Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:18:23 AM



Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:18:23 AM
Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy xuất bản
Năm xuất bản: 1990
Người số hóa: macbupda

(https://lh3.googleusercontent.com/537tmNuI4xBkQaMOMk-IxUrcfllzdD0SHnl85SVV2p8UnAG_P7PDZeFUcgU_B5payirHhjX24jZk_ju_4j7Pd2vJPcykfMi2x5eQ_gvXn1z_K5RQehEAYkyWOKB-oScnEYUB7sE18zZgJBrfC5DqLuNJbqZymDkcJbyQngWsb-i1oLNoAt7zfy9vOCN_cvg6z_W_xY2vDLzx78ijf_oCVsuODyIxTBBR9X6WXx5BP7j4jcyv-Qd2CdVi8BfKKFP-rnEQymCBGQCNknxIA0B_y2fwpeWtgdstUfzMSXFPpYce9ihh4MtA1WMNwNemnxuFCXpBe4gnx2TG-2QwAlESLtuLe6xB-nCQ4iSyFU9PUlZdVtCY3ZyGvBLCE1C95EkAOI_nHZfaeZ5J8hpVM2UufbBRVm7lmk0xGpm6XycfnMCS4e0EUbTM7PZMDzHT50VCooWcIJ4implH3KnrVGCi2ZqV7Cl6HQN13WLWJIR5XHon7j3IMG_M0OFLwTChYWO72zlpG2kFZp13q7haTVQf7D5K5iLz5pkNM7hxbpcpEGN8oGE9Zxgi8I3icMWoxEZkww-rtzwN9tsK_JKbZE98_3RME8ww1bR9rsGoyTs=w445-h640-no)

LỜI NÓI ĐẦU

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã làm nên cuộc cách mạng tháng 8 thắng lợi, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt thời kỳ nô lệ tăm tối ngót một thế kỷ trên đất nước ta, đưa dân tộc ta tiến vào một kỷ nguyên mới.

Cùng với thắng lợi chung của cả nước, quân và dân Tây Ninh đã giành được chính quyền vào đêm 25-8-1945. Nhưng sau đó không bao lâu, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm đất nước ta. Tháng 11-1945, tại Suối Sâu (huyện Trảng Bàng) đã vang lên những tiếng súng đầu tiên mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên quê hương Tây Ninh thân yêu.

Mùa xuân năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, Tây Ninh và miền Nam được hoàn toàn giải phóng, kết thúc một chặng đường đấu tranh cách mạng vô cùng ác liệt, đầy hy sinh, gian khổ nhưng cũng vô cùng hào hùng, cả thế giới nghiêng mình khâm phục!

30 năm kháng chiến, quân và dân cả nước nói chung và Tây Ninh nói riêng đã làm nên những chiến công oanh liệt, viết nên những trang sử hào hùng, chói lọi nhất trong lịch sử của dân tộc và lịch sử của nhân dân Tây Ninh.

Để ghi lại những chiến công, tên đất, tên người đã từng một thời làm cho quân thù khiếp sợ và khâm phục; để tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ và đồng chí, đồng bào đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc; để đời đời con cháu mai sau hiểu biết và ghi nhớ về một chặng đường lịch sử cách mạng vẻ vang này, Tỉnh ủy Tây Ninh đã chỉ đạo biên soạn và cho xuất bản tập sách “Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường”.

Tập sách này được hoàn thành là nhờ sự nỗ lực to lớn của Ban Tổng kết chiến tranh và sự giúp đỡ to lớn của các cơ quan, đồng bào, đồng chí trong và ngoài tỉnh; đặc biệt là các đồng chí Nguyễn Văn Tất (Hai Bình), nguyên Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phan Văn, Nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng chí Trần Vạn Ân, nguyên Phó ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh, Phân viện lịch sử quân sự và Phòng lịch sử Quân khu 7. Tỉnh ủy Tây Ninh xin chân thành cảm ơn tất cả đồng bào, đồng chí đã đóng công, góp sức hoàn thành tập sách này.

Tỉnh ủy Tây Ninh xin trân trọng giới thiệu tập sách “Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường” và rất mong được sự góp ý, bổ sung của đồng bào, đồng chí trong và ngoài tỉnh.


Tây Ninh, ngày 15 tháng 10 năm 1990
                                                                                                                                                         
BAN CHẤP HÀNH TỈNH ĐẢNG BỘ TÂY NINH


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:25:05 AM
PHẦN MỘT

ĐẤT NƯỚC CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH
CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

CHƯƠNG I

ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI

1/ - Địa lý tự nhiên:

Tây Ninh là một tỉnh miền Đông Nam bộ, nằm về phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh giáp với nước Campuchia. Thị xã Tây Ninh cách trung tâm thành phố khoảng 88 km đường chim bay, 99 km tính theo quốc lộ 22 và 22b.

Vào đầu thế kỷ 17 mảnh đất Tây Ninh còn là một vùng rừng rậm hoang vu và đầy thú dữ. Đến năm 1658, mới có những tộc người Việt đầu tiên đến đây khai hoang lập ấp và làm ăn sinh sống. Trải qua bao thăng trầm, biến đổi của lịch sử, tên gọi và địa giới cũ, Tây Ninh nhiều lần thay đổi. Từ đạo Quang phong thuộc phủ Gia Định (1698) thành phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định (1838). Đến năm 1871, mới thành tỉnh Tây Ninh và ranh giới của tỉnh (như ngày nay) được chính thức công nhận kể từ năm 1890. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ tháng 8-1945 đến năm 1951 Tây Ninh là một tỉnh riêng tháng 5-1951, ta sát nhập 2 tỉnh Tây Ninh và tỉnh Gia Định thành tỉnh Gia Ninh. Cuối năm 1954, ta lại tách ra làm 2. Tây Ninh trở lại ranh giới cũ. Thời ngụy quyền thuộc Mỹ, chúng đã cắt quận Phú Đức (Trảng Bàng) nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa. Lúc chuẩn bị cho Tổng tiến công mùa Xuân 68 huyện Trảng Bàng được tách ra cộng với một số huyện ven thành phố thành lập phân khu một. Năm 1972, huyện Trảng Bàng được trả về cho Tây Ninh. Ngày nay ranh giới hoàn chỉnh của Tây Ninh có: phía Bắc và Tây giáp nước Campuchia, chiều dài biên giới là 232 km, phía Nam giáp tỉnh Long An 13,5km và thành phố Hồ Chí Minh 32 km, phía Đông giáp tỉnh Sông Bé 123 km đường ranh tỉnh lấy dọc theo sông Sài Gòn.

Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.030 km2. Địa hình tương đối bằng phẳng ở diện rộng, có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam. Dạng địa hình cao đổi thoải lượn sóng có độ cao trung bình so với mặt biển từ 20m đến 60m, chủ yếu nằm ở phía Bắc tỉnh. Dạng trung bình có độ cao từ 10m đến 20m, chạy dọc giữa tỉnh từ Thị Xã xuống Gò Dầu, Trảng Bàng. Dạng địa hình thấp, bằng ven sông có độ cao trên 5m, là vùng đất ven sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn và các trạch phụ lưu của 2 sông này. Trên dạng địa hình tổng thể, có độ cao không quá 60m, nổi lên ngọn núi Bà Đen cao 986m, đây là ngọn núi cao nhất Nam bộ, giống như một chiếc nón lá khổng lồ úp giữa những cánh đồng phẳng, những đồng lúa, đồng màu bạt ngàn xanh tốt. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực Núi Bà Đen là một địa điểm tốt, để cho các nhóm Đảng hoạt động khi bị lộ, bị kẻ thù khủng bố, tạm rút về đây ẩn náu chờ thời cơ. Đế quốc Mỹ sau này cũng lợi dụng đỉnh Núi cao để đặt trạm viễn thông nhằm khống chế cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn và cả miền Đông và Campuchia. Nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu ác liệt giữa ta và địch để giành giật nhau từng triền núi, hang đá.

Khí hậu Tây Ninh mang những nét điển hình của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm. Nhiệt độ trung trung bình cả năm là 27o4, tháng giêng có nhiệt độ thấp là 17o6, nhiệt độ cao nhất là vào tháng 4: 37o. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm ít, nhưng sự chênh lệch giữa ngày và đêm cao: Vào buổi sáng 24o4, trưa 32o, chiều 30o và đêm 27o. Đây là điều kiện thuận lợi để tạo ra sự tích lũy chất tinh bột cho các lại cây trồng như lúa, mía, mì, đậu phộng, bắp… Lượng mưa trung bình hàng năm ở Tây Ninh là 1.508 mm, Độ ẩm trong không khí trung bình là 79%. Lượng bốc hơi cả năm trung bình là 1.434mm, tổng số giờ nắng trong năm. là 2.728 giờ. Khí hậu thời tiết trong năm được chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa này (chiếm 90% lượng mưa cả năm với khoảng 104 ngày mưa). Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, lượng mưa rất ít (khoảng 12 ngày mưa với 80mm – 100mm).

Được thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi, rừng và các sinh vật khác phát sinh, phát triển nhanh, mạnh, đa dạng và phong phú. Rừng có nhiều gỗ quý như: Giáng hương, Cẩm lai, Cẩm xe, Trai, Dầu, Chò, Sao, Gõ. Chẳng những có nhiều chủng loại mà còn giàu về sản lượng, có nơi đạt từ 100 đến 200 m3 gỗ tròn 1 ha. Rừng còn là một vườn cây thuốc Nam quý giá với nhiều loại thông dụng như hả thủ ô, mã tiền, sa nhân, ba kích, ké đầu ngựa, bạch đậu khấu…. được dùng rộng rãi trong việc điều trị bệnh và bồi dưỡng sức khỏe cho nhân dân. Rừng còn có hàng chục loại cây ăn quả (như: Trường, mít, gùi, thị…) hàng trăm loại cây có thể dùng làm rau ăn. Đi đôi với nguồn tài nguyên về thực vật, nguồn tài nguyên về động vật ở Tây Ninh cũng khá phong phú, bao gồm nhiều loại từ cọp, voi, heo rừng, bò rừng, khỉ, nhím, cheo, trăn… cho đến chim muông. Nhiều loại bò sát cũng được xác minh là có thể dùng làm dược liệu tốt như các loại rắn, thằn lằn, tắc kè, kỳ đà, ở dưới lòng đất có nhiều loại khoảng sản quí. Dưới sông suối có những vùng đất thấp bị ngập nước có các loại cá sinh sôi nẩy nở quanh năm. Cây cối tươi tốt, mùa nào thức ấy. Đây chính là kho thực phẩm dự trữ dồi dào cho nhân dân ta từ xa xưa, cho bộ đội và nhân dân những năm kháng chiến chống giặc. Đây cũng chính là tài nguyên kích thích lòng tham của bọn tư sản nhảy vào khai thác để làm giàu. Trong chiến tranh, Mỹ - Ngụy đã dùng bom đạn và chất độc hóa học để phá hoại rừng làm cho nguồn tài nguyên này bị phá hủy nghiêm trọng. Ngày nay Tây Ninh chủ trương trồng cây trả lại màu xanh cho rừng. Đồng thời có những chính sách pháp lệnh cụ thể về việc bảo vệ rừng, bảo vệ thú rừng, sử dụng gây nuôi và khai thác một cách hợp lý nhằm đáp ứng được nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đời sống nhân dân.

Tây Ninh có 2 con sông lớn chảy qua ở phía tây tỉnh là sông Vàm Cỏ Đông dài 220km bắt nguồn từ Campuchia băng qua những cánh rừng biên giới chảy vào đất Tây Ninh (đoạn dài 180km) xuống Long An và đổ ra biển Đông. Dòng sông này rất tiện lợi giao thông đường thủy, giặc lợi dụng đánh ra phía Tây và Campuchia, dòng sông đã từng làm mồ chôn quân cướp nước, nó là một chứng nhân của lịch sử, ghi dấu bao chiến công oai hùng của quân và dân ta. Về phía Đông có sông Sài Gòn bắt nguồn từ Campuchia dài 250km chảy qua Tây Ninh theo hướng Bắc Nam (đoạn dài 123km) lòng sông không sâu, rộng nhưng ghe thuyền có thể đi lại dễ dàng. Hiện nay nó là nguồn cung cấp nước dồi dào cho hồ Dầu Tiếng, một công trình thủy lợi lớn của cả nước.

Tây Ninh là cửa ngõ phía tây bắc thành phố Hồ Chí Minh có đường biên giới giáp Campuchia 232km. Đây là một vị trí có ý nghĩa chiến lược quan trọng về các mặt chính trị, kinh tế và quốc phòng. Địa thế núi rừng hiểm trở của Tây Ninh đã trở thành những căn cứ kháng chiến chống ngoại xâm của ông cha ta, ngay từ buổi đầu khi mới đặt chân đến vùng đất này, cho đến lúc có Đảng lãnh đạo, những chiến khu An Cơ, căn cứ C.1000, căn cứ 105, căn cứ địa Dương Minh Châu (từ 1952 đến 1975), chiến khu Bời Lời và còn biết bao địa danh khác mãi mãi đi vào lịch sử. Đây là niềm tự hào của quân và dân Tây Ninh trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà trực tiếp là Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh. Rừng Tây Ninh còn là căn cứ cho sự phối hợp chiến đấu giữa những người yêu nước Việt Nam và Campuchia cùng chung sức chống quân xâm lược.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:26:21 AM
2/ - Về địa lý kinh tế:

Với điều kiện tự nhiên về địa hình, đất đai khí hậu, sông ngòi và các nguồn tài nguyên khác của tỉnh, Tây Ninh có một tiềm năng to lớn về phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp.

Trải qua hàng mấy thế kỷ từ khi mới khai phá lập nghiệp, người dân Tây Ninh chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề rừng. Kho tài nguyên thì dồi dào mà cuộc sống của người dân thì khổ cực trăm bề, bởi vì đất nước còn đang lệ thuộc ách thống trị của bọn phong kiến, thực dân, đế quốc.

Dưới thời Pháp thuộc, nông dân là những người trực tiếp khai vỡ đất đai nhưng không được làm chủ mảnh đất của mình. Đất phù sa mới nhiều phèn khó canh tác, được một số ruộng tốt đều tập trung trong tay bọn địa chủ và bọn quan lại địa phương. Sản xuất manh mún cá thể, kỹ thuật canh tác lạc hậu gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Diện tích canh tác không được mở rộng, năng suất cây trồng không cao, làm lụng vất vả quanh năm nhưng không đủ gạo ăn.

Đất Tây Ninh phần lớn là đất xám trên phù sa cổ, loại đất này thích hợp với những loại cây ngắn ngày như mía, đậu phộng, mì, thuốc lá,… bọn tư bản cũng đã đầu tư vào đây để khai thác. Chúng đã xây dựng nhà máy đường ở Thanh Điền với trên 500 công nhân, (kể cả công nhân trồng mía). Về sau bọn chủ Pháp cho mở rộng thêm diện tích trồng mía và trang bị máy ép đường, loại có công suất 250 tấn mía cây/ngày để tăng cường bọc lột lao động của công nhân. Bên cạnh đó, chúng còn chiếm dụng đất đai của nhân dân để làm đồn điền cao su bóc lột nguồn công nhân rẻ mạt tại chỗ, trong thời gian này, công ty cao su Đông Dương (SIBH) của Pháp đã xây dựng được một số đồn điền lớn ở Bến Củi, Vên Vên… Đây là loại đồn điền khá quy mô thu hút nhiều công nhân, vì nó có cả nhà máy chế luyện cao su. Ngoài ra còn có nhiều sở cao su của bọn địa chủ, tư sản ngoại kiều khác như sở Cầu Khởi, sở Ác nô, sở Ôcônen, sở Syna, sở Phơ-răng-sy-ny, sở Sốc-Văng… Một số sở địa chủ người Việt có diện tích khoảng 10 đến 15 ha ở rải rác khắp tỉnh và dự kiến còn mở nhiều đồn điền… Trong các đồn điền, bọn địa chủ đã bóc lột sức lao động của công nhân một cách dã man, mỗi ngày họ làm việc từ 10 đến 14 tiếng đồng hồ lại còn phải gánh chịu bao nhiêu roi vọt trút lên đầu.

Nguồn lợi lớn nhất mà thực dân Pháp thu được trên mảnh đất hơn 400 ngàn hécta của Tây Ninh là lâm sản. Rừng chiếm ½ diện tích đất đai trong toàn tỉnh,. Sản lượng gỗ cao, lại dễ khai thác vì địa hình bằng phẳng, rất thuận tiện cho việc vận chuyển. Sau gỗ còn có nhiều lâm sản phụ quan trọng khác như mây, tre, lá, củi, dầu trong, mủ chai và rất nhiều thịt thú rừng. Khi mới chiếm Tây Ninh, thực dân Pháp đã áp dụng ngay chính sách khoanh rừng, tổ chức kiểm soát chặt chẽ để làm chủ rừng, bán gỗ thu thuế lâm sản, chúng đã thành lập ở Tây Ninh một sở kiểm lâm gồm 7 quận và nhiều đồn. Ở mỗi quân có một tên sếp và một số viên chức trông coi cùng với một đội lính thường xuyên rình rập, bắt bớ phạt vạ những người làm rừng sai với quy chế do chúng đặt ra.

Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gần như địch không quan tâm chỉ ở Thị xã có 1 nhà máy đèn, 1 nhà máy nước qui mô nhỏ với khoảng vài chục công nhân. Trong toàn tỉnh có hơn 10 nhà máy xay xát gạo, công suất từ 5 đến 10 tấn lúa/ngày và một số xí nghiệp thủ công khác như xưởng giấy, lò gạch, che ép đường, bọng ép dầu đậu phộng, lò rèn, lò than. Tất cả các cơ sở sản xuất trên đều thuộc tiểu chủ người Việt và Hoa kiều. Các tiểu chủ này phải nộp thuế khá cao cho bọn thống trị, nên họ đã bóc lột người làm công không kém gì Pháp, thậm chí có nơi còn nặng nề hơn, bởi vì họ bóc lột theo cung cách của thực dân kết hợp với kiểu bóc lột của địa chủ, phong kiến. Ngoài những thủ đoạn bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp còn áp dụng một chế độ thuế khóa hà khắc đối với nhân dân ta. Chúng đặt ra mọi thứ thuế như điền thổ, nhà cửa, trâu bò, patăng, môn bài… và dã man nhất là thuế thân. Tình cảnh này đã đưa cuộc sống của người dân Tây Ninh ngày càng đi vào chỗ cùng cực bế tắc.

Thời Pháp thuộc là như thế, thời Mỹ Ngụy nhằm mục đích biến Tây Ninh thành một tiền đồn vững chắc để bảo vệ cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn, đế quốc Mỹ đã đổ vào đây rất nhiều bom đạn, chất độc hóa học và các phương tiện chiến tranh khác hình thành nên một hệ thống đồn bót và căn cứ quân sự dầy đặc. Vì thế, diện tích đất đai nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, ở những vùng xảy ra chiến sự nhân dân không thể sản xuất được, phải bỏ ruộng, bỏ vườn chạy vào thị trấn, thị xã. Điều này đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, không phát triển được. Bom napan và chất độc hóa học của Mỹ đã hủy diệt rừng một cách nghiêm trọng, làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng thêm kiệt quệ. Việc khai thác rừng và các nguồn lâm sản phụ khác đều tập trung trong tay bọn cai thầu và bọn tướng tá Ngụy với ý đồ khai hoang phá rừng, phá căn cứ cách mạng, địch cho tay chân tự do phá rừng làm gỗ, củi, và xẻ đường ngang dọc chia nhỏ vùng rừng. Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở những di sản của thực dân Pháp để lại, Mỹ Ngụy có trang bị thêm một ít máy móc và thiết bị kỹ thuật không đáng kể. Hàng hóa ế thừa của phe tư bản chủ nghĩa tràn vào thị trường, đã bóp chết những ngành nghề truyền thống ở địa phương. Nền kinh tế Tây Ninh vốn đã què quặt lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, sản xuất đình đốn, đời sống của nhân dân trong vùng tạm chiếm vô cùng khó khăn. Còn ở vùng tự do (địch kêu là vùng oanh kích tự do), dưới sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, nhân dân ta vượt mọi khó khăn, về thiên nhiên địch họa vừa sản xuất, vừa chiến đấu, nhằm đáp ứng được phần nào yêu cầu của công cuộc kháng chiến và đời sống.

Do điều kiện địa hỉnh tương đối bằng phẳng, hệ thống đường giao thông ở Tây Ninh khá thuận tiện. Về đường bộ: có quốc lộ 22 và 22b chạy suốt từ thành phố Sài Gòn (phía Nam) lên bắc tỉnh, qua Campuchia.

Tỉnh lộ 13 xuyên suốt từ đông sang tây: chạy từ sông Sài Gòn qua thị xã Tây Ninh đi Bến Sỏi và đến biên giới Việt Nam – Campuchia. Tỉnh lộ 4 chạy lên phía Bắc từ Thị xã qua Kheđon, Đồng Pan đi Kà-tum và đến biên giới Việt Nam – Campuchia bắc Sông Bé. Xuyên giữa rừng nối liền lộ 4 tại Đồng Pan với quốc lộ 22b, địch làm đường (Trần Lệ Xuân) để khai thác gỗ và tiếp cận căn cứ ta. Tỉnh lộ 26 xẽ giữa tỉnh chạy xuống phía Nam băng qua các vùng nông thôn trù phú thuộc các huyện Dương Minh Châu, Gò Dầu, Trảng Bàng nối với lộ 22 cửa ngõ vào Sài Gòn. Nối liền các trục lộ chính là một mạng lưới đường nông thôn chằng chịt, phục vụ tốt cho việc đi lại của nhân dân và việc vận chuyển hàng hóa bằng các loại xe. Về đường thủy có 2 sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông, nhiều con rạch nhỏ thuyền ghe có thể lưu thông được quanh năm như rạch sóc Ôm, rạch Tây Ninh, rạch Trảng Bàng, rạch Suối Đôi…. Trong thời gian chiến tranh, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đã sử dụng hệ thống đường giao thông này chủ yếu để phục vụ cho mục đích quân sự, nhằm thực hiện các cuộc hành quân càn quét vào các vùng tự do của ta.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:27:31 AM
3/ - Địa lý nhân văn và xã hội:

Dân số Tây Ninh thời Pháp thuộc năm 1921 có khoảng 200.000 người, năm 1942: 200.000 người, thời Mỹ Ngụy năm 1969: 335.301 người, năm 1972: 392.840 người. Sau giải phóng 30-4-1975 có khoảng 578.000 người. Theo tổng điều tra dân số 1978 có 701.000 người. Mật độ dân số trung bình trong toàn tỉnh là 174 người/km2, nơi có mật độ cao nhất là huyện Hòa Thành: 900 người/m2, thấp nhất là huyện Tân Biên 42 người/km2.

Từ khi vùng rừng núi hoang vu tở thành nơi cư trú của con người cho đến nay, ở Tây Ninh có 3 dân tộc anh em cùng sống đoàn kết gắn bó với nhau, đó là người Việt, Khơme và Chàm. Người Việt ở Tây Ninh là những người có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh Miền Bắc vào cửa Cần Giuộc theo đường sông lên Tây Ninh buôn bán, trao đổi hàng háo với người địa phương rồi dần dần trụ lại đây làm ăn sinh sống. Dân tộc Việt phát triển nhanh, ngày càng đông, yêu câu mở rộng địa bàn sản xuất ngày càng trở nên cấp bách, do đó họ tiến dần lên vùng Trảng Bàng, Gò Dầu và tận chân núi Chiện (Bà Đen) để khẩn đất lập làng, hình thành nên những vùng cư dân đầu tiên của người Việt ở Tây Ninh. Trước và qua 2 cuộc kháng chiến, dân tộc Việt luôn luôn thể hiện được truyền thống yêu nước chống ngoại xâm mãnh liệt của mình, biết đoàn kết với các dân tộc anh em trong công cuộc giải phóng đất nước. Người Khơme sống quây quần lại với nhau thành từng phum, sóc. Sống chủ yếu dựa vào hái lượm, đốt nương, tỉa rẫy. Vào thời Pháp thuộc họ tập trung lại trong 4 tổng (Chơn, Bà Đen, Tabenduyn, Băng-chơ-rum, Khăn Xuyên) gồm 15 làng. Qua 2 cuộc kháng chiến do chiến tranh tàn phá ác liệt, đồng bào Khơme phải di chuyển tứ tán đi nhiều nơi, không còn sống theo từng làng riêng biệt nữa mà chung sống với người Việt, phần lớn là ở những vung rừng và nông thôn hẻo lánh. Dân số Khơme phát triển chậm, hiện nay có khoảng 18.654 người. Dân tộc Chàm (1692) đã cùng người Việt từ miền trung Trung bộ tiến lần về phía Nam, về sau định cư lại ở 2 nơi là Châu Đốc và Tây Ninh. Ở Tây Ninh người Chăm quy tụ lại thành 2 xóm: xóm Chàm Đông Tác (nay thuộc ấp Thái Vĩnh Đông – Phường 1 Thị xã Tây Ninh) và xóm Chàm Tạo Tác (xã Tân Hưng, huyện Tân Biên) người Chàm theo đạo Hồi, thuộc phái Pa-ni không ăn thịt heo và chôn xác chết. Giáo đường được xây theo kiểu La-mát (Ấn Độ, Ả Rập) không giống người Chàm ở Bình Định, Phan Rang. Hiện nay có khoảng 1.400 người Chàm đang cư trú trên địa bàn Tây Ninh.

Ngoài 3 dân tộc lớn đã nêu trên, còn có một số dân tộc ít người khác như dân tộc Tà Mun (576 người), Mường (74 người), Thổ (9 người), Ê đê (6 người) và kiều dân Ấn Độ (53 người, Pháp (13 người), Thái Lan (11 người), Lào (7 người), Tiệp Khắc (3 người), Nhật (4 người) và người Việt gốc Hoa (9.698 người) (theo số liệu điều tra năm 1978).

Đồng bào các dân tộc với phong cách sống hào hùng của cha ông đã để ra bao công sức và xương máu để khai lập và giữ gìn mảnh đất Tây Ninh từ khi mới thành lập cho đến nay. Dân tộc Kinh sống chan hòa đoàn kết với các dân tộc anh em trong quá trình sản xuất, chống thiên nhiên thú dữ và giặc ngoại xâm, chống mọi chính sách chia rẽ dân tộc của kẻ thù.

Đại bộ phận dân số Tây Ninh là nông dân lao động cần cù và sáng tạo. Cách đây khoảng 300 năm về trước, Tây Ninh còn là vùng rừng rậm hoang vu vắng bóng người, thuở ấy ông cha ta đã phải đạp rừng xông tới tìm đường đi mở đất, quây quần bên nhau để chống thứ dữ, nương tựa vào nhau trong cảnh sống heo hút vất vả. Bằng những công cụ lao động thô sơ trong buổi ban đầu, nhân dân đã vượt qua muôn vào khó khăn gian khổ từng bước tiến lên cải tạo thiên nhiên. Khi thực dân Pháp nhảy vào xâm chiếm Tây Ninh, tất cả những vùng đất, những mảnh ruộng tốt đã bị chúng chiếm đoạt.

Vào đầu thế kỷ 20, trong chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp cho xây dựng ở Tây Ninh một số đồn điền cao su, một vài cơ sở sản xuất chế luyện cao su, xưởng chế biến mía đường, nhà máy đèn, nhà máy nước…. Ruộng đất bị chiếm đoạt, nông dân không có đất để sản xuất bắt buộc phải bán sức lao động của mình cho bọn địa chủ ở các đồn điền và nhà máy để kiếm sống. Từ đó giai cấp công nhân được hình thành, tuy số lượng không đông, tính chất không thuần nhất (bần nông, cố nông), điều kiện làm việc không hiện đại nên tinh thần tập thể và ý thức tổ chức kỷ luật chưa chặt chẽ, nhưng họ lại bị áp bức bóc lột quá nặng nề, điều này đã làm cho mâu thuẫn giữa họ với bọn tư bản thống trị ngày càng trở nên gay gắt. Xuất phát từ giai cấp nông dân, sẵn có lòng căm thù giặc sâu sắc của người dân nô lệ bị cướp đất và sẵn có truyền thống yêu nước của dân tộc lại được sự cổ vũ mạnh mẽ của phong trào công nhân trong cả nước, giai cấp công nhân ở Tây Ninh đã sớm thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc cách mạng, nên họ đã đoàn kết chặt chẽ với giai cấp nông dân, tiến hành cách mạng lật đổ giai cấp thống trị.

Giai cấp tư sản và địa chủ ở Tây Ninh quá nhỏ bé, chiếm tỷ lệ không đáng kể so với dân số toàn tỉnh, nhưng đó lại là giai cấp có thế lực mạnh nhất trong xã hội đương thời được bọn thống trị nuôi dưỡng để làm tay sai cho chúng.

Hoàn cảnh xã hội phức tạp, đời sống kinh tế quá khó khăn, thiên nhiên thú dữ và giặc cướp hoành hành, chiến tranh xảy ra liên miên, sinh mạng của con người bị nhiều mối đe dọa. Vốn hiểu biết của con người về thiên nhiên và xã hội còn nhiều hạn chế, con người còn tin sự che chở cứu vớt của trời phật, lấy đó làm chỗ dựa về tinh thần. Đó là điều kiện tốt để cho ba tôn giáo lớn lần lượt ra đời và tồn tại ở Tây Ninh cho đến ngày nay.

Đạo Phật xuất hiện rất sớm, gắn liền với quá trình khai vỡ đất đai và bảo vệ cuộc sống của nhân dân Tây Ninh nó có phần về đạo nghĩa làm người phù hợp với đạo Phật. Cảnh non thâm cùng cốc của núi Bà Đen thích hợp với các thầy tu lập chùa sùng đạo. Nhiều vị công thần sau khi dẹp giặc xong lại lui về lập chùa tu niệm. trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ có một số chùa Phật là nơi ẩn náu tốt cho những người yêu nước, các cán bộ đảng viên của ta khi bị địch truy lùng và bắt bớ. Đạo Phật rất gần gũi với nhân dân. Liên quan bản tính nhân hậu, hiếu thảo, hào hiệp, nhân nghĩa, trí dũng, làm lành kính dữ, diệt tà cứu dân… vì thế gần như người Việt Nam nào cũng thờ cũng tổ tiên, ông bà trong những ngày rằm lớn ở chùa đã trở thành tập quán của mọi người, mặc dù họ không phải là tăng ni phật tử.

Đạo Thiên chúa người mở đường cho Pháp xâm lược, có ở Tây Ninh là do các linh mục bị triều đình Huế truy nã, phải trốn vào Nam lãnh nạn, tìm đến vùng đất Thala quy tụ một số đồng bào ở Lò mo, Trường Đà thành lập nên họ Đạo Tha La vào đầu thế kỷ 19. Khi Pháp chiếm Tây Ninh (1861), Họ đạo này phát triển mạnh, đã cử nhiều linh mục lên Thị xã thành lập họ Đạo Tây Ninh và đi nhiều nơi trong tỉnh để thành lập tiếp các họ Đạo khác. Đạo có quan hệ chặt chẽ với bọn thống trị. Họ định đào tạo một số trí thức và linh mục sau đẻ ra Đảng Tân Đại Việt (Nguyễn Tôn Hoàng). Thời Ngô Đình Diệm cùng với nhóm giáo dân mới di cư từ miền Bắc vào (1954) họ thành lập các “khu trù mật”, “khu dinh điền”, “khu tị nạn công sản” chống cộng triệt để gây nhiều khó khăn cho phong trào cách mạng địa phương. Phần lớn tín đồ Thiên Cháu giáo súng đạo tin Cháu bị tầng lớp cha cố lợi dụng mê hoặc mù quáng. Trong cuộc sống họ bị áp bức bóc lột năng nề như bao nhiêu người khác nên khi được giác ngộ lòng yêu nước họ cam thù giặc ngoại xâm. Ngoài một số bị kẻ thù mua chuộc thật sự làm tay sai cho giặc, chống phá cách mạng, số còn lại đã cùng với nhân dân địa phương tìm mọi cách giúp đỡ cán bộ ủng hộ cách mạng góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đạo Cao Đài ra đời ở Tân An rồi chuyển lên Tây Ninh năm 1926, do một số quan lại địa chủ bất mãn Pháp theo phong trào Đông du từ Cường Để theo Nhật với thuyết Đại Đông Á qui tụ từng lớp trung gian đứng ra thành lập, họ bày ra việc lập đàn cầu cơ, một biện pháp, thủ đoạn lừa mị kéo nông dân yêu nước không có sự lãnh đạo đúng, bị đàn áp không lối ra. Họ cho đây là quốc đạo và giải thích: tuy thờ Thích ca, Jêsu, Không Tử, Phật bà Quan Âm nhưng đạo Cao Đài được sáng lập trong nước chứ không phải từ ngoài du nhập vào. Khi cần họ cũng có thể lý giải quốc đạo là đạo làm quốc sự. Hai câu đối trước mỗi thánh thất đều có nên rõ: “Dân chủ mục, tự do quyền” và trong lòng quần chúng tín đồ đều tâm niệm câu “Nước nhà Nam là của người Nam!”. Trên thực tế, đó chỉ là cách mị dân của một số lãnh tụ và chức sắc được phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lôi kéo sử dụng để tranh giành ảnh hưởng quần chúng với Đảng ta. Chính thủ đoạn lừa mị đó mà chỉ trong một thời gian ngắn đạo Cao Đài đã thu hút được hàng chục vạn tín đồ.

Đối với tầng lớp chức sắc cấp cao trừ một số ít còn có tin thần dân tộc, có lòng yêu nước, còn đại đa số mượn danh nghĩa đạo để hoạt đông nhằm mục đích chính trị riêng với ý định xưng bá đồ vương. Họ đã tiếp tay với Đế quốc chống lại cách mạng, đi ngược lại quyền lợi của quân dân và dân tộc. Quần chúng tín đồ tuy có bị họ lợi dụng để làm tay sai cho giặc, nhưng tuyệt đại đa số là nông dân cơ bản có tinh thần yêu nước có căm thù bọn bóc lột khi họ được hiểu lẽ phải, sự thật nhận ra kẻ thù cướp nước và bè lũ bán nước nên đồng bào tín đồ sẵn sàng đi theo cách mạng, cùng toàn dân đứng lên đánh đuổi bọn đế quốc và tay sai.

Thời kỳ này, ở Tây Ninh còn các đảng phái hoạt động như: Đảng Đại Việt ở Gò Dầu (Võ Thành Cứ), Đảng Tân Đại Việt trong công giáo Tha La, Đảng Việt Nam phục quốc trong Cao Đài xu hướng của họ phục vụ đế quốc, tranh giành quần chúng với Đảng ta. Riêng tổ chức Thiên địa hội có xu hướng tiến bộ vì dân tộc độc lập.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:28:44 AM
CHƯƠNG II

TRUYỀN THỐNG ĐÂU TRANH BẤT KHUẤT CHỐNG NGOẠI XÂM
CỦA NHÂN DÂN TÂY NINH TỪ TRƯỚC KHI CÓ ĐẢNG
CHO ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

1.- Phong trào đấu tranh trước khi có Đảng lãnh đạo

Địa thế núi rừng Tây Ninh bao la hiểm trở, tài nguyên thiên nhiên trong rừng phong phú đa dạng bảo đảm được nguồn hậu cần tại chỗ. Chính vì thế Tây Ninh luôn luôn là mảnh đất của những căn cứ địa chống ngoại xâm nổi tiếng.

Quá trình hình thành và phát triển của tỉnh là quá trình đấu tranh gay bắt quyết liệt với quân thù. Ngay từ buổi đầu mới thành lập tỉnh, nhân dân Tây Ninh liên tục chống giặc bảo vệ biên thùy mà chứng tích còn ghi lại ở đền Ông lớn Trà Vông (ấp Tua Hai, xã Thái Bình, huyện Châu Thành) hoặc Vịnh cù, Vàm Sóc Om mãi mãi cho đến ngày nay.

Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình phong kiến nhà Nguyễn hèn yếu đầu hàng giặc, đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Năm 1862, ký hòa ước cắt dâng ba tỉnh Miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Nhân dân Tây Ninh đã cùng với nhiều vị quan lại địa phương chống lại lệnh bãi binh của triều đình lại về dựa vào thế núi rừng chống giặc.

Ở phía bắc tỉnh Khâm Tấn Tường rút về phủ An Cơ (xã Hảo Đước) xây dựng lực lượng kháng chiến. Ông đã cùng anh em binh sĩ và nhân dân đánh cho giặc Pháp những đòn tan tác ở Trảng An Cơ, Vịnh Cù, Sóc Om.

Phía Nam có cơ sở kháng chiến do Lãnh Binh Tòng chỉ huy. Từ đây Lãnh Binh Tòng đã từng đưa quân về tiếp viện ở đồn Chí Hòa, lúc Chí Hòa đang bị uy hiếp. Sau khi đồn Chí Hòa thất thủ, Pháp đánh lên vùng Trảng Bàng. Ông đã cùng nghĩa quân chống cự quyết liệt, làm thực dân Pháp mất ăn, mất ngủ trong nhiều năm.

Còn ở các xã phía Tây (thuộc huyện Bến Cầu ngày nay) có lực lượng kháng chiến của Lãnh Binh Két. Ông đưa quân về đây lợi dụng địa hình vừa có rừng rậm, vừa có đầm lầy để mai phục và chủ động đánh Pháp. Ông đã từng đưa quân tấn công vào đồn giặc gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề. Đây là căn cứ địa được giữ vững ở Tây Ninh thời bấy giờ.

Trong các phong trào kháng chiến chống Pháp khác, giai đoạn này, nổi bật hơn hết là lực lượng nghĩa quân do Trương Quyền lãnh đạo Sau khi Trương Định hy sinh oanh liệt ở Gò Công, Trường Quyền đưa quân về Tây Ninh tiếp tục tổ chức đánh Pháp ở vùng Truông núi (Gò Dầu), Trảng Bàng… Về sau ông phối hợp với nghĩa quân Khơme của Pô-cum-pô, liên quân Việt Khơme đã tiến vào Thị xã Tây Ninh đánh với tên quan ba Pi-nô, giết chết tên tỉnh trưởng Lắc-cơ-lô và tên quan một Lơ-Sa ngay trước đồn lính của chúng. Thực dân Pháp điên cuồng cử tên quan năm Mác-Sét-Sơ đưa viện binh từ Sài Gòn lên theo đường sông để tấn công và truy quét lực lượng nghĩa quân. Một tuần lễ sau Mác-Sét-Sơ cũng đã đền tội ở Rạch Vịnh, quân Pháp phải rút.

Tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của nhân dân Tây Ninh dưới sự lãnh đạo của các vị quan lại địa phương đã phá triển mạnh mẽ và rộng khắp trong toàn tỉnh, nhưng không làm xoay chuyển được tình thế, bởi vì so sánh tương quan giữa ta và địch quá chênh lệch nhau, một bên là nhân dân yêu nước đã bị triều đình phong kiến bán đứng cho ngoại bang phải đương đầu với đội quân viễn chinh của một tên thực dân sừng sỏ. Cho nên phong trào kháng chiến dần dần bị tan rã. Về sau các tổ chức yêu nước khác như Thiên địa hội do ông Hồ Văn Chư đứng đầu ở An Tịnh, ông Nguyễn Văn Phát ở An Hòa và nhiều vị khác ở Gia Bình, Vàm Trảng… nổi lên hoạt động nhưng không thu được kết quả gì đáng kể, vì thiếu một đường lối chính trị đúng đắn phải chờ đến khi có ảnh sáng của Đảng Cộng sản Việt Nam rọi vào Tây Ninh thì các phong trào yêu nước của quần chúng nhân dân mới tồn tại và phát triển được.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:29:30 AM
2. Phong trào đấu tranh từ khi có Đảng đến cách mạng tháng Tám năm 1945:

Vào cuối những năm 20 của thế kỷ này, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lao động đã diễn ra sôi nổi trong cả nước. Công nhân hãng Ba Son, sở cao su Phú Riềng bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập. Nông dân Nam Bộ đấu tranh chống cướp đoạt ruộng đất, đòi giảm sưu thuế, chống cường hào nhũng lạm. Học sinh bãi khóa truy điệu Phan Chu Trinh. Tiểu tương, tiểu chủ chống thuế.

Trong khi đó, các tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, Đảng Tân Việt ngày càng phát triển mạnh và có cơ sở khắp Bắc Trung Nam. Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ đang cuồn cuộn dâng lên đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính Đảng thật sự của giai cấp công nhân. Những người tiên tiến trong Việt Nam cách mạng đồng chí hội đã sớm nhận thức được yêu cầu bức thiết đó, và tự nhận thấy rằng vai trò lịch sử của mình đến đây đã kết thúc. Chính vì thế ngày 1-5-1929, Đại hội đại biểu toàn quốc của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội họp ở Hương Cảng để bàn việc thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân ở nước ta. Trong hội nghị này có những điểm không nhất trí nhau nên đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ về nước, ngày 17-6-1929 quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng. Tháng 9-1929 các đại biểu Nam kỳ tuyên bố cải tổ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội thành An Nam cộng sản Đảng. Tháng 1-1930, Đảng Tân Việt cũng tổ chức thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Các tổ chức cộng sản ra đời như thế thể hiện được bước phát triển nhảy vọt của phong trào công nhân và phong trào yêu nước phù hợp với ý chí và nguyện vọng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Ba tổ chức cộng sản này đều có chi bộ Đảng hoạt động ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh lân cận như Gia Định, Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Tân An… sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước đòi hỏi phải có một sự lãnh đạo chặt chẽ thống nhất của một bộ tham mưu chiến đấu duy nhất của cách mạng. Trước tỉnh hình đó đồng chí Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu quốc tế cộng sản triệu tập hội nghị hợp nhất các Đảng lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long (cạnh Hương Cảng – Trung Quốc từ 3-2 đến 7-2-1930. Sự việc này có sức cổ vũ mạnh mẽ đối với phong trào cách mạng cả nước. Từ đây các hệ thống tổ chức của Đảng được củng cố vững mạnh và ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động trong khắp nước… Ban chấp hành Trung ương Đảng có trụ sở đặt tại Sài Gòn để chỉ đạo ra các tỉnh ở phía Nam. Đó là cơ sở cho ánh sáng của Đảng vào tỉnh ta.

a) Ảnh hưởng của Đảng vào Tây Ninh:

Tây Ninh nằm tiếp giáp với các tỉnh có phong trào cộng sản hoạt động mạnh như Gia Định, Chợ Lớn nên sau khi đồng chí Châu Văn Liêm được cử về Nam và làm xong nhiệm vụ thống nhất các tổ chức cộng sản ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh đó lại rồi được phân công trực tiếp phụ trách liên tỉnh Gia Định, Chợ Lớn thì phong trào lên mạnh và lan tràn qua các tỉnh lân cận, tác động đến vùng phía nam của Tây Ninh rất sớm.

Đồng chí Vũ Văn Lợi người ở Bà Điểm bị bắt đi lính tập ở thành Ô-Ma. Năm 1929 đồng chí Lợi tổ chức lấy vũ khí trong thành và bỏ trốn lên Giồng Nầng làm ăn và tuyên truyền giác ngộ quần chúng đánh Pháp. Nam 1930, đồng chí Lợi được kết nạp vào Đảng ở Bà Điểm, rồi nhận nhiệm vụ về Tây Ninh tiếp tục hoạt động và xây dựng phong trào. Đồng chí Lợi đã giác ngộ được 4 quần chúng tốt là Chẩn, Phú, Viết, Luông… làm nòng cốt cho phong trào. Trong những năm này đồng chí bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Địch tăng cường ruồng rập các vùng, 4 quần chúng có cảm tình chưa được kết nạp Đảng phải chuyển vùng sang các làng của người Việt trên đất Campuchia làm ăn sinh sống. Sau đó móc nối được với tổ chức Đảng ở Ba-tì và được kết nạp đưa về len lỏi hoạt động ở vùng Giồng Nầng. Cũng tại đây hai đồng chí Viết, Luông bị địch bắt đày đi mất tích. Còn lại hai đồng chí Chẩn, Phú tiếp tục hoạt động cho đến năm 1945 thì tổ chức đảng này mới bị vỡ.

Ngoài ra, còn có một số đồng chí ở các tỉnh, xã do tình hình ở địa phương nhất thời gặp khó khăn phải tạm lánh về Tây Ninh một thời gian như đồng chí Lê Minh Xuân (Tân An) lên ở vùng động Lông Công, Bàu Đồn.

Năm 1930 các đồng chí Hai Giáp, Bảy Son, Tám Độ được chi bộ Đảng ở Ba-ti (một làng người Việt bên đất Campuchia) kết nạp và đưa về hoạt động thành lập nhó Đảng ở các xã Long Gian, Lương Khánh, Long Chử. Tháng 5-1931 đồng chí Trần Độ bị địch bắt, chúng tra tấn rất dã man nhưng vẫn không khai thác được cơ sở Đảng của ta. Địch mở rộng truy tìm khủng bố, lùng sục khắp nơi, 2 đồng chí Hai Giáp và Bảy Son phải chuyển hẳn về Long Khánh để tiếp tục hoạt động.

Các nhóm Đảng này hoạt động hết sức bí mật, chủ yếu dựa vào các tập quán sinh hoạt của nhân dân địa phương như cúng đình, cúng miếu, ma chay, cướp xin, vạn cấy… để tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Đồng thời kết hợp với các hình thức treo cờ, băng khẩu hiệu của Đảng trên các ngọn cây cao để gây thanh thế nổi bật là hưởng ứng phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bằng hình thức treo khẩu hiệu “thả tù chính trị Nghệ An đỏ” trên ngọn tre ở nhiều vùng thuộc các xã Lương Giang, Long Thuận, Long Khánh. Những ánh sáng ban đầu của Đảng làm nền tảng cho việc phát triển thành hệ thống của Đảng bộ Tây Ninh sau này, nhưng đây chính là những nhóm lửa nhỏ được nhen nhóm lên trong lòng quần chúng, từ đây ngọn lửa cách mạng ngày càng được thổi bùng lên mạnh mẽ trong những năm sau.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:29:55 AM
b) – Thời kỳ đấu tranh khôi phục phong trào (1932-1935)

Sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) thực dân Pháp đã tổ chức một cuộc khủng bố trắng nhằm dập tắt ngọn lửa đấu tranh của quần chúng, phong trào cách mạng trong cả nước tạm thời lắng xuống. Sự hoạt động của các nhóm Đảng ở Tây Ninh cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước, các đồng chí đảng viên và quần chúng nòng cốt tạm thời ẩn náu, gìn giữ bí mật lực lượng chờ thời cơ. Đến năm 1934-1935, phong trào dần dần được khôi phục, trở lại co đồng chí Lên (tức Tư Địa) là cán bộ liên khu ủy, đến rừng Bàu Sen, Bàu Dài (Dương Minh Châu ngày nay) hoạt động tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Từ đây đồng chí chuyển dần lên vùng Quán Cơm (xã Thái Bình) trụ lại một thời gian và mở rộng phạm vi hoạt động ra các xã Ninh Thạnh, Thái Bình, Thanh Điền, đã kết nạp được một số đảng viên mới là người địa phương (như đồng chí: Chấn, Dú, Sự, Bằng, Mạnh) hình thành nên nhóm Đảng Quán cơm Thanh Điền. Về sau đồng chí Liên tiến dần xuống hoạt động ở Cẩm Giang, Gò Dầu, Đồn Thuận và kết nạp thêm đồng chí Xuyến.

Địa bàn hoạt động của đồng chí Lên khá rộng từ phía Đông lên phía bắc và xuống phía nam của tỉnh. Đồng chí có quan hệ rộng rãi với quần chúng cách mạng ở nhiều vùng, nhưng về công tác tổ chức còn hạn chế, nên chỉ mới hình thành được một số nhóm Đảng và đảng viên lẻ tẻ hoặc cơ sở quần chúng có cảm tình với Đảng, chưa tổ chức được chi bộ hẳn hoi. Ngay như nhóm Đảng ở Quán cơm được coi như là trung tâm chỉ đạo của đồng chí Lên đi các vùng, cũng chưa hình thành một chi bộ Đảng, chưa có nghị quyết chủ trương cụ thể mà chỉ gặp mặt truyền miệng cho nhau, nhận việc và thi hành nhiệm vụ. Hoạt động chủ yếu của các nhóm Đảng và các đảng viên trong giai đoạn này là tuyên truyền về sự khổ nhục của người dân mất nước, phải sống cảnh đời nô lệ, vạch trần sự áp bức, bóc lột của bọn thống trị và tay sai của đại phương, kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh để giải phóng mình, giành lại quyền sống tự do, giành lại cơm áo và ruộng đất.

c) Phong trào cách mạng trong những năm 1936-1939:

Tình hình thế giới trong giai đoạn này có nhiều chuyển biến quan trọng, phong trào đấu tranh chống Phát xít dâng lên mạnh mẽ ở nhiều nước. Mặt trận Bình dân Pháp mà Đảng cộng sản Pháp là nòng cốt đã thắng thế trong cuộc tổng tuyển cử tháng 1-1936. Tháng 6-1936, chính phủ Mặt trận Bình Dân lên cầm quyền ở Pháp, sự kiện này có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình chính trị ở Đông Dương. Bọn thực dân Pháp cai trị ở Đông Dương cũng phải nới rộng một số quyền tự do dân chủ cho nhân dân. Phong trào quần chúng hoạt động công khai phát triển rầm rộ khắp nơi. Ở Tây Ninh cũng có nhiều tổ chức công khai ra đời, nổi bật nhất là vùng Phước Chỉ (Trảng Bàng) có một nhóm thanh niên yêu nước được sự chỉ đạo của cán bộ Tổng ủy Cầu An Thượng, hoạt động tổ chức các hội Ái hữu giúp nhau cày cấy, lo liệu ma chay, cưới xin, giỗ chạp, khi túng thiếu… Hội phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều thanh niên vào làm việc nghĩa. Riêng ở ấp Phước Hưng, hội Ái hữu có đến hàng trăm hội viên. Ở chợ Rạch Tràm còn có các nhóm hoạt động đấu tranh xin giảm thuế được đông đảo quần chúng ủng hộ. Năm 1938 phong trào quần chúng công khai hoạt động khá mạnh, đủ điều kiện tiến tới thành lập một Ủy ban hành động. Ủy ban này có trụ sở tại chợ Rạch Tràm, hoạt động dưới hình thức mua báo từ Sài Gòn đem về (như tờ Tranh Đấu, Dân Chúng) phổ biến cho đông đảo quần chúng.

Bọn thống trị hoảng sợ trước sự phát triển của phong trào dân chủ, chúng tìm mọi cách để ngăn chặn. Tháng 6-1938 chúng cho tên Quản Điểm từ Thị Xã Tây Ninh dẫn lính về đóng đồn ở Rạch Tràm và bước đầu cấm không cho nhân dân tụ họp đông quá 20 người. Trước tình hình đó, Ủy ban hành động phải tổ chức từng dợt khoảng 18-19 người vào phòng họp nghe đọc báo. Còn các tổ chức công khai hoạt động bí mật hơn, phạm vi tuyên truyền chó thu hẹp hơn những vẫn duy trì được phong trào. Tháng 8-1938 nhân dịp tên tỉnh trưởng Rờ-nu xuống chợ Rạch Tràm xem xét tình hình và hiểu dụ đồng bào, Ủy ban hành động vận động hàng ngàn quần chúng kéo đến nghe diễn thuyết, sau đó biến nội dung diễn thuyết thành cuộc biểu tình đấu tranh đưa yêu sách đòi giảm thuế. Đoàn người kéo đến chỗ Rờ Nu cử 3 đại biểu là Vẳng, Thạnh, Ngỏi lên gặp trực tiếp tỉnh trưởng để đưa yêu sách và nói chuyện với hắn bằng tiếng Pháp không cần phiên dịch. Cuộc đấu tranh của quần chúng thắng lợi, tên Rờ-Nu phải xuống giọng nhận yêu sách và hứa sẽ báo cáo lên quan thống đốc Nam Kỳ xem xét giải quyết.

Ngày 21-6-1939, ở Châu Thành đồng chí Trần Văn Mạnh vận động tổ chức được trên 200 công nhân Sở Cao su Phrăng-xi-ni đấu tranh đòi giải quyết chế độ nước nóng cho công nhân uống lúc làm việc, chống đánh đập, đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi trả lương tháng trước. Cuộc đấu tranh này đã giành được thắng lợi.

Tháng 9-1939 cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, chính phủ phản động Pháp Đa-la-đi-ê ôm chân phát-xít, thẳng tay đàn áp phong trào Mặt trận dân chủ, ban hành một số chính sách phản động, giải tán Đảng Cộng sản Pháp, thủ tiêu luật xã hội, hủy bỏ các quyền tự do dân chủ. Bọn cai trị Pháp ở Đông Dương tiến hành khủng bố phong trào Mặt trận dân chủ. Ở Tây Ninh, tên tỉnh trưởng Rờ-Nu ra lệnh giải tán các tổ chức dân chủ tại Phước Chỉ, cho lính bắt một số cán bộ đảng viên của ta, trong đó có các đồng chí Vẳng, Thạnh, Ngỏi và Mạnh. Phong trào Mặt trận dân chủ trong toàn tỉnh bị dập tắt.

Đến giai đoạn này, các nhóm Đảng và các đồng chí đảng viên vẫn còn hoạt động lẻ tẻ chưa được tổ chức thành hệ thống, chưa có sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng bộ, nên phong trào quần chúng hưởng ứng Mặt trận dân chủ cũng bị hạn chế và bị dập tắt nhanh chóng. Nhưng ảnh hưởng của phong trào đã thôi thúc quần chúng đứng dậy đấu tranh, chống áp bức bóc lột đòi quyền sống ngày càng mạnh mẽ hơn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:30:17 AM
d) – Hoạt động hưởng ứng Nam kỳ khởi nghĩa (11-1940)

Cho đến năm 1939, Tây Ninh vẫn chưa có một Đảng bộ chính thức, cho nên các đồng chí đảng viên ở Tây Ninh không được học tập nghị quyết lần 6 (11-1939) của Trung ương Đảng. Nhưng nhờ liên lạc được với các tổ chức Đảng ở Đức Hòa (qua nhóm đồng chí Ngỏi ở Phước Chỉ) Gia Định, Thủ Dầu Một (qua nhóm đồng chí Lên) các đồng chí đã kịp thời chuyển hướng hoạt động, lui vào bí mật hình thành tổ chức Nông hội đó, phân tán theo từng nhóm nhỏ từ 3 đến 5 người vào các hội làm nhà, hội đưa đám ma… Tiếp tục hoạt động giữ vững cơ sở, chuẩn bị lực lượng quần chúng chờ thời cơ nổi dậy hưởng ứng khởi nghĩa.

Tháng 9-1940, thực dân Pháp đầu hàng Phát xít Nhật, chúng đã quỳ gối dâng Đông Dương cho Nhật, nhân dân Đông Dương lâm vào cảnh “Một cổ hai tròng” càng thêm điêu đứng, vì thuế má tăng vọt, tô tức nặng nề… Thực dân Pháp câu kết với Phát-xít Nhật tăng cường áp bức bóc lột nhân dân ta, làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc Phát-xít Pháp-Nhật ngày càng trở nên gay gắt. Không thể chịu đựng nổi cuộc sống nô lệ đó, lại được tinh thần: “Khởi nghĩa Bắc Sơn” cổ vũ mạnh mẽ, nhân dân ta ở miền Nam nổi dậy sôi sục đấu tranh. Lòng căm thù đế quốc sâu sắc và khí thế cách mạng của quần chúng đã thúc đẩy Đảng bộ miền Nam chủ trương khởi nghĩa và ngày 23-11-1940 “Khởi nghĩa Nam Kỳ” bùng nổ.

Tây Ninh nhận lệnh chuẩn bị khởi nghĩa từ Đức Hòa, lên. Các đồng chí hoạt động ở vùng Phước Chỉ mở một cuộc họp ở vùng cấm giữa hai xã Phước Chỉ và Bình Thạnh, để phổ biến chỉ thị và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận chuẩn bị sẵn sàng, chờ lệnh hành động. Đêm 23-11-1940, nhận được lệnh hành động, đồng chí Ngỏi huy động lực lượng Nông hội đỏ tiến hành đào đứt các đoạn đường xuy yếu, chặt ngã cây cản đường từ Bến đò Lộc Giang vào chợ Rạch Tràm. Bộ phận của đồng chí Ba Mảng kết hợp với Mỹ Quý tổ chức chặt đứt dây cáp của chiếc sà lan làm phà qua sông, ngăn cản đường tiến quân của địch. Bộ phận của đồng chí Vẳng có nhiệm vụ huy động thanh niên, võ trang tiến công bót cảnh sát, giành chính quyền ở chọ Rạch Tràm. Mọi việc đang tiến hành khẩn trương, thì có lệnh báo cuộc khởi nghĩa đã bị lộ, địch đang đàn áp phong trào, phải phân tán lực lượng ngay và có kế hoạch ẩn náu đề phòng địch khủng bố trắng.

Tại Phước Trạch, đồng chí Đoàn Văn Tùng lãnh đạo một nhóm quần chúng hạ một số cây sao làm vật cản trên quốc lộ 22 từ Gò Dầu lên Tây Ninh. Ở phía Bắc Thị Xã, nhóm Đảng vùng Quán cơm cũng nhận được lệnh chuẩn bị khởi nghĩa (qua đồng chí Chín là liên lạc của Xứ Ủy) các đồng chí tổ chức đội du kích bí mật gồm một số anh em phu cao su không vợ con, chuẩn bị cờ búa liềm, rèn gươm bằng nhíp xe ngựa để trang bị chi anh em, ghi tên bọn hội tề có súng để khi hành động thì có biện pháp xử lý. Đêm 22-11-1940, các đồng chí họp bàn kế hoạch cụ thể, sẵn sàng hành động khi có lệnh. Ở vùng Giải Hóa cũng vậy, nhóm Đảng Giồng Nầng cũng có chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng vì liên lạc quá khó khăn nên khi nhận được lệnh là đã chậm trễ.

Cuộc khởi nghĩa thất bại, phong trào trong toàn tỉnh bị địch khủng bố dã man. Ở Rạch Tràm chúng cho 1 trung đội lính Lê Dương tập trung tại chợ, nửa đêm kéo vào xóm lùng sục, khám xét và đốt nhà dân. Trong số nhà bị đốt có nhà của đồng chí Ngỏi và của mấy anh em trong Nông hội đỏ. Sáng ra, tàu giặc từ Sài Gòn chạy lên xả súng bắn vào hai bên bờ sông Vàm Cỏ, chúng nã đạn pháo vào sâu trong đồng ruộng, bưng biền để uy hiếp tinh thần của quần chúng. Về người, tuy chúng có làm dữ như vậy nhưng cũng chỉ bắt được có anh Liệu, một thanh niên trong tổ chức Ái hữu không kịp tránh né. Nhờ phân tán lực lượng kịp thời nên phong trào ở Phước Chỉ không bị những tổn thất đáng kể. Sau đó, địch tăng cường thêm lính mã tà ở bót Rạch Tràm, tiếp tục lùng sục và theo dõi tình hình vùng này. Ở huyện Châu Thành, địch ra lệnh thiết quân luật đồng thời trang bị vũ khí cho bọn hội tề xã để sẵn sàng chống “Cộng Sản nổi dậy”. Tại Giồng Nầng, 2 đồng chí Chẩn, Phú bị địch bắt với đầy đủ tang chứng chuẩn bị khởi nghĩa, nên chúng đày hai đồng chí này đi Côn Đảo.

Rừng núi Tây Ninh có địa thế thật tốt cho các đồng chí đảng viên, các tổ chức cách mạng ở các tỉnh khác, tạm lánh về đây để tránh sự khủng bố trắng của kẻ thù. Sau cuộc khởi nghĩa ở Hóc Môn thất bại, hai đồng chí Võ Công Bình và Lê Bình Đẳng đã chỉ huy một cánh quân của Gia Định khoảng hơn 100 người với 20 khẩu súng về vùng Bàu Đồn, Truông Mít (Tây Ninh) dựa vào địa thế rừng và các cơ sở quần chúng địa phương để bảo toàn lực lượng. Nghĩa quân đóng ở đây gần một tháng. Thực dân Pháp phát hiện được, chúng cho tập trung quần để tấn công. Vì cán cân lực lượng không ngang sức, ta rút xuống Bàu Cỏ (Đôn Thuận – Trảng Bàng). Địch bủa vây truy kích, nghĩa quân rút về Lộc Hưng, qua Bàu Công, đồng chí chỉ huy trưởng (Võ Công Bình) bị thương và bị địch bắt. Từ đó lực lượng nghĩa quân phải phân tán ra thành nhiều nhóm nhỏ rút về Đồng Tháp Mười. Tạm lánh về Tây Ninh trong lúc này cón có đồng chí Huỳnh Văn Thanh, quản lý báo “Dân Tiến” cùng với vợ là đồng chí Mỹ Lan từ Sài Gòn về tại Núi Bà. Năm 1941, các đồng chí Trần Kim Tấn, Tiểu và nữ đồng chí Bày từ Cần Thơ lên ẩn náu ở Suối Đá (về sau đồng chí Tiểu, Bảy đi vùng khác, còn đồng chí Tấn hoạt động luôn ở Tây Ninh). Đồng chí Nguyễn Oắng được Tỉnh ủy Gia Định đưa lên Tây Ninh giả dạng thầy thuốc, vừa bán thuốc sinh sống, vừa tuyên truyền giác ngộ quần chúng.

Địch tăng cường các cuộc hành quân truy tìm các tổ chức cách mạng. trước tình hình đó, các đồng chí đảng viên phải chuyển vùng để tránh né hoặc tạm ngưng hoạt động để bảo vệ các cơ sở mật của Đảng. Phong trào trong toàn tỉnh tạm thời lắng xuống, hoạt động của các nhóm Đảng và các đồng chí đảng viên chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau, đồng thời cũng chưa liên lạc được với cấp trên thường xuyên.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:30:52 AM
3/ - Những ngày sôi sục chuẩn bị khởi nghĩa tháng 8-1945:

a) – Bối cảnh lịch sử:

Qua 80 năm (1861-1941) chiếm đóng Tây Ninh, thực dân Pháp đã hoàn chỉnh xong bộ máy cai trị của chúng ở đây:

Về chính trị: chúng đã đưa ra đủ các mưu đồ gian xảo, từ lừa bịp dụ cỗ, mua chuộc cho đến các thủ đoạn răn đe nhằm khống chế về mọi mặt đời sống của nhân dân ta. Chúng còn có kế hoạch đào tạo tầng lớp trí thức hành chánh, hình thành đội ngũ tay sai người Việt, có khả năng phục vụ lâu dài cho chúng từ cấp tỉnh đến cấp huyện, quận. Còn ở cấp xã, chúng nắm lấy giai cấp địa chủ, phú nông, trung nông khá, xây dựng các ban hội tề, hương chức để cai quản nhân dân vùng nông thôn. Chúng còn dựa vào phong tục, tập quán sinh hoạt, tôn giáo của các dân tộc anh em đang sinh sống trên lãnh địa Tây Ninh, để gây tâm lý chia rẽ, tạo ra không khí mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân giữa người Việt, Khơme, Chàm, giữa người không có đạo và người có đạo, giữa người theo đạo này với người theo đạo khác. Chúng lợi dụng các giáo lý duy tâm của các tôn giáo để đầu độc tinh thần quần chúng, làm cho nhân dân tin vào số mệnh của mình là do trời định, mà cam tâm chịu cảnh áp bức bóc lọt. Trong từng lúc, chúng còn nắm lấy cơ hội, bọn cầm đầu phản động trong các tôn giáo, để lừa phỉnh tín đồ cầm súng chống lại nhân dân, chống lại tổ quốc.

Về kinh tế: chúng nới tay cho bọn quan lại, địa chủ tha hồ chiếm hữu ruộng đất của nhân dân, tha hồ bóc lột nông dân bằng đủ mọi hình thứ từ tô thuế, lãi nợ cho đến công sức lao động. Tình trạng đó làm cho nền nông nghiệp không thể phát triển được. Còn công nghiệp, chúng không đầu tư xây dựng những cơ sở sản xuất lớn nhằm thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển, mà chúng chỉ chú trọng đến việc khai thác, vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động của công nhân trong các đồn điền cao su và các xí nghiệp sản xuất nhỏ. Chúng còn áp dụng một chế độ thuế khóa nặng nề, coi đây là nguồn thu chính trong ngân sách chung và riêng của tỉnh. Chính về thế, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân lao động càng khốn khổ hơn.

Về văn hóa xã hội: nhằm mục đích thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã tìm mọi cách để ru ngủ đầu độc tinh thần quần chúng bằng đủ các hình thức. Sự nghiệp giáo dục không được chúng quan tâm đến, cả tỉnh chỉ có 2 trường phổ thông cấp 1 toàn chỉnh (khoảng 400 học sinh là con em của các tầng lớp khá giả trong xã hội) ở một số xã có lớp vỡ lòng và lớp 1. Do vậy, con em của nhân dân lao đông hầu như mù chữ hoặc chỉ biết đọc, biết viết. Trong khi đó, các loại rượu lại được “nhà nước” khuyến khích tiêu dùng, các đại lý rượu mọc lên ở khắp nơi. Tệ nạn cờ bạc đĩ điếm công khai, xóm ấp nào cũng có sòng chứa, ngày đêm sát phạt lẫn nhau, nhằm lôi cuốn thanh niên vào con đường ăn chơi sa đọa, mà quên đi nỗi nhục mất nước. Trong xã hội đã có sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Tuyệt đại bộ phận nhân dân Tây ninh là nông dân nhưng ruộng đất đã bị bọn thực dân phong kiến chiếm đoạt. Cuộc sống của người nông dân bị bần cùng hóa, họ phải bán sức lao động của mình cho bọn thống trị ở các đồn điền cao su, các xí nghiệp sản xuất để đổi lấy bát cơm, manh áo. Từ đó, giai cấp công nhân được hình thành, cuộc đời làm thuê của những người công nhân cũng không hơn gì cuộc sống vất vưởng của nông dân. Họ phải lao động cật lực suốt ngày, nhưng chỉ được bọn chủ đền bồi lại bằng roi vọt, cúp phạt… Công nhân và nông dân là hai giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất trong xã hội thực dân nửa phong kiến, họ thấu hiểu được nỗi thống khổ của cuộc đời nô lệ; cho nên họ tìm mọi cách đứng dậy đấu tranh chống lại bọn thống trị để tự giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội. Trong các cuộc đấu tranh đó, giai cấp công nhân tuy ít nhưng lại là lực lượng tiêu biểu, là đối thủ đáng sợ của giai cấp bóc lột. Nông dân là lực lượng quần chúng đông đảo, có khả năng làm cách mạng, là người bạn đồng hành chiến đấu của giai cấp công nhân. Giai cấp tư sản, địa chủ nhỏ bé gắn chặt quyền lợi với giai cấp thống trị, nên là động lực cản trở sự phát triển của phong trào cách mạng. Giai cấp tiểu tư sản trí thức mới hình thành theo yêu cầu đào tạo của thực dân Pháp, để từng bước củng cố bộ máy cai trị của chúng, nên họ chỉ làm lợi cho giai cấp thống trị nhiều hơn.

Điểm qua một số nét về tình hình chung trong tỉnh như thế, chúng ta thấy nổi lên mâu thuẫn cơ bản giữa thực dân Pháp và bè lũ tay sai với đại đa số nhân dân lao động, mà tiêu biểu là hai giai cấp công nhân và nông dân. Mâu thuẫn nầy ngày càng trở nên gay gắt, và chỉ có thể được giải quyết bằng một cuộc cách mạng xã hội. Đó là một tất yếu khách quan của lịch sử, chắc chắn sẽ dẫn tới việc quần chúng lao động lật đổ giai cấp bóc lột, giành lại quyền sống từ tự phát đến tự giác khi có ánh sáng cách mạng của Đảng soi đường. Từ năm 1930, ở Tây Ninh đã có sự hoạt động của các nhóm Đảng và các đảng viên, chủ yếu là tuyên truyền giác ngộ quần chúng, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí căm thù giặc. Trong từng thời kỳ, Tây Ninh còn chịu ảnh hưởng phong trào cách mạng ở các nơi và tổ chức Đảng đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng chống lại bọn thống trị và tay sai, thu được một số thắng lợi nhất định như trong phong trào ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, phong trào Mặt trận dân chủ, hoạt động hưởng ứng Nam kỳ khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của công nhân cao su.

Từ khi nhảy vào Đông Dương, giặc Nhật vừa khống chế vừa cấu kết với thực dân Pháp bóc lột và vơ vét triệt để nhân vật lực của nhân dân ta nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh Phát-xít của chúng. Chúng lập ra nhiều kho ở các nơi trưng thu, trưng mua những mặt hàng nông sản quan trọng của nhân dân ta như lúa, đậu phộng… với giá rẻ mạt. Để ngăn chặn làn sóng cách mạng đang lan tràn trong quần chúng, toàn quyền Pháp (Đờ-cu) cho bọn tay sai tổ chức “Đoàn thanh niên đế quốc Pháp” (JEF) hàng ngày bắt công chức, học sinh chào cờ suy tôn tổng thống bù nhìn Pháp Pê-tanh. Chúng còn cho mở trường đào tạo cán bộ, tổ chức học sinh, sinh hoạt theo hình thức cắm trại của hướng đạo sinh. Hoạt động tổ chức của Pháp chỉ có ảnh hưởng trong một số công chức và học sinh ở Thị Xã, thị trấn. Hoạt động chính trị của Phát xít Nhật có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn, đặc biệt là trong quần chúng, tín đồ Cai Đài. Giặc Nhật đưa ra thuyết “Đại Đông Á”, “Đồng văn, đồng chủng” đã mê hoặc được một số người, nhất là những người cầm đầu đạo Cao Đài. Bọn này dựa vào chủ trương của Phát-xít Nhật, lợi dụng lòng sùng đạo của tín đồ để bóc lột quần chúng bằng các hình thức quyên góp hoặc tổ chức các đợt công quả dài ngày nhằm phục vụ cho mục đích riêng của chúng. Những thanh niên nông dân có đạo bị mê hoặc nên tuyệt đối tin tưởng nơi bọn cầm đầu, được chúng đưa vào “quân đội Thiên hoàng” với luận điệu dựa vào Nhật để đánh Pháp giành độc lập dân tộc. trước tình hình đó, đảng viên trong tỉnh liên lạc với cấp trên không được hường xuyên nên không nhận được chương trình và chỉ đạo chưa thống nhất trong toàn tỉnh. Tuy nhiên do tình hình thôi thúc, các đồng chí đảng viên đã tập hợp và tổ chức quần chúng làm được một số công việc cần thiết, đáp ứng được yêu cầu cụ thể trước mắt. Tại vùng Quán cơm, đồng chí Lên sau một thời gian đi vắng đã mang chủ trương tổ chức những nội dung cứu quốc trở về Tây Ninh tiếp tục hoạt động. Vì chưa nhận được chương trình Việt Minh nên các đồng chí vận động quần chúng theo hình tinh thần của tổ chức Nông hội đỏ đã có từ trước. Ở vùng Trảng Bàng, đồng chí Ngởi bắt liên lạc được với Tổng ủy Tổng Cầu An Thượng nhận chỉ thị trở về xã móc nối lại cơ sở, thực hiện chủ trương vận động quần chúng không đi lính, đi xâu cho Nhật, tuyên truyền vạch trần thuyết “Đại Đông Á”, “Đồng văn đồng chủng” của giặc Nhật, luận điệu mị dân của bọn tay sai Nhật trong tôn giáo Cao Đài. Sau đó ít lâu, đồng chí Vẳng liên lạc được với Đức Hòa nhận chương trình Việt Minh về, các đồng chí viết tay sao chép lại và gởi cho mỗi xã một bản (xã Phước Chỉ và Bình Thạnh). Từ đây các đồng chí bắt đầu hoạt động theo chương trình Việt Minh, tổ chức Nông hội đỏ được chuyển thành hội Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Các đồng chí đảng viên được phân công về hoạt động ở chợ Rạch Tràm và các vùng nông thôn. Phong trào cách mạng của quần chúng ở Phước Chỉ từng bước được khôi phục lại và phát triển nhanh chóng.

Tháng 9/1944, đồng chí Huỳnh Văn Thanh bắt liên lạc được với Xứ ủy đồng chí đã cùng vợ là đồng chí Mỹ Lan, đem chương trình Việt Minh về Tây Ninh phổ biến. Hai đồng chí ở tại nhà đồng chí Nguyễn Tri Túc, móc nối lại với các nhóm Đảng và các đồng chí đảng viên hoạt động lẻ tẻ. Sau đó, đồng chí Thanh tổ chức một cuộc họp (ở nhà đồng chí Chấn tại Quán cơm) để nói chuyện thời sự, phổ biến chỉ thị của Xứ ủy và tổ chức phân công, phân nhóm hoạt động cho các đồng chí ở các nơi. Từ đây các nhóm hoạt động theo một sự chỉ đạo thống nhất, đồng chí Huỳnh Văn Thanh được coi là Trưởng ban cán sự tỉnh. Phong trào quần chúng lên dần, có những bước chuyển biến lớn, nhưng do trình độ tổ chức và lãnh đạo còn non yếu nên đôi lúc lại tỏ ra lúng túng trước những biến động của tình hình.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:31:19 AM
b) – Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, hoạt động của Cao Đài dựa vào Nhật càng bành trướng nhanh. Nhờ cung cấp cho Nhật khá nhiều nhân tài, vật lực nên Cao Đài được chúng ban bố cho một số quyền lợi về chính trị. Tuy là quyền lợi giả hiệu, nhưng bước đầu nó cũng có sức lôi cuốn rất mạnh đối với quần chúng tín đồ. Bộ máy trị sự các cấp trong đạo hoạt động mạnh, gần như thay thế cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp. Cao Đài bắt đầu xây dựng lực lượng quân đội riêng, một số đồng bào xin gia nhập đạo để dựa thế, thanh niên nghe theo lời phỉnh phờ, bịp bợm của Nhật đã xung phong vào lính đạo, không hiểu đó là cầm súng chống lại cách mạng, chống lại nhân dân.

Càng về sau tình hình thế giới ngày càng chuyển biến có lợi cho ta, trên khắp các chiến trường, quân đồng mình liên tiếp chiến thắng Phát xít. Bọn Nhật ở Đông Dương tỏ ra hoang mang, bọn tay sai thân Nhật bắt đầu dao động, thế bành trướng của Cao Đài khựng lại, không còn ảnh hưởng rộng rãi trong quần chúng như trước nữa. Về phía tay, lúc này các tổ chức đảng trong tỉnh được củng cố có hệ thống có sự lãnh đạo thống nhất, hoạt động theo chương trình cương lĩnh Việt Minh rõ ràng. Sau cuộc họp ở Phồn Chàm (3-1945), đồng chí Thanh truyền đạt chỉ thị của Xứ ủy, phổ biến rõ thêm chương trình Việt Minh, các nhóm đảng và các đồng chí đảng viên hoạt động ở các vùng đều tích cực vận động quần chúng, tuyên truyền Việt Minh, nêu lên chủ trương của Việt Minh là đánh đuổi Pháp Nhật, giành độc lập dân tộc, lập chính quyền công nông, bảo đảm quyền lợi chung của dân tộc và đưa ra các đối sách của Việt Minh đối với công nhân, nông dân, trí thức thanh niên, phụ nữ,… ngoài ra, ta có một số khẩu hiệu viết tay mang nội dung chống Nhật Pháp, ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Một số tờ báo công khai từ Sài Gòn đưa về nêu lên thời cơ đã đến, kêu gọi quần chúng hưởng ứng phong trào Việt Minh; gia nhập các tổ chức Việt Minh để sẵn sàng hành động cứu nước. Phong trào quần chúng hưởng ứng theo Mặt trận Việt Minh phát triển sôi nổi và lan rộng khắp tỉnh.

Tháng 4-1945, nhóm các đồng chí ở Thanh Điền đã tổ chức được cơ sở Việt Minh ở làng Đường, dựa vào một số công nhân (Lầu, Tư, Chính) vào làm nòng cốt, hoạt động tuyên truyền không những đối với công nhân đang làm việc tại nhà máy mà còn mở rộng ra công nhân trồng mía (do Cập rằn làm nòng cốt). Ảnh hưởng của phong trào Việt Minh dội vào toàn xã Thanh Điền đã thu hút những sĩ quan cũ trong quân đội Pháp chạy về làng tham gia hoạt động theo chương trình Việt Minh. Từ Thanh Điền phong trào phát triển mạnh và lan dần xuống 9 xã thuộc tổng Giai Hóa.

Tháng 5-1945, nhóm các đồng chí ở xóm Vịnh, hoạt động tổ chức cơ sở việt Minh ở nhiều nơi trong các xã Hảo Đước, Hòa Hội… các hội cứu quốc được hình thành trong các giới, nhất là thanh niên tham gia luyện tập võ nghệ, tuần tra canh gác bảo vệ xóm ấp suốt ngày đêm.

Tháng 6-1945, nhóm Trảng Bàng tuyên truyền vận động quần chúng ở Thị Trấn và các xã xung quanh như An Tịnh, Lộc Hưng… các đồng chí bắt liên lạc với anh Phiên (thơ ký quận) dựa vào lực lượng thanh niên và các cụ lão thành trong các giới. Cũng trong thời gian này, được sự giới thiệu của Mặt trận Việt Minh Nam bộ các đồng chí ở Trảng Bàng bắt liên lạc với anh Lê Thanh Dân. Qua sự chỉ đạo của Trảng Bàng anh Dân hoạt động ở vùng Bàu Đồn, Bà Nhãn, Bùng Binh… Sau đó, anh Dân đưa hai ông Trịnh Bá Thơ và Bùi Văn Hà vào làm nòng cốt cho phong trào, vận động thành lập các hội cứu quốc ở vùng này. Còn các đồng chí ở Đôn Thuận, Lợi Thuận đã chọn những thanh niên giác ngộ khá đưa vào các tổ chức cứu quốc theo từng ba người một. Những người lớn tuổi cũng được tập hợp lại thành tổ. Đồng thời các đồng chí cũng đã tranh thủ được anh Quý, một thủ kho ở sở cao su Bến Củi, qua anh Quý ta tổ chức được cơ sở Việt Minh đầu tiên trong giới công nhân cao su. Các vùng thuộc phạm vi hoạt động của nhóm Phước Chỉ, các đồng chí vẫn duy trì được phong trào, các hội cứu quốc ngày càng được củng cố và mở rộng như chợ Rạch Tràm, Phước Chỉ, Bình Thạnh len qua xã Mỹ Quý Tây (Chợ Lớn).

Ở Gò Dầu, tuy có Võ Thành Cứ đang hoạt động cho tổ chức “Quốc gia độc lập Đảng” tranh giảnh ảnh hưởng với ta, nhưng phong trào Việt Minh ở đây vẫn phát triển mạnh, nhất là ở các xã Thanh Phước và Phước Thạnh. Các nhóm đảng ở Suối Đá, Quán cơm, Hiệp Ninh, Thị xã Tây Ninh do nhiều đồng chí đảng viên làm nòng cốt đã đưa phong trào hoạt động mạnh mẽ và gần như công khai.

Đến đây, phong trào cách mạng của quần chúng trong toàn tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các nhóm đảng, đã hoạt động theo chương trình, cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh. Đó là kết quả bước đầu của sự lãnh đạo thống nhất của một tổ chức đảng, từ tỉnh xuống tận cơ sở và ngược lại từ cơ sở lên đến tỉnh. Qua đó thể hiện được bước phát triển nhảy vọt và mở ra một triển vọng mới cho cao trào cách mạng ở Tây Ninh.

Cùng tồn tại song song với phong trào Việt Minh, ở các Thị trấn, Thị xã và một số ít xã trong toàn tỉnh, còn có sự hoạt động công khai của lực lượng Thanh niên tiền phong. Thủ lãnh của Thanh niên tiền phong tỉnh là Nguyễn Công Mạnh, một chủ sự thương chính của chính quyền thời bấy giờ. Hầu hết những người lãnh đạo trong tổ chức này là số cán bộ trong phong trào học sinh cũ (như phong trào JEF, SET).

Các đồng chí đảng viên hoạt động ở Tây Ninh nhận được chỉ thị của Xứ ủy là “Nắm lấy Thanh niên tiền phong, cấp bộ đảng phải tranh thủ chỉ đạo và sử dụng phong trào công khai này”. Tháng 7/1945, ở Thị xã các đồng chí tìm cách nắm lấy Nguyễn Công Mạnh, Trần Văn Hương và một số cán bộ chủ chốt của Thanh niên tiền phong. Các đồng chí ở Trảng Bàng vận động thuyết phục được thầy giáo Có (phụ trách thanh niên Thị trấn) để nắm lực lượng thanh niên và giới trí thức, qua anh Phiên ta đã tranh thủ được nhóm công chức, đồng thời hướng các hoạt động của Thanh niên tiền phong theo chương trình Việt Minh.

Tại Phước Chỉ, tuy không nhận được chỉ thị nắm Thanh niên tiền phong, nhưng các đồng chí đã chủ động đề ra chủ trương lôi kéo đám con cháu của bọn Hội tề làng xã và một số thanh niên tích cực trong các hội Ái hữu cũ, vào làm nòng cốt trong phong trào và đưa họ hoạt động theo hướng Việt Minh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:32:07 AM
Nhìn chung, tất cả các nhóm đảng đều thực hiện được chủ trương của Xứ ủy và nắm lấy phong trào Thanh niên tiền phong. Nắm được Thanh niên tiền phong là Đảng ta nắm được một lực lượng quần chúng khá đông đảo. Vì Thanh niên tiền phong là một tổ chức quần chúng rộng rãi, tập hợp nhiều thành phần trong xã hội, trong đó tầng lớp thanh niên học sinh và lớp nghèo thành thị chiếm đa số, có nơi còn lôi kéo được cả công chức hoặc những người thuộc tầng lớp trên đang dửng dưng với thời cuộc. Như vậy, trong cùng một lúc ở Tây Ninh có hai phong trào quần chúng. Tổ chức bí mật của Mặt trận Việt Minh, bao gồm các đoàn thể cứu quốc, hoạt động rầm rộ công khai của Thanh niên tiền phong, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân trong các Thị xã, Thị Trấn rồi lan về nông thôn… tạo điều kiện cho Đảng ta nắm được đại bộ phận lực lượng quần chúng đưa cách mạng tiến lên thành cao trào.

Các nhóm đảng và đồng chí đảng viên hoạt động ở các vùng trong khắp tỉnh, từ trước đến nay chủ yếu là tuyên truyền vận động quần chúng, gây cơ sở cách mạng và xây dựng phong trào, chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng đứng dậy đấu tranh. Đến nay, ý thức về một cuộc đấu tranh vũ trang cũng được hình thành, nhất là sau khi Nhật đảo chính Pháp, bọn lính Pháp tháo chạy vất bỏ vũ khí trong rừng, dưới sông suối. Các đồng chí đã tổ chức cho người tìm kiếm và thu mua một số vũ khí đó lại, đồng thời vận động, mua thêm của bọn lính Nhật hoặc của dân lượm được. Tất cả các nhóm đều thực hiện có kết quả. Nhóm Thanh Điền, các đồng chí đã tập trung được 3 súng mút Pháp. Trong các tổ chức Việt Minh, vùng đồng chí Hai Mạnh phụ trách thu được 20 súng các loại. Nhóm Thị xã, thu lượm và mua được 13 súng (1 súng lục, 10 mút Pháp và 2 mút Anh). Ở Suối Đá, các đồng chí đã tìm được 12 súng trường và súng 2 nòng, còn ở Quán cơm, Xóm Vịnh và Trảng Bàng, các đồng chí đã tìm, xin và mua được một số súng mút, súng lục và chờ ngày đem ra sử dụng. Về vũ khí thô sơ, các đồng chí tổ chức cho anh em công nhân Hàng Đường rèn gươm, mã tấu, dao găm và thu gom một số lựu đạn Nhật. Các loại tầm vông vạt nhọn, giáo mác, gậy gộc, cung ná và tên, dây buộc, được thanh niên và các hội viên cứu quốc chuẩn bị đầy đủ.

Về tài chính: các đồng chí đã tổ chức làm dầu chay, đốt than, làm củi, làm cây… vừa kiếm tiền sinh sống, vừa gây quỹ cho Đảng. Số tiền quỹ được sử dụng cho cán bộ đi công tác và mua sắm vũ khí.

Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng phe đồng minh, phong trào Việt Minh hầu như hoạt động công khai ở khắp nơi trong tỉnh. Ý thức võ trang cướp chính quyền được hình thành rõ ràng và mạnh mẽ trong tư tưởng của các đồng chí đảng viên và quần chúng cách mạng. Mọi người đều tự trang bị cho mình một thứ vũ khí tìm được, để có thể sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết.

Khí thế cách mạng của quần chúng đang trào dâng như sóng triều làm cho các lực lượng trung gian nghiêng hẳn về phía cách mạng, còn những phần tử hoài nghi hay đối lập cũng lui vào thế tùy thời “lựa gió phất cờ”. Ngay như Võ Thành Cứ, Trần Văn Hương là những lãnh tụ của tổ chức “Việt Nam quốc gia độc lập đảng”, trước đây đứng ra nắm lấy Thanh niên tiền phong để tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh, đến nay đã thay đổi hẳn thái độ. Một số sĩ quan trong quân đội Pháp, sau ngày Nhật đảo chính bỏ về làng cũng tỏ ra tích cực trong việc giúp đỡ, huấn luyện quân sự cho các đội viên thanh niên. Phong trào còn thu hút được Lê Văn Trị, một giáo viên trung học có xu hướng Trốt-kít, tham gia vào tổ chức Việt Minh với tư cách là huấn luyện viên võ thiếu lâm. Nhật đầu hàng đồng minh trong hàng ngũ của bọn bù nhìn và các lực lượng thân Nhật đang bắt đầu có sự tan rã lớn. Bọn đầu sỏ trong bộ máy chính quyền của Nhật từ tỉnh xuống huyện, xã đã mất hết tinh thần gần như không còn hoạt động, một số có xu hướng theo cách mạng. Những người lãnh đạo trong giáo phái Cao Đài, tuy nắm trong tay một lực lượng quần chúng đông đảo, trước tình hình thời cuộc chuyển biến quá nhanh cũng hoang mang dao động.

Trước tình hình đó, ngày 16-8-1945, đồng chí Huỳnh Văn Thanh tổ chức một cuộc hội nghị ở nhà đồng chí Tư Đẩu (gần chợ cũ, thị xã Tây Ninh). Hội nghị nhất trí đánh giá tình hình cách mạng đã chính muồi, nên đi đến quyết định phải thành lập một Ban vận động cướp chính quyền và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đồng chí, lo chuẩn bị thêm một số mặt quan trọng như: liên lạc với Xứ ủy, nắm trí thức giáo phái có tên tuổi để tranh thủ quần chúng, vận động nắm tên chỉ huy và lực lượng cảnh sát bảo vệ dinh tỉnh trưởng, cử người giao thiệp, vận động bọn sĩ quan và binh lính Nhật. Đại bộ phận các đồng chí còn lại tung đi các nơi lo tổ chức lực lượng vũ trang, tổ chức lực lượng công nhân ở các xở cao su và hàng đường, xây dựng các tổ chức quần chúng khắp thôn xã, khắp thị trấn, thị xã. Chuẩn bị lực lượng trong tư thế sẵn sàng đứng lên giành chính quyền. Các hoạt động của phong trào Việt Minh diễn ra công khai, lực lượng dân quân tham gia luyện tập võ nghệ, luyện tập quân sự suốt ngày đêm, ở đầu làng hoặc những nơi hiểm yếu các đồng chí đã bố trí những vọng gác có trang bị vũ khí đàng hoàng.

Ngày 19-8-1945, cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi ở Hà Nội, trong khi đó bọn chính quyền bù nhìn trong Nam còn tổ chức mít tinh ủng hộ tên Nguyễn Văn Sâm, các đồng chí ở Tây Ninh đã kịp thời lãnh đạo quần chúng tẩy chay không đi dự mít tinh, mà tiến hành rải truyền đơn, căng khẩu hiệu “đả đảo chính quyền bù nhìn Trần Trọng Kim, đả đảo độc lập bánh vẽ, ủng hộ Mặt trận Việt Minh” và kêu gọi quần chúng chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Được tin Sài Gòn đang khẩn trương chuẩn bị nổi dậy cướp chính quyền, ngày 23-8-1945, đồng chí Tấn và nữ đồng chí Mỹ Lan được cử đi liên lạc với Xứ ủy đã xin chỉ thị hành động. Ngay hôm ấy, đồng chí Mỹ Lan quay về báo cáo tình hình, còn đồng chí Tấn ở lại Sài Gòn dự mít tinh. Nhận được chỉ thị Xứ ủy, đồng chí Thanh triệu tập một cuộc họp, bao gồm những đảng viên và các cán bộ nòng cốt của phong trào, để phổ biến và bàn việc tổ chức một cuộc mít tinh, đồng thời đưa mặt trận Việt Minh tỉnh ra công khai trước đông đảo quần chúng, kêu gọi mọi người đoàn kết xung quanh mặt trận để đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân trong toàn tỉnh. Hội nghị còn quyết định cử một Ban lãnh đạo hành động, bao gồm các đồng chí: Thanh, Mạnh, Tung, Mỹ Lan, Chấn… Về sau còn bổ sung thêm đồng chí Tấn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:32:35 AM
4/ - Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công:

Thực hiện chủ trương của hội nghị, ngay trong đêm 23-8, các đồng chí đã cử người đi các nơi để huy động lực lượng quần chúng về dự mít tinh ở Thị Xã. Băng cờ, khẩu hiệu trang bị cho đoàn người đi mít tinh được cơ sở Việt Minh hãng đường lấy vải từ trong nhà máy đem về nhuộm đỏ và cắt may phân phát cho các nhóm. Mọi việc đều tiến hành hết sức khẩn trương và chu đáo. Chiều ngày 24-8, lực lượng quần chúng đầu tiên từ vùng Bến Cầu được ghe máy đưa lên hãng đường, đổ bộ vào Thanh Điền tập trung tại nhà đồng chí Hai Mạnh để ổn định tổ chức và chờ lệnh xuất phát. Nhân lúc những người lãnh đạo trong giáo phái Cao Đài còn đang hoang mang dao động, ta đưa thầy thuốc Vĩnh vào vận động ông Đặng Trung Chữ, một chức sắc tiến bộ, kêu gọi quần chúng giúp đỡ chuẩn bị cờ Đạo sẵn sàng tham gia biểu tình ủng hộ Việt Minh. Lực lượng Thanh niên tiền phong Thị xã cũng được huy động, tề tựu tại đình Hiệp Ninh, chuẩn bị cờ Thanh niên Tiền phong, khẩu hiệu và trang phục chỉnh tề chờ giờ đi dự mít tinh. Còn đối với quân đội Nhật, ta tranh thủ chúng với điều kiện: Không can thiệp vào nội bộ của ta thì ta sẽ để chúng yên. Để tỏ thiện chí, chúng cử người đến dự mít tinh với quần chúng cách mạng.

Sáng ngày 25-8-1945, từ Thanh Điền, xóm Vịnh, Quán Cơm, lực lượng quần chúng có vũ trang, giương cờ đỏ sao vàng, mỗi người đều có băng trắng chữ Việt Minh đỏ hoặc băng đỏ đeo ở cánh tay, các đồng chí đảng viên mang súng ngắn dẫn đầu đội ngũ rầm rập tiến vào sân vận động Thị xã. Đoàn Thanh niên tiền phong cờ vàng sao đỏ, có trang bị súng, tầm vông, nhịp đều bước tiến theo. Đồng bào quần chúng tín đồ Cao Đài, xuất phát từ Tòa Thánh mang theo cờ Đạo (vàng, xanh, đỏ) cũng đã đến và kéo vào tham dự. Đây là cuộc mít tinh lớn chưa từng có ở Tây Ninh từ trước cho đến lúc đó. Khi buổi mít tinh sắp bắt đầu thì có tin Tây nhảy dù xuống Bến Sỏi, quần chúng xôn xao, nhưng các đồng chí đã kịp thời ổn định trận tự, cử một nhóm thanh niên có súng lên đón bắt, buổi mít tinh vẫn tiếp tục tiến hành.

Đồng chí Huỳnh Văn Thanh thay mặt Ban lãnh đạo hành động đọc diễn văn khai mạc. Trong bài diễn văn đồng chí nêu rõ: quân đội Nhật đã đầu hàng đồng minh, chính quyền ở Hà Nội và khắp Bắc, Trung cũng đã thuộc về tay Việt Minh, đồng chí kêu gọi quần chúng Tây Ninh hãy đứng lên sẵn sàng giành chính quyền. Mọi người tham dự đều phấn khởi hô to những khẩu hiệu hoan nghênh Mặt trận Việt Minh, đồng thời tỏ sự nhiệt liệt ủng hộ của mình đối với Ban lãnh đạo hành động và Mặt trận Việt Minh tỉnh.

Sau buổi mít tinh, các đồng chí đã dẫn đầu các lực lượng quần chúng biểu tình thị uy kéo qua dinh tỉnh trưởng, quanh chợ và nhiều phố chính trong Thị xã. Trước khí thế cách mạng sôi sục của quần chúng, bọn chính quyền bù nhìn nằm im không dám phản ứng. Mãi đến trưa đoàn biểu tình mới tỏa ra và kéo về các xã.

Khoảng 14 giờ chiều cùng ngày, một đoàn cán bộ từ Sài Gòn mang chỉ thị cướp chính quyền của Xứ ủy lên Tây Ninh. Ban lãnh đạo cấp tốc triệu tập một cuộc hội nghị mở rộng bao gồm nhiều đồng chí lãnh đạo cốt cán, để bàn kế hoạch hành động. Theo dự kiến ban đầu, các đồng chí sẽ huy động một lực lượng quần chúng đông đảo như cuộc mít tinh lúc sáng, nhưng căn cứ vào tình hình thực tế thời gian quá cấp bách, vả lại bọn chính quyền bù nhìn đã rệu rã tinh thần đang chờ giao chính quyền cho ta, bọn Nhật ta đã cô lập được, trung đội cảnh sát bảo vệ dinh tỉnh trưởng thì tổ chức của ta đã nắm tên chỉ huy trưởng rồi. Cuối cùng hội nghị đi đến kết luận, chỉ cần huy động một lực lượng võ trang khoảng 500 quần chúng có trang bị đầy đủ, đột nhập tỉnh đường và chiếm các công sở.

Đúng kế hoạch đã phân công, đêm đến các đồng chí đưa một bộ phận xung kích vào tước súng 2 tên lính gác cổng rồi giao lại cho lực lượng tự vệ đỏ chiếm giữ và bảo vệ trật tự an toàn trong khu vực tỉnh đường. Mọi việc đều tiến hành nhanh, gọn không gặp phải một sự kháng cự nào của địch. Các đồng chí trong Ban lãnh đạo hành động cùng đi với đoàn cán bộ từ Sài Gòn lên bằng xe hơi có cắm cờ đỏ sao vàng, có súng bảo vệ tiến vào dinh tỉnh trưởng. Đồng chí Thanh trực tiếp gọi tên tỉnh trưởng Lê Văn Thạnh đến, bắt hắn nộp tất cả giấy tờ và bàn giao chính quyền.

Câu đầu tiên khi tiếp xúc với phái đoàn ta, Lê Văn Thạnh nói: “Chúng tôi cũng đã có chuẩn bị chờ các ông!”.

Ta buộc hắn gọi những người đứng đầu các công sở đến trình diện, ai có vũ khí phải mang theo (lúc này lực lượng quần chúng vũ trang của ta cũng đã triển khai chiếm xong các công sở). Ta tước hết số súng của bọn họ mang đến và cuộc bàn giao chính quyền tỉnh bắt đầu ngay trong đêm 25-8-1945.

Ta chỉ bắt giữ 3 tên: Lê văn Thạnh (tỉnh trưởng), jean Baptiste Hà Văn Sua (tên y sĩ có Pháp tịch) và đốc phủ Đường (tên tay sai quan trọng của Pháp). Số còn lại ta cho về, tạm thời được giao cho tiếp tục công việc, trừ một vài nơi trọng yếu như nhà máy đèn, nhà máy nước… ta đưa người vào trực tiếp nắm giữ.

Khi giải quyết xong bộ máy chính quyền của địch ở cấp tỉnh, thì đương nhiên bộ máy của quận Châu Thành (đóng ở Thị xã) và thị xã cũng được thanh toán luôn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:33:43 AM
Tại Trảng Bàng các đồng chí cũng nhận được chỉ thị tổ chức mít tinh ủng hộ Việt Minh và chuẩn bị cướp chính quyền. Các đồng chí đã họp bàn thống nhất kế hoạch hành động và thành lập Ban lãnh đạo cướp chính quyền (có các đồng chí: Hà, Bẹ, Lên, Đú). Một cuộc mít tinh trọng thể được tổ chức tại quận lỵ vào sáng 25-8-1945, toàn bộ lực lượng Thanh niên tiền phong của quận được huy động để tham dự, còn lực lượng quần chúng ở các xã xa quận được các đồng chí tập hợp từ chiều hôm trước, đội ngũ chỉnh tế kéo ra Thị trấn.

Tờ mờ sáng, hàng ngũ Thanh niên tiền phong và quần chúng các xã có vũ trang bằng tầm vông vát nhọn, giáo mác đã tập trung đủ trước bãi chợ, kéo dài gần hết quãng phố chính. Mỗi người đều được các đồng chí ta phổ biến trước, đây là cuộc mít tinh tuần hành biểu dương lực lượng chuẩn bị cướp chính quyền, nên không khí phấn khởi và ai cũng trong tư thế nghiêm chỉnh sẵn sàng.

Cuộc mít tinh bắt đầu, đồng chí Huỳnh Hà với tư cách là đại biểu của quân đội Việt Minh Trảng Bàng đọc diễn văn khai mạc. Nội dung khi nói chuyện cũng nêu lên: Nhật đã đầu hàng, chính quyền ở Bắc – Trung đã về tay Việt Minh, quần chúng hãy sẵn sàng chờ lệnh cướp chính quyền ở quận. Quần chúng náo nức hô to khẩu hiệu: “Chính quyền về tay Việt Minh; Việt Minh muôn năm!”.

Theo kế hoạch, tối đến anh Phiên (thơ ký quận được ta tổ chức) dùng mẹo ra lệnh cho bọn cảnh sát quận bỏ súng vào kho khóa lại. Ta huy động khoảng 1 trung đội Thanh niên tiền phong phục kích bên ngoài dinh quận. Hai đồng chí Huỳnh Hà và Lê Phẩm Ba cùng đi với anh Phiên vào gặp tên quận trưởng Huỳnh Tường Tấn. Nghe động hắn cho đóng kín cửa lại. Ta báo cho hắn biết là hắn đã bị bao vây, nếu ngoan cố chống lại sẽ không được bảo toàn sinh mạng. Mặc dù có súng riêng (một Wicker nòng dài) nhưng liệu bề không xong, tên Tấn đề nghị:

- “Xin các ông cho dẫn lực lượng bao vây ra, tôi bằng lòng giao chính quyền lại!”.

Sau đó ta vào tước súng tên Tấn, chiếm quận đường và kho súng của cảnh sát. Ta đưa một văn kiện trao trả chính quyền đã được soạn sẵn cho hắn ký và bắt hắn giam giữ. Sáng hôm sau cờ đỏ sao vàng được treo khắp Thị trấn.

Tại vùng Phước Chỉ, khi nhận được lệnh chuẩn bị cướp chính quyền từ Đức Hòa lên, các đồng chí đã nhanh chóng họp bàn triển khai kế hoạch và thành lập Ban tuyên truyền vận động khởi nghĩa (gồm các đồng chí: Vẳng, Ngởi, Thạnh, Ba Màng, và các anh Cồn, Tấn, thầy giáo Quang). Theo kế hoạch đã bàn, đồng chí Ngởi tổ chức dẫn lực lượng vũ trang kéo đến bao vây đồn Rạch Tràm và gọi hàng. Trước khí thế sôi sục của quần chúng, bọn lính đã mất hết tinh thần, nên đã hưởng ứng ngay, chúng buông súng mở cửa ra đầu hàng. Lực lượng vũ trang của ta chiếm đồn và thu súng. Việc giành chính quyền ở chợ Rạch Tràm cũng diễn ra như ở đồn cảnh sát, vì bọn cầm đầu ở đây đã hoang mang dao động cực độ, nên khi các đồng chí ta cùng với các quần chúng kéo đến, chúng đã bàn giao chính quyền ngay.

Liền trong ngày 25-8-1945, các đồng chí lãnh đạo của tỉnh và quận tung người đi khắp các tổng và xã hướng dẫn quần chúng nổi dậy cướp chính quyền ở địa phương. Bọn hương lý đã tan rã từ những ngày trước nên cũng không có hành động nào chống đối cả. Thế là chỉ trong vòng một ngày đêm, chính quyền của địch từ tỉnh xuống đến quận đều sụp đổ hoàn toàn và 3 ngày sau chính quyền ở tất cả các xã cũng đều thuộc về tay nhân dân(1). Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Tây Ninh đã diễn ra nhanh chóng và thu được thắng lợi tốt đẹp.

Sau khi giành chính quyền xong, Ban lãnh đạo hành động họp bàn việc thành lập ngay Ủy ban nhân dân tỉnh và các cấp để lãnh đạo và điều hành các công việc trong giai đoạn cách mạng mới. Theo sự chỉ đạo của Xứ ủy, ta đưa Võ Thành Cứ làm chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng Cứ thuộc vào loại đầu cơ chính trị và sợ khó khăn gian khổ nên khi nghe tin Pháp đánh chiếm Sài Gòn, y đã tự ý rút lui. Chính quyền liên hiệp tỉnh bao gồm nhiều thành phần tham dự (như trí thức, giáo chức, đoàn thể và tôn giáo Cao Đài) nhưng thực chất là chính quyền dân chủ nhật dân do Đảng lãnh đạo. Về phía ta có 3 đồng chí Thanh, Mạnh, Chấn được đưa vào Ủy ban nhân dân tỉnh và nắm giữ những chực vụ quan trọng.

Ở hai quận Châu Thành và Trảng Bàng, cũng theo cơ cấu tổ chức như ở tỉnh, nhưng chức vụ chủ tịch Ủy ban nhân dân là do hai đồng chí Ngưu và Huỳnh Hà phụ trách. Còn ở cấp xã, tỉnh cũng đã cử một số cán bộ về tổ chức các Ủy ban, chính quyền hương thôn do các đồng chí ta trực tiếp tham chính hoặc cử những người mà qua các phong trào đã tỏ ra có cảm tình với cách mạng.

Song song với việc thành lập các cơ quan chính quyền, ta còn tổ chức Mặt trận Việt Minh tỉnh do đồng chí Vũ (cán bộ do Xứ ủy đưa về) làm chủ nhiệm, ông Đặng Trung Chữ (chức sắc tiến bộ trong giáo phái Cao Đài) làm phó chủ nhiệm và nhiều người thuộc các thành phần khác.

Xứ ủy đã cử các đồng chí Dương Bạch Mai và đồng chí Dông (cán bộ thanh tra chính trị miền Đông ) lên Tây Ninh nắm tình hình và chỉ thị cho Tây Ninh tiến hành ngay một số mặt công tác như trấn áp bọn phản cách mạng, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng vũ trang, có đối sách đúng với bọn Nhật. Các đồng chí còn thay mặt Xứ ủy chỉ định Tỉnh ủy lâm thời ở Tây Ninh gồm 11 đồng chí, trong đó có 6 đồng chí hoạt động ở đây từ trước đến giờ (Mạnh, Tung, Tấn, Mỹ Lan, Chấn, Đẩu) và 5 đồng chí của Xứ ủy bổ sung (Xuân, Thuần, Nhơn, Cát, Vũ). Đồng chí Xuân được cử làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời. Lúc này đồng chí Huỳnh Văn Thanh trong thời gian chuẩn bị cướp chính quyền được coi như là Trưởng ban lãnh đạo hành động đã bị Pháp bắt khi đi lên Xứ ủy báo cáo, nên không có đồng chí Thanh trong danh sách 11 đồng chí cấp ủy lâm thời.


(1) Lúc bấy giờ toàn tỉnh chỉ có 2 quận: Châu Thành và Trảng Bàng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:34:17 AM
Tháng 9-1945, Tỉnh ủy lâm thời đã đề ra một số chủ trương cho các mặt công tác như:

- Ủy ban nhân dân các cấp phải kịp thời ban hành các quyền tự do dân chủ và áp dụng các biện pháp nhằm ổn định tình hình, củng cố bộ máy chính quyền, đảm bảo trật tự an ninh cho nhân dân.

Trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị bọn lưu manh, lùng bắt bọn Pháp nhảy dù, đối phó kịp thời với bọn mật thám tay sai cho Pháp.

- Tổ chức quản lý các cơ sở kinh tế quan trọng (các đồn điền cao su, nhà máy đường Thanh Điền).

- Củng cố và phát triển tổ chức mặt trận các cấp, xây dựng cơ sở quần chúng, mở lớp huấn luyện cho thanh niên, phụ nữ.

- Xây dựng lực lượng dự trữ về người và lương thực, đưa số đồng bào và anh em công nhân cao su trên Mimốt (Kampuchia) về, vận chuyển gạo từ Cần Thơ lên.

Chấp hành chủ trương của Tỉnh ủy, các cấp và các bộ phận đã tiến hành khẩn trương một số việc:

- Đưa đồng chí Đẩu ra ứng cử, phu trách Tổng Hòa Ninh và giao cho đồng chí một lực lượng vũ trang để bảo vệ chính quyền trong tỉnh, trấn áp bọn phản động, lùng bắt bọn biệt kích nhảy dù.

- Thành lập quốc gia tự vệ cuộc.

- Thành lập Ủy ban kháng chiến (ở Tây Ninh lúc này ngoài Ủy ban nhân dân có tổ chức Ủy ban kháng chiến).

- Củng cố tổ chức thanh niên cứu quốc và phụ nữ cứu quốc tỉnh.

- Tăng cường cán bộ xuống các xã để tổ chức chính quyền và mặt trận.

Ngay trong những ngày đầu, chính quyền nhân dân trong tỉnh tuy còn non trẻ nhưng đã tích cực phát huy vai trò của mình. Điều quân đi bắt những tên Pháp nhảy dù xuống ở các địa phương. Có lần ta bắt được 5 tên, nhiều lần có tin báo, đến nơi đều không thấy gì cả. Có thể nhân đấy mà địch tung ra những tin đồn thất thiện làm cho ta bị động đối phó.

- Bọn Nhật đưa quân đến bao vây trụ sở Ủy ban tỉnh đòi ta phải thả những tên bị giam giữ (tỉnh trưởng Thạnh, đốc phủ Đường, Y sĩ Sua). Đồng chí Mạnh chỉ huy anh em cương quyết không nhân nhượng. Chúng nổ súng, ta lấy những bao gạo làm công sự, bắn trả kịch liệt. Cuối cùng bọn Nhật phải lui quân. Lần thứ hai ta bắt tên Kỉnh quan tư “Hai Hô” vì nó âm mưu đảo chính, bọn Nhật cũng đưa quân đến đòi lại, ta bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu, thấy không thể dùng vũ lực với ta được nên chúng rút lui.

- Bọn Hồ Vĩnh Ký (nhóm Trốt-Kít) ở Sài Gòn đưa lục sự Mạnh (anh ruột của Dõng đang chỉ huy một đơn vị quân sự của ta ở Suối Đá) lên Tây Ninh vận động Dõng đưa người và vũ khí sát nhập vào lực lượng vũ trang của chúng. Các đồng chí đã khéo léo thuyết phục Dõng và cương quyết đấu tranh với bọn Hồ Vĩnh Ký làm cho âm mưu của chúng bị thất bại.

- Ta gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với Lý Huê Vinh (đệ tứ sư đoàn). Chúng có âm mưu cướp vũ khí và tranh chấp với ta vùng Trảng Bàng. Có lần, chúng đưa lực lượng đến khiêu khích và bắn chết của ta 1 cảnh sát trưởng.

- Ta còn phải đối phó với lực lượng Cao Đài, tuy đã mời Trương Văn Xương vào cơ quan chính quyền, ông Đặng Trung Chữ vào Mặt trận Việt Minh, nhưng vấn đề Cao Đài vẫn là vấn đề rắc rối của Tỉnh. Ngoài việc phát giác âm mưu tấn công ta của tên Kỉnh, ta thường xuyên gặp hai khó khăn lớn:

- Không nắm và kiểm soát được lực lượng vũ trang của Cao Đài. Họ có những nơi đóng quân riêng, có những đơn vị quân sự được xây dựng từ thời Nhật.

- Gần như không thể tổ chức các đoàn thể quần chúng của ta trong đồng bào Cao Đài.

Chính quyền non trẻ của ta vừa mới ra đời, đã phải giải quyết những công việc hết sức nặng nề, vô cùng khó khăn, để từng bước ổn định và bảo vệ đời sống của nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng đối phó liên tục với những âm mưu phá hoại của kẻ thù trong và ngoài nước. Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời, nhân dân Tây Ninh đã vượt qua những khó khăn gian khổ trong bước đi ban đầu đó, quyết tâm đập tan mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù; chuẩn bị đầy đủ mọi lực lượng vật chất và tinh thần sẵn sàng đánh bại thực dân Pháp khi chúng tấn công lên Tây Ninh lần thứ hai từ những giờ phút đầu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:35:31 AM
PHẦN HAI

KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC
(1945-1954)

CHƯƠNG MỘT

MỞ ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP:
THỜI KỲ THỐNG NHẤT CÁC NHÓM VÕ TRANG NHỎ LẺ,
HÌNH THÀNH LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA TỈNH (8/1945 – 1/1947):

1/ - Trước và sau khi nổ súng chống Pháp, tình hình địa phương diễn biến nhanh và phức tạp:

Sau hàng thế kỷ mất nước, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, mới giành lại được chính quyền. Nhân dân Tây Ninh hồ hởi bước vào cuộc sống mới, không còn quan Tây, chủ Nhật, không còn quan làng, cường hào, ác bá.

Xây dựng chính quyền đầu tiên của nhân dân, là việc làm hết sức mới mẻ đối với cán bộ cách mạng và nhân dân Tây Ninh. Tỉnh ủy lâm thời mới được Xứ ủy chỉ định (9/1945), còn nhiều bỡ ngỡ trong công tác lãnh đạo, nhất là công tác tổ chức mọi mặt và quản lý chính quyền, lực lượng võ trang còn quá nhỏ bé, người chỉ huy thuộc đủ mọi thành phần, lại phân tán mỗi nơi một nhóm. Mỗi nhóm mấy cây súng. Chỉ có bộ phận võ trang Tỉnh giao cho các anh Hình, Mẫn, Ngọc chỉ huy là có trên 60 cây súng. Đây là số súng ta thu tại sở cảnh sát tỉnh lúc cướp chính quyền và Sài Gòn tăng cường cho Tây Ninh 1 phân đội do anh Hinh đưa lên. Tổng số súng Tây ninh có lúc này khoảng trên 100 cây. Riêng Cao Đài qua quá trình đưa thanh niên Đạo vào lực lượng thân binh phục vụ cho mưu đồ xâm lược của giặc Nhật khi Nhật đầu hàng giao vũ khí và thân binh cho số chức sắc cầm đầu đạo Cao Đài để hình thành lực lượng quân sự riêng. Họ giữ bí mật lực lượng với âm mưu chống lại cách mạng.

Trong lúc đó có nhiều nhóm võ trang không phải ta tổ chức như: Lý Huê Vinh, Hồng Tảo, Đệ tam sự đoàn… bể mặt trận ở Sài Gòn kéo lên Tây Ninh gây thêm khó khăn. Các tổ chức chính quyền từ cấp tỉnh đến huyện, xã đều mới thành lập, lâm thời, chắp vá nhiều thành phần, có cả giáo chức, hội đồng tế của chính quyền cũ tham gia. Mặt trận Việt minh tỉnh, huyện, có cán bộ đảng viên nắm lãnh đạo, đang khẩn trương đào tạo cán bộ lớp ngắn ngày để tung xuống cơ sở, tổ chức xây dựng và phát triển các đoàn thể. Ban chấp hành các đoàn thể Nông dân, thanh niên, phun nữ ở cấp xã hầu như chưa có, chỉ có vài cán bộ ở Ban Chấp hành cấp tỉnh và huyện.

Tình hình quần chúng từ Thị xã, đến nông thôn, và vùng sâu kế cận rừng núi, biên giới còn yên ổn hưởng độc lập tự do, Nền kinh tế Tây Ninh chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp, lúa chỉ cấy một vụ mùa và một số vùng có trồng thêm hoa màu ở đất đồng và đất ruộng sau vụ cấy, nhất là vùng Trảng Bàng. Sau những ngày bị giặc Pháp – Nhật vơ vét để phục vụ chiến tranh, nền kinh tế độc canh càng què quặt, người dân Tây Ninh loại khá giả cũng không còn gì ngoài một số ít lúa trong nhà và mảnh vườn, đôi trâu. Nhà nghèo thì rách áo, thiếu cơm, chạy ăn từng bữa.

Vừa độc lập, Tây Ninh đã phải lo thống nhất các lực lượng vũ trang, ổn định tổ chức các mặt và ổn định tình hình nhân dân để sẵn sàng đánh trả quân thù khi chúng ngóc đầu dậy.

Ngày 23/9/1945, giặc Pháp có sự giúp đỡ của Anh - Ấn nổ súng gây hấn ở Sài Gòn.

Ủy ban kháng chiến tỉnh họp bàn kế hoạch phòng thủ Tây Nnh khi bị giặc Pháp tấn công và quyết định tổ chức lực lượng đưa xuống hỗ trợ cho mặt trận thành phố chống giặc.

Tây Ninh liên tiếp tổ chức các đợt đưa lực lượng xuống tiếp viện cho thành phố. Trong đánh, ngoài vây gây cho quân Pháp, Anh lâm vào cảnh khốn đốn. Các đợt tiếp viện cho quân dân Sài Gòn đánh Pháp được huy động từ khắp nơi trong tỉnh, trong đó có một trung đội tập trung do đ/c Năm Bằng chỉ huy. Mặc dù việc tổ chức và chỉ huy chiến đấu chưa tốt, chưa thống nhất, các chiến sĩ Tây Ninh đã đóng góp đáng kể công sức cho việc bao vây kềm chân địch trong thành phố. Một số chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Lúc mặt trận Bà Quẹo, Cầu Tham Lương vỡ, ta để lại 1 tiểu đội, tham gia lực lượng cảm tử quân của công đoàn Sài Gòn, trong bộ phận Hùng “Râu” phụ trách. Đến cuối tháng 10, đầu tháng 11/1945, được tàu Mỹ chở quân tăng viện, chúng mới phá vỡ vòng vây, chuẩn bị các cuộc hành quân đánh ra các tỉnh.

Ngày 2/11/1945, địch tập trung lực lượng chính quy có cơ giới yểm trợ tấn công phá vỡ mặt trận Cầu Bông, mặt trận Bà Quẹo, Tham Lương.

Tình hình tại tỉnh đang khó khăn, phức tạp, giặc Pháp lấn chiếm Sài Gòn, càng tác động mạnh đến tỉnh. Kẻ thù tại chỗ như được hà hơi, rục rịch ngóc đầu dậy. Từ bên trong và bên ngoài móc nối nhau, chuẩn bị tấn công ta.

Ta chuẩn bị các mặt trận đánh chặn quân Pháp: Suối Sâu, Trâm Vàng, Bến Kéo… Nhân dân và tự vệ dọc lộ triển khai lập phòng tuyến mặt trận như là đào hầm háo, đắp ụ đất, đốt cây ngăn đường, lấp chướng ngại vật cản xe… Võ khí thì lựu đạn, súng săn, súng trường, giáo mác, tầm vông vát nhọn… Trước tình hình khẩn trương cấp bách, Tỉnh ủy lâm thời đã họp bàn thống nhất chủ trương chuẩn bị đánh địch tại tỉnh, chỉ đạo việc dự trữ lương thực, việc tiêu thổ kháng chiến, chuẩn bị kế hoạch phá các công sở quan trọng trong Thị xã không để giặc chiếm nguyên vẹn … nhưng tình hình diễn biến khá nhanh và một số đ/c được phân công trách nhiệm lúc đó lúng túng, thực hiện không chu đáo kịp thời. Trong Ủy ban nhân dân tỉnh, cơ quan chính quyền cao nhát tỉnh lúc ấy, người đứng đầu lại hoang mang dao động. Ông Võ Thành Cứ đã tự ý đào nhiệm lúc nghe tin Pháp sắp gây hấn. Ông Ba Phu được Xứ ủy cử lên thay, đến lúc này cũng hoang mang cho tiểu đội bảo vệ ủy ban hộ tống ông vào vùng Suối Đá tránh trước và mang theo cả tiền quỹ của tỉnh. Tỉnh ủy phải cử người vào mời mấy lần ông Ba Phu vẫn không dám về Thị xã. Sau phải cử người vào nhận một số tiền quỹ về lo cho các việc cấp bách. Đó là khó khăn nội bộ. Nhưng chỉ ở một số ít cá nhân thôi. Các đ/c chủ chốt lãnh đạo vẫn ở lại Thị xã, bám sát tình hình, cử cán bộ xuống Gò Dầu, Trảng Bàng kiểm tra nhắc nhở chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó với địch và chỉ đạo các xã Thanh Điền, Thái Bình, Hảo Đước, Trí Bình (huyện Châu Thành) đưa thêm một số du kích tập trung có võ trang thô sơ: ná, mã tấu, lựu đạn… tăng cường cho các lực lượng ở các mặt trận bảo vệ tỉnh sẵn sàng chống địch khi chúng tấn công Tây Ninh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:38:10 AM
Ngày 8/11/1945, sáng sớm ta được tin địch tấn công lên Thị xã. Các lực lượng võ trang tỉnh được điều động đến phục kích tại mặt trận Bến Kéo. Các huyện có tuyến đường giặc có thể tấn công đều có bố trí lực lượng phục kích ngăn chặn. Đầu quốc lộ 1 phía Nam, huyện Trảng Bàng bố trí lực lượng ngăn chặn giặc tại mặt trận Suối Sâu. Đoạn dưới Gò Dầu có lực lượng phục kích tại Trâm Vàng. Đầu liên tỉnh lộ 13, phía Tây có lực lượng an ninh anh Đẩu chỉ huy phục chặn. Đầu phía Bắc có lực lượng anh Bằng phục kích phía trên ngã ba Vịnh, quốc lộ 22.

Đến khoảng 7 giờ sáng, có một máy bay do thám bay lên Thị xã và quần đảo mấy vòng xem xét khu rừng Bến Kéo. Tiếp đến hai tên Nhật đi xe mô tô cờ Nhật, từ Thị xã chạy đến đầu phía trong giao thông hào mặt trận Bến Kéo (giao thông hào này là công sự phòng thủ do giặc Nhật đào từ trước) ngừng lại, xuống nằm dưới lề đường chờ đón đoàn xe cơ giới của giặc Pháp lên. Lúc đó, cách xử sự của Ban chỉ huy mặt trận(1) của ta không cứng rắn để cho bọn Nhật nằm chờ Pháp. Thậm chí lúc ta đem chất nổ gài xuống mặt đường để ngăn xe Pháp, 2 tên Nhật không cho gài, ta cũng thôi…! Giặc Pháp dùng xe cơ giới từ 2 hướng: Sài Gòn lên và Campuchia xuống tấn công Tây Ninh.

Đoàn xe cơ giới của Pháp từ Sài Gòn chạy lên đến Suối Sâu, địa đầu ranh giới tỉnh Tây Ninh đụng các chướng ngại vật của mặt trận Suối Sâu ngăn cản(2). Giặc Pháp dùng xe tăng đi đầu ủi phá các chướng ngại cho đoàn xe cơ giới vượt qua. Lực lượng võ trang của ta đã ném lựu đạn, chai cháy (xăng) và bắn nhiều phá súng trường, tên ná các loại vào đoàn xe giặc. Đó là những phát súng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tấn công tái chiếm Tây Ninh. Lòng căm thù giặc sâu nặng, nhưng lực lượng võ trang ta còn yếu, trang bị thô sơ, lại thiếu kinh nghiệm, ta không ngăn chặn được bước tấn công của quân Pháp. Đoàn xe cơ giới địch tiến thẳng vào Thị trấn Trảng Bàng lên đến Trâm Vàng đụng lực lượng địa phương phục kích tại đây. Ta đốt bằng mủ cao su cháy ngăn đường, đồng chí sáu Hung dùng trung liên bắn một loạt giết chết tên láy xe và mấy tên lính. Một xe địch bị lật, nhiều phát súng trường và tên ná bắn tiếp vào đoàn xe vượt ngang mặt trận (cách đó 4 ngày địch có cho xe cơ giới từ Phnôm Pênh chạy xuống thăm dò đã bị mặt trận Trâm Vàng nổ súng phải tháo lui). Lần này bị đánh mạnh hơn, địch cho xe vượt nhanh, bị trúng đạn của ta chết 3 tên. Đến Thị trấn Gò Dầu, địch cho chôn xác chết tại Thị trấn (lúc chờ cánh quân từ Campuchia xuống). Cánh thứ hai, giặc Pháp từ Campuchia theo quốc lộ 1 xuống Gò Dầu. Hai cánh họp điểm tại đây, sắp xếp lại đội ngũ tiến theo quốc lộ 22 lên Thị xã Tây Ninh.

Đoàn xe cơ giới địch gồm 75 chiếc, có 2 xe tăng đi đầu, 73 xe GMC chở đầy lính nối đuôi nhau tiến lên thị xã. Xe chạy đến đầu dưới khu rừng Bến Kéo bị cây to ngăn đường. Địch phải dùng xe tăng ủi phá mở đường. Đến khoảng 10 giờ sáng đoàn xe địch tiến thẳng vào mặt trận Bến Kéo. Tiếng súng của lực lượng võ trang tỉnh phục tại đây nổi liên hồi vào đoàn xe địch. Nhiều múi tên ná có tẩm thuốc độc bắn vào lũ giặc ngồi trên xe GMC mui trần. Nhưng cũng chỉ toàn là súng trường và tên ná nên đoàn xe địch vẫn vượt qua mặt trận. đến cuối đoạn giao thông hào chiến đấu ở đầu trong, chúng gặp hai tên Nhật phất cờ báo hiệu, địch cho dừng lại một số xe GMC, đổ lính xuống đánh bọc hậu mặt trận Bến Kéo. Phục kích tại đầu trong giao thông hào là lực lượng võ trang do anh Ngọc trực tiếp chỉ huy và tiểu đội du kích tập trung ấp Thanh Trung. Anh Ngọc chỉ huy và chiến đấu rất dũng cảm. Anh dùng súng trường bắn chết nhiều tên giặc. Lực lượng du kích cũng bắn được nhiều phát tên ná vì giao thông hào nằm cập sát lộ 22. Địch bị bắn chết nhiều tên những vẫn tìm cách đánh bọc hậu ta. Anh Ngọc ra lệnh cho đại bộ phận lực lượng bộ đội và du kích rút lui. Anh cùng hai chiến sĩ chiến đấu bảo vệ anh em rút lui và khi đã bắn đến viên đạn cuối cùng anh mới rời bỏ mặt trận.

Khoảng 11 giờ trưa, đoàn xe cơ giới địch chạy đến Trường Đua, cách thị xã Tây Ninh hơn 1km thì dừng lại bắn nhiều phát súng đại bác hướng vào thị xã để uy hiếp tinh thần. Chúng cho quân lính trên xe xuống tạm nghỉ tại xóm Trường Đua. Thời gian địch tạm nghỉ ở Trường Đua cũng là thời gian chờ bộ phận bị đánh tại Bến Kéo.

Khoảng hơn 13 giờ, bọn chỉ huy địch ở Trường Đua ra lệnh lên xe tiến vào thị xã. Đoàn xe cơ giới địch ùn ùn chạy vào thị xã vắng ngắt. Đồng bào ta đã thực hiện khẩu hiệu “Vườn không nhà trống” tiêu thổ kháng chiến.

Địch chiếm thị xã, 3-4 ngày sau, đồng bào thị xã vẫn không ra đường, phố xá đóng cửa, chợ búa không họp, hoàn toàn bất hợp tác với giặc.


(1) Ban Chỉ huy mặt trận: anh Hinh, anh Mẫn, do anh Hinh phụ trách chung.
(2) Ông Ba Đề, một nông dân ở Suối Sâu đã tự nghiên cứu, vẽ bảng sơ đồ mặt trận Suối Sâu, đào phá đường theo hình “nanh sấu” đầu tiên ở Nam Bộ. Đến năm 1948, ban công binh Nam bộ và phòng công binh Quân khu 7 mới phổ biến cách phá đường kiểu “nanh sấu” của mặt trận Suối Sâu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:39:03 AM
2/ - Xây dựng lực lượng mặt trận cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Sau khi chiếm thị xã, quân Pháp củng cố lực lượng và triển khai tấn công lên chiếm đóng ra trên địa bàn toàn tỉnh.

Tại thị xã và các thị trấn, chúng tổ chức lại bọn cảnh sát, mã tà canh giữ các công sở và lập lại bộ máy cai trị. Tên đốc phủ Đường tiếp tay đắc lực cho Pháp đứng ra thành lập bộ máy hành chánh bù nhìn. Một số công chức cũ được trưng tập vào bộ máy cai trị các cấp.

Từng cánh quân viễn chinh Pháp được tung đi càn quét tại các đồn điền cao su như Bến Củi, Cầu Khởi, Trà Vỏ, Vên Vên, Ôcônen, nhà máy đường Thành Điền. Đồn bót giặc được dựng lên tại sở, bảo vệ cho các hãng, sở hoạt động trở lại, thực hiện âm mưu lấy kinh tế tại chỗ nuôi chiến tranh.

Nhiều cánh quân khác được tung đi càn quét đốt phá làng mạc, tàn sát và răn đe, uy hiếp tinh thần dân chúng. Chúng dùng chiến thuật vết dầu loang, càn quét lấn chiếm các vùng nông thôn gần thị xã, thị trấn trước, tiến dần ra vùng cặp rừng núi, chiếm các đầu mối giao thông quan trọng, các vùng đông dân cư, vùng đệm giữa làng mạc và rừng núi. Lấn chiếm đến đâu đóng bót đến đó, chuẩn bị cho việc tổ chức bộ máy tề, ngăn chặn và đánh phá lực lượng kháng chiến.

Ngoài ra, địch còn triệt để áp dụng chính sách chia để trị, chúng khởi hằn thù dân tộc, xúi giục người Khơme nổi dậy giết người Việt. Đồng thời tìm mọi cách nắm lấy tôn giáo Cao Đài và Thiên Chúa, lợi dụng họ để chống đối cách mạng.

Trước tình hình hỗn độn khó khăn trong buổi đầu kháng chiến, các nhóm võ trang của ta số đông bằng mọi cách chống giặc, bảo vệ, giúp dân tranh giặc. Có một số chỉ huy là sĩ quan cũ của Pháp dao động ra hàng giặc. Một số lực lượng khác đã không chống giặc còn phá hại dân như: lực lượng đệ tam sư đoàn kéo từ Sài Gòn lên Tây Ninh, một số bộ phận thành quân ô hợp phá làng xóm, hạch sách đồng bào, bắt tiếp tế, truy lùng bắn giết cán bộ, tước khí giới các đơn vị lẻ. Đệ tứ sư đoàn cũng từ Sài Gòn lên Trảng Cỏ, Đồng Hơn, Bàu Trâm (Đôn Thuận) lên gây rối ở thị trấn, bắn chết anh Thường cảnh sát trưởng Tràng Bàng, cướp 3 súng. Về sau họ qua luôn núi Cậu. Dọc đường hành quân, trú quân, họ để cho một bộ phận khuấy nhiễu dân. Nhất là lực lượng của Hồng Tảo (H.T.29) đã thực hiện nhiều lần giết người cướp của và cả vũ khí của những đơn vị võ trang nhỏ lẻ. Chính bọn này đã giết Lê Thanh Dân, Phan Đình Sĩ, cán bộ Ủy ban kháng chiến cũng không ngoài mục đích trên.

Trước sự tấn công ào ạt của giặc Pháp, một bộ phận lớn của lực lượng cảm tử quân Công đoàn Sài Gòn kéo ra Mỹ Hạnh về Vườn Điều, Cầu Xe (Trảng Bàng) trụ lại. Trong lực lượng này có anh em của tiểu đội Tây Ninh tăng cường mặt trận Sài Gòn trước đây, nay anh em đi tìm liên lạc với lực lượng võ trang Tây Ninh để tham gia kháng chiến. Lúc ấy, bộ đội Cao Đài (chi đội 8 do Mười Bạch chỉ huy) đóng ở Cây Sơn tìm đến dụ anh em nhập vào lực lượng Cao Đài. Bọn đệ tử cử Nguyễn Thành Long, Trần Xuân Nam đến thuyết phục. Anh em đã trả lời dứt khoát không nhập vào lực lượng của họ. Bọn Hồng Tảo cũng kéo đến bao vây, hù dọa tước khí giới. Nhưng thấy lực lượng này có hơn 40 súng, chúng liệu làm không nổi đành rút êm. Sau đó, liên lạc được với Ủy Ban Kháng chiến, toàn bộ anh em này kéo về Suối Nhánh nhập vào lực lượng võ trang tỉnh Tây Ninh.

Việc lãnh đạo từ tỉnh xuống các quận xã lúc này gặp nhiều khó khăn. Tình hình chuyển biến quá nhanh, tổ chức đường dây liên lạc của ta lúc này chưa đáp ứng kịp thời. Công việc quá nhiều, cán bộ ít, lại trình độ có hạn. Do vậy mà còn lúng túng trong chỉ đạo.

Tỉnh ủy lâm thời gặp nhiều khó khăn trước tình hình phức tạp khi giặc tấn công tái chiếm thị xã Tây Ninh. Tỉnh ủy lâm thời chỉ đạo chung là bảo toàn lực lượng, rút ra vùng nông thôn, rừng núi tổ chức kháng chiến. Nhưng một số cán bộ đầu ngành dao động làm sai. Khi giặc Pháp chiếm thị xã, ông Ba Phu, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cùng bộ phận bảo vệ rút luôn qua Núi Cậu; hai ông Dân, Sĩ chánh phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh nằng nặc đòi rút xuống Bàu Đồn trước khi giặc Pháp tấn công. Tỉnh ủy không đồng ý vì thấy hai cán bộ này đã có hành động quân phiệt, mệnh lệnh trong cách giải quyết, nếu để họ đi xa tỉnh sẽ dễ mắc sai lầm. Tỉnh ủy cử đồng chí Hai Mạnh phụ trách phòng 5 (tình báo) trong Ủy ban kháng chiến để kềm cặp Dân, Sĩ. Khi đồng chí Mười Thanh thoát khỏi tay giặc ở Sài Gòn trở về Tây Ninh, Tỉnh ủy giao cho đồng chí Thanh phụ trách chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh. Nhưng chưa kịp sắp xếp lại tổ chức thì giặc Pháp tấn công tán chiếm Tây Ninh. Dân, Sĩ đã rút xuống Bàu Đồn theo ý riêng. Đồng chí Hai Mạnh tách phòng 5 ra khỏi Ủy ban kháng chiến chuyển qua Tổng Giai Hóa. Đồng chí Mười Thanh qua công tác hành chánh. Sau đó Dân, Sĩ đi vào hành động thoái hóa hư hỏng, đến cuối tháng 11/1945 họ bị bọn Hồng Tảo (H.T.29) bắn giết tại Tầm Đinh (Lộc Hưng). Tỉnh ủy phải cử một số đồng chí trực tiếp nằm trong các bộ phận để uốn nắn, kềm cặp gỡ rối và tìm cách đưa các bộ phận ra vùng nông thôn tiếp tục kháng chiến.

Cơ quan mặt trận Việt Minh tỉnh lúc ấy cũng phân tán, còn bộ phận chủ chốt do hai đồng chí Vũ, Cát phụ trách, sau đó cùng lực lượng võ trang tỉnh rút xuống Bến Củi.

Cơ quan tuyên truyền tỉnh do đồng chí Lê Đình Nhơn phụ trách rút xuống vùng Trảng Bàng bám dân tránh né và chuẩn bị gây lại cơ sở.

Cơ quan Quốc gia tự vệ (Công an) do đồng chí Phạm Nguyên và Khương Quang Cảnh phụ trách cũng tách ra làm đôi. Một bộ phận rút ra vùng Bàu Sấu, Sa Nghe, một bộ phận rút ra Bến Cầu. Sau đó, đồng chí Phạm Nguyên tự đi khỏi Tây Ninh. Khương Quang Cảnh cùng lực lượng Quốc gia tự vệ Cuộc ở lại Tổng Giai Hóa.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:39:38 AM
Lực lượng võ trang của tỉnh sau trận Bến Kéo rút về xóm Tà Hụp xã Thanh Điền. Anh em bị thương được đưa về điều dưỡng tại đình làng Thanh Điền do thầy thuốc Vinh chữa trị và bà con trong xã lo chăm nuôi. Đại bộ phận lực lượng võ trang đóng ở mé rừng xóm Tà Hụp. Bộ phận võ trang của anh Đẩu cũng rút từ lộ 13 (Bến Sỏi) về đây. Bộ phận võ trang của anh Bằng vẫn đóng ở trên Ngã ba Vịnh.

Lực lượng võ trang của huyện Trảng Bàng từ các mặt trận: Cầu Quan (do các anh Vinh, Tập chỉ huy), Trâm Vàng (do anh Hung, Chói chỉ huy), Suối Sâu (do các anh Bung, Tùng chỉ huy), Đôn Thuận (do các anh Bang, Xếp, Lôi chỉ huy) và trên 20 thanh niên võ trang của các xã sau khi giặc tấn công các bộ phận tan rã một số, số còn lại tập hợp ở rừng Rong. Tất cả sắp xếp lại cho một bộ phận hoạt động ở Trảng Bàng làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian và đánh địch bung ra càn quét. Số lực lượng còn lại, không liên lạc được với tỉnh phải phân tán thành hai bộ phận: một bộ phận hình thành một trung đội với 20 súng kéo xuống Hóc Môn nhập vào lực lượng của anh Chùa chỉ huy (sau là chi đội 12 trở về hoạt động ở vùng ranh giới tỉnh, giữa Hóc Môn và Trảng Bàng) và một bộ phận nhỏ hỗ trợ cho việc tổ chức xây dựng chính quyền địa phương. Về sau bộ phận này vận động lôi kéo được số lính ở An Thành, Vàm Trãng, An Hòa, xây dựng thành một trung đội hơn 30 súng tổ chức thành tự vệ chiến đấu chung quanh huyện Trảng Bàng.

Tỉnh ủy lâm thời phân tán một số đồng chí theo các bộ phận rút ra ngoài Thị xã, rải rác nhiều nơi trong tỉnh. Đồng chí Trần Văn Xuân, Bí thư tỉnh ủy lâm thời nhận nhiệm vụ một thời gian ngắn thì đi công vụ khác. Để phù hợp với tình hình diễn biến cấp bách, các đồng chí trao đổi và nhất trí chấn chỉnh lại tổ chức, tỉnh ủy gọn nhẹm gồm năm đồng chí: Vũ, Tung, Thuần, Tấn, Cát. Tỉnh ủy giao cho hai đồng chí Tung, Tân theo dõi nắm lực lượng vũ trang, vì hai đồng chí là người địa phương, quen biết anh em lâu nay.

Lực lượng võ trang tỉnh đóng tại Tà Hụn, có một phân đội do các anh Hinh, Mẫn, Ngọc chỉ huy, một trung đội do anh Đầu chỉ huy và tiểu đội của quốc vệ đội. Cái khó của tỉnh lúc nầy là chưa có người đủ uy tín lãnh đạo, chỉ huy tống nhất lực lượng võ trang. Ba anh Hinh, Mẫn, Ngọc đều là cai đội lính tập của Pháp. Có lúc ta giao cho anh Hinh lúc giao cho anh Mẫn chỉ huy chung. Trước tình hình khó khăn này, Tỉnh ủy cử đồng chí Tân đi gặp Xứ ủy báo cáo tình hình chung và đến Thuận Lợi gặp đồng chí Vũ Đức nhận sự chỉ đạo cụ thể về quân sự (lúc ấy đồng chí Vũ Đức là “chính trị viên giải phóng quân” của trên phái về). Đồng chí Vũ Đức đánh giá Ban chỉ huy cả ba đều là cai đội lính Pháp cũ, còn đồng chí Kiều Phan là cán bộ học trường quân chính Trung ương vào, nhưng còn quá trẻ. Đồng chí Vũ Đức không chỉ định hẳn, nhưng chỉ đạo cho tỉnh cân nhắc, phải chọn người có tín nhiệm chỉ huy lực lượng vũ trang. Đồng chí nhấn mạnh cuộc kháng chiến của ta còn lâu dài, cần đào tạo lực lượng cán bộ trẻ. Đồng chí Vũ Đức muốn cán bộ quân sự của tỉnh là người địa phương.

Trong thời gian Tỉnh ủy cử đ/c Tấn đi Thuận Lợi báo cáo tình hình, ở nhà lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh thắng trận đầu tại Thanh Điền.

Ba ngày sau khi chiếm Thị xã Tây Ninh, giặc Pháp cho 2 xe Jép chở sĩ quan tham mưu ra khảo sát tình hình ở hãng đường Thanh Điền. Được tin này lực lượng vũ trang tỉnh tổ chức thành 2 cánh quân ra phục kích trên lộ 7 khoảng giữa sở cao su Ô-cô-nen và hãng đường. Cánh quân 1 do anh Mẫn chỉ huy phục kích tại ngã tư đồn. Cánh quân 2 do anh Đẩu chỉ huy phục kích tại khu rừng gần Bàu Cá Trê và đồng Bà Lựu. Hai giờ sau, địch từ hãng đường quay về. Xe địch chạy ngang đình Thanh Điền thì bộ phận quân báo đánh một hồi trống báo động cho mặt trận phục kích biết. Bọn địch cũng khả nghi có nguy cơ bị phục kích, chúng cho dừng xe lại, chuyển xe có trang bị súng máy lên chạy đầu với tốc độ nhanh. Địch chạy lọt vào vòng kích anh Mẫn chỉ huy cánh 1 nổ súng. Nhưng bắn trật, xe địch chạy luôn đến chỗ phục kích của cánh quân 2 anh Đẩu nổ súng bắn nổ lốp xe và chết tên lái xe, xe quay ngang đường ngừng lại cản đường, xe sau dừng luôn. Cuộc chiến đấu chớp nhoáng xảy ra. Anh Đẩu bắn chết thêm mấy tên địch và chỉ huy đơn vị xung phong, diệt địch, chiếm xe.

Ta đốt 2 xe, diệt 7 tên Pháp (trong đó có sĩ quan từ chuẩn úy đến đại úy) thu 2 súng đại liên (Mác-xim) 2 Tôm-Sơn, 1 trường Anh, 1 côn 12, 1 P.38 và 20 thùng đạn súng máy, địch từ Thị xã chạy đến tiếp viện. Ta đã rút lui an toàn.

Trận đánh kết quả tốt, nhưng anh Mẫn chỉ huy bị nhiều ý kiến phê phán; anh Tấn cũng vừa về tới Tây Ninh. Sau khi nghe ý kiến của đạo của đồng chí Vũ Đức, Ban lãnh đạo tỉnh nhất trí đưa đồng chí Kiều Phan tạm thay anh Mẫn chỉ huy chung lực lượng vũ trang. Đồng chí Tấn cùng đồng chí Tư Đẩu trở lại Thuận Lợi gặp đồng chí Vũ Đức lần nữa. Đồng chí Tư Đẩu trước cách mạng tháng 8/1945 có hoạt động và làm cây ở vùng rừng lớn của tỉnh Thủ Dầu Một. Đồng chí Vũ Đức đã tìm hiểu qua các đồng chí ở Thủ Dầu Một, biết anh Đẩu có nhiều mặt tốt, nhưng có số mặt còn hạn chế… Đồng chí Vũ Đức chưa đề cập đến việc chấn chỉnh Ban chỉ huy của lực lượng võ trang tỉnh Tây Ninh. Đồng chí phân phối cho Tây Ninh một số lựu đạn, đạn và cho thêm 2 cán bộ cùng ở trường Quân chính Trung ương (đồng chí Bích, đồng chí Hòa) cùng đoàn trở về Tây Ninh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:40:01 AM
Chiến sự mấy ngày qua ở Tây Ninh có nhiều chuyển biến. Trận đánh ở Thanh Điền là trận nhỏ nhưng tác dụng rất lớn. Nó chứng minh mặc dù địch ở thế mạnh, quân đông, vũ khí hiện đại, ào ạt tấn công ta, nhưng không tránh khỏi chủ quan sở hở. Ta ở thế yếu, ít quân, vũ khí thô sơ nhưng nếu dựa vào dân, tạo thời cơ, chủ động, tổ chức tìm sơ hở của địch, đánh địch thì vẫn diệt được sinh lực địch, lấy vũ khí tốt trang bị cho ta. Chiến thắng Thanh Điền đã tạo phấn khởi tin tưởng cho chiến sĩ, tạo niềm tin cho đồng bào trong tỉnh, tác động mạnh vào Thị xã, đầu não của địch. Hai cây súng đại liên Mác-xim, 2 cây tiểu liên Tômsơn và 20 thùng đạn súng mấy rất quí trong những ngày súng ít đạn thiếu buổi đầu. Nó đã tạo nhiều thuận lợi cho các trận đánh sau giành thắng lợi.

Sau trận bị thua đau, quân Pháp tập trung lực lượng càn quét mạnh vào xã Thanh Điền và vùng lân cận. Chúng sốt phá nhiều nhà cửa của đồng bào, cho tàu chiến chạy dọc theo sông Vàm Cỏ Đông bắn súng lớn uy hiếp hai bên sông. Tội ác của địch gây thêm sự phẫn uất trong đồng bào ta. Ý chí và tinh thần kháng chiến của đồng bào càng tăng lên.

Nhưng một vấn đề được đặt ra cần giải quyết là ngoài tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa ta và địch, ta còn khó khăn chưa gỡ được là lực lượng võ trang chưa thống nhất chỉ huy để kịp thời đối phó với giặc. Sau trận đánh Thanh Điền, địch tập trung càn quét thì Ban chỉ huy do đồng chí Kiều Phan chỉ huy chung. Là cán bộ trường Quân chính Trung ương nhưng đồng chí Kiều Phan còn trẻ lại không có lực lượng riêng nên nhận nhiệm vụ chỉ huy thống nhất lúc này không tránh khỏi gặp khó khăn và bị động Ban chỉ huy cho lực lượng rút ra Xóm Mía, rồi rút lên núi Bà, qua Suối Đá, xuống khu Bốn và rút xuống Bến Củi. Ý đồ của Ban chỉ huy lúc này là theo ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy là bảo tồn lực lượng tìm nơi tương đối an toàn để xây dựng chiến khu và tìm cách liên lạc với trên xin chỉ thị, xin thêm đạn dược, vũ khí để củng cố lực lượng kháng chiến. Đoàn anh Đẩu, anh Tấn từ Thuận Lợi về tới Tây Ninh lúc lực lượng rút qua Suối Đá, đoàn cùng xuống khu Bốn và rút xuống Bến Củi.

Đến ngày 30/11/1945 thì có lệnh của Khu trưởng Nguyễn Bình triệu tập hội nghị quân sự các tỉnh trong khu ở An Phú xã. Ngày 10/12/1945, cuộc hội nghị quân sự có đồng chí Hoàng Quốc Việt đại diện Trung ương Đảng dự. Hội nghị quân sự này quyết định phân chia chiến trường Nam bộ thành 3 khu: 7, 8, 9. Nguyễn Bình khu trưởng khu 7, Đào Văn Trường khu trưởng khu 8 và Vũ Đức Khu trưởng khu 9. Khu 7 bao gồm các tỉnh: Bà Rịa, Vũng Tàu, Biên Hòa, Gia Định, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Tây Ninh và Thành phố Sài Gòn. Đồng chí Tấn được Ban lãnh đạo cử đi dự, cùng đại biểu các tỉnh và các bộ phận quân sự lẻ đóng trong tỉnh. Tại cuộc hội nghị này, Khu trưởng Nguyễn Bình chủ trương thống nhất các lực lượng quân sự trong tỉnh Tây Ninh, cụ thể là lực lượng của tỉnh, lực lượng Cao Đài của Trần Xuân Nam và Mười Bạch chỉ huy, sát nhập lại thành lực lượng chung của tỉnh Tây Ninh và Khu trưởng Nguyễn Bình gợi ý giao cho Trần Xuân Nam là chỉ huy trưởng. Đồng chí Tấn chưa nhận lời, hẹn sẽ báo cáo xin ý kiến Tỉnh ủy và báo lại thời gian họp mặt Ban chỉ huy các đơn vị về sau. Ban lãnh đạo tỉnh không nhất trí và bỏ luôn không họp mặt đại diện các Ban chỉ huy để giao quyền cho Trần Xuân Nam chỉ huy. Sau đó, Khu cũng rõ lực lượng Cao Đài không ổn và Trần Xuân Nam cũng không chỉ huy thống nhất được nên không nhắc đến nữa.

Đầu năm 1946, cả nước náo nức tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 6/1. Tây Ninh được bầu cử 2 đại biểu. Ban lãnh đạo tỉnh đề cử 2 đại biểu là Huỳnh Văn Thanh và Đặng Ngọc Chính tức Vũ. Lúc này, tình hình ở Tây Ninh quá phức tạp, khó khăn, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã rút chạy, đồng chí Vũ (trong Ban lãnh đạo tỉnh) phải ký bản niêm yết danh sách ứng cử đại biểu tỉnh đưa xuống các huyện, nơi nào còn điều kiện an toàn thì vận động bầu cử đại biểu tỉnh vào Quốc hội. Hai huyện có tổ chức vận động quần chúng ở mấy diện còn tương đối an toàn như: Núi Bà, Bàu Đồn, Bến Củi… Nhưng quần chúng đang xáo trộn lo chạy giặc càn quét, tập hợp được quá ít cử tri, chưa đủ đảm bảo tập trung dân chủ nên không tổ chức bầu cử được. Sau ngày 6/1/1946, Xứ ủy triệu tập các tỉnh về báo cáo kết quả việc bầu cử Quốc hội. Hai đồng chí Thuần và Cát được Ban lãnh đạo tỉnh cử đi. Làm việc xong với Xứ, đại diện Tây Ninh được Xứ giới thiệu sang gặp Khu trưởng Nguyễn Bình xin thêm đạn và thuốc cho lực lượng vũ trang. Khu trưởng Nguyễn Bình thông báo tình hình quân sự chung và chỉ đạo ba vấn đề lớn:

- Về quân sự, Khu sẽ tập trung lực lượng đánh lấy lại Tân Uyên và Biên Hòa. Lực lượng võ trang của Thủ Dầu Một và Tây Ninh phải chuẩn bị hợp đồng tác chiến. Sau khi đánh chiếm xong Tân Uyên, Biên Hòa sẽ tập trung đánh chiếm lại Thủ Dầu Một xong sẽ đánh chiếm lại Tây Ninh thì Biên Hòa và Thủ Dầu Một hỗ trợ.

- Việc thống nhất chỉ huy lực lượng võ trang đối với Tây Ninh rất cần, Khu sẽ đưa anh Đinh Tiến Lư làm chỉ huy trưởng.

- Về võ khí, thì tạm thời về Khu lấy vũ khí sau đó sẽ xây dựng Binh Công xưởng sản xuất tại chỗ.

Qua ý kiến chỉ đạo của Khu các đồng chí lãnh đạo tỉnh rất phấn khởi. Ban lãnh đạo bàn cách tập trung và phân công nhau đi gặp các đơn vị truyền lệnh tập hợp về một nơi để tổ chức lực lượng về Khu. Ban lãnh đạo cũng bàn cụ thể giao 2 đồng chí Thuần, Cát đưa bộ đội đến Khu rồi trở về. Hai đồng chí Tung, Tấn ở lại tỉnh với lực lượng nhỏ còn lại. Lúc này mới biết đ/c Vũ mất tích và đi lọt vào đám “sa mù” của bọn phản động Cao Đài. Ai lọt vào vùng này đều bị chúng bịt mắt, coi như là lọt vào sa mù không thấy gì nữa. Hầu hết đều không có đường ra.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:40:40 AM
Các lực lượng tập trung về Trảng Sa gần đủ (cả lực lượng anh Bằng, anh đang mệt cũng cỡi ngựa về tập trung). Anh Dõng đang đau nặng không dám giao lực lượng cho người khác nên để lực lượng này ở lại. Như vậy, là bàn thống nhất đưa đại bộ phận đi lên Khu, để lại bộ phận của anh Dõng và bộ phận của anh Mạnh, anh Điểm. Nhưng đến giờ xuất phát thì 2 bộ phận của anh Bằng, anh Đẩu cũng ở lại không đi, phải thay đổi kế hoạch phân công người dẫn đường. Ban lãnh đạo quyết định anh Tấn lên Trảng Bom rồi trở về ngay. Giao anh Tung ở lại với lực lượng anh Đẩu.

Vào những ngày giáp Tết Bính Tuất (1946), đại bộ phận lực lượng võ trang tỉnh rời Bến Củi đi lên Khu. Trên đường hành quân, cấp chỉ huy trực tiếp lại tự động chọn lọc số lực lượng khỏe mạnh, có trang bị tốt, loại ra 30 anh em yếu bỏ lại giữa rừng Long Nguyên đêm 30 Tết, gây thêm khó khăn nội bộ, làm giảm lòng tin anh em chiến sĩ (anh Hinh, anh Mẫn lịnh cho anh Mai loại ra 30 anh em yếu, cấp cho một giấy đi đường, mấy đồng bạc Đông Dương có đóng dấu “Trường kỳ kháng chiến” chỉ tiêu dùng trong vùng giải phóng. Anh em biết bị bỏ rơi, hỏi anh Mai lệnh của ai? Anh Mai trưởng ban tiếp tế báo không biết và trốn anh em đi luôn. Mười anh em người Sài Gòn bất mãn về nhà luôn, số còn lại bầu anh Thuấn chỉ huy chung, quyết tìm đường báo cáo với Khu, nhưng bị ngăn đường)… Bộ phận lớn hành quân đến An Điền (Bến Cát) thì được lệnh của Khu dừng lại tại đây chờ lệnh mới. đồng chí Tấn trở về ngay Tây Ninh cùng đồng chí Tung lo việc trong tỉnh. Khoảng nửa tháng sau thì đồng chí Thuần rở lại báo lệnh của Khu không tập trung lực lượng tấn công nữa mà đóng tại An Điền củng cố lại biên chế xong sẽ trở về Tây Ninh chiến đấu. Có thể là do tập trung đánh Tân Uyên không kết quả Khu ngưng lệnh tập trung lực lượng hoặc có ý kiến chỉ đạo chung phải theo đường lối chiến tranh nhân dân; lúc này vận dụng chiến thuật du kích là chủ yếu, không tập trung đánh thị trấn, thị xã lúc tương quan lực lượng chưa phù hợp… Đó là một số vụ việc xảy ra trong thời gian tương đối ngắn trước tình hình hết sức phức tạp khó khăn mà lãnh đạo tỉnh không nắm hết, không giải quyết kịp lại có một số cá nhân tự động giải quyết theo ý riêng nên gây thêm khó khăn. Về sự kiện này, ý kiến của các đ/c cán bộ chủ chốt lúc ấy không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn nhau. Qua các cuộc tọa đàm, trao đổi, các đồng chí đã đi đến nhất trí đưa lực lượng võ trang ra ngoài là theo sự chỉ đạo của Khu nhưng thiếu sót của các đ/c lãnh đạo là thiếu họp bàn và phổ biến chủ trương cũng như chủ động sắp xếp việc đi ở, không chỉ cho bộ đội mà cho các cơ quan của tỉnh.

Chiếm xong thị trấn và các cơ sở kinh tế (cao su, mía đường), giặc Pháp tiếp tục tung quân càn quét lấn chiếm vùng nông thôn rừng núi phía Bắc tỉnh như: Suối Đá, Phan, Núi Bà, Bàu Muồng, Trà Cốt, Sa Nghe, Đồng Tròn, Xóm Vịnh… Phía Nam, chúng càn quét vào vùng Bàu Đồn, Suối Nhánh, Suối Đá Tươi, Bời Lời, Đôn Thuận… Phía Tây, giặc Pháp xúi giục đồng bào Khơme nổi dậy đốt nhà, cướp của giết người Việt ở Xóm Vĩnh, Khăng Xuyên, Ninh Điền, Long Thuận.

Các bộ phận võ trang của anh Đầu, anh Bằng kéo từ vùng Trảng Sa về Suối Đá, Phan. Anh Đẩu đóng quân tại đây. Anh Bằng đưa lực lượng về Trà Cốt, Sa Nghe. Anh Điềm cũng đưa tiểu đội võ trang lên Núi Bà cùng bộ phận anh Mạnh đóng quân tại núi. Các lực lượng võ trang nhỏ của ta đã lợi dụng địa hình thuận lợi của rừng núi phục kích đánh trả, ngăn chặn các cuộc càn quét của địch bảo vệ tính mạng tài sản của đồng bào.

Những ngày cuối của năm 1945, biết tin đồng bào ta từ xóm Lò Gò, xóm Giữa, xóm Vịnh chạy giặc, kéo cả tài sản xuống Đồng Tròn, lánh nạn giặc Pháp mở cuộc càn vào đây để đốt phá, bắn giết, cướp bóc và uy hiếp tinh thần. Lực lượng võ trang ta đã cắt rừng đón giặc ở Bàu Muồng đánh bọn đi sau cho giặc trụ lại chống đỡ. Ta đồng thời cơ động chuyển sang Trà Cốt đánh bọn đi tàu và qua Bàu Tra ngăn chặn không để địch vào Đồng Tròn. Lực lượng ta ít nhưng rành đường và biết lợi dụng địa hình rừng chồi thưa cơ động linh hoạt chuyển dịch nhiều chỗ đánh địch làm cho giặc Pháp tưởng quân ta đông nên phải bỏ cuộc càn vào Đồng Tròn. Tính mạng và của cải tài sản của đồng bào ta được bảo vệ an toàn.

Địch dùng cơ giới theo lộ 13 mở cuộc càn vào vùng Phan, Suối Đá. Ta được tin từ sáng sớm, lực lượng võ trang ra bố trí tại Láng Le, dùng rừng Le dầy có lợi thế. Ta chờ hai mươi xe địch chạy loạt vào vòng trận. Ta ngả cây ngăn đường tiến và rút. Địch không có xe cơ giới nặng hộ tống để ủi phá cây, buộc phải xuống xe hành quân bộ. Từ rừng le dầy đặc quân ta xông ra diệt địch. Quân địch bị động, lúng túng vướng Le, bị ta diệt nhiều tên, trong đó có hai tên sĩ quan Pháp.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:41:16 AM
Địch được tin có quân ta trên Núi Bà, chúng cho lực lượng bộ binh theo đường mòn tấn công lên núi, ta bố trí phục kích chờ giặc lên đến dốc Thượng mới nổ súng. Giặc phải tháo lui vất súng đạn, đạp lên nhau bò xuống núi. Đặc biệt trận này có các sư trẻ ở chùa Bà tham gia chiến đấu giết giặc và lo tiếp tế nuôi quân. Sau trận đánh, giặc cho máy bay bắn phá vào chùa Bà, làm hư hại cảnh chùa, sập nhà, nát tượng, gây thêm lòng phẫn uất trong đồng bào.

Giặc Pháp liên tiếp mở nhiều cuộc càn khác vào vùng sâu để chuẩn bị lấn chiếm đóng bót. Chúng đã bị lực lượng võ trang ta phục kích đánh nhiều trận, trong đó có các trận lấy được súng giặc như: trận đánh xe ở Miễu Ông Tà (Bàu Cóp) ta diệt 2 xe, thu 10 súng trường; trận Cầm Cau (Xóm Phan) diệt tiểu đội Miên gian lấy súng, trận Ngã ba Phan diệt 3 xe lấy 12 súng trường, 1 súng Carbine và 1000 đồng tiền Đông Dương.

Đến trung tuần tháng 1-1946, địch tiến hành đóng một số bót trong vùng nông thôn rừng núi phía Bắc như bót Cầu Vịnh, bót ngã Ba Vịnh, bót Khê Đon, bót Suối đá, bót Cầu Khởi và tiếp tục ruồng bố để củng cố vùng đã lấn chiếm.

Qua các cuộc ruồng bố liên miên của tỉnh, tình hình càng thêm phức tạp khó khăn. Đồng bào nông thôn lo chạy giặc, bỏ nhà cửa ruộng vườn, bỏ sản xuất. Để từng bước góp phần ổn định tình hình, các đồng chí đã bàn nhất trí mời đại biểu của hơn 20 xã nông thôn lên Núi Bà họp trao đổi cụ thể tình hình và hướng dẫn các hoạt động tránh né các mũi tấn công lấn chiếm của giặc, từng bước gây dựng cơ sở kháng chiến phía Nam tỉnh bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông còn rừng lớn và rừng lõm kéo dài lên đến biên giới phía Tây, bên trong có các xã từ Bến Cầu trở lên Ninh Điền là vùng ruộng lúa phì nhiêu có khu dân cư khá đông, địch chưa lấn chiếm được. Nơi đây, có nhiều thuận lợi cho việc xây dựng chiến khu. Các nhóm võ trang sẽ thống nhất lực lượng kéo về Tổng Giai Hóa xây dựng căn cứ. Anh Mạnh liên lạc được với anh Ba Phu (lúc này anh Ba Phu bị ép nhập vào đệ tứ sư đoàn do Lý Huê Vinh chỉ huy đóng ở Núi Cậu) và khéo léo lôi kéo được lực lượng vũ trang trở về tỉnh được trên 30 súng. Lực lượng này cùng với lực lượng anh Đẩu, anh Bằng, anh Điểm nhập lại thành lập một phân đội tương đương đại đội do anh Đẩu, anh Bằng chỉ huy. Phân đội kéo qua vùng Bến Cầu và xây dựng chiến khu ở rừng Tầm Đinh.

Đồng bào vùng Tổng Giai Hóa đang lo sợ nạn “cáp duồn” (giết người Việt) cướp bóc tài sản của lực lượng Miên gian được Pháp xúi giục gây hằn thù dân tộc. Hàng ngày bọn chúng từ bót cây Trôm kéo xuống các xã giết người, cướp của. Phân đội võ trang do anh Đẩu, anh Bằng chỉ huy kéo về đây được đồng bào hoan nghênh và ủng hộ triệt để. Phân đội đã chống trả nhiều cuộc càn quấy của giặc bảo vệ tính mạng, tài sản của đồng bào. Phân đội đã tiếp cận bót cây Trôm nghiên cứu địch tình, nắm qui luật sáng nào sáu giờ địch cũng kéo ra khỏi bót đi càn quấy kiếm ăn, chỉ để ở nhà mấy tên trên chòi canh giữ bót. Phân đội bố trí lực lượng chia ra hai cánh. Một cánh phục kích bên ngoài đó đánh bọn  đi càn về. Một cánh diệt bọn gác ở chòi canh và tiến vào đánh bót. Cánh diệt chòi canh đã nhanh chóng tiêu diệt địch và đốt bót, lửa khói ngút trời. Bọn giặc đi càn thấy bót cháy về cứu ngay, lọt vào vòng kích của ta, bị ta diệt gọn. Phân đội đã lấy lại tài sản, trâu bò đem giao trả cho đồng bào bị cướp. Trận đánh thắng có tác dụng khá mạnh. Bọn Miên gian ở biên giới chùn bước không dám đi cướp phá hàng ngày như trước. Đồng bào ở Tổng Giai Hóa rất phấn khởi, tin tưởng, triệt để ủng hộ cách mạng và tích cực tham gia kháng chiến.

Ở vùng Tổng Giai Hóa còn có bộ phận quốc gia tự vệ Cuộc do Khương Quang Cảnh phụ trách và phòng 5 của Ủy ban kháng chiến do anh Mạnh phụ trách cũng có trang bị võ khí. Các bộ phận đều cần sửa chữa súng làm bì đạn và các loại võ khí khác phục vụ cho kháng chiến. anh Mạnh tổ chức tập hợp anh em công nhân ở hãng đường Thanh Điền và các sở cao su Chúp, Mimốt của tỉnh, tập trung dụng cụ, thành lập xưởng sản xuất vũ khí tại Lò Ghè, Rừng Tầm Đinh. Xưởng đã làm rờ-sạt bì đạn, sửa súng về sau làm được lựu đạn, đạp lôi phục vụ chung cho lực lượng võ trang tỉnh.

Ban lãnh đạo tỉnh, sau khi bố trí đưa lực lượng võ trang đi lên Khu xong, các anh Tung, Tấn, Thuần trở lại tỉnh. Gặp nhau các đồng chí bàn sắp xếp tổ chức và móc nối các anh Huỳnh Thanh, Lê Đình Nhơn lúc ấy ở xã An Tịnh, anh Đông ở Sóc Lào, cùng qui tụ số cán bộ khác từng bước hình thành các tổ chức Ủy ban hành chánh tỉnh, Ban Tuyên truyền tỉnh, Mặt trận Việt Minh tỉnh và chuẩn bị tổ chức các cơ quan hành chính, mặt trận ở hai huyện Châu Thành và Trảng Bàng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:41:43 AM
Ngày 5-3-1946, Khu có quyết định chính thức thành lập chi đội 11 tại xã An Điền (Bến Cát) do Trịnh Khánh Vàng làm chi đội trưởng (Trịnh Khánh Vàng là một lính tập của Pháp, là tín đồ Thiên Chúa giáo lấy tên Giăng-Pát-tít Vàng. Chi đội 11 về tỉnh trước sau đó chi đội trưởng Trịnh Khánh Vàng mới về Tây Ninh). Chi đội 11 trở về Tây Ninh kháng chiến. Chi đội 11 kéo về tới rừng Bào Gõ (Bến Cầu) tạm trú quân. Địch phát hiện và tập trung lực lượng từ 4 hướng tấn công quyết bao vây tiêu diệt chi đội 11. Lúc ấy chi đội có một đại đội với 80 súng trường, 6 tiểu liên và 1 đại liên (Maxime). Địa hình ở đây là đồng ruộng, sình lầy, muốn tấn công vào, địch phải dùng tàu đổ bộ tại Lò Than phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông và xe vận tải đổ quân trên lộ 1, cách 5km về phía sau.

Cánh quân 1 của địch từ Sóc Nóc tiến vào Bến Cầu bị quân ta phục kích ở bìa xóm nổ súng chặn đánh, địch phải tháo lui.

Cánh quân 2 từ Gò Dầu được xe chở xuống lộ 1, chúng băng ruộng tiến vào Xóm Mới gặp trung đội 3 phục kích tại đó. Hai bên đánh nhau súng nổ giòn giã. Hơn 10 phút sau trung đội 1 của ta vận động ra chi viện đánh vào sườn và bọc vòng phía sau địch. Quân Pháp thấy bất lợi lùi lại, bị tiểu đội bọc hậu bắn xối xả vào lưng, địch hốt hoảng bỏ chạy tán loạn… Nhân dân địa phương vác gậy gộc, dao rựa cùng bộ đội đuổi theo. Giặc Pháp cuống cuồng tuột áo, quăng túi đạn, tháo ra lộ 1. Thấy quân dân ta truy kích tới, bọn lái xe kinh hãi rồ máy cho xe chạy trước. Giặc Pháp không còn xe phải chạy bộ về Gò Dầu. Quân ta truy kích gần tới lộ thì nghe hướng Bàu Gõ nổ súng liền quay lại tiếp ứng.

Cánh quân 3, từ sông Vàm Cỏ tàu giặc chở quân đổ bộ vào Bàu Gõ là đụng ngay trung đội 1 của ta. Trong lúc hai bên đang nổ súng thì trung đội của quân ta đã quay trở lại tiếp ứng. Bị từ chính diện bắn ra, sau lưng bắn tới, quân Pháp phải rút tạt ngang chạy xuống tàu.

Cánh quân 4 từ Lò Than đổ bộ lên Sóc Khuất, Bến Đình chọc thẳng vào giữa xóm, rồi tỏa ra bao vây,bắt một số cán bộ và chị Trâm nữ y tá, hãm hiếp rồi giết chết. Ở đây, ta chỉ có mấy cây súng cơ quan và tiểu đội bảo vệ đánh cầm cự. Tình hình rất nguy ngập thì các trung đội của ta đã kịp thời từ Bàu Gõ vận động tới từ hai phía ép quân Pháp vào giữa. Cây đại liên của ta nổ liên hồi vào đội hình địch, diệt nhiều tên. Quân ta hai gọng kềm xung phong khép chặt, quân Pháp bỏ chạy tán loạn… Thanh niên địa phương kịp thời dẫn đường cho các tiểu đội của ta chạy tắt chặn các ngách. Địch ló đầu ra nơi nào cũng bị bắn. Cuối cùng quân và dân ta đuổi kịp giặc, dùng lưỡi lê, dao, rựa, đâm chém, xác giặc bỏ lại ở các nẻo đường, đồng ruộng. Ba đồng chí cán bộ của ta bị giặc bắt cũng được giải thoát. Nhân dân tại xóm được trực tiếp chứng kiến và tham gia chiến đấu giết giặc. Kết quả trận đánh: ta hy sinh 7, địch bị diệt trên 50 tên. Ta thu 16 súng trường, 1 trung liên, 2 tiểu liên. Trận đánh đầu tiên của chi đội 11 bằng phục kích vận động chiến và nhanh chóng hợp đồng chặt chẽ đã thu được thắng lợi to lớn.

Đánh xong, ta cho chuyển quân ngay, ngày hôm sau, giặc cho máy bay oanh tạc xuống trận địa đã bỏ không. Chi đội 11 vừa về đến tỉnh nhà, với chiến thắng đầu tiên làm cho tinh thần chiến sĩ, đồng bào phấn khởi.

Chi đội kéo về vùng Bà Lu, Chối Nước thì chi đội trưởng Trịnh Khánh Vàng mới từ Khu về Tây Ninh và mang theo lệnh của Khu trưởng Nguyễn Bình cho sáp nhập 3 đại đội và chỉ định Ban chỉ huy chi đội và các đại đội để thống nhất lực lượng võ trang tỉnh.

Ban chỉ huy chi đội và các đại đội A, B, C:

- Chi đội trưởng: Trịnh Khánh Vàng.

- Chính trị viên: Nguyễn Lê Uẩn.

- Chi đội phó: Trần Văn Đẩu.

- Đại đội trưởng, đại đội A: Aubert Mẫn.

- Đại đội trưởng, đại đội B: Cao Minh Căn.

- Đại đội trưởng, đại đội C: Nguyễn Công Bằng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:42:19 AM
3. Thống nhất lực lượng võ trang của tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng đẩy mạnh kháng chiến:

Hiệp định sơ bộ 6-3-46 được ký kết, là điều kiện tốt vừa nâng cao tinh thần, lòng tin của toàn dân, vừa cho các tỉnh phía Nam thêm thời gian củng cố lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến.

Chi đội 11 được thành lập, là thuận lợi lớn có ý nghĩa quyết định cho các bộ phận của chính quyền, mặt trận sắp xếp tổ chức, mở rộng hoạt động kháng chiến.

Ban lãnh đạo tỉnh được củng cố còn lại 4 đồng chí phân công nhau phụ trách các ngành.

Khoảng tháng 4-1946, các đồng chí tổ chức cuộc hội nghị cán bộ tại Bù Lu – Chuối Nước trao đổi thống nhất tình hình ở địa phương bàn phương hướng hoạt động lãnh đạo kháng chiến và phân công cán bộ trực tiếp nắm các ngành và xuống huyện, xã lo tuyên truyền vận động quần chúng tổ chức xây dựng các mặt công tác chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở địa phương.

Đồng chí Trần Thuần cùng các đồng chí quy tụ một số cán bộ và thành viên theo yêu cầu cơ cấu, tổ chức lại Ủy ban hành chính tỉnh do đồng chí Thuần quyền chủ tịch, ông Trương Văn Xưởng đại biểu Cao Đài phó Chủ tịch, đồng chí Huỳnh Thanh tổng thư ký ủy ban. Hướng phát triển của Ủy ban tỉnh là tìm người địa phương có uy tín, có năng lực đưa vào Ủy ban tỉnh và tổ chức chính quyền ở hai huyện và các xã.

Đồng chí Tấn phụ trách xây dựng các mặt cho huyện Châu Thành lo cả tổ chức đảng, chính quyền và Mặt trận.

Đồng chí Cát quy tụ các đồng chí và một số vị nhân sĩ có uy tín trong dân ra hoạt động kháng chiến, từng bước sắp xếp lại các mặt công tác Đảng, chính quyền, mặt trận ở huyện Trảng Bàng.

Đồng chí Tung lo nắm tình hình quân sự; trực tiếp trong Ban chỉ huy chi đội có đồng chí Đẩu. Nhưng chỉ huy trưởng Trịnh Khánh Vàng lại không ưa công tác chính trị. Do đó, đồng chí Uẩn chính trị viên chi đội hầu như không hoạt động chỉ đạo gì được. Cán bộ cấp dưới, ngoài đồng chí Bằng ra, đều không nắm được đơn vị. Cho nên, chi đội 11 đã hình thành biên chế tổ chức, nhưng thực chất Đảng chưa nắm được lực lượng võ trang tỉnh. Chỉ huy trưởng Trịnh Khánh Vàng muốn gây thanh thế, tự ý lệnh cho chi đội 11 tấn công vào thị xã Tây Ninh, đốt một số nhà ở Xóm Chàm, không có mục đích gì, lại đụng đến dân làm mất ảnh hưởng. Giặc Pháp tại tỉnh được dịp báo cáo lên trên tập trung lực lượng về Tây Ninh càn quét mạnh, gây thêm tác hại cho kháng chiến.

Các đồng chí khác trong Tỉnh ủy lâm thời còn lại: đồng chí Lê Đình Nhơn phụ trách công tác tuyên truyền. Đồng chí Chấn công tác ở cơ sở xã. Đồng chí Hai Mạnh được Sở Công an mời về trên và công tác luôn trên Sở. Đồng chí Mỹ Lan ngưng công tác ở Tây Ninh, chuyển về Tân An.

Ở thời điểm đầu năm 1946 giặc Pháp vẫn dùng lực lượng quân viễn chinh tấn công càn quét mạnh, hy vọng sớm diệt được lực lượng kháng chiến, ổn định tình hình chiếm đóng và cai trị. Âm mưu nắm các lực lượng giáo phái lái họ vào cùng Pháp chống đối kháng chiến đã có, nhưng chưa thực hiện mạnh vì còn tin lực lượng quân đội nhà nghề của chúng đủ sức dẹp yên lực lượng kháng chiến.

Lực lượng giáo phái Cao Đài được hình thành chi đội 8 trực thuộc khu 7, nhưng còn lập lờ hai mặt. Một mặt, qua các chức sắc cao cấp còn lại ở Tòa Thánh, ngấm ngầm mặc cả với Pháp điều kiện đầu hàng nếu được hậu đãi. Mặc khác đưa chi đội 8 ra vùng rừng Giống Nắng và Rừng Nhum (Tổng Giai Hóa) tạm đóng vờ vĩnh liên lạc với ta để được yên và dựa vào quần chúng tín đồ Cao Đài ở vùng ta kiểm soát tiếp tế nuôi dưỡng trong lúc chờ đợi Tòa Thánh mặc cả được giá.

Ở phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ từ phía Bắc Tây Bắc đến phái Tây và Tây Nam cũng có làng mạc dân cư, có rừng lớn và nhiều vùng đầm lầy, sông rạch, địa hình phức tạp, đường hành quân bộ không thuận tiện lại cách sông Vàm Cỏ án ngữ mặt tiền nên thời gian qua giặc Pháp chưa tiến hành lấn chiếm vùng này. Nay chúng tập trung lực lượng thủy quân lục chiến và bộ bình càn quét truy tìm tiêu diệt chi đội 11 và các tổ chức Việt Minh tập trung ở vùng Tổng Giai Hóa. Giặc Pháp cho tàu chiến chạy dọc theo sông Vàm Cỏ, dùng hỏa lực mạnh quét dọc hai bên sông và cho quân đổ bộ nhiều mũi xuống Trà Siêm, Gò Nổi, Xóm Mía càn quét, đốt phá xóm làng, bắn giết trâu bò, đồng thời tấn công lùng sục vào tận nơi đóng quân của đại đội 11.

Chi đội trưởng Trịnh Khánh Vàng không cho lệnh ngăn chống giặc. Hai đại đội A và B bị động đối phó, tránh né giặc để giữ lực lượng. Riêng Đại đội C, do anh Đẩu, anh Bằng chỉ huy đã biết lợi dụng thế rừng chống càn ở rừng Nhum, diệt địch lấy được 1 cây trung liên Nhật. Mấy ngày sau, giặc lại đổ bộ càn vào Ninh Điền, trung đoàn Lê Dương tấn công uy hiếp đại đội A và đại đội B. Các anh Hinh, Mẫn, Căn đang lúng túng thì đại đội C đã kịp thời hành quân tiếp ứng, xung phong đánh xuyên hông, diệt địch, bắt sống được tên Fancon tiểu đoàn trưởng và 3 tên Pháp khác, gỡ thế bị động cho 2 đại đội A và B, củng cố lại đội hình chiến đấu buộc địch rút lui. Nhưng sau đó, địch vẫn ỷ thế quân đông liên tiếp càn quét vào chiến khu của ta. Nếu chỉ huy trưởng Trịnh Khánh Vàng chịu đánh địch như đại đội C thì địch còn bị tổn thất nhiều hơn. Nhưng Ban chỉ huy chi đội vẫn giữ thế bị động rút lui hết khu rừng này qua khu rừng khác. Chiến sĩ bất mãn và dân thấy vậy cũng không bằng lòng.

Giặc càn quét mạnh liên tiếp vào vùng Giai Hóa, gây thêm khó khăn phức tạp. Các đồng chí trong Ban lãnh đạo tỉnh và các cán bộ ở khu mới được bổ sung về tỉnh (đồng chí Nguyễn Hữu Dụ, cán bộ Nam tiến được Khu trưởng Nguyễn Bình điều động về Tây Ninh với danh nghĩa Huấn luyện viên của chi đội 11) cấp thời trao đổi và đề ra một số việc phải làm ngay trước mắt và thực hiện các chủ trương ở hội nghị tại Bù Lu – Chuối Nước. Nhất là phải thống nhất nội bộ đảng phải tiếp tục củng cố chính quyền, mặt trận từ trên xuống dưới, phải nắm công tác chính trị trong chi đội và gấp rút mở lớp bồi dưỡng đào tạo cán bộ, chú ý cán bộ địa phương để nắm và lãnh đạo phong trào.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:43:38 AM
Các đồng chí chia nhau đi gặp riêng, bằng tình nghĩa, bằng lý lẽ vận động từng đồng chí hoặc gặp chung từng nhóm công tác để cởi mở các mắc mứu cá nhân, quy tụ nhau lại thống nhất nội bộ Đảng. Các đồng chí chủ chốt của mặt trận Việt Minh (Dũng, Sơn), bàn lại kế hoạch, cho số cán bộ hiện có (Oanh, Hòe, Tồng…) xuống cơ sở hoạt động, tuyên truyền giáo dục quần chúng kịp thời tổ chức các đoàn thể cứu quốc từ dưới cơ sở lên huyện, lên tỉnh để nhanh chóng thành lập mặt trận từ dưới lên. Trong kế hoạch mặt trận chung có chú ý đề ra kế hoạch tuyên truyền tổ chức đồng bào theo đạo và đồng bào vùng tạm chiếm và các tổ chức cứu quốc. Cách tiến hành tổ chức cũng thận trọng và khéo léo, các đồng chí lựa chọn nhân viên có gia đình theo đạo, giáo dục đào tạo, đưa vào gây cơ sở trong tòa thánh và chọn những anh chị em có thân nhân ở thị xã, thị trấn bắt mối đưa người có ý thức ra bồi dưỡng, đào tạo, đem về gây cơ sở bên trong rồi phát triển dần. Đồng thời tìm người biết tiếng và chữ Khơme tổ chức một bộ phận làm công tác vận động đồng bào Khơme. Đối với hai huyện Trảng Bàng và Châu Thành đã có hai đồng chí Cát và Tấn phụ trách chung, cần phải hỗ trợ các mặt cho huyện thu thêm anh chị em một lớp huấn luyện đào tạo đưa về tổ chức, mở rộng mặt trận thu hút các giới đồng bào và các tổ chức nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc. Về mặt chính quyền, các đồng chí tiến hành ngay việc lập Ủy ban hành chánh hai huyện Trảng Bàng, Châu Thành và mở rộng dần ra các xã có đủ điều kiện tổ chức.

Ở Trảng Bàng, đồng chí ba Cát quan hệ với nhóm thanh niên rừng Rong, Bùng Binh và một số nhân sĩ tổ chức Mặt trận Việt Minh huyện và mở nhiều lớp học ngắn ngày đào tạo cán bộ đưa xuống xây dựng chính quyền và đoàn thể ở các xã Lộc Hưng, Đôn Thuận, An Hòa, Gia Bình… căn cứ Rừng Rong đã có từ đầu vẫn duy trì và phát triển tốt, làm nòng cốt cho phong trào chung. Đồng chí Kiều Phan đi vào 3 xã cánh Tây Trảng Bàng, móc nối với số nông dân có nhiều tình cách mạng làm chỗ dựa phát động phong trào quần chúng. Trong số nòng cốt có ông Bảy Nam (ông già Mười Hai) rất tích cực ủng hộ cách mạng vận động quần chúng hưởng ứng theo kế hoạch hoạt động của Kiều Phan: tổ chức đánh bót Vàm Trảng lấy súng thành lập đội du kích bảo vệ xã, ổn định thình hình, mua trâu về làm ăn. Từ đó phong trào kháng chiến phát triển dần lên. Huyện tổ chức Ủy ban nhân dân huyện lâm thời, đồng chí Kiều Phan làm Chủ tịch. Năm 1946, các xã ở Trảng Bàng đã tổ chức cơ sở chính quyền và mặt trận xã. Lúc đầu đoàn cán bộ tỉnh do 2 đồng chí Ba Cát, Kiều Phan lấy Phước Chỉ làm địa bàn chính để móc qua Trảng Bàng. Lúc này Lộc Hưng còn là vùng độc lập, với một phần lớn Gia Lộc, An Tịnh với toàn bộ xã Đôn Thuận (đến 6/46). Chỉ còn 2 xã Cẩm Giang và Thạnh Đức chưa có cơ sở. Tháng 6/46 tổ chức đại hội nhân dân ở vùng Lộc Hưng bầu ra Ủy ban huyện chính thức. Vấn đề cán bộ người địa phương được quan tâm đào tạo, về sau bổ sung đồng chí Lời vào Ủy ban huyện và một số nhân sĩ trí thức được bố trí vào các ngành và đoàn thể địa phương.

Ở Châu Thành, đồng chí Tấn về phụ trách phải lo ngay việc tiếp tế cho chi đội 11 đóng tại huyện. Đồng chí gặp các sở cây, sở củi ở Châu Thành đặt vấn đề ủng hộ tiền gạo tiếp tế nuôi quân. Đồng chí cùng với các đồng chí Hai Mạnh, Hai An bàn tìm cách lôi kéo cá giáo chức ở Thị xã ra tham gia kháng chiến, như ông Chín Truyện, ông Giáo Việt. Khoảng tháng 5, 6/46, thành lập Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành (tại nhà Cao Cảng ở Suối Muồng, Gò Nổi), đồng chí Tấn bí thư huyện ủy kiêm chủ tịch uyện (sau đó ông chín Truyện chủ tịch) ông Giáo Việt tổng thư ký. Các xã Thanh Điền, Ninh Điền, Phước Hội, Lộc Ninh, Hảo Đức, Long Giang, Long Chữ, Long Thành, Trường Hòa… lần lượt hình thành tổ chức Ủy ban và mặt trận Việt Minh xã. Các cán bộ địa phương lần lượt được đào tạo và bổ sung cho các ngành ở huyện và xã (các đồng chí Xuân, Quyên Tư Sử, Sáu Tây, Bảy Thinh…).

Trong bộ máy hành chánh cấp tỉnh còn thiếu cán bộ chủ chốt người địa phương. Các đồng chí nhất trí tìm kiếm vận động trong các giới đồng bào. Các đồng chí đón anh Dương Minh Châu(1) từ Hố Bò (Gia Định) về công tác ở bộ phận tuyên truyền tỉnh. Tháng 5/46 anh Châu làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh. Với các Ty cũng theo cách đó, tìm dẫn người địa phương để củng cố. Đối với chi đội 11 còn Trịnh Khánh Vàng chỉ huy, việc tiến hành công tác chính trị gặp nhiều khó khăn. Các đồng chí phải đi từng bước lúc đầu gặp gợi ý hỏi chuyện công tác chính trị giúp cho anh em tổ chức đọc thông tin, báo chí, học văn hóa, tạo phấn khởi trong anh em chiến sĩ. Mặc khác các đồng chí đến gặp chi đội trưởng Trịnh Khánh Vàng qua trò chuyện đề cập việc chủ động tác chiến, triển khai du kích chiến để tránh bị động khi giặc tấn công và từ đó nâng cao cho bộ đội về tinh thần, tổ chức và chiến đấu. Chi đội trưởng tỏ ý tán thành nhưng rồi không thực hiện.

Một vấn đề cần thiết cấp bách nữa là đào tạo cán bộ địa phương. Các đồng chí tổ chức ngay lớp quân chính tại Bù Lu – Chuối Nước đào tạo cán bộ cho chi đội 11 và các huyện. Lớp quân chính do anh Dự, anh Quân phụ trách huấn luyện, là lớp quân chính có lồng vào giảng dạy thêm chương trình Việt Minh nên cán bộ ra lớp có thể công tác trong quân đội và phong trào ở địa phương. Song khóa 1, các đồng chí rút kinh nghiệp, dựa hẳn vào cán bộ có uy tín tại địa phương vận động bà con tại chỗ giúp đỡ mọi mặt sinh hoạt để mở tiếp 2 lớp đào tạo cán bộ Việt Minh ở Xóm Vinh và Chà Là. Lớp Việt Minh do anh Dụ giảng dạy, ông Bảy Tàu, chị Ba Lành lo tiếp tế và phục vụ. Sau đó, mở tại Bàu Chanh lớp quân chính khóa 2 đặc biệt về công tác tổ chức chính trị trong quân đội.

Ở huyện Trảng Bàng, các đồng chí cũng tổ chức đưa một số cán bộ đi học lớp chính trị ở khu 8 và tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ Việt Minh, cán bộ dân quân và cán bộ các đoàn thể ngắn ngày ở Giòng Điều và Thổ Địa (lớp cán bộ Việt Minh ở Giòng Điều do anh Cát, anh Kiều Phan, anh Dũng phụ trách). Qua việc mở lớp đào tạo cán bộ mà bộ đội, cơ quan tỉnh, huyện có thêm cán bộ hoạt động và có số cán bộ Việt Minh về công tác ở các thôn xã trong tỉnh.

Cũng khoảng thời gian tháng 4, 5/1946, đồng chí Dương Bạch Bằng cán bộ Tổng công đoàn Nam Bộ lên Tây Ninh gặp các đồng chí Ban lãnh đạo tỉnh đề xuất vấn đề tổ chức nghiệp đoàn Cao su ở Tây Ninh. Được tỉnh đồng ý, đồng chí Dương Bạch Bằng tổ chức 2 công đoàn cơ sở cau su Cầu Khởi, Bình Linh và Công đoàn cơ sở Bến Củi. Sau đó hình thành Liên đoàn cao su Tây Ninh do đồng chí Lâm làm thư ký. Từ đó tại các sở cao su có phong trào đấu tranh dưới sự lãnh đạo của công đoàn ngành, các hình thức đấu tranh rất phong phú: lãng công, đổ mủ, vẽ sơ đồ đồn địch, nội ứng cho bộ đội đánh đồn, đưa lực lượng khỏe ra tiền tuyến… Ngày 1-5-1946, Liên đoàn cao su đã vận động công nhân viên chức biểu tình đấu tranh đòi nghỉ ngày quốc tế lao động, cuộc đấu tranh giành được thắng lợi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh của mình, người công nhân cao su được nghỉ ngày 1/5. Anh chị em công nhân rất phấn khởi tin tưởng tổ chức cách mạng đã đem lại quyền lợi cho họ. Từ đó, tình hình chung trong toàn tỉnh có chiều hướng nhích dần lên chứ không bị tan rã như ý đồ mong muốn của giặc Pháp dùng thế mạnh quân đông đè bẹp phong trào kháng chiến ở Tây Ninh.

Tháng 6-1946, Hoàng Thọ dẫn một trung đội võ trang với danh nghĩa bảo vệ tổ tác chiến của Khu từ chiến đấu ở khu Lạc An về Tây Ninh. Bộ đội Hoàng Thọ hoạt động độc lập, không quan hệ với địa phương, đến đâu đóng quân thì bắt dân ở đó phục vụ nhiều mặt, phô trương lực lượng, chuẩn bị mặt trận… nhưng khi nghe Tây tấn công thì rút quân đi chỗ khác. Thời gian bộ đội Hoàng Thọ về Tây Ninh không lâu nhưng gây nhiều ảnh hưởng xấu trong nhân dân địa phương. Đến năm 1947, Khu rút bộ đội Hoàng Thọ đi nơi khác.


(1) Anh Dương Minh Châu có hoạt động trong phong trào sinh viên ở Hà Nội, rồi phong trào quần chúng yêu nước ở Campuchia, sau đó cách mạng tháng 8 anh trở về Nam bộ và được Xứ giới thiệu về Tây Ninh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:44:11 AM
*
*   *

Giặc Pháp sau mấy tháng tập trung càn quét tìm diệt lực lượng kháng chiến, thấy không thể bình định ngay được Tây Ninh bằng biện pháp quân sự đơn thuần, phải giở ngón đòn thâm độc có âm mưu từ trước: dùng Cao Đài đánh Việt Minh. Từ tháng 4 đến tháng 8/1946 giặc Pháp tiến hành cuộc vận động đưa Phạm Công tắc từ Ma-đa-gát-ca về Tòa Thánh. Chúng nắm Trần Quang Vinh và mua chuộc Phạm Công Tắc, đưa Tắc, Vinh về kêu hàng bộ đội Cao Đài do các tên Nguyễn Thành Phương, Trịnh Minh Thế… chỉ huy và dùng uy tín Phạm Công Tắc cùng một số chức sắc trong hội thành lôi kéo tín đồ Cao Đài công khai theo Pháp chống Việt Minh.

Để thực hiện mưu đồ trên, ngày 20-5-1946, giặc Pháp nắm được Trần Quang Vinh qua Vinh nắm bọn chỉ huy lực lượng võ trang (Phương, Thế…) Vinh tổ chức cuộc tiếp xúc giữa bọn chỉ huy và các sĩ quan Cao Đài với tên chủ tỉnh Tây Ninh Mê-na-giơ (Ménage) và tên chánh mật thám Ba-de (Bazin) tại Tòa thánh. Hai bên thỏa thuận; “Ngày 8/6/1946 vào lúc 16 giờ sẽ trình diện 320 binh sĩ Cao Đài ở bưng biền mới trở về trước đền thánh. Ngày 9-6-1946 ký “thỏa ước Bính Tuất” gọi là “thỏa ước Ménage – Vinh”. Trong thỏa ước có điều khoản: Đại biểu Cao Đài thỏa thuận giải tán chi đội 8. Các chi đội phải nạp cho nhà cầm quyền quân sự Pháp. Bộ Tham mưu Pháp sẽ võ trang lại cho quân đội Cao Đài đủ số khí giới để bảo vệ Tòa thánh Tây Ninh. Thỏa ước không giải quyết toàn bộ vấn đề quân sự và cá điều kiện tự do tín ngưỡng. Nhưng Ménage và Bazin có cho biết rằng một bản “hòa ước” quan trọng phải do cấp trên ký kết với Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc khi ngài hồi hương.

Trần Quang Vinh tiếp tục tiếp xúc với Thống đốc Nam Kỳ là Cédille và chánh văn phòng Prémolle bàn việc hồi hương của Phạm Công Tắc. Ngày 28-8-1946, Phạm Công Tắc về đến Vũng Tàu. Tắc nói ngay với Bazin: “Kết cuộc thì cũng Pháp Việt đề huề mà nhất là thái độ của Cao Đài trong giai đoạn liên minh với Pháp”. Phạm Công Tắc về Tòa Thánh ngày 30-8-1946, tiếp xúc với Pháp và ký hiệp ước về quân sự ngày 8-1-1947.

Thực hiện “thỏa ước Ménage – Vinh (9-6-1946)” và hiếp ước quân sự 8/1/1947 của Tắc với Pháp, chi đội 8 của cao Đài lần lượt rút khỏi Rừng Nhum về Tòa Thánh, để lại một nhóm do Luyến, Thế chỉ huy ở rừng Giồng Nầng, hành động giết người cướp của…

Tên Xương phó Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh lấy một số tiền quỹ của Ủy ban, trốn về thị xã.

Thế là giặc Pháp công khai thực hiện âm mưu nắm lấy bọn đầu sỏ Cao Đài để đưa lực lượng võ trang về hàng Pháp, chuẩn bị đối phó với kháng chiến.

Âm mưu của Pháp và việc công khai làm tay sai của một số chức sắc cao cấp Cao Đài, ta biết trước và đến nay đã lộ rõ trong hành động cụ thể như vậy, nhưng ta vẫn rất mực chủ trương đoàn kết, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Ta liên lạc với Phạm Công Tắc đề nghị đưa người của Đạo vào Ủy ban tỉnh và bàn việc thành lập Hội Liên Việt. Mãi đến lúc sắp sửa ra mặt phản bội, họ còn lập lờ cử người ra thăm dò ta. Ta vẫn đón tiếp chu đáo tại Cây Chò và Xóm Mía (xã Ninh Điền). Và khi ta thành lập Hội Liên Việt tỉnh (1947) Phạm Công Tắc đưa anh là Phạm Trung Kiên ra dự, ta đề cử Phạm Trung Kiên làm phó chủ tịch Hội Liên Việt.

Chủ trương tạo phản của giới chức sắc Cao Đài đã rõ, tuy chưa đánh ta, nhưng đã thực sự đi với Pháp. Tình hình chuyển sang dạng phức tạp hơn, ta phải đối phó với âm mưu của Pháp và mưu đồ tạo phản của họ.

Tình hình ngày càng khó khăn, tỉnh đã lên báo cáo mấy lần với Xứ ủy. Tháng 9/1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận đại diện Xứ ủy Nam bộ về kiểm tra tình hình ở Tây Ninh. Sau khi nghe báo cáo và nắm tình hình cụ thể, đại diện Xứ ủy nhất trí với nhận định tình hình và các chủ trương giải quyết công tác kháng chiến của tỉnh. Đồng chí bàn về sự lãnh đạo mặt trận tỉnh, góp ý kiến cho địa phương về mối quan hệ giữa các đồng chí với nhau về việc chuẩn bị củng cố xây dựng Đảng. Các việc tồn tại có liên quan đến cấp trên của các ngành, đồng chí sẽ bàn với Khu và Xứ giải quyết.

Xứ ủy nhất trí sẽ giải quyết ngay tình hình Ban chỉ huy chi đội 11 Tây Ninh để Đảng nắm, lãnh đạo chặt chẽ quân đội trước tình hình kẻ thù chính đã lôi kéo bọn phản động trong Cao Đài cấu kết nhau chuẩn bị đánh phá ta. Đại diện Xứ ủy trao đổi cụ thể với Khu trưởng Nguyễn Bình, đến giữa quí IV/1946 Khu quyết định rút chi đội trưởng và chính trị viên chi đội 11 về Khu chuyển công tác khác vì Ban chỉ huy chi đội không làm được việc củng cố và chỉ huy quân đội kháng chiến lại gây ra một số việc lủng củng nội bộ. Và sau đó Khu quyết định điều động đồng chí Nguyễn Văn Dung, chi đội trưởng chi đội 6 về giữ chức chi đội trưởng chi đội 11 và chỉ định đồng chí Nguyễn Hữu Dụ làm chính trị viên chi đội 11.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:44:54 AM
Đặc điểm tình hình đáng chú ý ở Tây Ninh, ngoài vấn đề Cao Đài ra còn có vấn đề biên giới Việt Nam – Campuchia. Các biến cố lúc Pháp mới tái chiếm, xúi giục đồng bào Khơme gây xô xát đổ máu ở biên giới đến nay đã tạm ổn. Nhưng cuộc kháng chiến còn lâu dài, cần phải có bộ phận công tác vận động đồng bào Khơme. Nay có bộ đội do anh Ngô Thất Sơn chỉ huy từ Hải Ngoại về đến Tây Ninh. Các đồng chí vận động, anh Sơn đồng ý và báo cáo lên trên chính thức đề nghị xin anh ở lại địa phương lo công tác Khơme vận vì anh biết tiếng Khơme và am hiểu phong tục tập quán người Khơme. Được trên chấp thuận, bộ đội anh Ngô Thất Sơn ở lại tỉnh Tây Ninh. Địa phương hết sức giúp đỡ về mặt kinh tế, tài chánh, liên lạc, địa điểm v.v… tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đơn vị hoạt động. Nhiệm vụ của đơn vị không những hoạt động ở 4 tổng có đồng bào Khơme ở Tây Ninh là Khăng-Xiêng, Chơn Bà Đen, Ta-pen-duyn, Băng-Chơ-Rum mà còn dần dần mở rộng ra quan hệt chặt chẽ với Khu Đông Nam Campuchia. Nhờ có cán bộ biết tiếng Khơme và bộ đội có trang bị vũ khí tốt nên rất thuận lợi cho công tác tổ chức đồng bào Khơme vào các Hội cứu quốc kháng chiến. Đơn vị này phát triền dần lên, sau thành lập bộ đội Xi-vô-tha, có căn cứ riêng, có xưởng sản xuất vũ khí riêng. Ảnh hưởng hoạt động của đơn vị Xi-vô-tha khá tốt và rộng rãi trong đồng bào khu đông Campuchia, góp phần ổn định tình hình biên giới lúc kháng chiến. Đến cuối năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận lên Tây Ninh với danh nghĩa Xứ triệu tập các đồng chí đảng viên đang hoạt động ở Tây Ninh họp hội nghị đảng viên. Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá đúng tình hình vừa qua, xác định rõ âm mưu chung của giặc Pháp và âm mưu lôi kéo Cao Đài để phá vỡ mặt trận đoàn kết dân tộc của tỉnh, chống lại kháng chiến. Hội nghị cũng xác định các chủ trương đối sách vừa qua của tỉnh là đúng đắn kịp thời, đã bước đầu gỡ được một số khó khăn. Nhưng trong nội bộ còn một số việc chưa tốt, một số đồng chí chưa thật sự thể hiện vai trò đảng viên cùng nhau góp công sức khắc phục khó khăn chung. Hội nghị đã nhất trí với phương hướng nhiệm vụ phải làm sắp tới là tiếp tục củng cố và phát triển các mặt: chính quyền, mặt trận, quân đội và thành lập tỉnh ủy. Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy gồm 5 đồng chí Nguyễn Hữu Dụ, Trần Thuần, Phạm Tung, Nguyễn Trọng Cái, Trần Kim Tấn. Ban Chấp hành bầu đồng chí Nguyễn Hữu Dụ làm Bí thư Ban Chấp hành Tỉnh ủy. Cũng trong cuộc họp này, tỉnh ủy đã tổ chức kết nạp đảng viên mới để bổ sung cho các ngành tỉnh và 2 huyện. Các đồng chí: Dương Minh Châu, Trần Văn Lượng, Phạm Văn Uyển, Võ Văn Truyện, Phan Văn Hoai và Bùi Văn Lôi được kết nạp vào Đảng. Các chủ trương về các mặt công tác đảng, chính quyền, mặt trận, quân sự được hội nghị nhất trí thực hiện là:

a) – Về Đảng, tiếp tục củng cố và phát triển Đảng để vững về chất lượng và đông về số lượng, có cơ sở Đảng trong khắp các cơ quan, đơn vị, thôn xã.

b) – Về chính quyền, tiếp tục củng cố các cơ quan hành chánh đã có, tìm người tiến bộ có uy tín bổ sung, củng cố tổ chức và lề lối làm việc cho từng bộ phận, giúp đỡ điều kiện cho các Ty, các ngành hoạt động… Nhằm xây dựng củng cố tổ chức hành chánh có hệ thống hoạt động từ trên xuống giới.

c) Về quân sự, đẩy mạnh công tác chính trị trong quân đội, phát triển dân quân du kích, lấy quân cho tỉnh phát triển chiến đấu bằng võ khí thô sơ, nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích trong tỉnh.

d) – Về kinh tế, chủ yếu là lương thực, cố gắng tiến hành sản xuất tự túc để giải quyết vấn đề lương thực một cách cơ bản. trước mắt bằng mọi cách tổ chức rút gạo từ vùng tạm chiếm về các tỉnh Miền Trung Nam bộ cho nhu cầu của quân đội, cơ quan và nhân dân.

e) Với Cao Đài, tích cực chuẩn bị đối phó với tình hình lực lượng võ trang Cao Đài đi với Pháp đánh lại ta, bám sát, nắm vững, nâng cao tinh thần yêu nước với quảng đại tín đồ Cao Đài. Cố gắng vận động số chức sắc cao cấp Cao Đài vào khối đoàn kết dân tộc, hạn chế sự cấu kết của họ với Pháp. Sẵn sàng vận động binh sĩ Cao Đài khi bọn phản động bắt buộc họ đánh lại ta. Đồng thời ta chuẩn bị và cất giấu lương thực, tài liệu, vật dụng đề phòng biến, chuẩn bị lực lượng đề kháng cho quân đội. Chú ý tổ chức dân quân du kích, chuẩn bị thêm đường giao thông liên lạc từ trên xuống dưới, sẵn sàng phân tán và tuyệt đối bí mật hoạt động của các cơ quan và cán bộ.

(https://lh3.googleusercontent.com/WyYvLRQfrFpAKDKabDTcEq8o7JV2o0MMOE_n4EY9VroobYfpsCSOM05ix2Sme5eBzAqgbG9Kg_fk5oBaksAGdFcq5YhRwmu34yCtRicPNuPXjpW77Ey21XLxgJZYNh7pEN3f9nVFKN2P_hQPUGJfG13X9DF_w_oHJ8_V-NlSzCFXMK0sExn3fdK1XfVlEs_GN5rohiZKDWlVEBkmln6FqAGTyaykn-pzvQ4r1xfrCxBGlqEE8jvcEQ9SdpnAMCRFp7BVgGFjwx16Uw9mJ1S0v3RCJTnPCadTbiJst62CHSGVqUNeXTEtPUC6gV46rD3n0N-d1I3HLjC25i2nngV5kAIGQix_a4uWDCglbJV8jlBq1pWK2-wK5AgA_TaamCLWJIhXrEsucSXqwnytMnnGNkXucAvi36fRexNhlpC_mkovNyzpWvAKcpQ2TF24Unw1kNorbQRkgaKqub3jKgFWDff17Avog8TsVadJCgl_j3rJpq2Ezmq6F3o0yp6PwPwc5_8EHHETCsFkzpAWBOAxSHxpZZceGL-KEkndlC3E87fYvU_hcKYLaXD_qYIMSAC5WezoQW5yY1p6miySQ3cRIwLrRm-6Xn3rwSigWSA=w303-h450-no)

Đồng chí NGUYỄN HỮU DỤ
Bí thư Tỉnh ủy (12-1946 đến năm 1949)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Hai, 2018, 05:45:27 AM
Hội nghị đảng viên cuối năm 1946 có ý nghĩa như một đại hội tỉnh đảng bộ, kết thúc một giai đoạn đảng rút vào bí mật hoạt động (dưới hình thức tự giải thể từ cuối năm 1946), mở ra một thời kỳ phát triển mới của Đảng bộ Tây Ninh. Hội nghị đã xác lập những yếu tố căn bản về tổ chức và chủ trương để tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên.

Các chủ trương của tỉnh Đảng bộ được toàn thể trên dưới nhất trí quyết tâm thực hiện. Các mặt hoạt động kháng chiến được tiến triển nhanh mạnh hơn trước. Nhất là công tác xây dựng Đảng được tiến hành mạnh mẽ, ý thức Đảng, ý thức đoàn kết, quan điểm giai cấp, ý thức tổ chức, tinh thần phục vụ cách mạng được củng cố và nâng cao từ trên xuống dưới và có tác dụng ra cả cán bộ ngoài Đảng. Số cơ sở có đảng viên được tổ chức chi bộ hoạt động chính thức lần lượt hình thành (cuối quí IV/1946) hai chi bộ đầu tiên được chính thức thành lập là chi bộ Ủy ban hành chánh tỉnh, chi bộ Ban tuyên truyền tỉnh. Các đồng chí đảng viên trong chi bộ Ủy ban hành chánh: Thuần, Châu, Lượng, Uyển (do đồng chí Thuần Bí thư); chi bộ Ban tuyên truyền có các đồng chí: Nhơn, Oanh, Liên (do đồng chí Nhơn Bí thư).

Việc kết nạp đảng viên, xây dựng cơ sở đảng, được tiến hành nghiêm túc theo trọng điểm. Trong các cơ quan và thôn, xã lần lượt đều có cơ sở đảng (hai chi bộ xã đầu tiên được hình thành là chi bộ xã An Tịnh (Trảng Bàng) lúc đầu có đảng viên ở Lộc Hưng sinh hoạt ghép, và chi bộ xã Thanh Điền (Châu Thành) lúc đầu có một số đảng viên ở xã Thái Bình và Long Thành sinh hoạt ghép. Đến cuối năm 1947, các xã có đủ đảng viên tách ra chi bộ cơ sở từng xã. Hai chi bộ đầu tiên trong lực lượng võ trang tỉnh là chi bộ văn phòng chi đội 11 và chi bộ ban tình báo liên lạc của chi đội (cũng hình thành đầu năm 1947).

Vào khoảng tháng 10/1947 các huyện ủy Châu Thành, Trảng Bàng bước đầu được chỉ định. Uy tín của Đảng, của cách mạng được ủng cố trong nhân dân. Phong trào kháng chiến trong tỉnh bắt đầu phát triển tốt.

Qua bước củng cố tình hình các mặt công tác ở Tây Ninh, Xứ ủy đánh giá phong trào kháng chiến ở Tây Ninh đang lên nhưng khó khăn còn nhiều; nhất là đối phó với âm mưu của địch. Vấn đề cán bộ phản được quan tâm tăng cường. Theo ý kiến đề nghị của Tây Ninh từ trước, Xứ cho thêm 3 cán bộ chính trị. Có thêm cán bộ, tỉnh ủy chỉ đạo củng cố ủy ban hành chính tỉnh, ngành quốc gia tự vệ cuộc tỉnh. Tỉnh tổ chức uộc hội nghị có đủ đại diện của quân, dân, chính bầu Ủy ban hành chánh tỉnh. Đồng chí Dương Minh Châu được chính thức bầu làm chủ tịch ủy ban, đồng chí Trần Thuần làm phó chủ tịch, đồng chí Phạm Văn Uyển, Tổng thư ký, đồng chí Nguyễn Văn Dung ủy viên quân sự, đồng chí Trần Thuần kiêm ủy viên xã hội, ông Hồ ủy viên kinh tế. 3 cán bộ Xứ mới bổ sung: hai đồng chí Lê Lai và Nguyễn Văn Nữ được bố trí phụ trách Quốc gia tự vệ cuộc và nữ đồng chí Nguyễn Thị Phụng sau bố trí phụ trách Tỉnh hội phụ nữ cứu quốc (19450). Thế là cán bộ chính trị, quân sự cấp tỉnh đều được bổ sung nhưng đa số là cán bộ các nơi khác đến, từ Côn Đảo về… Cán bộ là người địa phương rất ít. Cán bộ các nơi đều có năng lực, có kinh nghiệm, có tầm nhìn rộng nhưng chưa am hiểu tình hình địa phương, chưa thông cảm hết tâm lý nguyện vọng các tầng lớp nhân dân địa phương. Cho nên khó khăn còn nhiều. Nhưng bước đầu đã làm chuyển biến các mặt công tác kháng chiến ở Tây Ninh, nhất là Đảng đã nắm chặt quân đội và đảng bộ thực sự là trung tâm chỉ đạo kháng chiến. Nhưng các mặt hạn chế cũng không tránh khỏi, do đó các đồng chí đều nhất trí, quyết tâm đào tạo cho đủ cán bộ địa phương cho phong trào cách mạng trong những năm sau.

Đã 15 tháng trôi qua (tháng 4-1945 – 1-1947) từ đội quân viễn chính Pháp đặt chân lên mảnh đất Tây Ninh hòng thống trị nước ta một lần nữa. Đó là khoảng thời gian đầy rẫy những khó khăn thử thách. Ta mới xây dựng chính quyền, lực lượng võ trang tự phát tản mạn do cán nhân nắm giữ, phải rút ra nông thôn vừa bảo tồn lực lượng, vừa chống giặc trở lại. Hiệp ước sơ bộ 6/3 và thỏa hiệp án 14/9 là hai điểm mốc thời gian, ta lợi dụng lúc địch mới chiếm, chưa ổn định, phát động quần chúng trước kỳ kháng chiến, đào tạo cán bộ, rút người vùng địch chiếm, tiến hành vừa củng cố tỉnh, vừa tập trung xây dựng huyện xã, vừa bước đầu đối phó tình hình Cao Đài. Địch mới chiếm bằng lực lượng Lê Dương, tay sai còn ít, tiến hành cán quét ven thị trấn, chiếm giữ trạm giao thông quan trọng, đang loay hoay xây dựng bộ máy cai trị ở thị xã, thị trấn. Sau 15 tháng, ta từ bị động lúng túng bước đầu đã chuyển tình thế mọi mặt phát triển mạnh, nhanh, tranh thủ thời gian lúc địch còn mới chiếm để xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng ý chí và lực lương quần chúng có tổ chức, có cán bộ, có lực lượng võ trang phát triển, đặc biệt nổi lên phong trào nhân dân kháng chiến đánh giặc giữ làng, thanh niên vào võ trang, quần chúng chống càn, tiếp tế nuôi quân, thông báo tin tức, tham gia phá hoại giao thông. Một vấn đề khác đặc biệt được rút ra nữa là lực lượng võ trang cách mạng nhỏ được phát triển lên, còn lực lượng võ trang không cách mạng lớn thì tàn lụi tan rã. Sự kiện Đảng bộ được thành lập đảm trách lãnh đạo chặng đường kháng chiến kế tiếp của quân dân Tây Ninh vững bước tiến lên.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:19:34 AM
CHƯƠNG HAI

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG,
ĐẨY MẠNH KHÁNG CHIẾN TOÀN DIỆN
LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU DÙNG CAO ĐÀI PHẢN ĐỘNG ĐÁNH VIỆT MINH
VÀ CHÍNH SÁCH BÌNH ĐỊNH CỦA GIẶC PHÁP (1-1947 – 5-1951).

1/ - Củng cố lực lượng, đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn Cao Đài phản động:

Ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Quân và dân Tây Ninh từ đây bước vào thời kỳ cùng cả nước kháng chiến, toàn dân, toàn diện và lâu dài.

Từ đầu năm 1947, thực dân Pháp dốc sức bình định Nam bộ, coi đây là khâu then chốt trong chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của chúng. Để bình định có hiệu quả, chúng thực hiện âm mưu lôi kéo các phe nhóm tôn giáo phản động, lập các đảng phái và mặt trận quốc gia giả hiệu nhằm chia rẽ hàng ngũ kháng chiến và tạo thêm lực lượng chính trị, quân sự cho chúng, với quốc sách “dùng người Việt đánh người Việt”.

Đi đôi với việc xây dựng lực lượng quốc gia phản động (Partisan) mà nòng cốt là công giáo, tại Tây Ninh, việc lôi kéo giới chức sắc, quân đội và đồng bào tín đồ Cao Đài về phía Pháp, đưa họ vào con đường chống đối kháng chiến, luôn luôn là vấn đề thực dân Pháp ưu tiên ráo riết thực hiện.

Sau khi ý hiệp ước quân sự (8-1-1947) giữa Pháp và Phạm Công Tắc, giặc Pháp tiếp tục dùng nhiều thủ đoạn nắm chặt Phạm Công Tắc, một số tướng tá và chức sắc cao cấp Cao Đài, thúc đẩy họ chống lại ta. Đêm 30 Tết Bính Tuất (21-1-1947) tại tòa thánh Tây Ninh, Pháp làm lễ trao cho quân đội Cao Đài nhiều súng các loại. Cao Đài rải truyền đơn, một mặt chống chế việc quân đội Cao Đài hàng Pháp là dùng kế “Hán Tín” để lấy súng Pháp sau đánh lại Pháp, mặt khác kêu gọi lãnh đạo Việt Minh giao chiến trường Tây Ninh cho chúng. Đồng thời, chúng gởi giấy mời đại diện quân, dân, chính của ta vào Tòa thánh hội đàm.

Ngay trong đêm 30 Tết, lực lượng liên quân của Khu 7 do tham mưu trưởng Huỳnh Kim Trương chỉ huy tấn công vào khu Tòa Thánh nhằm phá lễ trao súng giữa Pháp và Cao Đài. Các chiến sĩ đột nhập được vào khu tòa thánh và nổ súng nhưng không gây thiệt hại gì đáng kể mà hậu quả lớn là tạo cớ để bọn phản động cho là Việt Minh diệt đạo… Cuộc tấn công này không có sự thông báo với lực lượng của tỉnh nên không được địa phương tham gia. Lúc này chủ trương của tỉnh ủy là hết sức khôn khéo tránh tạo cho bọn phản động Cao Đài cớ để chống lại ta. Lễ trao súng vẫn được diễn ra. Lực lượng liên quân của Khu sau cuộc tấn công rút về Gia Định ngăn quân đội Cao Đài tràn xuống.

Chi đội 11 sau khi thay đổi ban chỉ huy, chuyển văn phòng về vùng Bàu Chanh. Ở đây, tuy ít dân nhưng có thế rừng lớn, có lương thực là trung tâm của 2 huyện Châu Thành và Trảng Bàng rất thuận lợi cho việc chỉ huy toàn chiến trường. Văn phòng chi đội lúc đầu đóng tại chiến khu Yên Thế của đại đội 3. Văn phòng tiến hành chấn chỉnh và củng cố tổ chức, các bộ phận tham mưu, chính trị, các ban quân nhu, quân báo… Binh công xưởng cũng được luyện chuyển từ Xóm Mía sang vùng Trà Vong và phân đội Z được thành lập làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, đồng thời có kế hoạch phát động xây dựng khu căn cứ kháng chiến lâu dài.

Từ lúc chấn chỉnh, đại đội 3 chuyển sang vùng khu 4 của tỉnh lập chiến khu Yên Thế ở Bố Bịch (Bàu Chanh). Đại đội 2 chuyển xuống vùng Trảng Bàng lập chiến khu ở rừng Bời Lời. Đại đội 1 vẫn ở bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Đông, nhưng chuyển khu căn cứ lên rừng Cây Chò, Xóm Mía và rừng Hòa Hội, 3 đại đội nằm ở 3 khu vực then chốt của 2 huyện trong tỉnh, được đồng bào ủng hộ tiếp tế. Các đại đội chuẩn bị bám chặt địa bàn chống giặc Pháp và phản động Cao Đài. Ban chỉ huy chi đội chỉ đạo tiếp tục củng cố các vị trí đóng căn cứ và phân chia vùng hoạt động và nhiệm vụ hỗ trợ chiến đấu cho các đại đội.

Các đại đội bám chắc địa bàn, chống càn quét bảo vệ nhân dân, bảo vệ chính quyền, yểm trợ đắc lực cho các đoàn cán bộ xây dựng cơ sở. Trong một thời gian ngắn, các đại đội đã có một số trận thắng vang dội, như trận đánh của đại đội 3 vùng đông bắc Gò Dầu diệt trên 50 tên địch, thu 20 súng. Tiếp đó là trận đánh địch tại Trà Nguồn (An Tịnh) của đại đội 2. Năm xe bọc thép địch bắn đại bác 20 ly dọn đường cho bộ binh tiến vào làng. Anh em ta đã sẵn sàng, bình tĩnh chờ cho xe địch tiến ra giữa cánh đồng Trần Minh Ngọc đại đội trưởng dùng đại liên làm súng lệnh. Anh bắn chết ngay tên xạ thủ đại bác trên xe địch. Các chiến sĩ đồng loạt nổ súng. Anh Ngọc rà đại liên bắn bọn bộ binh và diệt tiếp các tên bắn đại bác khác. Địch núng thế quay xe tháo lui, có chiếc đã bốc cháy. Anh Ngọc cho lệnh xung phong. Chúng bỏ xe chạy thục mạng. Ta diệt 5 xe địch, thu 1FM, và trên 10 súng trường. Địa điểm này về sau thành tên là Rừng 5 xe.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:20:20 AM
Sau trận Trà Nguồn không đầy 1 tháng, đại đội lại đánh thắng lớn. Địch đi làm 3 mặt vào Trung Hưng giáp An Tịnh (thuộc Củ Chi ngày nay) và cho một cánh 14 xe cơ giới vu hồi bao vây tiêu diệt 2 đại đội của chi đội 6 (Sài Gòn, Gia Định). Đại đội 2 nghe súng nổ nhiều, biết là địch càn, lập tức cấp tốc chi viện cho đơn vị bạn. Các anh chạy băng qua Bàu Cá Chạch, đến nơi vừa lúc cánh quân vu hồi của địch đang khép kín vòng vây. Đại đội 2 dàn hàng ngang áp sát địch và đồng loạt nổ súng. Bất ngờ bị đánh xuyên hông, cánh quân này không còn sức chống cự nữa. Ta xung phong diệt địch, đốt xe… Thấy cánh quân vu hồi bị bẻ gãy, toàn bộ quân Pháp núng thế co lại. Hai đại đội của chi đội 6 phản công phối hợp với đại đội 2 của chi đội 11 nổ súng tiến công quyết liệt. Địch phải cho pháo bắn yểm trợ để rút quân. Trong trận này ta diệt 14 xe cơ giới, hơn 10 tên địch, thu 2 trung liên 13,2 ly và gần 100 súng trường.

Ban chấp hành tỉnh ủy xem xét thêm các diễn biến mới trong âm mưu địch, khẳng định địa bàn chính của Tây Ninh, mối quan hệ của Tây Ninh với Gia Định, Chợ Lớn…, chỉ đạo các ngành khẩn trương tiếp tục thực hiện nghị quyết đại hội đảng viên, phát huy thắng lợi Hiệp ước 14/9 chủ động chuẩn bị mọi mặt, sẵn sàng đối phó với các hành động cấu kết đánh phá kháng chiến của Pháp và phản động Cao Đài. Cơ quan mặt trận Việt Minh và Ban tuyên truyền tập trung cán bộ xuống xã, ấp tiến hành ngay các đợt tuyên truyền giáo dục quần chúng, đưa quần chúng vào các tổ chức cứu quốc tham gia kháng chiến và ủng hộ kháng chiến, kêu gọi đồng bào lương và giáo đoàn kết chống lại âm mưu giành dân và đánh phá kháng chiến của địch. Vấn đề cốt yếu là nắm và giáo dục lực lượng quần chúng. Ai nắm được quần chúng là người ấy thắng. Giặc Pháp muốn dùng người Việt đánh người Việt, lôi kéo phản động Cao Đài nắm tín đồ đi vào âm mưu Pháp. Ta muốn tiến hành kháng chiến thắng lợi, muốn chống các âm mưu của địch đều phải có lực lượng quần chúng và toàn dân võ trang chống giặc. Tỉnh ủy nhấn mạnh thêm, cái lõi bên trong phong trào quần chúng là lực lượng cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng phải quan tâm đúng mức vấn đề đào tạo cán bộ địa phương và tổ chức phát triển đảng viên ở các ngành và cơ sở. Đối với vấn đề truyền đơn và giấy mời của Cao Đài, Tỉnh ủy chủ trương chống lại truyền đơn Hàn Tín “lòn trôn” của bọn chức sắc phản động bằng cách giải thích trong sinh hoạt đoàn thể chứ không dùng truyền đơn giấy tờ đối lại. Với việc mời vào Tòa Thánh hội đàm, lần đầu tiên trong Tỉnh ủy không đồng ý cử đại diện ta vào, với lý do lực lượng võ trang của kHu đã đánh vào Tòa Thánh, họ lại vừa rải truyền đơn thì đại biểu đi vào cũng không cản được sự tạo phản của họ mà lại có thể nguy hiểm… Nhưng qua trao đổi phân tích, các đồng chí thấy cần phải đi vì nếu không họ sẽ có lý do đổ lỗi cho ta thiếu thành tâm và tuy không hy vọng quy phục được họ mà đây là cách làm chậm việc dấy phản và có thể biết được ý đồ của họ và nêu cao thiện chí chính nghĩa của ta, Tỉnh ủy giao cho đồng chí Bí thư chuẩn bị: dự kiến nội dung hội đàm, chọn đại biểu đủ uy tín, tiếng nói có trọng lượng và tổ chức đoàn đi vào Tòa Thánh, bảo đảm giành phần thắng về ta.

Đoàn đại biểu của ta gồm 3 đồng chí: đại diện cho Đảng (đồng chí Nguyễn Hữu Dụ), đại diện chính quyền (đồng chí Dương Minh Châu), đại biểu quân sự (đồng chí Trần Văn Đẩu). Đoàn thông qua nội dung các vấn đề có thể đưa ra bàn cãi khi cần thiết: đại diện Đảng giữ vai trò cố vấn, chỉ phát biểu khi cần thiết, đại biểu chính quyền phát biểu là chính, đại biểu quân đội phụ thêm khi nói đến quân sự. Đoàn ta thông báo cho Phạm Trung Kiên – anh Phạm Công Tắc – báo với Phạm Công Tắc ta nhận lời mời và Đoàn xe sẽ vào Tòa Thánh hội đàm.

Khi đoàn đi, các đồng chí trong tỉnh ủy và anh em trong chi đội đều có ý kiến đưa lực lượng võ trang vừa bí mật, vừa công khai để bảo vệ. Các đồng chí trong Đoàn phân tích, đưa lực lượng quân đội đi chỉ làm vấn đề thêm nặng nề, và đưa đi bao nhiêu cho vừa… Vậy, chỉ 3 người đi với tay không là ổn nhất. Đoàn đi tới Rạch Rễ, chuẩn bị qua sông thì có liên lạc hỏa tốc của tỉnh đưa thư cho Tỉnh ủy nói: “Họ rài truyền đơn nữa, thái độ họ vậy, vào là nguy hiểm, nên cân nhắc thêm”.

Sau khi qua đò Rậm Rễ, đoàn được đón vào nhà Phạm Trung Kiên và nghỉ đêm tại đây. Mãi đến chiều ngày sau họ mới đưa đoàn vào Tòa Thánh với lý do là thường mỗi buổi sáng Tây hay vào Tòa Thánh.

Tiếp đoàn chiều và đêm hôm đó có 4 sĩ quan và 1 người tóc dài chấm gáy mặc thường phục, về sau ta mới biết là một tên Quốc dân đảng, mưu sĩ của họ (tên Hồ Hán Sơn).

Họ trình bày quan điểm của họ, cho là pháp yếu nên mới ký hòa ước nhưng Mỹ lại không muốn và Mỹ sợ cộng sản. Mà Cụ Hồ là Cộng sản. Nếu có một chính phủ không phải Cộng sản thì chiến tranh sẽ chấm dứt ngay. Khi xây dựng đất nước hùng cường rồi, Quốc dân sẽ bầu cử chính phủ, lúc bấy giờ, Cụ Hồ lại ra ứng cử, thì chính phủ vẫn là Cụ Hồ thôi.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:22:40 AM
Việc hợp tác với giặc, họ giải thích là muốn tạo cho mình có lực lượng nên phải dùng kế Hàn Tín, lợi dụng Pháp để lấy súng. Tuy vậy, họ vẫn chưa được Pháp tin lắm, việc ta đánh vào Tòa Thánh vừa rồi là điều kiện để cho Pháp tín nhiệm hơn, nay mai đủ mạnh rồi, họ sẽ quay lại cùng với ta đánh Pháp. Và để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Pháp tin, họ đề nghị ta giao mặt trận Tây Ninh cho họ, ta sẽ có thêm sức mạnh để kháng chiến ở nơi khác. Bù lại, họ sẽ giúp đỡ ta điều trị thương binh, người đau ốm và có thể giúp cho ta cả thuốc men, đạn dược.

Phái đoàn ta kiên nhẫn phân tích ý đồ xâm lược nước ta của thực dân Pháp và đế quốc, âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của chúng, khẳng định chỉ có chính phủ Cụ Hồ mới thật sự đoàn kết toàn dân lãnh đạo cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc. Đồng thời, đoàn cũng khẳng định lập trường quyết tâm giữ vững chiến trường Tây Ninh của lực lượng kháng chiến tỉnh.

Họ đuối lý nhưng cố nhiên là không thể chấp nhận ý kiến của ta được. Mọi người nói:

- Vậy để chờ mai các anh gặp giáo chủ, xem người có cao kiến gì hơn không.

Chiều hôm sau gặp ta, Phạm Công Tắc nói rất lâu về tinh thần của hiệp định 6/3 và thỏa hiệp án 14/9. Ông cho là ta đã nhân nhượng với Pháp nhiều quá. Sau cùng, ông ta cũng đề nghị là ta nên rút về phía bên này sông Vàm Cỏ Đông (bên tả ngạn) vì ông ta đã thỏa thuận với Pháp là Cao Đài sẽ chịu trách nhiệm ở bên này sông, nếu ta không rút đi, Pháp sẽ dùng xăng đốt rừng, thiệt hại sinh linh.

Ta trình bày về ý nghĩa thắng lợi to lớn của hai văn kiện ta ký kết với Pháp, đồng thời cũng đề nghị ông ta rút quân đội Cao Đài do Luyến, Thế chỉ huy đang đóng ở Giồng Nầng về, vì họ chuyên đi cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng và mời ông ta ra kháng chiến, bảo đảm sẽ đưa ông ta về Ủy ban kháng chiến Nam bộ.

Đầu tiên ông ta nói không biết gì về hành vi của Luyến, Thế. Ta đưa bằng chứng cụ thể, ông ta thở dài: “Anh em quân sự cũng có những việc làm phiền phức, nhưng ở đây tôi cũng khó nói”. Về việc ra kháng chiến, ông ta nói: “hiện nay tôi chưa nghỉ đến”, nhưng cũng có nói thêm là “về việc quân sự nếu hai bên có gì với nhau thì cũng nên giữ việc liên lạc giữa các anh và tôi, gửi cho tôi những bản tin tức và trước mắt cho xin hai văn bản hiệp định và thỏa hiệp án bằng tiếng Việt”.

Cuộc gặp gỡ kết thúc ở đó. Tuy không thu được kết quả cụ thể, nhưng cuộc hội đàm đã làm bộc lộ âm mưu thái độ câu kết với thực dân Pháp. Đồng thời chứng tỏ cho họ và quần chúng tín đồ biết thiện chí và lập trường kháng chiến kiên định sáng ngời chính nghĩa của ta.

Ngay sau đó, giặc Pháp thực hiện giao ước với Cao Đài, tiến hành các cuộc càn quét lớn vào vùng hữu ngạn sông Vàm Cỏ. Chúng cho tàu chiến chở quân cặp dọc theo hữu ngạn sông Vàm Cỏ đổ bộ vào nhiều mặt tấn công chiến khu của ta ở vùng Gò Nổi, Cây Chò, Xóm Mía, Rừng Nhum… Với lực lượng lớn chúng bao vây chia cắt, lùng sục trong rừng. Lúc này các đại đội của chi đội 11 đã phân tán xuống các địa phương. Các cơ quan chính quyền, mặt trận… nằm trong vòng vây của giặc, phải tự lực, phân tán tránh né. Đồng chí Dương Minh Châu cùng một số anh em phân tán rút ra rừng Cây Chò nhưng lại lọt vào vòng càn quét của địch và bị giết.

Qua cuộc càn lớn của giặc, đồng bào trong vùng bị giặc đốt nhiều nhà cửa, bắn giết một số trâu, cướp bóc một số tài sản khác, gây thêm khó khăn trong cuộc sống. Các cơ quan tỉnh, huyện đóng trong khu cơ sở nhà ở bị giặc đốt sạch. Về người, tỉnh chịu một tổn thất lớn, đồng chí Dương Minh Châu, chủ tịch Ủy ban tỉnh đã hy sinh!...

Sau cuộc càn lớn này, Tỉnh ủy đánh giá âm mưu cấu kết giữa Pháp và Cao Đài đã bắt đầu thực hiện cụ thể, tình hình đã chuyển sang bước mới. Tỉnh ủy nhắc các ngành, các cơ quan các cấp phải nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy, tiến hành theo kế hoạch phân tán theo vùng, triệt để giữ bí mật, bảo tồn và phát triển lực lượng, đồng thời tạo điều kiện hỗ trợ nhau khi cần thiết. Tất cả các bộ phận phải dự trữ lương thực, vật dụng, cất giấu chu đáo và triệt để tiết kiệm từng hột muối, trang giấy… Lực lượng quân sự phải gọn nhẹ biên chế, phải củng cố đơn vị chiến đấu, chuẩn bị tổ chức chiến đấu phân tán, chuẩn bị lương thực, đạn dược, giảm bớt những vụ đánh, những trận chống càn không cần thiết, mọi đơn vị phải tiết kiệm đạn dược, phải tìm cách lấy đạn địch để dự trữ, đảm bảo cho chiến đấu lúc tình huống găng nhất và tạo điều kiện giúp đỡ cho du kích xã cùng hoạt động chiến đấu du kích, chiến đấu bằng hầm hào và vũ khí thô sơ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:23:17 AM
*
*   *

Chấp hành sự chỉ đạo của tỉnh ủy chi đội 11 và các lực lượng khác cố bảo toàn lực lượng ta lúc địch mới hung hãn tập trung sức nóng ra ban đầu. Nhưng lực lượng võ trang gặp rất nhiều khó khăn, địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần (cả Pháp, Cao Đài, Partisan). Lực lượng Cao Đài phản động thành lập nhiều tiểu đoàn (Pháp trang bị súng cho 4.800 binh sĩ Cao Đài theo hiệp định giữa Phạm Công Tắc và tướng Nyo của Pháp ký tại Đà Lạt ngày 8-1-1947). Chúng liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét truy tìm lực lượng ta. Đầu tiên, chúng đánh ta tại trận Bàu Cốp, trong khi lực lượng chi đội 11 phục kích đánh Pháp đi càn ở vùng Chà Là, Bàu Cốp. Giặc Pháp lọt vào vòng kích, bị quân ta vây đánh. Địch lâm vào thế bị động, ta đang xung phong diệt địch thì lực lượng phản động Cao Đài từ hướng Tòa Thánh vận động đến đánh xuyên hông chi đội 11, cứu cho Pháp thoát chết.

Sau trận đó, lực lượng phản động Cao đài bắt đầu tấn công vào căn cứ của văn phòng chi đội 11 đóng tại Bàu Chanh lúc 01 giờ khuya. Chúng định đánh bất ngờ: bao vây và thọc sâu 1 mũi vào lúc nửa đêm để chụp Ban chỉ huy chi đội. Ta có bị động nhưng chống trả kịp thời và rút ra khỏi vòng vây an toàn. Mấy ngày sau chúng lại tập trung lực lượng lớn bao vây và tấn công vào căn cứ Bàu Chanh lúc khoảng 15 giờ chiều Lần này chúng bao chặn và tấn công nhiều mặt. Ta, với lực lượng phân đội bảo vệ văn phòng và các bộ phận trực thuộc chi đội ở Bố Bịch đều có ý thức cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, tự trang bị, tự lực bảo vệ mình và kết hợp nhau chống trả địch, rút ra khỏi vòng vây không tổn thất gì đáng kể. Qua hai trận bất ngờ định tiêu diệt lực lượng chỉ huy chi đội 11 không thực hiện được, quân Cao Đài ào ạt đánh vào dân và kết hợp với quân Pháp liên tiếp càn quét lấn chiếm vùng căn cứ.

Lực lượng chi đội 11 tiếp tục đụng đội với địch mấy trận lớn. Trận Bàu Đôi từ xã Phước Trạch vô ấp Phước Bình, ta đánh lực lượng Cao Đài đi càn tại đây, ta bao vây sắp sửa tiêu diệt trung đội đi càn thì lập tức địch từ 3 mặt Vên Vên xuống, từ Bàu Đồn ra, từ Gò Dầu, Phước Thạnh lên tiếp viện vây đánh lại ta. Ta phải rút. Trận Đìa Xù ở Bến Cầu, ta đang truy diệt bọn Cao Đài phản động đi càn thì các phía Bến Cầu, Gò Dầu tiếp tục cứu nguy cho chúng.

Lực lượng phản động Cao Đài tung hoành phá phách. Chúng dùng lực lượng mạnh và đông, cứ 3 người 1 súng, bắt nhiều tín đồ đi theo làm con hôi đông đảo, mỗi cánh từ 400 – 500 đến 1.000 người. Là người địa phương chúng hiểu biết cả đường quanh ngõ tắt trong rừng và nhiều nơi có tai mắt của bọn phản động chỉ điểm. Chúng liên tiếp ngày đêm tấn công ta, kết hợp cả với sự mê hoặc tín đồ cuống tín, cầm cờ, giáo mác, tay không theo cùng lực lượng võ trang triệt phá làng mạc, vơ vét tài sản không chừa một cái rổ, ngọn rau… Khi đụng lực lượng ta đánh trả, chúng dùng thế đông người hò la, đạp xác nhau tràn tới. Thời gian này chiến trường Tây Ninh nóng bỏng, gian nguy, ác liệt cả ngày lẫn đêm, nhất là vùng căn cứ và vùng nông thôn quanh căn cứ.

Ở huyện Châu Thành, bọn phản động thực hiện chính sách tam quang: đốt sạch, phá sạch, giết sạch. Các xã chung quanh căn cứ: Phước Hội, Phan, Suối Đá, Thái Bình, Hòa Hội, Ninh Điền, Thanh Điền… bị chúng kết hợp với Pháp càn quét liên miên, bắn giết, lùa bắt cả trâu bò, đốt nhà cửa, gom dân về Tòa Thánh. Một tình trạng hỗn độn xảy ra cho quần chung địa phương. Người chí cốt với cách mạng thì phải đem gia đình, tài sản chạy luôn ra chiến khu, người nửa chừng thì kéo tài sản gia đình vào thị xã; số người tín đồ Cao Đài và chịu ảnh hưởng Cao Đài hoặc tùy thời thì dắt cả trâu bò, dỡ cả nhà cửa, chở thóc gạo tài sản vào nội ô Tòa Thánh. Đây là cơ hội cho họ, con hôi vơ vét của cải đồng bào và bọn lưu manh, cồn đồ cũng được dịp bắt giết, đốt phá không tiếc tay, làm cho làng mạc xác xơ tiêu điều, nhiều nơi trở thành vùng trắng dân.

Ở Trảng Bàng, phía hữu ngạn sông Vàm Cỏ, chúng càn quét gom dân các xã Long Khánh, Long Giang, Long Thuận phần lớn ra vùng thánh thất ở Bến Cầu, phía Đôn Thuận, Lộc Hưng, Phước Thạnh, Thạnh Phước… ra thị trấn Trảng Bàng, Gò Dầu. Cảnh ruộng vườn hoang hóa, nhà cửa đổ nát, cướp bóc, giết chóc xảy ra liên tiếp đổ trút lên đầu người dân gánh chịu.

Ngoài việc gom dân về vùng Tòa thánh, bọn phản động trong Cao Đài tổ chức ra “châu vi” ở thị trấn Trảng Bàng, Gò Dầu và vùng Bến Cầu, chúng còn gom dân về các thánh thất, biến các thánh thất từ dưới lên trên thành đồn lính có đông đảo nhân dân bị tổ chức thành ngũ liên gia bảo bao chung quanh, khiến cho chiến trường Tây Ninh ngoài hệ thống đồn bót Tây nay thêm hệ thống của Cao Đài phản động mở rộng thêm và ăn sâu lấn vào vùng giáp căn cứ ta (theo quy ước giữa Pháp và Cao Đài, các sở cao su, Hãng đường của Pháp thì do đồn Pháp đóng giữ, ở nội ô thị xã, thị trấn thì các đồn lính Pháp và Cao Đài tùy thuộc tính chất trọng yếu mà đóng xen kẽ nhau. Bên ngoại vi, từ phía tòa thánh ra hướng đông, bắc đông bắc, nam đông nam là do Cao Đài phụ trách, các đồn ngoài như: Trà Vọng (bắc) Bưng Bàng (đông bắc) Bàu Đồn, Cầu xe (Đông Nam)… Phía thị xã ra hướng Tây của huyện Châu Thành do Pháp đóng đồn (các xã Thanh Điền, Thái Bình, Trí Bình… Bên ngoài có vài bót Cao Đài, Bắc Rù, Bến Sót. Phía tây nam có bót Cao Đài ở Bến Cầu, Bàu Gò…).


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:23:47 AM
Khi tách được một số lớn dân đưa ra vùng của chúng kiểm soát, bọn chúng lại mở những cuộc lùng sục liên miên và các vùng rừng mà ta và đồng bào còn lẩn tránh. Chúng tiến hành phục kích thường xuyên các ngả đường, tổ chức các màng lưới thông tin dây chuyền khắp các hành lang, đầu mối giao thông của ta trong tỉnh. Bằng tiếng gọi con, bằng cách đuổi gà, bằng nhịp chày giã gạo, bằng tiếng giã bàng, là qui ước buộc quần chúng phải làm… để đồn lính Cao Đài gần đó biết được có ta đi qua vùng nhiều ít thế nào, võ khí ra sao để tổ chức lực lượng phục kích tương ứng với người và vũ khí của ta.

Những hành động trên được chúng tiến hành khẩn trương, liên tục gây căng thẳng tách ta ra khỏi dân, dân không dám giúp ta, quyết làm tê liệt mọi hoạt động kháng chiến, tiến tới tiêu diệt lực lượng ta. Trong thời gian này ta gặp vô vàn khó khăn, việc liên lạc giữa Trảng Bàng và Châu Thành cũng rất khó.

Tình hình cẳng thẳng trên các hành lang tiếp giáp, lực lượng các tỉnh có liên quan tới Tây Ninh và của khu đều bị địch báo động cho đồn bót Cao Đài đón đánh. Từ đó, Khu 7 có chủ trương quét sạch số được gài làm tình báo liên lạc nằm trong tín đồ Cai Đài. Việc tiến hành tảo thanh Khu không bàn gì với tỉnh. Tỉnh ủy hỏi Khu và có công văn tỏ ý không tán thành, đề nghị Khu ủy và Xứ ủy xem xét lại chủ trương của Khu 7. Do vậy Khu không giao việc tảo thanh cho Tây Ninh. Vụ thanh trừng này đã làm cho vấn đề thêm phức tạp.

Suốt năm 1947, lực lượng Pháp và phản động Cao Đài liên miên càn quét, đánh phá, gom dân, lập khu châu vi, đóng đồn… Lực lượng ta kể cả bộ phận của Khu hoạt động vùng ngoài tỉnh cũng còn yếu so với lực lượng địch. Thời gian đầu chỉ có chi đội 11 chống trả với bọn phản động Cao Đài và giặc Pháp. Chiến sĩ cùng với cán bộ, dân chính Đảng và đồng bào Tây Ninh chịu đựng mọi thử thách. Là chiến trường giành giật ác liệt giữa ta và địch: từ năm 1946, giặc Pháp liên tiếp càn quét, đốt phá hàng tuần, từ năm 1947, khi phản động Cao Đài nổi dậy, những cuộc càn quét, bao vây qui mô khốc liệt hơn, không phải xảy ra hàng tháng, hàng tuần mà là hàng ngày. Có đơn vị quân ta trong vòng 1 ngày phải đối phó với 5 trận vây tiêu của bọn phản động, súng không kịp lau chùi, người không kịp ăn cơm. Nhiều trường hợp trong 1 ngày hành quân bị nhiều lần phục kích bất ngờ, trinh sát không phát hiện được vì chúng quân đông bủa khắp. Hầu hết các đơn vị đều phải di động hàng ngày, bất chấp nắng mưa, võng bạt chưa có phải dựa vào cành lá của rừng cây. Đạn dược không có dự trữ, sản xuất còn non trẻ chưa được bao nhiêu. Quân địch lại hiểu rất rõ về khả năng bắn 2 loạt là hết đạn của ta. Chúng bào nhau súng máy của Việt Minh chỉ bắn 2 loạt là hết đạn. Nên mọi lần đụng độ chiến đấu là chúng xáp tới. Ta ít đạn phải rút, chúng lùng sục, vây đuổi đến cùng.

Về khả năng tiếp tế cũng quá khó khăn, gạo muối không có dự trữ, của đồng bào thì bọn phản động Cao Đài gom đi hoặc đốt sạch. Nhiều lúc anh em chiến sĩ muốn có bữa canh rau rừng nêm muối hoặc bữa cháo đủ no mà cũng không được. Chiến đấu ác liệt, liên miên, ăn uống đói cháo, đói muối quá thiếu thốn, 1 viên ký ninh phải khuấy nước cho mấy người uống, về sau phải uống dây cốc đắng thay cho ký ninh mà có lúc cũng không có. Nhiều anh em kể cả đơn vị trực thuộc, cơ quan, tình báo liên lạc… đi đường lên cơ sốt, cơn đau thì nằm lại giữa rừng qua cơn lại tiếp tục đi. Thuốc lá cũng là một nhu cầu lớn, thường anh em dùng lá rừng thay giấy để quấn, nhiều lúc thiếu thuốc phải bứt lá cỏ hôi vò phơi khô để hút cho đỡ ghiền. Quần áo mặc cũng quá thiếu thốn, người nào khá lắm mới được một bộ lành. Phải thay phiên nhau tắm giặt, đợi quần áo khô mới có cái mặc,… cho nên những năm đầu này giặc rận cũng hoành hành ghê gớm. Bộ đội đi chân đất, đầu trần, có đại đội tìm không ra một cái mùng… Tình hình chiến đấu, ăn, ở, ốm đau, vật chất thiếu thốn kéo dài ngày này qua ngày khác, tệ nhất là thời kỳ đầu của bọn phản động Cao Đài nổi dậy.

Đến khoảng tháng 4, 5/1947, Bộ Tư lệnh Khu 7 chính thức lập 3 liên quân: A, B, C bao gồm nhiều đơn vị của các chi đội 11, 12, 13, 15, 6, 5, 1 của các tỉnh miền đông, nhằm ngăn chặn sự phát triển của lực lượng phản động Cao Đài ra các vùng khác. Quân số mỗi liên quân khoảng 1,5 đến 2 tiểu đoàn hiện nay. Các liên quân lưu động chiến đấu trên chiến trường Tây Ninh và các tỉnh kế cận Tây Ninh. Các đại đội trong liên quân chủ yếu chiến đấu trong đội hình liên quân. Liên quân A do anh Nguyễn Văn Dung chỉ huy trưởng, liên quân B do anh Huỳnh Kim Trương chỉ huy trưởng (sau anh Tô Ký thay), liên quân C do anh Đức chỉ huy trưởng.

Liên quân đã đánh chống càn một số trận lớn như: trận Tầm Lanh (Phước Thạnh) liên quân A đã diệt gọn đại đội phản động Cao Đài, thu toàn bộ vũ khí. Ta hy sinh 6 đồng chí. Trận Xóm Mới, Gia Bẹ, ta chống càn giành thắng lợi, trận Bàu Chanh ta diệt nhiều địch, nhưng chúng ỷ quân đông tràn tới giành lại súng, trận Xóm Củi, Đìa Xù, Sa Nho, Xóm Trại, Ba Làng… ta diệt nhiều địch, chúng vẫn ồ ạt xung phong đạp lên xác đồng bọn lấy lại súng…

Qua một năm hoạt động tác chiến, các liên quân đã hạn chế được nhiều tác hại của địch gây ra, ngăn chặn không để chúng tràn qua các tỉnh khác. Bọn phản động Cao Đài có gom được dân nhưng không chiếm được đất. Dân ta số tách ra vùng kháng chiến, số bị gom cũng không giảm sút ý chí mà còn tăng thêm lòng căm thù giặc Pháp. Ngay như quần chúng tín đồ Cao Đài phải gom vào khu chu vi thánh thất, phải lìa bỏ xóm làng vườn tược cũng bất bình với giặc. Lực lượng võ trang Cao Đài tuy có phát triển thêm về số lượng nhưng chất lượng chiến đấy ngày càng giảm sút vì bộ đội chính quy của chúng lần lượt bị ta tiêu diệt, tiêu hao nhiều. Chúng phải bắt lính bừa bãi mới kịp bổ sung chỗ thiếu hụt, đồng thời phải tăng nhanh để thay thế một số đồn bót ở ngoại vi do Pháp dần dần giao thêm. Phần ta, việc tập trung các liên quân, không giải quyết thật cơ bản vấn đề Cao Đài phản động lại gặp khó khăn về hậu cần, nhiều địa phương bị bỏ trống, phong trào du kích ở một số xã có chiều hướng giảm sút. Các chi đội lần lượt rút về chi đội mình. Đến cuối năm 1947, lực lượng chi đội 11 tại chỗ đã có nhiều kinh nghiệm đánh, chống phản động Cao Đài và Pháp. Các tiểu đội, trung đội trong các đại đội hoạt động ở địa phương đã gọn nhẹ biên chế, tổ chức chiến đấu rất linh hoạt, kết hợp tốt với du kích và ấp làng chiến đấu, từng bước xây dựng lại dân quân du kích các xã kết hợp chiến đấu và ngăn giặc bảo vệ đồng bào. Công binh xưởng của chi đội đã kịp thời sản xuất được nhiều lựu đạn phóng (phóng đi xa vài trăm mét) góp phần đáng kể cho bộ đội ngăn bọn phản động từ xa. Loại súng phóng lựu đạn này cũng gọn nhẹ đơn giản dễ sử dụng. Nhiều chiến sĩ bắn quen ước lượng, tầm bắn rất chính xác. Cho nên từ khi chi đội 11 có lựu đạn phóng thì chiến thuật biển người của bọn phản động bị bẻ gãy từ xa. Chúng không còn bò la, tràn tới dễ dàng như đầu năm 1947 nữa.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:24:02 AM
Các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận cũng chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy phân tán hoạt động, giữ bí mật cơ quan. Ủy ban hành chính tỉnh và mặt trận tỉnh gọn nhẹ bộ máy trụ sở, đưa một số cán bộ xuống các huyện, xã bám cơ sở công tác. Ở Giồng Điều gần Đồng Tháp Mười tiện việc rút lương thực tiếp tế và liên lạc xuống Nam Bộ. Ủy ban tỉnh còn lại đồng chí Thuần, quyền chủ tịch, đồng chí Uyển, tổng thư ký, Ủy ban liên lạc được với Xứ ủy, báo cáo tình hình khó khăn ở Tây Ninh. Xứ chỉ đạo các tỉnh: Tân An giúp Tây Ninh về lương thực và Thủ Dầu Một giúp về tài chính. Ủy ban cho xây dựng kho chứa lúa ở Giồng Giữa và giao cho hai anh Tùng và Châu tìm đường đi dọc theo đồng “chó ngáp” (đồng bưng rộng mênh mông, chó chạy ngang cũng bạt hơi) lén băng qua lộ 1, cắt lên Rừng Nhum về huyện Châu Thành. Từ đây hình thành đường tải gạo bằng dân công đi gánh. Từng đợt dân công ở các xã đi gánh gạo. Tình hình thiếu thốn đói kém lúc này rất trầm trọng, không riêng bộ đội, cơ quan mà cả đồng bào cũng mót hết củ khoai, măng, bột để ăn. Hậu quả là do giặc càn quét liên miên, vụ mùa 45-46 và 46-47 không cày cấy được bao nhiêu, kế đến Cao Đài phản động cướp phá hết. Cho nên, tải gạo Tân An về để cứu đói và cho dân. Người đi gánh thì ăn no đủ, gánh gạo về lúc đầu để cho dân tự do sử dụng, về sau mới nộp 1/3 đến 1/2 cho quân lương tiếp tế cho bộ đội, cơ quan. Ủy ban được tăng thêm cán bộ, đến giữa năm 1948 chuyển về Bời Lời và trở lên địa điểm Cây Chò để tiện việc lãnh đạo chung toàn tỉnh, qua 1949 lên căn cứ Trà Vong.

Cơ quan tỉnh ủy lúc này chưa có văn phòng riêng. Tỉnh ủy khi cần họp bàn thi các đồng chí thường gặp nhau tại Ủy ban tỉnh, chỗ đồng chí Thuần, khi cần báo cáo lên trên hoặc chỉ đạo các huyện ủy bằng văn bản thì sử dụng Văn phòng của Ủy ban. Cấp huyện ủy cũng hoạt động như vậy. Tình hình khó khăn phức tạp, chống đối hai kẻ thù cấu kết nhau đánh phá kháng chiến ác liệt, vật chất và tinh thần đều căng thẳng nhưng quân dân Tây Ninh đã gan góc chịu đựng và ngày càng nổi lên những hạt nhân qua trui rèn thử thách. Đảng từng bước kết nạp vào đội ngũ của mình, tạo cho các ngành, các cấp từ cơ sở có thêm đảng viên và chi bộ nòng cốt lãnh đạo phát động quần chúng kháng chiến với kế hoạch chung chống giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm, khắc phục từng bước khó khăn, gầy dựng lại phong trào cho cuộc kháng chiến nhích dần lên.

Mặt trận Việt Minh tỉnh cũng tạm thời chuyển trụ sở xuống Giồng Điều. Trước tình hình càn quét của Pháp và phản động Cao Đài, nhiều cơ sở chính quyền và mặt trận ở các xã bị tan vỡ, mặt trận tỉnh chỉ đạo từng bước củng cố lại các đoàn thể. Về đoàn thanh niên: huyện đoàn Châu Thành từ đồng chí Hai A trưởng, đồng chí Ba Trưởng phó, sau đó anh Mẫn rồi Hai Tài. Huyện Đoàn Trảng Bàng lúc đầu đồng chí Mười Thạch phụ trách, sau đồng chí Tùng Quân. Hai huyện đều có phong trào từ đầu, đặc điểm về đoàn thanh niên và cán bộ Việt Minh lúc này tuyệt đại bộ phận là thanh niên (nông dân và học sinh) rất hăng hái có ý chí, có trình độ, được qua lớp huấn luyện Việt Minh và dân quân. Huyện Trảng Bàng có truyền thống hoạt động thanh niên từ tiền khởi nghĩa cách mạng tháng Tám nên phong trào khi chuyển qua kháng chiến chống Pháp, thanh niên vẫn còn nòng cốt mọi hoạt động và từ tháng 7-47 càng hoạt động mạnh do chính thức bầu ra Ủy ban Mặt trận huyện và đã hình thành 3 đoàn thể cứu quốc huyện, phần lớn từ cán bộ Việt Minh có thêm một số nhân sĩ trí thức. Hướng hoạt động chủ yếu là tổ chức quần chúng rộng, đều cả vùng địch chiếm, vận động nhân dân đoàn kết tương trợ chống càn quét, phòng gian bảo mật, tham gia phong trào dân quân tự vệ, xây ấp, làng chiến đấu, nuôi quân và đưa thanh niên đi bộ đội, du kích.

Đến lúc này, Cao Đài phản động cấu kết với Pháp càn quét đốt phá mạnh, phong trào ở các xã trong 2 huyện có bị chựng lại. Theo sự chỉ đạo của mặt trận, thanh niên tiến hành củng cố, từng bước đi lên. Cuối năm 1947, đại biểu 2 huyện đoàn: Mười Thạch, Hai Tài, Mười Hiển về dự cuộc họp ở Giồng Điều củng cố Ban chấp hành tỉnh đoàn, sau chuyển lên Cây Chò bầu lại Ban Chấp hành tỉnh đoàn (Ban chấp hành tỉnh Đoàn lúc đầu gồm các đồng chí Kiều Phan, Lũy, Chẵng. Về sau đồng chí Chẵng, Tỉnh đoàn trưởng). Phong trào thanh niên được củng cố thêm và tiến hành tổ chức dân quân tự vệ bảo vệ xóm làng. Phòng Dân quân Khu 7, bổ sung cho Tây Ninh 3 cán bộ: Huy, Cơ, Ẩn để huấn luyện dân quân. Lúc này phải dựa vào đoàn thể và mặt trận. Đồng chí chủ nhiệm mặt trận Việt Minh phụ trách trưởng ban dân quân tỉnh, chỉ đạo các đoàn thể đưa các lực lượng thanh niên nam, nữ vào tổ chức dân quân. Sau đó hình thành tỉnh đội dân quân (1949) Ban chỉ huy tỉnh đội dân quân gồm các đồng chí: Khôi (TĐT), Báu (TĐP), Huy (CTV). Lực lượng dân quân đầu tiên có 1 tiểu đội với 6 cây súng do lực lượng võ trang Trảng Bàng đưa sang. Tiểu đội đã làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ đoàn thể và mặt trận xuống xã An Tịnh tổ chức thí điểm dân quân. Phong trào quần chúng ở An Tịnh khá mạnh, nên tổ chức dân quân nhanh chóng được hình thành và phát huy tác dụng. Từ An Tịnh chuyển sang Lộc Hưng, Gia Lộc, Phước Thạnh, Thạnh Phước, tổ chức dân quân dựa vào đoàn thể lựa chọn đoàn viên tốt, tích cực đưa vào tổ chức huấn luyện chính trị (chương trình Việt Minh và 10 điều kháng chiến), quân sự và võ thuật. Được học đủ cả 3 mặt, anh chị em dân quân rất phấn khởi và hăng hái đi vào nhiệm vụ bảo vệ xóm làng, phong trào dân quân phát triển ngày càng mạnh trong huyện Trảng Bàng. Sau thí điểm Trảng Bàng, ta triển khai lên huyện Châu Thành, được huyện ủy và mặt trận ủng hộ triệt để, phong trào dân quân ở huyện Châu Thành cũng nhanh chóng lan rộng xuống các xã. Từ đó tiến lên tổ chức thành tiểu đội, trung đội dân quân nam, nữ có quy củ từng bước và mở rộng hoạt động như: thu thập tin tức, tổ chức trạm canh gác, quan sát thông báo kịp thời cho đồng bào cất giấu đồ đạc, tránh né địch càn. Về sau tiến lên tổ chức phá hoại giao thông địch, kinh tế địch…. Lực lượng dân quân cũng góp nhiều công sức trong công tác tải gạo từ Đồng Tháp Mười về tỉnh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:24:27 AM
Cơ quan Y tế tỉnh được hình thành - anh Đợi phụ trách - cơ quan đóng tại Xóm Trường (xã Hảo Đước). Từ bệnh viện Tây Ninh (thời Pháp) anh Đợi ra đi, đem theo bộ đồ mổ của bệnh viên để phục vụ kháng chiến. Lúc đầu cơ quan tổ chức thành 4 bộ phận: văn phòng Ty, Phòng khám bệnh có 4 cứu thương, Ban truyền bá vệ sinh, phòng dịch có 8 người, và phòng Hộ sinh do chị Tốt làm cô đỡ. Ty tổ chức Dân y xã tỉnh, hai anh Chánh và Trí phụ trách. Cơ qua Y tế phải tự lực lo mọi mặt. Ty tổ chức ban sinh sản ở Bàu Hang (Phước Vinh) đảm bảo tự túc lương thực cho Ty. Các mặt thuốc nam đều phải tự lo bào chế hoặc xin từ Nam bộ về, rút trong thành ra Cơ quan Y tế đã bước đầu giải quyết điều trị các bệnh thông thường cho cán bộ, chiến sĩ. Lúc nầy bệnh sốt rét rừng coi như phổ biến, thuốc ký ninh (quinine) không lo đủ, Ty phải nghiên cứu bào chế ký ninh bằng dây cốc đắng, vỏ sầu đâu, vỏ mãng cầu Xiêm và Hà thủ ô nấu thành thuốc nước hoặc nấu cao. Kết quả điều trị sốt rét bằng ký ninh tự bào chế cũng khá tốt. Các vết thương được băng bó và uống đỉa ngâm mật ong rất mau lành. Cán bộ ngành Y quá thiếu, Ty gởi đi đào tạo ở các khóa Y tá do Nam bộ mở và tự tổ chức nhiều lớp đào tạo cứu thương viên tại tỉnh trên 80 người. Có cán bộ, ngành Y tế phát triển thêm 2 phòng Y tế ở 2 huyện và 2 dân y xã huyện, về sau tổ chức 2 trạm xá Trà Siêm và Cây Chò có 20 giường bệnh, Ty còn điều cán bộ Y tế bổ sung cho đơn vị bội đội, trong đó có Y tá Trà sang phụ trách quân y bộ đội Sivôtha. Các phần giải phẫu vết thương cũng được tiến hành tốt, chăm sóc cho chiến sĩ, thương bệnh binh. Nhất là khi kết hợp với y sĩ Trạch (quân y D. 302) đóng ở Suối Tổng Du thì việc mổ xẻ, tháo khớp có gây mê, chỉ trừ trường hợp đại mẫu thuật mới đưa về Nam bộ. Ngành Dược của Ty cũng phát triển: nấu nước cất, nhận hóa chất từ Nam bộ về hoặc rút trong thành ra pha chế loại thuốc ống, thuốc tiêm thông thường. Khi Nam bộ phát triển điều trị bằng cấy Phi-la-tốp, Y tế Tây Ninh cũng cử người đi học và đem các dược liệu “nhao” khô về tổ chức cấy cho cán bộ, chiến sĩ và đồng bào. Công tác hộ sinh cũng phát triển khá mạnh, đoàn cán bộ tỉnh của Bảo sanh viện Huỳnh Thúc Kháng Nam bộ lên Tây Ninh mở nhiều lớp đào tạo cán bộ hộ sinh cho các xã trong 2 huyện. Cán bộ phụ trách đoàn là 2 chị Kỳ và Huệ. Chị Huệ sau ở lại phục vụ cho Tây Ninh luôn. Ty còn tổ chức một nhà an dưỡng cho 6 cán bộ lão thành của 18 thôn vườn Trầu, lên nghỉ ở Tây Ninh, nhà an dưỡng được cất tại rừng Sơn Tây gần sân lễ. Cụ Hồ (xóm Trường, Hảo Đước). Tây Ninh nuôi các cụ được 6, 7 tháng thì Nam bộ mời các cụ về dưới. Cơ quan Y tế tỉnh phát triển và đóng lâu nhất ở xóm Trường, và cập bờ Rạch Sóc Om, bờ Suối Tổng Du, đến khi có khu căn cứ địa Trà Vong; nhưng các bộ phận điều trị, an dưỡng… vẫn bám ở rừng Hảo Đước, Phước Vinh mãi về sau.

Cơ quan thủy lâm do đồng chí Năm Trung phụ trách, lúc đầu nằm ở tỉnh, sau nằm ở huyện Châu Thành vì rừng và nguồn lâm sản tập trung nhiều ở phía Bắc tỉnh là huyện Châu Thành, nguồn thu của thủy lâm là thuế làm cây, làm củi, dầu chai… Lúc đầu, kinh phí tỉnh chưa có, nguồn thu này cũng khá quan trọng. Lúc chi đội 11 ở Bù Lu – Chuối nước là nhờ nguồn thu ở các sở Củi của Châu Thành cung cấp… Sau này khi thiếu ta phải xin Nam bộ, nhờ các tỉnh giúp cho đến khi có thuế nông nghiệp.

Cơ quan quân sự, văn phòng chi đội 11 và các ban trực thuộc lúc đầu còn thiếu người, mỗi ban mới có 1, 2 cán bộ. Đồng chí Trần Văn Lượng ở văn phòng đảm trách luôn ban quân nhu, tiếp nhận anh Chín Quảng, anh Bảy Máy vào chạy lo quân lương, trang cấp cho bộ đội. Các anh vận động đồng bào tổ chức rút hàng, tiền, vật phẩm, lương thực từ thành ra, từ Campuchia về, từ khu 8 lên và kết hợp với bộ phận sinh sản của đại đội 3 để phục vụ các mặt cho các chi độ. Ban tình báo liên lạc – đồng chí Trương Văn Ca phụ trách, lúc nầy đảm trách 2 nhiệm vụ: lo cho công tác tỉnh báo lấy tin, vẽ sơ đồ bố phòng của địch phục vụ cho chi đội và đưa rước cán bộ về khu, cán bộ các nơi đến Tây Ninh. Ban đã tổ chức thành 2 bộ phận tình báo liên lạc ở 2 huyện Trảng Bàng, Châu Thành và thành lập tổ mật vụ Bố Bịch. Sau đó, tổ chức thành Ban Quân báo có 2 tiểu đội võ trang hoạt động chống Cao Đài phản động bảo vệ tài sản cho dân. Về sau sát nhập vào Ban tham mưu hình thành bộ phận trinh sát võ trang và bộ phận binh vận, quân báo, điệp báo, phản gián. Nói chung tùy tình hình diễn biến, Ban đã phục vụ kịp thời cho chi đội về địch tình cũng như các hoạt động của ta.

Ban Quân y của chi đội cũng được hình thành từ năm 1947, đóng tại Suối Bà Hảo. Ban quân y – đồng chí Thâu phụ trách thành lập quân y xã có mấy chục giường bệnh, chăm lo điều trị và cứu thương cho bộ đội. Thời kỳ này quân y xã rất thiếu thuốc men và dụng cụ y tế. Quân y cũng tự bào chế thuốc, tổ chức mua ở thành và xin ở Nam bộ về sử dụng như ngành dân y. Việc băng bó vết thương mỏ xẻ cũng dùng cả đỉa ngâm mật ong điều trị. Anh Thau đã cùng cán bộ quân y xã mạnh dạn áp dụng nhiều cách để bó xương, cưa chân cứu chữa kịp thời cứu sống chiến sĩ những ca cấp bách không thể chuyển về Nam bộ kịp. Thậm chí có lúc phải dùng cưa thợ mộc sát trùng kỹ để cưa cắt xương rồi dùng mọi cách cầm máu. Anh em chiến sĩ rất dũng cảm, gan dạ chịu đựng không rên la lúc mỏ xẻ, cưa cắt trong điều kiện không có thuốc mê, thuốc tê… Hoặc nhiều anh em bị sốt rét nặng lên cơn run dữ dội thì hai người bệnh vật lộn nhau cho người nóng lên đổ mồ hôi để qua cơn rét run… Ban quân y và quân y xã đóng khá lâu ở Suối Bà Hảo, do tổ chức bí mật địa điểm chu đáo, chỉ có bằng đường sông mới vào được y xá. Về sau chuyển lên khu Trà Vong, nhưng ở Suối Bà Hảo vẫn còn một bộ phận. Binh công xưởng sang vùng Bàu Chanh lên Trà Vong đóng bên tả ngạn Suối Tà Hợp từ năm 1947. Lúc này, hai đồng chí Tự và Ty phụ trách xưởng cũng mới có bộ phận rờ sạt bì đạn, sửa súng và làm lựu đạn. Lúc tình hình căn thẳng do Cao Đài phản động bung ra càn quét, xưởng cùng đi với văn phòng chi đội lên Bầu Văn Lịch đóng mấy tháng. Ở đây có thêm cán bộ và công nhân ở Sở Ba Son Sài Gòn ra tham gia kháng chiến. Ở Bàu Văn Lịch an toàn nhưng điều kiện tiếp tế, tiếp liệu khó khăn, xưởng chuyển về Doi-me, Suối Dây, Bến đu đủ (Bà Hảo). Tại đây, xưởng bắt đầu mở rộng việc nghiên cứu sản xuất một số vũ khí mới như lựu đạn phóng, mọc-chê. Nhất là lựu đạn phóng được sản xuất hàng loạt kịp thời phục vụ cho chiến trường Tây Ninh góp phần ngăn chặn bước tiến của phản động Cao Đài. Xưởng được mở rộng và tăng cường cán bộ cho tỉnh đội dân quân lập dân quân xưởng ở rừng Bời Lời (Trảng Bàng) do anh Tự chuyển sang phụ trách Văn phòng chi đội còn phụ trách tổ chức lớp đào tạo cán bộ chính trị sở cấp cho các đơn vị. Sau đó, tổ chức lớp quân chính và hình thành trường quân chính của chi đội.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:24:53 AM
Các mặt công tác đảng, chính quyền, mặt trận, các cơ quan dân chính, y tế, quân sự… đã được triển khai theo nghị quyết của Tỉnh ủy, cán bộ đã biết dựa vào mặt trận đoàn thể và quần chúng địa phương, biết dựa vào thế rừng, sông, suối ở Tây Ninh mà duy trì và phát triển tổ chức.

Các cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận đã vượt qua cơn biến loạn từng bước ổn định chỗ đứng chỉ đạo mọi mặt kháng chiến. Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh được củng cố Tỉnh ủy Tây Ninh cử đồng chí Lê Lại giám đốc quốc gia tự vệ cuộc (Công an) sang làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh. Đồng chí Trần Kim Tấn tỉnh ủy viên, Bí thư huyện Châu Thành được rút về thay đồng chí Lai làm trưởng ty Công an. Các ngành tỉnh lần lượt tăng cường cán bộ xuống hỗ trợ cho huyện, xã xây dựng, củng cố lại, bám đất, giữ dân cùng bộ đội ngăn giặc, ổn định tình hình.

Ở huyện Châu Thành, sau khi đồng chí bí thư huyện ủy được rút về tỉnh. Đồng chí An quyền Bí thư huyện ủy, sau đó bầu lại đồng chí Võ Văn Truyện, Bí thư kiêm chủ tịch ủy ban huyện. Cơ quan huyện chuyển từ Rạch Cái He về Giồng Cốt, Bưng Rô thuộc vùng cây cầy (Bến Sỏi) tổ chức thành Ủy ban kháng chiến hành chánh. Ngoài cán bộ tỉnh hỗ trợ, huyện còn đào tạo thêm nhiều cán bộ đủ phân bổ cho các ngành huyện như: công an, kinh tế, xã hội, thông tin, thủy lâm, huyện đội dân quân, giao liên, y tế, giáo dục… Mặt trận huyện và các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, nông dân cũng lần lượt có đủ cán bộ chủ chốt hoạt động. Lúc này phạm vi của huyện Châu Thành quá rộng, huyện tổ chức phân ra 2 khu: khu Hàm Ninh Thượng và khu Giai Hóa. Các đồng chí Bảo, Láng, Tiền phụ trách khu Hàm Ninh Thượng, các đồng chí Ngữ, Biên, phụ trách khu Gia Hóa. Tình hình các mặt trong huyện bắt đầu chuyển lên.

Phong tràn dân quân phát triển ngày càng mạnh ở 2 huyện. Tỉnh chỉ đạo phát động phong trào thanh niên xung phong, giao cho huyện đoàn, xã đoàn thanh niên phụ trách và hình thành các đội tuyên truyền xung phong. Từ đó, hai lực lượng thanh niên trong dân quân và thanh niên xung phong phối hợp nhau hoạt động nhiều mặt. Khi thì tiếp cận thị xã, thi trấn, châu vi, đồn bót địch phát loa tuyên truyền kèm theo võ trang đánh địch khi cần thiết, khi thì thanh niên và dân quân kết hợp phá đường, chặt cao su phá hoại kinh tế địch, khi thì đi dân công tải gạo, khi giặc càn thì giúp dân tránh né, cất giấu tài sản rồi bố trí ngăn địch, đánh địch bảo vệ đồng bào, khi địch rút quân thì giúp dân sửa lại nhà cửa bị đốt cháy, thu dọn tài sản còn lại.

Về công đoàn, qua năm 1947 các sở cao su ở Tây Ninh hầu hết có tổ chức công đoàn cơ sở. Các công đoàn cao su Bến Củi, Cầu Khởi, Trà Vỏ, Vên Vên, Ô-cô-nen… hoạt động khá mạnh. Ở đây, địch bị phá hoại nhiều mặt từ trong sở của chúng. Bọn mật thám theo dõi, phát hiện bắt hàng trăm cán bộ công nhân cao su (anh Châu Thái Lai hy sinh, chị Út Chị Huổng bị giết). Phong trào công nhân có thể bị thiệt hại nhưng vẫn chuyển lên, tỉnh tổ chức thành lập Liên hiệp công đoàn Cao su Tây Ninh kịp thời lãnh đạo đẩy mạnh mọi hoạt động của công nhân cao su góp công sức cho kháng chiến trong tỉnh.

Cơ quan mặt trận thời gian đầu còn phụ trách nông hội, đã đề xuất và được ủy ban tỉnh nhất trí việc tạm cấp ruộng đất các đồn điền của Pháp, của địa chủ phản động và ruộng công điền cho nông dân nghèo thiếu ruộng sản xuất làm ăn. Đồng thời mặt trận cũng chỉ đạo các đoàn thể cứu quốc củng cố và mở rộng hoạt động đưa bà con bung về vườn đất cũ, lấp vành đai trắng do địch lập càn quét gom dân trước đây. Việc này vừa đáp ứng yêu cầu của nhân dân vùng bị kềm kẹp, vừa phá thế vành đai trắng, vừa tạo điều kiện để quan hệ dân xây dựng cơ sở vùng yếu, vận động tiếp tế, nắm tình hình… Việc làm này còn có ý nghĩa tác dụng lớn góp phần đoàn kết nhân dân, mở vùng đẩy mạnh phát triển kháng chiến, tạo thế đấu tranh đòi được tự do đi lại sản xuất, thực hiện phương châm 3 vùng chiến lược. Về sau tiến hành công tác vận động đồng bào thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Phong trào diệt giặc dốt được các đoàn thể ở 2 huyện vận động đồng bào thực hiện khá tốt. Các cơ quan, bộ đội tổ chức học bổ túc văn hóa. Ban đêm mở lớp dạy cho đồng bào học quốc ngữ. Cả những ông cha, bà mẹ già cũng đốt đèn mang kiếng lão đi học. Dọc theo đường đi ở các xã vùng giải phóng có những trạm gác ngăn đường bằng tấm bảng đề i-tờ, tờ-i-ti, biết đọc thì đi, không biết chữ i thì về… Phong trào diệt giặc dốt ở các xã hoạt động tốt, nạn mù chữ được giải quyết dần dần ở những năm sau, nhiều nơi được huyện, tỉnh cấp giấy khen. Phong trào sản xuất tự túc lương thực cũng được vận động rộng rãi. Đồng bào tiến hành phục hóa, khai hoang, cấy lúa, phá rừng tỉa rẫy, trồng bắp, trồng khoai. Các cơ quan dân quân chính Đảng đều tổ chức ra 1 bộ phận đi lên vùng Hảo Đước, Tà Băng, Hòa Hội, Hòa Hiệp, Pra-ha-Miết, Rạch Tre… sản xuất lương thực. Việc rút gạo từ thành ra, gánh gạo từ Đồng Tháp về cũng được thực hiện. Từng bước, từng bước giặc đói bị đẩy lùi, các mặt công tác kháng chiến ở Tây Ninh vượt qua thời kỳ khốc liệt, khôi phục lại vùng nông thôn, tranh chấp, có dân có sản xuất, có phong trào kháng chiến khá toàn diện. Từ vùng căn cứ lớn của tỉnh bắt đầu xây dựng căn cứ lõm ở huyện được hình thành làm nơi trú đóng cơ quan, nơi tránh né chống càn của đồng bào vùng xung quanh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:25:17 AM
Cơ quan tuyên truyền tỉnh, ngoài việc đưa cán bộ xuống cơ sở kết hợp với huyện, xã tổ chức các đợt tuyên truyền lưu động, tỉnh còn tổ chức ra tờ báo Dân Quyền (từ 1946) (các đồng chí: Nhơn, Châu, Đảnh, Uyển, viết bài, ký tên chính danh hoặc bút danh). Phần in lúc đầy phải dùng đất sét trắng ở suối Cây Chò in thử, mỗi lần in được 15 tờ. sau đó, chuyển lên Xóm Mía, in thử bằng bột, bột nhẹ công nhồi hơn lại in được 30 tờ. Đến tháng 6/1948, tở lại Cây Chò vẫn tiếp tục in bằng bột và cử các đồng chí đi Nam bộ học in Stencil, đi nhà in Lý Chính Thắng học in Typô, đi Bình Thuận học in Lithô. Các đồng chí Trí, Sanh, Thệ, Hiệp, Choàng, là lớp cán bộ, công nhân đầu tiên góp phần công sức xây dựng bộ phận in ấn của Ty Thông tin. Nam bộ cho Tây Ninh 1 máy in và một số chữ chì, ta chuyển sang in Tippô, Stencil và cả in Lithô khi cần thiết. Từ đó, bộ phận in ấn của thông tin, tuyên truyền tỉnh hoạt động mạnh mẽ, in tờ báo “Tiền Phong” của Đảng và tờ Tin tức Tây Ninh. Riêng phần in Lithô rất đẹp, sắc nét nhưng mực và bản đá khó mua, ta chỉ dùng in những loại đặc biệt như tranh vẽ, tín phiếu… Cũng khoảng thời gian cuối 1948 bộ phận in dùng chiếc ghe lớn chở cả máy in, đồ nghề, tiện việc lưu động, nhiều địa điểm bảo đảm an toàn in ấn và lúc ấy cơ quan cũng chuyển về vùng Hảo Đước, Tà Păng ở sâu trong Bàu Cần Sen, Vịnh Cá Kết (Rạch Sóc Om), ở đây tiện việc sản xuất tự túc lương thực và chuẩn bị cơ sở làm giấy, ổn định bộ phận in ấn tài liệu đồng thời tổ chức lớp học, đào tạo cán bộ tuyên truyền.

Các phòng thông tin của huyện được hình thành từ năm 1947 và hoạt động khá tốt. Phòng thông tin huyện Châu Thành – Anh Có phụ trách, sau đồng chí Xuân Quyên phụ trách – đã tổ chức nhiều đoàn tuyên truyền lưu động xuống các xã, tuyên truyền lẻ hoặc tổ chức mít tinh ở các ngày lễ lớn và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, động viên đồng bào tham gia và ủng hộ kháng chiến. Tổ chức nhiều đợt tuyên truyền xung phong vào thị xã, vào các xã bị chiếm. Tổ chức các đoàn ca nhạc, phát tin, dán truyền đơn. Phòng thông tin huyện Trảng Bàng (đồng chí Vạn An phụ trách hoạt động sôi nổi hơn. Phòng đã tổ chức được phim đèn chiếu đầu tiên trong tỉnh, họa sĩ Thuộc quê ở Bến Cầu đã vẽ nhiều đoạn phim đèn chiếu có nội dung tốt tuyên truyền kháng chiến và khơi gợi lòng yêu nước chống ngoại xâm. Đội văn nghệ của huyện có diễn kịch ca hát kèm theo phát tin tuyên truyền, trong diễn kịch có kết hợp sử dụng phim đèn chiếu, gây được hứng thú cho người xem. Đội tuyên truyền lưu động có cả các cháu thiếu nhi múa giỏi hát hay kết hợp biểu diễn trong khi đi đọc tin phổ biến chính sách. Phòng có cả một tổ võ trang do đại đội 2 (sau tiểu đoàn 932) cử sang do Phòng thông tin quản lý luôn đi làm nhiệm vụ tuyên truyền xung phong sát thị trấn và đồn bót địch. Phòng tổ chức nhiều trạm thông tin ở các xã, các ngã đường liên xã, dán bảng in, hình ảnh tuyên truyền.

Lực lượng phản động Cao Đài đã gom được 9/10 tín đồ trong tỉnh vào chu vi đồn bót lớn nhỏ: Tòa thánh, Trường Hòa, Cây Xiêng, Bùng Binh, Cần Ván, Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu… nhiều nhất là ở Tòa thánh có đến khoảng 4 vạn người, các nơi khác khoảng 300 đến 500 gia đình mỗi chu vi. Bọn Pháp đã giao thêm cho họ đóng một số đồn bót lẻ sâu trong nông thôn và giáp rừng căn cứ của ta. Coi như bọn phản động có hang ổ ẩn núp, có vỏ bọc ngoài bởi tín đồ gom về và lực lượng chúng đã bị tiêu hao nhiều, không còn khả năng bung ra như ban đầu. Ta cũng đã lớn lên không bị tiêu diệt như chúng tưởng. Do đó, chúng phải khựng lại, thu hẹp phạm vi hoạt động do ta đã hình thành thế 3 vùng.

Tình hình chung bớt căng thẳng, nhưng giữa ta và tín đồ Cao Đài trong các chu vi vẫn tồn tại. Ngay nhân dân vùng căn cứ và tín đồ trong các chu vi cũng liên lạc được với nhau rất hạn chế. Đó là vấn đề phải tiếp tục giải quyết nhiều năm sau.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:25:44 AM
2/ - Xây dựng hệ thống căn cứ địa, mở rộng chiến tranh du kích, hình thành và phát triển lực lượng 3 thứ quân:

Sau khi thua nặng ở chiến trường Việt Bắc thu đông 1947 – bước sang năm 1948 thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang đánh kéo dài, đưa lực lượng trở lại bình định vùng đã chiếm đóng và lấn chiếm vùng tự do của ta. Đặc biệt ở các tỉnh Nam bộ, chúng dồn lực lượng bình định hòng biến nơi đây thành khu vực dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh xâm lược, thực hiện “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt hại người Việt”.

Bọn giặc Pháp ở Tây Ninh, sau một thời gian dài thực hiện âm mưu dùng Cao Đài phản động đánh Việt Minh, đã thu được một số kết quả nhất định. Gần 2/3 số dân, trong đó đến 9/10 là tín đồ Cao Đài bị gom vào các chu vi thánh thất, đồn bót làm vỏ bọc bên ngoài cho chúng. Phong trào kháng chiến trong tỉnh bị tổn thất khá nặng nề. Tuy vậy càng ngày chúng càng sa vào thế khó khăn bị động do sự tác động chung trên toàn bộ chiến trường cả nước. Số đông đồng bào bị gom về xung quanh đồn bót thánh thất đều có tâm lý oán ghét giặc Pháp, không đồng tình với hành động theo giặc của một số chức sắc và quân đội phản động. Mặc khác, họ đều mong muốn được trở lại quê cũ, gắn bó với vườn ruộng để yên ổn làm ăn.

Trong lúc đó, bước vào đầu năm 1948, tình hình các mặt của ta tuy còn nhiều khó khăn nhưng đã vào thế ổn định dần và trên đà đi lên. Các huyện ủy Châu Thành và Trảng Bàng được củng cố thêm một bước. Các xã dần dần có chi bộ xã và một số xã có Đảng ủy xã và bộ máy chính quyền, đoàn thể, mặt trận xã.

Ở huyện Châu Thành, năm 1948 lực lượng Cao Đài đóng bót Bến Sỏi. Ủy ban huyện dời về Bàu Hang. Giặc Pháp đẩy Cao Đài ra chốt bót bên ngoài để trực tiếp đối chọi với kháng chiến. Chúng có gây khó khăn cho huyện một phần, nhưng ta đã từng bước củng cố các ngành trong huyện và có kinh nghiệm chống phản động Cao Đài, nên huyện chỉ chuyển trụ sở Ủy ban vào địa điểm an toàn hơn thôi. Các mặt khác đều hoạt động bình thường và ngày càng mạnh lên. Nhất là Ban canh nông đưa 20 anh chị em và hơn 10 đôi trâu về Hốc Trại, Hốc Chó làm 40 ha ruộng tự túc. Ban sản xuất hàng năm thu trên 3.000 giạ lúa cho huyện và còn giúp giống, sức kéo cho dân ở Tà Nòn, Băng Dung, chót Lò Viêng… sản xuất làm ăn.

Ở huyện Trảng Bàng, lúc đầu Ủy ban huyện lâm thời hình thành tại Phước Chỉ, sau đó chuyển về Lộc Hưng được bầu chính thức, năm 1948 cơ quan huyện qua vùng Bời Lời (Đôn Thuận). Các ngành trong huyện dần dần được kiện toàn và bổ sung thêm cán bộ địa phương. Các ngành công an, kinh tế, huyện đội dân quân, thông tin, y tế, giáo dục… Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể nông dân, thanh niên, phụ nữ đều có cán bộ địa phương do tỉnh bổ sung và qua đó các lớp đào tạo do đồng chí Ba Cát phụ trách về hoạt động, đẩy mạnh các mặt kháng chiến tiến lên. Huyện trảng Bàng chẳng những lo cho công tác kháng chiến trong huyện mà còn lo phục vụ cho các lực lượng quân sự của chi đội 12, chi đội 6 (Gia Định) gần như thường xuyên đóng trên đất Trảng Bàng, ngược lại qua sự quan hệ của huyện mà các tỉnh Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An cũng hỗ trợ cho Tây Ninh và Trảng Bàng về tài chính, lương thực và rút vật tư kỹ thuật cần thiết cho kháng chiến ở Tây Ninh.

Một vấn đề cấp thiết đặt ra trong lúc này là cần phải xây dựng căn cứ địa để làm nơi đứng chân vững chắc cho các cơ quan lãnh đạo chỉ đạo của tỉnh, xây dựng nền kinh tế kháng chiến, tạo điều kiện thực hiện đường lối chiến lược chiến tranh nhân dân: kháng chiến toàn dân, toàn diện trường kỳ, dựa sức mình là chính. Quán triệt nhiệm vụ do Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu đề ra là:

- Đánh mạnh vào hậu phương của địch, gây cơ sở địch hậu, bóp nghẹt vùng kiểm soát của chúng.

- Phá hoại trọng tâm kinh tế địch (cao su) cắt đứt đường giao thông quan trọng…

- Mở rộng khu giải phóng, kiến thiết căn cứ địa bảo vệ lực lượng dự trữ, bảo vệ mùa màng của ta…

Trỉnh ủy Tây Ninh chủ trương gấp rút tìm chọn, xây dựng căn cứ địa của tỉnh. Tỉnh ủy phân tích, nhìn chung trong toàn tỉnh, Trảng Bàng là địa bàn trọng yếu của Tây Ninh và các tỉnh bạn lân cận. Ở đây hình thành thế tứ giác: Đức Hòa, Trảng Bàng, Bến Cát – Củ Chi (Hóc Môn). Trảng Bàng có nhân lực, tài lực, là nơi xây dựng thế và lực cho kháng chiến rất tốt. Nhưng căn cứ Bời Lời (Trảng Bàng) không đủ sức dung nạp, không trung tâm với cơ quan chỉ đạo cho một tỉnh, ta phải xây dựng căn cứ địa vững chắc ở phía trên liên hoàn với địa bàn trọng yếu này. Căn cứ địa phải đặt ở phía Đông Bắc tỉnh, vùng Trà Vong. Từ đây nối liền với căn cứ Bời Lời bằng hành lang ăn thông từ An Tịnh, Gia Lộc, Lộc Hưng lên Thanh Phước, Phước Thạnh và từ Trảng Bàng nối chặt với Hóc Môn, Đức Hòa, Bến Cát. Phía sau còn dựa vào Tây Bắc Thủ Dầu Một. Mặt khác, từ căn cứ địa Trà Vong (phía đông Bắc huyện Châu Thành lúc ấy) thông qua hữu ngạn sông Vàm Cỏ tỏa ra biên giới phía Tây giáp Campuchia và ăn thông xuống phía Nam đi Đồng Tháp… Như vậy, đứng chân tại căn cứ địa Trà Vong, mặt nhìn vào Thi xã, Tòa thánh, đầu não địch, hai tay một bên ôm vùng Trảng Bàng và Hóc Môn, Đức Hòa, một tay ôm vùng Châu Thành là kho người kho của, cả từ Đồng Tháp rút lên. Sau lưng căn cứ địa là rừng già bạt ngàn hiểm trở ăn lên tận Đông Nam Campuchia và Bình Long, Phước Long… Từ nhận định ấy Tỉnh ủy quyết định xây dựng căn cứ địa Trà Vong.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:26:16 AM
Địa giới khu vực Trà Vong: trước mặt là phía Nam, từ trung tâm cách Thị xã Tây Ninh khoảng 18 km đường chim bay, có những cánh rừng nhỏ xen lẫn trảng trống, rừng dầu thưa đến rừng dầy thông giáp biên giới Campuchia. Bên phải có rừng trảng xen nhau, có quốc lộ 22 chạy ngang qua, cách Trà Vong khoảng 8 km đường chim bay. Bên trái, cũng rừng trảng xen nhau, có đường tới đất Kê-đon đi Kà Tum (hiện nay là tỉnh lộ 4) cách rừng Trà Vong khoảng 12 km đường chim bay.

Trong căn cứ được chia thành 4 khu vực;

1/ - Khu vực văn phòng chi đội.

2/ - Khu vực các cơ quan tỉnh.

3/ - Khu vực binh công xưởng.

4/ - Khu vực dân cư.

Khu vực dân cư gồm có cá xóm:

-Phía phải, có xóm suối Trà Vong, xóm Dầu Lớn ngoài, để thông qua xóm Trường (Đước Hòa Bình).

- Đằng trước là xóm Trà Vong cũ, Trà Vong mới.

- Đằng sau, là xóm Dầu Lớn trong, xóm Ky, cao lên nữa là Bàu Văn Lịch.

- Phía trái là xóm Kê-đôn trên, Kê-đôn dưới và dẫn theo đường Trảng Dài thông với xóm Bà Hảo. Khoảng nầy sau hình thành xóm mới, xóm Rẫy mới, xóm Bàu Chanh mới.

Lúc đầu trong Khu căn cứ rất ít, trừ xóm Dầu Lớn có một số người ở cũ còn các xóm khác đều phải lập xóm cấy dân. Các huyện có trách nhiệm vận động đưa dân lên ở. Đội công binh của chi đội đến mỗi xóm tiến hành dọn rừng làm một ít nhà, mỗi nhà trồng vài cây chuối, cây ớt, 3 nhà đào 1 giếng nước. Làm được đến đâu đi tìm vận động bà con ở tản mát trong các vùng rừng về ở đến đó. Khu có đồng bào về ở các xóm rồi dần dần về đông thêm, bà con tự cất nhà thêm. Ta tìm giúp bà con các giống cây trồng: mì, bắp, chuối, lúa giống và tạo điều kiện cho bà con trồng tỉa ngay để sớm có lương thực tại chỗ, từng bước ổn định chỗ ăn ở, tiến lên tổ chức các đoàn thể cứu quốc, tổ chức dân quân du kích có trang bị võ khí và phát triển hầm hố chông, các chỗ hiểm yếu đào cả hào chướng ngại, hình thành vành đai bảo vệ xóm ấp trong Khu. Về sau, tổ chức lò rèn, rèn nông cụ sản xuất và võ khí thô sơ tự vệ. Các xóm đều lần lượt hình thành và ngày thêm đông, các mặt hoạt động và sinh hoạt thêm phong phú: trạm y tế, bình dân học vụ, thông tin…

Khoảng giữa năm 1948, việc xây dựng căn cứ đã chuẩn bị xong, văn phòng chi đội về ở khu trung tâm và các cơ quan Đảng, dân chính tỉnh lần lượt về ở trong khu vực đã qui định trong căn cứ Trà Vong.

Khu vực binh công Xưởng được bố trí bên kia suối Trà Vong qua Bàu Châu É. Xưởng ở khu vực tách biệt để tiện gài mìn, bố phòng bảo vệ nơi sản xuất võ khí.

Phân đội Z được tăng cường thêm, phiên chế thành đại đội A chịu trách nhiệm bảo vệ chung toàn căn cứ. Địa vực căn cứ rộng, đại đội A chỉ đủ sức làm nhiệm vụ canh gác tuần tiễu mặt tiền. Còn mặt hậu tăng thêm trinh sát bố trí kết hợp với tổ sản xuất tự túc và cùng các xóm Bàu Văn Lịch vừa làm nhiệm vụ trinh sát mặt hậu, vừa làm nhiệm vụ sản xuất và bảo vệ sản xuất. Ở mỗi xóm bố trí mấy chiến sĩ xuống cùng nhân dân tổ chức phát triển phong trào dân quân, đội du kích, tiến hành xây dựng hầm chông, hố chông, rào chiến đấu, về sau, xưởng cấp thêm lựu đạn gài, đạp lôi, bố phòng bảo vệ xóm ấp và căn cứ.

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, các cơ quan cũng bố phòng quanh khu vực mình ở, kết hợp với các xóm bảo vệ chung quanh căn cứ. Đồng thời giúp các xóm củng cố tổ chức đoàn thể, hành chánh, thông tin văn hóa, vệ sinh phòng bệnh và quy hoạch khu vực sản xuất chung cho toàn khu. Xây dựng nội quy ra vào căn cứ và thành lập Ủy ban bảo vệ căn cứ điều hành chung mọi việc trong khu.

Có căn cứ địa, ổn định chỗ ở các cơ quan tỉnh tiện việc quan hệ nhau chỉ đạo mọi mặt công tác trong tỉnh. Đồng bào trong khu yên ổn phát triển sản xuất lương thực, đời sống bớt khó khăn, các mặt sinh hoạt văn hóa, xã hội có điều kiện hoạt động. Các lực lượng quân sự có nơi luyện tập kỹ chiến thuật và mở rộng trường quân chính đào tạo cán bộ. Binh công xưởng có nơi ổn định phát triển sản xuất các loại võ khí.

Lúc căn cứ ổn định, ngoài việc vận động nhân dân góp ủng hộ đồng thau (cả lư hương), xưởng tổ chức bộ phận lên Núi Bà lấy phân dơi nấu diêm trắng (Salpétre) tạo thêm nguyên liệu, hóa chất cho xưởng sản xuất được nhiều loại võ khí: súng cối, súng Tôm Sơn, súng Ba-zô-ca, Bê ta, các loại mìn, Ba-xô-min cả loại giật và loại điện… vũ khí của xưởng đáp ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng võ trang tỉnh và chiến trường chung như cần diệt đồn thì có Ba-zô-ca, Bê ta, chặn diệt cơ giới có Ba-zô-min và trang bị thêm cho bộ binh súng tiểu liên Tôm-sơn, lựu đạn phóng… du kích có đủ mìn trái, đạp lôi xây dựng làng chiến đấu. Bê-ta diệt lô cốt lẻ, lựu đạn ném, gài chặn đường ngang ngõ tắt đề phòng biệt kích thám báo hoạt động lẻ…


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:26:44 AM
Song song với việc xây dựng căn cứ địa Trà Vong, Tỉnh ủy chỉ đạo cho 2 huyện Trảng Bàng và Châu Thành củng cố và mở rộng căn cứ Bời Lời, căn cứ Hòa Hội, Ninh Điền, căn cứ Bàu Chanh, Yên Thế, Lam Sơn (khu bốn) và tổ chức các hành lang nối liền giữa các căn cứ của huyện, khu với căn cứ địa tỉnh ở Trà Vong.

Huyện Trảng Bàng đã có chiến khu Bời Lời do Đại đội 2, chi đội 11 xây dựng từ cuối năm 1946. Ở đây, năm 1948 hình thành căn cứ, huyện Trảng Bàng cùng các cơ quan dân chính huyện và một số xã đứng chân hoạt động và chỉ đạo vào Gia Lộc, Thị trấn Trảng Bàng và Gò Dầu. Lực lượng võ trang của tỉnh (đại đội 2) được dân Trảng Bàng nuôi và hoạt động chống giặc, đồng thời xây dựng lực lượng dân quân du kích xã và du kích tập trung của huyện ngày càng trưởng thành. Các xã Đôn Thuận, An Tịnh, Thanh Phước, Phước Thạnh, Thạnh Đức đã có lực lượng du kích và hầm hào, gài chông, mìn chiến đấu chống giặc bảo vệ xóm làng. Du kích tập trung của huyện hoạt động khá mạnh đã cùng các đội võ trang tuyên truyền luồn sâu vào thị trấn Trảng Bàng, Gò Dầu tung lên đường 22 thọc sâu vào Vên Vên, Trà Vỏ hoạt động tuyên truyền, phục kích đánh địch. Đại đội 2 của tỉnh đã đứng chân vững vàng tại căn cứ, mở rộng chiến đấu chống địch càn quét, dồn địch dần từng bước lùi vào đồn bót lớn, mở rộng căn cứ, giữ vững các hành lang xuống các huyện, tỉnh bạn phía nam và đi lên suối Nhánh, Khu Bốn gần liền với căn cứ Trà Vong.

Ở khu bốn (của tỉnh) đại đội 3 chi đội 11 đã có chiến khu kháng chiến từ đầu ở Yên Thế, Lam Sơn (Bố Bịch, Bà Hảo), Bàu Chanh, đại đội 3 đã từng bước củng cố căn cứ và phát triển mở rộng. Căn cứ ăn thông lên Trâm Sụ, Suối Đá, Phan, Núi Bà, Ninh Thạnh và qua Chà Là, Bàu Cóp và Trường Đức, Quy Thiện. Đồng thời từ Bàu Chanh qua Bàu Chòi, Truông Bình Linh, Cầu Khởi, Truông Mít, Đất Sét, Suối Nhánh, Bến Củi, bung qua Núi Cậu, Ninh Thạnh, Dầu Tiếng. Đại đội 3 đã án ngữ phía Đông Bắc của căn cứ địa đồng thời cũng là lực lượng tiếp ứng cho hai đầu. Ở khu bốn, lực lượng dân quân du kích cũng đã phát triển khá mạnh, địch muốn càn vào Bàu Chanh cũng phải vất vả đôi phó với du kích địa phương ở dọc lộ 13 Phan, Suối Đá, hoặc dọc lộ 26, Chà Là, Bàu Cóp đến Truông Mít.

Ở phía bên này sông Vàm Cỏ từ Hảo Đước, Trí Bình lên Tà Păng, Hòa Hiệp, Xóm Giữa, Lò Gò ra biên giới Campuchia ở phía Bắc, rồi qua sông vòng xuống phía Tây là Khăng Xuyên, Hòa Hội, Ninh Điền đến tận Tam Long, Bến Cầu phía Nam, hầu hết là rừng lớn, rừng chồi xen lẫn trảng, bưng lầy gần liền ruộng lúa với xóm làng xôi đậu khắp vùng phía hữu ngạn Vàm Cỏ. Ở đây, có địa thế, có dân, có ruộng đất, có biên giới là điều kiện thuận lợi cho xây dựng căn cứ kháng chiến. Từ đầu, tỉnh đã hình thành căn cứ kháng chiến ở phía này, lấy huyện Châu Thành làm nòng cốt, sau khi chuyển sang tả ngạn sông Vàm Cỏ thì toàn bộ giao cho huyện Châu Thành và đại đội 1, chi đội 11 đứng chân ở vùng này hoạt động chống giặc. Huyện ủy Châu Thành và các cơ quan dân chính huyện lấy Hảo Đước, Trí Bình, Hòa Hội, Khăng Xuyên, Ninh Điền làm trung tâm đứng chân. Ở đây luồn qua bám Thanh Điền, Thái Bình tiến vào thị xã và từ Ninh Điền xuống Long Giang, Long Khánh, Long Chữ (Tam Long) đi qua Phước Chỉ xuống Đồng Tháp. Đại đội 1 cũng hoạt động khá mạnh giữ đất, giành dân. Sau khi Cao Đài phản động gom dân về Bến Cầu và Tòa Thánh, Châu Thành còn lại mấy ngàn dân dồn lại ở các xã Long Giang, Long Khánh, Long Chữ (Tam Long), Ninh Điền và ở Băng Dung, Đước Hòa-bình, ở Hòa Hiệp, cụm bên xóm Vịnh, xóm Trường, Bến Cây ổi, Rạch Tre, Vàm Sóc Om, Đá Hàn, Xóm Giữa, Lò Gò… Các xã đều phát triển dân quân du kích, địa phương ngay như xã Thanh Điền và xã Thái Bình sát nách địch ở Thị xã, đồn bót địch chằng chịt bao quanh xã nhưng du kích xã cũng khá mạnh, địch không sao diệt nổi, ngược lại chúng mất ăn, mất ngủ vì du kích. Lực lượng du kích tập trung của huyện và các bộ phận tuyên truyền xung phong, công an xung phong cũng hoạt động mạnh cùng với đại đội 1 của tỉnh và du kích xã đã góp phần xứng đáng trong chống giặc càn quét, giữ đất duy trì tốt căn cứ kháng chiến của huyện ăn thông với căn cứ địa Trà Vong của tỉnh, đảm bảo mặt liên biên giới phía Tây Bắc, phía Tây và Tây Nam của tỉnh, huyện an toàn, đồng thời giữ được thế liên hoàn giữa tỉnh, huyện và giữ hành lang thông suốt các tỉnh phía Nam, Đồng Tháp, Khu Tám.

Khi hình thành bộ đội Si-vô-tha đứng chân ở Tà Nón, Băng Dung, Chót Lò Viên (Tà Păng) và Tà Lơi, Tà Ét, Rạch Chích (Hòa Hội) mở rộng hoạt động qua biên giới Đông Nam, Đông Bắc Campuchia. Khu vực này gắn liền với căn cứ của huyện Châu Thành ăn thông lên căn cứ địa tỉnh, tạo thêm hành lang liên lạc hoạt động cho cách mạng của hai nước láng giềng Việt Nam – Campchia và hai dân tộc Việt Nam – Khơ-me anh em chống chung kẻ thù thực dân Pháp xâm lược.

Giặc Pháp, sau thời gian ào ạt càn quét không kết quả, lại tiêu hao liên tục ở phia phía: nông thôn và vùng kềm kẹp, đã vội tập trung càn quét lớn ra ngoài kết hợp với máy bay đánh phá chúng lấn từng bước bằng đồn bót trên các trạm giao thông ở các lộ: 26, 19, 6, 13, 22… quanh thị trấn, thị xã. Lúc này chúng dùng lính Partisan, lực lượng Cao Đài tại chỗ, ráo riết bắt lính vùng chúng kiểm soát, đi càn bắt thanh niên… đồng thời tổ chức rộng lực lượng công an, tỉnh báo kềm chế vùng kềm kẹp và thọc vào vùng tranh chấp, bí mật len lỏi vào vùng căn cứ tìm cách đánh phá ta.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:27:10 AM
*
*   *

Sự liên hoàn giữa các căn cứ của huyện với các căn cứ địa Trà Vong của tỉnh đã tạo thế đứng chân của tỉnh, ngày càng vững chắc. Địch theo dõi và chuẩn bị đánh phá căn cứ địa Trà Vong. Chúng tiến hành việc kềm chế bên ngoài: Bót Hai Sòng được tăng cường lực lượng. Đường Tây Ninh đi ngã Ba Vịnh bị kiểm soát gắt gao, ngăn chặn việc rút hàng từ Thị xã tiếp tế cho căn cứ. Địch cho lực lượng tăng cường trinh sát vùng Núi Bà và đường Kê-đôn Suối Đá, Bót Prey-sa-la ở biên giới Camuchia phía hậu căn cứ được tăng cường lực lượng.

Địch bắt đầu mở nhiều đợt tấn công nhỏ lẻ thăm dò lực lượng ta ở căn cứ. Các mũi tấn công từng mặt từ đường 22 vào, từ Kê-đôn lên, hoặc từ Prey-sa-la xuống đều bị đại đội A và du kích tại chỗ cùng thế trận phòng vệ căn cứ chặn đánh. Địch không vao được, có lần lọt hầm chông, chúng phải khiêng nhau rút lui.

Giặc Pháp cho máy bay trinh sát trên không và liên tục ngày đêm bắn phá xuống các khu vực xác suất và các dấu vết khả nghi trong căn cứ. Địch có gây trở ngại ho ta trong các hoạt động. Ta phải ngụy trang kín đáo hơn và đào thêm hầm hào phòng không đảm bảo an toàn. Mọi mặt hoạt động trong căn cứ đều giữ vững và phát triển không ngừng. Tỉnh ủy dự đoán địch sẽ mở nhiều đợt tấn công lớn vào căn cứ địa. Tỉnh ủy chỉ đạo cho đại đội A và lực lượng bố phòng căn cứ củng cố thêm công sự, trên địa bàn sẵn sàng chống địch, diệt địch, cho các huyện ủy chỉ đạo phát triển mạnh dân quân du kích ở vùng tranh chấp, giải phóng, hoạt động mạnh vùng địch kiểm soát, triệt để phá hoại giao thông gắn với chống càn, chống công an, do thám. Với lực lượng vũ trang ở các vùng thì tăng cường hoạt động để cầm chân địch hỗ trợ cho căn cứ địa và giữ vững các hành lang, các đường dây liên lạc tiếp tế thông suốt từ các huyện lên căn cứ địa đảm bảo thế chủ động chống địch, diệt địch. Địch liên tiếp mở 3 đợt tấn công lớn vào căn cứ địa. Đánh cấp đại đội vào mặt tiền bị thất bại. Lần thứ hai, chúng sử dụng cấp tiểu đoàn, Đại đội A dùng cách đánh phân tán cùng du kích bố phòng chặn các ngõ tắt cho địch đi vào đường chính của căn cứ, đến trận địa bố trí sẵn, súng trung liên ta nổ. Địch tạt vào gốc cây, gò mối nào cũng bị lựu đạn gài, đạp lôi nổ, chui vào khoảng trống thi lọt hầm chông, hố đinh… Địch tháo lui và liên tiếp bị du kích phóng lựu đạn theo, lần thứ ba, giặc Pháp kết hợp nhiều tiểu đoàn cả lực lượng Cao Đài và lực lượng phía Mi Mốt đánh xuống. Trên không có máy bay yểm trợ ném bom và bắn các mục tiêu khả nghi: Địch tiến vào nhiều phía, lực lượng bảo vệ căn cứ của ta vẫn dùng lối đánh du kích kể trên nhưng linh hoạt hơn. Giặc đi đông hơn hững vẫn nơm nớp lo sợ hầm hố chông và mìn trái, không dám xông xáo. Du kích cùng lối đánh mới có nhiều biển đề: “vùng tử địa” cắm nhiều nơi ở mép rừng, cặp truông, mé trảng… Địch phải tránh né và đi sâu vào đường chính bị rơi vào vòng kích, vào thế trận hầm hố chông mìn… Các mặt tấn công đều bị bẻ gãy. Kết quả địch chỉ oanh tạc bằng máy bay cháy mấy căn nhà của văn phòng chi đội 11. Toàn bộ người và của không tổn hao gì. Lúc rút lui chúng để lại một đại đội Cao Đài đóng bót tại bìa rừng Trà Vong, có công sự kiên cố để trực tiếp khống chế ta. Đại đội A được chi đội tăng cường thêm một trung đội thường xuyên phục kích cắt đường tiếp tế từ Tây Ninh ra. Các trung đội thay phiên nhau bao vây bắn tỉa, tiêu hao buộc địch phải nằm trong bót. Qua 6 tháng bị tiêu hao lớn, không hoạt động được gì, địch phải tự rút bỏ bót Trà Vong.

Từ đó, thế đứng chân vùng căn cứ càng vững vàng, tạo nhiều thuận lợi cho các cơ quan đầu não của tỉnh chỉ đạo mọi mặt kháng chiến, vừa phát triển tổ chức trong tỉnh. Các ngành dân chính có hậu cứ an toàn tổ chức các cuộc hội nghị tổng kết ngành, các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ. Các tiểu đoàn, đại đội tác chiến có nơi làm thao trường diễn tập rèn cán chỉnh quân, hội họp đúc kết kinh nghiệm và nghỉ ngơi lấy sức sau các chiến dịch, chiến trận lớn.

Giữa năm 1948, địch khung lại trong các đồn bót. Các cuộc hành quân lẻ tẻ có giảm bớt. Từ bị động do địch đánh ồ ạt. Ta vừa đối phó, vừa xác định lại chiến trường, chọn đúng địa bàn, quyết tâm giành dân với địch, xây dựng ý chí chiến đấu, lòng căm thù địch; Lấy xây dựng lực lượng võ trang nhân dân làm trọng tâm ta chuyển dần giành lại thế chủ động, mở rộng phong trào, mở rộng vùng đi đôi với xây dựng thực lực chính trị võ trang với xây dựng căn cứ, từng bước giải quyết vấn đề tự túc lương thực… Cuối 1948 chuyển lại thế giằng co quyết liệt, giành lại từng vùng đất, từng người dân, tạo được thế 3 vùng. Từ đó, lực lượng ta từng bước trưởng thành, chiến tranh du kích đã mở rộng, địch không còn tự do càn như trước được. Các căn cứ kháng chiến của ta ở các huyện đã tạo được thế đứng cho lực lượng võ trang và du kích địa phương đứng chân chiến đấu, cầm chân địch, tiêu hao địch tại chỗ, tạo chiến trường cho lực lượng võ trang tỉnh kết hợp tấn công địch. Thế liên hoàn của căn cứ địa tỉnh và huyện giữa căn cứ và vùng tranh chấp, vùng địch tạm chiếm, đã tạo nhiều khả năng cho việc đứng chân, giao thông liên lạc, phổ biến hợp đồng đánh địch, mở rộng du kích chiến tranh trong toàn tỉnh, thúc đẩy có kết quả phong trào chống giặc vùng bị kiểm soát.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:28:16 AM
Các đại đội 1, 2, 3 của chi đội 11 hoạt động ở 3 vùng trong 2 huyện đã phát triển lực lượng khá mạnh. Trong nửa đầu năm 1948, đã đánh một số trận tiêu biểu, diệt nhiều sinh lực địch và thu nhiều súng tốt. Các đại đội hoạt động rộng có lúc kết hợp yểm trợ chiến đấu giữa ta với các đơn vị tỉnh bạn. Qua chiến đấu rèn luyện các đại đội đã lớn lên về kỹ thuật tác chiến, ngoài chống càn diệt viện phục kích, tập kích còn cường tập công đồn (xưởng đã sản xuất được các loại võ khí đánh cường tập công đồn rất tốt như: Bazôca, Bê-ta, Lăng-sơ-bom). Trong đó có trận đánh kỳ tập sở cao su Bến Củi rất lý thú. Trinh sát ta nắm được sở cao su Bến Củi thường xuyên hàng ngày có 2 xe đi chợ. Ta chặn đường bắt 2 xe này lấy quần áo cải trang cho xe chở về sở, bất ngờ vào chiếm mấy vị trí quan trọng trong đồn rồi gọi địch đầu hàng. Giặc phải chịu bó tay, ta tước toàn bộ võ khí (35 cây súng các loại) và thu nhiều chiến lợi phẩm. Gạo rất nhiều, ta kéo không hết cho dân tha hồ lấy. Các loại vải, đường, sữa, thuốc uống, thuốc hút cũng khá nhiều, có cả một cái đài truyền thanh rất to (sau chuyển về Nam bộ cho Đài phát thanh sử dụng). Ta thu khá nhiều nhôm lá chuyển về cho công binh xưởng gò đồ dùng và đúc đuôi lựu đạn phóng. Trận đánh thắng này có công đoàn cơ sở Bến Cát góp công báo cáo địch tình, tạo nên một phương thức kết hợp chính trị quân sự đánh địch có hiệu quả.

|Các trận cường tập bót hai sòng, tập kích đồn Truông Mít, bót Hai Nam, bót Vườn Điều, Gia Bình... do đại đội, trung đội hoặc tiểu đội đánh xảy ra liên tiếp ở các huyện. Đồng thời điểm này các súng Lơ-ban, Mút-cơ-tông cũ của Pháp đã bị các đại đội loại dần về cho du kích, hoặc đưa về thay kho của công binh xưởng. Các đại đội đã lấy súng địch thay thế trang bị cho mình mỗi đại đội hàng trăm súng trường tốt, hàng chục tiểu liên và 4-5 trung liên, có đại đội có cả đại liên và trọng liên 13,2 ly.

Tháng 3-1948, Khu 7 quyết định thành lập cấp trung đoàn trong toàn khu, trên cơ sở mở rộng nâng cao các chi đội sẵn có. Cuối năm 1948, chi đội 11 phát triển thành trung đoàn 311 Tây Ninh. Lúc này quân số đủ tổ chức 3 tiểu đoàn, đại đội A, địa đội C thành chủ lực, các ban và các bộ môn trung đoàn bộ. Về võ khí không kể số súng đã chuyển ra xây dựng lực lượng du kích địa phương, số súng hiện có lúc này hơn hiều lần so với số súng của chi đội lúc đầu. Trung đoàn tổ chức thành 3 tiểu đoàn, 2 đại đội. Tiểu đoàn 931 hoạt động vùng tây Tây Bắc lấy cứ điểm là Ninh Điền; tiểu đoàn 933 hoạt động vùng Đông Bắc lấy cứ điểm là Bàu Chanh; tiểu đoàn 932 hoạt động vùng phía Nam lấy cứ điểm là Bời Lời. Đại đội A được tăng cường và củng cố mọi mặt để bảo vệ căn cứ và trinh sát ranh giới hậu cứ và áp tải lương thực, đưa đón cán bộ. Đại đội C được tuyển súng tốt, cán bộ chiến sĩ gỏi để hoạt động tác chiến cơ động của trung đoàn.

Ban chỉ huy trung đoàn lúc thành lập gồm có: đồng chí Nguyễn Văn Dung trung đoàn trưởng. Đồng chí Nguyễn Hữu Dụ chính trị viên. Đồng chí Trần Văn Đẩu trung đoàn phó.

Ban chỉ huy các tiểu đoàn và các đại đội độc lập gồm:

1) – Ban chỉ huy tiểu đoàn 931, các anh: Tiến, Nghĩa (đồng đen).

2) – Ban chỉ huy tiểu đoàn 932, các anh Ngọc, Trọng, Chấn.

3) – Ban chỉ huy tiểu đoàn 933, các anh: Bằng, Soại, Giang, Thái.

4) – Ban chỉ huy đại đội A, các anh: Thành, Tốt, Hồ.

5) – Ban chỉ huy đại đội C, các anh: Trung, Thuần (Nghĩa, Minh).

6) – Ban chỉ huy đại đội 2793 (B, CX), các anh: Tỷ, Tị, Quốc.

7) – Văn phòng trung đoàn do các anh: Lượng, Cửu phụ trách chung.

8) – Ban chính trị, các anh: Minh, Vóc phụ trách.

9) – Ban tham mưu, các anh: Nhân, Bích phụ trách.

10) – Ban quân nhu: Anh Lượng chánh văn phòng trung đoàn kiêm trưởng Ban quân nhu.

11) – Ban quân báo, các anh: Ca, Như, Bang phụ trách.

Văn phòng trung đoàn và các ban trực thuộc được tăng cường cán bộ, củng cố và mở rộng tổ chức hoạt động công tác. Các đội sản xuất tự túc và trường quân chính trung đoàn cũng được củng cố và tăng cường hoạt động sản xuất, đào tạo cán bộ quân sự, chính trị.

Các đơn vị thi đua lập chiến công và nhiều thành tích mới. Đại đội C mở đầu bằng trận diệt đại đội Cao Đài phản động đầu tiên ở Bàu Heo. Đây là đại đội Cao Đài đóng ở bót Bến Sỏi, chúng từ Thị xã kéo về bót nhưng kết hợp cắt ngang xóm Tà Hụp, Bàu Heo để cướp giật của đồng bào.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:28:53 AM
Nắm được ý đồ của địch và cũng biết rõ quy luật hành quân của chúng, ta chủ động bố trí phục kích trước, khi toàn bộ đại đội địch phơi bày giữa ruộng trong vòng vây của ta, các tầm đạn trung, tiểu liên, đạn cối, lựu đạn phóng rót vào đội hình địch, diệt hầu hết, chỉ còn 6 tên chạy thoát ngang rừng chối nhưng đến nhà ông Tư Hồ cũng bị ta bắt sống luôn. Đây là trận đầu, Cao Đài phản động bị diệt gọn đại đội mà ta thu được toàn bộ vũ khí.

Phía Nam tỉnh, tiểu đoàn 932 đánh lấy bót Gia Bình lần thứ hai. Phía Đông Bắc, tiểu đoàn 933 phục kích đánh địch ở đường 26, ở bót cao su cầu Khởi, sở cao su Bến Củi, phía Tây và Tây Bắc tiểu đoàn 931 phục kích đánh địch ở đường 13, ở Trảng Lớn, ở đường số 7, sở cao su Ô-cô-nen… Trên đường 22 đi Cây Xiêng, đại đội C phục kích đánh Cao Đài phản động đi tải lương và hộ tống từ Tòa thánh về Cây Xiêng. Địch chuyển hàng bằng xe bò từ Tòa thánh ra có 1 đại đội áp tải và 1 trung đội từ bót Cầy Xiêng xuống đón. Sau khi điều nghiên kỹ, đại đội C bố trí bộ phận chặn đầu cách bót Cầy Xiêng 600 mét và 1 trung đội nằm sát bót chặn viện trong bót ra. Đầu dưới bộ phận khóa đuôi ém quân tại sở cao su ở Quán Cơm. Bị bất ngờ, địch bị diệt tại chỗ 2 trung đội, 2 trung đội còn lại chạy thoát, bọn trong đồn ra gặp trung đội chặn viện phải thun lại. Ta thu hơn 20 súng. Trận này anh Khâm tiểu đội trưởng hy sinh.

Các tiểu đoàn, đại đội liên tục đánh địch và tạo mọi điều kiện cho các đội du kích xã phát triển. Các trung đội du kích tập trung của huyện hoạt động luồn sâu vào sau lưng địch, bám đất giữ làng và phá hoại kinh tế địch.

Du kích tập trung huyện Châu Thành đã hình thành trung đội mạnh. Vì địa bàn huyện rộng, nên phân vùng cho các tiểu đội hoạt động: tiểu đội 3 hoạt động ở Tổng Hàm Ninh thượng (cũ) từ vùng Trâm Sụ, xã Phước Hội lên đến các xã Hòa Hiệp, Hòa Hội, Hảo Đước… Tiểu đội 1 hoạt động từ vùng Tổng Hòa Ninh (cũ) từ xã Thái Bình, Thanh Điền vào thị xã và luồn sâu qua xã Trường Hòa, Long Điền xuống các xã ở vùng Bến Cầu. Các tiểu đội đã kết hợp chặt chẽ với dân quân du kích tại chỗ ở các xã chặn đánh địch ngày đêm và hiệp đồng liên lạc dẫn đường cho các đại đội của các tiểu đoàn đóng ở địa phương đánh địch, hợp đồng với đại đội A đưa đón cán bộ, áp tải lương thực và bảo vệ cho dân quân cùng các đoàn thể phá đường, ngăn chặn địch, chặt cao su phá hoại kinh tế địch… Du kích các xã Ninh Điền, Thanh Điền, Thái Bình, Hảo Đước phát triển khá nhanh, kết hợp với lực lượng huyện và tỉnh đánh địch nhiều trận. trong đó có trận lừa cho địch đánh nhau (của du kích xã Thái Bình), lúc Pháp và Cao Đài hình thành hai gọng kềm tiến đánh căn cứ ta. Tiểu đội du kích chia thành hai tổ anh Châu và Vui phụ trách, bí mật dẫn hai tổ lọt vào giữa hai gọng kềm đánh Pháp và Cao Đài, hổ súng đánh cả hai bên. Địch quay vào đánh trả thì hai tổ du kích bí mật rút ra cho Pháp và Cao Đài đánh nhau, súng máy, moóc chê bắn vào đội hình nhau, hồi lâu chúng mới biết đánh lầm. Gậy ông đập lưng ông, chúng đành cùng nhau khiêng thây và bọn bị thương rút lui… Du kích Thái Bình đoán biết đường rút, đã bố trí mìn, hố đinh, hầm chông chơ địch rút về, bắn tỉa cho địch tạt ngang, bị mìn và hố chông chết thêm một số nữa.

Lực lượng du kích tập trung huyện Trảng Bàng cũng luồn sâu vào thị trấn Trảng Bàng, Gò Dầu vào các sở Vên Vên, Bàu Nâu, Trà Vỏ lên lộ 1, lộ 22 đánh địch nhiều cũ bất ngờ. đồng thời cùng với các đội dân quân du kích xã đánh địch càn quét ra Đôn Thuận, An Tịnh, Lộc Hưng, Thạnh Phước, Phước Thạnh, Bàu Đồn. Riêng phong trào du kích xã An Hòa vẫn duy trì lực lượng từ sau trận hạ đồn Vàm Trảng (2/46) lấy 12 súng trường Nhật, gia đình ông Bảy Nam giữ, sau ông Nam được mệnh danh là ông già Mười Hai. Du kích phát triển lên vây ép đồn Vàm Trảng lần thứ hai (6/46) lính đồn tháo chạy, tề xã phải cúi đầu xin chịu tội. Năm 1948, du kích xã đã tổ chức nội công ngoại kích đánh đồn Mộc Bài, diệt 5 tên, thu 6 súng và kết hợp với tiểu đoàn 932, trung đoàn 311 đánh sập đồn Rộng Tượng, diệt nhiều địch, thu toàn bộ vũ khí. Tiểu đoàn 932 còn được du kích tập trung huyện kết hợp chặt bao vây ngăn chặn địch ở các đồn bót, giữ yên vùng căn cứ Bời Lời của ta, có nơi đồn bót địch chỉ cách ta 01 km, địch không dám ra càn quét.

Ba thứ quân đã bắt đầu kết hợp nhịp nhàng. Du kích tập trung các huyện và du kích các xã hoạt động mạnh, cần chân địch tại chỗ và đưa đường cho các tiểu đoàn, đại đội của trung đoàn 311 liên tục diệt địch. Các bót Cao Đài đóng bao chặn mặt ngoài đều bị tấn công nhiều lần, chúng phải nhiều lần củng cố thêm công sự cố thủ. Các tiểu đoàn, đại đội đã bắt đầu tiến sâu vào đánh các dồn Pháp và thân binh bên trong.

Cuối năm 1948, ta đánh bót Trường Đồi, ngang thành Săn-đá, sâu trong thị xã. Trận đánh do đại đội C phụ trách, do chính anh Đỗ Thế Nhân, tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Ta có anh Ngởi làm nội ứng, do anh Ba Huynh tổ chức. Hai bên bàn bạc kỹ về kế hoạch hành quân, tác chiến, nhưng đến giờ chót, anh Ngởi bị địch bắt trói dưới cột cờ, chờ xử tội (Anh Ngởi móc thêm một tên lính khác và bị tên lính này phản bội). chúng cho bọn lê dương phục trên đường hành quân của ta, mặt khác sẵn sàng đánh ta tại bót.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:29:19 AM
Trên đường đi, anh Đỗ Thế Nhân nghĩ ra một con đường tắt bí mật hơn cho nên nhờ đó không lọt vào ổ phục kích. Đến nơi, Ba Huynh làm ám hiệu, cổng đồn mở ra, anh Ba Huynh đi trước, bị tên Pháp sếp đồn bắn chết tại chỗ nhưng rồi nó cũng đền tội ngay, anh Nhân cũng khá nhanh tay. Trước những thay đổi đột xuất này, Ban chỉ huy trận đánh vẫn quyết định cho lệnh ném lựu đạn và đạp rào xung phong. Địch hoàn toàn bất ngờ, lúng túng kháng cự. Trong vòng 20 phút, ta hoàn toàn làm chủ trên trận địa, thu nhiều súng đạn, lúc bọn lê dương quay về cứu viện, ta bố trí đánh yểm trợ cho đại bộ phận rút lui an toàn, chỉ tiếc là không kịp cứu anh Ngởi (chúng bắn chết trước khi ta biết chuyện) và không đem được xác anh Ba Huynh ra.

Bước sang đầu năm 1949, Trung đoàn 311 Tây Ninh bắt đầu giành được thế chủ động trên khắp chiến trường trong tỉnh. Các cơ quan trực thuộc của Trung đoàn bộ đều lớn mạnh. Hầu hết các đơn vị chiến đấu và bộ phận trực thuộc Trung đoàn đều có chi bộ đảng. Số đảng viên phát triển nhiều. Trung đoàn đã tiến hành đại hội đảng viên thành lập trung đoàn ủy. đại hội bầu ban chấp hành Đảng bộ trung đoàn gồm 5 đồng chí: Nguyễn Hữu Dụ (Bí thư), Nguyễn Văn Dung, Trần Văn Đẩu, Trần Văn Lượng và Nguyễn Công Bằng.

Ban quân nhu đã hình thành nhiều bộ phận như: đội quân trang có máy may, may trang phục cấp phát cho bộ đội, đội thuộc da sản xuất dây nịt to bản, dây mang súng đạn, túi đựng đạn, túi dết (sắc cốt) cho cán bộ, đội xay lúa, xay xát gạo cung cấp cho bộ đội đội, đội sản xuất thu hoạch năm 3.000 giạ lúa cho trung đoàn.

Ban chính trị, ngoài tổ chức giảng dạy chính trị, văn hóa còn tổ chức câu lạc bộ của trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, có cả đàn sáo cho chiến sĩ sinh hoạt vui chơi, tổ nhiếp ảnh ghi lại nhiều hình ảnh để cổ động tuyên truyền, triển lãm và lưu niệm…

Ban tham mưu còn tổ chức tác chiến, tổ kiểm tra quân khí và đội công binh. Trung đoàn đã có đài vô tuyến điện, mật mã nhận tin tức từ Nam bộ phát. Tờ báo tường của chi đội nay cũng phát triển mạnh, trung đoàn được xưởng in của Ty Thông tin giúp đỡ đào tạo cán bộ sử dụng máy in chữ chì (ti-pô) in tờ tin tức của Trung đoàn (trong số thợ in được đào tạo đầu tiên có anh Hai Tố và cô Phải). Lúc này du kích xã và địa phương quân các huyện đã bám đất, chống càn tại chỗ, kềm chân địch, tạo thuận lợi cho các tiểu đoàn cơ động trong tỉnh và giao lưu với các tỉnh bạn.

Trung đoàn 11 đã giành được thế chủ động nhưng không phải đã hết khó khăn trên chiến trường đối đầu với hai kẻ thù Pháp và phản động Cao Đài. Khu lại có lệnh điều lực lượng của Trung đoàn 311 về khu hai lần: một lần, 2 tiểu đội đủ súng trường, tiểu liên và 1 trung liên để thành lập đơn vị bảo vệ căn cứ của khu; một lần, 2 trung đội đầy đủ súng trường, tiểu liên và 2 trung liên để thành lập tiểu đoàn chủ lực của Khu. Tất cả đều chọn người khỏe, súng tốt.

Tiếp đó, Khu lại chỉ thị Trung đoàn 311 điều cho chiến trường Đông Nam Campuchia 2 đại đội trang bị đầy đủ, theo trang bị lúc đó là: một đại đội có 3 trung liên, 75 súng trường, tiểu liên và lựu đạn phóng; một đại đội trang bị đủ súng tay, không có trung liên. Tất cả đều phải chọn người tốt, súng tốt.

Sau đó, vẫn theo chỉ đạo của Khu, Trung đoàn 311 tập trung một bộ phận lực lượng xây dựng thành đại đội chủ lực của tỉnh Tây Ninh có ưu thế về lựu đạn phóng nên đại đội này còn thêm bộ phận chuyên sử dụng lựu đạn phóng. Lực lượng còn lại của Trung đoàn tổ chức thành hai tiểu đoàn địa phương. Mỗi tiểu đoàn chỉ có 2 đại đội chứ không phải 3 đại đội như trước. Và tỉnh chia thành 4 khu hoạt động giao cho mỗi tiểu đoàn phụ trách 2 khu. Ngoài ra tổ chức một trung đội bảo vệ căn cứ địa; một trung đội gồm 2 tiểu đội bảo vệ binh công xưởng (Xưởng của Trung đoàn lúc này hoạt động rất mạnh, sản xuất hiện loại vũ khí kịp yêu cầu của Trung đoàn và chiến trường), một trung đội gồm 2 tiểu đội luân phiên áp tải lương thực, vật liệu, đưa đường cán bộ… Lực lượng áp tải này khi cần lực lượng mạnh hơn thì nhờ tiểu đoàn địa phương giúp.

Để tăng cường cho lực lượng du kích địa phương những nơi xung yếu, Trung đoàn còn đưa một số cán bộ cùng một số súng về tăng cường du kích một số xã quan trọng như: Trí Bình, Thanh Điền, Ninh Thạnh, Hiệp Thạnh…

Do yêu cầu chung của chiến trường mở rộng, khu điều động đồng chí Nguyễn Văn Dung Trung đoàn trưởng và đồng chí Trần Văn Đẩu Trung đoàn phó lên chiến trường Đông Campuchia. Ban chỉ huy Trung đoàn có sự thay đổi. Đồng chí Nghĩa (đồng đen) được rút lên giữ nhiệm vụ quyền Trung đoàn trưởng, đồng chí Nhân Trung đoàn phó. Sau đó Khu điều đồng chí Huỳnh Văn Một lên nhận trách nhiệm trung đoàn trưởng (lúc trung đoàn còn một đại đội chủ lực và 2 tiểu đoàn địa phương).

Trên nền du kích chiến tranh, lực lượng ba thứ quân Tây Ninh hình thành và bắt đầu phát triển.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:29:43 AM
3/ - Đẩy mạnh cuộc kháng chiến phát triển toàn diện:

Tháng 9-1949, chấp hành nghị quyết Xứ ủy, hội nghị quân sự mở rộng toàn Nam bộ họp chủ trương chuẩn bị mọi điều kiện để chuyển mạnh sang tổng phản công. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cho các tỉnh là đẩy mạnh cuộc kháng chiến phát triển toàn diện. Phải phá chính sách chính trị, quân sự, kinh tế của địch, đưa du kích chiến tiến lên vận động chiến với phương châm đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung ra sức xây dựng căn cứ địa, xây dựng vùng giải phóng của ta.

Chiến trường Tây Ninh có nhiều chuyển biến lớn. Về mặt hành chánh, Ủy ban tỉnh đã được củng cố và chuyển thành Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh. Đồng chí Lê Lai làm chủ tịch. Các ủy ban kháng chiến hành chánh huyện, xã cũng được kiện toàn. Các mặt công tác kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng mở rộng.

Về kinh tế, chủ yếu là lương thực, ngoài tổ chức đường dây vận chuyển từ Đồng Tháp Mười lên, tỉnh đã phát động được phong trào nhân dân và cơ quan sản xuất tự túc phát triển khá mạnh từ năm 1948 về sau. Các vùng ruộng đất phì nhiêu cặp hai bên sông Vàm Cỏ từ đầu nguồn đến hai huyện Châu Thành và Trảng Bàng dần dần được đồng bào và bộ đội vừa tổ chức chống càn bảo vệ, mùa màng, vừa khai hoang phục hóa cấy lúa. Đồng thời khắp các căn cứ cặp mé rừng được dọn chồi phá rẫy, tỉa lúa bắp, trồng khoai… Hai bên rạch Sóc Om từ ngoài Vàm lên đến tận đầu nguồn và ăn sâu vào nhánh suối Tổng Du lên đến Trảng Còng cũng được đồng bào các xã Hảo Đước, Hòa Hội, Tà Păng… và nhiều bộ phận sản xuất của cơ quan, bộ đội khai hoang vỡ thành công cấy lúa và làm rẫy trồng bắp, trồng khoai. Trong đó chỉ tính 5 Ban sản xuất lớn như: canh nông huyện Châu Thành (4 ha), công an tỉnh (25 ha), bộ đội Sivôtha (30 ha), bộ đội Đông CPC (20 ha), Trung đoàn 311 (35 ha) đã thu hoạch hàng năm được trên 12.000 giạ lúa (ngoài 5 ban sản xuất lớn kể trên, còn nhiều bộ phận sản xuất khác như Ủy ban tỉnh, Kinh tài tỉnh, Mặt tận và đoàn thể tỉnh, Ty y tế, Quân dân y, xưởng giấy, lò da, Ty Thông tin, các bộ phận huyện, xã...). Sông, rạch, rừng, trảng nhiều là điều kiện thuận lợi cho phong trào sản xuất tự túc lương thực, ước lượng chung toàn tỉnh khoảng thời gian này sản xuất tự túc tại chỗ hàng năm thu trên 100.000 giạ lúa. Con số này không nhiều đối với các tỉnh ở Đồng Tháp Mười, đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ở vùng miền Đông, ở Tây Ninh là vấn đề khá lớn. Ăn được chén cơm đầy nhớ những ngày ăn cháo lúa tre, ăn củ nầng, hột dẻ, bột mút, hoặc bột gạo kèm theo bao nhiêu mồ hôi và máu từ Đồng Tháp Mười tải bộ qua đồng chó ngáp về nuôi dân, nuôi quân. Cho nên, giải quyết được vấn đề lương thực là coi như lo được nửa phần công tác kháng chiến. Đến năm 1949 Tây Ninh đã tự lo tương đối về lương thực. Nhưng tỉnh vẫn động viên việc gánh gạo, rút gạo các nơi về để lo cho một phần dự trữ. Tỉnh vẫn thấy vấn đề lương thực cần phải quan tâm đặc biệt. Tỉnh và huyện còn tổ chức nhiều trạm thu mua lương thực, tổ chức đội xay giã tiếp tế, cung ứng thêm một phần cho bội đội và các cơ quan trong tỉnh, huyện, tạo ra mọi thứ hậu cần tại chỗ, cách mạng đỡ bót một phần lo dân đói.

Cơ quan tài chính thuế vụ cũng được hình thành. Từ đầu kháng chiến ngành thủy lâm đã vận động sự đóng góp của các sở cây, sở củi, lò than, bọng dầu, vựa chai thu một số tiền nộp ngân sách tỉnh và nuôi bộ đội. Nay tài chánh thuế vụ cụ thể hóa thuế khóa lâm sản, nông sản và các loại thuế khác tạo nguồn thu hợp lý cho ngân sách phục vụ kháng chiến. Về sau tỉnh tổ chức ty Ngân khố, nhận giấy bạc Cụ Hồ từ Trung ương và Nam bộ cấp, đồng thời được Nam bộ cho phép in thêm ngân phiếu của tỉnh (dùng như giấy bạc Cụ Hồ). Ngành Tài chánh thuế vụ, ngân khố đã làm trung gian hối đoái giữa tiền của ta và tiền của Đông Dương ngân hàng. Ta tổ chức các trạm đổi tiền tại cửa khẩu vào thị xã, thành phố, ai được giấy nhập thành thì đem tiền Cụ Hồ đến đổi tiền Đông Dương ngân hàng, khi trở về thì đổi lại tiền Cụ Hồ đem về dùng trong vùng giải phóng. Cũng có đồng bào đem hàng hóa thực phẩm, nông lâm sản qua trạm xem xét đưa ra thành thị bán mua hàng về và còn tiền thì đổi lại bạc Cụ Hồ. Từ đó góp phần lưu thông phân phối trong vùng kháng chiến thêm thuận lợi.

Về y tế, Trung đoàn có quân y xá, nay được bổ sung thêm cán bộ mở rộng diện điều trị, cứu thương cho cán bộ chiến sĩ, cán bộ ngành y được tăng cường xuống các tiểu đoàn, đại đội ở địa phương chăm sóc sức khỏe cho bộ đội tại đơn vị chiến đấu. Dân y xã tỉnh cũng được mở rộng, bộ phận lãnh đạo của Ty y tế chuyển về căn cứ Trà Vong chỉ đạo phong trào chung: vệ sinh phòng bệnh, tổ chức các trạm y tế huyện, xã, các phòng hộ sinh và các cô đỡ lưu động… Nhưng bộ phận điều trị vẫn đóng xóm Trường và khu vực Bàu Cần Sen cặp Rạch Sóc Om. Về sau sát nhập hai bộ phận quân và dân y của huyện Châu Thành làm một cũng đóng ở vùng Vịnh Cái Kết và Bàu Cần Sen, kết hợp hỗ trợ nhau phục vụ điều trị cho bộ đội, cán bộ và cả đồng bào trong vùng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:30:19 AM
Về văn hóa giáo dục, cũng hình thành tổ chức ngành, ở tỉnh có Ty giáo dục, ở huyện có Phòng giáo dục. Số cán bộ giáo việc cũng được đào tạo và mở nhiều trường cấp 1 ở khắp các xã, ấp trong vùng giải phóng. Các cháu được cắp sách đến trường học ban ngày. Ban đêm đã có phong trào bình dân học vụ bổ túc văn hóa và chống nạn mù chữ cho người lớn. Phong trào phát triển từ năm 1948 đến nay càng mở rộng. Các thầy cô giáo được gởi về học lớp đào tạo ở Nam bộ và tỉnh đào tạo tại chỗ đủ phục vụ phong trào từng bước, từng bước lần lượt các xã thanh toán được nạn mù chữ, thực hiện được lời kêu gọi của Bác Hồ chống giặc dốt (15-9-1948). Việc chống mê tín dị đoan ở nông thôn, phong trào nếp sống mới, ăn ở vệ sinh cũng được vận động đồng bào thực hiện.

Ty Thông tin tuyên truyền cũng chuyển văn phòng Ty về Trà Vong, chỉ đạo chung phong trào ở đây, Ty có mở lớp đào tạo cán bộ thông tin, tuyên truyền và cán bộ chính trị. Chương trình học tập chính trị là cộng sản sơ giải, học tập nghiệp vụ là tổ chức cuộc mít tinh thế nào? Cách thức tuyên truyền thế nào? Tổ chức phòng thông tin ra sao? Từ đó, Ty có thêm nhiều cán bộ mở rộng các đoàn cán bộ lưu động, tuyên truyền xung phong… Bộ phận in ấn cũng chuyển về Trà Vong hình thành xưởng in, các anh Năm Choàng, Tám Tâm đã nghiên cứu, tự đóng thêm 3 máy in Tipô. Ngành in được mở rộng lúc này, tờ báo Tây Ninh in được nhiều số và một số sách báo khác được tái bản, sách học vần, học văn hóa cho các trường, truyền đơn tranh cổ động cỡ nhỏ, bài ca, hò ve do các văn nghệ sĩ trong ngoài tỉnh sáng tác… Về giấy, tổ chức làm giấy bằng lục bình, tre, gòn bổ sung cho nguồn giấy từ trong thành ra. Có đủ giấy, đủ máy in cho tập san “Tiền Phong” của Đảng hàng tháng ra 2.000 tập. Tờ Tây Ninh ra hàng tuần. Lúc này chẳng những nội dung tốt mà kỹ thuật in tiến bộ hơn và bìa tranh các tập san, báo, tin tức cũng được trình bày khá đẹp về hình thức do họa sĩ Chọn (Tư Văn) vẽ. Sau đó xưởng in cả tín phiếu cho tỉnh và đào tạo cán bộ cho xưởng in trung đoàn 311. Về văn nghệ lúc này cũng phát triển mạnh, tỉnh có đội văn nghệ chuyên nghiệp, nhiều xã cũng có đội văn nghệ quần chúng. Tỉnh cũng còn tổ chức các đội “Chim Sơn Ca”, “Đoàn chim Việt” của lớp thiếu niên lưu động múa hát phục vụ đồng bào kèm theo phát loa tuyên truyền, trưng bày hình ảnh cổ động các chính sách của Đảng, các loại hình văn nghệ đã hấp dẫn, thu hút quần chúng hưởng ứng, chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và xây dựng nếp sống lạnh mạnh, vui khỏe, hăng say kháng chiến.

Về an ninh nội chính, Ty Công an cũng phát triển tổ chức xuống cơ sở phối hợp cùng công an huyện, xã mở rộng màng lưới phòng gian, bảo mật, trừng trị tề điệp của địch. Ty tổ chức công an xưởng sản xuất võ khí cho ngành. Công an tỉnh, công an huyện đều có các tổ chức công an vũ trang để chống giặc bảo vệ cán bộ và có đội công an xung phong tham gia các đợt tuyên truyền hoạt động sâu trong lòng địch ở Thị xã, thị trấn.

Cộng tác mặt trận cũng được mở rộng đến nửa năm 1949. Đại hội sát nhập Mặt trận Việt Minh và Liên hiệp quốc dân thành Mặt trận Liên Việt. Các đoàn thể bắt đầu hoạt động mạnh. Nông hội ngoài việc mở rộng tổ chức Hội, còn tiếp tục tổ chức phân chia tạm cấp ruộng đất của địa chủ phản động và tư sản Pháp cho nông dân nghèo và vận động tổ chức nhiều tổ chức vần đổi công trong sản xuất và bảo vệ mùa màng. Vùng giải phóng ngày càng rộng, đồng bào tín đồ bị gò ép vào các khu chu vi đồn bót, cũng muốn bung về làm ăn, nông hội vận động phân chia ruộng đất, rẫy, cho đồng bào về ruộng vườn cũ hoặc cấp đất mới. Đây là việc làm thiết thực về đời sống kinh tế mà có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Các đoàn thể phụ nữ, thanh niên rất xứng đáng vai trò xung kích trong mọi phong trào tòng quân, dân công, y tế, văn hóa, xã hội, trừ gian diệt tề… có thể nói Đảng gọi là thanh niên nam, nữ sẵn sàng. Đoàn thể thanh niên, sau các khóa đào tạo của tỉnh đoàn, huyện đoàn cán bộ phong trào được đưa xuống hình thành hệ thống ngành từ tỉnh xuống đến xã. Các huyện đoàn cũng được bổ sung cán bộ cốt cán, đồng chí sáu Long, Dân, Thành vào thường vụ huyện đoàn, trực tiếp xuống cơ sở phát động phong trào vui khỏe (văn hóa, thể thao) vai mang đàn, tay ôm trái banh đi hết xã này đến xã khác, cứ chiều là tổ chức thanh niên đá banh, tối là đàn ca múa hát. Từ đó phong trào lên cao. Kháng chiến cần gánh gạo, thì thanh niên lên đường ngay, cần chặt cao su ở sở Si-na, Trà Vỏ, Bà Phủ, Sa Nghe… cần đào đường ở lộ 19, 10, 13, 22… là thanh niên dẫn đầu. Nhất là phong trào tòng quân giết giặc thì thanh niên xung phong lên đường có lúc huyện phải ngăn bớt để giữ cán bộ phong trào ở hậu phương. Đoàn thể phụ nữ, từ chị Kiều phụ trách tỉnh hội đến chị Vân, chị Phụng… Phong trào ngày càng củng cố và phát triển. Các huyện đội cũng dần dần bổ sung đủ cán bộ lãnh đạo phong trào. Từ chị Cúc, chị Nữ đến chị Huê, chị Rong, các chị xông xáo, sâu sát phong trào, đưa tổ chức phụ nữ đi sâu vào thị trấn, thị xã, rút nhiều mặt hàng cần thiết cho kháng chiến và vận động chi em cùng với thanh niên tham gia đầy đủ công tác tải lương, phá hoại giao thông, kinh tế địch, đồng thời cùng với các mẹ chăm sóc cho bộ độ. Nổi nhất trong phong trào phụ nữ là hội mẹ chiến sĩ. Các mẹ tìm mọi cách vận động ủng hộ bộ đội: Hũ gạo kháng chiến, con gà chiến sĩ, liếp rau bộ đội… bằng nhiều hình thức khác nhau, các mẹ quyên góp đem đến cho các Vệ Quốc cái ăn, cái mặc, đồ dùng, thuốc men… làm cho bộ đội bớt khó khăn. Cho nên “Hội mẹ” có vai trò rất lớn trong đời sống vật chất và tinh thần của anh em chiến sĩ.

Tất cả các mặt công tác quân dân chính đều mở rộng phát triển và bên trong đều có đảng viên, chi bộ Đảng làm nòng cốt tận cơ sở đơn vị, thôn xã lên huyện tỉnh. Các ban chi ủy chi bộ đều lần lượt được đại hội bầu cử. Cấp huyện có Đại hội huyện Đảng bộ bầu cử ban chấp hành huyện Đảng bộ Châu Thành và Trảng Bàng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:31:26 AM
Trước tình hình đó, đầu năm 1949, tại căn cứ Trà Vong, Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Tây Ninh được triệu tập nhằm tổng kết rút kinh nghiệm công cuộc kháng chiến trong mấy năm qua, đề ra phương hướng nhiệm vụ và bầu Ban chấp hành mới tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên. Đại hội có khoảng 80 đại biểu của cấp huyện và các cơ quan, Ty ban ngành trong tỉnh về dự. Hội trường do Ban Công binh trung đoàn Ty và Công an cất khá rộng, được họa sĩ Chọn trang trí đẹp và trang nghiêm. Qua 4 ngày làm việc, đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm những chủ trương của Tỉnh ủy thời gian qua và kết luận những chủ trương ấy rất đúng đắn và kịp thời. Việc lãnh đạo của tỉnh ủy nhạy bén và kiên quyết. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương công tác của toàn Đảng bộ biểu hiện tinh thần nghiêm túc, dũng cảm. Các mặt công tác xây dựng Đảng, chính quyền, mặt trận, quân đội, sản xuất tự túc đều tiến hành tốt. Do đó, trong một thời gian ngắn, cách mạng Tây Ninh đã từ chỗ khó, khổ đã vững vàng tiến lên bước mới. Đại hội đã đề ra nghị quyết, chương trình cho thời gian tới về mọi mặt công tác, khái lược là:

- Về Đảng, tiếp tục củng cố và phát triển, nhằm nâng cao chất lượng phát triển tổ chức, thận trọng và đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển tổ chức vào vùng tạm chiếm, củng cố tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp, xây dựng rèn luyện lập trường quan điểm, ý thức tổ chức kỷ luật, đặc biệt xây dựng ý chí chiến đấu chống giặc và quan điểm quần chúng.

- Về mặt trận, củng cố tăng cường cả về tổ chức và hoạt động trong mặt trận, nhất là giải quyết rõ ràng các trường hợp bị lệch lạc lúc Cao Đài tàn phá. Tăng cường công tác vận động Cao Đài, Phật giáo, trí thức, nhất là giáo chức, tư sản dân tộc, cả quần chúng tín đồ và binh sĩ bị bọn phản động o ép. Tăng cường công tác Khơ-me vận. Bồi dưỡng cán bộ và củng cố các cơ quan lãnh đạo trong mặt trận từ trên xuống dưới.

- Về chính quyền, kịp thời củng cố chính quyền và đẩy mạnh hơn nữa sự hoạt động của các ngành các cấp từ trên xuống dưới, đặc biệt là công tác y tế, tài chánh và sản xuất. Tạo điều kiện tốt, giúp đỡ mọi mặt cho công tác mặt trận, công tác Cao Đài vận, và Khơ me vận.

- Về quân đội, tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị nhằm nâng cao trình độ chính trị, trình độ Đảng, kiên định ý chí giết giặc lập công, không ngại gian khổ hy sinh, hoàn thành nhiệm vụ, gắn bó với dân, phát triển tổ chức Đảng rộng khắp trong quân độ. Củng cố sức khỏe cho anh em bị ốm yếu trong quá trình chiến đấu gay go do phản động Cao Đài gây nên. Củng cố sức lực cả chất và số lượng ho các đơn vị chiến đấu. Đẩy mạnh tác chiến và chiến đấu, du kích. Đẩy mạnh công tác địch ngụy vận… Củng cố và mở rộng căn cứ địa.

- Về kinh tế, chủ yếu là lương thực, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất tự túc và bằng mọi biện pháp để bảo vệ sản xuất. Sản xuất phải bảo đảm bí mật cơ quan (không phá rừng đốt rẫy gần cơ quan). Tăng cường kiểm soát và thống nhất việc kinh doanh lâm sản. Tiếp tục tạm cấp ruộng đất cho nông dân sản xuất, cấp đất rừng tạo điều kiện cho người nông dân tín đồ bung ra phát rừng làm củi, tỉa rẫy làm ăn. Tất cả đều nhằm tự túc lương thực và thống nhất quản lý kinh tế tài chánh… Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy mới gồm 9 đồng chí: Lê Lai, Nguyễn Hữu Dụ, Trần Thuần, Phạm Tung, Trần Kim Tấn, Nguyễn Văn Dung, Lê Đình Nhơn, Nguyễn Văn Nữ(1), Nguyễn Văn Tốt. Đồng chí Lê Lai phụ trách Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Hữu Dụ phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Bí thư trung đoàn 311.

Đại hội Trà Vong đã thành công tốt đẹp cả về nội dung, hình thức và tinh thần phục vụ.

Giữa năm 1949, đảng viên, cán bộ, đồng bào Tây Ninh đó nghị quyết của Đại hội trong lúc vừa vượt khỏi bước ngoặt lịch, sử, thực hiện nghị quyết với một niềm tin, một sức mạnh và ý chí quen vượt gian khổ, quyết giành thắng lợi mới.

(https://lh3.googleusercontent.com/c9v__KSp1g1h5A15nEge4WJazZqNohIzH8PdRQRSB8a1zOTa0098-bgwWy3CqXGSsvzZLBpKYtwH53L34H1w099Bq2Lwu4dyEiThK4wW0b3loj8nm8iSTEQ9rLx0eKPdS6nC69Rpk2UJ9BLxRzKgbv9DfntbCsGToI6llSR1TH2neGW-M7gTv5B1gZJLhsbivHUvN_aijVvjIVLeBueDuK1ZL_0M3GmXIolGSlf5x5npVJmS6elaDXQU3BFCWHrZbTJenxMTJMqXyVGt2kAoqH1W0jJUqS6okPIVxxS0zfskQ8i162zTGC0RTX6xvOgkhU3xOF59urJVATsZIQhAPZ25ERqv3zvTI9-Mc7GNpYs899B7tmfJjzzN2FhJCPoKvwzi54z0YruIS9EtbPgB2oODEXT-YRCUHuUklVJwdIRalEG15FefQ5GM2fW-vEogeMAiOJjzBkNuAI8toJ4fls83-TkTvR9pyB-mahPTcwaikCEg8BlIYMmWkAXat3Jw5RYGEmlAlKfN8doWBCn0XhTudU1k0JnWokHixtfujlvKNSAD6I8_WITioyVnOghmI0A5iRMjkqsCc8JRSgoJJzfmO3EfCjR6n_Tyh34=w254-h354-no)

Đồng chí LÊ LAI Bí thư Tỉnh ủy
(1949-1950)

Đại hội Đảng bộ đánh giá tình hình bước vào ổn định, từ chỗ Pháp và phản động muốn tiêu diệt ta giành chiến trường Tây Ninh nhưng ta vẫn tồn tại, được tôi luyện thêm vững vàng hơn, cả về ý chí cách mạng, về hình thức và phương pháp chiến đấu. ta trở lại thế giằng co và tạo nhiều nhân tố mới chủ động tiến lên. Địch từ thế chủ động tiến công sang thế giằng co đối phó.

Ta đã có đất, có dân, có phong trào tòng quân kháng chiến, cố vùng căn cứ, vùng tranh chấp, vùng tạm chiếm, có tổ chức luồn sâu, kín trong lòng địch.


(1) Theo anh Hai Bình nhớ thì lúc ấy anh Dung đã đi công tác khác, thay chỗ đó là đồng chí Phạm Văn Uyển.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:33:15 AM
Ý đồ chiến lược của Tỉnh ủy được các ngành chủ động thực hiện. Các tiểu đoàn chủ động, mở rộng du kích chiến tranh ra các xã vùng hoạt động của mình và từng bước chuyển từ đánh chống càn, phục kích tiến lên đánh đột kích, tập kích, bao vây bức rút, cường tập… tạo thế đứng ngày càng vững chắc cho lực lượng quân sự và các ngành khác hoạt động, lực lượng dân quân du kích xã lớn mạnh, mở rộng hoạt động sát đồn bót địch và thị xã, thị trấn.

Cuộc kháng chiến mở ra nhiều mặt, các ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và các huyện cũng mở rộng các mối quan hệ. Huyện Trảng Bàng móc với Thủ Thừa (Tân An), Đức Hòa (Chợ Lớn), Hóc Môn (Gia Định), Bến Cát (Thủ Dầu Một) để tạo thế liên hoàn và hỗ trợ về lực tiến lên vây ép địch đẩy địch vào thế bị động đối phó. Các tỉnh bạn đã tạo điều kiện tốt kết hợp với Tây Ninh đánh địch nhiều đòn đau, phối hợp hoàn chỉnh đường dây liên lạc từ Tây Ninh lên Xứ kịp thời. Huyện Châu Thành cũng mở rộng hoạt động lên vùng biên giới Campuchia, về sau tỉnh tổ chức thêm huyện Khăng Xuyên (tháng 4/1949) và cùng với lực lượng kháng chiến của bạn (Si-vô-tha, A-Cha-Chiu và Pukom Pô) kết hợp hoạt động ở vùng Đôn Bắc Campuchia tạo thế đứng chân cho hoạt động an toàn rộng lớn phía sau của huyện Châu Thành và tỉnh, đồng thời huyện Châu Thành mở rộng hoạt động vào thị xã và Tòa thánh Cao Đài, ảnh hưởng kháng chiến ăn sâu vào nhân dân vùng tạm bị chiếm. Đầu năm 1950, với phương châm 3 vùng chiến lược… tỉnh thành lập Ủy ban Thị xã, điều đồng chí Truyện sang làm Chủ tịch Ủy ban Thị kiêm trưởng Ban cán sự Thị xã, phong trào quần chúng thị xã khá tốt, các tổ chức công an, thị đội, bộ đội 45 của thị xã, công an xung phong, đều hoạt động nhịp nhàng kết hợp đánh địch, đẩy phong trào quần chúng tiến lên.

Tình hình chung và riêng Tây Ninh từ đầu năm 1950 chuyển biến đi lên khá mạnh. Địch càng chuyển hướng đánh phá ta bằng quân sự, đặc biệt nổi lên kế hoạch Đơ-la-tour, đóng bót, lô cốt khá dày đặt toàn bộ trong và ven thị trấn, thị xã, châu vi Cao Đài, đồng thời đánh mạnh về kế hoạch do thám vào vùng cách mạng, có gây cho ta khó khăn mới và tổn thất một số cán bộ cơ sở nhất là vùng tạm chiếm và tranh chấp.

Lúc này, đồng chí Trưởng Ty Công an đi học ở Nam bộ, Phó Trưởng Ty công an Phan Văn Hoai điều hành công việc của Ty đã có tư tưởng sai lệch, từ cán nhân chủ nghĩa nặng, lợi dụng lúc địch đánh phá cách mạng bằng tình báo gián điệp, ta tăng cường công tác phòng gian bảo mật, đánh gián điệp, Hoai chủ trương chống gián điệp trong nội bộ tổ chức! Hoai tạo một số sự kiện giả… một số tài liệu mơ hồ… và khéo léo trình bày đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhất trí cho Hoai tiến hành. Hoai đã cho bắt bớ nhiều cán bộ đảng viên giam cầm nhục hình tra tấn, bức cung hướng vào một số cán bộ trong Tỉnh ủy và một số ngành quan trọng. Khi xảy ra bắt bớ khá rộng, Tỉnh ủy đấu tranh quyết liệt nhưng không ngăn được dẫn đến 2 bộ phận Tỉnh ủy lên Xứ ủy và Khu ủy đấu tranh và được Xứ ủy tích cực ngăn chặn việc bắt bớ, minh oan cho một số đảng viên bị bắt. Hoai bị bắt đưa về Nam bộ và định đưa về Tây Ninh công khai xét xử, nhưng y chết trong khám.

Nội bộ được Xứ ủy kiểm điểm phê phán nghiêm khắc, do tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, thiếu tập thể, thiếu đoàn kết nhất trí để cá nhân lộng hành.

Vụ án Phan Văn Hoai có ảnh hưởng lớn, Xứ ủy triệu tập cuộc họp Tỉnh ủy rộng đến các ngành tỉnh và huyện, đánh giá vụ án đề ra định hướng sửa chữa, được toàn Đảng bộ nhất trí. Do đó, vụ án rất lớn, nghiêm trọng, nhưng một thời gian ngắn đã ổn định được nội bộ, tập trung nắm, đẩy tình hình chung lên mạnh đều khắp. Đây là bài học sâu sắc của Đảng bộ địa phương.

Tình hình địch lúc này là dùng kỹ thuật mới vừa củng cố thế chiếm đóng vừa bung ra từng bước. Ta chủ trương chuẩn bị cho Tổng phản công, trước mắt là đánh bại kế hoạch Đơ la tour và gián điệp do thám…, vừa phát động du kích mạnh ở cả 3 vùng, vừa ráo riết chuẩn bị thực lực (bộ đội, lương thực…) cho định hướng hoạt động mới theo chủ trương của Xứ ủy, nổi cộm lên cao vấn đề: Công nhân phá hoại cơ sở kinh tế địch, nông dân chặt phá cao su, giành lại đất sản xuất, vừa xây dựng ấp chiến đấu, bao vây chặn địch, vây ép địch ở đồn bót, làm binh vận…

Từ năm 1950, các phong trào quần chúng trong tỉnh cũng lớn mạnh và hoạt động đều hơn. Phong trào công nhân cao su đấu tranh ngày càng sôi nổi. Ở các sở Bến Củi, Vên Vên, Trà Vỏ công nhân đâu tranh kéo dài 3 tháng, đòi tăng lương từ 4,2 đồng lên 6,5 đồng. Kết quả giành được quyền lợi cho công nhân. Nhưng sau đó, chúng bắt nguội cán bộ lãnh đạo phong trào và lần lượt đàn áp tù đày một số công nhân, đồng chí Tâm, một trong những cán bộ lãnh đạo đã bị bắt tra tấn dã man. Phong trào đấu tranh ở các sở càng dâng cao. Trong các khâu sản xuất then chốt ta đã gài được cơ sở vào trực tiếp lãnh đạo phá hoại địch bằng nhiều kiểu, cách, đã gây địch thiệt hại gần 20 triệu đồng tiền Đông Dương lúc đó.

Đến mùa thu năm 1950, trên chiến trường miền Đông Nam bộ, tình hình quân sự có nhiều chuyển biến. Chiến tranh du kích phát triển. Ba thứ quân hình thành và ngày càng lớn mạnh, bộ đội chủ lực đã tổ chức được những trận đánh lớn và thu kết quả tốt.

Tháng 9/1950, Bộ Tư lệnh Khu chỉ đạo củng cố thêm một bước lực lượng ba thứ quân, xây dựng chủ lực mạnh và bộ đội địa phương tỉnh, huyện, phát triển dân quân du kích, kiện toàn cơ quan tỉnh đội, huyện đội.

Tại Tây Ninh, Trung đoàn 311 và Tỉnh đội dân quân thống nhất thành một cơ quan chỉ huy quân sự trong tỉnh lấy tiên là Tỉnh đội. Tổ chức thay đổi, Tỉnh đội thành lập một tiểu đoàn tập trung và một đại đội chủ lực của tỉnh và mỗi huyện có một địa đội địa phương. Lực lượng còn lại dồn về khu thành lập Trung đoàn chủ lực Đồng Nai chủ yếu đứng chân hoạt động ở chiến trường Tây Ninh. Ban chỉ huy tỉnh đội gồm có: đồng chí Nguyễn Hữu Dụ chính trị viên, đồng chí Đỗ Thế Nhân tỉnh đội trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Minh tỉnh đội phó, đồng chí Lê Thuấn tham mưu trưởng (đồng chí Nghĩa về Trung đoàn Đồng Nai làm Tiểu đoàn trưởng D.304). Tháng 10/1950, phối hợp với chiến dịch biên giới, Bộ Tư lệnh Khu 7 quyết định mở chiến dịch Bến Cát. Bến Cát nằm về phía Đông Gò Dầu, Trảng Bàng. ngăn cách bởi con sông Sài Gòn, là địa bàn có liên quan mật thiết đến chiến trường Tây Ninh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2018, 04:33:53 AM
Tỉnh đã đưa một Trung đội mạnh xuống cùng với một trung đội của Bà Rịa và 1 trung đội của tiểu đoàn 303 hình thành đại đội xung kích đánh đồn Bến Súc. Tỉnh Tây Ninh huy động lực lượng dân công rất lớn, cả xe bò vận tải lương thực cho chiến dịch. Khí thế rất cao, dân công hỏa tuyến tải lương ra, tải thương về hậu cứ. Ngoài ra tỉnh còn điều một bộ phận nghi binh thu hút đại bác 105 ly của địch tại Dầu Tiếng bắn thường xuyên về hướng Bắc, Tây Bắc để cho các đơn vị bộ đội và dân công thực hiện nhiệm vụ chiến dịch ở phía nam, đông nam Dầu Tiếng. Cả hai bộ phận này đều đã hoạt động xuất sắc trong suốt quá trình chiến dịch, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch lịch sử này. Sau chiến dịch Bến Cát, lực lượng võ trang trong tỉnh tiếp tục xây dựng, củng cố để phù hợp với tình hình mới. Các huyện rút du kích tập trung lên để hình thành các đại đội địa phương. Ở huyện Châu Thành thành lập đại đội 40 do các anh Chẩn, Tốt, Bạt chỉ huy, về sau thêm anh Hai, anh Thuấn (anh Tốt chuyển về đại đội 45 thị xã). Đại đội 40 có 4 trung đội do các anh: Thứ, Ba, Anh, Minh Quân, Sáu Thuần chỉ huy. Ở Trảng Bàng thành lập đại đội địa phương (Hà Huy Tập) do các anh Hồ, Soái Quang chỉ huy. Ở Thị xã có đại đội 45 do anh Tám Đường, anh Tốt chỉ huy. Ở Khăng Xuyên có đại đội 55 do anh Của chỉ huy. Các trung đội, tiểu đội du kích các xã cùng phát triển khá mạnh. Lực lượng võ trang ở Tây Ninh đã hình thành và phát triển đủ 3 thứ quân hoạt động khắp các vùng trong tỉnh. Các đội biệt động võ trang (thuộc đại đội 45) Thị xã hoặc thuộc Ty Công an, thuộc Ban tham mưu tỉnh đội…) luồn sâu vào hậu địch diệt bọn Rờ sẹt công an, do thám ở tận hang ổ của chúng trong thị trấn, thị xã. Vùng biên giới Việt Nam Campuchia đã liên hoàn hỗ trợ nhau chiến đấu chống địch và mở rộng vùng kháng chiến của ta và bạn đứng chân. Tỉnh đội chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa đại đội chủ lực với tiểu đoàn tập trung và đại đội địa phương. Ở các xã có trung đội, tiểu đội du kích tập trung và tổ chức dân quân đều khắp hình thành thế du kích chiến tranh rộng mạnh mà địa bàn chính là vùng tranh chấp và căn cứ lõm. Theo phương thức tổ chức này, lực lượng võ trang thực hiện được nhiệm vụ cơ động chiến đấu, tập trung khi chống càn lớn, diệt đồn hoặc phối hợp với chủ lực tỉnh bạn mở các chiến dịch lớn theo yêu cầu của chiến trường chung và nhiệm vụ bám đất, bám dân, mở rộng du kích chiến tranh.

Qua quá trình hình thành và phát triển, lực lượng võ trang Tây Ninh đã thể hiện khá rõ khả năng chịu đựng, sức chiến đấu chống giặc và ý thức tự lực tự cường. Từ 100 súng có 2 trung liên lên trên 600 súng có 18 trung liên, 2 đại liên, 1 trọng liên 13,2 ly nhiều tiểu liên có cả phóng lựu đạn, mooc chê. Từ chỗ chỉ biết rờ sạt một số loại đạn đến chỗ rờ sạt nhiều loại đạn và còn làm ra được lựu đạn ném, lựu đạn phóng, các loại mìn và súng. Từ quân số 300 người lên 2.800 người, tổ chức biên chế hợp lý hơn. Các mặt chính trị, tham mưu, quân nhu, quân báo, thông tin liên lạc, quân y, quân chính, ý thức tư tưởng, tinh thần và khả năng chiến đấu đều lớn lên nhanh chóng. Từ chưa có đảng viên đên có Đảng bộ rộng khắp hùng mạnh từ dưới lên trên, lực lượng võ trang Tây Ninh luôn xứng đáng làm con đẻ của đồng bào và công cụ đắc lực của Đảng. Với những thành tích này, hội nghị cán bộ Khu ủy Khu 7 (có các Bí thư Tỉnh ủy cá tỉnh và cán bộ quân sự các trung đoàn trong khu) đã quyết định đề nghị lên trên khen thưởng lực lượng vũ trang Tây Ninh:

- Huân chương quân công cho chi đội 11 và các đơn vị chiến đấu ở Tây Ninh.

- Huân chương quân công cho binh công xưởng 311 Tây Ninh.

Về các mặt công tác Đảng, chính quyền mặt trận, Tỉnh ủy chỉ đạo các khối tiếp tục phát triển đẩy mạnh hoạt động. Mặt trận chỉ đạo công tác Cao Đài vận sâu vào tận các châu vi thánh thất, đồn bót Cao Đài. Ngoài việc tuyên truyền các chính sách tự do tín ngưỡng của ta, vạch rõ âm mưu gây chia rẽ của địch, ta còn chủ trương vận động giúp đỡ quần chúng tín đồ bung về đất cũ và nông dân ra ngoài sản xuất, phá bỏ sự ràng buộc ở các chu vi chung quanh đồn bót, từng bước xóa vùng trắng làm thất bại một âm mưu thâm độc của địch. Chủ trương này phù hợp với tình cảm của quần chúng tín đồ bị gom trong hàng rào kẽm tai trong nhiều năm qua. Âm mưu của giặc và sự lừa phỉnh của phản động dần dần trắng đen đã rõ. Hàng vạn đồng bào Cai Đài được vận động bung ra quanh Núi Bà, bìa căn cứ ta, dọn đất từng tỉa rẫy, sản xuất hoa màu, làm củi, từng bước tiến tới đưa quần chúng tín đồ quay về làng cũ làm ăn sinh sống, vừa giải quyết đời sống đồng bào, vừa tạo lương thực cho kháng chiến. Các tổ chức binh vận luồn sâu vào vận đồng binh sĩ Cao Đài và một số sĩ quan Cao Đài chỉ huy các đồn bót lẻ, làm nội ứng cho ta hoặc thực hiện theo chủ trương của ta, không làm gì trở ngại công tác kháng chiến thì ta để các đồn bót ấy yên. Từ đó, công tác vận động Cao Đài có nhiều chuyển biến mới. Đồng bào tín đồ lần lượt bắt nối liên lạc với ta và qua bà con thân thuộc ở làng cũ ở vùng kháng chiến và được hướng dẫn về làng cũ hoặc khu đất mới do cách mạng cấp làm ăn sinh sống ngày càng đông. Sự cách biệt dần dần được hàn gắn.

Cuối năm 1950 đầu năm 1951, đồng chí Lê Lai Bí thư Tỉnh ủy được Xứ ủy rút về Xứ, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị cán bộ bầu bổ sung Ban chấp hành Tỉnh ủy. Đồng chí Tư Đáng Bí thư Tỉnh ủy, đồng chi Huỳnh Văn Một Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh ủy có thêm một số ủy viên dự khuyết, trong đó có đồng chí Phan Văn Uyển. Ban chấp hành Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo thực hiện nghị quyết, chủ trương của Tỉnh ủy cho đến ngày sát nhập thành liên tỉnh Gia Ninh (5/1951).

Đầu năm 1947 cho đến đầu năm 1951 là quãng thời gian công cuộc kháng chiến ở Tây Ninh có những bước phát triển lớn và toàn diện. Từ trong thực tiễn đầy gian nan thử thách, quan và dân Tây Ninh với lòng căm thù địch sâu sắc, sự đoàn kết rộng rãi khoan dung, với ý chí tự lực tự cường… không lúc nào xa rời bạo lực võ trang, không ngừng tự rèn luyện mình, ra sức xây dựng Đảng, chính quyền đoàn thể kháng chiến, xây dựng lực lượng 3 thứ quân vừa chống quân đội thực dân Pháp, vừa kiên trì đẩy mạnh chống âm mưu lôi kéo Cao Đài vào con đường phản bội sự nghiệp kháng chiến, xây dựng căn cứ địa và không ngừng mở rộng vùng giải phóng tạo thế liên hoàn 3 vùng ngày càng có lợi cho ta làm cơ sở cho việc đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp kháng chiến trong địa bàn toàn tỉnh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:31:13 AM
CHƯƠNG III

ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANG DU KÍCH, PHỐI HỢP TIẾN CÔNG
QUÂN SỰ VỚI ĐỊCH NGỤY VẬN, GIỮ VỮNG VÀ MỞ RỘNG
VÙNG GIẢI PHÓNG, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1951-1954)

1/- Lập tỉnh Gia Ninh và huyện Dương Minh Châu, đẩy mạnh phong trào địch ngụy vận, đấu tranh mở rộng vùng tranh chấp, thu hẹp vùng tạm chiếm, và giữ vững vùng căn cứ:

Từ cuối năm 1950 qua đầu năm 1951, Tây Ninh đã khá vững mạnh về nhiều mặt.

Tình hình chung lúc này có nhiều chuyển biến lớn, sau chiến dịch biên giới. Cuối năm 1950, thất bại liên tiếp trên chiến trường chính, địch quay về củng cố Nam bộ. Chúng đẩy mạnh việc áp dụng chính sách “dùng người Việt giết người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Chúng đánh phá ác liệt bằng quân sự vào căn cứ ta. Xúc tiến mạnh việc sử dụng giáo phái chống phá kháng chiến. Đẩy mạnh việc áp dụng chiến thuật giăng tháp canh của Đờ-la-tua (Dela Tour) đi đôi với các dội Com măng đô luồn sâu đánh lẻ gây rối để ngăn chặn chia cắt giao thông liên lạc, chia cắt từng chiến trường, ngăn chặn việc tiếp tế của ta từ khu 8, khu 9 lên, từ thị xã, thị trấn vào chiến khu… và ngược lại.

Trước tình hình địch ráo riết thực hiện chính sách bao vây ta về mọi mặt, Trung ương Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trường, bố trí lại lực lượng, thay đổi tổ chức và kiện toàn cấp lãnh đạo, chỉ đạo ở tỉnh, huyện, xã (toàn Nam bộ lấy sông Tiền làm ranh giới chia thành hai phân liên khu; Phân liên khu miền Đông và Phân liên khu miền Tây).

Thực hiện chủ trương của trên, tỉnh Tây Ninh với 2 huyện Đức Hòa Thành, trung huyện của tỉnh Chợ Lớn và 2 huyện Gò Vấp, Hóc Môn của tỉnh Gia Định sáp nhập lại thành tỉnh Gia Ninh (tháng 3/1951 thì có nghị quyết sát nhập tỉnh, đến ngày 19/5/1951 chính thức hợp nhất tỉnh, tại cuộc họp ở Long Nguyên, Bến Cát có đủ đại diện của 3 tỉnh kể trên. Các huyện, xã, các ngành, các cấp đều có sự dồn xếp lại gọn nhẹ biên chế đảm bảo “tinh binh, tinh cán” vừa có lực lượng sản xuất trực tiếp ở địa phương, nhẹ gánh cho việc tiếp tế trang cấp… Bước giao thời này tỉnh có gặp khó khăn lúng túng về tổ chức và lề lối làm việc và chưa hiểu hết tình hình thực tế. Tỉnh ủy Gia Ninh có nhiều cuộc họp chung và họp riêng với các ngành, các huyện để sắp xếp đội ngũ cán bộ, củng cố nội bộ, giải quyết tư tưởng, ổn định tình hình hoạt động kháng chiến. (Riêng 2 ngành Công an và tỉnh đội ít xáo trộn, đỡ lúng túng hơn).

Thế chiến lược ngày càng lớn, chiến trường ngày càng mở rộng thì căn cứ địa, chỗ đứng chân, càng phải củng cố vững vàng hơn. Căn cứ địa Trà Vong của tỉnh Tây Ninh (cũ) hình thành từ năm 1948 cho đến nay ngày càng ổn định và phát triển về mọi mặt. Dân cư ở các thị trấn, thị xã, ở vùng gần đô thị, ở các sở cao su và đồng bào tín đồ bị gom về các thánh thất, đồn bót bung ra, về sống trong các xã vùng căn cứ hoặc giáp ranh căn cứ làm cây, làm củi, làm rẫy, làm ruộng, làm các nghề rừng khác sinh sống. Xã Ninh Thạnh, các xóm vùng quanh Núi Bà, vùng ven sông Sài Gòn lên ấp Bến Buôn và các xóm Bàu Chanh, Bàu Chòi, Bàu Cối, Trại Đèn, Lộc Ninh, dần dồn về ngày càng đông. Từ dân số trong khu căn cứ trước đây thưa thớt, ít ỏi khoảng 2.000 người, nay lên gần 10.000 người. Tỉnh ủy chỉ đạo mở rộng tổ chức hành chánh. Xã Ninh Thạnh quá rộng được tách một phần và lấy phần đất rộng mênh mông phía Bắc về Thái Bình thành lập thêm xã Thạnh Bình. Các xóm quanh Núi Bà cùng các xóm trong khu căn cứ hình thành xã Chơn-Bà-Đen. Các xóm trong 2 xã Lộc Ninh và Phước Hội nay nhập lại thành xã Phước Ninh. Tách ấp Bến Buôn và vùng sông Sài Gòn thành xã Định Thành, mỗi xã có trên dưới 2.000 dân. Các chi bộ Đảng cũng hình thành tổ chức làm nòng cốt lãnh đạo trong các xã. Nhiều xóm đã có tổ Đảng trực tiếp lãnh đạo, cùng quần chúng sản xuất làm ăn, xây dựng căn cứ, hoạt động kháng chiến. Địa thế rừng núi của căn cứ địa đã vững vàng nay có thêm lớp vòng rào người bao bọc càng thêm chắc chắn.

Với dân số trong vùng căn cứ đủ điều kiện thành lập huyện, tỉnh ủy chỉ đạo hình thành tổ chức huyện căn cứ lấy tên là huyện Dương Minh Châu. Huyện căn cứ gồm 5 xã: Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn-Ba-Đen, Phước Ninh và Định Thành, Tỉnh ủy chỉ đạo đưa nhiều cán bộ đủ các ngành về đây xây dựng huyện chuẩn bị đón Trung ương Cục miền Nam về đứng chân chỉ đạo chung phía Nam. Đồn chí Huỳnh Văn Một được bố nhiệm về làm Bí thư và chủ tịch huyện căn cứ địa. Lúc này, Đảng bộ huyện có số lượng đảng viên trên 100 đồng chí. Chi bộ xã Phước Ninh có số lượng đảng viên đông nhất trong các xã, các đoàn thể Nông, Thanh, Phụ cũng hoạt động khá mạnh. Các chính sách cấp đất cho đồng bào nông dân ở các nơi mới về vùng căn cứ được tiến hành mạnh mẽ. Nhất là cấp đất cho nông dân tín đồ Cao Đài thoát ra khỏi sự kề kẹp của địch, ổn định chỗ ở, sản xuất làm ăn, ủng hộ kháng chiến. Các hoạt động phá hoại kinh tế địch, dân công hỏa tuyến, vận động thanh niên nhập ngũ, vận tải lương thực, ủng hộ bộ đội, chăm sóc thương binh cùng các mặt văn hóa, xã hội khác trong vùng căn cứ đều được các đoàn thể quần chúng chấp hành theo nghị quyết của chi bộ xã, huyện căn cứ đã từng bước đi vào nề nếp.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:31:36 AM
Cũng năm 1951, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tư lệnh Nam bộ về đóng ở Tây Ninh lấy vùng Trà Dơ, Đồng Rùm làm an toàn khu, Bộ Tư lệnh Nam bộ lúc này chỉ huy cả vùng Nam Trung bộ và vùng Đông Nam Campuchia. Để bảo vệ Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh, căn cứ địa được mở rộng thêm đến tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông gồm thêm một phần các xã Hảo Đước, Hòa Hiệp của huyện Châu Thành, là căn cứ địa Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh nên mối quan hệ ngoại vi càng rộng khắp các tỉnh phía Nam và 5 khu đều tập trung về đây báo cáo và nhận lệnh, khối lượng tiếp tế to lớn hơn nhiều, nhất là mặt lương thực và mọi mặt hậu cần khác. Chẳng những tỉnh Gia Ninh được vinh dự lo cho Trung ương Cục mà còn các tỉnh khác, các bộ phận của Trung ương Cục và Bộ tư lệnh cũng hoạt động mạnh mẽ phục vụ kịp thời và đáp ứng theo yêu cầu tạo thế chuyển biến mạnh ở chiến trường phía Nam góp phần cho thế chiến lược chung cả nước. Cũng trong thời gian này Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông chuyển về đứng chân tại căn cứ địa Dương Minh Châu.

Ở 2 huyện Châu Thành và Trảng Bàng cũng có sát nhập một số xã gần nhau thành liên xã. Huyện Châu Thành nhập 3 xã Hảo được, Hòa Hội, Trí Bình thành xã Đước-Hòa-Bình, 3 xã Long Giang, Long Chữ, Long Khánh thành xã Tam Long. (Năm 1949, có một thời gian do yêu cầu chiến trường ta nâng xã Khăng Xuyên Trung lên thành huyện Khăng Xuyên với 3 xã: Khăng Xuyên Nam, Khăng Xuyên Trung, Khăng Xuyên Bắc. đến khi liên minh ra rừng, tình hình dân cư xáo trộn ta phải dồn lại cho tiện việc tổ chức hành chánh, nhập thêm xã Tam Long, Ninh Điền và Khăng Xuyên Nam thành xã Long Xuyên Điền. Còn Khăng Xuyên Trung và Khăng Xuyên Bắc trở lại xã Khăng Xuyên nằm trong huyện Châu Thành như cũ). Huyện Trảng Bàng sát nhập 2 xã Đôn Thuận và Thuận Lợi thành xã Đôn Thuận Lợi, 2 xã Phước Trạch và Hiệp Thạnh thành xã Hiệp Phước, 2 xã Thạnh Đức và Cẩm Giang thành xã Thạnh Giang, 2 xã An Thạnh và Lợi Thuận thành Liên xã An Thạnh – Lợi Thuận và đến 1951 thành xã An Thạnh Lợi.

Sự thay đổi chiến trường và tổ chức lực lượng nêu trên đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để phong trào kháng chiến Tây Ninh tiếp tục phát triển trong tình hình mới. Huyện căn cứ Dương Minh Châu thành lập và trở thành căn cứ lớn của Nam bộ là vinh dự to lớn của Tây Ninh. Phong trào kháng chiến Tây Ninh được gắn với sự lãnh đạo của Trung ương Cục rồi Phân khu ủy hơn, đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm nặng nề với hơn đối với quân và dân Tây Ninh trong nhiệm vụ xây dựng bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến của toàn Nam bộ. địch thực hiện ý đồ củng cố chiến trường Nam bộ nhất là đánh mạnh các vùng quanh Sài Gòn. Tại Gia Ninh chúng tiến đánh các khu căn cứ của ta ở An Phú Đông, An Nhơn Tây (Gia Định), Đức Hòa Thành (Chợ Lớn) và khu Bời Lời (Tây Ninh). Ngoài ra chúng biết rõ Trung ương Cục rồi Phân liên khu miền Đông và chủ lực trên về đóng ở Tây Ninh nên hoạt động càng ráo riết hơn. Chúng tập trung lực lượng không quân bắn phá, bộ binh tăng cường càn quét gom dân vào chu vi đồn bót, giăng tháp canh trên các tuyến đường giao thông quan trọng và vùng ven giáp khu căn cứ của ta. Dọc lộ 13 khu vực huyện Châu Thành địch giăng thêm đồn, 7 tháp canh, và lộ 13 khu vực huyện Dương Minh Châu 2 đồn, 6 tháp canh. Địch tổ chức các đội Com-măng-đô thọc sâu đánh lẻ và tổ chức càn quét dài ngày vào các vùng du kích, phá địa hình, địa đạo, hầm chông, rào làng chiến đấu… lấn chiếm một số vùng du kích quan trọng ở các xã Thanh Điền, Long Xuyên Điền (Châu Thành) Phước Ninh (Dương Minh Châu), Đôn Thuận Lợi (Trảng Bàng). Địch tiến hành xây dựng tề, phát triển bảo an, mở chợ, nhà thương, trường học ở vùng gần thị trấn để thu hút dân chúng tiến hành triệt phá kinh tế; ở vùng căn cứ thì đốt sạch, phá sạch, bao vây, chặn đường tiếp cân. Ở vùng tạm chiếm, chúng vơ vét bóc lột, thuế má nặng nề, nhất là thuế đảm phụ quốc phòng và có cả loại thuế bảo trinh phụ nữ. Đồng thời chúng khai phá cao su ở các sở Ô-cô-nen, Ác-nô, Trà Vỏ, Vên Vên để nuôi chiến tranh.

Địch có âm mưu mới cho Cao Đài liên minh ra rừng để đánh sâu vào vùng căn cứ ta. Bọn này là lực lượng Cao Đài, vừa là của Pháp, vừa là của Mỹ, vấn đề cũng là mâu thuẫn Mỹ - Pháp. Pháp muốn can thiệp vào Việt Nam, Pháp mặc cả với Mỹ. Bọn lãnh đạo phản động trong Cao Đài lợi dụng cả Pháp và Mỹ, vòi vĩnh bắt cá hai tay để có tiền có súng, xây dựng thế lực làm tay sai có giá cho mình. Pháp bị thất bại trên chiến trường bị Mỹ chen vào nắm nhiều tổ chức và tôn giáo nên Pháp phải dùng thủ đoạn thân binh hóa các lực lượng võ trang giáo phái, càng đẻ ra mâu thuẫn mới, đẩy Pháp càng suy yếu thêm. Năm 1952 có thêm kẻ thù mới Mỹ. Địch cho bọn liên minh Cao Đài ra rừng, lực lượng lớn bung ra vùng Long Xuyên Điền để đầu trên dựa vào bót Bến Sỏi, Bắc Rù và đầu dưới dựa vào các bót ở Bến Cầu và bót Năm Đinh (cha Trịnh Minh Thế) tên Chúa đất vùng Bến Cầu này. Bọn liên minh ở trong rừng nhưng cũng hình thành các bót Trà Xiêm, Xóm Mía, Gò Nổi, Bằng Năng, Truông Chẹt, Rừng Nhum, Long Vĩnh (Bộ chỉ huy của lực lượng liên minh gồm 4 tên: Trịnh Minh Thế, tổng chỉ huy, trung tá Tỉnh, thiếu tá Triệu, thiếu tá Ba-kềnh Càng). Các bót có chỉ huy trực tiếp, bót nhỏ nhất là Tràm Xiêm có lực lượng 1 trung đội, bót có chỉ huy trực tiếp, bót lớn nhất là bót Xóm Mía đóng 2 đại đội. Các bót có công sự hầm hào, trụ cây, ụ đất. Ban ngày chúng tỏa đi bắt dân, cướp tài sản, giết người chặn đường liên lạc đón bắt cán bộ tay, truy lùng du kích và giả dạng dân đi tát cá mò cua kiếm ăn, đồng thời cũng dò la tin tức về ta. Trước tình hình địch đánh phá mạnh bằng không quân và tập trung lực lượng càn quét mạnh lấn chiếm căn cứ An Nhơn Tây, Tỉnh ủy thấy nếu chuyển bộ phận lãnh đạo tỉnh về khu căn cứ địa Dương Minh Châu thì an toàn nhưng xa 4 huyện phía Nam tỉnh, khó liên lạc chỉ huy và nhất là khó về tiếp tế. Hơn nữa tỉnh ủy đề phòng địch tập trung đánh phá gây thêm khó khăn cho trên. Tỉnh ủy chủ trương cho bộ phận đầu não tỉnh chuyển qua vùng An Điền (ven sông Sài Gòn địa phận Bến Cát, Thủ Dầu Một) nơi có thể coi là trung tâm của tỉnh. Tỉnh ủy phân công Thường vụ và Tỉnh ủy viên xuống các huyện trực tiếp các huyện chỉ đạo thực hiện các chủ trương tích cực chống địch lấn chiếm khu căn cứ, diệt tháp canh, bằng đủ cách diệt lực lượng Com-măng-đô, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận, kết hợp quân dân chính đánh địch; ngăn chặn địch, tổ chức đấu tranh chống thuế, chống xâu, chống áp bức bóc lột và triệt phá kinh tế địch. Các huyện mở rộng công tác Cao Đài vận, nhất là ở Tây Ninh cũ, coi đây là công tác trọng tâm.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:32:07 AM
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, các huyện Trảng Bàng, Châu Thành, Dương Minh Châu tiến hành mạnh mẽ chống lấn chiếm khu căn cứ Bời Lời các vùng du kích quan trọng: Thanh Điền, Long-Xuyên-Điền, Phước Ninh… Các huyện đội được tăng cường cán bộ, củng cố mạnh về mặt chỉ huy tác chiến. Các đại đội của tiểu đoàn tập trung tỉnh (D.306) cũng hỗ trợ cho các đại đội, trung đội địa phương hoạt động mạnh ở Trảng Bàng, Châu Thành. Các đội du kích xã cũng được tăng cường cán bộ, tổ chức bám trụ đánh địch chống lấn chiếm. Các nơi địch giăng tháp canh được tổ chức diệt tháp canh bằng Ba-dô-ca, Bê-ta, và ngụy vận nội ứng. Ngay lực lượng dân quân du kích cũng hạ tháp canh bằng Bê-ta. Với lực lượng Com-măng-đô luồn sâu đánh lẻ được các huyện tổ chức đánh bằng mọi cách, để tiêu diệt loại nguy hiểm tàn ác trước, diệt loại mới xây dựng, loại chuẩn bị chiếm đóng, nơi đào tạo Com-măng-đô thì diệt ngay bọn chỉ huy và loại rành đường. Cách đánh Com-măng-đô thì có trọng điểm, diệt ngay lúc chúng còn ở địa phương. Vùng căn cứ thì xây dựng hầm, hố chông, gài mìn, lựu đạn chống Com-măng-đô đánh lẻ, thọc sâu, vùng du kích thì vận dụng địch ngụy vận, gây căm thù, vận động đồng bào cùng du kích diệt Com-măng-đô; lại Com-măng-đô ở đồn thì đánh lúc chúng mới ra đi và lúc chúng trở về gần đồn là lúc nó sơ hở dùng mìn tiêu diệt… Bằng tất cả các cách đánh như vậy, các huyện đã tiêu diệt được nhiều Com-măng-đô và ngăn chặn được loại thọc sâu đánh lẻ nguy hiểm này.

Ở vùng tạm chiếm, ta lãnh đạo đồng bào đấu tranh chống thuế, chống xâu bằng cách phá hư xe không đi kéo cho địch, trốn tránh, kêu đói nghèo.. Ở các sở cao su thì các tổ chức công đoàn tiếp tục lãnh đạo chống áp bức bóc lột, chống cúp phạt; lãng công, đổ mủ, ngấm ngầm phá hoại kinh tế địch và kết hợp du kích mật hoạt động diệt địch tại sở.

Ở vùng tranh chấp thì cất giấu bớt đồ đạc, chống cướp bóc và sẵn sàng làm tai mắt cho du kích, bộ đội diệt địch, đặc biệt phong trào quần chúng tại chỗ bắt do thám.

Vùng cách mạng lúc này nổi bật các phong trào:

- Phong trào dân công hỏa tuyến.

- Phong trào sản xuất và bảo vệ mùa màng gắn với xã chiến đấu, nhất là sau trận bão. Ở đây có sự kiện đồng bào vùng Cao Đài, vùng tạm chiếm ra sản xuất, khi thu hoạch giấu lúa lại cho kháng chiến.

- Phong trào thanh niên tòng quân.

- Phong trào toàn dân vận động đồng bào, binh lính (sau khi có nghị quyết Cao Đài vận của Trung ương 1952).

Các huyện đã tiến hành công tác Cao Đài vận, tổ chức học tập trong Đảng, chính quyền, đoàn thể thông suốt chính sách rồi mở rộng ra quần chúng. Đặc biệt nhiều tổ cán bộ có võ trang áp sát xung quanh vùng Tào thánh, vừa nắm, lôi kéo quần chúng, vừa phân hóa chức sắc, vừa phân biệt đối xử với binh lính Cao Đài thân binh hóa. Huyện Trảng Bàn tiến hành khá hơn cả, đã vận động binh sĩ đào bỏ ngũ, nội ứng hạ tháp canh, diệt đồn Cầu Ván, vận động giáo dục đồn bào tín đồ rời khỏi chu vi đồn bót về làng, vận động thanh niên Cao Đài tòng quân kháng chiến chống Pháp, công tác địch ngụy vận đã thành ý thức trong quần chúng. Đồng bào lợi dụng căm thù qua thực tế bị chèn ép bóc lột, gợi lòng nhớ nhà, nhớ quê hương trinh binh sĩ, kêu gọi khóc chồng, con em đi lính cho giặc bị chết; thiệt thân, gia đình mang tiếng xấu cả đời… Các huyện Dương Minh Châu, Châu Thành cũng tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính sách Cao Đài vận của Đảng, tổ chức nhiều đoàn cán bộ, nhiều đội tuyên truyền xung phong luồn sâu vào Tòa thánh và các chu vi đồn bót phát loa, vận động, hát ca nhiều bài có nội dung gợi lòng căm thù giặc, gợi tính dân tộc, nghĩa đồng bào, nhắc quê hương bản sở đang chờ bà con đoàn tụ sinh sống làm ăn… Để chống âm mưu thân binh hóa quân đội Cao Đài của Pháp, các huyện thực hiện chủ trương của tỉnh ủy là phân hóa bọn Cao Đài phản động, chỉ đánh đồn Pháp và đồn bót Cao Đài nào ngoan cố đi với Pháp, không đánh Cao Đài nếu họ không khuấy nhiễu dân, làm cản ngại kháng chiến, ta kêu gọi anh em binh sĩ Cao Đài trở về làng không đi lính đánh thuê cho Pháp. Qua gia đình binh sĩ Cao Đài ta nói rõ chính sách đoàn kết đạo đời. Đồng bào và binh sĩ tự do đi đến thánh thất và về thăm quê, họ hàng bà con không ai ngăn cản… Công tác Cao Đài vận của ta không những năm 51-52 có tác dụng rất mạnh mẽ, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ phản động Cao Đài làm cho chúng chia rẽ lủng củng nhau trong lớp chỉ huy và binh sĩ đào rã ngũ ngày càng nhiều. Đến mức bọn tướng tá Cao Đài phải kêu hai năm 51-52 là “nghiệp chướng”, là “cơn thử thách vô tiền khoáng hậu” rồi mạt sát nhau là “vì bả lợi danh ám ảnh đã quên lời minh thệ” và chúng cũng công nhận hai năm này “hàng ngũ gần như tan rã”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:32:33 AM
Riêng bọn liên minh đã khuấy phá nặng ở Long Xuyên Điền của huyện Châu Thành. Đồng bào ở cá xã Tam Long cũ phải chạy loạn Liên Minh tứ tán nhiều nơi rất cơ cực. Huyện Châu Thành cho chuyển 53 gia đình lên lập quê hương mới ở xã Khăng Xuyên. Số dân còn lại dồn về phái Bắc Xã Long-Xuyên-Điền. Huyện đội tập trung lực lượng và cán bộ rồi cho C40 địa phương huyện quyết tâm tháo gỡ khó khăn lớn là bọn Cao Đài Liên Minh. Bọn nầy ở lẫn lộn với ta trong rừng, mặc dù nó ở bót cứ điểm nhưng phân tán nhiều, ban ngày đi hoạt động luồn lỏi khắp vùng. Lực lượng chúng được trang bị tốt mạnh hơn du kích ta nhiều, khi gặp du kích là chúng truy đuổi tới cùng. Ban chỉ huy C40 và các b mà nhất là b3, b chủ công của đại đội, phải qua nhiều đêm mất ngủ, nhiều ngày băng rừng, lội suối lần mò dấu vết bọn chúng, tìm hiểu mọi sinh hoạt ăn, ở, hoạt động của từng bộ phận, thâm chí rờ từng công sự, từng cây súng trong các ụ đất, bụi mật cật… Ban chỉ huy C.40 và các b xác định đối với bọn Liên Minh, chủ yếu là phải đánh cho đau, diệt nhiều sinh lực vì đó là những tên lưu manh lì lợm lại bị giáo lý mê hoặc. Đồn Bến Sỏi ở đầu trên, bót Năm Dinh ở đầu dưới là hai chỗ dựa quan trọng, cần phải tiêu diệt làm áp lực tinh thần, tạo thêm thuận lợi cho ta.

Ý kiến của Ban chỉ huy C.40 được huyện đội nhất trí và đề nghị lên trên, tỉnh có chủ trương diệt bọn Liên Minh với ý nghĩa: 1) là, diệt bọn rất ác ôn ngoan cố, vừa giáo dục trong đồn bào, vừa làm rõ chính sách phân biệt đối xử với lính Cao Đài; 2) là, tạo mâu thuẫn sâu sắc Mỹ - Pháp, 3) là, đánh một chỗ dựa phản động của Phạm Công Tắc cho hỗ trợ lực lượng đánh mạnh bọn Liên Minh.

Trận đầu tiên C.40 chống càn của Liên minh ở Trà Xiêm có du kích Long-Xuyên-Điền, Thanh Điền kết hợp. Trận này thử thách để biết nhau. Bọn chúng coi thường lực lượng địa phương lắm. Hai du kích Ninh Điền: Tòng ô và Xiêm bám sát bót Trà Xiêm ở giữa rừng dẫn đường cho đặc công của D.306 dùng mã tấu chém chết 40 tên và bắt sống tên Chính chỉ huy phó. Bọn Liên Minh có nao núng, bớt đi lùng sục. C.40 kết hợp với C.918 của D.306 đánh bót Liên Minh ở xóm Mía, bằng cách dụ địch ra khỏi bót mà anh em gọi là “điệu hổ ly sơn”., Nhưng khi trọng liên 13,2 ly phát lịnh nổ 2 phát bị kẹt đạn, địch hoảng sợ rút vào bót. Ta chưa diệt được.

Huyện đội liên lạc với tiểu đoàn 302 chủ lực Khu đề nghị kết hợp với C.40 đánh bót Bến Sỏi bằng chiến thuật công đồn (cắt chỗ dựa đầu trên của địch). Đúng giờ quy định, Bêta nổ diệt lô cốt, công sự ngầm, đại liên diệt bọn bên ngoài. Ta chiếm đồn, bọn sống sót phải lội sông qua Tầm Long chạy chết, bỏ ngũ luôn. Ta thu nhiều súng và chiến lợi phẩm.

Trận đánh ở Bến Sỏi làm cho bọn Cao Đài phản động ở các bót rung rinh. Bọn lính ở Bắc Rù bỏ chạy luôn.

Huyện đội cho trinh sát điều nghiên kỹ bót Liên Minh ở xóm Mía. Bót này được chúng đắp công sự đất và chèn gỗ tròn, hình tạm giác. Lần này cũng C.40 và C.918 của D.306 đánh; ta tiêu diệt được trên 50% số địch trong bót. Bọn chúng đang hoang mang vì thiếu chỗ dựa Bến Sỏi, Bắc Rù nên rút bỏ bót xóm Mía luôn.

Địch đã chú ý đến cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến phía Nam ở căn cứ địa Tây Ninh. Một lần nữa địch tập trung lực lượng kềm chế khu căn cứ. Mặt hậu, ngoài việc tăng cường bót Prey-Sala, chúng tăng cường thêm các bót nhỏ ở biên giới. Mặt trước, chúng xây dựng thêm công sự kiên cố cho bót Suối Đá và bổ sung lực lượng tăng cường mọi hoạt động tình báo và phục kích ngăn chặn tiếp tế liên lạc của ta. Phía Đông, chúng đóng thêm bót Suối ông Hùng, bót Cầu Lộc Ninh (Đông Bắc) phía Tây củng cố thêm bót Hai Sông, bót ngã ba Vinh.

Lực lượng ta ở căn cứ địa lúc này không phải chỉ có đại đội A mà có lực lượng huyện đội Dương Minh Châu, 4 trung đội của Khu và tỉnh cũng thường xuyên lui tới hoạt động, trong đó có 2 đại đội của tiểu đoàn 302 gần như thường xuyên có mặt tại căn cứ. Cho nên các hoạt động tăng cường của địch ở các đồn bót bao quanh các nơi đều bị ta chặn đứng. Ta dồn địch vào thế co cụm trong bót và du kích xã thường xuyên bao vây bên ngoài bắn tỉa, không cho chúng mở rộng phạm vi hoạt động ra khỏi bót.

Với lực lượng đại đội, tiểu đoàn địch không dám tấn công vào căn cứ địa. Chúng mở các cuộc càn nhỏ lẻ bên ngoài căn cứ ở ven lộ 26 và lộ 13 đầu ngoài. Đầu năm 1952, địch tập trung lực lượng lớn khoảng 20 tiểu đoàn bộ binh mở nhiều mũi tấn công căn cứ địa, hướng chính là Đồng Rùm và Trà Dơ. Bên trên có không quân yểm trợ ném bom và bắn phá các nơi nghi có ta đóng quân. Đồng thời cho biệt kích dù nhảy xuống Trà Dơ truy lùng Bộ Tư lệnh Nam bộ. Đây là một trong những trận càn lớn nhất của giặc Pháp ở chiến trường Nam Bộ. Nhưng đánh vào căn cứ rừng núi, hỏa lực địch bị nhiều hạn chế. Chúng dùng lực lượng lớn nhưng không thực hiện được ý định, mục tiêu đề ra mà còn bị rơi vào thế trận du kích chiến tranh của ta. Chỉ riêng lực lượng địa phương huyện Dương Minh Châu và du kích các xã đã phục kích đánh địch từng chặng và các mũi tiến quân của địch từ ngoài vào. Khi đến được điểm tấn công, chúng đã bị tiêu hao khá nhiều lực lượng. Các đại đội chủ lực của tiểu đoàn 302 dùng hỏa lực phòng không bắn trúng chiếc máy bay P.26 làm nó lảo đảo trên không và đâm vào chiếc máy bay khác, cả hai cùng rơi (một chiếc tại Trâm Sụ và một chiếc tại Đồng Sầm). Cuộc càn lớn của địch cơ bản bị thất bại. Cơ quan đầu não phía Nam và các bộ phận trực thuộc đều bảo đảm an toàn. Du kích các xã và bộ đội địa phương huyện căn cứ đã tiêu diệt địch trên hai đại đội.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:33:01 AM
Sau thời gian đóng căn cứ ở An Điền không bảo đảm an toàn, Tỉnh ủy Gia ninh cho một bộ phận của văn phòng tỉnh ủy và Ủy ban nghiên cứu thực địa vùng Bàu Hưng, Trảng Công thuộc xã Khăng Xuyên, huyện Châu Thành, chuẩn bị cơ sở vật chất, đón tỉnh ủy và một số cơ quan tỉnh chuyển lên đứng chân lãnh đạo kháng chiến. Tỉnh ủy chỉ đạo cho huyện ủy Châu Thành chọn một số cán bộ xã chuyển lên hỗ trợ cho xã Khăng Xuyên tổ chức màng lưới công an, du kích để kết hợp với d. 923 của tỉnh bảo vệ căn cứ Bàu Hang của tỉnh ủy. Đến sau cơn bão năm 1952, tỉnh ủy Gia Ninh cùng các cơ quan tỉnh chính thức chuyển lên Tây Ninh, đầu tiên ở vùng Túc Tra Suối Ky sau đại bộ phận về đóng tại căn cứ Bàu Hang. Xã Khăng Xuyên được coi là xã căn cứ địa của tỉnh, chịu sự lãnh đạo song trùng cả huyện ủy và tỉnh ủy để kịp thời nhận trực tiếp chỉ thị phục vụ công tác bảo vệ căn cứ địa.

Để hỗ trợ cho các lực lượng võ trang ngăn các cuộc càn quét của địch vào vùng căn cứ và thiết thực bảo vệ căn cứ, tỉnh phát động phong trào thi đua phá hoại giao thông và kinh tế địch, lập làng chiến đấu.

Huyện Châu Thành hưởng ứng thi đua và đạt giải thưởng thi đua đợt 1 là cây súng Mút Anh đầu bằng. Khắp huyện sôi nổi thi đua. Nổi nhất là cụm 1 gồm các xã: Đước Hòa Bình, Khăng Xuyên, Thái Bình B, và Trung Hòa đã chặt cây cao su, đập chén mủ ở các cơ sở cao su phía Bắc tỉnh và đào phá lộ 13, và lộ 22 từ Trại Bi lên Cần Đăng. Kết quả đợt 1, ấp Nguyễn Đức Cơ, xã Khăng Xuyên đạt giải nhất. Lễ trao tặng súng được huyện tổ chức trọng thể và phát động tiếp thi đua đợt 2. Đợt này đào bứt ngang cầu Trại Bi, lộ 22 trước mùa mưa tới. Các cụm thi đua được giữ nguyên. Phong trào thi đua càng lên cao. Hai xã Đước Hòa Bình và Khăng Xuyên có điểm thi đua suýt soát nhau ở đợt 1. Đợt này hai xã bố trí lực lượng dân quân khỏe, nhiều kinh nghiệm đào hai bên đầu cầu. Kết quả đội dân quân xã Khăng Xuyên cùng kinh nghiệm ngăn dòng nước và xả lũ cuốn đất trôi nhanh đã giành phần thắng đợt 2, giành được phần thưởng 3 súng trường Pháp. Dân quân huyện Châu Thành còn chặt các cây to ở mép sông ngã sang sông và chèn gỗ, chà thành đập ngăn sông Vàm Cỏ Đông và Bến Nam Vàng và ngăn Rạch Sóc Om tại đầu Vàm, chặn các tàu địch chạy theo đường sông lên bắn phá. Dân quân huyện Châu Thành đã lập thành tích thi đua góp phần chống địch càn quét.

Ở huyện Trảng Bàng, sau nhiều ngày dùng không quân bắn phá các khu rừng, làng xóm vùng căn cứ Bời Lời, địch mở nhiều cuộc càn liên tiếp dài ngày, kết hợp các bót xung quanh từ Cầu Ván. Cầu Xe lên Bàu Đồn, Vên Vên, Gò Dầu xuống, từ Bến Củi, Sóc Lào qua… Địch có gây nhiều khó khăn cho ta. Có nơi, có lúc, ta gần như bị mất đất ban ngày, ban đêm bộ đội, du kích, dân quân ra sửa đắp hầm hào, rào rấp, cắm lại chông, gài lại trái chống địch. Bộ đội địa phương huyện phải chấn chỉnh lực lượng và được các đại đội của tiểu đoàn chủ lực tỉnh (d.306) hỗ trợ chiến đấu chống địch bảo vệ vùng căn cứ và đảy địch lùi dần trở lại đồn bót cũ. Đại đội địa phương kết hợp nội ứng diệt bót Suối Sâu (6-52), diệt tháp canh Bàu Rong, Thạnh phước (9-52).

Ở huyện Châu Thành, đại đội 40 trinh sát kỹ bót Liên Minh ở giữa rừng Nhum. Ban chỉ huy hỗn hợp C.40 và C.60 thuộc d.302 quyết định dùng 9 Trung liên và lựu đạn, cho 2 lực lượng gọn nhẹ, cơ động diệt địch. Đúng 5 giờ chiều, trong rừng đã nhá nhem tối, địch tập trung ăn cơm liền bị trung liên và lựu đạn ta nổ liên hồi, diệt hầu hết địch tại chỗ, chỉ còn vài tên sống sót vọt ra ngoài chạy thoát. Sau trận này, bọn Cao Đài Liên minh “tản thần” rút bỏ bót Rừng Nhum và tất cả bót đóng trong rừng đều rút chạy. Chỉ còn lại bót tên Năm Dinh (Cha Trịnh Minh Thế) và bót Bến Cầu đầu dưới.

Các trận đánh Pháp và các lực lượng Cao Đài ngoan cố, đã tác động mạnh đến tinh thần binh sĩ Cao Đài; ta phát động cả quân, dân, chính Đảng đều tập trung tổ chức vận động thực hiện chính sách Cao Đài vận. Lần lượt nhiều bà con tín đồ bung về làng cũ và ra vùng căn cứ cũ làm ăn, góp phần tham gia kháng chiến. Nhiều binh sĩ trong các đồn Trảng Bàng đấu tranh với chỉ huy không chịu đi càn quét. Nhiều binh sĩ cho vợ con ra liên lạc với ta xin về làng làm ăn hoặc xin về thăm họ hàng quê hương. Trong binh sĩ Cao Đài Liên minh đã lẻ tẻ có số bỏ ngũ, và có số liên lạc với ta về thăm làng quê.

Tình hình chung trong 3 huyện của Tây Ninh (cũ) đã trở lại thế ổn định, có thuận lợi cho ta. Ở những đồn lẻ địch trở lại co cụm cố thủ. Các đồn bót gần Thị xã thị trấn, địch phải củng cố thêm công sự và hạn chế việc càn quét ra ngoại vi. Ta phát triển mạnh chiến tranh du kích và củng cố xây dựng thêm chủ lực và địa phương.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:33:52 AM
2/ - Khắc phục nạn đói sau lũ lụt, thực hiện chính sách thuế nông nghiệp và tích cực chống càn, giữ vững phong trào kháng chiến:

Mùa mưa năm 1952 (Nhâm Thín) rất dữ dội. Đến trung tuần tháng 10 lại có một cơn bão chưa từng có. Rừng, trảng, suối, sông, đường sá và một số làng mạc bị ngập nước. Cả các đồn bót địch ở ven sông cũng bị ngập, bị trôi. Tại cầu Lộc Ninh, mực nước suối đôi lên cao 18,70 mét, tại cầu Cần Đăng 13,18 mét, chợ Tây Ninh ngập 3,60 mét. Huyện Châu Thành bị ngập 4 xã: Đước Hòa Bình, Khăng Xuyên, Thanh Điền, Long-Xuyên-Điền, hàng ngàn mẫu lúa và rẫy bị ngập. Sau lụt chỉ còn thu hoạch 180 mẫu lúa. Dân bị mất 80% lúa, 40% rẫy. Cơ sở tự túc của dân, quân, chính huyện và các cơ quan tỉnh mất 100% lúa và 50% rẫy. Huyện Trảng Bàng mất 2/3 số ruộng lúa, 220 nhà bị ngập, 92 người chết. Huyện Dương Minh Châu mất 50% rẫy và ruộng. Tính chung 3 huyện mất khoảng 500.000 giạ lúa.

Thiên tai gây tác hại chung cho cả địch và ta. Trong mấy tháng cuối năm địch cũng lo tiến hành củng cố đồn bót bị thiệt hại, song đầu năm mới lợi dụng chỗ khó của ta về lương thực mở các cuộc càn ngăn chặn bao vây đánh phá ta một số nơi.

Vấn đề lương thực lại quá khó khăn, ảnh hưởng đến các mặt hoạt động khác của ta nói chung và riêng trong vùng căn cứ. Tỉnh ủy họp đề ra chủ trương: chống giặc đói ngang hàng với giặc Pháp, chống chính sách dụ dân, bót nghẹt dân của địch, cố gắng giải quyết cho dân có ăn, có mặc, bảo đảm học tập và vận dụng tốt về chính sách thuế nông nghiệp. Tất cả các huyện và các cấp, các ngành thực hiện phương châm đẩy mạnh sản xuất. Lúc đầu trồng ngay lang, mì, bắp để cấp thời cứu đói và tiến hành cấy, gieo lúa sớm, chuẩn bị làm mùa sắp tới. Tất cả đều phải ăn cù mì, bắp thay gạo là chính, từ đầu năm 1953, đến giáp hạt. Tuyệt đối cấm nấu rượu và làm cá loại bánh bằng nếp, gạo. Đưa 5% cán bộ nhân viên đi sản xuất. Mở rộng đợt tuyên truyên giải thích trong dân thông suốt chủ trương của tỉnh ủy cùng tiết kiệm lương thực và đẩy mạnh sản xuất lương thực…

Các huyện ủy chỉ đạo cho các chi bộ đi đầu, cùng các đoàn thể nông, thanh, phụ, vận động động đồng bào các xã trong căn cứ sản xuất chống đói. Đồng bào dọn ngay đất rẫy mùa nhì và lợi dụng phù sa của lũ để lại ở mép suối triền sông. Nước rút đến đâu là hoa màu, bắp, mì, khoai mọc lên đến đó. Các loại măng le, tre, nứa, củ nầng, nấm hương, nấm nối, hạt dẻ, trái cây, ngọn lá… đều được tận dụng. Các nghề truyền thống như săn bắn thú rừng, làm sa bắt cá, lượm mủ chai, đốt dầu trong, đan lát mây tre cũng được phát huy tạo thêm nguồn hàng hóa gửi đi đổi lương thực. Bà con chèo thuyền đến tận các rẫy xa ở đầu nguồn sông, suối, trồng cây lương thực, chẳng những nuôi gia đình mà còn nuôi chồng, con, em trong bộ đội. Ở Châu Thành và Trảng Bàng còn phát động mạnh phong trào trồng khoai ruộng, trồng xen vụ bắp, màu, bí, đậu để cấp thời cứu đói và chuẩn bị làm mùa. Việc rút gạo trong Thị xã, Thị trấn cũng được tiến hành khẩn trương và khéo léo một việc làm không chỉ vì tiền lời mà còn mang ý thức kháng chiến. Đường dây tải gạo từ Đồng Tháp Mười lên cũng được củng cố và mở rộng. Tất cả bộ đội và du kích đều sản xuất tự túc; làm ruộng, làm rẫy, trồng khoai, bắp, rau xanh và lượm mủ chai, cắt lá mật cật gởi đồng bào bán mua gạo. Anh nuôi còn tìm môn nước, lá lục bình, rau móp, tát cá mò cua, lo thêm bữa ăn cho chiến sĩ. Vai trò nòng cốt của đảng viên trong bội đội cũng rất rõ. Anh em chiến sĩ nói: “cứ xem khi chọn người đi xung kích thì có người đưa tay trước, lúc anh em ngủ thì có người đi tát cá, hái rau, xắn măng về nấu cho anh em cải thiện thêm… đó là những đảng viên”. Tất cả đã thể hiện tinh thần quyết tâm của các chi bộ xã, chi bộ đại đội, các đoàn thể cộng với thế lực mạnh của lực lượng quần chúng. “Ý Đảng lòng dân” quyện chặt vào nhau tích cực chống giặc đói và chống giặc càn quét. Một phần lương thực được giải quyết tại chỗ, cộng với nguồn tiếp tế khác cho các huyện, nhát là huyện căn cứ nhanh chóng vượt khó khăn. Những cảnh sống mì, bắp thay cơm, một lon gạo chia làm 7 ngày nấu cháo cho một định suất chiến sĩ… Tình trạng thiếu kém kéo dài đến giáp hạt, đồng bào và chiến sĩ Tây Ninh không vì khó khăn lương thực mà bê trễ việc đối phó với giặc, mà càng khó, khổ tình quân dân càng đậm đà. C.40 chống giặc càn lấy lại tàn sản, lương thực, hoa màu bị giặc cướp giao nộp đủ cho xã trả lại đồng bào không thiếu một củ mì, trái bầu trong lúc chiến sĩ đã ăn đói nhiều ngày qua. Còn đồng bào thì biết bao gia đình xẻ từng lon gạo, củ khoai cho anh em chiến sĩ. Tình nghĩa keo sơn của đồng bào và chiến sĩ Tây Ninh đã được các văn nghệ sĩ sáng tác nhiều thơ ca kháng chiến trong đó có bài “lên ngàn” nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Việt.

Bước sang năm 1953, tình hình chiến trường chung có nhiều thay đổi lớn. Sau chiến dịch Hòa Bình (10-52) thắng lợi và chiến dịch Thượng Lào chuẩn bị mở trong năm 1953, địch lúng túng bị động, lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Ý đồ củng cố chiến trường Nam Bộ địch không thực hiện được. Ba thứ quân của lực lượng võ trang kháng chiến ở Nam bộ đều lớn mạnh. Ở tỉnh Gia Ninh cũng thế, riêng các huyện của Tây Ninh cũ đã nhanh chóng vượt qua trận đói của lũ lụt Nhâm Thìn, mọi mặt đều từng bước được ổn định trở lại.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:34:15 AM
Tỉnh ủy Gia Ninh sau khi chuyển bộ phận lãnh đạo căn cứ địa Bàu Hang, giao cho hai huyện Đức Hòa Thành và Trảng Bàng tổ chức đường dây liên lạc từ huyện lên tỉnh và ngược lại đảm bảo giao liên và tiếp cận thông suốt. Tỉnh chỉ thị cho huyện Trảng Bàng lùi căn cứ lên khu 4 của huyện Dương Minh Châu. Tỉnh nhắc các huyện tiếp tục thực hiện việc chuyển hướng công tác vào vùng địch, kiểm soát kiên quyết một thời gian nhứt định chuyển phong trào lên mạnh đồng thời cơ quan tổ chức gọn nhẹ, tập trung cán bộ cho vùng yếu và xã đồng thời đề ra 6 nhiệm vụ công tác:

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác Cao Đài vận, gắn với công tác địch, ngụy vận.

- Tiếp tục công tác giáo dục nhiệm vụ và phương châm hoạt động theo chuyển hướng tổ chức và chú ý vùng yếu.

- Tuyên truyền phổ biến tin chiến thắng các chiến dịch lớn: Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào gây phấn khởi nội bộ và gây hoang mang trong hàng ngũ địch.

- Tiếp tục chống địch lấn chiếm căn cứ và vùng căn cứ quan trọng.

- Tiến lên tổ chức đánh giao thông chiến.

- Đẩy mạnh phát triển sản xuất, bảo vệ sản xuất, và phát động phong trào tiết kiệm và thực hiện thuế nông nghiệp.

Các huyện ủy Trảng Bàng, Châu Thành, Dương Minh Châu chấp hành khá nghiêm chỉnh việc tổ chức thực hiện hai chính sách lớn Cao Đài vận và thuế nông nghệp. Các tổ chức Đảng và chính quyền được học tập thông suốt trước rồi chủ trương kế hoạch đưa ra dân qua các đoàn thể trong mặt trận. Các đoàn thể phổ biến rộng rãi đến tận người Hội viên và vận động quần chúng tuyên truyền động viên nhau chấp hành. Vợ động viên chồng, cha mẹ chú bác động viên con cháu họ hàng chấp hành chính sách và bản thân các cụ già làm gương trong tác động tình cảm rất mạnh mẽ. Khâu nào khó, gia đình nào mắc mứu chưa thông, các cụ đến thuyết phục, nhiều lúc hay hơn cán bộ. Lực lượng thanh niên được sử dụng làm đội xung kích, đội tuyên truyền xung phong, sử dụng văn nghệ để vận động tuyên truyền trong quần chúng rất sôi nổi và đạt kết quả cao.

Chính sách thuế nông nghiệp vừa làm nghĩa vụ công dân vừa mang tình cảm của quần chúng, chứng tỏ kháng chiến đã lớn mạnh (đóng góp theo hình thức lũy tiến từ 10% đến 45%, số đóng góp bình quân vùng độc lập đóng 60%, vùng bán độc lập đóng 40% đã góp phần giải quyết tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ và đồng bào. Nhất là sau vụ mùa 1953, qua thuế nông nghiệp đáp ứng được một phần cung cấp lương thực cho bộ đội và cán bộ. Cán bộ, chiến sĩ thêm an tâm phấn khởi. Đồng bào cảm thấy việc đóng góp của mình thiết thực nuôi quân đánh giặc, góp công sức kháng chiến, tình đoàn kết quân dân thêm gắn bó.

Về địch sau cơn lũ, chúng lợi dụng lúc ta khó khăn tiến hành đóng thêm bót Cầu Xa cách, bót Trâm Sụ và bót ngã 3 Đất Sét, đóng thêm tháp canh dọc lộ 26, tổ chức thêm Com-măng-đô thọc sâu, đánh lẻ. Ý đồ của địch muốn khống chế, ngăn chặn các hoạt động của cơ quan đầu não lãnh đạo của ta ở khu căn cứ địa phía bắc đông bắc (TWC) và phía bắc tây bắc, chúng mở cuộc tấn công vào căn cứ Bàu Hang của Tỉnh ủy Gia Ninh (6/53). Địch sử dụng khoảng 2 tiểu đoàn lính Lê Dương và B.V.N đi ba mặt: cơ giới, bộ binh từ ngã ba Vịnh lên, từ bót Cây Dầu, Bến Kế (CPC) xuống Chót-Lê-Viêng và tàu chiến từ sông Vàm Cỏ đổ bộ vào Băng Dung và một bộ phận tàu mặt dựng chạy theo Rạch Sóc Om và Bàu Ông Cả. Ý đồ địch đánh mặt tiền căn cứ và bí mật cho một cánh cắt rừng bọc hậu căn cứ Bàu Hang rồi xuyên rừng ra Bàu Ông Cả xuống tàu mặt dựng. Do thế trận bố trí chu đáo của d.923 kết hợp với du kích xã Khăng Xuyên, cánh quân địch bí mật cắt rừng bị chặn đánh rút ra đường 13 lại bị đánh. Các cánh khác cũng đều bị đánh hoặc bị chồng mìn giăng bẫy. Đến trưa địch thấy lộ tông tích và ngán ngại thế trận du kích của căn cứ địa, chúng hợp điểm ở lộ 13 và rút luôn về hướng ngã ba Vịnh. Lực lượng tàu mặt dựng không gặp bộ binh, chúng đốt vài cái chòi ở Rạch Sóc Om và rút ra cùng tàu lồng cu bắn xối xả hai bên sông rồi dông tuốt về Bến Kéo.

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, các đại đội của tiểu đoàn tập trung tỉnh hỗ trợ cho các đại đội, trung đội địa phương huyện và du kích xã hoạt động chống lấn chiếm.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:34:40 AM
Bộ đội địa phương Dương Minh Châu hoạt động khá tốt. Trung đội 9 hoạt động vùng xã Phước Ninh. Trung đội 8 bám xã Định Thành, trung đội 7 lưu động vùng các xã Ninh Thạnh, Thạnh Bình, Chơn Bà Đen. Các trung đội kết hợp chặt với các xã diệt các độ Com-măng-đô thọc sâu đánh lẻ, chặn các mũi càn quét lấn chiếm và bắn tỉa khống chế các đồn bót quanh căn cứ. Khá nhất là trung đội 6 trinh sát đặc công của huyện đã bám sát các trục lộ 26, 13 liên tục dùng Ba-zô-min diệt xe cơ giới địch, dùng Ba-zô-ca diệt tháp canh, dùng Bê-ta phá tung các lô cốt công sự ngầm. Các đội du kích cũng sử dụng được Ba-zô-ca, Bê-ta hạ tháp canh, lộ cốt. Đội du kích xã Phước Ninh hoạt động mạnh nhất trong xã.

Các đại đội 916, 917 (d.306) đại đội 75, 80 (d.302) cung tăng cường hoạt động kiềm chế địch. Để tạo điều kiện tốt cho các lực lượng địa phương bảo vệ căn cứ, các đại đội chủ lực kết hợp với đại đội đặc công (d.304) đánh cường tập bót Hai Sòng. Ta dùng Ba-zô-ca và S.K.Z bắn sập lô cốt pháo đài, diệt 2/3 quân số, bọn còn lại cố thủ ở lô cốt ngầm chờ tiếp viện. Tiếp đó ta đánh bót cầu Lộc Ninh, đột kích diệt bót Cầu Xa Cách, phá hủy kho súng khá lớn của địch dự trữ cho các đồn bót ở khu vực này.

Huyện Châu Thành có kế hoạch hoạt động cho các lực lượng địa phương mở rộng chiến trường chống lấn chiếm tiến lên đánh giao thông chiến… Đại đội 40 đã trưởng thành, các đội du kích xã cũng hoạt động rất tốt. Du kích các xã Thái Bình, Thanh Điền, đã cùng C.40 khống chế đường 13 (Bến Sỏi đi Thị xã Tây Ninh); nhất là đoạn Tầm Long, Trảng Lớn, địch cho là đoạn đường đẫm máu, có ngày xảy ra 5-7 trận liên tiếp giữa địch và du kích hoặc C.40. Các lô cốt, tháp canh dọc lộ dựng lên gục xuống không biết mấy lần. Bọn địch hoảng sợ phải thương lượng xin “anh Đội du kích” cho yên thân, du kích tự do đi lại đêm ngày. Ba-zô-min của du kích tung xe bọc thép giặc khắp các đoạn đường trên lộ 13.

C.40 còn kết hợp với các đại đội chủ lực diệt đồn địch và diệt địch lúc đi càn lớn. Ở thời điểm này đại đội địch không dám đi càn, lực lượng tiểu đoàn đi càn cũng phải loại thiện chiến sừng sỏ. Trận càn Bàu Sen của tiểu đoàn B.V.N đã bị ta diệt gọn. Trận này, tiểu đoàn địch chia ra 3 mũi tiến vào Xóm Trường im lặng, rồi đêm ém quân lại để thực hiện ý đồ bất ngờ đánh ta. C.40 trinh sát kỹ và liên lạc với d.302 đánh địch giạt ra giữa ruộng, bị C.75 rót pháo cối vào đội hình. Bọn chúng quần nhau, lúng túng và phơi thây ngoài ruộng lúa lực lượng ta xung phong diệt địch, truy kích địch, bắt sống 22 tên vừa Pháp và ngụy, thu nhiều súng các loại (Về sau du kích còn lượm súng dưới ruộng, năm sau cày ruộng còn gặp súng trận này). Các tên bị bắt, ta xét hỏi và thả ngay tại chỗ chỉ giữ lại 2 tên Pháp và 2 tên Việt gian có nợ máu giao nộp lên trên.

Huyện Trảng Bàng, chỉ đạo mở rộng công tác Cao Đài vận, tập trung cán bộ tốt cho huyện đội chấn chỉnh bộ đội địa phương huyện từ 5 trung đội thiếu thành 4 trung đội mạnh. Hai trung đội khinh binh, 1 trung đội phụ trách vùng và 1 trung đội trinh sát đặc công. Tăng cường du kích xã giao cho xã đội phụ trách trực tiếp. Phương thức tổ chức này đã thực hiện được ý đồ chiến lược của trên là vận dụng du kích chiến là chính, đồng thời tiến lên đánh giao thông chiến, vận động chiến để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch kết hợp với chiến trường chính. Từ đó du kích và bộ đội địa phương hỗ trợ nhau hoạt động mạnh khắp các chiến trường huyện. Đại đội địa phương két hợp với đại đội chủ lực của d.306 đánh nhiều trận thối động như diệt đại đội Cao Đài ở Bố Heo. Đại đội địa phương kết hợp với d.306 diệt gọn tiểu đoàn B.V.N ở suối Bời Lời. Trận này Pháp điều lực lượng 2 tiểu đoàn ở Thủ Dầu Một và Tây Ninh mở cuộc càn vào Đôn Thuận, có máy bay và pháo yểm trợ. Địch đốt phá nhiều nhà cửa, bắn chết trên 200 trâu bò khu vực từ Bến Kinh và Bà Nhã, bắt trên 100 đồng bào trở về Trảng Bàng. Hai tiểu đoàn địch tiếp tục càn quét hỗ trợ cho bọn đóng bót Bời Lời, Mang Chà, Trảng Tròn, Trảng Cỏ, Mãi Nài… Được đại đội địa phương báo cáo, Ban chỉ huy tỉnh đội quyết định tổ chức và trực tiếp chỉ huy trận đánh. Các đại đội 916, 917 cùng đại đội địa phương đánh thẳng vào đội hình địch, lùa chúng xuống Bời Lời, hai bên giáp lá cà, ta diệt 1 tiểu đoàn Pháp (lần đầu 1 tiểu đoàn Lê Dương bị diệt gọn). Bọn sống sót băng rừng lội suối chạy thoát, gọi pháo bắn yểm trợ, pháo địch trúng hầm chỉ huy, đồng chí Đỗ Thế Nhân hy sinh và nhiều đồng chí khác bị thương.

Qua các hoạt động mạnh của du kích, bộ đội địa phương và chủ lực suốt mùa khô 1952-1953, ta đã thu trên 300 súng các loại và diệt nhiều sinh lực địch, trong đó có các tiểu đoàn B.V.N bị diệt gọn, các đại đội gian ác của Cao Đài liên minh và bọn phản động Cao Đài còn ôm chân Pháp. Ta diệt nhiều toán Com-măng-đô, phá hủy nhiều xe cơ giới, hạ nhiều tháp canh cường tập, đột kích công đồn triệt hạ một số đồn địch, buộc địch co lại trong đồn bót, xây dựng thêm công sự kiên cố, cố thủ. Thế ta lên, giành chủ động chiến trường, tiến lên kềm chân địch hỗ trợ cho chiến trường chính của Trung ương.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:35:10 AM
3/ Phát triển vùng giải phóng, chủ động tiến công địch trên khắp ba vùng kháng chiến:

Từ cuối năm 1953 trỏ đi, ta liên tục giành được những thắng lợi quân sự qua một loạt chiến dịch lớn trên khắp chiến trường cả nước và Đông Dương. Cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Pháp ngày càng đi vào con đường bế tắc, chúng ngoan cố tranh thủ viện trợ Mỹ đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm ra một lối thoát khả dĩ, nhưng gặp phải hàng loạt khó khăn lớn, đặc biệt thiếu quân số trầm trọng.

Tỉnh ủy Tây Ninh nhận được chỉ thị của Trung ương Cục “chuẩn bị đón thời cơ mới”. Bộ Tư lệnh quân khu Miền Đông đề ra 3 nhiệm vụ chính cho các tỉnh là giữ vững và đẩy mạnh du kích chiến tranh, củng cố và mở rộng vùng tranh chấp vùng giải phóng và căn cứ địa, đẩy mạnh công tác địch ngụy vận. Phương châm tác chiến lúc này là lấy du kích chiến tranh làm chính, học tập đánh vận động trong điều kiện thuận lợi.

Trên chiến trường Gia Ninh, địch rút bớt các đồn bót lẻ và các đơn vị Âu Phi, thay thế vội vã vào đó các đơn vị ngụy binh mới thành lập. Tinh thần binh lính địch sa sút ngiêm trọng. Phong trào kháng chiến trong toàn tỉnh đang trên đà chuyển biến lớn. Nhiều nơi quần chúng nổi lên bao vây, cướp đồn bót địch. Chỉ riêng tháng 3/1945 đã có hàng chục đồn bót địch bị quần chúng san bằng. Tại các thị trấn Hóc Môn, Gò Vấp quân ta trừng trị bọn ác ôn ngay giữa ban ngày.

Tiểu đoàn 306, lực lượng chủ lực của tỉnh đã cho các đại đội xuống các huyện chủ động kết hợp với các đại đội địa phương tạo những quả đấm mạnh cầm chân địch trong các thị trấn, thị xã và đồn bót lớn, đồng thời chuẩn bị chiến trường cho toàn tiểu đoàn đánh lớn.

Ở các huyện Trảng Bàng, Châu Thành, Dương Minh Châu, hầu hết các tháp canh bị hạ hoặc bắt liên lạc với du kích để được yên. Kế hoạch De la tour bị vô hiệu quả. Các đồn bót lẻ đóng sâu của Cao Đài đều nhận điều kiện của ta nằm im không càn phá. Bọn Rờ-sạt, Com-măng-đô bị du kích diệt không dám thọc sâu, thậm chí đặc công huyện vào tận trong ổ của chóng ở bót Lò Heo, Thị xã Tây Ninh diệt chúng bằng rựa. Các đại đội địa phương hoạt động mạnh mẽ, luồn sâu vào sau lưng địch đánh những cú thối động.

C.40 đã bước qua sông Vàm Cỏ đứng chân, kết hợp với d.302 đánh công đồn sở cao su Oconel. Sở cao su Oconel cách thị xã 1,5 km, bót này cũng loại lớn, ở đây làm hai nhiệm vụ: bảo vệ sở và giữ mặt ngoài thị xã Tây Ninh. Địch bố trí công sự khá kiên cố. ta dùng Ba-zô-ca, S-K-Z, bắn sập pháo đài chính, dùng Bê-ta diệt các hầm ngầm công sự bên trong, đốt cháy kho súng từ 1 giờ khuya. Đến 8 giờ sáng địch từ Thị xã mới dám ra tiếp viện. Bót Oconel bị tiêu diệt hoàn toàn ta thu nhiều súng các loại và đốt phá nhiều vũ khí, khí tài dự trữ của địch, bắt sống 5 tên Pháp (3 nam, 2 nữ). Ta đem tù binh ra căn cứ giáo dục và thả về thị xã, giao cho một tù binh nữ người Pháp, một bó truyền đơn đem về rải từ Cầu Quan qua các khu phố và công sở. Nó thi hành đúng lệnh, làm rệu rã thêm tinh thần và quần chúng thị xã phấn khích.

Cao Đài liên minh rút chạy khỏi rừng Long – Xuyên – Điền về co cụm ở Bến Cậu. Chỗ dựa là bót Năm Dinh, tên chúa đất vẫn còn hoành hành trong vùng. Nó có khám riêng nhốt hàng chục nông dân không đủ lúa đóng thuế ruộng nó khoanh chiếm. Lần trước ta đánh chưa được, lần nầy C.40 điều nghiên kỹ, bố trí diệt bót bằng đặc công B.5 thuộc C.40 đã đặt Bê-ta vào hai dãy nhà lính và 1 Bê-ta vào đầu giường tên đại đội trưởng. Đại đội bảo vệ ngoài rào, chờ A.2/B.3 và hai A/B.25 lội sông vượt hào sâu kiên cố đem Bê-ta vào bót chính diệt tên Dinh làm lệnh chung. Giờ G là 1 giờ trôi qua, 2 giờ rồi 3 giờ các a mới vượt được chướng ngại nổ Bê-ta lệnh thì đồng loạt Bê-ta của b.5 cùng nổ. Tên Năm Dinh bị tan xác và đồng bọn bị diệt sạch. Ta chiếm đồng giải thoát cho đồng bào bị nó giam giữ. Bọn liên minh ở Bến Cầu không dám ra tiếp viện và từ đó nàm im luôn không càn quấy nữa. Cả vùng rộng lớn của huyện Châu Thành được giải phóng.

Ở Trảng Bàng các lô cốt dọc lộ 1, lộ 22, lộ 6A Trảng Bàng, Bùng Binh, lộ 19 Trảng Bàng – Bàu Đồn, lộ (253) tắt ngang Gò Dầu qua lộ 19, lộ từ Thạnh Đức qua lộ 26… đều bị du kích và binh chủng chuyên môn huyện diệt sạch. Một số liên lạc với du kích xin nằm im để khỏi bị đánh. Bót Cầu Ván, Cầu Xe bị diệt mấy lần, sau bọn chỉ huy liên lạc với ta xin nằm im. Giặc Pháp phải cho kiểm tra, đổi bọn chỉ huy và thay lính khác đến. Nhưng chúng cũng biết thân phận không dám sục sạo.

Đại đội địa phương kết hợp với đại đội chủ lực tỉnh diệt đồn Truông Mít lúc trung đội Pháp mới đến chuẩn bị đóng bót. Lực lượng địa phương liên tiếp tấn công bao vây, bắn tỉa hù dọa bức rút bót Bùng Binh, tiêu diệt bót Bà Nhãn, tiêu hao nặng bót Gia Bình, bức rút bót Mang Chà, Trảng Sa. Chiến thắng liên tiếp, binh sĩ Cao Đài bỏ ngũ ra hàng ta càng nhiều. Căn cứ Bời Lời càng được mở rộng. Nhiều vùng nông thôn được giải phóng.

Ở huyện căn cứ địa Dương Minh Châu, các tháp canh còn lại ở lộ 13 và 26 xin nằm im. Các trung đội của đại đội địa phương huyện đã khống chế hẳn các bót bên trong và hoạt động manh ra đánh địch ở vòng ngoài căn cứ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:36:00 AM
*
*   *

Cùng với hoạt động tiến công sau lưng địch mở rộng vùng giải phóng, ta tiếp tục phát động phong trào đẩy mạnh kháng chiến toàn diện ở cả 3 vùng.

Địch chuyển sang đánh vào tinh thần quần chúng với âm mưu dụ dân và diệt tinh thần yêu nước kháng chiến một cách thâm độc hơn ở Thị xã, thị trấn. Chúng khuyến khích thanh niên ăn chơi, xa hoa, trụy lạc mua sắm xe đua, đồng hồ, kiếng mát, đờn ca, đá banh,… phụ nữ thì trang sức se sưa, bịt răng vàng, chụp hình ngồi trên xe tăng, mặc quân phục tập cầm lái xe hơi… đối với nông dân khá giả thì mua máy hát, cúng kiến, giỗ chạp, cưới xin, má chay linh đình, cờ bạc, chơi hụi… và từng bước đưa văn hóa Mỹ xâm nhập vào. Ở vùng nông thôn sâu, vùng giải phóng của ta, chúng cho máy bay thả các thùng đồ hộp, máy hát, rađio, mì khô và xa xỉ phẩm để cuối cùng là những thùng thuốc nổ nhằm đánh vào du kích và nhân dân.

Quần chúng ở thị xã, thị trấn được ta giải thích động viên sống giải dị theo thuần phong mĩ tục Việt Nam và tiết kiệm, làm việc nghĩa cứu giúp những người tàn tật. Số đồng bào giác ngộ khá thì ta khuyên đóng góp ủng hộ kháng chiến. Với đồng bào vùng nông thôn sâu, vùng giải phóng, ta phát động cảnh giác âm mưu địch trước giờ giãy chết. Hầu hết các vụ máy bay địch thả đồ dùng và biệt kích dù đều bị đồng bào ta phát hiện bắt gọn và tháo gỡ an toàn. Hai tên biệt kích dù Bé và Kiểm bị ta bắt ở rừng Bàu Hang. Nhiều vụ nổ làm chết người xảy ra nhiều nơi trong cùng một đêm trong đó có 2 vụ nổ đáng tiếc ở Sóc Thiếc làm chết 4 người và ở Bàu Huỳnh chết 9 người.

Phong trào công nhân cao su đấu tranh chống bóc lột hà khắc, chống tăng giờ làm, tăng công việc, tăng cúp phạt, nhưng lương lại không tăng… và mở rộng diện phá kinh tế địch, đã đi vào chiều sâu, tinh vi, có tổ chức hơn, địch khó phát hiện và bắt bớ cán bộ, công đoàn ở các sở. Hầu hết các sở đều có tổ chức công nhân tự vệ mật diệt loại Cai, Ký gian ác. Du kích mật kết hợp với du kích xã, bộ đội địa phương diệt địch tại sở, tại nhà máy. Phong trào mạnh nhất lúc này là ở sở Bến Củi và Vên Vên.

Nông hội được củng cố thêm về tổ chức, đẩy mạnh đấy tranh giảm tô ở vùng trong và tiến hành tạm cấp thêm ruộng đất của địa chủ, ruộng công điền cho nông dân nghèo. Tỉnh ủy cũng chấn chỉnh kịp thời một số nơi còn ruộng công điền và đưa cấp hết theo yêu cầu của nông dân, tạo thêm phấn khởi cho quần chúng.

Thanh niên hai huyện Dương Minh Châu và Trảng Bàng phát động mạnh phong trào tòng quân, gia nhập du kích thoát ly và du kích mật bảo vệ xóm ấp. Thanh niên huyện Châu Thành và Dương Minh Châu đã hăng hái tham gia phong trào phá hoại giao thông và kinh tế địch. Tất cả thanh niên các huyện đuề quyết tâm tăng gia sản xuất chống đói, nuôi quân đánh giặc.

Phụ nữ tổ chức tốt công tác binh vận làm rệu rã tinh thần binh sĩ địch. Việc đào rã ngũ hầu như thành phong tào, làm cho địch khốn đốn, phải đẩy mạnh việc đôn quân, bắt lính cũng không kịp lấp lỗ trống thiếu quân. Chị em còn phát động phong trào đấu tranh chống mê tín dị đoan, ăn chơi xa xỉ ở thị xã, thị trấn, chống nạn mù chữ ở vùng căn cứ và tiến hành chấn chỉnh tổ chức phụ nữ huyện và các xã, khắc phục các mặt sa sút, đẩy phong trào phụ nữ tiến mạnh kịp thời với tình hình chung, đặc biệt là sản xuất nuôi quân.

Các ủy ban kháng chiến hành chánh huyện, xã cũng được củng cố và đẩy mạnh hoạt động phục vụ kịp thời cho yêu cầu chung của chiến trường, nhất là tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng việc thực hiện hai chính sách lớn: Cao Đài vận và thuế nông nghiệp. Ủy ban huyện, xã đều có biện pháp tích cực nhất lo sản xuất tự túc lương thực, hoa màu, đẩy mạnh việc tiếp vận và giao lưu hàng hóa, lương thực ở các vùng về để ổn định đời sống đồng bào, cán bộ chiến sĩ yên tâm kháng chiến.

Vùng giải phóng mới được mở rộng cách lộ lớn độ vài cây số, cách thị trấn thị xã từ 3 đến 5 cây số, cách đồn bót địch 3 cây số, có nơi gọi là vùng tranh chấp mạnh. Địch kiểm soát thị trấn, thị xã và giao thông chính, nhưng ban đêm thì thế ta địch xôi đậu. Do đó, các vùng căn cứ càng an toàn, các lực lượng tỉnh, huyện, khu Đông Campuchia, Trung ương Cục lần lượt về nghi chân rèn cán chỉnh quân, hội nghị đúc kết kinh nghiệm. Các đoàn văn công, chiếu bóng, văn nghệ quần chúng của huyện, tỉnh, khu cũng lần lượt về các vùng căn cứ, vùng giải phóng ven thị xã, thị trấn phục vụ đồng bào, chiến sĩ. Cả đồng bào ngoài thị xã, thành phố cũng náo nức vào xem. Lúc này có điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ ở nơi khác đến kháng chiến ở Tây Ninh và Đông Campuchia móc nối gia đình ra thăm.

Công tác Đảng đã đi trước một bước, Thường vụ Tỉnh ủy phân công cán bộ xuống các huyện ủy, kiểm điểm chấn chỉnh củng cố thêm nội bộ, đẩy mạnh sinh hoạt Đảng mọi mặt. Các huyện ủy tiến hành củng cố các chi bộ, liên chi cơ quan huyện và các Đảng ủy, chi bộ xã lúc này ở vùng căn cứ, tỷ lệ đảng viên khá đông. Vùng tạm chiếm số đảng viên thấp hơn nhiều. Số đảng viên và chi bộ bám cơ sở bên trong còn ít, phần lớn còn đứng ngoài luồn vô thị xã lãnh đạo. Huyện ủy đã chỉ đạo các chi bộ đưa cán bộ đảng viên vào bám thị xã, thị trấn để kịp lãnh đạo phong trào theo yêu cầu chung. Vùng du kích có lúc còn bị xáo trộn, sinh hoạt rời rạc, nay huyện ủy bồi dưỡng cho các chi ủy viên, nâng cao ý thức trách nhiệm củng cố lại nề nếp sinh hoạt và sự lãnh đạo chi bộ. Các chi bộ liên chi ngành công an, tòa án, các mặt kinh tế tài chính, thuế vụ, giao lưu hàng hóa… cùng với tổ chức Đảng trong các đoàn thể quân đội đều được củng cố đồng nhịp làm nòng cốt đẩy mạnh mọi mặt kháng chiến tiến lên theo đà tiến triển chung toàn chiến trường.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:36:34 AM
Hưởng ứng chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, các huyện Châu Thành, Dương Minh Chuâ, Trảng Bàng đồng loạt tấn công địch mở rộng chiến trường.

Cuối năm 1953, ta diệt các bót quan trọng của Cao Đài liên minh đóng ở Châu Thành, làm chúng hoảng sợ rút bỏ các bót đóng ở vùng rừng, chạy về Bến Cầu. Sang đầu năm 1954, ta diệt bót Năm Dinh. Chỗ dựa đầu não này mất, bọn Cao Đài liên minh co lại không càn quấy nữa. Cả vùng rộng lớn bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ được giải phóng. Lực lượng địa phương huyện được chuyển qua tả ngạn sông Vàm Cỏ đứng chân cùng du kích các xã kềm chế lộ 13, kết hợp với d.302 diệt bót Oconel làm chủ luôn lộ 7, đẩy địch lui về thị xã cố thủ. Các bót còn lại bên ngoài chỉ còn hình thức, sĩ quan, binh lính đều cầu hòa, nằm im, ta để hoặc gỡ lúc này tùo yêu cầu.

Ở huyện Dương Minh Châu bước sang Đông Xuân 1953-1954 các lực lượng địa phương huyện mở rộng hoạt động ra ngoại vi căn cứ. Lộ 26 Bầu Năng, Truông Mít coi như chiến trường chính của Dương Minh Châu. Nhiều đoàn “công voa” bị diệt. Tháng 3/1954 đại đội địa phương huyện phục kích đánh diệt đại đội Com-măng-đô có Pháp chỉ huy tại Cầu Nhỏ, thu 1 trung liên, 2 Mút Mác, 1 súng ngắn. Từ đó bọn đóng tại chỗ không dám ló đầu ra khỏi bót, xin ta cho để yên, bọn từ xa đến càn thì bị đánh, bị diệt. Cả đến lực lượng tương ứng chiến cũng ngán ngại đi vào vùng căn cứ. Chúng bảo nhau: “từ thần” đã trao lưỡi hái trên cổ bọn nào dại mang đầu đến căn cứ của Việt Minh. Huyện Dương Minh Châu an toàn tức là khu căn cứ của Trung ương Cục, của Khu, của tỉnh an toàn. Mọi hoạt động chỉ đạo chung toàn Miền, toàn Khu, toàn tỉnh được thông suốt kịp thời, đáp ứng sự chuyển biến nhanh, nhạy cho giai đoạn chót cuộc chiến tranh chống Pháp.

Ở huyện Trảng Bàng, đại đội địa phương kết hợp với các đại đội chủ lực tỉnh mở rộng chiến trường và đánh giao thông chiến ở lộ 26, 22, lộ 1. Đi lại của địch phải bằng đoàn Công Voa từ Sài Gòn lên lộ 1, 22 lên tây Ninh, từ Tây Ninh xuống lộ 26 hoặc ngược lại đều phải rải bọn dò mìn từng chặng, nhưng xe địch cũng liên tiếp bị Ba-zô-min của ta gài, đánh nổ tung. Địch thắc thỏm lo sợ đạn dược, quân dụng, trang thiết bị từ Sài Gòn chở lên tiếp tế cho Việt Minh chớ không phải cho Pháp, ngụy ở Tây Ninh. Sau trận càn lớn mà tiểu đoan Lê Dương bị diệt ở suối Bời Lời, các bót Bùng Binh, Mang Chà, Trảng Sa, Bà Nhã, Truông Mít bị bao vây, bức rút, bị diệt và bót Gia Bình bị đánh thiệt hại nặng. Thế và lực tại Trảng Bàng đã dân lên bước mới. Địch cố giải tỏa các bót Cao Đài bị vây. Chúng bị đại đội địa phương và đại đội 916 đánh diệt, thu 85 súng. Tháng sau, địch điều tiểu đoàn chủ lực mang danh hiệu H.Y xuống ứng cứu bót Bùng Binh bị ta phục kích tại Tua Cây Cám (Xóm Suối) diệt hầu hết, bọn sống sót tháo chạy thục mạng về Trảng Bàng. Lực lượng Pháp, ngụy ở Tây Ninh lo âu. Địch chỉ còn có cách ỳ ra trước sự thúc ép của trên, nằm im cố thủ thụ động. Đó là hiện tình của huyện Trảng Bàng và các huyện trong toàn tỉnh Gia Ninh. Thế ta đã chồm lên mọi chỗ đánh địch, đẩy địch lùi sâu trong thị xã, thị trấn trong bót lớn, có hầm hào, công sự kiện cố.

Tin chiến thắng dồn dập bay về. Đồng bào ta ở các vùng căn cứ, vùng du kích, vùng thị xã và thị trấn đều nô nức phấn khởi. Mọi người tìm cách giúp đỡ bộ đội, quyên góp thuốc men, lương thực ủng hộ kháng chiến để mau chóng giành thắng lợi hoàn toàn.

Các cơ quan Đảng, Chính, Dân tỉnh, huyện mở rộng luồn sâu vào vùng địch hậu phát huy chiến quả, giành lợi thế về chính trị, uy hiếp thêm tinh thần ngụy quân, ngụy quyền và giặc Pháp.

Ngày 7-5-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Ngày 20-5-1954 hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Lệnh ngừng bắn được ban hành trên khắp các vùng chiến trường ở Nam bộ.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân đã giành thắng lợi rực rỡ. Người dân Tây Ninh từ cán bộ, chiến sĩ đến bác nông dân miệt ruộng vẫn biết rằng thắng lợi sẽ đến, vẫn không khỏi xúc động bàng hoàng. Đã hơn 104 tháng trời ròng rã kháng chiến, nếu tính từ ngày thực dân Pháp đặt bàn chân xâm lược trở lại lên mảnh đất Tây Ninh. 104 tháng chịu đựng gian khổ hy sinh có lúc tưởng chừng khó có thể vượt qua, 104 tháng kiên trì gây dựng lực lượng phát động phong trào, chiến đấu không mệt mỏi với kẻ thù xâm lược và bè lũ tay sai mạnh hơn ta về quân số và trang bị. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Tây Ninh đã lần lượt vượt qua mọi thác ghềnh, thử thách đưa con thuyền kháng chiến cặp bờ thắng lợi, trong màu cờ chiến thắng có hàng ngàn người Tây Ninh ngã xuống rên mọi nẻo đường quê hương vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Những nét truyền thống và bài học lịch sử được hình thành trong chín năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp để trở thành hành trang mang theo cho quân và dân Tây Ninh trong thời kỳ lịch sử mới.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:38:10 AM
PHẦN BA

HAI MƯƠI MỘT NĂM CHỐNG MỸ KIÊN CƯỜNG,
THẮNG LỢI VẺ VANG CỦA QUÂN DÂN TÂY NINH

CHƯƠNG I

TỪ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ ĐẾN ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ CÓ VŨ TRANG HỖ TRỢ,
TIẾN LÊN TỔNG KHỞI NGHĨA VŨ TRANG,
GIẢI PHÓNG ĐẠI BỘ PHẬN NÔNG THÔN
(Từ 20-7-1954 đến hết năm 1960)

A- ĐẾ QUỐC MỸ XÂY DỰNG BỘ MÁY TAY SAI PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ ĐÀN ÁP PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN ĐÒI THỰC HIỆN HIỆP THƯƠNG TỔNG TUYỂN CỬ, ĐÒI DÂN SINH DÂN CHỦ (20-7-1954 – 20-7-1956)

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, ta chuyển quân tập kết ra phía bắc vĩ tuyến 17. Tình hình chung có những biến chuyển rõ rệt.

Vùng giải phóng rộng lớn của ta ở Tây Ninh nay không còn bom đạn nữa. Nhân dân bị kềm kẹp o ép chung quanh đồn bót và các khu chu vi phấn khởi về ruộng vườn cũ làm ăn, náo nức chờ hiệp thương tổng tuyển cử.

Ngược lại bọn tề, ngụy hết sức hoang mang dao động, tư tưởng ngả nghiêng chờ đợi. Nhưng tình trạng này diễn ra không lâu. Đế quốc Mỹ nhanh chóng hất chân Pháp và bọn tay sai đầu sỏ thân Pháp, dựng lên bộ máy chính quyền tay sai mới từ Trung ương đến cơ sở. Ở Tây Ninh chúng dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc đi đôi với rùn ép, sử dụng tôn giáo Cao Đài nhằm biến lực lượng này thành công cụ đối lập với cách mạng, ra sức xây dựng thành tuyến phòng thủ phía tây – bắc Sài Gòn để bảo vệ cơ quan đầu não của chúng.

Vâng lệnh quan thầy, Ngô Đình Diệm, tên tay sai bán nước đầu sỏ được đế quốc Mỹ đẻ ra và dựng lên làm thủ tướng chính phủ, ra sức mua chuộc sử dụng các thành phần thân Pháp trước đây và đào tạo số tay sai mới làm bộ máy chính quyền và các công cụ bạo lực phản cách mạng: quân đội, công an, cảnh sát, nhà tù, tình báo, gián điệp… Ở Tây Ninh, chúng đưa tên Nguyễn Văn Vàng lên giữ chức tỉnh trưởng, hình thành Ty Công an, ty giao thông, công chánh, ty thông tin, kho bạc, sửa lại khám đường. Tên Đỗ Tường Thạnh và tên Lâm Văn Huê là hai tên quan lại cũ làm quận trưởng Trảng Bàng và Châu Thành. Các ban tề cũ của Pháp ở các xã Gia Lộc, Gia Bình, Thái Hiệp Thạnh, Thạnh Phước, Thạnh Đức… được sử dụng lại. Địch chọn số thành phần không tốt, tại chỗ và chọn những kẻ xấu ở thị trấn, thị xã đưa đến các vùng căn cứ kháng chiến, lập ra Hội đồng Hương chính với các chức đại diện, ủy viên cảnh sát, ủy viên hộ tịch và các chủ ấp.

Cùng với việc dựng lên bộ máy cai trị như trên, địch chuyển các đơn vị lính Pạc-ti-dăng, sang dân vệ đoàn và đưa vô lính cộng hòa để thành lập các sư đoàn chủ lực. Tuyển mộ thanh niên vào dân vệ xã. Riêng lực lượng quân đội Cao Đài và quân đội liên minh, địch vẫn để cho chiếm đóng các đồn bót và các vị trí cũ.

Phía ta, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới là đấu tranh đòi địch thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ, lập lại mối quan hệ bình thường giữa hai miền Nam – Bắc, tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đấu tranh chống địch khủng bố, trả thù, đòi quyền lợi dân sinh dân chủ. Sau ngày 20-7-1954, Tỉnh ủy nhanh chóng sắp xếp lại lực lượng cán bộ, đảng viên gài trong dân lúc này còn khoảng 3.000 đồng chí, số đồng chí có gia đình hoặc người quen thân ở các vùng yếu, thị trấn, thị xã, kể cả ở Sài Gòn, Gia Đình và các nơi khác, thì tạm thời chấp nhận để các đồng chí đi, sau khi ổn định nơi ăn chốn ở, sẽ tìm cách liên lạc trở lại. Mặt khác, Tỉnh ủy củng cố các huyện ủy Châu Thành, Trảng Bàng, Dương Minh Châu, củng cố chi bộ xã. Đồng thời tổ chức hệ thống thông tin lên lạc, bí mật và công khai, với cấp trên và từ tỉnh xuống tới huyện xã. Một số địa phương còn được chỉ đạo chôn giấu vũ khí, trong đó có cả súng cối, đại liên như Trảng Bàng, Châu Thành, Dương Minh Châu (Dương Minh Châu chôn 105 khẩu, Trảng Bàng chôn 80 khẩu, Gia Bình, Gia Lộc chôn 17 khẩu, Hiệp Thạnh, Phước Thạnh chôn 27 khẩu).

Đến cuối tháng 8-1954, để công tác lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời thích ứng với tình hình mới, theo tổ chức hành chánh của địch, Khu ủy miền Đông chủ trương tách Tây Ninh ra thành tỉnh, với ranh giới cũ (từ cuối thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Tây Ninh và Gia Định sát nhập thành một tỉnh) và chỉ định Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ gồm 11 đồng chí là: Ba Cát Bí thư Tỉnh ủy, Tám Hòa Phó Bí thư, Út Thành, Hai Bình, Tư Nguyện, Chín Đạt, Tư Chẳng, Hoàng Lệ Kha, Sáu Soái, Hai Thánh và Bảy Tâm.

Sau đó, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị tại ấp Lợi Hòa Đông thuộc xã An Tịnh huyện Trảng Bàng vạch ra chương trình hành động, củng cố lại tổ chức đảng các cấp chi ủy, huyện ủy, xây dựng chế độ, sinh hoạt báo cáo thỉnh thị. Giáo dục đảng viên, phương châm, phương thức hoạt động công khai, nửa công khai, bí mật. Lãnh đạo tư tưởng cán bộ, đảng viên, tránh ảo tưởng hòa bình. Cán bộ đảng viên phải tạo chỗ dựa trong dân, phải bám dân, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng quần chúng đấu tranh. Thông qua đó mà xây dựng và phát triển thực lực. Có như thế mới tồn tại, đưa được phong trào cách mạng tiến lên. Trong cuộc họp này, Tỉnh ủy cũng chủ trương chọn một số cán bộ có năng lực để thành lập Thị xã ủy và các ban chuyên môn. Mỗi Ban có một đồng chí cấp ủy viên phụ trách như Ban binh vận, Ban giao liên, Ban Lưu huấn, bộ phận Văn phòng Tỉnh ủy, bộ phận bảo vệ, điện đài… Các huyện cũng dựa vào những tổ chức trên, căn cứ vào thực tiễn tình hình địa phương mình mà tổ chức cho phù hợp. Trong khi giải thể các đoàn thể cứu quốc, Tỉnh ủy chỉ thị cho các địa phương, đưa vào tập quán và sinh hoạt bình thường của quần chúng, tổ chức ra các tổ chức công khai biến tướng như hội banh, hội làm nhà, hội cúng đình, miếu, vạn cấy, vần đổi công, đờn ca, múa lân… Ta cũng vận dụng các tổ chức của địch như nghiệp đoàn, hội phụ nữ, hội truyền bá quốc ngữ để tập hợp quần chúng đấu tranh chống địch. Mặt khác, nắm các cơ sở cũ và tuyển chọn số người tốt và số cán bộ đảng viên, đoàn viên, đưa vào Hội đồng hương chính, dân vệ, các sắc lính khác và các tổ chức trong bộ máy của địch ở các cấp để nắm âm mưu, hoạt động, gây xáo động trong nội bộ địch và xây dựng cơ sở chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập mặt trận công khai công nông binh liên hiệp hành động sau này. Để nắm chắc cơ sở nội tuyến, giữ đúng phương châm ngăn cách bí mật, Tỉnh ủy phân cấp phụ trách. Xã (Ban binh vận) lo tổ chức và lãnh đạo trong dân vệ, Hội đồng hương chính. Huyện phụ trách tổng đoàn dân vệ, tỉnh phụ trách các tiểu đoàn cơ động, công an, cảnh sát… đồng thời phối hợp với bộ phận binh vận miền tổ chức ra các đầu mối, cơ sở mật giao chốt của các trung đoàn, sư đoàn, chủ lực. Mặt khác, phát huy thế mạnh biên giới trong kháng chiến chống Pháp, Tỉnh ủy chỉ đạo các huyện ủy xây dựng mối đoàn kết dân tộc Việt Nam – Khơme tạo thế dựa vững chắc cho hai dân tộc chống kẻ thù chung. Để biến tôn giáo Cao Đài trở thành công cụ chống phá lại cách mạng, thông qua Ngô Đình Diệm và bọn bán nước tại chỗ, giặc Mỹ bỏ ra một số tiền lớn tu sửa đền thất, thánh đường, nhà thờ, chùa chiền… khác hơn thực dân Pháp trước đây là phân quyền tự trị vùng lãnh thổ… Nay chúng ra sức dùng tiền bạc, danh vọng mua chuộc hộ pháp Phạm Công Tắc và các tướng lĩnh trong quân đội như Trần Quang Vinh, Nguyễn Thành Phương, Văn Thành Cao… để làm tay sai và đưa lực lượng Cao Đài sát nhập vào lực lượng quân sự quốc gia thống nhất và tất cả đều nằm trong phạm vi kiểm tra, kiểm soát của ngụy quyền Trung ương.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:38:59 AM
Quân đội Cao Đài, đặc biệt là quân đội liên minh của Trịnh Minh Thế (tên Việt gian từng giết hại đồng bào trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp phong quân hàm thiếu tướng), lợi dụng tình hình ta chuyển quân tập kết, chúng đưa một lực lượng 812 tên lập đồn bót, đóng chốt ở Núi Bà, Bàu Châu É, Vịnh, Sóc Thiết, Bàu Cỏ, Tà Păng… Một số trung đoàn, tiểu đoàn quân lương (biên chế tiểu đoàn trên 20 tên, trung đoàn dưới 100 tên) lưu động đóng trong nhà dân, hoạt động trên khắp địa bàn trong tỉnh, trừ vùng thị xã, thị trấn. Bộ chỉ huy (tổng hành dinh) vẫn đóng ở căn cứ cũ, Bù Lu, Chuối Nước. Lực lượng tổng cộng gồm 2.000 tên. Bọn này rất ác ôn, chúng tổ chức truy lùng bắt bớ, bắn giết, thủ tiêu, chôn sống, dùng cuốc dẫy cỏ, thẻo tai, mổ bụng, moi gan cán bộ kháng chiến và những người yêu nước. Hàng trăm người bị chúng sát hại trong đó có nhiều phụ nữ bị chúng hãm hiếp rồi giết chết. Xã Gia Lộc là một trong những xã có số lượng người bị thiệt hại nhiều. Thời kỳ này được gọi là nạn liên minh ở Tây Ninh.

Song song với việc trả thù man rợ trên, quân liên minh tổ chức cướp của, lùa trâu bò, xúc lúa, bắt heo, gà, bắt đồng bào đóng tiền hàng tháng 2, 3, 50 hoặc 100 đồng tùy theo độ giàu nghèo. Chúng bắt thanh niên từ 18 đến 25 tuổi đi lính xây dựng quân đội đưa về Bù Lu luyện tập quân sự. Ai chống lại, chúng bắt đi thủ tiêu.

Để tạo hậu thuẫn, làm hàng rào bảo vệ, chúng gom bắt đồng bào các xã vùng giải phóng cũ ở Định thành, Ninh thạnh, chơn Bà Đen, bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi căn cứ kháng chiến cũ để ra ở chung quanh các đồn bót chúng chiếm đóng.

Tháng 9-1954, sau 2 tháng hiệp định Giơnevơ ký kết có hiệu lực, để dọn đường thực hiện âm mưu thâm độc đánh phá phong trào Tây Ninh sắp tới, địch đưa 2 trung đoàn lính chủ lực thuộc F.13 từ Sài Gòn lên xây dựng căn cứ, đóng chốt Tua Hai (tua thứ 2 từ Thị xã Tây Ninh lên Châu Thành, trước đây Pháp đóng, đồng bào gọi là Tua 2, từ đó trở thành địa danh thuộc xã Thái Bình), cặp lộ 22 nhằm chặn đường giao thông của ta từ thị xã lên huyện Tân Biên. Sau đó chúng triển khai lực lượng đóng đồn đại đội vào các vùng nông thôn sâu, căn cứ kháng chiến cũ của ta như Cần Đăng, Samát, kàtum… để làm lá chắn ngăn chặn lực lượng ta từ vùng căn cứ Dương Minh Châu, Châu Thành về vùng đồng bằng, Thị Xã, thị trấn đông dân cư.

Thi hành nghiêm chỉnh hiệp định Giơnevơ, theo chỉ đạo của Đảng cấp trên, lực lượng Tây Ninh chuyển về Đồng Tháp Mười. Khu tập kết tạm thời 200 ngày, 283 chiến sĩ cùng một số cán bộ đảng viên của Tây Ninh và 1 lực lượng nhỏ của Phân Liên Khu Miền Đông từ chiến khu Dương Minh Châu rầm rập hành quân rợp bóng cờ, biểu dương lực lượng và khí thế, đi ra Suối đá, Phan trên tỉnh lộ số 26, suối ông Hùng, Truông Mít, Bàu Đồn, qua Thạnh Phước, ngang quốc lộ 1 qua Gia Bình rồi An Hòa, 1 xã đa phần dân cư là công giáo. Hàng ngàn đồng bào các giới, các tầng lớp trong đó người ở thị trấn Gò Dầu, Trảng Bàng, các châu vi đạo… tập trung 2 bên đường vẫy tay chào người đi “tập kết chiến thắng”.

Cuộc chuyển quân tập kết của Tây Nnh thắng lợi. Địch bố trí ngăn chặn phá hoại, đưa bọn công an, mật vụ trà trộn trong dân nhưng bị đồng bào vạch mặt vây đánh, rượt chạy về các đồn lân cận.

Sau khi hình thành một bước tổ chức bộ máy, địch ra sức chiêu dụ dân, kêu dân ra lấy giấy căn cước, đồng thời kêu gọi cán bộ kháng chiến ra trình diện, hứa không làm khó dễ, không phân biệt đối xử. Song song với hành động đó, bọn tề xã tổ chức lập bộ sổ dân số, bộ sổ ruộng đất, trâu bò, truy thu thuế trong những năm chống Pháp mà đồng bào không đóng. Ở khắp các chợ Gò Dần, Trảng Bàng, Tây Ninh… địch đưa hàng khối hàng hóa ế thừa như sữa, bơ, pho-mát của Mỹ. Lúc đầu cho, sau lại bán với giá rất rẻ cho dân, tuyên truyền sự giàu có của Hiệp chủng quốc. Chúng tiến hành chiến tranh tâm lý bằng hệ thống thông tin, báo chí, tung luận điệu “Việt minh mắc mưu Pháp, Việt Minh thua, tập kết ra Bắc không mong ngày về”.

Đầu năm 1955, sau khi dời căn cứ trú đóng từ Rừng Cầy về vùng đồng bằng đông dân cư, sát nách địch, Tỉnh ủy kiểm điểm việc thực hiện chương trình hành động, thấy tuyệt đại đa số cán bộ bước đầu bám được dân, xây dựng được “lõm chính trị” “an toàn”, “thanh khiết”, có hàng rào quần chúng bảo vệ. Tỉnh ủy và các cơ quan, các huyện ủy cũng đóng trong nhà dân, có hầm bí mật và hệ thống thông báo tin giặc đến, giặc rút. Đối với các vùng yếu như thị trấn Trảng Bàng, Bến Cầu và cá châu vi cơ sở còn mỏng, có nhiều ô, ấp trắng, Tỉnh ủy chủ trương cho các huyện ủy điều cán bộ về đây làm các ngành, nghề công khai để bám dân, lãnh đạo đấu tranh và gây dựng thực lực cách mạng.

Ở Tây Ninh, tín đồ Cao Đài chiếm hơn phần nửa dân số, trong những năm kháng chiến, do giặc Pháp kích động, một số người sùng đạo nhất là chức sắc, chức việc hiểu lầm Việt Minh cộng sản, ta chưa giải quyết tận gốc, cho nên việc xây dựng khối đoàn kết đạo đời là khâu có ý nghĩa chiến lược, có tính quyết định. Với phương châm “nắm dưới rờ trên” Tỉnh ủy chủ trương dùng các tổ chức công khai, biến tướng, tích cực vận đông, lôi kéo quần chúng bỏ châu vi đạo trở về ruộng vườn cũ hoặc bung ra sản xuất, làm ăn và qua đó nắm được lực lượng này. Mặt khác, tìm cách liên lạc móc nối trở lại với các cơ sở, đồng thời Tỉnh ủy chọn một số cán bộ cốt cán, có năng lực, có người thân quen tốt ở Tòa Thánh như đồng chí Hai Kết quận ủy viên Gò Dầu, đồng chí 9 Làu, bí thư xã An Thạnh (Bến Cầu), đồng chí Bảy Đạo bí thư xã Thái Bình (Châu Thành) bí mật điều vào công tác ở Tòa Thánh, lãnh đạo quần chúng đấu tranh, gầy dựng thực lực, tạo mọi điều kiện thuận lợi quan hệ với Hội thánh, với các cơ quan Cửu trùng đài, Hiệp thiên đài, Bát quái đài, tranh thủ các tầng lớp trên chỉ cho họ thấy kẻ thù Mỹ - Diệm.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:39:19 AM
Năm 1955, hội nghị Băng Dung của các nước Á - Phi ra cương lĩnh “năm nguyên tắc chung sống hòa bình”. Ta nhân đó thông qua cơ sở hướng dẫn tổ chức Mặt trận hòa bình chung sống trong tôn gáo Cao Đài để tập hợp quần chúng tín đồ đấu tranh chống Mỹ - Diệm đồng thời chống lại tổ chức “hòa bình giáo hội” là một công cụ của địch do Hội thánh bày ra. Mặt trận hòa bình chung sống ra đời với cương lĩnh, điều lệ hòa hợp dân tộc, đấu tranh cho sự yên lành đã huy động được đông người tham gia trong đó có nhiều chức sắc, chức việc, giáo hữu, lễ sanh, số sĩ quan và những người làm việc cấp trung ương của Hội Thánh.

Theo ngọn cờ của Mặt trận, tại vùng thánh địa, trên 6.000 đồng bào tín đồ với khẩu hiệu chống quân Ngô Đình Diệm lấn chiếm Tòa Thánh chống mở Long Hoa hội nhân lúc người cầm đầu đạo tổ chức nghênh tiếp Ngô Đình Diệm đến Tòa Thánh. Bằng tất cả các hình thức như làm mất trật tự, choáng đường không cho xe chạy, xen lẫn với những tiếng la vang “đả đảo Ngô Đỉnh Diệm”, “Hồ Chí Minh muôn năm”. Đứng trên đài đang huyênh hoang bài diễn văn đầy lời lẽ dụ dỗ, mua chuộc, Diệm hoảng sợ trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, nói chưa hết lời đã tức tốc về Sài Gòn.

Sau cuộc đấu tranh này, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Tòa Thánh, được sự động viên, phân tích tình nghĩa phải trái phong trào đấu tranh của quần chúng tín đồ chống địch bảo vệ sự “trong sáng” của đạo đi vào chiều sâu. Hàng nghìn quần chúng xóa hàng rào trở về quê cũ hoăng bung ra khai hoang phục hóa làm rãy tỉa lúa, trồng khoai tận các vùng Bàu Cỏ, Cần Đăng, Kà Tum, Bổ Túc… Mối quan hệ hiểu biết giữa đồng bào lương và quần chúng tín đồ ngày được củng cố và phát triển.

Giữa quý 1-1955, khi các lãnh tụ Cao Đài đang mặc cả địa vị, quyền lợi với địch, chúng giả vờ chấp nhận các yêu sách của họ, đưa một số chuyên viên quân sự từ Sài Gọn lên lập một Mặt trận đối lập với chính phủ Ngô Đình Diệm. Sau đó, chúng phanh phui việc đó ra ánh sáng, lấy cớ hợp với F13 bao vây Tòa Thánh, khống chế Hội thánh, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải chạy lên Phnôm Pênh (Kampuchia).

Tuyệt đại đa số những người cầm đầu Cao Đài trước nay đã từng hợp tác với Pháp Nhật, trong đó có Trịnh Minh Thế đều qui phục Ngô Đình Diệm. Cho nên, tháng 2-1955, Ngô Đình Diệm đáp trực thăng đến Xóm Lò (xã Tiên Thuận) Trịnh Minh Thế tổ chức nghênh tiếp. Vài ngày sau, Trịnh Minh Thế dẫn gần 500 quân liên minh về Sài Gòn hợp tác với Diệm, được Diệm đề cao trên báo, đài phát thành và tổ chức yến tiệc “chúc mừng chiến hữu” trở về với chính phủ quốc gia.

Cuối quí 1-1955, được sự chỉ đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy Tây Ninh tổ chức 2 thanh niên, 1 nam và 1 nữ giả dạng sinh viên mang súng, lựu đạn từ Tay Ninh lên Buôn Mê Thuộc ám sát Ngô Đình Diệm trong dịp lên đây cắt băng khánh thành hội chợ triển lãm kinh tế. Cuộc ám sát không thành công. Diệm thoát chết vì có hàng rào bảo vệ dày đặc, chỉ có tên Bộ trưởng Bộ cải cách điền địa bị trọng thương phải đem về Sài Gòn cứu chữa. Mặc dù thất bại, nhưng đây cũng là tiếng súng đầu tiên biểu thị tinh thần quật khởi của nhân dân cảnh cáo chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ.

Ngày 3-5-1955, chính quyền Diệm tổ chức cuộc càn quét lực lượng Bình Xuyên, Trịnh Minh Thế được phong làm chỉ huy trưởng Mặt trận đánh phá Bình Xuyên. Ngay ngày đánh thắng, Trịnh Minh Thế cũng bị Diệm cho người lén bắn chết tại cầu chữ Y. Sau sự kiện này, nhiều chị em ở thị xã, thị trấn và các xã lân cận của Tây Ninh, trong đó có nhiều chị em là vợ của sĩ quan, công chức, vận động quyên góp tiền bạc, vải, thuốc trị bệnh… mang đến giúp đỡ đồng bào có nhà cháy và gia đình có người thân bị thiệt mạng trong giai đoạn càn quét Bình Xuyên của Diệm. Qua đó, ta tuyên truyền cho bà con nơi đây thấy rõ thủ đoạn, kẻ gây ra cảnh khổ của đồng bào chính là Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, đồng thời hướng dẫn họ đấu tranh buộc kẻ địch phải cứu tế xây lại nhà cửa.

Dẹp xong lực lượng Bình Xuyên ở Sài Gòn – Chợ Lớn, địch mở chiến dịch “Nguyễn Huệ” đánh vào lực lượng Hòa Hảo từ Hà Tiên lên Long An. Ở Tây Ninh, chúng tổ chức cuộc hành quân “Thăng Long” với lực lượng cấp trung đoàn càn quét vào các vùng tập trung quần chúng tín đồ và các xã vùng sâu căn cứ kháng chiến cũ nhằm rún ép tinh thần quần chúng ly khai. Mặt khác, chúng còn sử dụng các tướng tá Cao Đài đã mua chuộc cuộc càn quét, để xoa dịu phong trào và tiếp tục dụ dỗ Hội Thánh, các chức sắc, chức việc và quần chúng tín đồ, chính quyền Ngô Đình Diệm ký kết hiệp ước Bính Thân với các lãnh tụ Cao Đài, hứa cho Cao Đài quyền tự trị.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:41:29 AM
Nắm được âm mưu và thủ đoạn của địch đối với các tôn giáo Cao Đài, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp bất thường nhân định có 2 khả năng. Một là các lãnh tụ chóp bu của Hội Thánh bao gồm cả những tên tướng ra hàng Diệm, đưa toàn bộ lực lượng quân đội Cao Đài sát nhập vào lực lượng quốc gia, nhận làm tay sai chống phá lại cách mạng. Hai là, sự phản ứng của quần chúng tín đồ và anh em binh sĩ dẫn tới một bộ phận tuyên bố tách ra khỏi Cao Đài chống lại Diệm. Từ nhận định trên, tỉnh cử cán bộ xuống các nơi, nhất là vùng Tòa Thánh, Bến Cầu, Châu Thành bàn bạc với Đảng bộ địa phương, khẩn trương tác động quần chúng tôn giáo và quần chúng ngoài đạo sẵn sàng giúp đỡ mọi mặt cho các lực lượng chống lại chính quyền Sài Gòn. Mặt khác, chủ trương cho đại đội 25 Cao Đài liên minh đóng ở Bàu Cỏ làm binh biến.

Các cơ sở nội tuyến ta đưa vào C25 trước đây, đồng chí Nguyễn Thành Sáng và một số đồng chí khác đồng loạt nổi dậy khởi nghĩa diệt bọn ác ôn chỉ huy, bắt 12 tên sĩ quan và hạ sĩ quan, tịch thu 120 súng các loại. Các tên bị bắt, ta giao cho Ban binh vận huyện Châu Thành, Ban khởi nghĩa 70 người, kéo qua Chỏm Dừa, Sa Nghe thuộc xã Hảo Đước (Châu Thành) thu thêm số đảng viên và thanh niên hoạt động bị lộ xây dựng và củng cố lực lượng. Đến tháng 12-1955, lực lượng đó lấy danh nghĩa là “Cao Đài Ly khai” để che mắt địch. Đồng chí Nguyễn Thành Sáng chỉ huy, đóng vai đại úy, đồng chí Hai Hùng (Ba Ca) đóng vai trung tá, chỉ đạo để quan hệ với các nhóm Cao Đài khác đặng cho vũ khí trang bị cho ta.

Để bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào, làm trong sạch vùng căn cứ, Tỉnh ủy chỉ đạo cho lực lượng vũ trang này đánh bọn Cao Đài liên minh gian ác như đơn vị tên Phương, thiếu tá ở Trảng Dài, đơn vị tên Phụng, đại tá ở Sóc Thiết. Ta diệt và làm tan rã đại bộ phận 2 đơn vị nói trên, giải thoát 18 chị em phụ nữ bị chúng bắt phục dịch, hãm hiếp, thu vũ khí, và lấy lại toàn bộ đồ đạc, của cải, trâu bò, xe chúng đã cướp, giao trả lại cho đồng bào.

Để chia cắt nhuyễn địa bàn dễ bề kiểm tra, kiểm soát, đánh phá phong trào cách mạng, địch cắt một số xã thuộc quận Trảng Bàng và quận Châu Thành để thành lập quận mới, lấy tên là quận Gò Dầu Hạ. Tên Lâm Văn Thao, một tên đốc học thời Pháp làm quận trưởng. Dinh quận đóng tại thị trấn thuộc xã Thạnh Phước. Quận Gò Dầu Hạ gồm các xã Thanh Phước, Phước Thạnh, Truông Mít, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức, Cẩm Giang, An Thạnh, Lợi Thuận, Tiên Thuận, Long Giang, Long Khánh, Long Chữ, Long Thuận, Phước Lưu, Phước Chỉ, Bình Thạnh.

Sau khi lực lượng liên minh ra hàng Diệm, số lớn quân đội Cao Đài tan rã, bỏ súng ống và đi khắp nơi, số còn lại gần 3000 quân (không có cấp tướng) súng đạn đầy đủ ở các đồn bót Giang Tân, Bến Kéo, Quí Thiện, Chà Là, Cẩm Giang… theo mật lệnh của Hội Thánh kéo ra rừng tuyên bố là lực lượng Cao Đài ly khai để đòi yêu sách quyền lợi danh vọng với chính quyền Diệm.

Nắm bắt kịp thời tình hình trên, Tỉnh ủy chỉ đạo các địa phương vận động hàng trăm đồng bào ngày này sang ngày nọ mang gạo thóc, mắm muối, thuốc trị bệnh, thuốc hút… vào tiếp tế cho lực lượng Cao Đài, dùng lời hơn lẽ phải hoan nghênh việc họ ra rừng kêu gọi họ đoàn kết với dân chúng chống lại kẻ thù Mỹ - Diệm. Mặt khác, tỉnh ủy cử đồng chí Đỗ Văn Nguyện tỉnh ủy viên và nhiều huyện ủy viên, các bộ phận quân sự tìm cách nắm lực lượng này.

Trong thời gian ngắn, ta đã hạn chế tối đa hành động hống hách và cướp giật tài sản đồng bào của họ và đã gây cho họ nhiều ấn tượng tối đối với kháng chiến. Tuy nhiên từ chỉ huy đến binh sĩ lực lượng Cao Đài ly khai không có lý tưởng chiến đấu, động cơ ra rừng lại chỉ nhằm đòi yêu sách quyền lợi, danh vọng cho bọn chóp bu nên trước những gian khổ rất tầm thường, họ đã không chịu đựng nổi, tinh thần, tư tưởng hết sức dao động.

Địch đẩy mạnh mọi mặt hoạt động nhằm đánh phá phong trào đấu tranh của quần chúng, tiêu diệt lực lượng cách mạng. Chúng lùa bắt đồng bào làm xâu, sửa lại đường xá, làm đồn bót trên các trục lộ sâu trong vùng căn cứ kháng chiến cũ như Cần Đăng, Samát, kàtum, Bổ Tức… khuyến khích phá rừng lấy gỗ, mở nhiều lối đi ngang, xẻ dọc, cho xe be vận chuyển làm nát thế dựa của ta. Bọn địa chủ trước đây đã chạy vào các vùng đô thị, nay ngóc đầu dậy cướp lại ruộng đất của nông dân.

Địch chọn trong số phần tử không tốt, tổ chức hệ thống công an tình báo moi móc khai thác cơ sở phục vụ cho âm mưu đàn áp, trả thù sắp tới. Số này trước kia đã bị dân trong ấp xóm phản đối, nay dựa vào địch vênh mặt hống hách.

Quí II-1955, Ban chấp hành Tỉnh ủy tổ chức cho cán bộ, đảng viên quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị tháng 9-1954, nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ tháng 10-1954 vào nghị quyết lần thứ 7 khóa 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 12-3-1955. Các nghị quyết trên chỉ ra con đường đi lên của cách mạng miền Nam là: “Giữ vững và đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của đồng bào miền Nam, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, chĩa mũi nhọn vào Mỹ Diệm. Tăng cường công tác ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Đòi đối phương nghiêm chỉnh thi hành hiệp định Giơnevơ để tiến tới thống nhất nước nhà”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:41:50 AM
Để công tác lãnh đạo, chỉ đạo được sâu sát và kịp thời, tỉnh ủy phân công mỗi tỉnh ủy viên phụ trách 1 huyện. Tỉnh ủy cũng chỉ đạo huyện tùy theo vị trí, tính chất từng vùng mà bố trí 1 huyện ủy viên phụ trách 1 xã hoặc liên xã. Để phù hợp với ranh giới hành chính của địch, về mặt tổ chức, tỉnh cũng thành lập huyện mới là huyện Gò Dầu gồm các xã Long Giang, Long Khánh, Long Chữ, Long Thuận, Thuận Lợi, Tiên Thuận, An Thạnh, Thanh Phước, Phước Hạnh, Phước Thạnh, Thạnh Đức, Cẩm Giang. Tỉnh ủy chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ huyện 11 đồng chí do đồng chí Tùng Quân làm Bí thư xã và đồng chí Lâm Sơn Hải làm Phó Bí thư. Tỉnh ủy cũng tổ chức ra một số cơ sở sản xuất và chạy xe tắc xi ở Sài Gòn để tạo quỹ Đảng, giải quyết chi phí cho công tác và trợ cấp các gia đình cán bộ, đảng viên gặp nhiều khó khăn.

Tình hình đấu tranh đánh địch của quần chúng có những diễn biến rất sôi động. Các xã đều hình thành những nhóm đọc báo công khai xuất bản ở Sài Gòn. Các vùng biên giới đọc báo Sống Chung, báo Hòa bình Trung lập, in bằng chữ Việt, xuất bản ở Campuchia, các tổ chức hội nhà Vàng, hội cúng đình, chùa, miếu, hội banh, lân, long mã, đờn ca, vạn cấy… hoạt động mạnh. Hai gánh hát “Mộng Trúc” “Thanh Bình” lưu diễn trong tỉnh, đặc biệt ở các xã nông thôn, nhằm tuyên truyền giáo dục nhân dân lòng yêu nước, yêu quê hương, đề cao cảnh giác trước âm mưu kẻ thù.

Mặt khác bằng các cuộc sinh hoạt của những nhóm, hội, tổ… và các cuộc sinh hoạt bình thường của đồng bào như giỗ quải, cưới xin, ngày tư ngày tết và các tổ chức có tính quần chúng của địch như Nghiệp đoàn Công nhân cao su, Nghiệp đoàn xe lôi, Hội phụ nữ Việt Nam, Hội truyền bá quốc ngữ đã huy động được các tầng lớp nhân dân, nông dân, công nhân lao động, học sinh, trí thức, người mua bán, quần chúng tín đồ Cao Đài, Phật giáo, Thiên Chúa giáo và nhân dân các dân tộc Chàm, Khơme… tạo thành mặt trận đấu tranh rộng rãi đòi địch nghiêm chỉnh thực hiện hiệp định Giơnevơ. Trước mắt lập lại mối quan hệ bình thường giữa 2 miền Nam – Bắc để cho nhân dân được tự do gởi thư từ, bưu thiếp, đi lại trao đổi làm ăn, tiến tới hiệp thương và tổng tuyển cử thống nhất cả nước. Đòi giải quyết dân sinh dân chủ. Không phân biệt đối xử với người kháng chiến cũ. Bằng hành động cụ thể tháng 4 và 5 năm 1955, hàng vạn người, có người là đại diện gia đình, có gia đình cả chồng, vợ và con lớn tuổi đều ký tên vào bản kiến nghị. Tên ký vào bản kiến nghị được viết bằng vòng tròn để địch không biết được ai là người đã khởi xướng. Tổ chức người tìm mọi cách nghi trang mang xuống Sài Gòn đưa cho Ủy hội quốc tế, đi Ủy hội phải có biện pháp buộc chính quyền miền Nam phải nghiêm chỉnh chấp hành thực hiện hiệp định Giơnevơ, thực hành điều 14C. Cùng lúc đó hàng trăm người nhất là các gia đình của cán bộ, chiến sĩ đi tập kết và các bà mẹ, bà chị chiến sĩ gởi bưu thiếp ra Bắc thăm hỏi người thân.

Sau đợt đồng bào trong tỉnh đồng loạt ký tên vào bản kiến nghị, từ những năm 1955 đến 1959, đồng bào khắp nơi trong tỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đều có những đơn từ, có khi là tập thể 5, 10 người, có khi là 20 hoặc 30 người tùy theo tính chất của từng vụ, việc, trực tiếp hoặc gởi bằng bưu điện đến Ủy hội quốc tế, viết bài gởi báo ở Sài Gòn tố cáo hành động bắt bớ, bắn giết trả thù người kháng chiến cũ, đòi bồi thường nhân mạng, bồi thường chiến tranh, tu sửa mồ mả những người đã chết do chiến tranh gây ra. Có cuộc đấu tranh đồng bào kéo phái đoàn Ủy hội đến tận làng xã chứng kiến hành động vi phạm Hiệp định Giơnevơ của địch.

Trong nông thôn quần chúng nhân dân đấu tranh với bọn địa chủ phong kiến dựa vào chính quyền tay sai cướp lại đất. Đấu tranh này dằng dai và rất gay bắt, hàng vạn lượt người tham gia có nơi được sự đồng tình của đồng bào công giáo di cư. Nhiều cuộc đấu tranh đồng bào kéo nhau như đi biểu tình với ao mác cuốc rựa trong tay, đến bọn tề xã, quận và đối mặt với bọn địa chủ, kiên quyết không cho cướp đất, thách thức, đòi chém chết tại chỗ nếu chúng không nghe (chống tên đốc phủ Đầu ở An Hòa, chủ sở Sina ở Thanh Phước, Phước Thạnh). Đặc biệt có cuộc đấu tranh đồng bào mang cơm vắt, cơm gói đến tỉnh, ăn dầm nằm đề 2,3 ngày đấu tranh với tên tỉnh trưởng buộc chúng không được ủng hộ bọn địa chủ cướp đất của nông dân ta.

Trong suốt năm 1955 và năm 1956, kẻ địch có nhiều thủ đoạn, rún ép, khống chế, xoa dịu… nhưng trước sức đấu tranh kiên trì, không khoan nhượng của quần chúng để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, chúng không giật được mảnh đất nào của nông dân Tây Ninh.

Giặc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm tiếp tục mua chuộc và o ép Hội Thánh. Số đông tướng lĩnh Cao Đài như Nguyễn Thành Phương, Văn Thành Cao, Nguyễn Văn Thành… hàng giặc và chỉ đạo Cao Đài ly khai trở về hợp tác với Diệm. Lực lượng Cao Đài ly khai sau khi ra rừng gần 2 tháng một số tan rã trở về nhà làm ăn, một số đông ra hàng giặc. Lực lượng còn lại trên 20 người, theo cách mạng chí cốt trong đó có Thiếu tá Huỳnh Thanh Mừng. Đồng bào tín đồ và chức sắc, chức việc rất phản đối hành động này của chúng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:42:15 AM
Đấu tranh đòi dân sinh dân chủ là một yêu cầu bức xúc trước mắt. Lợi dụng chính sách mị dân của địch về thăng tiến Cần Lao, đồng tiến xã hội, phát triển hương thôn… Đồng bào đòi địch không truy thu thế, đòi miễn, bãi thuế, bãi xâu, đòi đất cất trường học, cất nhà thương, cho vay tín dụng, để dân tự do đi lại tụ họp… Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này hét sức gay go, dai dẳng, năm ngày sang nằm khác qui tụ được đông đào quần chúng trong xã, ấp nhất là vùng nông thôn sâu tham gia, bằng việc than nghèo kể khổ, đơn từ, trực diện với làng lính và bọn cán bộ thông tin, cán bộ dân vụ (những lần bọn cán bộ tuyên truyền công dân bắt quần chúng họp). Nhiều cuộc đấu tranh diễn ra rất quyết liệt như cuộc đấu tranh chống làm xu trên lộ 4, bất chấp mọi cưỡng ép của địch, hàng trăm người kéo nhau ra về, vừa đi vừa tố cáo mọi hành động của chúng.

Lúc đầu địch cho đó là hành động tự phát của quần chúng. Nhưng vì bị tiến công nhiều phía, nhiều mặt liên tục cộng với nguồn tin do bọn tình báo và bọn đầu hàng cung cấp, dần dần chúng ý thức được đấu tranh của quần chúng là có mục đích, có sự lãnh đạo của Đảng. Do vậy trong các cuộc họp, chúng giở trò khủng bố, ghi tên những người phát biểu ý kiến cho là nghe lời Việt cộng để tác động ngăn chặn phong trào. Tuy nhiên trước sự đấu tranh có lý, có tình của quần chúng, từng lúc, từng nơi kẻ địch buộc phải nhượng bộ giải quyết các yêu sách, trong đó nổi lên việc phải cho dân vay tín dụng cất trường học, trạm y tế (ở Phước Thạnh, Thanh Phước nhân dân lấy tiền tín dụng của địch cho vay đem giao cho xã bỏ vào quỹ của Đảng).

Đồng bào còn đẩy mạnh việc khai hoang phục hóa, phát triển sản xuất. Tương trợ giúp đỡ nhau phân tro, giống má, công cán nhất là đối với đồng bào vùng thị xã, thị trấn, Tòa Thánh bung về quê cũ làm ăn sinh sống.

Cuối quí II-1955, để tạo vành đai bao bọc bên ngoài, xé nát vùng căn cứ, chỗ dựa vững chắc của ta, cùng với hệ thống đồn bót, địch đưa lên Tây Ninh gần 4 vạn đồng bào công giáo di cư lập các khu dinh điền Bời Lời, Truông Mít, Bàu Cỏ, Giồng Nầng… họ sống dựa vào viện trợ hàng hóa của Mỹ. Đường xá mở dọc xẻ ngang, nhà cửa, nhà thờ mọc lên. Họ được Diệm coi là con cưng cho nên đa số, từ cha cố đến giáo dân đều tỏ ra hống hách và ngang bướng với đồng bào tại chỗ.

Địch dùng toàn bộ bộ máy tuyên truyền như đài, báo, bích chương, bắt quần chúng họp lại để nghe chúng bêu xấu Bảo Đại là theo Tây, bán nước và đề cao Diệm, đề cao “Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa”. Mặt khác để phục vụ cho mưu đồ đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng và tiêu diệt các cơ sở cách mạng. Địch củng có bộ máy tay sai, đưa bọn cán bộ công an, do thám, xuống làm ủy viên cảnh sát, trực tiếp chỉ huy đội dân vệ xã, tổ chức ra các phân ty công an Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành rồi chuyển thành Chi công an quận với nhà giam và một lực lượng công an, tình báo dày đặc, giả dạng dân bán thuốc cao, bán vải và các thức khác, tràn xuống xã dò la tin tức. Thâm độc hơn, chúng dùng tiền bạc mua chuộc đi đôi với khống chế, chúng ép một số cán bộ lộ mặt, đưa vào các tổ chức tay sai, thông tin, thám báo… Bộ máy lúc đầu làm việc cầm chừng nhưng rồi trước sự o ép của địch, dần dần trở thành những tên ngoan cố, gây nhiều nợ máu, làm khó khăn rất lớn cho cán bộ đảng viên bám trụ hoạt động.

Giữa quí III-1955 mở màn cho cuộc trả thù đẫm máu người kháng chiến cũ, địch lợi dụng sơ hở của ta bao vây bắn chết đồng chí Tám Đường, Bí thư thị xã, bắn đồng chí Kinh Chi gãy chân, tra tấn dã man rồi đầy đi Côn Đảo. Sau đó, rải rác ở cá xã, một số đồng chí cũng bị chúng bắt mổ bụng, moi gan. Việc kẻ địch giết hại đồng chí ta gây phẫn nộ lớn trong quần chúng đồng thời cũng chỉ ra cho cán bộ đảng viên ta kinh nghiệm không thể có “hợp pháp chủ nghĩa”, phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng nắm vững phương châm, phương thức hoạt động trong lòng địch.

Tỉnh ủy chủ trương thành lập Ban di cư vận tỉnh và chỉ thị cho các huyện, tùy theo số lượng đồng bào di cư nhiều hay ít mà thành lập Ban di cư vận hoặc phân công một huyện ủy viên phụ trách. Tỉnh ủy tổ chức học tập trong cán bộ đảng viên 5 bước công tác (điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh). Mỗi đảng viên đều có hệ thống xâu chuỗi (đảng viên có 3 nòng cốt, nòng cốt có 3 cảm tình, cảm tình có 3 quần chúng tích cự) tuyên truyền đến đâu cắm cọc đến đó để gây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Mặt khác để bảo vệ cơ sở, chống địch khủng bố trả thù, bảo vệ tính mạng và tài sản của đồng bào, tỉnh hướng dẫn các xã vận động nhân dân, chủ yếu là thanh niên, thành lập đội dân canh với danh nghĩa chống cướp, giữ xóm làng.

Ngày 23-10-1955, cũng như các tỉnh khác, ở Tây Ninh địch tổ chức “trừng cầu dân ý” để truất phế Bảo Đại. Tại nhà làng mỗi xã, chúng đặt 1 thùng phiếu. Phiếu là 2 tấm ảnh Ngô Đình Diệm và Bảo Đại. Tờ mờ sáng bọn làng lính đi vào ấp xóm phát loa thúc hối đồng bào đi bỏ phiếu. Bà con đến, chúng đưa 2 tấm ảnh và hướng dẫn “phiếu xanh bỏ vào giỏ. Phiếu đỏ bỏ vào thùng”. Sau đó, chúng đóng mộc vào giấy căn cước. Mộc có đề chữ “trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955”. Để tỏ ra “dân chủ” không gian lận, chúng cũng bày ra buồng kín để người đi bầu vào lựa chọn.

Nhận thức được Bảo Đại và Ngô Đình Diệm tên nào cũng là tay sai bán nước cho đế quốc, hàng chục ngàn đồng bào khắp nơi trong tỉnh, nhất là vùng nông thôn, đấu tranh chống lại bằng mọi hình thức như tẩy chay không đi bỏ phiếu, bỏ phiếu thúi (dùng ngón tay chọc, bấm ảnh Bảo Đại và Ngô Đình Diệm) hoặc trì hoãn, kéo dài thời gian không đi tập trung. Nhiều nơi đồng bào viết khẩu hiệu: “Đả đảo Ngô Đình Diệm. Ủng hộ Hồ Chí Minh” bỏ vào thùng phiếu.

Tuy tổ chức chặt chẽ và lắm mưu nhiều mẹo nhưng kết quả không như chúng mong muốn, địch phải giở trò gian lận. Đến chiều, chúng cho người đến lấy tất cả ảnh Diệm bỏ vào thùng phiếu rồi long trọng hộ tống về quận.

Quí IV-1955, một hình thái đấu tranh mới đã xuất hiện ở phạm vi một số xã ở Phước Vinh, một số cán bộ được sự đồng tình hưởng ứng của đồng bào, đã dùng dao, rựa, trong đêm diệt 3 tên công an gian ác. Sau đó, cơ sở nội tuyến đồn dân vệ Hảo Đước nổi dậy diệt chỉ huy, đốt đồn, mang toàn bộ súng ra cho ta.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2018, 11:42:38 AM
Phong trào đấu tranh của quần chúng qua việc thực hiện các chủ trương của tỉnh ủy có những chuyển biến sôi động. Đặc biệt là phong trào đấu tranh chống khủng bố, bắt người diễn ra rất gay gắt quyết liệt. Khi kẻ địch phát hiện có cán bộ ta trong nhà, đồng bào đứng ra nhận là chồng, là con em hoặc vợ mình rồi giả cách bất đồng gây gổ, xô đẩy, chửi bới… để cán bộ ta tìm cách thoát khỏi vòng vây của chúng. Khi có người bị bắt, đồng bào thông báo cho nhau và kéo tới, người khóc la cho là vô tội, bị oan ức, người giành giựt kéo níu để giải thoát. Nhiều cuộc đấu tranh diễn ra với qui mô lớn, quyết liệt, hàng trăm người tham gia bao vây đồn bót địch dùng lý lẽ phải trái tranh thủ tề lính đòi thả người của ta (trên 300 đồng bào xã Phước Vinh bao vây nhà làng và đồn dân vệ suốt 3 ngày đêm đòi thả đồng chí y tá của ta mà chúng bắt).

Phong trào dân canh là một tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân. Với danh nghĩa là hội chống cướp bảo vệ xóm làng, kẻ địch bắt buộc phải chấp nhận. Phong trào được hình thành và phát triển rộng khắp. Mỗi xã có từ 5-7 đội. Mỗi đội trên dưới 20 người vũ trang, tầm vông, gậy gộc, cuộn dây. Ban đêm tập hợp lại từng ca, canh gác, đánh mõ… trong xóm ấp, được bà con luân phiên nhau lo cơm nước chu đáo.

Bọn công an thám báo đêm lẻn vào ấp rình mò cơ sở, bắt cóc cán bộ đụng phải đội dân công đánh mõ báo động, bao vây bắt trói lại, đánh chúng tơi bời rồi giải ra cho làng lính nói là “quân ăn cướp” như ở Lộc Hưng, An Tịnh, Gia Lộc (Trảng Bàng), ở Phước Thạnh, Thanh Phước (Gò Dầu), ở Phước Vinh, Hảo Đước (Châu Thành).

Bị dân canh đánh, bọn địch rất bực tức nhưng không có lý khủng bố nên phải năn nỉ đồng bào xác nhận người của chúng. Thắng lợi, đồng bào tiến công chúng thêm một bước: “Từ nay về sau mấy ông có đi vào ấp xóm phải báo cáo bà con biết trước để tránh việc hiểu lầm, xô xát”. Đau, nhưng kẻ địch buộc phải nhận lời. Từ đó, ban ngày kẻ địch tự do nhưng ban đêm co rút vào đồn bót. Nhân dân làm chủ, tụ họp sinh hoạt, vui chơi.

Yêu nước, yêu người cán bộ Cụ Hồ, trong những năm này đồng bào ta đã bảo vệ, giải thoát hàng trăm cán bộ đảng viên ở các cấp trong đó có những đồng chí là huyện ủy viên, tỉnh ủy viên. Tuy nhiên trong thắng lợi không khỏi có sự hy sinh, một số đồng bào bị giặc bắt, tra tấn tù đày gương trong nhà tù như chị Năm Hiệt, Ba Phan, Tư Dung), gia đình bị bắt như gia đình chị Sáu Tâm, anh Ro ở Thanh Phước.

Cuối năm 1955 tình hình tôn giáo Cao Đài có nhiều biến chuyển quan trọng có lợi cho cách mạng. Tỉnh ủy thấy cần có một tổ chức trực tiếp và tại chỗ mới lãnh đạo kịp thời nên quyết định thành lập Ban cán sự Tòa Thánh (tương đương huyện) thành phần: Nguyễn Văn Tốt, Nguyễn Gia, Hai Kết, Chí Đức cùng một số đồng chí khác nữa làm cán sự viện.

Năm 1956, địch loại tên tỉnh trưởng tay sai Nguyễn Văn Vàng đưa tên Châu Ngọc Thôi lên thay. Đồng thời, chúng tăng cường lực lượng tổng đoàn dân vệ quân từ 2 trung đội lên 3 trung đội, rà soát lại thành phần hội đồng hương chính và dân vệ xã, đưa số người ác cảm với kháng chiến, có cha con hơặc anh em của họ làm tay sai cho giặc bị ta trừng trị và người công giáo di cư làm nòng cốt hoạt động, sửa sang, tu bô nhà cửa, doanh trại các trụ sở hành chính, quân sự, làm hàng rào kẽm gai, hầm hố chống đột nhập. Củng cố lực lượng cơ động tỉnh, biên chế thành tiểu đoàn, sửa lại, nâng cấp các tuyến đường Bàu Đồn đi Bời Lời, Bà Nhã, đường Cần Đăng, Bổ Túc, lộ số 22, số 4, số 6. Bọn cán sự thông tin, cán bộ công dân vụ tỉnh, huyện, liên tục tổ chức bắt quần chúng hội họp, tuyên truyền nói xấu miền Bắc, nói xấu Bác Hồ, công khai tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơnevơ. Mị dân bằng các thủ đoạn như cải cách điền địa, cho vay tín dụng, tuyên truyền Mỹ giàu, Mỹ mạnh, tuyên truyền viện trợ kinh tế Mỹ. Chúng nói với quần chúng cho tự do ngôn luận nhưng khi quần chúng chất vấn, than nghèo kể khổ, phản đối hành động khủng bố đàn áp bắt người, vơ vét xâu thuế thì chúng ghi tên họ vào danh sách “người tình nghi” tổ chức theo dõi, rún ép. Trong khi đó, bọn công an thám báo, hoặc hoạt động công khai giả dạng bán thuốc cao, bán vải… ngày này sang ngày nọ xuống ấp xóm rình rập, dò la tin tức, theo dõi dấu vết của cán bộ ta.

Tình hình ngày càng hó khăn, tỉnh ủy thường xuyên nhắc nhở cán bộ đảng viên nắm vững phương châm phương thức hoạt động. Ra sức vận động quần chúng, đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh chống địch, che dấu và bảo toàn thực lực, nhất là cơ sở trong vùng yếu, thị xã, thị trấn và cơ sở trong lòng địch.

Địch tổ chức bầu cử Quốc hội để hợp thức hóa Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, đồng bào khắp tỉnh, đặc biệt là trong các xã ấp, vùng nông thôn, đấu tranh quyết liệt với chúng. Hàng vạn tờ truyền đơn, bảng kẻ khẩu hiệu đả đảo, vạch trần âm mưu bầu cử, dán rải trên các trục lộ, nơi đông người qua lại, trước đồn bót địch. Kẻ địch dùng súng uy hiếp gom đồng bào đi bỏ thăm. Bị kẹt thế không thể tránh khỏi, đồng bào cù cưa, trì hoãn với tất cả lí do: kẹt giữ trâu bò, nhà không người… Hàng vạn tấm phiếu bị đồng bào làm thành không hợp lệ kèm theo đó là những khẩu hiệu “Đả đảo quốc hội bù nhìn. Ủng hộ Hồ Chí Minh.” Một số xã là căn cứ kháng chiến trước đây và các xã ven biên giới, đồng bào phối hợp với lực lượng vũ trang nổ súng cướp thùng phiếu, bắt tề vệ, cán bộ công dân vụ, ném lựu đạn chặn đầu xe tên tỉnh trưởng, xô sập nhà bầu cử v.v…

Sau cuộc bầu cử, để giữ thế hợp pháp cho đồng bào, các huyện tổ chức người khắc mộc “bầu cử Quốc hội ngày 24-4-1956” đóng vào hàng nghìn giấy căn cước cho số thanh niên và trung niên vừa qua đã tẩy chay, không đi bỏ thăm.

Để răn đe phong trào đấu tranh của quần chúng và tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, mấy hôm sau bầu cử Quốc hội, địch cho 1 trung đoàn chủ lực có phiên hiệu “kiến lửa” từ Sài Gòn lên phối hợp với bọn chủ lực đóng ở Tua Hai và các đồn chốt khác càn quét đánh phá các xã ven biên giới: Long Giang, Long Khánh, Long Chữ, Ninh Điệp, Hòa Hội, Hảo Đước, Kà Tum, Samát v.v… Cạnh đó, bọn công an tình báo tràn xuống xã ấp rình mò, lùng sục. Các tổ chức thông tin đại chúng, cán bộ thông tin, cán bộ công dân vụ ra rả tuyên bố không thi hành hiệp định Giơnevơ, đề cao “Việt Nam Cộng Hòa”, “Nhà chí sĩ Ngô Tổng Thống”.

Địch đánh mạnh. Tình hình chung rất căng thẳng. Nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng đòi dân sinh dân chủ, chống khủng bố trả thù vẫn tiếp tục phát triển. Đồng bào tín đồ Cao Đài, đặc biệt đồng bào công giáo di cư trước đây được Diệm coi là “chỗ dựa”, nhưng nay qua vận động của ta đã có một sự giác ngộ nhất định. Ở Long Hoa, Tòa Thánh, Trường Hòa, Trường Lưu…, các vùng Long Giang, Bàu Đồn, Kỳ Đà… tín đồ Cao Đài đấu tranh chống địch bức hiếp tôn giáo. Ở các khu dinh điền đồng bào công giáo di cư viện cớ phải đi nơi rừng thiêng nước độc, thiếu thốn đòi chính phủ trợ cấp, đòi đi nơi khác làm ăn, làm thịt hết trâu bò do Diệm cấp, đưa người ra cày kéo thay rồi đòi Diệm cấp trâu bò khác, treo nồi nấu cơm thay treo cờ ba que trong những ngày lễ, tố cáo Diệm bỏ đói dân di cư, v.v…


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:52:39 AM
B. ĐỊCH TRẮNG TRỢN PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, ĐẨY MẠNH TỔ CỘNG, RÁO RIẾT BẮT LÍNH HÔ HÀO BẮC TIẾN LẤP SÔNG BẾN HẢI. BAN HÀNH DỰ LUẬT 10-1959 LÊ MÁY CHÉM, ĐÀN ÁP PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA QUẦN CHÚNG VÀ CƠ SỞ CÁCH MẠNG VÔ CÙNG TÀN KHỐC.

Kiên trì đấu tranh chính trị, nhân dân và Đảng bộ Tây Ninh trải qua một sự hy sinh đầu thử thách:
(Từ ngày 20-7-1956) đến cuối 1959).

Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, ngày 20-7-1956 đã tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử trong phạm vi cả nước. Nhưng trên thực tế, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm đã trắng trợn phá hoại hiệp định Giơnevơ, ngày càng phát xít hóa bộ máy chính quyền, đàn áp dã man phong trào cách mạng trong tỉnh.

Ngay sau ngày 20-7-1956, với một lực lượng công an gần 100 tên đội lốt cán bộ Công dân vụ, cán bộ thông tin tỉnh, huyện chia ra thành nhiều toán phối hợp lính tổng đoàn quân và tề vệ tại chỗ xuống các xã, gom quần chúng lại, liên tục tuyên truyền luận điệu “Bài phong đả thực diệt cộng quốc gia dân chính”, ra sức nói xấu miền Bắc, nói xấu Bác Hồ, tuyên bố không thi hành Hiệp định, kêu gọi quần chúng tố cộng, chỉ cán bộ nằm vùng, đồng thời rêu rao chính sách lừa mị cải cách điền địa, phát triển nông gia cuộc… Tác động tâm lý, chúng nói là: người đi tập kết không mong gì về.

Sau khi ban hành “luật bảo vệ trị an”, địch dấn sâu thêm một bước mới: tố cộng trên qui mô lớn. Cùng một lúc địch chọn Tây Ninh làm nơi thí điểm chiến dịch tố cộng mang tên Trương Tấn Bửu để rút kinh nghiệm triển khai ra các tỉnh Chợ Lớn, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa… của Đông Nam Bộ. Chiến dịch dẫm máu này kéo dài 5 tháng từ 17-9-1956 đến 15-3-1957.

Địch thành lập ra một ban chỉ huy chiến dịch thành phần gồm tên Nguyễn Ngọc Lễ tỉnh phó làm chỉ huy trưởng và một tên cán bộ công dân vụ trong hội đồng tố cộng trung ương làm chỉ huy phó. Các ủy viên trong Ban chỉ huy gồm có các tên trưởng ty công an, trưởng ty thông tin, Trưởng ty thuế vụ, Trưởng ty y tế, Trương ty giáo dục v.v…

Trước tiên địch đánh vào 2 xã Phước Vinh và Hòa Hội (Phước Vinh và Hòa Hội, 2 xã có phong trào đấu tranh điểm). 20 ngày sau, chúng đánh sang một số xã khác thuộc huyện Châu Thành là Thái Bình, Thanh Điền, Trí Bình, Ninh Điền rồi đánh tràn xuống các huyện Gò Dầu, Trảng Bàng.

Chiến dịch được địch tiến hành theo 9 bước. Trước hết chúng đưa bọn công an tỉnh báo nổi và chìm, mang danh hiệu đội diệt muỗi diệt ruồi hoặc giả dạng bán vải, bán thuốc, bói toán… do tên thiếu tá Trần Tử Oai chỉ huy xuống xã ấp dò la tin tức, tìm hiểu cơ sở cách mạng và theo dõi dấu vết hoạt động của cán bộ ta. Kế đó chúng đưa một trung đoàn quân chủ lực và một tiểu đoàn bảo an xuống phối hợp với bọn bảo an, tề vệ ở địa phương phát loa, dán thông báo cấm đồng bào ra khỏi làng, đồng thời bố trí lực lượng chốt chặn các ngả ngã ba, các đường ra vào. Tổ chức ra từng tiểu đội, trung đội đi lùng sục, rình mò, ruộng rập ngoài đồng ruộng, trong rừng sâu, các vườn tược, hàng rào, bờ tre, khóm trúc trong xóm ấp nghe ngóng, theo dõi dấu vết hoạt động của ta. Sau các động tác trên, chúng lùa bắt tập hợp nói xấu công sản, tuyên bố ly khai, xé cờ. Để che bộ mặt phát xít, xoa dịu quần chúng, sau những lần hội họp mít tinh, địch đều dùng thủ thuật lừa mị, tuyên truyền “đồng tiến xã hội”, “phát triển hương thôn”.

Trong các cuộc mít tinh, cũng như trong trong các cuộc họp, địch khêu gợi phát biểu ý kiến. Đồng bào phản đối làm thinh, chúng chỉ định và hướng dấn nói theo ý chúng là cộng sản xấu, đòi đả đảo ly khai. Người nào nói ngược lại, bọn công an đến hỏi họ, tên, ghi vào sổ tay và hăm dọa “mời” về xã, về quận. Chúng buộc đồng bào kê khai nghiệp, từng người trong gia đình, lập danh sách dán trước cửa nhà, kê khai tài sản ruộng vườn, trâu bò, lập bộ sổ truy thu thuế, bắt mỗi nhà mua một bộ cờ ba que, mua ảnh Diệm, bảng số nhà. O ép bắt quần chúng gia nhập các tổ chức thanh niên cộng hòa, phụ nữ bác ái, tự vệ hương thôn, tổ chức ngũ gia, thập gia liên bảo, chỉ định người đứng ra phụ trách, lập danh sách thanh niên từ 18 đến 25 tuổi để chuẩn bị bắt lính, rà lại thành phần lý lịch dân vệ, tề xã ấp. Địch đã vấp phải tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân, kiên quyết không tố cộng, không ly khai, không xé cờ, không khai báo cơ sở cách mạng, mặc dù hàng trăm người đã bị chúng bắt cầm tù, tra tấn, đày ra Côn Đảo.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:53:00 AM
Kịp thời đối phó với âm mưu mới của địch, Tỉnh ủy đã khẩn trương chuyển hướng hoạt động theo tinh thần chỉ thị 4HBC của Xứ ủy. Trong từng xã, số đảng viên hộ hoạt động bất họp pháp với địch sinh hoạt riêng trong chi bộ A. Còn số đảng viên mật, còn có thể sống họp tác với địch sinh hoạt trong chi bộ B. Mỗi chi bộ có chương trình hành động cụ thể. Tỉnh ủy chuyển vùng đứng chân để địch khó theo dõi phát hiện. Một số đồng chí huyện ủy viên, chi ủy viên bị lộ, cũng được chuyển vùng hoạt động.

Cuối năm 1956, để tăng cường đội ngũ cán bộ cho trên, Khu ủy quyết định rút đồng chí Ba Cát và chỉ định đồng chí Võ Văn Truyện (Tám Hòa) làm Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Hai Bình được Xứ ủy mời về học Nghị quyết nhưng thực chất giao nhiệm vụ ẩn mình vào cửa đạo để vận động quần chúng Cao Đài ở Tòa Thánh.

Cũng cuối năm này, Tỉnh ủy họp kiểm điểm tình hình, đã nhất trí nhận định:

Trong 2 năm qua, nhân dân các dân tộc Tây Ninh đã liên tục đấu tranh chống địch nhiều mặt, nhiều phía với nhiều hình thức phong phú, đã làm cho địch bị động lúng túng. Đạt được một số thắng lợi, lòng yêu nước được nâng cao, đồng bào càng thấy rõ dã tâm của đế quốc Mỹ và tay sai và càng quyết tâm xây dựng thế trận đấu tranh chính trị vững mạnh, xây dựng nền móng cho lực lượng võ trang, tạo tiền đề cho một hình thái đấu tranh mới.

Qua thực tiễn sinh động đầy gian khổ của phong trào quần chúng, các tổ chức Đảng bước đầu được củng cố sinh hoạt, công tác đi vào nề nếp phù hợp với tình hình mới. Ở các huyện, hình thành được Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động, Ban Tuyên huấn cùng cán bộ phận điện đài, lấy tin, in án. Những vùng yếu trước kia như thị xã Tây Ninh, thị trấn Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu đều có đảng viên lẻ, có nơi có tổ Đảng, tổ Đoàn. Riêng ở Tòa Thánh đã thành lập được một Ban cán sự, tương đương Ban Chấp hành huyện ủy với hệ thống cán bộ cốt cán và chân rết ở cơ sở chuyên môn công tác tôn giáo vận. Hệ thống giao liên từ tỉnh xuống đến huyện xã và ngược lại được đảm bảo thông suốt với hai đường dây, trạm thư, hộp thư công khai và bí mật. Các tổ chức của địch như Hội đồng hương chính và đội dân vệ xã, hầu hết là người của ta đưa vào trong đó, làm được một số mặt công tác theo hướng lãnh đạo của ta.

Trong cuộc họp này Tỉnh ủy cũng đánh giá thực tiễn tình hình tạo ra cho Tây Ninh có lực lượng vũ trang sớm như d20 (của tỉnh) C30, C70, C80… Đây là điều kiện rất thuận lợi tạo thế đi lên cho cách mạng, mặc dù lực lượng đó do tính cách dặc biệt của giai đoạn cách mạng nên từ năm 1957 cấp trên quản lý trực tiếp và chỉ đạo hoạt động.

Ta đã sử dụng lực lượng này để diệt ác ôn hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Tuy nhiên về vấn đề này, quan điểm và nhận thức trong các cấp ủy cũng khá phức tạp. Một số đồng chí cho rằng trong tình hình hiện nay nếu sử dụng lực lượng vũ trang dù ở mức độ nào thì chẳng khác gì tự gắp lửa than bỏ vào lòng bày tay, không sớm thì muộn, cơ sở cách mạng sẽ bị tiêu diệt. Ngược lại có lập luận cho rằng phải vận dụng đồng thời đấu tranh chính trị và bạo lực vũ trang mới đánh đổ được kẻ thù, nếu không sử dụng bạo lực vũ trang thì cách mạng không thể tồn tại và phát triển được.

Do chưa nhất quán về nhận thức phương pháp cách mạng nên có lúc Tỉnh ủy Tây Ninh chủ trương đào hầm móc súng lên để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng và tự vệ cho mình. Nhưng rồi vì nằm trong bối cảnh chung lúc đó và vì ý thức tổ chức kỷ luật, Tây Ninh phải chôn súng trở lại. Móc súng lên rồi đào hầm chôn súng xuống làm đi làm lại ba, bốn lần biểu hiện một số đấu tranh tư tưởng của tỉnh Đảng bộ, hết sức quyết liệt trong thời kỳ này. Tuy niên có vấn đề mà thực tiến đã chỉ ra, rút thành bại học xương máu vô cùng quí giá được Tỉnh ủy hoàn toàn thống nhất. Đó là việc cơ sở cách mạng bị địch đánh phá, cán bộ đảng viên bị địch bắt bớ tù đày giết hại, phần nhiều là do ảo tưởng hòa bình, họp pháp chủ nghĩa, tê liệt cảnh giác cách mạng, tạo cho địch có cơ hội lấn tới. Một, hai tên dân vệ, thám báo với con dao cũng có thể rượt bắt được cán bộ ta, trong đó có nhiều trường hợp cán bộ ta có súng mang trong mình, vẫn không tự vệ, xuôi tay để chúng bắt. Từ sự nhất quán đó, Tỉnh ủy coi đây là bài học để giáo dục cán bộ đảng viên, trong tư thế sẵn sàng lao vào cuộc chiến đấu sống mái với kẻ thù.

Địch tiếp tục tiến công ta bằng việc mở nhiều cuộc hành quân cấp đại đội, cấp tiểu đoàn càn quét Phước Vinh, Vịnh Sóc Thiết, Lò Gò; tình báo, thám báo các quận, tổ chức hệ thống mật báo trong ấp xóm để phối hợp với dân vệ quận, tề vệ xã ngày đêm xuống rập rình mò, gây không khí u tối, cấm tụ tam tụ ngũ, bắt buộc đồng bào có giỗ tiệc, ma chay, cưới xin phải xin phép. Đối với gia đình cán bộ, chiến sĩ đi tập kết và gia đình cách mạng, chúng tập trung về các quận buộc đứng ra tố cộng, ly khai, xé cờ Đảng, xé ảnh Bác Hồ, buộc làm tờ từ con, bỏ chồng… Chúng treo giải thưởng 2.000, có nơi đến 5.000-7.000 đồng cho những ai điểm chỉ hoặc bắt được 1 cán bộ kháng chiến, thúc đẩy bọn tay sai đi vào con đường tội ác hơn nữa. Đồng thời chúng tuyên bố quần chúng nào chứa chấp cán bộ cộng sản sẽ bị bắt, bị tù, tìch thu gia sản. Chúng cho bọn công an thám báo, tề vệ dùng tiền bạc dụ dỗ mua chuộc hoặc dùng quyền lực rún ép để lấy vợ con cán bộ kháng chiến, vợ con người đi đi tập kết đặng phá hoại hạnh phúc, gây nghị kỵ trong quần chúng.

Địch loại tên Châu Ngọc Thôi và lần lượt thay vào các tên có kinh nghiệm đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng lên làm tỉnh trưởng như Lê Văn Khoái và Nguyễn Văn Ngôn. Đi đôi với rà soát lại thành phần lý lịch tề vệ và số công chức khác ở các cơ quan quận, tỉnh, chúng sa thải bắt bớ những người mà chúng nghi là có quan hệ với ta, hoặc có thái độ lưng chừng, làm việc tiêu cực, nhằm rún ép số còn lại. Địch đưa bọn cán bộ công dân vụ, cán bộ thông tin và những tên trong tổng đoàn dân vệ về làm ủy viên cảnh sát, một chức vụ trong hội đồng hương chính xã và làm trưởng đoàn, phó đoàn dân vệ. Bọn này hầu hết đều được đào tạo ở các trường lớp công an, tình báo ở Sài Gòn trong đó đại bộ phận là thành phần công giáo di cư, có chính kiến thù địch và ít nhiều có nợ máu với cách mạng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:53:17 AM
Với khẩu hiệu “lính ta làng ta” (tề xã, tề ấp, dân vệ các xã ta đưa người của ta vào nằm hết nên nói “lính ta làng ta”) từ những năm 1955-1956 ta đã dầy công tổ chức xây dựng các cơ sở cách mạng trong lòng địch: Anh em đã làm được một số công việc như báo cáo âm mưu và tình hình hoạt động của địch, thông báo tin các cuộc hành quân khủng bố, càn quét gây mâu thuẫn nội bộ phát triển thực lực, bảo vệ giải thoát cán bộ, lấy giấy căn cước đưa ra cho ta… Nhưng đến thời điểm này, địch đã phá vỡ phần lớn cơ sở ta. Tính chung, trong toàn tỉnh địch đã bắt bớ giam cầm và loại ra trên 80% cơ sở. Nhiều nơi như Ninh Điền, Phum Xoài, Thanh Điền (Châu Thành), Phước Thạnh, An Thạnh (Gò Dầu), Gia Lộc, Đôn Thuận, Lộc Hưng (Trảng Bàng) địch đã diệt sạch cơ sở, một số bị bắt, một số lánh đi nơi khác, một số rất ít còn lại không dám liên lạc với ta. Rồi trước những thủ đoạn khống chế, mua chuộc, dụ dỗ của địch dần dần có người trở thành tay sai ngoan cố. Riêng trong F13 quân chủ lực đóng ở Tua 2, địch đã khám phá, khai thác bắt trên 60 cơ sở, trong đó có 1 chi bộ đảng, và bắt một số cơ sở trạm, đầu mối binh vận ở khu vực này, gây tác động lớn đối với công tác binh vận và phong trào quần chúng nói chung (Sau vụ địch khám phá cơ sở ta, chúng hoảng sợ điều động sĩ quan, xáo trộn binh lính và xóa phiên hiệu F.13 đổi lại là F.21). Tăng cường các công cụ bạo lực phản cách mạng, địch tuyển chọn những phận từ xấu bổ sung mỗi xã một trung đội dân vệ biên chế đầy đủ. Ở quận tổng đoàn dân vệ có đại đội. Ở tỉnh có tiểu đoàn bảo an và nhiều trung đội bảo an độc lập khác, phát triển thêm hệ thống đồn bót trên các trục lộ 13, lộ 22, lộ 4, mở đường từ ngã ba Đồng Pan qua Cần Đăng, dài 19km, mang tên lộ “Trần Lệ Xuân” phục vụ cho việc khai thác rừng và xé nát vùng căn cứ, lập phương án chuẩn bị xây dựng sân bay Tây Ninh, cảng Bến Kéo, Bến Sỏi cho các giang thuyền hoạt động, đo đạc, thiết kế, lên quy hoạch xây dựng dinh quận Phước Ninh ở Bến Sỏi, dinh quận Gò Dầu (đổi tên là Hiếu Thiện) đặt ở ngã ba Bàu Gõ thuộc xã Lợi Thuận (Bến Cầu).

Phát xít nhưng cố che bộ mặt, trong các cuộc họp cũng như trên báo, đài, bản tin… kẻ địch khoác lác mị dân là sẽ chấn hưng kinh tế, cải tiến cần lao, đồng tiến xã hôi, rêu rao chỉ dụ số 53 của Diệm, gọi là truất phế sở hữu ruộng đất của địa chủ, chỉ để lại mỗi địa chủ 100 ha, thực hiện hữu sản hóa nông dân, người cày có ruộng. Đây là một âm mưu khá thâm độc của chúng nhằm tạo giai cấp nông dân thành tầng lớp tư sản mới để làm chỗ dựa cho một chính quyền tay sai.

Sau đợt tuyên truyền “quân dịch”, địch tổ chức bắt lính ồ ạt. Khắp nơi, ở chợ búa, trong xóm ấp, bọn tay sai vừa kêu gọi, vừa o ép, truy lùng thanh niên trong đội tuổi từ 18 đến 27 đưa lên quận trình diện. Bọn quận quy định ngày giờ tập trung cho xe đưa ngay ra các quân trường Quảng Trung, Vạn Kiếp.

Địch bắt lính ồ ạt làm xáo trộn lớn đời sống xã hội, đụng chạm sâu xa đến tâm tư tình cảm của tất cả các tầng lớp nhân dân. Tỉnh ủy được Khu ủy quán triệt chỉ thị chống địch bắt lính, và xem đây là một công tác trung tâm, đã phân công các đồng chí cấp ủy viên khẩn trương xuống huyện, xã tổ chức học tập, đồng thời có kế hoạch phát động giáo dục rộng rãi ngoài nhân dân. Những lời hiệu triệu, khẩu hiệu kêu gọi thanh niên và nhân dân đoàn kết một lòng đứng lên đấu tranh chống địch bắt lính được Ban Tuyên truyền Tỉnh ủy in hàng vạn bản phá thành rộng rãi.

Một phong trào dấy lên bàn bạc sôi nổi, tạo thành dư luận phản đối “hòa bình” rồi bắt lính làm gì? Bắt lính để đánh ai? Hãy để cho dân yên ổn làm ăn, sum họp gia đình với khẩu hiệu không đi lính cho địch, đòi miễn dịch, đòi hoãn dịch. Mặt trận đấu tranh được hình thành rộng rãi bao gồm các giai cấp, các tầng lớp công nhân, nông dân, học sinh… thanh niên và gia đình thanh niên bị địch bắt lính. Ngày này sang ngày nọ, hết tốp này đến tốp khác từ 5-10 đến 20-30 người, được sự đồng tình của tệ ấp, kéo đến đấu tranh với bọn tề xã bằng lý lẽ, đơn từ đòi chúng giải quyết. Kẻ địch ở xã nào cũng bị quần chúng tiến công, chúng gỡ gạt bằng cách chúng đổ cho cấp trên của chúng ra lệnh. Bọn quận và tỉnh đưa lính tổng đoàn, công an, cảnh sát xuống hỗ trợ cho xã, hăm dọa khủng bố, nhưng cũng không làm nao núng ý chí đấu tranh của quần chúng.

Địch hù dọa, rún ép bắt được một số thanh niên ở các vùng yếu tập trung về quận. Tháng 10-1957, Tỉnh ủy phát lệnh đồng loạt đưa lực lượng các xã đấu tranh chống bắt lính với quận. Hàng nghìn người tổ chức thành đội ngũ, gồm lực lượng làm ngòi pháo, lực lượng đấu tranh kế tiếp, lực lượng bảo vệ chống khủng bố, lực lượng tranh thủ binh lính. Ban lãnh đạo đấu tranh ở mỗi xã được đặt dưới sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của thường vụ Huyện ủy, có đồng chí tỉnh ủy viên – do Tỉnh ủy cử xuống giúp đỡ.

Cùng một ngày thống nhất, các xã Gia lộc, An Tịnh, Lộc Hưng, Gia Bình, Đôn Thuận… kéo đến quận Trảng Bàng, các xã Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức… kéo đến quận Gò Dầu, các xã Thanh Điền, Trí Bình, Thái Bình… kéo đến quận Phước Ninh (tại thị xã). Bị quần chúng bao vây tấn công, hầu hết các tên Quận trưởng đều tránh né, đưa bọn thư ký ra tiếp xúc. Tên Lâm Văn Thao quận trưởng Gò Dần trốn trong phòng khóa chặt cửa lại. Sau cuộc đấu tranh của quần chúng chống địch bắt lính lần này, Tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo Huyện ủy Châu Thành đưa lực lượng quần chúng 2 xã căn cứ kháng chiến cũ là Phước Vinh và Hảo Đước trực diện đấu tranh với bọn tề quận Phước Ninh. Các xã Thanh Điền, Thái Bình làm nhiệm vụ hỗ trợ. Khí thế quần chúng như vũ bão, hàng nghìn người tràn vào dinh quận Phước Ninh. Tên Huê quận trưởng hoảng sự bỏ chạy chun dưới gầm bàn, bọn thư ký hoang mang nhưng chũng cũng cố đứng ra ngăn cản, hứa giải quyết. Nhưng quần chúng không chịu, cương quyết đòi phải có quận trưởng ra giáp mặt.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:53:45 AM
Địch có kinh nghiệm trong các cuộc đấu tranh trước của quần chúng nên đã chuẩn bị đối phó. Chúng cho công an cảnh sát đàn áp dữ dội. Hai bên ẩu đả nhau quyết liệt. Đồng bào dùng cây mía làm gậy, lượm củi gạch và bọc cả đá xanh vào khăn để chống trả lại dùi cui và báng súng. Đội bảo vệ với lực lượng nam, nữ thanh niên trẻ, khỏe, tay nắm tay bao vây bọn công an, cảnh sát giành giật lại người mà chúng bắt. Dấn sâu thêm một bước, địch cho tăng cường lực lượng bao vây, theo dõi bắt các đồng chí lãnh đạo trực tiếp và gom hết quần chúng lại. Sau đó chúng gạn bắt cơ sở, nòng cốt, đội bảo vệ trong cuộc đấu tranh này riêng xã Hảo Đước địch bắt gần 80% cán bộ, cơ sở và quần chúng cốt cán. Trong số đó có nhiều người chúng đưa ra tòa kêu án 5, 7 năm tù và đày ra Côn đảo. Đây là cuộc đấu tranh chính trị, đã huy động bạo lực cách mạng hùng hậu của nhân dân và giành thắng lợi, báo hiệu cao trào đang lên.

Sau cuộc đấu tranh này - xã nào cũng có từ 5-10 thanh niên, nhiều nhất là các xã vùng ven biên giới và vùng căn cứ kháng chiến cũ, kiên quyết không để cho địch bắt lính, vào rừng ra bưng sống bất hợp pháp. Anh em được gia đình và bà con giúp đỡ, bảo vệ.

Thực tế tình hình khiến khá nhiều cán bộ, đảng viên có tâm trạng muốn vũ trang khởi nghĩa. Thời gian này Tỉnh ủy cũng đã tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập “Đề cương đường lối cách mạng Miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn, nghị quyết 06/54 của Bộ Chính trị và Nghị quyết tháng 12-1956 của Xứ ủy Nam Bộ. Quá trình học tập đường lối cách mạng miền Nam, các đồng chí rất quan tâm đến đoạn nói về các hình thức áp dụng để đánh đổ chính quyền phản động, nhất là về khả năng có thể có những cuộc nội dậy của một bộ phận nhân dân để đánh đổ chính quyền địch.

Quán triệt đường lối cách mạng Miền Nam và các nghị quyết của trên, bằng thực tiễn tương quan ta và địch ở địa phương, Tỉnh ủy chỉ đạo một số việc cần phải làm trước mắt.

Một là nhanh chóng chuyển các đội dân canh sang đội bảo vệ, thông báo tin. Hai là Ban binh vận các cấp rà soát lại cơ sở trong lòng địch, ai còn, ai mất có kế hoạch móc ráp, củng cố lại. Mặt khác, nhắc nhở cán bộ đảng viên phương châm, phương thức hoạt động bám sát quần chúng, nhất là quần chúng lao động phát hiện kịp thời tâm tư nguyện vọng và những đòi hỏi của quần chúng, phát động giáo dục, đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt.

Trong bối cảnh chung đó, cuộc nổi dậy của đồng bào ấp Trảng Cỏ thuộc xã Đôn Thuận nổ ra vào đầu năm 1958.

Đôn Thuận là một trong những xã có phong trào mạnh. Sau nhiều lần bị địch thanh lọc, chấn chỉnh, mấy trưởng ấp vẫn còn là người của ta, trong đó có trưởng ấp Trảng Cỏ. Trong các hình thức rất đa dạng được áp dụng để chống bắt lính như biểu tình xin miễn hoãn, đương sự khai bệnh tật hoặc gia đình khóc lóc kể lể như phải đưa con đến chỗ chết, thanh niên Đôn Thuận về đêm thường kéo đến nhà trưởng ấp để kêu xin, phản kháng. Sáng ra, trưởng ấp lên xã, huyện báo cáo, gây tâm lý căng thẳng đối với địch.

Địch rất đau đầu và nghi ngờ anh trưởng ấp có quan hệ với ta. Sau đó chúng cho lệnh bắt anh này nhưng vì cảnh giác ta cho phép anh trưởng ấp rút vào hoạt động bí mật nên chúng không bắt được. Địch tăng cường rình rập cho đến một đêm sáng trăng địch đưa một trung đội bảo an, bao nhà bắt anh trưởng ấp Nguyễn Văn Rõn (Tư Bịch). Quần chúng được báo động kéo nhau ra giải vây. Đầu tiên lực lượng nữ xông ra trước vừa đuổi theo đám bảo an, vừa la “phiến loạn bắt trưởng ấp”.

Địch nhanh chân tháo lui nhưng vẫn kéo theo người bị bắt. Trống mõ, thùng thiếc, nồi nhôm, soong chảo được báo chuyền từ xóm này sang xóm khác. Chỉ một lát sau, các tầng lớp nhân dân những ấp lân cận với gậy gộc xông ra sẵn sàng tiếp ứng, cả bà con ở sát bót Cầu Ván cũng có mặt.

Rút qua được bên kia cầu Xe rồi nhưng bọn bảo an lại không dám chạy tiếp vì chúng nghe phía trước cũng có tiếng trống mõ, tiếng hò la. Chúng đành phải dừng lại giải thích với đồng bào là có lệnh trên về mời trưởng ấp. Bà con không nhe vừa bao vây, vừa cố vận động thuyết phục…

Trước sức mạnh và lý lẽ quần chúng, địch buộc phải thả người trưởng ấp, rồi vội vàng rút lui.

Mặc nhiên nhân dân đã hoàn toàn làm chủ xóm ấp. Nhưng sau đó chưa kịp báo cáo lên trên và nhất là chưa kịp triển khai tổ chức tự vệ, chiến đấu nên đã bị địch đưa quân đến đàn áp dã man.

Cuộc nổi dậy của đồng bào Trảng Cỏ là một loại hình khởi nghĩa của cách mạng trong tình hình ấy nhưng vì quá đơn độc, có tính cá biệt nên đã bị địch tập trung lực lượng đánh tan. Tuy nhiên, đó vẫn là một bài học quý giá cho chúng ta trong cuộc vận động quần chúng nổi dậy.

Giữa năm 1958, để mở rộng vùng căn cứ và giải quyết hậu cần, lực lượng vũ trang của ta mang danh nghĩa Cao Đài ly khai do Khu ủy trực tiếp chỉ đạo, tiến công địch tại nông trường cao su Minh Thạnh và Dầu Tiếng thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Trên đất Tây Ninh lực lượng vũ trang của tỉnh chỉ còn 1 tổ do đồng chí Ba Như chỉ huy phối hợp với lực lượng trên là C70 và C80 thuộc ATK (C1000) đánh địch ở Bến Củi, diệt và làm bị thương gần 100 tên. Ta thiêu hủy đồn bót, kho tàng, tịch thu súng, tiền bạc, thực phẩm, lương thực và nhiều quân trang quân dụng. Tỉnh ủy trang bị cho các huyện ủy mỗi nơi một vài cây súng. Tình hình diệt công an, thám báo ác ôn lâu năm xảy ra ở hầu hết các địa phương.

Tình hình này cũng đã tác động đến hàng ngũ ngụy quân, đặc biệt là những cơ sở ta trong đó. Tháng 7-1958 bốn cơ sở ở đồn bảo an Băng Dung (Phước Vinh) đã ra móc nối với ta để xin chỉ thị hành động. Các anh là người xã Thanh Điền, được ta cấy vào hàng ngũ địch từ trước. ta chưa kịp cho ý kiến, các anh đã nhân một cơ hội thuận tiện, chiếm đồn giết chết tên đồn trưởng, đốt phá nhà cửa công sự và vác súng vô rừng để về với nhân dân.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:54:23 AM
Địch dùng lực lượng quân sự lớn, gồm một bộ phận F21 và bảo an, dân vệ càn sâu vào các xã thuộc huyện Dương Minh Châu và các xã vùng biên giới phía tây bắc tỉnh hòng đánh bật lực lượng vũ trang của ta. Mặt khác chúng tăng cường bộ máy tình báo, công an ngầm dày đặc trong các xóm ấp. Có xã có đến 30-40 tên. Bọn này là người tại chỗ, am hiểu dân, biết đường đi nước bước, các nơi bám trụ của cán bộ ta, cho nên rất nguy hiểm. Chúng kết hợp với dân vệ xã, quận ngày đêm rình mò, lùng sục, phục kích. Việc đi lại, hoạt động của ta trở nên vô cùng căng thẳng, khó khăn. Trước đây ban ngày ta vẫn có thể tổ chức hội họp, sinh hoạt, cán bộ có thể cải trang đi từ xóm này sang xóm khác. Nay thì, các đồng chí ở vùng căn cứ, biên giới bám vào rừng. Các đồng chí ở vùng đồng bằng Gò Dầu, thị xã, Trảng Bàng… lánh trong các lùm bụi, ruộng mía… hoặc trụ trong buồng, trong bồ lúa nhà dân. Nhiều nơi, các đồng chí phải nằm hầm bí mật suốt ngày, đêm mới lên đi hoạt động.

Tình hình đang hồi khó do địch tăng cường đánh phá. Mọi mặt hoạt động đấu tranh… bước đầu bị sượng.

Tỉnh ủy tiếp tục giáo dục cán bộ đảng viên nắm vững phương châm, phương thức hoạt động, đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt. Mỗi cán bộ đảng viên phải có hầm bí mật, có mạng lưới thông tin và lực lượng quần chúng bảo vệ. Tỉnh ủy thấy đã đến lúc cân thiết giao cho các huyện, thị ủy, một số súng để trừ khử ác ôn. Mặt khác, cần tổ chức một cuộc sinh hoạt chính trị sâu sắc và rộng rãi trong toàn Đảng về khí tiết người đảng viên cộng sản “sống vĩ đại, chết vinh quang”.

Trong thời kỳ này, bọn ác ôn bị diệt bằng mọi cách, diệt công khai có dán bản án hoặc thủ tiêu bí mật. Hoạt động trên đã có tác dụng giữ thế cho phong trào và đảm bảo sự tồn tại của cách mạng. Tuy không được cấp trên đồng tình, tỉnh ủy Tây Ninh bị kiểm điểm nhiều lần, nhưng vì sự mất còn của phong trào nên tỉnh ủy vẫn phải tiến hành.

Để tố cáo địch thảm sát trên 2000 người ở nhà giam Phú Lợi (Bình Dương), Ban Tuyên Huấn Tỉnh ủy in hàng vạn tờ truyền đơn, viết về nhiều khẩu hiệu, bích chương giao cho xã đem đi dán, rải, giăng khắp các trục lộ, các vùng thị xã, thị trấn, và phát động những gia đình có người thân bị giặc bắt bớ giam cầm đấu tranh đòi chúng cho biết chồng, con, em của họ sau vụ đầu độc trên, còn sống hay chết, đòi cho được thăm nuôi giáp mặt, đòi thả, đòi đưa ra tòa án xét xử nếu có tội.

Hưởng ứng chủ trương chung, cùng với các tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Chợ Lớn, Mỹ Tho… Tỉnh đưa một lực lượng gần 150 người (mỗi huyện tổ chức thành tổ, có một huyện ủy viên trực tiếp lãnh đạo dưới sự chỉ huy thống nhất của tỉnh) xuống Sài Gòn đưa đơn chất vấn và phản đối quốc hội Diệm về cuộc đầu độc tù nhân Phú Lợi. Sau cuộc đấu tranh quy mô này, nhiều cuộc đấu tranh lẻ tẻ liên tục diễn ra chống địch khủng bố bắt người tra tấn, thủ tiêu, đòi được thăm nuôi, được giáp mặt người thân bị chúng giam cầm ở nhà lao Tây Ninh.

Bước sang năm 1959, để củng cố quan điểm lập trường giai cấp công nhân, xác định ta, bạn, thù nâng cao nhận thức về đường lối chính sách và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ đảng viên, Tỉnh ủy thành lập Trường Đảng, Trường Đoàn và giao cho Ban Tuyên Huấn Tỉnh ủy phụ trách. Để bảo đảm bí mật, an toàn, trường được xây dựng trong các khu rừng lõm, vùng ven, gần nhà dân từ 3-5km, lợp bằng 3-4 tấm nilon và được thay đổi địa điểm khi sang khóa học khác, cũng có trường hợp nửa chừng bị lộ phải dời đi. Học viên mỗi người có chiếc võng và tấm tăng che lên. Giữa người học với nhau và người học với nhân viên phục vụ phải ngồi ngăn cách, không biết mặt nhau. Thời gian học trên dưới 3 ngày. Chương trình gồm những bài cơ bản: đường lối cách mạng miền Nam, công tác vận động quần chúng, công tác binh vận, 5 bước công tác, công tác củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, khí tiết người đảng viên cộng sản… Trong suốt năm 1959, Trường Đảng và Trường Đoàn đã tổ chức huấn luyện cho hàng trăm Bí thư, phó Bí thư, chỉ ủy viên và cán bộ chi đoàn, hầu hết cá xã kể cả các xã vùng yếu, thị trấn cũng đều được học tập.

Dấn sâu vào con đường tội ác, Ngô Đình Diệm ban hành luật 10-1959, đặt “cộng sản ngoài vòng pháp luật”. Bằng bộ máy thông tin đại chúng, với hàng vạn khẩu hiệu “đả đảo cộng sản”, “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”, “Hoan hô dự luật 10-1959”, “chặt đầu cộng sản”, chúng lu loa ầm ĩ cho đạo luật vô cùng phá xít này. Bọn tề vệ phối hợp với công an, tình báo vào nhà đồng bào, buộc mỗi gia đình phải mua 1 khẩu hiệu, giá 20-30 đồng, treo dán trước cửa nhà (trong thời điểm giá lúa 30 đồng 1 giạ). Đồng thời chúng tác động, hù dọa ai chứa chấp cộng sản là đồng lõa xẽ bị đưa ra tòa xử như cộng sản và bị tịch bôi gia sản.

Đây là thời kỳ Đảng bộ Tây Ninh phải trải qua một cơn thử thách dữ dội, một sự tổn thất và mất mát vô cùng to lớn. Số đông chi bộ xã bị thiệt hại nghiêm trọng, có xã chỉ còn 2-3 đảng viên, có xã trắng. Nhiều đồng chí cán bộ huyện, tỉnh, huyện ủy viên, tỉnh ủy viên lớp bị địch giết hại, lớp bị bắt bớ tù đày. Huyện ủy huyện Châu Thành, Gò Dầu, ban cán sự Tòa Thánh gần như bị lột xác. Tỉnh Đảng bộ Tây Ninh vào cuối năm này chỉ còn trên dưới 300 đảng viên. Trại giam của địch ở Tây Ninh chật ních những cán bộ và quần chúng yêu nước, đến nỗi không còn chỗ nhốt, địch phải xây dựng thêm.

Trong các khám đường của địch, nhiều tấm gương trong sáng của cán bộ đảng đã nêu cao khí tiết cộng sản chủ nghĩa; bất khuất trước mọi ngón đòn thù cũng như vững vàng trước các dụ dỗ mua chuộc. Cố nhiên vẫn có một số rất ít kẻ phản bội, nhưng đó chỉ là cá biệt, vài tên mất phẩm chất có ý đồ đầu hàng địch, chúng không phải đánh đã khai, không cần dụ dỗ đã cam tâm làm tay sai cho giặc.

Có thể nói trong bất cứ nhà tù nào, các đồng chí ta cũng tìm cách móc nối với tổ chức, chí ít cũng quyết tâm bảo vệ khí tiết nhưng đặc biệt là tại khám đường Tây Ninh… Chi bộ nhà tù được hình thành từ 1957, qua nhiều lần thay đổi vẫn không đứt liên lạc với Đảng bộ bên ngoài, thành viên ban chấp hành đa phần là huyện ủy viên, cán bộ tỉnh và tỉnh ủy viên.

Là một chi bộ đặc biệt, được sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy, chi bộ nhà tù xây dựng được nếp sinh hoạt chặt chẽ, luôn lãnh đạo kịp thời các cuộc đấu tranh và bao giờ cũng yêu thương chăm sóc nhau, căm sóc các tù nhân nói chung, khi bị đòn tra tấn và cả việc ăn cơm nước uống hằng ngày. Có thể nói là trong bất cứ hoàn cảnh nào những người đảng viên cộng sản vẫn là niềm tin và chỗ dựa cho quần chúng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:54:54 AM
*
*   *

Căm phẫn hành động o ép giết chóc dã man của địch, bà con nhiều nơi đã chất vấn, phê phán cán bộ sao không báo cáo rõ tình hình với Trung ương, đề nghị đưa bộ đội về hoặc ít nhất cũng được phép võ trang tự vệ? Tập thể nhân dân một xã thuộc huyện Châu Thành đã viết thư cho Bác Hồ, cho Trung ương Đảng.

Trong tình hình này, chủ trương “tương đối hòa bình” đã đáp ứng được nguyện vọng tiết tha của quần chúng và cán bộ cách mạng. Tại cuộc hội nghị Bàu Rã, đại diện Xứ ủy đã phổ biến cho cán bộ tỉnh, huyện: khi cần thiết để đưa phong trào lên thì có thể phối hợp với bạo lực võ trang…

Tinh thần chung rất hồ hởi. Thế là súng chôn giấu được đào lên, súng ném xuống sông được mò tìm (ngay số súng ở đồn Băng Dung do bốn cơ sở nổi dậy giành được trước đây cũng phải đem vất xuống sông).

Huyện ủy Châu Thành chủ trương diệt những tên ác ôn có nhiều nợ máu để đưa phong trào lên. Trong một đêm, 12 tên ác ôn, chủ yếu là bọn ủy viên cảnh sát ở 10 xã đã bị diệt gọn.

Địch hoang mang dao động, còn quần chúng vô cùng phấn khởi, cho là thời cơ đã đến. Trong một đêm, 12 tên tay sai của giặc bị đền tội, quả là bước chuyển biến rất rõ. Ở xã an Tịnh (Trảng Bàng), đồng chí Chín Cược được ta đưa ra làm ủy viên cảnh sát ngụy từ trước. Dưới sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy, hệ thống nội tuyến do đồng chí tổ chức hoạt động rất đắc lực. Đồng chí Cược đã dùng mưu điều tất cả lính và vũ khí của 2 bót Suối Sâu hành quân dã ngoại, rồi trừng trị mấy tên ác ôn và thu toàn bộ vũ khí đem về cho cách mạng. Tuy vậy số cơ sở này vẫn không bị lộ, nhiều người lại trở về mai phục chờ cơ hội lập công khác.

Cuối tháng 5, đầu tháng 6-1959, trên chủ trương tách 2 huyện Châu Thành và Dương Minh Châu đưa về trực thuộc C.1000. Đồng thời rút 2 đồng chí Tỉnh ủy viên bổ sung cho Ban Chấp hành Đảng bộ nơi đây.

Nghị quyết hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-195) chủ trương “con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực. Đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Tháng 12-1959 một số đồng chí chủ chốt ở Tây Ninh được truyền đạt chủ trương này. Nhưng đối với Tây Ninh, Cứ ủy chủ trương chưa được phổ biến rộng rãi cần phải giữ thế bất ngờ để tấn công một điểm quan trọng mở màn cho việc chuyển biến giai đoạn cách mạng.

Đồng chí Nguyễn Văn Linh Bí thư Xứ ủy tiệu tập đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến về gặp, Xứ ủy đặt yêu cầu cho quân sự là phải đánh được một trận thối động mở màn cho nhân dân đồng loạt, khởi nghĩa giành chính quyền làm chủ nông thôn.

Ban quân sự đề 2 phương án:

1/ - Đánh từ 1-2 quận lỵ và 4 đến 5 cứ điểm, lực lượng vũ trang đủ sức đảm nhiệm.

2/ - Đánh căn cứ Tua 2. Tuy lực lượng vũ trang chưa từng đánh trung đoàn địch nhưng tin tưởng phấn đấu, nỗ lực cao sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

Đồng chí Bí thư Xứ ủy chấp nhận phương án 2 và động viên lực lượng vũ trang chuẩn bị chu đáo, đánh chắc thắng, giành thắng lợi lớn.

Tua 2 là một cứ điểm quan trọng của trung đoàn 32 thuộc sư đoàn 21 ngụy, đồng thời là một trung tâm huấn luyện và một kho vũ khí được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Nhưng đó cũng là nơi ta có cơ sở mạnh từ đầu: trên 100 quần chúng cơ sở được một chi bộ đảng lãnh đạo, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một đồng chí huyện ủy viên ở ngoài. Các đồng chí nội tuyến ở Tua 2 đã lãnh đạo rất tốt phong trào đấu tranh chống luyện tập, đôn quân, gây mất trật tự quân ngũ và tâm lý bi quan trong nội bộ địch. Đầu năm 1959, các đồng chí đã kiến nghị được làm binh biến: chiếm trung đoàn đánh về thị xã. Yêu cầu không được giải quyết. Đảng chỉ đạo chi bộ bình tĩnh phát triển tổ chức, chờ dời thời cơ. Tháng 6-1959, chi bộ nội tuyến họp ở Bờ Giếng bị bọn thám báo chìm đánh hơi. Thấy nguy cơ bị lộ, chi bộ liên tiếp đề nghị hành động nhưng chưa được lệnh, một lần nữa địch đã tiến hành bắt hàng loạt, gần 120 đồng chí trong đó có 9 đồng chí bị đưa ra Tòa án quân sự. Sau đó địch biên chế lại trung đoàn, xáo trộn binh sĩ nhằm cắt đứt hệ thống tổ chức của ta. Nhưng sau vài tháng Tỉnh ủy Tây Ninh cũng móc nối, gây dựng lại được cơ sở.

Trên quyết định đánh Tua 2, làm điểm phát động phong trào. Đánh Tua 2 với phương thức là đánh đặc công kết hợp với binh vận và bộ binh.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:55:42 AM
Với một lực lượng võ trang một trung đội của Tỉnh vừa được củng cố, chấn chỉnh, tổ chức lại trong các tháng trước đây, trang bị đầy đủ súng và một lực lượng dân công được huy động cấp tốc gồm các đồng chí Huyện ủy viên, cán bộ huyện, cán bộ xã và số quần chúng sống bất hợp pháp của 2 huyện Châu Thành 110 người, Dương Minh Châu 11 người phối hợp với lực lượng võ trang của trên. Bí mật và bất ngờ, đêm 25 rạng 25 tháng 1-1960, trận bão lửa Tua 2 bùng cháy.

Bằng lực lượng võ trang và lực lượng binh vận với sự hỗ trợ tích cực, có hiệu quả của lực lượng võ trang cấp trên, ta đã giành thắng lợi ngoài dự kiến, diệt trên 500 tên lính và sĩ quan địch, thu 1500 súng các loại và nhiều quân trang quân dụng.

Chiến thắng Tua 2 đánh dấu một bước phát triển về trình độ tổ chức chỉ đạo, chỉ huy hoạt động tác chiến của các lực lượng vũ trang. Chiến thắng đó mang tính chiến lược, mở ra phương thức đấu tranh cách mạng mới: phương thức kết hợp chính trị với vũ trang và binh vận. Hơn thế, hiến thắng Tua 2 còn là tiếng kèn hiệu lệnh cho sự nổi dậy đồng loạt của quân dân Tây Ninh và Đông Nam bộ. Ngay đêm ta tấn công Tua 2, 2 đồn địch ở Cầu Vịnh và Hảo Đước rút chạy, sau đó tên tỉnh trưởng Tây Ninh và các tên có nợ máu với nhân dân cũng cuống cuồng cho xe chở vợ con về Sài Gòn “lánh nạn”. Số binh sĩ còn sống sót và các đồn xung quanh dao động đào rã ngũ hàng loạt, các bà mẹ, bà chị ở các tỉnh khác có người thân đi lính cho địch ở Tây Ninh kéo đến đòi chồng con, chửi bới lung tung, khóc lóc kể lể thảm thiết. trong khi đó đồng bào khắp nơi, đặc biệt gia đình cán bộ, cơ sở cách mạng và những người có quan hệ với kháng chiến thì vô cùng phấn khởi, thấy thế cờ mới mở ra.

Thắng lợi Tua 2, lực lượng võ trang Tây ninh lấy được thêm số súng đem về làm ngay công tác võ trang tuyên truyền, diệt ác phá kềm. Sau đó C.1000 giao cho Tỉnh ủy Tây Ninh 14 người trang bị đầy đủ súng, có một trung liên. Cộng với phong trào chung, địch hoang mang, khí thế nổi dậy của quần chúng.

(https://lh3.googleusercontent.com/8bWVX5r-nt8kdjIyq9vxhZZcH5scKA6pk3qmO3TN02T8SQGJYhAy-ofFjjNvM-aLMbjFj4h9YHRyMBiNhilmAoKevEDHLl22um0OvUd6bdU_zlCQw-5RLrrAVGaMkWgTAD_SmthD65nUzyyBxM3Yxz87cpqZBEkFgkAPCzEEvZRFNPzzY_Yf7hpzh3KUaJUTZOjmsVRkABRUeGFX8LHpMLEv4C8UJWdqvnKgezd2WYa92wyHbzUhCpaHKJkkYyoK6rUbnBS8BxtUZcRtGq3AfD2IFR1WOk7HKVuqv9Jbs5t-IBDFvpRGlxcPt2ply9GD9jHxyJ0bQo6LUElq0Mu3fBEmjfbKQtlWpIYmpRZ90Q6if8jWyEtocT0f9R7asulKQ9VEQD1MSG5Fzqylwyha-IHcZlzKU4KsyF2l8H8HqrQBPUCsTvwmZHtv_IGUtuSEHnJSVRqoeBp8yNZv-gY4mCl0z-M2utUyQCfRRqUntfP7XQu_c5YHHX9rxa9fkuInB_xSAEdUBeNZooKbrSB2G3HIipjeuWdf8cwlxONnM7fJDDcDimGyNHoEGUiJMCynB2lgtszOYkIvlJ1yRy7_wxzCIKI7tO3LmJt_F8Q=w568-h832-no)

DIỄN BIẾN CHIẾN ĐẤU TRẬN TUA HAI
(26.01.60)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:57:47 AM
Tỉnh ủy cấp tốc tổ chức cuộc họp tỉnh ủy mở rộng, có các đồng chí Bí thư huyện ủy tham gia, đề ra chủ trương mới;

- Phát động nội bộ, phát động quần chúng vùng dậy diệt ác phá kềm, phá tề vệ, giành quyền làm chủ.

- Khẩn trương thành lập các tổ chức vũ trang diệt ác để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.

- Tiến hành khởi nghĩa từng phần tiến lên khởi nghĩa đồng loạt.

- Giải phóng đến đâu tổ chức chính quyền tự quản đến đó. Phát triển thực lực Đảng và các đoàn thể quần chúng. Để phục vụ tốt yêu cầu khởi nghĩa, ngoài thực lực cách mạng của quần chúng tích cực móc nố lại cơ sở nội tuyến mà trước đây ta đã đưa vào nhất là nội tuyến trong quân đội địch để phối hợp hành động. Tỉnh ủy phát động đồng bào không phân biệt tôn giáo, đảng phái, chính kiến, dân tộc, bằng mọi cách, ai có dao dùng dao, có cuốc rựa dùng cuốc rựa, tự tạo ra vũ khí, nổi dậy diệt ác phá kềm, gỡ đồn bót giải phóng xã ấp, giành quyền làm chủ. Tỉnh ủy cũng ra lời kêu gọi những người đang làm việc cho địch nhanh chóng lập công trở về với nhân dân.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, khắp nơi nổi dậy, đặc biệt là các xã nông thôn, đồng bào người đánh mõ, thổi tù và, người gõ nồi nhôm, thùng thiếc… biểu dương khí thế, cùng với cán bộ truy lùng bọn công an, tình báo, thám báo, chủ ấp ác ôn. Mở Tòa án nhân dân lên án trấn áp, trừng trị bọn ác ôn, vận động quần chúng đốt xé tờ khai gia đình, giấy căn cước, bao vây hù dọa phối hợp với cơ sở nội tuyến cướp súng, cướp đồn, giải tán tề, diệt lính, mở ra nhiều vùng rộng lớn ở Hòa Hiệp, Đôn Thuận, Ninh Điền, Thạnh Bình, Hảo Đước, v.v…

Tỉnh ủy thành lập Ban quân sự các ấp để chỉ đạo chỉ huy các lực lượng vũ trang do đồng chí cấp ủy viên phụ trách. Thành lập các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, bộ phân thông tin, điện đài, giao bưu. Ngày 1-2-1960, tiền thân từ C.1000 đưa 14 người về Tây Ninh, tiểu đoàn 14, tiểu đoàn chủ lực của tỉnh chính thức thành lập. Lực lượng vũ trang của Tây ninh có nhiều, nhưng sau chiến thắng Tua 2 trên điều động đi bổ sung cho các chiến trường khác, lúc này tiểu đoàn 14 chỉ có 14 người và 14 cây súng.

Được sự hỗ trợ tích cực của lực lượng vũ trang, các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão… hăng hái tìm mọi cách tạo ra vũ khí như súng kép, súng ngựa trời… đồng bào còn vận động binh lính địch đưa súng đạn ra, quyên góp tiền bạc tổ chức mua súng đạn của địch, chặn đường bọn đi lẻ giật súng hoặc đi mượn súng về bao vây kkống chế đồn bót, hù dọa tác động, cơ nơi đồng bào giả đi xin giấy tờ để ập vào trói tề vệ thu súng, đốt tài liệu, văn phòng, trụ sở… Bằng mọi hình thức sáng tạo, linh hoạt từ tháng 2 cho đến cuối tháng 4, quân dân Tây Ninh đã tiêu diệt, bức rút các đồn bót ở các xã Phước Hòa, Phước An, Phước Vinh, Phước Lộc, Phước Hiệp và Hảo Đước thuộc tổng Phước Hưng. Ở Tổng Hòa Ninh còn 3 xã vướng đồn lớn cấp trung đội chưa nhổ được là Thái Bình, Trí Bình và Thanh Điền. Phía bên tả ngạn xã Thanh Điền, Phum Soài, Long Chữ hoàn toàn giải phóng, ở vùng phía đông của tỉnh, các xã Phan, Suối Đá, Lộc Ninh, Cầu Khởi chạy dài xuống Truông Mít, Bàu Đồn, Đôn Thuận, Lộc Hưng, Phước Thạnh, toàn bộ hệ lộ 19 xã phần lớn đất ở xã Gia Lộc, An Tịnh, An Hòa, Gia Bình, Thanh Phước, Hiệp Thạnh… bộ máy kềm kẹp của địch bị triệt hạ hoàn toàn. Trên các trục lộ chiến lược số 1 và số 22, các đoạn đường cống Biện Sơn, Rỗng Tượng, Gò Chùa, Trà Vỏ… từng lúc bị cắt đứt. Các chi khu Bến Cầu, Gò Dầu liên tục bị bao bó. Trước sức tiến công và nổi dậy của nhân dân trong tỉnh, địch vô cùng hoảng hốt, chống cự yếu ớt. Binh lính trong một số đồn bót vùng hẻo lánh như Cần Đăng, Mỏ Công, trại Bí, Tam Hạp, Thanh Điền… bỏ chạy. Số buộc trụ lại do sự khống chế của bọn chỉ huy thì lén ra gặp dân để thanh minh xin lỗi, bọn ác ôn xin dân tha tội chết. Đại bộ phận quân địch com cụm về các vùng thị xã, thị trấn. Để cứu vãn phong trào đang gặp những thất bại liên tiếp, chúng đưa đồng chí Hoàng Lệ Kha từ đề lao Chí Hòa về xử chém tại Bàu Heo (thuộc xã Trí Bình, cách thị xã 1 km) vào khoảng 4 giờ sáng một cách vội vã, hấp tấp. Rồi, vì sự phản ứng của quần chúng, toàn bộ lực lượng này dông về Sài Gòn. Hành quyết đồng chí Hoàng Lệ Kha địch gọi đó là thực thi dự luật 10-1959 đặt cộng sản khỏi vòng pháp luật.

Chúng muốn làm rùm beng nhưng không dám huy động quần chúng mà chỉ bắt công chức và tề vệ đi dự buổi hành hình.

Dù chỉ huy động hết sức hạn chế và có chọn lọc, mưu đồ làm lung lạc tinh thần đồng bào của chúng cũng hoàn toàn thất bại. Tư thế đĩnh đạc của đồng chí Hoàng Lệ Kha trước lúc hy sinh đã làm cho những tên ác ôn nhất cũng phải kính trọng. Sau đó, nhiều đồng bào ở thị xã đã cúng cơm trước mỗi bữa ăn để tưởng nhớ đến người con ưu tú của địa phương.

Giữa năm 1960, để thuận lợi công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tỉnh ủy chủ trương đưa một bộ phận đất đai và dân cư của huyện Gò Dầu sát nhập chung với huyện Trảng Bàng, đồng thời theo chỉ thị của Trung ương cục, Tây Ninh giao toàn bộ huyện Tân Biên cho trên để thành lập ATK với bí số C.1000 sau đổi thành huyện 105. Lực lượng vũ trang các huyện cũng hình thành:

- Huyện Châu Thành thành lập đại đội 40.

- Huyện Dương Minh Châu thành lập đại đội 54.

- Huyện Gò Dầu – Trảng Bàng thành lập đại đội 33A.

- Thị xã thành lập C2/45.

- Vùng Tòa Thánh thành lập đội vũ trang tuyên truyền.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:58:11 AM
Đầu tháng 7-1960, sau 5 tháng rưỡi, kể từ tiếng súng báo hiệu của Tua 2, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang của Tây Ninh đã nổi dậy giải phóng hoàn toàn 24 xã, giải phóng về cơ bản 19 xã trong tổng số 49 xã của tỉnh, diệt và làm tan rã hầu hết từ ấp xã và trên 70% lực lượng bảo an và dân vệ. Trong các vùng giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân đứng ra thành lập chính quyền tự quản, tiếp tục tịch thu ruộng đất của phong kiến, địa chủ, tư sản cấp cho bà con nông dân không ruộng. Phát động đẩy mạnh sản xuất tăng gia để phục vụ kháng chiến và giải quyết đời sống, động viên chồng con em lên đường và các cơ quan và đơn vị vũ trang.

Sau chiến thắng Tua 2 Tỉnh ủy tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng có Bí thư Huyện ủy các huyện, Trưởng ban Binh vận, Tuyên Huấn kiểm điểm đánh giá thắng lợi và đề ra chủ trương trong những tháng cuối năm, đẩy mạnh hơn nữa phong trào nổi dậy khởi nghĩa bao vây bức rút, bức hàng, tiêu diệt đồn bót, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh.

Các xã vùng Bến Cầu, phong trào quần chúng còn yếu, do cơ sở của ta mỏng. Tỉnh ủy phải thêm 1 đồng chí ủy viên thường vụ về trực tiếp chỉ đạo. Mặt khác cho lực lượng C40 của huyện Châu Thành và du kích các xã Ninh Điền và Long Chữ xuống hỗ trợ và trang bị mỗi xã vài ba cây súng.

Quân dân huyện Dương Minh Châu và quân dân huyện Trảng Bàng liên tục nổi dậy tiến công địch giải phóng hoàn toàn các khu dinh điền Trảng Sa, Bời Lời, Truông Mít, Lộc Ninh, Bổ Túc… Quân dân huyện Châu Thành đánh tan kho trù mật Bến Sỏi, giải phóng hàng trăm gia đình, đưa dân về vùng giải phóng sâu ở Hòa Hội, Biên Giới… Ở huyện Bến Cầu cách gần 1 tháng sau, đồng bào còn rầm rộ nổi dậy, hàng nghìn người tập trung lại mở tòa án nhân dân xét xử bọn ác ôn. Đối với bọn ít tội lỗi, chưa gây nợ máu chỉ buộc làm tờ cam kết, không làm việc cho giặc nữa và giao cho đồng bào xóm ấp quản lý giáo dục.

Ở Long Giang, Long Khánh, Bàn Gõ… số thanh niên sống bất hợp pháp trước đây, cùng với trai tráng trong làng họp lại tập luyện võ nghệ chia nhau xuống ấp xóm phát động quần chúng nổi dậy, diệt địch.

Không bị giới hạn phạm vi hoạt động, lực lượng vũ trang của địa phương có thể sang một địa phương khác đánh địch nếu móc ráp được cơ sở nội tuyến và thấy ở đó có nhiều điều kiện thuận lợi. Sau mấy tháng hoạt động sôi nổi, đến giữa quí 3-1960 trong toàn tỉnh đã hình thành 44 đội du kích (đội tự vệ trước nay chuyển thành đội du kích) gồm có 13 xã thuộc huyện Châu Thành, 17 xã thuộc huyện Gò Dầu, Trảng Bàng, 7 xã thuộc huyện Dương Minh Châu, 7 xã tây sông Vàm Cỏ (vùng Bến Cầu). Ở thị xã và Tòa Thánh có đội diệt ác.

Trong 44 đội của 44 xã có đội biên chế đầy đủ 1b, trung bình 1a, xã thấp nhất từ 1 đến 2 tổ, trang bị vũ khí cướp được của địch, vũ khí tự tạo như súng kép, súng ngựa trời, mã tấu, dao găm…

Ngày nào cũng có hàng trăm đồng bào đến các đồn bót hoặc chặn đường bộ lính đang hành quân, tung tin là Việt cộng về đông lắm, có cả súng 4-5 người khiêng… để hù dọa làm chúng càng thêm hoảng sợ.

Sau khi cử nhiều lượt người về tỉnh dự lớp tập huấn kỹ thuật chế tạo vũ khí do Ban quân sự tỉnh mở tất cả các xã đều có tổ công trường. Các công cụ phương tiện, kìm búa, ê tô, khung xe đạp… làm ra súng đạn đều do nhân dân đóng góp mua sắm. Ở các huyện Dương Minh Châu, Châu Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng còn có công trường huyện. Hàng loạt súng đạn sản xuất thủ công ra đời: súng bắn đạn ria, súng ngựa trời, súng kép… Nhân dân các xã vùng giải phóng người người, nhà nhà làm hàng rào, làm chướng ngại và sẵn sàng trong tư thế chống địch càn quét, lấn chiếm bảo vệ xóm làng.

Sau 10 tháng nổi dậy khởi nghĩa vũ trang, nhân dân và lực lượng vũ trang Tây Ninh thu được thắng lợi hết sức giòn giã.

Hàng trăm binh lính, sĩ quan, hạ sĩ quan bảo an, dân vệ, công an, tình báo, thám báo, tề bị đền tội. Trên phân nửa đồn bót địch trong tỉnh bị bức hàng, bức rut. Tất cả các Khu trù mật mà địch đã bỏ ra nhiều công của xây dựng ở Bời Lời, Trung Mít, Giồng Nầng, Bổ Túc, Mỏ Công… bị quân dân Tây Ninh phá banh. Nhiều xã ấp, kể cả xã ấp sát nách địch ở vùng thị xã, thị trấn được giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến được mở rộng, hình thành thế liên hoàn từ Lò Gò, Thiện Ngô, Kà Tum, Bổ Túc, Cần Đăng, Hỏa Đước, Ninh Điền xuống tới cã xã Long Chữ, Long Giang, Lợi Thuận của huyện Bến Cầu và Phan, Suối Đá, Lộc Ninh, Truông Mít của huyện Dương Minh Châu, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thanh Phước của huyện Gò Dầu, Đôn Thuận, Lộc Hưng, Gia Lộc của huyện Trảng Bàng, hình thành thế liên hoàn chiến đấu trong tỉnh là điều kiện vô củng thuận lợi cho cuộc kháng chiến nối tiếp, góp phần cho trên tạo hành lang từ trung Trung bộ, chiến khu Đ, Bình Long, Phước Long, về Long An, đồng bằng sông Cửu Long.

Phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao hơn bao giờ hết. Các tầng lớp nhân dân các dân tộc, tôn giáo mỗi người bằng hành động trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia với tất cả lòng dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Lực lượng vũ trang không ngừng lớn mạnh, từ chỗ cả tỉnh chỉ có gần 1b mà phải phân chia xuống các nơi để hỗ trợ cho phong trào địa phương, nay ở xã có đội du kích, ở huyện có đại đội, ở tỉnh có binh chủng trinh sát, công binh, đặc công… các tổ, đội công trường tạo vũ khí đạn dược hình thành và hoạt động có hiệu quả. Trình độ chỉ đạo, chỉ huy kỹ thuật được nâng lên một bước mới. Vùng giải phóng nhân dân làm chủ, hăng hái thi đua xây dựng, chiến đấu, sản xuất. Toàn bộ chiến trường ta đang ở trong thế chủ động tiến công, trong khi đó kẻ địch hết sức hoang mang, dao động, ý chí chiến đấu của binh lính sa sút. Chúng co lại và cố bám giữ các vùng thị xã, thị trấn

Thắng lợi của đợt nổi dậy khởi nghĩa vũ trang của Tây Ninh cùng với thắng lợi giòn giã toàn miền tạo ra trong nội bộ địch một mâu thuẫn sâu sắc đưa đến việc Diệm bị đảo chánh hụt ngày 1-11-1960. Những thắng lợi to lớn đó làm phá sản hoàn toàn chiến lược chiến tranh một phía của kẻ địch, đưa cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:59:05 AM
CHƯƠNG II

ĐẨY MẠNH THẾ TRẬN CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
GIỮ VỮNG VÀ MỎ RỘNG VÙNG GIẢI PHÓNG
GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐỊCH
(Từ tháng 1-1961 đến giữa năm 1965)

A- ĐẾ QUỐC MỸ XÂY DỰNG BỘ MÁY TAY SAI PHÁ HOẠI HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ ĐÀN ÁP PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN ĐÒI THỰC HIỆN HIỆP THƯƠNG TỔNG TUYỂN CỬ, ĐÒI DÂN SINH DÂN CHỦ (20-7-1954 – 20-7-1956)

Sau Hiệp định Giơnevơ, cách mạng miền Nam chuyển sang thời kỳ đặc biệt. Ở thời kỳ này, về nhận thức, quan điểm phương pháp cách mạng cũng có nhiều vấn đề mà thực tiễn đã chỉ ra, lực lượng cách mạng bị tổn thất quá lớn. Nhưng nó cũng nói lên ý chí cách mạng của quần chúng và tinh thần chiến đấu kiên cường của đông đảo cán bộ đảng viên. Trong bước ngoặt đó, từng nơi, từng lúc tuy phải đấu tranh chính trị, nhưng nội dung thực chất là bạo lực chính trị có nòng cốt vũ trang hỗ trợ dưới dạng đội dân canh chống cướp, bí mật diệt ác ôn, xây dựng lực lượng quân sự ngầm đi đôi với xây dựng lõm an toàn.

Tây Ninh có nét đặc biệt, lực lượng vũ trang có từ tháng 3/1955 sau vụ binh biến C25 Cao Đài liên minh ở Núi Bà nhưng lực lượng phải phân tán, súng ống phải đem đi chôn giấu rồi có lúc lại đào móc lên… Năm 1958, có lực lượng vũ trang dưới danh nghĩa “Cao Đài ly khai” nhưng việc điều động, sử dụng, chỉ đạo, chỉ huy đều do trên. Lực lượng này đã tiến công nhiều căn cứ địch, có ảnh hưởng lớn, thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng. Do có sự chỉ đạo trực tiếp, sít sao của Xứ, Đảng bộ đã tích cực và khẩn trương xây dựng vùng căn cứ Dương Minh Châu, đưa số quần chúng, cán bộ, đảng viên không bám được vùng địch về đây đi đôi với xây dựng tự vệ mật ấp xóm, xây dựng cơ sở nội tuyến trong lòng địch để vừa nắm địch bảo vệ lực lượng kháng chiến, vừa lũng đoạn tinh thần tư tưởng, hạn chế mọi hoạt động của chúng. Tiến hành đấu tranh chính trị với bạo lực cách mạng của chúng. Tiến hành đấu tranh chính trị với bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bước “thăng trầm”, nhiều địa phương không còn đảng bộ, không còn cán bộ đảng viên. Trước kẻ thù hung hãn, có bộ máy chính quyền, quân đội, công an khá đồ sộ. Nhưng quần chúng vẫn giữ niềm tin, hết lòng hết sức bảo bọc cán bộ, bảo vệ cách mạng, do vậy mà Đảng bộ Tây Ninh tồn tại, từng bước tạo dựng lại thực lực Đảng, đoàn và quần chúng cốt cán ngày càng lớn mạnh. Từ đó mới có tiếng súng Tua Hai, mở màn cho cao trào đồng khởi 1960.

Từ sau phong trào khởi nghĩa vũ trang năm 1960, thế và lực cách mạng của Tây Ninh có sự thay đổi rõ rệt.

Trong vùng giải phóng, dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ, nhân dân chọn người đứng ra thành lập chính quyền tự quản giữ gìn trật tự an ninh, quản lý kinh tế xã hội, động viên chiến đấu giết giặc, tiếp tục tịch thu ruộng đất bọn địa chủ, tư sản mại bản, lấy lại ruộng đất địch cướp của nông dân do cách mạng cấp trước đây đem chia cho gia đình liệt sĩ, thương binh, cán bộ và đồng bào không ruộng, ít ruộng. Động viên nhân dân thi đua sản xuất cấy lúa, trồng khoai củ, chăn nuôi làm ra nhiều lương thực, thực phẩm nuôi bộ đội, du kích, đóng góp kháng chiến. Tổ chức trường lớp dạy văn hóa cùng con em, mở lớp bình dân học vụ ban đêm, dạy người lớn tuổi. Các tổ, trạm y tế, hộ sinh chăm lo sức khỏe, sinh đẻ cho nhân dân được hình thành. Những bản tin, những chiếc loa tay hàng ngày báo tin chiến đấu, sản xuất. Các mặt văn hóa, văn nghệ, vui chơi cũng được xây dựng. Ở tỉnh có đội văn công chuyên nghiệp. Các huyện xã và nơi nào cũng có đội văn nghệ nghiệp dư.

Lực lượng chủ lực miền đông tại căn cứ C.1000, cách Thị xã Tây Ninh trong tầm pháo ngắn, cách Sài Gòn trung tâm đầu não của ngụy quyền miền Nam khoảng 100 km đường chim bay. Đó cũng là nơi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và đứng chân, phất ngọn cờ hiệu triệu đồng bào đoàn kết chống Mỹ cứu nước. Vùng giải phóng mở rộng tạo thế liên hoàn giữa các huyện và các tỉnh Đông Nam Bộ. Các vùng yếu Thị xã, thị trấn, và những nơi nhiều đồng bào tín đồ ở tập trung như Chợ Cầu, Bàu Đồn, Bà Đệt, Ngã ba Hai Châu, Tòa Thánh, Bình Thạnh, Phước Chỉ… quần chúng hiểu biết cách mạng hơn. Một số chức sắc trung và cao cấp Cao Đài chuyển sang thái độ trung lập. Các khu dinh điền bị phá rã, đồng bào Thiên chúa giáo di cư bỏ nhà cửa chạy đi khắp nơi.

Đại bộ phận quần chúng nông dân lao động nghiêng hẳn về cách mạng.

Quí I năm 1961, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng có các ban ở tỉnh và các đồng chí Bí thư huyện ủy, Ban quân sự huyện tham dự. Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tỉnh là: “Ra sức xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt, nhanh chóng xây dựng và phát triển 3 thứ quân, tổ chức các đoàn thể quần chúng,thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, xây dựng xã ấp chiến đấu, giữ vững vùng giải phóng, tiếp tục gỡ đồn bót, đẩy mạnh tiến công địch đều khắp”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 07:59:41 AM
*
*   *

Ban Quân sự được củng cố về sau đổi lại thành Ban Chỉ huy quân sự tỉnh đội do đồng chí Sáu Trương (Sáu Quân) làm chỉ huy trưởng. Ban an ninh được thành lập, đ/c Bảy Hải UVTVTU làm trưởng ban. Lực lượng vũ trang gồm d14, các đại đội công binh, đặc công, các tổ chức thông tin, khí tài được tăng cường số lượng, trang bị, chất lượng chỉ đạo, chỉ huy, chiến kỹ thuật có bước phát triển mới. Đặc biệt tổ chức hậu cần, quân y hoạt động phục vụ chiến đấu có hiệu quả. Vùng Bến Cầu có Ban cán sự tương đương với huyện ủy do đồng chí Hai Thắng Tỉnh ủy viên làm Trưởng Ban, Huyện Gò Dầu tách ra khỏi huyện Trảng Bàng, ranh giới hành chánh y như trước… Đại đội 33 của huyện Trảng Bàng được chuyển về làm nòng cốt cho huyện Gò Dầu.

Tháng 5/1961 tại xã Định Thành, cách Bến Bà Hảo 4 km, Đại hội lần thứ nhất của Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Tây Ninh được tiến hành thành công, ông Giáo hữu Thượng Thâu Thanh được bầu làm Chủ tịch (để hiệu triệu khối Cao Đài vào mặt trận chống Mỹ Diệm), đồng chí Ba Nông ủy viên thường vụ Tỉnh ủy làm Phó Chủ tịch và một số ủy viên lâm thời các thành phần nông dân, nhân sĩ, trí thức… Sau đó, tại Bời Lời, vùng căn cứ kháng chiến cũ, nơi các cơ quan tỉnh ủy trú đóng, đã diễn ra một cuộc mít tinh trọng thể có hàng chục ngàn đồng bào tham dự, trong đó có cả đồng bào trong vùng địch kiểm soát ở Thị trấn Gò Dầu, Trảng Bàng để chào mừng sự kiện lịch sử trên. Tháng 3/1961, Xứ ủy Nam bộ về đóng căn cứ tại Rừng Le thuộc khu ATK lấy bí số X99. Đến tháng 6/1961, Xứ ủy chuyển đi nơi khác, nhưng sau khi thành lập Trung ương Cục lại về đóng ở Tây Ninh cho đến ngày kháng chiến thắng lợi hoàn toàn. Việc Trung ương Cục về đây tạo cho Tây Ninh một ưu thế lớn nhưng đồng thời cũng trở thành một trọng điểm đánh phá của địch.

Các Ban Chấp hành Thanh niên giải phóng, Phụ nữ giải phóng, nông dân giải phóng hình thành ở cấp tỉnh, huyện và xã.

Về phía địch, sau khi chiến lược “tố cộng, diệt cộng” thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt” trên cơ sở lấy quân Ngụy làm lực lượng chủ yếu, dưới sự chỉ đạo và chi viện của Mỹ.

Mục tiêu của chiến tranh đặc biệt là tiêu diệt và làm cô lập lực lượng vũ trang cách mạng, tiêu diệt cơ sở đảng, giành lại trận địa nông thôn, phong tỏa vùng biên giới, cắt đứt mọi chi viện từ miền Bắc để cuối cùng bóp chết phong trào quần chúng, đánh bại chiến tranh cách mạng, giành thắng lợi trong thời gian ngắn.

Để đạt mục tiêu trên đây địch đã nghiên cứu kỹ và vạch kế hoạch Sta-lây – Tay-lo là một kế hoạch chiến lược khá hoàn chỉnh, dự định bình định xong miền Nam trong vòng 18 tháng.

Địch đề ra 5 biện pháp chiến lược tương đối toàn diện mà biện pháp trung tâm xuyên suốt là bình định nội địa miền Nam dựa vào “quốc sách” ấp chiến lược, các biện pháp hỗ trợ là phong tỏa biên giới, phong tỏa vùng biển, quấy rối miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

Quân Ngụy, đặc biệt quân địa phương và các binh chủng đặc biệt, được xây dựng và phát triển theo hướng chống lại một cuộc chiến tranh du kích. Chiến trường được phân chia lại, tỉnh Tây Ninh thuộc khu chiến thuật 31, trung đoàn 9 thuộc sư đoàn 5 quân chủ lực ngụy đóng chốt ở Tây Ninh để phòng giữ phía Bắc Sài Gòn, ngăn chặn ta tiến công từ biên giới xuống, đồng thời làm nhiệm vụ yểm trợ bình định.

Địch đưa Vũ Đức Nhuận, thiếu tá bộ binh sang làm tỉnh trưởng Tây Ninh thay thế tên đốc phủ sứ Châu Ngọc Thôi, tên Hai, đại úy trong lực lượng bộ binh làm trưởng ty Công an thay thế tên Đoàn Đình Tứ, tên Ngô Thiện Phước đại úy thay Lâm Văn Thao là quận trưởng Gò Dầu, một tên đại úy khác thay tên Đỗ Tưởng Thạnh làm quận trưởng Trảng Bàng, một đại úy thay Lâm Văn Huệ làm quận trưởng Phước Ninh (Châu Thành). Đồng thời chúng củng cố lại các ban tề ấp xã đã bị tan rã, xây dựng ban tề lưu vong để khi chúng lấn chiếm thì lấp vào.

Để tạo hậu thuẫn chống phá lại cách mạng, địch ra sức mua chuộc các tướng lĩnh và chức sắc Cao Đài. Tên tướng Nguyễn Thành Phương trước đây đã bị quần chúng tín đồ Cao Đài vạch mặt phản đối, khiến địch không thực hiện được ý đồ thành lập liên tôn chống cộng và tái vũ trang Cao Đài, tên tướng Văn Thành Cao từng theo Pháp chống kháng chiến, nay theo Diệm đứng ra tập hợp số cựu chiến binh xây dựng một lực lượng gồm 200 tên, trang bị vũ khí đầy đủ, lập đồn bót ở nhà Mồ, Bình Thạnh (Trảng Bàng), Bến Thế (Bình Dương) v.v…

Sau một năm co lại trong các vùng thị trấn Gò Dầu, Trảng Bàng, Thị xã… nay địch bắt đầu bung ra phản kích lại phong trào cách mạng, cố chiếm lại những nơi đã bị mất, đồng thời nhanh chóng triển khai kế hoạch bình định nông thôn trên quy mô lớn, gom tát dân các vùng giải phóng, vùng căn cứ, cũng như vùng đang tranh chấp ra các trục lộ giao thông chiến lược, thị trấn, thị xã để tách dân khỏi lực lượng cách mạng.

Theo kế hoạch vạch ra, địch gom dân các xã thuộc huyện Tân Biên ra lộ 2, khu vực Mỏ Công, Trại Bí, các xã ven biên giới Campuchia của huyện Châu Thành như Tà Păng, Hòa Hội, Hảo Đước, Ninh Điền, về Bến Sỏi. Các xã Trí Bình, Thái Bình gom ra Cây Xiêng, Tua Hai (trên lộ 22). Gom dân vùng căn cứ Dương Minh Châu ra các xã Suối Đá, Phan, Chà Là. Suối ông Hùng, Truông Mít (trên lộ 22). Căn cứ Bời Lời toàn bộ xã Đôn Thuận và một phần của xã Gia Lộc, Lộc Hưng gom ra Cầu Ván (lộ 6). Dân ở cặp lộ 19 và các xã Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức ra lộ 22, thị trấn Gò Dầu. Các ấp Năm Trại, Láng Cát, Bến Chò (Xã Thạnh Đức) gom ra Rạch Rễ, Bàu Nâu, Cẩm Giang, các xã Long Giang, Long Chữ, Long Khánh, Long Thuận, các ấp Rừng Nhum, Cây Me, Giồng Nầng, Xóm Bố gom ra yếu khu chợ Cầu, ấp Chánh, ấp Bù Đao của xã An Thạnh gom ra lộ 1 cách biên giới Việt Nam – Campuchia 5 km.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:00:09 AM
Từ tháng 6/1961 đến hết năm, địch mở chiến dịch “Xây dựng nông thôn” thí điểm ở các tỉnh Đông Nam Bộ trong đó Tây Ninh là trọng điểm. Sau đó là cuộc hành quân Lam Sơn, với một lực lượng chính qui lớn, F7 ngụy đánh vào Long An và vùng biên giới Trảng Bàng, chiến khu Dương Minh Châu của Tây Ninh. Trong cuộc hành quân này, chúng sử dụng 50 xe tăng mở đường cho bộ binh. Trên sông Vàm Cỏ Đông có các giang thuyền tuần tra, bắn phá, yểm trợ. Máy bay từ sân bay Tây Sơn Nhất xuất kích mỗi ngày hàng trăm lượt chiếc chi viện cho bộ binh, trinh sát, thả biệt kích. Tất cả hình thức đánh phá đó được địch nâng lên thành chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận” về sau.

Trong lúc đồng bào vùng giải phóng tích cực chống càn, đồng bào những nơi còn đồn bót địch nổi dậy đánh mõ, gõ thùng thiếc, nồi nhôm, đốt khí đá kết hợp với du kích bắn tỉa, bao vây hù dọa, đưa gia đình binh sĩ đến kêu gọi người thân. Ta làm liên tục, ngày này sang ngày nọ, có nơi ta bao bó cả tháng trời như các đồn địch ở Cần Đăng, Kà Tum, Lò Gò, Mỏ Công… Đồng thời đào đắp, phá hoại đường, hạ cây làm chướng ngại càn trở giao thông trên các tục đường số 1, 22, 19, 26… phá hoại đường sá là việc làm thường xuyên của đồng bào gắn liền với tiến công tiêu diệt các lực lượng vũ trang.

Được lực lượng C40 của huyện Châu Thành hỗ trợ và sự nỗ lực của bản thân, quân dân huyện Bến Cầu tiêu diệt các đồn dân vệ Long Chữ, Long Khánh, Long Giang, Bàu Gõ, uy hiếp đồn dân vệ An Thạnh, Rừng Dầu… Trên quốc lộ 22, C40 phối hợp với du kích xã Ninh Điền và cơ sở nội tuyến cướp đồn Giang Tân giữa ban ngày. Ở Gò Dầu, lực lượng C33 phối hợp với du kích Thị trấn, Thanh Phước, gần 50 tay súng chặn đường lộ 1 ở cua Trâm Vàng vũ trang tuyên truyền. một tiểu đoàn Biệt động quân của địch đi càn các xã biên giới (Bến Cầu) về đây ta chặn đánh, diệt 64 tên. Sau đó với công tác vận ta gỡ ở các đồn Hiệp Thạnh, Cầu Quan, Phước Hội, đánh bại đội bảo an truy kích ở Bàu Chẻ hai. Ta cải trang làm dân thường dùng máy cày chở quân đột nhập đồn Cầu Khởi giữa ban ngày, thiêu hủy các trang trại, diệt 1 trung đội, thu toàn bộ súng. Ở Trang Bàng sau 2 tháng chiến đấu, xây dựng được 1 đại đội vũ trang gần 100 tay súng, lấy tên là C54, lần đầu tiên ra quân, diệt gọn 1 trung đội dân vệ tại Xóm Mới (Bình Thạnh) sau đó đánh địch chốt ở Xóm Sóc, chống càn quét lấn chiếm ở Bời Lời.

Trong vùng địch kiểm soát, sau gần nửa năm xây dựng, đầu tiên tự vệ một thị trấn Trảng Bàng đã tổ chức diệt được 2 tên Trắng và Cuộn, công an khét tiếng ác ôn. Ở Gò Dầu, tự vệ mật đặt mìn đánh vào nhà tên quận trưởng. Chiến tranh du kích kết hợp với công tác binh vận ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu làm cho tinh thần ngụy quân, ngụy quyền nhiều nơi sa sút. Ta giáo dục gia đình binh sĩ ngụy, hướng dẫn họ đi đầu trong các cuộc chiến tranh trực diện và tổ chức chồng con, em họ làm cơ sở nội tuyến. Thông qua cơ sở giáo dục, vạn động chính trị làm tan rã hàng ngũ, xây dựng nội ứng đánh đồn bót. Nhiều nơi nội ứng đã tạo điều kiện cho ta lấy đồn bót một cách dễ dàng. Mũi đấu tranh chính trị của quần chúng cũng rất sôi động. Hàng trăm cuộc đấu tranh có tới hàng chục ngàn người tham dự. Đội quân “tóc dài” trực diện với tề xã và quận tố cáo địch bắn pháo vào làng mạc, đòi bồi thường nhân mạng cứu chữa người bị thương, đồi bồi thường thiệt hại nhà cửa, trâu bò, tài sản… diễn ra khắp các nơi trong tỉnh.

Ngày 1/1/1961 ở Trảng Bàng diễn ra một cuộc đấu tranh kéo dài 3 ngày 2 đêm liền của nhân dân các xã Gia Lộc, Lộc Hưng, Đôn Thuận, Gia Bình… từ 2.000 người lúc đầu dần dần về sau lên đến 8.000 người.

Để tiến công địch bất thần làm chúng không kịp trở tay, lực lượng đấu tranh được phân ra nhiều toán, đi theo nhiều ngả, rồi đến hợp điểm tại dinh quận. Những khẩu hiệu tăng lương, cho binh sĩ về nhà ăn tết với vợ con, không được bắn pháo vào ấp xóm, không được bao bắt gom dân để cho đồng bào được yên ổn làm ăn, được cắt dán hoặc viết lên băng vải nhưng còn cất giữ trong người, trong giỏ trầu chờ đến nơi mới đồng loạt trương lên.

Bị quần chúng bao vây đấu tranh, tên quận trưởng ra lệnh cho lực lượng công an, cảnh sát và bọn lính biệt động quân đến dùng báng súng đánh đập quần chúng, giành giật các khẩu hiệu, đồng thời chia nhuyễn lực lượng, tách ra gần 1.000 người đưa vào san vận động để đàn áp mạnh hơn và moi móc cơ sở lãnh đạo.

Đồng bào siết chặt hàng ngũ la vang khẩu hiệu “Đả đảo hành động đàn áp, khủng bố, đả đảo”, nhiều người xông vào giựt súng, mía cây, đá cột vào khăn đánh trả lại bọn chúng.

Cuộc đấu tranh đang vào hồi quyết liệt, quyết “ăn thua đủ” với địch, dưới sự lãnh đạo của Ban Chỉ huy thống nhất hàng nghìn, hàng nghìn người lực lượng dự bị ở các xã, dọc theo lộ 19, lộ 1 và lộ 6 tràn ra hỗ trợ. Khắp các nơi đường sá tắt nghẽn, chợ búa đình đốn, người bán buôn, tiệm quán, khuân bánh trái, cơm nước tìm mọi cách tiếp tế cho lực lượng đấu tranh.

Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, địch buộc phải thả số người sau những ngày đêm chúng giam giữ ở sân vận động. Và tên Đào quận trưởng bị thất thế phải đấu dịu, hứa với đồng bào là sẽ giải quyết các yêu sách.

Ở Thị xã, Tòa Thánh… phong trào đấu tranh của học sinh bước đầu có chuyển biến, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở, nòng cốt, cảm tình trong các trường Lê Văn Trung, Đạo Đức học đường… và đã dấy lên được phong trào chống chào cờ ba que, chống quân sự hóa học đường, chống bắt mặc đồng phục, rải truyền đơn in lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng, ca hát bài ca kháng chiến. Đặc biệt tại trường trung học Thị xã, địch đưa nhiều tên mật vụ đội lốt nhà giáo để theo dõi hoạt động của học sinh, trong đó có tên Trần Bình Quang giả làm hiệu trưởng, bị học sinh viết thư vạch mặt, lên án và tổ chức vây đánh cho một trận khá đau.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:00:35 AM
Phong trào đấu tranh của học sinh dai dẳng, về sau ngày càng trở nên quyết liệt. Nhiều anh chị em đã gia nhập biệt động, tự vệ mật. Một số ra vùng giải phóng theo cách mạng.

Ở phía Bắc tỉnh, có lực lượng chủ lực Q761 hỗ trợ, quân dân ở địa phương đã lần lượt gỡ lần thứ hai các đồn Cần Dăng, Kà Tum, bức rút đồn Mỏ Công. Ở huyện Dương Minh Châu, các đồn Khe-đon, Phan, Lộc Ninh, Suối ông Hùng cũng bị quân dân nơi đây bao bó, bức rút.

Ngoài việc đánh tiêu diệt bức rút các đồn bót địch, các lực lượng d14, các đại đội huyện và du kích xã đã đánh địch nhiều trận trong lúc chúng bung ra càn quét, lấn chiếm, chuyển quân, trong đó có trận Sóc Khuất (Tiên Thuận) gây được tiếng vang lớn.

Tháng 11/1961, ở Bàu Gõ (Lợi Thuận) lực lượng d14 phối hợp với lực lượng vũ trang đánh 1C biệt động quân thiệt hại nặng, ta làm chủ trận địa. Số lính bị thương được ta băng bó, số chết ta tắm rửa xếp thành hàng và cho bọn địch biết để báo tin gia đình binh lính đến nhận. Sau đó, hàng trăm gia đình và người đi lính địch đến dinh tên quận trưởng Gò Dầu, đòi chồng con, khóc lóc, kể lể, chửi bới. Trận kế tiếp ở Xóm Sóc (Gia Bình), khi bọn địch ra chốt chặn, d14 đã dũng cảm, đánh táo bạo, bất ngờ trong mười phút diệt và làm bị thương trên 100 tên.

Trong suốt năm 1961, với hàng nghìn cuộc hành quân càn quét đánh phá lớn nhỏ, khắp các địa bàn trong tỉnh, trong đó có chiến dịch “Lam Sơn” mà địch hy vọng có thể tiêu diệt được lực lượng vũ trang, thu hẹp vùng giải phóng của ta và gom tát dân, đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng. Nhưng địch không thực hiện được ý đồ đó, ngược lại địch bị thiệt hại nhiều về người, tiền của, súng đạn. Tuy nhiên ở những vùng chúng còn tạm thời kiểm soát và các Khu trù mật, ngã ba hai Châu, Châu vi kỳ đà, chúng cũng xây dựng được hệ thống hầm hào, hàng rào, và bộ máy kềm kẹp, tề ấp, công an cảnh sát, tự vệ hương thôn. Ngày 8/2/1962, địch thành lập Bộ tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ MACV, số cố vấn quân sự Mỹ được tăng cường vào miền Nam, lên tới 2 vạn rưỡi, từ đó kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng của Staley-Taylor càng được chúng đẩy mạnh hơn. Quốc sách ấp chiến lược bắt đầu được triển khai thật sự, cố vấn Mỹ thường xuyên đến kiểm tra đốc thúc chính quyền địch ở Tây Ninh càng gia tăng việc bắt thanh niên đi lính. Nhiều cuộc hành quân vây ráp nhất là ở những vùng chúng tạm thời kiểm soát. Mặc khác chúng củng cố tăng thêm quân, trang bị vũ khí bén cho các lực lượng biệt động, dân vệ, công an, cảnh sát, tình báo, cán bộ tâm lý chiến, bình định nông thôn hình thành hoàn chỉnh quận lỵ Phước Ninh, xây dựng trường huấn luyện biệt kích Bến Sỏi. Lập cảng Bến Kéo, Bến Sỏi, Gò Dâu với các giang thuyền, bo bo, tàu mặt dựng, hoạt động trên sông Vàm Cỏ Đông từ Lò Gò (Tân Biên) đến ngã 3 Vàm Trảng (Trảng Bàng). Song song với việc đẩy mạnh các hoạt động ném bom, bắn pháo, càn quét, đánh phá vào vùng giải phóng để hù dọa rún ép, gom dân làm cho nhiều người chết và bị thương, tài sản, nhà cửa, vườn tược, hoa màu bị hư hại nặng.

Trên mặt trận quân sự, các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích đã liên tục tổ chức đánh địch càn quét lấn chiếm gom dân, đánh địch trên các trục lộ giao thông và các chốt chặn quan trọng khác. Có những trận đánh thối động địch, như trận ngày 16/3/1962, C330 phối hợp với C33 đánh tan tác một đại đội biệt động quân tăng cường ở ấp Phước Bình – xã Phước Thạnh diệt 64 tên trong đó có tên Huệ chỉ huy huy trưởng. Trận đánh lần thứ hai làm thiệt hại nặng chốt biệt động quân chiếm giữ xóm Sóc (Gia Bình) giải phóng hệ lộ 19 đi Bàu Rông và ấp Phước Hội. Ở Châu Thành, bộ đội huyện phối hợp với du kích xã Thanh Điền đánh rã một đại đội bảo an đi càn quét, diệt nhiều địch. Đặc biệt có 3 trận đánh lớn là trận nội công ngoại kích đồn Bến Thế, trận đánh dứt điểm đồn Phước Lưu và trận đánh phục kích lộ 6 Nhà mồ (Trảng Bàng) ta đã tiêu diệt đại bộ phận lực lượng vũ trang Cao Đài thu nhiều súng đạn để trang bị cho ta. Với những trận thắng đó đã mở rộng hơn nữa vùng giải phóng, nhưng có ý nghĩa quan trọng là ta đã xóa phiên hiệu lực lượng Văn Thành Cao làm thất bại hoàn toàn âm mưu tái vũ trang Cao Đài của địch.

Trong kế hoạch bình định ở Tây Ninh, đầu tiên địch lấy xã An Tịnh, nhưng bị thất bại vì gặp phải sự chống đối quyết liệt của quần chúng. Sau đó làm ở các vùng có đồng bào Cao Đài vì nơi đây có sự tiếp sức đắc lực của số chức sắc phản động như ấp Thanh Hà và châu vi Kỳ đà thuộc xã Thanh Phước huyện Gò Dầu làm thí điểm của toàn tỉnh về xây dựng ấp chiến lược, mà lúc bấy giờ chúng gọi tên là Khu trù mật. Ở huyện Trảng Bàng địch lấy Ngã ba Hai Châu huyện Phước Ninh lấy xã Ninh Điền, huyện Bến Cầu lấy xã Long Giang. Để xây dựng ấp chiến lược, địch đắp bờ thành bao chung quanh cao 5 m, có hào sâu ngăn cách cắm chông dưới hào và trên bờ. Bên ngoài có một vòng đai, dày 3 m, cao 2,5m, có hàng rào kẽm gao bao bọc, chừa cửa ra vào, có lô cốt do thanh niên cộng hòa và tự vệ hương thôn canh gác. Sáng 7 giờ chúng mở cửa cho dân ra ngoài làm ăn và 5 giờ chiều, trở về để chúng đóng cửa lại. Chúng định sau khi làm thí điểm có kết quả sẽ triển khai rộng rãi ở khắp nơi.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:00:58 AM
Địch tập trung lực lượng công an, cảnh sát, biệt động quân, dân vệ, cán bộ bình định và bọn tay sai tại chỗ lừa bắt quần chúng đào đắp. Đến cuối quí 3 năm 1962 khi Ngô Đình Diệm chính thức tuyên bố: thực hiện chương trình bình định theo quốc sách ấp chiến lược và coi ấp chiến lược là xương sống của chương trình bình định. Chúng tổ chức ủy ban liên bộ của Ngụy quyền Trung ương kết hợp phòng ấp chiến lược của phái đoàn MAAG và ủy ban viện trợ ấp chiến lược của tòa đại sứ Mỹ chỉ đạo xây dựng ấp chiến lược. Ở Tây Ninh tên tỉnh trưởng Vũ Đức Nhuận cùng với 5 tên quận trưởng Trảng Bàng, Hiếu Thiện, Khiêm Hanh, Phước Ninh và Phú Khương họp lại vạch ra kế hoạch gom dân trong vòng 14 tháng với âm mưu và thủ đoạn thâm độc “tát nước bắt cá” hòng tách dân ra khỏi cách mạng. Kế hoạch của chúng chia ra làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn là 3 tháng sẽ bắt đầu thực hiện ngày 1/10/1962 cho đến ngày 31/12/1963 kết thúc. Trong thời gian đó phải gom tát dân xây dựng và khoanh 171 ấp chiến lược nhằm nhốt và kiểm soát 270.000 dân trong tổng số dân của tỉnh lúc ấy là trên dưới 300.000. Đồng thời lập vài đai trắng 17 xã biên giới từ Tống Lê Chân, Kà Tum chạy dài xuống Hòa Hiệp, Hòa Hội, Ninh Điền, An Thạnh đến Bình Thạnh và các vành đai trắng dân từ 1 đến 2 km trên các trục lộ 19, 26, 6 để hình thành thế án ngự, bao vây khu căn cứ Tân Biên, Dương Minh Châu, Bời Lời và cắt đứt con đường vận chuyển từ đồng bằng sông Cửu Long về chiến khu Đ và ngược lại.

Theo kế hoạch trên, bọn địch ở mỗi huyện lên sa bàn xây dựng ấp chiến lược. Ở Gò Dầu, chúng dự kiến xây dựng 26 ấp, ở Trảng Bàng dự kiến xây dựng 21 ấp. Địch đưa tên Chiêu, tên đã qua trường lớp công an ở Sài Gòn phụ trách chuyện này. Cạnh tên Chiêu có 36 cán bộ bình định ở tỉnh và Trung ương biệt phái xuống kết hợp với 14 tên cán bộ tại chỗ trong một đợt hoạt động tập trung gọi là chiến dịch Bình Minh. Ngoài ra có 8 tên cán bộ công dân vụ, 2 cán bộ thông tin, 1 cán bộ thanh niên cộng hòa, 10 cán bộ các ngành khác và 60 tên cán bộ được đào tạo cấp tốc tại địa phương. Tổng cộng lực lượng bình định tại huyện Trảng Bàng là 131 tên, không tính các lực lượng hỗ trợ công an, cảnh sát, tề vệ, bọn biệt động quân và các trung đoàn chủ lực.

Thực hiện âm mưu gom dân lập ấp chiến lược, quân địch tăng cường hoạt động quân sự mọi mặt. Rải chất độc hóa học trong các vùng căn cứ Dương Minh Châu, Bời Lời làm cây rụng trọi lá, làm hoa màu của đồng bào bị hư hại. Pháo từ các cụm bắn cấp tập ngày đêm, máy bay đủ loại thả bom, nã hỏa tiễn khắp xóm làng, lực lượng cơ động F25 với hai trung đoàn làm nòng cốt phối hợp với ban bảo an và dân vệ địa phương (lúc đó có quân trù bị của địch từ Sài Gòn lên phối hợp) liên tục tổ chức càn quét đánh phá khắp địa bàn gom, xúc tát dân. Ở Thanh Điền để gom cho được 150 hộ của ấp Bàu Đung, địch đã dùng 1 lực lượng 3 tiểu đoàn lính bộ binh, 1 trung đội Chày Vồ (bọn chuyên đánh đồng bào bằng Chày Vồ cho nên đồng bào đặt tên cho chúng là “Chày Vồ”), có phi pháo yểm trợ đánh phá 3 ngày liền. Trong vùng nông thôn sâu và các xã ven biên giới như Ninh Điền, Hòa Hiệp, Hảo Đước… sau nhiều lần dội bom, trút pháo, địch cho từng tốp máy bay trực thăng đổ chụp, bao vây đốt nhà rồi lừa xúc đồng bào đưa về Bến Kéo, Bến Sỏi, Trí Bình. Ở thị trấn và các xã ấp địch còn tạm thời kiểm soát, bằng phương tiện cơ giới, chúng đổ dây kẽm gai, cọc cây, bắt đồng bào làm hàng rào, đào hầm hào khoanh dân, lập ấp. Quốc sách ấp chiến lược của địch gặp phải sự chống đối quyết liệt của quân dân. Ở khắp các xã, ấp,, nơi nào cũng có những cuộc đấu tranh chống địch tại chỗ khi chúng gom xúc, kéo níu, cản đầu xe, bọn cào nhà đốt nhà rượt đánh bọn ác ôn. Ở Bàu mây (An Tịnh) địch sử dụng 5 tiểu đoàn luân phiên nhau đánh cả tuần lễ. Kết hợp với chông trái, du kích đánh địch và tranh thủ binh lính, hàng trăm đồng bào, nắm chặt tay ngăn chặn bọn địch khi vào làng. Bọn lính lùa đồng bào, đồng bào không đi chúng leo lên dỡ nhà, đồng bào lấy rơm chất đốt chung quanh hun khói, dùng sào thọc cho chúng rớt xuống. Chúng đốt nhà, người dao, người mác tràn tới hô lên “chém!” chém chết bọn man rợ bọn đốt nha cướp của. Đả đảo hành động đàn áp phá hoại nhà của đồng bào”. Suốt thời gian này chúng không hề gom xúc được bà con Bàu Mây.

Ở suối ông Hùng (Truông Mít), Tiên Thuận (Bến Cầu), chị em phụ nữ dùng đòn gánh đánh bể đầu tên hung ác để giữ nhà, giữ bàn thờ ông bà.

Ở ngã ba Hai Châu thuộc xã Gia Lộc, quí II/1962 địch bắt đầu xây dựng ấp chiến lược, lúc bấy giờ chúng gọi là Khu tị nạn cộng sản. Đây là ấp chiến lược lớn nhất. Hàng ngày chúng bắt hàng nghìn người dân đến đào đắp. Chúng dự kiến sẽ làm xong trong vòng 4 tháng. Đến lúc ấy Ngô Đình Nhu cố vấn chính quyền Diệm sẽ thân chinh đến dự lễ khánh thành. Ta tổ chức phá nhiều lần. Có lần đồng bào dưới sự yểm trợ của bộ đội huyện và du kích xã vào phá nhưng địch cảnh giác, rải quân canh phòng cẩn mật. Không vào được, đồng bào nằm chờ đến gần sáng khi bọn địch bên ngoài rút và bọn bên trong lơ là cảnh giác, tức thời 1.500 người được lệnh chia thành 50 toán, xếp hàng 8 chạy vào, kết hợp với đồng bào bên trong chạy ra dùng cuốc, cúp, xẻng… san bằng 1200 m bờ thành ấp.

Địch bắt đồng bào trong ấp ra đào đắp trở lại, đồng bào nhắc lại lời giao ước với chúng trước kia: dân đắp, lính giữ, lính để Việt cộng phá thì lính phải đắp và cương quyết không làm. Một mặt đồng bào đấu tranh kêu rêu nắng, nóng, không thể sống nổi, mặt khác chống lại việc quyên góp tiền mua kẽm gai, cọc, đòi cứu tế lương thực, thuốc men. Bắt dân trong ấp không được, chúng bắt đồng bào các nơi khác đến làm kỷ hơn. Ta lại tiếp tục phá, ấp này bị san bằng một lần nữa. Rút kinh nghiệm hai lần thất bại, chúng làm lại từng đoạn ngắn. Ta đổi cách, phá một lúc ở nhiều nơi. Kết quả sau 1 năm 15 lần tiến công ta phá dứt điểm ấp chiến lược này.

Ở Kỳ Đà (Thanh Phước) – Gò Dầu, địch bắt dân xây dựng ấp chiến lược vòng đai dài 3.400 m. Ta vận động đồng bào phá, địch bắt dân làm lại và gài lựu đạn, trái sáng dưới các cọc sắt để khi đồng bào phá sẽ bị nổ, chúng phát hiện cho pháo hủy diệt. Ta tổ chức cho C33 và du kích xã Thanh Phước ra gở trái để quần chúng ban phá. Ta làm như vậy hàng chục lần, cuối cùng địch phải bỏ kế hoạch đào đắp bờ thành. Các huyện Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, xã nào cũng có phong trào quần chúng chống gom dân gắn liền với đánh phá ấp chiến lược.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:01:28 AM
Phong trào nam nữ thanh niên lên đường nhập ngũ, vào các cơ quan đơn vị rầm rộ hơn lúc nào hết. Xã An Tịnh, Lộc Hưng, Thanh Điền… có lần 40-50 thanh niên thoát ly kháng chiến. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, Mặt trận… ân cần tổ chức, tiễn đưa, nhiều gia đình gởi theo thóc gạo cho chồng con em lên đường để có cái ăn đánh giặc, cùng với phong trào, hàng nghìn thanh niên, trung niên nam nữ hăng hái tham gia công tác dân công. Nhiều đoàn người có chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ trên nhiều tuyến đường liên tục đêm này sang đêm nọ vận tải súng đạn bằng mang, vác, bằng xe trâu, xe bò từ Vàm Trắng (Trảng Bàng) Ninh Điền (Châu Thành) về bến Lò Gò, Sa Mát căn cứ tập kết của Trung ương Cục.

Chiến tranh nhân dân phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Khắp nơi, nhà nhà làm chông, người người làm chông, mô ụ, cạm bẫy, làm hầm hào, địa đạo chiến đấu chống địch. Đến cuối năm trong toàn tỉnh có 25 xã chiến đấu xây dựng hoàn chỉnh có xã, ấp chiến đấu lấn sát đồn bót, hình thành thế vây hảm địch như An Tịnh, Bùng Binh, Đôn Thuận. Riêng xã Đôn Thuận, đồng bào đã làm lại 1 địa đạo dài 15 km có nhiều ngách, có mô ụ chiến đấu. Có lương khô, có nước dự trữ có thể chứa 1 trung đoàn bộ binh.

Tháng 1-1962, sau khi mở chiến dịch “Mặt trời mọc” bị thất bại, địch mở chiến dịch “Sao mai” với lực lượng 6.000 quân gồm 10 tiểu đoàn thuộc các sư đoàn số 5, số 7 và số 21 cùng với 36 máy bay đánh từ Long An lên Tây Ninh. Ở Tây Ninh chúng đánh Trảng Bàng, chỉa mũi nhọn vào khu Dương Minh Châu để tìm diệt chủ lực, phá hủy căn cứ chính của ta, để thực hiện mục tiêu mà Diệm đã tuyên bố trong cuộc họp quốc hội Ngụy “thời đại hiện nay là thời đại ấp chiến lược”.

Trong thực hiện âm mưu, bình định, địch ra sức nắm quần chúng tín đồ Cao Đài, biến bộ máy đạo thành công cục kềm kẹp quần chúng. Nhóm “lật đổ” ở Tòa thánh nhận làm tay sai cho địch, ngày càng lộ rõ bộ mặt phản động. Phạm Tấn Đãi, một trong những bọn đó, đã báo cho quân Ngụy bắt nhiều quần chúng tín đồ và chức sắc yêu nước. Chúng tích cực thực hiện âm mưu địch, gom dân lập ấp trong vùng Tòa thánh và các châu vi. Chúng buộc tín đồ “ấp rào” rồi “xã rào” buộc đồng bào các nơi đến vùng đạo phải vào đạo Cao Đài. Một số tư sản mới và tổ chức kinh tế của Hội thánh lấy iệc khai thác gỗ và kinh doanh trại mộc phá rừng, phá căn cứ kháng chiến, lấn chiếm vùng giải phóng… xây dựng thế lực cho chúng để biến vùng Tòa thánh thành một ấp chiến lược lớn nhất ở Tây Ninh qua đó thực hiện ý đồ bắt lính kết quả nhất.

Cùng với mũi tấn công quân sự, phong trào quần chúng đào xới phá hoại đường sá, cầu cống trên các trục lộ giao thông chiến lược số 1, 19, 13, 26… cũng diễn ra sôi nội gây khó khăn rất lớn cho quân địch trong chuyển quân, tiếp tế. Phong trào đấu tranh chính trị chống địch, gom dân lập ấp, đòi không được bắn pháo, chống rải chất độc hóa học, tố cáo tội ác giặc, đòi bồi thường thiệt mạng, cứu chữa người bị thương, thành yêu cầu bức xúc của quần chúng, biến thành phong trào sôi nổi mạnh mẽ tiến công địch liên tục; ở đó chứa đựng nội dung chính trị binh vận và vũ trang với sự phối hợp chặt chẽ giữa đồng bào vùng bị địch gom tát với đồng bào tại chỗ bị kềm kẹp. Các má, các chị, “Có chết tao cũng đi, chứ cảnh này không thể chịu nổi”. Nhiều người “mê” đi đấu tranh, hễ có lệnh là khăn nón lên đường ngay.

Tổ chức một cuộc đấu tranh chính trị cũng công phu như tổ chức một trận đánh bằng súng đạn. Để đảm bảo thắng lợi, phải giáo dục phát động tư tưởng làm mọi người thông suốt yêu cầu mục đích, hình thức và phương pháp đấu tranh cùng với việc dự đoán âm mưu và thủ đoạn của địch. Về mặt tổ chức, lực lượng đấu tranh được tuyển chọn trong các tổ chức phụ nữ giải phóng và được tập hợp lại thành xâu, tổ cố định. Lực lượng đấu tranh trực tiếp là những người trui rèn, thử thách, dạn dĩ, có lý lẽ, biết “ăn miếng, trả miếng” với địch có đảng viên và thanh niên nòng cốt làm ngòi pháo. Lực lượng thứ hai là lực lượng dự bị. Lực lượng dự bị gồm có lực lượng dự bị 1 và dự bị 2 để khi cần tăng cường khống chế địch nối tiếp cuộc đấu tranh. Ngoài ra có bộ phận thông báo tin, giao liên, bộ phận chuyên tiếp tế cơm nước, cứu thương. Ngoài ra còn lại lực lượng giữ nhà, chăm sóc trẻ con, tưới xách, giữ trâu bò, đề phòng phi pháo để chị em an tâm đi đấu tranh và có trách nhiệm đưa đón, động viên trước khi đấu tranh cũng như lúc về. Lực lượng này gồm đàn ông, con trai và số chị em già yếu, có con mọn.

Lãnh đạo cuộc đấu tranh tùy theo tính chất và qui mô xã liên xã hoặc toàn huyện mà thành lập 1 Ban chỉ huy thống nhất, các mệnh lệnh đấu tranh tiếp tục đấu tranh quyết liệt, giằng co, xoa dịu hoặc rút quân… được qui định thành mật hiệu như giở nón, vẫy khăn… Sau cuộc đấu tranh trở về các tổ họp lại kiểm điểm rút kinh nghiệm, phát huy thắng lợi.

Trong suốt năm 1962 đã có hàng trăm cuộc đấu tranh của quần chúng trực diện với tề quận trảng Bàng, Gò Dầu, Phước Ninh… Các cuộc đấu tranh hầu hết đều mang lại thắng lợi về chính trị, tố cáo tội ác địch biểu dương khí thế cách mạng, nâng cao tổ chức, giác ngộ quần chúng, tập hợp cá thành phần giai cấp vùng thị trấn, thị xã hướng về cuộc kháng chiến. Tuy nhiên do bản chất ngoan cố của địch nên nói chung cuộc đấu tranh nào dù qui mô lớn hoặc nhỏ trước khi nhận sự sự thất bại chúng cũng đều đàn áp, bắt người tra tấn, phơi nắng, bỏ đói, bỏ khát, viết khẩu hiệu “đả đảo Việt cộng” trên lưng, trên nón… của đồng bào.

Đầu năm 1963, thời hạn thực hiện kế hoạch bình định cấp tốc của Staley – Taylor gần hết nhưng kẻ địch không thực hiện được ý đồ gom dân lập ấp, lực lượng quân sự lại bị thiệt hại nặng. Do vậy, chúng ra sức củng cố lại các trung đoàn chủ lực của F21, sửa kiên cố lại các đồn bót trên các tuyến lộ số 1, 22, 26, 19, các chốt và sân bay, các giang thuyền, tàu bobo hoạt động trên sông Vàm Cỏ. Một mặt chúng tăng cường bắt lính, bổ sung cho quân chính qui, bảo an và dân vệ. Đặc biệt lực lượng dân vệ lúc bấy giờ trở thành lực lượng thoát ly thực chất là lực lượng bảo an, tổ chức thành trung đội, trang bị đầy đủ hơn trước và phạm vi hoạt động được nới rộng ra ngoài xã hội, do sự điều động của bọn trên khi cần thiết phối hợp.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:01:50 AM
Với khẩu hiệu “Tát nước bắt cá”, địch tăng cường hoạt động ngày đêm thả bom, bắn pháo, đốt nhà, giết hại dân lành, nhằm hủy diệt làng mạc trong các vùng đông dân cư kể cả những vùng ven thị trấn, thị xã ven các trục lộ. Chúng không chừa một thủ đoạn dã man tàn ác nào. Đặc biệt nghiêm trọng, một ngày giáp tết năm 1963, địch đã cho máy bay ném bom, thả xăng bột diệt Thánh thất Cao Đài Chợ Cầu làm chết và bị thương hàng trăm quần chúng tín đồ, dùng bom hủy diệt trường học Cầu Xe (xã Đôn Thuận) làm chét và bị thương 22 em học sinh. Sau đó ở Bời Lời với hàng trăm lượt máy bay đủ loại cùng với các bãi pháo Gò Dầu, Trảng Bàng… trong vòng 1 tháng chúng đổ vào đây mỗi ngày trên 10.000 tấn bom đạn, xăng đặc, chất độc hóa học, làm cây rừng trụi lá, nhà cửa hoa màu của đồng bào tiêu điều xơ xác.

Địch lên sa bàn có 17 căn cứ cần tập trung đánh phá năm 1963 trong đó ở Tây Ninh có 2 căn cứ là Bời Lời và Dương Minh Châu. Tây Ninh được đặt trong khuôn khổ “chiến dịch toàn quốc”, “tổng tiến công toàn diện” lấy tên là “An/16”. Bằng các cuộc hành quân “phóng lựu 1”, tháng 1-1963 địch mở cuộc càn lớn vào Bời Lời với các binh chủng phối hợp: máy bay đổ quân, phi pháo và xe bọc thép M113, M41 yểm trợ đánh phá. Sau đó là cuộc hành quân “Thu Đông ba”, địch đánh đi đánh lại nhều lần căn cứ Dương Minh Châu, Tân Biên. Ngày 14-4-1963 địch mở tiếp cuộc hành quân “Đại phong 12” đánh vào huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu.

Được bọn trên hỗ trợ tích cực, quân địa phương liên tục tổ chức càn quét. Trừ các vùng giải phóng sâu, không ngày nào là không có những cuộc hành quân lớn hoặc nhỏ của chúng đốt nhà, bắt giết người, diệt trâu bò gia súc. Ở Ninh Điền trong một cuộc đánh phá địch dùng xe bọc thép bao vây bắn chết trên 20 đồng bào có cả cụ già và trẻ em, bắn chết gần 100 trâu bò, tiêu diệt phương tiện cày kéo, sản xuất của đồng bào.

Trong thời gian này, Bộ chỉ huy quân sự Miền tổ chức hội nghị tổng kết phong trào du kích chiến tranh toàn miền. Trong hội nghị này, Tây Ninh có 2 báo cáo điển hình là phong trào du kích chiến tranh xã Gia Lộc và phong trào sản xuất vũ khí tự tạo của tỉnh.

Nhân kinh nghiệm của mình và bài học, kinh nghiêm phong trào du kịch chiến tranh các tỉnh bạn, Tỉnh ủy tổ chức triển khai rộng rãi xuống các xã về tình hình các mặt, chiến đấu, chóng gom dân, phá ấp chiến lược, xây dựng lực lượng vũ trang, đội thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến phục vụ chiến trường. Đông bắc, các tổ chức, đoàn thể giải phóng. Mặt trận, phong trào nam nữ thanh niên gia nhập vào các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, phong trào thi đua sản xuất, xây dựng vùng giải phóng có bước phát triển mới. đực biệt đối với tôn giáo Cao Đài, với khẩu hiệu Hòa bình độc lập trung lập cơm áo, hòa hợp dân tộc và dân chủ, Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh đã liên tục mở nhiều cuộc hội thảo ở rừng 49, Núi Bà, Bến Cầu, Bàu Đồn, Bùng Binh, Phước Chỉ… quy tụ hàng nghìn chức sắc, chức việc, hàng vạn quần chúng tín đồ hướng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Kết hợp với phong trào chung trong tỉnh, trong vùng tòa thánh và các châu vi đạo, quần chúng bám đất giữ làng, đấu tranh chống gom dân, chống khủng bố, đòi bồi thường thiệt hại, chống lập ấp chiến lược, tái vũ trang Cao Đài, chống tướng Nguyễn Văn Thành trong lớp áo “tổng thanh tra chính trị Đạo”. Đặc biệt sau vụ thả bom sát hại 22 em ở trường học Cầu Xe và thánh thất Chợ Dầu, hàng trăm đồng bào tín đồ có cả chức việc, chức sắc mặc đồng phục trắng kéo lên Tòa thánh tố cáo tội ác địch, đòi Tòa Thánh can thiệp buộc địch bồi thường, tổ chức hàng chục cuộc lễ cầu siêu trong các thánh thất có hàng nghìn lượt đồng bào tín đồ đến tham dự.

Bằng con đường tranh thủ từng bước giác ngộ ý thức cách mạng quần chúng tôn giáo, 1 số tổ chức có tính chất đấu tranh chống địch của tín đồ và các chức sắc, chức việc dưới sự lãnh đạo của ta lần lượt ra đời, như Ban củng cố hòa bình chung sống và lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia. Tiền thân là lực lượng Cao Đài ly khai, lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia dưới lá cờ “Tận trung báo quốc” với gần 70 người được vũ trang đầy đủ, hoạt động có hiệu quả, phát huy được thanh thế, hiệu triệu được quần chúng tín đồ và một số chức sắc (lực lượng thống nhất toàn lực quốc gia sau này đổi tên là lực lương vũ trang hòa bình chung sống).

Giữa năm 1963, với sự đánh phá ác liệt, địch đã xây dựng được 94 ấp chiến lược trong toàn tỉnh, trong đó có trên 30 ấp chúng đặt được bộ máy kềm kẹp. Đó là các ấp trong vùng Thị xã, thị trấn, nội ô Tòa thánh và những nơi có đồn bót lớn.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại căn cứ Bời Lời để kiểm điểm đánh giá tình hình, tham dự hội nghị có các đồng chí trong Ban lãnh đạo các cơ quan đơn vị tỉnh huyện. Hội nghị nhất trí nhận định: Các tiểu đoàn, đại đội ở tỉnh, bộ đội địa phương và du kích xã đã kết hợp chặt chẽ với phong trào. Các ấp chiến lược, cơ sở ta ít, yếu. Cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang thiếu tin tưởng quần chúng bên trong. Hội nghị đề ra nghị quyết, đồng thời với việc đẩy mạnh hoạt động của các lực lượng vũ trang, chống địch càn quét, lấn chiếm gom dân, phá ấp chiến lược đấu tranh chính trị chống bom pháo, đòi bồi thường thiệt hại, phải tích cực móc ráp quàn chúng trong các vùng yếu, trong các ấp chiến lược; giáo dục, phát động, từng bước xây dựng cơ sở Đảng, Đoàn, nòng cốt, tự vệ mật để tạo điều kiện hợp đồng chặt chẽ hơn giữa 2 lực lượng trong ngoài đánh địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:02:51 AM
Sau hội nghị này, tỉnh thành lập Ban lãnh đạo chống bình định lấn chiếm. Ở các huyện cũng thành lập Ban lãnh đạo. Thành phần Ban lãnh đạo gồm các đồng chí trong cấp ủy, trong Ban chỉ huy quân sự, trưởng các ban ngành và đoàn thể, Mặt trận. Riêng ở Gò Dầu và Trảng Bàng, hai huyện được xem là trọng điểm đánh phá, ta tổ chức ra Ban lãnh đạo liên huyện và hình thành từng khu vực.

Khu vực ngã ba Hai Châu do 2 chi bộ xã Gia Lộc và thị trấn phụ trách. Lực lượng vũ tang hoạt động nơi đây gồm có đội du kích của 2 xã nói trên và C54 của huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của huyện ủy Trảng Bàng.

Ở Gò Dầu có các khu vực: Trâm Vàng, Kỳ Đà, Thanh Hà, Rạch Sơn, thị trấn do 3 chi bộ Thanh Phước, thị trấn và Phước Thạnh cùng 3 đội du kích của 3 xã phụ trách. Khu vực Gò Chùa, Xóm Giữa, Bàu Chẽ Hai, Vên Vên và khu vực Bến Mương, Trà Vỏ, Bông Trang, Bàu Nâu thuộc phạm vi phụ trách của các chi bộ và các đội du kích nằm trong khu vực. Lực lượng C33 của huyện là lực lượng cơ động hỗ trợ các khu vực. Tất cả các khu vực đều dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của huyện ủy Gò Dầu.

Địch áp dụng ráo riết các chiến thuật trực thăng vận, chiến xa vận “bủa lưới phóng lao” và gia tăng ồ ạt các loại binh chủng chủ lực, bảo an và dân vệ. Đặc biệt lực lượng dân vệ, xã nào cũng tổ chức được thành trung đội trang bị đầy đủ. Chúng càng phát triển mạnh lực lượng thanh niên chiến đấu trong các ấp chiến lược. Thủ đoạn chính của địch ở Tây Ninh trong thời kỳ này là dùng trung đoàn, tiểu đoàn hỗn hợp bộ binh, thiết giáp, máy bay và pháo khoanh từng vùng 2 hoặc 3 xã đánh phá liên tục ngày đêm để gom dân lập ấp hiến lược. Khoanh được ấp chiến lược hoặc xây dựng được ấp chiến lược nào chúng tổ chức ngay bộ máy kềm kẹp tai chỗ nhằm đánh bật ta ra khỏi vùng tranh chấp, có dân và có bàn đạp chung quanh. Chúng đề ra chỉ tiêu ấp loại A, là ấp tương đối chúng kiểm soát được phải có 12 thanh niên chiến đấu. Các ấp loại B và C có 24 thanh niên chiến đấu. Số thanh niên này địch đưa về Trảng Dài huấn luyện quân sự. Sau đó đưa về địa phương cấp súng bắt canh gác.

Địch rút kinh nghiệm việc xây dựng ấp chiến lược mà chúng ngụy trang trước kia là ấp Tân Sinh đã bị ta phá đi phá lại nhiều lần. Lần này chúng xây dựng 1 bờ đê cao, trên dưới 2m. Mặt trên đóng cọc sắt, giăng kẽm gai chằng chịt, gài lựu đạn, chôn mìn. Ngoài đê, đào hào sâu bao quanh. Ngoài hào có hàng rào tre đan mắt cáo. Hố chông đặt theo kiểu răng cưa. Có chuồng chó, chuồng ngỗng, treo lồng đèn. Bốn góc có 4 chòi gác. Tùy theo mỗi ấp chiến lược chúng mở ra 3 hoặc 4 cổng. Đi ra hoặc đi vào phải qua cổng theo giờ qui định do thanh niên cộng hòa hoặc dân vệ canh gác. Trong ấp địch chia ra từng lô đất, mỗi lô một liên gia từ 7 đến 10 hộ. Các hộ chúng phân loại có bảng số nhà treo trước cửa. Mỗi hộ phải có 1 lồng đèn treo, ban đêm thắp sáng, có mõ tre đánh báo động khi có Việt cộng vào ấp.

Mỗi lần dân đi qua cổng đều bị khám xét. Ai đi ra đồng ruộng mà mang phần cơm nhiều, gạo nhiều, chúng cho là tiếp tế Việt cộng, bắt bỏ cơm gạo đi, bắt người ăn cho hết cơm, còn dư thì đổ mới cho đi. Ban đêm giới nghiêm, không ai được ra khỏi nhà, nếu cưỡng lệnh bị lính phục kích bắn chết bỏ. Đêm muốn đi đâu phải xin phép liên gia, trưởng ấp. Nếu thấy nhà vắng người là kiểm tra xét hỏi buộc là quan hệ với Việt cộng.

Mỗi xã có từ 20 đến 30 tên cán bộ bình định. Bọn này cũng nêu ra khẩu hiệu “cùng ăn, củng ở, cùng làm” với dân. Bề ngoài tỏ ra chăm lo xây cất trường học, cho vay vốn sản xuất, tổ chức chăn nuôi heo, trâu… Nhưng thực chất chúng đi sâu vào trong quần chúng tổ chức do thám gián điệp, chiến tranh tâm lý, phối hợp chặt chẽ với bọn tề xã, ấp, công an cảnh sát, dân vệ khống chế kềm kẹp quần chúng.

Với việc bố trí mạng lưới liên gia, công an, thanh niên chiến đấu, tề vệ và sự có mặt thường xuyên của cán bộ bình định, bên ngoài có quân chủ lực án ngữ cùng với hàng rào kẽm gai, bót gác, chúng gây cho ta khó khăn rất lớn, làm hạn chế nhiều mặt hoạt động của ta. Các lực lượng võ trang của ta chưa đánh ấp chiến lược kiểu mới bao giờ, chưa có kinh nghiêm. Mặt khác nhân dân trong ấp chiến lược bị kẻ địch bao bó, kềm kẹp, ta khó móc nối giáo dục, phát động xây dựng cơ sở cách mạng. Một số đảng bộ không bám được dân phải đứng ngoài địa bàn.

Tỉnh ủy nhận định là phong trào đấu tranh các mặt của ta có hiện tượng bị sượng, chựng lại. Ở đây có nguyên nhân do mức độ chiến tranh ác liệt, tập trung từng khu vực nhỏ hơn so với trước đó, nhưng quyên nhân cơ bản vẫn là do chủ quan của ta chưa thấy hết âm mưu và thủ đoạn đánh phá của địch nên kế hoạch cuẩn bị đối phó thiếu chu đáo. Các lực lượng vũ trang, chính trị và công tác binh vận của ta cũng chưa đủ mạnh để đáp ứng với tình hình mới đặc biệt ở một số cơ sở, cán bộ đảng viên bị bật khỏi quần chúng trong ấp chiến lược khó vào các vùng gần dân. Công tác chỉ đạo, chỉ huy đánh địch, chống gom tát dân, phá ấp chiến lược chưa sít sao, nhạy bén, địa bàn chỉ đạo bị bật ra xa.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:03:15 AM
Thấy rõ được mặt yếu của mình, Tỉnh ủy chủ trương tích cực đánh phá ấp chiến lược với yêu cầu: phá lỏng, phá rã, phá banh các ấp chiến lược theo yêu cầu cụ thể từng nơi. Các xã tìm mọi cách luồn sâu móc nối đồng bào tốt trong các ấp chiến lược, bám đồng bào bung ra sản xuất giáo dục, phát động xây dựng cơ sở, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa hoạt động các lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và binh vận. Sau đó hưởng ứng phong trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” do Trung ương Cục và Quân ủy Miền phát động, Tỉnh ủy phát động quân dân trong tỉnh dấy lên cao trào bám đất bám dân, bám vùng tranh chấp chống địch càn quét lấn chiếm gom dân, phá ấp chiến lược.

Phong trào chuyển biến dần, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng địa phương và được các lực lượng võ trang canh gác bảo vệ, hàng nghìn đồng bào nam nữ có cả những ông lão, bà cụ lên đường tìm mọi cách bắt ngỗng, diệt chó, đập lồng đèn, đào phá, nhổ chông, gỡ mìn, cắt dây kẽm gai đêm này sang đêm nọ có nơi đồng bào tại chỗ tự phá rồi sáng báo với địch là Việt cộng vào phá. Có đêm ta phá đồng loạt các xã. Ban đêm phá, ban ngày địch bắt dân trong ấp sửa lại. Đêm ta lại phá, ngày địch lại xây. Ta phá địch xây, địch xây ta phá và mỗi lần như vậy đồng bào bên trong đấu tranh chống địch bắt làm lại. Một cuộc đấu tranh hết sức giằng co và quyết liệt. Ấp chiến lược Gia Lâm xã Gia Lộc ta phá 10 lần. Ấp chiến lược Xóm Sóc (Gia Bình) ta phá 15 lần, ấp chiến lược Lộc Trác ta phá 17 lần.

Phá ấp chiến lược được coi là công tác chiến đấu. Đồng bào vùng giải phóng và vùng tranh chấp phải đi hàng năm bảy km đường, mưu trí vượt qua đồn bót, chốt chặn, chịu gió sương cùng đồng bào bên trong và lực lượng vũ trang đánh phá ấp chiến lược. Có những cụ già trên 50 tuổi, có chị vừa sinh con 3 tháng, khi phát lệnh tiến công là xông lên mặc làn mưa đạn của địch. Nhiều đồng bào đã anh dũng hy sinh hoặc bị thương tích, nhưng người trước ngã, người sau tiến tới, đánh phá đợt này sang đợt khác.

Hỗ trợ tích cực cho nhân dân phá ấp chiến luộc, các lực lượng vũ trang của ta vừa có tập trung, vừa có phân tán nhỏ tác chiến đều khắp. Nổi bật là tháng 7 năm 1963 một trung đội thuộc C33 của huyện Gò Dầu phối hợp với du kích của xã Thạnh Đức, được đồng bào và cơ sở bên trong giúp đỡ đã tập kích diệt gọn 1 trung đội và dân vệ đóng giữ trong ấp chiến lược Bàu Nâu, thu toàn bộ vũ khí và điện đài. Đây là trận đánh đầu tiên của ta trong ấp chiến lược. Nó có ý nghĩa làm thông tư tưởng ngán ngại đánh địch trong ấp chiến lược của cán bộ chiến sĩ. Đẩy mạnh được phong trào chung của toàn tỉnh làm bộ máy kềm kẹp của địch trong một số ấp bị tê liệt, tan rã. Tiếp theo trận đánh trên, lực lượng C40 Châu Thành cùng du kích xã Thanh Điền diệt bót Hàng đường lần thứ 2. Huyện Dương Minh Châu tiếp tục diệt đồn Cầu Khởi, giải phóng ấp chiến lược ngã 3 Đất Sét. Lực lượng Q761 diệt đồn Bàu Cỏ (Tân Hưng). Sau đó địch dùng xe M113 và phi pháo yểm trợ để cho lực lượng bộ binh đóng lại đồn này nhưng bị đồng bào xã Tân Hưng bao vây hù dọa kết hợp với du kích xã bắn tỉa suốt 7 ngày đêm liền, 1 lần nữa đồn này rút chạy.

Để chia cắt địa bàn ta và cũng là để tập trung củng cố tuyến phòng thủ phía Tây Bắc Sài Gòn, đối phó với quân chủ lực của ta, ngày 15-10-1963 địch cắt huyện Trảng Bàng của Tây Ninh, huyện Đức Hòa, Đức Huệ của tỉnh Long An và huyện Củ Chi của tỉnh Gia Định thành lập tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hậu Nghĩa. Như vậy từ nay Tây Ninh sẽ đương đầu với cả tiểu khu Tây Ninh và tiểu khu Hậu Nghĩa.

Ở Tây Ninh, địch đưa tên tướng Cao Đài Lê Văn Tất lên làm tỉnh trưởng thay thế Vũ Đức Nhuận với dụng ý của Mỹ cố nắm lại tôn giáo Cao Đài đang có xu thế theo kháng chiến. Mặt khác chúng điều thêm 2 trung đoàn số 7 và 9 thuộc Sư đoàn 5, cho đứng chân ở Gò Dầu để án ngữ cửa ngõ về Sài Gòn, kế hoạch binh định cấp tốc của Staley-Taylor đã phá sản, đến đây địch chuyển sang kế hoạch bình định có trọng điểm của Mắc-Na-ma-ra kéo dài trong 3 năm lập lại các ấp chiến lược bị phá đóng lại một số đồn bót nhưng lực lượng chủ yếu là lực lượng chủ lực với các binh chủng mạnh. Tây Ninh là một trọng điểm của kế hoạch này. Địch sử dụng tối đa các phương tiện chiến tranh hiện đại: chất độc hóa học, pháo bầy đủ loại 105, 155, 205 ly, máy bay cá rô, cá nhái, cá lẹp, đầm già, phản lực và các loại xe tăng, xe bọc thép cùng với lực lượng bộ binh của sư đoàn 5, 21, 3 và quân địa phương ngày đêm càn quét đánh phá, gom tát dân, lập ấp, khoanh ấp chiến lược từng phạm vi hẹp. Chiến sự trong những ngày cuối năm 1963, vì vậy hết sức quyết liệt.

Địch sử dụng 1 trung đoàn bộ binh kết hợp với các binh chủng chia ra làm 3 mũi đánh vào huyện Gò Dầu và Trảng Bàng: từ Bắc lộ 19 xuống Suối Bà Tươi, Xóm Sóc, từ Nam lộ 19 đánh lên Suối Bà Tươi, Lông Công, Bàu Đồn, và Xóm Bố, từ thị trấn Gò Dầu vào Thanh Phước, Phước Thạnh. Sau 3 ngày càn quét đánh phá ác liệt, chúng chiếm và đóng chốt Xóm Sóc, Xóm Bố, Thanh Phước, Suối Bà Tươi, xây dựng huyện mới ở Bàu Đồn lấy tên là huyện Khiêm Hanh gần các xã Phước Thạnh, Đôn Thuận, Thuận Lợi, Bàu Đồn và Bến Sỏi. Cùng lúc đó ở Dương Minh Châu địch cho lực lượng bộ binh ở Long Hoa vào đánh chiếm các xã Bàu Năng, Chà Là, Phan và chiếm đóng tại đồn Cầu Khởi. Ở huyện Châu Thành, địch đánh mạnh vào các xã Hòa Hội, Hảo Đước, Phước Vinh, Ninh Điền, Thanh Điền, Trí Bình, gom dân Bàu Rào, Xóm Rẫy, Tam Hạp, Gò Nổi ra Bến Sỏi và lộ 13, lộ số 7. Trong các vùng sâu, huyện Tân Biên và 1 phần của huyện Dương Minh Châu ngày đêm địch cho máy bay thả bom, pháo bắn cấp tập.

Ngày 31-12-1963, địch ở cuộc càn lấy tên là “đại phong 35” với lực lượng 1 tiểu đoàn bộ binh và xe bọc thép, phi pháo đánh vào căn cứ Bời Lời. Sau đó địch dùng 1 lực lượng lớn 3 trung đoàn đánh vào các xã Bắc Suối Đá, 2 trung đoàn đánh vào xã ruột của huyện Gò Dầu gồm Thanh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh và Thạnh Đức. Cùng lúc đó để chia nhuyễn địa bàn, xé nát vùng căn cứ ta, địch cho xe ủi và công binh nâng cấp lộ ủi Đồng Pan – Cần Đăng, lộ 20 Lò Gò – Thiện Ngôn, mở đường Sa Mát, Cà Tum.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:05:12 AM
Trong thời gian này, đồng chí Vũ Văn Truyện (Tám Hòa) Bí thư Tỉnh ủy được rút về trên, đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) được chỉ định quyền Bí thư. Và đồng chí Từ Minh Tân được điều về giữ chức Tỉnh đội trưởng thay đồng chí Trương Như Quân (Sáu Trương) vừa hy sinh.

Năm 1964, địch càng ra sức lấn chiếm, gom dân lập ấp chiến lược ta dốc toàn lực với sức mạnh tổng hợp chống lấn chiếm, chống gom dân lập ấp, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, đánh địch bằng 3 mũi, đánh khắp cả 3 vùng tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng để làm cơ sở cho việc giành thắng lợi quyết định trong thời gian tới. do vậy, tình hình diễn ra trên chiến trường giữa ta và địch vô cùng ác liệt à phức tạp, giành giựt từng ấp, từng xóm, lõm.

Trong vùng giải phóng với khẩu hiệu “một tấc không đi, 1 ly không rời” cùng với việc xây dựng củng cố vững mạnh chi bộ cơ sở, xây dựng dân quân du kích, xây dựng làng xã chiến đấu chống địch, động viên thanh niên tòng quân xây dựng lực lượng địa phương. Nhà nào cũng làm hầm chống phi pháo cho người và gia súc. Nhiều gia đình bị giặc đốt nhà 5 đến 7 lần, nhất là các xã ven biên giới, như Hòa Hiệp, Hòa Hội, Phước Vinh… Ban ngày địch cho máy bay quần đảo thả bom bắn phá không cho dân làm ruộng rẫy được., đồng bào chuyển sang làm ban đêm. Tuy khó khăn, nhưng mọi mặt sinh hoạt của quần chúng như hội họp, các đoàn thể, đội văn nghệ, các đoàn văn công, trường lớp văn hóa dạy con em, bình dân học vụ vẫn phát triển.

Trong vùng giải phóng huyện Châu Thành và Tân Biên, các trường đào tạo cán bộ quân sự, cán bộ đảng, trường tân binh của trên liên tục mở lớp, hàng nghìn cán bộ chiến sĩ khắp các tỉnh đông tây Nam bộ về đây tham dự. Bộ phận hậu cần của Trung ương Cục đã đưa 1 lực lượng trên 50 chị em về khu Tam Thái (Phước Vinh) làm gần 100 ha ruộng, sản xuất lương thực, 1 bộ phận lớn của Y 4 (đặc khu Sài Gòn, Gia Định) và một bộ phận của cực nam trung bộ đưa về Tây Ninh, đóng căn cứ ở Bời Lời, Ninh Điền, để làm bàn đạp hoạt động và bồi dưỡng cán bộ.

Trường Đảng của Tỉnh sau khi hình thành bộ khung giảng dạy, đã tổ chức mở lớp liên tục bồi dưỡng cán bộ cơ sở cùng với các trường Y tá, trường bổ túc văn hóa, đáp ứng yêu cầu địa phương và chiến trường. Đặc biệt trường Hoàng Lê Kha hình thành từ tháng 10-1962 đến nay có 3 giáo viên và 30 học sinh cấp 1, đa phần là con em của liệt sĩ, thương binh, cán bộ, đến nay vẫn hoạt động đều đặn.

Tháng 1-1964, tại vùng căn cứ tỉnh nhà, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam tổ chức đại hội đại biểu lần thứ 2. Đại hội ra lời hiệu triệu kêu gọi toàn dân “Dốc toàn lực thực hiện đến cùng cuộc kháng chiến toàn diện, trường kỳ chống đế quốc Mỹ và tay sai bán nước tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa”.

Một sự kiện lịch sử quan trọng diễn ra tại Hà Nội, trái tim của tổ quốc. Ngày 27-3-1964 Bác Hồ triệu tập hội nghị chính trị đặc biệt, Bác đã chỉ rõ “Tình hình ở miền Nam hiện nay chúng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mỹ trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” này. Cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà chúng dùng thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”(1). Bác kêu gọi đồng bào miền Bắc ra sức thi đua mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Bác kêu gọi “Phát huy truyền thống của dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, luôn luôn sẵn sàng hy sinh phấn đấu vì quyền lợi cao cả của tổ quốc, của nhân dân và sự nghiệp các mạng toàn thế giới”.

Tiếng nói của Bác mang đến cho nhân dân Tây Ninh niềm tin tất thắng, sức mạnh đấu tranh mới và tình cảm gắn bó sâu sắc đậm đà giữ lãnh tụ với nhân dân.

Cùng hời gian này, sau khi thực hiện chỉ thị về công tác xây dựng Đảng của Trung ương Cục, Tỉnh ủy Tây Ninh tổ chức hội nghị sơ kết công tác củng cố chi bộ. Dự hội nghị có trên 150 đại biểu của các chi đảng bộ các ban, đoàn thể tỉnh, các huyện và xã tham dự. Hội nghị kiểm điểm đánh giá cao công tác 3 xây, 3 chống, coi đó là nhân tố quan trọng trong việc lãnh đạo quân dân trong tỉnh thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên. Hội nghị cũng rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao sức chiến đấu và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.


(1) Hồ Chí Minh: “Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt”, vì độc lập tự do, vì CNXH, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội năm 1970, t.252.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:05:52 AM
Tiếp theo đó, Tỉnh ủy mở cuộc họp rút kinh nghiệm đánh phá bình định vừa qua và nghe kinh nghiêm chống gom dân lập ấp chiến lược của xã H (Bến Tre), kinh nghiệm làm cung, tên ná đánh địch của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tỉnh ủy đề ra quyết tâm thực hiện nghị quyết 9 của Bộ Chính trị, căn cứ vào thực tế tình hình địa phương với phương châm 2 chân, 3 mũi, 3 vùng, coi lực lượng vũ trang là lực lượng chủ yếu quyết định nhất để từ đó xây dựng 2 lực lượng tại chỗ và làm nhiệm vụ xây dựng lực lượng cho trên, góp phần thực hiện theo yêu cầu của Nghị quyết đề ra nhằm giành thắng lợi cao nhất trong năm bản lề 1964. Tỉnh ủy cũng đề ra một số công tác cụ thể chống kế hoạch bình định có trọng điểm của địch:

1. Củng cố các chi bộ Đảng về chất lẫn lượng trong đó hết sức coi trọng tổ chức Đảng trong các lực lượng vũ trang và các vùng yếu, ấp chiến lược, đặc biệt coi trọng xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng, chống cầu an, co thủ, thoát ly quần chúng. Qua đó kiện toàn ban chỉ huy quân sự, Ban an ninh, Ban binh vận, Ban Tuyên huấn, Tổ chức… ở các cấp.

2. Xây dựng tiểu đoàn chủ lực của tỉnh và các binh chủng đặc công, công binh, hậu cần, thông tin… đủ quân số biên chế. Các huyện củng cố đại đội đã có tăng cường đặc công, công binh huyện, đồng thời phát triển thêm từ 1 đến 2 trung đội. Du kích xã có 1 trung đội, trang bị đầy đủ. Phát triển tự vệ mật, du kích, biệt động mật ở vùng yếu. Đẩy mạnh hoạt động các công trường tỉnh, huyện, xã, sản xuất trái đạn đáp ứng kịp thời nhu cầu tác chiến.

3. Đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, phát triển thêm hầm hào, hàng rào chiến đấu, địa đạo chiến. Chống địch càn quét, lấn chiếm, chống gom dân, đấu tranh chính trị, chống địch thả bom, bắn pháo, đòi bồi thường thiệt hại, chống địch bắt xâu bắt lính, tranh thủ binh sĩ, động viên phong trào quần chúng phá lỏng, phá rã tiến tới phá dứt điểm ấp chiến lược.

4. Tỉnh lấy huyện Gò Dầu làm điểm chỉ đạo để từ đó nhân ra phong trào chung toàn tỉnh. Đối với các huyện Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu… đẩy mạnh du kích chiến tranh làm tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch và phương tiện của địch, đồng thời bằng mọi cách căng kéo địch ra để hỗ trợ tích cực cho vùng trọng điểm.

Thực hiện Nghị quyết Tỉnh ủy, huyện Gò Dầu thành lập 4 mặt trận chống địch bình định lấn chiếm gom dân. Mặt trận 1 gồm các xã Thanh Phước, thị trấn, Suối Bà Tươi. Các xã đó cùng với 2 tiểu đội của C33 chịu trách nhiệm đánh địch ở thị trấn Gò Dầu, Thanh Phước và khu vực Suối Bà Tươi đến Cây Trường giáp xóm Sóc và có kế hoạch phối hợp với mặt trận ở xóm Sóc (Trảng Bàng). Mặt trận 2 gồm 2 xã Phước Thạnh và Bàu Đồn. Lực lượng trên gồm có 2 tiểu đội của C33, một đại đội thuộc d14 và 1 trung đội đặc công, công binh của tỉnh chịu trách nhiệm đánh địch ở chi khu Khiêm Hanh và trên trục lộ 19 từ Bàu Đồn đến suối Bà Tươi. Mặt trận 3 gồm các xã Hiệp Thạnh, Phước Thạnh và đội Công nhân Vên Vên cùng với 2 tiểu đội của C33 chịu trách nhiệm đánh địch trên trục lộ 22 từ Gò Chùa đến Đá Hàng. Mặt trận 4 gồm các xã Thạnh Đức, Cầm Giang và Cầu Sắt chịu trách nhiệm từ Bến Mương lên Bàu Nâu trên quốc lộ 22.

Lực lượng huyện còn có 1 trung đội cơ động, hỗ trợ cho các nơi khi cần thiết. Huyện ủy và huyện đội đứng chân ở xã Phước Thạnh để chỉ đạo.

Đầu quí 2-1964, sau khi chiếm và xây dựng hệ thống đồn bót trên hệ lộ 19 nối liền với lộ 26 làm lá chắn, án ngữ lực lượng ta từ các vùng căn cứ Dương Minh Châu, Bời Lời ra các vùng tranh chấp, thị trấn, thị xã, địch đánh mạnh vào các xã xã ruột Gò Dầu. Hàng ngày trên bầu trời máy bay quần đảo liên tục, thả bom, xăng đặc. Có ngày chúng thả bom hàng chục lượt trên 1 địa bàn nhỏ ở ấp Phước Tây, Phước Bình. Cùng với nhiều cuộc hành quân cấp trung đoàn, tiểu đoàn. Đầu tháng 5-1964 địch đưa trung đoàn 9 thuộc sư 5 đánh xã Hiệp Thanh, Phước Thạnh. Sau đó chúng khoanh ấp Phước Tây, Phước Hội, An Phú, Ấp Chánh. Ở Thanh Điền (Châu Thành) xã cửa ngõ của thị xã, lại tiếp giáp với các xã biên giới và các xã tây sông Vàm Cỏ Đông cùng với xã Thái Bình, Hảo Đước, địch đánh rất ác liệt, có ngày chúng càn 3-4 lần, hàng chục lượt pháo, hàng chục lượt máy bay thả bom, bắn rốc-két với 1 lực lượng bộ binh và xe tăng, xe ủi thường trực trên 700 tên đủ các loại quân, quân F5, F25, Chày Vồ, biệt kích Sông Mao, biệt động quân, dân vệ bình định… Chúng quyết biến nơi đây thành vành đai trắng trong các vùng yếu, địch ráo riết bắt lính, tổ chức úp bộ quần chúng, cả công chức, giáo chức và thanh niên cộng hòa, thanh niên chiến đấu tranh bị súng bắt canh gác. Mở các cuộc hành quân cảnh sát, hành quân phượng hoàng, khống chế, o ép, kềm kẹp quần chúng, chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng.

Địch phản kích mạnh, nhiều cán bộ đảng viên và chiến sĩ hy sinh. Huyện ủy Gò dầu, các ban, ngành, đoàn thể của huyện và 1 số xã Phước Thạnh, Hiệp Thạnh… không bám được dân, không bám được đất phải chạy vào Suối Nhánh, dựa vào thế rừng. Việc “ra đi” của huyện và các xã nói trên làm cho địch có cơ hội lấn tới trong việc gom dân bình định.

Trước tình hình trên, Tỉnh ủy đưa d14 và 1 bộ phận lớn công binh, đặc công tỉnh cùng một số cán bộ tỉnh xuống trợ lực cho Gò Dầu, đồng thời chỉ đạo cho các huyện Trảng Bàng, Châu Thành, Bến Cầu, đẩy mạnh mọi hoạt động trên diện rộng để căng kéo địch. Riêng huyện Gò Dầu, Tỉnh ủy chỉ đạo, bằng mọi cách trở về bám lại xã ấp.

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy, tháng 5-1964, trong vùng hậu cứ, huyện ủy Gò Dầu phát động toàn Đảng, toàn quân “quyết tử giữ Gò Dầu”. Với khẩu hiệu trên, huyện ủy Gò Dầu đã nêu bật lòng quyết tấm sắt đá của toàn thể cán bộ đảng viên và lực lượng vũ trang trong toàn huyện, đồng thời phát động rộng rãi ra ngoài quần chúng. Qua đợt phát động, các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ với khẩu hiệu trên nón tai bèo, trên ngực, lưng mang bộc phá, lựu đạn, tay cầm súng trở về bám đất giữ làng đánh địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:06:28 AM
Ngày 15 tháng 6 năm 1964 mở đầu cho phong trào trụ đứng của Gò Dầu. Lực lượng C330 phối hợp với C33 và du kích xã Phước Thạnh được sự giúp đỡ và hướng dẫn của đồng bào đã tập kích bất ngờ giữa ban ngày ngay đội hình địch, diệt gọn C3 tiểu đoàn 1 thuộc F5 ngay ở ấp Phước Tây. Sau đó ngày 31-7-1964, d14 phối hợp với Q761 và du kích Suối Bà Tươi, Thanh Phước tổ chức phục kích đánh tan rã 2 C bảo an lúc chúng đi càn quét ở Bàu Lớn, thu toàn bộ vũ khí. Kế tiếp là du kích xã Phước Thạnh và Hiệp Thạnh và hơn 500 đồng bào già trẻ cùng với 50 xe trâu, xe bò chở đồ đạc từ Phước Đông, Phước Bình, Phước An ra ấp Phước Hội nơi địch đang đóng quân đấu tranh trực diện. Phía sau du kích nổ súng, phía trước đồng bào hù dọa “quân giải phóng về đông lắm, súng ống đủ thứ, lớn có, nhỏ có, các chú chạy đi. Ở đây chết hết bây giờ”. Quân địch vốn đã dao động, nghe bà con nói, chúng hoảng sợ chạy ra Gò Nổi, rồi về Gò Dầu. Sáng hôm sau, địch cho vợ con binh lính vào thám thính nắm tình hình gặp đội du kích xã Phước Thạnh nghi trang, lấy súng trường cắm lưỡi lê xuống đất, dùng gốc tre dựng nghiêng trùm vải nilon lên giả súng lớn kết hợp với hù dọa. Bọn địch nghe vợ con lính báo lại không dám vào. Xã Phước Thạnh lại hoàn toàn giải phóng. Ở xã Hiệp Thạnh, hàng trăm đồng bào tản cư ngược, hù dọa kết hợp với du kích ném lựu đạn phía sau, bọn lính ngụy đóng ở Cây Da hoang mang tháo chạy.

Tản cư ngược rồi hù dọa, đồng bào kết hợp với du kích là một phương pháp đánh địch được phát triển rộng rãi và ngày được nâng cao khắp nơi. Nhiều cuộc tản cư ngược có hàng nghìn đồng bào già trẻ tham gia như ở Thanh Điền, Hiệp Thạnh, Thạnh Phước. Có cuộc tản cư ngược cùng một lúc ở các xã kéo ra quận lỵ của địch ở như ở Gò Dầu.

Để hỗ trợ cho chiến trường trọng điểm đồng thời cũng để mở rộng địa bàn đứng chân, lực lượng Miền, đơn vị Q761 với gần 1 trung đoàn, tổ chức đánh vào yếu khu chợ Cầu và hệ thống ấp chiến lược Long Giang, Long Khánh, Long Thuận… và trụ lại đánh cả quân tiếp viện gây cho địch nhiều thiệt hại: hai đại đội bảo an và hai trung đội dân vệ bị xóa phiên hiệu, trên 320 tên bị diệt.

Ở Trảng Bàng du kích xã Gia Lộc và Gia Bình bao bó và bắn tỉa địch ở chốt Xóm Sóc, cắt đứt lộ 19 đoạn Cây Trường. Du kích xã Đôn Thuận phối hợp với tiểu đoàn 14 đặc công công binh tỉnh vây ép đồn địch ở Bùng Binh gần 1 tháng trường. ta dùng loa kêu gọi chúng đầu hàng, đưa lực lượng quần chúng đến đấu tranh, tố cáo tội tên đồn trưởng ác ôn giết người. Ta tổ chức đào địa đạo từ bên ngoài xuyên qua hàng rào phòng ngự kiên cố để trồi lên giữa đồn đánh chúng, đồng thời triệt đường tiếp tế đường bộ, đường thủy. Bọn địch bỏ đồn tháo chạy về Trảng Bàng. Đồn Bùng Binh bị diệt sau 17 năm địch chiếm giữ.

Thắng lợi Bùng Binh đã giải phóng hoàn toàn xã Đôn Thuận mở màn cho chuyển biến cục diện chiến trường Trảng Bàng, tạo ra 2 địa bàn quan trọng, cánh Đông và cánh Tây vây ép địch.

Trên chiến trường Châu Thành, trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 9 của Miền có sự hiệp đồng tích cực của du kích tiến công nhiều trận quyết liệt với quân ngụy ở chốt Gò Nổi, xã Ninh Điền tiêu diệt hàng trăm tên phá hủy nhiều xe quân sự. Lực lượng C40 của huyện và du kích xã đánh địch hàng chục trận trên lộ 13, ở Tầm Dinh, Gò Nổi, trong đó có trận đánh bại đại đội biệt kích ngụy diệt 17 tên. Ở Thanh Điền, đồng bào trong các ấp chiến lược trên lộ 7 nổi dậy ban bờ thành gỡ kẽm gai, nhổ cọc sắt cắm cờ, rải truyền đơn, phá lỏng 2 ấp chiến lược Thanh Trung và Thanh Đông. Đảng bộ xã Ninh Điền đã củng cố lại 4 chi bộ mật trong 4 ấp và phát triển thêm nhiều cơ sở mới. Các huyện Bến Cầu, Dương Minh Châu bộ đội địa phương và du kích xã cũng tiến công đánh đồn bót, đánh tập kích, phục kích, đánh bọn càn quét lấn chiếm gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh lực và phương tiện chiến tranh.

Trên mặt trận diệt tề ác ôn và gián điệp, các chiến sĩ an ninh đã đánh những trận táo bạo. Một chiến sĩ công an vũ trang Trảng Bàng được sự giúp đỡ của quần chúng đã bắt sống tên Trưởng ty Thông tin và tên quận phó trong lúc chúng từ Hậu Nghĩa về Trảng Bàng. Lực lượng công an tỉnh kết hợp với công an các xã đánh tan 6 ban tề ở Phước Vinh, Hảo Đước, Ninh Điền, Lò Gò, Phước Tường, Long Vĩnh. Ngoài ra, An ninh tỉnh còn khám phá mạng lưới gián điệp của tên đại úy Hùng tình báo tổng tham mưu ngụy chui vào hoạt động vùng căn cứ ở Trảng Bàng, tên Vũ Thanh Hà trưởng phòng 1 mật vụ phủ tổng thống ngụy gài vào vùng giải phóng Hồ Đồn (Bến Cầu), tên Băng tình báo Trung ương ngụy làm cơ sở của huyện Dương Minh Châu.

Ngày 10/10/1964, ở Phước Thạnh, Q763 thuộc sư 9 chủ lực Miền phối hợp với C33 huyện Gò Dầu tiến công tiểu đoàn của F5 ngụy đóng ở Phước Hội. Trận chiến diễn ra ác liệt, địch bắn pháo sáng như ban ngày và hàng chục lần kêu tiếp viện, nhưng bằng tinh thần dũng cảm các lực lượng vũ trang của ta đã đánh tan tiểu đoàn này diệt 167 tên và 2 cố vấn Mỹ. Cùng đêm đó, ta cũng tiến công tiểu đoàn chủ lực địch đóng ở đình ấp Chánh (Hiệp Thạnh) tiêu diệt đại bộ phận sinh lực của chúng. Ở Dương Minh Châu bộ đội địa phương phối hợp với đặc công huyện Gò Dầu tiêu diệt đồn Cầu Khởi và giải phóng ấp chiến lược Năm Ngọn. Du kích Bến Củi phối hợp với d14 và lực lượng huyện bao vây tiêu diệt đồn địch ở Bến Củi thu toàn bộ vũ khí. Cùng thời gian trên C33 của huyện Gò Dầu phục kích tiêu diệt gọn một trung đội bảo an mở đường trên lộ 22 đoạn Bàu Nâu – Cẩm Giang. Từ đây vùng giải phóng được củng cố và mở rộng, vùng tranh chấp chuyển lên và vùng yếu phổ biến là bị lỏng kềm.

Cuối năm 1964, quân địch bị thất bại nặng nhưng chúng hết sức vùng vẫy, phản kích. Chúng củng cố lại trại huấn luyện Biệt kích Bến Sỏi với một lực lượng túc trực 3 đại đội mang số 349, 314 và 350. Trên dưới 500 tên thường xuyên về đây dự huấn luyện. Các giang thuyền, tàu mặt dựng, bo bo được tăng cường, hoạt động ngày đêm trên sông Vàm Cỏ Đông, Lò Gò (Hòa Hiệp ) tới vàm Trảng Trâu. Ở Gò Dầu lực lượng bộ binh cấp tiểu đoàn thuộc F5 có xe pháo và máy bay yểm trợ, lấn chiếm lại 2 xã Hiệp Thạnh và Phước Thạnh. Ở Dương Minh Châu địch sử dụng 3 trung đoàn đánh vào xã Tân Hưng, Suối Đá, Phan… để bình định các xã trên tuyến lộ 13, 26, và đối phó lại phong trào phá ấp chiến lược của ta.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:06:49 AM
Để chuẩn bị cho thời cơ năm 1965, Tỉnh ủy chủ trương phát động mạnh mẽ phong trào nam nữ thanh niên tòng quân, gia nhập các lực lượng vũ trang, phát động nhân dân hiến tiền bạc, vàng, trâu, bò, xe… cho kháng chiến, tuyển chọn một số cán bộ trung sơ cấp cho trên để tăng cường cho khu Sài Gòn, Gia Định. Một mặt đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, chống địch đổ quân càn quét.

Trong tinh thần mới, tinh thần giành thắng lợi quyết định năm 1965, nhân dân và các lực lượng vũ trang của tỉnh huyện và xã đã đánh địch đuề khắp. Ở xã Lợi Thuận đồng bào thi đua ngày đêm xây dựng địa đạo dài gần 10 km, có 8 ụ chiến đấu, bên ngoài có giao thông hào, hàng rào chiến đấu, hầm hố chông, ở Đôn Thuận, Lộc Hưng, Ninh Điền, Hòa Hội, Hảo Đước… đồng bào đốn tầm vong tre, vót nhọn cắm ngoài đồng trảng chống địch cho trực thăng đổ quân.

Trên chiến trường chung và trên địa bàn Tây Ninh, địch cho hàng tốp máy bay đủ loại đổ bom, rải chất độc hóa học, xăng đặc hủy diệt căn cứ Bời Lời. Chúng đánh căn cứ Bời Lời trong suốt 2 tháng từ 11-64 đến đầu 1-65 làm hàng nghìn ha rừng, hoa màu, ruộng lúa của 2 huyện Trảng Bàng và Gò Dầu bị thiệt hại nặng. Các xã phía bên kia sông Sài Gòn như Thanh An, Bến Súc cũng bị ảnh hưởng nặng của chất độc hóa học. Đánh căn cứ Bời Lời, địch lu loa tuyên bố rằng “chiến khu Bời Lời bị hủy diệt thành bình địa”.

Trong giai đoạn 5 của kế hoạch bình định, trong toàn tỉnh địch chỉ xây dựng được 2 ấp chiến lược. Tính từ năm 1962 đến nay, địch xây dựng, gom, khoanh được tất cả 94 ấp, nhưng bị ta phá hỏng, phá rã trên 75 ấp. Thất bại trên đây, chính tên Lê Văn Tất tỉnh trưởng Tây Ninh, trong bản báo cáo tháng 6-1964 gởi về quân đoàn 3 và Ban xây dựng nông thôn Trung ương đã phải thú nhận: tình hình an ninh của quốc gia trên địa bàn Tây Ninh không chiếm được 1/3…

Từ năm 1961 đến giữa năm 1965, chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, quân dân Tây Ninh đã kiên trì bám trụ, đánh địch trên 776 trận lớn nhỏ, diệt 5.000 tên ngụy, hàng chục tên Mỹ, gồm 6 đại đội chủ lực và bảo an, 7 trung đội chủ lực, gỡ 19 đồn bót, bức rút hàng chục đồn bót khác, diệt và làm tan rã nhiều ban tề ấp, tề xã. Lực lượng an ninh diệt trên 50 tên ác ôn, bóc gỡ nhiều mạng lưới gián điệp ở Trảng Bàng, Bến Cầu, Dương Minh Châu và cùng với lực lượng trên phá nhiều mạng lưới ngầm của địch ở huyện 105, đưa ra Tòa xử 4 tên đầu sổ trong số 92 tên bị bắt giam giữ cải tạo.

Vùng giải phóng được mở rộng, vùng địch kiểm soát bị thu hẹp. Phong trào quần chúng đấu tranh chống gom dân cào nhà, chống bắt xâu, bắt lính, chống bắt luyện tập quân sự lên cao. Đấu tranh trực diện đòi địch không được ném bom, bắn pháo rải chất độc hóa học, đòi bồi thường thiệt hại với 1.600 cuộc, có một triệu sáu trăm nghìn lượt quần chúng tham gia. Hàng chục vạn nam nữ kể cả các cụ già và thiếu nhi hăng hái thi đua xây dựng xã ấp, làm hàng rào chiến đấu, đào giao thông hào, địa đạo hầm hố chông, sáng tạo mọi thứ vũ khí, mọi phương pháp đánh địch. Phá hoại đường sá, đắp mô gài trái làm cản trở giao thông. Xây dựng làng xóm, tổ chức đời sống văn hóa tinh thần, y tế, trường học, sản xuất lương thực đóng góp cho kháng chiến.

Trong phong trào thanh niên tòng quân, dân công hỏa tuyến tải thương tải đạn phục vụ chiến trường rất sôi nổi, các lực lượng vũ trang địa phương đã hình thành và không ngừng lớn mạnh. Tỉnh có tiểu đoàn và cá đại đội công binh, đặc công, hậu cần, thông tin. Huyện có từ 1 đến 2 đại đội binh chủng, xã có 1 trung đội du kích, xã nào kém cũng có 2 tiểu đội du kích. Chất lượng chiến đấu của các thứ quân được nâng lên với phương thức đấu tranh hai chân, ba mũi, ba vùng làm tan rã hàng ngũ địch trong đồn bót, hạn chế trong càn quét lấn chiếm.

Trong phạm vi toàn miền, với các chiến thắng Bình Giã (Bà Rịa), Đồng Xoài (Bình Long)… và nhiều nơi khác, ta đang hãm địch vào thế nguy ngập, đẩy chiến lược chiến tranh đặc biệt của chúng đến bước đường cùng. Mắc Na-ma-ra và Taylo báo cáo tháng 4-1965: tình hình Nam Việt Nam nghiêm trọng và sẽ nghiêm trọng hơn nữa, quân đội Việt Nam cộng hòa không đủ sức đương đầu với Việt cộng, tương quan lực lượng ở mức báo động, quyền chủ động đã về tay cộng sản.

Từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965, cuộc chiến đấu của quân dân Tây Ninh diễn ra rất ác liệt, nguyên nhân chính là vì nơi đây có phong trào đấu tranh chính trị binh vận của quần chúng mạnh, có lực lượng vũ trang 3 thứ quân kiên cường dũng cảm tiến công địch liên tục, đều khắp. Kế bên đó, một vấn đề hết sức quan trọng là địch biết rõ Tây Ninh là căn cứ của TWC Miền Nam, là địa bàn đứng chân, xuất phát của lực lượng chủ lực. Do vậy địch đánh Tây Ninh bằng toàn bộ lực lượng tại chỗ đồng thời có sự tập trung của các lực lượng ở vùng 3 chiến thuật, của CIA, của đặc cảnh Miền Đông, Nhà Công an cảnh sát Sài Gòn và Tổng ủy bình định cùng với các binh khí kỹ thuật mới nhất.

Tiến hành chiến tranh cách mạng, trong suốt gần 5 năm, quân dân Tây Ninh gặp phải vô vàn khó khăn, hy sinh chết chóc, bản thân đảng bộ có sự nỗ lực lớn, lại cũng có thuận lợi lớn ó với các tỉnh là có sự chỉ đạo trực tiếp của TWC, của Quân ủy Miền và các ban ngành đoàn thể cấp trên. Do vậy nên Tây Ninh chẳng những làm được trách nhiệm của mình mà còn làm tròn nhiệm vụ bảo vệ an toàn căn cứ Bắc Tây Ninh, căn cứ của TWC, góp phần tích cực cho lực lượng chủ lực miền tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2018, 08:08:10 AM
Tháng 5-1965, để phát huy thắng lợi và chuẩn bị cho thời cơ theo chỉ đạo của cấp trên lần đầu tiên Tây Ninh tổ chức Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ. địa điểm tại trường Đảng tỉnh ở bến Cây Sao (xã Phước Vinh). Dự đại hội gồm có 100 đại biểu của các Đảng bộ huyện, thị và các ban, đoàn thể, lực lượng vũ trang tỉnh.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy gồm có 25 đồng chí, BCH Tỉnh ủy bầu ra Ban thường vụ 9 đồng chí do đồng chí Hai Bình làm Bít hư, đồng chí Bảy Hải làm phó Bí thư và đồng chí Út Thành (Năm Trung) Phó Bí thư.

(https://lh3.googleusercontent.com/u48kl2VQpqbJfhgik6OHbbS2BhSwa9YTOr_OchCOQ4B3FQTYANZquMC9-L4S4Xd1A7KLGY7RhBLw7Oos3xc1M6hWZR2Fi9RwB2BkXG8RiLRzPTonT-PK3oQZtOWf5sKIju9fUfqXOB87Q78AMXrDUigbRU7f2yMKB9DyGFAjN9_JnYyZtrw6JuDR5J_eK-OJ79dTF_CNprSd6FOWs78_3sCL6GIdVhDDxyT311ulcXR1WuiG7wu8h_zMrAOjona1XUDxaF1cf72-tD7AdZnPkTwEHsIl3IxcAFjGVXfnohkovjpaV2TGQphycyVABare12PfE_sXae5p2D1Vq4NApBZerKtDvficvreereb6E2e1TnJ1rH7bPqmcTb66nmpb3_Rt7AS_COcUGJrkkoHOGZHtUfz_go7xbIWGikF2KaCbi0RGvqi7W6FKrei2dvjzfxhnFVMoIKZvMS_ATxL5qRlT1X9XyHiUafvy4cIMN2ilhGLnxP-SJODutf2ybmM7oqJWGzcsAkRi7QVFK8QrJBdZr9wfiW4vYvfyMgX49DWQQ83m0AaFXqbq8ZbpntYYNyGIjMmb99znb8zwvGkgnYODPXUmfIuzZU79EbQ=w317-h448-no)

Đồng chí NGUYỄN VĂN TỐT (Hai Bình),
Bí thư Tỉnh ủy (cuối năm 1963 đến năm 1967)

Đại hội đề ra một số chủ trương quan trọng như:

- Phát động phong trào tiến tới cao trào quần chúng đánh phá ấp chiến lược bằng những hình thức từ phá lỏng đến phá rã, phá banh mà trọng yếu làm phá banh giành quyền làm chủ cho nhân dân.

- Theo yêu cầu của trên, tỉnh đưa 1 tiểu đoàn chủ lực vũ trang của tỉnh về Miền và về khu I, một đại đội, để xây dựng chủ lực của trên. Rút các đại đội huyện lên xây dựng lại tiểu đoàn tập trung tỉnh. Rút du kích xã và thanh niên cơ quan xây dựng bộ đội huyện và tỉnh. Tuyển thanh niên tốt vào du kích xã, mỗi xã phải có một tiểu đội, xã mạnh phải có một trung đội. Ở vùng yếu, xây dựng và phát triển du kích mật, tự vệ mật. Vùng tranh chấp thì xây dựng dân quân tự vệ rộng rãi có du kích mạnh.

- Đẩy mạnh du kích chiến tranh bằng mọi hình thức xây dựng xã chiến đấu rộng khắp các vùng nông thôn mạnh như An Tịnh, Phước Thạnh, Thanh Điền, Đôn Thuận, Lợi Thuận chủ yếu là các xã ven trục lộ chính, ven thị trấn, thị xã chống càn quét và lấn chiếm, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, giữ vững bám trụ, đứng chân trên các địa bàn vùng tranh chấp, vùng ven chống phát quang địa hình.

- Tổ chức bộ máy hội đồng cung cấp tỉnh, huyện, thành lập đội thanh niên xung phong mang tên Hoàng Lệ Kha. Tổ chức lực lượng dân công hỏa tuyến sẵn sàng phục vụ chiến trường trong tỉnh và các chiến trường của trên.

- Phát động quần chúng vùng ven, vùng yếu chống địch bắt lính đôn quân, chống bắt thanh niên vừa tổ chức thanh niên chiến đấu, tập luyện quân sự, tái vũ trang Cao Đài, phá thể kềm kẹp, đấu tranh đòi về ruộng vườn, nhà cũ làm ăn. Chống thả bom bắn phá, đòi bồi thường thiệt hại.

- Củng cố cơ sở Đảng khắp 3 vùng vững mạnh. Quan tâm phát triển đảng viên ở vùng yếu và lực lượng vũ trang. Tăng cường thêm cán bộ tỉnh và điều một số cán bộ các huyện cho vùng Tòa Thánh nhằm mở rộng diện tranh thủ quần chúng tín đồ Cao Đài và các tầng lớp chức việc, chức sắc ở Tòa Thánh và Bến Cầu. Hình thành đội ngũ cán bộ làm công tác di cư để vận động đồng bào di cư ở Châu Thành.

Đại hội cũng đề ra chủ trương tích cực giáo dục, phát động tư tưởng toàn thể cán bộ, đảng viên các lực lượng vũ trang và nhân dân sẵn sàng trong thư thế lao vào cuộc chiến đấu mới, chống đế quốc Mỹ xâm lược nếu chúng liều lĩnh đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam để cứu nguy cho quân Ngụy.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:54:59 PM
CHƯƠNG III

TIẾP TỤC TIẾN CÔNG GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC
“CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(7-1965 ĐẾN CUỐI NĂM 1968)

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đã bị hãm đến bước đường cùng, ngụy quyền đứng trước nguy cơ sụp đổ, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” với quyết tâm cứu vãn tình thế và giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất bằng chính lực lượng của Mỹ.

Sau quyết định đầu tiên ngày 1-4-1965 của tổng thống Mỹ Giôn-xơn về việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào chiến trường, đi đôi với hành động chiến tranh phá hoại mở miền Bắc, số quân Mỹ vào miền Nam từ tháng 7 năm 1965 đã lên đến 75.000 tên và đang đà tăng lên ồ ạt.

Trước âm mưu chiến lược mới của Mỹ, ngày 2-8-1965, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi: “Dù đế quốc Mỹ tăng thêm 10 vạn, 20 vạn quân Mỹ hay nhiều hơn nữa, dù phải chiến đấu 10 năm, 20 năm hay lâu hơn nữa, nhân dân Việt Nam sẽ đánh đến thắng lợi cuối cùng”.

Lời kêu gọi của Chủ tịch trở thành quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta như xác định của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12/1965) “kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng Miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thực hiện hào bình thống nhất nước nhà”, và định ra phương châm chiến lược: “Đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính”.

Tỉnh ủy và Đảng bộ, quân dân Tây Ninh xác định quyết tâm đánh Mỹ diệt ngụy, phát triển phong trào nhân dân đánh địch khắp 3 vùng, bảo vệ căn cứ lãnh đạo của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy các Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Miền Nam Việt Nam, giữ vững địa bàn cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, không ngừng tạo thế tạo lực, từng bước giành thắng lợi, cùng với toàn Miền tiến tới đánh bại hoàn toàn âm mưu chiến lược mới của địch.

A – QUYẾT TÂM ĐÁNH MỸ, DIỆT NGỤY GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CUỘC PHẢN CÔNG MÙA KHÔ CỦA MỸ (TỪ THÁNG 7-1965 ĐẾN THÁNG 11-1967):

Từ tháng 7 đến cuối năm 1965, Mỹ đã đưa số quân viễn chinh vào chiến trường lên đến 184.000 tên đồng thời ráo riết chuẩn bị phản công chiến lược. Trong gần 6 tháng đó, tuy địch không hoàn toàn chặn được chiều hướng thất bại nhưng đã hoàn thành cơ bản về kế hoạch chuẩn bị chiến trường và triển khai lực lượng viễn chinh Mỹ và chưa hầu, trên cơ sở đó đã hãm bớt tốc độ suy sụp của quân Ngụy và thực hiện cuộc phản công lần thứ nhất với chiến lược “tìm diệt” bắt đầu từ tháng giêng năm 1966.

Trong bức thư ngày 6/11/1965 gởi Trung ương Cục và Khu ủy Khu 5 sau khi chỉ rõ cuộc phản công lớn của Mỹ sẽ xảy ra, Bộ Chính trị xác định: “trong giai đoạn hiện nay nắm thế chủ động là phải giữ và phát triển hơn nữa quyền làm chủ rừng núi, đồng bằng chung quanh đô thị và tiến tới từng vùng trong đô thị nữa”.

Với 6 nội dung chiến lược tiến công, quân ủy Trung ương đã xác định quyết tâm giữ vững và mở rộng thế chủ động của ta, thực hiện ưu thế quân sự trên những chiến trường quan trọng.

Trung ương Cục ra quyết định:

- Phát động mạnh mẽ trong toàn dân, toàn quân khắp các chiến trường một cao trào quân sự tiêu diệt quân địch và phát triển phong trào du kích chiến tranh đánh bại âm mưu của địch.

- Xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng và phát triển cả số lượng và chất lượng cho quân chủ lực Miền, của Khu, Tỉnh, Huyện.

- Động viên chính trị mạnh mẽ trong nhân dân và các lực lượng vũ trang, phát động phong trào “tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt”.

Tỉnh Tây Ninh là một trong những địa bàn trọng điểm của chiến lược “tìm diệt” của Mỹ. Tìm diệt cơ quan Trung ương Cục “đánh gãy xương sống” chủ lực B2, xé nát căn cứ… là mục tiêu của chúng ở đây. Đứng trước tình thế chiến tranh sẽ vô cùng ác liệt, Tỉnh ủy Tây Ninh quan triệt sâu sắc Nghị quyết của trên, nhận thức nhiệm vụ của mình vừa bảo vệ địa phương, vừa góp phần bảo vệ cơ quan lãnh đạo của cuộc kháng chiến ở miền Nam, tỉnh đã tổ chức hội nghị cán bộ đánh giá thắng lợi những năm qua và rút kinh nghiệm chống địch gom dân lập ấp chiến lược. Trên cơ sở đó, xác định tư tưởng tiến hành phương châm chiến lược quân sự, chính trị, binh vận gắn chặt với 3 vùng chiến lược đi đôi với phát động toàn Đảng, toàn dân quyết tâm đánh Mỹ và xây dựng mạnh mẽ 3 thứ quân, nhất là quả đấm chủ lực của tỉnh đủ mạnh làm đòn xeo cho phong trào chung của tỉnh. Đồng thời phát huy thắng lợi của phong trào chiến tranh nhân dân sâu rộng ở xã ấp, ra sức củng cố các địa đạo An Thới (An Tịnh), Lợi Thuận (Bến Cầu), Bởi Lời. Phát động mỗi chiến sĩ, mỗi người dân phấn đấu thi đua đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, diệt Ngụy, diệt cơ giới, bắn phi cơ địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:56:08 PM
Đồng chí Võ Văn Tới được Miền điều về phụ trách Tỉnh đội trưởng. Các cấp huyện, xã cũng được tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nhằm bảo đảm đánh và thắng Mỹ ở từng địa phương.

(https://lh3.googleusercontent.com/UkF8GSKi04nkz0ByVATkcXTlM9m_nFJrov0yoR6RPB_bypHpwrJy8zicax3Sm6Lrvh9C620_r7IZrBaCFzebAH59XEQBC3C9wHLpV5gFfpn2hqQcmLbJARbRiMgAG-DU4QTp4bfWHXcvuqYbRdvhvkP7wrTeiDF_fxx6w1keLK6UaQn1mwBkeaNMaCI1RN7Gt37mAS2lXhDhwLTKhecASmuD_1zsENtucauk-uvokWGHDFe2iIckPGBMzFskAvDbC96tfvEM9tU_pvoFlYes7oGfZkVG8OBe6NJPuUOtJEG2PdslFOi52GdKd3oD4AWLouhV76q4ztyMfRu2aczrBxdPjQ3l5ayPSilNOWx-Q08bykfBCpJzFs5Tx17xVFM9SgPu_KH-21bZzoMKTi-0bc5NYK1w4JHv5T_YSBn2tl4ctJpYM4UOpiV40nDn_vo5zd-TOh2Ut0FyvHXuAWUfe28rNWJjzWHilD5vAGpMDm_Vdzt352Xg1CGDptI8lMMgLTWSLA9MvCoMi2YiB3iWvkUzlmcjV-tgIwW3SaewnMqHc_2wzJcQIB6kv6yOL0Q783Eii6WvUMzBwrWyrfAMAzTmi-mgJD_y3zNqfhA=w290-h448-no)

Đồng chí VÕ VĂN TỚI Tỉnh đội trưởng Tây Ninh

Với chủ trương tập trung xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực của tỉnh là tiểu đoàn 14, đến tháng 7/1965, ta đã bổ sung đầy đủ quân số tiểu đoàn 700 người. Các huyện xây dựng được từ 1 đến 2 đại đội, xã có từ 1 đến 2 trung đội du kích. Tỉnh, huyện, xã tích cực tổ chức huấn luyện chính trị tư tưởng và chiến thuật, kỹ thuật quân sự để đánh Mỹ với bất kỳ tình huống nào.

Tỉnh ủy chủ trương tổ chức “Hội đồng cung cấp” nhằm huy động sức người, sức của chi viện cho chiến trường. Hội đồng được tổ chức từ tỉnh đến huyện, xã do cấp ủy mỗi cấp đảm trách và huy động cán bộ các ngành tham gia. Tỉnh còn tổ chức đơn vị thanh niên xung phong phục vụ chiến trường của 3 cấp tỉnh, huyện, xã để kịp thời phục vụ tại chỗ. Đồng thời còn tổ chức đội thanh niên xung phong mang tên Hoàng Lệ Kha đưa lên Miền để phục vụ cho các lực lượng chủ lực.

Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, nhân dân không ngừng cho con em mình vào bộ đội, mà còn cho cách mạng mượn lúa, gạo, xe trâu, xe bò, tàu thuyền, vàng, tiền, dùng nuôi quân ăn no đánh thắng. Biết bao tấm gương của nhân dân góp công góp của cho kháng chiến, tất cả đều tin tưởng ở Đảng, quyết tâm theo Đảng đến cùng. Đảng bộ Tây Ninh đã xây dựng quyết tâm và thống nhất hành động từ đảng viên đến quần chúng, sẵn sàng bước vào thời kỳ trực tiếp đánh Mỹ. Quân dân Tây Ninh chủ động tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, tìm mọi phương thức đánh địch khắp 3 vùng với 3 thứ quân, 3 mũi giáp công đồng thời tạo điều kiện và phối hợp lực lượng trên cùng kết hợp đánh Mỹ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:56:48 PM
1/ - Đánh phá kế hoạch mùa khô lần thứ nhất 1965-1966:

Tháng 10/1965, đế quốc Mỹ đưa lữ 196 lên Tây Ninh chiếm đóng Trảng Lớn (thuộc xã Thái Bình, huyện Châu Thành) làm hậu cứ đứng chân đánh phá căn cứ địa kháng chiến và chuẩn bị khi có điều kiện sẽ đánh sang Kampuchia mở rộng chiến tranh ở 3 nước Đông Dương.

Lữ 196 có nhiệm vụ xây dựng và mở rộng căn cứ Trảng Lớn, giữ an ninh quốc lộ 1 (từ Suối Sâu lên Gò Dầu) và lộ 22 (từ Gò Dầu đến Trảng Lớn), đồng thời kết hợp với chủ lực và quân địa phương ngụy đánh phá khu vực chung quanh căn cứ. Chúng thả bom và dùng xe ủi phá sạch lên 500 ha rừng Thanh Điền để bảo vệ an toàn cho căn cứ Trảng Lớn.

Ngay sau khi quân Mỹ đặt chân lên Trảng Lớn, Tỉnh ủy chủ trương xây dựng “vành đại diệt Mỹ” ở Trảng Lớn và đề ra nghị quyết đánh Mỹ với nội dung:

- Các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở phải sắp xếp tổ chức gọn nhẹ, thích hợp để sẵn sàng đánh Mỹ (giặc Mỹ đã đưa quân viễn chinh vào miền Nam và đóng quân ở tỉnh ta, ở Trảng Lớn và có thể ở một số nơi khác…) toàn Đảng bộ, toàn quân, toàn dân tỉnh ta kiên quyết đánh Mỹ. Các huyện ủy phải đứng chân tại chỗ bám chặt địa bàn, giữ đất, giữ dân, phát động phong trào toàn dân đánh Mỹ.

- Tất cả các huyện ủy, huyện đội phải có trách nhiệm căng kéo địch, chia lửa kịp thời, hợp đồng trong các chiến dịch của trên và kềm chân địch ở địa phương.

Giữ thế hợp pháp cho 3 vùng, tạo thế liên hoàn cho 3 vùng, đẩy mạnh 3 mũi giáp công, 3 vùng giáp kích, tận dụng mọi khả năng và mọi hình thức đánh địch của nhân dân, tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài.

- Hết sức coi trọng công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức, kịp thời rút cho được kinh nghiệm đánh Mỹ, coi trọng việc khen thưởng, đề bạt những nhân tố tích cực, phát động ngay phong trào “dũng sĩ diệt Mỹ”.

- Phải tuân thủ thường xuyên báo cáo thỉnh thị.

Tỉnh ủy cử đồng chí Võ Văn Tới, tỉnh đội trưởng về huyện Châu Thành triển khai Nghị quyết, bàn phương án thành lập “vành đai diệt Mỹ” Trảng Lớn. Được sự ủy nhiệm của Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Võ Văn Tới quyết định rút một số cán bộ chiến sĩ các nơi khác bổ sung cho huyện Châu Thành, đồng thời trang bị thêm súng đạn cho huyện Châu Thành và phương tiện liên lạc để đảm bảo cho yêu cầu.

Sau đó huyện ủy Châu Thành mở phiên họp toàn thể cán bộ đảng iên chủ chốt ở các xã và ban ngành để thống nhất đề ra quyết định:

- Tổ chức học tập ngay nghị quyết Thường vụ Tỉnh ủy cho toàn Đảng bộ và quân dân Châu Thành. Trước hết là tất cả cấp ủy viên huyện, xã phải thông suốt, để làm động lực thúc đẩy chung.

- Thành lập ngay Ban chỉ huy thống nhất “vành đại diệt Mỹ Trảng Lớn”, Ban chỉ huy các cụm, toàn huyện chia thành 4 cụm, mỗi cụm phải có từ 1 đến 2 cấp ủy viên phụ trách. Phải xác định vị trí ác liệt của khu tam giác: Thanh Điền, Thái Bình A và Trí Bình. Một số huyện ủy viên còn lại bám chặt các địa bàn phía sau, bám quần chúng thực hiện công tác dân vận. Đồng thời làm hai nhiệm vụ giữ và mở rộng vùng ven, kịp thời chi viện cho khu tam giác. Toàn thể cán bộ đảng viên chia làm 2 khối cộng tác, khối ở phía trước, khối ở phía sau, nhiệm vụ và trách nhệm giống nhau, phía sau sẵn sàng thay thế cho phía trước. Cử ngay một số cán bộ, huyện ủy viên lãnh đạo đồng bào ở vùng giải phóng, căn cứ, tổ chức ăn ở, sản xuất, chiến đấu, đào hầm xây dựng giao thông hào, rào làng chiến đấu, lo công tác dân công tải đạn lương thực chống biệt kích.

- Rút thanh niên ở các vùng, nhất là ở các vùng địch đang kềm kẹp lên tổ chức huấn luyện để bổ sung ngay cho các lực lượng vũ trang và đưa vào đội thanh niên xung phong. Ở vùng địch hậu lo củng cố lại cơ sở chi bộ, du kích mật. Từ đó, đẩy mạnh công tác diệt ác phá kềm, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chính trị, binh vận, gây xáo trộn trong lòng địch và chú ý đánh phá kho tàng.

- Tất cả các cơ quan, quân, dân, chính, Đảng phải gọn nhẹ, thực hiện khẩu hiệu “động vi binh, tịnh làm việc chuyện môn và sản xuất”. tất cả quân, dân, chính, Đảng phải xây dựng hầm trú ẩn vững chắc. Kiên quyết phòng gian bảo vệ tài sản và tính mạng, đặc biệt bảo vệ tài liệu, nhất là chỉ thị Nghị quyết của Đảng, phải phân công người cất giấu không để thất lạc mất mát hay vào tay địch.

- Hình thành thế trận “vành đai” bao vây, lập các hào rào chiến đấu liên hoàn: từ Sa Nghe qua Bàu Sen, Xóm Trường, Hòa Hội, Cây Da kéo dài đến Ninh Điền, Thạnh Điền, xây dựng các bãi chông lan, trái gài, vùng tử địa… Các công binh xưởng của huyện tập trung làm mìn chống tăng, trái gài, lựu đạn ném, lựu đạn phóng, thủ pháo… để phục vụ cho vành đai diệt Mỹ.

- Lực lượng phía trước kiên quyết không cho địch phân vùng chia tuyến, luồn sâu vào hậu phương địch, vây hãm và cô lập chúng, đánh trước mặt, đánh sau lưng, đánh vào ác cơ quan đầu não, đánh vào hậu cần, bãi xe, kho xăng, kho đạn. Kết hợp với pháo, đặc công, bộ binh liên tục đánh địch. Riêng C40 là lực lượng cơ động khi tập trung, khi phân tán, linh hoạt tổ chức nhiều mũi nhọn và tránh hỏa lực địch. Huyện ủy quyết định thành lập trung đội nữ pháo binh Châu Thành lấy phiên hiệu là B13 để khống chế quân Mỹ ở Trảng Lớn.

- Công tác chính trị tư tưởng phải kịp thời, động viên cổ vũ đúng lúc nhằm động viên khí thế và giải quyết tư tưởng ngại Mỹ, sợ Mỹ. Tổ chức ra quân, chọn cốt cán đánh thử trận đầu, lấy thực tế kinh nghiệm động viên cho mọi người khác. Từng trận đánh, từng đợt hoạt động đều có tổ chức rút kinh nghiệm và có bình báo công khen thưởng, biểu dương đề bạt đúng mức. Đồng thời, hình thành tổ chức đảm bảo mạng lưới thông tin liên lạc cả hiện đại và thô sơ, cả công khai và bí mật từ trên xuống từ dưới lên thông suốt liên tục.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:57:18 PM
Hội nghị huyện ủy Châu Thành lần này, có ý nghĩa rất quan trọng, đã quyết định phương đánh Mỹ cho “vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn”, tạo sự nhất trí cao trong Đảng bộ, phấn khởi bước vào trận đọ sức với quân Mỹ. Hội nghị phân công bố trí cán bộ từng cụm. Đồng chí Minh Quân, huyện đội trưởng phụ trách chỉ huy trưởng mặt trận đã tỏ rõ quyết tâm với cán bộ chiến sĩ: “Kiên quyết đánh, giá nào cũng đánh, cá nhân đơn vị nào ra đi không đánh, không diệt được Mỹ là không về”. Đó là lời hứa hẹn với Đảng bộ, với đồng bào, là lời thề son sắt khắc ghi trong lòng của mỗi chiến sĩ, cán bộ của thế trận “vành đai diệt Mỹ” Trảng Lớn. Huyện ủy Châu Thành tổ chức lễ ra mắt trung đội nữ pháo binh B13 do nữ đồng chí Năm Hoa làm trung đội trưởng. Ban chỉ huy thống nhất “vành đai diệt Mỹ” Trảng Lớn gồm có:

- Đồng chí Hai Bạch, Bí thư huyện ủy, phụ trách chính trị viên mặt trận.

- Đồng chí Minh Quân, huyện đội trưởng chỉ huy trưởng.

- Đồng chí Sáu Lệ, Năm Hoàng, thường vụ huyện ủy chỉ huy phó.

- Đồng chí Mười Dài, Bảy Trung, Năm Nghĩa, huyện ủy viên chỉ huy phó.

Ngoài lực lượng Mỹ đóng tại trảng Lớn, bọn Ngụy còn đóng 68 bót chung quanh khu vực Trảng Lớn (6 đồn cỡ đại đội, hàng chục bót trung đội, tháp canh cỡ tiểu đội, 2 căn cứ biệt kích Mỹ ở Tua Hai, Bến Sỏi) 35 khu ấp chiến lược, phòng vệ dân sự, bảo vệ hương thôn, bình định, thám báo tỉnh, quận dày đặc ở đây. Đồng thời, bọn thủy quân lục chiến, biệt động quân, dù, các sư đoàn 5, sư đoàn 18, 21, 25 thuộc quân đoàn III ngụy thay phiên có mặt. Riêng trung đoàn 49 của sư đoàn 25 ngụy túc trực tại chùa Giác Ngạn (xã Thái Bình). Căn cứ tình hình địch tại chỗ, huyện ủy Châu Thành quyết định tổ chức 4 cụm chiến đấu của vành đai diệt Mỹ tạo thành thế liên hoàn bao vây căn cứ Trảng Lớn.

Cụm 1 gồm các xã Thanh Điền, Thái Bình A sát lộ 13, đồng chí Mười Dài bí thư xã Thanh Điền làm chỉ huy trưởng, đồng chí Năm Hoàng, Bảy Trung chỉ huy phó. Lực lượng vũ trang gồm B3 của C40 (có trang bị 1 cối 60), 2 đội du kích xã của 2 xã. Lực lượng cơ động B12 và 5 chiến sĩ do Tỉnh ủy tăng cường về Châu Thành. Cụm này còn kết hợp với 2 chi bộ xã lộ bên ngoài và 2 chi bộ bí mật bên trong cùng với lực lượng chính trị, binh vận của quần chúng.

Cụm II gồm các xã Hảo Đước, Trí Bình, do đồng chí Sáu Trần làm chỉ huy trưởng, các đồng chí Bảy Trọng, Tám Châu, Út Thoại, Hai Y là huyện ủy viên làm chỉ huy phó.

Cụm III gồm các xã Ninh Điền, Hòa Hội (bao gồm Bến Sỏi, Cây Da, Lộ 13, Phước Tân) do đồng chí Sáu Lệ Thường vụ huyện ủy làm chỉ huy trưởng, đồng chí Năm Bên chỉ huy phó, có lúc tăng cường các đồng chí Tám Châu, Tám Dân, có căn cứ C40 (một trung đội) và du kích.

Cụm IV gồm các xã Thái Bình B, Phước Vinh, do đồng chí Hoàng Sa, Thường vụ huyện ủy làm chỉ huy trưởng, đồng chí Tư Ròm, Tư Sơn, thường vụ huyện ủy làm chỉ huy phó, từng lúc có tăng cường cán bộ. Lực lượng vũ trang tại đây có B7/C40, B13, một bộ phận B12 và 2 đại đội du kích của xã, từng lúc có sự hỗ trợ của sư đoàn 9 chủ lực Miền, lực lượng ATK, tiểu đoàn 14…

Tháng 11/1965, trận đánh đầu tiên của Vành đai nổ ra ở cụm 1, tại các ấp Bầu Ràu, Bàu Đưng xã Thanh Điền.

Sáng sớm địch cho pháo bầy từ các nơi: Bến Kéo, Cẩm Giang, Giang Tân, Núi Bà, Ngã ba Vịnh, Tua Hai, Ocônel, Mỏ Công, Bến Sỏi dồn dập trút đạn pháo 105 ly, 155 ly vào khu vừng còn lại của Bàu Ràu, Bàu Đưng, diện tích không đầy 10 ha. Sau đó đủ các loại máy bay thi nhau ném bom, bắn rốc-két, có pháo cối 106 ly, 7 ly. Giang thuyền Bến Sỏi trên sông Vàm Cỏ Đông cùng bắn vào yểm trợ cho tiểu đoàn bộ binh Mỹ và 1 chi đoàn xe bọc thép ra quân đầu tiên trên mảnh đất này. Lực lượng của ta tại đây chỉ có 2 trung đội, 2 đội du kích xã, tổng cộng khoảng 70 đồng chí, tran bị 1 cối 60, 2 trung liên và trường bá đỏ, một ít súng AK.

Pháo địch gần như bắn nát khoảnh rừng còn lại, các vật ngụy trang trong công sự trú ẩn của C40, B12, du kích bị phá sạch, anh em rấp rút ngụy trang lại, tiếp tục bám hầm sẵn sàng chờ địch. Địch tưởng rằng các đợt dọn bãi đã quét hết “Việt cộng” chúng cho hàng chục xe M113 càn vào gần đến trận địa. Trong lúc đó trực thăng đổ quân xuống bãi trống, bọn lính nhảy ra chưa hết, du kích đã bắn quyết liệt, cối 60 rót trúng vô đội hình địch. Quân Mỹ chết, bị thương kêu la inh ỏi, nhưng vẫn giữ thói quen tập hợp đội hình đúng như mệnh lệnh rồi mới tấn công. Du kích tiếp tục nã đạn không cho chúng tập hợp. Bọn Mỹ chết mỗi lúc một nhiều, chiến sĩ ta càng đánh càng hăng hái phấn khởi, lên khỏi công sự xáp vào địch mà đánh. Đến 17 giờ, Mỹ chấm dứt cuộc tấn công, chúng gọi trực thăng chở xác chết và bị thương về Trảng Lớn, nhưng trực thăng vừa hạ xuống thấp, du kích lại nổ súng, 1 chiếc bị rơi đầu tiên, trực thăng không lấy xác được. Cuối cùng chúng gọi pháo, tăng M113 yểm trợ giải vây.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:57:52 PM
Cụm 1 đã lập công đầu trên vành đai, diệt và tiêu hao gần 1 đại đội Mỹ, bắn rơi 1 chiếc trực thăng.

Nghe súng nổ dữ dội, bà con Thanh Điền lo cho các chiến sĩ ta nên tìm cách theo dõi, những người ở gần tận mắt thấy Mỹ chết, bị thương mừng quá chạy loan tin cho nhau từ đầu xóm đến cuối xóm. Bà con hết sức phấn khởi chuẩn bị cơm, thịt, bánh, thuốc lá sẵn, chờ ngướt tiếng súng đem ra cho anh em ở trận địa.

Sau trận này, đồng chí Năm Nghĩa huyện đội phó phụ trách C40 xin ý kiến và được sự nhất trí của đồng chí Hai Bạch bí thư huyện ủy trực tiếp chỉ đạo trận đánh, tạm thời phân tán lực lượng khỏi trận địa tránh địch dùng phi pháo hủy diệt. Quả nhiên lực lượng vừa phân tán, địch đã bắn pháo cấp tập vào trận địa. Biết được âm mưu của địch, lực lượng du kích chia nhỏ đánh lẻ từ xa, đồng thời luân phiên nhau bám lại trận địa để cơ động đánh địch.

Qua trận này, lực lượng cụm 1 tổ chức rút kinh nghiệm và kết luân: chỗ mạnh của Mỹ là hỏa lực, do đó công sự của ta phải chắc chắn, đủ sức chịu đựng bom pháo, đồng thời phải biết linh hoạt cơ động, bám sát địch khi tác chiến, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh thì mới tránh được phi pháo. Đánh xong phải di chuyển ngay đội hình. Kinh nghiệm này được phổ biến rộng rĩa trong lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh.

Trận đầu của vành đai, ngoài những tên chết vì súng đạn còn có 36 tên chết vì lọt hầm chông, bãi trái… Qua đó, ta cũng thấy rõ khả năng kết hợp thế trận chiến tranh nhân dân đã bày sẵn với hỏa lực dồn địch vào cạm bây theo ý định của ta để tiêu diệt chúng. Trận này cũng chính là một cách thắng Mỹ với với lực lượng chiến tranh nhân dân tại chỗ của quân dân Tây Ninh.

Thua đau, địch dùng bom pháo bắn phá địa bàn cụm 1 rất dữ dội. Chúng cày đi xới lại không biết bao nhiêu lần, bứng từng gốc cây, đốt từng ngọn cỏ, cho trực thăng quần rà từng lùm cây mua, bụi dứa… một đám lục bình trôi trên sông Thanh Điền cũng bị chúng đánh lựu đạn nhằm diệt “Việt cộng” đi ngầm dưới nước.

Khó khăn gian khổ, đói khát ngày càng ác liệt, nhưng cán bộ, du kích xã, lực lượng vũ trang huyện vẫn một lòng một dạ cùng với đồng bào Thanh Điền bám trụ đánh địch cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Ở cụm IV nổi lên trận điển hình Sa Nghe, Suối Ông Đình thuộc xã Thái Bình B nằm cặp lộ 22.

Song song với đổ quân càn cụm 1, Mỹ đổ quân vào cụm IV để đánh nống ra nhằm tạo vành đai trắng giữa vùng tiếp giáp với căn cứ địa kháng chiến, bảo vệ an toàn cho Trảng Lớn. Do đó, Mỹ ngụy đã dốc phi pháo, bộ binh, xe tăng càn quét vùng này có tính chất hủy diệt.

Sau khi bắn pháo và máy bay dọn bãi, từ mở sáng đến 9 giờ, 1 tiểu đoàn Mỹ càn vào Chòm Dừa, Sa Nghe. Địch vừa tiến bằng đường bộ binh, vừa đổ quân bằng trực thăng. Lực lượng ta ở đây chỉ có 1 tiểu đội của B7/C40, B12, cùng một tiểu đội du kích do anh Quẹo (Bùi Văn Thuyên) chỉ huy. Ròng rã một ngày, lấy 1 chọi hơn 10, ta đã chống trả 15 đợt xung phong của Mỹ diệt 37 tên, bắn rơi 1 trực thăng và làm nhiều tên bị thương. Nổi bật là tài gài trái và gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí Quẹo. Anh nhử cho bọn Mỹ rượt theo vì chúng có ý định bắt sống rồi giả té để gài lựu đạn rồi chạy tiếp, bọn Mỹ chạy tới đạp trái nổ chết. Cứ mỗi lần như vậy, anh gài xong một trái, địch chết hết tên này đến tên khác, đành phải bỏ cuộc. Anh còn nghi trang bò ra đường, gài trái đánh xe địch nhiều lần, diệt hàng chục xe. Đội du kích do anh Quẹo chỉ huy kết hợp với B12, cối 60, 81 của B13 (nữ pháo binh) diệt trên 200 tên Mỹ. Đặc biệt trận Suối Ông Đình, du kích của anh và B7/C40 phục kích đánh cấp tập làm quân Mỹ hoảng chạy đạp lên nhau để bám níu trực thăng rời trận địa. Có nhiều tên lên không kịp phải chạy lủi vào ấp chiến lược nài nỉ dân đưa về Trảng Lớn.

Đồng bào ở đây đa số là tín đồ Cao Đài, họ hiểu cách mạng không nhiều và chưa tận mắt thấy bộ đội xông trận, nay tận mắt thấy tai nghe, họ rất cảm phục bộ đội, du kích.

Sau 2 trận đọ sức, ta còn đánh quyết liệt với Mỹ ở Bàu Sen, Chòm Dừa, Vịnh, đột kích Cây Xiêng,bắn pháo vào Tua Hai. Riêng trận Bàu Sen, C40 của đội du kích anh Quẹo đánh với địch suốt ngày diệt trên 300 tên Mỹ. Trận này, đồng chí Quẹo bị thương đổ ruột, tự cầm ruột nhét vào rồi băng lại, tiếp tục đánh địch không rời trận địa. Chiến đấu trên “vành đai” này, đồng chí Quẹo đã mang trên mình 72 vết thương vẫn vững vàng bám chặt địa bàn đánh lui nhiều dợt tấn công của địch. Đồng chí đã được chính phủ tuyên dương anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngoài các trận đánh của bộ đội huyện, du kích xã, tại cụm IV còn có sự tham gia đánh Mỹ của sư đoàn 9, d14 lực lượng an toàn khu. Bộ đội đặc công đã nhiều lần dột nhập vào căn cứ Trảng Lớn đốt kho tàng, bắn cháy nhiều xe, diệt trên 100 tên Mỹ. Đội nữ pháo binh huyện hợp đồng chặt chẽ với lực lượng trên đặt giàn ĐKB, H12 tại Bàu Sen pháo kích vào Trảng Lớn. Địch phản pháo dữ dội, đội pháo B13 lập tức đặt cối 81 tại xã Thái Bình A bắn vào Trảng Lớn, kéo địch về phía mình, bảo vệ bạn. Ban ngày chị em giả dân trà trộn trong đồng bào đi làm ăn để quan sát điểm cho pháo bắn trúng mục tiêu làm cho địch bị nhiều trận bất ngờ thiệt hại nặng, có lần đội pháo B13 đã diệt 32 tên sĩ quan Mỹ tại Trảng Lớn. Chị em có nhiều mặt khó khăn hơn chiến sĩ nam nhưng với quyết tâm diệt giặc Mỹ xâm lược, chị em vẫn liên tục vượt sông, vượt đầm lầy, vận động hàng chục cây số, đảm bảo được yêu cầu chiến đấu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:58:30 PM
Mặc dù địch quyết tâm lập vành đai trắng, ta vẫn kiên trì vận động cấy dân tạo thế 2 chân, cấp đất cho đồng bào kể cả đồng bào tín đồ Cao Đài ở Tua Hai, Mỏ Công, Suối Ông Đình, Trại Bí. Nhờ vậy đồng bào vẫn ra vào canh tác trồng trọt, ta xây dựng cơ sở, nắm địch tình, giữ được vùng và chống âm mưu phân tuyến của địch.

Cụm III nổi lên trận Bắc Rù và Gò Nổi (Ninh Điền).

Sau các trận đánh ở Sa Nghe, Suối Ông Đình, Bàu Sen, Bàu Đưng, quân Mỹ mở cuộc càn vào Bắc Rù (Ninh Điền). Nơi đây còn rừng nhưng không có dân, là căn cứ đứng chân của C40 và du kích. Ý định của địch đánh vào đây là quét ta khỏi tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông để bảo vệ căn cứ Trảng Lớn và hành lang vận chuyển trên sông. Lực lượng ta ở đây chỉ có 1 trung đội (thuộc C40) địch vẫn phải dùng phi pháo để dọn bãi, bắn phá hủy diệt, rồi đổ xuống 1 tiểu đoàn Mỹ. Trong lúc đó, biệt kích Mỹ ở Bến Sỏi phối hợp thọc sau lưng ta.

Rút kinh nghiệm những trận trước C40 chia thành nhiều múi nhọn thọc sâu vào đội hình địch, đồng thời tổ chức đánh bọn biệt kích phía sau để phá thế bao vây. Phía trước, phía sau đều nổ súng, địch tưởng quân ta đông không dám hùng hổ xong tới. C40, du kích diệt trên 100 tên Mỹ, bọn biệt kích hoảng sợ chạy thục mạng về Bến Sỏi.

Phán đoán ta không thể nào bỏ chỗ dựa để đưa lực lượng sang sông về Thanh Điền, Thị xã, nên sau trận này, địch chuẩn bị lực lượng lớn hơn để tiêu diệt ta ở Gò Nổi. Chúng tổ chức thành nhiều mũi tiến công, giang thuyền Bến Sỏi xuống, tàu Mỹ ở Bến kéo lên, trên bộ có bộ binh, xe tăng, các cụm pháo xung quanh bắn vào, trên không thì máy bay bắn liên tục. Lực lượng ta chỉ có 2 trung đội thuộc C40, B12, B13 và đội du kích liên xã Ninh Điền – Hảo Đước. Địch đông ta ít nhưng có kinh nghiệm chống càn, có lòng tin, và mỗi người đều quyết tân phấn đấu trở thành dũng sĩ diệt Mỹ, ta đã chủ động bố trí trận địa sẵn sàng chờ giặc. Địch từ nhiều hướng thọc vào, trung đội nữ pháo binh phải dùng cối bắn vào đội hình địch, B12, C40, du kích xông tới dùng cả lưỡi lê đánh giáp lá cà, phi pháo địch mất tác dụng, chiến sĩ ta dũng cảm xung phong áp đảo địch trên trận địa, giết chết và làm bị thương hơn 300 tên Mỹ, đạt kỷ lục về hiệu suất diệt địch trong một trận chống càn trên vành đai. Trận thắng này có ý nghĩa rất quan trọng: địch phải chùn lại, “vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn” ngày càng siết chặt.

Với thắng lợi ở Bắc Rù, Gò Nổi Ban chỉ huy cụm quyết định tổ chức phá ấp chiến lược Bến Sỏi – Phước Tân và truy lùng biệt kích mở đường đi lại trên lộ 13. Đêm phá ấp chiến lược, phá rào kẽm gai, ban bờ thành, quần chúng bên trong nổi dậy xé cờ ba que, xé tờ khai gia đình kết hợp bên ngoài gài trái, đào hầm chông, cắm bảng tử địa dọc theo hàng rào. Sáng hôm sau, địch đến khủng bố buộc đồng bào phải đắp lại bờ thành. Bị đồng bào đấu lý “Việt cộng đã gài trái, ra đỏ bỏ mạng”. Những tên ác ôn ngoan cố đi vào đạp trái nổ, lọt hầm chông, bọn chúng hốt hoảng, hết hung hăng. Phát huy thắng lợi, đồng bào tiếp tục đấu tranh đi đến phá hỏng cả hình thức lẫn nội dung ấp chiến lược này. Trong lúc đó bộ đội tiến công bọn biệt động Mỹ ở Bến Sỏi, trục lộ 13. Chúng buộc phải co lại. Từ đó ta tiến lên làm chủ đoạn đường 13 Bến Sỏi - Phước Tân, việc đi lại dễ dàng hơn.

So với các cụm khác, cụm II là nơi địch dùng bom phá đánh phá ác liệt nhất vừa để triệt hạ ta, vừa để xúc tát dân bằng vũ lực. Hảo Đước là đất căn cứ của huyện Châu Thành, là tuyến trước của vùng giải phóng rộng lớn, cho nên để bảo vệ căn cứ Trảng Lớn, địch coi đây là một trong những trung tâm đánh phá, bắn pháo tới tấp, trái này nổ chồng lên trái kia.

Khi Mỹ đổ quân xuống vườn Mít (Hảo Đước) gần căn cứ huyện Châu Thành, lực lượng ở đây chỉ có bảo vệ cơ quan và du kích xã. Cho nên, trận đánh không phải xảy ra bằng hỏa lực của hai bên đối chọi nhau, mà bằng thế trận chiến tranh nhân dân với những bãi trái, hầm chông được bố trí dày đặc của ta chống vũ khí hiện địa của địch. Quân Mỹ tiến vào, du kích xã và lực lượng bảo vệ cơ động bắn tỉa, dụ chúng lấn sâu vào bẫy diệt hơn 50 tên. Chúng hốt hoảng gọi trực thăng đến rước về, cuộc hành quân bị bỏ dở.

Ở cụm này, quần chúng Bến Trường còn đương đầu với hơn 500 tên ngụy, nhiều tiểu đoàn Mỹ càn vào đây để tìm diệt cơ quan đầu não của huyện. Cũng bằng hình thức hầm chông bãi trái dày đặc ở Bến Trường, Đất Sét, Bình Lợi, Xóm Chùa, Giáng Hương và du kích bắn tỉa, bọn chúng đi đến đâu đều bị diệt đến đó. Rất đặc biệt ở đây là tất cả nhân dân trong xã cùng tham gia đánh địch. Bà con không chỉ đào hầm cắm chông mà còn chiến đấu thực sự như trường hợp mà Năm Mía và con gái (Út Nhiều) xông xáo làm liên lạc cho mặt trận, phát hiện giặc báo cho bộ đội bắn diệt từng tên.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:58:52 PM
Những chiến thắng liên tiếp của “vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn” đã chứng tỏ tinh thần quyết tâm đánh Mỹ của quân dân Châu Thành. Đế quốc Mỹ dùng phương tiện chiến tranh hiện đại có gây nhiều khó khăn cho các chiến sĩ “vành đai”, nhưng với lòng căm thù giặc sâu sắc, quân dân Châu Thành đã khắc phục khó khăn, tìm phương cách đánh Mỹ đầy sáng tạo, dũng cảm đã gây cho địch nhiều thất bại nặng nề, góp phần chia lửa cho chiến trường chung, giữ vững trận địa cho đến ngày toàn thắng. Ngoài ra, lực lượng tại chỗ cũng tạo điều kiện cho bộ đội trên tấn công vào căn cứ Trảng Lớn, có trận làm chết và bị thương từ 200 đến 400 tên Mỹ. Trong phần chiến công chung, đội nữ pháo binh B13 đã lập được những thành tích xuất sắc, bắn hàng trăm quả pháo vào căn cứ Trảng Lớn, gây cho Mỹ nhiều thiệt hại về người và phương tiện chiến tranh.

(https://lh3.googleusercontent.com/QIiya0_emvdZ_aGL-7ifcG-DeKUWZxb89tEkMK-GglFjxHGKlqflrlNEllltnQPOp4Zhd34kYR-BD1JcPCxAx0F4Xu6lpQ7qfoEXIZQkGHmwd5xHKMjMJb3rx0W9Xdn246TFJPcAiKyAyCjIS4yuOiMutqUMuFy-vGNpIPygjGSIyENrLDoU6GNp63GQXx76yHP7ZHOz6FCQz_V2_u7HXBLRzcrw-DyerZaxiHCP3bpQ9c_OrBid6u2dVqr-nPtAwu3Gw_sPsS1NLLpe4I5g_gJoWVIWJSGNZRm19fXSoWipCXvGh71d3Ow-CLkJGLuUYtd13fi9YppJ7pbblTOeDaxKR60NJXdg5CYgczAiIGdZF-EskWJz47f_XDznWmwo04wUyB0t-kCYu0qcVggvSUPjsT3RsUC6FRY4KhWSBIsBlSyo0mBcn4jOqviLCc33cPShPHNW70DUUui7n-gShfUeIQb1A0YsApYf9j26gKz2kHrmz80uVm4TpYNbtCKA6uHqIU7sPYZe6Ne84JDGUSwxh17zLeQ069xlfgv4gcZiAJl8dMpFh6SrOgfbQcrmi1YmK2g78Wku1K7flYDw2MdHGKc6eLfMZbRtlp8=w528-h832-no)

Hòa chung với khí thế thắng Mỹ ở “vành đai”, trên chiến trường Tây Ninh lực lượng ta liên tiếp bẻ gãy nhiều cuộc càn của Mỹ - ngụy.

Ở An Tịnh (Trảng Bàng), trước đó địch đã thường xuyên tấn công vào địa đạo An Thới và đều bị du kích đánh bật ra. Ăn không ngon ngủ không yên với cái bót “Việt cộng” này, chúng lại tiếp tục tấn công vào địa đạo. Lần này địch sử dụng 600 tên từ Trung Hòa đưa lên có 1 chi đoàn xe tăng của Mỹ ở Đồng Dù yểm trợ. Chúng chia làm 3 mũi: cánh thứ nhất từ thị trấn Trảng Bàng xuống ngã ba Biện Sen đánh vào, cánh thứ hai từ Suối Sâu vào Lợi Hòa Đông, giăng ngang Xóm Mới, Cây Dương; cánh thứ ba từ Trung Hòa cắt ngang qua Lộc An – An Thới. Đúng 7 giờ cánh thứ 3 tập trung đến ụ chiến đấu, nhưng không phát hiện được ụ vì ta nghi trang kỹ. Chờ chúng đến cách 10 mét ta nổ súng diệt 2 tên tại chỗ. Cánh Biện Sen vào cách 15 mét ta nổ súng diệt 8 tên. Địch lui ra chi phi pháo đánh phá và tổ chức nhiều đợt xung phong khác, nhưng đều bị ta đánh bật ra. Chúng cho xe M48 vào phun lửa nhưng lại bì trái gài nổ đứt xích, một trung đội công binh Mỹ liều mạng mò vào đánh trái cay hòng làm cho du kích và công binh ta cay mắt thụt xuống hầm địa đạo để dùng thuốc nổ phá ụ. Khi 2 tên công binh Mỹ ôm 20 kg thuốc nổ nhảy xuống địa đạo, đồng chí Nguyễn Văn Thắng, tiểu đội trưởng công binh tỉnh, đặt trái ĐH10 tại cua quẹo dưới địa đạo châm điện nổ tung xác 2 tên Mỹ lên miệng hầm địa đạo. Hành động này rất táo bạo vì có thể nguy hiểm cho chiến sĩ ta, nhưng nếu chần chờ thì không bảo vệ được địa đạo. Địch gọi trực thăng từ Đồng Dù lên lấy xác. Thấy vậy đồng chí Nguyễn Văn Lực đội trưởng công bịnh lại bố trí 2 trái ĐH10 nổ, chiếc trực thăng rơi luôn tại chỗ. Sáng tạo này sau đã giúp ta kinh nghiệm đánh trực thăng rà sát trận địa để phát hiện công sự.

Cả 3 mũi địch lại tiếp tục tổ chức tấn công địa đạo, nhưng tất cả 7 đợt xung phong đều bị ta bẻ gãy; ta diệt 30 tên ngụy, 10 tên Mỹ, 2 trực thăng, 1 xe tăng, đây chính là trận đầu An Tịnh đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Trận thắng đầu có sức cổ vũ lòng tin của quân dân Trảng Bàng và khả năng xã ấp chiến đấu, địa đạo chiến đấu có thể đánh thắng giặc Mỹ có vũ khí hiện đại. Qua trận thắng đó, các đồng chí Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Lực được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3 và tập thể du kích, công binh B10, trung đội huyện cũng được thưởng Huân chương chiến công hạng 3.

Ngày 12-11-1965, tiểu đoàn 14 phục kích và đánh vận động tiêu diệt gọn 1 đại đội bảo an ở Trảng Đầu.

Cũng tại trảng Đầu ngày 6-12-1965, tiểu đoàn 14 phục kích và đánh vận động tiêu diệt 1 đại đội của Sư đoàn 25 ngụy đi mở đường.

Ở Gò Dầu, Bén Cầu, Dương Minh Châu ta tiếp tục đánh phá bình định, chống càn quét, chống bảo an, dân vệ bung ra tạo thế bao bó địch ở vùng ven.

Cùng với những thắng lợi của chiến trường miền Đông diệt Mỹ, quân dân Tây Ninh ra sức chuẩn bị chiến trường để bước vào mùa khô 1965-1966.

Bước đầu giai đoạn hai của kế hoạch “ba giai đoạn” để thắng ta trong thời gian ngắn nhất, đế quốc Mỹ vạch ra kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất với chiến lược “tìm diệt” ở phía trước và “bình định” ở phía sau. Chúng đã dùng 16 tỷ bạc (tiền miền Nam) để chi phí cho cuộc phản công này với mục tiêu là “bẻ gãy xương sống Việt cộng” như chúng khoác lác hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Cuộc phản công được chia làm ba bước.

- Bước thứ nhất dùng quân lực mạnh và tập trung tiêu diệt lực lượng kháng chiến.

- Bước thứ hai: dùng lính địa phương quân (bảo an) củng cố an ninh.

- Bước thứ ba: cử các đoàn cán bộ bình định xuống phá cơ sở Việt cộng, xây dựng chính quyền, kiến thiết hương thôn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:59:37 PM
Ở Tây Ninh quân Mỹ tập trung lực lượng cùng chư hầu và Ngụy ở các cuộc hành quân qui mô, liên tiếp sử dụng chất độc hóa học, phi pháo đánh vào vùng tranh chấp, vùng giải phóng mang tính chất hủy diệt, triệt hạ từng vùng, vừa diệt lực lượng vũ trang và cơ quan, vừa uy hiếp nhân dân. Một đêm địch sử dụng từ 500 đến 600 quả đạn pháo bắn vào vùng đông dân như An Tịnh, Lộc Hưng, Gia Lộc, Thạnh Phước và liên tục nã pháo vào căn cứ lõm của Phước Thạnh, Thạnh Đức, các vùng sâu Dương Minh Châu, Rừng Nhum… Đầu tháng 11/1965, lần đầu tiên Mỹ dùng B52 thả hơn 100 tấn bom ở Bà Hảo (Dương Minh Châu), ngày 15-11-1965, B52 lại thả 100 tấn bom ở chiến khu Bời Lời để đánh tinh thần nhân dân, phá thực lực cách mạng, làm cho lực lượng vũ trang của ta không thể bám vào dân, vào vùng ven, vùng tranh chấp, buộc phải rút về rừng núi vừa đẩy ta ra xa, vừa gom lại để diệt bằng chất độc hóa học và B52. Đi đôi với những hành động quân sự quyết liệt, địch triển khai bình định ở vùng có dân, gọi là “mặt trận thứ hai” với phương châm “giành dân chiếm đất” tức là trước hết “giành trái tim khối óc người dân” chứ không phải chiếm đất giành dân như trước. Tuy nhiên, do gốc phản dân hại nước của nó, chúng vẫn phải tiếp tục dùng biện pháp đẫm máu, chà đi xát lại đốt phá, cưỡng bức để thực hiện gom tát dân. Chúng dùng lực lượng tại chỗ càn quét, chà xát liên tục ở vùng yếu cố triệt hạ hoặc trục xuất các lực lượng của ta ra khỏi các vùng chúng định bình định. Đi đôi với sắt thép, pháo bầy, B52 rải chất độc hóa học và dùng chiêu bài “tranh thủ trái tim” người dân để họ rời bỏ cách mạng vào trong cái gọi là “ấp chiến lược”. Mặc dù đời sống, sinh hoạt chỗ ăn ở không ổn định, vất vả, ác liệt, gian khổ bởi mật độ chiến tranh gia tăng, quần chúng vẫn một lòng hướng về cách mạng. Địch đưa trực thăng đến xúc đi, quần chúng dựng lên nhà khác ở trên mảnh đất chôn nhau cắt rốn, thi gan với bom đạn Mỹ vừa chiến đấu, vừa sản xuất nuôi quân. Ở vùng ven, vùng yếu địch có khoanh được ấp chiến lược, nhưng trái tim người dân không bao giờ chiếm được. Ngược lại trong bờ rào ấp chiến lược vẫn tồn tại cơ sở cách mạng có nơi quần chúng giấu cán bộ, nắm địch tình phục vụ cho lực lượng vũ trang đánh địch, diệt ác ôn trong ấp chiến lược và không ngừng đấu tranh trực diện với địch giải quyết đời sống đòi tự do đi lại làm ăn. Điều đó, khẳng định “cách mạng là của dân, dân là cách mạng” đế quốc Mỹ không thể quét sạch hay tách đôi giữa cách mạng và quần chúng.

Song song với áp lực quân sự, đế quốc Mỹ còn dùng thủ đoạn chính trị, lừa mị, dùng tiền, phương tiện sinh hoạt, cải cách điền địa, chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, dụ dỗ mua chuộc để tranh thủ trái tim người dân. Mặt khác chúng bày trò ly khai, cưỡng bức gia đình các mạng chống lại cách mạng và cưỡng bức phụ nữ có chồng kháng chiến phải lấy lính ngụy, nhưng mọi hành động của chúng đều chuốc lấy thất bại.

Đầu năm 1966, quân Mỹ tiến hành chiếm đóng một số chốt như Mỏ Công, Cần Đăng, Samát, trên lộ 22, Bàu Cỏ, Đồng Pan, Kàtum, ộ 4, xây dựng sân bay Thiện Ngôn (Tân Biên) và mở rộng các sân bay Thị xã, Trảng Lớn, Trâm Vàng, Suốt Đá, đồng thời dùng quân ngụy có Mỹ yểm trợ càn quét liên tục mở rộng các chốt đóng quân và ở các trục lộ 1, 22, 19, 13, 26.

Khi đã triển khai các quna đều khắp, sau giai đoạn mở đầu “tìm hiểu khả năng của ta, và tập sự cho lính Mỹ, chư hầu quen chiến trường”, đế quốc Mỹ bắt đầu ra sức tấn công toàn diện bằng kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất với ý đồ “giành lại quyền chủ động chiến trường, quyền kiểm soát nông thôn”.

Ngày 24-1-1966, đế quốc Mỹ tập trung lực lượng mở chiến dịch 5 mũi tên đánh vào vùng giải phóng và các căn cứ của ta trên toàn miền Nam. Trên chiến trường miền Đông, quân Mỹ mở 8 cuộc càn, trong đó có 3 cuộc càn vào rừng núi Tây Ninh, chiến dịch này chúng chia làm 2 đợt.

Đợt một, để chuẩn bị cho cuộc càn “Mastiff” đánh vào Bời Lời, địch sử dụng 2d/E49/F25 Ngụy càn quét định khu vực Tân Phú Trung, Củ Chi, An Tịnh nhằm giữ an ninh lộ 1 cho hành lang vận chuyển quân Mỹ vào càn Bời Lời, Bàu Đồn, Bà Nhã, nhằm phá thế liên hoàn của vùng ranh 3 huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu tạo thế bao vây tấn công vào căn cứ địa của Miền. Quân Mỹ đã sa vào thế trận hầm chông, bãi trái dày đặc, trên khắp địa bàn có chiến sự. Các đơn vị, công binh, đặc công, trinh sát, đội bảo vệ căn cứ, ban giao lưu tỉnh đã dựa vào địa đạo Bời Lời kết hợp với giao thông hào đã phát huy tác dụng chiến đấu diệt hàng trăm tên Mỹ giữ vững vùng căn cứ. Đến ngày 27/2/66 Mỹ buộc phải kết thúc cuộc hành quân này.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 06:59:59 PM
Ngày 1/3/1966, Mỹ lại mở cuộc càn “Hattisburg” sử dụng lữ đoàn 2 thuộc sư đoàn 25 Mỹ và 3 tiểu đoàn của sư 25 ngụy càn giải tỏa áp lực của ta ở khu vực Bến Cầu.

Sau 1 ngày dội bom pháo cấp tập, địch chia nhiều cánh quân tiến vào, cánh thứ nhất đo trực thăng đổ xuống Làng Cát, cánh thứ 2 từ Vên Vên qua Rồng Giá, cánh thứ 3 từ Gò Dầu lên. Khi chúng tiến quân vào, du kích và bộ đội huyện triển khai lực lượng phân công địa bàn bám địch, bộ đội huyện tổ chức đánh địch, vòng ngoài ở khu vực địa đạo Bàu Cỏ, lực lượng du kích bám các ụ chiến đấu. Chờ cho quân Mỹ tiến tới gần địa đạo khoảng 10m, du kích nổ súng diệt hơn 10 tên Mỹ, bọn chúng bắn lại xối xả, nhưng không dám vào lấy thây, phải gọi trực thăng đến, vừa hạ xuống thấp đã bị du kích dùng súng trường bắn bị thương. Chúng hoảng sợ bay đi nhưng lại rớt tại ấp chiến lược Ngã tư. Mới tấn công đợt đầu đã bị bẻ gãy, chúng gọi pháo bắn liên tục vào địa bàn và tổ chức nhiều đợt xung phong nhưng đều bị du kích đánh bật ra.

Cùng với cuộc hành quân này ở phía sau địch ra sức gom dân ở Long Giang, Long Chữ, Tiêu Thuận. Đến ngày 5/3/1966 cuộc hành quân chấm dứt đợt 1.

Đợt 2 từ tháng 4 đến tháng 6/1966, trên chiến trường Tây Ninh, Mỹ ngụy mở cuộc hành quân “Birmingham” và An Dân 79/66 đánh vào căn cứ Dương Minh Châu với lực lượng lữ 173 dù, 2 lữ thuộc sư 1 Anh Cả Đỏ càn quét trong phạm vi tương đối rộng từ Tà Păng, Lò Gò, Bàu Cỏ, Sóc Ky đến Suối ông Hùng, Bến Củi.

Ngày 26/4/1966, chúng dùng chiến thuật “thiết xa vận” từ Bến Súc vượt sông Sài Gòn càn vào Lộc Thuận (Lộc Hưng - Trảng Bàng) lực lượng du kích kết hợp với tiểu đoàn 14 phục kích đánh tan đội hình “thiết xa vận”.

Ngày 15/5/1966, Mỹ tiếp tục mở cuộc hành quân với lực lượng 2 lữ đoàn thuộc sư 25 Mỹ đánh vào Bời Lời, Lộc Hưng, An Tịnh, ở Lộc Hưng quân Mỹ cụm tại Bàu Rông, du kích đã độc lập tiến công diệt trên 30 tên, số còn lại địch phải dùng trực thăng bốc đi. Cùng hời điểm này địch dùng chiến thuật “trực thăng vận” đổ quân xuống địa bàn An Thới (An Tịnh), du kích xông lên đánh phủ đầu đội hình của chúng trước khi xuất kích.

Các cuộc hành quân của Mỹ có ý định nới rộng vòng đai an toàn cho căn cứ Mỹ và đánh thăm dò cả 2 hướng: hướng đông từ Trảng Bàng lên Bời Lời đến Dương Minh Châu; hướng Tây cặp biên giới từ Bến Cầu lên Ta Păng, Lò Gò, Sóc Ky, Bàu Cỏ; Hai hướng này gặp nhau ở lộ 4 Bàu Cỏ nhằm tạo thế bao vây chủ lực ta. Nhưng sức tiến công liên tục của quân dân ta trên các chiến trường đã phá vỡ kế hoạch của chúng, buộc phải kết thúc sớm cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965-1966 trước tháng 6-1966.

Hành quân trên chiến trường Tây ninh, quân Mỹ sử dụng mật độ bom pháo rất ác liệt.

Về phi cơ, trung bình rong mỗi đợt hành quân, như “Mastiff”, “Hattisburg”, “Birmingham” không quân Mỹ được sử dụng từ 250 đến 388 lần chiếc đánh phá liên tục. Đặc biệt ở khu vực Bời Lời các lại máy bay đánh bất kỳ ở đâu, khi ngang Bời Lời (chúng gọi là vùng hủy diệt tự do) đều trút cho hết bom rồi mới về Sài Gòn, Biên Hòa.

Về cơ giới, do địa hình Tây Ninh bằng phẳng không có đồi dốc, nên địch sử dụng cơ giới rất thuận tiện. Ở vùng ven khi địch mở đường vào vùng tranh chấp, địch dùng từ 1 đến 2 chi đoàn thiết giáp (khoảng 15 đến 30 xe). Nếu vào căn cứ, địch dùng số lượng nhiều hơn.

Với chất độc hóa học, đế quốc Mỹ đã sử dụng rất nhiều khắp Tây Ninh, nhất là vùng Bời Lời (Trảng Bàng), Bà Hảo (Dương Minh Châu). Chúng dùng chất độc hóa học có nồng độ cao ngoài loại rải phun còn có loại chứa trong thùng phuy do phi cơ thả xuống, loại này không tan nhanh mà từ từ khuếch tán nên thời gian nhiễm đốc kéo dài. Có thể nói hầu hết rừng Tây Ninh chỉ còn cây trụi lá.

Về pháo binh thông thường chúng sử dụng từ 15 đến 20 khẩu để pháo dọn đường và yểm trợ càn vào vùng ven, càn vùng tranh chấp phải từ 40 đến 70 khẩu, các vùng Bời Lời, Dương Minh Châu… từ 100 đến 120 khẩu, cũng có trận chúng dùng pháo ít đạn nhiều nên mật đổ hỏa lực vẫn cao.

Trên chiến trường Tây Ninh ngoài số quân thường trực Mỹ thường sử dụng cấp lữ đoàn của nhiều sư đoàn ghép lại hoạt động. Thường xuyên có mặt từ 1 đến 2 lữ đoàn của sư 1, sư 25, và lữ 173 dù. Còn lữ 196 chủ yếu lo càn quét bảo vệ khu vực Trảng Lớn. Trong các cuộc hành quân, quân Mỹ giữ vai trò xung kích trực tiếp đối phó với chủ lực của ta. Vai trò và tác dụng quân Ngụy ở đây là đánh phá vùng ven và lo bình định vùng yếu. Do sức lực giảm sút nhiều chúng không đủ sức giữ an ninh các trục lộ giao thông chiến lược, nên khi có vận chuyển, quân Mỹ phải tiếp sức ngụy để đảm bảo an ninh trục lộ, thường là đưa lực lượng tăng cường nhằm thay đổi tương quan lực lượng để phá kế hoạch ta. Phản ứng của chúng rất nhanh, đường số 1, 22 bị ta chặn đánh tắt nghẽn vài gờ, chúng sẽ đổ bộ quân của sư 25 Mỹ hoặc sư 1 hay lữ 173 giải tỏa. Để cơ động nhanh, lực lượng phổ biến là cấp lữ đoàn Mỹ, chiến đoàn Ngụy có tăng cường xe tăng, thiết giáp, pháo binh và dưới sự yểm trợ đắc lực của không quân. Tuy nhiên, càng về cuối mùa khô (tháng 5 đến tháng 6/1966) lực lượng Mỹ càng bị căng kéo đối phó ở các hướng Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bà Rịa, Long An, Sông Bé, nên Mỹ có xu hướng bảo toàn lực lượng, tránh đụng độ lớn với chủ lực của ta. Khi nào nắm chắc lực lượng ta mới điều quân đánh, còn chủ yếu là nghi binh cho ta bộc lộ lực lượng, thoát ly công sự để chúng dùng phi pháo, chất độc hóa học sát thương, tiêu hao ngăn chặn ta dùng bộ binh trực tiếp đối phó.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:01:06 PM
Cùng với những cuộc hành quân càn quét, Mỹ còn tổ chức nhiều toán biệt kích, thám báo luồn sâu vào rừng để phát hiện đường hành quân, kho tàng… chỉ điểm cho phi cơ đánh phá, bắt cóc cán bộ lấy tài liêu. Ở những bến bãi cặp đường vận chuyển của ta, Mỹ còn thả máy thu tiếng động báo cho pháo, phi cơ đánh phá.

Trước đối thủ có đầy đủ phương tiện chiến tranh hiện đại, quân dân Tây Ninh tỏ rõ sức mạnh của mình bằng thế trận chiến tranh nhân dân bằng phương thức tác chiến sáng tạo linh hoạt, biến hóa đã không những không bị đánh gãy xương sống mà còn bẻ gãy nhiều cuộc càn bộ binh và cơ giới. Phong trào đánh xe tăng diễn ra khá sôi nổi, trên 70% xe tăng bị diệt trong mùa khô 65-66 là do bộ đội và dân quân du kích diệt bằng mìn, trái gài.

Kết hợp với đấu tranh quân sự, phong trào đấu tranh chính trị, binh vận cũng đạt nhiều thắng lợi. so với những năm trước, phong trào đấu tranh trực diện không còn qui mô hàng ngàn người, trong thời kỳ này chủ yếu đấu tranh tại chỗ chống cào nhà gom dân lập ấp, chống bắn pháo, chống xe càn vào ruộng lúa, đòi bồi thường sinh mạng diễn ra rất sôi nổi, quyết liệt như ở Lộc Hưng, Gia Lộc, An Tịnh (Trảng Bàng), Phước Thạnh, Thạnh Phước, Hiệp Thạnh (Gò Dầu), Hảo Đước, Thanh Điền, Thái Bình (Châu Thành), đồng bào giăng tay chặn đầu xe lội nước của Mỹ không cho càn vào ruộng phá hoại mùa màng, liều chết bảo vệ các hàng rào chiến đấu và hầm bí mật của cán bộ buộc địch phải chạy xe vào các khu có bãi trái do du kích, bộ đội gài sẵn. Khi Mỹ dùng bom đạn hủy diệt hàng loạt nhà cửa ở Tòa Thánh, quần chúng tín đồ một mặt đấu tranh với hội thánh đòi can thiệp, một mặt dùng hình thức tản cư ngược chiều để cản đầu xe bọc thép Mỹ buộc chúng phải quay về hướng có bộ đội phục kích. Có lần quần chúng tín đồ Cao Đài dùng lời lẽ êm dịu đã chặn một tiểu đoàn ác ôn Ngụy không cho chúng đốt nhà.

Được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy về việc hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của quần chúng, Ban an ninh tỉnh và cấp an ninh đã hạ quyết tâm đánh thắng địch trên mặt trận tình báo gián điệp, diệt ác phá kềm và xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng. Thời gian này, địch đánh phá liên tục, nhưng lực lượng an ninh vẫn bám địa bàn làm trong sạch vủng tranh chấp để phát triển cơ sở, phá ấp chiến lược. Đồng thời lực lượng an ninh còn thọc sâu vào vùng địch, tổ chức diệt nhiều tên ác ôn tề điệp làm cho những tên khác hoang mang dao động co cụm không dám hoạt động mạnh. Từ đó, đã đưa phong trào quần chúng đấu tranh chính trị ngày càng lớn mạnh.

Ngoài ra, để nhằm đáp ứng yêu cầu tình hình, đặc biệt là chống gián điệp, Ban an ninh tỉnh mở hai lớp huấn luyện nghiệp vụ cho 50 cán bộ chiến sĩ công an huyện, xã dự học.

Trong đấu tranh quân sự, cùng thi đua với nam giới, các nữ du kích chiến đấu ngoan cường, chị Tư Thanh dũng sĩ diệt Mỹ đầu tiên làm ngòi pháo cho phong trào diệt Mỹ trong lực lượng nữ. sau đó nhiều chị diệt Mỹ xuất hiện ngày càng nhiều, diệt cả ác ôn, nổi bật là chị Phạm Thị Út (Út Nghét), chị Nguyễn Thị Coi (Út Coi), chị Nguyễn Thị Lê ở Trảng Bàng đã làm cho những tên ác ôn nhiều phen kinh hồn khiếp vía, đến nỗi chúng hay thề thốt với nhau: “tao nói gian cho tao ăn đạn bà Coi”.

Quân Mỹ vào chiến trường có gây khó khăn thiệt hại cho ta lúc ban đầu, nhất là khó khăn do tư tưởng ngán ngại đánh Mỹ ở một số người do chưa hiểu rõ được Mỹ.

Qua thực tế chiến trường, ta nắm được quy luật hoạt động của quân Mỹ trong mỗi trận càn quét cũng như hiểu rõ được Mỹ chỉ mạnh về hỏa lực, đồng thời học tập kinh nghiệm trên các chiến trường và sáng tạo phương châm thích hợp “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” ta hạn chế chỗ mạnh của chúng. Từ đó khắc phục khó khăn, không còn ngán ngại sợ Mỹ, các lực lượng vũ trang của ta đã đập tan từng thủ đoạn âm mưu của chúng.

Ở Tây Ninh, quân Mỹ đi đến đâu đụng đầu thế trận chiến tranh nhân dân đến đó: lữ đoàn 196 do củng cố căn cứ đứng chân Trảng Lớn đã bị “vành đai diệt Mỹ” bao bó, đánh tiêu hao, tiêu diệt các bộ phận đánh nống ra, các sư đoàn 1 (Anh Cả đỏ), sư đoàn 25 (tia chớp nhiệt đới), lữ đoàn 173 dù thiện chiến đều bị đánh quyết liệt.

Bị thất bại liên tiếp ở chiến trường, ngày 30/4/1966 tên Ca Bốt Lốt đại sứ Mỹ tại Miền Nam Việt Nam (1965-1967) đã thú nhận: “Cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965-1966) không làm hao tổn được Việt Cộng, không tiêu diệt được đơn vị chính quy của Việt Cộng, không ngăn được du kích phát triển, hậu phương vẫn không ổn định. Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị động. Quân đội Sài Gòn giảm chất lượng nhanh chóng, lực lượng Mỹ tăng cường bổ sung không kịp. Ngược lại mặc dù khả năng tiếp viện hạn chế quân chính quy Việt cộng vẫn cơ động mạnh”.

Năm đầu đánh Mỹ mặc dù có những khó khăn, nhưng với quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, quân dân Tây Ninh với thế trận chiến tranh nhân dân đã loại khỏi vòng chiến 9.025 tên Mỹ, Ngụy, trong đó có 5.042 tên Mỹ, bắn cháy 276 xe tăng, bắn rơi 107 máy bay. Trong mùa khô lần thứ nhất Tây Ninh xuất hiện 601 dũng sĩ các loại, đặc biệt kiện tướng diệt Mỹ Dương Văn Tân đã diệt 70 xe tăng và 87 tên Mỹ.

Tổng kết thắng lợi mùa khô 1965-1966 ban Chấp hành Tỉnh ủy họp mở rộng ở Bàu Me (Dương Minh Châu) vào tháng 6/1966 đã chỉ rõ: các lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh được Mỹ, diệt được Ngụy, phát huy cao độ phong trào du kích chiến tranh với các xã chiến đấu, giao thông hào, địa đạo, ụ chiến đấu, 3 mũi giáp công, tấn công bẽ gãy các cuộc hành quân lấn chiếm, phá được ấp chiến lược. Đặc biệt là giải quyết nỗi băn khoăn về đấu tranh chính trị, binh vận với quân Mỹ và chư hầu. Vành đai Trảng Lớn đã phát huy tác dụng bao bó quân Mỹ ngày đêm, tạo điều kiện cho lực lượng của tỉnh, chủ lực và binh chủng của Miền tiêu diệt địch ngày càng nhiều.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:01:33 PM
2/ Tiếp tục giữ thế tiến công, phối hợp chủ lực Miền đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai (10/1966 đến giữa năm 1967).

Bị thất bại nặng nề sau cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất, mặc dù tinh thần quân Mỹ có sa sút, ý chí xâm lược nao núng, nội bộ mâu thuẫn, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiep tục tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh chuẩn bị mở cuộc càn mùa khô lần thứ hai (1966-1976) với hy vọng tìm ra giải pháp quân sự trên chiến trường có lợi cho chúng. Năm 1966, quân Mỹ có 20 vạn, đến cuối năm 1967 tăng lên 48 vạn, quân Ngụy tăng 50 vạn. Riêng ở miền Đông nam bộ có 2 sư đoàn, 5 lữ đoàn Mỹ, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn quân Úc cùng 3 sư và 2 lữ đoàn quân Ngụy.

Tăng ồ ạt lần này, đế quốc Mỹ đề ra 4 mục tiêu cơ bản là:

- Tiêu diệt chủ lự và phá cơ quan đầu não của ta.

- Bình định nông thôn mở rộng vùng kiểm soát.

- Củng cố Ngụy quân, Ngụy quyền.

- Tăng cường đánh phá miền Bắc để lay chuyển quyết tâm, hạn chế sự chi viện cho miền Nam.

Để thực hiện các mục tiêu đó, đế quốc Mỹ tập trung vào trọng điểm tây bắc Sài Gòn. Mục đích là diệt cơ quan trung ương Cục và chủ lực ta ở căn Bắc Tây Ninh. Cho nên trên chiến trường Tây Ninh, địch tập trung thường trực 20.000 quân và cơ giới từ 1 đến 2 trung đoàn pháo binh (từ 100 đến 120 khẩu pháo), phi cơ các loại, B.52 liên tục ngày đêm đánh phá hủy diệt các căn cứ. Đối với Ngụy quyền, Mỹ - Thiệu đưa tên trung tá Hồ Bắc Trung, nguyên cựu sĩ quan Cao Đài thay tên Lê Văn Tất làm tỉnh trưởng Tây Ninh vừa tìm cách đẩy Cao Đài chống lại cách mạng.

Ngày 17/7/1966, trước âm mưu của đế quốc quốc Mỹ ra sức tăng cường quân sự ở Miền Nam và đánh phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi “không có gì quí hơn độc lập tự do” động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Trên cơ sở đó, nghị quyết Bộ Chính trị tháng 10/1966 chỉ rõ: “năm 1967 có tầm quan trọng rất lớn đối với địch cũng như đối với ta. Địch sẽ tăng cường thêm lực lượng nhằm đánh nhanh, thắng nhanh. Ta phải có những cố gắng lớn hơn về mọi mặt, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định”.

Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tỉnh ủy Tây Ninh chuẩn bị chiến trường tiến công địch trong giai đoạn mới, đã đề ra chủ] trương vừa mở thế tiến công địch ở vùng yếu buộc địch co lại, vừa tránh thế bom pháo, chất độc ở vùng ven, vận động quần chúng đánh phá bình định, phá cầu đường lập chướng ngại làm ngưng trệ giao thông địch, luồn sâu diệt gọn từng bọn bình định, tổ chức từng đội săn cơ giới, tiến tới tạo điều kiện diệt gọn từng chi đoàn, chi đội cơ giới, bộ binh Mỹ ở vùng ven, mở rộng vùng và làm chủ vùng ven. Phát huy cao độ phong trào chiến tranh du kích với khí thế diệt Mỹ - Ngụy ở các vùng trọng điểm Nam Tòa Thánh, Bắc Gò Dầu, lộ 26, Dương Minh Châu, Trảng Bàng, tạo điều kiện phối hợp với chủ lực miền đánh bại chiến lược “hai gọng kềm” trong kế hoạch phản công chiến lược mùa khô 1966-1976 trên chiến trường Tây Ninh nhằm bảo vệ căn cứ địa kháng chiến và tạo thời cơ xốc tới đánh tận sào huyệt Mỹ - Ngụy.

Chấp hành sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, bộ đội tỉnh, huyện và du kích đều đứng chân trên địa bàn vùng ven xung yếu như An Tịnh, Lộc Hưng, Gia Lộc, cặp lộ 1, 19 (Trảng Bàng), Thạnh Phước, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức, sát lộ 22 (Gò Dầu), lộ 26, 13 (Dương Minh Châu) lộ 13 và các cụm của vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn (Châu Thành). Bến Cầu vẫn giữ vững địa bàn, Tòa Thánh bám rừng 16 mẫu, xã Trường Hòa và vùng Núi Bà. Phong trào du kích chiến tranh ngày càng phát triển và lấn sát, bao bó địch tạo thành hành lang nối liền căn cứ phía sau với phía trước.

Khi đã triển khai lực lượng bám các địa bàn trọng điểm, Ban chỉ huy Tỉnh đội điều tiểu đoàn 14 tập kích đại đội bảo an Ngụy tại Trí Huệ Cung (xã Trường Hòa, Nam Tòa Thánh), đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an và diệt gọn 1 trung đội bình định. Đây là trận đánh mở màn cho những trận tiếp theo để mở rộng địa bàn Nam Tòa Thánh và Bắc Gò Dầu tạo thế đứng chân cho cán bộ địa phương bám trụ vận động quần chúng Cao Đài.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:02:15 PM
Ở khu vực Suối Bà Tươi, lộ 19, lực lượng trên đánh đồn Cao Phú A, d14 tấn công đồn Cao Phú B diệt gọn bọn chiếm đóng kềm kẹp quần chúng trong ấp chiến lược, vận động quần chúng nổi dậy phá bờ thành, phá rào kẽm gai, xé tờ khai gia đình, có ba que, xóa sự kiểm soát của địch. Trên lộ 22 ta phá đường, đắp ụ và bắn tỉa uy hiếp chúng ở nhiều đoạn. Ở Bến Cầu, Châu Thành, du kích bộ đội cùng với quần chúng làm công tác binh vận, bao bó đồn bót bằng trái gài và vận động gia đình binh sĩ đấu tranh đòi chồng con về nhà làm ăn.

Những cuộc tấn công, tập kích, phục kích liên tục trên địa bàn vùng ven buộc địch phải co cụm lại, ta vẫn giữ địa bàn.

Bước vào mùa khô 1966-1967, để thực hiện chiến lược: “hai gọng kềm” đế quốc Mỹ mở cuộc hành quân mang tên Atttelboro đánh vào Tây Ninh ở khu vực Dương Minh Châu từ ngày 12/10/1966 đến 25/11/1966, mục đích:

- Giành giật thế chủ động của ta ở chiến trường, chủ yếu tại miền đông Nam bộ.

- Đánh vào hệ thống kho tàng dự trữ, bịt các cửa khẩu.

- Đánh sâu vào vài vùng ta với ý định tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân chủ lực và cơ quan của ta, gây tình hình không ổn định ở hậu phương, làm cho ta khó khăn về ăn ở nhất là khó khăn về lương thực để chủ lực ta phải phân tán, chúng dễ tiêu diệt hơn. Tướng Oét-Mo-Len nói rõ mục tiêu cụ thể: cuộc hành quân “Attelboro” nhằm tiêu diệt sư đoàn 9 và một trung đoàn của Bắc Việt tại căn cứ Dương Minh Châu.

Trong cuộc càn này, địch sử dụng lữ đoàn 196 Mỹ, sư 25 và một bộ phận lữ 173 dù Mỹ, một trung đoàn thiết giáp từ 350-400 xe, có 7-8 tiểu đoàn pháo 105-175, 203mm (khoảng 130 khẩu). Lực lượng Ngụy có 6-7 đại đội đặc biệt (không kể lực lượng địa phương càn phía sau để thực hiện kế hoạch bình định), ngoài ra còn sử dụng B.52 và các loại máy bay khác yểm trợ cuộc hành quân.

Khu vực địch đánh phá:

- Bà Nhã, Cầu Ngang, Bến Củi (khu vực Bời Lời).

- Bàu Đồn, Bàu Sen, Bàu Đế, ven lộ 26.

- Nam Bắc liên tỉnh lộ 13, đoạn Suối Đá, Chà Dơ, Cầu Lộc Ninh, Đồng Rùm, Sóc Soài, Bàu Tư Giếc.

- Trục lộ 4: Bàu Bắc, Bàu Cỏ, Bàu Rờ Đồng Pan, Tà Đạt, Bổ Túc, Sóc Mới, Kà Ót, Kà Tum và Sóc Ky.

Trước âm mưu của Mỹ ngụy, lực lượng vũ trang của tỉnh kết hợp chủ lực Miền gồm F9, E16, bộ đội địa phương huyện, du kích xã của huyện Dương Minh Châu, các cơ quan huyện ủy, huyện đội, đoàn hậu cần của miền và các cơ quan của trên tổ chức chống càn tại chỗ, bảo vệ căn cứ. Ở phía trước, các lực lượng tỉnh, huyện, du kích, đặc công, biệt động bám vùng ven, trục lộ phá đường, đánh cơ giới, luồn sâu đánh địch bung ra tạo thế 3 vùng đều đánh địch.

Trước ngày mở cuộc hành quân, địch dùng B52 dọn chiến trường và từ ngày 20/10/1966 đến 16/10/1966, lữ đoàn 196 Mỹ đổ quân 2 tiểu đoàn hình thành 2 mũi càn vào nam bắc Bến Củi dọc lộ 19 đoạn Bàu Đồn, cầu Bến Sắn đến Cây Me, Bà Nhã. Chúng bị tiểu đoàn 14, trinh sát, đặc công, công binh tỉnh và du kích Đôn Thuận, Bàu Đồn chặn đánh từ khi chúng bắt đầu đổ quân, diệt 87 tên Mỹ, 8 xe M113 và GMC.

Sau trận thua này, địch cho biệt kích ngụy lùng sục, thăm dò rồi cho lữ 196 và 2 tiểu đoàn của sư 25 càn vào Bàu Trẹt, Bàu Gòn. Tại đây E16 độc lập, chủ lực Miền phối hợp với đại đội địa phương du kích, cơ quan địa phương và Miền đóng ở Dương Minh Châu cùng tổ chức đánh địch.

8 giờ ngày 3/11/1966, địch cho hai đợt trực thăng gồm 24 chiếc đổ từ 2 đại đội xuống Trảng tranh, Bàu Trẹt. Bị trinh sát trung đoàn 16 chặn đánh suốt ngày, địch không đột phá được trận địa, ta diệt 1 đại đội Mỹ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:02:49 PM
Cùng thời điểm với trực thăng đổ quân, địch dùng một cánh quân khác từ Bàu Đế tiến lên Sân Lễ với ý định là hợp điểm hai cánh quân Bàu Trẹt. Nhưng đến 9 giờ cánh quân này bị bộ phận giao liên Dương Minh Châu, cơ quan tỉnh, hậu cần của trên trận đánh. Địch không hành quân phải rút ra Trảng Trống gọi trực thăng đến bốc lên đổ xuống Bàu Trẹt chiều cùng ngày. Trong ngày này, địch lần lượt đổ 2 tiểu đoàn của lữ 196 đến bị ta đánh quỵ cùng với một trực thăng.

Không tiến quân được, địch xoay sở cách khác; 8 giờ ngày 4/11/1966 từ hướng Sài Gòn, trực thăng bay lên đổ 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ xuống Bàu Trẹt, đển 8 giờ 30, đổ tiếp 2 tiểu đoàn đột phá vào trận địa ta. Chúng bị tiểu đoàn 9 của trung đoàn 16 đánh bật nhiều đợt xung phong. Đến 9 giờ, địch điều 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ ở Bến Cùn (Nước Đục) đi men theo phía Nam Suối Bà Hảo, để đánh bọc hậu. Đúng 11 giờ 30 địch tổ chức tấn công sau lưng trận địa ta. Nhưng chúng bị một đại đội của ta phòng ngự phía sau chặn đánh, bẻ gãy tất cả các đợt đột phá. Cả hai mặt tiến công của địch đều thiệt hại nặng, bỏ nhiều xác tại trận địa. Đêm 4 rạng 5/11/1966, số quân còn lại của ta cụm lại ở Ngã ba Lộ Út khoảng 1 tiểu đoàn và ở phía bìa rừng Bàu Trẹt 1 tiểu đoàn.

Ngày 5/11/1966, lúc 7 giờ, trực thăng đổ tiếp 1 tiểu đoàn của sư 1 Mỹ từ hướng Dầu Tiếng, Ninh Hòa xuống Bàu Năng phối hợp với sư 25 và lữ 196 tiến công vào “chiến khu Bàu Gòn” nhưng đến 11 giờ địch không đọt phá được công sự của ta, lại thêm 1 tiểu đoàn Mỹ bị loại, 1 xe jép bị thiêu cháy trong đó có 1 trung tá Mỹ tại ngã ba Lộ Ủi. Thất bại liên tiếp trong các đợt tấn công, địch lui quân ra và gọi pháo đến hủy diệt trận địa, hơn 15.000 quả pháo bắn vào “chiến khu Bàu Gòn”.

Như vậy, từ ngày 3/11/1966 đến 5/11/1966, trung đoàn 16 chủ lực Miền cùng bộ đội địa phương, du kích và các cơ quan ở khu vực Dương Minh Châu bị loại khỏi vòng chiến lữ 196 Mỹ, số còn lại của lữ đoàn này buộc phải rút khỏi trận địa, trở về hậu cứ để củng cố. Tên tướng Mỹ chỉ huy Đờ Xót-Xuya bị cách chức tại trận. Ta diệt 4.500 tên, trong đó có 1.700 tên Mỹ.

Trong lúc đó, địch càn dọc lên Suối Đá, Cầu Lộc Ninh, Chà Dơ, Đồng Rùm, Đồng Pan, ngã ba Giếng Thí, Tà Đạt, Bổ Túc, Sóc Mới, Kà Ót Kà Tum, Sóc Ky, những cuộc càn này đều bị sư 9 và các cơ quan Miền chặn đánh liên tục, không nơi nào địch đột phá được, chúng lại bị diệt thêm nhiều đại đội và cơ giới.

Ở vùng ven lộ 1, lộ 22, du kích, công binh tổ chức đánh phá cầu đường, đắp mô… Đồng thời, lực lượng ta luồn sâu vào vùng ven diệt từng toán bình định, từng tiểu đội dân vệ, bảo an. Ở Gò dầu, trảng Bàng, Bến Cầu, Châu Thành và Tòa Thánh địch cũng không khoanh được ấp chiến lược nào.

Trong phong trào thi đua diệt Mỹ - Ngụy, các em thiếu niên cũng lập được những thành tích vẻ vang, diệt được nhiều cơ giới bằng mìn tự tạo. Các em thiếu niên Cầu Khởi đi coi trâu, lượm mủ ở các sủ cao su được các anh công binh Dương Minh Châu hướng dẫn kỹ thuật gài trái. Các anh đào hố sẵn trên đường 26, đoạn cầu Khởi – Năm Ngọn rồi nghi trang lại, đến sáng bọn dò mìn đi rà đường xong, các em đem trái ra gài vào các lỗ đào sẵn, nghi trang lại cẩn thận. Lúc sau, xe Mỹ đi qua cán mìn nổ tan xác. Có cuộc càn các em iệt được 4 xe M113.

Bị thất bại liên tiếp trong các cuộc hành quân, đến ngày 25/11/1966 Mỹ buộc phải rút quân ra khỏi khu vực Dương Minh Châu, chấm dứt cuộc càn Attelboro.

Ngày 8/1/1967 đến 26/1/1967, Mỹ lại tiến hành cuộc càn Cédarfall đánh vào vùng tam giác sắt; Củ Chi, Bến Cát, Bến Súc, Long Nguyên, Hố Bò, một phần của huyện Trảng Bàng (An Tịnh – Lộc Hưng). Địch tiến hành đánh phá thị trấn Bến Súc và khu vực xung quanh, xúc đi 15.000 dân, cướp đi nhiều trâu bò, lúa gạo, gây thiệt hại cho một số cơ quan của ta. Tội ác này của chúng đã phải trả một giá rất đắt, chúng bị lực lượng trung đoàn 2 thuộc sư 9 cùng với du kích chặn đánh loại khỏi vòng chiến đấu 5.500 tên, trong đó có 2.500 tên Mỹ. Cuộc hành quân Cédarfall tuy xúc được dân làm đảo lộn mọi sinh hoạt vùng giải phóng, gây nhiều khó khăn cho ta nhưng vẫn không đạt được mục đích chính là tiêu diệt đầu não quân khu Sài Gòn – Gia Định, không xóa được vùng căn cứ, bàn đạp và hành lang của ta vào Sài Gòn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:03:09 PM
Sau thất bại cuộc càn Attelboro và Cédarfall đế quốc Mỹ lại mở tiếp nhiều cuộc hành quân khác để hút lực lượng ta nhằm đánh lạc hướng về mục tiêu địa bàn đánh lớn của chúng. Từ 1/3/1967 đến 16/2/1967, Mỹ mở cuộc hành quân Big-Spring càn vào khu vực Sình, Bà Đã thuộc chiến khu Đ. Từ 14/2/1967 đến 18/2/1967 Mỹ mở cuộc hành quân Túc Sơn đánh vào phía đông sông Sài Gòn thuộc căn cứ Long Nguyên. Từ ngày 2/2/1967 đến 21/2/1967, địch mở cuộc hành quân Gardeen dùng lữ 1 sư 25 đánh vào đường 22 đến sát biên giới Campuchia, chốt lại các điểm Lò Gò, Cần Đăng, Thiện Ngôn, Tà Xia chuẩn bị cho cuộc hành quân Junction-city đánh vào căn cứ Bắc Tây Ninh.

Để chuẩn bị cho cuộc hành quân chủ yếu trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai đánh vào căn cứ Bắc Tây Ninh, đế quốc Mỹ đã triển khai lực lượng đóng chốt bao quanh căn cứ Bắc Tây Ninh, lữ 196 ở Trảng Lớn, lữ 3 sư 4 chốt ở Dầu Tiếng, lữ 2 sư 1 ở sân bay Quản Lợi (Bình Long). Tiểu đoàn 2 sư 1 ngụy ở Hớn Quản, tiểu đoàn 2 và 4 sư 5 ngụy ở Chơn Thành và đổ quân, tăng quân đánh các cụm sâu trong vùng căn cứ như Sa Mát, Đồng Pan, Kà Tum, Bổ Túc, Suối Bà Chiêm… Yếu khu biệt kích Minh Thạnh, trại biệt kích Suối Đá, Trảng Sụp, Trại Bí, Mỏ Công được dùng làm bàn đạp xuất phát tấn công. Đồng thời tiến hành làm mới hoặc sửa chữa một số công trình như: Mở rộng các sân bay Trảng Lớn, Suối Đá, Dầu Tiếng, Minh Thạnh, Quản Lợi, sửa chữa các lộ 19, 22, 26, xây dựng các kho dự trữ Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Hớn Quản, Minh Thạnh.

Từ ngày 25/9/1966 đến 20/2/1967, địch dùng 60 phi vụ C47, C123 thả chất độc hóa học theo lộ 4, tỉnh lộ 13, đường 22, dọc theo sông Sài Gòn, Tha La, Suối Mây, Lộ Ủi, Lộ Kiểm và theo đường biên giới từ Kà Tum đến Tà Nốt, chú trọng đến các trục giao thông, nơi nghỉ ngờ có cơ quan ta đóng. Dùng bom cháy phát quang các khu vực dự định mang quân đóng chốt. Đồng thời, địch tiến hành vận chuyển lương thực, khí tài dự trữ. Trong tháng 12/66, địch vận chuyển trên 3.000 chuyến, đưa trên 10.000 tấn hàng các loại: xi măng, bao cát, kẽm gai, gỗ, đá, ống cống, cốt sắt, máy phát điện, tủ ướp lạnh, xe ủi đất, đạn dược, cầu dã chiến, máy truyền tin… từ Sài Gòn lên Tây Ninh. Địch còn tăng cường máy bay C123, C130 mỗi ngày từ 10 đến 15 chiếc, chuyển hàng từ hậu cứ Biên Hòa lên Dầu Tiếng, Trảng Lớn, Suối Đá, Minh Thạnh, Quảng Lợi, Địch còn dùng nhiều toán biệt kích thăm dò, thả nhiều máy phát hiện tiếng động. Từ ngày 1/2/1967 đến 21/2/1967 có trên 50 phi vụ L19, Mêhoóc, C47 quan sát chụp hình.

Về hỏa lực, để phục vụ cho cuộc hành quân, từ ngày 1/2/1967 đến 21/2/1967 địch sử dụng 16 phi vụ B52 (40-50 lượt chiếc và 30 phi vụ phản lực (90 lượt chiếc) oanh tạc các mục tiêu trong khu vực Bắc Bàu Cỏ, Trảng Chiên, Tà Cho, Đất Đỏ, Sóc Mới, Suối Nước Đục… và 60 phi vụ C123, C47, rải chất độc hóa học trong các khu rừng còn sót trên dọc hai bên lộ 4, lộ 22, liên tỉnh 13 (Dương Minh Châu), dọc sông Sài Gòn, Tha La.

Đến ngày 22/2/1967, đế quốc Mỹ bắt đầu mở cuộc hành quân Junction-city, đây là cuộc hành quân chủ yếu của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai, cũng là cuộc hành quân lớn nhất nhiều tham vọng nhất của Mỹ từ khi đưa quân vào chiến trường, đánh vào khu vực căn cứ Bắc Tây Ninh. Cuộc hành quân này kéo dài đến ngày 15/4/1967 do tên thượng tướng Giơn-na-Than-Xi-Man Tư lệnh dã chiến 2 của Mỹ trực tiếp chỉ huy.

Khu căn cứ Bắc Tây ninh đ3ợc gọi là căn cứ khu B (địch gọi là chiến khu C) thuộc phần đất huyện Dương Minh Châu (sau được tách ra thành lập huyện Tân Biên) nằm giữa hai sông Vàm Cỏ Đông (ở phía Tây) và sông Sài Gòn (ở phía đông). Phía Bắc và Tây Bắc giáp giới Campuchia, phía Nam giáp với liên tỉnh lộ 13.

Diện tích toàn khu căn cứ khoảng 1.500km2. Trong những năm địch đánh phá gom dân ác liệt; dân số trong vùng căn cứ chỉ còn khoảng 800 người bám theo cách mạng ở rải rác dọc theo biên giới và sông Vàm Cỏ Đông trên khu vực xóm Giữa, Lò Gò, Tà Nốt, có một ít ở Kà Tum, Sóc Mới làm ruộng sinh sống và tham gia công tác dân công vận tải tiếp tế cho bộ đội. Còn vùng trung tâm căn cứ chỉ có nhân viên, cán bộ cơ quan, nhà trường, công xưởng, bệnh viện, kho tàng của Bộ chỉ huy quân sự miền Nam và các ngành trực thuộc Trung ương cục.

Cuộc hành quân Junction-city nhằm đạt các mục tiêu:

- Tiêu diệt cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến toàn miền, tiêu iệt sư đoàn 9 chủ lực quân giải phóng và đài phát thanh giải phóng.

- Bịt biên giới, triệt phá kho tàng, dự trữ hậu cần của ta.

- Chia cắt, lấn chiếm khu căn cứ từ lâu được coi là vùng “đất thánh bất khả xâm phạm” dựa lưng vào biên giới Campuchia làm thành lá chắn bên ngoài bảo vệ cho quân ngụy bình định khu vực vùng ven Sài Gòn, Gia Định và chung quanh các thị xã, thị trấn.

- Giành lấy một thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định cho cuộc phản công mùa khô lần thứ hai để tạo ra một bước ngoặt có làm chuyển biến cục diện có lợi cho chúng.

Về lực lượng hành quân, địch sử dụng đại bộ phận quân Mỹ ở miền Đông Nam Bộ, có một bộ phận quân ngụy tham gia phục vụ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:03:38 PM
Nắm được ý đồ của địch, Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền Nam đã chỉ đạo xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ bằng cách tổ chức từng khu vực cơ quan đóng thành xã, huyện. Các cơ quan quân sự Miền, hình thành 7 huyện đội, 6 cụm cơ quan dân, chính, Đảng, thành lập 13 khu vực phòng thủ tương đương 13 huyện trong căn cứ, toàn bộ cán bộ nhân viên trong căn cứ biến thành lực lượng vũ trang tại chỗ đánh càn theo khu vực được giao. Riêng Tây Ninh, Trung ương cục chỉ đạo tổ chức lực lượng vành đai phía trước, hình thành chung thế trận chiến tranh nhân dân khắp 3 vùng và 3 thứ quân.

Tư tưởng chỉ đạo chiến dịch của bộ chỉ huy miền là: “chuẩn bị sẵn sàng để bám trụ vững chắc, thực hành phản công kiên quyết và tấn công liên tục, mạnh mẽ, kết hợp chặt chẽ giữa 3 thứ quân, đánh nhỏ, đánh vừa và tạo điều kiện đánh lớn, bảo đảm đánh dài ngày, nhanh, bạo nhưng chắc thắng, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, bảo vệ được cơ quan kho tàng trong căn cứ”.

Về phương châm tác chiến, Bộ chỉ huy Miền còn nêu rõ:

- Du kích cơ quan, bộ đội địa phương, và bộ đội bảo vệ căn cứ bám trụ đánh địch tại chỗ, giữ vững các xã ấp chiến đấu nơi địch không đến thì bung ra tìm địch mà đánh, bám địch mà diệt, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt rộng rãi, vừa chiến đấu, vừa bảo đảm công tác phục vụ cho chiến đấu, bảo vệ an toàn cơ quan căn cứ, kho tàng, duy trì được sinh hoạt bình thường trong căn cứ, đánh lâu dài với địch.

- Bộ đội chủ lực thì tập trung, phân tán linh hoạt, sẵn sàng cơ động phối hợp, hỗ trợ du kích cơ quan thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa, tạo điều kiện và nắm thời cơ đánh những trận lớn, tiêu diệt được tiểu đoàn địch bằng phục kích và tập kích bẻ gãy những mũi nhọn hành quân của địch.

- Phối hợp tác chiến phản công địch trong căn cứ với tấn công địch ngoài căn cứ bằng sức mạnh tổng hợp của 3 mũi giáp công, phá bình định ở vùng ven và trên các chiến trường khác.

Quán triệt sự chỉ đạo và phương châm tác chiến của Bộ chỉ huy Miền, Tỉnh ủy Tây Ninh đề ra nhiệm vụ phải hình thành thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ, sẵn sàng đánh địch trên trục lộ giao thông và cắt đứt giao thông, đánh địch ở các cứ điểm phá kho tàng, đánh phá mạnh ấp chiến lược để góp phần bẻ gãy cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai.

Cuộc hành quân Junction-city được chia làm 2 đợt:

- Đợt 1 từ ngay 22-2-1967 đến ngày 15-3-1967 với lực lượng tham gia 9 lữ đoàn bộ binh Mỹ, 1 lữ đoàn thủy quân lục chiến Ngụy, 1.200 xe tăng M113, M41, M40, 256 khẩu pháo 105, 175 và 203 ly, 8 tiểu đoàn thuộc công binh dã chiến 2 và sư độc lập, 162 máy bay chiến đấu, 300 trực thăng, 45 máy bay vận tải C123, C130, 22 phi cơ trinh sát.

Từ sáng sớm ngày 22-2-1967, sau những cuộc ném bom dọn bãi của gần 200 lượt B.52 và máy bay chiến đấu, địch mở đầu bằng những cuộc hành quân nhảy dù của lữ đoàn 175 xuống Xê lô – Kà Tum và báo chí Mỹ khoe khoang “lớn nhất và đầu tiên ở miền Nam Việt Nam”, nhưng khi lữ đoàn 175 dù còn lơ lửng trên không, du kích Kà Tum và huyện Tà Đạt (huyện căn cứ) đã đón tiếp bằng những loạt đạn chính xác, diệt trên 100 tên, bắn rơi 12 máy bay đổ quân, 1 phản lực. Cùng lúc đó, trực thăng đổ lữ 1, lữ 2 của sư 1 xuống Sóc mới, Rùm Buôn, An Khắc, lữ 1 sư 25 từ đường 22 đánh sang hướng Đông Bắc, lữ 2 sư 25 và trung đoàn 11 thiết giáp theo lộ 4 thọc nhanh lên Đồng Pan, Sóc Ky đánh lên phía Bắc và Tây Bắc nối liền Kà Tum, lấy huyện Tà Đạt làm điểm hợp đồng bao vây ta. Tại đây, du kích cơ quan Trung ương Cục và Bộ đội địa phương Tà Đạt đón đánh địch liên tục, diệt và làm bị thương 157 tên Mỹ, bắn rơi 9 máy bay và làm hỏng 1 chiếc khác.

Ngày 23-2-1967, địch từ các chốt phối hợp bộ binh và cơ giới đánh vào căn cứ huyện tà Đạt bị du kích đánh trả quyết liệt, diệt gọn 1 đại đội ở Bàu Sen, ở chốt Rùm Buôn, địch tấn công vào căn cứ Suối Mây, du kích cơ quan Giao bưu, Binh vận Trung ương Cục chặn đánh tại chỗ diệt 5 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe M113, diệt 120 tên. Tất cả các mũi tấn công của địch vào huyện Tà Đạt đều bị chặn đánh không hợp điểm đột phá vào trung tâm căn cứ được.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:09:01 PM
Cùng với du kích và bộ đội địa phương các huyện bám trụ đánh địch khắp mọi nơi, chủ lực quân giải phóng thực hiện đánh 2 bên sườn và sau lưng địch, đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Ngày 23-2-1967, trung đoàn 16 phản kích vào hậu cần địch ở Suối Đá gây cho địch nhiều tổn thất. Ngày 26-2-1967, 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 1 đánh địch ở Trảng A Lân diệt 150 tên Mỹ. Đêm 28-2 tiểu đoàn 9 trung đoàn 16 tập kích một cụm cơ giới Mỹ ở Suối ông Hùng diệt 1 chi đoàn cơ giới 31 xe và 216 tên, đồng thời ta tổ chức pháo kích vào Sở chỉ huy hành quân của địch ở Dầu Tiếng.

Sau 4 ngày hành quân, hãng thông tấn AFP đưa tin “Cuộc hành quân Juncton-city được coi là một trong những hy vọng của Mỹ trong giai đoạn trước mắt, cuộc hành quân có nhiều tham vọng nhất trong cuộc chiến tranh, nhưng kết quả thật đáng buồn, trong 4 ngày qua không thấy dấu vết nhà lãnh đạo Mặt trận dân tộc giải phóng đâu cả… Đài phát thanh Mặt trận dân tộc giải phóng vẫn tiếp tục hoạt động, mặc dù một trong những mục tiêu của cuộc hành quân làm làm cho nó câm đi… Bộ chỉ huy Mỹ đang chuẩn bị thú nhận cuộc mạo hểm lớn này là thất bại”. Tên tướng Oét-mo-len tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh ở Miền Nam Việt Nam cũng phải than thở: Chẳng tìm thấy bóng một tên du kích Việt cộng đâu cả, nhưng bất cứ ở đâu quân Mỹ cũng đều bị chặn đánh.

Tiếp những ngày sau, các mũi tiến công của địch vào trung tâm căn cứ đều bị bẻ gãy, tinh thần của địch giảm sút nên đều co cụm, chỉ hoạt động chung quanh các chốt đóng quân và bảo vệ vận chuyển tiếp tế.

Ngày 3-3-1967, địch thú nhận “hành quân thất bại, tốn kém 25 triệu đôla, quân số hao hụt quá mức dự định, bệnh tật nhiều (từ 5% lên 12% rồi đến 16%) tinh thần binh lính quá căng thẳng, chủ lực đối phương tránh né, chỉ để một bộ phận ở lại đánh du kích còn lại bộ phận luồn ra phía sau, các căn cứ phía sau bỏ trống, hành quân không đạt được tác dụng yểm trợ cho quân Ngụy Sài Gòn và bình định vẫn bị đánh”.

Với những chiến thắng dồn dập, du kích các cơ quan mở rộng thêm mặt trận. Ngoài việc phục kích, còn tấn công vào các chốt đóng quân của mỹ ở Bãi Bầu, An Khắc, Bàu Lùng Tun. Phục kích đánh địch trên đường Sa Mát – Cần Đăng gây cho địch nhiều tổn thất. Trong lúc đó, chủ lực quân giải phóng tiếp tục đánh sau lưng địch và gấp rút chuẩn bị các trận đánh then chốt trên các khu vực đã chuẩn bị sẵn. Các trận đánh lớn nhỏ làm tiêu hao nhiều sinh lực địch, tinh thần chúng nao núng, mệt mỏi vì luôn đối phó với bao vây của du kích.

Do thất bại liên tiếp, ngày 15-3-1967 địch phải kết thúc đợt 1. Ta đã loại 5.850 tên Mỹ, hạ 90 máy bay, phá hủy 33 khẩu pháo và 491 xe (352 xe tăng và xe thiết giáp).

Tuy không đạt mục tiêu hành quân lại bị tiêu hao nặng, địch vẫn ngoan cố chưa chịu bỏ âm mưu, ngày 18-3-1967 chúng bắt đầu mở tiếp đợt 2 kéo dài đến ngày 15-4-1967.

Phát huy thắng lợi đợt 1, du kích cơ quan và chủ lực của ta kịp thời rút kinh nghiệm, chấn chỉnh theo phương án tác chiến, tổ chức thêm đội săn cơ giới, bám chặt các xã, đường giao thông, chặn đánh xe tăng địch, triển khai thêm những bãi mìn ở Trảng Trống, nơi địch có thể đổ quân.

Lần này địch đã thay đổi thủ đoạn, ngoài một bộ phận đổ bộ đường không bằng máy bay lên thẳng, chúng chỉ dùng máy bay trinh sát dẫn đường cho bộ binh cơ giới thọc sâu, tiến chắc, nhưng ta chuẩn bị chu đáo, phán đoán đúng nên ngày đầu cuộc hành quân đợt 2, địch vấp phải sự kháng cự rất có hiệu quả của du kích. Đoàn hậu cần 82 huyện Bà Hảo đánh mìn diệt 8 xe thiết giáp khi chúng từ Suối Đá lên đến cầu Lộc Ninh. Bộ đội địa phương huyện Dương Minh Châu phục kích đường 4 diệt 5 xe cơ giới và hơn 100 tên Mỹ.

Ngày 19-3-1967, đoàn hậu cần 82 bố trí một bãi mìn ở Trảng Đồng Rùm đánh địch đổ quân diệt tại chỗ 8 trực thăng, hơn 100 tên Mỹ.

Kết hợp với du kích các cơ quan, bộ đội chủ lực bám địch đánh phủ đầu ngay lúc mới triển khai lực lượng. Ngày 19-3-1967, lúc địch mới tập kết trên đường 13, eBB 3 đã tập kích cụm bộ binh cơ giới của lữ 1 sư 1 ở Bàu Bàng diệt 400 Mỹ, phá hủy 92 xe (có 65 xe thiết giáp) và 9 khẩu pháo.

Đêm 20 rạng 21 tháng 3-1967, địch vừa lên đến Đồng Rùm, trung đoàn 2 và trung đoàn 16 đánh tập kích cụm chiến đoàn lữ 3 sư đoàn 4, diệt 18 khẩu pháo, 3 chi đoàn thiết giáp gồm 72 chiếc, bắn rơi 10 máy bay và diệt 1.220 tên Mỹ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:09:24 PM
Những ngày sau, bộ đội chủ lực thừa thắng xông lên, đánh tan tác cánh quân phía Bắc của Mỹ, buộc chúng phải co lại, cánh quân phía Nam trên lộ 4, Đồng Rùm, lộ 22 đều rút lui bằng đường bộ, du kích Dương Minh Châu phục kích chặn nhiều trận ở Trại Bí, Mỏ Công, Suối ông Hùng, Tua Hai.

Khi cánh quân phía Nam rút khỏi Đồng Pan, địch lần lượt rút khỏi các cụm chốt thuộc cánh quân phía Bắc về Hớn Quản, kết thúc cuộc hành quân.

Với chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction-city, vai trò của chiến tranh nhân dân địa phương được phát huy cao độ. Ta đã tạo được thế trận liên hoàn giữa lực lượng du kích và tự vệ cơ quan, giữa các ấp, xã và cụm chiến đấu trong vùng căn cứ. Từ đó, đã giành thế chủ động chiến trường không cho địch phát huy sức mạnh của binh khí kỹ thuật hiện đại, bắt địch phải đánh theo cách đánh của ta.

Trong thế trận chung đó, huyện Tà Đạt là một trong 13 huyện căn cứ của khu căn cứ Bắc Tây Ninh được thành lập tháng 6-1966 theo quyết tâm tác chiến phòng thủ bảo vệ căn cứ của Bộ chỉ huy Miền đã nổi lên như một pháo đài kiên cố, chiến đấu rất ngoan cường, ngăn chặn, đẩy lùi tất cả các mũi tiến công của 6 lữ đoàn bộ binh cơ giới, nhảy dù và đổ bộ trực thăng của địch, bảo vệ được căn cứ kho tàng, đồng thời còn bảo đảm được công tác chuyên môn, phục vụ thông tin liên lạc cho chiến đấu và cho sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Miền.

Cùng phối hợp và chia lửa với khu căn cứ Bắc Tây Ninh, ở vành đai phía trước 3 thứ quân Tây Ninh đã có phần đóng góp thích đáng vào chiến thắng chung. Ngoài việc tham gia diệt địch vận chuyển trên các trục lộ giao thông, bộ đội địa phương Tòa Thánh, du kích và nhân dân Trường Lưu đã diệt gọn đội Bình định và đánh tan đại đội bảo an 276 trong ấp chiến lược này. Lực lượng Dương Minh Châu được trên hỗ trợ đã diệt gọn đại đội bảo an 164 ở Chà Là.

Phong trào quần chúng trong và ngoài ấp chiến lược, cả các gia đình binh sĩ ngụy, liên tục nổi dậy kết hợp với du kích diệt gọn từng tiểu đội, trung đội dân vệ và đấu tranh chống phi pháo chống càn quét diễn ra ác liệt ở các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu.

Tây Ninh không chỉ là trọng điểm địch đánh phá mà còn có thể nói đây là địa bàn chiến tranh gián điệp. địch dồn lực lượng CIA, tình báo tổng nha, tình báo phủ đặc ủy trung ương, tỉnh báo vùng 3 chiến thuật, tình báo tiểu khu,… hòng đánh phá từ trong nội bộ ta. Quần chúng cảnh giác cao độ, đã vạch mặt các tên tình báo, đội tự vệ mật, đã đánh nhiều trận táo bạo vào những đối tượng đầu sỏ, công an, bình định, thám báo… hỗ trợ cho phong trào chung đạt thắng lợi.

Cùng với các lực lượng thi đua diệt Mỹ - Ngụy, Quân y Tây Ninh đã chiến đấu thầm lặng trên mặt trận chống bệnh tật. Họ cũng phải trải qua những năm tháng ác liệt với các trận ném bom B52, pháo bầy, các cuộc càn quét lớn. Trong thời kỳ này, thương bệnh binh vào nằm bệnh xã ngày càng nhiều, mà khả năng tiếp nhận của bệnh xá cao nhất là 70 giường, nhiều lúc số thương binh vào viện lên tới 250 người (kể cả thương binh chủ lực Miền). Do đó, cán bộ nhân viên bệnh xá phải đào thêm hàng trăm nhà hầm để chứa thương binh, và phải đào địa đạo để đưa thương binh đến vị trí an toàn.

Hầu hết các ca mổ tiến hành dưới hầm sâu, phía trên bom đạn vẫn nổ. Ở hầm nhưng mọi sinh hoạt của thương binh vẫn được bảo đma bình thường. Số thương binh còn đi đứng được ở hầm có nắp hoặc hầm ếch, thương binh không đi được thì ở hầm nắp sẵn có lỗ thông hơi thoáng mát. Ngoài ra, thương binh còn được bảo vệ bằng hầm bí mật, địa đạo ngắn, hầm hố chông, hàng rào chiến đấu, gài lựu đạn phong tỏa bên ngoài. Địch đã nhiều lần càn quét vào căn cứ Bời Lời, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu nhưng các bệnh xá quân y Tây Ninh vẫn bảo vệ được thương bệnh binh an toàn.

Trong cuộc càn Junction-city, bệnh xá quân y cũng nằm trong vùng địch càn quét đánh phá. Cho nên, bệnh xá chia làm 2 bộ phận: trong đó có một bộ phận gần Sóc Lào,. Cùng thời điểm này, tiểu đoàn 14 có tên ra chiêu hồi, bộ phận quân y ở Sóc Lào được lệnh di chuyển nhưng chưa kịp thì địch đã càn đến. Tất cả cán bộ nhân viên, thương bệnh binh phải bám lại dưới địa đạo. trước tình hình đó, tổ đảng họp quyết định phải di chuyển căn cứ. Đêm đến, đại bộ phận cán bộ nhân viên bệnh xá lần lượt cõng thương binh rời khỏi vòng vây. Đến sông Sài Gòn, y tá, thương bệnh binh ngâm mình dưới nước suốt ngày, đầu đội lục bình để ngụy trang che mắt trực thăng. Đến đêm, toàn bộ thương binh 30 người và 2 ca mới giải phẫu đưa về nhà dân ở Lộc Hưng, An Tịnh. Sang ngày thứ tư, thương binh được chuyển qua đường số 1 vượt sông Vàm Cỏ đến Bến Cầu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:10:27 PM
Số nhân viên và thương binh sơ tán không kịp có 7 người do chị Nguyễn Thị Đỏ (Tư Đỏ) phụ trách. Lương hực dự trữ có 3 ngày, địch càn lâu, lương thực hết, ban đêm nhân viên phải tự tìm lương thực về cho thương binh, ban ngày lại xuống địa đạo trú ẩn. Sau 15 ngày, đồng chí Tư My đến đưa bộ phận này về căn cứ. Dù có khó khăn, cán bộ nhân viên bệnh xá đã thể hiện nhiều gương tốt trong công tác phục vụ thương binh như chị Nguyễn Thị Hạnh hiến máu cho thương binh đến ngất xỉu. Chị Trần Thị Lệ suốt những năm tháng làm nhiệm vụ giặt quần áo, băng gạc đầy máu mủ trong điều kiện nước khan hiếm, nhưng lúc nào chị cũng dịu dàng niềm nở, sẵn sàng giúp đỡ thương bệnh binh. Y tá Trần Thị Hương dũng cảm cõng thương binh từ trong vùng bom đạn B52, khi bom nổ gần chị lấy thân mình che chở thương binh an toàn, bản thân chị phải hy sinh. Đồng chí Lê Đình Kiệt, trong lúc địch càn chịu nhịn đói, khát nhiều ngày dưới hầm địa đạo, lúc khát anh phải tiểu ra để uống, nhưng khi có thương binh vào anh sẵn sàng giải phẫu cấp cứu.

Qua 51 ngày đêm mở cuộc hành quân Junction-city với 45.000 cùng tất cả các phương tiện chiến tranh hiện đại đánh vào căn cứ bắc Tây Ninh, đế quốc Mỹ gặp sự đánh trả quyết liệt của thế trận chiến tranh nhân dân đã bẻ gãy cuộc hành quân tày. Ta diệt gọn 2 tiểu đoàn, 11 đại đội bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo với 5 đại đội pháo binh, 9 chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao nặng 3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, loại khỏi vòng chiến 14.233 tên Mỹ (1/3 quân số) phá hủy 992 xe (có 775 xe tăng, thiết giáp) 112 trong 256 khẩu pháo, bắn rơi 160 máy bay trong đó có 114 trực thăng. Hòa chung với chiến thắng đó, quân dân Tây Ninh tham gia trong và sau cuộc càn Junction-city đã đánh 780 trận lớn nhỏ, diệt 7.073 tên có 3.634 tên Mỹ thu 196 súng, diệt 33 xe cơ giới, có 265 xe M113, M48, M41, tiêu diệt gọn 7 đại đội có 1 đại đội Mỹ, 1 chi đoàn xe M113, 2 đại đội Bình định.

Việc đánh bại cuộc hành quân Junction-city càng chứng tỏ sự đúng đắn của nghệ thuật lãnh đạo và chỉ huy của ta về tư tưởng chỉ đạo và phương châm tác chiến kết hợp thế trận chiến tranh nhân dân với các binh đoàn chủ lực làm chủ căn cứ để tiêu diệt địch. Ta đã làm thất bại chiến lược hai gọng kềm “tìm diệt và bình định”, mũi “tìm diệt” đã thất bại chua cay”, còn “bình định” ở vùng ven cũng không làm được, trái lại đã bị lực lượng võ trang và quần chúng kết hợp diệt từng toán bình định, từng đại đội bảo an, từng đồn bót dân vệ phá rã bộ máy kềm kẹp.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh chỉnh ủy Bộ Chỉ huy Miền nhận xét “cuộc hành quân Junction-city lớn nhất của quân Mỹ vào vùng Tây Ninh lại là cuộc hành quân thua đau nhất, là cái mốc đánh dấu đỉnh cao của sự thất bại của chúng trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai này trong âm mưu tìm diệt của chúng”.

(https://lh3.googleusercontent.com/tsK1urtYRQq47JktPNAypWQYx-IxBvjIL7lRC7vQP2kfsKx0iCCHziYjYS8lgIeY1NSrr_V0HqlWuX5egWhzNcHhHwGEuy7zL5T990AJY4HoJVNr4vfcRDIQ-2TaQkGKrBCnKU4fLHT1IhJZOoM_633Gt4-OZH5fz5IyGssHY9KHCJ8nSL7WZ_s67oEDxlF7fTfl0rrT5_Vx1jCjFIw05TxrPcZ7cVkMR3yFbLpWLswjy-EAIaQSCpfHpCFNkGhkMI7slus4G7Z6fyWQqfCFpqpqwwXIRQU38V2dfGtj70vIb51DFq_4D49dBZSa6NMh1Q5O389pWvHTiA8IyxBVd3ovIlFq2RE3kF-pIzV5lMgwYZm83tW9XPKvok_J35I553DFdWtRw8vZxudF_TZAFxAnnIPBliu4fvNXUPgH_VSyUNKWJjvUYzIvW4SVJnC1MOfdUTYareC6K38xDyKruGUk4eu44fkdzIjPpkcFj6WTARl_92jUjHcMg3JwUhnKcwPiO18BUjyMqR1sMAp0aRSIBdkyNhr5r2nEp8SwvyZDymNYkGNpwKIgLFLo5tbVbD-3FyuSYbrDuD3QJFT0V4xDHMc9dJkoo__Yso0=w683-h832-no)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:11:22 PM
Sau thất bại nặng nề của Junction-city, quân Mỹ không mở được cuộc hành quân nào lớn như vậy, nội bộ mâu thuẫn, ý chí xâm lược lung lay, bộ binh, chiến thuật thiết xa vận, B52 gần như mất tác dụng, không đương đầu nổi với quân giải phóng và thế trận chiến tranh nhân dân, tên tướng chỉ huy cuộc hành quân là Gian-ma-tha-Xi-man bị cách chức tại chỗ. Thất bại này đã làm quân ngụy thiếu tin tưởng vào lực lượng Mỹ. Quần chúng phấn khởi khắp nơi nổi dậy phá bình định, đấu tranh trực diện với địch đòi trả chồng con, đòi bồi thường hoa màu, nhà cửa bị bom pháo… làm cho địch càng thêm lúng túng.

Có được thắng lợi to lớn trong mùa khô lần thứ hai, mà không những có kỷ luật chấp hành các nghị quyết cấp trên còn là sự chỉ đạo cụ thể kịp thời sáng tạo của Đảng bộ Tây Ninh về việc đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ, vì đây cũng là một trong những nhân tố để quyết định sự thắng lợi.

Trong 6 tháng đầu năm 1967, Tỉnh ủy chỉ đạo cho cán bộ kiêm trì bám trụ và lãnh đạo quần chúng cùng bám trụ chiến đấu để bảo vệ sản xuất, mở rộng diện tích sản xuất. Vùng tiếp cận địch làm tăng vụ, gặt lúa xong trồng tiếp hoa màu như ở Trảng Bàng, Gò Dầu. Vùng giải phóng và vùng tranh chấp mở rộng diện tích sản xuất như Bàu Đưng, Bàu Rào, Trảng Cỏ, Lò Gạch, Tam Hạp, Cây Chò, Gò Nổi, Trại Dầu, Giồng Cu, Bưng Bò, Xóm Sóc, Suối ông Hùng, Bàu Tràm có trên 3235 gia đình rở về sản xuất tại diện tích bỏ hoang hơn 500 ha. Ở Bến Cầu có 1000 gia đình, núi Bà có 500 gia đình, Châu Thành có 400 gia đình, Dương Minh Châu có 100 gia đình trở về ruộng vườn cũ sản xuất. Đối với vùng địch hủy diệt như Lộc Hưng, Đôn Thuận, Hảo Đước, Tà Păng, Phước Chỉ, Thạnh Đức quần chúng vẫn kiên cường bám trụ sản xuất dưới bom đạn để tự túc nuôi quân. Đây là đặc điểm nổi bật hể hiện tinh thần bám xóm làng để sản xuất đưa mặt trận này ngang hàng với chiến đấu.

Trong phong trào sản xuất, lực lượng phụ nữ đã trở thành vai trò nòng cốt, có hàng ngàn chị em cầm cày, nhiều nhất là ở Trảng Bàng, Gò Dầu, cũng có một số ít ở Châu Thành, Bến Cầu. Khi biết địch càn quét, chị em ra đồng ruộng thu hoạch nhau mùa lúa chín không để địch cướp phá.

Để giải quyết đủ phương tiện cho sản xuất, Tỉnh ủy chủ trương xuất cho 4 triệu đồng tín dụng (trong tổng số 7 triệu đồng sản xuất năm) ưu tiên cho đồng bào nghèo thiếu vốn sản xuất. Với chính sách này đã cổ vũ nông dân thâm canh sản xuất, ngoài việc gieo cấy lúa, nông dân còn trồng mì dự trữ lương thực cho kháng chiến. Trước tình hình chiến sự ngày càng diễn ra ác liệt, người nông dân không thể làm ăn cá thể, họ đã hỗ trợ đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất trở thành yêu cầu bức thiết. Từ đó, đã hình thành hình thức vần đổi công, phổ biến nhất ở Trảng Bàng, Gò Dầu, Châu Thành, Rừng Nhum (Bến Cầu).

Đồng thời, với việc đẩy mạnh phong trào sản xuất tại chỗ, đồng bào còn đấu tranh chống âm mưu phong tỏa kinh tế của địch. Họ đã luồn lách qua mắt địch vận chuyển lương thực thực phẩm vào phục vụ kháng chiến. Huyện nào cũng mở được cửa khẩu, nổi bật là cửa khẩu Long Chữ, đường số 6 Trảng Bàng, có ngày đưa vào vùng giải phóng hàng ngàn thùng gạo, ở cửa khẩu Suối ông Hùng bị địch càn, đồng bào vẫn tìm đường khác để chuyển hàng vào vùng giải phóng như gạo, ni-long, vật phẩm đủ loại cho các cơ quan. Ngoài ra, đồng bào còn tập trung sức người đi dân công tại chỗ và ra chiến trường trên 10.400 lượt người, nhiều nhất là ở Châu Thành, Trảng Bàng, Dương Minh Châu.

Thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 2 trên chiến trường trọng điểm Tây Ninh đã dẫn tới sự bế tắc về chiến lược của Mỹ. Từ chiến lược tấn công chúng chuyển sang phòng ngự và ngày càng lún sâu vào thế bị động. Trước sự thất bại này, Mắc-Na-ma-ra, bộ trưởng quốc phòng Mỹ phải chua chát thú nhận: Tại Miền Nam Việt Nam có trên 1 triệu quân nhưng bị dồn vào thế bị động cầm chân, tê liệt từng bộ phận. Quân thiện chiến của Mỹ bị tổn thất nhiều và đau đớn… Ngược lại, chủ lực Việt cộng được gia tăng hơn bao giờ hết. Tướng Oét-Mo-len cũng thú nhận: “Các đội bình định nông thôn bị diệt đến con số báo động”. Các báo cáo của địch tháng 5-1967 đã nêu: “Khủng hoảng từ Trung ương đến các địa phương”. Tờ báo Daily Télégraphe số ra ngày 5-7-1967 viết “về cơ bản Mỹ đã quay về thế phòng ngự bị động”.

Giành được thắng lợi to lớn, toàn diện đó, quân dân Tây Ninh đóng góp một phần công sức của mình, cùng quân dân Miền Đông và lực lượng trên đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đế quốc Mỹ, tạo ra cục diện chiến lược mới có lợi cho ta trên chiến trường. Từ đó, tạo điều kiện cho ta chuẩn bị mọi mặt để chồm lên tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân năm 1968.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:14:03 PM
II- CHUẨN BỊ VÀ THỰC HÀNH CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN MẬU THUÂN 1968 GÓP PHẦN BUỘC MỸ PHẢI THAY ĐỎI CHIẾN LƯỢC XUỐNG THANG CHIẾN TRANH (GIỮA NĂM 1967 ĐẾN CUỐI NĂM 1968).

Sau thất bại nặng nề trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lân thứ hai, đế quốc Mỹ giảm sút thêm một bước ý chí xâm lược, đặc biệt là trên chiến trường Mỹ đã mất quyền chủ động về chiến lược phải thay “tìm diệt” bằng “quét và giữ” và phải phân tán quân Mỹ, quân tổng trù bị Ngụy, hành quân nhỏ để đối phó với ta.

Trên chiến trường Tây Ninh, địch rải ra đóng các chốt: một lữ thuộc sư 25 Mỹ đóng tại Trảng Lớn thay lữ 196 và đóng các cụm ở Cần Đăng, Thiện Ngôn, Đồng Pan, Bà Chiêm, Thành Long, lập các tuyến ngăn chặn ở liên tỉnh lộ 13 (Dương Minh Châu), Bàu Trường (Bến Củi), lộ 2 Suối ông Hùng, lộ 19 Bến Câu, chốt Ngụy ở Chà Rầy, sư 25 Ngụy ở Gia Lộc, Tịnh Phong. Địch còn đánh phá Thanh Điền, khoanh vùng các ấp chiến lược, đóng trên 14 bót, tua bao bọc bên trong chúng thành lập Khu “tị nạn cộng sản” Phước Điền.

Trước tình hình đó, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội chỉ đạo các lực lượng vũ trang hoạt động mở rộng vùng ven.

Ngày 3-9-1967, Tỉnh đội điều đại đội 2 tiểu đoàn 14 về xã Phước Thạnh phục kích đánh đoàn xe cơ giới địch trên lộ 22 khu vực Bàu Chè Hai xã Hiệp Thạnh diệt 9 xe M113 và M41. Qua trận thắng này, đã mở ra khả năng tiểu đoàn đứng trụ được sát địch ở vùng ven.

Ngày 10-10-1967, vào lúc 8 giờ địch dùng 6 trực thăng đổ một đại đội biệt kích xuống bao vây tấn công và căn cứ du kích tại ấp Long Cường xã Long Khánh. Lúc đó, phần lớn đội du kích đã đi công tác chỉ còn 2 đồng chi giữ căn cứ: đ/c Nguyễn Văn Ẩn xã đội phó và đ/c Nguyễn Văn A đội viên. Địch có lực lượng đông, chia 2 mũi, đồng loạt đánh vào, trên có trực thăng chiến đấu yểm trợ. Địch liên tiếp mở nhiều đợt xung phong, nhưng bị đánh bật ra, lúc này đồng chí Nguyễn Văn A đã anh dũng hy sinh. Còn lại 1 đ/c Ẩn, anh vẫn linh hoạt và di chuyển nhanh nhẹn, lúc thì dựa vào hầm hào ném lựu đạn, khi thì dựa vào ụ chiến đấu quét từng loạt đạn ngắn ngăn chặn các đợt xung phong của địch và còn bắn rơi 1 trực thăng. Địch không rõ lực lượng ta đông hay ít mà mỗi lần xông vào đều bị tiêu hao, từ đó sinh ra uể hoải, sa sút tinh thần chiến đấu.

Suốt một ngày chiến đấu, đồng chí Ẩn dù bị thương nặng đã anh dũng chiến đấu đánh bật 11 đợt xung phong của địch diệt 30 tên, bắn rơi 1 trực thăng. Sau chiến công này, đồng chí Ẩn được truy tặng một Huân chương chiến công hạng nhất.

Ngày 20-10-1967, C33 Gò dầu phối hợp với D14 tập kích diệt gọn 52 tên bình định tại ấp chiến lược Bàu Nâu.

Theo yêu cầu tổ chức lại chiến trường chuẩn bị tổng tấn công tổng khởi nghĩa, tháng 10 năm 1967, thực hiện được chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền thành lập vùng trọng điểm Sài Gòn gồm 6 phân khu, Tây Ninh có sự đổi mới: Tây Ninh không còn trực thuộc quân khu 7 (vì quân khu 7 giải thể để thành lập các phân khu) mà trực thuộc R. Cắt huyện Tràng Bàng cùng Củ chi, Hóc Môn tổ chức thành phân khu 1. Đồng chí Ba Dữ Thường vụ tỉnh ủy cùng một số cán bộ tăng cường cho phân khu 1. Điều tiểu đoàn 16 cho phân khu 2 Long An, Tây Ninh nhanh chóng tổ chức lại tiểu đoàn 16 khác với khung tiểu đoàn 16 cũ.

Về tổ chức cán bộ, đồng chí Nguyễn Văn Tốt (Hai Bình) Bí thư Tỉnh ủy được điều lên công tác ở Trung ương Cục, đồng chí Nguyễn Văn Hải (Bảy Hải) Phó Bí thư thay làm Bí thư Tỉnh ủy.

(https://lh3.googleusercontent.com/ClfUHK6PTBS2O2U4r4qFY9iRlhQsBtHbTcha0sgFA861Ase3NqKz8uRlRI_VFS3yyWawye7VCPTGnXf9XfAcd43Mmh4_piv6CcRr3I-8j3Q4WoLDsRpN-ALIvO4mCtXTLxf9P6Y3DV3nSs3dTI9XQj9IvkJVyScHTPzVtDwu_7Y6YbvPHC3JzGZa6uF86AImRMsnDovyTs8IjMfezFENK18x5ws3voGR_PGroga9Tr6UBpNIhey4crAUnBpmH0vGxC0PDXvpTR5voM4cakInrA7bflEEc569pVqHuv8lCXcVn2sOb5VDL1JvAHA8H-6bjtETIraX1sMx9qazhR1fpeFLyNQVWe_Y4rZVMLE68vvagKIvwy1ctL0NYPkTawuwyP8xnJDiMk_TemV_jtghOC4gDoQsX5mfMHHse2xcgGKN50vWboFXgeNPmo10kB485U8M-IM4xKo5H7atYSgRNu5ji-9sJDRJt7a2mG_h_y3lUvhLmQKZRburWNtCGspUdaLfWNfy5uliNM7wPcNItiDiRPBNnvlh7xVzyI5LGeRi2r4cJRiFqKCASm-fwpuj479b-aUlbxs5Amu74oq8EzjEmTSCnc9BKfZn_0k=w336-h421-no)

Đồng chí NGUYỄN VĂN HẢI (Bảy Hải)
Bí thư Tỉnh ủy (1967 đến 1975)

Tỉnh ủy họp lên kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ mới, phát động quần chúng ủng hộ vật chất, chuẩn bị cơ sở hậu cần (lương thực, vũ khí) cho quân sự và sẵn sàng khởi nghĩa. Tổ chức điều cán bộ chỉ huy cho các vùng trọng điểm.

Vừa ổn định kiện toàn bộ máy lãnh đạo, chỉ huy các cấp, Tỉnh ủy vẫn chỉ đạo quân sự điều nghiên chuẩn bị chiến trường, tiếp tục điều lực lượng vũ trang đánh vào vùng ven để tạo thế và thăm dò mức phản ứng của địch.

Đêm 20-11-1967, tiểu đoàn 16 sau 4 tháng ổn định củng cố đã ra quân cùng bộ đội Bến Cầu và du kích Lợi Thuận tổ chức cường tập bót Mộc Bài ở lộ 1 tiêu diệt đại đội bảo an 388.

Ngày 28-11-1967, C12 của d14 chống càn vùng ven xã Thạnh Đức (Gò Dầu) diệt 1 đại đội cơ giới bộ binh Mỹ.

Ngày 29-11-1967, tiểu đoàn 14 chống càn vùng ven xã Trường Hòa (Nam Tòa Thánh) tiêu diệt gọn 1 đại đội bảo an và đánh thiệt hại đại đội bảo an 766 của tiểu khu Tây Ninh nống ra.

Ngày 28-12-1967, tiểu đoàn 14 cường tập đồn Lò Than, đây là mặt án ngữ nam Tòa Thánh của ngụy. Sau 25 phút chiến đấu, ta diệt gọn đại đội bảo an 267.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:15:20 PM
Các trận đánh điển hình trên đây đã góp phần mở rộng địa bàn trọng điểm Nam Tòa Thánh, Bắc Gò Dầu theo yêu cầu chỉ đạo của Tỉnh ủy để làm bàn đạp đứng chân tấn công vào Thị xã.

Mặc dù phải bị động đối phó với các cuộc tiến công của quân dân ta trên khắp chiến trường, nhưng với bản chất chủ quan và ngoan cố, tháng 12-1967 Mỹ - Ngụy mở tiếp cuộc hành quân lớn thứ 3 mang tên “Hòn đá Vàng” đánh vào Đông Bắc Dương Minh Châu hòng gỡ gạc danh dự cho những lần thất bại trước. Cái chính là củng cố tinh thần ngụy quân ngụy quyền đang sa sút nhằm tạo lại thế lực cho bọn địch nhưng chúng đã bị bộ đội chủ lực kết hợp với du kích chặn đánh liên tục, loại khỏi vòng chiến 2.000 tên Mỹ, 500 tên Ngụy, bắn cháy 184 xe và bắn rơi 60 máy bay. Cuộc hành quân đang tiếp tục, Mỹ Ngụy phát hiện lực lượng võ trang của ta đang điều quân áp sát Sài Gòn, chúng buộc phải kết thúc giữa chừng, cấp bách điều quân về phòng thủ Sài Gòn, đồng thời, tăng cường hoạt động B52 đánh phá ngăn chặn ta, bọn địa phương cũng tăng cường phòng thủ thị trấn, thị xã, giữ các trục lộ giao thông huyết mạch.

Trước những thắng lợi tầm cỡ chiến lược, tháng 1-1968, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 14 đã nhận định: những cố gắng của Mỹ ở Việt Nam đã tới đỉnh cao. Xu thế của tình hình địch năm 1968 là sẽ càng chuyển vào thế phòng ngự một cách bị động hơn trước. Về phía ta, chúng ta đã đánh thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật. Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Tình hình cho phép ta có thể chuyển chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ang một thời kỳ mới – đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao hơn. Hội nghị chủ trương mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, Tết Mậu Thân nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của Mỹ(1).

Quán triệt Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, Tây Ninh nhanh chóng chuẩn bị mọi mặt để bước vào tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968.

Về lực lượng quân sự, Tỉnh có 2 tiểu đoàn 14 và 16 mới thành lập (quân số thiếu), đại đội 5, đại đội đặc công, công binh, biệt động. Xây dựng mỗi huyện có từ 1 đến 2 trung đội bộ binh, công binh, đặc công.

Về vũ khí, được trên trang bị thêm súng AK, B40, B41. Công binh xưởng tỉnh, huyện gấp rút chế mìn, bộc phá, thủ pháo, lựu đạn phục vụ cho tổng tiến công và nổi dậy.

Tổ chức lực lượng chính trị, binh vận bung ra móc ráp và xây dựng cơ sở phục vụ tổng tiến công và nổi dậy.

Cùng với việc chuẩn bị thực lực, trong một thời gian hết sức khẩn trương, nhân dân Tây Ninh đã thực hiện một khối lượng công việc rất lớn về tổ chức đảm bảo cho phía trước mở hành lang, dân công vận chuyển chiến lược hình thành tổ chức và địa bàn tiếp nhận chiến thương, tử sĩ… Như ở Trảng Bàng, liên hoàn căn cứ lõm An Tịnh, Gia Lộc, Lộc Hưng được chọn làm căn cứ hậu cần, quân y phục vụ cho chiến trường phân khu 1, số lượng lương thực vũ khí đủ cho một chiến dịch lớn đã được vận chuyển và cất giấu an toàn, lực lượng quân y, hầm hố, gia đình cơ sở chuẩn bị đảm bảo tiếp nhận 200 chiến thương…

Để động viên phong trào của quần chúng bước vào trận quyết chiến mới, Tỉnh ủy tổ chức học tập Nghị quyết Trung ương Đảng, và của Tỉnh ủy về nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị nhằm thực hiện mục tiêu yêu cầu của đấu tranh sắp tới. Trước khi bước vào tổng tiến công và nổi dậy, các đơn vị đều được sinh hoạt, mệnh lệnh động viên của Quân ủy, Bộ chỉ huy Miền, “Trường Sơn chuyển mình, Cửu Long dậy sóng”, “thời cơ ngàn năm có một, hãy hăng hái xông lên đập tan sào huyệt địch”.

Phối hợp với kế hoạch chung của toàn Miền, quân dân Tây Ninh thực hiện 3 đợt tiến công và nổi dậy.


(1) (50 năm hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam, Ban Nghiên cứ lịch sử Đảng Trung ương, NXB Sự Thật Hà Nội năm 1979 trang 206)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:15:43 PM
Đợt 1: Đêm 30 rạng 31 tháng 1/1968 đến 15/3/1968.

Tiểu đoàn 16 cùng đại đội biệt động từ hướng tây đánh vào khu vực USOM của cố vấn Mỹ. Tiểu đoàn 14 từ hướng Bắc đánh thẳng vào tiểu khu, có đại đội pháo (sư 5) đại đội đặc công phụ trách giải phóng nhà giam. C2/45 Thị xã đánh vào khu vực Xóm Dốc, Quán Cơm và trung tâm Thị xã. Do kế hoạch hợp đồng không chặt, tiểu đoàn 16 cho chuẩn bị phương tiện vượt sông không đảm bảo nên không qua sông được, chỉ có đại đội biệt động vào Giếng Mạch đánh dạt xuống Trường Lưu, Trường Hòa về rừng 16 mẫu, Tiểu đoàn 14 và đặc công nắm địch không chặt nên rút ra, đại đội pháo (C5) bắn vào tiểu khu Tây Ninh hủy diệt kho xăng ở sân bay Tây Ninh và tiểu đoàn 14 chỉ đưa một bộ phận của đại đội 3 đánh tiêu diệt Tua Chùa Ông Cọp ở đầu Sân bay, bắt tù binh.

Ở khu vực Tỏa Thánh, tiểu đoàn 14 mở nhiều dợt tấn công vào chi khu Phú Khương, tên quận trưởng hoảng sợ gọi pháo bắn ngay vào hàng rào chi khu nằm ngăn chặn bước tiến công của ta. Đến sáng, tiểu đoàn 14 rút về trụ lại ấp Long Mỹ. Bọn Mỹ chi viện đến tập trung phản kích quyết liệt, chúng dùng bom hủy diệt ấp Long Mỹ, và sau đó, xe tăng và bộ binh Mỹ càn quét, tiểu đoàn 14 vẫn kiên cường bám trụ, đánh bật từng đợt tấn công của địch, làm chủ cả ngày lẫn đêm, diệt gần 300 tên Mỹ, gây thiệt hại 1 đại đội bảo an, bắn rơi 6 phi cơ, diệt 15 xe M48. Nơi đây là vùng tôn gáo Cao Đài, quần chúng tín dồ chưa biết quân giải phóng nay họ đã tận mắt thấy “anh lính Cụ Hồ”. Không phải như bọn địch xuyên tạc: Việt Minh Cộng sản gian ác, gặp con gái, đàn bà hãm hiếp, cướp của giết người. trong lúc bom đạn Mỹ Ngụy trút xuống xối xả, bộ đội vừa đánh, vừa giúp dân chữa nhà cháy, cứu người bị thương, nhường hầm cho đồng bào trú ẩn như đồng chí Trần Quốc Đại phó chính trị viên tiểu đoàn 14 nhường hầm của mình cho một cụ già, đồng chí ra ngoài bị miểng pháo găm vào đùi bị thương. Ông già này là một chức sắc Cao Đài tận mắt thấy hành động dũng cảm của bộ đội đã nói với quần chúng tín đồ “chỉ có quân đội giải phóng mới thật sự là quân đội lo cho dân, cứu dân, thà mình hy sinh để lo cho dân”. Hành động của đồng chí Đại đã gây ảnh hưởng rất tốt trong quần chúng Cao Đài. Khi ta rút ra còn để lại 7 liệt sĩ, quần chúng Cao Đài cùng một số chức sắc tiến bộ lo chôn cất tử tế. sau ngày giải phóng, họ đã chỉ cho ta lấy hài cốt đem về nghĩa trang.

Cùng với tiếng súng đánh vào Thị xã, ở các huyện, lực lượng vũ trang kết hợp với đồng bào nổi dậy tấn công đồng loạt. tại Châu Thành, lực lượng phối hợp với sư 9 chủ lực Miền tấn công vùng tam giác Thanh Điền – Thái Bình A – Trí Bình tiêu diệt tiểu đoàn biệt động quân tại ngã tư Thanh Phước, làm chủ được nhiều ngày và đánh vào khu “tỵ nạn cộng sản” Phước Điền, tiêu diệt bót Ocônel. Lúc đó hơn 5.000 đồng bào Thanh Điền nổi dậy đấu tranh bằng hình thức tản cư ngược, lùa cả trâu bò kéo vào Thị xã đấu tranh đòi bồi thường nhà cửa bị bom đạn tàn phá. Với khi thế biểu dương lực lượng như vậy, bọn địch phải xuống nước dịu giọng chấp nhận yêu sách của đồng bào. Ở Trảng Bàng, lực lượng vũ trang đồng loạt bao vây thị trấn, đập phá vào chi khu, cắt giao thông lộ 1, đánh chiếm bót Gia Huỳnh, Lộc Du. Vào thời gian đó, du kích Lộc Hưng và 1 đại đội huyện tấn công bót Cầu Ván, bọn lính trong đồn phải cố thủ chờ tiếp viện, 1 tiểu đoàn sư 25 Ngụy chi viện đến bị ta đánh tan tác. Trước khí thế tiến công của ta, bọn lính trong đồn hoảng sợ phải bỏ súng chạy trốn. Sau đó, 1 trung đoàn Mỹ kéo đến đóng chốt ở Chà Rầy án ngữ mặt bắc vành đài chi khu Trảng Bàng. Chúng tổ chức thành một cứ điểm kiên cố, bố trí bãi pháo, bãi đáp trực thăng, bên ngoài phòng thủ bằng lớp hàng rào xe tăng dày đặc. Để chống lại âm mưu này, dân quan du kích tiến hành lập trận địa trái mìn gài gần 500 mét từ Đồng Ớt vòng về ngã tư Bố Heo, lập thế bao vây nhằm vô hiệu háo cứ điểm này. Trên các xã cánh tây (Trảng Bàng) dân quân du kích Phước Chỉ kết hợp với bộ đội huyện tấn công đồn Trà Cao diệt 1 trung đội bảo an, bắt giáo dục một số tề ngụy. Ở Gò Dầu, bộ đội huyện cùng với tỉnh đánh từ thị trấn Gò Dầu, dọc lộ 22, Bàu Đồn, Suối Bà Tươi, lộ Thạnh Phước, chặn đánh đoàn xe tiếp viện từ Thị xã xuống Bông Trang làm cháy 4 xe, hư 2 xe, diệt và làm bị thương 40 tên. Ở Bến Cầu, lực lượng vũ trang huyện kết hợp với du kích Lợi Thuận trụ tại lộ 1 và đột nhập và ấp chiến lược ngã tư An Thạch phát loa kêu gọi lính trong đồn bỏ súng trở về với cách mạng, đồng thời còn dẫn đường cho đại đội 1 của d14 tiến công tiêu diệt đồn dân vệ ấp chiến lược Mộc Bài. Với khí thế tấn công ồ ạt, lực lượng vũ trang huyện đánh vào Long Giang, Long Khánh, Long Chữ.

Đồng thời với các hoạt động quân sự, quần chúng phản kích nổi dậy diệt ác phá kềm kẹp khắp nơi: đặc biệt là khu Tòa Thánh, quần chúng tín đồ kết hợp với lực lượng vũ trang diệt địch phá kềm bức rút đồn bót, xé tờ khai gia đình, cờ ba que, thẻ cử tri, rải truyền đơn và lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Trên 10.000 quần chúng ấp Long Mỹ cùng quần chúng tín đồ Cao Đài kéo đến đấu tranh với quận trưởng Phú Khương và tỉnh trưởng Hồ Đắc Trung đòi bồi thường tính mạng, nhà cửa, cây trái, súc vật bị bom đạn Mỹ đánh phá, địch buộc phải xuất 2 triệu đồng bồi thường. Phong trào gia đình binh sĩ kêu gọi chồng, con, em chống lệnh hành quân tiếp viện, trở về với gia đình, với cách mạng cũng phát triển mạnh mẽ. Ở Xóm Sóc (Trảng Bàng) vào tháng 2/1968, 1 trung đội địch đi càn, quần chúng đã công tác địch vận làm rã ngũ gần hết.

Để đảm bảo cho bộ đội ăn no đánh thắng, đông đảo quần chúng tham gia tiếp tế chiến trường, nhiều gia đình hiến cả lon gạo cuối cùng cho cách mạng. Tại Tòa thánh, dù phải sống trong cảnh kềm kẹp, quần chúng đóng góp tiền mua vải, đường, sữa, thuốc men cho bộ đội. Có rất nhiều người còn vượt dưới bom đạn bám sát chiến trường chuyển hàng, tải đạn, tải thương, như chị Võ Thị Dậu (Gò Dầu) lấy thân mình che đạn cho thương binh và đã hy sinh anh dũng. Chị Đặng Thị Hải ở Lộc Hưng (Trảng Bàng) cõng tử sĩ đi lạc rừng 3 ngày vẫn đưa về căn cứ chôn cất chu đáo.

Với những đòn tiến công liên tục, trong đợt 1 quân dân Tây Ninh đánh 230 trận lớn nhỏ, diệt 3.325 tên (trong đó có 300 tên Mỹ) phá hủy 55 xe tăng, bắn rơi 9 máy bay, làm rã ngũ 1.338 tên.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:16:13 PM
Đợt 2: Đêm 4 rạng 5/5/1968 đến 18/6/1968.

Trên các chiến trường, quân Mỹ ngày càng lún sâu vào thế bị động, nên từ 30/3/1968, quân Mỹ phải phân tán cùng với quân Ngụy bình định nông thôn, chỉ làm nhiệm vụ “quét và giữ”.

Nhận rõ sự thay đổi chiến lược của Mỹ là bị động đối phó, nên sau đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy; Trung ương cục và Bộ Chỉ huy Miền xác định nhiệm vụ kế tiếp là “tập trung mọi nỗ lực và cố gắng mới để chỉ đạo đợt 2 giành thắng lợi lớn hơn, chỉ đạo liên tục chiến đấu, đồng thời chuẩn bị về mọi mặt cho những đợt tấn công vào những tháng đầu mùa mưa để tiến lên giành thắng lợi quyết định”.

Thực hiện chủ trương trên, kết hợp với chiến trường trọng điểm Sài Gòn, Tây Ninh bước và đợt 2 tổng tiến công và nổi dậy. Đêm 4 rạng ngày 5/5/1698, bộ đội tấn công vào yếu khu Bến Cầu diệt 1 đại đội bảo an và bức rút đồn Long Giang. Bộ đội Tòa Thánh kết hợp với lực lượng trên tấn công núi Bà Đen trung tâm vô tuyến kỹ thuật Mỹ.

Ngày 7/5/1968, đại đội 40 cùng trung đội nữ, du kích Ninh Điền diệt 1 đại đội biệt kích 343 ở Bến Sỏi, bung ra án ngữ Chòm Xoài. Đồng thời, lực lượng Châu Thành đánh diệt đồn dân vệ công sở Thanh Điền, bức rút đồn Bàu Đưng (Thanh Điền) và cùng lực lượng trên đánh vào chốt Mỹ, diệt 200 tên.

Ngày 8/5/1968, lực lượng ta đánh bộc phá diệt cụm Mỹ ở An Thành (An Tịnh) và làm tan rã 1 đại đội bảo an.

Ngày 10/5/1968, bộ đội chống càn tiêu diệt 1 đại đội bảo an ở Xóm Láng (Dương Minh Châu).

Lúc này, Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội quyết định thay đổi cách đánh, hướng đánh giao thông và đánh địch bung ra vùng ven, không tấn công vào thị trấn, Thị xã bằng lực lượng lớn mà chỉ để biệt động đặc công, du kích mật hoạt động trong hậu phương địch.

Chấp hành sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Tỉnh đội, đêm 15/5/1968 tiểu đoàn 14 phục kích đánh giao thông trên lộ 22 khu vực Bến Mương – Trà Võ. Chỉ từ khuya đến trưa, trinh sát báo sẽ có một đoàn xe Mỹ từ Trảng Lớn về Đồng Dù. 15 giờ 30, xe Mỹ lọt vào trận địa phục kích, cuộc chiến diễn ra khoảng một tiếng đồng hồ, tiểu đoàn 14 diệt 10 xe, số còn lại hoảng sợ rút về Thị xã, 80 tên bị diệt, một số tên bị bắt sống trong đó có một thiếu tá Mỹ. Trận này đã nổi lên gương chiến đấu dũng cảm của anh Bùi Xuân Nguyên, diệt 4 xe tăng. Đại đội 33 Gò Dầu phối hợp với tiểu đoàn 1 của trên tăng cường cho Tây Ninh phục kích đánh giao thông khu vực Vên Vên lộ 22, diệt 11 xe và 150 tên Mỹ.

Ngày 30/5/1968, đại đội 33 phục kích đánh giao thông trên lộ 22 khu vực Bến Mương diệt 80 tên Mỹ - Ngụy, bắn cháy 5 xe và 1 phi cơ.

Trước áp lực tấn công của ta, địch tăng cường đánh bom pháo điên cuồng vào vùng nông thôn, quần chúng nổi dậy tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống bắn pháo vào xóm làng và khi xe địch càn vào. Nhiều mẹ và chị em dang tay cản không cho xe càn vào đồng ruộng phá hoại hoa màu. Ngoài ra, trong các ấp vùng ven, đồng bào sốt sắng đưa con em vào xây dựng lực lượng vũ trang. Ở Trảng Bàng đợt 1 chỉ có 1 trung đội, vào đợt 2 xây dựng được 1 tiểu đội và 1 đội nữ pháo binh. Gò Dầu đợt 1 có 34 đồng chí, vào đợt 2 tổ chức được 2 đại đội và Châu Thành cũng phát triển được 2 đại đội

Trong đợt 2, quân dân Tây Ninh đánh 128 trận lớn nhỏ, diệt 2.763 tên, làm tan rã 249 tên, diệt 30 xe, bắn rơi 17 phi cơ góp phần căng kéo địch ở chiến trường trọng điểm Sài Gòn.

Đợt 3: Từ 17/8/1968 đến 30/9/1968.

Qua đánh giá tình hình, tháng 8/1968, Bộ Chính trị đề ra chủ trương tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đẩy mạnh thế tổng tiến công toàn diện đạt cho được mục tiêu chiến lược giành thắng lợi quyết định, đồng thời phải luôn luôn sẵn sàng về mọi mặt để đánh thắng địch, nếu chúng nó kéo dài hoặc mở rộng chiến tranh.

Trên cơ sở đó, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền chủ trương chuyển hướng mở chiến dịch tiến công đợt 3 lấy địa bàn chủ yếu là Tây Ninh, thứ yếu là Lộc Ninh (Bình Long) phối hợp với vùng ven và nội ô Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, đánh mạnh vào tuyến ngoài của hệ thống phòng ngự của Mỹ - Ngụy ở vùng 3 chiến thuật nhằm: tiêu diệt một bộ phận sinh lực cơ động Mỹ - ngụy, làm tê liệt một thành phần quan trọng hệ thống phòng thủ Sài Gòn, đẩy mạnh phong trào địa phương diệt ác, giành dân, thu hút lực lượng địch ra ngoài tạo điều kiện cho hoạt động quân sự, chính trị Sài Gòn và xung quanh.

Thực hiện chủ trương ở trên, Tỉnh ủy chỉ đạo cho quân dân trong tỉnh kết hợp với lực lượng của trên vừa phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình, vừa tạo mọi điều kiện thuận lợi cho lực lượng trên hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời chỉ đạo các lực lượng vũ trang trong tỉnh mở rộng địa bàn khắp nơi để căng kéo kềm chân địch, tạo mọi thuận lợi cho trên tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch.

Để đối phó địch tăng cường sư 25 Mỹ lên Tây Ninh đóng nhiều chốt dã chiến ở Tây Bắc Trảng Lớn, Trà Phí, Chà Là, Ngã Ba Lâm Vồ, Cây Da, Bàu Cỏ, Đồng Pan, đường số 4. Hàng ngày, chúng dùng lực lượng từ 1 đến 2 đại đội đánh phá các vùng bàn đạp Tầm Lanh, Bàu Sen, Trại Đèn, Xóm Vịnh, Trà Vong, và dùng bảo an càn quét vùng tranh chấp Thanh Phước, Phước Thạnh, Gia Lộc, Lộc Hưng An Tịnh. Vùng tây sông Vàm Cỏ Đông cho biệt kích đánh ra vùng Thanh Điền để thăm dò ta.

Nhưng địch vẫn bị bất ngờ vì lo sợ ta tấn công vào các đô thị nên không đoán được hướng đánh của ta. Đêm 17 rạng 18/8/1968, lực lượng vũ trang tỉnh phối hợp với chủ lực trên đồng loạt tổng tiến công khắp nơi, tiểu đoàn 14 tấn công vào Long Hoa tiêu diệt đồn Quy Thiện, loại khỏi vòng chiến 1 đại đội bảo an đóng tại ấp Long Chí. Chủ lực Miền đánh cụm Trà Phí diệt 1 tiểu đoàn và một tiểu đoàn pháo, tấn công địch trên đình núi Bà Đen, tập kích cụm Mỹ, Chà Là, diệt 600 tên đánh Suối Ông Hùng diệt 1 tiểu đoàn Mỹ và tấn công cụm Trà Phí lần thứ hai diệt 600 tên Mỹ. Trung đoàn 88 sư 5 Miền cùng bộ đội Gò Dầu đánh phục kích diệt 100 xe trên lộ 22 ở ấp Giữa và Vên Vên.

Trước thế trận của ta, từ ngày 18 đến ngày 21/8/1968, địch cấp tốc điều sư 25 ngụy và tiểu đoàn 51 biệt động quân tập trung giải tỏa Long Hoa, lộ 22 và các điểm bị ta tấn công.

Phía tây sông Vàm Cỏ Đông, đại đội 40, trung đội nữ và du kích Ninh Điền diệt đại đội biệt kích 304 Bến Sỏi nống ra Gò Nổi.

Hướng Bắc tỉnh, lực lượng trên đánh Lâm Vồ diệt 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới ở Bến Củi và Tà Păng ro bong, lực lượng trên đánh tiêu diệt 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến.

Tiểu đoàn 1 của trên tiến vào Long Hoa trụ tại Thiên Thọ Lộ đánh tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn biệt động quân.

Tiểu đoàn 14 chống càn Cầu Sắt, Hiệp Thạnh tiêu diệt đại đội 3 của tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến. Cũng tại Hiệp Thanh, đại đội 33 Gò dầu đánh diệt 120 tên Mỹ, bắn cháy 12 xe, 2 phi cơ, làm chủ trận địa.

Đại đội 1 của tiểu đoàn 16 phối hợp với biệt động tỉnh và C8R phục kích tại đường số 7 Thanh Điền diệt 1 đại đội thủy quân lục chiến.

Hoảng sợ trước khí thế tiến công dồn dập của ta, địch vội vã điều Bộ Tư lệnh nhẹ sư 25 Mỹ và 1 tiểu đoàn Mỹ lên đóng Dầu Tiếng lập tuyến Đông Tây lộ 26 nhằm ngăn chặn lực lượng lớn của ta tiến về phía Nam nhưng địch vẫn bị lực lượng ta tấn công liên tục. Đêm 23/8/1968, lực lượng Dương Minh Châu và chủ lực Miền đánh Trảng Trường, Bến Củi. Ở Gò Dầu, một bộ phận của trung đoàn 88 tấn công vào khu vực Hiệp Thạnh, uy hiếp lộ 22, tập kích lại cụm Chà Là. Trung đoàn 16 cùng bộ đội Trảng Bàng đánh Cầu Ván, Chà Rầy, thị trấn Trảng Bàng và bộ đội huyện chặn đánh một thiết đoàn Mỹ trên lộ 6.

Mặc dù lập phòng tuyến ngăn chặn ta, địch buộc phải hủy bỏ ý đồ tảo thanh đông tây sông Sài Gòn, đành rút lữ 2 sư 25 Mỹ và tiểu đoàn 51 biệt động quân về án ngữ Củ Chi.

Sau ngày 29/8/1968, lực lượng Mỹ ở Tây Ninh chỉ còn 3 tiểu đoàn của lữ 1 sư 25, nhưng đã mất sức chiến đấu phải co về chốt phòng ngự chung quanh thị xã Tây Ninh và trên lộ 22 để tranh thủ bổ sung quân số.

Trên chiến trường Tây Ninh, khi Mỹ rút về co cụm, quân ngụy buộc phải thay thế bung ra càn quét. Ở Gò Dầu, chiến đoàn B thủy quân lục chiến điều lên đối phó với ta trên lộ 22, Nam Tòa Thánh và đán phá các xã ruột Gò Dầu. Ngày 6/9/1968, tiểu đoàn 14 chống càn tại xã Hiệp Thạnh, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến. Ngày 1/9/68, tiểu đoàn 14 tiếp tục đánh vào Long Hoa, tiểu đoàn 1 phối hợp với lực lượng trên tập kích cụm Mỹ ở Bàu Tràm (Tiện Thuận) diệt 1 tiểu đoàn thuộc sư 25 Mỹ và 2 đại đội biệt kích Mỹ.

Song song với các mũi tiến công vũ trang, phong trào quần chúng nổi dậy phá thế kềm kẹp, đào đường đắp mô diễn ra rất sôi nổi. Cùng đó là phong trào đấu tranh binh vận, nhất là các gia đình binh sĩ Ngụy, họ đã vận động chống lệnh hành quân tiếp viện làm cho địch càng thêm bối rối.

Đợt 3 tổng tiến công và nổi dậy đã đem lại kết quả cao về tiêu diệt địch: lực lượng trên đánh trên địa bàn Tây Ninh loại khỏi vòng chiến đấu 10.058 tên (có 7.334 tên Mỹ), bắn cháy 211 xe các loại (73 xe thiết giáp) phá hủy 112 khẩu pháo.

Lực lượng Tây Ninh đánh 227 trận, diệt 4.116 tên, phá hủy 45 xe, bắn rơi 9 phi cơ, diệt gọn 3 đại đội và đánh thiệt hại 4 tiểu đoàn. Công tác binh vận làm rã ngũ 1.426.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2018, 07:21:29 PM
Thời kỳ này, địch đánh phá rất ác liệt, các chiến sĩ hậu cần phải bám dân mới có hàng, vì vậy có biết bao đồng chí, đồng bào làm nhiệm vụ tiếp tế đã ngã xuống vùng ven Trảng Bàng, Gò Dầu, Dương Minh Châu, Bến Cầu, các cửa khẩu Châu Thành. Như đồng chí Nguyễn Hồng Khoa, chiiến sĩ hậu cần trong lúc đang làm nhiệm vụ vận chuyển hàng pháo địch bắn bị thương thủng ruột, đồng chí tự mình băng bó vết thương điều khiển xe bò chở hàng về đến nơi an toàn. Do vết thương nặng máy chảy nhiều đồng chí đã hy sinh. Khi máy bay địch ném bom, bác Trần Văn Thích vì lo bảo vệ hàng không biết mình bị thương máy chảy thấm ướt bao gạo. Những hy sinh gian khổ không làm cho các chiến sĩ hậu cần nao núng, họ vẫn dũng cảm vượt qua khó khăn, tìm đủ mọi cách đưa lương thực thực phẩm thuốc men ra vùng ven, vùng giải phóng. Đêm đêm có hàng trăm xe bò, xe trâu, xe thồ bí mật đưa hàng đến địa điểm an toàn với số lượng hàng hóa rất lớn: 36.000 tấn lương thực, 60 tấn thịt, 100.000 hộp cá, 100 tấn muối, 15.000 mét dây nilon võng, 15.000 mét dây dù, 26.000 mét vải, 45.000 lọ thuốc kháng sinh, 123.000 ống thuốc, 326.000 viên thuốc, 300 lô pin, 15.000 mét dây điện, 2.000 kg hóa chất. Quần chúng trong các ấp chiến lược bị kềm kẹp gắt gao vẫn tìm mọi cách đưa lương thực ra nuôi bộ đội. Nổ bật trên mặt trận này là xã An Tịnh (Trảng Bàng) là nơi địch đánh phá dữ dội, Đảng ủy xã và du kích vẫn ở trong dân, vận động quần chúng đưa vũ khí vào nội thành phục vụ cho các đợt tiến công vào Sài Gòn. Đồng bào còn đào hầm trong nhà nuôi dưỡng trên 800 thương binh an toàn (vượt quá mức chuẩn bị theo dự kiến đến 4 lần).

Thắng lợi của quân dân Tây Ninh trong thời kỳ này, đặc biệt là qua 3 đợt tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã góp phần cùng các chiến trường toàn Miền đưa chiến tranh vào tận sào huyệt của địch, làm cho chúng hoàn toàn bị bất ngờ, lúng túng, dao động về chiến lược, nội bộ địch càng thêm mâu thuẫn, thế chiến lược bị khủng hoảng và bế tắc, quân ngụy thiếu lòng tin, tinh thần rệu rã.

Qua 3 năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh cục bộ, quân dân Tây Ninh đã đấu tranh bằng 3 mũi giáp công trên 3 vùng chiến chiến lược lập nên chiến công hết sức vẻ vang, loại khỏi vòng chiến hơn 30.000 tên, trong đó có 12.000 Mỹ, diệt 800 xe các loại, bắn rơi 126 phi cơ, phá hủy 20 chiếc tàu, thu trên 1.000 súng, phá hủy hàng chục tấn đạn dược, xăng dầu, góp một phần quan trọng cùng cả nước đập tan chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Lập nên chiến thắng đó, quân dân Tây Ninh thể hiện: Nắm vững tư tưởng tiến công nêu cao tự lực, tự cường, chủ động sáng tạo, phát huy cao độ thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ, biết dựa vào thế mạnh vùng căn cứ địa kháng chiến, có lực lượng của chủ lực tiếp ứng, phương thức đánh Mỹ diệt Ngụy rất phong phú, vừa đánh tập trung tiêu diệt vừa đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh kềm hãm, bao vây địch, tiến công bằng 3 mũi giáp công trên 3 vùng đánh địch trong công sự, lúc đi càn quét, đánh giao thông, diệt cơ giới, hạ phi cơ… luồn sâu diệt gọn từng đại đội bình định, đồng thời phối hợp chặt chẽ với lực lượng trên đánh bại hai cuộc phản công mùa khô 1965-1966, 1966-1967 của Mỹ Ngụy mà đỉnh cao là trận càn Junction-city tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh hiện đại của đế quốc Mỹ, bảo vệ được căn cứ cách mạng, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.

Lấy thực tế chiến trường, lấy thắng Mỹ, diệt Ngụy mà giáo dục và phát huy tinh thần chiến đấu kiên cường bám đất, bám dân, bám địch, đánh địch hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng cả 3 vùng căn cứ, nông thôn, thành thị. Vận động đồng bào tôn giáo, Khơ-me dọc biên giới sẵn sàng chịu đựng gian lao đứng lên đấu tranh bằng mọi hình thức với địch. Sẵn sàng phục vụ sức người, sức của tại chỗ: dân công tải thương, vận chuyển vũ khí, tiếp tếp lương thực cho bộ đội trong các chiến dịch mùa khô 1965-1966, 1966-1967, và tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 giành thắng lợi.

Khi Mỹ vào ta chưa biết đánh ra sao? Thực tế chiến trường chính là lời giải để tìm ra cách đánh Mỹ thích hợp nhất. Từ đó, giải quyết được tư tưởng ngán ngại Mỹ, biết khắc phục và hạn chế chỗ mạnh của Mỹ, tìm ra phương châm “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” để tránh cái mạnh của Mỹ là phi pháo, cơ giới, hạn chế được nhiều thương vong của ta. Trong các trận càn quét, địch xung phong đều dựa vào cơ giới làm lá chắn, nên khi ta diệt 1, 2 xe là chúng lui ra. Thực tế đó đã giải quyết được tư tưởng không sợ Mỹ cho cả nhân dân và lực lượng vũ trang. Chính vị thế đã phát huy được quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ.

Nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết của trên và của Tỉnh ủy, tiến hành tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968, khắp địa bàn trong tỉnh giữ vững và chủ động chiến trường góp phần cùng toàn Miền làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm địch suy yếu, giảm ý chí xâm lược, buộc phải xuống thang chiến tranh ngồi vào bàn hội nghị Paris.

(https://lh3.googleusercontent.com/DvWVlILy0fMrshSwBkCuq5jwod6gRnHgVnHis_rmAuwdbEb-u6eIB0J3lJ2AAVEjaauk_q5Ks5UUZLgPrzpVHx5xyL60JKWosm8zatKYbO7o5DLy2z3h_04cICig-nSUMsu-XrzXwBDjfUtT69UWd2dTqABMqTZk9GojvZ4k6YVuK6C7q7wz4EU__sW_wnrpSvDZ_rN-pQd26XDs5kgXWPNLoHnkyfiHPmY_ZuynGYjvCjKClJtv0CWkjj4Pvv4GMKbLB2NCzDDslo8_zexsISSOqNARNkynpEkYDO3PTEbwH2USzmN7b16tvcyt4h6wDOMDq2VAha4V3AvYVUDBX85e0BTAdX3zXYM47jTb-pWLebKqp6iLfq4q53s_eFn8ule8NcJkMoFssvYVayv04HfEOHLFt9VxzlFmE_Xvx0wBjGSi9usACZdmYWVDr5i7SjmSh8we46I5PbIZodZX5kan2JDph5dEPH3gbFEJXdxEMjl1XWzFkZ086bPDUxleHk1XNJPTx9LMyQJ_ss4-8rltrQRBp8Ye4rRPc5Y6-wB2-8NP5u6M2LTVHzNaPPJFizpqAk_Li06IPNGLcT_5mPUb-qw52vz3OGldqek=w615-h832-no)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:43:13 PM
CHƯƠNG IV

KIÊN CƯỜNG BÁM TRỤ, ĐÁNH ĐỊCH BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM,
KHÔI PHỤC LẠI ĐỊA BÀN, TẠO THẾ TẠO LỰC PHỐI HỢP VÀ
TIẾN HÀNH CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI
CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH”
(TỪ ĐẦU NĂM 1969 ĐẾN NGÀY 27-01-1973).

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân Mậu Thân (1968) của quân và dân ta đã làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ đang ở nấc thang cao nhất, buộc chúng phải xuống thang, chấp nhận hội đàm. Nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố theo đuổi cái gọi là “học thuyết Ních-xơn” nhằm giành thắng lợi mà không cần đến lực lượng trên bộ của Mỹ. Thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chúng vừa tiến hành thương lượng, vừa đẩy mạnh càn quét, bình định lấn chiếm, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương từng bước rút quân Mỹ, đồng thời cấu kết chặt chẽ hơn trong sự liên minh khu vực với bọn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc nhằm làm suy yếu phong trào cách mạng ở Việt Nam.

Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” được chính thức hóa từ ngày 7-4-1969 (ngày Ních-xơn chính thức tuyến bố bắt đầu “Việt Nam hóa chiến tranh”) với kế hoạch 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên bộ cho ngụy, rút được quân chiến đấu Mỹ, làm suy yếu đối phương thông qua bình định nông thôn (dự kiến từ 1969 đến 30-6-1972).

- Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ trên không cho quân ngụy và quân ngụy đủ sức đương đầu với ta dưới mọi hình thức, giữ được Miền Nam, Lào và Campuchia.

- Giai đoạn 3: Hoàn thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, địch củng cố thành quả đạt được, ta suy yếu và chiến tranh tàn lụi dần.

Địch coi sự thành bại của “Việt Nam hóa chiến tranh” tùy thuộc thành bại của giai đoạn 1. Nội dung giai đoạn này gồm 3 bước:

- Bước 1: (Đến 30-6-1970) bình định được nhiều vùng đông dân, quan trọng, chủ lực và bộ đội địa phương ta không còn hoạt động được đến cấp đại đội ở vùng tranh chấp, hạ tầng cơ sở của ta ở các vùng chúng kiểm soát bị tê liệt, quân ngụy đủ sức đối phó với cấp tương đương của ta, quân Mỹ rút được một bộ phận.

- Bước 2: (đến 30-6-1971) bình định được tất cả các vùng đông dân quan trọng, chủ lực và bộ đội địa phương ta không còn hoạt động được đến cấp đại đội ngay trên những vùng căn cứ, hậu phương và hậu cần của ta tê liệt; quân ngụy bành trướng, trình độ “tối tân hóa” cao, quân Mỹ rút phần lớn.

- Bước 3: (đến 30-6-1972) cơ bản bình định được toàn miền nam, ta không còn hoạt động đáng kể, và cũng lợi dụng được địa bàn Campuchia, Lào. Quân ngụy đủ sức chặn “xâm lăng” từ miền Bắc, bảo đảm an ninh bên trong, quân Mỹ rút hết lực lượng chiến đấu (theo tài liệu “kế hoạch chiến lược mật” của địch).

Thực hiện âm mưu chiến lược trên tại vùng ven đô và trên chiến trường Tây Ninh, địch tập trung gần như toàn bộ lực lượng đánh phá từ ven đô, ven thị đẩy các lực lượng vũ trang giải phóng ra xa và chiếm được một số địa bàn xung yếu xung quanh Sài Gòn, gây nhiều khó khăn cho ta.

Trên chiến trường Tây Ninh sau đợt 3 năm 1968 của ta, địch tập trung cả Mỹ và lực lượng trù bị ngụy đến đánh phá như:

- F25 Mỹ chốt ở Trà Cao (Trảng Bàng), Bàu Tràm (Bến Cầu).

- Lữ dù ngụy đóng chốt ở Bàu Quang (Ninh Điền, Châu Thành), chùa Giác Ngạn (Thị xã) và một bộ phận ở Tua Hai.

- Từ Lò Gò đến Kà Tum, các cụm đóng chốt địch vẫn không thay đổi; các cụm Lò Gò, Tà Xia, Thiện Ngôn, Xa Mát, Cần Đăng, Đồng Pan, Kà Tum, Bổ Túc, Suối Bà Chiêm hình thành tuyến ngăn chặn từ xa. Trên liên tỉnh lộ 13 Suối Đá, chúng thêm 2 chốt Lộc Ninh, Thăng Long.

- Trên lộ 2 Suối ông Hùng – Bến Củi, Mỹ chốt ở Trảng Trường, ngụy chốt ở ngã ba Đất Sét và lộ 26.

- Trên lộ 19, Mỹ chốt ở Cầu Bến Sắn. Chúng mở lộ 2 từ Ngã Ba Trảng Bò (Thạnh Phước) cắt qua Gia Lộc, Lộc Hưng, An Tịnh xuống Đồng Dù. Trên tuyến đường này, Mỹ chốt ở Chà Rầy (Lộc Hưng), ngụy chốt ở Tịnh Phong, An Tịnh), F25 ngụy chốt ở Trảng Bò (Thạnh Phước).


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:43:34 PM
Hình thái bố trí của địch ở phía Tây – Tây-Nam của tỉnh cặp biên giới nhằm ý đồ chia cắt ta và Camuchia, ngăn chặn chủ lực ta xuống đồng bằng, cắt đứt đường tiếp tế lương thực của ta và đồng bằng lên căn cứ và tạo thế đứng chân để có điều kiện đánh sang Campuchia.

Ở Đông Bắc và Đông Nam tỉnh, địch cũng lập nhiều tuyến ngăn chặn chủ lực ta tiến về hướng thành phố để chúng có điều kiện thực hiện bình đụng vùng ven đô.

Tại các vùng ven tranh chấp ở cặp các lộ 1, 22, 19, 26 và khu vực Thanh Điền, địch kết hợp bắn pháo và cơ giới ủi phá địa hình, gom tắt dân lập vành đai trắng.

Tại huyện Gò Dầu, sau đợt 3 năm 1968 của ta, địch đưa 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ do tướng Dư Quốc Đống chỉ huy, mở chiến dịch Nguyễn Trãi 1 và Nguyễn Trãi 2. Chúng dùng trên 300 xe quân sự, 64 khẩu phá đánh phá, chà xát ác liệt hòng san bằng các căn cứ lõm của du kích như Cầu Sắt, Thạnh Đức, Hiệp Thạnh, Phước Thạnh và Thạnh Phước. Hai chiến dịch nói trên kéo dài 5 tháng liền, đã gây cho ta nhiều khó khăn và thiệt hại, có lúc ta trốc địa bàn, vài tháng sau mới khôi phục lại được.

Tại huyện Trảng Bàng, địch kết hợp với lực lượng Mỹ ở các chốt Bến Sắn, Chà Rầy, F25 ngụy và lực lượng tiểu khu Hậu Nghĩa tiến hành ủi phá địa hình, gom tát dân hết sức ác liệt. Chúng dùng hàng trăm xe ủi, ủi phá rừng Bời Lời. Hàng ngày, trực thăng quần đảo vừa để uy hiếp tinh thần, gom tát hết dân, hủy diệt sản xuất vừa yểm trợ cho bộ binh.

Địch tập trung đánh phá, ta quyết tâm giữ, cho nên ta và địch chiến đấu giằng co quyết liệt, nhất là ở vùng ven.

Thực hiện thủ đoạn “quét và giữ”, lực lượng Mỹ phải phân tán từng đại đội, trung đội làm nòng cốt đẩy lực lượng ngụy mở các chiến dịch bình định cấp tốc vùng ven nông thôn ở cặp lộ 1, 22, 19 và 26, làm cho chiến trường hết sức ác liệt và căng thẳng.

Địch vừa đánh phá, vừa chuẩn bị hậu cứ để làm bàn đạp đánh sang Campuchia. Những năm 1970, 1971, 1972, Mỹ lần lượt giao các căn cứ lớn như: Trảng Lớn, Trâm Vàng, Xa Mát, Thiện Ngôn cho quân ngụy. Để tăng quân số, địch bắt cả thiếu niên 15 tuổi phải trình diện và tổ chức thành “phòng vệ dân sự rộng rãi”. Đây là lực lượng bán vũ trang của địch, làm nguồn bổ sung quân số (ngụy) bị tiêu hao hoặc tăng quân khi cần thiết. Lực lượng này gồm những người từ 15 đến 45 tuổi.

Với âm mưu giành nắm dân, giữ đất cho ý định sau này, địch tiến hành phân loại quần chúng ra làm 3 loại:

+ Theo quốc gia, ký hiệu màu xanh.

+ Lừng chừng, màu vàng.

+ Theo cộng sản, màu đỏ.

Trong sơ đồ của từng ấp chiến lược, chúng tô thành 3 màu để dễ kiểm soát mà cái chính là khủng bố tinh thần gây nghi ngờ mất đoàn kết trong dân. Để kìm kẹp toàn dân, chúng lập ra các phân chi cảnh sát, các tổ chức “Thiên Nga”, “Phượng Hoàng”, v.v… đưa các sĩ quan xuống tận ấp để nắm bộ máy kìm kẹp. Chúng tổ chức mạng lưới do thám bằng những đoàn thể trá hình như: “Lão ông”, “Lão bà”, “Đội thiếu niên Phù Đổng” v.v….

Đi đôi với các biện pháp trên, địch còn dùng nhiều chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, buộc các gia đình có chồng con đi kháng chiến phải gọi về…

Địch ráo riết bao vây kinh tế, kiểm soát gắt gao lương thực, thực phẩm trong các ấp chiến lược, không cho ra vùng giải phóng. Những người đi sản xuất bên ngoài chỉ được mang theo số gạo và thực phẩm đủ ăn trong ngày. Chúng thẳng tay vơ vét, cướp bóc của nhân dân, cộng với nạn tham nhũng ngày càng phát triển, làm cho nhân dân trở nên bần cùng. Lối sống trụy lạc lôi kéo một bộ phận nhân dân hoang mang, cầu an đi vào con đường sa đọa, dần dần trở thành tay sai của địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:43:56 PM
Ngụy quyền tỉnh trong giai đoạn này liên tục thay đổi tỉnh trưởng. Tên trung tá Hồ Đắc Trung sau hơn 3 năm trấn nhậm, 8-9-1968 đã phải nhường chỗ cho tên đại tá Nguyễn Quang Thông và ngày 1-7-1969 đến lượt tên Thông phải nhường chỗ cho tên đại tá Lê Văn Thiện. Những tên này đều là cựu sĩ quan Cao Đài, quê ở Tây Ninh, bọn này được sử dụng vừa để nắm ngụy quân, ngụy quyền tỉnh, vừa nắm được khối Cao Đài để chống phá cách mạng. Địch đưa tên tưởng Cao Đài Nguyễn Văn Thành, về Tòa Thánh với chức Tổng thanh tra đặc nhiệm chính trị đạo cùng với một số chức sắc cao cấp Hội Thánh và Trần Quang Vinh nhằm âm mưu khống chế Hội Thánh Cao Đài, đối phó với phong trào quần chúng tín đồ đang dâng lên và khối phục lại quân đội Cao Đài. Mặt khác, địch còn chủ trương cho chức sắc mở rộng cửa các thánh thất dụ cho số thanh niên trốn quân dịch vào làm công quả, vừa bóc lột dân công, vừa có điều kiện bắt lính được dễ dàng.

Sau 3 đợt tấn công năm 1968, ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, nhưng do ta dốc toàn lực vào các thị trấn, thị xã, nhẹ xây dựng mở rộng nông thôn, ít quan tâm phát triển lực lượng trong quá trình tổng tiến công và nổi dậy, nên khi địch phản kích tập trung quyết liệt thì phong trào có bị sa sút và gặp nhiều khó khăn. Một số địa bàn vùng trắng bị địch chiếm lại như ở các xã ruột Gò Dầu, Trảng Bàng. Lực lượng vũ trang tỉnh, một số cơ quan huyện, một số xã tạm thời đứng chân cặp theo biên giới, sau đó được phát động tổ chức lại có phương thức hoạt động phù hợp phân tán để cùng với huyện, xã bám và khôi phục lại địa bàn, tạo thế lực mới bám lại vùng ven, quật ngã các liên đội bảo an và các chiến đoàn ngụy, góp phần giành thắng lợi chung.

Trước tình thế cách mạng mới và ý đồ chiến lược mới của địch, Tỉnh ủy Tây Ninh đã lãnh đạo toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tập trung quán triệt nghị quyết tháng 4-1969 của Bộ chính trị. Tinh thần của nghị quyết này là:

Phát huy thắng lợi đã đạt được, với tinh thần đẩy mạnh tổng công kích và tổng khởi nghĩa, tập trung đẩy mạnh ba mũi giáp công tại chỗ kết hợp với tiến công quân sự và ngoại giao mà chiến trường có tầm quyết định đặc biệt. Ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, phát triển tiến công toàn diện, liên tục mạnh mẽ, làm thất bại các mục tiêu và biện pháp chiến lược phòng ngự của địch. Đánh bại âm mưu kết thúc chiến tranh trên thế mạnh và chủ trương “Phi Mỹ hóa” chiến tranh của chúng. Đánh cho Mỹ phải suy sụp từ đó, ta mới giành được thắng lợi quyết định, tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một Miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

Theo nghị quyết trên, Bộ chính trị đã đề ra 5 mục tiêu là:

1/ - Đánh cho quân Mỹ phải rút.

2/ - Làm cho quân ngụy phải suy sụp.

3/ - Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng lớn mạnh, bố trí đứng vững trên thế chiến lược mạnh.

4/ - Đánh đổ chính quyền ngụy, lập nên chính quyền cách mạng trung ương, buộc bọn Mỹ phải từ bỏ ý đồ kết thúc chiến tranh trên thế mạnh.

5/ -Rút hết quân Mỹ và chấp nhận một giải pháp chính trị.

Nghị quyết chỉ rõ: “Trước thời cơ lớn hiện nay, chúng ta cần tập trung nỗ lực cao độ để giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn: chúng ta cần nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, dựa vào sức mình làm chính, ra sức xây dựng lực lượng về mọi mặt, có phương thức tác chiến và đấu tranh thích hợp để đánh mạnh, đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh”.

Tiếp đó, nghị quyết 98 của Trung ương Cục cũng đã chỉ rõ: Cuộc đấu tranh của ta là cuộc đấu tranh toàn diện trong giai đoạn thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”

Chấp hành các nghị quyết trên, quân và dân Tây Ninh quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của Trung ương Cục, quân ủy Miền và Bộ chỉ huy quân sự miền, Đảng bộ Tây Ninh đã lãnh đạo quân dân toàn tỉnh đấu tranh hết sức quyết liệt bằng 3 mũi từng bước từ ngăn chặn đến đánh bại các âm mưu, thủ đoạn càn quét, ủi phá, phát quang địa hình, phá căn cứ lõm của du kích, bình định gom dân; đẩy lùi địch từng bước, bám trụ tại các địa bàn quan trọng như các xã thuộc Gò Dầu, vùng ven Trảng Bàng và nối lại địa bàn Dương Minh Châu, đẩy mạnh và phát triển từng bước vững chắc phong trào du kích chiến tranh khắp ba vùng nhất là vùng ven.

Ở vùng tranh chấp, ta đánh địch và kềm chân địch tại chỗ, vận động và thực hiện ba bám (dân bám đất, chi bộ bám dân, du kích bám địch và đánh địch, hỗ trợ cho phòng trào quần chúng). Một mặt ta chiến đấu, địch bung ra, bao bó địch lại, các mặt ta tiếp tục vận động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kềm, tranh thủ thời cơ mở lại địa bàn vùng ven, đồng thời tranh thủ thời cơ giúp cách mạng Campuchia giải phóng một vùng rộng lớn giáp biên giới thuộc các tỉnh Công-Pông-Chàm, Xoài Riêng, Preyveng tạo điều kiện cho cách mạng Campuchia phát triển và cũng là chỗ dựa cho cuộc kháng chiến của ta.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của cấp trên “Đông Dương làm một chiến trường”, Tây Ninh đã trích một phần lực lượng vũ trang và cán bộ cốt cán của phong trào, giúp tỉnh bạn xây dựng lực lượng vũ trang và chính quyền. Mặt khác, ta chuẩn bị chiến trường, kết hợp với chủ lực mở chiến dịch tiến công chiến lược trong mùa xuân 1972, giành nhiều thắng lợi lớn. Toàn bộ các vùng rừng núi thuộc huyện Tân Biên được giải phóng. Tại các vùng ven, ta áp sát, bao vây tấn công địch, góp phần làm thất bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, góp phần giành thắng lợi chung trong toàn Miền, buộc Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri về Việt Nam.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:45:15 PM
4/ - Kiên cường bám trụ đánh địch phản kích đẩy mạnh phong trào đánh phá bình định, khôi phục địa bàn, giữ vững và phát triển vùng ven, giúp cách mạng Campuchia (1969-1971).

Sau các đợt tấn công của ta trong năm Mậu Thân, địch chuyển hướng chiến lược tổ chức lại lực lượng phản kích thu được một số kết quả quan trọng. Hàng trăm xe ủi đất đã được địch huy động để phát quang địa hình kết hợp hoạt động quân sự, đánh phá các căn cứ lõm của du kích ở vùng ven hòng làm mất chỗ dựa của các lực lượng kháng chiến. Chúng gom tát dân một cách triệt để, thực hiện kế hoạch bình định đặc biệt, tạo một vành đai trắng, lập nhiều tuyến ngăn chặn, tăng cường củng cố lại bộ máy kềm kẹp, đưa các đội Phượng Hoàng – Thiên Nga để đánh phá phong trào. Chúng ráo riết bắt lính nhằm tăng quân số lên trên một triệu, tổ chức các liên đội bảo an cơ động, hình thành các chiến đoàn chủ lực, tăng nhanh lực lượng võ trang và bán võ trang tại chỗ. Chúng đã bắt từ thiếu niên 15 tuổi đến trung niên 45 tuổi vào các đội phòng vệ dân sự. Trong lực lượng này chúng còn tuyển chọn một số nòng cốt đưa vào đội phòng vệ xung kích.

Ở phía Tây sông Vàm Cỏ và phía Tây Nam của tỉnh, một bộ phận F25 Mỹ chốt ở Trà Cao và Bàu Tràm, một số bộ phận lữ đoàn dù ngụy chốt ở Bàu Quang. Trên sông Vàm Cỏ, địch thực hiện chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” với 2 đoàn giang thuyền hòng ngăn quân ta tiến công vào thị xã Tây Ninh và ngăn chủ lực ta tiến về Long An và đồng bằng sông Cửu Long.

Phía Đông - Đông Bắc và Đông Nam, địch lập tuyến ngăn chặn ở Suối Bà Chiêm, đóng thêm chốt Thăng Long trên lộ 13 Suối Đá. Trên lộ 2 – Suối ông Hùng ngụy chốt ở ngã ba Đất Sét, đóng đồn Cầu Khởi trên lộ 36 chia cắt hai khu căn cứ Bời Lời và Dương Minh Châu.

Mỹ mở lộ 2 từ Ngã ba Trảng Bò qua Gia Lộc, Lộc Hưng, An Tịnh đi Đồng Dù; sư 25 ngụy chốt ở Trảng Bò (Thạnh Phước); Mỹ chốt ở Bàu Hai Năm (Gia Lộc). Trên lộ 6, Mỹ chốt ở Láng Lim (Gia Lộc), Chà Rẫy (Lộc Hưng); ngụy chốt ở Đồng Sỏi, Cây Dương (An Tịnh).

Trên quốc lộ 22, địch vẫn đóng chốt ở suối ông Đinh, Mỏ Công, Trại Bí, Cần Đăng, Thiện Ngôn. Trên lộ 20 (Thiện Ngôn, Lò Gò), Mỹ chốt ở Lò Gò, Tà Xia.

Như vậy, địch đã hình thành thế bao vây, chia cắt căn cứ và ngăn chặn chủ lực ta tiến công vào vùng ven và thành phố.

Ở vùng trọng điểm Gò Dầu, từ sau đợt 3 năm 1968 của ta, Mỹ sử dụng 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ mở chiến dịch đánh phá ác liệt các xã ruộng Gò Dầu. Chúng dùng xe ủi và xe tăng các loại phát quang địa hình và gom tát dân ở Cầu Sắt, Thạnh Đức, Hiệp Thành, Phước Thạnh và Thạnh Phước.

Tại huyện Trảng Bàng, địch mở nhiều cuộc hành quân đánh phá ác liệt các ấp Lộc Phước, Lộc An, Lộc Tân, Lộc Thành, Lộc Trì (xã Lộc Hưng). Chúng đóng bót An Thới (An Tịnh) và các cụm Đồng Ớt, Cầu Xe. Tại Bời Lời, chúng dùng xe ủi chà xát nhiều lần.

Trên chiến trường Tây Ninh, địch tập trung hơn 45.000 quân gồm sư 25 Mỹ, sư 1 kỵ binh không vận Mỹ; lực lượng ngụy gồm: 2 lữ đoàn lính thủy đánh bộ, 1 lữ đoàn dù, sư 18 và sư 25; còn quân địa phương chỉ tính bảo an, dân vệ, cảnh sát, biệt kích kể cả huyện Trảng Bàng, có 15.000 tên. Như vậy, quân chủ lực và quân địa phương trong thời kỳ 1969-1970 lúc cao điểm lên tới 60.000 tên. Trong lúc đó, pháo, máy bay B52, chất độc hóa học v.v… đánh phá ác liệt hơn so với giai đoạn chiến tranh cục bộ. Quân và dân Tây Ninh phải chịu đựng biết bao gian khổ hy sinh, nhưng với quyết tâm bám trụ, từng bước khắc phục khó, tạo thế lực đánh bại kẻ thù, đặc biệt tập trung vào các trọng điểm Gò Dầu, Trảng Bàng để tạo thế có lợi chung cho toàn tỉnh và cho chiến trường đông bắc Sài Gòn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:46:34 PM
1/ Đợt tấn công mùa xuân 1969 (từ 22/2 đến 22/4/1969)

Thực hiện chỉ thị 80 của TWC vền hiệm vụ xuân 1969, từ 22/7 đến 22/4/1698, quân dân Tây Ninh phối hợp với chủ lực Miền đánh địch tên khắp ba vùng trong tỉnh.

Nổi bật về tiêu diệt địch là trận tấn công chốt Mỹ Trà Cao F9 quân giải phóng diệt 900 tên.

Ở vùng ven các xã ruột Gò Dầu, địch bố trí binh lực đông và mạnh từ tuyến ngoài, đến tuyến trong. Tiểu đoàn 14 được nhân dân giúp đỡ, bám trụ tại xã Hiệp Thạnh tích cực chống càn quét lấn chiếm của địch, diệt gọn hai chi đội cơ giới Mỹ, gồm 25 xe tăng và 240 tên, đánh thiệt hại nặng 1 đai đội bảo an, trận này, đồng chí Bùi Xuân Nguyên lại lập chiến công diệt 5 xe tăng và 20 tên Mỹ. Đặc biệt, tiểu đoàn 14 đã dùng súng B40 bắn rơi trực thăng khi chúng vừa hạ thấp để đổ quân, ứng cứu kịp thời cho tiểu đoàn 1 đang bám trụ ở vùng Gò Nhai (Ninh Điền), diệt 1 trung đội của tiểu đoàn thủy quân lục chiến.

Ở trọng điểm Gò Dầu, bộ đội địa phương sử dụng lực lượng quần chúng trong ấp chiến lược diệt ác phá kềm, tổ chức một trận phục kích trong ấp chiến lược Gò Chùa, diệt gọn 1 tiểu đội dân vệ.

Tại Bến Cầu, đội trinh sát huyện gài mìn và phục kích trong ấp chiến lược Mộc Bài, diệt gọn 1 tiểu đội cảnh sát dã chiến ác ôn; hỗ trợ cho quần chúng phá ấp chiến lược.

Ngày 10/4/19469, đại đội 5 phối hợp với lực lượng thị xã và 1 phân đội pháo Miền bắn pháo 75 ly, H.12 vào tiểu khu quân sự Tây Ninh trong lúc địch đang tập trung lính quân dịch. Đạn pháo rớt trúng khu địch tập trung, làm sập thành Nguyễn Huệ, pháo kích nổ 1 kho đạn, diệt 3 đại đội gồm 400 tên và 50 sĩ quan; tên đại tá Nguyễn Quang Thông – tỉnh trưởng ngụy bị thương. Bị thiệt hại rất nặng, địch nơm nớp lo sợ; ngụy quân, ngụy quyền rối loạn, các vị trí kho tàng và vị trí đóng quân của địch – kể cả sư đoàn dù tại thị xã, đều bị xáo trộn. Kết hợp với trận pháo kích này, ta tổ chức lực lượng quần chúng đến đấu tranh đòi địch phải trả chồng con về, đòi bồi thường nhân mạng, làm cho địch càng rối ren.

Cùng thời gian này, một bộ phận của tiểu đoàn 1 vào ấp chiến lược Long Yên làm công tác vũ trang tuyên truyền và đánh thiệt hại 1 trung đội bảo an.

Trước tình hình địch mở nhiều cuộc càn lấn chiếm, tỉnh mở hội nghị tổng kết phong trào du kích chiến tranh nhằm trao đổi kinh nghiệm chiến đấu giữa các địa phương và quán triệt chủ trương: đẩy mạnh chiến tranh nhân dân; toàn dân, toàn diện, chống địch càn quét, lấn chiếm, ủi phá địa hình, từng bước đứng trụ lại vững chắc và khôi phục các địa bàn vùng ven Gò Dầu, Trảng Bàng trong tình hình hết sức khó khăn, ác liệt.

Sau hội nghị tổng kết phong trào du kích chiến tranh, Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội chỉ đạo các huyện mở rộng chiến tranh du kích đánh địch và chỉ đạo chiến trường trọng điểm phát động phong trào “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần thứ 2, nhằm khôi phục lại thế đứng chân trên địa bàn chiến đấu.

Địch cho rằng: giữ được địa bàn Gò Dầu là giữ được đường giao thông huyết mạch Sài Gòn – Thị xã Tây Ninh – Dầu Tiếng, giữ được cửa ngõ lên Campuchia; nhưng sau những thất bại dồn dập từ đợt 3 của năm 1969 trở đi, bọn địa phương ở đây tỏ ra bất lực, không còn khả năng đối phó, chúng phải đưa chiến đoàn B thủy quân lục chiến và đưa tiếp chiến đùa dù đến giải tỏa khu vực lộ 22, vùng ruột Gò Dầu và Nam Tòa Thánh, đồng thời dùng lực lượng tổng trù bị ngụy để che chở cho ngụy quân, ngụy quyền tại Gò Dầu không bị tan rã, và là lực lượng “quét và giữ” phục vụ cho kế hoạch bình định chiến trường tại chỗ trong một thời gian nhất định.

Được lực lượng Mỹ bao bọc ở hướng Tây và hướng Đông hỗ trợ, tại vùng ruột Gò Dầu, 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến làm đòn xeo mạnh, địch hy vọng sẽ bình định được Gò Dầu, tách các lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng, tạo nên vùng trắng an toàn cho chúng. Địch dùng mọi thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế và những mánh khóe lừa bịp của chiến tranh tâm lý hòng thực hiện kế hoạch bình định đặc biệt, đánh tan cơ sở của ta trong ấp chiến lược, hủy diệt màu xanh của vùng ven thành vùng đất trắng, làm mất chỗ dựa của lực lượng cách mạng. Chúng đã hình thành thế bao vây, chia cắt từng khu vực, với 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến, một bộ phận của sư đoàn 25 ngụy, 300 xe bọc thép và xe ủi và một đoàn giang thuyền gồm 33 chiếc. Lực lượng công binh Mỹ đóng thành 4 cụm tại Gò Dầu, Bàu Đưng, Bến Cát, Trâm Vàng. Lực lượng pháo binh gồm 35 khẩu, bố trí thành 5 trận địa tại: Trâm Vàng, chi khu Gò Dầu, Bàu Đồn, Trà Võ và Cẩm Giang. Ngoài ra, còn có các cụm pháo ở Bàu Tràm (Bến Cầu), Chà Rầy (Lộc Hưng, Trảng Bàng). Lực lượng bình định chia thành bảy đồi gồm 926 tên, cùng 5.253 tên thuộc các sắc lính bảo an, dân vệ, biệt kích, thám báo, đóng tại thị trấn Gò Dầu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:47:03 PM
Địch mở liên tiếp chiến dịch Nguyễn Trãi I, Nguyễn Trãi II, đánh phá suốt 5 tháng liền các xã ruột Gò Dầu như: Thạnh Đức, Cẩm Giang, Phước Thạnh, Thạnh Phước, Hiệp Thạnh. Có những cuộc hành quân bắt đầu từ 3 giờ khuya tạo thế bất ngờ tiêu diệt lực lượng du kích và bộ đội địa phương huyện. Ban ngày, chúng sử dụng từ 60 đến 80 xe tăng và xe ủi đất để phát quang địa hình; ban đêm dùng pháo cỡ lớn bắn vào vùng đã phát quang. Thực hiện chính sách “giết sạch, đốt sạch, phá sạch”, chúng còn dùng máy bay khu trục, phản lực và cả B52 ném bom rừng 16 mẫu, rừng Tầm Lanh, đồng thời đánh phá có tính chất hủy diệt các xóm làng; 457 nóc nhà của nhân dân ở vùng ven và vùng sâu đã bị đốt cháy. Chúng còn bắn giết hàng trăm trâu bò hòng làm cho nhân dân ta không còn phương tiện sản xuất, buộc phải vào ấp chiến lược. Nơi nào không gom dân được, chúng đưa quân đến khoanh ấp, như Rỗng Tượng (Thạnh Phước).

Đi đôi với các hoạt động quân sự, địch cũng dùng chiến tranh tâm lý và kinh tế để lừa mị, mua chuộc, cưỡng bức quần chúng và các tổ chức phản động, thưởng tiền cho những ai tố cáo cách mạng. Chúng buộc các gia đình có chồng con đi kháng chiến phải trình diện. Hàng ngày, bọn đầu hàng đi nhìn mặt để khủng bố tinh thần quần chúng. Chúng phân loại gia đình, vẽ sơ đồ ấp chiến lược rồi tô màu để phân biệt từng loại, bắt chụp hình cả gia đình chung với khẩu hiệu “Gai đình tôi không chứa chấp cộng sản”, với mục đích vừa kiểm soát được nhân dân trong gia đình, vừa tuyên truyền rằng quần chúng trong ấp chiến lược trung thành với “quốc gia”.

Địch quy định mỗi gia đình chỉ được chà gạo đủ ăn trong tháng, mỗi lần chà gạo phải đem theo tờ khai gia đình, để trưởng ấp và tên phụ tá an ninh duyệt thì mới được chà. Chúng quy định nông dân trong ấp chiến lược về sản xuất tại ruộng cũ chỉ được dỡ cơm ăn trong ngày, không mang gạo theo, hòng ngăn chặn việc tiếp tế cho cách mạng. Chúng còn tổ chức theo dõi việc mau sắm thực phẩm và hàng tiêu dùng của nhân dân, đồng thời tăng cường vơ vét, cướp bóc, hối lộ làm cho đời sống nhân dân ngày càng cơ cực.

Đối với ta, địa bàn Gò Dầu có vị trí chiến lược trung tâm không chỉ của tình nhà mà còn của chiến trường Bắc – Tây Sài Gòn, là cửa ngõ xuống Sài Gòn, lên Campuchia, lên vùng căn cứ Miền. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậu xây Mậu Thân, trên chiến trường trọng điểm này, ta nặng về đánh chiếm phía trước, có phần xem nhẹ việc củng cố phía sau, cho nên phong rào không vững mạnh, khi địch phản kích, từng nơi ta bị tróc địa bản. Dân ở các căn cứ lõm trước bom đạn ác liệt, phải tạm thời lánh né, chỉ còn vài trăm nóc nhà với trên 1.000 dân rải rác các xóm ấp như: Tầm Lanh, Cây Da, Xóm Mồ Côi (Hiệp Thạnh), Phước Chánh, Cây Da Sà (Phước Thạnh), xóm Đồng (Thạnh Phước). Nhân dân bị địch gom vào các ấp chiến lược. Huyện Gò Dầu lúc bấy giờ nằm trong tình trạng hết sức khó khăn. Trước tình hình đó, chấp hành sự chỉ đạo của Ban thường vụ tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội, Huyện ủy và huyện đội Gò Dầu đã tổ chức cơ sở, bám trụ khôi phục lại địa bàn chiến đấu nhằm đánh bại từng bước các cuộc phản kích và kế hoạch bình định của địch.

Về thực lực, bộ đội địa phương huyện có 114 cán bộ, chiến sĩ; các xã có 55 du kích xã, 48 du kích ấp và 19 du kích mật. Ba đoàn thể nông, thanh, phụ có 218 hội viên, nhưng tình hình đang hết sức căng thẳng, ta phải đương đầu thường xuyên với một lực lượng địch lớn gấp bội. Chúng đánh phá ác liệt các khu vực đứng chân của huyện như: Thạnh Đức, Hiệp Thạnh, Phước Thạnh và Thanh Phước. Nhân dân không chịu nổi bom pháo của địch, đã bị dồn vào ấp chiến lược. Trong tình thế đó, lực lượng của ta hoạt động khó hơn trước, tự lo mọi việc. Để tăng cường lực lượng cho Gò Dầu, tỉnh chủ trương đưa xuống huyện một đại đội thuộc tiểu đoàn 14, và đại đội 1 thuộc tiểu đoàn 16.

Trước ngày 15-4-1969, bộ đội địa phương tỉnh và lực lượng trên không còn ở chiến trường Gò Dầu. Các xã Thạnh Đức, Cẩm Giang, Hiệp Thạnh, Bàu Đồn, Phước Thạnh, Suối Bà Tươi đã trốc địa bàn. Ban thường vụ Huyện ủy còn: đồng chí Năm Mì ở Phước Thạnh, đồng chí Hai Ẩn ở Thanh Phước và đồng chí Một ở Huyện đội.

Ngày 15-4-1969, các tiểu đoàn tỉnh và lực lượng trên về để khôi phục lại địa bàn Gò Dầu với quyết tâm bám trụ. Huyện ủy và Huyện đội chủ trương đưa số cán bộ già yếu nữ có con của các cơ quan huyện về phía sau (Bố Bà Tây); đồng thời tổ chức lại gọn nhẹ, phân công cấp ủy viên, cơ quan đơn vị huyện, xã và đại đội 33 bám trụ gây dựng lại cơ sở, xây dựng căn cứ để chống địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:47:44 PM
Song song với việc tăng cường lực lượng vũ trang cho Gò Dầu, tỉnh cũng đã bổ sung cán bộ lãnh đạo và cán bộ chỉ huy cho huyện này. Sau khi đồng chí Lâm Sơn Hải (Chín Suối) – Bí thư huyện ủy hy sinh, đồng chí Nguyễn Văn Bạch (Hai Bạch) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, được phân công làm Bí thư huyện ủy. Đồng chí Trần Quốc Đại – phó chính trị viên tiểu đoàn 14 – về làm huyện đội trưởng thay đồng chí Một được rút về tỉnh. Đồng chí Lâm Sơn Diễn được đưa về tăng cường cho huyện với chức vụ chính trị viên huyện đội.

Chấp hành chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội. Ban thường vụ Huyện ủy và Ban chỉ huy Huyện đội phát động phong trào “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần thứ 2.

Việc đưa lực lượng trở lại bám trụ chia thành hai giai đoạn:

a) Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn này chia làm ba bước:

Bước 1: Ban thường vụ Huyện ủy cùng huyện đội tổ chức học tập cho toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên và chiến sĩ thuộc các cơ quan, đơn vị huyện và các xã, nhằm củng cố niềm tin và động viên lòng tự hào về những thành tích đã đạt được, về tinh thần chiến đấu anh dũng và truyền thống các mạng kiên cường của quân dân trong huyện. Gợi lại truyền thống, thành tích của từng xã, từng đơn vị, cơ quan, những gương điển hình của cá nhân, của lực lượng vũ trang và của nhân dân trong thời kỳ “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần thứ nhất (1964-1965).

Khêu gợi lại tình cảm quê hương, tình cảm gắn bó giữa nhân dân với đơn vị, cơ quan. Kể lại những tội ác dã man của Mỹ - Ngụy; đề cao tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất và mưu trí của các mẹ, các chị, các em thiếu niên bảo vệ bộ đội, du kích và cán bộ. Từ đó xây dựng cho mọi người quyết tâm đứng lên đánh giặc, cứu nước, bảo vệ quê hương, khôi phục lại địa bàn.

Tổ chức học tập nghị quyết về phát triển du kích chiến tranh, hướng dẫn cách làm mìn để diệt địch, làm cho toàn Đảng bộ, quân và dân Gò Dầu quán triệt nhiệm vụ quyết tâm chống bình định lấn chiếm của địch, giữ vững địa bàn “càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng”, tin tưởng ở quần chúng, dựa vào sức mình là chính. Qua đó, cán bộ, chiến sĩ xác định rõ nhiệm vụ của mình để có quyết tâm cao, không được rời khỏi địa bàn.

- Bước 2: Để tưởng nhớ những cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã anh dũng hy sinh trong khi chống bình định lấn chiếm của địch, Ban thường vụ Huyện ủy và Ban chỉ huy Huyện đội đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu; qua đó phát động đợt chiến đấu mới.

Huyện ủy và huyện đội tổ chức lễ rước Huân chương của các cấp trên tặng cho những đơn vị và cá nhân đã lập được thành tích xuất sắc; đồng thời xét khen thưởng, cấp bằng khen giấy khen cho những cán bộ, chiến sĩ và đồng bào đã có thành tích chiến đấu trong thời gian vừa qua. Sau đó, từng chi bộ, cơ quan, đơn vị có kế hoạch hành động, mỗi cá nhân phải hạ quyết tâm trở lại bám trụ địa bàn.

- Bước 3: Tổ chức lực lượng xung kích, chọn đại đội 33 làm nòng cốt đi đầu trở lại bám trụ.

Để chủ động khi đến chiến trường, ta đã tổ chức thực hiện việc đào hầm, cách ngụy trang giấu đất mới đào, xuống hầm ở thử… Sắp xếp ai đi trước, ai đi sau; người đi phải chuẩn bị nắp hầm, cuốc xẻng, kíp nổ để làm trái.

Trước khi đại đội 33 lên đường trở về bám trụ địa bàn, Ban thường vụ Huyện ủy đã nói rõ cho cán bộ, chiến sĩ thấy được tầm quan trọng của lần bám tụ này và nhấn mạnh: “lần này ta bám trụ lại địa bàn không có dân, không nơi nương tựa, đến địa bàn thì phải đào hầm ngay để sáng ra có chỗ ẩn, vì địch càn quét ban ngày là chính. Phương châm hoạt động của ta là: “lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm”. Ngoài ra, cán bộ chiến sĩ Đại đội 33 còn phải quán triệt và tổ chức thực hiện đầy đủ ba yêu cầu của bám trụ, khôi phục lại địa bàn như sau:

1/- Kiên cường đưa đơn vị bám trụ cho bằng được ở xã ba vùng (vành đai trắng, vùng ven và vùng sâu ấp chiến lược); làm nòng cốt để tạo điều kiện cho du kích, chi bộ, các ngành, các đoàn thể về bám trụ.

2/- Nắm vững phương châm nhiệm vụ là phát động quần chúng, xây dựng cơ sở trong ấp chiến lược để tạo điều kiện cho các đơn vị trụ lại bên trong để đánh địch. Vận động quần chúng kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công để tiến công địch, diệt ác phá kềm, đánh đúng đối tượng bình định và phá rã phòng vệ dân sự.

3/- Nắm vững phương châm, phương thức hoạt động bám trụ ba vùng là để tiến công tiêu diệt địch, giữ vững địa bàn, tiến lên giành quyền làm chủ.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:48:52 PM
Vấn đề được đặt ra là phải chọn đối tượng như thế nào để đi bám trụ lần đầu. Đối tượng đó phải là những đồng chí gan dạ có bản lĩnh chiến đấu, gần gũi anh em. Những đồng chí đó phải là những đảng viên, cán bộ gương mẫu, đi sát với đơn vị, sát quần chúng để kịp thời lãnh đạo và động viên quần chúng. Trong chiến đấu, người chỉ huy theo sát đơn vị sẽ có tác dụng động viên tinh thần, tạo niềm tin và sức bật mạnh mẽ trong đơn vị.

Khi trở lại bám trụ, phải có kế hoạch, dự kiến những trở ngại để khi tiến hành không bị động, bất ngờ, như: đến xã nào, ấp chiến lược nào, cần móc ráp ai, lấy gia đình nào làm điểm, sau đó phát triển ra và hoạt động theo kế hoạch.

b) Giai đoạn thực hiện, kết quả khôi phục lại địa bàn. Qua tổ chức các bước nêu trên, từng đồng chí trong ban thường vụ Huyện ủy, Ban chỉ huy Huyện đội, Bí thư chi bộ xã và chi ủy viên lần lượt nắm từng tổ vũ trang trở lại địa bàn, thực hiện yêu cầu của tỉnh và huyện. Đại đội 33 đã bám trụ được ở Phước Thạnh và Thạnh Phước, xây dựng trong ấp chiến lược Phước Hội một tiểu đội và bảy lõm chính trị, tạo điều kiện thuận lợi cho chi bộ, du kích và các ngành trở lại bám trụ. Thời kỳ này, thường trực Huyện ủy ở ấp Phước Chánh, Phước Hội (xã Phước Thạnh), sát ấp chiến lược. Văn phòng Huyện ủy đóng tại ấp Cây Xoài (Thạnh Phước).

Trong khi địch đánh phá ác liệt bên ngoài, Huyện ủy và Huyện đội họp, phát động phong trào du kích chiến tranh ngay trong ấp chiến lược. Ta phải mở rộng địa bàn hoạt động từ Hiệp Thanh lên Thạnh Đức và một phần của Cẩm Giang bằng một tuyến bản tử địa, mìn, lựu đạn gài, chông. Đến tháng 8/1969, ở cả ba vùng (vùng trắng, vùng ven và vùng sâu), ta đều bám trụ được và khôi phục được các xã ruột Gò Dầu, vận động được phong trào “toàn dân đánh giặc”, tạo thành sức mạnh tổng hợp tại chỗ, có lợi cho cách mạng. Tình cảm quân dân trở nên gắn bó, quân dân sẵn sàng hy sinh trở nên gắn bó, nhân dân sẵn sàng hy sinh để bảo vệ cán bộ. trong khi điểm kềm kẹp nặng nề, ráo riết lùng sục bắt bớ, có những bà mẹ sẵn sàng đùm bọc, che giấu cán bộ thoát khỏi vòng vây của chúng. Nhân dân trong ấp chiến lược cũng tìm mọi cách vượt qua sự kiểm soát của địch và những ổ phục kích của chúng để tiếp tế gạo, muối, thuốc chữa bệnh… cho cán bộ, chiến sĩ ta. Quán triệt tinh thần tự lực là chính, Huyện ủy và Ban chỉ huy Huyện đội đã phát động phong trào thi đua giết giặc ở địa phương, sưu tầm bom đạn lép của địch để tự chế tạo thành mìn, trái nổ đánh địch tại chỗ. Ban đêm, nhân dân theo dõi pháo địch bắn vào hướng nào, bao nhiêu trái nổ, bao nhiêu trái lép, sáng ra tìm đào lên giao cho du kích. Chỉ trong thời gian ngắn, nhân dân đã đóng góp: 207 đầu đạn 105 và 155 ly, 250 đầu đạn cối các loại, 287 đạn M79, 15.255 viên đạn, 700 kg thuốc nổ CS và TNT, 251 đầu trái màu để làm mỏ vịt, 2290 vỏ hộp cá mòi để dùng làm vỏ trái gài. Các dụng cụ và vật liệu làm trái cũng được nhân dân giúp đỡ, nhờ đó, không bao lâu, ta đã có mìn, trái nổ để đánh địch.

Ta khôi phục lại địa bàn, hình thành bốn khu vực – mỗi khu vực là một mặt trận để đánh địch như:

- Cẩm Giang, Cầu Sắt, Thạnh Đức.

- Cao su Vên Vên, Hiệp Thạnh, Phước Trạch.

- Phước Thạnh, Bàu Đồn, Suối Bà Tươi.

- Thạnh Phước và thị trấn.

Mỗi mặt trận do đồng chí ủy viên thường vụ Huyện ủy chỉ đạo chung, một đồng chí huyện đội phó chỉ huy về quân sự. Từng mặt trận có nhiệm vụ quản lý khu vực của mình. Các đơn vị đóng quân trên mặt trận nào phải có kế hoạch hợp đồng tác chiến. Có qui định riêng cho từng khu vực để gài trái đánh xe cơ giới của địch. Mỗi đơn vị, cơ quan hàng tháng phải diệt cho được từ hai đến ba xe tăng địch bằng gài trái. Khi xe bị diệt thì bộ binh địch phải lùi lại và tháo chạy, cuộc hành quân bỏ dở.

Thiếu dây điện và pin điện, cán bộ chiến sĩ ta nảy ra sáng kiến dùng dây kẽm giật cho bật chốt an toàn, tức khắc kim hỏa đập vào hạt nổ, làm cho trái nổ. Bằng cách này, du kích Phước Thạnh và đại đội 33 dùng đầu đạn 105, diệt cả trung đội ở Phước Tây, Phước Bình.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:49:13 PM
Cách đánh địch bằng hầm chông cũng được phát triển. Những hầm tránh phi pháo khi ta dời đi trở lại thành hầm chông diệt địch. Ta xây dựng bãi trái, cấm chông lan kèm theo khẩu hiệu khiêu khích địch. Chúng thấy vậy tức giận xông vào đập phá, không bị xóc chông cũng bị gài trái. Khi địch tràn vào gặp ta nổ súng thì hoảng hốt tủa ra hai bên, tìm địa hình để tránh đạn và chống trả, lại sa vào hầm chông, bãi trái. Dần dần địch không dám đến gần hàng rào; nơi nào có bảng “tử địa” thì chúng tránh xa.

Với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến! Tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, ngoài việc tiếp tế lương thực thực phẩm, nhân dân còn nhường từng miếng đất, mảnh vườn cho cán bộ chiến sĩ dùng làm căn cứ hoặc xây dựng bãi trái đánh địch.

Để khôi phục lại thế đứng chân trên địa bàn Gò Dầu, ta đã xây dựng được hệ thống hầm bí mật với thế chiến đấu liên hoàn, khác với hầm bí mật thụ động. Khi địch phát hiện được một hầm bí mật, thì lập tức ở một hầm gần đó, cán bộ và du kích trồi lên, chiến đấu, ứng cứu kịp thời. Đó là trường hợp của một bộ phận đại đội 33 bám trụ tại Thạnh Phước; phát hiện được hầm bí mật của bộ phận này, địch tập trung lại gần một trung đội, la hét ầm ĩ hòng uy hiếp tinh thần và bắt sống các chiến sĩ ta. Ngay trong lúc đó ở hầm bên cạnh, đồng chí Phước dũng cảm trồi lên dùng đạn cối 60 ly rút chốt an toàn ném vào chúng, rồi dùng súng AK bắn xối xả, diệt ại chỗ 8 tên, số còn sống sót bỏ chạy tán loạn. Nhờ đó, các đồng chí dưới hầm mới chạy thoát về tới khu an toàn. Gương chiến đấu dũng cảm của đồng chí Phước được đưa ra học tập, rút kinh nghiệm tại các bộ phận bám trụ.

Cũng trên tinh thần cứu nguy cho đồng chí mình, ba đồng chí: Thế, Song và Bảy Trung thuộc đại đội 33 ở dưới hầm bí mật; đã trồi lên nổ súng chặn đánh một đại đội bảo an đang rượt bắt đồng chí Năm Phu, trưởng ban nông vận huyện. Mặc dù lực lượng địch đông hơn gấp mấy chục lần, ba đồng chí vẫn bình tĩnh đương đầu với chúng suốt ngày, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, diệt 20 tên địch và đã anh dũng hy sinh. Đồng chí Năm Phu chạy thoát.

Với tư thế sẵn sàng chiến đấu, chiến sĩ ở các hầm bí mật đều lắp vào súng trái AT (đạn bắn xe tăng). Khi địch phát hiện được hầm và tổ chức bao vây, các đồng chí ở dưới hầm bóp cò cho trái vọt lên nổ trên mặt đất, tiêu diệt được một số tên địch; thừa lúc đó, các đồng chí trồi lên chiến đấu được ngay. Đây là những kinh nghiệm phải trả bằng xương máu từ những năm 1966-1967. Lúc bấy giờ, ta chưa đào hầm bí mật, vì chưa thấy tác dụng hầm bí mật, cho rằng xuống hầm bí mật là thủ tiêu chiến đấu, vì vậy mà thụ động trong chiến đấu. Còn bây giờ, hầm bí mật không những bảo đảm được lực lượng ta mà còn phát huy được tính chủ động trong chiến đấu.

Đợt bám trụ “Quyết tử giữ Gò Dầu” lần thứ hai diễn ra hết sức quyết liệt: ta tranh chấp với địch từng bờ rào, lũy tre, từng mảnh đất, ngôi nhà. Ta cũng nắm chắc được từng âm mưu, thủ đoạn của địch để đối phó kịp thời. Lợi dụng mùa khô, địch rải xăng bột để đốt cả cây, sau đó dùng xe ủi phá để săn tìm hầm bí mật. Để đối phó lại, ta chủ động đốt trước khi mùa mưa vừa dứt, cho nên sang mùa nắng, không còn cỏ khô cho địch đột nữa. Ta cũng nắm được ý đồ của địch trong việc phát quang địa hình. Chúng cho rằng nơi nào có vật che khuất thì có hầm bí mật. Để đối phó lại, ta có hầm bí mật ở cả ba vùng (vùng ven, vùng trắng và vùng sâu).

Việc nắm tình hình địch, hiểu địch để kịp thời đối phó với mọi âm mưu của chúng là rất cần thiết trong một cuộc chiến tranh nhất là khi lực lượng ta còn ít, thế ta chưa mạnh, khi địch tập trung lực lượng ủi phá địa hình, ta sử dụng một lực lượng nhỏ kết hợp với du kích bám trụ chiến đấu tại căn cứ; còn phần lớn lực lượng ra bám trụ ở vùng trắng – nơi mà địch không ngờ tới.

Trong cuộc chiến đấu ở vùng tranh chấp, có tầm quan trọng chiến lược này, ta phải chấp nhận một sự hy sinh không nhỏ. Mỗi tháng Gò Dầu có từ 20 đồng chí trở lên bị thương, bị bắt hoặc hy sinh, nhưng ta đã bám trụ được. Cộng vào đó, cán bộ chiến sĩ và nhân dân trong huyện ngày càng có kinh nghiệm hơn trong việc xây dựng hầm bí mật, công tác bám trụ ngày càng có kết quả. Thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng được củng cố và phát triển, bảo đảm an toàn cho lực lượng bám trụ trong việc chống địch lấn chiếm bình định, ủi phá địa hình.

 Ở địa bàn vùng tranh chấp, khoảng cách giữa ta và địch thông thường từ 400 đến 500 mét, có nơi chỉ 200 đến 300 mét. Để bảo đảm bí mật, cán bộ và chiến sĩ ta đã thực hiện nghiêm chỉnh phương châm “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:49:36 PM
Trong khi bám trụ sinh hoạt dưới hầm bí mật gặp rất nhiều khó khăn, nhất là việc tiểu tiện. Vì vậy, khi ăn, không dám ăn no, và tránh những món gây khát nước hoặc gây tiêu chảy, khi uống không dám uống nhiều… Công việc đó tưởng dễ mà khó. Cho nên mọi người phải tập thành thói quen. Mọi sinh hoạt trong khi bám trụ để thực hiên theo phương châm “lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm”. Tất cả mọi việc đều phải giải quyết trước khi trời sáng. Mọi việc chuẩn bị đều phải chu đáo, từ thùng đại liên đựng thức ăn dự trữ, nước uống, đến thùng để tiểu tiện…

Tại vùng ven Gò Dầu, ta đã xây dựng thành thế trận chiến tranh nhân dân tương đối hoàn chỉnh. Từ 1 đến 2 tổ du kích hay bộ đội địa phương dựa vào thế chiến tranh du kích đã dám đương đầu với 1 hoặc 2 tiểu đoàn địch. Lực lượng chúng tuy lớn và phương tiện chiến tranh hiện đại, nhưng vẫn không đánh bật được lực lượng ta ra khỏi địa bàn. Các ấp chiến lược đều bị ta phá lỏng, phá rã. Ban ngày, địch làm chủ từ 7 đến 14 giờ; thời gian còn lại do nhân dân làm chủ. Có ấp chiến lược, một nông dân cũng khống chế được một đồn giặc, như ấp Phước Hội (Phước Thạnh). Do đó, nơi đây trở thành nguồn dự trữ lương thực cho bộ đội địa phương huyện, tỉnh và trung đoàn 268 của Sài Gòn – Gia Định. Ba ngày, nhân dân không đem lực lương thực ra được, thì ban đêm du kích hoặc bộ đội vào mang ra.

Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, ta còn vận động quần chúng xây dựng nhiều cơ sở trong các ấp chiến lược Phước Đức, Rạch Sơn, Bàu Dồn, Suối Ba Tươi, Gò Chùa, Phước Hội, Trâm Vàng v.v… phục vụ cho bộ đội địa phương và du kích tiêu diệt từng đơn vị bảo an, dân vệ và trừng trị nhiều tên ác ôn khét tiếng. Nhờ đó, tiểu đoàn 14 đã tiêu diệt ba đại đội thuộc tiểu đoàn 8 và đánh thiệt hại tiểu đoàn 7 thủy quân lục chiến, tiêu diệt hai đại đội cơ giới Mỹ, phá hủy 25 xe tăng, bắn rơi 3 máy bay, đánh thiệt hại nặng hai đại đội bảo an trên địa bàn các xã Thạnh Đức, Hiệp Thạnh, Thanh Phước và Phước Thạnh. Nhờ vậy, lực lượng ta dần dần tập trung lại, chuẩn bị tốt chiến trường chủ động đánh địch, hỗ trợ cho phong trào tại chỗ.

Trong đợt bám trụ này, các chiến trường bạn đã tích cực chia lửa với Gò Dầu. Tại Trảng Bàng, sư đoàn 9 đã tiêu diệt chốt Trà Cao gồm 100 tên Mỹ, diệt 900 tên Mỹ - ngụy tại khu vực Bời Lời. Trung đoàn 16 và bộ đội đại phương huyện tập kích cụm thiết giáp Mỹ ở Cầu Xe, diệt gần 500 tên Mỹ và 80 xe. Tại Bến Cầu, tiểu đoàn 1 kết hợp với lực lượng trên tập kích cụm Mỹ ở Bàu Tràm, diệt 1 tiểu đoàn Mỹ và hai đại đội biệt kích. Tại Châu Thành, quần chúng Thanh Điền nổi dậy cùng du kích đốt cháy một văn phòng xã và phá nhiều ấp chiến lược trên đường số 7.

Trong 16 tháng chiến đấu đầy hy sinh gian khổ (từ tháng 9-1968 đến tháng 12-1969), quân và dân huyện Gò Dầu đã đánh 268 trận, diệt 3.078 tên địch, bắt sống 52 tên, phá hủy 11 xe tăng và xe ủi bằng mìn tự tạo và súng B40, bắn rơi 6 máy bay; giải tán 250 tên phòng vệ dân sự, ba ban tề xã và mười ban tề ấp, khiến cho phần lớn số tề phải lưu vong; diệt 20 tên cán bộ bình định. Ta đã đột nhập 587 lần vào các ấp chiến lược, phát động 1.170 gia đình có 146 gia đình binh sĩ, vận động 25 gia đình từ bỏ ấp chiến lược trở về ruộng cũ; vận động 50 binh sĩ bỏ ngũ, phát động 13.000 quần chúng, qua đó đã xây dựng 7 lõm chính trị trong các ấp chiến lược. Các lõm giải phóng ở vùng ven như các ấp Cây Da (Hiệp Thạnh), ấp Chánh, Cây Da Sà (Phước Thạnh), xóm Đông (Thanh Phước) v.v… tuy bị địch đánh phá ác liệt, nhưng nhân dân vẫn kiên quyết không vào ấp chiến lược.

Giành được những thắng lợi to lớn nói trên, trước hết là do sự chỉ đạo sáng suốt và kịp thời của Ban thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội Tây Ninh, do quyết tâm của huyện ủy và Ban chỉ huy huyện đội Gò Dầu thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, từ đó đã phát huy được mọi khả năng trí tuệ của toàn Đảng bộ, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong huyện, xây dựng được tình đoàn kết quân dân, làm cho mọi người nhất trí với đường lối của đảng, quyết tâm đứng vững trên địa bàn, giành đất, giành dân, đánh bại từng bước mọi âm mưu, thủ đoạn trong kế hoạch bình định cấp tốc của địch.

Cùng với sự chi viện và hiệp đồng chiến đấu của các chiến trường bạn, tinh thần đấu tranh dũng cảm, sự yêu thương che chở, nuôi dưỡng, đùm bọc của nhân dân, đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ và chiến sĩ ta bám trụ vững vàng.

Thắng lợi này là kết quả của sự hy sinh xương máu của nhiều đồng chí và đồng bảo trong đó có liệt sĩ Trần Thị Sanh, huyện đội phó Huyện đội Gò Dầu(1) là công lao, đóng góp của các đồng chí và đồng bào trong việc khôi phục lại vùng ven Gò Dầu một địa bàn có tầm quan trọng chiến lược trong chiến tranh nhân dân.


(1) Đồng chí Trần Thị Sanh hy sinh ngày 27/2/1969, sau này được tuyên dương “Anh hùng các lực lượng vũ trang”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:50:21 PM
2/- Đợt tiến công mùa hè năm 1969 (từ 15-5 đến 20-6-1969):

Chỉ thị 81 của Thường vụ trung ương Cục xác định nhiệm vụ đẩy mạnh tấn công địch trên cả ba vùng chiến lược trong mùa hè 1969 nhằm đánh bại thêm một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội Tây Ninh đã quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo quân dân toàn tỉnh thực hiện nghiêm chỉnh chỉ thị nói trên.

Bước vào hè 1969, các thứ quân trong tỉnh hoạt động tương đối khẩn trương đều khắp, hướng vào các vùng yếu, ấp chiến lược và vùng ven.

Tỉnh đã dùng 2 tiểu đoàn (tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 14) và đại đội 1 tiểu đoàn 16 luân phiên thọc sâu vào vùng Tòa Thánh. Kết quả, ta tiêu diệt một đại đội bình định tại nội ô Tòa Thánh và một đại đội bảo an đến phản kích, đánh thiệt hại 2 đại đội bảo an khác; đánh quân Mỹ đến phản kích tại Thiên Thọ Lộ, diệt gọn 1 trung đội và đánh thiệt hại 1 đại đội. Ngoài trận Thiên Thọ Lộ, tiểu đoàn 1 còn chống càn tại Sóc Khuất (Tiên Thuận, Bến Cầu), diệt gọn 1 đại đội và đánh thiệt hại 1 đại đội Mỹ.

Bộ đội địa phương huyện và du kích từng nơi có lực lượng tỉnh hỗ trợ, đã liên tục tấn công địch trong nhiều ấp chiến lược. ta đã diệt 1 trung đội bảo an tại khu vực Xóm Dốc – Trường Đua (Thị xã), diệt gọn 1 trung đội bảo an ở Phước Đức, Suối Bà Tươi (Gò Dầu), bắt tù binh, thu vũ khí và 1 máy PRC25, giải tán 1 đội phòng vệ dân sự; diệt 1 tiểu đội bảo an trong ấp chiến lược Trâm Vàng, thu vũ khí 1 máy PRC10; diệt 1 trung đội dân vệ trong ấp chiến lược Phan (Dương Minh Châu), thu súng, giải tán 3 đội phòng vệ dân sự và làm công tác vũ trang tuyên truyền.

Cùng thời gian này, tại Thanh Điền, địch huy động 1.200 quân, 2 đoàn bình định gồm 248 tên thám báo từ Sài Gòn lên kết hợp với bọn địa phương dùng xe ủi, ủi phá rừng Thanh Điền. Đồng thời, chúng mở phân chi khu Phước Điền và đóng thêm nhiều đồn, tua (Lúc bấy giờ toàn xã Thanh Điền có 18 đồn, bót, tua). Du kích và cán bộ Thanh Điền gặp nhiều khó khăn, đại bộ phận phải rút qua bên kia sông Vàm Cỏ. một số cán bộ và du kích bám lại, kiên trì vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, củng cố lại 4 chi bộ mật ở 4 ấp chiến lược trên lộ 7. Tổ chức một số cơ sở nội tuyến kết hợp với lực lượng bên ngoài và lực lượng bên trong của 4 ấp chiến lược, diệt 1 tên cảnh sát trưởng và 1 tên trưởng ấp ác ôn. Quần chúng hết sức phấn khởi, vùng lên phá lỏng kềm kẹp, làm chủ từng bước trong ấp chiến lược.

Cùng với chiến dịch “Quyết tử giữ Gò Dầu lần thứ hai”, suốt mùa hè năm 1969, quân và dân Tây Ninh đánh 182 trận, loại 2.790 tên địch phá hủy 57 xe tăng, bắn rơi 10 máy bay, bắn chìm 10 tàu chiến, thu 15 súng; về đơn vị, ta đã diệt gọn 2 đại đội (có 1 đại đội Mỹ), 5 trung đội (có 1 trung đội Mỹ), diệt 1 trung đội bình định, đánh thiệt hại 4 đại đội (có 2 đại đội Mỹ), phá rã nhiều đội phòng vệ dân sự.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:51:51 PM
3/- Đợt tấn công mùa thu 1969 (từ 11-8 đến 15-9-1969)

Tháng 8-1969, Tỉnh ủy tổ chức học tập, triển khai nghị quyết 9 để nâng nhận thức về đường lối, phương châm, phương thức và tính giai đoạn của tổng công kích (Nghị quyết Trung ương Cục về tổng công kích, tổng khởi nghĩa: “cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa sắp tới sẽ là một giai đoạn, một quá trình tiến công chiến lược rất ác liệt và phức tạp bằng cả ba mũi tiến công…”) tổng khởi nghĩa, quán triệt hơn nhiệm vụ chính trị tập trung đánh phá bình định, chuyển phong trào toàn vùng ven và vùng yếu lên, toàn Đảng bộ tỉnh nhất trí xây dựng quyết tâm mới.

Địch đang thí nghiệm chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” để lập tuyến ngăn chặn trên sông Vàm Cỏ. Chúng đưa 2 đoàn giang thuyền đóng ở Bến Kéo và Gò Dầu kết hợp dùng bom, pháo, chất độc hóa học đánh phá ác liệt, phá trụi hai bên bờ sông. Ban đêm, giang thuyền tuần tra trên sông cứ 5 phút một lần. những đêm tối trời có lúc chúng thả trôi theo sông hoặc phục kích những nơi ta thường qua lại. Trực thăng soi sọi ráo riết.

Những hoạt động nói trên của địch đã gây nhiều khó khăn cho ta; có những trường hợp bộ đội, cán bộ ta muốn qua sông mà cả tháng vẫn chưa qua được. Sông rộng từ 80 đến 100 mét. Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng để chớp thời cơ khi tàu địch vừa qua khỏi, nhất là nếu không có quyết tâm cao vượt mọi gian khổ hy sinh, thì không thể nào qua sông được. Vì vậy mà có từ “Qua sông bạc đầu”.

Chấp hành sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội lệnh cho các lực lượng vũ trang trong tỉnh mở đợt đánh tàu trên sông Vàm Cỏ, làm cho việc qua lại trên sông trở lại bình thường. Bộ đội địa phương các huyện Châu Thành, Bến Cầu, Gò Dầu các tiểu đoàn 1, 14, 16 và lực lượng công binh, đặc công của tỉnh đều tham gia đánh tàu.

Trên hai bên bờ sông trống trải, ruộng lúa bùn lầy, muốn đánh được tàu địch, các chiến sĩ ta phải đào nhiều tuyến công sự. Từ vị trí tập kết đến tuyến phục kích tại bờ sông phải có các công sự vững chắc để đối phó với đạn pháo và rốc két của địch phản kích sau mỗi trận đánh. Bất chấp gian khổ hy sinh, cán bộ và chiến sĩ ta vẫn kiên trì chịu đựng và quyết tâm bám trụ đánh địch.

Chỉ trong vòng một tháng, các lực lượng vũ trang giải phóng trong tỉnh đã tiêu diệt 60 tàu chiến các loại trên sông Vàm Cỏ, bẻ gãy chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” của địch. Nổi bật là trận diệt gọn một đoàn tàu gồm 8 chiếc của đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 14 trong tháng 8-1969.

Ở vùng ven Gò Dầu, tiểu đoàn 14 tích cực chống càn, diệt 85 tên Mỹ, thu cả súng đại liên. Ta làm chủ nhiều vùng căn cứ lõm. Trong 20 ngày của tháng 9-1969, bộ đội địa phương huyện, du kích đã cùng tiểu đoàn 14 phá rã toàn bộ phòng vệ dân sự ở Bàu Đồn, phá hủy 12 xe tăng và xe ủi đất, diệt gọn từng điểu đội dân vệ. Ta làm chủ và đứng vững ở vùng ven.

Tại Thị xã, đội biệt động thọc sâu, diệt gọn 1 đại đội bảo vệ trên lộ 7 Thanh Điền.

Tại vùng ven Trảng Bàng, trung đoàn 16 cùng bộ đội địa phương huyện và du kích Đôn Thuận diệt cụm Mỹ ở Cầu Xe, gồm 500 tên và 80 xe.

Tóm lại, trong đợt tấn công mùa thu 1969, toàn tỉnh đã đánh 124 trận lớn nhỏ, diệt gần 2.000 tên địch, phá hủy 132 xe các loại, đánh chìm 60 tàu chiến.

Phối hợp với tấn công vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong tỉnh đã diễn ra quyết liệt, chống địch gom tát dân, ủi phá địa hình, bảo vệ được các căn cứ lõm của ta, đồng thời góp phần diệt ác, phá kềm, giành quyền làm chủ, từng bước khôi phục lại địa bàn.

Giữa những ngày chiến đấu ác liệt, dân tộc ta chịu một đau thương không gì bù đắp nổi: Bác Hồ qua đời!

Toàn Đảng bộ và quân dân Tây Ninh quyết biến đau thương thành hành động, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thực hiện độc lập, thống nhất tổ quốc.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:52:48 PM
4/- Đợt tấn công mùa đông từ tháng 11-1969 đến tháng 1-1970:

Để tăng cường lực lượng bảo vệ Sài Gòn, địch đóng thêm nhiều đồn bót, chốt nhiều cụm rồi tung từng trung đội để đánh phá ác liệt hòng đánh bứt bàn đạp tiếp cận thành phố. Tại Đôn Thuận và các ấp sâu của Lộc Hưng, Gia Lộc, An Tịnh, hàng ngày chúng tung quân đi càn quét, tra xét giấy tờ của nhân dân đi làm ruộng; ban đêm, biệt kích chặn đánh các đường đi lại của cán bộ ta.

Trước tình hình đó, văn phòng Phân khu 1 cũng như Huyện ủy Trảng Bàng phải di chuyển liên tục, các đại đội phải thay nhau xuống bám trụ địa bàn.

Tại An Tịnh, địch mở nhiều cuộc càn quét vào các ấp An Thới, Tịnh Phong, dùng phi pháo, cơ giới ủi phá địa hình hỏng đánh bật du kích và bộ đội ra khỏi địa bàn, gây nhiều thiệt hại cho ta. Lực lượng du kích từ 1 đại đội chỉ còn 15 tay súng. Mức thương vong của đồng bào ta do bom đạn địch gây ra, có ngày lên tới 15 người.

Tại Gia lộc, địch vừa đánh vòng ngoài, vừa tăng cường bình định bên trong. Đặc biệt, các ấp sâu của xã này bị đánh phá ác liệt. Nhân dân các ấp vùng ven, đêm về ngủ trong ấp, ngày lại bung ra sản xuất.

Tại Lộc Hưng địch tập trung đánh phá có tính chất hủy diệt, vì xã này đã từng là căn cứ của Huyện ủy và Huyện đội Trảng Bàng, của Phân khu 1 và của bộ đội chủ lực. Suốt đợt tấn công mùa hè 1969 của ta, chúng tập trung lực lượng mở liên tiếp nhiều cuộc hành quân để gom dân ở các ấp Lộc Phước, Lộc Thành, Lộc Trị, Lộc An, Lộc Tân ra dọc đường số 6. Riêng ấp Lộc Trị bị chà đi xát lại trên 20 lần trong một tháng. Chi bộ và du kích Lộc Hưng bị tróc địa bàn, tiêu hao nặng.

Tại Đôn Thuận, kết hợp với rải chất độc hóa học, địch tiếp tục cho máy bay B52 đánh phá và cho xe ủi phá rừng Bời Lời.

Trước tình hình đó, Huyện ủy và Huyện độ phải luân phiên nhau xuống tổ chức đánh địch, tạo thế đứng bám trụ vững chắc, khôi phục lại địa bàn. Đại đội 1 (Trảng Bàng) được phân công hoạt động tại các xã Gia Lộc, Lộc Hưng, An Tịnh và Gia Bình; đại đội 2 và 3 xã cánh Tây Trảng Bàng. Lực lượng công binh và đặc công phối hợp cùng lực lượng thị trấn Trảng Bàng đánh vào hậu cứ địch.

Các trận đánh hiệu suất cao của trung đoàn 16 (diệt 900 tên Mỹ ở Cây Cầy Vàng; tập kích cụm thiết đoàn Mỹ ở Cầu Xe, diệt 500 tên và 80 xe) đều có sự phối hợp với du kích và bộ đội địa phương huyện. Đại đội 1 (Trảng Bàng) kiên cường bám trụ ở Lộc Hưng, đánh địch tại An Thới, Gia Bình, diệt gọn từng trung đội Mỹ, trừng trị tên trưởng ấp Nổi khét tiếng ác ôn, chặn đánh thiết đoàn Mỹ trên đường số 6, phá rã hệ thống phòng vệ dân sự, từng bước khôi phục lại địa bàn Lộc Hưng.

Vùng ven Trảng Bàng tuy đã được khôi phục, nhưng sự thiệt hại cũng không nhỏ. Bộ đội địa phương huyện từ 1 đại đội, có lúc chỉ còn 20 người. Các xã có nơi chỉ còn 3-4 đảng viên và một vài du kích. Nhưng khi ta đánh được địch, tạo thế đứng chân vững vàng thì lực lượng lại phát triển, thế ta giằng co với địch và dần dần ta giành thế chủ động đánh địch ở vùng ven.

Điều đặc biệt của Trảng Bàng là xã An Tịnh tuy địch đóng trên 20 đồn bót, nhưng suốt thời gian này đồng bào vẫn bám trụ, chi bộ du kích, E16 vẫn bám địa bàn, và là bàn đạp tiến công vào Sài Gòn.

Tại huyện Châu Thành, các xã Thanh Điền, Thái Bình, Trí Bình là chiến trường căng thẳng, được cán bộ và chiến sĩ ta mệnh danh là “địa bàn giảm kỷ”. Từ này cũng nói lên mức độ gian khổ của địa bàn. Tại đây, địch cũng dùng nhiều thủ đoạn ráo riết đánh phá, gom tát dân hoặc khoanh ấp tại chỗ; đóng chốt, đồn, bót, tua khắp nơi, ngày đêm tung quân càn quét, đánh phá ác liệt. Mặc dù vậy, cán bộ và du kích vẫn kiên trì bám trị, từng bước xây dựng cơ sở và củng cố chi bộ mật trong các ấp chiến lược; từ đó kết hợp với lực lượng bên ngoài, diệt ác, phá kềm, gỡ đồn bót, giành quyền làm chủ. Xã Thanh Điền từng bước được khôi phục lại, bộ đội vào, đánh diệt gọn từng tiểu đội trung đội bảo an trên đường số 7 và sở ôcônen, góp phần xây dựng lại phong trào quần chúng.

Như vậy, trong năm 1969, quân dân Tây Ninh qua đánh địch bình định lấn chiếm, đã từng bước khôi phục địa bàn chiến đấu.

Về quân sự, các thứ quân trong tỉnh đã tác chiến 809 trận, diệt 12.003 tên - có 3.022 tên Mỹ và chưa hầu, diệt 101 tên cán bộ bình định thu 130 súng; phá hủy 29 khẩu pháo và 412 xe quân sự các loại – có 241 xe tăng, đốt cháy 120.000 lít xăng và 7 kho đạn gồm trên 20.000 tấn, bắn rơi 31 chiếc máy bay, đánh chìm 136 tàu chiến. Về đơn vị, ta diệt gọn 7 đại đội – có 2 đại đội cơ giới Mỹ bị diệt ở vùng ven – và 8 trung đội.

So với năm 1968, số địch bị diệt năm 1969 thấp hơn, nhưng chất lượng và hiệu suất chiến đấu cao hơn. Năm 1969 có nhiều trận phối hợp với lực lượng trên, còn năm 1969, lực lượng địa phương độc lập tác chiến và phong trào chiến tranh du kích áp sát vùng ven diệt địch.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:54:25 PM
Hoạt động quân sự năm 1969 có những bước phát triển mới, nhờ sự chỉ đạo đúng đường lối quân sự, nên ta chủ động tấn công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Tuy địch cố gắng rất lớn, dồn sức đến mức cao nhất để đối phó, lấn chiếm, ngăn chặn kế hoạch tấn công và nổi dậy của ta, chiến trường tỉnh có lúc khó khăn, ác liệt hơn trước; nhưng với tinh thần tự lực tự cường, lòng dũng cảm và quyết tâm cao, năm 1969 quân và dân trong tỉnh giữ và giành lại được địa bàn, diệt được nhiều sinh lực địch; trong chiến đấu, thương vong ta rất ít (chỉ bằng 1/2 năm 1968).

Ở vùng ven, địch thất bại rất nặng: đầu năm 1969 tung Mỹ ra cụm vòng ngoài để che chở cho ngụy bình định ổn định vùng chúng kiểm soát; giữa năm đẩy bọn dù ngụy ra thay Mỹ, nhưng bọn này không đảm đương nổi, kêu cứu, buộc Mỹ phải phân tán từng đại đội, trung đội (có nơi từng tiểu đội Mỹ đóng đồn bót chung với ngụy để làm nòng cốt và ổn định tinh thần bọn này. Rõ ràng âm mưu “phi Mỹ hóa” chiến tranh đã phải lùi lại và bước đầu thất bại, kế hoạch bình định cấp tốc bị ngăn chặn và đẩy lùi.

Qua chỉnh huấn, nhận thức chính trị, tư tưởng của các lực lượng võ trang được nâng lên, việc sử dụng lực lượng binh chủng chuyên môn, việc chuyển phương châm, phương thức hoạt động cho các binh chủng vũ trang được kịp thời, nên ta đã đánh sâu, đánh đau, đúng đối tượng và diệt gọn, nâng cao hiệu suất chiến đấu của các lực lượng phát huy tinh thần tự lực tự cường về thế chủ động tấn công, hỗ trợ đắc lực cho phong trào chính trị - binh vận của quần chúng.

Đặc biệt, các lực lượng vũ trang đều triển khai và bám được địa bàn vùng ven, đánh đúng đối tượng kềm kẹp và hai lần đánh sâu, bám trụ chống phản kích tại vùng Tòa Thánh, gây được thanh thế, làm đòn xeo cho phong trào nổi dậy của quần chúng tại chỗ.

Phong trào chiến tranh du kích tuy có ít quần chúng tham gia (do bị gom tát đi), nhưng cũng phát triển rộng mạnh hơn năm 1968 – nổi nhất là ở vùng ven, vùng trắng phát huy được hiệu suất trái gài, hình thành thế vây lấn địch. Điều đó chứng tỏ nghị quyết về chiến tranh du kích đã có chuyển biến tốt, như ở Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu và Dương Minh Châu. Lực lượng vũ trang mật tuy chưa hoạt động liên tục nhưng hiệu suất chiến đấu cao, đã đánh hàng chục trận, diệt được nhiều đối tượng ác ôn, gây thối động mạnh trong hàng ngũ địch, hỗ trợ đắc lực cho phong trào chính trị của quần chúng.

Trong lãnh đạo vũ trang, các cấp ủy đã kiên trì chỉ đạo bám trụ địa bàn, chỉ đạo tấn công, nâng cao chiến – kỹ thuật và trình độ chỉ đạo, chỉ huy. Được chỉnh huấn nghị quyết 9, các lực lượng vũ trang đã làm được nhiệm vụ chuyển vùng, hỗ trợ tốt cho phong trào chính trị, binh vận và công tác bám trụ.

Cùng với các hoạt động quân sự, khí thế phong trào ba vùng được giữ vững và phát triển. Ở các ấp chiến lược thế ta mạnh, ta đã huy động được quần chúng nổi dậy, kết hợp được ba mũi đánh phá bình định, diệt ác phá kềm, giành quyền làm chủ, phá đi phá lại nhiều lần, giữ được thế hợp pháp bằng đấu tranh chính trị - binh vận với khí thế rất quyết liệt, giành lại các quyền lợi bị mất, thể hiện trong “các phong trào”:

- Đấu tranh chống bình định, chống bắt lính, chống tập quân sự, đòi bung ra sản xuất v.v… của nông dân và học sinh. Phong trào đấu tranh chống cào nhà, gom dân, ủi phá ruộng vườn cũng rất quyền liệt, nhất là vùng trọng điểm Gò Dầu và Trảng Bàng.

- Đấu tranh đòi tăng lương, hạ giá sinh hoạt của công nhân và nhân dân lao động.

- Đồng bào Cao Đài đấu tranh đòi bồi thường sinh mạng và tải sản, chống các hình thức kềm kẹp; đấu tranh vạch mặt tên tướng Nguyễn Văn Thành đội lốt tôn giáo để làm tay sai cho giặc; đấu tranh chống ngụy quyền bắt 3689 thanh niên làm công quả đưa đi lính chết nhục nhã cho quyền lợi của đế quốc Mỹ.

- Giáo dục 36.220 thanh niên đấu tranh chống bắt lính và 6740 học sinh chống quân sự hóa học đường. Có 1.245 lượt học sinh tham gia đấu tranh vũ trang trong lòng địch, trong đó có 17 trận đáng kể, diệt 69 tên ác ôn, rải trên 102.000 truyền đơn các loại.

Sức đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng đã buộc địch phải chùn bước và phải bồi thường hàng chục triệu đồng.

Quần chúng đã tự nguyện tham gia các mặt công tác cách mạng, như: trừ gian diệt ác, nuôi dưỡng bảo vệ cán bộ, chiến sĩ, đóng góp sức người, sức của phục vụ tiền tuyến, xây dựng xã ấp chiến đấu.

Trên mặt trận binh vận, sau chỉnh huấn, bộ máy binh vận các cấp được củng cố. Lề lối làm việc được chấn chỉnh; qua đó ta xây dựng được khá nhiều cơ sở trong lòng địch, đã tuyên truyền giáo dục 7.615 gia đình binh sĩ. Phong trào quần chúng kết hợp ba mũi phá rã hàng loạt phòng vệ dân sự rộng rãi gồm trên 3.600 tên và phá đi phá lại nhiều lần, làm đào rã ngũ trên 800 binh sĩ thuộc các sắc lính. Một số gia đình binh sĩ được giáo dục, đã vận động chồng con em trở về và có hàng chục vụ binh sĩ phục vụ cho vũ trang đánh phá bình định hoặc tước súng phòng vệ dân sự v.v…


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:54:56 PM
Qua một năm đấu tranh giằng co quyết liệt với địch, đến cuối năm 1969, chiến trường đã hình thành 5 vùng.

- Vùng giải phóng: 8.000 dân.

- Vùng tranh chấp (thế và lực ta mạnh): 48 ấp với 133.000 dân.

- Vùng tranh chấp (thế ta yếu): 25 ấp, 99.000 dân.

- Vùng yếu: 3 ấp và 1 khu, 33.000 dân.

- Vùng trắng (Không có cơ sở cách mạng): 22 ấp và 3 khu gồm 96.000 dân.

Vừa tấn công địch vừa xây dựng, đến cuối năm 1969, ta đã xây dựng ủy ban nhân dân cách mạng ở cấp tỉnh, ở 5/6 huyện thị và ở 16 xã. Để chăm lo đời sống quần chúng một số nơi trong chỉ đạo sản xuất đã chủ ý phát triển lúa mùa năm 1969 ở vùng ven. Vùng giải phóng bị đánh phá nhiều, nhưng nhờ sự lãnh đạo đúng nên vẫn giữ vững phong trào sản xuất và từng nơi có mở rộng diện tích một ít. Đặc biệt vùng giải phóng đã phát triển lúa mùa nghịch (nông nghiệp 1), các loại cây lương thực và rau – nhất là ở Gò Dầu, Châu Thành, Bến Cầu. Lúa mùa năm 1969 tốt hơn 1968. Ý thức tiết kiệm, giữ lâu dài trong quần chúng – kể cả các đơn vị, cơ quan đã có cơ sở vững hơn trước.

Mạng lưới y tế thôn được xây dựng và củng cố ở một số xã ấp như: xây dựng đội y tế lưu động, tủ thuốc nhân dân, hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh với phát động quần chúng vùng ven, vùng yếu, nên đã làm tốt cả hai mặt công tác này, vừa có ảnh hưởng tốt trong quần chúng ở cả ba vùng. Ngành dân y tự lực sản xuất một số thuốc đông tây y, tiết kiệm cho công quỹ hơn một triệu đồng. Ngành đã nỗ lực vượt bậc, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng được một số đội ngũ cán bộ chuyên môn vững vàng hơn.

Năm 1969, Đoàn hậu cần 82 vẫm bám trụ ở địa bàn quan trọng như: Núi Bà Đen, Bà Hảo, Định Thành để hoạt động, ngày ở hang núi, đêm đột vào các ấp chiến lược. Đoàn có một bộ phận thu mua gạo với 12 cán bộ, chiến sĩ, gọi là C22; một tổ thu mua đóng ở Bà Hảo, để làm bàn đạp thu mua ở Suối ông Hùng gồm 60 người, lấy phiên hiệu là C20.

Tại Dương Minh Châu, hậu cần tỉnh đã xây dựng cơ sở và tổ chức đường dây chuyển hàng từ các ấp chiến lược Phan, Suối Đá, Truông Mít, Cầu Khởi, Chà Là, tạo nguồn bảo đảm cho các cơ sở của ban chỉ huy Tỉnh đội, cho tiểu đoàn 16 và lực lượng huyện Dương Minh Châu.

Tại Gò Dầu, bộ phận tiếp liệu của tỉnh kết hợp với tiểu đoàn 14, bộ đội địa phương huyện và cán bộ xã Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thanh Phước kiên trì bám, móc nối quần chúng, xây dựng cơ sở; đồng thời đột vào các ấp chiến lược Phước Hội, xóm Bố phát động quần chúng tổ chức đường dây vận chuyển lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm khác phục vụ cho lực lượng chiến đấu tại chỗ.

Sau khi chỉnh huấn, Tỉnh ủy tiếp tục tổ chức học chỉ thị về xây dựng chi bộ xã 4 tốt và học tập 4 bài học cho đảng viên, đồng thời toàn tỉnh tiến hành xây dựng chi bộ xã.

Việc thực hiện chỉ thị về xây dựng chi bộ 4 tốt đã nâng cao một bước về lập trường quan điểm giai cấp công nhân trong việc giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về nỗ lực quyết tâm vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.

- Gắn chặt việc xây dựng tư tưởng với nhiệm vụ và tổ chức trong việc xây dựng chi bộ 4 tốt, nâng trình độ và năng lực lãnh đạo của chi bộ lên một bước trong việc thực hiện nghị quyết.

- Đã chấn chỉnh, kiện toàn các cấp ủy xã, lãnh đạo đoàn thanh niên nhân dân cách mạng, chính quyền, các ngành và đoàn thể ở xã.

- Việc phát triển đoàn viên, đảng viên mới được nâng lên ở khắp ba vùng, chất lượng đảng viên, đoàn viên cũng được nâng lên khá nhiều.

Việc quản lý đảng viên, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, đảng viên ở xã cũng được nâng lên một bước.

Mặc dù địch đã đưa quân số lên rất cao, còn nhiều đồn bót, còn lấn chiếm, nhưng tình hình trong tỉnh đang chuyển biến thuận lợi cho ta bất lợi cho địch, tạo điều kiện cho năm 1970 dành thắng lợi to lớn hơn.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:55:38 PM
II – VỪA GIÚP BẠN, VỪA MỞ RỘNG VÙNG BIÊN GIỚI, TIẾP TỤC ĐÁNH ĐỊCH BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM, PHÁT TRIỂN THẾ ĐỨNG Ở VÙNG VEN (1970-1971)

Đầu năm 1970, kế hoạch “bình định cấp tốc” chưa đạt yêu cầu, Mỹ - ngụy xoay qua thực hiện “bình định đặc biệt”. Tham vọng của chúng là kiểm soát toàn bộ số dân trong ấp chiến lược. Lúc bấy giờ toàn tỉnh có 120 ấp chiến lược với 360.000 dân (không tính huyện Trảng Bàng) nhưng trên thực tế, chúng chỉ mới kiểm soát được 65 ấp với 183.00 dân. Theo tài liệu của địch, số ấp loại A không quá 1/3, còn 55 ấp với 176.400 dân, chúng chưa kiểm soát được; số dân ở vùng tranh chấp, chúng cũng không kiểm soát được.

Về lực lượng địch, quân địa phương có 3 tiểu đoàn và 46 đại đội bảo an, từ đó chúng tổ chức thành 8 liên đội cơ động. Dân vệ có 10 đại đội và 122 trung đội; cảnh sát có 2.237 tên phòng vệ xung kích, 273 tên biệt kích, 641 tên Thiên Nga, Phượng Hoàng, đưa quân ngụy trong tỉnh lên 14.656 tên.

Về tổ chức, chúng kiện toàn và quân sự hóa (cảnh sát hóa) các ban tề xã, tề ấp, các tổ chức Thiên Nga, Phượng Hoàng. Lực lượng cảnh sát, bình định được bố trí nhằm thực chính sách “ba tự” (tự phòng, tự quản và tự túc) của Thiệu. Chúng tổ chức hoàn chỉnh các phân chi cảnh sát từ 5 đến 12 tên và đưa sĩ quan xuống tận xã, ấp để chỉ huy bộ máy kềm kẹp.

Sáng ngày 9/1/1970, địch tập trung pháo các nơi bắn dữ dội vào rừng Thạnh Đức, dọn đường cho một đại đội bộ binh, một đại đội cơ giới Mỹ và một đại đội bảo an càn vào tiểu đoàn 14 đóng tại Trảng Cỏ Đỏ. D14 là đơn vị được tỉnh đưa về tăng cường cho vùng trọng điểm Gò Dầu, đã kịp thời tổ chức trận địa đánh địch, có giao thông hào chiến đấu. Khoảng 10 giờ, đại đội cơ giới Mỹ và đại đội bảo an lọt vào trận địa, ta nổ súng diệt gọn đại đội cơ giới Mỹ gồm 13 xe tăng và 150 tên Mỹ, đánh thiệt hại đại đội bảo an diệt 35 tên. Ta giữ vững trận địa.

Chiến thắng này, có ý nghĩa lớn về quân sự và chính trị, vì suốt năm 196, địch đã tập trung một lực lượng lớn quyết tâm bình định vùng này với mọi thủ đoạn để đánh bật lực lượng vũ trang ta ra xa nhưng chúng đã trả một giá rất đắt. Qua trận đánh này, đồng bào trong ấp chiến lược vùng bắc Gò Dầu và nam Tòa Thánh tin tưởng hơn vào cách mạng, tin tưởng du kích vẫn luôn luôn bám sát cùng nhân dân diệt địch để giành đất, giành quyền làm chủ.

Tại Trảng Bàng, tên tỉnh trưởng Hậu Nghĩa đích thân chỉ huy một tiểu đoàn bảo an càn vào xã An Tịnh. Khi đến khu vực Bến tắm ngựa, chúng sa vào thế trận bày sẵn của ta. Du kích nổ súng, chúng chạy tán loạn vào bãi trái, bãi chông. Tên tỉnh trưởng hoảng sợ chạy băng đồng ra quốc lộ 1 để thoát thân, bỏ lại 50 xác chết.

Bước vào đầu thời kỳ này, đã diễn ra một sự kiện lịch sử quan trong: đại hội lần thứ hai của Đảng bộ Tây Ninh họp vào tháng 2/1970. Đại hội đã đánh giá tình hình thực tến trên chiến trường Tây Ninh: ta đã quyết tâm bám trụ được các vùng ven, vùng yếu để tiến công địch, vận động được quần chúng đấu tranh chính trị, dự trữ được lương thực cung cấp cho chiến trường, xây dựng và bổ sung lực lượng vũ trang đánh tiêu diệt được một số đồn bót, phá banh ấp chiến lược, đưa dân ra vùng giải phóng. Bên cạnh những mặt ưu điểm, đại hội cũng rút ra những mặt còn yếu như: việc xây dựng lực lượng tuy đã làm được nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu nhứt là cơ sở mật vùng địch kiểm soát có lúc không giữ được địa bàn vì địch đánh phá quá ác liệt, có tư tưởng cầu an co thủ trong một bộ phận cán bộ đảng viên.

Phân tích tương quan lực lượng giữa ta và địch, đại hội đã ra nghị quyết: “Đẩy mạnh thế chiến lược tiến công ba mũi, ba vùng, giữ vững và mở rộng địa bàn đứng chân vây ép địch. Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận, cơ sở mật đánh địch bình định lấn chiếm diệt ác phá kềm, giành dân, giành quyền làm chủ. Đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, vận động quần chúng trở về ruộng vườn cũ làm ăn, tạo thế hai chân, từng bước lấp vành đai trắng, xây dựng và mở rộng vùng giải phóng có dân”.

Đại hội đã bầu cử Ban chấp hành tỉnh ủy mới gồm 27 tỉnh ủy viên (có 4 dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Văn Hải giữ chức bí thư tỉnh ủy, hai đồng chí Nguyễn Văn Thắng và Mười Đôi phó bí thư.

Quán triệt sự chỉ đạo của Ban thường vụ Trung ương Cục, của quân ủy và bộ chỉ huy Miền, và quán triệt đợt hoạt động xuân – hè năm 1970, Ban thường vụ Tỉnh ủy, Ban chỉ huy Tỉnh đội tổ chức thực hiện nghị qyết đại hội Đảng bộ, nhanh chóng kiện toàn tổ chức tiểu đoàn 14, tiểu đoàn 1 (đơn vị mới được bổ sung) và tiểu đoàn 16 (thiếu). Tỉnh cũng kiện toàn các đại đội công binh, đặc công và tổ chức thêm đội 4 (biệt động) hoạt động trong vùng thị xã, đồng thời hình thành Ban chỉ huy tiền phương gồm hai cánh đông và tây để chỉ huy kịp thời.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:57:12 PM
Tháng 2/1970, bọn chi khu Trảng Bàng phối hợp với do thám, đã tập trung lực lượng mở cuộc càn vào ấp Gia Lâm (Gia Lộc) hòng tiêu diệt lực lượng ta. Đại đội 1, đội đặc công huyện và đội thị trấn Trảng Bàng đang đóng quân tại đây, đã hợp đồng chặt chẽ, nổ súng đánh trả quyết liệt, diệt 11 tên, bọn còn sống bỏ chạy.

Bị thua đau, địch thay đổi thủ đoạn kết hợp do thám đánh có điểm mà chủ yếu là dùng phi pháo. Trong các cuộc càn, khi bộ phận đi đầu đụng ta nổ súng thì chúng rút ra, rồi gọi máy bay, pháo ném bom bắn phá hòng hủy diệt trận địa của du kích. Thủ đoạn này lúc đầu có gây cho ta nhiều khó khăn trong việc bám trụ. Có nơi khi gặp địch, du kích không dám nổ súng vì sợ bom, pháo hủy diệt. Nhưng địch có nhiều thủ đoạn thì ta cũng lắm kế hay. Ta dùng cách gài mìn nhiều tuyến, tổ chức bắn tỉa từ xa đề không lộ mục tiêu. Từ đó giảm được khó khăn và tránh được thiệt hại cho dân.

Ngày 18/3/1970 trên chiến trường Campuchia, đế quốc Mỹ giúp bè lũ Lon-Non-Xi-Ric MaTắc lật đổ Xi-ha-núc lập ra chính quyền thân Mỹ hòng phá kế hoạch chi viện của miền Bắc Việt Nam cho chiến trường miền Nam theo con đường qua cảng Xi-ha-núc-vin (Campuchia) xuống Tây Ninh, Sông Bé.

Ngày 30/4/1970, địch bắt đầu mở cuộc hành quân sang Campuchia, nhằm mở rộng chiến trường, giảm sức ép với Sài Gòn, tạo thế cho hội nghị Pa-ri. Chúng huy động 75 tiểu đoàn (trong đó có 29 tiểu đoàn ở Tây Ninh), có 12 tiểu đoàn Mỹ, 22 tiểu đoàn pháo, 17 tiểu đoàn xe tăng và thiết đoàn cơ giới từ Tây Ninh chúng đánh sang Campuchia bằng nhiều hướng như: từ Phước Lưu, Bình Thạnh, Sóc Nóc (Nam lộ 1) đánh sang, từ Mộc Bài theo quốc lộ 1 đánh vào Bà Quác, lên Chi Phu; từ Cây Me, Rừng Nhum đánh vào khu vực Bố Bà Tây lên Bà Vẹt, từ Phước Tân theo liên tỉnh lộ 13 đánh lên Xăm-Rôn đường số 10, từ Xa mát theo quốc lộ 22 lên lộ 7 – Krết và dọc theo biên giới Xvay-Riêng, Công-Pông-Chàm, Mi-Mốt kéo dài từ Móc Câu đến Mỏ Vẹt.

Lúc bấy giờ chúng tập trung quân trên chiến trường Tây Ninh tất cả 29 tiểu đoàn, gồm có 6 tiểu đoàn Mỹ và chư hầu, 13 tiểu đoàn biệt động quân biệt lập, 10 tiểu đoàn thuộc 2 sư đoàn 18 và 25; cùng với quân ngụy địa phương vừa bình định đánh phá chiến trường Tây Ninh, vừa đánh sang Campuchia.

Phối hợp với cuộc hành quân lớn sang Campuchia, theo lệnh của tên đại tá Lê Văn Thiện, tỉnh trưởng Tây Ninh, quân ngụy và ngụy quyền ở địa phường cùng hoạt động mạnh. Lực lượng dân vệ, bảo an thường xuyên bung ra càn quét vùng ven, trong khi lực lượng cảnh sát hành quân bên trong ấp chiến lược hòng đánh phá cơ sở cách mạng, thực hiện kế hoạch bình định đặc biệt.

Ngày 1/5/1970, để chia lửa cho chiến trường và ngăn chặn bước tiến quân của địch sang Campuchia, đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 14 chặn đánh một mũi tiến công của địch tại Gò Chệt, diệt gọn một đại đội thuộc tiểu đoàn 51 biệt động quân, chặn được bước tiến của chúng để cho nhân dân kịp thời sơ tán.

Trên vùng đất Gò Dầu, Gò Dầu là mục tiêu rất quan trọng đối với địch, vì nó nằm trên quốc lộ 1, là đường giao thông chiến lược từ Sài Gòn sang Phnôm-Pênh (Campuchia). Địch đã tổ chức phòng giữ cầu nghiêm ngặt. Mỗi trụ cầu có giăng dây kẽm gai và lưới chống B40, có lính gác. Cứ năm đến mười phút, chúng ném xuống nước một quả lựu đạn để chống sự đột nhập của ta. Ngoài ra, còn có một giang thuyền thường xuyên tuần tiễu xung quanh khu vực cầu.

Để gây khó khăn cho địch trong việc vận chuyển quân, vũ khí, hàng hóa đánh sang Campuchia, cấp trên quyết định đánh sập cầu này. Đội đặc công Miền được đưa xuống tăng cường cho chiến trường Gò Dầu. Do địch bố trí canh phòng cẩn mật, các chiến sĩ ta phải trụ trong ấp chiến lược, phải trầm mình dưới nước nhiều ngày để theo dõi địch. Được cơ sở cách mạng giúp đỡ, đội đặc công kết hợp với đội thị trấn Gò Dầu đã nắm được cơ sở và quy luật hoạt động của địch. Chuẩn bị xong mọi mặt, lực lượng ta tổ chức đánh với gần một tấn thuốc nổ, đã làm sập ba nhịp cầu (Suốt mấy chục năm qua, đây là lần đầu tiên cầu này bị đánh sập) diệt gọn một trung đội bảo an canh giữ cầu. Đường giao thông chiến lược số 1 bị cắt đứt trước khi qua biên giới.

Ngày 13/6 và 26/6/1970, ta diệt một trung đội dân vệ tại khu Giếng Mạch (Thị Xã) và hai đội bình định ở hai ấp chiến lược Phước Điền (Châu Thành) và Long Khánh (Bến Cầu). Đồng thời ta liên tiếp pháo kích vào thị xã, Cẩm Giang. Trại huấn luyện Bến Kéo, Rừng Dầu, Bàu Đồn bắn cháy và làm sập nhiều trại lính, kho đạn và xe quân sự địch, làm rối loạn hậu phương của chúng.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:57:52 PM
Phối hợp với tấn công vũ trang, phong trào đấu tranh của quần chúng trong ấp chiến lược cũng dâng lên mạnh mẽ: diệt ác phá rã phòng vệ dân sự, giành quyền làm chủ đấu tranh binh vận đánh vào tinh thần ngụy khi Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, làm cho nhiều ấp thế địch từ mạnh xuống vừa rồi trở thành yếu. Từ đó, ta có điều kiện khôi phục lại địa bàn, nối liền Dương Minh Châu, Gò Dầu với Trảng Bàng.

Thắng lợi của đợt xuân – hè 1970 là thời cơ để ta xây dựng thế tiến công mới phù hợp với tình hình mới.

Thi hành chỉ thị của Bộ chỉ huy Miền, Ban thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội tổ chức tiếp đợt tấn công mùa mưa 1970 nhằm đánh bại thêm một bước âm mưu mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương của Ních-Xơn, đẩy mạnh mặt tận đánh phá bình định, ra sức khôi phục lại các địa bàn hoạt động trong tỉnh, đồng thời trích một bộ phận cán bộ, nòng cốt và lực lượng vũ trang để giúp cách mạng Campuchia xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang.

Trong khi địch đánh sang Campuchia, lực lượng vũ trang Tây Ninh vừa dọc đánh chặn địch, vừa kết hợp với lực lượng trên và lực lượng của địa phương bạn tranh thủ thời cơ, giải phóng các vùng biên giới như: Bà Quách, Chi Phu, Chót, Xăm Rôn, Cây Dầu lên Tà Nốt, Tà Păng… Kết quả 13/19 tỉnh của Campuchia được giải phóng, cách mạng Campuchia phát triển nhảy vọt.

Vùng giải phóng cặp biên giới liên hoàn giữa 3 tỉnh Tây Ninh, Xoài Riêng và Kompongchàm được mở rộng. ta có điều kiện thuận lợi để ổn định chỗ ăn ở cho các cơ quan, đơn vị và nhân dân. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội chủ trương đưa một đại đội thuộc tiểu đoàn 16 xuống tăng cường cho huyện Bến Cầu, cùng với lực lượng địa phương khôi phục lại địa bàn; đưa tiểu đoàn ta về đứng chân ở Dương Minh Châu, Suối Nhánh, Gò Dầu, đưa từng đại đội xuống đứng chân ở Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, mở rộng dần lên Thạnh Đức, đưa đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 4 biệt động quân đánh sâu vào Thị xã, trụ lại, làm cho hậu phương địch không ổn định và lực lượng địch phải căng kéo.

Thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy và Tỉnh đội, các đơn vị và địa phương suốt đợt tấn công mùa mưa năm 1970 đã liên tiếp tấn công địch, lập nhiều thành tích mới, nổi bật là những trận sau đây:

- Tại thị xã Tây Ninh ngày 1/7/1970, đội biệt động phối hợp với tiểu đoàn 1 đã tiêu diệt 2 trung đội bảo an tại Giồng Mạch và Trường Đua. Riêng đội 4 biệt động trong đợt này đã hoạt động liên tiếp tục trên khắp các địa bàn của thị xã; đánh sĩ quan dù tại ngõ căn cứ Trảng Lớn, đánh Mỹ trên lộ 22 cách dinh tỉnh trưởng 120 mét, diệt sĩ quan địch ở rạp hát, diệt ác ôn tại phòng làm việc, trừng trị tên sĩ quan an ninh trên đường phố v.v…. Trong đợt này, đội 4 biệt đội đánh 14 trận, diệt 79 tên (có 3 đại úy Mỹ, 3 đại úy ngụy, 8 trung úy, 3 thiếu úy và một số tên ác ôn khét tiếng khác), phá hủy 4 xe jeep.

Số trận đánh tuy không nhiều nhưng chất lượng cao, đánh đúng đối tượng ác ôn. Các chiến sĩ đội 4 biệt động đã hoạt động táo bạo, bất ngờ, chiến đấu linh hoạt và sáng tạo, làm cho địch hoang mang lo sợ, quần chúng phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi, ra sức giúp đỡ cho đội 4 biệt động ngày càng có hiệu quả hơn.

- Tại Dương Minh Châu, ngày 15 và 21-8-1970, bộ đội địa phương và du kích phục kích trong hai ấp chiến lược Suối Đá và Phan, diệt một trung đội Mỹ và một trung đội bảo an, tại Gò Dầu, tiểu đoàn 14 đánh càn ở Suối Nhánh, diệt một trung đội Mỹ.

Ngày 8-9-1970, tiểu đoàn 14, đại đội 33 và lực lượng công binh phối hợp bao vây và tấn công một trung đội bảo an đang ém quân dưới suối Hiệp Thạnh hòng thực hiện thủ đoạn “đánh biệt kích nhả răng bừa”, kết quả ta diệt 15 tên, thu vũ khí và một máy bộ đàm. Thủ đoạn “nhả răng bừa” bước đầu bị bẻ gãy.

Về mặt quân sự, năm 1970 là năm ta và địch giằng co quyết liệt. Ta đã đánh 646 trận lớn nhỏ, diệt 4.,765 tên, trong đó có 1.054 tên Mỹ, 50 tên chủ lực, diệt 3.651 tên bảo an, dân vệ, 134 tên ác ôn và 48 tên sĩ quan các cấp – có cả đại tá Mỹ. Về đơn vị, ta tiêu diệt gọn 2 đại đội, 11 trung đội và 21 tiểu đội. Về phương tiện chiến tranh, ta phá hủy 200 xe quân sự - có 150 xe tăng và xe bọc thép, 10 khẩu pháo 105 và 155 ly, bắn chìm 36 tàu chiến trên sông, bắn rơi và phá hủy 7 trực thăng. Ngoài ra còn đánh chiếm 1 đồn cấp trung đội và 5 tua, đốt cháy 6 dãy nhà kho quân trang quân dụng, 1 nhà đèn, 3 kho súng gồm trên 100 khẩu của phòng vệ dân sự ở Suối Đá, Trà Võ, Truông Mít.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:58:43 PM
Phong trào chiến tranh du kích năm 1970 phát triển rộng, mạnh hơn năm trước, huy động được cán bộ, chiến sĩ, kể cả cán bộ ngành, đoàn thể, và một số đồng bào ấp chiến lược tham gia với nhiều mức độ khác nhau: tìm bom đạn lép, đào hầm hố chông, phá cầu, đường, đắp mô… các công trường xã dần dần được phục hồi và hầu hết các xã đều có bãi trái hoặc gài trái. Nhiều nơi còn kết hợp bãi trái gài với khẩu hiệu tranh thủ binh sĩ, kết hợp với bám trụ bảo vệ mùa màng, kết hợp với ba thứ quân đánh càn, bao vây xây lấn đồn bót, hạn chế việc nống ra đánh phá của địch, mở rộng địa bàn đứng chân có tác dụng lớn trong việc bảo vệ địa hình vùng ven.

Trong năm 1970, riêng trái gài đã diệt 1.000 trên 4.765 tên địch bị diệt phá hủy 210/236 xe quân sự. Nổi bật là phong trào chiến tranh du kích ở các xã ruột Gò Dầu phát triển mạnh, bước đầu đã gây được phong trào quần chúng, trong các ấp chiến lược trực tiếp tham gia gài trái đánh địch, quản lý bãi trái gài, xây dựng bãi trái lưu động, từng bước có sáng tạo gài trái đánh thương vong. Chiến tranh du kích ở Gò Dầu đã diệt sinh lực địch nhiều nhất trong tỉnh, là lá cơ đầu về chiến tranh du kích và đánh phá bình định toàn diện, bám địa bàn huy động quần chúng nổi dậy. Đặc biệt có 2 trận bắn tỉa kết hợp với gài trái, diệt 1 tiểu đội và đánh thiệt hại nặng 1 đại đội bảo an.

Năm 1970, toàn tỉnh xây dựng được 35 đội du kích với quân số trung bình từ 4-7 đội viên. Riêng hai đội Suối Đá và Tà Păng – Rô – Bon có 11 và 13 đội viên. Trong 35 đội du kích, có 16 đội có quân số và chất lượng khá; đặc biệt đội du kích xã Thái Bình (Châu Thành) đã kết hợp hỏa lực bộ binh với bãi trái gài, diệt hàng trăm tên địch, thu được súng, phá hủy xe quân sự, trở thành đội dẫn đầu toàn tỉnh về tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch.

Về lực lượng vũ trang mật, đến cuối năm 1970, toàn tỉnh có 130 đội viên du kích mật và biệt động mật. So với năm 1969, số lượng có phát triển hơn, hoạt động đều hơn. Năm 1970, lực lượng vũ trang mật đánh 50 trận, diệt 300 tên địch. Nhiều trận thọc sâu, đánh hiểm đạt hiệu suất chiến đấu cao, diệt được sĩ quan địch, phá hủy kho tàng, gây thối động mạnh trong hàng ngũ địch.

Nói chung về mặt quân sự, ta vẫn giữ thế chủ động trên chiến trường, từng lúc ngăn chặn được các chiến thuật “phục kích nhả răng bừa”, phục kích gài mìn, bung ra đánh nhỏ cấp tiểu đội trung đội của địch, đồng thời tiếp tục phát huy thế phong trào chiến tranh du kích, thế bám trụ địa bàn vùng ven của các lực lượng vũ trang, đánh đúng đối tượng, diệt nhiều đơn vị bảo an, dân vệ lực lượng trực tiếp kềm kẹp nhân dân. Các lực lượng vũ trang đã làm chuyển thế và phát triển phong trào của 2 huyện Bến Cầu, Gò Dầu cùng một số căn cứ lõm của huyện, xã trước đây gặp nhiều khó khăn, tạo thuận lợi cho các lực lượng chính trụ bám vững địa bàn, tiếp cận và phát động quần chúng. Phối hợp chặt chẽ với tấn công quân sự, đấu tranh chính trị năm 1970 hình thành năm phong trào:

- Phong trào nhân dân các ấp chiến lược, đấu tranh dai dẳng và quyết liệt chống phá bình định, giành được thắng lợi lớn, phá rã hoặc phá lỏng một số tổ chức kềm kẹp của địch, tẩy chay chính sách cải cách điền địa, chống sáo canh, không kê khai ruộng đất, chống nộp thuế, phá luật lệ quy định của địch bung ra sản xuất, đi sớm về tối, bám lại ruộng vườn, lấp được vành đai trắng, phát triển được diện tích canh tác gồm 3.000 ha ruộng hàng trăm ha hoa màu. Nổi bật là phong trào đấu tranh quyết liệt của nhân dân xã Thanh Điền, chống cướp ruộng đất, giành lại được trên 600 ha. Ngoài ra, đấu tranh phá rã một số đội phòng vệ dân sự nữ, chống đóng tiền thay cho gác đêm, tẩy chay và phá rã các tổ chức chính trị, kinh tế, phản động như: lão ông, lão bà, hợp tác xã chăn nuôi…

- Phong trào công nhân đồn điền cao su đấu tranh dai dẳng đòi tăng lương cấp gạo, đòi mở cửa sở, chống khủng bố sa thải cũng giành được thắng lợi. trong đấu tranh đưa ra khẩu hiệu sát đúng với nguyện vọng của công nhân, biết dựa vào tổ chức công khai, nên đã tập hợp được lực lượng quần chúng đông đảo huy động thành phong trào, vừa phát triển đấu tranh, vừa xây dựng được thực lực tại chỗ, đồng thời kết hợp 3 mũi diệt ác phá kềm, đánh phá bình định, qua đó nâng cao khí thế đấu tranh và chuyển được phong trào.

- Phong trào học sinh chống quân sự hóa học đường, chống phạt vạ, tố cáo giáo dục phản động… từng lúc lên mạnh với hình thức chất vấn, bãi khóa.

- Phong trào Việt Kiều ở Campuchia bị gom về nước, ở vùng Tòa Thánh đấu tranh từ thấp đên cao, đòi tự do trở về ruộng vườn, đòi bồi thường thiệt hại, đòi giải quyết đời sống… Cuộc đấu tranh có lúc tập hợp trên 2.000 người biểu tình, giương cao băng khẩu hiểu, kéo đến giáp mặt với ngụy quyền và được binh sĩ đồng tỉnh ủng hộ, buộc địch phải nhận yêu sách, phải cấp tiền, gạo và xuất hàng triệu đồng để xây dựng nhà cửa, cấp phát cho Việt kiều hòng xoa dịu phong trào.

- Phong trào đấu tranh của quần chúng Cao Đài vùng Tòa Thánh liên tục vạch mặt và lên án những tên tay sai đội lốt đạo, chống âm mưu tái vũ trang Cao Đài. Đặc biệt cuộc đấu tranh chống đuổi nhà diễn ra quyết liệt, buộc địch phải dùng cơ bút và thương phế binh ngụy đập phá để đuổi nhà, đuổi bar, nhưng cũng bị phong trào quần chúng vạch mặt tố cáo. Đồng thời, cơ sở tại chỗ vận động thuyết phục thương phế binh, từ chỗ đập phá để đuổi nhà, đuổi bar, chuyển sang đập phá công sở và phòng tuyển mộ tân binh của ngụy quyền.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:59:19 PM
Ngoài ra, còn phong trào đấu tranh dư luận công khai, rộng mạnh tập trung tấn công vào các chính sách phản động của Mỹ, ngụy và bọn tay sai đội lốt tôn giáo, đề cao uy thế cách mạng, đồng thời cổ vũ các phong trào học sinh, thương phế binh… Nổi nhất là phong trào tấn công dư luận, hoan nghênh chính sách hòa bình 8 điểm mà Chính phủ ta đã đưa ra tại hội nghị Pa-ri về Việt Nam, đồng thời cực lực chỉ trích đề nghị 5 điểm “ngừng bắn tại chỗ” của tổng thống Mỹ Ních-xơn, lan rộng trong các tầng lớp trung gian, chức sắc và tín đồ tôn giáo, binh sĩ và nhân viên ngụy quyền. Hầu hết dư luận đều hoan nghênh thiện chí hòa bình của Chính phủ ta và vạch trần ý đồ xấu ca của kẻ địch trong đề nghị “ngừng bắn tại chỗ” của Ních-xơn như sau:

Một là, đánh lừa dư luận nhằm xoa dịu sự phấn nỗ của dư luận Mỹ và thế giới và làm cho nhân dân ta mơ hồ, giảm sút ý chí chiến đâu, để chúng có thể đeo đuổi dã tâm xâm lược nước ta.

Hai là, Mỹ đang thua, phải dùng kế hoãn binh, để chúng có thời gian và điều kiện củng cố ngụy quân, ngụy quyền đang sa sút về tinh thần, tan rã về tổ chức, rồi sao đó dốc toàn lực đánh lại các lực lượng cách mạng và nhân dân.

Ba là, “ngừng bắn tại chỗ” có nghĩa là nhân dân ta bị tước vũ khí, để cho Mỹ - Ngụy tự do khủng bố, bắn giết, kềm kẹp, bắt người, tự do bắt lính, đôn quân, cướp bóc, tự do đóng đồn, lấn chiếm mà không bị trừng trị.

Công tác binh vận năm 1970, trong chỉ đạo có tập trung và liên tục tấn công vào phòng vệ dân sự và các hình thức tổ chức khác, đồng thời kết hợp binh vận với đánh phá bình định nhằm làm tan rã bô máy kềm kẹp của địch. Kết quả, 14 cơ sở đã phục vụ 12 lần, diệt 30 tên bình định, dân vệ, bảo an, thu 10 súng, 41 lựu đạn. Ba mũi giáp công đã làm tan rã 2 đại đội bảo an mới lập, 2 trung đội dân vệ, 1 trung đội bảo an, 2 trung đội và 5 tiểu đội phòng vệ dân sự có trang bị. Ngoài ra, tấn công ba mũi kết hợp với vận động của gia đình đã làm tan rã trên 3.000 phòng vệ dân sự - có những đội ta phá đi phá lại 5-7 lần, và gia đình binh sĩ vận động gọi về trên 200 binh sĩ chủ lực, dân vệ, bảo an, trong số 1.449 binh sĩ bỏ ngũ trong năm.

Qua phát động làm công tác binh vận, ta đã huy động được trên 5.000 lượt gia đình binh sĩ tham gia đấu tranh, trên 3.000 binh sĩ được giáo dục về tình hình nhiệm vụ, phần lớn có tâm trạng hoang mang, sợ đi chiến trường Campuchia, sợ chiến tranh kéo dài, sợ đánh nhau với ta, sợ xã chiến đấu… từ đó có những hành động tích cực như: chống lệnh hành quân, phản chiến, đốt doanh trại (Bến Kéo), tự gây thương tích để không đi càn, tạo lý để đấu tranh đòi giải ngũ và phổ biến nhất là hành quân không đến mục tiêu.

Công tác đánh phá bình định bằng ba mũi giáp công năm 1970 đã đưa đến kết quả chuyển vùng như sau:

- Ấp loại 1: 6 tháng đầu năm có 27 ấp tranh chấp thế và lực ta mạnh, với 84.764 dân.

- Ấp loại 2: có 2 ấp tranh chấp, thế và lực ta ngang hoặc yếu hơn địch, với 85.764 dân.

- Ấp loại 3: vùng nông thôn yếu, địch còn kềm kẹp nặng và nội ô thị xã, Tòa Thánh, thị trấn, 53 ấp với 259.650 dân.

Trong 6 tháng cuối năm, mặc dù địch tăng cường đánh phá và bình định thâm độc hơn trước, với những chính sách hết sức phản động trực tiếp đánh vào dân, nhưng toàn Đảng bộ đã xây dựng quyết tâm và nỗ lực mới, kiên trì và tập trung đánh phá bình định hơn 6 tháng đầu năm, nên đã phục hồi một số ấp đưa lên loại 1, xây dựng được cơ sở tại chỗ, từng bước chuyển tương quan lực lượng từng ấp lên, đẩy lùi địch từng bước, Kết quả chuyển vùng trong 6 tháng cuối năm như sau:

- Loại 1: có 5 ấp và khu chiến lược với 7.240 dân.

- Loại 2: có 8 ấp và khu chiến lược, với 17.523 dân.

- Loại 3: có 4 ấp và khu chiến lược với 24.140 dân.

Ngoài ra, toàn tỉnh có 7 ấp giải phóng với 3.380 dân ở ven thị trấn và lộ giao thông, không có đồn bót, và 2.500 dân ở biên giới Campuchia.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 05:59:51 PM
Công tác lãnh đạo sản xuất năm 1970 có tập trung hướng dẫn quần chúng đấu tranh bung ra lấp vành đai trắng, chống phá gom tát dân của địch, đồng thời lãnh đạo đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giải quyết tốt đoàn kết nông thôn, chia sớt ruộng rẫy, giúp đỡ phương tiện sản xuất, cứu đói, lãnh đạo bảo vệ mùa màng, hướng dẫn quần chúng dự trữ gạo muối cho chiến trường, kết hợp công tác dân vận, chăm sóc sức khỏe của đồng bào ấp chiến lược, đồng bào phía sau và nhân dân Campuchia, có ảnh hưởng tốt. Kết quả đông bào ấp chiến lược bung ra nhiều, diện tích sản xuất năm 1970 tăng hơn năm trước trên 3.000 ha. Thực hiện nghị quyết tự túc 3 tháng lương thực, các cơ quan đơn vị, tuy gặp nhiều khó khăn, cũng ra sức sản uất được trên 100 ha ruộng và nhiều hoa màu.

Công tác hậu cần năm 1970 cũng lập được nhiều thành tích xuất sắc. từ tháng 4/1970, trong khi địch mở rộng chiến tranh sang Campuchia, hầu hết các đơn vị chủ lực của chúng ở Dương Minh Châu đã rút đi, chỉ còn lại bảo an, dân vệ do đó hoạt động nống ra càn quét có giảm. Thừa cơ hội này, cán bộ, chiến sĩ hậu cần tổ chức bung ra hoạt động với hình thức nhỏ lẻ, bảo đảm bí mật để bám trụ lâu dài. Sau một thời gian kiên trì phát động thu mua lương thực, thực phẩm, đồng bào đã dùng xe trâu, xe bò vận chuyển gần 1.000 tấn gạo và nhiều loại thực phẩm, nhu yếu phẩm khác đưa vào căn cứ.

Cũng trong năm 1970, Miền có đưa một số đơn vị đặc công trinh sát về địa bàn Dương Minh Châu để hoạt động. Nhờ có kế hoạch thu mua, tích lũy lương thực từ trước, C20 đã bảo đảm tốt hậu cần cho những đơn vị này đứng chân hoạt động liên tục. Hai bên hỗ trợ xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng, tạo điều kiện chuẩn bị cho chiến dịch Nguyễn Huệ sắp tới.

Tại Bến Cầu, hậu cần tỉnh mở cửa khẩu Mộc Bài, đồng thời cử cán bộ sang một số khu vực biên giới như: Bà Quách, Công-Pông-Trạch, Xam Rông… vừa giúp Campuchia xây dựng chính quyền cách mạng ở những vùng mới giải phóng, vừa vận động nhân dân Campuchia bán lương thực, thực phẩm cho hậu cần, để đưa về cung cấp cho lực lượng trong tỉnh.

Tại huyện Châu Thành, hậu cần tỉnh cùng với các xã đội trong và ngoài vành đai diệt Mỹ Trảng Lớn, mở rộng ra Bến Sỏi, Trại Bí, phát động quần chúng Mỏ Công, Thái Bình, Thanh Điền tổ chức thu mua lương thực, thực phẩm, vải, giấy mực, dây điện, pin đèn…, bảo đảm phục vụ cho tiểu đoàn Hà Tây kết nghĩa trước đây, cho tiểu đoàn 1 (ATK) sau này và cho lực lượng chủ lực của miền đang chuẩn bị địa bàn về mở mảng ở Bến Cầu. Hậu cần tỉnh cũng đang khắp khục mọi khó khăn do địch gây ra để giải quyết lương thực cho lực lượng tỉnh, đồng thời giải quyết một phần lương thực cho lực lượng chủ lực bám trụ tại địa phương.

Công tác xây dựng Đảng, ngoài việc mở đại hội đảng bộ tỉnh, đã bầu lại huyện ủy ở 4 huyện: Bến Cầu, Gò Dầu, Châu Thành, Dương Minh Châu và bầu bổ sung huyện ủy Tòa Thánh và thị ủy, gồm 96 huyện ủy viên, có 20 ủy viên dự khuyết. Sau đó, từng bước bầu bổ sung 9 huyện ủy viên cho 5 huyện thị, đồng thời chú ý củng cố các chi ủy xã và chi ủy cơ quan.

Đến cuối năm 1970, toàn tỉnh có 224 chi bộ gồm 2.511 đảng viên (cuối năm 1969, có 215 chi bộ và 2.554 đảng viên), như vậy: năm 1970 tăng 9 chi bộ, nhưng giảm 43 đảng viên, do chiến trường quá ác liệt, số đảng viên mới phát triển không đủ số bị thiệt hại.

Kết quả thắng lợi trong năm 1970 đã chứng minh cho sự nỗ lực của quân dân Tây Ninh trong việc vừa khôi phục địa bàn, vừa đánh phá bình định chống phản kích, lấn chiếm của địch, vừa giúp bạn chiến đấu giải phóng, xây dựng vùng biên giới, tạo thế và lực đứng vững trên địa bàn xung yếu, làm đà cho sự phát triển năm 1971.

Tỉnh ủy đã kịp thời lãnh đạo, giáo dục cán bộ, đảng viên, chiến sĩ về ưu khuyết điểm trong phong trào đấu tranh chính trị, binh vận, du kích chiến tranh, trong việc xây dựng và bổ sung lực lượng vũ trang, củng cố chi bộ… Tuy nhiên so với yêu cầu thì những thắng lợi trên còn nhiều mặt hạn chế, như nghị quyết hội nghị Trung ương Cục lần thứ 10 đã nêu nhận xét tình hình chung trên toàn B2, tất cả các phong trào đã có phát triển nhưng còn chậm, chưa thấy đúng mức mặt ngoan cố, thâm độc của kẻ thù trong việc đánh phá âm mưu địch, chưa nắm vững phương châm giành thắng lợi quyết định.

Ngay trên địa bàn tỉnh, lực lượng vũ trang ta chưa đủ, chưa mạnh, vì vậy đánh địch chưa đau. Một số vùng bị mất thế, ta đang phục hồi. Hệ thống đồn bót còn dày đặc. Việc đánh phá ấp chiến lược chưa triệt được từng mảng. Mũi binh vận chưa phục vụ kịp thời với tình hình. Những mặt yếu trên đây, ta cần phải khắc phục để chuẩn bị cho mùa khô 1971, phối hợp với chiến trường chung đẩy mạnh thế tiến công địch trên cả ba vùng, tạo thế mới, lực mới ho nhiệm vụ năm 1972.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:01:13 PM
*
*   *

Để thực hiện yêu cầu nhiệm vụ năm 1971, Tỉnh ủy đã động viên toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tập trung đẩy mạnh các mặt vũ trang, chính trị, binh vận, diệt ác phá kềm nhằm đánh bại một bước kế hoạch bình định phát triển của địch.

Để đảm bảo yêu cầu nói trên, tính kiện toàn tổ chức, tăng cường lực lượng cho 4 huyện Dương Minh Châu, Gò Dầu, Bến Cầu, Châu Thành mà trọng điểm là Gò Dầu. Ở đây, sau khi đồng chí Tư Chẩn – huyện đội trưởng đã hy sinh, tỉnh đưa đồng chí Năm Nghĩa xuống làm huyện đội trưởng, đưa toàn bộ C1/D16 và đội công binh của tỉnh bổ sung cho Gò Dầu. Sau khi C3 xuống Tòa Thánh, D1 giải thể, tỉnh củng cố lại C5 bổ sung cho d14 và C2 đặc công. Miền cũng tăng cường cho d14 một số bộ đội miền Bắc; C2 đặc công hình thành C100, vể sau thành D18 đặc công. D14 sau khi được bổ sung, được đưa xuống tăng cường cho địa bàn Gò Dầu. D phân tán từng C đóng tại các điểm Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Đức và hậu cứ Suối Nhánh.

Đầu năm 1971, địch đánh phá các kế hoạch bình định để giành thắng lợi lớn trong phản kích hòng đánh bật ta ra khỏi chiến trường, giành đất, giành dân. Trong khi tiếp tục bình định (từ tháng 7/70 đến hết 1971), chúng triển khai kế hoạch cộng đồng tự vệ, cộng đồng phát triển, gồm 2 giai đoạn nhằm đạt tới 3 mục tiêu cơ bản là địa phương tự phòng, tự quản, tự túc và phát triển (từ 1/3/1971 đến hết tháng 1/1972).

Chủ trương mùa khô 1970-1971 của địch là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc bình định nông thôn miền Nam, đồng thời tập trung quân Ngụy kết hợp hỏa lực, không quân Mỹ thực hiện cuộc hành quân quy mô lớn nhất, vượt biên giới, đánh vào vùng hậu phương ta, tập trung hướng chính là đường 9 Nam Lào và đông bắc Campuchia, coi đó là đòn thử sức lớn nhất của cái gọi là “lực lượng trụ cột” của “Việt Nam hóa chiến tranh” để giành thắng lợi ở bàn hội nghị Paris.

Quân số ngụy trên chiến trường đã đạt số cao nhất (trên 1 triệu). Địch rảo riết thực hiện các chiến dịch: “Đại bàng”, “Vì dân”, “phượng hoàng”… hòng đánh phá hạ tầng cơ sở cách mạng, tiếp tục ủi phá địa hình, gom dân, lấn chiếm, phá căn cứ, bàn đạp cách mạng, đóng thêm đồn bót.

Quân số ngụy ở Tây Ninh cũng đang ở thời kỳ “hưng thịnh” nhất. Hệ thống căn cứ địch gồm: 1 tiểu khu, 4 chi khu (Hiếu Thiện, Khiêm Hanh, Phú Phương, Phước Ninh) (không kể Trảng Bàng), 35 đồn (từ 1 đến 2 đại đội), 70 bót (từ 1 đến 2 trung đội), 90 tua (từ 1 đến 2 tiểu đội). Địch lần lượt đóng mới (so với 1970) 7 bót.

Chúng ráo riết thực hiện các thủ đoạn thâm độc vè chính trị, kinh tế và do thám gián điệp; tăng cường công an, cảnh sát, tổ chức do thám ngầm, lợi dụng khối Cao Đài, củng cố xây dựng các đảng phái phản động, ra sức tăng cường bộ máy kềm kẹp ở xã ấp, đẩy mạnh việc bắt lính, đôn quân, cướp bóc và phong tỏa kinh tế gắt gao, nhằm cô lập và đánh bật lực lượng ta bên ngoài, phá cơ sở ta bên trong.

Qua đánh phá của địch, từng nơi từng lúc có gặp khó khăn về lương thực, thực phẩm, về bám trụ địa bàn. Hành lang vận chuyển từng lúc bị bị ngăn chặn; lực lượng ta bị tiêu hao…

Thực tế địch đã đẩy lùi các đơn vị lớn ra xa vùng ven. Nhưng các cuộc hành quân vượt biên giới lớn nhất của chúng lại dẫn đến thất bại lớn nhất, thất bại tầm cỡ chiến lược.

Ở hướng đông bắc Campuchia, trong cuộc hành quân mang tên “Toàn thắng 1/71”, địch tập trung 2 vạn quân “tinh nhuệ” của quân đoàn 3. Trong 4 tháng thực hành chiến dịch phản công (từ 4-2-71 đến 31-5-71), quân giải phóng miền Đông đã tiêu diệt phần lớn chiến đoàn 8, đánh thiệt hại nặng 6 chiến đoàn khác (333,5,3/KB, 9/F5, 43-48/F18) và một số đơn vị ngụy Campuchia, làm cho địch không thực hiện được các mục tiêu của cuộc hành quân.

Trên hướng đường 9, Nam Lào, cuộc hành quân địch mang tên Lam Sơn 719 đã huy động 55.000 quân (không kể quân ngụy Viên Chăn) cộng với sự chi viện tối đa về hỏa lực và không quân Mỹ. Sau 43 ngày đêm đọc sức quyết liệt với quân giải phóng, toàn bộ quân ngụy Sài Gòn đã bị quét sạch khỏi đất Lào, 15.000 tên Mỹ bị tiêu diệt, 1.000 tên bị bắt sống…


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:02:58 PM
Thất bại của 2 cuộc hành quân lớn trên đã làm suy yếu một bước nghiêm trọng lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ Ngụy. Chiến lược của Mỹ định giành thắng lợi bằng cách dựa vào hiệu lực và chiến thuật phát huy chỗ mạnh của phương tiện chiến tranh đã bị thất bại nặng bước đầu. Chiến thuật cơ động bằng máy bay lên thẳng, dùng thiết giáp làm lực lượng xung kích, cụm lại đóng chốt trên điểm cao, dùng lực lượng dầy đặc pháo binh yểm trợ cho bộ binh, hợp đồng giữa cơ giới, bộ binh và trực thăng…, các chiến thuật từng là lá bùa hộ mạng của lính Mỹ - Ngụy xưa nay, đã giảm hiệu lực rất lớn trên các chiến trường Nam Lào, Campuchia. Chiều hướng thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã rõ ràng.

Trên chiến trường Campuchia, quân ngụy Phnôm – Pênh sau các cuộc hành quân Tây Nam, Tây Bắc, lại tập trung 50 tiểu đoàn (11 lữ), có sự chi viện của không quân Mỹ, mở cuộc hành quân “Chella 2” nhằm nối lại đường số 6, cắt hành lang, triệt đường thu mua của ta và tạo bàn đạp lấy lại các vùng giải phóng của bạn. Đây cũng là một cuộc thử sức “Khơ me hóa chiến tranh” với chiến dịch đường số 6. Qua 45 ngày đêm, ta và bạn đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Chella 2, tiêu diệt một bộ phận chủ lực quan trọng quân Lôn-Nôn, đẩy chế độ Lôn-Nôn vào nguy cơ sụp đổ hẳn, làm phá sản âm mưu “Khơme hóa chiến tranh” của Mỹ trên chiến trường Campuchia.

Thất bại liên tục trong các cuộc “thử sức” chiến lược, chiều hướng thất bại của học thuyết Ních-Xơn đã hiện rõ. Mỹ buộc phải rút dần và giao chiến trường lại cho quân ngụy. Các căn cứ Mỹ ở Tây Ninh như: Trảng Lớn, Trâm Vàng, Chà Rầy… được lần lượt giao cho sư đoàn ngụy 25.

Hoạt động của các lực lượng cách mạng khiến cho địch phải luôn luôn thay đổi thế bố trí binh lực. trên chiến trường Tây Ninh, chúng tập trung một lực lượng lớn với đủ loại binh chủng và đủ loại phương tiện chiến tranh để đối phó với lực lượng của ta, vì Tây Ninh có căn cứ địa cách mạng, lại có biên giới chung ở vùng đông – bắc Campuchia đây cũng là địa bàn đứng chân của chủ lực ta, bất cứ lúc nào ta cũng có thể triển khai đánh lớn vào vùng tây bắc thành phố Sài Gòn – sào huyệt của ngụy quyền trung ương. Mọi hoạt động của các trung đoàn ngụy ở Tây Ninh đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ta. Cụ thể địch hoạt động theo hai hướng:

- Hướng Tây – Nam Sông Vàm Cỏ Đông (Bến Cầu), trên tuyến liên tỉnh lộ 13, chúng vẫn duy trì lực lượng bộ binh và pháo, chủ yếu là phòng ngự.

- Tại Dương Minh Châu, chúng dùng tiểu đoàn biệt động quân biệt phái của Tua hai và liên đội bảo an ở Suối Đá, đánh vào Núi Bà, bắc thị xã và lộ 22.

Địch án ngữ, đánh phá ta ở 2 hướng nói trên hòng ngăn chặn lực lượng lớn của ta tràn xuống trung tuyến và ven đô, ngăn chặn ta ở vùng ngoài, phòng ngự trong mùa mưa và bung ra đánh phá, hỗ trợ cho dân vệ, bản an. Lực lượng cảnh sát cũng ra đánh phá, góp phần binh định lấn chiếm một số vùng. Toàn tỉnh có đến 240 đồn, bót, tua. Chúng còn lấn chiếm và đóng thêm 9 bót, tua ở các lõm bàn đạp ven vùng yếu như: Rộng Tượng Tròn, Rồng Tượng Dài (Thanh Phước), ấp Phước Tây (Phước Thạnh), Cây Da (Hiệp Thạnh), Trà Vỏ, ấp Chánh, (Thạnh Đức), bót cây Dương, tua An Phú (An Tịnh), tua Suối ông Đình (Tân Biên).

Lực lượng chủ lực trên địa bàn tỉnh được bố trí lại đội hình trước khi chấm dứt mùa mưa:

- Chiến đoàn 50 từ cầu Cần Đăng lên Thiện Ngôn, Xa Mát (lộ 22).

- Chiến đoàn 46 từ Sóc Con Trăn đến Nam MiMốt.

- Chiến đoàn 49 (gồm 3 tiểu đoàn): 1 tiểu đoàn chốt ở Phước Tân, 1 tiểu đoàn ở quanh Chi Phu (Campuchia), đến tháng 11-1971) thì chuyển lên phía bắc Núi Bà.

Chiến đoàn 48 thuộc sư đoàn 18 đớng ở bắc Lộc Ninh, Chà Dơ (Dương Minh Châu) và Bưng Bàng (Thủ Dầu Một).

- Chiến đoàn 43 đưa 2 tiểu đoàn đánh phá vùng Trà Vong dài qua đường số 4 – Bàu Bắc.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:03:26 PM
Địch vẫn tập trung đánh phá liên tục hầu hết các địa bàn trong tỉnh, ráo riết xây dựng, củng cố bộ máy kềm kẹp và đánh phá phong trào địa phương: nhưng chất lượng đánh phá kém, thế và lực ngày càng giảm sút, nhất là bảo an, dân vệ; song do tấn công ba mũi của ta chưa đủ mạnh nên tốc độ giảm sút của địch chưa nhanh. Mặt khác, địch còn thực hiện một số yêu cầu của kế hoạch bình định là do:

- Sinh lực của chúng có bị tiêu hao, tiêu diệt nhiều nhưng còn bắt được lính, đôn được quân; bọn trên vẫn còn khả năng chi viện cho bọn dưới, đồng thời còn đóng thêm đồn bót để ngăn chặn hành lang căn cứ và ngăn ngừa tấn công của ta vào ấp chiến lược và các vùng xung yếu của chúng.

- Bộ máy kềm kẹp của địch tuy có những nơi bị ta đánh đi, đánh lại nhiều lần, nhưng những tên đầu sỏ ác ôn trực tiếp kềm kẹp ở xã ấp và các tổ chức phản động chưa bị tiêu diệt nhiều; do đó địch còn khả năng củng cố bộ máy kềm kẹp, thúc ép bọn dưới bung ra đánh phá.

- Cơ sở bên trong của ta còn ít, diện đánh địch của ta nói chung chưa đều, chưa tạo được thế căng kéo địch, nên hậu phương của chúng còn tạm thời yên ôn, nhất là những vùng sâu thị xã, thị trấn, các khu tôn giáo, di cư v.v…

Bên cạnh những mặt mạnh tạm thời, địch cũng bộc lộ những mặt yếu sau đây:

- Do kết quả phong trào ba mũi giáp công tại địa phương và tác động của tình hình chung, tuy quân số địch còn đông, địch còn đánh phá nhiều, nhưng chất lượng kém, tinh thần địch phổ biến là tiêu cực, cầu an, sợ chết thể hiện trong thái độ trung lập, trong hành động đào rã ngũ, chống lệnh hành quân, v.v…, trừ một số tên ác ôn bên trên thúc ép.

- Qua các phong trào đấu tranh của quần chúng, nội bộ địch ngày càng mâu thuẫn, bị phân hóa cô lập. Những hành động tội ác dã man của địch càn khơi sâu căm thù của đồng bào ta đối với bọn ác ôn tại địa phương, cộng với quân số ngụy tại địa phương đang giảm (trên 3.500 tên nếu tính đến cuối năm 1971), đã làm thế và lực của địch ngày càng giảm sút nặng. Do đó, nhiều luật lệ phát xít kiềm kẹp của chúng đã bị chựng lại hoặc từng lúc bị quần chúng đấu tranh phá bỏ như: chống kềm kẹp bung ra sản xuất, chống bao ráp ban đêm, chống lệnh giới nghiêm, chống đuổi chợ, cướp ruộng đất v.v…

Những thắng lợi trên chiến trường Lào và Campuchia là điều kiện thuật lợi cho quân dân miền Nam nói chung và quân dân Tây Ninh nói riêng xốc tới tấn công địch khắp cả ba vùng.

Tại huyện Châu thành, ngày 29-3-1971, ta bắt sống và giải tán 1 đội phòng vệ dân sự ở Tua Hai; tiêu diệt 1 a biệt động quân biên phòng ở Bến Sỏi và ngày 20-4-1971 lại đánh thiệt hại 1 b biểu động quân nữa củng ở Bến Sỏi; du kích tiêu diệt 1 a thám sát trên lộ 13. Như vậy, từ 29-3-71 đến 20-4-1971 bộ đội địa phương và du kích Châu Thành đã liên tiếp tấn công địch trên lộ 13, diệt và tiêu hao nhiều sinh lực địch, tiêu diệt từng a biệt động quân. Quân biên phòng rải ra canh giữ lộ 13. Đặc biệt ngày 28-4-1971, du kích Thanh Điền diệt gọn 1 A bảo an chốt ở Cầu Lớn, khu Nhà thiếc, lộ 7. Từ ngày 7 đến 15-5-1971, xã Thanh Điền liên tiếp diệt ác phá kềm. Du kích Thái Bình gài mìn tại cửa bót Tua hai, diệt gọn 1 A biệt động quân biên phòng; ở Trảng Lớn, tự vệ mật gài mìn phá hủy 1 trực thăng.

Tại địa bàn trọng điểm Gò Dầu, C33, D14, đơn vị 716 đặc công và du kích liên tiếp gỡ đồn, diệt gọn từ B, A địch, gõ đồn dân vệ ấp chiến lược Thầy Cai, diệt gọn 1 B, diệt 2 A dân vệ, bắt và giải tán 1 đội phòng vệ dân sự tại 2 ấp chiến lược Rạch Sơn, Suối Bà Tươi; diệt 1 B bảo an trong ấp chiến lược Bót Mới (Bàu Đồn); chống càn tại ấp Phước Tây, đánh thiệt hại nặng 1E bảo an, diệt 1 B, đánh thiệt hại 1 giang thuyền trên sông Vàm Cỏ.

Tại Dương Minh Châu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện diệt gọn và đánh thiệt hại nặng 2 B bảo an tại ấp chiến luộc Phan và Cầu Khởi. Dui kích trừng trị nhiều tên ác ôn, phá rã toàn bộ phòng vệ dân sự ở lộ 13, đồng thời vũ trang tuyên truyền ở Trà Là, Bàu Năng.

Tại Bến Cầu, bộ đội địa phương và du kích diệt 1 B bảo an tại Long Khánh, khôi phục lại thế đứng chân, bao bó địch ở Giồng Nầng, Ngã ba Bàu gõ bằng phong trào du kích chiến đấu.

Tại thị xã, lực lượng biệt động và bộ đội liên tiếp diệt gọn 2 B dân vệ tại Xóm Dốc và Thái Hiệp Thạnh.

Tại cánh tây Trảng Bàng, C2 và du kích Phước Chỉ cùng nhân dân xây dựng thế chiến đấu ở ven sông Vàm Cỏ, từ Rạch Nhẫn đến Rạch Tràm, Rạch Trà Cao, để phòng chống sự hoạt động của giang tuyền trên sông Rạch.

Hòng đánh bật lực lượng ta ra khỏi địa bàn, địch cho 1 D càn quét xã Phước Chỉ, từ phía Rạch Tràm đánh vào vùng bưng đến Gò Chùa. Chúng đã lọt vào trận địa phục kích của ta, bị đánh tan tác. Trận địa là đồng hoang, địch không chạy thoát được, phải co cụm đề phòng và đồng thời gọi trực thăng cứu nguy và chở quân. Lực lượng ta bắn rơi tại chỗ 5 chiếc, bắn bị thương 3 chiếc khác, rơi trên địa phận Long An. Địch đổ quân ở Truông Dầu, bị ta chặn đánh, phải chạy về Bình Thạnh. Tại Rạch Trà Cao (Trảng Bàng) C2 và du kích đã đánh bật D4 địch, buộc chúng phải dạt về ven sông Vàm Cỏ. Phối hợp tấn công địch, tại các ấp chiến lược Gò Ngãi, Phước Lưu, Bình Thạnh, du kích vũ trang tuyên truyền, giải tán xã ấp và phòng vệ dân sự, trấn áp do thám v.v…


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:04:08 PM
Tại cánh đông Trảng Bàng, lực lượng đặc công, công binh huyện và du kích đứng vữn trên các địa bàn bám trụ, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh bao bó địch. Để đối phó lại, địch liên tiếp càn vào Bàu Mây, An Khương, đã sa vào bãi chông mìn của ta, bỏ lại nhiều xác xe tăng và xác lính ngụy. Cuộc càn bị bẻ gãy. Địch kêu phi pháo hủy diệt trận địa, làm cho 20 chiến sĩ ta hy sinh. Trên đường 19, du kích và lực lượng huyện liên tiếp tấn công vào các ấp chiến lược Xóm Sóc Bàu Rong, Gia Huỳnh, diệt nhiều tên bảo an, dân vệ, giải tán phòng vệ dân sự, thu 17 súng.

Song song với hoạt động vũ trang, phong trào thanh niên tòng quân tại Trảng Bàng cũng khá sôi nổi. trong 2 năm 1970-1971, toàn huyện có 3.000 thanh niên tòng quân, dẫn đầu các quận, huyện trong Phân khu 1.

Tiểu đoàn 14 trong 9 tháng đầu năm 1971, được phân tán xuống địa bàn hỗ trợ cho phong trào đánh phá bình định, chống lấn chiếm, khôi phục địa bàn. Tháng 10/1971, tiểu đoàn rút về căn cứ để bổ sung quân số và huấn luyện. Đồng chí Năm Nghĩa – huyện đội trưởng Gò Dầu, được rút về làm tiểu đoàn trưởng. Tháng 11/1971, tiểu đoàn làm lễ xuất quân tại Sóc Ky, rồi được phân công về hoạt động tại huyện Bến Cầu,.

Đại đội bảo an 388, lúc bấy giờ là đơn vị ác ôn khét tiếng ở Bến Cầu. Chúng càn quét, bắt bớ, đánh đập, hiếp dâm, cướp của, đốt nhà hết sức dã man. Tỉnh ủy và Tỉnh đội chỉ thị cho D14 phải tiêu diệt bằng được đơn vị ác ôn này.

Sau thời gian nghiên cứu tình hình chiến trường và quy luật hoạt động của địch, ta biết rõ phạm vi hoạt động của c bảo an này là vùng Long Giang, Long Khánh, khu vực Trảng Nhớt, Bàu Cau, Rừng Mật Cật, Bù Lu. Ngày 22-12-1971, D14 chia ra nhiều mũi phục kích địch. Khoảng 8 đến 9 giờ sáng, chúng lọt vào trận địa phục kích của ta. Các mũi đồng loạt nổ súng, chặn đầu khóa đuôi, trong vòng 30 phút đã diệt gọn C bảo an 388, bắt sống tù binh, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân dụng. Đây là chiến thắng của tiểu đoàn 14 trong lần ra quân thứ hai. Thắng lợi này là nguồn động viên lớn đối với cán bộ chiến sĩ toàn tiểu đoàn và tạo niềm phấn khởi tin tưởng trong quần chúng địa phương đối với lực lượng vũ trang của tỉnh,. Đây là trận cuối cùng trong thời kỳ bám trụ, khôi phục lại địa bàn và cũng là trận mở đầu cho thời kỳ làm chủ chiến trường vùng ven, hỗ trợ cho phong trào quần chúng phá từng mảng ấp chiến lược của địch, tiến lên giành quyền làm chủ từng vùng.

Công tác quân y trong những năm 1969-1971 cũng có nhiều tiến bộ. Tỉnh có 2 trạm xá và 2 đội phẫu thuật, bố trí ở Bến Cầu và Dương Minh Châu. Do chiến tranh ngày càng ác liệt và diễn ra trên nhiều hướng, thương bệnh ngày càng nhiều, nhưng số y bác sĩ, hộ lý, dụng cụ, thuốc men không tăng mà còn bị hao hụt. Số thương binh – kể của của địa phương và chủ lực miền, có lúc lên tới hàng trăm. Có lúc một hộ lý phải phục vụ 15, thậm chí đến 20 thương bệnh binh. Anh chị em phục vụ phải nhường hầm ngủ, giường chiếu, mùng, mền cho thương bệnh binh. Sống khám khổ và lao động vất vả, nhiều đống chí đã ngất đi lúc đào công sự hoặc kéo nước liên tục ở giếng sâu hàng chục mét, hoặc phải đứng mổ suốt ngày cho thương binh nặng.

Năm 1971, bệnh xá Dương Minh Câu trong một tháng phải dời căn cứ đến 3 lần (Cầu Sắt – Bến Cồng, Bến Cồng – Ngã ba xe cháy, Ngã ba xe cháy – Cầu Sắt), mỗi lần đều phải khiêng thương bệnh binh nặng, tải lương thực, thực phẩm, y cụ, thuốc men; đến căn cứ mới lại đào hầm ngủ, công sự…

Các đội phẫu ở Gò Dầu, Bến Cầu đã dũng cảm bám trụ vùng ven, giữa những chỏm rừng chồi trụi lá, mà lúc nào địch cũng có thể càn vào, đêm phải chịu hàng trăm quả pháo, nhưng vẫn kiên trì nuôi dấu và tận tình chăm sóc thương binh dưới hầm bí mật.

Phong trào nói trên của tỉnh đã đưa đến kết quả lớn về chuyển vùng vào cuối năm 1971.

- Vùng tranh chấp nông thôn, ven đường giao thông, nội ô thị xã, thị trấn. Trong số 108 ấp hiện có với 311.844 dân, đã chuyển được 60 ấp với 140.079 dân gồm: 9 ấp loại A, 34 ấp loại B và 27 ấp loại C.

- Vùng yếu (vùng nông thôn, ven đường giao thông, nội ô thị xã, thị trấn): 48 ấp loại D với 171.745 dân.

- Vùng nội thị trấn, thị xã; tôn giáo, di cư: 25 ấp với 145.000 dân.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:04:45 PM
Trong số 60 ấp chuyển lên, có 9 xã, ấp vùng giải phóng không còn đồn bót địch, có chi bộ lãnh đạo toàn diện, 24 ấp loại B ở thế giằng co giữa ta và địch, nhiều ấp có chi bộ hoặc đảng viên lẻ, có một số đảng viên bên trong hoạt động được. Bộ máy kềm kẹp của địch thường bị phá rã, phá lỏng, lưng chừng, một số ấp ta nắm được thì đồn bót lừng chừng, trung lập hoặc hoạt động chiếu lệ.

Số quân ngụy trên chiến trường Tây Ninh so với đỉnh cao là cuối năm 1970, đã bắt đầu giảm sút. Cho đến năm 1971, trên toàn tỉnh có 2.985 tên gồm 4.299 bảo an, 4.002 dân vệ, 1.190 cảnh sát, 2.237 phòng vệ xung kích, 548 biệt kích, 175 an ninh, tình báo và 450 biệt động quân biên phòng (không tính Mỹ và chư hầu). So với cuối năm 1970, số quân ngụy trong tỉnh vào cuối năm 1971 đã giảm 3.565 tên.

Cùng với những chuyển biến trên, các phong trào đấu tranh liên tục của quần chúng từ thị xã, thị trấn đến các vùng nông thôn đã tạo được thế đấu tranh hợp pháp, đẩy lùi từng bước quyền lực của địch. Các phong trào đòi bung ra sản xuất, chống bầu cử, chống bắt lính, bảo vệ thanh niên, các phong trào học sinh, công nhân, tôn giáo… Năm 1971 có 257 cuộc đấu tranh lớn nhỏ gồm trên 30.000 lượt người tham gia, trong đó có trên 1.600 gia đình binh sĩ làm nòng cốt đấu tranh.

Thông qua các phong trào quần chúng, thực lực cách mạng phát triển và được củng cố. Lực lượng lộ của huyện, xã được tăng cường từ đầu năm. Lực lượng mật cũng phát triển và được củng cố, chất lượng cơ sở dần dần được nâng cao. Đến cuối năm 1971, toàn tỉnh có 2.351 cơ sở các loại, trong đó có 16 chi bộ mật với 161 đảng viên, 2 chi đoàn mật với 81 đoàn viện; ngoài ra, còn các cơ sở ba ngành, đoàn thể khác. So với năm 1970, việc vận dụng thực lực lăm 1971 có nhiều tiến bộ, nhưng so với yêu cầu trong năm thì còn thấp – cả số lượng và chất lượng. Hầu hết các ấp chiến lược đều có cơ sở mới, trừ một số ấp vùng sâu của Tòa Thánh và nội ô thị xã. Đặc biệt từ quý 3/1971, đã có nhiều cơ sở và một số chi bộ tự động công tác, biết làm kế hoạch, biết vận động quần chúng đấu tranh chống kềm kẹp của địch. Quý 4/1971, với công tác tuyên truyền phát động quần chúng bên trong, cơ sở ở nhiều nơi đã biết sử dụng hình thức công khai tuyên truyền trong quần chúng và binh sĩ, đạt tỉ lệ từ 1/3 đến 3/4 số người được phát động.

Việc vận dụng phương châm, phương thức có nhiều tiến bộ, như việc kết hợp giữa hai lực lượng lộ và mật, những phương thức hóa trang luồn sâu diệt ác phá kềm… Đồng thời, trong mọi hoạt động, ta đã kết hợp được ba mũi giáp công và vận dụng sách lược cài mâu thuẫn nội bộ địch để đánh phá bình định ở từng địa bàn, từng lúc khác nhau.

Công tác bám trụ cũng phá triển và thường xuyên được củng cố ngày càng vững chắc, dần dần tạo thế vây ép địch trên hầu hết các địa bàn vùng ven.

Việc chỉ đạo cũng có những chuyển biến mới: đầu năm bộ máy tỉnh được giản chính để tăng cường cán bộ, chiến sĩ cho các huyện, xã; các huyện và một số ban ngành tỉnh đã phát huy được chức năng điều khiển phong trào tại chỗ và phục vụ được sự chỉ đạo của cấp ủy trong việc đánh phá bình định.

Những chuyển biến trên tạo thuận lợi cho ta để bước sang năm 1972 đánh bại về cơ bản kế hoạch “bình định bổ túc” của địch.

Tuy nhiên trong quá trình phát triển, phong trào Tây Ninh vẫn còn những mặt yếu.

So với yêu cầu năm 1971 ta đạt chưa cao vì diện chuyển lên chưa rộng, số ấp chuyển lên mới chiếm được 1/2 số ấp trong toàn tỉnh, phần nhiều lại thuộc các vùng nông thôn ít dân và sẵn có cơ sở cũ: ở những vùng xung yếu đông dân, phong trào chưa chuyển mạnh; nên địch còn vơ vét được người, của để bổ sung và củng cố lực lượng của chúng.

Cơ sở mật của ta phần nhiều mới được xây dựng, chất lượng hoạt động còn yếu, khâu phát động quần chúng, nắm quần chúng nắm các tổ chức công khai chưa nhiều, nên chưa huy động được quần chúng đấu tranh liên tục.

Việc chỉ đạo tuy có tiến bộ, nhưng huyện xã chưa nắm vững phương thức, bước đi, nhất là việc đánh giá địch ở vùng yếu chưa đúng; sự lãnh đạo tại chỗ còn yếu nên chưa được lực lượng tổng hợp ba mũi theo ý đồ lãnh đạo, mà còn tình trạng tập trung ở những nơi có điều kiện thuận lợi, ít chú ý đến những vùng sâu đông dân, khó khăn.

Ở vùng nội ô thị trấn, thị xã, Tòa Thánh còn tạm thời ổn định, địch còn khả năng củng cố hệ thống kềm kẹp, còn bóc lột, đàn áp được phong trào quần chúng. Gần đây, chúng lựi dụng “cơ bút” đưa ra một số tên tay sai vào giành quyền hành trong đạo Cao Đài, nhưng sơ hở của chúng cũng nhiều, các phong trào đấu tranh của quần chúng đã tác động, phân hóa địch, làm giảm sút thế và lực của chúng, ở các vùng nội ô khiến cho nhiều luật lệ kềm kẹp bị khựng lại, như ở Tòa Thánh, Gò Dầu.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:05:20 PM
Đối với Cao Đài, âm mưu của Mỹ - ngụy trước hết là dùng thủ đoạn chính trị và kinh tế hòng mua chuộc hội thánh. Từ giữa năm 1971, để chuẩn bị cho cuộc bầu cử hạ viện và Tổng Thống (vào tháng 8 và ngày 3-10-1971), Nguyễn Văn Thiệu đến Tòa Thánh dự lễ tấn phong Trương Hữu Đức quyền chưởng quan Hiệp Thiên Đài. Để ve vãn Hội Thánh và lừa mị tín đồ, Thiện đã đọc một bài diễn văn đề cao vai trò của Phạm Công Tắc và hứa hẹn đủ điều, Thiệu hứa sẽ giúp đỡ Hội Thánh xây dựng Châu Thành Thánh địa, đã giúp một bộ máy đèn 1.000 ngọn và 10 triệu đồng để sửa chữa chợ Long Hoa. Tiếp đó, ngày 6-8-1971, Nguyễn Văn Kiên (anh của Thiệu) đại sứ ngụy quyền Sài Gòn tại Đài Loan, cùng phái đoàn đến thăm và hội kiến với Hội Thánh. Ngày 4-9-1971, Thiệu mời Trương Hưu Đức về Sài Gòn. Gần đến ngày bầu cử tổng thống, Thiện còn cử tên Ngô Khắc Tỉnh tổng trưởng giáo dục đến Tòa Thánh trao giấy phép của Thiệu chấp nhận cho mở trường Đại học Cao Đài và hứa giúp 10 triệu đồng để xây dựng trường này.

Mặc dầu, ngụy quyền ra sức mua chuộc để Hội Thánh hướng dẫn tín đồ ủng hộ chúng trong hai cuộc bầu cử bịp bợm này, nhưng tín đồ Cao Đài đã xác định rõ: còn Mỹ - Thiện thì còn chiến tranh, chồng con em họ còn bị chết chóc. Do đó, tín đồ phản đối, vạch mặt, đấu tranh trực diện với số ứng cử viên Hạ viện và phản đối Thiệu, ủng hộ Dương Văn Minh. Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ chống bầu cử Hạ viện và tổng thống của các tôn giáo và các giáp phái đối lập ở miền Nam, trước sức ép của đông đảo tín đồ, Hội Thánh buộc phải đồng tình với quần chúng, như lần bầu cử Hạ viện, Hội Thánh tẩy chay thùng phiếu dành riêng cho mình, như ngày 3-10-1971, Hồ Tấn Khoa được bí mật cử đi Sài Gồn dự hội nghị liên tôn chống bầu cử tổng thống. Bề ngoài, Hội Thánh tỏ thái độ trung lập, nói: “Tín đồ làm nhiệm vụ công dân, cứ chọn người đáng mà bầu, chứ Hội Thánh không bắt buộc phải bầu cử ai”.

Về phía ta, phong trào vùng nội ô phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, từng lúc huy động được đông đảo quần chúng đấu tranh giành thắng lợi, như các phong trào học sinh, Phật giáo chống bầu cử, phong trào chống bắt, đôn quân, phong trào chị em mua thúng bán bưng, chống đuổi nhà, chống cướp đất, chống thuế chợ, v.v… tạo thế đấu tranh hợp pháp của quần chúng từng lúc đẩy lùi quyền lực của địch.

Đi đôi với việc huy động quần chúng đấu tranh, ta có chú ý đi sâu vào các tầng lớp bên trên, bước đầu tranh thủ được khối Cao Đài, phân hóa được một số tên tay sai có lợi cho cách mạng. Thông qua các phong trào, lực lượng bên trong phát triển đều. Đến cuối năm 1971, riêng nội ô Tòa Thánh đã có 349 cơ sở các loại nằm trong 29 ấp, xây dựng ụ lõm chính trị gồm 243 gia đình. Bên ngoài đã hình thành bộ phận lãnh đạo vùng nội ô, có điều kiện thuận lợi chỉ đạo và súc tích lực lượng.

Tuy nhiên, công tác vùng nội ô vẫn còn một số tồn tại. Thực lực tuy có phát triển nhưng chưa đều, 1/3 số ấp vẫn còn là ấp trắng. Cơ sở chưa được tổ chức thành hệ thống, chất lượng còn yếu. Việc nắm các tổ chức công khai theo ngành giới chưa nhiều, nên chưa huy động được phong trào đấu tranh liên tục của quần chúng. Mặt khác, do nắm được ít cốt cán trong các phong trào công nhân, học sinh, tầng lớp nghèo và lực lượng trẻ, nên chưa tạo được ngòi pháo và phát huy thế mạnh đấu tranh của quần chúng. Mũi binh vận còn yếu nên chưa kết hợp được với các phong trào nông thôn với các phong trào đấu tranh ở Sài Gòn và các thành thị khác ở miền Nam.

Cơ sở bên trong tuy nhiều, nhưng chưa hình thành bộ phận chỉ đạo tại chỗ, nên việc nâng chất cơ sở nhằm đối phó với tình hình chưa kịp thời. Việc vận dụng phương châm còn lộ liễu, chưa vận dụng được ba mũi giáp công diệt ác ôn đầu sỏ bên trong, do đó thế phong trào nội ô chưa phát triển mạnh.

Trải qua một thời kỳ lịch sử hết sức gay go và ác liệt, quân và dân Tây Ninh đã phải giành giật với địch từng mảnh đất, từng bờ rào, lũy tre, để bám trụ, khôi phục lại địa bàn. Trong thời gian đó, cán bộ và chiến sĩ ta đã phải chịu đựng biết bao hy sinh gian khổ, đói khát, nằm hầm. Nhiều đồng chí đã ngã xuống khi băng qua bãi mìn hoặc ổ phục kích của địch để mang gạo từ ấp chiến lược ra vùng căn cứ. Có lần một trung đội thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 14 vào hai ấp chiến lược Suối Đá, Phan, không may lọt vào bãi mìn của chúng, chỉ còn lại ba đồng chí. Nhiều cán bộ chiến sĩ của đại đội 3 – Bàu Đồn, trung đội nữ pháo binh Gò Dầu, bộ đội địa phương Dương Minh Châu, Trảng Bàng, v.v… đã ăn củ mì thay cơm cả năm trời.

Thời kỳ tự chế mìn để đánh địch cũng là thời kỳ mà ta có nhiều khó khăn và tổn thất. Nếu thời kỳ bám trụ 1969-1971 ở Gò Dầu có 10 đồng chí hy sinh thì riêng ban chỉ huy Huyện đội có đến 6 đồng chí trong khi chế tạo mìn. Đồng chí Trần Quốc Đạt, tỉnh ủy viên dự khuyết, bí thư Huyện ủy Gò Dầu, cũng đã hy sinh trong thời kỳ này (ngày 6-6-1971) sau này được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Biết bao đồng chí, đồng bào đã ngã xuống trong thời gian bám trụ ác liệt, ta giảm đi một lực lượng không nhỏ, nhưng trải qua một thời kỳ ác liệt nhất, ta đã giữ được hoặc tạo lại được nhiều địa bàn quan trọng, giành lại được địa bàn vùng ven, tạo thế lực mới giành thắng lợi quyết định.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:06:07 PM
B. THAM GIA TẤN CÔNG CHIẾN LƯỢC 1972 GIÀNH THẮNG LỢI LỚN, GIẢI PHÓNG VÙNG RỪNG NÚI, CHỒM LÊN ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH “CẮM CỜ TRÀN NGẬP LÃNH THỔ” CỦA ĐỊCH (TỪ ĐẦU 1972 – NGÀY 20-1-1973)

Mùa mưa năm 1971, Bộ Chính trị ra quyết định nắm lấy thời cơ lớn, trên phương châm chiến lược đánh lâu dài, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời phải chuẩn bị tình huống chiến tranh kéo dài. Với nghị quyết đó, đại bộ phận khối chủ lực B2 phải triển khai hoạt động dần về nội địa miền Nam, khôi phục thế làm chủ như thời kỳ Mậu Thân, cùng với các hướng tấn công khác giành lại quyền chủ động trên toàn chiến trường, hình thành thế bao vây uy hiếp Sài Gòn, kết hợp với bộ đội khu, tỉnh, huyện và phong trào du kích chiến tranh phá rã từng mảng lớn hệ thống phòng ngự và kềm kẹp của địch ở miền Đông, xung quanh Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời uy hiếp, khống chế các trục giao thông, các hậu cứ địch và các thành phố khác.

- Hướng chủ yếu của chiến dịch là trên khu vực đường 13, khu vực quyết chiến là Lộc Ninh, Hớn Quản, Chơn Thành, sau đó phát triển xuống Dầu Tiếng, Lai Khê.

- Hướng chủ yếu là trên khu vực đường 22: khu vực quyết chiến là XaMát, Thiện Ngôn, Trảng Sụp, và vùng xung quanh, phát triển xuống lộ 1, phía tây của địa bàn Tây Ninh.

Tại Tây Ninh, tháng 12/1971, Tỉnh ủy họp để sơ kết việc thi hành chỉ thị 01/71 của Trung ương Cục về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đồng thời thảo luận chỉ thị 02/72 về phát động quần chúng nổi dậy đổi đời. Kết quả thi hành chỉ thị 01/71 tuy vẫn còn những thiếu sót và nhược điểm, nhưng đã tạo thuận lợi để tiếp tục thực hiện nghị quyết năm 1972 và chuẩn bị sẵn sàng chớp thời cơ trong tình hình mới.

Về phía địch, đầu tháng 1/1972, tiểu khu mở cuộc họp gồm: các trưởng phó chi khu, các ty chiêu hồi, công an, bình định. Chúng tiết lộ là tháng 10/1972 sẽ có ngừng bắn, từ đó bàn bạc âm mưu giành dân, lấn đất. Chúng chia toàn tỉnh thành 3 tuyến: tuyến 1 do chúng kiểm soát, tuyến 2 là tuyến đang tranh chấp, tuyến 3 do việt cộng kiểm soát hoàn toàn. Chúng đặt trách nhiệm cho mỗi cơ quan tham dự hội nghị phải nhanh chóng xây dựng lực lượng (cả vũ trang và do thám gián điệp) để chuẩn bị cho ngừng bắn.

Hoạt động quân sự của địch chủ yếu là tăng cường án ngữ vùng trung tuyến, ngăn chặn tấn công của ta. Chúng kết hợp chủ lực với bảo an, với lực lượng cấp tiểu đoàn, trung đoàn mở những cuộc đánh phá sâu vào vùng căn cứ, ngăn chặn chủ lực ta, đốt phá địa hình ở những địa bàn bám trụ quan trọng của ta, xúc tát dân, đồng thời gia tăng phục gài trái. Từ các cụm quân, hàng ngày địch dùng trực thăng đổ quân, đánh phá liên tục trên các đường 22, 4, 19, 26, 13.

Tại Hảo Đước, Tà Păng (Châu Thành), vùng bắc Núi Bà và ven đường 26, địch dùng từng đại đội biệt kích liên tục cắt rừng dài ngày, hòng đánh phá các căn cứ bám trụ, phát hiện kho tàng dự trữ lúa gạo của ta để đánh phá, vừa thăm dò lực lượng ta, vừa ngăn chặn sự vận chuyển của ta từ Châu Thành qua Dương Minh Châu.

Tại huyện Gò Dầu, địch dùng xe cơ giới ráo riết ủi phá địa hình ven lộ từ Đường Long đến đầu trong lò Than và từ bót Ấp Chánh đến cầu Bàu Đôi, mỗi bên đường rộng 200 mét, đồng thời chúng đốt ven các rừng Thạnh Đức, Hiệp Thạnh. Chúng dùng máy bay B.52 đánh phá các vùng căn cứ biên giới. Ngoài ra, địch còn thường xuyên đánh phá trong khi ta thực hiện lệnh ngừng tấn công quân sự nhân dịp tết cổ truyền của dân tộc (từ ngày 15 đến 20/2/1972). Chúng đã bắn hàng ngàn quả pháo, ném bom, càn quét vào các vùng núi Bà, Trà Vong, Bến Mới (Tòa Thánh) và bắc thị xã, gây một số thiệt hại cho đồng bào dạo. Nhưng tinh thần bọn chủ lực vẫn sau sút trong nhiều cuộc càn không dám cắt vô rừng, tránh đường mòn, tránh đụng ta. Có lần xe bọc thép cắt trúng căn cứ ta, địch không dám xuống xe lùng sục.

Được bọn chủ lực tiếp sức và bị bọn ác ôn thúc ép, bảo an, dân vệ thường xuyên bung ra ven các ấp chiến lược, càn quét, cướp phá mùa màng, với lực lượng từ 1 trung đội đến 1 đại đội, từng lúc có từng tiểu đoàn chủ lực hỗ trợ. Chúng tổ chức nhiều mũi kết họp phi pháo thọc sâu đánh biệt kích dài ngày các căn cứ bàn đạp của ta, khi đụng bộ đội, du kích thì kêu phi pháo hủy diệt. Thông tường, chúng đi ngoài đồng trống, trừ một số nơi thế du kích chiến tranh yếu như Hảo Đước, Trà Vong, chúng cho từng mũi cắt rừng, lùng sục. Đặc biệt, địch tập trung đánh nhiều ngày vào một số vùng bàn đạp của ta như: các xã ruột Gò Dầu, Tà Păng, Hảo Đước, Bắc Bến Củi đến suối Ông Hùng (Dương Minh Châu), cá biệt có trận dùng trực thăng đổ chụp. Âm mưu của chúng là nhằm đánh bật lực lượng bám trụ của ta ở một số vùng ven, thăm dò và ngăn chặn sự tấn công của ta.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:06:49 PM
Tại thị trấn và các ấp chiến lược, để đối phó với đòn tấn công chính trị, binh vận của ta trong dịp tết Nguyên đán, một mặt địch ra sức tuyên truyền tác động trong quần chúng là ta sẽ tấn công lớn trong dịp tết, mặc khác chúng ra lệnh báo động, cấm trại đối với binh sĩ, tổ chức ăn tết từ ngày 25 tháng chạp âm lịch. Lực lượng đóng giữ đồn bót thường đêm bung ra ngoài phục kích, đánh mìn vào những ấp chiến lược và phục kích đánh ta từ ấp chiến lược trở về. Thường xuyên hành quân cảnh sát, trắng trợn bắt người hàng loạt để dằn phong trào; phân loại quần chúng nhằm đánh phá cơ sở ta, khống chế, đàn áp quần chúng bằng nhiều thủ đoạn: cô lập, khủng bố gia đình cách mạng, dùng chiêu hồi nhìn mặt, hăm dọa, bắt chẹt để lòi ra cơ sở cách mạng.

Về mặt chính trị, bước sang năm 1972, địch tiếp tục tuyên truyền những chiến thắng giả tạo ở Campuchia, tăng cường chiêu hồi, chiêu hàng bằng những thủ đoạn: kết hợp với đánh phá bằng quân sự, dùng máy bay phát loa, rải truyền đơn tác động, rún ép những già đình cách mạng phải kêu chồng, con, em về. Dùng tiền dụ dỗ những gia đình đã bỏ đi trong năm tổng tấn công 1968, khi trở về chúng cấp cho mỗi gia đình từ 15 đến 20 ngàn đồng.

Chúng đẩy mạnh tuyên truyền về “cách mạng kinh tế mùa thu” của Thiệu, tổ chức “Cây mùa Xuân”, bắt quần chúng đóng tiền cho binh sĩ ăn tết. Đẩy mạnh tuyên truyền về sức mạnh của quân đội Sài Gòn có đủ khả năng bảo vệ đất nước, để quân Mỹ rút về. Đề cao 8 điểm của Ních-Xơn, cho là Mỹ có thiện chí hòa bình; chống lại sáng kiến hòa bình 7 điểm của ta, cho là không thực tế, ta không muốn hòa bình v.v… Tác động quần chúng là ta sẽ mở cuộc tấn công lớn trong dịp tết như Xuân Mậu Thân, tạo cớ để áp dụng những luật kệ kiềm kẹp trong binh sĩ, công chức, trong nhân dân, học sinh. Để dằn phong trào học sinh, địch áp dụng 10 điều kỷ luật hà khắc, cấm học sinh hội họp, biểu tình, buộc học sinh phải tuân theo những luật lệ kềm kẹp của chúng. Phát động căm thù trong quần chúng mỗi khi ta trừng trị ác ôn hoặc giải tán phòng vệ dân sự.

Địch ráo riết đôn quân, bắt lính. Riêng tại Tòa Thánh, trong tháng 1-1972, địch đã mộ được 1.000 thanh niên vào cảnh sát với luận điệu “vào cảnh sát được ở lại địa phương, không phải đi chiến trường xa”. Tuy nhiên, vẫn còn một số ấp không tuân lệnh bắt lính của địch, binh sĩ vẫn báo tin cho thanh niên trốn lính và quần chúng vẫn bảo vệ được chồng, con, em mình. Địch tiếp tục rún ép, tổ chức lại phòng vệ dân sự nữ từ 18 đến 35 tuổi, kể cả phụ nữ có con cũng phải đi gác. Mặt khác, địch ra sức nâng chất phòng vệ dân sự bằng cách rút, đưa đi huấn luyện; tăng bọn ban hai, cảnh sát xuống kềm cặp phòng vệ dân sự đi gác, đi phục kích.

Âm mưu của địch là biến vùng Tòa Thánh thành một khu vực tương đối phồn vinh, một vùng đất tương đối ít bom đạn, để quần chúng nhìn vào Tòa Thánh thây như thiên đường ở trần gian, để thu hút ngày càng nhiều quần chúng các nơi về đây, hòng biến khu vực Tòa Thánh thành hậu phương đông dân, nhiều của để chúng vừa lừa mị kềm kẹp, vơ vét, bóc lột, vừa bắt lính, đôn quân phục vụ cho kế hoạch bình định của chúng, để chống cách mạng trước mắt và lâu dài. Về phía đạo, Hội Thánh cũng muốn quần chúng về Tòa Thánh ngày càng đông để có điều kiện phát triển đạo: cụ thể là một số đồng bào không đạo muốn về Tòa Thánh để được yên ổn làm ăn, buộc phải nhập môn và lập trang thờ thiên thần.

Về chính trị, Mỹ - Ngụy ra sức vừa mua chuộc vừa rún ép hòng nắm lực lượng Cao Đài ngày càng chặt hơn. Chúng đã tung ra một số tiền rất lớn, vừa ép buộc Hội Thánh dùng cơ bút loại ông Thánh Chánh phối sư Bộ và ông Thượng chánh phối sư Tửng, hai vị này có xu hướng tiến bộ đã nhiều lần chống âm mưu tái vũ trang Cao Đài của địch. Đồng thời, địch đưa tay sai vào đạo ngày càng nhiều bằng con đường Ban thế đạo, cũng thông qua cơ bút để hợp thức hóa bọn này. Như đàn cơ đêm rằm tháng 11 Tân Hợi (nhằm ngày 1-1-1972) tại đền thánh đã phong cấp chức sắc cho 29 hiền tài trong Ban thế đạo, Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài, giữ những chức vụ quan trọng như tên trung tá Nhã nguyên tỉnh trưởng Hậu Nghĩa được phong cấp Phối sư, quyền Thượng Chánh phối sư; luật sư Nguyễn Văn Lộc, bác sĩ Trương Kế An, kỹ sư Nguyễn Xuân dần… trong thập nhị bản quân Hiệp Thiên Đài ngang với cấp phối sư v.v…

Về mặt quân sự, mặc dù thất bại nhiều lần, địch vẫn chưa từ bỏ âm mưu tái vũ trang Cao Đài. Tháng 2-1972, tướng Nguyễn Văn Thành mở cuộc họp tai nhà tên Đặng Quang Dương, gồm nhiều sĩ quan Cao Đài từ cấp tá trở lên. Cùng thời gian này, Trần Quang Vinh đến các tỉnh miền Trung nam bộ móc nối với cựu sĩ quan Cao Đài. Sau cuộc họp của Thành và chuyến đi của Vinh, một số sĩ quan Cao Đài đã bí mật đi mộ lính để lập cái gọi là “Bộ đội cứu quốc quân”.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:07:59 PM
Việc mộ lính này đã bị tín đồ phản đối, chức sắc hành đạo tại địa phương không tán thành, đã báo lên Hội Thánh. Trong 2 ngày 1 và 2-3-72, Hội Thánh Cửu Trùng Đài phái ngọc mở đại hội thượng bán niên, có đề cập vấn đề “Bộ đội cứu quốc quân” và xác định lập trường của Hội Thánh là “hành đạo thuần túy, không lập đảng, không lập đoàn, không lập quân đội”. Sau đó, Nguyễn Hữu Lương, nguyên giáo hữu Cao Đài là dân biểu thượng viện ngụy quyền Saigon có đăng báo loan tin rằng: “Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh định thành lập một sư đoàn Cao Đài khoảng 10.000 quân để ủng hộ chính phủ và bảo vệ đạo”. Một số cựu sĩ quan Cao Đài có đầu óc cơ hội chợp lấy tin này loan ra, bị quần chúng và cả Hội thánh phản đối. Sau này, Hội thánh có mời Nguyễn Hữu Lương về Tòa Thánh để khiển trách, và Lương có đăng trong báo Đuốc Nhà Nam một tin đính chính, đại ý như sau: Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh không có định thành lập quân đội Cao Đài; được biết trong âm mưu vận động lập quân đội Cao Đài có Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thành Phương, Văn Thành Cao, Đặng Quang Dương làm nòng cốt.

Một âm mưu nữa của Mỹ - ngụy đối với đạo Cao Đài là ra sức tạo cảnh phồn vinh giả tạo tại Tòa Thánh để lừa bịp quần chúng Cao Đài. Trong 10 tháng (từ tháng 8/1971 – 5/1972), địch tiếp tục tung tiền bạc, vật liệu giúp Hội Thánh xây thành khu vực này, để tỏ ra chúng lo cho đạo. Riêng một số vật liệu xây dựng được giúp trị giá hàng mấy chục triệu đồng. Đồng thời, Hội Thánh cũng vận động tín đồ đóng góp tiền bạc và làm công quả, tiến hành xây dựng nhiều công trình như: Nam Đầu sư đường, trường đại học, các thánh thất của 19 phận đạo trong Châu Thành thánh địa, chợ Long Hoa, chợ Long Hải… Ngày 29-3-1972, tên tổng trưởng y tế Trần Minh Tùng và phái đoàn gồm 30 người còn đến Tòa Thánh quan sát, dự định xây một bệnh viện tại chợ Long Hoa, với đầy đủ trang bị, thuốc men, có bác sĩ chắc sóc sức khỏe cho quần chúng Châu Thành thánh địa.

Sau khi đã từng bước mua chuộc, rún ép Hội Thánh, địch còn đưa thêm vào Ban Thế Đạo lúc bấy giờ có tất cả 279 hiền tài. Về thành phần, ngoài số tay sai của địch, còn một số tên trước đây có ít nhiều tội ác đối với nhân dân, nay thấy ta thắng, Mỹ - Ngụy thua đã rõ ràng, nên dựa vào đạo để che thân; còn một số là tư sản, tiểu thương, tiểu chủ… vào ban Thế Đạo để mưu cầu địa vị. Bằng việc cấy vào đạo ngày càng nhiều tay sai và phần lớn là trí thức trẻ tuổi, Mỹ - Ngụy âm mưu dùng lực lượng này mai phục lâu dài, trước mắt nhằm lũng đoạn, khống chế Hội Thánh và lưỡng viện, tiến tới nắm quyền lãnh đạo trong toàn đạo; biến Cao Đài thành hậu thuẫn chính trị và nguồn cung cấp sức người, sức của phục vụ cho chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của chúng và tiếp tục chống ta sau này.

Cùng với việc cấy tay sai vào đạo, địch buộc Hội Thánh hủy ngày đạo hận 20-8-1955, thay vào đó là “ngày giỗ chung” (ngày đạo hận: là ngày căm thù của toàn đạo nhân việc Mỹ - Ngụy thanh trừng đạo năm 1955, khiến Phạm Công Tắc phải chạy sang Phnôm-Pênh lánh nạn).

Thi hành nghị quyết của Bộ Chính trị và quyết tâm của Trung ương Cục, Tỉnh ủy và ban chỉ huy Tỉnh đội hạ quyết tâm đánh gục các liên đội và tiểu đội bảo an cơ động, phá từng mảng ấp chiến lược, mở rộng vùng ven Nam Tòa Thánh, Bắc Gò dầu nối liền Dương Minh Châu, Trảng Bàng, tạo thế liên hoàn vây ép địch, kết hợp với tình hình chiến trường, phát huy sức mạnh tổng hợp giải phóng mở rộng địa bàn, vây ép địch giành lại đất và dân.

Cuối tháng 2 đầu tháng 3/1972, toàn bộ cơ quan lãnh đạo, chỉ huy Tỉnh ủy, Tỉnh đội đã về đứng chân ở Tha La. Tiểu đoàn 14, sau khi diệt gọn đại đội bảo an 388 ở Bến Cầu, tiếp tục triển khai bao vây bót Xóm Bố, Giồng Nầng (Long Chữ), sau đó chuyển sang hoạt động ở vùng Gò Dầu, nam Tòa Thánh và Dương Minh Châu.

Trong quý I/1972, các lực lượng vũ trang giải phóng Tây Ninh đã đánh thắng địch nhiều trận, tạo thế chuẩn bị hoạt đông kết hợp với chiến dịch. Trong các ngày 1 tháng 2, 11 và 22-3-1972, các lực lượng tỉnh, huyện và du kích đã diệt một tiểu đội thám sát trong ấp chiến lược Suối Đá, diệt tiểu đoàn bảo an số 304 trong ấp chiến lược Giồng Nầng (Long Chữ), diệt một tiểu đội dân vệ ở ấp chiến lược Rạch Sơn và diệt một trung đội thám sát thuộc liên đội bảo an số 3/53 của chi khu Khiêm Hanh.

Các chiến trường Trung và Nam Trung bộ cũng thắng lợi lớn, giòn giã, tạo thành khí thế chiến thắng chung trên toàn chiến trường.

Để mở màn cho chiến dịch Nguyễn Huệ tại Tây Ninh, ngày 8/4/72, quân chủ lực mở đợt tấn công vào khu vực đường 22 và đường số 4, tiêu diệt và bức rút 10 cụm chốt của địch: Xa Mát, Thiện Ngôn, Cần Đăng, Trại Bí, Vịnh, Ninh Điền, Trung tâm truyền tin trên đỉnh Núi Bà, Cà Tum, Bổ Túc và Đồng Pan. Bọn địch ở Bàu Cỏ, Cầu Vịnh, Lộc Ninh cũng rút chạy. Toàn bộ các cụm chốt trong vùng căn cứ đều do ta làm chủ hoàn toàn, mở ra một hành lang giải phóng rộng lớn nối tiền từ Tây-Bắc sang Đông-Nam tỉnh. Thắng lợi này tạo điều kiện thuận lợi cho ta giải quyết khâu hậu cần, khôi phục địa bàn đứng chân của quân chủ lực, các cơ quan Trung ương Cục và Miền; đồng thời có tác dụng động viên các địa phương đẩy mạnh hoạt động để góp phần vào thắng lợi chung.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:09:04 PM
Tiếp đến ngày 15/4/1972, tại huyện Bến Cầu, một bộ phận của lực lượng trên phối hợp với đại đội 94 (đơn vị mới thành lập của tỉnh) và lực lượng huyện đã đánh chiếm 15 đồn bót, tua – trong đó có yếu Khu Chợ Cầu và các đồn Long Giang, Long Khánh, Giồng Nâng, giải phóng hoàn toàn 5 xã và 1 ấp chiến lược của huyện Châu Thành (Tà Păng-RôBon), mở ra tuyến biên giới, hình thành thế căn cứ liên hoàn từ Tây đến Bắc, sang Đông.

Phối hợp với chiến thắng trên, các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã cùng đồng bào trong ấp chiến lược nổi dậy phá kềm, diệt ác ôn và bắt được 17 tên khác. Kết hợp vũ trang, binh vận với khởi nghĩa của quần chúng, ta đã rút ra 8 đội phòng vệ dân sự với hơn 130 súng để bổ sung cho lực lượng huyện và du kích, đồng thời làm rã 400 tên khác, số này sau đó đấu tranh trả súng, không canh gác.

Trong 2 tháng tấn công và nổi dậy (tháng 4 và tháng 5/1972), quân và dân Tây Ninh đã đánh 82 trận, diệt 1.205 tên địch, bắt sống 76 tên, làm tan rã 1.148 tên, thu 239 súng, 15 tấn đạn và nhiều đồ dùng quân sự, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 49, liên đội bảo an 3/5 đến 3/51, 1 đại đội bảo an, 1 trung đội dân vệ, diệt gọn 1 trung đội thám sát, tiêu diệt và bức rút 10 cụm chốt, 24 đồn, bót, tua. Ta đã giải phóng 6 xã (Bến Cầu 5, Châu Thành 1) với 15.200 dân, đưa về vùng giải phóng 8000 dân. Ngoài ra, ta còn giành quyền làm chủ trên thế mạnh ở 12 ấp gồm 40.500 dân. Do tình hình chung tác động, phong trào chính trị trong vùng tôn giáo Cao Đài đã có sự chuyển biến rất thuận lợi chưa từng có.

Với quả đấm của chủ lực trực tiếp ở tỉnh và nỗ lực chủ quan của toàn đảng bộ, quân và dân trong tỉnh đã phá vỡ tuyến ngăn chặn từ xa của địch, mở ra vùng giải phóng rộng lớn chưa từng có, có thế liên hoàn với căn cứ cách mạng của Campuchia, vượt ước lượng của tỉnh ủy.

Ba vùng chiến lược ngày càng rõ, hình thành thế vây ép địch trên các đường giao thông quan trọng (quốc lộ 22, các đường liên tỉnh số 26 và 13) và ở các thị trấn, thị xã. Đặc biệt, những thắng lợi trên đã mở ra vùng giải phóng có sản xuất, có dân, cửa ngõ căn cứ, có tác động lớn đến vùng yếu. Vùng tranh chấp thế ta mạnh được mở rộng, trừ một số trục đường sát vùng yếu, nội ô thị trấn, thị xã. ở đây, thế đấu tranh chính trị, binh vận bước đầu có chuyển biến lớn. Đặc biệt là vùng Cao Đài, có cơ sở để tới đây phối hợp với nông thôn đưa lên thành cao trào nổi dậy.

Đặc biệt, ta đã giải phóng vùng tôn giáo Bến Cầu. Số dân trước đây là 20.000, sau khi giải phóng còn 6.000 đồng bào tín đồ bám vùng giải phóng, có ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương thực hiện tốt công tác Cao Đài vận.

Trên hướng chính của chiến dịch Nguyễn Huệ (bắc quốc lộ 13), sau khi hành quân nghi binh, đột phá Xamát, thu hút địch về hướng thứ yếu, ta tập trung lực lượng cho trận then chốt. Trong 2 ngày từ 5 giờ 30 phút sáng 5-4-1972 đến 14 giờ ngày 7-4-1972, sư đoàn bộ binh 5 và binh chủng hợp thành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt hoàn toàn chi khu Lộc Ninh và chiến đoàn 9, trung đoàn 1 thiết giáp, giải phóng toàn bộ huyện Lộc Ninh.

Trước khí thế chiến dịch, địch phải tháo chạy và rút bỏ nhiều vị trí phòng thủ vòng ngoài, trong đó có chi khu Bù Đốp. Như vậy tuyến phòng thủ biên giới (từ lộ 22 về phía đông) trong đó có các vị trí quan trọng nhất của địch (Xamát, Kà Tum, Lộc Ninh, Bù Đốp) đã bị đập tan.

Ở Bắc Tây Ninh, địch lùi về tăng cường củng cố vùng yếu, giữ các trục lộ giao thông, thị xã, thị trấn là các vùng đông dân. Chúng chiếm lại một số nơi bị mất (như Bến Cầu và Văn Bon), đóng thêm 7 tua trên đường 22 và vùng ven đông dân thuộc Tòa Thánh, nhưng lại rút bỏ 1 đồn, 5 bót và 6 tua ở những vùng hẻo lánh.

Lực lượng chủ lực ngụy trên chiến trường Tây Ninh chỉ còn 2 trung đoàn (thiếu) thuộc sư đoàn 25 và 2 chi đoàn cơ giới, nếu so với đầu năm thì chỉ bằng 8/10. Với lực lượng nói trên, địch tăng quân bảo vệ chốt Thiện Ngôn, Kà Tum, Trảng Lớn, Tua Hai, đóng thêm các cụm cấp tiểu đoàn tại Bàu Cỏ, Bến Sắn, Ngã Ba Vịnh. Riêng tại Bến Sắn và đường 19, có lúc chúng tập trung 2 thiết đoàn cơ giới gồm 147 xe. Chủ lực địch thường xuyên bị căng kéo và bị động đối phó. Hoạt động của bọn này chủ yếu là ngăn chặn, giải tỏa những nơi bị áp lực mạnh của ta từng lúc bị phân tán để hỗ trợ cho bọn địa phương bảo vệ các nơi quan trọng như: Cẩm Giang, Trà Vỏ, Thanh Điền… nhưng chất lượng hoạt động giảm sút: Hành quân cứu viện chậm, sợ chết, tránh địa hình, khi đụng lực lượng ta thì bỏ chạy. Bị tấn công liên tục tại địa phương cộng với tác động của chiến trường chung, trong chủ lực Ngụy đã xuất hiện đào rã ngũ, chống lệnh hành quân, phổ biến nhất là các tháng 5-6-7/1972.

Cuộc tấn công và nổi dậy lần này bước đầu đã tạo ra thế chiến lược rất mới, có ý nghĩa chính trị lớn nhất trong tỉnh ta từ sau 1966, đặc biệt là củng cố thêm niềm tin tưởng phấn khởi trong đảng bộ và đông đảo quần chúng, tạo ra khả năng mới tiếp tục phát triển thế tấn công và nổi dậy nhằm đánh bại kế hoạch “bình định bổ túc”, giành thắng lợi lớn hơn nữa.


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:11:14 PM
Ngày 8-6-1972, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh họp đánh giá thắng lợi trong tỉnh vừa qua. Để mở rộng, củng cố và giữ vững hệ thống vùng căn cứ của tỉnh, Ban Thường vụ quyết định:

- Giải thể Ban cán sự Biên Giới.

- Thành lập huyện Tân Biên gồm 5 xã: Hòa Hiệp, Sóc Thiết, Mỏ Công, Kà Tum và Tân Hưng.

- Chỉ định Huyện ủy Tân Biên gồm 9 đồng chí do đồng chí Chín Sách giữ chức Bí thư, đồng chí Tám Mười Một Phó Bí thư.

Ngày 10-6-1972, để thống nhất sự chỉ đạo phong trào quần chúng Cao Đài, theo yêu cầu tình hình mới, Tỉnh ủy đã ra nghị quyết sát nhập Ban Cao Đài vận tỉnh kể cả lực lượng vũ trang (Đội vũ trang tuyên truyền của Ban củng cố hòa bình chung sống) vào huyện Tòa Thánh thành một khối thống nhất. Đồng thời, tỉnh ủy tổ chức hội nghị sơ kết công tác Cao Đài vận lần thứ 5 từ ngày 11 đến 15-6-1972. Hội nghị đã nghe báo cáo về tình hình Cao Đài Tây Ninh từ tháng 8-1971 đến tháng 5-1972 và đã đề ra phương hướng nhiệm vụ công tác Cao Đài vận đến cuối năm 1972, trước mắt tập trung vào hai tháng 6, 7-1972.

Về xây dựng thực lực, trong tháng 8-1972, ta đã xây dựng được cơ sở trong 2 ấp trắng thuộc vùng Tòa Thánh.

Để kịp thời phát huy thắng lợi của hai tháng tấn công và nổi dậy, Tỉnh ủy đã thống nhất chọn hai mảng điểm của Tỉnh để tổ chức thành hai cao điểm hoạt động, mỗi cao điểm là 10 ngày.

- Trong cao điểm 1, một mảng ở Dương Minh Châu (gồm lộ 13, Suối Đá, Phan) được chọn làm điểm, Bến Củi là diện trực tiếp, mở vào 10 ngày cuối tháng 6-1972.

- Cao điểm 2 diễn ra ở Gò Dầu từ ngày 26 đến 30-7-1972. Mảng điểm là từ Thành Miên – đường 19 đến ấp An Phú và các xã ruột Gò Dầu, còn diện là đường liên tỉnh số 26 và quốc lộ 22.

Các huyện còn lại và thị xã đều là diện nhằm đưa phong trào lên một bước, vừa căng kéo địch, vừa phá rã bộ máy kềm kẹp, bao vây bức rút đồn bót địch bằng ba mũi, tập trung đúng mức khả năng của địch vào tửng mảng nhất định và có chọn hướng phát triển tiếp theo.

Trước khi vào cao điểm 1, tháng 6-1972, tiểu đoàn 14 đã đánh tiêu diệt đại đội bảo an 277 tại Cầu Sắt, hỗ trợ cho phong trào địa phương.

Trên mảng điểm đường liên tỉnh 13, tiểu đoàn 14, đại đội 5 vùng C31 Dương Minh Châu đã trụ lại 2 ấp chiến lược Suối Đá, Phan, trong 2 ngày 22 và 23-6-1972, tấn công tiêu diệt 3 đồn, diệt đại đội bảo an 243 thuộc liên đội 3/57, diệt 1 đại đội bảo an tiểu khu thuộc tiểu đoàn 304 đến ứng cứu, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 49, sư đoàn 25, phá rã toàn bộ phòng vệ dân sự, thu 113 súng.

(https://lh3.googleusercontent.com/jV5H18-DrmHm9GhiKiN99YhhfRNExTnE3z83mWfugpIqZ99Hpvb7Qw_UPDxm89Tum2Ygo-tdj25b38SMAxdBd6nqwIfBvJICbfsPY86WRTXBr-HCcj6vJ8Os7P7synT1i3HNkF2xJ2qNZCtnmP66NvN4KsFh1jo-FGr2hIXrgp5hM8jkLCBnoAV8CmAVC5WTFYgZ-5OA0YRjq6jTT79Sgz2oAgbTawQ0AixaNmxryH694Uhl3TXlRVieUswWCKnZNa1790CPoqWI9g-w2NgeFTkmd_7Ys5EhF56V_yU-mxGkhL_MvodmFB5wuDghNGourci2dlOyghfJQMMoT5YhebiBQPfeshQNJkptXOwgOywEjL0KPw_gMvH25kfZknQU2-36DDxSSy_tNKne3bj4NZktsAIJRnzSmqMTfle-w-mdBKCgK_d6Sloaj0NOqlgZS3RUxuPm_QzuxFDOrf2FG8yqjw9Z1L-ApBYreT7tVmJoV8r5fHt8iATyVwSNLvoFlCFzDCs8uSvGm3263f11Jz-gErlgrPOYCW43syANpOx0xziJH5tfpIBqhQRj5i3sFnwD3amNiYYh5j2w9Kpjah56ckwMIt_bK1tOLX8=w576-h832-no)

Diễn biến trận vận động tập kích ấp chiến lược Suối Đá
(ngày 22-6-72)


Tiêu đề: Tây Ninh 30 năm trung dũng kiên cường
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Ba, 2018, 06:12:07 PM
Kết hợp chặt chẽ với tấn công vũ trang, trong hai ngày 22, 23-6-72, cán bộ chính trị đã tập trung phát động hầu hết quần chúng trong hai ấp chiến lược Suối Đá và Phan, tổ chức lực lượng – trong đó có 40 gia đình binh sĩ làm nòng cốt, đưa được ba đợt đấu tranh bao vây đồn, kêu gọi chồng, con, em giao đồn, nộp súng cho cách mạng, trở về nhà làm ăn. Sức mạnh của ba mũi giáp công nói trên đã bức rút 1 bót cấp trung đội của địch. Nhưng chúng vẫn ngoan cố, phản kích bằng phi pháo hòng ngăn chặn ba mũi của ta. Cơ sở ta đã kịp thời lãnh đạo hàng ngàn quần chúng đấu tranh quyết liệt, chửi thẳng bọn ác ôn địa phương, ném bánh mì vào mặt bọn chiến tranh tâm lý, đòi bồi thường thiệt hại do bom đạn Mỹ gây ra, đòi cứu chữa cho người bị thương, khiến cho địch càng hoang mang và phải nhượng bộ. Đồng thời, cán bộ ta bám sát giải quyết băn khoăn cho quần chúng, kết quả đã đưa ra vùng giải phóng hàng trăm người.

Ngày 28-6-1972, để bảo vệ an toàn thực lực các cơ quan tỉnh nhằm phục vụ cho sự chỉ đạo phong trào sắp tới, hoàn thành nhiệm vụ chính trị đã đề ra, Tỉnh ủy đã ra nghị quyết thành lập Ban căn cứ tỉnh. Ban này gồm có 10 ủy viên do đồng chí Tô Lâm giữ chức trưởng ban, đồng chí Năm Đanh phó ban.

Trong cao điểm 2 tại huyện Gò Dầu, ba thứ quân trong tỉnh đánh 18 trận lớn nhỏ, diệt 171 tên bảo an, dân vệ (trong đó có 2 tên đại úy, 1 trung úy, 1 đại đội trưởng và 9 tên ác ôn gồm cảnh sát, ban hai), bắt sống 1 tên, làm rã ngũ 40 tên, đánh thiệt hại liên đội bảo an 3/11 và 2 đại đội 289, 812 thuộc liên đội 3/53, bứt rút 1 đồn cấp trung đội, thu 34 súng, 3.000 viên đạn, 140 đạn cối 60 ly và nhiều đồ dùng quân sự, bắn rơi 1 trực thăng, bắn bị thương 1 máy bay khu trục, phá hủy 1 đại liên, 1 máy thông tin PRC 25 và 2 văn phòng tề ấp.

Mũi chính trị trong cao điểm này đã phối hợp chặt chẽ với mũi vũ trang, tổ chức chặt chẽ có chỉ huy, có các tổ chức chuyên môn như bảo vệ, thông tin, cứu thương, sau mỗi trận đánh đều có đấu tranh chính trị với những khẩu hiệu thích hợp. Địa phương huy động được đông đảo quần chúng có tổ chức, có lãnh đạo điều khiển được lực lượng đấu tranh. Điển hình là cuộc đấu tranh ngày 27-7; trong những ấp chiến lược dọc đường liên tỉnh số 19 mà lực lượng vũ trang ta bám trụ, trên 20.000 dân đi sơ tán đã chia làm 5 mũi, mỗi mũi có cơ sở lãnh đạo và được giao nhiệm vụ đấu tranh cụ thể. Cho nên khi một tiểu đoàn chủ lực ngụy với trên 20 xe bọc thép từ Trảng Bàng đến cứu viện, thì khoảng 5.000 quần chúng với 500 xe trâu, bò kéo ra đấu tranh, cản đường tiếp viện của chúng. Hoặc khi địch bắn pháo thì quần chúng kéo đến bao vây đồn, đòi không được bắn pháo vào dân, buộc chúng phải nhượng bộ, qua đó hạn chế được thiệt hại của quần chúng.

Đầu tháng 8-1972, Ban Thường vụ Tỉnh ủy lại họp mở rộng để đánh giá thắng lợi của 4 tháng đánh phá bình định và xây dựng vùng giải phóng của bước 2 (từ tháng 4 đến tháng 7-1972). Cuộc họp nhất trí đánh giá như sau:

“Trong 4 tháng vừa qua, cùng với chiến trường toàn Miền, trên chiến trường tỉnh nhà, ta đã giành thắng lợi rất to lớn, toàn diện và có ý nghĩa chiến lược. Địch đang thất bại nghiêm trọng trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta đang trên thế đi lên, còn địch đang trên thế đi xuống. Dù địch ngoan cố, có gây khó khăn cho ta, nhưng nhất định chúng không thể đảo ngược được tình hình… Kết quả các đợt cao điểm tấn công thắng lợi của tỉnh đã tạo nên khí thế phấn khởi trong đảng bộ và nhân dân và lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào khả năng cách mạng của quần chúng, vào việc vận dụng phương thức tổng hợp của địa phương nhằm mở mảng, giải phóng vùng”. (Trích báo