhưng kế hoạch của ta bị lộ, địch đã chực sẵn ở các ngã ba, ngã tư và dùng vũ lực giải tán từng đoàn một. Bọn mật vụ điểm đúng mặt, gọi đúng tên nhiều cán bộ cơ sở, bắt đi hàng trăm người mà chúng đã nắm được qua các cuộc đấu tranh trước kia, qua kiểm tra hành chính, kê khai hộ khẩu. Hàng ngàn đồng bào yêu nước cũng bị bắt với những “tội” đã biểu tình, đã hoan hộ hiệp định, đòi tổng tuyển cử… Các lực lượng cảnh sát, mật vụ tiếp tục lùng sục vào các khu, các xóm lao động bắt bớ hàng loạt. Ở ngoại thành, địch đã khui hầm bí mật bắt được anh Võ Thành Trang (Bảy Trắc), Phó Bí thư Huyện ủy Gò Vấp. Anh đã chấp nhận hi sinh giữ trọn khí tiết người cộng sản. Bọn đầu hàng công khai lộ mặt. Đây là cuộc khủng bố lớn nhất Sài Gòn - Gia Định từ sau Hiệp định Genève do CIA đạo diễn. Sự kiện này đánh dấu sự kết thúc một thời kì cao trào đấu tranh chính trị đòi dân sinh dân chủ, đòi thống nhất đất nước, sau Hiệp định Genève. Qua đó đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn rút ra bài học đầu tiên về sử dụng 3 thế, 3 hình thức(1) sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, trong đó có việc bộc lộ lực lượng do chưa lường hết âm mưu kẻ thù, là một bài học xương máu.

Sau cuộc khủng bố tháng 7, phong trào đô thị tiếp tục lan sang giới tiểu thương. Cuối tháng 7 (ngày 29 tháng 7 năm 1956), 160 đại biểu thay mặt 30.000 tiểu thương họp đòi bỏ thuế 4%, bỏ tiền chỗ và thuế môn bài. Trong tháng 1 năm 1956, công nhân hãng Pacific bãi công kéo dài hơn một tháng đòi tăng lương và chống sa thải, được 128 nghiệp đoàn ở Sài Gòn và miền Đông ủng hộ. Cuộc bãi công của 500 công nhân khuân vác ở cảng (ngày 16 tháng 11 năm 1956) đã làm tê liệt bến tàu 3 ngày.

Kế hoạch giải tỏa trên 32.000 căn nhà của Diệm, trong đó tập trung ỏ bến Chương Dương và Vân Đồn (gồm 10.000 nhà), để gọi là “chỉnh trang đô thị” trước hết đánh vào đồng bào lao động ở những xóm nghèo vách lá. Cuộc đấu tranh chống đuổi nhà quyết liệt, kéo dài qua nhiều năm. Ở các bến Chương Dương và Vân Đồn, hai chi bộ đảng lãnh đạo quần chúng xây dựng được hai đội tự vệ lấy tên công khai là “đội cứu hỏa” và hệ thống báo động. Mỗi khi có cảnh sát và lính Diệm đến đuổi nhà, quần chúng gõ thùng thiếc, chậu, mâm… để huy động lực lượng ra đấu tranh. Ngày 4 tháng 2 năm 1956 nổ ra cuộc đấu tranh chống đuổi nhà của 10.000 công nhân lao động và các tầng lớp nhân dân dọc theo hai bờ sông. Đội tự vệ bao vây, đánh nhau giằng co với bọn tháo dở. Ở Phú Thọ Hòa cũng diễn ra những cuộc đấu tranh như vậy.

Qua cao trào đấu tranh chính trị, lực lượng công nhân đã tỏ rõ vai trò nòng cốt. Điều này nói lên tính đúng đắn của các chủ trương của Đảng về công nhân trong hoàn cảnh mới. Để tạo tự do dân chủ, thực chất là để xé lẻ và làm chệch hướng phong trào công nhân, địch thành lập các nghiệp đoàn khác nhau: Tổng liên đoan lao công, Tổng liên đoàn lao động, Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do… Do đó ở các nhà máy xuất hiện nhiều nghiệp đoàn cơ sở thuộc các hệ khác nhau song song tồn tại. Hậu quả tất yếu là đã xảy ra hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, nghiệp đoàn này đấu tranh, nghiệp đoàn kia phá do tranh chấp nhau về ảnh hưởng như ở hãng dệt Vimytex, hãng pin Con Ó… Mĩ nắm chắc và tập trung đầu tư tiền cho Tổng liên đoàn lao công, ra sức tô vẽ cho tên CIA Trần Quốc Bửu thành “ông Vua lao động” nhằm biến Tổng liên đoàn lao công thành một nghiệp đoàn mạnh nhất, có sức chi phối, lũng đoạn phong trào công nhân trên toàn miền Nam. Chủ nghĩa cải lương, “lí tưởng quốc gia”, chủ nghĩa công đoàn (syndicalism)… đều nhằm vào mục tiêu tối hậu là “mỗi người lao động phải là một chiến sĩ chống cộng”(2).

Không để địch làm chệch hướng đấu tranh và phân tán lực lượng, trong tình thế các tổ chức quần chúng đã giải thể phải chấp nhận phương án “xanh vỏ đỏ lòng”, tức lợi dụng tổ chức địch để tạo thế hợp pháp tập hợp công nhân đấu tranh công khai. Thực hiện phương án đó, ta đã giải thể Liên hiệp công đoàn Sài Gòn - Chợ Lớn, bố trí cán bộ tranh cử để gài vào tổ chức đầu não Tổng liên đoàn lao công của Bửu và đưa người vào cả hệ thống tổ chức Tổng liên đoàn lao động, gây cơ sở trong các nhà máy, xí nghiệp, hoạt động tại các công đoàn cơ sở.

Năm 1956, đảng “Cần lao nhân vị” ra đời, một đảng hợp pháp duy nhất của chế độ Diệm, lấy “chủ nghĩa nhân vị”, “một mớ hổ lốn không thể nào hiểu được”(3) làm hệ tư tưởng, là “một sự kết hợp của bộ máy chính trị cá nhân với một kiểu hội kín mang tính chất trả thù và hăm dọa kiểu maphia”.

Theo báo cáo của cục An Ninh (1960), đảng Cần lao có 70.000 đảng viên. Thực hiện lí tưởng của nó, bộ máy chính quyền Diệm ngày càng cảnh sát hóa, phát xít hóa theo phương châm mà chính ngoại trưởng Mĩ Dulles đã nói từ sau khi kí kết Hiệp định Genève: “Nam Việt Nam cần có một chính phủ dựa vào lực lượng cảnh sát mới có hiệu lực để loại trừ các phần tử gây rối” (ngày 1 tháng 11 năm 1954). Cùng với việc giám sát từng nhà, từng người thông qua các hình thức “liệu gia” và bộ máy kềm kẹp từ trung ương đến xóm ấp, Diệm - Nhu - Xuân bày ra và làm rùm beng ở các tổ chức Phong trào cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới… để gọi là “đoàn ngũ hóa nhân dân”, “đoàn kết quốc gia loại trừ cộng sản”.


(1) 3 thế: hợp pháp, nửa hợp pháp; 3 hình thức: công khai, nửa công khai, bí mật.
(2) Tuyên bố của Trần Quốc Bửu, VTX ngày 17 tháng 1 năm 1973 - Cục lưu trữ thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Gabrel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, năm 1989.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:49:23 AM
Hai năm trôi qua kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1954, ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mĩ thông qua tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm chuyển toàn bộ hệ cơ cấu thực dân cũ, thành cơ cấu thống trị thực dân mới, tạo được thế đứng để tập trung mũi nhọn vào những người cộng sản, những người kháng chiến cũ và lực lượng tiến bộ, thực hiện chiến lược “tố cộng, diệt cộng”, theo phương châm đánh trên diện rộng ban đầu, sau đó đánh vào quần chúng, lấy đánh vào Đảng Cộng sản làm mục tiêu quyết định; đánh vào tổ chức, đồng thời đánh vào tư tưởng; tiêu diệt con người đi đôi với tiêu diệt tinh thần, ý chí… Biện pháp của địch là dùng bạo lực phản cách mạng kết hợp với lừa mị, lấy bạo lực làm chính… thực hiện “từng bước, lâu dài nhưng kiên quyết và triệt để” nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là dồn những người cộng sản và quần chúng cách mạng vào chỗ hoặc chết, hoặc đầu hàng.

Tháng 6 năm 1956, Bộ Chính trị trung ương Đảng ra nghị quyết về “Tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam”, xác định hình thành đấu tranh phổ biến ở miền Nam trong giai đoạn này là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ rõ “như thế không có nghĩa không dùng võ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”, “cần thiết phải tổ chức các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa”. Tuy nhiên việc phổ biến tinh thần Nghị quyết trên xuống tới chi bộ là việc hết sức gay go, thậm chí Nghị quyết không đến được từng khu vực quan trọng của Nam Bộ, trong đó có Sài Gòn - Gia Định.

Trên chiến trường, khi địch đã đi vào các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, ta vẫn còn lúng túng tranh cãi giữa hai con đường võ trang hay không võ trang, nhận thức và xử sự mỗi nơi một khác. Một số đảng viên, cấp ủy ở miền Đông được Liên tỉnh ủy miền Đông phê bình “không tin đường lối Đảng”, “manh động”… khi chủ trương có vũ trang tự vệ.

Sau cuộc khủng bố tháng 7 năm 1956, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo chuyển hướng, nêu khẩu hiệu đấu tranh tập trung vào các mục tiêu đòi dân sinh dân chủ, khi có điều kiện thì đưa thêm khẩu hiệu đòi hòa bình, thống nhất đất nước, đồng thời xác định trong chừng mực nào đó cần phải có lực lượng tự vệ và vũ trang tuyên truyền để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tói sau này phát triển lực lượng đó để đánh đổ ngụy quyền.

Diệm bày trò bầu cử tổng thống ngày 26 tháng 10 năm 1956. Ta chủ trương chống bầu cử dưới mọi hình thức từ cách tỏ thái độ thờ ơ đến phá thùng phiếu. 15.000 quân ngụy kéo về Sài Gòn làm áp lực, cảnh sát lùng sục buộc mọi người đi bỏ phiếu. Chúng bắt luôn 6000 xe đò, tắc xi phải dán quảng cáo “Ngô chí sĩ, nhà lãnh đạo anh minh”… Nhưng hơn nửa dân Sài Gòn vẫn tẩy chay, không đi bỏ phiếu, 80 phần trăm quảng cáo “Ngô chí sĩ” bị xé. Diệm cứ công bố 90 phần trăm phiếu bầu cho y (đài phát thanh bí mật Lạc Việt nói Sài Gòn chỉ có một phần ba cử tri đi bỏ phiếu).

Tháng 12 năm 1956, tại Phnôm Pênh, Xứ ủy họp nghiên cứu Nghị quyết 6 Bộ chính trị và Đồng chí Lê Duẩn trình bày Đề cương đường lối cách mạng miền Nam(1) để lấy ý kiến chuẩn bị ra trình bày ở Trung ương. Xứ ủy xác định: con đường tất yếu của cách mạng miền Nam là bạo lực, chủ trương tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ rừng núi…

Ngay sau đó Xứ ủy làm việc trực tiếp với từng đồng chí trong Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn trong hơn hai tháng để đánh giá lại toàn bộ phong trào thành phố, rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng tới(2).

Nhìn lại hai năm qua, thấy nổi bật lên trong chỉ đạo của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định là sự nhạy bén, nhanh chóng triển khai lực lượng, nắm bắt được nguyện vọng của quần chúng, đề ra khẩu hiệu đấu tranh thích hợp, sử dụng linh hoạt hai hình thức công khai và nửa công khai, phát động quần chúng đấu tranh chính trị tiến công địch ngay từ đầu, đồng thời được sự tiếp sức và tăng cường của trên và các nơi, đã gây được cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đưa Sài Gòn - Chợ Lớn lên vị trí trung tâm phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam. Từ năm 1954 đến năm 1956, cao trào đấu tranh chính trị bảo vệ hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Genève đã lên cao với khí thế rầm rộ, sôi nổi, rộng lớn.

Tuy nhiên, vấn đề xây dựng và giữ gìn lực lượng cách mạng tại chỗ chưa được sớm đặt thành một nhiệm vụ hàng đầu, coi đó trong chỉ đạo còn nóng vội, để lộ và dốc hết lực lượng mà chưa chú ý xây dựng lực lượng nòng cốt như đoàn thanh niên, tổ chức quần chúng, chưa đặt đúng mức yêu cầu bảo vệ cơ sở và lực lượng cách mạng, nhất là ở nội thành. Đảng bộ cũng chưa nhạy bén trong vận dụng sách lược phân hóa kẻ thù, chưa đề ra chính sách cụ thể trong công tác Mặt trận.


(1) Đồng chí Lê Duẩn chuẩn bị tư tưởng ở miền Tây, bắt đầu viết ở các cơ sở ở đường Huỳnh Khương Minh và khu Bàn Cờ Sài Gòn, hoàn thành ở Đà Lạt.
(2) Lúc này khả năng công khai coi như không còn, Khu ủy phải chia 2: nội và ngoại thành, tăng cường các thành công bí mật, chi bộ bí mật. Xứ ủy làm việc với Khu ủy phải gặp từng người một, không có họp chung.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:50:49 AM
II. ĐỐI ĐẦU “TỐ CỘNG DIỆT CỘNG”,
KỊP THỜI CHUYỂN TRỌNG TÂM ĐẤU TRANH,
TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN VŨ TRANG TỰ VỆ - DIỆT ÁC


Năm 1956, mở đầu thời kì khủng bố khốc liệt nhất ở miền Nam: Diệm đã giành 42% ngân sách chung của đô thành Sài Gòn cho các cuộc vây ráp, lùng sục, bắt bớ. Ngay ở Sài Gòn - Chợ Lớn, dựa vào chỉ điểm, mật vụ, cảnh sát, Diệm đã bắt hàng ngàn người tình nghi thân cộng sản, hàng nghìn người vô tội bị hành hình. Trong bối cảnh như vậy, dù có thiếu sót, Đảng bộ thành phố vẫn phát triển qua cao trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Đến lúc này toàn thành đã có 86 chi bộ với 750 đảng viên, 500 đoàn viên thanh niên lao động, 300 quần chúng nòng cốt.

Về đấu tranh vũ trang Xứ ủy chỉ đề cập đến việc duy trì các lực lượng vũ trang đã có.

Ở Gia Định, tháng 2 năm 1957, Hội nghị toàn thể Ban chấp hành Tỉnh ủy lần thứ tư được tổ chức tại xã An Nhơn Tây, xác định tiếp tục nhiệm vụ đưa phong trào quần chúng đi lên, trước hết cần giáo dục sâu nhận thức về kẻ thù, về tính lâu dài của cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước, đẩy mạnh công tác binh vận, thực hiện chủ trương “điều lắng”, phân loại chi bộ lộ và không lộ để bảo vệ cho tốt.

Chủ trương, chỉ đạo của Xứ ủy, Tỉnh ủy chưa được triển khai thì địch đã vào đợt đánh phá mới rất mạnh. Lực lượng đảng bị tổn thất nhanh chóng. Địch đang triển khai tổ chức và xây dựng vành đai phòng thủ. Nhiều căn cứ quân sự, sân bay, đường chiến lược mới xây dựng. “Quân khu thủ đô”(1) bao gồm Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập. Ở nông thôn, trong đó Gia Định là một trong những trọng điểm, địch đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng tự vệ.

Trong khi địch đã bắt đầu tập trung đánh vào những người cộng sản và phong trào yêu nước, ta đã kịp thời chuyển hướng trong chỉ đạo đấu tranh, trước hết là làm sao duy trì được phong trào ở nội thành sau thời kì cao trào thứ nhất vừa qua đi.

Mục tiêu dân sinh dân chủ sát hợp với đòi hỏi trước mắt của quần chúng, đồng thời tạo điều kiện tận dụng được khả năng công khai hợp pháp của các tổ chức quần chúng.

Ngày 24 tháng 1 năm 1957, trên 3.500 công nhân cảng Sài Gòn bắt đầu cuộc bãi công đòi tăng lương 30% và không được vô cớ sa thải công nhân. Cuộc đình công làm cho bến tàu Sài Gòn hoàn toàn tê liệt. Ngụy quyền buộc phải chấp nhận tăng lương 15%.

Xuân 1957, nhân dịp Tết Nguyên đán, đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn, kể cả dân di cư, gửi kiến nghị đòi quốc hội Diệm cho gửi thư, nhắn tin ra Bắc. Chỉ trong 15 ngày đầu tháng 2 năm 1957, bưu cục miền Nam đã buộc phải chuyển tới 17.135 bưu thiếp ra Bắc. Đợt đấu tranh tháng 5 năm 1957 được mở màn bằng cuộc xuống đường của 278.000 công nhân lao động nhân ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5. Trong cuộc biểu tình này, bên cạnh những khẩu hiệu dân sinh, dân chủ, còn khẩu hiệu đòi thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình. Sau ngày 1 tháng 5 hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra quyết liệt - 5.000 công nhân nhà đèn Chợ Quán, sở xe lửa Chí Hòa và Dĩ An bãi công, 3.000 công nhân Ba Son bãi công chiếm xưởng.

Chính vào tháng 5 này, Diệm đưa ra Quốc hội để thông qua dự luật “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, nhưng nhân dân phản đối nên Quốc hội không dám thông qua.

Suốt tháng 7 và tháng 8 năm 1957, trên 200 cuộc đấu tranh lớn nhỏ của công nhân và nhân dân lao động thành phố chống địch “giải tỏa đô thành”. Cùng trong tháng 7, 20.000 chị em ở 30 chợ họp đại hội đòi chấn chỉnh chợ búa.

Tháng 9 năm 1957 các nhà xuất nhập cảng ở Sài Gòn họp hội nghị kiến nghị ngụy quyền lập “ủy ban nghiên cứu nguyên nhân tình trạng khủng hoảng kinh tế”.

Tháng 10 năm 1957, địch lại bắt đầu khủng bố trắng, nhưng không dập tắt được đấu tranh. Ngày 26 tháng 10, Sài Gòn diễn ra một cuộc biểu tình hàng ngàn người đòi hòa bình thống nhất Tổ quốc. Lần này khẩu hiệu đả đảo Ngô Đình Diệm xuất hiện ngay trên đường phố. 194 đại biểu công nhân thuộc 62 nhà máy, xí nghiệp họp ủng hộ công nhân xe lửa đấu tranh, đồng thời đòi trả tự do cho cán bộ nghiệp đoàn bị bắt.

Nắm bắt được chủ trương của ta về công đoàn, ngày 11 tháng 11 năm 1957 lấy cớ “thanh lọc nghiệp đoàn”, ngụy quyền giải tán một lúc 30 nghiệp đoàn, bắt giam 200 người lãnh đạo nghiệp đoàn. Đây là lần thứ hai sau năm 1956, địch thực hiện chiến dịch “thanh lọc nghiệp đoàn” nhằm trong phạm vi và tinh thần các chiến dịch tố cộng. Cuộc “thanh lọc” còn tiếp diễn quyết liệt, nhiều cơ sở Đảng trong thành phố, trong đó có cơ sở Đảng quận 3 bị vỡ. Trong bối cảnh đó, ngày 15 tháng 12 năm 1957, hàng nghìn công nhân Sài Gòn xuống đường nêu cao khẩu hiệu đòi hủy bỏ dự luật “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”. Địch bắt đầu lập hệ thống kềm kẹp “ngũ gia liên bảo (ngày 19 tháng 12 năm 1957) để kiểm soát tận từng hộ cư dân nội thành.

Vượt qua nhiều khó khăn, ta đã đạt một trong những thành công đáng chú ý trong thời kì này là việc xây dựng nội tuyến, trong đó có những nội tuyến nằm trong những cơ quan quan trọng của địch: Phủ đặc ủy công dân vụ (sau đổi thành Bộ chiêu hồi), Nha công binh… Qua những nội tuyến đó, ta đã nắm được nhiều tin về kế hoạch đánh phá nội bộ ta, về những cán bộ bị bắt, về kế hoạch “dinh điền”, “khu trù mật”, về xây dựng, thiết kế các cơ sở quân sự.


(1) Ngày 24 tháng 10 năm 1956, Diệm ra sắc lệnh số 146b - TTP tổ chức đô thành Sài Gòn gồm Sài Gòn và Chợ Lớn thành “quân khu thủ đô”. Đến ngày 16 tháng 4 năm 1959 lại ra sắc lệnh số 98 - QP quy định quân khu thủ đô gồm đô thành Sài Gòn, tỉnh Gia Định và tỉnh Long An.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:53:07 AM
Ở nông thôn Gia Định, trong khi những cuộc đấu tranh chống “cải cách điền địa” đang tiếp diễn, địch lại ầm ĩ về “khu dinh điền”. Một trại tập trung ở Củ Chi ra đời dưới cái tên “khu dinh điền”.

Chính sách “khu dinh điền”, “khu trù mật” ra đời tháng 4 năm 1957 nằm trong khuôn khổ “chương trình cải tiến nông thôn” bên cạnh các dụ “cải cách điền địa” đồng thời là một bổ sung cho chiến dịch “tố cộng diệt cộng”. “Cố vấn” Ngô Đình Nhu xác nhận: “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu Việt cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó, là nơi cung cấp tình báo, nơi xuất phát hành quân để ngăn chặn xâm nhập”. Như vậy lập khu dinh điền là “đẩy” dân kháng chiến ra khỏi nơi họ đang sinh sống, là “cấy” dân gọi là “của quốc gia” vào giữa khu kháng chiến cũ. Và cuối cùng “khu dinh điền” là trại tập trung, khu trù mật là điểm dồn dân. Bọn công dân vụ nhai đi nhai lại “cứ làm, làm mãi, làm cho đến khi nông thôn trở nên pháo đài kiên cố của tự do…”. CIA gọi kế hoạch “khu trù mật” là “con ngựa chiến” của Diệm. Kế hoạch “giải tỏa đô thành” nhằm đuổi dân lao động ở các khu Chương Dương, Vân Đồn, Phú Thọ Hòa… ra xa “thủ đô”, tập trung người vào các “khu trù mật”. Cuộc đấu tranh của nông dân lao động chống lập khu dinh điền, khu trù mật cũng quyết liệt như chống “cải cách điền địa”.

Những tháng cuối năm 1957, cơ quan đầu não lãnh đạo Sài Gòn và Gia Định bị tổn thất nặng. Đồng chí Trần Quốc Thảo đương chức Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn bị bắt ngày 16 tháng 10 năm 1957(1). Bị địch cùm chân, đánh đập dã man, đồng chí không hé răng tiết lộ một điều gì, hi sinh ngay tại phòng tra tấn trong ngày bị bắt. Đồng chí Nguyễn Trọng Tuyến, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định bị địch phát hiện hầm bí mật ở Củ Chi. Đồng chí đã anh dũng hi sinh. Toàn bộ Đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn và tỉnh Gia Định cũng bị thiệt hại nặng do bị bắt và mất liên lạc. Chỉ riêng quận Hóc Môn, cho đến lúc này chỉ còn gần 100 đảng viên có tổ chức trong số hơn 1.000 đảng viên ở đây sau năm 1954. Số 100 đảng viên này đang đứng trước tình thế sẽ tiếp tục bị bắt(2).

Chính quyền Diệm công khai lên tiếng: “Thà bắn oan 1000 người còn hơn để sổng một tên cộng sản!”. Tờ báo Cách Mạng Quốc Gia không cần giữ vẻ chững chạc của cái gọi là “tờ báo”: “Không thể tha thứ cho những thằng ngủ mơ thiên đàng cộng sản, xác bám ở miền Nam, hồn gởi ra đất Bắc”.

Vùng ven Sài Gòn, một trong những trọng điểm địch đang đánh phá quyết liệt với những cuộc “tố cộng”, “cải huấn”, tẩy não”, “cách mạng quốc gia”… Trên mảnh đất Củ Chi ngoại thành đang diễn ra hằng ngày những cuộc moi gan, mổ bụng, bắt người thả bao bố dìm xuống nước… “Chủ nghĩa nhân vị” mà nhà sử học Mĩ Gabriel Kolko gọi là “một mớ hổ lốn, không ai hiểu nổi” bây giờ trở nên dễ hiểu. Đó là nhà tù, mổ bụng, moi gan, máy chém… dành cho tất cả những người không chịu “nhân vị” tức là chịu chế độ phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm. Cho đến cuối năm 1957, nhà tù ở ngay “thủ đô Việt Nam Cộng hòa” chật ních người, không chỉ những người cộng sản, người kháng chiến cũ mà cả những người dân thường trong số bị “bắt lầm hơn bỏ sót”. Trại giam Nha công an nhét trên 50 người trên 42m2, khám đường Gia Định 150 người trên 500m2, trại giam Thủ Đức có những ngày giam đến 4.000 chị em.

Trong hoàn cảnh chưa có một chiến lược hành động mới dứt khoát của Đảng, trước chính sách đàn áp thẳng tay của địch, nhân dân nhiều nơi của Sài Gòn - Gia Định không thể cho bọn ác ôn tự do hoành hành.

Chỉ với một lời khai, một chữ kí “li khai”, một tờ “sám hối” để đổi lấy cái sống phản bội, có biết bao chiến sĩ yêu nước đã kiên quyết không làm, chấp nhận cái chết tròn khí tiết. Trong nhà tù, có những anh chị em bị kẻ thù khoét mắt, lóc thịt, dí điện chết đi sống lại vẫn không hé một bí mật của Đảng, của tổ chức. Giữa địa ngục trần gian kẻ mất người còn, kẻ ra đi người ở lại, những người cộng sản chỉ chọn một trong hai con đường: hoặc chiến thắng hoặc cái chết để cho người còn sống nhớ lấy:

      Người đi ta nhắn mấy lời,
      Người về người nhớ xa vời còn ta
      Nhắn về thưa với “chú, cha”
      Ta về thắng lợi hoặc “ma căm thù”
(3)

Thực hiện chủ trương diệt ác để bảo vệ cán bộ, cơ sở cách mạng, xây dựng phong trào trên đường phố Sài Gòn sau những vụ trừng trị những tên cảnh sát ác ôn Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Ngọc Thạch… hồi năm 1956, năm 1957 tiếp tục diễn ra những vụ nổ lựu đạn của những người yêu nước trừng trị bọn tay chân đắc lực của Diệm - Nhu ở các địa điểm: quán rượu Thanh Xuân, Bến Ngô Quyền, Vườn Chuối, đường Cống Quỳnh.

Ở ngoại thành, những cuộc diệt ác diễn ra nhiều nơi như: ở thị xã Gia Định, ở các quận Tân Bình, Gò Vấp, Hóc Môn, Duyên Hải.

Ở Củ Chi, một trong những nơi đã diễn ra những cuộc đàn áp khốc liệt nhất của địch, các đội võ trang 3 đến 7 người lần lượt xuất hiện trên khắp các xã. Bọn ác ôn hoảng sợ, một đêm phải dời hai, ba chỗ ngủ. Có các nhóm võ trang hỗ trợ, cuộc đấu tranh của nông dân Phú Hòa Đông đòi địch trả thơn 100 ha vườn cây ăn trái, đòi hạn chế bắn pháo, đạt thắng lợi. Địch còn buộc phải trả lại số thuế cho 172 gia đình ở Bình Mĩ mà chúng đã thu trên danh sách những người đã chết.

Ở Thủ Đức, đến năm 1957 hầu hết mỗi nhà ở xã An Phú đều đã sắm gậy tầm vông và dây trói để chống địch cướp đất.

Có thể nói, sau cao trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn - Chợ Lớn là phong trào trừ gian diệt ác ở tỉnh Gia Định. Về mặt này Gia Định đứng vào những tỉnh hàng đầu ở miền Nam trong những ngày đen tối.


(1) Tại điểm hẹn ở Bình Chánh, hai đồng chí Phan Kiêm, Khu ủy viên và Vũ Hồng Chánh văn phòng khu ủy bị bắt trước. Đồng chí Trần Quốc Thảo đến điểm hẹn bị bắt luôn. Đồng chí Trần Quốc Thảo hi sinh trong khi một bộ phận Khu ủy đang làm việc với Xứ ủy ở Phnompenh. Đồng chí Phó Bí thư Nguyễn Ngọc Thanh về củng cố Khu ủy giữ chức quyền Bí thư, đồng chí Đoàn Văn Bơ làm Phó Bí thư, đồng chí Huỳnh Tấn Phát được bổ sung vào Khu ủy. Sau khi củng cố Khu ủy, đồng chí Thanh trở lên Phompenh báo cáo, nhưng đi ngang Hồng Ngự thì bị bắt, sau đó đồng chí Đoàn Văn Bơ cũng bị bắt.
(2) Đến năm 1959 chỉ còn 1 đảng viên.
(3) Bài thơ trên vách đá nhà tù Mĩ - Diệm.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:54:30 AM
Phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ ở nội thành Sài Gòn vẫn không giảm vào năm 1958.

Mở đầu là cuộc đấu tranh của công nhân 144 xí nghiệp ở Sài Gòn ngày 28 tháng 1 năm 1958 đòi tiền lương các ngày nghỉ.

Một tháng sau, ngày 28 tháng 2 năm 1958, công nhân hãng dầu Caltex bãi công 10 ngày chống lại việc chủ đánh đập thợ thuyền. Cuộc bãi công này có tiếng vang mạnh mẽ trong các xí nghiệp quan trọng của Mĩ Diệm.

Tháng 3 năm 158 nổ ra phong trào hưởng ứng công hàm ngày 7 tháng 3 của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi chính quyền miền Nam Việt Nam đề nghị trao đổi buôn bán, tạo điều kiện thuận lợi đi đến hòa bình thống nhất đất nước. Chỉ trong một tháng ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã có trên 100 cuộc tọa đàm, mít tinh bàn về quan hệ bình thường Bắc Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngày 20 tháng 4 năm 1958, khi địch bắt đầu chiến dịch tố cộng “Nguyễn Trãi” (từ ngày 20 tháng 4 năm 1958 đến ngày 20 tháng 11 năm 1958) ở 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ song song với chiến dịch “Hồng Châu” càn quét ngoại ô Sài Gòn, thì ở nội thành ngày Quốc tế lao động ngày 1 tháng 5 năm 1958, gần 500.000 công nhân các tầng lớp nhân dân khác rầm rộ xuống đường biểu tình đòi ngụy quyền giải quyết nạn thất nghiệp, đòi “bảo vệ hàng hóa”, sản xuất nội địa…

Trong cơn sóng đàn áp, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn càng gắn bó với người bạn đồng minh của mình là nông dân. Giữa nhưng ngày chiến dịch “Nguyễn Trãi” và “Hồng Châu” đang diễn ra ác liệt khắp ngoại thành và 8 tỉnh miền Đông, tại diễn đàn đại hội Tổng liên đoàn lao động, có đại diện các nghiệp đoàn về dự để thông qua tuyên bố và nội dung tố cáo chế độ Diệm, đồng chí Đoàn Văn Thới (tức Lê Văn Năm, cán bộ công vận công khai ở Tổng liên đoàn lao động) đã đọc bức thư của nông dân Cà Mau nói lên tình cảnh nông dân Cà Mau bị cướp bóc, bị ức hiếp tồi tệ… Người đọc rơi nước mắt, cả hội trường cũng rơi nước mắt theo(1). Trong cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5, những khẩu hiệu đòi giải quyết nạn thất nghiệp, thi hành luật lao động đã xuất hiện bên cạnh khẩu hiệu đòi “Cải cách điền địa như thế nào có lợi cho nông dân”, đòi “giảm tô giảm tức đúng mức”.

Đầu năm 1959, Sài Gòn - Gia Định lại sôi sục biểu tình, mít tinh lên án chế độ Mĩ Diệm gây ra vụ thảm sát thù nhân ở Phú Lợi. Những đợt tố cáo địch liên tiếp diễn ra đến tháng 3 năm 1959, kế tiếp 4 tháng liền (tháng 4 đến tháng 8 năm 1958) nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn, Gia Định chống Diệm chuẩn bị bầu cử “quốc hội” khóa 2.

Phong trào đấu tranh chống văn hóa nô dịch, đòi dùng tiếng Việt ở bậc đại học, đòi sửa đổi chương trình giáo dục, cải cách dân chủ trong nhà trường đã thu hút trên 300.000 học sinh sinh viên của 45 trường học ở Sài Gòn và miền Nam. Nhiều giáo sư, cha mẹ học sinh đã nhập cuộc trong cuộc đấu tranh này.

Với hai chiến dịch khủng bố “Nguyễn Trãi” và “Hồng Châu” nhằm mục tiêu vét đến người cộng sản nằm vùng cuối cùng, quét sạch cơ sở cách mạng tại chỗ ở Gia Định, kẻ thù đã gây tổn thất nặng cho ta, đẩy cách mạng đến thoái trào, tăng thêm thế chủ động của chúng trên trận địa “chiến tranh một phía”. Đến năm 1959, chúng tuyên bố hoàn thành mục tiêu “quốc sách diệt cộng” ở miền Nam Việt Nam. Thế nhưng kẻ thù đã tạo một kết quả trái ngược với ý muốn: nhân dân miền Nam đã nhận rõ rằng, không thể nói chuyện với chúng bằng tay không, mà phải bằng gươm súng, phải dứt khoát dùng bạo lực chống lại chúng. Sự đòi hỏi của quần chúng đã đi trước chủ trương chiến lược của Đảng ta.

Trong tình thế như vậy, giữa những ngày chiến dịch “Nguyễn Trãi”, chiến dịch “Hồng Châu” đang quyết liệt, ngày 11 tháng 8 năm 1958 một bộ phận lực lượng võ trang miền Đông, với những phân đội đầu tiên đã ra đời từ cuối năm 1956, nổ súng tấn công chi khu Dầu Tiếng, cách Sài Gòn chỉ 70km đường chi mbay về phía Tây Bắc. Trong “phiếu trình đặc biệt” gửi Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa đề ngày 12 tháng 8 năm 1958, tên đại tá Lê Khương, Tổng giám đốc bảo an nằm trong phái đoàn quân sự đến khảo sát hiện trường Dầu Tiếng đã thừa nhận “việt cộng” tiến công 8 mục tiêu, làm chủ đồn Cộng Hòa suốt 2 giờ 40 phút.

Sự kiện này góp lời giải đáp của chính Xứ ủy Nam Bộ cho những cuộc bàn cãi nội bộ, bàn cãi giữa cán bộ và nhân dân về võ trang hay không võ trang, đánh hay không đánh.

Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy cơ sở, trên nhiều vùng nông thôn, các đội võ trang du kích tiếp tục ra đời, bao gồm những cán bộ đảng viên, chiến sĩ cũ, những đoàn viên thanh niên lao động và những nòng cốt trong phong trào đấu tranh chính trị: ngoài dao, gậy, lác đác có súng “ngựa trời” tự tạo hoặc ít “súng thiệt” từ thời chống Pháp để lại. Ở nội thành, các quận 1, 4 và vùng chợ Thiếc, trường đua Phú Thọ thuộc quận 5 (nay thuộc quận 11)… tiếp tục xuất hiện những đội tự vệ núp dưới những tên công khai “đội phòng cháy chữa cháy”, “đội chống trộm cướp”. Ở Thủ Đức, đến đầu năm 1959 tự vệ các xã đã phát triển khá. Linh Xuân, 2 tiểu đội, Tam Bình, 1 tổ 4 người với 2 lựu đạn, 1 “rulô”, Long Thành Mĩ: 1 tiểu đội, Phước Long, Long Trường, An Khánh: cơ sở vũ trang bắt đầu được xây dựng. Huyện ủy lãnh đạo trừ gian diệt ác. Ở xã Tam Bình có tên Lang ác ôn khét tiếng, từng bắt giết khoảng 150 cán bộ và quần chúng cơ sở cách mạng. Chỉ với dao “con chó”, đồng chí Hai Tây đã trừng trị tên này. Để trả thù, giặc hèn hạ bắt cha và anh của đồng chí Hai Tây, kéo lết hai người trên mặt đất, rồi dùng lưỡi lê đâm trước sân nhà, người cha 15 nhát, người anh 22 nhát. Vụ trả thù không làm cho bọn ác ôn Thủ Đức yên tâm. Có những tên cứ chiều tối là trốn vô Sài Gòn. Ở Bình An, Bình Chiêu có 5 tên ác, cầm đầu là Phu, Rút thường xuyên xách dao đi bắt “Việt cộng”. Huyện ủy chủ trương loại trừ cả 5 tên. Các đồng chí tập hợp một số thanh niên trốn lính, cải trang làm lính ngụy, tối đến cùng cán bộ ta đến từng nhà, lần lượt tóm cả 5. Cả bọn bị giải xuống trường học Đông An, một phiên tòa được mở ngay tại chỗ, có dân tham gia. Nghe xong bản an, mọi người có mặt nhất trí xử tử cả 5. Ở Dĩ An, có một tên ác ôn nhà ở trong khu nọ, một ổ vũ trang do đồng chí Tư Hồng chỉ huy khéo léo đột nhập bắt sống tên này, đem ra đường xe lửa, thi hành “án chém”. Tên ác bị xử, phong trào Dĩ An có đà lên; huyện ủy chủ trương xây dựng căn cứ du kích trong rừng. Căn cứ thu hút nhiều thanh niên. Huyện ủy khuyến khích “ai muốn ra căn cứ, cướp súng địch mang ra!”. Con bà Tư Hòa đâm chết tên tổng Mát, lấy một súng ngắn ra căn cứ.


(1) Sau vụ này, địch giải tán Nghiệp đoàn dân cày ở Cà Mau với lí do “Không xin phép”, riêng đồng chí Thới bị 3 năm tù.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:55:09 AM
Ở Rừng Sác, ngay trong những ngày đen tối nhất, các cấp ủy tại chỗ đều coi việc bám dân là vấn đề sống còn. Các nghị quyết lãnh đạo đều nhấn mạnh: tất cả các đảng viên không được xa rời quần chúng và sẽ thi hành kỉ luật bất kì đảng viên nào tự ý bỏ cơ sở, bỏ dân, thoái thác nhiệm vụ. Huyện ủy Nhà Bè (quản lí phía trên Rừng Sác) cử các đồng chí Trương Lương Bửu, Đặng Văn Trúc về các xã để xây dựng chi bộ. Có những chi bộ (như Lí Nhơn) rách ra làm hai: chi bộ A vào rừng xây dựng căn cứ bí mật, chi bộ B bám lại trong dân; ở Cần Thạnh, có 2 đảng viên không chịu nổi ác liệt, rủ nhau ra đầu thú, nhưng họ chưa kịp đến trụ sở địch ở quận Cần Giờ thì đã bị quần chúng cơ sở phát hiện và chặn lại. Vừa đấu lí vừa chân tình khuyên nhủ, bà con chí cốt cách mạng đã làm cho 2 người này nhận ra lầm lỗi nghiêm trọng của mình. Do tình hình ngày càng phức tạp, trên đã quyết định cho thành lập Ban cán sự Cần Giờ (vào giữa năm 1957), đồng chí Võ Văn Thiết được chỉ định làm bí thư Ban cán sự. Các nhóm võ trang tự vệ mang những tên biến tướng công khai ở Rừng Sác tiếp tục phát triển. Tổ tự vệ Bình Khánh với 1 cây súng duy nhất của cả xã, đã bắn chết tên Tư cảnh sát ác ôn. Việc này làm rúng động hàng ngũ cảnh sát trong vùng.

Ở Củ Chi, sau những thắng lợi về việc đòi lại đất, đòi trả lại số tiền thuế gian lận mà địch đã thu, đồng bào đấu tranh đòi chúng xử tử một tên ác ôn có nhiều nợ máu. Địch buộc phải chấp nhận để xoa dịu lòng phẫn uất của dân chúng.

Năm 1958, cách mạng miền Nam đang lúc thoái trào, chế độ Diệm tự coi là đã hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chế độ khát máu đang tích tụ nguy hiểm cho chính bản thân nó. Trước hết đó là việc lòng người đã không chịu đựng được nữa. Trên chiến trường, kẻ thù đang áp đảo, nhưng các nhóm võ trang cách mạng bây giờ không chỉ giành để tự vệ hay diệt ác ôn ở ấp xã, mà nhiều nhóm đã có căn cứ đứng chân ở cấp tỉnh và miền đã có tiểu đội, trung đội, đại đội bộ đội tập trung thực hiện được những rận tấn công theo kiểu Dầu Tiếng, Minh Thạnh, Bến Củi… Tuy lực lượng chưa lớn, chưa nhiều, những đã là những “Bó đuốc cháy loang” báo trước con đường phát triển tất yếu: chiến tranh cách mạng. Những điều này giải thích tại sao vào đầu năm 1959 trong khi lớn tiếng hô hào “Bắc tiến” để vừa “lấy gân” vừa dòi viện trợ Mĩ, Diệm lại tuyên bố đặt “miền Nam trong tình trạng chiến tranh” (tháng 3 năm 1959). Điều này có lí do giả tạo mà Diệm cố trương ra để đàn áp, nhưng có cái thực của nó. Khi kẻ thù “cực thịnh”, cũng là buộc lộ chỗ yếu của nó.

Tháng 4 năm 1959, “Quốc hộ” của Diệm thông qua luật số 91. Luật được ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959 mang tên “luật 10-59” về thành lập các tòa án quân sự đặc biệt”. Theo luật 10-59, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân. Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay… Không kể đối với “cộng sản đã ngoài vòng phát luật”, tức không cần xét xử, luật này giành cho tất cả mọi người được quy là “phá rối trị an”. Không lúc nào máy chém thịnh hành hơn lúc này. Máy chém của Diệm lê về tận xã ấp. Máy chém đặt giữa các chợ Trung Hòa, Tân An Hội (Củ Chi), kém theo lời đe dọa của chính quyền Diệm: “Ai liên quan đến cộng sản sẽ mất đầu”. Cái máy chém trở thành biểu tượng của chế độ Diệm. Những tên ác ôn mặc quần áo rằn ri được tổ chức thành từng đội đưa về hoành hành khắp các thôn ấp Củ Chi. Tên quận trưởng Bình khét tiếng tàn bạo, đã chỉ huy mổ bụng, moi gan trên 280 người. Đồng Găng, Mít Nài, Cây Sộp (xã Tân An Hội), Gót Chàng, Cổ Cò, Gò Nổi (An Nhơn Tây)… đã chứng kiến không biết bao vụ chặt đầu, mổ bụng chiến sĩ và đồng bào. Cho đến năm 1959, ở Củ Chi đã có 500 người bị moi gan, mổ bụng, 600 người bị dồn vào bao bố cột đá dìm xuống sông, 150 người bị buộc vào xe ôtô kéo trên đường đá… Toàn bộ số cán bộ ở Củ Chi bị bắt, bị giết lên đến 75%. Có những vụ hành hình gây nên làn sóng đấu tranh mãnh liệt, như vụ mổ bụng anh Từ Văn Sến đã gây nên một cuộc biểu tình, đơn tố cáo lên quận rồi lên tỉnh trưởng Bình Dương. Tiếp đó địch mổ bụng anh Trương Văn Ba ở Phú Hòa Đông. Đồng bào mang xác anh Ba lên thẳng tỉnh Bình Dương để tố cáo. Tỉnh trưởng lánh mặt, binh sĩ ra mở cửa, đồng bào khiêng xác anh Ba vào. Tên tỉnh trưởng buộc phải ra nhận bồi thường và đổi bọn ác ôn đi nơi khác. Những cuộc đấu tranh trực diện của nhân dân Củ Chi lúc này được tổ chức chặt chẽ: phụ nữ tổ chức thành đội ra giáp mặt với địch; thiếu nhi, phụ lão ở nhà lo việc hậu cần và lo tang lễ cho gia đình người bị hại. Thanh niên không ra mặt, tránh địch bắt lính, lo đảm đương các công việc nặng khác. Ngoài đội đấu tranh trực diện, còn có đội dự bị sẵn sàng thay thế hoặc tiếp viện.

Chưa lúc nào đảng bộ Sài Gòn - Chợ Lớn và Gia Định bị tổn thất và khó khăn hơn lúc này. Nhiều đồng chí lãnh đạo từ Khu ủy, Tỉnh ủy đến Huyện ủy, Quận ủy bị bắt, hi sinh; các Ban chấp hành đảng bộ Gò Vấp, Tân Bình, Hóc Môn… coi như đã lột xác, phải lập đi lập lại nhiều lần. Khu ủy đến năm 1959 còn các đồng chí Huỳnh Tấn Phát, Võ Văn Trúc, Hai Khánh… thực lực đảng hầu hết còn đơn tuyến. Trên điều động đồng chí Võ Văn Kiệt từ miền Tây lên Sài Gòn làm bí thư Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn để khôi phục tổ chức. Đồng chí kiểm tra lại, còn rải rác, lẻ tẻ khoảng 200 đảng viên và quần chúng nòng cốt, không nắm được cấp quận một cách chính xác. Tiếp đến đồng chí Hai Trúc và Hai Khánh lại lần lượt bị bắt, cơ sở tiếp tục bị vỡ. Khu ủy còn các đồng chí Võ Văn Kiệt và Huỳnh Tấn Phát buộc phải đứng chân căn cứ ngoài. Đến lúc này thì toàn bộ số gần 100 đảng viên còn lại sau 1954 tại Hóc Môn, chỉ còn 1. Huyện ủy Gò Vấp bị bắt gần hết chỉ còn lại 2 người. 9 xã của Gò Vấp chỉ còn lại 1 đảng viên bám trụ rồi cũng bị lộ buộc phải giạt qua quận Tân Bình (xã Phú Nhuận). Hàng lạt cơ sở Đảng ở Tân Bình cũng bị vỡ. Hai huyện Gò Vấp, Tân Bình từ 1.000 đảng viên sau hiệp định, sau khi “điều lắng”, chọn lại còn 385, đến lúc này chỉ còn 8. Tỉnh Gia Định chỉ còn 1 chi bộ Tân Phú Trung, những xã khác có thể có đảng viên nhưng không có chi bộ. Ở nội thành, 200 đảng viên và nòng cốt quần chúng như đã nói trên, buộc phải hoạt động đơn tuyến.

Kiểm lại sự giảm sút về thực lực những năm qua, có thể nói rằng: Tổn thất một phần do khuyết điểm bộc lộ lực lượng trong cao trào đấu tranh chính trị, khi địch đã lộ mặt phát xít, ta không kịp chuyển hướng tổ chức và lâm vào thế bị động. Mặt khác, về công tác tổ chức ở nông thôn ta đã thiên về “kiểm điểm”, “phân loại”, “chấn chỉnh”, đã thiếu linh hoạt về chủ trương “điều lắng”. Do thực hiện “điều lắng”, toàn Nam Bộ từ 15.000 đảng viên còn 5.000 theo báo cáo của Trung ương Cục tháng 11 năm 1961 mà thực tế là một kiểu thụ động đối phó. Mặt khác, trong khi địch đã thẳng tay tố cộng lùng diệt, chủ trương vũ trang tự vệ chưa được rõ ràng, thông suốt, thậm chí nội bộ ta vẫn đang bàn cãi, vẫn còn ý kiến “vũ trang là manh động”, nên không ít cán bộ đảng viên đã bị lọt vào nanh vuốt quân thù.

Trước thực trạng tổ chức lực lượng đã sa sút nặng, để tránh những cuộc khủng bố của địch, Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn chủ trương tách ra 2 cánh chỉ đạo bí số D1, D2 thay cho một tổ chức tập trung (D1) như từ 1950 về trước. D1 trước đây có lúc do đồng chí Bửu Nguyên (Mười Phải) làm Bí thư. D1 bây giờ phụ trách địa bàn các quận, huyện ven đô thuộc tỉnh Gia Định, do đồng chí Bửu Nguyên tiếp tục làm Bí thư; D2 phụ trách địa bàn các quận nội thành do Đặng Gia Lợi (Ba Bá, Phó Bí thư D1 trước kia) làm Bí thư.

Ngoài D1, D2 chỉ đạo theo địa bàn dân cư, Khu ủy còn hình thành các tổ chức chỉ đạo theo ngành: Liên chi văn nghệ do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu (báo Tiếng Chuông) phụ trách cùng với các đồng chí khác như Trường Xuân Trúc, Mai Thế Đồng, Liên chi văn nghệ chi phối được một số lớn báo chí, các đoàn hát, các đoàn cải lương công khai, thực hiện nội dung của ta: dân tộc, lành mạnh và tiến bộ.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:56:39 AM
Nhiệm vụ chủ yếu của 2 cánh D1 và D2 vào lúc này là xây dựng cơ sở trong quần chúng công nhân, lao động trên địa bàn dân cư và xí nghiệp.

Về công đoàn, bọn CIA Trần Quốc Bửu lộ mặt chống cộng đã tuyên bố “cộng sản dùng nghiệp đoàn để gây bất ổn xã hội, lật đổ chính quyền”, chiểu luật 10-59, giải tán tất cả các tổ chức công khai, bán công khai “đã bị cộng sản lợi dụng”. Cái gọi là “tòa án miền Đông” ra đời đưa hàng loạt chiến sĩ cách mạng và công nhân yêu nước lên máy chém.

Nhưng điều mà kẻ thù không làm được là những người cộng sản nằm vùng còn sót lại vẫn cứ “nằm vùng” tại chỗ. Quần chúng cách mạng nhiều mưu trí, sáng tạo nhiều cách bảo vệ cán bộ. Tự thân thực tế trả lời cho mọi đảng bộ: không còn con đường nào khác là phải có võ trang; đến lúc này một nhận thức mới cũng đã rõ dần: không thể chỉ có võ trang tự vệ, chỉ diệt từng tên ác ôn mà có thể giải quyết tình hình. Vấn đề là phải giải quyết toàn bộ chế độ phát xít tay sai.

Tháng 5 năm 1959, theo chủ trương của Tỉnh ủy Gia Định, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh được thành lập trên đất Củ Chi, lấy phiên hiệu là C13 - Phiên của bộ đội địa phương Gò Vấp - Hóc Môn thời chống Pháp, tất cả có 20 người, hầu hết là những cán bộ, đảng viên còn sót lại qua những cuộc truy lùng của giặc. Ban chỉ huy gồm: Mười Phúc, Sáu Lí, Chín Thùng và Sáu Đệ. Vũ khí gồm một số súng trường Pháp, một tiểu liên “xitten”, 1 tiểu liên “tômxông” do một đội viên giật được của địch ở thị trấn Củ Chi và 1 khẩu carbine gãy báng. Theo hướng phát triển, C13 biên chế thành 3 trung đội gọi là các B. “B1: Chín Thùng chỉ huy, hoạt động ở 3 xã căn cứ cũ, Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức (phía Bắc Củ Chi). “B4”: Sáu Đệ chỉ huy, hoạt động ở các xã ven lộ 1 thuộc địa phận Củ Chi. “B5”: Mười Phước chỉ huy, hoạt động ở khu vực Trung An (phía Nam Củ Chi).

Để xúc tiến nhanh việc khôi phục lực lượng, tháng 7 năm 1959, Tỉnh ủy Gia Định thành lập 2 đoàn cán bộ công tác, phụ trách 2 huyện Gò Vấp và Tân Bình đưa về bám dân xây dựng và củng cố cơ sở Đảng với 3 yêu cầu: bám trụ chặt xã ấp, xây dựng cơ sở Đảng trong quần chúng; lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địch. Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn cũng bắt đầu mở các lớp “Rừng Xanh” ở bên ngoài, học viên là các thanh niên được chọn từ trong thành đưa ra huấn luyện.

Nông dân Gia Định đào nhiều hầm bí mật ngay trong nhà, trong vườn, ngoài ruộng để giấu cán bộ. Nhờ vậy, nhiều đồng chí Tỉnh ủy, Huyện ủy vừa được bổ sung và nhiều cán bộ đảng viên đã về bám được xã ấp, móc nối được người đưa ra căn cứ, xây dựng được lực lượng cơ sở trong dân. Cơ sở nội tuyến trong hàng ngũ địch, đào hầm cất giấu vũ khí và vận động thanh niên ra khu học tập, tòng quân xây dựng lực lượng vũ trang.

Hình thức đấu tranh chính trị kết hợp võ trang đã bắt đầu có hiệu quả cụ thể:

Tháng 12 năm 1959, một tổ của C13 do đồng chí Sáu Đệ chỉ huy phục kích trên quốc lộ, chặn đánh một xe Jeep của địch, chém chết tên đại úy và tên lái xe, thu 1 tiểu liên Tomxông và 1 “côn” 12 li, đốt cháy xe. Ít ngày sau, C13 lại phục kích ở sở cao su Bến Đu (An Nhơn Tây) diệt gần 1 trung đội địch từ bót An Nhơn ra lùng sục, thu 14 súng, một số lượng vô cùng quý lúc bấy giờ.

Cũng vào tháng 12 năm 1959, tại Củ Chi, trung đội vũ trang đầu tiên của khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập mang tên ngụy trang Cao - Hòa Bình (Cao Đài - Hòa Hảo - Bình Xuyên) thực tế có 2 tiểu đội. Một hầm bí mật 70 súng do đồng chí Nguyễn Hồng Đào, bí thư huyện ủy Hóc Môn, chỉ đạo chôn giấu trước đây tại góc rừng Bà Sòng xã An Nhơn Tây, lúc này được moi lên để trang bị cho lực lượng vũ trang khu. Các xã trong huyện Củ Chi lúc này cũng gấp rút tổ chức tự vệ mật, sắm sửa vũ khí.

Tại Rừng Sác, đại đội mang phiên hiệu 12 cũng được thành lập do đồng chí Trương Huỳnh Hòa phụ trách, quân số 32 người, vũ khí khá mạnh: 3 tômxông, 6 tiểu liên, 6 mat 49, 3 garăng, 4 mát 36, 4 khẩu carbine, 8 súng lục. Lấy Rừng Sác làm căn cứ đứng chân, nhưng hướng hoạt động của đơn vị là Nhà Bè và 5 xã của Nam Bình Chánh, hoạt động bước đầu chủ yếu là võ trang tuyên truyền, uy hiếp địch, phát động quần chúng.

Để thuận tiện trong lãnh đạo, cuối năm 1959, huyện Hóc Môn được tách thành 2 huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi. Huyện ủy Hóc Môn do đồng chí Út Hội làm bí thư, huyện ủy Củ Chi do đồng chí Lê Văn Tất (Bảy Hiền) làm bí thư. Cả hai huyện đều gấp rút thành lập các ban, ngành, củng cố các cơ sở quần chúng, phái cán bộ huyện xuống xã để xây dựng cơ sở.

Thực tế cho đến lúc này, hoạt động vũ trang vẫn còn lẻ tẻ, có tính chất tự vệ trừ gian, diệt ác tự phát, có cản trở cho địch phần nào trong việc củng cố bộ máy kềm kẹp ở cơ sở, có bảo vệ được phần nào cơ sở cách mạng, chưa thể nói là đã chuyển thế chiến trường. Điều quan trọng hơn hết là việc võ trang rất hợp lòng người, cái đà đã có đủ còn phôi thai vẫn làm mầm mống để phát triển. Tuy vậy, vẫn không tránh khỏi một số đảng viên và cấp ủy địa phương còn do dự vì chưa tin quần chúng, coi địch quá cao, sợ tổn thất.

Đến đây có thể nhìn lại, từ sau Hiệp định Genève đến giữa năm 1959, miền Nam và Sài Gòn - Gia Định đã trải qua một thời kì sóng gió do đường lối đấu tranh chưa thật cụ thể rõ ràng. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ đảng viên của thành phố tuy lúc đầu có được chú ý tăng cường, nhưng chưa được chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, nhận thức, cũng như về kinh nghiệm công tác và phương pháp hoạt động ở thành phố; bên cạnh đó còn thiếu ý thức cảnh giác, ảo tưởng pháp lí Hiệp định, hai năm tổng tuyển cử… thiếu ý thức chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, ác liệt, với nhiều khả năng khác nhau. “Đảng bộ đã lấy nhiệm vụ và mục tiêu đấu tranh 2 năm trước mắt thay vào nhiệm vụ chiến lược lâu dài của cách mạng”(1).

Từ cuối năm 1956 khi khủng bố lớn của địch diễn ra, trong chỉ đạo của Đảng bộ vẫn thiếu nhạy bén, kịp thời chuyển hướng tổ chức và phương pháp đấu tranh cho phù hợp với tình hình đã thay đổi. Do đó, việc đối phó với những cuộc tiến công, đánh phá của địch và bảo vệ lực lượng cách mạng rơi vào tình thế bị động, lúng túng.

Tuy vậy, việc ra đời hình thức võ trang tự vệ và các lực lượng võ trang, từ tự vệ đến diệt ác ôn, võ trang tuyên truyền và tấn công địch, chuyển hướng tiến công và phương pháp đấu tranh từ giữa năm 1959 là thể hiện sự sớm tiếp cận tư tưởng tiến công và phương pháp bạo lực cách mạng của đảng, đồng thời là kết quả nhận thức về địch của đảng bộ Sài Gòn - Gia Định.


(1) Trích Bản dự thảo kiểm điểm về sự chỉ đạo của Thành ủy qua các giai đoạn chống Mĩ từ tháng 7 năm 1954 đế ngày 30 tháng 4 năm 1975 - Lưu trữ tại BLS Thành Ủy.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:57:57 AM
III. NÔNG DÂN KHỞI NGHĨA GIÀNH QUYỀN LÀM CHỦ TỪNG PHẦN,
NỘI ĐÔ KHÔI PHỤC THỰC LỰC CÁCH MẠNG,
TẠO THẾ TẠO LỰC CHUYỂN GIAI ĐOẠN


Tháng 1 năm 1959, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 15 về tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Căn cứ tình hình thực tiễn ở miền Nam, căn cứ tình hình cả nước và quan hệ quốc tế, hội nghị xác định: “Con đường phát triển cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với thực lực võ trang, hoặc nhiều hoặc ít, tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Ba tháng sau, nội dung Nghị quyết 15 mới đến miền Nam dưới dạng điện văn “tinh thần cơ bản” gửi đồng chí Mười Cúc (tức Nguyễn Văn Linh, đang là bí thư Xứ ủy Nam Bộ). Tháng 9 năm 1959, đoàn đại biểu Xứ ủy Nam Bộ do đồng chí Hai Văn (Phan Văn Đáng) dẫn đầu ra dự Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 mới về tới miền Đông. Xứ ủy từ Phnompenh đã về lập căn cứ ở Tây Ninh.

Tháng 11 năm 1959, tại Trảng Chiên (phía Bắc Tây Ninh), hội nghị Xứ ủy lần thứ 4 (mở rộng đến Bí thư Tỉnh ủy) quán triệt Nghị quyết 15. Hội nghị bàn cãi gay gắt về hình thức, quy mô sử dụng mũi võ trang để đánh đổ ngụy quyền, giành quyền làm chủ sắp tới, từ còn dùng phổ biến là “diệt ác, phá kềm”. Việc đưa nghị quyết xuống cơ sở phải còn một thời gian nữa.

Tuy vẫn xác định “dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu”, nhưng hai chữ “vũ trang” trong nghị quyết: “Kết hợp lực lượng võ trang, hoặc nhiều hoặc ít…” đến với lòng người lúc này như tất cả những gì đã bao năm trông chờ. Có người mừng quá, nói: “Như vừa từ dưới đất độn lên mà nhìn trời cao biển rộng!”

Đầu năm 1960, theo đề nghị của đồng chí Võ Văn Kiệt, để tạo ra một thế trận mới và điều kiện tốt thực hiện nhiệm vụ mới trên cơ sở thống nhất địa bàn trong và ven đô xứ ủy chấp nhận giải thể Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủy Gia Định, hợp nhất thành lập khu Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư, các đồng chí trong Tỉnh ủy Gia Định là Phó Bí thư và thường vụ Khu ủy. Lực lượng võ trang cũng được thống nhất. Đại đội bộ đội tập trung đầu tiên của Khu vẫn mang phiên hiệu C13, gồm 3 tiểu đội, có 3 trung liên, còn lại là tiểu liên, súng trường. Địa bàn hoạt động trước mắt là Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp. Nhân dân ngoại thành phấn khởi tiễn con em đi xây dựng lực lượng vũ trang, lập ấp chiến đấu, làm chông mìn, khôi phục các cơ sở tự chế vũ khí thời chống Pháp… làm các lò rèn dao găm, mã tấu, đinh chông… Các huyện nông thôn khẩn trương khôi phục các chi bộ xã. Trong nội thành, một mặt mạnh dạn đưa cán bộ từ các nơi “cấy” vào, mặt khác chọn người tại chỗ đưa ra ngoài, mở lớp đào tạo cấp tốc.

Tại Củ Chi đến Thủ Đức, Gò Vấp qua Hóc Môn, Bình Tân, Nhà Bè xuống Duyên Hải… cấp huyện, xã lần lượt thành lập ban quân sự để phát triển và củng cố các đội tự vệ ấp, xã.

Cuộc nổi dậy ở Bến Tre (từ ngày 17 tháng 1 năm 1960) tạo ra một khí thế mới trên toàn chiến trường, đặc biệt làm nảy ra hình thức 3 mũi giáp công sử dụng thế hợp pháp rất sinh động. Từ “Đồng Khởi” ra đời và kích thích phong trào các nơi.

Ngày 26 tháng 1 năm 1960, chín ngày sau cuộc đồng khởi Bến Tre, nổ ra trận tấn công bất ngờ ở Tua Hai (Tây Ninh), của lực lượng võ trang bộ phận miền Đông đánh chiếm căn cứ trung đoàn 32 sư đoàn 13 ngụy. Ta loại và bắt sống nhiều tên địch, thu trên 1.200 súng các loại. Trận Tua Hai làm cho địch choáng váng và trở thành tiếng pháo nổi dậy ở miền Đông Nam Bộ.

Gia Định phát động quần chúng nổi dậy trong điều kiện địa bàn cận đô thị. Trước ngày nổi dậy đã xảy ra hàng loạt vụ trừng trị ác ôn ở Tân Tạo, Tân Nhựt (Bình Chánh), Tân An Hội (Củ Chi)…

Hạ tuần tháng 2 năm 1960, một số vùng nông thôn Gia Định nổi dậy, nhưng chưa có tính chất đồng khởi. Huyện ủy Củ Chi phát lệnh: “Nhất tề đứng dậy, phá rã nông thôn”. Tiếng tù và, tiếng trống, tiếng mỏ, tiếng khua mâm thau, thùng thiếc, tiếng ống nói lan truyền khắp nông thôn. Đồng bào xông vào các nhà thông tin đập phá, xé ảnh Diệm, xé cờ ba que, xé khẩu hiệu địch. Hàng ngàn đồng bào biểu tình trên lộ 7, lộ 15. Bọn tề ấp Bàu Tròn bỏ chạy. Truyền đơn, biểu ngữ cách mạng xuất hiện khắp nơi. Ở các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Gò Vấp, Duyên Hải, Thủ Đức, Dĩ An… đều có nổi dậy. Các đội vũ trang đã tiến lên vai trò hỗ trợ đắc lực cho nổi dậy. Một cuộc phục kích ở Củ Chi diệt một tiểu đội dân vệ tại Bến Đu (An Nhơn Tây) thu 10 súng. Tiểu đội võ trang tuyên truyền 12 người của huyện ủy Thủ Đức lưu động hoạt động ở Tân Đông Hiệp, Tăng Nhơn Phú… đang mở rộng ra 5 xã. Tiểu đội vũ trang của huyện Hóc Môn 12 người hoạt động ở Tân Thạnh Đông, Bình Mĩ, Trung An. Ở Duyên Hải có đội C12 do Lê Hoàng chỉ huy phân làm 4 bộ phận chia nhau hoạt động ở Nhà Bè, Duyên Hải: võ trang tuyên truyền, cảnh cáo các tề xã, phá khu trù mật, vận động lương thực…

Du kích đã sáng tạo nhiều mưu mẹo tấn công địch. Tự vệ xóm Cây Bài, ấp Vĩnh Cư, xã Phước Vĩnh An (Củ Chi) cải trang đám rước dâu vào chiếm bót địch. Tự vệ Trung An (Củ Chi), tự vệ thị trấn Cần Giờ chiếm bót bằng tấn công ngoài vào kết hợp nội ứng bên trong. Ở Nhuận Đức và Phú Hòa Tây (Củ Chi), tự vệ hai xã phối hợp uy hiếp bót cầu Bến Mương, tiểu đội dân vệ đóng ở đây hoảng sợ bỏ chạy. Tự vệ Xuân Thới Thượng (Hóc Môn) được dân hướng dẫn chia từng nhóm truy lùng giặc tại nhà. Tự vệ Cần Thành (Duyên Hải) trà trộn với dân, phục kích chặn xe, bắt gọn bọn ác ôn.

Bộ đội tập trung C13 ở Củ Chi đã đánh được trụ sở, bót lẻ: tháng 12 năm 1960 tập kích diệt đồn An Hòa và đồn Tân Thạnh Tây thu 20 súng. Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1960 diệt liên tiếp các đồn dân vệ Trung Hòa, An Nhơn Tây, nhà làng Bến Mương.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:58:25 AM
Qua đợt đầu nổi dậy bằng lực lượng chính trị là chủ yếu, có lực lượng võ trang quần chúng hỗ trợ, cuối tháng 3 năm 1960 ở nông thôn Gia Định, quần chúng đã giải phóng về cơ bản hai xã Phú Mĩ Hưng, Nhuận Đức và một số ấp của các xã An Nhơn Tây, Trung Lập ở phía Bắc Củ Chi. Ở các huyện khác, ta đã làm chủ từng phần ở nhiều ấp và một số xã hẻo lánh.

Ngày 22 tháng 4 năm 1960, A9 Thường vụ Xứ ủy ra chỉ thị 18-TVA về công tác tuyên truyền động viên quần chúng trong tình hình hiện tại. Chỉ thị đánh giá từ chỗ hoang mang, thấy tương lai mờ mịt, giảm sút lòng tin đường lối đảng trong những ngày địch khủng bố quyết liệt trước đây, cho đến nay, trong quần chúng đang có một chuyển biến nhảy vọt về tư tưởng: mọi người đều thấy rõ chế độ Mĩ - Diệm không thể tồn tại lâu dài được. Tuy nhiên trong nhiều tầng lớp hiện nay đang nảy sinh những nhận thức lệch lạc mới như chưa rõ rồi phải làm gì, hoặc coi là đã đến thời kì trực tiếp cách mạng (tức là khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền), coi địch đang rệu rã, ỷ lại lực lượng võ trang và hoạt động võ trang, coi nhẹ việc tập hợp lực lượng, đấu tranh chính trị…; trái lại cũng có những nơi coi địch quá cao, e ngại bị trả thù nên rụt rè, chờ miền Bắc…

Trong các tầng lớp trung gian khác như một bộ phận đồng bào tôn giáo, đồng bào di cư, các tầng lớp tư sản… đang ghét Diệm, có phấn khởi, tán thành cuộc nổi dậy lật Diệm, nhưng một số ít người cho rằng không nên dùng bạo lực, số khác cho “bất chiến tự nhiên thành”.

Nói chung đây là tầng lớp có khả năng tán thành và hành động cách mạng nhưng chưa được ta tuyên truyền vận động nhiều.

Để uốn nắn những lệch lạc trên, khuếch trương thắng lợi, chỉ thị công tác trước mắt của A9 Xứ ủy tiếp tục phê phán mạnh những biểu hiện chưa nắm vững đường lỗi hiện nay như chưa thấy hết tính chất giằng co quyết liệt của giai đoạn, coi như khởi nghĩa đến nơi nên ra lệnh giải tán toàn bộ và nhất loạt bộ máy chính quyền xã của địch trong vùng kháng chiến cũ, trừ gian bừa bãi, nặng trừng trị, hăm dọa, thiếu thuyết phục, phân hóa địch… ỷ lại vũ trang nên làm mất luôn thế hợp pháp của quần chúng như chủ trương xé thẻ kiểm tra, phô trương, bộc lộ cơ sở…

Chỉ thị chỉ rõ phát triển cơ sở nhận thức đúng tương quan lực lượng, tính chất giai đoạn, khó khăn thuận lợi mà thực hiện đường lối đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới đánh bại hoàn toàn kẻ địch khi có điều kiện và thời cơ thuận lợi, từ đó có chương trình hành động kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo, thận trọng, kết hợp nhuần nhuyễn 3 thế, hình thức (hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp; ba thế công khai, nửa công khai, bí mật). Những nhiệm vụ trước mắt được xác định là: tiếp tục ra sức đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị một cách toàn diện, quy mô rộng lớn làm cho địch bị dồn vào thất bại chính trị nặng nề hơn nữa; kết hợp hoạt động võ trang tuyên truyền đúng mức để thiết thực hỗ trợ thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng; ra sức đẩy mạnh công tác dân vận và không ngừng củng cố, mở rộng Mặt trận để xây dựng, củng cố, phát triển lực lượng, đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng; ra sức củng cố, phát triển chi bộ để đảm bảo sự lãnh đạo của đảng, gắn chặt đảng với quần chúng.

Trong giai đoạn giằng co hiện nay, cần phải đảm bảo cho phong trào quần chúng ở thế hợp pháp thì mới giữ được thế chủ động tấn công địch. Nếu không nắm vững phương châm đó thì sẽ làm cho phong trào lâm vào thế bị động. Đảm bảo hợp pháp ở đây không có nghĩa là êm dịu, hòa hoãn theo kiểu co thủ hợp pháp chủ nghĩa… mà là sự kết hợp nhuần nhuyễn 3 thế, trên cơ sở uy thế của quần chúng được nâng lên.

Giữa năm 1960, Khu ủy mở nhiều lớp đào tạo cán bộ cốt cán trong phong trào đô thị và nông thôn. Tháng 6 năm 1960, khu ủy triệu tập 15 cán bộ thanh niên về học tại vùng căn cứ Rừng Già. Ban vận động thanh niên được chính thức thành lập do đồng chí Trần Quang Cơ (Tám Lượng), khu ủy viên làm bí thư, đồng chí Hồ Hảo Hớn (Hai Nghị) phó bí thư. Hai đồng chí này chịu trách nhiệm trước đảng bộ về phong trào cách mạng của thanh niên Sài Gòn - Gia Định. Sau đó, một lớp huấn luyện mới lại được tổ chức tại căn cứ Rừng Xanh cho hầu hết đảng viên, đoàn viên và cốt cán thanh niên gồm 60 đồng chí. Chính những lớp học này đã đào tạo cho phong trào những cán bộ ưu tú đầu tiên trong thời kì chống Mĩ.

Nội thành Sài Gòn không thể cùng một lúc với nông thôn nổi dậy, do những điều kiện lúc bầy giờ: cơ sở đảng còn quá yếu, lực lượng võ trong mới là những nhóm tự vệ lẻ tẻ, chưa thể có hoạt động võ trang hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Tuy nhiên cuộc nổi dậy nông thôn đã có tác động mãnh mẽ đến nội đô Sài Gòn, trước hết là niềm phấn khởi lớn trong mọi tầng lớp nhân dân đang muốn thay đổi chế độ tập đoàn phát xít gia đình trị Ngô Đình Diệm. Tận dụng thuận lợi đó, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương đẩy mạnh phong trào chính trị nội thành, trung tâm hành động là một chiến dịch tấn công dư luận rộng rãi, chĩa mũi nhọn vào chính quyền độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, trong khi đó vẫn phải nêu cao những khẩu hiệu dân sinh dân chủ, sát đòi hỏi thiết thân của quần chúng lao động.

Tháng 1 năm 1960, thanh niên Sài Gòn treo lá cờ đỏ búa liềm ở chợ Bến Thành để cổ vũ khí thế đồng bào bước vào một năm mới. Ngay từ đầu năm, công nhân các hãng dầu Shell, Standard, Socony, công ty điện nước, Nha công quản chuyên chở công cộng, lái xe Tắcxi, hãng giày Bata, đấu tranh buộc bọn chủ phải trả cho công nhân hàn triệu đồng. Tại hãng giày Bata, công nhân đình công căng bạt tại cổng ra vào hãng; thường xuyên bố trí ở đó một lực lượng để ngăn chặn bọn tay sai cho chủ tìm cách phá hoại cuộc đình công.

Các cuộc đấu tranh của các tầng lớp dân nghèo thành thị, trí thức, học sinh, tiểu chủ, tư sản dân tộc, văn nghệ sĩ, kí giả… không thành từng đợt lớn, nhưng đi sâu vào từng khía cạnh của đời sống hằng ngày, có tác dụng vạch trần chế độ Mĩ Diệm, góp phần đẩy chúng vào thế cô lập. Điển hình như việc chống lệnh cấm đốt pháo vào Tết năm 1960. Diệm cấm, đồng bào cứ đốt, để tỏ ra bất tuân quy định của chính quyền. Diệm tức tối cho bắt trong mấy ngày tết 2.000 người đốt pháo ở nội thành, trong đó có cả công nhân, tri thức, tư sản và giám hộ trong trại tế bần Chánh Hưng. Việc làm này chỉ gây thêm lòng tức giận của nhân dân.

Học sinh, sinh viên chống chế độ thi cử khắc nghiệt, đòi dạy tiếng Việt ở bậc đại học, đòi mở thêm trường lớp cả nội, ngoại thành. 119 trong tổng số 121 luật sư ở Sài Gòn và Huế kí kiến nghị lên án luật 102 của Diệm - dự luật khống chế giới luật sự, hạn chế tự do của họ. 118 giáo sư các trường công tư Sài Gòn phản đối Mĩ - Diệm bắt bỏ giáo sự và đóng cửa nhiều trường tư với lí do “không thi hành đúng luật pháp!”. Hai cuộc đấu tranh này gây xôn xao kéo dài dư luận Sài Gòn và miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Ba, 2012, 10:58:59 AM
Cuộc “tấn công dư luận” không chỉ giới hạn ở nội thành Sài Gòn mà còn lan xa ra các vùng Củ Chi, Dầu Tiếng, Lai Khê, Bến Củi, Phú Hòa, Trảng Bom, Xuân Lộc. Ở những nơi này, công nhân cao su và nhiều tầng lớp tổ chức hội thảo, và kiến nghị, phát đơn kiện thanh tra lao động, tố cáo ngụy quyền địa phương và cảnh sát, nhờ đăng báo gửi Ngô Đình Diệm đòi phải trả lời.

Sau “đồng khởi” đợt 1, chỉ thị của Xứ ủy về những việc cấp bách trước mắt xác định: để đẩy mạnh và mở rộng mặt trận đấu tranh đô thị, cần tận dụng mọi khả năng công khai hợp pháp, dựa chặt vào phong trào công nhân và quần chúng lao động nghèo, đồng thời chú ý đúng mức, đẩy mạnh đấu tranh của các tầng lớp tiểu tư sản nhất là phong trào học sinh, sinh viên, trí thức, tư sản.

Một số cán bộ ở miền Đông được cử đi học rút kinh nghiệm đồng khởi ở miền Trung Nam Bộ, ở Bến Tre.

Tháng 7 năm 1960, Xứ ủy mở hội nghị lần thứ 5 đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ trước mắt là: “Tiếp tục tấn công chính trị làm cho địch thất bại hơn nữa trên mọi mặt nhằm đánh bại từng bước âm mưu, chính sách của địch, tạo điều kiện và thời cơ cho cuộc khởi nghĩa, đánh đổ toàn bộ chính quyền Diệm”. Hội nghị quyết định các khu “đồng khởi” phối hợp với khu 8 trong đợt mở ra từ ngày 24 tháng 9 năm 1960.

Để giữ vững và mở rộng thành quả đợt đầu nổi dậy, các cấp ủy chủ trương đẩy mạnh tốc độ xây dựng lực lượng vũ trang và hoạt động vũ trang để hỗ trợ cho quần chúng tiếp tục vùng lên giành quyền làm chủ.

Ở Bình Tân, nhóm vũ trang tập trung đầu tiên 3 người do Út Đào chỉ huy chỉ có 1 cây carbine hỏng báng (do đồng chí Út Đào nhặt được của bọn lính tập để quên, từ lâu chôn giấu kĩ, nay mới lôi lên). Ba người 1 súng, tổ tự đặt phiên hiệu “Tiểu đoàn 301” để vừa đánh vừa hù dọa địch.

Ở Thủ Đức, Dĩ An, tháng 7 năm 1960, Huyện ủy chọn một số thanh niên ưu tú trong phong trào, thành lập đơn vị tập trung của huyện, đồng thời xây dựng căn cứ ở rừng Bảy Mẫu và ở Bình Hòa. Đơn vị tập trung đầu tiên có 5 người cũng lấy phiên hiệu là “Tiểu đoàn 500”. Theo phương châm đánh nhỏ mà chắc ăn, “Tiểu đoàn 500” đã đánh thắng liên tiếp hai trận thu 5 súng, phát triển lực lượng lẻ.

12 người có súng đầy đủ. Đến lúc này, Huyện ủy giao “Tiểu đoàn 500” diệt đồn Bình Phước. Có 3 đồng chí huyện ủy viên dự trận, bí mật áp sát đồn địch, kiên trì chờ thời cơ hành động. Sau một ngày đêm căng thẳng, thời cơ xuất hiện: một số lính bỏ đồn đi chơi. Lập tức ta tấn công, diệt 3 tên, thu 14 súng. Sau trận này, “Tiểu đoàn 500” phát triển lên trung đội.

Ở Duyên Hải, ban cán sự huyện quyết định chọn một số thanh niên nòng cốt thành lập đơn vị võ trang tập trung của huyện. Đơn vị ra quân trận đầu ở Giồng Ao, sau đó đánh ở Giồng Cháy, thu 6 súng.

Các nơi khác: Gò Vấp, Hóc Môn, Nhà Bè… đều thành lập lực lượng võ trang địa phương, trước mắt làm nhiệm vụ võ trang tuyên truyền, diệt ác.

Xứ ủy quy định đợt 2 bắt đầu vào tháng 9, nhưng nông dân Gia Định (Củ Chi) nổ ra từ tháng 8 năm 1960, kéo dài đến cuối năm. Đợt này rầm rộ, sôi nổi có tính chất “đồng khởi”, và thắng lợi lớn hơn đợt 1.

Đêm mở màn, trên hầu khắp nông thôn Gia Định, nông dân đốt đuốc kéo đi trên đường làng hô khẩu hiệu “đả đảo đế quốc Mĩ”, “Đả đảo Ngô Đình Diệm”. Có nhiều nơi như ở Gò Vấp, Hóc Môn quy định: giờ hành động là 7 giờ tối, nhưng 4 giờ chiều dân chúng đã đánh trống gõ mỏ, khua thùng, nổ khí đá rền thôn xóm. Lực lượng võ trang cùng nhiều nông dân tự võ trang “súng bập dừa”, gậy tầm vông vạt nhọn, đầu quấn dây trói, kéo đi rải truyền đơn, treo cờ, dán khẩu hiệu, đưa thư cách mạng gởi gia đình binh sĩ ngụy, phát loa kêu gọi nhân dân nổi dậy…

Trước khí thế quần chúng, tề xã, tề ấp và cả lính ngụy co rúc trong đồn bót. Nhiều ác ôn bị trừng trị. Nhiều tên van lạy xin tha chết.

Ở Bình Tân, ở nhiều ấp bỏ chạy hoặc xuống nước đi tìm ta xin lỗi, phân trần. Dân vệ ở bót 13 và bót Cầu Chùa bỏ trốn. Nhân dân Tân Nhựt nổi dậy bắt xử tử tên Ranh, một tên ác ôn có nhiều nợ máu, gài mìn giết tên Bảy và bắt sống tên Căng ác ôn. Ta gài được người vào lực lượng thanh niên chiến đấu làm nội ứng, phối hợp trong ngoài bất ngờ tấn công, lực lượng địch tán loạn.

Ở Duyên Hải, nhân dân cùng lực lượng võ trang nổi dậy đốt cháy trụ sở thành chính ngụy ở xã Lí Nhơn, diệt những tên ác ôn có nợ máu: Tựu, Hùng, Việt…

Tuy nhiên, sau những ngày cuối tháng 9, đồng chí Võ Văn Kiệt nhận thấy cách làm ở khu 8 chỉ hợp với Củ Chi, còn ở Hóc Môn, Gò Vấp, Bình Chánh, Thủ Đức… phải làm khác, phải tổ chức du kích mật (bí mật cả với dân), hoạt động theo phương châm đánh đau, đánh hiểm nhưng không có tiếng vang. Do đó, từ sau tháng 9, trừ Củ Chi làm như Khu 8, các huyện ven đô khác hoạt động theo phương châm trên.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:27:09 PM
Tháng 10 năm 1960, Ban quân sự Khu ủy Sài Gòn - Gia Định được thành lập do đồng chí Nguyễn Hồng Đào phụ trách.

Ở Thủ Đức, tính đến cuối năm 1960 ta đã đánh 11 trận diệt 153 tên địch, nổi bật nhất là trận chống càn Bưng Sáu xã. Hai tiểu đội ta chống chọi hai tiểu đoàn địch, nhưng nhờ biết triệt để lợi dụng tình hình, linh hoạt, thay đổi vị trí, biết tập trung hỏa lực diệt từng bộ phận địch nguy hiểm nhất, anh em đã ngoan cường cầm cự với địch suốt 3 ngày đêm, loại khỏi vòng chiến 72 tên, địch phải rút lui. Bên ta hi sinh 2, thu được 10 súng. Tiếp sang năm 1961 là trận bộ đội cải trang dân thường, bất ngờ đột nhập vào vùng địch bắt sống tên đại tá ngụy Hoàng Thụy Nam và tên cố vấn Mĩ Hetz giữa ban ngày, cách đồn địch chỉ khoảng 100 mét. Vừa tác chiến, “Tiểu đoàn 500”(1) vừa vận động nhân dân đánh du kích, không có súng thì dùng dao, rựa, diệt địch lấy súng. Chỉ một thời gian ngắn, 20 tên ác ôn khét tiếng đền tội. Ngoài đánh quân sự, đơn vị còn hoạt động võ trang tuyên truyền, trên tuyến đường xe lửa, đường xe hơi, đường sông, cửa ngõ vào thành phố. Nghe danh lực lượng, khí thế quần chúng lên cao, kẻ thù lo sợ. Bọn thủy quân lục chiến “Trâu điên” đóng ở Dĩ An có lúc án binh bất động vì không hiểu lực lượng đối phương ra sao. Những tên đứng đầu “liên gia”, “thanh niên bảo vệ hương thôn” đòi nghỉ việc, dân vệ giải tán các trạm gác.

Ở Bình Tân, tháng 10 năm 1960 đã có thêm 1 súng trường Pháp và 1 súng ngắn trên cho, “Tiểu đoàn 301” đánh thắng trận đầu: phục kích tiêu diệt tiểu đội dân vệ gần bót ấp Giồng, xã Xuân Thới Thượng, diệt 6 tên, thu 4 súng trường Pháp. Tiếp đó, đồng chí Tư Râu được ta cài vào hàng ngũ địch ở trại huấn luyện Quang Trung, vận động được một số binh sĩ ngụy mang 4 khẩu carbine nữa. Huyện giữ 2 khẩu, còn 2 khẩu giành cho lực lượng võ trang Hóc Môn. Có thêm súng, “Tiểu đoàn 500” phát triển lên 1 tiểu đội 12 người do đồng chí Phạm Văn Hai làm tiểu đội trưởng, Út Đèo tiểu đội phó. Cuối năm 1960, qua theo dõi, anh em nắm được thói quen của tiểu đội bảo an địch ở khu dinh điền Bà Lác, từ đó hình thành một phương án tác chiến. Tiểu đội giả trang giả vờ đi bắt cá, lân la đến gần chỗ địch thường ngủ sau khi đi tuần trên lộ 10. Khoảng 12 giờ trưa, chúng ngủ say, cả tiểu đội ập vào, đập chết tên lính gác, giật được 8 súng trường rồi nhanh chóng rút lui. Đầu năm 1961, được trên tăng cường hai tiểu đội, “Tiểu đoàn 500” phát triển lên trung đội do Ba Kiểm làm trung đội trưởng, Năm Kiện làm trung đội phó, Chín Ốm chính trị viên. Trận đầu đánh tập trung trung đội, “Tiểu đoàn” đã diệt một trung đội dân vệ ở ấp 3 xã Bình Trị Đông, thu toàn bộ vũ khí. Lúc này, Bình Tân đã tổ chức được du kích mật trong một số vùng sâu, vùng yếu như các ấp ven bưng Vĩnh Lộc, Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông.

Ở Củ Chi đến cuối năm 1960, 4 xã phía Bắc: Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập hoàn toàn giải phóng. Bốn xã trở thành căn cứ địa chỉ đạo của Khu Sài Gòn - Gia Định (suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ) nối liền với vùng giải phóng của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương. Các xã Tân An Hội, Phú Hòa Đông, Trung An, Bình Mĩ (Củ Chi), An Phú Đông, Thạnh Lộc (Gò Vấp), Vĩnh Lộc, Tân Hòa, Bình Hưng Hòa (Tân Bình), Xuân Thới Thượng (Hóc Môn), Tam Bình, Bình An, Đồng Hòa, Long Phước, Long Trường, Long Bình (Thủ Đức), Lí Nhơn, An Thới Đông, Long Hòa (Duyên Hải), Hiệp Phước (Nhà Bè)… được giải phóng một phần, trở thành các lõm căn cứ du kích xen kẽ với địch, tạo địa bàn cho các lực lượng cách mạng đứng chân sâu trong vùng địch kiểm soát và làm bàn đạp cho hoạt động nội đô. Ở các xã sát Sài Gòn như vùng thị trấn Gò Vấp, vùng quanh sân bay Tân Sơn Nhất… địch không bỏ đồn bót, nhưng bình lính co rúc, không dám lùng sục ra ngoài, hống hách như trước. Nhân dân nổi trống mõ uy hiếp tinh thần chúng với một khí thế mới.

Đại sứ Mĩ ở Sài Gòn đã phải báo cáo về quốc hội Mĩ rằng tình hình đang xấu đi, đối phương mạnh ở ngay ven đô, tề ấp xã bị bắt, bị giết mỗi ngày từ 25 vụ đến 89 vụ mà đang còn tăng lên.

Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mĩ thú nhận: “Đến cuối năm 1960, toàn bộ nông thôn phía Nam và phía Tây Nam Sài Gòn, một số vùng phía Bắc, cộng sản đã kiểm soát và bao vây Sài Gòn”.

Những tháng gần cuối năm 1960, gia đình Ngô Đình Diệm và các thế lực không ăn cánh đã hầm hè thanh toán nhau: Diệm có nguy cơ bị đảo chính. Nắm bắt tình hình này, ta nêu khẩu hiệu đòi “bầu cử lại tổng thống”, “Ngô Đình Diệm phải từ chức”, đây là sách lược cô lập thêm chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm, chĩa mũi nhọn vào chế độ tay sai đắc lực của Mĩ. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam sắp tuyên bố ra đời. Chỉ thị ngày 5 tháng 9 năm 1960 của Miền về khả năng diễn biến tình hình, hướng dẫn nhiệm vụ tích cực, mở rộng tập hợp chính trị trên tinh thần cường lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, xúc tiến ngay việc thành lập các nhóm, các tổ chức tư sản, trí thức với cương lính hành động nhẹ nhàng, tích hợp với quyền lợi hiện nay của các giới.

Chính sách của ta được đồng bào tiếp nhận nhiệt liệt. Đồng bào tuần hành trên các đường phố hô vang khẩu hiệu đả đảo chính quyền Diệm, đòi thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ, đòi đế quốc Mĩ cút khỏi miền Nam. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Nguyễn Chánh Thi “đảo chánh hụt” Ngô Đình Diệm. Chớp thời cơ này, nhân dân Sài Gòn rầm rộ biểu tình đả đảo chế độ Diệm, quân đội của Diệm và cả quân đảo chính, đã xả súng bắn vào đoàn biểu tình, nhiều người chết và bị thương.

Hưởng ứng cuộc đấu tranh của đồng bào Sài Gòn, hơn 40.000 nông dân các địa phương ở Gia Định tập hợp kéo về thành phố phản đối Mĩ Diệm tàn sát, khủng bố nhân dân, đòi Diệm phải từ chức. Hàng ngàn công nhân và lao động Sài Gòn lại hưởng ứng đợt đấu tranh này bằng bãi công, bãi thị.


(1) Lực lượng ban đầu chỉ có trên dưới 1 tiểu đội, lấy tên “Tiểu đoàn” để gây thanh thế.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:27:35 PM
Năm 1960, trong lúc nông thôn nổi dậy, nội thành Sài Gòn diễn ra gần 1.500 cuộc đấu tranh với nhiều khẩu hiệu; khí thế cao hơn năm trước. Tuy rằng vẫn còn đơn thuần sử dụng lực lượng quần chúng đấu tranh trực tiếp với địch nhưng điều nổi bật là các khẩu hiệu đã chĩa thẳng vào mục tiêu đòi đánh đổ chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm; và từ phong trào đã xuất hiện một lớp thanh niên nam nữ ưu tú xuất thân từ công nhân lao động, học sinh, sinh viên, đó là nguồn để xây dựng lực lượng vũ trang thành phố. Chế độ Diệm đã vào thời kì khủng hoảng vào cô lập cao độ.

Trên cơ sở thắng lợi to lớn của phong trào “Đồng Khởi” của nhân dân miền Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại một căn cứ cách mạng ở phía Bắc Tây Ninh, đại biểu các giai cấp, đảng phái, các tôn giáo, các dân tộc miền Nam đã họp đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội thông qua chương trình 10 điểm mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mĩ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, nhằm xây dựng một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập tiến tới thống nhất nước nhà.

Ngày 2 tháng 1 năm 1961, nhân dân Sài Gòn và các vùng ven thành phố đã nhất loạt đình công, bãi chợ, xe thuyền không chạy, các tiệm đóng cửa, rải truyền đơn, họp mít tinh chào mừng Mặt trận ra đời.

Thực hiện ý định tạo một trận đánh vũ trang nội thành chào mừng Mặt trận và làm đà cho việc xây dựng lực lượng vũ trang thành phố, từ tháng 10 năm 1960, đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy chỉ đạo cho Ban quân sự gọi một số cán bộ quân sự trong thời kháng chiến chống Pháp được bố trí ở lại hoạt động, ra căn cứ Khu để làm kế hoạch. Hai đồng chí Đỗ Tấn Phong, Lê Tấn Quốc và nhiều cán bộ khác lần lượt ra nhận nhiệm vụ này. Đồng chí Lê Tấn Quốc cùng đồng chí Mười Lăng là người của ta gài vào làm nhân viên phục vụ trong Golf club gần ngã ba Chú Ía (Gò Vấp), mang hai quả mìn hẹn giờ 14kg bí mật luồn theo một cống nước vào đặt ở nhà ăn câu lạc bộ. Ngày 26 tháng 12 năm 1960, đúng phương án tác chiến, hai quả mìn đã nổ, giết tại chỗ và làm bị thương hàng chục cố vấn Mĩ và chư hầu. Đây là trận đánh Mĩ đầu tiên ở nội đô Sài Gòn. Trận đánh không lớn, nhưng đã chỉ ra khả năng thực hành các hoạt động vũ trang nội thành, triển khai kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang nội thành. Sau trận đánh, tại căn cứ Lộc Thuận (Trảng Bàng, Tây Ninh), đồng chí Đỗ Tấn Phong và Lê Tấn Quốc được chỉ định phụ trách một bộ phận công tác lấy bí số là C10, chuyên trách móc nối với các đoàn thể chính trị chọn một số thanh niên ưu tú đưa ra căn cứ, gấp rút huấn luyện quân sự để làm nòng cốt cho phong trào vũ trang. Tân An Hội (Củ Chi) và Giồng Hòa (Đức Hòa) được chọn làm nơi giao tiếp với các cơ sở từ bên trong ra. Ba thanh niên được chọn đầu tiên, sau một thời gian huấn luyện ngắn đã hình thành một tổ tự vệ vũ trang do đồng chí Hiệp làm tổ trưởng. Ra quân trận đầu, các đồng chí này đã đánh một quả thủ pháo vào tốp lính ngụy đi xe tuần trên đường phố làm sát thương một số tên. Một ngày chủ nhật sau, tổ đã thực hiện một cuộc treo cờ Mặt trận ở một nhà thờ trong thành phố. Leo lên tận nóc, treo được lá cờ 12 mét vuông thì đã hơn 4 giờ sáng. Chưa kịp rút lui thì dân đi lễ sớm đã đến rất đông. Một số đồng chí linh hoạt kêu gọi: “Đồng bào hãy đứng im, nghe tôi nói chuyện”. Đồng chí nói ý nghĩa ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Song “vốn liếng” có hạn, nói vài phút đã cạn ý. Bí quá đồng chí ra lệnh: “Mời tất cả đồng bào quay mặt vào tường”… Đồng bào làm theo, cả tổ tụt xuống, rút êm.

Từ 3 người, tổ phát triển dần lên thành 3 tổ. Lúc đầu vũ khí chỉ có vài quả lựu đạn. Mãi đến khi anh em tuyên truyền được một lính ngụy mang ra một súng trường tự động, đem đổi cho cấp trên lấy một khẩu carbine thì đó mới là khẩu súng đầu tiên của tiểu đội. Các chiến sĩ trong tiểu đội lần lượt được đưa ra căn cứ học tập thêm.

Các đoàn thể khác cũng tích cực chọn người ra để huấn luyện quân sự. Khóa đầu tiên mở tại Giồng Hòa có 5 người, sau đó mở tiếp khóa thứ hai 7 người. Các học viên đều phải mang mặt nạ để không biết nhau, ăn ở trong rừng chổi, thỉnh thoảng ban đêm mới được ra ngoài. Nội dung học tập: đường lối cách mạng miền Nam, 5 công tác cách mạng, phương pháp hoạt động bí mật ở nội thành, cách sử dụng một số loại vũ khí. Sau khi học xong, các học viên được trả về để làm nóng cốt xây dựng lực lượng vũ trang nội thành của các đoàn thể, chuẩn bị vào một thời kì mới của cách mạng.

Ngày 9 tháng 3 năm 1961, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Khu Sài Gòn - Gia Định ra đời. Buổi lễ ra mắt được tổ chức trọng thể tại xã Phú Mĩ Hưng (Củ Chi) trước hàng chục nghìn người, trong đó có nhiều người trong nội thành ra dự.

*
*   *

Sáu năm sau Hiệp định Genève là sáu năm đấu tranh chính trị trong máu lửa. Dưới sự đàn áp khốc liệt của địch, ta đã không ngừng xây dựng cơ sở, xây dựng thực lực cách mạng từ đô thị ra nông thôn ven đô. Biết bao gian khổ, hi sinh, cao trào rồi thoái trào, nhưng cơ sở cách mạng vẫn tồn tại, thực lực cách mạng vẫn phát triển, phong trào vẫn được duy trì, Sài Gòn đã tiến lên vị trí trung tâm phong trào đô thị miền Nam, nông thôn ven đô cùng miền Nam thực hiện đồng khởi. Sài Gòn - Gia Định đã sẵn sàng chuyển giai đoạn từ đấu tranh chính trị sang chiến tranh cách mạng.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:29:17 PM
Chương năm

PHÁT TRIỂN THỰC LỰC CÁCH MẠNG,
PHỐI HỢP BA VÙNG, KẾT HỢP BA MŨI, TIẾN CÔNG SÀO HUYỆT ĐỊCH,
ĐÁNH BẠI HAI KẾ HOẠCH BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH
TRÊN VÙNG NÔNG THÔN VEN ĐÔ SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
(Từ ngày 19 tháng 3 năm 1961 đến giữa năm 1965)

I - PHÁT TRIỂN THỰC LỰC CÁCH MẠNG, PHỐI HỢP BA VÙNG
(NỘI ĐÔ, VEN ĐÔ, CĂN CỨ), KẾT HỢP 3 THẾ, BA HÌNH THỨC,
PHÁT HUY VAI TRÒ TRUNG TÂM PHONG TRÀO ĐÔ THỊ,
LÀM THẤT BẠI “KẾ HOẠCH STALEY - TAYLOR”
Ở TRÊN VÙNG VEN VÀ NÔNG THÔN VEN ĐÔ


Tháng 1 năm 1961 Bộ Chính trị ra chỉ thị (đề ngày 31 tháng 1 năm 1961) về phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, nhận định “thời kì tạm ổn của chế độ Mĩ Diệm đã qua và thời kì khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu, các hình thái du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần đã xuất hiện mở đầu cho một cao trào cách mạng ngày càng rộng lớn”. Mĩ và ngụy quyền Sài Gòn quyết dùng bạo lực tiêu diệt cách mạng nên con đường tất yếu sẽ dẫn đến là Cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân sẽ bùng nổ lật đổ chính quyền Mĩ Diệm, giải phóng miền Nam”.

Về hình thức và phương châm đấu tranh, Bộ chính trị xác định: “Phải đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hi mặt chính trị quân sự, đấu tranh trên cả ba vùng chiến lược”. Song, do đặc điểm phong trào cách mạng miền Nam phát triển không đều, so sánh lực lượng giữa ta và địch ở mỗi vùng khác nhau, nên phải vận dụng phương châm đấu tranh linh hoạt, thích hợp từng vùng: chỉ thị ngày 31 tháng 1 năm 1961 đề ra phương châm ba vùng: vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu; vùng nông thôn đồng bằng đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị có thể ngang nhau; vùng đô thị lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu có vũ trang hỗ trợ. Trong đấu tranh phải giữ thế hợp pháp với địch, nhưng tùy lúc cũng dùng cả đấu tranh không hợp pháp.

Về nhiệm vụ cụ thể, Chỉ thị chỉ rõ: “Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng ta và cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng, phát động phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn, tiến lên làm chủ núi rừng, giành lại toàn bộ đồng bằng, ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh chính trị ở đô thị, tạo mọi điều kiện và nắm mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ chính quyền Mĩ - Diệm, giải phóng miền Nam.

Chỉ thị Bộ chính trị ngày 31 tháng 1 năm 1961 là sự vận dụng các Nghị quyết của Hội nghị trung ương lần thứ 15 và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ ba của Đảng trong tình hình mới, đề ra những vấn đề cơ bản của đường lối và phương pháp cách mạng, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam lên giai đoạn mới, giai đoạn kết hợp đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, đánh bại chiến lược mới của đế quốc Mĩ. Về phía địch, chúng tự xác định là đã đến lúc phải thay đổi chiến lược, nhưng chưa dứt khoát về nội dung, biện pháp.

Đánh giá tình hình chiến trường Nam Bộ sau Đồng Khởi địch thừa nhận: Lực lượng vũ trang Việt cộng ở Nam phần có 6.100 người, chiếm 78% lực lượng toàn miền Nam (không kể du kích). Hoạt động vũ trang từ năm 1960 đã phát triển… Cuối năm 1960 toàn bộ vùng nông thôn Nam phần và Tây Nam Sài Gòn, một số vùng phía bắc Sài Gòn bị cộng sản kiểm soát quá một nửa và bao vây Sài Gòn(1). Ngày 16 tháng 9 năm 1960, từ tòa Đại sứ Mĩ ở Sài Gòn, Durbrow điện khẩn cấp về Bộ Ngoại giao Mĩ “Mỗi nguy hiểm còn nghiêm trọng hơn nữa và việc Việt Cộng dần dần mở rộng quyền kiểm soát ở nông thôn. Nếu những tiến bộ hiện nay của Cộng sản cứ tiếp tục thì có nghĩa là sẽ mất Việt Nam vào tay Cộng sản(2).

Do dự, tính toán hơn một năm (từ đầu năm 1960), trước tình hình trên, đế quốc Mĩ buộc phải chuyển chiến lược “tố cộng, diệt cộng”, một chiến lược dựa vào hình thức cảnh sát là chủ yếu, sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, còn gọi là “chiến tranh chống lật đổ”, trong khuôn khổ chiến lược chung của Mĩ “phản ứng linh hoạt” nhằm đánh bại phong trào cách mạng đã phát triển thành chiến tranh du kích”. Chiến lược này địch dự định sẽ thực hiện 3 bước, trong đó bước 1 là bước quyết định, hi vọng giành thắng lợi lớn vào năm 1962, trên cơ sở đó sẽ rút bớt lực lượng cố vấn Mĩ, tiếp tục tăng viện trợ cho quân ngụy, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn, chiến tranh kết thúc vào năm 1965.

Ngày 13 tháng 5 năm 1961, từ Sài Gòn, Phó tổng thống Mĩ Johnson và Ngô Đình Diệm kí kết bản thông cáo chung mà báo chí Sài Gòn và phương Tây coi là cơ sở đầu tiên của chiến lược chiến tranh đặc biệt.

Ngày 15 tháng 5 năm 1961 chính quyền Kennedy thông qua kế hoạch mang tên NSAM 52, chính thức thực hiện bước 1 chiến lược chiến tranh đặc biệt, quyết giành thắng lợi quyết định trong 18 tháng.

Công thức của chiến lược chiến tranh đặc biệt là: quân ngụy cộng vũ khí Mĩ đặt dưới sự chỉ huy của cố vấn Mĩ. Biện pháp cơ bản của nó là ấp chiến lược.

Từ ngày 14 tháng 6 năm 1961 đến ngày 14 tháng 7 năm 1961 do Staley cầm đầu sang Sài Gòn để vạch kế hoạch bình định. Ngày 18 tháng 10 năm 1961, lại một phái đoàn Mĩ do Taylor cầm đầu sang Sài Gòn nghiên cứu, bổ sung kế hoạch trên. Từ đó kế hoạch 3 bước mang tên Staley - Taylor ra đời, nhằm bình định miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), trong đó phần cốt lõi là phải lập cho được 16.000 khu, ấp chiến lược trên toàn miền Nam.


(1) Báo cáo của Phân cục tình báo CIA tại Sài Gòn.
(2) Tài liệu mật Bộ quốc phòng MĩTập 1, VNTTX phát hành 1971, trang 110.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:30:37 PM
Trong và sau Đồng Khởi, phong trào Sài Gòn - Chợ Lớn ở tình trạng mà Bộ chính trị nhận định “Còn yếu, gần đây mới bắt đầu lên…”(1). Nhìn chung, cả nông thôn, đô thị, lực lượng chính trị của quần chúng lên cao, nhưng lực lượng vũ trang còn yếu, chưa được tổ chức chặt chẽ và thích ứng tình hình, nhiệm vụ mới. Sau chỉ thị tháng 1 năm 1961, Thường vụ Trung ương Cục có chỉ thị uốn nắn những lệch lạc trong và sau đồng khởi, trong đó chỉ rõ tình trạng có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Về khách quan, sau đồng khởi, ta chưa có thời gian để xây dựng thực lực cách mạng; về chủ quan, nhiều đảng viên, cán bộ nhận thức chưa đầy đủ tính chất giai đoạn, về bản chất của địch, về quan điểm bạo lực cách mạng, từ đó sinh ra giản đơn tưởng rằng thời kì tổng khởi nghĩa đã tới… Những lệch lạc đó biểu hiện trong hành động là chỉ nặng mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng, chưa chú xây dựng cơ sở lâu dài, tiến công mà chưa chú ý tránh bộc lộ lực lượng, phát triển chưa đi đôi với củng cố, nặng hình thức đấu tranh bất hợp pháp, nhẹ tận dụng 3 hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp…

Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương lọc lại và củng cố các cơ sở đã có, đồng thời đi sâu nhanh chóng xây dựng và phát triển cơ sở mới. Để khai thác khả năng cách mạng và để thích hợp với từng đối tượng ngành, giới Sài Gòn - Gia Định đã thành lập các Ban vận động, tập trung cho việc phát triển thực lực cách mạng và công tác nội thành, các ban Công vận, Thanh vận, Phụ vận, Hoa vận, Tư sản vận, Báo chí văn nghệ, Trí vận, Học sinh - sinh viên… Các ban này có lực lượng và tổ chức chính trị theo hệ thống riêng. Có ban cán sự đảng của ngành, có tổ chức tự vệ võ trang và tự vệ mật. Một số ban vận động có cán bộ phụ trách quân sự hoặc ban Quân sự.

Ngày 26 tháng 3 năm 1961, theo quyết định của Ban cán sự sinh viên học sinh Sài Gòn - Gia Định, đội vũ trang quyết tử của học sinh sinh viên Sài Gòn - Gia Định được thành lập từ một số cán bộ, đoàn viên cơ sở trong phong trào đấu tranh chính trị.

Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Sài Gòn - Gia Định ra đời (ngày 19 tháng 3 năm 1961), ngày 27 tháng 4 năm 1961, Hội lao động giải phóng miền Nam Việt Nam, sau này đổi tên là Liên hiệp Công đoàn Giải phóng miền Nam, được thành lập. Tháng 5 năm 1961, Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định thành lập các Quân khu miền Nam và Bộ chỉ huy quân sự miền. Mật danh đầu vào Nam Bộ là R, các Quân khu là T, các tỉnh là U. Miền Đông Nam Bộ có Quân khu Sài Gòn - Gia Định (mật danh T4 hay I4) và Quân khu Miền Đông (T1) gồm 4 tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa.

Đoàn cán bộ “khung chỉ huy” của miền và các quân khu (lấy mật danh là “Phương Đông 1”) xuất phát từ Hà Nội ngày 4 tháng 5 năm 1961 vào tới Nam Bộ ngày 15 tháng 8 năm 1961. Số này cùng với số cán bộ tại chỗ thành lập các cơ quan quân khu.

Bộ chỉ huy quân sự Sài Gòn - Gia Định gồm các đồng chí Nguyễn Hồng Đào chính ủy, Trần Hải Phụng chỉ huy trưởng kiêm tham mưu trưởng, Nguyễn Ngọc Lộc, chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Văn Thanh, chủ nhiệm hậu cần.

Hệ thống cơ quan quân sự khẩn trương hoàn chỉnh từ Miền xuống xã. Nội thành có các ban quân sự liên quận và ngành: huyện, xã ngoại thành có huyện đội, xã đội.

Đảng ủy quân sự lãnh đạo trực tiếp hệ thống dọc các ban quân sự liên quận (cánh) nội thành và các huyện đội ngoại thành.

Các xã ngoại thành gấp rút xây dựng du kích tập trung và du kích mật. Các huyện củng cố và phát triển các đội du kích liên xã, hoặc bộ đội tập trung địa phương.
Để có lực lượng cơ động, sau khi được các khu khác chi viện vũ khí và trên tăng cường một trung đội, giữa năm 1961, quân khu thành lập một đại đội tập trung cơ động mạnh 160 người, lấy nòng cốt là trung đội tập trung đầu tiên đã có bí số C13.

Đại đội này cũng lấy tên là C13. Trong buổi lễ xuất quân, đồng chí Huỳnh Tấn Phát, Khu ủy viên, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định, trao nhiệm vụ cho đại đội:

- Diệt ác phá kềm, mở rộng vùng giải phóng.

- Tác chiến kết hợp với binh vận.

- Phát động quần chúng, xây dựng chính quyền, tổ chức cơ sở cách mạng và phát triển lực lượng.

- Cơ động hoạt động trên khắp chiến trường quân khu, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích phát triển.

Ra quân trận đầu, C13 diệt gọn đồn An Nhơn Tây có hơn 1 trung đội địch.


(1) Trích trong chỉ thị ngày 31 tháng 1 năm 1961 của Bộ chính trị về phương hướng và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:31:43 PM
Chuẩn bị thực hiện kế hoạch bình định 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962, Diệm ra sắc lệnh bỏ các quân khu, chia lãnh thổ thành các vùng chiến thuật, biệt khu, khu chiến thuật, tiểu khu; chủ yếu kiện toàn cấp tiểu khu (tỉnh) và chi khu (quận) nhằm tạo điều kiện bình định và càn quét có hiệu quả. 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ lập thành khu chiến thuật 33 thuộc vùng 3 chiến thuật, bảo vệ vòng ngoài cho khu Sài Gòn - Gia Định với lực lượng tương đương 3 sư đoàn (sư đoàn 5, sư đoàn 25, các trung đoàn tiền thân của sư đoàn 18) và 2 trung đoàn chủ lực, 22 tiểu đoàn và 111 đại đội địa phương quân (bảo an). Riêng đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định (trừ Củ Chi) lập thành Biệt khu thủ đô theo sắc lệnh 98 - QP ngày 13 tháng 4 năm 1961 trực thuộc vùng 3 chiến thuật; Sau đó, từ tháng 11 năm 1964 trực thuộc Bộ Tổng tham mưu với lực lượng 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 52, 1 chiến đoàn ứng chiến cơ động (tương đương 1 trung đoàn), 1 tiểu đoàn biệt động quân (số 30), 2 pháo đội, 2 tiểu đoàn khóa sinh Quang Trung và Thủ Đức, 3 tiểu đoàn và 15 đại đội bảo an. Ngoài ra, tại Sài Gòn có lữ đoàn dù ngụy đóng căn cứ ở Bà Quẹo (trại Hoàng Hoa Thám) và lữ đoàn thủy quân lục chiến đóng căn cứ ở Thị Nghè (trại Cửu Long); tuy là lực lượng dự bị cơ động chung cho toàn miền Nam, nhưng thời kì này hoạt động chủ yếu ở Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ.

Địa giới Gia Định (về phía địch) không gồm hết Củ Chi, ở phía Bắc từ kinh Cầu An Hạ (phía Tây quốc lộ số 1) sang kinh Xáng và Rạch Tra. Như vậy trên địa bàn Củ Chi ta phải trực tiếp đối chọi với địch ở cả các tiểu khu Gia Định, Bình Dương và Hậu Nghĩa (tháng 10 năm 1963 địch thành lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa trong đó phần đất phía Tây quận Củ Chi, phía Đông gọi là quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương).

Ở nội đô, ta đối đầu trực tiếp với Nha Cảnh sát đô thành và Tổng nha cảnh sát, cùng các cơ quan an ninh, tình báo các loại kết hợp với nhau.

Công nhân lao động Sài Gòn tiếp tục vai trò dẫn đần phong trào đấu tranh ở đô thị. Đảng ta chủ trương phát động các đợt đấu tranh dân sinh dân chủ để tập hợp lực lượng, đồng thời coi các yêu sách dân sinh dân chủ bao giờ cũng tiềm ẩn nội dung chính trị và qua đó hướng đến mục tiêu chính trị.

Ngày 1 tháng 5 năm 1961, mới ra mắt được 4 ngày, Hội lao động giải phóng miền Nam(1), đã phát động được 16.000 công nhân lao động họp mít tinh công khai kỉ niệm ngày Quốc tế lao động và trương khẩu hiệu “Chào mừng Hội lao động giải phóng miền Nam”. Suốt trong 3 tháng liền, từ tháng 7 năm 1961 những cuộc bãi công đòi quyền lợi dân sinh dân chủ liên tiếp nổ ra ở các hãng nước ngọt BGI, xưởng đóng tàu CARIC, nhà đèn Chợ Quán, ôtô buýt, xe lửa, cầu đường, hàng rượu Bình Tây…

Nổi bật là cuộc đấu tranh của công nhân hãng dầu Stanvac, một cuộc đấu tranh dân sinh gây cho kẻ thù tổn thất lớn. Hãng dầu Stanvac còn gọi là hãng “Con ngựa bay”, một hãng dầu lớn có chi nhánh ở hầu khắp Đông Nam Á, độc quyền cung cấp dầu cho các sân bay quân sự, các đơn vị cơ giới của Mĩ ngụy.

Từ ngày 6 đến ngày 22 tháng 9 năm 1961 công nhân đình công để phản đối thái độ ngang ngược của chủ hãng Mĩ đối với công nhân Việt Nam, các hãng Mĩ chịu chấp nhận tăng lương 5% cho công nhân nhưng đồng thời tăng giờ lao động lên 10% và sa thải công nhân hàng loạt. Cuộc đình công được hơn 100 nghiệp đoàn công nhân lao động ở Sài Gòn và các tỉnh ủng hộ tiền bạc, lương thực, thực phẩm. Một số báo chí ở Sài Gòn chỉ trích thái độ của chủ hãng Stanvac. Liên hiệp công đoàn quốc tế hàng đầu cũng viết thư ủng hộ công nhân Stanvac và tỏ thái độ của chủ hãng Việt Nam. Cuộc đấu tranh vì vậy ngày càng trở nên quyết liệt. Công nhân chiếm giữ các kho dầu, không cho Mĩ ngụy tới chở dầu đi. Việc cung ấp dầu cho các máy bay bị tê liệt. Nhiều tàu chở xăng không dám vào cảng Sài Gòn, chủ hãng Stanvac buộc phải thông báo cho các hãng hàng không quốc tế, tự cung cấp lấy xăng dầu trước khi vào Việt Nam. Tính trung bình mỗi ngày Mĩ ngụy thiệt hại từ 3 - 5 triệu đồng Sài Gòn. Kế hoạch quân sự của địch bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do đó, ngày 20 tháng 1 năm 1961, chính quyền ngụy buộc chủ hãng Stanvac phải bãi bỏ lệnh sa thải công nhân và buộc chấp nhận tăng lương cho công nhân từ 6 - 12%, hứa sẽ cải thiện chế độ làm việc trong hãng.

Cuộc đấu tranh của công nhân Stanvac thắng lợi, cổ vũ công nhân và lao động Sài Gòn - Gia Định. Suốt năm 1962 diễn ra hàng trăm cuộc đấu tranh khác, trong đó có 10 cuộc đấu tranh quyết liệt, với các hình thức lãn công, đình công và một cuộc đình công kéo về thành phố của 5 vạn công nhân cao su. Nổi bật là cuộc bãi công ngày 12 tháng 2 năm 1962 của công nhân hãng dệt Vimytex đòi sửa đổi chế độ làm việc đúng luật lao động, và cuộc đình công chiếm xưởng ngày 10 tháng 5 năm 1962 của công nhân hãng thu thanh. Một tên Mĩ trong Ban giám đốc bị đánh trọng thương. Bên cạnh đó một sự kiện đáng chú ý là trong dịp kỉ niệm ngày 1 tháng 5 năm 1962, hàng vạn công nhân xích lô liên minh với chủ, chống dự định của Trần Lệ Xuân nhập cảng xe lam thay thế xe xích lô. Thực tế cho thấy các phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ làm cho địch lúng túng đồng thời liên kết được phong trào các giới ở các khu vực thành thị với nhau, liên kết cả phong trào nôn thôn với phong trào đô thị. Trước ngày 1 tháng 5 năm 1962, công nhân của 100 nghiệp đoàn ở Sài Gòn mở đại hội đòi tăng lương, chống sa thải; 5.000 công nhân tắc xi, xích lô họp đại hội, lúc đầu còn mang nội dung dân sinh, sau đó kéo xuống đường, công khai hô khẩu hiệu “đả đảo Mĩ”, “đả đảo Ngô Đình Diệm”.

Đội vũ trang quyết tử của học sinh sinh viên, sau 10 ngày thành lập, ra quân trận đầu; dưới sự chỉ huy của các anh Lê Hồng Tư, Hà Văn Hiền, đã diệt tên William Thomas, chuyên viên cao cấp không quân Mĩ (ngày 6 tháng 4 năm 1961) tại đường Ngô Thời Nhiệm. Ngay hôm sau (ngày 7 tháng 4 năm 1961) đội lại tấn công bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM (United Sates Operation Mission) của Mĩ tại đường Trần Hưng Đạo. Đặc biệt đội đã nhận nhiệm vụ đánh tên đại sứ Mĩ Nolting bằng thủ pháo. Nolting chết hụt, nhưng bị một đòn cảnh cáo nghiêm khắc. Sự kiện này cổ vũ khí thế chống Mĩ của thanh niên và đồng bào thành phố. Chính vào những ngày này, lực lượng của ban cán sự Thành đoàn thực hiện một đợt tuyên truyền xuất kích, gây tiếng nổ trong thành phố, tập trung ở các thùng phiếu trong đợt bầu cử tổng thống ngụy nhiệm kì 2.

Địch phản kích điên cuồng cả trong thành và ven đô nhất là sau vụ Nolting chết hụt. Chúng đã bắt anh Lê Hồng Tư và một số đồng chí khác do sơ suất ở cơ sở.


(1) Vẫn tiếp tục có cán bộ giữ thế hợp pháp hoạt động trong các tổ chức công nhân công khai như Tổng liên đoàn lao động, Tổng liên đoàn lao cộng, và các nghiệp đoàn…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:32:10 PM
Tháng 8 năm 1961 địch lại phát hiện và đánh vào căn cứ Ban cán sự Thành đoàn ở xã Mĩ Hạnh huyện Đức Hòa. Đồng chí Trần Quang Cơ (Tám Lượng), bí thư Ban cán sự anh dũng hi sinh, các anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Dung bị bắt. Chúng tiếp tục mở đợt khủng bố tập trung vào phong trào cách mạng của quần chúng. Trên 200 cơ sở cách mạng và quần chúng có liên quan bị bắt và giam trong các trại giam Sài Gòn.

Trên vùng Củ Chi, ngày 4 tháng 4 năm 1961 huyện tổ chức một cuộc đấu tranh thống nhất toàn huyện, trực diện với tề xã, đòi dân sinh dân chủ. “Đội quân tóc dài” hình thành. Đoàn quần chúng xã Phước Thạnh gồm trên 3000 người, phần lớn là các má, các chị, biểu tình kéo dọc theo quốc lộ số 1 đến nhà làng Suối Cụt, đột ngũ chỉnh tề, hai bên có lực lượng tự vệ. Đoàn xe quân sự địch tuần tra, bắn uy hiếp, đoàn biểu tình nằm xuống, xe qua, tất cả lại đứng dậy đi tiếp. Toán dân vệ gác cản đường. Một tên ác ôn ném lựu đạn vào đoàn biểu tình làm 5 người chết, 59 người bị thương, mọi người vô cùng căm phẫn. Cuộc đấu tranh chuyển sang mục tiêu đòi địch chấm dứt khủng bố, chôn cất những người bị giết, chữa chạy và bồi thường cho người bị thương, bị chết.

Đoàn An Nhơn Tây gồm 200 chị em các xã An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Mĩ Hưng, Phú Hòa Đông… do chị Hai Bằng lãnh đạo, tuần hành kéo về nhà láng xã Phú Hòa Đông, nơi tập trung Ban hội tề 4 xã lưu vong sau Đồng Khởi, đấu tranh đòi trừng trị tên “Đội Chó” ác ôn. 5 thanh niên trong đoàn bị chúng bắt đi, ta đưa thêm lực lượng dự bị ra đấu tranh, địch buộc phải băng bó cho 5 người bị thương và thả 5 thanh niên bị bắt.

Tháng 6 năm 1961, huyện ủy Củ Chi lại tổ chức cuộc đấu tranh lớn lần thứ 2 trên toàn huyện. 13.000 người đấu tranh trực diện, 2000 người phía sau làm giao liên, hậu cần và dự bị. Lực lượng phía trước chia làm 5 mũi tiến vào quận lị, mũi chính diện là Tân An Hội và Phước Hiệp. Có nhiều đợt quần chúng bị địch đàn áp, đánh đập, tạm lui để tập hợp thêm, tiếp tục cuộc đấu tranh với các khẩu hiệu đòi: chấm dứt khủng bố, giết người, bồi thường nhân mạng, chống bắt lính, hoãn miễn quân dịch… Cuộc đấu tranh được nhiều binh sĩ địch đồng tình, hạ uy thế địch, hạn chế khủng bố.

Cùng với mũi đấu tranh chính trị, mũi quân sự đang đà phát triển, nổi bật là phong trào làm vũ khí thô sơ, tự tạo mìn, trái đánh địch, mạnh nhất là ở xã Phú Mĩ Hưng. Ở Xóm Huế, 10 thanh niên tự tạo bán xe đạp, mua sắm dụng cụ và ống sắt, làm được 10 súng tự chế để diệt ác và biểu dương lực lượng, em ruột tên đội Bắc ác ôn cũng tham gia. Công trường vũ khí huyện do đồng chí Ba Nì phụ trách, phát triển nhanh.

Cuối tháng 7 năm 1961, địch càn quét hai xã An Nhơn Tây, Phú Mĩ Hưng, giết 23 người và bắt đi một số dân. Lập tức nhân dân các xã xung quanh tập trung kéo biểu tình lên quận, buộc tên quận trưởng Bình phải ra tiếp và hứa chuyển yêu sách đoàn biểu tình lên tỉnh Bình Dương. Nhiều trận đánh có kết hợp hầm chông, hố đinh, địa đạo đã đẩy lùi hoặc chặn đứng cả tiểu đoàn địch, như các trận ở các xã Phú Hòa Đông, Phú Mĩ Hưng, Nhuận Đức, Trung An.

Việc giáo dục các gia đình binh sĩ vận động chồng, con, em trở về kết hợp với các hình thức kêu gọi ở đồn bót cũng thu được kết quả. Nhiều binh sĩ địch bỏ ngũ trở về nhà làm ăn, hoặc theo du kích.

Lực lượng cách mạng ở Củ Chi phát triển khá trong năm đầu của chiến tranh cách mạng: số đảng viên từ 200 lên gần 500; gần một trăm phần trăm phụ nữ vùng giải phóng vào Hội phụ nữ giải phóng; vùng gần địch có du kích mật, trên 1000 thanh niên xung phong tòng quân vào các lực lượng cấp trên, vùng giải phóng bắt đầu có trường học, trạm y tế…

Bắt đầu “kế hoạch Staley - Taylor” trên vùng đất ngoại thành, chủ lực ngụy từ các nơi kéo về càng đông xung quanh Sài Gòn. Một mặt, địch mở những cuộc hành quân càn quét vào các căn cứ, các vùng giải phóng, các khu vực có phong trào cách mạng nhằm triệt phá và tiêu diệt lực lượng cách mạng, mặt khác sử dụng các thứ quân địa phương kết hợp với các đoàn bình định, tình báo, gián điệp, liên tục mở những cuộc hành quân cảnh sát quy mô nhỏ, chà đi sát lại nhiều ngày trong từng thôn ấp, phường khóm nhằm thanh lọc cơ sở cách mạng và đồn dân vào các ấp chiến lược.

Ngày 20 tháng 9 năm 1961, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mở hội nghị quân sự lần thứ nhất tại xã Lộc Thuận, có mặt trên 60 cán bộ tạ chỗ của Sài Gòn - Gia Định cùng một số cán bộ mới bổ sung về. Để tạo điều kiện thực hiện sát hợp phương châm đấu tranh, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách có hiệu quả, hội nghị chia địa bàn Sài Gòn - Gia Định thành 3 “vùng”: vùng căn cứ giải phóng, vùng tranh chấp ven đô và vùng nội thành, mỗi vùng có phương châm, hình thức và nội dung thích hợp với tình hình so sánh lực lượng ta và địch, với hoàn cảnh địa lí và khả năng tập hợp, huy động lực lượng quần chúng.

Vùng căn cứ bao gồm các khu vực đã được giải phóng ở Củ Chi và các huyện khác, lấy vũ trang làm chính, có kết hợp với đấu tranh chính trị nhằm giữ thế hợp pháp của quần chúng và mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm nhiều “lõm căn cứ” giữ các địa bàn làm chủ trên các hướng ven đô, vây ép nội đô, tạo thế sẵn sàng tấn công địch.

Vùng tranh chấp ven đô: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đi đôi với nhau, hỗ trợ nhau nhằm từng ước đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của địch, tiến lên giành chính quyền làm chủ với các mức độ khác nhau, tạo thành những lõm du kích sát đô thị.

Vùng nội thành lấy đấu tranh chính trị làm chính có kết hợp với đấu tranh vũ trang từng mức độ. Đấu tranh vũ trang ở nội thành phải nhằm vào những mục tiêu gây tổn thất nặng, có tác dụng phối hợp chiến trường chung, đồng thời mở rộng diện phá hoại, quấy rối, trừ gian, diệt ác, phá kềm, làm mất an ninh ổn định của địch, hỗ trợ, phục vụ đấu tranh chính trị, tạo thế cho phong trào quần chúng phát triển, tạo điều kiện cho việc xây dựng các lõm chính trị ngay trong lòng Sài Gòn.

Hội nghị ra nghị quyết quân sự đầu tiên của quân khu, nội dung liên quan đến từng vùng cụ thể.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:33:33 PM
Tháng 10 và tháng 11 năm 1961, Khu ủy mở hội nghị tổ chức các cánh và lực lượng đô thị tại một căn cứ ở một góc Đồng Tháp Mười, mật danh là căn cứ “Thái Bình Dương”(1).

Được tổ chức ngăn cách để bảo đảm nguyên tắc bí mật ở đô thị, nhưng hội nghị có đông đủ cán bộ quân sự, cán bộ lãnh đạo ngành, giới, quận và bán cán sự liên quận. Nội dung chính của hội nghị là bàn thống nhất và ra nghị quyết về tổ chức lực lượng chính trị, quân sự, nhiệm vụ đấu tranh và tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch ở nội đô Sài Gòn.

Chỉ đạo nội đô được chia thành 5 cánh (liên quận) gồm có quận nội thành gần với các xã vùng ven và vùng đô thị hóa, có Ban cán sự đảng và Ban quân sự để lãnh đạo, chỉ huy mọi mặt cả về phong trào, lực lượng và hoạt động. Cánh 154 gồm quận 2 và 4, Trị Đông, An Lạc, Phú Định, Phú Thọ Hòa, cánh 158 gồm quận 3, quận 5, cánh 159 gồm quận 1, xã Thạnh Mĩ Tây, Bình Hòa, Phú Nhuận, Tân Hòa.

Ngay trong thời gian hội nghị, 3 lớp huấn luyện quân sự đô thị được tranh thủ mở ngay trên vùng hậu cứ “Thái Bình Dương”. Thành phần học viên là những cơ sở nội đô đã trải qua thử thách, được rút ra để xây dựng những phân đội võ trang làm nòng cốt cho từng ngành, từng cánh, lớp huấn luyện thứ nhất có 8 học viên: hớp huấn luyện thứ hai cho một tiểu đội của lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên. Bãi tập phải móc đất đắp thành nền, lấy củi phải lặn xuống móc những cây tràm lâu năm dưới đáy nước. Học viên học quân sự mang mặt nạ, học chính trị mỗi người một ngăn riêng không ai được biết mặt ai. Kết thúc mỗi lớp, học viên trở về các ngành.

Tại căn cứ “Thái Bình Dương”, một bộ phận cán bộ quân sự quân khu (lấy bí số C50) sau đó C10) đi xuống quan hệ trực tiếp với cơ quan tiền phương của khu ủy phụ trách nội thành, chuyên trách biên soạn tài liệu tổ chức lực lượng, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang, bán vũ trang đô thị gồm các môn bắn súng, sử dụng chất nổ, võ thuật, kĩ thuật trinh sát mục tiêu, cách tổ chức các trận đánh ở nội thành.

Phong trào vũ trang nội đô từng bước được gây dựng, tạo điều kiện lần lượt hình thành các đơn vị chiến đấu. Sau hội nghị tháng 10, 11 năm 1961, những cán bộ nòng cốt các cánh được huấn luyện quân sự và nhiều chiến sĩ được các ngành, giới… tuyển chọn, thành lập các đội biệt động 159, 65, 66, 67A, 67B, 68, 69… Thành đoàn xây dựng đôi biệt động thanh niên. Ban Hoa vận xây dựng đội biệt động Hoa kiều, quân báo quân khu xây dựng hệ thống trinh sát quân báo cơ động và địa phương. Hậu cần tổ chức công tác bảo đảm. Tham mưu xây dựng hệ thống quân bưu và giao thông liên lạc kết hợp nội ngoại thành.

Cuối năm 1961, Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định đã tổ chức cơ quan chỉ đạo hai bộ phận: một bộ phận chuyên trách theo dõi, chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân ngoại thành, một bộ phận đặc trách bám sát việc xây dựng và hoạt động của các lực lượng tự vệ vũ trang nội thành, các đội biệt động, quan hệ, giúp đỡ các ban quân sự cánh nội đô.

Trên toàn quân khu bắt đầu triển khai một cách đồng bộ các mặt công tác nhằm vào các việc chủ yếu: nghiên cứu toàn diện chiến trường cả đô thị, nông thôn, củng cố cơ quan tác chiến, quân báo, trực tiếp giúp đỡ các cấp ủy quận, huyện, hình thành hệ thống chỉ đạo - chỉ huy quân sự xuống đến xã, tạo thế du kích chiến tranh lan dần từ các vùng làm chủ (sau Đồng Khởi) đến các vùng sâu, vùng yếu, áp vào đô thị.

Từ sau Đồng Khởi của ta, địch đã rút ra nguyên nhân không thành công của công tác bình định dưới các hình thức “khu dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp tự vệ” là do “hoạt động quân sự thiếu toàn diện, không có kế hoạch bảo vệ ấp xã lâu dài, khai thác nhân lực tại ấp quá sớm, cán bộ tham nhũng”. Trên cơ sở một chương trình nghiên cứu cẩn thận và tổng kết những kinh nghiệm trên, một “chương trình xây dựng hương thôn” mà cốt lõi là kế hoạch “ấp chiến lược” đã ra đời và trách nhiệm ngay trước khi nâng thành “quốc sách”.

Ở Gia Định, chương trình “ấp chiến lược” của địch được triển khai vào tháng 8 năm 1961, trong đó có xã Tân An Hội (Củ Chi) là nơi thí điểm. Từ tháng 11 năm 1961 diện thí điểm được mở rộng ra các nơi khác: ấp Đôn, ấp Nhất, xã An Phú Đông (Gò Môn), xã Long Kiển (Nhà Bè), xã Hiệp Bình (Thủ Đức), các xã Tân Hòa, Tân Nhật, Vĩnh Lộc (Bình Tân)… Cuối năm 1961, Ngô Đình Diệm, nhân danh “Tổng thống” đích thân về dự lễ khánh thành hai ấp thí điểm ở An Phú Đông và Long Kiểng.

Trước Tết âm lịch đầu năm 1962, địch ầm ĩ tuyên truyền về ấp chiến lược, đi giăng dây, cắm cọc… Sau Tết, chúng triển khai một cách quyết liệt quy mô trên toàn nông thôn Gia Định việc “bứng”, “hốt”, “gom”, “khoanh dân”. Lực lượng hỗ trợ bình định là các đơn vị chủ lực(2). Lực lượng chủ yếu trực tiếp gom dân là bảo an, dân vệ và cán bộ “bình định”. Những tên cao bồi, lưu manh, côn đồ được chọn vào những đội đi cào nhà. Nhiều thanh niên, học sinh, viên chức trong đô thị cũng bị bắt ra làm ấp chiến lược. Xe ủi đất, xe cơ giới được huy động để san ủi, đắp đê. Quần chúng bị bắt đốn tre làm hàng rào, vót chông…

Riêng ở nông thôn, địch chia 3 vùng, áp dụng 3 cách xây dựng ấp chiến lược: ven đô và vùng sâu để kiểm soát, thủ đoạn chủ yếu là khoanh tại chỗ, vùng tranh chấp thì vừa gom vừa khoanh, vùng căn cứ du kích thì dùng vũ lực để xúc hót, đồng thời triệt phá nhà cửa ruộng vườn để dân không thể trở lại sinh sống.

Từng bộ máy tổ ấp đã được sắp sẵn, ấp lập đến đâu có sẵn tề ngay đến đó. Các lực lượng bán vũ trang như thanh niên chiến đấu, phụ nữ cộng hòa là lực lượng trực tiếp bảo vệ ấp đồng thời để đôn lên thành bảo an hoặc tổ chức thành lực lượng cơ động ở xã, liên xã, quận.


(1) Một trấp trũng mênh mông ở đầu ngọn kênh Ba Ren, giồng Manh Manh, giồng Ông Bạn, tiếp giáp Đồng Tháp Mười, và vùng Mỏ Vẹt của Campuchia, nhà là những mái chòi có thể tháo lắp nhanh chóng, cơ động, nép trong các chùm dứa dại, lau sậy, nền ngấp nghé mặt nước. Mọi di chuyển đều phải bằng xuồng hoặc “quần đùi, lưng trần” long mình dưới nước.
(2) 2 tiểu đoàn của sư đoàn 7 ngụy xuống Bình Tân, một tiểu đoàn thuộc biệt khu thủ đô và lực lượng thuộc tiểu khu Bình Dương xuống Củ Chi, một trung đoàn của sư đoàn 5 ngụy xuống Thủ Đức, Dĩ An, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy xuống Nhà Bè.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:34:56 PM
Trong khi địch đã triển khai chủ trương, lập ấp chiến lược rất khẩn trương và tàn bạo thì về phía ta, lãnh đạo và chỉ đạo chưa nhận rõ âm mưu thủ đoạn của địch nên không kịp thời và cụ thể. Tuy nhiên, chính sách phản dân hại nước của chúng đã gặp sức chống trả hết sức quyết liệt của nhân dân ngay từ đầu.

Những cuộc đấu tranh chống địch cào nhà, gom dân, phá hại tài sản diễn ra từng ngày ở Củ Chi, Bình Tân, Thủ Đức, Nhà Bè… nhiều đồng bào căm giận, tự đốt nhà mình trước mặt quân giặc. Nhiều bác nông dân xách dao, vác búa, vùng gậy, rượt lính, chém cán bộ bình định. Giằng co, xô xát, đổ máu.

Huyện Củ Chi là nơi địch gặp sức chống trả mạnh nhất nên việc triển khai ấp chiến lược có chậm hơn các nơi khác. Ở Phú Hòa Đông nổ ra cuộc biểu dương 500 người vây bót địch 2 ngày liền, đòi địch không được càn quét, bắn phá bừa bãi, để nhân dân đi lại làm ăn, đòi thường nhân mạng, thiệt hại cho người chết và người bị hương trong các vụ đàn áp. Hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, các lực lượng vũ trang địa phương đánh thiệt hại 3 đoàn “bình định hương thôn”, buộc chúng phải co lại ở Phước Hiệp, An Nhơn Tây, Cây Bài, đánh tiêu hao 1 đại đội bảo an ở Trung An (tháng 6 năm 1961), đánh thiệt hại đồn An Nhơn Tây (ngày 30 tháng 8 năm 1961)… Nhiều tên tay sai đắc lực nhất ở các ban trị sự ấp chiến lược ở Củ Chi bị trừng trị. Số còn lại bỏ trốn hoặc hoang mang, co thủ. Để lấp chỗ trống và mị dân, địch tổ chức bầu cử tề xã ấp, nhưng không ai chịu ra làm. Bí quá, chúng chỉ định người bắt buộc phải làm và dùng mưu mẹo cài người của chúng vào làm nòng cốt. Có nơi ban trị sự liên tiếp bị trừng trị, địch đối phó bằng các bắt buộc người trong gia đình cách mạng ra làm.

Ở Bình Tân, một xe lộ nước và một máy bay lên thẳng của địch bị bắn cháy trong cuộc càn bình định tháng 6 năm 1961. Cuộc đấu tranh chống địch càn phá bình định ngày 7, ngày 8 tháng 8 năm 1961 của trên 1000 đồng bào xã Vinh Lộc diễn ra quyết liệt, được đồng bào các xã xung quanh hỗ trợ. Địch bắt bớ, trấn nước hàng trăm người, xua chó berger cắn xé chị em, nhưng không moi được những người lãnh đạo cuộc đấu tranh. Cuối cùng, trước áp lực của quần chúng đang tập hợp mỗi lúc một đông và có nguy cơ lan rộng, địch buộc phải thả hết người bị bắt và hứa giảm bớt bắn phá, lùng sục.

Cùng với việc lập “ấp chiến lược” ở nông thôn, từ tháng 2 năm 1962, địch bắt đầu thí điểu “khóm chiến lược” ở đô thị với ý định trong vòng một năm sẽ chia khoanh 1.700.000 dân nội thành Sài Gòn vào hơn 764 khóm. Theo kế hoạch này 8 quận nội đô vẫn được duy trì để kềm chặt dân chúng hơn nửa, chúng chia nhỏ phường, khóm, liên gia, nâng số phường từ 47 lên 65, số khóm T3 674 đến 764 và số liên gia từ 10.132 lên 10.672. Thêm 1 đại đội hoạt vụ và 4 biệt đoàn cảnh sát dã chiến được thành lập cùng với lực lượng cảnh sát và mạng lưới mật vụ tăng cường khống chế quần chúng, di dân, đánh phá, diệt cơ sở cách mạng.

Việc phòng thủ Sài Gòn - Gia Định của địch ngày càng chặt chẽ bằng các tiểu khu vùng ven, các căn cứ quân sự, các khu công giáo, các trại gia binh, lực lượng dân phòn… Liên kết các hoạt động của công an, mật vụ, cảnh sát nội đô với các tiểu khu vùng ven. Đường sá được mở rộng, đồn bót ken dày.

Tháng 2 năm 1962, tại Sài Gòn, Bộ tư lệnh Mĩ ở Nam Việt Nam MACV (Military Assistance Command Vietnam) do đại tướng Paul Harkins cầm đầu được thành lập thay cho cơ quan viện trợ quân sự Mĩ MAAG. Quân Mĩ trực tiếp chi viện cho quân ngụy về hậu cần, hỏa lực và cơ động. Các cố vấn Mĩ được phái xuống từng tiểu đoàn bộ binh và từng đại đội binh chủng kĩ thuật Mĩ(1).

13 phi đội máy bay lên thẳng và những thiết đoàn đầu tiên của Mĩ đến Sài Gòn. Chiến trường xuất hiện những chiến thuật “tân kì” của Mĩ: trực thăng vận, thiết xa vận. Tháng 2 năm 1962, trực thăng và và thiết giáp M.113 ra quân những trận đầu ở vùng Vườn Thơm (Bình Tân) và Củ Chi. Đồng bào chiến sĩ gặp bất ngờ, lúng túng. Ở Vươn Thơm, khi những chiếc máy bay lên thẳng sà thấp, chiến sĩ ta còn đứng nhìn, đến khi lính Mĩ và bọn công dân vụ nhảy xuống mới vội nhảy vào công sự chiến đấu.

Tháng 4 năm 1962 những kinh nghiệm và nguyên tắc cơ bản của “chiến dịch xây dựng hương thôn” được nâng lên thành “quốc sách chiến lược” và trong tháng 8 năm 1962, Diệm chính thức thông qua một “chương trình ấp chiến lược” do Robert Thompson, một chuyên gia người Anh làm cố vấn. Một bộ máy chỉ đạo từ trung ương xuống quận xã được hình thành bên cạnh Phòng ấp chiến lược của cơ quan quân sự MACV và Ủy ban viện trợ ấp chiến lược của tòa đại sứ Mĩ tại Sài Gòn. Quốc sách ấp chiến lược “là một mũi tên nhằm vào 3 mục tiêu nhưng địch xác định điều tối hậu của nó là làm sao cho mọi người dân trở thành thù địch của cộng sản”. “Quốc sách” mang tính toan diện với ảo tưởng giành dân, chiếm đất theo kiểu thực dân mới, không phải chiếm đất giành dân theo kiểu thực dân cũ đã lỗi thời; giành dân là “giành trái tim khối óc”… Cán bộ bình định cũng “ba cùng”, cũng giảng giải, lên lớp… hô hào “ấp chiến lược là thực hiện dân chủ pháp trị - dân tự quản, được hiến pháp bảo đảm, cộng đồng, đồng tiến, thực thi, xã hội công bằng, cải thiện dân sinh, tách cộng sản ra khỏi dân, xây dựng hạ tầng cơ sở Việt Nam Cộng hòa…”(2), nhưng rồi mọi việc lại diễn ra bằng súng đạn, xúc hốt thô bạo do cái gốc phản dân hại nước của “quốc sách”. Tuy nhiên, với quyết tâm và thủ đoạn bạo lực tập trung, bước đầu địch thu được những kết quả đáng kể. Cách mạng gặp khó khăn, lúng túng trước đòn phản kích mới của chúng sau Đồng Khởi.


(1) Năm 1960, cố vấn quân sự Mĩ ở miền Nam là 1077. Năm 1962 lên 10.906 tên, địch đã có 13 đại đội trực thăng, 5 đại đội máy bay trinh sát, oanh tạc, vận tải, 4 phi đội phản lực chiến đấu, tổng cộng 257 máy bay các loại, 45 thiết giáp. Năm 1963, số cố vấn Mĩ lên 16.300 tên.
(2) Trích trong tài liệu biên soạn của địch. Lưu trữ tại Phân viện lịch sử quân sự.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:36:14 PM
Tháng 9 năm 1962, Diệm rêu rao một phần tư trong số 113.00 ấp ở miền nam đã được tổ chức và sau đó địch còn đánh giá “Chương trình ấp chiến lược đã cho phép giành lại quyền chủ động từ tay cộng sản tại nông thôn và đạt tới tột đỉnh”(1).

Sau khi hình thành bộ máy kềm kẹp, địch bắt buộc tất cả các gia đình và cá nhân ntrong ấp chiến lược khai lí lịch, chụp hình và làm thẻ kiểm tra, trên cơ sở đó phân loại, phân biệt đối xử, khống chế những gia đình có liên quan đến kháng chiến, tiếp tục “đoàn ngũ hóa nhân dân” bằng các tổ chức phản động chủ yếu là “chi đoàn nhân dân”. Chúng bóp rồi lại xoa bằng cách nới lỏng một số luật lệ, “sinh hoạt văn hóa văn nghệ” ma thực chất là trụy lạc hóa lối sống, trước hết nhằm vào thanh niên nam nữ.

Trong thành phố, địch tổ chức tay chân lén lút đốt hàng loạt nhà ở các khu dân nghèo: Xóm Chiến, Khánh Hội, Bàn Cờ, Thị Nghè… rồi cho xây cất lại những khu nhà theo ý định của chúng vừa gọi là “ơn chánh phủ”, vừa kiểm soát được quần chúng lao động.

Sau Hội nghị mở rộng của Thường vụ Khu Ủy Sài Gòn - Gia Định (tháng 4 năm 1962), tháng 7 năm 1962 Khu ủy mở hội nghị chuyên đề về vấn đề chống phá ấp chiến lược. Hội nghị bàn bạc những việc quan trọng trong chỉ đạo: bám đất, bám dân, kết hợp ba mũi giáp công, kết họp trong ngoài để phá ấp chiến lược: xác định chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, giằng co, quyết liệt, liên tục. Về biện pháp, hội nghị chỉ rõ, phải dựa chắc vào dân bằng cách “mang nắp hầm bí mật vào trong ấp chiến lược”, ra sức tranh thủ, phân hóa dân vệ, tề, binh sĩ địch và các gia đình binh lính địch, cài nòng cốt ta vào lực lượng xuất kích nhân dân tự vệ; hết sức chú ý phát triển tự vệ ngầm, du kích mật, bằng mọi cách làm tê liệt tai mắt địch; tạo và giữ mối liên hệ trong ngoài ấp, phối hợp lực lượng chính trị quần chúng với lực lượng võ trang, phối hợp đấu tranh trong ấp với tấn côn quân sự ngoài vào, đẩy mạnh mũi vũ trang bằng hoạt động ba thứ quân, kết hợp khéo léo với chính trị và binh vận.

Giữa hai hội nghị trên, tháng 3 năm 1962 đơn vị bộ đội tập trung quân khu K17 được bổ sung, quân số lên trên 300 và biên chế thành đoàn Quyết Thắng(2), phương hướng xây dựng tuyền thống “đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Hơn 1 tháng sau, vào ngày 7 tháng 7 năm 1962 một bộ phận đoàn Quyết Thắng tiêu diệt 1 đại đội bảo an ở Rạch Mía (Củ Chi), thu 10 súng.

Thực hiện quyết tâm “mang nắp hầm bí mật vào tận ấp chiến lược”, các Đảng bộ, cấp ủy đều có kế hoạch phát triển thực lực cách mạng tại chỗ, kể cả lực lượng võ trang bí mật bên trong ấp chiến lược. Ở Tân Thạnh Tây (Củ Chi), chi ủy phân công 2 chi ủy viên và 1 du kích trang bị 3 súng về bám sát khu địch tập trung dân, 7 đêm liền các đồng chí bò vào sát bót địch, phục kích bắn tỉa. Địch buộc phải phân tán đi nằm rải rác bên ngoài. Lợi dụng cơ hội đó, các đồng chí đột nhập vào ấp chiến lược, móc nối với một cơ sở cũ của ta bị địch lùa vào ấp trước kia, hướng dẫn cách đào hầm bí mật. Đã có hầm, các đồng chí bám luôn trong ấp, tiếp tục móc nối với các cơ sở cũ khác, phát triển cơ sở mới, tổ chức tự vệ mật chỉ đạo mọi việc ngay tại chỗ. Thực tế việc chống phá ấp chiến lược đã diễn ra như điều đã dự đoán: giằng co, lâu dài, quyết liệt. Địch xây ta phá, địch lại xây… Quyết liệt nhất là ở các địa bàn xung yếu: Bình Mĩ, Xuân Thới Thượng, Tân Xuân, Thạnh Lộc, Tân Nhựt, Hiệp Phước, Phước Lộc, Tân Thạnh, Tân Kì Một, Tân Kì Hai, Tân Đồng Hiệp, Long Trường, Phú Hữu… Nhiều đêm, có lực lượng vũ trang đột nhập vào ấp, quần chúng nổi mõ khua thùng, bí mật chỉ bắt tề, điệp, ác ôn rồi hè nhau cắt rào kẽm gai, nhổ cọc sắt, đốt bãi chông, cuốc vỡ bờ đê…, sáng ra lại chủ động kéo đi giáp mặt đấu lí với địch. Chúng lại tung quân dồn đồng bào trở vô ấp, dựng lại hàng rào, đắp lại bờ đê. Ta lại tổ chức đột ấp, lực lượng tại chỗ lại nổi dậy phá ấp. Ở An Bình, Long Bình, Tam Bình, Long Trường, Long Phước (Thủ Đức), lực lượng du kích vào ấp, hàng nghìn đồng bào xé bỏ giấy kê khai gia đình, đốt giấy căn cước, rồi kéo lên quận “báo cáo” “Việt Cộng về cưỡng bức, các ông không giữ được an toàn cho ấp, chúng tôi phải trở về vườn cũ…”. Địch muốn thẳng tay đối phó bằng súng đạn, bằng còng trói, nhưng lí lẽ sắc bén, ứng phó linh hoạt của đồng bào đã làm cho chúng lúng túng, bất lực. Ở Củ Chi, nhân dân sống chết quyết không rời đất rời nhà của mình, điển hình như các ấp Xóm Trại, Giàn Bầu, Gò Nổi, Ba Sòng, Gò Trảng, Gò Bình, Bàng, Sa Nhỏ, Đồng Lớn… Ở Tân Thạnh Tây và nhiều nơi khác đồng bào nằm cản xe ủi đất của địch. Ông Hai Long ở ấp Đồng Lớn nhà bị địch đốt hơn chục lần vẫn không chịu vào ấp chiến lược Trung Hòa mà khoét một hầm sâu dưới gốc tre làm chỗ ở, cùng du kích sống chết tại chỗ. Hai ông lão ở Trung Lập nói với bọn lính đi cào nhà: “Ở đây làm đã không đủ ăn, vô ấp chiến lược lấy gì mà ăn? Nói thiệt với mấy chú, già này không đi đâu cả. Nếu mấy chú dỡ nhà thì xin nói trước… đứng trách chúng tôi!”. Bọn lính vẫn cứ leo lên dỡ, hai ông liền bật quẹt châm lửa. Chúng từ trên nóc vội vàng tuột xuống, chạy luôn. Đồng bào xã Bình Lợi (Bình Tây) tổ chức biểu tình lên dinh quận trưởng Đức Hòa (Hậu Nghĩa) đòi chấm dứt bắn phá bừa bãi, bắt bớ vô cớ. Địch lấy sơn viết lên áo, lên nón của đồng bào hai chữ “chống cộng”, đồng bào cởi áo, vứt nón rồi tràn vào dinh quận. Chúng buộc phải hứa chấn nhận yêu sách.

Ở ấp chiến lược Mũi Chùa (Củ Chi) du kích bên ngoài phối hợp với lực lượng vũ trang mật bên trong đánh tan đội dân vệ và một bộ phận bảo an, nhân dân nổi dậy phá ấp trở về quê cũ.

Đồng bào xã Vĩnh Lộc (Bình Tân), được chi bộ lãnh đạo tại chỗ, đấu tranh chống gom dân giằng co, quyết liệt, lúc ngấm ngầm rồi bùng nổ kéo dài suốt năm 1962 dẫn đến đổ máu; địch vẫn không làm sao dồn dân được, dù cái còn lại chỉ là những cái chòi, những cái hầm.

Trong đấu tranh giằng co, quyết liệt, du kích mật, tự vệ mật đã phát triển và có vai trò lớn trong diệt ác, phá kềm, một nội dung lớn trong đấu tranh “phá ruỗng ấp chiến lược”. Hầu hết các xã có tiểu đội tập trung. Phối hợp với địa phương, lực lượng tập trung quân khu có khả năng diệt đại đội địch.


(1) Hồi kí 30 năm CIA của W. Colby, cựu giám đốc tình báo Mĩ.
(2) Cuối năm 1961, quân khu đổi tên C13 thành C62 với hàm ý chuẩn bị cho nhiệm vụ quân sự năm 1962, sau đó để giữ bí mạt phiên hiệu, lấy bí danh là K17. Từ C13 đến đoàn K17 Quyết Thắng, đơn vị đã đánh 33 trận từ cấp tiểu đội đến cấp đại đội, diệt và làm bị thương 1564 tên địch, bắt sống 20 tên, vận động trên 1000 thanh niên tòng quân


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:37:24 PM
Tháng 9 năm 1962, du kích, bộ đội địa phương Củ Chi vũ trang tuyên truyền 7 lần, 3 lần tập kích đồn bót, 9 lần phục kích giao thông, hai lần đánh càn, diệt và làm bị thương 108 tên địch (cố vấn Mĩ), bắt sống 10 tên, phá 7 ấp chiến lược. Du kích Nhuận Đức bắt sống một tàu giặc chở hàng trên sông Sài Gòn.

Trong thế giằng co và địch đang cố lấn tới, những chủ trương và biện pháp đúng đắn của Khu ủy về xây dựng lực lượng và chống phá ấp chiến lược đã tạo được một bước chuyển cả về thế và lực ở vùng nông thôn Gia Định ngoại thành Sài Gòn. Cho đến khi địch tự cho là đã đạt kế hoạch bình định lập “ấp chiến lược” thì trên cục diện toàn miền Nam cũng như trên chiến trường, ven đô Sài Gòn đã xuất hiện những dấu hiệu chựng lại.

Ngày 20 tháng 11 năm 1962, Thường vụ Khu ủy có chỉ thị bổ sung về chống phá ấp chiến lược. Chỉ thị xác định đây là một cuộc đấu tranh toàn diện, phải kết hợp chặt chẽ các mũi đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế; kết hợp các hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp, công khai, nửa công khai, bí mật; kết hợp phong trào nông thôn và phong trào ở đô thị, phong trào ở vùng ta và phong trào vùng địch. Trong chỉ đạo phải nắm vững quan điểm vừa cấp bách vừa lâu dài, tính chất giằng co ác liệt, không được chủ quan nôn nóng, đánh địch từng bước, từng mặt, làm chủ từng phần, từng thời gian, đi đến làm thất bại hoàn toàn âm mưu của địch. Chống phá ấp chiến lược không thể tách rời nhiệm vụ đưa phong trào vùng yếu lên; yêu cầu chủ yếu là phá thế kềm kẹp của địch, phải đưa vào lực lượng võ trang chính trị quần chúng bên trong là cơ bản, lực lượng bên ngoài và bên trong phối hợp hỗ trợ nhau; chống và phá là hai mặt của một vấn đề có quan hệ khăng khít, càn quét và lập ấp chiến lược là hai âm mưu song song và khăng khít nhau của địch, vì vậy đánh càn và chống phá ấp chiến lược là hai mặt kết hợp hỗ trợ nhau; tấn công phải đi đôi với xây dựng, tấn công làm thất bại âm mưi địch đồng thời phát triển thực lực chính trị, quân sự của ta. Chỉ thị phân ra 3 loại ấp chiến lược để vận dụng biện pháp, nhiệm vụ, yêu cầu chống phá thích hợp: loại 1 gồm những ấp thuộc vùng địa bàn chiến lược của địch, loại 2 gồm những ấp thuộc vùng không phải địa bàn chiến lược của địch; loại 3 gồm các ấp ở sâu trong nông thôn đã phá thế kềm kẹp.

Thấm thoát kế hoạch Staley - Taylor 18 tháng đã hết hạn. Mặc dù thu được những kết quả đáng kể, nhưng trên toàn cục kế hoạch đó không đạt được trên cả hai mặt “bình định” và “tác chiến, vận dụng chiến thuật”. Trong khi đó thì năm 1963 tại xã Tân Phú huyện Cai Lậy tỉnh Mĩ Tho. Trong tài liệu “kế hoạch AN 16” năm 1963, địch thừa nhận “trận Ấp Bắc cùng các trận đánh lớn của cộng sản đã gây thiệt hại quan trọng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa về người và trực thăng, đã tạo được tiếng vang trên quốc tế và chứng tỏ cộng sản đang phát triển mạnh”. Trận Ấp Bắc không chỉ gây thiệt hại cho quân đội Sài Gòn về người, trực thăng, thiết giáp, điều quan trọng hơn là nó chứng minh khả năng các lực lượng võ trang giải phóng đánh bại ngay từ đầu chiến thuật tân kì của Mĩ “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Trận Ấp Bắc là dấu hiệu phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Trên từng khu vực, quyền chủ động chiến trường đã lần lần thuộc về các lực lượng cách mạng. Bộ chỉ huy MACV buộc phải bổ sung, kéo dài kế hoạch bình định miền Nam 18 tháng bằng một kế hoạch “tổng tấn công” giành thắng lợi quyết định trong năm 1963. Bộ Tổng tham mưu ngụy cụ thể hóa và bắt đầu thực hiện từ tháng 2 năm 1963. Mục tiêu của kế hoạch này là huy động mọi lực lượng và phương tiện của bộ máy chiến tranh trong đó gồm cả bộ máy kềm kẹp các cấp, mở hoạt động dài ngày, toàn diện nhằm “bình định” cho được nông thôn, “tiêu diệt toàn bộ tổ chức quân sự và chính trị của cộng sản, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa”. Trong toàn bộ kế hoạch thì biệt khu Sài Gòn được giành ưu tiên xây dựng các ấp chiến lược vành đai. Đúng là kế hoạch lớn, quyết tâm cao, xây dựng trên cơ sở nhận thức, đánh giá cao về khả năng của đối phương của chính MACV lúc đó: Cộng sản còn có thể tiếp tục mức độ chiến tranh như hiện nay bằng cách tiếp tục du kích chiến xen kẽ đánh tập trung, làm chậm trễ chương trình ấp chiến lược và xâm nhập thêm người và vũ khí để phát triển lực lượng, khai thác một cuộc chính biến (theo tài liệu kế hoạch “tổng tấn công” của MACV). Kế hoạch “tổng tấn công” được triển khai lại đụng ngay một cao trào “Thi đua Ấp Bắc” mà Trung ương Cục miền Nam vừa phát động. Thường vụ Khu ủy kêu gọi mọi địa phương, mọi đơn vị, mọi người học Ấp Bắc và ra quân với khí thế Ấp Bắc. Cho đến lúc này, trong hầu hết các ấp chiến lược ở nông thôn Gia Định đều có đảng viên, đoàn viên, lực lượng nòng cốt, hội viên giải phóng và lực lượng vũ trang mật của cách mạng.

Với cố gắng rất lớn, trong 3 tháng đầu năm 1963, địch có hạn chế sự phát triển thế và lực của đối phương trên chiến trường, có thu được một phần kết quả của chương trình bình định lập ấp chiến lược. Nhưng “bên ngoài chương trình bình định lập ấp chiến lược có vẻ tiến triển tốt” thì bên trong “có vài dấu hiện rạn nứt đáng ngại”(1).

Ở Tân Bình, Mĩ Diệm cho tên tình báo CIA Đinh Xuân Hảo đội lốt linh mục dẫn quân ngụy vào cướp đất của nhân dân tại chỗ để đem dân công giáo từ Cái Sắn, Hố Nai về chiếm ngụ tạo thành hàng rào thịt bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất. Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương, cuộc đấu tranh chống địch đuổi nhà chiếm đất thu hút cả đồng bào Lương, giáo, gia đình binh sĩ ngụy. Cứ ban ngày địch càn ủi, dựng nhà, ban đêm đồng bào lại phá đốt. Sự việc như vậy diễn ra đến hàng chục lần. Ở Tân Sơn Nhất, đồng bào chống trả, xô xát với hàng trăm binh lính, nhân viên ngụy quyền đến đuổi nhà. Cuộc biểu tình chống đuổi nhà ngày 4 tháng 1 năm 1963 (gần Tết âm lịch) tập trung hàng ngàn người gồm cả đồng bào di cư năm 1954, một số linh mục và gia đình binh sĩ ngụy. Những người bị đuổi nằm lăn ra đường, gào khóc, cản xe địch. Một cụ già di cư uất đến mất trí, dồn cả vợ con vô nhà châm lửa đốt và cầm dao xông vào đám giặc chém tới… Bước đầu địch không thực hiện được ý định.

Lực lượng du kích bên ngoài và du kích mật đều phát triển đến cuối tháng 4 năm 1962, riêng ở Bình Tân, Củ Chi, Thủ Đức, Gò Môn số du kích mật đã lên đến 575 người. Trung bình mỗi ấp có từ 1-2 tổ, cao nhất đến 6, 7 tổ. Lúc cao nhất ở ấp chiến lược Trung Hòa có 7 tổ, 20 người, ấp chiến lược Bàu Tre có 6 tổ 16 người. Mỗi tổ thường có 3 người, mỗi đội viên chỉ được biết tổ trưởng, trang bị gọn nhẹ. Khi có triệu chứng đội viên nào bị lộ thì lập tức đội viên đó được bố trí đưa ngay ra vùng căn cứ làm nhiệm vụ mới. Sự phối hợp trong ngoài tấn công địch hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược ngày càng phát triển. Năm 1963, ở Hóc Môn, du kích mật phối hợp lực lượng vũ trang bên ngoài tấn công địch hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá rã các ấp chiến lược Xuân Thới Đông, Xuân Thới Thượng. Đội quân tóc dài không chỉ là lực lượng đấu tranh chính trị mà còn là một bộ phận quan trọng của lực lượng võ trang bí mật tại chỗ. Năm 1963 huyện nào cũng có lực lượng nữ du kích. Tiểu đội du kích đầu tiên của Củ Chi lập năm 1963 do chị Nguyễn Thị Nhỡ chỉ huy, được giao nhiệm vụ hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Trẻ em cũng rất hăng hái đánh giặc. Ở Vĩnh Lộc (Bình Tân), Trung An (Củ Chi), mỗi xã có một đội du kích thiếu niên. Em Chàng để lựu đạn trong lon sữa bò treo ở cổ trâu giả làm chuông, bất ngờ “giật chuông” ném chết hai tên ác ôn. Em Thông thường giấu lựu đạn trong giỏ bắt cá, “ra quân” nhiều lần giết chết và làm bị thương hàng chục tên giặc. Em Trần Văn Châm với khẩu “côn” trừng trị tên ác ôn Chưng giữa ban ngày tại chợ Phước Vĩnh An…

Các lão ông, lão bà lực lượng hăng hái nhất trong các công việc vót chông, đào hầm, rào làng, đặt cạm bẫy, hậu cần tại chỗ…


(1) Nhận xét của Dave Richard Palmer trong cuốn Tiếng kèn gọi quân - NXB Thông tin lí luận Hà Nội, 1987 - tr. 55.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:37:57 PM
Theo đà chiến tranh nhân dân đang phát triển, các lõm du kích, tiếp tục hình thành và mở rộng trên địa bàn nhiều huyện căn cứ du kích áp sát đô thị như Vườn Thơm bà Vụ, Tam Tân (Bình Tân), Hiệp Phước (Nhà Bè), Bưng Sáu xã (Thủ Đức), Trung An, Tân Phú Trung (Củ Chi), Hố Bần (Quận 8), Rừng Sác (Quảng Xuyên)…

Ban quân báo (mật danh H2) của quân Sài Gòn - Gia Định (mật danh T4 bao gồm cả nội ngoại thành Sài Gòn - Gia Định) được xây dựng từ năm 1961 đang phát triển thành tổ chức nắm địch rất đắc lực song song với phát triển lực lượng chiến đấu. Đến giữa năm 1962 ở nội thành, các cánh và quân khu đã xây dựng được 40 tổ võ trang làm nguồn tổ chức và bổ sung cho các đội biệt động. Việc tăng cường kềm kẹp của địch không làm giảm được số lực lượng các cuộc đấu tranh của công nhân và lao động lẫn số người tham gia. Theo sơ kết của Bộ lao động Sài Gòn, so với năm 1961 các cuộc đấu tranh năm 1962 (324) đã tăng lên 37, số người tham gia tăng lên 20.802 (103.032 người năm 1961, 123.834 người năm 1962). Những trận đánh lẻ diệt cố vẫn Mĩ trên đường phố gia tăng theo đà gia tăng của cố vẫn Mĩ vào miền Nam, 9 tháng đầu năm 1962 có 25 cố vấn Mĩ bị giết và bị thương cả bằng lựu đạn, dao cạo, búa, miểng ve chai… Các nữ chiêu đãi viên, công nhân lái xe tắc xi, xích lô trừng trị Mĩ trong quán rượu, trên xe, trong rạp hát, ngoài đường. Một anh xích lô tự chế kim tẩm độc giết chết 4 cố vấn Mĩ. Địch phòng vệ ngày càng nghiêm ngặt, đánh Mĩ tại sào huyệt không dễ, nhưng quyết tâm của chiến sĩ ta rất cao. Trước trận tấn công nhằm diệt 4 cố vấn Mĩ ở khách sạn gần rạp Nguyễn Văn Hảo, một chiến sĩ biệt động 4 lần xuất trận về không, lần thứ 5 có cán bộ kèm mới thực hiện ý định. Từ đó, chiến sĩ ta ngày càng dạn dày. Chính người đội viên 4 lần ra quân hụt đã tham gia đáng thẳng vào một cơ quan quân sự Mĩ ở Sài Gòn, gây thối động lớn.

Ngày 24 tháng 5 năm 1962, tại Sài Gòn, Mĩ Diệm mở phiên tòa xét xử các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành và 9 đội viên quyết tử độ vũ trang Thành đoàn. Sau một thời gian tra tấn không khai thác được gì, địch dùng phiên tòa này để uy hiếp tinh thần của giới trí thức và kềm kẹp chặt hơn nữa đối với học sinh, sinh viên, vì vậy chúng mời rất nhiều hiệu trưởng, giáo sư các trường trung học, đại học Sài Gòn đến dự. Trước phiên tòa, đại tá Lê Văn Khoa, “ủy viên chính phủ” răn đe: “nếu các anh còn để học sinh, sinh viên hoạt động thì lần sau, tôi mời các anh đến đây không phải với tư cách nhân chứng!”. Các anh Lê Văn Thành, Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh đã biến phiên tòa thành diễn đàn vạch tội kẻ thù trước 15.000 quần chúng Sài Gòn - Gia Định đang có mặt. Địch tuyên án tử hình anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chính. Lập tức trên vành móng ngựa, 8 cánh tay giơ cao, vang lên tiếng hô “đả đảo luật phát xít của ngụy quyền miền Nam”, “đả đảo phát xít”, “đả đào đàn áp”. Bọn quân cảnh ập vào, đẩy các anh lên xe. Trên suốt các đường phố Sài Gòn mà xe đi qua, các anh hát vang bài ca “Giải phóng miền Nam”. Những người dự phiên tòa và nhân dân Sài Gòn vô cùng khâm phục những người thanh niên yêu nước.

Ngay sau đó, phong trào chống “Vụ án 24-5” phát triển mạnh và rộng. Suốt một tuần lễ, truyền đơn xuất hiện khắp các trường Phan Sào Nam, Nguyễn Văn Khuê, Hồng Lạc, Việt Nam học đường và nhất là ở trường Văn Lang, nơi anh Lê Hồng Tư đã học. 8.000 học sinh và đồng bào Tân An - Chợ Lớn biểu tình phản đối vụ án.

Trước khí thế mạnh mẽ của phong trào chống “Vụ án 24-5”, ngụy quyền phải giảm án tử hình cho các anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chính. Riêng với anh Lê Hồng Tư địch vẫn giữ nguyên án, nhưng không dám thi hành, sau đó chúng đày tất cả ra Côn Đảo.

Ngày 26 tháng 10 năm 1962 nhân dịp “quốc khánh” nền “đệ nhất cộng hòa”, địch tổ chức một cuộc hội chợ, triển lãm “thành tích của quân lực Việt Nam Cộng hòa” trước tòa đô chính Sài Gòn. 3 chiến sĩ biệt động đội 139, trong đó có 1 nữ cải trang thực hiện trận đánh lựu đạn xuất sắc ngay tại hội chợ. Tên thiếu tá ác ôn Phan Bội Ngọc đang thuyết trình chết tại chỗ, hai tên ngụy khác bị thương nặng, trong đó có trưởng phòng mật vụ. Địch dẹp luôn cuộc triển lãm ngay ngày hôm ấy.

Cuối tháng 12 năm 1962 đầu năm 1963 là những ngày cao điểm của những đợt đánh lẻ diệt Mĩ của biệt động ở nội thành; nổi bật có các trận diệt 6 cố vấn Mĩ ở bến Bạch Đằng, trận tấn công bằng lựu đạn diệt 6 cố vấn Mĩ ở gần viện Ung thư và Ngã tư Bảy Hiền, trận diệt 10 cố vấn Mĩ ở biệt thự góc đường Trương Tấn Bửu - Ngô Đình Khôi, trận diệt 7 cố vấn Mĩ ở biệt thự góc đường Võ Tánh - Thoại Ngọc Hầu… Mỗi trận ra quân chỉ một vài chiến sĩ nhưng luôn luôn gây bất ngờ và căng thẳng đối với cố vấn Mĩ ở Sài Gòn.

Một chiến sĩ của đội biệt động 65 làm công nhân trong sân bay Tân Sơn Nhất bí mật đặt chất nổ vào 9 trong 10 bồn xăng (bồn thứ 10 anh không đặt vì nghĩ đến sinh mạng của số công nhân ngủ cạnh đó), thiêu hủy gần nửa triệt lít xăng.

Tháng 2 năm 1963 quân ta đánh vào trại lính Mĩ ở số 31 đường Cao Thắng. Xung quanh trại có tường cao bao bọc, một chiến sĩ đội 65 bí mật trèo lên một lầu cao kế cận, từ đó ném lựu đạn vào. Lựu đạn rơi trúng cụm 5 sĩ quan Mĩ đang ngồi trò chuyện, không tên nào sống sót. Nghe tiếng nổ, chị chủ nhà vừa bước ra đã thấy một người từ trên lầu cao leo ống dẫn nước tụt xuống… Thế là đã rõ, chị chỉ mìm cười rồi một tay chỉ về hướng ngõ phía sau, một tay thọc vào túi lấy 50 đồng đưa cho người chiến sĩ thầm bảo: mau mau ra thuê xe mà thoát khỏi khu vực này. Không có hành động “tự nhiên mà nhập cuộc” như vậy của bất kì người dân bình thường nào, chiến sĩ ta sẽ rất khó thoát khỏi vòng vây của địch sau tiếng nổ.

Cho đến lúc này, tác chiến của biệt động vẫn còn ở hình thức “ăn lẻ” chủ yếu bằng lựu đạn, nhưng đó là cơ sở để nâng lên những trận đánh bằng chất nổ với khối lượng tập trung.

Bước chuyển đó cũng phải trả bao nhiêu lần “đi có về không”. Lần thứ nhất diễn ra ở quán Bamboo - nơi tụ tập ăn uống của giặc Mĩ gần sân bay Tây Sơn Nhất, do thiết kế khối nổ không đạt yêu cầu kĩ thuật. Lần thứ hai diễn ra ở một nơi tập trung nhiều cố vấn quân sự Mĩ trong bộ chỉ huy của viên tướng Harkins. Người lái xe cho một sĩ quan cao cấp trong bộ chỉ huy này - cơ sở của ta - có nhiệm vụ được giao đã lái chiếc xe có thiết bị hàng chục kí thuốc nổ vào đậu giữa tầng dưới của cư xá, chen giữa những chiếc xe khác. Sau khi bóp ngồi nổ hẹn giờ, anh ra ngoài “tìm chỗ ăn tối”. Nhưng “giờ G” đã lặng lẽ trôi qua! Lại một lần nữa lỗi do thiết bị. sĩ quan Mĩ chết hụt nhưng ta cũng rút được bài học.

Vượt qua những cuộc kiểm tra, lùng sục và hệ thống ngăn chặn gủa địch giữa trong và ngoài, các chiến sĩ biệt động đặc công vẫn bám chặt trận địa đường phố, bám chặt vùng ven, dựa chắc vào trong dân. Các lớp tập huấn bí mật mang tên “Rừng xanh”, “Rừng già”… năm bảy ngày, sáu đến mười người, liên tiếp được mở, có lớp ở ngay trong nhà dân. Cán bộ, chiến sĩ từ nội thành ra vùng ven bàn bạc công việc trong vài giờ, một buổi, một ngày rồi trở vô. Nhiều mẹ, nhiều chị, nhiều em gái ở nông thôn, ở nội thành được huấn luyện tại vùng ven để trở thành những chiến sĩ giao liên, được gọi là những “tên lửa” với nhiệm vụ “phóng” vào, “xẹt” ra. Chỉ thị, mệnh lệnh, thư từ, báo cáo, vũ khí và người theo đó qua mạng lưới công an, mật thám và các trạm gác của địch từ ngoài vào, trong ra.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:38:40 PM
Trong điều kiện địch quyết tâm theo dõi, ngăn chặn, giữ được thế liên hoàn trong ngoài thành làm một cuộc chiến đấu rát dũng cảm, gian khổ, mạo hiểm của các chiến sĩ liên lạc, trinh sát. Nhằm đảm bảo sự chỉ đạo kịp thời và phát triển thực lực cách mạng nôi đô, một hệ thống giao liên vận chuyển công khai và mạng giao bưu vận du kích (sau chuyển thành quân bưu) được thiết lập rất công phu và thông minh sáng tạo.

Tháng 3 năm 1963, ta bố trí cho một nữ trinh sát thường xuyên ra vào thăm “người yêu” là đồng chí Mười Luân (Tư Bảng), cơ sở nội tuyến đội 65 trong vai nhân viên của bộ phận điều khiển phi hành trong sân bay Tân Sơn Nhất để nắm tình hình và tiếp cận mục tiêu. Sau khi nắm chắc được quy luật địch, ngày 29 tháng 3 năm 1963, nữ đồng chí này khéo léo ngụy trang, đã đem được cho đồng chí Mười Luân một trái mìn hẹn giờ. Hai người với cái túi du lịch đựng trái mìn, sóng đôi đến khu vực cố vấn Mĩ đang ngồi trong phòng đợi, chuẩn bị lên chiếc máy bay Honolulu đi San Francisco, bí mật đánh tráo một chiếc túi du lịch. Chiếc túi du lịch “đặc biệt” đã theo đoàn cố vấn Mĩ khoảng 100 tên lên chiếc máy bay Boeing. Theo chỉ số đồng hồ đã được điểm hỏa, mìn sẽ nổ khi chiếc máy bay đang băng trên biển, và như vậy địch sẽ coi đó là một tai nạn để những trận đánh tương tự sẽ còn tiếp diễn. Tiếc thay, máy bay đã xuống sân bay San Francisco, hai phút sau mìn mới nổ. Theo tin phương Tây: máy bay cháy, 2 tên Mĩ chết, một số bị thương, phần đông các sĩ quan đã rời khỏi máy bay nên thoát chết. Sau này ta mới biết nguyên nhân của sự trục trặc là vì ta không tính đến việc áp suất hạ thấp ở trên cao, do không khí loãng, đồng hồ tạm “chết” cho đến lúc máy bay xuống thấp. Mặc dù vậy, sau trận đánh này, biệt động Sài Gòn được ca ngợi là chẳng những đánh Mĩ trên quê hương mình mà còn “truy kích” chúng xuống tận sào huyệt.

Ngày 25 tháng 4 năm 1963, lúc 10 giờ sáng, 4 chiến sĩ biệt dộng 159 (có 1 nữ) trong các vai sĩ quan ngụy, gái làng chơi và chủ bán bánh mì tiến công một cơ quan quân sự Mĩ ở cuối đường Trần Hưng Đạo. Từ hai hướng, 2 quả mìn định hướng “thổi” vào mục tiêu, diệt một số sĩ quan cao cấp Mĩ. Trận này, lần đầu tiên ta cho xuất trận những đội viên được huấn luyện công phu gọi là những “chim cắt” từ vùng ven vào kết hợp với cơ sở bên trong. Trận đánh dấu một bước phát triển mới của tác chiến biệt động, mở ra khả năng đánh những trận thối động trong đô thị bằng những tổ biệt động có trình độ kĩ thuật cao.

Hoạt động võ trang nội đô phát triển, làm cho quần chúng phấn khởi, tự tin; lực lượng đấu tranh chính trị tăng. Đặc biệt là lực lượng biệt động, tự vệ võ trang phát triển từ nguồn thanh niên tại chỗ.

Chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày càng lung lay trước phong trào cách mạng, thêm vào đó là cuộc đấu đá tranh ăn giữa các đầu sỏ tay sai bột phát mạnh từ cuộc đảo chính hụt năm 1961 đến cuộc ném bom “dinh tổng thống” của một nhóm sĩ quan ngụy. Trước nguy cơ sụp đổ không thể tránh khỏi, chế độ Diệm lại tự thúc đẩy nguy cơ đó thành hiện thực nhanh hơn qua chính sách đối lập với Phật giáo. Từ năm 1959, đã có phát triển chống Diệm, chống Mĩ trong Phật giáo. Sau khi củng cố được địa vị, Diệm càng tỏ ra thù địch với Phật giáo qua việc cho tay chân phá phách chùa chiền, bắt bớ tăng ni Phật tử, vu cáo Phật giáo “tiếp tay cho cộng sản” để chuẩn bị đặt Phật giáo ra ngoài vòng pháp luật như đã làm đối với Cộng sản, trong khi Thiên chúa giáo lại được đưa lên hàng quốc đạo. Mâu thuẫn giữa Phật giáo và Mĩ Diệm xuất phát từ mâu thuẫn dân tộc vì đa số nhân dân ta theo đạo Phật. Tuy nhiên, Phật tử ở Sài Gòn chưa có dịp thể hiện được sức mạnh của mình bởi một số người lãnh đạo ở Viện hóa đạo có phần nào trông chờ sự thay đổi chính sách của người Mĩ. Một đám lửa đang âm ỉ, chỉ chờ có dịp là bùng cháy. Ngày 6 tháng 5 năm 1963, trước lễ Phật đản 2 ngày, Diệm đã làm một việc đổ dầu vào đám lửa đỏ: “tổng thống” Diệm điện khẩn cấp ra Huế bắt hạ cờ Phật giáo và cấm treo cờ Phật giáo trên toàn miền Nam trong ngày Phật đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 với lí do “quá sát với kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ của Cộng sản!”.

Ngày 8 tháng 5 năm 1963, ngụy quyền tại Thừa Thiên lại cho cảnh sát nổ súng vào các tín đồ Phật giáo đang tập trung ở khu vực đài phát thanh Huế, làm 8 người chết, 14 người bị thương. Thế là “trận lửa Phật giáo” đã bùng cháy, bắt đầu từ Huế, nhanh chóng lan vào Sài Gòn và nhiều đô thị, nông thôn khác ở miền Nam.

Ngày 13 tháng 5 năm 1963, một phái đoàn Phật giáo gồm tăng ni, tu sĩ cao cấp kéo đến dinh Gia Long, giáp mặt Diệm, yêu cầu rút bỏ lệnh cấm treo cờ Phật. Ngày 21 tháng 5 năm 1963, tại chùa Ấn Quang, các vị thượng tọa tổ chức lễ cầu siêu cho những Phật tử bỏ mình ở Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963. Sau đó gần 1.000 tăng ni rước linh cữu từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi và lần lượt tới các chùa khác trong thành phố. Ngày 26 tháng 5 năm 1963 Tổng hội Phật giáo đề xuất 5 yêu cầu và tỏ thái độ nếu Diệm không chấp nhận thì những người lãnh đạo Phật giáo cùng toàn thể tăng ni sẽ tuyệt thực 48 giờ, bắt đầu từ 14 giờ ngày 30 tháng 5 năm 1963. Năm yêu cầu đó là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; thừa nhận đạo Phật; Phật giáo và các tín đồ Phật giáo có địa vị như Thiên chúa giáo; cho phép các tín đồ Phật giáo được tự do truyền giáo; phải bồi thường cho nạn nhân và các gia đình của họ trong cuộc khủng bố ở Huế ngày 8 tháng 5; trừng trị các quan chức chịu trách nhiệm việc xảy ra ngày 8 tháng 5.

Diệm - Nhu từ chối tất cả.

Ngày 30 tháng 5 năm 1963 hàng nghìn sư sãi ở Sài Gòn tuyệt thực.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:39:55 PM
Trong phong trào Phật giáo, nhất là trong số đứng đầu vẫn có người trông chờ sự ủng hộ của Mĩ nhưng Đảng ta nhận thức đây là cơ hội để lồng sự lãnh đạo của mình nhằm hướng dẫn quần chúng chĩa mũi nhọn đấu tranh vào mặt trận chống Mĩ Diệm. Tuy nhiên, vì ta không gây được ảnh hưởng ở Viện hóa đạo nên trong lúc cuộc đấu tranh của quần chúng đang phát triển, không khoan nhượng với ngụy quyền thì những người đứng đầu Phật giáo đi vào thương lượng với thái độ rụt rè, do dự. Nắm bắt được chỗ yếu đó, Diệm lệnh cho cảnh sát thẳng tay đàn áp. Một lần nữa Diệm lại đổ thêm dầu vào đám lửa đang cháy! Ngày 10 tháng 6 năm 1963 xảy ra vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức ở ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng (nay là Cách mạng Tháng Tám - Nguyễn Đình Chiểu) làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Phong trào đấu tranh của Phật giáo tiến lên một cao điểm mới. Vụ tự thiêu có chuẩn bị của cả một tập thể lớn tăng ni, Phật tử, nên sự vụ bao gồm cả một buổi lễ cầu siêu trước ở chùa Xá Lợi, một cuộc biểu tình của khoảng 1.000 tăng ni, sư sãi đưa Hòa thượng Thích Quảng Đức đến nơi châm lửa và một lễ tang lớn được cử hành ngay tại chỗ có nội dung tố cáo chế độ Diệm.

Bức ảnh Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa lập tức xuất hiện trên trang nhất của nhiều tờ báo Sài Gòn và thế giới. Sự kiện này dã là một bản án nghiêm khắc đối với chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm; nhưng cái chết vô cùng thảm thương của thượng tọa Thích Quảng Đức - cùng với những lời tụng kinh ảo não, những tiếng rên rỉ của các nhà sư và ni cô trong lễ tang lại làm cho Trần Lệ Xuân hoan hỉ, một kiểu phản ứng làm cho sự bùng nổ phong trào Phật giáo chống Diệm thêm trầm trọng.

Trong mùa hè và mùa thu năm 1963, có đến 6 tín đồ Phật giáo nữa tự thiêu theo gương Thích Quảng Đức.

Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, ủng hộ phong trào Phật giáo chống Mĩ Diệm. Nhân ngày hỏa táng Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 16 tháng 6 năm 1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng có lời kêu gọi và động viên, cổ vũ 700.000 nhân dân Sài Gòn xuống đường biểu tình. Cảm sát Diệm lại đàn áp. Đồng bào dùng gậy gộc, gạch đá đánh trả. Cả thành phố náo động.

Trước tình hình chính trị đang phát triển có lợi, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương các cơ sở của ta ở Sài Gòn lãnh đạo quần chúng “tấp vô”(1) để hướng phong trào theo những khẩu hiệu cách mạng, đồng thời qua đó mà giác ngộ quần chúng, xác lập và mở rộng vai trò lãnh đạo của Đảng trong phong trào đấu tranh chính trị nội đô. Ủy ban thanh niên - sinh viên - học sinh chống chế độ độc tài phát xít và Ủy ban chỉ đạo học sinh liên trường công tư Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Ta đã chi phối và nắm được ủy ban chỉ đạo học sinh liên trường. Hàng vạn học sinh các trường Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Văn Lang, Văn Hiến, Petrus Kí, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Nguyễn Khuyến, Trường Sơn… đã bãi khóa và cùng với công nhân lao động, Phật tử các giới xuống đường.

Hưởng ứng chủ trương của Khu ủy, đông đảo công nhân, lao động, học sinh, sinh viên, phụ nữ… dưới danh nghĩa “Phật tử” đã “nhập cuộc” với những khẩu hiệu tích cực. Ngày 20 tháng 8 năm 1963, ngụy quyền buộc phải tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn miền Nam để lập lại an ninh, trật tự. Quân đội ngụy được lệnh cấm trại. Ngay sau đó, ở Sài Gòn, từ 1 giờ sáng ngày 21 tháng 8 năm 1963, những chiếc xe quân sự chở đầy cảnh sát, mật vụ và binh lính của lực lượng đặc biệt, lồng lộn tiến về những trung tâm lớn của phong trào Phật giáo như chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang, Viện hóa đạo, xông vào chùa, Viện sục sạo, bắt tất cả những nhà sư, Phật tử dồn lên những chiếc xe bịt bùng chở đi trong đêm tối. Những người chống lại bị đàn áp thẳng tay, hàng chục người bị thương. Ở chùa Ấn Quang có trên 400 tăng ni bị bắt đưa về Rạch Cát giam giữ trong một trại hẻo lánh ở ngoại ô Chợ Lớn. Cùng lúc, những cuộc bắt bớ như vậy diễn ra ở Huế, Đà Nẵng và nhiều thành phố khác, trên toàn miền Nam, trên 1.400 sư sãi và Phật tử bị bắt, trong đó có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đứng đầu Ủy ban liên phái Phật giáo miền Nam.

Mất người đứng đầu, phong trào Phật giáo tạm lắng. Song các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân khác vẫn tiếp diễn.

Ngày 24 tháng 8 năm 1963, học sinh, sinh viên phối hợp với công nhân và lao động thành phố tổ chức đình công, bãi khóa. Nhiều cuộc mít tinh biểu tình đã nổ ra ở bến tàu, đường Hai Bà Trưng, vườn Bách thú, trước Nha giám đốc tiểu học, trường Petrus Kí, công trường Diên Hồng. Diệm lại xua quân đàn áp. Hàng ngàn Phật tử, học sinh, sinh viên lại bị bắt. Khoảng 200 người bị thương.

Ngày 25 tháng 8 năm 1963 đông đảo đồng bào lao động và 500 sinh viên học sinh biểu tình trước chợ Bến Thành.

Sinh viên học sinh với truyền đơn, biểu ngữ giấu sẵn, từng người một trà trộn vào nhà hàng, chợ. Đúng giờ đã hẹn, họ tràn ra đường, trương biểu ngữ lên tiến về phía nhà quốc hội ngụy. Đi đầu là tốp nữ sinh áo trắng, cảnh sát dã chiến dàn quân, phát loa yêu cầu giải tán. Đoàn biểu tình vẫn cứ tiến. Nữ sinh trường Trường Sơn, Quách Thị Trang, 15 tuổi, vừa hô “đả đảo đàn áp” thì bị trúng đạn cảnh sát, gục tại chỗ. Nhiều người khác bị thương. Quần chúng tổ chức ngay một đáng tang khổng lồ, biến thành một cuộc biểu tình thị uy. Suốt từ 25 đến 28 tháng 8 năm 1963 ngụy quyền bắt giam trên 4.000 người. Tưởng nhớ Quách Thị Trang, anh chị em học sinh sinh viên tạc tượng và dựng tại quảng trường chợ Bến Thành, nơi cô đã hô vang lời hô đả đảo và trút hơi thở cuối cùng. Ngày 7 tháng 9 năm 1963 nữ sinh Gia Long đánh nhau với cảnh sát dã chiến bằng bàn, ghế, dép, lọ mực… trong cuộc xuống đường của 4.000 học sinh. Trong hàng triệu lượt người đấu tranh từ tháng 5 đến giữa tháng 9 năm 1963 có đến 6 vạn lượt sư sãi, Phật tử, học sinh, sinh viên. Sự chỉ đạo “tấp vô” phong trào Phật giáo đã đưa phong trào đấu tranh chính trị nói chung lên một cao trào thực sự. Thái độ “cứng đầu” của Diệm trước sức ép hạn chế gia đình trị độc tài do Mĩ đạo diễn, những lục đục trong nội bộ tay sai, bất ổn về chính trị ở Sài Gòn đã đẩy Mĩ đến xu hướng thay Diệm, bộc lộ từ tháng 6 năm 1963 khi đại sứ Mĩ Nolting bị cách chức, Cabot Lodge sang thay. Cao trào đấu tranh Phật giáo và đấu tranh chính trị hè - thu năm 1963 càng thôi thúc Mĩ phải hành động sớm việc này.


(1) Chữ dùng trong bản dự thảo kiểm định sự lãnh đạo của Thành ủy từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:40:29 PM
Bên cạnh tác động chính trị, cao trào đấu tranh chính trị nội thành mùa hè - thu năm 1963 buộc địch tập trung lực lượng về quanh Sài Gòn, tạo thuận lợi cho phong trào chống phá ấp chiến lược ở vùng nông thôn sâu. Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị nội đô đang phát triển, Khu ủy chỉ đạo đẩy mạnh tấn công vũ trang tại sào huyệt kẻ thù lên nhanh, trúng đối tượng hơn nữa, diệt nhiều ác ôn, mật vụ, nhiều sinh lực cao cấp Mĩ ngụy.

Ngày 21 tháng 9 năm 1963, một tổ 3 chiến sĩ đội biệt động 65 tấn công rạp chiếu bóng Kinh Đô trên đường Lê Văn Duyệt, nơi giành riêng cho binh lính, sĩ quan Mĩ đến xem. Tuy mìn có bị hạn chế về uy lực sát thương, đến giờ sắp đánh ta lại phải lách trái nổ khổ chỗ đã chọn (để tránh thương vong cho một số dân bất ngờ chọn điểm đặt mìn của ta làm nơi tụ tập giải trí), nhưng số thương vong của Mĩ vẫn cao (31 tên chết và bị thương). Trận đánh gây tác động lớn về tâm lí.

Trong lúc phải đương đầu với phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị diễn ra ngày càng quyết liệt, thì trên chiến trường, cuộc “tổng tiến công giành thắng lợi quyết định trong năm 1963” của địch ngày càng lộ rõ chiều hướng thất bại. Với thế và lực mới sau Ấp Bắc, nhất là sau mùa hè, quân dân miền Nam tích cực phản công đẩy lùi địch trên từng khu vực. Tại chiến trường nông thôn Gia Định, nơi địch ưu tiên dồn sức để lập các “ấp chiến lược vành đai”, việc khoanh gom của chúng khó khăn hơn nhiều so với thời kì cuối năm 1961 đầu năm 1962; trên nhiều chỗ chúng không thực hiện được.

Trước sức chống trả của đồng bào, thủ đoạn chủ yếu của địch vẫn là đàn áp, khủng bố. Ở Tân Bình, chúng bắt bớ, hành hạ tất cả những ai bị nghi là có quan hệ với cộng sản. Có chị có mang bị đánh đập đến chết. Chúng lập các ấp chiến lược ở Tân Thạnh, Tân Kì 1, Tân Kì 2, dồn dân xã Tân Sơn Nhì phía Tây Nam sân bay Tây Sơn Nhất vào các ấp này. Được chi bộ xã tại chỗ lãnh đạo, đồng bào liên tục đấu tranh, cuối cùng phần lớn nhân dân vẫn ở bên ngoài ấp, cán bộ, đảng viên vẫn bám được tại chỗ.

Ở Vĩnh Lộc, địch dùng lựu đạn, lưỡi lê bức dân vào 6 ấp chiến lược. Nhưng ngay từ những ngày đầu mới vào ấp, đồng bào đã chống đào hào, chống đắp bờ đê, chống rào kẽm gai, chống vót chông. Cuối cùng, mọi việc phải dùng sức lính ngụy, nhưng ban ngày chúng làm, ban đêm dân phá. Sáu ấp chiến lược ở đây chưa bao giờ hoàn chỉnh.

Cuộc đấu tranh chống phá ấp chiến lược của nhân dân diễn ra thật nhiều cách, nhiều vẻ, tùy cơ ứng biến: không chấp nhận các tổ chức của địch lập ra, không nhận vũ khí của địch hoặc nhận để chờ dịp “gậy ông đập lưng ông”, nhận để bứt bỏ hoặc theo luôn khi lực lượng cách mạng xuất hiện; đòi ra ấp từng giờ, từng buổi để về đất cũ sản xuất, rồi cất chòi ở ban ngày dần dần ở lại luôn trên vườn đất cũ; đào hầm nuôi chứa cán bộ, du kích, làm trinh sát mật… Ở vùng du kích, các ấp xã chiến đấu gấp rút hình thành. Đồng bào Củ Chi nạo vét, sửa chữa khôi phục địa đạo cũ, đào thêm địa đạo mới, phát triển rất mạnh hầm chông, cạm bẫy, hàng rào, hào giao thông. Chỉ trong 1 năm từ cuối năm 1961 đến cuối năm 1963, các ấp chiến lược ở Bình Tân, Gò Vấp, Hóc Môn đã làm 4.887 hầm chông, 3.515 hố đinh, 43 ụ chiến đấu… nhân dân Củ Chi đào được 6500 mét hào chiến đấu và trên 3.000 mét địa đạo. Thời gian đó ở Bình Tân, Gò Vấp, Hóc Môn, 44 tên địch đã chết và 170 tên bị thương vì bị sụp hầm chông. Riêng ở Củ Chi, 3 tháng đầu năm 1963 đã có 88 tên sụp hầm chông, hố đinh. Điều rất quan trọng là hầm chông hố đinh, cạm bẫy ai cũng làm được và gây ra tác động lớn về tâm lí và cả hiệu quả thực tế: địch rất sợ những cái bất ngờ, khủng khiếp đó, không dám lùng sục, thậm chí buộc phải đi theo hành lang mà hàng rào quy định, tức nhân dân quy định! Trên thế trận làng xã chiến đấu, du kích có thể phản kích, tấn công lực lượng địch đông hơn hẳn.

Du kích xã Phước Vĩnh An liên tục bao vây tấn công uy hiếp 1 tiểu đoàn địch vừa đến đóng, buộc tiểu đoàn này rút đi. Du kích xã Phú Hòa Đông chặn đánh và buộc một đại đội địch bỏ dở cuộc càn vào ấp Phú Nhuận… Tháng 6 năm 1963, một tiểu đoàn địch và một đội bình định vào xã Trung Lập để cào nhà gom dân. Du kích tiếp tục đánh. Nhân dân giáp mặt địch đấu lí, giải thích, phân hóa chủ lực và cán bộ bình định. Cuối cùng, chúng bị loại gần cả trăm tên mà không gom được, tiểu đoàn rút lui, đoàn bình định rã đám. Du kích Phước Hiệp được đồng bào trong ấp chiến lược giúp đỡ, cải trang làm lính “biệt động quân”, bất ngờ tấn công hai trung đội lính bảo an vừa mới tới định cào nhà, gom dân. Thừa cơ, đồng bào trong ấp Phước Hiệp nổi dậy phá rào, phá bờ thành, hè nhau khiêng nhà về đất cũ. Cũng vào lúc này, địch mở cuộc càn lớn vào xã Trung Lập, Nhuận Đức. Quân dân Củ Chi đánh trả suốt 19 ngày đêm. Địch buộc phải rút lui.

Ngày 15 tháng 9 năm 1963, địch càn vào An Nhơn Tây (Củ Chi), tại hai ấp Xóm Mới và Bàu Đưng, 9 du kích ấp chặn đứng đại đội địch, loại khỏi vòng chiến 17 tên.

Hơn 1 tháng sau, ngày 20 tháng 10 năm 1963, địch lại tập trung 5000 quân, có xe bọc thép M113, tàu xuồng chiến đấu và máy bay yểm trợ, mở cuộc càn quét lớn vào An Nhơn Tây với ý định chiếm đất, gom dân. Du kích bám đánh chúng ngay từ đầu, sau 12 ngày đêm chiến đấu, giết và làm bị thương 71 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, thu nhiều súng. Ta hi sinh 5, bị thương 8. Chia lửa An Nhơn Tây, nhiều xã thuộc Củ Chi dồn dập tấn công địch: Tân Thông Hội diệt đồn Tiền và đồn Hậu. Tân An Hội diệt đồn Bàu Tre, Tân Thạnh Tây vây đồn buộc 13 tên địch ra hàng: Phước Vĩnh An, Thái Mĩ, Tân Phú Trung, thị trấn Củ Chi… loại khỏi vòng chiến trên trăm tên địch.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Tư, 2012, 04:41:40 PM
Ngày 27 tháng 8 năm 1963, Trung ương Cục có chỉ thị tiếp về đẩy mạnh chống phá ấp chiến lược, gom dân. Nhìn lại có một năm trên toàn Nam Bộ, tuy chưa đạt yêu cầu đề ra(1) nhưng ta đã làm cho địch không thực hiện được ý đồ mà chúng đã dự định. Phần lớn các khu, ấp chiến lược không ổn định, địch chưa dựng được bộ máy kềm kẹp hoặc dựng lên có hình thức mà chưa khống chế được quần chúng như chúng mong muốn. Nhưng điều ta đạt được lớn nhất là đã củng cố, xây dựng, phát triển được cơ sở và đưa phong trào đấu tranh của quần chúng bên trong lên (tuy chưa mạnh) bằng mọi hình thức ở phần lớn các khu, ấp chiến lược; nhiều cơ sở của ta bị địch đánh bật lúc đầu, nay trở lại bám được ngay trong lòng các khu, ấp chiến lược; qua quá trình chống phá, quần chúng đã có được nhiều kinh nghiệm đấu tranh và ta rút được nhiều kinh nghiệm chỉ đạo.

Tuy nhiên, trong lúc địch quyết tâm tập trung toàn lực đến độ coi là việc sống còn, thì đối phó của ta lại chưa thật tập trung, chưa tương xứng nhiều mặt nên trong hơn 1 năm địch đã thu được kết quả khá lớn: làm được 5.000 khu ấp chiến lược, khoanh gom 6.000.000 dân ở khắp 3 vùng, trong tổng số dự tính của chúng là 8.000 khu, ấp chiến lược của Nam Bộ. Thực tế chúng có giành được dân, lấn được đất, vơ vét được tài lực, vật lực, nhân lực… Phong trào chống phá ấp chiến lược của ta chưa đều, chưa mạnh, chỉ đạt đến mức giằng co. Do đó chỉ hạn chế hoặc làm cho địch không ổn định, không kềm kẹp chặt được quần chúng, chớ chưa chặn đứng được địch. Trên thế chung, địch còn đang lấn tới tuy không mạnh như trước.

Địch đã xây dựng được khu, ấp chiến lược trên một diện rộng, đồng thời cũng bộc lộ sơ hở phía sau lưng chúng. Một số nơi ta đã bước đầu chống phá có hiệu quả, bước đầu làm cho địch bị động, lúng túng và khả năng này đang đã phát triển.

Từ đánh giá như trên, Trung ương Cục đề ra nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong cả giai đoạn dài sắp tới là: “Quyết tâm đánh bại âm mưu lập khu, ấp chiến lược, nội dung chủ yếu của kế hoạch bình định của địch”. Để thực hiện nhiệm vụ ấy, Trung ương Cục chỉ rõ: “Ra sức đẩy mạnh đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, đặc biệt là đẩy mạnh phong trào nhân dân chiến tranh, ra sức chống càn quét, chống phá khu ấp chiến lược, tiêu hao tiêu diệt, làm tan rã sinh lực địch, đi đôi với khẩn trương xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng chính trị, vũ trang bên ngoài cũng như bên trong khu, ấp chiến lược; tập trung và kết hợp chặt chẽ mọi lực lượng, mọi mặt công tác nhằm tấn công địch để chặn đứng, đẩy lùi, làm thất bại từng bước, tiến lên làm thất bại hoàn toàn âm mưu xây dựng khu, ấp chiến lược, gom dân của chúng”.

Chỉ thị nhắc lại những quan điểm của “chỉ thị về chống phá ấp chiến lược” của Trung ương Cục ngày 20 tháng 1 năm 1962, đồng thời có bổ sung nhiều kinh nghiệm cụ thể trong chỉ đạo.

9 năm cầm quyền, chế độ độc tài gia đình trị của Diệm đã bộc lộ những chỗ yếu nghiêm trọng: nhân dân các đô thị càng bị đàn áp càng sôi sục đấu tranh, nội bộ chúng tranh ăn chống đối nhau mạnh mẽ nhưng Diệm khăng khăng không chịu chia sớt quyền hành cho các tay sai khác theo lệnh Mĩ. Trong khi đó, phong trào chiến tranh nhân dân của ta ngày càng phát triển ở nông thôn, vùng du kích và cả vùng sát Sài Gòn. Phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân đô thị sôi sục. Tình hình đó thôi thúc Mĩ dứt khoát “thay ngựa giữa dòng”, đưa bọn tướng tá đối lập lên. Đứng đầu phe đảo chính là Dương Văn Minh, dưới là những tên ác ôn vừa mới thẳng tay đàn áp Phật giáo, sinh viên, học sinh và nhân dân Sài Gòn như tướng Tôn Thất Đính. Đại sứ Mĩ Cablot Lodge giữ vai trò chủ mưu, nhưng giấu mặt.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Diệm Nhu bị giết. Một hội đồng quân nhân do Dương Văn Minh làm chủ tịch lên thay đầu não ngụy quyền.

Mặc dù có lệnh giới nghiêm, đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn thừa cơ đảo chánh xuống đường. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, mấy chục vạn dân họp thành 20 đoàn biểu tình cuồn cuộn diễu qua các phố hô khẩu hiệu chống chế độ độc tài phát xít quân phiệt các loại, đòi dự do dân chủ, chống đế quốc Mĩ xâm lược, đòi thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc dân chủ. Quần chúng xông vào các nhà giam thả tù chính trị, phá nhiều bót, lùng bắt tay chân chế độ Diêm. Sinh viên học sinh biểu tình phản đối nhóm quân nhân đảo chính đã thả và dùng các tên Nguyễn Văn Y (giám đốc trại cải huấn), Trần Văn Tư (giám đốc cảnh sát đô thành), Bùi Văn Lương (Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Dần dần, cả những người ảo tưởng về một chế độ “dễ thở” sau Diệm cũng hiểu ra, một chế độ độc tài phát xít tay sai Mĩ đã bị lật đổ không có nghĩa là một cuộc cách mạng đã được thực hiện. Diệm đổ cũng không có nghĩa một thời kì ổn định của chế độ tay sai đã bắt đầu. Trái lại, cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 lại mở màn một thời kì khủng hoảng mới của chế độ tai sai Mĩ với những cuộc đảo chính liên miên, đảo chính nhiều hơn bất kì lúc nào trước đây. Trong cuốn Nước Mĩ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon, Mr. A. Pulo nhận định: “Sau 9 năm tập trung một cách mù quáng vào việc duy trì Diệm nắm quyền hành, việc thay đổi bất ngờ này đã bộc lộ sự nghèo nàn và bất lực trong chính sách của Mĩ”.

Ở nông thôn, quanh Sài Gòn, sau khi Diệm bị giết chết, khoảng 167 ấp bị phá hoặc mất hiệu lực. Số ấp còn lại xây dựng dở dang, kém hiệu lực, ta làm chủ ban đêm. Thắng lợi ở nông thôn kích thích phong trào đô thị duy trì và phát triển.

Tuy nhiên so với phong trào đô thị trước và sau đảo chính Diệm, lãnh đạo của ta chưa theo kịp yêu cầu. Báo cáo cuối năm 1963 của Trung ương Cục nhận định: “Các phong trào quần chúng trong các đô thị phần nhiều là do quần chúng tự động, chứ sự lãnh đạo của Đảng ta còn ít, nhất là phong trào của quần chúng cơ bản, phong trào của công nhân và nhân dân lao động chưa làm nòng cốt được cho phong trào chung nên phong trào đô thị chưa có cơ sở vững chắc, tuy rằng hiện nay cơ sở Đảng tại Sài Gòn tiếp tục giữ được và có củng cố, nâng lên”.


(1) Trên toàn Nam Bộ, ta đã phá được cả hình thức và phá nội dung kềm kẹp từ 1 đến 40 lần ở 2.500 trên tổng số 5.000 khu, ấp chiến lược mà địch đã làm được, còn trên hàng ngàn khu, ấp chưa phá được hình thức lần nào, nhưng ta đã phá được nội dung ở nhiều mức độ khác nhau; phá dứt điểm và địch chưa làm lại được trên 30 khu, ấp; trên 50 ngàn dân bị gom đã bung ra về đất cũ làm ăn (Hình thức kềm kẹp: bộ máy, tổ chức kềm kẹp; nội dung kềm kẹp: quy định, cách thức kềm kẹp).


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:13:31 PM
II. PHÁT TRIỂN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG VÀ NGOÀI ĐÔ THỊ,
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MĨ


Kế hoạch “tấn công giành thắng lợi quyết định” trong năm 1963 của địch thất bại. Sau việc thay tay sai tháng 11 năm 1963, tháng 12 năm 1963 Nhà trắng chuẩn bị thay tướng, qua việc cử sang miền Nam Việt Nam đại tướng William C. Westmoreland - người được báo chí Mĩ ca tụng là “một vị chỉ huy lỗi lạc, tự tin, có tri thức quân sự, có kinh nghiệm chiến đấu, có tác phong xông xáo…”. Trước mắt Westmoreland làm phó cho Harkins và sau đó (tháng 6 năm 1964) thay luôn Harkins làm tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mĩ ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 3 năm 1964 MacNamara, Bộ trưởng quốc phòng Mĩ - người được mệnh danh là “có bộ óc điện tử”, cùng đại tướng Maxell Taylor - người mà dư luận báo chí Mĩ đánh giá là “một nhà chiến lược tầm cỡ quốc tế, thông minh, sắc sảo, có tầm nhìn xa trông rộng, có quan điểm táo bạo, độc đáo”, sang kiểm tra tình hình Nam Việt Nam, chủ trương “bình định có trọng tâm” nhằm vào các tỉnh vành đai quanh Sài Gòn và các tỉnh Tây Nam Bộ. Đây là bước lùi sau bước lùi lớn hơn là kí hiệp định ngừng bắn ở Lào (tháng 7 năm 1962) để tập trung nỗ lực vào chiến trường Nam Việt Nam, đẩy chiến tranh đặc biệt lên đỉnh cao giành thắng lợi quyết định trong 2 năm tới, gọi là “kế hoạch Johnson(1) - MacNamara nhằm tiếp nối và bổ sung cho kế hoạch Staley - Taylor.

Kế hoạch 2 năm này được thực hiện bằng những hành động leo thang chiến tranh: khẩn trương phát triển quân ngụy(2), tiếp tục đưa lực lượng yểm trợ Mĩ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam(3), mở chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc để cứu vãn tình thế ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 12 năm 1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương vạch ra nhiệm vụ trước mắt cho cách mạng miền Nam là: “… ra sức phấn đấu xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang (nhất là lực lượng vũ trang)… tiến lên đánh tiêu diệt và làm tan rã từng bộ phận quân đội địch, phá phần lớn các ấp chiến lược, làm chủ rừng núi và phần lớn xã, thôn vùng đồng bằng, tạo điều kiện cho phong trào quần chúng ở đô thị nổi dậy mạnh mẽ, đẩy chế độ Mĩ và tay sai đến chỗ khủng hoảng sâu sắc hơn và mau suy sụp hơn, giành được thế chủ động về chiến lược, tạo ra thời cơ tốt để giành những thắng lợi quyết định về ta”.

Trung ương Cục ra chỉ thị quán triệt Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 9, xác định nhiệm vụ năm 1964, quyết tâm tạo điều kiện cần thiết để sang năm sau có thể mở ra cục diện to lớn của phong trào, tiến lên giành thắng lợi quyết định.

Thường vụ Trung ương Cục ra chỉ thị ngày 18 tháng 3 năm 1964 về đẩy mạnh tấn công địch sau khi Diệm bị lật đổ. Chỉ thị vạch rõ kế hoạch mới của địch là tiếp tục kế hoạch Staley - Taylor trong tình hình ta mạnh lên và địch suy yếu hơn, là một bước thụt lùi trong thế bị động chiến lược, nhưng cần thấy hết tính chất quỷ quyệt và quyết tâm cao của chúng nhằm phản kích phong trào cách mạng miền Nam; trong thế bị động về chiến lược địch đang cố giành chủ động về chiến thuật, giành chủ động trên một số chiến trường, trên một số địa bàn trọng điểm hòng ngăn chặn sự tan rã, giữ vững chân đứng, tạo thế chờ bầu cử tổng thống Mĩ mới có quyết định dứt khoát… Nhiệm vụ trước mắt của ta là chủ động đẩy mạnh tấn công chính trị, quân sự, binh vận đều khắp trên cả ba vùng, đặc biệt tập trung sức chống bình định, chống càn quét, chống lập ấp chiến lược, tiêu hao tiêu diệt thật nhiều địch, chống chính sách lợi dụng giáo phái của địch, kiên quyết giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn về quân sự, chính trị, làm cho địch thất bại hoàn toàn trong âm mưu mới. Trong chỉ đạo, cần nắm vững phương châm dốc toàn lực, tấn công mạnh mẽ, liên tục, dồn địch vào thế bị động, tan rã, phát huy cao độ khí thế quần chúng, mở rộng thế làm chủ của ta đồng thời ra sức xây dựng, tăng cường thực lực ta mọi mặt… kết hợp chặt chẽ tấn công - xây dựng, củng cố - phát triển.

Chỉ thị xác định phong trào đô thị đóng vai trò rất quan trọng trong việc quần chúng chống lai các âm mưu của địch, cần đẩy mạnh các hoạt động ở đô thị, đưa quần chúng đấu tranh mạnh mẽ, liên tục, dưới mọi hình thức thích hợp, gây cho địch lúng túng, bị động ngay trong lòng của chúng, nội dung các khẩu hiệu đấu tranh của quần chúng ở đô thị là chống đế quốc Mĩ xâm lược, đòi hòa bình, độc lập, trung lập, chống đàn áp, khủng bố, đòi dân sinh dân chủ.

Đánh giá cao tầm quan trọng của phong trào đô thị, Trung ương Cục điều động nhiều đảng viên, cán bộ hoạt động hợp pháp từ các nơi về tăng cường cho các tổ chức chính trị ở Sài Gòn.

Chấp hành Nghị quyết của Trung ương và Trung ương Cục, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương: tích cực xây dựng 3 thứ quân cả về số lượng và chất lượng, chú trọng chất lượng; phát triển phong trào du kích chiến tranh, đẩy mạnh tác chiến tiêu hao, tiêu diệt từng đơn vị nhỏ của địch, đối tượng là lực lượng kềm kẹp xã ấp phường khóm và lực lượng bảo an dân vệ; phối hợp các hoạt động giữa nông thôn và đô thị, thực hiện kềm địch để diệt địch; kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tạo thành sức mạnh tổng hợp tiến công địch liên tục, đều khắp; phá thế kềm kẹp của địch ở các ấp chiến lược, bung dân về vườn đất cũ sản xuất; phát triển thực lực cách mạng, đồng thời ra sức chuẩn bị mọi mặt một cách khẩn trương, chu đáo, sẵn sàng đáp ứng khi có thời cơ.

Khu ủy được tăng cường nhiều cán bộ, kể cả cán bộ vừa thoát khỏi nhà tù sau ngày 1 tháng 11 năm 1963, tăng cường cho các ấp, các giới, các ngành trong nội thành, cho các đội biệt động và các lực lượng vũ trang nội đô.

Sài Gòn sau cuộc lật đổ Diệm, nổi lên phong trào đấu tranh của công nhân ngành Dệt, đặc biệt ở hai xưởng Vimytex và Vinatexco.

Chủ hai xưởng này là người Đài Loan, kĩ sư, nhân viên kĩ thuật và công nhân phần lớn là người Hoa. Dưới thời Mĩ ngụy, mỗi xưởng dệt này cũng như mỗi xí nghiệp nhà máy ở Sài Gòn, thực chất chẳng khác nào một ấp chiến lược. Chủ tư sản cài mật vụ vào tất cả các bộ phận để khống chế công nhân, đặc biệt ngăn chặn ảnh hưởng cách mạng vào công nhân. Người công nhân bị kềm kẹp bởi những luật lệ hà khắc. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Hoa vận, công nhân ở hai xưởng trên đã nhiều lần đấu tranh đòi dân sinh dân chủ. Đầu tháng 1 năm 1964 công nhân hãng Vinatexco đưa yêu sách cho chủ xưởng đòi tăng lương 30%, đòi cải thiện đời sống và điều kiện làm việc. Chủ phớt lờ, ngày 14 tháng 1 năm 1964, 2.000 nam nữ công nhân đình công, chiếm xưởng. Sáng ngày 17 tháng 1 năm 1964 chính quyền Sài Gòn đưa hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ cùng hàng trăm cảnh sát do hai tên Mĩ chỉ huy đến đàn áp, giết chết một số người, làm bị thương trên 200 người khác, bắt một số đại diện công nhân. Hành động này của ngụy quyền gây làn sóng căm phẫn trong công nhân và lao động thành phố. Hơn 20 nghiệp đoàn cùng trên 2 vạn công nhân ngành dệt, 7.000 công nhân khuân vác bến tàu, 6.000 công nhân đường sắt, 2.000 công nhân lái xe ôtô buýt, tắcxi và hàng vạn công nhân cao su Tây Ninh, Thủ Dầu Một họp mít tinh, biểu tình ra kiến nghị, quyên góp tiền bạc ủng hộ công nhân Vinatexco. Dưới áp lực đấu tranh của công nhân và dư luận, địch buộc phải trả tự do cho những người bị bắt và cuối cùng, chủ xưởng buộc phải chấp nhận phần lớn yêu sách của công nhân.


(1) Johnson, phó tổng thống Mĩ lên làm tổng thống thay Kennedy bị ám sát ngày 22 tháng 11 năm 1963.
(2) Quân chủ lực ngụy từ 200.000 tên năm 1962 lên 245.000 tên cuối năm 1964, bảo an, dân vệ ừ 150.000 tên năm 1962 phát triển lên 262.000 tên cuối năm 1964.
(3) Từ 163.00 cố vấn, lực lượng yểm trợ Mĩ năm 1963 lên 26.000 tên cuối năm 1964. Cuối năm 1964, Mĩ đưa vào miền Nam 955 máy bay (gấp 3 lần số máy bay ngụy) đảm nhiệm chủ yếu về chi viện hỏa lực và cơ động trong các cuộc hành quân ngụy.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:14:38 PM
Ngày 30 tháng 1 năm 1964, sau khi Diệm đổ 3 tháng, trung tướng ngụy quyền Nguyễn Khánh lại đảo chính lật đổ Dương Văn Minh, mở đầu “thời kì thay đổi chính phủ hằng tháng”.

Cuộc “phản đảo chính” này bắt nguồn từ việc Mĩ không tin ở sự trung thành của tướng Dương Văn Minh là người do Pháp đào tạo và có phần không ưa Mĩ, mặt khác Mĩ chọn Khánh với ý định để y sẽ áp dụng những biện pháp cứng rắn, quyết liệt hơn trong chống phá cách mạng. Một “hội đồng quân sự cách mạng lật đổ” đã thay thế cho “hội đồng quân nhân cách mạng” do Minh làm chủ tịch, Khánh trở thành một nhà độc tài mới giữ hàng loạt chức: chủ tịch hội đồng quân sự, tổng tư lệnh quân đội, tổng tham mưu trưởng kiêm thủ tướng chính phủ. Phó thủ tướng thứ nhất của Khánh là bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, nhân vật cầm đầu Đại Việt - một tổ chức chính trị gồm những quan lại, viên chức cao cấp cũ của Pháp và một số trí thức, trong đó có nhiều người thân Mĩ. Vừa mới nhậm chức, Hoàn đã hò hét: “Việc quan trọng trước mắt là tiến hành chiến tranh chống Cộng sản vì thế giới tự do!”. Ngày 1 tháng 2 năm 1964 Khánh kí ngay sắc luật 093-LS-CT đặt Cộng sản và thuyết trung lập ra ngoài vòng pháp luật. Tiếp sau đó kí lệnh bắt giam hơn 100 sĩ quan, cách chức, giáng chức một loạt tỉnh trưởng, quận trưởng và gần 1.000 viên chức cao cấp tay chân của Minh. Xe tăng diễu võ dương oai trên đường phố. Thái độ hung hăng của tên độc tài mới khơi sâu thêm thời kì khủng hoảng của ngụy quyền sau Diệm. Khánh chưa yên chỗ, làn sóng đòi vãn hồi hòa bình, đòi thực hiện trung lập, đòi không để ngoại bang thống trị đã lan từ Sài Gòn ra khắp các đô thị miền Nam. Ngày 5 tháng 2 năm 1964 xảy ra vụ lính Mĩ giết hại anh lái xe tắcxi Nguyễn Văn Bảy và hai công nhân lái xe tắcxi khác. Lập tức 12.000 công nhân ngành tắcxi và xích lô máy ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định biểu tình tuần hành trên nhiều đường phố hô khẩu hiệu: “Đả đảo Nguyễn Khánh”, “đả đảo bọn Mĩ xâm lược”. Công nhân tổ chức tuần lễ “tẩy chay Mĩ”, đòi “trừng trị những tên giết người”, đón đánh lính Mĩ trên đường phố, công nhân tắcxi từ chối chở Mĩ. Cuộc đấu tranh lan rộng ra các tầng lớp nhân dân lao động khác, đặc biệt là giới xích lô đạp. Một số tiệm treo biển “không tiếp người Mĩ”.

Bế tắc trong “con đường hầm không lối thoát”(1) trước mắt là tình hình chính trị Sài Gòn ngày một tồi tệ, đại sứ Mĩ Cabot Logde xin từ chức. Maxwell Taylor được cử sang thay. Nhưng “nhà chiến lược số 1 của nước Mĩ” này không có cách nào để dập tắt dịch đảo chính do chính Mĩ khơi ngòi.

Taylor sang Sài Gòn trong lúc cuộc đấu tranh dai dẳng của công nhân hãng dệt Vinatexco chống chủ đuổi 151 công nhân (bắt đầu từ ngày 17 tháng 4 năm 1964) đang diễn ra quyết liệt. Ngày 10 tháng 5 năm 1964 ngụy quyền cho bảo an và lính dù do phó tỉnh trưởng Gia Định chỉ huy đến đàn áp. Hơn 100 công nhân bị thương và bị bắt. Cuộc đấu tranh vẫn tiếp diễn đến tháng 7 năm 1964, được các nghiệp đoàn công nhân, Nha công chính, cảng, Tavixio, ximăng tuyên bố ủng hộ. Công nhân ôtô buýt, công nhân cao su cũng gởi tiền ủng hộ công nhân Vimytex.

Ngày 16 tháng 7 năm 1964 Khánh ra sắc luật 18-1964 cấm biểu tình, đình công, hội họp. Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương phát động ngay một cuộc tổng đình công vào ngày 21 tháng 7 năm 1964 để chống sắc luật 18-1964 và ủng hộ công nhân Vimytex. Ngay hôm đó, 20 vạn công nhân các ngành dệt, điện, nước, xăng dầu, xích lô, tắcxi, xe buýt… của Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đều nghỉ việc và xuống đường tuần hành bất chấp lệnh thiết quân luật của ngụy quyền. Đoàn biểu tình trương các khẩu hiệu đòi tự do dân chủ, đòi hủy bỏ sắc luật 18-1964, đòi tự do nghiệp đoàn, đòi Mĩ cút về nước cùng các khẩu hiệu ủng hộ công nhân Vimytex và Vinatexcô từ trụ sở tổng liên đoàn lao động ở số 14 Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng Tám), tiến qua nhiều đường phố lớn, kéo về phủ thủ tướng của Khánh và Bộ kinh tế ngụy. 30.000 công nhân có mặt trước dinh Nguyễn Khánh, sáu vạn công nhân cao su các đồn điền xung quanh thành phố cũng đình công và tuyên bố và sẵn sàng tiến về Sài Gòn ủng hộ những người anh em cùng giai cấp. Cuộc tổng đình công đã làm cho cả Sài Gòn tê liệt. Suốt ngày hôm ấy, thành phố không điện, không nước, giao thông ngừng trệ, nhiều nhà hàng đóng cửa. Có những đường dây liên lạc giữa Sài Gòn và nước ngoài bị gián đoạn. Trước tình hình nghiêm trọng đó, Nguyễn Khánh buộc phải công bố cho tự do hội họp, hứa sẽ giải quyết các yêu sách của công nhân Vimytiex như trả tự do cho các cán bộ nghiệp đoàn bị bắt, trừng trị phó tỉnh trưởng Gia Định, thu hồi vô điều kiện số công nhân Vimytex bị thải, có báo trước 12 ngày.

Tháng 8 1964 cuộc đấu tranh chống sa thải công nhân Vimytex chưa dứt, Sài Gòn lại sôi động vụ “Hiến chương Vũng Tàu”.

Để tránh sự chống đối có thể xảy ra, hội đồng quân sự của Khánh kéo nhau xuống họp ở Vũng Tàu; ngày 16 tháng 8 kí cái gọi là “Hiến chương Vũng Tàu” âm mưu mở đường cho Mĩ can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Nhưng khi Khánh vừa công bố “hiến chương” kèm “trưng cầu dân ý” việc y làm quốc trường thì ngay hôm sau, ngày 18 tháng 8 năm 1964 các cuộc biểu tình đã nổ ra không chỉ ở Sài Gòn mà ở hầu khắp đô thị lớn miền Nam. Từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 8 năm 1964, thanh niên, học sinh, sinh viên tổ chức hội thảo tại số 4 Duy Tân đòi xé bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Mĩ không được xen vào công việc nội bộ của người Việt Nam. Cuộc hội thảo ngày 22 tháng 8 có mặt đến 4.000 người. Tiếp đó là cuộc xuống đường, phát động tuần lễ đấu tranh chống “Hiến chương Vũng Tàu”. Thanh niên, học sinh, sinh viên cùng đồng bào kéo đến Bộ thông tin đập phá Đài phát thanh Sài Gòn…

Sáng ngày 25 tháng 8 dưới trời mưa tầm tã, trong lúc cả ngàn học sinh, sinh viên tập trung trước chợ Bến Thành tưởng niệm Quách Thị Trang năm ngoái bị cảnh sát Diệm giết, 30.000 học sinh, sinh viên khác tập hợp trước dinh Nguyễn Khánh ở đường Thống Nhất, hô đả đảo Nguyễn Khánh, đòi Khánh ra giáp mặt. Khánh đi xe ra. Quần chúng bao vây xe, đòi y xuống xe và phải tự mình hứa chấp nhận y sách của nhân dân… phải tự hô “đả đảo độc tài quân phiệt”. Khánh răm rắp hô theo, quần chúng mới cho đi! Nhưng học sinh, sinh viên không chịu giải tán, tiếp tục ngồi trước dinh Khánh, từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều để chờ “chính phủ” trả lời chính thức. Người tràn ngập vỉa hè, đường phố, công viên đến tận Sở thú. Đồng bào lao động ở các chợ Bến Thành, Cầu Muối, cầu Ông Lãnh mang thức ăn, nước uống đến tiếp tế cho lực lượng đấu tranh. 14 giờ, phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh và quốc vụ khanh Nghiêm Xuân Hồng ra trước quần chúng, đọc bản tuyên cáo của “hội đồng quân sự”, đồng ý thủ tiêu “Hiến chương Vũng Tàu”, rút chức “quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa” do Nguyễn Khánh tự phong và chấp nhận nhiều yêu sách của quần chúng. Quần chúng đắc thắng, tuần hành luôn trên các đường phố trung tâm Sài Gòn. Hãng thông tấn Mĩ UPI cho rằng đây là một sự đầu hàng hoàn toàn của Khánh trước yêu sách của sinh viên và Phật tử li khai.


(1) Lời Kennedy về chiến tranh Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:15:59 PM
Tháng 9 năm 1964, hai lần Khánh bị đảo chính hụt, Mĩ lúng túng vì đã chọn lầm tay sai, nhưng chưa có cách xoay sở, buộc phải tiếp tục dùng Khánh, nhưng buộc vào bộ ba Minh - Khánh - Khiêm gọi là “tam đầu chế” để xoa dịu sự phẫn nộ của quần chúng… Tuy vậy, “ba người cai trị cũng không hơn gì một người”. Những nhượng bộ của Khánh và “tam đầu chế” không làm cho Sài Gòn yên ổn, trái lại “tình hình Sài Gòn hết sức hỗn loạn…” (hãng tin Anh Reuter).

Ngày 4 tháng 11 năm 1964, Khánh bị loại chức “quốc trưởng” để Phan Khắc Sửu lên thay làm “quốc trưởng”, Trần Văn Hương làm “thủ tướng” cho có vẻ dân sự. Nhưng “nhà giáo” Hương vừa nhận chức đã gào thét “đưa chính trị ra khỏi học đường”. “Chính phủ dân sự” lộ mặt tay sai đắc lực của Mĩ lại đứng trước làn sóng phản kháng quyết liệt mới. Hàng vạn học sinh các trường Gia Long, Petrus Kí, Văn Lang, Cao Thắng, Đại Đức, Hưng Đạo, Bồ Đề, Phan Sào Nam, Hồng Lạc, Lê Quý Đôn bãi khóa, chiếm trường, dùng gậy gộc gạch đá đánh trả bọn cảnh sát đến đàn áp. Công nhân và đồng bào lao động ở các khu chợ Bến Thành, Cầu Muối, Bàn Cờ, Ngã Bảy, Lí Thái Tổ lăn ống cống ra đường làm chướng ngại vật cản trở bọn đi đàn áp. Ngày 25 tháng 11 năm 1964, thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn thành công hội thảo đòi lật đổ Trần Văn Hương, đòi Mĩ không được can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Sau đó anh chị em kéo đi vận động học sinh các trường Nguyễn Thượng Hiền, Âu Lạc, Nguyễn Công Trứ cùng tham gia. Đến trường Gia Long, đoàn vận động bị địch bao vây. Tin truyền lan nhanh. Hàng ngàn học sinh ở các Bồ Đề, Hồng Lạc, Cao Thắng, Tân Văn, Văn Lang và thanh niên các khu vực Bàn Cờ, Ngã Bảy… kịp thời kéo đến giải vây. Anh chị em lại kéo về tập trung ở Viện hóa đạo. Không giải tán nổi, địch điều thêm lực lượng đàn áp bằng dùi cui, lựu đạn, hơi cay. Các toán xuất kích của thanh niên, học sinh, sinh viên ngoan cường chống trả. Địch xả súng bắn chết em Lê Văn Ngọc. Tối ngày 26 tháng 11 Ban cán sự Đoàn chủ trương phát động đợt căm thù sâu rộng. Lễ tang em Ngọc được tổ chức ngay trong khuôn viên Viện hóa đạo. Bất chấp vòng rào cảnh sát, mật vụ, công an dầy đặc, trong 2 ngày liền, hàng vạn đồng bào các giới, các trường học, nghiệp đoàn, công nhân, nhân sĩ, trí thức đến dự lễ viếng. Sáng ngày 29 tháng 11 năm 1964 đám tang em Ngọc biến thành cuộc xuống đường của hàng chục vạn học sinh, sinh viên và đồng bào thành phố lên án hành động sát nhân của Mĩ ngụy và đòi lật đổ Trần Văn Hương. “Nội các” Trần Văn Hương lại thêm một hành động tự sát: ra lệnh đàn áp. Em Loan, nữ sinh Gia Long bị bắn chết, nhiều người bị bắt trong ngày đưa tang, sau đó thêm 20 học sinh, sinh viên, thanh niên bị bắt.

Một lần nữa, nhân dân Sài Gòn lật đổ một “nội các” tay sai Mĩ, Trần Văn Hương buộc phải rời ghế. Phan Huy Quát lên thay, đụng ngay sự đối lập của Phật giáo, sinh viên. Phật tử biểu tình, sư sãi lại tuyệt thực để phản đối “nội các” mới. Mĩ không thể tìm được một bộ mặt nào sạch sẽ, có sức thuyết phục hơn.

Phối hợp với các phong trào của công nhân lao động, thanh niên, học sinh, sinh viên, cánh Hoa vận đẩy mạnh võ trang tuyên truyền ở các xóm lao động Lò Gạch, Lò Gốm, Lò Siêu, chợ Thiếc, các rạp Đô Thành, Đại Quang Minh, các xí nghiệp, nhà máy, trường học, ngay trên những chuyến xe buýt chở công nhân. Anh chị em Hoa vận rải truyền đơn, căng biểu ngữ, treo cờ Mặt trận, cổ động đồng bào đứng lên chống ngụy đuổi Mĩ.

Hoạt động vũ trang nội thành tiếp tục đà tăng của năm 1963, hình thành mũi tấn công hỗ trợ đấu tranh chính trị nhằm vào sinh lực cao cấp và phương tiện chiến tranh quan trọng của địch.

Trận đầu của năm 1964 diễn ra lúc 11 giờ trưa ngày 9 tháng 1 tại nhà hàng Bamboo ở khu vực Lăng Cha Cả gần sân bay Tân Sơn Nhất. Trên “trận địa” năm trước, với 1 quả mìn lõm 4kg đặt trong 1 giỏ cần xé buộc sau xe gắn máy dựng sát nhà hàng, chiến sĩ Đúng đội biệt động 67 giết chết và làm bị thương 15 Mĩ.

Vài ngày sau, cũng trên quãng đường này, một chiến sĩ khác ném lựu đạn trúng 1 xe Mĩ, diệt 5 tên.

Ngày 24 tháng 1 năm 1964, hội nghị quân sự đô thành lần thứ 2 khai mạc, có mặt đông đủ cán bộ các đội biệt động thực thuộc quân khu. Hội nghị đánh giá hoạt động võ trang nội thành năm 1963, xác định phương hướng, nhiệm vụ năm 1964, phân công khu vực hoạt động… Các cán bộ quân sự đô thị đều hạ quyết tâm cao trước khi ra về.

Vừa tròn nửa tháng sau, biệt động thực hiện một trận đánh xuất sắc tại sân dã cầu Tân Sơn Nhất. Sân này nằm kế bên sân bay, ở đường Ngô Đình Khôi - Võ Tánh, xung quanh có tường cao 2m, có hệ thống đèn chiếu sáng phục vụ cho các buổi chơi ban đêm của sĩ quan Mĩ. Sát sân dã cầu, bên ngoài tường có một nghĩa trang, ban ngày có nhiều người vào viếng mộ, tối đóng cửa, có người gác. Đó là nơi mà 2 chiến sĩ biệt động 67 khéo lợi dụng, cải trang xâm nhập chôn quả mìn hẹn giờ dưới khán đài chính. 20 giờ ngày 9 tháng 2 năm 1964, đúng vào lúc sân chơi rộp rịp sĩ quan Mĩ, mìn nổ, nhiều sĩ quan Mĩ có cả đại tá, trung tá, thiếu tá… chết và bị thương.

Một tuần sau, ngày 16 tháng 2 năm 1964, đúng mồng 4 Tết âm lịch, một chiếc xe của đội 159 lao trên đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách mạng Tháng Tám), tiếp cận rạp chiếu bóng Kinh Đô giành riêng cho quân Mĩ. Đồng chí Tám Bền rút súng ngắn hạ ngay những quân cảnh đang gác cửa. Đồng chí Mười Bông ôm khối thuốc nổ lao vào rạp, giật nụ xòe, nhanh chóng trở ra đóng ập cánh cửa sắt lại. Mìn nổ, sĩ quan, cố vấn Mĩ chết, bị thương nhiều hơn tất cả các trận trước ở Sài Gòn(1). Nghe tiếng nổ lớn, đồng bào ùn lại làm nghẽn lối thoát của cá chiến sĩ biệt động. Các đồng chí hô lớn: “Chúng tôi là giải phóng đánh Mĩ!”. Đồng bào liền giạt ra hai bên đường. Các chiến sĩ vừa chạy qua, dòng người đã khép kín, cảnh sát đến chỉ thấy người chen người!

Ở cảng Sài Gòn, sau nhiều thời gian theo dõi, chiều ngày 30 tháng 4 năm 1964 được cơ sở báo cáo có chiến hạm Mĩ U.S.A Card trọng tải 16.000 tấn chở nhiều máy bay và hàng quân sự vừa cập bến, đội biệt động 65 quyết định “chớp ngay thời cơ có một không hai”, không được chậm trễ. Ngay đêm 1 tháng 5 năm 1964, hai đội viên biệt động Lâm Sơn Náo và Nguyễn Phi Hùng ra trận cùng với 2 khối 80kg thuốc nổ mạnh có gắn kíp hẹn giờ. Hai anh bơi xuồng dọc theo rạch Kinh Tẻ, băng qua sông Sài Gòn, cập bờ Thủ Thiêm quan sát, từ đó đâm xuồng sang đường cống ngầm dưới cầu cảng… Thuốc nổ được áp vào mạn tàu, họ lại theo đường cống ngầm trở ra… Máy bay địch trên tàu chưa kịp đưa lên bờ. Mìn nổ lúc gần rạng sáng 2 tháng 5 năm 1964. Chiếc tàu Card bị nhận chìm kéo theo 21 máy bay lên thẳng HU-1A, 2 máy bay trinh sát L19 và 1 máy bay khu trục cánh quạt AD6, 55 tên Mĩ chết và bị thương. Do lỗ thủng quá rộng (1 chiều 1,5m, 1 chiều 1,2m) nên sau khi trục lên, chiếc tàu chỉ được vá víu sơ bộ để cố kéo về cảng Subic (Philippin) sửa chữa. Đây là một trong những chiến công đánh Mĩ xuất sắc nhất của biệt động Sài Gòn. Nhà văn, nhà sử học Pháp Charles Fourniau viết: “… Đó là một trong những chiến hạm lớn nhất của Mĩ hồi Chiến tranh thế giới thứ hai, trọng tải 15.000 tấn, nay dùng để chuyển dụng cụ chiến tranh sang Việt Nam. Làm thế nào mà một khối lượng rất lớn chất nổ được đặt ở ngoài hay ở trong tàu, bất chấp cả hệ thống phòng thủ các bến và hải cảng. Những cơ quan của Mĩ thì không hề hé răng chút nào về việc này. Về phần Mặt trận Giải phóng thì đã cho biết hai chiến sĩ D và H của một đơn vị quân giải phóng đã được thưởng huân chương chiến công hạng ba…

… Sự kiện chiếc tàu Card cho thấy là bất kì ở đâu, các lực lượng Mĩ cũng không tránh khỏi những cuộc tiến công của Mặt trận. Sự xâm nhập vào quân cảng của Mĩ ở Sài Gòn và bao nhiêu những trận đánh bom khác vào trụ sở của quân xâm lược đã chứng minh điều đó”(2).


(1) Báo cáo lúc đó: 150 tên chết và bị thương.
(2) Trong “Le Vietnam face à la guerre”, Charles Fournia, NXB Editions Sociales, 1967.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:17:09 PM
Chiều ngày 2 tháng 5 năm 1964 cũng tại bến cảng, binh lính, sĩ quan Mĩ còn đang bàng hoàng về trận đánh ban sáng, đồng chí Sáu Bằng, chiến sĩ biệt động đội 67, chạy xích lô ngang chỗ chúng đang tập trung, ném 1 quả lựu đạn, 8 tên chết và bị thương.

Cũng chính ngày 2 tháng 5 năm 1964 ấy, một sự kiện khác làm náo động dư luận Sài Gòn và thế giới: tại cầu Công Lí (trên đường từ sân bay Tân Sơn Nhất vào Sài Gòn), theo kế hoạch chuẩn bị sẵn, chiến sĩ Nguyễn Văn Trỗi (đội biệt động 65) gài trái bom định giết chết Bộ trưởng quốc phòng Mĩ Mac Namara vừa mới đặt chân xuống máy bay Tân Sơn Nhất. Do bị lộ trước giờ xe Mac Namara chạy qua, anh bị bắt. Trận đánh không thành, nhưng đã là một đòn cảnh cáo đối với những hoạt động chuẩn bị leo thang chiến tranh của đế quốc Mĩ. Mac Namara không dám ngồi ôtô vào Sài Gòn mà đi bằng trực thăng.

Địch tăng cường đối phó, đề phòng cẩn mật về những trận đánh biệt dộng tấn công người Mĩ cả trong nhà, ngoài đường, tuy nhiên chưa tỏ ra có hiệu quả. Khó khăn lớn nhất của địch là không thể phân biệt một chiến sĩ biệt động với một người dân thường hay một nhân viên ngụy quyền, một người lính… và ngay cả nhân viên đang phục vụ cho chính người Mĩ. Họ có mặt ở bất kì chỗ nào và ở đâu cũng có sẵn những người dân “tự nhiên mà nhập cuộc” che chở cho họ.

Ngày 26 tháng 6 năm 1964, Nguyễn Văn Cẩm (Sáu E), thợ hàn ở sân bay Tân Sơn Nhất, đội viên đội biệt động 67, đánh mìn hẹn giờ tại phòng chờ của sân bay, diệt 13 lính Mĩ.

Hai tháng sau, sáng 25 tháng 8 năm 1964, chiến sĩ trinh sát quân báo Nguyễn Thanh Xuân và nữ giao liên Nguyễn Thị Minh Nguyệt, cải trang sĩ quan ngụy và nhân tình sĩ quan Mĩ, đánh mìn hẹn giờ khách sạn Caravelle 9 tầng giành cho sĩ quan Mĩ.

Thực ra, một trận đánh như vậy không đơn giản, dù nó có thể xảy ra trong tích tắc. Từ năm 1961 đến năm 1964, ban quân báo quân khu Sài Gòn hình thành tổ chức nắm địch ở địa phương tương đối hoàn chỉnh. Ngoài cá tổ chức quân báo của các huyện nông thôn vùng ven, quận nội thành, ta đã tổ chức được các mạng lưới quân báo khu vực và mục tiêu lưới điệp báo đi vào một số cơ quan quân sự quan trọng của địch, các đội trinh sát hợp pháp và đội trinh sát hành động. Một tiếng nổ tại sào huyệt Mĩ ở Sài Gòn trực tiếp hoặc gián tiếp có phần chiến công quan trọng của các lực lượng này.

Việc đánh khách sạn Caravelle được đề xuất từ tháng 3 năm 1964. Đồng chí Nguyễn Nông (5 Bắc) làm quản lí tại khách sạn, là một cán bộ từ thời chống Pháp, đã nắm chắc tình hình tại chỗ lâu nay; nhà đồng chí cũng là một trạm cất giấu chất nổ sẵn. Do yêu cầu phối hợp và hỗ trợ cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh, quân khu Sài Gòn giao cho ban quân báo thực hiện trận đánh phối hợp. Hai đồng chí ở bộ phận trinh sát hợp pháp được giao nhiệm vụ chiến đấu. Ban quân báo quân khu Sài Gòn - Gia Định không kể đại đội trinh sát võ trang ở ngoại thành có khoảng gần 300 cán bộ, nhân viên và các cơ sở cách mạng trực thuộc các loại, đủ các lứa tuổi, trình độ, làm đủ các loại nghề nghiệp bình phong, được ngăn cách đối với nhau nằm rải rác khắp nội đô và ven đô. Nhờ vậy, ta mới có thể chủ động chọn mục tiêu và đối tượng để đánh vào các thời cơ nhất định.

Không kém những biến động trên chiến trường hay những rối ren chính trị tại Sài Gòn, thật khó lường được tầm tác động tâm lí đến mức nào về những sĩ quan binh lính Mĩ bị trừng trị ngay tại sào huyệt. Một báo cáo của đại sứ Mĩ Taylor gửi tổng thống Johnson có đoạn:

“… Ở đây chúng tôi phải đương đầu với một tình hình xấu đi nghiêm trọng mà đặc điểm của nó là sự rối ren chính trị liên tục, thái độ vô trách nhiệm và tình trạng chia rẽ trong quân đội, sự trì trệ trong chương trình bình định, tâm lí chống Mĩ ngày càng phát triển, những dấu hiệu khủng bố ngày càng tăng của Việt cộng, chĩa vào nhân viên người Mĩ, sự thất vọng sâu sắc và sự mất tinh thần trên hầu khắp miền Nam Việt Nam”.

Tháng 10 năm 1964, trong nước, ngoài nước xúc động về sự kiện chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trối, người đã giết hụt Bộ trưởng quốc phòng Mĩ Mac Namara hồi tháng 5 năm 1964 tại cầu Công Lí, bị địch đưa ra pháp trường và về cái chết lẫm liệt của anh.

Suốt 5 tháng trong nhà lao dịch, anh chiến thắng mọi cực hình tra tấn, dụ dỗ của chúng. Trước kẻ thù, câu trả lời duy nhất của anh là: “Tôi nói với mấy người, tôi làm việc phải, tôi giết bọn cướp nước thì dù nguy hiểm, thương tật, hay hi sinh, tôi cũng vui lòng. Tôi không thể sống như bọn tay sai mong được an thân để làm hại đồng bào!”. Chấp nhận thất bại và tỏ rõ lòng trung thành với quan thầy, ngụy quyền tuyên án tử hình Nguyễn Văn Trỗi. Được tin này, phong trào cách mạng Vénézuela tuyên bố, nếu tử hình anh Nguyễn Văn Trỗi, họ sẽ trừng trị ngay tên trung tá Mĩ mà họ đang bắt giữ. Mĩ buộc phải cam kết không tử hình anh. Nhưng khi tên trung tá Mi vừa được thả ra thì chúng trở mặt. Ngày 15 tháng 1 năm 1964, bọn đao phủ Mĩ ngụy đưa anh Trỗi ra pháp trường tại bãi bắn sau nhà lao Chí Hòa. Chính phút cuối cùng của đời mình, anh giật phắt mảnh băng mà kẻ thù bịt mặt, dõng dạc nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!”. Anh hô to: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mĩ!”, “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Súng đã nổ, dòng máu loang đỏ ngực, anh vẫn hô to: “Việt Nam muôn năm!”.

Lời anh vọng lên khắp nước, vang lên trên thế giới, lưu mãi ngàn năm. Một cái chết đã hóa thành bất tử!(1).

Nói về anh, Bác Hồ viết: “Vi Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mĩ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước, nhất là cho các cháu thanh niên học tập”(2).


(1) Nguyễn Văn Trỗi quê ở Thanh Quýt, xã Quyết Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, vào Sài Gòn làm thợ điện và tham gia đội biệt động Sài Gòn - Gia Định đầu năm 1964.
(2) Ghi trên đầu quyển sách “Sống Như Anh” của Trần Đình Vân.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:19:06 PM
Trả thù và noi gương anh, đồng đội của anh ở Sài Gòn - Gia Định đang tiếp tục những ngày tháng tấn công vào sào huyệt Mĩ quyết liệt nhất.

Bên sông Nhà Bè, ngày 7 tháng 10 năm 1964 đặc công Rừng Sác đánh 3 tàu chở xăng dầu của Mĩ, hủy 10 vạn lít. Ngày 18 tháng 11 năm 1964 chiến sĩ biệt dộng 67 Nguyễn Văn Cẩm, người đã thực hiện trận đánh ở phòng chờ sân bay Tân Sơn Nhất, lại đánh một trận xuất sắc tại câu lạc bộ sĩ quan không quân đúng vào lúc địch đang mở cuộc càn “Phóng hỏa!” với lực lượng 15 tiểu đoàn do đích thân trung tướng Tôn Thất Đính chỉ huy đánh vào hậu cứ quân khu Sài Gòn - Gia Định. Theo kế hoạch đã chuẩn bị sẵn, chớp thời cơ phối hợp chiến trường, Cẩm bí mật gài trái mìn lõm 4kg thuốc nổ chứa 500 viên bi xe đạp trên trần nhà. Vài giờ sau mìn nổ chụm xuống đầu giặc lái trực thăng Mĩ vừa thực hiện cuộc đổ quân ngụy trở về; hàng chục tên chết và bị thương. Sợ ta tấn công sân bay hoặc có đảo chính, Mĩ ngụy vội vã dùng xe hơi rút quân, bỏ dở cuộc càn.

Hơn một tháng sau, một “trận đấu trí tài” vang dội lại diễn ra ở khách sạn Brink. Đây là khách sạn 6 tầng lầu giành riêng cho sĩ quan Mĩ, nằm trong khu vực có nhiều cơ quan và cư xá quan trọng: Nhà hạ nghị viên (nay là Nhà hát Thành phố), Tòa đô chính ngụy (nay là trụ sở UBND Thành phố), các khách sạn Continental, Caravelle… Thường trú ở đây có khoảng 200 sĩ quan Mĩ, hơn phân nửa là cấp tá, trong đó có 1 đại tá cố vấn tình báo. Điều chúng lo sợ nhất ở đây là “Việt cộng đưa chất nổ vào hoặc người trong cư xá ăn cắp đồ mang ra” (nguyên là năm 1962 ta đã có đánh bộc phá nổ chậm vào tầng trệt cư xá). Với tiền lệ đã có, ở đây đang trong tình trạng sẵn sàng ứng phó với phương tiện và lực lượng cả chìm lẫn nổi. Nhưng niềm tin của ta là: kẽ hở bao giờ cũng tiềm tàng ở ngay trong bản chất của địch… Cái bất ngờ thường bao giờ cũng phải tạo nên trong cái không bất ngờ. Người rạch ra phương án và kế hoạch tác chiến là đồng chí Nguyễn Đức Hùng, trưởng ban quân báo. Do ta quyết định đánh trận quan trọng này vào trước giờ Noel năm 1964 nên chỉ huy trưởng, tham mưu trưởng quân khu Sài Gòn - Gia Định trực tiếp thông qua và báo cáo Khu ủy. Bộ phận trinh sát quân báo chiến đấu nhận trách nhiệm thực hiện.

Phương án tác chiến là cải trang sĩ quan ngụy vào quan hệ với cố vấn Mĩ, dùng xe du lịch đổi biển số chở khối thuốc nổ 200kg gắn ngòi cháy chậm, khéo léo qua mặt bọn gác cổng, vào đậu dưới bụng cư xá Brink(1). Hai nhân vật chủ động gồm một “ông đại tá” và người lái xe, hai đồng chí được chọn vai là: Nguyễn Hóa và Nguyễn Thanh Xuân(2).. Một số đồng chí khác làm các công tác bảo đảm rất quan trọng gồm có: Nguyễn Thông thuộc lưới điệp báo làm nhiệm vụ tìm hiểu chiều sâu về địch ở cư xá, Nguyễn Nông trinh sát làm nhiệm vụ nắm quy luật địch ở cư xá, Nguyễn Thị Minh Nguyệt áp tải vũ khí trên xe của ông Sáu Mía (chủ một đồn điền cao su nhỏ ở Củ Chi). Đỗ Hán và gia đình cất giấu chất nổ, chị Năm Lành người đứng tên chủ xe du lịch, Nguyễn Văn Việt một chiến đấu viên được tăng cường để yểm trợ(3).

Mặc dù có chút trục trặc về xe do kĩ thuật, các chiến đấu viên ta đóng kịch rất khéo, mọi việc diễn ra y phương án. Đúng 17 giờ 55 phút, lúc mà tại cư xá Brink, các sĩ quan Mĩ đang tập trung chờ đoàn BopHop (đoàn này đến trễ), một tiếng nổ long trời phát ra từ bụng cư xá kèm một trận lửa vì ở đây có bồn xăng 2500 lít.

Cư xá bị sập 3 tầng, 3 tầng còn lại phía trên bị rạn nứt. Địch báo động, ngăn chặn các ngã ba, ngã tư đường. Xe chữa cháy phóng như điên về phía khách sạn Brink.

Quả đấm thốn óc Nhà Trắng này làm hả lòng hả dạ nhân dân ta, nhiều đồng bào trong thành phố kể cả đồng bào di cư (ở quận 4) tổ chức ăn mừng. Đây là câu trả lời nghiêm khắc của ta trước hành động leo thang chiến tranh của Mĩ: ném bom miền Bắc, chuẩn bị đưa quân chiến đấu vào miền Nam trước nguy cơ sụp đổ của chiến lược chiến tranh đặc biệt.

Liên tiếp mấy ngày, báo chí trong nước đưa tin trên trang đầu: Việt cộng chơi Mĩ”, “Cư xá Brink tan hoang”… trong Hồi kí “Tương trình người lính”, Westmoreland thừa nhận “hơn 100 mười Mĩ chết và bị thương, đây là một vụ nổ kinh hoàng”(4)


(1) Cụ thể như sau; 17 giờ ngày Chúa giáng sinh 24 tháng 12 năm 1964 (theo dự kiến có đoàn tài tử BopHop từ Mĩ sang phục vụ cư xá Brink), một sĩ quan cấp tá thuộc Bộ tổng tham mưu ngụy đi xe du lịch đến gặp đại tá cố vấn Mĩ tên William Johnson nào đó, nhưng ông này “đi vắng”, “sĩ quan ngụy” bực dọc bỏ về, nhưng giao cho người lái xe mình vào dưới bụng cư xá (xe chở chất nổ) để chờ đón đại tá Mí về, lái xe ở lại nhưng kiếm cớ đi bộ ra ngoài uống cà phê…
(2) Nguyễn Hóa (Tư Mập), người Sài Gòn, biết tiếng Pháp, tiếng Anh và nhập vai “đại tá”, nhưng cuối cùng vì anh quá trẻ nên phải “hạ cấp” làm “thiếu tá”. - Nguyễn Thanh Xuân tức Bảy Bê người đã thành công trong vai phụ tá tình báo Mĩ trong trận đánh khách sạn Caravellle.
(3) Nguyễn Thị Minh Nguyệt, người đã tham gia đánh trận Caravelle trong vai “nhân tình đại tá cố vấn Mĩ”, lần nay lại nhận vai con bà chủ áp tải cao su để áp tải chất nổ trên xe chở cao su. Ông Sáu Mía chủ xe chở cao su là người cảm tinh của cách mạng. - Đỗ Hán (Mười Hán) tín đồ đạo Thiên chúa, người miền Bắc, nhà ở Cầu Bông, vợ cũng là một cơ sở cách mạng. - Chị Năm Lành, người Bến Tre từng tham gia Đồng Khởi, bị địch truy nã, lên Chợ Lớn buôn bán sạp vải, lần này đứng tên cho chiếc xe hiệu “NASH” do đồng chí Chín Bông làm chủ gara tìm mua. - Nguyễn Văn Việt (Tư Việt) có căn cước giả gi tên Nguyễn Văn Hai.
(4) Hồi kí “Tường trình người lính của Westmorrland. Theo báo cáo của cơ sở ta lúc đó: loại trên 100 Mĩ trong đó có: 2 đại tá, 9 trung tá, 5 thiếu tá. Theo Josep Ampter trong cuốn “Phán quyết”: 52 sĩ quan Mĩ chết, bị thương.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:19:40 PM
Đại sứ Mĩ Taylor cùng đại tá Kuntze phụ trách bảo vệ cư xá Mĩ ở Sài Gòn đến xem xét hiện trường đã chua xót thốt lên: “Tôi cho chỗ này là an toàn nhất rồi!”. Trong một báo cáo gửi Tổng thống Johnson sau đó, Taylor viết: “Để người Mĩ đảm bảo an ninh cho chính mình, đòi hỏi phải có 75.000 lính Mĩ, và cho dù như vậy cũng không ai đảm bảo sẽ không có những vụ Biên Hòa (đêm 31 tháng 10 rạng ngày 1 tháng 11 năm 1964 ta pháo kích sân bay Biên Hòa, loại 20 máy bay phản lực trong đó có 13 máy bay B57 Mĩ mới đưa vào miền Nam, 11 khu trục cánh quạt Skyraider, 3 trực thăng…), khách sạn Brink xảy ra nữa”. Hãng thông tin Mĩ UPly 9 tháng 12 năm 1965, một năm sau còn nói về tình trạng tâm lí người Mĩ ở Sài Gòn: “Những người gan dạn mấy cũng giật mình khi nghe tiếng chó sủa cách xa 100 mét! Họ lẩn tránh khi nghe tiếng nổ và họ thấy lạnh người khi nghe cảnh sát thổi còi. Bởi vì Việt cộng có thể xuất hiện bất kì lúc nào, khắp mọi nơi, và vũ khí của họ là một quả bom đặt trong một túi giấy ở một đống rác ngoài phố, để ở cột đèn, hoặc giấu trong chiếc tắc xi nào đó trong nhiều chiếc tắc xi chạy trong Sài Gòn…”

Ngoài Mĩ, mật vụ, cảnh sát, ác ôn ngụy cũng là đối tượng hàng đầu của đặc công biệt động Sài Gòn. Nhiều mục tiêu bị đánh: bót cảnh sát quận 6 (ngày 12 tháng 1 năm 1964, bót ác ôn đường Ngô Đình Khôi (ngày 7 tháng 2 năm 1964), cảnh sát ở đài truyền tin Phú Thọ, bọn mật vụ CIA của Thích Tâm Châu (CIA đội lốt thầy tu) đang họp ở quán cơm chay giả hiệu ở đường Yên Đổ (tháng 5 năm 1964).

Một đội võ trang tuyên truyền của đoàn thanh niên mang tên Nguyễn Văn Trỗi trừng trị tên ác ôn giám đốc khám Chí Hòa Nguyễn Văn Chiêu và các tên bồi bút báo Chính luận phản động Từ Chung, Chu Tử; đột vào các khu xóm lao động tuyên truyền, vận động nhân dân chống địch bắt lính, đánh phá các chốt địch chặn bắt lính ở Phú Thọ Hòa, các đường Trần Quốc Toản, Cao Thắng, Trương Minh Kí, cư xá Đỗ Thành, cầu chữ Y… có nơi như ở đường Lê Quang Định (Bà Chiểu - Gò Vấp) địch buộc phải bỏ luôn chốt chặn bắt lính. Đầu năm 1965, đội lại đột nhập sau khám Chí Hòa dựng bia tưởng niệm anh hùng Nguyễn Văn Trỗi tại chính nơi anh hi sinh. Địch hoàn toàn bất ngờ về việc này.

Trên vùng nông thôn Gia Định, các cuộc đấu tranh chính trị quần chúng có kết hợp hoạt động của các lực lượng võ trang chặn đứng, bẻ gãy nhiều cuộc càn của địch vào các vùng Đông An (Dĩ An), Lò Lu (Thủ Đức), Truông Viết, Bình Mĩ, Tân Thạnh Đông, Trung An (Củ Chi)… Ở Tân Thạnh Tây (Củ Chi), đồng bào giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh đòi bồi thường thiệt hại do địch gây nên. Số tiền được bồi thường, đồng bào ủng hộ cho du kích. Ở Nhuận Đức (Củ Chi), nhân dân vây bót cầu Bến Mương, địch hoảng sợ tháo chạy. Đồng bào tiếp tục kéo ra thị trấn Củ Chi biểu tình chống địch bắn phá bừa bãi (tháng 7 năm 1964).

Ở Bình Chánh tháng 7 năm 1964, Du kích Hưng Long đánh 1 đại đội bảo an đi càn có tàu chiến yểm trợ, đẩy lùi 22 đợt xung phong của chúng, diệt 7 tên, làm bị thương 20 tên, địch bỏ cuộc. Ngày 20 tháng 8 năm 1964 lực lượng võ trang địa phương tiêu diệt 2 đồn Hưng long cấp đại đội và đồn Tân Quy cấp trung đội.

Ở Củ Chi, bộ đội địa phương và du kích chiếm, làm chủ đồn Cây Bài, đồn Chợ và trụ sở tề xã Phước Hiệp, tiêu diệt tiểu đoàn bảo an địch đến ứng cứu, tập kích địch ở Cây Trôm, bao vây đồn Phú Hòa, phối hợp với bộ đội quân khu bức rút bót An Nhơn Tây (tháng 6 năm 1964)…

Tháng 5 năm 1964, Quân khu Ủy quyết định chính thức đổi tên đoàn K17 Quyết Thắng thành tiểu đoàn chủ lực Quyết Thắng. Ngay trong tháng, tiểu đoàn phối hợp với trung đoàn 761 chủ lực Miền, phục kích trên tỉnh lộ 7 ở khu vực Gót Càng (Củ Chi), tiêu diệt tiểu đoàn biệt động quân “Cọp đen” ngụy, bẻ gãy cuộc hành quân gom dân của chúng.

Tháng 6 năm 1964, tiểu đoàn Quyết Thắng lại phối hợp với trung đoàn 762 chủ lực Miền đánh địch trên lộ 7, tiêu diệt 1 chi đoàn thiết giáp ngụy. Đây là chi đoàn cơ giới địch bị tiêu diệt đầu tiên trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định. Ta bắt sống 1 xe M113.

Tiểu đoàn tiếp tục độc lập tác chiến nâng nhanh hiệu suất diệt địch, tháng 7 dựa vào thế trận các ấp xã chiến đấu phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an ngụy ở Bầu Tràm - Trung An, sau đó lại đánh thiệt hại hai tiểu đoàn khác đến tiếp viện, giải phóng thị tứ Ba Ri - Tân Quy (Củ Chi). Từ tháng 8 đến cuối năm 1964, tiểu đoàn ra quân hàng chục trận nổi bật các trận: Phối hợp với lực lượng vũ trang Củ Chi bao vây đồn Phú Hòa Đông diệt và làm rã ngũ 40 tên địch, bắn rơi 1 máy bay đến tiếp tế; phối hợp với trung đoàn 761 chủ lực Miền đánh tan một tiểu đoàn ngụy ở Bàu Cúc (Củ Chi); phục kích đánh 1 đại đội ngụy quân trên lộ 1 ở khu vực Đồng Chùa (Củ Chi), diệt 2 trung đội, bắt sống 8 tên, thu 15 súng.

Mùa thu năm 1964, trên cơ sở nhận định chiến trường miền Nam đang phát triển theo hướng có lợi cho ta, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ đang trên đường phá sản, đồng thời xuất hiện khả năng Mĩ sẽ thay đổi chiến lược, Trung ương cục miền Nam vạch ra một kế hoạch chuẩn bị đón thời cơ thực hiện tổng công kích tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định mang mật danh là “kế hoạch X”. Nội dung kế hoạch dựa trên tinh thần Nghị quyết tháng 1 năm 1961 của Bộ Chính trị trong đó xác định: “Cuộc tổng công kích tổng khởi nghĩa của nhân dân ta sẽ bùng nổ để lật đổ chính quyền Mĩ Diệm, giải phóng miền Nam”. Địa bàn trung tâm của “Kế hoạch X” là Sài Gòn - Gia Định.

Từ quý 3 năm 1964, một bộ phận chuyên trách xây dựng kế hoạch này đã được hình thành gồm các đồng chí trong Quân ủy Miền và chỉ huy trưởng Quân khu Sài Gòn - Gia Định, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục.

Trong khi sắp xếp cán bộ, sắp xếp thành công, xây dựng lực lượng theo “Kế hoạch X”, tất cả nhiệm vụ khác đã đề ra vẫn được triển khai thực hiện.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:22:20 PM
Năm 1964, chiến tranh cách mạng miền Nam tạo được những bước chuyển biến lớn, đẩy địch lún sâu thêm vào thế bị sa lầy. Trên sân khấu chính trị Sài Gòn, đầu sỏ ngụy quyền rối ren, địch đảo chính làm đảo lộn cả ý đồ của Mĩ trong việc chọn tay sai. Trên chiến trường thế thua của ngụy quân hiện rõ. Đông xuân 1964-1965, miền Đông Nam Bộ phối hợp chiến trường chung vào mùa chiến dịch lớn đầu tiên trong chiến tranh chống Mĩ, đạt thắng lợi.

Những chiến thắng lịch sử Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài cùng với cao trào phá ấp chiến lược trên toàn miền Nam đang làm phá sản “kế hoạch hai năm Johnson - M.Namara”, đẩy chiến lược chiến tranh đặc biệt vào thời kì phá sản. Washington đang ở tình thế “Chỉ có một sự lựa chọn là can thiếp hoặc chấp nhận thất bại. Nhưng chấp nhận thất bại là điều mà không bao giờ người ta nghĩ đến, nên điều còn lại chỉ là can thiệp…”(1)

Bức thông điệp đầu năm của Tổng thống Mĩ Johnson để lộ một ý định mới trước một chiến lược Mĩ đã đến hồi cáo chung: “Mĩ phải có mặt ở Nam Việt Nam vì nước bạn yêu cầu, vì đã cam kết 10 năm trước đây, vì an ninh của bạn thân nước Mĩ và hòa bình châu Âu…”

Trả lời câu hỏi “can thiệp thế nào”, ngày 6 tháng 3 năm 1965, bốn ngày sau khi cuộc ném bom dài ngày xuống miền Bắc bắt đầu, tổng thống Mĩ ra lệnh cho 2.500 lính thủy đánh bộ đổ lên Đà Nẵng núp dưới danh nghĩa để “bảo vệ căn cứ Mĩ ở đó”. Thực ra là một cuộc “leo thang” toàn diện của Mĩ đã bắt đầu từ trước và đang tăng đà chiến tranh trên bộ ở miền Nam, chiến tranh phá hoại ở miền Bắc.

Đụng đến miền Bắc, đế quốc Mĩ đang đổ thêm dầu vào lửa. “Miền Bắc gọi, miền Nam trả lời” trở thành tiếng gọi thiêng liêng, một hồi kèn giục giã quân dân miền Nam ra trận.

Ngày 29 tháng 1 năm 1965, các chiến sĩ đội biệt động 65 tấn công cơ quan quân sự MACV làm bị thương nhiều sĩ quan Mĩ, trong đó có sí quan cấp cao(2). Tiểu đoàn Quyết thắng sau khi thành lập thêm một đại đội trợ chiến (có cối 81mm, ĐKZ 75, súng máy 12,7mm) tháng 1 năm 1965 tổng kết tất niên (vào mồng một Tết âm lịch), tổ chức ra mắt đồng bào ở sở cao su xóm Chùa, xã An Nhơn Tây, hàng ngàn đồng bào vùng giải phóng, vùng ấp chiến lược và ở nội thành Sài Gòn ra dự. Đồng chí Trần Hải Phụng thay mặt Bộ chỉ huy Quân khu Sài Gòn - Gia Định giao cho tiểu đoàn nhiệm vụ giữ vai trò “Quả đấm cơ động đầu tiên của Quân khu” và trao cây đuốc truyền thống cho đơn vị. Tiểu đoàn hạ quyết tâm “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Sau lễ ra mắt, cán bộ chiến sĩ, khẩn trương vào đợt huấn luyện quân sự, chính trị, chuẩn bị nhận những nhiệm vụ nặng nề mới. Theo kế hoạch X, riêng quân khu Sài Gòn - Gia Định cần gấp rút xây dựng các đơn vị biệt động đủ sức đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu trong nôi thành, xây dựng các đội vũ trang chiến đấu, đội tự vệ của các ngành làm nòng cốt cho phong trào nổi dậy của quần chúng,đồng thời xây dựng 5 tiểu đoàn mũi nhọn bố trí ở 5 hướng ven đô, có khả năng thọc sâu 5 hướng, kịp thời phối hợp với các đội biệt động chiếm giữ các mục tiêu, cho đại quân vào và trợ lực quần chúng nổi dậy. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị này phải là những người am hiểu cả vùng ven và đô thị, phải được huấn luyện thành thục. Quân khu hình thành trung đoàn cơ động và các đại đội đảm bảo, chỉ huy.

Thực hiện kế hoạch xây dựng các tiểu đoàn mũi nhọn, tháng 1 năm 1965 Bộ chỉ huy Miền giúp quân khu Sài Gòn - Gia Định tổ chức kín đáo một trung tâm huấn luyện ở Lò Gò - Tân Biên (Tây Ninh), lấy mật danh là đoàn 165A(3). Cán bộ, chiến sĩ được cọn từ bộ đội địa phương, du kích các huyện ven đô nội thành đưa ra, nói là bổ sung lên Miền. yêu cầu xây dựng huấn luyện xong và lần lượt triển khai bí mật về các địa bàn ven đô từ tháng 4 cho đến tháng 6 năm 1965. Trong thời gian này, bộ máy chỉ huy quân sự và cơ quan cấp ủy lãnh đạo năm cánh (quân khu) cũng đã được hoàn chỉnh. Quân khu cũng đã có bộ phận chuyên trách nội đô.

Tháng 3 năm 1965, trên cơ sở phân tích khả năng phát triển của tình hình, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 11 chủ trương “tích cực kềm và thắng địch trong chiến tranh đặc biệt… đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam nếu địch gây ra”.

Dấu hiệu leo thang chiến tranh của Mĩ ngày càng rõ. Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi các lực lượng vũ trang giải phóng đánh mạnh, đánh đau cảnh cáo giặc Mĩ leo thang chiến tranh. Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định thông qua quyết tâm về một “trận dằn mặt”. “Miền Bắc gọi, miền Nam trả lời”, trận “dằn mặt” này phải hơn cả các đòn Card, Caravelle, Brink… Bộ chỉ huy xét không còn mục tiêu nào hơn là “Tòa đại sứ Mĩ” - “Nhà trắng phương Đông”. Mục tiêu và phương án được Trung ương Cục chấp nhận.

Tòa Đại sứ Mĩ là ngôi nhà 5 tầng, chiếm một góc ngã 3 đường Hàm Nghi và Võ Di Nguy (số 49 Hàm Nghi). Hằng ngày có 195 cán bộ nhân viên Mĩ làm việc. Tầng 5 là nơi làm việc của đại sứ và phó đại sứ. “Chủ nhân” hiện tại của nó chính là Maxwell Taylor, cha đẻ của chiến lược “phản ứng linh hoạt” tác giả cuốn sách diều hâu về chiến tranh Việt Nam Trách nhiệm và đáp ứng. So với tất cả các sào huyệt khác của Mĩ ở Sài Gòn, tòa đại sứ Mĩ là nơi được bảo vệ rất cẩn mật.


(1) Trích trong Tiếng kèn gọi quân của Dave Richard Palmer, NXB Thông tin lí luận, Hà Nội 1987, tr. 82.
(2) Báo cáo lúc đó: 55 Mĩ bị thương trong đó có 2 cấp tướng.
(3) Ý nghĩa: đơn vị xây dựng tháng 1 năm 1965 cho kế hoạch nội thành A.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:25:13 PM
Thời điểm chính trị không cho phép thực hiện phương án “đóng kịch” mất nhiều thời gian nghiên cứu, tập dượt. Bộ chỉ huy quân khu quyết định chọn một kiểu “tập kích áp đảo” táo bạo, cần ít thời gian chuẩn bị nhất: dùng sức mạnh bất ngờ, bắn gục lính bảo vệ cổng, cho xe có khối lượng lớn thuốc nổ lao thảng vào cửa mục tiêu rồi giật nụ xè gây nổ… Cách này đòi hỏi ở các chiến đấu viên một bản lãnh ngoan cường, dũng cảm, mưu trí… một cách đánh đối với biệt động Sài Gòn còn rất mới mẻ. Trận tấn công rạp Kinh Đô được coi là trận đầu theo kiểu này, nhưng được thực hiện vào ban đêm, phòng bị của địch còn đơn giản… và còn bất ngờ đối với chúng.

Ba chiến đấu viên có vai trò trực tiếp chiến đấu được chọn lần này là: Nguyễn Thanh Xuân (tức Bảy Bê), Lê Văn Việt (tức Tư Việt, căn cước giả mang tên Nguyễn Văn Hai) và Trần Văn Thế.

150kg chất nổ TNT và C4 cùng với kíp gây nổ, nụ xòe, dây cháy chậm… đã được ông Tư Sao, chủ một cơ sở cao su (cơ sở quân báo) cùng nữ giao liên trinh sát Nguyễn Thị Minh Nguyệt áp tải trên chiếc “xe buôn cao su hôi hám” đến nhà ông Mười Vĩnh Long(1) ở số 68/168B Trần Quang Khải (quận 1) và anh Nguyễn Nông (Năm Bắc) ở số 194/5/5 đường Bạch Đằng - Gia Định.

Nguyễn Thị Minh Nguyệt cũng là người chuyển 3 súng ngắn từ ngoài vào thành phố và là trinh sát lộ trình. Anh Năm Bắc tàng trữ thuốc nổ, kiêm nhiệm vụ nghiên cứu cấu trúc mục tiêu, kiểm tra, trinh sát lộ trình. Một trung úy trong quân đội Sài Gòn là nhân viên trong tòa đại sứ Pháp, cơ sở ta, làm nhiệm vụ nắm địch trong tòa đại sứ Mĩ. Trần Văn Thế, chiến đấu viên có nhiệm vụ hỗ trợ Lê Văn Việt.

Chiếc xe chở chất nổ là một chiếc Frégate màu đen.

9 giờ 40 phút ngày 30 tháng 3 năm 1965, cuộc “hành quân cơ giới” bắt đầu xuất phát từ quán cà phê Văn Hoa (số 85 đường Trần Quang Khải) đến góc đường Phan Thanh Giản, hình thành đội hình tiếp cận mục tiêu và chiến đấu: ba chiếc xe gắn máy lần lượt nối tiếp gồm có anh Năm Bắc trinh sát lộ trình, Trần Văn Thế bảo vệ xuất kích, Lê Văn Việt xuất kích, chiếc xe Frégate đi hàng thứ tư do Nguyễn Thanh Xuân lái làm nhiệm vụ thọc sâu, sau cùng là Nguyễn Thị Minh Nguyệt trên chiếc mobylette có nhiệm vụ “coi chừng cái đuôi”.

Đầu chiếc Frégate vừa chạm vạch đi bộ xuyên Võ Di Nguy, Bảy Bê trông thấy Tư Việt đã rút súng ngắm bắn bục hai tên quân cảnh trước tòa đại sứ Mĩ, lập tức anh lao xe cập sát barrière gỗ, hông tòa đại sứ, thắng đột ngột, cài số, giật nụ xòe gây nổ 20 giây… Vừa lách mình ra khỏi xe thì thấy 2 cảnh sát súng cầm tay lao về phía Tư Việt đang bị bọn mật thám từ các quán cà phê, hủ tiếu ùa ra bủa vây. Bảy Bê rút súng hạ hai tên giặc giải vây cho đồng đội, một chết, một bị thương rồi lao nhanh về phía đường Hàm Nghi. Trong lúc đó Trần Văn Thế nhằm vào bọn cảnh sát chìm đang bao vây Tư Việt, nổ súng giải vây, trong lúc xe gắn máy tiếp tục lao đi.

Khu vực súng nổ trở nên hỗn loạn. Đồng bào từ các ngả đường ùn lại.

Quan chức, nhân viên sứ quán Mĩ nghe tiếng nổ dưới đường, thò đầu qua cửa sổ quan sát. Thấy xe không người lái lao vào, chúng hô hoán, đạp nhau nhảy bổ vào thang máy để thoát. Nhưng thang máy chưa tụt xuống tới tầng trệt thì khối thuốc nổ 150kg hình lõm đã phát nổ. Lúc đó là 10 giờ 55 phút giờ Sài Gòn.

Vượt qua ngã tư Tôn Thất Đạm - Hàm Nghi, Bảy Bê gọi được một chiếc xe tắc xi không quen biết. Anh lên xe trong lúc cây súng ngắn còn cộm trong lưng quần.

Tư Việt đã hạ 2 tên giặc, làm bị thương 2 tên nhưng chưa thoát vòng vây cảnh sát chìm. Lợi dụng lúc địch nằm xuống do tiếng nổ trong tòa đại sứ, anh bắn gục 2 tên nữa và leo lên chiếc xe gắn máy, vọt dọc đường Nguyễn Công Trứ và Phó Đức Chính. Mô tô quân cảnh của giặc bám sát. Có một tắc xi trắng chắn đường cho anh thoát, nhưng giặc bắn đuổi dữ dội. Một phát đạn xuyên qua bụng đẩy anh xuống đường, Việt một tay nhét ruột vào bụng, một tay cầm súng với 2 viên đạn cuối cùng và 1 trái lựu đạn “quyết tử”, nhưng không còn sức để rút chốt. Anh vạt lộn với địch cho đến khi kiệt sức và bị bắt cách tòa đại sứ Mĩ 750m, trong lúc khẩu đại liên ở đây từ trên cao đang nhả đạn bừa bãi.

Tiếng nổ “nhấc bổng lên cả người” (báo Lẽ Sống) thu hút đồng bào Sài Gòn đến xem “Nhà trắng phương Đông” sụp đổ. Ai cũng muốn được nhìn tận mắt một cảnh tượng “bi thảm” của quân xâm lược: Tòa đại sứ rỗng lên đến lầu 4, song cửa sắt lầu 5 cong queo, 30 xe của sứ quán cháy rụi, lá cờ 50 sao bị hất xuống đất, gạch ngói, li cốc, giấy tờ bay tơi tả… từng đoàn xe cứu hỏa lao đến, nhưng không còn gì để mà chữa. Từ trong hoang tàn, hỗn loạn, nhiều cán bộ, nhân viên sứ quán Hoa Kì chui ra, mình bê bết máu. Phó đại sứ Mĩ Alexis Johnson bị thương ở đầu.

Đại sứ Taylor mới về Washington trước đó mấy ngày(2) nên thoát chết.

Bốn ngày sau đó ở cư xá Rex BOQ (Bachelor Officer Quarter) giành cho sĩ quan Mĩ độc thân, ở gần rạp Rex lại có một cuộc tháo chạy tán loạn của các sĩ quan Mĩ đang trú trên các tầng lầu chỉ vì có 2 chiếc xe tải xi măng “tiếp cận”.

Ở Washington, Tổng thống Mĩ Johnson bỏ dở bữa tiệc tiếp đãi Tổng thống nước Thượng Volta vì cái tin Sứ quán Hoa Kì ở Sài Gòn sụp đổ.

Một tháng sau, chính phủ Mĩ chuẩn bị 1 triệu đô la để xây Sứ quán mới, bỏ hẳn Sứ quán cũ. Báo chí Mĩ tiết lộ trận này Sứ quán chết và bị thương 190 quan chức, nhân viên(3) trong đó phó đại sứ A. Johnson bị thương ở mặt, 1 cán bộ cao cấp tình báo CIA ở Việt Nam chết.


(1) Chị Mười cũng là người Vĩnh Long, cơ sở ta làm nghề nấu ăn cho Mĩ, bị địch theo dõi và bị bắt, bị đánh đến bệnh chết, chị được công nhận là liệt sĩ năm 1965.
(2) Trước khi đánh, ta biết tin này, nhưng thời điểm chính trị không cho phép chờ y trở lại.
(3) Trước đó ta được tin cơ sở báo là 169 tên.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:26:33 PM
Tám hôm sau trận đánh, trước tòa án quân sự, Lê Văn Việt với thân hình tàn tạ sau bao nhiêu đoàn tra tấn và vết thương bụng, đã ung dung mỉm cười khi tòa tuyên án “tử hình khẩn cấp”. Phóng viên báo chí nước ngoài, những người có mặt vừa ngạc nhiên, vừa khâm phục.

Được tin này, lập tức Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định đề nghị lên Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng một phương án cứu Lê Văn Việt. Ngay sau đó, Đài phát thanh giải phóng phát đi công bố của ăn phòng Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng - sẽ xử bắn trung tá tình báo Mĩ Gustave Hertz(1) nếu Lê Văn Việt bị xử tử.

Dư luận khuấy lên một lần nữa về tin này. Địch không thể lật lọng một lần nữa như vụ Nguyễn Văn Trỗi.

Lê Hồng Tư là người đã chứng kiến 19 tháng cuối đời của Lê Văn Việt từ phòng giam P3 B11 ở khám lớn Chí Hòa đến nhà lao Côn Đảo, cho biết: anh sinh hoạt Đảng đều đặn, đã bàn chuyện vượt ngục từ P3 B11; vượt ngục không thành ở Côn Đảo (cùng với Lê Hồng Tư và 2 đồng chí nữa), anh bị bắt lại, bị đánh đập tàn bạo và hi sinh đêm 31 tháng 10 năm 1966 tại Côn Đảo, lúc 26 tuổi.

Tài liệu mật Lầu Năm góc thừa nhận trận đánh tòa đại sứ Mĩ là “hành động táo bạo nhất và trực tiếp nhất của Cộng sản chống lại Mĩ”.

Chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 1965, lực lượng vũ trang nội đô đã đánh mấy chục trận, từ sào huyệt Mĩ đến bọn kềm kẹp ác ôn: tiểu đoàn bảo vệ đài phát thanh, cảnh sát dã chiến ở sân bia Bình Thới, bót cảnh sát quận 3…

Đầu năm 1965, phong trào công nhân về mặt công khai tuy chưa mạnh như các phong trào khác, nhưng bên trong, cơ sở bí mật đang có những chuyển biến quan trọng. Những tháng đầu năm 1965, Khu ủy mở đợt chỉ đạo tập trung công tác dân vận lấy tên là “công tác đột xuất”, không chỉ Ban công vận mà cả các ngành: thanh niên, phụ nữ, các liên quận đều phải đẩy mạnh công tác dân vận, đối tượng hàng đầu là công nhân và lao động, địa bàn là “xóm” và “xí” (tức là xóm lao động và nhà máy xí nghiệp). Các tổ chức vũ trang và các đội vũ trang tuyên truyền của công nhân hình thành và bước đầu hoạt động có hiệu quả như trừng trị những tên thám báo, những tên ác ôn kềm kẹp đồng bào xóm lao động trong đó có hai tên đặc vụ rất nguy hiểm ở nhà máy dệt Vimytex từng đánh phá và gây thiệt hại lớn cho phong trào công nhân ở đó.

Nhận định về phong trào công nhân, Nghị quyết công vận của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định năm 1965 đánh giá: “Mặc dù bị đế quốc Mĩ và chính quyền tay sai tìm mọi thủ đoạn khủng bố, đàn áp, lừa mị, mua chuộc, đánh lạc hướng, khi xoa dịu, khi gay gắt, phong trào đấu tranh của công nhân và lao động đòi quyền lợi thiết thân vẫn phát triển liên tục, từ lẻ tẻ đến quy mô rộng lớn, bằng nhiều hình thức, từ êm dịu nhẹ nhàng đến sôi nổi, quyết liệt với nhiều mức độ khác nhau… đình công chiếm xưởng, tuần hành thị uy trong lúc địch ra lệnh cấm đình công, biểu tình. Có những cuộc đấu tranh phải đổ máu (Vimytex, Vinatexco, Nam Thành…), nhìn chung phong trào công nhân và lao động Sài Gòn trước sự lãnh đạo của Đảng vẫn được duy trì, giữ vững và phát triển trong điều kiện gay go phức tạp của Sài Gòn, đã làm cho địch tiếp tục không ổn định về chính trị”.

Lực lượng học sinh, sinh viên luôn luôn tỏ ra là lực lượng khơi ngòi đấu tranh. Đầu năm 1965, trong hàng chục cuộc biểu tình, bãi khóa, tuyệt thực… của học sinh, sinh viên, Phật tử không chấp nhận “tam đầu chế”, “nội các” Phan Huy Quát, “quốc trưởng” Phan Khắc Sửu… và chống ngay sự có mặt của Mĩ ở Việt Nam, nổi bật nhất là cuộc biểu tình ngày 22 tháng 1 năm 1965 của hàng ngàn đồng bào, học sinh, sinh viên, sư sãi kéo đến tiến công cơ quan USIS (Sở thông tin Mĩ: United States Information Service), đòi Mĩ cút về nước, giải tán “nội các” Phan Huy Quát. Để tỏ rõ lòng trung với Mĩ, ngày 27 tháng 1 ngụy quyền mở tòa xử án các học sinh biểu tình, tuyên án xử tử 3 em. Hai ngày sau, chúng đã thi hành án.

“Phong trào hòa bình” lại được thành lập gồm nhiều tri thức, nhân sĩ. Ngày 25 tháng 2, tổ chức này đưa kiến nghị có 471 chữ kí phản đối Mĩ xâm lược Việt Nam. Ngay hôm sau, ngày 26 tháng 2 năm 1965, 100 đại biểu giáo sư, phụ huynh học sinh và học sinh, sinh viên họp tại trụ sở số 4 Duy Tân, phản đối Mĩ và chư hầu can thiệp vào Việt Nam.

Nghị quyết Công vận nêu lên 6 mục tiêu trước mắt như phát động công nhân, lao động sẵn sàng làm nhiệm vụ tiền phong; mở rộng và nâng cao hơn nữa phong trào đấu tranh, nỗ lực xây dựng thực lực cách mạng, xây dựng các loại lực lượng và hoạt động vũ trang, xây dựng cơ sở Đảng, Đoàn vững mạnh và chuẩn bị sẵn sàng hành động khi có thời cơ.

Đặc biệt Nghị quyết giành một chuyên mục để nói về xóm lao động với yêu cầu xây dựng xóm lao động thành những căn cứ địa cách mạng trong nội thành.

Năm 1965, địch đảo chính ở Sài Gòn vẫn là nỗi đau đầu của tòa Đại sứ Mĩ. Sau 2 lần đảo chính hụt Nguyễn Khánh, hồi tháng 9 năm 1964, ngày 19 tháng 2 năm 1965, Lâm Văn Phát lại đảo chính lật Nguyễn Khánh nhưng thất bại. Mĩ buộc phải hạ bệ Nguyễn Khánh trong hai ngày sau, đưa đi làm “đại sứ lưu động”. Ngày 3 tháng 3 năm 1965, cái gọi là “Ủy ban thường vụ hội đồng quân lực” của Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu lại ra đời. Sân khấu chính trị Sài Gòn đang tiếp tục cuồng quay.

Trong khi tiếng nổ tòa Đại sứ Mĩ vang dội thì trên đất vùng ven, các lực lượng tập trung địa phương thực hiện những trận đánh hiệu suất lớn. Trên quốc lộ 1 đoạn Cây Trôm - Suối Cụt, tiểu đoàn Quyết Thắng diệt 2 đại đội địch, thu 100 súng. Tiểu đoàn 6 Bình Tân sau 4 tháng xây dựng vừa về đến chiến trường ngày 31 tháng 4 năm 1965 đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 61 ngụy đổ quân xuống trận địa phục kích của tiểu đoàn 6 trên lộ 10 tại cầu An Hạ (Bình Chánh). Ta thu nhiều súng. Sau đó tiểu đoàn 6 yểm trợ tiểu đoàn 8 pháo cối của quân khu để tổ chức một trận pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ngày 7 tháng 5 năm 1965, tại quán Chuối, lực lượng vũ trang Bình Chánh đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 30 biệt động quân ngụy.


(1) Bị ta bắt ở Thủ Đức trước kia.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:27:54 PM
Chiến sự tháng 5 năm 1965 trên vùng đất Củ Chi đang quyết liệt với cuộc càn của trung đoàn 8 Vòong A Sáng, sư đoàn 5 ngụy và lần đầu tiên có lực lượng chiến đấu Mĩ tung ra chiến trường.

Được lệnh của quân khu, tiểu đoàn Quyết Thắng triển khai đánh càn ở vùng giải phóng Bàu Lách, xã Nhuận Đức, Củ Chi. 10 giờ sáng ngày 9 tháng 9 năm 1965 trung đoàn 8 ngụy tiến vào Bàu Lách. Quân ta đánh tạt sườn của chúng. Địch dự vào các chiến hào bao quanh chống trả mạnh. Tiểu đoàn Quyết Thắng tập trung lực lượng đánh chiếm từng đoạn hào, từng công sự. Địch dội bom và nã pháo cấp tập để chặn bước tiến của đối phương, nhưng các chiến sĩ Quyết Thắng vượt qua bom pháo, áp sát địch làm vô hiệu hóa hỏa lực của chúng. Trận đánh tiếp tục kéo dài. Ta cho xuất trận những đội dự bị cuối cùng, đồng thời tập trung súng cối của tiểu đoàn bắn trúng sở chỉ huy trung đoàn địch. Sức chống đỡ của địch mỗi lúc một yếu. Cuối cùng trung đoàn trưởng Vòong A Sáng bật công sự dẫn đám tàn quân tháo chạy. Lúc đó là 17 giờ. Ta diệt gần 500 giặc, bắt sống 250 tên, thu hàng trăm súng các loại, 30 máy thông tin, nhiều quân trang, quân dụng. Ta giáo dục và thả tại chỗ 200 tên, dẫn về trại 50 tên.

Như vậy là một tiểu đoàn ta đã đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn địch. Trận Bàu Lách góp phần giữ vững vùng căn cứ Nhuận Đức đồng thời đánh dấu việc chấm dứt các cuộc càn của quân ngụy vào vùng giải phóng quân khu Sài Gòn - Gia Định trong “chiến tranh đặc biệt”. Quân Mĩ bắt đầu thay quân ngụy trong các cuộc hành quân thăm dò vào vùng căn cứ Củ Chi.

Lần đầu tiên một trung đội Mĩ ra quân đánh vào căn cứ ở xã Phước Hiệp huyện Củ Chi, nơi có một bộ phận quân khu ủy đóng. Đơn vị bảo vệ dựa vào công sự đánh diệt 27 tên, hủy 4 xe bọc thép M113. Du kích xã Nhuận Đức đánh Mĩ trận đầu ở Bàu Lách. Ngày 30 tháng 5 bộ đội địa phương Củ Chi đánh một bộ phận Mĩ ở ấp Trung Hòa.

Cục diện toàn chiến trường tiếp tục biến chuyển nhanh theo chiều hướng thuận lợi cho ta đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. Thế trận vùng ven đang phát triển theo hướng ta áp đảo địch, ta đã tiêu diệt, bứt rút nhiều đồn bót, phá banh, phá rã từng mảng ngụy quyền cơ sỏ, giải phóng hàng chục ngàn dân. Vùng giải phóng không những được giữ vững mà còn mở rộng, thêm một số vùng tranh chấp mới. Có nơi vốn là vùng sâu, vùng yếu như Thái Mĩ (Củ Chi) và nhiều ấp dọc đường số 1 trở thành nơi đứng chân và bàn đạp quan trọng của lực lượng biệt động để từ đó xâm nhập người, vũ khí vào Sài Gòn và tiếp nhận vũ khí từ Tây Ninh, Hậu Nghĩa xuống. Theo chủ trương của quân khu về việc xây dựng các cơ sở ém người, vũ khí và các lõm chính trị, nội thành, trong mấy tháng cuối năm 1965 đầu năm 1966, ta đã xây dựng được 10 địa điểm. Những hầm ém quan trọng như hầm ở số nhà 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, hầm số 189/4 đường Trần Quốc Toản… nhiều lõm du kích được mở rộng, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng áp sát đô thị, áp sát địch như Phong Đước (Nhà Bè), An Nhơn, An Phú Đông (Gò Môn), Tam Bình, Hiệp Bình (Dĩ An), Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức), Vĩnh Lộc (Bình Chánh)…

Trên vùng ven dưới bom đạn ác liệt, nhân dân vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất, phục vụ chiến đấu và hậu cần tại chỗ.

Tháng 4 năm 1965, tại Suối Dây (Tây Ninh), Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp triển khai nhiệm vụ theo tinh thần “Kế hoạch X” và Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11, tức vừa khẩn trương chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng địch trong chiến tranh đặc biệt, đồng thời sẵn sàng đánh Mĩ trong trường hợp chúng đưa quân chiến đấu vào chiến trường thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Phương hướng biên chế mới là các Bộ chỉ huy và Phân Khu ủy sẽ hình thành ứng theo 5 cánh (5 phân khu) tiến vào Sài Gòn. Trước mắt quân khu sẽ tổ chức bộ phận chuyên trách quân sự nội đô. Cùng với việc bổ sung nhiều cán bộ cho Khu ủy, trên tăng cường đồng chí Trần Đình Xu làm chỉ huy quân sự, phụ trách chung, đồng chí Nguyễn Văn Bảo làm chính ủy. Đồng chí Trần Hải Phụng làm chỉ huy phó tham mưu trưởng phụ trách công tác đô thị và các lực lượng nội thành. Hàng loạt công việc về tổ chức chỉ huy, phát triển lực lượng được thực hiện theo hướng chuẩn bị đón thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng địch trong chiến tranh đặc biệt. Đồng chí Đặng Quang Long được bổ sung về làm chủ nhiệm chính trị để đồng chí Nguyễn Ngọc Lộc làm phó chủ nhiệm phụ trách công tác chính trị đô thị.

Trên đất miền Đông Nam Bộ, tháng 5 năm 1965 những đơn vị đầu tiên của Lữ đoàn dù 173 đổ lên Vũng Tàu, tiến lên Biên Hòa và bắt đầu thực hiện các cuộc hành quân thăm dò, giải tỏa ở ven đô Sài Gòn. Sau trận tấn công Đại sứ Mĩ, lực lượng biệt động duy trì cao nhịp độ hoạt động võ trang. Ngày 16 tháng 6 xảy ra vụ nổ ở phòng khách sân bay Tân Sơn Nhất (diệt và làm bị thương 46 tên giặc, trong đó có 36 tên Mĩ).

Tháng 6 năm 1965, Sài Gòn chấn động về vụ án Trần Văn Đang. Nguyên là ngày 20 tháng 3 năm 1965, do có một nội gián, chiến sĩ biệt động Trần Văn Đang bị bắt với kíp nổ còn giấu trong người và 10kg chất nổ trong chiếc Vespa lúc anh vừa dừng xe áp sát tường cư xá sĩ quan Mĩ ở số 3 đường Võ Tánh (quận Tân Bình, cạnh sân bay Tân Sơn Nhất). Sau 1 tháng tra tấn, dụ dỗ không khai thác được gì, ngày 9 tháng 4 năm 1965 địch tuyên bố tử hình Trần Văn Đang. Trước tòa, anh dõng dạc nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Tao chỉ tiếc không có lựu đạn để giết sạch bọn Mĩ và tay sai… Tao chết đi, nhưng nhiều người khác sẽ chống lại chúng mày…”. Sáng sớm ngày 22 tháng 6 năm 1965, địch lập pháp trường cát tại bùng binh chợ Bến Thành để xử bắn Trần Văn Đang. Vừa trên xe bước xuống, anh đã hô to nhiều lần: “Hỡi đồng bào thành phố Sài Gòn! Tôi là Trần Văn Đang, chiến sĩ giải phóng quân, tôi đánh Mĩ để giải phóng dân tộc. Đồng bào hãy đoàn kết lại để đập tan bè lũ bán nước!”. Địch đưa anh tới cọc bắn và định bịt mắt anh, anh hô lớn: “Phải để tôi trông thấy đồng bào tôi. Phải để tôi trông thấy đồng bào tôi!”. Anh vùng vẫy tới cùng không cho địch bịt mắt và hô to nhiều lần: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Đả đảo đế quốc Mĩ” cho đến khi trúng đạn. Lúc đó là 5 giờ 50 phút ngày 22 tháng 5 năm 1965, Trần Văn Đang mới 21 tuổi(1).

Gần 20 tờ nhật báo tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa tại Sài Gòn đều đăng ảnh và đưa tin tỉ mỉ về cái chết bất tử của Trần Văn Đang. Tờ Chính Luận két tiếng chống Cộng sản cũng phải viết: “… Trên xe bước xuống, y mặc sơ mi màu nước biển, chân đi dép và miệng còn phì phèo thuốc lá. Đang không để cho quân cảnh bịt mắt. Đang còn lớn tiếng hô to những khẩu hiệu “đả đảo Mĩ” và “ủng hộ Hồ Chí Minh”.

Hơn 2 ngày sau, ngày 25 tháng 6 năm 1965 một tổ 3 người của đội biệt động 67 gồm có Phi Long, Bảy và Tám Sâm thực hiện cuộc tấn công nhà hàng Mĩ Cảnh. Đây là một nhà hàng nổi thiết lập trên một chiếc tàu đậu, có cầu nối cách bờ 20m ở bến Bạch Đăng, nơi sĩ quan tình báo Mĩ ngụy hay đến ăn nhậu. Nhiều tên giặc bị thương và chết(2).

Cùng ngày 25 tháng 6 năm 1965 lại xảy ra vụ nổ ở phòng khách sân bay Tân Sơn Nhất, 30 sĩ quan lính Mĩ bị thương và chết. Đây là trận thứ ba của chiến sĩ biệt động Trần Văn Cẩm trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Các lực lượng biệt động nội thành đang được lần lượt điều chỉnh, củng cố và xây dựng theo yêu cầu của kế hoạch X cho cấp quân khu, cấp cánh (phân khu) và cho các ngành trực thuộc khu ủy.


(1) Trần Văn Đang quê ở xã Long Hồ, huyện Châu Thành Tây, tỉnh Vĩnh Long lên Sài Gòn làm thợ điện rồi tham gia biệt động thành.
(2) Một quả mìn định hướng gắn trên xe đạp của Bảy, một quả khác gắn trên xe gắn máy chở Phi Long, hai xe dựng trên bờ, hướng mìn vào 2 mục tiêu: nhà hàng và cầu tàu. Quả trên xe đạp nổ, chiếc tàu chòng chành, địch trên tàu xô đẩy chen lấn nhau chạy lên chiếc cầu độc nhất nối vào bờ để thoát thân. Ngay lúc đó quả trên xe gắn máy nổ bồi, thổi thẳng vào cầu. Theo báo cáo lúc đó: gần 100 tên giặc chết và bị thương.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Tư, 2012, 05:28:35 PM
Đối với lực lượng biệt động trực thuộc quân khu, tháng 6 năm 1965 Khu ủy và Quân khu quyết định thành lập một Đoàn biệt động, nhằm vào các mục tiêu, lấy mật danh là F100 do đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Bảy Dũng chính trị viên, Sáu Thành, Năm Hát chỉ huy phó, Bảy Sơn tham mưu trưởng. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu thường xuyên, để rèn luyện, F100 phải chuẩn bị sẵn sàng trinh sát mục tiêu để khi thời cơ đến thì đánh chiếm và giữ cho được các mục tiêu đầu não của địch, phối hợp cùng các tiểu đoàn mũi nhọn từ ngoài đánh vào. Đơn vị có thêm bộ phận quân bổ sung và đơn vị huấn luyện. Để thực hiện ý định này, quân khu thành lập một đơn vị bảo đảm chuyên lo việc xây dựng cơ sở hầm bí mật cất giấu vũ khí và trú ém người cho từng mục tiêu, tổ chức đường dây liên lạc và vận chuyển thiết bị vũ khí vào nội thành do các đồng chí Ba Phong, Ba Đen, Hai Sang, Hai Trí phụ trách. Chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập, F100 đã thành công được 9 đội biệt động nội đô (3, 4, 5,6, 7, 8, 9, 10, 11) mỗi đội từ 15-20 người, 3 đội đặc công biệt động ven đô. Đội 1 đứng chân ở Gò Vấp - Hóc Môn, hướng hoạt động vào khu vực chợ Bà Chiểu và thị trấn Gò Vấp; Đội 2 đứng chân ở Bình Tân, hướng hoạt động vào sân bay Tân Sơn nhất và vùng ngoại ô quận 10, quận 11. Đội 3 đặc công nước đứng chân ở Thủ Đức, Nhà Bè, hướng hoạt động là quân cảng và sông Sài Gòn. Đơn vị bảo đảm đã tạo được một số hầm và đưa vào được một số lượng vũ khí quan trọng.

Nói chung trong đội hình F100 có 12 đơn vị chiến đấu và hai đơn vị bảo đảm phục vụ ý định chiến lược là A20 và A30. A20 là đơn vị vận chuyển vũ khí vào nội thành, do đồng chí Ba Phong chỉ huy, Hai Sang làm chính trị viên.

A30 là đơn vị xây dựng các hầm ém vũ khí và ém quân do Ba Đen phụ trách, các đồng chí Sáu Thành, Tư Đỉnh lần lượt làm chính trị viên.

Cùng với lực lượng biệt động trực thuộc quân khu, lực lượng biệt động 5 cánh (phân khu) vùng ven cũng được tăng cường đội 65 Bình Tân, đội 66 Dĩ An, đội 67 Hóc Môn - Gò Vấp, đội 68 Nhà Bè - quận 4, đội 69 Thủ Đức.

Các đồng chí Trần Hải Phụng, Nguyễn Ngọc Lộc (Tư Quỳ), Nguyễn Văn Cường (Bảy Nam) được phân công ở bộ phận đặc trách nội đô, cùng các cán bộ am hiểu đô thị theo dõi xây dựng kế hoạch và phối hợp giữa tất cả các lực lượng sẽ chiến đấu ở đô thị của Thành, cánh và ngành.

Ở ngoại thành, lực lượng du kích tập trung và bộ đội địa phương nông thôn được kiện toàn theo phương hướng đủ sức đánh trả các cuộc hành quân tảo thanh của bảo an và dân vệ ngụy. Lực lượng du kích tập trung xã: Gò Vấp - Hóc Môn có 6 đội 53 người, Bình Tân có 9 đội 82 người, nhà Bè có 29 người, Thủ Đức có 4 đội 24 người.

Lực lượng biệt động các ngành, đặc biệt của Hoa vận và Thành đoàn, các độ vũ trang tự vệ các ngành khác cũng được củng cố và phân công nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể.

“Kế hoạch X” đang được triển khai thì đến giữa năm 1965, việc chuyển chiến lược của Mĩ đã hiện rõ. Tháng 5 năm 1965, đơn vị chiến đấu đầu tiên của Mĩ đã vào chiến trường Đông Nam Bộ (lữ dù 173). Đầu năm 1966 Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mở hội nghị về tình hình, nhiệm vụ và xác định: trong điều kiện Mĩ vào ta vẫn giữ quyết tâm đẩy mạnh tấn công chính trị và tấn công vũ trang, tích lũy lực lượng lượng, chuẩn bị tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Mặc dù phương án kết thúc chiến tranh giải phóng miền Nam trong kế hoạch đặc biệt không thực hiện được, kế hoạch X đã tạo được cho ta thêm điều kiện sẵn sàng đánh Mĩ trong suốt 2 năm 1966-1967, đồng thời sẵn sàng chớp thời cơ thực hiện những nhiệm vụ xuân Mậu Thân 1968.

*
*   *

Trong bối cảnh từ đấu tranh chính trị bước vào thời kì chiến tranh cách mạng trên địa bàn đô thị đầu não địch và nông thôn ven đô, hàng loạt vấn đề mới mẻ, phức tạp nảy ra, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã bám sát đường lối, chủ trương trên, đồng thời phát huy tính năng động cách mạng, đã đề ra được phương thức tổ chức và đấu tranh sát hợp thực tiễn. Thành công nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo trong thời kì này là một mặt nắm vững khâu cơ bản quyết định thường xuyên là ra sức khôi phục, phát triển lực lượng cả ở nông thôn lẫn nội thành, một mặt phân chia chiến trường Sài Gòn - Gia Định ra làm 3 loại địa bàn chỉ đạo (căn cứ du kích, vùng nông thôn ven tranh chấp và nội thành), từ đó xác định thích hợp phương châm về các hình thức đấu tranh giành thế làm chủ ở từng địa bàn và liều lượng kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang ở từng nơi, từng thời kì. Phương thức xây dựng lực lượng được đề ra một cách thích hợp, công phu, có sáng tạo; lực lượng chính trị được xây dựng theo ngành, giới và theo cả địa bàn cư trú, chú ý mở rộng mặt trận cả bên dưới lẫn bên trên; lực lượng vũ trang không chỉ có số trực thuộc quân khu, mà các ngành, các giới, các cáp đều có lực lượng tự vệ, biệt động của mình, nhờ vậy mà trong một thời gian tương đối ngắn, Sài Gòn - Gia Định đã tạo được thế và lực khá tốt trên cả địa bàn đô thị và nông tôn ven đô. Về phương thức đấu tranh, những bài học của thời kì đấu tranh chính trị đã được phát huy trong chỉ đạo các mặt, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, vận dụng linh hoạt, khéo léo, nhuần nhuyễn trong kết hợp giữa các hình thức đấu tranh công khai, bí mật, hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp. Các khẩu hiệu đưa ra khá độc đáo và đa dạng nhằm tập hợp quần chúng vào các mặt trận đấu tranh, từng bước giành quyền lãnh đạo các phong trào quần chúng.

Mặc dầu vậy, trước những vấn đề mới mẻ và phức tạp, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã vấp phải những thiếu sót khó tránh: buổi đầu có đơn giản, chủ quan trước thủ đoạn mới của địch về bình định, về “ấp chiến lược” dẫn đến những khó khăn cho phong trào cuối năm 1961 và đầu năm 1962; mặt khác về mặt xây dựng lực lượng dù có nhiều cố gắng, đạt kết quả lớn, nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu tình hình, do đó bỏ lỡ thời cơ đưa phong trào lên mạnh hơn nữa trong một số trường hợp như lúc Diệm đổ cuối năm 1963, lúc chiến tranh đặc biệt có nguy cơ phá sản vào cuối 1964 đầu năm 1965.

Trên một địa bàn vốn phức tạp, nhiều vẻ, tập trung mâu thuẫn, cọ sát quyết liệt, nhưng có những điểm mạnh rất cơ bản trên, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo quân dân Sài Gòn - Gia Định hoàn thành nhiệm vụ trong chặng đường đầu đánh bại hai chiến lược của địch, sẵn sàng bước vào một giai đoạn chiến tranh quyết liệt mới, trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh xâm lược Mĩ, chuẩn bị mọi điều kiện cho một trận quyết chiến, chiến lược mới sẽ ra ở đây.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:05:12 AM
Chương sáu

CAO TRÀO CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC TIẾN LÊN
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY,
TẬP KÍCH SÀO HUYỆT ĐỊCH - CÙNG CẢ NƯỚC
ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA MĨ
(Từ giữa năm 1965 đến giữa năm 1968)

I. TIẾN CÔNG CHÍNH TRỊ VÀ VŨ TRANG NỘI ĐÔ,
KẾT HỢP CAO TRÀO TOÀN DÂN ĐÁNH MĨ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH,
ĐÁNH BẠI HAI CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC CỦA MĨ
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH


Chiến lược chiến tranh đặc biệt bị đánh bại, nhưng đế quốc Mĩ vẫn ngoan cố lao vào “con đường hầm không có lối thoát”. Tháng 7 năm 1965, Tổng thống Mĩ Johnson quyết định “vượt qua ngưỡng cửa, chính thức bước vào cuộc chiến tranh trên bộ”(1) của Mĩ ở miền Nam Việt Nam: đưa quân chiến đấu Mĩ vào miền Nam Việt Nam thực hiện kế hoạch “3 giai đoạn” theo chiến lược “tìm diệt”(2) của tư lệnh MACV(3).

Một giai đoạn mới của chiến tranh ở miền Nam đã bắt đầu: Chiến tranh cục bộ.

Trên chiến trường B2, trong khi coi đồng bằng Sông Cửu Long là chiến trường chủ yếu của chương trình bình định giành dân, vơ vét nhân lực vật lực làm nguồn cung ứng tại chỗ cho cuộc chiến tranh, địch lấy miền Đông Nam Bộ làm chiến trường chủ yếu thực hiện chiến lược “tìm diệt” để tiêu diệt khối chủ lực nòng cốt của B2 cùng bộ máy trực tiếp chỉ đạo chiến tranh giải phóng miền Nam, nhằm “bẻ gãy xương sống Việt cộng” và tê liệt hóa “bộ não” chiến tranh cách mạng ở B2. Trong khi đó, cũng trên chiến trường này, việc đảm bảo an toàn “thủ đô” Sài Gòn, nơi đặt 32 cơ quan đầu não của địch, bao gồm cả “Nhà Trắng phương Đông”, “Lầu Năm Góc phương Đông” lại có tầm quan trọng sống còn đối với chúng. Tất cả việc huy động và bố trí lực lượng của địch đều thể hiện tinh thần trên.

Ngoài một tiểu đoàn quân cảnh Mĩ vào Sài Gòn theo quyết định thành 16 tháng 7 năm 1965, tháng 5 năm 1965 lữ đoàn dù 172 Mĩ đã đổ bộ lên Vũng Tàu. Năm tháng sau trên chiến trường miền Đông đã có hai lữ đoàn, một sư đoàn Mĩ và một số đơn vị chư hầu(4).

Đi đôi với việc đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam Việt Nam, địch tổ chức lại chiến trường, thành lập các cơ quan chỉ huy quân sự Mĩ và miền Nam, gấp rút xây dựng các cơ sở hậu cần, sân bay, đảm bảo trước mắt phục vụ cho 20 vạn quân xâm lược(5).

Lấy Sài Gòn làm trung tâm, địch hình thành thế bố trí chiến lược ở miền Đông theo tinh thần quân ngụy giữ vai trò bình định, quân Mĩ và chư hầu làm nhiệm vụ “tìm và diệt”. Biệt khu thủ đô được đổi thành Quân khu thủ đô trực thuộc Bộ Tổng tham mưu (theo sắc lệnh 124/QP ngày 2 tháng 7 năm 1965).

Đến cuối năm 1965, lực lượng địch bảo vệ an ninh vòng trong Sài Gòn có một trung đoàn bộ binh (thiếu) của sư đoàn 25 ngụy, 10 chiến đoàn ứng chiến, một liên đoàn an ninh thủ đô, 3 tiểu đoàn và 10 đại đội bảo an, 50 trung đội dân vệ và một đại đội quân cảnh. Ngoài ra, quân khu thủ đô còn được tăng cường tiểu đoàn 30 biệt động quân, tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến, tiểu đoàn khóa sinh, một chi đội cơ giới và 2 pháo đội 105 milimét.

Phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn ngoài các đơn vị Mĩ và chư hầu ở Lai Khê, Bến Cát, Phước Vĩnh, Phú Lợi (Bình Dương), Long Bình (Biên Hòa), Dĩ An, Núi Đất (Bà Rịa)… còn có các đơn vị chủ lực ngụy: sư 25 bộ binh (thiếu) hoạt động trên hướng Đông và Đông Nam thành phố. Cơ động về hướng Đông, Đông Bắc có sư đoàn 5 và sư đoàn 18 ngụy.

Địch chia Sài Gòn - Gia Định thành 4 vùng: vùng A (địch kiểm soát) là vùng phát triển, vùng B (vùng tranh chấp yếu của ta) là vùng trọng điểm bình định, vùng C (vùng có căn cứ du kích) tranh chấp mạnh, vùng D (vùng giải phóng và căn cứ của ta) là vùng “tìm diệt”, tự do oanh kích.

Đầu não ngụy Sài Gòn đang rối loạn qua 11 cuộc đảo chính (kể cả “đảo chính hụt”) đầu sỏ tay sai lật nhau. Mĩ dựa vào đám tướng tá trong quân đội ngụy dựng lên một nội các quân phiệt mới do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch “Ủy ban lãnh đạo quốc gia” (cương vị quốc trưởng), thiếu tướng Nguyễn Cao Kì làm chủ tịch “Ủy ban hành pháp Trung ương” (thủ tướng).


(1) Bình luận trong tài liệu mật của BQP Hoa Kì trước việc ngày 17 tháng 7 năm 1965 Jonhson chấp nhận đưa 44 tiểu đoàn chiến đấu Mĩ vào miền Nam Việt Nam, thông qua chiến lược “tìm và diệt” của Westmoreland.
(2) Gia đoạn 1 (tháng 7 năm 1965 đến cuối năm 1965): Ngăn chặn tiến công mùa mưa của ta, ngăn chặn chiều hướng thua, triển khai lực lượng Mĩ trên chiến trường - Giai đoạn 2 phản công chiến lược, giành chủ động diệt chủ lực ta, tiến hành bình định, kiểm soát nông thôn (từ đầu đến giữa năm 1966) - Gia đoạn 3 (từ tháng 7 năm 1966 đến giữa hoặc cuối năm 1965) hoàn thành tiêu diệt chủ lực và căn cứ đối phương, bình định miền Nam, bắt đầu rút quân Mĩ, giao cho quân ngụy tiếp tục bình định.
(3) Bộ chỉ huy viện trợ quân sự trùm lên phái đoàn cố vấn viện trợ MAAG, tháng 5 năm 1962 được chính thức nới rộng quyền hạn với tính chất một bộ tư lệnh tiền phương của Mĩ ở Đông Nam Á.
(4) Lữ đoàn 173 Mĩ cơ động, một lữ đoàn thuộc sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” ở Củ Chi, sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ” Mĩ đóng Bộ chỉ huy ở Lai Khê, một bộ phận lữ đoàn hoàng gia Úc ở Dĩ An, Bà Rịa cùng một số phân đội pháo binh Tân Tây Lan…
(5) Trong đó có hệ thống cảng Sài Gòn - Vũng Tàu - Cam Ranh - Đà Nẵng, lập 6 quân cảng trên sông Sài Gòn - Nhà Bè, nâng cấp các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất… Thành lập các căn cứ không quân…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:06:43 AM
*
*   *

Trước việc quân viễn chinh Mĩ ồ ạt đổ vào miền Nam, hàng loạt dấu hỏi lớn đang đặt ra cho nhân dân ta: phải thắng một đối thủ hơn ta gấp bội về tiềm lực kinh tế và quân sự như thế nào? Về chiến lược, ta tiếp tục tiến công hay chuyển sang phòng ngự?

Giải đáp những băn khoăn này, Bộ chính trị nhận định trong thư ngày 6 tháng 11 năm 1965 gửi Trung ương Cục và khu ủy Khu 5: Mĩ phải đưa quân chiến đấu vào chiến trường trong thế thua và thế bị động về chiến lược. Cuộc phản công lớn nhằm cứu vãn thế thua và cố giắng giành chủ động của Mĩ chắc chắn sẽ xảy ra. Bức thư nêu rõ: “Trong giai đoạn hiện nay, nắm thế chủ động là phải giữ và phát triển hơn nữa quyền làm chủ rừng núi, đồng bằng chung quanh đô thị và tiến tới cả từng vùng của đô thị nữa”.

Nhận rõ vị trí đặc biệt của Sài Gòn trong giai đoạn mới, từ sau Hội nghị Khu ủy ở Suối Dây (tháng 4 năm 1965), Trung ương Đảng và Trung ương Cục quyết định lần lượt tăng cường cho Sài Gòn - Gia Định nhiều cán bộ.

Cơ quan đầu não của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định được bố trí lại; đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư; Trần Bạch Đằng (Tư Ánh), Ủy viên thường vụ, trưởng ban tuyên huấn; Mai Chí Thọ (Năm Xuân), Ủy viên thường vụ phụ trách an ninh; Trần Đình Xu (Ba Đình), Ủy viên thường vụ, Tư lệnh quân khu; Đoàn Công Chánh (Năm Bảo), Ủy viên thường vụ, phụ trách nông thôn; Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình) Ủy viên thường vụ, trưởng ban tổ chức, Phan Văn Hân (Hai Sang), phụ trách binh vận và nhiều đồng chí khu ủy viên phụ trách các ngành khác…

Ban công vận Sài Gòn - Gia Định xuất bản bí mật tờ Công Nhân lưu hành đến tận cơ sở nội thành. Ta còn có các tờ báo công khai Tin Vắn, Hồn Trẻ, Trí Thức cho các giới khác.

Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1965, địch thực hiện “giai đoạn 1” của kế hoạch Westmoreland nhằm đạt hại mục tiêu lớn: ngăn chặn hoạt động mùa mưa của đối phương, quân ngụy Sài Gòn không tan rã thêm; tổ chức lại chiến trường, triển khai quân viễn chinh trên toàn miền Nam.

Quân dân miền Nam đã thắng Mĩ những trận đầu: Núi Thành (ngày 28 tháng 5 năm 1965), Vạn Tường (ngày 18 tháng 8 năm 1965), Playme (tháng 10 năm 1965)… bước đầu chứng minh khả năng đánh được Mĩ cả trong và ngoài căn cứ của chúng.

Tại Sài Gòn, sau những trận “dằn mặt”, các trận của đội trinh sát quân báo quân khu, suốt 10 ngày liền, các cuộc biểu tình nổ ra từ một hai vạn đến 10 vạn người chống Mĩ đưa quân vào miền Nam, chống khủng bố, chống mị dân với những trận đánh trên đường phố nhằm vào lính Mĩ đang tăng lên rõ rệt. Sang các tháng 5 và 6 năm 1965, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã triển khai một bước mới. Các lực lượng biệt động nộ thành được sắp xếp thành các đội phụ trách các mục tiêu chiến lược. Đưa đoàn F100 trực thuộc quân khu (tháng 6 năm 1965) để chuẩn bị đón thời cơ. Các Ban chỉ huy quân sự 5 cánh (cả nông thôn đô thị) xung quanh thành phố được củng cố và tăng cường để đủ sức làm nhiệm vụ ở 5 hướng.

Trước áp lực ngày càng tăng về chính trị, quân sự ở ngay “thủ đô”, địch tăng cường mạnh mẽ bộ máy cảnh sát. Tổng nha cảnh sát quốc gia phối hợp với Nha cảnh sát đô thành quyết liệt đánh phá phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn. Ngoài mạng lưới cảnh sát, cảnh sát nổi, bủa ra khắp Sài Gòn - Gia Định, địch tổ chức tay sai chui và các tổ chức, hiệp hội công khai của quần chúng và các phe đối lập để theo dõi và phá hoại phong trào từ bên trong. Qua số du học chuyên tu ở Mĩ, Nhật, Đài Loan… nhất là qua huấn luyện trực tiếp tại chức của các cố vấn Hoa Kì, địch đã biến lực lượng cảnh sát miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn thành đội quân cực kì tàn bạo và thâm độc, kềm kẹp chặt dân thành phố đến tận gia đình, đến từng khu phố, qua hệ thống “ngũ gia liên bảo”.

Sau trận đánh tòa Đại sứ Mĩ ngày 30 tháng 3 năm 1965, Nha cảnh sát đô thành đột ngột thay đổi một số quy định về chiều của đường, bọc hàng rào lưới sắt quanh các vị trí Mĩ, bủa nhiều lớn rào kẽm gai ngang dọc trên một số đại lộ, xe jeép gắn súng đại liên 30 túc trực các khu trọng yếu, cảnh sát công lộ được quyền nổ súng và các loại xe vi phạm luật lệ giao thông. Chúng lập hàng rào cảnh sát chung quanh các khu vực có nhiều Mĩ ở, không cho xe cộ tiếp cận các cơ quan, cư xá Mĩ, bắn bỏ những người lai vãng, bất thần chụp xét trên nhiều đường phố, rượt bắt xe cộ khả nghi… Những cuộc bố ráp, thường xuyên hoặc tổng lục soát theo tin tức tình báo diễn ra bất ngờ ban đêm.

Bên cạnh cảnh sát ngụy, còn có mặt hàng ngàn quân cảnh thuộc các đơn vị đại đội 66, tiểu đoàn 176, các biệt đội 560, 175, làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, sào huyệt Mĩ. Quân cảnh Mĩ tuần tiễu trên các đường phố Sài Gòn, tập trung ở các quận 1, 2, 3, 5 là những nơi có nhiều Mĩ đóng quân.

Biệt động Sài Gòn gặp khó khăn trước hệ thống và biện pháp phòng thủ mới của địch, tuy nhiên những trận tấn công địch trên đường phố và tại sào huyệt vẫn tiếp diễn, nhiều trận gây thối động lớn.

Ngày 16 tháng 8 năm 1965, đội 5 phối hợp đội 7 biệt động thuộc F100 tấn công Tổng nha cảnh sát ngụy, đúng vào lúc địch đang làm lễ chào cờ buổi sáng(1) (Nguyễn Thanh Xuân chỉ huy).

Ngày 14 tháng 12 năm 1965, đội biệt động lại thực hiện cuộc tấn công khách sạn 7 tầng Metropole giành cho giặc lái Mĩ và chư hầu ở góc đường Nguyễn Cư Trinh - Trần Hưng Đạo. Đồng chí Nguyễn Thanh Xuân (Bảy Bê) chỉ huy một đoàn xe gắn máy và xe hơi, trang bị tiểu liên, chất nổ, đột nhập chớp nhoáng. Khối thuốc nổ C4 400 kg làm chết và bị thương nhiều giặc lái Mĩ và nhân viên kĩ thuật(2).

Ngay hôm sau, trên đoạn sông Sài Gòn - Bình Dương, các chiến sĩ đặc công Sài Gòn - Gia Định vật lộn với sóng nước, đánh chìm tại chỗ một đội tàu tuần tiễu của quân ngụy.


(1) Các chiến sĩ biệt động võ trang tư lệnh ngồi trên xe gắn máy yểm trợ cho đội trưởng Nguyễn Thanh Xuân tức Bảy Bê lái xe hơi chứa chất nổ lao thẳng vào cổng, điểm hỏa rồi thoát.
(2) Báo cáo lúc đó: diệt và làm bị thương 137 tên Mĩ và chư hầu.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:07:56 AM
Đội biệt động vũ trang của thanh niên công nhân Hoa Kiều vừa mới thành lập, ra quân vào những tháng cuối năm 1965. Từ những trận đầu chỉ có dao, chất nổ, a xít… tiến lên những trận sau có súng ngắn, chất nổ, mìn định hướng… đội đã trừng trị nhiều tên tay sai ác ôn, đặc vụ Đài Loan như Tô Văn Phiên, Giảng Tứ Sơn… nhiều tên phòng vệ dân sự khét tiếng gian ác ở phường, khóm và cả những sĩ quan, binh lính Đại Hàn.

Đội biệt động Thành đoàn và đội vũ trang mang tên Nguyễn Văn Trỗi được Thành đoàn thành lập đầu năm 1965 thực hiện hàng loạt trận đánh nhỏ lẻ trên đường phố, các bót cảnh sát khắp nội thành: Chợ Bà Chiểu, Tân Định, đường Cộng Hòa; Tân Sơn Nhất, Hai Bà Trưng, ngã tư Bảy Hiền, đường Trần Quốc Toản. Đối tượng biệt động Thành là cảnh sát, ác ôn ngụy, lính Mĩ.

Đêm 30 tháng 12 năm 1965, 12 chiến sĩ đội 2 biệt động F100 tập kích khu hậu cần Mĩ vừa mới triển khai ở ngã tư Bảy Hiền, phá hủy nhiều xe quân sự, loại nhiều tên giặc.

Vào một ngày đầu năm 1966, trên đường Hai Bà Trưng, một xe “cam nhông” chở đầy nữ công nhân đi làm, tình cờ vừa đến ngang cư xá Brink - nơi ở của các sĩ quan Mĩ độc thân - thì chết máy. Quân cảnh Mĩ đang gác, thổi còi, nhưng xe chưa chạy được. Lập tức, chúng nhằm vào xe xả đạn. Tất cả 45 chị em đang chen chúc trên thùng xe đều ngã gục. Máu chảy xuống mặt đường, nhuộm đỏ cả những nắm cơm chị em mang theo ăn trưa. Tin này lan đi làm chi cho cả Sài Gòn bàng hoàng và vô cùng tức giận.

Trên vùng ven và cận Sài Gòn, Củ Chi, Đức Hòa đã có phong trào đăng kí diệt Mĩ ngay trước khi quân Mĩ đến. Quân dân các vùng căn cứ, vùng tranh chấp khẩn trương củng cố lực lượng du kích và dân quân tự vệ, sửa chữa và xây dựng các ụ chiến đấu và hệ thống địa đạo, hình thành các “bãi tử địa”, rào làng, đào đắp công sự chống phi pháo theo các hành lang xom, ấp, liên xã, hình thành một thế trận liên hoàn từ vùng căn cứ giải phóng đến các vùng sâu, vùng yếu.

Ngoài các cuộc hành quân cảnh sát, Mĩ ngụy liên tục mở các cuộc hành quân đánh thọc vào các lõm căn cứ cách mạng xung quanh Sài Gòn để yểm trợ cho công cuộc bình định, đồng thời để thăm dò khả năng của đối phương. Các cuộc hành quân quy mô vừa này, sẽ phối hợp “các lực lượng đồng minh” đặc biệt đánh lên vành đai Tây Bắc - Bắc, Đông Sài Gòn(1). Từ những trận đầu, các lực lượng chiến tranh nhân dân vùng ven Sài Gòn đã chứng minh là diệt được Mĩ. Trên mặt trận Dĩ An, trong năm ngày từ khi Mĩ đến, bộ đội địa phương diệt và làm bị thương 150 tên. Ở Rừng Cò Mi, 3 du kích xã Bình Hòa, đương đầu một tiểu đoàn Mĩ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 40 tên, thu 2 súng.

Các lực lượng vũ trang Củ Chi, Thủ Đức tổ chức ngay các buổi rút kinh nghiệm qua những trận đầu giáp chiến quân Mĩ, tăng lòng tự tin “đánh được”.

Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1965, các tiểu đoàn bộ binh quân khu Sài Gòn - Gia Định được huấn luyện ở đoàn 165A theo “phương án X” lần lượt được đưa về chiến trường ven Sài Gòn: Tiểu đoàn 2 về Hóc Môn - Gò Vấp, tiểu đoàn 3 về Dĩ An, tiểu đoàn 4 về Thủ Đức, tiểu đoàn 5 về Nhà Bè, tiểu đoàn 6 về Bình Tân, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 (pháo binh) ở Củ Chi cùng với tiểu đoàn 1 (tăng cường) cơ động.

Trên đất miền Đông, những trận đầu thắng Mĩ đang cố vũ khí thế “tìm Mĩ mà diệt”, ngày 10 tháng 10 năm 1965 tại An Điền (Bến Cát), lần đầu tiên 4 du kích bày thế trận diệt trung đội Mĩ bằng súng, mìn và lựu đạn.

Lần đầu tiên trên chiến trường B2, ngày 8 tháng 11 năm 1965 tại Đất Cuốc (Chiến khu Đ), tiểu đoàn 3 trung đoàn 1, sư đoàn 9 quân giải phóng và các lực lượng địa phương Tân Uyên, tiêu diệt tiểu đoàn Mĩ. Ngày 12 tháng 11 năm 1965 tại Bàu Bàng, sư đoàn 9 (thiếu), lần đầu tiên ở miền Nam vận động tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn Mĩ đóng quân dã chiến trên bên quốc lộ 13.

Đây là những mẫu hình về khả năng tiêu diệt phân đội và đơn vị nhỏ Mĩ của các lực lượng chiến tranh nhân dân trên đất miền Đông. Nhưng trong khi phong trào diệt Mĩ đang sôi nổi trên chiến trường thì nhiều địa phương lại xem nhẹ việc đánh ngụy. Bộ chỉ huy Miền đã phát động phong trào “tìm Mĩ mà diệt, lùng ngụy mà đánh”. Trận Dầu Tiếng (ngày 27 tháng 11 năm 1965) lần đầu tiên diệt chiến đoàn ngụy ở miền Nam, cổ vũ phong trào “tìm ngụy mà đánh”.

Ngày 20 tháng 11 năm 1965, Bộ chỉ huy Miền lại phát động thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mĩ”. Cục chính trị Miền cụ thể hóa các cấp danh hiệu dũng sĩ, phát triển thêm các danh hiệu “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dúng sĩ diệt máy bay”, “Dũng sĩ diệt ngụy”…

Tháng 12 năm 1965 sang tháng 1 năm 1966, bom đạn Mĩ trút xuống ven đô thành ngày càng nhiều, những loạt bom B5 đã rải thảm ở Rừng Làng, An Nhơn Tây (Củ Chi).. làm rung cửa kính thành phố. Báo chí Hoa Kì gọi B52 là “thần mưa bom khủng khiếp” và rêu rao “chỉ cần một cái bấm nút, một vùng quê sẽ tan biến dưới con lốc lửa…”

Ở chiến trường ven đô đã xuất hiện cùng một lúc xe tăng bầy, pháo bầy, trực thăng bầy, B52 bầy… không tránh khỏi có nhiều người lo lắng. Ta quyết thắng, nhưng khó khăn nhiều, hàng loạt câu hỏi đặt ra.

Tháng 12 năm 1965, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12 ra Nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ của thời kì Mĩ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ. Nghị quyết đánh giá “mặc dù Mĩ đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn” và xác định “phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công”, phương châm chiến lược là “đánh lâu dài”, nhưng phấn đấu tích cực “tập trung lực lượng cả hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”.


(1) Ngày 2 tháng 9 năm 1965, lữ đoàn dù 175 Mĩ phối hợp với quân ngụy hành quân trực thăng vận đánh Hố Bò (phía Bắc Củ Chi), ngày 10 tháng 10 năm 1965, lữ 2 sư bộ binh 1 Mĩ đánh vào xóm Chùa Củ Chi; ngày 6 tháng 10 năm 1965, sư bộ binh 5 ngụy hành quân tảo thanh vùng Trung An (phía Nam Củ Chi), suốt tháng 11 năm 1965 một tiểu đoàn Mĩ thực hiện cuộc hành quân ủi phá rừng Cò Mi (Thủ Đức)…


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:10:04 AM
Đầu năm 1966, tám tháng sau hội nghị Suối Dây (tháng 4 năm 1965), nghiên cứu tình hình, nhiệm vụ mới, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định lại mở cuộc hội nghị về tình hình nhiệm vụ của khu trong thời kì chiến tranh cục bộ. Qua phân tích thực tiễn chiến trường, hội nghị xác định trong điều kiện có quân chiến đấu Mĩ, ta vẫn giữ quyết tâm đẩy mạnh đấu tranh chính trị, gắn với đấu tranh vũ trang, không ngừng tích lũy lực lượng, chuẩn bị tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Khu ủy nhất trí Mĩ vào là thời cơ để phát động mạnh tinh thần dân tộc. Mĩ gây ra chiến tranh cục bộ, ta chuyển toàn lực đánh Mĩ, từ nông thôn, vùng ven, đến nội đô, phát động một phong trào toàn dân diệt Mĩ cả ngay trong nội đô, chỉ đạo lực lượng biệt động đánh những trận thối động lớn: ở ngoại thành phố thì đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, phát động cao trào du kích diệt Mĩ.

Củ Chi trở thành nơi tập trung mũi nhọn của Mĩ. Các đồng chí lãnh đạo Củ Chi xác định trong Nghị quyết Đảng bộ mình: “Đây là chiến tranh ăn cướp nêu dù có là kiểu gì cũng phải đánh. Đánh Mĩ để cứu nước, cứu nhà. Ta và giặc Mĩ không thể cùng tồn tại mà phải một còn một mất trên đất này”.

Tháng 12 năm 1965, Westmoreland đánh giá là đã hoàn thành giai đoạn 1 và bắt đầu chuyển sang giai đoạn 2 “phản công chiến lược” gồm 2 bước: phản công lần 1 (tháng 1 năm 1966 đến giữa năm 1966), phản công lần 2 (từ tháng 10 năm 1966 đến giữa năm 1967) (“Counter offensive phase I” và “Counter offensive phase II”).

Với lực lượng 70 vạn quân “đồng minh”, địch vào mùa phản công I với chiến lược “tìm diệt” tập trung trên hai hướng chính là miền Đông Nam Bộ và khu 5. Mục tiêu bước này là “bẻ gãy xương sống Việt cộng”, tức là đánh bại chủ lực đối phương, giành lại thế chủ động trên chiến trường, qua đó củng cố ngụy quân, ngụy quyền.

Ở miền Đông Nam Bộ, vùng giải phóng phía Bắc Củ Chi là một trong những mục tiêu hàng đầu mà địch ưu tiên sử dụng lực lượng nhằm tiêu diệt chủ lực giải phóng, triệt phá căn cứ đầu não Quân khu Sài Gòn - Gia Định, giải tỏa áp lực “Việt cộng” và mở rộng vành đai an toàn quanh Sài Gòn. Cuộc hành quân đánh vào phía Bắc Củ Chi của Mĩ mang tên Crimp là cuộc hành quân mà “cả Chiến tranh thế giới thứ hai không có một kế hoạch tác chiến nào hoàn hảo như thế”(1). Với lực lượng được huy động đến 12.000 quân (gồm 2 lữ đoàn 2 và 3 thuộc sư đoàn bộ binh 1 Mĩ, 1 tiểu đoàn Úc, 8 tiểu đoàn ngụy), 300 máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng, 600 pháo, cối, 600 xe cơ giới… được không quân chiến lược B52 yểm trợ dọn bãi (24 lượt chiếc), có cả chó berger lùng sục…

Chuẩn bị vào trận lớn với quân Mĩ, quân dân Củ Chi đã củng cố hệ thống hầm chống pháo 175mm, 203mm, bom tấn.

Làng chiến đấu có thể vừa phòng thủ vừa tiến công, có thể đánh kẻ thù từ trên trời xuống, trong ra, ngoài vào.

Ngày 8 tháng 1 năm 1966, sau khi cho máy bay B52 và không quân chiến thuật, pháo binh vằm mặt đất, từng bày máy bay lên thẳng Mĩ ồ ạt đổ quân xuống phía Nam lộ 7 trong lúc từng bầy xe tăng, thiết giáp từ căn cứ ngụy Trung Hòa chia làm nhiều mũi tiến thẳng vào 2 xã An Phú, Phú Mĩ Hưng, vùng căn cứ Quân khu Sài Gòn - Gia Định, dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh. Từng toán chó berger đi trước, các phân đội lính Mĩ theo sau. Quân “đồng minh” sục vào nhà nông dân, dùng lưỡi lê rạch nát những bao gạo, đá tung tóe ra đất. Từng đống lúa, từng ngôi nhà bị súng phun lửa biến thành tro tàn. Xe ủi làm nhiệm vụ “bóc vỏ mặt đất”, không trừ nhà cửa, vườn tược.

Trước tình hình một chọi mười, chọi trăm, nhân dân Củ Chi quyết chiến trên thế trận đã dàn sẵn. Đồng chí Bảy Di, xã đội trưởng xã Trung Lập Hạ đưa du kích ra chiến hào tuyên bố: “Đây là vị trí của chúng ta, hãy đánh đến cùng, nếu có phải hi sinh thì hi sinh trên chiến hào này!”.

Ở Hố Bò xã Phú Mĩ Hưng, 1 tiểu đoàn Mĩ có 37 xe tăng và xe bọc thép yểm trợ từ hướng Đông Nam theo lộ 15 tiến vào. Một tiểu đội du kích và bộ đội địa phương với 5 súng trường, 1 carbine, nhiều lựu đạn và mìn các loại, chờ đánh tiểu đoàn này ở khu vực ngã bay Cây Gõ. Dựa vào các ụ chiến đấu, địa đạo và địa hình có lợi, để cho địch đến thật gần “lọt vào bãi tử địa”, du kích linh hoạt cơ động, thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh phía trước, phía sau, bên sườn… qua một ngày chiến đấu, tiểu đoàn đã loại 107 tên Mĩ và 6 xe tăng, xe bọc thép. Trên một hướng khác cũng xã này, tại ấp Phú Bình, trên một diện tích nhỏ hơn 1, một tiểu đoàn 9 du kích với hệ thống hầm hào khi ẩn khi hiện, đã cầm chân 400 tên lĩnh Mĩ và 60 xe M113 suốt 8 ngày liền. Ở Trung Lập Hạ, trên một trận địa hẹp, không còn một bóng cây, trong 10 giờ liền, lực lượng vũ trang ta đánh lui 7 đợt đột kích của Mĩ, loại khỏi vòng chiến 118 tên. Nhiều tên bỏ xác trong đường hầm vì đuổi theo du kích. Ở Phước Hiệp chỉ trong 2 đợt đầu đánh địch đổ quân, du kích bắn cháy 3 máy bay lên thẳng.

Đoạn ghi chép sau đây của chiến sĩ Trần Bàn, đề ngày 11 tháng 1 năm 1966 trong rừng Hố Bò, mà hai nhà văn Anh (đã dẫn ở trên) viết lại trong “câu chuyện khó tin về cuộc chiến tranh trong lòng đất Việt Nam”, một trong tám nghìn đồ vật mà quân Đồng Minh thu được trong địa đạo Củ Chi(2) đã nói lên ý chí sắt thép của du kích Củ Chi trong cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt:

“… Nhiều hầm đổ sụp. Nhiều bạn đồng đội bị chẹn trong hầm, chưa ra được, chưa rõ số phận của các cô Ba, Bảy, Hồng Hạnh và Tám Hà ở trong hầm ra sao. Các cô Tám và Út đã tử trận vì bảo vệ đường dây. Chưa kịp chôn cất các cô, thân thế các cô bị thối rữa. Buổi chiều, một du kích trong ấp đi trinh sát, cố lần mò đến địch, đã bị giết. Chưa lấy xác ra được.

… Nhà cửa đổ sụp, cây cối tan hoang. Mình đang nói chuyện thì một trái rốc két nổ cách mình khoảng hai trăm mét và bom bắt đầu rơi như mưa

Những ngày ở trong lòng đất thật khủng khiếp. Ăn cơm nguội với muối rang, uống nước lã. Nhưng ở đây tự do và thoải mái.

Phải chiến đấu, tiêu diệt chúng. Chúng mày (bọn Mĩ) không thể thoát được. Trước lúc rạng đông trời bao giờ cũng tối. Sau mưa trời sẽ tạnh… Phải quyết tâm thắng giặc Mĩ xâm lược”.

Người ghi đoạn nhật kí này đã hi sinh ngay dưới hầm. Người đã thu được một chiến lược “vô giá” này là một tên lính thuộc trung đội 3 công binh Úc.


(1) Nhận xét của hai nhà văn Anh Jonh Penycate và Tom Mangold trong cuốn “Câu chuyện khó tin về cuộc chiến tranh trong lòng đất Việt Nam”.
(2) Theo sách đã dẫn của hai nhà văn Anh John Pnycate và Tom Mangold đã nói ở trên.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:11:33 AM
Hơn 10 ngày, cuộc hành quân Crimp đã tỏ ra là không đạt mục tiêu tiêu diệt cơ quan đầu não và đơn vị chủ lực quân giải phóng. Đến ngày 19 tháng 1 năm 1966 địch buộc phải kết thúc. Các lữ đoàn “Anh cả đỏ” kéo xuống Nam Củ Chi, và lập căn cứ tại Đồng Dù.

Sau 12 ngày đêm (từ ngày 8 đến ngày 19 tháng 1 năm 1966), quân và dân Bắc Củ Chi đã đánh 200 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương trên 100 Mĩ ngụy, bắt sống 1 thiếu tá, bắn rơi 84 máy bay các loại (có loại 79HU1A), phá hủy và phá hỏng 77 xe quân sự (có 56 xe bọc thép M113), 2 pháo 105 li. Chỉ có một mục tiêu mà coi như cuộc hành quân Crimp đạt được là tàn phá: giặc Mĩ đã san bằng trên 1.000 ngôi nhà, đốt trụi 2.000 ngôi nhà khác, triệt hạ hàng ngàn hécta vườn cây, ruộng lúa, càn nát nhiều giao thông hào, đánh sập một số miệng địa đạo.

Từ tháng 12 năm 1965 đến tháng 4 năm 1966, Westmoreland lần lượt điều các đơn vị thuộc sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, một sư đoàn đã kinh qua huấn luyện và chuyên tác chiến ở vùng rừng nhiệt đới, chống du kích… đang làm nhiệm vụ ở Kontum vào miền Đông Nam Bộ. Một trong những nhiệm vụ trước mắt của sư đoàn này là thay thế lữ 3 sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, giải tỏa vành đai diệt Mĩ Đồng Dù ở Củ Chi và lập ở đây một căn cứ chỉ huy hoàn chỉnh cấp sư đoàn Mĩ.

Kế hoạch xây dựng căn cứ Bắc Hà (Đồng Dù) đã được vạch ra từ đảo Hawai.

Quân Mĩ chà đi xát lại, tập trung xung quanh Đồng Dù, hủy diệt tất cả các vùng Bàu Cạp, Cây Sộp, Trảng Lâm, Phú Hiệp… san bằng trên 2.000 ngôi nhà, nhiều vườn cây. Sư đoàn 25 Mĩ đã biến vùng đất quanh Đồng Dù và cả vùng lớn phía Bắc Củ Chi thành một vành đai trắng. Cho đến năm 1966, 660 ha, trong đó có 350 ha đồn điền cao su xã Phước Vĩnh An đã trở thành căn cứ của 4.500 lính Mĩ, gồm sư đoàn bộ và lữ đoàn 2 sư đoàn 25 Mĩ(1).

Đêm 20 tháng 1 năm 1966, tiểu đoàn Quyết Thắng bám sát địch rút lui khi chấm dứt trận càn Crimp, thực hiện trận tập kích một tiểu đoàn Mĩ đóng dã ngoại tại lô cao su số 6 Gò Nổi. Lực lượng tấn công chia làm 3 mũi, bí mật tiến cận địch, B40, B41, ĐKZ và cối cấp tập khai hỏa, bộ binh xung phong, tràn vào chỗ địch ngủ mà đánh. Sau 3 giờ chiến đấu, tiểu đoàn Quyết thắng đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mĩ. Đây là tiểu đoàn Mĩ đầu tiên bị loại trên chiến trường ngoại thành Sài Gòn - Gia Định.

Ngày 25 tháng 1 năm 1966, trên mảnh đất Củ Chi còn nóng bỏng khí thế chiến đấu, Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định tổ chức ngay hội nghị tổng kết chiến tranh nhân dân ở Củ Chi. Qua hiệp đầu, nhân dân Củ Chi đã góp phần giải đáp một câu hỏi lớn cho toàn Miền: chiến tranh nhân dân có thể thắng chiến tranh hiện đại của Mĩ.

Ngày 7 tháng 2 năm 1966, Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở đại hội dũng sĩ diệt Mĩ ngay trên đất Củ Chi. Đại hội tuyên dương “Dũng sĩ diệt Mĩ” cho 200 cá nhân đã diệt được Mĩ. Trần Thị Gừng, Võ Thị Mô là những nữ dúng sĩ diệt Mĩ đầu tiên của Củ Chi. Bác nông dân Nguyễn Văn Nì được xếp hàng dũng sĩ cấp ưu tú(2). Qua việc đánh bại cuộc hành quân Crimp của địch, qua diễn đàn của các đại biểu, các dũng sĩ, Đại hội rút ra 10 kết luận về khả năng đánh Mĩ của chiến tranh nhân dân địa phương:

1 - Ai cũng đánh Mĩ được.

2 - Vũ khí gì cũng đánh được Mĩ.

3 - Nhiều đánh được, ít cũng đánh được, một ngươi, một tổ đều đánh được.

4 - Ở đâu cũng đánh được Mĩ, chỉ cần tích cực bám địch, tìm địch là đánh được.

5 - Ngày cũng đánh được, đêm cũng đánh được.

6 - Địch phản công là cơ hội để diệt chúng.

7 - Đánh ở phía trước, đánh trong hậu cứ địch. Đánh đều khắp, làm cho địch bị động, bối rối càng dễ đánh hơn.

8 - Đánh địch trong ấp chiến lược và cả ngoài xã, ấp chiến đấu.

9 - Có khả năng thắng tất cả mọi binh chủng của Mĩ, như bộ binh, xe tăng, máy bay, biệt kích.

10 - Đánh bằng vũ trang, bằng chính trị và cả bằng binh vận làm cho địch tan rã nhanh chóng.

Đại hội phát động tiếp tục phong trào thi đua diệt Mĩ trên toàn huyện Củ Chi. Ngày 9 tháng 2 năm 1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định lại hợp bàn và ra chỉ thị lập vành đai diệt Mĩ trên vùng phía Nam Củ Chi. Sau cuộc hành quân Crimp, du kích 6 xã phía Bắc Củ Chi bám riết lữ 2, lữ 3 sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” Mĩ, xuống tận phía Nam Củ Chi, bao vây căn cứ Mĩ Bắc Hà (Đồng Dù), hình thành một thế trận chiến đấu kiểu vành đai. Từ đó một phần đất của các xã Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông trở thành tuyến lửa bao vây địch. Toàn bộ vành đai là một trận địa nhiều tuyến, nhiều ổ, cụm chiến đấu, lỗ bắn tỉa, ấp xã chiến đấu liên hoàn, vừa là trận địa vây hãm, ngăn chặn địch nống ra, lại vừa là bàn đạp tiến công đột nhập căn cứ địch. Cấu trúc trận địa linh hoạt theo địa hình, cụ thể từng khu vực: trận địa xã Nhuận Đức gồm 3 tuyến. Tuyến một chỉ cách căn cứ Đồng Dù con suối Bến Mương, kéo dài từ Bàu Chứa tới Bàu Cạp, dài 2km. Phía trước tuyến 1 là bãi mìn và chông. Tuyến 2 và 3 ở phía sau, nối tuyến 1 bằng giao thông hào lộ thiên và ngầm. Trên tuyến 2, tuyến 3, ngoài các ụ chiến đấu chống bộ binh như ở tuyến 1, còn có các ụ bắn máy bay bay thấp.

Trên địa bàn xã Nhuận Đức, 3 du kích đã dựa vào thế trận làng để chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của lực lượng Mĩ đông gấp đôi, giữ vững trận địa bắn tỉa.


(1) Trong căn cứ có 90 xe tăng, xe bọc thép, 150 xe vận tải quân sự, 15 pháo hạng nặng, 5 máy bay vận tải, máy bay trinh sát, nhiều máy bay lên thẳng. Đồng Dù còn là căn cứ xuất phát hành quân của trung đoàn 11 thiết giáp Mĩ.
(2) Dũng sĩ diệt Mĩ các cấp do Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đề xướng, Cục Chính trị B2 bổ sung cụ thể và quy định trên toàn miền Nam: - Cấp 3: diệt được 3 Mĩ hoặc làm chết, bị thương 5 tên. - Cấp 2: giết được 6 tên, hoặc làm chết, bị thương 9 tên. - Cấp 1: giết được 9 tên, hoặc làm chết, bị thương 14 tên. - Cấp ưu tú: giết chết 15 tên Mĩ hoặc làm chết, bị thương 18 tên.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:11:56 AM
Đoạn vành đai xã Trung Lập có 5 tuyến kéo dài từ ấp Bàu Tre đến Trảng Lâm. Mỗi tuyến cách nhau từ 50 đến 70 mét. Tuyến dài nhất 5km, tuyến ngắn nhất 3km. Tuyến một sát địch, các ụ chiến đấu chỉ cách nhau trên dưới 15 mét, có giao thông hào nối ra tận đường làng 2. Tuyến 5 cuối cùng, các ụ chiến đấu được xây dựng vững chắc, có hầm cấp cứu, các hầm ẩn nấp, hầm làm việc.

Đoạn vành đai xã Phú Hòa Đông lại hình thức từ “thế trận thiên nhiên” của khu vực những hầm đá, gò đống, cây tầm vông. Căn cứ “Hầm đá một nước Nước Nhì” và căn cứ “xóm Bà Nhiễm” xây dựng tại ấp Phú An, trên khu đất cây Tầm vông rộng trên 40 hecta. Một chuỗi ổ chiến đấu được bố trí kín đáo giữa những bụi cây, ăn thông ra hệ thống địa đạo chính liên xã. Hai bãi tử địa được thiết lập án ngữ mặt đường 15 vô, Đồng Dù tới. Chính tại xóm Bà Nhiễm, nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra từ cuộc càn Crimp, hàng chục xe tăng, xe ủi đất của địch bị đánh gục.

Cuộc chiến đấu trên vành đai diễn ra vô cùng ác liệt. Du kích chỉ cách địch từ ba, bốn chục mét đến vài trăm mét, nhưng thế trận và hình thức tác chiến linh hoạt, có tuyến trước, tuyến sau, đảm bảo trụ bám và tấn công được dài ngày.

Phong trào “đăng kí diệt Mĩ” đã có từ trước khi căn cứ Mĩ hình thành, hằng ngày có hàng trăm người già, trẻ, gái, trai xin thay nhau ra tuyến trước. Con số được chọn có hạn, để tránh so bì, ban chỉ huy vành đai phải chia lịch để cho mọi thành phần, mọi giới đều được ra tuyến lửa.

Chỉ 1 tháng đầu trên vành đai (tính đến ngày 25 tháng 2 năm 1966), các lực lượng Củ Chi đã đánh gần 100 trận lớn nhỏ.

Sau đại hội dũng sĩ, trên vành đai Bắc Hà và cả huyện Củ Chi hưởng ứng một phong trào thi đua mới, giành các danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ. Du kích ở vùng xa căn cứ Mĩ hàng chục kilômét như Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây cũng xin cấp trên cho đến vành đai để chiến đấu. Đánh ngày, đánh đêm, đánh địch bung ra, đánh địch trong căn cứ. Ở Tân Phú Trung, Trảng Lắm, Phước Vĩnh An, Bình Mĩ hễ địch đi càn là bị tiêu hao. Khẩu hiệu của du kích là “đã vác trái đi, không vác trái về”. Phong trào giành danh hiệu dũng sĩ các cấp càng sôi nổi qua việc “vay mượn” qua lại số Mĩ diệt được, có “trả” sòng phẳng. Các chiến sĩ tiểu đoàn 7 đứng chân trên vành đai tích cực hướng dẫn du kích đánh giặc.

Tháng 3 năm 1966 Hội nghị cán bộ nội thành lần thứ I, tháng 4 năm 1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp ra nghị quyết 8 quán triệt sự chỉ đạo đánh Mĩ toàn diện của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965). Quân khu tiếp tục phát động một phong trào toàn dân đánh Mĩ cứu nước, thi đua giành các danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ các cấp, ác loại trong các lực lượng vũ trang và nhân dân.

Trong lúc quân Mĩ và một bộ phận quân cơ động ngụy thực hiện phản công ra vùng ngoài để “tìm diệt”, phần lớn quân ngụy làm nhiệm vụ đánh phá hạ tầng cơ sở cách mạng ở vòng trong phục vụ cho việc “bình định” và đảm bảo an ninh phía sau: hành quân “Rạng đông” ở ven đô Sài Gòn - Gia Định, hành quân “An dân” ở Bình Dương, hành quân “Chiến thắng” ở Long An, hành quân “Dân tâm” ở Biên Hòa…

Khu ủy và Bộ chỉ huy quân khu đã chỉ đạo kịp thời các địa phương và các đơn vị ở vùng ven và trong đô thị tích cực đánh phá “gọng kềm” bình định của địch.

Trong hai tháng 3 và 4 năm 1966, tiểu đoàn Quyết Thắng chủ động thực hiện các trận tập kích quân Mĩ ở Phú Mĩ Hưng: diệt một đại đội Mĩ và 3 xe tăng ở Rừng Sến (lần 1); đánh thiệt hại nặng một đại đội Mĩ (lần 2). Tháng 5 năm 1966 tiểu đoàn tiếp tục luồn sâu vào hậu phương địch, tập kích đến Tân Thạnh Tây do một đại đội ác ôn ngụy đóng giữ, diệt 80 tên, bắt sống 20 tên, thu 50 súng, phá vỡ một mảng kềm kẹp của ngụy ở vùng này, tạo địa bàn cho du kích đứng chân sâu trong vùng địch.

Cho đến tháng 7 năm 1968, trên vành đai, các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã 8 lần (kể cả pháo kích) đánh vào căn cứ đầu não sư đoàn 25 Mĩ, trong đó có 2 trận cuối tháng 7, diệt nhiều Mĩ, phá hủy 20 xe bọc thép.

Cùng với mũi tiến công võ trang, nhân dân Củ Chi tự khẳng định khả năng đấu tranh chính trị trước một đối tượng mới là quân viễn chinh xâm lược. Quân Mĩ gí vào tay người dân Củ Chi văn bản “mời Hoa Kì ở lại 3 năm”, dân trả lời: “Các ông mới vô ít ngày mà đã tan nát làng xóm, nếu các ông ở ba năm thì dân chết hết”. Ở xã Trung Lập, 1 đoàn 5 xe M113 đang tiến vào đồng lúa chín, mấy chục nông dân dang tay tiến đến trước đoàn xe. Hàng tràng súng nổ lướt qua đầu, đoàn người vẫn xông tới. Đoàn xe buộc phải dừng lại.

Các cuộc đấu tranh tay không chặn đầu ngăn cản hàng bốn năm chục xe cơ giới Mĩ liên tiếp diễn ra ở các xã Phước Hiệp, Phước Vĩnh An, và xung quanh căn cứ Đồng Dù, trên các trục đường.

Ngoài trọng điểm Củ Chi, địch liên tục hành quân càn quét trên toàn vùng ven Sài Gòn.

Có nơi như Hóc Môn, Gò Vấp, trung bình trên hai ngày một trặn càn quy mô từ đại đội trở lên. Ở Dĩ An, địch cho xe ủi trắng các vùng rừng Cò Mi, Bình Hòa, Tân Đông, Bình An. Du kích phối hợp tiểu đoàn 3 bám sát, đánh liên tục, diệt hàng trăm tên địch các loại.


Tiêu đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Tư, 2012, 07:13:51 AM
Tiểu đoàn 6 Bình Tân cùng quân dân Bình Chánh đã đánh nhiều trận có hiệu quả cao như: chặn đánh một tiểu đoàn Mĩ càn quét vùng Láng Le, cầu An Hạ, diệt một đại đội, tiêu hao nặng một đại đội khác, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng (ngày 26 tháng 2 năm 1966): diệt một đại đội thủy quân lục chiến ngụy, tiêu hao tiểu đoàn biệt động quân tại ấp 5 Tân Nhật, đánh thiệt hại các tiểu đoàn 30, 33 biệt động quân ngụy tại Gò Xoài và kênh Bà Tàng - cùng biệt động đặc công, diệt đồn cảnh sát Nguyễn Văn Tô trong Quận 6 và đồn cảnh sát ác ôn Phú Hòa, mở rộng vùng căn cứ nông thôn phía Nam thành phố. Nổi bật là trận tiêu diệt gọn đồn Ấp Chùa, xã Xuân Thới Thượng, bắt sống 15 tên, thu 30 súng (ngày 8 tháng 5 năm 1966), trận chống càn ở ngọn Rạch Sàng xã Hưng Long, loại khỏi vòng chiến gần 200 tên địch (ngày 23 tháng 5 năm 1966).

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức tấn công địch ở khu vực chợ Nhỏ, loại khỏi vòng chiến gần 300 sĩ quan học viên cảnh sát (ngày 18 tháng 4 năm 1966); tập kích gây thương vong nặng lực lượng hải thuyền ngụy ở Bình Quới Tây.

Tiểu đoàn 2 Gò Vấp - Hóc Môn đánh các bót đóng ở Tân Quy, Bàu Trâm, Hòa Phú, Bầu Giang, tập kích địch đóng dã ngoại ở ấp Hậu Thạnh xã Trung An, ở lộ cao su 40, giữ vững và mở rộng được địa bàn căn cứ ven đô ở hướng này.

Từ năm 1966, địch cố tránh bớt từ “bình định” đã vấy máu và nói nhiều hơn về “tranh thủ trái tim khối óc người Việt Nam” với nội dung 8 điểm cụ thể(1). Nhưng dù như thế nào, nhân dân Việt Nam vẫn coi công cuộc bình định của Mĩ ngụy là một tai họa lớn nhất: các lớp sơn hào nhoáng của công cuộc bình định không che giấu được gốc phản dân hại nước của nó. Chính một người Mĩ đã thừa nhận: “Vì không tìm được một lí thuyết nào phù hợp với thực tế hành động của mình nên Mĩ đã bào chữa cho sự khủng bố ác liệt từ trên không và sự phá hoại cả một đất nước nông thôn bằng những lời hoa mĩ”(2).

Đất vùng ven là đất vườn rộng lâu đời, người nông dân coi việc bỏ đất tổ tiên ông bà là một trường hợp tan gia bại sản lớn nhất. Họ coi những đội bình định là những tên gây tai họa trực tiếp, những tên mật vụ, những tên “lính mặc quần áo bà ba đen”, là đối tượng phải tiêu diệt, trước hết là những tên đội trưởng ác ôn, những tên tâm lí chiến trong đội bình định. Lực lượng vũ trang địa phương liên tục đánh càn quét bên ngoài ấp, đồng thời, thường xuyên tổ chức đột nhập vào các ấp chiến lược cùng lực lượng du kích mật bên trong, trừng trị ác ôn bình định. Năm 1966, chính lúc địch ầm ĩ nhất về “chương trình cải tiến nông thôn” là lúc “nhịp độ bình định” bị tiến công tăng đến 12 lần so với trước đó 1 năm(3). Trong năm 1966, quân dân vùng ven Sài Gòn diệt 217 tên bình định.

Những hoạt động đánh phá bình định của ta hạn chế các cuộc càn của địch, nhiều xã mở được “lõm căn cứ”, một số xã được giải phóng. Nhiều nơi địch chỉ dám hoạt động ban ngày, còn ban đêm thì co rúc, di chuyển chỗ ngủ. Lần lần cán bộ và lực lượng vũ trang ta từ chỗ phải rời địa bàn, hoặc chia nhỏ bám trụ hết sức gian khổ, nằm hầm, ngủ bưng, uống nước ve, ăn cơm vắt, nay trở lại đứng được trên địa bàn cũ, bám được vùng sâu, áp sát địch, tạo thế xâm nhập nội thành. Phối hợp đánh bọn bình định ở nông thôn, ở nội thành, lực lượng vũ trang cánh Hoa vận tập trung vào đối tượng công an mật vụ, phản động người Hoa, trừng trị nhiều tên quan trọng như tên đặc vụ Lê Nghĩa Á, Nghị viên đô thành Trần Kim Thuận. Lực lượng vũ trang an ninh nội đô cũng liên tiếp đánh nhiều trận xuất sắc nhằm vào đối tượng đầu sỏ ngụy quyền, tình báo, cảnh sát, ác ôn, chiêu hồi, chỉ điểm có nợ máu. Cơ sở an ninh nội tuyến của ta với một quả mìn hẹn giờ giết chết và làm bị thương 17 cảnh sát địch tại Bộ tư lệnh cảnh sát Quốc gia. Ngày 1 tháng 6 năm 1966, với 3 phát súng nắn, hai chiến sĩ an ninh khác diệt tên Nguyễn Văn Chử, một ác ôn khét tiếng đã đánh phá cơ sở cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp, vừa mới lên làm bộ trưởng chiến tranh tâm lí.

Với sự phát triển lực lượng chính trị và quân sự các ngành, cách đánh nhỏ lẻ của du kích tự vệ được nâng lên, phối hợp hoạt động của biệt động.

Ngày 1 tháng 4 năm 1966, lực lượng biệt động thành do Nguyễn Văn Tăng chỉ huy dùng xe hơi võ trang tiểu liên, thuốc nổ tấn công khách sạn Victoria giành cho sĩ quan Mĩ độc thân tại góc đường Trần Hưng Đạo - Huỳnh Mẫn Đạt, làm sập một tầng lầu khách sạn, giết chết và làm bị thương hàng chục tên Mĩ (thuộc lực lượng không quân).

Mục tiêu chống Mĩ và đòi lật độ Thiệu - Kì trở thành nội dung nổi bật của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị cuối mùa khô 1965-1966. Tháng 3, tháng 4 năm 1966, phong trào đòi lật đổ Thiệu Kì có sự phối hợp giữa các thành phố lớn Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… Cùng Huế, Đà Nẵng, nhân dân Sài Gòn thành công “sáu đêm không ngủ”, mỗi đêm hàng vạn người tham gia, đỉnh cao là ngày 7 tháng 4 năm 1966 hàng chục vạn người Sài Gòn bất chấp lệnh cấm và lệnh giới nghiêm, từ bốn phía kéo đến bao vây nơi làm việc của Nguyễn Cao Kì, đòi Thiệu - Kì từ chức. Nhiều ngày liên tiếp có biểu tình, có xung đột với cảnh sát. Trên thực tế nhân dân làm chủ đường phố. Trong chín mười đêm, lực lượng biểu tình ném đuốc vào cảnh sát, quân cảnh ngụy, tước khí giới của chúng, hạ cây, lật xe cản đường, dựng rào giữa phố, đốt bánh xe, chặn xe quân sự.

Trước ngày 1 tháng 5 năm 1966, ngụy quyền đã chuẩn bị chống biểu tình. Sáng sớm ngày 1 tháng 5, trên những đường phố lớn chung quanh trụ sở Tổng liên đoàn lao động, các lực lượng cảnh sát, công an, cảnh sát dã chiến ngụy và một số quân cảnh Mĩ đã rải đều cùng với hàng rào kẽm gai bao vây. Nhưng khi loa phóng thanh vừa lên tiếng yêu cầu trật tự viên dẹp bỏ hàng rào kẽm gai cho đồng bào dự lễ thì hàng ngàn thanh niên công nhân và lao động tay đeo băng đỏ, tay cầm gậy hô “xé rào” đã xông tới dẹp bỏ những vòng kẽm bai bùng nhùng. Bọn ác ôn lồng lộn xông đến, nhưng không làm gì được trước đội ngũ quần chúng đông đến hàng vạn người, với rừng khẩu hiệu đang tràn tới hô: “Phản đối đàn áp biểu tình”. Khi nhìn thấy những khẩu hiệu: “Người Mĩ không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam”, “Chấm dứt rải chất độc tàn phá nông thôn”… các quân cảnh Mĩ và lính Mĩ đã lẻn đi mất. Dân biểu tình ào ạt tiến tới. Cách năm ba mét là một khẩu hiệu trương giữa hai cán cây dài. Những cán cây dài c