Dựng nước - Giữ nước

Văn hoá - Thể thao - Giao lưu => Quán nước cổng doanh trại => Tác giả chủ đề:: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2013, 08:15:40 PM



Tiêu đề: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2013, 08:15:40 PM
Năm mới 2013, điện ảnh Pháp công chiếu phim Công Binh của đạo diễn gốc Việt Lê Lâm:
http://www.dailymotion.com/video/xvxlxn_phim-cong-binh-ti%E1%BA%BFng-anh-ph%E1%BB%A5-d%E1%BB%81-vi%E1%BB%87t_shortfilms

http://www.diendan.org/Doi-song/dien-anh/xem-phim-cong-binh-cua-le-lam

Xem phim CÔNG BINH của Lê Lâm

Về mặt điện ảnh – kỹ thuật lẫn nghệ thuật – Công binh là một thành công. Nhà đạo diễn đã vận dụng các hình thái nghệ thuật để tạo nên cảm xúc, kết hợp tài tình các phỏng vấn lính thợ với cảnh phục hiện theo ước lệ sân khấu, các phim tài liệu với trích đoạn phim truyện, hình ảnh ngày xưa với cảnh quan ngày nay... Sáng tạo nhất là việc sử dụng nghệ thuật múa rối nước để dẫn chuyện...

Xem phim

Công binh
của Lê Lâm, ‘kẻ đưa đò ký ức’


Hải Vân

(http://www.diendan.org/Doi-song/dien-anh/xem-phim-cong-binh-cua-le-lam/congbinh_mungdoclap.jpg)

Câu chuyện của những lính thợ hay công binh – 20 000 người Việt, chủ yếu là nông dân bị chính quyền thực dân cưỡng bức đưa sang Pháp năm 1939 để lao động trong những điều kiện hầu như là nô lệ –, bắt đầu được nhiều người gần đây biết đến. Tiếp theo luận văn sử học của Trần Nữ Liêm Khê (1988), quyển sách của nhà báo Pierre Daum (Immigrés de force, les travailleurs indochinois en France 1939-1952, nxb Actes Sud 2009) đang vận động cho sự thừa nhận trang lịch sử đã bị che khuất trong ký ức tập thể ở Pháp và cả ở Việt Nam. Ở Pháp, 5 thị xã đã tổ chức lễ ghi nhận công lao lính thợ Việt Nam với sự hiện diện của các công binh sống sót hay con cháu của họ, và 18 thị xã đã đón tiếp cuộc triển lãm lưu động Người lao động Đông Dương trong thế chiến thứ hai của hội Histoires vietnamiennes. Ở Việt Nam – nơi lính thợ thường bị quy kết là đi lính cho Tây –, chuyến đi thuyết trình của Pierre Daum đưa tác giả đến Huế, Sài Gòn và Hà Nội, mặc dù bản dịch tiếng Việt quyển sách của ông không được chính quyền cho phép xuất bản (xem khung : Lịch sử công binh, vài cột mốc).

Đề án phim Công binh, đêm dài Đông Dương (+) cũng bắt nguồn từ đấy, như đạo diễn Lê Lâm trình bày : « Tôi không phải nhà báo cũng không phải nhà sử học, mà nhà làm phim. Tôi muốn kể lại câu chuyện này nhưng với sự chủ quan của tôi và từ góc nhìn Việt Nam của tôi. Công binh không chỉ là một phim tài liệu, nó là phim điện ảnh như mọi phim truyện của tôi. Đây là một trong những bộ phim riêng tư nhất của tôi » (xem khung : Lê Lâm, phim mục).

Lê Lâm

Phim mục

Sinh năm 1948 ở Hải Phòng, Lê Lâm sang Pháp du học năm 1966. Trước Công binh, đêm dài Đông Dương, ông đã thực hiện các phim truyện Long vân khánh hội (Rencontre des nuages et du dragon, 1981), Đế chế tàn lụi (Poussière d’Empire, 1984), 20 đêm và một ngày mưa (20 nuits et un jour de pluie, 2006).

Về mặt điện ảnh – kỹ thuật lẫn nghệ thuật – Công binh là một thành công. Nhà đạo diễn đã vận dụng các hình thái nghệ thuật để tạo nên cảm xúc, kết hợp tài tình các phỏng vấn lính thợ với cảnh phục hiện theo ước lệ sân khấu, các phim tài liệu với trích đoạn phim truyện, hình ảnh ngày xưa với cảnh quan ngày nay, đoạn đọc văn bản kinh điển về chủ nghĩa thực dân (Frantz Fanon, Aimé Césaire) với trích đọc hồi ký của công binh. Sáng tạo nhất là việc sử dụng nghệ thuật múa rối nước để dẫn chuyện, đặc biệt khi lính thợ đón nhận tin Việt Nam trở thành nước độc lập – cở đỏ sao vàng từ nước ao trồi lên, Tiến quân ca trỗi dậy – là trường đoạn đỉnh cao của phim.


(http://www.diendan.org/Doi-song/dien-anh/xem-phim-cong-binh-cua-le-lam/congbinh_apphich.jpg)


Lịch sử Công Binh, vài cột mốc

Tháng 8 1939 : Trước ngày tuyên chiến với Đức, chính phủ Pháp ra quyết định trưng tập người và tài sản của Đông Dương, với mục tiêu là đưa 60 000 người sang lao động trong các nhà máy vũ khí, thay cho công nhân Pháp phải ra chiến trường. Cơ quan quản lý nhân lực thuộc địa M.O.I. (Main d’œuvre indigène) được thành lập để tổ chức lực lượng người trưng tập này theo kỷ luật hầu như quân sự.

Tháng 10 1939 : Tổng cộng 15 chuyển tàu đã vận tải 20 000 người Việt, phần lớn thuộc Trung Kỳ và Bắc Kỳ, đến cảng Marseille.

Tháng 6 1940 : Khi Pháp bại trận, chính quyền tập kết công binh trong những trại ở vùng miền Nam (Vénissieux, Sorgues, Mazargues, Agde, Bergerac…) và tiến hành hồi hương một số. Đa số (14 000 người) bị kẹt lại Pháp suốt thời gian thế chiến thứ hai.

Tháng 11 1942 : Khi Đức chiếm đóng vùng Nam nước Pháp, cơ quan MOI cung cấp lính thợ cho công nghiệp phục vụ chiến tranh của Đức. Số còn lại bị đưa đi lao dịch cho các chủ nhân Pháp trong nhà máy, lâm trường, nông trại, ruộng muối, ruộng lúa (thù lao chỉ bằng 1/8 của mức lương công nhân Pháp). Về sau, hơn 2000 công binh đã đào ngũ để gia nhập lực lượng kháng chiến Pháp.

Tháng 12 1944 : Khi nước Pháp được giải phóng, đại hội đầu tiên của lính thợ, lính chiến và sinh viên trí thức Việt Nam ở Pháp được tổ chức tại Avignon và thành lập Tổng đại diện người Đông Dương ở Pháp. Với sự ủng hộ của tổng công đoàn lao động CGT, cuộc đấu tranh của công binh đòi được bình quyền với lao động Pháp, đặc biệt là quyền hoạt động công đoàn và quyền được học nghề.

Tháng 9 1945 : Khi nước Việt Nam tuyên bố độc lập, các cuộc biểu tình ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh bắt đầu trong các trại công binh.

Tháng 11 1945 : Chính quyền Pháp giải thể Tổng đại diện người Đông Dương ở Pháp. Đại hội thứ 2 của người Việt Nam ở Pháp họp ở Marseille và lập tổ chức Việt kiều Liên minh.

Tháng 5 1946 : Luận án đầu tiên về công binh Les Travailleurs indochinois en France pendant la seconde guerre mondiale 1939-1945 của Pierre Angeli (trường đại học Paris).

Tháng 6 1946 : Chủ tịch Hồ Chí Minh viếng thăm chính thức nước Pháp và tiếp xúc với công binh. Hội nghị Fontainebleau thất bại.

Tháng 1 1948 : Chính quyền Pháp bắt 129 người Việt xem là cầm đầu phong trào phản kháng chiến tranh Đông Dương và đưa về quản thúc ở Việt Nam. Đợt bắt thứ hai gồm 300 người.

Tháng 5 1948 : Cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa cộng sản Đệ tam và cộng sản Đệ tứ đưa đến vụ thảm sát ở trại công binh Mazargues (6 người chết, 30 người bị thương, 13 người bị án tù).

Tháng 12 1952 : Pháp chấm dứt chương trình hồi hương công binh và giải thể cơ quan quản lý người lao động Đông Dương. Chỉ còn lại khoảng 1000 cựu công binh, phần lớn đã lập gia đình với người Pháp. Đến năm 1962, Pháp công nhận cho công binh quyền được hưởng chế độ hưu trí, nhưng từ chối áp dụng điều này đối với người đã hồi hương, tức là cho đại đa số.

1988 : Luận văn sử học Les Travailleurs indochinois en France de 1939 à 1948 của Trần Nữ Liêm Khê (trường đại học Paris 10).

1996 : Phim tài liệu truyền hình Les hommes des trois Ky của Lê Dzu (Ellipse sản xuất). Tiểu thuyết Lính Thợ O.N.S. của Đặng Văn Long được xuất bản ở Hà Nội (nxb Lao Động). Là đại biểu công binh thuộc nhóm Đệ tứ, tác giả công bố tiếp theo đó ở Paris hồi ký Người Việt ở Pháp 1940-1954 (Tủ sách nghiên cứu 1997).

2003 : Website travailleursindochinois.org của Joel Phạm dành cho lính thợ và con cháu của họ.

2009 : Sách Immigrés de force, les travailleurs indochinois en France 1939-1952 của Pierre Daum (nxb Actes Sud). Từ đó, thành phố Arles tổ chức lễ đầu tiên ghi nhận công lao của lính thợ, đặc biệt trong ngành trồng lúa. Tiếp theo là các thị xã Saint-Chamas, Miramas, Sorgues, Bergerac.

2010 : Bản dịch tiếng Việt quyển sách của Pierre Daum không được giấy phép xuất bản ở Việt Nam vì những chương nói về vai trò của nhóm Đệ tứ trong phong trào công binh, tuy nhiên tác giả của nó thực hiện được năm buổi thuyết trình và thảo luận tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Nhà xuất bản Đà Nẵng cho ra tập sách song ngữ Những người lính thợ - Les travailleurs indochinois requis. Parcours 1939-2006 của Liêm Khê Luguern.
2011 : Triển lãm lưu động Les travailleurs indochinois de la Seconde guerre mondiale của Association Histoires vietnamiennes mà một đối tượng quan trọng là học sinh và giáo viên.

2012 : Phim tài liệu Công Binh, la longue nuit indochinoise của Lê Lâm (ADR sản xuất).

http://www.youtube.com/watch?v=uEahBQNQvjI


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2013, 08:27:18 PM
(http://www.lefigaro.fr/medias/2013/01/30/096d0c26-6a0e-11e2-96f3-73b5eeff1ffc-493x328.jpg)
Hình ảnh trong phim tài liệu "Công Binh" của Lê Lâm

Mời các bác và các bạn xem lại loạt bài trên "Tuổi trẻ" cấch đây 3 năm:
Kỳ cuối:
Phận "Lính thợ" giữa đêm dài nước Pháp - Kỳ cuối:
Trang web của Joel Phạm

http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/387453/trang-web-cua-joel-pham.html

Kỳ 8:
Phận "Lính thợ" giữa đêm dài nước Pháp - Kỳ 8:
Jean - Pierre và một gia đình “lính thợ”

http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/phong-su-ky-su/387209/jean---pierre-va-mot-gia-dinh-%E2%80%9Clinh-tho%E2%80%9D.html

Kỳ 7:
Phận "Lính thợ" giữa đêm dài nước Pháp - Kỳ 7: Người phụ nữ kỳ lạ
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/386993/phan-linh-tho-giua-dem-dai-nuoc-phap-ky-7-nguoi-phu-nu-ky-la.html

..............

Kỳ 1:
Phận "lính thợ" giữa đêm dài nước Pháp: Kế hoạch Mandel
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/385850/Phan-linh-tho-giua-dem-dai-nuoc-Phap.html


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 03 Tháng Chín, 2013, 08:46:50 PM
(http://daibieunhandan.vn/media/11/10/111026091726390/Bc-Ho-Tai-Phap-470A11.jpg)
Chủ tịch Hồ Chí Minh và tùy tùng đến Mácxây bằng tàu hỏa, ngày 16.9.1946 (http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=227577)

(http://daibieunhandan.vn/media/11/10/111026091726390/Bc-Ho-Tai-Phap-470A12.jpg)
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với anh em công binh, lính thợ Việt Nam tại Mácxây ngày 17.9.1946 (http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=227577)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: laoshan1234 trong 04 Tháng Chín, 2013, 08:55:21 AM
   Tham gia cùng bác qtcd tí  ;D

(http://baodatviet.vn/dataimages/201102/original/941187_cdvlinhtho5.jpg)
Một lính thợ người miền bắc-ông Phạm văn Nhân-thông ngôn

(http://baodatviet.vn/dataimages/201102/original/941191_cdvlinhtho0.jpg)
Lính thợ An nam đang lao động trên cánh đồng tại Pháp

(http://baodatviet.vn/dataimages/201102/original/941192_cdvlinhtho6.jpg)
Và họ còn cấy cả lúa nước


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2013, 09:09:45 AM
Hay lắm, bác laoshan và các bác cứ tham gia.
Đây là bài về nước Pháp vinh danh những người lính thợ sang trồng lúa tại Camargue trong Thế chiến 2 sau 70 năm bị lãng quên, đã đăng báo Tuổi trẻ năm 2009:
http://tuoitre.vn/The-gioi/Nguoi-Viet-xa-que/352787/tao-nen-danh-tieng-lua-gao-camargue.html
(http://img514.imageshack.us/img514/3706/phamvannhan.jpg)
Một Cụ Lính Thợ 91 tuổi (năm 2009) chính là thông ngôn Phạm Văn Nhân 70 năm trước cùng nhà báo Pierre DAUM trong lễ vinh danh tại Arles, Sau này Cụ là nhà điện ảnh.

(http://img694.imageshack.us/img694/4060/schiavetti.jpg)
Thị trưởng Arles đọc diễn văn khai mạc kể công các Cụ trước khi gắn mề-đay

(http://img697.imageshack.us/img697/8220/manceron.jpg)
Phó Chủ tịch Hội Nhân quyền đồng thời là nhà sử học đọc diễn văn ôn lại lịch sử

(http://img138.imageshack.us/img138/5038/daum.jpg)
Pierre DAUM thì khỏi phải giới thiệu nữa

(http://img13.imageshack.us/img13/7808/nthh.jpg)
Một Cụ nhận mề-đay: Cụ NGUYEN TRONG HOAN

(http://img63.imageshack.us/img63/308/groupe1.jpg)
Các Cụ được vinh danh chụp ảnh cả nhóm, chà chà, trông các Cụ còn khỏe lắm, con cháu có mà theo khướt

(http://img31.imageshack.us/img31/7553/atriumk.jpg)
Nhận mề-đay xong thì giải tán. Mọi người kéo nhau đi ăn tiệm, một Cụ đọc đít-cua.

(http://img682.imageshack.us/img682/2525/doanetthin.jpg)
Cụ Thìn và Cụ Đoàn, hai cụ trồng lúa ở Camargue ngày xưa

(http://static.ladepeche.fr/content/media/image/350/2012/03/19/201203191482.jpg)
Một Cụ Lính Thợ nữa cũng 91 tuổi, quê thành phố Vinh, đang giơ mề-đay do thành phố Toulouse tặng năm 2012.

(http://www.ledauphine.com/fr/images/C322AC51-3D4D-4F40-AED8-AE965EDE8DF3/LDL_01/la-ville-honore-la-memoire-des-travailleurs-indochinois.jpg)
Đây nữa tại thành phố Sorgue, các Cụ Lính Thợ được Thị trưởng tiếp và ca ngợi công lao phục vụ mẫu quốc


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2013, 09:14:03 AM
Người lao động Đông Dương tại Pháp trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai (http://www.histoire-immigration.fr/des-dossiers-thematiques-sur-l-histoire-de-l-immigration/les-travailleurs-indochinois-en-france-pendant-la-seconde-guerre-mondia)

Báo cáo tổng hợp vắn tắt của Liêm Khê - Luguern, Giáo sư Sử-Địa, Tiến sĩ Viện Nghiên cứu liên ngành về các vấn đề xã hội (Khoa học xã hội, chính trị, y tế) IRIS (l’Institut de recherche interdisciplinaire sur les enjeux sociaux (Sciences sociales, Politique, Santé) ) thuộc Trường Nghiên cứu cao cấp về Khoa học Xã hội (EHESS - École des hautes études en sciences sociales) tại Paris.

Trong năm 1939, tái tạo tiền lệ của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, mà trong thời kỳ đó 90.000 lao động và lính tập Đông Dương đã được điều sang chính quốc, "Kế hoạch Mandel", lấy theo tên của Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa, dự kiến gọi thêm 300.000 lao động thuộc địa, trong đó có 100.000 người Đông Dương, tham gia vào nỗ lực chiến tranh. Năm 1940, 27.000 người Đông Dương đã đến Pháp : 7000 lính tập và 20.000 công nhân. Sau thất bại của chính quốc, 5.000 người trong số họ đã hồi hương nhưng những người khác vẫn còn bị mắc kẹt ở Pháp. Sau khi nước Pháp được giải phóng, sự thiếu tổ chức của thời kỳ sau chiến tranh và nhiều sự kiện đã ảnh hưởng đến Đông Dương thuộc Pháp, thậm chí trì hoãn việc hồi hương của người lao động có yêu cầu: nó sẽ chỉ kết thúc vào năm 1952. Hàng chục năm qua, những người nhập cư trên đã hình thành một xã hội-vi mô đang kéo dài xã hội thuộc địa ngay trong lòng chính quốc. Quá trình thích ứng với lao động công nghiệp, cuộc đối đầu với chủ nghĩa hiện đại, thêm vào cho những người đàn ông này một kinh nghiệm độc đáo : trực tiếp mặt đối mặt với sức mạnh thực dân bị giày vò dưới sự sụp đổ của chính quốc; phát hiện ra, bên kia nước Pháp thực dân, một xã hội phức tạp, vượt qua những đối kháng và những mâu thuẫn.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/imagecache/moyen/musee-numerique/photos/indochinois_01.jpg)
Một nhóm công nhân ở Sorgues ( Vaucluse ) 47 Cie, 1941. © Bộ sưu tập Phạm. Nguồn : Liêm Khê - Luguern

Cuộc trưng dụng

Trong năm 1939, dưới ánh sáng kinh nghiệm của cuộc Đại Chiến, việc tuyển dụng người lao động Đông Dương dựa trên một đạo luật hợp pháp ra đời trong thời kỳ giữa hai cuộc Thế chiến. Người lao động thuộc địa phải được tuyển mộ, điều chuyển, quản lý và đưa vào phục vụ các ngành công nghiệp quốc phòng bởi Cục Nhân lực bản địa, Bắc Phi và thuộc địa (la M.O.I), trục thuộc Bộ Lao động. Nghị định ngày 29 tháng 8 năm 1939 xác định màn dạo đầu cho quyền trưng dụng trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Có đến 90 % trong số 20.000 công nhân yêu cầu khi đó được tuyển mộ cưỡng bức trong khối quảng đại các nông dân nghèo, đặc biệt tại các xứ bảo hộ An Nam và Bắc Kỳ, số còn lại là từ thuộc địa Nam Kỳ. Hiệu quả của cuộc trưng dụng cho thấy sự phục tùng và "trung thành" của chính quyền bản địa chịu trách nhiệm tuyển mộ tại cấp xã và cấp tỉnh. Những người đó trong thực tế đã thiết lập quy định mỗi gia đình có nghĩa vụ cung cấp một anh con trai tuổi hai mươi. Việc lập nên một nguyên tắc như vậy làm cho lượng dự trũ những người lao động có thể được trưng dụng trở nên rất lớn, nhưng phải giải quyết vấn đề hoàn cảnh.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/imagecache/moyen/musee-numerique/photos/indochinois_02.jpg)
Sổ lao động được cấp cho ông Nguyễn Văn Thành bởi Cục nhân công bản địa Bắc Phi và thuộc địa. © Bộ sưu tập Nguyễn Văn Thành . Nguồn : Liêm Khê - Luguern
........


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2013, 09:53:44 AM
(tiếp theo)

Sự yếu kém về số lượng của người Pháp tại Đông Dương đòi hỏi dùng đến người Đông Dương tham gia khâu quản lý trung gian. Cuối cùng cũng hình thành được đội ngũ các tình nguyện viên cần thiết (nhỏ hơn 10 % lực lượng lao động), những người này đều có trình độ giáo dục tiểu học, hoặc tú tài. Họ thông thạo tiếng Pháp nên ngay lập tức được cử làm thông ngôn, giám sát viên (một giám sát viên cho mỗi tốp 25 công nhân). Các tình nguyện viên này đến từ các gia đình khá giả hoặc có nguồn gốc đáng chú ý, với họ thì việc sang Pháp - bất kể trong điều kiện nào - cũng là một cơ hội để thoát khỏi sự phong tỏa của một xã hội thuộc địa khi đó đang phủ nhận quyền công dân của họ và do đó cơ hội thăng tiến trong xã hội. Trong khi chờ đợi đến thời gian của mình, vào năm 1939 họ tạo thành một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi mắt xích của chính quyền thực dân để đưa đi 19.000 nông dân mù chữ, bị nhổ bật một cách tàn nhẫn ra khỏi những cánh đồng lúa của mình. Ngày 20 Tháng Mười năm 1939, con tàu Dương Tử là tàu đầu tiên vận chuyển họ đến xứ chính quốc qua kênh đào Suez. Chuyến đi kéo dài một tháng, những người lao động đầu tiên cập bến Marseille vào ngày 21 tháng 11 và được đón vào 2 trại định cư trong các công trình xây dựng mới hoàn thành : nhà tù Baumettes mới. Những người cuối cùng đến Pháp vào ngày 6 tháng 6 năm 1940.

Từ nông dân chuyển thành "lính-thợ"

Bị quản lý bởi M.O.I, chịu chế độ kỷ luật quân sự bất chấp tình trạng dân sự của họ, người lao động Đông Dương được chia thành 73 đại đội, mỗi cơ (đại đội) gồm từ 200 đến 300 công nhân và tập hợp thành 5 đoàn (légion). Ngoài cấp quản lý trung gian người Đông Dương, các đại đội trưởng và đại đội phó đều là quân nhân và các nhân viên cơ quan thuộc địa điều động: các quản trị viên, cựu quản trị viên hoặc cựu học sinh trường thuộc địa (Ecole Coloniale). Các dịch vụ công cộng và cả các cơ sở sản xuất tư nhân đều có thể sử dụng những người lao động phổ thông (O.N.S) này sau khi chấp nhận các điều khoản chi tiết do M.O.I quy định.

Cho đến tháng sáu năm 1940, lính thợ không chuyên môn O.N.S. chủ yếu làm việc cho các ngành công nghiệp quốc phòng : 70% nhân viên làm việc với thuốc súng. Họ được phân bố rải rác trên khắp đất nước : năm 1940, trên 24 vùng của nước Pháp có sự hiện diện của họ.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/imagecache/moyen-demi/musee-numerique/photos/indochinois_03.jpg)
Chào cờ Tam Tài tại cơ 58 (tức đại đội 58) thuộc trại "Bảo Đại" trong rừng La Ferté năm 1941. © Bộ sưu tập Phạm. Nguồn : Liêm Khê - Luguern
.........


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: laoshan1234 trong 04 Tháng Chín, 2013, 05:36:15 PM
(http://a9.vietbao.vn/images/vi902/2012/6/22074896-20120603113045_1.jpg)
Một chiếc xe máy "lạ đời" độc nhất vô nhị được quân Đức sử dụng trong thế chiến 2

(http://a9.vietbao.vn/images/vi902/2012/6/22074896-20120603113045_2.jpg)
Vượt lớp tuyết dày


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 04 Tháng Chín, 2013, 07:21:42 PM
(tiếp)

Lính thợ tập trung lớn nhất là ở Gironde với 2327 nhân viên O.N.S, mà phần lớn ở nhà máy thuốc nổ Saint Medard. Định đề chủ trì việc sử dụng các lao động nước ngoài trên trong thế giới công nghiệp là định đề hiệu suất tập thể: cân bằng chất lượng bằng số lượng. Trong cuộc đối mặt đầu tiên này với thế giới công nghiệp, các nhân chứng đặc biệt nhấn mạnh những khó khăn liên quan đến cường độ làm việc : họ phải làm luân phiên 3 ca 8 tiếng.

Sự Sụp Đổ tháng 6 năm 1940 buộc các cơ lính thợ phải rút lui. Vào cuối năm, gần như tất cả các lính thợ O.N.S. đều đã ở trong khu vực tự do. Từ thời điểm này trở đi, cần phải phân biệt "thời kỳ nông lâm" (1941-1942) mà trong đó những người bị trưng tập được sử dụng chủ yếu trong lao động lâm nghiệp và nông nghiệp (trồng lúa tại Camargue, làm muối ở miền nam, làm rừng ở Aveyron... ) và "thời kỳ công nghiệ" (1942-1944), trong đó họ sẽ quay lại các nhà máy. Đoạn ngắt này từ năm 1942, tương ứng với một bước ngoặt của chiến tranh: kể từ cuộc xâm lược khu vực tự do, 43 % người lao động Đông Dương sẽ làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp cho quân đội Đức chiếm đóng. Đau khổ từ đó đạt đến đỉnh điểm. Số người chết chính thức theo báo cáo là 1.061 trường hợp tử vong (5,5% lực lượng lao động) , chủ yếu do bệnh lao phổi.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/musee-numerique/photos/indochinois_04.jpg)
Công nhân Đông Dương trên những cánh đồng lúa Camargue trong chiến tranh. © Bộ sưu tập Phạm Văn Nhân. Nguồn : Liêm Khê - Luguern

Giải phóng nước Pháp và vấn đề hồi hương

Thêm vào nỗi đau thể xác là sự đau khổ tinh thần do cuộc lưu đày kéo dài gây nên. Những người đàn ông trẻ (20-30 tuổi) sống trong trại lính, không biết gì tin tức gia đình mình, đắm chìm trong môi trường khắc nghiệt bởi sự chiếm đóng của quân Đức, chỉ có tổ ấm là "cơ lính thợ" của họ. Mối quan hệ với cộng đồng dân cư không được tạo điều kiện bởi khung nhân viên quản lý xuất thân từ trường Thuộc địa, vốn định kiến chủng tộc cứng nhắc. Tuy nhiên, những mối dây liên hệ vẫn được âm thầm nuôi dưỡng, đặc biệt là với phụ nữ. Nhiều mối quan hệ lãng mạn diễn ra bất chấp những rào cản về ngôn ngữ. Đây cũng là chỗ sinh ra các cuộc hôn nhân và / hoặc sinh ra đứa trẻ là nguồn gốc của việc định cư của lính thợ ONS trên đất Pháp.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/musee-numerique/photos/indochinois_05.jpg)
Một cặp vợ chồng người Pháp-Việt tháng 9 năm 1953 tại Thiers (Puy-de-Dome). © Bộ sưu tập Pham. Source : Liêm Khê - Luguern
......


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 06 Tháng Chín, 2013, 02:07:16 AM
Tháng 9-1939, Thế chiến 2 bùng nổ. Nó mở đầu cho 1 cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại.
Cũng tại thời điểm đó, trên mặt trận Pháp có những người lính Việt tham gia chiến đấu chống phát xít Đức. Họ là những người lính thuộc Tiểu đoàn súng máy Đông Dương số 52 (BMIC 52). Biên chế với 23 sĩ quan, 25 hạ sĩ quan và 872 lính bộ binh, cùng 1 số bộ phận cơ hữu. Căn cứ chính đặt tại Carcassonne.



(http://www.anai-asso.org/NET/img/upload/24_milindo1ww2.jpg)

Lính Tiểu đoàn súng máy Đông Dương trong buổi tổng duyệt (St-Denis, ngày 13 tháng 7 năm 1939). Chuẩn bị cho buổi diễu hành ngày 14 tháng bảy năm 1939 trên đại lộ Champs Elysees.



Ngày 5-6-1940, Dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Reben,  đơn vị tổ chức lại lực lượng với những binh sĩ mới được bổ sung từ Việt Nam sang. Và vào hồi 10 giờ sáng ngày 14- 6, những đơn vị xung kích của Đức đã liên tục tấn công vào vị trí phòng thủ của các tổ súng máy trong thị trấn Gauberge. Những người lính đơn vị tỏ ra đặc biệt can đảm. Để dễ bề quan sát đối phương, 1 xạ thủ đã trèo lên cây táo. Hành động đó được bắt chước ngay lập tức bởi các trợ thủ Nguyễn Văn Duyệt, trung sĩ Nguyễn Đông Mao và Hạ sĩ Nguyễn Quang Hoàng. Họ đã cài đặt một khẩu súng máy trên một cây táo, Và họ đang nhanh chóng làm im lặng những ổ súng tiểu liên của địch.

Hôm sau, 15-6 quân Đức huy động súng cối 81 cùng 40 máy bay liên tục tấn công. Quân Đức chỉ làm chủ khi tất cả đã tan tành cùng với thương binh nặng và xác chết. Sĩ quan chỉ huy Đức tỏ lòng ngưỡng mộ sự dũng cảm của những người kháng cự.

Trong số 174 người sống sót rời khỏi trận địa, chỉ có 19 người châu Âu và 40 lính Đông Dương đã không hề hấn gì. Một trong số này, chẳng hạn như Trung sĩ Lược, lính Hà Văn Bái, Lê Đức Nguyễn Văn Khan và Hem, quản lý đã phá vỡ vòng vây. Tất cả họ sau đó được đánh giá cao, thưởng cho lòng dũng cảm.

Tên tuổi của BMIC 55 sau đó đã được coi là 1 chủ đề của báo chí. Dư luận trong và ngoài quân đội hết sức tán dương chiến công của đơn vị này.


Theo Colonel Maurice RIVES










Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 02:23:48 AM
Rất hay, bác tuanb5 tiếp đi nhé. Các cụ tiểu đoàn 52 dùng Hốt-kít 1914 cổ lỗ để chặn Đức tặc. Tiểu đoàn này đánh giặc tốt và đánh phỏm cũng tốt nên được đặt tên là tiểu đoàn 52, hi hi. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 06 Tháng Chín, 2013, 07:38:32 AM
Chào mừng bác qtdc mở mặt trận mới. ;D

Thế chiến 2, các cụ nhà ta cũng tham gia kinh phết đấy.
Nào là từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại, nào từ phía Đông đánh sang (Liên xô). Nào là từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta).
Có một điều tuyệt vời, là dù ở thế chiến 1, hay thế chiến 2, tất thẩy các cụ lính Việt ta, đều ở phía phe Đồng Minh, oách lại tụi Đức tặc. ;D
Bác đang ‘bốt’ các câu chuyện về các cụ lính Việt từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại.
Baoleo tôi sẽ xin ‘bốt’ một vài mẩu về các cụ lính Việt từ phía Đông đánh sang (Liên xô) và từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta) nhé.
Trước hết là từ phía Nam.
Xin ứng cử: cụ Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam.

Lê Giản (Tô Gĩ hay Dĩ) sinh năm 1911. Bố làm thày đồ dạy chữ nho, chữ quốc ngữ cho các gia đình khá giả chung nhau góp thóc, gạo nuôi thày dạy ở nhà cho con cháu. Hồi nhỏ, đến năm ngoài 10 tuổi, cùng Tô Hiệu theo học các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng ở trường làng. Sau do mẹ mất sớm, phải ra Hà Nội nhờ một người bà con buôn bán tơ lụa nuôi cho ăn học và giúp đỡ công việc vặt trong nhà.
Những năm 1926-1929, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, được Học sinh đoàn, một tổ chức của Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, sau trở thành Đông dương Cộng sản Đảng kết nạp vào hội.
Năm 1930 vào Nam hoạt động (cùng Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu).
Năm 1931 từ Nam kỳ trở lại miền Bắc, sau đó cùng gia đình chuyển xuống sinh sống ở Hải Phòng và tham gia hoạt động cách mạng ở đây.
Năm 1940 bị đế quốc Pháp bắt đầy lên Sơn La, cho đến tháng 6/1941 thì bị đầy đi Madagascar.
Tại đây, trong thế chiến II, ông (cùng 6 đồng chí khác) được quân đội Anh (lúc đó là phe Đồng minh chống phát xít) trả lại tự do, giao cho quân đội Mỹ.
Một số tù chính trị Việt Nam trong đó có ông và ông Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) được OSS (Cục tình báo chiến lược, tiền thân của CIA) chọn đưa về Cancutta - Ấn Độ huấn luyện với tư cách là quân Đồng minh chống phát xít Nhật.
Tháng 8 năm 1944 ông được thả dù về Việt Nam. Ông mang điện đài, tài liệu, tiền và vũ khí về cho Ðảng, được chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho việc thành lập ngành công an.

Ông làm Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam từ năm 1946 cho đến năm 1953. Sau, ban lãnh đạo Ðảng nghe theo kinh nghiệm Trung Quốc không để cho người từng có thời gian sống với địch nắm những công tác quan trọng, gạt ông khỏi chức vụ.
Từ đó, ông làm Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao cho đến khi về hưu (1978).
Từ những năm 1980, ông đã viết nhiều bài báo và tham luận góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. Ông có uy tín rất lớn trong những người cộng sản thế hệ già.

Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 2003, tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/LeGian_zpse3b07fe6.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/LeGian_zpse3b07fe6.jpg.html)

Bình loạn tý ;D
Cụ Lê Giản là người giữ 3 kỷ lục: thế giới – Việt Nam – Đảng ta
a/ Kỷ lục thế giới:
Cụ Lê Giản là người đầu tiên trên thế giới, thực hiện nhẩy dù đổ bộ đường không từ: ‘không trung pháo đài bay B-29’.
Ngoài ra, cụ còn giữ kỷ lục về số km đường bay từ căn cứ hành quân xuất phát đến khu vực đầu cầu đổ bộ. Từ Can-cút-ta của Ấn Độ tới tận bắc Việt Nam, độ dài hành trình tầm gần 3 ngàn km. Bay thẳng.

b/ Kỷ lục Việt Nam:
Cụ Lê Giản là người Việt Nam đầu tiên, thực hiện phương thức tác chiến: ‘đổ bộ theo chiều thẳng đứng’

c/ Kỷ lục trong Đảng:
Cụ Lê Giản là chiến sỹ ‘đặc nhiệm dù’ đầu tiên của quân ta.

@ bạn hiền Ngocvancu: bạn hiền phải gọi cụ Lê Giản là ‘anh cả dù’ đấy nhé, sư phụ của bác đới.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 11:59:12 AM
Rất cám ơn bác baoleo có câu chuyện hay.

Đính chính và bổ sung một chút: Cụ Lê Giản và các cụ trong nhóm 7 người Cộng sản bị đày đi Man-gát (Lê Giản, Hoàng Đình Giong, Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Minh, Hoàng Hữu Nam, Dương Công Hoạt) do Inteligence Service (IS) đào tạo, tức do Mi-6 đào tạo, trong đó do Cụ Lê Giản thạo tiếng Anh nhất nên được cử thay mặt nhóm giao tiếp với 2 sĩ quan tình báo Anh phụ trách tuyển mộ. Vậy nên các cụ là đồng nghiệp của Kim Philby. Tiền bối của ngành tình báo quân đội ta là các cụ.

Các cụ đều gốc là dân có học và phần lớn là dân kỹ thuật cả, vì vậy khi người Anh huấn luyện nhảy dù các cụ học rất nhanh và nhảy rất chuẩn khiến họ rất phục. Tiền bối của quân dù nhà ta chính là các cụ, .

Ngoài ra, lúc đầu người Anh huấn luyện các cụ vượt biển đổ bộ theo đường tàu ngầm nhưng sau lại thôi vì khi đó (năm 1942) quân Nhật đang làm chủ mặt biển Đông Nam Á nên họ chuyển sang phương pháp đổ bổ đường không bằng dù. Vậy xét ra các cụ lại cũng là lính tàu ngầm đầu tiên của nhà ta.

Cụ Hoàng Đình Giong được người Anh cho về nước đầu tiên để tìm hiểu tình hình rồi quay lại Ấn Độ báo cáo. Các cụ nhảy dù làm 3 đợt ở 3 thời gian khác nhau trong thời gian cuối năm 1944 - đầu năm 1945. Cụ Hoàng Đình Giong và Lê Giản nhảy đầu tiên. Trong ba đợt nhảy dù thì đợt 3 vào tháng 3 và tháng 5 năm 1945 của Cụ Trần Hiệu, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Minh là mạo hiểm nhất vì nhảy xuống vùng đồng bằng (Chương Mỹ, Hà Tây) ngay trong lòng địch.

Trong thời gian chờ về nước, các cụ còn làm "công tác quần chúng" giúp dân Man-gát biết làm nhà, trồng lúa nước, làm đồ tiểu thủ công nghiệp.

Còn về Cụ Lê Giản thì khi vê nước Cụ còn có công gây nghiện món "cờ tây" cho các đồng chí Nam Bộ ra bắc họp hành, xa quê. ;D

Trích hồi ký Cụ Lê Giản:

Tôi nhớ không rõ lắm, vào khoảng tháng 12.1945 hoặc đầu năm 1946, khoảng thời gian mà chúng ta chuẩn bị cho phái đoan đi Hội nghị hiệp thương vơi Pháp ở Đà Lạt, có mấy đồng chí ở miền Nam được cử làm đại biểu ra Hà Nội họp để thống nhất quan điểm, lập trường hành động trong cuộc họp. Một hôm có mấy đồng chí quen biết đến thăm chúng tôi và yêu cầu phải tổ chức buổi "hạ cờ Tây" chúc đoàn đi công tác thắng lợi. Chúng tôi vui vẻ nhận lời và hẹn đến 11 giờ trưa ngày (...) sắp tới mời các đồng chí đến thưởng thức. Anh Hoàng Mỹ (Trần Hiệu) ra sức trổ tài- đúng ngày gửi giờ đã hẹn không thấy ai đến. Tôi gọi điện thoái ra Bắc bộ Phủ (nay là nhà khách chính phủ) nơi Bác Hồ làm việc. Qua điện thoại anh Vũ Đình Huỳnh nhỏ nhẹ trả lời: Các anh ấy hiện còn ở đây, còn đang họp. Chưa thấy ai đến, cứ 15 phút tôi lại gọi điện hỏi một lần và lại nghe tiếng nhỏ nhẹ của anh Huỳnh trả lời. Anh Hoàng Mỹ băn khoăn vì sợ thức ăn nguôi lạnh, mấy ngon. Sau lần gọi điện thoại thứ ba thì anh Huỳnh bỗng gọi điện báo "Họp xong rồi, chúng mình sẽ đến ngay đấy. Sau này tôi mới biết, hôm ấy Bác định kéo dài thời gian họp ban cho xong việc ấy nhưng thấy chốc chốc lại có người gọi điện thoại và anh Vũ Đình Huỳnh (lúc ấy là thư ký của Bác) nhỏ nhẹ trả lời, Bác mới hỏi: "Có việc gì mà ai đó cứ gọi đến liên tục như vậy?". Anh Huỳnh buộc lòng phải nói thật: "Có mấy anh miền Nam anh Thắng, anh Tường hẹn với anh Lê (tức là tôi- Lê Giản) 11 giờ đến ăn thịt chó, rnãi không thấy ai đến, anh Lê gọi. Bác cười vui vẻ, nói: "Có chuyện ấy à. Vậy thì để chiều họp tiếp, bây giờ nghỉ để các chú đi kẻo sai hẹn, Bác không được mời nhưng Bác vẫn sẽ đến".

Thế rồi chúng tôi nghe tiếng còi xe và mở cổng. Bác đến thật, cùng đi với Bác có anh Kháng, tổ trưởng tổ bảo vệ: Chúng tôi ra đón chào, Bác cười, gật gật đầu và tiến lên đi trước, vòng xung quanh ngắm cảnh nhà một lượt rồi mới vào trong. Cùng một lúc, mọi người đã đến đông đủ, ngồi vào bàn ăn, mọi người nâng chén chúc Bác sức khoẻ và ăn ngon miệng. Vui cười rạng rỡ Bác nói thân mật: Cảm ơn các chú đã chúc Bác những điều tốt lành, Bác cũng xin chúc các chú sau mỗi khi làm xong công việc thì tổ chức vui chơi thoải mái, cho đầu óc được thảnh thơi, con người được thư giãn. Các chú tưởng Bác chỉ biết vùi đầu vào công việc hay sao, tuy rất bận Bác vẫn dành thời gian để tập thể dục để ngắm cảnh làm thơ, để đánh cờ tiêu khiển. Bác còn trách: "Các chú chỉ khi nào có công việc gì khó mới chạy đến Bác, còn có các cuộc vui lành mạnh ấm cúng như hôm nay thì các chú đâu có nghĩ đến Bác, mời Bác cùng chung vui? Thịt chó là món ăn độc đáo của Việt Nam. Bác cũng lấy làm lạ là vẫn có người Việt Nam không biết ăn thịt chó".

Nghe Bác nói mà chúng tôi thấy vừa vui, vừa ngượng. Sự thực là chúng tôi chưa hiểu biết về Bác, chúng tôi rất tôn kính Bác nhưng chưa biết yêu Bác, chúng tôi cứ tưởng Bác là con người khắc khổ, nghiêm nghị mà chưa thấy được Bác cũng chính là con người bình dị, giàu tình cảm, xử sự rất thân mật với mọi người xung quanh, quan điểm quần chúng sâu sắc, dễ chinh phục lòng người.

Bữa đó Bác chỉ ngồi nhâm nhi với chúng tôi có một lát, uống cạn chén rượu, nếm một vài món, rồi ra về. Bác nói là phải về không để mấy chú bảo vệ ở nhà sốt ruột mong chờ. Anh em chúng tôi cố mời Bác ở lại không được, biết rằng Bác ra về một phần vì Bác e ngại sự có mặt của Bác sẽ làm cho chúng tôi phải dè dặt, giữ ý tứ, mất tự nhiên và kém vui. Tiễn Bác lên xe rồi, chúng tôi trở lại bàn ăn, kẻ Nam, người Bắc, kẻ mới được tiếp xúc với Bác, người đã gần gũi với Bác từ lâu, mỗi người một lời, một ý, chuyện nở như ngô rang.

Một anh đứng lên như kết luận: "Hôm nay chúng ta học được bài học quý báu, chúng ta chưa thực sự yêu mến Bác hoặc chưa biết yêu Bác như hôm nay ta thấy rõ, yêu nhau thì buồn vui đều phải có nhau". Từ trong thâm tâm, tôi cảm nghĩ: "Bác của chúng ta là như thế đấy".


(http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/anhtu/22_legian479.jpg)
Đồng chí Lê Giản. Nguồn: báo vh-vn Công An.

(http://vnca.cand.com.vn/Uploaded_VNCA/anhtu/22_cacong479.jpg)
Các đồng chí: Dương Công Hoạt, Hoàng Đình Giong, Hoàng Hữu Nam, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Văn Ngọc và Vũ Văn Địch. Nguồn: báo vh-vn Công An.

Nào, mời tất cả các bác tham gia tiếp tục cho xôm, theo tinh thần "cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". ;D  


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: Ngocvancu trong 06 Tháng Chín, 2013, 02:13:31 PM
Chào mừng bác qtdc mở mặt trận mới. ;D

Thế chiến 2, các cụ nhà ta cũng tham gia kinh phết đấy.
Nào là từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại, nào từ phía Đông đánh sang (Liên xô). Nào là từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta).
Có một điều tuyệt vời, là dù ở thế chiến 1, hay thế chiến 2, tất thẩy các cụ lính Việt ta, đều ở phía phe Đồng Minh, oách lại tụi Đức tặc. ;D
Bác đang ‘bốt’ các câu chuyện về các cụ lính Việt từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại.
Baoleo tôi sẽ xin ‘bốt’ một vài mẩu về các cụ lính Việt từ phía Đông đánh sang (Liên xô) và từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta) nhé.
Trước hết là từ phía Nam.
Xin ứng cử: cụ Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam.

Lê Giản (Tô Gĩ hay Dĩ) sinh năm 1911. Bố làm thày đồ dạy chữ nho, chữ quốc ngữ cho các gia đình khá giả chung nhau góp thóc, gạo nuôi thày dạy ở nhà cho con cháu. Hồi nhỏ, đến năm ngoài 10 tuổi, cùng Tô Hiệu theo học các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng ở trường làng. Sau do mẹ mất sớm, phải ra Hà Nội nhờ một người bà con buôn bán tơ lụa nuôi cho ăn học và giúp đỡ công việc vặt trong nhà.
Những năm 1926-1929, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, được Học sinh đoàn, một tổ chức của Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, sau trở thành Đông dương Cộng sản Đảng kết nạp vào hội.
Năm 1930 vào Nam hoạt động (cùng Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu).
Năm 1931 từ Nam kỳ trở lại miền Bắc, sau đó cùng gia đình chuyển xuống sinh sống ở Hải Phòng và tham gia hoạt động cách mạng ở đây.
Năm 1940 bị đế quốc Pháp bắt đầy lên Sơn La, cho đến tháng 6/1941 thì bị đầy đi Madagascar.
Tại đây, trong thế chiến II, ông (cùng 6 đồng chí khác) được quân đội Anh (lúc đó là phe Đồng minh chống phát xít) trả lại tự do, giao cho quân đội Mỹ.
Một số tù chính trị Việt Nam trong đó có ông và ông Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) được OSS (Cục tình báo chiến lược, tiền thân của CIA) chọn đưa về Cancutta - Ấn Độ huấn luyện với tư cách là quân Đồng minh chống phát xít Nhật.
Tháng 8 năm 1944 ông được thả dù về Việt Nam. Ông mang điện đài, tài liệu, tiền và vũ khí về cho Ðảng, được chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho việc thành lập ngành công an.

Ông làm Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam từ năm 1946 cho đến năm 1953. Sau, ban lãnh đạo Ðảng nghe theo kinh nghiệm Trung Quốc không để cho người từng có thời gian sống với địch nắm những công tác quan trọng, gạt ông khỏi chức vụ.
Từ đó, ông làm Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao cho đến khi về hưu (1978).
Từ những năm 1980, ông đã viết nhiều bài báo và tham luận góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. Ông có uy tín rất lớn trong những người cộng sản thế hệ già.

Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 2003, tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/LeGian_zpse3b07fe6.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/LeGian_zpse3b07fe6.jpg.html)

Bình loạn tý ;D
Cụ Lê Giản là người giữ 3 kỷ lục: thế giới – Việt Nam – Đảng ta
a/ Kỷ lục thế giới:
Cụ Lê Giản là người đầu tiên trên thế giới, thực hiện nhẩy dù đổ bộ đường không từ: ‘không trung pháo đài bay B-29’.
Ngoài ra, cụ còn giữ kỷ lục về số km đường bay từ căn cứ hành quân xuất phát đến khu vực đầu cầu đổ bộ. Từ Can-cút-ta của Ấn Độ tới tận bắc Việt Nam, độ dài hành trình tầm gần 3 ngàn km. Bay thẳng.

b/ Kỷ lục Việt Nam:
Cụ Lê Giản là người Việt Nam đầu tiên, thực hiện phương thức tác chiến: ‘đổ bộ theo chiều thẳng đứng’

c/ Kỷ lục trong Đảng:
Cụ Lê Giản là chiến sỹ ‘đặc nhiệm dù’ đầu tiên của quân ta.

@ bạn hiền Ngocvancu: bạn hiền phải gọi cụ Lê Giản là ‘anh cả dù’ đấy nhé, sư phụ của bác đới.

Dạ báo cáo với các bác.Trong lịch sử "Bộ đội đổ bộ đường không" có ghi rõ điều này.Khi lên lớp học bài học lý thuyết đầu tiên cũng được giáo viên cho biết Lê Giản là chiến sỹ nhảy dù đầu tiên của ta nhưng lại do đồng minh huấn luyện ạ. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 04:31:34 PM
Nói về giai đoạn lính thợ và lính chiến Việt sang chính quốc rồi hồi hương khi Pháp thua trận năm 1940 thì có thể nắm được một phần tình hình phức tạp của nó qua hồi ký "Điệp viên nhảy dù trở thành giám đốc Công An Trung Bộ" của Cụ Nguyễn Văn Ngọc. Thời Thế chiến 2, khi bị đày đến Man-gát (Madagascar), Cụ Ngọc có tham gia tiểu đoàn quân tình nguyện Đông Dương (Bataillon des Volontaires Indochinois). Tại đây Cụ Ngọc đã gặp vua Duy Tân (Vĩnh San). Tiểu đoàn Đông Dương được giao cho thiếu tá Vĩnh San chỉ huy, cựu Hoàng trở thành 1 con bài của Đờ-Gôn. Tuy nhiên vua Duy Tân đã chết trong 1 tai nạn máy bay trên đường từ Paris về đảo Reunion. Sau đó các cựu tù nhân Cộng sản được quân Anh chọn lấy khỏi tay lực lượng Pháp Đờ-Gôn, đưa đi đào tạo tình báo ném về Đông Dương nắm tình hình quân Nhật, phục vụ quân Đồng Minh chống phát-xít.

Nguyên 1000 lính thợ O.N.S và cả lính khố đỏ hồi hương trên một chuyến tàu biển của chính quyền Pháp Pê-tanh bị quân Anh bắt giữ đưa về Nam Phi, rồi chuyển sang Man-gát cho quân Pháp Đờ-Gôn sử dụng. Những người chịu tham gia quân đội Pháp Đờ Gôn thì phiên vào tiểu đoàn Đông Dương để chờ về Việt Nam đánh Nhật và cũng là để lập lại nền thống trị của Pháp, những người không chịu hợp tác thì bị giam trong các trại trên đảo. Sau CM Tháng Tám, Pháp đưa một số binh lính Việt từ Man-gát về nước trong đội hình quân Pháp dựng lại nền thuộc địa ở nước ta. Một số lính Việt đã tổ chức binh biến và bị Pháp đàn áp, bắn chết nhiều người khi tàu chiến Pháp chở quân vừa đến ngoài khơi cảng Hải Phòng.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 05:52:25 PM
(tiếp)

Sau Giải phóng nước Pháp, đa số những người này đều mong muốn hồi hương nhanh chóng, nhưng việc này bị chậm vì sự kém tổ chức của thời kỳ sau chiến tranh và các sự kiện Đông Dương. Kèm theo sự đau khổ khi ấy còn là nỗi bực tức và sự giận dữ.

Trong tiếng vang của phong trào Việt Minh ở thuộc địa, những người bị trưng tập yêu sách được giải phóng và đòi quyền bình đẳng với công nhân của chính quốc. Họ trở thành đối đầu về logic với D.T.I. ( Sở lao động Đông Dương - Direction des Travailleurs Indochinois), cơ quan trong năm 1945 tiếp nối Cục Nhân lực bản địa Bắc Phi và thuộc địa (M.O.I.) thuộc Bộ Thuộc Địa ngày trước.

Giải phóng nước Pháp, đó cũng là dịp gặp gỡ với những người Đông Dương khác tại Pháp, các lính tập và trí thức : họ gặp nhau tại Avignon tháng 12 năm 1944 nhân Đại hội của người Đông Dương và hình thành nên Phái đoàn Đông Dương, đại diện cho 25.000 người Đông Dương đang ở Pháp.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/musee-numerique/photos/indochinois_06.jpg)
Biểu tình đòi hồi hương và độc lập cho Việt Nam ở Sorgue năm 1945. © Bộ sưu tập Lê. Nguồn : Liêm Khê - Luguern

Được lôi cuốn vào cuộc đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, lính thợ ONS từ đó hoạt động như cánh tay nối dài của Việt Minh ở Pháp : các cuộc đình công, các phong trào bất tuân lệnh, các cuộc biểu tình lên đến đỉnh điểm năm 1948, đáp trả chúng Bộ Thuộc địa bắt giữ hàng trăm "nhà lãnh đạo", gom họ lại tại Bias (Lot-et- Garonne), sau đó xếp lên tàu quân sự chở về Đông Dương quản thúc.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/musee-numerique/photos/indochinois_07.jpg)
Lễ chào cờ ở Sorgue năm 1945 trước lá cờ của nước Việt Nam DCCH vừa ra đời. © Bộ sưu tập Lê. Nguồn : Liêm Khê - Luguern.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/musee-numerique/photos/indochinois_08.jpg)
Biểu tình đòi hồi hương và độc lập cho Việt Nam ở Sorgue năm 1945. © Bộ sưu tập Lê. Nguồn : Liêm Khê - Luguern
.......


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 06 Tháng Chín, 2013, 05:53:00 PM
(tiếp theo và hết)

Trở về hoặc định cư ở Pháp

Những "đứa con trai bảo vệ nước Pháp" đã trở thành không được mong chờ ở mẫu quốc, và trở nên nguy hiểm khi trở về thuộc địa. Từ năm 1948, việc hồi hương tăng tốc. Một số người bị bắt giam khi họ về đến nhà và nhiều người tham gia Việt Minh sau nhiều tháng bị giam cầm. Trong năm 1952, các cuộc trở về đã hoàn tất. Một cuộc điều tra ban đầu trong những năm 2005-2006 cho thấy hầu hết người trở về đã về lại với địa vị xã hội khởi đầu của họ. Một số khá hiếm vẫn còn sống, họ sống trong nghèo đói và vào năm 2006 vẫn đang chờ đợi một dấu hiệu công nhận từ phía Pháp.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/imagecache/moyen/musee-numerique/photos/indochinois_09.jpg)
Ông Lê Xuân Thiêm ở Pháp năm 1944 và ở Việt Nam năm 2006. © Bộ sưu tập Luguern. Nguồn : Liêm Khê - Luguern

Hàng nghìn người bị trưng tập còn ở lại Pháp, tạo nên, về phía họ, một cộng đồng đồng nhất về mặt xã hội, nhưng không đại diện cho 20.000 người bị trưng tập : họ đều là những giám sát viên và thông ngôn. Rốt cuộc nhờ cái đặc ân của cuộc chiến tranh, họ cũng cụ thể hóa được dự án nhập cư của họ nhằm thoát khỏi vòng kiềm tỏa của hệ thống thuộc địa. Được trang bị một mặt bằng học vẫn đầy đủ, họ có phần dễ dàng khi tìm một cô bạn đời, và mặt khác, họ là đối tượng hưởng lợi của chính sách dạy nghề thực hiện từ ngày Giải phóng nước Pháp bởi Bộ Thuộc địa, nhằm góp phần hiện đại hóa kinh tế Đông Dương. Điều này cuối cùng đã dẫn đến việc củng cố các dự án hội nhập cho cá nhân tại chính quốc : hầu hết các cựu lính thợ O.N.S. đều nhanh chóng tìm được việc làm và được hưởng lợi từ việc bỏ trưng dụng.

(http://www.histoire-immigration.fr/sites/default/files/imagecache/moyen/musee-numerique/photos/indochinois_10.jpg)
Ông Đỗ Vy tại Pháp cùng với vợ năm 1946 và tại Việt Nam năm 2006. © Bộ sưu tập Luguern . Nguồn : Liêm Khê - Luguern

Cuối cùng nước Pháp đã thu lấy tinh hoa những người lao động trưng tập và đẩy về thuộc địa giai cấp nông dân đã bị vô sản hóa và thừa nhận sự độc lập của Việt Nam. Ngoài những số phận cá nhân, người lao động Đông Dương bị trưng tập vào năm 1939 và bắt rễ ở nước Pháp, xét về mặt tập thể, là sản phẩm của một sự lựa chọn xã hội hoạt động ở thượng nguồn và được củng cố bởi sự quản lý thuộc địa.

Tài liệu của Liêm-Khê Luguern, giáo sư Sử-Địa, tiến sỹ Viện IRIS (EHESS)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 07 Tháng Chín, 2013, 02:09:30 AM

Tiếp tục mặt trận hướng Tây. ;D

Trước sức tấn công mạnh mẽ của Đức, Pháp lập phòng tuyến sông Meuse với hy vọng ngăn chặn đà tấn công của chúng. Nhiều đơn vị quân đội Pháp được điều động tới đây thực thi nhiệm vụ trên. Trong đó có DBMIC 52 (Half Lữ đoàn pháo thủ bản địa thuộc địa)

Là 1 mắt xích trong hệ thống phòng thủ sông Meuse. Những người lính Việt chịu chung số phận của kẻ bại trận trước khả năng công phá mạnh mẽ của quân Đức. Tuy nhiên, họ để lại 1 ấn tượng tốt đẹp về lòng can đảm trong mắt người chính quốc. Ta hãy đọc xem Tai nó ghi nhận như thế nào về những người lính Việt.

Các sharpshooters Đông Dương, ở vùng nông thôn của Pháp (1939-1940)

(http://www.anai-asso.org/NET/img/upload/25_milindo2ww2.jpg)


Ngày 10-5-1940. Lữ đoàn pháo thủ bản địa thuộc địa số 52 (DBMIC 52)  dưới sự chỉ huy của Trung tá Beard, quân số 2600 người, nhận lệnh bố trí phòng ngự chống quân Đức với chiều dài 12 dặm, dọc theo sông Meuse.

Sáng sớm ngày 13-5-1940. Quân Đức  dùng Sư đoàn bộ binh số 23 được sự yểm trợ đắc lực của nhiều máy bay và 72 khẩu pháo lớn đồng loạt tấn công. Bị hỏa lực đối phương áp đảo, phía Lữ đoàn 52 hầu như không có sự đánh trả lại bằng pháo binh. Đã có số lượng trận địa bị phá hủy và người chết. Nhưng mọi việc vẫn ổn, người lính nấu cơm vẫn làm việc dưới bầu trời hỏa pháo.
.
Đến chiều, quân Đức vẫn nỗ lực vượt sông. Nhưng họ bị đẩy lùi bởi những cây súng máy cũ kỹ  Hotchkiss sản xuất năm 1914, do những người Đông Dương máu lạnh điều khiển.
Toàn Lữ đoàn tiếp tục tổ chức kháng cự lại những đợt tấn công của đối phương. Kể cả khi phía Đức điều động xe tăng đến với cố gắng xuyên qua hệ thống phòng thủ.

Ngày 15-5-1940, vào lúc 9 giờ có lệnh triệt thoái. Nhưng mệnh lệnh rất khó thực hiện nhanh chóng bởi đội hình Lữ đoàn phân tán trên 1 diện rộng. Đến 16 giờ, công việc mới được hoàn tất. Đảm bảo cho sự lui quân,  đội trưởng Nguyễn Văn Thường và người lính Nguyễn Văn Tac đã dùng súng máy bắn truy cản quân Đức và họ đã bị ngã gục.

Lúc này, DBMIC 52 có thể được coi bị loại khỏi vòng chiến. Họ chỉ còn 10 sĩ quan và 500 lính bộ binh, tương lai bị tiêu diệt  bởi các đơn vị thiết giáp Đức.  Tuy vậy , sau khi phục hồi sức lực họ đã tập hợp lại dưới sự kiểm soát của trung sĩ Mai Hồng Nghi, 1 người can đảm và điềm tĩnh tuyệt vời. Dưới sự chỉ huy chung của đại úy Duypuy, số người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu.

Những người đàn ông thực thụ của DBMIC 52 để lại sự kính trọng cho kẻ thù. Ngày 23-12-1940 Trung tá Soldal viết trên tờ báo Đức Deutsche Wehr “Mọi nỗ lực để vượt qua sông Meuse thất bại, do sức đề kháng mạnh mẽ của kẻ thù."


Dưới tiêu đề, họ đưa ảnh 1 người lính như trên, rất tiếc không có dòng chú thích nào cả >:(

Thêm 1 lưu ý nhỏ: Đây là đơn vị cấp Lữ đoàn (DBMIC 52) đánh trận sông Meuse, không phải đơn vị diễu binh ở bài trên (BMIC 52) cấp tiểu đoàn.

Có nhẽ đơn vị nào cũng thích bài lá 52 cây thật nhể. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 07 Tháng Chín, 2013, 02:45:33 AM
Hầy, rất hay bác tuanb5.

Góp ý chút thôi, vì ở ta đã có từ tương ứng: La 52ème DBMIC (Demi-brigade de mitrailleurs indigènes coloniaux) - bán-lữ đoàn súng máy thuộc địa số 52. Còn sharpshooters - chính là tirailleur - lính tập. Không biết Nghi này có phải quản Nghi trong hồi ký của cụ Nguyễn Văn Ngọc không.

Còn Les tirailleurs indochinois dans la campagne de France (1939-1940) = Lính tập Đông Dương trên chiến trường nước Pháp (1939-1940). Cái thằng Gúc này tính tếu lắm. ;D

Chiếc mũ ca-lô rất giống mũ ca-lô của Vệ Quốc Đoàn, có thể hiểu ngược lại cũng được.

Bán lữ đoàn 52 này có 1 đại đội chỉ huy, 2 tiểu đoàn chiến đấu, mỗi tiểu đoàn có 5 đại đội. Tổng quân số khoảng 2600 người. Chỉ huy bán lữ đoàn là trung tá Barbe (Râu). Nếu ở miền nam có thể gọi ổng là anh quan năm Hai Râu chẳng hạn.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: Zin Ba Cầu trong 07 Tháng Chín, 2013, 09:33:46 AM
Chào mừng bác qtdc mở mặt trận mới. ;D

Thế chiến 2, các cụ nhà ta cũng tham gia kinh phết đấy.
Nào là từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại, nào từ phía Đông đánh sang (Liên xô). Nào là từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta).
Có một điều tuyệt vời, là dù ở thế chiến 1, hay thế chiến 2, tất thẩy các cụ lính Việt ta, đều ở phía phe Đồng Minh, oách lại tụi Đức tặc. ;D
Bác đang ‘bốt’ các câu chuyện về các cụ lính Việt từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại.
Baoleo tôi sẽ xin ‘bốt’ một vài mẩu về các cụ lính Việt từ phía Đông đánh sang (Liên xô) và từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta) nhé.
Trước hết là từ phía Nam.
Xin ứng cử: cụ Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam.

Lê Giản (Tô Gĩ hay Dĩ) sinh năm 1911. Bố làm thày đồ dạy chữ nho, chữ quốc ngữ cho các gia đình khá giả chung nhau góp thóc, gạo nuôi thày dạy ở nhà cho con cháu. Hồi nhỏ, đến năm ngoài 10 tuổi, cùng Tô Hiệu theo học các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng ở trường làng. Sau do mẹ mất sớm, phải ra Hà Nội nhờ một người bà con buôn bán tơ lụa nuôi cho ăn học và giúp đỡ công việc vặt trong nhà.
Những năm 1926-1929, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, được Học sinh đoàn, một tổ chức của Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, sau trở thành Đông dương Cộng sản Đảng kết nạp vào hội.
Năm 1930 vào Nam hoạt động (cùng Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu).
Năm 1931 từ Nam kỳ trở lại miền Bắc, sau đó cùng gia đình chuyển xuống sinh sống ở Hải Phòng và tham gia hoạt động cách mạng ở đây.
Năm 1940 bị đế quốc Pháp bắt đầy lên Sơn La, cho đến tháng 6/1941 thì bị đầy đi Madagascar.
Tại đây, trong thế chiến II, ông (cùng 6 đồng chí khác) được quân đội Anh (lúc đó là phe Đồng minh chống phát xít) trả lại tự do, giao cho quân đội Mỹ.
Một số tù chính trị Việt Nam trong đó có ông và ông Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) được OSS (Cục tình báo chiến lược, tiền thân của CIA) chọn đưa về Cancutta - Ấn Độ huấn luyện với tư cách là quân Đồng minh chống phát xít Nhật.
Tháng 8 năm 1944 ông được thả dù về Việt Nam. Ông mang điện đài, tài liệu, tiền và vũ khí về cho Ðảng, được chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho việc thành lập ngành công an.

Ông làm Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam từ năm 1946 cho đến năm 1953. Sau, ban lãnh đạo Ðảng nghe theo kinh nghiệm Trung Quốc không để cho người từng có thời gian sống với địch nắm những công tác quan trọng, gạt ông khỏi chức vụ.
Từ đó, ông làm Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao cho đến khi về hưu (1978).
Từ những năm 1980, ông đã viết nhiều bài báo và tham luận góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. Ông có uy tín rất lớn trong những người cộng sản thế hệ già.

Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 2003, tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/LeGian_zpse3b07fe6.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/LeGian_zpse3b07fe6.jpg.html)

Bình loạn tý ;D
Cụ Lê Giản là người giữ 3 kỷ lục: thế giới – Việt Nam – Đảng ta
a/ Kỷ lục thế giới:
Cụ Lê Giản là người đầu tiên trên thế giới, thực hiện nhẩy dù đổ bộ đường không từ: ‘không trung pháo đài bay B-29’.
Ngoài ra, cụ còn giữ kỷ lục về số km đường bay từ căn cứ hành quân xuất phát đến khu vực đầu cầu đổ bộ. Từ Can-cút-ta của Ấn Độ tới tận bắc Việt Nam, độ dài hành trình tầm gần 3 ngàn km. Bay thẳng.

b/ Kỷ lục Việt Nam:
Cụ Lê Giản là người Việt Nam đầu tiên, thực hiện phương thức tác chiến: ‘đổ bộ theo chiều thẳng đứng’

c/ Kỷ lục trong Đảng:
Cụ Lê Giản là chiến sỹ ‘đặc nhiệm dù’ đầu tiên của quân ta.

@ bạn hiền Ngocvancu: bạn hiền phải gọi cụ Lê Giản là ‘anh cả dù’ đấy nhé, sư phụ của bác đới.


Cảm ơn @ Baoleo với những thông tin về cụ Lê Giản tức Tô Di . Ông là người thôn Xuân cầu xã nghĩa trụ huyện Văn giang Hưng yên quê nội của tôi. Thời gian cuối đời cụ cũng hay về quê và có những quan tâm ít nhiều với quê hương.

Quê tôi xã Nghĩa trụ này được vinh dự có đến 4 cụ có tên trên đường , phố ở Hà nội :
 Cụ: Tô hiệu , Nguyễn công Hoan , Tô ngọc Vân, Lê văn Lương

Không biết tới đây cụ Lê Giản (Tô di ) có đc thành phố đặt tên đường phố.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: Quocngoaicu trong 07 Tháng Chín, 2013, 11:16:48 AM
Bố đi lính cho Pháp khuyên con nên đi lính bên trời tây đánh Đức cho Mẫu quốc.
--------------------------------
Anh phu kíp đã lớn và đã có vợ con. Mẹ ghẻ anh thấy anh không làm nghề ngỗng gì chỉ ăn hại, nên không ngày nào không nhiếc móc anh. Bà ta xui bố anh bắt vợ chồng anh ra ở riêng. Bởi vậy, muốn đẩy anh đi, bố anh khuyên anh bằng những lý do rất chính đáng.

- Tao ức một nỗi cai Tăng cũng đi dẹp giặc như tao, kể công hắn không bằng công tao, nhưng chỉ vì hắn nhanh mồm nhanh miệng, khéo luồn lọt mà hắn được ra làm tri huyện. Còn tao, giặc yên tao không được lên lon cai, về làng, chịu là anh bếp quèn suốt đời. Mà ở làng, ở nước, bao giờ nghèo hèn cũng khổ nhục. Mấy lần mày phải đi phu, bị đàn anh ức hiếp, đánh chửi, mày cũng sáng mắt ra rồi đấy. Bây giờ nhà nước đương cần người sang Tây để dẹp giặc Đức dã man cho Mẫu quốc. Tao tưởng không còn dịp nào tốt cho mày như dịp này. Nguời ta nghe tin bắt lính thì trốn như trạch, đến nỗi hương lý phải lùng bắt. Vậy mày tình nguyện mà ứng mộ đi chào mào. Chắc rằng cái tâm đó, nhà nước sẽ thấu. Mày có lương để nhà cho vợ mày ăn. Chúng mày không phải bám vào cái khố rách của bố. Rồi sang bên ấy, mày hết sức trung thành, can đảm, lập được công to, thì thế nào mày cũng được ra làm quan như cai Tăng. Mày giàu sang. Vợ con mày sung sướng. Tao cũng được thơm lây.

Nhưng anh phu kíp không nghe bố. Vì anh nhát. Anh sợ sang Tây thì chết bỏ mạng ở bên ấy.
(Đống rác cũ - Nguyễn Công Hoan)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: mig21-58 trong 07 Tháng Chín, 2013, 08:27:18 PM
Xem từ đầu tới giờ chủ đề này thật hay , nhưng đố các bác , các cụ nhà ta đi đánh nhau bên tây , khi về việt nam , thường gọi là gì đi kèm với tên thật ?  ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 08 Tháng Chín, 2013, 12:22:59 AM


Ôi! Chào bác mig21-58!

Nhưng mà bác ra câu đố khó bỏ xừ đi ấy. ;D
Đầu tiên tôi cho là  từ Đội. Ví như ông Tảo thì gọi là Đội Tảo, Ông Nhân là Đội Nhân. Cứ như thế...
Nhưng ai cũng làm Đội thì ai làm lính đây? Mặc dù vẫn ngờ ngợ...

Nhân nói đến ông Đội, tự dưng lại nhớ bài thơ đọc từ hồi bé, nay vẫn nhớ lõm bõm.

Ông Đội.

Ông Đội người cao lớn lạ lùng.
Đã từng sang Pháp, đánh nhau xong,
Trở về làng cũ, hôm nào cũng
Đi với con trâu ở giữa đồng.

Ông thích chờ qua lũ học trò,
Để xem chúng nó cãi nhau to.
Tần mần giở vở xem từng đứa
Rồi đọc Ô, Ề. Mấy tiếng mô...


Thật tiếc không nhớ đoạn cuối, có bác nào nhớ không ạ?





Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 08 Tháng Chín, 2013, 12:45:48 AM
Xem từ đầu tới giờ chủ đề này thật hay , nhưng đố các bác , các cụ nhà ta đi đánh nhau bên tây , khi về việt nam , thường gọi là gì đi kèm với tên thật ?  ;D
Lâu tôi không nhớ lắm, nhưng hình như lính thì gọi là ông quyền thì phải. Chẳng hạn số lính của cụ quyền là 24 thì gọi là cụ quyền Văn-cách (vingt-quatre). Vì tội gác cho thầy quản khám con mẹ buôn hàng quốc cấm kỹ quá mà con mẹ ấy lại lừa thầy quản trốn được cả người lẫn tang vật, nên cụ Văn cách bị lập-gioòng (la prison).

Còn cái vụ Thế chiến 1 mà tiếng Phếch gọi là “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ" thì hình như các cụ đi lính sang mẫu quốc về gọi là ông Vệ.

Hầy, không biết đúng không đây bác Mig?


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: mig21-58 trong 08 Tháng Chín, 2013, 07:15:26 AM
Xem từ đầu tới giờ chủ đề này thật hay , nhưng đố các bác , các cụ nhà ta đi đánh nhau bên tây , khi về việt nam , thường gọi là gì đi kèm với tên thật ?  ;D
Lâu tôi không nhớ lắm, nhưng hình như lính thì gọi là ông quyền thì phải. Chẳng hạn số lính của cụ quyền là 24 thì gọi là cụ quyền Văn-cách (vingt-quatre). Vì tội gác cho thầy quản khám con mẹ buôn hàng quốc cấm kỹ quá mà con mẹ ấy lại lừa thầy quản trốn được cả người lẫn tang vật, nên cụ Văn cách bị lập-gioòng (la prison).

Còn cái vụ Thế chiến 1 mà tiếng Phếch gọi là “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ" thì hình như các cụ đi lính sang mẫu quốc về gọi là ông Vệ.

Hầy, không biết đúng không đây bác Mig?
CHÍNH XÁC  , GỌI LÀ ÔNG VỆ
VÍ DỤ :ÔNG VỆ NHỠ , ÔNG VỆ ĐOÀN ....
CÁI MÁY CỦA TÔI NÓ GIỞ CHỨNG , THÀNH  RA TOÀN CHỮ HOA , CÁC BÁC THÔNG CẢM


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: yuk56 trong 08 Tháng Chín, 2013, 07:17:20 AM
Theo như tôi biết thì người trong laǹg thường gọi theo chức vụ mà người lính nhân được khi tại ngũ, như ôngg bếp, ông cai, ông ách...ông nội tôi sau thế chiến thứ nhứt về làng được gọi là ông cai..ônngg tôi mất,, bà̀  tôi   cũng được gọi là bà cai...


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: binhyen1960 trong 09 Tháng Chín, 2013, 11:52:33 AM
 Chuyện truyền khẩu trong gia đình tôi về chiến tranh Thế giới thứ 2. (không có nguồn)

 Năm 1962 lúc đó bố tôi đang là sinh viên du học tại Liên Xô cũ tại trường Quan hệ Quốc tế. Thời đó rất khó khăn về lý lịch khi được chọn lựa SV đi du học, vừa phải là người có trình độ hết phổ thông, vừa lý lịch nhân thân tốt nên số VS Việt Nam bên LX cũng không nhiều. Bữa đó sau giờ học, bố tôi đi bộ xuống dưới ký túc xá tập thể dục buổi chiều, có thấy một ông người LX làm nghề thợ mộc đang cò cưa sửa chữa đồ gỗ tại cái chiếu nghỉ cầu thang. Khi đi ngang thì thấy ông người Nga này nói hoàn toàn tiếng Việt rất rõ ràng và đúng ngữ pháp tiếng Việt.

- Cậu giữ hộ tôi cái tấm ván để tôi cưa cắt.

 Bố tôi giật mình vì tại sao lại có một ông người Nga mà nói tiếng Việt Nam giỏi như thế trong khi không phải giáo viên của trường, đúng là dân lao động phổ thông vì tay chân trai sạn xù xì, ăn mặc úi xùi lem luốc. Quá ngạc nhiên nên bố tôi dừng lại giúp ông ta trong công việc và nhân tiện khai thác chuyện một người  Nga rất giỏi tiếng Việt này.

 Ông ta nguyên là một người lính Nga trong chiến tranh Thế giới thứ 2, đánh nhau với Đức và bị bắt làm tù binh đưa về trại tập trung tại Tây Đức, năm 1944 khi quân Đồng minh giải phóng nước Đức thì vùng đất có trại tập trung kia lại thuộc phần đất mà quân Pháp giải phóng, nước Đức quốc xã chưa hoàn toàn xụp đổ như sau này. Vì thế nhóm tù binh Nga được quân Pháp giải phóng chưa có cơ hội quay về chiến đấu trong hàng ngũ của quân LX. Họ được động viên tham gia chiến đấu chống phe Phát xít đứng trong hàng ngũ quân Pháp, nếu ai không tham gia thì vẫn phải tiếp tục ở trong trại tù binh đó như từng là tù binh của Đức cho đến khi chiến tranh Thế giới thứ 2 kết thúc. Những tù binh Nga lại phải đứng dưới sự lựa chọn cho mình và ông người Nga thợ mộc kia đã chọn con đường đầu quân cho Đồng minh Pháp tham gia chiến đấu cho đến ngày phe Phát xít chính thức xụp đổ hoàn toàn.

 Chuyện sẽ chẳng có gì và liên quan tới VN nếu như sau ngày 8.5.1945 ông người Nga này trở về với hàng ngũ quân LX. Ông này được điều động trong hàng ngũ binh lính Pháp sang VN, cụ thể thời gian là bao nhiêu lâu thì không rõ nhưng ông ấy cũng kịp có vợ là người VN và biết khá nhiều về HN và SG lúc đó. Sau đó ông ta được điều động lên cứ điểm Điện Biên Phủ cho đến khi Việt Minh hoàn toàn giải phóng căn cứ ĐBP. Một lần nữa ông ta lại bị bắt làm tù binh của VN. Sau năm 1954 ông ta được phía VN trao trả tù binh cho Pháp, ông ta trở về Pháp rồi lần hồi trở về nước Nga Tổ quốc của ông ấy. Kết luận cho quãng đời chinh chiến của ông người Nga này xiên suốt từ Đông Âu sang Tây Âu rồi vòng qua Đông Nam Á, từ Đông Nam Á quay về Tây Âu rồi trở về Đông Âu của mình là: Thịt chó chấm với mắm tôm của VN rất ngon và vợ VN cũng rất đẹp.

 Trong suốt cuộc nói chuyện đó bố tôi với ông người Nga thợ mộc kia nói chuyện với nhau hoàn toàn dùng tiếng Việt, không dùng một từ tiếng Nga hay Pháp mặc dù cả 2 đều rất khá về 2 ngoại ngữ kia. Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, ông người Nga đó trở về nước làm một công dân bình thường của LX lúc đó, cũng không rõ quyền lợi của ông ta sau chiến tranh do phía LX và Pháp chi trả mà chỉ biết ông ta đang làm nghề thợ mộc và cũng không khá giả gì.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 01:00:37 PM
.....

 Trong suốt cuộc nói chuyện đó bố tôi với ông người Nga thợ mộc kia nói chuyện với nhau hoàn toàn dùng tiếng Việt, không dùng một từ tiếng Nga hay Pháp mặc dù cả 2 đều rất khá về 2 ngoại ngữ kia. Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, ông người Nga đó trở về nước làm một công dân bình thường của LX lúc đó, cũng không rõ quyền lợi của ông ta sau chiến tranh do phía LX và Pháp chi trả mà chỉ biết ông ta đang làm nghề thợ mộc và cũng không khá giả gì.
Chuyện này cũng rắc rối đấy bác ạ. Về nguyên tắc thì Pháp trả, tiếng tây bồi ở ta gọi là đi lĩnh măng-đa. Trả thế nào do thời gian phục vụ và hợp đồng phục vụ. Còn trong thời chiến tranh lạnh thì phụ thuộc quan hệ giữa 2 quốc gia và hiệp định cụ thể. Việc chi trả thường phải làm thủ tục qua Đại sứ quán. Chẳng hạn ở Việt Nam thì đó là ăn lương đế quốc, không khéo lĩnh được thì cũng ăn đòn, tốt nhất làm anh công dân bình thường tự đi làm lấy nuôi lấy thân mình. Còn ông Nga kia thời phục vụ Hồng quân và ở trong trại tù binh không có biểu hiện mất "lạp xường" thì về LX được công nhận quyền lợi công dân và được quyền lao động đàng hoàng, nếu không thì vào GULAG cùng với đ/c cựu sĩ quan pháo binh Hồng quân Thế chiến 2, sau này là 1 nhà văn nổi tiếng thế giới được "bọn đế quốc" trao tặng giải thưởng Nobel - Aleksandr Soltzhenitsyn.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 01:13:01 PM
Xem từ đầu tới giờ chủ đề này thật hay , nhưng đố các bác , các cụ nhà ta đi đánh nhau bên tây , khi về việt nam , thường gọi là gì đi kèm với tên thật ?  ;D
Lâu tôi không nhớ lắm, nhưng hình như lính thì gọi là ông quyền thì phải. Chẳng hạn số lính của cụ quyền là 24 thì gọi là cụ quyền Văn-cách (vingt-quatre). Vì tội gác cho thầy quản khám con mẹ buôn hàng quốc cấm kỹ quá mà con mẹ ấy lại lừa thầy quản trốn được cả người lẫn tang vật, nên cụ Văn cách bị lập-gioòng (la prison).

Còn cái vụ Thế chiến 1 mà tiếng Phếch gọi là “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ" thì hình như các cụ đi lính sang mẫu quốc về gọi là ông Vệ.

Hầy, không biết đúng không đây bác Mig?
CHÍNH XÁC  , GỌI LÀ ÔNG VỆ
VÍ DỤ :ÔNG VỆ NHỠ , ÔNG VỆ ĐOÀN ....
CÁI MÁY CỦA TÔI NÓ GIỞ CHỨNG , THÀNH  RA TOÀN CHỮ HOA , CÁC BÁC THÔNG CẢM

Xem kỹ lại các bài trong tô-pích "Người lính Việt thời Thê chiến 1" của bác mod baoleo thì bác Nguyễn Trọng Luân đã trả lời rồi. Đúng là Vệ thật. Giá hồi ở đất Bỉ, xứ Flandres, mặt trận Ypres thời 1916-1918, mà các cụ Vệ cơ lính Phú Thọ quê bác Luân cùng các cụ Vệ cơ lính Hải dương quê bác Mig21-58 phối hợp tóm được Hít-le thì các cụ nhà mình khỏi phải đi lính chết cho Pháp trong Thế chiến 2 và nhân loại đội ơn người nông dân An-nam lắm lắm. Chữ Vệ này có lẽ ý là Vệ quốc đây. Còn cụ nào có chức thì gọi theo chức kiểu như thầy Cai, thầy Đội, thầy Ách.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: cuubinh90 trong 09 Tháng Chín, 2013, 02:02:08 PM
Chào mừng bác qtdc mở mặt trận mới. ;D

Thế chiến 2, các cụ nhà ta cũng tham gia kinh phết đấy.
Nào là từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại, nào từ phía Đông đánh sang (Liên xô). Nào là từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta).
Có một điều tuyệt vời, là dù ở thế chiến 1, hay thế chiến 2, tất thẩy các cụ lính Việt ta, đều ở phía phe Đồng Minh, oách lại tụi Đức tặc. ;D
Bác đang ‘bốt’ các câu chuyện về các cụ lính Việt từ phía Tây (Anh-Pháp) đánh lại.
Baoleo tôi sẽ xin ‘bốt’ một vài mẩu về các cụ lính Việt từ phía Đông đánh sang (Liên xô) và từ phía Nam đánh thốc lên (Việt Nam ta) nhé.
Trước hết là từ phía Nam.
Xin ứng cử: cụ Lê Giản, nguyên Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam.

Lê Giản (Tô Gĩ hay Dĩ) sinh năm 1911. Bố làm thày đồ dạy chữ nho, chữ quốc ngữ cho các gia đình khá giả chung nhau góp thóc, gạo nuôi thày dạy ở nhà cho con cháu. Hồi nhỏ, đến năm ngoài 10 tuổi, cùng Tô Hiệu theo học các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng ở trường làng. Sau do mẹ mất sớm, phải ra Hà Nội nhờ một người bà con buôn bán tơ lụa nuôi cho ăn học và giúp đỡ công việc vặt trong nhà.
Những năm 1926-1929, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, được Học sinh đoàn, một tổ chức của Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, sau trở thành Đông dương Cộng sản Đảng kết nạp vào hội.
Năm 1930 vào Nam hoạt động (cùng Tô Chấn, Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu).
Năm 1931 từ Nam kỳ trở lại miền Bắc, sau đó cùng gia đình chuyển xuống sinh sống ở Hải Phòng và tham gia hoạt động cách mạng ở đây.
Năm 1940 bị đế quốc Pháp bắt đầy lên Sơn La, cho đến tháng 6/1941 thì bị đầy đi Madagascar.
Tại đây, trong thế chiến II, ông (cùng 6 đồng chí khác) được quân đội Anh (lúc đó là phe Đồng minh chống phát xít) trả lại tự do, giao cho quân đội Mỹ.
Một số tù chính trị Việt Nam trong đó có ông và ông Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) được OSS (Cục tình báo chiến lược, tiền thân của CIA) chọn đưa về Cancutta - Ấn Độ huấn luyện với tư cách là quân Đồng minh chống phát xít Nhật.
Tháng 8 năm 1944 ông được thả dù về Việt Nam. Ông mang điện đài, tài liệu, tiền và vũ khí về cho Ðảng, được chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho việc thành lập ngành công an.

Ông làm Tổng giám đốc Nha công an Việt Nam từ năm 1946 cho đến năm 1953. Sau, ban lãnh đạo Ðảng nghe theo kinh nghiệm Trung Quốc không để cho người từng có thời gian sống với địch nắm những công tác quan trọng, gạt ông khỏi chức vụ.
Từ đó, ông làm Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao cho đến khi về hưu (1978).
Từ những năm 1980, ông đã viết nhiều bài báo và tham luận góp ý kiến với lãnh đạo về các vấn đề chính trị, về dân chủ. Ông có uy tín rất lớn trong những người cộng sản thế hệ già.

Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 2003, tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/LeGian_zpse3b07fe6.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/LeGian_zpse3b07fe6.jpg.html)

Bình loạn tý ;D
Cụ Lê Giản là người giữ 3 kỷ lục: thế giới – Việt Nam – Đảng ta
a/ Kỷ lục thế giới:
Cụ Lê Giản là người đầu tiên trên thế giới, thực hiện nhẩy dù đổ bộ đường không từ: ‘không trung pháo đài bay B-29’.
Ngoài ra, cụ còn giữ kỷ lục về số km đường bay từ căn cứ hành quân xuất phát đến khu vực đầu cầu đổ bộ. Từ Can-cút-ta của Ấn Độ tới tận bắc Việt Nam, độ dài hành trình tầm gần 3 ngàn km. Bay thẳng.

b/ Kỷ lục Việt Nam:
Cụ Lê Giản là người Việt Nam đầu tiên, thực hiện phương thức tác chiến: ‘đổ bộ theo chiều thẳng đứng’

c/ Kỷ lục trong Đảng:
Cụ Lê Giản là chiến sỹ ‘đặc nhiệm dù’ đầu tiên của quân ta.

@ bạn hiền Ngocvancu: bạn hiền phải gọi cụ Lê Giản là ‘anh cả dù’ đấy nhé, sư phụ của bác đới.

Hay quá bác ơi! Nhiều thông tin không thể tìm thấy ở bất cứ đâu!!!!


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: binhyen1960 trong 09 Tháng Chín, 2013, 02:10:09 PM
Xem kỹ lại các bài trong tô-pích "Người lính Việt thời Thê chiến 1" của bác mod baoleo thì bác Nguyễn Trọng Luân đã trả lời rồi. Đúng là Vệ thật. Giá hồi ở đất Bỉ, xứ Flandres, mặt trận Ypres thời 1916-1918, mà các cụ Vệ cơ lính Phú Thọ quê bác Luân cùng các cụ Vệ cơ lính Hải dương quê bác Mig21-58 phối hợp tóm được Hít-le thì các cụ nhà mình khỏi phải đi lính chết cho Pháp trong Thế chiến 2 và nhân loại đội ơn người nông dân An-nam lắm lắm. Chữ Vệ này có lẽ ý là Vệ quốc đây. Còn cụ nào có chức thì gọi theo chức kiểu như thầy Cai, thầy Đội, thầy Ách.

 Bác cứ "tự tin" thái quá. ;D

 Nếu các Cụ An Nam nhà ta ở Thế chiến thứ I có bắt được thằng cu "Hits Le" lúc đó thì cũng chỉ bắt được thằng Hạ sỹ quèn lính truyền tin trong đội quân Áo Hung lúc đó thôi. Chứ đâu phải là cu HitLe từng khiến cho cả Thế giới này phải "điêu đứng" mấy chục năm sau của Thế chiến thứ II.

 Chữ Vệ khi các Cụ An Nam ta từng "cày ải" bên trời Tây mà được hiểu là Vệ Quốc thì quý hoá quá bác ạ. BY từng được nghe cách giải thích khác về từ Vệ này. ;D

 Dân ta chịu nhiều áp bức bóc lột của thực dân Pháp, cay cú mà chưa có cơ hội để dành độc lập, ghét cay ghét đắng bọn thực dân và cũng ghét luôn cả ai đó là dân An Nam làm việc hay phục vụ trong chính quyền và QD Pháp, sau này thì quy kết thành "Việt gian" dáo, dân ta lúc đó thì thâm thuý, lực bất tòng tâm nên hay sỏ xiên . Vì thế, từ Vệ ở đây được lái từ câu Vện và bỏ đi chữ (N), có nghĩa là giống vằn vện đi theo Pháp "táp" đồ cặn bã thải ra. Vằn vện bởi nó lai căng, không phải Ta mà cũng không ra Tây, sau này về nước cũng được chính quyền thực dân, đế quốc "nể mặt" chút đỉnh, chế độ ưu tiên ưu đãi tý chút. ;D

 Thật ra thì với cách sỏ xiên ấy cũng "oan gia" cho rất nhiều người, thời thế đó thì họ phải chịu và đi lính cho Pháp sang chiến đấu ở Châu Âu thời thế chiến thứ nhất hay thứ 2 thì cũng bởi bát cơm cả thôi. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 09 Tháng Chín, 2013, 02:38:54 PM
Chuyện truyền khẩu trong gia đình tôi về chiến tranh Thế giới thứ 2. (không có nguồn)
......................
@ bác Binhyen:
Sau khi nước ta giành độc lập. Trong khoảng tháng 9/1945 đến hết năm đó, có 1 tổ Sỹ quan Hồng quân Liên Xô (lính của cụ Xít-ta-lin đàng hoàng nhá  ;D), lang thang suốt Hà Nội và Sài Gòn, nhằm tìm kiếm chiến sỹ Hồng quân Liên-xô, do nhiều hoàn cảnh, lạc sang đến tận Việt Nam, để tổ chức hồi hương.
Rất tiếc, trong suốt thời gian ở VN, tổ sỹ quan Hồng quân LX này, không liên lạc với Đảng ta.  >:(



Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 02:48:02 PM
Hầy, đ/c Bình Yên ơi, đấy cũng là một cách giải thích hay của dân ta. Giá mà triều đình nhà Nguyễn diệt Tây Sơn, thống nhất quốc gia xong mà Minh trị Duy Tân ngay thì bây giờ ODA của Việt Nam đang giúp Nhật bổn khôi phục lò phản ứng Fukushima rồi. Còn Vệ đó cũng có thể hiểu là vệ mẫu quốc, bọn Phếch mất dạy ấy nó vẫn bắt dân ta hồi xưa học cái câu "tổ tiên chúng ta là người Gô-loa".

À mà nếu Duy Tân từ đầu thế kỷ 19 thì có lẽ cả thế giới bây giờ đang học chữ Nôm và tiêu Việt Nam Đồng, chúng ta sẽ xuất khẩu phi cơ "Chim Lạc" bản xuất khẩu không bay được lên Sao Kim, súng tự động "Cao Lỗ", tàu ngầm "Bạch Đằng" v.v. đi cả thế giới. Anh Obama sẽ sang Thăng Long nằm nhà trọ xin gặp lãnh đạo nhà ta để xin học nâng cao ở Đại học Văn Miếu rồi về trị dân nhà anh ấy, mà vào gặp phải châm đóm thuốc lào cho các bác nhà ta còn chán mới được học. Còn với các cô cậu tin tin trên thế giới, mốt không phải ở Paris hay Roma mà là môt ở Thăng Long hay Sài Ghềnh hay Huế. Hầy, cái thằng lịch sử nó bậy thật, đúng ra là phải thế, kiểu này phải kỷ luật khai trừ thàng lịch sử thôi các bác nhể, hi hi. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 02:56:20 PM
Chuyện truyền khẩu trong gia đình tôi về chiến tranh Thế giới thứ 2. (không có nguồn)
......................
@ bác Binhyen:
Sau khi nước ta giành độc lập. Trong khoảng tháng 9/1945 đến hết năm đó, có 1 tổ Sỹ quan Hồng quân Liên Xô (lính của cụ Xít-ta-lin đàng hoàng nhá  ;D), lang thang suốt Hà Nội và Sài Gòn, nhằm tìm kiếm chiến sỹ Hồng quân Liên-xô, do nhiều hoàn cảnh, lạc sang đến tận Việt Nam, để tổ chức hồi hương.
Rất tiếc, trong suốt thời gian ở VN, tổ sỹ quan Hồng quân LX này, không liên lạc với Đảng ta.  >:(


Khổ nỗi lúc ấy lại giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác nên Cụ Xít đâu có cho các chú Hồng quân kia gặp, ngoài ra Cụ Xít còn ủng hộ Tưởng Giới Thạch nữa cơ. Chuyện này đâu như sau Đảng ta phải giải thích mâi Cụ Xít mới nghe. Mà Cụ Xít vốn đánh giá Cụ Hồ là tay dân tộc chủ nghĩa từ lâu rồi, từ thời 3x cơ. Riêng chuyện Cụ Hồ còn tồn tại được dưới thời Cụ Xít đã là 1 chuyện may mắn. Ôi, chính chị chính em thế giới thế kia "phức tộp" quá các bác nhỉ.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 03:18:01 PM
Còn rất nhiều điều để nói về mối quan hệ Việt - Pháp thời này. Người Pháp phe bảo thủ đã quá coi thường khát vọng độc lập của người Việt dẫn đến nhiều hệ lụy về sau, nếu không nước Pháp cũng vẫn còn lợi ích ở Việt Nam và Việt Nam cũng tránh được chiến tranh. Có 1 cái truyện rất hay của bác Bảo Ninh về đề tài này là "Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng" (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,7941.20.html). Nhưng xét cho cùng lịch sử đã diễn ra bao giờ cũng là hợp lý nhất vì quy luật vận động của xã hội loài người bắt nó phải thế.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 09 Tháng Chín, 2013, 10:27:10 PM
Một bài báo về đám tang lịch sử Trần Văn Ơn ngày 12-1-1950
http://phapluattp.vn/201001090251697p0c1110/so-phan-74-buc-anh-qua-2-cuoc-khang-chien.htm

(http://phapluattp.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2010/01/09/c7.jpg)
Đại diện giới trí thức đến dự đám tang anh Trần Văn Ơn có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang.v.v... (http://phapluattp.vn/201001090251697p0c1110/so-phan-74-buc-anh-qua-2-cuoc-khang-chien.htm)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 10 Tháng Chín, 2013, 07:29:47 AM
Khổ nỗi lúc ấy lại giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác nên Cụ Xít đâu có cho các chú Hồng quân kia gặp, ngoài ra Cụ Xít còn ủng hộ Tưởng Giới Thạch nữa cơ. Chuyện này đâu như sau Đảng ta phải giải thích mâi Cụ Xít mới nghe. Mà Cụ Xít vốn đánh giá Cụ Hồ là tay dân tộc chủ nghĩa từ lâu rồi, từ thời 3x cơ. Riêng chuyện Cụ Hồ còn tồn tại được dưới thời Cụ Xít đã là 1 chuyện may mắn. Ôi, chính chị chính em thế giới thế kia "phức tộp" quá các bác nhỉ.

Hi hi, chuyện Ông Cụ nhà ta quay trở về Thành Trì, chính sử viết thế này:
Trước khi mở Chiến dịch Biên giới 1950, Ông Cụ nhà ta quay trở về Thành Trì để báo cáo và nhận truy lĩnh hậu cần, sau nhiều năm ‘đơn độc chiến đấu trong vòng vây’.
Biết tính Ông Xít, lại là 1 nhà chính trị lão luyện, Ông Cụ nhà ta ghé qua nhà Qủa Tạ (năm 1949, khi nước CHND Trung Hoa thành lập, chính sử gọi đó là quả tạ ném lên bàn cân chính trị thế giới.  ;D) và rủ anh Giám đốc Qủa Tạ đi cùng.
Qủa nhiên, về đến Thành Trì, Ông Cụ nhà ta bị cụ Xít bắt làm kiểm điểm và giải trình ghê gớm, vụ giải tán Đảng Cộng Sản.
Tuy nhiên, Ông Cụ nhà ta có võ, lại thêm anh Giám đốc Qủa Tạ, vốn đang muốn nịnh nọt, lấy lòng Ông Cụ nhà ta, nên có thêm lời bênh vực rằng: Ông Cụ tuy làm thế (giải tán Đ), dưng mà theo phép Tầu, ấy gọi là: thân ở Tào doanh, tâm tại Hán.  ;)

Sau cùng, cụ Chủ sự Thành Trì Xít, cũng nguôi giận.
Tuy nhiên, trang bị hậu cần, cụ Chủ sự Thành Trì Xít cấp cho ta, theo kiểu có thế chấp.
Nghĩa là, ta cần gì, anh Giám đốc Qủa Tạ cứ cấp phát, rồi ghi sổ.
Sau khi thẩm định, cụ Chủ sự Thành Trì Xít sẽ trả lại cho , anh Giám đốc Qủa Tạ  đồ tương ứng, nhưng mới hơn.
Điều đó lý giả tại sao, từ năm 1950, đến chiến dịch Điện Biên, đồ hậu cần, trang bị vũ khí của Tầu, lại tràn ngập trong quân ta, nhiều như thế. ;)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 10 Tháng Chín, 2013, 09:13:02 AM
Tiếp chuyện các cụ lính Việt thời thế chiến 2, từ phía nam đánh thốc lên.  ;D

Năm 1945, ở Việt Nam ta, đã thành lập đại đội Việt-Mỹ. Danh nghĩa chính thức, đây là lực lượng thuộc phe Đồng Minh, đánh lại phe Trục.  ;D
Đại đội này do nhóm đặc nhiệm "Con Nai" của Mỹ, phối hợp huấn luyện.
"Đại đội Việt - Mỹ" khoảng 200 người, do đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu I, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) làm Chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm Cố vấn, nhằm chung mục tiêu chống phát - xít Nhật.
Nhóm Con Nai tham gia giúp Việt Minh huấn luyện bộ đội Việt Nam về kỹ thuật sử dụng các loại vũ khí như súng bazoka, súng cối…, xây dựng sân bay dã chiến, dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào sau Quốc dân Đại hội và nghe Quân lệnh số 1 phát động khởi nghĩa, tham gia bao vây quân Nhật ở Thái Nguyên.

Căn cứ của "Đại đội Việt - Mỹ"  là ở Sân bay Lũng Cò.
 Sân bay Lũng Cò có chiều dài 400 mét và rộng 20 mét, đường băng trải dài theo hướng Nam - Bắc. Các cán bộ ở đây đã cắm những lá cờ trắng ở hai bên làm hoa tiêu, loại máy bay vận tải hạng nhẹ L5 của Không quân Mỹ có thể hạ cánh và cất cánh an toàn. Đây là sân bay đầu tiên do chính bàn tay và khối óc của chúng ta làm nên và cũng có thể coi đây là "Sân bay quốc tế" đầu tiên của chính quyền cách mạng Việt Nam.
Sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công hàng chục chuyến bay của quân Đồng minh, do phi công Mỹ lái. Đó cũng là nơi Chính phủ ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế là đưa những người Pháp bị Nhật cầm tù ở Tam Đảo trở về nước vào cuối tháng 7 năm 1945.

Đại đội Việt Mỹ xuất quân:

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/CV-M1_zps1216abcd.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/CV-M1_zps1216abcd.jpg.html)

Ông Cụ và toàn bộ Ban Chỉ huy quân Đồng Minh Việt Nam.
Lưu ý, người ngồi ngoài cùng, tay phải ảnh, là Thượng tướng Đàm Quang Trung.  ;D

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/CV-M4_zpsab49b579.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/CV-M4_zpsab49b579.jpg.html)


Ông Cụ và toàn bộ Ban Chỉ huy quân Đồng Minh Việt Nam.
Lúc này, tay phó nháy yêu cầu các Cụ đứng. ;)
(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/CV-M2_zps3cc42fe4.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/CV-M2_zps3cc42fe4.jpg.html)

Ban chỉ huy đại đội Việt-Mỹ

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/CV-M3_zps9f280635.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/CV-M3_zps9f280635.jpg.html)

Quân Đồng Minh và Cụ Giáp, về Hà Nội sau ngày 19/08/1945. Người đội kê-pi là Thiếu tá Pát-tơ.  ;D

(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/CV-M5_zps7b6f8255.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/CV-M5_zps7b6f8255.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Chín, 2013, 01:41:34 PM
Tư liệu của bác baoleo rất hay và ý nghĩa. Nhưng phải nói mối tình Việt Mỹ thuộc loại có duyên mà hổng có phận. Nhân chứng đầu tiên cho mối tình oan nghiệt này là anh trung tá có ảnh dưới đây, nói mẹ nó tiếng Anh đi chẳng nói, hoặc giơ cha nó tay lên trời cho nhanh, lại đi nói tiếng Pháp làm quân ta đang cú bọn Pháp tương luôn cho mày sang bên kia thế giới mà nói tiếng Pháp.

(http://medicinthegreentime.com/wp-content/uploads/2012/10/PETER-DEWEY.png)

May chú đi cùng chân dài chạy được, vả trình bắn súng quân ta hồi xưa chắc cũng chưa cao, nếu không chú đi cùng cũng toi nốt. Thế là tay cựu sinh viên trường danh tiếng Yale và con cưng của tướng Donovan trở thành người Mỹ đầu tiên chết trên đất Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: binhyen1960 trong 10 Tháng Chín, 2013, 02:17:50 PM
Hầy, đ/c Bình Yên ơi, đấy cũng là một cách giải thích hay của dân ta. Giá mà triều đình nhà Nguyễn diệt Tây Sơn, thống nhất quốc gia xong mà Minh trị Duy Tân ngay thì bây giờ ODA của Việt Nam đang giúp Nhật bổn khôi phục lò phản ứng Fukushima rồi. Còn Vệ đó cũng có thể hiểu là vệ mẫu quốc, bọn Phếch mất dạy ấy nó vẫn bắt dân ta hồi xưa học cái câu "tổ tiên chúng ta là người Gô-loa".

À mà nếu Duy Tân từ đầu thế kỷ 19 thì có lẽ cả thế giới bây giờ đang học chữ Nôm và tiêu Việt Nam Đồng, chúng ta sẽ xuất khẩu phi cơ "Chim Lạc" bản xuất khẩu không bay được lên Sao Kim, súng tự động "Cao Lỗ", tàu ngầm "Bạch Đằng" v.v. đi cả thế giới. Anh Obama sẽ sang Thăng Long nằm nhà trọ xin gặp lãnh đạo nhà ta để xin học nâng cao ở Đại học Văn Miếu rồi về trị dân nhà anh ấy, mà vào gặp phải châm đóm thuốc lào cho các bác nhà ta còn chán mới được học. Còn với các cô cậu tin tin trên thế giới, mốt không phải ở Paris hay Roma mà là môt ở Thăng Long hay Sài Ghềnh hay Huế. Hầy, cái thằng lịch sử nó bậy thật, đúng ra là phải thế, kiểu này phải kỷ luật khai trừ thàng lịch sử thôi các bác nhể, hi hi. ;D

 Thật sự là bác qtdc làm nhà Iem "đau bụng" suốt từ chiều ngày hôm qua đến giờ vì ... cười bác ạ. ;D

 Hy vọng thế, hy vọng tương lai 1 2 trăm năm nữa thế hệ cháu chắt chút chít chúng ta "oai hùng" khắp 5 châu 4 biển cho thiên hạ biết thế nào là dân An Nam. ;D

 Bác baoleo@.

 BY em cũng có nghe nói cái thời sau 1945 các cụ Xít trong Quốc Tế CS Đảng cũng chưa thật tin Ông Cụ Dân tộc chủ nghĩa nhà ta nên cũng có nhiều "dè chừng", nhà Iem thì nghĩ thế này: Ông Cụ nhà ta chơi kiểu "khôn lỏi", bắt cá 2 tay nhất là khi nước nhà còn đang yếu, mới khai sinh, với anh nào cũng gật dáo để còn được "bơm" cho ít "đạn", nhận tuốt tuồn tuột của bất kể anh nào "hào phóng" ban tặng mặc dù nó có hơi lộ cộ. Vì thế phải lập lờ và đứng nghiêm như cột cờ dứt khoát không nghiêng về phía anh nào hết cho dù chỉ là 0,0001 độ. Thật ra thì trong cái phe Đồng Minh chống Phát xít ấy họ cũng chẳng tin nhau, họ gằm ghè nhau từng tý kể cả khi chưa bứt xong cu HitLe, đến khi xong rồi thì lại càng lắm lý do để đẩy mỗi bên sang một phần giới tuyến, ngược lại thì chủ trương của ta hoặc bị nghi ngờ đứng giữa "xơi" cả từ 2 đầu khiến cho Cụ Xít thì muốn đẩy ra mà chú Sam cũng chẳng dám gần. Vì thế mới có chuyện, một nhóm lính Nga "càn" từ Bắc vào Nam VN để tìm binh lính Nga "rơi vãi" mang về mà lại không "bắt tay" với Ông Cụ nhà ta chứ. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 16 Tháng Chín, 2013, 07:45:49 AM
Lôi cái này lên nào  ;D

Như sách đã dẫn, thời thế chiến 2, các cụ lính Việt nhà ta, đã đánh tụi 'phe Trục tặc'  ;D từ phía Đông lại (Anh-Pháp..), rồi từ phía Nam đánh thốc lên ( dư đã bẩu trong chuyện cụ Lính dù Lê Giản và đại đội Việt-Mỹ).
Các cụ lính Việt nhà ta, còn từ phía Đông đánh ép về.
Vậy là các cụ lính Việt nhà ta, đã đánh tụi 'phe Trục tặc' từ tam bề- tứ hướng.
Thế nên, tụi 'phe Trục tặc' chết đứ đừ năm 1945, chả có gì phải xoắn  ;D

Mà từ phía Đông đánh ép về, các cụ lính Việt nhà ta, đứng chân trong hàng ngũ Hồng quân Liên xô hẳn hoi nhá, chánh hiệu con nai vàng nhá  ;D.
Tài liệu viết dư lày:

Trong tâm khảm những người dân Xô Viết vẫn còn đọng mãi tinh thần bất khuất và lòng dũng cảm của những chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu và hy sinh anh dũng tại ngoại ô Matxcơva trong hàng ngũ Hồng quân Liên Xô.
Vào thời điểm khó khăn nhất của cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, nhiều đơn vị quân đội đã được thành lập để bảo vệ Matxcơva, trong đó có trung đoàn quốc tế đặc biệt (tháng 8/1941). Tham gia trung đoàn này, cùng với người Tây Ban Nha, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari, còn có 5 người Việt Nam.
Đó là các chiến sĩ Vương Thúc Tỉnh, Lý Nam Thanh (tên thật là Nguyễn Sinh Thân), Lý Anh Tạo (tên thật là Hoàng Phan Tư), Lý Thúc Chất (tên thật là Vương Thúc Thoại) và Lý Phú San (tên thật là Lê Phan Chiến). Đây là những học sinh Việt Nam được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử sang Liên Xô học tập ở các trường Đại học Phương Đông, Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa, trường Quốc tế Lênin trong những năm 1920-1930.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Matxcơva từ năm 1941-1942, 4 người trong số đó đã anh dũng hy sinh, riêng ông Lý Phú San do sức khỏe yếu nên được phân công làm việc tại một quân y viện. Chiến tranh kết thúc ông trở về Tổ quốc và mất năm 1980.
Để ghi nhận công lao đóng góp của các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô đã ký quyết định truy tặng 5 chiến sĩ tình nguyện Việt Nam Huy chương "40 năm chiến thắng của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại", Huân chương "Chiến tranh vệ quốc" hạng Nhất.
Những tấm huy chương này đã được chuyển cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lưu giữ.

Do hình ảnh của các cụ lính Việt nhà ta, đứng chân trong hàng ngũ Hồng quân Liên xô, còn đang đc bảo mật, nên các bác có thể tham khảo ảnh duyệt binh tại Hồng trường-Mạc tư khoa, năm 1941. Tại cuộc duyệt binh này, có tất  cả các cụ lính Việt nhà ta, đứng chân trong hàng ngũ Hồng quân Liên xô.
Các cụ nhà ta, đã từ lễ duyệt binh này, đi thẳng ra mặt trận và hy sinh.




(http://i277.photobucket.com/albums/kk54/tuanbimphoto/duyetbinhhongtruong_zps4ad3ed29.jpg) (http://s277.photobucket.com/user/tuanbimphoto/media/duyetbinhhongtruong_zps4ad3ed29.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: binhyen1960 trong 16 Tháng Chín, 2013, 03:44:14 PM
 Vâng! Bác baoleo@ cứ bảo trong chiến tranh Thế giới thứ 2, các Cụ An Nam nhà ta "tấn công" phe Trục từ cả mặt trận hướng Đông và hướng Tây. Thôi thì hướng Đông thì do Ta cử các Cụ sang Liên Xô học tập rồi chiến tranh kéo đến, các Cụ An Nam cũng cầm súng chiến đấu bảo vệ thành trì Cách Mạng. Nhưng các Cụ tham gia chống phe Trục ở hướng Tây thì theo nhà em được biết là do "nồi cơm" ở nhà nó hơi bị vơi chứ chẳng có mục đích lý tưởng gì dáo. ;D

 Cụ nhà em "oánh" phe Trục từ hướng Tây về kể lại nhiều chuyện vui đáo để. Các Cụ An Nam nhà ta sang đó phải "chiến đấu" nhiều mặt trận lắm đó các bác, các Cụ An Nam nhà ta cũng "oánh" cả mặt trận không có tiếng súng khiến "quân địch" chỉ có nước ợ ... ợ "xin hàng", chịu buông vũ khí cũng có luôn, dòng giống Lạc Hồng con Rồng cháu Tiên rơi vãi tùm lum bên đó cả. "Oánh" xông từ Pháp thông sang Đức, Áo, "oánh" tuốt lên tận Phần Lan, Na Uy khắp vùng Tây Âu cả, chán rồi "oánh" tiếp về tận Hạ Lào.

 Mặt trận đó nghe kể lại mới thấy "kinh" các Cụ An Nam nhà ta các bác ạ. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: lixeta trong 19 Tháng Chín, 2013, 09:19:17 AM
Một số thông tin bổ sung:

"Trước khi Đệ II Thế chiến khai diễn, Nhà nước thực dân Pháp ban hành lệnh cưỡng bách trưng dụng người dân xứ thuộc địa đưa về chánh quốc làm việc như công nhân không chuyên môn (ONS = Ouvrier Non Spécialisé) và không lương tại các xưởng kỹ nghệ chiến tranh. Việt Nam bị nhà cầm quyền thực dân bắt 20 000 thanh niên đưa khẩn cấp qua Pháp để thay thế lính pháp phải đi đánh giặc.

Sau khi Pháp thất trận, những người Việt Nam này bị nhận lầm là lính nên bị quân Đức và những người Pháp hợp tác với Đức sử dụng. Họ phải sống lưu đày cơ cực dưới thời Đức chiếm đóng. Một số người này là những người đầu tiên trồng lúa theo kiểu Việt Nam ở Camargue.

Ở Pháp, họ bị nhà cầm quyền pháp bắt làm nô lệ. Về xứ, họ bị Hà Nội kết tội là những người phản quốc.

45 ngày tới Pháp

Nhắc lại chính xác ngày 29 tháng 8 năm 1939, Công Báo Đông Dương phổ biến một Nghị định theo đó nhà cầm quyền thực dân pháp tuyển dụng cưỡng bách 20 000 thanh niên Việt Nam đưa qua Pháp, không phải đi lính, mà làm những công việc không chuyên môn.

Mỗi gia đình nào trong làng có 2 con trai tuổi từ 18 tới 45, phải nạp một người nhưng tránh cho con trai trưởng để ở nhà lo việc thờ cúng gia tiên. Nếu nhà nào có con mà không đưa con đi thì người cha phải chịu ở tù. Chánh quyền thuộc địa được lệnh phải kết thúc chiến dịch tuyển người trong vòng 6 tháng. Có nhiều người bị bắt đi không kịp từ giã vợ con.

Nói là 20 000, nhưng con số tới Pháp là 19 550 người trong đó có 6900 người ở Bắc, 10 850 người ở Trung, tức xứ Annam, và 1800 người ở xứ Nam kỳ thuộc địa.

Họ xuống tàu ở Hải Phòng, Đà Nẵng và Sài Gòn. Và cuộc hải hành của họ thường phải mất 45 ngày. Dĩ nhiên họ bị nhốt trong hầm chở hàng hóa, bị cấm lên boong vì nơi đây có người pháp và sĩ quan. Họ ngủ cứ 5/6 người trên một sạp gỗ, không nệm, chiều dài 1, 50m. Vì hầm tàu là nơi chở hàng nên không được trang bị các điều kiện vệ sinh nên mùi hôi bốc lên nồng nặc. Ăn uống, cứ 10 người nhận 1 cái thau thức ăn chia nhau.

Tới Marseille, 75 Đội được đưa tới Baumettes thuộc Quận IX của Marseille ngày nay ở tạm chờ phân phối đi các nơi làm việc. Lúc đó chỗ ở Baumettes vừa mới xây xong, sau này là khám đường của Marseille còn tồn tại tới ngày nay. Ở nhiều trại, công nhân ăn không đủ no vì bị tham nhũng ở khâu cung cấp lương thực. Mỗi người phải tự xoay sở lấy giải quyết cái đói. Mèo, chó lúc đó quí giá vô cùng, ngon hơn thỏ và cừu, cho nên trong phạm vi vài cây số chung quanh, người ta không còn nghe được tiếng mèo ngao, tiếng chó sủa ma nữa.

Nhà nước bảo hộ hay nhà tù?

Tháng 6/1940, Pháp thua trận. Vài ngàn trong số công nhân này được hồi hương. Nhưng từ năm 1941, đường biển Âu châu và Viễn đông bị cắt bởi Hải quân Anh, 14 000 công nhân này bị kẹt lại ở Pháp. Bộ Lao động Chánh phủ quyết định đem bán những công nhân này cho các xí nghiệp tư như xưởng dệt, nhà máy luyện thép, xưởng cưa, nông trường, hay cho chánh quyền địa phương để đào cống rãnh, lấp đầm lầy, đốn cây, … với giá nhân công rẻ mạt.

Khi mướn công nhân, người chủ chỉ làm giao kèo với Bộ Lao động, đúng hơn, với Sở nhân công bản xứ (M.O.I = Service de la Main d’Oeuvre Indigène)), trả tiền làm việc thẳng cho M.O.I, tức Cai thầu. Suốt nhiều năm dài, Cai thầu thực dân thu tiền bán nhân công nhưng lại không trả lại cho công nhân một đồng xu lớn, đồng xu nhỏ nào hết. Họ làm việc không lương, chỉ nhận được một số tiền phụ cấp bằng 1/10 lương của công nhân Pháp lúc đó. Họ còn bị bữa đói, bữa no, ngược đãi, chỗ ở tồi tệ, không nước nóng, không sưởi vào mùa lạnh, không được đi lại tự do.

Những công nhân ở lại, không về xứ được do chiến tranh, tập trung ở Miền nam Pháp, trong những Trại lớn ở rải rác từ Marseille qua Bordeaux.

Nước Pháp được Đồng minh giải phóng khỏi sự đô hộ của Đức quốc xã nhưng tình trạng của những công nhân lao động cưỡng bách Việt Nam lại không thay đổi.

Những đợt hồi hương đầu tiên chỉ được tổ chức vào năm 1948. Và những công nhân sau cùng về xứ năm 1952, sau 12 năm bị cưỡng bách biệt xứ. Có khoảng một ngàn người lấy quyết định ở lại Pháp sanh sống."


Nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/79642/nhung-nguoi-dong-duong-tren-dat-phap-hon-o-dau-bay-gio/2013/09


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 20 Tháng Chín, 2013, 02:57:59 AM
Tạp chí LIFE ngày 22 tháng 3 năm 1968:
(http://farm9.staticflickr.com/8161/7206858462_1427712eeb_o.jpg)


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: baoleo trong 20 Tháng Chín, 2013, 08:23:19 AM
Tài liệu về đại đội Việt Mỹ của bác qtdc hay quá.
Lúc nào có thời gian, phải dịch hầu các cụ mới đc.  ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 21 Tháng Chín, 2013, 01:33:09 PM
(http://static.mediapart.fr/files/imagecache/500_pixels/media_64525/2CampdeSorguesavril1940.jpeg)
Một trại (camp Bécassières de Sorgues) của người lao động Đông Dương tháng 4 năm 1940

(http://static.mediapart.fr/files/imagecache/500_pixels/media_64525/Capture_decran_2012-09-05_a_15.30.20.png)
Người lao động Đông Dương làm lâm nghiệp năm 1943

(http://static.mediapart.fr/files/imagecache/300_pixels/media_64525/4_Thanh_et_sa_future_femme_Juliette.jpeg)
Một cụ lính thợ và vị hôn thê người Pháp năm 1943

http://blogs.mediapart.fr/blog/pierre-daum/050912/les-travailleurs-indochinois-enfin-reconnus-sorgues


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 01:19:01 PM
Tài liệu về đại đội Việt Mỹ của bác qtdc hay quá.
Lúc nào có thời gian, phải dịch hầu các cụ mới đc.  ;D

Chuyện này hay quá, chờ... mỏi cổ rồi mà chưa thấy bản dịch đâu cả. :o

Trong Liên hoan phim tháng trước (10-2013), có 1 bộ phim tài liệu dự thi phản ánh biệt đội Con Nai và đạt giải Bông Sen vàng.  Phim mang tên Một cơ hội bị bỏ lỡ.

Biệt đội Con Nai có nhiệm vụ nhảy dù  xuống Việt Bắc, cung cấp vũ khí cũng như huấn luyện quân sự cho lực lượng Việt Minh đánh Nhật. Sự kiện này vẫn còn nhiều người chưa được biết đến. Bác nào có ngoại ngữ dịch ra cho mọi người cùng xem nhé. ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 01:59:46 PM
Bác tuanb5: trong diễn đàn đã có: các sách "OSS và Hồ Chí Minh..." và "Tại sao Việt Nam?", chúng đã được một số NXB Việt Nam tổ chức dịch và phát hành, hiện các tài liệu này nằm trong mục Tài liệu Hồi ký (nước ngoài hoặc Việt Nam) và đã được các thành viên kỳ cựu của quansuvn số hóa post lên từ lâu rồi.

Các sách đó chi tiết hơn nhiều một vài bài báo trên tạp chí TIME (tạp chí có phóng viên sau này là thiếu tướng AHLLVT Phạm Xuân Ẩn). Bác chịu khó lục trong diễn đàn là có.

Thực ra làm gì có cơ hội nào mà để bị bỏ lỡ, chẳng qua vì cái định luật Cu-lông thôi: điện tích cùng dấu bao giờ cũng đẩy nhau. Vậy cứ ở xa nhau đi, xa thơm mà gần thì thum thủm. Cứ xem CMT8 đấy: có vỏn vẹn vài nghìn đảng viên là cướp chính quyền liền à, bỏ lỡ là bỏ cái gì đây cơ chứ ?

Riêng cuốn "Tại sao Việt Nam ?" của thiếu tá OSS Archimed Patty do chính cụ Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo, một nhân chứng của sự kiện, dịch ra tiếng Việt. Người Mĩ họ thừa biết Việt Minh do Cụ Hồ lãnh đạo là Cộng Sản, nhưng họ vẫn hợp tác vì lúc đó quyền lợi 2 bên đang có điểm trùng nhau. Còn sau đó thì không trùng nữa, vậy thì lấy đâu ra cơ hội đây. Đến bây giờ thì có nhẽ lại khác. Cho nên đối với Mĩ, mày là cộng hay không cộng kệ cha mày, miễn có lợi và đống ý thì mày và tao hợp tác. Còn mày chống cộng nhưng không có lợi cho tao thì tao cũng giết: ví dụ như vụ đảo chính Ngô Đình Diệm rồi bán đứng VNCH của Thiệu, làm ngơ cho TQ chiếm Hoàng Sa vẫn còn sờ sờ đó thôi. 

Vậy nói chính xác có lẽ phải là: chưa đủ thế để chơi được với Mĩ lúc đó, dù Cụ Hồ đã viện dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ trên Quảng trường Ba Đình trước mặt phái bộ Mĩ. Mà lúc đó đến cả LX và TQ cũng có thèm chơi với mình đâu.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 02:38:43 PM

Cám ơn bác qtdc, tôi sẽ tìm đọc mấy cuốn đó. ;D

Bác phân tích có lý. Nhưng tác giả bộ phim tài liệu chắc cũng có lý do riêng để đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Một cơ hội bị bỏ lỡ.

Giới lãnh đạo Mỹ xưa nay khi hành xử những mối quan hệ Quốc tế, có bao giờ họ rời khỏi cặp kính quyền lợi Quốc gia. Những người theo Mỹ như ông Diệm, ông Thiệu đều phải trả giá cho sự tin tưởng vào dăm ba mỹ từ đồng minh, chiến hữu, cam kết...này nọ. Mặc dù Mỹ rất chu đáo trong việc ra đi cho bản thân và gia đình, nhưng sau này ông Thiệu vẫn tỏ ra hết sức cay cú Mỹ, không khác gì với bài diễn văn từ chức của ông ta hồi tháng 4-1975.

Thói quen cố hữu, đến mức chai lỳ giết chết khả năng nhận biết khách quan chăng?



Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 05:22:09 PM
Nguồn: http://phunuonline.com.vn/giai-tri/nghe-si-cua-thang/nguyen-mong-long-va-co-hoi-khong-bi-bo-lo/a106380.html

Trích

Nguyễn Mộng Long và cơ hội không bị bỏ lỡ

PN - Nguyễn Mộng Long đặt tên cho bộ phim tài liệu do mình viết kịch bản và làm đạo diễn (vừa đoạt hai giải lớn - Bông sen vàng cho phim và đạo diễn xuất sắc nhất cho cá nhân) tại Liên hoan phim VN lần thứ 18 tại Quảng Ninh vừa qua, là Có một cơ hội bị bỏ lỡ nhưng với riêng anh thì ngược lại, cơ hội thực hiện bộ phim này đã không bị bỏ lỡ.

Những ai từng được xem bộ phim tài liệu Có một cơ hội bị bỏ lỡ của Nguyễn Mộng Long đều khó có thể kìm nén được sự xúc động. Riêng anh, dẫu đã qua hơn hai năm “ăn ngủ” với chuyện trong phim, vẫn nghẹn ngào không thốt nên lời trong buổi chiếu thân tình mới đây để ra mắt bạn bè, cộng sự, ân nhân, như một lời cám ơn.

Nhằm tìm lời giải đáp cho câu hỏi, vì sao từng “có một cơ hội” hợp tác tốt đẹp trong mối quan hệ Việt-Mỹ cách đây trên 65 năm đã bị “bỏ lỡ”, bộ phim gây bất ngờ khi câu trả lời lại nằm trong chính những ký ức và sự trải nghiệm với hơn 90 năm cuộc đời dành trọn trái tim cho VN của một cựu chiến binh Mỹ, ông Henry Prunier. Ông là một trong bảy thành viên của nhóm Con Nai thuộc tổ chức Office of Strategic Services (OSS - tạm dịch Văn phòng Dịch vụ chiến lược) hoạt động ở Đông Dương, đã nhảy dù xuống Tân Trào ngày 16/7/1945 với mục đích hợp tác với Việt Minh trong cuộc chiến chống phát xít Nhật. Nhóm Con Nai của Henry Prunier mang theo vũ khí và huấn luyện kỹ thuật quân sự cho Đội Tuyên truyền giải phóng quân. Thời gian ở VN chỉ vỏn vẹn trên dưới ba tháng, trước và sau sự kiện 2/9/1945, nhưng những ký ức tốt đẹp về Bác Hồ, về Võ Nguyên Giáp, cũng như những hiểu biết về nhân dân VN,… vẫn luôn được lưu giữ trong trái tim Henry Prunier.

(http://image.phunuonline.com.vn/news/2013/20131104/fckimage/9--dao-dien.jpg)
Đạo diễn Mộng Long (bìa phải) và nhân vật Henry Prunier (thứ hai từ phải qua) (ảnh do tác giả cung cấp)

Việc nhóm Con Nai có mặt tại Tân Trào năm 1945 với mục tiêu đồng hành với VN trong cuộc chiến giành độc lập được coi như sự khởi đầu tốt đẹp cho sự hợp tác Việt-Mỹ đã bị bỏ lỡ khi chính phủ Mỹ ngay sau đó đã giải tán OSS. Henry Prunier quay lại VN năm 1995 và tiếp theo là cuộc gặp gỡ ấm áp giữa các cựu chiến binh Việt Minh và OSS vào năm 1997 tại New York đã một lần nữa khẳng định, tình cảm mà ông và những đồng đội của ông trong nhóm Con Nai thuở nào dành cho VN là một “giá trị bền vững”. Những tác giả của bộ phim đã tình cờ phát hiện “nhân vật” Henry Prunier trong một cuộc triển lãm tranh giao lưu giữa cựu chiến binh hai nước, khi nghe một ông già gần 90 tuổi hồn nhiên khoe mình từng sống, làm việc và trò chuyện nhiều với Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thời gian ở Tân Trào, kèm theo đó là những hình ảnh và những kỷ vật mà ông vẫn trân trọng lưu giữ.

Hơn 20 năm theo nghề với những điều kiện eo hẹp, có không nhiều những bộ phim ưng ý như Đồng dao (tài liệu), Vầng trăng của đất (truyện video), giờ đây may mắn có được một nhân vật “hiếm” như Henry Prunier, đạo diễn Nguyễn Mộng Long quyết không bỏ lỡ cơ hội. Ngoài Henry Prunier, đại diện cho lớp cựu chiến binh thế hệ chiến tranh thứ hai còn có David Thomas, Lindsey Kiang, Simon Gregory,… những cựu sĩ quan thuộc thế hệ chiến tranh Việt Mỹ mà sự xuất hiện cùng những câu chuyện kể của họ trong phim, cho thấy đạo diễn đã khá dày công trong việc tìm kiếm tư liệu và nhanh nhạy chớp được những khoảnh khắc quý giá để không chỉ khắc họa được một cách khá chân thật và cảm động về tấm lòng của những người “lính già” ở một nước từng đối nghịch dành cho Bác Hồ và nhân dân VN mà còn cho thấy nhân dân VN cũng thành tâm đón nhận, trân trọng và biết ơn những tình cảm đó.

Sau đợt ghi hình không lâu, ông Henry Prunier bị tắt tiếng và qua đời. Bộ phim với những tư liệu và chứng cứ sống động từ cuộc đời của Henry Prunier, không chỉ lý giải được những “khúc mắc” khiến nước Mỹ bỏ lỡ cơ hội đồng hành với Việt Nam mà còn như một bức tranh minh họa rõ nét về sự “đồng dạng” của trái tim những người lương thiện trên thế giới.

 Cát Vũ


Hết trích

Chà, bác tuanb5: kết luận này của tác giả bài báo (nước Mỹ bỏ lỡ cơ hội đồng hành với Việt Nam) hay ra phết. Theo thông tin được biết Henry Prunier là một người thành thạo tiếng Pháp, và ông ta cũng đã được quân đội Mĩ gửi đến Đại học Berkeley ở California học tiếng Việt trước khi nhảy dù xuống Việt Nam năm 1945. Người Mĩ rất chu đáo trong mọi việc.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 05:26:15 PM
Một trường hợp người ta cũng cho đó là cơ hội bị bỏ lỡ khi thời nhà Nguyễn, tàu Mĩ đến Đà Nẵng tỏ ý muốn giao thương, đặt quan hệ giữa 2 nước năm 1845. Vậy thực chất nó là thế nào ?  Bác tuanb5 thử xem bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân người Huế xem ý ông ấy đúng sai ra sao :

Trích

Tàu Constitution của Hoa Kỳ mở đầu cuộc chiến tranh
thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam thời Nguyễn


NGUYỄN ĐẮC XUÂN
http://sachhiem.net/NDX/NgDacXuan.php

   22 tháng 10, 2008
Sử sách đã nói nhiều đến chuyện quân viễn chinh Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng vào ngày 1.9.1858. Sự thật thì trước đó 13 năm (1845) một chiếc tàu Mỹ đã tạo điều kiện cho thủy quân Pháp đánh phá Việt Nam dữ dội rồi. Qua các nguồn tư liệu của triều Nguyễn, của các sử gia Pháp, Việt Nam và Mỹ, chúng tôi xin trình bày tóm lược sự kiện lịch sử ấy như sau:

Trong một cuộc hành trình đến vùng biển châu Á năm 1845, thuyền CONSTITUTION (thường gọi là Old Ironsides) của Hoa Kỳ (sử triều Nguyễn gọi là Hoa-Cân hay Ma-ly-can) cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là John Percival đến liên hệ với các quan lại phụ trách ở địa phương xin được tiếp xúc với triều đình Việt Nam để đặt mối giao hảo. Được tin, vua Thiệu Trị ở Kinh cử ngay viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi, làm việc với Percival.

(http://sachhiem.net/LICHSU/IMG/Constitution.jpg)

Tin thuyền Mỹ vào Đà Nẵng đến tai giám mục Dominique Lefèbvre đang bị giam cầm ở ngục thất Huế. Giám mục liền viết một phong thư nhờ tín đồ Thiên chúa giáo là Nguyễn Văn Thất bí mật đem vào cho Percival yêu cầu người Mỹ can thiệp cho Giám mục được tự do. Người đem thư không may bị quân của Triều Nguyễn bắt được. Với tội “ngầm thông tin tức với thuyền nước ngoài. Thất bị chém bêu đầu và rêu rao khắp nơi cho mọi người biết”. Thông tin này đến tai thuyền trưởng Percival. Vì lòng trung thành với phương Tây và đạo Thiên chúa, Percival đã thực hiện một hành vi thô bạo trong lúc ngoại giao. Y đã dùng vũ lực bắt tất cả các quan lại Việt Nam đang giao thiệp với y xuống tàu làm con tin. Y bảo chỉ thả những người này sau khi được tin Giám mục Lefèbvre đã ra khỏi ngục thất.

Vua Thiệu Trị cho rằng Percival đã xúc phạm đến quốc thể Việt Nam. Ông nhất quyết không thực hiện sự đổi chác do người Mỹ này đưa ra. Tinh thần cấm đạo Thiên chúa, chủ trương “bịt cửa quan, cấm cửa cảng” của nhà vua thêm một lần được củng cố.

Biết không thể khuất phục được nhà nước Việt Nam bằng “con tin”, Percival sau một vài tuần khiêu khích ở Đà Nẵng đã ra lệnh thả các “con tin” và nhổ neo ra đi.

Sau thời điểm đó, vua Thiệu Trị cho rằng để Giám mục Lefèbvre trong tù còn nguy hiểm hơn là trả tự do cho ông, nhà vua cho phóng thích Lefèbvre và buộc nhà truyền giáo này phải đi Singapore. Lefèbvre rời Việt Nam được ít lâu rồi lại bí mật trở lại tiếp tục công việc giảng đạo mở rộng nước Chúa của ông [1].

Còn Ngoại lang Nguyễn Long và Kinh lịch Nguyễn Dụng Giai về triều thì bị vua Thiệu Trị khiển trách là thụ động: “bị người Ma-ly-can dọa nạt sao không biết chống cự?”. Hai ông đều bị cách lưu.

Rời Đà Nẵng mà không cứu được người đồng chủng, Percival rất ức. Y đón tàu của hải quân Pháp ngoài khơi kích động các tướng tá Pháp rằng “Giám mục Lefèbvre và người theo đạo Thiên chúa đang bị triều đình Huế bách hại hãy mau chân vào cứu!”. Người đứng đầu lực lượng hải quân Pháp ở biển Đông lúc ấy là đại tá Cécille.

Nhờ Hiệp ước Nam Kinh (1842), Anh quốc chiếm được Hồng Kông và mở năm cửa cảng. Pháp cũng nhận được các mối lợi tương tự qua Hiệp ước Hoàng Phố (1844), ngoài ra còn được Trung Hoa hứa cho tự do truyền đạo. Các nhà truyền giáo nhân đó nghĩ đến việc thúc đẩy các lực lượng quân đội Pháp can thiệp vào Việt Nam để có những đặc nhượng tương tự.

Trong lúc hải quân Pháp đang tìm một cái cớ để gây hấn với triều đình Huế thì họ gặp Percival. Hải quân Pháp vớ ngay cái lý do Việt Nam đang bách hại người Tây phương và con chiên Thiên chúa giáo, họ liền tràn vào để cứu người đồng chủng và yêu cầu triều đình Huế thực thi chính sách tự do truyền đạo.

Đầu năm 1847, trung tá de Lapièrre thay thế đại tá Cécille. De Lapièrre sai trung tá Rigault de Genouilly với một lá tối hậu thư viết cho vua Thiệu Trị. Lapièrre cho tàu chiến Gloire chạy theo sau tàu của Rigault. Nội dung lá thư trách cứ nhà nước Việt Nam rất nặng nề và đòi Việt Nam phải cho phép tự do giảng đạo Thiên chúa giáo như ở Trung Hoa. Quan tỉnh Quảng Nam ghi việc tâu lên. Vua Thiệu Trị sai tả thị lang bộ Lễ Lý Văn Phức vào ngay Đà Nẵng hiệp đồng cùng với tuần phủ Nguyễn Đình Tân, lãnh binh Nguyễn Đức Chung gặp hải quân Pháp, định ngày tiếp xúc.

Đến ngày hội thương, đại tá de Lapièrre (nhà Nguyễn gọi là Lạp-biệt-nhĩ) dẫn một đoàn “đồ đảng”, kẻ đeo gươm, người cầm súng đi thẳng vào công quán Việt Nam, quân hầu Việt Nam ngăn lại không cho vào. Chúng trao cho Lý Văn Phức một lá thư. Vì biết lá thư ấy xúc phạm đến quốc thể, Phức không dám nhận. Lạp-biệt-nhĩ quát tháo đe dọa, đặt lá thư trên ghế rồi bỏ đi.

Lý Văn Phức sợ hãi chạy về cấp báo với Triều đình. Vua Thiệu Trị khiển trách Phức đã “làm mất quốc thể” bắt giải chức, đóng gông, đem giam vào Tả đãi lâu, giao cho đình thần nghỉ xử. Khi Lý Văn Phức đi Huế, bọn hải quân Pháp tha hồ lên đất liền tiếp xúc với những người có đạo ở Đà Nẵng. Có 5 chiếc thuyền Việt Nam chuẩn bị đi miền Nam là Kim Ung, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng còn đậu ở vũng Trà Sơn, thủy quân Pháp tưởng đó là những tàu chiến chuẩn bị tiến công tàu Pháp, thủy quân Pháp nổ súng tiến đánh các tàu Việt Nam. Các tàu Việt Nam bắn lại và các súng lớn trên các đồn ải chung quanh cảng Đà Nẵng trút đạn lên tàu hải quân Pháp. Sự kiện đó xảy ra vào ngày 14-4-1847. Gây tội ác xong, sáng ngày hôm sau de Lapièrre và Rigault de Genouilly cho hai chiếc tàu nhổ neo rời Đà Nẵng. Sự kiện này làm cho triều đình vua Thiệu Trị rất đau đầu. Thủ phạm châm ngòi làm bùng nổ cuộc chiến tranh Pháp Việt là một người Mỹ - John Percival. Được tin Percival gây hấn ở Việt Nam, Tổng thống Mỹ James Knox Polk (1845-1849) rất phẩn nộ. Percival không những không hoàn thành được nhiệm vụ tìm hiểu mà còn làm cho triều đình Việt Nam bất bình. Sử nhà Nguyễn cho biết, đầu năm Tự Đức thứ 3 (1850):

“Sứ nước Ma-ly-căn ở Tây Dương là Ba-ly-chi (không rõ tên tiếng Anh) chở một thuyền đến biển Đà Nẵng mang thư của nước ấy đến tạ lỗi, xin thông thương. (Trong thư nói: Bốn năm trước thuyền nước ấy đến nước ta lên bờ giết người, vua nước ấy (tức Tổng thống Mỹ) đã đem trưởng thuyền làm tội rồi; nay mong bỏ hết oán cũ đi, cho được thông thương hòa hảo” (Thực lục tập XXVII, tr.215).

Tài liệu lịch sử của Mỹ cho biết người xin lỗi triều đình Việt Nam là Tổng thống Zachary Taylor (1849-1850). Lời xin lỗi của Tổng thống Mỹ không lay chuyển được tinh thần cảnh giác của vua quan nhà Nguyễn. Bởi thế, vua Tự Đức nối nghiệp vua cha Thiệu Trị đã sai Tổng đốc Quảng Nam là Tôn Thất Bật và án sát Ngô Bá Hy (do Hoàng Văn Nghị làm thông ngôn) tìm cách từ chối không nhận thư xin lỗi của Mỹ. Ba-ly-chi khẩn thiết nói: “Nếu không đề đạt được lá quốc thư này lên Hoàng đế Việt Nam thì thuyền ông không dám trở về”. Tôn Thất Bật miễn cưỡng phải nhận thư từ chối mọi việc giao hảo khác. Ba-ly-chi xin đi tham quan núi Ngũ Hành rồi quay thuyền về.

Trong thời gian lưu lại cảng Đà Nẵng, một thủy thủ tàu Constitution tên là William Cook qua đời, hạm trưởng John Percival, xin phép quan trấn thủ thành Ðà Nẵng chôn cất dưới chân Núi Khỉ nằm trong rặng Sơn Chà. Sự kiệb ấy được ông George Thomas, thợ mộc trên USS Constitution ghi lại trong nhật ký của ông “William Cook qua đời và được chôn trên bán đảo với tất cả những nghi lễ cần thiết. Cờ trên chiến hạm hạ xuống nửa cột để tang cho thủy thủ Cook. Ðêm xuống nhiều tàu lớn [Việt Nam] thả neo chung quanh chiến hạm Constitution nhưng không quá gần, để có thể đổ bộ sang Constitution. Hạm trưởng John Percival trước khi rời cảng đã tặng cho các tu sĩ Phật Giáo tại địa phương 2 Mỹ kim để lo chăm sóc phần mộ của thủy thủ Cook”. (theo Trần Trung Sáng, NguoiVietBoston.com). Có thể xem William Cook là người lính Mỹ đầu tiên chết ở Việt Nam [2].

Việc tàu Constitution đến cảng Đà Nẵng năm 1845 là một sự kiện mở đầu cho trang sử triều Nguyễn đương đầu với đạo Thiên chúa và thực dân phương Tây. Vì thế mới đây (2007) có dịp sang Boston (Massachusetts, Hoa Kỳ) tôi đã đến tìm hiểu thêm về con tàu gây hấn “lịch sử” Constitution nầy (còn gọi là Old Ironsides).

(http://sachhiem.net/LICHSU/IMG/ConstitutionNDX.jpg)
Trước tàu Constitution ở Boston. Ảnh NBC

Bến tàu Constitution trong khu vực Công viên Lịch sử quốc gia Boston (Boston National Historical Park). Đấy là một chiếc tàu với ba cái cột buồm cao ngất. Tôi không tưởng tượng được chiếc tàu đã gây hấn ở Đà Nẵng năm 1845 lại lớn đến vậy.

Theo tài liệu trưng bày trong nhà Bảo tàng, chiến hạm được đóng vào năm 1794 tại Boston và được Quốc Hội Hoa Kỳ ra quyết định hạ thủy vào năm 1798, đích thân chính Tổng thống Mỹ phất cờ ra lệnh cho tàu hạ thủy lần đầu tiên. Võ tàu bằng sắt dày rất vững chắc, thành tàu mở nhiều cửa để đặt súng đại bác vì thế tàu Constutution còn có tên Tàu thành sắt cổ (Old Ironsides). Các cột buồm tàu Constitution là các cây gỗ cứng rắn chắc được chọn từ khắp nước Mỹ. Trên tàu đặt 54 khẩu đại bác. Constitution là “thủy tổ” của hạm đội Mỹ trên các đại dương ngày nay.
(http://sachhiem.net/LICHSU/IMG/TongthongMy_tauConst.jpg)
Tổng thống Mỹ trong ngày hạ thủy tàu Constitution (Old Ironsides). Ảnh tài liệu của Bảo tàng Hoa Kỳ.

Là một người đã dày dạn kháng chiến, có dịp tham quan tàu bè nhiều nơi ở Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XXI, mà lần đầu tiên tận mắt thấy Constitution tôi vẫn hết sức kinh ngạc. Thế mà 162 năm trước (1845-2007) thủy quân triều Nguyễn nhỏ bé dám đánh nhau với tàu Constitution thì quả thực quân đội ta lúc ấy cũng đã anh hùng rồi. Bảo tàng lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX không thể thiếu hình ảnh tàu Constitution.

Sự kiện tàu Constitution đến cảnh Đà Nẵng năm 1945 không phải là một sự kiện lịch sử lớn. Tuy nhiên nó đã bộc lộ cái tính chất đích thực của đối phương mà cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước suốt 130 năm từ cuối đời vua Thiệu Trị cho đến ngày Việt Nam hòan tòan được giải phóng (1845-1975) phải đương đầu. Cái tính chất đó là: Đạo Thiên chúa và thực dân đế quốc phương Tây dựa vào nhau để bành trướng ở Việt Nam. Nếu không nghiên cứu kỹ vấn đề nầy thì không thể giải thích được một cách đúng đắn việc mất nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Rất tiếc là giới sử học Việt Nam cho đến nay vẫn còn thấy “lấn cấn” khi đề cập đến đề tài nầy. Bao giờ thì giới sử học Việt Nam mới trả được món nợ nầy đối với dân tộc Việt Nam ?

Gác Thọ Lộc, Tháng 9.2008

Chú thích

[1] Giám mục Lefèbre cũng là người giới thiệu Trường Vĩnh Ký vào làm việc cho Pháp: “Tháng 12-1859 Jauréguiberry trở vào nội thành (Sài Gòn) mở rộng diện chiếm đóng ra Chợ Lớn. Nó thiếu một thông ngôn và cậy Giám mục Lefèbre tìm. Ông nầy chỉ Trương Vĩnh Ký. Trương Vĩnh Ký đưa tay’ (Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký con người và sự thật, Tp HCM 1993, trang 17)

[2] Theo Trần Trung Sáng, (NguoiVietBoston.com). Mới gần đây một toán chuyên viên và cựu chiến binh Hoa Kỳ đi tìm lại dấu tích của Người Lính Mỹ Ðầu Tiên Chôn Trên Ðất Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

-VietNam, The Valor and the Sorrow ( Việt Nam dũng cảm và xót đau)

-Đại Nam Thực Lục CB, các tập XXV, XXVI, XXVII của QSQ Triều Nguyễn,

-Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim,

-Hòang Việt Giáp Tý Niên Biểu của Nguyễn bá Trác,

-Từ điển Bách khoa Bratannica 2002 (Đĩa CD)

-Quốc Triều Chính Biên

-“Ðà Nẵng, nơi an nghỉ của người lính Mỹ đầu tiên” của Trần Trung Đạo, trích NguoiVietBoston.com

-Web: http://www.ussconstitution.navy.mil/

- Tài liệu điền dã ở Boston (Massachusetts)

Thôi trích.

Xem ra người Việt "bướng" ra phết, chỉ tiếc thời đó nhà Nguyễn không tự mình canh tân được như nước Nhật.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 07:18:33 PM

nước Mỹ bỏ lỡ cơ hội đồng hành với Việt Nam

Hihi, bác nhà báo vui tính thật đấy.

Vụ tàu Mỹ năm 1845, tôi chả thấy nhà Nguyễn có sự “bỏ lỡ” gì ở đây cả. Vả lại, triều đình Huế khi ấy đã làm tất cả những gì có thể-Dĩ nhiên theo cách nhìn nhận vấn đề của  nhà Nguyễn lúc đó.

Có người sốt ruột cho sự trì trệ kéo dài của đất nước trong giai đoạn đó: Dân tình đói khổ, loạn lạc liên miên. Ngoại bang o ép. Và người Mỹ đã đến, Họ sẽ mang lại sự thay đổi thần kỳ?

Nhưng theo tôi, chả thể nào đốt cháy giai đoạn 1 cách dễ dàng đến vậy đâu. Điểm mấu chốt để canh tân đất nước lúc ấy, nhà Nguyễn phải cải cách toàn diện xã hội và chính trị: Chuyển từ chế độ quân chủ phong kiến đã tàn tạ, sang chế độ quân chủ lập hiến. Bỏ kiểu thi cử văn chương thơ phú mà phải chọn thực tài, cử họ sang phương Tây học hỏi. Phát triển buôn bán. Mở cửa bang giao rộng rãi, cho hết kiểu tự đóng cửa mà rằng:  Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta. Hoặc thói mẹ hát con khen hay theo lối tiểu nông…vv

Khi dân giầu, nước mạnh, khoa học phát triển. Dẫu có “bướng”, có xua tàu nước ngoài  đi, nó chả vẫn sán lại ấy chứ ;D. Lúc ấy mới có thể tiếc rẻ cho nước nào đó bị “bỏ lỡ” dịp may được "chơi" với ta. Có phải không ạ. ;D



Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: qtdc trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 10:00:13 PM
Nhất trí với bác tuanb5. Công nhận cha nhà báo thông minh thật.
Còn cũng có thể gọi đó là cơ hội. Nhật cũng bị các nước Mỹ, Anh, Pháp dùng chính sách pháo hạm ép phải mở cửa và họ đã tự lột xác mình. Gần đây hơn thì Nam Hàn. Bộ trưởng Bộ "Quyền lực" bác Bùi Quang Vinh đã nói người Việt rất giỏi, ta sẽ chẳng kém gì 2 thằng ấy. Cũng đúng, chúng nó cứ phải vác tiền sang cho mình tiêu thì mình hơn đứt chúng nó là cái chắc.


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 11:15:36 PM
"Oánh" xông từ Pháp thông sang Đức, Áo, "oánh" tuốt lên tận Phần Lan, Na Uy khắp vùng Tây Âu cả, chán rồi "oánh" tiếp về tận Hạ Lào.


Đã lâu mới xem lại trang này, đọc thông tin của bác BY rồi chợt nhớ ra. Quả thật, trong Thế chiến 2 đã xảy ra 1 cuộc chiến tranh không tuyên bố giữa Thái Lan (được hậu thuẫn của phe Trục Đức, Ý, Nhật) và 3 nước Đông Dương anh em ;D (được sự hậu thuẫn của Pháp-Phe Đồng minh). Chiến tranh bắt đầu từ tháng 9-1940 và kết thúc bằng 1 hiệp định hòa bình được ký kết ngày 9-5-1941.

Do tầm mức không lớn, lại lọt thỏm trong 1 cuộc Đại chiến Thế giới nên có rất ít tài liệu ghi lại cuộc chiến tranh này. Hơn nữa, nó diễn ra chủ yếu ở biên giới Thái-Lào,K.
Cụ thể, bên đất K trận chiến diễn ra ở Battambang (Samrong, Sisophon). Bên Lào khu chiến trải khá dài rộng, từ Bắc xuống Nam Lào (Paklay, Pakse, MeKong)

Về tương quan lực lượng tham chiến, phía Thái Lan nhỉnh hơn. Họ có 44 tiểu đoàn bộ binh. Hải, Lục, không quân được trang bị tốt, kể cả xe tăng hạng nặng Landswerk 8 tấn với súng 100mm.
Phía Đông Dương có 41 tiểu đoàn bộ binh (tính cả 4 tiểu đoàn mới về nước, cập cảng Hải Phòng và Sài Gòn). Trang bị vũ khí có phần thua sút đối phương. Đặc biệt lực lượng không quân Pháp rất yếu do bị Nhật cướp mất phần lớn thiết bị để trao cho quân Tưởng Giới Thạch.

Ở mặt trận Nam Lào, từ ngày 12 đến ngày 19-1-1941 sảy ra 1 trận đánh lớn. Có sự tham gia của xe tăng và máy bay. Cả 2 bên đều tổn thất và bất phân thắng bại. Không biết Ông của bác BY có tham gia trận đánh này không? ;D


Tiêu đề: Re: Người lính Việt trong Thế chiến 2
Gửi bởi: tuanb5 trong 10 Tháng Mười Một, 2013, 11:55:19 PM


(http://mailer.fsu.edu/~akirk/tanks/UnitedStates/swe/Swe-Landsverk10-IonFonosch.jpg)

Xe tăng Landsverk do Thụy Điển chế tạo được sử dụng rộng rãi trong thế chiến 2.