Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:21:10 PM



Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:21:10 PM
Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Hà Nội - 1963
Tác giả: Phạm Ngọc Phụng
Người số hóa: macbupda

LỜI NÓI ĐẦU

Trong 1.000 năm lịch sử của nước ta gần đây, trước cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, dân tộc ta cũng đã tiến hành hai cuộc kháng chiến lâu dài, vô cùng gian khổ nhưng cực kỳ anh dũng:

- Thời Trần chống quân Nguyên.

- Thời Lê chống quân Minh.

Khi phân tích nguyên nhân chủ yếu, quyết định của thắng lợi, Hồ Chủ tịch đã dạy rằng: “Ngày xưa, quân thù ở bên cạnh nước ta và rất hùng mạnh, nước ta còn nhỏ, người ít, sức yếu, thế mà chỉ nhờ đoàn kết và hăng hái, tổ tiên ta đã thắng được quân giặc” (Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm lần thứ 4 ngày toàn quốc kháng chiến - tháng 12 năm 1950, trang 346). Thật vậy, để chiến thắng những lực lượng vô cùng hùng mạnh của phong kiến phương Bắc thời đó, nhân dân ta đã đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu kiên quyết, do đó đã giành được toàn thắng. Đồng thời, cũng chính dựa vào sức mạnh vật chất và tinh thần trong nguồn vô tận của toàn dân đoàn kết, trong tính chất tiến bộ của chiến tranh chính nghĩa, mà tổ tiên ta đã đề ra đường lối chiến lược - chiến thuật đúng đắn, khiến cho lực lượng vũ trang của ta thời đó đã từ thắng lợi nhỏ tiến lên giành thắng lợi lớn, từ thắng lợi cục bộ tiến lên giành thắng lợi toàn bộ, tiêu diệt các đội quân hùng mạnh đương thời, giải phóng toàn bộ đất nước ta.

Ngày nay, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô đình Diệm đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược, chống nhân dân miền Nam Việt Nam, đồng thời âm mưu phát động chiến tranh xâm lược mới, ngăn trở công cuộc lao động hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân miền Bắc nước ta. Quân đội ta ngày đêm luyện tập, nắm vững vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại để bảo vệ đất nước, đã và đang không ngừng học tập những kinh nghiệm vô cùng quý báu của cuộc kháng chiến lâu dài chống bọn thực dân Pháp và can thiệp Mỹ và tham khảo những kinh nghiệm tiên tiến của quân đội các nước anh em, đồng thời ôn lại những bài học quý báu của tổ tiên ta để lại, làm cho kho tàng lý luận quân sự của dân tộc ta càng thêm giàu có, phong phú.

Để hưởng ứng một cách nhiệt tình lời kêu gọi của Đảng, là ôn cũ biết mới và từ mới hiểu cũ, chúng tôi cố gắng sưu tầm và nghiên cứu lịch sử của hai cuộc kháng chiến lâu dài thơi Trần và thời Lê nhằm rút ra những bài học về chiến lược – chiến thuật mà quân đội ta thời đó đã vận dụng.

Cuốn sách này ghi lại những nhận xét của chúng tôi về đường lối chiến lược – chiến thuật đó. Do trình độ mọi mặt rất có hạn và do thiếu nhiều tài liệu để nghiên cứu, cho nên những nhận xét nêu lên còn rất nông cạn, thậm chí rất có thể có những sai lầm. Tuy vậy, chúng tôi vẫn mạnh dạn viết cuốn sách này với lòng chân thành học tập lịch sử và đóng góp phần nào vào công tác nghiên cứu lịch sử chiến tranh của nước ta.

Trong khi viết cuốn sách này, chủ quan chúng tôi có ý định:

- Nêu lên đặc điểm riêng của từng cuộc kháng chiến, đồng thời khái quát lại thành những bài học chung. Những nét chung về chiến lược - chiến thuật đó - chủ yếu là chiến thuật - cũng là những truyền thống vẻ vang của quân đội ta ngày nay.

- Vận dụng những hiểu biết mới ngày nay để nhận thức những vấn đề, những sự kiên của ngày xưa. Do đó thấy rằng sự phát triển về lý luận quân sự hiện đại của nước ta không những chỉ dựa trên cơ ở tổng kết những kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ gần đây, tham khảo lý luận quân sự tiên tiến của các nước anh em còn dựa cả vào những kinh nghiệm trong lịch sử chiến đấu trước đây của tổ tiên ta nữa.

Viết cuốn sách này, chúng tôi được sự giúp đỡ, cổ vũ của các đồng chí ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và của các đồng chí Nguyễn lương Bích, Trần Hà, Nguyễn văn Dị và một số các đồng chí khác.

Nhân dịp này, xin chân thành cảm tạ các đồng chí.

Mong toàn thể các bạn đọc sẽ tích cực giúp đỡ bằng cách cho chúng tôi xin những ý kiến nhận xét.

PHẠM NGỌC PHỤNG


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:25:11 PM
CHƯƠNG MỘT

CHIẾN LƯỢC - CHIẾN THUẬT CỦA QUÂN ĐỘI THỜI TRẦN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI
CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC NHÀ NGUYÊN

Năm 1225(*), sau khi lật đổ nhà Lý, Trần Cảnh lên ngôi vua, mở đầu triều đại nhà Trần.

Trong lịch sử nước ta, với sự thành lập triều đại nhà Trần, nhà nước phong kiến tập quyền được củng cố mạnh mẽ và phát triển cao độ. Cũng trong thời đại đó, dân tộc ta đã tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dàu, gian khổ, trước sau ba lần, trong 31 năm để chiến thắng quân Nguyên hung bạo:

Lần thứ nhất, năm 1258.

Lần thứ hai, năm 1285.

Lần thứ ba, năm 1287.

Trước khi đi vào nghiên cứu những trận chiến đấu chống quân Nguyên, chúng ta hãy nghiên cứu đối tượng tác chiến và tình hình quân đội nhà Trần.

A – ĐỐI TƯỢNG TÁC CHIẾN CỦA QUÂN ĐỘI NHÀ TRẦN

Đối tượng tác chiến của ta dưới thời Trần là quân Nguyên vô cùng hung bạo.

Quân Nguyên là người Thát-đát (Tartares), sống trên các đồng cỏ thuộc nước Cộng hòa nhân dân Mông-cổ ngày nay, từ vùng thượng du sông Hắc-long đến vùng hồ Bai-can. Sau khi đã chinh phục được nhiều bộ lạc ở vùng thảo nguyên này; năm 1206, Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) lên ngôi hoàng đế, bắt đầu những cuộc xâm lược đại quy mô. Từ Mông-cổ, họ tiến vào Tây-hạ, đánh sang Trung Á, vượt sông Ấn, tiến đến hạ du sông Ti-gơ-rơ (Tigre), xâm chiếm Đông Âu, đánh vào miền Nam nước Nga. Sau đó, con cháu của Thành Cát Tư Hãn xâm lược nước Nga, rồi tiến đánh các nước Đức, Hung, Ba-lan, cho mãi đến nước Ý và cả I-răng nữa. Đó là những cuộc viễn chinh sang phương Tây. Sau này, họ chuyển về phương Đông, đánh chiếm Trung-quốc, Cao-ly (Triều-tiên), đánh Giao-chỉ, Chiêm-thành, rồi vượt biển xuống phương Nam, đến tận Gia-va và các dảo khác của Nam-dương (In-đô-nê-xi-a). Họ đi đến đâu thắng đến đó, mặc dù đã vấp phải cuộc kháng chiến của nhân dân các nước mà họ xâm lược.

Họ tổ chức những đội kỵ binh hủng mạnh, thiện chiến, vừa cưỡi ngựa giỏi vừa bắn giỏi. Cung nỏ và lưỡi gươm của họ đã khiến cho hàng chục triệu người khiếp sợ. Tổ chức và kỷ luật của họ rất chặt chẽ. Họ có biệt tài về cưới ngựa, giỏi vận động, khí thế lại hùng dũng, xông pha. Những kỵ binh Thát-đát được trang bị cung nỏ, giáo, gươm và cuộn thừng. Khi vượt qua sông ngòi, những trang bị đó được đặt vào một cái bọc bằng da, buộc vào đuôi ngựa kéo nổi trên mặt nước. Sau khi chiếm được Trung-quốc, họ học được cách đúc và dùng một loạt súng châm ngòi của người Trung-uốc; cho nên ngoài cung nỏ, gươm đao, họ còn có hỏa khí trợ chiến, vì vậy mà sức chiến đấu của họ càng tăng lên rất nhiều. Trng chiến đấu, chỉ huy các cấp giám sát chặt chẽ và chỉ huy linh hoạt những chiến binh dưới quyền mình, duy trì một kỷ luật chiến đấu thật nghiêm khắc. Những binh đoàn hành động trên các hướng riêng biệt thường có quân số từ 20.000 đến 50.0000 người, đó là một con số rất lớn so với thời đại đó, nó cũng chứng minh tài cầm quân và dùng binh của họ.

Về mặt chiến lược - chiến thuật, quân Nguyên áp dụng lối tấn công chớp nhoáng, bất ngờ, vô cùng nguy hiểm. Họ giỏi giấu quân, giữ bí mật, đồng thời lại rất thạo trinh sát, do thám địch tình. Các cuộc hành binh được bảo đảm che chở rất chu đáo.

Để xâm chiếm một nước nào đó, sau khi đã nắm vững tình hình đối phương, họ tập trung quân đội đầy đủ, sẵn sàng hành động, rồi đưa thư dụ hàng hoặc mượn đường đi qua...; nếu bị cự tuyệt, thì lập tức đoàn kỵ binh thiện chiến, tinh nhuệ, giỏi cơ động của họ nhanh chóng tiến vào phá hủy thành trì, giết hại nhân dân một cách vô cùng tàn bạo.

Chiến thuật của họ là dùng ưu thế tuyệt đối, hành binh xuất quỷ nhập thần, tới không ai biết rút không ai hay, tấn công ồ ạt, dùng hỏa khí yểm hộ, dùng ngựa phi với tốc độ cao nhất, kết hợp giữa tấn công mãnh liệt ở chính diện với vu hồi bao vây, bắn phá, chém giết, đốt phá bừa bãi, gây nên những thiệt hại nặng nề cho đối phương. Nhiều khi, họ giả vờ thua chạy, dụ đối phương đuổi theo vào ổ phục kích của họ, để tiêu diệt gọn.

Trước khi xâm lược nước ta, quân đội nhà Nguyên đã từng bách chiến bách thắng, đã có rất nhiều kinh nghiệm tác chiến trên mọi chiến trường, mọi địa hình, đã từng chiến thắng quân đội các nước Âu – Á hùng mạnh nhất đường thời nên họ rất kiêu căng và chủ quan khinh địch.

Sau khi chiến thắng nhà Tống, quân Nguyên đang lúc sung sức nhất, quân đội của họ được phát triển mạnh mẽ vì được bổ sung bằng người Trung-quốc, được trang bị bằng những hỏa khí mới, cho nên càng hung hăng, nuôi mộng chinh phục nhiều nước khác trong phạm vi thống trị của nhà Nguyên.

Cuộc tiến đánh nước ta nằm trong đường lối xâm lược đó. Mục đích của họ là chiếm cứ nhằm thủ tiêu nền độc lập tự chủ của dân tộc ta, đặt một chế độ cai trị nô dịch hà khắc để vét người, vét của, dùng nước ta làm bàn đạp, làm kho bổ sung người, làm căn cứ hậu phương để tiến công các nước ở phương Nam. Muốn đạt mục đích đí, trước hết phải đánh tan quân đội ta, một quân đội đã từng được thử thách, rèn luyện trong nhiều cuộc chiến đấu chống bọn phong kiến hùng mạnh của phương Bắc, một quân đội kế thừa những truyền thống chiến thắng vẻ vang ở Bạch-đằng, chiến thắng vẻ vang quân Tống dưới thời Tiền Lê và nhà Lý.

Nhưng ba lần quân Nguyên xâm lược nước ta cũng là ba lần thất bại nhục nhã, báo hiệu sự suy vong của nhà Nguyên. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của vua tôi nhà Trần, đã đứng dậy vũ trang chống lại kẻ thù xâm lược, ghi lại những chiến công vô cùng vẻ vang của dân tộc ta.


(*) Tất cả những ngày, tháng, năm trong cuốn sách này chúng tôi tuy đã cố gắng chuyển từ âm lịch sang dương lịch nhưng vẫn có thể chưa được thật chính xác.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:26:31 PM
B – TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI NHÀ TRẦN

Nhà Trần rất chú ý chăm lo việc tổ chức củng cố quân đội.

Về tổ chức, lực lượng quân đội nhà Trần gồm có cấm quân và quân các lộ, đó là quân chính quy do nhà nước tổ chức. Cấm quân có nhiệm vụ phòng giữ kinh đô, bảo vệ nhà vua và triều đình. Khi chiến tranh xảy ra, hoặc khi đàn áp nhân dân, cấm quân có thể được điều động đến các nơi cần thiết, phối hợp với quân đóng ở các địa phương. Lộ quân, tức là quân ở các lộ (Lộ: đơn vị hành chính dưới thời Trần. Theo “An-nam chí lược” thì dưới thời Trần, có 14 lộ) có nhiệm vụ phòng giữ các địa phương. Ở những địa điểm quan trọng, hiểm yếu, còn tổ chức những đội quân đặc biệt để phòng thủ.

Ngoài cấm quân và lộ quân, khi chuẩn bị chống quân Nguyên xâm lược lần thứ hai, nhà Trần còn hạ lệnh cho các vương hầu trong tôn thất chiêu mộ binh lính và sắm sửa binh khí. Những đội quân này đều đặt dưới quyền chỉ huy của nhà vua. Nhà sử học Phan huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” chép rằng: “Nhân Tôn, năm 1284 quân Nguyên xâm lược. Vua sai các công hầu và tôn thất đến mộ binh và thống lĩnh binh của mình. Hưng Đạo Vương điều khiển quân các lộ Hải-đông (tức Yên-bang, nay là Quảng-yên), Vân-trà, Ba-điểm (hai nơi này thuộc Hải-dương ngày nay). Các đạo quân họp lại hết thảy. Bọn Hưng Vũ Vương và Hưng Trí Vương cũng đốc xuất 20 vạn quân các xứ Bàng-hà, Na-sầm (“Việt sử thông giám cương mục” chép là Nà-ngạn, sau là huyện Lục-ngạn, Bắc-giang), Trà-hương, Yên-sinh, Long-nhãn (nay là huyện Phương-nhãn, Bắc-giang) đến hội”.

Lịch triều hiến chương loại chí, tập IV, quyển XXXIX Binh chế chí, trang 5 ghi rằng:

Về biên chế, từ năm 1267 trở đi định ra quân ngũ, mỗi quân có ba mươi đô, mỗi đô có tám mươi người.

Trong quân đội có tổ chức bộ binh và kỵ binh. Thủy binh thời Trần đóng một vai trò rất quan trọng. Thủy binh tuyển trong dân thuyền chài, có tài bơi lội khá cao, đã làm nhiều người ngoại quốc phải khâm phục, chiến thuyền tổ chức thành các thủy đội.

Chiến thắng oanh liệt ở Vân-đồn (đảo Vân-hải ngày nay) và ở Bạch-đằng đều do thủy binh quyết định một phần lớn. Vân-đồn là một căn cứ hải quân rất quan trọng, có một đội quân đặc biệt đóng giữ, gọi là Bình hải quân.

Về chế độ tuyển mộ, nhà Trần áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông”, nghĩa là lúc bình thì làm ruộng, lúc cần thì gọi nhập ngũ; thời bình tuyển theo yêu cầu, thời chiến thuyển theo số hộ khẩu, gọi tất cả đinh tráng ra lính. Phan huy Chú chép: “Trần Thái Tôn, năm 1239 chọn đinh tráng làm binh, định làm 3 bậc thượng, trung, hạ. Năm 1241, chọn người có sức khỏe, biết võ nghệ sung làm quân thượng đô túc vệ…

Thánh Tôn, năm 1261 tuyển đinh tráng các lộ làm binh, số còn thừa cho sung làm sắc dịch ở các sảnh viện cục và các đội tuyển phong ở các phủ lộ huyện”. (“Lịch triều chiến chương loại chí”, tập IV, Binh chế chí, trang 16). Chế độ tuyển binh này là một ưu điểm lớn thời đó: cho nên “Các quân cấm vệ và các lộ, đại ước không đầy 10 vạn, năm 1281, điều động được số quân nhiều như thế là vì trong lúc có việc cứ chiểu số lấy hết những đinh trạng”… (sách dẫn trên, trang 5) và “Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì hết sức chống cự. Thế là thời Trần nhân dân ai cũng là binh nên, mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh” (sách dẫn trên, trang 6).

Về trang bị có: cung nỏ, xe xung trận, mìn, thủy lôi, hỏa mù; các loại binh khí kỹ thuật để công thành như: móc sắt, câu liêm, cầu vượt hào, phao bơi cá nhân làm bằng da dê khung gỗ, cầu phao, các loại thang; các binh khí hòa công như: tên lửa, thạch lựu, xe khói lửa…

Quân đội nhà Trần có trình độ kỹ thuật chiến đấu khá cao. Việc luyện quân làm rất tích cực. Các chiến binh đều thông thạo sử dụng binh khí có trong tay: các đơn vị đều luyện tập ban đêm và trên các loại địa hình khác nhau, nhất là ở vùng sông ngòi. Trong những năm chuẩn bị kháng chiến, đã có những cuộc diễn tập lớn, như cuộc thao diễn thủy bộ năm 1283 và cuộc đại duyệt binh năm 1284.

Vấn đề kỷ luật cũng được chú ý nhiều. Trong quân lễ có nêu lên nhiều vấn đề về kỷ luật nghiêm minh; trong chiến đấu phải giữ vững đội ngũ, trong mọi tình huống yêu cầu phải có tinh thần yểm hộ, cứu ứng lẫn nhau, tướng phải có uy tín, thưởng phạt nhiêm minh, quân nghiêm hiệu lệnh…

Chỉ huy quân đội, từ cấp quân trở lên đều là người tôn thất họ Trần. Các chức quan võ quan có đô nguyên súy, phó nguyên súy, tiết độ sứ, phó tiết độ, đại tướng quân, phó tướng quân, cao hơn nữa là phiêu kỵ thượng tướng quân. Chỉ huy ở các địa phương có kinh lược, phòng ngự, sát thủ ngự.

Các tướng chỉ huy tôn thất đều phải qua học tập quân sự ở giảng võ đường. Trần quốc Tuấn đã soạn ra bộ “Binh thư yếu lược” để huấn luyện cho tướng sĩ. Học tập binh pháp là nhiệm vụ bắt buộc cho mọi tướng sĩ. Bộ “Binh thư yếu lược” này gồm 33 mục, là một bộ binh pháp rất có giá trị, nói nhiều về kinh nghiệm, những quy luật về tổ chức và thực hành các phương thức tác chiến trên các loại địa hình.

Trong cuộc hội quân lớn năm 1284 ở Vạn-kiếp để chuẩn bị chống quân Ngyên, có đến 20 vạn quân dưới quyền thống lĩnh của Trần quốc Tuấn. Đó là một quân đội có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh và có sức chiến đấu mạnh mẽ, tuy số lượng không phải lớn lắm, nhất là so với quân Nguyên. Trần quốc Tuấn đã nói: “Quân số cốt phải tinh nhuệ, không cần nhiều, cứ xem như Bồ Kiên có hàng trăm vạn quân cũng không làm gì được” (Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 5, trang 52a).

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi chủ yếu do ý chí chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước của toàn dân, toàn quân, nhưng tổ chức quân đội mạnh mẽ thời Trần cũng đóng góp một phần rất quan trọng.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:27:38 PM
C – CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN NGUYÊN

I. Chiến tranh lần thứ nhất

Năm 1952, Hốt Tất Liệt đem quân đánh chiếm nước Đại-lý (Vân-nam). Đến năm 1257, sau khi đã chiếm xong Đại-lý, quân Nguyên tiến đánh miền Nam Trung-quốc, theo ba đường khác nhau, nhằm mục đích tiêu diệt nhà Tống. Đạo quân chủ lực do Hốt Tất Liệt chỉ huy, vượt qua Trường-giang, đánh vào Ngạc-châu (Vũ-xương). Đạo quân thứ hai do Mông Kha chỉ huy đánh vào Tứ-xuyên). Đạo quân thứ ba do Ngột Lương Hợp Thái chỉ huy đi từ Vân-nam, đánh vào nước ta rồi quay lên phương Bắc đánh vào Ung-ninh – Quế-lâm, nhằm hội họp với chủ lực ở Ngạc-châu. Như vậy, cuộc tiến quân vào nước ta lần thứ nhất của Ngột Lương Hợp Thái nhằm tạo nên một gọng kìm lớp để bao vây và tấn công Nam Tống. Chiếm được nước ta, họ sẽ có một căn cứ hậu phương giàu có và thuận lợi, để cung cấp người, của, lương thực và tiến vào Nam Tống bằng con đường ngắn nhất.

Nhằm mục đích đó, mùa thu năm ấy, Ngột Lương Hợp Thái đem quân tập trung ở A-mân (A-mê, Khai-viễn, Vân-nam), phía bắc biên giới nườc ta, rồi sai sứ sang dụ vua Trần đầu hàng. Nhưng Trần Thái Tôn bắt giam sứ Nguyên, chuẩn bị kháng chiến. Tháng 9, vua Trần hạ lệnh cho các tướng lĩnh tập trung quân thủy bộ, đưa lên phòng ngự ở biên-giới, dưới quyền chỉ huy của Trần quốc Tuấn. Đồng thời ra lệnh cho nhân dân toàn quốc sắm sửa khí giới, quân nhu.

Thấy sứ giả không về, Ngột Lương Hợp Thái phái con là A Thuật đi dò xét tình hình cùng với tướng Triệt Triệt Đô, mỗi người đem 1.000 quân tiến xông sông Thao. Khi được tin quân ta chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, Ngột Lương Hợp Thái quyết định dùng toàn bộ lực lượng nhanh chóng tiến quân. Tiền vệ do Triệt Triệt Đô chỉ huy, hậu vệ do A Thuật cầm đầu. Ngột Lương Hợp Thái đi theo chủ lực.

Các cuộc chiến đấu bắt đầu.

Lúc đó về phía ta, Trần quốc Tuấn đã đóng quân ở biên giới. Ngày 12 tháng Chạp, quân nhà Trần dùng tượng binh dàn ra để nghênh chiến. Quân Nguyên liền dùng bộ binh cho tiện xạ bắn vào voi, voi sợ nên bỏ chạy, quân Trần bị thua trận phải rút lui. Ngày 13 tháng chạp, sau khi rút sang sông, Trần quốc Tuấn hạ lệnh phá cầu Phù-lỗ và chiếm lĩnh trận địa ở bên sông. Vua Trần cũng tự mình thống lĩnh đại quân đến chiến đấu.

Quân Nguyễn tiến đến bờ sông, thấy cầu đã bị phá, bèn chuẩn bị kế hoạch vượt sông và tấn công, kế hoạch vượt của chúng khá chu đáo, có mưu mẹo. Để chọn đoạn vượt sông, họ bắn tên xuống nước, chọn chỗ nông rồi cho kỵ binh lội qua, đội hình vượt sông chia thành ba đội.

Để triệt đường rút lui và nhằm mục đích bao vây bắt sống quân ta, kế hoạch của Ngột Lương Hợp Thái dự định: khi quân tiền vệ của Triệt Triệt Đô đã vượt sông xong sẽ không tấn công ngay, mà nhanh chóng đánh chiếm chiến thuyền của ta. Lúc đó, chủ lực đã vượt sông, quân ta ắt phải nghênh chiến; tiếp đó, hậu vệ của chúng vượt sông, bao vây quân ta. Chúng dự tính rằng, trước sức tấn công ồ ạt của chúng, quân ta vừa ít vừa thiếu kinh nghiệm, sẽ phải rút lui rời khỏi trận địa bằng thuyền. Nhưng thuyền đã bị Triệt Triệt Đô chiếm mất, quân ta sẽ rơi vào thế bị bao vây và cuối cùng sẽ bị chúng tiêu diệt.

Nhưng, sau khi quân của Triệt Triệt đô đã sang sông, chưa thực hiện được kế hoạch đó, đã bị quân của Trần quốc Tuấn lập tức nghênh chiến. Triệt Triệt Đô phải triển khai ngay kỵ binh đối phó lại và cuộc chiến đấu ác liệt xảy ra. Bộ binh của ta ngăn chặn tiền vệ của địch, đồng thời kỵ binh đã nhiều lần tiến hành phản xung phong rất anh dũng. Tuy vậy, do lực lượng ta yếu cho nên khi chủ lực của địch đã sang sông, để tránh bị bao vây vua Trần đã hạ lệnh rút lui. Trần quốc Tuấn rút về Sơn-tây và vua Trần rút về Thiên-mạc (Khoái-châu, Hưng-yên).

Nhân đà thắng lợi, quân Nguyên tiến thắng đến Thăng-long, lúc đó đã biến thành một thành phố không người. Nhân dân ta đã làm vườn không nhà trống, rời khỏi khu địch chiếm đóng, mang hết hoặc phá hủy lương thực không để lọt vào tay địch. Chiếm được thành phố không người này,quân Nguyên tức tối, bèn cho tàn phá kinh đô và cho chủ lực đóng ở Đông Bộ-đầu (nay là xã Bộ-đầu, huyện Thường-tín, tỉnh Hà-đông).

Quân Nguyên thông thường đánh đến đâu là cướp bóc lương thực đến đó. Nhưng từ biên giới tiến quân vào Thăng-long, lương thực của chúng mang theo đã cạn mà ở chung quanh kinh thành, trước kế tiêu thổ của nhân dân ta, chúng không thể tìm đâu ra lương thực để cung cấp cho một đạo quân lớn của chúng được. Hơn nữa, chúng lại luôn luôn bị tập kích, những toán quân lẻ đi cướp bóc luôn luôn bị chặn đánh và bị tiêu diệt. Nguy cơ thiếu lương thực đã rõ rệt, khiến cho tinh thần chiến đấu của quân Nguyên chóng sa sút. Trước tình hình đó, tướng Nguyên đã thấy rõ chúng đang lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan nên đề nghị giảng hòa với nhà Trần.

Trần quốc Tuấn bị địch đang gặp nguy khốn và đã nao núng nhiều nên quyết định nắm thời cơ thuận lợi này tiến hành phản công. Vua Trần hạ lệnh tập trung toàn bộ lực lượng bao vây tiêu diệt địch tại vị trí đầu não của chúng là Đông Bộ-đầu.

Ngày 24 tháng giêng năm 19258, Trần quốc Tuấn chỉ huy quân đội dưới quyền mình đột kích vào Đông Bộ-đầu. Trong khi đó, vua Trần cử thủy binh ngược sông Hồng, đánh quặp vào vị rí địch. Trận tấn công đại quy mô đó có bộ, thủy phối hợp chặt chẽ, hình thành thế bao vây nhiều mặt, đánh vào vị trí mạnh nhất của địch đã làm lực lượng quân Nguyên bị tiêu diệt một phần lớn, buộc phải rút khỏi Đông Bộ-đầu và Thăng-long để chạy trốn thục mạng. Trên đường rút chạy ngược theo sông Thao, chúng lại bị quân ta và nhân dân các địa phương liên tục truy kích, tập kích; đến Quy-hóa (thuộc Phú-thọ), chủ trại Quy-hóa là Hà Bống (dân tộc Mường) đã chỉ huy dân binh địa phương anh dũng tập kích địch, gây cho chúng những thiệt hại nặng nề. Quân Nguyên rút thẳng một mạch về Vân-nam, dọc đường không kịp cướp phá giết chóc nên nhân dân đã gọi chúng là “giặc phật”.

Vua Trần và triều đình tiến vào Thăng-long giải phóng.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:28:19 PM
Cuộc tiến công xâm lược nước ta lần thứ nhất của quân Nguyễn đã bị hoàn toàn thất bại. Tuy nhiên chúng vẫn chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm lược nước ta, trái lại tiếp tục chuẩn bị để phát động chiến tranh xâm lược mới.

Chúng đã có kinh nghiệm tác chiến với quân ta, một quân đội có tinh thần chiến đấu vô cùng anh dũng, vừa giỏi tấn công trên bộ, vừa thạo đánh trên sông; còn chúng thì có kinh nghiệm dùng kỵ binh và bộ binh đánh tượng binh của ta, có kinh nghiệm tác chiến và vận động trên địa hình chủ yếu là đồng bằng lầy lội nhiều sông ngòi.

Ngược lại, quân ta sau cuộc chiến thắng lần thứ nhất cũng thu được nhiều kinh nghiệm vô cùng quy báu về phòng ngự, tấn công, sử dụng binh chủng, phối hợp thủy bộ, phán xung phong, phối hợp giữa quân chính quy với dân binh, chiến thuật bao vây, vu hồi…

Trong cuộc chiến tranh này, Trần quốc Tuấn đã tỏ ra là một nhà chiến lược - chiến thuật có tài. Về mặt chỉ đạo chiến lược, Trần quốc Tuấn biết sức mình, sức địch nên kiên quyết bảo toàn lực lượng, du địch vào sâu, kéo kỵ binh của chúng vào một địa hình bất lợi – như đồng bừng Bắc-bộ để chiến đấu, triệt nguồn tiếp tế lương thực và biết khéo léo chọn thời cơ phản công, chọn mục tiêu chiến lược để tập trung lực lượng tiến hành đột kích kiên quyết. Về mặt chiến thuật, sau những thất bại đầu tiên ở biên giới vì thiếu kinh nghiệm, Trần quốc Tuấn đã tổ chức và chỉ huy rất tài tình quân đội rút ra khỏi chiến đấu không bị thiệt hại trên đoạn sông ở Phù-lỗ. Hành động chiến thuật có kế hoạch và có tổ chức ấy đã đưa chủ lực ta thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt. Để thực hiện ý định rút lui có tổ chức trong điều kiện cuộc chiến đấu đang diễn ra ác liệt, Trần quốc Tuấn đã vận dụng khéo léo phương thức phòng ngự tích cực nhằm đánh quân tiền vệ, buộc địch phải chiến đấu ngay với quân ta, liên tục phản xung phong, hợp đồng mật thiết giữa bộ binh và kỵ binh ngăn chặn bước tiến của chúng, tranh thủ thời gian để trước khi chủ lực của địch bước vào chiến đấu thì ta đã đưa được chủ lực của ta ra ngoài vòng nguy hiểm, rồi chia thành nhiều đường để nhanh chóng, kín đáo lui quân. Trong trận tấn công Đông Bộ- đầu, Trần quốc Tuấn đã biết triệt để lợi dụng địa hình, vận dụng chiến thuật bao vây nhiều mặt và tấn công mãnh liệt.

Chúng ta nghiên cứu sâu thêm một bước về vấn đề chọn thời cơ phản công của của Trần quốc Tuấn. Một vấn đề được đặt ra: tấn công lần này quân Nguyên có ưu thế về lực lượng so với lực lượng quân đội ta không? Và, nếu như chúng có ưu thế lại không bị thiệt hại lớn trong quá trình tấn công từ biên giới đến Thăng-long – Đông Bộ-đầu, thì vì sao chúng phải đề nghị giảng hòa, và căn cứ vào đâu mà Trần quốc Tuấn hạ quyết tâm phản công? Những điều nói trên tuy sử không chép cụ thể, nhưng chúng ta có thể dựa vào kết cục của chiến tranh, dựa vào sự thật lịch sử lúc đó, có thể rút ra được những giải đáp cần thiết và đúng dắn. Chúng tôi cho rằng, để tiến hành chiến tranh xâm lược, dù là xâm lược một nước nhỏ yếu như nước ta, quân Nguyên không thể không tập trung lực lượng đến mức ưu thế, hoặc ít nhất cũng phải tương đương với quân ta. Ngột Lương Hợp Thái, tên tướng có trách nhiệm chỉ huy một trong số ba đạo quân tấn công vào Nam Tống, dù hắn phải để lực lượng lại phòng giữ Vân-nam, thì lực lượng đánh sang nước ta để rồi lại tiếp tục tấn công lên phía Nam Trung-quốc phải là lực lượng chủ lực của hắn và là một lực lượng rất lớn. Hơn nữa, trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất này, vì nhà Trần chưa chuẩn bị được đầy đủ và chu đáo như khi chuẩn bị kháng chiến lần thứ hai và lần thứ ba, cho nên lực lượng quân sự của nhà Trần cũng chỉ có hạn. Vì vậy, có thể nói chắc chắn rằng quân Nguyên có ưu thế hơn so với quân ta. Chính nhờ có ưu thế đó nên trong những cuộc chiến đấu đầu tiên, chúng mới có thể tấn công ồ ạt, tiến quân nhanh chóng được. Tuy vậy, đây chưa phải là ưu thế tuyệt đối vì quân Nguyên lúc đó còn tập trung mọi cố gắng vào múc đích tấn công Nam Tống. So với Trung-quốc, nước ta là một chiến trường thứ yếu, cho nên quân Nguyên cần dành lực lượng lớn hơn cho cuộc tấn công diệt Tống. Cũng có thể quân Nguyên vốn là một quân đội quen chiến thắng, chiến thắng cả các nước lớn, các quân đội mạnh, nên rất chủ quan khinh ta: cho nên tuy có tập trung lực lượng ưu thế, nhưng chưa đến mức ưu thế tuyệt đối.

Chiếm xong Thăng-long, lực lượng của địch hầu như vẫn còn nguyên vẹn và lực lượng của ta cũng chưa có những sứt mẻ gì lớn.

Với lực lượng đó, quân Nguyên vẫn còn nhiều khả năng tiếp tục tấn công nữa, nhưng trên thực tế, chúng đã không thể thực hiện được. Nguyên nhân chủ yếu là do ý chí kháng chiến vững mạnh, cao độ của nhân dân và quân đội ta; đặc biệt ở đây nổi bật lên vai trò quyết định thắng lợi đó là nhân dân, nhất là nhân dân chung quanh Thăng-long và những nơi địch đi qua hoặc chiếm đóng, đã triệt để tiêu thổ, triệt đường tiếp tế lương thực và đứng dậy dúng cảm tiến hành chiến tranh du kích chống địch.

Quân Nguyên đã đứng trước một tình huống vô cùng bất lợi như sau: muốn tấn công hoặc chuyển sang phòng ngự đều phải giải quyết vấn đề lương thực. Đối với một đạo quân lớn phải coi đó là một vấn đề có tính chất quyết định để giữ vững sức chiến đấu; không giải quyết nổi vấn đề lương thực, lại luôn luôn bị tập kích cho nên việc tiếp tục tấn công, cũng như việc chuyển sang phòng ngự đều không thể thực hiện được.

Chính do đã thấy hình thái tiến thoái lưỡng nan đó, chính do đã thấy tình hình thiếu thốn lương thực một cách nghiêm trọng của địch ảnh hưởng lớn đến tinh thần chiến đấu của tướng soái và binh sĩ nhà Nguyên, đồng thời cũng đã thấy rõ ý chí kháng chiến không gì lay chuyển nổi, tình đoàn kết nhất trí giết giặc của quân đội và nhân dân bao gồm các dân tộc đa số cũng như thiểu số và nắm vững lực lượng quân sự hãy còn nguyên vẹn lại được bổ sung thêm, Trần quốc Tuấn đã kiên quyết hạ lệnh tập trung toàn bộ lực lượng tấn công vào vị trí đầu não của địch. Thời cơ phản công đó là rất chính xác và quyết tâm của Trần quốc Tuấn là dựa trên sự phân tích khoa học tình hình địch và ta. Chúng ta thấy rằng, về số lượng, tuy địch có mạnh, nhưng về chất lượng địch đã trở thành yếu. Ngược lại, quân đội ta về số lượng vẫn còn mạnh, nhưng về chất lượng càng mạnh gấp bội; nguồn gốc sức mạnh đó chính là ở nhân dân.

Cho nên, chỉ 12 ngày sau trận chiến đấu đầu tiên ở biên giới và 9 ngày sau khi quân Nguyên chiếm đóng Thăng-long, quân đội anh hùng của ta đã mở một cuộc đại phản công. Và cuộc đại phản công đó hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên.

Chiến thắng to lớn này đã cho vua tôi nhà Trần nhiều kinh nghiệm, kinh nghiệm lớn nhất mà nhà Trần thu được là tinh thần chiến đấu, tin thần đoàn kết toàn dân, toàn quân ta rất cao, ý chí chống xâm lược rất mạnh, là những nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc chiến tranh lần này.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:29:24 PM
II. Chiến tranh lần thứ hai

Sau cuộc chiến tranh lần thứ nhất, đến tháng 2 năm 1258, nhà Nguyên sai sứ sang nước ta đòi hàng năm phải cống phương vật cho họ. Thái Tôn bèn cử Lê phủ Trần và Chu bác Lãm sang sứ, đồng ý ba năm cống một lần. Lúc đó nhà Nguyên còn đang tập trung lực lượng để đánh đổ nhà Tống, thôn tính toàn bộ Trung-quốc. Còn nhà Trần cũng cần tranh thủ thời gian, củng cố và phát triển chế độ phong kiến tập quyền, xây dựng lực lượng của nước ta. Cho nên, từ năm 1258 đến năm 1281, giữa hai nước, đã thiết lập quan hệ bang giao hòa bình.

Tháng 3 năm 1258, Thái Tôn nhường ngôi cho con là Trần Hoảng hiệu là Thánh Tôn. Đến năm 1277, Thánh Tôn lại nhường ngôi cho con là Trần Khâm hiệu là Nhân Tôn.

Năm 1260, Hốt Tất Liệt lên ngôi hoàng đế, tức thế tổ nhà Nguyên. Đến năm 1271, Hốt Tất Liệt diệt xong nhà Tống, đổi quốc hiệu là Nguyên.

Trong suốt mấy chục năm đặt quan hệ bang giao hòa bình giữa hai nước, nhà Nguyên luôn luôn nhiễu sách, hoạnh họe; đi đôi với những đòi hỏi phi lý họ còn luôn luôn đe dọa, khiêu khích bằng quân sự, nhất là sau khi đã thôn tính xong Trung-quốc. Nhà Trần áp dụng một đường lối ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa kiên quyết. Năm 1281, Trần nhân Tôn sai chú họ là Trần di Ái cùng với Lê Tuân và Lê Mục đi sứ thay mình, cự tuyệt đòi hỏi của nhà Nguyên buộc chính nhà vua phải sang chầu. Nhà Nguyên đưa Di Ái lên làm vua, chuẩn bị bộ máy thống trị, rồi cho 1.000 quân hộ tống Di Ái về nước. Dã tâm xâm lược của họ đã lộ ra rõ rệt. Vua Trần được tin Di Ái đến biên giới, sai quân lên đó đánh, bắt bọn Di Ái về xử tội.

Đến đây, quan hệ bang giao giữa nhà Trần và nhà Nguyên đã bị cắt đứt. Triều đình Nguyên lúc đó đang ở vào thời kỳ cực thịnh, đã nuôi sẵn âm mưu xâm lược các nước phương Nam, chỉ còn tìm cớ để xuất binh.

1. Tình hình chung của quân đội hai bên khi cuộc chiến tranh lần thứ hai bắt đầu.

 A – QUÂN NGUYÊN

Năm 1281, nhà Nguyên cử Toa Đô chỉ huy 1.000 chiến thuyền sang đánh Chiêm-thành, đồng thời tập trung 50 vạn quân tinh nhuệ ở biên giới, chuẩn bị xâm lược nước ta.

Sau nhiều cuộc chiến đấu ác liệt, mặc dù nhân dân Chiêm-thành anh dũng kháng chiến, đạo quân của Toa Đô đã chiếm được nhiều đất đai đến tận Đại-châu (Bình-định). Nhưng đến tháng 4 năm 1284, một mặt vì vấp phải sức kháng chiến bền bỉ của nhân dân Chiêm-thành, một mặt cần phải chuẩn bị để mở cuộc tấn công xâm lược vào nước ta nên Toa Đô ra lệnh lui quân, rút toàn bộ lực lượng lên phương Bắc, chiếm miền Ô-lý, Việt-lý (vùng Thừa-thiên, Quảng-trị) làm căn cứ, chuẩn bị công sự, lương thực, chờ đợi thời cơ.

Mục đích của nhà Nguyên là nhanh chóng đánh tan quân đội ta, đặt ách đô hộ lên đầu nhân dân ta rồi sẽ tiến đánh Chiêm-thành sau.

Ý định là dùng 50 vạn quân chủ lực do Thoát Hoan thống lĩnh, đánh qua biên giới, làm mũi tấn công chính diện, đồng thời dùng quân của Toa Đô, từ Chiêm-thành tiến ra Bố-chính (tức Bố-trạch, Quảng-bình ngày nay) đánh vào sau lưng quân ta, phối hợp với quân của Thoát Hoan, mặt trước và mặt sau giáp công tiêu diệt chủ lực của quân ta.

Tháng giêng năm 1285, đại quân của Thoát Hoan đã tiến đến biên giới, sẵn sàng tấn công. Đạo quân của Toa Đô cũng đã tập trung tại Bố-chính, sẵn sàng phối hợp.

B – QUÂN TA

Từ năm 1282, vua Trần đã nắm được ý định xâm lược, tình hình tập trung quân đội và chuẩn bị tấn công của nhà Nguyên. Trước những dọa dẫm của địch, nhà Trần dùng ngoại giao thương lượng để trì hoãn đồng thời tranh thủ thời gian động viên thêm lực lượng, luyện tập quân đội, chuẩn bị binh lương, sẵn sàng đối phó với địch.

Khi được tin báo tướng Nguyên là Thoát Hoan và tả thừa Lý Hằng tập trung quân ở biên giới, vua Trần nhân Tôn ra bến Bình-than (thuộc huyện Chí-linh, Hải-dương) mở hội nghị cùng với vương hầu bách quan bàn cách đánh địch. Việc điều động binh lực được tiến hành gấp rút. Tháng 11 năm 1283, vua ra lệnh tập trung quân đội, cử Trần quốc Tuấn làm quốc công tiết chế thống lĩnh toàn quân và cử các tướng tài chỉ huy quân ngũ.

Để động viên cao độ quyết tâm kháng chiến của toàn dân, vua Trần đã triệu tập các bậc phụ lão trong nước mở yến tiệc và hội nghị ở Diên-hồng để hỏi mưu kế đánh địch. Đó là một cuộc hội nghị có một không hai trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt-nam, là nhà vua đã khai hội với các cụ phụ lão thường dân để bàn việc nước, tướng hỏi ý dân để bàn bạc chiến lược – chiến thuật quân sự. Tiếng đồng thanh hô “Đánh!” vang lên từ điện Diên-hồng lan ra toàn quốc, tiêu biểu cho ý chí quyết tâm kháng chiến của toàn dân, toàn quân. Chưa bao giờ lòng đồng tâm nhất trí và kiên quyết chiến đấu lại lên cao như vậy.

Mùa thu năm 1284, Trần quốc Tuấn chỉ huy quân đội tiến hành một cuộc duyệt binh lớn ở Đông Bộ-đầu, có đủ quân chủ lực và địa phương, gồm các binh chủng thủy binh, bộ binh, kỵ binh và tượng binh tham gia; sau đó, giao nhiệm vụ cho các đạo quân chiếm giữ những nơi hiểm yếu. Trân quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy chủ lực đóng tại Vạn-kiếp (tức Kiếp-bạc, xã Vạn-yên, huyện Phượng-nhãn, trên sông Thương) để sẵn sàng tiếp ứng mọi nơi.

Để động viên tinh thần quân đội, Trần quốc Tuấn làm một bài hịch gửi tướng sĩ, đây là một áng văn chương quý giá có tác dụng cổ vũ, khích lệ toàn quân quên mình đánh địch cứu nước. Những lời nói vô cùng thắm thiết ấy đã đi sâu vào lòng người, như đốt lên ngọn lửa căm thù mãnh liệt trong lòng các tướng sĩ, nêu cao tình thần quyết chiến quyết thắng. Nhiều tướng sĩ đã lấy mực thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát” (giết giặc Thát-đát).

Kế hoạch của Trần quốc Tuấn là đem 20 vạn quân chia thành nhiều lộ chiếm đóng những vị trí trọng yếu ở biên giới để tác chiến trì hoãn quân địch, còn chủ lực tập trung ở đồng bằng, chọn thời cơ và địa hình tốt để đánh địch. Một mặt khác, để đề phòng bị tập kích sau lưng, các lộ quân địa phương từ Nghệ-an trở vào có nhiệm vụ chặn quân của Toa Đô đánh ra, cắt đứt sự liên hệ giữa quân chủ lực của Thoát Hoan và quân phối hợp của Toa Đô, làm thất bại âm mưu tấn công trên hai mặt trận của địch.

Khi cuộc tấn công của địch sắp mở, Trần quốc Tuấn đem đại bản doanh của mình lên đóng tại Nội-bàng.

Tháng chạp năm 1284, quân đội ta đã sẵn sàng chiến đấu.

Đó là hình thái quân đội hai bên, trước khi chiến sự bắt đầu.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:30:27 PM
2. Diễn biến chiến sự

Cuối năm 1284, sau khi trao tối hậu thư cho nhà Trần đòi mượn đường sang đánh Chiêm-thành bị cự thuyệt, Thoát Hoan cho 50 vạn quân vượt biên giới chia thành hai đạo ồ ạt tấn công quân ta: cánh tây do Bột La Hợp Đáp Nhi chỉ huy tấn công trên hướng Khau Ôn (đường Nam-quan); cánh đông do Tản Lược Nhi và Lý Bang Hiến chỉ huy tấn công trên hướng núi Chí-linh (vùng Khau Cấp, Lạng-sơn); chủ lực do Thoát Hoan thống lĩnh đi sau.

A – QUÂN NGUYÊN TẤN CÔNG MẠNH TRÊN HAI MẶT TRẬN, QUÂN TRẦN RÚT LUI ĐỂ BẢO TOÀN LỰC LƯỢNG

Những cuộc tác chiến ở biên giới xảy ra nhanh chóng. Cánh quân phía đông của địch phá cửa ải Khả-ly, cửa ải Nữ-nhi tiến đến cửa ải Đông-bản. Đội tiền vệ của địch đánh nhau với quân ta ở đây. Quân ta chiến đấu rất dũng cảm, nhưng vì địch mạnh nên chúng chiếm được cửa ải này; tướng Trần là Trần Sâm tử trận.

Cánh quân phía đông của địch tiến đến cửa ải Chi-lăng và hạ đồn biên phòng của ta.

Lúc đó, quân chủ lực của Trần quốc Tuấn đóng tại cửa ải Khau Cấp (gần Kỳ-lừa); thủy binh đóng ở bến Bãi (Bãi Tân) trên sông Thương. Sau khi đã chỉ huy chiến đấu ở biên giới, nắm được các hướng hành binh của địch, Trần quốc Tuấn lần lượt đem quân chủ lực từ Nội-bàng rút về châu Lạng-giang (Bắc-giang ngày nay), rồi từ đó, lại rút về Vạn-kiếp. Nhiệm vụ đánh kiềm chế, tiêu hao địch gao cho quân các địa phương dùng phục kích, tập kích là chủ yếu. Đồng thời, Trần quốc Tuấn ra lệnh tập trung quân các lộ từ Bàng-hà (sau là huyện Chí-linh), An-sinh (sau là huyện Đông-triều, Hải-dương), Trà-lương (sau là huyện Kim-thành), Na-ngạn (sau là huyện Lục-ngạn), Long-nhãn (sau là huyện Phượng-nhãn, Bắc-giang) về Vạn-kiếp, tổng cộng đến 20 vạn quân, chuẩn bị chống địch.

Vạn-kiếp vốn là một vị trí hiểm yếu, thuận tiện cho việc cơ động quân đội để tiến công, phòng ngự hoặc rút quân, đòng thời còn là nơi mà quân đội ta, dưới sự chỉ huy của Trần quốc Tuấn, đã tiến hành một cuộc diễn tập lớn. Do đó, lần này Trần quốc Tuấn đã chọn nơi đây để triển khai quân đội chống cự với địch. Dựa vào đặc điểm của địa hình, Trần quốc Tuấn phái hơn 1.000 chiến thuyền lên phía tây-bắc cách Vạn-kiếp chừng 10 dặm làm tuyến phòng ngự thứ nhất, con chủ lực tập trung ở Vạn-kiếp.

Sau khi hai cánh quân của địch đã đánh qua biên giới, Thoát Hoan vẫn chưa chạm trán với chủ lực của ta mà mới chỉ phát hiện được ý định của ta là tập trung quân tại Vạn-kiếp, tên tướng tài giỏi này của quân Nguyên bèn cử một đạo quân do Ô Mã Nhi chỉ huy, từ Khau Cấp vòng xuống Khả-ly vu hồi về phía sau quân chủ lực của ta, có nhiệm vụ phối hợp với đại quân của Thoát Hoan, nhằm bao vây tiêu diệt ta một cách nhanh chóng. Ô Mã Nhi gấp rút hành binh, đánh vào Vạn-kiếp – Phả-lại.

Trần quốc Tuấn đã thấy rõ ý định của địch. Để bảo toàn chủ lực thoát khỏi thế bị bao vây, Trần quốc Tuấn đã nhanh chóng hạ quyết tâm rút chủ lực ra khỏi Vạn-kiếp; kế hoạch là, để lại một bộ phận nhỏ chiến đấu với địch, còn đại quân nhanh chóng, bí mật dùng đường thủy rút về sông Phú-lương (tức sông Hồng-hà). Ô Mã Nhi tiến vào Vạn-kiếp, buộc phải đánh với một đội quân nhỏ của ta có nhiệm vụ kiềm chế. Thoát Hoan, một lần nữa lại mất cơ hội tiêu diệt chủ lực của ta.

Sau khi chiếm xong Vạn-kiếp, Thoát Hoan cho quân đánh thẳng xuống Thăng-long, đồng thời phái các lộ quân lần lượt đánh chiếm Võ-ninh (nay là Võ-giang), Đông-ngàn (Từ-sơn) và Gia-lâm. Đội tiền vệ của chúng chiếm đóng Đông Bộ-đầu chuẩn bị tấn công Thăng-long.

Để bảo vệ kinh thành, yểm hộ cho triều đình và chủ lực ta rút lui, Trần quốc Tuấn dùng một bộ phận quân đội, dàn chiến thuyền làm rào gỗ dọc bờ sông, phá cầu và nổ súng bắn vào quân Nguyên. Ở đây đã diễn ra thế cầm cự gay go. Lực lượng địch được tăng cường và đang trên đà thắng lợi, chúng cho quân tiếp cận bờ sông, bắc cầu phao rồi vượt sông đánh thẳng vào kinh thành. Nhưng nhà vua và chủ lực ta đã rút khỏi Thăng-long về hướng Thiên-trường (Nam-định). Sáng hôm sau, Thoát Hoan và quân chủ lực của hắn vào thành, giết hại nhân dân vô cùng dã man, bấy giờ là tháng 2 năm 1285.

Chiếm Thăng-long xong, Thoát Hoan lập tức phái hai đạo quân, quân thủy do Ô Mã nhi chỉ huy, quân bộ do Bột La Hợp Đáp Nhi chỉ huy, truy kích vua Trần và quân đội ta đang rút lui. Trước thế hùng mạnh của địch, Trần quốc Tuấn phân tán quân đội trên nhiều hướng, để lại một số hộ tống nhà vua chạy trốn theo dọc hạ lưu sông Hồng. Trần bình Trọng được cử chỉ huy một đạo quân chiếm giữ Thiên-trường, còn chủ lực của Trần quốc Tuấn rút về Hải-đông (nay thuộc vùng Quảng-yên).

Quân Nguyên truy kích đến Hưng-yên thì Trần bình Trọng đem quân đến đánh, nhưng địch mạnh, ta ít nên trận tấn công này thất bại, Trần bình Trọng lọt vào tay địch đã anh dũng không chịu đầu hàng nên bị chúng giết chết.

Ở phía Nam, tháng 2 năm 1285, theo lệnh của Thoát Hoan, Toa Dô chỉ huy quân từ Bố-chính đánh ra Bắc phối hợp với mặt trận chính. Theo lệnh của Trần quốc Tuấn, Trần quang Khải được phái vào trấn giữ Nghệ-an với nhiệm vụ ngăn chặn không cho Toa Đô tiến quân ra Bắc hội hợp với quân của Thoát Hoan.

Đến tháng 2, Toa Đô tấn công Nghệ-an; còn ta sau những trận chiến đấu kiềm chế địch đã rút lui về Thanh-hóa, gấp rút xây thành đắp lũy. Lúc đó, quân của Toa Đô đã bị mệt mỏi nhiều lần, phần vì phải chiến đấu với quân dân Chiêm-thành, phần vì phải hành quân dài ngày qua rừng núi, lại phải chiến đấu với quân của Trần quang Khải, lương thực đã bắt đầu thiếu thốn và tinh thần quân sĩ sút kém. Để khích lệ đạo quân này, Thoát Hoan phái Ô Mã Nhi đem 1.300 quân và 60 thuyền chiến vượt biển tăng cường cho Toa Đô đánh Thanh-hóa. Quân của Toa Đô – Ô Mã Nhi tiếp tục mở đợt tấn công mới, nhưng bị quân ta chặn đứng trước Thanh-hóa, giữ vững được vùng này, khiến cho ý định hội họp của Thoát Hoan không thực hiện được.

Lúc này, ở đồng bằng Bắc-bộ, Thoát Hoan đã phân tán quân đội ra chiếm đóng trên triền sông Hồng, từ Thăng-long trở về xuôi, cứ 30 dặm lập một trại binh, 60 dặm lập một trạm; mỗi trại; mỗi trạm do 300 quân trở lên chiếm đóng.

Trước khi rút khỏi Thăng-long, nhờ có kinh nghiệm của cuộc chiến tranh lần thứ nhất, ta đã phá hủy triệt để của cải, lương thực. Vua Trần cho yết bảng: “Phàm các châu huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến nên liều chết mà đánh, haặc nếu sức chống cự không nổi, thì phải trốn vào núi rừng, không được đầu hàng”. Chung quanh những nơi địch đóng quân, nhân dân tiến hành vườn không nhà trống. Đồng thời, trong khi chủ lực rút lui các đội quân phân tán ở các địa phương phối hợp với nhân dân đã anh dũng tiến hành chiến tranh du kích rộng rãi; ở đồng bằng cũng như ở rừng núi, địch đi đến đâu cũng bị quân địa phương và dân binh chặn đánh, không cho chúng tự do hoành hành, cướp phá. Như khi quân Nguyên lên đến huyện Phù-ninh (nay thuộc tỉnh Phú-thọ), phụ đạo huyện này chỉ huy dân binh đánh đuổi, địch bị thiệt hại phải rút lui qua sông Thao. Khi quân Nguyên hộ tống tên bán nước Trần Kiện về Yên-kinh qua vùng Lạng-giang đã bị dân binh ở địa phương này do Nguyễn thế Lộc và Nguyễn Lĩnh chỉ huy đánh úp, gia nô của Trần quốc Tuấn là Nguyễn địa Lô đã bắt chết tên Trần Kiện, đồng thời Trần quốc Tuấn còn tổ chức các đội quân cảm tử cứ đến đêm là tập kích vào các trại binh của địch.

Nhân dân triệt để thực hiện tiêu thổ làm vườn không nhà trống, đâu đâu du kích chiến tranh cũng phát triển, đến nỗi tên bộ hạ của Trần Kiện là Lê Tắc, tác giả cuốn "An-nam chí lược” cũng phải nhận rằng: “cả nước chống giặc”.

Tháng 4, Trần quốc Tuấn đem đại quân tập trung tại Thanh-hóa.

Đến đây, chấm dứt thời kỳ tấn công ồ ạt của quân Nguyên; chúng đã chiếm được phần lớn đồng bằng Bắc-bộ và phải phấn tán quân đội ra chiếm đóng; mặc dù địch chiếm được đất đai, chiếm được kinh thành và nhiều vị trí quan trọng, nhưng chúng không tiêu diệt được chủ lực của ta và không chiếm được lòng dân. Đồng thời đến đây cũng chấm dứt thòi kỳ rút lui, phân tán của quân đội ta, chấm dứt thời kỳ cực kỳ khó khăn cho quân đội của Trần quốc Tuấn.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:31:20 PM
B – CHIẾN THẮNG HÀM-TỬ QUAN MỞ ĐẦU THỜI KỲ PHẢN CÔNG CỦA QUÂN ĐỘI TA

Thất bại trong cuộc tấn công đánh chiếm Thanh-hóa, lâm vào cảnh thiếu lương thực nghiêm trọng, lại luôn luôn bị tập kích, tình hình mọi mặt của đạo quân Toa Đô đã trở nên vô cùng khốn đốn. Trước tình hình đó, để tránh khỏi nguy cơ bị tan rã, Thoát Hoan ra lệnh cho Toa Đô đem quân đi chiến thuyền ra Bắc. Lúc đó là đầu tháng 5 năm 1285. Trần quang Khải lập tức báo cáo tin này với Trần quốc Tuấn, và nhận định: “Toa Đô từ Chiêm-thành trở ra… hành quân xa, mệt nhọc, lại thiếu lương thực…”. Trần quốc Tuấn liền ra lệnh cho Trần nhật Duật, Trần quốc Toản và Nguyễn Khoái tập trung 5 vạn quân, tiến đến bến Tây-kết sửa sang nghênh chiến, tiêu diệt đạo quân của Toa Đô.

Quân đội ta chia ra làm ba lộ: lộ thứ nhất do Trần nhật Duật chỉ huy, lộ thứ hai do Trần quốc Toản chỉ huy đóng hai bên bờ sông và lộ thứ ba làm đội dự bị do Nguyễn Khoái chỉ huy sẵn sàng tiếp ứng.

Chiến thuyền của địch đã đi vào trận địa phục kích của ta và cuộc ác chiến xảy ra, từ bến Tây-kết đến cửa Hàm-tử (thuộc huyện Khoái-châu, Hưng-yên). Quân ta từ hai bên bờ sông tấn công rất mãnh liệt. Trần nhật Duật chỉ huy đánh chặn đứng đạo quân tiền vệ của địch, khiến đội hình của chúng trở nên hỗn loạn; trong khi địch đang lo đối phó ở hai bên sườn, thì quân dự bị của ta vận động đến; địch trở thành một mục tiêu dày đặc cho quân ta bắn giết: mấy vạn quân và nhiều chiến thuyền bị tiêu diệt. Tên bại tướng Toa Đô phải đem tàn quân rút chạy về phía cửa biển Thiên-trường. Trận phản công của ta kết thúc thắng lợi. Nhiệm vụ đề ra cho cuộc phản công đầu tiên đã hoàn thành tốt đẹp: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, cô lập đạo quân của Toa Đô, tinh thần chiến đấu của quân dân ta lên cao. Ngược lại, tướng sĩ địch, kể cả đại binh của Thoát Hoan và tàn quân Toa Đô bước đầu bị nao núng.

Để phát huy thắng lội vẻ vang này, nhân lúc địch đang ở thế rải quân, phân tán lực lượng, lương thực bị càn, sức khỏe kém sút, tinh thần nao núng, Trần quốc Tuấn quyết định mở tiếp luôn một đợt tấn công khác. Vì ở mặt trận phía Nam, không còn bóng địch, Trần quốc Tuấn lệnh cho Trần quang Khải đem lực lượng chủ yếu ra Bắc. Lúc này, để giành ưu thế cục bộ, không những Trần quốc Tuấn đã ra lệnh điều động các lực lượng chính quy trên chiến trường chính mà còn lệnh cho cả các đội dân binh phải mật thiết phối hợp với quân chính quy. Chiến tranh du kích phát triển mạnh, các đồn binh lẻ, các toán quân tuần tiễu lẻ của địch liên tiếp bị dân binh các nơi đánh phá, tiêu diệt. Trên đường hành quân ra Bắc, lộ quân của Trần quang Khải đã đánh bại địch ở Trường-an (thuộc huyện Gia-viễn, Ninh-bình).

Lúc đó, ngoài các lực lượng phân tán đóng ở các nơi, đại quân của Thoát Hoan đóng tại Thăng-long, chiến thuyền đóng tại bến Thượng-phúc (Phú-yên). Về phía ta, quân của Trần quang Khải và của Trần quốc Tuấn – Phạm ngũ Lão bố trí gần Thăng-long. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công mới, các đội quân địa phương do Trần Thông, Nguyễn khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy cũng tập trung lại, đặt dưới quyền chỉ huy của Trần quang Khải.

Chiến thuyền của địch đóng tại bến Chương-dương (huyện Thượng-phúc) trên một khúc sông khá rộng, thủy trại địch đóng bên bờ sông và trên bãi cát. Nhằm lúc địch sơ hở, Trần quốc Tuấn và Phạm ngũ Lão đã đột kích bất ngờ vào thủy trại; quân ta anh dũng xông vào trại tích cực chém giết, địch không kịp đối phó, một số lớn bị tiêu diệt, số còn lại chạy về Thăng-long, quân ta chuyển sang truy kích. Được tin trên, Thoát Hoan cho đội dự bị từ Thăng-long ra phản xung phong vào quân của Trần quốc Tuấn – Phạm ngũ Lão, nhưng chủ lực của Trần quang Khải đã phục kích sẵn ở gần Thăng-long và cuộc chiến đấu ác liệt lại xảy ra, quân phản xung phong của địch bị đánh tan tành và nhân thời cơ đó dân binh tấn công luôn vào các đồn binh chung quanh Thăng-long; thế là cả một hệ thống đồn lũy của địch ở triền sông Hồng bị sụp đổ. Chiến thắng Chương-dương và những trận tiếp sau đã khoét được một lỗ hổng lớn trong quân đội nhà Nguyên; kết quả chỉ trong một thời gian ngắn, hàng vạn địch bị tiêu diệt và chủ lực của Thoát Hoan bị uy hiếp trực tiếp.

Trước sức tấn công bất ngờ của quân ta, lại vì hệ thống đồn lũy bảo vệ Thăng-long bị hạ, hàng ngũ địch trở nên hỗn loạn. Thoát Hoan tuy còn nắm một lực lượng lớn trong tay, nhưng đang ở vào thế bị cô lập trong thành, để tránh nguy cơ tan rã và bị tiêu diệt, Thoát Hoan quyết định rút khỏi Thăng-long; đại quân của hắn và đội dự bị do A Thích chỉ huy vội vã vượt sông Hồng, rút khỏi kinh thành sang đóng vùng Kinh-bắc (Bắc-ninh). Quân ta giải phóng Thăng-long.

Chiến thắng Chương-dương đã đem lại một biến đổi căn bản hết sức thuận lợi cho quân ta: về mặt sinh lực, ta đã tiêu diệt được một bộ phận rất quan trọng của địch; về mặt binh chủng, lực lượng bị tiêu diệt lại là thủy binh; và mặt bố trí, địch đã co lại thành hai tập đoàn lớn cách xa nhau trên 200 dặm; về mặt tinh thần, chưa lúc nào ý chí chiến đấu lại sa sút nhanh chóng, tướng lĩnh địch lại nao núng, bị động đến thế.

Thoát Hoan tỏ ra rất lo ngại cho số phận của liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi và các đạo quân của lẻ còn đóng ở đồng bằng nên lập tức lệnh cho Toa Đô – Ô Mã Nhi tập trung các đạo quân lại và mở một con đường lớn tiến lên hội họp với Thoát Hoan.

Liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi từ Thiên-trường mở cuộc tấn công lên khúc sông Thiên-mạc.

Trong khi đó, Trần quốc Tuấn đã gấp rút điều động binh lực, tập trung ưu thế, chuẩn bị tấn công tiêu diệt cánh quân này. Trần quốc Tuấn lệnh cho Trần quang Khải và Trần nhật Duật bố trí phục binh về phía biển và các đường quan trọng khác. Chủ lực do Trần quốc Tuấn chỉ huy liền đến bến Đại-mang. Ở đây tổng quản quân Nguyên là Trương Hiển đem quân ra hàng. Quân ta đánh thẳng đến Tây-kết, một trận tao ngộ lớn đã xảy ra và đội tiền vệ của địch đã nhanh chóng bị tiêu diệt.

Toa Đô – Ô Mã Nhi định rút lui về phía Thiên-trường, nhưng bị phục binh của ta chặn đánh. Đạo quân của Toa Đô bị hoàn toàn tiêu diệt và Toa Đô bị chém đầu. Đến nửa đêm, Ô Mã Nhi lợi dụng trời tối, định rút quân về cửa sông Thanh-hóa cũng liền bị quân ta truy kích; trên 5 vạn quân địch vừa bị tiêu diệt vừa bị bắt, ta thu toàn bộ vũ khí, lương thực; Ô Mã Nhi và Lưu Khuê chỉ còn kịp nhảy xuống một chiến thuyền nhẹ, vượt biển trốn thoát; Tiểu Lý Chiếu vì chậm chạp, bị quân ta bắt sống. Trận tấn công tiêu diệt chiến đã hoàn toàn thắng lợi, toàn bộ miền đồng bằng rộng lớn đã đã được giải phóng.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:31:53 PM
C – TRẬN TẤN CÔNG TIÊU DIỆT CHỦ LỰC CỦA ĐỊCH

Vào cuối tháng 6 năm 1285, toàn bộ quân Nguyên nao núng ngã lòng khi được tin Toa Đô và một số tướng tài khác bị tử trận. Ô Mã Nhi chạy trốn, cả một đạo quân lớn bị tiêu diệt; mặt khác lương thực đã khô cạn, diện cướp bóc bị thu hẹp rất nhiều, quân số ốm đau tăng lên, đời sống gặp những khó khăn lớn, đạo quân hùng mạnh lúc đầu ấy nay chỉ còn trên dưới hai phần năm quân số; tình hình đó đã làm cho tinh thần quân sĩ trở nên dao động bạc nhược.

Trước đấy, khi cánh quân Toa Đô – Ô Mã Nhi chưa bị tiêu diệt, Thoát Hoan còn hy vọng tập trung hai cánh quân lại để giữ vững ưu thế và với ưu thế đó, hắn cho rằng có thể hoặc chống lại những cuộc tấn công mới của quân ta, hoặc chuyển sang tấn công ta; nhưng giờ đây cánh quân Toa Đô – Ô Mã Nhi đã bị tiêu diệt thì hy vọng của Thoát Hoan cũng bị tiêu tan. Nếu như trước đây hai cánh quân còn mạnh của hắn vẫn là hai mục tiêu để phân tán lực lượng ta, tránh cho hắn nguy cơ bị uy hiếp trực tiếp, thì giờ đây, mũi nhọn tấn công của quân ta đã chĩa thẳng vào đại quân của hắn. Thủy binh, chiến thuyền của hắn, ác thay lại đã bị tiêu diệt gọn ghẽ rồi. Hắn chỉ còn một thuận lợi là Kinh-bắc nằm trên đường rút lui về Trung-quốc và nắm trên đường rút lui ngắn nhất, thuận tiện nhất; tên tướng “tài giỏi” này của nhà Nguyên kể ra cũng đã “nhìn xa thấy rộng”. Không phải là ngẫu nhiên mà hắn lại đem chủ lực rút khỏi Thăng-long đưa lên phương Bắc! Hắn đã mất lòng tin ở “thắng lợi” rồi, cho nên khi quyết định bỏ Thăng-long thì ý định rút lui ra khỏi nước ta đã nẩy mầm và thành hình ngay trong tư tưởng hắn.

Đến bây giờ, điều đã quá rõ ràng cho Thoát Hoan là: muốn bảo toàn lực lượng, hắn chỉ còn một con đường duy nhất, đó là con đường rút lui.

Và Thoát Hoan quyết định rút lui chiến lược.

Tên bại tướng này hạ lệnh cho toàn bộ lực lượng chia thành nhiều hướng rút về phía biên giới. Tất cả nững con đường nào có thể hành quân được đều được sử dụng hết. Đại quân có hậu vệ do Lý Hằng chỉ huy đi theo đường Vàn-kiếp rút về phía Nam-quan. Để yểm hộ cho đai quân rút lui, lộ quân của Lưu Thế Anh đảm nhiệm việc kiềm chế tại Bắc-giang.

Nhưng nếu Thoát Hoan đã thấy rõ tình hình mà quyết định rút lui theo một kế hoạch quy mô, chu đáo bao nhiêu thì Trần quốc Tuấn cũng đã sớm thấy rõ tình hình, nắm chắc ý định của hắn bấy nhiêu, nên quyết tâm đánh trận quyết chiến cuối cùng, tiêu diệt toàn bộ quân xâm lược.

Việc tổ chức tấn công được tiến hành rất khẩn trương, chu đáo.

Kế hoạch sử dụng lực lượng như sau: Cử Nguyễn Khoái và Pham ngũ Lão chỉ huy 3 vạn quân đi theo đường núi đến mai phục ở bến Vạn-kiếp. Cử Hưng Vũ Vương và Hưng Hiến Vương chỉ huy 3 vạn quân đi đường bộ ra mặt Quảng-yên chặn địch về Tư-minh. Dân binh các địa phương rải quân theo các đường núi đến biên giới. Trần quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy chủ lực tấn công thẳng lên Bắc-giang.

Cuối tháng 6 năm đó cuộc tấn công bắt đầu. Trần quốc Tuấn phái 2 vạn quân đánh lực lượng kiềm chế của Lưu Thế Anh, còn tự minh đem đại quân đánh thảng vào chủ lực của Thoát Hoan. Quân của Lưu Thế Anh bị tiêu diệt nhanh chóng, số sống sót rút chạy về sông Như-nguyệt (tức sông Cầu). Ở đây, Trần quốc Tuấn đã vận động đến phối hợp với chủ lực tiêu diệt địch. Thoát Hoan vội vã thúc quân rút chạy về phía Vạn-kiếp; chủ lực của hắn rút đến sông Sách (phía trên Vạn-kiếp) làm cầu qua sông, lộ quân tiền vệ chưa kịp qua sông đã bị phục binh của Phạm ngũ Lão từ hai bên đường và trong rừng sâu đổ ra tấn công mãnh liệt. Cũng lúc đó, quân của Trần quốc Tuấn đã đuổi kịp hậu vệ địch do Lý Hằng chỉ huy. Hai cánh quân của ta công kích rất mạnh, tiêu diệt đại bộ phận quân Nguyên. Thoát Hoan cố mở đường máu để chạy về phía biên giới, quân ta ngày đêm truy kích. Lý Quán phải giấu tên “tổng tư lệnh” của hắn vào một ống đồng để hòng chạy thoát. Chúng chạy gần đến biên giới, theo hướng Tư-minh thì cũng vừa lúc Hưng Vũ Vương và Hưng Hiến Vương vận động quân đến đánh một trận lớn nữa rồi tiếp tục truy kích. Trên các đường núi hiểm trở, dân binh thuộc dân tộc Thổ do Nguyễn khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy cũng liên tục đánh vào tàn quân của Thoát Hoan; Lý Quán đi sau bị quân ta bắn chết bằng tên thuốc độc.

Đại quân của Thoát Hoan hoàn toàn bị tiêu diệt.

Sau hai tháng phản công oanh liệt, quân ta đại thắng, 50 vạn quân tinh nhuệ của nhà Nguyên bị đánh tan, nhiều tướng tài bị giết và bị bắt. Trên cả nước ta không còn bóng dáng một tên địch. Thăng-long, và toàn bộ lãnh thổ nước ta được giải phóng. Nhà vua, triều đình và quân đội ta trở về kinh thành giải phóng trong không khí mở hội ăn mừng của toàn dân.

Trần quang Khải đã ca ngợi chiến thắng vẻ vang ấy của dân tộc ta bằng những câu thơ lịch sử:

      “Đoạt sáo Chương-dương độ,
      Cầm Hồ Hàm-tử quan.
      Thái bình đương trí lực,
      Vạn cổ thử giang sơn”
.

(dịch là:
      
      Chương-dương cướp giáo giặc,
      Hàm-tử bắt quân Hồ.
      Thái bình nên gắng sức,
      Non nước ấy ngàn thu
).


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:34:08 PM
III. Chiến tranh lần thứ ba

Cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nguyên đã hoàn toàn thất bại. Hốt Tất Liệt vô cùng uất ức. Thời đó, sau khi đã củng cố chế độ của hắn ở Trung-quốc, Hốt Tất Liệt đang tích cực chuẩn bị chiến thuyền, binh lực để tiếp tục xâm chiếm Nhật-bản; nhưng cuộc đại bại ở phương Nam đã làm hắn phải thay đổi ý định, ra lệnh tạm đình chỉ việc chuẩn bị tấn công sang Nhật-bản, để tập trung lực lượng sang đánh nước ta lần nữa.

Mùa đông năm 1287, quân Nguyên bắt đầu hành quân về phía biên giới.

30 vạn quân dưới sự chỉ huy của những tên tướng quen thuộc đã thoát chết mấy lần trước, do Thoát Hoan thống lĩnh, lại hùng hổ kéo sang nước ta. Sang đánh nước ta lần này, quân Nguyên đã rút được nhiều bài học của hai lần trước nên chúng đặc biệt chú trọng vấn đề cung cấp tiếp tế lương thực. Xe cộ vận tải đường bộ được tập trung trên các tuyến cung cấp. Ngoài chiến thuyền, quân Nguyên còn huy động một số lớn thuyền vận tải, giao trách nhiệm cho tướng Trương văn Hổ chỉ huy chở 17 vạn thạch lương đi theo đường biền.

Kế hoạch tấn công của địch cũng có nhiều thay đổi.

Hướng tấn công chủ yếu vẫn là hướng biên giới Lạng-sơn. Trên hướng này, đại quân của Thoát Hoan sẽ tấn công trên hai hướng: cánh bên phải do Trịnh Bằng Phi chỉ huy, cánh chủ lực của Thoát Hoan do A Bát Xích chỉ huy đội tiền vệ.

Hướng tấn công thứ yếu do thủy binh đảm nhiệm. Ô Mã Nhi và Trương văn Hổ chỉ huy đi theo hai hướng: đánh vào miền duyên hải Bắc-bộ.

Hướng trợ công do Ái Lỗ chỉ huy từ Vân-nam tiến quân theo dọc sông Thao đánh xuống Tam-đái-giang (nay là Việt –trì).

Về phía ta, sau khi biết tin quân Nguyên chuẩn bị xâm lược lần nữa, việc chuẩn bị kháng chiến lại được tiến hành rất khẩn trương. Khi địch hành binh về phía biên giới, nhà vua hỏi Trần quốc Tuấn: “Năm nay thế giặc ra sao?”. Trần quốc Tuấn trả lời: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không hiểu việc binh cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp, còn có kẻ ra hàng hay trốn tránh. Nhờ có uy linh tổ tôn ta đã quét sạch bụi Hồ. Nếu giặc lại đến, quân ta đánh đã quen, quân nó ngại đi xa. Ý thần xem ra tất phá được giặc!” (Lịch triều hiến chương lại chí, Tập I, Nhân vật chí – quyền VI, trang 250). Sau đó, vua lại hỏi: “Giặc đến, làm thế nào?” – Đáp: “Năm nay thế giặc dễ đánh” (sách dẫn như trên).

Kế hoạch bố trí binh lực của Trần quốc Tuấn như sau: Cử Trần quốc Toản và Nguyễn Khoái chỉ huy 3 vạn quân, lên giữ mặt Lạng-sơn; cử Trần nhật Duật lên hướng Tam-đái-giang (nay là Việt-trì) chặn cánh quân Vân-nam của địch; cử Lê phù Trân đem 3 vạn quân vào giữ Nghệ-an. Chủ lực do Trần quốc Tuấn thống lĩnh đóng tại vùng Quảng-yên.

DIỄN BIẾN CHIẾN SỰ

Cuối tháng 11 năm ấy, quân Nguyên bắt đầu tấn công.

Cánh quân của Thoát Hoan vượt cửa Nữ-nhi (thuộc Lạng-sơn) tiến vào nội địa nước ta. Thủy binh của Ô Mã Nhi vượt qua cửa Ngọc-sơn, tiến vào cửa An-bang (thuộc Quảng-yên). Khi chúng qua cửa Vạn-ninh (thuộc Móng-cái, Hải-ninh), phục binh của ta từ trên núi đánh xuống, nhưng vì lực lượng ta ít, nên bị địch đánh tan và mất một số thuyền bè. Khi Ô Mã Nhi đã tiến vào đất liền, các thuyền lương thực để lại sau không được bảo vệ chu đáo, đã bị quân ta tập kích chiếm được.

Ngày 23 tháng 11, cánh quân chủ lực tiến vào Lộc-châu (nay là huyện Lộc-bình, Lạng-sơn) rồi chia thành hai hướng tấn công. Cánh phải do Trịnh Bằng Phi và Bột La Hợp Đáp Nhi chỉ huy tến vào ải Chi-lăng đánh xuống; cánh chủ lực của Thoát Hoan do A Bát Xích đảm nhiệm việc tiền vệ vòng xuống cả ải Khả-ly, nhằm hướng Chi-lăng, Vạn-kiếp đánh xuống. Mặt Vân-nam, cánh quân Ái Lỗ tiến đến Tam-đái-giang (nay là Việt-trì) bị Trần nhật Duật chặn đánh, nhưng thế địch mạnh hơn nên Trần nhật Duật bị bao vây. Bằng một cuộc hành binh khéo léo tránh được phục binh của địch chặn đường, Trần nhật Duật đã đem quân đi theo hướng khác bằng đường bộ nên đã thoát khỏi vòng vây và bảo toàn được lực lượng.

Ngày 24 tháng 11, để chặn cuộc tiến quân của địch trên hướng Chi-lăng đánh xuống, một đội quân được phái đến cửa Lãnh-kinh (nay thuộc Thái-nguyên) dùng tên thuốc độc đã bắn chết và bắn bị thương được khá nhiều địch, khiến chúng phải lui quân về đóng ở cửa Vũ-cao.

Ngày 28 tháng 11, một đội thủy binh của ta tấn công quân Nguyên ở chỗ Đa-mỗ-loan (?), địch bị chết đuối rất nhiều, ta thu được một số thuyền, ngựa, vũ khí và bắt được một số tù binh.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:36:52 PM
Các trận chiến đấu ở gần biên giới, chủ yếu là đánh vào các cánh quân phụ, đến đây coi như đã kết thúc. Đặc điểm cuộc hành quân lần này của địch là thận trọng chứ không ồ ạt như trước. Kế hoạch tấn công lần này trên chiến trường nước ta, địch rất chú trọng bảo vệ hai bên sườn cho đạo quân chủ lực của Thoát Hoan.

Về phía ta, với binh lực nhỏ, phân tán, đã thực hiện việc đánh ngăn chặn từng bước tiến và đánh tiêu hao địch.

Đầu tháng chạp năm ấy, được các cánh quân bảo vệ sườn yểm hộ và mặc dù trên hướng Thăng-long quân nhà Trần bố trí mỏng yếu, nhưng đại quân của Thoát Hoan không đánh thẳng đến Vạn-kiếp và Thăng-long ngay, mà đánh vòng sang cánh trái, chiếm lấy núi Phả-lại, rồi dãy núi Chí-linh làm căn cứ. Dựa vào địa hình hiểm trở của những dãy núi này cũng như vào hệ thống sông ngòi rất thuận tiện cho việc cơ động lực lượng, địch lấy gõ xây dựng doanh trại kho tàng quân nhu và công sự, biến thành căn cứ vững chắc rồi mới tiến quân.

Sau khi đã củng cố được khu căn cứ Phả-lại – Chí-linh, Thoát Hoan mới quyết định mở một đợt tấn công mới. Lúc đó, trong hệ thống phòng ngự của ta, Vạn-kiếp đã trở thành không quan trọng nữa, vì nếu tập trung một số lực lượng lớn ở đó sẽ rất dễ bị quân Nguyên từ ba mặt trận tấn công, tiêu diệt nên Trần quốc Tuấn chỉ để lại một bộ phận lực lượng nhỏ để kiềm chế địch, còn đại quân có quân địa phương phối hợp được điều động đến chiếm giữ cửa Đại-than (nay thuộc huyện Gia-bình, Bắc-ninh) ngăn chặn không cho quân Nguyên tiến về phía sông Hồng đánh chiếm Thăng-long.

Cuối tháng chạp, Thoát Hoan quyết định tấn công đánh chiếm Vạn-kiếp và Thăng-long. Một cánh quân (khoảng 2 vạn) do Trịnh Bằng Phi chỉ huy đánh vào Vạn-kiếp, ta chỉ đánh kiềm chế tiêu hao rồi rút lui để cho địch chiếm đóng. Đồng thời, hai đội thủy binh do Ô Mã Nhi và A Bát Xích chỉ huy cũng từ sông Lục-đầu tiến thẳng về phía Thăng-long. Trần quốc Tuấn đã chỉ huy quân đội anh dũng chiến đấu; trong khi đó, thủy binh của Phàn Tiếp đi theo đại quân của Thoát Hoan đã đến Bắc-giang. Một lần nữa để tránh cuộc hành binh bằng hai gọng kìm của thủy binh địch bao vây, nhất là để tránh đại quân của Thoát Hoan dự định đánh vào sườn, Trần quốc Tuấn hạ lệnh rút khỏi cửa Đại-than.

Ngày 29 tháng 12, Thoát Hoan vượt sông Hồng, chiếm kinh thành đã bỏ trống xong hắn lập tức sai A Bát Xích đi đường bộ theo bờ phía đông, Ô Mã Nhi theo đường thủy truy kích vua Trần và quân đội ta nhưng cuộc rút lui của ta vừa nhanh chóng, gọn gàng lại có trật tự, cho nên tránh được những mũi tấn công của địch, không bị thiệt hại gì. Sau đó, vua Trần đi thuyền nhẹ vào Thanh Hóa.

Địch đi đến đâu là ở đó diễn ra những cảnh giết người, cướp cửa và đốt phá hết sức khốc liệt, song những hành động hung bạo đó chẳng những không thể khuất phục được, trái lại càng như đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù đang rực cháy trong lòng mỗi người dân Việt-nam. Cũng như trong hai cuộc kháng chiến trước đây, nhân dân miền xuối cũng như miền núi đã đoàn kết chặt chẽ cùng với quân đội, kiên quyết chống địch đến cùng. Chiến tranh du kích được phát triển mạnh ở những nơi có chiến sự, nhân dân tích cực làm cung nỏ và vũ khí cung cấp cho quân đội, bắc cầu qua sông và luôn luôn phục kích, tập kích địch.

Cuối tháng 12, quân ta ở biên giới được tin có 5.000 quân địch từ Trung-quốc tràn sang, liền lập tức chiếm lĩnh ngay trận địa phục kích. Kỵ binh địch vừa tiến đến cửa Nội-bàng đã bị quân ta chặn đánh. Cuộc chiến đấu ác liệt xảy ra trong suốt một ngày một đêm, đại bộ phận quân địch bị tiêu diệt, số còn lại hốt hoảng phải lợi dụng lúc trời chưa sáng, cố mở đường máu chạy trở về biên giới. Các doanh trại địch luôn luôn bị quân nghĩa dũng cảm tử của ta tập kích, mặc dù lần này chúng không rải quân ra đóng quá phân tán như trước.

Đặc biệt nhân dân ta đã triệt để thực hiện việc chôn giấu hoặc vận chuyển lương thực đi nơi khác, quyết không để một hạt thóc lọt vào tay địch. Quân đội và nhân dân ta còn coi việc tích cực cắt đứt mọi nguồn tiếp tế, cung cấp lương thực của địch là một nhiệm vụ chiến lược cực kỳ quan trọng. Nguyên sử (quyển 166 – Phàn Tiếp truyện) cũng chép ràng: “Người Giao-chỉ đều giấu thóc gạo rồi trốn đi”. Cuộc kháng chiến trên mặt trận kinh tế cũng như trên mặt trận chính trị và quân sự đã mật thiết liên hệ với nhau: đó là đặc điểm nổi bật của cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện.

Không đuổi kịp được vua Trần, không tiêu diệt được chủ lực quân đội ta, Thoát Hoan phải thu quân về đóng ở Thăng-long, Phả-lại, Chí-linh và Vạn-kiếp hình thành một khu chữ nhật lệch quan trọng. Bố trí chiến lược – chiến thuật đó của Thoát Hoan chứng tỏ tướng lĩnh nhà Nguyên rất linh hoạt, biết rút những bài học kinh nghiệm từ các cuộc chiến tranh trước.

Về mặt chiến lược, chúng chiếm được một khu vực rộng lớn hết ức cơ động, thuận lợi cho việc tấn công cũng như phòng ngự, không những có tác dụng án ngữ trung tâm hệ thống đường sá tỏa lên biên giới, mà còn có tác dụng án ngữ một vùng duyên hải rộng lớn, hiểm yếu.

Về mặt chiến thuật, chúng đã tránh lối rải quân phân tán, mà đóng từng cứ điểm với binh lực lớn, trên những địa hình hiểm yếu, sẵn sàng ứng cứu lẫn nhau, cơ động thuận tiện trên một hệ thống đường sá, sông ngòi dày đặc của đồng bằng.

Phương châm chiến lược – chiến thuật của địch thay đổi, điều này cắt nghĩa rằng, trên một mức độ nhất định – một mức độ quan trọng – việc tấn công lớn của quân ta gặp nhiều khó khăn về chiến thuật. Trên thực tế, suốt trong giai đoạn này ngoài những trận phòng ngự, rút quân và những trận tập kích, phục kích nhỏ tiêu hao địch, ta không có một trận tấn công quy mô lớn nào để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:37:20 PM
Tất nhiên, tình hình đó chỉ là tạm thời, địch không thể áp dụng lâu dài phương châm chiến lược – chiến thuật đó mãi được, vì nó mâu thuẫn với mục đích của chiến tranh xâm lược.

Đồng thời, lối bố trí chiến lược – chiến thuật đó, chỉ trong một thời gian ngắn, lại bộc lộ ra một trong những nhược điểm căn bản của địch là việc giải quyết vấn đề lương thực. Chính vấn đề lương thực, một lần nữa lại là một nguyên nhân giam chân chủ lực của địch; cho nên Thoát Hoan đã giao cho các tướng lĩnh tin cẩn của hắn là Áo Lỗ Xích, A Bát Xích đem quân đi các nơi cướp đoạt lương thực. Việc huy động quân đi “ăn cướp” này không phải là những toán lẻ, đơn vị nhỏ mà là đơn vị khá quan trọng của kỵ binh. Tuy vậy “ăn cướp” không thể giải quyết nổi vấn đề.

Như ta đã biết, lần này sang đánh ta, nhà Nguyên đã tổ chức một đoàn thuyền vận tải quan trọng do Trương văn Hổ chỉ huy. Thoát Hoan đặt tất cả hy vọng vào bộ phận lực lượng này; vì vậy, hắn đã cử Ô Mã Nhi, chỉ huy một lộ quân, đi đón và bảo vệ chắc chắn cho đoàn thuyền đi đến nơi về đến chốn mới mong cứu vãn được một phần trong lúc mà tình hình lương thực đã gây khó khăn rất lớn cho chúng sau mấy tháng bị chôn chân trong cái khu chữ nhật lệch nói trên.

Trần quốc Tuấn đã nắm được tình hình đó của địch. Phải chiếm đoạt hoặc đánh đắm thuyền lương. Đó là quyết tâm và là biện pháp hiệu lực nhất trong điều kiện cụ thể lúc bấy giờ đã khoét sâu thêm nhược điểm của địch, đẩy chúng đi càng sâu vào thế bị động; và Trần khánh Dư được lệnh thi hành nhiệm vụ vẻ vang này.

Từ căn cứ hải quân Vân-đồn, Trần khánh Dư đem quân ra giao chiến với thủy binh và chiến thuyền của Ô Mã Nhi đang trên đường tiến ra cửa biển Đại-bàng (huyện Nghi-dương, Hải Dương). Cuộc tấn công không thành công, tuy có tiêu hao được địch, nhưng ta cũng bị thiệt hại. Trần khánh Dư thu quân, chuẩn bị cuộc chiến đấu mới. Lần này, Trần khánh Dư đã nắm vững hơn ý định của Trần quốc Tuấn, nên kế hoạch tác chiến đã chính xác trên cơ sở phán đoán rằng khi trở về, chiến thuyền của Ô Mã Nhi sẽ đi trước, thuyền lương của Trương Văn Hổ sẽ đi sau nên Trần khánh Dư quyết tâm đánh cắt đôi đội hình của địch, dùng một lực lượng kiềm chế, thu hút thủy binh của Ô Mã Nhi, còn chủ lực sẽ công kích mạnh vào thuyền lương.

Việc chọn trận địa, đoạn sông để phục kích rất tốt. Trần khánh Dư đã cho quân chủ lực bố trí tại cửa sông Lục-thủy-đường (Quảng-yên). Ở đoạn này, sông hẹp và nước cạn. Đúng như dự đoán của Khánh Dư, khi Ô Mã Nhi quay trở lại, thuyền lương của Trương văn Hổ đi sau và thêm một thuận lợi nữa là chiến thuyền của Ô Mã Nhi đi nhanh, mà thuyền lương của Trương văn Hổ đi chậm do đó mà khoảng cách giữa hai đoàn thuyền khá lớn. Khánh Dư để cho chiến thuyền của Ô Mã Nhi đi qua, đợi khi thuyền lương vừa vào tới cửa biển, quân ta bắt đầu tấn công.

Bị đánh và bị thiệt hại, địch càng cho thuyền đi nhanh để chóng thoát khỏi trận địa của ta và tranh thủ sự bảo vệ có hiệu quả của thủy binh nhưng đến Lục-thủy, thuyền bị mắc cạn lại bị lực lượng lớn của Khánh Dư công kích rất mạnh nên toàn bộ đoàn thuyền lương bị đánh đắm. Văn Hổ vớ được một chiếc thuyền chạy trốn về Khâm-châu (Trung-quóc). Quân ta thu được rất nhiều vũ khí và lương thực. Ô Mã Nhi chạy về Vạn-kiếp và cho quân đóng trại ở Chí-linh, Phả-lại.

Lúc đó là tháng 2 năm 1288..

Được tin chiến thắng lớn lao này, vua Trần nhận định với Trần quốc Tuấn như sau: “Quân Nguyên cốt trông cậy có lương thực và vũ khí, nay đã bị ta cướp được cả rồi, thế của nó không tràn ra được nữa. Nhưng nó chưa biết, tất còn đắc chí. Vậy ta nên thả nhưng tên bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan, ắt quân của nó ngả lòng, bấy giờ phá mới dễ”.

Đúng như lời nhận định sáng suốt trên, khi được tin thuyền lương của mình bị đắm, toàn bộ lương thực vũ khí lọt vào tay ta, quân Nguyên từ Thoát Hoan đến các tướng lĩnh và quân sĩ đều thất vọng. Quân sĩ của hắn phải chui sâu vào rừng đào củ, hái quả để ăn, tinh thần suy sụp rất nhanh, tình hình trở nên rối loạn nghiêm trọng. Các tướng lĩnh đều khuyên Thoát Hoan nên rút quân về. Giả Nhược Ngu nói với Thoát Hoan: “Quân ta nên về không nên giữ”. Tên tổng tư lệnh phụ họa theo: “Ở đây nóng nực ẩm thấp, lương hết quân mệt”.

Thoát Hoan quyết định rút quân về nước và một vấn đề đặt ra: rút là cần, là đúng, nhưng nên rút theo đường nào, đường bộ hay đường thủy? Bị thủy binh ta đánh nhiều trận hiểm hóc, một số tướng thủy binh địch tán thành ý kiến nên rút theo đường bộ. Một tên chỉ huy thủy binh phân tích: “Thuyền lương hai lần vào đều bị hãm cả, chi bằng hủy bỏ thuyền, đi đường bộ là hơn”. Cuối cùng Thoát Hoan quyết định rút theo cả đường bộ lẫn đường thủy.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:37:47 PM
TRẬN BẠCH ĐẰNG OANH LIỆT

Tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan quyết định rút lui, thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy phải đảm nhiệm việc mở đường rút trước.

Trần quốc Tuấn chẳng những đã nhận thấy rất rõ nguy cơ của địch và ý định rút quân của Thoát Hoan mà còn phán đoán được chính xác cả hướng rút quân của chúng nữa.

Trước khi nghiên cứu diễn biến của trận tiêu diệt chiến vẻ vang này, chúng ta cần nghiên cứu kế hoạch rút quân của quân Nguyên và kế hoạch tác chiến của Trần quốc Tuấn.

A – KẾ HOẠCH RÚT QUÂN CỦA THOÁT HOAN

Kế hoạch quy định rút theo hai hướng:

- Thủy binh do Ô Mã Nhi chỉ huy, xuất phát từ Vạn-kiếp, theo đường sông Bạch-đằng ra biển về Trung-quốc. Để che chở cho thủy binh, một đạo kỵ binh do Trịnh Bằng Phi và Đạt Mộc chỉ huy tiến dọc theo bờ sông.

- Lục quân chia thành nhiều đường, chủ lực của Thoát Hoan rút theo đường Vạn-kiếp và một cánh quân khác xuất phát từ Chí-linh rút theo đường Khả-ly, tất cả hướng về phía biên giới.

B – KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN CỦA TRẦN QUỐC TUẤN

Trần quốc Tuấn quyết tâm dùng lực lượng chủ yếu tiêu diệt thủy binh địch, đồng thởi cử một lực lượng khá mạnh, có các đội quân còn đóng ở gần biên giới và dân binh phối hợp, mai phục trên các ngả đường lên biên giới, trên cả hai hướng triệt để phá hoại cầu cống, xẻ đường và chặt cây ngăn chặn địch.

Để tiêu diệt gọn thủy binh của Ô Mã Nhi, Trần quốc Tuấn chọn khúc sông Bạch-đằng làm quyết chiến điểm. Chọn nơi đây, Trần quốc Tuấn không phải chỉ đơn thuần muốn diễn lại trận đánh oanh liệt của Ngô Quyền tiêu diệt thủy binh Nam Hán thời xưa, mà chủ yếu là vì giá trị về mặt chiến thuật bảo đảm chắc chắn tiêu diệt gọn quân địch, có địa hình hiểm trở, hai bên bờ là núi non, rừng rú rất tiện cho bộ binh mai phục; sông lớn, sông nhỏ, có nhiều sông nhánh, rất tiện cho thủy binh giấu quân, giấu thuyền và giấu các phương tiện chiến đấu khác; khúc sông tiếp giáp với biển, có thể lợi dụng được thủy triều lên xuống, mặt khác có thể tăng thêm tính bất ngờ do địch chủ quan và cuối cùng do nó cách xa các tập đoàn mạnh của địch, cho nên nếu đánh nhanh giải quyết chóng được thủy binh của Ô Mã Nhi thì quân tiếp viện của Thoát Hoan không thể đến ứng cứu kịp (nếu địch có ý định đó).

Về sử dụng binh lực, Trần quốc Tuấn giao cho Nguyễn Khoái chỉ huy đoàn chiến thuyền nhẹ tác chiến với thủy binh của Ô Mã Nhi phối hợp với bộ binh mai phục hai bên bờ sông; đại quân do chính Trần quốc Tuấn chỉ huy giấy kín ở phía Tây – nam, khi có thời cơ thuận lợi, sẽ bước vào chiến đấu.

Kế hoạch tác chiến chú trọng chia cắt đội hình của địch, làm đứt sự liên hệ giữa thủy binh và kỵ binh đi yểm hộ trên bờ; trong đội hình của thủy binh lại chia cắt ra làm nhiều đoạn nhỏ để tiêu diệt từng bộ phận một.

Công tác chuẩn bị rất chu đáo: Nguyễn Khoái được lệnh bí mật đến khúc sông Bạch-đằng, chọn đoạn ở hạ lưu dùng cọc gỗ lớn bọc sắt đóng ngầm ngăn sông thành một hàng rào chướng ngại dài mấy trăm trượng (mỗi trượng – 4 mét) được ngụy trang chu đáo bằng những đám cỏ buộc vào cọc. Khi thủy triều lên, cọc chìm sâu dưới nước, thuyền bè hạng nhỏ và vừa vẫn đi lại dễ dàng; ngoài ra còn có các bè nứa, trên đặt củi gỗ và diêm tiêu làm thành các phương tiện hỏa công, giấu kín trong các nhánh sông; trên bộ tiến hành phá cầu, phá đường.

Kế hoạch tác chiến lần này còn chú trọng đến một điều: trước đây, quân Nam Hán từ ngoài biển đi vào nên ngược dòng sông, lần này quân Nguyên rút ra ngoài biển nên xuôi dòng sông, do đó tốc độ phải nhanh hơn; cho nên phải biết lợi dụng khéo léo thủy triều lên xuống để quy định thời gian tác chiến và phải chọn quyêt chiến điểm ở ngay trên chứ không phải ở phía dưới hàng rào chướng ngại được.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:38:30 PM
C – DIỄN BIẾN CHIẾN ĐẤU CỦA TRẬN BẠCH-ĐẰNG

Ngày 30 tháng 3 năm 1288, đoàn thủy binh của Ô Mã Nhi và đoàn kỵ binh của Trịnh Bằng phi bắt đầu rút lui.

Kỵ binh đi đường bộ đến chợ Đông-hồ bị nghẽn vì cầu đã bị ta phá hủy nên mặc dù đang giữa đêm, Trịnh Bằng phi cũng phải lệnh cho quân chuyển hướng rút theo đường khác, thế là đoàn chiến thuyền trở thành bị cô lập không được che chở và yểm hộ nữa.

Khi thấy thủy binh của địch xuất hiện ở cự ly đã định, Nguyễn Khoái đem một bộ phận thuyền nhẹ ra khiêu chiến, vừa đánh vừa cho thuyền xuôi nhanh về phía hạ lưu sông Bạch-đằng. Ô Mã Nhi chỉ huy đoàn thuyền của hắn đuổi theo Nguyễn Khoái, trong khi đó thủy triều bắt đầu xuống, đoàn thuyền nhẹ của ta và một bộ phận thuyền của Ô Mã Nhi lướt nhanh vượt qua hàng rào chướng ngại được an toàn. Còn đại bộ phận thuyền đi sau đã đâm vào cọc và xô lẫn vào nhau gây nên những tiếng động lớn ầm vang. Nhân lúc quân Nguyên đang choáng váng thì ở phía hạ lưu, quân của Nguyễn Khoái quay lại cùng với quân mai phục của ta ở phía thượng lưu bắt đầu xuất kích, bắn mạnh vào đội hình hỗn loạn của địch; các chiến thuyền nhẹ của ta cũng tham gia chiến đuâ. Từ các nhanh sông gần hàng rào, bè nứa hỏa công được thả ra trôi theo dòng nước lao tới đốt cháy chiến thuyền của địch; thủy binh địch nhảy ra khỏi thuyền chạy tán loạn lên bờ vừa đúng lúc đại quân của Trần quốc Tuấn vận động đến; một trận “mưa” tên thuốc độc giội xuống đầu quân địch và trận chiến đấu kết thúc với thắng lợi hết sức giòn giã. Đạo thủy binh của nhà Nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt, mấy vạn quân bị chết và bị bắt, ta thu được 400 chiến thuyền và các tên tướng: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ Ngọc đều bị ta bắt sống.

Để ca ngợi chiến công vô cùng hiển hách đó, vua Trần Minh Tôn đã có thơ ràng:

      “Giang thủy đình hàm tán nhật ảnh
      Thác nhi chiến huyết vi tàng can”


Dịch là:

      Nước nhiễm bóng tà sóng dỏ rực
      Máu người chinh chiến tưởng chưa khô.


D – ĐÁNH CHẶN QUÂN THOÁT HOAN

Tin thủy binh bị tiêu diệt ở Bạch-đằng khiến Thoát Hoan và quân Nguyên khiếp đảm. Hắn lập tức ra lệnh rút quân. Trịnh Bằng Phi, A Bát Xích và Áo Lỗ Xích chỉ huy quân tinh nhuệ bảo vệ Thoát Hoan. Nhưng ở biên giới, Phạm ngũ Lão đã mai phục sẵn sàng, khi Thoát Hoan đến cửa Nội-bàng liền bị quân của Phạm ngũ Lão từ trên cao bắn tên thuốc độc xuống như mưa, giết rất nhiều địch. Thoát Hoan cử Trương Quân cùng 3.000 quân tinh nhuệ đi sau làm hậu vệ cản đường quân ta để hắn chạy tắt về Tư-minh. Trương Quân bị ta chém chết và suốt dọc đường từ Lạng-sơn đến biên giới, chỗ nào cũng có quân ta mai phục bắn tên thuốc độc nên A Bát Xích và Trương Ngọc bị tử thương. Qua khỏi cửa Nội-bàng, quân của Thoát Hoan chỉ còn khoảng trên dưới hai phần năm lực lượng.

Tháng 4 năm 1288, Tổ quốc ta lại hoàn toàn được giải phóng. Đến mùa hè, vua Trần và Trần quốc Tuấn lại trở về Thăng-long khao thưởng tướng sĩ, nhân dân mở hội ăn mừng kháng chiến thắng lợi trong 3 ngày, gọi là “Thái bình diên yến”.

Cuộc chiến tranh lần thứ ba kết thúc đã chám dứt ách xâm lược của nhà Nguyên và bắt đầu mở ra một thời đại thái bình.

Vua Trần Nhân Tôn có thơ rằng:

      “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
      Sơn hà thiên cổ điện kim âu”


Đại ý nghĩa là: “Xã tắc hai phen (ý nói hai cuộc chiến tranh sau) phải chịu giày xéo của chiến tranh, mọi người đều vất vả. Nhưng từ nay non sông mãi mãi vững chắc như một cái đỉnh vàng vậy”.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:40:37 PM
D – NHỮNG BÀI HỌC CHỦ YẾU VỀ CHIẾN LƯỢC – CHIẾN THUẬT TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG QUÂN NGUYÊN

I. Vấn đề chiến lược

Chiến thắng của quân dân ta trong cuộc kháng chiến lâu dài và cực kỳ gian khổ này thật là vĩ đại. Nước ta là một nước nhỏ, quân đội ta là một quân đội yếu về quân số cũng như trang bị, nhưng đã chiến thắng một quân đội hùng mạnh vào bậc nhất thời đó. Nguyên nhân của thắng lợi vĩ đại, rực rỡ đó rất nhiều, mà một trong những nguyên nhân đó là sự chỉ đạo chiến tranh được chính xác nên dẫn đến sự chỉ đạo về chiến lược và chiến thuật được đúng đắn. “Thắng bại của chiến tranh cố nhiên là quyết định ở những điều kiện của hai bên về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, địa lý, tính chất chiến trnah, sự giúp đỡ của quốc tế, nhưng không phải chỉ quyết định ở những điều kiện đó, những điều kiện đó mới chỉ tạo ra khả năng thắng lợi, chứ bản thân chúng chưa phân thắng bại. Muốn phân thắng bại còn phải cộng thêm vào sự nỗ lực chủ quan, đó là việc chỉ đạo chiến tranh và thực hành chiến tranh, đó là tính năng động tự giác trong chiến tranh” (Mao Trạch Đông – Tuyển tập – Tập 2, bản tiếng Việt trang 209).

Chúng ta đều biết rằng, ưu thế của lực lượng quân sự là cơ sở khách quan của chủ động, mà chủ động tức là quyền tự do hành động của quân đội, lạ là vận mạng của quân đội. Giữ được quyền chủ động, quân đội sẽ tồn tại và phát triển; ngược lại, mất quyền chủ động, quân đội sẽ dễ bị đánh bại hoặc bị tiêu diệt. Cho nên, đứng về ý nghĩa đó mà xét, thì chỉ đạo chiến lược - chiến thuật cũng tức là chỉ đạo việc tranh thủ giữ vững, phát huy ưu thế và chủ động.

Nếu so sánh lực lượng quân sự giữa quân đội nhà Nguyên và quân đội nhà Trần, chúng ta thấy rằng: chỗ mạnh của quân Nguyên là quân số ưu thế về số lượng, ưu thế đó thể hiện rất rõ trong hai cuộc chiến tranh xâm lược thứ hai và thứ ba; đặc biệt trong lần xâm lược thứ hai, quân Nguyên đã tập trung đến 50 vạn quân thiện chiến trong khi đó quân đội nhà Trần tổng số chỉ có 20 vạn quân chính quy; tỷ lệ số so sánh 2,5 trên 1 có lợi cho quân Nguyên.

Trong chiến tranh xâm lược lần thứ ba, quân Nguyên nhiều gấp rưỡi quân ta, tuy số lượng có sút nhưng chúng vẫn có ưu thế. Tuyệt đại đa số là kỵ binh đã từng xông pha trên nhiều chiến trường, chiến thắng nhiều quân đội mạnh nhất trên thế giới lúc đó; chiến[ lược – chiến thuật mà họ áp dụng là tốc chiến tốc quyết; đặc biệt là lối tấn công thần tốc mãnh liệt của họ đã từng làm khiếp đảm biết bao nhiêu dân tộc, gây nên biết bao nhiêu tổn thất nặng nề, quả là lối đánh lợi hại.

Ngay từ lúc chúng bắt đầu những cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, chúng đã có sẵn ưu thế nói trên.

Trong chiến tranh xâm lược lần thứ hai, không những chúng chỉ có ưu thế tuyệt đối về mặt số lượng, mà cả về mặt bố trí chiến lược: chủ lực tấn công trên mặt trận phương bắc, có sự phối hợp của mặt trận phương nam; do đó buộc ta phải đối phó cả hai mặt trận.

Bản thân của tấn công chiến lược đã là phương pháp tốt nhất để nắm được và phát huy địa vị chủ động về chiến lược; chúng còn chiếm ưu thế về lực lượng quân sự. Rõ ràng là trong thời kỳ đầu của các cuộc chiến tranh, bao giờ quân Nguyên cũng chiếm phần ưu thế và chủ động. Quân ta ở vào yếu thế và bị động.

Vậy thì đứng trước một quân đội xâm lược hùng mạnh như thế, nhà Trần đã tìm được chỗ yếu nào của địch để áp dụng một chiến lược – chiến thuật đúng đắn? Về mặt chính trị, quân Nguyên tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa; đó là chỗ yếu căn bản và nguyên nhân chủ yếu quyết định thất bại của chúng.

Quân Nguyên tuy đông nhưng thành phần phức tạp, bên cạnh quân Nguyên thuộc dân tộc Thát-đát, còn có những người thuộc dân tộc khác bị áp bức đi lính, tinh thần chiến đấu đã kém và trong họ mỗi người vẫn còn mang theo một mối thủ đối với nhà Nguyên.

Đôi với một quân đội đông như vậy; giải quyết vấn đề tiếp tế cung cấp lương thực không phải dễ dàng, không thể chỉ trông cậy vào sự tiếp tế vận chuyển từ Trung-quốc sang được, cho nên càng thoát ly xa hậu phương, càng phải dựa vào sự cướp bóc ngay trên đất nước ta để giải quyết kịp thời tại chỗ.

Về mặt hành binh tác chiến, quân Nguyên có một nhược điểm lớn: kỵ binh hành động trên địa hình đồng bằng lầy lội có nhiều sông ngòi chia cắt, nên không thể phát huy hết sở trường vốn có của chúng được. Nếu những thảo nguyên bát ngát, những đồng bằng khô ráo của phương Tây và Trung-quốc là nơi thuận tiện nhất cho hành động tốc chiến tốc quyết, cho đội hình dày đặc, cho hành động tấn công ồ ạt, cho phương pháp hợp đồng chặt chẽ giữa tấn công chính diện và vu hồi cạnh sườn để bao vây đối phương, thì, trên địa hình nước ta, sức cơ động nhanh của chúng rất bị hạn chế, sức đột kích mạnh bị giảm sút và nói chung là sức chiến đấu của chúng thì bị giảm đi khá nhiều.

Cuối cùng, không thể không tính đến một nhược điểm nữa của quân Nguyên là người phương Bắc ưa thích và quen chịu rét, sang nước ta thuộc vùng nhiệt đới, khí hậu nóng bức, nên bị nhiều ảnh hưởng tai hại đối với sức khỏe và tinh thần.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:42:14 PM
Như trên đã trình bày, thế mạnh hay yếu của lực lượng quân sự không thể tách rồi vấn để chủ động và bị động, do đó cũng không thể tách rời việc chỉ đạo chủ quan đúng đắn hay sai lầm.

Các tướng soái nhà Nguyên cầm quân sang xâm lược nước ta không phải thuộc loại tồi, kém. Trái lại chúng là những tên tướng tài, có nhiều kinh nghiệm cầm quân tác chiến, mưu cao mẹo giỏi, chỉ huy khá linh hoạt, chứng tỏ chúng có một trình độ nghệ thuật quân sự cao đã được tu dưỡng nhiều về mặt chiến lược – chiến thuật. Nhưng tài năng của chúng được đem ra phục vụ cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa, việc chỉ đạo chủ quan – một vấn đề có tính chất quyết định đã tỏ ra thua kém các tướng soái của ta, đứng đầu là thống soái Trần quốc Tuấn – một nhà chiến lược – chiến thuật thiên tài của dân tộc ta. Và cuối cùng đã dẫn chúng đến thất bại thảm hại.

Không phải ngẫu nhiên mà Trần quốc Tuấn đã tạo dựng được một đường lối chiến lược - chiến thuật tuyệt giỏi, thích hợp với một dân tộc nhỏ có quân đội yếu để chiến thắng một quân đội mạnh. Chính Trần quốc Tuấn và quân đội nhà Trần đã thừa hưởng một kho tàng kinh nghiệm quý báu – kinh nghiệm thành công và thất bại – của tổ tiên ta để lại, biết học tập trong chiến tranh và học tập kinh nghiệm của nước ngoài.

Tư tưởng chiến lược – chiến thuật của nhà Trần đã được tổng hợp đúc kết lại trong cuốn “Binh thư yếu lược” và được vận dụng một cách tài tình trong những cuộc chiến tranh chống quân Nguyên và chiến thắng quân Nguyên.

Nguồn gốc sức mạnh của nhà Trần là lòng quyết tâm kháng chiến chống quân Nguyên của toàn dân tộc ta, là sự đoàn kết nhất trí giữa nhân dân và quân đội. Đó chính là cơ sở đẻ ra lực lượng để kháng chiến lâu dài, là chiến lược duy nhất đúng đắn của một dân tộc nhỏ yếu chống một quân đội hùng mạnh, có ưu thế về số lượng.

Đứng về mặt chiến lược, nhà Trần đã vận dụng những nguyên tắc như sau để chỉ đạo tác chiến:

- Bảo toàn lực lượng.

- Nâng cao địa vị của du kích chiến. Phát triển đánh phục kích, tập kích vào hậu phương và khu bị địch chiếm đóng.

- Triệt nguồn tiếp tế của địch. Phát huy sở trường của ta, khoét sâu sở đoản của địch.

- Chọn dúng thời cơ để phản công về chiến lược.

Trong cả ba cuộc kháng chiến, nhà Trần đều vận dụng những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược trên đây. Tùy tình hình cụ thể của từng cuộc chiến tranh, còn vận dụng những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược khác nhữa. Thí dụ: trong chiến tranh lần thứ hai, còn phải ngăn chặn không cho hai mặt trận của địch thực hiện được bao vây tiêu diệt ta.

Có thể lấy những câu nói dưới đây của Trần quốc Tuấn để chứng minh tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong quân đội thời Trần:

“Nước ta từ thuở xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh Võ Vương. Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi kéo đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Tràng-sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời.

Đến đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam đang cường, vua tôi đồng lòng, bụng dân phấn chấn, mà bên Trung-quốc đang lúc suy nhược, cho nên ta đắp thành Bình-lỗ (Thái-nguyên) phá được quân nhà Tống, đó là một thời.

Đến đời Lý, quân Tống sang xâm lăng, Lý Đế sai Lý Thường Kiệt đánh mặt Khâm, Liêm dồn giặc đến Mai-lĩnh, mặc dầu lúc bấy giờ, giặc có quân hùng tướng dũng. Đó là có thể đánh được.

Kế đến bản triều, giặc Nguyên đến vây bốn mặt, may được vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước đấu sức lại mà đánh, mới bắt được tướng kia, cũng là lòng trời giúp ta mới được thế.

Đại để, kẻ kia cậy có tràng trận, mà ta thì có đoản binh, lấy đoản chống với tràng, phép dụng binh thường vẫn phải thế.

Còn như khi nào giặc kéo đến ầm ầm như gió như lửa, thế ấy lại càng dễ chống. Nếu nó dùng cách dần dà như tằm ăn lá, thong thả mà không hám của dân thì ta tiện xem quyền biến ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, cốt dùng được binh phải đồng lòng như con một nhà thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải từ lúc bình thì khoan sức cho dân, làm cho sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả”
. (Sơ thảo lược sử Việt-nam, tập 2, trang 30).


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:45:19 PM
Những thành công trong chỉ đạo chiến lược thì nhiều. Trong phần này chúng ta chỉ nghiên cứ một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Bảo toàn lực lượng

Trần quốc Tuấn thường nói “Dĩ đoản binh chế trường trận”, nghĩa là lấy yếu chống mạnh, lấy ít chống nhiều. Việc so sánh tương quan lực lượng quân sự là cơ sở khách quan của tư tưởng chiến lược đó. Nhưng “lấy yếu chống mạnh” mới chỉ là phương châm chiến lược chung, còn cần phải có những phương châm chiến lược cụ thể.

Trong ba lần xâm lược, đặc biệt là lần thứ hai và ba, đứng trước lực lượng ưu thế và địa vị chủ động của quân Nguyên, các nhà lãnh đao và tướng soái nhà Trần phải giải quyết một số vấn đề căn bản: nên tập trung chủ lực của ta quyết chiến với địch ngay từ giai đoạn đầu hay nên rút lui chiến lược để phản công sau này? Nên dồn quân ra biên giới để chặn địch, hay dụ địch vào sâu để đánh chúng ở nơi địa hình, địa điểm do ta lựa chọn chuẩn bị trước.

Đứng về phía quân Nguyên mà xét, trên các mặt ý định, bố trí, chiến thuật…, chúng đều nhằm vào một mục đích: buộc chủ lực ta phải quyết chiến với chúng, để chóng có thể dùng ưu thế về địa vị chủ động mà nhanh chóng tiêu diệt, hoặc ít nhất cũng là đánh tan chủ lực của ta. Thí dụ: trong chiến tranh lần thứ nhất, kế hoạch của Ngột Lương Hợp Thái là tránh tác chiến ngay với quân ta mà trước tiên phải chiếm lấy thuyền, cắt đường rút lui, sau đó mới tấn công, bao vây tiêu diệt. Lần thứ hai, kế hoạch của Thoát Hoan định dùng một cánh quân lớn vu hồi vào sườn quân ta ở Vạn-kiếp để tiêu diệt chủ lực ta.

Thành công trong việc chỉ đạo chiến lược của Trần quốc Tuấn là đã kịp thời và nhanh chóng từ bỏ ý định đó mà áp dụng rút lui chiến lược. Tràn quốc Tuấn, với tài nhanh chóng nhận thức tình huống, phân tích các điều kiện cụ thể, với tầm mắt chiến lược xa rộng, với sức phản ứng mau lẹ của một tướng biết tìm ra biện pháp để thoát khỏi một trường hợp bế tắc, đã hạ quyết tâm tiến hành rút lui chiến lược, là chiến lược đúng đắn nhất của một đội quân yếu thế dứng trước cuộc tiến công chớp nhoáng của một quân đội ưu thế.

Vì rằng, chỉ có rút lui chiến lược một cách có kế hoạch mới bảo toàn được lực lượng mình, trái lại không rút lui, nhất định phải chịu kết quả ngược lại. Mà rút lui chiến lược có kế hoạch cũng tức là thoát khỏi thế bị động về nội dung, tuy về hình thức là bị động.

Rút lui ở đây là để bảo toàn lực lượng, dụ địch vào sâu, chớp thời cơ đánh địch. Trần quốc Tuấn nói rằng: Trong phép dùng binh phải làm sao cho địch “muốn đánh mà không được đánh”. Thực tế, quân Nguyên muốn đánh đã không được đánh, muốn quyết chiến với chủ lực ta lại phải đối phó với một bộ phận binh lực nhỏ yếu của ta. Không quyết chiến với quân Nguyên, Trần quốc Tuấn đã phá được kế hoạch tốc quyết của địch, buộc chúng phải đánh lâu dài với ta. Tất nhiên, muốn thực hiện rút lui có kế hoạch phải có điều kiện.

Xét những trận chiến đấu nói trên, chúng ta thấy rằng, Trần quốc Tuấn chỉ rút lui khi quân địch mắc sai lầm (trường hợp thứ nhất), khi quân ta tác chiến trên địa hình có lợi (Vạn-kiếp, trường hợp thức hai) và trong cả hai trường hợp đó, toàn bộ quân chủ lực của ta vẫn tập trung được.

Xét về quy mô của chiến tranh thì cuộc chiến tranh lần thứ hai có quy mô rất lớn so với thời đại đó. Nước ta nhỏ, tung thâm quốc gia không sâu lại bị tấn công trên hai mặt trận thì việc bảo toàn lực lượng phải trở thành một phương châm chiến lược có tính chất quyết định. Chính vì vậy mà chúng ta đã tránh được một trận quyết chiến chiến lược có quan hệ trực tiếp đến vận mệnh quốc gia lúc đó.

Vậy thì việc tránh những trận quyết chiến đó trong các cuộc rút lui chiến lược của Trần quốc Tuấn là thắng lợi hay thất bại? Sử sách nhà Nguyên khi nói đến những trận trên, thường dùng hết những lời tốt đẹp để ca tụng những thắng lợi “to lớn” quá dễ dàng đó của họ. Ngay sử sách của ta ghi lại những trận đó cũng nói rằng “quân ta ít, không chống cự nổi nên rút lui”, nghĩa là thất trận.

Chúng tôi cho rằng cần phải đánh giá lại một cách đúng đắn. Xét về ưu thế, chủ động và mục đích chiến đấu thì quân Nguyên cần thiết và có khả năng tiêu diệt chủ lực ta, vì chỉ có tiêu diệt được chủ lực ta mới gọi là thắng trận được; ngược lại, về phía quân ta vì đứng ở thế yếu, bị động, với mục đích là phải bảo toàn lực lượng để tiêu diệt địch sau này, cho nên đã bảo toàn được lực lượng và như thế tức là thắng trận.

Chỉ chiếm được đất đai, vị trí – dù là vị trí chiến lược rất quan trọng – mà không tiêu diệt được chủ lực ta, điều đó không thể gọi là thắng lợi chiến lược được; ngược lại, mất một số đất đai, một số vị trí nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng, càng không thể gọi là thất bại. Chính Trần quốc Tuấn đã nhận định chính xác vấn đề này. Trong binh thư yếu lược, nhà chiến lược thiên tài đó đã nêu lên nguyên tắc: “Bách chiến bách thắng không bằng không chiến mà thắng”. “Không chiến mà thắng” ở đây có nghĩa là không quyết chiến khi bị bắt buộc, không quyết chiến theo âm mưu thâm độc của địch ở địa điểm và thời gian mà địch đã chọn – đó là thắng lợi.

Nếu chúng ta tham khảo thêm lịch sử chiến tranh thế giới thì càng thấy rõ thiên tài của Trần quốc Tuấn. Trong lịch sử cận đại cũng đã từng có những cuộc chiến tranh với quy mô lớn; cũng đã có quân đội ở thế yếu chiến thắng quân đội hùng cường. Điển hình là quân đội của nước Nga dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Cu-tu-dốp đã đánh bại “Đại quân” của Na-pô-lê-ông một thiên tài quân sự Pháp có tiếng tăm lừng lẫy hồi đó. Tháng 6 năm 1812, Na-pô-lê-ông tập trung 678.000 quân tấn công xâm lược nước Nga và đã dồn 450.000 binh sĩ trên hướng tấn công chủ yếu. Để chống lại, quân Nga chỉ dàn ra được 220.000 quân chính quy. Là một nhà chiến lược già dặn, Na-pô-lê-ông đã tìm cách bao vây quân Nga để buộc họ phải quyết chiến với “Đại quân” của mình; Na-pô-lê-ông đã dựa vào địa vị ưu thế, chủ động hòng tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, nhưng quân đội Nga lại rút lui và kiên quyết tránh quyết chiến.

Ngày 7 tháng 9 năm đó xảy ra trận Bô-rô-đi-nô; khi hạ quyết tâm mở cuộc chiến đấu ở đây, Na-pô-lê-ông và Cu-tu-dốp đều có những mục đích khác nhau về chính trị và chiến lược. Đối với Na-pô-lê-ông, cần phải có “trận quyết chiến sấm sét hằng mong đợi” để kết thúc chiến tranh ở Nga. Đối với Cu-tu-dốp, cuộc chiến đấu ở Bô-rô-đi-nô là trận chiến đấu đầu tiên nhằm đánh chặn tập đoàn chủ yếu của quân Pháp, tạo nên bước ngoặt căn bản của chiến tranh. Cuộc ác chiến xảy ra trong suốt ngày hôm đó. Quân Pháp bị thương vong đến 60.000 binh sĩ, 1.800 sĩ quan và 47 cấp tướng. Cu-tu-dốp cho rút lui chiến lược và sau trận Bô-rô-đi-nô, Na-pô-lê-ông không còn mơ tưởng đến việc tiêu diệt quân Nga nữa. Na-pô-lê-ông kéo quân vào Mạc-tư-khoa - một thành phố bỏ trống và bị cháy rụi, chiến tranh du kích của nhân dân Nga được phát triển mạnh, tình trạng thiếu lương thực của quân Pháp đến mức vô cùng nghiêm trọng. Na-pô-lê-ông phải hạ lệnh rút lui chiến lược, nhưng bị quân Nga liên tục phản công. Khi “Đại quân” rút ra khỏi nước Nga, trong tay Na-pô-lê-ông chỉ còn 30.000 quân.

Về trận Bô-rô-đi-nô cũng như những cuộc tránh quyết chiến sau đó của quân Nga để bảo toàn chủ lực, Cu-tu-dốp đều nhận định là thắng trận và đã báo cáo lên Nga hoàng như sau: “Vì rằng vấn đề không phải là giành vinh quang trong các cuộc chiến đấu, mà vì rằng mục đích là tiêu diệt quân đội Pháp… tôi đã quyết định rút lui”.

Tổng kết vấn đề bảo toàn lực lượng, Trần quốc Tuấn nêu lên nguyên tắc: “Toàn quân là thượng sách, phá quân là hạ sách” (Binh thư yếu lược). Toàn quân, tức là bảo toàn lực lượng; phá quân, tức là quyết chiến với địch. Trong giai đoạn rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng là thượng sách mà quyết chiến với địch trong tình hình bất lợi là hạ sách, đó cũng là chân lý khoa học.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:45:55 PM
2. Phản công chiến lược

Phần trên đã nghiên cứu vấn đề rút lui chiến lược, vấn đề tránh quyết chiến để bảo toàn lực lượng. Về những mặt này, quân đội ta đã thành công lớn. Nhưng thành công lớn hơn nữa là giai đoạn tiếp sau, Trần quốc Tuấn đã chỉ huy quân đội anh dũng phản công thắng lợi, do đó đã thực hiện được từ ưu thế cục bộ đến ưu thế toàn cục, dần dần thoát khỏi địa vị bị động về chiến lược tranh thủ được địa vị chủ động về chiến lược.

Phản công chiến lược bao gồm nhiều vấn đề chủ yếu qua kinh nghiệm của ba cuộc chiến tranh nói trên như: vấn đề bắt đầu phản công, vấn đề chọn mục tiêu chiến lược để phản công, vấn đề tập trung binh lực và vấn đề đánh tiêu diệt. Từ những vấn đề trên có thể rút ra bài học về mối liên quan giữa rút lui chiến lược với phản công chiến lược.

Trong chiến tranh lần thứ nhất, trận phản công chiến lược đầu tiên của ta đã tiêu diệt một bộ phận binh lực địch ở Đông Bộ đầu; lần thứ hai, đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng của Toa Đô ở Hàm-tử; và lần thứ ba đã tiêu diệt đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ.

Trước khi phản công, trong ba cuộc chiến tranh đó tình hình tạo nên giữa ta và địch có nhiều điểm giống nhau, song cũng có nhiều điểm khác nhau.

Những điềm giống nhau là: Về địch, thế tấn công ồ ạt đã giảm đi nhiều, những khó khăn về lương thực bắt đầu trở nên gay gắt, nhưng địch vẫn còn ưu thế về lực lượng, nên vẫn còn khả năng tiếp tục tấn công. Về ta, để bảo toàn được lực lượng, chiến tranh du kích phát triển mạnh, nhưng ta vẫn còn ở giai đoạn phòng ngự chiến lược. Xét về mặt hợi hại thì rõ ràng là ta có nhiều điểm thuận lợi hơn là khó khăn, mà địch thì có nhiều khó khăn hơn là thuận lợi.

Những điểm khác nhau là: trong chiến tranh lần thứ nhất, quân Nguyên ở vào thế tiến thoái lưỡng nan do tình hình thiếu lương thực một cách nghiêm trọng gây nên. Khiến cho chỉ huy địch do dự về chiến lược, điều đó tăng thêm thuận lợi cho ta rất nhiều. Lần thứ hai địch đã rải quân ra chiếm đóng, lực lượng trở nên phân tán, là một điều kiện thuận lợi cho ta phản công.

Nhưng cũng lúc đó Thoát Hoan điều động quân của Toa Đô, Ô Mã Nhi ra miền Bắc, chứng tỏ địch đã thất bại trong âm mưu định phân tán lực lượng ta trên hai mặt trận cũng như trong âm mưu định đánh ta trên hai hướng đối diện, đồng thời là một thời cơ thuận lợi cho ta rảnh tay tập trung lực lượng về một chiến trường.

Mặt khác, rút đạo quân đó, địch tránh được nguy cơ bị tan rã hoặc có thể bị tiêu diệt (Thoát Hoan dè chừng lo ta tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân này ở Thanh-hóa) và nếu rút về tập trung được ở chiến trường chính chẳng những vẫn giữ được ưu thế mà còn có một đội dự bị khá lớn làm trụ cột cho thế rải quân phân tán. Nếu ý định này địch thực hiện được, khó khăn của ta sẽ tăng lên.

Lần thứ ba, Thoát Hoan có âm mưu thâm độc hơn là không phân tán lực lượng mà bố trí thành những tập đoàn lớn trong một khu vực chữ nhật lệch rất quan trọng về chiến lược có tác dụng hạn chế khả năng phản công của ta.

Trong cả ba trường hợp, chắc chắn Trần quốc Tuấn đã thấy rõ những tình hình chung cũng như tình hình riêng biệt đó.

Vấn đề đặt ra là: Bảo toàn được lực lượng mà chưa tiêu diệt được từng bộ phận sinh lực địch để đạt đến tiêu hao về chiến lược thì, kết cục có giành được ưu thế và chủ động không? Nói một cách khác, do tránh quyết chiến mà bảo toàn được lượng thì bay giờ có nên quyết chiến để tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch không? Rõ ràng là, chỉ có quyết chiến vào thời cơ, địa điểm do ta chọn trong những điều kiện thuận lợi nhất mới có thể xoay chuyển được tương quan lực lượng có lợi cho ta và cũng mới giải quyết được vấn đề ta thắng, địch bại.

Do những điều kiện đã được tạo thành mang đến nhiều thuận lợi cho ta nên Trần quốc Tuấn quyết định phản công chiến lược. Các trận phản công đầu tiên đó đã thu được thắng lợi lớn, tạo nên những điều kiện mới có lợi cho quân ta và bất lợi cho quân Nguyên.

Sau trận Đông Bộ- đầu, tương quan lực lượng đã thay đổi, nhược điểm căn bản của địch càng bị khoét sâu, đẩy chúng vào thế bị động về chiến lược, buộc chúng phải rút khỏi Thăng-long.

Sau trận Hàm-tử quan, tuy tương quan lực lượng chưa có những thay đổi về căn bản và sau đó địch còn nhiều cố gắng để giữ ưu thế và chủ động, nhưng chiến thắng đó đã có tác dụng đẩy mạnh thêm chiến tranh du kích, nâng cao thêm tinh thần chiến đấu của quân và dân ta làm đà cho đợt tấn công tiếp sau.

Sau trận tiêu diệt thuyền lương của Trường văn Hổ, tinh thần quân địch dao động, rối loạn đến cực độ do tình hình thiếu lương không có cách nào cứu vãn nổi, đã làm cho nhược điểm của lối bố trí thành tập đoàn lớn bộc lộ ra rõ rệt hơn.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:49:43 PM
Tất cả những tình hình đó khiến cho địch, tuy còn ưu thế (như hai lần sau) nhưng lại mất quyền chủ động; về phía ta, đã giành được ưu thế cục bộ và chủ động, cho nên phản công chiến lược không những về nội dung là chủ động, mà về hình thức cũng đã thoát khỏi trạng thái bị động của rút lui. Bài học đầu iên là phải có điều kiện thuận lợi để phản công và trận phản công đầu tiên phải giành được thắng lợi, có thế mới tạo ra những điều kiện mới cho giai đoạn mới tiếp sau.

Ở trên đã nghiên cứu điều kiện và yêu cầu của trận phản công đầu tiên, chuyển sang tiếp tục nghiên cứu vấn đề chọn mục tiêu chiến lược để phản công là một vấn đề cũng rất trọng yếu, vì, như chúng ta đã biết, mục tiêu chiến lược thường là những trung tâm chính trị, quân sự, kinh thế quan trọng quan hệ đến sự sống còn của quốc gia, của quân đội, cũng có thể là những vị trí, những tuyến địa hình, những đường giao thông hay những tập đoàn binh lực quan trọng bảo vệ những mục tiêu có tính chất sống còn đó. Nếu chọn nhầm nhầm phải những mục tiêu chỉ có tính chất chiến thuật, tất nhiên không thể đạt đến múc đích phản công chiến lược được.

Cố nhiên trong chúng ta không ai hiểu rằng chỉ phản công một trận hay chỉ công kích một mục tiêu chiến lược đã có thể giải quyết được vấn đề sống còn của quân Nguyên như sau trận Hàm-tử quan ta còn phải phản công nhiều mục tiêu chiến lược khác cho đến khi, tình hình thay đổi về căn bản có lợi cho ta.

Trong trận đầu tiên, giữa hai mục tiêu Thăng-long và Đông Bộ-đầu, Trần quốc Tuấn đã chọn Đông Bộ-đầu, một vị trí đầu não của địch, ở đó địch mạnh về số lượng nhưng lại sơ hở về địa hình. Về mặt chính trị, Thăng-long tuy quan trọng hơn, nhưng về mặt quân sự thì Đông Bộ-đầu lại là vị trí quyết định vì yêu cầu trong trận này phải công kích vào một mục tiêu chiến lược mạnh về quân sự.

Lần thứ hai, Trần quốc Tuấn không chọn đánh vào những tập đoàn mạnh đã lập thành căn cứ, mà chọn đánh vào một tập đoàn cô lập đang vận động. Ý nghĩa chiến lược của trận phản công thắng lợi là ở chỗ, không những ta đã tiêu diệt được một bộ phận lực lượng quan trọng, mà còn làm thất bại hoàn toàn cả một âm mưu chiến lược của Thoát Hoan định đánh ta trên hai mặt trận nhưng không thực hiện được. Hắn muốn tránh cho tập đoàn này nguy cơ bị tan rã, thì tập đoàn này đã bị tiêu diệt. Hắn muốn tăng cường lực lượng dự bị chiến lược, để giữ vững ưu thế và chủ động trong thế rải quân, ý định đó cũng không thực hiện được.

Chúng ta có thể đoán được cái phân vân của Trần quốc Tuấn khi chọn mục tiêu công kích: đánh vào Thăng-long thì không chắc thắng mà tập trung binh lực đánh vào tập đoàn phía Nam (khi quân của Toa Đô – Ô Mã Nhi còn chiếm Nghệ-an, đang tấn công Thanh-hóa) thì chưa chắc đã thắng hoặc có thắng thì cũng không thể thắng nhanh, mà nếu trận đánh kéo dài rất có thể bị địch tập kích sau lưng. Cái phân vân đó, một mặt chứng tỏ ta còn gặp khó khăn trong vấn đề chọn mục tiêu chiến lược để phản công, mặt khác chứng tỏ Trần quốc Tuấn rất thận trọng trong việc hạ quyết tâm phản công vì theo Trần quốc Tuấn, đã đánh là phải thắng.

Nhưng đến khi điều kiện đã thay đổi thì việc hạ quyết tâm lại rất nhanh chóng. Qua trận này cũng chứng minh rằng khi chọn mục tiêu chiến lược, vị tướng thiên tài của ta còn tính toán cả đến vấn đề chiến thuật, trận Đông Bộ-đầu tấn công mang tính chất trận địa, nhưng lần này nếu cũng vận dụng hình thức tấn công trận địa thì không chắc thắng nên Trần quốc Tuấn đã vận dụng hình thức tấn công vận động.

Lần thứ ba, mục tiêu công kích không phải là một tập đoàn sinh lực của địch mà là một mục tiêu có tính chất kinh tế quan trọng. Thật vậy, việc cung cấp lương thực đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược của quân Nguyên, số phận của quân Nguyên, hành động chiến thuật sau này của quân Nguyên (nên tiến, nên giữ hay nên thoái?) tất cả đều do đoàn thuyền lương quyết định.

Ở đây, chúng ta càng thấy rõ thêm thiên tài chiến lược của Trần quốc Tuấn. Trong cái thế mạnh về bố trí chiến lược mới của địch đã bộ lộ ra cái thế yếu có tính chất quyết định đó: cho nên nếu tiêu diệt được đoàn thuyền lương tức phá tan được cái thế mạnh nói trên và thực tế đã chứng minh điều đó.

Một số thí dụ ở trên đủ nói lên tầm quan trọng và tính linh hoạt cao độ của Trần quốc Tuấn. Trong việc chọn mục tiêu chiến lược chính xác để phản công.

Bài học thứ hai là, chọn không đúng mục tiêu thì dù cho trận đánh có thắng lợi, nhưng mục đích của phản công chiến lược vẫn không đạt được; trong nhiều mục tiêu khác nhau đó lại phải chọn xem mục tiêu nào mà khi ta đánh phải bảo đảm chắc thắng.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:50:10 PM
Chuyển sang tiếp tục nghiên cứu vấn đề thứ ba – vấn đề tập trung binh lực.

Các trận đánh phản công của ta về hình thức chiến thuật mà nói là những trận tấn công vì nó phải tiến hành theo những nguyên tắc của chiến đấu tấn công. Như vậy, chúng ta thấy mối liên quan giữa phản công chiến lược với hình thức chiến thuật, tức là phải dùng tấn công (tấn công vào trận địa hoặc tấn công địch đang vận động) để thực hiện mục đích làm địch mất quyền chủ động chiến lược cục bộ rơi vào thế bị động chiến lược (là mục đích của phản công chiến lược).

Trong tình hình mà ta còn đang tiếp tục phòng ngự chiến lược, nghĩa là nói chung quân đội ta còn phân tán, muốn tấn công một mục tiêu nào đó cần thiết phải có lực lượng ưu thế hơn địch.

Trong trận đầu tiên, do tình hình đặc biệt lúc đó, Trần quốc Tuấn đã tập trung toàn bộ chủ lực để tấn công Đông Bộ-đầu. Lần thứ hai, mức tập trung có khác, chỉ tập trung một bộ phận quan trọng, còn chủ lực tinh nhuệ Trần quốc Tuấn để dành dùng vào những trận quyết chiến sau; tuy vậy, ta cũng đã đạt mức ưu thế hơn so với quân của Toa Đô. Lần thứ ba, vì đánh thuyền lương nên mức tập trung còn thấp hơn. Ưu thế cần đạt đến mức nào còn do nhiều điều kiện cụ thể quyết định; trong các cuộc phản công này, ưu thế về số lượng của ta chưa phải đã lớn lắm, nhất là ở trận đầu và trận thứ hai, điều đó có thể do những điều kiện lịch sử lúc bấy giờ khác với điều kiện của thời đại chúng ta ngày nay.

Thí dụ: số lượng và chất lượng vũ khí của thời đại đó khác xa với mức của chúng ta dùng hiện nay, khả năng cơ động hạn chế, việc tăng cường lực lượng chi viện, ứng cứu lẫn nhau hoặc việc tăng cường sức đột kích mất rất nhiều thời gian, phương tiện thông tin liên lạc đơn giản thô sơ, v.v. Nhưng có một điều rõ nhất là: Trần quốc Tuấn đã chọn vào nơi địch yếu về tinh thần và chất lượng để công kích.

Ở Đông Bộ-đầu, toàn bộ quân địch đang bị nao núng, thế mạnh của chúng về số lượng đã không thể khắc phục được thế yếu về tinh thần. Ở Hàm-tử quan, quân của Toa Đô là một đạo quân mệt nhọc, ăn đói lại đang vận động, lại không được yểm hộ che chở chu đáo. Số lượng của chúng tuy quan trọng, nhưng chất lượng như thế là yếu.

Nghiên cứu thêm những trận phòng ngự trong rút lui chiến lược cũng như những trận tấn công trong phản công chiến lược của Trần quốc Tuấn, chúng ta cũng thấy rõ một vấn đề căn bản là: cùng trong một giai đoạn phòng ngự chiến lược, nhưng trong những cuộc chiến đấu phòng ngự, quân ta chỉ dùng binh lực nhỏ để tránh quyết chiến. Cố nhiên nếu chỉ có tập trung binh lực không thôi chưa đủ để giải quyết chiến đấu mà còn phải giải quyết nhiều vấn đề chiến thuật khác ta sẽ nghiên cứu ở phần sau. Nhưng dù sao qua đây chúng ta cũng có thể rút được bài học là: Muốn đạt mục đích của phản công, điều kiện tất yếu trước tiên và chủ yếu là phải tập trung binh lực, phải coi đó là một rong những quy luật căn bản của chiến tranh, từ cổ chí kim đều phải vận dụng.

Cuối cùng là vấn đề đánh tiêu diệt.

Nghiên cứu vấn đề rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng và phản công chiến lược giành ưu thế và chủ động của Trần quốc Tuấn, chúng ta thấy một điều rất lý thú, rất đáng tự hào về nghệ thuật quân sự của tổ tiên ta là quân Nguyên dù có ưu thế và chủ động lúc đầu, nhưng chưa bao giờ đạt được một rận đánh tiêu diệt, mà chỉ tiêu hao; trái lại quân Trần không những đã đánh nhiều trận tiêu hao mà còn đánh được nhiều trận tiêu diệt lớn và tiêu diệt gọn.

Quá trình chuyển hóa giữa lực lượng ta và địch chứng minh rằng ngay trong thời kỳ còn phải phòng ngự chiến lược, quân ta đã mở những trận chiến đấu tấn công tiêu diệt địch, tiêu diệt trong chiến đấu để thực hiện tiêu hao về chiến lược. Những trận tiêu diệt chiến đó đã làm cho địch mau chóng mất ưu thế, cho nên nói đến đánh trận phản công, cũng có nghĩa là đánh tiêu diệt.

Bài học chủ yếu mà chúng ta rút ra được trong các cuộc phản công của quân đội nhà Trần là bảo toàn lực lượng và phản công chiến lược là hai mặt của một vấn đề: bảo toàn mình, tiêu diệt địch. Và chỉ có phản công (tấn công) tiêu diệt địch mới là phương pháp có hiệu quả nhất để bảo toàn mình.

Nghiên cứu một vấn đề chủ yếu trong phản công chiến lược của quân đội nhà Trần, có thể rút ra một bài học chủ yếu, nhất là tác dụng của việc tránh quyết chiến, bảo toàn mình trong rút lui chiến lược là ở chỗ chuyển sang quyết chiến, tiêu diệt địch trong phản công chiến lược.

Yêu cầu căn bản nhất của chiến tranh là tiêu diệt địch, chỉ có tiêu diệt địch mới bảo toàn được mình. Cho nên, đứng về toàn bộ cuộc chiến tranh và đứng về toàn bộ chiến lược mà xét, thì then chốt không phải ở rút lui chiến lược, mà là ở các cuộc phản công tiếp sau đó.

Thắng lợi vĩ đại của quân đội nhà Trần trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên đã chứng minh hùng hồn nguyên lý đó.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:51:09 PM
II. Vấn đề chiến thuật

Quân đội nhà Trần nhơ vận dụng khéo léo những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược trình bầy ở trên nên đã dần dần thoát khỏi địa vị bị động về chiến lược, chuyển sang chủ động về chiến lược, từ thế yếu ban đầu chuyển dần sang thế mạnh về sau.

Những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược đó đã quy định nhiệm vụ cho chiến thuật trong trận chiến đấu lớn nhỏ của quân đội ta.

Những nguyên tắc chiến thuật mà Trần quốc Tuấn đã vận dụng là:

1. Giành ưu thế và chủ động trong mỗi cuộc chiến đấu phòng ngự cũng như tấn công

Trần quốc Tuấn đã vận dụng một cách tài tình hai nguyên tắc chiến thuật có quan hệ chặt chẽ với nhau là: “Tập trung binh lực ở hướng chủ yếu” và “tiết kiệm binh lực ở hướng thứ yếu”.

Trong phần bàn về vấn đề chiến lược, chúng ta đã nghiên cứu cách phân phối bố trí lực lượng của Trần quốc Tuấn trong cuộc chiến tranh lần thứ hai, khi quân đội ta phải đối phó trên hai mặt trận, tức là tập trung lực lượng chủ yếu trên mặt trận chính và để một bộ phận lực lượng trên mặt trận phía nam.

Về mặt chiến thuật, đứng trước thế tấn công ồ ạt, mạnh mẽ của địch, Trần quốc Tuấn không chủ trương xây dựng các tuyến phòng ngự cố thủ; trái lại, trong từng trận chiến đấu của thời kỳ đầu trong mỗi cuộc chiến tranh đã chủ động nhanh chóng chỉ huy quân đội rút lui, tiến hành phòng ngự có tính chất vận động (cơ động) để thoát khỏi thế bị bao vây.

Nếu như trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, lúc đầu có khuynh hướng đem lực lượng chủ yếu lên phòng ngự có tính chất cố thủ trên các thành lũy của các cửa ải ở biên giới thì do thay đổi phương châm chiến lược nên quân đội ta đã bỏ phương pháp tác chiến không thích hợp đó.

Chiến thuật “dụ địch vào sâu” thực chất là phòng ngự có tính chất vận động. Nghiên cứu tất cả những trận phòng ngự trong ba cuộc chiến tranh, ta đều thấy nổi bật lên phương pháp tác chiến đó – tức là phòng ngự vận động – trên các chiến trường chính. Ta thường thấy Trần quốc Tuấn và các tướng lĩnh khác, thường để một bộ phận nhỏ kiềm chế chủ lực địch, sau đó hoạt động sau lưng và ngay trong lòng địch, còn chủ lực thì nhanh chóng tập trung về một hướng khác.

Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba, Trần quốc Toản và Nguyễn Khoái được cử lên biên giới chỉ huy ba vạn quân để tiêu hao địch. Xét về quân số thì ba vạn quân không phải là nhỏ, nhưng ba vạn quân để chống với 30 vạn quân địch, thì một của ta phải chiến đấu với mười của địch. Trong khi đó, chủ lực do Trần quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy mạnh gấp trên ba lần số quân của ta ở biên giới, so với quân Nguyên thì một của ta phải chiến đấu với ba của địch.

Cứ nhìn cách bố trí đó, - đây nói về chiến thuật – cũng đủ thấy rõ nguyên tắc “tập trung” và “tiết kiệm” mà Trần quốc Tuấn đã áp dụng.

Về sau này, Trần quốc Tuấn còn tập trung nhiều hơn nữa và tiết kiệm nhiều hơn nữa. Đó là thời kỳ sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao địch ở biên giới, một bộ phận lực lượng vẫn được để lại phối hợp với dân binh tác chiến chặn tiếp tế bằng đường bộ của địch, còn rút một lộ quân lớn do Nguyễn Khoái chỉ huy về chờ đợi tại vùng ven biển; cho nên khi 5.000 tên địch vượt qua cửa Nội-bàng, quân ta đã giấu kín ở biên giới đã đánh một trận tiêu diệt khá quan trọng. Trong khi đó, để tiêu diệt thủy binh của Ô Mã Nhi rút lui theo sông Bạch-đằng, Nguyễn Khoái đã được lệnh nhanh chóng chuẩn bị, chiếm lĩnh trận địa phục kích.

Cuộc chiến đấu của quân ta để thoát khỏi thế bị bao vây ở Vạn-kiếp, Trần quốc Tuấn cũng vận dụng nguyên tắc chiến thuật đó nên đã thực hiện được nhiệm vụ chiến lược là tránh quyết chiến, thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt.

Quân Thoát Hoan đang tấn công chính diện trên hướng chủ yếu, khi phát hiện thấy quân ta tập trung, chia thành tuyến để phòng ngự ở Vạn-kiếp hắn lập tức đưa đội hậu vệ do Ô Mã Nhi chỉ huy nhanh chóng vu hồi vào sườn phải của Trần quốc Tuấn; chúng lợi dụng được địa hình kín đáo ở Khau Cấp để nhanh chóng tiếp cận nên tốc độ hành quân nhanh hơn so với cánh quân chủ lực của Thoát Hoan; hơn nữa địa hình để triển khai tác chiến ở Phả-lại và Vạn-kiếp lại thuận tiện cho kỵ binh hành động.

Nhưng Trần quốc Tuấn đã kịp thời để lại một bộ phận đánh chặn, còn chủ lực cho rút lui một cách chủ động tránh được nguy cơ bị tiêu diệt. Tuy quân ta có lập phòng thủ trên bờ sông để bảo vệ kinh thành, nhưng không cố thủ, chiến đấu đến một mức nhất định rồi rời bỏ kinh thành để bảo toàn chủ lực, quyết không để chủ ực của ta lúc đó còn yếu chọi với chủ lực của địch lúc đó còn mạnh.

Trái lại ở phương nam việc vận động chiến thuật lại khác: sau những cuộc chiến đấu oanh liệt để trì hoãn bước tiến, tiêu hao một số sinh lực địch và làm chúng mệt mỏi, quân đội ta đã từ Nghệ-an rút lui về Thanh-hóa và đến đây xét thấy không thể rút lui được nữa nên đã dừng lại tiến hành phòng ngự và với binh lực ít dựa chắc vào công sự để chống với gần 10 vạn quân của Toa Đô.

Tính chủ động chiến thuật trong phần lớn các trận chiến đấu thuộc giai đoạn đầu của ba cuộc chiến tranh thể hiện rất rõ rệt và đó cũng là những nét độc đáo về chiến thuật của quân đội ta. Các tướng soái nhà Trần đã tỏ ra có trình độ vận dụng nguyên tắc chiến thuật hết sức linh hoạt, nêu lên một khuôn khổ về sự liên quan giữa phòng ngự vận động và phòng ngự cố định.

Thời kỳ này, ta còn biết giành chủ động bằng những cuộc tập kích với binh lực nhỏ của quân chính quy và dàn binh để tấn công địch đang vận động và tiêu diệt những toán quân tiếp tế của địch. Việc phối hợp khéo léo giữa rút lui của chủ lực ở một tuyến và tấn công của du kích ở ngoại tuyến cũng là một đặc điểm nổi bật về nghệ thuật giành chủ động chiến thuật trong bị động chiến lược.

Nguyên tắc tập trung và tiết kiệm binh lực, nguyên tắc giành chủ động và ưu thế về chiến thuật còn thể hiện một cách rõ ràng, đầy đủ hơn nữa trong những trận chiến đấu ở giai đoạn phản công.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:51:36 PM
Phản công chiến lược như trong phần nghiên cứu về chiến lược đã nêu lên là giành chủ động cục bộ về chiến lược. Nhưng muốn giành được chủ động cục bộ về chiến lược, vấn đề nổi lên hàng đầu là phải giành được ưu thế và chủ động về mặt chiến thuật.

Thật vậy nếu chiến thuật vận dụng sai, trận chiến đấu nhất định không thể thắng và như thế không thể thực hiện được việc giành chủ động cục bộ về chiến lược. Trong trận tiêu diệt quân của Toa Đô từ Thanh-hóa ra Bắc để bắt liên lạc với quân chủ lực của Thoát Hoan, Trần quốc Tuấn đã không dùng chủ lực – đang chuẩn bị cho những cuộc phản công lớn hơn sau này – mà chỉ tập trung một bộ phận lực lượng đến mức ưu thế hơn địch (không phải ưu thế tuyệt đối về chiến thuật) từ ba ngả tấn công quân địch và đã chiến thắng vẻ vang ở Hàm-tử.

Một cách giải quyết khác, trong trận tấn công tiếp sau khi quân ta quyết định tiêu diệt liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi đang định mở một con đường máu để cố đem gần 10 vạn quân về tập trung với đại quân của Thoát Hoan (úc này Thoát Hoan đã rút khỏi Thăng-long lên đóng tại Bắc-ninh), Trần quốc Tuấn đã phân tích tình hình một cách cụ thể tỉ mỉ và hạ quyết tâm hết sức chính xác như sau: Thoát Hoan tuy đã rút khỏi Thăng-long nhưng chủ lực của hắn còn mạnh nếu đem chủ lực ta tấn công vào chủ lực địch thì thật là mạo hiểm, thắng không chắc mà bại thì khá rõ ràng; nhưng nếu lại chỉ để một bộ phận lực lượng dù đã lớn đảm nhiệm việc chiến đấu với liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi cũng không thể thắng nổi. Với lực lượng 10 vạn quân, Toa Đô lại có kinh nghiệm thất bại ở Hàm-tử quan, chắc chắn việc tổ chức hành binh là chu đáo có phòng bị đầy dủ. Nếu để địch đi thoát đại bổ phận binh lực về tập trung được với chủ lực của Thoát Hoan thì chúng đã mạnh lại càng mạnh hơn và như thế sau này khả năng tiêu diệt chủ lực của địch khó trở thành hiện thực.

Cho nên, Trần quốc Tuấn đã vận dụng nguyên tắc mà binh thư yếu lược đã ghi: “Dĩ đoản chế trường, dĩ trường diệt đoán” và thực hiện: dùng một bộ phận lực lượng kiềm chế chủ lực địch (quân Thoát Hoan), dùng chủ lực tinh nhuệ do Trần quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy tập trung ưu thế tiêu diệt gọn một bộ phận lực lượng rất quan trọng của địch.

Trận chiến đấu tao ngộ ở Tây-kết, kết thúc bằng một cuộc truy kích liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi rất mãnh liệt để đem lại một chiến thắng lớn lao và hết sức vẻ vang: giết chết mấy vạn, bắt sống 5 vạn, tiêu diệt hoàn toàn một lộ quân của địch; kết quả làm thay đổi hẳn tương quan lực lượng vô cùng có lớn cho quân ta. Thật là tài tình.

Trong chiến tranh lần thứ ba, việc vận dụng nguyên tắc chiến thuật như trên cũng rất tài tình khéo léo. Đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ tuy là một mục tiêu chiến lược, nhưng đứng về mặt chiến thuật bản thân nó đã là một đối tượng tác chiến yếu, chúng lại chỉ đơn thuần dùng thủy binh hộ tống, dùng một đội hình dễ bị chia cắt, khiến cho quân chiến đấu tách rời đoàn thuyền lương. Để tiêu diệt đoàn thuyền lương này, Trần quốc Tuấn chỉ dùng đạo quân của Trần nhật Duật cũng đã đủ sức hoàn thành nhiệm vụ một cách thắng lợi.

Qua đây, có thể đặt một câu hỏi: Nếu tập trung binh lực lớn hơn nữa, tiêu diệt luôn thủy binh của Ô Mã Nhi đi hộ tống có tốt hơn không? Chúng tôi nghĩ rằng, quân của Ô Mã Nhi đi hộ tống không phải là một đạo quân lớn, nó chỉ có tác dụng chiến thuật là yểm hộ. Chính đoàn thuyền lương mới quan trọng vì là một mục tiêu chiến lược lại dễ đánh, nhưng đó chưa phải là vấn đề chủ yếu. Vấn đề chủ yếu đây phải nói là ý định của Trần quốc Tuấn muốn dành chủ lực để quyết chiến với những tập đoàn lớn hơn của địch trong những trận tiếp sau và tình hình tiếp sau đó đã xảy ra đúng như ý định.

Nói về trận Bạch-đằng, có tài liệu cho rằng “đại quân của Trần quốc Tuấn vận động đến kịp” theo ý nghĩa của một cách xử trí tình huống ngoài kế hoạch đã định, hoặc nếu có trong kế hoạch cũng chỉ là một nhiệm vụ giao cho chủ lực theo kiểu chung chung, rồi sẽ “tùy tình hình” mà quyết định.

Chúng tôi cho rằng chủ lực của Trần quốc Tuấn vận động đến là theo một kế hoạch hợp đồng chặt chẽ đã định từ trước, nhiệm vụ giao cho nó được rõ ràng, cụ thể và dứt khoát; cho nên, trong trận này, khi cần tiêu diệt toàn bộ thủy binh của địch trên đường rút lui về nước, Trần quốc Tuấn đã tung chủ lực tinh nhuệ của mình ra để đạt đến tập trung binh lực ưu thế tuyệt đối trong chiến đấu, do đó mà hễ đánh là thắng, đã tấn công là tiêu diệt.

Trong chiến tranh lần thứ hai, khi tấn công tiêu diệt chủ lực của Thoát Hoan, Trần quốc Tuấn cũng đã vận dụng thật vững vàng và linh hoạt nguyên tắc chủ động và ưu thế này. Địch đang vận động chính là thời cơ thuận tiện nhất để ta đánh tiêu diệt.

Đánh địch đang vận động là phương pháp tốt nhất để tiêu diệt một đạo quân chủ lực còn khá mạnh về số lượng. So với chủ lực của Thoát Hoan, chủ lực của Trần quốc Tuấn chưa chiếm ưu thế, nhưng vấn đề là ở chỗ chọn đúng trọng điểm công kích (hướng chủ yếu), tại đó sẽ tập trung ưu thế tuyệt đối về binh lực để đánh chia cắt địch ra tiêu diệt từng bộ phận một.

Trong trận này, ta thấy Trần quốc Tuấn đã không tập trung chủ lực đánh vào hậu vệ của địch, vì làm như vậy là tự mình kìm hãm mình, chỉ đánh với một bộ phận nhỏ của địch. Tất nhiên khả năng rất có thể tiêu diệt được hậu vệ của địch, nhưng đánh theo kiểu ấy thì chủ lực của địch chạy thoát và tranh thủ được thời gian rút về biên giới mất; cho nên Trần quốc Tuấn chỉ dùng một bộ phận gần 2 vạn quân đánh bọn hậu vệ do Lưu Thế Anh chỉ huy, còn củ lực cho gấp rút hành quân đánh vào sườn chủ lực địch đang vận động chia cắt đội hình của chúng rồi liên tục truy kích, phối hợp với các đạo quân của Phạm ngũ Lão, Hưng Vũ Vương, nhờ đó đã đánh tan được mấy chục vạn quân còn lại của Thoát Hoan.

Chiến thắng kỳ diệu này đã kết thúc cuộc chiến tranh lần thứ hai, đồng thời là một khuôn mẫu về việc vận dụng chiến thuật một cách tài tình của quân đội ta.

Đánh địch yếu trước mạnh sau, dùng binh lực yếu kiềm chế binh lực mạnh, dùng binh lực mạnh tiêu diệt từng bộ phận yếu của địch và bất kỳ trong trường hợp nào cũng giành ưu thế và chủ động, đó là những bài học lớn về nghệ thuật vận dụng nguyên tắc chiến thuật của Trần quốc Tuấn và quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:52:15 PM
2. Sử dụng khéo léo binh chủng, mật thiết hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, quân chính quy và quân du kích, phát huy chỗ mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch

Vấn đề sử dụng binh chủng trước hết cần phải căn cứ vào tính năng chiến thuật và kỹ thuật của các loại binh khí kỹ thuật, vào trình độ sử dụng những thứ đó của những chiến binh mà trao nhiệm vụ cho mỗi binh chủng trong các hình thức chiến đấu khác nhau cũng như trong mỗi giai đoạn, mỗi tình huống của chiến đấu.

Mỗi binh chủng đều có ưu điểm và nhược điểm riêng biệt cho nên khi chiến đấu, một binh chủng nào đó được trao nhiệm vụ chủ yếu, vẫn cần phải có sự hợp đồng của các binh chủng khác, ưu điểm của binh chủng này có thể giúp đỡ khắc phục nhược điểm của binh chủng khác, cho nên chỉ có biết khéo léo sử dụng các binh chủng, tổ chức chu đáo sự hợp đồng giữa các binh chủng mới bảo đảm giành được thắng lợi trong chiến đấu. Nguyên tắc đó cũng đã được thể hiện rõ ràng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Xâm lược nước ta, quân Nguyên dùng kỵ binh là chủ yếu, riêng trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, có thể nói rằng quân Nguyên chỉ dùng đơn thuần có kỵ binh. Như ta đã biết, kỵ binh có ưu điểm nổi bật là sức vận động và sức cơ động nahnh chóng, nhưng cũng có nhược điểm là khó lợi dụng địa hình địa vật để tự che chở, một khi mà ngựa – phương tiện vận động và cơ động – bị thương vong, thì kỵ binh lại trở thành bộ binh, sức chiến đấu thông thường lại kém hơn bộ binh.

Kỵ binh của quân Nguyên thời đó là thiện chiến nhất, để khắc phục nhược điểm của mình, kỵ binh của quân Nguyên đã dùng số lượng ưu thế để áp đảo đối phương và áp dụng đội hình chiến đấu hàng ngang rộng lớn, thành nhiều tuyến, xung phong liên tục vào trận địa phòng ngự của đối phương.

Trên các địa hình rộng rãi và khô ráo, kỵ binh của chúng quả là vô cùng lợi hại và sở dĩ họ đề ra phương pháp tác chiến là tấn công ồ ạt, chớp nhoáng đánh vào chiều sâu khá lớn, chính là dựa vào những ưu điểm nói trên. Trái lại, khi phòng ngự, kỵ binh của chúng rất kém.

Quân đội nhà Trần chủ yếu do quân bộ hợp thành, nếu dùng bộ binh đơn độc chống với kỵ binh của quân Nguyên dày kinh nghiệm thì rõ ràng quân đội ta không thể hoàn thành được tốt nhiệm vụ trong tấn công cũng như trong phòng ngự. Nhưng quân đội ta lại có truyền thống về thủy chiến; từ Ngô Quyền đến Lý Thường Kiệt, quân thủy của ta đã từng chiến thắng những đội hùng binh của phong kiến phương Bắc.

Sau này, trong các cuộc chiến trnah lần thứ hai và thứ ba, quân Nguyên cũng đã thấy được nhược điểm của mình cho nên cũng sử dụng thêm thủy binh. So với ta, thủy binh của chúng còn kém khá xa, thậm chí còn kém cả thủy binh của phong kiến Trung-quốc thời Nam Hán và nhà Tống nữa.

Để chiến thắng một quân đội có ưu thế về số lượng, gồm chủ yếu là kỵ binh chính quy có trình độ chiến thuật cao, kỹ thuật giỏi, thông thạo về tấn công và tấn công chớp nhoáng, giỏi tấn công chính diện lẫn bao vây vu hồi và có khả năng cơ động lớn như quân Nguyên, nếu không nhìn thật thấu suốt, đánh giá dúng đắn chỗ yếu của địch để khoét sâu thêm, biến mạnh thành yếu cũng như dựa chắc và phát huy chỗ mạnh của ta thì khó lòng có thể thắng được địch.

Trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, Trần quốc Tuấn đã dùng tượng binh để chiến đấu với kỵ binh địch. Voi nặng nề, tính cơ động rất bị hạn chế; nếu như trong tấn công, voi là một phương tiện đột kích đáng kể - trong trường hợp có số lượng đúng mức – thì trong phòng ngự, voi không thể là phương tiện có hiện quả để chống lại sức đột kích của hàng ngàn, hàng vạn quân kỵ binh có sức cơ động lớn hơn được. Các cuộc chiến đấu đầu tiên ở biên giới đã bị thất bại, một trong những nguyên nhân thất bại là do sai lầm trong việc sử dụng binh chủng này.

Nhưng sau đó, Trần quốc Tuấn đã nhanh chóng thấy rõ sai lầm nên trong trận phòng ngự trên đoạn sông Phù-lỗ đã sử dụng bộ binh và kỵ binh hợp đồng chặt chẽ với nhau để ngăn chặn địch và đánh phản xung phòng. Đồng thời cũng phát hiện thấy ưu điểm của kỵ binh địch có tính cơ động cao nhưng có nhược điểm là khi tấn công ở rừng núi và trên địa hình hẹp, có sông ngòi chia cắt, không thể sử dụng được đầy đủ số lượng ưu thế nên đã phải chuyển đội hình từ hàng ngang sang hàng dọc.

Trong hai cuộc chiến tranh sau này, Trần quốc Tuấn đã sử dụng các binh chủng rất khéo léo, biết triệt để lợi dụng địa hình để hạn chế sức cơ động của địch, nhanh chóng thay đổi đội hình và phương pháp tác chiến, cho nên đã thắng nhiều trận lớn.

Để hạn chế sức cơ động và do đó khắc phục được chỗ mạnh căn bản của địch làm cho khả năng chiến đấu của chúng bị giảm sút, Trần quốc Tuấn đã không áp dụng đội hình hàng ngang theo chính diện để phòng ngự có tính chất trận địa, không dùng tượng binh làm lực lượng chính để chiến đấu ngăn chặn những đội hình tấn công hàng dọc có chiều sâu lớn của kỵ binh địch, mà đã áp dụng một kiểu đội hình rất linh hoạt, nghĩa là bố trí một bộ phận kỵ binh tác chiến trên chính diện dử địch đến nơi địa hình có lợi đã có bộ binh và kỵ binh phối hợp chặt chẽ, bố trí theo đội hình tẩn binh của quân mai phục, đánh vào sườn kỵ binh địch.

Phương pháp dùng kỵ binh tiến hành tác chiến trì hoãn trên chính diện, kết hợp với dùng kỵ binh mai phục đánh vào sườn đã đem lại nhiều thắng lợi.

Trong bố trí chiến đấu cũng có nhiều sáng tạo, thí dụ việc đặt “dư binh” (tức đội dự bị) và “dư địa” (tức trận địa dự bị) để tùy tình hình mà tăng cường cho lực lượng ngăn chặn hoặc lực lượng mai phục hay lực lượng phản xung phong.

Ở rừng núi, việc sử dụng bộ binh và kỵ binh một cách khéo léo và mật thiết như thế nào đã gây cho quân Nguyên bị nhiều thiệt hại, tránh cho quân ta nguy cơ bị tiêu diệt, đặc biệt là trong những trận rút lui tránh quyết chiến với địch.

Khi địch đã về trung châu và đồng bằng, kỵ binh địch khó cơ động vì địa hình lầy lội, sông ngòi chia cắt, thì việc hợp đồng mật thiết giữa quân bộ và quân thủy lại là biện pháp hết sức quan trọng để chiến thắng địch.

Trong trận đánh vào Đông Bộ-đầu, trận tấn công đầu tiên của ta vào một tập đoàn mạnh của địch đã chuyển sang phòng ngự trong trú quân, ta đã dùng tượng binh làm lực lượng đột kích, dùng kỵ binh và bộ binh làm lực lượng xung kích, đồng thời có quy định quân bộ và quân thủy đảm nhiệm hai hướng tấn công khác nhau nhưng có hợp đồng chặt chẽ bao vây tấn công địch.

Trong những trận đánh lớn ở đồng bằng sau này, chúng ta đều nhận thấy rằng việc hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy rất khéo léo và chặt chẽ; vai trò, tác dụng của thủy binh rất lớn lao, khác hẳn với quân Nguyên đặt địa vị của thủy binh vào hàng thứ yếu.

Nguyên tắc hợp đồng chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy áp dụng trong trận Bạch-đằng đã giành được thắng lợi vô cùng rực rỡ. Tuy vậy khi nghiên cứu trận này, có thể đặt một câu hỏi: có phải đó là một trận thủy chiến, ngĩa là vai trò quyết định trận đánh, tiêu diệt thủy binh địch có phải là thủy binh ta không? Chúng tôi khẳng định vai trò của thủy binh ta rất lớn lao, thể hiện ở việc lừa địch, dụ chúng vào trận địa phục kích và đã tiêu diệt được một bộ phận thủy binh địch; còn vai trò chủ yếu quyết định trong việc tiêu diệt toàn bộ đội thủy binh địch do Ô Mã Nhi chỉ huy là do bộ binh phục kích ở hai bên bờ và nhất là kỵ binh chủ lực của Trần quốc Tuấn từ phía sau vận động đến đảm nhiệm.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:53:14 PM
3. Nhanh chóng phân tán, nhanh chóng tập trung

Trần quốc Tuấn rất coi trọng tính cơ động và tính linh hoạt của quân đội. Nguyên tắc chiến thuật đề ra là: “họp lại thành chính, phân ra thành kỳ”, nghĩa là phải biết tập trung nhanh, phân tán chóng, thiên biến vạn hóa, khi tập trung lại thì đột kích địch mạnh mẽ, khi phân tán thì tập kích tiêu hao địch.

Việc điều động binh lực của Trần quốc Tuấn và các tướng lĩnh khác được tiến hành rất nhanh chóng, lúc thì phân tán chiếm giữ những nơi xung yếu để ngăn chặn địch, khi đã rút khỏi những nơi đó thì lại nhanh chóng tập trung để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu lớn, không để lỡ mất thời cơ.

Quân đội ta lúc đó đã được luyện tập chu đáo, quân thủy và quân bộ đều thông thạo cơ động, đánh đêm, các chiến thuyền thì thông thạo di chuyển trên những con sông lớn, nhỏ thuộc đồng bằng Bắc-bộ, do đó tính cơ động của quân ta được nâng cao, tạo điều kiện cho việc phân tán nhanh chóng thành những đòn tập trung đột kích của địch, cũng như thực hiện việc tập trung nhanh chóng để tấn công tiêu diệt địch.

Khi tấn công, quân ta đã áp dụng hình thức “phân lộ hợp kích”. Trong trận Hàm-tử quan, ba cánh quân của ta từ ba ngã khác nhau tiến vào chiếm lĩnh trận địa phục kích. Trong trận Bạch-đằng cũng vậy, việc áp dụng hình thức “phân lộ hợp kích” còn được coi là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện phương châm tập trung binh lực giành ưu thế hơn địch. Khi truy kích, quân ta cũng thường từ các ngả khác nhau vận động đến.

Khi phòng ngự, rút lui hay phá vây, quân ta cũng biết nhanh chóng phân tán, buộc địch phải phân tán theo; thông thường khi rút lui quân ta để một bộ phận đánh ngăn chặn, còn đại bộ phận nhanh chóng chia ra thành nhiều đường để rút, tả quân sang trái, hữu quân sang phải, kỵ binh theo đường bộ và bộ binh thường rút theo với thủy binh.

Để phân tán nhanh, tập trung chóng, việc lựa chọn những vị trí cơ động cũng rất được chú ý: Vạn-kiếp chẳng những là một vị trí chiến lược cơ động, mà còn là một vị trí chiến thuật có địa hình hết sức thuận lợi để tác chiến hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, cho nên quân ta đã nhiều lần lấy Vạn-kiếp làm nơi xung yếu để phòng ngự hoặc làm bàn đạp để tiếp công; ngoài ra Thiên- trường, Tây-kết cũng là những vị trí rất cơ động.

4. Phát huy nhân tố bất ngờ

Trong những trận chiến đấu của quân ta, yếu tố bất ngờ trong chiến thuật đã được phát huy cao độ. Chủ động rút lui, tránh quyết chiến với chủ lực địch, đã là những sự việc rất bất ngờ đối với quân Nguyên; đặc biệt trận ta rút khỏi Vạn-kiếp để tránh bị bao vây là một thất bại chua cay về chiến thuật của Thoát Hoan và Ô Mã Nhi.

Thật vậy, trong khi chúng ta tập trung quân ở Vạn-kiếp, chuẩn bị chiến đấu với đại quân của Thoát Hoan, chúng đã tổ chức ngay một cánh quân vu hồi lớn, hí hửng tưởng rằng với tốc độ tiến quân “thần tốc” trên một trục đường tiếp cận kín đáo, có địa hình thuận tiện cho kỵ binh, sẽ bất thình lình ôm gọn được quân ta trong một cái túi, rồi bất ngờ đánh một đòn mạnh để tiêu diệt chủ lực ta.

Bao vây lớn để rồi đánh vu hồi một nhóm quân đội ít ỏi mà không tiêu diệt được, đối với địch, thật là một đòn quá sức bất ngờ và là một thất bại lớn về chiến thuật; đối với ta cố nhiên đó là một thắng lợi lớn về chiến thuật. Binh thư yếu lược của ta rất chú trọng đến nhân tố bất ngờ; trong mưu mẹo lừa địch có nêu lên rằng: “phải hư hư thực thực, phải khéo che chỗ yếu của ta, phát huy sở trường của ta, phải làm cho địch sinh ra kiêu căng, phải thiên biến vạn hóa, đánh phải có chính có kỳ (nghĩa là có hướng chính, hướng phụ), bên phải đánh bên trái hưởng ứng, bên phải nguy bên trái cứu”… Ngoài những hành động phân tán nhanh, tập trung giỏi nói ở phần trên có thể gây nên bất ngờ với địch, việc tận dụng đêm tối để đánh, việc khéo léo chhe giấu lực lượng ta, khiến cho ta ít mà địch tưởng nhiều, làm chúng rất khó phán đoán, dễ hoang mang, đối phó có thể tạo nên bất ngờ, do đó quân ta đã tạo được nhiều thời cơ thuận lợi để đánh thắng địch.

Trong trận Tây-kết lần thứ nhất, Toa Đô bị một bộ phận lực lượng ta tiêu diệt; trận Tây-kết lần thứ hai, chúng cho rằng với lực lượng còn mạnh của Ô Mã Nhi trong thình huống mà chủ lực của ta đã phân tán ở xa thì liên quân của chúng có đủ sức đánh lại một cuộc tấn công mới của quân ta. Tất nhiên, sai lầm của địch trong trận này còn thể hiện ở chỗ không cho quân dự bị ra tiếp viện ứng cứu cho quân của Ô Mã Nhi, để mặc cho liên quân bị ta tiêu diệt. Ô Mã Nhi và Toa Đô thật không ngờ ta đã có thể tập trung nhanh chóng được gần toàn bộ quân chủ lực vận động đến tiêu diệt chúng; cho nên “bất ngờ” trong trận này là một trong những nguyên nhân thắng lợi của quân ta.

Ngoài ra, việc sử dụng các binh chủng, việc phối hợp, hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, việc kéo quân địch buộc phải chiến đấu với quân ta trên những nơi địa hình bất lợi cho chúng, đều đã tạo nên thế bất ngờ đối với địch.

Cố nhiên, bên quân Nguyên cũng chú ý đến việc tạo nên bất ngờ để gây khó khăn, trở ngại cho ta. Vì vậy để tránh bị tổn thất, việc hành quân, trú quân, chuẩn bị tác chiến với quân ta đều được tổ chức chu đáo; khoảng cách giữa tiền quân, tả quân, trung quân, hữu quân, hậu quân đều được quy định rõ ràng, có thể dựa lẫn vào nhau và tiếp ứng cho nhau.

Ngoài ra còn tổ chức những đội du binh từ 20 đến 50 người đi ngựa, những tổ trinh sát từ 3 đến 5 người sục sạo xa để do thám tình hình nhằm che chở bảo đảm cho các cánh quân.

Giỏi tạo thế bất ngờ là một đặc điểm của Trần quốc Tuấn và quân đội ta, một biểu hiện của nghệ thuật quân sự cao, cho nên dù về toàn cục ta yếu thế và bị động, nhưng về cục bộ và trong từng trận chiến đấu, ta vẫn giành được ưu thế và chủ động.

Đến đây, chúng ta đã nghiên cứu qua một số bài học chủ yếu về chiến lược – chiến thuật, những bài học về thành công trong việc vận dụng những nguyên tắc chiến thuật của quân đội, nhưng với khả năng sẵn có chỉ thu tóm lại nêu lên một số mà chúng tôi cho là chủ yếu.

Đạt được trình độ cao và giỏi về vận dụng chiến lược – chiến thuật, tất nhiên có nhiều nguyên nhân; nhưng ở đây nổi bật nhất là do trình độ rèn luyện của quân đội và các cấp chỉ huy thời Trần, trong đó vai trò của Trần quốc Tuấn rất vĩ đại. Bộ binh thư yếu lược do ông soạn ra đóng một công lao quan trọng trong việc giáo dục chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật cho tướng sĩ của quân đội ta thời ấy. Trần quốc Tuấn không những có công trong việc rèn luyện quân đội có được tinh thần cao, kỹ thuật giỏi trong chiến đấu, mà từ bản thân mình là tổng tư lệnh xuống đến chỉ huy các cấp, các đơn vị, tất cả đều có trình độ nghệ thuật quân sự thành thạo, vận dụng chiến lược – chiến thuật cơ trí linh hoạt; do đó đã chỉ đạo chiến tranh, chiến lược và chỉ huy chiến đấu một cách rất tài tình, làm cho quân đội ta chuyển biến từ yếu đến mạnh, đủ sức tiêu diệt hàng chục vạn quân Nguyên, đưa cuộc kháng chiến lâu dài và cực kỳ gian khổ của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn và hết sức vẻ vang.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:54:19 PM
CHƯƠNG HAI

CHIẾN LƯỢC - CHIẾN THUẬT NGHĨA QUÂN LAM-SƠN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI CHỐNG QUÂN MINH

Sau 5 thế kỷ (từ 939 đến năm 1407), hồi phục và giữ vững được nền độc lập của dân tộc mình, nước Việt-nam ta một lần nữa lại rơi vào ách thống trị của bọn phong kiến Trung-quốc.

Nhà Minh đã từ lâu lăm le muốn nuốt trôi nước ta, thủ tiêu nền độc lập tự chủ của dân tộc ta, cho nên tích cực chuẩn bị mọi mặt, chỉ chờ khi có thời cơ thuận tiện là xuất quân xâm lược.

Nhân lúc tình hình nội bộ nước ta đang có những biến động to lớn, bọn phong kiến nhà Minh nấp sau chiêu bài: “phù Trần diệt Hồ” đã cho hàng chục vạn quân vượt biên giới đánh vào nước ta. Cuộc kháng chiến của họ Hồ bị thất bại nhanh chóng, ách thống trị tàn bạo của nhà Minh đặt lên đầu dân tộc ta và từ đấy nhân dân Việt-nam ta lại phải sống những ngày vô cùng đen tối và thê thảm.

Nhưng cũng trong những ngày đau thương ấy, nhân dân ta đã vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì, dũng cảm, biểu lộ một ý chí bất khuất và lòng tin tưởng rất mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của một dân tộc đã trưởng thành. Hai mươi năm thống trị (1407-1427) của nhà Minh cũng là 20 năm kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng rất oanh liệt của dân tộc ta; trong cả nước một phong trào đấu tranh rộng lớn, anh dũng, kiên trì của nhân dân mà chủ lực quân là nông dân đã nổi lên và lan ra ngay từ khi quân xâm lược mới bắt đầu đặt chân lên đất nước ta.

Mặc dù những cuộc khởi nghĩa nổ ra đều bị địch dùng những thủ đoạn dã man nhất để đàn áp, dìm nó trong bể máu, thế nhưng cuộc khởi nghĩa này thất bại, cuộc khởi nghĩa khác lại nổ ra và đặc biệt năm 1418 (ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam-sơn (huyện Thọ-xuân, Thanh-hóa), động viên đông đảo nhân dân cả nước tham gia kháng chiến, đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới, một giai đoạn đấu tranh lâu dài, gian khổ nhưng tất thắng.

Khi bắt đầu khởi nghĩa, lực lượng chiến đấu của nghĩa quân vẻn vẹn chỉ mới có 35 cán bộ quân sự, 200 thiết kỵ, 200 nghĩa sĩ, 200 dũng sĩ và 14 thớt voi, lẩn lút trong một căn cứ địa hẹp thuộc miền thượng du Thanh-hóa, nhưng nhờ được sự ủng hộ rộng rãi và nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân yêu nước, nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm với sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết cùng với đường lối chỉ đạo đúng đắn về chiến lược – chiến thuật, cho nên sau 10 năm chiến đấu gian khổ, lực lượng nghĩa quân đã trưởng thành mau chóng, lần lượt giải phóng những vùng chiến lược lớn bao gồm Thanh-hóa, Nghệ-an, Tân-bình, Thuận-hóa (trừ một số thành cô lập) làm căn cứ hậu phương vững chắc cho cuộc phản công. Cuối cùng, với 35 vạn quân chính quy đã tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước.

A – ĐỐI TƯỢNG TÁC CHIẾN CỦA NGHĨA QUÂN LAM-SƠN

Đối tượng tác chiến của nghĩa quân là quân đội của triều đại phong kiến nhà Minh thuộc Trung-quốc. Nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của nhà Nguyên và lòng căm thù phẫn nộ của nhân dân Trung-quốc đối với sự áp bức bóc lột nặng nề, tàn bạo của bọn quý tộc Mông-cổ, đã nổi dậy diệt quân Nguyên. Sau khi chiến thắng quân Nguyên, nhà Minh đã áp dụng chính sách vũ lực để xâm lược các nước nhỏ yếu. Không những họ chuẩn bị xâm lược nước ta mà còn dòm ngó cả các nước thuộc quần đảo Nam-dương, Ấn-độ và thậm chí cả châu Phi nữa.

Sau khi Hồ quý Ly lên ngôi vua, quan hệ bang giao giữa nước ta với nhà Minh ngày càng trở nên rất căng thẳng. Nhà Minh vin hết cớ này đến cớ khác để mang quân xâm lược nước ta và đến năm 1406 cuộc xâm lược đại quy mô bắt đầu.

Quân đội nhà Minh sang xâm lược nước ta thuộc những lộ quân tinh nhuệ, được điều động từ các tỉnh Giang-tô, Quý-châu, Lưỡng-quảng, Vân-nam. Đó là một quân đội dày kinh nghiệm tác chiến, đã từng chiến thắng quân Nguyên, chẳng những giỏi về lực chiến mà còn giỏi cả về thủy chiến.

Quân đội nhà Minh lúc đó đang mạnh. Cũng như các quân đội xâm lược khác, chiến lược của họ áp dụng là dùng ưu thế tuyệt đối tấn công tác chiến tốc quyết hòng nhanh chóng đánh tan quân đội ta, thủ tiêu nền độc lập tự chủ, lập nên một chính quyền phục thuộc vào phương Bắc.

Chiến thuật mà họ thường áp dụng là tấn công ồ ạt trên nhiều hướng có hợp đồng chặt chẽ giữa bộ binh, kỵ binh và thủy binh, họ giỏi cả về tấn công lẫn phòng ngự. Về tấn công, sở trường nhất là công thành, ngoài ra còn giỏi về tấn công vào các tuyến phòng ngự có tính chất trận địa nữa. Những trận chiến đấu chọc thủng nhanh chóng các phòng tuyến và hạ các thành lũy kiên cố của nhà Hồ chứng tỏ họ có một trình độ chiến thuật khá cao, họ có nhiều kinh nghiệm thủ thành, biết kết hợp khéo léo giữa quyết chiến giữ thành với tập kích thọc sâu vào đội hình đội phương.

Các tướng lĩnh quân Minh còn rất thạo trong việc nắm sơ hở của đối phương, giỏi phao tin nghi binh đánh những đòn bất ngờ làm cho đối phương bị thiệt hại nặng nề.

Sau khi chiến thắng quân nhà Hồ, quân nhà Minh lại có thêm nhiều kinh nghiệm để chiến đấu với một quân đội thông thạo về thủy chiến lẫn lục chiến như quân đội ta, cũng như trong việc chống lại các đội tượng binh hùng mạnh của ta; so với quân Nguyên, quân Minh thông thạo địa hình nước ta hơn, cho nên có thể nói bộ binh và thủy binh của họ hành động trên địa hình đồng bằng của ta có nhiều sông ngòi giỏi hơn kỵ binh của quân Nguyên.

Dựa vào ưu thế về số lượng và chất lượng cao của quân đội chính quy, tài năng của các tướng lĩnh dày kinh nghiệm và do sai lầm về chỉ đạo chiến lược – chiến thuật của Hồ quý Ly, chỉ sau gần 9 tháng xâm lược, quân Minh đã chiếm đóng xong toàn bộ nước ta, đánh tan quân đội nhà Hồ, biến nước ta thành thuộc địa của phong kiến nhà Minh. Tuy vậy cuộc chiến đấu của nhân dân ta vẫn tiếp diễn nhằm chống lại quân chiếm đóng, cho nên mãi đến đầu năm 1415 mới gọi là quân Minh thực sự chiếm đóng toàn bộ đất nước ta.

Sau khi đã hoàn thành giai đoạn hành động quân sự, nhà Minh tuy đã rút địa quân về nước, nhưng vẫn luôn luôn sẵn sàng tăng cường viện binh sang để cùng với quân chiếm đóng chống lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Quân chiếm đóng chia ra thành các vệ, sở, xây dựng một hệ thống thành lũy kiên cố ở khắp mọi nơi. Mỗi vệ có chừng 5.000 quân, mỗi thiên hộ sở có 1.120 quân và mỗi bách hộ sở có 120 quân. Tổng cộng số thành lũy có đến 39 cái. Trên đất nước ta hiện nay, một số thành lũy đó vẫn còn vết tích. Tất cả quân chiếm đóng đều thống thuộc vào đô ty đóng ở thành Đông-quan (tức Hà-nội).


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:54:58 PM
B – TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI CỦA LÊ LỢI

Từ khi bắt đầu cuộc khởi nghĩa đến khi kháng chiến thắng lợi, quân đội của Lê Lợi không ngừng được xây dựng, củng cố và phát triển về mọi mặt.

Về tổ chức, quân khởi nghĩa chia thành các quân: trung, tiền, hậu, tả, hữu; dưới quân có 14 vệ; dưới vệ có các đơn vị gọi là đội, ngũ. Sau này, khi khởi nghĩa đã thắng lợi, trên cơ sở tổ chức của thời kỳ kháng chiến, Lê Lợi đã cải tổ lại quân đội, tổ chức thành các quân ngự tiền đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đô và cung điện nhà vua; các quân đạo có nhiệm vụ chiếm đóng và phòng thủ các địa phương.

Mỗi quân có hành quân tổng lĩnh chỉ huy; mỗi vệ đều có các cấp tư lệnh gọi là thượng tướng quân, đại tướng quân và tướng quân, đô chỉ huy sứ và hỏa đầu, hỏa thủ chỉ huy vệ; đội và ngũ có chánh phó đội trưởng và chánh phó ngũ trưởng chỉ huy. Lê Lợi là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa và là tổng tư lệnh của nghĩa quân. Giúp việc cho Lê Lợi có bộ tham mưu của nghĩa quân gồm những nhà chiến lược – chiến thuật giài giỏi như vị anh hùng Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, nhà quân sự đồng thời là một nhà chiến lược nhìn xa thấy rộng; các tướng lê Liễu, Nguyễn Xí, Lê Lai, Lê Thạch, Trịnh Khả… đều là những nhà chỉ huy có tài năng, dũng cảm, tích cực phấn đấu và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của nhân dân.

Trong thời kỳ khởi nghĩa, tuyển binh theo chế độ tình nguyện, nghĩa quân đánh đến đâu, nhân dân nô nức ủng hộ và gia nhập hàng ngũ của nghĩa quân đến đó; có khi trong một thời gian ngắn, hàng vạn thanh niên nông dân khỏe mạnh tình nguyện xin vào quân đội, nhờ đó lực lượng của nghĩa quân lớn mạnh mau chóng.

Về mặt binh chủng, dần dần đã xây dựng thành 4 binh chủng chủ yếu: thủy binh, bộ binh, kỵ binh, tượng binh; pháo binh tuy chưa hình thành một binh chủng thật rõ rệ nhưng Lê Lợi rất chú trọng đến việc sử dụng pháo, cho nên trong biên chế tổ chức các binh chủng nói trên đều có những đội súng lửa chuyên môn, làm cơ sở để tổ chức ra những đơn vị pháo binh sau này. Trang bị gồm: cung tên, giáo mác, gươm đao và hỏa đòng. Lê Lợi rất chú trọng đến việc trang bị các thứ vũ khí và phương tiện để công thành và các phương tiện bảo đảm chỉ huy như: đài quan sát, phương tiện thông tin liên lạc bằng tín hiệu, ngựa, và thuyền.

Về mặt luyện quân, đặc điểm là vừa tác chiến vừa luyện quân, lấy những kinh nghiêm trong thực tế chiến đấu huấn luyện nghĩa quân. Trong những lúc tạm thời hòa hoãn với địch, Lê Lợi thường tranh thủ thời gian huấn luyện kỹ thuật, giáo dục tinh thần chiến đấu và kỹ thuật cho toàn quân. Tháng 4 năm 1427, Lê Lợi đã tổ chức duyệt binh ở Vĩnh-đông (huyện Kim-động, Hưng-yên), rồi tập thủy chiến. Chính nhờ có những kinh nghiệm chiến đấu của thời kỳ kháng chiến nên đã xây dựng được những bản quân lệnh sau này như: 31 điều quân lệnh về thủy chiến, 42 điều quân lệnh về bộ chiến, 32 điều quân lệnh về tượng trận và 27 điều quân lệnh về mã trận.

Kỷ luật của nghĩa quân rất nghiêm minh, đặc biệt tuyệt đối không xâm phạm đến tài sản của nhân dân, cho nên ở miền xuôi cũng như ở miền ngược, đâu đâu nghĩa quân cũng được nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, hướng ứng, tiếp tế lương thực. Lần duyệt binh ở Vĩnh-động, viên chánh đốc Nguyễn Liên để đội ngũ lỏng lẻo, khí giới không nghiêm chỉnh, lập tức bị Lê Lợi hạ lệnh đem ra chém đầu để đề cao kỷ luật. Lê Lợi còn cho ban bố 10 điều quân pháp, sau định rõ hiệu lệnh trong chiến đấu, chú trọng đề cao tinh thần chiến đấu đồng đội; do đó sức mạnh của quân đội được nâng cao rõ rệt.

Nghĩa quân Lam-sơn là một quân đội có tính chất nhân dân được tổ chức chặt chẽ, có tinh thần chiến đấu và chịu đựng gian khổ rất cao, có trình độ kỹ thuật giỏi, có kỷ luật nghiêm minh, có những tướng lĩnh chỉ huy tài giỏi lại được toàn thể nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, cho nên càng đánh càng mạnh và càng phát triển. Từ non 500 người ban đầu đến thời kỳ phản công lực lượng ấy đã lớn mạnh trở thành một quân đội chính quy có quân số đến 35 vạn người đủ sức tiêu diệt và bức hàng quân đội hùng mạnh của nhà Minh lúc đó.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:56:13 PM
C – CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

1. 1418-1422: Xây dựng căn cứ du kích – Thời kỳ vây quét và chống vây quét

Ngày 7 tháng 2 năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam-sơn lịch sử, kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên giết giặc cứu nước.

Cuộc khởi nghĩa vừa được phát động thì chỉ một tuần sau, ngày 13 tháng 2, tướng nhà Minh là Mã Kỳ đóng quân ở Tây-đô (Thanh-hóa) lập tức điều động binh lực đến đàn áp. Lực lượng nghĩa quân lúc bấy giờ còn non yếu lại chiến đấu ở nơi địa hình bất lợi, nên Lê Lợi rút quân về Lạc-thủy (bắc thượng du sông Chu). Địch vẫn tiếp tục tiến đến bao vây nhưng Lê Lợi lại cho quân đi phục kích sẵn; ngày 13, khi Mã Kỳ lại kéo quân đến đã bị chặn đánh nên phải rút lui và nghĩa quân thu được thắng lợi trận đầu.

Ngày 21 tháng 2 năm 1418, quân Minh đi đường tắt, hành quân bí mật, bất ngờ tập kích làm cho nghĩa quân tuy bị tổn thất nặng, bị chết và bị bắt nhưng đã anh dũng chiến đấu để thoát vây rồi rut lên núi Chí-linh. Sau đó ít lâu, địch tưởng đã tiêu diệt xong nghĩa quân nên rút đi. Lê Lợi liền đưa nghĩa quân trở về đóng ở Lam-sơn, đắp hào xây lũy để chống địch. Lúc này, nghĩa quân chỉ còn trên dưới 100 người, nhưng nhờ có nhân dân địa phương gồm đồng bào Mường và Kinh nhiệt liệt ủng hộ, cung cấp cho lương thực, vũ khí, nên nghĩa quân lại phát triển, hành ngũ được chỉnh đốn lại và chuẩn bị những trận chiến đấu mới.

Tháng 10, một đạo quân Minh tiến lên tấn công Lam-sơn. Lê Lợi đặt phục binh ở Mường-một (có thể là Trịnh-van gần Lam-sơn, phía nam sông Chu); khi quân địch kéo đến, nghĩa quân đã bắn tên thuốc độc lầm chúng bị tổn thất nặng và phải rút lui.

Tháng 5-1419, do lực lượng nghĩa quân đã khá lớn mạnh nên Lê Lợi quyết định tấn công vị trí Nga-lạc của địch (thuộc huyện Lỗi-giang). Trong trận này, ta đã bắt được tên Việt gian Nguyễn Sao và giết được trên 300 tên địch. Viện binh địch kéo đến, Lê Lợi lệnh cho nghĩa quân rút lui về núi Chí-linh lần thứ hai. Lần này địch tập trung một số quân quan trọng, bao vây chặt quân ta. Tình hình của nghĩa quân thật là nguy ngập; để đánh lừa làm cho địch tập trung quân vào một điểm, Lê Lai đã giả làm Lê Lợi, chỉ huy 500 quân và 2 thớt voi, anh dũng tập kích địch. Quả nhiên, quân Minh tập trung quân bao vây bắt được Lê Lai đem giết, đánh tan những nghĩa binh dũng cảm quên mình hy sinh để bảo vệ cho chủ lực và bộ tham mưu của nghĩa quân được an toàn. Sau trận gọi là “thắng lợi” này quân Minh rút về Tây-đô, do đó Lê Lợi và nghĩa quân mới được giải vây rồi lại quay trở về Lam-sơn.

Tháng 6, quân Minh tập trung một đạo quân rất lớn định đến vây quét Lam-sơn. Nghĩa quân bố trí phục kích ở Mường-một đã đánh tan cuộc vây quét này của địch. Sau đó xét thấy lực lượng mình còn non yếu, Lam-sơn chưa phải là nơi có địa thế thuận tiện để chống vây quét liên tục và lâu dài, Lê Lợi quyết định chuyển lên miền thượng lưu sông Mã, dựa vào địa thế của miền núi hiểm trở để lập căn cứ. Ở đây, Lê Lợi giao dịch rất khéo nên được nhân dân Lào giúp đỡ lương thực, khí giới, về sau cả quân số; nhờ vậy lực lượng nghĩa quân thêm vững mạnh và Lê Lợi quyết định tiến quân về đóng ở vùng Mường-thôi (tây-bắc Thanh-hóa).

Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi ở Lam-sơn có ảnh hưởng rất lớn, tin chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân truyền đi đã khích động nhân dân các nơi khác cũng vùng lên vũ trang khởi nghĩa, khiến cho quân Minh phải phân tán đi dàn áp. Nhân thời cơ đó, Lê Lợi tiến hành chỉnh đốn nghĩa quân và đến đầu năm 1420 tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi-giang và thượng lưu sông Mã.

Tháng 11, một đội quân Minh tiến đánh căn cứ của nghĩa quân. Lê Lợi cho phục kích ở bến Bỗng đánh tan quân địch xong rút về Mường-thôi. Sau đó, quân Minh do các tướng Phương Chính, Lý Bân từ Quỳ-châu (Nghệ-an) hành quân qua rừng đánh thẳng vào Mường-thôi, định tiêu diệt nghĩa quân ở ngay trong căn cứ nhưng lại bị phục binh của Lê Lợi bố trí ở Thi-lang (?) đánh tan, và nhân lúc địch rút chạy tán loạn, đã kịp thời truy kích mạnh mẽ, chém giết được nhiều địch.

Từ đây, lực lượng nghĩa quân càng lớn mạnh. Tháng 12, Lê Lợi tiến xuống Ba-lẫm (thuộc Lỗi-giang). Trước sức uy hiếp của nghĩa quân, quân Minh đã bỏ đồn Nga-lạc chạy về trại Quan-du (thuộc Quan-hóa) cố thủ tại đó để bảo vệ Tây-đô. Lê Lợi quyết định tấn công Quan-du phá tan trại này, giết rất nhiều địch và thu nhiều khí giới.

Tình hình bắt đầu chuyển biến có lợi cho nghĩa quân, lực lượng được phát triển, căn cứ được mở rộng. Lê Lợi và chủ lực của nghĩa quân về đóng tại Ba-lẫm. Trong khi đó, quân Minh phải quay về đóng tại Tây-đô và các đồn bảo vệ, cố thủ ở những nơi đó, chờ chủ lực được tăng cường sẽ mở những cuộc tấn công mới.

Ngày 14 tháng 12 năm 1421, quân Minh quyết định tập trung đại quân với ý định bao vây rồi tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Lý Bân được lệnh điều động quân các vệ Giao-châu và ngụy binh, quân số lên tới 10 vạn, tiến về còn cách Ba-lẫm 50 dặm, dừng lại trú quân và chuẩn bị tấn công. Ngay đêm hôm đó, Lê Lợi tiến quân tập kích vào nơi đồn trú của địch, chém chết một số lớn, thu được nhiều khí giới lương thực; sau thắng lợi của trận tập kích chớp nhoáng này cũng ngay đêm hôm đó, nghĩa quân bí mật rút lui luôn. Quân Minh lập tức hành quân tấn công vây quét Ba-lẫm; ta phục kích ở Úng-ải (Cổ-lũng, thuộc chauan Quan-hóa giáp Cẩm-thủy); địch ồ ạt kéo đến, phục binh ta bất thình lình từ hai bên đánh mạnh khiến cho địch bị thua to. Trần Trí chỉ huy đạo quân tiền vệ phải rút lui và cuộc vây quét quy mô lớn của địch đã bị phá tan.

Đồng thời cũng trong lúc ấy, bọn tù trưởng Lào bị quân Minh mua chuộc, lại đem quân đánh úp sau lưng quân ta. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng quân ta chống cự rất dũng cảm và cuối cùng đã đánh lui được bọn này.

Từ đầu năm 1422, quân Minh đã đàn áp xong các cuộc khởi nghĩa ở các nơi khác, tên tổng binh của quân Minh là Trần Trí quyết định tập trung lực lượng tấn công nghĩa quân. Tháng 12 năm ấy, Trần Trí đã huy động một lực lượng lớn, lại được sự phối hợp của quân Lào từ hai mặt giáp công đánh vào căn cứ Quan-da (tức Quan-du, ở Quan-hóa) dồn nghĩa quân vào nơi “tử địa”, gây được nhiều tổn thất nặng nề; vòng vây của địch rất chặt, tình hình đã đến lúc rất nguy khốn. Lê Lợi động viên kêu gọi toàn thể các tướng sĩ hãy dũng cảm phá vây, rút khỏi nơi “đất chết” đó. Quân ta xông vào phá trận địa địch, giết được tên tướng Phùng Quý, cùng rất nhiều binh sĩ của quân Minh và ngụy binh. Cuối cùng đã mở được đường để thoát khỏi vòng vây.

Trần Trí phải rút lui về thành Đông-quan, còn quân Lào thì bỏ trốn. Sau trận này, Lê Lợi rút quân về núi Chí-linh, tình hình mọi mặt của nghĩa quân đang gặp khó khăn; nhưng quân Minh sau nhiều trận vây quét không thành công cũng đã mỏi mệt nên chưa đủ sức mở những cuộc tấn công mới.

Lê Lợi thấy cần phải tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng; quân Minh thấy cũng cần phải chỉnh đốn quân mã và chờ tăng viện để chuẩn bị mở những cuộc tấn công mới, cho nên cả hai bên đã đi đến cuộc hòa hoãn.

Trong những năm 1423 và 1424 là thời gian hòa hoãnh, nhưng địch vẫn luôn luôn uy hiếp quân ta, tăng cường lực lượng và dọa dẫm về quân sự, mua chuộc về chính trị. Xét thấy lực lượng đã được củng cố và phát triển, Lê Lợi quyết định tiếp tục hoạt động, đưa cuộc chiến đấu sang giai đoạn mới.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:57:25 PM
II. 1424-1425: Chuyển hướng chiến lược – Thời kỳ xây dựng căn cứ địa vững chắc,
lấy nông thôn rộng lớn để bao vây các thành lũy của quân Minh

Sau một thời gian tạm thời hòa hoãn với địch, ngày 12 tháng 10 năm 1424, Lê Lợi triệt tập một cuộc hội nghị tham mưu để quyết định kế hoạch chiến lược của giai đoạn mới. Trong hội nghị, nhà chiến lược tài giỏi Nguyễn Chích đã đề nghị: “Nghệ-an là nơi hiểm yếu, đất rộng, người nhiều; tôi đã từng qua lại Nghệ-an nên hiểu rõ tình thế. Nay ta trước hãy đánh lấy Trà-long, rồi hạ thành Nghệ-an để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông-đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”. Lê Lợi và hội nghị đồng ý với kế hoạch mới của Nguyễn Chích và cuộc chuyển hướng chiến lược bắt đầu.

1. Tiến quân vào Nghệ-an, chiếm Trà-long, chiến thắng Khả-lưu và Bồ-ải

Để mở đường cho cuộc hành binh chiến lược vào Nghệ-an, Lê Lợi chỉ huy nghĩa quân tập kích thành Đa-căng (thuộc Quan-hóa). Cuộc tập kích đó thành công, tướng địch bỏ chạy. Sau khi thu vũ khí lương thực, quân ta đã đốt phá trại địch, đánh tan một cánh quân tiếp viện của địch khiến chúng phải chạy về Tây-đô cố thủ. Sau đó, khi mọi mặt đã chuẩn bị đầy đủ, nghĩa quân theo đường núi, tiến quân vào Nghệ-an.

Quân Minh biết tin này liền phái quân đuổi theo. Nghĩa quân đến Bồ-lạp (thuộc Phủ-quỳ, Nghệ-an) gặp 5.000 tên địch từ Trà-long thuộc phủ Chương-dương (nay là Con-cuông, Nghệ-an) tiến lên ngăn chặn; đồng thời, chủ lực của Trần Trí, Phương Chính cũng đuổi theo kịp.

Lợi dụng lúc trời tối, Lê Lợi dàn bộ binh và tượng binh ở trong rừng để phục kích. Bị đánh bất ngờ từ bốn mặt, địch bịt thiệt hại nặng, số còn lại chạy tán loạn, bỏ lại hơn 100 còn ngựa lọt vào tay quân ta.

Hôm sau, ta hành quân về phía Trà-long, đến trang Trịnh-sơn (thuộc Chương-dương), địch đuổi kịp nhưng bị ta đánh lại bỏ chạy tan tác. Trần Trí phải rút quân về thành Nghệ-an; thừa thế, nghĩa quân tiến đến bao vây luôn thành Trà-long. Sau hơn hai tháng bị bao vây, quân tướng nhà minh bị cô lập ở trong thành, tình hình mọi mặt trở nên nguy khốn, quân tiếp viện không dám đến ứng cứu giải vây, cho nên vào tháng 12 năm ấy, chúng mở cổng xin hàng; thế là thành trì kiên cố án ngữ trên đường vào Nghệ-an – nơi đồng bằng giàu có đã bị phá bung.

Sau khi tuyển thêm 5.000 quân ở đây và được nhân dân miền núi cũng như miền đồng bằng lân cận nô nức và nhiệt liệt ủng hộ, Lê Lợi chuẩn bị tiến quân xống đồng bằng, vây hãm thành Nghệ-an rồi mở rộng căn cứ địa.

Trần Trí được lệnh tập trung toàn bộ quân thủy và quân bộ ở thành Nghệ-an tiến đến vây đánh nghĩa quân.

Để phá tan cuộc tấn công, dồn địch vào thế bị động, kế hoạch của Lê Lợi như sau: cử Đinh Liệt chỉ huy 1.000 quân theo đường tắt đến chiếm trước huyện Đỗ-gia (huyện Hương-sơn, Hà-tĩnh), một địa thế hiểm trở uy hiếp thành Nghệ-an, chủ lực do Lê Lợi chỉ huy đóng ở Khả-lưu (cách Đô-lương chừng 20 cây số trên thượng lưu sông Lam), dựa vào núi non hiểm trở và sông ngòi chờ địch.

Vài hôm sau, đại quân của Trần Trí theo đường sông Lam, ồ ạt tiến đến mạn dưới Khả-lưu; Lê Lợi dùng nghi binh, ban ngày thì dựng cờ khua trống, ban đêm đốt lửa rực trời, đồng thời phái một cánh quân tinh nhuệ cùng 4 thớt voi bí mật vượt sông Lam phục kích bên bờ phía nam.

Mờ sáng hôm sau, địch tiến quân lọt vào trận địa bị phục binh của ta xông ra đánh và chủ lực của Lê Lợi cũng tiến đến tăng cường; trong trận ác chiến này, địch bị chém chết và bị chiết đuối đến hàng vạn tên và phải rút về phía hạ lưu sông Lam, dựa vào rừng núi xây dựng cứ điểm, đào hào đắp lũy để ngăn chặn bước tiến của nghĩa quân.

Lê Lợi nhận định: “Quân địch nhiều lương, đắp lũy để làm kế lâu dài; quân ta ít lương không thể dễ giữ dằng dài được với chúng”, nên cho đốt doanh trại nghi binh giả rút về thương lưu sông Lam nhưng thực ra đã bí mật đi tắt vòng về phía sau lưng địch.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:58:06 PM
Quân địch tưởng rằng ta thua chạy, liền kéo quân đến chiếm lĩnh doanh trại và đào công sự trên núi. Lê Lợi hành quân đến Bồ-ải (thuộc huyện Thanh-chương) đặt phục binh, đồng thời cho một cánh quân đến đánh vào đồn lũy địch sau đó lại giả vờ thua chạy, địch cho toàn bộ binh lực trong đồn lũy đi đuổi nhằm tiêu diệt quân ta, nhưng đến Bồ-ải bị pục binh của Lê Lợi từ các mặt tấn công dữ đội, địch bị tan rã.

Lam-sơn thực lục chép rằng: “thuyền địch trôi ngang, xác chết lấp sông, vũ khí vất đầy cả khe núi”, tên tướng Hoàng Thành chỉ huy đội tiền vệ của địch bị chém chết. Chu Kiệt và trên 1.000 tên địch bị bắt làm tù binh. Ta thừa thắng truy kích, Trần Trí liều mạng dẫn tàn quân rút chạy về thành Nghệ-an.

Thắng lợi Khả-lưu, Bồ-ải là những chiến công đầu tiên rất to lớn của nghĩa quân, tiêu diệt được một bộ phận lực lượng rất quan trọng của địch khiến cho chúng ở Nghệ-an phải chuyển sang phòng ngự, đi dần vào thế bị động.

Sau chiến thắng Bồ-ải, tháng 2 năm 1425, nghĩa quân kéo đến làng Đa-lôi (nay thuộc xã Nam-kim, huyện Thanh-chương) được nhân dân tiếp đón rất nồng nhiệt, úy lạo và tiếp tế lương thực. Trong thời gian đóng quân tại đây, Lê Lợi cho xây dựng “Lục niên thành” để kỷ niệm 6 năm chiến đấu chống quân Minh và làm nơi đóng quân.

Sau đó, nghĩa quân tiếp tục giải phóng các châu, huyện; tri phủ châu Ngọc-ma là Cầm Quý đem trên 8.000 quân và 11 thớt voi đến theo Lê Lợi. Đi đến đâu cũng được nhân dân các địa phương nhiệt liệt chào đón quân cách mạng đã giải phóng cho họ; nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, đặc biệt thanh niên hăng hái tình nguyện đi chiến đấu.

Ở đâu, Lê Lợi cũng ra lệnh cho quân đội giữ vững kỷ luật thật nghiêm minh. Cả một vùng đồng bằng và miền núi rộng lớn đã được giải phóng khỏi ách thống trị của nhà Minh.

Tháng 3, Lê Lợi đem quân đến vây thành Nghệ-an, tháng 5, tham tướng Minh là Lý An vội vã đem thủy binh từ Đông-quan theo đường biển vào giải vây cho thành Nghệ-an; Lê Lợi đem quân đến mai phục ở cửa sông Khuất thuộc huyện Đỗ-gia. Ngày 27, Trần Trí từ trong thành đem hết quân ra định phối hợp với viện binh tấn công ta, nhưng khi vừa qua được cửa sông thì bị phục binh của ta bắt đầu tấn công rất mạnh nên bị tan rã, bị chém giết và chết đuối rất nhiều, tàn quân có bộ phận thì rút chạy về Đông-đô, còn Lý An, Phương Chính cố sống cố chết chạy về thành Nghệ-an cố thủ; từ đó không dám ló đầu ra ngoài để chiến đấu nữa, mặc dù quân ta đã nhiều lần tìm mọi cách khiên chiến. Tình hình của địch ngày càng rơi sâu vào thế bị động.

Để ghi lại những chiến công oanh liệt đó, trong bài “Phú núi Chí-linh”, Nguyễn Trãi viết:

“Bên cứ điểm mà lập công, lại nhiều cách để lừa người
Lửa đốt ban đêm, cờ dăng ban ngày.
Trận Đỗ-gia lấn đất để giành tiện lợi nơi ấy,
Trận Khả-lưu qua sông đánh đắm quân thủy bên này
Sấm ran chợp giật, trúc chẽ tro bay
Chu Kiệt đóng cũi; Hoàng Thành phơi thây…”


Tháng 6, Đinh Lễ được cử ra đánh thành Diễn-châu. Cũng lúc đó, quân Minh phái 300 thuyền chở lương thực từ Đông-quan vào tiếp tế; được tin trên, địch ở thành Diễn-châu rất vui mừng, còn ta thì Đinh Lễ tiến quân đến phục kích ở gần Diễn-châu; kết quả đã ngăn chặn được địch và cướp được các thuyền lương, rồi thừa thắng đánh đuổi địch đến tận thành Tây-đô; Lê Lợi liền cử ngay các tướng Lê Sát, Lý Triện chỉ huy 2.000 quân đi suốt ngày đánh ra Tây-đô tăng cường lực lượng cho Đinh Lễ; địch chạy hết vào trong thành cố thủ.

Ở Thanh-hóa, nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, tình nguyện gia nhập hàng ngũ, cùng quân đội tích cực vây hãm thành Tây-đô.

Thế là, chỉ gần sau một năm nghĩa quân rời khỏi miền thượng du Thanh-hóa vào Nghệ-an, lực lượng của Lê Lợi đã trưởng thành rất nhanh chóng, giải phóng được cả hai tỉnh này, dựa chắc vào một khu vực rộng lớn giàu có để bao vây các thành Nghệ-an, Diễn-châu và Tây-đô, biến nó thành ba hòn đảo chơ vơ giữa biến cả mênh mông của vùng nông thôn rộng lớn đã trở thành căn cứ địa vững chắc của nghĩa quân.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:59:03 PM
2. Tiến quân vào giải phóng Tân-bình và Thuận-hóa

Giải phóng được hai tỉnh Thanh-hóa và Nghệ-an không những nghĩa quân đã xây dựng được một căn cứ địa rộng lớn, vững chắc để phát triển lực lượng mình về mọi mặt, mà còn chia cắt địch ra thành hai vùng không liên lạc được với nhau; Bắc-bộ và Tân-bình – Thuận-hóa. Nhằm lúc địch còn hoang mang lực lượng lại non yếu, Lê Lợi quyết định tiếp tục mở rộng căn cứ địa về phía Nam, giải phóng Tân-bình và Thuận-hóa.

Tháng 10, Lê Lợi cử các tướng Trần nguyên Hãn, Lê Nô, Lê Bồ chỉ huy hơn 1.000 quân và một thới voi theo đường bộ tiến vào Tân-bình, đồng thời cử các tướng Lê Ngân, Lê Bôi đem thủy binh và 70 chiến thuyền vượt biển để phối hợp tác chiến.

Quân bộ tiến vào đến song Bố-chính thì gặp một toán địch, liền chĩnh mĩnh ngay địa hình có lợi, tổ chức phục kích, dử địch vào trận địa rồi tấn công rất mạnh, tiêu diệt được rất nhiều địch. Tiếp sau, cả hai cánh quân thủy bộ phối hợp giáp công, nhanh chóng hạ thành Tân-bình và Thuận-hóa, quân Minh hoàn toàn bị tiêu diệt hai tỉnh Tân-bình và Thuận-hóa được hoàn toàn giải phóng và căn cứ địa của nghĩa quân được mở rộng đến dãy núi Hải-vân, thế là cả một miền Nam rộng lớn đã hoàn toàn được giải phóng – trừ ba thành: Nghệ-an, Diễn-châu và Tây-đô. Nghĩa quân lại tích cực và nhanh chóng phát triển lực lượng, tích trữ lương thực và khí giới, chuẩn bị cho một cuộc chuyển hướng chiến lược mới: tấn công ra Bắc, tiêu diệt chủ lực địch.

Cũng như ở Thanh-hóa và Nghệ-an, nhân dân Tân-bình và Thuận-hóa vô cùng phấn khởi, nô nức tham gia kháng chiến và chỉ trong một thời gian ngắn, hàng mấy vạn thanh niên đã gia nhập nghĩa quân.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 03:59:44 PM
III. 1426-1427: Phản công tiêu diệt chủ lực quân Minh

Sau 8 năm chiến đấu cực kỳ gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, lực lượng kháng chiến không ngừng được phát triển lớn mạnh, lực lượng quân Minh không ngừng bị suy yếu, cô lập; cho đến cuối năm 1425, tình hình đã thay đổi về căn bản, so sánh tương quan lực lượng đã chuyển sang thế có lợi cho nghĩa quân, không lợi cho quân Minh. Lê Lợi và bộ tham mưu nghĩa quân quyết định kế hoạch tấn công quy mô lớn ra miền Bắc, nhằm mục đích bao vây chủ lực của quân Minh, tiêu diệt viện binh và bức chúng phải đầu hàng.

1. Tình hình chung của quân đội hai bên hồi giữa năm 1426

A – ĐỊCH

Ở miền Bắc do nhiều cuộc khởi nghĩa địa phương nổi lên, quân Minh đã phải bỏ rất nhiều vùng quan trọng ở thượng du và trung du quay về củng cố vùng đồng bằng, xây dựng một hệ thống đồn lũy, thành trì ở những nơi hiểm yếu như: Điêu-diêu (Gia-lâm), Thị-cầu (thuộc huyện Võ-giàng, Bắc-ninh), Xương-giang (ở xã Thọ-xương, huyện Bảo-lộc, Bắc-giang), Tam-giang (Việt-trì ngày nay), Chí-linh (huyện Chí-linh, Hải-dương), để giữ vững Đông-quan và kiểm soát các đường chiến lược thủy bộ quan trọng. Tổng quân số chiếm đóng, tính cả quân bị vây hãm trong các thành Nghệ-an, Diễn-châu và Tây-đô (không kể ngụy binh) là trên dưới 5 vạn.

Mục đích của địch là chuyển vào phòng ngự, củng cố Đông-quan và đồng bằng, chiếm giữ những nơi xung yếu và các điểm then chốt trong hệ thống đường xá, sông ngòi, chờ viện binh sang để mở cuộc tấn công lớn tiêu diệt nghĩa quân.

Trong khi đó, đi đôi với những thủ đoạn bịp bợm về chính trị, nhà Minh đã điều động viên binh gồm: bộ binh, kỵ binh, quân cung nỏ, tổng cộng chừng 5 vạn, chuẩn bị tiến vào nước ta, phối hợp với quân chiếm đóng thực hành phản công. Chỉ huy đạo viện binh này là tổng binh Vương Thông có Mã Anh làm tham tướng.

Kế hoạch là, tiến quân theo từng đợt từ hai khu vực tập kết ở Lưỡng-quảng và Vân-nam chia thành hai cánh để vượt biên giới; cánh chủ lực tiến theo đường Lạng-sơn, cánh phối hợp tiến theo đường Lào-cai về hội hợp ở Đông-quan.

B – TA

Nghĩa quân đã lớn mạnh, tổng quân số đã đạt đến 35 vạn; nắm đúng thời cơ địch đã suy yếu, tinh thần đang hoang mang, viện binh chưa kịp thới, Lê Lợi quyết định tiến quân ra Bắc.

Mục đích cuộc tiến quân nhằm:

- Chiếm các điểm xung yếu để chuẩn bị ngăn chặn viện binh nhà Minh từ biên giới tiến về Đông-đô.

- Chiếm vùng ven biển quan trọng ở Bắc-bộ, triệt đường rút lui của Phương Chính (lúc đó cố thủ ở thành Nghệ-an về Đông-đô.

- Vây hãm thành Đông-đô, hạ các thành lẻ, củng cố hậu phương.

Để thực hiện mục đích trên, kế hoạch của bộ tham mưu nghĩa quân là: đi đôi với việc tiếp tục bao vây thành Nghệ-an, tập trung hơn một vạn quân chia làm bốn đạo tiến ra Bắc:

- Đạo thứ nhất gồm 3.000 quân và 1 thớt voi, do các tướng Phạm văn Xảo, Lý Triển, Trịnh Khả và Đỗ Bí chỉ huy, men theo đường núi ra Thiên-quang (Nho-quan – Ninh-bình), tiến lên hướng tây-bắc tới các vùng Quốc-oai, Quảng-oai, Gia-hưng, Quy-hóa, Đà-giang để đánh viện binh địch từ Vân-nam sang.

- Đạo thứ hai gồm 2.000 quân và 1 thới voi, do các tướng Lưu nhân Chú, Bùi Bị, Lê Ninh chỉ huy tiến ra miền đông-nam chiếm Thiên-trường, Tân-hưng, Kiến-xương, đóng giữ những nơi hiểm yếu, chặn đường rút lui của Phương Chính về Đông-đô.

- Đạo tứ ba gồm 2.000 quân và 1 thớt voi do các tướng Lê Bôi, Lê vị Canh chỉ huy, từ Thanh-hóa tiến ra vùng đông-bắc, đánh chiếm các vùng Khoái-châu, Bắc-giang, Lạng-giang, đánh viện binh địch từ Lưỡng-quảng sang.

- Đạo thứ tư gồm trên 3.000 quân tinh nhuệ do các tướng Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Bì chỉ huy tiến thẳng ra Đông-đô, phô trương thanh thế, sẵn sàng tiếp ứng cho các mặt khác và chuẩn bị vây hãm Đông-đô.

Lê Lợi cùng chủ lực của nghĩa quân đóng đại bản doanh ở Nghệ-an.

Tháng 9 năm 1426 các đạo quân xuất phát, kỷ luật hành quân rất nghiêm minh, đi đến đâu cũng được nhân dân nhiệt tình giúp đỡ.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:00:18 PM
2. Diễn biến chiến sự

Tháng 9 năm 1426, đạo thứ nhất đã tiến gần đến thành Đông-quan, nhưng đạo thứ tư có nhiệm vụ vây hãm Đông-quan chưa đến kịp, các đạo thứ hai và thứ ba vẫn hành quân theo kế hoạch.

A – TRẬN ĐẦU TIÊN: ĐÁNH TAN TẬP KÍCH CỦA ĐỊCH

Ở Đông-quan, địch thấy quân ta số lượng ít, lại mới từ xa đến, nên chúng tập trung gần hết toàn bộ quân trong thành do Trần Trí chỉ huy tập kích định tiêu diệt đạo quân thứ nhất của ta, nhưng quân ta rút đến Ninh-kiều, Ứng-thiện (thuộc Chương-đức, Hà-đông) quay lại phản kích, đánh lui cuộc tấn công của địch rồi chiếm nơi địa hình có lợi ở phía tây sông Ninh-giang; một cánh chừng 1.000 quân tiến lên đón đánh chặn viện binh, còn chủ lực tiếp tục truy kích đến tận làng Nhân-mục (tức làng Mọc ở phía nam Hà-nội), bắt sống tên đô ty Vi Lượng, tiêu diệt được một số khá lớn quân địch. Trần Trí rút về cố thủ trong thành Đông-quan. Sau đó quân ta rút về đóng ở khu vực sông Ninh-giang, làm đội dự bị cho cánh quân chặn viện.

Để tránh bị tiêu diệt trước khi viện binh đến, Trần Trí lệnh cho Lý An, Phương Chính tập trung quân từ thành Nghệ-an ra tăng cường phòng ngự cho Đông-quan.

Tháng 10 năm 1426 (ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ), Phương Chính để một bộ phận ở lại thành Nghệ-an, còn chủ lực vượt biển về ứng cứu cho Đông-quan. Lê Lợi lệnh cho quân truy kích, nhưng vừa đến Thanh-hóa, bọn Phương Chính đã phóng thuyển ra biển lẩn chạy về Đông-đô.

Trước tình hình đó, Lê Lợi đã trực tiếp chỉ huy đại quân ta tiến ra Bắc, chỉ để lại một binh lực nhỏ bao vây Nghệ-an.

B – CHIẾN THẮNG OANH LIỆT Ở TỐT-ĐỘNG – CHÚC-ĐỘNG, TIÊU DIỆT VIỆN BINH CỦA VƯƠNG THÔNG

Cuối tháng 10, trên một vạn viện binh địch do đô ty Vương An Lão chỉ huy, theo đường Vân-nam tiến sang.

Tháng 10 (ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ) đạo quân thứ nhất do Phạm văn Xảo chỉ huy đã chặn đánh địch ở cầu Xá-lộc thuộc Tam-giang, làm chúng bị thiệt hại nặng; Vương An Lão đưa tàn binh rút về cố thủ trong thành Tam-giang.

Đầu tháng 11, đại quân của Vương Thông tiến sang theo đường Lạng-sơn đánh lui các đội quân kiềm chế của ta, rồi kéo vào thành Đông-đô.

Vương Thông tập trung toàn bộ quân đội (ngày 6 tháng 10 năm Bính Ngọ), cả cũ lẫn mới, tổng cộng hơn 10 vạn quân, chia thành 3 đạo, mở rộng phạm vi chiếm đóng: chủ lực do Vương Thông chỉ huy đóng ở Cổ-sơ (một xã thuộc huyện Thạch-thất, Sơn-tây); đạo quân của Phương Chính đóng ở Sa-đôi (huyện Từ-liêm, Hà-đông), Sơn Thọ và Mã Kỳ đóng ở Thanh-oai (Hà-đông), hình thành một vòng đai kín đáo che chở vững chắc cho Đông-quan. Doanh trại của địch mọc lên san sát kéo dài đến vài mươi dặm, khí thế hùng mạnh “cờ xí rợp đồng, khí giới lóa trời”. Mục đích của chúng là sau khi đã đứng vững chân sẽ triển khai đánh một trận tiêu diệt nghĩa quân.

Đạo quân thứ nhất của ta dùng kế “điệu hổ ly sơn”, một mặt bố trí phục kích sẵn ở Cổ-lẫm (huyện Thanh-oai, Hà-đông), một mặt cho một toán quân đến doanh trại của Sơn Thọ - Mã Kỳ khiêu chiến. Mã Kỳ xuất quân đuổi theo, đến cầu Tam-la (giáp giới huyện Thanh-oai và Từ-liêm) nơi ruộng nước bùn lầy bị phục binh ta đánh cắt ngang đội hình và xung phong quyết liệt; địch bị sa lầy, chạy không kịp nên bị tiêu diệt rất nhiều, số còn lại phải rút chạy cũng bị quân ta truy kích đến cầu Nhân-mục, chém giết vô kể “xác địch chết nằm rải đến vài mươi dặm”, bắt sống trên 600 tên; sau đó, định quay lại đánh úp sau lưng doanh trại của Phương Chính, nhưng chúng đã rút chạy từ trước. Lợi dụng đêm tối, Mã Kỳ đã kéo quân về tập trung với quân của Vương Thông. Các vị trí Thanh-oai và Sa-đôi đã bị ta san phẳng.

Đạo quân thứ nhất đột kích vào Cổ-sơ (ngày 7 tháng 10 năm Bính Ngọ), một vị trí ngoại vi của Vương Thông, nhưng do địch có đề phòng, dùng mưu kế đã phản đột kích lại, voi của ta dẫm phải chông không tiến lên được và địch từ trong doanh trại ra phản xung phong; vì bị thiệt hại, đạo quân thứ nhất phải rút về đóng tại Cao-bộ (huyện Chương-mỹ, Hà-đông) chờ xin quân tiếp viện.

Đạo quân thứ tư được lệnh từ Thanh-đàm cấp hành quân đến tăng viện cho đạo quân thứ nhất ở Cao-bộ, cả hai đạo quân tập trung bố trí phục kích ở Tốt-động (hay Tuy-động, huyện Mỹ-lương, Hà-đông) và Chúc-động (tức Chúc-sơn, huyện Chương-mỹ, Hà-đông). Quân ta bắt được gián điệp của địch nên nắm được kế hoạch tấn công của Vương Thông như sau: một cánh quân từ khu tập kết Ninh-kiều đánh vu hồi về phía sau lưng, một cánh quân chủ lực sẽ vượt sông đánh vào chính diện, khi có pháo lệnh sẽ đồng thời tấn công tiêu diệt quân ta. Vương Thông phụ trách chỉ huy chung và trực tiếp chỉ huy chủ lực tấn công chính diện.

Các tướng lĩnh chỉ huy hai đạo quân của ta định kế hoạch tác chiến như sau: Sau khi đã bố trí sẵn sàng phục binh ở địa hình có lợi và tổ chức trận địa nghi binh, đến canh năm cho nổ pháo lệnh theo tín hiệu của quân Minh, địch nghe thấy pháo lệnh liền ồ ạt tấn công vào trận địa nghi binh của ta, khi chúng tiến đến Tốt-động và Chúc-động, phục binh của ta từ bốn mặt giáp công, đánh giết rất mãnh liệt; trời mưa đường lầy lội, địch chạy không kịp, do đó, kết quả ta tiêu diệt được gần năm vạn trong đó có tên thượng thư Trần Hạp và tên nội quân Lý Lượng, bắt sống được một vạn tên. Máu địch nhuốm đỏ dòng sông Ninh-giang, tên tướng Vương Thông bị thương nhưng đã cùng bọn tàn quân chạy thoát về Đông-quan. Quân ta truy kích rồi thừa thắng bao vây luôn thành Đông-quan.

Chiến thắng Tốt-động và Chúc-động là chiến thắng lớn nhất của nghĩa quân từ trước đến nay, đã tiêu diệt một bộ phận rất lớn chủ lực địch, khiến cho tương quan lực lượng lại thay đổi có lợi cho ta, đẩy địch vào thế bị động chiến lược và ta đã giành được thế chủ động trên toàn bộ chiến trường.

“Bình ngô đại cáo” đã ghi lại chiến thắng oanh liệt trên đây bằng những câu thơ:

“Trận Ninh-kiều, máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm.
Trận Tốt-động thây phơi đầy nội, để thối nghìn thu”.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:00:52 PM
C – TẤN CÔNG VÂY HÃM THÀNH ĐÔNG-QUAN, TIÊU DIỆT CÁC THÀNH LÚY THỨ YẾU CỦA ĐỊCH

Được tin thắng trận, Lê Lợi chỉ huy đại quân cùng với 20 thớt voi cấp hành quân ra Bắc, chuẩn bị giai đoạn quyết định tiêu diệt địch.

Lê Lợi đến Tây Phù – liệt ở Thanh-trì, Hà-đông (ngày 22 tháng 10 năm Bính Ngọ), mở hội nghị quân sự với các tướng lĩnh, định kế hoạch tấn công Đông-đô. Lúc đó, Vương Thông đang gấp rút tăng cường phòng ngự Đông-đô, chuẩn bị chống lại cuộc tấn công của quân ta và chờ viện binh.

Theo kế hoạch (ngày 23 tháng 10), Lê Lợi sử dụng lực lượng tấn công thành Đông-quan như sau:

- Thủy binh do tướng Trần nguyên Hãn và Bùi Bị chỉ huy gồm 100 chiến thuyền ngược dòng sông Đáy lên cửa sông Hát rồi xuôi dòng sông Hồng xuống Đông Bộ-đầu.

- Một cánh quân gồm trên 1 vạn bộ binh do tướng Đinh Lễ chỉ huy, bí mật tiến đến cầu Tây-dương.

- Chủ lực do Lê Lợi trực tiếp chỉ huy tiến đến phía Cửa Nam, ngoại thành Đại-la. Chỉ huy sở đặt tại Đông Phù-liệt.

Nửa đêm phát lệnh tấn công, quân ta từ bốn mặt đánh vào thành Đông-quan; địch bị đánh bất ngờ, nên vô cùng hoảng hốt; quân ta nhanh chóng đột phá tiền duyên, đốt phá hết các doanh trại ở ngoại vi; chỉ huy quân Minh ở đây là Phương Chính vội vã dời bỏ trận địa rút chạy vào thành; địch bị chết rất nhiều, quân ta tiến sát vào thành thu được trên một trăm chiến thuyền, nhiều khí giới và giải phóng được tất cả những người bị địch giam giữ.

Địch rút vào thành, tăng cường công sự, đắp thêm hào lũy liều chết cố thủ. Đồng thời, để có thời gian chờ quân tiếp viện, Vương Thông tìm kế hoãn binh đã lên tiếng xin giảng hòa.

Quân ta do chưa chuẩn bị để đánh vào thành lũy kiên cố, nên thắt chặt vòng vây và tranh thủ chuẩn bị nhất là về vũ khí công thành. Đến tháng 12 (tháng 1 năm 1427), Vương Thông một mặt phái người mang thư xin hòa sang trao cho ta nhưng mặt khác hắn vẫn phái người đi xin viện binh.

Trước tình hình đó, Lê Lợi quyết định tiếp tục tăng cường bao vây Đông-đô, đồng thời cho quân đi tấn công những thành lẻ, nhằm chôn chân chủ lực địch và triệt để cô lập thành Đông-quan, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tập trung chủ lực tiêu diệt viện binh địch sau này.

Đến năm 1427, Lê Lợi rời đại bản doanh từ Đông Phù-liệt sang Bồ-đề (thôn Phù-hựu – Gia-lâm) đối diện với thành Đông-quan để tiện việc chỉ huy. Lầu quan sát của Lê Lợi được xây dựng cao ngang với tháp Bảo-thiên trên bờ sông Hồng. Vừa bao vây chặt chẽ, vừa tiến hành thương lượng với Vương Thông, đồng thời Lê Lợi cho quân đi tấn công những thành nhỏ và tích cực chuẩn bị mọi mặt để đánh những trận có tính chất quyết định.

Đông-quan bị bao vây chặt chẽ; Trịnh Khả đóng quân ở Cửa Đông, Đinh Lễ ở Cửa Nam; Lê Cực ở Cửa Tây và Lý Triện ở Cửa Bắc, hình thành tuyến bao vây thứ nhất. Phạm Vấn đóng quân ở phía Cửa Đông; Lê Sát, Lê Lý và Nguyễn Chính ở phía Cửa Nam; Bùi Bị, Lê Nguyễn ở phía Cửa Tây và Lê Văn An ở phía Cửa Bắc, hình thành tuyến bao vây thứ hai.

Trong 3 tháng đầu năm 1427, tình hình chiến sự diễn ra như sau:

Về địch: 3 lần tập kích quân ta:

- Ngày 7 tháng 2, Phương Chính tập kích quân ta ở Quả-động (huyện Từ-liêm, Hà-đông) bị đánh lui, nhưng bên ta các tướng Lý Triển bị tự trận và Đỗ Bí bị bắt.

- Ngày 8 tháng 3, Vương Thông chỉ huy một đạo quân tinh nhuệ bất ngờ tấn công vào doanh trại của ta ở Tây Phù-liệt. Lê Lợi cho 500 quân tiếp viện nên đã đánh lui và truy kích địch, đến Mỹ-động (ngoại thành Hà-nội) do thấy lực lượng truy kích của ta ít, địch liền chia thành hai cánh đánh kẹp lại, voi của ta bị sa lầy, các tướng Đinh Lễ bị tử trận và Nguyễn Xí bị bắt (sau trốn thoát được).

Về ta: bao vây, tấn công và dụ hàng các thành:

- Tháng 1, địch ở Nghệ-an và Diễn-châu xin hàng.

- Vây và bức hàng thành Điêu-diêu (Gia-lâm).

- Tháng 2, sau đợt tấn công của ta, địch ở thành Thị-cầu xin hàng.

- Tháng 3, Tam-giang là một thành quan trọng của địch trên đường tiếp viện từ Vân-nam sang, đang bị bao vây chặt lại được tin một số thành khác đã hàng, nên cũng xin hàng.

- Ngày 13 tháng 1, sau mấy ngày đêm bao vây, quân ta đã công kích thành Khau Ôn, một cứ điểm quan trọng trên đường Lạng-sơn – Đông-quan, địch bỏ thành chạy tán loạn.

- Trận bao vây và chiến đấu gay go quyết liệt nhất là ở thành Xương-giang, một cứ điểm trọng yếu bậc nhất của địch trên đường tiếp viện từ Lưỡng-quảng qua Mục-nam-quan đến Đông-quan nên rất kiên cố và do một lực lượng mạnh trên 2.000 quân chiếm giữ; những trận chiến đấu dai dẳng quyết liệt ở đây diễn ra trong 6 tháng bao vây, cả hai bên đều sáng tạo ra nhiều thủ đoạn chiến đấu để quyết chiến với nhau. Sau này do nhu cầu cấp thiết về chiến thuật, phải hạ bằng được thành Xương-giang trước khi viện binh địch đến, Lê Lợi đã tăng cường lực lượng tấn công, ra lệnh cho tướng sĩ vây thành phải anh dũng, quyết tâm. Quân ta lấy đất đắp thành cao điểm để đặt pháo bắn vào thành, địch liền xuất kích liều chết đánh chiếm cao điểm, rồi tập kích vào doanh trại quân ta. Quân ta lại đào đường hầm xuyên vào thành, địch liền đào hào thọc ngang chặn lại và dùng pháo bắn ngăn chặn quân ta; sau cùng quân ta bắc thang trèo lên chiếm cổng thành, rồi ồ ạt tấn công vào thành và ngày 8 tháng 9 đã hạ xong thành. Tiếp đó sau 10 ngày, viện binh của Liễu Thăng kéo đến biên giới, do đó càng thấy rõ việc hạ thành Xương-giang có nhiều giá trị lớn về chiến thuật.

Như vậy là, trừ những thành lớn như Đông-quan, Cổ-lộng, Chí-linh và Tây-đô mà Lê Lợi chỉ chủ trương bao vây, cô lập, chứ không công kích để hạ ngay, còn tất cả là một hậu phương rộng rãi của ta đã được giải phóng và nối liền với nhau. Nghĩa quân tranh thủ thời gian củng cố về mọi mặt, đồng thời vẫn tiếp tục tăng cường và phát triển lực lượng của quân đội.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:01:17 PM
D – CHIẾN THẮNG CHI-LĂNG TIÊU DIỆT VIỆN BINH ĐỊCH

Đứng trước tình hình của một cuộc chiến tranh kéo dài rất không lợi và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt của đạo quân Vương Thông đã rõ rệt, nhà Minh phải điều động đến một đạo quân tiếp viện mạnh; đó là cố gắng cao nhất và là cố gắng cuối cùng của địch có thể làm được; chúng đã điều động từ khắp các tỉnh của Trung-quốc từ Sơn-đông, Bắc-kinh, Tứ-xuyên đến Quý-châu, Lưỡng-quảng để họp lại thành một đội quân rất tinh nhuệ nhằm tiến hành một trận chiến đấu quyết liệt cuối cùng, tiêu diệt nghĩa quân Lam-sơn.

Tháng 1 năm 1427 viện binh địch chia thành hai đạo quân theo hai đường tiến sang nước ta:

- Đạo quân thứ nhất do Liễu Thăng làm tổng binh chỉ huy, tiến theo đường Quảng-tây sang.

- Đạo quân thứ hai do Mộc Thạnh làm tổng binh chỉ huy, tiến theo đường Vân-nam sang.

- Tháng 4 năm 1427 điều động thêm gần 5 vạn quân làm hậu vệ cho quân của Liễu Thăng.

Tổng cộng là 15 vạn quân, đó là mức cố gắng cao nhất dốc vào quyết chến. Nhưng, tuy vậy nhà Minh lúc đó đăng gặp những khó khăn lớn ở Trung-quốc, nên việc điều động quân bị chậm chạp, mãi đến ngày 18 tháng 9 đạo quân của Liễu Thăng gồm 10 vạn người và 2 vạn ngựa mới đến biên giới nước ta; đạo quân của Mộc Thạnh gồm 5 vạn người và 1 vạn ngựa mới tiến vào cửa ải Lê-hoa.

Khi được tin viện binh địch sắp sang, các tướng đề nghị Lê Lợi cho tấn công hạ gấp thành Đông-quan để triệt đường của địch đánh từ trong ra, sau sẽ dốc toàn bộ lực lượng đánh viện binh địch; nhưng Lê Lợi và bộ tham mưu của nghĩa quân không chấp nhận đề nghị đó, mà chủ trương tiếp tục vây thành, đồng thời tập trung lực lượng lên phía biên giới đánh viện binh.

Kế hoạch của Lê Lợi như sau:

- Tu sửa lại cửa ải Lê-hoa để chặn đường viện binh địch từ Vân-nam sang.

- Đắp lại thành Xương-giang cho kiên cố thêm làm khu then chốt trong hệ thống phòng ngự trên hướng chủ yếu.

- Ở những vùng quan trọng địch có thể tràn qua như Lạng-giang, Bắc-giang, Tam-đái, Tuyên-quang, Quy-hóa thì làm vườn không nhà trống (gọi là “thanh dã”) để cho chúng không cướp được lương thực, không có nơi trú ngụ và không bắt được người.

- Tăng cường canh phòng nghiêm mật vùng biên giới.

Đầu tháng 10, khi địch sắp đến biên giới, Lê Lợi hạ quyết tâm như sau;

- Cử 1 vạn quân tinh nhuệ và 5 thớt voi do các tướng Lê Sát, Lưu nhân Chú, Lê Linh, Đinh Liệt và Lệ Thụ chỉ huy, bố trí phục kích ở cửa ải Chi-lăng, tiếp sau tăng thêm 4 vạn quân do các tướng Lê Lý và Lê văn An chỉ huy đi tiếp ứng, có nhiệm vụ diệt một phần lực lượng quan trọng của Liễu Thăng.

- Cử 3 vạn quân do các tướng Phạm văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy tiến lên cửa ải Lê-hoa (phía Lào-cai) có nhiệm vụ cầm cự, ngăn chặn địch từ Vân-nam sang, không cho chúng thực hiện được hợp đồng với cánh quân từ hướng tấn công chủ yếu.

- Đội dự bị ở gần Đông-quan có nhiệm vụ tăng viện hoặc triệt đường rút lui của địch.

Tháng 10 năm 1427 (ngày 18 tháng 9 năm Đinh Vị), địch tiến đến biên giới.

Tướng Trần Lựu giữ cửa ải Pha-lũy (Nam-quan) tiến hành kiềm chế, tổ chức rút về cửa ải Ải-lưu. Từ đó lại tiếp tục rút về cửa ải Chi-lăng, nơi đây quân ta đã chiếm lĩnh địa hình rất hiểm yếu, tổ chức trận địa phục kích quy mô, có lập rào, xây lũy chu đáo trên đường tiến vào cửa ải.

Quân của Liễu Thăng ồ ạt tấn công, ỷ lại vào ưu thế sẵn có và do vừa chiếm được các cửa ải Pha-lũy, Ải-lưu khá dễ đàng, nên rất kiêu căng và càng chủ quan. Để làm tăng thêm tinh thần kiêu căng chủ quan của địch, Lê Lợi gửi thư cho địch đề nghị bãi binh, Liễu Thăng quả nhiên bị mắc mưu đã nhận định rằng lực lượng nghĩa quân non yếu chưa đánh đã chạy, do đó hạ lệnh tiếp tục tấn công ồ ạt, tự mình chỉ huy hơn 100 kỵ binh xông lên phía trước.

Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Vị, địch tiến tới chân nũi Mã-yên (xã Mai-sảo, Ôn-châu, Lạng-sơn) lọt vào trận địa phục kích của ta. Liễu Thăng định vượt qua cầu, nhưng cầu bị hỏng, nên bị sa lầy. Tức thì các tướng Lê Sát, Lưu nhân Chú chỉ huy phục binh từ bốn mặt bao vây, tấn công rất mạnh, nên trong những phút đầu tiên đã tiêu diệt gọn được toán kỵ binh đi tiên phong của địch và tên tổng binh Liễu Thăng đã bị giết ngay trên sườn núi Mã-yên, quân ta chiến đấu rất dũng cảm, xung phong rất mãnh liệt và kết quả đã tiêu diệt được trên 1 vạn quân địch. Cuộc chiến đấu ác liệt đến đây còn tiếp tục.

Ngày 25 tháng 9 năm Đinh Vị, đạo quân của Lê Lý và Lê văn An đã đến hiệp đồng với phục binh tấn công mãnh liệt, giết được tên phó tổng binh Lương Minh của địch và đến ngày 28 tên binh bộ thượng thư Lý Khánh đến thế cùng đã tự tử.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:01:48 PM
Thôi Tụ và Hoàng Phúc thu thập số tàn quân lại, chỉnh đốn đội ngũ, định tiến gấp vào thành Xương-giang (do chúng chưa biết là đã nằm trong tay quân ta). Quân ta lập tức truy kích đánh rất mạnh nên trong quá trình truy kích đã tiêu diệt được trên 2 vạn tên, bắt được rất nhiều lừa ngựa và thu được rất nhiều vũ khí, quân trang; quân của Thôi Tụ liều chết chạy về hướng thành Xương-giang, khi đến nơi mới biết thành này đã lọt vào tay quân ta, phải vội vàng đóng quân ở giữa đồng và đắp lũy tổ chức phòng ngự nhưng cũng bị quân của Lê Lý và Lê văn An đuổi theo ập đến bao vây. Địch đã tổ chức phòng ngự, nên Lê Lợi lệnh cho quân ta lập trại ở tả ngạn Xương-giang phải chuyển sang lâm thời phòng ngự, tích cực chuẩn bị tổng công kích. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Thôi Tụ bắn pháo hiệu yêu cầu các thành Đông-quan và Chí-linh đến ứng cứu, nhưng quân địch trong hai thành này cũng đang nằm trong cái cảnh tương tự, nên không hề nhúc nhích.

Đầu tháng 11, Lê Lợi tung đội dự bị ra cùng với thủy binh và bộ binh đến khép chặt vòng vây, đòng thời dùng một bộ phận đi đóng giữ các cửa ải Chi-lăng, Mã-yên, Pha-lũy, Bàng-quan chặn đường rút lui của địch; do đó, Thôi Tụ quyết định chạy về thành Chí-linh đã bị chặn lại, địch ở vào tình thế hoang mang cực độ, lương thực thiếu thốn, tinh thần tướng sĩ bạc nhược, tiến không được mà thoái cũng cùng đường.

Sau khi đã điều động đầy dủ quân đội, mọi mặt đã chuẩn bị xong và nhất là nắm được tình hình trên đây của địch, Lê Lợi hạ lệnh tổng công kích. Quân ta từ các mặt với khi thế dũng mãnh nhất tề xông lên lao vào trận địa địch. Ngày 15 tháng 10 năm Đinh Vị, quân địch bị đại bại; các tướng Thôi Tụ, Hoàng Phúc cùng gần 3 vạn tên địch bắt sống, gần 5 vạn tên bị giết, số còn lại xin đầu hàng. Quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Chỉ không dầy một tháng (từ ngày 8 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 năm Đinh Vị) hai chiến thắng lớn ở Chi-lăng và Xương-giang đã đem lại kết quả tiêu diệt toàn bộ đạo quân chủ lực tinh nhuệ nhất của viện binh địch gồm trên 10 vạn tên do Liễu Thăng chỉ huy.

Cũng trong lúc đó, đạo quân viện thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy đã bắt đầu tiến cận quân ta trên cửa ải Lê-hoa. Mộc Thạnh tỏ ra rất thận trọng, cho tiến quân chậm chạp, cử các toán trinh sát đi do thám tình hình phòng ngự của ta và nghe ngóng tình hình tiến quân của Liễu Thăng. Nắm được đặc điểm đó của địch, Lê Lợi lệnh cho các tướng sĩ giữ Lê-hoa chưa nên giao chiến với địch, chỉ nên để một số phục kích cầm cự, chờ đợi thời cơ.

Sau khi đạo quân của Liễu Thăng đã hoàn toàn bị tiêu diệt, Lê Lợi cho bắt một số tên chỉ huy địch sai chúng đem bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng đưa đến trại của Mộc Thạnh, khiến tên này vô cùng khiếp sợ, lập tức hạ lệnh rút lui. Các tướng Phạm văn Xảo và Trịnh Khả nhằm đúng thời cơ đó chuyển sang tấn công, dùng lực lượng chủ yếu phục kích trên đường địch rút, cho một bộ phận đánh thắng vào địch. Mộc Thạnh đốc thúc quân chạy cho mau, nhưng đến Lãnh-thủy và Đan-xá (thuộc tỉnh Lào-cai) bị quân phục kích của ta phối hợp với quân truy kích đánh mạnh nên lại thu được thêm một thắng lợi to lớn nữa, địch bị giết trên 1 vạn và bị bắt sống trên 1.000 tên; ta thu được trên 1.000 ngựa và rất nhiều chiến lợi phẩm khác, tàn quân của Mộc Thạnh chạy thục mạng về Vân-nam, nhưng phần lớn bị tan rã ở dọc đường. Trong “Bình ngô đại cáo” ghi lại chiên thắng lớn ở Lãnh-thủy – Đan-xá, như sau:

“Máu chảy đầy đồng, Lãnh-câu no nước trôi ấp ức;
Thây chồng thành núi, Đan-xá kia cỏ nội thẫm hồng”.

Hai đạo quân viện của nhà Minh đã bị hoàn toàn tiêu diệt.

Thắng lợi ở Chi-lăng và Xương-giang là hai chiến thắng lớn nhất trong toàn bộ cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi đã đánh cho địch những đòn có tính chất quyết định buộc Vương Thông phải đầu hàng, làm cho ý chí chiến đấu bị rã rời và âm mưu xâm lược bị thất bại và cuối cùng buộc nhà Minh phải công nhận nền độc lập của nước ta.

Để tránh một cuộc chém giết có thể xảy ra lần nữa và do nắm được tình hình của nhà Minh, Lê Lợi đã chủ động viết thư cho Vương Thông để lập lại hòa bình và cho Vương Thông rút quân. Tuy vậy vòng vây chung quanh Đông-quan vẫn còn khắp chặt và vào khoảng tháng 12 Vương Thông còn liều chết đem quân ra đánh ta. Nhưng cuộc phản kích tuyệt vọng này đã bị đánh lui. Vương Thông ngã ngựa suýt bị bắt sống, quân ta lại củng cố trận địa, xây đắp công sự và chuẩn bị tổng tấn công.

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Vị, Vương Thông xin hàng và đề nghị Lê Lợi cho hắn rút đại quân về nước. Lê Lợi tuyên bố lệnh hòa nghị và giải vây, cho địch được phép tập trung ở Đông-đô để rút về Trung-quốc. Sau đó triều đình nhà Minh cũng ra lệnh bãi binh.

Từ ngày 12 đến ngày 17 tháng chạp năm Đinh Vị, 86.610 tên địch do tên bại tướng Vương Thông chỉ huy đã lần lượt theo các đường thủy bộ rút ra khỏi đất nước ta. Lê Lợi cử Nguyễn Trãi viết “Bình ngô đại cáo”, công bố cho toàn thể nhân dân biết rằng sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đã hoàn toàn thắng lợi, mở ra một thời kỳ độc lập, thái bình mới:

“Xã tắc từ nay bền vững,
Sơn hà bởi đó đẹp tươi.
Một áng kiền khôn, bĩ rồi lại thái;
Đôi vầng nhật nguyệt, hối mà lại minh.
Để mở nền muôn thuở thái bình,
Để rửa nỗi nghìn thu hổ thẹn”
.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:03:20 PM
D – NHỮNG BÀI HỌC CHỦ YẾU VỀ CHIẾN LƯỢC – CHIẾN THUẬT TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

1. Vấn đề chiến lược

Cuộc khởi nghĩa Lam-sơn là giai đoạn đấu tranh cao nhất và cũng là giai đoạn cuối cùng của toàn bộ cuộc đấu tranh lâu dài nhưng rất vĩ đại của nhân dân ta trong 20 năm dưới quyền thống trị của nhà Minh.

Cuộc khởi nghĩa đó là một cuộc chiến tranh yêu nước để giải phóng dân tộc, được toàn thể nhân dân nhiệt liệt ủng hộ và hưởng ứng, là điều kiện căn bản quyết định thăng lợi cuối cùng của cuộc khởi nghĩa.

“Rút lại, thắng hung tàn bằng đại nghĩa;
Thay tàn bạo lấy chí nhân”.

Câu tổng kết đó trong “Bình ngô đại cáo” đã nói lên tính chất chính nghĩa, tính chất nhân dân và tính chất tất thắng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Sức mạnh vô địch của cuộc khởi nghĩa là sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ quân đội, giữa quân đội với nhân dân, giữa dân tộc nhiều người với các dân tộc ít người. sự đoàn kết nhất trí đó cũng chính là nguồn gốc sức mạnh của quân đội – là nguồn gốc của thắng lợi. Trong một bức thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi đã lấy danh nghĩa của Lê Lợi viết rằng “Quân của tôi chỉ có vài chục vạn, nhưng hết thảy cùng một lòng”.

Khi phân tích những nguyên nhân thất bại của quân Minh, Nguyễn Trãi viết:

- Nay tính hộ các ông, xét có 6 điều phải thua:

- Nước lụt chảy tràn, tường cao đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.

- Xưa Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu, đều có quân và voi đồn giữ, nếu viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.

- Ở nước các ông, quân mạnh, ngựa tốt nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không rỗi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.

- Động dung can qua, hàng năm đánh dẹp, dân sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.

- Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình sinh biến. Đó là điều phải thua thứ năm.

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc; quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt khốn khổ, tự chuốc lấy bại vong. Đó là điều phải thua thứ sáu” (Quân trung từ mệnh tập, thư số XXXV: Lại thư dụ Vương Thông trang 49 – 50).

Tuy bức thư đó gửi cho Vương Thông giữa lúc quân ta đang bao vây chúng và trong giai đoạn phản công, nhưng nó cũng là bản tổng kết chung những nguyên nhân thất bại của quân xâm lược nhà Minh.

Trong cuộc khởi nghĩa này, những quy luật của chiến tranh giải phóng của một dân tộc nhỏ yếu bị ngoại bang hùng cường thống trị đã được thể hiện một cách rất rõ rệt. Nghĩa quân đã từ không đến có, từ yếu đến mạnh, để rồi dần dần đè bẹp được lực lượng của địch. Từ trên dưới 500 quân chiến đấu thời kỳ đầu cuộc khởi nghĩa, phải chống chọi với hàng chục vạn quân chính quy đang trên đà chiến thắng của quân Minh, nghĩa quân vừa đánh vừa lớn mạnh, càng đánh càng lớn mạnh, đã đi từ thắng lợi nhỏ đến thắng lợi lớn và cuối cùng đã phát triển thành một quân đội chính quy mạnh me với 35 vạn người, trong từng trận chiến đấu có đủ sức tiêu diệt hàng vạn, hàng chục vạn quân địch. Nếu không phải là một quân đội có tính chất nhân dân, không thể giành được những thắng lợi to lớn rực rỡ và oanh liệt như vậy được. Mặt khác, do được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, nên Lê Lợi mới tiến hành được chiến thuật du kích, vận dụng có kết quả lối đánh phục kích, bao vây, thực hiện được tiêu thổ kháng chiến, dẫn cuộc chiến tranh lâu dài đến thắng lợi cuối cùng.

Sự lãnh đạo kiên quyết và tài tình của Bộ tham mưu nghĩa quân mà linh hồn là Lê Lợi và Nguyễn Trãi cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Sự lãnh đạo đó đã thể hiện trong những tư tưởng chỉ đạo chiến lược – chiến thuật đúng đắn, phù hợp với quy luật của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Đường lối chiến lược của nghĩa quân là tiến hành một cuộc hiến tranh nhân dân lâu dài, đó là chiến lược căn bản và là quy luật phát triển khách quan của nghĩa quân. Để thực hiện phương châm chiến lược này, nghĩa quân đã dựa vào nhân dân để chiến đấu “vừa cày ruộng và đánh giặc” đặc biệt biết kết hợp khéo léo giữa tấn công và hòa hoãn, giữa hành động ngoại giao và hành động quân sự, giữa thế công về quân sự và thế công về chính trị và cuối cùng đã đuổi được quân địch ra khỏi bờ coi. Ánh lửa nhóm lên từ Lam-sơn đã đốt cháy toàn bộ quân xâm lược trên cả đất nước ta.

Bây giờ chúng ta nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu về chiến lược trên cả đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống quân Minh gồm:

- Vây quét và chống vây quét

- Xây dựng căn cứ địa

- Địch vận: một nhiệm vụ chiến lược

- Từ du kích chiến phát triển lên chính quy chiến

- Chọn phương hướng quyết chiến.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:04:03 PM
1. Vây quét và chống vây quét

Một trong những đặc điểm của cuộc kháng chiến lâu dài lần này là cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi nổ ra trong điều kiện quân Minh đã xâm chiếm và thôn tính xong nước ta, một bộ máy thống trị tàn bạo đã được thiết lập và quân xâm lược đã rải ra chiếm đóng. Sự chênh lệnh về lực lượng giữa quân xâm lược chiếm đóng và nghĩa quân vô cùng to lớn, đến nỗi không thể dùng phép so sánh thông thường bừng tỷ lệ được nữa; so với con “voi” nhà Minh thì quân ta quả chỉ là một con “châu chấu”. Đặc điểm này nói lên một mặt cuộc kháng chiến của ta phải rất lâu dài và rất quyết liệt, mặt khác nghĩa quân không có con đường nào khác, ngoài con đường chiến tranh du kích.

Về thực tế, nghĩa quân Lam-sơn trong thời gian khá dài chỉ là một đội quân du kích và quân Minh không thể để một đội du kích như thế tồn tại và phát triển, cho nên chúng đã sử dụng binh lực đến tấn công tiêu diệt; ngược lại, nghĩa quân càng tồn tại và phát triển cho nên phải phòng ngự và kiên quyết đánh tan các cuộc tấn công của địch. Điều đó, sự thật đã chứng minh hết sức rõ ràng và đầy đủ.

Nghĩa quân vừa thành lập được một tuần lễ thì Mã Kỳ đã kéo quân tới vây quét. Chỉ riêng trong tháng 2 năm 1418 – địch đã 3 lần tấn công vào căn cứ, hòng vây quét tiêu diệt đội du kích nhỏ bé của nghĩa quân nhưng đều bị nghĩa quân phòng ngự đánh tan. Địch bị thất bại lần này, lại tổ chức vây quét lần khác, quy mô vây quét lần này nhỏ thì quy mô vây quét lần sau lại lớn hơn. Ngược lại, ta phòng ngự là thắng lợi, chống vây quét có thành công, song cũng có khi bị tổn thất, thậm chí có lúc bị tổn thất rất nặng, nhưng lực lượng vẫn bảo toàn được và vẫn phát triển lên. Nói chung, nghĩa quân đã thành công trong việc chống vây quét.

Hiện tượng vây quét và chống vây quét đó lặp đi lặp lại rong một thời gian dài, cho đến tháng 12 năm 1421 thì cuộc vây quét và chống vây quét đã đạt đến quy mô rất lớn: địch đã tập trung đến 10 vạn quân để bao vây nghĩa quân, nhưng nghĩa quân đã anh dũng phá tan. Cho đến khi địch không thể tiêu diệt nổi nghĩa quân trái lại còn bị nghĩa quân chống vây quét thắng lợi gây cho chúng nhiều thiệt hại, quân sĩ mệt mỏi, chán nản và sức chiến đấu bị suy yếu, trong khi đó nghĩa quân càng đánh càng thắng, càng hăng, tinh thần chiến đấu càng cao, đã tiêu diệt được nhiều địch để bảo tồn mình thì là lúc mà lực lượng so sánh giữa hai bên đã có những biến đổi quan trọng, hiện tượng địch vây quét và ta chống vây quét mới dần dần giảm đi và chấm dứt, dần dần đưa đến một sự biến đổi về chiến lược, tức là nghĩa quân chuyển sang tấn công, quân Minh chuyển sang phòng ngự; từ bị vây quét nghĩa quân chuyển sáng bao vây quân địch; từ đi vây quét, quân Minh chuyển sang bị bao vây. Cho nên, vây quét và chống vây quét là một quy luật trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong điều kiện nghĩa quân chỉ có những đội du kích nhỏ yếu phải chống với địch có quân đội chính quy hùng mạnh.

Nhờ nhận thức được quy luật nói trên, bộ tham mưu nghĩa quân đã đặt công tác chống vây quét là một trong những công tác trung tâm; do đó, thắng lợi to lớn của nghĩa quân trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, trước nhất và chủ yếu nhất là thắng lợi của chống vây quét, đó là một thắng lợi có tinh chất chiến lược. Ngược lại chủ trương vây quét của quân Minh bị thất bại, đó là một hất bại có tính chất chiến lược.

Để đạt được những thắng lợi có tính chất chiến lược đó, bộ tham mưu nghĩa quân đã vận dụng những phương chậm cụ thể nào? Chúng ta nhận thấy rằng nghĩa quân đã không chủ trương cố thủ ở một căn cứ nào mà luôn luôn lưu động, di chuyển, đánh được thì đánh không đánh được thì rút, đó là một phương pháp phòng ngự tích cực, một phương pháp rất hiệu quả để thực hiện phương châm đánh lâu dài.

Nghĩa quân đã từ Lam-sơn rút về Lạc-thủy, rồi rút lên núi Chí-linh, xong lại rút về Lam-sơn và cuối cùng di chuyển hẳn vào Nghệ-an. Về mặt phương pháp tác chiến, để phá vây quét, nghĩa quân đã áp dụng phương pháp tấn công để phòng ngự, và dùng hành động tập kích. Khi còn thiếu kinh nghiệm hoặc khi bị bắt buộc, nghĩa quân thường bố trí phục kích ngay trong khu căn cứ của mình chờ địch tiến vào mới đánh; tất nhiên, trong nhiều lần, những trận phục kích như thế đã thắng lợi. Về sau, nghĩa quân đã thay đổi phương châm dùng tấn công để phòng ngự; hay nói một cách khác đã rút khỏi căn cứ của mình mà tập kích vào địch ngay khi chúng chưa tiến đến căn cứ. Phương châm phòng ngự rất tích cực đó, phương châm “phòng ngự thế công” đó đã mang lại nhiều thắng lợi quan trọng. Thí dụ: những trận tập kích vào đồn Nghệ-an, Quan-du, vào doanh trại của địa quân địch khi chúng tập trung 10 ạn quân tiến về Ba-lẫm, v.v. Một phương pháp nữa mà nghĩa quân đã áp dụng là phục kích địch ở ngoài căn cứ của mình; do đó, buộc địch phải bước vào chiến đấu sớm ở địa hình do mình lựa chọn, phát huy được yếu tố bất ngờ và giành được thế chủ động.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:04:43 PM
2. Xây dựng căn cứ địa

Vấn đề xây dựng căn cứ địa có liên quan trực tiếp đến vấn đề vây quét và chống vây quét. Từ nhận thức “vây quét và chống vây quét” là một quy luật của chiến tranh du kích, các nhà lãnh đạo nghĩa quân đã nhận thức được tầm quan trọng và tính tất yếu của vấn đề xây dựng căn cứ địa làm căn cứ chiến lược, dựa vào đó mà chấp hành nhiệm vụ chiến lược đạt tới mục đích bảo toàn và phát triển lực lượng của nghĩa quân tiêu diệt quân Minh.

Do kinh nghiệm bản thân, bộ tham mưu nghĩa quân đã sớm nhận ra rằng những căn cứ đã xây dựng ở vùng thượng du Thanh-hóa và Lam-sơn đã không đáp ứng được nhu cầu của nhiệm vụ chiến lược. Lúc đầu, dựa vào địa thế hiểm trở của miền núi là chủ yếu, mặc dù ở đây được nhân dân địa phương thuộc dân tộc Mường hết sức giúp đỡ, nhưng địa bàn hoạt động hẹp, điều kiện kinh tế khó khăn, việc giải quyết vấn đề cung cấp lương thực, khí giới, quân nhu đã hạn chế việc phát triển lực lượng; cho nên nghĩa quân rút xuống đồng bằng ở vùng Lam-sơn, ở đây việc cung cấp lương thực vũ khí… có thể giải quyết được tốt, địa thế cũng hiểm trở, nhưng lại có một vấn đề khác đặt ra phải giải quyết: Thanh-hóa lúc đó còn là một khu vực mà lực lượng của địch mạnh, điều đó khiến cho căn cứ luôn luôn ở thế bị uy hiếp, nên việc vây quét của địch làm cho quân ta có thể được rèn luyện nhiều trong thực tế chiến đấu, thì mặt khác, do thế bị uy hiếp thường xuyên, trực tiếp đó, cộng với việc vây quét thường xuyên của địch cũng đồng thời làm cho việc giải quyết các vấn đề kinh tế để kháng chiến lâu dài sẽ bị ảnh hưởng nhiều, hạn chế đến việc phát triển lực lượng; cho nên, không phải ngẫu nhiên mà bộ tham mưu nghĩa quân lại quyết định chuyển hướng chiến lược xuống phía Nam, tiến quân vào Nghệ-an để xây dựng căn cứ địa. Trong hội nghị quan trọng ngày 20 tháng 10 năm 1424, nhà chiến lược tài giỏi Nguyễn Chích đã đưa ra kế hoạch mới, sau khi đã phân tích một cách rất chính xác như sau:

- Nghệ-an có vị trí chiến lược quan trọng. Chiếm được Nghệ-an sẽ cắt địch ra thành hai vùng, khiên cho chúng từ thế mạnh về bố trí chiến lược sẽ trở thành thế yếu.

- Nghệ-an đất rộng lại giàu, nhân dân có truyền thống chiến đâu anh dũng. Phải dựa vào nhân, tài, vật lực ở đây để phát triển lực lượng kháng chiến lâu dài.

- Địch ở vùng này yếu so với các nơi khác.

Sau khi phân tích như vậy, nhà anh hùng nông dân đó đã đến một đề nghị tối quan trọng, thể hiện rõ tầm mắt chiến lược nhìn xa thấy rộng: trước mắt, chuyển xuống phương Nam để xây dựng căn cứ địa, sau này sẽ từ đó tiến lên phương Bắc, giải phóng cả nước.

Bộ tham mưu nghĩa quân đã tỏ ra hết sức sáng suốt trong việc chấp nhận kế hoạch chiến lược đó. Và tình hình tiếp sau đã diễn ra đúng như dự đoán, chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, cả một vùng rộng lớn đã được giải phóng, không những ở Nghệ-an mà cả Tân-bình và Thuận-hóa nữa, hàng triệu nhân dân được thoát khỏi ách thống trị của nhà Minh; lực lượng của nghĩa quân đã phát triển nhảy vọt từ vìa nghìn người trước đây đã tiến đến một đội quân khá hùng mạnh gồm hàng vạn người. Chính do biết kịp thời chuyển hướng chiến lược như vậy, cho nên cũng chỉ trong một thời gian tương đối ngắn ấy, nghĩa quân đã giành lại được thế chủ động chiến lược cục bộ, đưa chiến tranh cục bộ chuyển sang hình thái mới: địch từ tấn công đã lui về cố thủ trong hai thành cô lập (Diễn-châu, Nghệ-an), còn ta thì từ phòng ngự đã chuyển sang tấn công, bao vây địch.

Nghiên cứu vấn đề xây dựng căn cứ địa của nghĩa quân Lam-sơn, chúng ta có thể rút ra những bài học như sau:

- Điều kiện trước nhất và quyết định nhất để xây dựng căn cứ địa là phải được nhân dân đồng tình ủng hộ, đồng thời phải có một dân số tương ứng.

- Thứ hai, phải có địa thể hiểm yếu, có vị trí cơ động, quan trọng. Thành công của nghĩa quân đã chứng minh rằng, không những chỉ có thể xây dựng được căn cứ địa ở miền rừng núi mà còn hoàn toàn có thể xây dựng được căn cứ địa vững chắc, lớn mạnh cả ở miền đồng bằng.

- Thứ ba, phải có điều kiện kinh tế, nhân, tài, vật lực dồi dào là nguồn dự trữ vật chất cho cuộc kháng chiến lâu dài.

- Thứ tư, phải có điều kiện địch tình thuận lợi cho ta, nơi địch yếu, chính là nơi ta có thể phát triển lực lượng.

- Ngoài ra, còn cần thiết phải có một điều kiện căn bản nữa, đó là lực lượng vũ trang.

Thật vậy, nếu không có nghĩa quân thì dù cho Nghệ-an có đầy đủ những điều kiện trên cũng không thể nào trở thành căn cứ địa được; trong điều kiện của chiến tranh, sự tồn tại và phát triển của lực lượng vũ trang phải trở thành một điều kiện căn bản để xây dựng và mở rộng căn cứ địa; có lực lượng vũ trang vẫn chưa đủ mà lực lượng vũ trang ấy còn cần phải luôn luôn chiến thắng tức là không ngừng tiêu hao và tiêu diệt địch, đồng thời cũng không ngừng phát triển lực lượng mình, có như vậy căn cứ địa mới có thể được giữ vững và mở rộng.

Việc hạ thành Trà-long, chiến thắng địch ở Khả-lưu – Bồ-ải, ở Đỗ-gia – Diễn-châu, ở Tân-bình – Thuận-hóa đã hoàn thành được nhiệm vụ chiến lược lúc đó chính là nhờ đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hẹp được phạm vi chiếm đóng của chúng, đồng thời phát triển được lực lượng của ta, mở rộng căn cứ địa, biến Nghệ-an – Tân-bình – Thuận-hóa thành một căn cứ hậu phương vững mạnh để chuyển sang giai đoạn chiến lược tiếp sau: tấn công ra Bắc, tiêu diệt chủ lực của địch.

Nghĩa quân đã thành công lớn trong vấn đề xây dựng căn cứ địa, nhờ có thành công lớn có tính chất quyết định về chiến lược đó nên đã tiến hành được cuộc chiến trnah lâu dài và quyết liệt chống quân Minh.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:06:14 PM
3. Địch vận: một nhiệm vụ chiến lược

Một trong những quan điểm căn bản của nghĩa quân Lam-sơn làm cơ sở cho đường lối quân sự là “Bậc nhân giả lấy yếu trị mạnh, bậc nghĩa giả lấy ít địch nhiều”, và “Đánh vào lòng người”. Xuất phát từ quan điểm “lấy nhân nghĩa, đánh vào lòng người”, nghĩa quân đã đưa công tác vận động, thuyết phục quân địch lên thành một nhiệm vụ chiến lược. Tầm quan trọng của nhiệm vụ chiến lược đó đặt được ngang hàng với tất cả mọi nhiệm vụ chiến lược tối quan trọng khác. Đó cũng là một nét độc đáo về chiến lược trong lịch sử chống ngoại xâm của ta từ thời kỳ cận đại trở về trước. Nghĩa quân Lam-sơn đã đánh địch trên hai mặt: đánh tiêu diệt và làm tan rã tinh thần, hai mặt đó quan trọng như nhau, phối hợp mật thiết với nhau, bổ sung lẫn cho nhau và không tách rời nhau.

Công tác địch vận đã được tiến hành từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến, từ lúc lực lượng ta còn nhỏ yếu đến khi đã lớn mạnh, lúc bình thường, cũng như khi chiến đấu. Cho nên công tác địch vận không phải là một thủ đoạn về sách lược hay một thủ đoạn trong tác chiến.

Trong di sản văn học mà Nguyễn Trãi để lại, những bức thư gửi cho các tướng lĩnh quân Minh trong “Quân Trung từ mệnh tập” là một tập tài liệu vô cùng quý giá về mọi mặt, biểu hiện một cách khá tập trung những tư tưởng chính trị, chiến lược và chiến thuật của Nguyễn Trãi – Lê Lợi và của nghĩa quân, đặc biệt nổi bật lên rất rõ nét tư tưởng chiến lược “đánh vào lòng người” của công tác địch vận. Nghiên cứu kỹ những bức thư đó, chúng ta có thể thấy rằng Nguyễn Trãi đã dùng ngòi bút tuyệt vời của mình để phục vụ đắc lực cho mục đích chính trị của của chiến tranh cũng như mục đích của chiến lược – chiến thuật, khiên cho quân ta thời đó đã giành được nhiều thắng lợi vô cùng to lớn, mà tốn rất ít xương máu. Nhà sử học Phan huy Chú đã đánh giá những bức thư đó có sức mạnh như 10 vạn quân; nó đã được thực tế chứng minh, đã thể hiện sức mạnh vô địch của chính nghĩa tất thắng và lòng tin tưởng không gì lay chuyển nổi của quân đội ta vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; đồng thời nó còn là một mẫu mực trong việc diễn đạt những nội dung tư tưởng sâu sắc tràn đầy tính chiến đấu bằng một hình thức văn chương lành mạnh có sức hấp dẫn mãnh liệt và tình cảm thiết tha đi thẳng vào tim gan con người; nó còn có sức thuyết phục bằng lý trí trong những tình huống khác nhau theo những nhu cầu khác với những đối tượng khác nhau.

Trước nhất, qua ngòi bút sắc bén của Nguyễn Trãi đã mô tả ro nét tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng của nghĩa quân và nhân dân ta và tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược của quân Minh, nói lên những điều tất thắng của ta và tất bại của địch. Trong bức thư gửi Vương Thông, Nguyễn Trãi đã phân tích sâu sắc điều tất bại của quân Minh là một thí dụ điển hình. Trong bức thư gửi các tướng sĩ địch trong thành Bắc-giang, Nguyễn Trãi đã phân tích: “Các ngươi nếu cho là thành cao hào sâu, lương thực lại nhiều thì thử xem như các xứ Thanh-hóa, Nghệ-an, Diễn-châu, thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu, lương thực không phải là không nhiều, quân không phải là không mạnh; lại như Thái đô đốc(*) thì chức cũng to, binh cũng giỏi, trí cũng sáng, mà còn theo thời thông biến để bảo toàn tính mạng cho mấy vạn con người. Thế mà các ngươi lại còn muốn cố chấp lời bàn suông, để mang tai vạ thực, há chẳng lầm lắm ư?” (Quân trung từ mệnh tập, thư số XXXI: Thư dụ thành Bắc-giang trang 43). Rồi Nguyễn Trái chỉ ra cho địch con đường thoát khỏi thua trận: “Các ngươi nếu biết kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình, thì ta coi các ngươi nghĩa như anh em ruột thịt, nào chỉ những bảo toàn tính mạng vợ con mà thôi đâu?”. Biết rằng địch lo cho số phận của chúng nếu đầu hàng quân ta, Nguyễn Trãi thuyết phục thêm bằng sách tuyên truyền chính sách của nghĩa quân đối với tù hàng binh: “Quân ta đã xét những việc đắc thất của cổ nhân như Bạch Khởi nước Tần, Hạng Vũ nước Sở, giết kẻ đầu hàng, trái lời đã ước, chúng ta quyết không làm như thế đâu”. Đồng thời, cũng nêu lên hậu quả tất yếu sẽ chờ đợi chúng, nếu ngoan cố chống cự: “Nếu không thế, tùy ý các ngươi. Trong khoảng sớm tối, sẽ khắc thấy nhau. Đến lúc bấy giờ hối cũng không kịp”. Vừa biết phân tích những điều tất bại của địch, vừa đi vào tình hình cụ thể từng nơi, từng lúc để vận động, thuyết phục lại vừa chỉ cho địch con đường thoát khỏi bế tắc, đem chính sách ra để thuyết phục, đem kết quả của việc thực hiện chính sách đó ở những nơi khác ra để chứng minh, với lời lẽ vừa ôn hòa vừa kiên quyết, công tác địch vận của nghĩa quân Lam-sơn đã đạt đến mức tài giỏi, toàn diện, có lý có tình, cụ thể và sâu sắc.

Nghĩa quân còn thấy trong quân Minh lúc đó có cả ngụy quân cho nên khi vận động thuyết phục, lý lẽ đưa ra cũng phải khác với quân Minh, chính sách vận dụng phải có những net riêng biệt. Trong bức thư gửi cho tướng sĩ ngụy quân ở thành Điêu-diêu, Nguyễn Trãi viết: “Trước nhân họ Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các ngươi có người thì bị hãm trong chính quyền của địch, có người buộc phải làm quan với địch; đó là thế không đừng được, đâu phải do bản tâm các ngươi”… “Bọn các ngươi nếu biết rửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận; hoặc ở làm nội ứng, hoặc ra đầu hàng, thì không những rửa nỗi hổ thẹn ngày trước, mà còn được phần soi xét về sau. Ta không nói lời rồi lại ăn lời đâu. Nếu các ngươi còn tham tiếc ngụy chức, chống lại vương sư, thì khi thành bị hãm, tội ác các ngươi còn nặng hơn giặc Ngô đấy”.

Như trên đã trình bày, địch vận đã được đặt thành một nhiệm vụ chiến lược. Thành công về công tác địch vận của nghĩa quân vô cùng to lớn, đặc biệt là trong thời kỳ bộ tham mưu nghĩa quân quyết định hạ các thành lẻ để triệt để cô lập Đông-quan trước khi viện binh địch tiến sang ta. Lần lượt các thành nhỏ, lớn đã kéo quân ra hàng: Nghệ-an, Diễn-châu, Điêu-diêu, Thị-cầu, Tam-giang, cho đến cuối cùng thì gần 10 vạn quân còn lại của Vương Thông cũng ra hàng nốt. Trên bia Vĩnh-lăng, Nguyễn Trãi còn ghi lại chiến công vĩ đại của công tác “đánh vào lòng người” đại ý như sau: “Số quân giặc bị bắt và hàng ở các thành, gồm hơn 10 vạn tên, tất thảy đều thả cho về nước; đường thủy cấp cho 500 chiếc thuyền, đường bộ cấp lương thực và lừa ngựa. Nhà vua răm cấm quân sĩ không được mảy may đụng chạm đến chúng”.


(*) Thái đô đốc: Thái Phúc, tướng chỉ huy thành Nghệ-an đã đầu hàng nghĩa quân.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:07:16 PM
4. Phát triển lên chính quy chiến

Nghĩa quân Lam-sơn ngay từ đầu nhóm lên ngọn lừa khảng chiến lâu dài và quyết liệt đã phải tiến hành một cuộc chiến tranh du kích để tồn tại và phát triển, trước tình hình so sánh tương quan lực lượng giữa nghĩa quân và quân Minh có sự chênh lệch quá lớn, trước tình hình địch đã chiếm đóng toàn bộ nước ta mà nghĩa quân chỉ có một căn cứ nhỏ bé, trước tình hình mà hình thức chiến tranh trong thời kỳ đầu là vây quét và chống vây quét thì chẳng những không đánh lâu dài không thể thắng lợi nổi mà không đánh du kích cũng không thể tồn tại được. Cho nên phải bắt đầu bằng du kích chiến, đó là một tất yếu lịch sử.

Nhưng quá trình của chiến tranh giải phóng, cũng tức là quá trình của sự chuyển biến lực lượng, nghĩa quân từ yếu đến mạnh, quân Minh từ mạnh đến yếu; là quá trình tích lũy những tiêu hao và tiêu diệt nhỏ về chiến đấu để đạt đến tiêu hao về chiến lược, tích lũy những tiêu diệt lớn để giải phóng toàn bộ đất nước. Xét về mặt này thì giải quyết kết cục của chiến tranh không thể chủ yếu dựa vào du kích chiến, mà chủ yếu phải dựa vào chính quy chiến. Đội du kích của nghĩa quân lúc đầu yếu cả về số lượng lẫn chất lượng, nhưng trải qua rèn luyện trong thực tế của chiến tranh lâu dài và ác liệt lại được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, nó đã nhanh chóng phát triển về số lượng và nâng cao về chất lượng, vì vậy không thể không xây dựng thành binh đoàn chính quy và tác chiến theo phương pháp chính quy chiến, đó cũng là một tất yếu lịch sử.

Toàn bộ cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam-sơn đã chứng minh quá trình phát triển đó, đồng thời chứng minh cả quy luật đó của chiến tranhgiải phóng trong những điều kiện đặc biệt: chỉ có phát triển lên chính quy chiến, và chỉ có phát triển lên chính quy chiến mới có thể giải quyết được vận mệnh của chiến tranh.

Thiên tài của những nhà lãnh đạo nghĩa quân là đã vận dụng quy luật đó một cách tài tình và đã giải quyết thành công một vấn đề quan trọng nữa là nên dùng vận động chiến hay nên dùng trận địa chiến? Tất nhiên, ở thế kỷ 15, không những chỉ có trận địa chiến mà ngay đến vận động chiến và cả du kích chiến nữa không thể giống như trận địa chiến, vận động chiến và du kích chiến vận dụng trong những điều kiện mới mẻ ở thế kỷ 19 – 20 được.

Xét về các mặt binh khí, khí tài, kỹ thuật, kỹ năng chiến đấu của chiến binh, phương pháp tác chiến, quy mô tổ chức và thực hành chiến đấu, v.v. thì sự khác nhau giữa xưa và nay đều rất rõ ràng; nhưng tính chất của du kích chiến, vận động chiến và trận địa chiến thì xưa và nay vẫn là một.

Sự khác nhau căn bản của hình thức tác chiến giữa quân đội nhà Hồ và nhà Lê là ở chỗ nhà Hồ đã áo dụng trận địa chiến (phòng tuyến kiên cố, thành lũy) là chủ yếu, còn nghĩa quân Lam-sơn đã áp dụng vận động chiến là chủ yếu. Đó là không nói đến một sự khác nhau căn bản khác, tức là nhà Hồ không áp dụng du kích chiến. Cho nên, một trong những nguyên nhân thất bại của quân đội nhà Hồ là sự sai lầm trong việc vận dụng hình thức tác chiến lấy trận địa chiến là chủ yếu, một trong những nguyên nhân thành công của nghĩa quân Lam-sơn là sự vận dụng đúng đắn hình thức tác chiến lấy vận động chiến là chủ yếu.

Thực tế đã chứng minh rằng, từ các trận Khả-lưu, Bồ-ải đến trận tiêu diệt viện binh địch ở Chi-lăng, quy mô của vận động chiến đã được nâng cao rất nhiều và tính chất tiêu diệt chiến của nó đã xuất hiện rõ rệt.

Tuy vậy, trong khi dựa vào vận động chiến là chủ yếu, nghĩa quân hoàn toàn không cự tuyệt trận địa chiến kể cả trong tấn công cũng như trong phòng ngự. Tùy theo tình hình so sánh lực lượng từng nơi, từng lúc, tùy theo lối bố trí và cách hành binh của địch, tùy theo nhu cầu tác chiến, nghĩa quân còn đánh cả trận địa chiến, kể cả trận địa chiến quy mô lớn. Thí dụ: trận tấn công thành Xương-giiang, trận phòng ngự trên cửa ải Lê-hoa đã mang tính chất của trận địa chiến.

Hơn nữa, trong những điều kiện nhất định, vận động chiến đã chuyển hóa thành trận địa chiến, hoặc trái lại trận địa chiến thành vận động chiến. Như trận vận động truy kích 8 vạn quân của Thôi Tụ - Hoàng Phúc sau đó đã chuyển thành một trận tấn công có tính chất trận địa chiến. Nhưng, nhìn chung, nghĩa quân đã dựa vào vận động chiến là chủ yếu.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:07:43 PM
5. Chọn phương hướng quyết chiến

Trong lịch sử nước ta, mỗi lần quân đội các triều đại phong kiến Trung-quốc sang xâm lược thường tiến vào bằng ba hướng chính: Nam-quan – Hà-nội, Lào-cai – Hà-nội và theo đường biển đổ bộ lên Quảng-yên đánh vào Hà-nội. Tùy theo lực lượng, khu xuất phát tấn công và nhiệm vụ chiến lược, có lúc tiến quân theo cả ba đường, có lúc theo hai đường; có lúc lấy đường biển làm hướng tấn công chủ yếu, có lúc lấy đường Nam-quan làm hướng tấn công chủ yếu, song thông thường thì hướng Nam-quan – Hà-nội vẫn được chọn làm hướng tấn công chủ yếu.

Để tiến hành phòng ngự hoặc phản công, quân đội ta dưới các triều đại khác nhau vẫn thường phải tập trung quân trên cả ba hướng đó; cho nên, đã hình thành ba phương hướng chiến lược rất rõ rệt và đều quy tụ cả về kinh đô nước ta.

Do đó, trong tấn công chiến lược cũng như trong phòng ngự chiến lược, vấn đề chọn hướng chủ yếu là rất quan trọng. Đặc biệt, khi tấn công (hoặc phản công) cần phải quyết chiến tiêu diệt lực lượng địch trên một phương hướng nhất định nào đó, việc lựa chọn một cách thật chính xác hướng chủ yếu có tầm quan trọng vô cùng lớn lao và có tính chất quyết định sự thành bại của sự chỉ đạo chiến lược. Vì rằng, khi đã chọn phương hướng quyết chiến phải triệt để tiết kiệm lực lượng ở các hướng khác, nhằm tập trung ưu thế binh lực ở hướng chủ yếu, phải đặt quan hệ chính xác giữa nhiệm vụ đột kích, kiềm chế với hỗ trợ, giữa các lực hướng với nhau và trên cơ sở đó đặt bố trí chiến lược chính xác, đặc biệt là đặt đội dự bị chiến lược; cuối cùng đi đến quyết định nhiệm vụ và hình thức chiến thuật cho từng hướng riêng biệt.

Trong thời kì vây Đông-quan tiêu diệt viện binh của địch, bộ tham mưu nghĩa quân đã giải quyết vấn đề chọn phương hướng quyết chiến như thế nào?

Xét về mặt tương quan lực lượng giữa ta và địch thì, lúc đó viện binh địch tổng cộng là 15 vạn quân, đồng thời tấn công trên hai hướng nhằm Đông-quan làm mục tiêu hội quân; trên hướng chủ yếu Nam-quan – Đông-quan địch tập trung 10 vạn quân tinh nhuệ, còn trên hướng phối hợp Vân-nam – Đông-quan có 5 vạn quân.

Về ta, quân số đã lên đến 30 vạn, trong số này phải để một bộ phận đóng ở những nơi xung yếu và một bộ phận tiếp tục bao vây một số thành. Để giam chân một lực lượng lớn gần 8 vạn quân địch trong Đông-quan, nghĩa quân không thể để một binh lực ít ỏi làm nhiệm vụ đó được, dễ bị nguy cơ địch đánh ra ngoài làm nội ứng cho quân chủ lực của Liễu Thăng, như vậy việc vây thành của ta không những không thực hiện được, mà việc diệt viện cũng không thành công.

Xét về mặt địa hình thì hướng Nam-quan – Đông-quan là quãng đường ngắn nhất để Liễu Thăng chấp hành nhiệm vụ chiến lược, hội quân với Vương Thông, giành lại ưu thế và chủ động chiến lược. Trên hướng đó địa hình vừa thuận tiện cho bên tấn công lại vừa thuận tiên cho bên phòng ngự, thuận tiện cho việc sử dụng và triển khai những binh lực lớn. Về địa hình trên hướng Vân-nam – Đông-quan do núi non hiểm trở, có sông chạy song song với đường bộ, cho nên hạn chế việc sử dụng và triển khai những binh lực lớn.

Hơn nữa, trên hướng Nam-quan – Đông-quan còn có dân cư đông đúc đã trải qua nhiều thử thách lớn trong nhiều cuộc kháng chiến, việc tiếp tế lương thực cũng như việc giấu quân và hành quân… đều thuận tiện hơn hướng Vân-nam.

Trên đây tuy là những điểm tính toán cân nhắc của bộ tham mưu nghĩa quân khi đặt vấn đề chọn phương hướng quyết chiến, song vẫn chưa phải là vấn đề chủ yếu nhất, mà vấn để chủ yếu nhất là phải xét đến ý định chiến lược của ta. Ý định chiến lược đó thật rõ ràng, dứt khoát: trước nhất, bao vây Đông-quan tiêu diệt viện binh địch, sau đó sẽ tập trung toàn bộ lực lượng giải phóng Đông-quan. Cho nên, điều suy tính chủ yếu nhất lúc đó là, để thực hiện ý định chiến lược, nên tiêu diệt chủ lực của viện binh ngay từ đầu, hoặc trước nhất hãy kiềm chế chủ lực của viện binh, đột kích vào một bộ phận khác của viện binh, sau đó mới chuyển hướng sang tiêu diệt nốt chủ lực.

Trong vấn đề ý định chiến lược, thời gian cũng là một yếu tố hết sức quan trọng, vì rằng viện binh nhà Minh nhất là cánh quân chủ lực do Liễu Thăng chỉ huy phải hết sức tranh thủ thời gian để về hội quân với Vương Thông. Còn về phía ta, hoặc là phải hết sức tranh thủ thời gian để tiêu diệt cánh quân chủ lực này, hoặc là hết sức tranh thủ thời gian không cho chúng về Thăng-long.

Đến đây, vấn đề đã rõ ràng: đánh cánh quân Mộc Thạnh dễ dàng hơn, vì số lượng yếu, ta có nhiều điều kiện tập trung ưu thế, đánh chắc thắng chắc. Nhưng, nếu tấn công cánh quân Mộc Thạnh, ta có nhiều huận lợi, thì trái lại do lực lượng ta có hạn, nên khi tiến hành phòng ngự để kiềm chế cánh quân chủ lực của Liễu Thăng, ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Nếu cần thiết phải tiến hành phòng ngự vững chắc, phải đưa vào hướng đó những binh lực lớn; như vậy, rõ ràng là không thực hiện được nguyên tắc tiết kiệm và tập trung nói trên, là phạm sai lầm dàn đều binh lực; hoặc tập trung binh lực chủ yếu để phòng ngự trong khi mục đích chiến lược của ta là phản công. Trái lại, đánh cánh quân của Liễu Thăng ta gặp khó khăn hơn, vì số lượng lượng chính mạnh; đứng về điều kiện lúc đó dù ta có tập trung binh lực, ưu thế của ta cũng không phải lớn lắm, nhưng lại do chỗ ở hướng chủ yếu, nếu ta chỉ dùng một binh lực ít để tiến hành phòng ngự thì việc phòng ngự đó vẫn có nhiều điều kiện để tiến hành thuận lợi hơn.

Cho nên, nếu tiêu diệt được cánh quân chủ lực của địch, còn cánh quân của Mộc Thạnh có về đến Đông-quan, thì sau đó ta vẫn có ưu thế về số lượng để tấn công Đông-quan. Ngược lại, nếu tiêu diệt được cánh quân của Mộc Thạnh, còn cánh quân của Liễu Thăng về hội quân được với Đông-quan thì ưu thế của ta sẽ mất và đánh sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Then chốt của vấn đề là ở chỗ đó.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:08:10 PM
Bộ tham mưu nghĩa quân đã quyết tâm tấn công chủ yếu trên hướng Nam-quan – Đông-quan, đột kích chủ yếu vào chủ lực của viện binh địch, đồng thời thực hành phòng ngự trên hướng Vân-nam – Đông-quan, kiềm chế cánh quân phối hợp của địch. Quyết tâm đó rất chính xác dựa trên cơ sở đã cân nhắc, tính toán một cách khoa học mọi điều kiện để tập trung nhằm giải quyết vấn đề thực hiện ý định chiến lược của ta. Tính chất chính xác đó biểu hiện ở những điểm như sau:

- Thứ nhất là, để tạo mọi khả năng để nhanh chóng tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch, vì một khi đã tiêu diệt được tập đoàn này thì về căn bản ta đã phá tan được ý định chiến lược của địch, bước đầu thực hiện ý định chiến lược của ta. Sự thực đã chứng minh điều đó: sau khi ta đã tiêu diệt được toàn bộ cánh quân của Liễu Thăng thì cánh quân của Mộc Thạnh phải rút chạy và sau đó Đông-quan đã đầu hàng.

- Thứ hai là, khi ta chưa có ưu thế tuyệt đối thì trong khi quyết định hướng tấn công đồng thời cần giải quyết cả hướng phòng ngự; hai mặt đột kích và kiềm chế đó phải có quan hệ mật thiết với nhau; hướng thứ yếu, hướng phòng ngự kiềm chế phải tích cực hành động để phục vụ hướng chủ yếu, hướng đột kích, bảo đảm có thể nhanh chóng tiêu diệt địch. Cũng trong điều kiện này, dù ta có tấn công trên cả hai hướng và cùng hành động trong một thời gian thì phương hướng quyết chiến cũng chỉ có một mà thôi.

Quyết tâm đã chính xác song lại cần phải có kế hoạch điều động binh lực thật chính xác nữa mới đủ. Vấn đề tập trung tạo nên ưu thế trên hướng chủ yếu nổi lên hàng đầu trong kế hoạch đó. Như chúng ta đã biết, trên hướng chủ yếu Lê Lợi đã đưa lên 3 vạn quân để kiềm chế 5 vạn quân địch, lực lượng đó đủ sức để hoàn thành nhiệm vụ phòng ngự; hơn nữa, do tác động của hướng chủ yếu, nó còn có thể chuyển sang tấn công tiêu diệt một bộ phận lực lượng của viện binh địch. Trận tiêu diệt 1 vạn quân địch ở Lãnh-thủy – Đan-xá đã chứng minh cụ thể điều đó.

Trên hướng chủ yếu, việc tập trung binh lực có khác, làm theo từng đợt, chứng tỏ nghệ thuật điều động binh lực của Lê Lợi rất cao và rất tài tình, kế hoạch điều động thích hợp với từng trận quyết chiến trên từng địa hình, tầm mắt chiến lược của Lê Lợi không những chỉ chú trọng đến trận đầu tiên mà còn đặc biệt chú trọng đến cả trận quyết chiến sẽ xảy ra sau này nữa. Lúc đầu. Lê Lợi chỉ cử có 1 vạn quân lên biên giới, ý định đó rõ ràng không phải quyết chiến ngay trong trận đầu mà chỉ nhằm kiềm chế kéo địch vào quyết chiến điểm do mình đã chọn. Việc kiên quyết và gấp rút tiêu diệt thành Xương-giang chính cũng nằm trong kế hoạch thực hiện ý định này.

Sau đó, Lê Lợi cử thêm 4 vạn quân tiến lên Chi-lăng để đánh trận quyết chiến đầu tiên, 5 vạn quân so với tổng số 10 vạn quân của Liễu-thăng, rõ ràng là số lượng ta ở vào thế yếu hơn, nhưng không phải trong lúc địch đã ném hết tất cả 10 vạn quân vào chiến đấu ngay được, cho nên Lê Lợi chỉ đặt một mức là tiêu diệt đội tiền vệ của cánh quân chủ lực địch. Do đó mà trong kế hoạch tác chiến ở Chi-lăng, ta đã để cho đội tiền vệ đó lọt vào trận địa mới chặn đánh để chia cắt chúng ra, rồi dùng toàn bộ lực lượng của Lê Lý và Lê văn An tấn công tiêu diệt. Kết qua ta đã tiêu diệt được 1 vạn quân địch. Tiếp sau là trận tấn công trong vận động tiêu diệt được thêm 2 vạn quân địch nữa.

Khi địch đã về đến Xương-giang, Lê Lợi lại điều động thêm trên dưới 2 vạn quân để tiến hành bao vây chặt 8 vạn quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc.

Như vậy, kể cả vòng vây lớn và vòng vây trực tiếp chung quanh Xương-giang, về quân số mà nói nghĩa quân đã ngang với địch, hoặc chỉ thua chút ít. Cuối cùng khi đã nắm chắc được tình hình, trên các hướng khác nhau, kể cả địch ở Đông-quan, lúc đó Lê Lợi mới quyết định sử dụng 5 vạn quân trong đội dự bị chiến lược ra để đánh trận quyết chiến lớn nhất. Trong trận này, quân ta đã tập trung đến mức ưu thế so với địch, do đó đã tiêu diệt gọn 8 vạn quân của Thôi Tụ - Hoàng Phúc.

Bài học rất quan trọng thứ nhất trong vấn đề tập trung binh lực lần này là: tập trung để giành được ưu thế, ưu thế đó phải giữ được trong suốt quá trình của chiến dịch; không những phải giữ vững ưu thế, mà còn phải không ngừng tăng cường ưu thế đó.

Bài học rất quan trọng thứ hai là vấn đề sử dụng đội dự bị. Lê Lợi đã sử dụng đội dự bị chiến lược của mình trong tình huống quyết định nhất và khi đã sử dụng nó là phải thực hiện được ý định chiến lược đã đề ra.

Trên phương hướng quyết chiến này, bộ tham mưu nghĩa quân đã đạt đến dỉnh cao của nghệ thuật quân sự.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:09:00 PM
II. Vấn đề chiến thuật

Về mặt chiến thuật, tùy theo so sánh tương quan lực lượng khác nhau, tùy theo phương châm chỉ đạo chiến lược của từng thời kỳ và tùy theo hoàn cảnh cụ thể từng nơi từng lúc, nghĩa quân đã vận dụng chiến thuật một cách rất linh hoạt.

Nghiên cứu phương châm và hình thức chiến thuật mà nghĩa quân đã vận dụng có những điều gì cần chú ý?

Tổng kết phương châm chiến thuật, Nguyễn Trãi ghi lại trên bia Vĩnh-lăng:

“Năm 1418 bắt đầu nhóm họp nghĩa quân, đóng đồn Lạc-thủy. Trước sau gồm hai mươi mấy trận đánh đều đặt mai phục, dùng kỳ binh đánh quân địch đang hăng, lừa quân địch lúc mỏi mệt, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”.

“Bình Ngô đại cáo” còn nêu thêm:

“Yếu chống mạnh hay đánh lúc bất ngờ;
Ít địch nhiều thường dùng mai phục”.

Sở trường của nghĩa quân là lối đánh tập kích và phục kích. Trong toàn bộ cuộc kháng chiến nhất là trong giai đoạn du kích chiến, nghĩa quân đã dùng tập kích và phục kích để tấn công địch.

Như ta đã thấy, do lực lượng địch lúc đầu rất mạnh, lực lượng ta rất non yếu, cho nên hình thức của chiến tranh lúc đó là vây quét và chống vây quét; chiến lược và chiến thuật của địch là tấn công nhằm tiêu diệt ta. Để đối phó lại, về chiến lược cố nhiên ta phải phòng ngự, nhưng về chiến thuật, nếu chỉ phòng ngự hoặc lấy phòng ngự làm chủ yếu, không thể chống vây quét một cách có kết quả và đội du kích không thể tồn tại được.

Kinh nghiệm trong một số trận chiến đấu chống vây quét đầu tiên của nghĩa quân trên khu căn cứ ở miền thượng du Thanh-hóa đã chứng minh rõ điều đó. Trận nào nghĩa quân phòng ngự đơn thuần, dàn quân trên căn cứ để chống lại địch thì trận đó thường bị thiệt hại, thậm chí có trận bị thiệt hại rất nặng. Ngược lại, trận nào nghĩa quân biết phòng ngự tích cực, dùng thủ đoạn chiến đấu tấn công như: phục kích ở xa căn cứ, tập kích vào lòng địch hay tập kích địch trước khi chúng vây quét thì trận đó thu được thắng lợi.

Nếu so sánh lực lượng giữa các trận phục kích và tập kích, ta thấy phục kích nhiều hơn tập kích. Có thể do lực lượng của nghĩa quân lúc đó còn quá non yếu; vì rằng muốn tập kích phải có một lực lượng tương ứng. Địch lúc đó thường đóng thành đồn lũy tương đối kiên cố, điều đó đã hạn chế sự phát triển của hình thức tập kích của quân ta; cho nên dùng phục kích là chủ yếu thích hợp với trình độ và khả năng của nghĩa quân.

Hình thái bố trí của địch là đóng chốt tại những vị trí xung yếu về chiến lược và chiến thuật; hình thức phòng ngự là dùng thành lũy kiên cố, có những thành như Đông-quan thì ngoài thành lớn ra còn có cả một hệ thống thành vừa và nhỏ để bảo vệ và ứng cứu lẫn nhau. Nghĩa quân không thể bị động chờ cho địch ra khỏi thành lũy mới tấn công.

Như trên đã nói, đặc điểm về chiến thuật của nghĩa quân trong giai đoạn phòng ngự chiến lược là lấy tấn công làm chủ yếu, cho nên mặc dù lực lượng còn non yếu nhưng vẫn luôn luôn cố gắng giành thế chủ động, biết lừa địch, biết tìm sơ hở của địch, dử địch ra ngoài thành theo kiểu “điệu hổ ly sơn”, kéo địch đến nơi địa hình hiểm trở mà mình đã phục kích sẵn để tấn công tiêu diệt chúng; đó cũng là cách vận dụng nguyên tắc chiến thuật mà nghĩa quân đã đề ra: “Bỏ chỗ mạnh, đánh chỗ yếu; lánh chỗ thực, đánh chỗ hư”.

Sau khi chiếm được Trà-long, nghĩa quân tiến lên bao vây các thành không phải nhằm công thành, mà chủ yếu là điều giặc ra khỏi thành để tiêu diệt chúng trong vận động và thừa cơ chia quân ra hạ những đồn lũy tương đối yếu, đánh chiếm những nơi sơ hở. Việc bao vây các thành Nghệ-an, Diễn-châu, Tây-đô để đem quân đi chiến thắng địch ở Khả-lưu, Bồ-ải, cửa sông Khuất và các trận chiến đấu để giải phóng Tân-bình – Thuận-hóa đã chứng tỏ chiến thuật mà nghĩa quân vận dụng là rất đúng đắn tài tình.

Cũng trong giai đoạn vây quét và chống vây quét, nghĩa quân đã học được lối đánh để thoát vây; địch giỏi về bao vây chặt, áp dụng phương pháp tiến từ nhiều hướng đến rồi dàn quân ra vây bốn mặt để tấn công vào nghĩa quân, lực lượng địch đông gấp bội cho nên đã nhiều lần nghĩa quân bị lâm nguy.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:10:01 PM
Nghĩa quân đã áp dụng hai phương pháp để chiến đấu thoát vây:

- Một là tập trung toàn lực chuyển sang tấn công thật mạnh, đánh vào khâu vòng vây yếu nhất của địch, đặng thoát vây; dùng phương pháp này nghĩa quân đã thoát khỏi nơi “tử địa”.

- Hai là dùng một bộ phận thu hút địch vào một điểm, đại bộ phận bí mật rút ra theo nhiều hướng; rút ra rồi lại tập trung trên một điểm khác; dùng phương pháp này, Lê Lai đã anh dũng chỉ huy tấn công thu hút địch để chủ lực của Lê Lợi rút ra được an toàn.

Nhờ vận dụng thành công chiến thuật phục kích và tập kích, nghĩa quân đã giải quyết được vấn đề tiếp tế lương thực, vũ khí, nhất là trong lúc chưa có chỗ đứng chân vững chắc và địa bàn hoạt động còn hẹp. Nguyễn Trãi viết; “Trước kia quân lính đói thiếu, bây giờ nhờ lương thực của giặc mà số trữ súc của ta càng có sẵn”… “Giặc có bao nhiêu mác, mộc, cung, tên, là giúp cho chúng ta dùng làm chiến cụ. Giặc có bao nhiêu bạc vàng, của báu là cung cho ta làm quân lương. Cái mà chúng muốn dùng để hại ta, lại trở lại làm hại chúng. Cái mà chúng muốn dùng để đánh ta lại trở lại để đánh chúng”. Sau này khi nghĩa quân đã có căn cứ địa rộng lớn nhưng vẫn cướp vũ khí địch để trang bị cho mình, lấy lương địch để nuôi quân mình, khối lượng dự trữ rất lớn, nhờ đó lực lượng của nghĩa quân phát triển nhanh chóng.

Khi lực lượng đã lớn mạnh và mặc dù so với toàn cục vẫn còn yếu hơn địch nhưng nghĩa quân đã vận dụng chiến thuật bao vây giam chân địch ở trong những thành lũy để mở rộng căn cứ địa. Nghĩa quân thường áp dụng lối bao vây bốn mặt trên nhiều tuyến; phương pháp đó rất thích hợp với ý định bao vây, đặc biệt là trong trường hợp địch trong thành còn mạnh, thông thạo lối lợi dụng sơ hở tổ chức phản kích vào trận địa bao vây của ta. Khi bao vây Đông-quan (trong giai đoạn chưa thành công và chưa diệt viện) Lê Lợi đã bố trí vây kín bốn cổng trên hai tuyến, cho nên khi Vương Thông tổ chức phản kích đã bị nghĩa quân đánh lui một cách dễ dàng.

Chủ trương vây thành để giam chân, cô lập địch, mở rộng căn cứ địa của ta đã được ghi lại như sau; “… Đánh mà muốn lấy được phải đánh vào chỗ địch không giữ. Nếu quân địch lấy quân các nơi tăng cường cho Nghệ-an, ta sẽ khó đánh được thành; trái lại trong khi địch bỏ sơ hở các nơi khác, ta chia quân đi đánh các nơi làm cho Nghệ-an bị hãm vào thế cô lập, tức khắc địch phải hàng. Các bậc tướng giỏi đời xưa, lánh chỗ thực, đánh chỗ hư. Như thế sức dùng có một nửa mà công được gấp đôi”. (Nguyễn Trãi, nhà văn học và chính trị thiên tài, của Mai Hanh – Nguyễn đổng Chi – Lê trọng Khánh – Nhà xuất bản Văn – Sử - Địa, trang 217). ở Nghệ-an đã làm như vậy, ở Đông-quan cũng làm như vậy; bao vây Đông-quan hạ các thành lẻ. Đó cũng là phương châm bỏ chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, lánh chỗ thực, đánh chỗ hư.

Thời kỳ phát triển chiến thuật cao nhất của nghĩa quân là thời kỳ Lê Lợi quyết định tấn công ra Bắc. Những hình thức chiến thuật được vận dụng thật là phong phú; tính chủ động, tính linh hoạt, tính kế hoạch càng được phát huy cao độ, đúng như lời tổng kết của Lê Lợi:

“Kẻ thiện chiến là chế được người, chứ không để người chế mình”. Và đó cũng là nguyên tắc chiến thuật cao nhất của nghĩa quân trong toàn bộ cuộc khởi nghĩa.

Khi tiến quân ra Bắc, lực lượng của Lê Lợi đã lớn mạnh; tổ chức, biên chế, trang bị đã có nhiều thay đổi và cải tiến; trình độ luyện quân, kỷ luật càng được nâng cao. Trải qua những thử thách lớn lao, trình độ chiến thuật, kỹ thuật và tinh thần chiến đấu được nâng cao rất rõ rệt. Nhưng quân địch chưa phải đã suy yếu hẳn; ở đây, không phải là những đội quân lẻ, cô lập của Nghệ-an, Tân-bình, Thuận-hóa mà là chủ lực tinh nhuệ của địch, là những đạo viện binh hùng mạnh thiện chiến mới từ Trung-quốc sáng, sức chiến đấu còn dồi dào.

Ở đây, không những địch đã có thời gian và kinh nghiệm để củng có công sự, bảo vệ và cố thủ những thành lũy kiên cố, mà còn có những biện pháp phòng ngự tích cực, biết tổ chức những cuộc phản xung phong bất ngờ và biết thực hành những trận tập kích mạnh mẽ. Địch có viện binh, khí thế tấn công ồ ạt, lại có những tướng tài, lão luyện, đã từng quen thuộc chiến trường nước ta, có nhiều kinh nghiệm chiến thắng; cho nên, đứng trước một quân đội chính quy thiện chiến, đứng trước cái thế ngoài thì bị tấn công, trong thì có nội ứng, nếu không vận dụng những chiến thuật đúng đắn, nếu không biết linh hoạt và luôn luôn giành chủ động, nếu không biết sử dụng khéo léo các binh chủng, thì chiến thắng được địch không phải là việc dễ dàng.

Như trên đã nói, sở trường của nghĩa quân là lối đánh phục kích và tập kích. Đến khi lực lượng đã lớn mạnh, nghĩa quân đã phát triển những hình thức chiến thuật này đến trình độ cao hơn bằng những trận tấn công vận động quy mô lớn và những trận công thành đánh vào những thành lũy tương đối kiên cố của địch. Đó cũng là bước phát triển tất yếu của chiến thuật khi lực lượng đã thay đổi.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:10:28 PM
Trong thời gian mới ra Bắc, quân ta đã đánh những trận vận động khá lớn. Giữa ta và địch, việc giành chủ động trong chiến thuật thật là quyết liệt, đặc biệt lúc đó các đạo quân của nghĩa quân chưa phải đã lớn (mỗi đạo có từ 2.000 đến 3.000 quân). Hai bên đều đưa hết tài năng ra phát huy tính linh hoạt trong chiến đấu nhằm hãm đối phương vào thế bị động để tiêu diệt. Trần Trí đã tỏ ra là một tên tướng có mưu kế, khôn ngoan và can đảm. Thật vậy, hắn biết rõ ta có 4 đạo quân, nhưng về số lượng chưa phải đã đủ sức để đánh vào thành Đông-quan. Kết luận đó khiến cho hắn có gan tập trung lực lượng chủ yếu đưa ra khỏi thành để đột kích quân ta, hắn còn phán đoán đúng ý định của ta là đưa quân để chặn viện binh từ Vân-nam sang, nên hắn đã quyết tâm đánh vào đạo quân thứ nhất do Phạm văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy. Nhưng đạo quân thứ nhất của ta đã biết nhanh chóng thoát ra khỏi thế bị đánh bất ngờ, tỉnh táo tổ chức rút lui đến nơi địa hình có lợi, rồi quay trở lại tấn công địch trên 2 hướng, làm cho chúng phải rút chạy. Quân ta còn biết kịp thời khuếch trương chiến quả cho nên dù lực lượng yếu cũng tích cực truy kích địch.

Từ thế chủ động và bắt đầu bằng tấn công, Trần Trí đã phải chuyển sang phòng ngự, rồi rút lui, rút lui một cách hỗn loạn. Còn ta tuy bị đánh bất ngờ nhưng đã biết tổ chức rút lui, đồng thời chuẩn bị tấn công và cuối cùng đã chuyển sang tấn công và truy kích địch. Trận Tốt-động – Chúc-động cũng đã diễn ra theo những hình thái tương tự, tuy trong trận này cả hai bên đều nhằm tấn công lẫn nhau.

Chỉ nghiên cứu riêng hai trận trên, chúng ta có thể thấy trình độ chiến thuật của nghĩa quân lúc đó đã tiến bộ một bước khá dài trong thế lấy yếu chống mạnh. Đặc điểm của chiến thuật là: chia cắt đội hình địch ra từng bộ phận để tiêu diệt, đánh địch trong địa hình bất lợi của chúng, tấn công trên hai, ba hướng và chủ động hợp đồng.

Đứng trước một kẻ địch mạnh, 15 vạn viện binh đang ở khí thế tấn công, ta tuy ý định chiến lược đã có và phương hướng quyết chiến đã chọn nhưng Lê Lợi còn phải chọn xem nên áp dụng chiến thuật nào cho thích hợp. Như trong phần nghiên cứu về chiến lược đã trình bày, thiên tài của Lê Lợi và bộ tham mưu nghĩa quân là ở chỗ không áp dụng chiến thuật sai lầm của Hồ quý Ly là tổ chức phòng tuyến, dùng phòng ngự trận địa cản địch.

Vì rằng, tuy lúc đó nghĩa quân đã lớn mạnh, nhưng lại đang cần thiết phải đưa một lực lượng khá lớn để bao vây các thành lũy kiên cố của địch, mặt khác phải giữ lại quanh Đông-quan một lực lượng lớn đề phòng địch từ ngoài đánh vào và từ sau lưng đến tập kích quân ta. Cho nên, nếu đưa quân ra bố trí phòng ngự trận địa trên nhiều tuyến để cản địch thì thắng không chắc và điều quan trọng hơn là không thể thực hiện nổi ý định chiến lược. Phòng ngự trận địa chỉ có thể tiêu hao chứ không thể tiêu diệt được địch. Nhưng Lê Lợi và bộ tham mưu nghĩa quân cũng không tán thành ý kiến của một số tướng lĩnh đề nghị dốc lực lượng ra hạ thành Đông-quan trước khi viện binh địch đến, sau đó mới đánh viện binh, và Lê Lợi đã phân tích như sau:

“Đánh thành là hạ sách. Ta đánh vào thành vững, hàng năm tháng chưa hạ được, làm cho quân ta sức mệt, khí nản. Nếu viện binh của địch lại đến, thì trước mặt, sau lưng đều bị địch đánh, đó là con đường nguy. Không bằng nuôi giữ lấy sức quân, tích chứa lấy tinh thần để đợi địch. Một khi viện binh bị diệt thì thành tất phải hàng. Làm một việc được hai việc, đó mới là kế vạn toàn”. Tư tưởng chiến thuật trên đây thể hiện rất rõ rệt tư tưởng đánh vận động của nghĩa quân: giam quân phòng ngự trận địa kiên cố lại để tiêu diệt quân đang vận động.

Thật là vô cùng chính xác, Lê Lợi đã kiên quyết gạt bỏ lối dàn quân ra để phòng ngự trận địa, đồng thời cũng kiên quyết gạt bỏ cả việc đem quân đi tấn công vào trận địa kiên cố, khác nhào như húc đầu vào chỗ mạnh của địch; cả hai lối đánh đó chỉ có thể đạt đến mục đích tiêu hao, cho nên chỉ có thể áp dụng tấn công vận động vào một kẻ địch đang tấn công ta mới có thể đạt đến mục đích tiêu diệt.

Tuy vậy, trong khi đẩy mạnh tấn công vận động không phải quân ta không áp dụng tấn công trận địa từ tấn công trận địa dã chiến đến công thành; trong khi đánh vận động phục kích ở Tốt-động và Chúc-động, ta vẫn bao vây các thành và vẫn chuẩn bị tấn công tiêu diệt địch trong thành Đông-quan. Khi viện binh của Vương Thông đóng doanh trại chung quanh Đông-quan tổ chức trận địa dã chiến, quân ta đã học cách tấn công vào trận địa dã chiến của địch, nhổ các cứ điểm Sa-đôi, Thanh-oai.

Về công thành, có thể lấy hai trận đánh Đông-quan và Xương-giang để nghiên cứu tình độ chiến thuật của nghĩa quân. Đông-quan là một thành lớn, bên trong có thành lũy kiên cố, bên ngoài có tổ chức trận địa dã chiến; cách tổ chức phòng ngự kết hợp giữa kiên cố và dã chiến của quân Minh quả là một lối phòng ngự trận địa rất lợi hại vì có trận địa vững chắc, áp dụng những thủ đoạn phòng ngự tích cực bằng cách tổ chức phản xung phong, và cao hơn nữa tổ chức phản đột kích sâu vào trận địa và sau lưng ta.

Trong trận Đông-quan, nghĩa quân đã sử dụng thủy binh và bộ binh tấn công trên hai hướng, bộ binh đột kích trên hướng chủ yếu; quân ta đã thành công khi tấn công vào ngoại vi tức là vào trận địa dã chiến, nhưng đã thất bại khi tấn công vào thành lũy kiên cố. Điều đó chứng tỏ khả năng của nghĩa quân còn bị hạn chế và việc chuẩn bị những vũ khí để công thành chưa được đầy đủ chu đáo. Lê Lợi đã biết sức ta, sức địch mà đình chỉ cuộc tấn công vào thành lũy kiên cố, chứng tỏ tính linh hoạt trong chỉ huy chiến đáu. Cũng trong trận này, nhờ tổ chức độ dự bị mạnh và biết sử dụng nó đúng thời cơ, nên quân ta đã đánh tan phản đột kích của địch. Kinh nghiệm công thành lần này giúp cho bộ tham mưu nghĩa quân thấy rõ khả năng của quân ta và rút ra được những kết luận cần thiết, đó là quân ta chưa đủ khả năng cũng như phương tiện để công thành lớn, nhưng lại có khả năng đánh trận địa dã chiến. Nhờ có kết luận quan trọng này mà bộ tham mưu nghĩa quân đã có kinh nghiệm trong việc chỉ đạo chiến thuật vào thời kỳ tiếp sau.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:10:58 PM
Không phải ngẫu nhiên mà Lê Lợi lại đề ra vây thành diệt viện, cũng không phải chỉ do tình huống bắt buộc mà Lê Lợi kiên quyết tấn công thành Xương-giang, sau đó còn kiên quyết tấn công vào trận địa dã chiến của tập đoàn Thôi Tụ - Hoàng Phúc. Cơ sở quyết tâm của bộ tham mưu nghĩa quân chính là dựa vào sự so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch được chính xác khôn khéo, là dựa vào sự tiếp thu những kinh nghiệm thành công và thất bại trong những trận tấn công trước.

Trận chiến thắng ở Xương-giang chứng tỏ khả năng công thành của quân ta được nâng cao, trình độ chiến thuật tấn công vào trận địa kiên cố của địch đã phát triển một bước khá dài. Thành Xương-giang là một cứ điểm có giá trị chiến thuật lớn trong hệ thống thành lũy của địch, còn là một cứ điểm mạnh, có binh lực lớn, tướng chỉ huy tài và công sự kiên cố; trận chiến đấu diễn ra gay go ác liệt, cả hai bên đều đọ sức thi tài và vận dụng chiến thuật rất linh hoạt. Giống như ở Đông-quan, địch ở Xương-giang cũng thoát ra khỏi thành trì, tấn công, đánh chiếm điểm cao chiến thuật là vị trí pháo của ta. Về phía nghĩa quân, kỹ thuật công thành đã có những tiến bộ mới như: đắp cao điểm, đào hầm hố, vượt hào sâu, bắc thang trèo lên thành…; về chiến thuật, việc hợp đồng giữa pháo binh với bộ binh, giữa bộ binh với kỵ binh đạt đến mức nhất trí, chủ động và mật thiết.

Ở Xương-giang, chúng ta cũng bao vây thành trên bốn mặt, bố trí thành ahi tuyến tấn công, trên hướng chủ yếu có pháo binh để phá thành, tạo thành một lỗ hổng để bộ binh xông vào và kỵ binh làm đội dự bị, cho nên đã đánh tan phản kích của địch.

Như vậy, bố trí chiến đấu và phương pháp tấn công đã hình thành, chiến thuật tập trung đột kích trên một điểm, có sự phối hợp của ba mặt khác.

Với tinh thần dũng cảm tuyệt vời của tướng sĩ ta, chiến thuật vận dụng tài giỏi, kỹ thuật công thành tiến bộ, cộng với sự chỉ huy kiên quyết, linh hoạt, đã đem đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi đó có hai giá trị rất lớn, một là giá trị về mặt thực hiện ý định tác chiến của bộ tham mưu nghĩa quân, và hai là giá trị về mặt chiến thuật công thành.

Như trên đã nói, để tiêu diệt viện binh của Liễu Thăng, Lê Lợi đã áp dụng chiến thuật tấn công vận động. Thật ra, từ trận chiến đấu đầu tiên ở biên giới đến trận hoàn toàn tiêu diệt đạo quân của Liễu Thăng ở gần Xương-giang, là cả một chiến dịch vận động chiến quy mô lớn nhất của toàn bộ cuộc khởi nghĩa, nằm trong kế hoạch chiến lược của bộ tham mưu nghĩa quân trên phương hướng quyết chiến.

Xác định một cách chính xác chiến thuật phải áp dụng đã là tài tình, nhưng chưa phải là tất cả. Muốn bảo đảm tháng lợi, Lê Lợi còn phải giải quyết một loạt các vấn đề về chiến thuật như: nguyên tắc sử dụng lực lượng, sử dụng binh chủng, tổ chức trận địa, liên quan giữa vây thành và diệt viện, liên quan giữa bao vây nhỏ và bao vây lớn, giữa tấn công vận động và phòng ngự trận địa, giữa tiêu diệt và tiêu hao… Và trong thực tế những trận chiến đấu trên phương hướng quyết chiến cũng như trên phương hướng kiềm chế, những vấn đề lớn về chiến thuật nói trên đã được giải quyết rất thành công. Điều đó càng chứng minh nghệ thuật quân sự cao của Lê Lợi và các tướng sĩ của nghĩa quân.

Trên cả hai hướng, những hình thức chiến thuật được vận dụng rất phong phú và chỉ huy rất linh hoạt. Trên hướng đột kích, quân ta đã mở đầu bằng một trận phòng ngự có có tính chất vận động. Tuy ở những nơi này quân ta cũng dựa vào thành lũy của các cửa ải để tác chiến, nhưng những thành lũy đó chỉ có tác dụng là trận địa ngăn chặn, vì ý định của quân ta là rút lui, dử quân tiền vệ của địch đến khu vực đã chọn trước để đánh.

Trận thứ hai là một trận vận động phục kích. Ở đây quân ta đã triệt để lợi dụng điều kiện thuận lợi của địa hình và nhân tố bất ngờ. Tuy đánh tấn công vận động, nhưng trận địa xuất phát tấn công được tổ chức chu đáo, có công sự cá nhân và hào lũy vững chắc; trận địa được chọn ở nơi địa thế hiểm yếu nhất, từ Chi-lăng đến Mã-yên, hai bên đường là núi đá lởm chởm, dòng sông Thương chảy sát một bên. Địa hình này lợi cho bên phục kích, vừa triển khai được đội hình trên một chính diện rộng, vừa giấu được quân kín đáo và vừa phát huy được tác dụng của đánh gần dùng cung nỏ từ trên cao bắn xuống; bất lợi cho bên hành quân vận động có đội hình dài, không thể triển khai một cách nhanh chóng và không thể sử dụng được nhiều binh lực để chiến đấu trong một thời gian tương đối ngắn.

Cũng trong trận này, vấn đề sử dụng binh chủng và thủ đoạn chiến đấu, nghĩa quân cũng có nhiều sáng tạo. Lê Lợi đề ra nguyên tắc: “Đặt phục binh đánh cho dập đầu, sau lại dùng kỵ binh chẹn cho đứt cuối” (Bình Ngô đại cáo). Bộ binh ta đã đánh dập đầu đội tiền vệ do chính Liễu Thăng chỉ huy, rồi cùng hợp đồng xung phong lên chính diện, kỵ binh vòng đánh vào hậu vệ của địch, làm cho chúng trở thay không kịp và nhanh chóng bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:11:17 PM
Trận thứ ba là một trận vận động truy kích lớn. Kỵ binh anh dũng của ta đã chặn địch trên từng đoạn đường, chia cắt đội hình của chúng ra từng bộ phận để bộ binh ta đuổi kịp đến tiêu diệt. Sau đó quân ta chuyển sang phòng ngự, tiếp tục bao vây địch ở Xương-giang.

Trận thứ tư là trận tấn công trận địa dã chiến tiêu diệt toàn bộ đạo quân viện binh chủ lực của địch. Ở Xương-giang địch phải đóng ở giữa đồng, vội vã tổ chức phòng ngự dã chiến. Quân ta áp dụng những biện pháp kiên quyết để bao vây địch. Khi chưa có điều kiện tấn công ngay (địch mới chuyển sang phòng ngự, nhưng lực lượng còn lớn, quân ta chưa có ưu thế, lại khá mệt nhọc sau những trận đánh trước đó, vấn đề lương thực cũng cần được giải quyết) nghĩa quân đã được lệnh tạm thời chuyển sang phòng ngự cầm cự với địch, đồng thời chuẩn bị cho trận tổng công kích. Trận địa phòng ngự được tổ chức chu đáo chính là trận địa xuất phát tấn công sau này.

Trong khi phái quân đến tăng cường cho lực lượng bao vây Xương-giang, Lê Lợi còn phái quân đi các nơi hiểm yếu ở biên giới thực hiện lối đóng chốt hình thành bao vây lớn, chứng tỏ ý chí rất kiên quyết nhằm triệt để tiêu diệt viện binh địch. Cho nên, khi có lệnh tấn công, quân ta đã vững và và nhanh chóng tiêu diệt gần 8 vạn quân địch. Trong trận này, Lê Lợi còn nắm vững điều kiện. thời tiết bất lợi cho địch, nắm đúng lúc khi địch bị triệt nguồn tiếp tế, tinh thần sa sút đến cực độ, đó cũng là yếu tố của thắng lợi.

Cũng phải kể đến sai lầm của địch (trong trận này và nhiều trận khác nữa), trước nhất là giữa các đạo quân của chúng thiếu tinh thần hợp đồng. Nếu như cánh quân Mộc Thạnh tấn công kiên quyết hơn, nhanh chóng hơn; nếu như địch ở Chí-linh, Đông-quan liều chết đánh ra, thì dù chũng không có thể làm cho tình thế biến đổi một cách căn bản đi chăng nữa, thì chúng cũng gây cho quân ta những khó khăn không phải là ít, thế nhưng chúng lại không có hành động gì cả. Đạo quân nào cũng chỉ bo bo lo cho số phận riêng của đạo quân ấy, dự định thoát vây của Thôi Tụ - Hoàng Phúc chỉ là một hành động tuyệt vọng.

Trên hướng kiềm chế, quân ta mở đầu bằng một trận phòng ngự có tính chất cố thủ trận địa. Ở cửa Lê-hoa, quân ta đã được lệnh dựa vào địa hình và thành lũy, dùng binh lực ít tranh thủ thời gian kiềm chế chủ lực của Mộc Thạnh làm cho Mộc Thạnh không thể hành động nhanh chóng được, do đó hai cánh viện binh không thể hợp đồng nhất trí với nhau.

Trên hướng này, việc vận dụng chiến thuật như thế là cần thiết, mà ta lại có khả năng: vì rằng, ở đây, ta chỉ cần tiêu hao lực lượng địch, vấn đề tiêu diệt không phải là chủ yếu mà chủ yếu lại là vấn đề làm chậm tốc độ tấn công của địch; địa hình ở vùng này cho phép ta có thể đạt được mục đích đó, cuối cùng, Lê Lợi đã nắm được đặc điểm hành động của Mộc Thạnh là thận trọng, tiến quân chậm chạp và tránh quyết chiến.

Do phòng ngự cố thủ thành công trên hướng này, cho nên đội dự bị chiến lược của Lê Lợi mới có thể sử dụng được tập trung toàn bộ trên hướng đột kích. Trận thứ hai là một trận vận động phục kích đánh vào đội quân tiền vệ của Mộc Thạnh, ta đã dùng chủ lực (của hướng kiềm chế) để tiêu diệt 1 vạn tên địch thuộc đội này đang trên đường rút lui. Nguyên tắc chiến thuật đã vận dụng ở đây cũng tài tình: dùng một bộ phận lực lượng dựa vào công sự kiên cố để kiềm chế chủ lực địch, sau đó dùng chủ lực để tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch; cho nên, nếu so sánh toàn bộ lực lượng giữa ta và địch trên hướng này thì rõ ràng địch ưu thế hơn ta, nhưng chính do vận dụng chiến thuật một cách tài tình mà trong trận Đan-xá – Lãnh-câu, ta lại ưu thế hơn địch. Giữa hai trận, có mối liên quan thật mật thiết về chiến thuật, nghĩa là phòng ngự trận địa để tiêu hao địch, tạo điều kiện cho ta tấn công vận động tiêu diệt địch.

Trận cuối cùng là một trận vận động truy kích chủ lực của Mộc Thạnh, đánh tan gần 4 vạn quân trên đường rút chạy về Vân-nam. Trình độ tác chiến của nghĩa quân đã nâng lên một bước khá cao. Khi được lệnh rút quân, Mộc Thạnh đã vất bỏ cái phương châm “thận trọng” của hắn để chạy thật nhanh thật mạnh, thế mà vẫn không thể chạy thoát được. Nghĩa quân tuy có mệt nhọc sau trận vận động phục kích, nhưng khi được tin địch rút chạy thì lập tức bám sát, vượt lên trước đánh cho chúng không kịp thở, bị tan rã từng mảng lớn và phải chạy luồn rừng để về Vân-nam.

*
*   *

Đặc điểm chung về chiến thuật của nghĩa quân Lam-sơn là luôn luôn tấn công, chủ yếu là tấn công vận động và thực hành đánh tiêu diệt. Nhưng không phải chỉ có đánh tiêu diệt mà còn biết đánh thiêu hao. Nghệ thuật quân sự tài tình của nghĩa quân là ở chỗ đã giải quyết rất chính xác quan hệ giữa tấn công và phòng ngự, giữa tiêu diệt và tiêu hao. Trong toàn bộ cuộc khởi nghĩa, những trận chiến đấu của nghĩa quân đã thể hiện rõ rệt mối quan hệ đó, tức là: phòng ngự, cầm cự là để chuyển sang tấn công và phục vụ tấn công; tiêu hao là để chuẩn bị cho tiêu diệt và phục vụ tiêu diệt; chỉ có tấn công kiên quyết mới tiêu diệt được địch một cách triệt để, mới bảo toàn và phát triển được lực lượng của mình.

Đó là ưu điểm nổi bật đồng thời là bài học chủ yếu về chiến thuật của nghĩa quân Lam-sơn.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:11:56 PM
KẾT LUẬN

Như hai phần trên đã trình bày, hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên và chống quân Minh không những khác nhau về thời đại, tính chất, mà còn có những nét riêng biệt về cách vận dụng phương châm chiến lược – chiến thuật, về thực hành những bước, những giai đoạn cụ thể. Nhưng cả hai cuộc kháng chiến đó đều nhằm một mục đích chính trị tương tự là đánh đuổi giặc ngoại xâm giữ vững độc lập, tự chủ; đều ở một vị trí xuất phát tương tự là ta ở thế yếu, địch ở thế mạnh và đều vận dụng một đường lối chiến lược tương tự là đánh lâu dài; cho nên, trong hai cuộc kháng chiến đó, để đạt đến mục đích chính trị đánh đuổi quân xâm lược bảo vệ Tổ quốc, để chuyển từ thế yếu sang thế mạnh, để đủ sức đánh lâu dài, các lực lượng vũ trang của ta đã dựa vào một nguyên tắc căn bản là hết sức bảo toàn mình, ra sức tiêu diệt địch làm nguyên tắc chỉ đạo mọi hành động quân sự.

Vận dụng cụ thể nguyên tắc căn bản đó, các tướng soái của hai thời đại đã lấy phòng ngự (chiến lược – chiến thuật) làm thủ đoạn để bảo toàn mình, lấy tấn công (chiến lược – chiến thuật) làm thủ đoạn để tiêu diệt địch, đồng thời đã giải quyết rất chính xác quan hệ giữ hai thủ đoạn đó, tức tấn công là thủ đoạn chủ yếu còn phòng ngự chỉ là thủ đoạn hỗ trợ cho tấn công hoặc là thủ đoạn chuẩn bị cho tấn công, là thủ đoạn đứng ở hàng thứ hai.

Thật vậy, nghiên cứu các giai đoạn của hai cuộc kháng chiến, ngiên cứu các trận chiến đấu lớn, chúng ta đều thấy dù rằng có nhiều lúc phòng ngự nổi lên hàng đầu, tiến hành trong một thời gian khá dài, nhưng rút cục nhìn suốt toàn bộ cuộc kháng chiến kể cả trong giai đoạn phòng ngự, thì tấn công vẫn là chủ yếu.

Thực tế đó của hai cuộc kháng chiến chứng minh rằng, để đạt đến mục đích chính trị của chiến tranh thì yêu cầu tiêu diệt là chủ yếu, vì rằng chỉ có tiêu diệt địch mới bảo toàn được mỉnh một cách có kết quả. Tư tưởng tiêu diệt chiến chính là tư tưởng chỉ đạo tác chiến căn bản nhất của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến đó.

Trong giai đoạn địch tấn công và ta phòng ngự (bao gồm cả rút lui, chống vây quét) về chiến lược, tư tưởng tiêu diệt chiến đó đã thể hiện rõ rệt trong các trận chiến đấu phòng ngự nữa. Cho nên, quan hệ giữa chiến lược và chiến thuật đã được giải quyết rất tài tình: về chiến lược tiến hành phòng ngự, nhưng về chiến thuật, chiến đấu, thì tiến hành tấn công. Lại đã giải quyết rất thành công quan hệ giữa hình thức chiến thuật và phương pháp chiến đấu: hình thức là phòng ngự, nhưng phương pháp là tấn công, nghĩa là tiến hành phòng ngự tích cực, dùng hành động tấn công để tiến hành phòng ngự. Vì vậy mà phần lớn các trận chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến này, kể cả các trận chiến đấu trong các giai đoạn phòng ngự đều đã đạt đến tiêu diệt địch về chiến đấu và tiêu hao địch về chiến lược.

Chỉ cần nêu lên những trận phản công của Trần quốc Tuấn tiêu diệt địch ở Đông Bộ-đầu, ở Hàm-tử và bến Chương-dương, ở Bạch-đằng, những trận chống vây quét của Lê Lợi ở Lam-sơn, Nga-lạc, ở Khả-lưu, Bồ-ải cũng có thể chứng minh đầy đủ tư tưởng tiêu diệt chiến của quân đội ta thời bấy giờ.

Đánh những trận tiêu diệt, đó là đặc điểm nổi bật, là ưu điểm trội nhất trong hai cuộc kháng chiến, đồng thời đó cũng là truyền thống vẻ vang của quân đội ta từ thời Trần đến thời Lê, từ thời Nguyễn Quang Trung cho đến cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và can thiệt Mý mới đây.

Đánh những trận tiêu diệt gọn và nhanh là một trong những bài học lớn nhất của hai cuộc kháng chiến này, nhưng nó cũng là bài học chung.

Đi vào nghiên cứu tấn công và phòng ngự, chúng ta rút ra được những tư tưởng chỉ đạo tác chiến nào?

Như trên đã nói, đánh tiêu diệt trong chiến đấu là để đạt đến tiêu hao địch về chiến lược, là điều kiện tất yếu để đánh lâu dài về chiến lược, cũng là biện pháp tốt nhất để quân đội ta ở vào thế yếu chiến thắng kẻ địch ở vào thế mạnh.

Nhưng muốn đánh tiêu diệt phải có phương pháp tác chiến thật tốt. Vậy các tướng soái thời Trần và thời Lê đã chọn phương pháp nào? Chủ yếu là phương pháp tập trung ưu thế binh lực, từ ba bốn mặt đến bao vây tiêu diệt từng bộ phận của địch.

Tuy rằng do nhiều điều kiện hạn chế, mức tập trung ở những thời đại đó có khác với mức tập trung mà quân đội ta đã đạt được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, nhưng phương pháp tập trung ưu thế binh lực đã là một phương pháp cơ bản mà các tướng soái thời Trần, thời Lê đã vận dụng.

Trong toàn bộ hai cuộc kháng chiến, chúng ta đều nhận thấy rằng quân đội ta đã không phân tán binh lực ra để đối phó hoặc công kích địch trên nhiều mục tiêu, trái lại đã khéo léo giữ vững chủ lực, chọn mục tiêu công công kích thích đáng rồi mới mãnh liệt công kích; sau đó lại tập trung binh lực chuyển sang mục tiêu công kích khác thực hiện tiêu diệt từng bộ phận địch.

Ở cửa Hàm-tử, Trần quốc Tuấn đã tập trung một bộ phận lực lượng lớn để tiêu diệt đạo quân của Toa Đô. Ở Chương-dương, lại tập trung gần như toàn bộ chủ lực để tiêu diệt toàn bộ một cánh quân lớn. Còn ở Bạch-đằng, mức tập trung binh lực lại cao hơn nhiều. Đến thời Lê, khi vây thành diệt viện, Lê Lợi đã tập trung chủ lực để tiêu diệt đội tiền vệ của Liễu Thăng, sau đó lại tập trung cả đội dự bị chiến lược để tiêu diệt 8 vạn quân địch ở Xương-giang. Những trận chiến thắng vẻ vang và anh dũng ấy có thể nêu lên những mẫu mực về phương pháp tập trung ưu thế binh lực, bao vây địch từ ba bốn mặt, tiêu diệt từng bộ phận của chúng.

Nhờ phương pháp tác chiến đó, mà quân đội ta đã giành được quyền chủ động, nhanh chóng tiêu diệt địch, do đó mà thay đổi hẳn hình thái giữa ta và địch có lợi cho ta.


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:13:10 PM
Tập trung binh lực là phương pháp tác chiến tốt bảo đảm thực hiện tiêu diệt địch, song muốn thực hiện được tập trung binh lực tạo thành ưu thế lại cần phải có những biện pháp thích hợp nữa mới đủ. Vì rằng, ta tập trung địch cũng có thể tập trung, cho nên có hai mặt của vấn đề:

- Binh lực ta đã tập trung nhưng địch cũng tập trung do đó mà tập trung không đạt được ưu thế, cũng có nghĩa là không đánh tiêu diệt được.

- Binh lực ta đã tập trung để công kích vào chỗ yếu của địch, nhưng trong quá trình chiến đấu địch có thể tăng viện, do đó ta cũng mất ưu thế, cuối cùng không thể tiêu diệt được địch.

Vậy các tướng soái thời Trần, thời Lê đã áp dụng những biện pháp nào?

- Trước nhất là, tập trung trên phương hướng quyết chiến, trên mục tiêu quyết chiến. Trần quốc Tuấn và Lê Lợi đã thực hiện rất đúng đắn nguyên tắc tập trung ở hướng chủ yếu, tiết kiệm ở hướng thứ yếu. Thí dụ: để một bộ phận lực lượng ở phương Nam, chủ lực tập trung trên phương Bắc (kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai); để một bộ phận lực lượng ở hướng kiềm chế Vân-nam – Đông-quan, chủ lực tập trung trên hướng Nam-quan – Đông-quan.

Khi tập trung không những phải tập trung số lượng mà còn phải tập trung cả chất lượng nữa. Thí dụ: khi đánh ở Hàm-tử tuy có tập trung, nhưng chưa tập trung chủ lực tinh nhuệ nhất, để chủ lực tinh nhuệ tập trung vào trận Chương-dương. Một thí dụ khác: lúc đầu, để đánh đội tiền vệ của Liễu Thăng, tuy đã tập trung nhưng chủ lực tinh nhuệ lại giành cho trận quyết chiến ở Xương-giang. Trong những trận đó, nếu như đã tập trung số lượng đến mức ưu thế so với địch, nhưng lại không tập trung chất lượng thì thắng lợi không thể đạt được một cách dễ dàng và trận đánh không thể thực hiện được yêu cầu tiêu diệt địch.

- Thứ hai là, tuy binh lực đã tập trung, nhưng về mặt bố trí chiến đấu phải có tung thâm. Trong trận Bạch-đằng, Trần quốc Tuấn đã cơ động chủ lực từ tung thâm ra, tạo thành ưu thế tuyệt đối, tăng cường được sức đột kích. Trên hướng Nam-quan – Đông-quan cũng vậy, do bố trí chiến đấu có tung thâm lớn cho nên quân ta không ngừng được tăng cường sức đột kích, đã biết kịp thời và nhanh chóng thay đổi bố trí chiến đấu, giữ vững và tăng cường ưu thế trong toàn bộ cuộc hội chiến lớn lao này. Bố trí chiến đấu có tung thâm, trong quá trình chiến đấu và chiến dịch, biết kịp thời cơ động binh lực đến hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, đó là những biện pháp rất tốt để tập trung binh lực đặng tiêu diệt từng bộ phận địch.

- Thứ ba là, phải biết chặn cơ động của địch cũng tức là chặn tập trung binh lực của địch. Nếu như trong kháng chiến chống quân Nguyên, việc chặn cơ động của địch đã không được đề ra rõ ràng lắm, thì trong kháng chiến chống quân Minh, quân đội ta đã thành công lớn trong việc vây thành chặt chẽ để diệt viện gọn gàng, trong việc chặn chủ lực của địch để tiêu diệt đội tiền vệ, trong việc hướng Lê-hoa – Đông-quan hành động tích cực để kiềm chế Mộc Thạnh, khiến chúng không thể hợp đồng được với quân của Liễu Thăng. Chính nhờ chặn được cơ động của địch, mà các mục tiêu quân ta công kích đã trở thành bị cô lập; ngoài ra ta còn không ngừng tăng cường lực lượng đột kích, cho nên ưu thế vẫn giữ vững, thực hiện được tiêu diệt địch nhanh chóng, gọn gàng.

- Thứ tư là, phải công kích vào chỗ yếu và hiểm yếu của địch. Thí dụ: đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ là một mục tiêu yếu về quân sự, nhưng với địch lại rất quan trọng về mặt chiến lược. Cho nên, ở đó ta dễ thực hiện được ưu thế tuyệt đối, đánh là tiêu diệt, mà đã tiêu diệt được thì nhất định toàn bộ chiến lược của địch phải thay đổi. So với chủ lực thì đội tiền vệ của Liễu Thăng yếu hơn, nhưng do chỗ đội tiền vệ đó có chủ soái của chúng đi cùng, cho nên khi tiêu diệt được đội này đã làm đảo lộn cả hệ thống chỉ huy của địch, khiến cho hàng ngũ chúng hoang mang, hỗn loạn. So với quân phòng ngự trong thành lũy kiên cố (như ở Đông-quan) thì quân của Liễu Thăng đang vận động lại yếu hơn, nhưng nếu tiêu diệt được cánh quân tiếp viện này, tức là đã phá tan tận gốc âm mưu chiến lược của quân Minh. Cũng chính do cần chọn chỗ yếu nhưng quan trọng, nên Lê Lợi đã không chọn cánh quân Vân-nam làm mục tiêu chủ yếu, mà chọn cánh quân Liễu Thăng tuy mạnh hơn cánh quân Mộc Thạnh nhưng lại yếu hơn so với đạo quân của Vương Thông đóng trong thành lũy; yếu nhưng lại quan trọng vì cánh quân đó là “chủ bài” trong ý định chiến lược chuyển sang phản công của địch.

Bài học chủ yếu về tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong tấn công rút ra từ những cuộc chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến đó là: tập trung ưu thế binh lực, tiêu diệt từng bộ phận địch là một trong những phương pháp tác chiến căn bản nhất, tốt nhất bảo đảm cho một quân đội trong thế yếu chiến thắng được kẻ địch trong thế mạnh. Ngoài ra, chúng ta còn học được những tư tưởng chỉ đạo khác như:

- Đánh địch vận động, phân tán và cô lập trước rồi sẽ đánh địch tập trung hùng mạnh sau.

- Giỏi giữ bí mật, giỏi gây bất ngờ với địch, giỏi điều động dử địch đến khu vực tác chiến có lợi đặng tiêu diệt chúng


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:13:59 PM
*
*   *

Trong phòng ngự, tư tưởng chỉ đạo tác chiến của quân đội ta là tư tưởng phòng ngự tích cực.

Thông tường thì bên phòng ngự ở vào thế yếu và địa vị bị động. Nhưng ưu điểm nổi bật của quân đội ta thời Trần – Lê, là luôn luôn tìm cách khắc phục để thoát khỏi thế bị động tranh thủ và giành lại thế chủ động. Những trường hợp không đem chủ lực của ta quyết chiến với chủ lực của địch khi quân Nguyên ồ ạt tấn công, hoặc khi quân Minh tập trung vây quét, có thể nêu lên thành những thí dụ về cách giữ gìn chủ lực, thoát khỏi thế bị động, giành lại thế chủ động. Trong các trận chiến đấu đó, hành động tích cực của các bộ phận kiềm chế (kiên quyết dựa vào địa hình có lợi để ngăn chặn địch, tổ chức phản xung phong…) đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực rút lui an toàn, thoát khỏi thế bị vây.

Tư tưởng phòng ngự tích cực còn thể hiện trong việc giải quyết mối liên quan giữa phòng ngự có tính chất vận động và phòng ngự có tính chất trận địa. Nhìn chung cả hai cuộc kháng chiến, quân đội ta rất ít áp dụng phòng ngự có tính chất trận địa. Tuy vậy, khi cần phải giữ vững những tuyến địa hình, những điểm mấu chốt để kiên quyết ngăn chặn địch thì quân ta mới áp dụng phòng ngự có tính chất trận địa.

Thí dụ, quân của Trần quang Khải lúc đầu áp dụng phòng ngự có tính chất vận động, nhưng khi đã rút lui đến Thanh-hóa thì kiên quyết tổ chức phòng ngự có tính chất trận địa dựa vào công sự chặn đứng địch lại, không cho chúng tiến thêm nữa. Hành động tích cực đó đã tạo điều kiện cho quân của Trần quốc Tuấn trên hướng phòng ngự chủ yếu có thể làm tròn nhiệm vụ rút lui chiến lược và chuẩn bị phản công. Như trên hướng Lê-hoa, lúc đầu vừa đánh vừa rút, nhưng khi đội tiền vệ của địch đã đi qua thì kiên quyết dựa vào thành lũy để ngăn chặn bước tiến của quân Mộc Thạnh.

Cũng chính do biết linh hoạt áp dụng hai hình thức phòng ngự có tính chất vận động và tính chất trận địa nên các đạo quân làm nhiệm vụ phòng ngự đã tránh được lối dàn đều binh lực để cố thủ, để giữ được binh lực tập trung và tiến hành phòng ngự có trọng điểm.

Tập trung được chủ lực đánh vào những nơi cần đánh, giữ những nơi cần giữ, đó là cách giành chủ động trong bị động, là một trong những biện pháp để lừa địch, điều động dụ địch đến nơi ta dự định sẽ tác chiến là là một thể hiện của tư tưởng phòng ngự tích cực.

Nhưng biểu hiện cao nhất của tư tưởng phòng ngự tích cực là dùng hành động tấn công trong những tình huống thích hợp để tích cực kiên quyết đánh địch, tiêu diệt từng bộ phận địch, đó là phòng ngự để phản công và tấn công. Các trận phản công lớn của Trần quốc Tuấn là những thí dụ điển hình của tư tưởng phòng ngự tích cực trong giai đoạn phòng ngự chiến lược. Các trận tập kích, vận động phục kích để chống vây quét của Lê Lợi cũng là những thí dụ điển hình của tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó về mặt chiến thuật.

Dùng hành động tấn công để phòng ngự, phòng ngự là để chuẩn bị phản công và tấn công, tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó đã nêu lên khá rõ nét một trong những quan điểm cơ bản về quân sự của các tướng soái thời Trần và thời Lê coi phòng ngự chỉ là thủ đoạn hỗ trợ cho tấn công, và chỉ có tấn công kiên quyết thì mới tiêu diệt được địch.

*
*   *

Kho tàng kinh nghiệm về quân sự do hai cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng tất thắng dưới thời Trần, thời Lê là vô tận và vô cùng phòng phú.

Chúng ta còn phải tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những kinh nghiệm quý báu đó để rút ra những bài học bổ ích làm phong phú thêm cho lý luận quân sự hiện đại của quân đội ta. Dù rằng về mọi mặt tổ chức, trang bị, chỉ huy, phương pháp tác chiến của quân đội ta ngày nay tuy có khác xa so với các quân đội thời xưa, nhưng những nguyên tắc chỉ đạo tác chiến đã khiến cho quân đội nhỏ yếu của ta thời đó chiến thắng được các quân đội xâm lược hùng mạnh cho đến nay vẫn có nhiều giá trị và có nguyên tắc vẫn còn nguyên giá trị.

Tập trung ưu thế binh lực, tiêu diệt từng bộ phận quân địch đã có từ thời xưa nhưng đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mới đây nó vẫn là một phương pháp tác chiến tốt nhất để chiến thắng địch, là truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, và cho đến nay nó vẫn là một phương pháp tác chiến cơ bản của quân đội ta. Quân đội của đến quốc Mỹ đó có hùng mạnh, nhưng nếu chúng ta vận dụng phương pháp tác chiến này một cách linh hoạt khéo léo, vẫn có thể đánh được những trận tiêu diệt và cuối cùng tống cổ được đội quân xâm lược hùng mạnh đó ra khỏi đất nước ta.

Tư tưởng tác chiến đánh tiêu diệt trong tấn công cũng như trong phòng ngự, trong du kích chiến cũng như trong vận động chiến mà tổ tiên ta để lại, trong những điều kiện mới hiện nay, chẳng những cần phải được quán triệt sấu sắc đầy đủ trong mọi hành động quân sự mà còn cần phải được phát huy đến cao độ, vì rằng tư tưởng đó hoàn toàn phù hợp với mục đích chính trị của chiến tranh chính nghĩa của ta.

Chúng tôi nghĩ rằng những điều nói trên đây cũng là những bài học lớn nhất rút ra từ hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta thời xưa.

Viết xong ngày 12 tháng 9 năm 1962


Tiêu đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Năm, 2017, 04:15:00 PM
TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Sơ thảo lược sử Việt-nam của Minh Tranh - Nhà xuất bản Văn - Sử - Địa, Hà-nội, 1955.

- Lịch sử Việt-nam, của Đào duy Anh, Hà-nội, 1955.

- Nguyễn Trãi, nhà văn học và nhà chính trị thiên tài của Mai Hạnh, Nguyễn đổng Chi, Lê trọng Khánh – Nhà xuất bản Văn – Sử - Địa, Hà Nội, 1957.

- Lịch sử chế độ phong kiến Việt-nam, Quyển 1 - của Trần quốc Vượng, Hà văn Tấn. Quyển II - của Phan huy Lê - Nhà xuất bản Giáo dục, Hà-nội, 1960.

- Binh chế Việt-nam qua các thời đại của Nguyễn tường Phượng, Hà-nội, 1946.

- Lam-sơn thực lục - Bản dịch của Mạc bảo Thần - Tân Việt, 1943.

- Việt sử thông giám cương mục. Do tổ phiên dịch Viện sử học dịch - Hà-nội, 1958-1959.

 - Lịch triều hiến chương loại chí, của Phan huy Chú – Tập I Dự địa chí, Nhân vật chí. Tập IV Binh chế chí – Do tổ phiên dịch Viện sử học Việt-nam phiên dịch và chú giải. Nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1960 – 1962.

- Quân trung từ mệnh tập, của Nguyễn Trãi. Phan Duy Tiếp dịch - Nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1961.

- Dư địa chí, của Nguyễn Trãi. Phan duy Tiếp dịch - Nhà xuất bản Sử học, Hà-nội, 1961.

- Contribution à Phistoire de la nation viêtnamienne. Của J. Cheneaux - Editions sociales, Paris, 1955..

- Histoire de la tactique et de la stratégie jusqu’à la guerre mondiale, của R. Pichenè. Editions de la Pensée moderne, Paris, 1957.