Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: altus trong 05 Tháng Bảy, 2014, 05:04:10 AM



Tiêu đề: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Bảy, 2014, 05:04:10 AM
Xin phép được giới thiệu với diễn đàn cuốn sách "Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719" của tác giả Nguyễn Kỳ Phong, một nhà nghiên cứu lịch sử quân sự độc lập ở Mỹ. Tác giả nghiên cứu về cuộc chiến từ góc nhìn của phía bên kia, với một phương pháp tiếp cận duy lý và khách quan. Trước mắt, xin trích giới thiệu hai chương trong sách là Chương 1 và Chương 7. Rất mong các bạn quan tâm tham gia ý kiến nhận xét và đóng góp.



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Bảy, 2014, 05:09:00 AM
Chương Một



“Westmoreland Muốn Đi Tchepone Nhưng Không Có Vé”




KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN EL PASO

Tháng 11 năm 1967 Đại Tướng William C. Westmoreland, Tư Lệnh Military Assistance Command, Vietnam (MACV), chỉ thị Ban Hành Quân của Bộ Tư Lệnh MACV sọan thảo  một kế hoạch đánh qua biên giới Lào. Hành quân có tên là tên là El Paso (OPLAN EL PASO). Mục tiêu chủ yếu của cuộc hành quân là Tchepone, một thị trấn nằm trên Đường Số 9 ở Hạ Lào, cách biên giới Việt Nam chừng 45km. Ban soạn thảo Hành Quân El Paso tiên liệu một lực lượng tấn công gồm ba sư đoàn tác chiến — Hai Sư Đoàn Không Kỵ và Bộ Binh Hoa Kỳ; và Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Vùng hành quân trải rộng từ Lao Bảo ở biên giới, đánh về hướng tây qua khỏi Tchepone chừng 30km; ở hướng tây nam, quân sẽ đánh tới Muong Phine; ở hướng nam, quân sẽ đến tận Muong Nong; và ở hướng bắc, cuộc hành quân giới hạn lại ở phía bắc bờ sông Xe Banghiang. Để hình dung phạm vi cuộc hành quân, tưởng tượng vùng hành quân là một hình vuông, mỗi cạnh dài chừng 70km. Cuộc hành quân bắt đầu khi quân VNCH nhảy dù xuống chiếm Muong Phine, cách Lao Bảo khoảng 70km. Lực lượng này có trách nhiệm ngăn chận mọi liên lạc của địch từ nam lên bắc. Cùng lúc Sư Đoàn Nhảy Dù VNCH tấn chiếm Muong Phine, Sư Đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ sẽ đổ bộ chiếm ba mục tiêu Tchepone, Ban Dong, và Ban Houei Sane. Trong khi đó, Sư Đoàn Bộ Binh có cơ giới yểm trợ, sẽ đánh theo trục lộ Đường 9, băng qua biên giới,  tiến về bắt tay với Sư Đoàn Không Kỵ đã có mặt ở những mục tiêu phía trước. MACV dự định cuộc hành quân sẽ kéo dài 18 tháng (hành quân trong ba mùa khô, mỗi mùa chừng năm đến sáu tháng).

Nghiên cứu đến từ kế hoạch OPLAN EL PASO cho thấy một số chi tiết quan trọng về địa hình chiến trường, và nhu cầu tiếp liệu cần thiết cho một lực lượng cấp quân đoàn đang tác chiến ngoài mặt trận. MACV dự định tổng số quân tham dự là 60.000 người; và số tiếp liệu hàng ngày cho số quân đó là 2.975 tấn — 2.975.000 ký. Như vậy, trung bình mỗi quân nhân cần 49,5 ký quân nhu, quân dụng, và nhu yếu phẩm một ngày. Dĩ nhiên quân số 60 ngàn người này không tập trung tại một địa điểm mỗi ngày để nhận hàng, mà họ trải đều ra trên một chu vi hơn 4.900km vuông. Thực tế này sẽ làm cho vấn đề tiếp liệu khó khăn. Khó khăn hơn, là tất cả tiếp liệu được tập trung ở những giang, hải cảng ở xa mặt trận, như ở Đà Nẵng, Mỹ Thủy, Mỹ Khê, Cửa Việt … từ đó tiếp liệu được đưa về Khe Sanh; và từ Khe Sanh quân dụng sẽ được phân phối đến tay người nhận ngoài mặt trận. Ban soạn thảo hành quân đồng ý trực thăng là loại phi cơ hữu dụng để chuyên chở tiếp liệu ra chiến trường, nhưng với địa hình và thời tiết ở Hạ Lào, ban soạn thảo khuyến cáo, trực thăng chỉ có thể được xử dụng đến một giới hạn nào đó. … Số quân dụng còn lại phải di chuyển bằng phi cơ vận tải — C-123; C-7A; C-47; hay C-130. Với nhu cầu vận chuyển như trên, kế hoạch hành quân đòi hỏi một số phi trường phải được tái thiết và bảo vệ tại vùng hành quân như ở Houie Sane, Muong Phine, Tchepone, Muong Nong, và Khe Sanh. Vài địa điểm xung quanh các vùng trên cũng được đánh dấu, để trong trường hợp cần thiết phi cơ có thể thả tiếp liệu bằng dù xuống ngay mặt trận.

Kế hoạch OPAN EL PASO nhấn mạnh về vấn đề vận chuyển bằng đường bộ. Kế hoạch cho biết chỉ có một con đường quân xa có thể di chuyển đến chiến trường Lào: Đó là Đường 9. Đường 9 là một con đường xuyên Đông Dương, bắt đầu từ Đông Hà đi đến Savannakhet [1].  Quân xa chỉ chạy được một chiều — và chỉ chạy được trong điều kiện thời tiết lý tưởng nhất. Các đoàn quân xa di chuyển trên con lộ này đều phải chấp nhận yếu tố may rủi: địch quân chỉ cần phục kích, đặt mìn một vài nơi trên đoạn đường thì sự ứ động dây chuyền sẽ xảy ra ngay. Đó chỉ là đọan đường từ Đông Hà về Lao Bảo, trên địa phận Việt Nam. Các đoạn đường khác ở mặt trận trên đất Lào lại là một yếu tố quan trọng khác, khó tiên đoán được.

Theo Đại Tá John M. Collins, nguyên chỉ huy trưởng Ban Kế Hoạch Chiến Dịch và Hành Quân của MACV [2]  — một trong những người soạn thảo OPLAN EL PASO — vấn đề tiếp liệu là một chủ đề quan trọng trong kế hoạch EL PASO. Ông cho biết, năm 1967, thời điểm kế hoạch đang được soạn thảo, vấn đề tiếp liệu cho nguyên Quân Đoàn I ở Vùng I đã gặp nhiều khó khăn rồi, nhất là vùng cực bắc của quân đoàn. Tài liệu lúc đó cho thấy Quân Đoàn I chưa bao nhận đủ số quân nhu quân dụng họ yêu cầu. Với quân số 215.000 quân Mỹ-Việt, Vùng I cần 11.265 tấn tiếp liệu hàng ngày. Riêng ở hai tỉnh tuyến đầu của vùng (Quảng Trị và Thừa Thiên), 123.000 quân nhân ở đây tiêu thụ 5.315 tấn một ngày. Như vậy, vấn đề tiếp tế cho Vùng I sẽ khó khăn hơn khi nhu cầu tiếp liệu cho kế hoạch OPLAN El PASO được cộng thêm vào nhu cầu tiếp liệu thường xuyên cho toàn vùng.

Một trở ngại thiên nhiên khác mà MACV không thể giải quyết được: thời tiết. Những cơn mưa mùa trái ngược ở hai bên đông tây của dải Trường Sơn, gây cản trở cho vấn đề di chuyển tiếp liệu ở hậu cứ và ở mặt trận. Từ tháng 5 đến cuối tháng 9, Hạ Lào — vùng hành quân — sẽ bị tê liệt bởi những trận mưa như thác lũ của cơn gió mùa tây nam. Khi mùa khô đến ở Hạ Lào, thì ở miền Trung — căn cứ tiếp liệu cho mặt trận — gió mùa đông bắc sẽ đem lại những cơn mưa dai dẳng từ tháng 10 cho đến tháng 3. Dưới loại thời tiết trái ngược đó, cả hai vùng hành quân và hậu cứ tiếp liệu sẽ thay phiên nhau đối đầu với những khó khăn vì thời tiết. Ở Hạ Lào, khi mùa mưa đến, tất cả mọi hoạt động vận chuyển đều bị tê liệt; những con đường làm tạm thời sẽ bị san bằng vì nước lũ [3].  Ban sọan thảo OPLAN EL PASO cho biết thời tiết sẽ gây nhiều khó khăn cho tiếp liệu khi họ tiên đoán, “... vấn đề tiếp liệu sẽ khó khăn không kém vấn đề tác chiến.” [4]  Đầu năm 1968 Kế Hoạch OPLAN EL PASO được soạn thảo xong và đệ trình cho Westmoreland để chờ quyết định. Nhưng Westmoreland không đủ thẩm quyền để quyết định một cuộc chiến đánh lan qua biên giới Lào. Trong khi chờ lệnh từ thẩm quyền cao hơn, Westmoreland tìm một căn cứ ở bên này biên giới để làm đầu cầu đổ quân, chờ được phép thực hiện kế hoạch. Westmoreland chọn Khe Sanh, một căn cứ nằm sát góc tây bắc của giao điểm biên giới Lào-Việt và Vùng Phi Quân Sư (vĩ tuyến 17), ông nghĩ đây là một địa điểm lý tưởng để làm hậu cứ chuyển vận cho OPLAN EL PASO.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Bảy, 2014, 05:25:49 AM
NGUỒN GỐC CỦA OPLAN EL PASO

Ai là người đề nghị Kế Hoạch EL PASO? Đây là một câu hỏi tất định. Đại Tướng Westmoreland, trong hồi ký A Soldier Reports, nói ông có đề nghị một cuộc hành quân đánh qua Lào để cắt đường tiếp vận của Bắc Việt vào nam [5].  Ông chỉ nói vắn tắt như vậy, không nói rõ là tự ông nghĩ ra, hay thẩm quyền từ trên thúc dục ông tìm một kế hoạch cắt đường xâm nhập của địch xuyên qua đất Lào. Tướng Wesmoreland cho biết kế hoạch hành quân EL PASO (kế họach đang được nói ở đây) là một trong ba kế hoạch được soạn thảo. Tướng Westmoreland không nói rõ chi tiết về hai kế hoạch hành quân kia, ông chỉ nói, đầu năm 1966 một cuộc hành quân đánh qua Lào được điều nghiên với ý kiến của Thiếu Tướng Harry W.O. Kinnard và Đại Tá Arthur D. Simons [6].  Trong kế hoạch đầu tiên này (không nói tên là gì), tướng Westmoreland dự định cho Sư Đoàn 1 Không Kỵ nhảy xuống chiếm một cứ điểm ở bình nguyên Bolovens để lập đầu cầu không vận. Từ đó sư đoàn sẽ đánh lên hướng bắc, về thị trấn Saravane. Sau khi chiếm Saravane, sư đoàn sẽ đánh ngược về hướng tây bắc và chiếm thị trấn Savannakhet. Song song với hoạt động của Sư Đoàn Không Kỵ, ở hướng đông Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tiến đánh trên Đường 9, tấn công về hướng Tchepone; và ở đông nam, Sư Đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ và một sư đoàn VNCH sẽ đánh ngược lên để cắt đường giao thông của đối phương từ Trung Lào xuống Hạ Lào. Westmoreland nói tiếp trong hồi ký là kế hoạch bị bỏ cho đóng bụi cho đến đầu mùa Xuân năm 1968 khi ông ra lệnh cho Trung Tướng Bruce Palmer sọan thảo lại một kế hoạch khác có tên là EL PASO I — kế hoạch này giả định quân tấn công qua Lào sẽ đến từ hai hướng, Thái Lan và Việt Nam. Kế hoạch thứ hai này không còn nói đến đầu cầu không vận của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh ở bình nguyên Bolovens. Thay vào đó, quân đội Hoàng Gia Thái Lan và quân Hoàng Gia Lào được dự định sẽ chiếm bình nguyên Bolovens trước. Sau đó, từ Đông Hà, ba sư đoàn Việt và Mỹ (hai Mỹ; một Việt) sẽ đánh về hướng tây theo trục lộ Đường 9. Cùng lúc, từ Thái Lan một sư đoàn Hoa Kỳ sẽ đánh về hướng đông — và Tchepone là điểm bắt tay của bốn sư đoàn.

Nhưng sau khi duyệt lại kế hoạch EL PASO I, tướng Westmoreland yêu cầu tướng Palmer soạn thêm một kế hoạch mới, có tên là EL PASO II — kế hoạch do Đại Tá Collins soạn thảo mà chúng ta đang nói. Trong kế hoạch sau cùng này, Westmoreland chỉ dự kiến một sư đoàn cộng (+), tương đương bốn lữ đoàn, khởi quân từ Khe Sanh đánh theo Đường 9 về Tchepone.

(http://i154.photobucket.com/albums/s259/altus_71/DVTP1_zps46e7e6d3.jpg)
Khái niệm hành quân EL PASO 1967: Nhảy Dù VNCH đổ bộ chiếm Muong Phine; Sư Đoàn Không Kỵ đổ bộ trực thăng chiếm Ban Houei Sane, Tchepone, và Bản Đông; trong khi Sư Đoàn Bộ Binh Cơ Giới đánh theo Đường 9 về Tchepone. Ban soạn thảo dự trù cuộc hành quân kéo dài trong ba mùa khô (18 tháng).
 

(http://i154.photobucket.com/albums/s259/altus_71/DVTP2_zps3b98c1fd.jpg)
Bản đồ tổng quát vùng hành quân. Tất cả phi trường trong vùng hành quân phải được tu bổ trước khi xử dụng. Từ Lao Bảo đến Muong Phine khoảng 70 km đường chim bay.


Đến đây, chúng ta thử nhận định về hai kế hoạch đầu tiên của tướng Westmoreland. Kế hoạch năm 1966: Lập đầu cầu không vận ở Bolovens; từ đó đánh xuyên lên Saravane; sau Saravane, đạo quân sẽ tiến chiếm Savannakhet. Đây là một kế hoạch đầy chủ quan, khó thực hiện trên thực tế. Duyệt xét kế hoạch, chúng ta có thể hiểu tại sao Westmoreland nói kế hoạch bị để cho đóng bụi. Với khả năng tiếp vận của Hoa Kỳ tại Việt Nam vào năm 1966, lập một đầu cầu không vận từ An Khê, Pleiku (nơi có bản doanh của Sư Đoàn 1 Không Kỵ) đến Bolovens là một chuyện khó khăn. Khó khăn hơn nếu đường tiếp liệu sẽ kéo dài từ Bolovens đến Saravane, và Saravane đến Savannakhet. Là một sư đoàn không vận với hơn 500 trực thăng cơ hữu, nhưng tầm hoạt động của trực thăng bị giới hạn vì mục tiêu hành quân quá xa, và số lượng tiếp tiếp liệu quá lớn. Nếu tiếp liệu cho một sư đoàn đã khó khăn, thì tìm đâu ra khả năng tiếp liệu khác để cung cấp cho ba sư đoàn còn lại? Đây là một kế hoạch hành quân quá tự tin, nếu không nói là một kế hoạch không tưởng. [7]

Kế hoạch hành quân thứ hai — EL PASO I. Kế hoạch này có thời gian tính không hợp, nếu chúng ta dựa vào những gì tướng Westmoreland viết trong hồi ký. Thứ nhất, kế hoạch cần sự hợp tác quân sự hoàn toàn và công khai của hai chánh phủ Thái Lan và Hoàng Gia Lào (quân đội Thái và Lào chiếm bình nguyên Bolovens; và một sư đoàn quân Thái đánh về Tchepone). Sự hợp tác này sẽ không bao giờ xảy ra trong thời điểm đó: Chánh phủ Thái chưa muốn tham dự cuộc chiến ở Việt Nam một cách ồ ạt; Hoàng Gia Lào luôn luôn tuyên bố Lào là một quốc gia trung lập. Còn Hoa Kỳ thì không muốn công khai nới rộng cuộc chiến sang Lào hay Cam Bốt. Chính trong hồi ký, tướng Westmoreland cũng có nói đến sự khẳng định của tổng thống Lyndon Johnson là Hoa Kỳ không được tấn công qua hai quốc gia trung lập đó. Sự vô lý thứ hai là khi cuộc hành quân được soạn thảo: Tướng Westmoreland nói, “đầu Xuân 1968 tôi ra lệnh cho tướng Palmer ...” Đầu mùa Xuân bắt đầu vào ngày 20 tháng 3 hàng năm, nhưng có thể nào tướng Westmoreland muốn sọan thảo một cuộc hành quân qua Lào vào thời điểm đó — tháng 3, 1968, năm Mậu Thân? Điều này khẳng định tướng Westmoreland nhớ lộn ngàytháng. Như chúng ta đã biết, vào đầu tháng 2, 1968, Quân giải phóng mở cuộc Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa trên toàn miền nam. Bị đánh bất ngờ,  quân đội VNCH và Hoa Kỳ phải cần đến nửa năm mới chỉnh đốn lại tình hình quân sự. Bộ Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ trong thời gian đó rất bối rối: Trại Lực Lượng Đặc Biệt quan trọng của Mỹ ở Lang Vei (phía nam Khe Sanh) bị thất thủ; căn cứ Khe Sanh với một trung đoàn TQLC Hoa Kỳ trấn thủ đang bị đe dọa. MACV, lo ngại cho tình hình ở Vùng I, lập ra một Bộ Tư Lệnh Lục Quân cấp quân đoàn để hỗ trợ cho TQLC Hoa Kỳ (Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV, thành lập cuối tháng 2-1968, có bản doanh ở Phú Bài. Trước khi có bộ tư lệnh này, tất cả vấn đề quân sự chiến thuật ở Vùng I được TQLC Hoa Kỳ phụ trách và điều khiển). Tướng Westmoreland nhấn mạnh về sự bất an của tình hình quân sự đang đối diện, khi ông xin Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ (Joint Chiefs of Staff) chi viện thêm 200 ngàn quân cho chiến trường Việt Nam. [8]  Thêm vào những sự kiện quân sự trên, một sự kiện chính trị khác làm cho kế hoạch EL PASO I không thể nào được điều nghiên vào “đầu mùa Xuân” như tướng Westmoreand viết: Ngày 31 tháng 3-1968, tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố không ra tái tranh cử. Đồng thời, như là một thiện chí kêu gọi Quân giải phóng thương nghị để giải quyết cuộc chiến, ông ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt từ vĩ tuyến 20 (khoảng Thanh Hóa) trở lên.

Tài liệu đến từ một nhân chứng khác cho ta thấy hai kế hoạch EL PASO I và EL PASO II, thật sự chỉ là một kế hoạch, và được bắt đầu soạn thảo từ tháng 11-1967 cho đến đầu năm 1968. Tướng Bruce Palmer — người nhận lệnh soạn thảo cuộc hành quân qua Lào — trong hồi ký The 25-Year War: America’s Military Role in Vietnam, có nói về ý định đánh qua Lào của tướng Westmoreland, và những ràng buộc chính trị đi kèm theo kế hoạch đó. Tướng Palmer nói rõ trong sách, ông giao kế hoạch EL PASO cho Đại Tá John Collins soạn thảo. [9] Tài liệu do Đại Tá Collins viết lại là đầy đủ và chính xác nhất về phương diện thời gian: EL PASO có thể được soạn thảo từ tháng 11 -1967 đến trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Cũng chính trong hồi ký The 25-year War, tướng Palmer nhận định về kế hoạch hành quân qua Lào năm 1966 như sau: “Westmoreland không đủ quân tác chiến hay khả năng tiếp liệu, để thực hiện một cuộc hành quân qua biên giới ...”.
   Ngoài sách của Đại Tướng Westmoreland nói về kế hoạch đánh qua Lào, một tài liệu khác nói đến kế hoạch đánh qua Lào, hay một kế hoạch ngăn chận đường tiếp tế từ Bắc Việt qua Lào, đã một lần được thẩm quyền VNCH đề nghị với giới lãnh đạo Hoa Kỳ. Theo tài liệu được giải mật năm 1992, vào tháng 2-1967 tổng thống Lyndon Johnson mời ban lãnh đạo VNCH qua đảo Guam họp ba ngày (20-23), để bàn về một chiến lược chung cho cuộc chiến ở Việt Nam. Trong buổi họp ngày 21, Trung Tướng Cao Văn Viên (lúc đó là tổng trưởng quốc phòng) đề nghị với các viên chức Mỹ có mặt — trong đó có Đại Tướng William Wesmoreland — là VNCH cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để thiết lập một hàng rào ngăn chận đường tiếp liệu của Quân giải phóng xuyên qua Lào. Lời đề nghị này cũng được Chủ Tịch Ủy Ban lãnh Đạo Quốc Gia, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, nhắc lại một lần nữa vào ngày 23, trước khi kết thúc cuộc hội nghị cao cấp và quan trọng nhất giữa VNCH và Hoa Kỳ. Ở đây chúng ta không biết có phải vì lời đề nghị từ phía VNCH mà Hoa Kỳ soạn thảo ra cuộc hành quân sang Lào năm 1967? Hay họ đã có ý định trước từ năm 1966 như tướng Westmoreland nói. [10]
 
Đầu tháng 3-1968 — trong cao điểm của cuộc Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân của Quân giải phóng — kế hoạch OPLAN EL PASO bị gác bỏ. Khi biết được quyết định đó, Đại Tướng Westmoreland thổ lộ với Đại Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Phó MACV, “Tôi muốn đi Tchepone, nhưng không có vé.” [11]




Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Bảy, 2014, 05:32:14 AM
[1] Chi tiết hơn, ban soạn thảo hành quân chia Đường 9 ra làm nhiều  đọan để  cho công binh quyết định tái thiết đoạn nào. Đường 9 từ Đông Hà về Khe Sanh hơn 35km; Khe Sanh đến Làng Vei (nơi có một tiền đồn của Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ) 14km; Làng Vei đến Lao Bảo 11km. Tổng cộng là khoảng 60km từ Đông Hà đến biên giới Lào-Việt. Xem  John M. Collins, “Going to Tchepone,” Tạp Chí Joint Force Journal, Autumn/Winter 1997-98, trang 118.

[2] John M. Collins, tạp chí đã dẫn.

[3] Đồng Sĩ Nguyên, Đường Xuyên Trường Sơn, trang 129.

[4] John M. Collins, tạp chí đã dẫn.

[5]  William C. Westmoreland, A Soldier Reports, trang 330-331.

[6] Thiếu tướng Kinnard năm 1966 là tư lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ  (1st Air Cavalry), đang có bộ tư lệnh đóng ở An Khê. Đại Tá Arthur “Bull” Simons, lúc đó còn mang chức trung tá, chỉ huy một Toán B trong Liên Đoàn Lực Lượng Đặc Biệt, thuộc Bộ  Tư  Lệnh MACV. (Military Assistance Command-Special Operations Group/ MACV-SOG; Toán B của LLĐB là trên cấp số và chỉ huy các Toán A). Lý do tướng Westmoreland nhắc đến tên Đại Tá Simons và cần ý kiến của ông, vì trước đó, Simons đã phục vụ ở Lào trong toán tình báo quân sự White Star, huấn luyện cho quân đội Hoàng Gia Lào. Tháng 10 năm 1970 Simons chỉ huy toán Lực Lượng Đặc Biệt đột kích xuống Sơn Tây để giải cứu tù binh Mỹ.
 
[7] Trong sách (A Soldier Reports, trang 330-331) tướng Westmoreland nói nguyên một Sư Đoàn Không Kỵ (SĐKK), và như vậy là một sư đoàn đầy đủ cấp số, với những đơn vị cơ hữu đi kèm. SĐKK là một sư đoàn rất lớn. Để đọc giả thấy nhu cầu của sư đoàn như thế nào, người viết trích một vài chi tiết về nhu cầu tiếp liệu của sư đoàn. Theo tác giả Shelby Stanton trong Anatomy of a Division: The 1st Cav in Vietnam, sư đoàn có tất cả 25 tiểu đoàn: trong đó có chín tiểu đoàn tác chiến; bốn tiểu đoàn trực thăng; hai tiểu đoàn trinh sát; năm tiểu đoàn pháo binh; và (tương đương) năm tiểu đoàn chuyên về công binh, hậu cần, tiếp liệu, quân cảnh, điều khiển không lưu, và truyền tin điện tử. Quân số tổng cộng là 20.346 người. Tiếp liệu căn bản hàng tháng: 1.005 tấn thực phẩm; 957.311 phần ăn dã chiến (đồ hộp); 272.000 lít sữa; 45.000 lít cà rem; 1.082 tấn quân phục và quân dụng; 749 tấn vật liệu cho công sự phòng thủ; 16 triệu lít xăng; và, 4.609 tấn đạn. Số đạn 4.609 tấn đạn này chỉ là nhu cầu của sư đoàn trong tình trạng tác chiến giới hạn (một vài tiểu đoàn, đại đội, đi hành quân ... vài cuộc giao chiến ngắn hạn.). Trong cuộc hành quân hai tháng đánh qua Cam Bốt năm 1970, Sư Đoàn 1 Không Kỵ  tiêu dùng 6 triệu 167 ngàn đạn súng cá nhân; 119 ngàn đạn súng cối 81 ly; 241 ngàn đạn đại bác 105 ly; 65 ngàn đạn 155 ly; 92 ngàn hỏa tiển không địa (rocket bắn từ trực thăng); và, 40 ngàn ký chất nổ. Mục tiêu của cuộc hành quân đánh sang Cam Bốt năm 1970 không xa hơn 30 km từ biên giới Việt Nam. Tháng 7-1965, để chuyên chở 15 ngàn quân; 470 trực thăng; 3.100 quân xa và 19 ngàn tấn vũ khí quân cụ của sư đoàn từ Mỹ đến Qui Nhơn, Bộ Tư lệnh Hải Vận Hoa Kỳ xử dụng sáu quân vận hạm; chín vận tải hạm; và, bốn hàng không mẫu hạm cho hải hành này. Đọc Stanton, sđd, trang 41-42; 188; 209.         
 
[8] Từ đầu tháng 11-1967, Quân giải phóng đã tấn công nhiều nơi như đễ lấy đi sự chú ý của Hoa Kỳ và VNCH, hầu tạo thêm tình thế bất ngờ cho cuộc tấn công vào Tết Mậu Thân. Đầu tháng 11-1967, Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù Mỹ đánh kịch liệt trong ba tuần ở Dakto, bị thiệt hại nặng đến độ không kịp bổ sung quân. Ngày 20 tháng 1-1968, chiến dịch Khe Sanh mở màng khi Quân giải phóng dùng ba sư đoàn vây căn cứ Khe Sanh; 23 tháng 1-1968, trại Lực Lượng Đặc Biệt Lang Vei (cách Khe Sanh khoảng 10 cây số) bị tràn ngập. Bộ Tư Lệnh Tạm Thời của Quân Đoàn XXIV, Lục Quân Hoa Kỳ (XXIV Corps, U.S. Army), được thành lập vào tháng 2-1968; và trở thành chánh thức vào tháng 8-1968. Chi tiết về thiệt hại của Nhảy Dù Mỹ ở trận Dakto, xem Bruce Palmer, The 25-Year War, trang 69.

[9] Trung Tướng Bruce Palmer, Jr., là bạn cùng khóa với hai Đại Tướng Westmoreland và Creighton Abrams (ra trường West Point năm 1936). Khi nhận chỉ thị của tướng Westmoreland về kế hoạch EL PASO, ông đang là Tư Lệnh Phó, Lục Quân Hoa Kỳ, Việt Nam (Deputy Commanding General, U.S. Army, Vietnam).  Chức vụ sau cùng của ông là Đại Tướng Tư lệnh Phó Lục Quân Hoa Kỳ. Chi tiết về kế hoạch EL PASO năm 1967 và ý kiến của ông về kế hoạch năm 1966, xem, Palmer, sđd, trang 105-106.

[10] Tài liệu giải mật đến từ cơ quan Trung Ương Tình Báo (CIA),  Hội nghị tháng 2-1967 ở đảo Guam là một hội nghị quan trọng, có nhiều quyết định quan trọng về đường lối cuộc chiến ở Việt Nam. Hai trong những thay đổi quan trọng là, Ellsworth Bunker thay Henry Cabot Lodge ở chức vụ đại sứ; và Robert Komer được bổ nhiệm chức vụ giám đốc kế hoạch Phượng Hoàng (Phoenix Program) với cấp bậc đại sứ.
 
[11] Trích theo John Collins. Lời tựa của bài viết trong tạp chí đã dẫn.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 11 Tháng Bảy, 2014, 01:09:46 PM
Chào Quý Tiên Sinh của Diễn Đàn,
Trước nhất tôi xin cảm ơn tiên sinh Altus đã edit và post những chương trong sách của tôi.
Tiên sinh Altus edit lại rõ hơn là nguyên bản của tôi viết. Tôi viết hơi khác qui tắc tòa sọan của diễn đàn VMH vì quen với qui tắt tòa soạn nước ngoài.
   Sau một thời gian rất lâu, tôi mới trở lại đọc những postings trên diễn đàn, vì quá bận. Và mục "Xẻ  Dọc Trưòng Sơn Đi Cứu Nước" là mục tôi lưu ý nhất.
   Tôi có đọc qua một số postings về Chiến Dịch Đường 9-Nam Lào trên diễn đàn. ... Trong đó có những bàn luận, câu hỏi về sự thất bại của Hành Quân Lam Sơn 719. Tôi hy vọng, khi tiên sinh Altus posts Chương 7, chúng ta sẽ thấy lý do của sự thất bại. Vắn tắt ở đây, sự thất bại của Lam Sơn 719 đến từ hai yếu tố: (a) sự chủ quan từ phía quân tân công; và, (b) sự thất bại tình báo của quân tấn công về trận liệt (order of battle) của đối phương.
   Ngồi nghĩ lại kế hoạch nguyên thủy đánh qua Lào để cắt đứt đường tiếp vận chiến lược HCM, của Đại Tướng William C. Westmoreland -- Kế Hoạch El Paso -- chúng ta thấy đó là một kế hoạch hành quân lạc quan không thể tưởng: Làm sao một sư đoàn có thể đánh từ Bolovesn lên Saravane, rồi từ Saravane lên savannakhet! Với địa hình của Hạ Lào, với đọan đường đó, chỉ đi bộ thôi cũng tắt thở rồi, đừng nói đến chuyện bị phục kích dọc đường!
   Về ước lượng tình báo sai lầm. Vài thí dụ cụ thể: Tình Báo MACV ước lượng quân phòng thủ có bốn trung đoàn và hai binh trạm. Thực tế cho thấy quân phòng thủ có tám trung đoàn và bốn binh trạm trong tuần lể đầu của cuộc hành quân. Tình báo và không ảnh thám thính ước lượng quân trú phòng có từ 250 đến 275 súng phòng không, nhưng thực thế cho thấy hơn 600 súng phòng không đang chờ quân đổ bộ! Tình báo điện tử không xác định được vị trí của đối phương: Ngày 13 tháng 2 khi Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đổ bộ xuống một vị trí tây bắc căn cứ 31 (để thiết lập căn cứ hỏa lực 32), họ bị bỏ xuống một vị trí ngay sát vị trí phòng thủ của bộ tư lệnh B70. Cuộc đổ bộ bị hủy bỏ ngay lập tức khi quân đổ bộ bị thiệt hại gần một đại đội.
   Đáng buồn nhất, là sau cuộc hành quân, bộ tư lệnh MACV đổ thừa quân đội VNCH "tiến quân quá chậm ... làm mất đi yếu tố thời gian tính; mất đi tính chất bất ngờ của cuộc hành quân." Thật là tào lao! (Và nếu đuợc diễn đàn cho phép, tôi sẽ post bình luận của tôi về những phê phán của các tác giả quân sử Mỹ về vấn đề này).
   Vài lời với diễn đàn. Tôi thú nhận, có vài câu hỏi của các bạn trên diễn đàn với tôi, nhưng đến hôm nay tôi vẫn chưa có dịp trả lời. Hoàn toàn xin lỗi về  sự vắng mặt và chậm trễ.
   Một lần nữa, cảm ơn tiên sinh Altus đã posted những gì tôi viết.
Kinh Thư,
NKP


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 11 Tháng Bảy, 2014, 01:43:03 PM
Vấn đề rất hứng thú và nhiều góc độ nhỏ có thể cùng trao đổi được,  ;D. Em nghĩ rằng để bàn luận thì vô tư miễn các bên, các chủ thể đưa ra quan điểm rõ ràng với thông tin và tri thức của mình tổng hợp được - bất kể bên nào. Cá nhân em rất thích như vậy.

Cũng hơi bận chút nhưng có một "gợi ý" nhỏ:
- nên chăng đặt Lam Sơn 719  trong tổng thể kế hoạch 1971 của Mỹ và VNCH; ý đồ chiến lược theo đà phát triển giai đoạn 1969 - 1970 (giai đoạn QGP MN VN gặp rất nhiều khó khăn trên tất cả các mặt).

p/s: bác nkp sử dụng tiếng Việt, bớt tiếng Anh nhé, đấy là quy định của diễn đàn.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 11 Tháng Bảy, 2014, 03:27:43 PM
1. Đồng ý về qui tắc tòa soạn của diễn đàn VMH.
2. Cũng vì LS719 nằm trong kế hoạch tổng thể đó, nhất là sau khi chiên thắng trong Hành Quân Toàn Thắng (Tháng 5, chiến trường K), Hoa Kỳ thấy "dô cơ," nghĩ rang đánh qua Hạ Lào cũng dễ. ... Nhưng địa hình Hạ Lào khác xa địa hình Cam Bốt. Địa hình Cambodia cho phép tấn công nhiều mặt/ hướng; địa hình Hạ Lào chỉ cho một hướng duy nhất, là Đường 9. Suy luận lạc quan khi soạn thao hành quân là, mặt trận hai địa hình tuy khác nhau, nhưng hỏa lực không kỵ Hoa Kỳ sẽ cân bằng những dị biệt và bất lơi. ... Nhưng Khi hỏa lực của không kỵ thất bại trong nhiệm vụ của họ, Hành Quân LS719 cũng theo đó thất bại. Hoa Kỳ đặc nhiều kỳ vọng vào hỏa lực không địa của trực thăng võ trang để áp đảo phòng không. ... Nhưng trực thăng khi đối diện với đại bác phòng không 37ly hay 57 ly có ra đa điều khiển, thì giống như những con ruồi bay ngang những họng súng phun lửa! Và kết quả như thế nào thì chúng ta có thể suy luận được. Sự thất bại của LS719 một phần đến từ đó.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: fanlong74 trong 11 Tháng Bảy, 2014, 06:19:43 PM
1. Đồng ý về qui tắc tòa soạn của diễn đàn VMH.
2. Cũng vì LS719 nằm trong kế hoạch tổng thể đó, nhất là sau khi chiên thắng trong Hành Quân Toàn Thắng (Tháng 5, chiến trường K), Hoa Kỳ thấy "dô cơ," nghĩ rang đánh qua Hạ Lào cũng dễ. ... Nhưng địa hình Hạ Lào khác xa địa hình Cam Bốt. Địa hình Cambodia cho phép tấn công nhiều mặt/ hướng; địa hình Hạ Lào chỉ cho một hướng duy nhất, là Đường 9. Suy luận lạc quan khi soạn thao hành quân là, mặt trận hai địa hình tuy khác nhau, nhưng hỏa lực không kỵ Hoa Kỳ sẽ cân bằng những dị biệt và bất lơi. ... Nhưng Khi hỏa lực của không kỵ thất bại trong nhiệm vụ của họ, Hành Quân LS719 cũng theo đó thất bại. Hoa Kỳ đặc nhiều kỳ vọng vào hỏa lực không địa của trực thăng võ trang để áp đảo phòng không. ... Nhưng trực thăng khi đối diện với đại bác phòng không 37ly hay 57 ly có ra đa điều khiển, thì giống như những con ruồi bay ngang những họng súng phun lửa! Và kết quả như thế nào thì chúng ta có thể suy luận được. Sự thất bại của LS719 một phần đến từ đó.
đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có tài liệu QĐND VN nào khẳng định các đơn vị PK 37/57mm tại đường 9 được điều khiển bởi radar bác à, em thấy bản thân thời tiết và địa hình khu vực này cũng khá bất lợi cho hoạt động trực thăng, nhất là với công nghệ hồi đó . Về LS719, cá nhân em có thấy tin tức tình báo đóng vai trò khá quan trọng. bên phòng thủ thông qua mạng lưới tình báo nắm rõ đường đi nước bước của bên tấn công trong khi bên tấn công không hề hay biết điều gì đang chờ mình. Nếu không có tin tình báo thì VNCH chưa chắc thắng nhưng rất có thể gây thiệt hại cho QGP nặng nề hơn rất nhiều. Một số hồi ký có nhắc tới việc điều động lực lực lượng chuẩn bị "đón" quân VNCH, hình như cũng có trên diễn đàn này.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 11 Tháng Bảy, 2014, 10:01:44 PM
1. Ảo danh của tiên sinh là "Fanlong74" nhưng sáng thức dậy, chưa cafê, thuốc lá; mắt nhắm, mắt mở, đọc nhầm là "Fansong." "Fansong" là bí danh của quân đội Mỹ đặt cho những giàn khí tài đi kèm với hệ thống tên lửa địa không Sam. :)
2. Các đơn vị phòng không 37/57mm có radar hay không, hy vọng những CCB của các tiểu đoàn phòng không trên diễn đàn góp ý kiến. Nhưng theo những suy luận và quan sát của các phi công trực thăng ở mặt trận, một vài "ổ" phòng không có thể có radar phụ giúp. Ngày 10 tháng 2, một đoàn trực thăng 5 chiếc, trong đó có 1 chiếc chở tư lệnh Quân Đoàn II Hoàng Xuân Lãm bay từ căn cứ Hotel ở nam Đường 9, về  căn cứ Biệt Động Quân nam (Ranger South) ở bắc Đường 9. Khi đoàn trực thăng gần đến mục tiêu, 2 trong số 5 trực thăng bị bắn rơi trong phút chốc (nghĩa là không cần nhiều đạn!). Một trong 2 trực thăng tử nạn có chở Đại Tá Cao Khắc Nhật, chỉ huy trưởng phòng hành quân của Quân Đoàn II. Trên người của vị đại tá có mang theo bản đồ hành quân và tất cả mật thoại điện đàm  cho cuộc hành quân. Lập tức, QĐ II gởi toán trinh sát Hắc Báo đến khu vực tai nạn để tìm cách thâu hồi tài liệu. ... Nhưng khi họ đến, tất cả đã biến mất. Về vụ này, đọc tác phẩm Lost Over Laos, của Richard Pyle và Horst Faas (De Capo Press, 2002).


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 14 Tháng Bảy, 2014, 11:47:18 AM
....2. Các đơn vị phòng không 37/57mm có radar hay không, hy vọng những CCB của các tiểu đoàn phòng không trên diễn đàn góp ý kiến. Nhưng theo những suy luận và quan sát của các phi công trực thăng ở mặt trận, một vài "ổ" phòng không có thể có radar phụ giúp. Ngày 10 tháng 2, một đoàn trực thăng 5 chiếc, trong đó có 1 chiếc chở tư lệnh Quân Đoàn II Hoàng Xuân Lãm bay từ căn cứ Hotel ở nam Đường 9, về  căn cứ Biệt Động Quân nam (Ranger South) ở bắc Đường 9. Khi đoàn trực thăng gần đến mục tiêu, 2 trong số 5 trực thăng bị bắn rơi trong phút chốc (nghĩa là không cần nhiều đạn!). Một trong 2 trực thăng tử nạn có chở Đại Tá Cao Khắc Nhật, chỉ huy trưởng phòng hành quân của Quân Đoàn II. Trên người của vị đại tá có mang theo bản đồ hành quân và tất cả mật thoại điện đàm  cho cuộc hành quân. Lập tức, QĐ II gởi toán trinh sát Hắc Báo đến khu vực tai nạn để tìm cách thâu hồi tài liệu. ... Nhưng khi họ đến, tất cả đã biến mất. Về vụ này, đọc tác phẩm Lost Over Laos, của Richard Pyle và Horst Faas (De Capo Press, 2002)....

Có một số trang của VNCH nêu rõ trích dẫn đến cả điểm tọa độ máy bay trực thăng rơi ngày 10/2/1971:
- "....Về phía Hoa Kỳ, một trong những phi công trực thăng có mặt tại chỗ là Trung Tá Robert F. Molinelli, Chỉ Huy Trưởng Tiểu-đoàn 2, Lữ Ðoàn 17 Không Kỵ, thuộc Sư Ðoàn 101 lúc đó đang chỉ huy toán trực thăng Hoa Kỳ yểm trợ cho các đơn vị BÐQ trong vùng, cho biết: "Toán trực thăng VN bay quanh theo một khúc sông, nhưng thay vì bay bên bờ Nam, lại quẹo ngược sang bờ Bắc là nơi chúng tôi biết rõ Cộng quân tập trung rất nhiều súng phòng không 37 ly và một đơn vị chiến xa của Trung Ðoàn 202/B70. Lúc đó, toán trực thăng gồm 4 chiếc Hueys, bay hàng dọc hình nất than Trái, tốc độ chừng 95 knots, cao độ 2,200 feet; Chúng tôi thấy rõ toán trực thăng nầy đang bay vào nơi nguy hiểm và đã cố gắng liên lạc trên mọi tần số Guard để báo động, Tôi thấy chiến trực thăng dẫn đầu (T.U Ta Hoa, trên chở các sĩ quan tham mưu QÐ/I) trúng đạn nổ tung trên trời, còn chiếc thứ ba (bay team Hai+Tin, chở các phóng viên) bị bắn bay mất một cánh quạt chính, main rotor qua hình ảnh theo dỏi từ vệ tinh cố-định (stationed satellite) chuyển về phòng hành quân chiến cuộc, Pentagon do tướng Haig điều hành. Chiếc số 1 cháy rơi xuống tọa độ XD 565520 chiếc số 3 không cháy rơi XD 563523..."

Đối chiếu với báo cáo tổng hợp cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và VNCH thấy khớp:
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/Caokhacnhat_zpscb35dc52.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/Caokhacnhat_zpscb35dc52.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 14 Tháng Bảy, 2014, 12:54:06 PM
Xin tiên sinh Quangcan cho tôi nguồn của tài liẹu VNCH; và của báo cáo hành quân bằng Anh ngữ. Và nếu được, tác giả của tài liệu VNCH trích lời của trung tá Molinelli  đến từ đâu.
Tôi ngạc nhiên về liên hệ của "tướng Haig" và Pentagon trong đọan văn "bị bắn bay mất một cánh quạt chính, main rotor qua hình ảnh theo dỏi từ vệ tinh cố-định (stationed satellite) chuyển về phòng hành quân chiến cuộc, Pentagon do tướng Haig điều hành. Chiếc số 1 cháy rơi xuống tọa độ XD 565520 chiếc số 3 không cháy rơi XD 563523..." Tướng Haig và Ngũ Giác Đài? "Stationed satellite"? Tôi chưa biết điều này.
Giọng văn của tác giả VNCH giống của tác giả Trần Đỗ Cẩm.
Thân ái.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 14 Tháng Bảy, 2014, 01:44:16 PM
Vâng, xin gởi tiên sinh nkp nguồn tài liệu tôi tìm được trên mạng:
- của VNCH: http://khoa10tbt.net/pham-vy.htm hoặc một số trang khác nếu tìm qua  google;
- của Mỹ: Item Number: 8850508001 & 8850509001 - Report, U.S. Army - After Action Report for Lam Son 719, XXIV Corps, 30 January 1971 thru 06 April 1971 [Part 1 of 2] (111 pages) - Item Creation Date: 14 May 1971 (tôi đã chia sẻ tài liệu qua email tiên sinh đăng ký trên diễn đàn).

Trích dẫn
....Về LS719, cá nhân em có thấy tin tức tình báo đóng vai trò khá quan trọng. bên phòng thủ thông qua mạng lưới tình báo nắm rõ đường đi nước bước của bên tấn công trong khi bên tấn công không hề hay biết điều gì đang chờ mình. Nếu không có tin tình báo thì VNCH chưa chắc thắng nhưng rất có thể gây thiệt hại cho QGP nặng nề hơn rất nhiều. Một số hồi ký có nhắc tới việc điều động lực lực lượng chuẩn bị "đón" quân VNCH, hình như cũng có trên diễn đàn này.....

- Rất mong tiên sinh nkp cho biết/ cho ý kiến về việc tập hợp binh lực của QGP VN để đối phó với chiến dịch Lam Sơn 719 của VNCH + Mỹ.
- Không biết là tiên sinh fanlong74 đang nhắc đến hồi ký của ai?


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 14 Tháng Bảy, 2014, 02:37:53 PM
Tiên sinh Quangcan,
1. Tôi đã đọc tất cả nguồn tien sinh gởi.
2. Tài liệu tôi xử dụng đến từ MACV. Tác giả báo cáo của hai nguồn t/s gởi chưa có thẩm quyền đọc tài liệu MACV trong thời gian viết báo cáo. Báo cáo đề ngày 10 tháng 2 không có nghiã MACV nhận được cùng ngày sự cố xảy ra. Lý do tôi nói điều này, vì nguồn của báo cáo Anh ngữ t/s gởi thuộc lọai "tài liệu Kín/ Confidential", không phải lọai "Tài liệu Tối Mật/ Top-secret."  Liệt kê tài liệu lọai nào quan trọng trong sử liệu.   
Câu hỏi của tiên sinh sẽ được trả lời trong hai chương mà tiên sinh Altus đang sọan/ bỉnh bút. Tôi phải cảm ơn t/s Altus về thời gian bỏ ra bỉnh bút bai viet của tôi cho đúng qui tắc toà sọan của VMH -- rất tốn thời giờ. Vắn tắt ở đây, nguồn từ MACV cho biết họ "đọc" đươc truyền tin của các binh trạm, cho biết QĐND chưa biết chac chan họ sẽ bi tấn công ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hay ở Hạ Lào cho đến ngày 2 tháng 2. Tài liệu từ QĐND cho biết các tiểu đoàn pháo binh QĐND đã được chỉ thị chấm tọa độ ở miền duyen hải QB-VL. Ngay ngày 2 tháng 2 (VNCH tấn công qua bien gioi ngày 7 tháng 2) btl B70 mới xác định đưọc mục tiêu của VNCh-Mỹ. Ngay thời gian đó, su đòan 308 mới chuẩn bị được 1 trung đoan tiến về vùnghành quân. Tình báo MACV ước lượng QGP chỉ có 4 trung đoàn và 2 binh trạm (tưong đương 6 trung đoàn), và QĐND cần ít nhất 14 ngày mới tăng viện thêm 2 trung đoàn. Nhưng chỉ 1 tuan sau, 2 trung đoan mới từ bắc đã có mặt, và các binh trạm 41-42 (nam sông Xe Pone), và 30-32 (lọai tổng binh trạm ở nam Bản Đông và nam Tchepone) đã được lệnh tác chiến. Theo những gì tôi đọc, tình báo của Quân Đoàn XXIV Hoa Kỳ (quan doàn yểm trợ cho Lam Son 719) là tình báo tệ và yếu. Gần như họ nhận được tin từ chiên truong 1, 2 ngày trễ hơn sự việcc đã xay ra. Bộ Tư Lệnh tiền phương của QĐ XXiV đóng ở Quảng Trị. Họ nhận báo cáo qua cấp sĩ quan đại tá ở Khe Sanh, và ra lệnh bằng điện thoại cho các sĩ quan tác chiến ở Bản Đông. ... Đây không phải là lối hành quân để thắng; không thể điều quân và chỉ thị bằng điện thoại. Tôi sẽ trở lại van dề này với sử liệu đầy đủ.
Tình Thân. NKP


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 14 Tháng Bảy, 2014, 04:22:46 PM
Với chiến dịch Lam Sơn 719, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau và phân tích đầy đủ cả; với các bài viết sau đây sẽ nêu một số quan điểm  dựa trên kiến thức hạn hẹp của cá nhân. Rất mong tiên sinh nkp cho ý kiến đóng góp.

...2. Tài liệu tôi xử dụng đến từ MACV. Tác giả báo cáo của hai nguồn t/s gởi chưa có thẩm quyền đọc tài liệu MACV trong thời gian viết báo cáo. Báo cáo đề ngày 10 tháng 2 không có nghiã MACV nhận được cùng ngày sự cố xảy ra. Lý do tôi nói điều này, vì nguồn của báo cáo Anh ngữ t/s gởi thuộc lọai "tài liệu Kín/ Confidential", không phải lọai "Tài liệu Tối Mật/ Top-secret."  Liệt kê tài liệu lọai nào quan trọng trong sử liệu....

Là một người nghiệp dư
nên với tài liệu phía Mỹ tôi ít có điều kiện được tiếp xúc, vì vậy, rất mong tiên sinh nkp cho thưởng lãm. Cảm ơn rất nhiều. Tuy vậy, tôi thấy rằng, việc đoàn trực thăng lọt vào khu vực phòng không đậm đặc sẽ dẫn đến việc có nhiều ý tưởng suy diễn.

.....Vắn tắt ở đây, nguồn từ MACV cho biết họ "đọc" đươc truyền tin của các binh trạm, cho biết QĐND chưa biết chac chan họ sẽ bi tấn công ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hay ở Hạ Lào cho đến ngày 2 tháng 2. Tài liệu từ QĐND cho biết các tiểu đoàn pháo binh QĐND đã được chỉ thị chấm tọa độ ở miền duyen hải QB-VL. Ngay ngày 2 tháng 2 (VNCH tấn công qua bien gioi ngày 7 tháng 2) btl B70 mới xác định đưọc mục tiêu của VNCh-Mỹ. Ngay thời gian đó, su đòan 308 mới chuẩn bị được 1 trung đoan tiến về vùnghành quân. Tình báo MACV ước lượng QGP chỉ có 4 trung đoàn và 2 binh trạm (tưong đương 6 trung đoàn), và QĐND cần ít nhất 14 ngày mới tăng viện thêm 2 trung đoàn. Nhưng chỉ 1 tuan sau, 2 trung đoan mới từ bắc đã có mặt, và các binh trạm 41-42 (nam sông Xe Pone), và 30-32 (lọai tổng binh trạm ở nam Bản Đông và nam Tchepone) đã được lệnh tác chiến. Theo những gì tôi đọc, tình báo của Quân Đoàn XXIV Hoa Kỳ (quan doàn yểm trợ cho Lam Son 719) là tình báo tệ và yếu. Gần như họ nhận được tin từ chiên truong 1, 2 ngày trễ hơn sự việcc đã xay ra. Bộ Tư Lệnh tiền phương của QĐ XXiV đóng ở Quảng Trị. Họ nhận báo cáo qua cấp sĩ quan đại tá ở Khe Sanh, và ra lệnh bằng điện thoại cho các sĩ quan tác chiến ở Bản Đông. ... Đây không phải là lối hành quân để thắng; không thể điều quân và chỉ thị bằng điện thoại. Tôi sẽ trở lại van dề này với sử liệu đầy đủ....

Thưa tiên sinh!

Tôi đưa ra một số nhận định của mình từ phía QĐVN trong năm 1970 để nêu bật cái phức tạp và rối ren tại thời điểm 1971 nhằm làm rõ vị thế và ưu thế của cả hai phía. Tôi sẽ đi loạt bài của mình và cùng trao đổi với tiên sinh những vấn đề trong Lam Sơn 719/ chiến dịch đường 9 Nam Lào. Rất mong tiên sinh cứ tiếp tục đi tiếp vấn đề đã nêu với sử liệu nguồn đầy đủ, rõ ràng để đan xen tình huống, không gian và ý đồ các bên tại thời điểm.

Tôi cho rằng đã có một sự khích lệ đáng kể cho chiến dịch quân sự Lam Sơn 719 từ phía VNCH:
- Có thể nói, sau các đợt Mậu Thân 1968, QGP MN VN đã gặp vô vàn khó khăn từ phản ứng dây chuyền và các tổn thất nặng nề trong chiến dịch tổng tiến công. Một loạt các sư đoàn chủ lực, trung đoàn độc lập thuộc BTL Miền phải dần lui xa nội đô, quay về sát khu vực biên giới VN - K khi Mỹ + VNCH tiến hành các chiến dịch giải tỏa và càn quét. Việc mất chân, mất thế đứng gây tổn thất nghiêm trọng, kéo dài trong suốt giai đoạn 1969 - 1970 trên toàn mặt trận B1, B2, B3.

- Sự thật hiển nhiên ấy càng được thể hiện rõ khi QĐND VN đã bỏ "ý tưởng"/ "dự kiến kế hoạch" Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào đầu năm 1969 và đầu 1970 do không còn thấy thích hợp.  ;).

- Tôi cho rằng, khi quyền chủ động với mọi ưu thế thuộc phía VNCH thì việc định hướng trọng điểm chiến dịch sẽ diễn ra ở đâu đã được cân nhắc kỹ. VNCH đã tiến hành một loạt "đòn gió":
   * Cuộc hành quân với quy mô trên 30 tiểu đoàn từ Tây Ninh và Lộc Ninh đánh lên Kông - pông Cham, Krache (Đông bắc Cam pu chia)

   * Cuộc hành quân quy mô  từ Tây Nguyên đánh ra hướng ngã ba biên giới (Vùng A tô pơ).

   * Chiến dịch Cù Kiệt 1970 tại Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng, Lào đầu năm 1970 và giai đoạn mở rộng, lấn chiếm củng cố suốt mùa mưa 1970 tại đó;
  
   * Trong khi đó, cùng với việc hô hào "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải", Mỹ + VNCH thường xuyên có hàng loạt động thái uy hiếp địa bàn QK 4;

- Sự khích lệ đáng kể có được khi thu được những thành công từ các hoạt động đánh phá, càn quét tại Cambodia trong năm 1970; VNCH sử dụng chiến thuật thiết xa vận đột kích nhanh dưới sự yểm trợ tối đa của không quân + pháo binh Mỹ khi hủy diệt các kho tàng, căn cứ và khu vực hậu cần của BTL Miền. Tại thời điểm đó, BTL Miền đã phải điều động gấp một loạt các sư đoàn chủ lực sang chiến trường K; tiến hành điều chỉnh lực lượng: một số các đơn vị cấp tiểu đoàn của F5, F7, F9 đã được chia/ tách và bổ sung thêm với đoàn tân binh từ bắc vào để bổ sung, củng cố cho E201, E203, E205, E207 và các đoàn hậu cần trên đất K nhằm bảo vệ địa bàn.

- Để tạo thế cho "cuộc chiến tranh bóp nghẹt", VNCH đã đóng đinh khu vực ngã ba biên giới khiến BTL B3 Tây Nguyên phải nhanh chóng điều động E28 sang chiến trường Atopo/ Attopeu từ giữa 1970.

Một phác đồ nhỏ mô tả tình huống:
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson7191_zpsb570fac5.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson7191_zpsb570fac5.jpg.html)

Vậy, tại thời điểm 1970, vấn đề hình dung không gian tác chiến đã có nhưng trọng điểm suy luận cần mô tả xảy ra trong thực tiễn rằng: "phía VNCH sẽ đi đến đâu trong mùa khô 1971" là cả một ???


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 15 Tháng Bảy, 2014, 02:10:58 PM
Tiên sinh nkp nhờ gửi giùm thông tin:
Trích dẫn
"... tài liệu tối mật giữa các tư lệnh MACV. Trong tài liệu này, tư lệnh QĐ XIXV , trung tướng Sutherland thông báo với đại tướng Abrams, là QĐXXIV đã hết trực thăng để yểm trợ cho cuộc hành quân....


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 15 Tháng Bảy, 2014, 04:31:36 PM
....Vắn tắt ở đây, nguồn từ MACV cho biết họ "đọc" đươc truyền tin của các binh trạm, cho biết QĐND chưa biết chac chan họ sẽ bi tấn công ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hay ở Hạ Lào cho đến ngày 2 tháng 2. Tài liệu từ QĐND cho biết các tiểu đoàn pháo binh QĐND đã được chỉ thị chấm tọa độ ở miền duyen hải QB-VL. Ngay ngày 2 tháng 2 (VNCH tấn công qua bien gioi ngày 7 tháng 2) btl B70 mới xác định đưọc mục tiêu của VNCh-Mỹ. Ngay thời gian đó, su đòan 308 mới chuẩn bị được 1 trung đoan tiến về vùnghành quân. Tình báo MACV ước lượng QGP chỉ có 4 trung đoàn và 2 binh trạm (tưong đương 6 trung đoàn), và QĐND cần ít nhất 14 ngày mới tăng viện thêm 2 trung đoàn. Nhưng chỉ 1 tuan sau, 2 trung đoan mới từ bắc đã có mặt, và các binh trạm 41-42 (nam sông Xe Pone), và 30-32 (lọai tổng binh trạm ở nam Bản Đông và nam Tchepone) đã được lệnh tác chiến....

xin tiếp tục theo mạnh của thế trận 1970 của QĐ VN nhằm chuẩn bị đối phó với hoạt động mùa khô 1971 của phía VNCH - chiến dịch Lam Sơn 719/ chiến dịch đường 9 Nam Lào:

Thưa tiên sinh nkp! tôi xin phép đi lệch trọng tâm một chút để mô tả một số hoạt động đã diễn ra trong năm 1970 nhưng ít người biết hoặc biết mà chưa hiểu rõ:

1.Tại chiến trường B1 năm 1970:
- Do gặp rất nhiều khó khăn về lực lượng, Quân khu 5 quyết định giải thể E22 F3/ trung đoàn 22 sư đoàn 3 Sao Vàng để đưa quân số về bổ sung cho E2, E12 và các tỉnh đội địa phương nhằm làm tốt hơn công tác địa bàn, bám dân gây dựng cơ sở, hỗ trợ phong trào du kích phát triển. BTL F3 biến thành "BTL tiền phương của Quân khu 5".

- tháng 7-1970, do gặp nhiều khó khăn về công tác đảm bảo hậu cần,  F2/sư đoàn bộ binh 2 (thiếu) gồm E1/ trung đoàn 1 Ba Gia và E31/ trung đoàn 31 được lệnh chuyển ra bắc đường 9 ( Trung Lào). Ở đây, sư đoàn 2 đã nhận quân số hơn 1.000 lính và trang bị bổ sung, củng cố huấn luyện một thời gian ngắn với dự định đầu năm 1971 sẽ vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên.

- gần thời điểm với F2 thiếu, E141/ trung đoàn 141 thuộc mặt trận 4 Quảng Đà cũng được điều ra bắt đường 9.

Như vậy, nếu trước đây ở chiến trường B1/ P1 (các tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ), QĐ VN đã bố trí F3/ sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng ở Bình Định nam Quảng Ngãi; F2/ sư đoàn 2 ở Quảng Nam bắc Quảng Ngãi; E36A, E38, E141 lần lượt tăng cường cho mặt trận 44 Quảng Đà thì nay chỉ còn:
- E12 F3 trấn đèo Thượng Giang đường 19;
- E2 F3 giữ bắc Bình Định;
- E21 F2 vào Quảng Ngãi;
- E36A ở quảng nam và E38 gây áp lực tại mặt trận 4 Quảng Đà.
Xin lưu ý: quân số các đơn vị đều sụt giảm nghiêm trọng; cấp đại đội chỉ còn 30 -40 tay súng; hỏa lực thiếu; hậu cần rất khó khăn do toàn bộ các ranh, khẩu bị cắt đứt.

2. Tại chiến trường B3 Tây Nguyên :
Trích dẫn
...Để giảm bớt một phần khó khăn trước mắt về lương thực, từ mùa hè năm 1969 Chiến trường Tây Nguyên đưa hầu hết thương bệnh binh nặng, Trường Quân chính, Trường văn hoá dân tộc và Trường Quân y với tổng quân số khoảng 5.000 người ra miền Bắc tiếp tục điều trị, học tập; đồng thời giải thể 5 tiểu đoàn pháo xe kéo, 2 bệnh viện cánh Bắc và Nam, giảm nhẹ khối cơ quan, phục vụ xuống tối đa.....

Các lý do chính được giải thích trong năm 1969 -1970 ở cả chiến trường B1 và B3 đều là khó khăn về lương thực, đảm bảo hậu cần nhưng có phải vì thế mà QĐVN đã điều động một lực lượng lớn ra Bắc, ra đường 9 bắc Quảng Trị ngay trong năm 1970; bỏ mặc và gần như chấp nhận mất địa bàn đồng bằng Trung Trung Bộ.

3. Một điểm nhấn đáng chú ý là tại sao QUTW lại rút F2 thiếu, E141 và sự xuất hiện của F324/ sư đoàn bộ binh 324/ đoàn Ngự Bình (tháng 10/1970) ra đường 9 nam/ bắc Quảng Trị??? từ rất sớm, ngay từ khoảng giữa năm 1970??? tại sao lại là họ mà không phải là các đơn vị khác? tại sao rút nhiều như vậy và sẽ dẫn đến hậu quả/ nguy cơ mất địa bàn nghiêm trọng - thành quả của cả quá trình 1965 - 1969??? Một hành động phiêu lưu mạo hiểm hay nước cờ đã tính kỹ, chấp nhận được/ mất???


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Bảy, 2014, 04:55:31 PM
Có câu này có lẽ không liên quan trực tiếp lắm tới LS719, nhưng tiện có bác nkp ở đây thì em xin phép hỏi luôn. Chúng ta biết là chiến dịch này là lần đầu tiên QDNDVN huy động xe tăng với quy mô lớn (gần 100 xe, mặc dù trực tiếp sử dụng thì không được mấy). Vậy trước đó từ 1959-1970 phía VNCH nhận định như thế nào về khả năng đối phương sẽ sử dụng xe tăng trên chiến trường và dự kiến phương án đối phó của họ ra sao? (tương tự với những khí tài khác như pháo tầm xa, không quân, tên lửa có điều khiển...)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: fanlong74 trong 15 Tháng Bảy, 2014, 10:01:40 PM
xin lỗi bác quangcan vì sử dụng phần không chính xác của trí nhớ, 1 số sách/báo về ông Phạm Xuân Ẩn có nhắc tới việc điều quân chờ sẵn ở khu vực Nam Lào trên cơ sở tinh tình báo về LS 719. Còn hồi ký thì trên trang này có hồi ký của Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên chính ủy F2 vào thời điểm F2 ra Nam Lào. Có mô tả những khó khăn F2 khi tác chiến vào 1969-70 cũng như sự bất ngờ của ban chỉ huy sư đoàn khi nhận lênh ra Nam Lào
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,19999.80.html
Đọc xong bức điện, chúng tôi cứ nghĩ rằng, do cơ yếu dịch nhầm. Bán tín bán nghi, tôi liền cho mời trưởng ban cơ yếu lên, bảo đồng chí phải dịch lại mật mã bằng chữ và ghi tọa độ trên bản đồ. Lần thứ hai, Bộ chỉ huy sư đoàn gồm bốn chúng tôi giở bản đồ tìm địa danh, vẫn đúng như lần trước: là hành quân ra đường 9 Nam Lào. Bộ chỉ huy sư đoàn triệu tập cuộc Thường vụ, phổ biến bức điện. Chúng tôi đọc lại bức điện một lần nữa, lòng vẫn nghi hoặc không hiểu vì sao địch ở miền Nam còn đầy rẫy, mà sư đoàn 2 Quân khu 5 lại điều ra đường 9 Nam Lào. Tôi và anh Hoàng Anh Tuấn, trực tiếp gọi điện thoại lên Quân khu xin gặp đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu, hỏi rõ về mật danh và tọa độ như vậy có đúng không. Vì sao sư đoàn phải di chuyển đi xa như vậy. Đồng chí Chu Huy Mân trả lời như sau: “Chấp hành đúng như bức điện, các đồng chí sư đoàn đã nhận lệnh của Quân khu, không hỏi thêm, không thắc mắc. Các đồng chí hãy nhớ: “Quân lệnh như sơn” nghiêm chỉnh chấp hành không hỏi lại. Một ngày gần đây tôi sẽ trực tiếp gặp sư đoàn tại địa điểm mới”.
.......
Ngày 10/6/1970, Bộ Tư lệnh sư đoàn 2 nhận được bức điện của Bộ Tư lệnh Quân khu. Nội dung bức điện như sau:
“Sư đoàn 2 kết thúc chiến dịch, cho bộ đội dứt chiến. Ngày 12/6/1970, khẩn trương rút các đơn vị về lại hậu cứ để nhận lệnh mới của Quân khu. Riêng trung đoàn 21 vẫn đứng nguyên vị trí và tiếp tục tác chiến ở chiến trường Quảng Ngãi. Khi trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), trung đoàn 31 rút quân, mỗi đơn vị để lại một đài 15W có đủ cơ yếu, báo vụ thường xuyên phát điện 1 ngày 2 lần, vào trưa và chiều, còn các bộ phận về hậu cứ vẫn làm việc thường xuyên bằng vô tuyến với Quân khu, để địch không phát hiện sư đoàn ở đâu”.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 15 Tháng Bảy, 2014, 10:40:10 PM
Có câu này có lẽ không liên quan trực tiếp lắm tới LS719, nhưng tiện có bác nkp ở đây thì em xin phép hỏi luôn. Chúng ta biết là chiến dịch này là lần đầu tiên QDNDVN huy động xe tăng với quy mô lớn (gần 100 xe, mặc dù trực tiếp sử dụng thì không được mấy). Vậy trước đó từ 1959-1970 phía VNCH nhận định như thế nào về khả năng đối phương sẽ sử dụng xe tăng trên chiến trường và dự kiến phương án đối phó của họ ra sao? (tương tự với những khí tài khác như pháo tầm xa, không quân, tên lửa có điều khiển...)

Tiên Sinh Chiangsang,
Tình báo của VNCH và HK (Hoa Kỳ) có nhiều báo cáo về vũ khí của QĐND. Nhưng biết họ sẽ xử dụng ỏ đâu, và thời điểm nào, thì rất khó đoán. Về xe tăng, sau khi QGP/QĐND triệt tiêu căn cứ lực lượng đặc biệt Mỹ ở Lang Vei đầu năm 1968, với sự hỗ trợ của 1 chi đoàn PT-79. Trọng phân lọai vũ khí của Mỹ, PT-76 chưa chánh thức được định nghĩa là một "xe tăng bọc thép." Đó chỉ là một bán-xe-tăng, thiêt vận xa, với khả năng lội nước tưong tự như M-113). Cho đến thời gian đó (1968), HK biết QĐND có ít nhất là hai trung đoàn tăng 34 và PT-56. Nhưng cho đến trận LS719 (Hành Quân Lam Sơn 719) thì phía VNCH/HK mới thật sự chứng kiến xe tăng của QĐND tấn công, đánh đồi và dùng xe tăng để phục kích xe tăng của VNCH (Xử dụng tăng để phục kích tăng, chỉ có thể áp dụng địa hình rừng ở Hạ Lạo. Một chiến thuật cho đến thời gian đó HK và VNCH mới kinh nghiệm.). Tài liệu cho thấy HK không ước lượng được sự có mặt của tăng ở LS719:  (a) báo cáo của các đơn vị trực thăng cần hỏa tiển chống tăng nhưng không có (Mãi đến năm 1972 HK mới đáp ứng nhu cầu này, vì họ không nghĩ/ chưa biết QĐND có nhiều tăng --- thêm lọai tăng mới như T-54 --- như vậy; (b) Sau khi căn cứ 31 của Nhẩy Dù bị thất thủ, Quân ĐOàn II mới xin yểm trợ mìn chống tăng (nghĩa là đến ngày 25 tháng 2 các căn cứ phòng thủ mới nhận được mìn; đồi 31 không có gài mìn chống tăng khi bị thất thủ.) [Nguồn của hai chi tiết  này đến từ điện văn của MACV; nhật ký hành quân của QĐ XXIV; và của đại úy pháo binh Nhẩy Dù Trương Duy Hy.). Hai chứng cớ trên cho thấy HK không ước lượng sự cómặt của tăng trong những tuần đầu của LS719.
   HK biết QĐND có đại bác 130mm; biết họ có đại bác phòng không 100mm có radar điều khiển. Nhưng họ chưa thấy cho đến Chiến Dịch Bắc Trị Thiên 1972. Một vài hồi ký, tài liệu cho thấy "ở nhà" không tin đối phương có đại bác 130mm, với tầm sát hại hơn 29 km. Vào tháng 10-1972, khi một AC-130 loại săn vận tải chuyển hàng trên đường HCM bị phòng không 130mm bắn rơi phía nam Bản Achoc (nam Đèo Phu La Nhích), thì MACV mới báo động. Họ ngưng các phi vụ AC-130 và B-52 ngang không phận đó, cho đến khi các ổ 130mm được giải quyết (130mm có tầm sát hại từ 26.000 đến 28.000 bộ; B-52 bay khoảng 30-32 ngàn bộ; cao độ bay của AC-130 thì quá dể cho 85mm và 100mm. (nguồn về phòng không 130mm đến từ MACV; Không Quân HK; chi tiết về hoả lực mới của QĐND trong năm 1972 thì chúng ta đã biết đến nhiều). HK phải biết QĐND có nhiều đơn vị cơ giới ở nam DMZ, vì họ đã thấy được ống dầu bắt qua sông Lam/ Hà Tỉnh. Số lượng săng dầu là dấu hiệu của các đơn vị tăng. Có được tin tình báo về vũ khí của đối phương là một chuyện; chuẩn bị để đối phó với lọai vũ khí đó chưa, lại là chuyện khác. Sử liệu cho thấy HK chưa có/ chưa xử dụng những biện pháp chống lại xe tăng cho đến khi Kontum bị bao vây và thất thủ --- hay là trong thời gian An Lộc bị vây hãm. Khi phát hiện được tên lửa địa không cá nhân SA-7 xuất hiện ở mặt trận, trực thăng của lục quan HK mới nhận được flare (trái sáng bắn ra để đánh lừa hướng tầm nhiệt của SA-7).
   HK biết QĐND có tăng nhưng không biết vị trí và sẽ xử dụng ở đâu; biết họ có 130mm và 152mm, nhưng đối phương sẽ xài trong truong hợp nào. ... Về sau, các chiến thuật gia Mỹ mới biết 130mm bắn từ xa, thì có thể đánh bại chiến thuật "Căn Cứ Hỏa Lực/ Firebase" mà người Mỹ đã thành công ở những địa bàn ngoài Hạ Lào. Kinh nghiệm cho thấy nhiều căn cứ hỏa lực của VNCH phải di tản vì không chịu nổi pháo binh tầm xa (ngay cả căn cứ ỡ trong địa pah20n VNCH, như căn cứ hỏ alực Ripcord ở Thừa Thiên, cũn gphải di tản vì chịu không nổi pháo). Chiến thuật mới của QĐND trong trận LS719 là: bao vây căn cứ hỏa lực; không cho yểm trợ bằng đường bộ; và dùng pháo tầm xa bắn liên tục vào căn cứ. Trong hai trận đánh lớn của năm 1971 và 1972, HK không dự kiến được những áp dụng của vũ khí mới mà họ đã biết đối phương có.
   Hy vọng tôi trả lời được phần nào câu hỏi của t/s. Sách về vũ khí của QĐND được Phòng 2 BTTM VNCH và MACV ấn hành vài ba năm 1 lần. Dĩ nhiên những cẩm nang vũ khí này đến từ cẩm nang vũ khí của khối NATO thâu thập về quân đội khối Đông Âu/ Varsovie.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: bapchuoi trong 15 Tháng Bảy, 2014, 10:42:21 PM
Cảm động quá ... tinh thần Quansuvn.net đã sống lại :)
Đọc đã quá! Các bác tiếp tục thảo luận thế này thì chẳng lo trang nhà lụi tàn.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: bapchuoi trong 15 Tháng Bảy, 2014, 10:53:37 PM
Thông tin của bác nkp khá mới mẻ và hấp dẫn, Nhưng vài thông tin có lẽ npk nhớ nhầm nên đã đưa ra không hợp lý như:

- Pháo phòng không 130mm
- Kontum bị vây hãm và thất thủ
...

Những thông tin này có lẽ bác npk nên đính chính và hiệu chỉnh lại cho đúng thực tế!


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 12:05:23 AM
Có câu này có lẽ không liên quan trực tiếp lắm tới LS719, nhưng tiện có bác nkp ở đây thì em xin phép hỏi luôn. Chúng ta biết là chiến dịch này là lần đầu tiên QDNDVN huy động xe tăng với quy mô lớn (gần 100 xe, mặc dù trực tiếp sử dụng thì không được mấy). Vậy trước đó từ 1959-1970 phía VNCH nhận định như thế nào về khả năng đối phương sẽ sử dụng xe tăng trên chiến trường và dự kiến phương án đối phó của họ ra sao? (tương tự với những khí tài khác như pháo tầm xa, không quân, tên lửa có điều khiển...)

Tiên Sinh Chiangsang,
Tình báo của VNCH và HK (Hoa Kỳ) có nhiều báo cáo về vũ khí của QĐND. Nhưng biết họ sẽ xử dụng ỏ đâu, và thời điểm nào, thì rất khó đoán. Về xe tăng, sau khi QGP/QĐND triệt tiêu căn cứ lực lượng đặc biệt Mỹ ở Lang Vei đầu năm 1968, với sự hỗ trợ của 1 chi đoàn PT-79. Trọng phân lọai vũ khí của Mỹ, PT-76 chưa chánh thức được định nghĩa là một "xe tăng bọc thép." Đó chỉ là một bán-xe-tăng, thiêt vận xa, với khả năng lội nước tưong tự như M-113). Cho đến thời gian đó (1968), HK biết QĐND có ít nhất là hai trung đoàn tăng 34 và PT-56. Nhưng cho đến trận LS719 (Hành Quân Lam Sơn 719) thì phía VNCH/HK mới thật sự chứng kiến xe tăng của QĐND tấn công, đánh đồi và dùng xe tăng để phục kích xe tăng của VNCH (Xử dụng tăng để phục kích tăng, chỉ có thể áp dụng địa hình rừng ở Hạ Lạo. Một chiến thuật cho đến thời gian đó HK và VNCH mới kinh nghiệm.). Tài liệu cho thấy HK không ước lượng được sự có mặt của tăng ở LS719:  (a) báo cáo của các đơn vị trực thăng cần hỏa tiển chống tăng nhưng không có (Mãi đến năm 1972 HK mới đáp ứng nhu cầu này, vì họ không nghĩ/ chưa biết QĐND có nhiều tăng --- thêm lọai tăng mới như T-54 --- như vậy; (b) Sau khi căn cứ 31 của Nhẩy Dù bị thất thủ, Quân ĐOàn II mới xin yểm trợ mìn chống tăng (nghĩa là đến ngày 25 tháng 2 các căn cứ phòng thủ mới nhận được mìn; đồi 31 không có gài mìn chống tăng khi bị thất thủ.) [Nguồn của hai chi tiết  này đến từ điện văn của MACV; nhật ký hành quân của QĐ XXIV; và của đại úy pháo binh Nhẩy Dù Trương Duy Hy.). Hai chứng cớ trên cho thấy HK không ước lượng sự cómặt của tăng trong những tuần đầu của LS719.
   HK biết QĐND có đại bác 130mm; biết họ có đại bác phòng không 100mm có radar điều khiển. Nhưng họ chưa thấy cho đến Chiến Dịch Bắc Trị Thiên 1972. Một vài hồi ký, tài liệu cho thấy "ở nhà" không tin đối phương có đại bác 130mm, với tầm sát hại hơn 29 km. Vào tháng 10-1972, khi một AC-130 loại săn vận tải chuyển hàng trên đường HCM bị phòng không 130mm bắn rơi phía nam Bản Achoc (nam Đèo Phu La Nhích), thì MACV mới báo động. Họ ngưng các phi vụ AC-130 và B-52 ngang không phận đó, cho đến khi các ổ 130mm được giải quyết (130mm có tầm sát hại từ 26.000 đến 28.000 bộ; B-52 bay khoảng 30-32 ngàn bộ; cao độ bay của AC-130 thì quá dể cho 85mm và 100mm. (nguồn về phòng không 130mm đến từ MACV; Không Quân HK; chi tiết về hoả lực mới của QĐND trong năm 1972 thì chúng ta đã biết đến nhiều). HK phải biết QĐND có nhiều đơn vị cơ giới ở nam DMZ, vì họ đã thấy được ống dầu bắt qua sông Lam/ Hà Tỉnh. Số lượng săng dầu là dấu hiệu của các đơn vị tăng. Có được tin tình báo về vũ khí của đối phương là một chuyện; chuẩn bị để đối phó với lọai vũ khí đó chưa, lại là chuyện khác. Sử liệu cho thấy HK chưa có/ chưa xử dụng những biện pháp chống lại xe tăng cho đến khi Kontum bị bao vây và thất thủ --- hay là trong thời gian An Lộc bị vây hãm. Khi phát hiện được tên lửa địa không cá nhân SA-7 xuất hiện ở mặt trận, trực thăng của lục quan HK mới nhận được flare (trái sáng bắn ra để đánh lừa hướng tầm nhiệt của SA-7).
   HK biết QĐND có tăng nhưng không biết vị trí và sẽ xử dụng ở đâu; biết họ có 130mm và 152mm, nhưng đối phương sẽ xài trong truong hợp nào. ... Về sau, các chiến thuật gia Mỹ mới biết 130mm bắn từ xa, thì có thể đánh bại chiến thuật "Căn Cứ Hỏa Lực/ Firebase" mà người Mỹ đã thành công ở những địa bàn ngoài Hạ Lào. Kinh nghiệm cho thấy nhiều căn cứ hỏa lực của VNCH phải di tản vì không chịu nổi pháo binh tầm xa (ngay cả căn cứ ỡ trong địa pah20n VNCH, như căn cứ hỏ alực Ripcord ở Thừa Thiên, cũn gphải di tản vì chịu không nổi pháo). Chiến thuật mới của QĐND trong trận LS719 là: bao vây căn cứ hỏa lực; không cho yểm trợ bằng đường bộ; và dùng pháo tầm xa bắn liên tục vào căn cứ. Trong hai trận đánh lớn của năm 1971 và 1972, HK không dự kiến được những áp dụng của vũ khí mới mà họ đã biết đối phương có.
   Hy vọng tôi trả lời được phần nào câu hỏi của t/s. Sách về vũ khí của QĐND được Phòng 2 BTTM VNCH và MACV ấn hành vài ba năm 1 lần. Dĩ nhiên những cẩm nang vũ khí này đến từ cẩm nang vũ khí của khối NATO thâu thập về quân đội khối Đông Âu/ Varsovie.
Cảm ơn t/s Bapchuoi đã chỉ ra lỗi "đại bác phòng không 130mm."  Đúng ra là đbpk 100mm; và đại bác 130mm/ M46.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 05:29:06 AM
Có câu này có lẽ không liên quan trực tiếp lắm tới LS719, nhưng tiện có bác nkp ở đây thì em xin phép hỏi luôn. Chúng ta biết là chiến dịch này là lần đầu tiên QDNDVN huy động xe tăng với quy mô lớn (gần 100 xe, mặc dù trực tiếp sử dụng thì không được mấy). Vậy trước đó từ 1959-1970 phía VNCH nhận định như thế nào về khả năng đối phương sẽ sử dụng xe tăng trên chiến trường và dự kiến phương án đối phó của họ ra sao? (tương tự với những khí tài khác như pháo tầm xa, không quân, tên lửa có điều khiển...)

Tiên Sinh Chiangsang,
Tình báo của VNCH và HK (Hoa Kỳ) có nhiều báo cáo về vũ khí của QĐND. Nhưng biết họ sẽ xử dụng ỏ đâu, và thời điểm nào, thì rất khó đoán. Về xe tăng, sau khi QGP/QĐND triệt tiêu căn cứ lực lượng đặc biệt Mỹ ở Lang Vei đầu năm 1968, với sự hỗ trợ của 1 chi đoàn PT-79. Trọng phân lọai vũ khí của Mỹ, PT-76 chưa chánh thức được định nghĩa là một "xe tăng bọc thép." Đó chỉ là một bán-xe-tăng, thiêt vận xa, với khả năng lội nước tưong tự như M-113). Cho đến thời gian đó (1968), HK biết QĐND có ít nhất là hai trung đoàn tăng 34 và PT-56. Nhưng cho đến trận LS719 (Hành Quân Lam Sơn 719) thì phía VNCH/HK mới thật sự chứng kiến xe tăng của QĐND tấn công, đánh đồi và dùng xe tăng để phục kích xe tăng của VNCH (Xử dụng tăng để phục kích tăng, chỉ có thể áp dụng địa hình rừng ở Hạ Lạo. Một chiến thuật cho đến thời gian đó HK và VNCH mới kinh nghiệm.). Tài liệu cho thấy HK không ước lượng được sự có mặt của tăng ở LS719:  (a) báo cáo của các đơn vị trực thăng cần hỏa tiển chống tăng nhưng không có (Mãi đến năm 1972 HK mới đáp ứng nhu cầu này, vì họ không nghĩ/ chưa biết QĐND có nhiều tăng --- thêm lọai tăng mới như T-54 --- như vậy; (b) Sau khi căn cứ 31 của Nhẩy Dù bị thất thủ, Quân ĐOàn II mới xin yểm trợ mìn chống tăng (nghĩa là đến ngày 25 tháng 2 các căn cứ phòng thủ mới nhận được mìn; đồi 31 không có gài mìn chống tăng khi bị thất thủ.) [Nguồn của hai chi tiết  này đến từ điện văn của MACV; nhật ký hành quân của QĐ XXIV; và của đại úy pháo binh Nhẩy Dù Trương Duy Hy.). Hai chứng cớ trên cho thấy HK không ước lượng sự cómặt của tăng trong những tuần đầu của LS719.
   HK biết QĐND có đại bác 130mm; biết họ có đại bác phòng không 100mm có radar điều khiển. Nhưng họ chưa thấy cho đến Chiến Dịch Bắc Trị Thiên 1972. Một vài hồi ký, tài liệu cho thấy "ở nhà" không tin đối phương có đại bác 130mm, với tầm sát hại hơn 29 km. Vào tháng 10-1972, khi một AC-130 loại săn vận tải chuyển hàng trên đường HCM bị phòng không 130mm bắn rơi phía nam Bản Achoc (nam Đèo Phu La Nhích), thì MACV mới báo động. Họ ngưng các phi vụ AC-130 và B-52 ngang không phận đó, cho đến khi các ổ 130mm được giải quyết (130mm có tầm sát hại từ 26.000 đến 28.000 bộ; B-52 bay khoảng 30-32 ngàn bộ; cao độ bay của AC-130 thì quá dể cho 85mm và 100mm. (nguồn về phòng không 130mm đến từ MACV; Không Quân HK; chi tiết về hoả lực mới của QĐND trong năm 1972 thì chúng ta đã biết đến nhiều). HK phải biết QĐND có nhiều đơn vị cơ giới ở nam DMZ, vì họ đã thấy được ống dầu bắt qua sông Lam/ Hà Tỉnh. Số lượng săng dầu là dấu hiệu của các đơn vị tăng. Có được tin tình báo về vũ khí của đối phương là một chuyện; chuẩn bị để đối phó với lọai vũ khí đó chưa, lại là chuyện khác. Sử liệu cho thấy HK chưa có/ chưa xử dụng những biện pháp chống lại xe tăng cho đến khi Kontum bị bao vây và thất thủ --- hay là trong thời gian An Lộc bị vây hãm. Khi phát hiện được tên lửa địa không cá nhân SA-7 xuất hiện ở mặt trận, trực thăng của lục quan HK mới nhận được flare (trái sáng bắn ra để đánh lừa hướng tầm nhiệt của SA-7).
   HK biết QĐND có tăng nhưng không biết vị trí và sẽ xử dụng ở đâu; biết họ có 130mm và 152mm, nhưng đối phương sẽ xài trong truong hợp nào. ... Về sau, các chiến thuật gia Mỹ mới biết 130mm bắn từ xa, thì có thể đánh bại chiến thuật "Căn Cứ Hỏa Lực/ Firebase" mà người Mỹ đã thành công ở những địa bàn ngoài Hạ Lào. Kinh nghiệm cho thấy nhiều căn cứ hỏa lực của VNCH phải di tản vì không chịu nổi pháo binh tầm xa (ngay cả căn cứ ỡ trong địa pah20n VNCH, như căn cứ hỏ alực Ripcord ở Thừa Thiên, cũn gphải di tản vì chịu không nổi pháo). Chiến thuật mới của QĐND trong trận LS719 là: bao vây căn cứ hỏa lực; không cho yểm trợ bằng đường bộ; và dùng pháo tầm xa bắn liên tục vào căn cứ. Trong hai trận đánh lớn của năm 1971 và 1972, HK không dự kiến được những áp dụng của vũ khí mới mà họ đã biết đối phương có.
   Hy vọng tôi trả lời được phần nào câu hỏi của t/s. Sách về vũ khí của QĐND được Phòng 2 BTTM VNCH và MACV ấn hành vài ba năm 1 lần. Dĩ nhiên những cẩm nang vũ khí này đến từ cẩm nang vũ khí của khối NATO thâu thập về quân đội khối Đông Âu/ Varsovie.
Góp ý chung với t/s Quangcan và t/s Fanlong74:  Hai bác ghi chú sử liệu hoàn toàn hợp lý theo lý luận, QDND đã biết được ý định của VNCH-HK trong năm 1971; và QĐND biết được ý định đó một phần qua tin tình báo. Từ những yếu tố đó bộ TTM QĐND ước lượng đúng về hành quân LS719 ở Nam Lào. Nhưng theo tôi, bộ TTM QĐND ước lượng đúng không phải vì tin tình báo, mà vì QĐND muốn chuẩn bị cho mọi tình huống cho ba chiến trường ở ba xứ khác nhau. Và họ ước lượng đúng khi đối chiếu những giới hạn của đôi bên.
   Thay vì tin hoàn toan vào tình báo --- cho biết mặt trận sẽ là nam Lào -- bộ TTM QĐND chọn chiến thuật bảo vệ/ trinh sát chung trên toàn tuyến, trên mọi mặt trận. Sách từ các sĩ quan cấp tướng của QĐND viết về những chuyến trinh sát ở nam Lào từ tháng 7-1971; hay đi trinh sát chung với hai tướng Giáp và Vương Thừa Vũ, định vị các toạ độ pháo binh dọc miên duyên hải Hà Tỉnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, để phòng hờ địch đổ bộ đường biển. Tuy thay đổi quân (thay đổi vùng trách nhiệm cuả các đơn vị) nhưng nếu cần, bộ tư lệnh có thể viện binh cấp tốc đến chiến trường trong trường hợp cần thiết (điều này xảy ra ở chiến trường Nam Lào, và cho thấy khả năng hành quân cấp tốc của sư đoàn 308 từ Hà Tỉnh vào nam Lào). Với lối bốn trận như vậy, bộ TMM QĐND mới có thể bảo đảm được cho Binh Đoàn Trường Sơn tiếp tục chi viện cho chiến trường B-2 (để bảo vệ chiến trường K); B-3 (cho Tây Nguyên), và ba chiến trường còn lại ở B-1, B4, B-5, và Trị-Thiên-Huế.
   Trong thời gian khó khăn 1969-1970, dù đã bới đi 50 ngàn cán bộ và quân bộ binh ở B-3, và trên vùng hoạt động của Binh Đoàn Trường Sơn (BĐTS), nhưng con đường vận tải chiến lược HCM vẫn phải được họat động; chi viện phải tiếp tục. Giữ được khí thế phản công trong chiến thuật "chia đều binh ra" nầy, gây một ảnh hưởng mạnh đối vơi đối phương. [trong một bưổi thuyết trình ở bộ lư lệnh MACV, ngưòi tướng chi huy trưởng phòng 2 lưu ý cử tọa như sau về lực lượng của QĐND/QGP "Phải nhớ, chúng ta đang đối diện với bảy chiến trường: Thượng Lào; Đường vận tải chiến lược HCM; chiến trường Cam Bốt; B-2; Quân Khu 5 [B-1]; B-5; và Trị-Thiên-Huế." [Nguồn: the Abrams Tapes; về thời gian và quân số giảm đi ở B-3/ Trường Sơn, đến từ sách của các tướng Đặng Vũ Hiệp/ Đồng Sĩ Nguyên/ Nguyễn Đức Huy].
   Dự đoán và ước lượng của bộ TTM QĐND hoàn toàn đúng, dựa theo khả năng hiện có và khả năng của địch đang có: Nếu QĐND đang gặp khó khăn về yểm trợ vật chất, thì phía VNCH-HK đang gặp nhiều khó khăn về tâm lý chiến và chính trị đối nội. Từ sau vụ vệ binh tiểu bang Ohio bắn chết bốn sinh viên biểu tình chống chiến tranh VN ở đại học công lập Kent Sate, các đoàn biểu tình càng ngày càng đông hơn; áp lực quốc hội đòi cắt giảm ngân sách quốc phòng/ ngân sách cho chiến tranh VN gia tăng ở quốc hội. Nhưng VNCH-HK không phải không có "vấn nạn." Sự thất bại ở trong cuộc hành quân Ivory Coast giải cứu tù binh ở Sơn Tây tháng 10-1970; vấn đề xử dụng vũ khí hóa học trong cuộc hành quân Tail Wind, đánh vào bộ chi huy binh trạm 35 ở Bản Bạc. ... tất cả đều bị chỉ trích, bị điều tra. Nhưng cũng qua hai lần đột kích vào Sơn Tây và Bản Bạc trong năm 1970, QĐND biết phòng thủ nhiều nơi là tốt nhất, vì địch có thể đột kích bất cứ nơi nào với khả năng không vận của họ. Quyết định của bộ TTM QĐND được cơ quan truyền tin điện tử NSA và quân báo Lục Quân HK đọc được. Mỹ đọc được nhiều thông tin giữa các binh trạm của BĐTS: các binh trạm lớn như 10, 12, 16, 18, và các trạm giao liên từ Vinh trở vào Quảng Bình. Họ đọc được liên lạc giữa các binh trạm quan trọng như 30-33 (tổng kho từ bắc xuống Đường 9); và 40-42 (tổng kho cho các binh trạm phụ trách B-2 và B-3). [về khả năng của Mỹ đọc những truyền tin của QĐND/QGP, đọc Spartan in Darkness: American SIGINL and the Indochina War, 1945-1975 của Robert J. Hanyok, do Ban Mật Mã của NSA ần hành 2002. Đọc phần “Cửa Sổ [thành phố] Vinh. Nội dung liên lạc của một số binh trạm đưọc đăng trong the Abrams Tapes.]
   Sau cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42/ Rock Crusher của VNCH-Mỹ, từ tháng 7-1970 đến cuối tháng 12-1970, bộ TTM VNCH đang còn đang cho quân dưỡng sức; trong khi Mỹ đang “thu dọn chiến trường,” trong ý nghĩa họ chuẩn bị chấm dứt nhiệm vụ tác chiến và chuẩn bị rút quân. Khi bộ TTM QĐND ước lượng VNCH-Mỹ trong các cuộc hành quân cấp liên quân AB (AB là ký hiệu cho các cuộc hành quân hàng năm, có tính cách chiến lược) có thể tấn công từ Tây Ninh về Phum Rovieng; Lộc Ninh về Stung Treng; hay Kontum về Attopeu, thì ước lượng đó hơi bị quan; hơi lo hơi xa: VNCH không có khả năng đánh xa như vậy vào Cam Bôt hay Lào (bản đồ dự kiến hành quân của t/s Quangcan cho thấy phạm vi tấn công quá xa và quá rộng). Bộ TTM ước lượng cuộc tấn công của VNCH sẽ có bộ binh Mỹ yểm trợ. Nhưng vào tháng 10-1970, quốc hội Mỹ đã có bộ luật cấm quân tác chiến Mỹ hiện diện ở Lào và Cam Bốt. Kế hoạch chiến lược AB cho năm 1971 của VNCH-Mỹ là gia tăng “bình định hóa; hoàn giao trách nhiệm tác chiến lại cho VNCH.” Chúng ta nên chú ý về thời gian tính: Từ sau cuộc hành quân Toàn Thắng 42 đánh qua Cam Bốt, cho đến LS719 đánh qua Lào, chỉ có hơn 6 tháng. Một thời gian ngắn để dự trù và sọan thảo.    
T/s Quangcan hỏi: “Rất mong tiên sinh nkp cho biết/ cho ý kiến về việc tập hợp binh lực của QGP VN để đối phó với chiến dịch Lam Sơn 719 của VNCH + Mỹ.” Trả lời: Những chi tiết của t/s Fanlong74 và của t/s đã tóm tắt gọn những thay đổi vùng trách nhiệm của các đơn vị. Sử liệu đến từ Fanlong74 cho thấy Sư Đoàn 2BB ra đến vùng trách nhiệm mới là vừa đúng sự ước lượng ở trên. Hoa Kỳ ước lượng QGP chuẩn bị tác chiến ở chiền trường Đường 9-Nam Lào là bốn trung đoàn và hai binh trạm; tương đương 14 ngàn quân cùng một số đơn vị Pathet Lào. Nhưng một tài liệu khác làm cho ta chú ý: Trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân, Tập 2, khi nói về kế hoạch và trận liệt của QĐND chuẩn bị cho LS719, sách viết lúc LS719 khai diễn (8 tháng 2-1971), QGP đang có 60 ngàn quân chuẩn bị “chào” lực lượng VNCH. Tôi đễ những chi tiết này cho quý tiên sinh nhận định.
Một số chi tiết và nguồn/ sử liệu ở bài viết này sẽ được cung cấp trong những chương Đường về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719” mà tôi sẽ lần lược đăng tải trên diễn đàn.



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 06:31:28 AM
Xin đăng trên diễn đàn Chương 5, "Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào."
Chương 1 được t/s Altus bỉnh bút cho đúng với qui luật của VMH. Tôi không quen thuộc tất cả qui tắc toà soạn của VMH,
mong diễn dàn chỉ ra những sơ xuất. Bài viết có nhiều lỗi chánh tả rất ngớ ngẩn. Đó cũng là những khuyếm khuyết của người viết.
Số cước chú nằm trong ngoặc vuông ([..].
Chương 5 nói đến những hoàn cảnh đưa đến HQ LS719.

CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.

Những Hoàn Cảnh Đưa Đến Lam Sơn 719
Như có một sự hiểu ngầm với nhau từ trước. Ngay sau ngày Hoa Kỳ bầu cử tổng thống mới, chiến lược và chiến thuật của quân lực Mỹ ở Việt Nam thay đổi ngay. Ngày 20 tháng 1-1969 Richard M. Nixon lên thay Lyndon B. Johnson cho nhiệm kỳ tổng thống 1969-1972. Johnson đã làm tổng thống và quản trị cuộc chiến ở Việt nam hơn năm năm; địa bàn họat động của Binh Đoàn Trường Sơn cũng bị oanh tạc trong suốt thời gian đó. Sau năm năm tổng thống Johnson từ chức; và sau năm năm dội bom, lưu lượng trên đường xâm nhập của BĐTS qua Hạ Lào cũng không thay đổi nhiều, nếu không nói là vẫn đủ sức để phục vụ cuộc chiến. Cuộc chiến ở Việt Nam vào cuối năm 1968, theo một bình luận gia, đang dậm chân tại chổ. Quân sử của Ban Tham Mưu Liên Quân (BTMLQ/ Joint Chiefs of Staff) có nói đến sự bế tắc, nếu không nói là không đạt được mục tiêu, của cuộc chiến vào đầu năm 1969: “Đầu năm 1969 Hoa Kỳ đã tham gia cuộc chiến được ba năm rưởi. Tổng cộng có 30.614 người Mỹ chết, tốn 52,2 tỉ mỹ kim, nhưng Hoa Kỳ vẫn còn cách xa mục tiêu … như lúc mới tham gia cuộc chiến.” Ban Tham Mưu Liên Quân kết luận như vậy. Sử gia của BTMLQ không quên nói thêm, BTMLQ đã nhiều lần xin Tống Thống Johnson cho họ “nới rộng” chiến lược của cuộc chiến, nhưng đề nghị của BTMLQ không được chấp nhận.[1]  
Chỉ hai ngày sau khi Richard M. Nixon nhiệm chức tổng thống, một tiểu đoàn TQLC Mỹ được phép đánh qua biên giới Lào chừng một cây số. Khoảng ba tuần sau, Hoa Thịnh Đốn cho phép BTLl Không Quân Chiến Lược và BTL MACV soạn một kế hoạch để bí mật oanh tạc các mật khu và căn cứ tiếp liệu của B-2 ở bên trong, và dọc lãnh thổ Cam Bốt. Hành quân Dewey Canyon đánh qua biên giới Lào ngày 22 tháng 2-1969, và chiến dịch dội bom Menu vào Cam Bốt ngày 18 tháng 3-1969, cho thấy vị tổng thống mới sẳn sàng chấp nhận mọi chỉ trích của công luận và quốc hội Mỹ, khi dùng sức mạnh quân sự để đánh phủ đầu đối phương. Tân tổng thống Nixon không quan tâm về công pháp hay hiệp ước quốc tế, hay luật pháp Hoa Kỳ, khi cho lệnh dội bom và tác chiến bên trong lãnh thổ hai quốc gia trung lập — trung lập cho đến khi chánh phủ Nixon không muốn những quốc gia này còn trung lập.[2]
Hành Quân Dewey Canyon đánh từ hướng bắc thung lũng Sông Da Krong về huớng nam đến đầu thung lũng A Shau. Dọc theo biên giới Lào-Việt, từ A Shau đi lên Đường 9 là căn cứ hậu cần 611 của BĐTS, do Binh Trạm 42 phụ trách. Khi tấn công qua biên giới, TQLC Mỹ tìm được một kho tàng quân trang quân dụng chứa ở những tổng kho của Binh Trạm 42. Trong khi sự thành công của chiến dịch Menu dội bom ở Cam Bốt nhiều hay ít thì khó thẩm định (Mục tiêu nơi B-52 oanh tạc, đôi khi cũng có những toán LLDB nhảy xuống để thẩm định thiệt hại, nhưng nếu bom đánh trúng ngay mục tiêu, thì cũng không còn gì để thẩm định.). Kết quả của hành quân Dewey Canyon  làm cho nhiều tư lệnh Hoa Kỳ phấn khởi: Họ tịch thu 100 tấn gạo và phá hủy hơn 500 tấn vũ khí, quân nhu và quân dụng. Các tư lệnh quân sự suy luận, nếu được phép đánh qua biên giới, đánh vào những căn cứ của BĐTS, thì chắc chắn họ sẽ phá hủy nhiều đồ hậu cần hơn. Với đường lối ngoại giao và thái độ của tân tổng thống Richard Nixon, BTL MACV bắt đầu “năn nỉ” Hoa Thịnh Đốn cho phép họ hành quân qua biên giới Cam Bốt và Lào, hay ít ra cho đánh bom bằng B-52 sâu vào nội địa Lào, như những mục tiêu ở Tchepone, Saravane.
Nhiều tuần trước khi Richard Nixon lên nhiệm chức, tài liệu cho thấy BTL MACV đã thảo luận nhiều về đề  tài “đánh qua Lào và Cam Bốt; xin thẩm quyền xử dụng B-52 sâu vào nội địa Lào.” Trước đây (trước khi Nixon nhiệm chức), mọi đề nghị đánh qua nước ngoài đều bị Tòa Bạch Ốc Cam Bốt phủ quyết. Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk và vị đại sứ ở Lào là William Sullivan lúc bấy giờ rất e dè về mọi hành động có thể vi phạm quốc gia trung lập. Dưới nhiệm kỳ của tổng thống Nixon, thái độ của bộ ngoại giao thay đổi. Những buổi họp tình báo cuối tuần ở BTL MACV trước ngày đăng quang của Tổng Thống Nixon, có mặt của đại Sứ Ellsworth Bunker, qua những lần phát biểu ở MACV Đại Sứ Bunker nói từ năm 1967 ông đã đồng ý với đề nghị của tướng William Westmoreland l à  nên đánh qua biên giới … nhưng ông đã bị thẩm quyền ở  bộ ngoại giao “đá đít” ông về đề nghị như vậy. Nhưng từ đầu năm 1969, Đại Sứ Bunker nghỉ thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn sẽ nới lỏng về những vi phạm quân sự qua biên giới. [3]  Cũng trong những tháng đầu tiên của năm 1969, khi Đô Đốc John S. McCain đến thăm BTL MACV, Đại Tướng Abrams thúc ông đô đốc xin BTMLQ cho ông rộng tay với các cuộc hành quân vượt biên và thêm phi vụ B-52 đánh vào những căn cứ hậu cần. Cũng trong nhiều lần nói chuyện với Đô Đốc McCain; với tham mưu trưởng BTMLQ Earl Wheeler; với bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair, tướng Abrams nhắc tới lui nhiều lần tên của năm căn hậu cần 604, 611, 609, 352, và 701: MACV muốn được phép tấn công vào những căn cứ đó. Căn cứ 604 là bản doanh của Binh Trạm 33 ở Tchepone; 611 là Binh Trạm 42 ở A Shau như đã đề cặp; 609 là Binh Trạm 35 v à 37 ở Bản Bạc phụ trách tiếp liệu cho B-3; các căn cứ 350-354 và 701 là những căn cứ hậu cần bên trong nội địa Cam Bốt, phụ trách tiếp liệu cho bộ tư lệnh lớn nhất miền nam, BTL B-2 (B-2 có quân ở 32 tỉnh trong 44 tỉnh của VNCH). Với sự có mặt thường xuyên của Đại Sứ Bunker ở MACV, bộ ngoại giao biết chuyện hành quân qua Lào và chiến dịch dội bom bí mật ở Cam Bốt trước khi xảy ra, và đã đồng thuận với quyết định của Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc.[4]  Cuộc dội bom bí mật ở Cam Bốt được chấp thuận vài tuần sau cuộc hành quân Dewey Canyon. Ngày 19 tháng 2-1969, Cố Vấn Anh Ninh Quốc Gia Henry Kissinger đề nghị Tổng Thống Nixon cho phép MACV và BTL Không Quân Chiến Lược được phép (nhưng bí mật) dội bom những hậu cần của B-2 bên trong nội địa Cam Bốt.[5]  Sau khi chiến dịch dội bom bí mật được thực hiện, BTL TBD và BTL MACV tiếp tục “nới rộng chiến lược” bằng những cuộc hành quân khiêu khích, táo bạo bên kia biên giới, hay dọc theo biên giới. Những cuộc hành quân của Hoa Kỳ và VNCH đánh sâu vào địa bàn và căn cứ hậu cần của CSVN trong hai năm 1969-1970, cho thấy Hoa Kỳ muốn tận dụng khả năng đang có trong tay để đánh gục, hay ít ra gây khó khăn cho CSVN. Phải đánh vài trận lớn trước khi không còn quân — hay tiền — để đánh. Thẩm quyền Mỹ đã thông báo giới chức ở Việt Nam là ngân sách chiến tranh ở Đông Nam Á sẽ bị cắt giảm; quân tác chiến sẽ được rút ra khỏi chiến trường theo thời khóa biểu, bất kể tình hình chiến sự đang xảy ra.[6]  Sau Hành Quân Dewey Canyon, trong sáu tháng còn lại của năm 1969, Hoa Kỳ và VNCH trở lại lục soát những căn cứ của BĐTS dọc theo biên giới Lào và Cam Bốt. Tiếp sau đó là những cuộc giao tranh đẩm máu ở Ben-Het; ở A Shau, tiêu biểu là trận Động Ấp Bia — còn gọi là “Hamburger Hill/ Đồi Thịt Bầm/ Đồi 937” trong một ý nghĩa khác. Đây là một trận “nhỏ” trong ý nghĩa thiệt hại. Hoa Kỳ bị chết khoảng 46 quân nhân trong trận đánh chín ngày, nhưng đây là năm 1969, một năm đầy phản chiến ở nội địa Mỹ, BTL MACV được lệnh phải giới hạn tối đa thiệt hại về nhân mạng để bớt gây phẩn nộ trong quần chúng. Chỉ vài năm trước đó, quân đội Mỹ có hơn 200 tử thương một tuần trong ba năm liên tục.[7]  Ở đây, trong tương quan giữa chương trình “Việt Nam Hóa,” và hai cuộc hành quân qua Cam Bốt và Hạ Lào, số thương vong của quân đội Mỹ hàng tuần được nhìn như một kết quả trực tiếp của chương trình “Việt Nam Hóa.” Với tất cả sự phi lý của một chiến lược, BTL MACV suy luận nếu lính Mỹ chết càng ít, thì quân lực VNCH gánh vác cuộc chiến càng nhiều. Trong chiều hướng suy luận đó, BTL MACV sẽ mở thêm nhiều cuộc hành quân lớn trong những năm sau cùng của cuộc chiến. Chỉ là, trong những cuộc hành quân lớn lần tới, đa số “màu da tử sĩ” sẽ là lính VNCH.[8]    

Cứớc Chú:
 [1] The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1969-1970, tr. 1. Đây là tài liệu giải mật đầu tiên của Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ (US Joint Chiefs of Staff) về chiến tranh Việt Nam. Tài liệu ghi lại hoạt động của BTMLQ trong tương quan với Việt Nam từ năm 1945 đến 1975.
 [2] Trước khi đánh qua Lào (trong cuộc hành quân Dewey Canyon 1969) và sau đó dội bom bí mật ở Cam Bốt 1969, giới chức Mỹ đã gặp và bàn luận với các yếu nhân của Lào và Cam Bốt về kế hoạch của họ. Từ mùa Xuân năm 1969 quân đội QĐND/QGP tấn công nhiều nơi ở Thượng Lào và những điểm chiến lược như Bình Nguyên Bolovens và Attepeu, đã làm cho thủ tướng Souvanna Phouma lo sợ và cho phép Hoa Kỳ “đánh qua đất Lào được, nhưng đừng lâu quá …” (FRUS, Vietnam 1969-1976, vol. VII, July 1970-January 1972, Document 93)  Còn trường hợp ở Cam Bốt thì như chúng ta đã biết: Vị sĩ quan thân Mỹ Lon Nol đảo chánh quốc vương Sihanouk, và sau đó khóa cửa cảng Sihanouk — một đường tiếp tế quan trọng cho B-2 và B-3. Kho chứa hàng của Binh Trạm 42 nằm chừng 500 mét bên kia biên giới, dọc theo tỉnh lộ 922, chạy song song với Sông Da Krong. Từ tỉnh lộ 922 đoàn xe xâm nhập dùng đường 548 để vào tỉnh Kontum và từ đó tiếp tế cho mặt trận Tri-Thiên-Huế. Kho hàng của Binh Trạm 42 trong căn cứ hậu cần 611 lớn không tưởng tượng: 12 cây đại bác 122 ly (lần đầu tiên thấy ở chiến trường) với 7.000 đạn; 88.000 đạn súng cối, 60, 82, và 120 ly. Trong những cuộc hành quân tiếp theo sau đó vài tuần, số vũ khí tịch thu được còn nhiều hơn gấp ba,bốn lần ở những kho chứa hàng khác trong thung lũng A Shau. Về số vũ khí tịch thu được ở Căn Cứ Hậu Cần 611, đọc The Abrams Tapes, tr. 129, 123; Về tiểu đoàn TQLC đánh qua sông Da Krong, The U.S. Marine in Vietnam: Hight Mobility and Standdown, 1969. tr. 3-20.    
[3]  Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 163. Nguyên tác câu nói “bị đá đít” của Đại Sứ Bunker, “I got my ass kicked for the suggestion [to go into Laos] …”
[4]  Đại Sứ Wiliam H. Sullivan bị thay thế ở Lào. Tân Đại Sứ G. McMurtrie Godley thân thiện với kế hoạch quân sự của MACV hơn Sullivan.  
[5] Trong thông văn gởi cho Nixon và đề nghị tổng thống chấp thuận, Kissinger cho biết BTL MACV và Đại Sứ Bunker đề nghị dội bom Cam Bốt từ ngày 12 tháng 2-1969. Tổng Thống Nixon chấp thuận đề nghị của Kissinger khi đang rời phi trường, trên đường công du Âu Châu. Foreign Relations of the United States (FRUS), 1969-1976, volume 1, Vietnam, January 1969-July 1970, Document 22.  
[6]  Trong kế hoạch rút quân của Mỹ, những đơn vị nào đã có lịch trình giải tán để rời chiến trường Việt Nam, thì đơn vị đó rút đi đúng ngày, bất kể chuyện gì đang xảy ra. Trường hợp điển hình là hai Toán Cố Vấn 158 và 162 (Team 158 là Toán MAC-SOG, cố vấn cho Phòng 7, Nha Kỹ Thuật và Sở Liên Liên Lạc VNCH; Team 162 cố vấn cho Sư Đoàn Nhảy Dù VNCH.). Toán 158 giải nhiệm và rời chiến trường ngày 31 tháng 3-1972; Toán 158, ngày 15 tháng 7-1972. Tháng 3 và tháng 7 là bắt đầu, và là cao điểm của trận “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972. Năm 1969-1970 ngân sách quốc phòng nghiêm nhặt đến độ phi vụ B-52 phải được chấp thuận trước hàng tháng; mỗi tháng phải xin thẩm quyền cho phi vụ mới. Lewis Sorley, sđd, tr. 436.    
[7]  Năm 1967 Mỹ có 9.317 chết; năm 1968, 14.589; và năm 1969, 9.414. 33.320 tử thương trong ba năm. Mùa Xuân 1968, Mỹ có 543 tử thương một tuần. Peter Braestrup, ed., Vietnam as History, Eppendices. Số tử thương hàng tháng của Hoa Kỳ, Herbert Y. Schandler, Lyndon Johnson and Vietnam: The Unmaking of a President, tr. 354.  
[8]  Việt Nam Hóa cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là một kế hoạch “đổi màu da tử sĩ,” lời phát biểu của Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthy, ứng cử viên tổng thống đối lập năm 1968. Trích theo Seymour Hersh, The Price of Power: Kissinger in the Nixon White House, tr. 310.  






Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 06:47:08 AM
Xin đăng trên diễn đàn Chương 5, "Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào."
Chương 1 được t/s Altus bỉnh bút cho đúng với qui luật của VMH. Tôi không quen thuộc tất cả qui tắc toà soạn của VMH,
mong diễn dàn chỉ ra những sơ xuất. Bài viết có nhiều lỗi chánh tả rất ngớ ngẩn. Đó cũng là những khuyếm khuyết của người viết.
Số cước chú nằm trong ngoặc vuông ([..].
Chương 5 nói đến những hoàn cảnh đưa đến HQ LS719.

CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.

Tình Hình Quân Sự 1969-1970
Nếu VNCH và Hoa Kỳ muốn thắng cuộc chiến ở Việt Nam, thì hai năm 1969-1970 là cơ hội cuối cùng để thực hiện ý định. Hoa Kỳ và VNCH thấy được cơ hội đó, nhưng không thực hiện được ý định. Đến mùa thu năm 1969 tình hình quân sự ở miền nam nghiêng lợi thế về cho VNCH và Hoa Kỳ.
   Sau cuộc tổng tấn công-tổng khởi nghĩa năm Mậu Thân 1968, QĐND/QGP bị thiệt hại nặng về nhân sự, và gặp khó khăn về mọi mặt. QĐND/QGP phải chống đở nhiều chiến dịch đánh phá từ VNCH và Hoa Kỳ. Chiến Dịch Phụng Hoàng; CORDS; Xây Dựng Nông Thôn; Commando Hunt; và Market Time. Một mặt, đường tiếp liệu từ Lào vào các mặt trận ở miền nam trở nên khó khăn và tốn kém với chiến dịch dội bom Commando Hunt; những cuộc càn quét của chiến dịch Market Time (Market Time là hành quân đường biển/ sông, để ngăn chận QĐND/QGP xâm nhập, chuyên chở qua đường thủy), làm cho vấn đề xâm nhập qua đường biển vào cảng Sihanoukville (Kompong Som) gần như bế tắt. Lưu lượng xâm nhập trong hai năm 1969-1970 chỉ còn đủ để dưỡng quân; không còn tác chiến được. Năm 1969-1970 cũng là thời gian Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội và Trung Ương Cục Miền Nam (TƯCMN) chỉnh đốn và phối trí lại chiến lược và chiến thuật ở miền nam để đối phó với tình hình mới. Chiến lược mới của Trung Ương Cục Miền Nam bây giờ là kế nghi binh, tạo ra một ấn tượng như mặt trận quân sự đang chờ sự hướng dẩn của mặt trận chính trị QĐND/QGP đang hội họp Ba Lê. Về chiến thuật, TƯCMN chỉ thị tách ra từng lực lượng nhỏ, dể di chuyển, dể lẩn tránh, nhưng đồng thời cũng dể tấn công nếu cần. Trong thời gian nghi binh và đánh nhỏ, quân đội QĐND/QGP dưỡng quân. Những đợt di chuyển quân từ Hạ Lào ngược về hậu phương Thanh Hóa là một thí dụ cho thấy quân đội QĐND/QGP đang thay đổi chiến thuật trong một chiến lược mới.
Tháng 7-1969 Hoa Kỳ tịch thu được một tài liệu mật có tên là Nghị Quyết 9, do Trung Ương Cục Miền Nam lưu hành. Căn cứ vào nội dung, đây là một huấn nghị cho tất cả bộ chỉ huy/ bộ tư lệnh dưới quyền của Trung Ương Cục Miền Nam. Tin tình báo từ VNCH và Mỹ cho biết Quyết Nghị 9 là một trong những quyết nghị quan trọng nhất của cuộc chiến cho đến thời điểm đó. Trong Nghị Quyết 9 là những huấn thị về chiến thuật và chiến lược mới, để đương đầu với VNCH và Hoa Kỳ. Theo Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, Nghị Quyết 9 của TƯCMN đưa ra từng chi tiết rất rõ ràng để đối phó chiến thuật và chiến lược trong thời tới. [1]  Huấn thị khẳn định (a) quân đội QĐND/QGP khổng thể thắng ở chiến trường Việt Nam nếu còn sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ. (b) lại càng không thể giả định có thể thắng VNCH và đồng minh bằng một trận đánh lớn — Trận Mậu Thân 1968 là một thí dụ cho sự sai lầm đó. (c) Giới hạn cấp số những trận đánh chỉ  t ừ  cấp tiểu đoàn trở xuống; quân chia ra từng toán nhỏ, chủ yếu gây thương tích cho quân nhân Mỹ bằng lối đánh đặc công; và đánh phá kế hoạch Việt Nam Hóa đang khai triển và thực thi. (d) Trở lại chiến thuật trường kỳ kháng chiến trong khi chờ quân đội Hoa Kỳ rút đi.
Nhìn trên quan điểm chiến lược, Nghị Quyết 9 là một thay đổi rất hợp lý cho QĐND/QGP trong thời điểm khó khăn ở chiến trường miền nam trong hai năm 1968-1969. Trung Ương Cục Miền Nam chịu không nổi với những thiệt hại quá nặng: Chỉ trong 11 tháng của năm 1969, QĐND/QGP đã có 153.800 tử thương; 42.000 ngàn hồi chánh; và 30.000 quân cán quá yếu, phải đưa về hậu phương miền bắc bồi dưỡng. [2]

Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào
Năm 1970 Mỹ — mà đại diện là Tổng Thống Nixon [3] — bạo dạn hơn với những kế hoạch quân sự. Đầu năm 1970 kế hoạch tấn công vào căn cứ tiếp liệu và bản doanh của TƯCMN bên trong đất Cam Bốt được nói đến trong những dự thảo hành quân của MACV và VNCH, cho chương trình năm 1970. Đầu tháng 3-1970, khi thấy tình hình chính trị của Cam Bốt đã chín mùi cho một cuộc đảo chánh (đảo chánh quốc vương Sihanouk), Đại Tướng Abrams hỏi Đại Tướng Cao Văn Viên về những kế hoạch hành quân tương lai, đánh vào mật khu hậu cần của TƯCMN ở đất chùa tháp. Tướng Viên trả lời là một vài đơn vị VNCH đã đột kích nhiều mục tiêu bên trong Cam Bốt. Mục tiêu gần nhất là vài cây số; xa nhất là 10 cây số.
Kế hoạch đánh qua Cam Bốt trở thành chuyện đương nhiên khi Đô  Đốc John McCain của BTL TBD đề nghị với tham mưu trưởng Ban Tham Mưu Liên Quân Earle Wheeler phải đánh qua Cam Bốt. Nhận xét từ những thẩm quyền ngoại giao và quân sự khác càng làm cho Đại Tướng Abrams háo hức hơn: Đại Sứ Bunker tuyên bố, nếu mật khu và căn cứ hậu cần của QĐND/QGP vẫn còn ở Cam Bốt, thì người Mỹ phải còn ở Việt Nam vô hạn định. Đại Tướng Bruce Palmer, tư lệnh phó của Abrams (và là bạn cùng khóa võ bị West Point với Abrams và Westmoreland) nói, những căn cứ hậu cần nằm sát biên giới của QĐND/QGP, tương tự như một nòng súng kề vào đầu nền an ninh của VNCH. [4] Cuối tháng 3-1970, chuyện đánh qua Cam Bốt được coi như chuyện đã rồi. Đầu Tháng 5-1970, Hành Quân Rockcrusher (Mỹ) và Toàn Thắng 46 (VNCH) khai diễn. Hành quân đánh qua Cam Bốt xảy ra đúng ý còn hơn là BTL MACV và BTTM VNCH đã dự kiến. Cuộc tấn công dể dàng đến độ MACV và BTTM VNCH tự hỏi, tại sao hành quân qua Cam Bốt không xảy ra sớm hơn. Cuộc hành quân đến ngày thứ năm thì coi như bế mạc: quân QĐND/QGP bỏ căn cứ, băng qua sông Cửu Long, rút về hướng tây. Trong tháng đầu hành quân, số lượng quân trang quân dụng tịch thu được nhiều đến độ những ước tính của CIA trước đó trở thành vô dụng. Hàng tiếp liệu của Trung Cộng đến cảng Sihanoukville đủ để nuôi cả B-2 và B-3. Chưa bao giờ quân đội VNCH chiến thắng dể dàng như vậy. Ở ba mặt trận tại căn cứ Ba Thu, Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu, với địa hình bằng phẳng, quan sát được hết tầm mắt, quân VNCH và Hoa Kỳ dàn quân hàng ngang và tấn công thẳng vào căn cứ. Với hỏa lực hùng hậu yểm trợ thẳng vào mục tiêu, Quân VNCH và Mỹ không gặp kháng cự nào đáng kể trong cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher. [5] Truyền tin bắt được từ BTL TƯCMN ra lệnh cho các đơn vị ở chiến trường B-2/ Cam Bốt “tránh kháng cự, rút quân khỏi mặt trận để bảo toàn lực lượng.” [6] Một cuộc hành quân quá dể; một chiến thắng không tốn kém nhiều so với kết quả. Tuy nhiên, chính sự chiến thắng quá dể đó đã để lại một ấn tượng sai lầm trong đầu những sĩ quan sọan thảo Hành Quân Lam Sơn 719 về sau.
   Sau cuộc hành qua Cam Bốt, vào trung tuần tháng 9-1970, MAC-SOG cho một đại đội xung kích đột nhập vào căn cứ tiếp liệu 609 thuộc Binh Trạm 35 ở Bản Bạc, cách biên giới Việt Nam 90km. Đây là một loại binh trạm tổng kho, hàng tiếp liệu chứa ở đây còn còn nhiều hơn ở Binh Trạm 42. Hạ tuần tháng 11 năm 1970, BTMLQ trực tiếp ra lệnh cho MAC-SOG  đột nhập một trại tù binh Mỹ ở Sơn Tây, cách Hà Nội không hơn 40 km.
Đến cuối năm 1970 Tổng Thống Richard Nixon đang say men chiến thắng: Dội bom và tấn công Cam Bốt; đột kích vào đất Lào và Sơn Tây … với tất cả những khiêu khích quân sự đó, Nixon chỉ bị công luận ở trong và ngoài nước phản đối một cách lấy lệ — trừ một số thượng nghị sĩ đối lập đang dự thảo một bộ luật giới hạn lại quyền tuyên chiến của tổng thống. Một phiền toái chánh trị chưa gây trở ngại cho Tổng Thống Nixon lúc đó. Được dịp làm tới: Nixon giao cho hai người phụ tá thân cận điều động và liên lạc với BTMLQ về một kế hoạch hành quân mới.  

Hoa Kỳ và Kế Hoạch Hành Quân Lam Sơn 719
Giữa tháng 12-1970 Đô Đốc John McCain gởi Đại Tướng Creighton Abrams một điện văn, đề nghị MACV soạn một số kế hoạch hành quân cho năm tới. Điện văn ngày 15 tháng 12-1970 là một trong bốn điện văn BTL TBD  (McCain) gởi BTL MACV (Abrams) từ ngày 6 tháng 12. Điện tín ngày 15 tháng 12 thông báo MACV nên tiếp tục sọan thảo hành quân qua Cam Bốt, Lào, và bắc Việt Nam như đã thảo luận từ trước. Bộ tư lệnh TBD sẽ gởi kế họach của MACV thẳng về BTMLQ. Ở đọan văn sau cùng của điện tín, McCain nói mùa khô của năm 1970-71 sẽ là thời gian cuối cùng quân lực Hoa Kỳ còn đủ quân để yểm trợ cho VNCH hành quân lớn ở nhiều mặt trận cùng lúc. Đô Đốc McCain nhấn mạnh đây là cơ hội cuối cho VNCH hành quân qua Lào và Cam Bốt một lần nữa. Điện văn đề nghị VNCH phải hành quân trở lại chiến trường Cam Bốt. Về phương diện hành quân, điện văn ngày 15 tháng 12-1970 là một quân lệnh. Và nếu như vậy, kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 719 (LS719) được sọan thảo và thực hiện quá vội — vì như đã xảy ra, ngày 8 tháng 2-1971 là ngày băng qua biên giới Lào. Như vậy chỉ có 53 ngày từ thông báo sọan thảo đến ngày hành quân. [7]
   Ở trên cấp của Đô Đốc McCain, ngày 5 tháng 11 trước đó, Tham Mưu Trưởng BTMLQ yêu cầu Đô Đốc McCain trình lên BTMLQ kế hoạch hành quân trong sáu tháng tới. Ba ngày sau McCain trả lời ông dự định hai kế hoạch hành quân cho năm 1971, (a) Mỹ sẽ yểm trợ cho quân đội bốn quốc gia, Thai, VNCH, Cam Bốt và Lào gia tăng hành quân lục soát, đánh phá căn cứ  cộng sản trong biên giới riêng biệt của họ; và nếu (b) Hoàng Gia Lào tuyên bố hủy bỏ Hiệp Định Trung Lập 1962 của Lào, thì bốn quốc gia có tên trên cùng đánh vào vùng Hạ Lào để cắt đHCM. [8] Theo quân sử BTMLQ, đến đầu tháng 12-1970 Tòa Bạch Ốc chỉ chú tâm đến ba kế hoạch đang được nghiên cứu: (a) Hành quân lớn, gồm hai hay là ba sư đoàn VNCH đánh vào Hạ Lào; (b) Quân lực VNCH, với yểm trợ không lực của Mỹ, đánh trở lại Cam Bốt; và (c) LLĐB VNCH thực hiện những hành quân đột kích bí mật trên đất bắc. [9]  Điều đáng lưu ý ở đây là BTL TBD và BTMLQ chỉ cho phép MACV bắt đầu sọan thảo LS719 từ đầu tháng 12-1970. Không những như vậy, MACV cùng lúc phải soạn luôn một kế hoạch hành quân trở lại Cam Bốt lần thứ nhì. Vì BTMLQ hoặc Tòa Bạch Ốc muốn có chọn lựa một trong hai hành quân, hay là cả hai. Nghĩa là quân lực VNCH sẽ đánh hai mặt trận một lúc nếu Tòa Bạch Ốc quyết định như vậy. Kế hoạch đánh hai mặt trận ngoại biên cùng một lúc phải là ý định của Tòa Bạch ốc, chứ không thể đến từ McCain hay Abrams. Ở đây họ chỉ theo lệnh đến từ Đô Đốc Thomas Moore, tham mưu trưởng BTMLQ; và Moore thì bị áp lực từ Henry Kissinger và Chuẩn Tướng Alexander Haig từ Tòa Bạch Ốc. Mặc dù hai vị tư lệnh McCain và Abrams rất phấn khởi về khả năng của quân lực VNCH sau trận Cam Bốt 1970. Nhưng phải đánh hai mặt trận ở cách xa biên giới cùng lúc thì đó là một ước muốn quá lạc quan từ thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn. Chúng ta có thể suy luận Đô Đốc McCain và Đại Tướng Abrams không “xúi” VNCH đánh vào Tchepone một mình; còn kế hoạch đánh hai mặt trận cùng lúc thì lại càng không thể đến từ McCain và Abrams. Khi kế hoạch “Việt Nam Hóa” vừa mới khai diễn được một năm, khi thấy quân lực VNCH được bàn giao quá nhiều nhiệm vụ, Đốc Đốc MCCain khuyến cáo Abrams đừng nên cho VNCH “ăn” nhiều quá có thể bị khó tiêu. Và Đại Tướng Abrams thì biết rõ Tchepone là một tổ ông vò vẽ khi đụng vào. [10] McCain và Abrams đều muốn đánh vào căn cứ hậu cần 604 ở Tchepone. Nhưng họ muốn thấy quân tác chiến Hoa Kỳ đi cùng — hay ít ra là có cố vấn Mỹ hỗ trợ như trong cuộc hành quân Rockcrusher/ Toàn Thắng 46. Đến đầu tháng 12-1970 khi kế hoạch hành quân trở ngược lại Cam Bốt và qua Hạ Lào được sọan thảo, vai trò của quân tác chiến Hoa Kỳ không có trong kế hoạch. Như vậy thẩm quyền nào đã đốc thúc kế hoạch hành quân Cam Bốt lần thứ nhì và LS719? [11]
Henry A. Kissinger và Chuẩn Tướng Alexander M. Haig (Haig là phụ tá chánh Kissinger) cho  đều nói họ không phải là cha đẻ của kế hoạch Hành Quân LS719. Henry A. Kissinger nói ông hoàn toàn không có liên hệ gì đến kế hoạch LS719. Trong hồi ký White House Years, Kissinger ví kế hoạch Hành Quân LS719 như một đứa trẻ mồ côi không cha. “Thành công thì có nhiều người cha; nhưng thất bại là một đứa con không người nhận,” Kissinger giải thích. [12] Có thể Kissinger không phải là cha đẻ của LS719, nhưng sử liệu cho thấy ông có tham dự và đốc thúc BTL MACV, TBD và BTMLQ soạn thảo kế hoạch LS719.
   
Cứớc Chú
[ 1] Hoàng Ngọc Lung, The General Offensives of 1968-69 (Center of Military History, Indochina Monograph, 1981), tr. 154. Đại Tá Lung là chỉ huy trưởng Phòng 2 BTTM, 1971-1975. Nghị Quyết 9 dài 41 trang, và MACV nhờ Phòng 2 BTTM dịch ra tiếng Anh tường tận cho họ. Trong hai tháng 9 và 10-1969, Đại Tướng Cao Văn Viên và Đại Tá Phạm Ngọc Thiệp đích thân đến họp ở BTL MACV, trao đổi về nội của Nghi Quyết 9. Đại Tá Thiệp chỉ huy Phòng 2 BTTM năm 1968-1971. Đọc Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 316-318.
[2 ] Tổn thất cho nguyên năm 1969 của quân đội QĐND/QGP ở chiến trường miền nam là 172.000 chết, và 47.023 hồi chánh (trong đó 28.054 là lính tại ngủ). Lewis Sorley, sđd, tr. 387. Về thiệt hại ở một số mặt trận, đọc Thượng Tướng Đặng Vũ Hiệp, Ký Ức Tây Nguyên, tr. 131-141, 367; Đại Tướng Mai Chí Thọ, Theo Bước Chân Lịch Sử, tr. 168-174; Thượng Tướng Nguyễn Nam Khánh, Miền Trung Những Tháng Ngày Không Quên, tr. 417-417; Thượng Tướng Trần Văn Trà, Kết Thúc Cuộc Chiến 30 Năm, Tập 5, tr. 190.
[3 ] Từ tháng 3-1970, Phòng báo chí MACV cho biết quân lệnh liên hệ đến chiến trường Lào và Cam Bốt sẽ do Tòa Bạch Ốc gởi đến MACV và không qua Bộ Quốc Phòng hay Ngũ Giác Đài nữa (Ngũ Giác Đài ở đây là Tham Mưu Trưởng Ban Tham Mưu Liên Quân). Tòa Bạch Ốc cũng chịu trách nhiệm thông báo cho Bộ Ngoại Giao về vấn đề quân sự ở Cam Bốt và Lào. Nói một cách khác, Tòa Bạch Ốc sẽ ra lệnh trực tiếp cho MACV vế quân sự và chính trị. Lewis Sorley, sđd, trang 383.  
[4]  Lewis Sorley, A Better War, tr. 200.
[5]  Trong một trận tống công, thiết kỵ dàn mặt trận ngang sáu cây số; cách 25 mét là một thiết giáp/ xe tăng, và đánh trực diện. Đọc Đại Tướng Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, tr. 172.  
[6]  Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, The Cambodian Incursion, tr. 95. Về số lượng vũ khí tịch thu, và thiệt hại đôi bên ở Cam Bốt, đọc tr. 193-194. Đây là quyển quân sử chi tiết và rõ ràng nhất về cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher 1970.
[7]  Điện tín 150512Z Dec 70, McCain CINCPAC gởi Abrams COMUSAMACV. Điện tín đầu tiên về đề tài này gởi ngày 6 tháng 11. Abrams Special Collection, Army War College, Carlisle, Pennsylvania.
[8]  The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1970-1971, tr. 2. Điện tín 15006 của BTMLQ gởi CINCPAC 071926Z, Nov 1970; CINCPAC trả lời BTMLQ, 100556Z, Nov 1970.
[9]  Từ tháng 3-1970 các toán LLĐB Mỹ-Việt đã đột kích vào miền bắc (tối đa 30 cây số từ biên giới/ vĩ tuyến 17) 14 lần, trong đó chỉ có chín lần thành công. Thông văn của Kissinger gởi Nixon, FRUS 1969-1976, Vol VII, Vietnam July 1970 – January 1972, Document 80.  
[ ] Đụng vào “tổ ong vò vẽ,” đọc phụ chú số 25, Chương 2 trong sách; “ăn nhiều quá khó tiêu …” điện tín của Abrams gởi Đại Tướng Earle Wheeler, MAC 15405, 291300Z Nov 1969, trích theo Sorley, tr. 230.
[11]  Có một bí mật nào đó trong giai đọan đầu sọan thảo LS719 mà chúng ta chưa biết rõ: Kế hoạch đánh qua Hạ Lào đã được BTMLQ, MACV và BTL TBD nói đến nhiều lần từ tháng 11-1970. Nhưng đến ngày 22 tháng 12-1970 Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird mới được thông báo trong một buổi họp với Tổng Thống Nixon. Bộ Trưởng Ngoại Giao William Rogers cũng không được loan báo cho đến sau ngày 24. Như vậy Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird đã bị lọai ra khỏi hệ thống quân giai với BTL MACV, BTL TBD và BTMLQ. Đọc The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 447, chú thích 7.
[12 ] Henry A. Kissinger, White House Years, tr. 1004-1005.





Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 07:08:56 AM
CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.

[Tiếp theo #24]

Tài liệu đến từ BTMLQ; CIA; Tòa Bạch Ốc; và MACV cho thấy ông Cố Vấn Anh Ninh Quốc Gia cho Tổng Thống Nixon có “bàn tay” trong kế hoạch LS719. Như là cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống, Kissinger suy luận năm 1972 là năm bầu cử tổng thống. Chiến trường ở Việt Nam phải yên tỉnh để được phiếu cử tri. Đánh vào Tchepone đầu năm 1971 sẽ gây nhiều phiền toái và làm QĐND/QGP “bận tâm” đến sau cuộc bầu cử tháng 11-1972. Đó là một kế hoạch xa (lúc đó mới cuối năm 1970), nhưng trong vai trò cố vấn, Kissinger có nhiệm vụ nghĩ xa. Những kế hoạch Kissinger đề nghị với Tổng Thống Nixon từ đầu năm 1969 đến lúc đó, đều thực hiện được như ý và thành công (bí mật dội bom Cam Bốt; thương lượng bang giao với Trung Cộng; hội hợp bí mật với Hà Nội …). Đề nghị của Kissinger rất được Nixon cân nhắc. Kế hoạch LS719 cũng nằm trong quyền hạn của Kissinger, trong ý nghĩa đó một chiến thuật quân sự để hỗ trợ chính trị.
   Theo nhật ký của tham mưu trưởng Tòa Bạch Ốc H.R. Haldeman, Kissinger là người đề nghị và điều khiển những buổi họp liên quan đến kế hoạch LS719. Haldeman ghi trong nhật ký, ngày 23 tháng 12 Kissinger muốn nói chuyện với tham mưu trưởng BTMLQ Đô Đốc Thomas Moorer và Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird trước mặt Tổng Thống Nixon về Hành Quân LS719. Lý do phải có mặt tổng thống, vì Kissinger muốn thấy Nixon ra lệnh hành quân trực tiếp cho hai thẩm quyền Ngũ Giác Đài và Bộ Quốc Phòng. “Kissinger nhờ tổng thống ra lệnh trước mặt cho Bộ Trưởng Laird và giới quân sự [Đô Đốc Moorer] thi hành kế hoạch. … Vì họ sẽ không thi hành nếu tổng thống không ra lệnh thẳng,” Haldeman viết thêm. [1] Một chi tiết khác cho thấy Kissinger trực tiếp tham dự tiến trình soạn thảo kế hoạch LS719. Ngày 11 tháng 12 Kissinger sai phụ tá Haig qua Cam Bốt và Việt Nam để bàn luận trực tiếp với BTL MACV và Đại Tuớng Abrams. Từ Sài Gòn, tướng Haig gởi về Kissinger một điện tín, tóm tắt sơ thảo những kế hoạch hành quân của MACV cho năm 1971. Trong điện tín Haig cho biết MACV và BTTM VNCH đồng ý về ba kế hoạch lớn cho năm 1971: (a) Tiến quân theo Đường 7, đánh vào căn cứ hậu cần của hai Sư Đoàn 7 và 9 QĐND/QGP ở đồn điền Chup, Kratie và Kampong Cham; (b) Dùng hai sư đoàn tiến theo Đường 9 đánh vào Tchepone; và  (c) đột kích vào đất bắc. Chuẩn Tướng Haig còn nói rõ, Đại Tướng Cao Văn Viên và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thông qua kế hoạch (a) và (b) với MACV. Hai ngày sau, Kissinger tóm lược lại điện tín của Haig và gởi Tổng Thống Nixon với đề nghị đồng thuận. [2] Ngày 23 tháng 12, trong buổi họp tại Tòa Bạch Ốc dưới sự có mặt của Bộ Trưởng Laird và tham mưu trưởng BTMLQ Mooere, lần đầu tiên Nixon nói chi tiết về báo cáo và đề nghị của Haig (mà thật sự là đến từ Kissinger). Cũng trong buổi họp đó, Nixon ra lệnh tiếp tục hai kế họach hành quân như đã đề nghị.
   Trong vấn đề ai là “cha đẻ” của kế hoạch Hành Quân LS719, vai trò của Chuẩn Tướng Alexander Haig không thể không nói đến. Haig cũng có thể là người đề nghị đánh qua Tchepone với một tiếng nói nhiệt tình. Tác giả quân sử Lewis Sorley trong một tác phẩm về chiến tranh Việt nam, nghĩ tướng Haig và một số cộng sự viên trẻ ở Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (HĐANQG) đẻ ra kế hoạch hành quân qua Hạ Lào. [3] Sự sốt sắng đi qua lại Sài Gòn trong thời gian hành quân LS719 có thể là một dấu hiệu về sự liên hệ nguyên thủy của Chuẩn Tướng Haig trong kế họach LS719. [4]

LS719 Nhìn Từ Tòa Bạch Ốc
Sau khi nhận được điện văn của Đô Đốc McCain cho phép tiến hành sọan thảo kế họach LS719, ngày 18 tháng 12-1970 (một ngày sau ngày Chuẩn Tướng Haig rời Sài Gòn) Đại Tướng Abrams gởi về BTL TBD kế hoạch hành quân qua Lào và Cam Bốt của MACV. BTL TBD chấp thuận kế hoạch và gởi về cho Đô Đốc Thomas Moorer của BTMLQ. Ngày 23 cùng tháng, Tổng Thống Nixon ra lệnh Moorer và Bộ Trưởng Laird thi hành kế hoạch trên nguyên tắc. “Trên nguyên tắc” ở đây có nghĩa Tòa Bạch Ốc có quyền hoản lại, hay không xử dụng kế hoạch, hay thay đổi kế hoạch khác hơn. Vì một lý do nào đó Tòa Bạch Ốc vẫn còn ấn tượng với sự thành công ở Cam Bốt năm ngoái; vẫn nghĩ rằng hàng tiếp liệu ở những hậu cứ vẫn chưa được khai thác hết. Đến ngày đó, 23 tháng 12, HĐANQG và Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt (WSAG/Washington Special Actions Group) vẫn chưa quyết định được (a) Tchepone hay đồn điền Chup quan trọng; (b) sẽ yểm trợ nỗ lực nào chánh? Và (c) VNCH đủ khả năng để đánh hai mặt trận cùng lúc không? Buổi họp ở Tòa Bạch Ốc ngày 23 đề nghị ngày hành quân qua đồn điền Chup là 15 tháng 1-1971, và hành quân qua Tchepone sau Tết 1971, ngày 7 hay 8 tháng 2-1971. [5]  
Vài giả thuyết giải thích tại sao Tòa Bạch Ốc vẫn muốn đánh qua mục tiêu Cam Bốt lần thứ hai: Cuộc hành quân Toàn Thắng 42-46/Rockcrusher năm 1970 tịch thu được tất cả giấy tờ nhập cảng cũng như hóa đơn giao hàng giữa quân đội Hoàng Gia Lào và đại diện CSVN ở các căn cứ tiếp liệu. Với con số rõ ràng trên tay, Phòng 2 MACV báo về BTMLQ và Tòa Bạch Ốc. Khi đối chiếu số hàng hóa thực sự xâm nhập và số ước tính xâm nhập do CIA dự tính, số ước tính của CIA quá thấp. Nói một cách khác, tin tình báo của CIA sai hoàn toàn. Sau khi hai con số khác biệt được thông báo, Tổng Thống Nixon tỏ ý thất vọng về khả năng của CIA trong những tiên liệu. … Vài tháng sau đó CIA ra nhiều thông văn giải thích và lại  thẩm định ước lượng của họ về đường xâm nhập Sihanoukville (Đường C-4) cho B-2 và B-3 … nhưng thẩm quyền ở các cơ quan liên hệ trực tiếp đến chiến tranh Việt Nam không còn coi trọng ước lượng của CIA nữa. [6] Tòa Bạch Ốc suy luận bây giờ (năm 1971) có dịp trở lại Cam Bốt, thì đây là cơ hội sau cùng để dọn sạch những căn cứ hậu cần ở Cam Bốt.
Lý do thứ hai, Tòa Bạch Ốc đồng ý với HĐANQG và Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt về lý do phải đánh trở lại Cam Bốt: Hoa Kỳ muốn quân lực VNCH hành quân qua Chup để giải tỏa áp lực của hai Sư Đoàn 7 và 9 CSVN đang đè xuống thủ đô Nam Vang: Chỉ vài tháng sau khi VNCH và Mỹ rút ra khỏi Cam Bốt sau Hành Quân Toàn Thắng 42-46/ Rockcrusher, các đơn vị chủ lực của CSVN trở lại và tái chiếm những căn cứ đã mất. Hoa Kỳ, sau khi đã thúc đẩy Lon Nol đảo chánh, bây giờ không thể bỏ rơi Cam Bốt. Nhưng Hoa Kỳ cũng không thể làm gì được, vì cuối năm 1970, Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn một bộ luật không cho phép bộ quốc phòng xài tiền cho chiến trường Cam Bốt và Lào; hay có quân tác chiến ở đó. Hoa Kỳ muốn thấy VNCH hành quân qua Cam Bốt để phụ giúp chánh phủ mới của Lon Nol giải tỏa áp lực của CSVN đè vào Nam Vang.Từ tháng 10-1970, bộ ngoại giao và bộ quốc phòng Mỹ đã bàn về chuyện mướn lính Thái Lan cho chiến trường Cam Bốt. Nhưng chánh phủ Thái chưa quyết định, và bây giờ lính VNCH phải điền vào chổ trống. [7] Quyết định hành quân trở lại Cam Bốt với cấp số sư đoàn sẽ có những ảnh hưởng rất bất lợi — nếu không nói là nguy hiểm — cho Hành Quân LS719 ở Hạ Lào. Nhưng đến lúc đúc kết kế hoạch hành quân, ban soạn thảo hành quân Việt-Mỹ chưa thấy được liên quan giữa hai mặt trận.
Ngày 9 tháng 1 Đô Đốc Moore và Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird đến Sài Gòn để nói chuyện với MACV, Tổng Thống Thiệu, và một số tướng lãnh VNCH. Cũng trong chuyến đi đó, Đô Đốc Moore bay ra Huế gặp Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và Trung Tướng James Sutherland để thăm dò ý kiến và coi kế hoạch hành quân đã được chuẩn bị tới đâu. Ngày 17, hai sĩ quan phụ trách hành quân của MACV bay về Hoa Thịnh Đốn để trình bày trực tiếp và cụ thể cho BTMLQ về kế hoạch của Abrams. Ngày hôm sau, 18 tháng 1, kế hoạch đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào được thuyết trình ở Tòa Bạch Ốc dưới sự tham dự của Tổng Thống Nixon, Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird, Ngoại Trưởng Rogers, Đô Đốc Moorer, Giám Đốc CIA Helms, và Kissinger. Bộ Trưởng Quốc Phòng Laird là thuyết trình viên. Và những gì được đề cập là những gì đã được MACV soọn thảo: Đánh qua đồn điền Chup; đánh qua Tchepone; và một cuộc hành quân ở thung lũng A Shau như là một kế hoạch nghi binh. Tổng Thống Nixon hỏi nhiều câu hỏi; bản chất của những câu hỏi là MACV có đủ yểm trợ cho VNCH không, và sự khó khăn của cuộc hành quân lần này qua Cam Bốt. Nixon nhấn mạnh một điểm quan trọng, đến tháng 11 năm 1972, Mỹ sẽ chỉ còn 100.00 ngàn quân … và đây là cơ hội cuối cùng cho VNCH để phản công. [8] Giám Đốc CIA Richard Helms tiên đoán đối phương sẽ “tử thủ” ở lãnh địa của họ ; Ngoại Trưởng William Rogers thì lo sợ Thủ Tướng Souvanna Phouma của Lào sẽ “cự lực phản đối,” và sẽ yêu cầu quân VNCH rút khỏi Lào càng sớm càng tốt. Ngoại Trưởng Rogers nói thêm, Souvanna hỏi tại sao không tấn công vào vùng Ba Biên Giới, hay Saravane, mà lại là Tchepone? Sau một tiếng rưởi bàn thảo, tất cả đồng ý sẽ đi đến quyết định trong buổi họp kế tiếp.
Ngày 19, Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt trở lại Tòa Bạch Ốc với đề tài của ngày 18. [9] Lần này thì các ủy viên nói lên sự lo lắng của họ về kế hoạch của MACV — đúng hơn là kế hoạch của BTMLQ. Nhiều câu hỏi có tính cách do dự và hoài nghi được nêu lên. Phó Ngoại Trưởng U. Alexis Johnson lên tiếng, theo như ông biết vài năm trước đây ông có đề nghị hành quân qua Lào. Nhưng kế hoạch đó đòi hỏi đến sáu sư đoàn tham dự … lần này tại sao chỉ có hai sư đoàn? [10] Tiếp theo Johnson là phó bộ trưởng quốc phòng David Packard, với tiên đoán QĐND sẽ tiếp viện quân từ vĩ tuyến 17 xuống, và sẽ chống trả mãnh liệt; và đặt câu hỏi về tình trạng của Đường 9, còn lưu thông được hay không (Đô Đốc Moorer trả lời là được). Buổi họp đưa ra vài chi tiết được tất cả đồng ý: Hành quân qua Chup và Tchepone sẽ khai diễn gần nhau — Ngày 15 tháng 1 cho Cam Bốt; ngày 7, hay 8 tháng 2 cho Hạ Lào. Tuy đồng ý nguyên tắc và lý do của kế hoạch hành quân, nhưng nhiều bất đồng ngấm ngầm giữa các thẩm quyền vẫn chưa được thống nhất, trong khi ngày khai diễn hành quân đã cận kề. Từ ngày 19 đến đến ngày 28 tháng 1 có thêm năm lần họp ở Tòa Bạch Ốc. Trong hai lần họp sau cùng ngày 26 và 28, các thẩm quyền tranh luận thêm một “vấn nạn” mới: Theo tinh thần của bộ luật Cooper-Church, Hoa Kỳ không thể cung cấp trực thăng chuyên chở cho VNCH vào đất Lào hay Cam Bốt … như vậy MACV phải thay đổi kế hoạch hành quân một cách nào đó mà Hoa Kỳ không phải yểm trợ trực thăng. Một đôi khi những trao đổi giữa Tổng Thống Nixon và tham mưu trưởng BTMLQ Moorer nghe như giống như một hài kịch không hay. Nixon hỏi Moorer có cách nào VNCH đánh vào Tchepone mà không cần trực thăng yểm trợ từ Hoa Kỳ; trực thăng đổ quân ở Lào có nguy hiểm không (Đô Đốc Moorer trả lời là không nguy hiểm lắm!). …Rồi ông tổng thống yêu cầu Đô Đốc Moorer hỏi lại tướng Abrams lại cho chắc chắn là yểm trợ không vận của Hoa Kỳ là thiết yếu cho LS719. [11] Từ Sài Gòn Abrams trả lời một cách nóng nảy và bực tức: Không có trực thăng thì không có LS719; và nếu không đánh vào Tchepone thì không còn mục tiêu nào xứng đáng để hành quân. Abrams nói thêm ông sẽ hủy bỏ cuộc hành quân vào ngày 28 nếu Hoa Thịnh Đốn chưa có quyết định. [12]
Sau cùng, ngày 28 tháng 1 Tổng Thống Nixon quyết định cho phép kế hoạch Cam Bốt được thực hiện đúng lịch trình; kế hoạch LS719 được thực hiện Giai Đọan 1 và sau đó sẽ có quyết định mới cho giai đọan kế tiếp. Nhưng hành quân qua Cam Bốt phải nằm trong kế hoạch.


Cước Chú:
[1]  H. R. Haldeman, The Haldeman Diaries, tr. 224.
[2]  FRUS, Vietnam, January 1970 – July 1972, Document 89; 90. Haig đến Nam Vang và Sài Gòn từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 12-1970. Chiều ngày 17 ở Sài Gòn, Haig và Đại Sứ Bunker nói chuyện riêng với Tổng Thống Thiệu hơn một tiếng đồng hồ về hai kế hoạch hành quân qua Lào và Cam Bốt.  
[3]  Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Vitories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, tr. 230.
[4]  Alexander M. Haig mang chức đại tá khi mới về làm phụ tá quân sự cho Kissinger trong HĐANQG vào tháng 6-1969. Đến đầu năm 1973 Haig đã được thăng chứ đại tướng. Chức vụ sau cùng trong quân đội của Haig là đại tướng tổng tư lệnh tư lệnh quân đội đồng minh NATO.  
[5]  FRUS, sđd, Document 96.  
[6]  Sự thất bại về ước lượng của CIA đối với hàng xâm nhập qua đuờng Sihanoukville được giải thích trong một tài liệu của CIA, Thomas Ahern, Jr., Good Question, Wrong Answer: CIA’s Estimates Arms Traffic Throught Sihanoukville, Cambodia, During the Vietnam War. Trong hai năm rưởi (12-1966 đến 6-1969) CIA ước tính Đường Sihanoukville vận chuyển tổng cộng từ 6.500 tấn đến 11.500 tấn. Con số thật sự là 22.000 tấn. Theo tác giả Trường Sơn trong Cuộc Hành Trình Năm Ngàn Ngày Đêm, mỗi năm đường xâm nhập C-4 (Sihanoukville) cung cấp 10.000 tấn gạo và 5.000 tấn quân nhu quân dụng khác. Đọc Trường Sơn, sđd, tr. 145. Trong thông văn gởi Nixon ngày 21 tháng 1-1971, Kissinger đề nghị Giám Đốc CIA Helms nên “thay đổi” (giải nhiệm) một số nhân sự liên quan đến sự thất bại tình báo ở Sihanoukville. FRUS, sđd, Docemnet 107.
[7]  FRUS, sđd, Document 103. Bộ luật Cooper-Church, phê chuẩn tháng 6-1970, cấm quân đội xài tiền cho Cam Bốt; và cấm quân tác chiến Mỹ có mặt ở Cam Bốt và Lào (Public Law 91-626. Section 7).  
[8]  Trên thực tế, vào tháng 5-1972, Hoa Kỳ chỉ còn 69.00 ngàn quân ở Việt Nam; và 24.000 vào cuối năm. Khi CSVN tấn công vào tháng 4, MACV chỉ có hơn 400 trăm lính được liệt vào lọai tác chiến, trong tổng số quân hơn 100.000. Nguyên năm 1972, Mỹ chỉ có 300 tử thương. Đọc Peter Braestrup, chủ biên, Vietnam as History, phần phụ lục.
[9]  Ủy Ban Hành Động Đặc Biệt (Washington Special Actions Group) là một ủy ban gồm những thẩm quyền hàng thứ nhì của các bộ và cơ quan, như là phó bộ trưởng, phó giám đốc CIA, hay là người được ủy quyền để quyết định thay cho thẩm quyền của cơ quan. Đây là một lối tổ chức để tránh đụng chạm giữa các bộ trưởng: Trước mặt tổng thống họ không muốn đôi co hay có ý kiến ngược lại nhau. … Nhưng sau đó họ ủy quyền cho phụ tá quyết định thay họ. Buổi họp ngày 18 có bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng và giám đốc CIA; ngày 19 thì chỉ có những ông phó, nhưng đó là những người quyết định. Buổi họp ngày 19-1-1971 nằm trong FRUS, sđd, Document 105.    
[10]  Phó Ngoại Trưởng U. Alexis Johnson nói chính ông đã đề nghị đánh qua Lào từ năm 1965. Nhưng đề nghị bị phủ quyết vì theo ước tính lúc đó, cuộc hành quân cần ít nhất là sáu sư đoàn. Johnson đến Sài Gòn với Đại Sứ Henry Cabot Lodge vào năm 1963.  
[11]  FRUS, sđd, Document 109. Điện văn từ BTMLQ gởi CINCPAC và MACV ngày 26 tháng 1, bắt đầu, “mặc dù chúng ta đã “cày” tới lui vấn đề này nhiều lần, nhưng tôi bị hỏi lại là quân đội VNCH có thể thực hiện cuộc hành quân mà không cần trực thăng không vận của Hoa Kỳ.”  
[12]  The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 5, cước chú 11.



 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 07:22:07 AM
CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.
[Tiếp theo #25]

LS719 Nhìn Từ MACV
Ở Sài Gòn, LS719 được chánh thức nhắc đến trong buổi họp cập nhật tình báo hàng tuần ngày 28 tháng 11-1970. Đại Tướng Frederick Weyand, thay tướng Abrams chủ toạ buổi họp, nói tướng Abrams đang thảo luận chi tiết với Đại Tướng Cao Văn Viên. Hai ngày sau, 1 tháng 12-1970, cũng trong buổi họp tương tự dưới sự có mặt của Abrams, Thiếu Tướng William Potts, chỉ huy trưởng Phòng 2 MACV mở đầu: “Đễ chuẩn bị cho buổi họp của đại tướng và Đại Tướng Viên trưa nay, chúng ta sẽ bắt đầu về lưu lượng xe vận tải xâm nhập …” [1] Như vậy, có thể nói BTTM VNCH đã được MACV dọ hỏi ý kiến về kế hoạch LS719 sớm nhất là từ ngày 28 tháng 11. Theo Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, đầu tháng 1-1971 tướng Abrams gọi tướng Viên, đề nghị cách chánh thức về kế hoạch LS719. Vài ngày sau tướng Abrams gặp tướng Viên với bản đồ và trình bài kế họach của MACV. [2]
Kế hoạch của MACV cho mùa khô 1971. (1) hành quân qua Cam Bốt: Một lực lượng từ 20.000 đến 22.000 quân sẽ tấn công Cam Bốt bằng ba hướng. Một hướng đi theo Đường 7 đánh qua Chup và về Kampong Cham; hướng thứ hai đánh về Snoul và Kratie; và cánh quân thứ ba theo quốc lộ 1 đánh về hướng tây bắc. Sau khi thanh toán được mục tiêu, hai cánh quân hướng Kampong Cham và Kratie sẽ đi vòng lại để bắt tay với cánh quân trên quốc lộ 1. Cùng lúc, dọc theo biên giới, quân cơ hữu của Quân Đoàn IV sẽ đánh vào sào huyệt của B-2 ở Núi Thất Sơn, Núi Ba Thê. Hai lực lượng tổng trừ bị TQLC và Nhảy Dù sẽ có mặt trong những cánh quân đánh qua Cam Bốt. Nhưng đó chỉ là kế nghi binh, vì hai lực lượng tổng trừ bị sẽ được di chuyển ra Quân Đoàn I, khi Giai Đoạn II của hành quân LS719 bắt đầu. Cuộc Hành quân qua Cam Bốt được đặt tên là Toàn Thắng 1/71. (2)  Hành Quân qua Hạ Lào: hành quân có bốn giai đọan. Giai Đoạn I: Một lực lượng cơ giới của Hoa Kỳ sẽ dọn Đường 9 từ Đông Hà đến phi trường Khe Sanh. Phi trường Khe Sanh sẽ được tái thiết và đây sẽ là địa điểm tiếp liệu và bộ tư lệnh tiền phương của cuộc hành quân. Giai Đoạn II: Trong khi quân bộ binh và thiết kỵ tấn công theo Đường 9 về hướng Tchepone (căn cứ tiếp liệu 604), một lực lượng Nhảy Dù sẽ đổ bộ chiếm Tchepone và giữ phi trường Tchepone. Giai Đọan III: Một khi Tchepone và Đường 9 được bảo đảm an toàn, các toán quân sẽ bung ra lục soát, phá hủy những kho hàng của Binh Trạm 33 trong vùng. Giai Đọan IV: Giai đoạn này tùy thuộc vào điều kiện phát triển của Giai Đoạn III. Nếu điều kiện xảy ra như tiên liệu, quân từ Tchepone sẽ đánh vòng lại hướng tây nam, nhắm vào căn cứ tiếp liệu 611 (thung lũng A Shau) đề bắt tay với một lực lượng từ biên giới đánh ra. [3] Hành quân Toàn Thắng 1/71 (TT1/71) sẽ bắt đầu 15 tháng 1; Giai Đoạn I của LS719 bắt đầu 30 tháng 1; Giai Đoạn II, ngày 7 hay 8 tháng 2. Hoa Kỳ sẽ yểm trợ không vận, không quân chiến thuật, chiến lược, và pháo binh. Đó là kế hoạch từ MACV đề nghị cho VNCH và BTMLQ Hoa Kỳ, và Tòa Bạch Ốc — cho đến ngày 19 tháng 1-1971. Ở đây chúng ta thấy sự vô lý và mâu thuẩn của một kế hoạch về phương diện tâm lý và đột xuất (bất ngờ). Về tâm lý, một kế hoạch hành quân cấp quân đoàn, khởi động ở hai mặt trận cùng lúc … nhưng phải chần chờ, thay đổi, thêm vào, bớt ra chỉ vì khó khăn về chính trị và tài chánh. Nhưng cũng vì lợi thế chính trị và tài chánh nên mới có kế hoạch này. Như đề cập ở đọan trên, chánh phủ Nixon thấy trong tài khóa sắp đến ngân sách không còn cho phép đánh mạnh và giữ lại nhiều quân ở chiến trường Việt Nam. Năm 1971 là năm cuối cùng MACV còn quân và còn tiền đủ để hành quân lớn. Ngoài khó khăn tài chánh đó, quốc hội đã và sẽ tiếp tục ra nhiều bộ luật để khóa tay phía hành pháp về những hoạt động quân sự ở Đông Dương (bộ luật Church-Cooper là một thí dụ). Nói một cách khác, phải hành quân lớn vì sẽ hết tiền và hết phép để đánh. Về tính chất bất ngờ của cuộc hành quân: động binh hai quân đoàn cho hai, ba mặt trận cùng lúc thì khó giữ kín bí mật; ở đây bí mật còn khó giữ kín hơn khi cấp trên không cho câu trả lời xác định để chuẩn bị động binh kịp thời. Từ ngày 13 tháng 1, BTTM và MACV đã cho sọan thảo kế hoạch hành quân cho c ác qu ân binh chủng, và báo động các đơn vị có trách nhiệm chuẩn bị. Chỉ còn 11 ngày nữa là ngày hành quân (ngày 30 tháng 1, theo kế họach), nhưng đến ngày 19 cấp trên vẩn chưa giải quyết được khó khăn của họ. [4]

LS719 Nhìn Từ BTTM VNCH
Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa nhận kế hoạch của Hoa Kỳ không phải không có ý kiến trái lại. Tổng Thống Thiệu và Đại Tướng Viên có nói cho Đại Tướng Abrams ý kiến của họ.
Ngày 17 tháng 12, khi được tướng Haig trình bày kế hoạch hành quân Cam Bốt và Lào, Tổng Thống Thiệu nói lên ý kiến của ông. Những gì ông Thiệu trình bày không sai sự thật về phương diện quân sự và chính trị. Tổng Thống Thiệu nói ông hoàn toàn đồng ý với kế hoạch đánh qua Lào, nhưng hành quân qua Cam Bốt thì khó khăn. Ông Thiệu nói Cam Bốt chưa có một quân đội, chưa có một kế hoạch, và chưa có  dịp “đụng” mạnh với QĐND. Và VNCH không thể giúp họ mỗi lần họ cần tiếp cứu. Trong những cuộc hành quân ở Cam Bốt gần đây (hành quân sau tháng 5-1970 và trước TT1/71) VNCH không nhận được yểm trợ nào từ MACV. Ông Thiệu nói năm nay là năm bầu cử tổng thống VNCH, và QĐND/QGP sẽ dùng mọi nỗ lực đánh mạnh để gây tiếng xấu cho chánh phủ sắp tới (mà ông Thiệu là một ứng cử viên). Làm sao VNCH có thể đem một số quân lớn hành quân qua Cam Bốt trong khi quân đội Mỹ rút đi một cách nhanh chóng. Hiện thời Mỹ chỉ còn một lữ đoàn và một tiểu đoàn Không Kỵ cho nguyên Quân Đoàn III, và chỉ với nhiệm vụ bảo vệ doanh trại. Ông Thiệu đề nghị, nếu Hoa Kỳ muốn VNCH hành quân qua Hạ Lào và Cam Bốt, một số điều kiện phải được thoả mãn: Giới hạn số quân rút đi trong thời gian tháng 5 đến tháng 7-1971; sau đó ngừng rút quân cho đến sau bầu cử (bầu cử tổng thống VNCH, 3-10-1971); Cùng lúc với chương trình rút quân, hoa Kỳ phải đưa ra một kế hoạch kinh tế dài hạn để người dân miền nam không có cảm tưởng Hoa Kỳ đang bỏ rơi họ. [5]
Ý kiến của tướng Viên về LS719. Đánh qua Tchepone là kế hoạch tướng Viên đề nghị từ lâu. Nhưng ông không muốn thấy đó như một hành quân dài hạn. Tướng Viên đề nghị một cuộc đột kích bằng Nhảy Dù thẳng vào Tchepone; rồi từ Tchepone đáng ngược ra Đường 9 để bắt tay với quân bộ binh đánh từ biên giới qua. Nhưng kế hoạch của tướng Viên không được chấp thuận vì không có yểm trợ từ MACV. Tướng Abrams nghe và nể trọng ý kiến tướng Viên. Nhưng với giới hạn thẩm quyền của ông, ông không thể làm gì hơn. Rất nhiều lần tướng Abrams thổ lộ với các tướng lãnh là ông có lỗi, và thấy ân hận vì đã thất hứa với tướng Viên. [6]   
Sau chuyến viếng thăm của tướng Haig, BTTM và MACV lập tức phân công và giao trách nhiệm cho các sĩ quan Phòng 3. Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ và Thiếu Tướng Donald H. Cowles đại diện liên lạc cho mỗi bên. Giữa tháng 1 tướng Thọ và tướng Cowles bay ra Quân Đoàn I để thuyết trình cho tư lệnh Quân Đoàn XXIV và Quân Đoàn I, Trung Tướng James Sutherland và Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Vài hôm sau, một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh Việt-Mỹ được thông báo chuẩn bị kế hoạch LS719. Phải nhấn mạnh một chi tiết quan trọng: vì tính cách tối mật của cuộc hành quân, chỉ một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh thiết yếu mới nhận được thông báo lệnh chuẩn bị hành quân. Các đơn vị còn lại thì phải chờ đến ngày 30 tháng 1 mới được thông báo qua lệnh hành quân của Quân Đoàn I. 

LS719 Nhìn Từ Hà Nội       
Hà Nội đã biết gì về kế hoạch LS719? Sau cuộc hành quân hơn 40 năm, chúng ta vẫn không có tài liệu nào chứng minh Hà Nội biết, hay có tin tức trước về LS719. Vài quyển sách gần đây viết về các điệp viên QĐND/QGP đã biết trước cuộc hành quân qua Hạ Lào. Tuy nhiên với tất cả những gì đã được viết và nói, chúng ta có thể khẳn định Hà Nội không biết chắc chắn  về kế hoạch HQLS719 — căn cứ vào những tài liệu đến từ QĐND/QGP. [7]
Một điều chúng ta có thể xác định chắc chắn là QĐND/QGP đã tiên đoán đúng kế hoạch quân sự của VNCH và Hoa Kỳ. Căn cứ vào một chuỗi sự kiện về quân sự và chính trị xảy ra từ đầu năm 1970 cho đến cuối năm đó, QĐND/QGP tiên liệu được kế hoạch lớn, nếu không nói là táo bạo của Mỹ và VNCH. Trong một lần nói chuyện với ký giả tây phương ở Hà Nội cuối năm 1970, cựu Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói Tổng Thống Nixon có khuynh hướng làm những việc táo bạo … nên chánh phủ QĐND/QGP phải dự liệu những viễn tượng bất ngờ và táo bạo nhất của Mỹ. Khi nói “táo bạo,” Ngoại Trưởng Thạch muốn nói đến chuyện LLĐB Mỹ đột kích vào Binh Trạm 37 ở Bản Bạc; và vụ đột kích cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây. Hà Nội suy luận, nếu Mỹ dám nhảy ra Sơn Tây, thì Mỹ có thể tấn công ở bất cứ chiến trường nào. [8] Với suy luận như vậy, QĐND/QGP tiên đoán Tchepone ở Hạ Lào; hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tỉnh; và Cam Bốt có thể sẽ là mục tiêu mới của Hoa Kỳ và VNCH. Suy luận của các chiến lược gia QĐND/QGP không sai. Theo Thượng Tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Sư Đoàn 308, từ tháng 7-1970 ông đã được lệnh đi quan sát địa hình vùng Lao Bảo, Bản Đông và Tchepone. Tướng An cho biết Quân Ủy Trung Ương tiên liệu Bản Đông và Tchepone có thể là mục tiêu tấn công của VNCH trong tương lai gần. [9] Cũng vào thời gian trên, một mặt trận được thành lập, có tên là Mặt Trận 702, với binh đoàn B70 là bộ tư lệnh điều khiển ba Sư Đoàn 304, 308, 320. Sau Mặt Trận 702, BĐTS thiếp lập thêm một binh trạm mới có tên là Binh Trạm 27, đóng ở phía tây nam Quảng Bình, nằm giữa các Binh Trạm quan trọng như 9 và 14. Binh Trạm 27 có vai trò phối hợp các binh trạm của BĐTS và Tổng Cục Hậu Cần.
Các chiến lược gia Hà Nội không có được tin trước về LS719, nhưng họ ước lượng suy tính của Hoa Kỳ đúng. Vì nếu Hà Nội đã có tin về LS719 trước ngày 30 tháng 1, thì họ đã không động binh quá chậm như đã xảy ra: Ngày 30 tháng 1-1971 các trung đoàn tiếp viện của QĐND/QGP mới lần lược di chuyển vào chiến trường. Sư Đoàn 324 đến ngày 15 tháng 2 mới có mặt ở tây nam Lao Bảo để tác chiến. Theo tác giả Nguyễn Hữu An, trong cuộc chuyện lần cuối với tướng Võ Nguyễn Giáp, ông Giáp chỉ suy luận Mỹ có thể tấn công Hạ Lào hay Quảng Bình. Rồi sau đó, ông và tướng Vương Thừa Vũ, cùng một số sĩ quan đi dọc bờ biển từ Nghệ An xuống Quảng Bình quan sát địa hình.  Vì từ những chưa xác định rõ mục tiêu của Quân Ủy Trung Ương, Sư Đoàn 308 đến ngày 2 tháng 2 mới lên đường hành quân.  [10] Đến tuần lễ đầu tháng 12 cơ cấu hậu cần phục vụ cho BTL B70 mới được hoàn chỉnh và thông báo. Một chi tiết khác cho thấy Quân Ủy Trung Ương không chắc chắn mục tiêu nào sẽ bị tấn công, khi đầu tháng 12 BTL B70 chỉ thị hậu cần của họ phải chuẩn bị ứng chiến cho mặt trận phía nam Quân Khu 4 (Hà Tỉnh xuống Quảng Bình), song song với chuẩn bị cho mặt trận Đường 9. [11]

Cước Chú:
[1]  Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 507; A Better War, tr. . Nội dung buổi họp ngày 28 tháng 11 chưa được giải mật, tác giả trích theo Lewis Sorley. Nội dung buổi họp 1 tháng 12 nằm trong The Abrams Tapes.
[2]  Nguyễn Duy Hinh, Operation Lam Son 719, tr. 33.
[3]  FRUS, sđd, Document 105; Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 33.
[4]  Ngày 28 Bộ Ngọai Giao yêu cầu Đại Sứ Bunker nói với Tổng Thống Thiệu là họ có thể hồi lại Giai Đoạn II của Kế Hoạch A Shau (A Shau là ngụy danh của Tchepone trong thông văn và truyền tin). Nhưng, họ yêu cầu VNCH sẳn sàng di chuyển quân (Nhảy Dù và TQLC) bắt đấu từ đêm 30-31. FRUS, sđd, Document 113, chú thích 2.
[5]  FRUS, sđd, Document 91.
[6]  Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 33. Thiếu Tướng Hinh viết, tướng Viên chấp kế hoạch của MACV vì cần yểm trợ của Hoa Kỳ, và không đề cập cho tướng Abrams nghe về ý kiến riêng của ông. Trước đó tướng Viên đã ra lệnh cho Phòng 3 BTTM tìm những bãi đổ bộ dù ở Tchepone. “Tôi vẫn thường nói, ngày vui nhất của tôi là ngày Đại Tướng Cao Văn Viên gọi tôi và xài xể tôi. Ngày đó là ngày tôi vui nhất. Nhưng tướng Viên sẽ không làm chuyện đó; ông ta quá lịch sự. Nhưng tôi muốn ông ta làm như vậy.” Sorley, The Abrams Tapes, tr. 302-316.   
[7]  Tác giả Larry Berman trong Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, tr. 184-185, viết ông Ẩn biết được kế hoạch LS719 từ sĩ quan cao cấp Nhảy Dù và LLĐB. Và đó là tất cả những gì ông Ẩn nói. Ông không nói đã biết được gì một cách cụ thể và chi tiết hơn.
[8]  “Đoán đúng tính cách liều lĩnh và hiếu chiến của Nixon,” đọc trong Merle L. Pribbenow, Victory in Vietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, 1954-1975, tr. 272. Đây là bản dịch Anh ngữ Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Tập II: Thời Kỳ Trưởng Thành của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975), Seymour Hersch, The Price of Power, tr. 306.
[9]  Thượng Tướng Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr. 104-106.
[10]  Nguyễn Hữu An, sđd, tr. 106-109.
[11]  Tổng Cục Hậu Cần, Công Tác Hậu Cần Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào, tr. 75, 79, 137, 138, 139, 216. Lý do phải chuẩn bị cho Hà Tỉnh-Quảng Bình vì BTL MACV có dàn cảnh nghi binh như sắp đổ bộ lên hướng đó. Báo cáo của Cục hậu Cần B70 viết: “B70 đang chuẩn bị kế hoạch tiến công vào một chiến trường khác (nếu địch không ra) thì địch tập kết quân ở Đông Hà, chuẩn bị đánh ra Đường 9.” Ở đoạn kế tiếp, báo cáo viết đến đêm 2 tháng 2, thì Đảng Ủy của B70 mới xác định được kế hoạch tác chiến cụ thể. Sđd, tr. 139.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 16 Tháng Bảy, 2014, 07:36:50 AM

CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.
[Tiếp theo #26]

Ngày 30 tháng 1, cơ quan tình báo điện tử của MACV và  NSA bắt được truyền tin từ các Binh Trạm 9, 27, 33, 34, cho biết họ nhận được lệnh ứng chiến trong trường hợp bị tấn công từ Hướng A Shau hay Đường 9. Truyền tin đồng thời cho biết vị trí của các đơn vị chủ lực quân đội QĐND/QGP: Sư Đoàn 304, 308, 312 và 325 vẫn còn tại chổ; đã có mặt tại Lào là là bộ chỉ huy  của hai Trung Đoàn 165 và 209; Sư Đoàn 316; Sư Đoàn 320 vẫn còn ở bắc Quảng Bình; bộ chỉ huy của Trung Đoàn 64 đang nam-đông-nam Bản Karai, trên đường vào nam. [1]     
Hà Nội đã theo dõi những biến chuyển ngoại giao trong năm 1970, và không khó khăn khi tiên đoán kế hoạch đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào của VNCH và Hoa Kỳ. Tháng 10-1970 Thủ Tướng Souvanna Phouma đến Tòa Bạch Ốc diện kiến Nixon; tháng 12, tướng Haig đi Nam Vang, rồi Sài Gòn. Lần trước, tháng 3-1970, Haig rời Nam Vang thì vài tháng sau quân lực Việt-Mỹ tấn công qua Cam Bốt. Thủ Tướng Phouma qua thăm viếng Hoa Thịnh Đốn vào tháng 10 là một dấu hiệu rõ ràng nhất. Chup, Kratie, Bản Đông và Tchepone sẽ là những mục tiêu sắp tới. Ngày 2 tháng 2 MACV cho biết bắt được những điện tín khác nhau từ Quảng Bình cho biết, “Quân đội đồng minh, gồm một sư đoàn Nhảy Dù; lữ đoàn TQLC và đơn vị Thiết Kỵ.” Trong khi một điện tín khác kêu gọi đơn vị chuẩn bị tác chiến chống quân đồng minh khi họ “đổ bộ lên bờ biển.” MACV suy luận địch chưa xác định được VNCH và Hoa Kỳ sẽ thật sự hành quân ở đâu. [2] Có thể QĐND/QGP không chắc chắn mục tiêu nào sẽ bị tấn công, nhưng họ đã chuẩn bị cho tất cả các điểm nghi ngờ. Cơ quan nghe lén và truyền tin điện tử NSA cho biết QĐND/QGP đã chuẩn bị cho vùng Tchepone, Bản Đông, A Shau từ đầu tháng 10. Tháng 11 và 12, tiếp liệu chuyên chở vào các binh trạm gia tăng nhiều hơn. MACV đồng ý với NSA về sự gia tăng hậu cần của các binh trạm: máy báo động lưu lượng xe trên đHCM chuyên chở tăng lên 2860 lần vào tháng 12, so với trung bình 865 lần trong những trong tháng trước. [3]
Ngày 15 tháng 1-1971 Hành Quân Toàn Thắng 1/71 khai diễn, với một lực lượng 12.000 quân đánh qua Cam Bốt theo hướng quốc lộ 1. Ngày 30, cánh quân thiết kỵ và bộ binh của Quân Đoàn III đánh theo Đường 7 về hướng đồn điền Chup và Kompong Som. Một vài đơn vị Nhảy Dù và TQLC có mặt ở vùng hành quân TT1/71, nhưng đó chỉ là kế nghi binh. Ở Quân Đoàn IV, các đơn vị cơ hữu của quân đoàn đánh vào Núi Thất Sơn, Núi Ba Thê, U Minh, và dọc theo hành lang Tây Ninh-biên giới Cam Bốt. [4]   
   Ở Quân Đoàn I, Giai Đoạn I của LS719 có hiệu lực từ rạng sáng 30 tháng 1. Cùng ngày, Giám Đốc CIA Richard Helms gởi cho Henry Kissinger một ước lượng trận liệt của QĐND/QGP trong vùng hành quân. [5] Ngày hôm sau 31, BTL Quân Đoàn I và Quân Đoàn XXIV ra quân lệnh cho LS719. [6] Hai ngày sau, 3 tháng 2, Sư Đoàn Nhảy Dù ra quân lệnh hành quân. Ngày 4 tháng 2, Tổng Thống Nixon cho phép tiếp tục Giai Đọan II LS719. Hành Quân Lam Sơn 719 (HQ/LS719) đang thành hình.

Giai Đoạn I/ Dewey Canyon II
Giai đọan chuẩn bị cho LS719 được gọi Giai Đoạn I, và được đặt tên Hành Quân Dewey Canyon II. Giai Đoạn I bắt đầu rạng sáng ngày 30 tháng 1, khi Lữ Đoàn 5 Cơ Giới Hoa Kỳ dọn và sửa Đường 9 từ Đông Hà về Lao Bảo. Lực lượng này có trách nhiệm bảo đảm an ninh lưu thông trên Đường 9, và bảo đảm an ninh cho phi trường Khe Sanh sau khi được trùng tu. Khe Sanh sẽ là bản doanh của nhiều bộ chi huy tiền phương của nhiều đơn vị, và là trung tâm nhận, giao đồ tiếp liệu cho mặt trận. Tên Dewey Canyon II được Đô Đốc Moorer của BTMLQ chọn từ giữa tháng 1 trong một buổi thuyết trình ở Tòa Bạch Ốc. Lý do chọn tên Dewey Canyon là để đánh lừa đối phương! Ông giải thích, một năm trước, cuộc hành quân đánh qua căn cứ hậu cần 911 ở A Shau có tên là Dewey Canyon. Bây giờ lấy tên Dewey Canyon II, đối phương có thể suy đoán đây là cuộc hành quân đánh trở lại vùng thung lũng A Shau. [7] Tương tự, những mục tiêu chánh của cuộc hành quân đều được ngụy danh để đánh lạc hướng địch: A Shau là Tchepone; A Luoi là Bản Đông; Cửa Việt và Cửa Tùng là ngụy danh cho hai căn cứ hậu cần 604 và 609, ở phía tây nam Co Roc, một đỉnh núi đá vôi cao ở sát biên giới, nhìn xuống Đường 9. Ngụy danh “Cửa Việt, Cửa Tùng” nằm trong kế nghi binh, như muốn đổ bộ ra Quảng Bình, Vĩnh Linh.
Giai Đoạn I hoàn toàn do Quân Đoàn XXIV Lục Quân Hoa Kỳ phụ trách. Quân Đoàn XXIV đến Việt Nam từ tháng 9, 1968, có bản doanh ở Phú Bài. Sau khi BTL Quân Đoàn III TQLC rời Việt Nam, Quân Đoàn XXIV thay TQLC trở thành BTL Cố Vấn cho Quân Đoàn I, và phụ trách chiến trường ở năm tỉnh của Vùng I. Quân đoàn có dưới tay Sư Đoàn 23 Bộ Binh; Sư Đoàn Nhảy Dù 101; Lữ Đoàn Khinh Binh 196; Lữ Đoàn 5 Cơ Giới; 10 tiểu đoàn pháo binh; và khoảng 600 trực thăng (450 của Liên Đoàn Không Vận 101/Sư Đoàn 101 Nhảy Dù; số còn lại là cơ hữu của quân đoàn). Tư Lệnh Quân Đoàn Trung Tướng James W. Sutherland, một sĩ quan binh chủng Thiếp Giáp, đã từng phục vụ dưới quyền Đại Tướng Abrams vào cuối thập niên 50 ở Tây Đức.
   Giai Đoạn I/ Dewey Canyon II kết thúc ngày 6 tháng 2. Quốc lộ 9 từ Đông Hà về Lao Bảo được an ninh tương đối. Phi trường Khe Sanh đang được tái thiết (bỏ hoang từ năm 1968), nhưng chỉ nhận được phi cơ có trọng tải nhẹ, chưa nhận được phi cơ vận tải nặng như C-130 trở lên. (đến ngày 15 tháng 2 C-130 mới đáp phi vụ đầu tiên). Từ ngày 4 đến ngày 6 các lực lượng cơ hữu hay thống thuộc Quân Đoàn I trong HQ/LS719 lần lược đổ quân xuống Khe Sanh. Ở Tòa Nhà Trắng trong tuần lễ 30 tháng 1 đến 6 tháng 2, Đô Đốc Moorer, Kissinger và các ủy viên của HĐANQG liên tục họp và cập nhật tình trạng của Hành Quân Dewey Canyon II: Giai Đọan I kết thúc với bốn quân nhân Mỹ tử thương, ba trực thăng bị bắn rơi, với phi hành đoàn của một trong ba bị mất tích.
Ngày 6 tháng 2, MACV báo cáo nhiều tin tức không có lợi cho tình hình tổng quát ở mặt trận LS719: Mưa lâm râm liên tục ở phía đông Trường Sơn; vận tải của BĐTS gia tăng hoạt động tiếp liệu; 518 xe vận tải của BĐTS vượt khỏi những trọng điểm oanh tạc của không lực Hoa Kỳ. Tám mươi ba, trong số 518 chuyến xe hàng này xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Tin tức bi quan nhất, là không lực Mỹ không chận được đường tiếp liệu của QĐND/QGP qua Hạ Lào. “Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm. … Chúng tôi gắn máy báo động; dội bom, gài bom CBUs … tất cả những gì làm được ... Nhưng địch vẫn đi được qua lối đó,” một sĩ quan đại diện Không Lực 7 nói với Đại Tướng Abrams. [8] BĐTS đang có 9.000 xe đang hoạt động, người sĩ quan Không Quân cho biết thêm.       

Cước Chú:
[1]  Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 527.
[2]  Sorley, như trên, tr. 530.
[3]  NSA nghe truyền tin của các binh trạm từ tháng 10-1970, cho đến đầu tháng 2-1971. National Security Agency in Vietnam, tr. 576.
[4]  Cuộc hành quân từ Quân Đoàn 4 của tướng Ngô Quang Trưởng đánh theo quốc lộ 1 lên hướng bắc có tên là Cửu Long 44-02, khai diễn ngày 16 tháng 1-1971. Toàn Thắng 1/71 và Cửu Long 44-02 khai diễn gần như cùng lúc với Lam Sơn 719. Đọc, Đại Tướng Donn A. Starry, Mounted Combat in Vietnam, tr. 197. 
[5]  Lý do nhiều nguồn tin nói Kissinger là người chủ trương LS719, vì ông ta yêu cầu CIA cập nhật tin tức  từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2.
[6]  Lệnh hành quân của QĐ XXIV lưu hành ngày 23 tháng 1. Điều này hợp lý với chi tiết của Đại Úy Trương Duy Hy viết trong Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30: Ngày 25 tháng 1, ông được gọi về bộ chỉ huy tiểu đoàn pháo binh để được thông báo về HQ/LS719. Đọc Trương Duy Hy, sđd, tr. 5. Sách của tướng Nguyễn Duy Hinh viết, ngày 21 tháng 1, tướng Lãm và tướng Sutherland bay về Sài Gòn thuyết trình kế hoạch hành quân LS719 ở BTL MACV, rồi sau đó thuyết trình riêng cho Tổng Thống Thiệu chiều đó. Đọc Nguyễn Duy Hinh, Operation Lam Sơn 719, tr. 35. 
[7]  FRUS, sđd, Document 104, tr. 283. Trước Giai Đoạn I của LS719, thông văn của các thẩm quyền Mỹ dùng “Operation A Shau” để chỉ Tchepone/ LS719. Đến ngày 4 tháng 2, “Operation Lam Son 719” mới chánh thức xuất hiện trên thông văn Mỹ.
[8]  Lewis Sorly, The Abrams Tapes, tr. 531. Mỗi xe hàng có trọng tải trung bình là bốn tấn.




Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:17:48 PM
Đáng lẽ ra tôi phải tách ra làm 2 mảng song song, vừa tiếp tục mạch bài viết vừa bàn luận những trao đổi của tiên sinh nkp, nhưng quả thật sẽ rối/ lẫn vì nội dung khá bao hàm và hơi tham lam khi cái gì cũng muốn viết, muốn trao đổi ở các góc độ khác nhau dù ý nhỏ hay vấn đề không nặng trọng tâm. Mong tiên sinh nkp thông cảm,  ;D.
-----------------------------------

1. @fanlong74: tôi cũng có đọc các tài liệu và sách báo mô tả:
Trích dẫn
... về ông Phạm Xuân Ẩn có nhắc tới việc điều quân chờ sẵn ở khu vực Nam Lào trên cơ sở tinh tình báo về LS 719....



...Giữa tháng 1 tướng Thọ và tướng Cowles bay ra Quân Đoàn I để thuyết trình cho tư lệnh Quân Đoàn XXIV và Quân Đoàn I, Trung Tướng James Sutherland và Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Vài hôm sau, một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh Việt-Mỹ được thông báo chuẩn bị kế hoạch LS719. Phải nhấn mạnh một chi tiết quan trọng: vì tính cách tối mật của cuộc hành quân, chỉ một vài bộ chỉ huy và bộ tư lệnh thiết yếu mới nhận được thông báo lệnh chuẩn bị hành quân. Các đơn vị còn lại thì phải chờ đến ngày 30 tháng 1 mới được thông báo qua lệnh hành quân của Quân Đoàn I....
 

Điều hết sức đáng quý là ông Phạm Xuân Ẩn đã nêu bật được ý đồ của Mỹ + VNCH từ trong phôi thai khi muốn tiến hành Lam Sơn 719. Từ cơ sở thông tin tình báo chiến lược này, BTTM đã có những hoạch định và các phương án khác nhau cho các thế trận khác nhau. Tuy vậy, không thấy nói đến cụ thể của thời điểm/ khoảng thời gian báo tin - điều mà tôi rất ... rất muốn quan tâm và tìm hiểu,  ;).

Còn những kế hoạch tác chiến cụ thể và hoạch địch chiến thuật của chiến dịch này thì lại đang được cho là công của Ông Tống Văn Trinh - điệp viên tại Viêng Chăn tại thời điểm: "Trong dịp chuẩn bị đón Tết Tân-Hợi (1971)" tức khoảng giữa tháng 01/1971 -

nguồn: Báo QĐND (http://sknc.qdnd.vn/sukiennhanchung/vi-vn/89/70/79/79/79/201878/default.aspx)

Muốn biết độ chính xác của thông tin này đến đâu,  ;), xin mời tham khảo thông tin dưới đây:
- khoảng giữa năm 1970, F304 đã điều E24 vào nằm vùng tại địa bàn bắc đường 9, từ Lao Bảo - Khe Sanh sang đến điểm chốt cầu Kaki theo lệnh của BTL B70. Đúng ngày 15/01/1971, vào buổi sáng, trước 30 phút khi F304 khai mạc đại hội mừng công cấp sư đoàn thì có lệnh của Quân ủy Trung ương: điều động E66 F304 ngay lập tức vào chiến trường. Đại hội cấp F đã diễn ra chỉ trong 15 phút và ngày 23/01/1971, E66 đã có mặt tại vị trí quy định.

Vậy, thông tin này của tiên sinh nkp đã làm tôi khá ưu tư:
Trích dẫn
...Vắn tắt ở đây, nguồn từ MACV cho biết họ "đọc" đươc truyền tin của các binh trạm, cho biết QĐND chưa biết chac chan họ sẽ bi tấn công ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, hay ở Hạ Lào cho đến ngày 2 tháng 2....

2.
....Góp ý chung với t/s Quangcan và t/s Fanlong74:  Hai bác ghi chú sử liệu hoàn toàn hợp lý theo lý luận, QDND đã biết được ý định của VNCH-HK trong năm 1971; và QĐND biết được ý định đó một phần qua tin tình báo. Từ những yếu tố đó bộ TTM QĐND ước lượng đúng về hành quân LS719 ở Nam Lào. Nhưng theo tôi, bộ TTM QĐND ước lượng đúng không phải vì tin tình báo, mà vì QĐND muốn chuẩn bị cho mọi tình huống cho ba chiến trường ở ba xứ khác nhau. Và họ ước lượng đúng khi đối chiếu những giới hạn của đôi bên....

Tôi tán đồng việc cho rằng QĐVN đã đánh giá đúng và tiên lượng được về cuộc hành quân Lam Sơn 719 và vì thế kế hoạch A1 của chiến dịch đường 9 Nam Lào đã diễn ra theo lô gíc có sẵn. Ở đây, chỉ chia sẻ thêm một điểm nhỏ:
- từ thời điểm tháng 7/1970 đến tháng 10/1970, QUTW đã điều F2 thiếu và E141 ra đường 9 bắc quảng trị (khu vực mường phìn) để đứng chân và củng cố nhằm chuẩn bị cho chiến trường Tây Nguyên. Tuy vậy, tháng 9/1970, khi E28 thuộc BTL B3 Tây Nguyên sang Atopeu, Lào thì ngay lập tức E31 F2 được điều vào thay thế nhằm kịp tham gia chiến dịch Đắc Siêng/ Dak Seang 1970.

Như vậy, trong khoảng thời gian này, phải chăng QUTW đã đủ thông tin để nhận định với khoanh tròn giới hạn nhỏ dần mục tiêu rằng: "Mỹ + VNCH sẽ chủ động đánh lớn trong mùa khô 1971 hoặc tại Tây Nguyên hoặc tại đường 9 - hay cả hai".

Có một sự so sánh không hề nhẹ tại 2 khu vực không gian:
- không gian 1: dọc theo đường 9 từ đông sang tây, từ Lao bảo, Việt Nam sang Bản đông, Sê Pôn/ Tchepone, Mường Phìn/ Muang Phine, Muang Phan Lane/ Mường Phan Lan, Seno/ Sê Nô với trục dọc là đường 16 (đường 92 trên bản đồ) với 5-6 nhánh tỏa rộng cắt ngang đường 9 thọc xuống Nam - Hạ Lào.

- không gian 2: địa bàn ngã ba biên giới, từ đất VN sang Atopeu; trục xương sống yết hầu của B3 Tây Nguyên; từ đây hoàn toàn kiểm soát được tuyến hậu cần từ B3 vào B2 hay từ B3 xuống B1. Một khu vực Mỹ + VNCH rất quen thuộc và dày công nghiên cứu, rõ ràng và cụ thể với từng mốc tọa độ khác nhau (link dẫn chứng: đây. (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,24180.msg385807.html#msg385807))

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/Lamson7195_zps9aa50328.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/Lamson7195_zps9aa50328.jpg.html)

Chọn chiến trường nào là tùy thuộc quyền chủ động của Mỹ + VNCH, đánh lớn ở đâu trong mùa khô 1971 là tùy thuộc ở họ. Chỉ với những mốc thời gian cụ thể khác nhau, qua quá trình phân tích và tổng hợp thông tin tình báo, chiến lược, chiến thuật thì phía QĐ VN mới có thể dần xác định, giới hạn và cụ thể hóa mục tiêu đối phương lựa chọn.  ;)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:39:28 PM
Trích dẫn
...Cũng trong nhiều lần nói chuyện với Đô Đốc McCain; với tham mưu trưởng BTMLQ Earl Wheeler; với bộ trưởng quốc phòng Melvin Lair, tướng Abrams nhắc tới lui nhiều lần tên của năm căn hậu cần 604, 611, 609, 352, và 701: MACV muốn được phép tấn công vào những căn cứ đó. Căn cứ 604 là bản doanh của Binh Trạm 33 ở Tchepone; 611 là Binh Trạm 42 ở A Shau như đã đề cặp; 609 là Binh Trạm 35 v à 37 ở Bản Bạc phụ trách tiếp liệu cho B-3; các căn cứ 350-354 và 701 là những căn cứ hậu cần bên trong nội địa Cam Bốt, phụ trách tiếp liệu cho bộ tư lệnh lớn nhất miền nam, BTL B-2 (B-2 có quân ở 32 tỉnh trong 44 tỉnh của VNCH). ...

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson719_01_zpsa840ede7.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson719_01_zpsa840ede7.jpg.html)



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:44:45 PM
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson719_04_zps010c8418.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson719_04_zps010c8418.jpg.html)

Trích dẫn
Kết thúc hội nghị, tôi cùng Cục trường xăng dầu Tổng cục Hậu cần Phan Tử Quang và anh Mai Trọng Phước, người được giao trực tiếp chỉ đạo thi công, xuống kiểm tra việc lắp đặt tuyến đường ống xăng dầu. Lúc này, tuyến đường ống K200 từ Ra Mai đã được kéo dài vào khu vực K5, điểm mút chót ở giữa một cánh rừng già, khá bằng phẳng, phía nam Bản Cọ (bắc đường 9 - khu vực Sê Pôn)....Ngày 22 tháng 12 năm 1969, đúng vào dịp kỷ niệm tròn một phần tư thế kỷ ngày thành lập Quân đội, lễ khánh thành tuyến đường ống xăng dầu K200 - Bản Cọ được tổ chức tại K5.
      Trong thời khắc rất đỗi thiêng liêng này, trước đông đảo cán bộ, chiến sĩ, tôi xúc động nói:
      - Hôm nay chúng ta đang chứng kiến một sự kiện có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Đoàn 559 đưa vào vận hành đoạn đầu tuyến đường ống dẫn xăng dầu chiến lược nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam. Với sự kiện này, bộ đội Trường Sơn có thêm một phương thức vận tải xăng dầu mới, hiện đại, một binh chủng mới. Từ nay, chúng ta cơ bản khắc phục được tổn thất lớn về xăng dầu do phải sử dụng ô tô chuyển bằng phuy, hoặc xi-téc. Đây là một bước ngoặt quyết định, bảo đảm vận tải hàng hoá và cơ động binh chủng kỹ thuật quy mô lớn.
      Thay mặt Bộ Tư lệnh 559, tôi bày tỏ lòng cảm ơn đồng chí Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần - "Tổng công trình sư" tuyến đường ống xăng dầu Trường Sơn; cảm ơn những người lính đường ống, công binh, thanh niên xung phong, các binh trạm… đã đổi không ít sức lực máu xương để có được tuyến đường ống mang theo "dòng nước ấm thần kỳ" đáp ứng yêu cầu đánh to, thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường.
      Sau buổi lễ trang nghiêm, xúc động, mọi người tận mắt chứng kiến một công trình đặc biệt, bốn vòi cùng lúc tiếp xăng cho một tiểu đoàn xe chỉ mất một giờ rưỡi; nếu cấp phát qua phuy hoặc xi- téc như trước đây phải mất hơn ba giờ.
      Tôi như thấy qua dòng xăng tuôn chảy, bóng dáng hàng trăm chiến sĩ đang vượt núi, băng sông gùỉ cõng những ba lô xăng, can xăng năm nào!
      Chỉ những người trong cuộc, hoặc chứng kiến những tháng ngày đắng cay, cơ cực, khi mà một giọt xăng vào tới chiến trường được đổi bằng cả bát mồ hôi, thậm chí bằng máu, mới ý thức được tầm thế lớn lao của sự kiện đưa đường ống xăng dầu Trường Sơn vào vận hành.
      Dòng xăng dầu theo tuyến ống vào tới Sê Pôn cung cấp trực tiếp cho Binh trạm 32 và một số binh trạm khác là một sự kiện lớn,...

nguồn: Đường Xuyên Trường Sơn - Đồng Sỹ Nguyên.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:45:28 PM
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson719_03_zps8c58560a.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson719_03_zps8c58560a.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:45:50 PM
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson719_02_zps4e60a06b.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson719_02_zps4e60a06b.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 03:46:13 PM
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/lamson719_zpsa22c5383.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/lamson719_zpsa22c5383.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 04:01:57 PM
Trích dẫn
...Trong thời gian khó khăn 1969-1970, dù đã bới đi 50 ngàn cán bộ và quân bộ binh ở B-3, và trên vùng hoạt động của Binh Đoàn Trường Sơn (BĐTS), nhưng con đường vận tải chiến lược HCM vẫn phải được họat động; chi viện phải tiếp tục. Giữ được khí thế phản công trong chiến thuật "chia đều binh ra" nầy, gây một ảnh hưởng mạnh đối vơi đối phương. [trong một bưổi thuyết trình ở bộ lư lệnh MACV, ngưòi tướng chi huy trưởng phòng 2 lưu ý cử tọa như sau về lực lượng của QĐND/QGP "Phải nhớ, chúng ta đang đối diện với bảy chiến trường: Thượng Lào; Đường vận tải chiến lược HCM; chiến trường Cam Bốt; B-2; Quân Khu 5 [B-1]; B-5; và Trị-Thiên-Huế." [Nguồn: the Abrams Tapes; về thời gian và quân số giảm đi ở B-3/ Trường Sơn, đến từ sách của các tướng Đặng Vũ Hiệp/ Đồng Sĩ Nguyên/ Nguyễn Đức Huy].

Tôi hơi ưu tư về việc dẫn nguồn của tiên sinh nkp về sách/ hồi ký của tướng Nguyễn Đức Huy.
Theo tôi được biết khoảng thời gian 1970, Ông Nguyễn Đức Huy giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 9 sư đoàn 304. Trong lúc hành quân vào chiến trường chuẩn bị cho chiến đường 9 Nam Lào thì ông bị lên cơn sốt rét ác tính, đi tiểu ra máu; ngay lập tức ông phải vào Viện 41 Quảng Bình, rồi Viện quân y 108, Hà Nội và nằm lại đó 3 tháng,  ;D.

Thông tin từ thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, tôi sẽ xem lại sớm,  ;D.

p/s: nếu qua ngày mà tiên sinh nkp sửa bài và cập nhật thông tin mới cho bài viết là một điều hết sức đáng quý, trân trọng vì đã cân nhắc từng câu chữ để quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi hơn - tuy nhiên, xin vui lòng cho tôi biết để đọc lại và cùng xem xét. Xin cảm ơn.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 04:55:00 PM
CHƯƠNG 5: Từ Cam Bốt Đến Hạ Lào.
....LS719 Nhìn Từ Hà Nội      
Hà Nội đã biết gì về kế hoạch LS719? Sau cuộc hành quân hơn 40 năm, chúng ta vẫn không có tài liệu nào chứng minh Hà Nội biết, hay có tin tức trước về LS719. Vài quyển sách gần đây viết về các điệp viên QĐND/QGP đã biết trước cuộc hành quân qua Hạ Lào. Tuy nhiên với tất cả những gì đã được viết và nói, chúng ta có thể khẳn định Hà Nội không biết chắc chắn  về kế hoạch HQLS719 — căn cứ vào những tài liệu đến từ QĐND/QGP. [7]
Một điều chúng ta có thể xác định chắc chắn là QĐND/QGP đã tiên đoán đúng kế hoạch quân sự của VNCH và Hoa Kỳ. Căn cứ vào một chuỗi sự kiện về quân sự và chính trị xảy ra từ đầu năm 1970 cho đến cuối năm đó, QĐND/QGP tiên liệu được kế hoạch lớn, nếu không nói là táo bạo của Mỹ và VNCH. Trong một lần nói chuyện với ký giả tây phương ở Hà Nội cuối năm 1970, cựu Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói Tổng Thống Nixon có khuynh hướng làm những việc táo bạo … nên chánh phủ QĐND/QGP phải dự liệu những viễn tượng bất ngờ và táo bạo nhất của Mỹ. Khi nói “táo bạo,” Ngoại Trưởng Thạch muốn nói đến chuyện LLĐB Mỹ đột kích vào Binh Trạm 37 ở Bản Bạc; và vụ đột kích cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây. Hà Nội suy luận, nếu Mỹ dám nhảy ra Sơn Tây, thì Mỹ có thể tấn công ở bất cứ chiến trường nào. [8] Với suy luận như vậy, QĐND/QGP tiên đoán Tchepone ở Hạ Lào; hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tỉnh; và Cam Bốt có thể sẽ là mục tiêu mới của Hoa Kỳ và VNCH. Suy luận của các chiến lược gia QĐND/QGP không sai. Theo Thượng Tướng Nguyễn Hữu An, tư lệnh Sư Đoàn 308, từ tháng 7-1970 ông đã được lệnh đi quan sát địa hình vùng Lao Bảo, Bản Đông và Tchepone. Tướng An cho biết Quân Ủy Trung Ương tiên liệu Bản Đông và Tchepone có thể là mục tiêu tấn công của VNCH trong tương lai gần. [9] Cũng vào thời gian trên, một mặt trận được thành lập, có tên là Mặt Trận 702, với binh đoàn B70 là bộ tư lệnh điều khiển ba Sư Đoàn 304, 308, 320. Sau Mặt Trận 702, BĐTS thiếp lập thêm một binh trạm mới có tên là Binh Trạm 27, đóng ở phía tây nam Quảng Bình, nằm giữa các Binh Trạm quan trọng như 9 và 14. Binh Trạm 27 có vai trò phối hợp các binh trạm của BĐTS và Tổng Cục Hậu Cần.
Các chiến lược gia Hà Nội không có được tin trước về LS719, nhưng họ ước lượng suy tính của Hoa Kỳ đúng. Vì nếu Hà Nội đã có tin về LS719 trước ngày 30 tháng 1, thì họ đã không động binh quá chậm như đã xảy ra: Ngày 30 tháng 1-1971 các trung đoàn tiếp viện của QĐND/QGP mới lần lược di chuyển vào chiến trường. Sư Đoàn 324 đến ngày 15 tháng 2 mới có mặt ở tây nam Lao Bảo để tác chiến. Theo tác giả Nguyễn Hữu An, trong cuộc chuyện lần cuối với tướng Võ Nguyễn Giáp, ông Giáp chỉ suy luận Mỹ có thể tấn công Hạ Lào hay Quảng Bình. Rồi sau đó, ông và tướng Vương Thừa Vũ, cùng một số sĩ quan đi dọc bờ biển từ Nghệ An xuống Quảng Bình quan sát địa hình.  Vì từ những chưa xác định rõ mục tiêu của Quân Ủy Trung Ương, Sư Đoàn 308 đến ngày 2 tháng 2 mới lên đường hành quân.  [10] Đến tuần lễ đầu tháng 12 cơ cấu hậu cần phục vụ cho BTL B70 mới được hoàn chỉnh và thông báo. Một chi tiết khác cho thấy Quân Ủy Trung Ương không chắc chắn mục tiêu nào sẽ bị tấn công, khi đầu tháng 12 BTL B70 chỉ thị hậu cần của họ phải chuẩn bị ứng chiến cho mặt trận phía nam Quân Khu 4 (Hà Tỉnh xuống Quảng Bình), song song với chuẩn bị cho mặt trận Đường 9.... [11] ...

Để làm rõ trích dẫn trên của tiên sinh thì cần nhiều thông tin và tài liệu để đối chiếu.
Điều đáng tiếc nhất là chúng ta không thể có những dòng hồi ức hoặc tư liệu từ Tướng Lê Trọng Tấn - Phó tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh B70 nhưng có một người đã rất liên quan: Tướng Hoàng Đan - người được tham gia từ giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn thực hành tác chiến. Không biết là tiên sinh đã tham vấn tài liệu này chưa nên cứ đưa ra đây như để một căn cứ luận giải:

Trích dẫn
....Lần đầu tiên tôi được chỉ huy chiến đấu dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Lê Trọng Tấn, đặc biệt trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Sư đoàn 304 (trừ Trung đoàn 24) là lực lượng dự bị của chiến dịch. Do lực lượng dự bị có thể thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, đồng chí Lê Trọng Tấn gọi tôi lên ngay cơ quan chiến dịch để nắm vững tình hình diễn biến, bảo đảm việc đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu được thuận lợi, đồng thời cũng để góp ý kiến kế hoạch tác chiến trong các giai đoạn khác nhau. Vì vậy chiến dịch này thực tế tôi được làm việc với đồng chí cả giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn thực hành tác chiến.

Giữa năm 1970, Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến trong mùa khô 1970-1971, với sự yểm trợ của quân Mỹ, quân đội Sài Gòn sẽ tiến hành tiến công vào vùng tự do của ta. Chúng có thể tiến công sang Cam-pu-chia, ra biên giới ba nước Đông Dương (thuộc Tây Nguyên), ra Đường 9 - Nam Lào. Chúng cũng có thể đánh ra miền nam Khu 4. Các lực lượng chủ lực của Bộ, chủ yếu là Binh đoàn B70 (gồm các sư đoàn 304, 308, 320 và một số binh chủng kỹ thuật) có nhiệm vụ sẵn sàng đánh địch ra Đường 9 - Nam Lào hoặc rạ nam Quân khu 4.

Việc dự kiến các hướng tiến công của địch không khó. Vấn đề quan trọng là trong các hướng trên, dự kiến chính xác hướng nào có nhiều khả năng nhất. Lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất của ta không nhiều, nếu dàn đều ra chuẩn bị đánh địch trên tất cả các hướng sẽ gặp khó khăn. Đồng chí Lê Trọng Tấn lúc này là Phó tổng tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Binh đoàn B70. Làm việc với các sư đoàn, đồng chí nói hướng có nhiều khả năng nhất là hướng Đường 9 - Nam Lào. Vì vậy trong lúc chuẩn bị đánh địch các hướng khác, phải tập trung cao nhất cho hướng Đường 9 - Nam Lào. Do đó kinh nghiệm, muốn giành chủ động sớm trong các chiến dịch phản công cần tăng cường lực lượng tại chỗ mạnh. Lực lượng tại chỗ là lực lượng trực tiếp đánh địch đầu tiên, được triển khai sẵn nên có điều kiện đánh địch có hiệu quả cao. Vì vậy đồng chí đã mạnh dạn điều hẳn một trung đoàn của Sư đoàn 304 (Trung đoàn 24) vào xây dựng một chốt chiến dịch trên đường số 9 khu vực cầu Cha Ki (giữa Lao Bảo và Bản Đông), đồng thời đề nghị đồng chí Tổng tư lệnh cho sáp nhập Binh đoàn 968 vào Đoàn 559 (Binh đoàn vận tải chiến lược) để tăng thêm sức chiến đấu tại chỗ, bảo vệ vững chắc đường vận chuyển và kho tàng. Đoàn 559 theo ý kiến của đồng chí Lê Trọng Tấn đã triển khai một số đơn vị phòng không và một số chốt của bộ binh từ Bản Đông đến Sê Pôn. Lúc này đồng chí Lê Trọng Tấn chưa trực tiếp chỉ huy các đơn vị của B4, B51 và Đoàn 559, nhưng với cương vị Tổng tham mưu phó và với uy tín trong việc chỉ huy các chiến dịch nên ý kiến của đồng chí đều được tôn trọng và được các đơn vị thực hiện.

Mặc dù địch tiến hành nghi binh bằng việc cho lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 vượt sông đoạn giữa Cửa Việt vào Đông Hà và cho lữ đoàn lính thủy đánh bộ 258 từ La Vang lên xe ra cửa Thuận An để lên tàu thủy đi lên hướng bắc nhằm làm ta lầm tưởng địch sẽ đánh ra Quảng Bình, nhưng với việc quân Mỹ triển khai một lực lượng chiến đấu tại khu vực Khe Sanh và điều động nhiều đơn vị bộ binh, cơ giới, pháo binh, của quân ngụy ra Ái Tử, Đông Hà, Bộ Tổng tư lệnh khẳng định địch đang triển khai lực lượng để tiến công theo đường số 9 sang Nam Lào.

Ngày 31 tháng 1 năm 1971, phát hiện địch đang điều động lực lượng lên đường 9, Bộ Tổng tư lệnh lệnh cho các lực lượng tại chỗ sẵn sàng đánh địch, các lực lượng cơ động hành quân tiếp cận đường số 9, đoạn từ Lao Bảo đến Bản Đông, đồng thời thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào để chỉ huy tất cả lực lượng tham gia chiến dịch, bao gồm lực lượng B70, lực lượng Đoàn 559, lực lượng B4 và B5. Đồng chí Lê Trọng Tấn và đồng chí Lê Quang Đạo được chỉ định làm Tư lệnh và Chính ủy mặt trận. Ngày 6 tháng 2 cơ quan mặt trận đã triển khai xong ở tây nam Quảng Bình, tại một trung tâm thông tin của Bộ tư lệnh Thông tin. Thực tế ta chưa chuẩn bị trước sở chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Lê Trọng Tấn trên cương vị Tổng tham mưu phó biết tại tây nam Quảng Bình có trung tâm thông tin mạnh, có liên lạc bằng điện thoại với B70, Đoàn 559, B4, B5 nên quyết định triển khai sở chỉ huy ở đây, mặc dù hoàn toàn chưa có công sự. Công binh nhanh chóng xây dựng các lán làm việc và lán ở. Các lán đều có chiều sâu 1m so với mặt đất, nhưng không có nắp. Bên cạnh các lán bắt đầu xây dựng các hầm ẩn nấp bằng gỗ kiểu chữ A. Đứng về mặt công trình sở chỉ huy mặt trận chỉ tương đương sở chỉ huy dã chiến cấp trung đoàn, chưa vững chắc bằng sở chỉ huy cấp sư đoàn. Nhưng mọi người thấy tư lệnh bắt tay ngay vào làm việc không tính đến việc nếu địch đánh phá vào sở chỉ huy thì độ an toàn đến đâu, nên cũng tập trung vào công việc. Việc xây dựng từng bước để sở chỉ huy được vững chắc thêm là việc của công binh.

Ngày 8 tháng 2, địch mở đầu cuộc tiến công vượt biên giới Việt - Lào bằng ba cánh quân.
- Chiến đoàn đặc nhiệm gồm lữ đoàn dù 1 và 2 thiết đoàn 11, 17 tiến công đường bộ theo trục đường số 9.
- Sư đoàn dù (thiếu lữ dù 1) và liên đoàn biệt động quân rải quân phía bắc đường số 9.
- Sư đoàn bộ binh 1 rải quân phía nam đường số 9.

Sau bốn ngày tức ngày 12 tháng 2, binh đoàn đặc nhiệm chiếm được Bản Đông. Hai cánh quân phía bắc và phía nam của chúng cũng rải quân và xây dựng được các căn cứ trên điểm cao.

Trong quá trình địch đánh chiếm Bản Đông, lực lượng tại chỗ đã tiêu hao nhiều sinh lực của chúng, đặc biệt bắn rơi nhiều máy bay, nhất là máy bay lên thẳng lúc chúng đổ quân. Các đơn vị chủ lực cơ động cũng đã tiếp cận được địch, đang chuẩn bị để mở đầu một số trận tiến công lớn đánh vào hai cánh quân của địch ở cả nam và bắc đường số 9....


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 16 Tháng Bảy, 2014, 04:55:55 PM
Trích dẫn
...Ngày 10 tháng 2 Bộ tư lệnh Mặt trận họp để bàn chủ trương tác chiến, căn cứ vào thực tế tình hình đã diễn ra trên chiến trường. Ở đây cần nói rõ thêm hai vấn đề:

1. Tại sao Bộ quyết định tổ chức Bộ tư lệnh Mặt trận, chứ không phải Bộ tư lệnh chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch có quyền chỉ huy tất cả lực lượng vũ trang thuộc quyền, nhưng với cơ quan chính quyền địa phương thì chỉ có quan hệ hiệp đồng. Bộ tư lệnh Mặt trận thì được huy động toàn bộ nhân lực, vật lực trên địa bàn chiến dịch để đánh địch.

2. Tại sao ngày 10 tháng 2, sau hai ngày địch vượt biên giới mới bàn kế hoạch tác chiến cụ thể. Trước lúc địch tập trung lực lượng và sau khi xác định rõ hướng tiến công của địch, ta đã có kế hoạch tác chiến. Nhưng trong phân công kế hoạch đó xem như chỉ là kế hoạch bước đầu để đánh địch tại chỗ và cơ động lực lượng. Sau khi nắm cụ thể tình hình địch, ta đã diễn ra trên chiến trường, cần bổ sung để hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến.

Trong cuộc họp ngày 10, tôi cũng được tham dự. Đồng chí Tư lệnh mặt trận nêu lên các ý kiến cơ bản sau đây:

- Mục đích cuộc hành quân của địch là chặn đường chi viện vào Nam của ta và càn quét, đốt phá các kho tàng. Vì vậy mục tiêu chính của chúng là đánh chiếm khu vực Sê Pôn, bởi vì khu vực Sê Pôn là trung tâm các con đường đi vào Nam và tất nhiên tại khu vực này có nhiều kho trạm.

- Hiện nay địch mới đến Bản Đông, nhưng ngoài các lực lượng đã triển khai chúng còn lực lượng dự bị lớn là sư đoàn lính thủy đánh bộ và hai thiết đoàn. Như vậy chúng sẽ quyết tâm và có khả năng đánh đến Sê Pôn.

- Một trong những nhiệm vụ được Tổng tư lệnh giao là: “giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược, đảm bảo vận chuyển bình thường, bảo vệ tốt kho tàng của ta”. Đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Vì vậy bất cứ giá nào ta cũng không cho địch chiếm Sê Pôn.

- Hiện nay ngoài lực lượng tại chỗ, phía bắc đã có Sư đoàn 308 và Sư đoàn 304 (có 2 trung đoàn), đủ sức tiêu diệt một bộ phận sư dù và liên đoàn biệt động quân; không cho chúng điều động được sư dù để đánh lên Sê Pôn. Lúc đầu Sư đoàn 304 tổ chức sở chỉ huy tiền phương do đồng chí Duy Sơn, Phó tư lệnh sư đoàn phụ trách để chỉ huy Trung đoàn 24. Khi địch vượt biên giới. Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 trên đường hành quân vào Tây Nguyên được lệnh dừng lại và lâm thời phối thuộc cho Sư đoàn 304 để đánh cánh quân phía bắc của địch. Vì vậy phía trước Sư đoàn 304 cũng có 2 trung đoàn, không kể lực lượng chính của sư đoàn ở phía sau làm dự bị. Phía nam có Sư đoàn 2 đủ sức diệt và kiềm chế sư đoàn 1 địch.

- Tại Sê Pôn ta chỉ có lực lượng tại chỗ của Đoàn 559 (Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 cũng trên đường hành quân vào Tây Nguyên đã được sử dụng để đánh quân ngụy Lào gồm 2 GM từ Đồng Hến đánh ra để phối hợp với quân đội Sài Gòn). Như vậy ta không đủ lực lượng để không cho địch đánh chiếm Sê Pôn. Để giữ vững khu vực Sê pôn cần có một sư đoàn cùng 1-2 trung đoàn bộ binh. Nếu điều Sư đoàn 304, lực lượng dự bị chiến dịch lên Sê Pôn, ta không biết lấy đơn vị nào về làm dự bị. Từ tình hình trên, nên đề nghị Bộ tư lệnh điều Sư đoàn 324 từ Quân khu Trị - Thiên ra đánh địch ở phía nam thay Sư đoàn 2 để điều Sư đoàn 2 lên phụ trách khu vực Sê Pôn. Đề nghị đã được Bộ Tổng tư lệnh đồng ý. Sư đoàn 324 được điều ra đường số 9 và từ ngày 27 tháng 2 đã bắt đầu tiến công vào sư đoàn lính thủy đánh bộ (sư đoàn lính thủy đánh bộ là lực lượng dự bị của địch được điều lên thay sư đoàn 1 để sư đoàn 1 tiến đánh Sê Pôn).

Với kế hoạch toàn diện như trên, qua hai đợt tác chiến ta không chỉ đánh thiệt hại nặng quân địch ở cả hai cánh nam, bắc mà đặc biệt là đã đánh không cho địch vào Sê Pôn, giữ vững đường vận chuyển và các kho tàng của ta. Bắt đầu ngày 20 tháng 3 địch buộc phải từng bước co cụm vào Bản Đông để lui quân. Ta tập trung lực lượng lớn để đánh trận quyết chiến chiến dịch ở Bản Đông. Đáng tiếc do không nắm chắc địch nên ta chỉ thu được nhiều xe pháo của địch, bộ binh và lính tăng, lính pháo đã bí mật luồn rừng chạy về Lao Bảo, Khe Sanh.

Ngày 23 tháng 3 địch rút hết về phía sau. Bộ tư lệnh Mặt trận họp bàn việc kết thúc chiến dịch. Có hai ý kiến khác nhau: ý kiến thứ nhất, nên phát huy thắng lợi cơ động lực lượng đánh địch ở Khe Sanh - Lao Bảo. Ý kiến thứ hai kết thúc chiến dịch ở đây, thu quân, tổng kết rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho đòn tiến công chiến lược mùa khô 1971-1972. Đồng chí Tư lệnh chiến dịch chấp nhận ý kiến thứ hai, kết thúc chiến dịch, chỉ cử 1 trung đoàn của Sư đoàn 304 cùng lực lượng địa phương uy hiếp địch buộc chúng lui quân về khu xuất phát Động Toàn, Đầu Mầu. Ta khôi phục được hình thái trên Mặt trận Đường 9 như cuối năm 1970.

Trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, ngoài việc chỉ đạo cho các đơn vị thuộc quyền chiến đấu, đồng chí Lê Trọng Tấn đã có những quyết định đặc biệt quan trọng tạo nên chiến thắng lớn:

- Xác định hướng cần chuẩn bị chính là hướng Đường 9 - Nam Lào. Khả năng nhiều nhất, địch sẽ tiến công trên hướng này.

- Tăng cường mạnh lực lượng tại chỗ để đánh địch ngay từ đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực cơ động và chủ động tiến công địch ngay khi chúng vừa đến nơi.

- Vừa đánh mạnh ở đoạn Lao Bảo - Bản Đông, vừa chuẩn bị đủ lực lượng để giữ vững khu vực trọng điểm Sê Pôn, bảo đảm hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ, tiêu diệt địch và bảo đảm giữ vững đường vận chuyển và kho tàng.

- Kết thúc chiến dịch đúng thời cơ. Có thể nói hai chiến dịch phản công lớn nhất trong kháng chiến chống Mỹ, là chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn Xi ty ở miền Đông Nam Bộ và chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn - 719 ở Đường 9 - Nam Lào, quyền chỉ huy đều nằm trong tay vị tướng tài ba Lê Trọng Tấn và đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc cả hai chiến dịch....

p/s: tôi đi vắng vài ngày nên không thể cùng tranh luận và tham vấn các thông tin ngay/ sớm được; mong thông cảm và cùng tiếp tục thảo luận....


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 22 Tháng Bảy, 2014, 03:21:37 PM
....3. Một điểm nhấn đáng chú ý là tại sao QUTW lại rút F2 thiếu, E141 và sự xuất hiện của F324/ sư đoàn bộ binh 324/ đoàn Ngự Bình (tháng 10/1970) ra đường 9 nam/ bắc Quảng Trị??? từ rất sớm, ngay từ khoảng giữa năm 1970??? tại sao lại là họ mà không phải là các đơn vị khác? tại sao rút nhiều như vậy và sẽ dẫn đến hậu quả/ nguy cơ mất địa bàn nghiêm trọng - thành quả của cả quá trình 1965 - 1969??? Một hành động phiêu lưu mạo hiểm hay nước cờ đã tính kỹ, chấp nhận được/ mất???...

Tiếp tục bài viết theo mạch dẫn trên,
với vài đáp án nhỏ:

Các đơn vị trên đều có kinh nghiệm đánh đồng bằng, nhất là cách thức và hoạt động tác chiến khi đối mặt với chiến thuật trực thăng vận và các thủ đoạn tập kích đường không của Mỹ và VNCH - con bài chiến lược tối ưu sẽ triển khai trong chiến dịch Lam Sơn 719. Hơn thế nữa, đó còn là sự trưởng thành trong quá trình đối mặt để tiêu diệt các cụm cứ điểm, căn cứ lớn khi Mỹ và VNCH "nhảy cóc" thiết lập các FSB:
- có thể kể đến F2 với chiến dịch Khâm Đức 1969 khi đối mặt với lữ đoàn 196 đã sử dụng chiến thuật bóc vỏ: dùng đặc công luồn sâu đánh hiểm tạo thời cơ cho bộ binh vây - lấn - dũi đập nát các cứ điểm ngoại vi bảo vệ bên ngoài. Từ đó, vừa dùng hỏa lực pháo binh và cao xạ khóa chặt cửa ngõ ra vào thung lũng Khâm Đức vừa dội thẳng xuống khu lòng chảo. Chiến thuật này được áp dụng vào trận đánh cao điểm 550, 723/ Phu Rệp/ Ph. Rep trên đường 9.

Hoặc hình thức chiến thuật "cơ động tiến công kết hợp chốt" nhằm xây dựng một dãy phòng tuyến tại khu vực giáp ranh Sơn Cẩm Hà/ Phước Sơn - Phước Cẩm - Phước Hà với Núi Lớn - Dương Vông - Núi Ngang - Dốc Xoài - Đèo Cây Trâm. Chiến thuật này được áp dụng nhuần nhuyễn và nâng lên một điểm cao mới khi vừa tiến hành vây ép điểm cao 660 đồng thời với tiến công dứt điểm lực lượng còn lại tại cao điểm 723/ Phu Rệp. F2 thiếu và sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đã  quyết đoán chuyển một phần lực lượng đang tham gia vây lấn 723 sang bôn tập đón lõng tại 660 và tổ chức truy kích kịp thời trung đoàn 2 VNCH.

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/NuiNgang5_zps08e7c18c.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/NuiNgang5_zps08e7c18c.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 22 Tháng Bảy, 2014, 03:28:16 PM
- Có thể nói về F324/ đoàn Ngự Bình khi đối mặt với thủ đoạn chiến thuật "chốt điểm cao", '"nhảy cóc", "ngăn chặn từ xa" của sư đoàn 101 dù Mỹ và sư đoàn 1 bộ binh VNCH tại khu tứ giác A Túc - Củng Cáp - nam sông Tà Rụt - tây sông A Sáp trên phòng tuyến Sông Bồ phía tây  đường 12 Thừa Thiên Huế. Đỉnh cao của đợt hoạt động là công tác dự kiến trận địa, tổ chức hiệp đồng, xây dựng thế trận đón lõng tiêu diệt sớm - kịp thời và hạn chế tối đa khả năng tác chiến cơ động của trực thăng Mỹ + VNCH (tại E1 F324: 16/3, đại đội 16 súng 12,7mm bắn rơi 5 trực thăng; 18/3, đại đội 2 dùng trung liên bắn rơi 4 chiếc; 25/3 toàn trung đoàn bắn rơi, bắn cháy 14 trực thăng, nâng số máy bay bị bắn rơi trong nửa tháng lên gần 40 chiếc) hay hình thành khu quyết chiến điểm tại cao điểm 935 và kế hoạch đón lõng tại các cao điểm ngoại vi: 902, 805, Cốc Muôn/ Coc Muan, Kovaladut/ Cô va la dút, Cóc Pơ Lai/ Coc Per Lai, Cô Pung/ Ko Pung.

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/trinhanhtu3_zps7e656751.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/trinhanhtu3_zps7e656751.jpg.html)

Hình thức chiến thuật này được áp dụng triệt để và nâng lên thành "vây - lấn - tấn - trấn - triệt - diệt" tại dãy cao điểm 619 với trung đoàn 3 VNCH phía nam đường 9.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 24 Tháng Bảy, 2014, 07:41:58 AM
Tiên Sinh Quancan,
Vài tuần nay không vào được VMH. Nghe vài người bạn nói đường dây mạng bị đứt. … Hôm nay vào được … và xin trả lời vài điểm mà hai tiên sinh Quangcan và Fanlong74 đưa ra:
“Tôi hơi ưu tư về việc dẫn nguồn của tiên sinh nkp về sách/ hồi ký của tướng Nguyễn Đức Huy.
Theo tôi được biết khoảng thời gian 1970, Ông Nguyễn Đức Huy giữ chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn bộ binh 9 sư đoàn 304. Trong lúc hành quân vào chiến trường chuẩn bị cho chiến đường 9 Nam Lào thì ông bị lên cơn sốt rét ác tính, đi tiểu ra máu; ngay lập tức ông phải vào Viện 41 Quảng Bình, rồi Viện quân y 108, Hà Nội và nằm lại đó 3 tháng,”

Khi chú về thiếu tướng Nguyễn Đức Huy ở câu trả lời #34, tôi chỉ muốn chú là một trong những đơn vị của tướng Huy đã đón đoàn quân di chuyển về bắc trong những năm 69-70. Nhưng khi đọc những gì tiên sinh viết, tìm lại sách của NĐ Huy, thì không thấy gì hết. Đúng Trung Đoàn 9/F304 của tướng Huy không có dính dáng gì đến chiến Dịch Đường 9-Nam Lào. Hôm trả lời cho tiên sinh, tôi vừa đọc qua sách của Phan Hàm; Quý Hải và Nguyễn Đức Huy. Coi lại cả ba cuốn, cũng không thấy chổ nào liên quan đến phần mình trích dẫn. Bây giờ không biết tại sao mình ghi chú đến sách của tướng Nguyễn Đức Huy. Hoàn toàn nhận lỗi sơ suất về chú thích đó. Tôi cũng hiểu: không trích
dẫn thì thôi, nhưng khi trích thì sử liệu phải chính xác.

Tiên Sinh Fanlong74 nói về tình báo của QĐND đã có tin trước về HQ LS719; tiên sinh Quangcan thì nói về lối đánh hiệu nghiệm của QĐND đối đầu với chiến thuật “căn cứ hoả lực.” Cà hai tiên sinh đều có lý với chứng minh và trích dẫn. Tôi không phủ nhận được sự thất bại của chiến thuật căn cứ hoả lực khi áp dụng trong địa hình của chiến trường Hạ Lào. Lại càng khó cãi với ý kiến là QĐND đã ít nhiều đánh hơi được kế hoạch và chủ đích của VNCH trong kế hoạch chiến lược thường niên 1971-NB. Tôi cảm ơn đóng góp thảo luận của quý tiên sinh.

Nếu không có vấn đề gì, và để được thêm phần hào hứng cho diễn đàn VMH,tôi xin được đăng lên Chương 6 trong vài ngày sắp đến.



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 25 Tháng Bảy, 2014, 07:19:59 AM
Đường về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719

Chương 6: Hành Quân Lam Sơn 719

Lam Sơn 719/ Giai Đoạn II
Tòa Bạch Ốc tốn nhiều thời giờ chuẩn bị ngoại giao và chánh trị cho Giai Đọan II — giai đọan quân lực VNCH thật sự băng qua biên giới — hơn là lo lắng về chi tiết quân sự của cuộc hành quân. Từ ngày 4 đến 6 tháng 2-1971 (chiều ngày 5-7 ở Việt Nam) Ban Hành Động Đặc Biệt (BHĐĐB) họp nhiều lần để phân công trách nhiệm cho các bộ lo về ngoại giao và chính trị. Một phi lý siêu thực xảy ra khi quân đội VNCH tấn công qua Lào, các quốc gia khác trên thế giới phải được thông báo. Phi lý hơn khi BHĐĐB quyết định Mỹ sẽ thông báo sớm hay chậm cho nước nào, và những giới hạn của HQLS719 ra sao …  cho cả thế giới biết. Chỉ tiếc là trong những buổi họp không có chi tiết nào nói đến chuyện BĐTS hay Hà Nội có thông báo với các đại sứ trên thế giới mỗi chuyến xe xâm nhập vào nam hay không!
   Bộ Ngoại Giao ra lệnh Đại Sứ Bunker lưu ý Tổng Thống Thiệu, đây là cuộc hành quân của VNCH, và Tổng Thống Nixon không có quyết định gì về thời điểm của cuộc hành quân. Bộ Ngoại Giao sẽ thông báo hai tiếng trước giờ hành quân cho các quốc gia như Đức, Trung Cộng, Ấn Độ. … Trong khi Gia Nã Đại và Nhật thì bốn tiếng sau cuộc hành quân. Tại sao? Không hiểu được. Chưa hết, hai tiếng sau khi hành quân khai diễn, quan sát viên VNCH ở Liên Hiệp Quốc phải thông báo và giải thích hành của họ cho Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc biết.   Rồi BHĐĐB bàn cãi về chi tiết ai sẽ nói gì … Việt-Mỹ sẽ phát biểu chung hay riêng. … Và Ngoại Trưởng William Rogers sẽ trả lời như thế nào về hành quân đánh qua một quốc gia trung lập. [1]

Trong khi Mỹ đang bàn cãi về lịch sự và lễ nghi ngoại giao, Vận tải cơ C-130 chở Sư Đoàn Nhảy Dù và Lữ Đoàn 258 và 147 TQLC từ phi trường Biên Hòa và Tân Sơn Nhất ra Quảng Trị và Đông Hà, và từ đó đến Khe Sanh bằng phương tiện khác. Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 2, ngoài lính Dù và TQLC, hai trung đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1BB), một tiểu đoàn công binh, bốn tiểu đoàn pháo binh, và những đơn vị cơ hữu phụ thuộc đã tập hợp ở Khe Sanh, chuẩn bị xuất quân. Ngày xuất quân đã được dự định là ngày 5, nhưng hoãn lại đến ngày 6, rồi ngày 7. … Tất cả sự đình trệ đó đến từ Hoa Thịnh Đốn (chần chờ coi phải tuyên bố như thế nào với dư luận trong và ngoài nước); vì thời tiết; và vì MACV chưa nhận lệnh yểm trợ như thế nào từ Nhà Trắng. Hai ngày 5 và 6 mưa; ngày 7 tướng Lãm yêu cầu Không Kỵ Mỹ bay thám thính  lộ trình để chuẩn bị xuất quân. Nhưng tướng Sutherland trả lời là ông không có thẩm quyền vượt qua biên giới trước lính VNCH; hay ông có thể cung cấp hỏa lực yểm trợ trước giờ hành quân. Một tuần trước đó, QĐI xin trực thăng  vận chuyển đổ bộ lên chỏm Núi Co Roc, để trinh sát và dọn đường trước cho Giai Đọan II, nhưng QĐXXIV từ chối vì không có thẩm quyền — và ở btl MACV Đại Tướng Abrams cũng không có thẩm quyền trước Giai Đọan II (8 tháng 2). Sau cùng, 7 giờ sáng ngày 8, một toán tiền sát Nhảy Dù bay trước qua biên giới, rồi những trực thăng trinh sát của Không Kỵ Mỹ bay theo sau. Đây là một sự vô lý cùng cực, vì rạng sáng ngày 8 Không Quân Hoa Kỳ đã thực hiện 11 phi vụ B-52, đánh dọn bãi những mục tiêu quân VNCH sẽ đổ bộ thiết lập căn cứ. Trước đó hai ngày, chiều ngày 6, trong khi TĐ8ND và Thiết Đoàn 1 (TĐ1) đang tập trung ở Lao Bảo để chuẩn bị tiến qua biên giới, một phản lực A-6 của Hải Quân Mỹ, không biết nhận lệnh yểm trợ từ đâu, đánh lầm một quả bom CBU vào bộ chỉ huy tiểu đoàn Dù đang đóng chung với Thiết Kỵ, làm chín chết và 51 bị thương.  [2]Câu hỏi ở đây là, nếu Hải Quân Mỹ đã được quyền yểm trợ, thì tại sau QĐXXXIV lại không có quyền yểm trợ, dù chỉ là trực thăng vận chuyển.
Kế hoạch hành quân từ phía Hoa Kỳ có một cái gì vướng mắc ngay từ những ngày đầu. Đây là một sự ngụy tín rõ ràng từ phía người Mỹ trong kế hoạch HQLS719. Còn nếu đó không phải là một thái độ ngụy tín, thì họ đang lúng túng với sự chuẩn bị “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.” Đến ngày 4 tháng 2 trong buổi họp ở Bạch Ốc, các hội viên trong BHĐĐB vẫn còn đề nghị không nên nhắc đến địa danh Tchepone, thay vào đó bằng tên căn cứ hậu cần 604; không nên dùng dùng tên hành quân Dewey Canyon II, nên xài Lam Sơn 719. … Trong khi đó, trên thông văn của MACV và QĐXXIV, tên LS719 đã được loan báo từ ngày 30 tháng 1. Tương tự, cho đến những ngày cận kề khai diễn LS719, Nixon và ban tham mưu vẫn hỏi tới lui, (a) có cách nào thực hiện LS719 mà không cần trực thăng Mỹ, và (b) Bộ Luật Cooper-Church cấm sự hiện diện của lính Mỹ ở Lào … vậy khi trực thăng Mỹ chở lính VNCH qua đó, nhưng phi hành đoàn không bước xuống đất …  thì có phạm luật hay không! Nhưng nếu cho phép phi công vận chuyển lính VNCH qua biên giới (như đã xảy ra), thì tại sao lại cấm các cố vấn Hoa Kỳ bay qua biên giới để quan sát tình hình và yểm trợ cho đơn vị họ cố vấn? Một cuộc hành quân lớn như LS719 thì không thể dấu được. Nếu không có danh chánh, thì Hoa Kỳ không thể ngôn thuận cho một cuộc hành quân lớn nhất cuộc chiến. Với những ngập ngừng, chập chờn, bảo mật, che dấu đối nội và đối ngoại từ phía Hoa Kỳ, phía VNCH sau cùng mới chánh thức soạn ra lệnh hành quân — bảy ngày sau Hoa Kỳ. Ngày 23 tháng tháng 1 QĐXXIV ban hành lệnh hành quân; ngày 30 tháng 1, QĐI ban lệnh hành quân.
Ngày 5 tháng 2 ở Khe Sanh (bản doanh bộ chỉ huy tiền phương hành quân) Trung tướng Dư Quốc Đống thông báo cho các sĩ quan chỉ huy khái niệm và kế hoạch hành quân.   

Khái Niệm Hành Quân LS719
Đến giai đoạn này, chúng ta có thể nói về quan niệm hành quân một cách chi tiết hơn với lệnh hành quân trong tay.
   LS719 được dự trù có bốn giai đọan. Giai Đọan 1: Một lực lượng hơn 12.000 quân Mỹ sẽ bảo vệ nam bắc hành lang Đường 9 từ Đông Hà đến Lao Bảo; lực lượng này sẽ phụ trách bảo vệ các căn cứ hỏa lực pháo binh, để từ đó pháo binh bắn qua biên giới yểm trợ các đơn vị VNCH. Gia Đọan I bắt đầu rạng sáng 30-1 và hoàn tất ngày 6-2. Thiệt hại: Mỹ có bốn chết, năm bị thương; có ba trực thăng bị bắn rơi; một phi hành đoàn bị mất tích. Giai đoạn cũng là lúc quân VNCH tụ lại gần biên giới để chuẩn bị vượt biên khi được lệnh tiến khai diễn giai đoạn kế.
   Giai Đoạn II: Khai diễn lúc 8 giờ sáng ngày 8 tháng 2 (Ngày N, trong ngôn từ hành quân). Hai tiểu đoàn Thiết Kỵ (thiết đoàn) và một lữ đoàn Nhảy Dù sẽ chiếm Bản Đông, một vị trí nằm trên Đường 9, cách Lao Bảo chừng 18 km và cách mục tiêu chánh Tchepone khoảng 24 km. Sau khi chiếm Bản Đông, thiết lập căn cứ và hệ thống phòng, lực lượng Dù và Thiết Kỵ tiếp tục đánh về Tchepone để bắt tay với một lực lượng Dù sẽ được trực thăng vận đánh chiếm Tchepone (Căn Cứ 604) cùng lúc. Tại Tchepone lực lượng đánh chiếm sẽ lập một căn cứ lớn, và tái thiết phi trường Tchepone để nhận yểm trợ và bổ sung.
   Giai Đoạn III: Với một căn cứ và phi trường có “vòng cung phòng thủ 360 độ” — nói theo lời thuyết trình của Đô Đốc Moorer ở Nhà Trắng — quân tiến chiếm sẽ bung ra lục soát và phá hủy căn cứ hậu cần của BĐTS.  [3[Quân Dù phụ trách hướng bắc; SĐ1BB phụ trách hướng nam.           
   Giai Đọan IV: Giai Đoạn IV là giai đọan rút quân. Tùy theo Giai Đoạn III phát triển ra sao, sai khi phá hủy những gì có thể tìm thấy, quân VNCH sẽ rút về biên giới. Quân Dù sẽ rút quân về lại biên giới theo đường đi vào (Đường 9), trong khi SĐ1BB  rút quân theo hướng đông nam. Trên đường về SĐ1BB sẽ “ghé qua” căn cứ tiếp liệu 611 để lục soát và phá hủy. Trong chi tiết hành quân không ghi, nhưng theo Kế Hoạch 1971AB của năm 1971, thì một lực lượng VNCH-Mỹ sẽ hành quân về hướng đó để bắt tay toán quân trên đường về.  [4]Giai Đoạn IV có thể kéo dài ít nhất đến đầu mùa mưa ở tây Trường Sơn.
Vùng hành quân được giới hạn 15 km bắc và 15 km nam Đường 9; và Tchepone là giới hạn của hướng tây. Diện tích vùng hành quân khoảng 1.800 km vuông.
   Để bảo vệ trục tiến quân, hai tiểu đoàn BĐQ sẽ bảo vệ mặt đông bắc; ba tiểu đoàn dù, cũng ở hướng tây bắc, bắc và đông bắc, nhưng gần Bản Đông hơn. Trong khi đó, ở nam trục tiến quân, bên kia Sông Xe Pone, năm căn cứ hoả lực do SĐ1BB trấn giữ, sẽ trách nhiệm bảo vệ mặt tây nam. Đó là khái niệm hành quân tổng quát từ MACV và VNCH. Nhưng khi so sánh khái niệm tổng quát và chi tiết lệnh hành quân của Sư Đoàn Nhảy Dù (SĐND), chúng ta thấy Giai Đọan II và III của hành quân có nhiều lạc quan và tham vọng hơn — ít ra là từ quan điểm của SĐND.
Lệnh Hành Quân LS719/Đại Bàng 2-1971 của SĐND chỉ thị sau khi chiếm Bản Đông quân dù sẽ lập một căn cứ hỏa lực  giữa đọan đường từ Bản Đông về  Tchepone (12 km). Trên bản đồ Nhảy Dù, đó là Căn Cứ Hoả Lực 11 (CC11). Từ CC11, họ sẽ đổ bộ về hướng bắc để thiết lập thêm hai CC13 và CC14. Ý định của hành quân là CC14 sẽ nằm trên đầu Đường 913 dẫn về Tchepone. Từ CC11 về CC14 khoảng 15 km; từ CC14 về Tchepone cũng bằng khoảng cách đó. Ở Giai Đoạn III LS719, lệnh hành quân của SĐND chỉ thị: Sau khi vòng cung phòng thủ Tchepone được Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù (LĐ2ND) đổ bộ chiếm và thành lập, Nhảy Dù sẽ lập thêm hai căn cứ 21 và 22 trên Đường 9 và 91 để chận phía nam và tây bắc hai con đường đi về Tchepone. Theo lệnh hành quân trên, đến Giai Đoạn III LS719, SĐND sẽ có và phải bảo vệ 10 căn cứ: Bản Đông, Tchepone, CC30, 31, 32, 11, 13, 14, 21 và 22. Ban hành quân SĐND lạc quan ở điểm, họ chỉ có chín tiểu đoàn cho 10 căn cứ.  [5]Trong lệnh hành quân, Giai Đọan IV LS719 sẽ được thông báo sau (tùy thuộc vào kết quả giai đọan trước).
Trận liệt VNCH lúc bắt đầu cuộc hành quân: Hai tiểu đoàn 39 và 21 của Liên Đoàn 1 BĐQ; hai thiết đoàn 11 và 17 của Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ (LĐ1TK); năm tiểu đoàn Dù 1, 8, 9, 2 và 3 của Lữ Đoàn 1 và 3 của SĐND; sáu tiểu đoàn của Trung Đoàn 1 và 2 của SĐ1BB; 10 pháo đội tại mặt trận (hai tiểu đoàn cộng); một tiểu đoàn công binh; và một số đại đội cơ hữu của các bộ chỉ huy/ bộ tư lệnh. Quân VNCH có 17 ngàn quân tại vùng tác chiến từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc Giai Đoạn III LS719.

Ước Lượng Tình Báo
Ước lượng tình báo của MACV về trận liệt của đối phương hoàn toàn sai khi MACV và QĐXXIV sọan thảo HQLS719. Về đường tiếp liệu: Đường 9 không còn khả năng xử dụng xe chở nặng, và an ninh thì không thể bảo đảm được: Chiều ngày 7, đặc công của B-5 bắn cháy sáu xe tanker 49.000 gallons (196.000 lít) xăng khi đoàn xe trên đường  từ Đông Hà về Khe Sanh. Đoạn đường từ Lao Bảo về Bản Đông hư và nguy hiểm nhiều hơn trên thực tế: Những hố bom sâu bốn đến sáu thước cắt con đường ra từng đọan.  [6]Ước lượng sai lầm này sẽ làm vấn đề tiếp xăng và nước bằng đường bộ khó khăn, nếu không nói là không được. Như vậy phải xài trực thăng vận chuyển hai nhu yếu phẩm trên. Vấn đề khó khăn về tiếp liệu được tiên liệu từ năm 1967, như qua kế hoạch hành quân El Paso. Trong HQLS719 tiếp liệu chở đến Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng, xe, tàu, và phi cơ chở đọan cuối đến phi trường Đông Hà và Khe Sanh. Từ Khe Sanh đến Bản Đông, ước lượng nói xe vận tải đi đường bộ được. Thực tế là đi được, nhưng tiếp liệu sẽ không đến đúng lúc như yêu cầu. Phi trường Khe Sanh đến ngày N +15 mới nhận được vận tải cơ C-130. QĐXXIV không biết đường bị hỏng cho đến khi Giai Đoạn II LS719.
MACV ước lượng QĐND ở vùng hành quân có chừng 220 đến 250 súng phòng không. MACV lấy ước lượng này từ không quân. Trên thực tế, vùng tác chiến có từ 625 đến 660 súng phòng không từ 12.7 ly đến 85 ly. MACV ước lượng ngày N (30 tháng 1) địch có bảy trung đoàn chủ lực và bốn binh trạm sẳn sàng tác chiến; và địch cần 14 ngày (ngày N +14/ 14 tháng 2) để tiếp viện quân từ bắc vĩ tuyến xuống chiến trường. Ước lượng không sai nhiều, nhưng quân tiếp viện đến từ hướng nam nhiều hơn hướng bắc. Những sư đoàn có quân hiện diện trong vùng hành quân là các Sư Đoàn 2, 304, 320, 324B. Hai trung đoàn của Sư Đoàn 308 đến ngày N +10 mới đến phía tây căn cứ Phú Lộc của LĐ1BĐQ. Trung Đoàn 36/308 còn lại, đến ngày 6 tháng 2 mới rời Hà Tỉnh vào chiến trường. [7]
Bảy trung đoàn tác chiến, cộng bốn binh trạm. Một lực lượng tương đương 11 trung đoàn QĐND đang chờ đoàn quân VNCH tấn công. Tuy nhiên ước lượng trận liệt này hơi “khiêm nhường.” Bốn Binh Trạm MACV liệt kê là 9, 27, 33, và 34. Nhưng đó chỉ là những binh trạm MACV nhe lén được thông tin. Những Binh Trạm  khác nằm ngay trong vùng hành quân như 12, 18, 42, không thấy kể vào trận liệt. Theo quân sử  QĐND, trong cao điểm của LS719 QĐND có mặt ở chiến trường là: năm Sư Đoàn Bộ Binh 308, 304, 320, 324B, và 2; hai Trung Đoàn độc lập 27 và 278; tám trung đoàn pháo binh; ba trung đoàn xe tăng; sáu trung đoàn phòng không, tám tiểu đoàn đặc công; và một số đơn vị hậu cần, vận tải. Tài liệu của BTMLQ viết, một vài nơi ở mặt trận QĐND có quân số đông gấp ba lần VNCH.[8]

Cước Chú:
[1]  FRUS, sđd, Documents 121-122. Ngày 6 tháng 2, Nixon muốn Tổng Thống Pháp, Pompidou, được thông báo nếu Pompidou hứa giữ bí mật. (FRUS: Foreign Relations of the United States.     
[2]  Số thiệt hại của vụ đánh bom lầm chiều ngày 6 tháng 2 ở Lao Bảo khác nhau tùy theo báo cáo. Đô Đốc Moorer nói với Tòa Bạch Ốc chỉ có sáu tử thương trong vụ chiếc A-6 dội bom lầm; báo cáo từ sĩ quan cố vấn Thiết Đoàn 11 cho con số chín tử thương, 51 bị thương, trong số đó bên Thiết Kỵ có năm chết, 14 bị thương. Nguyễn Duy Hinh trong Opearation Lam Son 719 ghi nhận sáu chết và 51 bị thương. Đọc FRUS, sđd, Document 123; Thiếu Tá William Aiken, Cố Vấn Trưởng Thiết Đoàn 11 VNCH, After Action Report, April 20-1971, “11th Armored Cavalry Squadron In Laos;” Nguồn tin phản lực cơ A-6 của Hải Quân, đọc The U.S. Marines in Vietnam: The War That Would Not End, 1970-1971; Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 61; David Fulghum & Terence Mailand, South Vietnam on Trial, tr. 73.
[3]  Đôc Đốc Moorer thuyết trình ngày 26 tháng 1-1971. FRUS, tr 306.
[4]  Như đã viết ở trên, để đánh lừa địch, nhiều mục tiêu được đổi tên để ngụy hóa trên văn thư và tryền tin. A Shau là Tchepone (604) ; A Luoi là Bản Đông; A Ro là Căn Cứ 611; Cửa Tùng, Cửa Việt, Bạch Mai, Gia Lâm là những căn cứ nằm dọc trên Đường 914 chạy về Kontum, Dakto. Đọc Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 13-17, 94-95. Tất cả ngụy danh của LS719 liên hệ đến những địa danh mà TQLC Mỹ đã đánh qua vùng A Shau, Da Krong vào năm 1969 trong cuộc hành quân Dewey Canyon. Kế Hoạch có tên AB sau đuôi là kế hoạch hành quân hỗn hợp VNCH-Đồng Minh hàng năm do BTTM và MACV soạn.     
[5]  Đường 9 qua khỏi Tchepone thì quẹo trái về hướng nam; ngã ba đường nối tiếp về hướng tây bắc là Đường 91. Nhìn vào bản đồ hành quân, CC30 giữa đường từ biên giới đến Bản Đông; CC31 chận Đường 92 ở hướng bắc Bản Đông; CC32 nằm giữa đường Bản Đông về Tchepone ở hướng bắc; CC11 nằm trên Đường 9, giữa Bản Đông về Tchepone; CC14 chận Đường 913 bắc Tchepone; CC21 và CC22 chận Đường 9 từ nam lên và Đường 21 từ tây bắc xuống. Sông Xe Pone khi chảy qua phố Tchepone, quẹo trái và chảy xuôi nam như Đường 9. Như ghi trên bản đồ hành, trách nhiệm của SĐND nằm phía bắc bờ sông; SĐ1BB phía nam. Phi trường Tchepone phải được tái thiết và bảo vệ nằm trong vùng trách nhiệm của SĐ1BB, nhưng do SĐND bảo vệ.     
[6]  Đô Đốc Moorer và Đại Tướng Abrams báo cáo đọan đường Lao Bảo về Bản Đông “xấu hơn dự trù.”; ngày 13 tháng 2 tướng Sutherland báo cáo về MACV “đường bị hỏng đôi khi sâu 20 bộ (6.6 mét). FRUS, sđd, Docements 127 và 129; Sorley, The Abrams Tapes, tr. 532.
[7]  Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr. 108-109.
[8]  Merle L. Pribbenow trong Victory in Vietnam: Official History of The People’s Army of Vietnam, 1945-1975, tr. 274; The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1945-1975, tr. 43.   

 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 25 Tháng Bảy, 2014, 04:25:12 PM

Ước Lượng Tình Báo

MACV ước lượng QĐND ở vùng hành quân có chừng 220 đến 250 súng phòng không. MACV lấy ước lượng này từ không quân. Trên thực tế, vùng tác chiến có từ 625 đến 660 súng phòng không từ 12.7 ly đến 85 ly. MACV ước lượng ngày N (30 tháng 1) địch có bảy trung đoàn chủ lực và bốn binh trạm sẳn sàng tác chiến; và địch cần 14 ngày (ngày N +14/ 14 tháng 2) để tiếp viện quân từ bắc vĩ tuyến xuống chiến trường. Ước lượng không sai nhiều, nhưng quân tiếp viện đến từ hướng nam nhiều hơn hướng bắc. Những sư đoàn có quân hiện diện trong vùng hành quân là các Sư Đoàn 2, 304, 320, 324B. Hai trung đoàn của Sư Đoàn 308 đến ngày N +10 mới đến phía tây căn cứ Phú Lộc của LĐ1BĐQ. Trung Đoàn 36/308 còn lại, đến ngày 6 tháng 2 mới rời Hà Tỉnh vào chiến trường. [7]
Bảy trung đoàn tác chiến, cộng bốn binh trạm. Một lực lượng tương đương 11 trung đoàn QĐND đang chờ đoàn quân VNCH tấn công. Tuy nhiên ước lượng trận liệt này hơi “khiêm nhường.” Bốn Binh Trạm MACV liệt kê là 9, 27, 33, và 34. Nhưng đó chỉ là những binh trạm MACV nhe lén được thông tin. Những Binh Trạm  khác nằm ngay trong vùng hành quân như 12, 18, 42, không thấy kể vào trận liệt. Theo quân sử  QĐND, trong cao điểm của LS719 QĐND có mặt ở chiến trường là: năm Sư Đoàn Bộ Binh 308, 304, 320, 324B, và 2; hai Trung Đoàn độc lập 27 và 278; tám trung đoàn pháo binh; ba trung đoàn xe tăng; sáu trung đoàn phòng không, tám tiểu đoàn đặc công; và một số đơn vị hậu cần, vận tải. Tài liệu của BTMLQ viết, một vài nơi ở mặt trận QĐND có quân số đông gấp ba lần VNCH.[8]...

...[8]  Merle L. Pribbenow trong Victory in Vietnam: Official History of The People’s Army of Vietnam, 1945-1975, tr. 274; The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1945-1975, tr. 43....

Tiên sinh nkp có thể nêu rõ tác giả đã chỉ cụ thể ở những đâu không nhỉ.
Ngoài ra, đề nghị đính chính là F2 (thiếu), F320A (thiếu), F304 chỉ có E24 trực tiếp tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào; còn lại là dự bị cả. F324 hành quân ra nam đường 9 quân số cũng không nhiều đâu bác, bị rơi rụng nhiều trong quá trình 1970 phía tây Sông Bồ rồi ạ,  ;).


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 25 Tháng Bảy, 2014, 09:04:05 PM
Theo quân sử  QĐND, trong cao điểm của LS719 QĐND có mặt ở chiến trường là: năm Sư Đoàn Bộ Binh 308, 304, 320, 324B, và 2; hai Trung Đoàn độc lập 27 và 278; tám trung đoàn pháo binh; ba trung đoàn xe tăng; sáu trung đoàn phòng không, tám tiểu đoàn đặc công; và một số đơn vị hậu cần, vận tải. Tài liệu của BTMLQ viết, một vài nơi ở mặt trận QĐND có quân số đông gấp ba lần VNCH.[8]...
[8]  Merle L. Pribbenow trong Victory in Vietnam: Official History of The People’s Army of Vietnam, 1945-1975, tr. 274; The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1945-1975, tr. 43....
Tiên sinh nkp có thể nêu rõ tác giả đã chỉ cụ thể ở những đâu không nhỉ.
Ngoài ra, đề nghị đính chính là F2 (thiếu), F320A (thiếu), F304 chỉ có E24 trực tiếp tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào; còn lại là dự bị cả. F324 hành quân ra nam đường 9 quân số cũng không nhiều đâu bác, bị rơi rụng nhiều trong quá trình 1970 phía tây Sông Bồ rồi ạ,  ;).
1. Tôi chỉ có thể trích những gì có thể tìm được trong sử liệu. Tài liệu của Ban Tham Mưu Liên Quân đến từ sách: The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, 1945-1975.  Theo tôi, đây là một trong "tứ thư" quan trọng của người Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam (ba bộ sách còn lại là
The Pentagon Papers (Tài Liệu Ngũ Giác Đài/trọn bộ 7.000 trang); Foreign Relations of the United States: Vietnam (Liên hệ Ngoại Giao Hoa Kỳ và Việt Nam/ 12 cuốn); và, CIA: Estimative Products on Vietnam, 1948-1971 (CIA: Ước Lượng Tình Báo về Việt Nam/ 1.000 trang). Sách của Ban Tham Mưu Liên Quân trích theo tác giả Pribbenow, và tác giả Pribbenow dịch từ Lịch Sử Quân Đội, Tập II: Thời Kỳ Trưởng Thành của QĐND trong Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975).
2. Đề nghị của Quangcan rất hữu lý ("Ngoài ra, đề nghị đính chính là F2 (thiếu), F320A (thiếu), F304 chỉ có E24 trực tiếp tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào; còn lại là dự bị cả ..."). Nhưng tôi không thể làm gì hơn, vì nguồn đến từ sách đã trích. Như bạn đã thấy, trận liệt như đã ghi có thể là trận liệt sau cùng của chiến dịch, chứ không thể vào những ngày đầu. 
3. Theo tôi, một trường hợp điển hình về quân phòng thủ (QĐND) đông gấp 3 lần quân tấn công (VNCH) là ở căn cứ Biệt Động Quân bắc (Ranger North) của tiểu đoàn 39 BĐQ: Tiểu đoàn này đóng ngay vùng tác chiến của hai trung đoàn 102 và 88/ F308 (đọc Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr. 109). Theo báo cáo của BTTM VNCH, tiểu đoàn 39 BĐQ có không hơn 700 tay súng.
Vài ghi chú để giải thích, hy vọng làm sáng tỏ được phần nào.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 26 Tháng Bảy, 2014, 01:20:50 PM
Giúp tiên sinh nkp đưa 03 ảnh lên diễn đàn. Bác nào rảnh, hiểu kỹ thuật thì hướng dẫn giùm tiên sinh nkp cách để ảnh dưới bài viết nhằm minh họa cho dễ. Em bận quá,  ;D. Xin cảm ơn.

Bản tổng kết HQLS719 từ 8 tháng 2 đến 27 tháng 3-1971. Theo bản tổng kết số quân tham chiến lúc bắt đầu hành quân là 30.764 quân. Nhưng toán cộng ở đây chỉ cho 27.836 quân. Số quân thật sự tác chiến ở mặt trận không hơn 18.000 quân. Nguyễn Duy Hinh trong Operation Lam Sơn 719 viết, trong 42 tiểu đoàn tham chiến, chỉ có 34 tiểu đoàn thật sự tác chiến.

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/Scan8_OB_719_zps4dedbee3.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/Scan8_OB_719_zps4dedbee3.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 26 Tháng Bảy, 2014, 01:29:26 PM
(tiếp theo)

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/Scan10a_zpscc7ce8f9.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/Scan10a_zpscc7ce8f9.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 26 Tháng Bảy, 2014, 01:30:05 PM
(tiếp theo)

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/MapofNhayDuLS719_zps6b122cbf.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/MapofNhayDuLS719_zps6b122cbf.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 26 Tháng Bảy, 2014, 03:24:03 PM
Có một sử liệu khá khách quan vì nó thuộc phần nghiệp vụ chuyên môn, ít dính đến mảng chính trị và tuyên huấn nên tôi nghĩ có thể minh chứng. Theo tài liệu quân y QĐND Việt Nam:

Trích dẫn
.....Toàn bộ lực lượng mặt trận 702 tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào là 3 sư đoàn, 6 trung đoàn, 2 tiểu đoàn bộ binh; 7 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn, 2 tiểu oàn, 1 đại đội pháo binh; 1 tiểu đoàn và 5 đại đội xe tăng; 2 trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo cao xạ; 1 đại đội và 2 trung đội hóa học; 1 tiểu đoàn và 2 đại đội trinh sát; 2 tiểu đoàn thông tin; 2 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh với tổng quân số 58.971 người và 3.494 dân công. Phân chia cho các hướng như sau: hướng B70 có quân số 29.045; hướng B5: 15.373; hướng sư đoàn 324: 7.867; hướng F2/ sư đoàn 2: 10.000.....

.....Toàn chiến dịch có 6.174 thương binh chiếm 10% quân  số tham chiến; tử vong 2.165 chiếm 25,8% tổng  số thương vong. Cụ thể: B5 có 300 thương binh = 4,5% quân số, 127 tử vong; B70 có 3.431 thương binh = 13,2% quân số, 1.345 tử vong; hướng 559 có 1.412 thương binh = 10,4% quân số, 354 tử vong; hướng các sư đoàn có 1.031 thương binh = 8% quân số, 324 tử vong.....

Có chi tiết hơn nữa về các trung - sư đoàn và tỷ lệ loại bị thương, .....

Vẫn theo tài liệu này thì phía VNCH được tổng hợp như sau:
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/quansolamson719_zps3c9ba5fd.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/quansolamson719_zps3c9ba5fd.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 26 Tháng Bảy, 2014, 10:26:12 PM
Giúp tiên sinh nkp đưa 03 ảnh lên diễn đàn. Bác nào rảnh, hiểu kỹ thuật thì hướng dẫn giùm tiên sinh nkp cách để ảnh dưới bài viết nhằm minh họa cho dễ. Em bận quá,  ;D. Xin cảm ơn.

Cảm ơn mister Quangcan đã đăng hình tài liệu dùm. Tôi vẫn chưa học  được
cách đưa hình lên VMH.

Xin ghi thêm vài lời, giải thích về hai tài liệu còn lại:
1. Tóm gọn ý điện tín của Đại Tướng Abrams trả lời Trung Tướng Sutherland, tư lệnh Quân Đoàn XXIV:  (1) Thẩm quyền không lực hiện tại của QĐ XXXIV không cho phép quân đoàn yểm trợ trực thăng chở quân VNCH chiếm Co Roc trước để chuẩn bị cho cuộc hành quân. (2) Đang có một trung đội lực lượng đặc biệt hiện diện ở Co Roc. Nếu hoạt động của địch vẫn không thay đổi, thì trung đội này có đủ khả năng kiểm soát được địa hình ở đó. (Prairie Fire là mật danh của các toán lực lượng đặc biệt của MACV -- MACV-SOG). Ngày ghi trên điện tín trả lời phải là 1 tháng 2, thay vì 1 tháng 1 như đánh máy lầm. Vì thư trả lời "Trả lời cho điện văn ngày 31 tháng 1."
2. Bản đồ hành quân của sư đoàn Nhẩy Dù cho thấy sự lạc quan của các sĩ quan sọan thảo hành quân: Sư Đoàn ND sẽ bảo vệ 10 căn cứ hoả lực, hay cao điểm dùng cho trực thăng vận, sau khi chiếm được Tchepone. Nhưng thực tế chiến trường cho thấy tiểu đoàn 6 Nhảy Dù không chiếm được cao điểm để thành lập căn cứ 32 (theo bản đồ hành quân). Tiểu Đoàn 6 đổ bộ ngay vào vùng tác xạ của binh đoàn B70; và phải di tản vì thiệt hại quá nặng. Sự lạc quan của ban sọan thảo hành quân là: ngay thời gian đó, quân Dù phải tiếp tục thiết lập thêm ba (3) căn cứ 11, 13, 14. Nhưng tìm đâu ra quân để chiếm và giữ ba căn cứ theo quân lệnh? Lữ Đoàn 3 với ba tiểu đoàn 2, 3 (và 6) đang giữ căn cứ 30 và 31; LĐ 1 với ba tiểu đoàn 1, 8, 9 đang trấn thủ căn cứ chánh ở Bản Đông. Lữ đoàn này có nhiệm vụ tung quân ra, thiết lập CC 11, 13 và 14. Nhưng vì một lý do gì đó, lực lượng đặc nhiệm hổn hợp Dù-Thiết Kỵ nầy không bao giờ đi xa hơn 5km tây Bản Đông.               


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 27 Tháng Bảy, 2014, 03:59:12 AM
Có một sử liệu khá khách quan vì nó thuộc phần nghiệp vụ chuyên môn, ít dính đến mảng chính trị và tuyên huấn nên tôi nghĩ có thể minh chứng. Theo tài liệu quân y QĐND Việt Nam:

Trích dẫn
.....Toàn bộ lực lượng mặt trận 702 tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào là 3 sư đoàn, 6 trung đoàn, 2 tiểu đoàn bộ binh; 7 tiểu đoàn đặc công; 4 trung đoàn, 2 tiểu oàn, 1 đại đội pháo binh; 1 tiểu đoàn và 5 đại đội xe tăng; 2 trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo cao xạ; 1 đại đội và 2 trung đội hóa học; 1 tiểu đoàn và 2 đại đội trinh sát; 2 tiểu đoàn thông tin; 2 trung đoàn và 2 tiểu đoàn công binh với tổng quân số 58.971 người và 3.494 dân công. Phân chia cho các hướng như sau: hướng B70 có quân số 29.045; hướng B5: 15.373; hướng sư đoàn 324: 7.867; hướng F2/ sư đoàn 2: 10.000.....

.....Toàn chiến dịch có 6.174 thương binh chiếm 10% quân  số tham chiến; tử vong 2.165 chiếm 25,8% tổng  số thương vong. Cụ thể: B5 có 300 thương binh = 4,5% quân số, 127 tử vong; B70 có 3.431 thương binh = 13,2% quân số, 1.345 tử vong; hướng 559 có 1.412 thương binh = 10,4% quân số, 354 tử vong; hướng các sư đoàn có 1.031 thương binh = 8% quân số, 324 tử vong.....

Thấy Quangcan đăng tải về trận liệt của Mặt Trận 702, vì không rành về cơ cấu trận liệt QĐND tôi có câu hỏi sau đây:
Trong những tài liệu về Hậu Cần (trong đó có Quân Y), bốn lực lực tham gia chiến dịch Đường 9-Nam Lào được liệt kê riêng rẽ (như số liệu nhận từ hậu cần; số thương vong; số đạn tiêu thụ ...). Tổng Cục Hậu Cần liệt kê  riêng rẽ theo từng lực lượng: Binh Đoàn 70; B-5; B-4; và Binh Đoàn Trường Sơn 559.  Trên thực tế MT 702 của Đại Tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy chiến lược/ chiến thuật tất cả các đơn vị tham dự chiến dịch Đường 9-Nam Lào. Nhưng không hiểu tại sao BTL Tổng Cục Hậu Cần chỉ kể đến các đơn vị của B70 (có thể tôi chưa được dịp đọc được tài liệu mới nói về tổ chức hậu cần trong chiến dịch Đưòng 9-Nam Lào). Vùng trách nhiệm của B-5, theo tin tình báo VNCH và MACV có được, là 15km bắc , và 15 km nam Sông Bến Hải. Như vậy, B-5 và B-4 nằm trong hệ thống quân giai ra sao đối với Binh Đoàn Trường Sơn, với B70/ Mặt Trận 702?




Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 29 Tháng Bảy, 2014, 03:13:02 PM
Trích dẫn
...Ngay sau khi địch mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719", Bộ Chính trị đã họp quyết định mở chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào và chỉ thị cho Quân ủy Trung ương: Nhất thiết phải đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược".
Ngày 6 tháng 2 Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 (mật danh là Mặt trận 702) được thành lập. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng và Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử làm tư lệnh và chính ủy Mặt trận. Đại tá Cao Văn Khánh làm tư lệnh phó, đại tá Phạm Hồng Sơn làm phó tư lệnh tham mưu trưởng, đại tá Hoàng Phương làm phó chính ủy. Nhiều cán bộ phụ trách các tổng cục, các quân chủng, binh chủng được tăng cường cho cơ quan Mặt trận. Đây là cơ quan chỉ huy mạnh có đủ quyền hạn và khả năng chỉ huy tất cả các lực lượng tham gia chiến dịch và tổ chức hiệp đồng với các chiến trường có liên quan: Quân khu 4, các bộ tư lệnh B4, Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Đoàn 559 và lực lượng vũ trang của bạn ở Nam Lào. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy trung ương, Tổng tham mưu trưởng được cử làm đại diện của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh liên tục chỉ đạo Mặt trận này....


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 01 Tháng Tám, 2014, 04:53:35 PM
Tôi thấy rằng:
- E64 F320A/ trung đoàn 64 sư đoàn 320A đang vào chiến trường B3 thì được lệnh dừng lại tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào;
- trước đó, E48 F320A/ trung đoàn 48 sư đoàn 320 cũng đến đường 9 thì dừng và ngược lên Phalan.
- trước đó nữa thì E31 F2/ trung đoàn 31 sư  đoàn 2 đã vào tham gia chiến dịch Đắc Siêng
- theo sử liệu từ BTL thông tin liên lạc:
Trích dẫn
...Binh đoàn B70 cũng nhanh chóng triển khai hai đường 1 trục đến sư đoàn bộ binh 308 ở hướng phía đông và sư đoàn bộ binh 304 ở hướng phía tây đường số 16 (Chú thích: Trước khi mở chiến dịch, ta đã nghi binh bằng thông tin vô tuyến điện: sư đoàn 304 tổ chức cụm vô tuyến điện liên lạc bằng các bức điện giả, làm theo luật cũ với Binh đoàn 70, với Bộ Tổng Tham mưu. Địch tổ chức theo dõi ta và báo tin: sư đoàn 304 đã vào Tây Nguyên.). Đoàn 559 và sư đoàn bộ binh 2 dựa vào hệ thống hữu tuyến điện tại chỗ để liên lạc với Bộ Tư lệnh chiến dịch và hiệp đồng với Binh đoàn B70, đồng thời triển khai các đường dây xuống cấp dưới....

Vậy phải chăng QĐVN đã có một phương án tại B3 Tây Nguyên ngay trong đầu năm 1971?
Tiên sinh có thể cho biết, liệu Mỹ + VNCH có phương án B cho việc đánh lớn cả ở ngã ba biên giới tại Tây Nguyên và lam sơn 719? Việc thắt đầu, chặt đuôi là hết sức khả thi và táo bạo phải không ạ!


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 02 Tháng Tám, 2014, 12:46:03 PM
Vậy phải chăng QĐVN đã có một phương án tại B3 Tây Nguyên ngay trong đầu năm 1971?
Tiên sinh có thể cho biết, liệu Mỹ + VNCH có phương án B cho việc đánh lớn cả ở ngã ba biên giới tại Tây Nguyên và lam sơn 719? Việc thắt đầu, chặt đuôi là hết sức khả thi và táo bạo phải không ạ!

“Hết sức khả thi và táo bạo” là một câu nói quá lịch sự về  kế hoạch của VNCH-Hoa Kỳ! Câu nói đúng hơn phải là, “Quá táo bạo và sẽ không thể nào thực hiện được.”
Từ giữa năm 1970 người Mỹ muốn đánh một trận cuối cùng trước khi ngân sách quốc phòng cho chiến trường Viet Nam bị cắt giảm. Nhà Trắng đồng thời cũng dự liệu quốc hội Mỹ sẽ dùng mọi biện pháp để giảm thiểu tối đa hoạt động và sự hiện diện của quân tác chiến Hoa Kỳ hai quốc gia Lào và Cam Bốt. Từ giữa năm 1970 đến đầu năm 1971, các trại Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ nằm dọc theo biên giới được Giao lại cho VNCH, và hoán chuyển thành các tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng. Đúng như Nhà Trắng tiên đoán, tháng 12-1970 quốc hội phê chuẩn bộ luật Cooper-Church, cấm sự hiện diện của quân tác chiến Mỹ trên hai quốc gia lân cận. Trong chiều hướng bị cắt giảm và giới hạn đó, BTL Thái Bình Dương (Pacific Command) và BTL MACV quyết định đánh một ván bài lớn cuối cùng. Nhưng ván bài quá lớn cho số “tiền” (quân số) MACV đang có. Sự cán đáng nhiều trách nhiệm cho quân lực VNCH trong thời gian đầu của chương trình Việt Nam Hóa, một rường hợp Đô Đốc McCain gọi là “ăn nhiều quá không tiêu.”

1. Trong nguyên thủy của kế hoạch hành quân thường niên 1971-AB, Hoa Kỳ đề nghị hành quân cùng lúc ở 3 mặt trận: Quân Đoàn I đánh qua Lào; Quân Đoàn II đánh lên thung lũng Dakrong (hướng bắc thung lũng A-Shau); Quân Đoàn III và IV đánh qua vùng Ba Biên Giới và Cam Bốt. Hoa Kỳ đề nghị và muốn như vậy, nhưng họ không có quân số và phương tiện đủ để yểm trợ. Tương tự, quân số của VNCH ở Vùng II không đủ để bình định 12 tỉnh của Vùng II, thì lấy đâu mà hành quân qua biên giới để thử lửa với Mặt Trận B-3?
2. Đến cuối tháng 12 năm 1970, kế hoạch thường niên AB được cụ thể hoá như sau: QĐ III và IV sẽ đánh qua Cam Bốt (HQ Toàn Thắng 1/71); QĐ I sẽ tấn công chiếm Tchepone (HQ Lam Sơn 719). Vai trò của QĐ II sẽ tùy thuộc vào kết quả Giai Đoạn III – giai đọan khi quân VNCH đã chiếm được Tchepone … và trên đường lui quân về biên giới (giả định là VNCH đã phá hủy kho tàng quân nhu … lục soát đầy đủ, và thoả mãn  với thời gian chiếm đóng). Đến đây kế hoạch 1971-AB bắt đầu táo bạo hơn: trên đường rút quân, lực lượng hỗn hợp Dù-Thiết Kỵ sẽ trở lại theo Đường 9; Sư Đoàn 1 Bộ Binh sẽ từ Tchepone đi đường 914
về hướng đông nam,  hành quân ngược lại vùng Dakrong-A shau; đi qua căn cứ tiếp liệu 611 (Hành quân trong nghĩa vừa lui quân, vừa phá hủy những kho hậu cần lộ liểu.). Khi đạt được đến giai đọan đó, QĐ II sẽ đánh qua biên giới để bắt tay với đoàn quân trở về (có nghĩa một trong hai Sư Đoàn 22, 23, sẽ đánh qua B-3 hơn 45 km để bắt tay với SĐ 1 BB hành quân hơn 80km từ Tchepone trở về.
Kế hoạch sẽ không thực hiện được vì Hoa Kỳ không đủ không vận để yểm trợ cho hai sư đoàn (22, hoặc 23, và 1 BB). Một chứng cớ: Ngày 24 tháng 2 (một ngày trước khi căn cứ 31 của TĐ3/LĐ3 Nhẩy Dù thất thủ), QĐ XXIV hỏi “mượn” QĐ I Dã Chiến Lục Quân Hoa Kỳ (đây là BTL Hoa Kỳ cố vấn cho QĐ II VNCH/ US Army I Field Forces) một số trực thăng võ trang Cobra, vì QĐ XXIV đã rớt khá nhiều lọai trực thăng đó. QĐ Dã Chiến I trả lời là họ đã hết phương tiện, vì họ đang hổ trợ cho QĐ Dã Chiến II (cố vấn cho QĐ III VNCH) đang đánh qua Cam Bốt. Chúng ta phải nhớ, VNCH đang có 22 ngàn quân ở Cam Bốt cùng lúc với 17 ngàn quân ở Nam Lào -- ăn quá nhiều khó tiêu!
3. Trách nhiệm giao cho Sư Đoàn 1 BB VNCH quá nặng: Làm sao SSD 1 BB có thể đánh từ Lao Bảo qua Tchepone; rồi từ Tchepone hành quân theo đường 914 trở về biên giới? Một sự đòi hỏi siêu nhân. Nhìn vào bản đồ, với địa hình dọc hai bên Đường 914 chạy hưóng đông nam về biên giới, một sư đoàn thiếu như SĐ 1 BB thì không thể nào “bao sân” cho một đoạn đường 80 km ở Hạ Lào, ở Muong Nong.
4. Sự bất khả thi ở đây đây là Hoa Kỳ không đủ trực thăng vận để hứa hẹn một chiến dịch phản công lớn như kế hoạch 1971-AB đòi hỏi. Hoa Kỳ chỉ cho mỗi tiểu đoàn trực thăng (48 đến 52 chiếc đủ lọai) phục vụ cho 1 sư đoàn tác chiến. Với địa hình và hoả lực của QĐND ở Hạ Lào, với tình trạng tác chiến đối điện, 48 hay 52 trực thăng thì không đủ cho 1 sư đoàn. Chứng cớ: Ngày hành quân thứ ba (11 tháng 2), căn cứ hoả lực 30 cuả tiểu đoàn 2 Nhẩy Dù tuyên bố tình trạng nguy hiểm về tiếp liệu (không đủ); ngày hôm sau, chi huy truởng của một đại đội trực thăng chở nặng (CH-47) thông báo cho trung tâm hành quân là ông ta không thể tiếp tục tiếp tế nếu trực thăng chuyên chở của ông ta không được trựcthăng võ trang Cobra hộ tống. Và ông ta ra lệnh cho đại đội CH-47 bay về Phú Bài!
4. Nếu diễn đàn VMH cần sử liệu thì tôi sẽ cung cấp về những chi tiết trên.       
                           



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 02 Tháng Tám, 2014, 01:41:16 PM
Vâng, rất mong tiên sinh cung cấp và dẫn chứng các tài liệu có liên quan để tôi được hiểu thêm rõ hơn. Cảm ơn nhiều,  ;D.

Tôi vẫn luôn cho rằng, mùa khô 1971 là một cơ hội tuyệt vời, thời điểm thích hợp nhất đối với phía Mỹ + VNCH trong việc đối phó với QĐNDVN. Có thể thấy rằng, suốt từ 1965 đến 1970 thì Lam Sơn 719 là chiến dịch quy mô siêu lớn  diễn ra trong hoàn cảnh đầy khó khăn và thiếu hụt về mọi mặt của phía Bắc Việt. Nhất lại là sau chiến dịch càn quét/ tàn phá khá thành công tại Cambodia, Mỹ + VNCH có sức mạnh tinh thần rất lớn trong hoạt động tác chiến. Vấn đề chỉ là làm sao để mùa khô 1971 họ thu được kết quả tối ưu nhất nhằm từng bước đánh quỵ QĐNDVN? Sai lầm của Lam Sơn 719 đã rõ, có lẽ không phải bàn nhiều. Thế nhưng nếu một kế hoạch tác chiến tương tự, diễn ra ở ngã ba biên giới liệu có khả thi hơn không? liệu ưu thế và hoạt động tác chiến có hơn hẳn? Mỹ +VNCH đã phân tích và đánh giá sự tương tác, lợi và hại của 2 khu vực tác chiến này ra sao để đi đến sự lựa chọn cuối cùng?

Có một điểm khá hay là từ kết quả thắng lợi của Chiến dịch đường 9 Nam Lào, QĐNDVN đã có thêm thời gian, sự chuẩn bị khá hoàn hảo cho mùa khô 1972 với những kế hoạch tác chiến cũng .... rất táo bạo khi niềm tin và sức mạnh tinh thần cũng có được như VNCH có trước Lam Sơn 719.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 02 Tháng Tám, 2014, 10:21:45 PM
Vâng, rất mong tiên sinh cung cấp và dẫn chứng các tài liệu có liên quan để tôi được hiểu thêm rõ hơn. Cảm ơn nhiều,  ;D.

Tài liệu hỗ trợ cho đọan văn # 1 và 2 (kế hoạch thường niên AB và những lượng định về ba mặt trận ở Lao, Cam Bot và A Shau-Dakrong-Sekong) đến từ Foreign relations of the United Satem Vol. 7, tàl liệu số 105;  Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Operation Lam Son 719, trang 33; và, The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, Chương 1.
Tài liệu cho đọan văn #3 (thiếu trực thăng và phải mượn trực thăng từ II Field Forces) điện văn trao đổi giữa QĐ XXIV và MACV; Lewis Sorley, The Abrams Tapes, trang 544; Robert D. Sander, Invasion of Laos, 1971 Lam Son 719, trang 119-121. Tác phẩm Invasion of Laos, 1971 là sách mới nhất về HQ LS719 (tháng 2-2014). Tác giả Sander là cựu phi công trực thăng bay yểm trợ trong HQ LS719. 
Một chi tiết khác, khá trong trọng về sự thay đổi nửa chừng trong HQ Lam Sơn 719: Ngày 20 tháng 2, Tổng Thống Thiệu thay đổi kế họach cho SĐ1 BB  như sau: Thay vì rút quân về theo đường 914, SĐ1 BB sẽ về theo đường 922 về biên giới. Nhìn vào bản đồ Đường 914 về biên giới đã xa; Đường 922 càng xa hơn. Ở đây chúng ta không biết ông Thiệu có coi bản đồ lộn hay không, nhưng với tình hình chiến sự vào ngày 22 (căn cứ BĐQ bắc vừa thất thủ; căn cứ BĐQ Nam đang trong tình trạng nguy ngập) mà thẩm quyền muốn SĐ1 BB rút quân về theo đường 922 là một sự điên rồ khó tưởng tưởng. The JCS and the War in Vietnam, trang 8-9.
Tình Thân.     


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Tám, 2014, 10:27:53 PM
Chương Bảy

Nửa Đường Đi Xuống

Bản Đông
 
Ngày đầu của cuộc hành quân, “ngày N” trong ngôn từ  quân sự, tất cả  các  đơn vị  xuất quân  thực hiện được mục tiêu như  lệnh hành quân  chỉ  thị.  Hai Tiểu  Đoàn 1 và  8 Nhảy Dù  và  hai Thiết Đoàn 11 và  17  đi  theo đường bộ  về  Bản  Đông.  Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy  Dù-Thiết Kỵ  đi  chậm  vì  gặp  trở  ngại:  đường xấu, phải chờ  công binh  lấp những hố  bom sâu cho cơ  giới qua.  Từ Lao Bảo về  Bản  Đông  khoảng 18 km. Trên  đọan  đường này  lực lượng hành quân thiết lập hai bãi đáp trực thăng và cũng là tuyến bảo vệ  đường:  Bãi  Đáp Bravo và  Alpha  (Alpha thành lập  hai tuần  sau Bravo).  Bravo và  Alpha được  giao cho  hai chi đội  thiết kỵ  của ThĐ4KB trấn giữ.  Nhưng vào cao  điểm của cuộc hành quân, Bravo và Alpha được hai tiểu đoàn Nhảy Dù trấn giữ. Ở  hướng đông bắc Bản Đông, các vĩ tuyến 17 chừng 10  km và  khoảng năm km bên kia biên giới,  BĐQ thiết lập  hai căn cứ phòng  thủ  theo chiều  dọc  bắc  nam,  CCBĐQB  (căn cứ BĐQ bắc) và  CCBĐQN  (căn cứ  BĐQ  nam),  do  Tiểu  Đoàn 39 và  21 BĐQ trấn giữ  (đến  ngày N +3, TĐ39BĐQ mới chiếm  đóng CCBĐQB).  Ở  phía sau, nằm xéo về  hướng  đông  nam của BĐQ là  CC30ND  của TĐ2ND. Hơn năm cây số  về  hướng tây của CC30ND, và khoảng tám cây số cực bắc Bản Đông, là CC31ND. Nơi  đây  đặt  bộ  chỉ  huy  của  LĐ3ND và  do  TĐ3ND  phòng thủ. Tất cả  các căn cứ  ở  hướng bắc  Đường 9  được  đổ  bộ  và  thiết lập trước 5 giờ  chiều ngày  N  của  cuộc hành quân  (trừ  TĐ39BĐQ). Như  vậy, năm tiểu đoàn tác chiến và  ba  đại đội pháo binh (pháo đội)  sẽ  lập thành  một lá  chắn  phòng thủ  hướng bắc của  trục tiến quân.
Ở  phía nam  Đường 9. Ba tiểu  đoàn của Trung  Đoàn 3 Bộ Binh, SĐ1BB  (TrĐ3/SĐ1BB) chiếm những  cao  điểm trải dài từ đỉnh Co Roc  đến  nửa  đường  đến Bản  Đông.  Theo  dự  trù, trong vài ngày sắp tới,  thêm  hai  trung  đoàn của SĐ1BB  sẽ  đổ  bộ  lên những cao  điểm để  bảo vệ  phía  nam  Đường 9  từ  Bản  Đông  đến nửa đường về Tchepone — một hành lang dài hơn 20 cây số. Hai Trung  Đoàn  1 và  3  của SĐ1BB có  đến  tám  tiểu  đoàn  tác chiến. Kế  hoạch hành quân ước lượng  SĐ1BB có  đủ  quân để  chu toàn trách nhiệm.[1]

Ngày 8 tháng 2, khi lực lượng đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ dùng chân nghỉ  qua  đêm ở  cây số  thứ  10 trên đường tiến quân, 6.200 quân VNCH  đã  có  mặt  ở  Hạ  Lào. Ba chết, 14 mất tích; 38 bị thương; ba trực thăng bị bắn rơi, trong đó có một đang đổ bộ lính Dù xuống CC31ND. Đó là thiệt hại của ngày đầu trên đường đến Bản Đông.
Ngày N +1 (9 tháng 2). Trời mây thấp, có  mưa rào từng cơn. Đường ướt, lầy lội, khó  đi hơn. LĐ3ND tiếp tục nới rộng vòng đai phòng thủ  của họ  ở  hướng tây bắc. Ngày N +5 (13 tháng 2), hai đại đội của TĐ6ND đổ bộ xuống phía tây CC31ND để  thiết lập CC32ND như  tiêu lệnh hành quân. Nhưng cuộc  đổ quân không yên thấm như  những ngày trước, khi kháng cự  của địch hầu như  không có. Lần này đại  đội của TĐ6ND đổ  bộ  ngay vào vị  trí  của  địch. Hỏa lực phòng thủ  và  kháng cự  của  địch mạnh  đến  độ  đại  đội  được lệnh rời vị  trí, di tản về  hướng CC31ND. Một số  quân  được trực thăng bốc trở  lại Khe Sanh, một số  rút vào đóng chung với TĐ3ND ở  CC31ND. Cuộc đổ  bộ “lầm” mục tiêu gây thiệt hại cho TĐ6ND 28 chết; 50 bị  thương; và  23 mất tích. Sức kháng cự  của Quân giải phóng  được BTL MACV ghi nhận và đề cập vài ngày sau ở Sài Gòn.[2]

Ngày hành quân N+1, trên Đường 9, Quân Dù  và Thiết Kỵ di chuyển chỉ  được năm cây số  ngày hôm đó. Một số  phi vụ  đổ quân bằng trực thăng bị  hủy bỏ; không lực yểm trợ  bị  giới  hạn tối  đa cho ngày 9. Thời tiết tiêu biểu ở  Hạ  Lào: buổi sáng chừng 10 giờ  đến 12 giờ  sương mù  mới tan; sương mù  lại che phủ  sau mặt trời lặn. Lính  ở  các căn cứ  bung ra lục soát và  xây dựng thêm hầm hố  phòng thủ. Số  hàng tiếp liệu khám phá  chung quanh vùng hành quân làm bộ  chỉ  huy phấn khởi:  ở  ngoài Bản Đông mà  nhiều như  vậy, thì  ở  Bản Đông, ở  Tchepone, hàng hóa tiếp liệu dự  trữ  sẽ  còn nhiều hơn. Báo cáo từ  TĐ2 và  3 Dù; TĐ21BĐQ, và  các tiểu  đoàn bộ  binh  ở  hướng nam … họ  khám phá nhiều hầm chứa vũ khí và hàng quân nhu quân dụng. Phản  ứng của  địch rất chậm và  yếu trong hai ngày  đầu: Từ Đông Hà  về Lao Bảo, các lực lượng của B-5 chỉ bắn phá lẻ tẻ và phục kích các  đoàn xe chở  tiếp liệu, mặc dù  B-5 có  hai trung đoàn tác chiến, hai trung  đoàn pháo binh, và  một tiểu  đoàn  đặc công  đang  ứng chiến tại mặt trận. [3]

Ở  hai hướng bắc nam của Đường 9, phản  ứng của  địch là  pháo kích hay chống trả  cầm chân rồi di tản khi vị trí bị khám phá. Tình hình chung có vẻ yên lặng. Nhưng truyền tin điện tử nghe được cho thấy địch đang tiếp viện thêm quân; củng cố  lực lượng; và  xác  định tọa độ  của các căn cứ  để  chuẩn bị  phản công. Trong vài ngày đầu, chiến thuật của địch dường như là “tránh voi chẳng xấu mặt nào.”

Ngày hành quân N+2 (10 tháng 2). TĐ4/TrĐ3/SĐ1BB  đổ bộ  xuống căn cứ  Delta ở  hướng nam với thiệt hại hai trực thăng bị  bắn rơi.  Ở  Bản  Đông, những cuộc  đổ  quân bằng trực thăng của TĐ9ND gặp trở ngại với năm ổ phòng không 12 ly 7. Nhưng đến chiều thì  tiểu  đoàn chiếm được Bản  Đông để  bắt tay với cánh quân  đi vào bằng  đường bộ.  Địch biết Bản  Đông sẽ  bị  tấn công bằng trực thăng vận, nên họ  di tản trước. Phi cơ  quan sát thấy 11 xe kéo đại bác phòng không 37 ly đi về hướng Tchepone trước  đó.[4] Lực lượng  đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ  đến giao  điểm Đường 9 và  92 gần như  cùng lúc với cuộc trực thăng  vận của TĐ9ND vào Bản  Đông, cách  đó  không hơn 1 cây số. Chiếm xong Bản Đông, lực lượng đặc nhiệm bung ra lục soát. Trinh sát về  hướng tây Bản  Đông cho biết  đường lộ  về  Tchepone còn tốt; cơ giới có thể di chuyển nhanh được.[5] Nhưng vào ngày 10 tháng 2  bộ  tư lệnh QĐI bị  một thiệt hại rất nặng về  tâm lý: Hai trực thăng trên  đường thị  sát mặt trận  ở CCHotel và  CC21BĐQ, bị  phòng không 37 ly bắn rơi. Trên một trực thăng có  một  đại tá  trưởng phòng hành quân quân  đoàn; và một trung tá  trưởng phòng tiếp liệu của quân  đoàn. Vị  đại tá trưởng phòng hành quân có  mang theo bản  đồ  LS719 với tất cả mật hiệu và  ghi chú, do chính  ông góp phần sọan thảo. QĐI lập tức cho thám sát tìm vị trí của trực thăng bị nạn nhưng không kết quả. Vì  một lý  do không giải thích được, hai trực thăng bị  lạc và bay ngay vào vùng phòng không của  địch. Trinh sát của Không Kỵ  Mỹ  đã  lưu  ý  tất cả  phi công trực thăng về  cường độ  phòng không của  địch  ở  trong vùng.  Đến ngày 10 tháng 2, quân báo chưa xác  định được lực lượng  địch  ở  chung quanh CC21BĐQ, nhưng lúc  đó  bộ  chỉ  huy SĐ308 đang đóng ở  hướng bắc, cách đó “vài ba cây số,” với hai trung đoàn cơ hữu của sư đoàn.[6] Tin không chánh thức cho biết cái chết của đại tá Trưởng Phòng 3 làm xao  động tâm lý  của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh QĐI.[7] Nếu  địch tìm thấy  được bản  đồ  hành quân, thì  tất cả những kế hoạch LS719 sẽ bị lộ từng chi tiết.

Ngày N+3, SĐ1BB  đổ  bộ  và  thiết lập thêm một căn cứ  ở hướng nam; BĐQ  đưa TĐ39BĐQ vào CBĐQB; và  lực lượng đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ  đi  được thêm năm cây số  ra khỏi  Bản Đông. Chỉ  được như  vậy cho ngày N+3: Tất cả  các toán quân khác gần như  án binh bất  động vì  không nhận  được chỉ  thị  nào — hay là họ nhận được chi thị án binh bất động — từ bộ chỉ huy tiền phương ở Khe Sanh. Như trình bày ở chương trước. Theo kế họach,  sau Bản  Đông, LĐ1ND sẽ  lập thêm ba căn cứ  11, 13 và 14, theo một trục tây bắc, nối  Đường 9 và  914. Nhưng khi lực lượng  đặc nhiệm đến  địa  điểm để  lập CC11 thì  họ  đứng lại. Hai ngày 11 và  12 thời tiết xấu, nhưng  đó  có  phải là  lý  do cho sự dậm chân tại chổ của cuộc hành quân?



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 02 Tháng Tám, 2014, 10:52:51 PM
Hai ngày trước khi Hành Quân Dewey Canyon II khai diễn, tướng Viên, Abrams và  Tổng Thống Thiệu có  nói  chuyện với nhau.  Tướng Abrams nói nếu  đánh nhanh, lực lượng  đặc nhiệm có thể đến Tchepone trong 48 tiếng [8].  Tổng thống Thiệu và tướng Viên không phản  đối. Trên thực tế,  đến chiều ngày N của cuộc hành quân, lực lượng đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ  đã  đi 10 cây số — một phần tư  đọan đường đến mục tiêu Tchepone. Nhưng  nếu quân Dù  phải lập ra thêm ba căn cứ  và  phải có  trách nhiệm phòng thủ  như  lệnh hành quân chỉ  thị, thì  quân tác chiến nào sẽ “tùng thiết” với thiết kỵ trên đường vào Tchepone?

(http://i154.photobucket.com/albums/s259/altus_71/Ch1B001A10ng7_ENote_LS719_1_zpscaa49c5a.jpg)

Bãi đáp Bravo trên Đường 9; tay phải là hướng tây đi về Bản Đông.

Lệnh hành quân cho thấy lữ  đoàn Nhảy Dù  nào sẽ  có  trách nhiệm phòng thủ  các căn cứ  được thiết lập: LĐ3ND coi CC30, 31, 32; LĐ1ND, CC11, 13, 14; và  LĐ2, sau khi đổ  bộ  bằng trực thăng chiếm Tchepone, sẽ giữ CC21 và CC22. Quân tấn công có đủ  quân  để  bảo vệ  nhiều cứ  điểm như  được sọan thảo hay không? LĐ1TK chỉ  có  hai thiết  đoàn dưới tay, ThĐKB11 và  17. Mỗi thiết  đoàn có  một chi  đội xe tăng và  hai chi  đội thiết giáp xung kích. Với số  quân này, nếu không có  quân nhảy dù  đi kèm, họ không thể vừa giữ Bản Đông, vừa tiến đánh Tchepone. Có thể toán quân Dù-Thiết Kỵ  ngừng lại  để  chờ  quân tiếp viện thêm, sau khi ra khỏi Bản Đông năm cây số trên hướng về Tchepone.


(http://i154.photobucket.com/albums/s259/altus_71/Ch1B001A10ng7_ENote_LS719_2_zps5a03e76d.jpg)
Trên Đường 9 về Bản Đông. Sông Xe Pone ở phía nam trục tiến quân.

Ngày N +4 của hành quân, một vài thay  đổi quan trọng trong kế  hoạch xảy ra: Ngày 10 tháng 2, Tổng Thống Thiệu bay ra Đông Hà  thị  sát. Tại BTL tiền phương QĐI  ông Thiệu ra chỉ thị: QĐ1 tạm thời  giới hạn lại mục tiêu; chủ  đích của cuộc hành quân trong vài ngày tới là căn cứ hậu cần 611 (A Ro, trong ngụy danh hành quân)  ở  phía nam  Đường 9  —  vùng trách nhiệm của SĐ1BB. Nếu sử  liệu được kiểm chứng  đúng, thì  có  thể  vì  quân lệnh này, lực lượng đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ  dừng lại để  phòng thủ  những căn cứ  đang có, và  để  bảo vệ  hướng bắc cho SĐ1BB họat động  ở  phía nam.[9] Khi MACV biết được quyết  định của Tổng thống Thiệu, tướng Abrams gặp tướng Viên ngày hôm sau, 13 tháng 2, để  hỏi rõ  ý  định của BTTM VNCH. Tướng Viên xác định những thay đổi như  Tổng thống Thiệu  đã  nói  ở  Đông Hà. Ba ngày sau, ngày 16 tháng 2, hai  ông  đại tướng tướng bay ra Đông Hà  gặp tướng Lãm và  tướng Sutherland. Sau khi bàn thảo, tất  cả  đồng ý  (dù  tướng Abrams lưỡng lự, nói nếu chần chờ  địch sẽ viện quân kịp thời) kế hoạch và nhiệm vụ sẽ thay đổi. SĐ1BB sẽ là lực lượng chủ lực thay cho SĐND; mục tiêu Tchepone phải chờ  thêm vài ngày nữa: Sau khi lục soát căn cứ  611 xong, quân cơ  hữu của  QĐI sẽ  quay lại tiếp tục tấn công về  mục tiêu Tchepone. Sự  thay đổi kế  hoạch hành quân của VNCH  đưa đến tranh luận giữa MACV và  BTTM; và  giữa QĐI và  QĐXXIV. Nhưng nhìn sâu bên trong, chúng ta có  thể  hiểu lý  do của sự  thay  đổi từ phía VNCH: Sự phản công mãnh liệt của địch. Không phải ở mặt trận Hạ  Lào mà  thôi, mà  cả  mặt trận Cam Bốt. Vì  một lý  do nào đó, từ  đầu năm 1971, tất cả  chú  ý  đều hướng về  Lào, trong khi ở Cam Bốt, quân số tham dự hai cuộc hành quân ở Cam Bốt tương đương, hay có thể hơn, quân số ở Hạ Lào. Điều đáng chú ý nhất, QLVNCH đang gánh vác một công tác hơn sức họ  chịu  đựng.[10] VNCH phải thay  đổi kế  hoạch vì  đến lúc  đó  Hoa Kỳ  đã  không thực hiện  đủ  những yểm trợ  mà  họ  đã  hứa trước  ba  cuộc hành quân cấp quân  đoàn (QĐI, QĐIII, và  QĐIV). Chính Hoa Kỳ cũng  đang gặp nhiều khó  khăn hơn sức họ  hứa hẹn  được. Cuối năm 1970, BTL MACV vừa bị bộ quốc phòng thúc giục rút quân, vừa phải  đương  đầu với bảy chiến trường, như  thuyết trình viên MACV  đã  một lần diễn giải: “Chiến trường Thượng Lào; oanh tạc ngăn chận Đường HCM; chiến trường Cam Bốt; chiến trường vùng hoạt  động của B-2; vùng hoạt  động của Quân Khu 5; B-5; và Trị-Thiên-  Huế.” Và  khi nghe lời “than” của tư  lệnh Không Lực 7 Hoa Kỳ, chúng ta thấy quân lực Hoa Kỳ  cũng có  sự  giới hạn của họ: “Chỉ  tiêu là  14.000 phi  vụ  một tháng, nhưng cộng thêm vào đó tôi bay 12.000 phi vụ yểm trợ; 21.000 phi vụ vận tải; 850 đến 900 phi vụ  thám thính. … Mình chỉ  có  thể  thực hiện số  phi vụ đến một giới hạn nào thôi" [11]

Một mặt, BTL Thái Bình Dương và  BTL MACV lưu  ý, trong giai  đọan  đầu của chương trình “Việt-Nam-Hóa”  đừng  để quân lực VNCH “ăn nhiều quá  khó  tiêu.” (ngụ  ý  nói giao quá nhiều trách nhiệm, VNCH sẽ  không quán xuyến nổi) Nhưng vì những áp lực và  thúc giục chính trị  nào đó, MACV và  BTL Thái Bình Dương  đề  nghị  hành quân cấp quân  đoàn  —  không phải một, mà  ba quân  đoàn trong ba cuộc hành quân  cùng một lúc.

Cuộc Hành Quân Cửu Long 44-02 của Quân Đoàn IV tương đối “yên tĩnh.” Nhưng Toàn Thắng 1/71 thì  hoàn toàn khác: Quân VNCH phải chạm trán với  địch trên đất  địch, và  xa hậu cần tiếp liệu. Hơn nữa, khi Hành Quân Toàn Thắng 1/71 vừa khai diễn, thì  BTTM và  MACV rút  đi những  đơn vị  chủ  lực như  kế  hoạch nghi binh (một số  đơn vị chủ  lực như  Nhảy Dù  và TQLC có  mặt trong Toàn Thắng 1/71 chỉ  vài ngày  đề  đánh lừa  đối phương … nhưng được di chuyển ra Vùng I ngay sau đó, đó để chuẩn bị cho LS719). Với 21 ngàn quân ở Cam Bốt và 17 ngàn ở Lào, MACV không còn  đủ  phương tiện  để  yểm trợ. Bây giờ, trong giai  đoạn khốc liệt nhất của chiến trường mãnh liệt, khuyết  điểm của MACV lộ  ra trong những thông văn và  thuyết trình báo cáo. …

Nhưng  đó  là  chuyện sẽ  nói  đến. Bây giờ  trở  lại với vùng hành quân.

Ngày 14 tháng 2 tướng Sutherland báo cáo cho MACV biết về  những “va chạm”  đang xảy ra giữa QĐXXIV và  QĐI; và những lý  do đã  làm Tổng Thống Thiệu chỉ  thị  thay đổi kế  hoạch và  nhiệm vụ  vào ngày 12. Tướng Hoàng Xuân Lãm than phiền QĐXXIV không đủ trực thăng để yểm trợ theo nhu cầu của QĐI; và, theo đà trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rớt như đã xảy ra trong tuần lễ  đầu, QĐXXIV sẽ  không còn  đủ  trực thăng  để yểm  trợ  trong những ngày sắp  đến. Tướng Sutherland viết tiếp trong  điện tín, qua cuộc nói chuyện,  ông nghĩ  tướng Lãm sẽ không giữ  Tchepone hơn một tháng như  trong kế  hoạch. Tướng Lãm nói lý  do thay đổi kế  hoạch là  vì  áp lực của địch quá  mạnh ở vùng trách nhiệm của LĐ1BĐQ và LĐ3ND. Thêm vào đó Lực Lượng Đặc Nhiệm (LLĐN) không thể  di chuyển nhanh trên Đường 9 vì  địa hình quá  xấu, khác với ước lượng tình báo. Tướng Lãm muốn QĐXXIV dùng hỏa lực để  “giới hạn” các Trung  Đoàn 88, 24B, và  64 của Quân giải phóng trước khi SĐND tiến về hướng tây (Tchepone). Tướng Sutherland thú  nhận ông ra lệnh cho trinh sát Không Kỵ  tìm vị  trí  của SĐ308 nhưng chưa phát hiện được trung đoàn này đang đóng ở đâu.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Chín, 2014, 01:39:31 AM
Ở cuối bức điện tín dài bốn trang, Sutherland tiên đoán quân số  cần cho chiến trường  có  thể  gia tăng nhiều hơn ước lượng, dựa vào dấu hiệu tăng quân và sự kháng cự mãnh liệt của địch. [12] Điện tín của tướng Sutherland cho thấy ba chi tiết quan trọng: (a) Địa hình Đường 9 hoàn toàn khác không ảnh cung cấp; đường xấu hơn ước lượng; (b) hỏa lực  không quân Mỹ  không áp đảo hay giới hạn được mạng lưới phòng không của đối phương; và  (c)  địch tiếp viện quân nhanh hơn dự  đoán. Ba chi tiết trên có thể làm ông Thiệu thay đổi ý kiến. VNCH thay đổi kế  hoạch vừa  đúng lúc  địch chuẩn bị  phản công. Với quân số hơn sáu trung đoàn tác chiến, Quân giải phóng bắt
đầu phản công: Chiều ngày 20, căn cứ  đầu tiên của VNCH bị thất thủ.

Trận Liệt Quân Giải Phóng Cho Đến Ngày CCBĐQN/B Bị Thất Thủ

Sau gần một tuần trấn thủ; sau khi hứng chịu hơn 2.000 đạn súng cối 82 ly, căn cứ  BĐQ bắc của TĐ39BĐQ thất thủ  lúc 5 giờ  10 chiều ngày 20 tháng 2 (N +12), với 178 chết và  148 bị  thương.[13] Trong số 200 tay súng phá vòng vây di tản về CCBĐQN, chỉ còn 107 quân tác chiến được; số còn lại bị  thương. Trung  Đoàn 102/SĐ308 QGP mất 639 quân để  chiếm ngọn đồi.[14] Lý  do SĐ308 phản ứng quyết liệt và sẵn sàng chịu thiệt hại để triệt tiêu CCBĐQB, vì cao điểm của căn cứ  nằm sát BTL SĐ308 CSVN. Càng nguy hiểm hơn, vị trí  của TĐ39 nhìn xuống kho trữ  hàng quan trọng Mường Trương (hướng tây bắc CC39BĐQ; nơi một kho  hàng bị  bom  đánh, vũ khí và hàng dự  trữ  cháy, nổ  hai ngày mới dứt).[15] Để  triệt tiêu CC39BĐQ, ngoài TrĐ102 đã  nói, SĐ308 còn chi viện thêm một tiểu  đoàn tác chiến và  năm pháo đội. Sau khi CC39BĐQ mất, CC21BĐQ,  ở phía sau chừng hai cây số, bị tấn công ngay ngày hôm sau. Lần này TrĐ88/SĐ308 là lực lượng chính tấn công TĐ21BĐQ đang trấn thủ CCBĐQN. Quân báo MACV đã ước lượng sai về thời gian cần thiết để địch tiếp viện thêm quân: MACV  ước lượng QGP cần  ít nhất 10  đến 14 ngày để  di chuyển quân  đến chiến trường  (ngày hành quân N+18). Nhưng đến ngày N+12, số QGP có  mặt trong vùng hành quân đã tăng gấp đôi. Tù binh mới khai báo họ đến từ những đơn vị khác với những đơn vị đã được ghi trong trận liệt trong những ngày đầu hành quân. Ngày 18 quân báo Mỹ xác định sự hiện diện của SĐ308 QGP, với ba trung đoàn cơ hữu, 36, 88, và 102. Trung Đoàn 64/ SĐ304 có mặt ở vùng Bản Đông từ ngày N-4 (4 tháng 2); Xe tăng lội nước PT-76 đang có mặt ở phía nam CC31 của Nhảy Dù từ ngày 13 (và địch đã dùng xe tăng tấn công các tiền đồn bên ngoài vòng đai căn cứ từ ngày 16). Và cũng cho đến thời gian này quân báo mới biết chính xác vị trí của Binh Trạm 41 với TrĐ141/SĐ2BB QGP đang ở phía nam vùng hoạt động của SĐ1BB VNCH. Căn cứ hậu cần 611 trên đường 914 — mục tiêu tạm thời của SĐ1BB — bây giờ có ba Trung Đoàn 812 và 29 của SĐ324 và TrĐ141/SĐ2BB bảo vệ.[16] Ngày 20 tháng 2 tại BTL MACV, Thiếu Tướng William Potts thông báo, “Trừ SĐ325 và TrĐ9/SĐ304 còn ở lại miền bắc, tất cả các đơn vị QGP đang trên đường đến chiến trường [Hạ Lào].” Báo cáo của tướng Potts (Phòng 2 MACV) cho thấy MACV đã ước đoán sai trận liệt QGP từ lúc đầu. QGP đang có sáu trung đoàn từ các Sư Đoàn 308, 2, 304, 320, và 324B hoạt động ở vùng hành quân.[17] Ước lượng vào ngày 8 khi bắt đầu cuộc hành quân: Địch có ba trung đoàn và bốn binh trạm; ngày 20: địch có sáu trung đoàn và sáu binh trạm — con số này tăng lên tám trung đoàn vào đầu tháng 3. Đó là ước lượng của quân báo Mỹ, nhưng theo quân sử QĐNDVN , đầu tháng 2, vào ngày hành quân, họ đã có 60.000 lính (gấp ba lần ước lượng) tại vùng hành quân.[18] Về tổn thất, đến ngày 20 tháng 2, QGP có số thương vong tương đương bốn tiểu đoàn sau những lần tấn công vào bốn căn cứ ở mặt bắc Đường 9. Trong thời gian đó, VNCH di chuyển về Khe Sanh thêm ba tiểu đoàn bộ binh; ba tiểu đoàn BĐQ; và hai tiểu đoàn Thiết Kỵ. LĐ147 và 258 TQLC, đang hành quân nghi binh ở Vùng I, cũng được thông báo chuẩn bị tham gia hành quân LS719.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Chín, 2014, 01:48:38 AM
Vào ngày N +12 (20 tháng 2), chiến trường ở  Hạ  Lào được  năm cánh quân  Quân giải phóng phụ  trách: Ở  hướng bắc Đường 9, từ  Lao  Bảo về  Tchepone, do Binh Đoàn 70 (B70) với ba Sư  Đoàn 308,  304 và  320; cùng với các Binh Trạm 8, 9, 12, 16, và  27 chịu  trách nhiệm; B-5 với bốn trung  đoàn tăng cường (+),  đánh phá  đọan đường từ Đông Hà về Lao Bảo làm đình trệ đường tiếp vận bộ; ở Phía nam Đường 9,  Sư  Đoàn 2 và  324B và  các Binh Trạm 33,  34, 41 và 42 cô lập các đơn vị VNCH đóng ở những cao điểm từ Co Roc về  phía tây Bản  Đông. Ngày 21 tháng 2, sau một tuần  pháo kích nát căn cứ, TrĐ88/SĐ304 dùng bộ  binh tấn công  CC21BĐQ. Sau khi mất CCBĐQ39, vị  trí  của  CC21BĐQ rất  “bơ  vơ,” vì  họ  chỉ  cách CC39BĐQ khoảng hai cây số, và  trước  mặt họ  là  SĐ308. Hỏa lực pháo binh yểm trợ  từ  CCLĐ1BĐQ ở Ta Puc/ Phú  Lộc không  đủ  để  làm giảm  áp lực  địch  đang tiến  vào vòng đai của CC21BĐQ  —  chính căn cứ  Ta Puc cũng  đang  bị  pháo cầm chân để  giới hạn sự  yểm trợ  lại.  Đây là  một chiến  thuật quân  Quân giải phóng sử  dụng liên tục  —  và  thành công  —  vào tất  cả  căn cứ  ở  phía bắc Đường 9. Hỏa lực pháo binh của  đối  phương đã  làm tê  liệt căn cứ  mục tiêu, và  gây khó  khăn cho căn  cứ yểm trợ. 

Để  đi kèm với trận liệt, xin nói qua một  ít về  hỏa lực pháo  binh của lực lượng quân  Quân giải phóng ở mặt trận Hạ Lào. Cộng với tám  trung  đoàn pháo binh riêng biệt, pháo binh ở  đây kể  luôn những  đại  đội/ trung đội súng nặng như  súng cối 60, 82, và  120 ly.  Trong một ý nghĩa thực dụng, những đại đội súng nặng là những  đơn vị  “pháo binh cơ  hữu” của cấp tiểu  đoàn/ trung  đoàn. Một  trung  đoàn quân chủ  lực  Quân giải phóng có  cấp số  từ  60 đến 65 súng cối  60 và  82 ly; và  bốn đến sáu cối 120 ly. Mỗi súng cối có  cấp số đạn 30 đến 40 viên;  đôi khi 60 đến 100 viên, tùy theo mặt trận  đang tham chiến. Lấy BTL B70 với ba Sư Đoàn 308, 304, và 320  làm thí  dụ: Theo tài liệu hậu cần, B70 (ba sư  đoàn cộng lại) có tất cả  104 súng cối 60 ly; 64 cối 82 ly; 30 cối 120 ly; và  30  đại  bác 122 ly. Trong chiến dịch Nam Lào, ba sư  đoàn của B70 tiêu  thụ  gần 10.000 quả  đạn lọai 60 và  82 ly  —  chưa kể  đến  đại bác  tầm xa như  122, 130 và  152 ly. Trong khi  đó,  ở  mặt trận hướng  hướng nam Đường 9, SĐ2BB  Quân giải phóng tiêu thụ 2.762 đạn 60 ly, và 5.598  đạn 82 ly; SĐ324B xài hơn 5.000 quả  82  ly và  gần 1.900  đạn 60 ly. [19]

Điểm muốn nhấn mạnh  ở  đây, lọai vũ  khí  như  súng cối  đã làm tê  liệt hệ  thống tiếp tế  đường không vận cho các căn cứ.  Súng cối là một vũ khí đơn giản, dể xử dụng, và rất hiệu quả nếu xử  dụng thuần thục. Cối 82 ly có  tầm bắn hơn bốn cây số; 60 ly  thì  ba cây số. Chừng mười khẩu cối trãi rộng ra trên một chu vi  có  đường bán kính vài ba cây số, pháo vào một căn cứ  nằm trên  đỉnh đồi … thì  căn cứ  khó  có  thể  phòng thủ  lâu được được. Đối  phương không thấy vị  trí  của súng cối  để  phản pháo, nhưng xạ thủ  súng cối quan sát vị  trí  của đối phương rõ. [20] Kinh nghiệm ở trận Khe Sanh cho thấy phi trường lớn rộng như Khe Sanh vẫn bị tê  liệt cũng vì  pháo —  pháo tầm xa 130 ly cũng như  tầm gần 82  ly. Đường phi  đạo, bãi  đáp trực thăng, chỉ  giới  hạn vào một  khoảng trống nào  đó. Một khi xạ  thủ  súng cối  đã  xác  định được  bãi  đáp, thì  những quả  bắn kế  tiếp sẽ  dể  như  lấy đồ  trong túi.  Khó tìm ra vị trí của cối để phản pháo, dù cho có trực thăng trinh  sát liên tục. Một lối bài binh của của súng cối  điển hình  ở  Hạ Lào: pháo thủ  và  pháo công kéo vài ba khẩu cối và  đạn đến  những vị  trí  đã  định. Sau  đó, lúc tác chiến, pháo thủ  liên tục di  chuyển đến từng khẩu để  tác xạ. Như  vậy pháo thủ  tránh được  thương vong hơn là  ở  tại một chổ  khi súng bị  khám phá. Sự  khó khăn của trinh sát không kỵ  là  phải bay chậm và  sát  để  truy lùng  lọai vũ  khí  quá  nhỏ  (súng cối dài không hơn 1,2 mét). Và  nếu  bay quá  thấp, quá  chậm, thì  sẽ  gặp nguy hiểm với phòng không  loại nhỏ, nhưng dầy đặc bầu trời, như đại liên 12 ly 7.     


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Chín, 2014, 01:56:49 AM
Bài học  kinh nghiệm sau cuộc hành quân LS719  ở  Hạ  Lào  cho thấy, hỏa lực đến từ  hàng rào súng cối chung quanh các căn  cứ hỏa lực đã giới hạn chiến thuật xử dụng căn cứ hỏa lực để bảo  vệ  và  yểm trợ  vùng hành quân. Căn cứ  hỏa lực chỉ  thành công ở một vài  địa hình trống trải, kèm theo những yểm trợ  mạnh đủ  để đè  bẹp những “quấy nhiễu” chung quanh. Nhưng tất những căn  cứ  hỏa lực  ở  Hạ  Lào không có  được những tiện nghi về  hỏa lực  hay tiếp liệu liên tục như  trong lý  tưởng. Để  so sánh một căn cứ hỏa lực của Mỹ ở thung lũng A Shau (bên này biên giới Việt) và một căn cứ  hỏa lực của Nhảy Dù  VNCH  ở  Hạ  Lào. Căn cứ Ripcord  ở  A Shau  được một tiểu  đoàn Nhảy Dù  Hoa Kỳ  trấn  đóng. Tiểu  đoàn này có  ba tiểu  đoàn tác chiến khác thường trực  bổ sung quân số khi cần. Căn cứ Ripcord được hai tiểu đoàn trực  thăng phục vụ  và  năm tiểu  đoàn pháo binh yểm trợ. Nhưng sau  hơn bốn tháng cố  thủ, SĐ101 Nhảy Dù  Mỹ  ra lệnh di tản Ripcord vì  chịu không nổi  áp lực của  địch, và  thương vong. [21] Trong thời gian bốn tháng, Mỹ đã  yểm trợ tất cả những gì có thể yểm  trợ  được về  pháo binh và  không lực, nhưng vẫn không giữ được.  Đó  là  tháng 7-1970, khi SĐ101ND Hoa Kỳ  có  tất hỏa lực  trong tay để yểm trợ cho căn cứ Ripcord. Trong khi đó ở Hạ Lào,  Mỹ  chỉ  có  ba tiểu  đoàn trực thăng (hai không vận, một xung  kích) để  yểm trợ  và  vận chuyển tiếp tế  cho 10 căn cứ  hỏa lực  VNCH. Dù  Hoa Kỳ  cố  gắng đến  đâu, chắc chắn những căn cứ của VNCH sẽ  không được yểm trợ  như  quân trú  phòng mong  muốn. Chiến thuật căn cứ  hỏa lực thất bại  ở  Hạ  Lào vì  địa hình  rừng rậm, vì  khó  khăn về  tiếp tế  và  hỏa lực yểm trợ. Căn cứ  hỏa  lực nếu không có  hỏa lực mạnh, thì  sẽ  là  cứ  điểm bất  động; trở thành một tấm bia cho pháo binh  đối phương: nằm cao, nhô  lên  lộ  liễu giữa rừng, pháo thủ  đối phương khó  bắn trật. [22] Trường  hợp này đúng cho tất cả căn cứ hỏa lực VNCH ở Lào. Từ ngày 17 đến ngày 22 (N +9 đến N +14) thời tiết xấu bao  trùm vùng hành quân: mưa và  sương mù  giới hạn tất cả  các phi  vụ  yểm và  trợ  tiếp tế. Sáng Chủ  Nhật ngày 21 tháng 2, SĐ308  dùng tất cả  TrĐ88 và  lực lượng cơ  hữu tấn công CCBĐQN. Lý do SĐ308 phải tấn công và  triệt tiêu CCBĐQN nhanh chóng, vì họ  không thể  bao vây lâu để  chịu đựng những cơn mưa bom của  B-52 như  họ  đã  bị  ở  CCBĐQB. Ngay sau  đêm CCBĐQB thất  thủ, tướng Lãm yêu cầu QĐXXIV dội bom hủy bỏ  căn cứ  của  TĐ39BĐQ. B-52 dội bom liên tiếp hai ngày. Có  thể  những phi  tuần B-52 đã  thúc đẩy SĐ308 tấn công CCBĐQN: Đánh sát vào  căn cứ; đánh kiểu “nắm thắt lưng địch,” thì có cơ hội sống nhiều  hơn. Cùng lúc tấn công vào CCBĐQN, pháo binh của B70  pháo kích vào CC30 và  CC31 của Nhảy Dù.  Ở  phía nam hai căn cứ  30 và  31, TRĐ64/SĐ320 phục kích và  đánh chận, không cho  TĐ8ND và  ThĐ17KB từ  CCLĐ1ND  ở  Bản  Đông tiến về  gần  CC31ND để  yểm trợ. Tối thứ tư, 24 tháng 2, biết không thể  giữ được CCBĐQN, tướng Lãm cho lệnh TĐ21BĐQ di tản. Đến lúc  này không còn quyết  định nào khác hơn di tản: TĐ21BĐQ  không còn đạn, nước, hay lương thực để chiến đấu. Một số BĐQ  rút ra khỏi căn cứ  bằng  đường bộ; một số  lớn được trực thăng vận về  CC30ND, và  từ  đó  trở  về  đơn vị  mẹ  ở  CCLĐ1BĐQ tại  Phú Lộc, Ta Puc. [24] Đến lúc hai căn cứ  BĐQ bị  thất thủ; và  lúc  áp lực  đang  đè nặng vào hai căn cứ  Nhảy Dù  còn lại  ở  bắc Bản  Đông, BTL  QĐXXIV Hoa Kỳ mới lên tiếng thông báo cho BTL MACV biết  họ  đang gặp khó  khăn để  tiếp tế  và  cung cấp trực thăng vận  chuyển: Quân Đoàn XXIV không còn trực thăng để đáp ứng yêu  cầu từ  các căn cứ  hỏa lực. Thật là  một thiếu thốn chết người  trong lúc khó  khăn và  cần thiết nhất. Ngày 23 tháng 2, Trung  Tướng Sutherland báo cho  Đại Tướng Abrams của MACV,  “Trong vài ngày qua, QĐXXIV cần phải giới hạn lại những yểm  trợ  không vận, vì  không còn đủ  lọai trực thăng võ  trang UH-1C  và  AH-1G.” câu văn “trong ngày vài ngày qua,” có  nghĩa là QĐXXIV đã  gặp khó  khăn để  yểm trợ  trước ngày CCBĐQB và CCBĐQN thất thủ. Cũng trong nghĩa  đó, hai căn cứ  của Nhảy  Dù  CC31ND và  CC30ND cũng bị  nằm trong tình trạng thiếu  thốn. CC31ND nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất: căn cứ nằm  sát vùng hoạt động của BTL B70. Hai căn cứ  BĐQ Bắc và  Nam mất ngày 21 và  24 là  một  chấn động ở chiến trường Hạ Lào. Nhưng chấn động đó bị loãng  đi kế  bên một biến cố  quan trọng hơn, có  nhiều  ảnh hưởng  ở “cấp trên” hơn: Trung Tướng Đỗ  Cao Trí, tư  lệnh Hành Quân Toàn Thắng 1/71 kiêm tư  lệnh QĐIII, bị  tử  nạn trực thăng tại  chiến trường ngày 23 tháng 2. Tin không chánh thức cho biết  tướng Trí  —  ngay ngày trực thăng bị  nổ  trên không  —  đang  chuẩn bị  lên đường ra QĐ1 thay thế  Trung Tướng Lãm chỉ  huy  cuộc Hành Quân LS719. Mất hai căn cứ; tướng Trí chết; và khó  khăn về yểm trợ cho  mặt trận. Chiến trường Vùng III mất  đi một sĩ  quan chỉ  huy;  trong khi quân nhân ở  Vùng I thì  mất lòng tin vào người sĩ  quan  chỉ huy của họ. Đó  là  tình hình của mặt trận Hạ  Lào ngày 25 tháng 2-1971.  Câu nói “Phúc bất trùng lai, họa vô  đơn chí” diễn tả  đúng nhất  trong trường hợp này: Nhiều chuyện không may đến cùng một  lúc, như đang xảy ra trên toàn cõi chiến trường ở Hạ Lào lúc đó.   


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 17 Tháng Chín, 2014, 11:28:55 AM
Em xin phép tham gia một số ý kiến nhỏ, kiểu "tiểu tiết nhặt sạn":

1.
Trích dẫn
...Trung Đoàn 64/ SĐ304 có mặt ở vùng Bản Đông từ ngày N-4 (4 tháng 2)....Ngày 21 tháng 2, sau một tuần pháo kích nát căn cứ, TrĐ88/SĐ304 dùng bộ binh tấn công CC21BĐQ.... Ở  phía nam hai căn cứ  30 và  31, TRĐ64/SĐ320 phục kích và  đánh chận, không cho  TĐ8ND và  ThĐ17KB từ  CCLĐ1ND  ở  Bản  Đông tiến về  gần  CC31ND để  yểm trợ....

E88 lúc này nằm trong đội hình F308 là đương nhiên rồi, và F308 chịu sự chỉ huy của BTL chiến dịch ;D.
F320 thì có E64 đang hành quân vào chiến trường, nó gần như là trung đoàn độc lập do BTL chiến dịch chỉ đạo trực tiếp; còn E48 thì được bổ sung cho sư đoàn 2 để đủ 3 trung đoàn trực thuộc.

2.
Trích dẫn
...Để  đi kèm với trận liệt, xin nói qua một  ít về  hỏa lực pháo  binh của lực lượng quân  Quân giải phóng ở mặt trận Hạ Lào. Cộng với tám  trung  đoàn pháo binh riêng biệt, pháo binh ở  đây kể  luôn những  đại  đội/ trung đội súng nặng như  súng cối 60, 82, và  120 ly.  Trong một ý nghĩa thực dụng, những đại đội súng nặng là những  đơn vị  “pháo binh cơ  hữu” của cấp tiểu  đoàn/ trung  đoàn. Một  trung  đoàn quân chủ  lực  Quân giải phóng có  cấp số  từ  60 đến 65 súng cối  60 và  82 ly; và  bốn đến sáu cối 120 ly. Mỗi súng cối có  cấp số đạn 30 đến 40 viên;  đôi khi 60 đến 100 viên, tùy theo mặt trận  đang tham chiến. Lấy BTL B70 với ba Sư Đoàn 308, 304, và 320  làm thí  dụ: Theo tài liệu hậu cần, B70 (ba sư  đoàn cộng lại) có tất cả  104 súng cối 60 ly; 64 cối 82 ly; 30 cối 120 ly; và  30  đại  bác 122 ly. Trong chiến dịch Nam Lào, ba sư  đoàn của B70 tiêu  thụ  gần 10.000 quả  đạn lọai 60 và  82 ly  —  chưa kể  đến  đại bác  tầm xa như  122, 130 và  152 ly. Trong khi  đó,  ở  mặt trận hướng  hướng nam Đường 9, SĐ2BB  Quân giải phóng tiêu thụ 2.762 đạn 60 ly, và 5.598  đạn 82 ly; SĐ324B xài hơn 5.000 quả  82  ly và  gần 1.900  đạn 60 ly [19] ....

Rất mong đợi tác giả hoặc bác altus cung cấp sớm phần chú thích, quả thật có vài điểm hơi bất ngờ và rất mong cùng xác nhận :).

Xin lấy một ví dụ:
Dẫn chứng từ tài liệu tổng kết của Binh chủng pháo binh Việt Nam về trận trung đoàn 141 sư đoàn 2 được hỗ trợ pháo binh của mặt trận quyết tâm tiêu diệt cao điểm 723/ Phu Rệp/ Ph. Rep tại nam đường 9. Vị trí chiến thuật tiên quyết mở màn cho các loạt trận khác của F2 tại cánh nam đường 9 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào:

- Phía VNCH:
Trích dẫn
...Trong hai ngày 1 và 2 tháng 3 năm 1971, địch huy động 105 lần chiếc máy bay phản lực, 15 lần chiếc máy bay B52 và nhiều lần chiếc máy bay trực thăng vũ trang liên tục bắn phá vào điểm cao 723 và các khu vực lân cận. Liên tiếp các ngày 3 và 4, địch dùng hơn 500 lần chiếc máy bay lên thẳng đổ một trung đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, một đại đội công binh cùng bốn khẩu pháo 155mm, bốn khẩu pháo 105mm, ba khẩu cối 81mm xuống điểm cao 723...
Chưa tính các lực lượng trực thăng và pháo binh hỗ trợ khi chiến sự nổ ra nhằm bảo vệ cao điểm.

- Phía QĐ NDVN:
Trích dẫn
...Quyết tâm của sư đoàn là sử dụng Trung đoàn bộ binh 141 được phối thuộc một đại đội pháo 85mm (3 khẩu) tiến hành vây ép và tiêu diệt địch. Ngoài ra để bảo đảm cho trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ, sư đoàn điều Tiểu đoàn 3 Trung đoàn bộ binh 48 lên chốt ở Tây Tà Păng, Tiểu đoàn đặc công 10 đánh sở chỉ huy và trận địa pháo địch. Trung đoàn pháo 368 tổ chức cụm pháo binh sư đoàn trực tiếp chi viện cho Trung đoàn bộ binh 141. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là bao vây, áp sát, đánh sát, diệt gọn; đối với pháo binh là bám sát địch, nắm chắc mục tiêu, đánh phủ đầu kịp thời, đánh liên tục không cho địch khôi phục công sự và chướng ngại vật, bảo đảm cho bộ binh vây ép và tiêu diệt toàn bộ quân địch. Lực lượng pháo binh sử dụng: tám khẩu Đ74, ba khẩu 81mm, hai khẩu cối 160mm, bốn khẩu ĐKB, bốn khẩu cối 120mm, chín khẩu cối 82mm, chín khẩu ĐKZ75mm, tổng số 39 khẩu (13 khẩu pháo xe kéo, 26 khẩu pháo mang vác).

Phân chia lực lượng: Cụm pháo sư đoàn chi viện chung có hai đại đội Đ74 (8 khẩu) và một đại đội ĐKB (4 khẩu). Trên hướng chủ yếu của Trung đoàn bộ binh 141 có một đại đội 85mm (3 khẩu), một đại đội cối 120mm (2 khẩu), hai đại đội cối 82mm (5 khẩu), năm trung đội ĐKZ (5 khẩu); trong quá trình chiến đấu tăng cường hai khẩu cối 120mm, bốn khẩu cối 82mm và bốn khẩu ĐKZ75mm đưa tổng số pháo trên hướng chủ yếu lên 25 khẩu. Đội hình bố trí: đài quan sát trung đoàn pháo binh ở điểm cao 595, tiểu đoàn pháo binh ở điểm cao 550, Đại đội pháo binh 11 và Đại đội pháo binh 13 bên phải điểm cao 550 - một ki-lô-mét. Trận địa các đại đội Đ74 cách điểm cao 723 từ 17 đến 22 ki-lô-mét, pháo 85mm cách 10 đến 12 ki-lô-mét, cối 160mm cách 6,5 mét, trận địa ĐKB, cối 120mm, cối 82mm, ĐKZ bố trí tập trung trên hai mũi của hướng tiến công chủ yếu, khoảng cách đến mục tiêu từ 300 đến 2.500 mét, sở chỉ huy ở điểm cao 595 và điểm cao 521 cạnh sở chỉ huy Sư đoàn bộ binh 2....



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 18 Tháng Chín, 2014, 06:46:54 AM
Em xin phép tham gia một số ý kiến nhỏ, kiểu "tiểu tiết nhặt sạn":

1.
Trích dẫn
...Trung Đoàn 64/ SĐ304 có mặt ở vùng Bản Đông từ ngày N-4 (4 tháng 2)....Ngày 21 tháng 2, sau một tuần pháo kích nát căn cứ, TrĐ88/SĐ304 dùng bộ binh tấn công CC21BĐQ.... Ở  phía nam hai căn cứ  30 và  31, TRĐ64/SĐ320 phục kích và  đánh chận, không cho  TĐ8ND và  ThĐ17KB từ  CCLĐ1ND  ở  Bản  Đông tiến về  gần  CC31ND để  yểm trợ....

E88 lúc này nằm trong đội hình F308 là đương nhiên rồi, và F308 chịu sự chỉ huy của BTL chiến dịch ;D.
F320 thì có E64 đang hành quân vào chiến trường, nó gần như là trung đoàn độc lập do BTL chiến dịch chỉ đạo trực tiếp; còn E48 thì được bổ sung cho sư đoàn 2 để đủ 3 trung đoàn trực thuộc.

2.
Trích dẫn
...Để  đi kèm với trận liệt, xin nói qua một  ít về  hỏa lực pháo  binh của lực lượng quân  Quân giải phóng ở mặt trận Hạ Lào. Cộng với tám  trung  đoàn pháo binh riêng biệt, pháo binh ở  đây kể  luôn những  đại  đội/ trung đội súng nặng như  súng cối 60, 82, và  120 ly.  Trong một ý nghĩa thực dụng, những đại đội súng nặng là những  đơn vị  “pháo binh cơ  hữu” của cấp tiểu  đoàn/ trung  đoàn. Một  trung  đoàn quân chủ  lực  Quân giải phóng có  cấp số  từ  60 đến 65 súng cối  60 và  82 ly; và  bốn đến sáu cối 120 ly. Mỗi súng cối có  cấp số đạn 30 đến 40 viên;  đôi khi 60 đến 100 viên, tùy theo mặt trận  đang tham chiến. Lấy BTL B70 với ba Sư Đoàn 308, 304, và 320  làm thí  dụ: Theo tài liệu hậu cần, B70 (ba sư  đoàn cộng lại) có tất cả  104 súng cối 60 ly; 64 cối 82 ly; 30 cối 120 ly; và  30  đại  bác 122 ly. Trong chiến dịch Nam Lào, ba sư  đoàn của B70 tiêu  thụ  gần 10.000 quả  đạn lọai 60 và  82 ly  —  chưa kể  đến  đại bác  tầm xa như  122, 130 và  152 ly. Trong khi  đó,  ở  mặt trận hướng  hướng nam Đường 9, SĐ2BB  Quân giải phóng tiêu thụ 2.762 đạn 60 ly, và 5.598  đạn 82 ly; SĐ324B xài hơn 5.000 quả  82  ly và  gần 1.900  đạn 60 ly [19] ....

Rất mong đợi tác giả hoặc bác altus cung cấp sớm phần chú thích, quả thật có vài điểm hơi bất ngờ và rất mong cùng xác nhận :).

Cảm ơn Quangcan đã để ý "tiểu tiết nhặt sạn" sau khi đọc bài viết. Và tiên sinh nhặt ra được một cục sạn!

1. Đính chánh: "Một  trung  đoàn quân chủ  lực  Quân giải phóng có  cấp số  từ  60 đến 65 súng cối  60 và  82 ly; và  bốn đến sáu cối 120 ly."
Câu văn này phải được sửa lại là "Một sư đoàn (ba trung đoàn) chủ lực Quân giải phóng có  cấp số  từ  60 đến 65 súng cối  60 và  82 ly; và  bốn đến sáu cối 120 ly."
Chi tiết này tôi trích từ, Công Tác hậu Cần Chiến Dịch Đường 9-Nam Lào (Quân Đội Nhân Dân Việt Nam: Hà Nội, Tổng Cục Hậu Cần, 1987. Chỉ Đạo: Thiếu tướng Hoàng Điền, đại tá Ngô Vi Thiện; Ban Biên Tập: đại tá Nguyễn Viết Phương, trung tá Từ Quy.).
Trong tài liệu này tôi đếm số súng cối cơ hữu (biên chế) của từng trung đoàn, rồi trung bình hóa tổng số súng cho một sư đoàn. Ở trang 223 trong tài liệu, cho thấy B70 có tất cả:104 súng cối 60 ly; 64 cối 82 Ly; và 30 cối 120 ly. Chi tiết hơn về cầp số sư đòan, trang 383 cho biết su uđoàn 324 có, 40 cối 60 ly; 34 cối 82 ly; và 4 cối 120ly. Trang 396 cho biết sư đoàn 2 có 36 cây 60 ly và 24 cây 82 ly. Riêng B-5 có 88 cây 60 ly; 48 cây 82 ly; và 11 cây 120 ly (trang 458). 
2. Cũng theo sách trên (trang 75) thì "Trung Đoàn 64 từ Trạm 10 (Ca Đát) vào cao điểm 456 ngày 6 tháng 2." Và hai ngày sau, 8 tháng 2, Trung Đoàn 88 từ bắc Gianh mới vào đến Xê Muộn.
3. Trong sách của tôi, nguyên tác trích dẫn đến từ: Công Tác Hậu cần Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào, tr. 116-119, 379, 458. Tiếp liệu hậu cần của CSVN được chia ra từng khu vực/ : B70; B-5; Binh Đoàn 559; SĐ324B, và SĐ2BB. Trung bình mổi sư đoàn có chừng 65 cối 60 và 82 ly. TrĐ102/308 CSVN cho biết họ bắn 2.083 đạn 82 ly vào CCBĐQB; và để kềm chế CCBĐQ37/LĐ1BĐQ ở Ta Puc, họ tiêu thụ hơn 2.900 đạn cối 82 và 120 ly vào mục tiêu này. Đọc Công Tác Hậu Cần Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào, tr. 343.
4. Thật tình tôi rất vui khi trả lời những thắc mắc của Quangcan. Đây là cách căn bản nhất để đi nguồn tìm sử liệu. Lẽ ra tôi phải thấy sự "khó tin" của câu căn khi viết "một trung đoàn có từ 60 đến 65 súng cối ..." Rất cảm ơn bạn nhắc về chi tiết này.
 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 18 Tháng Chín, 2014, 11:15:12 AM
Em xin phép tham gia một số ý kiến nhỏ, kiểu "tiểu tiết nhặt sạn":
1.
Trích dẫn
...Trung Đoàn 64/ SĐ304 có mặt ở vùng Bản Đông từ ngày N-4 (4 tháng 2)....Ngày 21 tháng 2, sau một tuần pháo kích nát căn cứ, TrĐ88/SĐ304 dùng bộ binh tấn công CC21BĐQ.... Ở  phía nam hai căn cứ  30 và  31, TRĐ64/SĐ320 phục kích và  đánh chận, không cho  TĐ8ND và  ThĐ17KB từ  CCLĐ1ND  ở  Bản  Đông tiến về  gần  CC31ND để  yểm trợ....

Lại bắt thêm được một lỗi typo nữa:
Trung Đoàn 88 của Sư Đoàn 308, không như đã viết là của SĐ304.
Câu văn viết TrĐ88 đánh căn cứ Biệt Động Quân Nam của tiểu đoàn 21 BĐQ, thì đơn vị đánh phải thuộc về SĐ 308 của tướng Nguyễn Hữu An; SĐ304 không thể có mặt trong vùng trách nhiệm như đang nói. Chiến trường Đường 9-Nam Lào có nhiều binh đoàn, sư đoàn, trung đoàn tham dự, và đôi khi lỗi ấn công sẽ xảy ra -- như trong trường hợp này. Xin người đọc tha thứ.     


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Chín, 2014, 04:50:32 AM
Trực Thăng, Trực Thăng, và Cần Nhiều Trực Thăng Nữa!

Điện tín của tướng Sutherland gây chấn  động  ở  BTL MACV trong buổi họp Cập Nhật Tình Báo Hàng Tuần ngày 24 tháng 2. Bắt  đầu buổi họp, thuyết trình viên cho biết tình hình hành quân cho đến ngày hôm đó: Phía VNCH có  276 chết; 842 bị  thương; 101 mất tích. Phía Hoa Kỳ, 54 chết; 325 bị thương; 26 trực thăng bị  bắn rơi; và  15 mất tích. Quân giải phóng có  2.191 chết. Sau thuyết trình viên, tướng Abrams đặt câu hỏi đầu tiên: “Ai có ý kiến gì về bức điện tín [của Sutherland] này không?”

Xin nói thêm chi tiết trong nội dung bức  điện tín ngày 23 tháng 2 của tướng Sutherland, báo cáo về  tình trạng thiếu trực thăng của QĐXXIV. Đây là  một báo cáo trễ, nhưng  ông ta phải báo cáo để có  thể  tránh tội về  sau. Trong  điện tín gởi MACV ngày 14 tháng 2 trước  đó, khi kể  lại lời phàn nàn của QĐ I về yểm trợ  không vận, tướng Sutherland  đã  úp mở  thú  nhận với tướng Abrams là  ông đã  không  thật sự  giải thích cho tướng Lãm biết rõ số  trực thăng QĐ XXIV có  bao nhiêu, và  sự  yểm trợ  cho 32 tiểu  đoàn VNCH  ở  vùng hành quân ra sao.  Sutherland viết, ngày 12 (ngày Tổng Thống Thiệu ra thị  sát hành quân  ở  Đông Hà) khi tướng Lãm tỏ  ý  lo lắng về  số  trực thăng bị  bắn rơi; vàthời gian chờ  từ  lúc yêu cầu  đến lúc  được thỏa mãn. … Tướng Sutherland nói với số  trực thăng UH-1H (lọai chuyên chở)  đang có, chắc chắn QĐ XXIV sẽ cung ứng đủ nhu cầu cho các  đơn vịVNCH. Nhưng Sutherland không nói rõ  thêm là  số  trực thăng chuyên chở  đó  cũng phụ  trách luôn cho  tất cả các đơn vị Mỹ đang yểm  trợ  song song trong cuộc hành quân.  Sutherland thú nhận với tướng Abrams về chuyện đã  “không giải thích rõ  ràng hơn” cho tướng Lãm biết. Sau khi đọc điện tín, tuớng Abrams đề nghị  tướng Sutherland nên “giới thiệu” cái thực tế  về  khả  năng tiếp vận/ không vận của QĐXXIV cho tướng Lãm và các tư lệnh Hành Quân LS719 biết.[27]

Ngày 12  ở  Đông Hà, khi nghe tướng Lãm lo sợ  không  đủ trực thăng, tướng Sutherland trấn an tướng Lãm bằng một thí dụ: Ông nói ngày 8 (ngày hành quân N), trực thăng đã đổ bộ sáu tiểu đoàn VNCH cùng một lúc, an toàn và  đúng giờ, và chỉ cần 95 trực thăng UH-1H. Và  theo  ông thấy, trong lệnh hành quân sẽ không có  giai  đoạn nào phải cần đến sáu tiểu  đoàn  đổ  bộ  cùng lúc như  ngày hôm đó. Với số  lượng 130 trực thăng UH-1H, yểm trợ  và  tiếp liệu không phải là  một vấn đề lo lắng.  Đúng, tướng Sutherland nói  đúng về  khả  năng không vận/ yểm trợ  của Hoa Kỳ  cho đến ngày hành quân N +4. Và  tướng Lãm  đồng  ý. Nhưng đến ngày 23, tướng Sutherland thú  nhận qua báo cáo với MACV  ông không còn khả  năng yểm trợ, và  xin MACV tiếp viện thêm trực thăng. Ở đây cần một giải thích cho sự mâu thuẫn thay đổi đó.

Phần lớn số trực thăng yểm trợ  cho HQ LS719  đến từ Liên  Đoàn Không Vận 101,  đơn vị cơ hữu của SĐ101ND (101stAviation Group/ 101stAirborne Division/Airmobile).  Trong HQ LS719, Liên  Đoàn 101 thống thuộc QĐ XXIV. Báo cáo của LĐKV101 (Liên  Đoàn Không Vận 101), cho biết họ  có  tổng cộng 239 trực thăng đổ  quân lọai UH-1H.  Điện tín của Sutherland ngày 23 nói  ông cần trực thăng võ trang Cobra và UH-1C. Lý  do: mỗi phi vụ  trực thăng chuyên chở  cần hai trực thăng võ  trang yểm trợ. Liên  Đoàn 101 Không Vận, tuy thống thuộc QĐXXIV, nhưng họ  làm việc theo qui củ  của họ  (trực thăng chyên chở  phải có  trực thăng võ  trang bảo vệ  đi kèm), và QĐ XXIV không thay  đổi  được qui tắc hành quân của LK101KV. Với 239 trực thăng này, QĐ XXIV dành ra 130 chiếc phục vụ  cho 32 tiểu đoàn VNCH ở  Hạ  Lào, số còn lại phải cung ứng cho tất cả  lực lượng Việt-Mỹ  đang hoạt động ở toàn lãnh thổ  Vùng I. Nhìn vào trận liệt của Mỹ  đang yểm trợ  cho LS719, họ có tất cả 19 tiểu đoàn.[28] Như vậy, 109 trực thăng còn lại là để cung ứng nhu cầu chiến trường cho 19 tiểu đoàn tác chiến Mỹ — và những nhu cầu trực thăng khác cho toàn Vùng I.[29]

Khi nói QĐ XXIV phải giới hạn lại phi vụ  không vận vì thiếu trực thăng võ trang hộ  tống, Tướng Sutherland giải thích. Theo chương trình (theo cấp số  mà  lẽ ra ông phải có)  ông  được cung cấp 86 trực thăng AH-1G và  44 UH-1C. Nhưng trong số này, đến ngày 23, chỉ  có  25  AH-1G và  tám UH-1C bay được. Trong khi  đó, 16 AH-1G và  ba UH-1H bị  bắn rớt cho đến ngày 23 vẫn chưa được thay thế  bù  lại. Những phi vụ  tiếp tế, tải thương,  đổ  quân, phải  đình trệ  vì  không  đủ  trực thăng hộ  tống.  Sutherland giải thích thêm, vì  trực thăng bay nhiều phi vụ  hơn giới hạn nên hư  nhiều, và  không có  phụ  tùng để  thay/ sửa chữa. Trực thăng vận tải nặng như  CH-47, CH-54, CH-53 phải bay nhiều phi vụ  hơn lượng  định trong soạn thảo: Trong sọan thảo hành quân nguyên thủy, trực thăng hạng nặng chỉ dùng cho đoạn đường bay từ Khe Sanh đến mặt trận Hạ Lào. Nhưng trên thực tế 30% các phi vụ  này là  tải đồ  từ  những căn cứ  yểm trợ  xa như Đông hà, Quảng Trị  đến Khe Sanh, vì  bộ  tư  lệnh tiếp vận không vận chuyển đủ qua đường bộ  — nói một cách khác vận chuyển bằng đường bộ  bị  giới hạn tối  đa vì  nguy hiểm phục kích. Cuối cùng của  điện tín, tướng  Sutherland xin MACV cung cấp thêm ba  đại đội trực thăng AH-1G (Cobra), và  một  đại đội CH-47 (một  đại đội trực thăng có  16 chiếc theo cấp số  của Liên Đoàn 101 Không Vận). Sutherland nhấn mạnh  ông cần trực thăng võ trang lập tức và trực thăng vận tải nặng CH-47 trước khi đánh về hướng tây (về Tchepone).

Điện tín này dẫn  điện tín kia, ba ngày sau, tham mưu trưởng của Lục Quân Hoa Kỳ, Việt Nam (US Army, Vietnam) báo cáo với tham mưu trưởng MACV, và  chỉ  huy trưởng Phòng 3 MACV về vấn đề trực thăng. Tổng số trực thăng đang phục vụ HQLS719 là 672 trực thăng đủ lọai, nhưng chỉ  có 497 chiếc bay được.[30] Nói tóm lại: Vì  lý  do này hay lý  do nọ  (không có  phụ tùng thay thế; bay quá  nhiều phi vụ; phải “gồng” thêm nhiệm vụ mà đơn vị vận tải đường bộ không làm đủ; hay không đủ chuyên viên bảo trì), QĐ XXIV không  đủ  trực thăng để  cung  ứng cho HQ LS719 với số  trực thăng  đang có. Lời yêu cầu gấp rút tiếp viện thêm hai đại đội trực thăng của Sutherland  đã  làm cho MACV “nổi trận lôi  đình.” Trong buổi họp ngày thứ  Tư, 24 tháng 2, Thiếu Tướng Donald Cowles, Phòng 3 MACV, trình bày tình hình trực thăng  ông  đã  đích thân ra quan sát, và đã  nói chuyện với tướng Sutherland. Tướng Cowles nói cung cấp thêm cho QĐ XXIV một  đại đội trực thăng C-47 thì  không có  vấn đề. Nhưng thêm một  đại đội trực thăng võ  trang AH-1G như  tướng Sutherland yêu cầu thì không thể được. Cowles thông báo, tất cả Vùng I chỉ còn lại 16 AH-1G. Sáu trong 16 chiếc đó thuộc về lực lượng tình báo quân sự MAC-SOG, và họ không thể cho “mượn” được.

Nghe xong tường trình, tướng Abrams lên tiếng, với vài tiếng chữi thề  đệm trong câu.  Ông đổ  lỗi cho Trung Tướng William J. McCaffrey, tư  lệnh phó  Lục Quân Hoa Kỳ, Việt Nam.[31]“[chửi thề] … Trách nhiệm của USARV là  lo về  trực thăng. Như  vậy [chửi thề] họ  phải có  chuyên viên bảo trì  và  sửa chữa ở  đó  để  theo dõi; họ  phải biết chuyện gì  đang xảy ra, đó  là trách vụ  của họ.  Đó  là  trách nhiệm của tướng McCaffrey; và trách nhiệm  đó  chưa được hoàn tất.” Bỏ  đi những câu chửi thề, bỏ  đi những tức giận,  ý  của tướng Abrams là  ông tư  lệnh phó USARV lo về  tiếp liệu có trách nhiệm cung  ứng những  đòi hỏi của hành quân.

Tiếp theo sau Abrams là  tư  lệnh phó  MACV,  Đại Tướng Frederick Weyand, lên tiếng về  điện tín của Sutherland. Ông nói ông không tha thứ cho Sutherland được. Ông đồng  ý  với  ý kiến của Abarms, nhưng “[chửi thề] Anh là  tư  lệnh quân  đoàn, với trách nhiệm kiểm soát có  bao nhiêu máy bay hàng giờ, hàng ngày. … Nếu chuyện này xảy ra cách  đây vài tiếng thì  có  thể hiểu được. … Nhưng hình như  họ  [BTL QĐXXIV] đang có  vấn đề  với tổ  chức và  cơ  cấu. Anh ta không biết chuyện gì  đang xảy ra. Một tiểu đoàn [VNCH] nằm hai ngày ở Đường 914 rồi sau đó anh ta mới biết [vị  trí  ở  đâu]  —  mà  chúng ta [MACV]  đã  biết trước. Như vậy, nói cho tôi nghe, liên lạc giữa bộ tư lệnh của anh ta và của tướng Lãm có hữu hiệu hay không. USARV phải có đại diện tại  đó. Từ  đây [BTL USARV  ở  Long Bình] đến mặt trận quá xa.”

Sau vài phút yên lặng, tướng Abrams kết thúc buổi họp, ra lệnh MACV gởi người ra bộ  tư  lệnh tiền phương ở  Khe Sanh để quan sát lối  điều khiển và  quản  trị  cuộc hành quân, rồi trực tiếp báo cáo về cho ông.[32]

Qua những trao đổi trong buổi họp MACV, và  nội dung điện tín của Sutherland, chúng ta thấy (a) QĐXXIV thật sự không đủ  khả  năng để  tiếp tế  cho chiến trường LS719. Chúng ta cũng thấy ba quân đoàn VNCH ở ba Vùng II, III, và IV đều đang hành quân. Những BTL cố  vấn Mỹ  đi kèm đang yểm trợ  và không còn khả  năng tiếp tế  cho  đơn vị  bạn  ở  các Vùng/ Quân Đoàn khác (Sau  điện tín yêu cầu tiếp viện trực thăng võ  trang AH-1G, QĐXXIV “mượn” được 16 chiếc từ  MAC-SOG  và Field Force I  ở  Vùng II).[33] Và, (b) bộ  tư  lệnh yểm trợ  quá  xa chiến trường để  có  thể liên lạc trực tiếp và  cấp thời giữa yểm trợ và  nhu cầu chiến trường. Nói ngắn gọn hơn, MACV soạn thảo một cuộc hành quân quá  lớn để  bộ  tư  lệnh tiếp liệu có  thể  chu toàn.

Theo kế  họach hành quân, mỗi sư  đoàn VNCH được một tiểu  đoàn trực thăng phụ  trách nhu cầu vận tải (tiếp tế, trinh sát, tải thương).[34] Trong  điều kiện thông thường, một tiểu  đoàn trực thăng (khoảng 48 đến 54 trực thăng đủ lọai) phục vụ dể dàng cho một sư  đoàn của Mỹ  (Một thí  dụ: Tiểu  Đoàn 14 Trực Thăng Xung Kích, là  tiểu  đoàn không vận cơ  hữu của SĐ23 Hoa Kỳ, phụ  trách cho SĐ1BB VNCH; TĐ158 Trực thăng Xung Kích, của SĐ101 Nhảy Dù, phụ  trách phục vụ  cho SĐ  Nhảy DùVNCH ...). Nhưng trận Hạ  Lào đã  thay đổi tất  cả ước lượng cho hành quân trong một hoàn cảnh “thông thường.” Ước lượng hành quân nói có thể chở tiếp liệu bằng đường bộ từ Đông Hà về Khe Sanh; và  từ  Khe Sanh đến Bản Đông. Nhưng thực tế  cho thấy  Đường 9 không an toàn; và  phải lấy trực thăng để  vận chuyển thay cho các tiểu đoàn vận tải đường bộ. Phi Trường Khe Sanh, theo dự  định, sẽ  nhận được phi cơ  vận tải nặng C-130. Nhưng đến ngày Hành Quân N +8 (16 tháng 2) Khe Sanh mới nhận được tiếp liệu chở  từ  C-130. Như  vậy chín ngày đầu hành quân, trực thăng lại phải bị  trực dụng. Đổ  lỗi hoàn toàn cho QĐ XXIV thì không đúng, vì họ đang nhận lãnh luôn trách nhiệm của những tiểu đoàn vận tải  đường bộ. Nhìn vào lệnh hành quân của SĐ Nhảy Dù  cho thấy sự  lạc quan của QĐI và  QĐXXIV (với những hứa hẹn không vận cho SĐ Nhảy Dù). Ở phần Không Vận, lệnh hành quân viết: “Quân  Đoàn I cung cấp L. 19 và  khu trục theo nhu cầu; Hoa Kỳ  cung cấp mỗi ngày một phi cơ  OV-10 bao vùng và 24 phi tuần khu trục; Hoa Kỳ cung cấp mỗi ngày 2 trực thăng chỉ huy và 8 trực thăng đa dụng; trực thăng chỉ huy, tiếp tế, tải thương, chuyển quân, và võ trang theo nhu cầu.” Sự lạc quan ở đây là họ (ban soạn thảo hành quân ở MACV, QĐI và QĐXXIV) nghĩ  hai trực thăng chỉ  huy, tám trực thăng  đa dụng, và 24 phi tuần khu trục oanh tạc sẽ thỏa mãn nhu cầu của chín tiểu đoàn tác chiến và ba tiểu đoàn pháo binh của Sư Đoàn Nhảy Dù. Lạc quan sai lạc  đó  cũng xảy ra cho SĐ1BB và  SĐTQLC. QĐXXIV thiếu trực thăng và  không giải quyết được. Nhưng sự đã rồi!

Ngày 24 và  25 tháng 2, Căn Cứ  31 của Nhảy Dù  đang hấp hối.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Chín, 2014, 05:10:32 AM
Căn Cứ Hỏa Lực 30 và 31 Thất Thủ

Cùng ngày khi CCBĐQN của TĐ21BĐQ thất thủ, Quân giải phóng khởi  động áp lực trên toàn vùng hành quân. Ở nam Đường 9, mặt trận  của SĐ1BB, các  đơn vị  Quân giải phóng bám chặt vào CC Hotel2, tấn  công TĐ2/TrĐ3/SĐ1BB. SĐ1BB gởi thêm một tiểu  đoàn vào  chiến trận, hy vọng cứu TĐ2 và  giải tỏa  áp lực; nhưng  địch vẫn bám sát. Ý định của SĐ1BB là muốn rút pháo đội đại bác 105 ly  ra khỏi CC Hotel2 để  chuẩn bị  di chuyển về  hướng Tchepone.  Dưới hỏa lực pháo của địch,  đến tối ngày 23 một phần pháo đội mới di tản được khỏi CC Hotel2. Nhưng sau nhiều ngày tác chiến  liên tục, TĐ2/TrĐ3 gần như  tan nát. Ngày 24 tướng Lãm được  lệnh thay đổi kế hoạch hành quân: Thay vì LĐ2/SĐND là đơn vị được trực thăng vận vào chiếm Tchepone, nhiệm vụ  đó  bây giờ được giao cho SĐ1BB. Nhiệm vụ  mới của LĐ2ND là tăng  cường yểm trợ cho tuyến/ bãi đáp Alpha (nửa đường từ Bravo về Bản  Đông) trên Đường 9. LĐ147/SĐTQLC sẽ  thay vào chỗ trống của những tiểu đoàn của SĐ1BB đang đóng trên CCHotel1  và  CCDelta; LĐ258TQLC sẽ  thay bộ  binh  đóng trên cao  điểm Co Roc và những cao điểm lân cận.

Hai ngày trước đó, ngày 22, Tổng Thống Thiệu nói với  tướng Abrams  Giai Đọan III (giai  đoạn đổ  bộ  vào Tchepone) sẽ bắt đầu trong ba ngày nữa. Đồng thời  ông Thiệu thay đổi luôn  Giai Đoạn IV (giai  đọan lui quân): Trên đường về  SĐ1BB sẽ  đi  theo đường 922 để  tiếp tục phá  hủy các kho hàng trong căn cứ hậu cần 611.[36] Đó  là  ý  muốn của Tổng Thống Thiệu  —  một  ý muốn quá  xa thực tế  của chiến trường. Trừ  khi Abrams báo  cáo  lộn, hay Tổng Thống Thiệu nhớ lộn, chứ từ Tchepone hành quân trở  ngược về  biên giới Việt Nam qua  Đường 922 là  chuyện khó tưởng tượng. Đến giờ  phút  đó  mà  Sài Gòn vẫn còn nghĩ  lực  lượng VNCH sau khi tấn công Tchepone, có  thể  đi theo  Đường  922 về  thung Lũng A Shau, để  đánh trở  lại căn cứ  hậu cần 611  (căn cứ  bị  Mỹ  tấn công tháng 2-1969, trong phạm vi thung lũng  A Shau-Sekong). Nguyên thủy kế  hoạch hành quân là  quân rút  lui sẽ  về  theo Đường 914 để  phá  những kho hàng chung quanh  Mường Nông (giao  điểm của  Đường 92C và  914).  Đoạn  Đường  922 về  biên giới xa hơn Đường 914 hơn gấp  đôi. Có  thể  vào  ngày 22 khi các căn cứ  phía bắc chưa mất, BTTM/ Sài Gòn vẫn  còn lạc quan (CC BĐQB mất  đêm 20, nhưng không biết  đến lúc  nào Sài Gòn mới nhận tin chính thức từ  QĐI).  Đến ngày  25 thì tình hình chiến trường cho thấy rút quân trở về biên giới — cùng  lúc phá  hủy và  lục soát trên đường về  —  qua ngã  Đường 922 là chuyện vô cùng nguy hiểm, nếu không nói khó thực hiện.

Sáng ngày 25, TrĐ64/SĐ320 Quân giải phóng với xe tăng yểm trợ,  tấn công mãnh liệt vào CC 31 ND. Sử dụng hơn 20 chiến xa giữa  ban ngày trước hỏa lực không kích của Mỹ  cho thấy quyết tâm  của  địch muốn triệt tiêu căn cứ. Cùng lúc tấn công CC31ND,  địch dùng cối và  đại bác tầm xa bắn rất chính xác vào CC30ND  và  CCBảnĐông, gây trở  ngại cho  hai pháo  đội  đang yểm trợ  về hướng căn cứ  bị  tấn công. Pháo súng cối của địch càng lúc càng  chính xác: Trong hai ngày cách nhau, ngày 23  ở  CC31 và  ngày  25  ở  CC30, súng cối bắn ngay vào bãi  đáp trực thăng  đang lên xuống, gây tử  thương cho phi hành  đoàn và  hành khách. [37] Hai  lần tấn công buổi sáng và trưa ngày 25 từ hướng đông bắc và tây  nam không thành; 4 giờ  chiều  địch chuyển hướng, tấn công  ồ  ạt  từ  hướng  đông nam của căn cứ. Như  đã  nói,  ở  CC 31 ND có bộ chỉ  huy LĐ3ND; bốn đại  đội tác chiến cơ  hữu của TĐ3; một  đại  đội trinh sát; và  một pháo  đội 105 ly. Hai  đại  đội 31 và  32 đóng  tiền đồn  ở  hướng  đông và  đông bắc;  đại  đội trinh sát  đóng trên  một cao  điểm  ở  tây tây bắc; hai  đại  đội 33 và  34 và  pháo  đội  đóng bên trong căn cứ. Ngày 25, trước khi căn cứ  bị tấn công và thất thủ, hai đại đội 31 và 32 được lệnh di chuyển về hướng nam  và đông nam để đón nhận một lực lượng thiết kỵ-nhảy dù (đơn vị của ThĐ17TK và  TĐ8ND) từ  Bản Đông lên tiếp viện. Theo một một sĩ  quan của đại đội 32 thuật lại,  đại đội không đến điểm hẹn  đúng  như  dự  liệu. Nhưng không thành vấn đề  nữa, vì  đơn vị Thiết Kỵ-Nhảy Dù từ hướng nam đi lên cũng gặp trở ngại, vì vừa  đi họ  vừa phải “nhổ” những chốt của  địch cản đường. [38] Trong  hai  đại  đội còn lại phòng thủ  căn cứ,  đại  đội 34  đã  bị  tổn thất  nhiều trước ngày thất thủ. Báo cáo cho biết đại đội 34 chỉ còn 60  tay súng. [39] Như vậy, hai đại-đội-thiếu (-) và một pháo đội 105 ly  là  tất cả  những gì còn lại của CC 31 ND  để  “đi tiền” với ba tiểu-đoàn cộng (+) của TrĐ64/SĐ320 và TrĐ1/SĐ2BB Quân giải phóng.

Trung  Đoàn 64/SĐ320 gồm hai  Tiểu  Đoàn 8 và  9 (tám đại  đội) cộng với một đại đội xe tăng, có  mặt ở vùng hành quân từ 6  tháng 2, và  bắt đầu bao vây CC 31 ND từ  ngày 20. TrĐ64/320  được nhắc đến trong  điện tín của tướng Sutherland ngày 22.  Điện tín cho biết TrĐ64 và TrĐ1/SĐ2BB Quân giải phóng đang họat động  phía tây, sát Bản Đông và  bắc Đường 9. Nhiệm vụ  của hai trung  đoàn này là  gài mìn,  đóng chốt và  làm lô cốt kháng cự  trên  Đường 9 về  hướng Tchepone. Sutherland trấn an MACV với  nhận  định, “Tôi không quân tâm về  những kháng cự  này; B-52  sẽ hủy diệt được.” [40]

Quan tâm hay không, 11 giờ  sáng ngày 25 hai  đại đội của  TrĐ64 tấn công căn cứ ở hướng bắc sau khi nã pháo liên tục từ 7  giờ  sáng; 12 giờ:  địch thay đổi hướng tấn công vào phía  đông  nam; 1giờ: một  đại đội  địch chọc thủng phòng tuyến của căn cứ ở phía bắc; 3 giờ chiều: 20 xe tăng và bộ binh tùng thiết tấn công  vào căn cứ từ hai hướng đông và tây bắc; 5 giờ chiều: ba xe tăng  với hai đại đội bộ binh tùng thiết đã đến trên đầu hầm bộ chỉ huy  LĐ3 và ban chỉ huy TĐ3. Căn cứ 31 của Nhảy Dù kể như bị tràn ngập khi một vài sĩ  quan chỉ  huy lên máy truyền tin chào vĩnh  biệt đồng đội.  Đích thân  Đại Tá  Nguyễn Văn Thọ, lữ  đoàn  trưởng LĐ3ND, gọi về  Trung Tâm Hành Quân SĐND ở Khe  Sanh: “Lương  ơi! Căn cứ  đã  bị  tràn ngập. … Vĩnh biệt bạn!”  (Lương là  Đại Tá  Nguyễn Thu Lương, trưởng phòng hành quân  SĐND trong thời gian  đó.)  Ở  CC 30 ND, cách CC 31 ND chừng  năm cây số,  Đại  Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng 155 ly,  nhận lời chào cuối cùng của đại úy pháo đội trưởng Nguyễn Văn  Đương  ở  đầu giây, “… Việt Cộng  tràn lên bãi trực thăng  đông quá. … Tôi phải ra trực xạ  đây.” Và  Đại  Úy  Đương chỉ  có  thể trực xạ  đến 4 giờ  16 chiều, vì  đến giờ  đó, tiểu  đoàn phó  TĐ3  Pháo Binh Dù,  Đại  Úy Phương, lên máy truyền tin cảm  ơn lần  cuối: “Thành thật cảm ơn các bạn đã tác xạ hết mình. Nhưng bây  giờ  không còn cách nào cứu vãn. Vĩnh biệt các bạn. Vĩnh biệt  các bạn.” Truyền tin qua lại của hai đại đội 31 và 32 cho thấy họ di chuyển khỏi vị  trí, rút về  hướng nam chờ  bắt tay với TĐ8ND  và  ThĐ17KB từ  Bản  Đông lên.  Đại đội trinh sát của LĐ3ND,  đang đóng ở  hướng tây tây bắc, được lệnh đánh trở  lại căn cứ để cứu những quân nhân còn tử thủ. [41]

Nhiều chuyện không may xảy ra cho sự  thất thủ  của  CC31ND: máy bay tiền sát hướng dẩn hỏa lực đến không kịp giờ vì bị lạc tọa độ; phản lực cơ Mỹ đang đánh bom yểm trợ bỏ vị trí đi cứu bạn (một phản lực cùng phi tuần bị  bắn rơi trong lúc yểm  trợ) trong khi xe tăng của  địch tiến lên đồi; từ  3giờ  30  đến 5 giờ hơn, một cơn mưa giông trút xuống vùng Khe Sanh Lao Bảo,  ngăn cản mọi yểm trợ  không lực, sau khi không lực Mỹ  đã  thực  hiện được 108 phi vụ  yểm trợ  cho CC 31 ND. Trong đêm 25, đại  đội trinh sát  đụng mạnh với  địch khi họ  tiến về  CC 31 ND với hy  vọng cứu bộ chỉ huy lữ đoàn, hay bất cứ ai còn sống sót. Đại đội  bị  thiệt hại nặng nhưng vẫn không vào được bên trong căn cứ.  Rạng sáng ngày 26, B-52 bay 15 phi vụ, trải bom bắc, tây bắc và đông bắc CC 31 ND. [42] Ngày 26, TĐ8ND và  TĐ17TK trên đường  tiến lên CC 31 ND tiếp viện, quần thảo với một  đại đội của  địch  đóng ở  phía tây nam, cách căn cứ chừng 200 đến 400 mét. Quân  tiếp  viện nhìn thấy căn cứ, nhưng không vượt qua  được sức  kháng cự  của  địch. Một  đại đội của TĐ8/TrĐ64 Quân giải phóng  đang  đóng chốt cản hướng  đi. Tại vị  trí  này, từ  ngày 26 đến ngày 3  tháng 3, ở  phía nam và  tây nam CC31ND xảy ra nhiều trận giao  tranh đẫm máu giữa hai lực lượng đối kháng. Đến ngày 3 tháng 3  hai tiểu  đoàn của TrĐ64 gom quân lại và  đẩy lực lượng Dù-Thiết Kỵ ngược về Bản Đông. [43]

Trận  đánh  đêm 2 tháng 3 giữa lực lượng  đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ và TrĐ64/SĐ320, xảy ra cách CC 30 ND chừng năm cây số  về  hướng tây, nhưng  ở  Căn Cứ  30 những người lính của TĐ2ND có  thể  cảm nhận được hỏa lực  địch  —  Tiểu  Đoàn 2  Nhảy Dù bây giờ đứng bơ vơ một mình giữa Binh Đoàn 70.  

Tình hình Căn Cứ 30 Nhảy Dù được tướng Sutherland nhắc  đến trong một  điện tín báo cáo về  MACV ngày 22 tháng 2. Sutherland cho biết pháo nòng dài và pháo cối của địch rất chính xác, làm giới hạn tối  đa những phi tuần tiếp liệu cho căn cứ. Hỏa  lực phòng không đầy trời, nhưng máy bay quan sát không tìm  được mục tiêu đặt súng. Sutherland báo cáo bốn  đại bác 105 ly  trên căn cứ  bị  hư  và  cần thay thế. Trừ  những trở  ngại  đó, căn cứ của Nhảy Dù  “vẫn bình yên.” [44] Báo cáo của Sutherland cũng  đúng: Cho  đến ngày 22 tháng 2, mặt trận của vùng hành quân ở phía tây tương  đối yên tĩnh  —  yên tĩnh cho đến khuya 24 khi  CCBĐQN của TĐ21BĐQ thất thủ;  đêm 25  đến lượt CC 31 ND  của LĐ3ND và  TĐ3ND bị  mất. Và  sau khi củng cố  tập trung lại  quân số  sau trận Căn Cứ  31, lực lượng của B70 mạnh hơn. Tối  đêm 3 tháng 3, lực lượng Dù-Thiết Kỵ được lệnh bỏ tuyến; và bỏ luôn  ý  định trở  lại CC 31 ND. Nhưng trước khi rời vị  trí, Thiết  Đoàn 17 và  TĐ8ND đánh một trận để  đời  ở  Hạ  Lào: Giao chiến  với một tiểu đoàn  địch, lực lượng Dù-Thiết Kỵ  đổi 100 thương  vong để  lấy 383 xác đối phương. [45] Sau trận  đánh lực lượng  đặc  nhiệm lui về Đường 9, về phòng tuyến ở Bản Đông. Cho đến lúc  đó, trừ  sự  hiện diện của TĐ2ND  ở  đông bắc Bản  Đông, vùng  hành quân từ  biên giới đến bắc Bản  Đông nằm trong gọng kềm  của Binh  Đoàn B70. Chỉ  sau một tuần phản công, ba sư  đoàn  Quân giải phóng đàn áp tất cả  các lực lượng VNCH  ở  hướng bắc của trục  tiến quân.

Đến ngày cuối của Tháng 2 (ngày 28) trên CC 30 ND vẫn  còn một số  lính BĐQ kẹt lại (quân của hai TĐ39 và  21). Căn cứ đông và  chật hơn. Theo quan sát của phi công trực thăng yểm  trợ, căn cứ  đông và  chật đến độ  nếu pháo binh  địch bắn vào, thì thế  nào cũng có  lính bị  thương hoặc chết. Lính bị  thương mà  không  được di tản ngay, lại trở  thành một gánh nặng cho quân trú phòng. [46] Vòng đai phòng thủ  của căn cứ  càng ngày càng nhỏ lại.  Ngày 27 địch đã đột nhập đến bãi đáp trực thăng, quân trú phòng  phải nghênh chiến cách phòng tuyến của họ  chưa  đến 50 mét.  Trong ba ngày 26  đến 28, các  đơn vị  của TrĐ64/SĐ320 và TrĐ88/SĐ308 thay phiên nhau tấn công vào CC30ND nhưng  thất bại:  Địch không dám tập trung quân nhiều vì  sợ  trúng bom  B-52 (B-52  đánh hàng ngày chung quanh căn cứ); nếu dùng  ít  quân thì đánh không qua được phòng tuyến của Nhảy Dù. Nhưng  địch không cần tràn ngập phòng tuyến bằng lính bộ  binh và  xe  tăng nữa. Họ  chỉ  cần tiếp tục pháo … pháo cho đến khi quân trú phòng phải di tản khỏi cao  điểm. Ngày 2 tháng 3  địch pháo vào  căn  cứ  hơn 1.000 quả  đạn, trong  đó  có  đạn  đại bác 152 ly.  Đạn  pháo kích bắn trúng vào hầm đạn 105 ly, và  nổ  lan qua hầm đạn  155 ly, thiêu hủy một góc của căn cứ, phá  hủy tất cả đại bác của  hai pháo đội. Tiểu đoàn được lệnh chuẩn bị chờ trực thăng đến di  tản. Nhưng trực thăng nào dám  đáp xuống một giữa một xạ trường như  vậy. Rút lui bằng trực thăng không  được, xế  trưa  ngày 3 tiểu đoàn được lệnh di chuyển bằng đường bộ. Tiểu Đoàn  2 Nhảy Dù  VNCH, sau sau hai mưoi lăm ngày phòng thủ CC 30 ND, rời căn cứ  vào 5 giờ  chiều. Hai giờ  sáng ngày 4 tháng  3, sau khi tất cả  đã  xuống  được chân  đồi, trên  đường di chuyển,  tiểu  đoàn  Đ2ND  đánh một  điện tín, yêu cầu phi cơ  tiền sát đang  bay trên  đầu nếu nhận  được thì  chuyển về  cho BTL hành quân/ tư  lệnh SĐND ở  Khe Sanh. Điện tín vắn tắt, “Bị  vây hãm và  bị tấn công liên tục mười ngày; không nhận  được tiếp tế; có  200  thương vong. … Hai ngày không có  lương thực và  nước uống.  … Cần trực thăng tải thương và tiếp tế gấp khi trời sáng.” [47]

Hơn một tuần trước khi TĐ2ND bỏ  cứ  điểm CC 30 ND,  SĐND đã thực hiện kế hoạch tái phối trí vị trí và trách nhiệm của  sư  đoàn. Thay vì nhảy vào Tchepone như  kế  hoạch hành quân  nguyên thủy, LĐ2ND, với ba tiểu  đoàn 5, 7 và  11, bây giờ  có trách nhiệm củng cố  an ninh trên  Đường 9 từ  Lao Bảo  đến Bản  Đông: BTL LĐ2ND  đóng  ở  Lao Bảo; TĐ11ND phụ  trách bãi  đáp/ tuyến Bravo; TĐ5ND, tuyến Alpha; và  TĐ7ND  đi xa về hướng bắc  để  đón TĐ2ND trên  đường di tản từ  CC30ND về, và làm một hành lang kiểm soát ở hướng bắc, khoảng giữa Alpha và Bản Đông. Cùng lúc, SĐTQLC, từ vai trò trừ bị, cũng được điều  động vào vùng hành quân: Hai Lữ  Đoàn 147 và  258 sẽ  thay thế hai Trung Đoàn 1 và 3, SĐ1BB ở một vài cao điểm, để hai trung  đoàn này rời vị trí, tiến xa về phía tây.  Ngày 3 tháng 3, hành quân ngày N+23, trận liệt của VNCH  và  Quân giải phóng hoàn toàn thay đổi. Theo báo cáo của Phòng 2 BTTM  VNCH, đến thời  điểm  đó  lực lượng Quân giải phóng có  16 trung  đoàn  ở vùng hành quân. Mười một trong số  mười sáu trung đoàn này đã tham chiến; năm trung  đoàn còn lại nằm trong vùng hành quân  và  có  thể  tham chiến bất cứ  lúc nào.  Đó  là  các trung  đoàn bộ binh, đơn vị  yểm trợ  của Quân giải phóng trong vùng hành quân gồm một  trung  đoàn chiến xa; một phòng không; và  hai pháo binh. Cùng  ứng chiến như  một  đơn vị  độc lâp, Binh  Đoàn 559 có  12 tiểu  đoàn phòng không; 12 tiểu  đoàn vận tải; và  17 tiểu  đoàn công  binh trong vùng hành quân, với nhiệm vụ bảo vệ căn cứ của họ.  


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Chín, 2014, 05:24:05 AM
Sư Đoàn 1 Bộ Binh và Mặt Trận Phía Nam

Trong khi  ở  hướng bắc  Đường 9, Nhảy Dù  và  BĐQ  đương  đầu  với năm trung  đoàn Quân giải phóng (chưa kể  các  đơn vị  xe tăng, phòng  không, và  pháo binh),  ở  phía nam, hai trung  đoàn của SĐ1BB  quần thảo với sáu trung  đoàn  địch (chưa kể  những  đơn vị  yểm  trợ và hai binh trạm). Sáu trung đoàn Quân giải phóng đến từ các Sư Đoàn  324B, 304, và một trung đoàn của SĐ2BB.

Vào tuần lễ  đầu hành quân, tám tiểu  đoàn của TrĐ1 và TrĐ3/SĐ1BB  đóng trên chín cao  điểm, trong  đó  có  năm căn cứ hỏa lực. Từ  cao  điểm Co Roc gần biên giới cho  đến phía  đông  nam Bản  Đông. Những căn cứ  hỏa lực quan trọng là  CCHotel;  CCHotel2; CCDelta; Don; và  CCDelta1. Tất cả  những căn cứ này nằm trong phạm vi  Đường 914  và  biên giới Việt Nam  — cũng  đồng thời nằm trong vùng hoạt  động của căn cứ  hậu cần  611. Căn cứ  hậu cần 611 do hai Binh Trạm 31 và  41 phụ  trách,  có nhiệm vụ tải hàng từ hai Binh Trạm 33 và 42 ở Tchepone (căn  cứ  hậu cần 604) về  mặt trận B-4 và  quân khu Trị-Thiên-Huế.  Những căn cứ/ cao  điểm này nằm cách Sông Xe Pone/ Đường 9  từ  năm đến 12 cây số. Căn cứ  hỏa lực xa nhất về  hướng nam là CCHotel2. Từ  đây pháo binh có  thể  tác xạ  xuống Mường Nông  —  cũng là  một một mục tiêu quan trọng của LS719. Nếu  ở hướng bắc Đường 9 những căn cứ  của Nhảy Dù  và  BĐQ  đóng  theo đội hình để  kềm chế  trục lộ  92A và  1093;  ở  hướng nam,  SĐ1BB  đóng trên những cao  điểm để  ngăn chận lưu thông về hướng đông nam trên đường 914 và 92C. [49]

Lực lượng Quân giải phóng mà  SĐ1BB VNCH  đang  đối  đầu trong  vùng trách nhiệm của họ là SĐ2 Sao Vàng với hai Trung Đoàn 3  và  41; ba Trung  Đoàn 29, 812, và  803 của SĐ324B. Phản  ứng  của  địch  ở  phía nam (vùng trách nhiệm của SĐ1BB) tương  đối  chậm và  kém mãnh liệt hơn ở  phía bắc (vùng trách nhiệm của  BĐQ và  Nhảy Dù). Nhưng sau khi hai căn cứ  BĐQ và  CC31ND  bị  thất thủ; sau khi  địch viện thêm quân từ  hướng B3 (Tây  Nguyên) lên, các tiểu  đoàn của hai Trung  Đoàn 1 và  3/SĐ1BB  chạm địch thường xuyên và mãnh liệt hơn. Vào ngày 27 tháng 2,  chung quanh CCHotel2, căn cứ  hỏa lực lớn nhất và  xa nhất phía  nam  Đường 9,  địch bao vây TĐ2/TrĐ3  đang bảo vệ  một pháo  đội 105 ly trên căn cứ. Khi đánh hơi biết TrĐ3 sẽ di tản pháo đội  và  quân trú  phòng  đến một cao  điểm khác,  địch dùng tất cả  hỏa  lực tấn công mạnh. Một trực thăng CH-53 bị  bắn tan xác trên  không trung khi  đang móc một khẩu pháo trên  đường di tản.  Đêm 28 căn cứ được lệnh phá hủy đại bác và di chuyển khỏi căn  cứ  bằng  đường bộ  (Pháo  đội  đã  được lệnh di tản từ  ngày 23,  nhưng chỉ  một số  di tản  được vì  phòng không quá  mạnh). Hai  Tiểu  Đoàn 2 và  3/TrĐ3 cũng  được lệnh rút  đi, tìm một chổ  an  toàn để trực thăng có thể di tản họ. Trong hai ngày, 28 tháng 2 và 1 tháng 3, trên  đường di tản Tiểu  Đoàn 2 và  Tiểu  Đoàn 3/TrĐ3  bị  hai Trung  Đoàn 29 và  814/SĐ324B tấn công liên tục. Sau  cùng, hai tiểu  đoàn  được trực thăng bốc về  Khe Sanh và CCDelta1. Báo cáo từ  QĐXXIV cho biết TĐ2/TrĐ3 bị  thiệt hại  nặng và được đưa về Huế để bổ sung và tái trang bị. [50]

Tình hình chiến trường  ở  phía nam  Đường 9  đến ngày  CCHotel2 di tản,  đã  trở  nên  ác liệt.  Địch  điều  động thêm bốn  trung  đoàn vào vùng tác chiến.  Đường bộ  từ  Đông Hà  đi Khe  Sanh bị  phục kích thường xuyên; đường Khe Sanh về  Lao Bảo  cũng không khá  gì  hơn. Vận chuyển  đường bộ  không còn tin  tưởng được. Ngay cả  những căn cứ  tiếp liệu tiền phương do lính  Mỹ trấn giữ cũng bị tấn công: Trong bốn ngày, đặc công của Mặt  Trận B-5 (đơn vị  phụ  trách khoảng  đường từ  Đông Hà  về  Lao  Bảo) tấn công  hai lần  vào căn cứ Vandegrift (khoảng giữa Cam Lộ  và  Khe Sanh), phá  hủy 320.000 lít xăng máy bay và  hơn  16.000 đạn đại bác 20 ly. [51] Trong một  điện tín báo cáo tình hình  chiến trường cho đến ngày 3 tháng 3, tướng Sutherland thú  nhận  (1) trong ba lần tấn công vào các Căn Cứ  31, 30 và  Hotel2, hỏa  lực phòng không, súng cối và  pháo binh của  địch  đã  là  cho vấn  đề  tiếp liệu bằng trực thăng khó  khăn, nếu không nói là  không  được. (2) mặc dù  bị  tổn thất tương  đương một trung  đoàn một  tuần, nhưng  địch vẫn quyết liệt tác chiến, và, (3)  đối phương  đã quen với kỹ thuật và chiến thuật [tác chiến] của quân lực VNCH,  và  từ  đó  phối hợp hỏa lực của họ  để  đối phó. [52] Nói một cách  khác, điện tín của tướng Sutherland cho biết, dù thiệt hại nặng — và  sẵn sàng chịu thiệt hại nặng  —  nhưng  địch  đang nắm thế thượng phong ở chiến trường.

Ngày 28 tháng 2 tướng Lãm bay về  Sài Gòn hội kiến với  Tổng Thống Thiệu và  Đại Tướng Cao Văn Viên. Buổi họp thực  tế  hóa quyết  định đưa thêm chín tiểu đoàn vào thay thế  năm tiểu  đoàn  đã  bi thiệt hại trong hơn ba tuần giao chiến. Những tiểu  đoàn bị  thiệt hại là  TĐ3ND; TĐ39 và  21BĐQ; TĐ2 và 3/TrĐ3/SĐ1BB. Chín tiểu  đoàn  được  đưa vào chiến trường là LĐ147 và  LĐ258TQLC (sáu tiểu  đoàn); Thiết  Đoàn 7; và,  TrĐ2/SĐ1BB (TĐ2 và 3). Buổi họp đồng thời khẳng định một lần  nữa, SĐ1BB sẽ  là  đơn vị  nhảy vào Tchepone thay vì  Nhảy Dù như  trong kế  hoạch nguyên thủy, hay là  TQLC như  đã  được  đề nghị  sơ  qua  ở  BTL tiền phương  ở  Khe Sanh.[53] Ngày 1 tháng 3, Tổng Thống Thiệu cho  Đại Tướng Abrams biết kế  hoạch mới  như đã nói trên.[54] 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Chín, 2014, 05:31:05 AM
[1] Sư  Đoàn 1 Bộ  Binh trong thời  điểm HQLS719 có  năm trung  đoàn: 1,  2, 3, 4, và 54 (thống thuộc SĐ1BB). Trung Đoàn 1 và 3 mỗi trung đoàn  có  bốn tiểu đoàn; Trung Đoàn 2 có  năm; và  Trung Đoàn 54 có  ba. Sau  HQLS719, tháng 10-1971, BTTM thành lập Sư Đoàn 3 Bộ Binh, Trung  Đoàn 2 được tách ra để  làm trung đoàn cột  trụ  cho Sư  Đoàn 3BB (với  Trung  Đoàn 2, 56, và  57). Khi VNCH thất thủ  năm 1975, SĐ1BB có Trung  Đoàn 1, 3, 51, và  54.  Đọc Nguyễn Duy Hinh, sđd tr. 173;  Personnel Occupying Key Positions in the Republic of Vietnam Armed Forces During the Final Enemy Offensive in 1975  (General Research  Corporation: McLean, VA, 1975), tr. 9.

[2] Sorley, The Abrams Tapes, tr. 359; đọc thêm Giang Văn Nhân, “Khóa  22 Đà Lạt Trong Trận Hạ Lào,” đây là một bài viết tổng hợp lời kể của  các sĩ  quan tốt nghiệp Khóa  22 tham dự  LS719, viết qua dạng e-mail;  và  tổng hợp tương tự  của Kiều Công Cự  trong, “Những Emails Rất  Ngắn và Rất Thật về Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719”,  Đặc San Sóng  Thần 2013, tr. 117. Theo bản đồ hành quân của BTL B70, CC31ND và căn cứ  tương lai 32ND,  đang nằm sát vòng  đai của BTL B70. Số  thiệt  hại của hai  đại đội TĐ6ND nằm trong Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 81.  Theo  Đại Tá  Nguyễn Thu Lương, Phòng 3 Sư  Đoàn Nhảy Dù, thì TĐ6ND nhảy xuống để  yểm trợ  thêm cho LĐ3ND, hơn  là  thành lập  CC32.  Đại tá  Lương nói lệnh hành quân của sư  đoàn thay đổi khi  áp  lực của Quân giải phóng đè xuống CCBĐQB và CCBĐQN. Sách của tướng Hinh  cũng viết tương tự như  lời giải thích của Đại Tá Nguyễn Thu Lương. 

[3] B-5 có hai Trung Đoàn Bộ Binh 31 và 27; hai Trung Đoàn Pháo Binh  84 và  38. Tiểu  Đoàn  Đặc Công Nước 126 gây nguy hiểm cho xà  lan  chở  hàng từ  cảng Mỹ  Thủy về  Cửa Việt và  từ  đó  vào  Đông Hà  bằng  đường sông. Cản trở  này  đặt gánh nặng thêm cho phương tiện không  vận đang kiệt quệ. Đọc Project CHECO, đã dẫn, tr. 49, trích ở phụ chú dưới.   

[4] Headquarters Pacific Air Force.  Project CHECO, “Lam Son 719, 30  January – 24 March 1971” tr. 43-44.

[5] Như trên; cùng trang.

[6] Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr.109. Tướng An nói SĐ308 hạ trại  ở  Sa Rit, “Tiểu đoàn biệt  động quân 21 đóng ở  điểm cao 500 chặn  trước mặt, cách chúng tôi vài cây số.” Tác giả  nói thêm sư  đoàn của  ông đóng trên đầu Sông Sa Mu. Cao điểm 500 mét của TĐBĐQ21 nhìn  xuống Sông Sa Mu. Nếu  đây là  vị  trí  đúng của SĐ308 thì  CCBĐQN  nằm ngay sát vòng  đay  của Tr88/308 Quân giải phóng. Và  như  vậy, ngày hôm sau (N +3) CCBĐQB của TĐ39BĐQ  đóng ngay vùng tác chiến của  TrĐ102/SĐ308. Hai căn cứ  Bắc và Nam cách nhau khoảng hai cây số. 

[7] Vị  sĩ  quan tử  nạn là  Đại Tá  Cao Khắc Nhật, Trưởng Phòng 3, QĐI. Theo sách tướng Nguyễn Duy Hinh, giữa tháng 1 khi Chuẩn Tướng  Trần  Đình Thọ, Trưởng Phòng 3, BTTM, ra Huế  thông báo cho tướng  Lãm nội dung HQ LS719,  Đại Tá Nhật không được phép tham dự vì lý do bảo mật. Sau buổi thuyết trình, Đại Tá Nhật hỏi tướng Thọ, “Tại sao  tôi không  được tham dự? Tôi là  người  đóng góp sọan thảo hành quân  này.”  Đọc Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 34.  Đoàn trực thăng này có  năm  chiếc, do hoa tiêu Không Quân VNCH bay. Tác giả  Trần Đỗ  Cẩm viết  (theo lời thuật của các sĩ  quan  BĐQ) bến đến của  đoàn phi cơ  năm  chiếc là bộ  chỉ  huy LĐ1BĐQ ở Tà Púc. Nhưng nếu trực thăng bị bắn ở giữa Đường 9 và  phía nam CCBĐQN, thì  trực thăng đã  bay lạc hướng.  Sách của tướng Hinh ghi bến đến của trực thăng là  CCBĐQN. Nguyễn  Duy Hinh, sđd, tr. 34; Trần Đỗ  Cẩm, tr. 6. Theo hai tác giả  Richard  Pyle và  Horst Faas trong Lost Over Laos  (De Capo Press, 2002),  đoàn  trực thăng có  năm chiếc, trong  đó  một chiếc chở  tướng Lãm, hai chiếc  chở sĩ quan quân đoàn và phóng viên báo chí ngoại quốc, hai chiếc còn  lại chở tùy viên. Mục đích của chuyến bay là thị sát căn cứ Hotel ở nam  Đường 9, rồi bay về  hướng bắc thị  sát CCBĐQN của TĐ21BĐQ. Trực  thăng đến CCHotel an toàn. Trên đường đến CCBĐQB, trực thăng của  tướng Lãm dẫn đầu, hai trong bốn chiếc còn lại bay lạc. Khi ba chiếc  trong  đoàn  đáp xuống CCBĐQN, chờ  một hồi lâu không thấy hai trực  thăng kia xuất hiện, tướng Lãm nói ông có linh cảm chuyện không may  đã  xảy ra (theo lời tướng Lãm kể  lại trong sách của hai tác giả).  Lost  Over Laos, tr. 143, 158. 

[8] FRUS, sđd, Document 113. Ngày 29 tháng 1-1971, tướng Abrams nói  ước lượng đó là dựa vào cuộc hành quân qua Cam Bốt tháng 5-1970.   

[9] Điện tín 121144Z Feb 1971, QTR 0064, Sutherland gởi Abrams.  Sutherland báo cáo Tổng Thống Thiệu muốn nổ  lực tạm thời của QĐI  là  khu vực có  tọa độ    “XD 5720, XD 6320, XD 5724, và  XD 6324  (mục tiêu A Ro).” Căn Cứ 611 nằm dọc theo đường 914 dẫn về Vùng I và  Vùng II. Theo tài liệu của Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh,  ông  Thiệu ra thị  sát  Đông Hà  vào ngày 19 tháng 2. Nhưng tất cả  tài liệu  người viết tìm được, đều nói ngày 12 tháng 2.  Điện tín của Sutherland  ghi ngày 12 tháng 2 (121144Z Feb 1971: 11:44 giờ  Zulu, 12 tháng 2),  và  bắt đầu, “Trong lúc thăm viếng vùng hành quân Lam Sơn 719  hôm  nay …” 

[10] Đến ngày 12 tháng 2 VNCH có  17.822 quân  ở  Cam Bốt trong hai  cuộc hành quân Cửu Long 44-02, và  Toàn Thắng 1/71, do Quân  Đoàn  III và  Quân  Đoàn IV thực hiện. Quân số  này tăng lên 21.000 ngày 27  tháng 2. Theo báo cáo của MACV, trong tuần lễ  đầu của LS719,  VNCH có  10.621 quân  ở  Lào. Không Quân VNCH  đảm nhiệm  đa số phi vụ  tiếp vận, tải thương và  yểm trợ  cho hai cuộc hành quân Cửu  Long và  Toàn Thắng.  Đọc Sorley,  The Abrams Tapes, tr. 520, 535,  549.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: canaris trong 23 Tháng Chín, 2014, 10:34:59 PM
Tiếp nữa đi các bác, đang hay mà. Lót dép hóng vậy  ;D

Hóng hớt được là hình như các ad bên này cũng cập nhật tình hình topic này qua một bài mới về diễn biến chiến dịch phản công của QDND Việt Nam hòng đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của VNCH.

Link đây: Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào năm 1971 (http://quansuvn.net/?p=97)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: altus trong 24 Tháng Chín, 2014, 04:00:19 AM
[11] Sorley, sđd, tr. 506. B-5 là bộ tư lệnh có trách nhiệm 15 cây số bắc, và 15 cây số nam Sông Bến Hải; Đại Tướng Julius D. Clay, tư lệnh Không Lực 7, nói về giới hạn của Không Lực 7 trong buổi họp ở  MACV, ngày 13 tháng 2, Lewis Sorley, cùng sách, tr. 534.   

[12] Điện tín 141220Z, Feb 14 1971, DNG 0443, Sutherland gởi Abrams.

[13] TrĐ102/308 QĐND cho biết họ bắn 2.083 đạn 82 ly vào CCBĐQB; và để kềm chế CCBĐQ37/LĐ1BĐQ ở Ta Puc, họ tiêu thụ hơn 2.900 đạn cối 82 và 120 ly vào mục tiêu này. Đọc Công Tác Hậu Cần Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào, tr. 343.

[14] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 79; “Bản Đồ Tổ Chức Hậu Cần Mặt Trận 702 Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào (Tháng 2-3 Năm 1971)” trong Chiến Dịch Phản Công Đường 9 Nam Lào.

[15] Nguyễn Hữu An, sđd, tr. 109-110.

[16] Bản đồ đã dẫn trong Chiến Dịch Phản Công Đường 9 Nam Lào; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 77-79. 

[17] Sorley, The Abrams Tapes, tr. 538.

[18] Trong Victory in Vietnam: The Official History of People’s Army of Vietnam, 1954-1975, tr. 274, QĐND ghi đã có những đơn vị sau vào ngày 8 tháng 2 tại vùng hành quân: Năm sư đoàn chánh quy; hai trung đoàn độc lập; tám trung đoàn pháo; ba trung đoàn xe tăng, ba trung đoàn công binh; sáu trung đoàn phòng không; tám trung đoàn đặc công; và, những đơn vị cơ hữu phụ thuộc. Đây là bản dịch Việt ngữ Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân, Tập II: Thời Kỳ Trưởng Thành của Quân Đội Nhân Dân Trong Thởi Kỳ Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975) (Merle L. Pribbenow, translator, Kansas: University of Kansas Press, 2002). Quân số của QĐND ghi theo sách trên mâu thuẩn với nhiều sách quân sử riêng của các sư đoàn, hay sách của tổng cục hậu cần. Một số trung đoàn vẫn đang trên đường đến chiến trường vào ngày 8 tháng 2, như trường hợp của TrĐ64/SĐ320 và TrĐ36/SĐ308.

[19] Công Tác Hậu cần Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào, tr. 116-119, 379, 458. Tiếp liệu hậu cần của QĐND được chia ra từng khu vực/ : B70; B-5; Binh Đoàn 559; SĐ324B, và SĐ2BB. Trung bình mổi trung đoàn có chừng 65 cối 60 và 82 ly.

[20] Đại Úy Trương Duy Hy, chỉ huy pháo đội C/TĐ44 ở CC30ND, kể lại trưởng hợp CC21BĐQ xin ông phản pháo … hai pháo đội liên tục phản pháo nhưng không hiệu quả vì không thấy hướng súng của địch. Đại Úy Trương Duy Hy, Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 Hạ Lào, tr. 72, 87. 

[21] Keith W. Nolan, Ripcord: Screaming Eagals Under Seige, Vietnam 1970, tr. 476, 480. Căn cứ Ripcord, từ lúc chiếm cho đến khi di tản hơn bốn tháng. Tuy nhiên chỉ có 23 ngày sau cùng (1 đến 23 tháng 7-1970) là bị tấn công mạnh: Mỹ có 74 tử thương và 400 bị thương trong ba tuần (254 tử thương trong bốn tháng). Súng cối của QĐND bắn vào căn cứ đặt xa mục tiêu từ 400 mét đến 3.500 mét. Chỉ trong ba tuần, cố thủ một cứ điểm bất động, với 74 chết và 400 bị thương, thì không thể giữ căn cứ được.       

[22] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 142, 159-160. Tướng Hinh viết, tất cả 96 khẩu đại bác bị bỏ lại, là ở những căn cứ hỏa lực: Trực thăng không câu đại bác ra được vì pháo và phòng không của địch quá mạnh. 

[23] Điện tín 210525Z, Feb 1971, QTR 0116, Sutherland gởi Abrams; Điện tín 221745Z, Feb 1971, QTR 0125, Sutherland gởi Abrams. Trong điện tín ngày 21 tháng 2, Sutherland nói tướng Lãm xin phi vụ B-52 hai ngày liên tiếp để “hủy diệt hoàn toàn TrĐ102 và những đơn vị của SĐ308 trong vùng.” Điện tín ngày 22, Sutherland nói tướng Lãm ra lệnh cho một lực đặc nhiệm tiến về tiếp cứu CCBĐQN. Từ ngày 17 tháng 2, Sutherland đã xin phép Không Quân cho B-52 dội bom cách lực lượng bạn chừng 1.500 mét, thay vì căn bản an toàn là cách 3.000 mét. Điện tín 170300Z, Feb 1971, QTR 0096, Sutherland gởi Đại Tướng Clay (Tư Lệnh Không Lực 7).   

[24] Đọc thêm nhiều chi tiết về những trận đánh ở CCBĐQB và CCBĐQN của TĐ39 và 21 BĐQ trong Trần Đỗ Cẩm, “Các Trận Đánh Của Biệt Động Quân Tại Hạ Lào”, Nguyệt San Đoàn Kết (Austin, Texas, Tháng 9, 2001); hai bài viết của Kiều Công Cự; và Giang Văn Nhân, đã dẫn như trên. Cả ba tác giả đều nhắc đến sự mãnh liệt của súng cối và đại bác không giật. Kiều Công Cự viết, “Trong một ngày mà có bốn sĩ quan bị thương, tất cả do đạn pháo kích,” Đặc San Sóng Thần 2013 (Garden Grove, California), tr. 129.     

[25] Điện tín 231600Z Feb 1971, QTR 0135, Sutherland gởi Abrams. AH-1G là trực thăng loại “Cobra”; UH-1C là lọai võ trang “gunship.”

[26] Chuẩn tướng Trần Quang Khôi, một trong những tư lệnh (đại tá chỉ huy trưởng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ) trong HQ Toàn Thắng 1/71 ở Cam Bốt, qua phỏng vấn điện thoại với người viết, tướng Khôi nói hai ngày trước khi tử nạn (ngày 21 tháng 2), tướng Trí có nói cho tướng Khôi biết ông được lệnh đi Vùng I để chỉ huy Hành Quân LS719. Tướng Trí nói ông muốn tướng Khôi ra Vùng I với ông.       

[27] Điện tín 121114Z Feb 1971, Sutherland nói về lời phàn nàn của tướng Lãm; điện tín 141200Z, cùng tháng, Sutherland thú nhận ông đã không nói với tướng Lãm về số lượng trực thăng và số lượng cung ứng; điện tín 231600Z, tướng Sutherland nói ông ta cần thêm trực thăng để hoạt động theo nhu cầu; Đoạn Abrams khuyên Sutherland nên nói thẳng ra hoàn cảnh thực tế cho tướng Lãm biết, trích theo Lewis Sorley, Thunderbolt: General Creigton Abrams and the Army of His Times, tr. 308-309.

[28] Sơ lược về lực lượng Hoa Kỳ yểm trợ Hành Quân LS719: Liên Đoàn 108 Pháo Binh (bốn tiểu đoàn); Liên Đoàn 45 Công Binh (hai); LĐ3/SĐ101ND (sáu); LĐ1/SĐ5 Cơ Giới (năm); và hai tiểu đoàn của TrĐ11/SĐ23Americal. Tổng cộng 19 tiểu đoàn. Đọc Shelby L. Stanton, The Rise and Fall of an American Army, 1965-1973, tr. 351.

[29] Nguyên văn điện tín 141220Z Feb 14 của Sutherland, “Điều không giải thích cho họ [tướng Lãm và QĐI]  biết là tất cả trực thăng này cũng dùng cung ứng cho tất cả nhu cầu ở Vùng I … cho SĐ101 Nhảy Dù, cho LS719, cho Dewey Canyon II, cho các đơn vị của SĐ1BB không đang ở Hạ Lào, và cho nhu cầu của chi và tiểu khu của QĐI.”

[30] Điện tín 260900Z Feb 71, Thiếu Tướng Gettys (USARV) gởi Trung Tướng Dolvin (MACV). Giống như tình trạng tiếp liệu của các quân đội trên thế giới: cấp số lý thuyết và số nhận được khác nhau. Khác xa hơn là đồ nhận vào nhưng không xử dụng được vì bị hư/ khiếm khuyết: cấp số trực thăng là 696 chiếc; nhận 672; nhưng chỉ có 497 chiếc “hoạt động” (bay) được. Một thí dụ: lọai võ trang UH-1C, theo cấp số sẽ nhận 44; nhận 42; nhưng chỉ 17 chiếc bay được. Lọai võ trang Cobra: 123; nhận được 113; bay 85. Lọai trực thăng chuyên chở căn bản UH-1H: cấp số 329; nhận 325; bay được 245. Những lọai trực thăng còn lại là OH-6; OH-58; CH-47 — hai lọai trực thăng quan sát, và chở nặng. Số 479 trực thăng của QĐXXIV đang hoạt động, trong đó có 51 chiếc “mượn” từ các đơn vị Lục Quân ở Vùng II và III; và 16 chiếc CH-53 kèm theo trực thăng hộ tống, từ TQLC Hoa Kỳ ở Vùng I.

[31] Lục Quân Hoa Kỳ, Việt Nam (U.S. Army, Vietnam/ USARV) là một bộ tư lệnh cấp quân đoàn, trừ thẩm quyền về hành quân, có thẩm quyền hành chánh quân sự và tiếp liệu cho tất cả quân chủng Lục Quân Hoa Kỳ ở Việt Nam. Tư lệnh MACV (Đại Tướng Abrams) đồng thời là tư lệnh USARV. Dưới Abrams là hai tư lệnh: tư lệnh phó MACV về hành quân (Đại Tướng Weyand); tư lệnh phó MACV về tiếp liệu và hành chánh, đồng thời là tư lệnh phó USARV (Trung Tướng William J. McCaffrey). Dưới quyền của USARV là các bộ tư lệnh, liên đoàn không vận; các lữ đoàn cứu thương, quân cảnh; vận tải, truyền tin, và tiếp liệu. Quân số của USARV hơn phân nữa số quân Mỹ ở Việt Nam. Bộ tư lệnh của USARV ở Long Bình. Đây là một lối hành chánh quân sự rất phứt tạp của của  MACV ở Việt Nam, vì USARV phụ thuộc vào tiếp liệu của Lục Quân Hoa Kỳ, Thái Bình Dương (U.S. Army, Pacific/ USARPAC), một  ở cách xa chiến trường hơn một phần tư trái đất. Một phụ chú bên lề: Trung Tướng William McCaffrey (khoá 1939 võ bị West point) có con trai là Barry R. McCaffrey (West Point 1964), năm 1966-67 là trung úy cố vấn cho một đơn vị Nhảy Dù VNCH. Barry McCaffrey lên đến chức đại tướng về sau, và là một đại tướng trẻ nhất khi về hưu.   

[32] Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 543-546. Một buổi họp của các tư lệnh MACV, khi hiện diện đầy đủ, có ba đại tướng; ba hay bốn trung tướng; 11 thiếu tướng; tám chuẩn tướng; và bốn, năm đại tá quan trọng của các lực lượng biệt lập (như chỉ huy trưởng LLĐB, MAC-SOG, quân báo điện tử).     

[33] Tài liệu đầy đủ về trực thăng yểm trợ cho HQLS719 đến từ Vietnam Helicopter Pilots Association (VHPA). Bản liệt kê cho biết từng lọai trực thăng và những đơn vị VNCH họ yểm trợ. Địa chỉ web site của VHPA: w.w.w.angelfire.com/ga2/vnhistory/D94lam/html.

[34] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 47-48.

[35] Lệnh Hành Quân, Sư Đoàn Nhảy Dù, ở phần phụ lục cuối sách.

[36] The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, vol. 1971-1973, tr. 8-9. Ngày 25 tướng Abrams gởi về BTMLQ Hoa Kỳ một điện tín, xác nhận thay đổi trên. 

[37] Trương Duy Hy, Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, tr. 106, 108, 113. Tướng Sutherland trong điện tín 221745Z Feb 1971, gởi MACV, báo cáo, đại bác và súng cối pháo của địch bắn vào hai căn cứ của Nhảy Dù (30 và 31) rất chính xác. Ngày 22 trực thăng VNCH chở một toán tác chiến điện tử vào CC31ND, và để di tản phi hành đoàn trực thăng VNCH bị bắn rơi hôm trước. … Phi vụ trực thăng ngày 22 bị phòng bắn rơi khi sắp sửa đáp, và vài phút sau, súng cối của địch tiêu hủy luôn chiếc trực thăng bị nạn. Súng cối của địch là trở ngại chính cho tất cả phi vụ trực thăng tiếp tế các căn cứ hỏa lực.   

[38] Theo tác giả Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr.84, hai đại đội 31 và 32 của TĐ3ND được lệnh di chuyển về hướng nam để đón lực lượng tiếp viện từ Bản Đông lên. CC31ND nằm ở bên tay trái của đường 92, cách bắc Bản Đông chừng tám cây số. Đường 92 đi về hướng đông bắc sẽ trở thành Đường 1032 đi thẳng vào Bản A-Choc, Quảng Bình, một trong bốn cửa khẩu quan trọng của hệ thống đHCM. Trong bài viết của Giang Văn Nhân, Trung Úy Phạm Xuân Thiếp, đại đội trưởng ĐĐ32 thuật lại, ngày 25 anh dẩn đại đội về hướng nam để đón quân tiếp viện, nhưng không gặp như dự định. 

[49] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 84.

[40] Điện tín 221745Z Feb 1971, QTR 0128 Eyes Only, Sutherland to Abrams. Điện tín này đồng thời cho biết Trung Tướng Dư Quốc Đống bỏ ý định lập CC32ND như theo kế hoạch hành quân (Sau lần trực thăng vận xuống ngày 13 tháng 2 của TĐ6ND bị hủy bỏ vì thiệt hại quá nặng, khi bãi đổ quân nằm ngay vùng tác xạ của địch.).
[41] Đại Tá Nguyễn Thu Lương, trong Tình Đồng Đội (Đặc San Cánh Dù Viễn Xứ, Tháng 4-2008). Trong bài viết Đại Tá Lương cho biết sau khi CC31ND thất thủ, Đại Đội 3 Trinh Sát từ đó thống thuộc LĐ1ND, và hai đại đội tác chiến còn lại, 31 và 32, thống thuộc TĐ8ND; Đại Úy Trương Duy Hy, sđd, trang 116-118; bài viết Khóa 22 và Lam Sơn 719 Hạ Lào của Giang Văn Nhân về truyền tin của Đại Đội 32 nghe được từ Trung Tá Lê Văn Phát và Đại Úy Đương. Giờ phút của trận đánh CC31ND, người viết ghi theo Trương Duy Hy; Giang Văn Nhân; bản đồ tác chiến trong “Chiến Dịch Đường 9 Nam Lào,” chi tiết ngày 25 tháng 2-1971; và CHECO Report, Lam Son 719, 30 January-24 March, 1971. 

[42] CHECO Report, tr. 59; Trương Duy Hy, sđd, tr.128.

[43] CC31ND coi như mất hoàn toàn vào 11:30 đêm 25, nhưng đến ngày 28 ba đại đội còn lại của TĐ3ND (đại đội trinh sát; ĐĐ31 và 32) vẫn giao chiến trên đường củng cố vị trí về hướng nam đông nam (đi về hướng Bản Đông). Nằm cản ngay trên Đường 92 chận quân cứu viện, là một đai đội của TĐ8/TrĐ64. Ba ngày sau, sáu đại đội của hai TĐ8 và 9/TRĐ64 QĐND mới tập trung lại để tấn công đơn vị Dù-Thiết Kỵ tiếp viện từ Bản Đông lên. “Đồi Không Tên” là một vị trí nằm ở phía nam sát chân đồi 31, cạnh một con suối có tên Kim Lan (trên bản đồ, đây là Bản Kim Lan). Tại đây đơn vị đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ bị chận lại, hai bên giao chiến với nhau cho đến khuya ngày 3 tháng 3 thì lực lượng VNCH phải rút trở lại Bản Đông. Điện văn ngày 4 tháng 3 của tướng Sutherland cho biết TrĐ64/SĐ320 và TRĐ1/SĐ2BB đã chết gần 800 quân ở những vị trí chung quanh Đồi Không Tên và CC31ND. Điện tín 040740Z March 1971, QTR 0220, Sutherland gởi Abrams; Chi tiết của Trung Úy Trần Cảnh viết trong “Những E-mails Rất Ngắn …” tả vị trí của Đồi Không Tên giống những chi tiết trong sử liệu quân đội QĐND.

[44] Điện tín 221745Z February 1972, QTR 0128, Eyes Only, Sutherland gởi Abrams.

[45] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 92.

[46] Đóng trong căn cứ, theo Đại Úy Trương Duy Hy, pháo đội của ông có 75 quân nhân; BĐQ di tản về đó khoảng 200 người; cộng thêm pháo đội Nhảy Dù của Đại Úy Trí; và hai đại đội cơ hữu của TĐ2ND.   

[47] Chi tiết này đến từ Project CHECO, đã dẫn, tr. 102, do phi công FAC (Forward Air Controller) thuật lại. Trong một lần nói chuyện qua điện thoại với Thiếu Tá Trần Công Hạnh (đại úy Ban 3 TĐ2ND trong cuộc hành quân), người viết hỏi tại sao phải đánh điện tín qua máy bay FAC? Có phải vì không liên lạc được với trung tâm hành quân SĐND ở Khe Sanh? Thiếu Tá Hạnh cho biết, đã liên lạc lúc được lệnh di tản. Nhưng lúc đó đại bác của địch bắn liên tục, không còn thì giờ báo cáo và nhận lệnh mạch lạc, nên  phải nhắn tin qua phi cơ tiền sát để Khe Sanh biết được tình hình rõ ràng hơn. Chi tiết từ MACV cho biết địch pháo hơn 1.000 quả đạn vào CC30ND vào ngày 2 tháng 3, trong Sorley, The Abrams Tapes, tr. 554.   

[48] Tài liệu theo báo cáo của Đại Tá Phạm Ngọc Thiệp, Phòng 2 BTTM, “Nhận Định Tình Hình Hành Quân Lam Sơn 719 và Ảnh Hưởng Đối Với CSQĐND,” KBC 4002 ngày 29.3.1971. Những trung đoàn có mặt trong vùng hành quân nhưng chưa tham chiến là các Trung Đoàn 48/SĐ302; 9/SĐ304; 31/SĐ2; 803/SĐ324B; và 6/QKTTH (Quân Khu Trị-Thiên-Huế). MACV cũng ghi nhận những trung đoàn này trong báo cáo hàng tuần. Đọc Sorley, sđd, tr. 536.

[49] Như đã sơ lược ở đầu chương, Bản Đông nằm gần ngả tư Đường 9 và 92. Đường 92 ở bắc Đường 9 gọi là 92A. 92A sẽ trở thành Đường 1032. Đường 92 ở phía nam là 92C. Đường 92C sẽ nhập vào Đường 914. Tại ngã ba 914 và 92C là Mường Nông. Trong mật danh Hành Quân LS719, Bản Đông là A Lưới; Mường Nông là A Ro, và Tchepone là A Shau.   

[50] Điện tín 040740Z March 1971, QTR 0220, Eyes Only, Sutherland gởi Abrams; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 89.   

[51] Trong 45 ngày Hành Quân LS719, đặc công của B-5 phá hủy 880.000 lít xăng máy bay và 700 tấn đạn đủ lọai. Trích theo tài liệu, Da Nang Support Command, National Archive II, Record Group 472 (270-25-05-5, Box 1).

[52] Điện tín Sutherland gởi Abrams ngày 4 tháng 3, coi phụ chú 49.

[53] Đại Tá Hoàng Tích Thông (lữ đoàn trưởng LĐ147TQLC trong  HQ LS719) trong bài viết Thủy Quân Lục Chiến Trong Hành Quân Lam Sơn 719, (TQLC Tập 2, tr.236-237), cho biết trong một buổi họp ở Khe Sanh có sự tham dự của Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ (lúc đó là đại tá), Trưởng Phòng 3 BTTM, ông nghe QĐI đề nghị chọn TQLC thay thế Nhảy Dù đổ bộ vào Tchepone. Người viết qua một lần nói chuyện với Chuẩn Tướng Thọ, ông cho biết BTTM (ở đây là Tổng Thống Thiệu) chỉ có ý định cho TQLC thay Nhảy Dù tại vùng Nhảy Dù đang trách nhiệm, để Nhảy Dù nghỉ dưỡng sức và tái bổ sung, chứ không phải thay Nhảy Dù đổ bộ vào Tchepone. Quyết định đưa SĐ1BB đổ bộ vào Tchepone đã được chánh thức trước đó. Tuy Đại Tá Thông không ghi ngày tháng buổi họp ở Khe Sanh, nhưng theo tài liệu, chúng ta có thể suy luận buổi họp xảy ra sau ngày 25 (sau khi CC31ND mất) và trước ngày 28 tháng 2 (Sau khi TĐ2/TrĐ3 di tản khỏi CCHotel2, như đại Tá Thông viết ở trang 236; và cùng ngày tướng Lãm về Sài Gòn gặp ông Thiệu; sự kiện và thời điểm cũng tương tự như vậy trong bài viết của Thiếu Tá Trần Vệ, tr. 258, TQLC Tập 2.). Tướng Hinh trong Operation Lam Son 719, tr. 89. cũng có nhắc đến chuyện ông Thiệu có ý nghĩ muốn TQLC thay Nhảy Dù, nhưng cũng chỉ thay ở khu vực trách nhiệm hành quân. Tài liệu giãi mật đến từ MACV cho thấy SĐ1BB đã bắt đầu thực thi quyết định của Tổng Thống Thiệu từ ngày 28 tháng 2, sau khi rút khỏi CCHotel2.         

[54] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 90; The Joint Chiefs of Staff  and the War in Vietnam, tr. 10.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 24 Tháng Chín, 2014, 12:33:29 PM
Xin Chào Diễn Đàn VMH.
Cảm ơn Mr. Altus đã bỉnh bút và đăng Chương 7, "Nữa Đường Đi Xuống."
Để cho có sự liên tục trong câu chuyện chúng ta đang nói đến -- Hành Quân Lam Sơn 719 -- tôi xin đăng tiếp Chương 8, "Đường về Tchepone."
Cũng như mọi khi, xin người đọc lượng tình cho những lỗi chánh tã rất ngây ngô trong sách.
  
Chương Tám
Đường về Tchepone


Lolo, Liz, Sophia … và Hy Vọng
Những ngày đầu của tháng 3, các đơn vị tăng viện của VNCH lần lược đến Khe Sanh để chuẩn bị nhảy vào vùng hành quân. Ngày 1 và 2 tháng 3, LĐ147/TQLC được trực thăng vận xuống CCDelta; ngày 4 và 5, LĐ258TQLC đáp xuống cao điểm Co Roc; Thiết Đoàn 7 Kỵ Binh trên Đường 9 đến Bản Đông; và bốn tiểu đoàn của TrĐ2/SĐ1BB đến nằm chuẩn bị ở Khe Sanh. TrĐ2/SĐ1BB có năm tiểu đoàn đang hành quân sát vùng phi quân sự. Trung đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn, đưa bốn tiểu đoàn kia vào vùng hành quân. Để thay vào chổ trống, SĐ101ND Hoa Kỳ đưa một lữ đoàn về thay TrĐ2. Trong khi đó, xa hơn về hướng tây, lần lược những tiểu đoàn của TrĐ1 và TrĐ3/SĐ1BB đổ bộ lên những cao điểm nối tiếp dẫn về Tchepone, bắt đầu là những cao điểm ở hướng đông nam thành phố. Những điểm đóng quân được chọn đều nằm gần nhau trong tầm đại bác, để có thể yểm trợ cho nhau.
   Tình hình chiến trường sau khi TĐ2ND rút khỏi CC30ND bớt sôi động hơn. Một sự yên lặng bất thường; một sự yên lặng hình như có tính toán. Bất thường hơn, là báo cáo từ các đơn vị gởi về cho biết tinh thần binh sĩ phấn khởi, khi họ lục soát chung quanh vùng trách nhiệm và thấy tận mắt thiệt hại của QĐND. Những phi tuần B-52 gây thiệt hại về nhân mạng cho các đơn vị QĐND không thể tưởng: Xác chết vì bom B-52 và không pháo đếm đến hàng trăm, chứ không còn hàng chục. Chung quanh vùng hoạt động chổ nào cũng có xác chết vì bom. Nhưng thời gian “ngừng để lấy hơi” nầy là thời gian Binh Đoàn 70 củng cố lực lượng. Binh Đoàn B70 biết nước cờ sắp tới của QĐI là gì, và họ yên lặng để chuẩn bị: VNCH kéo về hướng tây; các đơn vị của B70 cũng di chuyển về hướng tây. Trong lúc đó, hai TrĐ 66 và 64 đang đứng hai bên hướng đông và tây của Đường 92A, trên đầu Bản Đông; cùng với hai trung đoàn của SĐ2BB QĐND đang có mặt ở bắc Tchepone. Mặt trận Hạ Lào vào đầu tháng 3 được phân chia rõ: bắc Đường 9 thuộc về Binh Đoàn 70; nam Đường 9 thuộc về VNCH. Nhưng các đơn vị VNCH chỉ giữ được phần “bất động sản” từ Bản Đông trở về biên giới, cách hai mặt bắc nam Đường 9 không quá năm cây số mỗi bên. CCDelta của LĐ147TQLC, cách Đường 9 chừng bảy cây số, là địa điểm xa nhất về hướng nam quân VNCH giữ được vào đầu tháng 3.      

Mười giờ sáng ngày 3 tháng 3, cuộc tiến quân vào Tchepone khai diễn. Mười chín trực thăng chở ban chỉ huy và một phần của TĐ1/TrĐ1/SĐ1BB đổ bộ xuống một cao điểm được đặt tên là Lolo, để thiết lập căn cứ hỏa lực đầu tiên (đầu tiên ở tây nam Bản Đông) trên đường tiến về Tchepone.[1]  Cuộc đổ bộ xuống Lolo cho thấy một mình Lục Quân Hoa Kỳ thì không đủ hỏa lực để dọn bãi đáp trực thăng vận cho an toàn, nhất là nhữ bãi đáp xa như Lolo. Mặc dù từ khuya đêm 2 tháng 3 đã có tám phi vụ B-52 oanh tạc dọn bãi ở phía nam căn cứ. Nhưng hai lần đổ bộ bị chận đứng vì hỏa lực phòng không đầy đặc của địch.[2]  Không quân chiến thuật được gọi trở lại oanh tạc thêm một lần nữa. Sau sáu tiếng dội bom tới lui, cuộc trực thăng vận hoàn tất lần thứ ba vào lúc 6 giờ 30 chiều. Ngày hôm sau, từ 11 giờ sáng đến 5 giờ chiều, hai TĐ2 và TĐ4/TrĐ3, và một pháo đội 105 đổ bộ tiếp theo và hoàn tất thiết lập cao điểm 723 mét thành căn cứ hỏa lực Lolo. Kinh nghiệm về phòng không của địch chung quanh Tchepone chẳng những làm cho các phi công trực thăng “ớn lạnh,” còn làm cho QĐXXIV nghĩ lại về hỏa lực không pháo của họ so với hỏa lực phòng không của đối phương.  
   Buổi chiều cùng ngày CCLolo được thành lập, 65 trực thăng chở TĐ1/TrĐ1 đến cao điểm Liz, cách CCLolo chừng bảy km hướng tây bắc. Cuộc trực thăng vận xuống bãi đáp Liz cũng không kém phần “hào hứng” như lần đổ bộ xuống CCLolo: Mặc dù bãi đổ bộ đã được 70 phi tuần không quân chuyến thuật và 14 phi vụ B-52 cày nát trước đó, nhưng vẫn có 18 trực thăng bị trúng đạn phòng không; có hai chiếc bị rơi tại chổ.  
   Thiệt hại qua lần đổ bộ xuống CCLolo cho thấy các đơn vị phòng không của địch đang tập trung về chung quanh Tchepone — họ đã rãnh tay ở hướng bắc Đường 9. Lần đổ bộ xuống CCLolo có 42 trực thăng bị trúng đạn. Trong số đó 11 chiếc bị bắn tan xác tại bãi đáp (có tài liệu nói 7 chiếc); và hai mươi chiếc bị trúng đạn hư nặng đến độ không còn sửa chữa để bay lại được.[3]  Trừ khi QĐXXIV và Liên Đoàn Không Vận 101 của Lục Quân Hoa Kỳ tìm ra một giải pháp nào khác hơn để triệt hạ hỏa lực phòng không, kinh nghiệm từ CCLolo tiên đoán những cuộc trực thăng vận đổ quân tương lai ở chung quanh Tchepone sẽ rất gian nan, rất tốn kém. Sau khi bị thiệt hại nặng (về trực thăng) ở CCLolo, đại diện Lục Quân của QĐXXIV và LĐKV101 đến gặp đại diện của Không Lực 7 để “điều nghiên” một kế hoạch dọn bãi đổ quân.
   Ở bãi đáp Lolo, theo lời kể của một phi công trực thăng bị bắn rơi khi đổ bộ. Anh ta nói, sau khi trực thăng võ trang đã oanh kích bãi đáp gần bốn tiếng … khi chúng tôi xà xuống thì “tưởng chừng như có một triệu người nổ súng vào chúng tôi.”[4]  Người phi công chỉ kể về không pháo của trực thăng, anh ta chưa biết là trước đó, sau tám phi vụ B-52, không quân chiến thuật đã bỏ 22 trái bom 500 cân anh; chín trái 1000 cân; tám trái 2.000 cân; và 16 bom CBU-24 (một lọai bom chống biển người). Nhưng khi đợt đầu tiên vừa hạ cánh, bốn trực thăng bị bắn rơi tại chổ, cuộc đổ bộ phải ngừng, chờ phi cơ chiến thuật trở lại oanh tạc lần nữa, rồi thêm lần nữa. … Hai lần đình trệ như vậy, đến sáu tiếng sau mới áp đảo được hỏa lực phòng không. Với những thiệt hại ở CCLolo, khi đổ bộ vào bãi đáp Liz ngày 4 tháng 3, QĐXXIV chấp nhận đề nghị của Không Quân về phương cách dọn bãi cho trực thăng vận.
   Ngày 4 tháng 3, Không Quân Mỹ cho 14 phi vụ B-52 đánh bốn mặt của những bãi đáp chánh và phụ chung quanh bãi đáp Liz. Phi vụ B-52 sau cùng hoàn tất vào 6 giờ 35 sáng. Sau đó, từ 7 giờ đến 8 giờ, 10 phi vụ chiến thuật dùng bom hạng nặng để khai quang bãi đáp; từ 9 giờ 15 đến 9 giờ 45, 13 phi vụ đến rãi bom chống biển người. Đến 10 giờ phi cơ quan sát (của Không Quân) thông báo bãi đáp đã an toàn cho trực thăng xuống. Nhưng đến giờ đó phi cơ quan sát và chỉ huy của Lục Quân vẫn chưa có mặt ở mục tiêu nên đoàn trực thăng phải nằm chờ ở Khe Sanh. Trong thời gian chờ đợi, cứ 10 phút, Không Quân cho một phi vụ đến đánh bom.  Sau 10 tiếng đánh bom và chờ đợi; đoàn  trực thăng 65 chiếc hoàn tất điệp vụ đổ bộ. Với số lượng bom đánh như vậy nhưng vẫn có 18 trực thăng bị trúng đạn, hai chiếc bị rơi tại bãi đáp. Tiểu Đoàn 4/TrĐ1 có trách nhiệm ở bãi đáp Liz, cách Tchepone chừng sáu cây số hướng đông nam.
   So với lần đổ bộ xuống CCLolo, lần này xuống bãi đáp Liz ít tốn kém hơn, dù hai địa điểm đổ quân này nằm giữa lòng đất của các Binh Trạm 33, 34, và 41. Chỉ mới hồi tháng 10 năm 1970, BTL của Binh Đoàn 559 có bản doanh cách đó không hơn 10 cây số. Nhưng lối dọn bãi theo phương cách của Không Quân cần quá nhiều thì giờ, và đó là lý do QĐXXIV của Lục Quân đã không chấp nhận lúc ban đầu (trước khi xuống CCLolo). QĐXXIV có lý do của họ: Sương mù ở vùng hành quân không tan cho đến sau 10 giờ sáng. Không quân cần ba đến bốn tiếng để dọn bãi; và nếu đổ bộ trễ quá, quân đổ bộ không đủ thời gian để lập tuyến phòng thủ trước khi trời tối. Nhưng sau cuộc đổ quân xuống CCLolo, Lục Quân không có chọn lựa nào khác.
   Thứ Sáu, 5 tháng 3, TĐ5/TrĐ2 và một pháo đội 105 ly được trực thăng vận vào CCSophia, hơn bốn cây số đông nam Tchepone, và hai cây số tây bắc Liz. Mười sáu phi vụ B-52 và ba phi vụ không quân chiến thuật dọn bãi. Dự định 9 giờ sáng toán đầu trực thăng sẽ đến, nhưng mây thấp ở vùng bốc quân và đổ quân không cho phép thực hiện đúng giờ. Đình trệ cho đến hơn 1 giờ trưa. Trong thời gian chờ đợi, 30 phi vụ chiến thuật được gọi đến tiếp tục oanh tạc. Cùng lúc khi chiếc trực thăng đầu tiên hạ cánh xuống CCSophia, hai phụ vị F-4 đánh bom CBU-12 (CBU-12 cũng tương tự như CBU-24, nhưng có thêm bom khói để làm màn che) bên ngoài chu vi bãi đáp. Thêm bốn phi vụ F-4 đánh bom chung quanh bãi đáp nữa, để bảo vệ cho ba lược trực thăng hoàn tất đổ bộ. Cuộc đổ bộ của TĐ5/TrĐ2 xuống CCSophia thiệt hại nặng về nhân sự: ba trực thăng bị  bắn rơi, trong đó có một trực thăng chở tiểu đoàn trưởng bị tử thương. Sau đó, ở lượt đổ quân lần thứ hai, một F-4 đánh bom CBU-12 lầm vào vị trí bạn, làm 38 quân nhân bị thương, trong đó có sĩ quan tiểu đoàn phó.[5]  Như vậy, vừa mới đổ bộ, tiểu đoàn đã mất ông trưởng và ông phó. Nhưng Tchepone bây giờ nằm trong tầm pháo binh của TĐ5/TrĐ2.

Sau CCSophia, Hope (Hy Vọng) là bãi đáp gần nhất để đến Tchepone. Cao điểm này nằm hướng đông bắc Tchepone chừng bốn cây số, sát ngã ba Đường 9 và Đường 913. Theo kế hoạch, hai tiểu đoàn của TrĐ2/SĐ1BB sẽ nhảy xuống Hope ngày 6 tháng 3, rồi từ đó hành quân bộ vào Tchepone. Cùng ngày 6 tháng 3, ba giờ chiều thứ Bảy, Đại Tướng Abrams gặp Đại Tướng Cao Văn Viên. Tướng Abarms đề nghị với tướng Viên hai chuyện: (1) Phải chận mọi lưu thông của BĐ559 trên đường 914; (2) Phải tăng viện thêm Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH vào mặt trận. Tướng Abrams nói đây là một trận đánh quyết định — và phải thắng. Tướng Viên nói ông sẽ chuyển đề nghị đến Tổng Thống Thiệu. (Thứ Ba, ngày 9, tướng Viên trả lời tướng Abrams là, VNCH sẳn sàng chi viện thêm SĐ2BB vào chiến trường, nếu Hoa Kỳ đưa một lữ đoàn của họ vào thay thế Nhảy Dù ở tuyến Lao Bảo-Bravo-Alpha (vùng trách nhiệm của LĐ2ND).[6]  Đề nghị coi như bỏ qua, khi tướng Abrams nói Hoa Kỳ không thể nào đem quân tác chiến vào nội địa Lào.) Cũng vào ngày hai tướng Abrams và Viên hội kiến, từ BTL QĐXXIV ở Quảng Trị, tướng Sutherland gởi điện văn cho tư lệnh Không Lực 7, yêu cầu tướng Lucius Clay cho B-52 đánh bom gần  vị trí của bạn hơn khoảng cách an toàn bình thường, vì địch đang bám sát vào các đơn vị bạn. Đây là lần thứ nhì (lần đầu ngày 17 tháng 2) tướng Sutherland và tướng Lãm yêu cầu Không Lực phá lệ về khoảng cách an toàn. Trong một điện tín trước đó, Chuẩn Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh SĐ1BB, cho biết chiến thuật của SĐ1BB là chờ địch tiến sát vào vị trí, rồi ông rút quân ra xa; gọi B-52 đánh bom vào vị trí vừa rút đi. Kết quả rất hữu hiệu. Điện tín của QĐXXIV và QĐI cho thấy địch sẽ phản ứng mạnh ở chung quanh Tchepone, và họ cần hỏa lực B-52. Trong khi BTTM và MACV bàn thảo qua lại vấn đề có nên bổ sung thêm một sư đoàn VNCH vào Hạ Lào hay không, cuộc trực thăng vận vào Hope đã diễn ra.

Như cuộc đổ quân vào Liz và Sophia, cuộc đổ quân vào bãi đáp Hope được Không Quân chuẩn bị: Đánh 25 phi vụ B-52 trước 7 giờ sáng; hai trái bom BLU-82 (15.000 cân) cho bãi đáp chánh và phụ; 50 phi vụ chiến thuật đánh bom CBU; thêm 29 phi vụ đánh bom chung quanh chu vi bãi đáp để bảo vệ những đợt trực thăng đang hạ cánh. Hai tốp trực thăng, 60 chiếc mỗi tốp, đổ bộ hai TĐ2 và TĐ3/TrĐ2; đại đội thám báo; và bộ chỉ huy trung đoàn xuống Hope. Tất cả hoàn tất lúc 1 giờ 43 trưa. Lần này không một thiệt hại nào xảy ra cho trực thăng, hay lính.[7]  Thành phố Tchepone, ở tây nam Hope, mục tiêu xa nhất về hướng tây quân lực VNCH đến được, bây giờ đang nằm trong tầm súng cối của SĐ1BB. Theo kế hoạch, hai tiểu đoàn đi đường bộ vào thành phố. TĐ2 lục soát hướng đông; TĐ4 khai thác hướng đông nam. Ngày đầu ở Tchepone, địch phản ứng rất yếu đối với đoàn quân đổ bộ, nhưng gia tăng hoạt động pháo kích vào những căn cứ khác như CCSophia; CCLolo; và bãi đáp Liz. CCLolo bị nặng nhất (bị đạn pháo 130 ly và 152 ly). CCLolo bị pháo liên tục đến độ chỉ sau ba phi vụ tiếp tế, phải hủy bỏ tất cả những phi vụ còn lại. Sau hai ngày lục soát — không gặp một kháng cự nào của địch — chiều ngày 8 hai tiểu đoàn chuẩn bị vượt Sông Xe Pone để đi về hướng nam. Đêm đó đoàn quân qua bên kia sông. Sau khi các đơn vị đã an toàn, tướng Lãm ra lệnh rãi bom CBU-42 nổ chậm ở hai hướng tây Sông Xe Banghiang và bắc Sông Xe Pone (Xe Pone chảy hướng đông tây và gặp sông Xe Banghiang theo hướng bắc nam. Tchepone  nằm ngay góc của ngả ba hai sông, bắc Xe Pone và đông Xe Banghiang). Chín giờ sáng ngày 9, hai tiểu đoàn bắt đầu leo triền núi lên CCSophia. Như vậy, cuộc đột kích vào Tchepone coi như hoàn tất.[8]

Ngày 9 khi hai tiểu đoàn của TrĐ2/SĐ1BB đã di chuyển khỏi Tchepone, tướng Lãm bay về Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu và Đại Tướng Viên. Buổi nói chuyện ở Sài Gòn đưa đến nhiều tranh luận trong nội bộ Hoa Kỳ, và không ít trong nội bộ VNCH.


Chú Thích
[1] Tên của tất cả các căn cứ hỏa lực từ phía tây Bản Đông về Tchepone đều do Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai đặt (đại tá tư lệnh phó hành quân, SĐ1BB, lúc đó). Tướng Giai đặt tên như vậy cho các phi công Mỹ dể nhớ và không lầm được. Kinh nghiệm về một tiểu đoàn bộ binh bị bỏ quên ở khu vực Đường 914, và tọa độ của CC31ND bị nhầm đưa đến lối đặt tên này. Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 95.

[2] Theo tài liệu Không Quân Hoa Kỳ, rạng sáng ngày 3, tám phi vụ B-52 oanh tạc chung quanh CCLolo. Phi vụ cuối cùng thực hiện lúc 5 giờ 45 sáng, chỉ cách căn cứ 1,5 km về hướng nam. Project CHECO, tr. 97.  

[3] Project CHECO, đã dẫn, tr. 62.

[4] David Fulghum and Terence Maitland, South Vietnam on Trial: Mid-1970 to 1972, tr. 85.

[5] Trong HQLS791 Không lực Mỹ dội bom lầm vào vị trí của VNCH ba lần: lần đầu Hải Quân Mỹ bỏ lầm ngày 7 tháng 2 ở Lao Bảo (sáu chết, 51 bị thương); lần thứ nhì, Không Quân Mỹ đánh lầm ở bãi đáp Sophia; lần thứ ba, Không Quân Mỹ đánh vào một đơn vị của SĐ1BB vào ngày 14 tháng 3 (chết chín, bị thương 13, nhưng tài liệu không nói địa điểm nào). Project CHECO, tr. 120-121. Lần đánh bom lầm vào CCSophia được nhân chứng, Trung Úy Trương Thanh Nhạc, thuật lại như sau: “… khi tiểu đoàn nhảy vào thì thấy tiểu đoàn phó Thiếu Tá Huỳnh Bá An khóa 20 [Võ Bị Đà Lạt]; đại đội trưởng Niệm; với một số lính quấn đầy băng băng, không nói năng gì, ngồi một chổ trên bãi chờ tản thương. Chao ôi! Mới phút đầu mà sao thê lương quá! Rồi trực thăng chở tiểu đoàn trưởng Thiếu Tá Lê Văn Định khóa 19 lại bị bắn rơi … lòng tê tái, núi rừng thêm buốt giá …”. Trong Kiều Công Cự, Đặc San TQLC 2013, tr. 130.

[6] Điện tín 061014Z MAC 02372 Eyes Only, Abrams gởi Sutherland; điện tín 091232Z MAC 02455 Eyes Only, Abrams gởi Sutherland.

[7] Project CHECO, tr. 101. Ngày giờ và chi tiết đổ bộ vào Lolo, Liz, Sophia, và Hope, tác giả trích theo Project CHECO (đến từ nhật ký trung tâm hành quân hành quân MACV).  

 [8] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 99-100.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 24 Tháng Chín, 2014, 01:02:13 PM
Trong buổi nói chuyện ngày 9 tháng 3, tướng Lãm — với sự đồng thuận của tướng Viên — đề nghị với Tổng Thống Thiệu kết thúc HQLS719 và rút quân về biên giới ngay.

Đề nghị chấm dứt cuộc hành quân sớm hơn thời gian dự định rất nhiều (theo dự định, ít nhất là hết tháng 4). Đề nghị của tướng Lãm đi ngược lại những gì ông Thiệu quyết định hơn một tuần trước: TrĐ2 sẽ hành quân trong Tchepone từ bốn đến sáu ngày. Sau đó đi theo Đường 914 về hướng nam, tập trung quân với hai TrĐ1 và TrĐ3, rồi hành quân về biên giới theo Đường 922, ngang qua Muong Nong. Thời hạn cho kế hoạch hành-quân-trong-khi-rút-quân đó khoảng một tháng. Theo tướng Nguyễn Duy Hinh, lúc di chuyển khỏi Tchepone, TrĐ2 chưa lục soát hết những ngọn đồi ở phía đông Tchepone, nơi có nhiều kho tàng dự trữ tiếp liệu; TrĐ2 chưa thám sát phía tây bờ Sông Xe Banghiang, một trung tâm nhận đồ tiếp liệu thả theo đường thủy từ đầu nguồn sông ở phía tây Quảng Bình; và TrĐ2 cũng chưa tảo thanh Tchepone tỉ mỉ như dự định. Nhưng đối diện với tình thế đang xảy ra ở chiến trường, rút quân ngay lúc này là quyết định phải chọn. Vấn đề tiếp tế ngày càng khó khăn hơn với địa hình chiến trường ở mặt tây Bản Đông: Trực thăng chỉ có một đường vào; phòng không đối phương đặt đầy trên những triền núi. Mục tiêu của phòng không không chỉ là phi cơ, mà còn những đoàn xe đi trên Đường 9 — những mục tiêu rất dể triệt hạ. Nhưng lý do mạnh nhất thúc đẩy quyết định rút quân là khả năng tiếp viện quân của địch. Địch có ba trung đoàn ngày TrĐ2 xuống Hope. Nhưng họ có thể tăng lên năm trung đoàn trong một tuần.[9]  Rồi còn pháo nòng dài của đối phương: những căn cứ hỏa lực bất động của VNCH sẽ là mục tiêu lộ liễu cho đại bác tầm xa 130 ly và 152 ly của QĐND. Tóm lại, lý luận của tướng Lãm là, đã vào được Tchepone như tuyên bố; bây giờ là lúc nên rút quân về.[10]

Nếu lệnh rút quân được chấp thuận, tướng Lãm đề nghị kế hoạch rút quân như sau: TrĐ2, sau khi đi bộ đến CCSophia, sẽ được trực thăng vận về một căn cứ hoả lực mới, CCBrick, chừng chín cây số ở nam Bản Đông. CCSophia sẽ đóng cửa. Từ CCBrick, TrĐ2 bỏ ra bảy đến 10 ngày lục soát chung quanh Binh Trạm 33 trên Đường 914. Sau đó, SĐ1BB rút về trước; SĐND tiếp theo; CCLolo đóng cửa trước, rồi CCBrick. Các đơn vị của TrĐ3 ở chung quanh bãi đáp Brown và CCDelta sẽ đi sau khi CCBản Đông di tản. Hai LĐ147 và 258/TQLC sẽ là hai đơn vị chót rời vùng hành quân trở về bên này biên giới. Gia đoạn rút quân sẽ hoàn tất cuối tháng 3; và BTL tiền phương ở Khe Sanh sẽ đóng cửa khoảng 15 tháng 4. Sau khi nghỉ bồi dưỡng từ hai đến ba tuần, SĐND và SĐTQLC sẽ quay trở lại tấn công căn cứ hậu cần 611 từ hướng thung lũng A Shau đi ra.[11]  Tiếp theo đó tướng Lãm phàn nàn với Tổng Thống Thiệu những khó khăn về chỉ huy và điều khiển trong cuộc hành quân. Trong cuộc hành quân, tướng Lãm phàn nàn với Tổng Thống Thiệu, hai vị tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù và TQLC không bao giờ thi hành quân lệnh của ông. Và nếu ông không có được thẩm quyền từ tổng thống, thì cho ông xin từ chức. Và tướng Lãm cũng rất buồn khi nghe báo chí nói Tổng Thống Thiệu đã muốn thay thế ông bằng tướng Đỗ Cao Trí. Lời phàn nàn của tướng Lãm là về vấn đề xung đột thâm niên chức vụ với hai tướng Lê Nguyên Khang và Dư Quốc Đống. Nói tóm lại, các đơn vị TQLC và Nhảy Dù làm việc theo tư lệnh của họ, và không thống thuộc vào QĐI như lệnh hành quân chỉ thị; nói tóm lại, tướng Lãm không có được cái uy và thẩm quyền để chỉ huy SĐND và SĐTQLC trong cuộc hành quân. Tướng Lãm nói hai tướng Đống và Khang không bao giờ đi họp ở quân đoàn.

Sau khi nghe tướng Lãm trình bày, Tổng Thống Thiệu không còn chọn lựa nào khác, hơn là phải đi theo đề nghị của vị tư lệnh QĐI: Bom CBU nổ chậm đã rải hai bên kia bờ sông; muốn quay lại Tchepone cũng không được.

Phản ứng trong nội bộ Hoa Kỳ: Sự hiểu lầm hay hiểu trễ của tướng Abrams về hiện tình mặt trận (đang xảy ra), gây nhiều sáo trộn trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia (HĐANQG) Mỹ. Từ ngày 1 tháng 3, Kissinger gởi Đại Sứ Bunker một điện văn, nhờ Bunker hỏi tướng Abarms tình hình thật sự của Hạ Lào ra sao (Lý do Kissinger không hỏi thẳng tướng Abrams mà phải nhờ Đại Sứ Bunker, vì theo hệ thống quân giai, đó là câu hỏi phải hỏi Đô Đốc Thomas Moorer, tham mưu trưởng BTMLQ. Nhưng Kissinger nghĩ tướng Abarms cập nhật với tình hình chiến sự hơn Đô Đốc Moorer.).[12]  Vì một lý do nào đó, Hoa Thịnh Đốn nghĩ MACV, QĐXXXIV, QĐI, và BTTM  VNCH không nói thật về tình hình và những quyết định đang xảy ra. Mỗi lần HĐANQG (HĐANQG ở đây là cá nhân của hai ông Nixon và Kissinger) muốn đề nghị một quyết định nào ngược lại MACV hay BTTM VNCH, thì mọi sự đã xảy ra rồi. Khi biết VNCH không đi theo lịch trình hành quân (cho đến cuối tháng 4), Kissinger và Nixon lồng lộn lên với nhiều câu hỏi  cho MACV ở Sài Gòn và BTMLQ Hoa Kỳ ở Hoa Thinh Đốn. Trong khi điện tính giữa Abrams và Sutherland coi chuyện rút quân là chuyện đã rồi, ở Hoa Thịnh Đốn Đô Đốc Moorer báo cáo với Kissinger và Nixon là QĐI vẫn giữ đúng lịch trình hành quân. Đến tuần lễ thứ nhì của tháng 3, ở phía Hoa Kỳ hình như không ai biết chuyện gì đang xảy ra ở chiến trường, hay cuộc hành quân đã đến giai đọan nào. Qua những điện tín trao đổi giữa Abrams và Sutherland vào ngày 9 và 10 tháng 3; qua điện thoại giữa Đô Đốc Moorer và Tổng Thống Nixon ngày 3 tháng 3; và điện tín của Kissinger hỏi Abrams (chuyển qua tay Đại Sứ Bunker) … chúng ta thấy hình như “mạnh ai nấy nói.”

Khó tìm được trong một cuộc hành quân nào mà ông tổng thống hỏi chuyện đại tướng tham mưu trưởng BTM Liên Quân hàng đêm trên điện thoại; hay là ông cố vấn anh ninh quốc gia đi ra ngoài hệ thống quân giai, nan nĩ một tư lệnh mặt trận nói rõ sự thật ở chiến trường. Nhưng thành thật mà nói, hai ông Nixon và Kissinger có lý do để nghi ngờ: báo cáo hành quân của MACV lúc nào cũng đi sau tình hình chiến trường chừng một, hai ngày. Khi Tòa Bạch Ốc muốn quyết định chuyện gì thì quá trễ. Đến ngày 9, 10 tháng 3 mà Tòa Bạch Ốc còn hỏi các đơn vị của TrĐ2/SĐ1BB sẽ còn ở lại ở Tchepone lục soát đến bao lâu; đến ngày 12 Đại Sứ Bunker vẫn thông báo cho Kissinger biết VNCH không rút quân về luôn, mà các đơn vị chỉ về bổ sung rồi thay phiên nhau trở lại chiến trường; và hai SĐ1BB và SĐTQLC sẽ hành quân ở Đường 914 cho đến đầu tháng 4, rồi sẽ hành quân trở lại căn cứ 611.[13]

Nhưng đến ngày 18 tháng 3 thì Kissinger biết được thời khóa biểu thật của QĐ1: Các đơn vị của SĐ1BB đang trên đường rút về biên giới; và kế hoạch rút quân được sự ủng hộ của MACV (ủng hộ trong nghĩa MACV cũng đồng ý đã đến giờ rút quân). Trong một bức thư đầy trách móc viết cho Đại Sứ Bunker, Kissinger nói tất cả báo cáo từ MACV về cho ông (và cho BTM Liên Quân) đều không đúng tình hình thật sự đang xảy ra ở mặt trận. Kissinger nói Tổng Thống Nixon rất lo lắng về những thay đổi không báo trước này.[14]  Sau điện tín đó, thái độ của Kissinger về tướng Abrams hoàn toàn thay đổi: ông báo cáo với Tổng Thống Nixon nhiều chi tiết không tốt và rất cá nhân về tướng Abarms: Kissinger nói tướng Abrams bây giờ uống rượu trong giờ làm việc; và đi Thái Lan thăm vợ hàng tuần … không còn quan tâm đến cuộc hành quân. Báo cáo của Kissinger làm Tổng Thống Nixon không còn tin tưởng nào vào MACV nữa. Tài liệu từ BTMLQ và Tòa Bạch Ốc cho thấy Tổng Thống Nixon muốn cuộc hành quân kéo dài qua hết tháng 4 để thuận lợi cho vấn đề chính trị nội địa.[15]  Nếu chúng ta nghĩ sự xáo trộn giữa những cấp chỉ huy VNCH trong LS719 là một chuyện bẽ mặt, thì ở phía ngưòi Mỹ, chuyện cấp chỉ huy báo cáo sau lưng, nói xấu, và dọa thám nhau, lại là chuyện càng bẽ  mặt hơn nhiều.[16]  Tướng Alexander Haig thuật lại, Tổng Thống Nixon nỗi giận (không còn tin MACV và tướng Abrams) và ra lệnh cho Haig phải qua Sài Gòn thay thế Đại Tướng Abrams. Ông muốn giải nhiệm tướng Abarms ngay lập tức.[17]   Nhưng sau cơn nóng giận, Nixon đồng ý cho tướng Haig đến Việt Nam để  “thị sát” HQ LS719. Sự hiện diện của tướng Haig ở mặt trận chỉ gây thêm sự khó chịu và bất mãn cho các sĩ quan tướng lãnh — Chuẩn Tướng Haig kém thâm niên quân vụ hơn tất cả các tướng lãnh Mỹ ở Việt Nam trogn thời gian đó. Ngày 19 tháng 3, từ Sài Gòn, tướng Haig gởi về Kissinger một báo cáo, ông đồng thuận với các tướng lãnh tại chiến trường là tình hình đòi hỏi rút quân.[18]  Vấn đề còn lại là phải phải rút quân như thế nào để tránh rối lọan khi bị đánh chận đường trở về biên giới. Đến ngày 19 tháng 3 tình hình của các tiểu đoàn thuộc SĐ1BB VNCH đã rất bi quan: Tiểu đoàn còn lại cuối cùng của TrĐ2/SĐ1BB nhảy vào Tchepone đã bị tràn ngập.

   
Chú Thích

[9] Theo MACV, hai trung đoàn mới xuất hiện ở tây bắc Bản Đông (bắc Tchepone) là TrĐ66 và TrĐ9/SĐ304. Ở phía nam, hai Trung Đoàn mới là 812 và 48/SĐ2BB. Lewis Sorley, sđd, 552-553.    

[10] Nguyễn Duy Hinh, sđd, 100-103.

[11] Nguyễn Duy Hinh, sđd, trang 101; điện văn 091232Z MARCH 1971 MAC 02455, Abarms gởi Sutherland; điện văn 100850Z March 1971 QTR 0308, Sutherland gởi Abarms. Điện tín của Abrams thông báo cho Sutherland biềt kế hoạch được hai ông Viên và Thiệu chấp nhận (chắc Abrams được thông báo sau khi tướng Viên, Lãm, và Tổng Thống Thiệu họp xong). Nội dung điện tín của Abrams giống như tác giả Hinh ghi lại, chỉ khác nhau ở phần đầu, khi tướng Abarms viết, “Hai tiểu đoàn của TrĐ2 sẽ lục soát Tchepone thêm một đến ba ngày nữa.” Lúc điện tín gởi đi, thì TrĐ2 đã rời Tchepone rồi. Trong điện tín 091232Z, Abrams muốn tướng Sutherland báo cáo cho ông biết sau khi nói chuyện với tướng Lãm.  

[12] FRUS, Document 142. Điện tín ngày 1 tháng 3, 1971. Cuối bức điện tín “cá nhân và không chánh thức” này, Kissinger xin Đại Sứ Bunker đừng cho tướng Abrams đọc điện tín ông gởi, vì lời yêu cầu của ông không chánh thức (đi sau lưng đô đốc tham mưu trưởng BTMLQ). Đây là một cá tính bẩm sinh “đi sau lưng/đi đêm” của Kissinger trong suốt sự nghiệp ngoại giao. Nếu Kissinger nói ông không liên hệ nhiều trong HQ LS719, thì những điện tín này là những thí dụ phản biện.

[13] FRUS, Document 149. Trong điện tín này Đại Sứ Bunker nói TrĐ51/SĐ1BB và SĐTQLC chưa tham chiến nhưng sẽ tham chiến. Nhận định này chỉ đúng với TrĐ51/SĐ1BB. Hai LĐ147/TQLC và LĐ258/TQLC đã đổ bộ vào mặt trận và tham chiến hơn 10 ngày rồi.

[14] Kissinger biết được kế họach rút quân từ báo cáo cùng ngày của Giám Đốc CIA Richard Helms. FRUS, Document 156.

[15] Kissinger báo cáo về chuyện tướng Abrams uống rượu và rời nhiệm sở đi Thái Lan thăm vợ hàng tuần là chuyện đúng. BTL Thái Bình Dương đồng thời báo về BTMLQ chuyện tướng Weyand lấy phép 10 ngày ở Hawaii; đôi khi cả Weyand và Abrams vắng mặt ở nhiệm sở cùng lúc — ngay trong những giai đọan mãnh liệt của cuộc hành quân.. (Hơn một năm sau, trong cuộc tổng tấn công của QĐND năm 1972 “Mùa Hè Đỏ Lữa,” tướng Abrams cũng không có mặt tại nhiệm sở tuần lễ đó.) Vợ tướng Abrams ở Bangkok. Một đại tướng cùng khóa Võ Bị West Point với Abrams nói sau giờ làm việc Abrams chỉ uống rượu và nghe nhạc. Tướng Abrams chết tại nhiệm năm 1974 vì ung thư gan. Đọc Bruce Palmers, Jr., The 25-Year War: America’s Role in Vietnam, tr. 107; The Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 13-18. “Thuận lợi chính trị nội bộ”: Đầu tháng 4, Tổng Thống Nixon sẽ họp báo trên đài truyền hình quốc gia. Nixon muốn đến thời gian đó ông ta còn có thể tuyên bố quân lực VNCH vẫn còn hành quân ở Hạ Lào (đó là lý do tại sao phía Hoa Kỳ muốn VNCH hành quân qua tháng 4).    

[16] Ban Tham Mưu Liên Quân không tin tuởng (nếu không nói là nghi ngờ) cố vấn tổng thống Kissinger đến độ họ gài một hạ sĩ quan hải quân thư  ký  (phục dịch trong văn phòng của Hội Đồng Anh Ninh Quốc Gia) dọa thám và lấy tài liệu/ thông văn của Kissinger về đọc lén. Vụ gián điệp “nội bộ” có tên là “Moorer-Radford Affair,” kéo dài gần hai năm ở Tòa Bạch Ốc.

[17] Alexander M. Haig, Inner Circle, tr. 275; Lewis Sorley, A Better War, tr. 262-263, và phụ chú liên hệ ở tr. 241-242; H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries, tr. 250-259. Trong nhật ký của tham mưu trưởng Haldeman, ngày 18 tháng 3 Tòa Bạch Ốc mới biết được lịch trình rút quân của VNCH.

[18] FRUS, Document 158. Trong báo cáo này tướng Haig viết, với hai lực lượng Nhảy Dù và Bộ Binh bị thiệt hại nặng sau nhiều tuần giao chiến, tư lệnh của hai sư đoàn muốn tướng Lãm cho lệnh rút quân càng sớm càng tốt. Báo cáo của tướng Haig cũng nói đến sự hủy diệt của TĐ2/TrĐ2/SĐ1BB trên đường lui quân.   



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 24 Tháng Chín, 2014, 01:38:45 PM
Những Ngày Rất Dài Cho SĐ1BB

Như đã nói, sau khi rời khỏi Tchepone, hai Tiểu Đoàn 2 và 3 của TrĐ2/SĐ1BB rút quân trên đường về để nhập chung vào trung đoàn mẹ (TrĐ2) đang đóng ở CCSophia, rồi từ đó TrĐ2 nhập chung với hai TrĐ1 và TrĐ4 đang tụ quân lại, rồi cùng hành quân từ Sophia về Liz, rồi về Lolo.[19]  Sau hai ngày đi bộ, hai TĐ2 và 3 về đến bãi đáp Liz ngày 11 tháng 3. Đến Liz, cả hai TĐ2 và 3/TĐ2/TrĐ2 được trực thăng vận đến bãi đáp Brown, một bãi đáp mới thành lập, nằm chừng chín cây số hướng tay nam Bản Đông. Tại đây hai TĐ2 và 3 được chỉ thị lục soát sâu hơn về hướng nam, về hướng Đường 914, cho đến ngày 14. Chỉ hai ngày nữa thôi.[20]  
   
Nhưng đến ngày 14 thì quân của QĐND đã đồng lọat phản công dữ dội trên tất cả vị trí của quân VNCH ở phía nam Đường 9. Ngày 12, khi biết được quân VNCH sẽ bỏ hai cứ điểm Sophia và Liz, hừng sáng hôm sau quân QĐND tràn qua Sophia và Liz, đánh thẳng vào Lolo. Ngày 13 Lolo nằm chặt trong gọng kềm của hơn hai trung đoàn QĐND. Áp lực của đối phương mạnh đến độ Chuẩn Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh SĐ1BB, yêu cầu B-52 dội bom sát vào tuyến phòng chừng 300 mét.[21]  Tình hình ở phía đông nam của căn cứ Lolo cũng không khả quan hơn: hai bãi đáp Sophia East và Brown bị tê liệt vì pháo; TĐ2/TrĐ2 bị đụng nặng. Vào hai ngày 14 và 15, QĐI cho lệnh hai TrĐ1 và 2 di tản khỏi căn cứ Lolo; và những đơn vị khác được lệnh rút khỏi vùng tác chiến, đến một nơi an toàn để có thể di tản bằng trực thăng. Nhưng trong hai tuần lễ sau cùng của tháng 3, mặt trận Hạ Lào không còn nhiều “bãi đáp an toàn” như chỉ thị. Sự khó khăn bây giờ là chờ những tiểu đoàn của TrĐ1 đang bị chận đường ở Tà Lương (một nguy danh trên bản đồ hành quân, nằm trên đầu Đường 914, phía nam Tchepone) rút về. Ngày 16, hai TĐ1 và 3 của TrĐ2 rời Lolo (ba TĐ2, 4, 5 đang hành quân ở vùng Brown, Sophia East); còn lại ở Lolo là bốn tiểu đoàn của TrĐ1. Ngày hôm sau TrĐ1 xin được di tản nếu không sẽ bị tràn ngập: hai Trung Đoàn 1 và 31 của SĐ2BB QĐND đang ở ngoài vòng rào căn cứ. Ngày 17, TĐ1/TrĐ4 được chỉ định ở lại cản đường để ba tiểu đoàn kia của trung đoàn di tản. Ba tiểu đoàn của TrĐ4 di tản được, nhưng đến lượt TĐ1 thì hỏa lực địch không cho phép trực tăng đáp nữa. TĐ1 được lệnh đánh giải dây thoát về hướng đông bắc (về hướng Bản Đông). Tiểu đoàn đánh mở đường máu ra khỏi Lolo. Đến phía nam bờ Sông Xe Pone thì bị địch chận lại. Tiểu đoàn cầm cự cho đến xế chiều hôm sau … trong khi trực thăng đáp xuống trong biển lửa để bốc từng toán lính đi. … Nhưng chỉ có 32 quân của TĐ1 di tản được, tất cả còn lại đều tử thương hay bị bắt sống. Tất cả sĩ quan của ban chỉ huy hầu như chết hết.[22]  
   
Trong khi đó, ở chung quanh căn cứ Sophia East, Brown và Brick (bảy đến chín cây số đông nam Bản Đông; ba cây số tây nam CC Delta1), những tiểu đoàn của TrĐ2 cũng bị áp lực tương tự. Không lực Hoa Kỳ yểm trợ tất cả những gì họ có thể yểm trợ. Nhưng không pháo không còn hữu hiệu khi quân hai bên đã nằm trong tầm lựu đạn và súng trường của nhau. Sau khi nhận được tin TĐ4/TrĐ1 đã “kết thúc công tác” của họ ở Lolo; sau khi hai TrĐ3 và 4 đã di tản, bây giờ đến lượt TrĐ2 phải di tản. TrĐ2 bây giờ còn ba TĐ 2, 3 và 4, đang tập trung ở chung quanh giao điểm Đường 92 và Đường 914. Từ khi bước chân xuống bãi đáp Brick và Brown, TĐ2, 3 và 4 chạm địch liên tục. Với số tay súng còn lại, ba tiểu đoàn sẽ không cầm cự được lâu trước áp lực của đối phương. Ngày 19, sau khi bộ chỉ huy của TrĐ2 được di tản về căn cứ Delta1, ba tiểu đoàn được lệnh bỏ căn cứ Brick và Brown, đi theo đường bộ về Delta1, để từ đó di tản theo kế hoạch chung của SĐ1BB. Nhưng quân QĐND đã đoán được kề hoạch rút quân của VNCH, và họ quyết tâm đánh chận đường rút lui. Ngày 19, không chỉ ở khu vực đường 92 và 914 là có giao chiến nặng, tất cả mặt trận Hạ Lào, tất cả các đơn vị của VNCH đều bị tấn công liên tục: Hơn một trung đoàn quân QĐND đang tập trung hỏa lực vào căn cứ Bản Đông — căn cứ lớn và mạnh nhất của VNCH trên Đường 9. Ở phía đông nam gần biên giới, LĐ147TQLC đang đối diện với chiến xa và pháo tầm xa 130 ly.
   
Tối đêm 19, TĐ 2, 3 và 4 đóng lại qua đêm trên một điểm cao, tử thủ chờ thêm một ngày nữa. Đêm đó những đơn vị QĐND tập trung quân quyết tâm “dứt điểm” ba tiểu đoàn còn lại. Địch tấn công bằng pháo trước, tiếp theo là quân bộ binh có trang bị súng phun lửa. Trận đánh kéo dài đến ngày hôm sau. Sáng ngày 20 trung đoàn xin bộ tư lệnh tiền phương ở Khe Sanh bằng mọi cách phải di tản họ. Nhưng với 1.400 phi vụ trực thăng yểm trợ; 11 phi vụ B-52; và 250 phi vụ không lực chiến thuật, trực thăng chỉ có đủ thì giờ để di tản được TĐ3. Hai TĐ2 và 4 được lệnh tử thủ, chờ đến hôm sau. Nhưng hôm sau là một ngày quá trễ. Tối đêm 20 vòng đai phòng thủ của TĐ2 bị chọc thủng. Vừa tấn công, địch vừa dùng loa phóng thanh kêu gọi đầu hàng. Vị tiểu đoàn trưởng bị thương nặng, nằm trên tay tiểu đoàn phó. Biết không thoát được, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho toán quân còn lại đánh mở đường máu. Khoảng 60 quân nhân của Tiểu Đoàn 2 thoát được vòng dây. Tiểu đoàn trưởng bị bắt tại mặt trận. Tiểu Đoàn 4 đang giao chiến gần đó cũng bị chung số phận: Tiểu đoàn mất liên lạc rồi bị tan rã với tiểu đoàn trưởng và tất cả sĩ quan của ban chỉ huy đều bị tử thương hay bị bắt.[23]   Tất cả các đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh — hay những gì còn lại của sư đoàn — rời khỏi mặt trận Hạ Lào vào chiều 21 tháng 3.

Trong 41 ngày tác chiến ở Hạ Lào, SĐ1BB bị thiệt hại, sĩ quan: 53 chết, 99 bị thương, 11 mất tích; hạ sĩ quan: 107 chết, 213 bị thương, 22 mất tích; binh sĩ: 639 chết, 939 bị thương, và 160 mất tích. SĐ1BB bị tổn thất 39,3% quân số trong Hành Quân LS719.[24 ]

Mặt Trận Của Thủy Quân Lục Chiến
Thủy Quân Lục Chiến VNCH đến chiến trường Hạ Lào trễ. Và cũng vì đến trễ nên TQLC “hưởng” được tất cả hỏa lực của quân QĐND để dành cho họ. Hai lữ đoàn của SĐTQLC nhảy vào chiến trường LS719 ngày 1 tháng 3; rời mặt trận ngày 25 tháng 3. TQLC là đơn vị cuối cùng rời mặt trận.
   
SĐTQLC đã có mặt ở Khe Sanh từ ngày hành quân N. Tuy nhiên đến ngày 1 tháng 3 sư đoàn mới được lệnh đưa hai lữ đoàn vào tác chiến: LĐ147 đến vùng hành quân ngày 2; LĐ258 đến ngày 5.[25]  LĐ147 đóng ở căn cứ Delta, một ngọn đồi cao 550 mét, nằm 13 cây số hướng tây tây nam từ góc Đường 9 và biên giới. Nhiệm vụ của LĐ147 đến Delta là để thế vào chổ một đơn vị của SĐ1BB đang trên đường nhảy cóc vào Tchepone. LĐ258 đóng ở căn cứ Hotel, một chỏm cao 600 mét trên triền núi Co Roc, khoảng hơn ba cây số bên biên giới Lào. Hai lữ đoàn có đủ cấp số, với ba tiểu đoàn tác chiến và một tiểu đoàn pháo binh cho mỗi lữ đoàn.
   
Vào đầu tháng 3 căn cứ Delta của LĐ174 là tuyến đóng quân xa nhất về hướng nam của quân VNCH ở Hạ Lào. Cao điểm này nằm chơ vơ giữa rừng, xa tầm yểm trợ hữu hiệu của các căn cứ bạn. Hai căn cứ gần nhất là CCHotel của LĐ258 cách đó khoảng 9 km ở hướng bắc đông bắc; căn cứ kia là CCDelta1 xa hơn, chừng 12km hướng tây bắc. Tháng 3, tất cả các đơn vị của VNCH đã co cụm về sát Đường 9. Sư Đoàn Nhảy Dù và Lữ Đoàn 1 Thiết Ky bây giờ nằm trong thế thủ, chỉ bảo vệ an ninh cho hướng bắc Đường 9. Ở hướng nam Đường 9, sau khi các đơn vị của SĐ1BB lần lượt tiến về Tchepone, vị trí đơn độc của CCDelta nằm giữa vùng kềm tỏa của pháo binh và phòng không của SĐ324 QĐND.[26]  Sư Đoàn 324 có hai TrĐ29 và 803 phụ trách chiến trường ở chung quanh CCDelta; TrĐ812 còn lại thì án ngử phía nam Co Roc, dưới chân CCHotel của LĐ258. Xa hơn về hướng nam là vùng hoạt động của một trung đoàn xe tăng; hai Binh Trạm 41 và 34; và lực lượng cơ hữu của B-4 (quân khu Trị-Thiên).
   
Ở Delta, LĐ174 cho hai TĐ2 và 4 tảo thanh ở hai hướng đông bắc và tây nam bên ngoài; TĐ7 phòng thủ vòng đai căn cứ; bộ chỉ huy lữ đoàn và TĐ2 Pháo Binh đóng bên trong Delta. Bốn ngày sau khi xuống Delta hai tiểu đoàn hoạt động ở hướng đông bắc và tây nam đều chạm địch liên tục; TĐ7 cũng phát hiện nhiều toán quân của địch đang tiến về chân đồi của căn cứ. Ngày 11 những trung đoàn bộ binh của SSĐ1 được lệnh di chuyển về hướng đông để chuẩn bị rút quân; ngày 13 hai căn cứ Liz và Sophia bỏ ngỏ. Ngày 13 cũng là ngày các trung đoàn QĐND đồng loạt phản công trên toàn mặt trận Hạ Lào: Căn cứ và các tiểu đoàn của LĐ147 bị tấn công mạnh bằng đại bác 130 ly và súng cối 120 ly. Áp lực pháo binh của QĐND đẩy hai Tiểu Đoàn TQLC 2 và 4 lui dần về gần vòng đai căn cứ. Ngày 18 khi lực lượng Dù-Thiết Kỵ ở Bản Đông chuẩn bị rút quân, ở phía nam hai trung đoàn của SĐ324 QĐND đã nằm trong tư thế bao dây CCDelta và LĐ147. Đại bác phòng không và súng cối của quân QĐND đặt từ những triền núi có dốc cao bắn ngược lên đỉnh và vòng rào căn cứ (trong tư thế địch bắn lên được, nhưng ở trên không bắn ngược xuống hay quan sát được). Tình trạng phòng thủ của căn cứ nguy kịch hơn khi quân của QĐND đã đóng chốt bên trong hàng rao phòng thủ. Hai TĐ2 và 4 được lệnh rút về tảo thanh những chốt của QĐND chung quanh căn cứ. Ngày 19 pháo binh của SĐ324 QĐND bắn “long trời lở đất” vào căn cứ, cũng bằng cối 120 ly và đại bác 130 ly. Từ bảy giờ sáng đến sáu giờ chiều pháo binh địch gây tử thương sáu và làm bị thương 39 quân TQLC. Những ngày kế tiếp vấn đề tiếp tế cho căn cứ trở nên nguy hiểm khi địch đã nằm bên trong vòng rào, xử dụng vũ khí cá nhân bắn thẳng vào những phi vụ trực thăng tiếp tế lên xuống. Ngày 21 cả lữ đoàn và một tiểu đoàn pháo binh chỉ nhận được bảy phi vụ tiếp tế và tải thương: 7.000 ký tiếp liệu cho một lực lượng 2.000 quân đang tác chiến thì không đủ. Trung bình một tiểu đoàn (giả định một tiểu đoàn có 500 quân) cần ít nhất là 4.000 ký tiếp liệu một ngày trong tình trạng tác chiến. Nhưng tiếp liệu bây giờ không còn là vấn đề quan tâm cho LĐ147 nữa: vấn đề quan tâm lúc đó là rút quân xuống chân đồi, giới hạn thiệt hại, và di tản về hướng CCHotel của LĐ258; về biên giới.

Ngày 21 sau một trận pháo, hai trung đoàn QĐND có xe tăng yểm trợ, tấn công CCDelta suốt đêm và qua đến ngày hôm sau. Đại bác không giật 75 ly của địch từ những cao độ chung quanh bắn thẳng vào hầm chỉ huy của lữ đoàn, làm tê liệt hệ thống truyền tin. Đêm 2,1 LĐ174 xin thẩm quyền ở BTL QĐI cho phép di tản khỏi căn cứ. Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm từ chối, nhưng yêu cầu phải di tản những khẩu đại bác trên căn cứ về Khe Sanh trước. Đồng thời tướng Lãm cho phép pháo binh yểm trợ cho LĐ147 2.000 đạn đại bác 200 ly (đại bác nòng 8 inches của Mỹ) và 5.000 đạn 155 ly. Đây là một chỉ thị khó hiểu từ tướng Lãm.[27]  Đến thời gian đó tướng Lãm đã cho lệnh lực lượng đặc nhiệm Dù-Thiết Kỵ rời CCBảnĐông ngày 19; và từ ngày 19 đến ngày 21, tất cả bốn trung đoàn của SĐ1BB cũng được lệnh di tản về Khe Sanh. Tất cả lực lượng bạn ở hướng bắc và tây bắc của LĐ147 đã rút đi, một mình CCDelta không thể chịu nổi áp lực của hai sư đoàn QĐND ở hai mặt nam và bắc: SĐ2 QĐND, sau triệt tiêu Sophia East và Delta1 ngày 20, mục tiêu kế tiếp sẽ là CCDelta. Đối diện với SĐ2 ở hướng bắc hay SĐ324 ở nam, chắc chắn Delta không thể giữ được dưới áp lực của một trong hai sư đoàn của QĐND.[28]  Từ ngày 19 đến ngày 22, LĐ147 TQLCcó 85 chết và 238 bị thương. Đêm 22 BTL TQLC tiền phương ra lệnh LĐ174 rút khỏi Delta. Kế hoạch rút quân là LĐ147 tụ quân lại dưới chân đồi rồi di chuyển về CCHotel. Từ CCHotel, LĐ258 sẽ cho hai tiểu đoàn ra đón đoàn quân di tản vào. Nhưng trước khi lệnh được thực hiện, chiều ngày 22 những toán quân xung kích QĐND đã đánh đến chính giữa căn cứ. Căn cứ Delta tan rã khi truyền tin của LĐ174 không còn liên lạc được.[29]  Trong đêm, những đơn vị tản lạc tụ quân lại dưới chân đồi và đi ngược về CCHotel của LĐ258. Ngày 25 tháng 4 tất cả các đơn vị TQLC về đến Khe Sanh. Bản tổng kết hành quân cho biết trong ba tuần tác chiến, TQLC có 291 chết 71 mất tích, và 735 bị thương. Bảy mươi sáu trong số quân nhân chết và mất tích là sĩ quan. SĐTQLC thiệt hại 14% quân số ở Hạ Lào.[30]  

Chú Thích

[19] Căn cứ hỏa lực Lolo do TrĐ2/SĐ1BB trấn giữ. Nhưng trên đó có bộ chỉ huy của TrĐ1 đóng chung. Từ Lolo, bộ chỉ huy của TrĐ1 điều khiển các tiểu đoàn của họ đang lục soát hướng đầu Đường 914. Theo Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 105-108, sau khi đã “gởi” TĐ2/TrĐ2 về bãi đáp Brown, hai TrĐ1 và 2 sẽ rút khỏi Sophia và Liz, về căn cứ hỏa lực Sophia East, một căn cứ nằm giữa Bản Đông và Brown. Từ Sophia East, băng qua Sông Xe Pone là đến căn cứ Bản Đông trên Đường 9.   

[20] Tiểu đoàn trưởng của TĐ2/TrĐ2 là Thiếu Tá Trần Ngọc Huế (Khóa 18 Võ Bị Đà Lạt). Chi tiết về TĐ2 viết theo sách của Anrew Weist, Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN. Tác giả Weist viết theo lời kể của Thiếu Tá Huế.  

[21] Project CHECO, tr. 118.

[22] Theo Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 108, vài ngày sau một số lính của TĐ1 thoát về thêm được một số nữa, tổng cộng có 82 quân nhân về được an toàn. Tiểu đoàn trưởng TĐ4/1 là Trung Tá Lê Huấn; tiểu đoàn phó, Thiếu Tá Hồ Trọng Tọa. Địa điểm tan rã của TĐ4/1 là cách đông nam Tchepone 19 km. Project CHECO, tr. 129.      

[23] Trận đánh của TĐ2 tác giả viết theo lời kể lại của Thiếu Tá Trần Ngọc Huế trong Andrew Weist, Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN. Trận của TĐ4 tác giả viết theo Kiều Công Cự trong Những Emails, đã dẫn trên. Số lượng phi vụ yểm trợ để di tản hai TĐ2 và 4, trích theo Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 116.

[24] Trích văn thư “Tình Trạng Quân Số Các Đơn Vị VNCH Tham dự HQ/LS719,” BTTM QLVNCH, 11 tháng 4-1971. Xem phần phụ lục.

[25] Ngày tham dự hành quân LS719 của TQLC VNCH người viết trích theo bộ quân sử TQLC Hoa Kỳ, The Unites States Marine in Vietnam, 1970-1971, Vietnamization and Redeployment, tr. 376, qua tường trình của Cố Vấn SĐTQLC, Đại tá Francis W. Tief.  

[26] Nhận định của một sĩ quan TQLC về tình hình chung quanh CCDelta: “Hai lữ đoàn TQLC là những đơn vị đoạn hậu nên chịu một áp lực hết sức nặng nề, pháo binh và phòng không của VC kiểm soát toàn vùng.” Kiều Công Cự, sđd, tr. 129. Sách Nguyễn Duy Hinh và của Quân Sử TQLC Hoa Kỳ ghi nhận chung quanh CCDelta có 10 ổ phòng không mà không lực Mỹ không thể triệt hạ được.  

[27] Trích theo Đại Tá Cố Vấn Francis W, Tief, trong The U.S. Marine in Vietnam, 1970-1971: Vietnamization and Redeployment, tr. 377. Đại Tá Tief chú thêm một câu nói của tướng Lãm, “Đến lúc Thủy Quân Lục Chiến phải đánh.” Về chuyện cho phép yểm trợ pháo 200 ly và 155 ly: Khi tướng Lãm cho phép yểm trợ thì quá trễ, vị trí những đơn vị pháo binh 200 ly và 155 ly đã di chuyển ra khỏi tầm tác xạ yểm trợ cho CCDelta. Chú theo Tief, cùng sách, cùng trang.  

[28] SĐ2 QĐND sau khi tấn chiếm tất cả các căn cứ ở tây nam Tchepone, họ không thể tấn công tiếp tục về CCBảnĐông vì giới hạn của Sông Xe Pone. Mục tiêu kế tiếp phải là CCDelta, 12 km đông nam CCDelta1.    

[29] Cảnh tan hàng của bộ chỉ huy/ ban chỉ huy lữ đoàn và tiểu đoàn trước áp lực của địch, được Thiếu Tá Trần Vệ (Ban 3/TĐ4 TQLC) viết lại trong Đêm Hạ Lào! Đêm Sao Dài Quá: 23/3/1971 (Tuyển Tập 2. Hai Mươi Năm Chiến Trận Của Binh Chủng TQLC Việt Nam, 1954-1975, tr. 257-263). LĐ174 khi di tản bỏ lại 63 quân bị thương/ chết/ thất lạc. Vài ngày sau 26 người trong số đó thoát được về với quân bạn.

[30] Trích văn thư “Tình Trạng Quân Số Các Đơn Vị VNCH Tham dự HQ/LS719,” BTTM QLVNCH, 11 tháng 4-1971. Xem phần phụ lục.



Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 24 Tháng Chín, 2014, 11:45:12 PM
Từ Bản Đông Về Lao Bảo: Lui Quân
Lực Lượng Đặc Nhiệm Nhảy Dù-Thiết Kỵ (LLĐN) nhận được lệnh rút quân từ QĐI vào chiều ngày 18. Sáng 19 Bộ Chỉ Huy và tất cả lực lượng rời CCBảnĐông.[31]  Từ Bản Đông về biên giới Lao Bảo LLĐN sẽ qua hai tuyến bảo vệ an ninh Đường 9 là tuyến Alpha và tuyến Bravo, rồi đến Lao Bảo. Đọan đường dài chừng 10-12 km, bên phải là Sông Xepone, trái là những ngọn đồi và đỉnh cao, thuận tiện cho phục kích. Nối liền an ninh giữa các tuyến là các tiểu đoàn tác chiến của SĐND và các đại đội xe tăng xung kích từ các thiết đoàn của LĐ1KB.

Mặt trận của chiến trường Hạ Lào vào những ngày cuối cùng của HQ LS719 thu gọn lại. Sông Tchepone cắt mặt trận và chia trận liệt ra làm hai: trên hướng bắc là sáu trung đoàn của ba SĐ308; 320; 304 QĐND. Nhiệm vụ của Binh Đoàn B70 là chận LLĐN Dù-Thiết trên đường rút lui về biên giới. Ở mặt trận phía nam: SĐ2 QĐND sau khi đánh qua căn cứ Delta1 họ đã đẩy SĐ1BB VNCH rời khỏi mặt trận. SĐ2 không thể đánh qua Sông Xepone đi về hướng CCBảnĐông. Mục tiêu tới của sư đoàn có thể là CCDelta của LĐ147 TQLC ở đông nam. Hay cũng có thể sư đoàn sẽ đánh thẳng về CCHotel của LĐ158 TQLC cách đó 10 km — Tùy thuộc SĐ324, cũng ở phía nam, đánh vào CCDelta của LĐ147 TQLC được hay không.[32]

Như biết được ý định lui quân của VNCH, trên đường từ Bản Đông về tuyến Alpha Rạng, sáng ngày rút quân, các đơn vị của SĐ308; 304 và 320 đuổi theo tấn công các TĐ2, 7, 8, 9 Dù liên tục. Sự khó khăn của các đơn vị bảo vệ an ninh là họ không có  hệ thống phòng thủ: các tiểu đoàn ND thay đổi cung phòng thủ cùng lúc di chuyển theo nhịp rút quân của LLĐN. Chiều ngày 19, TĐ1, 7, 8 Nhảy Dù và LLĐN đến tuyến Alpha. Khi đoàn quân của LLĐN đã qua tuyến Alpha trên đường đến tuyến  Bravo, BTL QĐI cho lệnh bỏ tuyến Alpha; và cho phép bộ chỉ huy LĐ1ND, pháo binh lữ đoàn, và TĐ5ND di tản về Khe Sanh bằng trực thăng. Những tiểu đoàn và thiết đoàn còn lại sẽ từ tuyến Bravo đi bộ về Lao Bảo, một khoảng đường chừng 5 cây số. Nhưng sáng ngày 21, quân QĐND đánh thẳng vào TĐ8ND và TĐ11TK đang di chuyển cùng cột quân trong LLĐN, phá hủy bốn tăng M-41; 11 xe M-113; và gây 100 thương vong cho LLĐN. Nguy ngập hơn là sau đuôi của LLĐN là một đoàn xe tăng truy đuổi, càn quét  những đơn vị di chuyển chậm, còn xót lại. Trên đoạn đường 10 cây số về biên giới, SĐ308 QĐND cho bốn trung đoàn phục kích trên ba cao điểm 351, 334, 311 nhìn xuống đường rút quân: Cao điểm 351 nằm giữa Bản Đông và Alpha; cao điểm 334 và 311 nằm giữa Bravo và Lao Bảo. Bốn trung đoàn QĐND đánh xuống đoàn quân di tản theo một đường thẳng —  và chỉ có một đường thẳng để đi.[33]  Tài liệu cho biết ngày 21 không lực Mỹ cung cấp 788 phi vụ trực thăng; 157 phi vụ không quân chiến thuật và 11 phi vụ B-52 để yểm trợ cho cuộc rút quân trên Đường 9.[34]  Đọan đường giữa Bravo và Lao Bảo bây giờ ngổn ngang xác chiến cụ. Nhịp độ tấn công  và truy kích của gia tăng mạnh hơn trên những cây số cuối cùng của đọan đường Bravo-Lao Bảo. Sau khi quyết định không thể rút về biên giới theo Đường 9 — với từng cây số đường là từng ổ phục kích — chỉ huy trưởng LLĐN yêu cầu hai TĐ1 và 8 Nhảy Dù thám sát và bảo đảm an ninh cho một đường đi xuyên rừng, băng qua Sông Xepone để về biên giới. Sau cùng toán quân LLĐN di tản về được bên kia biên giới theo đường xuyên rừng và vượt sông, nhưng phải bỏ lại nhiều quân cụ và chiến cụ bên kia biên giới.

Sau khi Đại Đội Hắc Báo của SĐ1BB kết thúc công tác trinh sát ở hai địa điểm cách 22 và 40 cây số phía nam Lang Vie vào đầu tháng 4, BTL QĐI chuẩn bị “đóng cửa, tắt đèn” căn cứ Khe Sanh để chấm dứt cuộc hành quân. Ngày 6 tháng 4, HQ LS719 chánh thức kết thúc khi trực thăng bốc những đơn vị Việt Mỹ cuối cùng rời căn cứ Khe Sanh.

Chú Thích

[31] Keith William Nolan, Into Laos: The Story of Dewey Canyon II/ Lam Son 719, tr. 296; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 111.

[32] Trận liệt hai bên VNCH và QĐND vào tuần cuối cùng của HQ LS719, người viết trích theo Merle L. Pribbenow, Victory in Vietnam/ Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Tập II, tr. 277; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 111.

[33] Nguyễn Hữu An, Chiến Trường Mới, tr. 135. Trên thực tế, các đơn vị của SĐ308 chỉ phá đường (dùng thuốc nổ TNT đánh phá đường sâu từ ba đến năm mét, cắt đứt Đường 9 ra nhiều đoạn). Bên phải của LLĐN là sông; sau lưng địch truy kích. Đây cũng là lý do đoàn quân LLĐN bỏ Đường 9, đi tắc qua rừng, vượt sông  để về Việt Nam.   

[34] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 117. Từ ngày 24 tháng 3 trở đi, BTL MACV được phép đánh 40 phi vụ B-52 một ngày (từ 33 phi vụ một ngày). Mười một phi vụ B-52 nói trên là riêng cho mặt bắc Đường 9, đánh vào các đơn vị của SĐ308 QDNDđang bám sát vào đoàn quân di tản.





Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 25 Tháng Chín, 2014, 12:58:55 AM

[18] Trong Victory in Vietnam: The Official History of People’s Army of Vietnam, 1954-1975, tr. 274, QĐND ghi đã có những đơn vị sau vào ngày 8 tháng 2 tại vùng hành quân: Năm sư đoàn chánh quy; hai trung đoàn độc lập; tám trung đoàn pháo; ba trung đoàn xe tăng, ba trung đoàn công binh; sáu trung đoàn phòng không; tám trung đoàn đặc công; và, những đơn vị cơ hữu phụ thuộc. Đây là bản dịch Việt ngữ Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân, Tập II: Thời Kỳ Trưởng Thành của Quân Đội Nhân Dân Trong Thởi Kỳ Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975) (Merle L. Pribbenow, translator, Kansas: University of Kansas Press, 2002). Quân số của QĐND ghi theo sách trên mâu thuẩn với nhiều sách quân sử riêng của các sư đoàn, hay sách của tổng cục hậu cần. Một số trung đoàn vẫn đang trên đường đến chiến trường vào ngày 8 tháng 2, như trường hợp của TrĐ64/SĐ320 và TrĐ36/SĐ308.


Xin có một nhận xét về chú thích 18:
Trong thời gian này quân báo Mỹ-Việt ghi nhận có sự hiện diện của TrĐ9/ F304 ở chiến trường, nhưng chưa đụng trận! (Đọc cước chú số [48]: "Tài liệu theo báo cáo của Đại Tá Phạm Ngọc Thiệp, Phòng 2 BTTM, “Nhận Định Tình Hình Hành Quân Lam Sơn 719 và Ảnh Hưởng Đối Với CSQĐND,” KBC 4002 ngày 29.3.1971. Những trung đoàn có mặt trong vùng hành quân nhưng chưa tham chiến là các Trung Đoàn 48/SĐ302; 9/SĐ304; 31/SĐ2; 803/SĐ324; và 6/QKTTH (Quân Khu Trị-Thiên-Huế). MACV cũng ghi nhận những trung đoàn này trong báo cáo hàng tuần. Đọc Sorley, sđd, tr. 536.)

Người viết nghĩ có thể TRĐ9/F304 đã ngụy tạo truyền tin (đóng quân nhưng ngụy tạo truyền tin như đang di chuyển, và ngược lại) để đánh lừa đối phương. Sau khi sách xuất bản, và sau khi đọc chi tiết trong Mùa Hè Cháy của đại tá Trần Quý Hải, người viết mới biết thật sự trung đoàn của Trần Qúy Hải không có mặt ở chiến trường --- một chi tiết mà bạn Quangcan đã chỉ ra đâu đó ở diễn đàn này.
Ước lượng tình báo là một chuyện rấy may rũi. Và MACV bị rũi nhiều hơn may trong LS719. 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 25 Tháng Chín, 2014, 04:43:59 PM
Đánh lừa đối phương hay nghi binh thì là cả một nghệ thuật mà các bên đều triển khai quyết liệt nên việc "ước lượng tình báo" đâu thể đúng 100%,  ;).

Có việc này nhờ bác nkp chút: em đang giúp hai gia đình có liệt sỹ hy sinh trong chiến dịch đường 9 Nam Lào (Lam Sơn 719 này). Nếu bác có thông tin gì về tọa độ trận đánh, ghi nhận về sự đụng độ hay vị trí của họ thì làm ơn giúp họ nhé,  ;).

1. Liệt sỹ Trương Công Luận, sinh năm 1949, nhập ngũ thang, 4/1968, hy sinh ngày: 15/3/1971 tại Bê-Ut , Nghĩa trang Làng Con, Đơn vị khi hy sinh là: c12, d6, 1450; quê: Thạch Hạ, Thạch Hà, Hà Tĩnh.

Em đang nghi ngờ vị trí hy sinh là Làng Bu, thuộc Hướng Hóa.
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/LangBu_zps1e405cfe.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/LangBu_zps1e405cfe.jpg.html)

2.  Liệt Sỹ Họ Tên: Nguyễn Văn Nhỡ - Sinh năm: 1949 Quê quán: Thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam Nhập ngũ: Tháng 8/1967 Đơn vị khi hy sinh: C9 D6 E24 F304 Chức vụ: Thượng sỹ, Trung đội phó Ngày hi sinh: 12/2/1971 Nơi hy sinh: Đồi Không Tên.

Vị trí tọa độ đồi không tên bên Lào đã được bạn em xác định ở : đây (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,132.msg361129.html#msg361129).
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/DoiKhongTen-719_zps791c30b0.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/DoiKhongTen-719_zps791c30b0.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 27 Tháng Chín, 2014, 10:27:57 AM
2.  Liệt Sỹ Họ Tên: Nguyễn Văn Nhỡ - Sinh năm: 1949 Quê quán: Thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam Nhập ngũ: Tháng 8/1967 Đơn vị khi hy sinh: C9 D6 E24 F304 Chức vụ: Thượng sỹ, Trung đội phó Ngày hi sinh: 12/2/1971 Nơi hy sinh: Đồi Không Tên.

Nhận được câu hỏi của Quangcan.
Trong khi đang tìm tài liệu để xác định vai trò của người thượng sĩ phục vụ ở C9/D6/E24/F304; hi sinh ngày 12/2/1971 tại vị trí của Đồi Không Tên, thì một may mắn bất ngờ xảy ra:

Một độc giả trên diễn đàn này gởi tôi một điện thư, cho tôi ý kiến và chi tiết về trường hợp của người tử sĩ. Người độc giả cao kiến đó -- mà tôi nghĩ có rất nhiều trên diễn đàn này -- gởi tôi một sử liệu và có ý kiến, đại khái: "Người tử sĩ này có thể hy sinh trong trận Trung Đoàn 64/F320 đánh bật Tiểu Đoàn 6 Nhẩy
Dù đổ bộ xuống ngày 13 tháng 2. Người tử sĩ của TrĐ24 chết cùng thời gian TrĐ64 phục kích TĐ 6 ND ở bãi đổ bộ; có thể anh ta phục trong đơn vị giao liên, trinh sát, hướng dẫn các đơn vị của TrĐ64 vào chiến trường. Vì TrĐ24 đã đến vùng tác chiến đó trước, rành địa hình; TrĐ64 đến sau, cần giao liên hướng dẫn đường vào chiến trường.

Người đó kèm theo trong điện thư hai trích dẫn, (1) Chiến Dịch Phản Công Đường Số 9- Nam Lào 1971, trang 48; và, Sư Đoàn Đồng Bằng (Binh Đoàn Tây Nguyên), trang 118. Trích đẫn (1) nói về sự kiện TrĐ64/F320 đập tan cuộc đổ bộ của TĐ6ND VNCH xuống một bãi đáp dự định thiết lập Căn Cứ Hỏa Lực 32, ngày 13 tháng 2. Trích dẫn (2) nói về những hoạt động của F320 ở Chiến Dịch đường 9- Nam Lào, trong đó có nhắc đến chi tiết TĐ9/TrĐ64 đánh tan đại đội 33 của TĐ3 ND ngày 10 tháng 2 (với tên người đại đội trưởng chỉ huy là Lê Hoàn Bôn); và trận đánh TĐ6 ND ở bãi đổ bộ trực thăng ngày 13 tháng 2 ở Đồi Không Tên (ĐKT).

Đọc điện thư của người bạn đó tôi thấy có vài điều hữu lý. Điện thư đưa đến những câu hỏi: Lính của TrĐ24/F304 đang làm gì ở mặt trận của TrĐ64/F304? Và ngày tử trận là 12 tháng 2; có liên hệ gì đến trận đánh ngày 13 tháng 2? Khi nói có vài đơn vị của TrĐ24 đóng vai giao liên, hướng dẫn đường  cho
TrĐ64, có lý không? Và qua chi tiết cung cấp trong chú thích (2) về vị trí của ĐKT có phải là vị trí ĐKT nơi ngưòi tử sĩ chết? Hay là chúng ta đang nói đến hai ngọn ĐKT ở hai tọa độ khác nhau? 

1. Trước nhất chúng ta nói về liên hệ của TrĐ24/F304 và TrĐ64/ F320 ở mặt trận hướng tây. Theo tài lịêu Chiến Dịch Hậu cần Đường 9-Nam Lào (CDHCĐ9-NL), có một tiểu đoàn hay vài đại đội của TrĐ24 đóng vai giao liên/ trinh sát cho TrĐ64 ở mặt trân chung quanh Căn Cứ Hỏa Lực 31. Ở những
trang 49, 138, trong tài liệu CDHCD9-NL cho biết: F304 phụ trách chiến truờng phía tây; F308 phụ trách phía đông (ranh giới tây và đông là Đường 92, từ Đường 9 ở Bản Đông đi lên). Vì lệnh tác chiến quá gấp (chỉ có tám ngày để chuẩn bị) , hậu cần của B70 giao nhiệm vụ cho TrĐ24/F304 phụ trách nhận và phát tiếp liệu cho các trung đoàn có mặt ở phía tây (TrĐ88/F308 cũng có nhiệm vụ tương tự ở phía đông). TrĐ24 có mặt ở chiến trường hai ngày trước TrĐ64 (Có tài liệu nói TrĐ64 và TrĐ24 đến mặt trận cùng ngày 8 tháng 2. ... Nhưng tài liệu CDHCĐ9-NL ghi nhận một đơn vị của TrĐ24 đã chiếm đóng đồi 351, một ngọn đồi chiến lược nằm giữa đường từ bãi đáp Alpha về Bản Đông, trên hướng bắc Đường 9 chừng 2 km; đông Bản Đông chừng 5 km). Chúng ta cũng biết tiếp liệu của hậu cần B70 đưa hàng đến Chà Lỳ; trong khi TrĐ 24 đóng ở Kaki và có một đơn vị nhận hàng ở Tô Hoan (tr. 138). Nếu đây là sự thật thì lính của TrĐ24 rất mệt khi từ Kaki, trên đầu Đường 9, đi nhận hàng ở tận Cha Ky. Theo bản đồ hậu cần trong CDHCĐ9-NL, từ Kaki đi lên Cha Ly, phải qua ngang ĐKT, qua Căn Cứ Hoà Lực 31 (cao điểm 456) để đến cụm hậu cần B70 dành cho F304 qua Trđ 24. Cũng theo tài liệu trên, TĐ4/TrĐ24 là đơn vị chuyễn hàng (người tư sĩ ở TĐ 6). Và trong hoàn cảnh đó, TRđ24 không thể tiếp nhận hành được (quá nhiều) và phải bỏ vì phải tác chiến (tr 141).
Ở đây, những chi tiết như chết ngày 12 hay 13; Tiểu Đoàn 4 hay 6, khôn gthàn vấn đề. Vấn đề là chúng ta biết các chiến sĩ ở TrĐ24 có chết ở mặt trận do TrĐ64 trách nhiệm.
Tọa Độ Đồi Không Tên
 

 

     


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 27 Tháng Chín, 2014, 01:13:11 PM

Có nhiều tài  liệu, hồi ký, nói về trận đánh ở Đồi Không Tên. Nhưng có thể họ nói đến 2 ngọn đồi khác nhau: Đồi Không Tên, và một con đồi không tên nào đó ở một vị trí chưa được ghi nhận trên bản đồ. Đồi Không Tên được biết đến tên về sự mãnh liệt của nó: kéo dài hơn sáu ngày (26 thang 2 đến sáng 3 tháng 3); hơn 2.000 thương vong cho hai bên. Chi tiết ở trang 118 của quyển Sư Đoàn Đồng Bằng (đánh TĐ3 ND ở "ĐKT" ngày 10 tháng 2); bài viết của tướng Khuất Duy Tiến về TrĐ64 đánh TĐ6 ND khi họ vừa đổ bộ trực thăng xuống ngày 13 tháng 2 ở ĐKT. ... Rõ ràng chúng ta đang nói hai ĐKT khác nhau. Một đằng nói ĐKT ở tây bắc cao điểm 456/ CC31 Nhẩy Dù, toạ độ XD505475; một đằng nói ĐKT ở đông nam CC31 Nhẩy Dù, ở tọa độ XD535435/ XD533432. Nhưng tất cả đề nói đến hai chi tiết giốg nhau về ĐĐ33, TĐ3 Nhẩy Dù, và TĐ6 Nhẩy Dù, bị TĐ9 của TRĐ 64 triệt tiêu, vào ngày 10 và 13 tháng 2.

Theo sử liệu người viết này tim được và tin tưởng, vùng được goi là Đồi Không Tên có tọa độ XD5333435/ XD533435. Và ĐKT mà chún gta noi đến, khng liên hệ đến TĐ 6 hay Đ33 Nhẩy Dù. Đồi Không Tên ở XD 5334 chỉ liên quan đến TĐ8 Nhẩy Dù và Thiết Đoàn 17.

Hai bài viết trên diễn đàn VMH về vị trí Đồi Không Tên, theo người viết này là đúng nhất:

Từ VMH:
Giúp đỡ tìm người (liệt sỹ) Phần 6 - Chuyên đề chung sức của các thành viên DNGN
« Trả lời #334 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2012, 01:26:03 PM »
Trích dẫn từ: quangcan trong 08 Tháng Hai, 2012, 11:13:12 AM
@dulephuoc: hàng của bác đây, quyết chiến điểm Đồi Không Tên bác ạ,  Grin
Trích dẫn Cán bộ tiểu đoàn hội ý chớp nhoáng và hạ quyết tâm đi trinh sát trận địa ngay trong đêm. Bộ đội nằm lại không ngủ, chuẩn bị xuất kích ngay khi cán bộ trở về. Đêm hôm ấy, bầu trời vùng Bản đông đầy máy bay và pháo sáng. Các cụm tăng địch trên dãy đồi không tên từng giờ tiếp tục nhả đạn ra những vạt rừng xung quanh. Tới đêm 3/3, Cái thiết đoàn 17 và tiểu đoàn dù 8 ngụy đã thực sự lâm vào thế trận "không có đường về". Lúc chúng nằm lại dưới đường 9 thì niềm hy vọng trở về Sài gòn khá sáng sủa......Lúc này cả vùng đồi trên cây số 107 của con đường 16 đỏ rực những đám cháy và những tiếng bom nổ lớn. Đại đội 2 đã chiếm được một mỏm đồi nhưng địch đã co lại và điên cuồng chống trả. ...
...Bá bỗng nhớ lại lời hiệp đồng của người bạn thân cùng quê là Nguyễn Văn Toán, C trưởng C1: " Khi nào nghe tiếng súng tao im thì mày vào cho nhanh nhé". Vừa đúng lúc đó, Bá nghe thấy tiếng hô xung phong vang dậy từ phía sau. "Hay lắm, quân thằng Toán đã vào, C1 đã vào". Bá thầm reo lên và quả
là đại đội 1 đã vượt lên trước. Trận tiến công bất ngờ này vào tảng sáng ngày 04/3. Trên đỉnh đồi Cháy, 20 đống lửa nghi ngút. Ba mỏm đồi trên dải đồi KHông Tên đầy tiếng nổ và lửa cháy. Những chiếc máy bay địch bay lượn trên cao rồi lại mất mục tiêu, chỉ bổ nhào giả rồi lại vọt lên cao. C1 đã tiến xáp
lại đánh giáp lá cà với địch. Một chi đội thiết giáp của chúng ở mé đồi phía Tây thừa dịp đó quay đầu chạy về phía Bản Đông. ......Chi đội thiết giáp địch nói trên từ đồi ầm ầm chạy ra tiến đến trước mũi súng của Khải. Nhổm dậy và đưa khẩu B40 lên vai bóp cò, một luồng lửa hình phễu phóng đi và chiến xe tăng đi đầu nổ một tiếng lớn rồi bốc cháy. Phát súng của Khải làm dây chuyền cho những tiếng nổ tiếp sau, 5 xe tăng phía sau vội dừng lại, chưa kịp xoay sở gì thì chúng đã bị bắn cháy hết. ........ Đại đội 10 của tiểu đoàn 3 đã đánh thọc một mũi từ dưới suối Công Son thọc lên ....... Ở trận địa DKZ của đại đội 16 đặt bên này dòng suối cạn .......

@bác sờ-gai: cùng bàn thêm với bác nào:
- địa danh Đồi Cháy: nó còn có thể là tên bộ đội ta đặt đấy bác; trung đoàn 64 đã đánh một trận lớn ở thời điểm trước đó tại Đồi không tên này rồi mà. Grin

- em không nghĩ tiểu đoàn dù 8 ngụy và tiểu đoàn 17 thiết giáp ngụy dám xa rồi đường 16 nhiều đâu; nếu gần nhánh của suối Hoay Katan (suối Công Son?) thì xa quá, đâm vào rừng nhiều quá. 2 tiểu đoàn này của ngụy đã không dám đi cứu lữ dù ở căn cứ 31 thì chắc hẳn cũng chả dại gì mà lại đi quá xa đường
16 - thiếu vắng sự hỗ trợ của pháo, trực thăng yểm trợ thì .... tiêu sớm trước ngày 4/3 rồi.
- bản đồ 1/50 chưa thể hiện hết nên em cũng không dám chắc và cũng không xác định được liệu FSB31 có phải là 457m hay không? 1/25 thì may ra,
Cheesy Cheesy Cheesy.
- từ ngã ba đường 16 với đường nhánh 92 xuống Bản Đông thì dọc bên tay trái (theo phác đồ của Mỹ ở bài trước) có rất nhiều đồi 3 mỏm,  Grin. Có lẽ phải
nhờ mấy bác cựu 64 vậy nhờ,  Grin  

Đọc hai đoạn văn trao đổi trên, chung ta tháy vi trí của ĐKT là 5km bắc Bản Đông; 3km đông nam CC31 Nhẩy Dù. Vị trí của cứ 31: Đường 9 từ Bản Đông đi lên cực bắc; quẹo trái 2km, nhìn lên là CC31. Nơi đó là ĐKT trong bản đồ hàn hquân của Lam Sơn 719.
 
 


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 28 Tháng Chín, 2014, 05:26:42 AM
Đọc hai đoạn văn trao đổi trên, chung ta tháy vi trí của ĐKT là 5km bắc Bản Đông; 3km đông nam CC31 Nhẩy Dù. Vị trí của cứ 31: Đường 9 từ Bản Đông đi lên cực bắc; quẹo trái 2km, nhìn lên là CC31. Nơi đó là ĐKT trong bản đồ hàn hquân của Lam Sơn 719.

Bây giờ chúng ta so sánh vị trí của ĐKT được nói đến trong những sử liệu đang có, Chiến Dịch Phản Công Đường Số 9- Nam Lào 1971 (tr. 48); Binh Đoàn Tây Nguyên (tr. 118); trong CDHCĐ9-NL (tr.141); và theo một hồi ức của Trung Tướng Khuất Duy Tiến (đăng trên báo QĐND).

Trong hai trích dẫn người bạn đọc gởi, CDPCĐ9-NL SĐĐBF320, đều nhắc đến hai đơn vị của VNCH là TĐ6 ND và ĐĐ33 ND (lối dặt tên đại đội của VNCH rất đơn giản và có hệ thống: số đầu lá số của tiểu đoàn mẹ. Trong trường hợp nầy, ĐĐ33 là đại đội 3 của tiểu đoàn 3. Tương tự ĐĐ23, là đại đội 3 của TĐ2). Nhưng trang 118 trong SĐĐBF320 (NXB QĐND, 1984) tả tỉ mỉ hơn: "…Trước khi trận đánh căn cứ 31 nổ ra, trung đoàn 64 đã đánh hai trận mở đầu giành thắng lợi giòn giã. Ngày 10 tháng 2, bằng một đòn tiến công chớp nhoáng, tiểu đoàn 9 đã tiêu diệt đại đội 33 do tên đại đội trưởng Lê Hoàng Bôn chỉ huy.  Đặc biệt, ngày 13 tháng 2, cũng bằng một trận vận động tiến công, tiểu đoàn 9 lại tiêu diệt tiểu đoàn 6 dù trên đồi Không Tên làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ ngay từ giờ phút đầu của chiến dịch ..."

Để biết vị trí của hai cuộc đụng độ ngày 10 tháng 2 (với ĐĐ33) và ngày 13 tháng 2 (với TĐ6 ND), ta phải tìm biết nhiệm vụ của hai đơn vị này trong thời gian nói trên. Tiểu Đoàn 3 Nhẩy Dù đến cao điểm 456 cùng với bộ chỉ huy của Lữ Đoàn 3 ND. LĐ3 ND có ba tiểu đoàn cơ hữu là 2, 3 và 6. TĐ2 đóng  ở Căn Cứ 30 (bên tay phải Đường 92A, cách CC31 chừng 5 km về hưóng đông (trong bản đồ QĐND đó là đoạn cuối Đường 16 đì về Bản Đông Đường 9)). Tiểu Đoàn 6 thì đang chờ lệnh để nhảy vào lập thêm một căn cứ hoả lực nữa (trên bản đồ hành quân đã đặt tên là CC32). Bên trong căn cứ  gồm có TTĐ3 và một pháo đội 105 ly, và một đại đội Trinh Sát Dù. TĐ3 có bốn đại đội 31, 32, 33, và 34. Hai ĐĐ 33 và 34 đóng bên trong căn cứ; ĐĐ31 và 32 đóng bên ngoài ở hai hướng đông bắc và đông của căn cứ. Đại đội trinh sát đóng ở hướng tây bắc của CC31, nhìn xuống khu Cha Ky. Giống như vị trí đồi 500 của TĐ 39 BĐQ VNCH ờ hướng đông (mặt trận của F308), vị trí của CC31 của nhẩy dù nằm sát bộ chỉ huy của F304 và F320, nếu không nói là sát ngay kho hậu cần tiền phương của B70.

Vì đóng quá gần vùng an ninh của B70, TĐ3 ND bị tấn công từ ngày xuống vị trí. Tài liệu của VNCH, MACV và QĐND đều ghi nhận nhiều cuộc chạm trán mạnh ở hai hướng tây bắc và tây của CC31 ngày 9 tháng 2. Đến ngày 10 phản ứng của QĐND mạnh hơn: Trđ24 QĐND chiếm cao điểm 351 (trên đầu Đường 9, nửa đường giữa Alpha và Bản Đông); tiếp liệu cho những căn cứ quá chậm, và nhiều căn cứ chưa hoàn tất hệ thống phòng thủ; và hai trực thăng chở sĩ quan yếu nhân bị bắn rớt. Cũng vào ngày10, một đơn vị của F320 TĐQĐND tấn công vào hướng tây bắc căn cứ. Như nói ở trên, hướng tây tây bắc có một đại đội trinh sát dù hoạt động. Nhưng không biết áp lực địch mạnh như thế nào, mà bộ chỉ huy TĐ3 phải điều động ĐĐ3 đến hướng tây bắc vòng đai căn cứ để phòng thủ (nên nhớ Đ33 là là lực lượng chánh phòng thủ căn cứ, và bảo vệ bộ chi huy của LĐ3 ND. Sĩ quan chỉ lữ đoàn huy không xài đến lực lượng đó cho đến khi phải xử dụng. Điều này cho thấy sự nguy ngập của tình hình chiến sự). Ngày 10, Đại Úy Lê Hoàng Bôn, đại đội trưởng ĐĐ33, tử trận ở ngoài vòng đai phòng thủ hướng tây bắc CC31. Địa điểm này không phải là "ĐKT" như được nói đến trong SĐĐB. Điều này được kiểm chứng với đồng ngũ của Đại Úy Lê Hoàng Bôn trong thời gian đó: nghĩa là anh ta không chết quá xa ở hướng tây bắc vòng đai CC31. Và địa điểm đó không được gọi là "ĐKT."

Hai ngày sau, 11 và 12, TĐ39 BĐQ (ở căn cứ 500/ Ranger North) và TĐ2 ND ở CC30 đều cáo cáo trở ngại về yểm trợ; hai trực thăng chở sĩ quan yếu nhân bị bắn nổ tung trên trời gần sát biên giới; và một đại đội trực thăng chở nặng C-47 của Mỹ phải tạm ngưng công tác vì họ không có trực thăng võ trang yểm trợ. Ngày 13, bộ tư lệnh Nhẩy Dù quyết định tiếp viện thêm cho LĐ3 tiểu đoàn cuối cùng của họ để bảo vệ hướng tây bắc của căn cứ. áng 2, TĐ158 Trực Thăng Đổ Bộ thả 657 quân nhân của TĐ6 ND ở một triền đồi hướng tây bắc CC31 -- nơi áp lực của đối phương đang gia tăng. [1] Nhưng cuộc đổ bộ bị hủy bỏ sau đợt đổ quân đầu tiên: TĐ6 ND đáp quân xuống ngay vùng tác chiến của TĐ9 của TrĐ64 QDND. Trận đánh này rất ngắn, không hơn vài ba tiếng. TĐ6 ND bỏ lại chiến trường 78 thương vong và 23 mất tích; số quan còn lại rút về bên trong CC31. Và họ được di tản khỏi CC31 ngày 19 tháng 2 (CDPCD9-NL ghi nhận chi tiết này, giống như vài tài liệu cập nhật nhất của quân đội Mỹ.). Trận đánh này có thể xảy ra ở một đồi không tên trên hướng tây bắc CC31, nhưng không phải Đồi Không Tên như chúng ta đang nói tới.

Còn Một Đồi Không Tên Khác       

Chú Thích

[1] Con số 657 quân nhân của TĐ6 ND đến từ Robert D. Sander, Invasion of Lào 1971: Lam Son 719. Nhiệm vụ nguyên thủy của TĐ6 ND là thiết lập CC32. Nhưng đến ngày 13, họ phải tiếp ứng cho lữ đoàn trong nhiệm vụ bảo vệ mặt tây bắc CC31. Địa điểm đổ bộ của tiểu đoàn là một triền núi nẳm giữa CC31 (456m) và một điểm cao 600m ở hướng tây. Một chi tiết nữa, là ngày 12 Tổng Thống Thiệu có bay ra Đông Hà nói chuyện với tướngHoàng Xuân Lãm. Không biết cuộc có làm thay đổi nhiệm vụ của TĐ6 ND hay không? (thay gì lập căn cứ 32; bay giờ chỉ phụ lực bảo vệ hướng tây bắc CC31.) 
       


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 28 Tháng Chín, 2014, 08:53:50 AM
Còn Một Đồi KHông Tên Khác
[/quote]

Dựa vào tài lieu đã trích trên, chúng ta biết vị trí của ĐKT được nhắc đến xảy ra ở mặt tây bắc CC31/ Điểm Cao 456 từ những chi tiết: vị trí nơi Đại Úy Lê Hoàng Bôn ĐĐ33 tử trận; tướng Khuất Duy Tiến có nói sẻ xử dụng ĐKT để làm bàn đạp đánh cao điểm 456/ CC31; và từ nhật ký hành quân của Quân
Đoàn XXIV và Không Quân Hoa Kỳ. Rạng sáng ngày 25, từ hướng tây bắc QDND tấn căn cứ; khuya ngày 25 CC31 thất thủ. Sau khi biết bộ chi huy của LĐ3 và ban chỉ huy của TĐ3 bị tan rã, bộ chi huy tiền phương Nhảy Dù ra lệnh hai đại đội 31 và 32, và đại đội trinh sát Dù di chuyền về hướng đông nam để được lực lượng từ Bản Đông tấn lên đón về.
Lực lượng từ Bản Đông lên gồm TĐ8 ND và Thiết Đoàn 17, đi theo Đường 92A từ Bản Đông lên. Như một bạn trên diễn đàn đã viết, cách Bản Đông chừng 5 km, quẹo trái hướng tây bắc chừng 2 km, là đến chân đồi CC31/456. Cách chân đồi chừng hơn một km, TĐ8/TrĐ64 QĐND lập một phòng tuyến chận ngang: Quân di tản từ CC31 xuống không được; lực lượng Nhảy Dù-Thiết Kỵ đi vào tiếp cứu không được. Tại đây là Đồi Không Tên; tại đây Đồi Không Tên được biết tên, nhắc tới, vì cường độ mãnh liệt của bảy ngày tác chiến giữa đôi bên. Theo Báo Cáo Hành Quân của QĐXXIV, nhiều đụng độ liên tục từ ngày 26 tháng 2 đến 4 tháng 3 tại các tọa độ XD535435 và XD533432. Ban đầu tại ĐKT chỉ có 1 tiểu đoàn QĐND trấn giữ; hai ngày sau được tăng cường thêm một tiểu đoàn nữa. Phía VNCH, trong bốn ngày tác chiến, TD8 ND viện thêm ba đại đội đến từ TĐ9 và TĐ7 ND; một đơn vị của Thiết Đoàn 11 cũng đi lên tiếp ứng cho Thiết Đoàn 17. Vào ngày 3 và 4, sau hai lần tiếp tế cho Thiết Đoàn 17 và Nhầy Dù bị thất bại vì hỏa lực của địch không cho trực thăng đáp, hai lần B-52 được gọi đến đánh sát vào chiến trường để di tản đơn vị VNCH. Sau 4 tháng 3, tất cả lực lượng VNCH co cụm về Bản Đông. [1]

Có thể các tác giả trên nói đến một ĐKT khác, gần sát hướng tây bắc CC31. Nhưng theo người viết -- và căn cứ vào những bạn đọc trên diễn đàn --  vị trí vừa nói trên, nam đông nam CC31, là ĐKT, nơi người hạ sĩ quan QĐND tử trận.

Chú Thích
[1] Chi tiết về những hai lần oanh bằng B-52; tọa độ ĐKT đông nam CC31; và thương vong hai bên, lấy từ Báo Cáo Hành Quân của Quân Đoàn XXIV.
Những chi tiết trên cũng được ghi nhận trong hai quyển sách mới nhất về Lam Sơn 719: Invasion of Laos 1971: Lam Son 719 (2014), của Robert D. Sander; và, A Raid Too Far: Operation Lam Son 719 and the Vietnamization in Laos (2014), của James F. Willbanks.

Một vài chi tiết về người đại đội trưởng ĐĐ33 ND: Đại Úy Lê Hoàng Bôn tốt nghiệp Khóa 19 Đà Lạt. Ra trường được chọn làm thiếu úy tùy viên cho Trung Tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù. Sau khi lên cấp đại úy, được cho lên đại đội trưởng đại đội tác chiến khi tử trận.    


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 29 Tháng Chín, 2014, 04:24:20 PM
Qua các dòng thông tin, tôi thấy khá phân vân; đặc biệt là việc xem xét các điểm tọa độ tác giả đã nêu: XD535435 và XD533432,  ;).

Có lẽ thấy rằng, việc nhận định có đến 2 địa danh Đồi không tên là chưa hợp lý,  ;).
Có nên phân biệt: khu vực Đồi không tên để chỉ "nôm na" phạm vi hành chính xung quanh bao gồm cả 03 quả đồi bên tay phải đường 16/ đường 92 (khi nhìn thẳng vào bản đồ) và Đồi không tên tức chỉ 03 ngọn đồi.

(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/nkp1_zps6b3368fb.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/nkp1_zps6b3368fb.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 29 Tháng Chín, 2014, 04:58:30 PM
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/10668516_1700221073537382_504931937_n_zpsf0867384.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/10668516_1700221073537382_504931937_n_zpsf0867384.jpg.html)

Trích dẫn
...1. Liệt sỹ Trương Công Luận, sinh năm 1949, nhập ngũ thang, 4/1968, hy sinh ngày: 15/3/1971 tại Bê-Ut , Nghĩa trang Làng Con, Đơn vị khi hy sinh là: c12, d6, 1450; quê: Thạch Hạ, Thạch Hà, Hà Tĩnh...

Tý nữa bị lừa, sợ quá, cứ đinh ninh Làng Con gần Làng Vây/ Lang Vei trên đất Việt Nam và nam bắc đường 9. Hóa ra lại có một địa danh Làng Con khác bên Lào; nếu không nhìn thấy Tiên Bột/ Tien Bot thì chắc 100% khẳng định mất, híc.

- Làng Con/ L. Con tại đồ bản 1/250.000:
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/nguyennhan3_zps8df61698.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/nguyennhan3_zps8df61698.jpg.html)

- 1/50.000 ghép (có Tiên Bột):
(http://i1073.photobucket.com/albums/w391/quangcan1/nguyennhan4_zps602e4a50.jpg~original) (http://s1073.photobucket.com/user/quangcan1/media/nguyennhan4_zps602e4a50.jpg.html)


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 29 Tháng Chín, 2014, 09:04:40 PM

Tiên Sinh Quangcan:

Những gì tôi góp ý, chỉ liên quan đến liệt sỹ Nguyễn Văn Nhỡ (Liệt Sỹ Họ Tên: Nguyễn Văn Nhỡ - Sinh năm: 1949 Quê quán: Thôn Đồi Ngang, xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, Hà Nam Nhập ngũ: Tháng 8/1967 Đơn vị khi hy sinh: C9 D6 E24 F304 Chức vụ: Thượng sỹ, Trung đội phó Ngày hi sinh: 12/2/1971 Nơi hy sinh: Đồi Không Tên.).
Trường hợp của Liệt Sỹ Trương Công Luận, hy sinh ngày 15/3/1971, đơn vị khi hy sinh, c12, d6, 1450 ... thì lại ở mặt trận phía đông (đông Đường 16/92A; mặt trận của 308). Đơn vị 1450 là đơn vị nào?
Chúng ta biết, đến ngày 15 tháng 3, 1971 mặt trận đã dồn về phiá đông, về khoảng giữa của tuyến Alpha và Căn Cứ Bản Đông. Bản đồ bạn cung cấp có thấy địa danh Làng Sen và Sông Samu. Đây là vùng trách nhiệm của F308.
Trong một phút chán nản, tôi nghĩ chúng ta đang "mò kim đáy biển." Tôi chỉ có bấy nhiêu ý kiến, và xin được
ngưng về đề tài nầy ở đây. Nếu chúng ta không biết nhiệm vụ của c12, d6, 1450 làm gì trong thời gian
nói trên, thì khó tìm được vị trí hành quân/ đóng quân/ giao chiến của người liệt sỹ.
Tình Thân, NKP.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: quangcan trong 30 Tháng Chín, 2014, 08:17:47 AM
Chà, ngôn ngữ mạng là như vậy đấy,  ;D. Người viết sẽ luôn cảm thấy người đọc hiểu đúng ý mình nhưng không phải; tùy thuộc vào cách diễn đạt và cách hiểu trong tâm trạng tại thời điểm,  ;D.

Tôi phải xin lỗi rằng tôi diễn đạt chưa hết ý:
- một là, "Tý nữa bị lừa, sợ quá, ": là để chỉ cảm giác chủ quan của tôi khi nghe gia đình LS nói là nghĩa trang Làng Con, Làng Vei/ Làng Vây. Tôi cứ đinh ninh là gần Hướng Hóa trên đất Việt. Nếu không mở bản đồ 1/250K (trên) ra xem xét kỹ thì chắc chắc đã ngộ nhận và chỉ dẫn sai địa điểm. Như trên bản đồ 1/250K tiên sinh đã xem ở bài trước thì tồn tại một địa danh hành chính "Làng Con/ L. Con" (khoanh đỏ) khác - phía trên của Chakiphin về phía bắc - đông bắc. Tuy vậy, cụ thể chi tiết trên bản đồ 1/50K thì lại chưa thấy thể hiện và tôi đang cân nhắc xem nó nằm ở chính xác vị trí nào trên bản đồ này.

- hai là, đơn vị/ phiên hiệu 1450 là đơn vị nào? Nó chính là mật danh/ phiên hiệu/ bí số của F304/ sư đoàn 304 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào,  ;D.
Vậy C12 D6 1450 ở đây hiểu là đại đội 12 tiểu đoàn 6 trung đoàn 24 sư đoàn 304. Trong chiến dịch này, E24 để D4 xây dựng tuyến chốt đường 9, nôm na kiểu mũi lao thép vít chặt yết hầu giao thông, lấy cầu Chaki/ Chaky làm trung tâm xây dựng phòng tuyến phòng không đối chiến với chiến thuật trực thăng. Còn D5 và D6 là 2 tiểu đoàn cơ động, thoắt ẩn thoắt hiện bám đánh toàn diện, từ Bản Đông về Lao Bảo và sang tận Hướng Hóa. Theo sử F304 tôi thấy:
Trích dẫn
...Trên đường 9 từ Lao Bảo đến Bản Đông, với các trận địa chốt liên hòa xây dựng vững chắc, cùng hai tiểu đoàn cơ động, kết họp với hỏa lực, trung đoàn 24 đã bắn rơi 30 máy bay trực thăng, phá hủy hàng trăm xe chở lính và xe thiết giáp của địch; cùng với các đơn vị bạn đánh thiệt hại 2 trung đoàn thiết giáp 17, 11 và lữ đoàn 1 quân dù, buộc địch phải dừng lại ở Bản Đông, Ka Ki. Ngày 28 tháng 2 năm 1971, địch phải đưa lữ 2 dù (lực lượng dự bị của sử dụng dù) và 2 trung đoàn thiết giáp 4 à 76 trước đây định đưa lên Sê Pôn, nay phải tung vào tăng cường cho cánh quân thứ nhất bảo vệ đường từ Lao Bảo đến Bản Đông.

Với một thế trận đã được xây dựng từ trước (kể cả việc làm đường cơ động trong những năm 1969, 1970), với địa hình quen thuộc và việc chuẩn bị nhiều phương án tác chiến, trung đoàn 24 đã liên tục đánh địch, diệt được nhiều đại đội địch. Đoạn đường 9 từ Lao Bản đến Bản Đông, trở thành “con đường máu lửa” đối với địch.... Từ ngày 3 tháng 3 đến 11 tháng 3 năm 1971, địch sử dụng lực lượng dự bị của cuộc hành quân vào chiến đấu, tiếp tục kế hoạch tiến công lên Sê Pôn và xuống phía nam với mục tiêu hạn chế. Nắm vững âm mưu địch, ta chuyển sang tiến công chiến dịch, một mặt kiên quyết giữ vững Phu Ta Băng và đề phòng địch chiếm Sê Pôn, Na Bo để bảo vệ tuyến vận chuyển chiến lược, mặt khác ta khẩn trương chuẩn bị điều kiện để tiêu diệt lực lượng dự bị của địch.

Bộ tư lệnh chiến dịch nhận định:

Địch bất ngờ về sự xuất hiện của bộ đội chủ lực ta rất sớm trong một thế trận đã được chuẩn bị từ trước, bất ngờ về vai trò của quân ngụy tỏ ra bất lực, mặc dù qua hai năm được tăng cường củng cố, xây dựng, lại bị đánh đau, bị thiệt hại nặng, ngày càng bị động, hoang mang. Nhưng do ảo vọng chính trị và quân sự quá lớn, chúng buộc phải tung nốt lực lượng dự bị vào cuộc hành quân trong thế bất lợi, do đó địch lại bộc lộ sai lầm lớn.

Chủ trương của ta là: tiêu diệt lực lượng của sư đoàn bộ binh 1 ở các điểm cao nam đường 9 (là nơi địch sơ hở nhiều), không cho địch chiếm Sê Pôn, Na Bo, đồng thời ngăn chặn và diệt địch ở các điểm cao 550, 532, không cho chúng xuống Sa Di - Mường Noòng.

Để thực hiện chủ trương này, Bộ tư lệnh chiến dịch đã điều trung đoàn 64 lên phía tây để giữ Sê Pôn; nhích đội hình trung đoàn 66 lên phía tây, vừa làm dự bị cho sư đoàn 2 tiến công sư đoàn bộ binh 1 ngụy, vừa làm dự bị cho hướng Bản Đông; tập trung sư đoàn 324 (thiếu trung đoàn 2) tiêu diệt lữ 147. Các trung đoàn 2 sư đoàn 324, trung đoàn 102 sư đoàn 308, cùng với trung đoàn 24 sư đoàn 304 cắt đường 9 từ Lao Bảo lên Bản Đông và từ lao Bảo về Hương Hóa. Sư đoàn 308 chuẩn bị đánh địch ở Bản Đông.

Mỹ ngụy đã tung hết lực lượng dự bị vào cuộc hành quân, chúng vẫn không tiến được tới Sê Pôn, trước tình hình đó, tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu vội tung tin là quân của chúng đã chiếm Sê Pôn - cái đích cuối cùng của cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, để đánh lừa dư luận và chuẩn bị rút quân. Bộ tư lệnh chiến dịch một mặt cho phát băng ghi âm tuyên bố của ông Văn Di, chủ tịch huyện Sê Pôn: “Tại thị trấn Sê Pôn chưa có một tên dịch nào đặt chân đến, nhân dân vẫn làm ăn bình thường và sẵn sàng chiến đấu”, để vạch trần luận điệu lừa bịp của địch; một mặt ra lệnh cho các đơn vị tổ chức tiến công địch trên toàn tuyến và đánh địch rút lui.

Ngày 16 tháng 3 năm 1971, sư đoàn 2 cùng một lực lượng của trung đoàn 48 diệt trung đoàn 1 sư đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723. Cùng ngày, các trung đoàn 24 và 102 chặn đánh quyết liệt lực lượng thiết giáp địch trên đường 9, cắt đứt hoàn toàn giao thông của địch trên đường 9.

Ngày 20 tháng 3 năm 1971, ta tiêu diệt một phần lực lượng địch ở Bản Đông; sư đoàn 2 diệt phần lớn trung đoàn 2 sư đoàn 1 bộ binh ngụy ở điểm cao 660. Ngày 22 tháng 3, sư đoàn 324 đánh thiệt hại nặng lữ 147 ở điểm cao 550....
-


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 30 Tháng Chín, 2014, 09:14:50 AM
Chà, ngôn ngữ mạng là như vậy đấy,  ;D. Người viết sẽ luôn cảm thấy người đọc hiểu đúng ý mình nhưng không phải; tùy thuộc vào cách diễn đạt và cách hiểu trong tâm trạng tại thời điểm,  ;D.
Tôi phải xin lỗi rằng tôi diễn đạt chưa hết ý:
- một là, "Tý nữa bị lừa, sợ quá, ": là để chỉ cảm giác chủ quan của tôi khi nghe gia đình LS nói là nghĩa trang Làng Con, Làng Vei/ Làng Vây. Tôi cứ đinh ninh là gần Hướng Hóa trên đất Việt. Nếu không mở bản đồ 1/250K (trên) ra xem xét kỹ thì chắc chắc đã ngộ nhận và chỉ dẫn sai địa điểm. Như trên bản đồ 1/250K tiên sinh đã xem ở bài trước thì tồn tại một địa danh hành chính "Làng Con/ L. Con" (khoanh đỏ) khác - phía trên của Chakiphin về phía bắc - đông bắc. Tuy vậy, cụ thể chi tiết trên bản đồ 1/50K thì lại chưa thấy thể hiện và tôi đang cân nhắc xem nó nằm ở chính xác vị trí nào trên bản đồ này.

Quangcan: Không, tôi hoàn toàn hiểu ý bạn nói. Tôi không nghĩ câu văn bạn viết có nghĩa là "suýt nữa bạn bị tôi lừa." Câu văn của bạn ý nói bạn xém bị lừa vì không không cẩn thận lúc coi bản đồ, địa danh hay, hay tin tức do thân nhân liệt sĩ cung cấp chưa rõ ràng...
Khi nói tôi xin ngừng ở đây, vì như bạn thấy, chúng ta đã cố gắng tra cứu, tìm kiếm, những gì có lien quan đến nơi hai người tử sĩ hy sinh. ...  Tôi phải ngưng vì đã bỏ ra hơn một ngày để tìm hiểu lại những chi tiết để viết. Hơn một ngày nhưng chưa đủ. Nếu phải tìm hiểu thêm cho câu tra lời về người liệt sĩ ở C12 D6 1450, thì lại thêm một, hai ngày (vì thế tôi dùng câu "mò kim đáy biển.").

Tôi hoàn toàn hiểu ý câu văn của tiên sinh. Nhưng phải bỏ thêm hai, ba ngày nữa để tìm tài liệu ... thì chính tôii sẽ trở thành "liệt sĩ!." :):):)
Tôi còn thiếu một chương cuối cùng của Hành Quân Lam Sơn 719 trên diễn đàn này. Tình Thân, NKP.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 02 Tháng Mười, 2014, 06:47:52 AM
Chương Chín
Nhận Định về LS719


Tổng Kết Thiệt Hại
Vài tuần sau khi tuyên bố Hành Quân LS719 kết thúc, Bộ Tư Lệnh MACV và Bộ Tổng Tham Mưu VNCH đồng tuyên bố chung số thiệt hại của hai quân lực tham dự cuộc hành quân lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam. Theo bản tổng kết chánh thức, phía VNCH có 1.529 chết; 5.423 bị thương; và 651 mất tích — tương đương 21% thương vong trong tổng số quân tham chiến. Phía Hoa Kỳ có 174 chết; 1.027 bị thương; và 42 mất tích. Tài liệu ước lượng phía QĐND có 16.224 chết; 81 bị bắt; và bốn đầu hàng.[1]  Về vũ khí, VNCH mất 111 chiến xa M-41 và M-113; 90 đại bác; và hơn 70 quân xa đa dụng đủ lọai (trơng đó có 34 xe ủi đất). Phía QĐND mất (bị thịch thu hay phá hủy) 308 đại bác phòng không; 48 đại bác; 223 súng cối; 207 súng hỏa tiển 122 ly; 106 chiến xa; và 291 xe vận tải.

Trong khi những con số thương vong và thiệt hại về vũ khí có thể tranh cãi được, điều không thể tranh cãi là số thiệt hại của đôi bên trong trận chiến đã vượt xa những thiệt hại hai bên chịu từ trước đến thời điểm đó.

Trận Hạ Lào đem lại cho chiến thuật gia quân sự những thực nghiệm mà trước đây chỉ là lý thuyết: Trận Hạ Lào cho thấy khả năng — và giới hạn — của chiến thuật trực thăng vận; khả năng và giới hạn của hỏa lực của những đại đội trực thăng xung kích; và sự khả thi của căn cứ hỏa lực trong địa thế núi cao với rừng già bao phủ như ở Hạ Lào. Trong cuộc HQ LS719, các đơn vị phòng không của QĐND chịu thiệt nặng ở chiến trường. Nhưng ngược lại, Hoa Kỳ phải trả một giá thật cao để “mua” những thiệt hại đó. Phòng không của QĐND bắn rơi 108 trực thăng và bắn hư 618 chiếc khác. Theo ước lượng của Lục Quân Hoa Kỳ, 20% trong 618 trực thăng hư sẽ bị phế thảy. Như vậy, Lục Quân Mỹ bị rơi 213 chiếc (số thiệt hại này kể luôn bảy phi cơ phản lực của Không Quân Mỹ; và bốn trực thăng VNCH). Ngoài sự thiệt hại về vật chất, chủ thuyết trực thăng vận của Lục Quân Hoa Kỳ bị tổn thương khi áp dụng vào chiến trường LS719:[2]  525 ụ súng phòng không từ 12.7 ly đến 57 ly của QĐND đã chứng tỏ không lực Lục Quân (trực thăng) không thể hoạt động dưới áp lực của phòng không như đã xảy ra ở chiến trường Hạ Lào.[3]  Lại càng không được nếu chỉ dùng hỏa lực cơ hữu của trực thăng dọn bãi đổ bộ. Từ kết quả đã thấy về khả năng của trực thăng, nếu chiến thuật trực thăng vận không áp dụng được ở Hạ Lào, thì chiến lược căn cứ hỏa lực cũng không thể áp dụng. Tất cả các căn cứ hỏa lực của VNCH đều phải di tản khi trực thăng không còn tiếp tế được.
Lam Sơn 719 là một cuộc hành quân với số lượng phi vụ yểm trợ lớn không thể tưởng. Hơn bảy trăm trực thăng của LĐ101KV và của các quân binh chủng khác (như trực thăng của Hải Quân, Không Quân, và TQLC) cung cấp 90.640 phi vụ đủ lọai riêng cho VNCH.[4]  Không Quân Hoa Kỳ chuyên chở 30.000 tấn quân nhu quân dụng và hành khách; yểm trợ 8.000 phi vụ chiến thuật; trong khi Không Quân Chiến Lược đánh 1.358 phi vụ B-52. Pháo binh Mỹ và Việt bắn tổng cộng 519.899 đạn đại bác từ 105 ly đến 175 ly.[5]  Với số trực thăng bị bắn rơi và trúng đạn hư hại rất cao, nhưng khi so với tổng số phi vụ và giờ bay, các cấp chỉ huy của Lữ Đoàn Không Vận và Lục Quân Hoa Kỳ cho đó là một thiệt hại tương đối, và có thể chịu đựng được.[6]  Nhưng thẩm quyền ở Bộ Quốc Phòng và Bộ Lục Quân muốn MACV trả lời tại sao trực thăng bị bắn rớt/ hư nhiều như vậy. 

Nhận Định và Quan Sát
Về kế hoạnh hành quân:  Kế hoạch HQ LS719 chẳng những được soạn thảo một cách bất ngờ, mà còn được sọan thảo trong sự nghi ngờ. Bất ngờ là thời gian soạn thảo một cuộc hành quân cấp hai quân đoàn — tương đương một lộ quân — mà chỉ soạn trong một tháng, qua năm bộ tư lệnh khác nhau: MACV; BTTM VNCH; QĐXXIV; QĐI; và Tòa Bạch Ốc! Cuộc hành quân được sọan ra trong sự nghi ngờ, vì bộ tư lệnh MACV sọan thảo kế hoạch nhưng chính họ không nghĩ kế hoạch sẽ thành công.

Tài liệu sau này cho thấy mặc dù hai Đại Tướng Abrams và Weyand cố gắng thuyết phục Tổng Thống Thiệu và Đại Tướng Cao văn Viên về sự khả thi của LS719, nhưng trong lòng họ không nghĩ cuộc hành quân sẽ dể dàng như họ đã thuyết phục. Theo hồi ký của Đại Tướng Bruce Palmer, vài năm sau cuộc hành quân tướng Weyand thổ lộ là ông hoài nghi về kế hoạch LS719. Riêng về phần tướng Abrams, cũng theo lời tướng Palmer thuật lạỉ, Abrams nghĩ QLVNCH chưa đủ “lớn” cho cuộc hành quân qua Lào … LS719 là một sự đỏ đen lớn. … Nhưng với B-52, với khả năng không vận trực thăng — và nếu có thêm may mắn — VNCH có thể thắng. Tướng Abrams nghĩ nhu vậy. Ý kiến những thẩm quyền có tham dự vào tiến trình sọan thảo LS719 cho rằng tướng Abrams thi hành kế hoạch rất miễn cưỡng — nếu không nói là bị bắt buột.[7] Tại vì nghi ngờ (đặt hết nổ lực vào một kế họach LS719 ở Hạ Lào) nên Tòa Bạch Ốc muốn soạn thảo thêm kế hoạch thứ hai ở mặt trận Cam Bốt. Và hai kế hoạch này phải được thực hiện song song. Ở đây ta không đổ tất cả trách nhiệm vào Tòa Bạch Ốc, nhưng chúng ta thấy Tòa Bạch Ốc không hiểu biết, hay có khả năng và kinh nghiệm gì về chiến truờng Á Châu, khi họ nghĩ trong thời điểm đó Quân Lực VNCH có thể hành quân ba quân đoàn ở ba mặt trận cùng lúc. Đáng trách ở đây là người sĩ quan chỉ huy có ý nghi ngờ về kế hoạch, nhưng không dám nói thẳng với thẩm quyền dân sự là đề nghị của họ không thể thành công được. Một vài sĩ quan cao cấp lên tiếng về kế họach LS719. Nhưng hoặc là họ lên tiếng quá trễ, hoặc là họ lên tiếng một cách không chánh thức. Ngày 24 tháng 2, sau khi hai căn cứ của BĐQ đã thất thủ và CC31 của Nhảy Dù đang nguy ngập, Đại Tướng William Westmoreland (tư lệnh Lục Quân) chủ tọa một buổi họp của BTMLQ, thay mặt cho Đô Đốc Thomas Moorer. Westmoreland nói ông không nghĩ chiến thuật căn cứ hỏa lực sẽ thành công, nếu chỉ dùng như một lá chắn bảo vệ trục tiến quân. Và nếu xử dụng quân Nhảy Dù để bảo vệ những căn cứ hỏa lực, “thì quân Dù sẽ chết rất dễ dàng.” Tướng Westmoreland thấy nên đổ bộ vào mục tiêu bằng trực thăng, tảo thanh xong, rút đi (tương tự như khái niệm hành quân của tướng Cao Văn Viên). Quân Đoàn I, hành quân với hai sư đoàn và hai lữ đoàn, Westmoreland không nghĩ VNCH đủ quân để đánh theo kiểu trực diện vào Tchepone. Một ngày trước, Westmoreland cũng nói ý kiến của ông với Henry Kissinger khi được hỏi (qua điện thoại). Nhận định của tướng Westmoreland rất đúng, nhưng nhận định của ông đến quá trễ và không được coi như chánh thức (Đô Đốc Moorer là người đại diện chánh thức cho BTMLQ ở Toà Bạch Ốc).[8]  Một trường hợp khác cho thấy sự ái ngại của sĩ quan tư lệnh Mỹ, khi họ thấy VNCH phải chiến đấu ở hai mặt trận Lào và Cam Bốt cùng lúc mà không được yểm trợ đầy đủ như hứa hẹn: Trung Tướng Michael Davison, tư lệnh Quân Đoàn II Dã Chiến (II Field Force, BTL cố vấn cho quân Đoàn III VNCH), nói riêng với tướng Abrams là, “Mình đem họ vào [vào chiến trường Cam Bốt] rồi rút tấm thảm dưới chân họ. … Tôi có nói với tướng Trí, “Tôi thấy [chơi như vậy] dơ quá.”[9]

Sự nghi ngờ về kế hoạch đưa đến sự nghi ngờ về khả năng chi huy và lãnh đạo của những tư lệnh hành quân. Kissinger chỉ trích tướng Abrams và Weyand không nhiệt tình theo dõi chiến trường; Weyand và Abrams thì khiển trách tướng Sutherland của QĐXXIV là không ước lượng được nhu cầu tiếp vận cho chiến trường. Tướng Alexander Haig nói tướng Sutherland chưa đủ khả năng chỉ huy cuộc hành quân. Về phía VNCH: tướng Lãm chỉ trích hai vị tư lệnh TQLC và Nhảy Dù; MACV cũng chỉ trích tướng Khang và Đống, nhưng đồng thời muốn Tổng Thống Thiệu thay đổi tướng Lãm bằng tướng Trí. Với tất cả những chỉ trích về khả năng của tướng Lãm, tham mưu trưởng BTMTLQ, Đô Đốc Moorer nghĩ đó là lỗi của MACV: “Hai ông đại tướng và bốn ông trung tướng Lục Quân đã không lên tiếng phản đối (về nhân sự cũng như về khái niệm hành quân) lúc kế hoạch hành quân đang sọan thảo. Nếu họ biết tướng Lãm không đủ khả năng chỉ huy cuộc hành thì họ không nên tiến hành kế hoạch hành quân này.”10]  Dĩ nhiên, Đô Đốc Moorer không quên chỉ trích hai tướng Abrams và Weyand đã cùng lúc rời nhiệm sở đi Hawaii và Thái Lan nghĩ dưỡng sức, trong giai đọan hành quân cần sự có mặt của một trong hai chỉ huy.
 

Về Soạn Thảo: HQ LS719 được soạn thảo bất ngờ và cấp bách. Từ lúc BTL MACV được lệnh soạn thảo ý niệm hành quân cho đến ngày hành quân chỉ có 30 ngày: Không hơn một tháng cho một kế hoạch hành quân có cấp số quân đoàn — hai quân đoàn thì đúng hơn. Khi nói HQ LS719 được sọan thảo trong 30 ngày, đó là ở cấp BTL MACV. Ở cấp quân đoàn, sư đoàn thì chỉ có 21 ngày, nếu không ít hơn. Ngày 15 tháng 1, BTTM mới cho Đại Tá Trần Đình Thọ, Phòng 3, ra thuyết trình cho tướng Lãm. Một tuần sau, 23 tháng 1, QĐI mới có lệnh hành quân chánh thức. Nhưng những đơn vị cơ hữu của quân đoàn thì chỉ có hơn một tuần đề chuẩn bị. Sư Đoàn Nhảy Dù đến ngày 3 tháng 2 mới chánh thức thuyết trình lệnh hành quân — thuyết trình ở Khe Sanh, trên đường ra mặt trận.

Quân Đoàn XXIV; Sư Đoàn 101 Nhảy Dù; và Liên Đoàn 101 Không Vận được thông báo về kế hoạch hành quân một cách tổng quát vào ngày 7 tháng 1. Nhưng để bảo mật, MACV chỉ thị chỉ có tư lệnh, tham mưu trưởng và trưởng phòng hành quân của sư đoàn được biết trong thời gian đầu. Ngay cả ở BTTM, chỉ huy trưởng Phòng 2 cũng không được biết kế họach hành quân cho đến ngày khai diễn.[11]  Nghĩa là nếu họ phải chuẩn bị cho cuộc hành quân, họ phải chuẩn bị trong bí mật. Nhưng làm sao chuẩn bị hành quân mà không cho cấp dưới biết. Hầu như tất cả các đơn vị thống thuộc Quân Đoàn XXIV đều phàn nàn là họ không đủ thì giờ chuẩn bị. Những trung tâm tiếp liệu hầu như không nhận đủ hàng vì chưa có lệnh hành quân để yêu cầu. Những khiếm khuyết đó đưa đến những thiếu sót căn bản: Theo Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, phần lớn các đơn vị tham dự chưa được huấn luyện đầy đủ (như xử dụng súng chống xe tăng M-72), và vì chưa rành về địa hình thời tiết ở Hạ Lào, nhiều đơn vị không đủ chăn mền và đồ ấm cho thời tiết ở ở Hạ Lào.[12]

Chú Thích
[1] BTTM VNCH công bố số thương vong ngày 11 tháng 4; Một bản tổng kết khác, ghi ngày 9 tháng 4 cho con số: 1.843 chết; 5.019 bị thương; và 609 mất tích. So sánh hai bản, chúng ta có thể suy luận số 5.423 quân bị thương sau đó chết từ những vết thương, làm thay đổi số tử thương ở hai bản. Ngày 5 tháng 4, BTL MACV công bố với báo chí thiệt hại như sau: VNCH, chết 1.146; thương 4.236; mất tích 246. Phía Hoa Kỳ có: chết 102; thương 215; mất tích 53. Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 128. Tuy nhiên, báo cáo hành quân của Quân Đoàn XXIV, số thương vong của Mỹ là, chết 219; bị thương, 948; mất tích 38. Số tử thương bên QĐND được ước lượng từ 13.000 đến 16.224. Lewis Sorley, sđd, tr. 635. Con số 16.224 đến từ tin tức tình báo khối Đông Âu.

[2] Số trực thăng thiệt hại được bàn thảo ngày 27 tháng 3 ở BTL MACV. Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 577; Đại Tướng Bruce Palmer, The 25-Year War, tr. 113. Chủ thuyết trực thăng vận bị tổn thương vì Bộ Quốc Phòng ra lệnh BTL Lục Quân Hoa Kỳ điều tra và trả lời tại sao trực thăng bị thiệt hại nhiều trong trận LS719. Tài liệu cho thấy Ngũ Giác Đài gọi MACV, yêu cầu cung cấp tài liệu về thiệt hại trực thăng với thái độ “khẩn trương.” Thông văn, ARV 1276, 100900Z APR 71. Thiếu Tướng Gettys (tham mưu truởng Lục Quân Hoa Kỳ, Việt Nam) gởi Thiếu Tướng Tarpley (tư lệnh SĐ101ND).     

[3] Trong trận A Shau tháng 9-1968, Mỹ rớt khoảng 40 trực thăng, và đó là thiệt hại lớn nhất về trực thăng … cho đến khi có LS719.

[4] Theo Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 134. Trực thăng bay tất cả 164.442 phi vụ nếu tính thêm 73.802 phi vụ yểm trợ cho các đơn vị Mỹ. Số phi vụ trực thăng được tính từ ngày 30 tháng 1 đến 6 tháng 4-1971. Số phi vụ riêng cho mặt trận Hạ Lào là 45.828 phi vụ. Joint Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 449. 

[5] Carl Berger, ed., The U.S.A.F. in Southeast Asia, 1961-1973, tr. 115; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 139.

[6] Trung Tướng John J. Tolson, Airmobility in Vietnam: Helicopter Warfare in Southeast Asia, tr. 244-252.

[7] Tư lệnh và tư lệnh phó MACV, Đại Tướng Abrams và Weyand đều ái ngại, nghĩ kế hoạch khó thành công nếu không có quân tác chiến Mỹ (cố vấn) đi chung. Đọc Bruce Palmer trong The 25-Year War, tr. 108-110. Sử gia Sorley viết, tướng Abrams không thích nói đến HQ LS719, dù với người thân nhất. Sorley, sđd, tr. 442.     

[8] The Joints Chiefs of Staff and the War in Vietnam, tr. 9. Ngày Westmoreland nói chuyện với Kissinger nằm trong Henry A. Kissinger, White House Years, tr, 1004-1005.

[9] Lewis Sorley, The Abrams Tapes, tr. 565. Tướng Davison nói với Abrams ngày 20 tháng 3, 1971 ở BTL MACV.   

[10 The Joint Chiefs of Staff anh the War in Vietnam, tr. 17.
[11] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 157.
[12] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 157. Sách của Trương Duy Hy cũng có nói đến những co ro trong đêm lạnh ở Hạ Lào.




Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nkp trong 02 Tháng Mười, 2014, 07:45:14 AM
Về Chỉ Huy và Điều Khiển: Nói một cách vắn tắc, hệ thống chỉ huy và điều khiển trong HQ LS719 gần như không có cho đến đầu tháng 3 — hai mươi ngày sau LS719 và 28 ngày sau khi Dewey Canyon II bắt đầu. Từ ngày hành quân cho đến ngày bốn căn cứ 30, 31 của Nhảy Dù; Bắc và Nam của Biệt Động Quân bị thất thủ, qua lệnh của tướng Abrams, QĐI và QĐXXIV mới thiết lập một bộ chỉ huy chiến thuật hỗn hợp nằm chung với bộ chỉ huy tiền phương của QĐI ở Khe Sanh, để hệ thống chỉ huy và điều khiển được áp dụng nhanh chóng, và sát với chiến trường hơn. Nói một cách khác, đến ngày 1 tháng 3, bộ chỉ huy tiền phương ở Khe Sanh mới có sĩ quan cấp tướng hiện diện tại chổ.[13]  Trước đó, hệ thống chỉ huy và điều khiển đến từ sư đoàn thẳng xuống các đơn vị của họ — trường hợp này xảy ra với ba sư đoàn VNCH và SĐ101ND Mỹ.

Trong hơn ba tuần đầu hành quân, hệ thống chỉ huy và điều khiển HQ LS719 rời rạc và xa nhau trong nghĩa tâm lý và vật lý: BTL QĐXXIV đóng ở Đà Nẵng và có BTL tiền phương đóng ở Quảng Trị; BTL QĐI đóng ở Huế và có BTL tiền phương ở Đông Hà, và BCH chiến thuật tiền phương ở Khe Sanh (QĐI có hai BTL/ BCH tiền phương. Gọi là Bộ Chỉ Huy thay vì BTL, vì ở Khe Sanh không có sĩ quan cấp tướng đại diện cho QĐI.) tại Quảng Trị, đóng chung với BTL tiền phương của QĐI là BTL tiền phương của QĐXXIV. BTL tiền phương Mỹ-Việt ở Quảng Trị là nơi nhận và thỏa mãn nhu cầu của BCH tiền phương Khe Sanh. Có nghĩa là sĩ quan phụ trách yểm trợ ở Quảng Trị có quyền chọn lựa những yêu cầu đến từ Khe Sanh. Đó là về điều khiển. Về chỉ huy, thì hình như không ai chỉ huy ai: QĐXXIV chỉ có nhiệm vụ yểm trợ quân nhu quân dụng cho HQ LS719; yểm trợ pháo binh; trực thăng; và bảo vệ an ninh đọan đường từ Đông Hà về Lao Bảo; SĐ101ND, với Lữ Đoàn 1 Không Vận, có nhiệp vụ cung cấp trực thăng cho ba sư đoàn VNCH. Như vậy, mạnh ai nấy làm theo nhiệm vụ đã giao — và họ không quan tâm đến nhiệm vụ của BTL khác. Không Quân Chiến Thuật và Chiến Lược Hoa Kỳ có đại diện liên lạc thẳng với tướng Lãm, và chỉ thi hành qua yêu cầu của tướng Lãm.

Với hệ thống chỉ huy và điều khiển như trên, hệ thống điều khiển phải qua nhiều BTL tiền phương, đôi khi trùng thẩm quyền nhau, tốn nhiều sĩ quan, nhưng không có sĩ quan cấp tướng để có thể quyết định tại chổ. Yêu cầu của mặt trận đến Khe Sanh, rồi về Quảng Trị. Quảng Trị đưa yêu cầu về BTL ở Huế (QĐI) và Đà Nẵng (QĐXXIV). Từ hai BTL đó, yêu cầu (nếu không giải quyết được) lại phải về hai BTL MACV và USARV. Và những BTL đó nằm rất xa nhau về khoảng cách. Đến ngày 1 tháng 3, một BTL hỗn hợp tiền phương Hoa Kỳ thiết lập tại Khe Sanh. Có mặt tại Khe Sanh là những sĩ quan cấp tướng đại diện cho tư lệnh của họ về trực thăng, pháo binh, và không lực.[14]  Nhưng đến thời gian BTL hỗn hợp tiền phương cấp tướng được thành lập để quyết định chiến trường tại chổ, thì chiến trương đã nằm trong thế thua
       
Về Tình Báo (và Chiến Thuật Áp Dụng Theo Tình Báo): Tình báo cung cấp để soạn thảo về HQ LS719 trật hoàn toàn. Ước lượng sai lầm của tình báo làm đảo lộn kế hoạch về tiếp liệu và yểm trợ cho mặt trận. Và từ hậu quả dây chuyền đó, chiến thuật áp dụng vào mặt trận đưa đến thất bại.

Dựa vào không ảnh, tình báo cho biết Quốc Lộ 9 có thể vận chuyển được từ Lao Bảo về Bản Đông. Trên thực tế, xe vận tải không di chuyển được nếu không có công binh và hộ tống đi kèm. Đây là một trong những sai lầm căn bản của ban sọan thảo HQ LS719: Đường 9 phải được trinh sát bằng đường bộ để chắc chắn được khả năng di chuyển cơ giới. Đây là con đường huyết mạch ra mặt trận để tiếp xăng, nước và vũ khí nặng. Không thể tin vào không ảnh chụp một con đường bị dội bom và bỏ hoang hơn 10 năm. Gánh nặng tiếp liệu nước, xăng, và đạn nặng được trút vào trực thăng không vận. Phi vụ trực thăng tiếp tế cũng cần trực yểm trợ đi kèm. Và như vậy những phi vụ trực thăng gunship dùng vào công tác truy lùng, không kích, bảo vệ các căn cứ hỏa lực bị giảm đi. Ban sọan thảo cũng quên yếu tố thời tiết, một trở ngại không thể tiên đoán được, và đó là gánh nặng cho yểm trợ bằng không vận. đúng như tiên đoán của ban soạn thảo Hành Quân El Paso bốn năm trước. Mỗi ngày không lực và trực thăng yểm trợ bị giới hạn vào khoảng thời gian từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều để thực hiện phi vụ: 10 giờ sáng sương mù mới tan; và sương mù bao phủ trở lại trước khi mặt trời lặn. Nếu một ngày có mưa hay mây thấp, thì tất cả phi vụ sẽ đình trệ. Trong nhật ký hành quân LS719, chúng ta thấy nhiều rất ngày, tiếp liệu và tải thương không thực hiện được cũng vì thời tiết. Hơn nữa, đường tiếp liệu xa (có những món hàng phải chở từ Đà Nẵng, Đông Hà), và phải trải qua hai vùng thời tiết khác nhau của Đông và Tây Trường Sơn

Dựa vào tình báo của Không Quân Ha Kỳ, ban soạn thảo hành quân ước lượng đối phương có không hơn 275 súng phòng không ở khu vực hành quân. Nhưng chỉ đến nửa giai đọan của trận chiến, thực tế cho thấy địch có khoảng 525 đến 575 đại bác phòng không. Theo các phi công trực thăng tham dự trận LS719, trong nội địa Việt Nam, bình thường họ bay an toàn bay ở cao độ 1.500 bộ (500m). Nhưng ở chiến trường Hạ Lào, họ phải bay tối thiểu 6.000 bộ (3.000m) để cảm thấy an toàn. Trong 525 ổ phòng không ở Hạ Lào, có 419 là phòng không 23 đến 37 ly, có tầm hoạt động từ hai đến sáu cây số.[15]

Ước lượng về trận liệt QĐND của Mỹ rất xa thực tế: tình báo ước lượng địch cần một tháng để viện thêm quân mới. Trên thực tế, chỉ trong 14 ngày, lực lược tác chiến QĐND có mặt ở mặt trận đông hơn quân tác chiến VNCH. Vì ước lượng địch không có xe tăng và pháo tầm xa (130 ly), hệ thống phòng thủ lô cốt của các bộ chỉ huy rất sơ sài; mìn chống chiến xa chỉ được tiếp viện sau khi CC31ND bị xe tăng của QĐND đánh sập. Những khiếm khuyết phòng thủ này đến từ tin tình báo thiếu xót.

Thẩm định trật về khả năng vận chuyển trên Đường 9 từ Lao Bảo về Bản Đông đưa đến giả định về địa hình núi đồi ở vùng hành quân có thể cho phép xử dụng chiến xa. Hạ Lào, với địa hình rừng rậm, không phải là địa hình lý tưởng để xử dụng chiến xa và Thiết Kỵ. Vì Thiết Kỵ không di chuyển tự do theo hướng tác xạ như ý, lực lượng Thiết Kỵ đó trở thành gánh nặng cho các tiểu đoàn tác chiến bảo vệ họ. Vì không biết rõ địa hình, chiến xa/ thiết vận xa của VNCH bị phục kích thuờng xuyên trên đường di chuyển. QĐND dùng từng xe tăng nằm ngụy trang ở những điểm lợi thế, phục kích xe tăng và quân tùng thiết VNCH, rồi bỏ chạy sang nột vị trí khác, như đã xảy ra cho TĐ8ND và TĐ17KG trên đường đi cứu CC31 của TĐ3ND. Trang bị đại bác 100 ly, tăng T-54 có hỏa lực mạnh hơn tăng M-41, với súng 76 ly, của VNCH.

Ước lượng về trận liệt sai đưa đến sai lầm về ước lượng hỏa lực pháo binh/ súng cối của địch. Ngày 18 tháng 3, khi tất cả các đơn vị của SĐ1BB và Căn Cứ Bản Đông bắt đầu triệt thoái, Trung Tướng Sutherland báo cáo về MACV, “… Súng cối, đại bác và phòng không của địch gây trở ngại lớn cho việc yểm trợ VNCH. Khó khăn nhất là không tìm được vị trí của súng để phản pháo.”[16]  Cũng chính tướng Sutherland của QĐ XXIV là người ba tuần trưóc đó thông báo với MACV là BTL của ông không còn đủ trực thăng để yểm trợ cho chiến trường.
Ước lượng tình báo sai lầm về trận liệt, địa hình và về thời tiết đưa đến sự thất bại của Hành Quân LamSơn 719 ở Hạ Lào.

Chú Thích

[13] Combat After Action Report – Air Mobile Operation in Support of Operation Lam Son 719 (101st Airborne Div), Feb 1971- 6 April 1971, tr. I-25; John J. Tolson, Airmobility in Vietnam: helicopter warfare in Southeast Asia, tr. 240; Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 148.

[14] Nguyễn Duy Hinh, sđd, tr. 147-148;

[15] “Bản Nhận Định Tình Hình Hành Quân Lam Sơn 719 và Ảnh Hưởng Đối Với QĐND.” BTTM, Phòng Nhì, KBC 4002, 29 tháng 3, 1971.

[16] Điện tín 180944Z March 1971, Sutherland to Abrams. Top Secret QRT 0404, Eye Only.


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: nguyenanhminhxd trong 18 Tháng Mười, 2014, 03:20:29 AM
@Mod quangcan: Chào anh, em đang tìm những hồi ký bản ebook của các tướng lĩnh Việt Nam như Hoàng Đang, Nguyễn Hữu An, Hoàng Minh Thảo... nhưng do không ở Việt Nam nên không thể tìm được. Nhân đây nếu anh có những tài liệu trên, rất mong anh chia sẻ với những người ham mê lịch sử, đặc biệt là lịch sử chiến tranh giải phóng của Việt Nam. Cảm ơn rất nhiều!


Tiêu đề: Re: Đường Về Tchepone: Hành Quân Lam Sơn 719
Gửi bởi: hocdan trong 22 Tháng Bảy, 2016, 12:30:22 PM
Bác Nguyễn Kỳ Phong viêt cuốn này hay quá, rất rõ ràng, chi tiết.