Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:46:35 AM



Tiêu đề: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:46:35 AM
    
        - Tên sách : Tojo người hùng Thái Binh Dương

        - Tác giả : Couriney Browne,
           Người dịch : Tuyết Sinh

        - Nhà xuất bản Trẻ

        - Năm xuất bản : 1974

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2018, 05:22:46 PM
 
LỜI NÓI ĐẦU

        Tôi bắt đầu bị cảm động trước khuôn mặt của Tojo khi nhìn thấy ông ta ngồi ở hàng ghẽ bị cáo tại tòa án xử tội phạm chiến tranh Viễn Đông ở Tokyo năm 1947. Trước dây tôi chỉ được biết tới con người này qua những bức ký họa trên các nhật báo Mỹ, thường coi ông giống như hung tướng Thành Cát Tư Hãn của Mông Cổ. Tôi bắt đầu thu thập các tài liệu nói về Tojo, con người đã đưa nước Nhật vào cuộc chiến tại Thái Bình Dương, với chủ ý sẽ viết một loạt bài về ông ta.

        Nhưng loạt bài đó không bao giờ xuất hiện trên mặt báo, vì càng tìm tòi, tôi càng thấy nhiều chuyện mù mờ khó hiểu chung quanh nhân vật này. Sự thực Tojo có phải là một tên quân phiệt hiếu chiến đã gây ra chiến tranh Đông Nam Á, như mọi người đã tưởng hay không ? Đem đặt cá nhân ông vào hoàn cảnh lịch sử của nước Nhật, kể những diễn tiến trong thời kỳ sử quân trở đi, ta thấy có nhiêu dấu hỏi cần được nêu lên về bản án tử hình mà tòa án quốc tế đã dành cho Tojo. Chính vì vậy thay vì viết một bài báo, tôi đã cho xuất bản cuốn sách này, gom tất cả những gì tôi đã tìm hiểu được về cuộc đời của Đại tướng Hideki TOJO.

        Những tài liệu chánh để được tham khảo gồm có : Bản cáo trạng của Tòa án Viễn Đông, trong đó có nhắc tới đầy đủ các biến cố tại Nhật từ năm 1931 tới năm 1945; Nhật ký của Kido ; Hồi ký của cựu Thủ tướnq Konoye; và đặc biệt là các tác phẩm Chánh nghĩa của nước Nhật do Shigenori Togo soạn ; Nhật Bản và Định mạng của Mamoru Shĩgemỉtsu; Lên tàu Missouri của Toshikazu Kase ; Đất Rồng Bay của Lewis Bush ; Tojo và sự phát khởi của chiến tranh của Robert Butow.

        Tác giả cuốn sách này chần thành cam tạ :

        — Bà Katsuko Tojo, đã cho phép chúng tôi xử dụng các hình ảnh của gia đình cũng như những trang nhật kỷ Tojo đã ghi trong nhà tù, và nhiều chi tiết khác liên quan tới cuộc đời của Tojo.

        — lan Mutsu và Dai Inoshita đã giúp chúng tôi trong việc phỏng vấn Bà Tojo.

        — Ký giả Gunther Stein, đã cho chúng tôi mượn nhiều sách quý của ông và đã giúp chúng tôi nhiều điều trong kiến thức rộng rãi của ông về thời kỳ tiền chiến và quân phiệt Nhật.

        — Tiện nội Sakaye đã giúp tôì rất nhiều trong việc thu thập tài liệu và viết bản thảo của tác phẩm này.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2018, 08:15:05 PM
     
PHẦN MỘT

THẾ THIÊN HÀNH ĐẠO

        « Vùng bình nguyên Yamato Có khác gì Thiên quốc Và Trẫm là ngươi thay Trời trị dân »
Trích thơ của Hoàng Đế YURYAKU (418 - 479)       

CHƯƠNG I

        VÀO khoảng trưa ngày thứ Ba, II tháng 9 năm 1945, dân chúng Nhật hai bên đường phố đổ xô ra nhìn một đoàn xe Mỹ chạy trên con đường dẫn tới ngoại ô Thủ đô Tokyo. Những chiếc xe lắc lư trên đường đầy ổ gà, khiến người ngồi trên cũng ngả nghiêng theo. Nhà cửa san sát vui vẻ trước đây đã bị chiến tranh tàn phá, thiêu rụi và giờ đây chỉ còn là một cảnh tiêu điều, buồn thảm. Đoàn xe ngừng lại trước một căn nhà nhỏ may mắn còn nguyên vẹn ở vùng ngoại ô Setagaya này.

        Thiếu Tá Kraus nhanh nhẹn nhảy xuống khỏi xe và dẫn toán nhân viên phản gián của ông tiến tới trước cửa căn nhà nói trên. Họ được một đoàn ký giả đông đảo, phần lớn là các nhà báo Mỹ đã tới từ trước, đang đứng tụm năm tụm ba trước khu vườn ở cửa nhà, tiếp đón. Không khí đột nhiên trở nên căng thẳng trong sự chờ đợi của mọi người khi viên Thiếu Tá bắt đầu gõ cửa. Cánh cửa sổ bên cạnh bật mở ra với sự xuất hiện của một khuôn mặt quen thuộc trước con mắt của đám ký giả. Với chiếc đầu trọc, cái trán hói, cặp mắt cận thị nặng sâu hoắm đàng sau cặp kiếng gọng đồi mồi, khuôn mặt đó từ lâu từng xuất hiện nhiều lần trên những bức hý hoạ của báo chí Mỹ, để tượng trưng cho bộ mặt của quân phiệt Nhật.

        Sau những lời trao đổi với viên Thiếu tá qua một thông dịch viên, người ở cửa sổ được báo cho biết có lệnh mời ông ta tới trình diện tại Bộ Tư Lệnh Quân Đội chiếm đóng Hoa Kỳ. Nghe xong, chủ nhà yêu cầu mọi người vô bằng lối cổng chánh, và ông ta khép cánh cửa sổ lại.

        Toán nhân viên phản gián đi trước, đoàn ký giả và nhiếp ảnh viên ùn ùn ùa theo sau. Họ vừa đi qua khoảng sân nhỏ thì đột nhiên nghe một tiếng súng nổ chát chúa ngay tại một căn phòng ở mé tay mặt hành lang. Các nhân viên tình báo vội vàng rút súng khỏi bao. Không khí khẩn trương trong sự chờ đợi im lặng của toán ký giả. Một nhân viên tiến lại gần cửa phòng gần đó, bắn tung ổ khóa và dùng chân đạp cánh cửa mở tung.

        Trong phòng, một người mặc quân phục trắng, chân đi ủng đen, ngồi ngả lưng trong chiếc ghế bành, miệng hơi mỉm cười một cách đau đớn. Máu ở ngực phía trên trái tim đã thấm đẫm ra bên ngoài. Trán ông lấm tầm nhiều giọt mồ hôi, trông khác hẳn gương mặt sáng quắc trong tấm hình của ông phóng lớn treo phía sau bàn giấy. Căn phòng lúc này đầy khói thuốc và tiếng ồn ào của mọi người vừa nhân viên an ninh, ký giả, vừa các quân nhân khác mới từ ngoài ào vô. Nhiều tiếng chửi thề xen lẫn tiếng máy ảnh bấm lách tách và những ánh đèn lóe sáng. Nhìn người ngồi đó, một chú lính tò mò hỏi người phóng viên bên cạnh : «Y là ai vậy ?»

        Người phóng viên nhiếp ảnh vừa dơ máy lên chụp, vừa trả lơi anh ta : «Tojo»

        «Tojo là ai vậy ?»

        «Đại Tưómg Tojo. Thủ Tướng Nhật trong lúc Trân châu cảng bị tấn công.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2018, 04:04:14 AM

CHƯƠNG II

        Vụ án Hideki Tojo đã trở thành một đề tài lớn trước dư luận thế giới sau khi chiến tranh kết liễu với sự đầu hàng của Nhật. Trước Tòa án xử các tội phạm chiến tranh của Đồng minh năm 1946, người ta đã buộc tội Tojo với nhiều tội danh khác nhau như : phá hoại hòa bình, có hành động vô nhân đạo và một số tội ác chiến tranh khác. Nhưng tội phạm lớn nhất không được bản cáo trạng của Đồng minh nói đến là tội lãnh đạo quân phiệt Nhật đoạt chánh quyển, đưa nước Nhật vào một cuộc chiến gian giảo, tàn bạo nhất từ trước tới nay. Từ lâu, Tojo đã được nhiều người gọi bằng những ngoặi hiệu khác nhau như : «Người đầu thép», «Hiệp sĩ khát máu», «kẻ cuồng tín và tàn bạo nhất nước Nhật». Nhiều người khác lại cho rằng tội lớn nhất của Tojo là ông là một quân nhân không giống như quan niệm đã được Tây phương công nhận, nhưng ông là một chiến sĩ theo kiểu Nhật bản. Do đó những kẻ thù của Nhật không ngớt gán cho ông đủ mọi thứ tội ác.

        Nhưng định mạng đã nhất định khiến Tojo trở thành một quân nhân. Ông ra đời ngày 30 tháng Chạp năm 1884. Thân phụ ông là Hidenori Tojo, một người đã gia nhập quân đội Thiên Hoàng ngay từ lức mới mười sáu tuổi. Hideki Tojo có hai người anh, nhưng đều chết từ lúc còn nhỏ. Vì vậy theo truyền thống gia đình của Nhật bản, ông đương nhiên phải nối nghiệp cha để trở thành một quân nhân, giai cấp được trọng vọng và hưởng nhiều đặc quyền nhất thời bấy giờ.

        Các di tích lịch sử xưa nhất của dân Nhật từ trước còn lưu lại là các tượng nung bằng đất sét nặn hình các sứ quân ngồi trên lưng ngựa. Điều đó chứng tỏ xưa kia, họ là các bộ lạc từ miền Bắc Á Châu đi lần tới bình nguyên Yamato thuộc hòn đảo chánh của nước Nhật hiện nay, đó là đảo Honshu. Thoạt đầu đặt chân tới đây, họ đã phải đánh nhau ngay với những người dân địa phương thuộc giống Caucasoid. Đương đầu với cuộc chiến đó, lãnh tụ của họ đã thống nhất các bộ lạc dưới quyền cai trị của mình, và ông ta tự tìm cho mình một nguồn gốc thần thánh đề làm tăng thêm uy tín.

        Cuộc xâm lâng của các bộ lạc Nhật đã gặp sức chống cự mãnh liệt của người Ainu, và phải ngừng lại vào thế kỷ thứ tám. Sau đó, lại được tiếp tục, và lần này việc chiến đấu do các sứ quản đảm nhận. Họ tự tuyển mộ lấy lính và tổ chức thành các đạo quân nhỏ đánh riêng rẽ bằng một lối đánh tàn bạo, dũng mãnh, chớ không chiến đấu chung với quân lính nhà vua. Những người đó dần dần trở thành các chiến sĩ chuyên nghiệp phục vụ cho nhiều lãnh chúa khác nhau và được gọi bằng tên samurai (võ sĩ đạo).

        Các hiệp sĩ samurai được mọi người nhận ra ở bất cứ đâu với chỏm tóc đặc biệt bới lên ở đỉnh đầu, và trên áo kimono của họ có vẽ dấu hiệu của bộ lạc. Họ tự nguyện hiến dâng cả đời mình vào việc chiến đấu và kiện toàn thân thể, tánh tình. Họ phải luyện tập để đi tới chỗ tự chủ tuyệt đối ; không bao giờ để lộ sự tức giận hay vui sướng ra ngoài cho người khác thấy. Họ tự tách rời ra khỏi lối sống bình thường của xã hội công cộng, tuyệt nhiên không dính dáng tới chuyên thương mại, tiền bạc. Nghề chánh của họ là đánh kiếm. Hai cây kiếm, một dài, một ngắn, lúc nào họ cũng luôn luôn mang trên người, vừa là khí giới mà đồng thời cũng là dấu hiệu tiêu biểu của một samurai.

        Những thanh kiếm của các samurai thường rất nặng, cầm hai tay mới nổi, được rèn luyện tinh vi bằng thứ thép cực tốt và thường mang nhiều huyền thoại do các thành tích chiến đấu với kẻ thù tạo ra. Kiếm dài đùng để chiến đấu, còn thanh đoản kiếm, samurai xử dụng trong nghi lễ tự tử khi không đủ sức bảo vệ danh dự, khi bị khống chế hay không hoàn thành trách vụ đã được giao phó. Nghi lễ tự tử đó, các samurai đều được huần luyện kỹ càng; gọi là hara-kiri, có nghĩa là « rạch bụng ». Trong lúc tự tử theo lối rạch bụng này, thường có một hiệp sĩ khác chứng kiến và khi được bạn yêu cầu, ông ta sẽ dùng trường kiếm để ban cho nạn nhân một cú ân huệ cuối cùng.

        Thanh kiếm chỉ là biểu lộ sức mạnh bên ngoài của samurai, nhưng sức mạnh quan trọng hơn nằm ở bên trong, và đó chính là tinh thần, là cách cư xử của họ, được gọi là bushido. Những quy luật của người hiệp sĩ trở thành như một thứ thần đạo được các vị tuyên úy thiết lập và duy trì tại những ngôi đền rải rác quanh vùng Kyoto ngay từ thế kỷ mười một. Thần đạo này tới thế kỷ mười ba đã biến dần thành môn phái Zen của Phật giáo tại Nhật, chủ trương thản nhiên trước các đau đớn của thân xác.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2018, 01:42:09 AM

        Dưới thời sứ quân Tokugawa, những quan niệm của Đạo Khổng được kết hợp với Thần đạo để trở thành luật lệ căn bản chi phối đời sống chánh trị, Dưới chế độ của Tokugawa, người đã lấn quyền của Thiên Hoàng, xã hội được tổ chức chặt chẽ bằng cách dựa trên nền tảng Quân, Sư, Phụ của Khổng giáo, Luật pháp quy định rõ ràng : người dưới phải phục tòng Bề trên, và người trên phải ăn ở rộng lượng.

        Sự phân chia giai cấp thống trị và bị trị trong xã hội Nhật thời đó được diễn tả qua khẩu hiệu chua chát kanson mimpi, có nghĩa là « Quân vi quý, dân vi khinh,» Các hiệp sĩ dĩ nhiên thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội. Họ được hưởng tất cả những ưu đãi và đặc ân các lãnh chúa dành riêng đãi ngộ họ. Chính vì vậy, họ không cần phải sống hòa mình với giới bình dân. Đó là bối cảnh phát sanh ra các samurai của nước Nhật ở thế kỷ mười sáu.

        Triều đại sứ quân Tokugawa vừa hoàn thành xong việc kết hợp các bộ lạc trong nước để tiến tới việc thống nhất quốc gia, thì phải lo đối phó với những đe dọa từ bên ngoài đưa tới. Năm 1543, các chiến thuyền Bồ đào nha trên đường đi Trung Hoa, đã bị bão thổi tạt vô bờ biền Nhật, mở đầu cho sự tiếp xúc giữa người Nhật với người Tây phương sau này. Sau đó, các nhà truyền giáo bắt đầu đổ bộ lên đảo Kyushu mang theo một tôn giáo hoàn toàn xa lạ đối với dân Nhật, đó là Thiên chúa giáo. Chánh quyền tại Kyushu lúc đó coi Phật giáo như quốc giáo, dĩ nhiên không thể nào có cảm tình với thứ tôn giáo mới này. Những tin tức từ Phi luật tân đưa tới cho biết, người Tây ban nha đã chiếm xứ này để truyền đạo Ki-tô, thêm vào đó những cuộc nổi dậy của một nhóm dân theo đao Ki-tô tại Kyushu đã khiến chánh quyền Mạc phủ đi tới những biện pháp mạnh là cấm đạo Ki-tô. Những người theo đạo này, bản xử cũng như ngoại quốc, đều bị săn đuổi một cách tàn nhẫn, và bị tra tấn, bắt phải bỏ đạo. Ai không chịu bỏ đều bị chém.

        Sau đó, mọi người đều phải ghi tên theo Phật giáo. Việc chế tạo các tàu đi biển đều bị cấm chỉ. Người nào xuất ngoại lén lút sẽ bị tử hình. Đôi khi những người ngoại quốc nhập cảnh lén lút cũng bị xử tương tự. Chỉ còn một vài người Đức buôn bán tại Nagasaki được phép ở lại Nhật, và bị hạn chế gắt gao trong việc đi lại. Chánh sách bế quan tỏa cảng này được tồn tại mãi cho tới năm 1876, là năm sụp đổ của chế độ Mạc phủ.

        Bác sĩ Thurnberg, một học giả người Thụy điển được phép du lịch vào nước Nhật lúc đó đã ghi lại : « Dân Nhật không hề bị Tây phương hủ hóa. Họ biết giữ lại những nếp sống cổ truyền. » Mặc dầu chế độ Mạc phủ thi hành chánh sách bế quan tỏa cảng, nhưng nước Nhật đã may mắn thoát được một cuộc chinh phục của người Tây phương để trở thành thuộc địa, như nhiều trường hợp của các nước Á Châu khác. Ngoài ra Nhật cũng thoát khỏi cảnh bị cướp đất, xâu xé, làm nhục mà nước láng riềng Trung Hoa đã phải chịu đựng. Thực quyền nước Nhật thời đó nằm trong tay Mạc phủ ở Edo, nay là Tokyo. Hoàng đế vẫn còn, nhưng chỉ giữ ngôi vị làm vì và đóng đô ở Kyoto. Do đó, các samurai là giai cấp được Mạc phủ ưu đãi nhất, vì họ giúp cho chế độ được vững mạnh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2018, 10:18:39 PM
   
CHƯƠNG III

        Samurai lại được chia ra nhiều cấp bậc. Gia đình Tojo thuộc vào hạng trung bình, và đã năm sáu đời phục vụ cho lãnh chúa ở một tỉnh miền Bắc nước Nhật. Hideki Tojo sanh năm 1855, tức là hai năm sau khi có biến cố hạm đội Mỹ tới Nhật.

        Lịch sử Nhật còn ghi rõ, vào tháng Bảy năm 1853, một hạm đội nhỏ của Mỹ dưới quyền chỉ huy của Đô Đốc Perry đã tiến vô vịnh Tokyo. Các chiến hạm này không được mời, nhưng đã tự nhiên tới và đem theo một lá thơ của Tổng Thống Mỹ xin được mở tòa Lãnh sự và giao thương với Nhật. Lá quốc thơ kèm theo những lời lẽ . ngoại giao không ngớt nhấn mạnh tới những mối lợi cả hai nước đều được hưởng trong việc giao thương. Nhưng yếu tố quyết định của những lời yêu cầu của sứ giả Hoa Kỳ chính từ những họng súng chĩa ra hai bên sườn tàu và các ống khói đen đang bốc lên, khiến tàu có thể chuyển động theo mọi hướng không cần đến buồm và sức gió. Sự hiện diện của đoàn chiến hạm lạ này là nguyên nhân đưa tới việc chấm dứt chế độ phong kiến của nhà Mạc phủ kéo dài trên hai thế kỷ qua.

        Đối với người Mỹ lúc đó, cũng giống như nhiều nước Tây phương khác đã thực hành chánh sách ngoại giao với họng súng này, chi có một mục tiêu là tìm thêm thị trường để mở mang thương mại. Không ai ngờ rằng sự tiếp xúc đó sẽ đưa tới một trận đại chiến xảy ra tại Viễn Đông sau này. Thực sự, vào lúc đó, nước Nhật chỉ muốn được Tây phương để cho mình sống yên thân, nhưng họ dã chợt thức tỉnh khi nhìn thấy các chiền thuyền tối tân của địch, và quyết chí tìm cách tiến theo cho kịp người qua nhiều thập niên, để rồi cuối cùng trở thành cường quốc và gây ra trận chiến khủng khiếp trên Thái binh dương. Nếu để ý nhận xét, người ta đã có thể nhìn thấy những dấu hiệu và có thể tiên đoán được những hậu quả xảy ra sau này.

        Trước khi trở ra khơi, Perry có tặng cho nhà cầm quyển Nhật một khẩu đại bác bằng đồng, kiều mới nhất. Có lẽ ông ta muốn biểu dương sức mạnh để làm hậu thuẫn cho những lời yêu cầu của mình. Một năm sau, vị Lãnh sự của Mỹ đầu tiên tới nhận nhiệm sở ở Nhật, vô cùng ngạc nhiên khi được gởi tặng hai khẩu đại bác cũng bằng đồng giống hệt như khẩu súng Perry đã biếu người Nhật năm trước. Vài năm sau đó, một viên chức người Anh ở Nhật cũng được gởi tặng một khẩu súng trường giống hệt với khẩu súng mà hải quân Anh đã tặng cho người Nhật trước đó.

        Tiếng súng đại bác bắn dàn chào thị oai tại vịnh Tokyo do hạm đội của Đô Đốc Perry bắn ra, không những là một tiếng gõ cửa đánh thức người Nhật thời đó, nhưng đối với nhà Mạc Phủ thì đó lại còn là tiếng báo hiệu chấm dứt quyền hành của họ. Sự sụp đổ của Mạc phủ xảy ra là vì họ cảm thấy mình đã bất lực, không có đủ sức mạnh để đối phó với những khí giới tối tân của người Tây phương. Bị ngạc nhiên và thức tỉnh bởi những đe dọa xâm nhập của Tây phương, các lãnh chúa thuộc những bộ lạc có thế lực của Mạc phủ như Satsuma, Choshu, và Tosa đã đống thanh đoàn kết với nhau và nêu cao khẩu hiệu tôn Hoàng Đế, chống giặc hung nô !» và nhất quyết lật đổ chế độ của Mạc phủ. Họ cho rằng đó là cách hay nhứt để có thể củng cố sức mạnh theo kịp rợ Tây phương.

        Bây giờ chính là lúc nước Nhật xuất hiện một vị Hoàng Đế trẻ, và trở thành cứu tinh của dân tộc : Minh Trị Thiên Hoàng. Theo các sử gia Tây phương, vị vua trẻ này đã làm một cuộc cách mạng táo bạo và khôn ngoan nhất trong lịch sử các quốc gia Đông phương. Thay vì đuổi người Tây phương ra khỏi nước, Ngài thúc đẩy chánh phủ thực hiện những cải cách tân tiến hóa để theo kịp các kỹ thuật của họ. Mọi sinh hoạt bắt chước Tây phương trở nên rộn rịp khắp nước : ngoại ngữ được dạy tại tất cả các trường học quân trường mọc lên như nấm để huấn luyện học hỏi về chiến thuật Tây phương, những toán binh lính vừa được tuyển mộ cấp tốc tập luyện, mọi sáng kiến được khuyến khích, tất cả vật đụng bằng sắt thép được trưng dụng để chế súng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:18:29 PM

        Nhiều phái bộ được gởi đi ngoại quốc nghiên cứu. Lòng mong muốn canh tân theo Tây phương mạnh tới nỗi các viên chức Chánh phủ cũng được khuyến khích mặc y phục theo lối « nước giàu, dân mạnh». Đoàn kết xung quanh Thiên Hoàng, nước Nhật đã thoát được cảnh bị các lực lượng ngoại lai xâu xé của nước Tàu. Tinh thần đoàn kết quốc gia lên cao. Các lãnh chúa đều nhất loạt từ bỏ quyền hành, đem đất đai dâng cho Thiên Hoàng. Họ nói :

        « Như vậy để nước ta có thể ngang hàng với các quốc gia khác trên thế giới.»

        Một số các sứ quân khác, mặc dầu không muốn, nhưng cũng đành phải làm theo gương của đa số khác. Vào khoảng hai triệu samurai từ trước tới nay sống nhờ sức mạnh, tiền bạc của các lãnh chúa, lúc này trở nên không nơi nương tựa. Thiên Hoàng cố gắng tìm cho họ những việc làm trong ngành cảnh sát hay quân đội. Nhưng dù sao, đó cũng là một giai đoạn khó khăn cho những người từ trước tới nay đã sống xa rời nếp sống cộng đồng của xã hội.

        Trong hệ thống tổ chức quân đội mới của Thiên Hoàng, các samurai không còn là những chiến sĩ độc quyền như xưa kia. Một đạo luật mới cấm họ không được mang kiếm ở nơi công cộng, hoặc đeo phù hiệu riêng của các bộ lạc.

        Hidenori Tojo là một trong những gia đình samurai lâm vào hoàn cảnh khó khăn do những cải cách này gây ra. Đã nhiều đời sống sung túc nhờ tiền của do các lãnh chúa cung cấp, bây giờ các hiệp sĩ không còn chỗ nương thân, đành phải chịu đựng một nếp sống mới tương đối thấp kém so với sự sung túc trước kia. Nhiều lãnh chúa trước đây đã bỏ nhà Mạc phủ để theo Thiên Hoàng hiện nay cũng trở nên bất mãn. Họ cảm thấy mình bị phản bội, vì những phần thường họ mong đợi khi nhượng bộ Thiên Hoàng ngày nay đã không thấy tới. Chánh phủ của Minh Trị dự định tổ chức một đạo quân sang chinh phục Triều Tiên và Trung Hoa để số samurai vừa bị mất chủ có chỗ dụng võ, thi thố tài chiến đấu của họ. Những bất đồng giữa các sứ quân về việc ủng hộ Nhật Hoàng đã đưa tới một cuộc chiến tranh.

        Cuộc nội chiến năm 1877 đã đưa tới cuộc thử sức giữa quân đội mới tuyển mộ của Thiên Hoàng và các chiến sĩ của sứ quân. Tuy mới được thành lập, nhưng quân Nhật Hoàng có khí giới tối tân và được huấn luyện theo chiến thuật Tây phương nên đã thắng thế. Trong trận chiến này, Trung sĩ Hiđenoro chiến đấu vô cùng dũng mãnh với tinh thần của samurai đến nỗi sau đó ông được thăng lên Thiếu úy. Có điều tréo cẳng ngỗng là Tojo đã chiến đấu chống lại giai cấp mà đáng lẽ ông được sanh ra để bảo vệ họ.

        Những trận đánh dữ dội trong nhiều tháng sau đó đã khiến cả hai bên đều tồn thất nặng. Cuối cùng phe chống Nhật Hoàng bị thất bại, vị lãnh chúa cuối cùng là Saigo mổ bụng tự tử theo đúng nghi thức hara-kiri của một samurai. Sự thất bại của loạn quân không những đưa tới chỗ chấm dứt hoàn toàn chê độ phong kiến, nhưng còn cho thấy một điều ý nghĩa hơn nữa, đó là khả năng chiến đấu dũng mãnh, hữu hiệu của các samurai được trang bị với khí giới mới của quân đội Nhật Hoàng. Họ đã chứng tỏ được tài đánh trận can trường và khôn khéo của dòng giống con nhà võ tướng.

        Dân Nhật vốn sẵn lòng ái mộ những giá trị cổ truyền, mặc dầu họ đã được canh tân hóa, không bao giờ quên được lòng mến phục đối với các hiệp sĩ samurai. Vì vậy tinh thần trong samurai đã trở thành một cái gì bất diệt đối với dân Nhật. Chính tinh thần võ sĩ đạo, với những điều luật hushido của các samurai để lại, đã trở thành động lực chiến đấu can đảm nhất thế giới của quân đội Nhật. Qua trận nội chiến, mọi người đã nhận ra rằng tinh thần samurai được võ trang với các khí giới mới đã tạo ra một đoàn quân tinh nhuệ nhất từ trước đến nay.

        Vậy là mười bảy năm sau, kể từ ngày Đô Đốc Perry tới gõ cửa với đoàn chiến hạm nhả khói đen của ông ta, nước Nhật bây giờ cũng có được đoàn tàu nhả khói đen riêng của minh, Họ đã xử dụng đoàn tàu đó đi chiếm Triều Tiên và một phần lãnh thổ Trung quốc của nhà Mãn Thanh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:27:14 PM

        Nhiều phái bộ được gởi đi ngoại quốc nghiên cứu. Lòng mong muốn canh tân theo Tây phương mạnh tới nỗi các viên chức Chánh phủ cũng được khuyến khích mặc y phục theo lối « nước giàu, dân mạnh». Đoàn kết xung quanh Thiên Hoàng, nước Nhật đã thoát được cảnh bị các lực lượng ngoại lai xâu xé của nước Tàu. Tinh thần đoàn kết quốc gia lên cao. Các lãnh chúa đều nhất loạt từ bỏ quyền hành, đem đất đai dâng cho Thiên Hoàng. Họ nói :

        « Như vậy để nước ta có thể ngang hàng với các quốc gia khác trên thế giới.»

        Một số các sứ quân khác, mặc dầu không muốn, nhưng cũng đành phải làm theo gương của đa số khác. Vào khoảng hai triệu samurai từ trước tới nay sống nhờ sức mạnh, tiền bạc của các lãnh chúa, lúc này trở nên không nơi nương tựa. Thiên Hoàng cố gắng tìm cho họ những việc làm trong ngành cảnh sát hay quân đội. Nhưng dù sao, đó cũng là một giai đoạn khó khăn cho những người từ trước tới nay đã sống xa rời nếp sống cộng đồng của xã hội.

        Trong hệ thống tổ chức quân đội mới của Thiên Hoàng, các samurai không còn là những chiến sĩ độc quyền như xưa kia. Một đạo luật mới cấm họ không được mang kiếm ở nơi công cộng, hoặc đeo phù hiệu riêng của các bộ lạc.

        Hidenori Tojo là một trong những gia đình samurai lâm vào hoàn cảnh khó khăn do những cải cách này gây ra. Đã nhiều đời sống sung túc nhờ tiền của do các lãnh chúa cung cấp, bây giờ các hiệp sĩ không còn chỗ nương thân, đành phải chịu đựng một nếp sống mới tương đối thấp kém so với sự sung túc trước kia. Nhiều lãnh chúa trước đây đã bỏ nhà Mạc phủ để theo Thiên Hoàng hiện nay cũng trở nên bất mãn. Họ cảm thấy mình bị phản bội, vì những phần thường họ mong đợi khi nhượng bộ Thiên Hoàng ngày nay đã không thấy tới. Chánh phủ của Minh Trị dự định tổ chức một đạo quân sang chinh phục Triều Tiên và Trung Hoa để số samurai vừa bị mất chủ có chỗ dụng võ, thi thố tài chiến đấu của họ. Những bất đồng giữa các sứ quân về việc ủng hộ Nhật Hoàng đã đưa tới một cuộc chiến tranh.

        Cuộc nội chiến năm 1877 đã đưa tới cuộc thử sức giữa quân đội mới tuyển mộ của Thiên Hoàng và các chiến sĩ của sứ quân. Tuy mới được thành lập, nhưng quân Nhật Hoàng có khí giới tối tân và được huấn luyện theo chiến thuật Tây phương nên đã thắng thế. Trong trận chiến này, Trung sĩ Hiđenoro chiến đấu vô cùng dũng mãnh với tinh thần của samurai đến nỗi sau đó ông được thăng lên Thiếu úy. Có điều tréo cẳng ngỗng là Tojo đã chiến đấu chống lại giai cấp mà đáng lẽ ông được sanh ra để bảo vệ họ.

        Những trận đánh dữ dội trong nhiều tháng sau đó đã khiến cả hai bên đều tồn thất nặng. Cuối cùng phe chống Nhật Hoàng bị thất bại, vị lãnh chúa cuối cùng là Saigo mổ bụng tự tử theo đúng nghi thức hara-kiri của một samurai. Sự thất bại của loạn quân không những đưa tới chỗ chấm dứt hoàn toàn chê độ phong kiến, nhưng còn cho thấy một điều ý nghĩa hơn nữa, đó là khả năng chiến đấu dũng mãnh, hữu hiệu của các samurai được trang bị với khí giới mới của quân đội Nhật Hoàng. Họ đã chứng tỏ được tài đánh trận can trường và khôn khéo của dòng giống con nhà võ tướng.

        Dân Nhật vốn sẵn lòng ái mộ những giá trị cổ truyền, mặc dầu họ đã được canh tân hóa, không bao giờ quên được lòng mến phục đối với các hiệp sĩ samurai. Vì vậy tinh thần trong samurai đã trở thành một cái gì bất diệt đối với dân Nhật. Chính tinh thần võ sĩ đạo, với những điều luật hushido của các samurai để lại, đã trở thành động lực chiến đấu can đảm nhất thế giới của quân đội Nhật. Qua trận nội chiến, mọi người đã nhận ra rằng tinh thần samurai được võ trang với các khí giới mới đã tạo ra một đoàn quân tinh nhuệ nhất từ trước đến nay.

        Vậy là mười bảy năm sau, kể từ ngày Đô Đốc Perry tới gõ cửa với đoàn chiến hạm nhả khói đen của ông ta, nước Nhật bây giờ cũng có được đoàn tàu nhả khói đen riêng của minh, Họ đã xử dụng đoàn tàu đó đi chiếm Triều Tiên và một phần lãnh thổ Trung quốc của nhà Mãn Thanh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:28:39 AM

CHƯƠNG IV

        Triếu Tiên chỉ cách mỏm cực Nam của quần đạo Nhật bởi một eo biển hẹp, từ lâu đã là chiếc cầu thiên nhiên nối liền nước Nhật với châu Á. Năm 1281, Hoàng Đế Mông cổ Thành Cát Tư Hẳn với đạo quân khổng lồ của ông ta đi chình phục khắp nơi trên thế giới từ Âu sang Á đã định đánh chiếm Nhật, Nhưng may nhờ có những trận bão biển liên tièp xảy ra nên quân Mông cổ đã thôi không chinh phục Nhật Bản nữa, và do đó nước này mới thoát được gót giày của quân Mông cổ, Sau này, để nhớ ơn những trận gió thiên nhiên đó người Nhật gỏi đó là kamikaze, có nghĩa là «thần phong », Tuy nhiên người Nhật không bao giờ quên rằng địa thế Triều Tiên chính là một con dao găm đâm vào trái tim của nước họ. Mặc dầu chính nhờ cái đấu cầu thiên nhiên đó, người Nhật thường gọi là «xứ mặt trời yên tĩnh », mà văn minh Trung quốc đã truyền tới Nhật.

        Những chiến thắng của quân đội Nhật trong cuộc xâm chiếm Trung Hoa và Triều Tiên năm 1894 không có gì là vẻ vang cho lắm, vì quân đội của Triều đình nhà Thanh lúc đó tổ chức lỏng lẻo và trang bị thô sơ. Tuy nhiên, lần ra quân đầu tiên đã gặp ngay chiến thắng một cách dễ dàng khiến quân Nhật trở nên phấn khỏi, tự tin ở sức mình. Chính điều đó đã khiến họ trở thành hiếu chiến và gây ra những trận đại chiến sau này.

        Trên đường đánh đuổi quân Tàu ra khỏi Triều Tiên, quân Nhật đã vượt qua sông Yalu, chiếm bán đảo Liaotung và hải cảng Arthur ở phía Nam Mãn châu. Chính tại đây, Hidenori Tojo và các sĩ quan trẻ trong đạo quân viễn chinh của ông đã ngừng lại để nhìn những thành quả, đất đai minh vừa chinh phục được. Đồng thời họ cũng mặc tình thưởng thức, thao túng các chiến lợi phẩm. Ở đây, xa nhà, họ không phải chịu những hạn chế ràng buộc và đương nhiên trở thành những kẻ chiến thắng đầy oai quyển, nắm trong tay quyền sinh sát đối với đám dân địa phương. Do đó họ trở thành một đoàn quân say men chiến thắng, sẵn sàng lao vào những cuộc phiêu lưu khác.

        Trước sức tấn công vũ bão của quân Nhật, nước Tàu không còn cách nào khác hơn là thỏa mãn các yêu sách của Nhật. Nhà Thanh cử sứ giả tới Nhật thương thuyết và bằng lòng nhường cho Nhật cai trị Triều Tiên, phía Nam Mãn châu và đảo Kim môn. Nhưng sứ giả Tàu chưa kịp trở về thì Đại sứ của ba nước Nga, Anh và Pháp đã tới cho Chánh phủ Nhật hay Chánh phủ của họ chưa sẵn sàng chấp nhận để Nhật hiện diện tại Mãn châu.

        Đàng sau lời thông báo đó là một sự đe dọa ngầm, với những đoàn quân Nga đông đảo ở biên giới, sẵn sàng lâm chiến. Nhật Hoàng biết rằng quân mình tuy mạnh, nhưng dù sao cũng không đủ sức đương đầu với liên quân của ba đại cường đó, nên đành phải nuốt hận chấp nhận lời yêu cầu của họ, là sẽ rút khỏi Mãn châu. Dân Nhật nhiều nơi nổi lên phản đối sự nhượng bộ đó của Chánh phủ Nhật, và chỉ chịu yên khi Nhật Hoàng lên tiếng khuyên can họ. Ngài bảo mọi người cần phải « chịu đựng những gì không thể chịu được. »

        Tại Mãn châu, quân đội Nhật tức giận không hiểu tại sao họ lại được lịnh rút ra khỏi vùng đất vừa chiếm được.

        Tuy nhiên họ vẫn phải tuân lệnh, và họ sung sướng khi nghe những nhà siêu ái quốc trong nước lên tiếng chỉ trích các chánh khách đã hèn nhát trước áp lực của ngoại bang và tìm cách che mắt, lựa dối cả Thiên Hoàng,

        Mặc dầu vẫn còn được giữ Triều Tiên và đảo Kim môn, nhưng sự kiện bị Tam cường ép buộc trả đất khiến người Nhật cảm thấy nhục nhã, và với lòng tự ái cao độ vốn có của những dân tộc Á Đông, họ âm thầm nuôi chí phục thù. Với bản tính ôn hòa, Minh Trị tránh được những phản ứng quá khích, và chỉ coi đó là một bài học ganh đua vơi các cường quốc trên thế giới. Hầu tước Hayashi, một nhân vật lãnh đạo quan trọng trong Chánh phủ Nhật đưa ra nhận định : « Dân Nhật cần phải tiếp tục nỗ lực học hỏi, nghiên cứu thêm về Khoa học, đó là một phương pháp ganh đua hữu hiệu nhất với các nước văn minh khác trên thế giới. »

        Chính trong tinh thế này, giới chánh trị đã bị phe quân sự lấn lướt bằng cách phải nhường các Bộ chiến tranh và Hải quân cho các Tướng lãnh. Họ viên cớ rằng làm vậy để quân đội có tiếng nói và quyền quyết định xử dụng ngân sách trong những giai đoạn quan trọng của quốc gia, cần tới sự bành trướng mạnh của quân đội. Nhưng lâu dần sau này, chính do đó mà Chánh phủ không còn kiểm soát được các Tướng lãnh như trong thể chế dân chủ đòi hòi.

        Trung Tá Hidenori Tojo từ Mãn châu trở vể với sự tin tưởng rằng cần phải có sức mạnh tuyệt đối trong trò chơi ganh đua với các cường quốc. Ngang hàng với họ chưa đủ, nhưng muốn thẳng trò chơi này, cần phải lớn mạnh trội hơn và biết cách xử dụng sức mạnh đó. Nửa thế kỷ sau, con trai ông lúc đó mới mười một tuổi, là Hideki đã thực hiện lòng tin tưởng đó bằng cách đưa cả nước Nhật vào một cuộc chiến khốc liệt. Dù sao, thì lúc này bước đầu tiên cũng đã đạt được : Nhật đã đổi chiều được con dao găm Triều Tiên bằng cách quay mũi nhọn của nó về phía nước Tàu.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:41:59 PM

CHƯƠNG V

        Năm 1895, Hidenori Tojo trở về nhà tiếp tục sống với gia đình trong mệt cuộc sống khó khăn, chật vật về phương diện kinh tế, giống như hầu hết các sĩ quan Nhật khác. Mặc dầu có thể được kính nể trong xã hội, nhưng lương bổng của hộ lại không đủ để tạo một cuộc sống vui tươi trong gia đình.

        Cậu Hideki thường bị mẹ la rầy. Đối với kỷ luật quá gắt gao của trường học, cậu đã nhiều lần bị phê điểm xấu. Mẹ cậu được mô tả là một người đàn bà khó tánh, bà thường cáu kỉnh, la hét om xòm. Thực ra đối với một người mẹ lấy chồng từ lúc mười bảy và nay có bảy đứa con, lại phải thường xuyên tần tảo để nuôi con trong lúc chồng chinh chiến xa nhà, thì sự cáu kỉnh đó không thể nào tránh khỏi. Hideki là một đứa trẻ hay có ý kiến, bướng bỉnh và thích đánh lộn. Ở trường thì học hành không quá mức trung binh. Nhưng khi đánh lộn, cậu tỏ ra can đảm hơn tất cả những trẻ khác. Tưởng cũng nên nói thêm là việc cho điểm tại các trường học của Nhật chỉ căn cứ vào hạnh kiểm chở không kể học lực hay thể thao. Trong một trận đấu, được thua được căn cứ vào cách chơi của hai đội.

        Cậu Hideki Tojo đã khổ sở nhiều vì những mặc cảm, và thường là đối tượng chế diễu của những đứa trẻ lớn hơn. Cậu bị cận thị và thân hình trông có một vẻ gì khác thường, tức cười. Lúc mười lăm tuổi, khi được gởi vô trường huấn luyện quân sự, cậu Tojo không tin là mình có khả năng thích hợp để theo đuổi binh nghiệp. Nơi đây, Tojo bị cảm động và suy nghĩ nhiều về câu nói của một sứ quân thuộc đời Mạc phủ : «Đừng chạy theo những gì mình thích. Hãy chú ý tới nhiệm vụ khó khăn.» Không có tài gì nổi bật, cậu Tojo tìm cách ganh đua với bạn bè bằng những công việc làm chăm chỉ, và đôi khi xử dụng tới sức mạnh để đè bẹp đối thủ của mình. Nhờ những cách đó, không bao lâu cậu trở thành một khuôn mặt đáng nể trong số nhiều bạn bè tuy thông minh hơn, nhưng không có được một sự can đảm và quyết chí như Tojo. Cậu hoàn toàn tự tin vào sức làm việc chăm chỉ và ý chí cương quyết của mình. Sau này, có lần Tojo đã nói với một đám sinh viên sĩ quan khi ông kể lại cuộc đời của mình ở quân trường : «Tôi là một người tầm thường, không hề có tài năng gì đặc biệt. Tất cả những gì tôi đã làm được đều do sự làm việc chăm chỉ, và tôi nhất định không bao giờ rời bò thói quen đó.»

        Năm 1902, cậu Tojo chánh thức được nhận vô trường Võ bị quốc gia và tốt nghiệp ba năm sau đó. Ngày lễ mãn khóa, cậu hãnh diện đứng chung với các tân sĩ quan khác trước sự chứng kiến của thân phụ, lúc này đã trở thành một Đại Tá thực thụ. Nhưng tình hình nước Nhật lúc này đã biến chuyển mạnh với những biến cố dồn dập xảy tới.

        Tại Triều Tiên, dân bị trị không còn ngoan ngoãn tuân theo những lề lối cai trị của Nhật. Họ nổi lên đòi quyển tự chủ, và đánh đuổi những người lợi dụng danh nghĩa «giải phóng» để tìm cách đô hộ họ trở lại. Không bỏ lỡ cơ hội này, Nga liền tính cách lợi dụng tình hình khỏ khăn của Nhật tại đây. Năm 1903, quân Nga ngang nhiên tiến vô miền Bắc Triều Tiên để bảo vệ một vùng đất đã được chinh quyền Triều Tiên nhượng cho họ. Nhật lồng lộn lên phản đối hành động này của Nga.

        Tình hình lúc này khiến Nhật không thể nào lùi được như trong lần bị tam cường ăn hiếp năm 1895. Hơn nữa, bây giờ Nhật không còn bị cô thế. Họ đã ký được một hiệp ước bất tương xâm với Anh trong thời hạn 5 năm. Hiệp ước này được thành hình trong lúc Anh mai lo đánh giặc thuộc địa tại Phi châu, và muốn Nhật hỗ trợ để đề phòng mọi bất trắc có thể do các cường quốc Âu Châu gây ra cho mình ở Viễn Đông. Nhờ hiệp ước đó, Nhật chắc chắn rằng trong lần đọ sức này với Nga, các nước Tây Phương khác se không còn nhào vô phe Nga như hồi năm 1895.

        Chiều ngày 8 tháng 2 năm 1904, trong lúc các nhà ngoại giao giữa hai nước còn đang đàn xếp tại Mạc tư khoa thì hạm đội Nhật bất thần tấn công vào các chiến hạm Nga tại hải cảng Arthur. Lần tấn công này cũng bất ngờ y như lần đánh Trung Hoa mười năm trước, và trận tấn công Trân châu cảng ba mươi bảy năm sau. Người Nhật luôn luôn đánh trước rồi mới tuyên chiến sau, Ngày 10 tháng 2, khi Nhật chánh thức tuyên chiến với Nga thì quân của họ đã tiến tới gần các trại quân Nga tại Hải cảng Arthur. Một lần nữa, Đại Tá Hidenori Tojo lại được lệnh lên đường xuất chinh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:40:15 PM
     
CHƯƠNG VI

        Trong trận chiến tranh Nga-Nhật này, quân Nga đã liên tiếp bị bại trên mặt biển cũng như trên bộ. Quân Nhật đã liên tiếp đạt được những chiến thắng đối với quân của một cường quốc từng lừng danh kể từ thời Peter Đại Đế. Lục quân Nhật do những sĩ quan với tinh thần võ sĩ đạo như Hidonori Tojo và các đồng chí khác lãnh đạo, đồng thời được trang bị tối tân, đã tiến nhanh như vũ bão, mặc dầu sức kháng cự của Nga mãnh liệt không kém. Chiến thuật của quân Nhật đã được các huấn luyện viên Đức chỉ điểm theo lối đánh của người Phổ, cốt lấy nhanh và mạnh làm căn bản. Với tinh thần võ sĩ đạo, quân Nhật cứ việc xông lên, không kể gì đến chuyện chết chóc hay tổn thất.

        Ngày 31 tháng Chạp năm 1904, Hải cảng Arthur rơi vào tay quân Nhật sau nhiều ngày bị vây hãm. Ngày 16 tháng 3 năm 1905, Thống chế Oyama lấy xong Mukden, Thủ đô của Mãn châu. Hạm đội Baltic của Nga tăng cường cho lực lượng Viễn Đông đã bị Hải quân Nhật do Đô Đốc Togo chỉ huy chận đánh tan tành tại eo biển Đối mã trong một trận hải chiến kéo dài hai ngày.

        Không khí chiến thắng dâng cao tại Nhật. Tinh thần ái quốc bùng bùng nổi dậy như lửa gặp cơn gió lớn. Hăng say nhất là không khí tại Trường Võ bị Quốc gia, nơi Hideki và các bạn đồng khóa của anh đang háo hức chờ đợi ngày ra trường để được theo cha và anh chiến đấu ngoài mặt trận. Ngày đó đã tới sau khi Mukden bị thất thủ, rơi vào tay quân Nhật. Hideki Tojo rời quân trường với cấp bậc Thiếu úy.

        Những sĩ quan trẻ với thanh kiếm dài lê thê của võ sĩ đạo samurai xuống tàu để đi Mãn châu, với lòng hy vọng háo hức mau được ra trận địa để cùng sát cánh chiến đấu với cha và anh. Nhưng tới nơi, họ cảm thấy thất vọng vì suốt ngày phải ở trong trại, không khí chiến thắng lần lần lắng dịu trước những nỗ lực tái lập hòa bình ở vùng này.

        Mặc dầu đạt nhiều chiến thắng, và không khí hỗ trợ chiến tranh trong nước lên cao, nhưng Nhật đã trả một giá đắt trong trận chiến với quân Nga : 200.000 quân tử trận. Đó là một sự mất mát đòi hỏi một thời gian sau mới có thể bù đắp được, vì số sĩ quan từ trận đều là những thành phần ưu tú nhất. Ngân khố quốc gia đã cạn, bắt buộc Nhật phải nghĩ tới việc giảng hòa để chấm dứt chiến tranh. Chánh phủ Nhật bí mật nhờ Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt dùng uy tín để tái lập hòa bình tại Mãn châu. Ngày 5 tháng 9 năm 1905, hiệp ước đình chiến được ký kết giữa hai chánh phủ Nga — Nhật khiến dư luận quốc nội Nhật bùng lên phản đối dữ dội. Họ cho rằng chiến thắng toán diện tại Mãn châu đã gần kể, tại sao lại ngưng chiến ? Những phản đổi của dân chúng Nhật lần này còn dữ dội hơn năm 1895 khi Nhật bị tam cường bắt ép phải bỏ Mân châu. Dù sao hiệp ước đình chiến ký tại Portsmouth cũng khiến Nhật giữ trọn được Triều Tiên, và được hưởng những quyến lợi tại Mãn châu trước đây bị tam cường tước đoạt. Ngoài ra Nga còn nhường cho Nhật phân nữa phía Nam đảo Sakhalin, và những vùng biển đánh cá quan trọng xung quanh. Nhưng ngược lại Nga không phải bồi thường chiến phí cho Nhật, như thông thường các nước thắng trận vẫn được hưởng.

        Những nhượng bộ của Nhật lần này được đổ lỗi cho Mỹ. Chánh phủ Nhật thấy đã mất tin tưởng của dân cũng không cần đính chánh. Dân chúng sôi sục với nhiều cuộc biểu tình, tấn công cảnh sát, đốt xe ngoài đường phố. Cuối cùng Chánh phủ phải ban lệnh thiết quân luật, trật tự mới được vãn hội trở lại.

        Tại Mãn châu, những tân binh Nhật mới được tuyển bắt đầu cảm thấy chán ngán khi phải ở một nơi «hoang vu, xa nhà» quá lâu. Hầu hết đều mừng rỡ khi nghe được tin hồi hương. Nhưng số sĩ quan chánh quy không nghĩ vậy. Họ chỉ muốn hoàn thành những chiến thắng to lớn hơn nữa, và không hề biết rằng tiềm lực quân sự tại nước nhà đã bị suy giảm nhiều. Những sĩ quan hăng say như Hideki Tojo là những người cảm thấy thất vọng hơn cả. Họ cảm thấy những cơ hội lập công để tiến thân mau chóng không còn nữa. Giờ đây đành phải nằm chờ những thăng thưởng chậm rì của thời bình.

        Đại Tá Tojo, thân phụ của Hiđeki, hồi hương trước ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Ông không bị thương trên chiến trường, nhưng lại mắc phải chứng bênh phù thùng béri-béri. Thực ra con số tổn thất của quân Nhật không phải tất cả đều chết tại chiến trận, nhưng có tới hai mươi bảy ngàn người chết vì bệnh tật. Con trai Đại Tá Tojo là Hideki Tojo còn ở lại Mãn châu cho tới năm 1906 mới mãn hạn và trở về nước. Ba năm sau, chàng thành hôn với cô Katsu Ito, một nữ sinh viên Trường Đại học Tokyo. Nàng là một thiếu nữ xinh đẹp, quê ở Kyushu, mười chín tuồi. Con của một địa chủ, nàng không giống như đa số những phụ nữ Nhật khác, cam chịu sống cuộc đời mai danh ấn tích. Ngược lại, Katsu chỉ ao ước được trau dồi thêm về học vấn. Nàng thường nói : «Tôi không thích trở nên con ngưừi cứng đầu, nhưng tôi cảm thấy khó thay đổi ý kiến.» Và nàng Katsu đã chọn một người ít nói như Hideki làm chồng. Cặp vợ chồng này tự ý lấy nhau, chớ không như những vợ chồng khác tại Nhật, thường thường do sự xếp đặt của gia đình.

        Trong lúc theo học tại Tokyo, Katsu đã được gia đình Tojo bảo trợ, và nàng thường lui tới thăm hỏi. Sau lần gặp gỡ đầu tiên, cảm tình giữa nàng và Thiếu úy Hideki càng ngày càng trở nên đậm đà. Sau đó, Hideki đã trình cho song thân hay, nàng chính là người chàng ước ao được lấy làm vợ. Thân mẫu chàng mặc dầu đã có cảm tình sẵn với Katsu, nhưng bà ngần ngại trước một cuộc hôn nhân vượt ra ngoài sự sắp đặt của cha mẹ như vậy. Một khi trở thành mẹ chồng, bà có toàn quyền đối xử với nàng dâu, và bà không phải người dễ tánh gì. Không biết Katsu có chịu nổi hay không. Nhiều lúc song thân của Hiđeki ngần ngại không chắc cuộc hôn nhân này sẽ bền lâu, nên chưa muốn ghi tên Katsu vô gia phả dòng họ của Tojo. Nhưng khó khăn đó nhiều lúc khiến Katsu muốn bỏ dở cuộc hôn nhân, nhưng do lòng tốt của Hideki hết sức thuyết phục nàng, nên nàng quyết định ở lại. Sau nầy nàng thường tâm sự rằng chính vì những khó khăn đó, mà có lẽ tinh nghĩa vợ chồng đã trở nên khăng khít hơn. Đứa con đầu lòng trong bảy ngưòi con của họ ra đời vào năm 1911 tại nhà Tojo ở Tokyo. Mười sáu năm sau khi chồng chết, nàng thưòng nhắc lại vơi tất cả sự thương mến


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:41:15 PM

        «Không có sáng nào tôi không dâng hương và khấn nguyện trước bàn thờ vong linh của nhà tôi. Tôi không sao quên được những cảm tình chân thật và lòng tốt của anh. Mỗi lần nghĩ tới anh, nước mắt tôi lại tự nhiên chảy ra. Anh là người ít nói, nên thường bị nhiều người khác hiểu lầm. Khi anh còn sống, trước khi làm một việc gì tôi cũng đều hỏi ý kiến anh. Anh không bắt buộc, nhưng tôi thích làm vậy. Chẳng hạn khi có mấy người làm tới rào dậu nhà dùm, tôi đã nầu cơm cho họ ăn và anh cho đó là điều rất hay. Anh luôn luôn có lòng thương người.»

        Với trách nhiệm phải lo cho gia đình, và hơn nữa, lúc này thân phụ đã được thăng lên cấp Tướng, nên Hiđeki cầm thấy càng phải cố gắng tiến thân hơn bao giờ hết Lúc này chàng vẫn còn là Thiếu úy với vòn vẹn một tầm huy chương trên ngực. Cơ hội xuất chinh để lập chiến công không còn nữa, nên Hideki chăm chú tập trung vào những bổn phận được giao phó để chờ dịp thăng thưởng thông thường. Chàng được lên Trung úy lúc vừa đúng hai mươi sáu tuổi, và ngoài ba mươi mới có lon Đại úy. Một may mắn đã tới với chàng sau nhiều năm cần cù chờ đợi, khi Tojo được chọn đi học tại Trường Tham mưu, vì khóa học này còn thiếu một chỗ. Vào khoảng ba mươi ba, Đại úy Tojo tốt nghiệp Trường Tham mưu, và phải cam kết không được xin giải ngũ trước khi tới tuổi về hưu.

        Tiếp theo đó, một biến cố lớn lao xảy tới trên đất Nhật : Minh Trị Thiên Hoàng băng hà. Ông chết đi chấm dứt một thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử Nhật Bản. Đám quốc táng của vua Minh Trị khiến toàn thể dân chúng Nhật thương tiếc. Không khí bi ai càng trở nên trầm trọng khi vợ chồng Đại Tướng Nogi tự từ theo nghi thức võ sĩ đạo hara kiri để tỏ lòng trung thành với vua theo đúng quy lệ của các samurai thời xưa. Người ta được biết hai con của Tướng Nogi cũng đều tử trận tại Hải cảng Arthur trong khi chiến đấu dưới quyền chỉ huy của chính ông.

        Vài tháng sau đó, gia đình Tojo chịu riêng thêm một cái tang đau đớn nữa : Tướng Hidenori Tojo qua đời sau một cơn đau tim, hưởng thọ năm mươi bảy tuổi. Ông chết đi cũng khiến quân đội Nhật thêm một cái tang sau khi chịu tang Tướng Nogi. Là một người lấy binh nghiệp làm trọng, Tướng Tojo đã leo dần từ cấp bậc Trung sĩ tới cấp Tướng, và ông đã góp công không nhỏ vào những chiến thắng đạt được trong thời Minh Trị.

        Cuộc chiến tranh Nga — Nhật đã nâng địa vị nước Nhật lên hàng cường quốc thế giới. Trong trận Thế chiến I, Nhật đã đứng về phe Đồng Minh cùng với Anh và Nga. Đối với Tojo, thì cuộc chiến này, ông cho rằng đó chỉ là lịch sử đã được tái diễn. Lúc chiến tranh bùng nổ, ông hãy còn học ở trường Tham mưu, và tới năm 1915 khi ông ra trường thì chiến tranh chỉ có sự tham dự của hải quân mà thôi. Lục quân đứng ngoải, không có việc gì để làm.

        Cuộc chiến xảy ra tại Âu châu, quá xa đối với Nhật. Trên mặt biển Thái bình dương, Hải quân Nhật đã chiếm được các đảo của Đức như Pelew, Caroline, và nhóm đảo Manana như Truk, Saipan, Ba mươi năm sau, quân Nhật đã bị đánh bại trên các đảo đó, nhưng với một giá đắt của hàng ngàn mạng lính Mỹ,

        Trong lúc các nước Tây phương bận tay với trận Thế chiến thì Nhật được rảnh, và cảm thấy đây là cơ hội tốt đế mở lại chiến trường tại Trung Hoa, Nhật đã chiếm hải cảng Tsingtao của Đức, và sau đó lại đưa ra nhiều điều yêu sách đối với Trung Hoa, mà nếu chịu chấp nhận thì nước Tàu sẽ trở thành một nước: dưới quyền bảo hộ của Nhật.

        Hai mươi mốt điều yêu sách đó đã bức bách nước Tàu thái quá và có thể gây nên những phản ứng mạnh của din tộc Trung Hoa sau này ; Nhưng người Nhật thiển cận, tham lam, đã không nhận thấy điều đó. Trung Hoa lúc này đã trở thành một nước Cộng Hòa, với tinh thần dân chủ và quốc gia đang dâng lên mạnh, cực lực lên án những đòi hỏi vô lý của Nhật, Nước Anh cũng lưu ý Nhật nên tự chế, đừng làm quá vì có thể gây ra những hậu quả tai hại. Nhưng Nhật bất kể những lời phản đối của hai nưóc Tàu và Anh, vì họ cho rằng một nước thì quá yếu, còn một nước thì đang bận rộn chiến tranh ở Âu Châu nên Nhật không sợ. Nhưng giữa lúc đó thì Mỹ nhảy vào. Mỹ là nước mạnh, lại chưa dính díu đến chiến tranh, khiến Nhật phải gờm. Nước Mỹ đã đưa ra những lời phản đối cương quyết trước các yêu sách phi lý của Nhật đối với Trung Hoa. Vậy là thêm một lần nữa, mồi thù Nhật-Mỹ càng ngày càng được đào sâu thêm.

        Những biến cố trên đây xảy ra trước con mắt quan sát bàng quang của Đại úy Tojo. Thực vậy, mãi sau này, Tojo mới đi công tác một thời gian ngắn tại Tây bá lợi Á với tư cách Sĩ quan đại diện quân đội Nhật trong lực lượng Đồng minh. Nhưng sau đó ít lâu, ông trở về nước, vì sự can thiệp của Đồng minh không thành trước cuộc cách mạng của Cộng sản Nga. Nhưng khả năng làm việc hữu hiệu của Đại úy Tojo đã được mọi người nhận ra, do đó ông được cử giữ một chức vụ tại Bộ Chiến tranh và không bao lâu lại được để cử đi ngoại quốc với chức Tùy viên quân sự.



Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:42:50 PM
 
CHƯƠNG VII

        Kiến thức thiếu sót của Tojo về thế giới Tây phương đã ảnh hưởng nhiều tới công việc ông làm sau này. Nhiều người có cảm tưởng rằng ông chưa hề bước chân đi xa hơn nước Tàu. Trong cuộc thẩm vấn trước Tòa án xử tội phạm chiến tranh của Đống minh, Tojo đã tỏ ra hoàn toàn không biết gì về thế giới bên ngoài Á châu. Tuy nhiên vào những năm đầu trước khi tham gia các hoạt động chánh trị, Tojo thực ra đã từng sống ở ngoại quốc ba năm, và có lần ông đã đi qua Mỹ.

        Bắt đầu từ năm 1919, ông được cử làm Tùy viên quân sự ở Thụy sĩ ít lâu, và sau đó thuyên chuyển sang Đức. Quân đội Nhật được tổ chức theo khuôn mẫu của quân đội Đức. Những sĩ quan ưu tú hầu hềt đều được gởi qua Đức nghiên cứu. Thân phụ của Tojo cũng vậy, nên lần này tới Đức, Tojo coi đây là một cuộc hành hương đầy ý nghĩa. Mặc dầu nước Đức lúc đó vừa bị thất trận, nhưng Tojo vẫn thấy phục quốc gia này. Đời sống khắc khổ của Đức sau chiến tranh rất hợp với tinh thần tự chế của truyền thống samurai mà Tojo đã hấp thụ. Ông rất thán phục tinh thần chịu đựng can đảm của dân tộc Đức trước những tàn phá, đau khổ sau chiến tranh, và thường nói : «Dân Nhật cần phải bắt chước nhiều điểm của người Đức.» Đối với một sĩ quan, chắc hẳn Tojo đã không thấy được gì nhiều về nếp sống của người Tây phương trước một nước Đức bị tàn phá. Ngoài ra một sự kiện là quân đội Đức phục hồi nhanh chóng. Không bao lâu họ đã cùng cố lại hàng ngũ và trở thành công cụ hữu hiệu của Hitler sau này..

        Kiến thức về Âu Châu đã hẹp hòi qua việc nhận xét quá mau về quân đội Đức, tới lúc qua Mỹ, Tojo cũng lại chỉ nhìn thấy một vài sự kiện bề ngoài, và hầu như không biết gì tới tâm tính của người Mỹ, cũng như lối sống của họ. Năm 1922 trên đường từ Âu châu về nước, Tojo có ghé qua Hoa Kỳ. Những gì ông nhìn thấy tại đây, là một nước Mỹ giàu có, không lo chiến tranh, dân chúng sống hoàn toàn tự do theo cá nhân chủ nghĩa, nhiều khi trở thành thiếu cả tự trọng, và tất cả đều chỉ lo làm giàu. Những nhận xét vội vã nông cạn đó đã đưa tới những hậu quả tai hại cho xứ sở của ông sau này. Người Mỹ dưới con mắt ông là một dân tộc giàu có, nhưng tinh thần không có gì đáng kề. Đó quả là một quan niệm nguy hiểm đem tới những lầm lẫn quan trọng. Nhưng với một người luôn luôn mang trong người một tinh thần võ sĩ đạo, cộng thêm với sự làm việc quá hăng say, thì không thể nào tránh khỏi những ý nghĩ khinh khi vật chất như vậy.

        Lúc trở về tới Nhật năm 1922, Tojo đã trở thành một Thiếu tá bốn chục tuổi, nhưng nhìn vẻ người ông già hơn nhiều. Đầu đã bắt đầu hói, và trong bộ quân phục, nhìn vầng trán của ông càng cao thêm nhiều. Bộ râu mép của ông để từ ngày còn trẻ đã dài phù cả môi trên và đổi thành màu xám. Cặp mắt cận thị với cái nhìn sắc như dao qua cặp kiếng gọng đồi mồi khiến người đối diện vói ông có thể cảm thấy sợ. Chính vì vậy, người ta đặt cho ông cái .ngoại hiệu là «Kamisori», nghĩa là «Lưỡi dao cạo Tojo». Bộ quân phục của ông trông không được vừa vặn cho lắm. Những nét hăng say của tuổi trẻ giờ đây đã được che dấu một cách kín đáo bên trong cái vỏ bề ngoài khắc khổ, nghiêm trang, của một quân nhân tuân theo kỷ luật tới mức tối đa. Càng ngày, ông càng có giọng nói mạnh mẽ đến độ hầu như quát tháo, nhiều khi khiến người quen có cảm tưởng ông đã đổi tánh nết thành một con người khác.

        Ông thường nói : «là một quân nhân, tôi phải làm việc hai mươi bốn giờ một ngày;» Do đó, nhiều khi mọi người đã về hết, nhưng đèn trong phòng Thiếu tá Tojo vẫn còn bật sáng. Ở nhà, ông luôn luôn đem theo giấy tờ, sách báo quân sự về để nghiên cứu không ngừng. Thỉnh thoảng rảnh rỗi một vài giờ thì ông quây quần bên cạnh vợ con. Ông hoàn toàn không cỏ một thú vui sở thích nào. Ông thường nói : «Thú vui sở thích của tôi là làm việc.» Ông luôn luôn tỏ ra khó tánh với chính mình. Chẳng hạn ông rất thích thử bánh khảo của Nhật, nhưng nỗi lấn chỉ ăn hai cái, vì ông cho rằng ăn nhiều đồ ăn quá sẽ sanh ra buồn ngủ không tốt. Thứ nước ông thích uống nhất là cà phê. Bà Tojo thường mang cho ông tới sáu ly, mỗi lần ông thức làm việc ban đêm. Một điều ông không kiểm soát được mình, đó là tật hút thuốc. Ông hút tới sáu chục điếu mỗi ngày, và mỗi điếu chỉ hút vài hơi là ông đã dụi bỏ. Thấy vậy, bà Tojo thường phàn nàn, cho là phí phạm và có hại cho sức khỏe, nên đã khuyên ông bổ thuốc. Có lần ông đã bỏ được một năm không hút nữa. Nhưng một hôm đột nhiên, ông hút trở lại, và nói với vợ : «Đó là cái thú duy nhất của anh trên đời nầy.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:43:19 PM

        Suốt đời ông chỉ có hai người bận thân kể từ khi còn ở quân trường. Hai người đó là Tetsuzan Nagata và Hisao Watari, cả hai sau này đều trở nên Tướng lãnh, nhưng một người bị ám sát chết, và người kia bỏ mình vì bệnh sưng phổi trong khi chiến đấu tại Mãn châu. Những liên hệ giao thiệp của ông với các nhân vật khác trong giới quân sự đều đặt trên căn bản đồng liêu, cộng tác và không bao giờ thân mật, suồng sã. Với các nhân vật dân sự, ông ít tiếp xúc, mặc dầu sau này ông điều khiển nhiều người trong Chánh phủ do ông đứng đầu. Thời gian này, ông thường thảo luận với một bình luận gia của báo chí muốn tìm hiểu về cuộc sống trầm lặng của Tojo. Mãi về sau này, ông mới quen thân với một triết gia mà ông rất phục, đó là học giả Giichi Miura. Tojo thích bàn với Triết gia nầy về một thứ triết lý gọi là Kokatai, đặt căn bản trên những huyền thoại nguồn gốc thần tiên của dân tộc Nhật.

        Cặp mắt cận thị của Tojo có thể chữa được bằng cặp kiếng cận, nhưng sự thiển cận tinh thần của ông là một tai hại không có cách gì chữa nổi. Ông luôn luôn có thanh kiến, cho rằng phải tiếp tục cuộc chiến tranh Nga — Nhật còn dở dang từ ngày trước. Tojo chủ trương nhất quyết phải chiến đấu cho tới lúc toàn thắng, để Nhật đạt được vai trò lãnh đạo ở Á châu, đó là sứ mạng linh thiêng của dân tộc Nhật. Vì vậy, Nga là kẻ thù đầu tiên và cũng là kẻ thù cuối cùng của Nhật.

        Những năm đầu khi ông mới tham dự vào sinh hoạt chánh trị, Tojo tỏ ra thông cảm với các nước đi chiếm thuộc địa trước kia. Ông chấp nhận những bành trướng quân sự và kinh tế của họ. Nhưng trường hợp của Hoa Kỳ cứ tìm cách xía vô các nước Á châu một cách mập mờ khiến ông không thể nào chịu được. Ông không sao hiểu nổi tại sao một nước như Hoa Kỳ, vừa mói thực hiện xong những bành trướng thế lực tại Cuba, Mexico, Hawaii, và Phi luật tân lại có thể đứng ra xía vào cản đường sự bành trướng của nước Nhật, trong khi Nhật không hề can thiệp vào những việc làm của Mỹ. Những mục tiêu của Mỹ tại Á Đông, vừa muốn đề cao các lý tưởng vừa dòm ngó các triển vọng thương mại, đã khiến Tojo coi đó là một thái độ đạo đức giả. Sự nghi ngờ thiện chí của Mỹ càng gia tăng khi người Mỹ tỏ vẻ kỳ thị chùng tộc đối với dân Nhật.

        Sự tự hào về nguồn gốc chủng tộc thần tiên đã có đối với dân Nhật từ lâu đời, chớ không như Hitler và thuyết thuần chùng, mới chỉ có từ thế kỳ 19. Hồi Hitler còn là một chú cai vô danh thi hành quân dịch, anh ta đã biết quái gì về thuyết thuần chủng của dân tộc Đức đâu. Ngược lại, giữa Mỹ và Nhật vấn đề phân biệt chủng tộc đã đặt ra từ lâu.

        Ngay khi vừa ớ Mãn châu trở về, Tojo đã tin chắc rằng chính vì sự can thiệp ngầm của Mỹ mà Nhật phải nhả miếng mồi ngon đó ra. Tiếp theo đó, Quốc hội Mỹ lại bàn về đạo luật cấm dân Nhật di cư qua Mỹ, càng khiến cho dư luận Nhật nổi lên nguyền rủa Mỹ không tiếc lời: Mặc dầu sau này đạo luật đó đã được bãi bỏ, nhưng cũng đủ gây sự căm thù Mỹ đến tột độ.

        Khi từ Mãn châu trở về, Tojo thấy nước Nhật đã được tổ chức cai trị theo nề nếp dân chủ Tây phương, với một hệ thống Quốc hội lưỡng đảng, Đó là di sản do Minh Trị để lại. Kế vị Minh Trị là Thiên Hoàng Yoshihito, ông này sức khỏe suy kém cả tinh thần lẫn thể xác. Quan Tướng quốc Genro lo phò Đông Cung Thái Tử Hirohito lên kế nghiệp để cai trị. Hirohito là một thái từ tuổi còn trẻ, nhưng chắc chắn tham vọng nắm quyền bính của ông không phải nhỏ. Sở thích riêng của ông là nghiên cứu hải sinh vật, nhưng chắc chắn mộng chánh trị của ông đã lớn hơn căn phòng thí nghiệm nhiều. Nước Nhật lúc này đã trở thành một cường quốc kỹ nghệ phát triền mạnh sau chiến tranh.

        Theo nhận xét của Tojo thì một chánh phủ dân sự, cai trị bởi những nhân vật không thuộc dòng dõi quý phái, lần lần sẽ đưa nước Nhật tới một tình trạng chỉ phát triển mạnh về vật chất mà không có tinh thần như ông đã nhìn thấy tại Hoa Kỳ. Trong thời gian làm huấn luyện viên giảng dạy tại Trường Tham mưu gần Tokyo, Tojo đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến hệ thống tổ chức chánh trị đó của Nhật. Theo ông, những phát triển kinh tế đó, không những không có lợi gì cho quân đội mà còn làm cho uy tín của quân đội bị suy giảm. Hơn nữa, còn thêm một điều tệ hại là những chi tiêu của quân đội bị phe dân sự đòm ngó, và cần có sự chửng minh những chi tiêu đó là chánh đáng. Theo Tojo, phương thức điều hành như vậy không thể nào cho phép quân đội hoàn thành những chiến thắng lớn lao và vẻ vang như trong trận chiến Nga — Nhật năm 1904.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:19:05 PM

        Trong thế chiến I, quân đội Nhật không tham gia nhiều, nhưng kỹ nghệ Nhật đã nhân dịp này bành trướng mạnh. Bốn đại công ty của Nhật thi nhau nhận phiếu đặt hàng của các nước Âu Châu đang tham chiến. Hàng đặt gốm có tàu biển, quân trang, quân dụng. Ngoài ra, kỹ nghê Nhật còn bành trướng qua những thị trường kỳ cựu đang mở mang tại Á châu. Bị thu hút ở các lãnh vực hoạt động kỹ nghệ và thương mại, thanh niên từ nay không còn quan tâm tới cái lon sĩ quan nữa. Họ đồ xô vô các ngành dân sự, với số lương hậu hĩ gấp mấy lần lương của sĩ quan. Các quân nhân cảm thấy buồn, vì lương của một sĩ quan chỉ hơn lương của một thơ ký chút đỉnh tại các đại công ty.

        Nhưng không bao lâu, sau ngày Tojo từ Mãn Châu trở về, kinh tế Nhật bắt đầu gặp khó khăn. Với một khối dân gia tăng gần gấp đôi con số năm mươi bốn triệu khi Minh Trị Thiên Hoảng bắt đầu cải cách, và hàng năm còn tăng thêm một triệu miệng ăn nữa, nước Nhật không còn đủ sức tự thỏa mãn nổi lương thực cho dân chúng. Chiến tranh kết thúc, các giao kèo đặt hàng chấm dứt theo. Ngoài ra, các nước Âu châu bây giờ được rảnh tay, đang tỉm cách chiếm lại các thị trường ở Á châu trước đây. Kỹ nghệ Nhật bị ngưng trệ một cách nghiêm trọng. Thêm vào đó, Thiên nhiên cũng tiếp tay hành hạ Nhật bằng trận động đất bắt đầu từ trưa ngày I tháng 9 năm 1923 và kéo dài trong suốt một tuần, giết hại trên một trăm ngàn dân Nhật. Các thành phố Tokyo, và Yokohama hầu như bị tàn phá hoàn toàn.

        Trước thiên tai thảm khốc đó, cả thế giới đổ dồn tới giúp đỡ Nhật. Trong đó nước Mỹ là quốc gia mau mắn và trợ giúp nhiều hơn cả. Dịp này quân đội Nhật cũng tỏ ra rất hữu hiệu trong việc giúp đỡ dân chúng. Đây cũng là cơ hội tốt để binh sĩ có những việc làm tích cực hơn là cứ ăn rồi tập luyện quân sự. Những giúp đỡ của quân đội cũng làm cho dân chúng có cảm tình với họ nhiều hơn là việc đàn áp biểu tình, bạo động. Nhưng sau này khi nhìn lại những hành động đáng lấy làm hãnh diện đó của mình, quân đội cũng như những người bạn Hoa Kỳ nhận thấy dân Nhật đã quên họ một cách nhanh chóng.

        Hầu hết những thiện chí người Mỹ đã chứng tỏ trong việc giúp đỡ Nhật giữa thiên tai năm 1923 đều bi tiêu tan trong vòng một năm sau đó, khi một nhóm dân biểu trong Quốc hội Hoa Kỳ hoàn tất đạo luật hạn chế di dân sang Mỹ. Nhiều chánh khách Mỹ có khuynh hướng tự do đã phản đối đạo luật đó, vì nó làm nổi bật tánh cách kỳ thị chủng tộc giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Theo luật mới này, người Nhật bị hạ xuống ngang hàng với bọn cu li

        Trung Hoa và cầm di cư vào Mỹ. Đó thực là một sự lăng nhục đối với nước Nhật. Cũng lúc đó, Tojo còn được nghe nói rằng những người Nhật di dân sang Mỹ tại các nông trại đã bị ghen ghét vì họ chịu khó hơn các trại chủ người Mỹ. Ông ta đưa ra kết luận : « Điều đó cho ta thấy lý lẽ của kẻ mạnh. Nước Nhật, nêu muốn sống còn, cũng phải trở nên mạnh như vậy. »

        Những nỗ lực tái thiết kinh tế đang xuồng dốc sau trận động đất đã đưa tói vấn để cắt giảm ngân khoản của quân đội. Mặc dầu có sự phản đối dữ dội của nhóm ái quốc quá khích, và những tuyên truyền nấy nọ cho rằng Nhật đang bị bao vây bới một thế giới thù nghịch và bị Mỹ đe dọa, ngân sách quốc phòng vẫn bị cắt giảm bốn sư đoàn.

        Điều đó đủ chứng tỏ phe quân nhân bị lép vế và phe dân sự hoàn toàn kiểm soát chánh phủ. Tệ hơn nữa là phe dân sự, sau khi thắng thế, lại đòi đem vấn đề bang giao với Trung Hoa ra xét lại. Chánh phủ và các giới thương mại nghĩ ngờ rạng việc chiếm giữ Mãn châu không có lợi lộc gì nhiều và là nguyên nhân gây ra mối thù nghịch với Trung quốc. Cuối cùng phe dân sự đánh một đòn chí tử vào phe quân sự với lý luận rằng nếu bỏ Mãn châu, ngân sách sẽ bớt được một gánh nặng tốn kém trong việc duy trì đoàn quân viễn chinh Kwangtung tại đó.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:21:29 PM

CHƯƠNG VIII

        Cảm tưởng cho rằng giữa Trung Hoa Và nước Nhật cần phải có sự liên hệ, hợp tác chặt chẽ, luôn luôn được nêu lên trong chánh giới ở Nhật. Ngay cả thời kỳ có sự thù nghịch cao độ nhất giữa hai nước — thời gian 1894 — nhiêu chánh khách Nhật vẫn cho rằng có thể cải thiện mối bang giao Hoa - Nhật bằng cách làm cho người Trung Hoa hiểu được rằng họ cần phải có sự giúp đỡ của nước Nhật.

        Tình hình lúc này cho thấy những lý luận trên có vẻ đúng. Thị trường của Nhật đang bị các nước Âu châu cạnh tranh ráo riết ở khắp nơi, và Trung Hoa lại phát động phong trào tẩy chay hàng hóa Nhật khiến kinh tế Nhật càng lâm vào cảnh khốn đốn. Triển vọng giảng hòa với Trung Quốc tại Mãn châu để vừa cứu vãn được thị trường nước Tàu, vừa bớt gánh nặng ngân sách cho đạo quân viễn chinh lại được sáng giá. Từ tháng 7 năm 1929, Thủ Tướng Hama- guchi, cầm đầu Chánh phủ, bắt đầu một chánh sách thân thiện với Trung Hoa. Và sau đó có tin của chánh phủ Trung Hoa Dân quốc từ Nam Kinh cho hay đang chuẩn bị những cuộc thảo luận về vấn đề này.

        Dư luận Nhật có nhiều nơi nổi lên chống lại việc làm này của Thủ Tướng Hamaguchi, không những trong chánh giới mà cả ở nhiều giới khác. Họ đòi hỏi Chánh phủ phải bảo đảm người Tàu đã hoàn toàn quên đi những mối hận do Nhật gây ra và tha thứ cho Nhật. Nếu không thì làm sao có thể thân thiện được ?

        Một lý luận chống đối việc cải thiện bang giao với Trung Hoa nguy hiểm hơn nữa là lý luận của bọn ái quốc quá khích, căn cứ vào những huyền thoại cổ xưa cho rằng nước Nhật có sứ mạng cao cả cầm đầu Á châu. Những kẻ nào đi ngược lại đường lối đó là bọn phản quốc, Luận cứ như vậy được tuyên truyền công khai và bí mật trong quần chúng Nhật.

        Đảng Hắc Long do Mitsuru Toyama cầm đầu ngấm ngầm hỗ trợ cho chiến dịch tuyên truyền này, Toyama là lãnh tụ của những nhóm cực đoan, và tổ chức của ông ta được lập từ thời Minh Trị, liên lạc nhiều với các viên chức cao cấp trong Chánh phủ Nhật. Vậy mà không biết vì lý do gì ông ta không bị đem xét xử trước tòa án tội phạm chiến tranh. Tổ chức Hắc Long chuyên môn ám sát những nhân vật nào chống đối chánh sách bành trướng Đế Quốc Nhật vào lục địa châu Á, cho tới tận bờ sông Amur.

        Giữa những nhóm cực đoan đó, xuất hiện một nhân vật nửa đùa, nửa thật, đó là Bác sĩ Shumei Okawa. Ông ta là tác giả của cuốn « Hổ Thư » — sách của ông Cọp — giống như một loại kinh thánh, nói về nguồn gốc thần bí và các sứ mạng cao cả của dân tộc Nhật Bản. Trước đây ông ta được Công ty xe lửa Nam Mãn châu tài trợ đi Mãn châu để thực hiện một cuộc nghiên cứu cho chánh sách tuyên truyền của công ty. Khi về nước, ông ta tiếp tục được tài trợ dồi dào để tiếp tục làm việc đó.

        Thêm vào đó một nhân vật thứ hai nữa, là Thiếu tá Kingoro Hashimoto, làm tùy viên quân sự ở Thổ nhĩ kỳ vừa trở về nước, sau này trở thành Đại Tá. Ông này bị ám ảnh bởi những công việc cải cách của nhà lãnh tụ Thổ Kemal Ataturk với những tổ chức « Thanh niên Thổ » và muốn rằng Nhật cũng phải có những tổ chức tương tự như vậy. Hashimoto cho rằng chánh quyền dân sự quá yếu, cần phải có một chánh phủ mạnh do quân nhân nắm quyền, để thực hiện những công việc vĩ đại, biến nước Nhật trở thành cường quốc lãnh đạo Á châu. Ông ta lập ra một hội gọi là « Hội Anh Đào » để kết nạp những người đồng chí hướng với minh. Nhiều nhân vật tai mắt trong chánh giới đã có chân trong hội này, như Bác sĩ Okawa, đã giữ liên lạc chặt chẽ với Hashimoto trong nhiều năm. Hội Anh Đào quy tụ một số các sĩ quan cùng xuất thân ở Trường Tham mưu trong tinh thần đồng chí rất thắm thiết. Những sĩ quan này sau đó đều nắm nhiều chức vụ then chốt trong đạo quân Kwangtung ở Mãn châu.

        Tình hình Mãn châu lúc này khiến công việc cải thiện bang giao giữa Hoa và Nhật không tiến triển được chút nào. Trước hết là kể từ khi chiến tranh xảy ra năm 1905, nhiều nỗ lực phát triển và đầu tư đã đổ vào vùng đất này số tiền quá lớn. Công cuộc phát triển kỹ nghệ đã được thành lập với hàng ngàn gia đình Nhật đi cư tới. Nhiều xí nghiệp công đã được thiết lập, tiêu biểu nhất là đường xe lửa Nam Mãn Châu. Chủ tịch Công Ty này là một nhân vật quan trọng. Ông hành động độc lập, hầu như bất kể tới các viên chức lãnh sự do Chánh phủ ở Tokyo bổ nhậm. Những người đã tới lập nghiệp ở Mãn Châu hy vọng vào sự phồn thịnh tương lai của vùng đất mới này, chủ trương Mãn Châu không thể nào tách rời khỏi Nhật Bản. Những người này thuộc giới thợ thuyền cũng có, và cả binh sĩ nữa. Sau hơn một phần tư thế kỷ chiếm đóng và củng cố tình trạng an ninh tại đây, họ có cảm tưởng như xứ này đã trở thành một thuộc địa vĩnh viễn của Nhật.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:21:57 PM

        Phía Nga sô lúc này do Stalin Cai trị, còn đáng sợ hơn gặp mấy lần các Nga hoàng trước, vì ông ta là con người tàn bạo không ai bằng. Chánh quyền Sô viết đã lập một đạo quân khổng lồ ở phía Bắc Mãn châu, gọi là Lộ quân Viễn Đông. Nhưng quân lính Nga lại không nguy hiểm bằng những cán bộ cộng sản, mà Nga gởi đi từ Mạc tư khoa tới khắp vùng Viễn Đông, hợp với các phần tử cách mạng địa phương để phá hoại chánh sách cai trị của Nhật. Nhật đặc biệt quan tâm tới sự kiện Nga đã gởi những chuyên viên quân sự tới giúp Thống Chế Tưởng Giới Thạch và Chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc. Nhật sợ rằng sự trợ giúp đó chắc chắn rồi đây sẽ đưa tới một ảnh hưởng sâu rộng, và Nga sẽ thống trị Trung Hoa. Nhưng sự thực sau này cho thấy người Tàu không hề bị ảnh hưởng bởi sự thi ân đó của Nga.

        Về phía người Trung Hoa, phe quốc gia cũng như phe nổi loạn, đều đẩy mạnh áp lực đòi Nhật phải trả lại Mãn châu. Những áp lực này gia tăng mạnh mẽ khi Tưởng giới Thạch thanh toán xong gần hết các sứ quân, và tiến tới sào huyệt của Chang Tso-lin. Trên giấy tờ, viên tướng cáo già này vẫn còn được coi là Tổng đốc Mãn châu của Trung Hoa. Một số lớn quân Tàu vẫn còn hiện diện tại Mãn châu, và chưa chịu chấm dứt việc đòi hỏi chủ quyền tại đó. Chánh phủ Nam Kinh dùng mọi phương tiện, ngoại trừ chiến tranh, để làm lay chuyển vị trí của Nhật tại đó.

        Trên chánh trường quốc tế, người Tàu tổ chức nhiều phong trào ủng hộ lập trường đòi Mãn châu một cách khéo léo và dựa vào quyền lợi riêng của các nước Tây phương đang lăm le nhảy vô vùng đất đó. Chẳng hạn người Tàu bất kể tới các phản đối của Nhật, đã ký nhượng cho nhiều nước khác các quyền lợi khai thác Mãn châu. Trong số các nước ủng hộ Trung Hoa nhiều nhất, phải kể tới Hoa Kỳ. Vì vậy Nhật càng nghi ngờ Mỹ đứng ra làm thầy dùi cho Tàu để trục lợi. Sự nghi ngờ càng có lý do khi một hãng thầu lớn được Chánh phủ Mỹ yểm trợ đề nghị với Trung Hoa khai thác Mãn châu. Thế là Nhật càng tin chắc chủ trương đạo đức giả của Mỹ, giả vờ ủng hộ chánh nghĩa để nhảy vô kiếm chác.

        Các chánh khách ở Nhật muốn thực hiện chương trình giám bớt lực lượng quân sự tại Mãn châu. Nhưng các giới quân sự chánh trị tại Mãn châu cực lực phản đối ý định đó. Những người này chủ trương phải giữ Mãn châu với bất cứ giá nào. Tinh trạng thật là y hệt như phe quân nhân Pháp đòi giữ vững thuộc địa Algérie sau này. Hiện tượng đó không lạ gì, vì nhóm người Nhất tại Mãn châu đương nhiên phải hành động để bảo vệ những quyền lợi của họ đã tạo được tại đó.

        Quân đội Nhật tại Mãn châu có một địa vị quan trọng và được kính nể, khác hẳn với những đơn vị đóng trong nước. Điều dễ hiểu là tại vì nơi đó, sự hiện diện của họ rất cần thiết để bảo đảm đời sống cho mọi người. Còn những đơn vị đóng trong nước thì hết bị giới dân sự và doanh thương chỉ trích, lại tới dân chúng có cảm tưởng xấu cho rằng lính chỉ ăn không ngồi rồi, không có việc gì làm. Nhiều sĩ quan từ Nhật tới trấn nhậm tại Mãn châu đã cảm thấy một sự thay đổi sung sướng và đâm ra mê xứ này. Họ có ý định biến Mãn châu thành một tiểu bang của Nhật, độc lập, và không dính dáng gì chánh phủ dân sự trong nước. Ý kiến này đã được binh sĩ hoan nghênh nhiệt liệt, vì phần lớn họ đều xuất thân từ bọn nghèo đói, không có đất làm ăn ở Nhật.

        Dân số tại các vùng quê luôn luôn quá đông đảo, không có đủ đất đai cho họ cày cấy. Vì vậy, số người thặng dư này là tài nguyên dồi dào để các nhà giàu tuyển làm đầy tớ, các kỹ nghệ gia tuyển làm lao công và các thiếu nữ thì dành quyền xử dụng cho các nhà thổ và xóm cô đầu ở Đô thị lớn. Thanh niên chỉ còn một cách là nhào vô lính. Chính đám dân quê này là thành phần đông đảo trong đám binh lính và hạ sĩ quan của quân đội Nhật.

        Những thanh niên xuất thân từ các gia đình chài lưới hay nông dân nghèo khổ, ở nhà cực khổ, họ muốn vô quân đội để trốn tránh, nhưng nhiều khi cảm thấy đời sống quân ngũ cũng không phải là dễ dàng. Dưới thời Minh Trị, nhiều phái đoàn đã được phái ra ngoại quốc để tìm hiểu các quy chế tổ chức công quyền của các nước tân tiến. Trong đó các quy chế quân sự được đặc biệt chú ý. Sau cùng phái đoàn đã nhận thấy, về hải quân, mẫu mực của Hải quân Anh thích hợp cho Nhật hơn cả. Nhưng thêm vào đó, đời sống của một quân nhân hải quân Nhật còn phải chịu nhiều kỷ luật khắc khổ hơn đối với hải quân Anh rất nhiều. Sau đây chúng ta hãy nghe kể một trong những chi tiết tập luyện tại Trường Hải quân Hoàng gia Nhật Etajima :

        «Các sinh viên sĩ quan thức dậy trước rạng đông. Sau khi chào cờ, họ chạy lên đỉnh núi, và trở về dùng điểm tâm gồm có cơm với muối. Bốn giờ sau mới được dùng cơm trưa, gồm cơm với muối nữa. Luyện tập tới tối họ được ăn cơm với đậu nành. Nếp sống như vậy kéo dài trong suốt bốn năm trời.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:22:23 PM

        Về Bộ Binh, kỷ luật còn khắt khe hơn nữa. Thoạt đầu Lục quân Nhật tổ chức theo khuôn mẫu của Pháp. Nhưng sau đó thầy Pháp bị quân Phổ đánh tan tành, Nhật bèn cải tổ quân đội lại theo lối Đức. Binh sĩ Bộ Binh Nhật phải chịu những kỷ luật khắt khe nhất, kèm thêm tinh thần của một võ sỉ đạo. Các sĩ quan trước khi ra trường đều. phải qua những cuộc thi chạy bộ rất gay go. Chính Tojo cũng từng trải qua những cuộc thi đó, để thử sức chịu đựng tinh thần cũng như thể chất. Cuộc tuyển chọn binh sĩ Nhật được đặt trên một nguyên tắc rất khó khăn, với mục đích đào tạo cho quân đội những người lính hạng nhất thế giới. Sau đây là một phương pháp tuyển lính mới bằng phương pháp khổ nhục đã được tác giả Hanama Tasaki mô tả trong cuốn Đương trường luyện tập của quân đội Thiên Hoàng như sau :

        «Năm binh sĩ tiến tới hàng lính mới. Không một lời, họ dơ tay tát mạnh vô mặt từng người. Những ai không đứng yên được ở thế nghiêm khi bị tát sẽ bị đánh nhiều hơn. Sau đó, một Trung sĩ hỏi từng chú lính mới ! Anh nghĩ tại làm sao anh đã bị đánh ? Mỗi người đều có một câu trả lời khác nhau, và sau đó lại bị đánh tàn nhẫn hơn nữa. Cuối cùng có một người trả lời : «Tôi không nghĩ gì hết.» Viên Trung sĩ gật đầu : «Đúng lắm. Các anh không cần phải suy nghĩ gì hết mỗi khi bị đánh. Muốn trở thành binh sĩ của Thiên Hoàng, các anh không cần để ý tới bất cứ ý kiến hay tư tưởng chánh trị nào, nhưng chỉ biết có nhiêm vụ và lòng ái quốc. Nhiệm vụ của chúng ta là phụng sự Tổ Quốc và Thiên Hoàng. Cứ việc làm theo mệnh lệnh, không cần biết gì khác hơn mênh lệnh.»

        Cách đối xử giữa sĩ quan và binh sĩ Nhật tương tự như cách đối xử của ông chủ và gia nhân. Đó là một truyền thống đã có từ lâu đời ở Nhật. Ông chủ phải chăm lo cho gia nhân của minh về mọi phương diện, và ngược lại gia nhân phải tuyệt đối tuân lệnh của chủ. Khi mới tới chỉ huy một Trung đoàn năm 1928, Tojo họp tất cả sĩ quan trong Trung đoàn lại và tuyên bố : «Chỉ huy trưởng Trung đoàn là người cha, các sĩ quan là những người mẹ, và binh sĩ là con. Vì vậy mọi sĩ quan có bổn phận phải chăm lo cho binh sĩ của mình về mọi phương diện, kể cả những khó khăn kinh tế họ gặp phải». Bà Tojo kể lại, có lần một Trung úy tới hỏi mượn Tojo ba chục yên, lúc đó tương đương với khoảng sáu ngàn đồng VN, nhưng ông không có và phải chạy đi mượn người láng giềng. Nhưng khi đưa tiền cho Trung úy, ông vẫn nói : «Nếu cần nữa, cứ việc cho hay.» Theo Tojo, việc trừng phạt binh sĩ bằng lối tát vô mặt như vậy là một truyền thống giáo dục trong giới bình dân Nhật. Đó cũng là một phương pháp để giáo dục binh lính.

        Tojo không hề dính líu vào các hoạt động chánh trị của một số sĩ quan trong đạo quân Kwangtung đóng ở Mãn Châu, như phần đông các sĩ quan khác phục vụ tại đó. Tuy nhiên, ông vẫn theo dõi tình hình chánh trị tại đó qua lời thuật chuyên của bạn bè. Nhưng lúc nầy là một sĩ quan cao cấp đã gần bốn chục tuổi, nên Tojo chăm chú vào việc phục vụ binh nghiệp, vì vậy ít để ý tới các ý kiến về những vấn đề chánh trị đó. Tuy nhiên, tình hình biến chuyển nhiều về kinh tế, và tới lúc này Tojo mới nhận thấy binh sĩ của ông gặp những khó khăn mà ông không thế giải quyết nổi trong phạm vi quân sự.

        Cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới năm 1929, Nhật phải gánh những hậu quả trầm trọng nhất. Cảnh thê thảm diễn ra không kém gì cảnh tượng sau trận động đất sáu năm trước đó. Những hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế lần này còn lâu lắm mới có thể hàn gắn được. Chỉ có vài triệu người có lẽ không bị khổ sở vì những hậu quả của nó. Nhiều lãnh vực hoạt động bị ảnh hưởng một cách rất trầm trọng. Trong lãnh vực canh nông chẳng hạn, quá nửa số nông dân tham gia vào công cuộc sản xuất tơ lụa. Nhưng lúc này thị thường vải, lụa không còn chỗ để tiêu thụ. Thị trường tiêu thụ chánh là Hoa Kỳ đã hoàn toàn đóng cửa. Thêm vào đó là nạn mất mùa, cảnh đói sắp sửa diễn ra. Những thảm trạng xã hội trở nên trầm trọng hơn cả. Nhiều người, mặc dầu đã phải bán cả con gái cho phòng trà, hay nhà thổ, mà vẫn không đủ tiền trả nợ hay kiếm sống hằng ngày.

        Những hậu quả trầm trọng này đã làm cho các sĩ quan như Tojo, từ trước tới nay không hề để ý tới các vấn đề chánh trị và kinh tế, lúc nầy cũng phải để tâm suy nghĩ, vì những chuyện đau thương hàng ngày đập vào mắt, nhất là những vụ tự tử vì quá đói khổ. Nhiều quân nhân cho rằng những cảnh đói khổ mà toàn quốc đang phải chịu này là do lỗi ở các nhân vật chánh trị và kinh tế gây ra. Ngoài ra, họ cũng quy trách nhiệm cho Mỹ và các nước Tây phương, vì quá bo bo giữ quyền lợi của mình khiến cho nước Nhật phải chịu cảnh đói khổ.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:49:45 PM
     
        Tojo quan tâm nhiều nhất tới tình cảnh của binh sĩ dưới quyền ông. Ông họp các sĩ quan lại và ra lệnh cho họ phải tìm hết cách đừng để binh sĩ lâm vào tình trạng quá khốn khổ, vì như vậy họ không thế nào hoàn thành được nhiệm vụ giao phó. Ông cũng bảo các sĩ quan phải tìm cách hướng tinh thần binh sĩ tới tương lai tốt đẹp của đất nước, chớ đừng quá lo lắng tới những thảm trạng hiện tại mà trở thành bi quan.

        Những khốn đốn do kinh tế khủng hoảng gây ra không từ một ai. Nhiều xí nghiệp lớn phải đóng cửa, ngân hàng phá sản. Số người thất nghiệp nhiều chưa từng thấy bao giờ ở bất cứ một nước Tây phương nào. Những chánh khách lúc trước chủ trương thương thuyết ôn hòa với Trung Hoa giờ đây đều trở nên cứng rắn, vì họ nhận thấy thị trường Trung Hoa lúc này không còn phải là điều mong muốn, nhưng đã trở thành điều kiện thiết yếu để cứu vãn nước Nhật. Không những Mỹ và các nước Tây phương ngăn chận hàng hóa Nhật, mà họ còn đóng cửa thị trường cùa hàng hóa Nhật ở các thuộc địa của họ nữa.

        Chánh sách thân thiện với Trung Hoa hoàn toàn sụp đổ khi Thủ Tướng Hamaguchi, người cầm đầu bảo trợ cho chánh sách nầy bị đảng viên Đảng Hắc Long ám sát ngay tại nhà ga Tokyo, sáng ngày 14 tháng II năm 1930. Bị tuyên truyền vói những luận điệu chống Chánh phủ, dân chúng Nhật nhất định không thèm thương thuyết với bọn Trung Hoa cứng đầu nữa. Đạo quân Kwangtung ở Mãn châu lúc này đã quyết định phải hành động để tiêu diệt hết guồng máy chánh trị và các chánh khách Trung Hoa tại đây.

        Những sĩ quan trong Bộ Tham mưu ở đây đã quyết định hành động một cách khẩn cấp để đối phó với tình hình mà họ cho là sắp tuyệt vọng. Năm 1928, quân của Thống chế Tưởng Giới Thạch tiến tới biên giới Mãn châu, Viên Thống chế bù nhìn của Nhật là Chang Tso-lin bắt đầu bị Nhật nghi ngờ. Thế là ông ta bị một đơn vị quân Nhật cho nổ sập cầu khi đoàn xe lửa chở ông vừa trờ tới, Quân Nhật nghi ngờ viên Thống chế bù nhìn này đã có những liên lạc, thương thuyết ngầm với họ Tưởng, nên họ cần thanh toán ông trước. Con trai của Chang Tsolin được Nhật đưa lên kế vị làm bù nhìn cai trị Mãn châu, Nhưng một lần nữa quân Nhật lại thất vọng, vì người này cũng không hăng hái làm bù nhìn hơn cha của ông ta.

        Tổng lãnh sự Nhật ở Mãn châu điện về cho Thủ Tướng Baron Wakatsuki ở Tokyo, người kế vị Hamaguchi, cho biết : «biến cố lớn có thể xảy tới» Bức điện được đánh đi ngày 18 tháng 9 năm 1931, tức là ngày quân đội Nhật bắt đầu có những cuộc điều động trong vùng Mukden, nhưng chỉ tới tay Thủ Tướng Nhật mười ngày sau đó, làm cho Chánh phù trở nên bối rối. Tổng Trưởng chiến tranh, Tướng Minami, vội vã gởi một phái đoàn tới Mãn châu để để phòng mọi rối loạn.

        Mười giờ đêm 18 tháng Chín, một tiếng nổ lớn phát ra trên đường xe lửa gần trại quân Trung Hoa. Một toán tuần tiễu Nhật «vô tình» ở gần đó, và đã tới nơi mở cuộc điều tra. Viên sĩ quan chỉ huy toán tuần tiễu báo cáo, đường ray bị đặt mìn và lính của ông ta bị quân Tàu bắn. Thế là họ liền được lệnh tấn công vào trại binh Trung Hoa và tràn ngập trại này. Cùng đêm đó, một cuộc tấn công vào Mukden đồng thời xảy ra, và sáng hôm đó cả thành phố cũng như phi trường đều ở trong tay quân Nhật. Có rất nhiều bằng cớ cho thấy rõ ràng biến cố tình cờ này đã được quân Nhật chuẩn bị từ trước, với những khẩu trọng pháo đã được di chuyển tới vị trí tấn công từ nhiều ngày trước. Cuộc hành quân này Chánh phủ Tokyo không hề được báo trước, và về sau người ta khám phá ra, Chánh phù này cũng không có hành động gì tích cực để ngăn cản.

        Một viên chức. dân sự thuộc Tòa Tổng lãnh sự được triệu tới Bộ Tư Lệnh ở Mukden và được thông báo cho biết quân đội đã nắm quyền tại đây. Viên chức này phản đối, và cho biết cần phải tiếp tục dàn xếp với chánh quyền Trung Hoa. Đại Tá Itagaki cho ông ta biết chính quân Tàu đã tấn công trước. Vì danh dự của quân đội và của nước Nhật, bắt buộc ông phải hành động. Viên chức Tòa Lãnh Sự tiếp tục phản đối, và Đại Tá Itagaki đã hỏi có phải ông muốn xiá vô việc quân sự không, đồng thời một sĩ quan khác rút kiếm ra khỏi vỏ.

        Đặc phái viên của Tổng Trưởng Minami là Thiếu Tướng Tatekawa tới Mukden trưa ngày 19 tháng 9, và thay vì đến thẳng Bộ Chỉ Huy, ông ta lại được Đại Tá Itagaki đưa về một khách sạn, nói là để nghỉ ngơi. Sau này ông ta kể lại: «Tại khách sạn tôi đã được nhiều cô gái chiêu đãi và nghe thấy tiếng súng vọng lại xa xa. Sau một đêm ngủ ngon lành, tôi mới chợt tỉnh dậy.» Và sau đó, ông ta điện về Tokyo báo cáo, theo sự nhận xét tại chỗ của ông thì quân đội Nhật tại Mãn châu chỉ có những hành động tự vệ.

        Tổng Trưởng chiến tranh bị giữ lại tại Tokyo. Tháng Giêng năm 1932, quân Nhật từ Mãn châu đã tiến tới chân Vạn lý Trường Thành được dựng lên từ nhiều thế kỷ trước để ngăn rợ hung nô. Vài tháng sau đó, Đại Tá Doihara, một bạn thân của Itagaki được cử làm Tổng đốc Mãn châu. Vậy là xứ này từ nay hoàn toàn nằm trong tay đạo quân Kwangtung, trở thành một tiểu quốc độc lập dưới sự bảo hộ của Nhật.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:42:00 PM

CHƯƠNG IX

        Trong lúc đạo quân Kwangtung cướp chánh quyền tại Mãn Châu thì Tojo đang làm việc tại Bộ Tư Lệnh ở Tokyo. Ông cho đó là hành động riêng của nhóm quân nhân ở hải ngoại và không hề bàn tới các khía cạnh chánh trị. Đối với Tojo chỉ có công việc bổn phận hàng ngày là điều quan trọng hơn cả. Ông không hề tuyên bố gì về chánh trị cho tới lúc được bổ nhiệm vào chức Trưởng phòng Tổng Vụ của quân đội. Đây là một phòng lập ra để lo các việc giao tế liên hệ tới quân đội, và lên tiếng trình bày quan điểm của quân đội đối với những biến cố xảy ra hàng ngày. Quân đội quan tâm đến mọi vấn đề như trong một tờ truyền đơn của quân Nhật đã nói : « Chiến tranh là cha đẻ ra sáng kiến, và mẹ sanh ra văn hóa. »

        Khi nhận lãnh chức vụ này, Tojo được giao cho nhiệm vụ công bố lập trường của quân đội đối với mọi biến chuyển trên thế giới mà quân đội quan tâm đến. Ông nhận thấy các vấn đề liên quan tới quân đội rất rộng lớn. Nhưng với tánh làm việc hăng say và chăm chỉ, Tojo đã nắm vững mau lẹ và thấu triệt mọi chuyện.

        Chắc chắn trong thời gian giữ nhiệm vụ này. Tojo đã có dịp tìm hiểu về những vần đề rộng lớn, và những kiến thức đó giúp tạo ra những quan điểm của ông. Nhưng các ý kiến riêng đó, ông không bao giờ có dịp nói ra. Bởi vì lúc này ông là phát ngôn viên của quân đội, dĩ nhiên không thể nào tuyên bố về những ý tưởng cá nhân của mình, mà không bị hiểu lầm đó là lập trường chung của quân đội.

        Điều tuyên bố ông lặp đi lặp lại trong giai đoạn này là vận mạng của dân tộc Nhật trên quần đảo này đã bị đe dọa. Sự ghen ghét của Mỹ, những tham vọng của Nga, và phản ứng mù quáng của Trung Hoa khiến Nhật cần phải luôn luôn cảnh giác để phòng và trông cậy vào sức mạnh của riêng mình.

        Lúc này tình hình dần dần trở nên lắng dịu vào khoảng giữa năm 1930. Những hành động của nhóm quân nhân tại Mãn Châu đã được mọi giới mặc nhiên chấp nhặn, coi như chuyện đã rồi. Những hậu quả mà giới chánh trị lo ngại đã không thấy tới. Mỹ và các nước khác tuy có phản đối mạnh, nhưng không làm gì nhiều. Nhật rút ra khỏi Hội Quốc Liên vì bị cơ quan này phản đối hành động chiếm Mãn Châu, nhưng thực ra thì hoạt động của tổ chức, này đã bị tê liệt trước đó kể từ khi Mỹ rút ra. Trung Hoa chỉ được các nước ủng hộ bằng lời nói suông nên không thế làm gì được quân Nhật. Cuối cùng đành rút quân khỏi các tỉnh gần biên giới, để mặc cho Nhật có cơ hội thao túng về cả ba mặt chánh trị, quân sự, thương mại, bành trướng tới tận gần Bắc Kinh.

        Tại Nhật lúc này, tình hình đã sáng sủa nhiều so với cuộc khùng hoảng kinh tế năm 1929. Không ai còn tin rằng Nhật đang gặp nguy hiểm. Bá Tước Hayshi nhận định nhiều bước tiến dài đã thực hiện được kể từ cuộc chiến tranh Hoa - Nhật năm 1895. Dù sao nước Nhật giờ đây cũng đã trở thành một nước kỹ nghê tần tiến. Ngoại trừ các thôn ấp hẻo lánh, xa xôi, dân chúng Nhật tại những vùng đông đảo đã có một mức sống ngang hàng với các nước Tây phương. Những nơi dù hẻo lánh nhất cũng đều có điện. Tuy nhiên Nhật vẫn chưa so được với các quốc gia tiên tiến Tây phương. Vì những phát triển kinh tế dựa vào kỹ nghệ chưa được đồng đều. Nhiều nơi dân quê còn đói khổ, không tiến lên được và phải chịu thuế nặng. Nhưng dân Nhật thường lấy làm hãnh diện khi so sánh họ với đa số dân của các nước Á châu khác, nơi thì bị đô hộ, nơi thì nghèo đói cùng cực hơn họ nhiều.

        Sự phát triển của Nhật theo nếp sống Tây phương không làm cho mọi người đều hài lòng. Có nhiều chuyện cửa Tây phương đã du nhập vô Nhật khiến những người quan tâm đến truyền thống văn minh của dân tộc cho là nguy hiểm. Vào cuối năm 1920 và đầu năm 1930, người ta thấy xuất hiện trong đám thanh niên nam nữ Nhật những nếp sổng được mệnh danh là « tình ái, phóng túng, vô nghĩa. » Chẳng hạn đám con gái mới được gọi là moga, do chữ Modern garu, thường mặc váy ngắn cũn cỡn, quần áo lòe loẹt, môi son má phần, tóc hót ngắn, cùng với đám con trai mobo do chữ Modern boya, cũng ăn mặc lập dị, dắt tay nhau đi ngoài phố hôn hít theo kiểu các tài tử trên màn ảnh vừa mới được nhập cảng.

        Ngoài những chuyện tình ái phóng túng, vô nghĩa, thanh thiếu niên Nhật còn say mê những loại âm nhạc Tây phương như Jazz, các kiểu « sô » như Mon Paris. All Girl Troupes được Takarazuka đưa lên sân khấu. Ngoài ra đám thanh thiếu niên Nhật cũng khoái nhảy đầm, thích phim Charlie Chaplin, nhạc tango Argentine và những bài ca ngoại quốc khác, tranh, tượng ngoại quốc cũng được ưa chuộng. Tệ hại hơn nữa là bọn thanh niên mệnh danh là Marx boaya, bọn này để râu tóc bờm sờm, bù xù, mặc đồng phục, đội nón lưỡi trai với đầu óc chứa đựng nhiều tư tưởng cấp tiến


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:42:34 PM
   
        Tầt cả những hiện tượng trên được coi là phạm thuần phong mỹ tục, lố lăng, đe đọa văn hóa dân tộc. Hơn thế, các chánh khách bảo thủ còn coi đó là mối nguy hiểm cho quốc gia. Chế độ cộng sản ở Nga sau khi được cùng cố, các nhà lãnh đạo Sô viết liền tung cán bộ đi khắp nơi trên thế giới hoạt động tuyên truyền, phá uy tín của chánh phủ địa phương. Vùng hoạt động được họ chiếu cố nhiều nhất là Viễn-Đông. Những tư tưởng cấp tiến cũng bắt đầu tiêm nhiễm vào đầu óc của đám sĩ quan trẻ. Đối với họ, sự nghiêng về chủ nghĩa xã hội chỉ là bước đầu để tiến tói một triết lý quốc gia và xã hội chủ nghĩa. Đám này bị coi là phe tả, được sự ủng hộ của Nga sô, và vì vậy bị mọi người lên án là những kẻ phản quốc. Hơn nữa, những sĩ quan trẻ mới du học ở các trường quân sự từ Đức trở về bị ám ảnh bởi những thành công Hitler đã đạt được với cách tổ chức của Đệ tam Quốc xã. Họ cho rằng nước Nhật cũng cần có một chánh phủ mạnh và có những tổ chức tương tự như vậy. Những sĩ quan trẻ này cùng với các nhân vật dân sự ái quốc quá khích cho rằng đã đến lúc phầi dẹp bỏ chánh thể dân chủ với quốc hội lôi thôi, để tổ chức một chánh phủ mạnh như kiểu của Đức quốc xã. Nhưng họ vẫn chưa đồng ý vói nhau ở một điếm, đó là chánh phủ đó phải được thành hình như thế nào.

        Nhóm thứ nhất chủ trương chánh phủ đó là một chánh phủ quân sự hợp với nhân dân tạo ra trong một phương thức độc đảng và dùng chiến tranh làm phương tiện phát triển kinh tế. Giống như hầu hết các sĩ quan cao cấp khác, Tojo ủng hộ nhóm này. Nhóm thứ hai do Tướng Araki cầm đầu. Ông ta là một thứ ái quốc quá khích, trước đây từng làm Tổng Trưởng chiến tranh, và được coi là con người hét ra lửa. Chủ trương của nhóm này là lập một chánh phủ mạnh, xóa bỏ hẳn các đảng phái chánh trị, các công ty thương mại lớn, không để cho những tổ chức thối nát đó ảnh hưởng tới chánh trị và đường lối của chánh phủ. Chánh phủ này sẽ có sứ mạng bành trướng Đế quốc Nhật, đặt tin tưởng vào một sứ mạng linh thiêng của dân tộc Phù tang. Nhổm này được các chánh khách ái quốc quá khích và đám sĩ quan trẻ nhiệt liệt hoan nghênh. Và dĩ nhiên, khối cần nói ai cũng biết, cả hai nhóm trên đều tuyệt đối trung thành, phục vụ cho Thiên Hoàng,

        Những âm mưu tiêu diệt đảng phái chánh trị để thành lập chính phủ quân nhân không hề được ai biết tới, cho tới tác xảy ra vụ ám sát Thủ tướng dân sự chủ trương ôn hòa Hamaguchi. Sau đó, đảng Hẳc Long thi hành một loạt các cuộc ám sát và khủng bố khác. Bác sĩ Okawa và Đại tá Hashimoto từ Mãn châu trở về nước lập kế hoạch thực hiện một loạt khủng bố vào ngày 20 tháng 3 năm 1932, nhằm đưa Tổng Trưởng chiến tranh là Tướng Ugaki lên cầm đầu chánh phủ, nắm chánh quyền. Tham dự vào âm mưu ngày 20 tháng 3 này còn có Tướng Sugiyama, Thứ trưởng bộ chiến tranh và Tướng Koiso, Trưởng phòng Tổng vụ Lục quân. Theo kế hoạch này thì những cuộc bạo động, biểu tình sẽ được tổ chức khắp nơi, những người nghe diễn thuyết được uống rượu sake khỏi trả tiền. Sau đó đoàn biểu tình sẽ tới bao vây Thượng viện. Để bảo vệ cho Thượng viện, quân đội sẽ tới bao vây xung quanh tòa nhà này. Cuối cùng Tướng Koiso hoặc Tatekawa sẽ xuất hiện để yêu cầu toàn thể nội các từ chức để vãn hồi trật tự. Những giai đoạn chuẩn bị cho âm mưu này đã được những sĩ quan trẻ tham gia hăng hái trong thời kỳ Tướng Ugaki, Tổng trưởng Chiến tranh, phải nghỉ dưỡng bệnh từ năm 1931. Tướng Ugaki hầu như không biết gì về âm mưu này, cho tới lúc ông gặp Bác sĩ Okawa theo lời yêu cầu của Tướng Koiso. Trong cuộc gặp gỡ này, Ugaki chỉ cho Okawa biết là một quân nhân, ông không thể tham dự vào các hoạt động chánh trị, mặc dầu ông nhận thấy các đảng phái chánh trị nhiều khi đã tỏ ra không theo đúng đường lối của dân tộc. Okawa cho rằng Tướng Ugaki có cảm tình với âm mưu của mình. Nhưng trong lần tiếp xúc vào đầu tháng Ba năm 1932, Ugaki đã tỏ ra dè dặt. Ông ra lệnh cho Tướng Sugiyama và Koiso không được dính líu vào những âm mưu đó Đại tá Nagata không thành công trong việc thuyết phục những sĩ quan lục quân tham dự. Nhất là Tướng Mazaki, Tư lệnh Sư đoàn I, dọa sẽ chống lại bất cứ âm mưu đảo chánh nào, dù người cầm đầu là ai và ở cấp bậc nào.

        Từ đó Nagata thâm thù Tướng Mazaki. Thế là âm mưu đảo chánh vào tháng Ba năm 1932 không thành. Một điều được tiết lộ trong cuốn sách nhan đề Ẵm mưu tại Mukden, tác giả Yoshihashi cho rằng chính Hideki Tojo là một trong những người ủng hộ Nagata. Điều đó nếu có cũng không lạ, vì hai người vốn là bạn học cùng khóa với nhau tại Trường Tham mưu, và hơn nữa, lúc đó Tojo lại làm việc chung một sở với Nagata tại văn phòng Tổng vụ lục quân. Không biết có dính líu vào âm mưu đó hay không, nhưng có điều là kể từ đó, tuyệt nhiên người ta không thấy Tojo tham dự vào bất cứ hoạt động chánh trị nào nhằm lật đổ chánh phủ. Vụ âm mưu trước đây trong đám hỏa mù của chánh trị và các âm mưu, người ta cũng chỉ căn cứ vào suy đoán mà cho rằng Tojo có tham dự, nhưng thực ra không thấy bằng cớ nào rõ rệt về điều đó. Âm mưu bất thành trên đây khiến các sĩ quan thuộc lớp đứng tuổi từ nay đè dặt không để cho các sĩ quan thuộc nhóm quá khích của Tướng Araki giữ những chức vụ liên quan tới chánh trị tại Bộ chiến tranh hay trong Nội các nữa.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:43:48 PM

        Đại tá Hashimoío và Bác sĩ Okawa thất bại với âm mưu tháng Ba, họ lại định tổ chức một âm mưu khuynh đảo chánh phủ khác diễn ra vào tháng 10 năm đó. Lần này kế hoạch được hoạch định tỉ mỉ để quét sạch các Tổng trưởng quan trọng trong chánh phủ và đưa Tướng Araki lên cẩm đầu Nội các. Nhưng một lần nữa, âm mưu lại bị bại lộ, nguyên do cũng vì những hành động hấp tấp, thiếu kín đáo của Bác sĩ Okawa. Trước ngày khởi sự, các sĩ quan tham dự đều bị bắt hết. Tuy nhiên họ chỉ bị đổi đi xa khỏi Tokyo, mà không hề bị đưa ra tòa.

        Bọn quá khích thất bại trong âm mưu đảo chánh hai lần, họ cay cú và quyết định lập một danh sách thủ tiêu dần những nhân vật họ cho là nguy hiềm cho quốc gia. Một danh sách thật dài nhiều thương gia, nhân viên chánh phủ, chánh khách bị họ cho vô sổ đen. Mở đầu loạt ám sát kề từ năm 1932 là cái chết của Inoue, một cựu Tổng trưởng, và viên giám đốc của Kỹ Thương Đế quốc Ngân hàng Mitsui là Baron Dan. Cựu Thủ tướng Inukai, bảy mươi lăm tuổi đứng ra cầm đầu một cuộc hòa giải với Trung Hoa. Sau nhiều lần bí mật tiếp xúc với các viên chức người Tàu, ông đã xin Nhật Hoàng ra lệnh cho quân đội giới hạn mọi hoạt động xô xát trực tiếp ở biên giới. Nhưng sau đó, ông bị ám sát và công cuộc vận động này bị bỏ dở. Cũng trong thời gian này bom nổ tứ tung, những cuộc ám sát và khủng bố xảy ra khắp nơi do những nhóm quá khích thực hiện. Trạm cảnh sát, ngân hàng, tư dinh viên chức chánh phủ, trạm điện đều bị nhóm này đặt bom. Nhưng sau đó bọn ám sất bị bắt hết, kể cả Bác sĩ Okawa, và tất cả chỉ bị tù, chớ không có án tử hình nào.

        Việc dung tha các sĩ quan trong âm mưu đảo chánh tháng Ba và tháng Mươi khiến cho dư luận sợ rằng những rối loạn trên đây rồi sẽ đưa tới việc quân đội chuẩn bị lên nắm chánh quyền. Các Tướng lãnh cao cấp cũng luôn luôn cho rằng hành động của nhóm sĩ quan trẻ tuy đáng tiếc, nhưng chỉ là biểu lộ của tinh thần yêu nước tích cực. Nguyện vọng của họ là muốn được thấy đất nước thoát khỏi những đe dọa của các phe nhóm chánh trị, và muốn có một sự liên kết chặt chẽ giữa nhân dân và quân đội để đưa Tổ quốc tới những chiến thắng vinh quang. Lúc này cả hai phe Tướng lãnh đều muốn lợi dụng sự hăng say của các sĩ quan trẻ, quá khích. Trò chơi nguy hiểm trên đây đã chấm dứt vào tháng 8 năm 1935, với nhũng hậu quả tai hại cho cả hai phe.

        Lúc này Hideki Tojo đã rời văn phòng Tống vụ Lục quan, đi chỉ huy một Trung đoàn ở miền Nam. Bạn thân của ông, Tướng Nagata vẫn còn ở lại đó. Vào tháng 11 năm 1934, quân cảnh đột nhiên bắt giữ năm, sáu sĩ quan Bộ Binh và buộc tội họ âm mưu ám sát các chánh khách. Những ngươi này bị đem ra xử kín tại một Tòa án mặt trận. Nhưng vào khoảng giữa tháng Năm, những người này lại đột nhiên được thả một cách bí mật và được miễn tố. Hình như Tướng Mazaki đã can thiệp vào việc này. Lúc đó ông đang làm Tổng cục trưởng Tổng cục quân huấn. Õng có cảm tình với phe sĩ quan trẻ của Tướng Araki.

        Tháng Tám năm đó, Tướng Mazaki bắt buộc phải từ chức. Hình như Bộ Tổng Tham mưu không bằng lòng về việc các sĩ quan trẻ quá khích được tha. Một Tướng khác thuộc phe Tướng lãnh già được cử thay thế Mazaki. Mặc dầu người yêu cầu ông từ chức là Tổng trưởng chiến tranh, Tướng Hayashi, nhưng Mazaki nhất định cho rằng kẻ hạ ông chính là Tướng Nagata, người đã thù ông từ trước kia,

        Ngày 12 tháng Tám, một sĩ quan dưới quyền Mazaki vả thuộc phe sĩ quan trẻ là Trung tá Aizawa bị tình nghi có dính vào âm mưu đảo chánh và bị thuyên chuyển đi xa, Ông này trước khi lên đường, xách kiếm tới nhà Tướng Nagata và hạ sát ông ta.

        Việc này gây xúc động cho các sĩ quan thuộc phe già. Hộ thấy nhóm sĩ quan trẻ quá khích không những nhằm vào các chánh khách, mà bây giờ lại còn thù tiêu luôn cả những chiến hữu của họ nữa. Khổ hơn nữa, là chính Nagata: trước đây từng là người bênh vực hành động của nhóm sĩ quan trẻ này, cho rằng chỉ vì lòng ái quốc mà họ đã hành động như vậy. Sau vụ ám sát Nagata thì không còn chuyện tha thứ như vậy nữa. Aizawa đã bị xử và mặc dầu nhiều người có cảm tình bênh vực, ông ta vẫn lãnh án tử hình.

        Nagata chết, Tojo mất một người bạn thân, Chính Nagata là người vẫn tin rằng sau này Tojo sẽ tiến xa trong đời binh nghiêp. Sau cái chết của Nagata, nhiều biến cố dồn dập xảy tới khiến Tojo tiến xa hơn những dự đoán của bạn ông trước đây, Trong lúc vụ án Aizawa đang tiến hành thì các Tướng lãnh cao cấp đã siết chặt kỷ luật của quân đội. Nhiều sĩ quan khác trong nhóm trẻ quá khích bị thuyên chuyển khỏi Thủ đô. Những đơn vị bị coi là có nhiều thành phần sĩ quan này bị đưa đi phục vụ ở ngoại quốc. Hideki Tojo lúc này tỏ ra đắc lực và được tin tưởng nên đã thăng Thiếu Tướng và được giao một nhiệm vụ quan trọng nhất của quân đội. Tháng 10 năm 1935, ông xuống tàu đi chỉ huy một đạo quân ở Mãn châu. Đạo quân này về sau trở nên danh tiếng và được đặt tên là Kempeitau


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:44:10 PM
        
CHƯƠNG X

        Sau khi đổi tên Mãn châu thành Manchukuo và đặt một ông Vua bù nhìn, Nhật tưởng rằng có thể biến xứ này thành một nước độc lập. Nhưng sự thực là điều đó không che mắt được ai. Mọi người, kể cả những nước trong khối phát xít, cũng đều biết rằng đạo quân Kwangtung của Nhật, được điều khiển bởi Chánh phủ ở Tokyo, đã chiếm cứ và khai thác vùng đất đó. Những người cai trị thực sự nơi đây là một nhóm doanh thương, tài phiệt Nhật, hợp với những nhân viên dân chính và quân sự. Trung Tướng Itagaki, người đã tích cực tham gia vào các biến cố năm 1931, được coi là nhân vật nắm quyển tối cao tại đây.

        Khi tới cầm đầu cơ sở Hiến binh tại Mãn châu, Tojo đã tỏ ra là người chỉ biết có công vụ, ngoài ra ông không hề tham gia hay ủng hộ phe nhóm chánh trị nào. Đạo quân Hiến binh Kempeitai của ông chỉ có mục đích duy nhất là duy trì an ninh và trật tự tại vùng này. Thực ra, với trách vụ giữ gìn an ninh, Tojo có thể giải thích rất rộng cho quyền hành của ông. Tại Bộ Chỉ Huy của ông, được đặt trong một tòa nhà có tường gạch đổ, Tojo thiết lập đầy đủ các hồ sơ về mọi hoạt động công, tư và lưu ý theo dõi những hành vi có thể đe dọa quyền hành tại đây. Điều đó không có nghĩa là Tojo đã thiết lập một thứ cảnh sát đặc biệt như kiểu của Himmler tại Đức. Tuy nhiên tại một xứ đầy những âm mưu hàng ngày như Mãn châu, và vấn đề an ninh trở thành mối quan tâm hằng ngày, thì việc biến đoàn Hiến binh Kempeitai thành một tổ chức cảnh sát là điều không thể nào tránh được. Ngay tại Tokyo, khi tình thế biến chuyển mạnh, người ta cũng phải lập một đạo quân điều hành và hoạt động tương tự như vậy

        Vào năm 1936, những người chán ngán cảnh lố lăng của đám thanh thiếu niên Nhật bắt chước Tây phương được xem một vở tuồng cải lương họ rất thích, đó là tuồng Bốn mươi bảy Hiệp sĩ trung thành. Năm 1701, sứ quân Asano, cai quản vùng Ako, bị những người âm mưu ám hại ông dụ tới Cung điện của Mạc phù và khiêu khích để ông rút kiếm đánh bị thương một nhân vật của Mạc phù là Kira. Vì tội đó, Asano bị tịch thu hết gia sản và xử tù. Bốn mươi bảy hiệp sĩ từ trước tới nay phục vụ cho Asano, bây giờ chủ chết, họ trở nên lang thang, không nơi nương tựa. Thủ lãnh những người này là Oishi liền nghĩ cách trả thù cho chủ. Muốn vậy, ông ta phải nghĩ mưu làm cho kẻ thù tưởng rằng họ sống trong điểu kiện hoàn toàn an ninh, rồi sau đó mới bất thần ra tay. Oishi và các bạn của ông tản mát mỗi ngươi một nơi, làm ra vẻ như hoàn toàn tan rã. Người thì đi buôn bán, người thì làm công. Riêng Oishi, ông giả đò say sưa tối ngày và sống chung với một gái điếm. Trong suốt ba năm trời họ sống khổ sở như vậy đề đánh lừa Kira. Cuổi cùng, vào một đêm giông bão, bốn mươi bảy hiệp sĩ đã bí mật tụ tập và bất ngờ tấn công vào Lâu đài của Kira, giết được ông này. Họ cắt đầu Kira đem tế trước mộ chủ cũ tại đền Sengakuji, sau đó, sứ mạng báo thù coi như đã xong, tất cả các hiộp sĩ đều tự tử bằng cách mổ bụng.

        Vở kịch này diễn đi diễn lại được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Khán giả phần lớn đều xúc động xụt xùi trước cảnh các hiệp sĩ tự vận. Vở bi kịch này phần nào đã nói lên cái triết lý trung thành với vua, trọng danh dự, hy sinh cho lý tưởng, và trở thành hình ảnh khuôn mẫu cho thanh niên Nhật noi theo.

        Cảnh bi thảm, bạo hành, quá khích của vở kịch đã được diễn ra thực sự ngay trong thực tại vào sáng ngày 26 tháng 2 năm 1936. Trong đêm đó, binh sĩ của Trung đoàn I sau khi được lệnh thuyên chuyển đi khỏi Tokyo vì bị nghi có dính líu tói các cuộc bạo động, đã bất thần hạ sát một loạt nhiều viên chức chánh phủ và định cướp chánh quyền, Trung đoàn này trước đây đã có lúc do Tojo chỉ huy.

        Được cầm đầu bởi các sĩ quan trẻ, người có cấp bậc cao nhất là Đại úy, các binh sĩ Trung đoàn này đã săn đuổi các nạn nhân của họ suốt một đêm. Bọn lính xông vô hạ sát gia nhân, cảnh sát và tất cả những ai cản đường họ. Chúng giết Nam tước Saito, cựu chưởng ấn của Thiên Hoàng, Tổng trướng Tài chánh Takahashi, Đại tá Watanabe, Tổng thanh tra quân huấn. Chúng tấn công tư dinh Thù tướng, Đô Đốc Okawa, giết người em rể ông này, có lẽ vì lầm ông ta với Đô Đốc. Okawa núp dưới gầm bàn nước và sau đó trốn qua cửa sau. Đô đốc Suzuki bị thương nặng, chúng tưởng ông đã chết, nhưng sau đó được cứu sống.

        Trong danh sách nạn nhân của chúng còn có cả Quận công Makino, cựu chưởng ấn, và Hoàng tử Saionji, một trong những cố vấn của Minh Trị Thiên Hoàng, còn sống sót. Ông là một nhân viên thuộc cơ mật viện của Minh Trị và đã dự vào những quyết định quan trọng của Thiên Hoàng. Gia nhân và cảnh sát đã liều chết chiến đấu để Quận công Makino trốn thoát. Hoàng tử Saionji, tám chục tuổi, cũng được cảnh sát đem đi trốn ở một nơi an toàn.



Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2018, 11:40:42 PM

        Trước khi trời sáng, quân nối loạn đã chiếm xong Bộ Chiến tranh, tư dinh của Thủ tướng, Bộ Tư lệnh cảnh sát, Tòa án, trụ sở Thượng viện, các Bộ Tư lệnh Lục quân, Hải quân và tòa soạn các Nhật báo. Chúng đóng bao quanh Hoàng cung, nói là những binh sĩ trung thành của Thiên Hoàng. Chúng ra tuyên ngôn kêu gọi giải tán Quốc hội, và tố cáo các chánh khách, thương gia, viên chức chánh phủ. Những người này bị buộc tội cản bước tiến của nước Nhật trong việc hoàn thành sứ mạng cao cả. Họ đã lừa dối Thiên Hoàng, và những binh sĩ nổi loạn có bổn phận phải hành động đuổi bọn cố vấn gian giảo đó ra khỏi Hoàng cung.

        Những điều tuyên bố đó rất phù hợp với lập trường của các Tướng lãnh vẫn thường nói. Do đó loạn quân hy vọng rồi đây các Tướng lãnh này sẽ theo về phe họ. Bộ chỉ huy của loạn quân được đặt tại khách sạn Sanno. Chúng kêu gọi quân đội các nơi đứng lên hưởng ứng cách mạng, và chờ đợi sự gia nhập của các Tướng lãnh cao cấp. Nhưng sự chờ đợi đó không bao giờ được thỏa mãn.

        Nếu các Tướng lãnh có muốn hưởng ứng, họ cũng phải chờ đợi xem tình hình ngã ngũ ra sao. Nhật Hoàng bị đặt trước một tình trạng cấp bách : toàn thể chánh phủ tê liệt, các nhân viên nội các còn sống sót đang phải ẩn núp bên trong Hoàng cung, có binh lính bao vây xung quanh. Thiên Hoàng Hirohito do đó cẩn phải làm một hành động hiếm có : can thiệp vào chánh tình khẩn trương. Ngài cho triệu Tổng trưởng chiến tranh tới và tuyên bố những binh sĩ tự nhận là trung thành với Thiên Hoàng chỉ là loạn quân cần phải bị trừng trị. Đó là quyết định dứt khoát của Thiên Hoàng.

        Quân đội từ bên ngoài thủ đô được lệnh tiến vô thành phố. Hải quân đóng trong vịnh Tokyo cũng được đưa vào chiếm đóng các cứ điểm quan trọng, bao vây loạn quân vào một khu. Truyền đơn của máy bay Hải quân rải xuống kêu gọi quân phiến loạn đầu hàng. Các Tướng lãnh tới điều đình khuyên loạn quân đầu hàng và cho họ thời hạn suy nghĩ trong ba ngày. Các lãnh tụ loạn quân được phép tự tử theo nghi thức võ sĩ đạo. Mười tám cỗ quan tài, và mười tám thanh kiếm được gởi vào cho họ.

        Ngày 29 tháng Hai, loạn quân hoàn toàn bị thanh toán. Ngoài một số tự tử, những người còn lại đều bị đưa ra tòa quân sự mặt trận. Tuy nhiên chúng tin rằng việc làm của mình là một hành động ái quốc, mặc dầu không được hưởng ứng, nhưng đã gây một tiếng vang tại Thủ đô, và họ hy vọng sẽ được giảm khinh khi ra tòa.

        Phiên tòa đã xử kín, tin tức bị kiếm duyệt đối với báo chí cũng như đài phát thanh. Kết quả có mười ba người bị xử tử, mười tám người khác bị tù dài hạn. Những người khác, trong đó có nhiều hạ sĩ quan, bị phạt tù hoặc thuyên chuyển. Có hai mươi sĩ quan bị phạt thuyên chuyến tới Mãn châu. Tại đây họ được đạo quân Kwangtung ờ Mãn châu đón tiếp như những vị anh hùng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2018, 11:41:49 PM

CHƯƠNG XI

        GIỚI quân sự cũng như dân sự ở Mãn châu, khi nghe được tin biến loạn ở Tokyo, đã tỏ ra vô cùng bối rối. Một điện văn của phe nổi loạn được gởi tới Bộ Tư lệnh quân sự Mãn châu, kêu gọi các binh sĩ ở đây hưởng ứng cách mạng. Các điện văn kêu gọi tương tự như vậy được gởi tới khắp các đơn vị chớ không riêng gì Mãn châu. Chỉ huy quân sự tại đây là Tướng Itagaki bị đặt vào một tình trạng khó xử. Với những thành tích trong quá khứ, từng thực hiện nhưng âm mưu và biến động quân sự, người ta tưởng là ông sẽ mau mắn hưởng ứng hành động của nhóm quân nhân tại Tokyo. Với lực lượng hùng hậu trong tay, nếu ông chịu ủng hộ thì cán cân có thể nghiêng về phía loạn quân, và có thế lôi kéo theo một sổ Tướng lãnh khác.

        Dầu muốn làm gì đi nữa, chắc chắn ông cũng phải bàn với Tojo hiện đang nắm cơ sở Hiến binh Kempeitai tại đây. Lực lượng an ninh trong tay Tojo là chìa khóa an ninh tại lãnh thổ này. Sự cộng tác của Tojo là điều rất cần thiết. Trước khi quyết định, chắc chắn Itagaki cũng phải dò xem thái độ của Tojo phản ứng ra sao, nếu ông ra lệnh ủng hộ quân nổi loạn.

        Itagaki hình như ngạc nhiên trước cuộc chánh biến do nhóm sĩ quan trẻ gây ra tại Thủ đô. Hình như ông không muốn dính líu vào âm mưu lật đổ chánh phủ không được chuẩn bị chu đáo đó. Đồng thời, dù ý kiến có thế nào đi nữa, thì bắt buộc Itagaki cũng phải quan tâm đặc biệt tới Cuộc chánh biến đó. Ông thừa biết rằng có rất nhiều sĩ quan trẻ tại đây — trong đó có những người cấp bậc cao — có thể tự ý hành động đáp lại lời kêu gọi của quân nổi loạn. Vì vậy, sau khi tuyên bố tình trạng khẩn trương, Itagaki ra lệnh cho Tojo áp dụng mọi biện pháp cần thiết để duy trì trật tự.

        Lập tức, Tojo hành động một cách mau lẹ và hữu hiệu. Với những hồ sơ đã có sẵn tại cơ quan Hiến binh Kempeitai, ông biết rõ từng thành phần và nhận diện rõ rệt tất cả những nhân vật dân sự cũng như quân sự có thể dính líu với quân phiến loạn. Thế là chỉ sau một mẻ lưới. Tojo tóm gọn tất cả những phần tử nguy hiểm. Do đó tình hình Mãn châu hoàn toàn yên tĩnh, tránh cho địa phương cũng như quốc gia những chuyện nguy hiểm có thể xảy ra.

        Tất cả những hành động đó, Tojo chỉ thi hành vì bổn phận và đã hoàn tất trước khi những lời tuyên bố lên án quân phản loạn của Thiên Hoàng bay tới Mãn châu. Bề ngoài, Tojo có vẻ cương quyết thi hành nhiêm vụ, nhưng bên trong ông vô cùng xúc động, vì một số lớn những sĩ quan tham gia vào vụ này là những sĩ quan dưới quyền chỉ huy của ông xưa kia, những người ông từng hiếu rất rõ, và cho rằng họ không thể nào có những hành vi bạo động như vậy. Lúc đó, bà Tojo hiện cũng ở Mãn châu với ông và năm người con. Tojo đã tâm sự với vợ : « Có lẽ họ cảm thấy mình bị dồn vào bước đường cùng, nên bắt buộc phải hành động». Những cái chết đó, cũng như cái chết của Nagata trước đây đã ảnh hường không ít tới binh nghiệp của Tojo.

        Bộ chỉ huy cao cấp lục quân, xúc động trước sự bạo động của đám loạn quân, đã nhiệt liệt khen ngợi hành động khôn khéo và hữu hiệu của Tojo. Họ cũng nhận ra giá trị của ông là một sĩ quan chăm chỉ, đứng đắn, chỉ biết có nhiệm vụ và binh nghiệp, Đầu năm 1937, Hideki Tojo được vinh thăng Trung Tướng và thay Itagaki giữ chức Tư Lệnh Đạo quân Kwangtung tại Mãn châu,

        Các giỏi chức cao cấp trong quân đội đã chọn ông vào chức vụ quan trọng đó vì họ nhận thấy Tojo là người đáng tin cậy, chỉ biết tận tụy với binh nghiệp, không hề dính líu tới những hoạt động chánh trị trước đây. Những đặc tính đó đã phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn tỉ mỉ người vào chức vụ chỉ huy đoàn quân Kwangtung quan trọng này. Nhưng có một sự kiện đã bị bỏ qua hoặc không nhận định đúng tầm mức quan trọng của nó, đó là chức vụ Tư Lệnh đạo quân đóng tại Mãn châu là một chức vụ hàng ngày có những quyết định liên quan tới chánh trị. Đề điều hành đời sống tại đây, Tojo, ngoài những kiến thức về quân sự có sẵn, còn phải học hỏi thêm về những vấn đề chánh trị liên quan tới đời sống dân sự. Hai nhân vật đã giúp ông rất nhiều trong công việc điều hành bộ máy hành chánh ở đây là Nobusuke Kishi, Trưởng phòng Kinh tế Mãn châu, và Yosuke Matsuoka, chủ tịch Công ty hỏa xa Nam Mãn. Chính ông này là nhân vật đã từng cầm đầu phái đoàn Nhật tại Hội Quốc Liên để biên hộ cho hành động xâm chiếm Mãn châu của Nhật. Hai nhân vật trên đây đã hợp tác với Tojo trong việc điều hành chánh quyền Nhật tại Mãn châu, đối phó với những ngày sôi động trong giai đoạn sắp tới,

        Trong chức vụ Tư Lệnh Đạo quân Mãn châu, Tojo cũng phải chuẩn bị quân đội của ông luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đối phó với Nga và Tàu ở ngay sát nách. Ông phải luôn luôn canh chừng mọi động tĩnh của hai lực lượng láng giềng này. Nhất là đối với Trung Hoa, sự hiện diện của Nhật tại Mãn châu luôn luôn là một cái gai trước mắt, có thể nhổ đi bất cứ lúc nào.

        Trên chiến lược quân sự, Tojo đặt căn bản vào việc ổn định mặt Trung Hoa trước để lo đối phó đạo quân Viễn Đông của Nga sau. Nếu một khi những biến động xảy ra tại vùng này, đạo quân Mãn châu của Nhật sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc yểm trợ cho các Lộ quân viễn chinh tại Trung Hoa.

        Tình hình lúc này đang biến chuyển rất nhanh. Những thành phẩn hiếu chiến như Itagaki, Doihara, từng âm mưu đánh chiếm Mãn châu trước kia, hiện đang có mặt tại miền Bắc Trung Hoa để chuẩn bị những hành động tương lai. Trong lúc đó chánh quyền dân sự Nhật hầu như không còn đủ sức kiểm soát các đạo quân ở hải ngoại. Ngay ở trong nước, sự kiểm soát của phe dân sự hình như cũng đang dần dần trở nên lỏng lẻo, và tình hình đang tiến tới chỗ lập một chánh quyền độc đảng với quân đội làm nền tảng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Chín, 2018, 11:43:12 PM

CHƯƠNG XII

        Đối với những người Nhật có tư tưởng tự do và quan niệm rằng bọn quá khích đã bị tan rã hàng ngũ sau cuộc đảo chánh thất bại của nhóm sĩ quan trẻ, không bao lâu họ đã nhận thấy quan niệm đó là một điều sai lầm. Một trong những người bị vỡ mộng chính là Shigeru Yoshida, chánh khách thuộc Bộ Ngoại giao.

        Nội các của Thủ Tướng Okada đã từ chức sau cuộc biến loạn. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp từng nắm giữ chức Tổng trưởng ngoại giao trước đây là ông Koki Hirota được mời lập nội các mới. Hirota là người muốn làm sống lại một chánh phủ dân sự, tự do, độc lập với phe quân sự. Õng ta được sự bảo trợ của Chúa đảng Hắc long là Toyama, và chính ông cũng có tên trong đảng này. Tuy nhiên, nội các mới của ông dự định thành lập gồm một số nhân vật ôn hòa, trong đó có Yoshida được mời giữ Bộ Ngoại giao trong tân nội các. Nghe được tin này, phe Tướng lãnh vội vàng trình bày quan điểm của quân đội, và cho thấy rõ họ muốn can thiệp trực tiếp vào các sinh hoạt chánh trị.

        Tướng Terauchi, người đã được chỉ định giữ Bộ Chiến tranh trong tân nội các, cùng với Tướng Yamashita và một số Tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham mưu, bất thần xuất hiện trong một phiên họp thảo luận việc lập nội các mới. Mấy ông Tướng này nói thẳng cho Thủ Tướng Hirota biết : « Các quân nhân nghe được tin nói rằng có nhiều nhân vật không có cảm tình với quân đội đã được mời vào nội các. Nếu sự thật như vậy, quân đội sẽ cực lực phản đối điều đó. » Trong tập Hồi ký sau này Yoshida đã viết: « Tôi cảm thấy ngay họ muốn ám chỉ mình, và vội vàng cải chánh tôi không hề có ý định tham gia tân nội các. »

        Sau cùng nội các mới do Thủ Tướng Hirota cầm đầu được thành lập xong, gồm toàn những nhân vật đã được Tướng Terauchi chấp thuận, và quá nửa ngân sách quốc gia được dùng để chuẩn bị chiến tranh. Nghiêm trọng hơn nữa là từ nay phe quân nhân trong chánh phủ có quyền phủ quyết đối với những vấn đề quan trọng không được họ đồng ý. Thủ tướng Hirota đã chấp nhận yêu sách này khi ông thỏa mãn lời yêu cầu của phe quân nhân đòi hỏi các Bộ chiến tranh và Hải quân phải giao cho các sĩ quan hiện dịch. Ngay cả thời Minh Trị, yêu sách đó đã nhiều lần bị bác bỏ.

        Xưa kia Minh Trị là người trực tiếp kiểm soát Quân đội, tuy vậy Ngài cũng không muốn để cho phe quân nhân tham dự trực tiếp vào chánh trị, vì đó là một nguyên tắc gây ra nhiều chuyện rắc rối tệ hại. Những lầm lẫn lúc này đã trở nên vô cùng nghiêm trọng. Nhật Hoàng Hirohito là người thích sống ẩn dật, không muốn trực tiếp tham dự vào công việc chánh trị trong nước. Theo lời khuyên của Hoàng tử Saionji, người đã từng làm cố vấn cho vua Minh Trị trước đây, Ngài muốn giữ tư thế vượt lên cao khỏi những sinh hoạt chánh trị đã được giao cho chánh phủ và quốc hội, theo đúng Hiến pháp Quân chủ lập hiến của nước Nhật. Đó là địa vị tôn quý, giống như «Cánh hạc bay trên mây xanh».

        Tiếng nói của Thiên Hoàng thường được phán ra một cách gián tiếp với những danh từ bóng bảy, do đó bọn quá khích luôn luôn lợi dụng để giải thích theo ý của họ. Chẳng hạn nhóm quá khích nổi loạn năm 1036 đã cho rằng họ là những người trung thành muốn cứu Thiên Hoàng khỏi tay những cố vấn sai lầm. Lúc này trong Chánh phủ lại có nhiều Tướng lãnh, Đô Đốc, họ tha hồ giải thích ý của Thiên Hoàng, đâu còn sợ ai kiểm soát.

        Dưới thời chánh phủ của Thủ Tướng Hirota, vào tháng Chạp năm 1936, Nhật đã gia nhập Liên minh chống phong trào cộng sản thế giới với Đức. Các Tướng lãnh cho rằng làm vậy sẽ tránh được việc Nga can thiệp khi Nhật tiến vào Trung Hoa. Chính Thiếu tướng Oshima, trong lúc làm Tùy viên quân sự tại Bá linh, đã tiếp xúc trực tiếp với Ribbenthrop, một chuyên viên ngoại giao của Hitler, để sắp xếp việc gia nhập này. Cũng giống như các Tùy viên quân sự tại những nơi khác của Nhật, Tướng Oshima báo cáo trực tiếp về Bộ chỉ huy cao cấp của quân đội Nhật ở Tokyo. Sau này ông ta phụ trách luôn các công tác ngoại giao Đức-Nhật và trở thành Đại sứ. Chắc chắn viên Tướng này là người chủ chốt trong việc đưa Nhật vào phe Trục. Những nhân vật như Tổng trưởng ngoại giao và ngay cả Thủ tướng Hirota cũng chỉ đóng vai phụ.

        Không bao lâu quân đội lại chán cả Thủ Tướng Hirota, mặc dầu ông này đã tỏ ra là một nhà siêu ái quốc. Chính phủ bị đổ nhân dịp Tổng trưởng chiến tranh là Tướng Terauchi bị tố cáo tại diễn đàn Thượng viện là có thái độ chống lại chánh phủ hiến định hiện tại. Ông Tướng này mấy ngày trước đó đã chỉ Tòa nhà Thường viện nói với Tùy viên quân sự ngưòi Anh rẳng : «Tiền xây tòa nhà này nếu để thành lập hai Sư đoàn mới còn ích lợi hơn.» Dân biểu Hamada lên tiếng cho rằng nếu những lời tố cáo trên đây đúng thì Tổng Trưởng chiến tranh phải tự xử theo nghi thức hara-kiri. Nhưng Tướng Terauchi coi như không biết gì tới những lời tố cáo và thách thức đó, ông ta yêu cầu Thủ Tướng giải tán Hạ viên để dọn đường tiến tới một chánh phủ độc đảng, ngõ hầu «bảo vệ quốc gia» một cách hữu hiệu hơn.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2018, 11:11:54 PM

        Mọi người, kể cả Thủ Tướng Hirota, đều biết rằng đó không phải là phản ứng cá nhân của Teratichi, nhưng vấn đề «bảo vệ quốc gia» là chuyện được nêu lên để bày tỏ ý muốn bành trướng của quân đội ở hải ngoại trong những cuộc phiêu lưu, chinh phục mới. Hirota tuy không chống đối dự tính đó, nhưng lúc này ông chưa sẵn sàng chấp nhận những thay đổi lớn trong chánh phủ. Nhiều lần Terauchi đã cho biết ông ta không thể hợp tác với một chánh phủ không có lòng tin của quân đội, và do đó ông không thể duy trì được kỷ luật binh sĩ, nhưng Thủ Tướng Hirota vẫn còn trù trừ chưa có quyết định dứt khoát. Sau đó, thình lình, Terauchi từ chức và kéo theo sự tự chức của cả nội các.

        Hoàng thân Saionji tâu với Nhật Hoàng để Tướng hồi hưu Ugakt đứng ra lập tân nội các. Vào năm 1920, ông này là người đã kiểm soát được những chống đổi của quân đội trong lúc giữ chức Tổng trưởng Chiến tranh. Quân đội cũng vẫn còn nhớ điều đó, nên trên đường đi tới Hoàng cung để bệ kiến Nhật Hoàng, Ugaki đã bị Tướng Nakajima, chỉ huy Hiến binh Kempeitai, chận xe lại báo cho biết quân đội khuyên ông không nên nhận chức Thủ Tướng lúc này. Là người can đảm, kiên nhẫn, và đang muốn có chức vụ, Ugaki bất kể lời khuyên đó, và cứ việc tới bệ kiến Nhật Hoàng. Nhưng ngày hôm sau các tư lệnh binh chủng từ chối đề nghị một Tướng lãnh vào chức Tổng trưởng chiến tranh trong nội các của Tướng Ugaki. Thế là ông ta đành chịu, không thể nào lập nổi chánh phủ.

        Vào năm 1937, việc đứng ra thành lập một nội các ở Nhật là việc làm cảm tử. Những nội các này thường thường chết rất mau, và ngay cả cá nhân những nhân viên chánh phủ cung có thề bị ám sát bất cứ lúc nào. Những chuyện đó được coi là tổn thất do bọn giết người chánh trị gây ra. Bọn quá khích ở Nhật lúc này không phải là những thành phẩn bất mãn, hay phát xít, như ở những nơi khác. Những phẩn tử cực đoan này là bọn tin tưởng rằng Nhật cần phải hoàn tất sứ mạng cao cả của mình trong việc lãnh đạo các dân tộc Á châu. Đó cũng là một tin tưởng chung của hầu hết dân Nhật trong giai đoạn này. Giấc mộng bá chủ Á châu đó được thực hiện, bành trướng bởi những phương pháp khác nhau. Tùy theo những phương pháp đó mà người ta phân biệt được kẻ chủ động thuộc giới quân nhân, chánh khách, hoặc đảng Hắc Long.

        Hầu hết dân Nhật lúc đó đều tin vào thuyết Đại Đông Á do Nhật cầm đầu đế tiến tới phồn thịnh ở Á châu. Họ cho đó là chủ điểm của chánh sách ngoại giao và chính trị của Nhật. Những bành trướng thuộc địa của các cường quốc Tây phương như Anh và Pháp khiến người Nhật càng thêm sốt ruột, muốn đẩy mạnh việc mở rộng Đế Quốc Nhật. Ngay cả sau khi Mussolini và Hitler đã thực hiện xong những cuộc xâm lăng, đe dọa láng giềng một cách tàn bạo, việc bành trướng lãnh thồ vẫn còn được mọi giới ở Nhật háo hức.

        Tuy nhiên, cũng còn một số nhân vật như Yoshida, Shigemitsu, lúc đó không tin vào những hành động bành trướng lãnh thổ bằng bạo lực, như vài quốc gia Âu châu đang làm. Những chánh khách này có đường lối hoạt động riêng, và họ tìm cách để thực hiện chánh sách của mình, không cần chạy theo quan niệm hiếu chiến của các Tướng lãnh. Nhưng tình hình chánh trị tại Nhật lúc đó bắt buộc những người có quan niềm ôn hòa như vậy phải tìm cách tạm thời ẩn thân, chưa thể nào xuất đầu lộ diện ngay được. Yoshiđa không phải là một người sợ chết, nhưng cũng phải vội vã phủ nhận ý định tham gia nội các của Thủ tướng Hirota. Ông đã thấy rõ nếu cố tình đi ngược lại ý muốn của phe Tướng lãnh, chắc chắn họ sẽ tìm cách này hay cách khác để làm cho nội các phải đổ một cách nhục nhã. Và nhục là điều dân Nhật sợ hơn cả.

        Điều tệ hại, nguy hiểm cho các chánh phủ ở Nhật lúc này, là một nội các muốn tồn tại phải được sự đồng ý của phe Tướng lãnh. Nếu không, họ không chịu chỉ định Tổng trường chiến tranh, hoặc ra lệnh cho ông này từ chức kéo theo sự sụp đổ của cả nội các. Chính Hiến pháp đã cho phép họ làm như vậy. Thành ra, các cố vấn của Thiên Hoàng cứ phải tìm những người nào có khả năng tìm được Tổng trưởng chiến tranh mới dám mời ra lập nội các. Chính vì vậy, hầu hết các Thủ Tướng bấy giờ đều là những Tướng lãnh, hoặc chánh khách quá khích.

        Đến tháng 6 năm 1937, các cố vấn của Nhật Hoàng nhận thấy không còn ai đủ khả năng chế ngự phe Tướng lãnh để lập nội các, ngoài một nhân vật thuộc dòng dõi quý phái Fujiwara, đó là Hoàng thân Konoye. Đây là nhân vật duy nhất lúc này có thể được mọi phe phái chấp nhận. Thân phụ ông trước kia là bạn thân của Mitsuru Toyama, Chúa Đảng Hắc long. Ông lại là người thân cận Nhật Hoàng và rất am hiểu tình hình chánh trị. Những liên hệ đó khiến ông hiểu được tâm trạng của những người ái quốc cực đoan, và có cảm tình với họ phần nào. Ông không thích gì hạng người siêu ái quốc đó cho lắm, nhưng lúc này bắt buộc ông phải nghiêng về phía họ, vì quá sợ hiểm họa cộng sản bành trướng tại Nhật. Ông cũng tỏ ra là người thực sự có cảm tình với Hoa Kỳ, và muốn bình thường hóa sự giao hảo giữa hai quốc gia. Vì vậy khi Hoàng thân Konoye lên làm Thủ tướng vào tháng 6 năm 1937, mọi ngưòi đều coi là một chuyện rất thích hợp, may mắn cho nước Nhật. Bởi vì hiện tại phe quân nhân lúc này đã quá lộng, không còn một chánh khách dân sự nào khác đủ sức chế ngự họ.

        Chánh sách của Hoàng thân Thủ tướng Konoye có vẻ nghiêng về đường lối điều đình với Trung Hoa của ngoại trưởng Mamoru Shigemitsu. Theo đó, Nhật sẽ bằng lòng rút ra khỏi các lãnh thổ khác của Trung Quốc với điều kiện Trung Hoa công nhận tình trạng độc lập của Mãn châu. Giải pháp này không ai biết được có thể có bao nhiêu hy vọng được Trung Hoa chấp nhận. Những các binh sĩ Nhật đóng ở Trung Hoa, không rõ vi nghi ngờ hay được ai báo tin về đường lối hòa giải đó, đã tạo ra một biến cố đế đẩy mạnh những cuộc tấn công trên lãnh thổ Trung Hoa. Đêm 7 tháng 7 năm 1937, một toán tuần tiễu Nhật đang đi gần cầu Marco Polo ở Bắc Kinh thì bị một số lính mà họ cho là lính Trung Hoa tấn công.

        Nhiều người cho rằng đây lại là một cuộc «la làng giả tạo» khác của Nhật để lấy cớ xâm chiếm thêm đất đai của Trung quốc, cũng giống như hồi năm 1900, họ lấy cớ dẹp giặc quyển phỉ để uy hiếp nước Tàu. Sự kiện đó càng trở nên rõ ràng, khi quân Nhật huy động đại quân tấn công toàn diện vào quân lực Trung Hoa. Những trận đánh quy mô như vậy rõ rệt không phải là một hành động trả thù nhưng đã được tính toán tỉ mỉ từ trước.

        Binh sĩ Trung Hoa lần này đã chiến đấu một cách can đảm, khác hẳn vói những lần trước khi bị các cường quốc ăn hiếp. Khi Hoàng thân Konoye bắt đầu điều khiển chánh phủ thì tình trạng chiến tranh toàn diện giữa Hoa - Nhật đã trở thành một sự kiện không còn cứu vãn nổi. Một lần nữa, phe quân nhân hải ngoại lại tự ý hành động, không cần hỏi ý kiến chánh phủ trung ương. Họ bắt đầu gieo tang tóc, binh lửa trên đất Trung Hoa trong những năm dài kế tiếp.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2018, 11:14:20 PM
        
CHƯƠNG XIII

         Tuy không có bằng cớ chứng minh, nhưng rất có thế Tướng Hideki Tojo đã nhúng tay vào vụ tấn công Trung Hoa tại Bắc Kinh. Trong thời gian làm Tư Lệnh đạo quân Mãn châu, Tojo đã nhiều lần cho thấy cẩn phải tiêu diệt chánh phủ của Tưởng giới Thạch. Trước khi xảy ra vụ tấn công ít lâu, ông có để nghị với chánh phủ ở Tokyo cần phải đánh Trung Hoa để sau đó có thể được rảnh tay lo đối phó với Nga sô. Ông cho rằng việc đó không có gì khó khăn và có thể chiến thắng nhanh chóng. Và giờ đây ông cũng phải cùng với các Tướng lãnh gánh chịu những hậu quả khó chịu, khi thấy quân Trung Hoa chống cự một cách cương quyết và mãnh liệt.

        Quân sĩ Trung Hoa lúc này không còn ươn hèn và dễ bị đánh bại như trước kia. Họ chiến đấu với tinh thần hăng say, mới mẻ, chớ không như trước, thường chỉ đánh lấy lệ và sau đó lo di tản. Sự thay đổi nhanh chóng đó khiến Nhật phải đưa tất cả năm sư đoàn tới chiến trường. Tại Tokyo, Tổng trưởng chiến tranh Sugiyama, bất chấp những lời can ngăn của Nội các, khuyên nên giới hạn chiến tranh, cứ việc đổ quân vào và ra lệnh cho Tojo gởi quân từ Mãn châu tới cứu ứng. Tojo đã tự ý hành động từ trước bằng cách đem quân đánh vào sườn những cánh quân Trung Hoa đang đe dọa lực lượng Nhật trong vùng Bắc Kinh.

        Đây là lần đầu tiên và duy nhất, Tojo chỉ huy trên chiến trường bằng cách chiếu đúng binh thư trong sách vở, đem quân chọc sâu vào nội địa nước Tàu, để bảo đảm an ninh cho cả vùng Mông cổ. Ông chỉ có mặt tại chiến trường một thời gian ngắn để khuyến khích tinh thần binh sĩ, và sau đó trở về Bộ Tư Lệnh của ông tại Mãn châu để lo đối phó với những bất trắc có thể do Nga sô gây ra. Từ đó, Tojo không còn tham dự vào chiến cuộc tại Trung Hoa nữa, vì hiện tại đã có tới hơn 150.000 quân Nhật đang giằng co với số quân Tàu đông đảo hơn nhiều, nhưng trang bị và huấn luyện còn thiếu sót.

        Những lời lẽ tuyên truyền cho chiến tranh một cách cuồng nhiệt được tung ra khắp nước Nhật. Báo chí thuật lại những gương chiến đấu can đảm của các chiến sĩ anh hùng. Đài phát thanh thỉnh thoảng lại ngắt ngang những mục thường xuyên để loan tin chiến thắng từ mặt trận mới gỏi về. Trong khi thế giới được thấy hàng ngày những tin tức, hình ảnh về những hành động tàn bạo của quân Nhật đang diễn ra trên đất Trung Hoa tang tóc, thì dân Nhật lại được tuyên truyền với những chi tiết đầy đủ vể sự tàn bạo của lính Trung Hoa đối với quân đội Nhật. Sự phẫn nộ của dân Nhật dâng cao nhất khi có tin những sĩ quan Nhật bị du kích Trung Hoa giết một cách tàn nhẫn, và tin hai trăm người Nhật, trong đó có cả đàn bà, trẻ con bị quân Trung Hoa giết sạch.

        Chánh phủ của Thủ Tướng Konoyc, vì muốn nỗ lực để nắm được thế chủ động, nên đã phải tỏ ra hiếu chiến không thua gì quân đội. Phát ngôn viên Chánh phủ nói tới một trận thử sức cuối cùng với Trung Hoa, và cần phải dạy cho người Trung Hoa một bài học. Thủ Tướng Konoye nói tới vấn đề Trật Tự mới tại Á châu. Lần đẩu tiên ông phải dùng một danh từ do Hitler sáng chế ra : « Phong trào động viên tinh thần quốc gia. Phong trào này, từ lúc được phát động với những hoạt động mở rộng của Hiến binh Kempeitai, đã không ngừng mở những cuộc bắt bớ, ruồng xét để tìm những phần tử có đầu óc nguy hiểm cho quốc gia. Nhiều đảng viên của mặt trận bình dân bị bắt. Những đảng viên cộng sản cũng bị truy lùng gắt gao, mặc dầu các lãnh tụ của họ đã bị bắt hết từ năm 1928.

        Chánh phủ Tokyo tưởng rằng với những hành động chạy theo phe quá khích như vậy, họ có thể kiểm soát được những biến cố đang xảy ra tại Trung Hoa. Nhưng sự thực rõ ràng đã được các phóng viên và người ngoại quốc nhận thấy, là đám binh sĩ ngoài mặt trận không kể gì tới lệnh của Chánh phủ. Ở Tiên sơn, nhiều thường dân người Anh đã bị quân Nhật ngược đãi. Họ bị ruồng bỏ và trói tay khi đi qua những trạm kiểm soát. Sự kiện trên làm nổi bật những hành động đã man và vô nhân đạo của quân đội Nhật. Tuy nhiên những hành động như vậy rõ ràng có tác động đánh tan sự kiêu hãnh của người da trắng trước những con mắt của dân Á Đông.

        Trong nhiều trường hợp khác, quân Nhật đã đi xa hơn nữa trong những hành động gây hấn với các nước Âu châu. Chiến thuyền của Anh và Mỹ trên sông Dương tử bị phi cơ Nhật tấn công. Chiếc «Panay» của Mỳ bị đánh chìm với nhiều thủy thủ bị thương vong. Sứ thần Anh đi trong xe hơi có dấu hiệu ngoại giao và quốc kỳ, nhưng vẫn bị súng máy bắn bị thương. Chánh phủ Anh của Thủ Tướng Chamberlain lúc này đang bị Đức đe dọa ở Âu châu, nên chỉ phản đồi chiếu lệ. Chánh phủ Mỹ bị dư luận trong nước thúc đẩy tránh xa mọi chuyện lộn xộn ở Á châu, không cho dính líu vào bất cứ cuộc chiến tranh nào tại vùng này, nên cũng chỉ hành động giống như Anh quốc. Tại Tokyo, Thủ Tướng Nhật Konoye nhiều lần lên tiếng xin lỗi hai chánh phủ Anh và Mỹ, và bằng lòng bồi thường mọi thiệt hại. Sau này khi nhắc lại các biến cố lúc đó, Thủ tướng Arh Chamberlain nói: «Lúc đó, chúng ta cẩn nhận định rõ tình hình, để tính toán một phương thức tránh cho người Anh tại Trung Hoa ít bị thiệt hại nhất, sau khi họ đã bị người Nhật ngược đãi và sỉ nhục. Nên nhớ rằng lúc bấy giờ chúng ta chưa có một hạm đội nào ở Viễn Đông đủ sức chế ngự được quân Nhật.»

        Vì việc bẳn vào chiến thuyền Anh và Mỹ, và Sứ thần Anh bị tấn công, nhiều sĩ quan Nhật bị gọi về Tokyo. Trong đó có Đại tá Hashimoto, người đã ra lệnh tấn công các chiến thuyền Anh và Mỹ. Nhưng ông ta trở về không có vẻ gì ăn năn, hối hận, ngược lại hăng hái cổ võ mọi người trong việc tiêu diệt các lực lượng Tây phương tại các thuộc địa Á Đông, trước khi quay sang đối phó với Nga sô. Chủ trương này đã được một số sĩ quan công khai hưởng ứng và ủng hộ.

        Chiền tranh lan rộng, những cảnh từ biệt giữa binh sĩ và gia đinh tại sân ga, để con em lên đương ra mặt trận, diễn ra khắp nước, Quân nhân trừ bị và tân binh quân dịch bắt đẩu được gọi trình diện. Đồng thời tổn thất chiến trường lên cao, Cảnh những người vợ, người mẹ nhận được chiếc hộp cây bọc vải trắng trong có đựng nắm tro tàn của hài cốt chồng, con cũng là một cảnh tượng thường diễn ra tại hầu hết các gia đình dân Nhật lúc bấy giờ.

        Từ Bắc Kinh và Tiên sơn, quân Nhật đánh lên mạn Bắc, sau đó đột nhiên chiến cuộc lại quay lan xuồng phía Nam và chiến trường bùng lên khắp nơi, không còn biết đâu là giới hạn, Cuối cùng, trong một đêm, chiến trận bùng nổ tại thành phố quốc tế Thượng Hải, thay đổi cục diện chiến tranh trong một kích thước rộng lớn và rắc rối.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Chín, 2018, 11:18:01 PM

CHƯƠNG XIV

        HÀI quân không làm áp lực với Chánh phủ như các Tướng lãnh Bộ Binh, nhưng các vị Đô Đốc một khi tham gia chánh phủ, cũng không thể nào tránh được việc phải tranh đấu xử dụng ngân sách quốc phòng cho Hải quân. Sự tranh chấp này trở nên quan trọng kể từ khi Lục quân chiếm Mãn châu năm 1931. Những chiến thắng đó đã khơi dậy tham vọng của Hải quân và làm cho họ cảm thấy bất mãn, nhất là những sĩ quan đang muốn canh tân không lực của hải quân với những cải tổ tối tân.

        Hiệp ước ký với Anh và Mỹ tại Hoa thịnh đốn khiến các giới Hải quân Nhật bất mãn. Họ cho rằng hiệp ước đó cầm chân lực lượng Hải quân Nhật, không cho tiến lên ngang hàng với Anh và Mỹ. Giới sĩ quan cao cấp Hải quân luôn luôn quan tâm tới việc phát triển binh chủng này và đòi hòi hiệp ước ký với Anh và Mỹ phải được sớm chấm dứt. Năm 1935, Đô Đốc Nagano và Yamamoto, sau một cuộc hội nghị khó khăn với Anh và Mỹ tại Luân đôn, đã thành công trong việc xóa bỏ bản hiệp ước hạn chế hải quân Nhật.

        Nhưng đa số hải quân không hiếu chiến như Lục quân. Chịu ảnh hưởng mạnh của các sĩ quan cao cấp, lớn tuổi, như các Đô Đốc Suzuki, Oikawa, Yonai và Okada, các giới trong Hải quân cho rằng việc đánh Tây phương là điều không cần thiết trong việc bành trướng ảnh hưởng của nước Nhật. Quan niệm của Hải quân Nhật cho rằng nước Nhật cần phải bắt chước nước Anh, bành trướng sức mạnh của mình dọc theo bờ biển Trung Hoa xuống vùng Đông Nam Á, với phương tiện chánh là lực lượng hải quân hùng hậu. Trong khi đó Lục quân Nhật lại muốn Nhật bắt chước nước Đức, có một đạo quân trên bộ thật hùng hậu và tinh nhuệ, để tiến lên phía Bắc mở mang bờ cõi.

        Hải quân hoàn toàn không tin tưởng ở chánh sách Bắc tiến đó. Các vị Đô Đốc Nhật cho rằng nước Nhật với số dân tám chục triệu không thể nào đủ sức đối địch, gây hấn với hai nước láng giềng khổng lồ, với số dân của mỗi nước gấp năm, sáu lần dân Nhật. Kinh nghiệm trong trận chiến tranh Nga — Nhật năm 1905 cho thấy, mặc dầu thắng, những tài nguyên của Nhật hầu như đã bị dốc cạn. Cái giá của chiến thắng đó, Nhật phải trả bằng một số lớn sinh mạng của binh sĩ, là điều mãi mãi ám ảnh các Tướng lãnh Nhật sau này.

        Trong lúc Lục quân dính líu sâu mãi vào cuộc chiến ở Miền Bắc Trung Hoa và đụng độ với Nga sô, thì Hải quân cương quyết theo đuổi chánh sách bành trướng lãnh thổ về phía Nam. Họ cho rằng nếu cần có chiến tranh để giành quyền sống thì Nhật nên chọn phương tiện hải quân, vì đó là ưu điểm của một dân tộc sống ở hải đảo.

        Trong lúc Nhật đang nỗ lực chế ngự lục địa Trung Hoa, các vị Đô Đốc hải quân cho rằng cách tốt nhất là xử dụng những lực lượng Hải quân một cách uyển chuyền dọc theo bờ biển Trung Quốc để phổi hợp với những cuộc hành quân trên bộ, giống như người Anh thường làm từ bao thế kỷ nay tại Âu châu và sau này ở vùng Đông Á. Phương tiện chiến tranh bằng Hải quân như vậy ít gây ra đụng chạm với các lực lượng Tây phương. Vì người Tây phương biết rằng Hạm đội của họ ở Viễn Đông chưa thể mạnh bằng Nhật. Hơn nữa đây lại là vùng biển nhà , quen thuộc với Hải quân Nhật. Tây phương không có căn cứ nào, ngoại trừ Hồng Kông và một vài nhượng địa bé nhỏ khác.

        Hơn nữa, những cuộc bành trướng của Hải quân xuống phía Nam như vậy còn là một hậu thuẫn mạnh mẽ cho những nỗ lực ngoại giao và thương mại của Nhật trong khắp vùng này, nhất là đối với vùng đảo Đông Indies có rất nhiều dầu hiện đang nằm trong tay người Đức. Những nơi đó rất cần phải bành trướng ảnh hưởng và thương mại đối với nước Nhật sau này. Nhất là khi chiền cuộc tại lục địa Trung Hoa mở rộng với tầm vóc quốc tế thì các hòn đảo đó trở nên tối quan trọng cho Nhật về phương diện quân sự. Hầu tước Inoue trong cuộc viếng thăm Luân đôn năm 1937 đã nói cho nước Anh biết: «Các vị đểu biết quý quốc cũng như nước tôi, cả hai đều không có mỏ dầu. Nhưng nước Anh kiểm soát nhiều quốc gia cung cấp dầu trên thế giới. Ngược lại Nhật bản, không những không có những nguồn cung cấp nhiên liêu bảo đảm, mà ngay cả các nguyên liệu khác, chúng tôi cũng bị thiếu thốn.» Không có những nguyên liệu đó, một quốc gia không thể nào tốn tại và chịu đựng được trong các cuộc chiến tranh. Địa vị cường quốc của Nhật vì vậy tùy thuộc tất cả nơi vấn đề cung cấp nguyên liệu và nhiên liệu này.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:11:24 PM

        Đầu năm 1932, tiếp theo sau chiến cuộc Mãn châu bùng nổ, Hải quân Nhật đã dính líu vào một chiến trận tại thành phố quốc tế Thượng Hải và sau đó phải nhờ tới những đơn vị bộ binh tiếp cứu. Từ đó, Hải quân Nhật đã nhận thấy rõ địa bàn hoạt động của họ không phải ở miền Bẳc. Do những lời yêu cầu khẩn thiết của Hải quân, một vị Đô đốc đã được bổ nhiệm vào chức vụ Chúa đảo Kim môn để cán cân được đồng đều với viên Tướng Bộ binh cai trị vùng Mãn châu. Từ đó, Hải quân Nhật thiết lập một Bộ Tư Lệnh tại hòn đảo này, giống như kiểu Bộ Tư lệnh của Đạo quân Kwangtung ở Mãn châu, để liên lạc phối hợp với những hoạt động quân sự tại lục địa Trung Hoa và Cơ quan Phát triển Á châu do Bộ Hải quân bảo trợ tại Tokyo. Những sự kiện đó ch0 thấy rõ ràng, Hải quân Nhật đã lợi đụng biến cố xảy ra tại Thượng Hải năm 1937 để thi hành chánh sách bành trướng về phương Nam của họ.

        Biến cố tại Thượng Hải xảy ra bắt nguồn từ việc một sĩ quan Hải quân Nhật bị giết ở ngoại ô thành phố. Thế là Hải quân Nhật đổ bộ và tấn công vào sư đoàn binh sĩ Trung Hoa với sự trợ giúp của Bộ binh Nhật. Cuộc chiến trở nên ác liệt, tất cả lực lượng đổ bộ của Hải quân Nhật phải đánh vào sườn của quân đội Trung Hoa và đẩy lui được quân Tàu ra khỏi Thượng Hải. Sau đó các đơn vị Bộ binh và Hải quân Nhật chiếm trọn cả thành phố Nam Kinh và thực hiện một cuộc tàn sát, thổ phỉ, hãm hiếp dã man tại thành phố này trong bốn ngày liền. Những hành động tàn ác đó đã được cả thế giói biết đến. Nhưng còn một điều khác không ai biết tới, đó là Hải quân Nhật đã thành công trong việc lôi kéo Bộ Binh Nhật dính líu vào mặt trận phía Nam. Như vậy, lúc này cả hai binh chủng Hải và Lục quân của Nhật đều đánh phá ở miền Nam Trung Hoa, và liền sau đó, những kế hoạch hành quân quy mô rộng lớn đã được Hải quân hoạch định.

        Vào đầu năm 1938, Hoàng thân Konoye hoàn toàn tuyệt vọng trong việc kết thúc chiến cuộc tại Trung Hoa. Ông không thể nào giảng hòa được cuộc tranh chấp giữa hai binh chủng Hải quân và Lục quân. Lúc này ông nhận thấy Hải quân không còn phải là những phần tử hiếu hòa như ông vẫn nghĩ trước đây. Đô Đốc Suetsugi, Tổng trưởng Nội vụ, tuyên bố phải đuổi hết bọn da trắng ra khỏi Á châu, và trước hết phải khống chế Trung Hoa, dù có xảy ra chiến tranh với nước Anh cũng không sợ. Cũng trong lúc này mọi cố gắng của Thủ Tướng Konoye từng làm để chứng tỏ mình cũng là một thành phần quốc gia cực đoan đã bị thất bại. Một lần nữa, các Tướng lãnh lại nhận thấy Thủ tướng vẫn còn đi chậm hơn họ một bước trên con đường ái quốc.

        Qua trung gian của Tướng Sugiyama,Tổng trưởng chiến tranh, Thủ Tướng được quân đội báo cho biết chánh phủ hiện tại không còn phù hợp với tình hình «khẩn trương của quốc gia.» Sau đó, Sugiyama xin tự chức. Thủ Tướng Konoye yêu cầu các nhân viên khác trong nội các cùng từ chức theo, và sau đó ông thành lập một nội các mới. Khi danh sách tân chánh phủ dược công bố, người ta nhận thấy những nhân vật hầu hết toàn là quân nhân, thực không khác gì một chánh phủ quân sự.

        Tướng Araki, thành phần cực đoan, nắm Bộ Giáo Dục. Một Tướng lãnh và một Đô đốc khác giữ các ghế Ngoại giao, Nội vụ. Tánh cách quân sự của tân nội các được che đậy bớt bằng cách dành Bộ Tài chánh cho một nhân vật dân sự, là Seihin Ikeda, thuộc tổ hợp kỹ nghệ Mitsui. Điều này có nghĩa là giới thương mại và kỹ nghệ từ nay đã hoàn toàn thần phục phe quân nhân, giống như con ngựa đã ngoan ngoãn chịu thắng vào cỗ xe quân sự.

        Các Tướng Tá thuộc đạo quân Kwangtung đã thực hiện kế hoạch đánh chiếm Mãn châu, và những quân nhân từng gây ra cuộc biến động tại cầu Marco Polo để lấy cớ đánh Trung Hoa trước đây, bây giờ đều nắm những chức vụ quan trọng tại Bộ Tổng Tham mưu ở Tokyo. Tổng Trưởng Chiến tranh được giao cho viên Tướng dữ nhất, đó là Tướng Itagaki. Thủ Tướng Konoye hài lòng, vì ông nhận thấy viên Tướng này dù sao cũng còn có thể dụ được, và tương đối dễ chịu. Kề ra một con người từng hét ra lửa trước kia tại Mãn châu mà bây giờ lại tương đối dễ chịu thì cũng là chuyện lạ. Nhưng ta có thể giải thích rằng sở dĩ như vậy, vì bây giờ đã xuất hiện nhiều viên Tướng khác còn dữ hơn ông ta nữa. Chức Thứ Trưởng Chiến tranh trong tân nội các được chọn giao cho một nhân vật trước đây đã từng giúp Itagaki một cách đắc lực tại Mãn châu trong việc điều khiển đoàn Hiến binh Kempeitai. Người đổ là Tướng Hideki Tojo. Thủ Tướng Konoye rất hài lòng việc chọn lựa này, vì theo ông Tướng Tojo là người rất linh mẫn và làm việc có phương pháp.

        Hai ngày sau khi tân nội các thành lập xong, Trung Tướng Tojo bàn giao chức vụ Tư Lệnh đạo quân Mãn châu lại cho người kế vị và lên máy bay trở về Tokyo để bước những bước đầu tiên vào cuộc đời chánh trị.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:12:32 PM

CHƯƠNG XV

        KHI Hideki Tojo trở về Tokyo thì tại Trung Hoa, chiến cuộc vẫn còn dằng dai chưa chịu kết thúc nhanh chóng như mọi người mong muốn, Tưởng Giới Thạch tuy bị đánh đuổi khỏi thủ đô Nam Kinh, nhưng vẫn chưa bị tan rã. Ông ta rút về Trùng Khánh, một tỉnh nhỏ sâu trong nội địa nước Tàu để lập chiến khu.

        Tại Nhật, tình hình chiến tranh lúc này rất có lợi cho phe quân nhân muốn làm mạnh. Họ lợi dụng chiến cuộc để tuyên truyền cho chủ nghĩa ái quốc cực đoan bằng cách căn cứ vào tình trạng khẩn trương của quốc gia để thiết lập những biện pháp kiếm soát quân sự, mà trước đây vẫn thường bị phản đối. Phe quân nhân còn hợp với những thành phần cực đoan và quá khích để phát động phong trào chống Tây phương. Họ cho rằng chính Anh và Mỹ đã giúp Tưởng Giới Thạch, do đó tên này còn cứng đầu chưa chịu tỏ thái độ «thành thực» với Nhật. Thái độ thành thực mà họ nói tới ở đây có nghĩa là chấp nhận mọi đề nghị do quân đội Nhật đưa ra, Với những hoạt động mạnh mẽ của phe quá khích như vậy, Thủ Tướng Konoye lại cảng tỏ ra dễ dãi trong việc nhượng bộ các Tướng lãnh ở Bộ Tổng Tham mưu.

        Tuy nhiên, tình trạng trì trệ của chiến tranh không thể nào chối cãi được. Khi chiến cuộc mới bùng nổ, các Tướng lãnh bảo đảm chỉ kéo dài chừng bốn tháng. Nhưng nay thời hạn đó đã qua từ lâu mà vẫn chưa thấy có dấu hiệu nào chấm dứt. Sau khi Tướng Tojo trở về Đông Kinh, lại thêm một biến cố nữa mới xảy ra, khiến quân đội càng bị áp lực phải mau chấm dứt chiền cuộc tại Trung Hoa.

        Số là vào mùa Hè năm đó, một trận chiến đã thình lình xảy ra giữa quân đội Sô viết và Nhật tại vùng biên giới Mãn châu, thuộc địa phận Ghangkufeng. Lập trường dàn xếp để chấm dứt cuộc xung đột này được đặt trên căn bản khác nhau giữa Nga và Nhật. Về phía Nga, họ tỏ ra sẵn sàng phát động một cuộc chiến tranh quy mô tại vùng này. Trong khi đó Nga lại biết chắc rằng Nhật nóng lòng muốn chấm dứt xung đột và không dám phát động chiến tranh lớn.

        Sở dĩ Nga biết chắc chắn được điều đó, là nhờ một nguồn tin thân cận của Thủ Tướng Nhật Konoye. Thực là chuyện trái ngược, vì Konoye là người rất sợ cộng sản như sợ dịch vậy, thế mà không ngờ trong ban tham mưu đầu não của ông lại có một đảng viên cộng sản là Hozumt Ozaki, thường liên lạc với điệp viên Nga sô là Richard Sorge để cho các tin tức mật liên quan đến các quyết định của Thủ Tướng Nhật.

        Tổng trưởng Chiến tranh là người chịu trách nhiệm về sự khinh xuất này. Ông ta và Tham mưu trưởng liên quân phải chạy đi chạy lại để trình bày nội vụ lên Thiên Hoàng. Ngài tỏ ra không hài lòng về những hành động của quân đội từ trước tới nay.

        Nhưng việc quan trọng như vậy mà Nhật Hoàng cũng không trực tiếp can thiệp. Ngài chỉ âm thầm theo dõi mọi việc xảy ra. Hình như Konoye với sự đồng tình của Tổng trưởng Hải quân đã cố gắng dàn xếp nhanh chóng việc này. Ông luôn luôn sợ hãi trước cơn ác mộng là Nga sẽ phát động chiến tranh quy mô toàn diện tại miền Bắc. Riêng Itagaki, hình như trong thâm tâm, ông lại có ý mong muốn chiến tranh Nga-Nhật diễn ra. Vì theo ông cũng như một số sĩ quan khác, việc đánh Nga sớm muộn rồi cũng phải thực hiện. Những phần tử chủ trương mở rộng lãnh thổ cho rằng tình hình thế giới lúc này đã biến chuyền nhiều, khiến Nhật có thể thực hiện cuộc Nam tiến.

        Anh Quốc còn đang rối rắm trước những đe đọa của Hitler. Thủ Tướng Anh hết xách dù sang Bá linh, lại vác ô đi La mã để ngoại giao, cầu thân với Đức và Ý. Đi cùng với Thủ Tướng Anh còn có Thủ Tướng Pháp. Những suy yếu tại mẫu quốc khiến Anh không còn thời giờ đâu để phản ứng tích cực trước việc Nhật bản xâm lăng Trung quốc. Hơn nữa, lúc này rõ ràng là lực lương của Anh, Pháp và Hòa Lan không còn hùng hậu như trước kia để bảo vệ các thuộc địa của họ tại Viễn Đông.

        Về phần Hoa Kỳ, tuy luôn luôn bày tỏ sự phản đối, khó chịu về hành động xâm lăng của Nhật, nhưng dư luận Hoa kỳ lúc này vẫn còn chủ trương thuyết cô lập, không dính dáng vào chuyện Á châu. Vả lại, Hạm đội Thái bình dương của Mỹ cũng chưa đủ sức chế ngự Hải quân Nhật. Những sự kiện đó khiến Mỹ chỉ có những lời phản đối suông, mà Nhật nghe nhiều đã trở nên quen tai. Việc bành trướng thuộc địa về phía Nam vì vậy trở nên hứa hẹn nhiều may mắn hơn, so với những cuộc phiêu lưu đọ sức với Nga ở phía Bắc.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:13:01 PM

        Các Tướng lãnh khác, khi phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu hay trong Chánh phủ, thường thay đổi quan điểm luôn luôn, nhưng riêng đối với Tojo, ông tỏ ra là con người đặc biệt không hề thay đổi, không có gì thêm và cũng không có gì bớt đi trong lập trường của ông. Thiếu Tướng Piggott, một sĩ quan thông dịch và sau trở thành Tùy viên quân sự tại Tokyo có nhận xét : « Tôi thường có những giao hảo thân mật với các sĩ quan Nhật. Nhưng từ khi Tojo làm Thứ Trưởng Bộ Chiến tranh, tôi cảm thấy khó lòng duy trì được những giao du thân mật đó. Tôi không thể nào gây được những cảm tình thân mật cá nhân đối với Tojo. Những tiếp xúc giữa chúng tôi lúc nào cũng diễn ra qua những nghi lễ chánh thức. Ông ta không bao giờ quên những sự kiện lịch sử, như việc Đức chiếm Tsingtao năm 1898, Nga xâm lăng Mãn châu năm 1903, việc xé bỏ hiệp ước liên minh Anh - Nhật năm 1921, và việc Mỹ ra đạo luật hạn chế người da vàng di cư vào Mỹ châu năm 1924. Ông luôn luôn nghi ngờ người Tây phương, và hình như không có cảm tình gì nhiều. Đối với Tojo, chỉ có nước Nhật và quyền lợi của Nhật là quan trọng, luôn luôn được ông chú ý tới. Ông ta khó lòng sống hòa mình với những ngươi chủng tộc khác. »

        Không phải chỉ có một mình Tùy viên quân sự Anh nhận xét thấy lối sống lạnh nhạt và những nhận định hẹp hòi về các biến cố lịch sử của Tojo. Nhưng thái độ đó của Tojo đã được thể hiện công khai, và khiến cho cuộc đời chánh trị của ông bị chấm dứt một cách mau chóng.

        Bất chấp mọi thái độ thay đổi của các Tướng lãnh khác, Tojo một hôm cho họp tất cả những nhân vật quan trọng trong giới kỹ nghệ lại, và cho họ biết những nguyên tắc họ phải áp dụng trong chánh sách sản xuất để đối phó hữu hiệu với tình hình hiện tại. Theo Tojo thì tình hình đó hiên nay là Nhật phải sẵn sàng đáp ứng sự chống đối của Trung Hoa, sự cạnh tranh của Anh, Mỹ, và sự rình rập, lợi dụng của Nga sô. Tojo cảnh cáo, những người nào không đi đúng đường lối do quân đội để ra trong chánh sách sản xuất, không chịu đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, sẽ bị coi là những phần tử ở ngoài hàng ngũ quốc gia trong tương lai.

        Những phản ứng của các giới kỹ nghệ sau cuộc hội kiến này đã chấm dứt chức vụ Thứ trưởng của Tojo. Tên tuổi của ông không những xuất hiện trên báo chí quốc nội, mà cả những nhật báo thế giới cũng đều nhắc nhở tới.

        Giới thạo tin tưởng là ông có ý định gây hấn với cả Tây phương lẫn Nga sô. Giới kỹ nghệ mặc dầu nhẫn nhịn cũng không chịu nổi những hậm hực về cách Tojo đối xử với họ. Tổng trưởng chiến tranh, xếp trực tiếp của Tojo, bị Thượng viện chất vấn : « Phải chăng ông có ý định khiêu khích cả Anh, Mỹ, Nga và Trung Hoa cùng một lúc ? » Các nghị sĩ mặc dầu lúc đó ngả sang ý kiến chủ chiến, nhưng viễn tượng Nhật bản bị tử bề thọ địch cũng khiến họ phải cảm thầy ớn.

        Thế là ngay tháng sau — tháng Chạp năm 1938, Tojo được thuyên chuyển sang giữ một chức vụ không có dính dáng gì tới chánh trị : Tổng Thanh tra Không quân. Lúc này, Tojo có dịp suy nghĩ lại những hành động của mình, và ông nhận thấy lối hành động quân sự thường được xử dụng tại Mãn châu không thế áp dụng tại Thủ đô. Ở đây, ngay các Tướng lãnh cũng phải luôn luôn tỏ ra là người tôn trọng Hiến pháp, ít nhất là trong lời nói đầu môi. Đối với Tojo, việc thuyên chuyến này càng khiến cho ông có cơ hội bắt các nhà kỹ nghệ phải làm việc theo quan niệm của ông. Ông đấy mạnh việc sản xuất máy bay, và nhấn mạnh về điểm không quân cần phải phối hợp chặt chẽ với Lục và Hải quân.

        Tháng Giêng năm 1939, Thủ Tướng Konoye tuyên bố : « Những biên cố xảy ra tại Trung Hoa đã bước vào một giai đoạn mới, và Chánh phủ này không đủ khả năng đối phó với tình hình. » Sau đó, ông xin từ chức, để Baron Hiranuma lên thay thế. Hiranuma cũng là một chánh khách ái quốc cực đoan, trước đã từng giữ chức Tổng trường Tư pháp. Ông nổi tiếng về thành tích chống các khuynh hướng tả phái trong giới sinh viên, và là người đi tiên phong trong việc thành lập các tổ chức siêu ái quốc Koknhon sha. Lập trường của ông về vấn đề xung đột giữa Nhật với Trung Hoa đã được ông trình bày rõ ràng tại Thượng viện, khi ông tỏ ý hy vọng « người Trung Hoa sẽ thông cảm lập trường của nước Nhật. Đối với những phần tử nào không chịu tim hiểu ý định của Nhật, thì không có cách gì hơn là phải bị tiêu diệt. »


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:13:28 PM

        Để đánh dấu một giai đoạn mới trong việc bành trướng tại vùng Đông Nam Á, Hải quân Nhật đồ bộ lên đảo Hải Nam của Trung Hoa, một hòn đảo có vị trí chiến lược đe dọa thuộc địa của Pháp tại Đông Dương. Mặc dầu hành động này có thể gây ra những hậu quả quan trọng đối với tình hình thế giới, nhưng Thủ Tưóng Hiranuma cũng như Nội các của ông không hề được tham khảo ý kiến trước.

        Chánh phủ của Hỉranuma bị giáng một đòn đau khác nữa, khi Đức và Nga ký với nhau một hiệp ước bất tương xâm vào năm 1939. Hiệp ước này không bao lâu sau bị Đức xé bỏ. Giới quân sự Nhật xúc động mạnh, coi việc này là một hành động phản bội của nước Đức, vì trước đó Nhật và Đức đã gia nhập vào Liên minh chống cộng sản thế giới, và Nhật hy vọng sự đe dọa của Đức khiến Nga không dám gây hấn ở Viễn Đông. Đối với phe Tướng lãnh chủ trương đánh Nga thì hiệp ước Nga - Đức này càng làm cho họ căm hận.

        Mặc dầu Nhật Hoàng đã có khuyến cáo trước đây, nhưng vào tháng Năm, chiến cuộc lại bùng nổ ở biên giới Mãn Châu giữa quân đội Nga và Nhật. Đụng độ còn xảy ra ở Ngoại Mông và tiếp tục lan rộng. Đây không phải là chuyện va chạm thường, nhưng đã trờ thành một cuộc chiến tranh nhỏ, trong đó xe tăng, đại pháo và máy bay đều được đem ra xử dụng. Kết quả là tổn thất về phía Nhật vẫn nặng nề hơn, với hơn 50.000 lính tử trận, so với số tổn thất của Nga chỉ bằng một phần năm số tổn thất đó. Hỏa lực của Nga đã tỏ ra mạnh hơn, và lực lượng đông đảo chứng tỏ họ sẵn sàng đối phó với một cuộc chiến tranh quy mô tại Viễn Đông.

        Việc từ chức của Thủ Tướng Hiranuma sau khi mới cầm quyền được bảy tháng là dấu hiệu cho thấy phe cực đoan chủ trương bành trướng lãnh thổ đã tạm thời rút lui. Nói cho đúng là những sự kiện vừa xảy ra đã khiến các phần tử này trở nên bổi rối. Việc chỉ định một Tướng lãnh lên thay thế Thủ Tướng Hừanuma chỉ là hành động nhằm vớt vát thể diện cho Quân đội. Tướng Abe, sẳp sửa về hưu, được đưa lên ghế Thủ Tướng. Kinh nghiệm chánh trị của Tướng này không có gì, ngoại trừ việc ông từng làm Thống đốc cai trị xứ Triều Tiên.

        Gần một tuần sau khi Tướng Abe nhậm chức, chiến Cuộc Âu Châu bùng nổ vào ngày 3 tháng 9 năm 1939 với 'CUỘC tiến quân của Hitler vào Ba lan. Hận Đức vì hành động phản bội trước đây, và tin rằng thể nào Anh cũng nhảy vô vòng chiến, nên Chánh phủ của Tướng Abe tuyên bố Nhật đứng trung lập ở ngoài vòng chiến.

        Sau khi tiến quân vào Ba lan, Đức tạm ngừng, và các phe chống Đức ở Âu châu cũng chưa thấy có hành động đối phó cụ thể nào. Chánh phủ của Tướng Abe từ chức, nhường chỗ cho Nội các của Đô Đốc hồi hưu Yonai. Ông là người thận trọng đối với quan niệm truyền thống của Hải quân trong việc bành trướng quốc gia. Ngoại trưởng Hachiro Arita là một chánh khách giàu kinh nghiệm ngoại giao, ông không để mất thời giờ, vội vàng len tiếng tuyên bố lập trường của Chánh phủ ông là đứng ngoài mọi cuộc xung đột ở Âu châu. Hơn nữa, tại Thượng viện, Yonai còn tuyên bố Chánh phủ Nhật không có mưu toan nào trong việc chinh phục thuộc địa tại vùng Đông Nam Á, nhưng chỉ muốn mở mang giao thương với vùng này, và sẵn sàng ký hiệp ước bất tương xâm với mọi cường quốc có quyền lợi tại đó.

        Nhưng cả Chánh phủ Yonai và chánh sách trung lập đều bị sụp đổ ngay sau đó, khi Đức xua quân đánh chiếm chớp nhoáng Đan mạch và Na Uy. Đạo quân Quốc xã của Hitler tiến như gió cuốn, chỉ trong ít tuần lễ đã tràn ngập các nước Pháp, Bỉ và Hòa lan, đẩy quân Anh ra khỏi lục địa. Thế là phe quân nhân hiếu chiến ở Nhật lại háo hức nổi lên, làm áp lực với Chánh phủ.

        Lúc này, các thuộc địa của những nước bị Đức đánh như Pháp và Hòa Lan đang trở thành miếng mồi ngon cho Nhật tại Á Đông, Âu Châu chỉ còn một mình nước Anh đang chờ đợi cuộc đổ bộ của quân Đức. Thủ Tướng Anh Churchill tuyên bố thách thức quân Đức và cho biết nước ông sẽ chiến đấu tiêu diệt quân xâm lăng. Tại Đông Kinh, mọi người cảm thấy phục thái độ can đảm của Churchill, nhưng không tin tường nước Anh có thể đối phó với tình hình ở Âu Châu, huống hồ gì các thuộc địa ở Đông Á. Vào tháng Sáu, Thủ Tưởng Anh tuyên bố nước Anh từ chối lời yêu cầu của Nhật đòi đóng cửa trục giao thông Trung Hoa, Miến Điên. Ông nói : « Chúng tôi không quên là hiện tại chúng tôi đang phải đương đầu với một trận chiến một mất một còn » Hai hôm sau, quân Nhật tiến vào những vị trí xung quanh Hồng Kông, cô lập thuộc địa này của Anh, không còn đường liên lạc. Mỹ phản đối, nhưng không có hành động gì cụ thể. Thái độ của Hoa Kỳ hình như cố tránh việc Nhật nhảy vô vòng chiến. Nhưng các phần tử quá khích Nhật lại háo hức lăm le nhảy vô chiến tranh. Tất cả những ai chủ trương hòa bình đều bị gán cho nhãn hiệu phản quốc.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:13:44 PM

        Kế hoạch ám sát các nhân vật chủ hòa lại được bọn cực đoan chuẩn bị. Trong số những người chúng nhắm có cả Tổng Trưởng tại Hoàng cung là hầu tước Matsudaira, và Thủ Tướng Yonai. Để chận đứng âm mưu này, cảnh sát đã bắt giữ ba mươi tám sĩ quan , nhưng người cầm đầu bị hồ nghi là Đại tá Hashimoto lại vẫn được tự do. Ông ta vẫn nhởn nhơ ở ngoài, hình như được miễn trừ mọi hình phạt. Quân đội nhận thấy việc thay Thủ Tướng Yonai chỉ còn là vấn để ngày, giờ.

        Vào giữa tháng 7 năm 1940, Tướng Hata, Tổng trưởng Chiến tranh, báo cho Thủ Tướng Yonai biết : « Quân đội muốn có sự thay đối cơ cấu nội bộ để đối phó với tình hình quốc tế », và rằng ông ta cảm thấy cấn thiết phải xin từ chức để thực hiện việc thay đổi đó. Đồng thời ông cũng nói trắng ra cho Thủ Tướng Yonai hay quân đội không sẵn sàng bổ nhiệm một Tướng lãnh khác để làm việc trong Nội các của ông. Hai ngày sau đó, vì Nội các không thể nào tồn tại với ghế Tổng trưởng chiến tranh bỏ trống, nên Thủ Tướng Yonai đành phải xin từ chức cùng với toàn thể nhân viên trong chánh phủ.

        Những cải tổ mà Tướng Hata nói tới hình như đã được chuẩn bị sâu rộng, chớ không phải là chuyện tình cờ vừa xảy tới. Ba tuần trước đó, Hoàng thân Konoye, với tư cách cựu Thủ Tướng và đồng thời là một hội viên trong Hội đồng Tư vấn Hoàng gia, đã loan báo ông đang chuẩn bị thành lập « một cơ cấu chánh trị mới ». Tránh dùng tới chữ Đảng phái, nhưng ông cho biết có thể cơ cấu mới đó là một sự hợp nhất các đảng phái hiện có, dưới một sự sinh hoạt được hướng dẫn bởi Phụ tá đoàn của Hoàng gia.

        Rõ ràng là tổ chức mới này bắt nguồn từ phong trào Kodo ha do Tướng Araki khởi xướrg. Phong trào này chủ trương kết hợp quốc gia qua việc thể hiện Thần đạo của nước Nhật cổ truyền. Nền tảng để thực hiện tinh thần đó là việc học hỏi về các thuần phong, mỹ tục của dân tộc gọi là Shin Taisei, cũng như các nghệ thuật và dân ca cồ truyền. Những nguyên tắc sống theo Thần đạo được thể hiện trong các đơn vị căn bản của xã hội Nhật ở thành thị cũng như thôn quê là tonori gumi. Đơn vị này hiện nay được dùng làm một thứ liên gia để thông tin, tuyên truyền cho lý thuyết Thần đạo trên khắp quốc gia. Các sĩ quan, công chức đều được khuyến khích gia nhập và trở thành lực lượng nòng cốt dẫn dắt dân chúng. Công chức được học môn kiếm thuật của các hiệp sĩ Samurai cổ truyền để thêm tinh thẩn chiến đấu. Nhu đạo cũng được coi là phương tiện đế phát triền tinh thần này.

        Các chánh khách lão thành trong Hội đồng tư vấn Hoàng gia rõ ràng là những người đứng đàng sau phong trào cải tổ cơ cấu chánh trị này. Vì vậy Hoàng thân Konoye lại được đưa lên ghế Thủ Tướng để thi hành đường lối tập trung quyền hành chánh trị quốc gia. Quân đội cương quyết thi hành chánh sách độc đảng. Những nội các hay Tổng Bộ trưởng nào tiếp tục chống đối đường lối đó sẽ bị lật đổ.

        Ngày 18 tháng 7 năm 1940, Hoàng thân Konoye lần thứ hai ngồi ở ghế Thủ Tướng, khai mạc phiên họp Nội các và tuyên bố ông điều khiển một chánh phủ độc đảng để hợp nhất quốc gia, kết thúc cuộc chiến Hoa - Nhật, thân thiện với Đức và Ý. Bộ ngoài giao được giao cho Yosuke Matsuoka, người hai năm trước đã giúp Tướng Tojo cai trị tại Mãn châu.

        Quân đội và Tướng Hata, cựu Tổng trường chiến tranh, đang thảo luận để đưa ra một Tướng lãnh khác vào chức vụ đó trong tân nội các. Hoàng thân Konoye chánh thức gởi văn thơ yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu bổ nhiệm một Tướng lãnh, nhưng trên thực tế, ông thảo luận riêng với Hata để yêu cầu ông này chọn một người kế vị mình, và nhấn mạnh nhân vật đó phải là người có khả năng kiểm soát được quân đội. Hata và Bộ Tổng Tham mưu cho rằng ý Hoàng thân Konoye muốn có một người kiểm soát vững được kỷ luật quân đội, nhưng đồng thời các Tướng lãnh lại muốn rằng nhân vật đó là người không bao giờ chịu nhượng bộ lập trường của quân đội. Như vậy người đó chỉ có thể là : Hideki Tojo.

        Trong lúc đang đi thanh tra tại Mãn châu, Tojo được lệnh trờ về gấp bằng máy bay. Vừa tới Tokyo, lập tức ông được đưa tới gặp ngay Tướng Hata, và trong cuộc hội kiến này Hata trình bày cho Tojo hay những lý do khiến Nội các Yonai bị đổ, đồng thời cho Tojo biết ông đã được chọn vào chức vụ Tổng trưởng Chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Hai, 2018, 03:15:13 PM

CHƯƠNG XVI

        NGAY sau khi lên điều khiến Nội các, Hoàng thân Konoye cho quân đội và cả nước Nhật biết rõ ràng rằng ông không tin tưởng ở chánh sách dân chủ. Trong bài diễn văn đọc năm ngày sau khi khai mạc Nội các, Hoàng thân tuyên bố : « chánh thể tự do cũng như xã hội chủ nghĩa đều là những lý thuyết ngoại lai, không phù hợp với lý tưởng quốc gia của nước Nhật. »

        Các chánh khách cố vấn xung quanh Hoàng gia, khi chọn Konoye làm Thủ Tướng, đã cho ông ta toàn quyền giải quyết cuộc chiến Hoa-Nhật theo ý muốn và cách thức riêng của ông. Tuy nhiên các cố vấn Hoàng gia đặt cho ông một giới hạn là không được đưa cuộc chiến đó đi xa hơn nữa. Điều đó rất phù hợp với chủ kiến riêng của Konoye. Mặc dầu rất ghét Nga sô và lý thuyết Cộng sản, nhưng ông không đến nỗi mù quáng mà không nhận ra rằng một cuộc chiến tranh sâu vào phía Đông nội địa Nga là điều nguy hiểm. Hơn nữa, ông còn phải lo đối phó với cuộc chiến chống Hoa Kỳ. Tuy trong thâm tâm, có thể ông không muốn gây chiến với Mỹ, nhưng tình thế đã đẩy ông vào chỗ không đứng lại được trước trào lưu muốn mở những chiến tranh mới. Trong vấn để chủ chiến, mặc dầu Konoye đã hết sức tỏ ra mình là người tích cực chuẩn bị, nhưng cuối cùng ông vẫn bị coi là thiếu hăng hái, nên đành phải rút lui, nhường chỗ cho một nhân vật được coi li nhiệt thành hơn ông ta.

        Trong những ngày đầu làm việc của Nội các, Thủ Tướng Konoye tin tướng Tướng Hideki Tojo sẽ củng cố được vấn đề kỷ luật và kiểm soát quân đội một cách chặt chẽ. Những việc làm của Tojo khiến Konoye cảm thấy phấn khởi. Mặc dầu hành động thật nhân tâm của Tojo trước đây đối với giới kỹ nghệ, nhưng giữa ông và Thủ Tướng hiện tại có sự đồng ý hoàn toàn về phương thức làm việc của Nội các. Ngay trong cuộc tiếp xúc đầu tiên, Tướng Tojo đã đồng ý với Thủ Tướng Konoye về việc phải duy trì kỷ luật chặt chẽ trong quân đội, về việc phải kết thúc chiến cuộc Hoa-Nhật, và về sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Chỉ huy cao cấp của Lục quân và Hài quân, cũng như việc tái lập uy quyền của Thủ Tướng.

        Sau này không biết bắt đầu từ lúc nào, Tojo lại cho rằng Hoàng thân Konoye không còn thích hợp với chức vụ Thủ Tướng. Thế là thái độ hòa hợp của ông trước đây đối với Thủ Tướng đã thay đổi.

        Tại Bộ Ngoại giao, ngoại trưởng Matsuoka tin chắc rằng nước Đức sẽ thẳng trận và Nhật cần phải nhảy vô vòng chiến để được chia phần.

        Hai tuần sau khi nhậm chức, ngoại trưởng Nhật tuyên bổ nước Nhật có sứ mạng phải mở rộng Đế quốc và giúp các quốc gia khác trên thế giới sống theo đúng tư thế của mỗi dân tộc. Theo quan niệm đó của ông thì các đảo Đông Indies của Đức và thuộc địa Đông Dương của Pháp là một thành phần của lãnh thổ «Đại Đông Á». Những phần đất đó cần phải nhập vào vòng ảnh hưởng của Nhật. Đó là những lời giải thích thêm của phát ngôn viên Bộ ngoại giao trong một cuộc họp báo. Phát ngôn viên này còn đi xa hơn những lời tuyên bố của Tổng trưởng ngoại giao, khi cho rằng vùng ảnh hưởng của Đế quốc Nhật gồm cả những lãnh thổ ở miền Biển Nam Hải. Khi một ký giả Mỹ đứng lên hỏi, liệu vùng đó có bao gồm Phi luật tân hay không, thì phát ngôn viên từ chối trả lời. Tại Thượng viện, ngoại trưởng Nhật tuyên bố nếu Hoa Kỳ chống lại những mục tiêu bành trướng đó của Nhật, nước Nhật sẽ buộc lòng phải trả đũa, và trong trường hợp đó có thể Nhật sẽ tham dự vào chiến cuộc Âu châu.

        Những tham vọng của Nhật được các cố vấn của Hitler cân nhắc. Những vị nẩy cho rằng Nhật không giúp được gì cho Đức tại mặt trận Âu châu. Lý do là hiện tại Đức đã hoàn toàn kiểm soát lục địa này và không cần tới sự trợ giúp của Nhật. Hitler đã bỏ ý định xâm lăng Anh quốc. Vì nước này mặc dầu còn đang chiến đấu, nhưng không có gì gọi là đe dọa đáng ngại đối với Đức. Vì vậy mà những lời tuyên bố của ngoại trưởng Nhật lúc đầu bị Đức coi dửng dưng.

        Nhưng sau, Hitler thình lỉnh chuẩn bị cuộc tiến quân vào Nga sô, và nhận thấy lực lượng của Nhật là điều cẩn thiết để cầm chân những đạo quân của Nga tại Viễn Đông. Ngoài ra, Nhật còn là một yếu tố để cầm chân hải quân Anh tại Thái bình dương. Đồng thời cũng khiến Mỹ phải chú ý và không còn rảnh rang dòm ngó tới mặt trận Âu châu. Nhận định như vậy, các nhân vật Quốc xã vội vàng tới Tokyo, giải thích cho Nhật hay, Đức hoàn toàn công nhận Nhật là một cường quốc ở Á châu, và công nhận Nhật có toàn quyền tiến quân, hoặc hành động theo ý muốn tại vùng này.

        Trong những cuộc hội kiến, thảo luận với Thủ Tướng và Tổng trưởng ngoại giao, Tướng Tojo nhận thấy hai nhân vật này thiên về lập trường liên minh với Đức. Sau đó, ông hoàn toàn đồng ý ngay việc Nhật bản quay về những triền vọng bành trướng tại vùng Đông Nam Á, dù cho việc đó có cần phải ký với Nga sô một hiệp ước bất tương xâm tại phía Bắc, Nhật cũng sẵn sàng.

        Đầu năm 1941, ngoại trưởng Nhật chạy đôn chạy đáo qua lại giữa Bá Linh và La mã để ký minh ước gia nhập phe Trục. Ông tuyên bố tại Bá linh : «từ nay nước Nhật chia vui xẻ buồn với nhân dân Đức ». Cuối cùng trước khi từ biệt để sang Nga, ngoại trưởng Nhật nâng ly chúc mừng nước Đức «may mắn và thành công» trong việc xâm lăng vùng Ba nhĩ cán. Tại Mạc tư khoa, ngoại trưởng Nhật ký với Stalin một hiệp ước bất tương xâm để bảo đảm Nga sẽ không xía vô kế hoạch thành lập khu vực «Đại Đông Á» của Nhật. Một tuyên cáo chung được công bố sau lễ ký kết hiệp ước : Nhật công nhận tôn trọng lãnh thổ Ngoại Mông thuộc Nga sô. Ngược lại, Nga thừa nhận sự vẹn toàn lãnh thổ và bất xâm phạm vào Mãn châu của Nhật. Lúc rời Mạc tư khoa, ngoại trưởng Nhật được đích chân Stalin tiễn đưa. Đó là một đặc ân hiếm có Sô viết dành cho các khách danh dự. Khi ông ta vừa về tới Tokyo thì Đức tấn công Nga — nhằm ngày 22 tháng 6 năm 1941, và ngoại trưởng Nhật không ngần ngại yêu cầu Chánh phủ Nhật tấn công, xâm lăng Nga ở phía Đông.

        Việc Đức xâm lang Nga sô khiến cho nhiều chánh khách Nhật phải suy nghĩ. Như vậy là lúc này Anh quốc được rảnh tay để đối phó với các biến cố tại Viễn Đông. Với những cuộc tiến quân vào Nga nhanh như vũ bão, Nhật e ngại, không biết sau khi chiếm xong Nga, Đức có chịu ngồi yên hay không. Hoặc giả sau đó Đức lại tính tới vùng Viễn Đông ?


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 10:55:34 AM

        Những lời tuyên bố của Hitler cho rằng ông ta sẽ lấy Mạc tư khoa trong vòng ba tuần, và chiếm những nơi còn lại trên đất Nga ít tháng sau đó, khiền Tổng trưởng chiến tranh Nhật sốt ruột. Tojo động viên quân đội tới mức tối đa. Nhất là đạo quân Kwangtung tại Mãn châu, lúc này các sĩ quan trong Bộ Tham mưu tại đó đang ráo riết chuẩn bị một cuộc tiến quân vào vùng Tây bá lợi Á. Họ chỉ còn đọi lệnh của Chánh phủ và hy vọng thế nào chuyện đó cũng xảy ra. Quân số đạo quân này hiện đã gia tăng gấp đôi lên tới 600.000 người. Họ sẵn sàng tiến quân để thực hiện một cuộc chia đôi nước Nga với Đức, giống như kiểu Stalin và Hitler chia nhau Ba lan trước đây. Nhưng khi được tin quân Hitler bị chận lại gần Mạc tư khoa, Nhật liền rút số quân tăng cường ở Mãn châu về phía Nam, ở đây Hải quân đang có những mưu toan bành trướng mới. Việc rút quân này cũng rất hợp với chủ trương của Hoàng thân Konoye.

        Sau khi đã chiếm trọn vùng duyên hải phía Nam Trung Hoa và đảo Hải Nam, năm 1940, lợi dụng việc Pháp thất trận ở Âu châu, Nhật lại lăm le tiền xa hơn nữa về hướng Nam. Cho rằng đồ tiếp liệu quan trọng cho Tưởng giới Thạch được đưa từ biên giới Việt Nam qua, Nhật đòi phải để cho mình kiểm soát vùng Bắc Việt. Một mặt đe dọa, một mặt nhờ Đức làm áp lực với Chánh phủ Pétain, cuối cùng Pháp đành ra lệnh cho Toàn quyển Đông Dương nhượng bộ. Thế là Nhật ùn ùn đổ quân lên miền Bắc Việt Nam.

        Bước kế tiếp, Nhật đòi Pháp phải để cho họ kiểm soát toàn thể Đông Dương, lấy cớ để đề phòng một cuộc tấn công của Anh, và lý đo thứ hai là sợ Phe De Gaulle sẽ đảo chánh. Chánh quyền thuộc địa Pháp không có cách nào khác hơn là nhượng bộ. Thế là Nhật mau mắn chiếm nốt miền Nam Đông Dương vào tháng 7 năm 1941. Bây giờ họ đã có tất cả tám phi trường, ba căn cứ hải quân để xử đụng. Những lực lượng hải và không quân Nhật có thể từ đó tấn công sang tận Mã lai, Phi luật tân. Quân đội tại Nhật đang chuẩn bị cuộc đánh chiếm Thái lan để nối liền Nhật bản với bán đảo Mã lai. Thấy vậy, Chánh phủ Thái liền mời Nhật sang kiểm soát như kiểu Pháp đã làm tại Đông Dương. Như vậy toàn vùng Đông Nam Á nằm gọn trong tay Nhật.

        Việc chiếm phía Nam Đông Dương đã được quyết định ngày 2 tháng 7 năm 1941 trong một phiên họp của Hội đồng Hoàng gia Nhật. Lúc đó, quân Nhật tại Mãn châu vẫn còn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, để chờ nếu Đức chiến thắng ở Nga là nhảy vào. Với sự quyết tâm của Tojo và các nhân vật khác trong Nội các, quyết định chiếm Nam Đông Dương được thực hiện, bất chấp việc có thể sẽ phải đương đẩu với một cuộc trả đũa của Anh và Mỹ. Phe chủ chiến cho rằng tình hình Đông Dương lúc này chín mùi chỉ còn chờ để rơi vào tay Nhật.

        Hoàng thân Konoye không muốn va chạm với Hoa Kỳ, nhưng dù cho có phải đụng độ thì cuộc chiến đó cũng không đến nỗi quá nguy hiếm trong tình thế hiện nay của thế giới. Thế là sự sợ hải đó của ông được dẹp qua một bên.

        Hơn nữa, Chánh phủ của ông lúc đó cũng muốn lợi dụng cơ hội tình hình quốc tế lúc này để mở rộng thêm Đế quốc Nhật. Khai thác hoàn cảnh thất trận của Pháp lúc này để cướp thuộc địa của họ quả là việc làm rất đúng sách. Mặt khác, Konoye còn sợ rằng nếu chần chờ không chiếm Đông Dương, những phẩn tử chủ chiến Nhật có thể gây ra một cuộc chiến tranh với Nga thì còn nguy hiểm hơn.

        Ngoại trưởng Nhật không đồng ý việc tiến quân về phía Nam, nên bị Tướng Tojo nghi ngờ là những phần tử dân sự có khuynh hướng cản bước tiến của phe quân sự.

        Mọi việc chuẩn bị cho chiến tranh đã hoàn tất. Thủ Tướng Konoye yên trí phần nào và dần dần trở thành tự tin, phấn khởi. Những đơn vị tác chiến trong rừng đã được huấn luyện chu đáo. Sự phối hợp giữa Hải và Lục quân cũng đã hoàn thành tốt đẹp. Ngoài ra Bộ Tài chánh cho in sẵn giấy bạc của các nước trong vùng chiếm đóng. Từ miền Nam Việt Nam, các phi cơ Nhật hàng ngày cất cánh đi thám thính và chụp hình các địa điểm đổ bộ lên Mã lai. Tình báo Nhật tại vùng Kinh đào Panama canh chừng sự di chuyển của Hạm đội Hoa Kỳ. Trong lúc Nhật đổ bộ lên miền Nam Việt Nam, Hải quân Mỹ tại Hạ-uy- di có bắt được mười bảy tàu đánh cá nhỏ của Nhật thường lảng vảng thả lưới ở vùng này. Nhưng khi khám thì thầy các thuyền này đểu có trang bị dụng cụ gián điệp như máy ảnh, vũ khí, máy vô tuyến và bản đồ hàng hải. Các ngư phủ thực ra chính là những sĩ quan hải quân Nhật trá hình. Tại Nhật lúc này, Đô Đốc Yamamoto, Tư lênh Hạm đội hỗn hợp đang chuẩn bị kế hoạch tấn công hạm đội Thái bình dương của Mỹ.

        Konoye nghĩ rằng Anh và Mỹ không thể nào can thiệp để lấy lại Đông Dương cho Pháp. Nhưng điều ông không tính tới là sự điều động lực lượng quan trọng của Nhật tới một vị trí chiến lược ở bờ biển 'Việt Nam đã khiến Anh và Mỹ đặc biệt quan tâm. Họ thừa đoán được rằng một nước hiếu chiến như Nhật sẽ không thể nào ngừng lại khi chiếm được Đông Dương, mà sẽ còn đi xa hơn nữa.

        Trong vòng bốn mươi tám giờ sau khi Nhật đổ bộ tại miền Nam Việt Nam, Anh, Mỹ và Hòa Lan nhất loạt cấm các tàu hàng của họ tới Nhật, đồng thời tàu Nhật cũng được lệnh phải rời các hải cảng của những nước này. Sau khi đổ bộ hoàn tất lên Đông Dương và đài phát thanh Nhật bắt đầu chuẩn bị tuyên truyền cho cuộc đổ bộ tại Thái Lan, Hoàng thân Konoye nhận thấy ông đã tính lầm. Mặc dầu chưa sẵn sàng, nhưng Đồng minh đã nhằm đánh vào yếu điểm của Nhật : Mỹ cấm các tàu dầu cung cấp cho Nhật, và Hòa Lan cũng ra lệnh cho các nhà máy lọc dầu ở Đông Indies thôi cung cấp cho Nhật.

        Nhật phải đương đầu với cuộc phong tỏa kinh tế ngặt nghèo, và chắc chắn bị bóp chết nếu không tìm cách phá vỡ vòng vây kinh tế này. Sự đe dọa lúc này không còn phải chỉ là viễn ảnh bị Mỹ đánh bại, nhưng nguyên việc không có dầu cũng đủ khiến Nhật chết, không cần phải ai đánh. Nếu Mỹ không mở vòng vây thì Nhật chỉ còn cách duy nhất để tự cứu là đánh chiếm các cơ sở lọc dầu tại Đông Indies và các nguồn tài nguyên như cao su và thiếc ở Mã lai. Với số lượng dầu chỉ còn đủ xài trong vài tháng, vấn đề đặt ra cho Hải quân Nhật lúc này không còn là nên hay không nên đánh chiếm các nơi đó, mà là chừng nào thì phải chiếm xong, và liệu có làm kịp hay không.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 10:59:14 AM

CHƯƠNG XVII

        Sự ngạc nhiên của Thủ Tướng Konoye trước những đòn trả đũa nghiêm trọng của Đồng Minh có vẻ thực là ngây thơ. Nhưng dù sao thì chuyên đó cũng đã xảy ra. Những phản ứng của Hải quân về vụ này ngoài sức chịu đựng của Thủ Tướng Konoye. Lục quân cho biết có thể chờ đợi quyết định dứt khoát của Chánh phủ tới tháng Mười Một. Nhưng Hải quân gởi tối hậu thơ bảo rằng họ chỉ có thể chờ đợi trong vòng tháng Mười. Hòa hay chiến bắt buộc phải quyết định trong khoảng thời gian đó.

        Với lưỡi gươm treo sẵn trên đầu như vậy, Thủ Tướng cuống cuồng trong các nỗ lực ngoại giao để tìm một phương thức dàn xếp với Hoa Kỳ. Đại sứ Nhật tại Hoa Thịnh Đốn là Đô Đốc Nomura, vốn xa lạ với những công việc ngoại giao, chạy qua chạy lại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để xin gặp ngoại trưởng Mỹ Cordell Hull, nhưng không đạt được kết quả gì.

        Phía Mỹ lúc này không những đòi Nhật phải rút quân khỏi Đông Dương, mà còn bắt buộc Nhật phải triệt quân ở Trung Hoa về nữa. Nhật cho rằng yêu sách đó phi lý, vì theo họ, hành động trả thù của Mỹ chỉ có thể nhắm vào việc Nhật tiến chiếm Đông Dương, chứ không thể bao gồm những hành động của Nhật tại Trung Quốc. Sự thực là lúc này ngoại trưởng Mỹ thấy cần phải cứng rắn với Nhật. Những nhượng bộ và nhục nhã nước Anh phải chịu tại Munich mới đây vẫn còn chưa phai trong trí nhớ của ông ta. Lúc này ngoại trưởng Hull coi hai tiếng nhượng bộ là một danh từ nhơ nhuốc. Trong cuộc thương thuyết với Nhật, đã có lúc ngoại trưởng Mỹ định bằng lòng cho Nhật được ở lại Trung Hoa với điều kiện không được đổ quân thêm nữa và phải triệt thoái hoàn toàn ra khỏi Đông Dương. Nhưng Tưởng Giới Thạch cực lực phản đối. Vả lại thái độ lo lắng muốn dàn xếp mau chóng của Thủ Tướng Nhật Konoye khiến ngoại trưởng Mỹ cho rằng sự trừng phạt kinh tế đã có hiệu quả. Cộng thêm vào đó là việc bổ sung lực lượng Đồng Minh ở Viễn Đông khiến thắng lợi đang nghiêng về phía Mỹ.

        Ngoài ra, nước Mỹ bị mắc vào một tính toán sai lẩm khi tin rằng hầu hết lực lượng của Nhật đã được dốc vào mặt trận tại Trung Quốc, sở dĩ có sự suy đoán sai như vậy, cũng là vì người Mỹ bị mắc lừa những báo cáo sai lạc của Tưởng Giới Thạch. Theo những con số ghi trong báo cảo, quân Nhật đã chết hơn một triệu tại Trung Hoa kể từ năm 1937. Nhưng sau này khi trận Trân châu cảng bùng nổ, bấy giờ Mỹ mới khám phá ra những điểm sai lạc của các con số trong báo cáo. Thực ra, cho tới năm 1941, sức mạnh quân lực Nhật Bản đã lên tới mức cao nhất, và thực ra chỉ có một phần nhỏ tham dự vào những trận đánh tại Trung Quốc mà thôi.

        Ngoại trưởng Matsuoka của Nhật đã có lần cảnh cáo Mỹ ; «Nếu người Mỹ cho rằng chúng tôi đã kiệt sức và có ý định bắt bí, thì buộc lòng Nhật Bản phải chứng tỏ cho họ thấy sự thực không phải như vậy. Đã nhiều lần chúng tôi bày tò thiện chí với người Mỹ, mục đích của chúng tôi trong chánh sách Đại Đông Á chỉ là giúp cho các dân tộc trong vùng này có cơ hội sống tự do, dân chủ, thoát khỏi chế độ thuộc địa, áp bức. Nhưng ngoại trưởng Hoa Kỳ cứ nhất định gán cho chúng tôi những hậu ý đen tối. Nếu cho rằng quả thực chúng tôi có ý định bành trướng thế lực, thì Người Mỹ cũng vẫn không có quyền gì để chỉ trích, trong lúc chính họ cũng đang theo đuổi chủ thuyết Monroe, tìm cách chinh phục Mỹ Châu ».

        Với sự bại trận của Pháp và Hòa Lan ở Âu châu, những thuộc địa Á Châu của Tây phương chỉ còn trông cậy vào lực lượng của Mỹ. Do đó Mỹ nhất định đứng ra cản không để cho Nhật thực hiện tham vọng chiếm lại thuộc địa của các nước Tây phương.

        Lập trường cứng rắn của Mỹ đã được Hoàng thân Konoye nhận thấy rõ. Tuy bực tức, nhưng ông tìm cách giải quyết bằng một biện pháp táo bạo : để nghị gặp gỡ với Tổng thống Roosevelt tại Hawaii. Tổng trường Hải quân, Đô Đốc Oikawa, tán thành cuộc gặp gỡ này. Chỉ có Tổng trưởng chiến tranh là Tướng Tojo không đồng ý. Ông cho rằng làm như vậy sẽ khiến Đức không bằng lòng. Nhưng sau đó, Tojo nhận thấy Đức đã xua quân đánh Nga mà không hề tham kháo ý kiến của Nhật, nên việc giữ ý với ông bạn đồng minh Đức không còn nữa. Hơn nữa, vị ngoại trưởng kết thân với Đức là Matsuoka lúc này không còn ở trong Nội các. Do đó, Tojo nói với Thủ Tướng Konoye nếu chuyện gặp gỡ Tổng thống Mỹ là chuyện đem lại lợi ích cho Nhật thì cứ việc làm. Nhưng nếu thất bại trong việc tìm sự thông cảm với người Mỹ, thì Thủ Tướng sẽ trở về không phải để từ chức, mà để lãnh đạo chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 10:59:34 AM

        Quyết định xong, Thủ Tướng Nhật liền thông báo đề nghị cho Đại sứ Mỹ ở Tokyo là Joseph Grew để ông này chuyền lại cho Tổng Thống Mỹ. Sau một thời gian lưỡng lự với nhiều may mắn tạo cơ hội gặp gỡ vuột qua, cuối cùng Chánh phủ Mỹ trả lời khẳng định từ chối một cuộc gặp gỡ như vậy, với lý do là cần phải có những đồng ý căn bản giữa hai chánh phủ Nhật-Mỹ trước khi thực hiện cuộc gặp gỡ.

        Khi nhận được sự trả lời dứt khoát trên đây của Mỹ, Thủ Tướng Konoye cũng được biết là Bộ Tổng Tư Lệnh đã đồng ý với hạn kỳ chờ đợi cuối cùng cho tới tháng Mười của Hải quân. Ngày 5 tháng Chín, Đại Hội Đồng Tư vấn Nhật Hoàng nhóm họp cùng với Tư Lênh Lục quân, Tướng Sugiyama, và Tư Lệnh Hải quân, Đô Đốc Nagano. Trong cuộc họp quan trọng này, Nhật Hoàng hỏi các Tướng lãnh cần bao lâu để lấy xong vùng Đông Nam Á. Khi được trình là trong vòng chừng ba tháng, Thiên Hoàng nhắc nhớ các Tương lãnh về kỳ hạn đánh Trung Hoa trước đây, họ cũng từng nói là bốn tháng, nhưng sau đó đã kéo dài gấp mấy lần. Các Tướng lãnh tâu rằng tình hình hiện nay đã thay đổi nhiều. Trong mọi hoàn cảnh, nước Nhật cần phải có một cuộc chiến tranh mới giải quyết được các khó khăn của mình. Phe quân sự khẳng định nếu không hành động mau, nước Nhật sẽ trơ thành kẻ bại trên bàn cờ quốc tế.

        Trong phiên họp Hội đồng Nội các ngày hôm sau do Thiên Hoàng chủ tọa, Nhật Hoàng Hirohito đã được Tư Lệnh Hải quân trình lên kỳ hạn chót trong chương trình hành động của họ. Theo đó, mọi nỗ lực dàn xếp với Mỹ sẽ được chấm dứt vào mười ngày đầu tháng Mười. Nếu thất bại thì mươi ngày sau đó, mọi sửa soạn chiến tranh phải hoàn tất. Nước Nhật cần phải chiến đầu để tự vệ và tự phòng. Thiên Hoàng không biết làm gì khác hơn là ngồi nghe, và Ngài bắt buộc phải chấp nhận mọi quyết định của Nội các. Cuối cùng Ngài hạ chỉ khuyên mọi người bằng mọi cách hãy nỗ lực tìm một sự hòa giải qua đường lối ngoại giao. Thế là đường lồi hành động của Nhật kể như đã được thông qua với sự chấm dứt của phiên họp này.

        Về phần Hải quân, Đô Đốc Oikawa muốn đẩy mạnh nỗ lực để giúp Thủ Tướng Konoye trong sứ mạng tìm một giải pháp hòa bình. Cả hai người từng làm việc chung với Nhật Hoàng khi Ngài còn là Đông cung Thái Tử, nên rất hiểu ý của Ngài là không muốn có chiến tranh với Anh và Mỹ.

        Tuy nhiên, Tojo bên Lục quân thì lại cho rằng trong phiên họp vừa qua, Nhật Hoàng kể như đã đồng ý với thời hạn cuối cùng của Hải quân đưa ra.

        Cuối tháng Chín, Thủ Tướng Konoye bị xúc động mạnh trước hai sự kiện quan trọng xảy ra : Ngày 18 tháng Chín, khi ông vừa từ nhà bước lên xe để tới Thủ tướng phủ, thì một toán năm sáu tên sát nhân nhào tới định đâm ông. Toán vệ sĩ đã đề phòng nên nhào tới hạ được bọn này, và xe của Thủ Tướng chạy thoát. Sau đó, ông được tin Hải quân cho biết, họ bằng lòng cho ông một thời hạn ba tuần thêm nữa, và buộc ông bằng mọi cách phải giải quyết cho xong mọi vấn đề.

        Được tin này, Konoye vội vàng hỏi ý kiến của Lục quân, nhưng Tojo cho hay : hạn cuối cùng đế quyết định hòa hay chiến là 15 tháng Mười, không thể thay đổi vì Thiên Hoàng đã đống ý với kỳ hạn đó Được sự ủng hộ của Tổng trưởng Hải quân, Hoàng thân Konoye tìm cách thuyết phục Tojo, nhưng ông này chỉ trả lời vắn tắt : Thủ tướng cứ việc vận động Hòa bình, nhưng đối với Lục quân thì kỳ hạn 15 tháng Mười không thể thay đổi.

        Hy vọng của Konoye vào Tổng trưởng Hải quân lại tiêu tan luôn khi Tư Lệnh Hải quân cho ông biết rằng vì thiếu dầu, Hải quân không thể chờ đợi lâu hơn. Họ cần phải thiết lập ngay các căn cứ hành quân. Hơn nữa, càng chờ đợi thì Hải quân Mỹ càng được tăng cường và trở nên mạnh hơn. Thái độ của Tojo còn tỏ ra cương quyết hơn nữa. Ông cho biết kỳ hạn cuối cùng đã được Thiên Hoàng và Bộ Chỉ Huy Tối cao chấp nhận, không thể nào thay đổi được. Ông cho rằng lúc này không còn thời giờ để bàn cải. Tuy biết đánh nhau với Mỹ là điều nguy hiềm, nhưng Tojo cho rằng tới một lúc nào đó, cần phải lao mình vào, và chấp nhận nước liều. Nước Mỹ tuy giàu và mạnh, nhưng quân đội Mỹ không có được tinh thần chiến đầu hăng say như quân đội Nhật. Hơn nữa lúc này thời giờ càng kéo dài càng có lợi cho Mỹ.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 11:00:02 AM
       
        Ngày 11 tháng Mười, trước khi có một phiên họp Nội các, Đô Đốc Oikawa tới cho Thủ Tướng Konoye hay nhiều sĩ quan đầu não trong Hải quân tỏ ý không muốn có một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ, vì họ không tin tướng có thể chắc ăn. Tuy nhiên, ông nói, cá nhân ông không dám đồng ý như vậy vì sợ liên lụy đến tinh thần dân chúng và tinh thần chiến đấu của Lục quân.

        Phiên họp trong ngày sau đó có Đô Đốc Oikawa, Tướng Suzuki, Chủ tịch ủy Ban nghiên cứu kế hoạch, Tướng Toyoda, xử lý Bộ ngoại giao, và Tojo. Mở đầu phiên họp, Đô Đốc Oikawa cho biết Hải quân muốn để vấn đề hòa hay chiến cho Thủ Tướng quyết định. Lập tức, Thủ Tướng Konoye cho biết, nêu vậy thì ông muốn được tiếp tục các cuộc thương thuyết với Hoa Kỳ. Nhưng Tojo cho rằng Thủ Tướng đã đi quá xa. Vấn đề hòa bay chiến không thể để một mình Thủ Tướng quyết định được. Theo ông thì cuộc vận động của Thủ Tướng phải được bảo đảm thành công. Ngược lại, phải phát động chiến tranh trước khi quá trễ.

        Xử lý Tổng Trưởng ngoại giao, Tướng Toyoda cho rằng nếu Bộ Chiến tranh chịu nhượng bộ Hoa Kỳ một điểm, là rút quân khỏi Trung Hoa, có thể chỉ cần chấp nhận trên nguyên tắc, lập tức các bế tắc thương thuyết Nhật-Mỹ có thể được khai thông. Nhưng Tướng Tojo nói việc giữ quân tại Trung Hoa là vấn đề sinh tử, không thể nào nhượng bộ được, nếu Nhật muốn giữ Mãn châu và Triều Tiên, Nhật cẩn phải để quân đội ở Trung Hoa để ngăn chận sự bành trưởng của Cộng sản trên khắp lục địa Á châu. Quân đội có thể xác định họ không muốn chiếm lãnh thổ Trung Quốc, nhưng chỉ làm vậy vì tánh hiếu hòa chớ không phải vì muốn hỗ trợ chánh sách của Thủ Tướng. Nếu trường hợp tuyên bố như vậy rồi mà Mỹ vẫn chưa chịu, và các kết quả ngoại giao đưa tới việc bắt buộc quân đội triệt thoái, thì kể như tinh thần chiến đấu toàn quốc hoàn toàn suy sụp. Và biết đâu, Mỹ không đòi nhiều yêu sách khác nữa để dồn Nhật vào thể bắt buộc phải gây chiến trong một tư thế thiệt thòi.

        Trước lập luận trên đây, Thủ Tướng Konoye tuyên bố : «Nếu ông Tổng Trưởng chiến tranh đã nhấn mạnh như vậy thì không còn hy vọng nào hòa giải được. Thực không còn gì hết.»

        Một ngày trước khi kỳ hạn thương thuyết chấm dứt, thái độ của Thủ Tướng Konoye lơ lửng không quyết định giữa hai ý kiến mâu thuẫn của Hải và Lục quân. Ông khuyên Tướng Tojo nên xem xét lại vấn đề, và ôn lại kinh nghiệm trong trận chiến tranh Nga-Nhật năm 1905. Nhưng hình như Tojo đã khòng kể gì tới những kinh nghiệm đó.

        Tojo nhắc lại lập trường không nhượng bộ của quân đội. Ông cho rằng Mỹ nhất định muốn làm chủ nhân ông của toàn vùng Đông Nam Á. Konoye cũng trở nên nghi ngờ không biết Mỹ có thực chỉ đòi Nhật rút ra khỏi Trung Hoa thôi hay không. Hoặc giả, sau đó, lại đòi thêm nhiều chuyện khác nữa. Tojo thì nhất định cho rằng thể nào Mỹ cũng chơi đòn «được đàng chân, lần đàng đầu» để ép Nhật cho tới lúc bắt buộc Nhật phải lâm chiến trong tư thế yếu kém nhất. Konoye cố gắng trình bày lập trường chống chiến tranh của ông là vì ông ngại Nhật một lúc phải chống đỡ cả hai mặt trận : một ở Trung Quốc, một ở Thái bình dương với Mỹ. Ông nói: «một khi chiến tranh đã phát động, nước Nhật sẽ lâm vào vòng chiến trong khoảng mười năm nữa.»

        Tojo tỏ vẻ bực tức. «Thủ Tướng chỉ nghĩ tới những nguy hiểm. Tánh tình tôi và Thủ Tướng quá khác biệt.» Đó là những nhận xét của Tojo về Thủ Tướng Konoye. Ông nhiều lần lặp đi lặp lại như vậy trong một phiên họp nội các. Konoyc chán nản thốt lên : «Hắn ta đang trở thành lão chủ với uy quyền tuyệt đối.» Tojo cũng không còn kiên nhẫn, ông công khai bày tỏ ác cảm đối với Thủ Tướng, người mà ông cho là thiếu cương quyết và can đảm. Đi xa hơn nữa, Tojo còn đề nghị từ nay ông và Thủ Tướng Konoyc không nên gặp nhau nữa, vì rất có thể gặp Thủ Tướng, ông sẽ không dằn được cơn giận. Tối hôm đó, Tojo gởi cho Thủ Tưởng một lá thơ, nói nếu Nội các không có quyết định gì về vấn đề chiến tranh thì ông phải từ chức. Ông cho rằng, nếu Nội các có thể quyết định được vần đề đó thì chắc chắn sẽ giải quyết xong tình hình căng thẳng hiện nay. Nhưng ông thêm rằng «quân đội đã tiến tới chỗ không thể ngừng lại được.»

        Cuối cùng Thủ Tướng Konoye đành phải từ chức. Vì ông cho rằng một vài ngày nữa, nếu ông không từ chức thì Tojo cũng làm cho Nội các phải đổ bằng cách rút khỏi chức Tổng trưởng chiến tranh.

        Chuyện khủng hoảng Nội các được đưa lên để Ngài Chưống ấn Kido giải quyết. Kể từ khi Hoàng thân Saionịi qua đời vào năm 92 tuổi, Kido là người lên kế vị ở chức vụ tối cao đó trong Hoàng cung. Ông là người đã có nhiều kinh nghiệm trong các vụ giải quyết nạn kiêu binh của đạo quân Kwangtung tại Mãn châu, cũng như việc các quân nhân đòi lập hệ thống chánh trị độc đảng. Chức vụ Chưởng ấn Hoàng gia là một chỗ đòi hỏi rất nhiều kinh nghiệm chánh trị. Nhân vật ở chức vụ này không những phải quán triệt tình hình chánh trị để tâu trình lên Nhật Hoàng mà còn phải là người biết cân nhắc tánh cách quan trọng của tình hình trước các biến cố xảy ra, để nếu cần thì khuyến nghị Thiên Hoàng dùng uy quyền tối thượng của Ngài để can thiệp hầu cứu nguy cho đất nước.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 11:01:18 AM

        Nhưng trong giờ phút cấp bách này, Ngài chưởng ấn Kiđo đã không có một hành động quyết liệt nào ngõ hầu ngăn cản chiến tranh khỏi xảy ra. Có người nói rằng vì ông quá khôn nên sau này mới phải trả cái giá đắt, là ngồi tù chung thân khi bị tòa án Đồng minh lên án và coi ông là tội phạm chiến tranh. Nhưng thực ra, lúc đó dù cho ông có khuyên Nhật Hoàng lấy quyền tối thượng để ngăn cản chiến tranh, cũng chưa chắc đã được. Không khí chiến tranh trong quân đội lúc đó đã lên quá cao. Biết đâu họ không bất chấp cả lệnh của Thiên Hoàng để hành động theo chiều hướng riêng. Trong trường hợp như vậy, đất nước còn phải chịu một cuộc chiến thảm khốc hơn nữa. Quả thực đó là một canh bạc quá nguy hiểm, mà Kido không dám nhúng tay vào, và không thể liều. Cũng có người sau này phê bình rằng Kido chịu ảnh hưởng của vị Chưởng ấn tiền nhiệm là Hoàng thân Saionji, chủ trương để Thiên Hoàng vượt lên trên mọi tranh chấp chánh trị, không nhúng tay vào, giống như «cánh hạc bay tận tầng mây trên cao.»

        Vấn để bây giờ là chọn một vị Thủ Tướng kế vị cho Hoàng thân Konoye. Tojo đề nghị Hoàng thân Higashikuni. Ông ta đã từng phục vụ trong quân đội tại Trung Hoa. Nhưng Kiđo hoàn toàn phản đối. Ông cho rằng Konoye là ngưòi trong Hoàng tộc mà không kiểm soát nổi quân đội, nếu bây giờ lại đưa thêm Hoàng thân Higashikunỉ vô nữa thi chỉ thêm mang tiếng và làm mất uy tín của Hoàng gia. Hơn nữa, cấp bậc của Hoàng thân Higashikuni chưa đủ để có thể kiểm soát được quân đội trong tình thế này.

        Sau cùng sự chọn lựa được giới hạn vào hai nhân vật : Đô Đốc Oikawa và Tướng Tojo. Oikawa là ngưòi ôn hòa, được Nhật Hoàng tin cẩn, và từng có nhiều kinh nghiệm đối với các cuộc khủng hoảng chánh trị. Tuy nhiên ông bị một điều bất lợi, là ông không phải người của Lục quân. Trong tỉnh thế này, liệu một Đô Đốc có kiểm soát nổi quân lực trong đó binh chủng đông nhất là Lục quân hay không ? Như vậy, xét cho cùng chỉ còn Tojo là người duy nhất có thể kiểm soát được tình hình quân đội lúc này. Ông xưa nay vẫn nỗi tiếng là người có kỷ luật sắt trong vấn đề duy trì trật tự đối với quân đội. Đồng thời, ông cũng là người trung thành tuyệt đối với Nhật Hoàng. Trong sự chống đối vừa rồi xảy ra giữa ông và Thủ Tướng Konơye, cũng chỉ vì Tojo cho rằng trong phiên họp ngày 6 tháng Chín, Thiên Hoàng đã đồng ý với những kỳ hạn cuối cùng để quyết định chiến tranh,

        Kỳ hạn nầy đã qua đi vào ngày 15 tháng Mưòi, nhưng các cuộc dàn xếp tại Hoa thịnh đốn vẫn còn đang tiếp diễn. Ngày 16 tháng Mười, Tojo được triệu tới văn phòng của Ngài Chưởng ấn Kido và thông báo cho biết việc từ chức của Hoàng thân Konoye. Kido cho Tướng Tojo hay sở dĩ Konoye từ chức vì ông ta cảm thầy bất lực trong việc thi hành các nghị quyết của Hội đồng Hoàng gia ngày 6 tháng Chín ; đồng thời hỏi Tojo rằng liệu ông có cảm thấy vị Thủ Tướng kế tiếp cần phải thi hành nghị quyết đó hay không ? Tojo trả lời, điều đó tùy thuộc vào quyết định của Hải quân. Theo lời Hoàng thân Konoye thì ông không thể quyết định chiến tranh vì Hải quân cản trở. Theo lời Tổng tham mưu trưởng Hải quân là Đô Đốc Nagano thì điều đó có thực. Vì vậy vần đề bây giờ là phải tìm hiểu xem hiện tại lập trường Hải quân ra sao. Nếu họ nhất định chống đối thì việc cân nhắc lại vần đề chiến tranh cần phải được xét lại. Thủ Tướng mới sẽ phải căn cứ vào điều đó để quyết định.

        Riêng Hoàng thân Kido, sau cuộc hội kiến này, ông đã thấy rằng Tojo có thể đảm nhận được chức vụ Thủ Tướng. Ông có thể kiểm soát được quân đội, và điều thứ hai là ông tuyệt đối trung thành với mọi quyết định của Thiên Hoàng. Hoàng thân Kido ghi trong nhật ký : « Dĩ nhiên mọi quân nhân Nhật đều tuyệt đối trung thành và

        phụng sự Thiên Hoàng, nhưng đổi với Tojo thì lòng trung thành và hăng hái đó luôn luôn mạnh mẽ hơn những người khác. Nếu biết được Thiên Hoàng muốn thay đổi lại nghị quyết của Nội các trong phiên họp ngày 6 tháng Chín thì chắc chắn Tojo đă hành động theo chiều hướng khác để phù hợp với ý muốn của Thiên Hoàng.»

        Hôm sau, Hideki Tojo được lệnh triệu vào Hoàng cung. Tại Bộ Chiến tranh, chính tay Bà Tojo giúp ông sửa soạn y phục, và gài các huy chương lên ngực cho chồng. Tới nơi, ông được đưa ngay vào yết kiến Nhật Hoàng và rẳt ngạc nhiên khi nghe Ngài tuyên bố : ông đã được chọn giữ chức vụ chánh trị tối cao trong nước, đó là ghế Thủ Tướng. Tojo xúc động, tâu xin Hoàng Thượng cho phép ông được lui ra để suy nghĩ trong giây lát. Sau đó, ông trở vô ngự điện tâu với Nhật Hoàng : Thể theo ý chí của Thiên Hoàng, ông nguyện đem hết sức bình sinh để thi hành nhiệm vụ đã được Thiên Hoàng giao phó# Năm đó Tojo vừa đúng năm mươi bảy tuổi.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 11:02:22 AM

CHƯƠNG XVIII

        NGẦY 17 tháng 10 năm 1941, Đại Tướng Tojo chánh thức lên nắm giữ chức vụ Thủ Tướng Chinh phủ Nhật bản. Thế là hy vọng mong manh về Hòa bình tại Viễn Đông kể như hoàn toàn tiêu tan. Với một Âu châu khói lửa ngập trời do Hitler đang đốt lên, và quyền hành tại Nhật, một cường quốc số một ở Á châu rơi vào tay viên Đại Tướng, mọi viễn ảnh hòa bình lúc này đã lìa xa Đông Á.

        Dư luận tại Hoa Kỳ trước việc Đại Tướng Tojo lên nắm ghế Thủ Tướng tỏ ra thận trọng, vì dù sao những nỗ lực dàn xếp Nhật-Mỹ vẫn còn được duy trì, mặc dầu không có tiến triền. Bình luận của báo chí Mỹ cho rằng Tojo là một người theo « chủ nghĩa quốc gia ôn hòa.», một «sĩ quan chuyên nghiệp của đạo quân Kwangtung», một «Tướng tài», một người «có nhiều tình cảm, tận tụy với binh nghiệp, và những cuộc dàn xếp.» Cuối cùng báo giới Hoa Kỳ kết luận với một vẻ lạc quan giả tạo : «Đây là dầu hiệu chứng tỏ phe quốc gia ôn hòa đã đắc thẳng.» Báo chí Anh, ngược lại không cần dè dặt, nói thẳng rằng Đại Tướng Tojo chính là «Lưỡi hái tử thần», là «con của quỳ Sa tăng », rồi đây sẽ gieo họa cho Viễn Đông, biến vùng này thành một lò lửa địa ngục trong chiến tranh. Một vài tờ báo có khuynh hướng bảo thù dè dặt hơn, cho rằng Đại Tướng Tojo sẽ là «người thi hành các mệnh lệnh của quân đội» trong chánh phủ. Đồng thời cảnh cáo những người nào thường đánh giá quá thấp ông ta.

        Báo chí nước Đức chào mừng Tojo là «người Hùng của quân đội Nhật». Có tờ viết rằng Tojo là người chỉ biết có «nhiệm vụ và nhiệm vụ.» ông sẽ lãnh đạo quân đội và nhân dân Nhật làm tròn sứ mạng cao cả tại Đông Á. Chính Thủ Tướng Konoye trước đây, trong lúc lèo lái con thuyền quốc gia, đôi khi cũng phải nhờ cậy tới tiếng nói oai quyền và truyền cảm của Tojo mới giữ được đúng đường lối của quốc gia.

        Các nhà bình luận của báo chí Nhật lúc này không còn được tự do, chỉ viết những gì theo ý chánh quyền, đưa ra vài nhận định qua loa hỗ trợ đường lối mạnh của tân Nội các. Theo những lời nhận định này thì Tojo sẽ lãnh đạo Chánh phủ đưa Nhật Bản tới địa vị vững chắc hơn. Tướng Tojo tin tưởng rằng toàn thể lực lượng quốc gia sẽ đồng loạt tiến lên trong chiều hướng do Chánh phủ đề ra. Sự lãnh đạo cương quyết của ông cũng là dấu hiệu báo trước sự vùng lên của quốc gia Nhật và sẽ gây xúc động lớn cho những nước đối thủ của phe Trục. Hãng Thông tấn nhà nước Nhật đưa ra một bản tin với những lời lẽ hoàn toàn bất lợi cho việc mưu tìm hòa bình vào những giờ chót trước chiến tranh : «Chánh phủ của Đại Tướng Tojo sẽ lãnh đạo quốc gia tiến tới hòa binh hoặc chiến tranh.» Bản tin cũng nói tới cuộc đối phó với Mỹ trong năm mươi ngày qua. Nhưng tệ hại cho việc cứu vãn hòa bình hơn cả là những lời lẽ tuyên truyền sách động của tờ Nhật bản Thời báo, với những câu như : «Nhật Bản đang lâm nguy trong vòng vây càng ngày càng chặt của các cường quốc thù nghịch,» và rằng Chánh phủ do một vị Đại Tướng cầm đầu trong lúc này thực là hợp thời, hợp lý.

        Với những lòi lẽ hiếu chiến và bầu không khí rộn ràng lúc đó, không ai còn nghi ngờ gì về việc Tướng Tojo được giao nhiệm vụ điều khiển chiến tranh sắp xảy tới. Đại sứ Nhật tại Anh quốc lúc đó vừa về tới nhà đã viết: «RÕ ràng Nhật đang tiến thẳng tới chiến tranh, và Tướng Tojo là người đi đầu.» Năm 1944 sau khi bị kết án tù tại nhà giam Sugamo về tội phạm chiến tranh, ông này đã viết hồi ký kể lại việc Tướng Tojo trong thời gian làm Thủ Tướng đã ngăn cản không cho cựu Thủ Tướng Konoye tiếp tục các cuộc dàn xếp với Hoa Kỳ trước khi chiến trận Trân chân cảng xảy ra vào tháng Chạp năm 1941. Cựu Đại sứ Nhật cho rằng với một nội các chiến tranh do Đại Tướng Tojo cầm đầu thì làm sao có nỗ lực hòa bình nào thành công được ? Chắc chắn những lời nói cũng như hành động của Tojo đều thất lợi cho những ai mưu tìm hòa bình vào lúc đó.

        Tojo không phải là một con người phiêu lưu ồn ào như kiểu Mussolini. Ông cũng không phải loại độc tài giống như Hitler, hoặc có đầu óc cách mạng kiểu Tướng Franco. Sự thực, Tojo chỉ là một người thực thi quyền hành mẫn cán với những thành tích đạt được trong quá khứ chăm lo trau dồi nghề nghiệp. Ông ta cũng tin rằng Nhật Bản phải trở thành một cường quốc lãnh đạo các dân tộc Á Châu, và giống như nhiều nhà độc tài ở Âu Châu, Tojo cũng đồng ý rằng sức mạnh hoặc sự đe dọa chính là phương tiện để thực hiện sứ mạng đó. Thực ra trong Hiến pháp của Nhật, với sự giám sát của Hoàng Đế và Hội Đồng Hoàng gia, Chánh phủ khó lòng trở thành độc tài. Nhưng không may là trong thời gian này Hội đồng Hoàng gia không hoạt động một cách hữu hiệu và Thiên Hoàng lại không có chủ kiến gì nên Chánh phủ mới có thể thao túng dễ dàng.

        Quân đội đứng đàng sau Đại Tướng Tojo, không ngớt làm áp lực để tiêu diệt tất cả những luật lệ của Hiến pháp có tánh cách cầm chân Chánh phủ. Nhiều âm mưu, ma nớp đã được thực hiện nhằm mục đích đó. Những sĩ quan năm 1931 từng tự ý tấn công quân đội Trung Hoa và hô «Thiên Hoàng vạn tuề!» giờ đây tuy vẫn còn coi Nhật Hoàng là Thiên Tử, nhưng họ cho rằng Thiên Tử không còn thích điều khiển chuyện của trần gian.

        Với Đại Tướng Tojo ngồi ở ghế Thủ Tướng, quân đội tìm cách đưa người vào tất cả các cơ cấu quan trọng như Cảnh sát, Tư pháp, tạo thành một guồng máy quân sự chặt chẽ hơn bao giờ hềt. Guồng máy đó dĩ nhiên được xử dụng vào những mục tiêu bành trướng quân đội. Vậy mà quan đội Nhật đóng tại Trung Hoa lúc đó vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng ở Nội các của Tojo. Các sĩ quan cao cấp tại đó chưa lấy làm thỏa mãn. Họ cho rằng Tojo chỉ là Chánh phủ chuyển tiếp, cũng như Thủ Tướng Konoye trước kia. Nhiệm vụ của ông ta là củng cố hàng ngũ quân đội để làm hậu thuẫn cho cuộc thương thuyết với Hoa Kỳ, hầu kéo dài thời gian chuẩn bị một cuộc xung đột tại Thái bình dương sẽ xảy ra trong một ngày gần đây không sao tránh khỏi.

        Nếu biềt được dự định của quân đội, có lẽ Tojo đã hành động mạnh hơn. Nhưng có điều chắc chắn là dù muốn dù không, lúc đó ông bắt buộc phải chia xẻ chủ trương chiến tranh của quân đội, nếu không họ sẽ chọn người khác lên thay ông. Đó là lập trường đương nhiên Tojo phải có, không cần tìm hiểu gì thêm.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 11:04:51 AM

CHƯƠNG XIX

        SAU khi nhận chiếu chỉ của Nhật Hoàng về việc thành lập Chánh phủ ngày Mười, Tojo vội vàng rời Hoàng cung tới Đền thờ Minh Trị Thiên Hoàng để lạy tạ ơn. Sau đó ông tới Đài Kỷ niệm Đô Đốc Togo, vị anh hùng chiến thắng trong trận chiến tranh Nga-Nhật năm 1905, và đền Yasukuni kỷ niệm Tướng Nogi và các chiến sĩ Nhật, dâng hương. Hôm sau, Tojo được vinh thăng Đại Tướng thực thụ, và ông bắt đầu công bố thành phần trong tân Chánh phủ .

        Bộ Hải quân dĩ nhiên phải giao cho một sĩ quan Hải quân, là Đô Đốc Shimada, đã từng chiến thắng tại Trung Hoa khi chỉ huy Hạm đội tại đây năm 1940. Bộ Kế hoạch giao cho Tướng Suzuki. Cũng giống Tojo, ông Tướng này trước đây từng ở trong Phòng Tổng vụ Lục quân và là người thảo kế hoạch cho Nội các của cựu Thủ Tướng Konoye. Bộ Ngoại giao do cựu Đại sứ Nhật tại Nga nắm. Shigenori Togo là nhà ngoại giao từng có nhiều công trạng trong việc đưa Nhật tham gia khối Trục. Tojo và ông ta gặp nhau lần đầu khi cả hai cùng phục vụ tại Âu Châu sau Thế chiến I. Tuy theo phe Trục, nhưng Togo là người hiểu rõ tình hình Nga, với những kinh nghiệm thâu thập được trong thời gian ông làm Đại sứ tại Mạc tư khoa từ năm 1939 đến năm 1940. Trước khi bằng lòng nhận giữ Bộ này, Togo đòi hai điều kiện : một là Nội các này không có mục địch gây ra chiến tranh, hai là Quân đội không được cố chấp trong lập trường cứng rắn bất di bất dịch về vấn để rút quân ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, sau này khi không được thỏa mãn điều kiện thứ hai, ông vẫn tiếp tục ở chức vụ, mãi cho tới năm 1942 mới từ chức để phản đối việc Tướng Tojo rút quyền quản trị các lãnh thổ chiếm đóng khỏi Bộ ngoại giao.

        Ngoài ra, trong Nội các mới còn có hai nhân vật dân sự khác nữa, Một là Naoki Hoshino, người từng gíup Tojo cai trị tại Mãn châu trước đây. Sau này, ông ta nhận xét rằng Tướng Tojo lúc đó không thực sự hoàn toàn là một vị Thủ Tướng. Ông ta được gọi từ Mãn châu về để giữ chức Bộ Trưởng tại Phủ Thủ Tướng. Ông ta là người dân sự duy nhất được Tướng Tojo tin tưởng. Và cũng chỉ có một mình ông cho rằng Tướng Tojo là một người rất dễ chịu. Thỉnh thoảng Tojo thường tâm sự với Hoshino. Bà Tojo có kể lại, chồng bà thường nói : «Ông ta có thể nói bất cứ chuyện gì với anh, vì anh biết ông ta luôn luôn có ý muốn bảo vệ anh và anh hoàn toàn tin tưởng ông ta.» Nhân vật dân sự thứ hai là ông Nobusuke Kishi, nắm Bộ Thương mại và Kỹ nghệ. Õng nầy đã tỏ ra là người có tài chánh trị. Sau khi chiến tranh chấm dứt, ông bị lên án tội phạm chiến tranh, nhưng sau đó lại được tha và trở thành Thủ Tướng trong Chánh phủ thân Mỹ thời hậu chiến. Một mình Tojo giữ hai Bộ Nội vụ và Chiến tranh. Ông cho rằng mình cần phải nắm vững tình hình an ninh trong nước và kiểm soát chặt chẽ quân đội. Sau này ông nói, ông muốn giữ Bộ nội vụ vì triển vọng hòa bình nhiều hơn chiến tranh. Như vậy những chuyện lộn xộn có thể xảy ra, và ông sẽ phải lo đối phó.

        Trưa hôm đó, sau khi Nội các mới ra mắt, lẩn đầu tiên Tojo đọc một bài diễn văn được truyền thanh. Đó là một bài diễn văn khuôn mẫu thường dùng, đại khái kêu gọi dân chúng đoàn kết, tự tin, để «cương quyết góp phần xây dựng nền Hòa bình thế giới». Ông tuyên bố trong chiều hướng mưu tìm hòa bình, nước Nhật sẽ ổn định «vần đề Trung Hoa» và thiết lập một khu vực thinh vượng chung trong chánh sách Đại Đòng Á. Sau đó ông phải tới Đền thờ Thái Dương Thần nữ ở Hoàng cung để tạ ơn. Tại đây, sau khi hoàn tất các nghi lễ, Tojo thốt lên : «Thực là một vinh dự, khả năng của tôi chưa xứng đáng».

        Nhưng còn cảm động hơn nữa trong buổi họp mặt với hơn hai trăm kỹ nghệ gia tại Trung tâm kỹ nghệ của Nhật là thành phố Osaka, khi ông đứng lên tuyên bố : «Chánh sách của Nhật phải được thực hiện trong sự đồng tâm, nhầt trí. Chúng ta không biết được những gì đang chờ đợi trong tương lai, chiến tranh hay hòa bình, nhưng dù sao đi nữa với sự đồng tâm nhất trí của một trăm triệu dân ta, thì việc gì cũng phải xong ; dù có chiến tranh, chúng ta cũng chiến thắng một cách dễ dàng. Toàn dân phải đồng tâm, hiệp lực và hoàn toàn tin tưởng vào Chánh phủ, giống như người khách đi trong xe taxi tin tưởng ở tài xế.» Câu ví của Tojo thật là gợi hình, dễ hiểu, nhưng rủi thay, ông đã chọn một hình ảnh có lẽ không thích hợp cho lắm, vì bất cứ ai từng có dịp đi taxi ờ Nhật đều nhận thấy tài xế lái bạt mạng, và nhiều khi không biết hành khách muốn đi đâu.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Hai, 2018, 11:05:15 AM

        Với những lời lẽ như trên của Tojo trước công luận, các nhà ngoại giao Nhật đang thương thuyết tại Hoa thịnh đốn cho rằng ông Tướng này đã thiết lập một Chánh phủ hoàn toàn độc tài tại Nhật. Đối với thế giới, vừa trải qua cuộc chiến tranh do Hitler phát động với các khẩu hiệu «giành đất sống», «trật tự mới», «giòng giống chánh», bây giờ lại phải nghe thêm những lời lẽ khoa trương của Nhật như «Đại Đông Á đồng phát,» mọi người đều cảm thầy ghê tởm. Nhất là khi Tojo cho rằng Nhật có sử mạng lãnh đạo các dân tộc Á châu, thì không ai tin được vào thiện chí Hòa bình của họ. Bên trời Âu, cái gương «được đàng chân, lân đàng đầu» của Hitler ăn hiếp các nước láng giềng còn sờ sờ ra đó. Không có nước nào ở Á châu tin rằng Nhật muốn giúp họ trở nên thịnh vượng trong cuộc sống chung hòa bình.

        Việc thành lập tổ chức chánh trị «Hiệp Hội Công Dân» dưới thời Thủ Tướng Konoye đã đưa nước Nhật tới chỗ quốc gia độc đảng. Thực vậy, hầu hết quân nhân, công chức và các nhân vật chánh trị đều là đảng viên của Hiệp hội Công dân. Những biện pháp cai trị độc tài lần lần được thành hình như : kiểm duyệt báo chí, hóa giá hàng,

        phân phối nhiên liệu, ra sắc luật canh chừng, theo dõi những người bị gọi là thành phần «có tư tưởng nguy hại cho quốc gia.» Việc động viên toàn quốc được thực hiện triệt để. Công dân, thợ mỏ củng được võ trang để biến thành lực lượng nhân dân tự vệ.

        Về y phục, đàn ông đua nhau mặc một kiểu áo cao cổ bốn túi nhà binh. Còn đàn bà thì tầy chay phong trào mặc theo lối đầm Tây, đầm Mỹ, nhưng họ không quay về với bộ áo truyền thống kimono vì cho rằng nó quá rườm rà, bất tiện. Ngược lại họ mặc một loại quần gọi là mompei, và áo kimono ngắn cũn cỡn ngang mông cho tiện việc trong xưởng thợ cũng như ngoài đồng áng.

        Bà Thủ Tướng Tojo đứng ra thành lập Hội các bà mẹ yêu nước. Hội này nêu khẩu hiệu «người đàn bà có con là người đàn bà duyên dáng nhất» để phát động phong trào gia tăng mức sinh sản. Có lẽ Nhật cho rằng muồn bành trướng Đế quốc, cần phải có người thật đông nên không ngần ngại phát động phong trào đẻ thật nhiều trên đât. Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi phụ nữ là phải sản xuất đủ bảy đứa con mới gọi là xứng đáng với tinh thần người phụ nữ yêu nước, Hội Phụ nữ yêu nước đứng từng nhóm phân phát truyền đơn, trương biểu ngữ tại các nhà ga, quyên tiền giúp chiến sĩ, tổ chức các cuộc vui hỗ trợ tinh thần động viên toàn quốc.

        Phong trào bài Tây phương được đẩy mạnh. Dân chúng được chỉ dạy cách đề phòng người Tây phương làm gián điệp, ăn cắp tài liệu, bí mật quốc gia. Hiến binh bắt giữ một thông tín viên của Hãng tin Reuter. Sau đó cảnh sát cho biết ông này «tự tử» bằng cách nhảy từ lầu cao ba tầng xuống đất. Luân đôn cực lực phản đối vụ này, và chánh quyền Nhật trả lời,: «thông tín viên đó có những hoạt động gián điệp.»

        Đài phát thanh và báo chí Nhật đua nhau tố cáo các hành động đàn áp dân thuộc địa một cách dã man của Anh và Pháp. Người Mỹ bị chửi về tội kỳ thị chủng tộc, màu da, Những môn thể thao phát xuất từ Tây phương, như môn choi golf đều bị tẩy chay. Trước đây Hoàng thân Konoye rất thích môn này và thường chơi với Đại sứ Mỹ, bây giờ cũng thôi. Những cuộc tiếp xúc chỉ còn hoàn toàn có tánh cách chánh thức, trong nghi lễ,

        Phong trào Thần đạo được phát động và trở thành thứ quốc giáo, Các đạo trường được trợ cấp của Chánh phủ như công chức. Tại trường học, học sinh được giáo dục với tinh thần tuyệt đối thờ kính Thiên Hoàng, Sau mỗi buổi chào cờ đều có hát bài Suy tôn Thiên Hoàng. Trước mỗi buổi học, thầy trò đều họp tại Phòng Thiên Hoàng, với bức ảnh lớn của Nhật Hoàng, để bày tỏ các nghi thức tôn kính.

        Lý thuyềt ái quốc cực đoan được giảng dạy tại các trường học. Lịch sử thần thoại về nguồn gốc dân tộc Nhật và nước Nhật được làm sống lại từ những chuyện Thái Dương Thần nữ tạo ra nước Nhật từ hai ngàn năm trước, và chuyện truyền kỳ của Tổ tiên cho rằng Bốn phương, Tám hướng trên thể giới cuối cùng đều hợp nhất tại Nhật dưới cùng một mái đình, Các trẻ em tiểu học đều tập quân sự với những súng cây nhỏ. Còn học sinh trung học thì được học quân sự do các hạ sĩ quan lục và hải quân dạy.

        Không khí chuẩn bị chiến tranh bao phủ khắp nơi. Đi tới đâu, người ta cũng nghe thấy những tiếng hô «chiến sĩ muôn năm!» vang lên từ những đoàn quân hay học sinh đang học quân sự.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:26:05 AM

        Thượng và Hạ viện cũng sặc mùi chiến tranh do những lời lẽ dao to búa lớn của những nhân vật chủ chiến, ái quốc cực đoan, quá khích như Hamada, Nakano. Hai nhân vật này được coi là những thành phần lãnh đạo đảng phát xít Nhật. Nakano đòi quân đội Nhật phải đánh thốc tới Singapore, thẳng sang vịnh Ba tư để bắt tay với đảng phát xít Đức. Shimada thì lớn tiếng cảnh cảo Mỹ hãy mau mau rút ra khỏi Thái bình dương để nhường chỗ cho nước Nhật tung hoành trong trận thánh chiến hoàn thành sứ mạng cao cả ở Â châu, nếu không người Mỹ sẽ phải gánh những hậu quả tai hại, vì lúc này Nhật đã «có con dao lớn trong tay.»

        Các dân biểu và nghị sĩ hiếu chiến đến nỗi. theo lối một ký giả lúc đó thuật lại, Chánh phủ tương đối còn ôn hòa hơn.

        Thiên Hoàng cũng như Ngài chưởng ấn Hoàng gia Kido đều muốn làm nổi bật lễ tân phong chức vị Thủ Tướng cho Tojo, và có ý ngầm bảo rằng ông ta được toàn quyền hành động với tất cả sự cho phép của Nhật Hoàng. Trước đó, Hoàng thân Konoye cố tâu cho Nhật Hoàng hay Hải quân không muốn có chiến tranh, nhưng không thể tuyên bố trong phiên họp Đại Hội Đồng Hoàng gia trước đây. Sau đó, Thiên Hoàng triệu Tojo tới, và ông này cam kết sẽ tìm mọi cách để kết hợp những hoạt động của Hải quân và Lục quân cho ăn khớp với nhau. Nhật Hoàng tỏ vẻ rất hài lòng về điều cam kết đó của Tojo. Ngài cho biết sẽ triệu Đô Đốc Oikawa tới để nhấn mạnh cho ông ta thi hành triệt để điều này. Ngài chưởng ấn Kido lại cho Tojo biết ông có bổn phận phải xem xét lại tình hình tổng quát trong nước, và không nhất thiết phải tuân theo nghị quyết của Hoàng gia trước đây trong phiên họp ngày 6 tháng Chín. Đó là ý muốn của Thiên Hoàng.

        Tojo trình lại là ông đã cam kết thực hiện điều đó với Thiên Hoàng. Hải quân và Lục quân hiên đã nhất tâm, hợp tác chặt chẽ với nhau. Nhưng sự thực là những lời cam kết của Đô Đốc Oikawa, cam kết và bảo đảm với Tojo, không hoàn toàn có giá trị tuyệt đối, vì lúc này Oikawa với chức vụ Hội Viên Hội Đồng Tối cao chiến tranh, không còn trực tiếp chỉ huy Hải quân nữa. Nhưng thực quyền hiện nằm trong tay Đô Đồc Yamamoto, chỉ huy liên hạm đội Thái bình dương, và Đô Đồc Nagano, Tổng Tham mưu trưởng Hải quân. Ông này đang tính từng ngày cho tới lúc số dầu dự trữ của Hải quân bị hết hoàn toàn.

        Vói sự cho phép của Nhật Hoàng, Tojo cho rằng ông có quyền dời kỳ hạn chót để quyết định hòa bình hay chiến tranh tới ngày 30 thảng Mười thay vì ngày 15 như đã định trước đây. Do đó, những cuộc dàn xếp tại Hoa thịnh đốn đước lệnh tiếp tục cho tới ngày 30.

        Tất cả những thay đổi đó hình như khiến cho Tojo trở nên khó chịu. Đối với ông ta lúc này, tất cả những gỉ có tánh cách cản bước tiến của chiến tranh đều làm ông không bằng lòng. Theo sự quan sát của bà Tojo trong thời kỳ này thì chồng bà luôn luôn cáu kỉnh. Sự đe dọa và phong tỏa kinh tế của Mỹ đối với Nhật, Tojo cho là một hành động dã man. Chắc chắn là Mỹ muốn Nhật rút khỏi Trung Hoa. Nhưng điều đó, theo Tojo, không bao giờ Nhật chịu lùi bước. Nếu Mỹ đòi hòi các vấn đề khác thì ông có thể cứu xét được, chớ rút khỏi Trung Hoa thì nhất định không.

        Rồi kỳ hạn 30 tháng Mười qua đi mà vẫn chưa có quyết định gì về chiến tranh. Lúc này kế hoạch tấn công của Bộ chỉ huy Tối cao Nhật kể như đã sẵn sàng, chỉ còn chờ một mệnh lệnh là có thể phóng ra. Hai ngày sau đó Tojo tuyên bố trên đài phát thanh : «Đất nước đang trải qua những giờ phút nguy nan nhất trong lịch sử.»

        Tojo nhận định danh dự nước Nhật đang bị thử thách trước trách nhiệm trong vùng Đông Á. Dù muốn dù không Nhật phải hoàn thành sứ mạng trong Cộng đồng Đại Đông Á. Ông cảnh cáo quốc dân : «con đường của dân tộc đang tiến tới, không phải đầy hoa hồng, nhưng có rất nhiều chướng ngại vật do địch liệng ra.» Khi Tojo đọc bài diễn văn này thì Chánh quyền Anh tại Thượng Hải thông báo cho kiều dân Anh hãy tới ghi tên để được đưa về nước trong vòng mười hai ngày. Quá thời hạn này, những ai chưa ghi tên sẽ coi như có ý định ở lại đó luôn. Trong tương lai khó thể thực hiện được một cuộc di tản như vậy khi các biến cố nghiêm trọng xảy ra. Lệnh trên đây cũng được Chánh phủ Mỹ ban hành cho kiểu dân Mỹ tại đó.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:26:20 AM

        Trong một phiên họp giữa các Tướng lãnh thuộc Bộ Tư Lệnh Tối cao và Nội các vào ngày 2 tháng Mười Một, haỉ vị Tổng Trưởng ngoại giao Togo và Tổng trường tài chánh Kaya đã đặt cân hỏi : Liệu Nhật có nên chờ thêm để đợi các biến chuyển của tình hình quốc tế trở nên thuận lợi cho quốc gia hơn, ngay cả trường hợp cuộc dàn xếp với Mỹ hiện nay bị thất bại, trước khi phát động chiến hay không ? Tham mưu trưởng Hải quân, Đô Đốc Nagano trả lời : Nếu đợi lâu quá cuối tháng Mườỉ Một thì Nhật Bản không cần đánh cũng tự nhiên phải đầu hàng. Ông ta hoàn toàn tin tưởng vào kế hoạch tấn công của Hải quân. Đại diện Lục quân còn hăng hơn nữa. Các Tướng lãnh này cho rằng phải mau mau tấn công trước khi Anh và Mỹ kịp thời tăng cường lực lượng của họ tại Viễn Đông. Tojo đúc kết lập trường của quân đội lúc này là «thà đánh để phá vòng vây, còn hơn cứ khoanh tay ngồi chờ chết. Lúc này không còn cách nào khác hơn là phải liều, họa may tìm được một con đường sống.»

        Hôm sau Tojo tâu lên Thiên Hoàng, những nỗ lực dàn xếp với Mỹ vào giờ chót đang được thực hiện. Nhưng nếu thất bại thì Nhật Bản bắt buộc bị dồn vào chỗ phải phát động chiến tranh. Theo lời Tojo thuật lại thì Thiên Hoàng ban chỉ dụ nếu không còn con đường nào khác hơn thì cứ chuẩn bị chiến tranh. Nhưng trong khi chờ đợi, hãy tìm hèt cách để dàn xếp với Hoa Kỳ theo đúng nguyên tắc «còn nước, còn tát.»

        Ngày 5 tháng Mười Một, Bộ Ngoại giao Nhật gửi một chuyên viên giàu kinh nghiệm ngoại giao là ông Saburo Kurusu bay gấp tới Hoa thịnh đốn để giúp Đại sử Nomura trong các cuộc dàn xếp với Hoa Kỳ. Nomura đã hai ba lần xin từ chức, và chỉ lưu lại nhiệm sở vì sợ rằng trong lúc gay go này, việc trở về nước của ông sẽ gây ra những ngộ nhận cho cả hai phía Nhật-Mỹ. Việc gởi chuyên viên ngoại giao Kurusu tới Hoa thịnh đốn chỉ trước trận đánh Trân châu cảng có vài tuần khiến sau này Hoa Kỳ cho rằng đó là một đòn gián điệp có ý đánh lạc hướng đề phòng của Mỹ. Nhưng nều quả thực đó là một chuyện đánh lừa của Chánh phủTojo thì tại sao nước Mỹ lại có thể rơi vào một cạm bẫy như vậy ? Ngay từ năm 1933, Đại sứ Mỹ ở Nhật là ông Grew đã nhiều lần trình lên Chánh phủ Mỹ rằng trong tương lai những cuộc xung đột giữa Mỹ và Nhật ở Viễn Đông khó thể tránh được. Năm 1940, Đại sứ Grew trong báo cáo về Hoa thịnh đốn có viết: «Ngoại trừ Hoa Kỳ rút ra khỏi vùng Đại Đông Á của Nhật, nếu không thì không thể nào tránh được một cuộc xung đột với Nhật Bản.» Rõ ràng hơn thể nữa, trước khi trận Trâu châu cảng xảy ra một tháng, Đại sứ Grew đã trình cho ngoại trưởng Mỹ hay, một nhà ngoại giao Peru có cho tin rằng một viên chức Nhật có tiết lộ với ông trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Nhật Bản sẽ mở một trận tấn còng bất ngờ vào Trân châu cảng. Đạì sứ Grew trình thêm rằng mặc dầu tin này có vẻ táo bạo, nhưng ông đã phối kiểm với nhiều nguồn tin khác và thấy có thế tin được, nên vội vàng trình cho Bộ ngoại giao hay.

        Rõ ràng hơn nữa, những nguồn tin tình báo đã biết chắc thế nào Nhật cũng sắp sửa tấn công. Từ lâu, Hải quan Mỹ đã tìm được cách mở các khóa mật mã của những điện văn do Nhật đánh đi, nên đọc được rất nhiều tin tức thuộc loại mật. Chính nhờ vậy mà tháng 7 năm 1941, tình báo Mỹ đã cho Chánh phủ Churchill của Anh biết trước: những cuộc điều động của Hải quân Nhật về phía Nam để chuẩn bị tấn công các thuộc địa của Anh. Trong lúc Kurusu tới Hoa thịnh đốn thì tình báo Mỹ bắt được điện văn của Chánh phủ Nhật gởi cho Đại sứ Nhật tại Hoa thịnh đốn là Đổ Đốc Nomura, bảo hãy đình chỉ các cuộc thương lượng với Hoa Kỳ.

        Không biết việc gởi Kurusu đi Hoa thịnh đốn có phải thực là cái bẫy hay không, nhưng cùng ngày hôm ông ta lên đường, ngày 5 tháng Mười Một, Thủ Tướng Tojo trong cuộc yết kiến Thiên Hoàng đã tâu rằng Nhật đang chuẩn bị để phát động chiến tranh sau ngày 30 tháng Mười Một. Lệnh di chuyển tới vị trí chiến đấu đã được Đô Đốc Yamamoto chỉ thị cho các hạm đội Nhật nhằm tấn công Mỹ, Anh và Hà Lan. Ngày 10 tháng Mười Một, trong lúc Kurusu đang được Tổng Thống Mỹ tiếp kiến thì các lực lượng tấn công của Nhật đã sẵn sàng đánh vào hạm đội Mỹ tại Thái bình dương.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:27:44 AM

CHƯƠNG XX

        VÀO tháng 11 năm 1940, lực lượng không quân hạm đội Anh đã thực hiện được một chiến công anh dũng có một không hai trong lịch sử : Với hai phi tuần gốm hai chục máy bay loại «cá lưỡi kiếm», các phi công Anh đã đánh chìm quá nửa số tàu chiến của Hải quân Ý tại hải cảng Taranto. Phía Anh chỉ bị mất hai máy bay. Sau đòn nặng này, cán cân lực lượng trong vùng Địa trung hải ngả hẳn về phía Anh quốc, và từ đó Hải quân Ý không còn ngóc đầu lên nổi.

        Đối với Đô Đốc Yamamoto, một người chuyên nghiên cứu về không lực hạm đội, trận đánh tại hải cảng Taranto khiến ông vô cùng phấn khởi và thêm tin tưởng. Lập tức vào tháng Giêng năm 1941, ông ra lệnh cho Bộ Tham mưu nghiên cứu một kế hoạch đánh phá Trân châu cảng và các lực lượng hải quân Mỹ tại đó. Đây là mệnh lệnh tối mật, vì theo ông cần phải bất ngờ đánh một đòn thật mạnh họa may mới thắng nổi Hải quân Mỹ tại Thái bình dương. Cũng chính thời gian này là lúc Đại sứ Grew báo cáo về Bộ Ngoại giao Mỹ rằng Nhặt có thể bất thần tấn công các lực lượng Mỹ tại Thái bình dương.

        Việc đánh Trân châu cảng theo quan điểm của Đô Đốc Yamamoto là điều tối cần thiết khi xảy ra chiến tranh Nhật Mỹ. Lý do là Nhật cần phải tấn công vào tận sào huyệt của căn cử hải quân Mỹ, để đánh một đòn chí tử và bất ngờ, thì Nhật mới mong thắng lợi. Nếu không, kéo dài chiến tranh là kể như Nhật nắm chắc phần thua. Lý do thứ hai, nếu hạm đội Nhật muốn được rảnh tay hoạt động ở Phi luật tân, Mã lai, đông Indies, thì cần phải thanh toán căn cứ này vì nó nằm ngay ở hậu cứ của hải quân Nhật. Nhật không còn cách nào hơn là phải chơi đòn bất ngờ, không tuyên chiến trước, vì căn cứ Mỹ ở cách xa hạm đội Nhật tới 3.000 dặm, và trong vùng đó Hải quân Mỹ hoàn toàn làm chủ tình hình trên không cũng như dưới nước. Theo Yamamoto, trận đánh chí tử này còn gây một ảnh hưởng tâm lý với người Mỹ, bằng cách làm cho họ thấy rằng không thể thắng nổi Nhật, một nước đã có khả năng chỉ một trận đánh mà tiêu diệt được cả hạm đội Thái bình dương của họ ở cách đó hàng ngàn dậm. Mỹ sẽ phải suy nghĩ lại trong ước tính chiến thắng Nhật, khi nước này rút về thế thủ với một phòng tuyến kiên cố dưới nước cũng như trên không.

        Vào tháng Tư năm 1941, Bộ Tham mưu trình lên Đô Đốc Yamamoto kế hoạch đánh căn cứ Trân châu cảng và được ông chấp thuận. Theo kế hoạch này, các hàng không mẫu hạm Nhật sẽ xuất phát từ quần đảo hẻo lánh Kurile, đi ngược lên mạn Bắc để tránh mọi con mắt tò mò của các thương thuyền, sau đó vòng xuống hướng Trân châu cảng và ngừng lại cách căn cứ này khoảng 300 cây số. Từ đó các máy bay sẽ bay tới tiêu diệt hạm đội Mỹ bằng thủy lôi, một thứ võ khí khắc tinh của những chiến hạm trên mặt biển. Kế hoạch dự trù sẽ cho khoảng 360 máy bay tấn công làm ba đợt để tiêu diệt hoàn toàn hải quân Mỹ tại căn cứ này. Muốn tránh tổn thất cho máy bay Nhật trên đường trở về hạm đội với một khoảng cách xa như vậy, Nhật phải đánh thật bất ngờ, nghĩa là không có việc tuyên chiến trước.

        Tại Trường Hải quân Hoàng gia ở Tokyo, một mô hình lớn của căn cứ Trân châu cảng đã được thiết lập để Bộ Tham mưu nghiên cứu và làm quen với địa hình, địa vật nơi đây. Mô hình này có đẩy đủ chi tiết về các chiến hạm của Hoa Kỳ mà gián điệp Nhật đã thu thập được trong nhiều ngày quan sát tại chỗ. Có một điểm khiến các sĩ quan thảo kế hoạch đánh căn cứ này phải điên đầu vào phút chót, đó là mực nước nơi đây quá cạn, không thể dùng thủy lôi, một loại khí giới hữu hiệu nhất để tiêu diệt tàu chiến. Phải cần mực nước sâu gấp năm lần như vậy mới có thể thả thủy lôi từ trên phi cơ xuống được.

        Khó khăn này sau cùng đã được giải quyết xong trước ba tuần khi trận đánh xảy ra. Các phi công trên hàng không mẫu hạm Nhấi được huấn luyện bí mật tại vịnh Kagoshima ở phía Nam đảo Kyushu, một nơi có mực nước cạn tương tự với mực nước ở Trân châu cảng, để thả thủy lôi từ một độ cao thật nhỏ. Các phi công Nhật cho phi cơ bay thấp là là trên mặt nước, thả thủy lôi, và sau đó vọt lên cao về phía bờ để bắn phá các mục tiêu khác. Với lối thả thủy lôi khi bay thấp như vậy, họ có thể rút bớt được độ sâu cần thiết của mực nước. Ngày 17 tháng 1, khi Đô Đốc Yamamoto gởi tới các hạm đội những lời nhắn nhủ cuối cùng từ soái hạm Nagato, ông tin chắc rằng cử tám trong mười máy bay Nhật sẽ đánh trúng mục tiêu.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:28:11 AM

        Trong lúc lực lượng hành quân âm thầm lên đường để tới điểm hẹn, và binh sĩ Nhật được đưa xuống tàu tại các hải cảng trên nước Nhật, thì Thủ Tướng Tojo tham dự một phiên họp của Thượng viện chỉ kéo dài trong vòng chín phút. Ông tuyên bố : Nước Nhật đang sống «những giây phút dài nhất trong lịch sử hai ngàn năm» của dân tộc, và rằng những lực lượng bao vây kinh tế Nhật cần phải được giải quyết bằng một cuộc chiến tranh mới xong. «Vấn đề Trung Hoa» cũng vậy, chỉ có sức mạnh mới làm cho các lực lượng chống đối chịu thông cảm để giải quyết dứt khoát. Ông cũng gởi lời chúc tụng và ngợi khen hai quốc gia Đức và Ý trong việc cùng với Nhật sát cánh chiến đấu để tái lập một trật tự mới cho thế giới «đặt căn bản trên công lý». Hai ngày sau đó, các Tòa đại sứ Nhật tại Hoa thịnh đốn và Luân đôn được mật điện ra lệnh sẵn sàng trong tư thế chờ đợi, và tiêu hủy các khóa mật mã cũng như tài liệu của Tòa đại sứ. Mệnh lệnh này cũng được gởi qua làn sóng ngắn của Đài phát thanh Tokyo trong chương trình truyền đi ngoại quốc.

        Ngày 20 tháng II, các lực lượng tham dự hành quân của Hải quân điện trở về cho Bộ Tư lệnh tại Tokyo, họ đã sẵn sàng lên đường. Lập tức, tại Hoa thịnh đốn, Ku- rusu và Nomura đẻ trình lên Chánh phủ Mỹ những đề nghị hòa giải cuối cùng của Nhật. Theo đó, Nhật bằng lòng triệt thoái khỏi Trung Hoa, với điều kiện ngược lại là Nhật phải được quyền tự do khai thác nguyên liệu và dầu tại quần đảo Đông Indies thuộc Hòa lan. Đồng thời, các tàu chở dầu của Mỹ cho Nhật được tiếp tục giao dầu trở lại. Vấn đề ở phía Nam : Nhật được ở lại miền Bắc Đông Dương, còn miền Nam thì trở thành một miền Trung lập được cả Nhật và Mỹ tôn trọng. Và một lần nữa, Nhật nhấn mạnh tới điểm Mỹ phải lập tức ngưng yểm trợ cho Thống chế Tưởng Giới Thạch.

        Ngày 25 tháng II năm 1941, trước khi trả lời cho những đề nghị cuối cùng của Nhật, trong một cuộc họp tại Tòa Bạch ốc, Tổng Thống Roosevelt có nói : «Trong vòng một tuần nữa, có thể Nhật sẽ tấn công ở Thái bình dương. Chúng ta cứ việc để cho họ nổ súng trước.» Trên đây là những lời do Bộ Trưởng chiến tranh lúc đó, ông Srimson ghi lại. Lời tuyên bố trên đây có vẻ phù hợp với những sự việc diễn ra, nhưng không thể căn cứ vào đó để kết luận rằng Hoa Kỳ cố tình khiêu khích để cho Nhật gây chiến tranh.

        Cá nhân Tổng Thống Roosevelt, cũng như hầu hết những người Mỹ khác, đều ghét những quốc gia hiếu chiến và tìm mọi cách hỗ trợ các nước bị uy hiếp. Đồng thời Tổng Thống Mỹ cũng chủ trương phải thanh toán những thuộc địa của các nước Tây phương tại Á châu. Nhưng điều đó không có nghĩa là ông đồng ý để cho Nhật và các nước khác trong khối Trục chia nhau những phần đất đó. Nhưng là một chánh trị gia, Tổng Thống Mỹ cũng phải cân nhắc tới nhiều yếu tố khác trong việc đưa nước Mỹ vào vòng chiến. Lúc đó là thời gian đang có nhiều nghị sĩ, dân biểu tại Hoa Kỳ, như William Randolph Hearst và Taft, Gillette, đang chủ trương Hoa Kỳ phải đứng ngoài vòng chiến. Đặc sứ của Tổng Thống Roosevelt tại Anh quốc là ông Joseph Kennedy, từ Luân Đôn trở về cho Tổng Thống hay là lực lượng Đức rất mạnh, nước Anh không dễ gì thắng nổi. Ống khuyên Tổng Thống không nên dính líu vào chiến tranh. Điểm trái ngược là Đại sứ Nhật tại Anh lúc đó, ông Shigemitsu, lại tiên đoán Anh quốc không thể nào bị bại.

        Dư luận chung tại Hoa Kỳ lúc đó đã xúc động mạnh trước những hành động xâm lăng trắng trợn của chủ nghĩa quốc xã. Mọi người đều muốn giúp đỡ các quốc gia nạn nhân hiện còn đang can đảm chiến đấu. Nhưng trong năm 1941 mới chỉ có một lực lượng tình nguyện nhỏ từ Gia nã Đại, và các phi đội tình nguyên «Chim Ưng», «Cọp Bay» đang chiến đấu thực sự ở Trung Hoa. Ngoài ra giới trung lưu ở Mỹ chưa nếm mùi chiến tranh bao giờ, họ không muốn dính líu vào. Đa số dân Mỹ chưa từng nếm mùi chiến tranh như Anh và Pháp, nên chưa thông cảm với cái khổ đó, và muốn đứng ngoài mọỉ cuộc chiến.

        Trong thời gian này, Tổng Thống Roosevelt lợi dụng triệt để thời cơ để cung cấp vũ khí cho Nga, Anh và Trung Hoa. Vào tháng 11 năm 1941, các Tham mưu trường Lục quân và Hải quân là Tướng Marshall và Đô Đốc Stark khuyên Tổng. Thống Roosevelt chưa nên gây chiến vội, cho tới khi nào Mỹ thấy chưa chắc ăn. Trong suốt thời gian thương thuyết giữa Nhật và Mỹ tại Hoa thịnh đốn, không bao giờ nước Mỹ tỏ ra là mình muốn gây chiến. Ngay cả Anh và Hòa Lan lúc đó cũng không tin rằng Mỹ sẽ nhảy vô vòng chiến để bênh vực họ, khi những thuộc địa của họ ở Thái binh dương và Viễn Đông bị uy hiếp.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:28:33 AM

        Thái độ hòa hoãn đó của Hoa Kỳ có thể tìm thấy trong văn thơ trả lời mà ngoại trưởng Hull trao cho Nomura và Kurusu ngày 26 tháng II. Nhật cho rằng trả lời đó là một loại tối hậu thơ, nhưng ngược lại Mỹ chỉ tỏ ra vẫn giữ thái độ tiêu cực trước những đòi hỏi của Nhật. Thực vậy, Hoa Kỳ không mảy may nhượng bộ trước những đòi hỏi của Nhật. Lập trường của Mỹ vẫn là Nhật phải triệt thoái khỏi Trung Hoa và toàn thể Đông Dương trước, rồi mới thương thuyết các khoản kia sau, sau đó Mỹ mới giải tỏa hàng rào trừng phạt kinh tế. Văn thơ trả lời này không quy định rõ rệt chừng nào thì Nhật phải thi hành xong các điều đó, nên các nhà bình luận Tây phương cho rằng đó hoàn toàn không phải là một tối hậu thơ. Nhưng phản ứng của dư luận Nhật lúc đó đối với sự trả lời trên đây lại hoàn toàn khác hẳn. Họ cho rằng Mỹ cố tình ép Nhật phải gây chiến khi bắt quân đội Nhật phải lui về những vị trí của họ từ năm 1931. Sau này, tại Tòa án xử phạm nhân chiến tranh, ông Pal, người Ấn Độ, một nhân viên trong bồi thầm đoàn có nói : «Với một tối hậu thơ của Mỹ gởi cho Nhật trước khi trận Trân châu cảng xảy ra như vậy, thì ngay cả Monaco, hay Luxembourg cũng phải tuyên chiến với Mỹ, chớ đừng nói Nhật.»

        Phe quân nhân và các phần tử ái quốc cực đoan ở Nhật cho rằng sự trả lời của Mỹ đã rõ ràng cho thấy dã tâm của nước này thực sự không muốn dàn xếp, mà từ trước tới nay chỉ cố tình kéo dài các cuộc thương thuyết để có thời giờ củng cố lực lượng của họ tại Viễn Đông. Vấn đề Mãn Châu, không ai có quyền, bắt Nhật phải rút khỏi đó, vì xứ ấy trước đây là một quốc gia riêng biệt đã bị Tàu đô hộ, chớ không phải lãnh thổ của Trung Quốc. Kể từ năm 1931 và nhất là sau chiến thắng Nga năm 1905 kể như Nhật là nước bảo hộ của xứ này, không ai có quyền xía vào, cũng giống như các thuộc địa của Anh và Mỹ tại Viễn Đông vậy.

        Tojo gởi cho ngoại trường Hull một điện văn trả lời, cho ràng thái độ của Hoa Kỳ đối với Nhật «không thành thật» và «thiếu tinh thần hòa giải.» Thật là buồn cười, vì lúc này Tojo lại bị coi là phần tử chủ hòa, nhu nhược, không quyết tâm. Nakano và các phần tử phát xít Nhật tại Thượng viện kịch liệt đả kích Tojo là «không thành thực nói lên tiếng nói của dântộc». Một Thiếu Tướng cùng khóa với Tojo tới nhà riêng cho Bà Tojo hay, ông ta định tìm gặp Tojo, nhưng không được nên nhờ Bà nhắn lại cho Tojo biết rằng ông ta căm hận vô cùng khi thấy Tojo không có quyết định dứt khoát với Mỹ. Tại Trường Đại Học Waseda, cháu của Tojo bị một sinh viên khác đánh và nói: «về bảo chú mày phải quyết định mau lên.»

        Ngày 26 tháng 11 năm 1941, trong một phiên họp khoáng đại bất thường của Quốc hội tại trụ sở Thượng viện, Nhật Hoàng trong lễ phục Thống chế, ngồi trên ngai vàng ở bục cao. Tojo từ dưới tiến lên, cúi đầu, tay phải cầm một cuộn giấy, kính cẩn đi từng bước thật chậm hầu như chỉ có chân mặt bước đi, còn chân trái lê theo để tỏ lòng tôn kính tột độ của ông đối với Nhật Hoàng. Thiên Hoàng Hirohito có vẻ sốt ruột. Ngài dơ tay ra đón lấy cuộn giấy của Tojo dâng lên, mở tuyên đọc ban bố những điểu luật khẩn cấp để đối phó với tình hình nghiêm trọng. Sau đó, Tojo đọc một diễn văn, lên án «thái độ kiêu ngạo, khiêu khích» của Anh, Mỹ, Hoà Lan và Trung Hoa. Ông cho rằng các nước này đang cấu kết với nhau để chận đường sống dân tộc Nhật Bản.

        Đêm hôm đó, trong bóng tối bao phủ, lực lượng hành quân gồm sáu hàng không mẫu hạm, hai chiến hạm và nhiều hộ tống hạm âm thầm rời căn cứ Kuriles, tiến ngang qua Thái bình dương, tới gần mục tiêu Hawaii để tấn công căn cứ Hải quân Mỹ tại đây.

        Sau này Tojo khai rằng ông không hay biết gì về việc điểu động lực lượng tấn công đó. Chuyện đó thực hư ra sao không rõ, nhưng nhân ngày kỷ niệm Minh ước chống Cộng sản quốc tế được ký kết sau đó ít hôm, Tojo có đọc một diễn văn với lời lẽ hiếu chiến, khiêu khích cực độ. Ông nói : các nước Tây phương đang lợi dụng tình hình rối loạn tại Đông Á để thừa «nước đục thả câu» và rằng chắc chắn Nhật sẽ phải có hành động quân sự mạnh mẽ để ngăn chận kịp thời những hành động như vậy. Tại Thượng viện và Trụ sở Hiệp Hội công dân Nhật, các nghị sĩ và sĩ quan cũng đọc những diễn văn tương tự, với lời lẽ có phần dữ dội hơn của Tojo. Nhận được bản dịch của mấy bài diễn văn đó do thông tín viên ở Nhật gởi đi, Tổng Thống Roosevelt đang nghỉ tại Georgia, vội vã trở về Hoa thịnh đốn. Sau đó Tổng Thống nhận được bản dịch từ bản tin chánh thức do Hãng thông tấn nhà nước Domei của Nhật đánh đi, và Tòa Đại sứ Nhật tại Thủ đô Hoa Kỳ có trấn an Tổng Thống Mỹ rằng những lời lẽ đó đã phóng đại quả lố tánh cách đe dọa, chớ thực ra không đến nỗi trầm trọng như vậy. Tuy nhiên, Tổng Thống Mỹ vẫn không yên trí với sự giải thích đó.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:28:54 AM

        Những ngày kế tiếp, Nhật Hoàng Hirohito đã xử dụng hết quyền hạn của mình để đích thân xem xét lại tình hình vào những giờ chót trước khi chiến tranh có thể xảy ra. Một cuộc họp giữa các vị cựu Thủ Tướng được triệu tập tại Hoàng cung để chất vấn Tojo trước sự hiện diện của Thiên Hoàng. Mặc dầu Ngài chỉ giữ thái độ im lặng? nhưng những câu hỏi của các vị cựu Thủ Tướng trong phiên họp này có thể là ý của chính Ngài. Nhiều câu hỏi được đặt ra yêu cầu Tojo trả lời như : Chiến tranh có thực sự cần thiết không ? Liệu Nhật có đủ sức chịu đựng cuộc chiến tới đâu ? Nhật đã chuẩn bị sẵn sàng chưa ? Cựu Thủ Tướng Konoye đặt câu hỏi: « Dù trong trường hợp thương thuyết giữa Nhật và Hoa Kỳ tan vỡ, liệu Nhật Bản có nhất thiết phải phát động chiến tranh sau đó hay không ?»

        Với Tư cách Thủ Tướng Chánh phủ và đại diện cho Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực, Tướng Tojo đứng lên trả lời : «Trong tình hình hiện nay, muốn sống còn, Nhật Bản nhất định phải lao vào một cuộc chiến, bất kể là khả năng của mình được tới đâu và sự chuẩn bị nhiều ít ra sao. Ngồi yên khoanh tay có nghĩa là chờ chết, vì những bao vây kinh tế của Tây phương sắp sửa khiến Nhật trở nên hoàn toàn tê liệt. Thà liều đánh một trận để phá vòng vây may ra còn tìm thấy lối sống, Nếu trong những ngày đầu, Nhật tiêu diệt được hạm đội Thái bình dương của Hoa Kỳ như kế hoạch của Đô Đốc Yamamoto, và chiếm trọn vùng Đông Nam Á, thì sẽ khiến Mỹ phải nản lòng, không còn muốn tiếp tục chiến tranh nữa. Lúc đó Nhật sẽ nhờ Tòa Thánh Vatican hoặc Nga sô đứng ra giảng hòa với Hoa Kỳ. Vạn bất đắc đĩ, nếu chiến tranh kéo dài Nhật cũng đã có nhiên liệu và nguyên liệu cung cấp từ các đảo ở phía Đông Nam Nhật và toàn vùng Đông Nam Á, do đó có thể có căn bản vững vàng để theo đuổi cuộc chiến». Sau cùng TưửngTojo nhìn thẳng vào Hoàng thân cựu Thủ Tướng Konoye nói : «Nội các và quân đội sẵn sàng đón nhận những cao kiến của quý vị để làm sáng tỏ thêm những quyết định hữu ích cho quốc gia trong giờ phút nghiêm trọng. Không có ai nói gì sau đó thái độ của Tojo lúc đó được mô tả là «cứng rắn và cương quyết», nên dù có ý kiến gì chắc cũng không ai muốn nói. Vả lại bàn về các vấn đề trong phạm vi quân sự thì không phải lãnh vực của các vị cựu Thủ Tưởng.

        Giờ phút này, Nhật Hoàng vẫn còn có thể can thiệp để thay đổi tình hình. Theo truyền thống, Ngài chỉ thể hiện ý kiến một cách gián tiếp bằng hình thức đứng ra hòa giải, tài phán, khi có một vấn đề bất đồng, Nội các không quyết định được. Với một hy vọng mong manh như vậy, nên sau đó Ngài cho triệu Tổng trưởng Hải quân là Đô Đốc Shimada và Tham mưu trưởng Hải quân là Đô Đốc Nagano vô cung một cách bí mật. Nhật Hoàng cho hai vị này biết, Ngài có nghe nói rằng hình như Hải quân không muốn có chiến tranh và không tin tưởng có thể chiến thắng Hoa Kỳ. Hiểu được ý của Thiên Hoàng muốn can thiệp vào tình hình, hai vị nảy định nêu lên những bất đồng của Nội các. Nhưng cả hai không đủ can đảm ngăn chận kế hoạch hành động của Hải quân đã đi quá xa, lúc này khó lòng có thể kềm hãm lại được, nên họ đồng tâu lên : «Hải quân hoàn toàn tin tưởng ở chiến thắng »

        Nhân viên mật vụ có lẽ đã cho Tojo biết cuộc họp kín của hai vị sĩ quan hải quân này với Thiên Hoàng. Tojo đoán biết phần nào câu chuyên Nhật Hoàng đã nói với ho. Trong cuộc họp với các vị cựu Thủ Tướng trước đây, Tojo đã đánh hơi thấy có nhiều nhân vật sau lưng Nhật Hoàng vẫn cố tìm cách tránh chiến tranh. Hai vị Đô Đốc thuật lại những gì trong cuộc họp với Thiên Hoàng, nhưng không hề nói tới câu hỏi của Ngài cho Tojo biết. Ý của họ là muốn để mặc cho Tojo một mình quyết định và chịu hoàn toàn trách nhiệm, giống như trước kia họ đã làm với Hoàng thân Konoye.

        Trong cuộc họp tại Hoàng cung ngày sau đó Tojo đứng lên đọc những lời tuyên bố chứa đầy thâm ý chủ chiến khiến cho cả hội nghị, ai cũng thấy rõ ràng lập trường của Nội các và Quân đội :

        «Tuân theo ý chỉ của Thiên Hoàng trong phiên họp ngày 5 tháng 11, Nội các đã xử dụng mọi phương tiện để tiếp tục nỗ lực các cuộc dàn xếp với Hoa Kỳ, nhưng đối phương vẫn không hề bày tỏ một thiện chí hòa giải nào. Họ còn lớn tiếng đòi hỏi Nhật phải đơn phương nhượng bộ bằng cách công nhận Chánh phủ Trùng Khánh của Tưởng giới Thạch, rút quân khỏi Trung Hoa, hủy bỏ việc liên minh với Đức và Ý. Những đòi hỏi phi lý đó không những xúc phạm tới uy tín của Thiên Hoàng, nhưng còn có thâm ý triệt đường sống của dân tộc chúng ta. Mọi nỗ lực ngoái giao lúc này rõ ràng đã thất bại. Mặt khác, những lực lượng quân sự của Mỹ, Anh, Hòa Lan và Trung Quốc không ngừng được củng cố, đồng thời vòng vây kinh tế của họ đối với Nhật mỗi lúc một siết chặt hơn. Những sự kiện xảy ra đã khiến Nhật không còn cách gì hơn là tiến đến một cuộc chiến tranh chống lại Anh, Mỹ...»

        Mặc dầu những ưu tư sâu xa của Thiên Hoàng, chiến tranh vẫn phảỉ tiến đến. Trên phương diện vật chất cũng như tinh thần, nước Nhật lúc này đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để phát động một cuộc chiến. Tojo bảo đảm với Thiên Hoàng, nếu Mỹ có những quyết định thay đổi vào giờ chót, ông vẫn có thể đình chỉ lệnh tấn công, nhưng không có một hy vọng nào cho thấy Hoa Kỳ có thể làm vậy. Tổng trường ngoại giao Togo đứng lên nói : mọi nỗ lực ngoại giao đã chứng tỏ hoàn toàn thất bại, và giờ này không thể làm gì hơn. Tham mưu trưởng liên quân nói: các binh sĩ đang nức lòng được chết vì Tổ quốc và chỉ còn chờ lệnh của Thiên Hoàng để hành đông. Trước sự đồng thanh quyết định chủ chiến của Nội các như vậy, Nhật Hoàng Hirohito không còn biết làm gì hơn là im lặng bãi triều, và cuộc họp chấm dứt.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:29:31 AM
        
CHƯƠNG XXI

        Bộ Chỉ Huy Tối Cao Nhật đã chọn 8 giờ sáng ngày Chủ Nhật, 8 tháng Chạp năm 1941, là giờ khởi sự tấn công Hạm đội Mỹ tại Trân châu cảng. Họ thừa biết ngày Chủ Nhật phần lớn chiến hạm sẽ có mặt tại căn cứ, và binh sĩ đều không sẵn sàng ứng chiến. Chiếu chỉ của Thiên Hoàng đã tới tay Đô Đốc Yamamoto ngày 2 tháng Chạp. Đô Đốc ra lệnh cho các lực lượng hành quân tấn công bằng mật hiệu «Trèo lên đỉnh ngọn Niitaka. 1208.» Cũng ngày đó, một làn khói bốc lên trong khuôn viên tòa Đại sứ Nhật ở Hoa thịnh đốn : Họ khởi sự đốt mấy cuốn mật mã và tài liệu.

        Lúc này Nhật Hoàng quan tâm tới sự kiện Nhật chưa trả lời cho văn thơ của Ngoại trường Hull của Mỹ. Ngài muốn rằng cuộc thương thuyết phải được coi là hoàn toàn tan vỡ trước khi Nhặt mở trận tấn công. Như vậy văn thơ thông báo thương thuyết tan vỡ đó sẽ được coi như lời tuyên chiến của nước Nhật. Ngài cho triệu Thủ Tướng Tojo tới và nhắc nhở ông ta điều này. Tojo liền ra lệnh cho Tổng trường ngoại giao thi hành, gởi văn thơ chánh thức cho ngoại trường Mỹ biết, Nhật coi cuộc thương nghị tới đây là hoàn toàn tan vỡ và chấm đứt.

        Nhưng mặt khác Bộ Tư Lệnh Tối cao các lực lượng hành quân lại muốn rằng văn thơ đó phải được gởi đi vào giờ chót, nghĩa là đúng lúc lực lượng hành quân khởi sự tấn công Trân châu cảng. Phải như vậy mới bảo đảm được yếu tố bất ngờ và an toàn cho lực lượng hành quân trên đường trở vể căn cứ. Vì chính Thủ Tướng Tojo cũng không biết giờ khởi sự tấn công là lúc nào, nên ông không thể trả lời được câu hỏi của Đại sứ Nơmura và Trưởng phái đoàn thương thuyết Kurusu tại Hoa thịnh đốn giờ nào thì trao văn thơ thông báo thương thuyết tan vỡ của Bộ ngoại giao Mỹ. Vì vậy mãi tới một giờ trưa ngày 7 tháng Chạp năm 1941 (tức là ngày 8 tháng Chạp tại Hawaii) Nomura mới trao văn thơ này. Nhưng lúc đó thì ngoại trưởng Mỹ không cần nữa, vì cuộc tấn công của Nhật cách đó năm tiếng đổng hồ đã cho ông biết rằng thương thuyết tan vỡ lâu rồi. Khi biết được chuyện đó. Tojo rầt lấy làm ngạc nhiên. Ông cho rằng có thể vì lý do tuyên truyền, nên Mỹ cố tình giấu điện văn trả lời của Nhật đi và chỉ công bố sau khi đã bị tấn công.

        Nhận được tin Nhật đã bất thần đánh Trân châu cảng, Churchill gọi đó là một «câu trả lời tàn bạo» cho điện văn riêng của Tổng Thống Roosevelt mới gởi cho Nhật Hoàng hôm trước đó.

        Mặc đầu không biết trước một cách đích xác cuộc tấn công của Nhật vào Trân châu càng, nhưng tình báo Mỹ từ nhiều ngày trước đó đã tiện liệu rằng thế nào Nhật cũng sắp đánh, không những riêng Mỹ, mà cả Anh và Hòa Lan nữa. Sự tiên liệu này trở nên chính xác khi tin tình báo nhận được cho hay lực lượng lớn của hải quân Nhật đã tập trung tại vùng biển Đông Nam Á. Tổng Thống Mỹ liền gởi cho Nhật Hoàng một điện văn, yêu cầu giải thích khẩn cấp về lý do Nhật tập trung quân đông đảo tại Đông Dương. Thực ra Tổng Thống Mỹ chỉ nhắc lại câu hỏi của Bộ trường chiến tranh Stimson đã từng hỏi Đại sứ Nomura trước đó mấy ngày.

        Tại Trung Tâm điện tín ở Tokyo, một đống điện tín nằm ụ đó không được phát đi. Phòng kiểm duyệt tuân theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, đã tạm giữ lại tất cả các điện tín để chờ lọc ra những gì có liên quan đến tin tức tinh báo trước khi được phát đi. Ngoại trường Togo kể lại hồi Tướng Tojo còn làm Tổng trưởng chiến tranh, mỗi buổi sáng ông thường đích thân đọc các điện tín từ ngoại quốc gởi tới, và khi thấy thiếu một số nào là hỏi ngay.

        Chính vì vậy điện văn của Tổng Thống Mỹ gởi cho Nhật Hoàng cững bị nằm chung trong đống điện tín chờ phòng tình báo kiểm duyệt, và chỉ được giao cho Đại sứ Mỹ mười tiếng đồng hồ sau đó. Mở mẵ khóa xong, Đại sứ Grew hốt hoảng tới tư dinh của Thủ Tướng Tojo xin phép được yết kiến Nhật Hoàng để trao điện văn quan trọng của Tổng Thống Mỹ gởi tới. Tojo hỏi ông trong điện văn có nói tới điều nhượng bộ nào của Hoa Kỳ hay không ? Sau khi Đại sứ Mỹ trả lời không, Thủ Tướng Nhật nói, ông không phản đối việc Đại sứ Mỹ trao điện văn cho Thiên Hoàng, nhưng thêm rằng cũng may là nó tới trễ, nếu sớm hơn, ông lại mất công viết thêm một điện văn phúc đáp nữa. Ý Tojo cho là mọi việc lúc này không còn gì thay đổi được.

        Khi Đạỉ sứ Mỹ trao bức điện lên cho Nhật Hoàng tại Hoàng cung thì lúc đó là ba giờ sáng ngày Chủ nhật. Lúc đó các lực lượng hành quân đã vượt qua điểm không thể trở về được nữa. Điểm đó được ấn định là một giờ sáng, tức là kỳ hạn cuối cùng cuộc tấn công còn có thể ngừng lại được. Khi Nhật Hoàng đọc điện văn của Tổng Thống Mỹ thì kỳ hạn chót đã qua được hai tiếng đổng hồ. Hạm đội tần công do Đô Đốc Nagumo chi huy không còn quay trở lại được nữa.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Hai, 2018, 11:30:33 AM

        Trước khi trời sáng, các phi cơ trên những hàng không mẫu hạm nhộn nhịp, nổ máy ẩm ầm trong những tiếng hô của binh sĩ và phi công « Thiên Hoàng vặn tuế », « Chiến sĩ muôn năm, » Giữa những tiếng hô vang động cả mặt biển đó, và tiếng ầm ẩm của động cơ máy bay của Đại tá Puchiđa chạy vùn vụt trên phi đạo và vọt lên trời cao, Theo sau là các phi cơ trong đợt tấn công đầu tiên nối đuôi nhau cất cánh. Họ sắp thành đội hình và biến mất trên cao.

        Đợt máy bay tấn công đầu tiên đo Đại tá Fuchida chỉ huy bay ngang trên đảo Oahu, trông giống như con chuồn chuồn nằm trên mặt nước, Qua những lỗ trống của mây, Đại tá Fuchida nhìn thấy các chiến hạm Mỹ nằm im lìm trong ánh nắng ban mai vừa tỏa ra từ hướng Đông, Không ghi nhận được một dấu hiệu hoạt động hay đề phòng nào của các chiến hạm địch nằm im bên dưới, Fuchida tự hỏi phải chăng người Mỹ không nhớ bài học hải cảng Arthur của Nga khi xưa bị quân đội Nhật tấn công bất ngờ hay sao ?

        Sáng chủ nhật, các binh sĩ trên những chiến hạm Mỹ đậu tại căn cử phần lớn đều rời tàu lên bờ đi lễ. Một số ít còn lại lang thang trên boong, nhìn trời, nước, sắp sửa đi ăn điểm tâm. Tầt cả đều yên trí rằng một ngày im lìm nữa lại được bắt đầu, Lá quốc kỳ Mỹ hình sao sọc trên các chiến hạm đang sửa soạn để kéo lên, và đúng lúc đó thì đoàn phi cơ Nhật từ trên cao bắt đầu đâm bổ xuống.

        Trái bom đầu tiên rớt xuống đúng vào hổi 7 giờ 55 phút sáng Chủ nhật, 8 tháng Chạp năm 1941, nổ tung trên sàn chứa thủy phi cơ. Đài kiểm soát đánh đi tín hiệu cầu cứu : « Chúng tôi đang bị phi cơ Nhật tấn công thật sự, chớ không phải thực tập báo động. » Lần lượt các chiếc Arizona bị trúng thủy lôi đầu tiên, rồi tới chiếc Oklahoma. ít phút sau đó, đúng tám giờ sáng, chiếc California bắt đầu chìm nghiêng về một phía, Chiếc Arizona bị trúng bom ngay hầm chứa đạn, gây ra những tiếng nổ kinh hồn. Các đợt tấn công tiếp theo của phi cơ Nhật khiến cho các chiến hạm West Virginia rồi đển chiếc Utah bị chìm, chiếc Pennsylvania bị thương cố lết ra khơi chạy trốn. Thêm hai khu trục hạm nữa ăn bom ở sườn tàu. Những tấm sắt vỏ tàu cong lại.

        Cứ như vậy, các phi cơ Nhật lồng lộn nhào lên, nhào xuống tấn công căn cứ hải quân lớn nhất của Mỹ tại Thái bình dương trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ. Cao xạ phòng không Mỹ chỉ hoạt động lẻ tẻ một cách yếu ớt, phần lớn đã bị tiêu diệt ngay từ lúc đầu, vì không có người điều khiển. Các máy bay khu trục Zero của Nhật bay hộ tống đoàn oanh tạc cơ không gặp đối thủ, nên chúng nhào xuống bắn phá bất cứ mục tiêu nào trên đảo xuất hiện trong tầm súng. Bầu trời đầy những vệt khói ngang, dọc do các máy bay tuôn ra. Từ dưới đất những cột khói của các đám cháy cũng bốc lên cao dần. Chiềc phi cơ cuối cùng của Nhật bay khuất khỏi mục tiêu vào lúc 9 giờ 30 phút.

        Tổng cộng có tất cả năm chiến hạm, hai thiết giáp hạm, ba khu trục hạm, và hai hải vận hạm bị chìm. Một thiết giáp hạm và bốn khu trục hạm khác bị thương nặng. Một trăm bảy chục phi cơ bị phá hủy tại phi trường Hickman. Nhà chứa phi cơ và các cơ sờ phụ thuộc đều bị tiêu hủy. Hai ngàn nấm trăm binh sĩ bị giết, trong đó có hơn một ngàn vừa sĩ quan và thủy thủ của chiếc Arizona bị đánh chìm. Khi lực lượng hành quân Nhật trở về hạ cánh trên các mẫu hạm của Nhật lúc 11 giờ, các phi công báo cáo : mệnh lệnh của Đô Đốc Yamamoto đã thi hành xong. Với một tồn thất nhẹ là hai mươi tám phi cơ bị hạ, không lực hạm đội hải quân Nhật đã tiêu diệt hoàn toàn Hạm đội Thái bình dương của Hoa Kỳ.

        Xế trưa ngày hôm đó, tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ ở Hoa thịnh đốn, Đại sứ Nomura và phụ tá Kurusu trong lúc trình điện văn phúc đáp của Chánh phủ Nhật cho ngoại trưởng Mỹ, vẫn chưa hay biết quân đội Nhật đã tấn công Trân châu cảng hồi sáng. Đại sứ Nhật trịnh trọng đưa ra những lời phản đối nào là Mỹ không «thật lòng», «những nỗ lực thành khẩn của Nhật trong vấn đề Trung Hoa», và cuối cùng lên án Mỹ đang có âm mưu mở rộng chiến tranh Âu châu sang vùng Viễn Đông. Ngoại trưởng Hoa Kỳ không còn kiên nhẫn được nữa, ông trả lời ngay vào mặt Đại sứ Nhật rằng trong suốt năm chục năm trong nghề ngoại giao, ông chưa bao giờ thấy một văn kiện chứa đầy những sáo ngữ giả dối và vô giá trị như vậy. Sau đó, ông ra hiệu cho khách cáo lui ngay.

        Bộ Tư Lệnh quân đội Thiên Hoàng tại Tokyo loan tin quân đội đã được đặt trong tình trạng chiến tranh với Anh và Mỹ. Đài phát thanh loan tin chiến thắng tại Trân châu cảng. Dân chúng tràn ra đường phố hát quốc ca, hô khẩu hiên «chiến sĩ vạn tuế !» và hướng về Hoàng cung lạy tạ, cầu xin Tổ Tiên phủ hộ cho con cháu. Trẻ em bán báo rung chuông, gõ mõ, chạy khắp hang cùng ngõ hẻm loan tin chiến thắng Trân châu cảng, và bán các ấn bản đặc biệt của các nhật báo Asahi, Nichi-nichi, Yomiuri.

        Bà Tojo từ nhiều bữa nay vẫn lo lắng khi hay tin nhiều nhóm quá khích định ám sát chồng, bây giờ nghe được tin chiến thắng, tự nhiên bà thấy yên trí, tin tưởng tối nay chổng bà sẽ trở về nhà yên ổn. Trong lúc đó, Tojo mặc đồ đại lễ tới Quốc Miếu ở Tokyo lạy tạ Tổ Tiên và dâng lên chiến thắng đầu tiên trong cuộc chinh phục Viễn Đông của dân tộc Nhật.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:54:39 AM
     
PHẦN HAI

RA ĐI

                                          Những ngươi trai trẻ đã ra đi
                                          Để lại ruộng vườn có tiếc chi,
                                          Cho bậc lão ông lo vun xới
                                          Còn mình vui thỏa chí nam nhi


Minh Trị Thiên Hoàng (1833-1912)       

CHƯƠNG XXII

        Vào khoảng tám giờ sau khi trận Trân châu cảng xảy ra, một chiếu chỉ của Nhật Hoàng được công bố cho toàn thể dân chúng Nhật biết trận thử thách lớn nhất trong lịch sử dân tộc đã xảy ra, Tờ chiếu viết như sau :

        «Nhờ Hoàng Thiên và hồng đức của Tổ Tiên, Trẫm là Thiên Hoàng nước Nhật, ngồi trên ngai vàng, nối ngôi Tiên Đế từ ngàn xưa truyền lại, ngày hôm nay long trọng tuyên chiến với Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, và Đế quốc Anh cát lợi, Những quốc gia này từ lâu đã có tham vọng đô hộ Á châu, bất kể những lời khuyên can qua đường lối và phương tiện ngoại giao của Nhật Bản, Ngoài ra, hai nước này ngày nay lại có nhiều hành động đe dọa nền an ninh của nước Nhật. Vì sự sống còn của dân tộc, nước Nhật buộc lòng phải xử dụng đến những phương tiện chiến tranh...»

        Những chiếu chỉ của Nhật Hoàng đọc trong các dịp này thường thường chỉ là một thông lệ, có tánh cách nghi lễ cũng giống như bài diễn văn Vua nước Anh đọc khi khai mạc Thượng viện, không bao giờ phản ảnh trung thực ý nghĩ thực sự của Nhật Hoàng. Tuy nhiên, lần này, trong câu cuối cùng của chiếu chỉ, người ta thấy Ngài đã thực sự gởi gắm tâm sự của mình trong đó ;

        «Chiến tranh cuối cùng buộc lòng phải xảy ra, mặc dầu lòng Trẫm không bao giờ muốn như vậy. Vì danh dự và sống còn, Nhật Bản phải rút gươm, đọ sức với Anh,

        Trong khi đó, tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Roosevelt nói trước Thượng viện : «Trận đánh bất ngờ, không tuyên chiến trước của Nhật, đã xảy ra vào một ngày sẽ còn được ghi nhớ mãi mãi trong lịch sử. Thực là một hành động ô nhục. Nhưng sự thực là như vậy, chúng ta đang phải đương đẩu với một cuộc chiến tranh lối mới theo khuôn mẫu của Đức quốc xã. Chúng ta không bao giờ muốn dây dưa vào một cuộc chiến bẩn thỉu như thế này, chúng ta không khiêu khích, không tạo ra, nhưng giờ đây chúng ta đã mắc vào giữa cuộc chiến đó, và chúng ta sẽ chiến đấu với tất cả sức mạnh chúng ta hiện có trong tay. »   

        Thủ Tướng Churchill tuyên bố tại Hạ viện : «Tất cả những mánh lới gian giảo của dân Nhật đang được xử dụng để chống lại chúng ta. Nhưng dù sao chúng ta cũng còn may mắn, là lúc này nước Anh không còn ở vào thế yếu như thời kỳ sau trận Dunkirk hay vào những ngày trong năm 1940.»

        Trong phiên họp đặc biệt tại Quốc hội Hitler lên tiếng tố cáo : «Tâm trí bênh hoạn của Roosevelt đã cồ tình lôi cuốn Nhật Bản vào chiến tranh. Đồng minh của nước Đức tại Viễn Đông vừa giáng cho bọn Mỹ một đòn chí tử, vì chúng đã có những hành động bẩn thỉu.» Và tại Ý Mussolini đứng trên bao lơn của điện Pahzzo Venecia tuyên bố với đám đông đang hoan hô nhà độc tài ở bên dưới: «Hôm nay là một ngày quan trọng đáng ghi nhớ trong lịch sử nước Ý. Đồng minh của chúng ta tại Á châu vừa giáng lên đầu kẻ thù chung một đòn đích đáng. Từ nay những chiến sĩ của xứ Mặt Trời mọc sẽ cùng sát cánh với nước Ý chiến đấu.»

        Sau khi thông điệp của Nhật Hoàng được tuyên đọc, Thủ Tướng Tojo tuyên bố trên đài phát thanh : «Nhật Bản luôn luôn có những hành động ngăn cản chiến tranh. Nhưng trong lịch sử 2600 năm nay của Nhật, chúng ta chưa bao giờ thất trận. Tôi đoan chắc với mọi người chiến thắng cuối cùng sẽ về tay chúng ta.»

        Mặc dầu báo chí và đài phát thanh từ lâu đã tiên đoán một cuộc đụng độ sẽ xảy ra giữa Nhật và Mỹ, người dân Nhật hình như rất lấy làm ngạc nhiên, hơn cả những người Mỹ, trước trận đánh bất ngờ tại Trân châu cảng. Họ đón nghe từng giờ, từng phút các bản tin chiến thắng của quân đội trên đài phát thanh. Kèm theo những tin chiến thắng là các bản nhạc hùng được cho phát thanh đã nâng cao tinh thần binh sĩ đến tột độ. Nhiều bài hùng ca từ thời Minh Trị, trong dịp chiến thắng trong trận đánh Nga - Nhật năm 1905, lại được hát vang lên khắp nơi. Một bản dân ca nhan đề «Boku no Tojo» (Tojo của chúng ta) cũng được phổ biến. Ở trường học, đường phố, thôn quê, đâu đâu dân chúng cũng nô nức với các tin chiến thẳng. Sự phấn khởi dâng cao, tràn ngập khắp nơi.

        Tờ Nhật Bàn Thời Báo viết rằng chỉ trong một buổi sáng, Hải quân Mỹ tại Thái binh dương đã bị hạ xuống hạng ba. Hiện nay, quân thủ đang run rẩy, lúng túng, chưa biết làm gì. Sự quỵ ngã của Anh Quốc tại Bỉ, Hòa Lan, Tiệp Khắc, Ba Lan và Pháp, bây giờ lại lôi Hoa Kỳ té theo tại Viễn Đông. Phát ngôn viên của. Hải quân Hoàng gia Nhật là Đại úy Hirade tuyên bố : Toàn thể binh sĩ Hải quân đang nôn nóng được ra trận. Ông ta cũng đưa ra lời tiên đoán khi được phỏng vấn trên đài phát thanh, rằng đến nông nỗi này, Mỹ chỉ còn một cách là đầu hàng. Những biến chuyền trên chiến trường những tuần lễ sau đó cho thầy lời tiên đoán của ông ta không phải là vô lý.

        Trong vòng 48 giờ sau khi trận đánh Trân châu cảng xảy ra, quân Nhật lần lượt đánh chiếm Mã Lai, Phi Luật Tân, Hồng Kông và những đảo của Mỹ tại Thái bình dương. Đâu đâu quân Nhật cũng chiến thắng một cách dễ dàng, với kế hoạch đã được hoạch định tỉ mỉ chu đáo từ trước. Hình như không còn một sức mạnh nào có thể ngăn nổi bước tiến của các chiến sĩ xứ Mặt Trời mọc.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:55:05 AM

        Hồng Kông vừa được tăng cường các toán quân Gia Nã Đại và Ấn Độ, bị Nhật tấn công vào ngày 8 tháng Chạp. Quân Nhật từ Trung Hoa tràn ngập Kowloon, vượt qua eo biển hẹp đổ bộ lên Hồng Kông. Ngày 25 tháng Chạp, sau khi đài phát thanh Tokyo kêu gọi các binh lính Anh trú phòng tại Hồng Kông đang chiến đấu can đảm hãy đầu hàng vì cuộc chiến đấu này vô ích, viên Toàn quyền người Anh được các cố vấn quân sự hải và lục quân cho biết không còn cách gì chống cự, đã xin đầu hàng quân Nhật.

        Tại đảo Wake, một căn cứ quân sự của Mỹ, hai chiến đấu cơ trong tổng số 12 chiếc đã bay thoát lên được và chạy trốn. Những chiếc còn lại bị quân Nhật phá hủy trên mặt đất. Sau khí bắn nhau với các máy bay Nhật một cách anh dũng, hai chiếc này rốt cuộc cũng bị bắn hạ, và sau đó quân Nhật đổ bộ lên đảo. Bốn trăm Thủy quân lục chiến Mỹ sau 14 ngày chiến đấu anh dũng, cuối cùng đã bị quân Nhật tràn ngập sau những trận pháo kích kinh hoàng.

        Tại Mã Lai, quân Nhật khơi sự tấn công sáng sớm ngày 8 tháng Chạp, Khi những trận đánh bắt đầu, hai chiến hạm tối tân có hỏa lực hùng hậu của Anh là chiếc “Prince of Waíes» và chiếc «Repulse» từ ngoài khơi tiến vào tấn công các quân vận hạm và tàu đổ bộ của Nhật. Vì không có phi cơ hộ tống, nên hai chiến hạm Anh nhờ vào các đám mây bao phủ bên trên để lần trốn. Nhưng qua một lỗ hở của màn mây, phi cơ trinh sát Nhật đã tìm thấy hai chiến hạm này ; lập tức các máy bay thả thủy lôi đặt căn cứ ở Đông Dương, cách đó 400 dặm, được gọi tới đế tấn công tàu Anh. Phi cơ Nhật đánh rất trúng đích bằng nhiều đợt oanh tạc và thả thủy lôi.

        Sau khi mất hai chiến hạm này, quân Nhật tự do đổ bộ lên bờ biển Mã lai, đầy lui quân trú phòng đang cố lập một phòng tuyến chống đỡ, nhưng không thực hiện nổi. Cuộc hành quân phổi hợp của địch với máy bay yểm trợ đã đẩy quân Anh lần xuống phía cuối của bán đảo và sau cùng ngừng lại tại Singapore. Trung Tướng Percival, chỉ huy liên quân Anh, Ấn và Mã, tuyên bố : « Trận Mã lai như vậy là xong. Bây giờ là Singapore, chúng ta phải cố giữ để chờ viện binh tới.»

        Từ ngày 1 tháng Giêng năm 1942, những cuộc pháo kích dữ dội của quân Nhật từ đất liền bắn tới. Phần lớn nhằm vào phi trường, vì có một số máy bay vẫn còn hoạt động.

        Sau đó, truyền đơn từ trên không rót xuống loan tin : quân Mỹ đã xin thương thuyết; và hỏi các binh sĩ Anh, tại sao các bạn chịu khổ cực ở rừng Mã lai đầy muỗi này chỉ để phục vụ cho bọn quý phái ở Anh quốc ?

        Một tuần sau đó, quân Nhật vượt qua eo biển hẹp Johore tấn công Singapore với những đơn vị thiện chiến nhất, trong đó có cả một toán quân tinh nhuệ thuộc ngự lâm quân của Nhật Hoàng. Quân Nhật cứ việc tiến bừa lên bất kể các tổn thất. Ngày 15 tháng Hai, gần hai tháng sau khi các trận đánh tại Mã lai bắt đầu, và trước kỳ hạn Bộ Tham mưu Nhật dự định cho chiến dịch đánh chiếm địa phương này một tháng, Tướng Percival xin đầu hàng với một trại quân 60.000 binh sĩ. Thế là căn cứ lớn nhất của Anh tại Đông Nam Á bị mất Những họng súng lớn của quân Anh đặt dọc theo bờ biển Singapore vẫn còn đó, chưa bắn một phát nào. Họ tưởng sẽ bị tấn công từ mặt biển, nhưng không ngờ quân Nhật lại đánh từ phía đất liền. Trong số hơn sáu chục ngàn binh sỉ đầu hàng, có nhiều người thuộc các đơn vị tăng cường cho bán đảo này mới được gởi tới từ lúc các trận đánh khởi sự.

        Tại Hạ viện Anh, Thủ Tướng Winston Churchill tuyên bố : « Đêm nay là đêm chiến thắng của quân Nhật. Nhưng rồi, một ngày kia, chúng sẽ thua một cách đau đớn.» Tướng Tojo xuất hiện tại Quốc hội Nhật cùng với các dân biểu hô lớn ba lần « Banzai » (chiến sĩ muôn năm) và tuyên bố, với việc chiếm xong Mã lai, từ nay vùng Đông Nam Ấ hoàn toàn nằm gọn trong tay Nhật. Ông đề nghị chọn ngày hôm sau làm « Ngày chiển thắng tại Mã lai. » Nhật báo Kokamin tường trình các trận đảnh ở Singapore cho rằng tới đây quân Nhặt mới tiến được nửa đường. Còn phải đi thêm nữa để hợp tác với các đồng minh của Nhật tại Âu châu về cả hai phương diện quân sự và kinh tế. Sau một thời gian ngắn kể từ lúc Nhật tham chiến, triển vọng Đức và Nhật sẽ gặp nhau tại vịnh Ba Tư rất có thể diễn ra như lời Shigemitsu tiên đcán trước đây. Số phận của Tân Tây Lan và Úc đại lợi hầu như đã được định đoạt; không thể nào thoát khỏi tay Nhật. Tojo cảnh cáo hai nước đó, đừng trông mong vào sự cứu giúp của Anh và Mỹ nữa. Giờ đây an ninh của hai quốc gia này tùy thuộc vào thái độ hiểu biết của họ đối với Nhật Bản.

        Nước Nhật từ nay trở đi được đổi lại là Dai Nippon có nghĩa là Đại Nhật Bản. Mã lai cũng được đổi là Shonan, có nghĩa : « Ánh sáng Miền Nam. » Tương tự như vậy tất cả các thuộc địa của Tây phương trước kia mang tên Anh và Pháp đều được đổi lại bằng tên Nhật. Tiếng Nhật từ trước tới nay có xen lẫn chừng một ngàn những tiếng nguyên là Anh ngữ, nay bị cấm xài các danh từ đó; vì cho rằng như vậy là thiều tinh thần ái quốc, bất xứng đối với danh dự của Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:55:21 AM

        Đối với quần đảo Đông Indies tại Thái bình dương; nơi có nhiều dầu rất cần cho Nhật trong lúc này; Nhật không khai chiến vội; vì có ý chờ viên Toàn quyển Hòa Lan ở đây tỏ ra hiểu biết, noi gương viên Toàn quyền người Pháp ở Đông Dương, tự ý đem trao cho Nhật. Nhưng chờ mãi, viên Toàn quyền người Hòa Lan, quê quán hiện đã nằm dưới sự kiểm soát của Đức quốc xã, vẫn không thấy hành động nhượng bộ, hơn thế ông còn tham chiến với Anh để chống lại quân đội Nhật ở Mã lai, nên buộc lòng Nhật phải hành động vào tháng Giêng năm 1943. Nhật rất thận trọng vi sợ các cơ sở lọc đẩu tại đây bị phá hoại.

        Ngày 27 tháng Hai, Đô Đốc Doorman, người Hòa Lan, cầm đầu một Hạm đội hỗn hợp gồm nhiều chiến hạm của Anh, Úc, Mỹ và Hòa Lan tuần tiễu xung quanh các đảo chánh, và thình lình nhận thấy một hạm đội khổng lồ của Nhật đang tiến tới gần đảo Java. Mặc dầu lực lượng chênh lệch rất nhiều so với Hạm đội địch, tổng số lên tới gần một trăm tàu lớn, nhỏ, nhưng Đô Đốc Doorman vẫn xáp vào hỗn chiến. Phi cỡ Nhật lập tức can thiệp, nhào lộn trên không hướng dẫn cho hải pháo bạn, và thả thủy lôi tiêu diệt các chiến hạm địch. Sau hai ngày rưỡi chiến đấu tuyệt vọng vì thiếu không trợ, Hạm đội của Đô Đốc Doorman bị đánh tan. Thanh toán xong lực lượng này, quân Nhật tự do đổ bộ lên bờ biển, đầy lui quân trú phòng một cách dễ dàng. Đồng thời lính dù Nhật bất thần nhảy xuống giữa các xưởng lọc dầu, chiếm đóng ngay mọi cơ sở, vì vậy các nhà máy không bị phá hủy, hầu như vẫn còn nguyên vẹn.

        Ngày 12 tháng 3 năm 1942 được chọn làm Ngày Chiến Thắng Thứ Hai của quân đội Nhật khi họ chiếm xong Nam Dương (Đông Indies) và Miến Điện. Quân Nhật từ Thái Lan tiến vào Rangoon, Thủ đô của Miến, đánh tan quân Tàu do Tướng Mỹ Stilwell chỉ huy để cố giữ đường xe lửa Ngưỡng quang tiếp tế cho Tưởng Giới Thạch. Thái Lan thoát khỏi chiến tranh, vì xứ này khôn ngoan tự đặt mình dưới quyền bảo hộ của Nhật. Tojo được Vua Thái ban thường Huy chương cao nhất nước, đó là 3 Bạch Tượng Bội Tinh. »

        Quân Nhật bắt đầu gặp sức chống cự mạnh kể từ lúc Tướng Alexander của Anh được gởi sang mặt trận Miến Điện. Viên Tướng Anh này sau trở nên sáng chói tại mặt trận Trung Đông và Ý đại lợi, với những chiến công rực rỡ. Thành phố Mandalay, mãi ngày 6 tháng 5 năm 1942, quân Nhật mới lấy được. Báo chí Nhật thuật lại quang cảnh thành phố, chỉ còn là một đống gạch vụn. Anh sợ Nhật thừa thẳng xông lên đánh thẳng sang Ấn độ, nhưng may là họ đã ngừng lại tại Assam, một vùng ở biên giới Ấn Miến. Quân Nhật ngừng lại không phải vì sức chống cự của quân Anh, nhưng vì tương đối họ đã tiến quá xa và quá nhanh, nên các phương tiện tiếp liệu, liên lạc không thiết lập kịp. Thời giờ lúc này là vàng bạc, quân Anh lợi dụng để tăng cường, củng cố lại hạm đội Viễn Đông của họ đặt căn cứ ở Tích Lan, và chuẩn bị đẩy lui quân Nhật nếu đánh sang An.

        Mặc dầu sau khỉ chiếm xong Miến Điện, Thủ Tướng Tojo khoe khoang từ nay Tường Giới Thạch hết trông mong vào đồ tiếp tế của Tây phương, nhưng trên thực tế Mỹ vẫn dùng máy bay, bay ngang qua Hy mã lạp sơn để thả đù tiếp liệu cho quân Tàu, Mặt trận Phi Luật Tân kéo dài với sự chống cự mãnh liệt của Tướng MacArthur và quân địa phương tại các pháo đài ở Corregiđor, chận đường quân Nhật tiến tới Manila, Thấy dằng dai đã hơn ba tháng trời mà vẫn chưa chiếm xong Phi luật tân, Bộ Tư lệnh Viễn Đông của Nhật liền gởi Tướng Yamashita, nổi danh là « con cọp Mã lai » tới. Với những mũi dùi tấn công mãnh liệt vào các pháo đài của quân Mỹ - Phi bằng xe tăng, Cuối cùng các pháo lũy tại Corregidor lần lần phải sụp đổ. Được lệnh chạy về Úc đại lợi, MacArthur đang đêm phải đưa vợ con xuống một chiếc thuyền máy âm thầm bỏ trốn, để lại Tướng bộ hạ là Wainwright cầm cự được ngót một tháng nữa thì bị quân Nhật bắt sống.

        Trang nhất của các nhật báo tại Tokyo không ngớt loan tin chiến thắng bên cạnh chiếu chỉ tuyên chiến của Nhật Hoàng được in lại hàng ngày. Chiếm xong Phi luật tân, báo chí Nhật viết : « Suốt vùng Đông Nam Á bây giờ mặt đất đã rung chuyển dưới gót giày của quân đội Thiên Hoàng, và không trung đầy dẫy phi cơ của không quân Hoàng gia Nhật » Những lời khoe khoang đó không phải là bịa đặt. Quả thực, quân đội Nhật đã hoàn thành một cuộc chinh phục vĩ đại ở Viễn Đông và Thái bình dương. Tất cả các quần đảo Solomons, New Britain, và một phần lớn Tân Guinea đã lọt vô tay họ. Quân Nhật cũng đã chiếm suốt một vùng chạy dài từ phía Bắc Miến Điện xéo qua hải cảng Akyab ở phía Tây, quần đảo Andaman, toàn vùng Nam Dương, một phần phía Bắc Tân Guinea thuộc Úc, đảo Solemons, Gilbert, và quần đảo Marshall, cho tới đảo Wake và cuối cùng là quần đảo Aleutians, chỉ cách Alaska có một khoảng đường ngắn.

        Nhật tha hồ khai thác tài nguyên và nhiên liệu ở những vùng đầt rộng lớn đã chiếm đóng, để bảo đảm nguồn tiếp tế cho kỹ nghệ của mình càng ngày càng trở nên giàu mạnh. Câu hỏi đặt ra cho các Tướng lãnh và chánh khách Nhật lúc này là liệu họ có tiến xa hơn nữa từ những vùng đó hay không ?


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:55:58 AM

CHƯƠNG XXIII

        Lúc loan tin Nhật tấn công Mỹ tại Thượng viện, Tổng Thống Roosevelt, với giọng chua chát, đã phải công nhận : « Chúng đã hành động một cách quỷ quyệt, đúng lúc, và khôn khéo, » Bộ trưởng chiến tranh Mỹ là Stimson phải công nhận : những báo cáo từ Phi luật tân gởi về nói rằng quân Nhật chiến đấu yếu ớt, không được huấn luyện và chỉ trang bị vũ khí thô sơ hoàn toàn là nói láo. Ông ta ghi nhận: « Sự thực là quân Nhật trang bị đầy đủ đã chiến đấu rất can đảm, kỷ luật, và Bộ Tham mưu của họ làm việc rất đắc lực,»

        Từ trước tới giờ, nhiều người Tây phương thường kể những chuyện thần kỳ, bí hiểm về dân Nhật, Chẳng hạn, có người nói quân Nhật không biết nhắm súng, vì họ không thể nhắm một mắt được. Họ cũng không biết lái máy bay, vì mắt rất kém, và hay bị chóng mặt. Lý do là vì họ chỉ ăn có cơm, thiếu chất bổ, và suốt ngày lại cắm đầu vào những trang sách với thứ chữ li ti, khó đọc, nên mắt trở nên kém. Chứng chóng mặt là do khi còn nhỏ bị gùi sau lưng mẹ phát sanh ra. Những người Tây phương đã quên hoặc không biết tới chiến thắng của Nhật trong trận đánh với Nga năm 1905, nói rằng quân Nhật chỉ đánh nổi quân Tàu chạy lòng vòng, nhưng đụng với quân Tây phương thì chúng không thể nào tiến nổi.

        Nhưng lúc này, sau khi đã nhìn thấy lối đánh thần tốc, khủng khiếp của quân Nhật, người Tây phương lại có những chuyện thần thoại khi nói tới giống dân da vàng đơ. Chẳng hạn : quân Nhật chiến đấu không bao giờ bị mệt và không biết sợ là gì. Quân Nhật có những lối đánh trong rừng người da trắng không thể nào đánh lại được. Quân Nhật không cần ăn uống mà vẫn chiến đấu được. Cả ngày họ chỉ có một nắm cơm. Gặp quân Nhật là kể như chết, không có hy vọng gì sòng sót.

        Sợ rằng những huyền thoại đó có thể gây nguy hiểm cho tinh thần binh sĩ, các sĩ quan Đồng Minh đã phải nhiều lần giải thích, đó là những lời đồn thiếu căn bản khoa học. Tướng Wavell cho rằng quân Nhật sẽ mất can đảm khi chúng không còn ở « thế mạnh. » Tướng Stilwell thì nói : lính Nhật « công giỏi hơn thủ. » Quan niệm sai lầm này có lẽ là vì Stilwell không có dịp đụng độ với quân Nhật trong những trận tử thủ của họ sau này tại Miến Điện, Mandalay, Saipan, Iwo Jima, những nơi mà quân Anh và Mỹ phải trả một giá rất đắt mới lấy lại được, sau cả năm trời đánh giằng co từng thước đất.

        Quan niệm cho rằng lính Nhật đánh hăng vì quân số quá đông so với lính Anh và Mỹ hoàn toàn sai lầm. Những trận đánh tại Thái bình dương và Đông Nam Á, xét về hải quân và không quân thì họ đông hơn thật, nhưng quân số trên bộ tương đối ít hơn đối phương. Nhưng sở dĩ họ chiến thắng dễ dàng là nhờ vào kế hoạch được thiết lập thật tỉ mỉ từng đường tơ kẽ tóc một, nên khi thi hành là cứ rầm rập, đâu vào đó, đồng khởi đúng ngày, đúng giờ và diễn ra chớp nhoáng. Chính Tướng Waveli sau khi bị mất Ngưỡng Quang cũng phải thú nhận : « Lúc nào chúng ta cũng ở phía sau kim đồng hồ. Quả thực quân Nhật tiến nhanh hơn ta tưởng. »

        Lúc Singapore thất thủ, Thủ Tướng Churchill không ngần ngại ca tụng quân Nhật: « Từ nay chúng ta không thể đánh giá quá thấp bộ máy chiến tranh của Nhật. Các binh sĩ Nhật đã chứng tỏ họ chiến đấu rất hăng, nguy hiểm, và điều đáng tiếc là rất dã man ».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:57:07 AM

CHƯƠNG XXIV

        Tháng Hai năm 1942, trong lúc các sư đoàn của Nhật tiến vô Mã lai, thế mạnh như vũ bão, Tướng Tư Lệnh Nhật đã cho rải truyền đơn, kêu gọi các binh sĩ Anh ra đầu hàng trong tinh thần thượng võ, và ông ta hứa sẽ đối xử với những người đầu hàng như các chiến sĩ.

        Một tháng sau đó, ngoại trưởng Anh Anthony Eden đã tố cáo trước dư luận thế giới, điếu mà Nhật gọi là “ tinh thần thượng võ » chỉ là bộ mặt đạo đức giả đáng ghê tởm. Sự thực cho thấy sau khi đầu hàng, các tù binh cũng như thường dân đểu bị đối xử vô cùng dã man, tàn nhẫn. Cảnh tượng diễn ra tại Hồng Kông sau khi quân Nhật chiếm được thành phố, ghê tởm như những cuộc chém giết, hãm hiếp ghê rợn từng diễn ra tại Nam Kinh năm 1937... Chánh phủ  Nhật từ chối không dám để đại diện quốc tế tới thăm Hồng Kông.

        Đó là những lời phản đối đầu tiên của nhiều loạt phản đối của Đồng minh về việc đối xứ dã man với tù binh, bất chấp quy ước quốc tế, của quân Nhật. Chánh phủ do Tojo lãnh đạo vẫn làm ngơ trước những lời phản đối đó. Hai năm sau, ngoại trưởng Eden nói trước Hạ viện Anh : Có tất cả 140.000 binh sĩ thuộc khối Cộng đồng Anh bị rơi vào tay Nhật. Họ bị ngược đãi trong những trại tù binh giữa rừng rậm nhiệt đới. Người nào người nấy chỉ còn da bọc xương, và còn bị bắt hành hạ, làm việc cho tới chết. Quần áo gần như trần truồng, đầu tóc dài lê thê trông như người tiền sử.

        Sau này tại Tòa án xử tội phạm chiến tranh tại Viễn Đông, Tojo và đồng bọn đã bị buộc tội nhiều nhất vì những hành động dã man đối xử với tù binh và dân chúng tại vùng chiếm đóng. Tòa án đã đưa ra hai tài liệu chánh thức về vần đề này. Theo đó kể từ năm 1931 đến năm 1945, quân đội Nhật đã giết hơn một triệu người bằng cách đối xử dã man, không cho thuốc men. Trong đó có 302.000 trường hợp điển hình đặc biệt của những nạn nhân bị tra tấn, hãm hiếp, và đối xử nhiều cách dã man khác...

        Hành động đối xử một cách dã man với tù binh của các binh sĩ Nhật hình như do ảnh hưởng của những phương pháp huấn luyện tinh thần mà quân đội Nhật đã đào tạo cho họ Quân đội Nhật dạy cho binh sĩ của họ rằng một người lính khi đã đầu hàng thì không còn danh dự, không đáng sống nữa. Chính vì vậy, con số tù binh Nhật bị bắt tại mặt trận Thái bình dương rất ít so với tổng số binh sĩ tham dự vào những trận đánh đó. Khi không thể chiến đấu được nữa, họ thường tìm cách tự tử hơn là để bị bắt, Nhiều người tự mở lựu đạn cho nổ banh xác, cũng có người tự mổ bụng hay cắt cổ tự tử.

        Những ai đã từng phải đánh nhau với quân Nhật không thể nào quên được sự chiến đấu điên cuồng theo lối đánh tự sát của họ khi biết rằng không có cách gì thắng nổi đối phương. Tại Tân Guinea, quân Úc lấy làm ngạc nhiên khi thấy một căn cứ của Nhật, các binh sĩ người nào cũng đều mang mặt nạ, mặc dầu lúc đó lính Úc không hề xử dụng hơi độc. Mãi sau này khi đã tiêu diệt hết căn cứ đó, quân Úc mới khám phá ra : sở dĩ lính Nhật đeo mặt nạ là vì xác chết của binh sĩ họ không chôn, nhưng đem xếp làm hàng rào chắn đạn. Tại mặt trận Thái binh dương, rất nhiều thủy quân lục chiến Mỹ trong lúc định giúp đỡ những lính Nhật bị thương đã bị họ vùng dậy bắn chết. Trong trận chiến ghê rợn tại quần đảo Solomons với hàng trăm ngàn binh sĩ như vậy, mà Mỹ chỉ bắt được vỏn vẹn có 450 tù binh Nhật. Phần lớn số tù binh này đều muốn tự tử, chớ không muốn trở về nước. Hình như họ cho rằng bị lọt vô tay quân thù như vậy là điều nhục nhã, không còn đáng sống nữa.

        Tinh thần chiến đầu can đảm của binh sĩ Nhật vốn có từ ngàn xưa, đó là điều không ai phủ nhận. Nhưng riêng việc đối xử với tù binh, theo lời ngoại trưởng Anh Anthony Eden, trong trận chiến tranh Nga - Nhật và Thế chiến 1 các binh sĩ Nhật tỏ ra tử tề và đối xử rầt nhân đạo với tù binh, khác hẳn thái độ của bỉnh lính Nhật trong Thế chiến II. Chính vì vậy, tại Tòa án quốc tế xử tội phạm chiến tranh, ngươi ta đã cho rằng «việc đối xử tàn nhẫn với tù binh không phải do bản tính tự nhiên của người lính Nhật, nhưng là một chánh sách có tính toán và huấn luyện của nhà cầm quyền Nhật.»

        Bắt đầu từ năm 1930, quân Nhật bắt đầu học cách chiến đấu một cách tàn ác và đối xử dã man với tù binh; Thời Đệ nhất Thế chiến, khi chiến đấu cạnh nước Anh và các Đồng minh Tây phương, lính Nhật đã tỏ ra rất tôn trọng tinh thẩn mã thượng. Nhưng tại Mãn châu, năm 1931, đạo quân Kwangtung không còn giữ được tinh thần thượng võ như những lính Nhật của Tướng Nogi năm xưa. Họ trở nên hung hãn và có nhiều hành động man rợ. Những lời phản đối của Tây phương hình như càng làm cho họ trở nên hung hăng hơn, vì lính Nhật cảm thấy người Tây phương chỉ phản đối suông bằng lời nói mà không làm gì được họ. Dần dần họ trở nên coi thường dư luận thế giới.

        Trong trận chiến tranh Nga - Nhật năm 1905, binh sĩ Nhật đã tỏ ra có lòng nhân đạo đặc biệt đối với các đồng bào Á đông của họ. Khi hải cảng Arthur bị vây hãm, người Nhật đã tỏ ra tôn trọng tánh mạng và tài sản của dân chúng địa phương. Nhưng tới năm 1931, họ bất chấp tình đồng chủng da vàng, cứ mặc sức chém giết những kẻ yếu đuối hơn họ.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:57:27 AM

        Trong trận tàn sát dã man tại Nam Kỉnh năm 1937, lính Nhật có những hành động vô luân, dã man như quân rợ thời Trung cổ. Ngược lại, người Nhật cũng bị quân Tàu đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo không kém. Cả hai cùng tàn nhẫn, phô bày hết cái man rợ của bản tánh Á đông. Trong khi đó hai bên không ngừng tố cáo lẫn nhau. Năm 1942, những lính Nhật từng tham dự trận đánh Nam Kinh năm xưa còn tỏ ra tàn nhẫn hơn nữa khi họ gặp người da trắng, những người mà họ có đầy đủ lý do để căm hận hơn quân Tàu năm xưa.

        Chính Thủ Tướng Tojo cũng đã có lần tuyên bố :

        Chính phủ ông không bị ràng buộc bởi quy ước chiến tranh của Tây phương. Trong một văn thơ gởi cho các chỉ huy trưởng điều khiển trại giam tù binh, Tojo viết : «Chúng ta có những quan niệm và những ý tưởng khác đối với vấn đề tù binh. Do đó cách đối xử phải khác Âu, Mỹ.» Ngày 20 tháng 3 năm 1942, Tổng trưởng Hải quân Nhật là Đô Đốc Shimada tuyên bố : «Nhật không cần phải tuân theo quy ước quốc tế về tù binh. Lý do là vì nước Anh đã phát động một cuộc chiến thù hận, nên Nhật phải đối phó bằng những luật lệ chiến tranh riêng của mình.»

        Để đánh tan mặc cảm tự ti của người Á Đông đối với dân da trắng, Tướpg Itagaki khi chỉ huy tại Triều Tiên đã bắt một số tù binh Anh, Mỹ gầy ốm, bệnh hoạn, quần áo rách rưới, đi diễu ngoài đuờng phố để dân Đại Hàn trông thầy và nhận ra người da trắng không hơn gì họ;

        Vì ý muốn hành hạ dân da trắng để người da vàng trông thấy, tại Bataan, Phi luật tân, sau khi quân Mỹ đầu hàng tại các pháo lũy cuối cùng, quân đội Nhật đã bắt họ sắp hàng đi bộ dưới trời nắng để tới trại giam cách đó một trăm cây số...

        Tướng Tojo nhân có biết chuyện đó, và khi đi kinh lý tại Phi luật tân, ông có hỏi Tướng Homma, Tư Lệnh quân đội Nhật tại đây về điều đó. Nhưng Tojo không nhận trách nhiêm, vì ông cho rằng trong quân đội Nhật, khi các sĩ quan được giao phó một nhiệm vụ, họ hoàn toàn tự do hành động theo ý riêng của mình để hoàn thành điều đã được giao phó. Hai Tướng Homma và Yamashita đối diện trước Tòa án quốc tế cũng bào chữa bằng luận cử tương tự như vậy trước những lời buộc tội không ngăn ngừa binh lính trong các hành vi vô nhân đạo.

        Đầu năm 1942, Thống Tướng Terauchi, chỉ huy chiến trường Đông Dương và Mã lai, nhận được lệnh cung cấp tù binh để làm con đường xe lửa từ Thái Lan đi Miến Điên dài 400 cây số. Thông thường một con đường dài như vậy phải làm trong sáu năm mới xong. Nhưng Nhật ra lệnh phải hoàn tất trong vòng mười tám tháng. Để thực hiện dự án này, tất cả tù binh toàn vùng Đông Nam Á đều được tập trung về để phụ lực với các dân công địa phương, Bồn mươi sáu ngàn tù binh trong suốt thời gian làm con dường xc lửa chết chóc này bị đối xử rất dã man, và sinh sống trong những điểu kiện không ai có thể tưởng tượng nổi. Kết quả, sau khi đường làm xong thỉ có một phần ba số tù binh đã bỏ mạng. Tính ra trung binh cứ mỗi cây số của «con đường chết chóc» này phải đánh đổi bằng mạng sống của 40 tù binh, và 120 cu li dân bản xứ.

        Trước Tòa án quốc tế, Tojo chỉ nhận một phần nào trách nhiệm trong việc đối xử dã man với tù binh, Ông ta lý luận rằng vỉ không có mặt tại chiến trường, nên không thể kiểm soát hết được. Nhưng chính lời nói của ông ta trước đây đã phản lại luận cứ này. Số là vào tháng 5 năm 1942, chính Tojo có gợi cho các vị Tư Lệnh một chỉ thị, nguyên văn như sau : «Hoàn cảnh hiện tại của quốc gia không cho phép bất cứ cá nhân nào ăn không, ngồi rồi... Đối với tù binh, cũng phải kiếm công việc cho họ làm.» Khi ra trước tòa, Tojo cãi : Ông chỉ bảo kiếm việc cho họ làm, chớ không bảo phải hành hạ, đối xử dã man với tù binh. Nhưng binh sĩ thuộc quyền đã căn cứ vào mệnh lệnh đó để đặt ra nguyên tắc «không làm, không ăn» đối với mọi tù binh, bất kề các trường hợp bệnh hoặn, đau ốm. Về sau nghe lời khuyên của ngoại trưởng Shigemitsu, Tojo có ra lệnh lập một ủy ban điểu tra về vụ làm đường xe lửa ở Thái lan. Các viên chức trong ủy ban này xác nhận là tù binh bị ngược đãi, bắt làm việc trong khi đau ốm, thiếu ăn, nên một số lớn đã chết. Nhận được phúc trình này, Tojo chỉ chuyển giao cho giới chức liên hộ, và không có một hành động nào cụ thể. Kết quả là chỉ có một sĩ quan Đại Đội Trưởng bị đưa ra tòa án quân sự. Thực là chuyện quá dễ dãi, lơ là đối với cái chết của hàng vạn người.

        Những tù binh Mỹ bị quân Nhật đối xử tàn nhẫn dã man, nhất là các phi công bị bắn hạ trong chuyến thả bom Tokyo lần đầu tiên ngày 18 tháng Tư năm 1942. Hôm đó một đoàn phi cơ Mỹ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Hornet do Thiếu Tướng Doolittle dẫn đầu, đã bầt thần bay tới oanh tạc Thủ Đô Tokyo bằng loại máy bay B-25. Vì khoảng đường từ hàng không mẫu hạm tới Tokyo quá xá, nên oanh tạc xong, các phi công Mỹ phải hạ cánh xuống một phi trường ở Trung Hoa. Trong số 80 nhân viên phi hành, có tất cả 64 người bị lạc vô vùng do Nhật kiểm soát. Tuy vậy, họ được dân chúng Trung Hoa có cảm tình đem đi trốn tại các địa điểm an toàn. Chỉ có tám phi công lọt vô tay quân Nhật.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:58:01 AM

        Chủ ý của Mỹ trong cuộc oanh tạc này là muốn cho Nhật thấy rằng họ có thể bị oanh tạc bất cứ lúc nào. Trận đánh thành công một cách bất ngờ đã khiến quân Nhật tức lồng lộn. Theo đài phát thanh Đông Kinh, các chỉ huy trưởng đơn vị phòng vệ lãnh thổ đều bị cắt chức và đưa ra tòa án quân sự về tội lơ là nhiệm vụ, không ngăn chận được máy bay địch. Trong khi đó, Nhật ra thông cáo lên án máy bay Mỹ đã thả bom «các mục tiêu dân sự như trường học, nhà thương, rạp chiếu bóng, giết hại đàn bà, trẻ con, bệnh nhân...» Thông cáo này kết luận: «người Mỹ không còn một chút nhân đạo nào.» Trong khi đó, sự thực là máy bay Mỹ đã oanh tạc đúng nhà máy kỹ nghệ của Nhật.

        Người bực tức nhất trong vụ thả bom bất ngờ này là Tướng Sugiyama, tham mưu trưởng Lục quân. Chính ông ta trong phiên họp tại Hoàng cung trước đây đã hô hào chiến tranh, và bảo đảm rằng Nhật sẽ không bao giờ để cho địch dội bom Thủ đô Tokyo. Sau khi sự việc xảy ra, Tướng Sugiyama đích thân tới yêu cầu Thủ Tướng Tojo đem các phi công Mỹ bị bắt ra xử như các tội phạm chiến tranh, chớ không cho hưởng quy chế tù binh. Thủ Tướng Tojo đồng ý, và ngay sau đó, ký một sắc lệnh có tánh cách hồi tố, cho phép xử tử những người vi phạm sắc lênh này. Sẳc lệnh được gởi tới Tướng Hata, Tư lệnh Các lực lượng Nhật tại Trung Hoa, nơi những phi công Mỹ bị giam giữ.

        Ngày 19 tháng 10 năm 1942, đài phát thanh loan tin các phi công bị bắt trong cuộc dội bom ngày 14 tháng Tư năm 1942 đã bị đem xét xử tại Thượng Hải, và «trừng trị theo quân luật mới ban hành.» vẫn theo đài phát thanh thì những phi công này đã thú nhận tội lỗi trong việc dội bom vào các «bệnh viện», «trường học» và «nhà cửa dân chúng.» Tất cả đều bị án tử hình, nhưng có năm tên được Thủ Tướng Tojo ân giảm xuông còn khổ sai chung thân, ba tên còn lại vì phạm tội thả bom vào «trường học» nên đã bị hành quyết. Sau đó, đài phát thanh phổ biến thông cáo của các Tư lệnh quân đội, cảnh cáo tất cả các phi công địch trong tương lai phạm vào những «hành động dã man, vô nhân đạo» như vậy trong các cuộc oanh tạc trên đất Nhật hay tại các lãnh thồ chiếm đóng của Nhật, sẽ phải lãnh hình phạt tương tự.

        Sau này khi chiến tranh kết liễu, Ngoại trường Shigemitsu có viết lại rằng những cách đối xử tàn tệ với tù binh thời đó một phần là do hoàn cảnh thiếu thốn của chiến tranh và sự suy sụp của bộ máy hành chánh gây ra, nhưng đồng thời cũng phải công nhận một phần là do ảnh hưởng của chánh sách tuyên truyền gây căm thù với quân Mỹ của Chánh phủ. Những chuyện ghê gớm được kể lại trong dân chúng, và binh sĩ Nhật xôn xao bàn tán về các hành động tàn bạo của người Mỹ đối với dân Nhật. Có những câu chuyện nói rằng trẻ con Mỹ chơi đồ chơi làm bằng xương của lính Nhật, và các vị anh hùng Nhật bị đem ra chế diễu. Chính những lời lẽ tuyên truyền gây căm thù một cách khôn khéo đó khiến lính Nhật trở nên hung hãn với tù binh Mỹ.

        Cựu ngoại trưởng Nhật, sau khi công nhận tất cả những hành động tàn ác của lính Nhật, đã đặt câu hòi: Liệu người ta có quyền căn cử vào những hành vi của binh sĩ Nhật trong thời kỳ này để kết luận rằng dân Nhật là một giống dân ác độc hay không ? Câu hỏi thoạt nghe thấy có vẻ ngây thơ, nhưng quả thực chúng ta cẩn phải suy nghĩ lại về quan niệm đó. Tất cả những ai từng có dịp gặp cựu ngoại trưởng Nhật Shigemitsu đều nhận thấy không những ông là một nhà ngoại giao thông minh, một nhà ái quốc, mà ông còn là con người đầy tình nhân đạo. Những ai đã có dịp sống chung với người Nhật đều phải công nhận lòng tốt, ngay thẳng của họ và không thể nào quan niệm được rằng họ là một giống dân thâm hiểm, ác độc.

        Dù sao người ta cũng phải công nhận rằng Nhật đã không gây ra những vụ tàn sát có kế hoạch ti mỉ, giết hàng năm sáu triệu người như Đức quốc xã. Những vụ đối xử tàn nhẫn, giết chóc tù binh, chỉ xảy ra một cách riêng rẽ ở nhiều địa phương, chớ không có kế hoạch thống nhất, với những phương pháp khoa học, những cơ sở và nhân viên giết người tối tân như quốc xã Đức đã tổ chức. Và cuối cùng ở Nhật cũng không có một nhân vật nào giống như kiểu Himmler, kẻ chuyên ngồi nghĩ ra cách giết làm sao cho được nhiều người. Những đối xử tàn bạo với tù binh thật là khác hẳn với những cử chỉ hiền hòa người Nhật thường có trước khi chiến tranh xảy ra. Trên đây là những nhận xét của một nhà văn Tây phương, ông John Morris.

        Học giả Eric Linklater, khi bàn về những vụ tàn sát của quân Nhật tại Trung Hoa, đã nói : Có thể đó là một trạng thái tâm lý mâu thuẫn của người Nhật. Sau nhiều thế kỷ sống dưới những chế độ chuyên chế, áp bức của thời phong kiến, lúc này dân Nhật với những khí giới tối tân trong tay, tự nhiên họ muốn vùng lên chém giết cho hả. Hơn nữa trong những tiếp xúc với văn minh cơ giới Tây phương, họ chưa có thời giờ dung hòa sức mạnh cơ giới với nền văn hóa dân tộc. Chính vì vậy họ đã xử dụng sức mạnh của các vũ khí tối tân một cách say sưa như người vừa tìm thằy thứ rượu ngon, mải miết uống thử. Người Nhật quả thực là dân tộc cổ nhiều mâu thuẫn, một đàng họ rất tế nhị, thanh tịnh, thích chơi hoa ; và mặt khác, họ lại tỏ ra hung hãn, cuồng tín và chỉ thích tự tử.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Hai, 2018, 10:58:49 AM

        Một học giả khác, ông D. J. Enright, trong một cuốn sách nghiên cứu về dân tộc Nhật, có nói: «Dân Nhật hình như có nhiều đặc tính trái ngược với các dân tộc khác, chẳng hạn họ luôn luôn có một quan niệm tự trọng rất khắt khe, khó tha thứ. Chính quan niệm này tạo ra những vụ giết chóc không ngừng trong suốt lịch sử hàng ngàn năm của nước Nhật.» Tác giả Fosco Maraini thì nhận xét rằng trong suốt lịch sử văn học bi đát của Nhật, luôn luôn có những «cái chết bi thảm đẫm máu để hy sinh cho một lý tưởng.» Một ví dụ điển hình là trong thời kỳ nhà Mạc Phủ cấm đạo Thiên Chúa, nhiều giáo dân bị bắt, luôn luôn chi muốn tự tử như người có dịp tham gia một nghi lễ quan trọng. Tác giả Reginald Hargreaves viết về cuộc chiến Nga - Nhật năm 1905 như sau : «Mọi người chỉ nô nức mong có dịp được chết trong nhiệm vụ hy sinh cho Tổ quốc. Họ coi đó là một sự sung sướng cực độ và là sự hoàn thành cuộc sống.»

        Mặt khác, người Nhật cũng luôn luôn nhắc tới những hành động tàn ác quân Đồng minh đã đối xử với họ. Phẩn lớn các tài liệu này đã được in thành sách hay đăng trên các báo trong lúc Đồng minh còn đang chiếm đóng nước Nhật. Theo quan điểm của họ, không có hành động nào ác độc hơn, tàn nhẫn hơn, vô nhân đạo hơn là hai trái bom nguyên tử Mỹ đã thả xuông đất nước họ.

        Người Mỹ thường lý luận : Dù sao thì cũng tại Nhật đã gây ra chiến tranh trước. Nhưng Hideki Tojo đã từng nói : Tâm lý và quan niêm về cách đối xử của người Mỹ và người Nhật khác nhau, nên bên nào cũng cho là đối phương tàn nhẫn hơn mình. Chẳng hạn một vị Giáo sư Sử học tại Đại học đường Kyoto, trong khi bị động viên và chiến đấu ở mặt trận Miến Điện bị quân Anh bắt cầm tù, đã viết một cuốn sách nổi tiếng với nhan để « Tù nhân của quân Anh. » Trong đó, tác giả nhận xét người Anh cũng tàn nhẫn không kém, nhưng cách tàn nhẫn của họ thường được suy tính cặn kẽ, và thi hành làm sao để che đậy được tánh cách độc ác, khiến không ai nhìn vào có thể bắt bẻ được. Họ không cần đánh đập, hành hạ tù nhân, nhưng có những cách khác khiến cho kẻ bị giam cảm thấy khốn khổ hơn là đánh đập nhiều : đó là sự hành hạ bằng những phương pháp tâm lý, khiến tù nhân trở thành hoảng hốt, sợ sệt đủ mọi thứ. Họ có kế hoạch thi hành những phương pháp hành hạ tù nhân rất khoa học và lạnh lùng, không có vẻ gì là tức giận, nóng nảy, như khi người lính Nhật đánh đập một tù binh Mỹ. Nhưng theo một quan niệm nào đó, thì sự hành hạ tâm lý có khoa học kia là điều đáng ghê sợ kinh tởm và vô nhân đạo hơn tất cả mọi lối hành hạ khác.

        Tiêu biểu nhất là câu chuyên sau đây do Lewis Bush kể lại khi ông bị quân Nhật giam tại nhà tù Omori gần Tokyo. Câu chuyện đã nói lên sự khác biệt sâu xa về quan niệm tàn ác của người Nhật và người Tây phương.

        « Quy luật tại nhà giam Omori rất tàn nhẫn. Trong khi điểm danh mà không đứng nghiêm, hay gặp bất cứ người Nhật nào mà không chào, tù nhân cũng có thể bị đem xử bắn ngay. Đặc biệt hôm nay có một tù binh bị phạt làm lao dịch và đeo một tầm bảng ở cổ có viết hai thứ chữ Anh, Nhật : « Tôi là thằng ăn cắp ». Trong khi có nhiều tù binh khác bị đánh ngất xỉu, hay chính các đồng đội của họ bị giộng báng súng vô lưng, những người lính gác vẫn không mảy may thương hại, nhưng họ chỉ nhìn Tommy với tấm bảng đeo ở cổ và tỏ ý thương hại hắn rất nhiều, về sau tên lính gác vì quá thương hại Tommy nên hối hận, hẳn nhịn và nhường đồ ăn của mình cho Tommy, đang cười lên hô hố một cách thích thú. »

        Fosco Maraini, người từng chịu đựng những cảnh tàn nhẫn trong thời kỳ chiến tranh tại Nhật, đã đưa ra kết luận cuối cùng về những hiên tượng cư xử tàn bạo trong quân đội Nhật như sau :

        « Các Tướng lãnh Nhật muốn huấn luyện quân đội của họ trở thành một đoàn võ sĩ đạo lấy cái chết làm tiêu chuẩn chứng tỏ lòng hy sinh cho đất nước. Nhưng một đoàn võ sĩ đạo chỉ là một nhóm người ít ỏi, sống chung, và được huấn luyện từ nhỏ, nên mới giữ được kỷ luật nghiêm minh. Còn đàng này cả một đạo quân đông đảo hàng triệu người, với đủ mọi thành phần, cá tính khác nhau, mà lại lấy cái chết để làm tiêu chuẩn cho hành động, và tuyên truyền đề cao, thì làm sao tránh được những hành động tàn ác, dã man đương nhiên phải xảy ra. »

        Trong lúc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt, ngoại trưởng Anh Eden có nhắc nhở các nhà lãnh đạo Nhật « hãy kịp thời ý thức rằng các hành động dã man của quân đội Nhật sẽ được ghi nhớ mãi mãi. » Nhưng lúc đó, chắc chắn không có một người Nhật nào — nhất là Thủ Tướng Hideki Tojo — lại nghĩ rằng Nhật sẽ bại trận, và sẽ phải ra trả lời trước một tòa án quốc tế vế những hành động họ đang làm.

        Mặc dầu vẫn tin tưởng ở chiến thẳng, nhưng lúc đó Nhật cũng đã bắt đầu nếm mùi thất bại kể từ tháng 5 năm 1942. Ngày 6 tháng Sáu Hạm đội của Đô Đốc Nagumo phải rút lui một cách thảm bại sau một trận hải chiến dữ dội với hạm đội Mỹ tại Thái bình dương. Kể từ đó, không khí chiến thắng của trận Trân châu cảng bắt đầu lùi xa dần.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:46:36 AM
         
PHẦN BA

CHƯƠNG XXV

        Từ lâu trước khi chiến tranh xảy ra, Đô Đốc Yamamoto từng nói, trong trận chiến tương lai ở Thái bình dương, các hàng không mẫu hạm sẽ là « Bà Chúa trên mặt biển.» Ông nói : «Chiến hạm chỉ còn là dấu vết vàng son của thời quá khứ, giống như thanh báu kiếm của các võ sĩ đạo, đối với khí giới tối tân bây giờ, chỉ còn là những vật cổ tánh cách trang hoàng để tăng thêm uy tín. » Với quan niệm đó, ông đã dồn hết nỗ lực vào việc phát triển không lực hạm đội của Hải quân Nhật. Tiếc thay trong trận tấn công Trân châu cảng, Đô Đốc Yamamoto đã không đạt được mục đích tối hậu là tiêu diệt các hàng không mẫu hạm của Mỹ.

        Hôm đó, ngày 7 tháng Chạp ở Mỹ (nhằm ngày 8 tháng Chạp tại Hawaii), khi căn cứ Trân châu cảng bị tấn công, thì tình cờ cả ba chiếc hàng không mẫu hạm của Mỹ đều không có mặt trong căn cứ. Chiếc « Saratora » đang đậu tại một hải cảng ở miền Tây Hoa Kỳ. Hai chiếc Lexington và Enterprise thì đang đi giao phi cơ cho các hải đảo trên Thái bình dương. Ba hàng không mẫu hạm này, sau được tăng cường thêm hai chiếc Wasp và Hornet đã trở thành lực lượng nòng cốt của Hạm đội Thái bình dương của Hoa Kỳ, Trong cuộc săn đuổi các hàng không mẫu hạm này, bộ tướng của Yamamoto là Đô Đốc Nagumo đã bị thất trận tại Thái bỉnh dương,

        Trước trận đánh này, Hải quán Nhật vẫn chiếm ưu thế trên mặt biển Thái binh dương với tám hàng không mẫu hạm, khiến Đồng minh phải nể mặt, Tuy nhiên kề từ đó, Đô Đốc Yamamoto bắt đầu gặp nhiều khó khăn, không bao giờ tìm thấy những chiến thắng vẻ vang như trận Trân châu cảng nữa, và cuối cùng đã đi đến cái chết của ông1. Trận hải chiến tại biển Java, Nhật cố tìm cách loại hạm đội Viễn Đông của Anh rạ khỏi vòng chiến, Hạm đội Anh lúc này do Đô Đốc Sir James Somerville chỉ huy và đặt căn cứ tại Tích Lan, Phi cơ từ các hàng không mẫu hạm của Đô Đốc Nagumo bay tới tấn công hải cảng Colombo, gây thiệt hại cho một số chiến hạm và cơ sở phụ thuộc, Tuy nhiên trên đường trở về, phi cơ Nhật bị các máy bay Hurricane của Không lực Hoàng gia Anh chận lại tấn công. Kết quả, Nhật bị hạ hai mươi bốn chiếc ; Anh mất mười bốn. Hai thiết giáp hạm của Anh; chiếc Dorsetshire và Cornwall, xông ra tấn công hạm đội Nhật và cả hai đều bị đánh chìm. Từ đó, Đô Đốc Somerville tránh không giao chiến với Hải quân Nhật. Ông đưa lực lượng rút về quần đảo Maldive.

        Nagumo bực minh vì không biết rõ lực lượng địch còn bao nhiêu và hiện ở đâu, ông ta liền cho hạm đội tiến dọc theọ duyên hải và phái phi cơ vào đánh phá các hải cảng Anh tại Trincomalee, đánh chìm thêm bốn chiến hạm nữa gồm cả hàng không mẫu hạm hạng nhẹ. Sau bốn ngày đánh phá, vẫn không tìm thấy lực lượng của Đô Đốc Somerville, Nagumo liền rút khỏi Ấn độ dương, và cũng từ đó không bao giờ ông còn có dịp trở lại nữa. Việc đánh Ấn độ, nếu xảy ra, sẽ do Bộ binh từ Miến điện tấn công qua.

        Những tranh chấp ngấm ngầm từ lâu giữa Hải quân và Lục quân Nhật lúc này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các cuộc hành quân. Sau chiến tranh, Tojo đã thú nhận : « Bộ chỉ huy tối cao bị chia rẽ giữa hai phe Hải và Lục quân, Họ không thể nào hợp tác với nhau một cách chặt chẽ đước. » Kế hoạch hành quân dự định từ trước để đổ quân lên phía Bắc Úc đại lợi không thực hiên được, vì Bộ binh từ chối cung cấp thêm nhiều sư đoàn. Các Tướng lãnh quay về với những kế hoạch hành quân riêng của họ ở lục địa khi nhận thấy Hải quân chỉ mãi mê với các cuộc hành quân riêng của mình.

        Trước khi tấn công phía Bắc Úc đại lợi, Nhật định đánh chiếm hải cảng Moresby ở về mạn Nam Tân Guinea thuộc Úc. Nếu chiếm được hải cảng này, quân Nhật không còn sợ các cuộc oanh tạc của không quân Đồng minh đặt căn cứ ở các phi trường tại đó. Và từ Moresby, Nhật có thể thiết lập một căn cứ, phái các lực lượng đi yểm trợ cho các cuộc hành quân quanh vùng này.

        Ngày 1 tháng 5 năm 1942, lực lượng hành quân của Nhật đánh chiếm hải cảng Moresby phát xuất từ đảo Rabaul, bị phi cơ Đồng minh phát hiện và tấn công. Vì thời tiết xấu, cả hai bên đều không tìm thấy các hàng không mẫu hạm của nhau. Phi cơ hai bên qua lại tấn công các chiến hạm đối phương. Trận chiến ngang ngửa, vì Mỹ và Nhật mỗi bên đều có ba hàng không mẫu hạm tham dự trận đánh này. Mỹ hơn Nhật vì có máy radar, và Nhật được ưu thế ở chỗ các phi công có nhiều kinh nghiệm chiến đấu hơn. Sáng ngày 8 tháng Năm, phi cơ Mỹ tìm thấy hai chiếc hàng không mẫu hạm của Nhật, đánh chìm một chiếc, chiếc kía bị thương. Đổi lại, hàng không mẫu hạm Lexington của Mỹ cũng bị máy bay Nhật đánh bị thương nặng, các chiến hạm Mỹ phải tự đánh chìm nó, vì sợ để bị lọt vô tay quân Nhật, Chiếc Yorktoivn cũng bị thương, nhưng chạy thoát được.

-----------------------
        1. Đọc «Yamamoto» 3 quyển đã xuất bản.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:47:35 AM

        Sau trận hải chiến, sáng ngày 10 tháng Năm, cả hai bên Nhật - Mỹ đều tuyên bố thắng trận. Đối với Nhật, phải kể đây là một đòn nặng, vì họ không còn hy vọng gì đánh chiếm Moresby. Hàng không mẫu hạm Yorktoivn mà các phi công Nhật báo cáo là bị đánh chìm đã chạy về sửa chữa lại tại Hawaii. Nhật chỉ mất một hàng không mẫu hạm nhỏ, nhưng đó là đòn nặng đánh vào tinh thần Hải quân của họ từ trước tới nay vẫn tự hào là vô địch, đồng thời khiến tinh thần Hải quân Mỹ lên cao. Thiệt hại nặng nhất của Nhật trong trận này là bị mất nhiều phi công giỏi. Bộ chỉ huy Hải quân Nhật không biết làm cách nào để bù đắp những phi công bị mất quá nhiều đó, đến nỗi hai hàng không mẫu hặm sống sót sau cuộc hải chiến vì thiếu phi công mà không tham dự được trận đánh quyết định của chiến tranh Thái bình dương xảy ra tại Midway.

        Midway, một hòn đảo nằm giữa khoảng đường từ Nhật tới Hawaii, không ngờ đã trở thành hòn đảo định mạng đối với số phận của Hải quân Nhật tại Thái bình dương. Thực vậy, trong lúc Nhật tấn công Trân châu cảng, hai hàng không mẫu hạm của Mỹ nhờ đang đi giao phi cơ tại đảo Midway mà thoát khỏi bị tiêu diệt. Lúc này, vị trí của Midway trờ nên vô cùng quan trọng, nên Mỹ đã cho tăng thêm nhiều Thủy quân lục chiến tới đóng trên đảo. Các đội phòng không và phi cơ cũng đã được tăng cường.

        27 tháng Năm, ngày kỷ niệm trận chiến thắng Hải quân Nga của Đô Đốc Togo ba mươi bảy năm về trước. Nhân dịp này, Thủ Tướng Tojo đọc một bài diễn văn trước Thượng viện. Ông hân hoan loan báo « chiến thắng to lớn» tại biển San hô, và cho rằng sau trận đánh này, các lực lượng hải quân địch bảo vệ Úc đại lợi đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Nước Úc bây giờ là một « đứa trẻ mồ côi » giữa Thái bình dương, chỉ còn chờ Nhật tới thanh toán một cách dễ dàng. « Với hoàn cảnh chiến thắng, thuận lợi hiện nay tại quốc nội cũng như hải ngoại, nước Nhật sẽ không bao giờ chịu tra gươm vô vỏ cho tới lúc thanh toán xong tận gốc rễ các ảnh hưởng của Tây phương tại Á châu, và đập tan giấc mộng đô hộ Viễn Đông của Anh - Mỹ. »

        Cùng ngày hôm đó, Đô Đốc Yamamoto phái một lực lượng đông đảo đi đánh Midway. Hạm đội tham dự cuộc hành quân này gồm có cả bốn hàng không mẫu hạm, và nhiều hải vận hạm chở binh sĩ đổ bộ lên đảo. Đồng thời, để đánh lạc hướng đối phương, ông cho một lực lượng nhỏ đi đánh quần đảo Aleutian ngoài khơi Alaska. Mục đích của Yamamoto trong viêc phái cả bốn hàng không mẫu hạm đi trong chuyến này, không những nhằm đánh chiếm Midway, nhưng ông còn ngầm tính rằng, nếu muốn giữ Midway thế nào địch cũng phải tung các hàng không mẫu hạm của chúng ra. Và như vậy ông sẽ có dip để tiêu diệt chúng sau khi chúng đã may mắn thoát khỏi tay ông trong trận đánh tại Trân châu cảng.

        Nhưng nhờ ở tình báo tinh vi, Hải quân Mỹ đã bắt được các điện văn trao đổi giữa những chiến hạm Nhật và khám phá ra kế hoạch tấn công của địch. Radar và phi cơ Mỹ theo dõi sát nút các cuộc di chuyền của hạm đội Nhật, nhưng Đô Đốc Nimitz vẫn giữ lực lượng chánh của ông ở cách đó năm trăm cây số, khi giai đoạn đầu của trận đánh khởi sự ngày 4 tháng Sáu, với các cuộc oanh tạc của phi cơ Nhật trên đảo. Máy bay của Thủy quân Lục chiến Mỹ đóng trên đảo bay tới tấn công các hàng không mẫu hạm Nhật, nhưng thất bại và bị thiệt hại nặng. Tuy nhiên, nhờ đó, Nagumo, chỉ huy Hạm đội Nhật, chỉ chú trọng tới việc đánh phá các căn cứ không quân trên đảo, mà không lo đề phòng Hạm đội của Đô Đốc Nimitz.

        Đúng vào lúc bất ngờ đó, Nimitz phóng các phi cơ thả thủy lôi từ Hạm đội của ông tới đánh các Mẫu hạm Nhật. Mặc dầu được khuyến khích và tác động tinh thần rất nhiều, các phi cơ này vẫn không thành công. Nhưng giữa lúc chiến đấu cơ Zero của Nhật đang mải đuổi đánh các máy bay thả thủy lôi của Mỹ còn sống sót thoát khỏi lưới lửa phòng không của hạm đội Nhật thì các oanh tạc cơ Mỹ bất ngờ ở trên cao nhào xuống thả bom. Trong một thời gian ngắn, cả bốn hàng không mẫu hạm của Đô Đốc Nagumo đều bị đánh trúng và lần lượt bắt đầu chìm dần. Trong khi đó máy bay Nhật cũng đã tìm thấy mẫu hạm Yorktown và đánh chìm được chiếc này. Nhưng khi bay trở về, các phi công Nhật nhận ra tàu mẹ của mình đang bốc cháy và chìm dần trên mặt biển. Họ không biết làm gì hơn là bay quần trên không cho tới khi hết xăng rồi đâm xuống biền, chung một số phận với các thủy thủ của những mẫu hạm khổng lồ bị đánh chìm. Các hạm trưởng đều ghi chặt bánh lái, chìm theo tàu.

        Ngày hôm sau Đô Đốc Yamamoto thu thập các chiến hạm còn lại, rút khỏi vòng chiến, và luôn luôn bị săn đuổi bởi các phi cơ và tàu ngầm của Mỹ. Tính ra, trận này đã khiến ông thiệt hại mất phân nửa trong tồng số mẫu hạm.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:48:01 AM

        Ngày 5 tháng Sáu, trong lúc Hạm đội của Đô Đốc Yamamoto đã hoàn toàn rút khỏi chiến trường với sự đắc thắng của Hải quân Mỹ, thì Thủ Tướng Tojo tuyên bố trước một nhóm ký giả quốc tế : «Nhật Bản sẵn sàng chiến đấu trong một trăm năm, chúng tôi sẽ chiến đấu cho tới thắng lợi cuối cùng, và kẻ thù nhất định phải bị tiêu diệt. Vói điều kiện thuận lợi của kinh tế, quân sự, chánh trị hiện tại, chủng tôi nhất định sẽ thắng trận chiến này.» Tojo nói rất tự nhiên, không phải ông muốn che đậy một thất bại nặng nề nhất trong lịch sử chiến tranh của Nhật, nhưng sự thực là ông không hề hay biết gì. Tin tức liên quan tới trận Midway được ém nhẹm rất kỹ, ngay cả các sĩ quan cao cấp tại Bộ Tư lệnh Hải quân cũng không được thông báo.

        Ở cương vị Thủ Tướng, Tojo là người tự tin hơn bất cứ chánh khách nào khác. Nhưng lúc này ông bắt đầu cảm thấy bực bội với những hoạt động có tánh cách độc lập của Quân đội, điều mà trước đây ông vẫn đòi hỏi. Tojo thú nhận: «Dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, những hành động độc lập của Quân đội vẫn diễn ra tốt đẹp. Nhưng lúc này, với tình hình biến chuyển tế nhị, một vị Thủ Tướng hoàn toàn biệt lập với hoạt động quân sự sẽ cảm thấy khó lòng tin tưởng ở chiến thắng của quốc gia.»

        Bộ Tư Lệnh Hải quân Nhật đã làm mọi chuyện để giấu nhẹm các chi tiết về trận Midway. Khi chiến hạm về tới căn cử, các thủy thủ bị thương được đưa lên bờ lén lút trong đêm tối. Hạm trường Fuchida, người từng dẫn đầu cuộc oanh tạc Trân châu cảng, bị thương trong trận Midway này, đã được đưa từ tàu lên bệnh viện trên bờ bằng cửa sau vào lúc trời tối, để tránh việc tiết lộ các tin tức tổn thất của Nhật. Mọi tin tức liên quan tới trận đánh này đều bị kiểm duyệt gắt gao, cố tình không cho dân chúng biết tới những thiệt hại nặng nề của Hải quân Nhật.

        Tuy nhiên, tới ngày 10 tháng Sáu, các tin tức liên quan tới trận đánh này được lộ ra ngoài dần dần. Trong khi loan tin chiếm quần đảo Aleutian, thông cáo của Hải quân Nhật đã hé lộ những tổn thất tại trận Midway. Ngày hôm sau, trả lời một câu hỏi của ký giả nhật báo Asahi, phát ngôn viên Hải quân tuyên bố : «Dĩ nhiên Hải quân Nhật không thể nào luôn luôn chiến thắng, nhưng cũng có khi phải chịu tồn thất.» Năm ngày sau đó, đài phát thanh Tokyo, nhắc tới các tổn thất này, đã cho rằng đó là : «tổn thất nặng nhất kề từ khi chiến tranh khởi đầu.»

        Cũng trong thời gian này, tại Mỹ mọi người nhận được tin một cuộc ám sát Thủ Tướng Tojo đã xảy ra tại Tokyo. Thủ phạm là một thanh niên Triều Tiên, có chân trong tổ chức Liên minh Trung Hoa — Triều Tiên. Cuộc ám sát xảy ra tại cửa Bộ chiến tranh. Thủ phạm bắn hụt Tojo, nhưng cựu Thủ Tướng Hirota đi cạnh ông đã trúng đạn và bị thương nhẹ. Cảnh sát nổ súng giết tên sát nhân và bắn lầm phải một sĩ quan không quân khác. Chuyện này không biết hư thực ra sao, nhưng không bao giờ thấy Chánh phủ Nhật xác nhận hoặc đính chánh.

        Nhiều chuyện khác cũng được đồn đại do những người vừa từ Nhật thoát ra ngoại quốc. Chẳng hạn, có người kể hồi tháng 8 năm 1942, khi đi thăm một xưởng máy, Tojo đã bị công nhân liệng đá, vì họ cho rằng ông bất lực, để máy bay Mỹ dội bom nhà máy, giết hại hơn một trăm công nhân. Những lời đồn khác nói càng ngày Tojo càng tỏ ra không coi Thiên Hoàng ra gì. Ông ta củng cố, nắm giữ mọi quyền hành, nhốt Thiên Hoàng trong cung và chỉ cho Ngài đọc báo với các tin tức đã bị kiểm duyệt. Tin này tạo ra hình ảnh của Tojo giống như một vị Tướng quân thời Mạc phủ.

        Dân Tây phương được báo chí mô tả Tojo là người hàng ngày có hình xuất hiện trên các nhật báo ở Nhật, khi thì chụp lúc ông đang dắt một bà lão băng qua đường, khi thì đang nói chuyện với sinh viên. Mỗi lần diễn thuyết, Tojo được coi là «người đem hy vọng chiến thắng đến cho nước Nhật.»

        Hình ảnh cuối cùng của Tojo được mọi người nhắc nhở trong giai đoạn chiến thẳng của Nhật đang lên cao nhất, là hình ảnh của một người luôn luôn đi khắp đó đây để cổ võ, khuyến khích, dẫn đưa mọi người tới chiến thắng của Nhật Bản. Thực vậy, thời kỳ này, ông ít khi ở trong nhà. Người ta gọi ông là «Vị Thủ Tướng đi nhanh như chớp. Ông cung còn được đặt một tên khác nữa : «Người sắt chân thành. Những lúc không đi kinh lý, lợi dụng một vài giờ rảnh rỗi, Tojo thường cỡi một con bạch mã trong trại lính kỵ binh ở Tokyo để giải tri và luyện tập thân thể. Vì vậy ông còn có biệt hiệu : «Vị Thủ Tướng trên lưng ngựa.» Nhưng thường thường lúc nào người ta cũng thấy ông đi hết xưởng máy này tới khu kỹ nghệ khác. Thậm chí có lúc ông cũng đi ra các khu chợ bán cá để khuyên khích tinh thần làm việc của dân chúng. Thấy các ngư phủ than không có xăng để chạy thuyền đánh cá, ông la lên :

        «Xăng, xăng ! Lúc nào cũng xăng. Dậy sớm mà chèo thuyền cũng được vậy, cần gì xăng.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:48:22 AM

        Cũng có hôm Tojo tới thăm cả trại tù binh ờ Omori. Lewis Bush thuật lại, trong lúc ông đang bị giam ở đây, thì một hôm vào tháng 10 năm 1943, Trung úy trưởng trại Iehimura chạy vô chỗ các tù binh đang tắm, hô lớn : «Nghiêm,» Lúc đó có nhiều, người còn đang ở truồng, đứng sau lưng các sĩ quan,

        «Tojo xuất hiện giữa đoàn tùy tùng cùng đi với ông trong bộ đồ xám, nón xám. Ông cầm một cây gây cổ chạm đấu con ngựa bằng sừng ờ chỗ nắm tay. Khi ông tới nơi, tất cả tù binh theo lệnh của Trung úy trưởng trại đều cúi đầu. Tojo đưa tay chào lại mọi người. Sau đó ông đi thăm tất cả mọi nơi trong trại và tỏ cảm tình đặc biệt với những tù binh bị đau ốm, và hỏi han Trung úy Ichimura nhiều chuyên. Sau cuộc thăm viếng này, chúng tôi không còn có cảm tưởng xấu đối với Tojo như trước. Mọi người không còn gọi ông bằng tên «Lão già mắc dịch.» Nhưng đặt cho Tojo cái tên mới: «Lão già lắm chuyện.»

        Vàỉ tuần sau khi trận Midway xảy ra, quân Nhật và Úc ghìm nhau trong một trận đánh ác liệt tại Tân Guinea. Các thông tín viên Hoa Kỳ gọi đây là «trận đánh thảm khốc nhất của chiến tranh.» Lúc này không còn hy vọng gì chiếm được hải cảng Moresby bằng hải quân, Nhật liền cho một lực lượng bộ binh đông đảo tiến lên từ Buna, dọc theo bờ biển Tây Bắc Kokoda, để tới dãy núi Owen Stanley. Một tháng sau. đó, vào ngày 9 tháng 8 nám 1942, đài phát thanh Tokyo loan tin : Một trận đánh lớn đã xảy ra tại vùng Solomons giữa quân Nhật và liên hạm đội Mỹ-Úc.

        Ba ngày sau, quân Mỹ bắt đầu mở thế công tại Thái bình dương khi Thủy quân Lục chiến đổ bộ lên Guadalcanal thuộc quần đảo Solomons. Trong lúc TQLC Mỹ giữ vững vị trí trước những cuộc phản công tuyệt vọng của Nhật, thì tại Tân Guinea, quân Nhật lại bị quân Úc đẩy lui khỏi vùng Kokoda và bị dồn tới một bãi cát nhỏ tại Buna. Những lính Úc chiến đấu tại mặt trận này phân lớn là các quân nhân giàu kinh nghiệm từng tham chiến ở mặt trận Trung Đông được đưa tới. Tại mặt trận trong vùng Solomons, Mỹ bị mất một hàng không mẫu hạm, đây là chiếc thử bốn của Mỹ bị đánh chìm. Nhưng bù lại, quân Mỹ đã hoàn thành mệnh lệnh của Đô Đốc Halsey là, bằng bất cứ giá nào, ngăn không cho quân Nhật tăng viện thêm tại Guadalcanal.

        Vào tháng 11 năm 1942, sau khi Rommel bị quân Anh đánh bại tại El Alamein, và Mỹ đổ bộ lên Bắc Phi thuộc Pháp, Trung Tướng Horii liền lo cùng cố phòng tuyển cuối cùng của quân Nhật tại Buna, nơi mà trước đó họ đã bị quân Úc đuổi dồn tới. Trong tháng đó, Nhật mở một cuộc phản công chót, nhằm chiếm lại Guadalcanal, nhưng bị thất bại trong trận đánh ngày 16 tháng Mười Một. Lúc này quân Nhật quá rối loạn, có khi tàu của họ bắn lầm vào nhau.

        Khi phe Trục bắt đầu bị đánh bại với những cuộc phản công thẳng lợi của Đồng Minh tại khắp các mặt trận, Tojo vẫn còn lạc quan. Trong thông điệp gởi cho Hitler ngày 13 tháng Chạp năm 1943, ông nói : « Lúc này, mọi người đã nhận rõ rằng một thế giới sáng lạn trong tương lai chỉ có thể có được với sự hoàn tất chiến thắng của các quốc gia Đức, Ý và Nhật chúng ta. Một lần nữa, tôi long trọng tuyên bố trước thế giới, lực lượng của ba nước này sẽ sát cánh chiến đấu bên nhau, cho tới thắng lợi hoàn toàn mới thôi.»

        Tuy nhiên, trong bài diễn văn đọc tại Thượng viện ngày 28 tháng Chạp năm 1942, những lời lẽ lạc quan của Tojo giảm bớt một cách có ý nghĩa rõ rệt. Ông nói: «Trong hạ bán niên vừa qua, chiến tranh đã ở vào thế giằng co. Nhiều chuyển động trong chiến lược mới khiến người ta có cảm tường chiến tranh thực sự giờ này mới xảy ra.» Sau đó Tojo cho biết tình hình vẫn khả quan, ngoại trừ tại Guadalcanal, nơi một đơn vị nhỏ của Hải quân đang phải chiến đấu dưới những điều kiện không thuận lợi. Cuối cùng, ông kết luận : « Tôi đoán chắc rằng quân đội chúng ta, dưới quyền điểu khiển tồi cao của Thiên Hoàng và sự hỗ trợ của một trăm triệu dân Nhật, cuối cùng sẽ hoàn tất nhiêm vụ và đưa quốc gia tới chiến thắng cuối cùng. » Trong lúc Tojo tuyên bố những câu trên thì nhiều đơn vị phòng không Nhật đang phải chống đỡ với các đợt oanh tạc của Mỹ.

        Cũng trong phiên họp này, Tổng trưởng Hải quân là Đô Đốc Shimada, người trước kia đã tuyên bố « Hải quân Mỹ ở Thái bình dương chỉ là bọn du kích. » giờ đây lên tiếng báo động : « Chiến tranh đã bước vào giai đoạn quyết định. Địch quân, lợi dụng sức mạnh sản xuất to lớn của kỹ nghệ, đang bắt đầu mở các cuộc phản công. » Năm 1943, đúng như lời Tojo nói trước Thượng viện một tháng sau đó, sẽ là « năm của những trận đánh quyết định. »


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:49:16 AM

CHƯƠNG XXVI

        THÁNG Giêng năm 1943, có nhiều nguồn tin Tây phương cho hay Thủ Tường Tojo bị đau nên phiên họp khai mạc của Thượng viện phải hoãn lại. Đài phát thanh Tokyo lập tức cải chánh nguồn tin đó, và nói : « Thủ Tướng lúc này mạnh khỏe hơn bao giờ hết. » Nhưng sự thực là Tojo có bị lên cơn sốt, không rõ vì lý do gì. Ông không ăn được và chỉ uống nước táo ép do Bà Tojo trống ở vườn nhà tại Morioka. Mặc dầu hai nhân viên trong Chánh phủ của ông là Hoshino và Kaya, cũng như vợ ông đều yêu cầu Tojo để cho một giáo sư đại học nổi tiềng điều trị, nhưng ông không chịu, viện lẽ rằng nếu ông là một chiến sĩ ngoài mặt trận; lúc này có đau, ông cũng chỉ được một bác sĩ quân y chẩn mạch. Vì vậy, ông chỉ chịu để cho một y sĩ của Lục quân điều trị, chớ không chịu hưởng các đặc ân khác. Hình như ông tin tưởng ở thuốc Bắc nhiều hơn là y khoa tân tiến. Ông thường có một loại cao dán, không những ông dán cho ông mà còn dán cho bất cứ sĩ quan nào của ông bị đau. Thầy thuốc Bắc bảo ông phải dán ở bụng và chân. Không bao lâu, ông đã đi lại được, và tập lên xuống cầu thang trong nhà. Bà Tojo phản đối, cho là ông không nên làm vậy, nhưng ông nói : « Phải tập, vì ở Thương viện cũng có cầu thang. »

        Xuất hiện tại Thượng viện cuối tháng đó, Tojo trông thật mạnh khỏe và tinh thần hăng hái. Ông tuyên bố : Nhật không còn là một nước thiếu tài nguyên như trước. Lúc này, Nhật có thừa nguyên liệu để theo đuổi chiến tranh dầu kéo dài bao lâu đi nữa. Tuy nhiên, câu kết của ông có vẻ dè dặt : «Dĩ nhiên trong thế công cũng như thế thủ, không phải lúc nào Nhật cũng đạt được tất cả theo ý muốn. »

        Lúc đó, chiến tranh đã kéo dài trong suốt mười lăm tháng trời, Tinh thần dân Mỹ không sa sút, thất vọng, như người Nhật dự đoán, Hải quân Nhật đã mất quyển làm chủ trên Thái binh dương. Sau trận thất bại ở Midway, hạm đội Nhật không bao giờ trở lại hùng mạnh được như trước. Tại Miến Điện, Bộ binh bị chận ở biên giới Ấn độ. Ở Tân Guinea, 15.000 quân Nhật đổ bộ định đánh chiếm hải cảng Moresby, đã bị dồn tới bãi birrtn Buna và bị tiêu diệt, chỉ còn mỗi một người sồng sót. Nước Úc hiện nay đã ở vào tư thế an toàn, không còn lo những cuộc đổ bộ của Nhật, và trở thành Đại Bản Doanh của Tướng MacArthur. Từ đây, sau khi tiếp nhận các đồ tiếp liệu ùn ùn từ Mỹ gởi qua cùng với vũ khí, binh lính, MacArthur phóng ra các cuộc phản công chiếm lại lần các đảo trên Thái bình dương.

        Hoạt động của tàu ngầm Đồng minh là điều Bộ Tư Lệnh Hải quân Nhật không chuẩn bị kế hoạch đề phòng sẵn từ trước, nên bây giờ bị thiệt hại rất nhiều. Trước khi chiến tranh kết thúc, con số tàu Nhật bị đánh chìm lên tới trên sáu triệu tấn. Những tài nguyên mà Tojo khoe trước đây đều chìm đắm dưới đáy biển.

        Tháng Ba năm 1943, trong khi dân Nhật tổ chức tuần lễ « Nụ cười quốc gia » để vận động tinh thần dân chúng trong việc theo đuổi chiến tranh, thì Hải quân Nhật lại bị đánh một đòn nặng tại biển Bismarck. Một đoàn tàu chở tất cả 15.000 binh sĩ đi tăng cường cho căn cứ Lae tại Tân Guinea đã bị máy bay của Mỹ - Úc đặt căn cứ trên đảo tấn công tiêu diệt hoàn toàn. Kết quả chỉ còn một số nhỏ sống sót vào được tới bờ, nhưng lại bị quân Úc săn đuổi giết dần.

        Tháng Ba năm 1943, trong một cuộc tiếp xúc với các đại diện của Hội thông tin yêu nước Nhật, Thủ Tướng Tojo tuyên bố : «Nếu không may nước Nhật bị thất trận thì điều đó chỉ có thể xảy ra vì sự chia rẽ trong nhân dân, điểu mà tôi tin rằng khống thể nào xảy ra đối với dân tộc đoàn kết của chúng ta.» Tojo quả thực đã nói lên điều lo lắng trong thâm tâm của ông. Từ khi lên giữ chức Thủ Tướng trong vòng hai năm nay, lúc nào ông cũng chủ trương 100 triệu dân Nhật đoàn kết thành một khối duy nhất thì không có việc gì mà không làm được. Nhưng gần đây, những dấu hiệu chia rẽ đã khiến ông lo ngại. Chẳng hạn sự thiếu hợp tác giữa Hải quân và Lục quân đã đưa tới những ảnh hưởng tai hại trong các cuộc hành quân thiếu điều hợp chặt chẽ. Ngoài ra giữa Bộ Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực và Chánh phủ, ai cũng muốn dành quyền lãnh đạo chiến tranh. Thất vọng trong việc dành quyền với quân đội, Tojo chỉ còn biết đi cổ động tinh thẩn đoàn kết trong dân chúng.

        Cựu Đại Sứ Nhật tại Luân Đôn, ông Shigemitsu, vừa từ Nam Kinh trở về Tokyo. Ông được gởi tới đó để giúp đỡ Chánh phủ của Uông Tinh Vệ. Nay Thủ Tướng Tojo gọi ông về để giao Bộ Ngoại giao Nhật cho ông điều khiển. Dù sao thì Shigemitsu cũng là người tương đối thân Tây Phương.

        Shigemitsu là người phản đối cuộc chiến hiện nay, vì ông cho rằng Nhật không thể thẳng nổi Anh và Mỹ. Nhưng ông là người chủ trương phải giải phóng các dân tộc Á châu khỏi ách thống trị của người Tây phương. Ông nhấn mạnh tới việc Nhật Bản, với tư cách một quốc gia tiến bộ nhất trong vùng này, cần phải hợp tác với các quốc gia khác để phát triển lục địa này. Khi được mời làm ngoại trưởng, ông đặt điều kiện với Tướng Tojo là phải «nhìn lại» hơn một tỉ người Á châu mà Thủ Tướng Nhật thường cho rằng đang đứng về «phe chúng ta.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:50:14 AM

        Các nhà lãnh đạo Á châu chưa tin tưởng nhiều nơi Nhật Bản. Từ trước tới giờ Tojo chỉ ủng hộ thuyết Á châu độc lập bằng một vài lời nói suông, ngoài ra không có gì hơn. Sau khi chiến tranh bùng nổ, với các chiến thắng đầu tiên của Nhật, không thiếu gì các lãnh tụ quốc gia ở Á châu chạy theo người Nhật, như Laurel ở Phi luật tân, Sukarno ở Nam Dương, và Chandra Bose tại Ấn Độ, ông này đã trốn khỏi nước và theo phe quốc xã từ trước khi Nhật khai chiến.

        Quân đội Ấn đã phát triển mạnh, trở thành một đạo quân tình nguyện đông đảo nhất và chiến đấu hăng hái trong việc đánh bại Nhật. Các lãnh tụ quốc gia Ấn mặc dầu chủ trương Ấn tự do, thoát khỏi tay người Anh, và không tham chiến, nhưng không ai dại gì mắc vào cái mồi dụ dỗ đi theo Nhật để tiến tới tự trị. Tojo lên tiếng dụ các lãnh tụ quốc gia Ấn với luận điệu : «Lúc này là thời cơ thuận tiện, Nhật Bản cảm thấy không thể nào không tiếp tay với Ấn để phá xiểng xích đô hộ và áp bức của thực dân Anh.» Nhưng Mahatma Gandhi thừa hiểu dã tâm của thực dân, đã trả lời thẳng Tojo bằng một thơ ngỏ vào tháng Tám năm 1942 như sau :

        «Chúng tôi vẫn chưa quên những hành động tàn ác, dã man, người Nhật đã gây ra tại Trung Hoa. Thực là mộng ảo hão huyền nếu Ngài cho rằng dân Ấn sẽ chào đón Ngài khi đặt chân tới Ấn độ... Chúng tôi không cần sự giúp đỡ của nước ngoài. » Mặc dầu những lời lẽ trên đây, Gandhi sau này còn cảnh cáo thêm nếu Đức hay Nhật thắng trận, thế giới sẽ lâm vào một thảm kịch, nhưng lãnh tụ Bose của Ấn vẫn tiếp tay với Nhật để thành lập Chánh phủ  thân Nhật, và tuyển lính trong đám tù binh Ấn vừa được Nhật thả ra.

        Trong lúc Ấn độ từ chối sự giúp đỡ giải phóng của Nhật, chúng ta thử nhìn vào các nước ở Đông Nam Ấ đã được quân Nhật giải phóng xem sao. Người dân tại các nơi đó bị quân đội Nhật hành hạ, đàn áp, đối xử dã man, như dân Trung Hoa trước đây dưới gót giày chinh phục của Nhật. Những lãnh tụ thân Nhật thỉnh thoảng được đưa tới Tokyo và được tiếp đón rất lịch sự. Nhưng đó chỉ là bề ngoài; bên trong các lãnh tụ quân phiệt Nhật coi lũ người đó không hơn gì những tên bù nhìn. Quyền cai trị thực sự nằm trong tay các sĩ quan Nhật đóng tại địa phương, đúng như lời sử gia Richard Story đã viết : «Họ được tiếp đón nồng hậu tại Tokyo, nhưng chưa quên những cái tát tai tại Ngưỡng Quang hoặc Manila.”

        Dân chúng Trung Hoa là những người đầu tiên tỉnh ngộ với chánh sách Đại Đông Á của Nhật. Đàn áp, hối lộ, tham nhũng do Chánh phủ bù nhìn Uông Tinh Vệ cấu kết với các sĩ quan và gian thương Hoa-Nhật tạo ra, đã khiến dân chúng sống khổ sở nhục nhã như trâu bò.

        Mùa Hạ năm 1943, Tojo đi kinh lý các vùng chiếm đóng ở hải ngoại. Nhưng lúc này dù có muốn chấn chỉnh lại cũng đã quá trễ. Hơn nữa quyền hành tại đây nằm trong tay quân đội, chớ đâu phải Chánh phủ. Cũng giống như lúc trước Tojo cai trị Mãn châu vậy. Tojo nhấn mạnh đến sự «đô hộ, áp bức» của Tây phương không bao giờ xảy ra nữa, nhưng cũng không lấy được cảm tình của dân chúng. Sự đô hộ và áp bức lúc này họ đang phải chịu, chính là quân đội Nhật.

        Vào tháng Năm, một tin làm chấn động cả nước khi được đài phát thanh Tokyo loan đi. Đó là cái chết của Đô Đốc Yamamoto, vị sĩ quan lỗi lạc nhất của Hải quân Nhật. Bản tin chi nói vắn tắt : «Đô Đốc Yamamoto đã bỏ mình trong khi đang ngồi trên máy bay điều khiển cuộc hành quân tại tiền tuyến.» Thực ra, Yamamoto đã bị lọt vô một cuộc phục kích tỉ mỉ do không quân Mỹ thực hiện. Máy bay của ông bị bắn rớt trên không phận Bougainville thuộc quần đảo Solomons, và rớt cháy trong rừng già1. Một tuần lễ sau đó, lại có tin trại quân trên đảo Attu thuộc quần đảo Aleutians đã bị tiêu diệt sau một trận tấn công của quân Mỹ nhân lúc sương mù dày đặc, và tiếp theo sau một trận pháo kích kinh khủng. Quân sĩ Nhật sau khi hô lớn Banzai — chiến sĩ muôn năm — để bày tò lòng trung thành với Thiên Hoàng, đã phóng ra những đợt xung phong cuối cùng. Người bị thương không chiến đấu được thì hướng về Hoàng cung ở Đông Kinh quỳ lạy rồi mổ bụng tự tử.

        Bà Tojo còn nhớ rõ ngày căn cứ Attu thất thủ, vi theo lời thuật lại của Bà: «Đêm hôm đó, có vị Trung Tá bí thơ của Thủ Tướng điện thoại tới, nói là cần gặp Thủ Tướng ngay để báo cáo chuyện khẩn cấp. Tôi liền vô phòng ngủ đánh thức ông đậy. Phòng ngủ của ông sát ngay với phòng đọc sách, và luôn luôn có treo sẵn một bộ quân phục. Khi vị Trung Tá tới, tôi dẫn ông ta vô phòng đọc sách và thấy Tojo đã chỉnh tề trong bộ y phục thường lệ. Khi đọc bức điện cuối cùng của Đại Tá Yamasaki, chỉ huy căn cứ Attu, Tojo lặng người đi một lúc không thốt nên lời. Vị Trung Tá đứng đợi cho tới lúc Thủ Tướng trở lại bình thường Sau đó nhà tôi bảo tôi tới an ủi Bà Yamasaki. Viễn ảnh thất trận của nước Nhật càng ngày càng trở nên rỡ ràng khiến nhà tôi mỗi lúc một cảm thầy u buồn hơn.»

----------------------
        1. Đọc Yamamoto 3 quyển đã xuất bản.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:50:38 AM

        Trong lúc Đồng Minh tấn công mạnh vào vòng đai phòng thù bao quanh nước Nhật ở Thái binh dương, thì từ Âu châu đem tới toàn tin thất lợi cho phe Trục. Nào là quân Đức đầu hàng tại Stalingrad ; Rommel bị săn đuổi khỏi Bắc Phi; và tới tháng Chín, sau khi Mỹ đổ bộ ở Sicily thì có tin Mussolini bị hạ bệ, nước Ý đầu hàng vô điều kiện. Tin này làm rún động nước Nhật. Thế là từ nay hềt còn hy vọng phe Trục sẽ chiến thắng. Tệ hại hơn nữa là người đã hạ Mussolini và đầu hàng Mỹ lại chính là Badoglio, một Tướng lãnh dưới quyền ông ta. Sự kiện này khiến giới sĩ quan trẻ ở Nhật trở nên lo lắng. Họ kêu lớn, không thể nào có những Badoglios ở Nhật. Các Tướng lãnh cũng trở nên dè dặt, vì sợ bị chụp mũ là Badoglio.

        Hai tuần sau đó, Thủ Tướng Tojo công bố trên đài phát thanh các biện pháp khấn cấp nhằm đối phó với tình thế mới. Theo đó, «mọi sự lãng phí thời giờ, nhân lực, vật lực từ nay không thể nào được tha thứ.» Ông cho biết kẻ thù Nhật Bản mặc dầu bị tổn thất nặng, nhưng vẫn không ngán, và đang tìm cách chinh phục nước Nhật bằng cách phóng ra những đợt tấn công mới. «Đây là lúc toàn dân phải nỗ lực để thích ứng với tình thế mới, bằng cách quyết tâm lập một phòng tuyến vững chắc bảo vệ quốc gia và đẩy mạnh nổ lực chiến tranh.»

        Những biện pháp mới nhằm động viên toàn thể nhân lực quốc gia, đẩy mạnh năng suất trong việc hỗ trợ chiến tranh. Mọi người đều phải làm việc suốt tuần không nghỉ. Hạn tuổi hành nghề theo luật lao động được giảm bớt. Nhiều kế hoạch quy mô được hoạch định để xử dụng phụ nữ. Các nhà hát ả đào geisha và phòng trà từ trước tới nay vẫn phát triển mạnh trong chiến tranh bây giờ có lệnh phải đóng cửa. Thông điệp của Nhật Hoàng gỏi toàn dân trong dịp áp dụng những biện pháp khẩn cấp này mô tả tình hình quốc gia là «thực sự nghiêm trọng.» Những lời lẽ đó không phải có tánh cách phóng đại để thúc đẩy sự làm việc, nhưng chính là thực trạng của quốc gia lúc này.

        Vào tháng Sáu, một thông cáo của Bộ Chỉ huy Tối cao cho biết «quân Anh - Mỹ sắp gia tăng những trận tấn công đại quy mô». Tiếp theo đó nhiều biến cố đã diễn ra trên mặt trận Thái Bình Dương. Mỹ chiếm đảo Tân Georgia. Không quân Mỹ bắn phá các đoàn tàu chở quân tăng viện của Nhật, gây ra những tồn thất nặng nề cho Hải quân. Lúc này máy bay đồng minh hoàn toàn làm chủ không phận, bắt buộc tàu Nhật phải di chuyển lén lút trong đêm tối trong vùng Tân Guinea và Solomon. Căn cứ quan trọng tại Tân Guinea là Lae thất thủ vào tháng chín. Các biến cố xảy ra trong tháng 11 lại còn trầm trọng hơn nữa. Vào đầu tháng, một trận không hải chiến lớn nhất kể từ sau trận Midway, xảy ra khi quân Nhật tấn công một hạm đội của Mỹ bị coi là đang đe dọa các căn cứ quan trọng nhất của Nhật ở Truk. Những cuộc di chuyển này của hải quân Mỹ báo hiệu cho những trận tấn công đổ bộ thực sự xảy ra một tuần sau đó. Lực lượng hành quân lớn lao của Mỹ có thiết giáp yểm trợ tấn công các đảo Tarawa và Makin thuộc quần đảo Gilbert. Các cuộc tấn công đổ bộ này là kiểu mẫu thí nghiệm cho những trận đánh dự định đổ bộ lên các hòn đảo chánh của nước Nhật trong tương lai. Binh sĩ tham dự được tiếp tế đầy đủ do một căn cứ lưu động trên mặt biển, Tarawa bị mất sau những trận đánh khủng khiếp «chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh, với những cuộc oanh tạc ghê gớm hơn cuộc oanh tạc thành phố Bá Linh.» Đó là những, lời thuật lại trong một bản thông cáo của quân đội Mỹ. Quân Nhật chiến đấu như điên cuồng, không kể sống chết, Nhưng ngày 25 tháng l1, Gilbert vẫn bí chiếm trọn «với một số ít lính Nhật còn sống sót trên đảo.»

        Cũng trong tháng này, Churchill và Roosevelt gặp nhau tại Cairo, thủ đô Ai Cập. Sau cuộc gặp gỡ này, một bản tuyên ngôn loan báo vào tháng chạp tước bỏ hết quyền bảo hộ của Nhật đổi với toàn thể các đảo ở Thái bình dương được giao phó cho Nhật kể từ chiến tranh 1914, cũng như các lãnh thổ Nhật đã chiếm cứ của Trung hoa., Mãn châu, Kim môn, Pescadores được giao hoàn cho Chánh phủ Trung hoa dân quốc, Nhật bản cũng sẽ bị trục xuất ra khỏi các thuộc địa đã chiếm được. Dân chúng những nơi đó sẽ được sống trong tự do, độc lập.» Bản tuyên ngôn của Đồng minh xác nhận:«Những cuộc hành quân mở rộng sẽ tiếp tục diễn ra cho tới lúc Nhật Bản chịu đầu hàng vô điều kiện,. Trên đài phát thanh quốc gia, Thủ tướng Tojo gọi bản tuyên ngôn này là «trò con nít buồn cười ngu xuẩn, nhắm mục đích tuyên truyền để che đậy những thất bại nặng nề của chúng.» Theo Tojo, quân đội Thiên hoàng vẫn đang gặt hái «những chiến công lẫy lừng tại quần đảo Gilbert cũng như các nơi khác trên chiến trường.» Ông nói thêm : «Dĩ nhiên các sĩ quan và binh sĩ của quân đội. Thiên hoàng, tất cả đều «muốn được hy sinh cho Tổ quốc ngay trên chiến trường.» Đối với dân chúng Nhật, ông nói : «phải củng cố sự đồng tâm nhất trí đã có từ hai năm trước... Chiến thẳng không thể tới với những người chỉ ngồi yên khoanh tay chờ đợi.»

        Không đầy một tuần sau đó, quân Mỹ lại đổ bộ lên New Britain. Kế tiếp, Bộ Tư lệnh Tối cao tại Tokyo xác nhận chiến thắng tại quần đảo Gilbert mà Thủ tướng loan báo trước đây thực ra là một thất bại nặng nề. Binh sĩ tại các căn cứ Tarawa và Makin «đã hy sinh anh dũng tới người cuối cùng.» Thủ tướng Tojo tuyên bố tại ủy ban ngoại giao Thượng viên : «Chiến tranh thực sự bây giờ mới bắt đầu.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Hai, 2018, 07:51:37 AM

CHƯƠNG XXVII

        Bốn ngày đầu năm mới là dịp dân chúng Nhật Bản tống táng chuyện cũ, đón mừng cái mới. Mọi người lo hoàn tất công việc dở dang, thanh toán nợ nần trong năm cũ, sửa soạn trở thành một con người mới để ăn bữa tiệc đầu năm o-mochi với món bánh chưng đặc biệt. Ai ai cũng mong mỏi thoát khỏi những chuyện xui xẻo trong năm cũ. Sang năm mới mọi người đều hy vọng sửa chữa những lỗi lầm đã qua để tiến tới tương lai tốt đẹp. Những ước vọng này thường được dân Nhật ghi vào những cuốn nhật ký cất giữ rất thận trọng. Những trang nhật ký của Ngài Bá tước Chưởng ấn Hoàng gia Kido ghi vào những ngày đầu năm 1944 cho thấy viễn vọng thất trận đã tới gần, và càng ngày ông càng tìm cách đưa nước Nhật ra khỏi chiến tranh.

        Đây không phải là lần đầu ông có những tư tưởng như vậy. Từ năm trước, có lần ông đã bàn với Hoàng thân Konoye về tình hình chiến cuộc. Hai người đều đồng ý viễn vọng chiến thắng đã bị tiêu tan, và Hoàng thân Konoye như thường lệ, rất lo sợ trước viễn tường một kiểu cướp chánh quyền giống như Cộng sản sẽ xảy ra sau khi bại trận. Người bạn già của Kido là Mamoru Shigemitsu từ Mãn châu trở về giữ bộ ngoại giao khiến ông có người để thỉnh thoảng bày tỏ tâm sự về việc tìm cách kết thúc chiến tranh. Những cuộc nói chuyên như vậy được giữ hoàn toàn bí mật. Nếu bị tiết lộ ra ngoài, các phần tử mưu tìm hoà bình sẽ bị vô tù hoặc ám sát ngay bởi phe chủ chiến cực đoan. Đạo quân Hiến binh tăng cường thêm nhiều nhân viên, ráo riết hoạt động, không kiêng nể bất cử viên chức cao cấp nào. Sự kiện Benito Mussolini bị lật đổ khiền Kido lo ngại không biết tình hình sẽ ra sao nếu Thủ tướng Tojo cũng bị hạ bệ tương tự như vậy. Theo ông nghĩ, chuyện này rất có thể xảy tới, cùng với viễn tượng sụp đổ của nước Đức dự đoán xảy ra trong năm 1944. Một lần nữa, vấn đề có thể lại được đặt ra trước Hội đồng các vị cựu Thủ Tướng để tìm người có thể thay thể Tojo, Tới lúc đó, ông cho rằng nhân vật nào có khả năng đem lại hòa bình cho nước Nhật trong thời hạn và hoàn cảnh khả quan nhất sẽ là người cầm đầu nội các trong tương lai, Giống như những nhân vật cao cấp khác của nước Nhật, ông hoàn toàn bác bỏ lời kêu gọi Nhật «đầu hàng vô điểu kiện» của Đồng minh. Ông hy vọng rằng, qua sự trung gian của Tàu hoặc Nga sô, Nhật có thể điều đình với Đồng minh để kết liễu chiến tranh trước khi «bị cô lập và tấn công bởi tất cả các cường quốc trên thế giới.» Những nhận xét trên đây được tìm thấy trong nhật ký của ông, Tuy nhiên, những biến cố sau đó đã xảy tới quá nhanh, vượt ra ngoài sự tiên liệu của Kido.

        Tháng giêng năm 1944, Thủ tướng Tojo đã nói lên sự thực khi ông tuyên bố trước Thượng viện : «Thắng bại chỉ còn cách nhau trong đường tơ kẽ tóc» và kêu gọi quốc dân sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn «càng ngày càng trầm trọng» của đất nước. Vào tháng mười trước đó, một hội nghị Hoàng gia đã được triệu tập khi quân Nhật bị đánh bại tại các hòn đảo thuộc phòng tuyến phía ngoài. Sau nhiều giờ bàn cãi kịch liệt giữa Hải và Lục quân, hội nghị đi tới quyết định phải thiết lập một phòng tuyến mới chạy dài từ Miến điện ngang qua quần đảo Andaman, Phi luật tân, Carolines, Marianas, Marshalls, Ryukyu, Iwo Jima, Okinawa, Kuriles, cho tới phía Bắc Nhật bản,

        Ngày 1 tháng 2 quân Mỹ chọc sâu vô phòng tuyến mới của Nhật khi cho một lực lượng hùng hậu đổ bộ lên quần đảo Marshall. Lần đầu tiên Tojo thú nhận trước Quốc hội : «Kẻ thù đã thực sự tấn công vào lãnh thổ Nhật.» Ngày 20 tháng 3, các chiến lũy cuối cùng của quần đảo Marshall tại Kwajalein bị quân Mỹ thanh toán hoàn toàn. Tojo nắm trọn quyền kiểm soát Quốc gia bằng cách kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng tham mưu trưởng. Đồng thời, cộng sự viên thân tín của ông, Đô đốc Shimada, nắm chức Tư lệnh hải quân thay Đô đốc Nagano.

        Không phải chỉ có những viên chức dân sự cao cấp như Kido và Shigemitsu mới nghĩ rằng cần phải kết thúc chiến tranh. Trong giới Hải quân, nhiều sĩ quan cao cấp cũng cho rằng Nhật không thể nào thắng nổi, mặc dầu những ý nghĩa thẩm kín đó họ không bao giờ dám hé ra cho ai biết. Trước đây Đô đốc Tagaki theo lệnh của Tổng trưởng Hải quân là Đô đốc Shimada, đã thiết lập một bản nghiên cứu tình hình chiến tranh. Kết quả của bản nghiên cứu quá thất vọng đến nỗi Tagaki không dám trình lên cho Thượng cấp. Tài liệu này được soạn thảo xong vào tháng Hai năm 1944 Trong đó Tagaki đề nghị Nhật triệt thoái khỏi các lãnh thổ chiếm đóng,

        Bản nghiên cứu lúc này được Tagaki quyết định trao cho cựu Thủ tướmg Yonai. Vì Tagaki sợ rằng nếu để lọt vô tay Đô đốc Shimada, có thể ông ta sẽ trình lên Thủ tướng Tojo, và chắc chắn bị ỉm đi, đồng thời các Sĩ quan ủng hộ lập trường của Tagaki trong tài liêu nghiên cứu đó có thể bị trả thù. Tagaki hy vọng rằng tài liêu nghiên cứu này sẽ được cựu Thủ tướng Yonai trình lên Nhật hoàng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:07:36 AM

        Điều lo sợ Đô đốc Tagaki đã tiên liệu trở thành sự thực hiển nhiên khi ông ta được cựu Thủ tướng Yonai cho biết Tojo đã tỏ ra vô cùng tức giận trong lúc Đô đốc Okada và một số các vị cựu Thủ Tướng khác bày tỏ mối lo ngại của họ trước tình hình chiến cuộc ngày nay. Tojo cho rằng họ đang âm mưu lật đổ ông ta.

        Trong hàng ngũ Lục quân, cũng có nhiều Sĩ quan bắt đầu nghi ngờ sự thắng lợi của cuộc chiến hiện tại. Tại khách sạn Sanno ở Tokyo, Đại tá Matsutani thường hội họp với một nhóm sĩ quan trẻ trong bộ tham mưu để thảo luận về tình hình đất nước. Đại tá Matsutani trước đây từng là Tùy viên Quân sự ở Anh quốc, hiện nay vẫn còn giữ liên lạc với Bộ Ngoại giao. Vì vậy ông hiểu rõ tình hình chiến tranh hơn bất cứ một Sĩ quan nào khác trong Lục quân.

        Matsutani soạn riêng một tài liệu, đề nghị Nhật rút ra khỏi chiến cuộc. Sau đó ông đích thân trình tài liêu này lên Thủ Tướng Tojo. Kết quả là ngay ngày hôm sau Matsutani nhận được lệnh thuyên chuyển tới mặt trận Trung hoa.

        Những tuần lễ sau đó các căn cứ quân sự tại Truk bị hàng trăm máy bay Mỹ oanh tạc, gây nhiều tồn thất nặng nề cho tàu bè Nhật đậu tại đây. Tiếp theo quân Mỹ lại đổ bộ lên quần đảo Admiralty, và Thủy quân Lục chiến tấn công lên New Britain. Ngày 24 tháng Tư, căn cứ Hollandia của Nhật tại Tân Guinea lọt vô tay quân Mỹ. 250.000 lính Nhật đóng tại đây từ trước để dự định đổ bộ Úc đại Lợi, được Tướng MacArthur tuyên bố là đã bị «vô hiệu hóa».

        Nhật chỉ còn đạt được vài chiến thắng tại các mặt trận Trung Hoa và Miến Điện. Một cuộc tấn công vô các căn cứ Không quân Mỹ tại Trung hoa đã thành công.

        Nhưng càng ngày quân du kích Cộng sản Tàu của Mao Trạch Đông càng trở nên nguy hiểm, hơn cả những đạo quân chánh quy của các Tướng lãnh Trung Hoa Dân Quốc. Tại Miến Điên, quân Nhật mở cuộc tổng tấn công trong chiến dịch «tiến tới Tân đề Ly» kiểm soát được các căn cứ của Anh tại Kohima, Ukhrul, Imphal, thuộc mặt trận Assam, tạo một hy vọng tiến sang Ấn Độ. Quân Nhật tham dự chiến dịch này đều là những đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu trong rừng rất giỏi.

        Nhưng sau đó không bao lâu, Lộ quân 14 của Liên quân Anh - Ấn do Tướng Slim chỉ huy vừa chận bước tiến của quân Nhật, vừa đánh chiếm lại những căn cứ quan trọng đã rơi vào tay quân Nhật. Những tháng sau đó, lực

        lượng Nhật bị vây hãm tại Imphal và Kohima. Đồng thời một lực lượng chiến đấu đặc biệt của Mỹ bất thần đánh chiếm Myitkyina, một tỉnh địa đầu có đường xe lửa chạy tới Mandalay. Quân tăng viện của Nhật bị chận lại gần Chindits, trong lúc liên quân Anh - Ấn do Tướng Wingate chỉ huy đổ bộ xuống phía sau quân Nhật.

        Ở Thái bình dương, quân Mỹ đẩy mạnh các cuộc tấn công đổ bộ lên đảo Biak, một căn cứ được coi là điểm địa đầu bảo vệ cho quần đảo Phi luật Tân. Vào tháng Sáu những thất vọng lan rộng trong giới viên chức cao cấp Nhật, khi các tin tức bại trận của phe Trục ở Âu châu dồn dập đưa tới. La mã thất thủ ngày 4 tháng Sáu, và hai ngày sau đó là cuộc tấn công đổ bộ vĩ đại của Anh - Mỹ tại bờ biển Normandy càng làm cho quân Nhật thêm hoảng sợ. Toshikazu Kase viết: «Chúng tôi cảm thầy tinh hình tuyệt vọng, vì bờ biển nước Nhật còn dễ đổ bộ hơn Âu châu.»

        Cuộc đổ bộ vĩ đại tại Âu châu không làm cho Mỹ giảm bớt các hoạt động ở Thái bình dương. Ngày 15 tháng Mười, cuộc oanh tạc đại quy mô các nhà máy thép, do pháo đài bay Mỹ đặt căn cứ ở Trung Hoa thực hiện, khiến Tojo phải vội vã họp Hội đồng Nội các tìm cách đối phó. Cùng ngày hôm đó đảo Saipan thuộc nhóm đảo Marianas bị dội bom và hải pháo liên tiếp trong năm ngày liền trước khi lực lượng Mỹ đổ bộ lên đảo.

        Ngày 9 tháng Bảy, tin thất bại trong cuộc tổng tấn công qua Ấn Độ tới cùng một lúc với tin đảo Saipan bị lọt vô tay quân Mỹ. Trận đánh Saipan khiến cả hai bên đều tổn thất nặng nề. 25 ngàn quân Nhật bị chết hầu như không còn một người nào sống sót. Trong số đó có cả Đô đốc Nagumo, người đã chỉ huy lực lượng hành quân tấn công Trân châu cảng. Hạm đội Nhật tìm cách tăng viện cho Saipan cũng bị đánh tan luôn. Phía Mỹ phải trả 15 ngàn mạng. Với việc mất Saipan, kể như quân Mỹ đã thọc sâu vô tuyến của Nhật tại Thái bình dương, vì hòn đảo này vẫn được coi là bất khả xâm phạm. Một số quân Nhật còn lại trên đảo, bị đồn tới mỏm đất ở phía Đông Bắc, cố gắng mở cuộc phản công cuối cùng một cách tuyệt vọng. Các đơn vị Hải quân Mỹ tiến vô các Hải cảng có mực nước sâu trên đảo. Vài ngày sau, các oanh tạc cơ ào ào bay tới hai phi trường ở Saipan, để từ đó bay đi dội bom những đảo chánh của nước Nhặt cách xa hai ngàn cây số. Với những dao động tinh thần do cuộc đổ bộ Saipan gây ra trong tháng năm và tháng sáu, phong trào vận động chấm dứt chiến tranh bắt đầu phát triển thành những âm mưu tìm cách hạ bệ Tojo. Công việc phải hoàn toàn bí mật và thận trọng, vì Tojo không dễ dàng nhượng bộ, ông ta còn đang được sự ủng hộ của quân đội. Các Sĩ quan trẻ hô hào đòi tái chiếm Saipan. Cựu Thủ tướng Okada đề nghị  cứ để cho họ thực hiện một cuộc phản công, và sau khi thất bại họ sẽ nhận định ra sự thực. Cuộc phản công chắc chắn sẽ thất bại, vì lực lượng Hải quân đã bị đánh bại. Hoạt động của các nhóm chủ trương hòa bình gặp rất nhiều nguy hiểm do sự theo dõi của cảnh sát mật vụ. Toshikazu Kase và Konoyc cho biết cả hai đều bị mật vụ để ý. Kase kể lại: «Tôi biết điện thoại tôi bị nghe lén, và hàng ngày nhiều người tới gợi chuyện nói về chánh sách theo đuổi chiến tranh một cách «Tàn bạo» của Thủ tướng Tojo : nhiều nhân vật bị rớt vô bẫy này và bị bắt sau đó».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:07:59 AM

        Dân chúng Nhật bắt đầu phản đối chiến tranh. Cuộc oanh tạc tại Kyushu mở đầu cho những trận mưa bom của Mỹ trên các thành phố Nhật, càng ngày càng ác liệt thêm khi không quân Mỹ có được những căn cứ gần đất Nhật hơn. Tình hình quốc nội cũng như quốc tế đều cho thấy chiến tranh không còn kéo dài được bao lâu nữa.

        Đối phó với tình thế trước mặt, Tojo tự biết mình không thể trút bỏ trách nhiệm cho ai khác, nhất là từ khi một mình ông đảm nhiệm nhiều chức vụ then chốt trong Chánh phủ cũng như Quân lực. Nhưng đồng thời, ông cùng tỏ ra bướng bỉnh, nhất định không chịu thú nhận sự thất bại của mình.

        Ông liền đề nghị với Ngài Chưởng ấn Kido tâu xin Thiên Hoàng ra một chiếu chỉ nhận định lại tình hình chiến cuộc, và không quy trách nhiệm cho ông, để ông nhân cơ hội này sắp xếp lại thành phần Nội các. Tojo lập luận : việc thay đổi chánh phủ giữa lúc tình hình nguy hiểm này sẽ không tránh được một cuộc khủng hoảng. Tojo kêu gọi các vị cựu Thủ Tướng tiếp tay ùng hộ ông, và bằng lòng hy sinh Shimada để nhường bộ Hải quân cho Đô đốc Yonau Ngoài ra, Tojo hứa từ nay ông sẵn sàng nghe theo các lời chi điểm của những vị cựu Thủ tướng, và hợp tác với các vị đó một cách chặt chẽ trong tương lai.

        Lập tức Tojo được các vị cựu Thủ Tướng đáp lại lời yêu cầu đó bằng một thỉnh nguyện thơ gởi lên Nhật hoàng qua sự trung gian của Hoàng thân Kido, nhận định rằng Tojo không còn thích hợp trong chức vụ Thủ Tướng. Thỉnh nguyện thơ này được Đô đốc Okada trao cho Hoàng thân Kido ngày 17 tháng Bảy, trong đó có câu : «Muốn cứu vớt sự sống còn của đất nước, việc sắp xếp lại thành phần nội các chưa đủ.»

        Bất chấp sự chống đối đó, Tojo vẫn giữ ý định cải tổ nội các. Ồng vội vàng triệu tập phiên họp các Tổng Bộ trưởng, và nhận thấy ngay trong Nội các, ông cũng bị nhiều người chống đối. Shimada đã từ chức Tổng trưởng Hải quân, nhưng Đô đốc Yonai không nhận lời tham gia nội các, nên chức vụ này được giao cho một Đô đốc khác. Tojo không có ý định hy sinh Shigemitsu trong chức vụ Tổng trưởng ngoại giao, nhưng chính ông này — do lời khuyên của Hoàng thân Kido — lại khuyên toàn thể nội các nên từ chức cùng với Thủ Tướng. Tổng trưởng Canh nông Uchida, một chánh trị gia nhà nghề, đồng ý với ý kiến của Shigemitsu. Thủ Tướng Tojo trở nên bực tức khi nhận thấy Kishi — một đàn em của ông xưa kia được ông nâng đỡ kể từ những ngày còn ở Mãn châu — cũng không chịu từ chức. Kishi cho biết ông chỉ từ chức khi toàn thể nội các cùng từ chức. Ông này nhất định giữ lập trường trên, bất chấp những lời kêu gọi thống thiết của Tojo.

        Sáng hôm sau, 18 tháng Bảy, trước khi rời dinh Thủ tướng, Tojo nói với Phu nhân : «Có lẽ anh hết chịu đựng nổi rồi. Minh nên thu xếp để chuẩn bị trở về nhà.» Bà Tojo lấy làm ngạc nhiên hỏi lại: «Nếu anh rút lui lúc này thì để trách nhiệm lại cho ai ?» Tojo trả lời : «Anh không trốn tránh nhiệm, Anh đã làm tất cả những gì có thể làm được. Nhưng những điều kiện hiện nay khiến anh không thể nào tiếp tục ngồi ở chức vụ này được nữa». Lúc đó bà nhìn thấy ông có vẻ rất mỏi mệt và thất vọng,

        Từ tư dinh, ông đi thẳng tới đài phát thanh, đọc bài diễn văn cuối cùng gởì quốc dân, xác nhận Saipan đã bị mất. Ông nói : «Tôi vô cùng đau đớn vì sự thất bại này đã khiến Thiên Hoàng phải quan tâm,,, Nhưng thế địch quá mạnh, chúng phóng ra liên tiếp nhiều đợt phản công, Chúng ta sẽ chờ CO’ hội để đẩy lui chúng.» Vậy là xong, Tojo định thu xếp để tới Hoàng cung đệ đơn từ chức của ông và Nội các lên Nhật Hoàng vào buổi trưa, Ngài Chưởng ấn Kido đã thông báo cho Tojo biết, ông sẽ được Thiên Hoàng tiếp kiến. Tojo cho rằng chính Kiđo là người đã tìm cách hạ ông khỏi chức vụ hiện tại.

        Tojo rời Hoàng cung để trở về tư dinh Thủ tướng lần cuối cùng; Tại đây Tojo phu nhân đã chuẩn bị sẵn sàng để dọn trở về nhà riêng tại ngoại ô Tokyo, Tojo đi chào từ biệt và cám ơn toàn thể nhân viên. Nhiều năm sau, một viên cảnh sát cho biết trong ba chục năm gác tại tư dinh Thủ tướng, Tojo là vị Thủ tướng được mọi người có cảm tình nhiều nhất trong số rất nhiều vị Thủ tướng khác. Buổi trưa hôm đó, trong lúc Tojo thư dọn giấy tờ, thì đài phát thanh quốc gia loan báo : «Sau khi vận động mọi phương tiện, Nội các hiện tại vẫn cảm thấy không thể hoàn tất được các mục tiêu đề ra, nên đã quyết định rút lui để tiện cho việc thành lập một Nội các mới đối phó với chiến cuộc một cách hữu hiệu hơn.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:10:21 AM

PHẦN BỐN

HẠ THẢO

       
Cây cỏ tan hoang mùa Hạ đỏ,
        Ngồi đây chiến sĩ nhớ ngày xưa.
Basho (1644-1694)       

CHƯƠNG XXVIII

        TRONG những giơ phút cuối cùng Tojo tranh đấu để nội các của ông được giữ lại, thì một văn thơ khẩn từ Bộ chiến tranh gởi tới Phủ Thủ tướng cho biết quân đội cương quyết phản đối việc Hội đồng các vị cựu Thủ tướng âm mưu lật đổ Tojo, văn thơ này được soạn thảo dưới hình thức một văn thơ thông báo khẩn cấp. Không biết Tojo có nhúng tay vào việc này hay không, nhưng việc ông cáo buộc Hoàng thân Kido âm mưu hạ bệ ông thì đã quá rõ rệt. Ông đã giận dữ nói thẳng việc này trước mặt Kido khi tới Hoàng cung trình đơn từ chức của Nội các lên Thiên Hoàng. Mục đích của văn thơ do Bộ chiến tranh gởi tới, ai cũng biết là để đe dọa những người đang tham dự vào âm mưu lật đồ Nội các. Văn thơ này mặc dù bị Nội các phản đối, vẫn được phòng thông tin Bộ chiến tranh cho phồ biến vài ngày sau đó. Nhưng khi tài liệu này xuất hiện trên báo chí thì Thủ Tướng Tojo đã được Thiên Hoàng chấp nhận cho từ chức cùng toàn thể Nội các. Tân Thủ tướng đã được chỉ định để thành lập Chánh phủ mới. Nhân vật này cung từng phúc vụ trong đạo quân Kwangtung, và rất thân phát xít.

        Việc thanh toán phe hiếu chiến như vậy là mới xong được một phần nhỏ, với sự ra đi của Tojo. Kido và Hội đồng các cựu Thủ tướng định đưa Yonai lên kế vị Tojo nhưng lại sợ quân đội phản đối, và cuối cùng đành chọn một tướng lãnh hồi hưu. Đó là Tướng Koiso, người từng chỉ huy đạo quân Mãn châu và giữ chức vụ Toàn quyền tại Triều Tiên trước đây. Việc lựa chọn Koiso được quyết định vào phút chót sau nhiều giờ bàn cãi gay go. Mọi người hy vọng Koiso sẽ chia xẻ quyền hành với Yonai để dung hòa giữa hai chủ trương chủ hòa và chủ chiến. Nhưng thật là bất hạnh, vì sau khi đảm nhận chức Thủ tướng Chánh phủ , Koiso cho rằng ông ta được lựa chọn để đẩy mạnh chiến tranh tái thắng lợi. Các nhân viên Nội các kể cả Tổng trưởng Hải quân Yonai, không ai dám sửa chữa hướng đi của Koiso. Trong bài diễn văn khai mạc tân Nội các đọc trên đài phát thanh ngày 22 tháng 7 năm 1944, ông nói : «Thay đổi Nội các các chớ không thay đổi các chủ trương căn bản của quốc gia. Mục tiêu chánh của chúng .ta vẫn là chiến thắng trận chiến này.» Đối với các Đồng minh trong phe Trục, ông nói : «Phải siết chặt tình thân hữu để cùng nhau theo đuổi các mục tiêu chung.»

        Tojo, mặc dầu đặt nhiều hy vọng lúc Koiso được bổ nhiệm, nhưng cuối cùng ông cũng phải chấp nhận từ bỏ hoàn toàn mọi quyền hành. Ngày 20 tháng 7 năm 1944, ông được ghi tên vào danh sách các Tướng lãnh hồi hưu. Như vậy là giờ đây ông hoàn toàn rời khỏi đường công danh, quân sự cũng như chánh trị. Vị cựu Thủ tướng, cựu Đại tướng, lúc này đã hơn sáu mươi tuổi. Ông không hề trách cứ ai, và chấp nhận lãnh mọi trách nhiệm của những hành động mình đã làm. Ông lui về sống tại căn nhà riêng nhỏ bé ở Setagaya thuộc vùng ngoại ô Tokyo, và dùng hết thời giờ chăm lo cho giạ đình.

        Vị Tướng lãnh trước đây thường bảo với vợ rằng một quân nhân phải sống hai mươi bốn giờ một ngày cho Tổ quốc, giờ đây sống một cuộc đời nhàn hạ ; ông tỏ ý tiếc là mình không biết một trò chơi hay thú vui sở thich nào. Bà Tojo kể lại : «Ông rảnh rỗi cả ngày và không có việc gì để làm.» Ông không thích chơi cờ Shogi và cũng không thích làm thơ Waka hoặc Haiku, như phần đông các chánh khách hồi hưu khác. Ông thường than thở với vợ : «Phải chi anh biết làm thơ hay chơi môn gì khác, chắc lúc này sẽ cảm thấy bớt buồn tẻ hơn.»

        Trong nhà lúc này chỉ có một mình ông là đàn ông, Người con trai cả của ông, Hidetaki, sau khi thi rớt tại trường quân y đã đi làm tại Mãn châu. Con trai thứ hai, Terno, hiện làm trong nhà máy của hãng Mitsubishi. Toshi, con trai út thì đang theo học tại trường võ bị. Cô con gái cả Mitsue, thương cha lúc này bị cò đơn, nhất định không đi lấy chổng, ở lại giúp cỡ cha già vì hai em của cô là Sachie và Kimie đều còn nhỏ. Người con gái thứ hai có chồng là Thiếu tá Koga thuộc sư đoàn I Bộ binh đóng tại Tokyo, Bà này và con đều ở chung với Tojo. Mặc một bộ quần áo lam lũ, với chiếc nón lá, suốt ngày ông cuốc đất trồng rau ngoài vườn, hoặc chăm sóc đàn gà để tăng gia sản xuất. Thỉnh thoảng ông cũng ngồi viết văn tại một túp lều cỏ ngoài vườn. Nhưng ngày 25 tháng năm, bom rơi trúng hàng xóm và thiêu rụi luôn căn lều, với hai cây dứa cảnh của ông. Cuộc oanh tạc này đã khiến hầu hết giấy tờ và tư liệu của ông bị cháy sạch. Ông liền dọn văn phòng của ông vô trong nhà, Cái thú vui nhất của ông lúc này là nghe ra-đi-ô, đọc báo, và thỉnh thoảng mạn đàm với một vài người bạn tới thăm ông, Nhiều khi tin tức đã làm cho ông cảm thấy buồn rầu.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:10:59 AM

        Cuối tháng 9, Thủ tướng Anh loan báo trước Hạ viện Anh : «Trận đánh lớn nhất tại Miến điên đã diễn ra với kết quả từ 50.000 tới 60.000 quân Nhật bị giết.» Liên quân Anh - Ấn thuộc Lộ quân Mười Bốn thường tìm thấy trong rừng nhiều xác chết tập thể của các toán tính Nhật mổ bụng tự tử trước sự chứng kiến của một sĩ quan, và sau cùng viên Sĩ quan này cũng tự bắn vô đầu để chết theo binh sĩ. Toshikazu Kase kể lại : «Hầu hết binh sĩ đều tử trận hoặc chết đói trong rừng sau đó. Thất bại tại mặt trận Imphan là tổn thất nặng nề nhất và bi thảm nhất trong chiến tranh. Một Sĩ quan Trung đoàn trưởng còn sống sót trở về tới Tokyo với bộ quân phục rách tả tơi và thân hình gầy ốm, khiến người quen không còn nhận ra được ông ta. Theo lời vị Sĩ quan này kể lại, đoàn quân trên đường rút lui đã bỏ lại đàng sau hàng ngàn người bị thương, đau ốm, chết đói... Cuối cùng chỉ còn 70.000 quân sống sót.»

        Ngày 9 tháng 10, Thủ tướng Koiso cảnh cáo : «Quốc gia đang chờ cơ hội thuận tiện để đánh tan quân thù trong một trận phản công cuối cùng.» Mức sản xuất hiện nay, nhầt là ngành chế tạo phi cơ, đã xuống thấp một cách không thể tường tượng nổi. Không đầy hai tuần sau đó, quân Mỹ đã thực hiên một cuộc hành quân đổ bộ lớn nhất lên Phi Luật Tân kể từ sau trận đổ bộ Normandy. Đứng trên bờ biển giữa đoàn quân vừa đổ bộ, Tướng MacArthur, người từng chạy trốn khỏi Phi trước đây, đã tuyên bố : «Tôi đã trở lại đây ! Nhờ ơn Chứa, quân chúng ta lại được đặt chân lên vùng đất này. Chúng ta hãy cùng nhau chiến đấu cho gia đình và lý tưởng !... Tôi nóng lòng mau tới được đất Nhật để hỏi tội Sư đoàn 16 của Nhật, đã từng gây ra bao nhiêu thảm cảnh tại Bataan.»

        Tại Tokyo, một thông điệp của Bộ Tư lệnh Hải quân được phổ biến cho toàn thể binh sĩ: «Chúng ta đang dốc toàn lực vào trận chiến quyết định. Toàn thể các bạn hãy hy sinh mạng sống vì Tổ quốc mến yêu.» Ngày 24 tháng 10, Bộ trường Hải quân Mỹ là James Forrestal tuyên bố : «Trong cuộc chống đỡ tại mặt trận Phi luật tân, hai phần ba lực lượng hải quân Nhật đã bị tiêu diệt.» Kết quả, như Mamoru Shigemitsu ghi nhận là : «Chúng ta đã dồn hết lực lượng để cứu vãn mặt trận này và Hải quân kể như bị tiêu diêt tại Leyte,»

        Cùng ngày hôm đổ, 24 tháng 10, các siêu pháo đài bay của Mỹ đặt căn cứ tại Saipan đã tới tấn công Tokyo trong một trận oanh tạc nặng nề, mở đầu cho các trận mưa bom kinh khủng, liên tiếp xảy ra sau đó,

        Ngày 26 tháng Chạp năm 1944, Tướng MacArthur tuyên bố đã hoàn toàn chiến thẳng quân của tướng Yamashita tại Leyte. Sự kiện này khiến cho Thủ tướng Koiso bị hố, vì trườc đó ông lỡ tuyên bố rằng trận Leyte sẽ là một trận đánh lịch sử, Hai tuần sau, vào ngày 9 tháng Giêng năm 1945, các lực lượng của MacArthur bắt đầu đánh xuống Lữ Tống, hòn đảo chánh của Phi và tiến tới Manila. Ngày 16 tháng Hai, chỉ còn một số ít Thủy quân Lục chiến Nhật ẩn núp trong thành phố này, và đang bị săn đuổi.

        Bắt đầu từ 7 giờ sáng ngày hôm đó, ngoài các trận oanh tạc do siêu pháo đài bay từ căn cứ Saipan và Trung hoa bay tới, còn có một lực lượng hùng hậu thuộc đệ ngũ hạm đội Mỹ đậu ngoài khơi cách bờ biển phía Tây Nhật Bản 500 cây số, với 1.500 phi cơ cất cánh từ các hàng không mẫu hạm bay vào oanh tạc tàn phá các thành phố Tokyo và Yokohama nhiều đợt liên tiếp trong suốt 9 tiếng đồng hồ, gây ra những đám cháy với những cột khói bốc lên cao ba cây số.

        Cùng ngày hôm đó, hình như để trả lời cho sự hy sinh vô vọng của Hải quân Nhật tại Phi, một lực lượng Hảỉ quân Mỹ kéo tới đảo Iwo Jima, không còn ai ngăn cản ngoài các phi cơ Thần phong từ trên cao đâm xuống. Đoàn phi cơ Thần phong Kamikaze1 lúc này là hy vọng cuối cùng của Bộ Chỉ huy Tối cao Quân đội Nhật. Thủy quân Lục chiến Mỹ ngày hòm đó đổ bộ lên bãi cát ở Iwo Jima đã đánh một trận lịch sử với 15.000 quân Nhật ẩn núp trong các hấm hố, hang hốc, giữa các ngọn núi lửa. Nhật lệnh của Bộ Chỉ huy Nhật trong trận đánh này là «không có chiến sĩ Nhật nào được chết trước khi giết xong mười kẻ thù.»

--------------------
        1. Đọc « Thần Phong KAMIKAZE”, đã xuất bản.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:11:55 AM

CHƯƠNG XXIX

        MỸ phải trả một giá rất đắt trong lúc tiến lên từng thước đất tại Iwo Jima. Cái giá này chắc còn lên cao hơn nữa khi Mỹ bắt đầu đánh vào các đảo ở gần Nhật, vì dù sao Iwo Jima cung hãy còn cách Nhật tới 1.300 cây số. Nhưng sự kiện này đã khiến Nhật hoàng nhận thấy rằng lập luận cho là quân Mỹ không dám đổ bộ lẻn các đảo gần Nhật vì sợ tồn hại quá nhiều sinh mạng là điểu sai lầm. Từ trước tới nay nhiều chánh trị gia Nhật thường tin tưởng như vậy. Những tin tức mới nhất về chiến cuộc, và đặc biệt của trận Iwo Jima, được Hoàng thân Kiđo luôn luôn thông báo ngay cho Thiên Hoàng. Nhiều chiến lược gia Nhật đã lý luận rằng lòng chiến đấu can đảm phi thường, không kể sống chết của binh sĩ Nhật, là yếu tố đem lại cán cân thăng bằng giữa hai lực lượng, dù cho Mỹ có mạnh hơn về vũ khí và quân trang. Nhưng thực tế cho thấy lính Mỹ cũng có cái can đảm riêng của họ. Sự can đảm đó được phối hợp với óc khôn ngoan và trật tự, chớ không tự lao mình vào chỗ chết như lính Nhật. Còn về vũ khí quân trang thì lúc này Mỹ đã đạt được ưu thế tuyệt đối, tiến trước Nhật quá xa. Sự sản xuất vũ khí quân trang, với những số lượng khổng lồ và phẩm chất tinh vi, tối tân, là nguyên nhân chánh đem lại sự thất trận của Nhật. Hầu hết các mục tiêu sản xuất của Nhật đều không hoàn thành nổi. Các Tướng lãnh cũng như Đô Đốc Nhật tại mặt trận Miến điện và Thái bình dương đều chiến đấu một cách tuyệt vọng vì thiều thốn đủ mọi thứ.

        Vào tháng Giêng, Nhật hoàng nhân dịp đầu năm, lần lượt cho triệu từng vị một trong số các cựu Thủ tướng vào Hoàng cung để tham khảo ý kiến về vần đề chiến lược tổng quát của Nhật trong việc theo đuổi chiến tranh. Các cuộc tiếp kiến này được giữ kín, vì sợ phe cực đoan chủ chiến của Nhật hay biết. Các vị cựu Thủ tướng đều lấy cớ nhân ngày đầu năm tới mừng tuổi Thiên Hoàng để che đậy mục đích chánh của cuộc tiếp xúc. Thiên Hoàng nói chuyện riêng rẽ với từng người vào ngày giờ khác nhau. Như vậy để tất cả đều có thể trình bày thành thực quan điềm của mình một cách tự nhiên. Tojo là người cuối cùng gặp Thiên Hoàng trong chương trình tiếp xúc này. Cuộc tiếp kiến đó diễn ra vào ngày 26 tháng Giêng.

        Lủc này các phi cơ thuộc hạm đội thứ năm của Mỹ từ ngoài khơi không ngớt bay vô đánh phá Tokyo, Yokohama, và các thành phố kỹ nghệ khác của Nhật. Ngày 25 tháng Giêng, phi cơ hạm đội hợp với các pháo đài bay phát xuất từ Saipan bay tới mưa bom xuống trung tâm Thủ đô Đông kinh, tàn phá một vùng rộng lớn hàng trăm mẫu của thành phố. Năm sáu trái bom rót gần cung điện Nhật hoàng khiến Thủ tướng Koiso phải vội vã tới Hoàng cung, xin Thiên Hoàng tha thứ cho sự « chểnh mảng đáng tội » của Chánh phủ trong việc bảo vệ Hoàng cung. Đài phát thanh mô tả thái độ của Thủ Tướng Koiso là « vô cùng tức giận trước hành động hỗn xược và vô kỷ luật của giặc ». Manila lọt vào tay Mỹ. Tại Iwo Jima, TQLC Mỹ đã dựng được lá cờ sao sọc trên đinh núi Suribachi. Nhưng tình hình chiến sự bi đát đó không làm cho Tojo lo lắng như các vị cựu Thủ Tướng khác. Thái độ hoàn toàn bình thản của ông, một là do sự quyết tâm theo đuổi chiến tranh tới cùng, hai là có thể ông không quán triệt tình hình hiện tại.

        Trong cuộc triều kiến Nhật hoàng, ông đã tâu rằng hiện nay Anh - Mỹ đang dốn hết nỗ lực để hạ Đức một cách nhanh chóng. Họ cho rằng sau khi Đức bị thanh toán, Nhật sẽ lấy đó làm gương và không dám chống cự nữa để đi tới chỗ xin đầu hàng. Nhưng tình hình không giản dị như vậy, Một khi đánh xong Đức, thế nào Nga sô và Mỹ cũng giữ miếng với nhau tại Âu châu. Hai dân tộc này không bao giờ tin nhau, nên cả hai sẽ phải để lại Âu châu một số quân lớn. Điều đó sẽ không cho phép Nga mở một mặt trận mới ở Viễn Đông. Mặt khác, Nhật vẫn còn những đạo quân rất lớn tại Mãn châu, Trung hoa và Triều Tiên. Hải quân Nhật thừa sức bảo vệ eo biển Triều Tiên, để giữ sự lưu thông liên tục giữa Nhật và quân ở các nơi đó. Với số quân lớn đó, nêu cần họ sẽ kéo về bảo vệ các đảo chánh của Nhật khiến Mỹ không thế nào đổ bộ nổi. Oanh tạc của phi cơ không phái là sức mạnh tuyệt đối, vì máy bay không thể nào giết hết Bộ binh. Tình hình sẽ bi đát hơn. Nhưng với sự đoàn kết chặt chẽ của toàn dân và quân đội xung quanh Thiên Hoàng như hiện nay, chắc chắn kẻ thù chưa quật ngã nổi nước Nhật. Ta cứ chiến đầu, mặc dầu không hy vọng chiến thắng, nhưng chờ một cơ hội thuận tiện xảy đến, lúc đó sẽ tìm cách điều đình, mặc cả với đối phương để kết thúc chiến tranh. Dân ta dù thiếu thốn, nhưng chưa đến nỗi chết đói; họ còn có thể chịu đựng được. Họ sợ cái nhục mất nước hơn sợ chết. Các phi công Thần phong đã chứng tỏ tinh thần quân sĩ lúc này hiện lên cao hơn bao giờ hết. Với lập luận như vậy, Tojo đã tâu xin Thiên Hoàng vững tâm theo đuổi tới cùng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:12:21 AM

        Những tính toán của Tojo về sự tan vỡ trong cuộc liên minh Nga - Mỹ rất đúng. Nhưng tiếc rằng tình trạng đối nghịch giữa Nga - Mỹ chỉ trở nên sâu xa một thời gian dài sau đó và không có ảnh hưởng gì tới việc thanh toán kẻ thù chung của họ là Nhật. Thành ra những tính toán lợi dụng tình trạng mẫu thuẫn Nga - Mỹ của Tojo bị sai lầm một cách tai hại. Sự tin tường vào chiến thuật « đánh chết thôi, đem thân đỡ đạn » của Tojo cũng không đúng lắm, Hàng chục ngàn quân Nhật đã bị tiêu diệt trên đảo Iwo Jima, thêm con số 160.000 người bị giết tại các nơi khác ở Thái bình dương, khiến Nhật không còn đủ sức để bảo vệ các đảo khác đang bị đe dọa. Sự kiện đó cho thấy chiến thuật này không hoàn toàn hữu hiệu. Để đối phó với cuộc đồ bộ đang đe dọa các đảo chánh của Nhật, chắc chắn Bộ Chỉ huy sớm muộn gì cũng phải rút đạo quân Kwangtung ở Mãn châu về. Nhưng quân số Nga tại đó hiện đã vượt cao hơn Nhật và còn đang được tăng cường thêm nữa, cả người lẫn vũ khí, khi họ dần dẩn thanh toán xong mặt trận Âu châu với sự suy sụp quá nhanh của nước Đức.

        Ngày 9 tháng Ba có tin Lộ quân 14 của Tướng Slim đã vào Mandalay, đồng thời các pháo đài bay của Mỹ dội bom đại quy mô tàn phá Tokyo, khiến dân chúng từ các Đô thị lớn trong nước ùn ùn tản cư về miền quê để tránh máy bay. Shigemitsu mô tả : « Mặt sông Sumida tại Tokyo nổi lếnh bềnh đầy xác người. Ngay cả những trận động đất lớn cũng không đến nỗi bi thảm như vậy.»

        Không khí đổ bộ mỗi lúc một gần hơn. Các pháo đài bay Mỹ bất đầu xử dụng các phi đạo tại Iwo Jima bay tới oanh tạc thành phố kỹ nghệ Osaka của Nhật. Tại Iwo Jima TQLC Mỹ dùng súng phun lửa, lựu đạn lân tinh và chất nổ mạnh thanh toán xong từng hầm hố ẩn núp của quân Nhật tận trong các hang núi sâu.

        Lúc này Bá tước Kido, Hoàng thân Konoye và Shigeroitsu tạo được vài tiến triển trong nỗ lực kết thúc chiến tranh. Lực lượng chủ hòa lúc này gần ngang hàng với phe chủ chiến, muốn theo đuổi chiến tranh tới cùng. Trong các phiên họp Nội các, vấn đề vãn hồi hòa bình được đem ra thảo luận công khai, mặc dầu Thủ Tướng và Tổng Trưởng chiến tranh vẫn chủ trương đánh cho tới lúc chiến thắng.

        Hồi đầu tháng, Thủ Tướng Koiso tán thành việc lập một mặt trận đoàn kết nhân dân thay thế cho Hiệp Hội Công dân để kết hợp sự cộng tác của toàn dân trong tỉnh, thần nhất trí, hầu vượt qua cơn khủng hoảng của đất nước hiện tại. Tại Quốc hội, Thủ tướng Nhật vẫn cao giọng tuyên bố một cách hung hãn : «Kẻ thù đang tiến dần tới đất nước chúng ta. Nếu chúng mưu toan đổ bộ, ta sẽ đẩy chúng xuống biển. Những tên đã đặt được chân lên bờ sẽ bị ta tiêu diệt với những đòn chí tử ngay trên đất nhà. Thực là trời giúp ta, nếu chúng tự ý dẫn thân tới đây để lãnh lấy cái chết. Cơ hội chiến thắng trong trận đánh quyết định đã tới với ta.»

        Để trả lời cho luận điệu của Koiso, Lộ quân Mười của Mỹ được sự yểm trợ của Hạm Đội Thứ Sáu và các hàng không mẫu hạm thuộc hạm đội Anh Quốc, đã đổ bộ lên đảo Okinawa. Cuộc đổ bộ bắt đầu từ sáng sớm ngày 1 tháng Tư năm 1945, đã diễn ra một cách bất ngờ ngoài sự dự liệu của Bộ Chỉ huy Tối cao Nhật, nên hoàn toàn không gặp sức chống cự nào đáng kể ngoài một số phi Cơ Thần phong Kamikaze. Các phi công Thần phong đã gây khá nhiều khó khăn cho lực lượng đổ bộ. Có điều lạ là lực lượng phòng vệ chiến đấu lúc đầu gồm phần lớn dân quân trên đảo, kể cả phụ nữ. Và những người này đều tự tử chết chớ không chịu để rơi vào tay «Bọn Mỹ mọi rợ». Có một lúc quân Mỹ phải bước ngang qua một đống xác
chết hơn hai trăm người gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ con Không hiểu vì lý do gì 128.000 quân chánh quy Nhật trên đảo không ra mặt trong lúc lính Mỹ thiết lập các đầu cầu đổ bộ và tản ra chiếm các vị trí trên đảo. Sang ngày thứ Hai của cuộc hành quân, thiệt hại của Mỹ được mô tả là «có thể đếm được trên đầu ngón tay.»

        Khi tin đổ bộ Okinawa tới Tokyo, Thủ Tướng Koiso chợt có một phản ứng hoàn toàn bất ngờ : Ồng đòi các Tướng lãnh để cho ông được trực tiếp tham dự vào việc điều khiển chiến cuộc. Bộ Tư lệnh Tối cao Nhật từ chối vì cho rằng ông là một Tướng lãnh đã hồi hưu, nên không có quyền chỉ huy trực tiếp như vậy. Không chịu nổi những thất vọng trước nhiều thất bại dồn dập đó, nên ngày 4 tháng Tư năm 1945, Thủ tướng Koiso và toàn thể Nội các của ông xin đệ đơn từ chức.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:12:39 AM

        Trong cuộc hộp của Hội đồng các cựu Thủ Tướng để chọn người lên kế vị Koiso, Tojo một lần nữa lại đụng độ với Hoàng thân Konoye giữa hai lập trường chủ hoà và chủ chiến. Thực vậy ngay đầu buổi họp, Tojo đã yêu cầu hội nghị xác định mục đích của sự lựa chọn là tìm một người cầm đầu Chánh phủ để chiến thắng hay đầu hàng trong trận chiến này. Hoàng thân Konoye trả lời : Việc điều khiển chiến tranh là quyền của Bộ Chỉ huy Tối cao quân lực, nên sự lựa chọn không thể nào được đặt trên căn bản đó. Bá tước Kido cho rằng sự tin tưởng của quốc dân đối với quân đội đã giảm sút nhanh chóng. Nếu bây giờ lại bổ nhiệm một Thủ Tướng quân nhân nữa thì không tránh khỏi tình trạng nguy hiểm có thể xảy ra. Tojo phản đối lập luận trên đây, và cho rằng tình hình nghiêm trọng của cuộc chiến hiên tại khiến cho vai trò của quân đội trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, và cần phải có một Thủ Tướng quân nhân để điều khiển Chánh phủ. Ông đề nghị Tướng Hata, người từng chỉ định Tojo giữ chức Tổng Trưởng chiến tranh năm 1940 trong Nội các Konoye.

        Đô đốc Suzuki, người từng tham dự cuộc chiến tranh Nga - Nhật và bị đám sĩ quan nổi loạn mưu sát năm 1936, đề nghị Hoàng thân Konoye. Nhưng ông này nhất định không chịu, và sau đó chính Suzuki được hội nghị đề cử. Một lần nữa Tojo lại đứng lên phản đối. Ông cho rằng nếu không chỉ định tướng Hata, quân đội có thể sẽ không chấp nhận tân Nội các và «hành động theo đường lối riêng». Kiđo trả lời sự đe dọa của Tojo bằng cách lưu ý rằng với tình hình dân chúng hiện nay, có thể quân đội sẽ dần dần trở nên cô lập, và Chánh phủ không thể nào theo quân đội. Đô đốc Okada, người đã thoát chết trong cuộc mưu sát của nhóm quân nhân nổi loạn năm 1936, hỏi Tojo : có phải ông cho rằng quân đội sẽ không hợp tác với tân Nội các do một Thủ Tướng đã được Thiên Hoàng bổ nhiệm cầm đầu hay không ? Tojo không trả lời câu hỏi đó. Hội nghị họp mãi cho tới tối, cố thuyết phục Suzuki nhận lời thành lập nội các. Hôm sau, trong lúc Suzuki vẫn còn từ chối, viện lẽ ông đã già, tai lại nghễnh ngãng, thì Thiên Hoàng Hirohito đã có chiếu chỉ, cử ông đứng ra lập nội các.

        Tại hội nghị các cựu Thủ tướng với sự cố mặt của Tojo, không ai dám tuyên bố công khai rằng sứ mạng của Suzuki là chấm dứt chiến tranh. Ngay cả trong cuộc hội kiến với Kido và Nhật Hoàng, Suzuki cũng không hề nhận được mệnh lênh nào như vậy. Nhưng vẻ ưu cư của Thiên Hoàng trước nỗi thống khổ của dân chúng vì chiến tranh và tình hình điêu đứng khắp nơi cũng đủ để bảo cho Suzuki biết nhiệm vụ của ông phải làm gì lúc này. Dẫu là một ông già nghễnh ngãng, Suzuki cũng đã cảm thấy rõ ràng điều đó.

        Đúng vào ngày nhậm chức của ông, Nga thông báo cho Nhật biết hiệp ước trung lập Nga - Nhật có thể sẽ không được gia hạn trong năm tới. Việc huấn luyện phi công bị tạm ngưng vì không còn xăng để chạy máy bay. Đường tiếp liệu ngoài biển đã bị Mỹ phong tỏa trong khi kế hoạch ép rễ thông lấy dầu chỉ mới được bắt đầu. Thực phẩm càng ngày càng khan hiếm. Mầm mống bất mãn bắt đầu nổi lên.

        Đạo quân hiến binh Kempeitai làm việc ráo riết để đàn áp. Trong tháng Tư, trên một trăm nhân vật bị bắt, trong đó có cả cựu Đại sứ Nhật tại Anh, ông Shigeru Yoshida và nhiều chánh khác khác;

        Ngày 5 tháng Tư năm 1945, Thủ tướng Suzuki, tám mươi tuổi, lên tuyên bố trên đài phát thanh : « Mặc dầu không xứng đáng, nhưng tuân chỉ của Thiên Hoàng ông đứng ra cầm đầu Chánh phủ trước tình thế khẩn trương của đất nước. » Trong lúc đó thì tại Okinawa, quân Mỹ và Nhật đã giao tranh nhiều trận ác liệt. Trận đánh này được coi là dữ dội nhất trong chiến tranh Thái bình đương và cũng là dữ dội nhất của thể chiến II. Hải quân Nhật một lần nữa lại bị thảm bại. Chiến hạm khống lồ Yamato, 72.000 tấn, được coi là tàu chiến lớn nhất thế giới, cũng bị đánh chìm trên đường tiến tới đảo Okinawa.

        Trong lúc đó, một chuyện bất ngờ xảy ra : Tổng thống Roosevelt qua đời. Đài phát thanh Tokyo ngưng mục thường lệ để loan tin này. Xướng ngôn viên gọi ông là một « Vĩ nhân ». Sau đó đài cho phát thanh một bản nhạc nghiêm trang. Thông tấn xã Domei của Chánh phủ bình luận :« Roosevelt quả là một chánh khách lỗi lạc. Điều đó không ai có thể phủ nhận. » Thủ Tướng Suzuki cũng đích thân bày tỏ lòng phân ưu với một cảm tình sâu xa » đối với nhà lãnh đạo của nhân dân Mỹ, « người chịu trách nhiệm hiện tại của thế giới». Những lời phân ưu này được tiếp theo bằng một bản tuyên ngôn nhắc lại lập trường của Nhật trong việc chiến đấu chống lại ách đô hộ của Anh - Mỹ, tạo sự thịnh vượng, hợp tác sống chung giữa các quốc gia trên thế giới.

        Tại Okinawa, Lộ quân thứ Mười của Mỹ giao tranh ác liệt với quân Nhật tại thành phố Naha. Dân quân Nhật nhiều khi chi có giáo nhọn vẫn lăn xả vào trước nòng súng của địch. Trận đánh này kéo dài trong suốt 12 tuần lễ với tất cả tổn thất như sau : Mỹ bị chết 12.250 binh sĩ, Nhật có tất cả 120.000 chiến sĩ hy sinh. Trong số đó có nhiều người đã tự tử để khỏi làm tù binh của địch. Số binh sĩ Nhật bị bắt sống là 7.000.

        Đài phát thanh Tokyo loan tin hiện có trên Ba trìệu người Nhật không nhà cửa do hậu quả của những trận dội bom suốt ngày của Mỹ. « Cung điện của Thiên Hoàng đứng chơ vơ giữa một biển gạch ngói đổ nát, hoang tàn ».

        Tại Âu châu, ngày tàn của phát xít Đức đã tới. Quân Nga tiến tới cửa ngõ Đông Bá Linh. Adolf Hitler tự tử trong hầm chỉ huy ngày 7 tháng 5 năm 1945 (theo đúng nguyên bản. Chắc tác giả nhầm - Giangtvx). Vài ngày sau đó, tại Tokyo, mọi người nghe được tin của đài BBC loan đi về việc đầu hàng của Đức. Ờ Luân Đôn, Thủ Tướng Churchill nhắc nhở mọi người : « Tuy Đức đã đầu hàng, nhưng Nhật Bản, với những mưu mẹo gian tham, vẫn còn ngoan cố. Những tội ác ghê tởm của chúng cần phải được đem ra xét xử trước công lý ». Khi loan tin Đức đầu hàng Tổng thống Truman, người kế vị Roosevelt, không quên dằn giọng nhắc nhở dân chúng và Hoàng gia Nhật : « Chiến tranh kéo dài chừng nào, dân chúng Nhật sẻ khổ thêm chừng đó... Những cuộc tấn công của Mỹ sẽ được tiếp tục thực hiện cho tới lúc Nhật đầu hàng vô điều kiện.» Nước Nhật lúc này thực là đơn độc.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Hai, 2018, 08:13:30 AM

CHƯƠNG XXX

        ĐIỂU Koiso quan tâm nhất trong thời gian ông giữ chức Thủ Tướng Chánh phủ là những hành động độc lập của Bộ Chỉ huy Tối cao đối với Chánh phủ. Chính điều này là nguyên nhân gây ra sự thất bại và sụp đồ của tất cả các Nội các trước đây, kể cả Nội các của Tojo. Khi các Tướng lãnh không chịu để Koiso tham dự vào Bộ Chỉ huy Tối cao đó, ông bèn thành lập một cơ quan riêng gọi là «Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh». Mục đích của Hội đồng lúc đầu rất khiêm nhượng : Chỉ có nhiệm vụ giữ liên lạc giữa Bộ Chỉ huy Tối cao và Chánh phủ. Thế là từ đó các Tư lệnh quân binh chùng bắt buộc phải thông báo tin tức về các diễn tiến của chiến cuộc cho Hội đồng chỉ đạo này để trình lên Thủ Tướng Chánh phủ. Hội đồng chỉ đạo chiến tranh gồm sáu hội viên thường trực là : Thủ Tướng, Tổng trưởng ngoại giao, Tổng trưởng chiến tranh, các tham mưu trưởng Lục quân và Hải quân, Tổng trưởng Hải quân. Như vậy trong hội đồng này ít nhất cũng có hai nhân vật chủ hòa, đó là các ông Yonai, Tổng trưởng Hải quân và Shigemitsu, Tổng trưởng ngoại giao, hai nhân vật này luôn luôn có lập trường chấm dứt chiến tranh. Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh trở nên quan trọng kể từ khi Thiên Hoàng đích thân tham dự để giữ cán cân được thăng bằng giữa hai lực lượng chủ hòa và chủ chiến. Khi cần, Ngài có thể ra lệnh triệu tập các phiên họp bất thường của Hội đồng và khi có lời yêu cầu của Hội đồng, Ngài có thể hiện diện trong các phiên họp này.

        Ngày 6 tháng 6 năm 1945, Hội đồng Tối cao họp để nghiên cứu các kế hoạch đề nghị của quân đội trong việc theo đuổi chiến tranh. Các kế hoạch này được trình bày qua hai tập tài liệu. Những con số thống kê về tổn thất trong chiến cuộc từ trước tới nay cho thấy Nhật đang chiến đấu một cách tuyệt vọng, nếu không muốn nói ở vào hoàn cảnh không thể tiếp tục được nữa ; dĩ nhiên các tài liệu này thỉnh thoảng vẫn kèm theo những danh từ khích lệ bày tỏ sự quyết tâm chiên đấu tới cùng để cứu vớt tình hình đất nước. Vấn đề đầu hàng không hề được đặt ra hay nhắc tới, để giữ thể diện cho các Tướng lãnh vẫn khăng khăng chủ trương phải chiến thắng. Okinawa mất rồi thì bây giờ phải nỗ lực chiến thắng tại nội địa. Toàn dân sẽ đứng lên cùng chiến đầu, sẵn sàng chết cho Tổ quốc để đẩy lui mọi cuộc xâm lăng đổ bộ của địch. Mỗi người dân sẽ trở thành một chiến sĩ anh hùng, một «viên đạn sống» sẵn sàng bắn vào quân địch. Tất cả mọi công dân nam cũng như nữ đều được võ trang súng đạn, chất nổ, giáo mác, gây gộc, và nếu không còn gì thì đánh bằng tay không để sát cánh với quân đội chiến đấu tới người cuối cùng, Mọi người cương quyết đẩy lui quân thù ra khỏi đất nước thân yêu,

        Giữa hội nghị, ai cũng sợ phe quân nhân, và người nọ giữ miếng với người kia nên không ai dám mở miệng nói ra hai tiếng hòa binh, Đúng như lời Đô đốc Toyoda ghi lại : «Khi có nhiều ngươi trước mặt, khó có ai dám nói tới việc rút lui»,

        Quyết định của Hội đồng về việc tiến hành chiến tranh được trình lên Thiên Hoàng trong một hội nghị tại Hoàng cung vào ngày hôm sau, Báo chí và đài phát thanh kêu gọi mọi người, già, trẻ, trai, gái, hãy gia nhập «Đoàn quân tình nguyện» để bảo vệ đất nước, Một cuốn «Cầm nang kháng chiến» được sửa soạn phân phát trên toàn quốc, Trong đó có dạy cách tấn công xe tăng, đối phó với quân nhảy dù. cận chiến, và cách trừ súng phun lửa.

        Thông tấn xã Nhật loan báo : «Địch đã hoàn tất việc oanh tạc các mục tiêu đầu tiên ở Nhật, Những thành phố Tokyo, Yokohama, Nagoya, Kobe và Osaka kể như đã hoàn toàn bị tiêu hủy. Toàn quốc hãy chuẩn bị sẵn sàng cho trận chiến cuối cùng, quyết định số phận mất còn của đất nước». Cuối tháng Sáu, một đoàn phi cơ 2.000 chiếc bay rợp trời từ ngoài biển tới dội bom các thành phố chánh còn lại của Nhật. Những máy bay này cất cánh từ các hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi, và chỉ bay mười lăm phút là đã tới các đô thị của Nhặt. Mục đích của địch rõ ràng là đang tiêu diệt tất cả các căn cứ phòng thủ của Nhật. Nhưng Không quân Nhật vẫn không ra mặt, im lặng bồi bổ lực lượng để chuẩn bị đánh trận quyết định cuối cùng. Vì vậy lúc này máy bay địch mặc tình thao túng,

        Trong lúc chờ đợi trận đánh đổ bộ của địch, toàn quốc trải qua những ngày rung chuyển qua những cuộc dội bom liên miên của địch. Hầu như không còn một nơi nào có thể được gọi là an toàn trên quần đảo Nhật. Phi cơ của địch lúc này còn báo cáo cho biết trước các thành phố sắp bị oanh tạc. Một loại truyền đơn cỡ 12 X 16 phân in hình chiếc máy bay B.29 màu xanh đang thả bom, bên dưới có liệt kê tên của một số thành phố, được máy bay địch rải trước khi oanh tạc năm sáu ngày. Mặt bên kia tấm truyền đơn là những «Lời kêu gọi nhân dân Nhật» hãy tìm cách lánh xa các vùng chiến cuộc, đừng ở gần các cơ sở quân sự. Đây rõ ràng là một đòn tâm lý khiến nhiều người bắt đầu hoang mang, không còn tin tưởng ở sự bảo vệ của quân đội Nhật. Trong lúc địch khoa trương thanh thế như vậy, các lực lượng Không quân Nhật vẫn giữ im lặng.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:07:03 AM

        Trong phiên họp của Hội đồng Tối cao Chỉ đạo chiến tranh diễn ra ngày 7 tháng Sáu, Ngoại trưởng Shigenori Togo người vừa thay thế Shigemitsu trong Nội các Suzuki, rụt rè đứng lên trình bày ưu thế hòa giải của Nhật đã bị sút giảm theo với tình hình quan sự càng ngày càng trở nên tuyệt vọng. Các vị Tổng trưởng khác vẫn ngại không muốn chỉ trích kế hoạch của quân đội. Tuy nhiên, ngày hôm sau, 8 tháng Sáu, phiên họp của cơ mật viện Hoàng gia đưa ra một bản nhận định, trong đó có câu : “Cần phải lợi dụng mọi cơ hội để cải thiện hoàn cảnh chiến đấu hiện tại. Có thể tiến hành các biện pháp thích nghi để thực hiện điều đó tại Nga hoặc Trung hoa chẳng hạn». Những lời lẽ như vậy đã cho thấy rõ ý định muốn chấm dứt chiến tranh trong bản nghị quyết này.

        Nhật hoàng, theo truyền thống, chỉ giữ im lặng trong các cuộc họp của cơ mật viên Hoàng gia, nhưng lúc này qua trung gian của quan Chướng ấn Kido, Ngài đã bắn tiếng cho các Tổng trưởng cần phải có những hành động tích cực hơn để vãn hồi hòa bình. Nội các lúc này có vẻ bối rối, không ai muốn nhận lãnh những quyết định quan trọng trong việc chấm dứt chiến tranh. Suzuki nói với Kido : «Tôi không thể làm gì được vì Yonai quá cứng rắn». Trong khi Yonai lại than phiền là Thủ Tướng Suzuki tỏ ra dửng dưng đối với các quan điểm của ông. Và Ngoại trường Togo hỏi : Liệu ông phải làm gì để chấm dứt chiến tranh bây giờ ; trong nghi quyết của Hội đồng cơ mật Hoàng gia không hề đề cập tới việc đó ? Mọi hy vọng lúc này đổ dồn về phía Nga sô với hy vọng họ chịu đứng ra làm trung gian cho một cuộc dàn xếp giữa Nhật và Mỹ, Nhật không hề hay biết việc Nga sô đồng ý với Anh và Mỹ tại hội nghị Ỵalta, là sẽ phát động chiến tranh đánh Nhật khi chiến cuộc Âu châu chấm dứt, Ngoại trướng Togo vận động với Đại sứ Nga tại Tokyo và Đại sứ Nhật ở Moscow. Sau nhiều tuần lễ chờ đợi không thấy kết quả gì, Hoàng thân Konoye tỏ vẻ sốt ruột và dự định đích thân hướng dẫn một phái đoàn sang gặp thẳng Stalin để kêu gọi Nga đứng ra vãn hổi hòa bình tại Viễn Đông.

        Trước khi ra đi, ông vô từ biệt Thiên Hoàng và chảy nước, mắt tâu : «Thân này dù nát tan để phụng sự đất nước, hạ thần cũng không từ nan.» Nhưng Hoàng thân chưa kịp lên đương thì tin từ Moscow điện về cho hay Nga không thể có một quyết định gì trước khi họp với Đồng minh tại Potsdam ngáy 17 tháng Bảy ; cuộc họp này sau đó diễn ra giữa Truman, Churchill, Stalin và Tưởng Giới Thạch. Một thông cáo sau đó được đưa ra nói rõ ràng : «Nhật chỉ có thể lựa chọn một trong hai con đường: Một là đầu hàng vô điểu kiện, hai là sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.»

        Thủ Tướng Suzuki bác bỏ tối hậu thơ của Đồng minh. Các Tướng lãnh chuẩn bị ráo riết để đối phó với cuộc đổ bộ tương lai. Mọi người phỏng đoán cuộc đổ bộ đó sẽ diễn ra tại bình nguyên Kwanto, nằm ở phía trước Tokyo. Toàn quốc nín thở chờ đợi trận đánh quyết định cuối cùng với địch, sẽ từ trên trời rớt xuống hoặc từ biển đổ lên. Mọi người quyết tâm sẽ đẩy lui quân thù rớt trở lại xuống biền, hoặc chôn sống chúng khi chúng từ trên trời nhảy dù xuống. Không khí chờ đợi càng ngày càng căng thẳng, với những hình ảnh ghê sợ của chiến tranh mà mọi người đã từng biềt tới. Sự sợ hãi lên đến tột độ vào ngày 6 tháng Tám, khi các tin tức khủng khiếp về «loại bom mới» địch

        vừa thả xuồng thành phố Hiroshima được chuyển tới Tokyo và khắp nơi trong nước.

        Những tin tức bay tới Tokyo từ sáng sớm hôm đó cho hay thành phố Hiroshima, gần căn cứ Hải quân Kure, đã bị xóa mất hoàn toàn trên bản đồ sau một trái bom duy nhất thuộc «loại mới» địch vừa thả xuống. Lập tức mọi biện pháp an ninh được cấp tốc thi hành, và rõ ràng dân chúng tại Hiroshima đã hoàn toàn nhận lãnh tai họa khủng khiếp một cách bất ngờ mà họ không bao giờ nghĩ tới. Từ Hoa thinh đốn, Tổng Thống Truman tiết lộ trái bom vừa liệng xuống thành phố Hiroshima là trái bom nguyên tử đầu tiên. Ông đưa lời cảnh cáo : nếu các nhà lãnh đạo Nhật không mau mau đầu hàng vô điều kiện thì «nước Nhật sẽ nhận lãnh những tai họa khủng khiếp chưa từng thấy, từ trên trời giáng xuống.»

        Sự tàn phá thành phố Hiroshima làm lu mờ một tai họa khác : Nga sô tuyên chiến với Nhật để thay cho câu trả lời Nhật về lời yêu cầu gởi Hoàng thân Konoye sang Moscow thi hành một sứ mạng hòa bình. Ngày hôm sau, Nagasaki nhận lãnh trái bom nguyên tử thứ hai của Mỹ.

        Trong thời kỳ Tokyo bắt đẩu bị dội bom ác liệt, Tojo đã nhiều lần bảo với Phu nhân tản cư gia đình về miền quê. Còn ông thì phải ở lại «vì có thể Thiên Hoàng sẽ gọi anh». Bà Tojo chần chờ chưa chịu tản cư. Có dư luận cho hay một phi công Mỹ vừa bị bắn hạ trong lúc oanh tạc Tokyo, đã tiết lộ thành phố này là địa điểm Mỹ đã chọn để thả trái bom nguyên từ thứ ba. Tojo tỏ ra tin tưởng lời đồn đó, vì ông cho rằng loại bom mới này tỏ ra rất hữu hiệu đối với vùng đồng bằng không có núi non và như vậy, Tokyo sẽ là địa điểm thích hợp nhất. Lúc này những ý nghĩ tranh thủ cho sự sống còn chợt đến với Tojo. Ông bảo với phu nhân : «Tổ tiên ta xưa kia từng sống trong hang động. Muốn tránh loại bom này, ta cần phải đào các hang sâu trong núi và thỉnh thoảng mới ra ngoài để kiếm lương thực. Trong vòng bảy tám tháng không cần tắm rửa chúng ta vẫn sống được, và nều chịu đựng được đến lúc đó, chúng ta sẽ thắng.» Có một nơi rất thích hợp ở vùng núi Oume ; ngày 11 tháng Tám, Tojo gởi vợ con tản cư tới đó, ở nhờ tại nhà một người bạn.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:07:24 AM

        Nhưng Tojo và gia đình sau này không có dịp đào hang và sống thử đời sống của tổ tiên. Vì ngay sau khi trái bom nguyên tử thứ hai được liệng xuống Nhật, Hội đồng lãnh đạo tối cao nhóm họp khẩn cấp trong một căn hầm sâu mười thước tại Hoàng cung. Từ sau « bức màn màu vàng. Thiên Hoàng xuất hiện để nghe các báo cáo của Chánh phủ và các Tướng lãnh. Sau đó, Hội nghị đi tới chỗ bế tắc giữa hai lập trường trái ngược của phe Dân sự và phe Quân sự. Các Tổng trưởng dân sự thì đòi đầu hàng ngay theo tuyên ngôn Potsdam của Đồng minh, với điều kiện là không được xâm phạm tới Thiên Hoàng. Trong khi đó phe Tướng lãnh vẫn đòi chiến đâu tới cùng và cho rằng họ vẫn còn đủ sức đẩy lui mọi cuộc đổ bộ của Mỹ. Sau nhiều giờ bàn cãi không đi tới đâu, Thủ tướng Suzuki liền đứng dậy thỉnh cầu Thiên Hoàng ra chỉ dụ để giải quyết điểm mâu thuẫn trên. Đây là lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh bùng nồ, Nhật hoàng được hội nghị thỉnh ý.

        Nhật hoàng nói rất lâu. Ngài cho rằng tiếp tục chiến tranh nữa sẽ chỉ đưa Nhật Bản tới chỗ bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân đội nói vẫn còn đủ sức tiếp tục chiến đấu. Nhưng từ trước tới giờ Ngài nhận thấy có sự khác biệt lớn lao giữa những điều quân đội nói và những gì họ đã thi hành được. Ngay cả việc bảo vệ lãnh thổ hiện nay, Ngài nhận thấy quân đội cũng không thể nào giữ trọn được lời hứa. Vỉ vậy không còn gì hơn là bắt buộc Nhật phải chấp nhận đầu hàng theo tuyên ngôn Potsdam của đối phương.

        Thiên Hoàng dứt lời. Tổng trưởng chiến tranh, Tướng Anami, liền tiến ra quỳ ở giữa phòng cúi đầu xin chịu tội. Ông khóc lớn cầu xin Thiên Hoàng ban cho quân đội một cơ hội cuối cùng để chiến đấu lấy công chuộc tội. Mọi người cùng khóc theo ông, cả vua tôi cùng khóc như một đám trẻ con. Sau cơn xúc động đó, Nhật hoàng phán : Ngài đã rõ lòng hy sinh và tận tụy của quân đội. Nhưng hoàn cảnh lúc này không cho phép kéo dài thêm cuộc chiến nữa, nều muốn cứu đất nước khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn. Việc đầu hàng như vậy đã được quyết định xong.

        Tojo biết được quyết định đầu hàng trong phiên họp Hội đồng các cựu Thủ tướng ngày 10 tháng Tám. Ông định đứng lên bàn cãi, nhưng được Hội đồng cho biết đó là ý muốn của Thiên Hoàng nên ông phải lập tức cúi đầu im lặng. Dù sao Tojo cũng còn may mắn hơn, vì lúc này ông không còn trách nhiệm gì đối với quân đội. Ngược lại, bạn ông là tướng Anami, trong chức vụ Tổng trưởng chiến tranh, giờ này không biết phải hành động ra sao giữa hai điều trái ngược : Một đàng là lệnh của vua truyền, và đàng khác là lý tưởng của người quân nhân Nhật không bao giờ cho phép chấp nhận sự đầu hàng trước địch quân. Bảo quân đội đầu hàng giống như bảo họ : « Hãy ăn cục đá này », nhưng tuân lênh Thiên Hoàng, ông vẫn phải làm.

        Trong quân đội lúc này cũng có một nhóm Sĩ quan trẻ quá khích giống như nhóm Sĩ quan đã nổi loạn năm 1936. Họ sẵn sàng đứng lên, tuyên bố Thiên Hoàng bị các cố vấn bao vây che mắt, và lấy cớ bảo vệ Thiên Hoàng để cướp chánh quyền. Nhóm này định đưa Tướng Umezu, Tổng tham mưu trường quân lực, và tướng Anami; Tổng trưởng chiến tranh lên cầm đầu Nội các để ngăn chận các cuộc dàn xếp đẩu hàng với Mỹ đang diễn ra. Họ hy vọng sẽ được hai nhân vật này đồng ý. Nhưng cả hai vị Tướng nầy không ai có can đảm tham dự vào âm mưu đảo chánh đó. Tuy không tham gia, nhưng cũng không ai nỡ tố cáo nhóm Sĩ quan cầm đầu kè hoạch này.

        Không có bằng chứng nào cho thấy nhóm Sĩ quan nổi loạn có liên lạc hay được sự ủng hộ của Tojo. Tuy nhiên sau này khi việc vỡ lở ra, gia đình ông đã bị dính líu, liên lụy một cách bi thảm. Ngày 13 tháng Tám, Thiếu tá Koga, con rể thứ nhì của Tojo, bất thần trở về nhà và nói chuyện với vợ con trong phòng riêng. Sau đó ông lại ra đi ngay. Khi về cũng như khi đi ông không hề ôm hôn con như thói quen thường lệ. Trong khi nói chuyện với vợ, Thiếu tá Koga có hỏi vợ đã giữ móng tay và tóc của ông chưa ? Vợ Koga trả lời rồi. Giữ móng tay và tóc của người thân yêu sau khi qua đời, là tục lệ của người dân Nhật theo Phật giáo. Thiếu tá Koga cảm thấy hành động sắp tới của ông quá phiêu lưu và hậu quả dữ nhiều lành ít nên không dám nói ra cho vợ con biết. Nếu như ông có nói chắc chắn vợ ông cũng không bao giờ cho song thân hay.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:07:54 AM

        Hôm sau, Ngày 14 tháng Tám, Thiếu tá Koga và một sĩ quan cấp tá khác tới gặp Tướng Mori, chỉ huy trướng Sư đoàn Ngự lâm quân tại Bộ Tư lệnh của ông ta ở Tokyo, và thuyết phục ông này theo phe cách mạng để lật đổ Chánh phủ. Mori từ chối nên bị viên Thiếu tá đi cùng với Koga bắn chết ngay, cùng với một cận vệ của ông ta. Sau đó các sĩ quan nổi loạn dùng con dầu của Mori làm sự vụ lệnh ra lệnh cho Ngự lâm quân bao vây Hoàng cung nói là để bảo vệ Thiên Hoàng. Loạn quân hay được tin lời tuyên bố đầu hàng của Thiên Hoàng đã được thâu băng để ngày mai 13 tháng Tám sẽ đọc trên đài phát thanh. Thế là chúng: liền tới đài phát thanh và vô Hoàng cung lục lọi để tìm cuộn băng này. Đêm hôm đó, sau khi trở về nhà và nghe tiếng súng nổ báo hiệu cuộc đảo chánh bắt đầu, Tướng Anami liền quỳ trên chiếu hướng về Hoàng Cung lạy tạ Thiên Hoàng, và sau đó dùng một thanh đoán kiếm rạch bụng tự vẫn theo nghi lễ Thần đạo của một Samurai. Trong lúc đó, Tướng Tanaka chỉ huy một cánh quân Ngự lâm quân khác đóng ở phía Đông Thủ đô tiến tới Hoàng cung đàn áp quân phiến loạn. Tám giờ sáng hôm sau 13 tháng Tám, loạn quân bị bao vây đã xin đầu hàng. Cuộn băng thâu thanh của Thiên Hoàng, được dấu trong phòng riêng của Hoàng hậu, vẫn còn yên vì loạn quân không tìm thấy. Đài phát thanh Tokyo lưu ý thính giá đúng 13 giờ trưa hãy mở máy thâu thanh để đón nghe một tin phát thanh đặc biệt.

        Dân chúng trên toàn quốc lập tức tụ tập gần những nơi có máy thu thanh hoặc loa phóng thanh ở các tư gia hay xưởng máy, trường học, để chờ nghe tin tức quan trọng đó. Gần trưa, những xe lửa đều ngừng lại trong ga, lưu thông trên đường phố cũng gián đoạn, để chờ đợi một biến cố quan trọng. Đại tướng Tojo và phu nhân quỳ trên chiếu tatami, trước mặt họ là cái ra đô được để trên mặt tù chè tokonoma, chỗ mọi khi vẫn để bình hoa. Đúng 12 giờ trưa, quốc ca Kimigayơ trồi lên một cách nghiêm trang, và sau một phút im lặng, mọi người được nghe tièng nói âm trầm của chính Thiên Hoàng vang ra tự trong máy. Ngài nói bằng thử ngôn ngữ cổ Nhật Bản, có nhiều từ ngữ cổ điển khó hiểu. Tuy nhiên hàng triệu người Nhật đều biết ngay, không những ý tưởng mà cả tình cảm của Ngài, trong những lời nói trịnh trọng và cảm động đó. Thiên Hoàng nói : «Cùng toàn thể thần dân của Trẫm. Sau nhiều năm bị lôi cuốn vào Trận đại chiến thế giới, Nhật Bản hiện phải đói phó với một hoàn cảnh đặc biệt, khiến Trẫm phải buộc lòng quyết định cho thi hành các biện pháp sau đây. Chánh phủ Nhật đã được lệnh tiếp xúc với các chánh phủ Anh, Mỹ, Nga và Trung Hoa để chấp nhận các điều khoản trong bản tuyên ngôn của họ. Những hành động của chúng ta từ trước tới nay đều có một mục đích duy nhất là tạo sự bằng yên và thịnh vượng cho tất cả các dân tộc khác trên thế giới, cũng như cho dân tộc chúng ta, mà Trẫm đã được ủy thác bởi các Tiên đế. Thực vậy, chúng ta khai chiến với Anh Mỹ, là vì chúng ta muốn an ninh và thịnh vượng cho Nhật Bản, cũng như cho toàn thể các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á. Tuyệt nhiên nước Nhật không hề có chủ tâm xâm phạm bờ cõi cũng như quyền lợi của bất cứ quốc gia nào khác. Nhưng sau gần bốn năm chiến đầu anh dũng, tình hình thể giới đã thay đổi, khiến chúng ta không thể nào tiếp tục theo đuổi chiến cuộc thêm nữa. Hơn nữa, kẻ thù đã xử dụng một loại bom tàn độc, tiêu diệt bao sinh linh vô tội. Nếu còn tiếp tục theo đuổi chiến tranh nữa, không những nước Nhật sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn, mà cả nhân loại cũng sẽ đi đèn chỗ tuyệt vọng. Làm như vậy, chúng ta còn mặt mũi nào để nhìn thấy Tổ tiên sau này ?...

        Những nhục nhã và đau đớn mà chúng ta phải chịu trong giai đoạn tới sẽ vô cùng lớn lao. Trẫm không bao giờ quên điều đó. Tuy nhiên, tuân theo vận mạng của dân tộc, Trẫm đành phải hy sinh để xây dựng nền hòa bình trường cửu cho những thế hệ mai sau. Chúng ta sẽ chịu đựng những gì không thể chịu đựng được và sẽ đau đớn những gì không thể đau đớn hơn trên đời này.

        Trẫm vẫn luôn luôn ở giữa các thần dân trung thành và đoàn kết của Quốc gia. Mọi người phải luôn luôn ý thức, không được có những hành động bồng bột gây ra cảnh mâu thuẫn bất đồng trong quốc gia, và làm mất lòng tin tưởng của thế giới đối với dân tộc chúng ta. Trẫm mong muốn mọi người sẽ đồng tâm nhất trí như anh em một nhà, trong truyền thống của Nhật từ ngàn xưa đã để lại đời này qua đời khác, và tin tưởng vào hồn thiêng sông núi của đất nước chủng ta... »

        Sau khi Thiên Hoàng dứt lời, quốc ca nổi lên một lần nữa. Tojo nói với phu nhân : « Bây giờ là lúc anh phải hy sinh cho đất nước. Mọi việc bắt đầu thay đổi. Việc xây dựng lại đất nước còn khó khăn hơn cái chết nhiều. Nhưng nếu Thiên Hoàng muốn vậy thì bổn phận chúng ta là phải nỗ lực làm mọi việc cho tới hơi thở cuối cùng. »


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:08:20 AM

        Sau này Bà Tojo kể lại : « Hôm đó, tôi cảm thấy hoàn toàn trống rỗng, như một người mất hồn. » Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, điện thoại từ Bộ chiến tranh kêu Tojo. Sau khi trả lời, ông gọi Makie người con gái thứ hai tới. Chồng nàng là Thiếu tá Koga đã tự tử. Ông bảo nàng : « Con sửa soạn đi, xác sắp được đưa về đây bây giờ. »

        Những ngày kế tiếp, rất nhiều bạn bè tới phúng điếu Koga và bàn cãi với Tojo : Tại sao nước Nhật không tiếp tục chiến đấu nữa ? Theo họ Nhật Bản vẫn còn đủ sức để chịu đựng một trận đánh cuối cùng. Ông kiên nhẫn nghe những lời phản đối đó nhưng sau cùng bảo với họ, đó là ý muốn của Thiên Hoàng, mọi người phải tuân theo. Khi khách khứa đã thôi lui tới, Tojo dùng nhiều thời giờ vào việc viết lách và đốt tất cả tài liệu kể cả mấy cuốn sổ ghi địa chỉ. Tojo phu nhân kể lại : « Mặc dầu ông không nói. nhưng tôi cũng biết chắc chắn là ông đang chuẩn bị cho cái chết của mình.» Phản ứng của đa số dân chúng Nhật có vẻ buồn rầu lo lắng sau khi hay tin Nhật đầu hàng. Họ nhìn cảnh đố vỡ tàn phá xung quanh, và không thiết làm gì ngoài việc kiếm đủ miếng ăn ngày hai bữa. Nhiều người cầu nguyện tại các đền miếu. Tại Tokyo, dân chúng tuôn đến bùng binh trước Hoàng cung quỳ xuống vừa lạy vừa than khóc. Có người tự tử ngay tái chỗ.

        Trước khi Nhật đầu hàng, một sĩ quan đã tuyên bố : «Các Tướng lãnh sẽ tự tử hết nếu trường hợp đó xảy ra». Nhưng hiện nay con số sĩ quan tự tử tương đối ít. Tuy nhiên đối với con mắt người Tây phương thì đây vẫn là một chuyện không thể nào tường tượng nổi. Sau khi Tướng Anami tự tử, các sĩ quan cao cấp trong Bộ Tham mưu cũng theo gương ông. Rồi lần lượt tới Tướng Sugiyama, cựu Tổng trưởng chiến tranh trong Nội các Tojo, Tướng Tanaka, người đã chỉ huy dẹp quân nổi loạn, Tướng Shirokura, chi huy hiến binh Kempeitai. Ông này nèu còn sống chắc cũng sẽ bị Đồng minh treo cổ.

        Phản ứng của giới sĩ quan trẻ mạnh mẽ hơn. Con số tự tử khá đông. Những người cầm đầu cuộc nồi loạn không thành đều tự tử tập thể theo nghi thức mổ bụng hari-kiri. Một nhóm quá khích khác chiếm ngọn đồi gần Hoàng cung, đánh nhau với cảnh sát và quân đội bao vây họ một thời gian, và sau đó tự tử tạp thể bằng lựu đạn.

        Trong cơn nguy biến của đất nước, Nhật Bản đã noi gương hành động của Tổ tiên để cứu vãn dân tộc. Thực vậy ba phần tư thế kỷ trước, khi thấy quốc gia bị ngoại xâm Tây phương đe đọa, nhà Mạc phủ đã hy sinh quyển hành để đoàn kết sau lưng Minh Trị Thiên Hoàng, canh tân nước Nhật. Ngày nay trong lúc đất nước lâm nguy trước hiểm họa diệt vong, Nhật Hoàng cũng noi gương người xưa, hy sinh Ngai báu để cứu đất nước. Chính vì vây mà toàn thể dân chúng Nhật đều hướng về Hoàng cung ghi ơn Thiên Hoàng và các vị Tiên vương từ hai ngàn năm trước, nguyện một lòng trở thành những thần dân trung thành của Hoàng gia.

        Bài bình luận của tờ Asahi viết: «Để Thiên Hoàng được an tâm lúc này, bổn phận của toàn dân là phải cùng cố đoàn kết thành một khối chặt chẽ.» Tờ Mainicfii kêu gọi dân chúng «hướng cả về Hoàng cung để cúi đầu ghi ơn Thiên Hoàng.» Xướng ngôn viên trên đài phát thanh đọc một bài tường thuật : «đám đông tụ tập trước Hoàng cung, quỳ lạy và than khóc. Họ kêu gào : «Xin Thiên Hoàng tha tội, vì chúng tôi chưa làm đầy đủ bồn phận. Còn mặt mũi nào, chúng tôi dám ngẩng đầu lên nhìn thầy Tổ tiên nữa ?» Tới đây, âm thanh tự nhiên mất hẳn. Có lẽ xướng ngôn viên vì quá cảm động đã không thể đọc tiếp.

        Một hạm đội khổng lổ của Liên quân Anh, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan và Hòa Lan đã tới bỏ neo tại vịnh Sagami. Đứng ở núi Phú Sĩ có thể trông rõ đoàn tàu đông đảo này. Lúc này là thời gian sắp tới mùa bão biển. Nhiều người tin rằng những ngọn gió Thần phong Kamikaze sẽ đánh tan các chiến hạm địch, giống như số phận đoàn chiến thuyền của quân xâm lăng Mông cổ sáu thế kỷ trước. Mọi biện pháp đặc biệt được ban hành tại Tokyo và các thành phố khác để tránh việc tiếp xúc giữa quân ngoại quốc và dân chúng. Xưa kia khi đoàn chiến hạm của Perry tới Nhật lần đầu tiên, nhà Mạc phủ cũng có những mệnh lệnh tương tự như vậy. Hãng Thông Tấn loan tin quân chiếm đóng sẽ không tiếp xúc trực tiếp với công chúng.

        Người ta lo ngại quân Mỹ sẽ trả thù những hành động của lính Nhật trước đây, và phản ứng của dân chúng trước những hành động thù nghịch đó. Tin đồn về những sự trả thù của lính Mỹ càng lúc càng nhiều, khiến nhiều người đâm ra hoảng sợ tìm cách đưa vợ con trốn lên núi. Trước tình hình đó, Chánh phủ vội vàng ra thông cáo trấn an dân chúng : «Quân chiếm đóng chỉ tới để quan sát xem các điều khoản của tuyên ngôn Potsdam có được thi hành đầy đủ chưa. Sau đó họ sẽ rút đi. Không có tiếp xúc trực tiếp giữa quân chiếm đóng với công chúng. Nền hành chánh vẫn sẽ do Chánh phủ ta đảm nhận. Nếu thái độ của dân chúng Nhật khiến Đồng minh thấy rằng các điều khoản của tuyên ngôn Potsdam đã được thi hành đầy đủ, thì thời gian chiếm đóng sẽ được rút ngắn lại.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:08:51 AM

        Quận Công Hayashi, một chánh khách đã sống từ thời Minh Trị Thiên Hoàng, phải lên đài phát thanh giải thích cho dân chúng biết về việc bại trận : «Sự thất trận của chúng ta chỉ là một sự thất thế nhất thời. Chúng ta thua địch về vật chất và khoa học. Nhưng về tinh thần, chúng ta không bao giờ thua.» Hãng Thông Tấn Domei cũng rập theo lý luận đó khi đưa ra lời bình luận : «Địch chỉ hơn chúng ta nhờ ở các tiến bộ khoa học. Sau này khi cơ cấu Quốc gia đã được ổn định, chúng ta cần phải dồn mọi nỗ lực vào việc nghiên cứu các tiến bộ khoa học.»

        Những lo ngại về các phản ứng bộc phát bất thần của binh sĩ Nhật, khi quân đổ bộ Mỹ xuất hiện, đa được tờ Nhật Bàn Thời báo bàn tới và đưa ra lời báo động : «Sự hiện diện của quân đội chiếm đóng thực là quá sức chịu đựng đối với các Sĩ quan !» Tại Singapore, Tướng Itagaki, từng tham dự vào các âm mưu của đạo quân Kwangtung tại Mãn Châu, hiện là Tư Lệnh quân đội Nhật tại Mã Lai, tuyên bố trên đài phát thanh : «Không ai có quyền xâm phạm tới danh dự của quân đội Nhật. Quân đội luôn luôn sẵn sàng trả lời kẻ thù.» Sau khi nghe thông điệp đầu hàng của Thiên Hoàng, ngay chiều hôm đó, một nhóm phi công lái phi cơ Thần phong đặt căn cứ tại phi trường Atsugi đã bay quần trên Thủ đô Tokyo kêu gọi quân đội cứ chiến đấu bất kể lệnh đầu hàng của Thiên Hoàng, Nhiều biểu ngữ cũng xuất hiện trên đường phố lên án «bọn phản quốc tiếp tay với giặc.»

        Đêm 15 tháng Tám, Nội các Suzuki tuyên bố từ chức và được kế tiếp bằng Nội các chuyển tiếp của Hoàng Thân Higashikuni. Nhiều vị Hoàng Thân khác phải ra ngoại quốc, phủ dụ quân đội Nhật tuân chỉ của Thiên Hoàng buông súng đầu hàng, Tại phi trường Atsugi, Hoàng thân Takamitsu, bào đệ Thiên Hoàng, đã phải hết sức cố gắng để thuyết phục đám phi công Thần phong nhất định tử chiến với các đơn vị không vận của Mỹ dự định tới phi trường trong vòng 72 giờ sau đó. Mãi tới ngày 25, Hoàng thân Higashikuni mới hoàn toàn thuyết phục xong đước nhóm phi công này.

        Ngày 29 tháng Tám, các máy bay đầu tiên chơ binh sĩ của Sư đoàn II không vận bắt đầu hạ cánh xuống phi trường Atsugi. Bước xuống phi trường, các binh sĩ Mỹ võ trang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Họ có vẻ nghi ngờ khi đặt chân xuống giữa lòng đất địch, những người mà mới hôm qua họ còn nghe nói là tàn ác, quỷ quyệt, và từng biết tới qua các trận đánh trước đây. Nhưng sau dó họ nhận thấy các binh sĩ Nhật canh gác tại phi trường hoàn toàn không có phản ứng gì. Những nhân viên dân sự làm việc tại đây mỉm cười và cúi đầu chào đón họ. Cuộc đón tiếp được một phóng viên mô tả là «thân thiện». Qua ngày hôm sau, 43.000 binh sĩ Hoa Kỳ đã được không vận tới vùng Tokyo và Yokohama, Phi cơ chở Tướng MacArthur cũng hạ cánh cùng ngày hôm đó, Miệng ngậm ống vố, viên Tướng hách dịch đứng ở đầu thang máy bay nhìn quanh quẩn với con mắt của kẻ đắc thẳng, để cho các chuyên viên quay phim thu hình một lúc rồi mới bước xuống lên xe đi tới Bộ Chỉ Huy tạm thời đặt tại Yokohama.

        Ngày 2 tháng 9, Nga tuyên bố chấm dứt cuộc chiến sáu tuần với Nhật, sau khi đã tràn ngập đạo quân Kwangtung của Nhật, chiếm trọn Mãn châu và Bắc Triều Tiên. Stalin tuyên bố :«Chúng ta có món nợ riêng cần phải thanh toán với Nhật. Cuộc bại trận năm 1904 khiến nhiều người vẫn còn nhớ và chờ có dịp xóa vết nhơ đó trong lịch sử nước Nga. Sau bốn chục năm chờ đợi, ngày đó hôm nay đã tới.» Nhiều năm sau ông ta nói tại Moscow : «Nếu không có Nga, Mỹ không thể nào thành công ở Nhật. Chính nhờ có Nga sô nhúng tay vào, mà Mỹ đã đổ bộ lên được đất Nhật, không cần phải bẳn một viên đạn nào.»

        Đất đai của Nhật bị phe thắng trận đem ra chia với nhau, cũng giống như trường hợp của Đức. Nga chiếm phía Nam Sakhalin và quần đảo Kurile. Nhưng Nga và Trung Hoa bị đuổi khỏi chính quốc Nhất. Tại đây chỉ có Mỹ là nước chiếm đóng duy nhất. Anh còn lo giữ các thuộc địa, không những cho mình mà còn cho Pháp và Hoà lan nữa, nên không đủ quân để rải ra ở Nhật. Ít tháng sau đó, do lời yêu cầu ráo riết của Úc, một lực lượng hỗn hợp của khối thịnh vượng chung gồm Anh, Ấn, Úc và Tân Tây Lan được đưa tới Nhật để cùng Mỹ chia xẻ quyền chiếm đóng.

        Sáng sóm ngày 2 tháng Chín, Shigemitsu tập hợp phái đoàn do ông cầm đầu để đi ký kết các văn kiện đầu hàng. Mọi người đều cảm thầy bắt buộc phải làm một công việc đau lòng, Tướng Umesu là người đại diện cho quân đội Nhật. Khi được chỉ định làm công việc này, ông cương quyết từ chối. Nhưng khi biết đó là lệnh trực tiếp của Thiên Hoàng ông đành phải cúi đầu tuân lệnh. Xe hơi đưa phái đoàn ra vùng ngoại ô Tokyo hoang tàn để tới Yokohama. Sau đó họ xuống một khu trục hạm Mỹ để ra Soái hạm Missouri đậu ngoài khơi, Lễ ký văn kiện đầu hàng được tổ chức trên Soái hạm này với sự hiện diện của Tướng MacArthur và đại diện quân đội các nước trong phe thắng trận.

        Vài ngày sau, ngày 8 tháng Chín, Tướng MacArthur, với tư cách Tư lệnh quân đội Mỹ, dẫn Sư đoàn I kỵ binh chánh thức vô Thủ đô Tokyo, và dự lễ thương kỳ tại trụ sở của Tòa Đậi sứ Mỹ. Kể từ đó ông cư ngụ tại đây, và ngày ngày đi tới làm việc tại Bộ Tư Lệnh Quân đội chiếm đóng đặt ở cao ốc Dai Ichi đối diện với Hoàng Cung. Khi đi khi về đều có lính Mỹ còi xe gắn máy mở đường hụ còi inh ỏi để dương oai và thị uy với thiên hạ. MacArthur được giao cho thi hành hai nhiệm vụ : giải giới quân đội Nhật và Dân chủ hóa nước Nhật. Nhờ sự cư xử khéo léo của Thiên Hoàng và dân chúng Nhật, mọi việc đã diễn ra khá êm đẹp. Tình trạng hoà dịu giữa quân chiếm đóng và dân chúng địa phương phải kể là tốt đẹp hơn bất cứ cuộc chiếm đóng nào khác trong lịch sử. Dân Nhật coi MacArthur giống như một Tướng quân thời Mạc phủ. Nhưng đây là một «Tướng quân mắt xanh».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:09:52 AM

CHƯƠNG XXXI

        SAU khi quân chiếm đóng thiết lập xong các cơ sờ, Hideki Tojo ý thức được thế nào cũng có nhiều chuyện xảy tới đối với cá nhân ông. Những chuyện đó lành dữ ra sao, ông chưa thể nào biết rõ một cách chắc chắn. Ông bảo phu nhân nên dọn về ở với các con tại Kyushu ; còn ông cần phải ở tại Thủ đô. Phu nhân đã thu xếp đồ đạc sẵn sàng ra đi: nhưng bà còn cố ở nán lại ít ngày, vì không nỡ để ông một mình trong những giờ phút này.

        Tojo đã linh cảm thấy số phận các nhà lãnh đạo quân chiếm đóng đã dành cho ông không thể nào tránh khỏi. Qua những lời tuyên bố của họ, không ai còn nghi ngờ gì về điều đó. Nhất là cứ nhìn về các cuộc săn đuổi những lãnh tụ Đức quốc xã còn sống sót sau chiến tranh thì đủ biết. Là một Thủ Tướng lãnh đạo Nội các tuyên chiến với Mỹ, tên ông chắc chắn sẽ đứng đầu trong danh sách truy nã của họ.

        Việc đầu tiên của ông là sang hỏi bác sĩ Suzuki ở cạnh nhà xem vị trí trái tim nằm ở chỗ nào. Tojo cẩn thận lấy mực tàu khoanh một vòng tròn để đánh dấu chỗ đó. Ông nói với phu nhân : « Sống chết đối với anh không thành vấn để. Đã là một chiến sĩ thiì lúc nào cũng phải sẵn sàng chết ». Nhưng điều khiến ông băn khoăn chưa dám chết, là vì ông cho rằng nếu ông không sống để nhận lãnh trách nhiệm của cuộc chiến tranh này, liệu những kẻ chiến thắng có làm liên lụy tới Thiên Hoàng hay không ? Chắc không đời nào chúng dám làm như vậy. Nhưng dù sao cũng vẫn phải đề phòng. Quân chiến thắng Mỹ không đưa ra lời bảo đảm nào đối với việc tôn trọng Thiên Hoàng. Hon nữa dư luận tại Mỹ và các nước trong phe của họ đòi hỏi phải hỏi tội Nhật Hoàng về vần đề khai chiến của Nhật, và coi Ngài là một tội phạm chiến tranh. Trước khi quyết định đầu hàng, các nhà lãnh đạo Nhật đã băn khoăn, lo ngại nhất về vấn đề nầy. Nhưng sau cùng họ đã đi tới suy luận : Tuyên ngôn Potsdam tuy không cam kết bảo đảm tánh cách bất khả xâm phạm của Thiên Hoàng và uy quyền của Hoàng gia, nhưng ngược lại họ cũng không có lời lẽ nào lên án Ngài. Do đó các nhà lãnh đạo Nhật tin tưởng Nhật Hoàng sẽ được quân chiến thắng tôn trọng.

        Nhiều nhân vật khác cũng đã lưu ý tới việc Tojo có thể tự xử, và hậu quả gây ra do cái chết của ông có thể làm cho quân Mỹ bắt tội Thiên Hoàng. Vào một ngày đầu tháng Chín, Tổng trưởng chiến tranh là Tướng Shimomura, gởi thơ cho Tojo, yêu cầu ông tới Bộ chiến tranh. Tại đây Tojo cho Shimomura biết ý định của ông là viết một tờ tự khai cho Tướng MacArthur, nhận lãnh mọi trách nhiệm khai chiến và điều khiển chiến tranh của Nhật. Ông sẽ cho Tướng địch biết chính ông là người ép buộc nước Nhật tham chiến. Tojo nói, ông không muốn bị đưa ra trước tòa, nơi mà « người chiến thắng sẽ xét xử kẻ chiến bại ». Shimomura bảo ông : Cách tốt nhất để bảo vệ Thiên Hoàng là Tojo hãy nhận lãnh trách nhiệm trước công chúng và khuyên Tojo nên nghĩ lại ý định tự xử.

        Tojo có thể sẽ thoát được bản án của Đồng minh nêu ông biết được rằng họ cũng phân vân không biết phải quyết định thế nào đối với ông, Hơn hai tuần trôi qua, nhưng vẫn không thấy họ đã động gì tới số phận của ông. Tojo nghĩ rằng đầu sao đi nữa, chắc bạn bè ông hiện đang còn tại chức trong Chánh phủ thế nào cũng biết trước và cho ông hay. Nhưng theo lời thuật lại của bà Tojo, thì lúc đó gia đình bà vẫn sống bình thản không có chuyện gì xảy ra.

        Tuy nhiên có nhiều nguồn dư luận về phía dân chúng Nhật nổi lên bất lợi cho Tojo càng ngày càng mạnh, khiến Chánh phủ Nhật cảm thấy lo ngại cho ông. Họ không phản đối ông về tội gây ra chiến tranh. Nhưng họ lên án Tojo về việc không chiến thắng được địch quân. Các phần tử quá khích có thể mưu toan ám sát ông. Theo lời thuật lại của Takamatsu, một ký giả của báo Mainichi lúc đó thì Bộ Nội vụ đã dự định một kế hoạch đưa ông đi khỏi Tokyo một cách bí mật.

        Vỉ sợ đánh động dư luận lúc đó đang chú ý nhiều tới Tojo, nên Bộ Nội vụ định mượn xe của Hãng Thông tấn Domei bí mật đưa ông tới nhà ga Ueno ở ngoại ô Tokyo Và từ đó, ông sẽ đáp xe lửa về nhà vợ ông ở Kyushu.

        Nhưng sau đó kế hoạch này không thành vì Bộ Tư lệnh chiếm đóng Mỹ bắt đầu có những hành động và quyết định đối với Tojo. Mở đầu là cuộc viếng thăm của một số ký giả Tây phương. Họ đi xe tắc xi với một thông dịch viên tới thăm ông. Tướng Tojo tiếp đãi họ một cách lịch sự, mời mọi người ngồi trên ghế đá ờ ngoài vườn, vừa hút thuốc vừa nói chuyện. Lúc đó ông mặc quần cụt, da đen xậm vì cả ngày chăm chú trồng rau ngoài vườn. Các ký giả nhận thấy ông cố gắng giữ vẻ bình tĩnh bề ngoài, nhưng bên trong hơi bối rối. Một vài nhà báo xưa nay vẫn nghe phong phanh ông giống Thành Cát Tư Hãn của Mông Cổ, nhưng nay gặp Tojo, họ thấy ông ăn nói hiền lành và bình thản : « Tôi không thể tuyên bố gì liên quan tới chánh trị hoặc chiến tranh, vì lúc này tôi đã về hưu và chỉ còn là một nông dân. Tuy nhiên tôi tin cuộc chiến Nhật Bản đã tham dự là đúng, và tôi hoàn toàn lãnh mọi trách nhiệm. Có thể nước các ông sẽ không đồng ý như vậy, nhưng sau này lịch sử sẽ phê phán. » Tojo không nhận ông là một tội phạm chiến tranh, vì theo ông, vấn đề đó chỉ căn cứ vào việc chiến thắng hay chiến bại của nước đã tham chiến.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:10:23 AM

        Tojo biết rằng cuộc thăm viếng của các nhà báo Mỹ là một báo hiệu cho những hành động của Đồng minh sắp diễn ra đối với ông. Ông dành thì giờ nghỉ ngơi và viết chúc thư. Trong đó, Tojo yêu cầu đám tang của ông được tổ chức giản dị tại Kyushu. Tuy nhiên, trường hợp quân chiếm đóng đòi, thì ông cũng bằng lòng để Chánh phủ giao xác ông cho họ. Ngày 10 tháng Chín, ông ngồi vào bàn dùng viết lông viết những lời di chúc cuối cùng. Ông cầu xin Thiên Hoàng tha tội vì sự chiến bại nhục nhã do ông gây ra cho đất nước. Tojo nói : «Thần xin lấy cái chết để đền tội với Bệ hạ, dân tộc, và các chiến sĩ. Hướng về Hoàng cung, Thần xin cầu chúc Bệ hạ và dân tộc Nhật Bản muôn đời thịnh trị». Ông mong mỏi sau khi chết, hồn ông sẽ theo phù hộ cho Tổ quốc được thái bình và thịnh vượng.

        Hôm sau, trong lúc bà Tojo đang tiếp vợ của ông Chỉ Huy trưởng Hiến Binh Kempeitai trước kia đem biếu ông ít bánh, thì mọi chuyện xảy tới. Lúc đó ông vừa ăn cơm trưa xong và đang ở trong thư phòng. Bà Tojo vừa để bánh lên mặt bàn và định pha trà mời khách thì bên ngoài có tiếng gõ cửa. Bà kể lại :

        « Một cảnh sát viên cho tôi hay, bên ngoài có chuyện lộn xộn. Tôi liền vô thư phòng báo cho Tojo. Nhưng Tojo bảo tôi phải đi về Kyushu ngay. Vâng lời, tôi xách giỏ và nón đi ra. Trước khi đi, tôi còn dặn ông hãy bảo trọng thân thể và giữ bình tĩnh ».

        « Lúc đó trong nhà có viên cảnh sát quen Hatakeyama và một Hiến binh tên là Kakiuchi. Tôi dặn họ săn sóc ông. Nhưng hai người cho tôi hay ông đuổi họ ra và khóa cửa lại».

        « Tôi đi vòng lối sau ra đường, Lúc đi ngang nhà tôi thầy có bốn năm chiếc xe Jeep và biết rằng mọi chuyện bắt đầu xảy ra. Cảnh tượng càng lúc càng trở nên hồi hộp và tôi cảm thầy không thể nào bỏ đi lúc này được. Vòng qua phía cổng sau của nhà bác sĩ Suzuki; tôi vô nhà ông và đứng ngó qua cửa nhà mình. Nhiều lính từ trên xe Jeep bước xuống. Có lẽ đó là quân cảnh. Họ tiến tới gõ cửa phòng khách, nhiều người khác đứng ở ngoài vườn ».

        « Nhà tôi mở cửa sổ/ hỏi những người đang đứng, có ai nói được tiếng Nhật hay không ? Một người trong bọn tiến ra. Ông hỏi y những ngươi này là ai, tới có mục đích gì. Hắn cho biết, họ là lính Mỹ, tới để mời ông đi. Tojo hoi trát đòi. Họ trình ra. Ông mỉm cười, nhưng hình như gương mặt có nhiều nét lo lắng. Sau khi trao đổi vài câu nữa, ông đóng cánh cửa sổ lại và sau đó chừng một phút, tôi nghe một tiếng súng nổ. Quỳ xuống đất tôi lâm râm cầu nguyện cho ông. Chắc lúc đó ông đau đớn nhiều lắm. Sau này tôi được viên cảnh sát kể lại những chuyện xảy ra bên trong.

        « Vừa nghe tiếng súng nổ, lập tức MP phá cửa thư phòng xông vô và thấy Tojo ngồi ngã người trên ghế, mặt nhìn thẳng về phía trước. Bộ quân phục vẫn treo trên giá. Ông mặc quần áo thường, đã tự bắn vào tim.

        « Hatakeyama vội vàng chạy lại cạnh Tojo và thấy mồ hôi ông ra ướt cả trán, máu đó thẳm ướt một khoảng áo ở ngực. Ông kêu khát. Hatakeyama vội vàng chạy đi lấy một ly nước đem tới. Ông uồng hết và xin thêm. Anh ta đem ly nữa tới, nhưng một người Mỹ ngăn lại, ra hiệu bảo làm vậy không tốt, và họ vội vã đi tìm bác sĩ. Tôi thấy một chiếc xe Jeep phóng đi, và sau này được biết họ đã đưa ông tới bệnh viện Ebara.

        « Sau đó bà bác sĩ Suzuki cho tôi hay, lính Mỹ có thể tới xét nhà bà. Tôi không muốn để bà phải lo lẳng, nên vội vàng tới ở nhờ nhà họ hàng tại Tsurumaki ».

        Một ký giả Mỹ sau này thuật lại, khi nhìn thay cảnh tướng Tojo tự tử trong thư phòng, một sĩ quan Mỹ vội la lên : «Không được để tên khốn đó chết. Phải bắt sống y». Tojo bị chảy máu rất nhiều nhưng có điều lạ là ông vẫn còn sống. Ông cố gượng nói những lời cuối cùng với một ký giả Nhật. Ông này liền dịch lại cho các báo Mỹ : «Bảo với MacArthur đừng hành hạ xác tôi. Tôi yêu cầu được đối xử như mặt chiến sĩ.» Một bác sĩ người Nhật xem vết thương của ông và tuyên bồ không thể cứu được nữa, mặc dù viên sĩ quan Mỹ ra lệnh cho ông ta phải cố gắng cứu sống Tojo. Quần áo Tojo bê bết máu. Các phóng viên nhiếp ảnh liên tiếp chụp hình ông.

        Có lẽ điều khiến Tojo tức giận nhất là ông đã được một bác sĩ quân y Mỹ cứu sống. Bác sĩ Johnson tới cùng với xe cứu thương. Với thói quen nghề nghiệp, lập tức ông bắt tay ngay vào Việc cứu chữa nạn nhân. Sau khi xem xét vết thương, ông liền cho truyền máu và chích một mũi morphine. Tojo lần lần tỉnh lại và sau đó được đưa ngay vô nhà thương. Tại đây ông được tiếp tục truyền thêm máu của Mỹ vào người và chích thêm penicilline. Sau mấy ngày sống trong tình trạng nguy ngập, cuối cùng Hideki Tojo đã được cứu sống, cho tới ngày ông bị xử tử. Khi tỉnh lại ông luôn luôn đòi phải được chết.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Hai, 2018, 11:10:40 AM

        Dư luận dân chúng Nhật chỉ trích Tojo bắt đầu từ lúc Saipan thất thủ. Bây giờ những lời chỉ trích đó đã lên tới độ cao nhất. Mọi người đều nguyền rủa ông là nguyên nhân gây ra sự bại trận nhục nhã của nước Nhật. Ký giả Tiltman của một nhật báo Mỹ lúc đó viết: «Nước Nhật đang cần có một con vật tế thần, và chắc chắn Tojo phải đóng vai đó». Nhiều người gọi ông là «Thằng ngu xuấn». Một vở kịch được diễn trên sân khấu ở Tokyo để chế diễu ông. Trong đó có cảnh một sĩ quan hầu cận trình cho iTojo coi một báo cáo nói mười bảy chiến hạm Nhật vừa bị đánh chìm. «Tojo» thản nhiên ra lệnh : «Đổi lại là mười bảy tầu Mỹ, và làm bản tin cho phổ biến ngay.» Khi tin Tojo tự tử tung ra, nhiều thơ từ đã được gởi tới cho bà Tojo. Có những lá thơ an ủi, chia buồn với bà, nhưng phần nhiều là nhục mạ và xỉ vả. Chẳng hạn có thơ đề nghị sẽ gởi biếu nhiêu cỗ quan tài cho tất cả mọi người trong gia đình ông và nói: «Các người nên bò vô trong quan tài đó mà chết phứt đi cho rồi».

        Một luật sư danh tiếng Nhật biện hộ cho Tojo và theo ỏng ta thì « Tojo chính là người đích thân chịu trách nhiệm về chiến tranh. » Không những dư luận chỉ trích ông về tài lãnh đạo, mà họ còn gán cho ông cả tội tham những, hối lộ, và cho rằng ông đã nhận tiền của những nhà tải phiệt và kỹ nghệ. Sau này một ủy ban điều tra đã chánh thức xác nhận không hề có chuyện đó.

        Thêm vào đó nhà văn Shiro Ozaki còn viết một cuốn: sách nói là trong lúc chiến tranh đang ở vào giai đoạn tuyệt vọng nhất trong năm 1944, Tojo vẫn dấu một vũ nữ trẻ đẹp tại khách sạn Sagano để cùng với cô này bí mật hú hí với nhau. Bà chủ nhà hàng Sagano đã cho chuyện đó là hoàn toàn bịa đặt. Bà nói : « Tojo không phải là loại người như vậy.»

        Tojo đã bị dân chúng Nhật nguyền rủa. Họ cho là ông giả vờ tự tử, cố tình bắn sai trái tim để sau này được xét xử khoan hồng. Báo chí Tây phương, khi tường thuật về việc ông tự tử không thành, cũng tỏ ý chế diễu, cho là ông sẽ bị xét xử về hai tội : gây ra chiến tranh và tự tử không chết. Sau này có thành ngữ : « Mầy là đồ Tojo, tự từ cũng không chết. »

        Nhưng ông Kimpei Sheba, chủ bút một nhật báo, thì lại tìm cách minh oan cho Tojo. Ông nói : « Trước đây tôi từng bị Hiến binh Kempeitai bắt giam vì tình nghi là thân Mỹ. Tôi rất oán hận Tojo. Nhưng sau khi điểu trạ về việc tự tử không chết của ông, tôi nhận thầy viên đạn chỉ cách trái tim một sợi tóc. Sở dĩ có chuyện đó là vì vết mực làm dấu vị trí trái tim của ông đã bị nhích lên do cứ động khi ông thở. Đó hoàn toàn là một chuyện rủi ro, chớ không phải ông cố tình bẳn trệch ». Shiobara, một vị luật sư biện hộ tại tòa án quân sự quốc tế xử tội phạm chiến tranh cũng có lập luận tương tự : Sự rủi ro này, theo ông, thường xảy ra đối với nhiều người muốn tự từ. Sự kiện là nếu không nhờ tài cứu chữa hữu hiệu kịp thời của bác sĩ Johnson, thì Tojo đâu còn sống.

        Theo giải thích của bà Tojo thì sở dĩ viên đạn đi sai như vậy là vì ông đã cầm súng tay trái để bắn vô trái tim ở bên trái lồng ngực, ông là người thuận tay trái.

        Cũng có người chỉ trích Tojo là không thực tâm muốn tự xử. Bằng cớ là tại sao ông không dùng kiếm mố bụng như các tướng lãnh khác ? Theo lời giải thích của bà Tojo thì trong phòng ông lúc nào cũng có sẵn hai thanh kiếm, một dài, một ngắn, mà chính ông đã sắp sửa như để dành riêng cho cái chết của mình. Nhưng bà không hiểu được lý do tại sao ông lại dùng súng. Những người chỉ trích ỏng lập luận rằng vì chủ ý dùng súng và không muốn chết, nên ông mới hỏi bác sĩ chỉ cho vị trí của trái tim.

        Sự thực là Tojó quả tình chưa muốn chết thực. Ông muốn sống để được ra trước tòa khai nhận mọi trách nhiệm về chiến tranh để bảo vệ cho Thiên Hoàng khỏi bị liên lụy. Sau đó ông định sẽ dùng kiếm tự xử theo nghi thức thần đạo Hara-kiri. Tuy nhiên, ông lại sợ bị bắt và sợ bị làm nhục. Điều ông lấy làm ghê sợ nhất là « Bị bắt nhốt vô chuồng và gởi về Hoa thịnh đốn.» Chính vì vậy mà ông phải đề phòng một cách tự tử thứ hai mà súng lục. Phương tiện này, ông sẽ xử dụng khi bị bắt bất ngờ, không có thời giờ để dùng tới kiếm. Có lẽ hôm đó, khi thấy quân cảnh Mỹ và các phóng viên báo chí kéo tơi một cách ồn ào bất ngờ quá, nên ông bị xúc động và đã dùng súng thay vì dùng kiềm. Sau này tại nhà tù Sugamo, ông cố nói với bà Tojo . « Đối với một Tướng lãnh Nhật, họ không thể mời bằng phương tiện võ lực như vậy. » Một điều chắc chắn là Tojo bị giằng co giữa hai ý tưởng : Một đàng muốn sống để khai những lời nhận lãnh trạch nhiệm thay cho Nhật Hoàng trước tòa án. Đàng khác ông muốn chết trước khi bị đưa ra tòa xét xử một cách nhục nhã trong tay của những kẻ chiến thắng.

        Đêm hôm đó, sau khi chồng bị đưa đi rồi, Bà Tojo cho là ông đã chết và quỳ cầu nguyên cho ông suốt đêm tại nhà một người bạn. Nhưng sáng hôm sau, nghe tin đài phát thanh loan báo Tojo đã được cứu sống, bà càng cảm thầy thương chồng hơn. Bà nghĩ rằng : «Có lẽ như vậy ông còn đau khố hơn là cái chết» Bà ước ao : «Phải chi lúc này có người nào cho ông một liều độc được, ông sẽ cảm thây đỡ khổ hơn».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:15:55 PM

CHƯƠNG XXXII

        Tojo bình phục một cách mau chóng. Sau khi ra khỏi bệnh viện, ông được đưa tới ở trại Omori một thời gian, Omori trước đây là trại giam tù binh Đồng Minh, và cuối cùng bị đưa vô nhà tù Sugamo. Tại đây Tojo gặp nhiều bộ mặt quen thuộc như Bá tước Kido, cựu Chưởng ấn của Nhật hoàng ; Araki, ông Tướng hăng hái hô hào mở rộng Đế quốc Nhật ; các Tướng Doihara và Itagaki, từng đóng vai chánh trong vụ chiếm Mãn Châu ; Tướng Matsui, người chịu trách nhiệm cuộc tàn sát, cướp bóc, hãm hiếp ở Nam kinh trước đây; Tướng Umezu và Shigemitsu, mấy tuần trước đã đại diện Nhật ký tên vô văn kiện đầu hàng trên chiến hạm «Missouri»; Matsuoka, cựu ngoại trưởng đã đưa Nhật rút ra khỏi Hội Quốc Liên và gia nhập phe Trục. Ngoài ra, còn nhiều nhân vật quân sự và dân sự khác nữa như : Bác sĩ Okawa, một trong những người sáng lập ra đảng Hắc Long, ông này gặp lại người bạn quen thuộc là Đại tá Hashimoto, người chỉ huy các cuộc bắn phá chiến thuyền Anh-Mỹ tại Hương cảng trên sông Dương Tử năm 1938. Hoshino và Đô đốc Sbimada, cựu Tổng trưởng trong Nội các chiến tranh của Tojo trước đây, lúc này cũng có mặt đông đủ. Ngoài ra còn có các cựu Thủ Tướng Hiranuma, Hirota, và Koiso, cầm đầu những Nội các trước và sau Tojo.

        Trong số các nhân vật có tên trong danh sách tội phạm chiến tranh, nhưng Mỹ không bao giờ bắt được họ, người ta thấy tên tuổi Hoàng thân Konoye nổi bật hơn cả. Ông đã uống thuốc độc tự vận đêm 16 tháng Chạp năm 1945, trước khi bị gọi tới trình diện tại khám đường Sugamo. Bên cạnh xác ông, người ta thấy bài thơ Vực sâu của thi sĩ Oscar Wilde và một lá thơ tuyệt mạng. Trong đó, Hoàng thân nói ông không thể nào «chịu được cảnh bị bắt và bị xử trước một tòa án của người Mỹ... Thực là chuyện đáng tiếc khi thấy tên minh bị liệt vào danh sách tội nhân chiến tranh, vì từ bao nhiêu năm trước, tôi vẫn luôn luôn nỗ lực hoạt động nhằm mục đích hợp tác với Hoa Kỳ trong vùng Thái bình dương... Tình hình hỗn loạn và căng thẳng của thế giới hiện tại rối dần dần sẽ đi tới chỗ lắng dịu, thăng bằng... Chỉ lúc đó một sự phán xét công bằng trước tòa án của Thượng Đế mới có thể có được.» Tại các lãnh thổ chiếm đóng của Nhật ở hải ngoại cũng có vô số sĩ quan bị bắt. Tướng Yamashita, «con cọp Mã Lai», người hùng chiến thắng MacArthur tại Phi Luật Tân trước kia, giờ cũng cảm phận ngồi chung trong tù cùng với Tướng Homma để chờ ngày ra tòa.

        Vào tháng Hai năm 1946, bà Tojo từ Kyushu trở lại thăm chồng tại khám đường ở Tokyo. Đây là lần đầu tiên hai vợ chồng gặp lại nhau kề từ hôm ông bị bắt, và bà vội vã trở về Kyushu lánh nạn. Gặp lại nhau trong khám đường, Bà thấy Tojo có vẻ phấn khởi hơn trước, mặc dầu theo nhận xét của bà, cách đối xử với các tù binh tại đây không được tử tế cho lắm. Chỗ ăn chỗ nằm đều tồi tệ, và thực phẩm thiếu thốn. Cách đối xử với phạm nhân không được lịch sự. Hình như người Mỹ đã cố tình để cho các nhân vật này nếm thử mùi khổ sở của nhà tù, giống như cảnh lúc trước các tù binh Mỹ đã phải chịu ở trại giam Omori. Nhiều khi cai ngục có một vài cử chỉ khắt khe để thử coi tù binh có chịu tuân theo kỷ luật khám đường hay không. Nhưng dù sao cũng không có chuyện tra tấn dã man, bỏ đói, hành hạ, giống như cảnh các cai ngục người Nhật đã áp dụng đối với lính Mỹ trước đây Lúc này Tojo đã tỏ ra hoàn toàn bình thản, vui vẻ chờ ngày ra tòa để nhận lãnh trách nhiệm chiến tranh thay cho Thiên Hoàng. Ồng không còn muốn tự tử nữa. Tuy nhiên, các cai ngục vẫn đề phòng ông tìm cách tự tử, nên tịch thu cả cặp kiếng cận thị của ông.

        Sau khi chiến tranh chấm dứt, dân Nhật sống rất đói khổ, không quần áo, nhà ở, lương thực thiếu thốn. Vì vậy, tại khám đường Sugamo, các tù nhân tuy không được cung cấp mọi thứ nhưng so với bên ngoài, có thể nói họ vẫn tương đối đầy đủ hơn. Ngày 3 tháng 5 năm 1946, Tòa án Quân sự Quốc tế Viễn Đông bắt đầu xử phiên nhóm đầu tiên tại Bộ Tư lệnh Quân khu Tokyo. Trung tá Kenworthy, chỉ huy đơn vị Quân cảnh giữ an ninh tại Tòa, cho phép thân nhân được thăm viếng can phạm vào lúc Tòa ngưng xử từ 12 giờ tới 1 giờ trưa. Vì vậy bà Tojo thường dẫn con gái tới thăm ông vào dịp này, thường thường mỗi tuần hai lần. Người Nhật tự hạn chế các cuộc thăm viếng như vậy để khỏi làm phiền lính gác quá nhiều.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:16:15 PM

        Có lần tới thăm ông, Bà Tojo cho ông biết có một vị chủ báo tên là Oishi đề nghị được giúp đỡ ông hàng tháng một số tiền là 10.000 yen (trị giá khoảng 60.000 đồng VN). Bà thuật lại ông chủ nhiệm Oishi đã nói với bà : «Tướng Tojo đã nhận tội thay cho cả nước. Nhưng chúng tôi không thể nhẫn tâm thấy gia đình ông không nơi nương tựa trong lúc này.» Tojo khuyên phu nhân nên nhận, và cảm thấy được an ủi phần nào khi thấy rằng không phải tất cả mọi người đều bỏ rơi ông. Qua kinh nghiệm đói khổ của nước Đức sau thế chiến I, Tojo đã nhìn thấy trước những khó khăn về kinh tế Nhật Bản sẽ phải chịu sau khi bại trận.

        Trung Tá quân cảnh Ken worthy là người được thuyên chuyển từ Manila ở Phi Luật Tân tới để trông coi khám đường Sugamo. Ở Phi, ông đã nhìn thấy lòng can đảm và chịu đựng của Tướng Yamashita. Tới Sugamo, Trung tá Kenworthy thêm cảm phục trước thái độ cư xử của Tướng Tojo. Sau này viên Trung tá Mỹ có viết một bài đăng trên báo Bungei Shunji kể lại như sau : «Mỗi lần nhìn qua chấn song của cửa sổ nhà giam Sugamo, tôi không hề có cảm tưởng minh là cai ngục và Tojo là tù nhân. Nhưng tôi nhận thấy Tojo chính là một bậc Thầy, và tôi chỉ là cậu học trò nhỏ. Thực vậy, cung cách cư xử của ông, nhất là các đức tánh chịu đựng, tha thứ, đã khiến Tojo trở thành vị lãnh đạo tại khám đường Sugamo đối với các bạn tù của ông, cũng như với các cai ngục mà định mạng đã khéo an bài để canh gác ông.»

        Trong phiên xử đầu tiên, luật sư Pal người Ấn độ, bác bỏ việc đem một số cá nhân ra xử sau khi nước họ đã thất trận. Nhưng đại diện Công tố viện, Keenan, lên tiếng trả lời cho rằng những chức vụ then chốt trong Quốc gia mà họ đã giữ trong thời kỳ chiến tranh, những hành động họ đã làm khiến những cá nhân hay nhóm người này không thể nào trốn tránh khỏi tránh nhiêm đối với những tội ác mà đồng bào của họ đã gây ra trong chiến tranh. Sau đó ông kết luận : «Những thủ tục tỉ mỉ tiến hành thận trọng trong thời gian lâu dài thâu thập tài liệu của phiên tòa này, khiến nó có một ý nghĩa rộng lớn hơn là việc xét xử những cá nhân.»

        Tòa bắt đầu chấp cung các bị can. Trước hết là bác sĩ Okawa. Ông này trong lúc bị hỏi cung luôn luôn lẩm bầm, vùng vằng, chửi bới, chớ không chịu ngồi yên như các bị can khác. Quân cảnh phải luôn luôn kèm giữ hai bên. Cuối cùng, ông ta bất ngờ nhoài người lên phía trước dơ tay thoi vô đầu Tojo ngồi ở hàng ghế bên trên. Ông này chỉ mỉm cười, không nói gì. Tòa truyền cho quân cảnh đem bác sĩ Okawa ra ngoài. Những cuộc khám nghiệm thần kinh sau đó cho thấy ông đã bị thác loạn từ lâu, và ông được đưa tới điều trị tại một bệnh viện tâm trí.

        Những buổi chấp cung sau đó diễn ra trong không khí buồn nản. Hầu hết bị can đều ngồi im lặng, không phản đối nói năng gì. Thỉnh thoảng họ trả lời ngắn ngùi các câu hỏi của Đại diện Công tố. Keenan cố gắng làm cho không khí trở nên linh động, nhưng nhiều khi các ý kiến và lập luận của đại diện công tố Keenan không được Chánh án Sir William Webb chấp nhận. Hỉnh như càng ngày càng có những bất đồng sâu sắc giữa Toà và Công tố viện.

        Tới phiên mình được chấp cung, Tojo đã phản đối đại diện công tố viện khi ông này dùng danh từ Đại tướng Tojơ. Ông cho rằng quân đội Nhật Bản hiên nay không còn nữa, nên ông chỉ là một người thường mà thôi. Không có cấp bậc nào khác. Những câu trả lời ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa sâu sắc của ông khiến quan tòa và mọi người hiện diện rất khâm phục, kể cả đại diện công tố viện. Ông không hề phủ nhận những công việc đã làm trong thời kỳ chiến tranh, nhưng ông cho rằng phiên tòa này thiếu nền tảng pháp lý, vì đây chỉ là một nước thắng trận đem các công dân của nước bại trận ra xét xử theo sáng kiến riêng của họ. Không hề có một căn bản luật pháp quốc tế nào cho phép làm như vậy. Và từ trước tới nay cũng chưa hề có vụ xét xử nào như vậy giữa các quốc gia trên thế giới. Chính Tướng MacArthur sau này cũng cho rằng việc xét xử con người với con người không thể nào tuyệt đối được. Tuy nhiên ông cho rằng «mọi điều kiện pháp lý cần thiết đã được duy trì đầy đủ trong phiên tòa đó đế làm sáng tỏ công lý.»   

        Có một lúc câu trả lời của Tojo đã khiến mọi người trong phòng xử bật cười khi đại diên công tố hồi : «ông có nhận thấy cơ cấu tố chức chánh trị hiên nay ở Nhật Bản đã được cải thiện tốt đẹp hơn, với sự giúp đỡ của quân đội chiếm đóng hay không ?» Và Tojo trả lời: «Xin lưu ý dùm cho là tôi bị giam trong tù từ hai năm nay, làm sao tôi có đủ tư cách để nhận xét vấn đề đó.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:16:45 PM

        Sau này tờ Nippon Shaha đã vạch rõ rằng việc biện hộ cho các bị can trong phiên tòa này không được bảo đảm đầy đù. Khoảng 80 phần trăm các chứng cớ gỡ tội cho bị can đều bị Tòa bác bỏ. Và tờ báo này cho rằng sở dĩ như vậy là chỉ vì thiếu tiền. Thực vậy, lúc đầu Chánh phủ của Thủ Tướng Shidehara định vận động quyên góp trong giới báo chí, xuất bản và kỹ nghệ gia, để lấp một quỹ đài thọ tổn phí cho việc biện hộ là 10.000.000 yen (khoảng 60.000.000 đồng VN). Nhưng sau việc này phải bỏ dở vì Chánh phủ Shidehara bị đổ, Từ báo cho rằng nếu có đủ tiền để vận đông, chắc chắn đã không có ai bị tử hình. Thực vậy, vào lúc phiên xử mới bắt đầu, dư luận báo chí quốc tề rất bất lợi cho các bị can. Nhưng sau nẩy nhờ những cuộc đi chơi ăn nhậu giữa giới ký giả quốc tế và các viên chức Nhật, nên dư luận bất lợi nầy đã dần dần thay đổi. Dân chúng Nhật, lúc đầu còn tò mò tới coi sau rồi cũng dần dần thưa thớt, không còn ai. Tờ Nhật Bản Thời Báo trong số ra ngày 7 tháng 5 năm 1956 đã tiết lộ, nếu có đủ tiền, Ủy ban vận động bảo vệ các bị can dự định sẽ tổ chức những bữa tiệc với báo chí, quan tòa, công tố viện, luật sư để «cảỉ thiện những liên lạc với các nhân vật đó.»

        Sự thân thiện đó rõ ràng đã được cải thiện sau những bữa tiệc và quà tặng cho các nữ thơ ký của họ. Người Mỹ muốn cho dân chúng Nhật chú ý tới các phiên xử này để biểu diễn nền dân chủ pháp trị của Tây phương. Nhưng kết quà không có gì đáng kể, vì không lôi cuốn được sự chú ý của dân Nhật bao nhiêu. Chỉ có phiên xử Tojo ngày 28 tháng Chạp năm 1947 là khiến cho dư luận Nhật trở nên sôi động hơn cả. Họ chú tâm theo dõi vị cựu Tướng lãnh 63 tuổi này, không phải về tội phạm chiến tranh của ông, nhưng vì ông là người họ cho là phải chịu trách nhiệm về sự bại trận nhục nhã của nước Nhật. Nói chung thì phiên tòa xử các tội phạm chiến tranh ở Nhật không gây được không khí sôi động trước dư luận quốc tế, vì ở đây không có những khuôn mặt nổi bật như Hitler, Goebbels, Ribbentrop, Goering và Streicber của Tòa án quốc tế Nuremberg. Ngưởi duy nhất được dư luận thế giới biết tới là Tojo, nhưng tên tuổi ông chỉ xuất hiện từ năm 1940, chớ không nổi bật từ lâu như trường hợp của các lãnh tụ Đức quốc xã.

        Quan tòa cho rằng chính Thiên Hoàng mới là nhân vật chánh phải chịu trách nhiệm về chiến tranh do Nhật gây ra. Tướng Tojo chỉ là cấp thừa hành. Nhưng lập luận này đã bị Tướng MacArthur bác bỏ và phản đối. Ông cho rằng nếu muốn kết tội Nhật Hoàng thì Mỹ cần phải có thêm một triệu quân nữa ở Nhật. Đại diện công tố viện Keenan thì cho rằng Nhật Hoàng là người «tánh tình nhu nhược», nhưng lúc này củng «có tinh thần chủ hòa.» Ông đòi phải đưa Nhật Hoàng ra đối chất trước Tòa. Nhưng lời yêu cầu này lập tức bị người Anh bác bỏ. Họ coi dó là hành động phạm thượng đối với Thiên Hoàng, vì dù sao nước họ cũng có vua.

        Theo ký giả David Bergamin đã viết trong tạp chí Life, thì MacArthur không dám đụng tới Nhật Hoàng và đã đưa Tojo ra trước tòa làm con vật hy sinh để thỏa mãn dư luận nước Mỹ, đòi trừng phạt các nhân vật gây ra chiến tranh. Ông cho rằng các phiên tòa xử tội nhân chiến tranh tại Nhật đã phản bội công lý. Hầu hết các ký giả ngồi tại vành móng ngựa của Tòa ản Quốc tế Quân sự Viễn Đông đã nhận thấy điều đó, và tìm cách minh oan cho Tojo trong lịch sử sau này.

        Tojo đã dùng phần lớn thời giờ trong lúc bị giam tại khảm đường để tham khảo với các luật sư bào chữa cho ông. Tất cả những lời khai của ông đã được đúc kết thành một tập tài liệu dày, và lúc này được mang ra đọc trước Tòa. Các tài liệu này đọc mãi tới ngày 31 tháng Chạp mới xong. Trong đó, Tojo hoàn toàn xác nhận việc lãnh đạo điều khiển chiến tranh và tuyên chiến của Nội các do ông đứng đầu. Tuy nhiên, ông cho rằng chiến tranh xảy ra là vì những hành động chèn ép và bao vây kinh tế Nhật của Anh và Mỹ suốt từ năm 1930. Sau này, Mỹ lại gởi điện văn cho Nhật bắt phải triệt thoải khỏi Mãn châu, là thuộc địa Nhật, đã có từ mười năm trước. Điện văn đó là một tối hậu thơ khiến Nhật Bản không còn cách nào khác hơn là nhảy vô vòng chiến. Do đó, Tojo không nhìn nhận «tội phạm chiến tranh» mà Đồng minh đã gán cho ông. Theo lời biện hộ của luật sư Kiyose thỉ đó chỉ là những tội «hoàn toàn có trong trí tưởng tượng của các lực lượng Đồng Minh.»


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Hai, 2018, 03:17:07 PM

        Tojo cũng biện hộ cho Thiên Hoàng. Theo ông thì Nhật Hoàng hoàn toàn không dính líu gì tới việc khai chiến cũng như điều khiển chiến tranh của Nhật. Tojo nói Nhật Hoàng chỉ có thể bày tỏ ý muốn và ước vọng của mình qua Ngài Chương ấn Hoàng gia, nhưng không có quyền phủ nhận các quyết định của Nội các và Hội đồng Tối cao Quân lực. Khi bị Keenan cật vấn, Tojo tỏ ý tin rằng Nhật Hoàng có biết tới trận đánh Trân châu cảng, nhưng không phải do lời tâu của ông. Tojo cho là Nhật Hoàng có lòng nhân ái bao la không thể chối cãi được. Ông đơn cử thí dụ : trong vụ dội bom vào nhà dân, trường học, bệnh viên của các phi công Mỹ do Doolittle cầm đầu, đáng lẽ có tám phi công Mỹ bị xử tử, nhưng Nhật Hoàng đã can thiệp theo lời đề nghị của Tojo để tha cho năm người.

        Cuối cùng Tojo kết luận : Nhật Bản đã chiến đấu can đảm trong tinh thần trọng danh dự đối với cuộc chiến này. Chỉ có điều đáng tiếc là văn thơ tuyên chiến đã không tới được tay Chánh phủ Mỹ trước khi trận Trân châu cảng xảy ra. Ông nói, đó chỉ là một tai nạn tình cờ chớ Nhật không hề có ý định «đánh lén. Ông công nhận có một phần trách nhiệm trong việc tù binh bị ngược đãi, nhưng không phải việc đó hoàn toàn quy trách vào ông. Ông nhắc lại ông không có ý định hành hạ họ, nhưng tù binh Đồng minh không chịu cực quen như các bỉnh sĩ Nhật. Sự hành hạ nhiều khi do việc thiếu thốn thuốc men, thực phẩm, phương tiện giao thông gây ra ngoài ý muốn của mọi người. Khi nhận được các báo cáo và con số tù binh bị bệnh và qua đời, Tojo đều chuyển cho văn phòng phụ trách tù binh chiến tranh. Khả năng ngăn chận những hành động có tánh cách lợi dụng tù binh của ông rất giới hạn. Vì các Tư lệnh chiến trường đều có toàn quyền quyết định trong việc thi hành những mệnh lệnh hành quân.

        Ngày 31 tháng Chạp, sau khi đọc xong lời khai của Tojo, đại diện công tố bắt đầu chất vấn bị can. Nhưng ngay câu hỏi đầu tiên của ông đã bị quan tòa Sir William Webb bác bỏ Keenan xin phép được hỏi bị can xem phải chăng với những lời khai trên đây, bị can có ý nghĩ cho là mình hoàn toàn vô tội ; hoặc giả ông định «tuyên truyền, cổ võ cho chinh thể độc tài quân phiệt ?» Hai câu hỏi đó nếu được hỏi, chắc chắn Tojo sẽ trả lời việc phán xét tối hậu về công tội của ông, đã có lịch sử phê phán. Còn chuyện tuyên truyền thì đó là vấn đề riêng giữa ông và đồng bào của ông, không ăn nhập gì tới việc xét xử của Toà.

        Lời khai của Tojo trước toà đã khiến dân Nhật có cảm tình với ông nhiều hơn lúc ông định tự tử. Hàng ngày báo chí Nhật theo dõi sát lời khai của ông trước Toà và loan những tít thật lớn như : «Nước Nhật bị ép buộc nhảy vô vòng chiếm, «Thảm trạng Nhật bản». «Thiên Hoàng vô can...». Tờ Times ở Luân Đôn viết : «Việc Tojo biện hộ cho hành động tham chiến của Nhật Bản tại Thái Binh Dương đã làm cho nhiều người cảm động.» Khi thấy Tojo nhầt định lãnh trọn trách nhiệm về phần mình, dân chúng Nhật tự nhiên cảm thấy họ cần phải san sẻ trách nhiệm đó với ông. Ông đã cố gắng gột rửa mặc cảm tội lỗi cho dân Nhật, và tái lập lại niềm hãnh diện của dân tộc.

        Nhưng cũng chính vì vậy mà ông phải chết. Ông chết để chuộc tội thay cho cả dân tộc. Ông chết để cho Nhật Hoàng và dân chúng Nhật tin rằng họ hoàn toàn không có trách nhiệm gì về việc gây chiến, cũng như về việc thất trận của Nhật Bản. Khi được hỏi về cảm tưởng đối với Tojo, một quả phụ có chồng chết trong trận đánh tại Tân Guinea nói : «Tỏi không có gì oán hận ông.» Một thơ ký cho rằng : «Ông phạm nhiều lầm lỗi lớn trong chiến tranh, nhưng Tojo là người lương thiện. Tới lúc này, ông cũng vẫn cho rằng hành động của mình là đúng và không ngần ngại nhận lãnh trách nhiệm.» Cuối cùng, một sinh viên đưa ra nhận xét: «Dù sao ông cũng là một chiến sĩ, và có bổn phận phải chiến đấu khi tình thế bắt buộc. Giờ đây Tojo là một tù binh trong tay quân chiến thắng, và họ sắp giết ông.»

        Đúng vậy. Cái chết của Tojo đã được dân Nhật định đoạt, dù ông có tội hay không. Họ cho đó là điều không thể tránh được, là chuyên dĩ nhiên phải như vậy. Dù người Mỹ có muốn tìm ra thủ phạm đích thực khác để trừng phạt cũng không được. Vì kẻ thù của họ đã nhất định đưa Tojo ra làm con vật hy sinh để tế sống cho Mỹ, và làm hả cơn giận của dân chúng Nhật sau khi bị bại trận một cách nhục nhã. Tojo phải chết.

        Nhưng trước lúc chết, Tojo vẫn giữ vững tinh thần và lập trường của minh, không gì có thể lay chuyến nổi. Lập trường đó được chính ông tóm tắt như sau: «Khi tuyên chiến với Mỹ, tôi không bao giờ và không thể nào quan niệm được rằng một ngày kia nước chiến thắng sẽ đem những cá nhân của nước chiến bại ra xét xử và buộc tội. Từ trước tới nay chưa hề có một luật pháp quốc tế nào cho phép họ làm điều đó. Tôi đã phát động và lãnh đạo cuộc chiến tranh này. Nhưng tôi không hề vi phạm một thoả ước quốc tế nào... Tôi luôn luôn tin rằng những hành động của mình là đúng».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Mười Hai, 2018, 09:34:12 AM
       
CHƯƠNG XXXIII

        Bảy tháng sau khi cuộc chấp cung các bị can chấm dứt, tới ngày 4 tháng 11 năm 1948, Toà mới chánh thức đăng đường trở lại để tuyên án. Lúc này trên hàng ghế bị cáo, người ta thấy thiếu nhiều bộ mặt như bác sĩ Okawa hiện ở trong dưỡng trí viện, Tướng Matsuoka và Đô đốc Nagamo đã chết trong tù. Ông này chính tà người đã chủ trương phát động chiến tranh để giải quyết nạn thiều dầu của Nhật. Hôm nay là phiên xử để tuyên án, nên lôi cuốn khá đông khán giả tới dự thính. Ba mươi thông dịch viên Mỹ - Nhật thay phiên nhau làm việc, phiên dịch tại chỗ các phán quyết của Tòa. Đại ý bản án tổng quát như sau :

        «Cuộc chinh phục Mãn châu và Trung Hoa là âm mưu của phe quân phiệt và do Chánh phủ Nhật phát động. Do sự thúc đẩy của các Tướng lãnh, Chánh phủ Nhật đã thi hành một chánh sách bành trướng bằng võ lực, gây hấn với các quốc gia láng giềng. Nhật Hoàng và dân chúng vô can. Phe quân nhân đã nắm hầu hết các chức vụ quan trọng, khiến không ai có thể chống đối được đường lối và hành động của họ. Các Tướng lãnh đã tìm cách lừa dối Thiên Hoàng.

        Cuộc đàn xếp với Mỹ của Chánh phủ Nhật trước lúc chiến tranh xảy ra không có thực tâm, mà chi là thù đoạn của Phe Trục».

        Hoàng thân Konoye mặc dầu đã chết vẫn bị lãnh một bản án vì tội đã ký hiệp ước đưa Nhật vô Liên minh phe Trục Đức - Ý. Hoàng thân cũng là người cầm đầu chủ trương chiếm cứ các lãnh địa giữa Nam Dương, Miến Điên, và một phần Tân Tay Lan. Ông và Bá tước Kido là hai nhân vật chánh phải chịu trách nhiệm về việc Nhật Bản thành một nước độc đảng.

        Các Tướng lãnh Araki, Hata, Koiso, Umeai và Bá tước Kido, Đô đốc Shimada, Đại tá Hashimoto và 9 nhân vật khác đều bị tuyên án khổ sai chung thân. Shigenori Togo, cựu ngoại trưởng trong Nội các Tojo bị kêu án 20 năm tù ở. Mamoru Shigemitsu : 7 năm tù ở về tội không âm mưu nhưng có tham dự vào việc phát động chiến tranh xâm lăng, và không chu toàn công cuộc điều tra về các hành động ngược đãi tù binh. Nhà ngoại giao với giọng ôn tồn cho rằng trong một nội các chiến tranh, quyền hạn của ông bị hạn chế, không thể làm gì được.

        Các Tướng lãnh Đoihara, Itagaki, Kimura và Muto đều bị kêu án tử hình vì các tội : âm mưu phát động chiến tranh xâm lược, phá hoại hòa bình, chịu trách nhiệm về những hành động ngược đãi tù binh chiến tranh và tù dân sự. Đồng một số phận tử hình là các Tướng Yamashita và Homma, đã bị hành quyết tại Manila. Tướng Matsui, người chịu trách nhiệm về việc không ngăn cản những hành động «bạo hành giết chóc tập thể và cá nhân, trộm cướp hãm hiếp tại Nam kinh» cũng lãnh án tử hình. Đồng lãnh án tử hình còn có một nhân vật dân sự, đó là Koki Hirota. Cựu Thủ Tướng Hiranuma : chung thân khổ sai. Sau cùng là Hideko Tojo, bị buộc vào các tội : âm mưu phát động chiến tranh xâm lược, phá hoại hòa bình, trách nhiệm về việc hành hạ, ngược đãi tù binh trong công tác làm đường xe lửa Thái Lan — Miền Điện.

        Nguyên văn bản án của Tojo như sau :

        «Bắt đầu từ năm 1937, sau khi nắm chức Tư lệnh Đạo binh Kwangtung ở Mãn châu, bị can bắt dầu tham dự vào các âm mưu của phe Tướng lãnh. Bị can đã thảo kế hoạch xâm lăng Nga sô và đề nghị đánh Trung quốc để bảo đảm cho hậu quân Nhật trong kế hoạch tấn công Nga. Từ đó bị can luôn luôn nuôi dưỡng ý tường phát động những cuộc chiến tranh xâm lược.

        Từ tháng 7 năm 1940, sau khi trở thành Tổngtrưởng . chiến tranh, bị can đã tiến hành nhiều công cuộc chuẩn bị và âm mưu lập kế hoạch phát động chiến tranh xâm lăng các nước láng giềng. Bị can là người chủ chốt và thi hành công việc một cách quyết tâm, khéo léo, kiên trì.

        Bị can trở thành Thủ Tướng Chánh phủ Nhật Bản vào tháng 10 năm 1941, và tiếp tục lãnh đạo chiến tranh xâm lược cho tới năm 1944. Với chức vụ Thủ Tưởng Chánh phủ kiêm Tổng Trưởng chiến tranh, bị can đã chủ động trong việc xâm lăng Trung Quốc, Hoa Kỳ, và toàn thể Đông Nam Á để bảo đảm việc cung cấp nguyên liêu cho kỹ nghệ Nhật.

        Bị can đã dùng tất cả ảnh hưởng và quyền hạn để hỗ trợ chánh sách xâm lăng của Nhật, đóng vai chánh yếu trong các quyết định hỗ trợ chánh sách đó. Bị can là người chủ chốt chịu mọi trách nhiệm về các hành động tấn công xâm lăng của Nhật. Trước Tòa án này, bị can vẫn cho rằng đó là những hành động tự vệ chánh đáng của Nhật. Nhưng Tòa đã nhận thấy lập luận đó không có căn bản vững chắc nào.

        Và Tòa tuyên án tử hình».


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 13 Tháng Mười Hai, 2018, 08:47:22 AM

CHƯƠNG XXXIV

        HÔM Tòa tuyên án, Bà Tojo dẫn hai con gái tới thăm ông tại khám đường Sugamo. Tinh thần Tojo vẫn bình thường, nhưng lúc đầu cả gia đình lặng lẽ nhìn nhau không ai nói nên lời. Đây là lần đầu tiên vợ chồng cha con gặp lại nhau kể từ hôm Tòa đình xử đề nghị án từ 7 tháng trước đây. Sau này Bà Tojo kể lại cuộc viếng thăm ông hôm đó : « Chúng tôi đã nói với nhau tất cả mọi chuyên bằng những ý nghĩ trong im lặng. Sau cùng không còn gì để nói, chúng tôi chỉ còn biết nhìn nhau mỉm cười». Tojo nhờ phu nhân, nói lại với Giáo sư Giichi Miura, một triết gia ông vẫn kính phục, rằng : «Tôi rất sung sướng đã bảo vệ được Thiên Hoàng. Lúc nào tôi cũng tin tưởng ở tương lai của nhân loại và dân tộc. Tôi mong Giáo sư sẽ dùng ảnh hưởng của minh để hướng dẫn công cuộc xây dựng lại đất nước. »

        Sau đó Tojo phân trần với phu nhân : « Chúng ta có nhiêm vụ bảo vệ Thiên Hoàng. Nhờ đó mà dòng họ Hoàng gia Nhật mới có thể trị vì dân chúng trong suốt hai ngàn năm nay. Đây là điều kỳ diệu của nước Nhật. Trong lịch sử dân tộc chúng ta, những thế lực chống nhau không thiếu gì, nhưng không ai dám xâm phạm tới Thiên Hoàng bao giờ. Thiên Hoàng và Hoàng tộc bao giờ cũng được đặt trên hết. Đây chính là cái nguyên tắc để ổn định và tạo niềm kiêu hãnh cho dân Nhật. Nhờ đó mà Quốc gia mới được trường tồn và đoàn kết như anh em một nhà ». Tojo im lặng và một lát sau ông khuyên phu nhân nên trở về nhà đừng nên có mặt tại Tòa lúc ông bị tuyên án. Phu nhân vừa ra tới ngoài thì được một người bạn ký giả Trung Hoa báo cho biết rằng nhà bà hiện đang có rất đông nhà báo chờ đợi để phòng vấn. Bà rất cám ơn và tạm lánh mặt ờ nhà người bạn nầy. Tại đó, phu nhân đã nghe tin đài phát thanh loan báo chống bà bị tuyên án tử hình.

        Ở Hoàng cung, Thiên Hoàng cũng chăm chú ngồi cạnh máy thâu thanh theo dõi tin tức của vụ xử án. Với cây viết chì trong tay, Ngài ghi kết quả các bản án vào một tờ giấy trước mặt. Người ta kể lại : « Thiên Hoàng bị xúc động mạnh ». Và đêm hôm đó tin đồn Thiên Hoàng có thể thoái vị được tung ra, sau khi quan tòa Sir William Webb người Úc tuyên bồ : « Thiên Hoàng chính là thủ phạm số một gây ra tội ác chiến tranh. Nhưng ông ta được hưởng quyền bất khả xâm phạm nên không có mặt tại Tòa đế trả lời về tội ác của ông hôm nay. »

        Trong nhật ký ghi tại nhà giam, Tojo viềt : « Mãi ba giờ chiều Tòa mới tuyên án. Tôi không lạ gì bản án dành cho minh. Nhưng rất ngạc nhiên về các án tử hình khác, và tôi lấy lam tiếc cho họ. Tôi thấy Teruo và Toshio (hai con trai ông) ở hành lang trong lúc Tòa đọc bản án. Thực là điều an ủi cho một người cha khi thấy con mình, trong giờ phút cuối cùng này. »

        « Tối hôm đó bảy người chúng tôi trở lại khám Sagumo. Ngoài chăn mền và chiếc áo khoác ngoài, tôi không được phép mang theo bất cứ vật dụng nào khác, kể cả cặp kiếng cận và hàm răng giả. Thật là bực mình và tức cười. Đêm hôm đó tôi được nhiều người, cả sĩ quan và binh sĩ, canh gác cẩn thận. Hôm sau thức dậy, họ nhất định không trả lại hàm răng giả cho tôi để ăn sáng. Tôi từ chối không ăn và mãi sau họ mới chịu trả lại, cả hàm răng và cặp mắt kièng luôn. Nhưng có điều an ủi là được ở phòng riêng, thay vì hai người một phòng như mọi khi. Do đó tôi tự do hơn, và sáng chiều có thể đọc kinh Sutras. (Kinh Pháp Hoa của nhà Phật).

        Hôm sau, tôi ngủ trễ, họ phải đánh thức tôi dậy. Thực là một ngày nắng ấm, đẹp đẽ. Hôm qua họ không cho ra ngoài, nên tôi ngồi trong phòng viết bất cứ bài thơ nào vô tình nhớ lại được. Điều bực mình là càng ngày các biện pháp canh gác càng khắc khe, thực khó chịu vô cùng. Tôi tự hỏi, họ còn canh giữ tôi được bao lâu nữa.»

        Các biện pháp an ninh được tăng cường đến mức tối đa trong việc canh giữ các tội phạm chiến tranh ở Nhật, kề từ khi Goering, một tội phạm chiên tranh tại Đức, đã tự từ bằng thuốc độc. Cai ngục lục lọt quần áo, thân thể từng ly từng tý rất khó chịu, khiến Tojo coi đó là những hành động ngược đãi tù binh. Ồng hiểu rằng người Mỹ chỉ sợ ông chết trước ngày hành quyết. Nhưng Tojo viết : «Họ không hiểu gì về tâm lý người Nhật. Một khi đã quyết định chịu đựng điều gì, chúng tôi sẽ đi tới cùng, và lo giữ gìn sức khỏe để chờ ngày cuối cùng đó».

        Tojo xin một cây viết chì và mười tờ giấy để viết những nguyện vọng cuối cùng trước khi chết. Ông đã gởi tới ban giám đốc khám đường Sagumo một bản thỉnh nguyện như sau : «Trong địa vị của một tù nhân đã bị kết án tử hình, tôi xin phép được viết ra những nguyện vọng cuối cùng, Nguyện vọng của tôi là mong sao mau tới ngày hành hình để được hoàn tất bổn phận của một công dân Nhật bằng một cái chết trong danh dự. Từ nay cho tới lúc đó, tôi mong quý vị lưu ý cho những điểm sau đây :

        1. Ra lịnh cho lính sửa đổi thái độ bất lịch sự của họ,

        2. Chiếu theo quốc tế công pháp và với tư cách một tù nhân bị án tử hình, tôi yêu cầu được hưởng đẩy đủ các nghi thức tôn giáo trước khi chết,

        3. Mặc dù từ đây tới lúc chết không còn bao nhiêu ngày giờ, tôi vẫn yêu cầu được đi dạo ngoài trời mỗi ngày một lần. Con người cần có ánh sáng mặt trời và tôi muốn giữ thân thể được khỏe mạnh cho tới lúc chết.

        4. Yêu cầu cho tôi có hoàn cảnh thuận tiện để tu dưỡng tâm thần trong những ngày giờ cuối cùng.

        5. Yêu cầu cho tôi được gởi thơ về gia đình và bạn bè.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 14 Tháng Mười Hai, 2018, 07:59:30 AM

        Trong những ngày chờ chết, Tojo cố gắng tập làm thơ. Lúc này cũng như hồi bị mất chức Thủ Tướng năm 1944 ông ngỏ ý tiếc là hồi nhỏ ông không tập làm thơ để những lúc như vầy có việc làm tiêu khiển. Tuy nhiên, Tojo vẫn cố gắng làm mấy bài thơ loại haiku (thơ tam tuyệt của Nhật). Trong đó có một bài như sau :

        Kìa trông !
        Hoa nở đầy trời.
        Buổi chiều hoa rụng đó, người thấy chăng ?


        Về sau phu nhân phê bình : «Tội nghiệp, bài thơ của ông còn quá non nớt!»

        Càng ngày ông càng dành nhiều thời giờ để đàm đạo với vị tuyên úy Phật Giáo tại khám đường. Đó là Đại Đức Hanayama. Chiều thứ Tư, 17 tháng 11 năm 1948. Tojo thưa vơi sư trưởng rằng : «Bạch Thầy, hôm nay con đã giác ngộ và tự nhiên trong lòng cảm thấy bình yên, thanh tịnh. Duy chỉ còn một điều rối loạn nội tâm, đó là sự ân hận khi nhớ tới cái chết của bao sanh linh, oan hồn, uổng tử trong chiến tranh. Con cũng hối hận vì không chu tròn được trách nhiệm trong việc ngăn cản những hành động ngược đãi tù binh của binh sĩ Nhật xưa kia, cũng như bao tội ác khác đám lính đó đã gây ra. Con ao ước các nạn nhân chiến cuộc sẽ được trở về an cư lạc nghiệp với sự giúp đỡ của Chánh phủ. Bằng không họ sẽ bị dồn vào chỗ phải đi theo Cộng sản.»

        Đêm hôm đó, Tojo ghi vô Nhật ký : «Tâm hồn ta hoàn toàn yên tĩnh trong niềm an ủi bao la của Phật pháp nhiệm mầu. Bến mê đã sắp vượt qua, bờ tỉnh không còn bao lâu nữa.»

        Các luật sư khuyên ông chống án, nhưng Tojo từ chối. Tuy nhiên đơn chống án của Doihara và Hirota sau một thời gian xét xử cũng không có kết quả gì. Ngày hành quyết cuối cùng được ấn định là 23 tháng Chạp năm 1948. Mỗi tử tội được phép gặp năm người trước khi chết. Bà Tojo đem bốn con gái tới thăm ông lần cuối cùng. Ngồi vây quanh chiếc bàn tiếp khách của khám đường Sugamo, cả gia đình đều im lặng không biết tìm lời lẽ gì để nói lên trong lúc này. Các biện pháp an ninh thật gắt gao để tránh việc can phạm tự tử vào phút chót trước khi hành quyết. Tojo bị còng dính vào tay một sĩ quan Mỹ ngồi cạnh ông. Đàng sau còn có một quân cảnh khác đứng gác. Thấy con gái ông, cô Kinie, nhìn mãi chiếc còng, Tojo liền lên tiếng: «Không sao con đừng buồn. Họ có thể còng tay chân nhưng không thể nào còng nổi trái tim của ba.» Từ lúc đó ông nói nhiều chuyện với các con và khuyên nhủ họ : «Trong suốt đời ba, ba luôn luôn cổ gắng sống ngay thẳng. Nhưng có một điểu đáng ân hận, đó là vì quá bận rộn, nên ba ít để ý đến vấn đề Tôn giáo. Cho tới lúc này ba mới thấy rằng đó quả là một vấn đề quan trọng trong đời sống. Các con không thể nào biết trước cuộc đời mình sau này sẽ gặp những chuyện khó khăn gì. Nhưng ba khuyên các con phải có một Tôn giáo, bất cứ Tôn giáo nào mà các con cảm thấy thích hợp với mình, Phật giáo, Ki tô giáo... Như ba, thi ba tìm thấy sự an ùi trong đạo Phật nhiệm mầu của Đức Thế tôn.»

        Đêm 22 tháng Chạp, Đại đức Hanayama tới tụng kinh cùng với Tojo trong phòng giam. Ông có gởi Ngài một bài thơ nhờ trao lại cho phu nhân. Trước đó ông đã bắt bà hứa không được chết theo ông, phải ở lại với con. Trong bài thơ này, Tojo diễn tả hết nỗi lòng thương cho kẻ ở lại với những ngày tháng long đong vất vả. Thơ rằng :

        Thân cò một phận cô đơn
        Giữa trời phiêu bạt
        Nguồn cơn dãi dầu.


        Trong thời gian hai tuần cuối cùng. Tojo đã dành phần lớn thời giờ để viết bài di chúc cuối cùng. Ông trao di chúc cho Đại đức Hanayama, nhưng sợ rằng có thể sẽ bị người Mỹ tịch thu. Quả nhiên Mỹ tịch thu thật, nên ông đọc đi đọc lại nhiều lần cho Đại đức Hanayama nghe để sau này khi tình hình lắng dịu, Đại đức có thể phổ biến cho mọi người.

        Năm 1961, bản di chúc này đã được phổ biến, cho chúng ta thấy sự tiên đoán của Tojo trước tình thế biến chuyển của thế giới. Ông nói chiến tranh giữa Nga và Mỹ thế nào rồi cũng phải xảy ra tại Á châu. Đó là điểu không thể tránh được. Vì muốn tránh chiến tranh thì phải diệt được lòng tham. Nhưng không quốc gia nào có thể làm nổi điều đó. Tojo lên án chánh sách của Anh - Mỹ là nguyên nhân chánh khiến phong trào Cộng sản bành trướng mạnh tại Á Châu. Đồng thời ông phản đối việc Nhật bị giải giới. Tojo viết : «Giống như cướp đang chạy bên ngoài mà Cảnh sát lại bị tước súng.» Sau hết, ông tỏ lời tạ tội với Thiên Hoàng và nhân dân Nhật, vì đã đưa quốc gia vào vòng chiến mà không chiến thắng nổi. Ông phản đối việc Mỹ tổ chức toà án xét xử ông và các chiến hữu của ông. Tojo kết luận : «Đối với quốc gia, tôi có tội lớn. Nhưng đối với quốc tế tôi hoàn toàn vô tội. Giờ đây tôi sung sướng gánh lấy trách nhiêm cho đất nước để trở về cõi vô minh.»

        Vào khoảng gần một giờ sáng ngày 25 tháng Chạp năm 1948, Quân cảnh tới phòng giam dẫn Toio đến ngôi chùa nhỏ trong khu vực khám đường. Tại đây ông và các bạn đồng số phận như Doihaha, Muto và Matsui gặp lại nhau. Trong cảnh khói hương nghi ngút, họ đứng cúi đầu trước bàn thờ Đức Phật từ bi vô lượng. Tiếng tụng kinh được Đại đức xướng lên và tất cả rập theo trong bầu không khí trang nghiêm. Tuần kinh chấm dứt, mọi người vui vẻ tiễn biệt nhau và ngỏ lời cám ơn Đại đức Hanayama. Sau đó họ đồng thanh hô lớn : «Banzai: ! Chiến sĩ muôn năm ! Thiên Hoàng vạn tuế !» và hùng dũng xếp hàng tiến ra pháp trường thiết lập ngay trong sân nhà tù.

        Các sĩ quan đại diện phe thắng trận đã đứng sẵn sàng để chứng kiến việc hành quyết. Họ mở to mắt nhìn một quang cảnh lạ lùng mà họ sẽ nhớ mãi trong đời : dưới ánh đèn, các Tướng lãnh Nhật vừa tiến lên đoạn đầu đài vừa hô lớn : «Nhật Bản muôn năm ! Chiến sĩ muôn năm ! Banzai!» Chỉ còn một tuần nữa thì Tojo vừa đúng 64 tuổi. Ông tắt thở lúc một giờ rưỡi sáng ngày 23 tháng Chạp năm 1948, để lại một bài học lớn cho hậu thế.


Tiêu đề: Re: Tojo người hùng Thái Bình Dương
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười Hai, 2018, 09:53:36 AM

SÁCH THAM KHẰO CHÁNH YẾU

        AIDA, YUJI, Prisoner of the British. Cresset, London, 1966.

        AOKO, TOKUZO, The Pacific War. Gatujutsu Button Fukyukai, Tokyo, 1953«BEARD, CHARLES A., President Roosevelt and the Coming of the War. Yale University Press, New Haven, 1941.

        BENEDICT, RUTH, The Chrysanthemum and the Sword. Charles E. Tuttle ở Co., Tokyo and Vermont, 1946 : Houghton Mifflin, Boston, Mass,, 1946,

        BRINES, RUSSELL, MacArthur’s Japan, Lippincott, New York, 1948.

        BROWN, DELMER M., Nationalism in Japan. University of California Press. U.S.A., 1955.

        BURTON, HUGH, Japan7s Modern Century. The Ronald Press Company, New York, 1955.

        BUSH, LEWIS, Land of the Dragonfly. Robert Hale, London, 1959.

        The Road to Inamura. Robert Hale, London, 1961, BUTOW, ROBERT J.C., Japan's Decision to Surrender. Stanford University Press, California, 1954»

        Tojo and the Coming of the War. Princeton University Press, Princeton, N.J., 1961,

        BYAS, HUGH, Government by Assassination. Alfred Knopf, New York, 1942.

        CAUSTON, E. E. N., Militarism and Foreign Policy in Japan. Allen ở Unwin, London, 1936»

        CHAMBERLIN, WILLIAM HENRY, Modern Japan. American Council, I.P.R., Webster, 1942 ; McGraw- Hill Publishing Co., Berkshừe, England, 1954.

        CRAIGIE, SIR ROBERT, Behind the Japanese Mask. Hue chinson, London, 1945.

        The Diaries of Koichi Kido. National Archives, Washington, D.C., 1946.

        DULL, PAUL, s. AND UEMURA, MICHAEL, The Tokyo Trials, University of Michigan Press. Ann Arbor, 1957. EICHELBERGER, ROBERT L., Our Jungle Road to Tokyo. Viking Press, New York, 1950.

        ENRIGHT, D.J., The World of Dew. Seeker and Warburg, London, 1955.

        FAIRSERVIS, WALTER A. JR., The Origins of Oriental Civilization. Mentor Books : The New American Library, New York, 1959.

        FEIS, HERBERT, The Road to Pearl Harbour. Princeton University, U.S.A., 1950.

        FLEISHER, WILFRED, Volcanic Isle. Doubleday, New York, 1941.

        GAYN, MARKL Japan Diary. Sloane, New York, 1948. GREW, JOSEPH c., Ten Years in Japan. Simon ở Schuster, New York, 1944.

        Turbulent Era. Houghton Mifflin, New York, 1952. HARGREAVES, REGINALD, Red Sun Rising ; The Siege of Port Arthur. Weidenfeld ở Nicholson, London, 1962 : J.B. Lippincott, Philadelphia, 1962.

        HARRIS, TOWNSEND, The Complete Journal of Townsend Harris, Mario E» Cosen£a, ed. Doubleday, Doran ở Co., Garden City; New York, 1930 : Charles E. Tuttle ở Co,, Tokyo and Vermont, 1959.

        HUDSON, G.F., The Far East in World Politics. Oxford University Press, London, 1937.

        INOGUCHI, RIKIHEI, NAKAJIMA, TAĐASHI, AND PINEAU, ROGER, The Divine Wind. Hutchinson^ London, 1959.

        JAMES, DAVID H., Thì Rise and Fall of the Japanese Empire. Allen ở Unwin, London, 1951.

        Japan's Struggle to End the War. u.s. Strategic Bom bing Survey, 1946,

        JONES, F.c, Japan’s New Order in East Asia. Oxford University Prẹss, London, 1954. ’

        KASE, TOSHIKAZU, Eclipse of the Rising Sun. Jonathan Cape, London, 1951 : IN u. s. published by Yale University Press under the title Journey to the Missouri, 1952«

        KELLY, FRANK and RYAN, CORNELIUS, Star Spangled Mikado. McBride, New York, 1947.

        LANGER, WILLIAM L. and GLEASON, s. EVERETT, The Challenge to Isolation : 1937-40. Harper ở Row, New York, 1952.

        The Undeclared War : 1940-41. Harper ở Row, New York, 1953»

        LEE, CLARK, One Last Look Around. Duell, Sloan ở Pearce, New York, 1947«

        LINKLATER, ERIC, Juan in China. Jonathan Cape, London, 1937.

        LORD, WALTER, Day of Infamy. Holt, Rinehart and Winston, New York, 1957.

        LORY, HILLIS, Japan's Military Masters. Viking Press, New York, 1943.

        MARAINI, FOSCO, Meeting with Japan. Hutchinson, London, 1959 ; Viking Press, New York, 1960»

        The Memoirs of Cordell Hull Maởnillan, New York, 1948.

        Mission Accomplished. u.s. Army Air Force, Washington D.C., 1946.

        MOLONEY, JAMES CLARK, Understanding the Japanese Mind. Philosophical Library, New York, 1954.

        MOORE, FREDERICK, With Japan's Leaders. Chapman ở Hall, London, 1943; Sợibners, New York, 1942.

        MOSLEY, LEONARD, Hirohito : Emperor of Japan. Prentice Hall, New York, 1966 ; Weidenfeld ở Nicholson, London, 1966,

        NITOBE, INAZO, Bushido: The Soul of Japan. Putnam's and Coward-McCann, New York, 1905.

        Intercourse Between the United States and Japan. John Hopkins Press, Baltimore, Md., 1891.

        PIGGOTT, MAJOR-GENERAL F.S.G., Broken Thread. Gale ở Polden, Aldershot, England, 1950,

        POTTER, JOHN DEANE, Admiral of the Pacific. Heine- mann, London, 1965.

        REDMAN, H. VERE, Japan in Crisis. Alien ở Unwin, London, 1935.

        REĨSCHAƯER, EDWIN o., Japan : Past and Present.  Alfred Knopf, New York, 1964.

        United States and Japan. Harvard University Press, Cambridge, 1957.

        RUSSELL, LORD OF LIVERPOOL, The Knights of Bu- shido : A Short History of Japanese War Crimes• Cassell, London, 1958 ; E. p. Dutton, New York, 1958, SANSOM, SIR GEORGE, A History of Japan. Stanford University Press, California, 1962.

        The Seợet Diary of Harold L. Ickes. Simon ở Schuster, New York, 1954.

        SHEEA, KIMPEI, I Cover Japan. Tokyo News Service, Tokyo, 1952.

        SHIGEMITSU, MAMORU, Japan and Her Destinv. Hutchinson, London, 1958 ; E. p. DUTTON, New York, 1958.

        SINGH, BRIGADIER RAJENDRA, East Ferment. India Army Educational Stores, New Delhi, 1961. STEIN, GUNTHER, Far East in Ferment• Methuen, London, 1936.

        Made in Japan. Methuen, London, 1935. STIMSON, HENRY LM On Active Service in. Peace and

        War. Harper ở Row, New York, 1948.

        STORRY, RICHARD, The Double Patriots. Houghton Mifflin, Boston, Mass., 1957 ; Chatto ở Windus, London, 1957,

        A History of Modern Japan. Penguin Books, Middlesex, England, i960.

        SUZUKI, D.T., An Introduction to Zen Buddhism. Arrow Bxiks London, 1959 , Rider, London, 1949.

        TASAKI, HANAMA, Long the Imperial Way. Victor Gol- lancz, London, 1951 ; Houghton Mifflin, Boston, Mass., 1950 ; Four Square Books, London, 1961.

        TERASAKI, GWEN, Bridge to the Sun. University of North Carolina Press, Chapel Hill, 1957 , Michael Joseph, London, 1958; Penguin Books, Ltd., England, 1962.

        TOGO, SHIGENORI, The Cause of Japan. Simon and Schuster, New York, 1956.

        TOLISCHUS, OTTOD., Tokyo Record. Reynal and Hitchcock, New York 1941.

        YOSHIDA, SHIGERƯ The Yoshida Memoirs. Heinemann, London, 1961 ; Houghton Mifflin, Boston, Mass.,1962.

        YOSHIHASHI, TAKEHIKO, Conspiracy at Mukden. Yale University Press New Haven and London, 1963.

        YOUNG, MORGAN, Imperial Japan. Allen ở Unwin London, 1938.

HẾT