Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:57:20 AM



Tiêu đề: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Năm, 2018, 10:57:20 AM
    
        - Tên sách : Ngọn cờ của cha ( Flags of our fathers )

        - Tác giả : James Bradley, Ron Powers
           Người dịch : Diệp Minh Tâm

        - Nhà xuất bản Tri Thức

        - Năm xuất bản : 2006

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Năm, 2018, 05:53:29 PM
 
        "Bradley là tác giả thuật chuyện có tài, và ông đã viết về mỗi người giương ngọn cờ với lòng cảm thông, nói về cuộc đời họ và những người thân thương của họ...

        Những ai dù chỉ quan tâm chút ít đến Thế chiến II cũng nên đọc quyển sách này..."

Bookpage       

        "Ký ức về sáu chàng trai giương ngọn cờ đã mất đi... Nhưng [quyển sách này] làm họ sống lại... và biến đổi họ từ những "hình ảnh tiêu biểu vô danh" thành những con người... Không người nào có tên khắc trên đài tưởng niệm. Bạn có thế tìm hiểu thêm về họ qua quyến sách xuất sắc của James Bradley."

Báo Chicago Sun-Times       

        "Đây là quyển sách hay nhất về chiến trận mà tôi đã từng xem. Những câu chuyện của họ, từ lúc sáu người giương ngọn cờ ở Iwo Jima đăng ký nhập ngũ, đến việc huấn luyện, việc đổ bộ rồi chiến đấu tiếp theo đây, đều khiến đầu óc tôi choáng ngợp."

Stephen Ambrose, nhà sử học quân sự       



        “Các bà mẹ nên cùng nhau
        thương thảo xuyên qua biên giới quốc gia.
        Những bà mẹ ở các quốc gia
        đang chiến đấu phải đồng lòng vời nhau:
        Hãy dừng lại cuộc chém giết này.
        Hãy dừng lại ngay bây giờ".


YOSHIKUNITAKI         


KHI NGƯỜI VỀ NHÀ NÓI GIÙM CHÚNG TÔI NGÀY MAI CỦA NGƯỜI TÔI CHO HÔM NAY

        (Câu từ khắc bên ngoài nghĩa trang thủy quân lục chiến ở Iwo Jima)


MỤC LỤC

        Tên riêng và từ đặc biệt   

        Chương 1        MIỀN ĐẤT THIÊNG LIÊNG   

        Chương 2        NHỮNG CHÀNG TRAI MỸ   

        Chương 3        CUỘC CHIẾN CỦA NƯỚC MỸ   

        Chương 4        TIẾNG GỌI LÊN ĐƯỜNG   

        Chương 5        TRUI RÈN MŨI GIÁO   

        Chương 6        HẠM ĐỘI   

        Chương 7        NGÀY D   

        Chương 8        NGÀY D CỘNG 1   

        Chương 9        NGÀY D CỘNG 2   

        Chương 10        NGÀY D CỘNG 3   

        Chương 1        "ĐỂ MỖI TÊN KHỐN KIẾP CÓ THỂ NHÌN THẤY"

        Chương 12        NHỮNG CHUYỆN HOANG TƯỞNG   

        Chương 13        "GIỐNG NHƯ ĐỊA NGỤC MÀ KHÔNG CÓ LỬA"

        Chương 14        ANTIGO   

        Chương 15        TRỞ VỀ NHÀ   

        Chương 16        CHUYẾN DU HÀNH THỨ BẢY ĐỒ SỘ   

        Chương 17        XUNG ĐỘT DANH DỰ   

        Chương 18        PHIM ẢNH VÀ ĐÀI TƯỞNG NIỆM   

        Chương 19        THƯƠNG VONG CỦA CHIẾN TRANH   

        Chương 20        PHẨM GIÁ ĐỜI THƯỜNG   

        Viết thêm sau ấn bản bìa mỏng 2006   

        Lời cảm tạ của tác giả   

        Thư ngỏ của Clint Eastwood   

        về cuốn phim Ngọn cờ của cha (Flags of our fathers)   



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Năm, 2018, 08:19:32 PM

TÊN RIÊNG VÀ TỪ ĐẶC BIỆT

        Alcoholics Anonymous: có nghĩa “Những người nghiện rượu vô danh”, tổ chức quốc tế phi lợi nhuận đặt trụ sở chính ở Thành phố New York, có trên một triệu hội viên toàn thế giới, nhằm trợ giúp người nghiện bỏ rượu.

        Anzio: thị trấn thuộc tỉnh Rome, miền Trung nước Ý, nơi trong Thế chiến II quân Đồng minh đổ bộ ngày 22/1/1944, đạt thành công bước đầu, nhưng sau đó bị kiềm toả chặt ở một vùng đầu cầu trên bờ biển, mãi đến tháng 5/1944 mới được giải thoát.

        Appleton: thành phố ở miền đông Bang Wisconsin, nằm dọc Sông Fox, được đặt tên theo ông Samuel Appleton, cha vợ của người sáng lập Đại học Lawrence ở thành phố này.

        Atlanta: thành phố thủ phủ cùa Bang Georgia, nằm ở miền Bắc của bang này.

        B-24: loại oanh tạc cơ hạng trung của Mỹ, có biệt danh “Người Giái phóng” (Liberator), được trang bị bằng hai đại liên 12,7 li, mang được 3,6 tấn bom, tầm hoạt động 3.400 km, được sử dụng lần đâu tiên vào năm 1940 trên chiến trường châu Âu trong Thế chiến II.

        B-29: loại oanh tạc cơ hạng nặng của Mỹ, có biệt danh “Siêu pháo đài” (Superfortress), được trang bị bằng hai đại liên 12,7 li, mang được 9 tấn bom, tầm hoạt động hơn 5.000 km, vào tháng 4/1944 xuất trận lần đâu tiên trong Thế chiến II, được dùng để thả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật.

        Bacall: Lauren Bacall (1924- ), nữ diễn viên điện ảnh và kịch nghệ người Mỹ.

        Basilone: John Basilone (1916-1945), Trung sĩ nhất Thủy quân Lục chiến (TQLC), tử trận ở Iwo Jima trong ngày đầu tiên, là quân nhân TQLC duy nhất trong Thế chiến II được tặng thưởng cả ba huân chương cao quý: Danh dự (ở Guadacanal), và Thập tự Hải quân cùng Quả tim Tím (ở Iwo Jima).

        Blandy: William H. p. Blandy (1890-1954), Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ, trong trận Iwo Jima là Đề đốc Tư lệnh Lực lượng Hỗ trợ Đổ bộ, phụ trách các nhiệm vụ pháo kích, hộ tống trên biển, tháo gỡ thủy lôi...

        BAR: viết tẳt của Browning Automatic Rifle (Súng trường Tự động Browning), loại súng máy hạng nhẹ, còn gọi là trung liên, có nòng .30 (7,62 mm), có chân hai càng được gắn ở mũi súng để xạ thủ đặt súng bắn ở tư thế nằm.

        Bataan: bán đảo phía tây Đảo Luzon, Philippines, giáp với Vịnh Manila về hướng đông và Biển Đông về hướng nam và tây.

        Bethesda: Trung tâm Y khoa Hải quân Bethesda, tức quân y viện cửa Hải quân Hoa Kỳ, ở Bang Maryland.

        Bếp súp: bếp nấu thức ăn, thường là món súp ăn với bánh mỳ, để phát chẩn cho người nghèo khổ, người thất nghiệp, nạn nhân thiên tai...

        Block: Harlon Block (6/11/1924-1/3/1945), Hạ sĩ nhất TQLC, Tiểu đội phó dưới quyền Mike Strank, thuộc Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, nắm quyền Tiểu đội trưởng khi Mike Strank tử trận, là một trong sáu người giương ngọn cờ; được truy tặng Huân chương Quả tim Tím, được an táng ở Nghĩa trang Sư đoàn 5 TQLC trên Đảo Iwo Jima rồi được cải táng gần Đài Tưởng niệm Iwo Jima ở Harlingen, Bang Texas.

        Bogart: Humphrey Bogart (1899-1957), nam diễn viên điện ảnh người Mỹ, thuộc hàng siêu sao Hollywood, rất thành công trong nhiều phim như phim Casablanca (1942) được bình chọn là một trong 10 phim hay nhất mọi thời đại. Ông nhận giải Oscar năm 1951 cho nam diễn viên chính.

        Boston: thành phố thủ phủ của Bang Massachusetts, nằm ở vùng đông của bang, bên Vịnh Boston, là phần thu hẹp của Vịnh Massachusetts, ở cửa Sông Charles.

        Bougainville: đảo nằm ở vùng Tây-nam Thái Bình Dương, thuộc Quần đảo Solomon, phía đông Papua New Guinea. Trong Thế chiến II, đảo Bougainville có vị trí chiến lược vì là cửa ngõ thông xuống Papua New Guinea và Úc.

        Bradley: John Bradley (10/7/1923-11/1/1994), có tên riêng thân mật là “Jack”, biệt hiệu là “Doc”, cha của tác giả sách nguyên bản, Quân Dược tá cấp Hai1 của Hải quân, được tăng phái qua Trung đội 3, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, là một trong sáu người giương ngọn cờ.

-----------------
        1. John Bradley không mang quân hàm như hạ sĩ quan và binh sĩ chiến đấu, nhưng được gọi theo bậc chuyên môn ngành quân y. Xét theo bậc lương, ông làm theo cương vị như Quân Y tá trưởng, tương đương cấp hạ sĩ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Năm, 2018, 04:11:45 AM

        Carbine: loại súng trường bán tự động, ngắn và nhẹ hơn súng trường Mi, có nòng 30 (7,62 mm) như khẩu Mi nhưng viên đạn ngắn hơn, có đầu tròn.

        Carson: John (Johnny) Carson (1925- ), người làm bầu sô chương trình giải trí trên truyền hình mang tên “The Tonight Show” (nghĩa là Sô Đêm nay) thường được chiếu vào giờ khuya, kéo dài trong giai đoạn 1962-1992, rất được ưa chuộng nhờ phong thái thoải mái, châm biếm có duyên, tài ứng khấu linh hoạt với khách mời.

        Charleston: thành phố ở miền Đông-nam của Bang South Carolina, giữa hai con sông Ashley và Cooper, ở đầu một vịnh đổ ra Đại Tây Dương.

        Chicago: thành phố lớn thứ ba của Mỹ, nằm trong Bang Illinois, bên bờ Tây-nam Hồ Michigan, ở cửa Sông Chicago.

        Chiến tranh sấm sét (theo nghĩa tiếng Đức: Blitzkrieg): chiến thuật đánh bằng xe tăng tổng lực của Đức Quốc xã dưới sự yểm trợ của máy bay nhằm thần tốc xuyên thủng phòng tuyến của đối phương và tiếp tục tiến công, để bộ binh theo sau làm công việc truy quét và bình định vùng mới chiếm được.

        Coolidge: Calvin Coolidge (1872-1933), Phó Tổng thống (1921-1923) và Tổng thống Hoa Kỳ (1923-1929) trong khoảng thời gian thịnh vượng của nước này.

        Corsair: chiến đấu cơ có vận tốc cao thời bấy giờ (trên 650 km/giờ), cũng thích hợp đế sử dụng trên hàng không mẫu hạm, được xem là chiến đấu cơ thành công nhất trong Thế chiến II: Hải quân Mỹ tính ra là trong các cuộc không chiến, cứ mỗi 1 chiếc Corsair bị bắn rơi thì có 11 máy bay Nhật bị hạ. Ngoài ra, loại máy bay này cũng được dùng để đánh bom, như trong Trận Iwo Jima.

        Cơ đốc Phục lâm (Anh ngữ: Seventh Day Adventist): có khi được gọi là Cơ đốc Phục lâm An Thất Nhật, một nhánh giáo phái của đạo Tin Lành phát sinh ở Mỹ vào giữa thế kỷ XIX với hai giáo lý chính: Jesus sẽ giáng trần lần nữa (“phục lâm”), và phải cử hành lễ Sa-bát vào mỗi ngày thứ Bảy (“an thất nhật”). Giáo phái dạy bảo tín đồ đừng giết người, phải chú trọng đến sức khoẻ, cấm sử dụng các chất gây nghiện, khuyên tín đồ hạn chế hoạt động khiêu vũ hoặc đi xem hát, tổ chức quyên góp để xây bệnh viện, bệnh xá, nhà dưỡng lão... ở nhiều nơi trên thế giới. Giáo phái rất chú trọng đến việc giáo dục cho giới trẻ, vì thế thường lập ra những trường dòng để xây dựng nền tảng đạo đức.

        Crimea: bán đảo phía đông-nam Ukraina, được nối với lục địa qua Eo đất Perekop. Hiện có bang cộng hoà tự trị Crimea thuộc nước Ukraina.

        Crosby: Bing Crosby (1904?-1977), ca sĩ và diễn viên điện ảnh người Mỹ, đoạt giải Oscar cho nam diễn viên chính năm 1944.

        Cuộc chiến năm 1812: cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Anh quốc bẳt đầu năm 1812 và kéo dài đến đầu năm 1815, được nhiều người xem là “chiến tranh giành độc lập thứ hai” của Hoa Kỳ. Tuy không bên nào giành chiến thắng rõ rệt, cuộc chiến giúp người Mỹ tự tin hơn trong việc duy trì nền độc lập của mình.

        Curtis: Tony Curtis (1925- ), tên khi sinh là Bernard Schwarz, diễn viên điện ảnh Mỹ nổi tiếng trong các thập kỷ 1950 và 1960, cha của nữ diên viên Jamie Lee Curtis.

        Dallas: thành phố nằm ở miền Trung-bắc bang Texas, bên bờ Sông Trinity.

        Detroit: thành phố vùng Đông-nam của Bang Michigan, Hoa Kỳ.

        Đại quân đoàn: gồm 2-4 quân đoàn, tức khoảng 9-15 sư đoàn cùng một số lực lượng thiết giáp, không quân... biệt phái, thường do thượng tướng hoặc đại tướng nắm quyền tư lệnh.

        Đại Suy thoái: cơn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử thế giới công nghiệp hiện đại, kéo dài từ cuối năm 1929 đến giữa thập kỷ 1940. Sản lượng công nghiệp sụt giảm, các công ty và ngân hàng đóng cửa, nhiều người bị thất nghiệp, tài sản tiêu tán... Vào lúc đỉnh điểm, một phần tư số người trong độ tuổi lao động ở Mỹ bị thất nghiệp.

        Điện Capitol: Toà nhà ở Thủ đô Washington, được dùng làm trụ sở của Quốc hội Hoa Kỳ.

        Đơn vị bộ binh: các đơn vị của quân đội Mỹ tựu trung được tổ chức như sau:

        Tiểu đội: có 9-12 người, do hạ sĩ quan chi huy.

        Trung đội: thường gồm 4 tiếu đội, khoảng 40 người, do thiếu uý hoặc trung uý chi huy.

        Đại đội: thường gồm 4 trung đội, khoảng 150 người, có thể thêm đơn vị tăng phái như súng cối, quân y..., do trung uý hoặc đại uý chỉ huy. Mã hiệu đại đội thường được gọi bằng chữ cái A, B, C, D, E..., đọc nguyên chữ thì A thành Alpha, B thành Bravo, E thành Easy... theo cách nói trong ngành truyền tin quân đội Mỹ.

        Tiểu đoàn: thường gồm 4 đại đội thêm pháo, công binh, quân y..., có 500-1.200 quân, do đại uý hoặc thiếu tá chỉ huy.

        Trung đoàn: thường gồm 5 tiểu đoàn, có 3.000-5.000 quân do thiếu tá hoặc đại tá chỉ huy.

        Sư đoàn: thường gồm 3-4 trung đoàn và một số đơn vị phụ thuộc như tổng hành dinh, pháo binh, công binh, tình báo, quân cảnh..., do đại tá hoặc thiếu tướng làm tư lệnh. Sư đoàn Lục quân thường có 13.000-16.000 quân nhưng sư đoàn TQLC có quân số cao hơn vì có thêm những đơn vị hỗ trợ để chiến đấu độc lập.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Năm, 2018, 01:46:12 AM

        Eisenhower: Dwight David “Ike” Eisenhower (1890-1969), Thống tướng Lục quân (1944) của Mỹ, Tư lệnh Tối cao Lực lượng Đồng minh ở châu Âu (1944), Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ (1945-1948), Tư lệnh Tối cao của Tổ chức Bắc Đại Tây Dương (NATO) (1950), Tổng thống Hoa Kỳ (1953-1961).

        Eastwood: Clint Eastwood (1930- ) nam diễn viên gạo cội và đạo diên điện ảnh người Mỹ, đoạt giải Oscar năm 1992 cho đạo diễn xuất sắc, đạo diễn phim Flags of Our Fathers (cùng tựa với quyển sách) dựa theo sách nguyên bản.

        El Paso: thành phố vùng cực tây của Bang Texas, nằm bên bờ Sông Rio Grande, đối diện Mexico.

        Ellis: Đảo Ellis trong Vịnh New York, nơi đặt Tượng Nữ thần Tự do. Thời trước, hầu hết dân nhập cư vào Mỹ đến bờ biển miền Đông đều đi tàu thủy qua Đảo Ellis để vào Thành phố New York nên đều trông thấy Tượng Nữ thần Tự do, là ấn tượng mạnh mẽ và lâu dài đối với họ trong ngày đầu tiên đến nước Mỹ.

        esprit de corps: tiếng Pháp, có nghĩa: tinh thần đồng đội. Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ thích dùng cụm từ tiếng Pháp này vì trong tiếng Anh binh chủng TQLC được gọi là Marine Corps, vì thế esprit de corps cũng được hiểu là “tinh thần binh chủng”.

        FDR: tên tắt thông dụng của Franklin Delano Roosevelt.

        Fontaine: Joan Fontaine (1917- ), nhũ danh là Joan De Beauvoir De Havilland, nữ diẽn viên điện ảnh người Mỹ, trong các thập kỷ 1940-1960 thủ nhiều vai thành công trong thể loại phim tình cảm (như bộ phim được chuyển thể từ truyện nổi tiếng Bức thư của người đàn bà không quen), nhận giải Oscar 1941 cho nữ diên viên chính.

        Forrestal: James Vincent Forrestal (1892-1949), Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ (1944), Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Hoa Kỳ (1947-1949), qua đời vì tự tử.

        Franklin: Quận Franklin, quê nhà của Mike Strank, thuộc Thị trấn Johntown ở miền trung nam của Bang Pennsylvania, nằm dọc theo Sông Conemaugh, cách Thành phố Pittsburgh khoảng 100 km về hướng đông.

        Gagnon: Rene Gagnon (7/3/1925-12/10/1979), Hạ sĩ (1946) TQLC, trong Trận Iwo Jima là Binh nhất thuộc Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, là một trong sáu người giương ngọn cờ, được cải táng ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

        Genaust: William H. Genaust (1907-1945), Trung sĩ nhất TQLC, quay đoạn phim màu cảnh giương lá cờ thứ hai trên Núi Suribachi, nhưng bị mất tích trước khi có cơ hội xem đoạn phim này. Vào tháng 5/2007, quân đội Mỹ phái người đến hang động nơi Genaust mất tích để tìm kiếm dấu vết của ông, nhưng chưa có kết quả.

        Gettysburg: vùng đất gần Thành phố Philadelphia, Hoa Kỳ, nơi xảy ra trận đánh ác liệt vào tháng 7/1863 giữa quân đội hai miền Nam-Bâc, tạo nên điểm ngoặt quan trọng trong cuộc Nội chiến của Mỹ (1861-1865). Chỉ trong 3 ngày chiến đấu, số thương vong quân miền Bắc lên đến 23.000, còn số thương vong quân miền Nam là 25.000.

        Greensboro: thành phố nằm ở miền bắc Bang North Carolina, Hoa Kỳ.

        Guadalcanal: hòn đảo lớn nhất của Quần đảo Solomon ở Tây- nam Thái Bình Dương, có diện tích 2.500 km2, trong Thế chiến II thuộc chủ quyền của Úc. Vào tháng 1/1942 quân Nhật chiếm Đảo Guadalcanal và xây dựng một sân bay trên đảo này, trực tiếp đe doạ đến Úc. Tháng 7/1942, Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ, giao chiến khốc liệt với quân Nhật. Nhiều trận đánh diễn ra giữa bộ binh hai bên trong rừng rậm và giữa hải quân Mỹ-Nhật ngoài khơi. Ngày 9/2/1943, toàn thể quân Nhật trên đảo Guadalcanal đầu hàng. Quần đảo Solomon là một nước độc lập từ năm 1978.

        Guam: xem Marianas.

        Guantanamo: Vịnh Guantanamo nằm ở miền Đông-nam Cuba, trong tỉnh Guantanamo, gần Thành phố Guantánamo. Qua một thoả thuận với Cuba, Hải quân Mỹ đặt căn cứ hai bên Vịnh Guantanamo, gồm sân bay, kho hậu cần, xưởng sửa chữa và cơ sở huấn luyện.

        Halsey: William Frederick Halsey (1882-1959), Thủy sư Đô đốc (1945) Hải quân Hoa Kỳ, Đô đốc Tư lệnh Hạm đội thứ Ba vào thời gian diễn ra Trận Iwo Jima.

        Hansen: Henry Oliver Hansen (1919-1945), Trung sĩ TQLC, một trong những người giương lá cờ thứ nhất trên Núi Suribachi, tử trận bảy ngày sau, được nhận diện nhầm là một trong sáu người giương lá cờ thứ hai.

        Harrison: nhũ danh Norma Harrison (1941- ), Thiếu uý Quân y tá Hải quân khi đi đến Iwo Jima, đến ngày 21/8/2006 vẫn còn sống (theo bản tin đề ngày này trên trang web http://www.leatherneck.com).

        Hayes: Ira Hamilton Hayes (12/1/1923-24/1/1955), người Da đỏ bộ tộc Pima, Binh nhất TQLC, thuộc Tiểu đội của Mike Strank, Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, là một trong sáu người giương ngọn cờ, được thăng hạ sĩ trước khi xuất ngũ, được cải táng ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

        Hellcat: loại chiến đấu cơ chủ yếu được Hải quân và TQLC sử dụng trên chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến II, có vận tốc khá cao so với thời bấy giờ (tối đa 610 km/giờ), có bán kính hoạt động 1.500 km, được xem là chiến đấu cơ thành công nhất trong cuộc chiến: cứ mỗi 1 chiếc Hellcat bị bán rơi thì có 19 máy bay Nhật bị hạ.

        Hippocrates (460?-377? tCN): nhà y học người Hi Lạp, được xem là ông tổ của ngành y khoa. Từ hơn 2000 năm nay, trước khi tốt nghiệp, sinh viên nhiều trường đại học y khoa trên thế giới phải cất lên lời thề Hippocrates về những chuẩn mực y đức.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Sáu, 2018, 10:29:54 PM

        Hirohito (1901-1989): Hoàng đế Nhật Bản, trị vì từ năm 1926 cho đến khi qua đời năm 1989.

        Hiroshima: thành phố vùng Tây-nam Đảo Honshu, ở đầu Vịnh Hiroshima, Nhật Bản, bị Mỹ thả bom nguyên tử ngày 6/8/1945.

        Hitler: Adolf Hitler (1889-1945), Thủ tướng Đức (1933-1945), Lãnh tụ và Thủ tướng Đế chế (1934-1945), Tư lệnh Tối cao Quân lực kiêm Bộ trưởng Chiến tranh (1938-1945), Tham mưu trưởng Lục quân (1941-1945).

        Honshu: hoặc Hondo, đảo lớn nhất của Nhật Bản, có diện tích hơn 230.000 km2 (kể cả hơn 200 đảo nhỏ ngoài khơi). Thủ đô Tokyo nằm ở đoạn giũa đảo này.

        Hope: Bob Hope (1903-2003), nghệ sĩ hài và diễn viên điện ảnh-truyền hình nổi tiếng người Mỹ, thường tham gia những chương trình giúp vui binh sĩ Mỹ phục vụ ở hải ngoại kể cả ở Nam Việt Nam trước 1975.

        hố cá nhân: hố đào cho 1 hoặc 2 người, vừa đủ sâu để tránh mảnh đạn pháo nhưng không sâu lắm để người trong hố có thể đứng bên trong mà bắn qua miệng hố. Khi đào vội vã để chiến đấu, hố cá nhân thường hẹp, chi vừa đủ chỗ đứng; hố ngủ qua đêm thì dài thêm một chút.

        Hội đồng Tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff): vào thời gian xảy ra Trận Iwo Jima gồm có Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân (Chairman of Joint Chiefs of Staff - chức vụ tương đương Tổng Tham mưu trưởng quân đội ở nhiều nước) và Tham mưu trưởng1 ba binh chủng Hải quân, Lục quân và Không lực, có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng thống. Hiện nay, Hội đồng Tham mưu Liên quân có thêm một Phó Chủ tịch và Tham mưu trưởng TQLC.

        Huân chương Danh dự (Anh ngữ: Medal of Honor): Huân chương quân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ, có từ năm 1861, do Tổng thống Hoa Kỳ trao tặng dưới danh nghĩa của Quốc hội Hoa Kỳ, cho bất kỳ người ở cấp bậc nào có hành động dũng cảm, vượt quá nhiệm vụ bình thường đòi hỏi, nguy hiểm đến mạng sống của chính người hành động. Tất cả thành viên của Quân đội Mỹ gặp người mang Huân chương Danh dự, dù người này ở cấp bậc thấp hơn, đều phải chào với ý nghĩa là chào tấm huân chương.

        Huân chương Sao Bạc (Anh ngữ: Silver Star): huân chương của Hoa Kỳ, cao quý đứng hàng thứ tư nói chung, và hàng thứ ba về tính chất dũng cảm khi đối diện quân địch.

        Huân chương Quả tim Tím (Anh ngữ: Purple Heart): huân chương được trao cho quân nhân Hoa Kỳ bị thương hoặc tử trận vì hoạt động chiến đấu với đối phương, hoặc bị đối phương ngược đãi khi làm tù binh.

        Huân chương Thập tự: bao gồm ba loại huân chương quân sự được xem là ngang nhau và cao quý đồng hàng thứ hai của Hoa Kỳ (sau Huân chương Danh dự):

        Huân chương Thập tự Chiến công Xuất sắc (Distinguished Service Cross) để tưởng thưởng hành động dũng cảm phi thường của Lục quân;

        Huân chương Thập tự Hải quân (Navy Cross) cho Hải quân, Thủy quân Lục chiến và lực lượng Phòng vệ Duyên hải (Coast Guard), và cũng có thể được trao tặng cho các binh chủng khác về hành động dũng cảm liên quan đến vùng biển;

        Huân chương Thập tự Không lực (Distinguished Flying Cross) để tưởng thưởng hành động dũng cảm phi thường khi thực hiện phi vụ.

        Ignatovvski (1926-1945): Ralph Anthony Ignatowski, có biệt hiệu “Iggy”, Binh nhất TQLC Mỹ, cùng quê và là bạn thân của John Bradley, bị quân Nhật bắt; theo báo cáo chính thức: hai con mắt, vành tai, các ngón tay và lưỡi bị móc mất, răng bị đập nát, nhiều vết lưỡi lê trên bụng, hai cánh tay bị gãy, và bộ phận sinh dục bị cắt ra, nhét vào miệng2; được an táng ở Nghĩa trang Sư đoàn 5 TQLC trên Đảo Iwo Jima rồi được cải táng ở Nghĩa trang Quân sự Quốc gia Illinois, Rock Island.

        Independence Hall (Toà Độc lập): toà nhà có giá trị lịch sử ở Thành phố Philadelphia, nơi đặt trụ sở Quốc hội của miền Bắc Hoa Kỳ, cũng là nơi soạn thảo và tuyên cáo Bản Tuyên ngôn Độc lập (1776), nơi soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ, và là trụ sở của Tối cao Pháp viện trong thời gian 1789-1800.

        Indianapolis: thành phố thủ phủ của Bang Indiana, nằm ở vùng trung tâm bang này.

        Iwo Jima: hòn đào của Nhật thuộc Quần đảo Volcano (Núi lửa), nằm ở vùng tây Thái Bình Dương, dài khoảng 9 km, rộng khoảng 4 km. Nơi có địa hình cao nhất là ngọn núi lửa đã tắt Suribachi, cao 161m. Trận Iwo Jima diễn ra từ tháng Hai đến tháng Ba năm 1945. Khoảng 6.800 quân Mỹ tử trận (trong đó có khoảng 6.000 Thủy quân Lục chiến). Nhật mất khoảng 21.000 quân. Việc chiếm đóng Iwo Jima giúp Mỹ có căn cứ không quân nằm sát nước Nhật để máy bay Mỹ có thể tiến đánh sâu vào những trung tâm công nghiệp của Nhật. Theo hoà ước ký giữa Đồng minh và Nhật năm 1951, Quần đảo Volcano thuộc quyền tiếp quản tạm thời của Hải quân Mỹ. Năm 1968, quần đảo này được trao trả cho Nhật. Vào tháng 6/2007, Nhật Bản quyết định đổi tên hòn đảo thành Iwo To, theo tên gọi truyền thống.

        Johnson: Trung tá TQLC Chandler Johnson, Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC Mỹ.

------------------
        1. Theo thuật ngữ quân đội Hoa Kỳ không phải là chức “tư lệnh”, để thế hiện ý nghĩa những người đứng đầu binh chủng có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng thống, người giữ chức Tổng Tư lệnh Quân đội.

        2. Theo trang web: en.wikipedia.org/wiki/Ralph_Ignatowski_note-o.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:13:49 PM

        Kelly: Gene Kelly (1912-1996), vũ công thiết hài và ba lê, diễn viên, đạo diễn người Mỹ, đóng góp vào nhiều phim ca nhạc như cuốn phim nổi tiếng Singin' in the Rain (1952), nhận giải thưởng Oscar đặc biệt năm 1951 vì những đóng góp về nghệ thuật múa trong phim ảnh.

        Kennedy: John Fitzgerald Kennedy (1917-1963), Tổng thống Hoa Kỳ (1961-1963), chết vì bị ám sát.

        Khẩu phần K: Loại khẩu phần cung ứng cho binh sĩ Mỹ trong thời gian chiến đấu, được cho là gọi theo tên nhà sinh lý học Mỹ Ancel Benjamin Keyes (sinh năm 1904), cũng được gọi là Khấu phân C (từ "Combat" tức “chiến đấu”), mỗi hộp khẩu phần gồm ba gói, mỗi gói đủ cho một binh sĩ ăn một bữa. Khẩu phần K được thay đổi nhiều món, nhưng nói chung đều có đủ thịt, trứng, phó mát, bánh quy, bánh trái cây, sô-cô-la, bột canh, bột cà phê, bột trái cây, kể cả kẹo cao su và thuốc lá.

        Khu bảo tồn: những vùng đất do Chính phủ Mỹ dành riêng cho các bộ lạc người Da đỏ, từ những thoả thuận giữa di dân và người Da đỏ bàn xứ vào thế kỷ XIX, chủ yếu để tránh sự xung đột giữa hai bên. Trong khu bảo tồn, người Da đỏ có nhiều quyền tự trị theo truyền thống của họ.

        Khu vực Đại Đông Á Đồng Thịnh vượng: chính sách trong Thế chiến II của Nhật Bản đối với các nước Trung Hoa (kể cả Mãn Châu), ba nước Đông Dương, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philippines. Bằng ngôn từ "đồng văn, đồng chủng" và lời hứa hẹn "giải phóng" các nước Châu Á thoát khói sự đô hộ của phương Tây, cùng nhau xây dựng thịnh vượng chung và bình đắng, Nhật Bàn mưu đồ tranh giành các thuộc địa của phương Tây ở khu vực này; khai thác các nguồn tài nguyên.

        Krulak: Charles e. Krulak, (1942 -), Đại tướng (1995) TQLC Hoa Kỳ, Tham mưu trưởng TQLC (1995-1999)-

        Kuribayashi: Tadamichi Kuribayashi (07/7/1891-23/3/1945), Trung tướng (hai sao) Quân đội Nhật Bản, chi huy quân trú phòng Iwo Jima.

        Kyushu: một trong 4 đảo lớn nhất của Nhật Bản, nằm về phía cực nam, diện tích rộng hơn 36.000 km2.

        Kwai: sông ở Thái Lan, phía Tây Bangkok. Trong Thế chiến II, quân Nhật huy động nhiều tù binh Đồng minh cùng công nhân địa phương xây dựng tuyến đường sằt từ Bangkok băng ngang đoạn Sông Kwai trong Tinh Kanchanaburi dự định kéo dài đến Thủ đô Rangoon (tên bây giờ là Yangon) của Miến Điện (tên bây giờ là Myanmar) để vận chuyển binh sĩ và hàng hậu cần. Sự ngược đãi của quân Nhật cùng bệnh tật và kém dinh dưỡng làm cho hàng nghìn tù binh và công nhân thiệt mạng, khiến tuyến đường sắt được gọi là “Đường tàu Tử thần”.

        Leader: Robert A. Leader (1924-2006): Hạ sĩ TQLC trong Trận Iwo Jima, tham gia vào việc giương lá cờ thứ nhất trên Núi Suribachi, sau chiến tranh đi học đại học rồi làm việc tại Đại học Notre Dame (1953), dần dà được làm giáo sư thực thụ môn Mỹ thuật và Lịch sử Mỹ thuật, đến tuổi hưu làm giáo sư danh dự cho đến khi qua đời.

        Leatherneck Magazine: tập san lưu hành trong nội bộ binh chủng TQLC. “Leatherneck” là tiếng lóng để chỉ lính TQLC.

        LeMay: Curtis Emerson LeMay (1906-1990), Đại tướng Không lực Hoa Kỳ (1951), có công phát triển chiến thuật của oanh tạc cơ thả bom tầm thấp, Trung tướng Tư lệnh Không đoàn 20 và Tư lệnh Không lực Chiến lược Thái Bình Dương (1945), chỉ huy hai cuộc thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki (1945), Tham mưu trưởng Không lực (1961-1965) rồi về hưu.

        Lễ Tạ ơn: ở Mỹ, là ngày thứ Năm cuối cùng trong tháng 11. Lễ Tạ ơn được cử hành lần đâu tiên trong thế kỷ XVII, do những di dân và người bản xứ ở vùng thuộc địa New England (miền đông nước Mỹ hiện giờ), sau khi đã trải qua nhiều năm gian khổ rồi có một vụ mùa thuận lợi. Nguồn gốc xa hơn có lẽ là những lễ hội truyền thống sau vụ mùa mà di dân cử hành trên quê hương của họ. Hiện nay, Lễ Tạ ơn có ý nghĩa gia đình nhiều hơn, là dịp để những người phương xa trở về đoàn tụ với ông bà, cha mẹ.

        Liberty Bell (Chuông Tự do): quả chuông có giá trị lịch sử nổi tiếng ở Independence Hall, được đánh lên 4 ngày sau khi Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ được tuyên cáo ngày 8/7/1776.

        Lindberg: Charles w. Lindberg (26/6/1920-24/6/2007), có tên thân mật là “Chuck”, Hạ sĩ nhất TQLC, người ở trong nhóm giương lá cờ thứ nhất trên đào Iwo Jima, cũng là người qua đời cuối cùng trong tất cả nhũng người giương hai lá cờ.

        Liversedge: Đại tá Harry Liversedge, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 của TQLC Mỹ.

        Loma Linda: thị trấn nhỏ của Bang California, cách Los Angeles khoảng 100 km về hướng tây.

        Lowery: Louis R. "Lou" Lowery (1916-1987), Trung sĩ nhất TQLC làm nhiệm vụ phóng viên nhiếp ảnh cho tạp chí Leatherneck Magazine của TQLC Mỹ, tác giả bức ảnh giương lá cờ thứ nhất.

        LST: (Landing Ship, Tank), loại tàu đổ bộ dài trên dưới 100 m, có thể chở người lẫn pháo và tăng, không thể lên bờ, khi chạm đáy biển mới hạ cánh cửa phía trước xuống cho người và cơ giới tiến ra để lên bờ.

        Lupino: Ida Lupino (1918- ), nữ diễn viên và đạo diễn điện ảnh người Mỹ gốc Anh, là nữ đạo diễn duy nhất cho những phim dài ở Hollywood trong thập kỷ 1950.

        LVT: (Landing VehicFe, Tracked): xe bánh xích lội nước, lội dưới nước rồi chạy lên bờ mới đổ quân ra, thường chở được khoảng 20-30 binh sĩ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:16:53 PM

        Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hạm đội (Fleet Marine Force): đơn vị hỗn hợp để phản ứng nhanh gồm một hạm đội của Hải quân và lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, Tham mưu trưởng đâu tiên là Thượng tướng Holland M. Smith.

        M1: còn gọi là Garand, loại súng trường bán tự động, có nòng .30 (7.62 mm), viên đạn dài hơn đạn của khẩu carbine và có đầu nhọn, vừa có sức công phá mạnh vừa rất chính xác.

        MacArthur: Douglas MacArthur (1880-1964), Thống tướng Lục quân (1945) của Mỹ, Tư lệnh Lực lượng Mỹ ở Philippines (1941-1942), Tư lệnh Tối cao Tây-Nam Thái Bình Dương (1942- 1945)» Tư lệnh Tối cao các Lực lượng Đồng minh tiếp quản Nhật Bản (1945), Tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Quốc trên chiến trường Triều Tiên (1950-1951), có câu nói nổi tiếng trước khi về hưu: “Những chiến binh già không bao giờ chết; họ chỉ mờ dần.”

        Manchester: thành phố lớn nhất của Bang New Hampshire, Hoa Kỳ, nẳm về phía nam bang này, dọc Sông Merrimack, gần Thác Amoskeag.

        Manhattan: một quận của Thành phố New York, Hoa Kỳ, nơi có toà tháp đôi Trung tâm Thương mại Quốc tế (World Trade Center) bị khủng bố đánh sập ngày 11/9/2001. Trên Đảo Manhattan có những địa danh nổi tiếng khác như Phố Wall, Đại lộ Thứ Năm, Phố Broadway...

        Marianas: quần đảo ở vùng tây Thái Bình Dương, cách Phillipines gần 2.000 km về hướng đông. Khởi đầu Thế chiến II, một số đảo phía bắc kể cả Saipan và Tinian thuộc Đức nhưng do quân Nhật chiếm đóng. Trong Thế chiến II, Mỹ chiếm hai đảo Saipan (122 km2) và Tiana (102 km2) để ngăn chặn đà tiến của Nhật và cũng để làm căn cứ không quân xuất phát những chuyến bay đánh bom nước Nhật. Hiện một phần Quần đảo Marianas thuộc Liên hiệp (Commonwealth) Bắc Mariana của Mỹ, cư dân được xem là công dân Mỹ. Riêng Đảo Guam, hòn đảo lớn nhất (550 km2), được Tây Ban Nha nhượng cho Mỹ vào năm 1898, từ đó đến nay vẫn là lãnh địa của Mỹ.

        Martin: Dean Martin (1917-1995), ca sĩ người Mỹ được yêu thích qua những ca khúc trữ tình, cũng đóng trong hơn 50 phim và làm bầu sô tổng cộng 245 tập The Dean Martin Show trên truyền hình (1965-1974).

        Marvin: Lee Marvin (1924-1987), diễn viên điện ảnh người Mỹ, nổi tiếng nhờ đóng những vai có tính cách cứng cỏi, kể cả một số vai trong phim chiến tranh.

        Mãn Châu: (Anh ngữ Manchuria) vùng đất ở phía Đông-bắc Trung Hoa, chủ yếu có dân tộc Mãn Thanh sinh sống, gồm các tinh Hắc Long Giang, Cát Lâm và Liêu Ninh, trong Thế chiến II bị Nhật tách ra khỏi Trung Hoa thành Mãn Châu quốc rồi cử Hoàng đề Phổ Nghi (Hoàng đế cuối cùng của phong kiến Trung Hoa) làm bù nhìn đứng đầu, hiện nay một phần nằm trong Vùng Tự trị Nội Mông của Trung Quốc.

        Midway: hòn đảo thuộc Mỹ nằm giữa Thái Bình Dương, ngoài khơi là nơi diễn ra trận đánh giữa Hải quân Mỹ và Hải quân Nhật vào tháng 6/1942. Nhật bị mất 4 hàng không mẫu hạm cùng toàn bộ số phi công thiện chiến của 4 tàu này. Trận đánh Midway được xem là điểm ngoặt trên mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II, vì từ lúc này Hải quân Nhật không thể hồi phục, còn Mỹ nâm lại thế chủ động để phản công.

        Miller: William Miller (1782-1849), nhà lãnh đạo tôn giáo người Mỹ, năm 1845 thành lập Giáo hội Cơ đốc Phục lâm.

        Monroe: Marilyn Monroe (1926-1962), nữ diễn viên điện ảnh người Mỹ, xuất hiện trong gần 20 phim, tạo ấn tượng khi vừa thủ vai chính vừa hát ca khúc chính trong phim River of no return (Dòng sông vĩnh biệt) vào 1954.

        Montgomery: Ngài Bernard Law Montgomery (1887-1976), Thống chế (1944) của Anh, đánh bại Rommel ở E1 Alamein (1942), chỉ huy các lực lượng Anh và Canada trên chiến trường Châu Âu (1944-1945).

        Mười Giáo lệnh: theo Thánh Kinh là do Đức Chúa trời truyền cho Moses trên Núi Sinai, được ghi trên hai tảng đá, khi Moses dẫn dắt người Do Thái rời khỏi Ai Cập đi đến miền Đất Hứa ở Palestine (khoảng thế kỷ 13 tCN).

        Nam Kinh: thành phố miền Đông Trung Quốc, nằm bên bờ Sông Dương Tử, khi bị Nhật chiếm là Thủ đô của Quốc dân Đảng Trung Hoa. Tháng 12/1937 quân đội Nhật tiến chiếm Nam Kinh, quân Quốc dân Đảng rút lui, để lại thành phố chỉ có toàn dân thường. Binh sĩ Nhật giết chóc, hãm hiếp, cướp bóc ở Nam Kinh trên diện rộng. Có những ước lượng khác nhau về số người Hoa bị quân Nhật sát hại. Một số nhà nghiên cứu Nhật ước lượng trong khoảng 100.000-200.000; một số quốc gia khác cho là từ 150.000 đến 300.000 người1. Ba tướng lĩnh Nhật bị Toà án Tội phạm Chiên tranh Tokyo tuyên án tử hình. Hiện giờ, bang giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc vẫn chịu ảnh hưởng xấu do sự kiện Nam Kinh. Tranh cãi thường bùng lên khi Chính phủ Nhật cắt bỏ đoạn ghi sự kiện Nam Kinh trong sách giáo khoa, hoặc khi chính khách Nhật phát biểu giảm nhẹ tầm quan trọng của sự kiện... Hiện nay, Nam Kinh là thủ phủ tỉnh Giang Tô của Trung Quốc.

------------------
        1. Tổng hợp của trang web: http://en.wikipedia.org/wiki/Nanking_Massacre.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:43:22 PM
        Nghĩa trang Quốc gia Arlington (Arlington National Cemetery): nghĩa trang do Quân đội Mỹ quản lý, nằm ở vùng Đông-bắc Bang Virginia, đối diện Thủ đô Washington dọc Sông Potomac của Bang Virginia, chiếm diện tích 253 ha, là nơi an nghi của trên 260.000 quân nhân và thân nhân, chính khách. Chỉ những người đạt tiêu chuẩn quy định (số năm quân vụ, huân chương, là thương binh, cựu tù binh...) mới được mai táng ở đây.

        người giương ngọn cờ: sáu người thuộc cơ cấu như sau:

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/34411324_226764134720141_499202837633302528_n.jpg?_nc_cat=0&_nc_eui2=AeE1kCdH21KpTxDvGTQn1WDxAzOlNipejGLGgwt4KATmms6AZKtftzYb8QBUxaGCaOdFHusWsqwZFNR1b27_LwAP3VxfJ8xJykHuf9N3Xkm9fA&oh=84478f4dd35eb9efcf4c55230dcc0fe7&oe=5B83645E)


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:47:46 PM

        Nimitz: Chester William Nimitz (1885-1966), Thủy sư Đô đốc (1944) Hải quân Hoa Kỳ, Đô đốc Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1941), chỉ huy cả Hải quân và TQLC trên chiến trường này, người thực hiện chiến lược nhảy từ đảo này sang đảo khác: quân Mỹ tiến chiếm một hòn đảo rồi dùng hòn đảo này làm bàn đạp để chiếm hòn đảo kế tiếp, do đó đã trực tiếp ban hành lệnh đánh chiếm Iwo Jima.

        Nixon: Richard Milhous Nixon (1913-1994), Phó Tổng thống (1952-1960) và Tổng thống Hoa Kỳ (1969-1974).

        Normandie: vùng bờ biển bác Tây-bắc nước Pháp nhìn ra Biển Manche, trải dài từ Cherbourg phía tây đến Le Havre phía đông, nơi quân Đồng minh đổ bộ ngày 6/6/1944, bắt đâu cuộc giải phóng Châu Âu.

        Ong Biển (Anh ngữ: Seabee): Tên bán chính thức “Seabee” được phát âm theo tiếng Anh từ “CB,” chữ viết tắt của “Construction Batallion” (Tiếu đoàn Công binh) của Hải quân Hoa Kỳ, được thành lập năm 1941, mang tên này vì loài ong được cho là có tính cần cù, làm việc không mệt mỏi. Nhiệm vụ của các Tiểu đoàn Ong Biển là xây dựng khẩn cấp những cơ sở phục vụ chiến trường như cầu tàu, kho xăng dầu, cầu đường, sân bay... Vì phải làm việc sát chiến tuyến, lực lượng Ong Biển cũng phải vừa chiến đấu vừa thực hiện những công trình xây dựng. Vào thời gian đỉnh điểm trong Thế chiến II, lực lượng Ong Biển có quân số lên đến 325.000 người. Trong những cuộc chiến tranh gần đây như ở cuộc chiến Vùng Vịnh, Afghanistan, Iraq... lực lượng Ong Biến cũng tích cực tham gia.

        P-51: chiến đấu cơ có một chỗ ngồi, chủ yếu do Không lực Hoa Kỳ sử dụng, có tầm hoạt động xa (trên 2500 km), vì thế rất hữu ích để bay theo hộ tống oanh tạc cơ đánh phá mục tiêu ở xa như Đức trên chiến trường Châu Âu và Nhật trên chiến trường Thái Bình Dương.

        Patton: George Smith Patton, Jr. (1885-1945), Đại tướng Lục quân (1945) của Mỹ, Thượng tướng Tư lệnh Đại đoàn thứ Ba trên mặt trận phía Tây Châu Âu (1944), qua đấy nổi tiếng vì chiến thuật đánh tổng lực bằng xe tăng.

        Pavuvu: quần đảo, cũng có tên Russel, ở nam Thái Bình Dương, cách bờ biển nước Úc khoảng 1800 km về hướng Đông- bắc.

        Pendleton: Joseph Henry Pendleton (1860-1942), Trung tướng (1923) TQLC Mỹ, nhiều năm đề xuất xây dựng một trại huấn luyện TQLC lớn gần San Diego, Bang California. Hai tháng sau khi ông qua đời, trại này mới được xây dựng giữa các thành phố Oceanside, Vista và San Clemente, được mang tên ông.

        Pennel: Trung uý Ed Pennel, Trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC Mỹ.

        Pershing: John Joseph Pershing (1860-1948), Thống tướng Quân đội Hoa Kỳ (1917), Tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Mỹ ở Châu Âu trong Thế chiến I (1914-1918), Tham mưu trường Lục quân (1921-1924) rồi nghỉ hưu.

        Philadelphia: thành phố lớn nhất của Bang Pennsylvania, nằm ở vùng Đông-nam của bang, nơi hợp lưu của Sông Delaware và Sông Schuylkill.

        Phoenix: thành phố thủ phủ Bang Arizona, ở miền Trung nam bang này.

        Pima: còn được gọi là Akimel O’odham (có nghĩa: “người sông”), một sắc tộc Da đỏ sống ở vùng trung và nam Bang Arizona (Hoa Kỳ) và Sonora (Mexico). Tên "Pima" là từ một câu có nghĩa “Tôi không biết,” do người của sắc tộc này thường xuyên nói ra lúc mới tiếp xúc với người da trắng.

        poncho: người Việt thường nói trại ra là “pông-sô”, loại áo choàng gồm một tấm nhựa dày, rộng, hình chữ nhật, ở giữa có lỗ hổng để tròng đầu vào, phía trên ghép với mũ cũng bằng nhựa để tròng lên đầu hoặc vắt phía sau cổ. Poncho được dùng vào nhiều việc: làm áo đi mưa trùm cả ba lô và khấu súng, áo giữ ấm khi trời lạnh, căng lều cá nhân; và khi người lính chết, thi thể anh được quấn tạm trong tấm poncho trên bãi chiến trường trước khi được đưa vào quan tài ở hậu cứ.

        Potsdam: thành phố miền đông-bắc Đức, là nơi tổ chức Hội nghị Potsdam lịch sử 1945 giữa Thủ tướng Anh quốc Winston Churchill, Thủ tướng Liên Xô Josef Stalin và Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman.

        Quân cảnh (Anh ngữ: Military Police): một ngành chuyên biệt của từng binh chủng có nhiệm vụ canh gác doanh trại, duy trì luật pháp và an ninh trật tự trong doanh trại cũng như ngoài đường phố nơi có nhiêu binh lính qua lại, làm nhiệm vụ ở toà án binh và trại giam giữ tù binh đối phương..., thường mang băng tay hoặc nón sắt có chữ“MP”.

        quân phù: từ ngữ dịch thuật được sử dụng như sau đối với quân đội Mỹ:

        Trên cấp tướng: thống tướng (Lục quân và Không lực), thủy sư đô đốc (Hải quân), quân phù đều có 5 sao; TQLC không có tướng 5 sao.

        Cấp tướng: 4 cấp tương đương với đại tướng, thượng tướng, trung tướng và thiếu tướng của quân đội Việt Nam. Về hải quân, từ trên xuống là đô đốc (ngang với đại tướng), phó đô đốc, chuẩn đô đốc và đề đốc1. Quân phù từ trên xuống có 4, 3, 2 và 1 sao.

-----------------
        1. Ở đây, không xem số sao trên quân phù để so sánh, vì như thế đô đốc của Hải quân Việt Nam ngang với thượng tướng (đều có 3 sao), nhưng không phù hợp với nghĩa thông thường: Đô đốc là cấp tướng hải quân cao nhất. (ND)


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:50:58 PM

        Cấp tá: có 3 cấp, xem như tương đương với đại tá, trung tá và thiếu tá của quân đội Việt Nam, không có cấp tương đương với thượng tá.

        Cấp uý: có 3 cấp tương đương với đại uý, trung uý và thiếu uý của quân đội Việt Nam, không có cấp tương đương với thượng uý.

        Những cấp trên được gọi chung là “sĩ quan được ủy nhiệm” (commissioned officer) vì được nhận quyết định ủy nhiệm (commission, để ban quân hàm và nhiệm vụ) nhân danh Tổng thống Hoa Kỳ.

        Hạ sĩ quan bậc cao (staff non-commissioned officer): có toll bậc lương tùy binh chủng, danh hiệu mỗi bậc lương cũng khác nhau giữa các binh chùng, nói chung từ trên xuống dưới là chuẩn úy, thượng sĩ nhất, thượng sĩ, trung sĩ nhất, trung sĩ.

        Hạ sĩ quan (non-commissioned officer): có 1-2 cấp tùy binh chủng, danh hiệu cũng khác nhau giữa các binh chủng, từ lên xuống dưới là hạ sĩ nhất và hạ sĩ.

        Binh sĩ (enlisted): binh nhất và binh nhì.

        quân phục: quân phục đại lễ mặc trong những nghi lễ long trọng, tiếp tân, chiêu đãi...; cũng mặc khi đi phép. Quân phục đại lễ của TQLC Mỹ thông dụng nhất là bộ màu xanh lam (thường được thể hiện trên những panô tuyển quân), ngoài ra còn có quân phục tiểu lễ “Lam-Tráng” mặc trong mùa hè và bộ mặc buổi tối có cà vạt. Hai loại quân phục khác là quân phục doanh trại và quân phục tác chiến (rằn ri xanh lục khi chiến đấu trong rừng núi và rằn ri màu cát khi chiến đấu trên sa mạc).

        Quận công Windsor (1894-1972): nguyên là vua Edward VIII của Anh và Bác Ireland (20/1 đến 11/12 năm 1936), vì muốn cưới một phụ nữ người Mỹ đã ly dị hai lần nên thoái vị, nhường ngôi cho em trai, rồi nhận tước hiệu Quận công Windsor, mang quân hàm Trung tướng trong Lực lượng Viễn chinh Anh tại Pháp, làm Toàn quyền Bahamas (1940-1945) rồi tiếp tục sống lưu vong ở Pháp cho đến khi qua đời.

        rắn chuông: gồm khoảng 30 loài rắn khá phổ biến ở Mỹ, nọc rất độc, có thân màu nâu nhạt cùng những đốm nâu sậm, đuôi có những khoanh sừng khi bị đe dọa thì tạo thành tiếng sột soạt (không phải như tiếng chuông) nhằm xua đuổi kẻ thù mà không phải uổng phí nọc độc.

        Rockey: Keller Emrick Rockey (1888-1970), Trung tướng Tham mưu phó TQLC (1943), Tư lệnh Sư đoàn 5 TQLC đổ bộ lên Iwo Jima, hai lần nhận Huân chương Thập tự Hải quân, nghỉ hưu năm 1950 với quân hàm Thượng tướng.

        Roosevelt: Franklin Delano Roosevelt (1882-1945), Tổng thống Hoa Kỳ (1933-1945), qua đời khi còn đương chức.

        Rosenthal: Joe Rosenthal (1911-2006), phóng viên nhiếp ảnh cho hãng tin Associated Press (AP), người chụp bức ảnh giương lá cờ thứ hai, được Giải Pulitzer về nhiếp ảnh báo chí.

        Rotary Club: gọi phiên âm theo tiếng Hoa là Phù Luân hội, tổ chức dành cho giới chuyên nghiệp và doanh nhân hoạt động nhằm nâng cao chuẩn mực nghề nghiệp và phục vụ cộng đồng. Thành viên mỗi câu lạc bộ địa phương gồm những đại diện được mời từ mỗi ngành nghề trong địa phương đó. Tổ chức này phát triển thành Rotary International có tầm hoạt động lan rộng ở nhiều nước.

        rối loạn hậu chấn thương tâm lý (Anh ngữ: Post Traumatic Stress Syndrome hoặc Post Traumatic Stress Disorder, viết tất PTSD): rối loạn về cảm xúc, hành vi và tâm lý phát sinh sau khi kinh qua một biến cố hãi hùng như hãm hiếp, giết chóc hoặc thương tích nặng, hoặc sự tàn phá trên diện rộng do thiên tai hoặc chiến tranh. Người mắc chứng PTSD có thế biểu hiện dấu hiệu tuyệt vọng, trầm cảm, cáu gắt và nổi giận. Một số người sử dụng rượu, thuốc an thần và thậm chí ma túy để vượt qua. Người mắc chứng PTSD cũng thường bị đau đầu, đau bụng, nhức mỏi cơ, chóng mặt và đau ngực.

        Sa-bát: từ tiếng Hebrew “Shavat” có nghĩa “ngơi nghi”, ngày lễ vào mỗi thứ Bảy của Do Thái giáo và vài nhánh Ky Tô giáo hoặc ngày Chủ Nhật của phần lớn Ky Tô giáo, theo ý nghĩa Đức Chúa trời ngơi nghi sau khi tạo ra thế gian. Trong ngày Sa-bát, tín đồ không làm việc, kiêng cữ một số hoạt động như đốt lửa, cày bừa, thu hoạch nông sản, nấu thức ăn...

        St. Louis: hoặc Saint Louis, thành phố miên đông của Bang Missouri, nằm dọc bờ tây của Sông Mississippi.

        Saipan: xem Marianas.

        samurai: giai cấp chiến binh Nhật Bản trong thời kỳ tiền công nghiệp hóa, phục vụ với lòng trung thành tuyệt đối shogun (sứ quân) của họ qua tinh thần Bushido (Võ sĩ đạo). Đến năm 1873, Minh Trị Thiên hoàng bãi bỏ tổ chức và quyền hạn của samurai, thay vào đấy là quân đội được thành lập theo mô hình phương Tây, do việc tuyển mộ rộng rãi từ mọi tầng lớp dân chúng.

        San Diego: thành phố ở miền nam Bang California của Mỹ, nơi có căn cứ Hải quân quan trọng của Hoa Kỳ.

        Schenectady: thành phố nằm về phía đông Thành phố New York, trên Sông Mohawk và Kênh Barge.

        Schrier: Harold George Schrier (1916-1971), Trung úy TQLC chỉ huy đội tiền thám lên giương lá cờ thứ nhất trên đinh Núi Suribachi qua đó nhận Huân chương Thập tự Hải quân, về hưu với quân hàm trung tá.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:54:42 PM

        Severance: Đại úy Dave Severance, Đại đội trưởng Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC Mỹ trong Trận Iwo Jima, được tặng thưởng Huân chương Sao Bạc, sau Thế chiến II trở thành phi công chiến đấu cơ, được tặng thưởng Huân chương Thập tự Không lực trước khi về hưu năm 1968 với quân hàm đại tá.

        Slav: các dân tộc phân bố ở Đông Âu, Trung Âu, bán đảo Balkan, và quá dãy núi phía Châu Á. Nhánh miên Đông gồm những dân tộc Nga, Belarus, Ukraine; nhánh miền Tây gồm những dân tộc Ba Lan, Séc, Slovak; và nhánh miền Nam gồm những dân tộc Slovenia, Serb-Croatia, Macedonia và Bulgaria.

        Smith: Holland M. Smith (1882-1967), Đại tướng Thủy quân Lục chiến Mỹ (1946), được xem là cha đẻ của chiến thuật đổ bộ tấn công, Thượng tướng Tư lệnh Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hạm đội (1945), chức danh chính thức trong chiến dịch đánh Iwo Jima là Tư lệnh Bộ binh Viễn chinh (Commander of Expeditionary Troops), chỉ huy tất cả lực lượng trên bộ.

        Solitaire: có nghĩa là “đơn độc”, là trò chơi chi cần một người, dùng bộ bài tây 52 lá để sắp xếp theo thứ tự. Trò chơi này được đưa vào các phiên bản của hệ điều hành Windows.

        Solomon: xem Guadacanal và Bougainville.

        Sousley: Franklin Sousley (19/9/1925-21/3/1945), Binh nhất Thủy quân Lục chiến, thuộc Tiếu đội của Mike Strank, Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, là một trong sáu người giương ngọn cờ, được an táng ở Nghĩa trang Sư đoàn 5 trên Đảo Iwo Jima rồi đưa về cải táng ở Bang Kentucky.

        Spruance: Raymond Ames Spruance (1886-1969), Đô đốc (1944) Hải quân Mỹ, Tư lệnh Hạm đội thứ Năm và tư lệnh chỉ huy toàn chiến dịch Iwo Jima, sau chiến tranh làm Đại sứ Mỹ tại Philippines (1952-1955).

        Stalingrad: thành phố miền Tây-nam nước Nga, nằm bên bờ Sông Volga, trong Thế chiến II là nơi xảy ra những trận đánh dữ dội giữa Liên Xô và Đức, dẫn đến kết quả là ngày 31/1/1943 Thống chế Tư lệnh Đại đoàn thứ Sáu của Đức đầu hàng cùng với 91.000 quân (so với quân số ban đâu là 285.000), tạo nên một điểm ngoặt quan trọng trên chiến trường Châu Âu, vì từ lúc này Đức không thể hồi phục, còn Liên Xô nắm lại thế chủ động để phản công. Hiện giờ thành phố này mang tên Volvograd.

        strank: Mychal (Mike) Strank (10/11/1919-1/3/1945), Trung sĩ Thủy quân Lục chiến, Tiểu đội trưởng thuộc Trung đội 2, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC, là một trong sáu người giương ngọn cờ, được truy tặng Huân chương Quả tim Tím, được an táng ở Nghĩa trang Sư đoàn 5 trên Đảo Iwo Jima rồi cải táng ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

        sư đoàn: xem đơn vị bộ binh.

        Taj Mahal: lăng mộ ở Agra, Ấn Độ, do Hoàng đế Shah Jahan xây cho người vợ mà ông rất thương yêu qua đời năm 1631. Lăng mộ được xây dựng từ năm 1632, đến năm 1653 mới hoàn thành, đã được bầu chọn là một trong bảy kỳ quan thế giới thời hiện đại.

        Tampa: thành phố nằm ở bờ biển phía tây của Bang Florida, dọc Vịnh Tampa.

        Tarawa: chuỗi hòn đào san hô, nơi vào năm 1943 Thủy quân Lục chiên Mỹ đánh bại quân Nhật đang chiếm đóng, hiện là Thủ đô của nước Kiribati.

        Tàu khu trục: loại tàu nhỏ, có vận tốc cao, thường được dùng để chống trả tàu phóng ngư lôi, tàu ngầm; và cũng có thể yểm trợ cho quân ở trên bờ.

        Tàu thiết giáp: loại tàu chiến hạng nặng nhất, có lớp thép dày để bảo vệ và có đại bác rất to (nòng thường có đường kính khoảng 370-380 mm), vì nặng nề nên tốc độ chậm hơn các loại tàu khác.

        Tân giáo (Presbyterianism): tổ chức giáo hội và truyền thống thần học bắt nguồn từ Phong trào Cải cách Tin Lành trong thế kỷ XVI, những tín đồ ban đầu đến từ Anh, Scotland, Ireland, có những hoạt động chú trọng đến giáo dục, y tế và phát triển kinh tế; họ lập nên Đại học Princeton vào năm 1746.

        Thanh giáo (Puritanism): nhánh Cơ Đốc giáo xuất phát từ giáo hội Anh vào giữa thế kỷ XVI, do những tín đồ vì có đầu óc muốn cải tổ mà muốn “thanh lọc” (purify) giáo hội này. Cốt lõi của Thanh giáo là hành xử theo đạo đức trong các mối liên hệ gia đình và xã hội, và một hệ thống quyền lực tuân thủ chặt chẽ những giáo lệnh của Thượng đế. Cuộc đời của tín đồ Thanh giáo gán với kỷ luật tự giác và việc tự mỗi người phán xét lấy chính mình. Thanh giáo cũng cổ vũ mạnh mẽ cho sự lao động cần cù và theo đuổi giáo dục. Do phản ứng của Giáo hội Anh có những biện pháp đàn áp, vào thế kỷ XVII nhiều tín đồ Thanh giáo rời nước Anh đến sinh sống ở Châu Âu và Mỹ. Tiếp theo, một số tín đồ Thanh giáo người Anh đang định cư ở Hà Lan cũng di cư đến Mỹ.

        thẻ bài: miếng thẻ nhỏ bằng nhôm không gỉ, khắc vài thông tin thiết yếu như tên họ, số quân, nhóm máu... cho người lính mang trên người, nhằm nhận dạng thi thể khi họ tử trận.

        Thomas: Ernest Ivy Thomas, Jr. (10/3/1924-3/3/1945), có biệt hiệu là “Boots”, Trung sĩ nhất Trung đội phó Trung đội 3 TQLC, thay thế Trung úy Keith Wells làm Trung đội trưởng khi ông này bị thương, một trong những người giương lá cờ đầu tiên trên Núi Suribachi.

        Thung lũng Forge: địa điểm ở Hạt Chester, Bang Pennsylvania, nơi nhà lãnh đạo Cách mạng Mỹ George Washington cho quân trú đông đồng thời để bảo vệ Quốc hội, nhưng đoàn quân thiếu chỗ trú ngụ, thức ăn và quần áo ấm. Tuy nhiên, Washington vẫn huấn luyện và tổ chức lại đoàn quân, rồi đến mùa xuân dẫn quân đuổi đánh quân Anh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:58:19 PM

        Thủy quân Lục chiến (TQLC): có khoảng 30 nước trên thế giới thành lập binh chủng Thủy quân Lục chiến, riêng binh chủng Thủy quân Lục chiến của Mỹ (Marine Corps) được xem là có khả năng tác chiến độc lập vì có riêng tàu thuyền và máy bay trong cơ SỐ chỉ huy trực tiếp. Trong Thế chiến II, TQLC Hoa Kỳ có khoảng 485.000 quân với 2 quân đoàn (6 sư đoàn) và 5 phi đoàn (132 phi đội), nằm dưới sự chỉ huy của Hải quân, sau này mới được tách ra thành một binh chủng ngang hàng với 4 binh chủng khác của Quân lực Hoa Kỳ: Hải quân, Lục quân, Không lực và Phòng vệ Duyên hải.

        Tinh thần 76: ý nói đến tinh thần yêu nước của người Mỹ đã dân đến việc Mỹ ra Tuyên ngôn Độc lập năm 1876.

        Tinian: xem Marianas.

        Tòa án Tội phạm Chiến tranh Tokyo: còn được gọi là Tòa án Quân sự Quốc tế Viễn Đông (International Military Tribunal for the Far East) được thiết lập bởi Thống tướng Douglas MacArthur, Tư lệnh Tối cao các Lực lượng Đồng minh, làm việc trong thời gian 1946-1948. Trong số 28 bị cáo, 7 người (kể cả cựu Thủ tướng Tojo Hideki) bị xử tử hình bằng cách treo cổ, 19 người bị án chung thân.

        Trân Châu cảng (Anh ngữ: Pearl Harbor), tên vịnh của đảo Oahu, thuộc Bang Hawaii, cách Honolulu 10 km về hướng tây. Sáng ngày 7/12/1941, máy bay Nhật từ các hàng không mẫu hạm tấn công Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ ở đây và các sân bay quân sự quanh vùng. Tám tàu thiết giáp và 13 tàu các loại của Hải quân Mỹ bị chìm hoặc hư hại nặng, gần 200 máy bay bị phá hủy, và khoảng 3.000 người Mỹ chết hoặc bị thương. Tổng thống Roosevelt đã gọi ngày tấn công Trân Châu Cảng bằng cụm từ nổi tiếng “ngày bỉ ổi” vì Nhật tấn công mà không tuyên chiến trước.

        Truman: Harry S. Truman (1884-1972), Phó Tổng thống (1945) và Tổng thống Hoa Kỳ (1945-1953)-

        Tulsa: thành phố miền Đông-bắc của Bang Oklahoma, nằm dọc Sông Arkansas.

        Tuyên úy: nhà lãnh đạo tôn giáo (giáo sĩ Do Thái giáo, linh mục Công giáo, mục sư Tin Lành, nhà sư Phật giáo...) được quân đội gọi đi làm nghĩa vụ, cũng có quân hàm tùy theo đơn vị phục vụ (ví dụ: Đại úy Tuyên úy Trung đoàn, Thiếu tá Tuyên úy Sư đoàn...), để thực hiện những nghi lễ tôn giáo cho quân nhân.

        Turner: Richmond Kelly Turner (1885-1961), Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ (1945), Tư lệnh các Lực lượng Đổ bộ Thái Bình Dương, tức cấp trên củaTướng Smith.

        USS Bismarck Sea: hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ của Hải quân Mỹ, có trọng lượng nước rẽ không đến 8000 tấn, chở được 27 máy bay.

        USS Franklin: hàng không mẫu hạm của Hải quân Mỹ, có trọng lượng nước rẽ hơn 36.000 tấn, chở được 90-100 máy bay.

        Ùvéa: còn gọi là Wallis, đảo nằm trong Quần đảo Wallis thuộc Pháp, ở vùng Tây-nam Thái Bình Dương.

        Vandegrift: Alexander A. Vandegrift (1887-1973), Đại tướng TQLC (1945), Trung tướng Tư lệnh Sư đoàn 1 TQLC chiến thắng ở Đảo Guadalcanal (1942) qua đó nhận Huân chương Danh dự, Tham mưu trưởng TQLC (1944-1947).

        Vonnegut: Kurt Vonnegut, Jr. (1922- ), nhà văn viết tiểu thuyết và truyện ngắn, nổi tiếng nhờ những tác phẩm châm biếm đối với những xu hướng xã hội và chính trị. Ông coi cuộc đời như là trò hề vô lý, huyễn hoặc.

        Võ sĩ đạo: quy chuẩn xử thế và cũng là hệ thống triết lý đạo đức của giới samurai Nhật, phát triển trong thế kỷ XI - XIV, tương tự như ý niệm về tinh thần hiệp sĩ ở Châu Âu thời Trung cổ. Tinh thần Võ sĩ đạo nhấn mạnh cuộc sống đơn giản, lòng trung thành tuyệt đối, khả năng chiến đấu, và tinh thần bảo vệ danh dự, kể cả bằng mạng sống nếu cần. Hệ thống triết lý của Võ sĩ đạo cũng chịu ảnh hưởng từ Phật giáo, Thiền học và Khổng học.

        Yalta: thành phố ở miền nam Ukraine, nằm trên bờ biển Đen, vào tháng 2/1945 là nơi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh giữa Thủ tướng Anh Churchill, Tổng thống Mỹ Roosevelt và Tổng bí thư Stalin của Liên Xô.

        Wahlen: George Wahlen (1925-), khởi đầu làm công nhân cơ khí cho Không lực Mỹ (1942), kế tiếp gia nhập Hải quân (1943), làm Quân y tá (tương đương Hạ sĩ), được tặng thưởng Huân chương Danh dự, được cho xuất ngũ tháng 12/1945 rồi sau đó xin gia nhập Lục quân, phục vụ ở Triều Tiên và kế tiếp ở Việt Nam, xuất ngũ với quân hàm Thiếu tá sau khi đã phục vụ qua tất cả bốn binh chủng. Ông được giải thưởng của Hội Cựu chiến binh trong Chiến tranh Hải ngoại (Veterans of Foreign Wars) năm 2007.

        Waugh: Evelyn Arthur St. John Waugh (1903-1966), người Anh, tác già những tiểu thuyết châm biếm, sau khi tham dự Thế chiến II viết thêm một số tiểu thuyết châm biếm về đề tài chiến tranh.

        Wayne: John Wayne (1907-1979), siêu sao điện ảnh người Mỹ, trong suốt các thập kỷ 1940 đến 1970 thủ vai anh hùng trong khoảng 250 phim cao bồi, chiến tranh..., đoạt giải Oscar trong các năm 1969 và 1975 cho nam diễn viên chính xuất sắc.

        Wells: Trung úy Keith Wells, Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội E, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 TQLC Mỹ. (Đừng nhầm với Thiếu úy Greeley Wells, là tùy viên của Trung tá Chandler Johnson.)

        WPA: gọi tắt của Work Projects Administration (Cơ quan Dự án Lao động), cơ quan ngang cấp bộ của liên bang nước Mỹ nhằm thu dụng người thất nghiệp làm việc cho những dự án công ích (xây trường học, cầu đường, hệ thống thoát nước...) trong thời gian xảy ra cuộc Đại Suy thoái.

        Tất cả những ghi chú trong các chương sau đều là của người dịch.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 08:59:54 PM

Chương 1

MIỀN ĐẤT THIÊNG LIÊNG
         
Chỉ có một điều mới lạ trên thế gian này, đấy là phần lịch sử mà bạn không biết đến.
HARRY TRUMAN       

        Vào mùa xuân năm 1998, từ một ngọn núi xa xôi, sáu chàng trai của nửa thế kỷ trước mời gọi tôi. Thế là tôi đi đến đấy. Trong vài ngày, tôi gác qua một bên cuộc sống tiện nghi - những lo toan trong kinh doanh, đời sống ở Rye thuộc Bang New York - để làm một chuyến hành hương nửa vòng trái đất, đi đến một hòn đảo bé tí xíu nằm trên Thái Bình Dương. Nơi đây, chờ đợi tôi là một ngọn núi mà nửa thế kỷ trước các chàng trai đã leo lên trong một trận chiến khốc liệt. Một trong số họ là cha tôi. Ngọn núi có tên Suribachi, còn hòn đảo tên là Iwo Jima.

        Số phận của nửa cuối thế kỷ XX và thế kỷ XXI được tôi luyện bằng máu trên hòn đảo ấy và những hòn đảo tương tự. Chiến binh ở mỗi bên là những chú nhóc - những chú nhóc vừa đến tuổi trưởng thành từ những nền văn hóa tương tự như của thế kỷ XIX. Cha tôi và năm chiến hữu của ông là hiện thân cho những chú nhóc ấy. Mệt mỏi, hãi sợ, đói khát, quả cảm; những nhân tố trong khối hỗn mang của cuộc chiến, cố làm tròn nhiệm vụ, cố sống tồn.

        Nhưng có một chuyện bất thường xảy ra cho sáu chú nhóc ấy: Lịch sử được ghi lại rõ nét trong 1 phần 400 của giây đồng hồ, trên sáu con người. Lịch sử ngưng đọng họ trong khoảnh khắc cao cả của trận đánh: ngưng đọng họ qua lăng kính một máy ảnh khi họ đang giương cao một lá cờ Mỹ trên một cột cờ tạm bợ. Hình ảnh tổng thể của họ, mờ nhạt nhưng khó quên, trở thành bức ảnh được nhận biết nhiều nhất, được in ấn nhiều nhất, trong lịch sử nhiếp ảnh. Bức ảnh mang lại cho họ sự bất tử - một dạng bất tử không có chân dung. Hình ảnh giương cao ngọn cờ trên Iwo Jima đã trở thành biếu tượng của hòn đảo, ngọn núi, trận đánh; của Thế chiến II; của những lý tưởng cao vời nhất, hiện thân cho lòng dũng cảm. Bức ảnh biểu hiện cho tất cả, ngoại trừ sự cứu rỗi của sáu chàng trai tạo nên bức ảnh.

        Đối với sáu người này, lịch sử lôi kéo họ đi theo những ngả đường khác nhau. Ba người nằm xuống khi trận đánh tiếp tục. Trong số ba người sống sót, hai người qua đời vì nghiện rượu và bệnh tim. Chi có một người là sống yên ổn đến già. Ông có được sự yên ổn ấy là nhờ khép quá khứ vào một hang động lặng thinh.

        Sau cuộc chiến, cha tôi - John Henry Bradley - trở về quê nhà ở một thị trấn nhỏ của Bang Wisconsin, ông trút tất cả kỷ vật của sự bất tử vào vài chiếc thùng cac-tông rồi giấu vào một ngăn tủ kín. Ông cưới người ông yêu cùng học hồi lớp ba. Ông mở một dịch vụ mai táng, làm cha tám đứa con, gia nhập Hội Phụ huynh Học sinh, các hội từ thiện, và ngắt ngang bất kỳ ai hỏi han về việc giương ngọn cờ trên Đảo Iwo Jima.

        Khi qua đời vào tháng Một năm 1994 ở thị trấn sinh quán, hẳn ông đã tin rằng mình mang theo xuống mồ câu chuyện về việc giương cao ngọn cờ, câu chuyện mà ông không muốn tạo dựng, câu chuyện sống để bụng chết mang theo. Sinh thời, ông đã dặn dò bọn con cái chúng tôi từ chối những cuộc gọi điện tiếp diễn trong nhiều năm để yêu cầu phỏng vấn ông. Chúng tôi phải trả lời người gọi điện rằng ông đang đi câu cá nơi xa. Nhưng cha tôi không hề thích câu cá. Không một bản in nào của bức ảnh nổi tiếng ấy được treo trong nhà chúng tôi. Khi chúng tôi cố hỏi han ông về mẩu chuyện ấy, ông chi trà lời ngắn gọn rồi nhanh chóng lái qua chuyện khác.

        Bọn con cái chúng tôi lớn lên khá hạnh phúc, quan tâm sâu sắc đến thị trấn an bình có nhiều bóng cây, nhưng chúng tôi luôn nghĩ đến những bí ẩn chưa được làm sáng tỏ ở nơi nào đây dọc bên rìa bức ảnh. Chúng tôi cảm nhận rằng thế giới bên ngoài biết đôi điều quan trọng nào đấy về ông mà chúng tôi chưa bao giờ biết đến. Đối với ông, đấy là một câu chuyện tắt lịm; một đế tài chán ngắt. Nhưng không chán ngắt đối với những người còn lại trong gia đình tôi. Đặc biệt là đối với tôi.

        Đối với tôi, đứa con giữa trong số 8 người con, câu chuyện bí ẩn ấy luôn ám ảnh tâm trí. Từ lúc nhỏ, tôi đã biết rằng cha tôi là một mẫu anh hùng nào đây. Thầy cô giáo lớp ba của tôi bảo thế; mọi người bảo thế. Nhưng dù tôi cố tìm hiểu, ông vẫn không bao giờ nói cho tôi nghe về chuyện này.

        Có một lần, ông đề cập trực tiếp chút ít: “Những anh hùng thật sự của Iwo Jima là nhũng người đã không trở về nhà.”

        Cha tôi hẳn đã mang tất cả xuống mồ nếu chúng tôi không tình cờ tìm ra mấy chiếc thùng cac-tông, chỉ ít ngày sau khi ông qua đời.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:00:25 PM

        Mẹ tôi cùng hai anh trai tôi - Mark và Patrick - đang tìm kiếm bản chúc thư của cha tôi trong phòng làm việc cá nhân của ông. Trong một hốc tủ tối tăm, họ tìm thấy ba thùng cac-tông nặng, cũ kỹ nhưng còn tốt, được xếp chồng lên nhau.

        Trong những thùng này, cha tôi đã lưu lại nhiều ảnh và tài liệu liên quan đến chuyện ông là một trong những người giương ngọn cờ. Tất cả chúng tôi đều ngạc nhiên, vì nghĩ rằng ông đã không giữ lại kỷ vật gì cả.

        Sau đây, tôi lục lọi trong mấy chiếc thùng. Một lá thư đập vào mắt tôi. Dấu bưu điện cho thấy lá thư này được gửi từ Iwo Jima ngày 26 tháng Hai, 1945. Đấy là bức thư mà cha tôi viết cho những người thân của ông, ba ngày sau việc giương ngọn cờ.

        Ngôn từ xuề xoà theo cách trấn an không cho người đọc nhận ra địa ngục mà ông vừa kinh qua. Ông viết thư như thể ông đang tham dự một chuyến đi dã ngoại nhọc nhằn nhưng vui thú của Hướng đạo sinh: “Con sẵn sàng đổi lấy cánh tay trái để được tắm dưới vòi bông sen và cạo râu; con đã để râu 6 ngày không cạo. Không có xà phòng hoặc nước kể từ khi đổ bộ. Trước đây cứ nghĩ rằng mình không thể sống quá ba ngày nếu không có thức ăn, nước tắm hoặc thiếu ngủ, nhưng bây giờ con mới biết rằng có thể vượt qua được.”

        Và rồi, như là cảm nghĩ bất chợt, ông viết: “Mọi người hẳn đã biết về trận chiến của chúng con ở đây, và con ở trong đơn vị chiến thẳng là Đại đội E Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 Thủy quân Lục chiến đã lên đến đỉnh Núi Suribachi trước tiên. Con góp chút công lao trong việc giương ngọn cờ Mỹ và đấy là thời khắc hạnh phúc nhất trong đời con.”

        “Khoảnh khắc hạnh phúc nhất” trong đời ông! Quả là cú sốc khi đọc đến câu này. Tôi đã khóc khi nhận ra rằng, chuyện giương ngọn cờ là khoảnh khác hạnh phúc đối với ông - một thanh niên mới 21 tuổi đời. Chuyện gì xảy ra trong những năm tiếp sau khiến cho ông giữ im lặng?

        Khi đọc qua lá thư của cha tôi, vô hình trung bức ảnh giương ngọn cờ trở nên sống động trong trí tưởng tượng của tôi. Những tuần kế tiếp, tôi cứ nhìn chăm chăm vào bức ảnh treo trong văn phòng tôi mà đâu óc cứ mơ màng. Tôi tự hỏi: Những chàng trai trẻ đặt tay trên cột cờ ấy là ai? Họ có giống như cha tôi không? Trước khoảnh khắc ấy họ đã quen biết nhau chưa hay còn là xa lạ mà chỉ kết hợp với nhau qua một nhiệm vụ chung? Họ có đùa cợt với nhau không? Họ có tên riêng không? Việc giương ngọn cờ có phải là “khoảnh khắc hạnh phúc nhất” trong đời mỗi người hay không?

        Phải mất bốn năm để đi tìm câu trả lời cho từng câu hỏi này. Ban đầu, tôi không thể biết có năm hay sáu người giương ngọn cờ trong bức ảnh ấy. Chác chắn là tôi không thể biết tên ba người tử trận trong trận đánh.

        Cuối cùng, tôi hiểu rõ về từng người giống như tôi hiểu các anh em tôi, giống như tôi hiểu các bạn thân ở trường trung học của tôi. Và tình thương của tôi đối với họ nảy nở.

        Những gì tôi khám phá được để trả lời những câu hỏi trên tạo nên nội dung quyển sách này.

        Cuộc truy tìm thông tin kết thúc khi tôi làm cuộc hành hương đến Iwo Jima. Đoàn chúng tôi còn có bà mẹ già 74 tuổi, ba người anh em của tôi, và nhiều binh sĩ nam cũng như nữ. Chúng tôi đi lên đến một miệng núi lửa cao gần 170 m; đấy là đỉnh Núi Suribachi. Cha tôi ở tuổi 21 đã leo bộ lên đó, mang theo vật dụng y tế, còn bây giờ đoàn chúng tôi ngồi trên xe của Thủy quân Lục chiến. Tôi đứng trên đỉnh núi, giữa cơn gió quất vào mặt giúp cho nước mắt của tôi khô đi. Chính ở địa điểm này, vào một buổi chiều tháng Hai của 53 năm về trước, lá cờ Mỹ đã được giương lên. Vào ngày ấy, gió cũng thổi phần phật. Gió xoá đi những nếp gấp của lá cờ.

        Hiện nay, không có nhiều người Mỹ đi đến Iwo Jima. Đấy là đền miếu của Thế chiến II nhưng không phải đền miếu của Mỹ. Dân thường thuộc bất cứ quốc tịch nào cũng không được phép tiếp cận ngoại trừ hiếm hoi vài nhóm được chính phủ Nhật Bản cho phép, vì vùng này thuộc khu vực có căn cứ hải quân Nhật.

        Chúng tôi đi được chuyến này là nhờ Tướng Charles Krulak, Tham mưu trưởng binh chủng Thủy quân Lục chiến (TQLC). Ông đưa chúng tôi đi từ Okinawa đến Iwo Jima trên chiếc máy bay riêng của ông. Mẹ tôi Betty, và anh Steve (48 tuổi), anh Mark (47 tuổi), em trai Joe (37 tuổi) cùng đi với tôi (44 tuổi).

        Những người khác trong gia tộc không thể đi cùng là Patrick, Tom, Kathy và Barbara.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:00:56 PM

        Ngày thứ Ba, bước lên chiếc máy bay riêng của Tướng Krulak rời Okinawa trong cơn mưa, chúng tôi được cảnh báo rằng điểm đến cũng có thể bị mưa, nhưng trong 2 giờ sau đấy khi máy bay bắt đầu hạ cao độ trên Iwo Jima, trần mây đột nhiên mở ra; tắm trong ánh nắng chói chang, Suribachi hiện ra phía trước, ngọn núi ma quái trong quá khứ hiện ra trước tầm mắt chúng tôi.

        Khi máy bay lượn hai vòng để cho chúng tôi chụp ảnh cận cảnh Suribachi và vùng lân cận, vị Tham mưu trưởng thầm thì kể chuyện về Iwo Jima như là “miền đất linh thiêng.” Có lúc ông tế nhị thêm: “Miền đất linh thiêng đối với cả chúng ta và người Nhật.”

        Một tấm thảm đỏ được trải ra, mẹ tôi là người đầu tiên bước xuống. Một toán binh sĩ Nhật đứng nghiêm một bên, Thủy quân Lục chiến Mỹ dàn chào bên kia.

        Tướng Krulak giới thiệu mẹ tôi với Trung tá Kochi, vị chỉ huy Nhật của hòn đảo. Chúng tôi là khách của vị trung tá và doanh trại nhỏ của ông. Vào những tuần lễ đầu của năm 1945, quân đội Mỹ chiếm được Iwo Jima, nhưng hôm nay hòn đảo là một phần của lãnh thổ Nhật.

        Không giống như năm 1945, bây giờ những người Mỹ chúng tôi phải xin phép họ thì mới được đến đây.

        Người mới đến lần đâu có ngay cảm nghĩ rằng Iwo Jima là một hòn đảo tí tẹo như thế mà lại là bãi chiến trường cho một trận đánh lớn. Hòn đảo chi rộng khoảng 20 km2. Một trăm nghìn người đã chiến đấu ở đây trong hơn một tháng, gây ra một trong những trận đánh khốc liệt và giằng co nhất trong bất kỳ cuộc chiến nào.

        Tám mươi nghìn chàng trai trẻ Mỹ chiến đấu trên mặt đất. Hai mươi nghìn chàng trai trẻ Nhật chiến đấu dưới lòng đất, lẩn lút trong một hệ thống địa đạo kiên cố chạy chằng chịt khắp hòn đảo; những địa đạo được gia cố giúp cho quân Nhật chiến đấu một cách điên cuồng nhưng trở nên vô hình dưới mắt đối phương. Hai mươi lăm kilomet địa đạo kết nối 1.500 hang động nhân tạo. Nhiều người lính TQLC Mỹ còn sống chưa bao giờ nhìn thấy một người lính Nhật nào đang chiến đấu trên Iwo Jima. Lính Mỹ đương đầu với kẻ thù hoàn toàn vô hình.

        Chúng tôi bước lên xe của TQLC Mỹ và đi đến “Động Quân y viện,” một bệnh viện ngầm khổng lồ ở dưới lớp đất dày gần 15 m, nơi bác sĩ quân y Nhật âm thầm giải phẫu thương bệnh binh của họ, trong khi lính TQLC Mỹ di chuyển bên trên. Người Nhật đục thành đá núi lửa lõm vào để tạo ra những giường bệnh.

        Rồi chúng tôi bước vào một hang động rộng, nơi đặt vị trí súng cối của quân Nhật. Trên tường thành hang động là những vạch tương ứng với từng cao độ của bãi đổ bộ thoai thoải dốc lên từ biển vào đất liền. Những vạch ấy giúp cho quân Nhật điều chỉnh góc độ súng cối của họ để bắn một cách chính xác TQLC Mỹ đang đổ bộ. Những bãi biển của Iwo Jima đã được ghi chép sẵn để tính toán đạn đạo Nhật. Quân Nhật đã thực tập trong nhiều tháng để tạo nên một địa ngục khi TQLC Mỹ tiến lên.

        Chúng tôi đi đến một địa điểm nơi cha tôi bị thương, hai tuần lễ sau việc giương ngọn cờ. Tôi để ý nền đất nơi này cứng, có màu sét gi. Tôi cúi xuống và nhặt lên một mảnh trông giống như đá phủ đây trên mặt đất. Khi xem xét kỹ, tôi nhận ra đấy không phải là đá. Đấy là một mảnh bom đạn. Chúng tôi đã lầm tưởng khi cho rằng mặt đất là do cấu tạo thiên nhiên; thật ra đấy là những mảnh đạn pháo. Dù đã qua hơn nửa thế kỷ, vẫn còn một tấm thảm mảnh đạn pháo ở đây. Chân cha tôi vẫn mang một mảnh đạn cho đến ngày ông qua đời.

        Rồi chúng tôi đi đến những bãi biển đổ bộ, những bãi cát của Iwo Jima. Chúng tôi đi dọc theo một bãi biển gần Núi Suribachi nhất. TQLC Mỹ gọi nơi đây là “Bãi màu Lục.” Chính nơi đây, người lính trẻ John Bradley, quân y tá của TQLC, chạy lên dưới làn đạn chi chít.

        Tôi nhìn mẹ tôi đi dọc bãi biển, gót chân bà lún xuống lớp cát núi lửa mềm theo mỗi bước đi. Bà than thở: “Tôi không hiểu làm thế nào người ta sống sót được!” Tôi nhìn bà bước thận trọng trong gió và ánh nâng: bây giờ bà là một quả phụ tóc bạc, nhưng trước đây là một cô gái xinh xắn mang tên Betty Van Gorp, ở Appleton, Bang Wisconsin, có một cậu bạn học ở lớp ba tên là John. Mỗi khi tan học suốt những năm đầu thập kỷ 1930, hai người cùng chung đường về. Mười lăm năm sau, ông trở về từ Thế chiến II, rồi hai người làm lễ cưới.

        Vào ngày thứ ba sau cuộc đổ bộ, ở một địa điểm trên đất liền cách chỗ mẹ tôi đứng gần hai trăm mét, cha tôi nhìn thấy từ xa một chàng trai trẻ Mỹ ngã xuống. Qua làn đạn cối và súng máy, ông chạy đến người lính TQLC Mỹ đang bị thương, tiếp cho anh này plasma từ cái chai cột vào cây súng trường của ông cầm trên mặt cát, rồi kéo anh lính trẻ đến một nơi an toàn trong khi đạn đang cào xới đất đá xung quanh. Do hành động dũng cảm này, cha tôi được thưởng Huân chương Thập tự Hải quân, cao quý hàng thứ nhì sau Huân chương Danh dự.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Sáu, 2018, 09:20:26 PM

        Cha tôi không bao giờ kể chi tiết về hành động dũng cảm này cho mẹ tôi nghe. Chi sau khi ông qua đời, gia đình chúng tôi mới biết về tấm Huân chương Thập tự Hải quân này.

        Bây giờ, Steve nắm lấy cánh tay mẹ tôi để dìu bà đi lên lớp cát dày. Mark đứng ở mép nước nhìn ra ngoài biển, suy nghĩ mông lung. Joe và tôi trông thấy một lô cốt nhìn xuống bãi biển; hai chúng tôi cùng đi đến đấy.

        Quân Nhật đã xây hơn 750 lô cốt và công sự ngầm chạy dọc theo bờ biển, được gia cố bằng bê tông cốt sắt chống được đạn pháo. Nhiều lô cốt hoang tàn vẫn còn hiện diện nơi đây, giống như bộ xương của những con thú đã chết nửa thế kỷ trước. Đấy là phế tích gớm ghiếc của những người lính vẫn can trường chiến đấu dù biết là vô vọng. Những người lính trong các lô cốt này được giao nhiệm vụ phải giết càng nhiều địch quân càng tốt trước khi nhận lấy cái chết không thể tránh khỏi.

        Joe và tôi bước vào một lô cốt bâng xi măng thấp lè tè. Chúng tôi có thể nhận ra một nòng súng máy vẫn còn chĩa qua lỗ châu mai, nòng bị cong veo có lẽ do quá nóng khi liên tục nhả đạn vào lính Mỹ. Chúng tôi len lòi tìm lối vào phía trong. Có hai gian phòng nhỏ tối tăm ngoại trừ tia sáng chiếu qua một kẽ hở: một phòng cho lính bắn súng máy, phòng kia để chứa hàng hậu cần và ẩn mình khi đối phương tiến qua.

        Lom khom cùng với người anh trong bóng tối chật chội, tôi cố hình dung cuộc đổ bộ từ nhãn quan người lính trong lô cốt: Anh gây kinh hoàng bằng khẩu súng máy của mình, nhưng bản thân anh cũng kinh hãi. Anh không thể trốn thoát đi đâu được, biết rằng mình sẽ chết ở đây, có lẽ do súng phóng lửa của một người lính trẻ Mỹ đã sống sót qua làn đạn súng máy Nhật. Khi co mình trong lô cốt này và nhìn từng đợt quân Mỹ đổ bộ, người lính Nhật có cảm giác như thế nào? Anh sẽ còn sống được bao nhiêu ngày hoặc bao nhiêu giờ? Liệu trước khi tử trận, anh có đạt được chi tiêu giết mười người lính đối phương?

        Khi một chàng trai trẻ tiến theo hướng này, anh có cảm giác như thế nào? Tôi nghĩ đến những tác động qua lại giữa tôi và người Nhật khi tôi học đại học ở Tokyo, lúc tôi phân vân giữa hai chọn lựa: học tập hay ăn uống. Nhưng quá nhiều người trên hòn đảo Iwo Jima đẫm máu này không có chọn lụa: hoặc giết đối phương hoặc bị đối phương giết.
       
        Nhưng bây giờ đã đến lúc đi lên đỉnh núi.

        Khi đứng đúng nơi giương ngọn cờ, ở rìa miệng núi lửa, gió thổi tóc bay phần phật, chúng tôi ngắm toàn bộ bãi biển dài hơn 3 km, nơi hạm đội Mỹ đổ lính TQLC lên bờ. Vào tháng 2/1945, từ những địa đạo ngay dưới chân chúng tôi, quân Nhật cũng nhìn rõ quang cảnh phía dưới. Họ kiên nhẫn chờ cho đến khi những chàng trai trẻ Mỹ lố nhố dọc bờ biển. Trong nhiều tháng, họ đã đặt tầm ngắm cho những khẩu súng của mình. Đến thời điểm thích hợp, họ chi việc khai hoả, mở đầu cho một trong những cuộc tàn sát khủng khiếp nhất trong lịch sử chiến tranh mọi thời đại.

        Một cảm giác lạc điệu kỳ lạ bây giờ dâng lên trong tâm hồn: Tôi cảm thấy thật phấn chấn khi đứng ở đây! Dù đây là một lịch sử đẫm máu, quang cảnh bên dưới chúng tôi có vẻ như tràn đầy sinh lực. Dường như nắng và gió mang lại sự sinh động cho tất cả chúng tôi.

        Và rồi tôi nhận ra rằng tinh thần phấn chấn của tôi không phải là lạc điệu. Có một cảm giác gì đấy đang dâng tràn trong tôi. Tôi nhớ lại câu mà cha tôi viết trong bức thư gửi ông bà nội tôị ba ngày sau việc giương ngọn cờ: “Đây là khoảnh khắc hạnh phúc nhất trong đời con.”

        Đúng thế. Quả là một cảm giác sướng thoả khi giương ngọn cờ ấy. Đứng trên ngọn Núi Suribachi, ta có cảm tưởng như đứng trên nóc nhà thế giới, chung quanh là đại dương. Nhưng làm thế nào thái độ của cha tôi lại thay đổi với ý nghĩ “Giá như không có một lá cờ trên cái cột ấy”?

        Trong khi khoảng 20 binh sĩ và sĩ quan TQLC quây quần xung quanh, những người trong dòng họ Bradley chúng tôi chụp ảnh cho nhau. Chúng tôi chụp ở nhiều góc độ, kể cả gần vị trí ngọn cờ giương cao. Chúng tôi mang theo một tấm biển được đẽo theo hình dáng Bang Wisconsin làm bằng đá granit đỏ - loại đá biểu tượng của bang. Một phần của chuyến đi là nhằm đặt tấm biển này trên mặt đất đá khô cằn. Bây giờ, anh Mark của tôi dùng một con dao nhíp để cào mặt đá. Anh phủi những hòn sỏi khỏi bề mặt rồi nói: “Giờ thì đặt xuống được rồi đấy.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 07:54:05 PM

        Joe nhẹ nhàng đặt tấm biển trên nền mặt đất khô cằn. Tấm biển ghi:

TƯỞNG NIỆM JOHN BRADLEY NGƯỜI GIƯƠNG NGỌN CỜ NGÀY 23 THÁNG 2 NĂM 1945 GIA ĐÌNH LẬP

        Chúng tôi cùng đúng dậy, phủi bụi cát trên bàn tay, và chăm chăm nhìn công trình tưởng niệm của mình. Gió thổi luồn qua tóc. Ánh mặt trời Thái Bình Dương nóng bỏng chiếu rọi xuống chúng tôi. Thời giờ chúng tôi được phép thăm viếng ngọn núi đã gần hết.

        Tôi đi đến một chiếc xe TQLC, lấy ra một tập hồ sơ mang theo từ New York. Hồ sơ gồm những ghi chú và những bức ảnh: vài bức của gia tộc Bradley, nhưng phần lớn là của sáu chàng trai trẻ. Tôi gọi những người thân trong gia tộc tôi và những lính TQLC đã hộ tống chúng tôi, ra hiệu cho họ tụ tập đến đài tưởng niệm xây bằng đá hoa cương trên đỉnh núi: “Bây giờ chúng ta hãy bẳt đâu”.

        Khi các binh sĩ TQLC đã tụ tập trước đài tưởng niệm, mọi người đều im lặng trong chốc lát. Cả không gian tĩnh lặng ngoại trừ gió thổi phần phật.

        Và rồi tôi bắt đầu lên tiếng.

        Tôi nói vê trận đánh diễn ra trong hơn 36 ngày. Bên Mỹ có 25.851 thương vong, kể cả gần 7.000 tử trận. Phần lớn 22.000 quân Nhật đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

        Đấy là một trong những trận đánh anh dũng nhất của quân Mỹ. Số huân, huy chương tưởng thưởng cho lòng dũng cảm khi chiến đấu ở Iwo Jima, nhiều hơn bất kỳ trận chiến nào trong lịch sử Hoa Kỳ. Để so sánh: trong Thế chiến II, thủy quân Lục chiến nhận 84 Huân chương Danh dự. Trong 4 năm, vậy là 22 huân chương mỗi năm, tức khoảng 2 huân chương mỗi tháng. Nhưng chỉ trong một tháng chiến đấu trên hòn đảo này họ đã nhận được 27 Huân chương Danh dự, tức một phần ba tổng số của cả cuộc chiến.

        Tôi nói về bức ảnh giương cao ngọn cờ nổi tiếng. Tôi lưu ý rằng bất kỳ ai trên thế giới này cũng nhận ra nó, nhưng chảng một ai biết về các chàng trai trẻ.

        Tôi ngước nhìn đài tưởng niệm mô phỏng bức ảnh.

        Tôi nói tôi muốn kể cho quý vị nghe một chút ít về họ. Tôi chỉ người đứng giữa trong bức ảnh với hai tay nám chặt lấy cán cờ.

        Đấy là cha tôi.

        Ông là người dễ nhận ra nhất trong sáu người, là người duy nhất mà hình dáng còn rõ nét. Nhưng trong nửa thế kỷ ông hoàn toàn giữ im lặng về Iwo Jima. Với mẹ tôi là người mà ông chung sống 47 năm, ông chỉ nói về việc này có một lần, vào ngày đầu tiên hai người hẹn hò với nhau. Chi sau khi ông qua đời, chúng tôi mới biết về tấm Huân chương Thập tự Hải quân. Trong sự khiêm tốn thầm lặng, ông không nói cho chúng tôi biết về việc này. Tại sao ông giữ im lặng? Tôi nghĩ câu trả lời được tóm gọn trong ý nghĩ của ông, rằng anh hùng thật sự của Iwo Jima là những người đã không trở về (Còn có những lý do khác khiến cha tôi im lặng, mà tôi chi được biết khi đi tìm sự thật. Nhưng bây giờ không phải là lúc để chia sẻ với những người lính TQLC này.).

        Tôi chỉ người đứng khuất phía sau cha tôi, công nhân nhà máy dệt đẹp trai đến từ Bang New Hampshire.

        Rene Gagnon đứng kề vai cha tôi trong bức ảnh, nhưng trong cuộc đời thực, họ đi theo hai hướng khác nhau. Mọi người ca tụng Rene là anh hùng - bà mẹ, vị Tổng thống, tuần báo Time, và thính giả cả nước đều ca tụng - ông tin theo lời họ. ông nghĩ mình sẽ được lợi nhờ sự nổi tiếng. Giống như con thiêu thân, ông bị ngọn lửa của sự nổi tiếng cuốn hút.

        Bây giờ tôi chi đến người tận cùng bên tay phải của bức ảnh, tay nắm gốc cột cờ cắm xuống nền đất rắn của Suribachi. Đầu gối chân phải ông cao gần bằng vai. Hai mông căng dưới bộ quân phục tác chiến. Người gốc Bang Texas.

        Đấy là Harlon Block. Ông là một ngôi sao bóng đá Mỹ, gia nhập TQLC cùng với cả đội bóng. Ông ngã xuống 6 ngày sau việc giương ngọn cờ. Và rồi ông bị quên lãng. Lưng ông hướng về phía ống kính, vì thế trong gần 2 năm ông không được nhận dạng. Nước Mỹ tin rằng đấy là một người lính TQLC khác cũng đã tử trận trên đảo Iwo Jima.

        Nhưng mẹ Belle của ông thì tin rằng đấy là con trai mình. Không ai tin lời bà, kể cả người cha, cả gia đình, hoặc láng giềng. Chúng ta hẳn sẽ không bao giờ biết sự thật đấy là Harlon nếu không nhờ một người lạ mặt nào đấy bước đến cánh đông bông vải của gia đình ở miền nam Texas, cho biết mình đã thấy cậu con trai Harlon của họ cắm cán cờ xuống đất.

        Kế tiếp, tôi chi đến người đứng ngay phía sau lưng cha tôi, cậu bé Huck Finn1 của nhóm, người Bang Kentucky mặt nhiều tàn nhang.

-----------------
        1. Nhân vật trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer (The Adventures of Tom Sawyer) và Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn (Adventures of Huckleberry Finn) của nhà văn Mỹ Mark Twain, rất tiêu biểu cho tính cách của tuổi trẻ Mỹ: tinh nghịch, quả cảm, ưa phiêu lưu mạo hiểm.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 07:56:03 PM

        Đấy là Franklin Sousley, đến từ ngôi làng Hilltop của Bang Kentucky.Ông mồ côi cha từ năm lên 9, và vào sinh nhật lần thứ 19 ông lên tàu đi Thái Bình Dương. Sáu tháng trước đấy, lúc từ giã bạn bè dưới mái vòm Trung tâm Bách hoá Hilltop, ông nói: “Khi trở về, mình sẽ là anh hùng.”

        Vài ngày sau khi diễn ra sự kiện giương ngọn cờ, người dân ở quê quán ông chúc mừng vị anh hùng của họ. Nhưng vài tuần sau, họ thương khóc ông.

        Tôi nhìn chăm chăm bức ảnh một hồi rồi mới nói tiếp. Tôi nói với nhóm người đang đứng im lặng: Hãy nhìn kỹ hai bàn tay của Franklin. Quý vị có thấy bàn tay phải của ông ấy không? Quý vị có thấy người đứng sau ông nấm lấy bàn tay phải của Franklin, và giúp Franklin đẩy cây cột cờ nặng nề không? Người trẻ nhất trong nhóm được người lớn tuổi nhất trợ giúp: Người chỉ huy kỳ cựu của họ. Người Trung sĩ. Mike Strank.

        Bây giờ tôi chi đến phần thân người chi có thể thấy được chút ít.

        Tôi nói, Mike đứng phía sau Franklin. Quý vị khó nhìn ra ông ấy. Nhưng cử chi giúp đỡ anh trai trẻ Franklin thì đúng là bản tính cố hữu của ông. Mike được binh sĩ dưới quyền kính nể như là một cấp chỉ huy vĩ đại, người lính TQLC xuất chúng của binh chủng TQLC. Đối với các chàng trai, gọi như thế không có nghĩa Trung sĩ Mike là một sát thủ hung tợn1. Mà điều đó có nghĩa là Mike thấu hiểu các chàng trai dưới quyền mình và cố bảo vệ mạng sống của họ trong khi họ thi hành những nhiệm vụ nguy hiểm.

        Và Trung sĩ Mike cố làm hết sức mình cho đến lúc cuối. Ông ngã xuống trong khi đang vẽ ra một sơ đồ trên nền cát để trình bày cho thuộc cấp một phương án tác chiến an toàn nhằm tấn công một vị trí đối phương.

        Cuối cùng, tôi chỉ đến người ở tận cùng bên trái của bức ảnh. Thân người vươn thẳng lên, các ngón tay không với tới cây cột cờ. Người thuộc sắc tộc Da đỏ Pima ở Bang Arizona.

        Tôi nói, đây là Ira Hayes. Sau này, khi trở về nước Mỹ, Ira được ca tụng là anh hùng nhưng ông không nghĩ thế. Ông hỏi: “Làm thế nào tôi cảm thấy mình là anh hùng khi tôi đổ bộ cùng với 250 chiến hữu và sau cùng chi có 27 người sống sót?” Iwo Jima mãi ám ảnh Ira, và ông cố xoá tan hồi ức này trong men rượu.Ông qua đời gần tròn 10 năm sau ngày chụp bức ảnh này.

        Sáu chàng trai trẻ. Họ tạo nên một hình ảnh biếu trưng cho nước Mỹ vào năm 1945: công nhân một nhà máy dệt ở New England, nông dân trồng thuốc lá ở Kentucky, con thợ mỏ than ở Pennsylvania, người gốc Texas ở vùng có mỏ dầu, một chàng trai ở vùng nuôi bò sữa cùa Bang Wisconsin, và một người Da đỏ ở Bang Arizona.

        Trong số sáu chiến binh, chỉ có hai người còn lành lặn rời hòn đảo này, và một chiến binh được khiêng đi với nhiều mảnh đạn một bên người. Ba người được an táng ở đây. Vậy nên nhóm người này là hình ảnh biểu trưng cho chiến trường Iwo Jima. Nếu người ta ngẫu nhiên chụp một bức ảnh gồm sáu chiến binh trên đỉnh Núi Suribachi ngày ấy thì hẳn sẽ có kết quả tương tự: số thương vong là hai phần ba. Hai trong số ba chàng trai chiến đấu trên hòn đảo đau thương này tử trận hoặc bị thương.
        Khi dứt lời, tôi không thể nhìn lên những gương mặt phía trước tôi. Tôi nhận ra một cảm xúc mạnh mẽ trong bầu không khí. Tôi nhỏ nhẹ đề nghị: để tưởng niệm cha tôi, mọi người cùng hát hai ca khúc mà sinh thời ông chi biết có hai ca khúc ấy: Home on the range2 (Tổ ấm trên đồng cỏ) và I’ve been working on the railroad (Tôi đã làm việc trên đường tàu).

        Chúng tôi cất tiếng hát. Tất cả chúng tôi, dưới ánh nắng và gió phần phật. Không nhìn lên, nhưng tôi vẫn biết mọi người đang đứng đây - lính TQLC già và trẻ, phụ nữ và đàn ông, gia đình tôi - đều rơi nước mẳt. Lệ chảy dài trên má tôi. Phía sau tôi, Joe nấc thành tiếng khàn khàn. Tôi lén nhìn lên Thượng sĩ nhất Lewis Lee, người mang quân hàm cao nhất trong nhóm TQLC. Da sạm nắng, ống tay áo xoắn lên cánh tay gân guốc, thân hình lực lưỡng, Thượng sĩ nhất Lee trông như người có thể nhai cả khẩu súng chứ chưa nói đến chuyện bắn súng. Những giọt lệ lấp lánh trên má ông.

        Miền đất thiêng liêng.

        Và rồi buổi tưởng niệm chấm dứt. Đã đến giờ bước lên chiếc xe van mà đi xuống Núi Suribachi.

        Trong những khoảnh khẳc cuối cùng được tự do trên đỉnh núi, anh em chúng tôi trở lại là những cậu bé con ngày nào. Chúng tôi chạy xuống triền dốc để thu nhặt vài mảnh đá làm kỷ niệm. Steve chụp ảnh cho Joe, Mark và tôi đang tè trên sườn núi Suribachi - động thái mà vài người lính TQLC đã làm vào ngày lá cờ được giương lên. Cuối cùng, chúng tôi lấy ra các bức ảnh mang theo trong chiếc xe van, tung lên trong ngọn gió đang thổi trên triền núi. Hình ảnh của những người thân thương trong gia tộc chúng tôi và của sáu chàng trai phát tán khắp miền đất thiêng liêng.

        Rồi tôi quay đến toán lính TQLC, những người xa lạ trong bộ quân phục giờ đã là những người bạn cùa chúng tôi - thành viên của gia đình chúng tôi.

        Tôi nói với họ: “Cảm ơn vì các bạn đã có mặt ở đây.” Và rồi những người trong gia tộc Bradley quay đi, để lại quả núi - và chẳng bao lâu hòn đảo - cho những hương hồn anh hùng.

---------------
        1. Ý tác giả nói vì TQLC là một binh chủng thiện chiến, khi nghe đến một “người lính TQLC xuất chúng” thì người ta dễ liên tường đến một “một sát thủ hung tợn”, nhưng ở trường hợp của Mike thì không như thế.

        1. Bài hát có điệp khúc khá thích hợp trong tình huống này: Tổ ấm, tổ ấm trên đồng cỏ/ Nơi hươu và linh dương chơi đùa/ Nơi hiếm khi nghe câu nói ngã lòng/ Và bầu trời cả ngày không có mây.



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 07:58:47 PM

Chương 2

NHỮNG CHÀNG TRAI MỸ
         
Mọi cuộc chiến đều như trò con trẻ, và được chiến đấu bởi trẻ con.

HERMAN MELVILLE       

        Nhưng không. Không có hồn ma. Đấy là điều mà tôi nhủ thầm khi truy tìm lịch sử: đưa những chàng trai trẻ này trở lại cuộc sống - hoặc một dạng thức cuộc sống nào đấy - đế cho họ sống lại trong hồi tưởng của dân tộc. Bắt đâu với cha tôi, và tiếp tục với 5 người kia.

        Đây là cách chúng ta luôn làm sống lại những người thân đã khuất, có phải thế không? Bằng cách kể những câu chuyện về họ, những câu chuyện thực. Trong quá khứ, người ta cũng làm thế. Làm sống lại quá khứ bằng cách kể những câu chuyện về quá khứ.

        Không phải là học giả hoặc nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, nhưng tôi nghĩ nếu bằng cách nào đấy tìm đủ tư liệu, tìm đủ những chiếc thùng cac-tông khác - đấy chỉ là cách nói - thì tôi sẽ làm được việc này. Tôi biết mình không thể làm việc đơn độc. Tôi cần đến những thân bằng quyến thuộc và chiến hữu của sáu chàng trai để tái tạo hình ảnh của họ.

        Tôi bắt đầu một cách đơn giản. Tôi mua một quyển sách viết về Iwo Jima để tìm hiểu. Rồi một quyển khác. Và một quyển khác. Tôi không còn nhớ tổng cộng bao nhiêu.

        Tôi tìm ra tên những người trong các quyển sách đã đọc, kể cả tên sáu chàng trai giương ngọn cờ.

        Rồi tôi bắt đâu truy tìm họ. Tôi muốn tiếp xúc với những người đã quen biết họ và thương yêu họ.

        Tôi gọi điện đến các văn phòng thị trưởng và cảnh sát nơi sinh quán của sáu người giương ngọn cờ, dò hỏi manh mối để tìm gặp người thân của họ. Tôi quay số điện thoại của họ mà trống ngực đập thình thịch. Qua tiếng chuông điện thoại reo tôi ngóng chờ câu trả lời đầu tiên “A lô?” từ một quả phụ, một người anh hoặc em của một trong sáu chàng trai đã giương cao ngọn cờ trên đỉnh Suribachi.

        Phải mất một lúc họ mới hiểu tôi là ai và tại sao tôi gọi điện đến. Nhưng cuối cùng họ đều cời mở - trong khi họ vẫn kín đáo nếu nhận các cuộc gọi từ người lạ hoặc từ giới báo chí.

        Những cuộc gọi, những cuộc trò chuyện bắt đầu chiếm thời gian của tôi trong nhiêu ngày. Rồi kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng. Tôi còn tìm kiếm những cựu chiến binh trở về từ Iwo Jima. Tôi cũng muốn nghe những hồi tưởng của họ.

        Tôi nhờ một đồng nghiệp chia sẻ công việc của tôi ở công ty để dành thêm thì giờ cho quá khứ của sáu chàng trai. Rồi tôi đi đến những nơi mà họ đã sống.

        Khi bạn đọc những dòng này, có lẽ tôi vẫn còn đang tìm kiếm thêm tư liệu. Có lẽ tôi chẳng bao giờ ngưng nghỉ.

        Nhưng tôi đã tìm ra được phần lớn những gì mình muốn biết.

        Tôi muốn tìm hiểu về họ như những người lính Thuỷ quân Lục chiến (TQLC), như những chiến binh và cũng là chiến hữu. Nhưng hơn thế nữa, tôi muốn biết về họ khi còn trẻ, là những cậu bé bình thường trước khi trở thành chiến binh.

        Tôi muốn tìm hiểu lai lịch gia đình họ. Và tôi muốn biết “Bức ảnh” đã ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống của họ cho đến ngày hôm nay. Là đứa con của một người giương ngọn cờ sống dưới cái bóng phiền toái của bức ảnh - cái bóng từ một hình ảnh mà chúng tôi không bao giờ trông thấy rõ trong gia đình - tôi không hề biết gì về ảnh hưởng lâu dài của bức ảnh trong gia tộc. Tôi muốn biết gia tộc Bradley chúng tôi có điểm nào giống với năm gia tộc kia hay không.

        Khi nghe tôi hỏi, nhiêu người rơi nước mắt. Nhưng họ cũng mở ra cho tôi những cánh cửa tươi sáng, chói lọi của quá khứ.

        Ví dụ như thời niên thiếu của họ. Đây là thế giới muôn mặt rất lạ lẫm đối với tôi, lúc nào cũng lôi cuốn tôi: thế giới của thiếu niên Mỹ trong những năm ngay trước Thế chiến II.

        Suy cho cùng, phần lớn những người này vừa qua thời niên thiếu khi gia nhập quân ngũ. Trước lúc này, họ sống như trẻ thơ: đi săn, đi câu cá, đi xem chiếu bóng, nghe những chương trình phiêu lưu qua đài phát thanh, phụ giúp các buổi lễ nhà thờ, biết hẹn hò và yêu đương lần đâu. Và vì kinh tế khó khăn, họ phải phụ giúp cha mẹ trong công việc kinh doanh, trên cánh đồng trồng thuốc lá, trong mỏ than, trong nhà máy dệt.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:00:33 PM
     
        Gạt qua những lúc khốn khó, thập kỳ 1930 là thời kỳ đẹp đẽ cho các thiếu niên Mỹ, dù là trên vùng đồi núi của Bang Kentucky hay sân thể thao ở miền nam Bang Texas hoặc trong lễ hội ở một thị trấn nhỏ của Bang Wisconsin. Thời niên thiếu lúc bây giờ tự nó là một vũ trụ của những điều khả dĩ và những hy vọng.

        Đời sống một thiếu niên Mỹ trong thập kỷ 1930 - dù làm việc hay vui chơi - đều có mối liên hệ với cộng đồng mà ngày nay người ta khó mường tượng ra. Đấy là đời sống của những ước mơ - những ước mơ sinh động và lạc quan về tương lai. Vì thế, những ước mơ này tạo nên động lực mạnh mẽ cho lòng quả cảm và trung kiên khi những chàng trai khoác áo lính - những chàng trai rất giống với sáu người trong bức ảnh.

        Sáu chàng trai có lai lịch rất khác nhau: chàng cao bồi Texas trên lưng ngựa trắng, anh Da đỏ trong khu bảo tồn Bang

        Arizona, anh chàng quê kệch Bang Kentucky thích tắm truồng ở Sông Licking, anh học sinh nghiêm túc thường đi cùng cô bạn học dưới những tán cây ở một thị trấn nhỏ của Bang Wisconsin, anh chàng đẹp trai ăn nói dẻo quẹo thích soi bóng mình trên khung cửa kính một hiệu thuốc ở Bang New Hampshire, anh chàng lực lưỡng di cư từ Tiệp Khắc thích chơi kèn ở một thị trấn với những nhà máy thép sôi sục ở Bang Pennsylvania. Tất cả đều ấp ủ những giấc mơ cho tương lai nhưng không thành hiện thực.

        Nhưng họ có nhiều điểm tương đồng.

        Cả sáu người đều khá nghèo. Cơn Đại Suy thoái ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và cũng ảnh hưởng đến bóng đá Mỹ, đức tin tôn giáo, và các bà mẹ cứng cỏi. Còn ảnh hưởng đến các anh chị em của họ, và trách nhiệm của họ là phải đùm bọc lẫn nhau.

        Hầu như cả sáu người luôn được mô tả là những chàng trai trầm lặng, rụt rè, nhưng đấy là những chàng trai được mọi người quan tâm đến.

        Tuy hầu như tất cả hồi ức về các anh chị em và các cô bạn gái đều được kết tinh vào cuối thế kỷ, người ta có cảm tưởng các sự kiện giống như là trong khoảnh khắc vừa mới xảy ra.

        Và tất cả sáu người cùng chiếu rọi nhũng gì diệu kỳ và trong sáng ở một nước Mỹ mà chẳng bao lâu họ sẽ mãi mãi bỏ lại tuổi niên thiếu của mình.

        John Bradley: Appleton, Wisconsin

        Những hình ảnh quen thuộc thời trẻ của cha tôi là những quả tim phơi trần: Quả tim Thiêng liêng của Jesus, Quà tim Thiêng liêng của Đức Mẹ Maria. Những quả tim vừa con người vừa thần thánh, nhuốm màu đỏ của máu, được phơi bày quá khổ trong lồng ngực trên những bức hoạ tôn giáo treo trong nhà gia tộc Bradley. Những hình ảnh biểu tượng, trong số những hình ảnh dễ được nhận ra nhất của lịch sử nhân loại. Máu và sự cứu rỗi. Chịu đau đớn rồi được chữa lành. Cuộc sống trong cái chết, và cái chết trong cuộc sống. Chịu hy sinh và được cứu rỗi qua đức tin.

        Cầu xin Đức Mẹ Linh hiển cứu giúp chúng ta là câu kinh cầu thường được cất lên trong nhà của cha tôi; còn câu Quà tim Thiêng liêng của Jesus, tôi đặt niềm tin vào Người thường được thể hiện trên các bức họa.

        Những hình ảnh có màu sắc ấm cúng và cử chỉ sống động ấy hẳn đã tạo ấn tượng tốt đối với cha tôi. Những gương mặt hiền hòa, dễ mến, làm ấm lòng người và kiên định. Bức họa Jesus vẫn còn sót lại trong thời thơ ấu của tôi ở Antigo. Những biểu tượng của đức tin Công giáo - đức tin Công giáo cổ xưa từ Châu Âu - bây giờ thấm nhuần trên những đồng cỏ tắm nắng chói chang ở Bang Wisconsin vào cuối thập kỷ 1920.

        Cha tôi sinh năm 1923 tại Antigo, một thị trấn nhỏ, nơi ông sau này trở về để gây dựng gia đình và gửi nắm xương tàn. Ông theo học tại Trường Công giáo St. John, nơi sau này cả tám đứa con của ông cũng theo học. Nhưng khi ông lên 7 tuổi, ông nội James J. Bradley của tôi dẫn cả nhà dời đến Appleton, một thành phố nhỏ có 16.000 cư dân nằm trên Sông Fox. Jesus, Đức Mẹ Maria và những quà tim thiêng liêng cũng cùng di chuyển với gia đình.

        Bà nội Kathryn của tôi là người gốc Đức, tính hay lo lắng, đã mang theo những biểu tượng tôn giáo để treo ở phòng khách. Trong gia đình bà là người hay lo lắng về mặt tôn giáo; đúng hơn thì bà lo lắng về mọi thứ. Bà lo lắng về tương lai của con cái trong đức tin, bà lo lẳng về chuyện tiền bạc, bà lo lắng: Liệu hàng xóm sẽ nghĩ gì? Và cũng giống như những người hay lo khác, bà lo lắng về mọi chuyện ngoại trừ: cuối cùng thì chuyện tồi tệ gì sẽ xảy ra?

        Ông nội tôi, James J. Bradley, thì ít khi lo lắng. Là cựu chiến binh trở về từ những giao thông hào trong Thế chiến I, ông làm lụng siêng năng qua những nghề công nhân đường sắt, công nhân cảng than và nhân viên pha rượu. Là người gốc Ái Nhĩ Lan thích vui thú, ông là mẫu người bạn có thể gọi đến giữa quán bar để giúp tính toán tiền cược về kết quả của trận đấu bóng bầu dục hoặc đại loại như thế, và ông sẽ cho bạn ngay thông tin mà ông nhớ trong đầu.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:01:23 PM

        Một người tốt về nhiều mặt, nhưng bị khốn khó trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Ở Antigo, ông nội tôi đã hãnh diện mang trên người bộ đồng phục công nhân đường sắt và làm nhiêu việc khác nhau trên những đoàn tàu chở hàng chạy ngang dọc khắp bang, Cuộc Đại Suy thoái ảnh hưởng nặng nề đến ngành đường sắt, nhiều công nhân bị sa thải - kể cả ông nội tôi và nhiều đồng nghiệp của ông. Chính vào lúc đó, ông dời cả gia đình đến sống ở Appleton vì ở đây có điều kiện thoải mái hơn.

        Nơi đây ông tìm được việc làm, và cũng có một sự cố trong nghề nghiệp. Trong một chuyến lái tàu hàng, ông lái đoàn tàu hỏa qua một khúc rẽ với vận tốc quá nhanh khiến cho một toa tàu chất đầy bắp cải chệch đường ray và bằp cải đổ hết xuống đường. Bạn nhậu của ông ở quán bar biến vụ này thành một truyền thuyết trào phúng, và tặng cho ông cái biệt hiệu “Cabbage” (Bắp cải).

        Ông nội tôi nỗ lực làm việc để gây dựng cho gia đình có được cuộc sống của giới trung lưu, lúc nào cũng tỏ ra lạc quan. Ông có năm người con, cha tôi “Jack” là con thứ hai. Là người thực dụng, ông muốn mỗi đứa con - đặc biệt là con trai - phải giúp tạo thu nhập gia đình. Cha tôi và bác cả James Jr. của tôi nhận giao báo khắp vùng chung quanh nhà. Sau khi nhận tiền lương hàng tuần, hai người đặt món tiền trên bệ bàn thờ. Khoản tiền ấy, có lẽ cùng với Đức Mẹ, giúp gia đình có thêm miếng ăn.

        Giống như tất cả mọi chú nhóc vào thời đó, cha tôi luôn mặc quần áo thừa - quần áo lịch sự và sạch sẽ nhưng là loại mặc thừa - của bác tôi. Ông là đúa trẻ thân thiện, lúc nào cũng tươi cười nhưng ít nói. Nói nhiều thì gây chú ý, nhưng ông không muốn được chú ý. Sau này da ông nổi nhiều mụn khiến cho ông càng không muốn ai chú ý đến mình.

        Ông ẩn mình trong ngôi nhà thờ Công giáo cùng với bà nội mộ đạo của tôi. Chính nơi đây, từ vị trí là thiếu niên phụ lễ, thầm thì những bài kinh cầu bằng tiếng Latin, ông để ý đến một số người toát ra vẻ thành đạt và sung túc trong thời buổi khốn khó ấy. Một trong những người này là ông bác họ tôi, Carl Shutter, người thường mặc những bộ vét và cà vạt sang trọng, làm việc cho công ty có tiếng tăm Northwesterm Mutual Life để bán dịch vụ bảo hiểm. Chàng trai trẻ Jack bắt đầu tìm cách làm quen với những người như Carl Shutter, hỏi ý kiến họ về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Ông nhận thấy những doanh nhân thành đạt này - luật sư, thương nhân và nhân viên ngân hàng đều mến thích ông vì thái độ chú tâm ây. Nhờ đó, ông càng thêm tự tin tạo hướng đi riêng cho mình.

        Một nhóm doanh nhân đặc biệt làm cho ông để ý đến: những chủ nhân dịch vụ mai táng ở Appleton. Cha tôi nghĩ những người này có tư thái đặc biệt khi đi trong giáo đường giữa không khí nồng mùi hương của buổi kinh cầu hoặc khi cử hành dịch vụ mai táng: tự tin, trầm tĩnh nhưng dễ gần gũi. Trông họ rất dễ chịu, rất thân thiện; có vẻ như mọi người đều quen biết và trọng vọng họ. Cha tôi nhanh chóng tìm ra lý do: đấy là dịch vụ. Những chủ nhân dịch vụ mai táng không phải chi lo bán một loại hình dịch vụ. Ngoài cha xứ, họ là những người thân cận nhất với dân cư thị trấn trong những ngày tang tóc.

        Cha tôi hiểu ra cung cách của dịch vụ. Đấy giống như thiếu niên phụ lễ trong nhà thờ, một “người phụng sự.” Ông đã nắm bất được những mô hình dịch vụ để áp dụng khi lớn lên. Khi gần đến tuổi thành niên, cha tôi làm việc bán thời gian cho một công ty dịch vụ mai táng ở Appleton. Từ đấy, ông sẽ trở thành một người được trọng vọng, có phẩm cách giống như họ.

        Trong thời gian này, có vẻ như cuộc sống ở Appleton, Bang Wisconsin, vượt lên thách thức với cơn Đại Suy thoái hoặc bất kỳ sự xâm lấn nào. Cư dân đều cảm thấy khó khăn nhưng tất cả nỗ lực vượt qua nhờ tiềm năng kinh tế và sự hòa hợp. Thị trấn vẫn còn sống trong những tia sáng le lói của thời hoàng kim lúc trước chứ không hắn là cơn Đại Suy thoái. Thời hoàng kim ấy đang tàn lụi nhanh chóng trên nước Mỹ, nhưng ở Appleton có vẻ như không ai để ý đến điều này.

        Trong những năm giữa hai cuộc đại chiến, Appleton thể hiện tất cả những gì đã khiến cho nước Mỹ trân trọng để chiến đấu và hy sinh. Cái tên của thị trấn nói lên khung trời chín mọng, niềm mê say không bị xóa nhòa1.

------------------
        1. Tác giả ví von, vì tên thị trấn Appleton có chữ “Apple” nghĩa là quả táo.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:01:48 PM

        Đất đai tạo nên sự trù phú: những sườn đồi thấp, thoai thoải với đất màu mỡ phù hợp cho việc trồng lúa mì, chung quanh là những khoảnh rừng cây gỗ, đặc biệt là loại thông trắng cho gỗ để làm nội thất và chế tạo giấy. Con Sông Fox chứa đầy cá đã thu hút nhiêu thế hệ người Da đỏ, và sau đấy là di dân gốc Hà Lan và Đức.

        Thị trấn Appleton chính thức được thành lập năm 1853 với số dân 1.200. Vẻ huy hoàng trầm lặng độc đáo của nó chưa bao giờ lịm tắt qua một thế kỷ rưỡi tiếp theo. Yêu cầu sản xuất của các nhà máy giấy ở đây tăng vọt khi một nhà phát minh tại Thành phố Milwaukee nằm về phía nam bắt đầu sản xuất máy đánh chữ vào năm 1873.

        Di dân siêng năng từ Trung Âu mang theo mình những giá trị đến thị trấn và vùng quê chung quanh. Họ biến nơi này thành một vùng đất của bia, phó mát, xúc xích và những tháp chuông nhà thờ; nơi mà nền giáo dục được tôn vinh, sự tiến bộ được đề cao, chính quyền trong sạch, nhà cửa ngăn nắp, con trẻ biết vâng lời người lớn, không khí gia đình ấm cúng, cùng những ngôi giáo đường vững chãi và gây ấn tượng.

        Appleton là nơi đầu tiên trong toàn Bang Wistonsin được đặt điện thoại, và cũng là nơi đầu tiên trong vùng bờ biển phía đông được thấp sáng bằng đèn bóng. Năm 1911, Tổng thống Taft làm cho thị trấn nổi tiếng khi cắn vào miếng pho mát cao 1,2 m mà thành phố Appleton mang đến tham dự trong kỳ đấu xảo sản phẩm sữa quốc gia ở Chicago.

        Một cô gái bé nhỏ có tên là Betty Van Gorp - sau này trở thành mẹ tôi - còn nhớ đến thành phố Appleton vào thập kỷ 1930 theo những hoài niệm chân tình và tha thiết hơn.

        Bà bảo với tôi rằng, đấy là một thị trấn với những thảm cỏ được cắt xén gọn ghẽ và những con đường sạch không hề có rác rưởi. Một thị trấn nơi mà phụ nữ thích quét tước vỉa hè trước cửa nhà họ, và nếu đóng mạnh một cánh cửa thì người cách vài khu phố có thể nghe tiếng. Đấy là nơi mà người ta thích ngồi trên xích đu hoặc trên những bậc trước cửa thềm nhà dưới tán cây trong buổi chiều mùa hè, nghe tiếng dế kêu từ đám cỏ, ngắm nhìn từng đoàn đom đóm lấp lánh đầu tiên xuất hiện vào lúc chiều tà, và chào hỏi những người láng giềng đi qua.

        Vào mùa đông, các bà mẹ chuẩn bị bữa ăn nóng cho con cái: bánh nướng hoặc trứng dùng với bánh mì nướng, luôn luôn có ca cao nóng. Phần đông đều theo Công giáo, nên không dùng thịt những ngày thứ Sáu. Bữa ăn tối ngày thứ Sáu gồm có súp khoai tây, cá ngừ dùng với bánh mỳ nướng, trứng luộc cùng khoai tán, đậu nghiền.

        Khi xe goòng chở sữa hoặc nước đá chạy dọc theo những con đường phủ lá khô ở Appleton, mẹ tôi có thể nghe tiếng vó ngựa lọc cọc. Khi chiếc tàu điện dừng lại để đón hành khách, bà có thể nghe tiếng rít ken két. Một chuyến đi đến trung tâm thị trấn chi mất 5 cent. Vào những buổi chiều mùa hè, bà thường nghe tiếng kẽo kẹt phát ra từ chiếc ghế của ai đấy. Tiếng kẽo kẹt của ghế xích đu vẫn sống với bà suốt nhiều thập kỷ sau đó.

        Khi Betty Van Gorp đang học lớp ba, bà có một bạn học mới thường hộ tống bà từ Trường Công giáo St. Mary đi bộ về nhà dọc theo những con đường rộng đây bóng mát. Một cậu bé mới đến ở thị trấn, một cậu bé nghiêm túc và trầm lặng có tên là Jack Bradley. Bà mến cha tôi mặc dù không rõ ông mến mình vì muốn đền công hay vì lý do tự nhiên: đôi lúc trong lớp học bà được ông nhờ chuyển tờ giấy nhắn tin đến cô bạn học Janet Jones phiền phức. Tuy vậy, khi học lớp bốn bà thu đủ can đảm đế gửi ông một tấm thiệp Valentine tự mình làm lấy với dòng chữ “Đoán là ai?” Bà mến cha tôi ở chỗ ông không bao giờ chửi rủa, thậm chí khi trời lạnh người ta muốn chửi rủa thời tiết.

        Những đứa trẻ Appleton khác cũng bị cha tôi thu hút. Bob Connelly cùng với cha tôi gia nhập đội Hướng đạo sinh và cùng đi cắm trại với ông. Phần lớn gia đình không đủ tiền mua nguyên bộ đồng phục Hướng đạo sinh cho bọn trẻ. Bob nhớ lại cha tôi chỉ mang chiếc khăn quàng.

        Bóng chày trong mùa hè. Rồi giải khát từ một trong những vòi nước đặt ở mỗi góc đường trong trung tâm thị trấn. Vào mùa đông họ luyện tập cướp bóng đôì thủ trong môn bóng đá Mỹ. Bọn trẻ chỉ đủ tiền mua giày, không thể mua đồng phục bóng đá. Bơi lội ở Công viên Hồ. Đi nhờ đến đấy bằng cách nhảy lên toa tàu chở súc vật chạy dọc theo khe núi. Hội chợ mỗi mùa hè; vị ngọt của kẹo đường và mùi thơm của bắp rang bơ.

        Đấy có vẻ như cuộc sống lý tưởng trong một thị trấn lý tưởng. Nhưng ngay cả trong những thị trấn lý tưởng cũng có hiểm nguy và những thương tiếc, nhắc cho họ nhớ con tim nhân loại là dễ vỡ biết bao.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:03:42 PM
   
        Năm cha tôi 10 tuổi, một tai họa ập đến mà bà nội dù hay lo lắng vẫn không thể lường trước. Vào một buổi sáng mùa đông giá lạnh, cô tôi Mary Ellen mới lên 5 tuổi đang chơi đùa gần lò sưởi điện đặt trong nhà bếp. Khi cô nghiêng người qua cuộn dây lò xo của lò sưởi, những núm tua trên chiếc áo ngủ của cô quệt vào và bắt lửa. Cha tôi đang đứng gần vội chạy đến với một chậu nước giội vào cứu em gái. Bà nội đang xúc than vào lò ở tầng hâm vội chạy lên - Cầu xin Đức Mẹ Linh hiển cứu giúp chúng ta! - lấy tấm thảm bọc lấy cô con gái đang la khóc.

        Một bác sĩ được gọi đến. Sau khi khám, ông kết luận vết bỏng không trầm trọng nên không cần phải đưa cô vào bệnh viện. Ông nói chi cần cho cô tĩnh dưỡng trên giường là đủ. Gia đình đặt cô nằm trên chiếc ghế bành.

        Vị bác sĩ đến thăm bệnh mỗi ngày. Nhưng cô càng ngày càng yếu, và trong vòng một tuần gia đình phải chôn cất cô. Cha tôi cảm thấy mình có trách nhiệm về cái chết của cô tôi. Suốt cả đời, ông ân hận về việc này rằng mình đã không làm tốt hơn để cứu em gái.

        Chỉ đến khi trưởng thành và được đào tạo về quân y, cha tôi mới nhận ra rằng cái chết không phải do bỏng, mà có lẽ do viêm phổi, bị trầm trọng thêm vì cô nằm bất động nhiều ngày trên sô pha.

        Cả gia đình phải vượt qua nỗi khổ để sống tồn. Vào thời này ở nước Mỹ, cái chết của con trẻ không phải là hiếm. Nhưng dù sao gia tộc không chấp nhận một cách dễ dàng. Sau biến cố này, người trong gia tộc nhận thấy bà nội tôi mất đi một phần nét sinh động.

        Trong nỗi đau đớn, bà gần gũi với cha tôi hơn. Bà trở thành người cố vấn cho cha tôi, và ông là người bảo hộ cho bà. ông lớn lên thành một người mộ đạo, có trách nhiệm, sốt sắng muốn phục vụ.

        Khi lên 19 tuổi, biết mình sẽ phải phục vụ trong quân ngũ nên cha tôi xin gia nhập Hải quân và tránh tác chiến trên bộ. Với phương án này, ông tin rằng vẫn phục vụ quân đội nhưng tránh xa những làn đạn. Ông không hề biết rằng việc này sẽ đưa mình đến một trong những trận chiến đẫm máu nhất trong lịch sử.

        Franklin Sousley: Hilltop, Kentucky

        Ở miền Đông Bang Kentucky, những ngọn núi đều cao và dốc, bị ngắt quãng bởi những vực sông sâu. Đây là khu vực hùng vĩ nhưng cô đơn của nước Mỹ. Chi ít người muốn đến đây để định cư, tạo nên những cộng đồng nhỏ sống rải rác, biệt lập với nhau như thể những hòn đảo trên mặt đại dương. Cư dân ở đây mang những tên và họ của người Anh thời Shakespeare, và kể cả những tên trong Kinh Thánh.

        Và Sousley. Franklin Runyon Sousley.

        Tôi yêu cái tên này; tôi yêu âm điệu của nó. Cái tên gợi cho bạn nhớ lại rằng cư dân miền núi ở Kentucky vẫn còn mang trong nền văn hóa của họ những âm điệu và giọng nói của Anh ngữ cổ xưa, được mang đến vùng núi rừng hoang dã này xuyên qua Đại Tây Dương.

        Gia tộc Sousley có nguồn gốc lâu đời ở Kentucky. Ông tổ tên Franklin Sousley đâu tiên1 sinh năm 1809, cũng là năm mà một cư dân Kentucky khác với cái tên Lincoln2 chào đời. Vào tháng Mười năm 1829, gia đình Franklin sinh ra một người con trai tên George, người sau này mua một quyển Kinh Thánh hiện còn lưu truyền trong gia tộc, với những cái tên Anh ngữ được ghi vào. Trong nhiêu thế hệ, họ là những nông dân trồng bắp, lúa mì, thuốc lá, lưu truyền như thế cho đến Duke. Vào tháng Mười một năm 1922, ông này cưới Goldie Mitchell, một cô gái xinh xắn có mái tóc gợn sóng màu đỏ hoe. Hai người khởi nghiệp nhọc nhằn bằng cách trồng thuốc lá bên ngoài ngôi làng Hilltop. Họ khai phá vùng đất hoang, gây dựng nên một gia đình và mong được sung túc.

        Đúa con trai đầu lòng Malcolm chào đời 10 tháng sau, kế tiếp cậu bé tóc đỏ Franklin ra đời ngày 19/9/1925. Họ sống trong một căn nhà gỗ có bốn phòng nhỏ, được giữ ấm bằng lò sưởi thô sơ. Không có điện, còn nhà vệ sinh thì tách biệt khỏi ngôi nhà.

        Gia đình nông dân Sousley luôn làm lụng vất vả. Họ chủ yếu trồng thuốc lá và cũng phải cắt cỏ khô nuôi bò đế lây sữa cho con cái dùng. Ngoài ra, bà vợ trồng rau trong khu vườn gần nhà.

        Khi Franklin mới lên ba, nỗi đau đớn đâu tiên ập đến gia đình. Bé Malcolm lên năm tuổi chết trong vòng tay của bà mẹ vì chứng viêm ruột thừa.

        Bây giờ Franklin là đúa con duy nhất mà bà mẹ tìm nguồn an ủi trong cơn đau khổ. Bà thường dắt đứa con tham gia thú vui mà bà thích - đi câu cá ở Sông Licking. Với cá tính sôi nổi và nụ cười luôn nở trên môi, đứa con là nguồn an ủi cho nỗi phiền muộn của bà mẹ.

--------------------
        1. Nhiều người phương Tây đặt tên con cái theo tên cha mẹ, ông bà..., xem đấy là để vinh danh tổ tiên, trong khi người Việt thì cấm kỵ.

        2. Tống thống Abraham Lincoln (1809-1865).



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:04:53 PM

        Và có nhiều việc phải làm. Cha Duke và mẹ Goldie phải làm việc quần quật để nuôi sống gia đình nhỏ.

        Khi đến tuổi đi học, Franklin theo học tại một ngôi trường gồm có hai lớp ở gần Elizaville. Vào tháng 5/1933, khi Franklin được gần 8 tuổi, đứa em trai Julian chào đời. Nhưng chỉ một năm sau, người cha không làm việc được nữa. Chảng bao lâu, ông qua đời vì bệnh tiếu đường ở tuổi 39. Bây giờ Franklin, vừa mới lên 9, trở thành người đàn ông trong gia đình với một bà mẹ cần an ủi và một đứa em nhỏ cần phụ giúp chăm sóc.

        Mối quan hệ giữa hai mẹ con càng thêm thân thiết nhưng không chìm trong ảm đạm. Bà mẹ hơn 30 tuổi đã mất một người con và người chồng, nhưng không nản chí. Trong những tháng ngày u ám và buồn khổ, bà vẫn kiên trì giữ lạc quan và ý chí để sống nốt quãng đời còn lại, và truyền ý chí này qua Franklin. Bà giải thích vận rủi của bà là do Thượng đế sắp đặt, nói rằng: “Một ngày nào đấy, Người sẽ nói với mẹ tại sao mẹ bị mất hai người thân.”

        Bà mẹ không muốn đứa con chịu buồn khổ lây, nên khuyến khích ông theo đuổi những thú vui trong cuộc sống. Và người con thấm nhuần bài học này một cách sâu sắc.

        Đấy là những gì người ta còn nhớ nhất về Franklin. Tiếng cười của ông, sắc thái vui vẻ của ông, khả năng của ông khiến cho mọi người chung quanh đều cười theo. Trong một cuộc sống tất bật, dậy sớm để đi học và ngủ muộn buổi tối sau khi đã làm xong các công việc, có vẻ như ông không có thời giờ để chơi đùa, nhưng ông vẫn chơi đùa mỗi khi có cơ hội.

        Điểm ông đạt ở trường là toàn vẹn - một chuỗi toàn vẹn những điểm C1. Nhiều năm sau, Winifred Burden kể lại: “Anh ấy là một học sinh trung bình và đúng là mẫu người của đồng quê. Sau giờ học anh ấy không thể ở lại để chơi thể thao vì phải về nhà lo làm việc trong nông trại. Thật tình mà nói, bọn nhóc thành thị chúng tôi xem bọn nhóc đồng quê là những người khác biệt và không muốn chơi với họ. Nhưng Franklin thì khác. Anh ấy tốt bụng với tất cà mọi người qua nụ cười tươi tằn lúc nào cũng nở trên môi. Mọi người đều yêu mến Franklin.”

        Nhưng ngay khi tan trường là phải trở về làm việc trong nông trại. Emogene Bailey ngụ cùng đường với Franklin, và hơn nửa thế kỷ sau vẫn còn nhớ rõ về ông. Bà kể: “Khi tôi nghĩ về anh ấy, tôi còn nhớ anh ấy làm đủ việc trong trang trại, cỏ khô và bắp và thuốc lá, vườn rau, tia xén thảm cỏ, lúc nào cũng bận rộn.”

        Franklin là đứa con biết vâng lời, làm đủ mọi việc phụ giúp bà mẹ, kể cả những việc nặng nhọc. Lúc học trung học, ông cao 1,77 m, nặng gần 70 kg. Ông làm việc rất chăm chi, đóng cỏ khô thành từng kiện hoặc gói những lá thuốc bằng hai bàn tay vạm vỡ mà một lính TQLC trong đơn vị của ông sau này kể lại: “Tôi chưa từng thấy ai có hai bàn tay lớn như thế.”

        Với cuộc sống tất bật và phải làm lụng nhiều, ấn tượng rõ nét nhất mà ông để lại với bạn bè của mình trong Hạt Fleming là một thiếu niên vui vẻ, thích chơi đùa.

        Aaron Flora có cùng cảm nghĩ. Ông nói: “Franklin có thời niên thiếu tươi đẹp. Đi câu cá, đi bơi, tắm truồng dưới sông suối, đi rình bắn chim nước, khi đó chúng bạn lôi kéo một anh chàng khờ khạo tội nghiệp nào đó ra khỏi nhà trong đêm tối, bắt anh ta cầm một cái bao để họ lùa chim chạy về phía anh ta. Mỗi khi rảnh rỗi anh ấy đều tham gia vào cái trò này.”

        Franklin vừa can trường vừa ngốc nghếch. Khi bị thách thức, ông sẵn sàng chiến đấu với guồng quay của nhà máy cưa gỗ hoặc nhảy xuống một dòng suối giá lạnh.

        Người bạn thân J. B. Shannon còn nhớ ông là “anh chàng to cao với khuôn mặt nhiều tàn nhang và mái tóc hoe đỏ. Một người cứng cỏi, không sợ sệt ai cả.”

        Chính vào một đêm Halloween phủ sương mù, ông và J. B. lùa vài con bò đến hành lang Trung tâm Bách hóa Hilltop, cột vài sợi dây để các con bò này không thể chạy nhảy, rồi cho chúng uống thuốc nhuận tràng. Nhiêu thập kỷ sau, J. B. còn nhớ lại: “Mấy con bò đó đi tướt suốt đêm.”

        Không chi bọn con trai mà cả bọn con gái cũng mến Franklin. Marion Hamm còn nhớ: “Franklin rất là nhộn, một anh chàng khác thường. Tôi chưa từng thấy anh làm việc gì xấu. Chúng tôi luôn cười bò mỗi khi anh ấy kể chuyện hài.”

        Nhiêu người bạn đều nhớ đến tiếng cười không dứt của ông. Và vì ông thích khiêu vũ, ông dễ làm quen với các cô.

        Marion cố tìm từ ngữ thích hợp để mô tả Franklin Sousley và rồi lắc đâu: “Anh không thể hình dung nổi cậu ấy nhộn đến mức nào đâu.” Và rồi bà nhắc lại một kỷ niệm: “Vui nhất là khi tuyết rơi ngày Giáng sinh. Franklin dùng con ngựa và xe goòng của gia đình anh ấy, gắn thêm miếng gỗ trượt tuyết rồi chúng tôi cùng đi ra khỏi trang trại, cắt những cây thông Giáng sinh và hát những ca khúc Giáng sinh, rồi đánh xe đi vòng quanh phân phát những cây Giáng sinh ấy cho mỗi nhà.”

-----------------
        1. “Toàn vẹn” là cách tác giả nói trái khoáy: toàn là điếm e. Theo hệ thống thang điếm các trường ở Mỹ, điểm e (2/4) là điểm vừa đủ đạt cho một môn học, so với điểm cao nhất là A (4/4).



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:15:52 PM

        Khi Franklin đến tuổi thành niên, sự giao tiếp giữa ông và các cô gái vẫn trong sáng. J. B. Shannon nhớ lại: “Franklin mến các cô gái và chúng tôi đều theo đuổi họ. Nhưng chúng tôi có đi quá xa không hở? À, chúng tôi là những đứa con trai ngây thơ và nghĩ rằng có thể là có. ít nhất chúng tôi đã huênh hoang về chuyện đó; cậu này thích nói dối với cậu kia.”

        Thế chiến II bùng nổ lúc Franklin ở tuổi thiếu niên. Trong khi ông vui đùa, học tập và phụ giúp mẹ Goldie vật lộn với cuộc sống trong trang trại, họ vẫn nghe tin về những trận đánh lớn và nghe những lời truyền miệng về số phận của những người lính người vùng này. Không có gì cho thấy Frank để ý đến nhiều. Khi Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu ông mới lên 6; khi Hitler đánh qua Châu Âu ông 13 tuổi. Vào lúc ông tốt nghiệp trung học tháng 6/1943, có lý do để hy vọng về chiến thắng ở hai chiến trường ấy. Qua máy thu thanh rè rè những khi mẹ Goldie không theo dõi tường thuật trận đấu của đội Cincinnati Reds trong mùa hè - bà rất mê bóng chày - hai mẹ con nghe tin loan báo chiến thẳng ở cà Châu Âu lẫn vùng Thái Bình Dương.

        Trong trận đánh trên bộ đâu tiên vào tháng 2/1943, TQLC Mỹ chiếm được Guadalcanal, còn quân Đức đầu hàng ở Stalingrad. Vào tháng Ba, Đại đoàn thứ Tám quân Anh dưới quyền Montgomery đánh qua chiến tuyến Mareth ở Tunisia; vài tháng sau lính Đức và Ý đâu hàng ở đây. Quân Đồng minh đang tiến đến Đảo Sicily vào thời gian lớp học nhỏ bé của Franklin nhận bằng tốt nghiệp, và từ Thái Bình Dương, phát ngôn viên của đài phát thanh gửi về tin tức làm nức lòng người về những chiến thẳng của Hải quân và TQLC Mỹ, gán liền với những địa danh như Midway và Tarawa.

        Tất cả cư dân ở những vùng đôi núi và thung lũng ở miền đông Kentucky đều hài lòng với những tin tức này. Vào năm cuối ở trung học, Franklin bắt đầu những cuộc hẹn hò, dẫn Frances Jolly hoặc Marion Hamm dự lễ nhà thờ, đi xem chiếu bóng hoặc chỉ đi dạo trong rừng.

        Nhưng sau khi xong trung học, Franklin Sousley quan tâm đến việc tìm cách kiếm tiền cho mẹ hơn là hẹn hò với các cô gái hoặc chiến đấu cho xứ sở của mình. Bà mẹ được ưu tiên, nên ông xin việc tại một nhà máy cơ khí của hãng Frigidaire ở Dayton, nơi giáp giới với Bang Ohio về phía bắc. Ông sống trong một căn hộ nhỏ. Trong lúc đang đều đặn gửi tiền về cho mẹ thì tháng 1/1944, ông nhận được một bức điện của chính phủ. Thay vì chấp nhận số phận mình là người lính Lục quân, Franklin Sousley - chàng thanh niên miền núi dám chiến đấu với guồng quay của nhà máy cưa gỗ - quyết định làm lính TQLC Hoa Kỳ.

        Khi đứa con trai rời khỏi nhà để nhận việc làm ở Dayton, còn cách xa hơn quãng đường bà từng ra khỏi nhà, mẹ Goldie đã cảm thấy choáng váng. Bây giờ khi nhận được tin con trai gia nhập TQLC Mỹ, bà chỉ biết hy vọng điều tốt lành và cầu nguyện với Thượng đế.

        Bây giờ, chàng trai Franklin 18 tuổi, người luôn nở nụ cười trong quãng đời niên thiếu đây khó khăn, sẽ đi đến một thế giới khác. Ông nói đến “nghĩa vụ của một người đàn ông,” nhưng người bạn J. B. Shannon nhớ vê ông “chi là một chàng trai dân dã cao lớn, không sợ hãi điều gì.”

        Harlon Block: Thung lũng Rio Grande, Texas

        Trong bức ảnh, Harlon Block là người quay lưng về phía ống kính. Ông đang cố giúp chống cây cột cờ lên, mặt không được nhìn rõ. Ông là tín đồ của giáo phái Cơ đốc Phục lâm với lời răn dạy “Con không được giết người.” Trong gần 2 năm, cả nước Mỹ không biết đấy là Harlon trong bức ảnh, nhưng mẹ Belle của ông thi biết. Mẹ Belle, người đã van nài ông không nên tham gia cuộc chiến. Bà biết ông đã từ chối lời van nài của bà không phải vì muốn chiến đấu, nhưng khi ông trải qua sự chém giết trên vùng Thái Bình Dương, ông nhớ lại những lời răn dạy của bà.

        Nhung lúc này đã là quá muộn. Ông đã tham gia cuộc chiến.

        Ông sinh trưởng ở nơi được gọi một cách đơn giản là “Thung lũng.” Đấy là Thung lũng Rio Grande ở phần đáy của Bang Texas, vùng xa về miền đông. Harlon Block được sinh ra trong một trang trại ở đây, gần nơi Sông Rio Grande đổ vào Vịnh Mexico.

        Thung lũng có khí hậu nóng, nhưng không phải cái nóng khô ở phần lớn Texas. Khí hậu ở đây nóng ẩm, thuộc thời tiết bán nhiệt đới, với nhiều cây cọ mọc khắp nơi.

        Trang trại là kết quả dung hòa giữa người cha Ed Block và bà mẹ có nhũ danh Ada Belle Brantley. Đặc biệt là sự nhượng bộ của mẹ Belle. Cha Ed và mẹ Belle cưới nhau ở San Antonio vào năm 1917. Ngay sau đó, cha Ed ra đi chiến đấu ở Pháp trong Thế chiến I. Cũng ngay sau đó, ông phải nằm liệt vì cả hai bệnh sởi và quai bị. Sau khi bình phục ở Anh quốc, ông được điều làm tài xế xe cứu thương, và từ lúc này cho đến khi kết thúc cuộc chiến ông nhận nhiệm vụ chở thương binh từ những bến cảng đến những bệnh viện ở London.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:16:15 PM

        Trong khi ông xa nhà, mẹ Belle sống một cách dè sẻn và cố để dành khoản tiền ông gửi về cho bà đi học và trở thành y tá. Khi cha Ed trở về, mẹ Belle chi một khoản tiền dành dụm để đóng học phí cho ông theo học một khóa về kinh doanh. Mẹ Belle yêu thích thành phố họ đang sống và xem mình là vợ của một nhà kinh doanh thành đạt ở đây.

        Sau khi kết thúc khóa học, cha Ed làm nghề trung gian mua bán bất động sản và tương đối thành đạt. Nhưng ông vẫn mơ đến việc thành lập trang trại, là tình yêu đâu đời của ông. Một ngày nọ, ông nhìn thấy một tờ bướm trình bày Thung lũng Rio Grande. Nhờ sự phát triển của hệ thống thủy lợi, đất nông nghiệp ở vùng này đang bộc phát: những vườn chanh và những cánh đồng bông vải sẽ thay thế đâm rây lau sậy. Cha Ed quyết định mua một mảnh đất rộng khoảng 16 ha mà ông chưa hề trông thấy, rồi tháo ra chiếc cà vạt và không bao giờ mang lên nữa. Mẹ Belle cảm thấy thất vọng, bà không thích làm việc trên trang trại nhưng cha Ed vẫn hồ hởi vẽ ra một hình ảnh tươi đẹp. Ông là người thực tế, trù hoạch một cuộc sống mới dựa trên mảnh đất vừa mua. Belle là cô gái cứng cỏi nhưng cũng duy tâm, ít nhiều mơ mộng, và bị ông chồng có cá tính mạnh thuyết phục. Bà gạt qua những nỗi nghi ngại và đồng ý đi theo ông. Đây là thái độ nhượng bộ dung hòa đâu tiên của mẹ Belle.

        Thung lũng là một dải đất dài hơn 100 km được tạo ra bởi Sông Rio Grande, nằm giữa Mission về hướng tây và Brownsville về hướng đông của Bang Texas. Đây là vùng tách biệt khỏi Texas, có khí hậu khác biệt, có lối sống khác biệt.

        Nếu lái xe dọc Quốc lộ 83 trong thập kỷ 1930, người ta sẽ nhìn thấy đất đai bằng phẳng, phì nhiêu với chủ yếu là những trang trại nhỏ và đồn điền lớn, rải rác những thị trấn từ 1.000 đến 2.000 dân. Thung lũng không có nhà máy công nghiệp nào; mọi người đều là nông dân lao động trên mảnh đất của họ. Loại cây trồng tùy thuộc vào mùa hè và mùa đông.

        Mùa hè ở Thung lũng kéo dài từ tháng Ba đến tháng Mười. Thời tiết nóng và ẩm đến từ hướng đông-bắc mang theo gió thổi từ Vịnh Mexico. Vào mùa hè, cây trồng ở Thung lũng chủ yếu là bồng vải, mọc rất tốt dù lượng mưa không cao. Đàn ông thường hái bông vải bằng tay vào những ngày nhiệt độ lên đến 37 độ C và độ ẩm 90%.

        Từ Lễ Tạ ơn đến tháng Ba, gió từ miền bắc mang đến khí hậu mát mẻ, độ ẩm giảm đi. Cư dân của Thung lũng gọi đây là “mùa đông” và than phiền bị “lạnh” nếu nhiệt độ hạ xuống dưới 10 độ c.

        Vào mùa đông, cư dân trồng chanh và “hoa màu trên liếp”; Thung lũng trở thành một mảnh vườn bát ngát trồng bưởi, quýt, chanh, cà rốt, đậu, bông cải xanh và bấp cải.

        Không giống như phần còn lại của Bang Texas, ngành nuôi bò và khai thác đâu mò chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế của Thung lũng. Không có những đồng cỏ rộng; người ta nuôi bò trong chuồng khoanh. Có một ít dầu được tìm thấy ở vùng phía tây của Thung lũng, nhưng các giếng dầu đều ở khoảng cách xa.

        Những nông dân của Thung lũng ít bị ảnh hưởng của cơn Đại Suy thoái. Người Mỹ vẫn phải ăn để sống, nên cư dân ở đây lúc nào cũng có công ăn việc làm để sản xuất lương thực.

        Phía bờ bên kia của Sông Rio Grande là nước Mexico, vì thế ảnh hưởng của người Mexico thể hiện khắp Thung lũng. Nhũng tòa nhà kiểu Tây Ban Nha quét vôi trắng với mái ngói màu đỏ là hình ảnh quen thuộc. Các loại thức ăn cay của Mexico được tiêu thụ cùng với bánh mì kẹp thịt và xúc xích thuần Mỹ. Dân số gồm 20% người Mexico sống trong những khu biệt lập Công giáo nhưng cũng hòa hợp dễ dàng với người gốc Anh theo Tin Lành.

        Đời sống xã hội hằng ngày diễn ra xung quanh nông trại, trường học và nhà thờ. Những lễ hội hàng năm là nhằm đấu xảo những sản phẩm: củ cải đường hoặc cà rốt hoặc lợn. Những xe hoa được trang trí với đề tài sản xuất nông nghiệp diễu hành theo sau ban nhạc của trường trung học qua các đường phố chính của thị trấn. Cuộc “Biểu diễn Trang phục” gồm những phụ nữ trình diễn các kiểu thời trang làm bằng sản phẩm địa phương - cà rốt và củ cải đường cùng với cà tím và quả chà là. Một cô gái may mắn sẽ được đổi đời khi nhận danh hiệu “Nữ hoàng Chanh.”

        Thung lũng là một phần nhỏ của Bang Texas với những trang trại nhỏ và những thị trấn nhò. Một lớp học có thể chỉ có 8 học sinh. Một khóa tốt nghiệp trung học có thể chỉ gồm 45 học sinh. Đấy là nơi mà người ta không những quen thân với tất cả láng giềng, mà còn quý cả những con chó của láng giềng nữa.

        Gia đình Block khởi đầu một cách chật vật. Ngôi nhà mới xây không được bao lâu bị cháy rụi. Cha Ed phải nhận làm công cho một trang trại khác và thuê một ngôi nhà nhỏ để ở mà gây dựng lại. Mẹ Belle có một ý kiến giúp kiếm tiền. Bà đề nghị cha Ed dành tiền lương để cứ hai tháng mua một con bò. Chẳng bao lâu, họ lập được một trại nuôi bò sữa.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Sáu, 2018, 08:30:45 PM

        Chảng bao lâu, gia đình đông thêm. Ed Jr. ra đời năm 1920, hai năm sau là Maurine, Harlon ra đời năm 1924. Sau đó còn có thêm ba em trai Larry, Corky, và Melford.

        Vì là con giữa trong một gia đình đông đúc, với người anh lớn hơn 4 tuổi và người chị lớn hơn 2 tuổi, Harlon không cần phải nêu gương; ông chỉ cần đi theo bước chân của anh chị mình.

        Harlon bắt đầu phụ giúp những công việc nhẹ nhàng. Ông được giao nhiệm vụ mở cánh cổng khi anh Ed Jr. dắt bò vào để vắt sữa. Khi Harlon lớn hơn, cha mẹ và ba anh em đầu mỗi người phụ trách vắt sũa 15 con bò hằng ngày, bắt đầu từ 3 giờ sáng. Chị Maurine và mẹ Belle cùng rửa chai và rót sữa vào. Rồi anh Ed Jr. đi giao sữa với giá khoảng 5 cent một lít. Vào cuối thế kỷ, Maurine kể lại: “Đấy là cách chúng tôi vượt qua cơn Đại Suy thoái.”

        Harlon là người phụ giúp đắc lực, luôn hoàn thành các công việc mà không phàn nàn gì cả.

        Mẹ Belle luôn cố gắng làm tốt cho gia đình và cố tìm nguồn vui trên trang trại. Nhưng bà cảm thấy khó khăn. Bà nhớ đời sống ở thành thị, nhưng vì thương chồng và các con mà bà cố thích ứng. Bà được nuôi nấng theo cuộc sống ở thành thị. Khí hậu nóng ẩm ở Thung lũng khiến mắt bà bị đỏ và chảy nước mũi vì bệnh suyễn và dị ứng với cỏ khô, và công việc vắt sữa khiến bà bị đau lưng. Maurine nhớ lại mẹ mình bắt đầu suy sụp như thế nào: Vào những buổi chiều tối bà bước ra ngoài, nhìn mông lung vào khoảng không gian trong nửa giờ đồng hồ, nói thì thầm với chính mình, rồi trở vào nhà.

        Có lẽ vì ước ao một cuộc sống khác, bà gia nhập Giáo hội Cơ đốc Phục lâm. Lúc vừa chuyển đến Thung lũng, mẹ Belle là tín đồ thuần thành của nhánh Tin Lành này, tin tưởng vào sự khai sáng địa cầu vào ngày thứ Bảy, sự xung đột giữa Chúa Jesus và Quỷ Satan, và việc Chúa trở lại sau một thiên niên kỷ, lúc đó người chết sẽ sống lại, quỷ dữ sẽ biến mất, và thời gian sẽ chấm dứt. Mẹ Belle cũng chấp nhận những điều răn dạy cấm rượu, ma túy và thực phẩm dơ bẩn; cấm chửi thề và dâm ô; cấm vi phạm Mười Giáo lệnh - kể cả điều Giáo lệnh dạy “Con không được giết người.”

        Tất cả tín đồ Cơ đốc đều vào nơi Giáo lệnh này, nhưng tín đồ Cơ đốc Phục lâm lại tin vào mãnh liệt hơn. Nhà sáng lập William Miller là một sĩ quan quân đội tham gia cuộc chiến năm 1812, nhưng sau khi chứng kiến cảnh giết chóc ông đâm ra nghi ngờ hành động của mình. Trẻ con các gia đình tín đồ này được dạy bảo không bao giờ được mang súng hoặc dao bởi vì Đức Chúa trời sẽ bảo vệ cho chúng. Những tín đồ Cơ đốc Phục lâm thường từ chối chiến đấu trong thời gian chiến tranh. Họ luôn luôn ủng hộ đất nước của mình, nhưng thường gia nhập ngành quân y để lương tâm được thanh thản.

        Nhưng nghĩa vụ của tín đồ Cơ đốc Phục lâm không phải chỉ tuân theo những điều cấm, mà còn phải tích cực giúp đỡ đồng đạo. Nhiều người trong số họ trở thành y tá, điều dưỡng, bác sĩ, và thầy cô giáo.

        Mẹ Belle là một y tá, bỏ ra nhiều thời giờ để chăm sóc những người bệnh nan y tại nhà của họ trong những ngày cuối cùng của đời họ. Bà dùng một phần tiền đã vất vả kiếm được để trả học phí cho các con theo học trường dòng Cơ đốc Phục lâm tại địa phương. Biết rằng con mình sẽ được giáo dục dưới sự che chở của giáo hội, bà nghĩ những hy sinh của mình là xứng đáng.

        Ông chồng cũng theo bước vợ mà gia nhập Cơ đốc Phục lâm, tham dự những buổi lẽ vào ngày thứ Bảy. Giống như nhiều đàn ông khác, ông noi gương bà vợ trong cuộc sống theo tôn giáo ở gia đình. Nhưng bà vợ là người tin tưởng và thực hành theo Kinh Thánh. Bà luôn tỏ ra sốt sắng giúp đỡ và nhiều người nhận biết được điều đó. Một đám trẻ khi muốn thay đổi cuộc sống đã đến ở với gia đình bà trong nhiều năm. Chúng tìm đến bà xin tá túc, ăn uống và bắt đầu một cuộc sống mới. Một cô gái nhỏ sống trong vùng, sau khi bị hiếp dâm, đi bộ một quãng đường hơn 6 km trong đêm tối để tìm đến nhà bà xin giúp đỡ.

        Harlon là người con chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ mẹ Belle và đức tin của bà. Ông lớn lên trong sự tin tưởng chắc chắn đâu là đúng và đâu là sai. ông tin Kinh Thánh là lời dạy của Chúa; Mười Giáo lệnh là khuôn vàng thước ngọc. Ông tin tưởng mạnh mẽ vào quan điểm của thế giới trật tự ấy. Ông là một học trò thông minh - học bỏ qua lớp hai - và có tinh thần phóng khoáng. Khi làm xong công việc được giao phó, ông thích cưỡi ngựa không thắng yên để chạy đua cùng người bạn Mexico tên Ben Sepeda. Ben kể lại với tôi: “Harlon cưỡi một con ngựa trắng, một con ngựa tráng khỏe mạnh. Anh ấy là người can đảm và cả quyết. Chúng tôi cùng cưỡi ngựa về nhà tôi, rồi mẹ tôi đãi anh những món ăn Mexico. Anh ta thường mang theo một cái lọ để xin một ít mứt mang về nhà.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:12:18 AM

        Harlon tỏ ra tự tin về bản thân mình và về tôn giáo của mình. Ông thấy mình không phải chứng tỏ gì cả. Không ai dọa nạt ông được. Bạn ông, Russell Youngberg, còn nhớ lúc người nào đấy phá phách một cái thang gấp dùng trong trường dòng Cơ đốc Phục lâm. Harlon cùng người bạn thân Russell ở trong số ba kẻ tình nghi. Ông hiệu trưởng gọi cà ba người vào văn phòng, bảo họ phải sửa lại cái thang rồi mới được ra sân chơi. Russell Youngberg vẫn giữ im lặng nhưng Harlon lên tiếng, ông nói cộc lốc, đi thẳng vào vấn đề: “Chúng tôi không làm việc đó, chúng tôi sẽ không sửa nó, ông không thể bât buộc chúng tôi, như thế là không công bằng.”

        Ông hiệu trưởng khất khe mặt đỏ nhừ nhưng không nói lời nào. Việc học tập của Harlon tại trường dòng Cơ đốc Phục lâm đã đi đến phần đầu của hồi kết.

        Thêm một vụ phá phách bí ẩn nữa xảy ra, lần này thủ phạm viết chữ tục tĩu trên bức tường nhà vệ sinh kế bên lớp học. Dĩ nhiên là vị hiệu trưởng mở cuộc điều tra. Khi ông hỏi đến Harlon, cậu học trò điềm tĩnh trả lời rằng mình biết ai đã làm việc ấy nhưng không muốn khai ra. Vì lý do này, vị hiệu trưởng đuổi Harlon ra khỏi trường.

        Harlon - và có vẻ như cả gia đình - sẵn sàng cho một cuộc thay đổi. Họ dời đến thị trấn kế cận có tên Weslaco, nằm trên một vùng bằng phẳng nhìn xuống Thung lũng. Tên của thị trấn là từ rút gọn của tên công ty lập lên thị trấn này: w. E. Steward Land Company (Công ty Địa ốc w. E. Steward).

        Mẹ Belle cương quyết bắt các con tiếp tục học trở lại trường dòng Cơ đốc Phục lâm. Nhưng Harlon không muốn quay về trường. Ông nghĩ mình đã học đủ những gì họ có thể dạy ông. Điều quan trọng hơn, ông thích chơi thể thao nhưng trường dòng không có chương trình giáo dục thể thao. Ông muốn tham gia môn bóng đá Mỹ lúc ấy đang thu hút cư dân ở thị trấn và thật ra trong toàn Bang Texas.

        Mẹ Belle không thích nói về việc này. Bà nghĩ đứa con nên cố gắng trở lại trường dòng. Và lại còn bóng đá! Bóng đá Mỹ là môn thể thao bạo lực và thường chơi vào tối thứ Sáu, là thời gian bắt đâu lễ Sa-bát hàng tuần. Thế nên bà không chấp nhận cho con chơi bóng đá.

        Mẹ Belle trình bày dứt khoát quan điểm của mình, còn đứa con chi so vai không nói không rằng, giống như mọi đứa trẻ khác ở lứa tuổi này khi bị cấm đoán. Mẹ Belle kêu gọi cha Ed ra kỷ luật với đứa con để bắt nó trở lại với trường dòng mà quên đi bóng đá. Cha Ed thì nghĩ Giáo hội Cơ đốc Phục lâm dạy điều tốt nhưng ông không cuồng tín như vợ, thế nên ông nghĩ không có gì tệ hại khi đứa con theo học trường công. Và ông lấy làm phấn khởi với ý nghĩ đúa con là cầu thủ bóng đá Mỹ.

        Mẹ Belle cảm thấy kinh hoàng. Hai vợ chồng tranh luận nhau, nhưng ông chồng vạch ra rằng họ không cần phải quyết định ngay: vì lẽ hai trường có thời khóa biểu khác nhau, cậu con trai còn thời gian trì hoãn bảy tháng trước khi vào Trường Trung học Weslaco. Thế là người cha có thời gian lần lữa và bảo bà vợ ông sẽ nói chuyện phải quấy với đứa con trai khi hai cha con cùng nhau lái xe tải chở dầu.

        Vài năm trước, khi cuộc Đại Suy thoái lên đến đinh điểm, giá sữa sụt giảm. Mỏ dầu được phát hiện cách McAllen 60 km về hướng tây, và cha Ed nảy một ý nghĩ kiếm ra tiền. Ông mua một chiếc xe tải chở dầu, thêm một chiếc, rồi thêm hai chiếc nữa, để vận chuyến dầu thô đến nhà máy lọc dầu Rado ở McAllen. Công việc khá nhọc nhằn, nhưng người cha nỗ lực làm việc để nuôi sống gia đình.

        Khi các cậu con trai đến tuổi trưởng thành, cha Ed giao cho chúng nhiệm vụ chở dầu thô. Thế là, khi Harlon có thời giờ rảnh rỗi và đủ trưởng thành - nhưng mẹ Belle nghĩ cậu vẫn còn quá nhỏ - người cha tuyển dụng Harlon làm một trong những tài xế cho ông. Đây là một công việc khổ nhọc: mỗi tuần vài chuyến lái xe trên quãng đường dài, thậm chí vào những ngày cuối tuần.

        Harlon xin nghỉ học trước khi năm học cuối cùng kết thúc để lái xe chở dầu cho cha. Mẹ Belle lo lằng, nhưng đứa con lại thích được độc lập và có cơ hội làm công việc của người đàn ông. Hai cha con trở nên thân thiết với nhau trong công việc. Harlon thực sự là nhân vật số hai, sẵn sàng thế chỗ cha khi công việc đòi hỏi. Cha Ed rất thích có cậu con trai làm việc với mình, và ông cảm thấy lo lắng khi thời gian hai cha con làm việc với nhau đến hồi chấm dứt. Nhưng ông nóng lòng mong đợi đến ngày được cổ vũ đứa con trai chơi bóng đá Mỹ.

        Mẹ Belle cảm thấy mình đang đánh mất đứa con trai - là đứa con duy nhất trong gia đình rời khỏi trường dòng Cơ đốc Phục lâm, thế nên bà cố đưa ông vào hoạt động trong những công tác xã hội kéo dài cả ngày Chủ Nhật. Nhưng lúc này đứa con đã là một thanh niên đẹp trai, thích tụ tập với bạn bè, thu hút nhiều cô gái trẻ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:12:37 AM
 
        Mẹ Belle lo lằng khi thây đứa con có phần phóng túng. Rồi bà kinh hoàng khi cậu con trai mang về nhà một khẩu súng trường. Một khẩu súng trong mái ấm gia đình của mẹ Belle! Bạn bè của cậu con trai đều có súng để bẳn thỏ rừng, và Harlon cũng muốn tham gia trò vui. Một hôm, bà mẹ bước vào nhà thấy cậu con trai hồn nhiên chỉ dẫn mấy đứa em trai cách sử dụng khẩu súng. Mẹ Belle bảo cha Ed phải kỷ luật cậu con. Hai cha con trao đổi với nhau, nhưng ông không cương quyết lằm. Một thanh niên Texas mang một khẩu súng nhỏ thì có gì là sai trái? Thế là những lý tưởng của bà mẹ phải chịu dung hòa một lần nữa.

        Và rồi có nhiều lần bà mẹ bị giấu giếm về những hành động phá phách của cậu con trai. Em Mel nhớ lại khi anh Harlon và vài người bạn tập nấu rượu bằng cách trộn men và nước quả bưởi trong những cái vại rồi giấu trong nhà kho. Mel kể lại: “Trong hai tuần, các vại này đều nổ tung, nước chảy lênh láng khấp nhà kho. Cha chúng tôi thấy buồn cười, nhưng bà mẹ không hề biết.”

        Khi chuyển đến học tại trường Trung học Weslaco, cơ bắp đang phát triển của Harlon khiến ông nhanh chóng được nhận vào đội bóng đá Mỹ trường này, rồi nhanh chóng trở thành một ngôi sao tuy vẫn còn ngây thơ về những trò ma mãnh trong cuộc chơi.

        Harlon là cầu thủ kiên cường và giỏi chịu đựng. Trong một trận đấu, bằng cách nào đó đối thủ sừng sỏ ở Trường Trung học Donna biết được ông bị những ung nhọt đau đớn ở lưng và vai. Các chàng trai Donna tìm cách chạm vào vết thương nhưng ông không hề nao núng, mà còn ghi điểm cho đội nhà.

        Đúng hơn, Harlon giúp Weslaco kết thúc mùa bóng mà không thua trận nào. Ông hòa hợp tốt trong đội bóng. Với nhiệm vụ chính của ông là bắt lấy bóng rồi chuyền tiếp và ngăn chặn đối thủ, và với chiến thuật khô khan, lạnh lùng, đội bóng Panthers (Những con báo) của ông lần lượt chiến thắng hết đối thủ này đến đối thủ khác. Nhưng khi đội Panthers cần tấn công - một cú chuyên bóng quyết định - hai bàn tay to khỏe thường vác những thùng sữa lúc trước bây giờ tỏ ra đắc lực để bắt bóng.

        Harlon - đứa con giữa - yêu thích vai trò của mình trong đội bóng, sống hòa hợp với đông đội. Ông là người đóng góp vào chiến thằng, nhưng không phải là thủ quân hoặc cầu thủ phát động tấn công. Chức năng chính của ông là ngăn chặn đối thủ để đồng đội được rảnh tay chuyền bóng và ghi điểm.

        Ông chơi khá đến nỗi tờ báo sinh viên Weslaco Hi-Life viết bài ngợi khen. “Đá bóng mạnh, bắt bóng giỏi, nặng 75 kg, cao 1,8 m - đấy là những gì mô tả Harlon Block, hậu vệ phải của đội Panthers. Dù rằng đây là năm đầu tiên của anh ở Trường Trung học Weslaco và cũng là năm đầu tiên anh chơi bóng, có lẽ anh là một trong những cầu thủ có thiên bẩm nhất ở Thung lũng.”.

        Cho đến cuối mùa bóng 1942, đội bóng không thua trận nào. Halon cùng với Leo Ryan và B.R. Guess được tôn vinh là những cầu thủ hàng đầu Nam Texas. Leo luôn nghĩ rằng đội bóng có thể thẳng trong trận play-off toàn Bang Texas nếu không vì Đại Suy thoái khiến khan hiếm xăng dầu, xe buýt của đội bóng chỉ chạy quanh quẩn trong vùng Thung lũng. Dù sao, đấy là đội bóng khiến nhiều người nhớ mãi. Hình ảnh của họ xuất hiện trên khắp các tờ báo địa phương.

        Nhưng mẹ Belle không nhìn ra đứa con mình là ngôi sao bóng đá Mỹ. Bà vẫn thiết tha mong gia đình tuần thủ lễ Sa-bát của Cơ đốc Phục lâm từ chiều thứ Sáu đến chiều thứ Bảy. Trong khi Harlon chơi bóng tối thứ Sáu, bà vẫn ngồi nhà, trầm lặng lo lắng cho linh hồn đứa con trai. Người phụ nữ tín đồ Cơ đốc hãnh diện này không bao giờ chấp nhận cách thức đúa con trai xông ra đời như là một thanh niên trưởng thành. Bà lo sợ cho tâm linh của Harlon, nghĩ là mình đã mất mát đúa con trai. Harlon quá phóng túng, thường xa cách gia đình. Mẹ Belle than phiền với cha Ed.

        Harlon là đúa ngỗ nghịch dưới mắt của mẹ, nhưng xét theo cách sống của đa số thanh niên thì ông khá ngoan ngoãn. Trong đám đông, Harlon tỏ ra e lệ và đỏ mặt khi nghe kể chuyện tiếu lâm. Leo Ryan nói Harlon lo lắng về bề ngoài của mình và không bao giờ nghĩ có người con gái nào thích mình. Ông thường nói với bạn bè: “Các cậu cứ đi mà không cần chờ tôi; tôi không thể hẹn hò với ai đế đi chung.”

        Nhưng các cô gái cảm thấy có điều gì đặc biệt nơi Harlon. Anh Ed Jr. kể lại rằng có nhiều cô gái vây quanh em trai mình. Trong nhiều bức ảnh đen trắng của Harlon có một cô gái trẻ ra vẻ hạnh phúc đứng sát bên.

        Nhưng các cuộc giao tiếp đều trong sáng theo cách thức của những chú nhóc. Cô gái lúc ấy mà Harlon mến, mà nhiều người nghĩ ông sẽ kết hôn khi chiến tranh kết thúc, là Catherine Pierce. Bà kể lại với tôi: “Hai chúng tôi cùng đi xem phim với nhau, và cùng dự lễ nhà thờ. Chúng tôi mến nhau, chúng tôi hẹn hò nhung không bao giờ đến mức nắm tay nhau.”

        Chằng bao lâu, Harlon ra đi tham dự cuộc chiến. Chẳng bao lâu, Harlon là biểu tượng cho lòng dũng cảm đối với cả thế giới. Nhưng trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, có lẽ Harlon chưa từng hôn cô gái nào.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:14:16 AM

        Ira Hayes: Khu Bảo tồn Sông Gila, Bang Arizona

        Tôi đã nhận ra rằng có thể tìm hiểu nhiều điều về Ira Hayes bằng cách nghiên cứu ông trên bức ảnh giương ngọn cờ.

        Trước nhất, là sự im lặng của ông, sự câm nín tuyệt đối của ông. Bạn hãy ngồi mà nhìn bức ảnh trong một tiếng đồng hồ, cả buổi chiều, nguyên ngày. Hãy ngồi tĩnh lặng với Ira không hề nói năng gì với bạn. Rồi bạn sẽ nhận ra sự câm nín tuyệt đối này là tố chất của Ira Hayes, lúc ấy là chàng thanh niên thích chơi trò chơi Solitaire.

        Để tìm hiểu thêm, bạn hãy nhìn kỹ bức ảnh. Ông là người cuối cùng bên tay trái của bạn, với hai bàn tay không nắm được cán cờ. Đấy là Ira, khác biệt với 5 người kia, không nắm được cán cờ, giống như sau này ông không cầm giữ được vận mệnh của mình.

        Nếu bạn nghĩ mình không biết nhiều về Ira, thì đấy cũng là cảm nghĩ của tôi trong mùa hè 1998. Tôi đã phỏng vấn nhiều người - bạn học cũ của ông, cựu chiến binh TQLC, ba người thân của ông còn sống - nhưng vẫn chưa thể hiểu rõ về ông. Thế là tôi phải đáp máy bay đi Arizona để tìm ra “con người thật” Ira Hayes. Rồi tôi biết được rằng không thể tìm ra ông ấy.

        Tôi lái xe đi về miền nam Phoenix, trên Xa lộ Pearl Harbor, cũng được gọi là đường Liên Tiểu bang 10 khi gần đến khu bảo tồn Sông Gila. Trong sức nóng tĩnh lặng, tôi lái xe qua sa mạc phẳng phiu màu hồng, một bình nguyên gồm những bụi rậm và cây xương rồng dân dà biến mất khi đến Dãy núi Santan.

        Tôi lái xe trên đường xa lộ gồm 4 làn xe cho đến khi chạy qua một khe núi rộng chưa đến 15 m. Một tấm biển ghi: Sông Gila. Tôi dừng xe lại, rồi nhìn xuống lòng Sông Gila. Tôi chi thấy một vùng hoang dã rộng, khô cản, không một bóng người. Trong nhiều thập kỷ, Sông Gila dưới xa lộ này không còn có nước chảy.

        Tôi phóng tầm mắt nhìn ra Khu Bảo tồn Sông Gila. Khu này không rộng lắm, dân số có lẽ khoảng 15.000. Với những dãy núi chặn phía xa xa, tầm mắt cho bạn cảm tưởng mình đã nhìn thấy hết. Khi tôi đứng nhìn lòng sông khô cạn, những chiếc xe của người Mỹ phóng vút qua phía sau lưng tôi. Đôi lúc có một tiếng còi xe cảnh báo tôi không được lùi xe trên đường xa lộ đông đúc. Những tiếng ồn tương phản với vẻ tĩnh lặng, sự câm nín tuyệt đối của Khu Bảo tồn trải ra trước tầm mắt tôi. Sau khi nhìn qua lần nữa con sông mà không phải là sông, tôi bước quay lại chiếc xe, lái đi tìm Ira Hayes.

        Ira là người Da đỏ Pima, một bộ lạc đầy hãnh diện đã sinh sổng qua nhiều thế kỷ trên miền đất tĩnh lặng này. Cha Jobe Hayes và mẹ Nancy sinh Ira Hamilton Hayes ngày 12/1/1923. Ông là con trưởng trong số 6 người con. Hai người con Harold và Arlene chết ít lâu sau khi ra đời. Hai người con khác chết trước tuổi 30: Leonard vì một tai nạn giao thông và Vernon vì viêm tủy cột sống. Ira sống được đến tuổi 32. Mẹ Nancy và cha Jobe sống lâu hơn các con, ngoại trừ Kenny, sinh năm 1931 và được 67 tuổi khi tôi gặp ông.

        Lúc sinh ra, Ira đã “khác biệt”: bị luật pháp và giới truyền thống tách rời khỏi những người Mỹ khác. Lúc Ira chào đời, Bang Arizona mới thành lập được được 11 năm. Chính quyền bang không công nhận người Da đỏ Pima là công dân của bang.

        Người Pima không có quyền bầu cử; họ không được kiện cáo ai ra tòa án.

        Ira chào đời trong một căn nhà gỗ chi có một phòng. Được xây dựng vững chắc theo cách tiết kiệm vật liệu, theo truyền thống túp lều quay mặt ra hướng đông đế mỗi buổi sáng người trong nhà mở cửa là đón nhận ngay ánh nắng ban mai. Một tấm vải bố trải làm thảm trên mặt nền đất, trên đấy đặt một cái bếp đốt củi, một cái bàn và vài chiếc ghế, những khung giường gỗ với những tấm nệm làm bằng vỏ bắp ngô. Một lá cờ Mỹ treo trên tường; những bức họa về tôn giáo và quyển Kinh Thánh luôn được trưng bày.

        Phía trước căn nhà theo truyền thống là một cây to để chủ nhà cùng khách khứa thư giãn và tiêu khiển dưới tán cây. Bên ngoài, về hướng tây là chuồng nuôi gia súc và nhà kho. Được xây dụng nhằm vững chắc cả thế kỷ, căn nhà của gia đình Hayes đáng lẽ phải còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, nhưng đã bị kẻ xấu phá hủy vào đầu thập kỷ 1990.

        Canh tác vừa đủ ăn, trồng bông vải, đan giỏ, đốn củi để bán, đấy là những công việc nặng nhọc để sinh nhai đối với người Da đỏ Pima trong thời niên thiếu của Ira. Người cha Jobe cũng thế: vừa lo trồng hoa màu, thu hoạch bông vải, vừa đốn củi độ nhật. Ira chịu ảnh hưởng di truyền tính ít nói của người cha. Cháu gái Sara Bernal của Ira nhận xét về cha Jobe: “Ông ấy là người trầm lặng, nhiều ngày có thể không nói gì trừ khi có người bát chuyện với ông trước.” Còn Kenny Heyes, người em duy nhất còn sống của Ira, bản thân cũng ít nói, cho biết: “Cha tôi ít khi nói năng.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:14:45 AM

        Ira luôn là con người trầm lặng từ lúc còn là đúa trẻ đến khi thành thiếu niên và người lớn. Ông thấy không cần thiết phải trò chuyện, phải tỏ ra thân tình. Ông có thể ngồi với người khác hàng giờ mà không nói gì, câm nín giống như những ngọn núi nhìn xuống khu bảo tồn của mình. Người bạn Dana Norris của ông thời thơ ấu nói với tôi: “Dù tôi có cùng nền văn hóa với anh ấy, tôi vẫn không hiểu anh ấy lắm. Ira có cá tính không muốn trò chuyện.” .

        Theo văn hóa bộ tộc Pima của Ira, người ta khuyến khích giữ sự im lặng và khiêm tốn. Tù trưởng Urban Giff của bộ lạc giải thích với tôi: “Trong nền văn hóa của chúng tôi, đòi hỏi người khác chú ý đến mình là không đúng mực đối với người Pima.” Hoặc, theo lời Dana Norris giải thích: “Người Pima chúng tôi không thích bấm còi khi lái xe.” Nhưng Ira không chi là trầm lặng; tự bản thân ông là một hòn đảo câm nín với chính mình, cô lập với những người Pima khác.

        Tuy thế, khi Ira mở miệng, ông cho thấy một đâu óc sắc bén và một khả năng Anh ngữ gây ấn tượng.

        Khi Ira còn nhỏ, mẹ Nancy - tín đồ thuần thành của Tân giáo - hay đọc cho con nghe những đoạn trong Kinh Thánh. Bà mẹ giữ căn nhà ngăn nắp, tham gia làm tình nguyện viên trong những hoạt động cộng đồng và là nhân vật chủ chốt trong nhà thờ cách nhà không xa.

        Mẹ Nancy mong mỏi các con mình được giáo dục thật tốt nếu có thể. Ira đọc ngấu nghiến mọi loại sách. Trong số sáu người giương ngọn cờ, Ira là người viết thư nhiều nhất. Khi các con đến tuổi đi học, mẹ Nancy cho họ đi học tại Trường Phoenix Indian.

        Nhưng trình độ giáo dục của Ira không phải là hiếm. Sắc tộc của ông có lịch sử lâu đời của một nền văn hóa tiên tiến so với nhiều sắc tộc Da đỏ khác, thậm chí so với cả những di dân da trắng.

        “Pima” có nghĩa là “Người của Con Sông.” Trong hơn 2.000 năm, sác tộc Pima đã sống dọc Sông Gila. Họ là những nông dân tài giòi và hiền hòa. Ngay từ thời trước Công nguyên họ đã xây được một mạng lưới kênh đào chằng chịt để tưới hoa màu. Những cuộc khai quật đã tìm ra hơn 800 km kênh đào được thi công vào năm 300 TrCN. Một quyển sách viết về sắc tộc Pima cho biết họ có những “phế tích đã sụp đổ khi thành phố Rome hãy còn non trẻ.”

        Vào năm 1864, một nhóm di dân da trắng lần đâu tiên tiếp xúc với người Pima. Họ được hộ tống bởi vị Tư lệnh Quân đội miền Tây, Đại tá Stephen Kearney. Ông này điều binh sĩ bảo vệ đi theo nhóm di dân khi họ giao tiếp với người Pima. Sau này, ông thuật lại, thay vì gặp những “người Da đỏ hoang dã,” ông tỏ ra ngạc nhiên nhận thấy người Pima “vượt trội về kiến thức nông nghiệp” so với những quốc gia Cơ đốc giáo và thể hiện “tính chân thật và đức hạnh không thể nào nói hết.”

        Lời ca tụng gây ấn tượng, vì do một chiến binh vô cảm thường tàn sát người Da đò hơn là ngả mũ kính trọng họ nói ra. Nhưng Đại tá Kearney nói đúng. Ông tìm thấy một nền văn hóa đã ổn định ở miền nam Bang Arizona, đã hòa quyện đất, nước, hoa màu và thú nuôi để tạo nên một vương quốc an bình, sung túc, có đạo đức.

        Điều cốt lõi là kỹ thuật dẫn nước đến những vùng khô cằn. Qua nhiều thế kỷ, những con kênh của người Pima dẫn nước từ Sông Gila để phân phối một cách khoa học đến những vùng đất phì nhiêu trồng lúa mì, bắp, bí ngô, đậu, dưa hấu. Dường như sắc tộc này thấm nhuần tính chất của dòng nước Sông Gila: chảy đầy và chảy sâu. Vốn không thích chiến tranh và ít khi bị xâm lấn, người Da đỏ Pima là một dân tộc biết chia sẻ nguồn lợi của họ cho những dân tộc khác, ngay cả cho những di dân da trắng đang trên đường băng ngang sa mạc để hướng về California. Nghĩa cử này có thể là sai lầm, vì thu hút sự chú ý đối với một thiên đường mà sác tộc đã khổ nhọc tạo ra. Để đáp lại tính hào phóng của người Pima và ngay cả sự che chở của người Pima chống lại những cuộc tấn công của sẳc tộc Apache, những di dân da trắng từ miền Đông đến định cư ở Arizona chiếm lấy những nguồn nước mà một thời đã tạo nên nền văn hóa an bình.

        Đến thập kỷ 1870, hệ thống thủy nông của người Pima bị xáo trộn vì những lời trấn an của chính phủ Hoa Kỳ chỉ là trên đầu môi chót lưỡi. Đến thập kỷ 1890, nhân viên Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ đến để cải thiện tình hình. Nhưng họ không đếm xỉa đến những đề xuất của người Pima, vốn đã canh tác trên miền đất trù phú này hàng bao thế kỳ. Thay vào đó, chính phủ Hoa Kỳ phá hủy hệ thống kênh mương rồi thay thế bằng một hệ thống khác, không những thiếu tác dụng mà còn gây hủy hoại thêm.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:15:07 AM

        Vào năm 1930, cựu Tổng thống Calvin Coolidge khánh thành Đập Coolidge, được xây chắn ngang Sông Gila. Ông tuyên bố con đập sẽ giúp sắc tộc Pima thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng mực nước Sông Gila tiếp tục hạ thấp; không một giọt nước nào được cung cấp cho người Pima. Sự việc cứ tiếp diễn như thế, cuối cùng chì qua một tấm biển đặt ở đâu chiếc cầu bắc ngang Xa lộ Peal Harbor ghi “Sông Gila” người ta mới nhận ra dòng sông ngày xưa chảy tràn đây.

        Trải qua nhiều thập kỷ sắc tộc Pima bị cướp bóc và tàn phá, điều đáng ghi nhận là một di sản của chân giá trị và sự nhẫn nhục trong nền văn hóa của họ. Trong gần một thế kỷ, người Pima đã cung cấp thực phẩm cho dân da trắng đói kém, bảo vệ người da tráng chống lại cuộc tấn công của các sắc tộc khác, không bao giờ giết hay cướp bóc một người da trắng nào. Hơn nữa, họ còn tiếp thu để thay đổi tên họ, trang phục, tôn giáo, quy định và luật pháp theo những người đến khai thác họ.

        Vào năm 1917, một số đông thanh niên Pima vẫn tình nguyện đăng ký đi chiến đấu ở Pháp mặc dù họ không phải là công dân Hoa Kỳ và được miễn nghĩa vụ quân sự. Một người Pima có tên Matthew Juan là binh sĩ Bang Arizona đầu tiên tử trận trong Thế chiến I. Mọi thanh niên Pima đều hãnh diện về điều này.

        Những người thân của Ira thích nghe hơn là thích nói. Họ nói với giọng rời rạc khi mô tả Ira, thường nói ông không phải là như thế nào, như thể ông chưa từng thể hiện mình là như thế nào.

        Dana Norris kể lại: “Ira không thích chơi đùa; anh ấy không thích ganh đua với ai.”

        Người anh họ Buddy Lewis nói: "Ira không tham dự các trò chơi.”

        Cô cháu gái Sara Bernal kể: “Các chú bác khác trong gia tộc ấy tròng ghẹo tôi, nhưng chú ấy thì không. Chú là người trầm lặng và có phần xa cách.”

        Khi mọi người mô tả cá tính đặc trung của ông, họ đều đồng ý với nhau một điểm: Ira là người trầm lặng tuyệt đối và khiêm tốn.

        Sau khi học xong lớp cơ sở trong Khu Bảo tồn, Ira theo học nội trú tại Trường Phoenix Indian. Nơi đây, ông giao tiếp với người Da đổ của những sắc tộc khác nhưng vẫn tỏ ra mình là một người Pima khác biệt. Dana Norris kể lại: “Anh ấy đi chơi với các bạn bè người Pima, anh cảm thấy thoải mái nhất với những người cùng dân tộc với anh.”

        Suốt ba ngày tại Khu Bảo tồn của Ira, tôi hỏi chuyện nhiều người quen biết với Ira. Họ nói cho tôi nghe chung chung về cuộc đời của Ira. Họ nhớ đến cậu bé, nhưng vì cậu sống biệt lập nên họ đều lắc đâu khi tôi hòi về cá tính đặc biệt của Ira.

        Esther Monahan còn nhớ rõ về ông. Vốn cũng là người dân tộc Pima, bà học chung Trường Phoenix Indian với Ira. Bà gặp ông hầu như mỗi ngày, nhung không thể nhớ được Ira từng nói những gì. Không thể nhớ gì cả. Bà nói với tôi: "Ira không phải như những người khác. Anh ấy e thẹn và không muốn nói chuyện với bọn con gái chúng tôi. Anh ấy e thẹn hơn những thanh niên Pima khác. Bọn con gái thích rượt đuổi anh ấy và cố ôm lấy anh ấy giống như bọn tôi thường làm với những anh con trai khác. Chúng tôi bắt được các anh con trai khác và họ tỏ ra thích chí. Nhưng Ira thì không, cứ chạy mất biến.”

        Dần dà, ngôi trường của Ira bắt đầu mỗi ngày bằng tin tức từ những chiến trường xa xôi. Eleanor Pasquale kể lại: “Mỗi buổi sáng trong trường, chúng tôi nghe bản tin về Thế chiến II. Chúng tôi hát những bài quân ca của Lục quân, Thủy quân Lục chiến và Hải quân.”

        Chín tháng sau khi diễn ra trận đánh Trân Châu Cảng, Ira 19 tuổi ghi tên gia nhập TQLC. Bộ lạc ông tổ chức một buổi lễ theo truyền thống của Pima để tiễn ông lên đường.

        Năm mươi sáu năm sau, tôi tham dự một buổi lễ tương tự của người Pima khi đi đến Arizona. Đấy là một bữa tiệc tối, cách ngôi nhà cũ của Ira chưa đến 2 km. Tôi lắng nghe những người Pima già và trẻ kể lại những mẩu chuyện đáng hãnh diện về nền văn hóa của họ, và nhận ra không khí ấm cúng của một cộng đồng mà chúng ta ít khi thấy trong những buổi họp của người da trắng.

        Gần đến cuối buổi lễ, tôi được mời lên khán đài rồi Eleanor Pasquale tặng tôi một bức họa của người Pima. Ở giữa bức họa là hình ảnh của người Pima huyền thoại Su-he trên nền bức ảnh giương ngọn cờ nổi tiếng.

        Eleanor - một phụ nữ có phẩm giá đã từng quen biết Ira - giải thích cho tôi nghe ý nghĩa của bức họa. Nhân vật Su-he được đặt ở trung tâm của một mê lộ. Mê lộ này thể hiện tất cả sự thách thức trong cuộc đời, còn trung tâm là nơi người ta tìm được sự an bình và ổn cố. “Giống như Su-he, nếu anh cố tìm kiếm mà đi tới, anh có thể tìm ra trung tâm là vùng an bình cho mình.”

        Tôi hỏi: “Ira trên nền bức họa là ý nghĩa như thế nào?” Bà đáp: “Chúng tôi mong sau khi qua đời, bây giờ anh ấy đã tìm được sự an bình cho mình. Sự an bình mà anh ấy đã không tìm ra dưới trần thế này.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:16:05 AM

        Rene Gagnon: Manchester, New Hampshire

        Trong bức ảnh nổi tiếng, ông bị che lấp. Ông đứng vai kề vai với cha tôi, nhưng ta chi thấy hai bàn tay ông và chỏm của chiếc mũ sát. Trong đời ông, ông thường thu mình vê phía sau, bị người khác che lấp. Ông là mẫu người cả thẹn, không thích gây sự, không thích tỏ ra nổi trội. Khi được hỏi han, ông rất kiệm lời.

        Ông không bao giờ mường tượng cuộc đời là cái gì đấy cần phải tự chủ nắm bất. Được đóng khung trong những quyền lực vô hình của giới kinh doanh hoặc quân sự, ông nhìn đời mình theo hướng “họ” quyết định cho mình. Cuộc đời là được quyết định bởi “may mắn” hoặc những “quan hệ.”

        Ông không hòa đồng với mọi người, không thân thiết với ai. Những quyết định trong đời ông là do đề xuất của bà mẹ, và sau đó là đề xuất của cô vợ. Ông luôn sống với mẹ, và sau đó luôn sống với vợ. Ngoài thời giờ sống với TQLC, ông không dành thời giờ cho ai khác trong đời. Ông nghe theo lời khuyên của vợ để kiếm tìm may mắn vốn không bao giờ trở thành hiện thực, rồi sau đó khi thấy đã quá muộn ông không thể thoát ra.

        Rene Gagnon sinh ngày 7/3/1925, là con trai duy nhất của cha Henry và mẹ Irene, hai người Canada gốc Pháp làm công nhân nhà máy dệt. Trong thời gian này, những người Canada gốc Pháp sống chen chúc biệt lập phía tây Thành phố Manchester, Bang New Hampshire. Đấy là một “Canada Nhỏ” nói tiếng Pháp, theo Công giáo. Theo vài khía cạnh, họ còn giữ lại nhiều nét Châu Âu hơn là những người theo Thanh giáo sống chung quanh họ.

        Đáng lẽ Rene có thêm em và có tuổi ấu thơ vững chắc hơn, nếu ngày nọ bà mẹ không đưa cậu bé ra chơi ngoài trời trên chiếc xe đẩy. Bà bắt gặp ông chồng đi cùng với một phụ nữ khác. Giống như bà, người phụ nữ này cũng có một chiếc xe đẩy. Trên chiếc xe đẩy là một đứa trẻ - con của cha Henry nhưng không phải với mẹ Irene.

        Mẹ Irene ly dị với cha Henry và không bao giờ cho ông bước vào nhà bà. Bà không bao giờ thảo luận chuyện này với Rene. Con trai của Rene kể lại cho tôi rằng chi đến khi Rene trở về từ chiến trường thì ông mới được thấy mặt cha mình.

        Rất đẹp trai với mái tóc và lông mày màu đen, Rene lớn lên dưới sự chăm sóc chiều chuộng của mẹ Irene. Cuộc đời của bà chi bao gồm công việc trong nhà máy dệt và chăm sóc đứa con. Bà thường mang con đến chỗ làm để khoe với bạn bè và để bạn bè nâng niu đứa con. Nhiều người nhớ đến Rene là cậu bé trầm lặng, luôn thu người về phía sau. Cậu học trò nơi trường dòng St. George không làm gì nổi bật để sau này người ta nhớ đến cậu.

        Cô bạn Jules Trudel quen biết với Rene trong nhiều năm vì học chung trường. Họ chơi đùa cùng nhau, đi học cùng nhau, ngồi gần cùng nhau trong lớp học. Nhưng khi được yêu cầu mô tả Rene hoặc kể lại một câu chuyện đáng nhớ thì bà lại ngần ngừ, chi nói như những người khác: “Ông ấy là người hiền lành.”

        Nhà máy dệt. Trong số sáu người giương ngọn cờ, Rene Gagnon là người chịu nhiều ảnh hưởng - nếu không nói là sự lấn áp -  của những sức mạnh lên cuộc đời. Trong số những ảnh hưởng này là chế độ lao động tập trung, có quy củ, được cơ giới hóa nơi thị trấn sinh quán của Rene. Ông sinh ra ở Manchester, một vùng công nghiệp rộng lớn đang đi xuống trong thập kỷ 1930 nhưng vẫn còn khu phức hợp dệt may lớn nhất thế giới.

        Về phương diện này, Rene và trung sĩ Mike Strank chỉ huy của ông đều kinh qua cùng môi trường hun đúc nên con người họ. Mỗi người đều sống trong thành phố nhà máy là biểu tượng cho nền công nghiệp Mỹ vào thập kỷ 1930. Nhưng thật ra, hai thành phố khác biệt nhau nhiều. Quận Franklin thuộc Bang Pennsylvania - nơi Strank lớn lên - là thị trấn của thợ mỏ than và công nhân nhà máy thép, đa số là đàn ông, thích bạo loạn với khói và lửa và tiếng ồn.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:16:28 AM

        Các nhà máy ở Manchester thì rộng hơn: ba hàng cơ sở xây bằng gạch đỏ, mỗi cơ sở cao sáu tầng, kéo dài hàng kilomet phía dưới Thác Amoskeag. Nhưng không có ống khói; không có khói lửa từ những nhà máy này. Trong gần một thế kỷ chi có tiếng rầm rì nghe buồn ngủ, se và dệt chi thành vải, mỗi tuần sản xuất hơn 4,5 triệu mét, đủ để bao vòng quanh Quả đất.

        Có lẽ Rene không nghĩ nhiều lắm về điều này: ông đang sống qua những năm cuối cùng của kỷ nguyên công nghiệp đã kéo dài một thế kỷ ở Manchester. Kỷ nguyên này đã gián tiếp định hình nên cảm nghĩ của Rene về mối tương quan giữa ông với thế giới bên ngoài.

        Những nhà máy dệt Amoskeag hoạt động từ năm 1819, theo sau sự phát minh ra khung cửi cơ học làm cho khu phức hợp có quy mô lớn nhất toàn cầu. Thành phố Manchester là do Công ty Amoskeag Manufacturing lập nên vào năm 1837, cũng tương tự như Weslaco được tạo dựng từ ngành trồng chanh vào năm 1919. Trong suốt thế kỷ 19, Amoskeag thu hút một đám đông công nhân đến làm việc trong các nhà máy dệt dọc bờ Sông Merrimack, cách Thành phố Boston khoảng 80 km về phía bắc. Trong số những công nhân đổ xô đến có người Canada gốc Pháp. Họ đi đến trên những chuyến tàu chật ních, qua nhiều năm lên đến hàng chục nghìn người, được mời gọi do nhu cầu công nhân có tay nghề.

        Theo thời gian, công nhân đến từ các miền nông thôn tạo nên một cộng đồng kỹ thuật pha trộn kinh doanh, chấp nhận sự kiểm soát của giới chủ, tự mãn nguyện với vị trí của mình. Từng thế hệ công nhân tự thích ứng với đời sống mới ở thành thị - kể cả thể chất lẫn tinh thần. Họ dần quen thuộc với những kho xưởng xù xì, những bức tường vô tận của từng nhà máy tiếp nối nhau, những cánh cổng sắt nặng nề.

        Đấy là nơi sản sinh tốt nhất cho cuộc sống trong một xã hội quần chúng - theo nghĩa dân sự lẫn quân sự.

        Vào thời của Rene Gagnon, Công ty Amoskeag Manufacturing đã mất vị thế độc tôn trong ngành công nghiệp. Sản phẩm chính của những nhà máy được làm từ bông vải, nhưng từ thập kỷ 1920 người tiêu dùng chuyển qua mua sắm hàng tổng hợp. Công ty không lường trước việc này và không muốn thay đổi để thích ứng. Công ty đóng cửa nhiều nhà máy. vào năm 1937, một nhóm doanh nhân gom mua nhiều cơ sở rồi bán lại cho hơn 20 công ty nhỏ.

        Công ty lớn nhất trong số này là Chicopee Manufacturing, chế tạo vải thưa để làm ra sản phẩm như băng cứu thương. Mẹ Irene tìm được chỗ làm ở đây và sau đó mang Rene đi theo. Sự phồn thịnh của thành phố suy giảm, nhưng những công nhân may mắn của Chicopee vẫn bám lấy công việc, cảm kích vì chủ nhân tốt bụng đã tạo công ăn việc làm ổn định. Mẹ Irene càng thêm cảm kích, nói với đứa con trai rằng bà thật “may mắn” vì “họ” đã cho bà công ăn việc làm.

        Sống trong một thành phố công nghiệp có những thú vui riêng. Một cậu bé lớn lên ở đây sẽ lấy làm vui với khu kinh doanh, những con đường đây cửa hàng với ánh đèn sáng choang và những tụ điểm giải trí thời thượng, cùng trung tâm đô thị rộn ràng và năng động.

        Cũng giống như những nơi khác trên nước Mỹ vào thời này, mỗi buổi tối thứ Năm dành cho việc đi mua sắm ở Manchester. Công nhân lãnh lương tuần vào ngày thứ Năm, vì thế cửa hiệu và ngân hàng đóng cửa muộn vào đêm này. Người người chưng diện và đi tới lui dọc Phố Elm, hai bên là những cửa hàng mời gọi mua sắm.

        Tôi mường tượng cảnh Rene Gagnon chải đâu, chưng diện, soi mình trong gương, rồi vội đi gặp bạn bè ở rạp chiếu bóng Palace trên Phố Hanover. Ông hẳn bước ra từ ngôi nhà của bà mẹ trên Phố Hollis, nơi người ta xây từng dãy “nhà của công ty.” Có người nói “sống có lớp lang.” Trông rất giống một doanh trại quân đội rộng lớn.

        Tại rạp chiếu bóng Palace, các cậu bé có thể mua vé giá 10 cent để xem hai phim cao bồi trong 3 tiếng đồng hồ, đôi lúc có thêm phim hoạt hình. Vào sáng thứ Bảy, bọn con trai của Rene có thể nhập bọn cùng 1.700 chú nhóc hò hét, chen lấn nhau ở Nhà hát Quốc gia, để vào xem buổi trình chiếu khai mạc một phim mới có nữ diên viên Shirley Temple.

        Rene có thể đi xe điện nhưng hẳn chưa thể lái xe: vào thập kỳ 1930 chưa có nhiều xe cộ trên đường phố. Một người bạn của Rene kể lại với tôi: “Vào một ngày mùa hè, nếu có mười chiếc ô tô chạy qua thành phố, vậy đã là nhiều lắm.” Thời ấy xe goòng và ngựa kéo vẫn còn là phổ biến, vành bánh xe bằng thép nghiến trên mặt đường lát đá tạo nên âm thanh đặc trung cho thành phố.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:17:19 AM

        Vào mùa hè, quần soóc ngắn và đâu tóc hớt cao thay thế cho bộ cánh mùa đông và tóc lòa xòa. Đấy là mùa chơi bóng bầu dục hoặc những chương trình thi thố tài năng. Bánh mỳ kẹp bơ đậu phộng cho bữa trưa và bánh kẹo mềm làm ở nhà cho buổi chiều.

        Mùa đông còn có nhiều thú vui hơn. Tuyết rơi rất nhiều ở New England, cũng như ở Wisconsin và Kentucky, và Rene Gagnon tận hưởng thú vui từ tuyết - cũng giống như cha tôi và Franklin Sousley. Sau mỏi cơn bão tuyết, chính quyền thành phố thường cô lập Phố Sagamore dốc thoai thoải rồi treo đèn dầu hai bên soi sáng, để cư dân mang xe trượt tuyết ra chơi đùa. Đa số là tré em nhưng cũng có vài người lớn. Trong một buổi tối đẹp trời hoặc cuối tuần có thể có 200 con trai và con gái ngồi trên xe trượt tuyết phóng xuống triền dốc.

        Khi Rene đã đủ lớn, mẹ Irene mang ông vào nhà máy lúc ông có giờ rành rỗi để hai mẹ con có thời giờ gần nhau thêm và đế ông có chút việc làm. Cùng với mẹ Irene và những phụ nữ khác trong một gian phòng rộng, ông chi có mỗi một việc làm đi làm lại hết ngày này qua ngày khác. Nhiệm vụ của ông là phụ trách những cuộn chỉ. Vào thời cao điểm, những dãy nhà máy ở Manchester có 700.000 con suốt, phục vụ khoảng 23.000 khung dệt chạy ầm ầm. Khi một cuộn chỉ đã được quấn đầy, Rene chỉ việc tháo nó ra khỏi trục suốt rồi thay vào một lõi rỗng. Đây là công việc không có gì khó khăn.

        Mẹ Irene cảm thấy mãn nguyện với công việc ổn định trong nhà máy và với ngôi nhà ngăn nắp. Bà ca ngợi cuộc sống này cho đứa con nghe và khuyến khích ông đến làm việc với bà mỗi khi rảnh rỗi. Rene bắt đầu đến với mẹ vào giờ ăn trưa, bỏ rơi đám bạn ở căng-tin nhà trường. Sau hai năm ở trung học, ông bỏ học để làm việc toàn thời gian ở nhà máy.

        Bây giờ ông làm việc bên cạnh bà mẹ cùng với bạn bè công nhân của bà. Mẹ Irene hẳn phải thấy vui vì có đứa con bên mình cả ngày lẫn đêm. Nhưng có những phụ nữ khác ở đây: những cô gái trẻ bị thu hút bởi người thanh niên đẹp trai.

        Mẹ Irene tỏ ra lo lắng về một cô gái trẻ, có tính xông xáo, đã để mắt đến Rene. Tên cô gái là Pauline Harnois, và có vẻ như cô đã hớp hồn đứa con trai của bà, sẵn sàng chiếm quyền kiểm soát của bà. Em gái Anita của Pauline Harnois sau này kể lại: “Cha chúng tôi bị bệnh lúc còn trẻ nên mẹ phải đi làm ở nhà máy. Pauline là chị cả và từ lúc trẻ đã phải lãnh nhiều trách nhiệm. Chị ấy thích nắm quyền kiểm soát mọi việc. Vị thế trong gia đình, trách nhiệm của chị ấy đã khiến chị trở thành một con người như thế. Chị ấy lúc nào cũng muốn nắm quyền kiểm soát.”

        Giống như chiếc lá giữa dòng, Rene bị cuốn đi bởi bất kỳ luồng nước nào. Dần dà Rene dành thời gian cho bạn gái Pauline nhiều hơn là cho mẹ Irene.

        Một buổi chiêu Tháng Mười hai, khi Rene lên 16 tuổi, cả thành phố công nghiệp xôn xao vì một bản tin đặc biệt. Trong khi một đám các chàng trai đang tụ tập nghe tường thuật trận bóng đá Mỹ qua chiếc máy thu thanh, thình lình chương trình tường thuật bị cắt ngang và giọng của Tổng thống Roosevelt cất lên, nói về một ngày bi ổi1. Ngày hôm sau, các cậu bé bán báo vung vẩy những tờ báo với hàng tít ngắn gọn: “CHIẾN TRANH!”


        Không lâu sau đấy, chế độ phân phối hàng hóa bắt đầu.

        Rene Gagnon nghe và đọc qua tin tức, nhún vai rồi quay trở lại nhà máy với mẹ Irene và bạn gái Pauline. Những việc kia là ngoài tầm kiểm soát của ông. ông tiếp tục làm việc. Cuộc sống ông vẫn tiếp tục: mẹ Irene, bạn gái Pauline, những hàng đèn sáng choang dọc Phố Elm.

        Rene Gagnon tiếp tục làm việc cho đến tháng 5/1943 thì quân đội gọi ông đi làm nghĩa vụ. ông ghi tên vào TQLC, chịu nép mình vào vùng ảnh hưởng thứ ba.

        Mẹ Irene không muốn mất đứa con, nhưng nghĩ đây là dịp tốt để ông lánh xa cô Pauline kia. Rene đã không nói cho mẹ biết rằng ông đã đi đến một quyết định trọng đại. Ở tuổi 17, ông an ủi bạn gái Pauline đang buồn rầu với lời hứa rằng mình sẽ cưới cô khi trở về từ cuộc chiến.

-----------------
        1. Xem chú thích ở đầu sách này về Trân Châu Cảng.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:18:14 AM

        Mike strank: Quận Franklin, Pennsylvania

        Ông là con người bí ẩn: khởi đầu là di dân để cuối cùng trở thành chiến binh Mỹ; một đứa trẻ nhỏ lớn lên thành một trung sĩ; người hay dọa dẫm rồi trở thành người trông nom, dìu dắt đồng đội của mình. “Ông già” của đại đội mình, người qua đời khi chưa tròn tuổi 26. Trong số sáu người giương ngọn cờ, tôi thấy ông là nhân vật phức tạp nhất. Đấy là, cho đến khi tôi nghiên cứu phần nhỏ của con người ông được nhìn thấy rõ trong bức ảnh: bàn tay phải của ông. Bàn tay phải của Mike Strank cho tôi biết những gì tôi muốn biết.

        Ông đứng phía sau và bên tay trái của Franklin. Vai phải của ông ép sát vào vai trái của Franklin. Thân của hai người ép sát nhau; cánh tay họ đều đưa lên cao. Mỗi người đều đưa bàn tay trái nắm lấy cán cờ, còn Franklin đưa thêm bàn tay phải. Nhưng ít nhất đối với tôi, mấu chốt của bức ảnh là bàn tay phải của Mike nằm lấy cổ tay của Franklin. Đây là hình ảnh của tính tế nhị và hòa nhã. Đấy là Mike: người bảo hộ. Một lính TQLC kỳ cựu trong nhóm giúp đỡ những tân binh. Máy ảnh đã chớp lấy Trung sĩ Mike trong một khoảnh khắc tiêu biểu nhất cho ông. Ông đang vươn ra để hỗ trợ cho một anh lính trẻ.

        Trong số những người giương ngọn cờ, Mike là anh hùng nổi bật nhất. Khi những cựu chiến binh kể về ông cho tôi nghe, họ như là trẻ lại. Chẳng chóng thì chầy họ nói ông là “người lính TQLC xuất chúng của binh chủng TQLC”. Họ nói về người thích hành hạ. Tuy thế, bạo lực không phải là tố chất của Mike. Điều mà họ đánh giá cao - điều mà 50 năm sau trận đánh vẫn khiến cho họ trở nên nghiêm nghị trong niềm ngưỡng mộ nơi ông - là sự chỉ huy của ông. Đấy là phẩm chất do tình thương của người đối với người.

        Một người cùng trung đội với ông, sau này trở thành một doanh nhân nối tiếng, nói: “Ông ấy là người tài ba nhất mà tôi từng biết.” Một người khác, đã cùng ông leo ngọn núi Suribachi, nói: “Người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất.” Một người khác nói: “Mẫu người lính TQLC mà bạn đọc qua sách báo, mẫu người mà bạn xem qua phim ảnh.”

        Đấy không phải là vì ông tỏ ra dữ tợn khi chiến đấu - tuy ông đích thực là một chiến binh lạnh lùng, có tính sát thủ. Không phải vì ông thét lên: “Đi theo tôi giết bọn Nhật!” hoặc nói một cách rỗng tuếch về việc “chết cho quê hương.” Mike Strank được binh sĩ dưới quyền tôn trọng vì ông nhấn mạnh đến sự bình an của thuộc cấp, theo tầm mức có thể được khi đối diện với hỏa lực xối xả.

        Mike thường nói với binh sĩ của mình: “Theo tôi, rồi tôi sẽ đưa các cậu an toàn về với mẹ các cậu. Nghe tôi, tuân mệnh lệnh tôi, rồi tôi sẽ cố đưa các cậu về nhà.”

        Ông sinh ngày 10/11/1919 dưới cái tên Mychal Strenk ở Jarabenia, Tiệp Khắc. Một người bạn của gia đình cùng sinh quán tên là Ann Basophy nhớ lại rằng cha Vasil và mẹ Martha của Mychal Strank sống trong một căn nhà nền đất chỉ có một phòng cùng với cha mẹ và ông bà của hai người.

        Năm sau, cha Vasil di cư đến Mỹ và đổi họ của mình thành Strank. Được người chú Alex Yarina bảo lãnh, ông đi ngang qua Đảo Ellis rồi đến định cư ở Quận Franklin của Bang Pennsylvania chuyên về hầm mỏ và ngành công nghiệp thép nằm dọc theo Sông Conemaugh, cách Thành phố Pittsburgh khoảng 100 km về hướng đông và cách Thị trấn Johntown 2 km vê hướng đông.

        Quận Franklin được chính thức thành lập năm 1868, có dân số lên đến đỉnh điểm năm 1920 là 2.623 người. Một tổ hợp sắt thép do Công ty Cambria Iron xây vào năm 1898 rồi chẳng bao lâu được Công ty Bethlehem Steel mua lại, cung ứng đầy đủ việc làm cho những di dân siêng năng. Ba năm sau, công ty xây thêm văn phòng, lò đúc, cơ xưởng, nhà máy phát điện, phòng thí nghiệm, nhà máy chế tạo thép ô tô...

        Vào lúc đỉnh điểm, các nhà máy và quặng mỏ xung quanh Quận Franklin thu dụng trên 18.000 công nhân. Họ sống chen chúc nhau trong những thị trấn và ngôi làng phủ đây bồ hóng rải rác khắp Hạt Cambria và dọc theo sườn phía tây của dãy núi Alleghenie. Quận Franklin trở thành một thiên đường an lành cho những di dân đến từ Đông Âu. Đến đầu thập kỷ 1930, họ tạo nên khối đa số trong thị trấn, đúng ra là một làng trong một ngôi làng. Người của họ đắc cử ba trong số sáu viên chức của thành phố và chiếm phân nửa số lính cúư hỏa của Quận Franklin.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:18:40 AM

        Vasil làm công nhân quặng mỏ trong ba năm mới bảo lãnh được cho vợ con. Họ đoàn tụ với ông ở Mỹ vào đâu năm 1922. Đứa trẻ 3 tuổi Mychal lướt qua một cách ngây thơ dưới tượng Nữ thần Tự do, hình ảnh dễ nhận ra nhất của nước Mỹ. Hai mươi ba năm sau, đứa trẻ này và các chiến hữu trở thành những hình ảnh nổi tiếng còn dễ nhận ra hơn.

        Vào cuối năm ấy, Mychal có em trai John, tiếp theo là em trai Pete vào năm 1925, rồi 8 năm sau là em gái Mary.

        Gia đình thuê một căn hộ hai phòng trong khu biệt lập dành cho những người gốc Slav. Hai phòng là một nhà bếp và một phòng ngủ. Đổi với bà vợ, đây là lối sống xa xi. Bà nói đây là một lâu đài so với những gì họ chịu đựng lúc còn ở Tiệp Khắc. Mychal, John và Pete ngủ chung một giường, cha mẹ ngủ ở giường kế bên. Người cha đi làm vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày với chiếc mũ bảo hộ gắn đèn, mặc bộ đồ thợ hầm mỏ, xách một cái hộp đựng nước và bữa ăn trưa. Suốt năm ông đều ăn mặc như thế, người bám bụi than đen ngòm từ đâu đến chân khi trở về nhà. Nhưng hãnh diện. Đấy là sự tiến bộ!

        Quận Franklin mang đến cho gia đình Strank một hình ảnh biểu trưng cho nước Mỹ, nhưng khác xa với tầm nhìn mà thị trấn Appleton thầm lặng mang đến cho gia tộc Bradley. Ở đây là một quang cảnh sôi nổi, ồn ào của Tân Thế giới trong thời kỳ cơ giới hóa. Cả thị trấn có thể nhìn thấy những khung sườn bao la của các nhà máy. Nhiều gia đình sống sát cạnh nhà máy. Những hầm quặng được cắt vào các sườn đồi, bổ sung cho quang cảnh công nghiệp. Thị trấn không bao giờ ngủ đêm; những lò đúc luôn cháy đỏ rực suốt 24 giờ mỗi ngày.

        Mặt khác, ban ngày lại trông giống như tranh sáng tranh tối triền miên. Một làn bụi than từ các quặng mỏ phủ một lớp dày đặc trên nền trời, che bớt ánh nắng. Người nào trong các gia đình ở Quận Franklin thức dậy trước đều có nhiệm vụ quét bồ hóng rơi xuống trong đêm như tuyết đen phía trước và sau nhà. Một phụ nữ đã lớn lên ở đây còn nhớ mỗi ngày đến trường, chân bà giảm lên lớp bồ hóng lạo xạo.

        Cuộc sống ở thị trấn thể hiện tốc độ làm việc và sản xuất tất bật. Khi gia đình Strank vừa dọn đến, Quận Franklin có 14 quán bia sân vườn nhưng không có nhà thờ, không có bác sĩ. Nhưng những di dân từ Đông Âu làm việc cực nhọc ở đây không cho như thế là thiếu thốn. Đối với họ, đây là một cơ hội mới trên một miền đất mới và đây sinh lực; một cơ hội để vươn lên, hoặc ít nhất để con cái họ vươn lên. Họ bảo tồn những giá trị văn hóa và tôn giáo trong những căn hộ hai phòng cho thuê, nơi họ sống dưới ánh sáng lập lòe của những nhà máy thép, mỗi căn hộ là một thành viên trong một cộng đồng mới.

        Tuy cha Vasil không nhận ra, ông đang gò đứa con trai lớn trong chế độ giống như là TQLC ngay từ khi cậu bé đang lớn lên trong gia đình nhỏ bé này.

        Mychal - bây giờ đổi tên là Mike - ngủ chung giường với hai em trai John và Pete. Khi tan ca vào lúc 1 giờ sáng, cha Vasil ít khi thấy ba đứa con thức giấc: chúng thức dậy đi học trong khi ông còn đang ngủ, khi chúng tan trường về nhà thì ông đã đi làm. Cha Vasil không cảm thấy thoải mái với giờ giấc như thế. Em trai John của Mike nhận xét: “Gia đình của ông ấy thật ra là những đứa con trai.”

        Cha Vasil áp dụng những giá trị Cựu Thế giới một cách nghiêm khắc. Kỷ luật trong gia đình rất chặt chẽ. Khi có một đúa con hư hỏng, mẹ Martha báo cáo với cha Vasil khi ông trở về nhà trong đêm khuya. Đợi đến khi các con thức dậy thì ông dậy theo để áp dụng hình phạt.

        Cha Vasil áp dụng một lệ luật đặc biệt cho sự trừng phạt các con: khi một đứa sai quấy, cả ba đứa đều bị kỷ luật ngang nhau. Ông nghĩ rằng với cách này, mình có thế chuyển gánh nặng thi hành kỷ luật cho các con ông để chúng thấy rằng mỗi đúa làm tốt thì sẽ tốt cho tất cả.

        Có lẽ cha Vasil không biết rảng ông đã thực hiện một trong những nguyên tắc cơ bản về huấn luyện quân sự", đặc biệt là huấn luyện TQLC. Khoảng phân nửa quy thức trong một chương trình huấn luyện cơ bản cho TQLC là xóa bỏ ý niệm về cá nhân đặc thù. Người chiến binh phải được hun đúc để có trách nhiệm sẻ chia, để có ý thức đồng đội - là điều cốt lõi để sống tồn khi chiến đấu. Vì thế, nếu một tân binh bất tỉnh vì kiệt sức trong khi huấn luyện, đồng đội của anh ta phải chạy vòng quanh anh ta cho đến khi anh ta tỉnh lại. Kỷ luật ngang bằng cho tất cả mọi người.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Sáu, 2018, 04:34:00 AM

        Vì là anh cả trong số ba anh em và là người thông minh nhất, Mike nắm bắt được ý niệm về tình đồng đội và trách nhiệm liên đới. Ông trở thành cầu nối giữa cha Vasil và hai em trai, đúng ra giải thích về những lề luật và ước muốn của cha cho hai em John và Pete hiểu. Tóm lại, đấy là vai trò của người trung sĩ.

        Mike Strank giống mẹ ông theo cách cha tôi giống bà nội tôi. Cũng như cha tôi, Mike thấm nhuần đức tin Công giáo của bà mẹ. Mỗi đêm trước khi đi ngủ, ông và hai em trai quỳ trên sàn nhà, trước bức họa Bữa ăn Cuối cùng1 và đọc kinh bằng tiếng Slovak. Cả ba đứa đều cùng mặc áo như nhau khi đi đến trường. Cứ như là đồng phục.

        Dần dà, gia đình Strank khấm khá lên. Trong khi cha Vasil làm công nhân mỏ, mẹ Martha nuôi ngỗng trên sườn đồi phía sau tòa nhà, vặt lông ngỗng để độn gối. Còn ba đứa trẻ đến trường, tiếp thu ngôn ngữ mới. Các trường trong vùng đều có chất lượng tốt. Nhưng không ai xóa nhòa được gốc gác của các trẻ di dân. Một di dân cùng với gia đình Strank, Ann Basophy, còn nhớ bị bắt quỳ sau khi bị thầy giáo lớp Một đánh đòn. Tội của cô là lỡ nói ra tiếng Slovak.

        Mike không bao giờ phạm lỗi này. Khi bắt đầu lớp Một, ông không nói được tiếng Anh, nhưng đến cuối năm học ông nói tiếng Anh khá đến nỗi có thể nhảy lên học lớp Ba. Ông còn có thể kể chuyện vui đùa bằng ngôn ngữ mới. Ông có thể đọc một trang của tờ báo buổi chiều rồi sáng hôm sau kể lại vanh vách nội dung các bài báo. Một trí nhớ như là nhiếp ảnh.

        Ann Strank, vợ của em trai Pete, kế rằng Mike tỏ ra e thẹn giữa đám bạn gái. Không đi chơi với ai. Thật ra, không có mấy trẻ trai trong thị trấn này được thoải mái với bọn con gái, và ngược lại bọn con gái cũng thế. Đàn ông, Mike mến. Đàn ông, Mike hiểu. Còn đàn ông cũng mến và hiểu Mike Strank.

        E thẹn không có nghĩa là nhút nhát. Một lần, Mike cứu mạng sống em trai John trong hầm mỏ. Chuyện này xảy ra vào năm 1933 khi Mike lên 15, còn John 11 tuổi. Trong thời gian nghỉ giữa ca, đôi lúc con cái phu mỏ được phép vào hầm lò để nhặt than về đun bếp. Một hôm, John và Mike đi trong hầm lò tối tăm, mò mẫm để nhặt than. John đi theo sau anh, vô tình làm cái xẻng chạm vào thành hầm, đánh trúng một sợi dây điện trần. John la lên nhưng không thể thoát ra; dòng điện hút chặt tay đứa em vào chiếc xẻng. Mike quay người và dùng cả thân mình húc vào đứa em. John ngã xuống nền đất, vẫn la khóc vì kinh hoàng, nhưng được cứu thoát khỏi dòng điện.

        Ít năm sau, một trận lụt xảy ra vào năm 1936. Khi nước sông Conemaugh dâng cao, phần đông cư dân thị trấn hầu như hoảng loạn, Mike điềm tĩnh đi xuống triền dốc để nhìn cho rõ. Rồi ông trèo lên, vẻ mặt chán chường và bất động, nói với các em: “Nước đến rồi nước đi. Nó là như vậy.” Hai đứa em kinh sự nhưng an tâm nhờ thái độ bình tĩnh của Mike.

        Đến năm 1933, gia đình Strank đã dành dụm đủ tiền mặt mua một biệt thự song lập thành 10 phòng ở một triền đồi phía trên sông Conemaugh. Gia đình dùng 5 phòng để ở, dành 5 phòng kia để cho thuê. Việc này cho thấy người cha đã tận dụng được cơ hội tốt ở Mỹ. Gia đình Strank bây giờ sống trong sự xa xi mà lúc trước họ không tưởng tượng được. Khi bà mẹ sinh Mary, bà được một điều dưỡng hộ sinh thực thụ trợ giúp chăm sóc. Khi có em gái, trách nhiệm của ba người anh tăng thêm vào buổi tối: một người rửa tô đĩa, một người lo lau chùi, người thứ ba đưa em bé ra ngoài dạo chơi. Đôi lúc con người thích đùa Mike chơi khăm bằng cách lau đĩa xong lại bò vào chậu nước cho John rửa lại.

        Buổi tối, ba anh em ngồi bệt gần gian bếp để học bài. Mike thay phiên giúp hai em làm bài. John Strank nhớ lại: “Mike giúp Pete và tôi làm bài tập ở trường. Anh ấy dạy chúng tôi trên sàn nhà gần bếp để được ấm và thoải mái.”

---------------
        1. Bữa ăn cuối cùng của Jesus với 12 tông đồ trước khi Jesus bị bắt rồi bị tội đóng đinh. Bức họa Bữa ăn Cuối cùng là một kiệt tác của Leonardo da Vinci (1452-1519).



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Sáu, 2018, 08:48:05 PM

        Giống như phần còn lại của nước Mỹ, có vẻ như các nhà máy sẽ tiếp tục mở rộng mãi. Cư dân Quận Franklin trở nên tự tin về sự phồn thịnh không ngừng tới mức họ xây tòa nhà thị chính mới, trông sang cả với lớp gạch trắng lóng lánh đến nỗi nó được gọi đùa là Taj Mahal. Ngôi sao điện ảnh Gene Kelly trình diễn một màn ca múa với cảnh sát địa phương trong buổi lễ khánh thành tòa nhà.

        Nhưng tình hình không mãi sáng sủa. Vào năm tòa nhà “Taj Mahal” được khánh thành, nền kinh tế rơi vào cơn hỗn loạn. Đấy là năm 1929.

        Cơn Đại Suy thoái đã lan đến miền Đông Pennsylvania một thời gian dài trước khi Mike Strank tốt nghiệp trung học vào năm 1937. Những bếp súp đã thay thế hoạt động tấp nập trong các hầm mỏ và nhà máy; một cuộc đình công của công nhân nhà máy luyện thép thất bại thảm hại vì không ai muốn tham gia. Hàng nghìn người Slav lùng sục tìm việc khắp nơi.

        Bụi khói, bồ hóng và bầu trời đen kịt suốt thời thơ ấu của Mike dường như là khung cảnh vĩnh cửu cho vùng này. Ngay cả đôi với một đứa trẻ thông minh như Mike vân không dám mơ bước chân vào đại học vì phí tổn rất cao (Trong quyển niên giám của năm học 1937, dưới tiêu đề “Tham vọng” Mike ghi là “Làm Tổng thống”).

        Vài công nhân đã đến Quận Franklin trong khi Mike còn đang học trung học. Họ là những người làm việc trong chương trình của cái gì đấy gọi là WPA. Tổng thống Roosevelt đã lập ra cơ quan WPA nhằm giúp người thất nghiệp thoát khỏi cảnh đói kém. Những công nhân WPA này đang xây dựng đường sá, via hè, vài tuyến cống nước thải. Mike được biết họ đang hưởng khoản lương hậu hĩnh là 57 đô la một tháng, ông quyết định thử xem ông Roosevelt còn khoản tiền nào trả lương cho mình hay không.

        Cuối cùng, ông nhận công việc cần nhiều động não tương tự như công việc của Tổng thống, rất thích hợp với thể chất đang phát triển của mình: Đoàn Bảo tồn Dân sự (CCC). ccc được thành lập để tập hợp những trai trẻ trên đường phố, trao cho họ nhiệm vụ nâng cấp môi trường thiên nhiên quốc gia. Trong thập kỷ 1930, những nhân viên trẻ ccc trồng được hàng triệu cây khắp nước Mỹ, thả gần một triệu cá nhỏ vào sông hồ, xây khu trú ẩn cho động vật hoang dã, dựng nên những khu cắm trại, đào hàng chục nghìn kilomet kênh thủy lợi và đường thủy.

        Nhưng ccc có một mục đích lớn hơn, chỉ được thể hiện đầy đủ khi nước Mỹ lâm chiến. Chương trình này đào tạo thể chất để chuẩn bị việc huấn luyện quân sự cho ba triệu thanh niên, nhiều người trong số này đổ xô đến các trung tâm tuyển mộ binh sĩ sau sự kiện Trân Châu Cảng. Được điều hành bởi quân đội, ccc đem đến cho các chàng trai cuộc sống trong doanh trại, kỷ luật theo lề lối quân đội, thể chất cường tráng, và ý thức trung thành với trại viên và với lý tưởng.

        Mike Strank trải qua tất cả những chuyển biến như thế. Cậu học sinh đã từng chơi kèn và là tín đồ Công giáo thuần thành gia nhập ccc năm 1937 khi cân nặng 63 kg, hai năm sau trở thành một thanh niên da sạm nằng, đẹp trai, cân nặng 81 kg. Khởi đầu, ông làm việc trong Rừng Petrify ở Bang Arizona trong một năm, rồi trở về làm việc trong những dự án ở Bang Pennsylvania trong năm kế tiếp.

        Đáng lẽ ông đã tiếp tục làm việc với ccc, vui sướng vung cây rìu và di chuyển những tảng bê-tông dưới ánh mặt trời nồng ấm, nhưng chính phủ từ chối đơn xin gia hạn của ông: Vào lúc này cha ông đã đi làm mỗi tuần vài ba ngày, và gia đình ông không còn thuộc diện đói nghèo nữa.

        Bây giờ Mike Strank 19 tuổi. Đấy là năm 1939. Trên chiến trường Châu Âu, quân đội Hitler đang giày xéo quê cha đất tổ Tiệp Khắc của ông, đưa những người đồng hương của ông vào vòng nô lệ.

        Mike quyết định gia nhập TQLC.

        Ông không bị bắt buộc. Nhờ có quốc tịch Tiệp Khắc, ông được miễn tất cả nghĩa vụ quân sự. Người em trai John luôn lấy làm khó hiểu tại sao TQLC lại thu nhận anh mình. Dường như không ai kiểm tra quốc tịch của Mike.

        Mike chính thức gia nhập quân ngũ ngày 6/10/1939. Trong số sáu người giương ngọn cờ, ông là người duy nhất xin nhập ngũ trước khi nước Mỹ tham chiến. Chẳng bao lâu, chàng trai gốc Tiệp Khắc sáng dạ trở thành một chiến binh tiêu biểu của nước Mỹ: một người chỉ huy cứng cỏi, đầy quyết tâm và khéo léo tiến bước trên con đường nghĩa vụ mà ông biết sẽ cầm chắc cái chết.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Sáu, 2018, 11:53:23 PM

Chương 3

CUỘC CHIẾN CỦA NƯỚC MỸ

Họ nghĩ mình là người như thế nào? Lẽ nào họ không biết rằng chúng ta sẽ không ngừng kiên trì chống lại họ cho đến khi họ nhận một bài học mà họ và thế giới sẽ không bao giờ quên.

WINSTON CHURCHILL, NÓI VỀ NGƯỜI NHẬT, 1942.       

        Đấy là chuyện có thật, không phải là một âm mưu được dàn dựng trong một cuốn phim giả tưởng.

        Vào một ngày đâu tháng 12/1941, người dân Mỹ đang vui hưởng ngày Chủ Nhật bình lặng, không khí Giáng sinh tràn ngập, bữa ăn đã xong, bàn ăn đã được dọn dẹp sạch sẽ, máy thu thanh của gia đình đang phát ra một bản nhạc, một vở kịch, có lẽ đang tường thuật một trận bóng đá Mỹ chuyên nghiệp...

        Và rồi thình lình, bản tin khẩn cấp được thông báo qua tiếng Ồn điện từ lào xào. Một tương lai mới đang bắt đầu.

        Vào lúc 2 giờ 25 chiều, các chương trình phát thanh đều bị gián đoạn; thính giả bị sốc.

        Đài NBC phát bản tin đâu tiên: “Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, Hawaii, bằng không quân.” Năm phút sau, một bản tin của NBC thông báo thêm chi tiết:

        Trong một bản tuyên bố hôm nay, Tổng thống Roosevelt nói Nhật Bản đã tấn công Trân Châu Cảng, Hawaii, bằng không quân. Tôi xin lặp lại: Tổng thống Roosevelt nói Nhật đã tấn công Trân Châu Càng, Hawaii, bằng không quân.

        Khoảng tám mươi triệu người lắng nghe những bản tin tiếp theo sau. Một số người nghe được bản tin truyền trực tiếp bằng điện thoại mô tả sự tàn phá dữ dội ở Honolulu. Sau khi một quả bom rơi gần tòa nhà phát thanh, phát thanh viên thét lên: “Đây không phải là trò đùa! Đây là chiến tranh thực sự”

        Ngày hôm sau, phần lớn những thính giả ấy - kể cả hàng trăm nghìn trẻ em - mở máy thu thanh để nghe Tổng thống Franklin Roosevelt đọc một bài diễn văn dài sáu phút rưỡi với ngôn từ sẽ vang vọng mãi trong lòng người Mỹ:

        Ngày hôm qua, 7 tháng 12,1941 - một ngày sống mãi trong sự bi ổi - Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ bị những lực lượng không quân và hải quân của Đế quốc Nhật Bản tấn công một cách bất ngờ và cố ý...

        Với niềm tin vào những lực lượng vũ trang của ta, với niềm tin sắt đá của nhân dân ta, chúng ta sẽ nhất định chiến thắng. Xin Thượng đế phù hộ chúng ta!

        Không phải là trò đùa. Mà là chuyện thật.

        Trước khi biến cố Trân Châu Cảng xảy ra, nước Mỹ vẫn xem đối phương của họ là ở bên kia bờ Đại Tây Dương. Người Mỹ xem Adolf Hitler là kẻ thù đáng kinh sợ, trong khi họ gạt Nhật Bản qua một bên, chỉ xem như là một mối đe dọa. Nhưng sau “ngày bỉ ổi,”1 người Mỹ trải lên bàn ăn những bản đồ vùng Thái Bình Dương và Châu Á để săm soi.

        Bây giờ, nước Mỹ đã bước vào Thế chiến, một “cuộc chiến hai đại dương.” ở Châu Âu bên kia bờ Đại Tây Dương, nước Mỹ sẽ chiến đấu để hỗ trợ cho các nước Đồng minh. Nhưng trong nhiều năm, quân đội Nga, Anh, Pháp nhận phần lớn nhiệm vụ chiến đấu và chịu phần lớn thiệt hại. Chính quân đội Nga mới là nhân tố thực sự đánh gục Đức: ba phần tư binh sĩ Đức từ trận trong Thế chiến II là do quân Nga gây ra.

        Tuy nhiên, trên chiến trường Thái Bình Dương, nước Mỹ đơn độc chống lại Nhật. Nhật đã tấn công lãnh thổ Mỹ; những trận đánh đâu tiên và cuối cùng của Mỹ trong Thế chiến II xảy ra ở đây. Cuộc chiến Thái Bình Dương sẽ là “cuộc chiến của nước Mỹ.”

        Nước Mỹ tham chiến vào năm 1941. Các nước Châu Âu đã tham chiến từ năm 1939. Nhưng đối với hàng triệu người Châu Á, Thế chiến II đã bắt đầu từ một thập kỷ trước - năm 1931.

        Vào đầu thế kỷ, chính phủ Nhật Bản rơi vào tay giới quân sự. Với ý đồ biến nước Nhật thành một cường quốc, giới quân sự bị ám ảnh bởi một điểm yếu cốt lõi của Nhật Bản: Nhật hầu như không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào; cả nền công nghiệp tùy thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu được chuyên chở trên những tuyến đường hàng hải vốn có thể bị cắt đứt bất cứ lúc nào. Giới quân sự Nhật biện luận rằng, phải thâu tóm lấy những nguồn tài nguyên ở nước ngoài để đảm bảo cho nền công nghiệp của họ không bị ảnh hưởng. Giới quân sự xem mục tiêu này là tối quan trọng, cho dù phải thay đổi cơ cấu xã hội Nhật thì vẫn phải làm. Cả đất nước phải được quân sự hóa để thực hiện mục tiêu này; tất cả công dân đều được khép vào chủ thuyết và chương trình đào tạo quân sự.

        Giới quân sự gò ép dân chúng giữa hai gọng kìm thép. Một bên gọng kìm là hệ thống giáo dục quân sự hóa, nghiêm cẩm tự do ngôn luận và tư tưởng. Trường học trở thành doanh trại với ngôn ngữ quân sự và kỷ luật thể chất. Tạp chí dành cho giới trẻ đăng đầy những bài viết có tựa đề hiếu chiến như “Cuộc chiến trong tương lai giữa Nhật và Mỹ.” Vào năm 1941, kỳ thi tốt nghiệp tại một trường trung học ra đề yêu cầu học sinh thảo luận về sự cần thiết phải mở rộng biên cương. “Thầy giáo thường xử sự như huấn luyện viên quân đội, đánh đấm học trò, dùng roi hoặc kiếm gỗ quất học trò. Họ bắt học trò mang vật nặng, quỳ gối, đứng chân trần trên tuyết hoặc chạy vòng quanh sân trường cho đến khi ngã lăn vì kiệt sức.”

-------------------
        1. Ngày 11/12/1941, ba ngày sau khi Nhật đánh bom Trân Châu Cảng, Hitler tuyên chiến với Mỹ. Trong suốt Thế chiến II, Hitler chính thức tuyên chiến chỉ với nước Mỹ.



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:27:47 PM

        Gọng kìm kia là chế độ hà khắc của những lề luật “kiểm soát tư tưởng.” Công dân nào chất vấn nhà nước sẽ bị bỏ tù và tra tấn.

        Dưới cụm. từ lừa bịp “Đại Đông Á Đồng Thịnh vượng,” bộ máy tuyên truyền của Nhật tuyên ngôn rằng mục đích của Nhật là giải phóng các nước láng giềng khỏi chế độ thực dân da trắng. Trên thực tế, giống như Đức Quốc xã, Nhật vận dụng tư tưởng ưu việt chủng tộc và guồng máy chiến tranh cơ động để trấn áp những dân tộc mà họ nói được Nhật “giải phóng”.

        Nhật đưa vào vòng nô lệ “những dân tộc thiếu khả năng duy trì độc lập” và cướp đi tài nguyên của nước họ. Chủ thuyết của Nhật về tính ưu việt chủng tộc được thể hiện trong một tài liệu của Hội Hỗ trợ Chế độ Đế quốc có tựa đề Những ý niệm cơ bản về Đại Đông Ả: “Mặc dù chúng ta nói đến [hợp tác Châu Á], không nên quên rằng nước Nhật là do các Thượng đế1 sáng tạo, là chủng tộc thượng đẳng.”

        Đẩt nước “do các Thượng đế sáng tạo” mở đâu cho “đồng thịnh vượng” bằng chế độ bạo tàn bao trùm lên Mãn Châu và Trung Hoa. Quân đội Nhật thả bom xuống những thành phố của Trung Hoa, giết chóc nhiều đàn ông không vũ trang, phụ nữ và trẻ em.

        Khởi đầu, vào năm 1931 Nhật thôn tính Mãn Châu. Kế tiếp, vào năm 1937 Nhật tấn công Trung Hoa để củng cố sự kiểm soát ở Mãn Châu.

        Quân đội Nhật sử dụng những chiến thuật tàn bạo ở Trung Hoa. Máy bay Nhật giết hại dân thường không được bảo vệ. Nhật Bàn là nước duy nhất sử dụng vũ khí sinh học trong Thế chiến II, thả chuột bị nhiễm vi trùng nguy hiểm vào dân cư địa phương. Các cấp chỉ huy khuyến khích binh sĩ Nhật dưới quyền hãm hiếp và cướp bóc. Nhưng Trung Hoa là một đất nước rộng, thế nên cho dù có hàng triệu người chết, cuộc chiến không thể kết thúc; Nhật lâm vào chiến tranh tiêu hao.

        Bang giao giữa Nhật Bản và các nước Đồng minh của Trung Hoa trở nên căng thẳng, đặc biệt là đối với Hoa Kỳ. Thế rồi, vào năm 1939 cuộc chiến ở Châu Âu giúp Nhật thoát ra khỏi cành tiến thoái lưỡng nan.

        Có ấn tượng với chiến tranh sấm sét của Đức đánh qua Pháp năm 1940, Nhật Bản tiến quân vào các nước Đông Dương lúc này đang bị Pháp đô hộ. Giới lãnh đạo quân sự Nhật tính toán rằng, cuộc tấn công của Đức qua Liên Xô vào mùa hè 1941 sẽ mang đến thắng lợi. Họ biện luận rằng bây giờ là lúc cần phải chiếm lấy các quốc gia Châu Á giàu tài nguyên thiên nhiên. Giới quân sự Nhật cho rằng Mỹ và Anh sẽ bị Đức cầm chân và sẽ không dám điều lực lượng lớn đến Châu Á. Phe diều hâu Nhật cho rằng dân Mỹ sẽ không ủng hộ một cuộc chiến lâu dài ở cách xa đất nước họ. Khi Mỹ cấm vận kinh tế đối với những nguồn nhập khẩu trọng yếu của Nhật, phe diều hâu càng có thêm lý do để hành động.

        Mục đích chiến tranh của Nhật là chiếm lấy những thuộc địa của người Âu tại Châu Á. Nhật nghĩ rằng những thuộc địa này sẽ cung ứng đủ những tài nguyên cần thiết và hy vọng Trung Hoa khi đã bị cô lập sẽ đầu hàng.

        Với khối dân đã được quân sự hóa hoàn toàn, quân đội có kinh nghiệm chiến đấu và hải quân hùng mạnh, Nhật tin tưởng có thể kiểm soát Thái Bình Dương đế lập nên một vùng ảnh hưởng.

        Sau khi đã gây thiệt hại nặng cho hạm đội Mỹ ở Trân Châu Cảng, quân Nhật tiến về phương nam chiếm Đảo Wake, Mã Lai2, Singapore, Philippines và Indonesia. Chẳng bao lâu, quân Nhật đã kiểm soát được chiến trường Thái Bình Dương. Họ chưa thể tiến đến nước Úc nằm ở phía Nam.

        Ngay cả bộ binh Nhật cũng làm nhục bộ binh Mỹ. Vào ngày 7/12, vài giờ sau khi nghe tin Trân Châu Cảng, tướng Douglas MacArthur ở Philippines sững người, có vẻ như không còn khả năng ra lệnh huy động những đội hình máy bay đông đảo nhất trong vùng Nam Thái Bình Dương. Mười tiếng đồng hồ sau trận Trân Châu Cảng, gần 200 oanh tạc cơ Nhật thả bom Manila, tiêu diệt máy bay Mỹ đang đậu san sát nhau làm mồi ngon cho phi công Nhật.

        Ít lâu sau đấy, MacArthur phải ra lệnh 65.000 quân Philippines và 15.000 quân Mỹ rút lui từ phòng tuyến Luzon chuyển đến một vùng rừng núi trên bán đảo Bataan, khi các lực lượng hải quân và bộ binh Nhật đang hợp lực truy đuổi. Nhận thấy vị trí Bataan bị đe dọa, Tổng thống Roosevelt ra lệnh cho MacArthur - quân nhân Mỹ nhận nhiều huy chương nhất trong Thế chiến I - trong đêm tối đào thoát đến nước Úc bằng tàu hải quân.

        Những binh sĩ còn lại trên Bataan bị bao vây nhưng vẫn chịu đói khát chống cự cho đến ngày 3/4/1942 mới chịu đầu hàng. Đấy là kết quả tồi tệ nhất sau một trận đánh trong lịch sử quân sự Mỹ. Những binh sĩ còn sống sót, gầy còm và yếu ớt, bị dong bộ trên quãng đường dài hơn 100 km dưới sức nóng cháy da thịt để đi đến một trại tù binh. Khoảng 15.000 tù binh ngã xuống dọc đường vì đói khát, thời tiết khắc nghiệt, và sự hành hạ của lính Nhật vốn sẵn sàng đánh đập hoặc bắn bỏ người nào dừng lại uống nước ở một dòng nước nào đó ven đường.

-------------------
        1. Tác giả nguyên bản dùng từ thông dụng “Gods” nhưng có thể bị nhầm lẫn trong ý niệm Ky tô giáo; người Nhật tin rằng họ là con cháu của Thái dương Thần nữ.

        2. Lúc này có tên tiếng Anh là Malaya, bây giờ có tên là Malaysia.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:28:23 PM

        Trong khi các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương còn chưa hoàn hồn sau những cuộc tấn công vũ bão của Nhật, nơi quê nhà những chàng trai Mỹ sục sôi ý chí rửa hận.

        Robert Leader, người sau này chiến đấu cùng cha tôi trong Đại đội E, kể lại nỗi phẫn nộ lúc bấy giờ: “Nhật tấn công Trân Châu Cảng làm chúng tôi nổi điên lên. Ngày Chủ Nhật họ thả bom, ngày thứ Hai chúng tôi vào trường được nghe bài diễn văn "Ngày Bỉ ổi" của Tổng thống Roosevelt. Một đám con trai chúng tôi tụ tập với nhau và nói: "Hãy đi tòng quân!” Ông thêm: “Tôi không bao giờ muốn giết người nhưng tôi tin rằng đất nước chúng ta đã bị xâm phạm.”

        Hàng trăm nghìn trai trẻ như ông đều có ý nghĩ tương tự.

        Các trung tâm tuyển quân chật kín người nô nức đến đăng ký. Cả đất nước dường như bừng tỉnh khỏi cơn vật vờ trong cuộc Đại Suy thoái. Mọi người đều muốn chen chân nhau mà đóng góp. Nỗ lực chiến tranh cần đến cao su, xăng dầu, kim loại. Giống như một trận đấu bóng rổ nữ ở Đại học Northwestern được ngưng lại để trọng tài và tất cả mười đối thủ bủa đi tìm một chiếc kẹp tóc bị đánh rơi. Người Mỹ sẵn lòng ủng hộ chế độ tem phiếu; thanh niên xung phong làm tình nguyện viên trong những “chiến dịch” quyên góp. Chẳng bao lâu, việc cung cấp bơ và sữa đều bị hạn chế cùng với thực phẩm đóng hộp và thịt. Giày dép, giấy và vải vóc trở nên khan hiếm. Dân chúng trồng rau cải trong các “vườn chiến thẳng” và lái xe với “tốc độ chiến thắng” là 55 km/giờ đế tiết kiệm xăng dầu. Một khẩu hiệu trở nên thịnh hành: “Dùng cho kiệt, mặc cho mòn, sống tiết kiệm hoặc sống không đòi hỏi.” Mọi người đều tuân hành triệt để khi có còi báo động và lệnh tắt đèn. Cả nước Mỹ đều sẵn sàng hy sinh.

        Trong vài tháng khủng khiếp tiếp theo, những nỗ lực xem ra dường như tuyệt vọng. Đến mùa hè 1942, quân đội Nhật đã kiểm soát một vùng mênh mông, vượt xa vọng tưởng ngông cuồng nhất của Adolf Hitler.

        Ngày 4/7/1942, thám báo Mỹ phát hiện công binh Nhật đang xây một đường băng trên đảo Guadalcanal nằm trong Quần đảo Solomon, ở phía đông-bắc nước Úc. Một khi quân Nhật phóng ra những đợt tấn công từ hòn đảo này, Úc và những đồng minh còn lại trong vùng Nam Thái Bình Dương sẽ lâm vào thảm họa. Mỹ biết ràng cần phải chặn đứng âm mưu nguy hiểm này. Nhưng ai sẽ chiến đấu? Bộ binh của Anh, Trung Hoa và Mỹ đều đã bị Quân đội Thiên hoàng đánh bại. Quân Nhật có vẻ như là những siêu nhân, khó mà ngăn chặn họ được.

        Chính vào thời điểm gay cấn này, thủy quân Lục chiến (TQLC) Hoa Kỳ nổi lên thành một lực lượng chiến đấu mới thích hợp với một chiến thuật mới.

        Từ trước đến giờ, TQLC chi là một thành phần nhỏ nhoi của quân đội Mỹ. Được tổ chức như là một bộ phận an ninh nội bộ và lính bắn tia của Hải quân Hoa Kỳ từ năm 1775, lực lượng TQLC chưa bao giờ đóng vai trò quan trọng trong lịch sử quân sự Mỹ. Cho đến mùa xuân 1940, lực lượng này chi có 25.000 người.

        Nhưng những chiến lược gia quân sự có tầm nhìn xa đã nhận ra vai trò quan trọng của TQLC trong chiến tranh thế kỷ 20.

        Vào đầu thập niên 1920, một cựu chiến binh TQLC đã tham gia Thế chiến I có tên Holland M. Smith - với biệt danh “Howlin’ Mad” (Hét Điên) - tụ họp một nhóm sĩ quan để xem xét lại vai trò TQLC. Là một chiến binh hăng say, thích báng bổ và hay lên lớp, Smith đề xuất rằng Lục quân Mỹ vẫn tiếp tục giữ vai trò chiến đấu trên đất liền. Nhưng Smith cho rằng trên chiến trường Viễn Đông, các chàng trai trẻ Mỹ phải được huấn luyện để đạt những yêu cầu mới. Những kỹ năng tác chiến của họ phải tụ hội xung quanh ý niệm chiến tranh đổ bộ: binh sĩ nhảy xuống từ tàu lớn, chạy nhanh đến bờ biển đối phương dưới làn đạn, và xông lên chiếm giữ những hòn đảo của đối phương. Smith và những đồng đội của ông tiên đoán rằng những hòn đảo ấy sẽ nằm trên Thái Bình Dương, và đối phương sẽ là Nhật Bản.

        Đổ bộ là phương án tác chiến khó khăn nhất. Vào năm 1915, lực lượng Đồng minh dưới quyền chỉ huy của Anh đổ bộ tiến đánh căn cứ hải quân ở Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng gặp phải thảm họa. Sau đó, phần lớn chuyên gia quân sự đều cho rằng không thể thực hiện hành quân đổ bộ chống lại các loại vũ khí hiện đại, cơ giới hóa.

        Smith thì nghĩ khác. Qua hai thập kỷ, ông và ban tham mưu dưới quyền đã thiết lập, chỉnh sửa và mang ra diễn tập chiến thuật đổ bộ hiện đại. Trên vùng Nam Thái Bình Dương có 4 sư đoàn Lục quân trong khi nhu cầu cấp thiết phải chiếm lấy Guadalcanal, nhưng phải cần đến những chiến binh đổ bộ. Đã đến lúc phải điều động TQLC.

        Vào ngày 7/8/1942, TQLC đổ bộ lên Đảo Guadalcanal. Bị bất ngờ, lúc đầu quân Nhật không chống cự lại cuộc đổ bộ. Sau khi TQLC đã đổ hàng hậu cần của họ lên thì hải quân Nhật mới phản công. Sau khi bị mất 4 chiếc tàu, Hải quân Hoa Kỳ rút lui. Những người lính TQLC bị bò rơi, chơ vơ chống lại một kè thù chưa từng nếm mùi thua trận.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Sáu, 2018, 11:29:07 PM

        Tướng Tư lệnh TQLC Alexander Vandegrift củng cố tinh thần binh sĩ dưới quyền, ông bảo họ là những người lính TQLC và “đây sẽ không phải như Bataan.” Chiến đấu trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, có lúc chi ăn ngày hai bữa nấu từ gạo tịch thu được của Nhật, cho đến tháng 12 TQLC kiểm soát được hòn đảo. Khoảng 23.000 quân Nhật tử trận; 13.000 người được hải quân của họ cứu thoát. Lần đầu tiên, Nhật Bản bị thảm bại một trận đánh trong Thế chiến II.

        TQLC đã chiếm một chỗ đứng trong con tim của nước Mỹ. Yếu tố mang đến chiến thắng tại Guadalcanal là tinh thần đồng đội nhưng cũng do cá nhân. Có những anh hùng như Trung sĩ John Basilone, Bang New Jersey, người tình nguyện gia nhập TQLC sau khi nói với mẹ: “Lục quân không đủ hùng mạnh cho con.” Trong tháng 10, ông đã dẫn 800 đồng đội chiến đấu không ngơi nghỉ trong suốt 72 giờ chống lại hàng nghìn quân Nhật, giúp tạo bước ngoặt trong trận đánh và qua đó là bước ngoặt trong cuộc chiến.

        Sau khi quân Nhật đánh bại một trong những cánh quân của Basilone, chỉ còn lại hai người còn khả năng chiến đấu, ông vớ lấy một khẩu súng đã bị hỏng, lần mò sửa chữa trong bóng đêm đen kịt rồi củng cố lại vị trí, trụ vững cho đến khi quân tăng viện đến.

        Sau đấy, khi đạn dược gần cạn kiệt và đường tiếp vận bị cắt đút, ông xông qua phòng tuyến Nhật, mang trên người hàng mấy chục kilôgam đạn dược để tiếp ứng cho đồng đội. Họ vẫn kiên trì chiến đấu và tiêu diệt gần nguyên một trung đoàn quân Nhật.

        Do chiến công anh hùng này, Trung sĩ Basilone trở thành một trong những hạ sĩ quan TQLC đầu tiên được tưởng thưởng Huân chương Danh dự trong Thế chiến II. Sau khi đi một vòng nước Mỹ để cổ động việc mua trái phiếu chiến tranh, được đề nghị thăng lên hàng sĩ quan nhưng ông từ chối và yêu cầu được điều ra chiến trường Thái Bình Dương lần nữa. Ông nói: “Tôi không sợ. Tôi không có thời giờ để sợ. Hơn nữa tôi lo lẳng cho binh sĩ dưới quyền mình.” Nhiều người lính trẻ vẫn nhớ mãi câu nói này.

        TQLC đã khiến cho quân Nhật choáng váng nhận lấy thảm bại đâu tiên trong cuộc chiến. Nhưng có lẽ yếu tố tâm lý còn quan trọng horn. Đã từ lâu, binh sĩ Nhật được dạy bảo rằng họ có tính ưu việt về dân tộc và tinh thần so với phương Tây mềm yếu và sung sướng trong vật chất. Guadalcanal đã chứng tỏ điều ngược lại.

        Đối với TQLC, Guadalcanal cho thây một sự thật đáng ngại: họ sẽ phải chiến đấu trong điều kiện sơ khai nhất, trong một cuộc chiến không giống bất kỳ một cuộc chiến nào khác.

        Vào mùa thu năm 1942, nước Mỹ đang chiến đấu với hai đối thủ hoàn toàn khác biệt.

        Những trận đánh ở Bắc Phi giữa nhũng đoàn quân phương Tây diễn ra “theo lề luật.” Ở đây, quân Đức khởi động “cuộc chiến khá trong sạch.” Vị tướng thiết giáp Hans Von Luck của Đức gọi đây là “cuộc chiến luôn thẳng thằn.” Vài năm sau, Đức sản xuất một phim kể về chiến dịch của họ, có tựa đề Cuộc chiến không hận thù.

        Hai bên chiến đấu theo tinh thần hiệp sĩ: lúc 5 giờ chiều mỗi ngày cùng nhau đồng ý ngưng mọi hành động thù địch; mỗi bên đều ngưng bắn để quân y chăm sóc thương binh của mình.

        Khi chiến đấu với quân Đức, những trận đánh đều xảy ra dữ dội, thương vong rất nhiều. Nhưng trên chiến trường Châu Âu, các bên đều tuân thủ những lề luật và có thái độ kiềm chế. Trên chiến trường Thái Bình Dương thì không được như thế.

        Khi tiến đến Đảo Guadalcanal, lính TQLC đã nghe những mẩu chuyện về tính tàn bạo của quân Nhật xảy ra trong nhiều năm trước. Vào năm 1938, tuần san Life đăng tải những hình ảnh do một doanh nhân Đức mang đến, cho thấy những hành động tàn bạo của Nhật ở Nam Kinh.

        Ngày 13/12/1937 thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa rơi vào tay quân Nhật. Quân Nhật dán khấp thành phố những bích họa cho thấy một người lính Nhật đang mỉm cười cầm một bát cơm trao cho một đứa trẻ Trung Hoa. Bức bích họa tuyên truyền cho những ý hướng hòa bình của “Đồng Thịnh vượng.” Sự thật là người Trung Hoa trải qua một trận tàn sát.

        Với sự khuyến khích của sĩ quan Nhật, trong vòng không đây một tháng binh sĩ dưới quyền họ đã giết chết trên 350.000 người Hoa. Lính Nhật dẫn phụ nữ Hoa đang mang thai đến một bãi hành quyết, đặt cược với nhau xem bào thai là con trai hay con gái, rồi dùng gươm rạch bụng người mẹ. Trong một khu vực khác của thành phố, lính Nhật đang say xỉn vui cười bắt lấy những đứa trẻ nhỏ tung lên không rồi chĩa lưỡi lê lên đón đứa trẻ đang rơi xuống. Những con chó trong thành phố không thế đi nổi vì quá béo phì sau khi ăn nhiều xác chết nằm la liệt khắp đường phố.

        Con số 350.000 dân thường chết trong vòng một tháng ở một thành phố là cao hơn số dân thường của nhiều nước chết trong toàn cuộc chiến. Trong sáu năm của Thế chiến II, Pháp mất 108.000 dân thường, Bỉ 101.000, Hà Lan 242.000. Số nạn nhân Trung Hoa mà người Nhật giết ở Nam Kinh còn cao hơn số người Nhật chết vì hai quả bom nguyên tử sau này: Hiroshima 140.000, Nagasaki 70.000 người. Sự tàn phá của quân Nhật ở miền Bắc Trung Hoa kiến cho dân số ở đây giảm từ 44 triệu còn 25 triệu. Đấy là kết quả của chính sách đồng thịnh vượng.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:52:07 PM

        Lục quân Hoa Kỳ đã kinh qua phương cách chiến đấu của quân Nhật ở Philippines và Miến Điện. Lính Mỹ nghe những mẩu chuyện về đồng đội của họ bị trói gô như lợn, bị mổ bụng, bộ phận sinh dục bị cẳt đứt và nhét vào miệng. Cũng có những mẩu chuyện kể về đồng đội họ bị cột dưới trời nằng, mắt và mũi bị thoa mật ong để thu hút côn trùng đến cắn.

        Tuy nhiên, lính TQLC trên Guadalcanal chưa từng kinh qua - và không mấy tin là sự thật - những hành động tàn bạo như thế. Đến khi họ đối xử tử tế với quân Nhật, họ mới biết mình nhầm to.

        Ngày 11/8, Frank Goettge dẫn một toán tuần tiễu đi giải cứu một nhóm lính Nhật. Quân báo Mỹ cho biết họ trông thấy một lá cờ trắng, còn một tù binh Nhật cho biết toán lính Nhật kia không còn trụ được và muốn đầu hàng.

        Goettge kêu gọi người tình nguyện đi cứu toán lính Nhật. Có 25 người xin đi, kể cả một thông dịch và một bác sĩ giải phẫu quân y.

        Khi đổ bộ lên một bờ biển theo sự hướng dẫn của người dẫn đường, Goettge loan báo lính Mỹ đến để giải cứu. Quân Nhật nổ súng dữ dội. Sau nhiều giờ đọ súng, chi có một lính Mỹ thoát thân, bơi ra ngoài biển. Khi nhìn vào bờ, ông thấy tia sáng lấp lánh của những lưỡi gươm Nhật đang chặt thi thể những đồng đội mình.

        Sau đấy, một toán tuần tiễu TQLC tìm thấy thi thể của đồng đội, đã bị hành hạ theo cách thức tệ hại nhất có thể được. Những phần thịt có miếng da có hình xăm bị róc ra và nhét vào miệng thi thể. Lính TQLC bắt đầu nhận ra rằng họ đang lâm vào một cuộc chiến không có lề luật gì cả.

        Điều khiến cho họ bị sốc nặng nhất là việc người Nhật đối xử với những người lính không tác chiến. Khi nghe lính Nhật bị thương kêu gọi bàng tiếng Anh xin giúp đỡ, quân y Mỹ thường chạy đến để rồi bị thương binh Nhật bắn hạ hoặc bị tan xác do lựu đạn giấu dưới người thương binh Nhật.

        Chiến tranh trên vùng Thái Bình Dương không phân định khu vực nào là đặc biệt và không tuân theo lề luật nào. Đây là cuộc chiến ở mức hoang sơ, luôn tìm cách tận diệt đối thủ.

        Mỗi người lính Nhật nghĩ rằng anh ta đang chiến đấu theo truyền thống hào hùng của những chiến binh thời xưa - những samurai. Nhưng không đúng như thế.

        Trải qua nhiều thế kỷ, Võ sĩ đạo là quy chuẩn theo danh dự của giai cấp samurai đáng hãnh diện của Nhật Bản. Trong phân nửa đầu của thế kỷ 20, giới quân sự lãng mạn hóa ý niệm “Đạo,” kêu gọi tất cả trai trẻ sẵn sàng hy sinh cho Nhật hoàng. Sự suy diễn Võ sĩ đạo theo cách này đã kích động binh sĩ Nhật chiến đấu đến hơi thở cuối cùng theo cách thức mà lính TQLC cho là cuồng tín.

        Thật ra, đấy là khi Võ sĩ đạo được hiểu Tâm lạc.

        Trong quá khứ, quy chuẩn Võ sĩ đạo có giá trị đặc biệt như lời thề Hippocrates trong y khoa. Những samurai luôn là thành phần ưu tú trong xã hội Nhật. Võ sĩ đạo định ra cho họ những quan niệm về danh dự và nghĩa vụ. Đến đầu thập kỷ 1900, giới quân sự Nhật đưa ra một chủ thuyết mới về Võ sĩ đạo. Mục đích của họ là biến tất cả đàn ông con trai thành những chiến binh. Cái chết trên chiến trường được xem là mang danh dự đến cho gia đình và là một hành động siêu việt đối với một cá nhân. Đầu hàng sẽ mang ô nhục đến cho người lính và gia đình anh ta.

        " Những samurai thời xa xưa hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên với sự diễn dịch về Võ sĩ đạo như thế. Những samurai ây không bao giờ cổ động hy sinh sự sống cho bất kỳ ai. Khi đối diện với một vấn đề về danh dự cá nhân, một samurai đích thực có thể tự rạch bụng mình. Nhưng samurai không tin rằng tự sát tập thể trong hoàn cảnh tuyệt vọng là chiến lược đúng lý. Tướng George Patton của Mỹ đã nói: “Không ai thẳng một cuộc chiến vì chết cho đất nước mình. Họ thắng bằng cách làm cho tên khốn kiếp kia chết cho đất nước của hắn.”

        Nhưng giới quân sự Nhật vào thế kỷ 20 không phải là những samurai. Những nhà lãnh đạo mới truyền bá việc hy sinh tính mạng là mục đích cao đẹp cuối cùng. Đấy là chủ thuyết sai lệch của Võ sĩ đạo.

        Những chàng trai Nhật khi gia nhập quân đội không bao giờ biết được sự sai lệch này. Họ không có thông tin từ bên ngoài để giúp họ phán xét một cách đúng đắn. Họ đã bị tẩy não để tin rằng khi hy sinh bằng cái chết, họ noi gương những samurai anh hùng.

        Không lạ gì mà các cấp lãnh đạo quân sự xem thường mẫu người do họ nặn ra. “Họ có thể bị hy sinh tính mạng; có nguồn cung ứng vô tận với cái giá chi bằng một tờ bưu thiếp. Vũ khí và ngựa được giữ gìn và đối xử cẩn thận, nhưng một binh nhì được xem có giá trị không bằng một con vật. Dù sao chăng nữa, một con ngựa tốn tiền thật sự. Binh nhì chi đáng vài đồng teng.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:52:55 PM

        Trong cuộc chiến Thái Bình Dương, một sĩ quan Nhật bị bắt làm tù binh quan sát bác sĩ quân y Mỹ chăm sóc thương binh nặng của Nhật. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên vì phải tốn nhiều công sức và tiền của cho những người bị thương quá nặng, không thể chiến đấu được nữa. Một sĩ quan TQLC Mỹ hỏi: “Nếu là anh, anh sẽ làm gì với những người này?” Câu trả lời của người sĩ quan Nhật là: “Chúng tôi phát cho mỗi người một quả lựu đạn. Nếu họ không muốn dùng lựu đạn, chúng tôi sẽ cắt cổ họ.”

        Đối với chiến binh Nhật, đầu hàng có nghĩa là ô nhục. Gia đình của anh sẽ bị mất danh dự, hồ sơ của anh nơi sinh quán sẽ bị xóa bỏ. Cá nhân anh xem như không còn hiện diện nữa, và nếu bị cấp chỉ huy của anh bắt gặp, anh sẽ bị xử tử. Tất cả việc này là trên danh nghĩa Võ sĩ đạo Tâm lạc, được tuyên truyền để biến thanh niên Nhật thành bia đỡ đạn.

        Không được phép đầu hàng, bị bắt buộc phải chiến đấu cho đến chết, người lính trẻ Nhật khinh thường người Mỹ vốn không làm giống như họ, Vì thế, một thảm kịch đã diễn ra trên Thái Bình Dương. Một thảm kịch do những nhà lãnh đạo quân sự Nhật tạo ra khi biến trai trẻ Nhật thành những kẻ hung tàn.

        Trở lại nước Mỹ, chiến thắng gây ấn tượng trên Đảo Guadalcanal và những chiến binh anh hùng đã nâng cao tinh thần của các chàng trai Mỹ. Binh chủng TQLC - lực lượng chi toàn người tình nguyện - bỗng nhiên thu hút nhiều chàng trai trẻ như Jesse Boatwright, người muốn đi tìm thách thức to tát nhất: “Chúng tôi nghĩ họ điều TQLC đến nơi gian nguy nhất, và nếu không gian nguy lắm thì họ đã điều Lục quân.”

        Nhiều chú nhóc nộp giấy khai sinh giả, mẫu nước tiểu giả không phải để trốn lính, mà để được làm người lính. Pee Wee Griffiths được chấp nhận sau khi đã ăn nhiều chuối. Lần đầu tiên xin gia nhập, ông bị từ chối vì chỉ nặng 48 kg; còn thiếu 2 kg mới đủ tiêu chuẩn. Ông kể với tôi: “Họ bảo tôi phải ăn chuối càng nhiều càng tốt. Tôi ăn thật nhiều, tưởng chừng như hàng nghìn quả chuối. Nhưng chỉ lên được 1 kg. Khi tôi nói với họ tôi đã ăn nhiều chuối đến thế nào, chắc là họ tội nghiệp cho tôi nên chấp nhận.”

        Còn James Buchanan xin đăng ký với những hình ảnh chiến tranh ngập tràn tâm tư. Ông lấy nguồn hứng khởi từ một quyển sách viết về Guadalcanal, được xuất bản khi ông vừa đến tuổi thành niên.

        Và rồi có Tex Stanton, chú nhóc có mái tóc đen mà đáng lẽ không được nhận vào TQLC. Con mắt phải của ông bị đau. Vài người vì lý do chính đáng này có thể được từ chối đi nghĩa vụ. Tex Stanton tìm ra cách để được chấp nhận. Trong khi được khám mắt phải, ông cầm tâm thẻ che một con mẳt theo cách nào đấy để có thể đọc hai lần bằng con mắt còn tốt. Trong vòng khám sức khỏe thứ hai, bệnh mắt của ông bị phát hiện, nhưng ông nài nỉ một cách khẩn thiết đến nỗi vị bác sĩ nhún vai và bỏ qua cho ông. Ông trở thành xạ thủ súng trung liên và là bạn thân của những người giương ngọn cờ.

        Nhiều năm sau, ông kể lại với tôi: “Người ta gia nhập TQLC vì muốn trở thành giỏi nhất. Chúng tôi trải qua chương trình huấn luyện gian khổ nhất, được đưa đến chiến trường gian khổ nhất. Chúng tôi đã là những người giỏi nhất.”

        Chặng đầu tiên của họ là huấn luyện cơ bản: trại tân binh.

        Mục tiêu của trại tân binh là nhanh chóng chuyển biến tinh thần hăng say của tân binh từ cung cách trẻ con thành một mẫu người chưa từng có trong xã hội Mỹ trước đây: Chiến binh chuyên nghiệp được đào tạo hàng loạt, vừa giỏi về kỹ thuật vừa có tinh thần vững chắc để đối mặt với nhũng thảm kịch của trận chiến.

        Và phải tỏ ra không được ích kỷ. Những chú nhóc của một quốc gia theo chủ nghĩa cá nhân phải trải qua quá trình tự xác định lại bản thân mình. Chú nhóc không còn là trung tâm của vũ trụ dưới ánh mặt trời: gia đình, bạn bè, láng giềng, quận, hạt, hoặc thành phố. Bây giờ anh phải là một nhân tố trong guồng máy chiến tranh được vận hành một cách chuẩn xác theo nhiêu lĩnh vực.

        Muốn chiến thẳng, các chiến binh phải hợp thành một tập thể đồng nhất chứ không phải là những cá nhân tự ai nấy chiến đấu. Nhiệm vụ chủ chốt của chương trình huấn luyện cơ bản là nhầm xóa bỏ những cơn bốc đồng cá nhân chủ nghĩa, thay vào đó giúp tân binh suy nghĩ trong tình đồng đội.

        Nhận thức rằng chủ nghĩa cá nhân Mỹ thường không phù hợp với sự phục tùng, giới quân sự đã thiết lập chương trình huấn luyện như là cách “gây sốc toàn diện,” làm cho tân binh “cảm thấy bất an, phải cần đến sự hỗ trợ của người khác trong môi trường mới lạ và phức tạp, gây hoang mang.” Những cá nhân phải được khống chế để cảm thấy mình phải cần đến đồng đội, từ đó tập thể và tình đồng đội trở nên mạnh mẽ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:53:27 PM

        Như Jesse Boatwright đã nói với tôi: “Điều đầu tiên mà chúng tôi học là chúng tôi được huấn luyện cho chiến tranh và chúng tôi sẽ không đi một mình. Chiến tranh là hoạt động đồng đội. Từ vị tướng trở xuống, mỗi người đều phải có tinh thần đồng đội và tất cả đều phải làm nhiệm vụ của riêng mình.”

        William Hoopes nhớ lại rằng: “Họ làm mọi việc để xóa bỏ cá nhân chủ nghĩa. Một huấn luyện viên có thể dựng chúng tôi dậy lúc 2 hoặc 3 giờ sáng. Ông ta nói: ‘Tất cả vào hàng, tôi không muốn nghe bất kỳ tiếng động mẹ kiếp nào ngoại trừ tiếng mi mắt chớp’.”

        Robert Lane kể lại: “Kỷ luật cực kỳ nghiêm khắc. Tân binh không được ho nếu không được phép.”

        Art Buchwald viết: “Khi bạn mới gia nhập TQLC, mục đích duy nhất của họ là biến bạn thành một bát bánh bột chỉ biết nói cà lăm, khóc rưng rức... Mục đích... là xóa bỏ tư cách cá nhân của bạn và rồi tạo dựng bạn lại thành một con người như binh chủng TQLC mong muốn...”

        Robert Leader nhớ lại: “Đấy là sự hủy diệt một cách khôn khéo tư tưởng dân sự của bạn. Ý tôi nói đấy là cách phải làm. Chiến binh TQLC không thể suy nghĩ như là dân thường; để trở thành một chiến binh giỏi anh ta phải biết cách suy nghĩ khác đi.”

        Việc xóa bỏ cá nhân chủ nghĩa, uốn nắn tân binh vào kỷ luật; những hoạt động lặp đi lặp lại gieo vào đầu tân binh phản ứng tự động mà binh chủng cố gắng đạt đến.

        Còn nhiều nữa. Những huấn luyện viên thực địa đã cảnh cáo các chú nhóc trước đây không lâu đã đạt chuẩn Hướng đạo sinh Thế giới: “Đừng quá gần gũi với bất cứ ai, vì bạn có thể bị sát hại!” Khi một tân binh ngây thơ thắc mắc tại sao huấn luyện viên hỏi về nhũng vết sẹo hoặc vết bớt trên người anh, vị huấn luyện viên thét lên: “Để sau khi bọn Nhật bẳn anh tan xác trên bờ biển Thái Bình Dương nào đó, quân ta vẫn nhận dạng được thi thể anh!”

        Tân binh được đào luyện về thể chất, tập đi diễu hành, tập bắn súng, học cách sử dụng vũ khí, tìm hiểu về quân giai, biết tuân thủ mệnh lệnh. Họ được huấn luyện để lặp đi lặp lại những công tác đơn giản nhưng thiết yếu cho đến khi họ chán ngấy, để tập sống trong mọi tình huống thay đổi từ vô vị đến nguy cấp.

        Đấy là một thế giới trong đó khẩu súng trường là vật thân thương. Khẩu súng trường được lau chùi mỗi ngày vài lần. Khẩu súng trường là người bạn thân thiết nhất của binh sĩ TQLC. Khẩu súng trường phải được tháo rời và lắp ráp nhanh chóng. Và rồi nó được tháo rời và lắp ráp khi tân binh bị bịt mắt. Tân binh được huấn luyện thuần thục để sử dụng khẩu súng trường - ở vị thế đứng, ngồi, nằm - hoặc là... phải tôn trọng khẩu súng trường. Nếu lỡ gọi cụt lủn là “súng ” tân binh sẽ bị làm nhục trước toàn thể đại đội: bị bằt chạy lên chạy xuống người trần như nhộng trước mặt đồng đội, một tay cầm khẩu súng trường và tay kia cầm bộ phận sinh dục, liên tục thét lên: “Đây là súng trường, kia là súng ngắn! Đây là để bắn, kia là để chơi!”

        Tất cả binh chủng đều làm cho tân binh của họ rắn rỏi lên, truyền đạt những điều cơ bản, uốn nắn những người trẻ theo khuôn phép của mình. Nhưng binh chủng TQLC trao cho binh sĩ của họ một vũ khí bí mật: văn hóa hãnh diện, vốn làm cho TQLC trở thành một lực lượng hàng đầu trên thế giới. “Hải quân có tàu thuyền, Không lực có máy bay, Lục quân có chủ thuyết, nhưng TQLC chi có ‘văn hóa’: những giá trị và giả định hình thành nên lực lượng.” Họ gọi văn hóa này là “esprit de corps”.

        Cựu chiến binh Jesse Boatwright nói với tôi: “Không ai giải thích được esprit de corps. Họ chỉ làm cho anh thấm nhuần từ mệnh lệnh: tiến. Họ bảo chúng tôi là những người ưu tú. Và họ cho chúng tôi thấy tại sao, họ cho chúng tôi thấy lịch sử của binh chủng, một lịch sử hào hùng. Họ làm cho chúng tôi cảm thấy mình là một phần của chuỗi những sự kiện.”

        Đối với Pee Wee Griffiths, esprit de corps cho ông tiếp cận với sự cao cả. "Tôi nghĩ tôi là người đặc biệt chỉ vì quanh tôi là những chiến binh ưu tú, và tôi nghĩ một ngày nào đó tôi sẽ trở thành một người đặc biệt như họ. Tân binh noi gương theo những người như thế. Đấy là điều làm cho chúng tôi hãnh diện. Những chỉ huy ưu tú, những chiến binh ưu tú."

        Phóng viên Jim Lehrer sau này viết về lòng hãnh diện đã thấm sâu trong anh ở trại tân binh: “Tôi biết được rằng chiến binh TQLC không bao giờ bỏ lại đồng đội bị thương hoặc tử trận; sĩ quan lúc nào cũng ăn sau binh sĩ.”

        Dù cho được nhận vào trại tân binh, không có nghĩa đương nhiên là lính TQLC.

        Trong trại tân binh, các chú nhóc được cảnh cáo: “Các anh không phải là lính TQLC. Các anh chỉ là tân binh. Chúng tôi sẽ xem các anh có xúng đáng với danh hiệu TQLC Hoa Kỳ hay không!”

        Đạt danh hiệu TQLC là một vinh dự mà tân binh cố gắng rèn luỳện. Như Robert Lane nói: “Chúng tôi nghĩ TQLC là binh chủng ưu tú và chúng tôi phải là những người ưu tú.”

        Trong số các binh chủng của Hoa Kỳ, chi có TQLC phong tên của binh chủng cho hạ sĩ quan và binh sĩ. Lục quân thì có sĩ quan Lục quân và binh sĩ, Hải quân thì có sĩ quan Hải quân và thủy thủ, Không lực thì có sĩ quan Không lực và phi hành đoàn - nhưng binh chủng TQLC thì chi có chiến binh TQLC.

        Robert Lane tóm tắt tiến trình đào tạo: “Chúng tôi cảm thấy mình vượt trội so với các binh chủng khác. Họ đã biến chúng tôi thành những chiến binh giỏi nhất trên thế giới.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:55:10 PM

chương 4

TIẾNG GỌI LÊN ĐƯỜNG


Những người muốn thu hái ân sủng của nền tự do thì phải chịu gian khổ mà củng cố nền tự do.
THOMAS PAYNE       

        Vào ngày quân Nhật bất ngờ tấn công Trân Châu Càng, sáu người giương ngọn cờ có tuổi tác cách nhau sáu năm.

        Mike Strank từ Bang Pennsylvania là người lớn tuổi nhất, 23 tuổi, đang là hạ sĩ nhất TQLC sau hai năm phục vụ.

        Ira Hayes 18 tuổi, thuộc sắc tộc Pima, đang là học sinh lớp 11 tại Trường Phoenix Indian, tám tháng sau gia nhập TQLC.

        Cha tôi nhỏ hơn sáu tháng, vừa hoàn tất trung học và đang học nghề để lấy chứng chi Giám đốc mai táng của Bang Wisconsin.

        Harlon Block lúc ấy 17 tuổi, còn một năm mới gia nhập đội bóng Weslaco Panthers.

        Franklin Sousley 16 tuổi, là học sinh lớp 11, phụ giúp công việc gia đình sau giờ học.

        Rene Gagnon chỉ mới 15 tuổi, đang là học sinh năm thứ hai trung học phổ thông, chẳng bao lâu sẽ hòa mình vào cuộc sống công nhân nhà máy ở Bang New Hampshire.

        Mike lớn hơn Ira 3 tuổi, lớn hơn Rene 6 tuổi, là cách biệt lớn nhất trong độ tuổi của các chàng trai. Họ luôn xem Mike là anh cả, gọi ông là “ông già.” Vào tháng 4/1944, họ gặp nhau lần đầu tiên khi binh chủng thành lập một sư đoàn TQLC mới. Mỗi người đi đến đấy bằng những con đường khác nhau.

        Mike Strank là người đầu tiên tham gia cuộc chiến.

        Ông đăng ký tham gia binh chủng ngày 6/10/1939 - người duy nhất trong sáu người giương ngọn cờ gia nhập binh chủng trước khi nước Mỹ tham chiến. Ông trải qua gian khổ trong trại tân binh trên Đảo Parris, với thân hình 80 kg. Mike là “nhà chỉ huy thiên bẩm,” người anh cả trong gia đình mà cha Vasil đã kỳ vọng dẫn dắt hai em kế John và Pete. Bây giờ, binh chủng nhận ra tài năng của ông.

        Mike tỏ ra xuất sắc trong chương trình huấn luyện và yêu thích môi trường gian khổ. Anh chàng cựu nhạc công thổi kèn ngày xưa với trí nhớ xuất sắc đáp ứng đúng yêu cầu của binh chủng TQLC.

        Khởi đầu, Binh nhất Strank được gửi đến Vịnh Guatánamo vào tháng 1/1941 để được huấn luyện bổ sung. Lúc này nước Mỹ chưa tham chiến, nhưng trong 16 năm qua lính TQLC Mỹ đã thực tập chiến thuật đổ bộ tấn công chống lại các đảo quốc vùng Caribbean. Kể từ năm 1924, các cấp chi huy TQLC đã tiên đoán rằng thử thách lớn lao kế tiếp của họ sẽ là chinh phục những hòn đảo trên vùng Thái Bình Dương. Và họ phải sẵn sàng.

        Tháng 4/1941, Hạ sĩ nhất Strank quay trở lại Đảo Parris, bắt đầu đưa vào khuôn phép những lính TQLC trẻ ở New River, Bang North Carolina (bây giờ là Trại Lejeune). Hai tháng sau sự kiện Trân Châu Cảng, ông được thăng lên trung sĩ.

        Tháng 3/1942, Mike nghi phép về thăm nhà. Bạn bè nhận xét ông đã rắn rỏi lên. Ông có thể chất gây ấn tượng kèm với sự tự tin và trí thông minh. Cơ thể ông cuồn cuộn sức mạnh, với nụ cười tươi tắn và làn da sạm nắng. Em trai John Strank nhớ lại: “Mike thay đổi hẳn từ khi gia nhập TQLC. Anh ấy vạm vỡ lên với đầy cơ bắp rẳn chắc.”

        Ba tháng sau, Mike đi ra chiến tuyến. Không phải đến Châu Âu như ông mong muốn để trả thù cho quê nhà Tiệp Khắc đang bị tàn phá, mà đi theo hướng ngược lại: Ông gia nhập hàng hàng lớp lớp những chàng trai trẻ Mỹ đã phải vội vã tập hợp, huấn luyện, vũ trang, và điều đi để ngăn chặn làn sóng quân Nhật đang gây sốc trên Thái Bình Dương.

        Trong lúc này, Ira Hayes đang lột bỏ những vết tích của tuổi thanh niên sắc tộc Pima ở trại tân binh tại San Diego.

        Ông đăng ký ngày 26/8/1942. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên về việc này vì thật sự ông không phải là mẫu người chiến binh. Ông có tính thầm lặng, thụ động, không thích ganh đua. Dana Norris nói với tôi: “Trong nền văn hóa của chúng tôi, người ta không cổ vũ cho việc ganh đua. Chúng tôi sống trong một xã hội có tính cộng tác; chúng tôi đùm bọc lẫn nhau, cùng chia sẻ công việc cho nhau.” Nhưng bằng cách nào đấy, Ira mang trong đầu ý nghĩ rằng ông phải gia nhập TQLC để chiến đấu cho đất nước mình.

        Mẹ Nancy của ông nhớ lại ý định cả quyết của đứa con trai: “Nó nhất quyết muốn đi. Chúng tôi không muốn nó ra đi. Chúng tôi muốn nó ở lại. Nhưng nó mang hồ sơ về cho chúng tôi ký. Nó nói nó muốn đi để bảo vệ chúng tôi.”

        Nhân viên tuyển mộ TQLC nhận thấy Ira bị ghi hồ sơ trong một vụ bắt giữ. Trong năm vừa qua, hai lần ông bị bắt giữ vì tội say rượu và gây rối trật tự công cộng. Không ai nhớ làm thế nào hoặc tại sao Ira vướng vào tội say rượu. Nhưng hồ sơ thì rành rành ra đó. Có lẽ TQLC hy vọng kỷ luật của binh chủng sẽ thay đổi tính nết của ông.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:56:19 PM

        Văn hóa Pima của ông thể hiện cùng khắp vào ngày ông chuẩn bị bước vào cuộc chiến. Mẹ Nancy Hayes mời các nhà lãnh đạo bộ tộc, giới lãnh đạo và ca đoàn trong nhà thờ đến dự bữa tiệc tiễn chân ông. Họ ăn thỏa thích, rồi mọi người nói với Ira về danh dự, lòng trung thành, gia đình của ông, bộ tộc của ông. Người Pima lấy làm ghê sợ chiến tranh và tất cả cảnh bạo lực trong chiến tranh, nhưng trong trường hợp này các bậc trưởng thượng đều đồng ý rằng đây là việc cần thiết. Ca đoàn hát lên những bài thánh ca, từng người khách đến ôm lấy chàng trai trẻ Ira Hayes để từ biệt. Mọi người đều cầu nguyện cho ông được bình yên.

        Những lá thư đầu tiên gửi từ San Diego cho thấy tính vô tư thời trai trẻ không thể biến mất ngày một ngày hai. Trong lá thư đề ngày 29/8/1942 gửi: “Bà con thân yêu”, Ira viết đây ắp những ý nghĩ về quê nhà:

        Con thực sự cảm kích đối với bữa tiệc nhà đã tổ chức cho con cùng với những người đã được mời đến. Con thấy những gì các bộc trưởng thượng nói với con giờ đây đều có ý nghĩa khi con nhận ra tất cả những điều họ nói về Thượng đế phù hộ cho con đều đúng như thế. Con đang là người tốt và lúc nào cũng sẽ như vậy, bởi vì hiện giờ trong những thời khắc như thế này mình phải sống tốt cho đời.

        Ông ký tên kết thúc lá thư cho thấy lòng hãnh diện mới trong cương vị hiện tại:

        Từ đứa con hãnh diện là Thủy quân Lục chiến 
        Và trong nghĩa vụ đối với đất nước.
        Ira H. Hayes


        Một bức thư sau cho thấy sự phấn khởi đặc biệt gây xúc động, nếu xét qua những điều tồi tệ mà sau này Ira phải chống chọi trong đời:

        Hôm nay Chủ Nhật, con và người bạn nghe một bài giảng trong nhà thờ. Bài giảng có tựa “Rượu và tinh thần Cơ đốc giáo”. Bài giảng rất hay khiến cho con rơi nước mắt nhớ lại có lúc mình lầm lỗi, nhưng bây giờ vui sướng mà nghĩ rằng mình đã được cứu rỗi trước Thượng đế. Vì thế con không sợ hãi với bất cứ hoàn cánh nào trong tương lai.

        Với truyền thống hào hùng, binh chủng TQLC là tổ chức thích hợp nhất để dẫn dắt chàng trai trẻ Pima ra thế giới bên ngoài. Trong thư viết về nhà, Ira cho biết những bạn đồng ngũ của ông là “nhũng đứa ngon lành, nhũng người bạn tốt nhất mà ai cũng mong có được.” Ông nói: “không muốn đánh đổi tình bạn với họ để lấy một nghìn đô la.” vừa là người Pima và vừa là một chiến binh TQLC, niềm tự hào của ông được nhân đôi.

        Một đồng đội của ông kể lại rằng khi đọc một mẩu tin trên bài báo mà bà mẹ cắt gửi cho đứa con, ông đã khóc vì hãnh diện. Bản tin cho biết, Hạ sĩ TQLC Richard Lewis là người Pima đầu tiên tử trận trong cuộc chiến.

        Trại tân binh của TQLC được mọi người nhất trí cho là có chương trình đào tạo tân binh khắc nghiệt nhất thế giới. Nhưng Ira viết thư về nhà kể rằng ông lấy làm thích thú với chương trình đào tạo này. Khi những chàng trai khác than phiền về các chứng đau nhức cơ bắp và chân tay mỏi nhừ thì ông “cảm thấy tội nghiệp cho họ.” Trên trường bẳn, ông chi thiếu 6 điểm để đạt mức thiện xạ. Ông lấy làm hãnh diện về thành tích này đến nỗi ông vẽ phác hình huy hiệu thiện xạ trong lá thư kế tiếp gửi về gia đình.

        Một bằng chứng cho thấy Ira là chiến binh TQLC giỏi: sau khi hoàn tất khóa huấn luyện cơ bản, ông được nhận vào chương trình huấn luyện nhảy dù. Vào năm 1942, việc nhảy ra khỏi máy bay vẫn còn là công tác nguy hiểm. Trường đào tạo nhảy dù cho TQLC chỉ nhận vào những ứng viên ưu tú nhất. Dù được hạn chế trong vòng ưu tú như thế, chi có khoảng 60% khóa sinh tốt nghiệp.

        Nhưng Ira có đầy quyết tâm. Người bạn thân William Faulkner của ông nhớ lại lần đầu tiên hai người nhảy ra khỏi máy bay. Faulkner nói: “Sắc mặt anh ấy đổi từ nâu thành trắng, còn mặt tôi đổi từ trắng thành xanh. Anh ấy đáp xuống đất thật mạnh như là một bao xi măng ướt. Cả hai chúng tôi đều khiếp đảm, nhưng hai chúng tôi đều nhảy thành công.”

        Còn Ira viết thư kể cho cha mẹ: “Mỏi lần con đáp xuống đất và cởi ra sợi dây dù, con nhìn lên và nghĩ mình đã thật sự làm được. Rồi con cảm tạ Thượng đế đã mang đến cho con an toàn và can đảm.”

        Ira tốt nghiệp chương trình huấn luyện nhảy dù vào ngày 30/11/1942. Ông lấy làm hãnh diện là người dân tộc Pima đầu tiên tốt nghiệp chương trình huấn luyện nhảy dù. Bạn bè tặng cho ông biệt hiệu “Tù trưởng Mây Sa.” Lính TQLC chụp được bức ảnh ông đứng trên máy bay, chuẩn bị nhảy dù. Bức ảnh tạo nên nỗi kích xúc ở quê nhà ông khi được đăng trên tờ báo Pima Gazette và tờ báo Redskin (Da đỏ) của Trường Trung học phoenix Indian.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:57:39 PM

        Eleanor Pasquale nhớ lại: “Mọi người trong trường nhìn Ira trong bức ảnh và gọi anh là lính TQLC nhảy dù. Tất cả chúng tôi đều hãnh diện vì anh. Anh ấy làm cho chúng tôi hãnh diện là người Pima.”

        Còn Ira lấy làm hãnh diện với vị thế ưu tú của một lính nhảy dù. Ông viết thư về nhà: “Con lấy làm vui thấy nhà hãnh diện vì con, và con không phiền. Mọi người đều nghĩ con là thằng khờ. Nhưng việc này có ý nghĩa đặc biệt đối với con. Con sẽ nói mình lấy làm hãnh diện đứng vào hàng ngũ của Tiểu đoàn Nhảy dù. Quanh đây người ta nói đi nói lại rằng lính Nhảy dù là bộ phận rắn rỏi nhất và được trang bị tốt nhất trong các quân binh chủng, vì thế con có thêm phụ cấp đặc biệt.”

        Từ lúc này, ông bắt đâu viết kết thúc mỗi lá thư gửi về gia đình bằng từ “Lính Nhảy dù, Binh nhất I.H. Hayes.”

        Ông được điều đến Đại đội B, Tiểu đoàn Dù 3 thuộc Sư đoàn 3 TQLC. Anh lính trẻ bây giờ đã sẵn sàng lâm trận1.

        Mùa hè và mùa thu năm 1942 đều đây biến động trên chiến trường ở những nơi xa xôi so với các sân cỏ bóng đá Mỹ ở miền Nam Texas. Vào tháng 8/1942, lúc Harlon còn đang vẽ vời trên tập giấy và chiếc mũ sẳt của mình, quân đội Mỹ bắt đầu mở những cuộc không kích ào ạt ở Châu Âu trong khi máy bay Đức đang tàn phá Stalingrad.

        Cuộc đổ bộ của Đồng minh lên Bắc Phi bắt đầu vào tháng 11/1942, khoảng thời gian nhiều người Mỹ trở về sum họp với gia đình nhân dịp Lễ Tạ ơn. Trên chiến trường Nam Thái Bình Dương, chiến thẳng của TQLC Mỹ trên Đảo Guadalcanal - trận đánh trên đất liền đầu tiên của Mỹ trong Thế chiến II - làm dấy lên những làn sóng mới cho tinh thần yêu nước và ý sục sôi chiến đấu trong số các chàng trai trẻ Mỹ.

        Chắc chắn đội bóng Trường Trung học Weslaco cũng cảm thấy khuấy động vì lòng yêu nước. Trong mùa bóng chiến thắng năm 1942, hậu vệ Glen Cleckler có ý tưởng là tất cả học sinh năm cuối trong đội bóng cùng nhau gia nhập TQLC sau khi tốt nghiệp vào tháng Năm. Dù Harlon có bứt rứt gì về việc chiến đấu hay không, ông vẫn không nói ra. Vì là người duy nhất theo giáo phái Cơ đốc Phục lâm, hẳn ông thấy khó mà nói lên cảm nghĩ về hòa bình của mình. Ông cảm thấy thoải mái hơn nhiều nếu gia nhập cùng đám bạn để là một thành viên trong nhóm họ.

        Glen nói ý nghĩ của mình với hiệu trưởng, người không những ủng hộ mà còn tổ chức những lớp học gấp rút cho họ để họ có thế tòng quân sớm. Cơn sốt yêu nước đang lan rộng trong Thung lũng.

        Harlon nói với cha mẹ ông là mình sẽ đăng ký cùng với đám bạn chơi bóng của ông. Đối với mẹ Belle của ông thì tin này là tệ hại nhất. Chiến tranh. Bắn giết. Súng đạn. Thủy quân Lục chiến! Mẹ Belle van nài cậu con trai gia nhập quân y để tránh giết chóc. Vì là tín đô Cơ đốc Phục lâm, Harlon có lý do chính đáng để không phải tham gia lực lượng chiến đấu.

        Nếu Harlon tiếp tục theo học tại trường dòng, ông hẳn đã nghe những lời khuyên nên thận trọng. Bạn gái Catherine Pierce của ông kể: “Những người anh của tôi gia nhập quân đội với ý thức rõ ràng. Họ phục vụ trong ngành quân y đế giúp cứu mạng sống, không phải để tước đi mạng sống. Tôi không hiểu tại sao Harlon không chọn lựa cách này.”

        Nhưng ở Trường Trung học Weslaco, tinh thần Cơ đốc Phục lâm của ông không được phát huy. Chỉ là ngược lại. Báo chí đăng tải những bài ca ngợi nồng nhiệt các chàng trai về tinh thần yêu nước. Trường trung học tổ chức một buổi đại hội động viên, với những cô gái vung vẩy quả cầu lụa trong tràng vỗ tay nồng nhiệt.

        Leo Ryan kể cho tôi: “Ông Block ủng hộ Harlon. Ông ấy nói việc này sẽ tạo nên con người của Harlon.” Mẹ Belle thì nghĩ khác. Em Mel Block nhớ lại: “Bà ấy nói Tôi sẽ không ký những giấy tờ ấy. Cha ký.”

        Vào tháng 1/1943, một bức ảnh được đăng trên nhật báo ở Thung lũng. Bức ảnh cho thấy 13 chàng trai trong đội bóng

        Weslaco Panthers, đứng sắp hàng đối diện Đại úy TQLC D.M. Taft với quyển Kinh Thánh trong bàn tay trái, bàn tay phải giơ lên cao. Các chàng trai cũng giơ cao bàn tay phải để cất lời tuyên thệ.

        Đối với mẹ Belle, đấy là sự thỏa hiệp cuối cùng và đau khổ. Việc chuyển đến sống ở Thung lũng, việc lái xe chở dầu, các cô bạn gái, chơi bóng vào ngày Sa-bát, và bây giờ gia nhập hàng ngũ TQLC - binh chủng được biết đến là có nhiệm vụ chiến đấu ở tuyến đầu.

        Nhưng Harlon không sợ hãi, không âu lo gì cả. Ông là thành viên của một nhóm những chàng trai trẻ hăng say, đi cùng những người bạn thân của mình. Ông 18 tuổi, đầu óc đầy ắp những hình ảnh vinh quang chiến trận. Những điều giáo lệnh cấm đoán giết chóc chỉ có ý nghĩa trừu tượng.

        Nhân viên tuyển quân ở San Antonio đã phát biểu sai lạc. Các chàng trai không đi chung với nhau. Trong trại tân binh, họ được phân tán ở những đơn vị khác nhau. Đấy là cách xóa bỏ cuộc sống cá nhân chủ nghĩa trong quá khứ, để gò từng cá nhân trở thành chiến binh TQLC.

------------------
        1. Vào tháng Hai 1944, các đơn vị nhảy dù của TQLC bị giải tán, và Ira được điều vào Đại đội E, Tiếu đoàn 2, Trung đoàn 28, Sư đoàn 5 TQLC ở Trại Pendleton.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Sáu, 2018, 10:59:48 PM

        Harlon không cảm thấy phiền hà gì trong trại tân binh ở San Diego. Chẳng bao lâu, ông đã có thói quen đội lệch chiếc mũ sắt, và nhanh chóng kết bạn.

        Joe Pagac là người chia sẻ giường tầng1 với Harlon Block trong chương trình huấn luyện. Hai người bạn mới cùng làm nhiệm vụ trong nhà ăn; việc này giúp họ có thời giờ rảnh rỗi từ đêm hôm trước đến trưa hôm sau. Họ cùng nhau đi chơi ở San Diego gần như mỗi tối. Họ cùng nhau chơi bóng gỗ. Đôi lúc Harlon kể cho bạn nghe về việc lái xe chở dầu đến Brownsville, cho người bạn biết mình yêu bóng đá Mỹ đến thế nào. Ông còn nói cho bạn biết về vẻ xinh đẹp và xanh tươi của Thung lũng (Joe vẫn nghĩ vùng này là khô cằn).

        Joe Pagac nhớ lại nhiệm vụ làm tốt trong nhà ăn. Không hề giống với những gì họ sẽ kinh qua sau này.

        Giống như Ira, Harlon cũng lấy làm hãnh diện đạt tiêu chuẩn lính dù của TQLC. Ông mời người anh Ed Block, Jr. đến dự khán cú nhảy đâu tiên của mình ngày 22/5/1943. Ed, Jr. nhớ lại: “Tôi đứng phía ngoài khu vực hàng rào để xem Harlon nhảy dù. Đêm ấy, chúng tôi ăn mừng ở nhà mình. Tôi hỏi Harlon cảm thấy thế nào khi nhảy xuống. Hắn nói: ‘Em sợ chết khiếp!’ Harlon cũng nói hắn làm đứt dây đeo đồng hồ khi nhảy ra khỏi máy bay. Hắn và vài người bạn lùng sục bãi đáp nhưng không thể tìm thấy chiếc đồng hồ. Harlon kể với tôi là trong cú nhảy vào tuần sau, khi chuẩn bị tiếp đất hắn giạng cả hai chân để tránh đáp lên chiếc đồng hồ!”

        Có một câu nói phổ biến trong binh chủng: chi có hai loại chiến binh TQLC: những người phục vụ ở hải ngoại và những người sắp được điều đi hải ngoại. Thế là, vào ngày 15/11/1943, Harlon xuống tàu để đi theo bước chân của Mike và Ira.

        Các đội Biệt kích là những đơn vị thiện chiến nhất trên vùng Thái Bình Dương, và Mike Strank nhanh chóng trở thành chiến binh rắn rỏi nhất của Biệt kích. Đây là đơn vị đã đưa từ “gung- ho”2 vào từ vựng của chiến binh Mỹ. Lính Biệt kích là những sát thủ thần kỳ vùng Nam Thái Bình Dương, tiền thân của Lực lượng Đặc biệt ngày nay. Họ phụ trách những Điệp vụ Khả thi: xông lên những bờ biển được xem là không thể tiếp cận trước khi quân chủ lực tiến công, thực hiện những cuộc tấn kích chớp nhoáng, bất ngờ với vũ khí hạng nhẹ chống lại quân đối phương đông người hơn, và đánh phá phía sau phòng tuyến đối phương trong thời gian dài bị cắt đứt liên lạc với bộ chỉ huy.
       
        Bây giờ, Mike đã cao hơn 1,8 m và cân nặng khoảng 90 kg, cơ bắp đều rắn chắc. Từ một thiếu niên làm việc trong hầm mỏ trở thành con người rắn rỏi, từ một nhạc công có tính hướng nội ông đã trở thành nhà chỉ huy dày dạn, có uy tín với thuộc hạ. Tài năng thiên bẩm mà ông thể hiện trong thời thơ ấu bây giờ được tập trung vào những phẩm chất tinh tế của cuộc đời một chiến binh TQLC. Mike ẩn giấu trí thông minh sâu sắc dưới lớp vỏ sôi nổi bề ngoài.

        Ông gia nhập Biệt kích theo hai mức độ dường như đối nghịch nhau. Con người chiến binh mới nổi trong ông nếm trải lợi thế của chiến thuật tấn công chết người. Cùng lúc, bản năng của người anh cả trong ông đáp ứng với quy chuẩn đạo đức của việc cộng tác và che chở lẫn nhau, của việc hoạt động bên nhau trong một đơn vị được liên kết một cách hài hòa. Dù sao chăng nữa, đấy là ý nghĩa của “gung-ho”: không phải là chủ nghĩa cuồng tín, mà là tình đồng đội và huynh đệ chi binh.

        Mike cùng với nhóm Biệt kích đổ bộ lên Uvéa và Pavuvu.

        Trận đánh Bougainville diễn tiến theo chiều hướng khác hẳn.

        Bougainville là bước kế tiếp trong chiến dịch nhảy từ đảo này sang đảo khác mà Guadalcanal là bước nhảy đầu tiên. Nếu chiếm được Bougainville (hòn đảo nằm về vị trí xa nhất theo hướng Bắc trong Quần đảo Solomon), quân Nhật sẽ bị đẩy lùi hoàn toàn khỏi vùng Nam Thái Bình Dương.

        Bougainville là một địa ngục trần gian. Một sĩ quan chi huy TQLC sau này kể lại: “Chưa bao giờ những người lính TQLC phải chiến đấu và trụ lại trên địa hình khó khăn như ở Bougainville.” Có những con rết lớn bàng ba ngón tay khi đốt có thể gây nhức nhối cả ngày, bươm bướm lớn bằng con chim nhỏ, những khu rừng già dày đặc mà người gần như không thể đi vào được, những đám rừng đước chằng chịt, những con sông đầy cá sấu ăn thịt người, hàng triệu côn trùng, bốn loài chuột lớn hơn mèo nhà, và những cơn mưa như trút nước hằng ngày mang đến độ ẩm làm con người kiệt sức. Và có những ngôi đền thờ đầu lâu linh thiêng, gợi nhớ đến thời xa xưa của những bộ lạc săn đầu người và ăn thịt người.

        John Monks, Jr. mô tả khung cảnh trong đêm theo lời một lính TQLC trên đảo Bougainville: “Từ 7 giờ tối đến sáng hôm sau, người lính chỉ biết nằm run rẩy với những ý nghĩ căm ghét và cầu nguyện - quần áo ướt sũng, lạnh rét, kiệt sức nhung vẫn không ngủ được - trong khi chung quanh nhung nhúc những rết, kỳ nhông, bọ cạp và muỗi mòng. Nhưng người lính vẫn phải cố trụ vững. Họ không dám ho, không dám ngáy, và khi trở mình phải tránh gây tiếng động. Còn sống được đến giây phút này đã là điều quá tuyệt vời.”

-----------------
        1. Giường tầng: gồm hai, có khi ba giường cá nhân chồng lên nhau.

        2. Gung-ho: xuất xứ từ tiếng Quảng Đông “công hợp,” nói tắt từ “công nghiệp hợp tác xã”, được lính Mỹ hiểu là “hăng hái”, dần dà trở thành tiếng lóng trong Anh ngữ, tương tự như ta nói “hăng tiết vịt”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:02:44 PM

        Sau khi đã chiến đấu trên một số đảo vùng Thái Bình Dương, Chuck Abies gọi Bougainville là “địa ngục trần gian tồi tệ nhất mà tôi từng kinh qua trong đời.”

        Còn có một vấn đề khác: quân Nhật cố thủ, không thể xác định chính xác được quân số và vị trí của họ dưới tán lá rừng rậm rạp.

        Vào tháng 8/1943, Mỹ bắt đầu mở các cuộc không kích và kéo dài suốt mùa thu. Nhằm đánh lạc hướng, trong tháng 10 Mỹ đổ quân lên các hòn đảo kế cận, cùng lúc TQLC đổ bộ lên Bougainville theo chiến lược bao vây. Trong số này có Ira Hayes đổ bộ lên Vella Lavella vào tháng 10, và Harlon Block đổ bộ lên New Caledonia bốn ngày trước Giáng sinh. Đối với hai chàng trai này, huy hiệu nhảy dù mà họ phải gian nan mới đạt được đã lùi vào quá khứ. Những gì họ sẽ kinh qua trên đảo Bougainville sẽ thay đổi toàn diện cuộc đời họ.

        Trong khi những biến cố lớn lao ấy đang cấp tập diên ra trên vùng Thái Bình Dương, một anh trai trẻ có tính tình hiền hòa ở Appleton, Bang Wisconsin, đang cẩn trọng chuẩn bị cho nhiệm vụ của mình.

        Vào tháng 1/1943, cha tôi 19 tuổi. Sau khi rời trường trung học hai năm trước, ông vừa hoàn tất thời gian tập việc dịch vụ mai táng kéo dài 18 tháng. Nhưng ông sẽ được gọi đi làm nghĩa vụ quân sự bất cứ lúc nào.

        Đã từng là lính bộ binh và hiện đang làm nhân viên pha rượu trong một khách sạn ở Appleton, ông nội tôi khuyên cha tôi nên gia nhập Hải quân. Ông nghĩ đứa con sẽ được ngủ trên giường sạch sẽ, không phải trong những giao thông hào hôi thối mà ông đã từng kinh qua (Ông có lời khuyên thẳng thừng hơn cho những người cha khác: “Bảo đứa con gia nhập Hải quân; dù có chết nó vẫn còn sạch sẽ và được no bụng”).

        Thế là ngày 13/1/1943, cha tôi cùng bạn nối khố Bob Connelly từ Appleton vẫy xe đi nhờ đến Oshkosh để đăng ký gia nhập Hải quân Hoa Kỳ. Ông nội tôi đã tự thuyết phục mình và thuyết phục cha tôi rằng Hải quân sẽ xét đến việc học nghề dịch vụ mai táng và điều cha tôi vào một vị trí tương đối an toàn, như là làm trợ lý dược sĩ.

        Ông nội tôi chỉ đúng có một nửa khi Hải quân chỉ xét đến việc học nghề dịch vụ mai táng của đứa con.

        Nhân viên tuyển mộ ở quê nhà đã bảo với cha tôi rằng, ông sẽ được điều đến căn cứ hải quân Great Lakes, cách Appleton không xa. Nhưng khi chữ ký trên đơn tình nguyện vừa ráo mực, cha tôi và Bob được đưa vào trung tâm huấn luyện hải quân rộng lớn ở một nơi xa xôi: Farragut, Bang Idaho.

        Điểm đến đầu tiên của hai chàng trai là Milwaukee, nơi họ đứng khỏa thân bên nhau để được kiểm tra sức khỏe. Rồi họ đáp một chuyến tàu hỏa chạy bằng củi đi về hướng Tây trong ba ngày. Hai người đã không tiên liệu một cuộc phiêu lưu như thế.

        Lúc 4 giờ sáng ngày 10/2/1943, với thể chất mệt nhọc nhưng tinh thần như là người đi nghi hè, họ xuống tàu ở Athol, Bang Idaho, để lên một xe buýt của Hải quân hướng đến Farragut. Nơi đây lần đầu tiên trong đời họ nhìn thấy núi non, họ bị cạo trọc đầu, bị nhiễm một loại vi-rút gọi là “sốt mèo”, trải qua phần lớn thời gian trong thời tiết rất lạnh. Họ tập chèo thuyền trên mặt hồ buốt giá, tám người ngồi mỗi bên, bắt đâu mơ về cuộc sống thoải mái trên một con tàu hải quân.

        Vào tháng Ba, chàng trai trẻ Jack Bradley nhận thêm một ngạc nhiên điếng người: Ông được đưa vào đội Ong Biển - lực lượng công binh của Hải quân thường được giao nhiệm vụ làm đường và sửa chữa đường sắt dưới hỏa lực của đối phương. Bob Connelly kể lại với tôi: “Cha anh xông vào văn phòng để hỏi lý do. Họ bảo vì ông ấy bị mù màu. Cha anh không bao giờ biết được tại sao họ muốn tuyển lính Ong Biển bị mù màu, nhung ông ây đùng đùng nổi giận. Theo ông được biết, lính Ong Biến làm việc rất khổ cực và chiến đấu trên đất liền. Ông ấy nói với họ: ‘Tôi không bị mù màu! Tối qua tôi uống một chai bia! Kiểm tra tôi lần nữa đi!”

        Connelly cười khúc khích nói: “May là cả cha anh và tôi đều không muốn dùng súng.”

        Cha tôi được thỏa nguyện: ông không phải phục vụ cho lực lượng Ong Biển. Ông nghĩ mình được may mắn mà không phải phục vụ tiền tuyến, nhưng chính việc này lại đưa ông đến trận đánh tồi tệ nhất trong lịch sử của TQLC.

        Nhưng cha tôi còn phải làm vài công tác khác. Vào mùa thu 1943, lúc Harlon đi tàu đến Nam Thái Bình Dương, cha tôi được thuyên chuyển đến Bệnh viện Hải quân Oaknoll tại Oakland, Bang California. Đấy là nhiệm vụ mà ông mong ước.

        Nhưng ông vẫn phục vụ gần gũi chiến binh. Nhiệm vụ của ông là thay băng cho thương bệnh binh trở về từ chiến trường Thái Bình Dương, đổ bô, phát thuốc giảm đau, điều chinh ống truyền dịch cho họ. Những công việc này đối với ông hãy còn mới mẻ và trông vẫn còn trẻ tuổi, nhưng đối với các thương bệnh binh 17 và 18 tuổi, ông trông già dặn hơn. Họ gọi ông một cách thân tình: “Doc”1.

--------------------
        1. Tương tự như cách người Việt gọi thân mật là “đốc tờ”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:03:49 PM

        Cha tôi nghĩ ông đã đạt được mục đích, làm việc với bác sĩ và y tá trong môi trường sạch sẽ, ngăn nắp. Và còn có cơ hội đi chơi cuối tuần ở Thành phố San Francisco chi cách một con vịnh. Bill Shoemer, người đã làm việc với cha tôi tại dịch vụ mai táng của cha ông ở quê nhà Appleton, bây giờ là thủy thủ, nhận được bức thư của người bạn thân khi lênh đênh trên một chiếc tàu: “Jack đùa cợt về việc tôi phục vụ trên Thái Bình Dương trong khi anh ấy làm việc ở Okland được tự do thoải mái.”

        Nhưng đối với cha tôi, chẳng bao lâu ông không còn được tự do thoải mái nữa.

        Rene Gagnon đầu quân vào tháng 5/1943, hai tháng sau sinh nhật lần thứ mười bảy. Ông vẫn làm việc tại khu công nghiệp dệt Chicopee cho đến ngày nhận giấy báo nghĩa vụ quân sự. Một người bạn của ông cho biết điều gì đã khiến ông đi đến quyết định. Đấy không phải do lòng sục sôi sau vụ Trân Châu Cảng. Đấy không phải là hứng khởi sau trận Guadalcanal. Sự việc đơn giản hơn nhiều. Khoảng thời gian ông nhận giấy báo nghĩa vụ quân sự, ông đã nhìn thấy tấm pa-nô tuyển mộ TQLC và cảm thấy choáng ngợp vì bộ quân phục đại lễ gồm hai màu xanh dương và trắng rất hợp thời trang. Theo như bạn ông kể lại, thái độ của ông là: Dù sao thì cũng phải tòng quân, thế thì nên tòng quân cách nào để được ăn mặc đẹp.

        Sau khi đã bí mật hứa với Pauline rằng mình sẽ trở về để làm lễ cưới, Rene được điều đến Đào Parris ở Bang South Carolina. Tháng 7/1943, ông mang quân hàm binh nhất và được điều đến Đại đội Bảo vệ TQLC tại doanh trại Hài quân Charleston, Bang South Carolina. Giống như trong đời sống dân sự, có vẻ như sự nghiệp TQLC của ông sẽ không đi đến đâu cả, nhưng cuối cùng có thay đổi.

        Không có nhiều chi tiết vê những gì Mike, Ira và Harlon đã kinh qua trên Đào Bougainville. Chúng ta chỉ được biết rằng Mike phục vụ ở đấy lâu nhất, chiến đấu gian khổ từng ngày.

        Lúc này Mike đã nhìn thấy quá nhiều binh sĩ dưới quyền ngã xuống kế bên mình trong khi ông vẫn quan tâm đến sự an nguy của họ. Ông đã nghe những lời trăng trối của họ, nhìn thấy những dòng lệ chảy từ đôi mắt của họ trước khi đôi mắt ấy khép lại lần cuối cùng.

        Lúc trời mờ sáng ngày 1/11/1944, cùng với 14.000 chiến binh của Sư đoàn 3 TQLC, Mike đổ bộ lên Đảo Bougainville, vượt qua những ngọn sóng lớn. Chiếc tàu đổ bộ lắc lư như đưa võng, một SỐ tàu va vào nhau. Đối với vài người lính trẻ, cú nhảy đầu tiên từ tàu đổ bộ xuống những ngọn sóng là hành động cuối cùng trong đời: họ chết đuối ngay khi rơi xuống vùng nước sâu.

        Quân Nhật bằn súng máy và pháo tới tấp đến vị trí Mike và đồng đội đang đổ bộ. Sự chống cự của quân Nhật mãnh liệt đến nỗi TQLC không thể phát hiện chính xác vị trí đối phương. Trong vòng vài phút, bãi biển vương vãi đầy máu, thây người và quân dụng.

        Mike và đồng đội không hề nhìn thấy người lính Nhật nào; không ai trong đoàn quân đổ bộ thấy được. Những cuộc đổ bộ trong chiến dịch Thái Bình Dương đều diễn ra trong tình trạng như thế. Quân Nhật ẩn nấp dưới tán rừng già tỏa ra đến tận bờ nước. Họ còn được bảo vệ bởi những boong-ke bê-tông, cũng là điều thường thấy từ đảo này qua đảo khác. Ở Bougainville, trước khi đổ bộ Hải quân Mỹ đã bằn phá nhằm triệt hạ những vị trí boong-ke này, nhưng không trúng vị trí nào. Hải quân đã chọn giải pháp an toàn, bắn phá từ khoảng cách trên 11 km. Một sĩ quan quân sự TQLC sau này tóm tắt: “Kế hoạch bắn phá không đạt kết quả gì cả.” Vì lý do này, nhiều người lính trẻ TQLC ngã xuống xung quanh Mike.

        Những người tiến sâu được vào bờ bắt đầu tiến vào một địa ngục trần gian. Một sĩ quan TQLC sau này nhớ lại là ông bắt đầu ngày này “với bít-tết và trứng được hầu bàn dọn trên khăn bàn tráng tinh, rồi ba tiếng rưỡi đồng hồ sau xuống tàu đổ bộ lên bờ, nằm lăn trên nền giao thông hào, cố dùng lưỡi lê để giết một người khác.”

        Trung sĩ Mike tiếp tục chiến đấu trong hai tháng cho đến khi chiến dịch kết thúc.

        Ira đã tình nguyện đầu quân để mong “bảo vệ gia đình”, cảm thấy tự hào là thành viên của một bộ lạc khác: Thủy quân Lục chiến. Nhưng Ira có tính thụ động; chưa ai từng thấy ông to tiếng, huống hồ gì đánh đấm ai. Nhưng Ira bắt buộc phải giết người, không phải từ khoảng cách như khi tập bắn, mà là khi cận chiến.

        Sáng tinh sương ngày 3/12, Ira đổ bộ lên Bougainville. Đại đội cùa ông bước lên hòn đào mà không gặp phải sức kháng cự nào, nhưng quân Nhật vô hình vẫn theo dõi họ. Đồng đội Jack Charles của Ira kể lại: “Một tháng sau khi chúng tôi đổ bộ lên đảo, đã đọ súng vài lần trong khi đi tuần tiễu và khi ở trong đội hình của Sư đoàn 3 TQLC, tôi có thể trung thực nói rằng rất ít người trong chúng tôi thấy được quân Nhật. Rừng già vô cùng rậm rạp. Họ luôn mang theo đồng đội bị thương và tử trận... Họ là bậc thầy về thuật ngụy trang.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:04:18 PM

        Gần cuối ngày thứ nhất sau khi đổ bộ, trưởng toán tuần tiêu của Đại đội K phái Ira Hayes và vài binh sĩ đi trước để thám thính. Các chàng trai lần mò khoảng hơn một kilomet thì đến một con suối. Một đại đội quân Nhật đang tắm táp trong dòng nước mà không nhận ra sự hiện diện của nhóm lính Mỹ. Cả toán thám thính quay về báo cáo tình hình. Đại đội K tổ chức phòng vệ trong đêm, tránh gây tiếng động để đề phòng bị phát hiện. Một cơn mưa ập xuống khiến cho các chàng trai đang kinh hãi bị ướt sũng. Họ không dám đứng lên khỏi hố cá nhân ngập nước vì sợ bị bắn tỉa.

        Bình minh. Và một ngày lê thê với nóng bức và bị chôn chân tại chỏ. Chiến binh của Đại đội K cố thu mình ẩn núp, người hôi hám vì mồ hôi của chính mình, nhìn thấy những đơn vị quân Nhật đông hơn đi ngang qua gần như trong tầm tay với. Thêm một đêm trôi qua.

        Đêm ấy, tuổi thơ của Ira biến mất hẳn. Ông đang cùng chung một hố cá nhân với Bill Faukner. Ông này nhớ lại: “Chúng tôi thay phiên nhau ngủ và canh gác; có một lúc Ira đang ngồi ở một góc với khẩu súng trường đặt giữa hai đùi, còn tôi thì thu mình vào góc kia để cố chợp mắt.”

        Faukner giật bắn mình vì những tiếng thét khủng khiếp. Ông kinh hãi cố tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra giữa tiếng nước bán tung tóe trong màn đêm. Ira đang loay hoay với khẩu súng trường có lưỡi lê cắm ở đầu súng. Một người lính Nhật đang bị găm trên lưỡi lê, vẫn còn kêu thét. Kè thâm nhập đã im lặng bò sát đến miệng hố cá nhân rồi nhảy xuống với ý định giết hai chàng trai trẻ Mỹ. Trong màn đêm dày đặc, hẳn không nhìn ra mũi lưỡi lê đang chĩa lên trên, bây giờ đang lấy đi mạng sống của hẳn.

        Sáng hôm sau, những người còn lại trong trung đội của Ira được lệnh thu thập xác của những người lính đã ngã xuống trên triền đồi ngày hôm trước. Vài người bị hỏa lực súng máy của Nhật đốn ngã. Họ rút về, gọi pháo binh yểm trợ. Sau 45 phút, pháo ngừng bắn, những người lính dù tiến lên, lần này chi còn những tiếng súng bắn tỉa lẻ tẻ.

        Một lính TQLC tên Dobie Fernandez kể lại cảnh kinh hoàng. Ông còn nhớ cơn mưa tầm tã làm thây người rữa ra đến mức không thể nhận dạng được và mùi hôi thổi đến gần như ngạt thở.

        Bill Faukner cũng còn nhớ như thế: “Khi tiến đến khu vực họ ngã xuống, chúng tôi thấy bọn Nhật đã dùng miếng khúc gỗ đâm xuyên qua ngực và tay chân đế ghim thân người lính Mỹ trên mặt đất. Một lính TQLC tìm thấy xác người anh của mình như thế.”

        Ira Hayes chiến đấu cho đến cuối trận đánh, vẫn ít nói như bao giờ, ngoài mặt không lộ cảm xúc cho ai thấy. Nhưng bây giờ, tâm tư ông vương vấn những tiếng thét của người đang giãy chết; hai bàn tay ông đã giữ vững khẩu súng trường với lưỡi lê xuyên qua một thân người đang giãy giụa. Không rõ có phải những cơn ác mộng và hồi ức ám ảnh ông sau này bắt đâu từ đây hay không. Tất cả những gì ông kể về Bougainville khi biên thư cho bà mẹ là: “Con vẫn bình thường, nhờ ơn Thượng đế.”

        Harlon Block được điều đến Bougainville ngày 21/12, chỉ vài ngày trước khi hòn đảo này được báo cáo là an toàn trong tay quân Mỹ. Những chàng trai trẻ Mỹ như Harlon lớn lên trong thập niên 1930 thì không biết gì về cảnh khủng khiếp trong chiến tranh: không có tivi; phim ảnh đều được chọn lọc để chỉ cho thấy hình ảnh hào hùng của chiến trận; các chương trình phát thanh chỉ để giải trí. Ngay cả hình ảnh thật sự của thế giới cũng hiếm hoi - tờ báo ảnh đâu tiên Life phải đến năm 1935 mới ra số đầu tiên.

        Nhưng Harlon Block nhìn thấy thực tế đầy rẫy khi ông chiến đấu gần rặng núi Hellzapoppin. Khi tiến đến trận địa, ông nhìn ra quang cảnh khủng khiếp của những thân cây xác xơ và lùm bụi cháy rụi, xác người chìm trong lớp bùn nhớp nhúa; những con suối cũng vương vãi thây người trương sình. Lính bắn tỉa Nhật còn vắt vẻo chết trên những cành cây. Lân đâu tiên, tín đồ Cơ đốc Phục lâm Harlon nhìn thấy bản chất tàn ác của nhân loại khi lê bước qua những thây người cả Mỹ lẫn Nhật.

        Quân Nhật vẫn chưa bị đánh bại hẳn. Khi lính TQLC tiến lên, một khẩu súng máy và pháo Nhật khai hỏa vào đội hình họ. Quân Nhật mở đợt phản công vào sườn trái của TQLC. Harlon Block lâm vào cảnh giáp lá cà từ gốc cây này đến gốc cây khác. Với dao găm, súng và tay không, anh chàng người Texas chiến đấu giữa những tiếng la thét hỏn loạn bằng tiếng Nhật lẫn tiếng Anh. Ý niệm tách bạch về thế nào là điều phải và thế nào là điều trái bị xóa nhòa trong trận đánh khốc liệt để sống tồn. Cuối cùng, những người còn sống sót của cả hai bên đều rút lui để chịu đựng thêm một đêm và chiến đấu vào ngày khác.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:05:50 PM

        Người yêu Catherine Pierce của Harlon viết thư đều đặn cho ông suốt cuộc chiến. Bà còn nhớ những lá thư của ông cho thấy ông có cảm nghĩ đau đớn về chiến trận. Ông viết trong nỗi ám ảnh về việc phóng mình ra khỏi thân máy bay, về việc nhảy dù xuống một vùng đất lạ. Và về Bougainville.

        Harlon đã gia nhập quân ngũ ở tuổi 18, với ước mong đi cùng đội bóng Weslaco của mình. Ông đã không thể mường tượng ra cảnh kinh hoàng phía sau những ý niệm “chiến đấu vì đất nước” và “thi hành nghĩa vụ.” Bây giờ, khi đã biết được nghĩa vụ của mình đích thực là như thế nào, những ý niệm quang vinh đã mờ nhạt.

        Có chuyện gì đây xảy đến cho Mike, Ira và Harlon trên Đảo Bougainville. Sau này, họ không bao giờ nói về chuyện này, không bao giờ cho biết chính xác chuyện gì đã ảnh hưởng đến họ như thế. Nhưng cho đến ngày cuối cùng trong đời, đầu óc họ vẫn luôn vương vấn về cái chết.

        Vào giũa tháng 1/1944, ba người lính được đưa về nhà trên những con tàu khác nhau. Họ được rảnh rỗi một tháng để nhìn ra biển khơi và suy tư với những ý nghĩ của riêng mình trước khi được chuyển đến San Diego ngày 14/2/1944.

        Vào lúc này, Franklin Sousley đang nếm trải hương vị đầu tiên của đời làm lính TQLC. ông đã gia nhập TQLC ngày 5/1 và đi trình diện tại phòng tuyển quân ở San Diego nhằm chuẩn bị nhập trại tân binh.

        Đồng đội Tex Stanton của Franklin Sousley nhớ đến trại tân binh như là “những tuần lễ huấn luyện đơn điệu, học cách diễu hành, cách tuân thủ mệnh lệnh, cách sử dụng súng trường, và cách trở thành một chiến binh TQLC thực thụ.”

        Tex nhớ về Franklin như là “một anh chân quê người cao lớn có mái tóc hung đỏ,” ra vẻ nghiêm túc để chứng tò mình là lính TQLC. Nhưng không ai nói rằng chiến tranh phải là hoàn toàn nghiêm túc. Đối với Franklin Sousley thì không ai nói thế.

        Ông lập tức để ý đến có điều gì đấy lý thú trong lời của bài hát mà tất cả phải thuộc lòng, “Bài ca Thủy quân Lục chiến”: Từ đại sảnh Montezuma/ Đến bờ biển ở Tripoli/ Ta chiến đấu cho nước nhà ta/ Trên không, trên đất tuôn ra biển cả.

        Franklin để ý rằng những ca từ này có thể được hát lên theo âm điệu khác, đặc biệt là âm điệu khàn khàn của bài “Đại pháo Wabash”: “Hãy lâng nghe chuông ngân vang/ Tiếng gầm gừ và tiếng ầm ầm/ Khi cô nàng lướt qua bạt ngàn/ qua núi rừng và qua sóng gầm” Franklin lấy làm vui sướng cất lên lời ca qua giọng mũi cho bất kỳ anh lính mới tò te nào chịu khó nghe, ông vừa hát vừa lấy tay đập đập khẩu súng như là đang chơi đại vĩ cầm. Nhờ thế mà ông lấp đầy thời giờ mệt mỏi.

        Franklin luôn gây trò cười cho các tân binh, nhưng trong một lá thư gửi mẹ, ông cho thấy sự thách thức đối với một chàng trai trẻ sống xa gia đình:

        Con nghĩ đây là lần đầu tiên trong đời mình thấy nhớ nhà. Nêu hồi còn ở nhà mẹ có ngược đãi con thì bây giờ con quên cũng dễ, nhưng mẹ đối với con quá tốt nên khi người ta quát mắng thì con lại nghĩ về mái ấm gia đình.

        Người bạn thân Pee Wee Griffiths kể về ông: “Franklin là chú nhóc bự con với mái tóc hoe vàng. Anh ấy ì ạch lê thân người từ nơi này đến nơi khác, nói năng lè nhè trong âm giọng Kentucky. Anh ấy là một cậu bé chân quê lúc nào cũng tươi cười.”

        Vào thời gian tháng 1/1944 này, Binh nhì Rene Gagnon, 18 tuổi, đang phục vụ một đơn vị Quân cảnh phụ trách bảo vệ Công xưởng Hải quân ở Charleston của Bang South Carolina. Ông đã trải qua mùa hè 1943 nóng bức và ẩm thấp trong trại tân binh trên Đảo Parris. Những tân binh cùng tham gia huấn luyện với ông sau này không còn nhớ gì về ông ngoại trừ ông là “anh chàng hiền lành”. Nhưng có một điều đặc biệt: trong quân phục đại lễ, anh chàng người Mỹ gốc Pháp “trông giống một ngôi sao điện ảnh”.

        Tháng Giêng năm này, đoạn đời an bình của cha tôi đến hồi thay đổi. Một đông đội quân dược tá báo cho cha tôi biết ông được thuyên chuyển đến Trường Quân y Dã chiến. Có nghĩa là ông được thuyên chuyển qua TQLC, để trở thành quân y tá chiến trường. Tin này là không hay. Ông chạy vội xuống xem bảng danh sách thuyên chuyển và thấy tên mình trong đó. Ông hẳn phải cảm thấy choáng váng. Ông đã gia nhập Hải quân với mục đích tránh tác chiến trong Lục quân. Thế mà giờ đây ông thấy mình là thành viên của một binh chủng dạn dày nhất thế giới.

        Trường Quân y Dã chiến gần San Diego đào tạo quân y tá của Hải quân để chăm sóc lính TQLC trên chiến trường. Học viên tham dự những lớp học về kỹ năng cứu sống con người, và cha tôi cũng phải trải qua sự huấn luyện tác chiến gian khổ như mọi anh lính thủy khác. Tức là phải trở thành một chiến binh TQLC rắn rỏi.

        Quân y tá John Overmyer kể lại: “Chúng tôi đã kinh qua trại tân binh của Hải quân, nhưng chương trình huấn luyện của TQLC còn khẳc nghiệt hơn. Những chiến binh kỳ cựu huấn luyện chúng tôi. Họ làm cho chúng tôi hiểu rõ rằng một ngày nào đấy chúng tôi sẽ phải áp dụng những kỹ năng quân y dưới làn đạn. TQLC tỏ ra nghiêm túc về mặt này.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:06:21 PM

        Quân y tá Gregogy Emery nhớ lại: “Lính Hải quân chúng tôi bị cú sốc nặng khi bước vào trường TQLC. Chúng tôi thấy ngay kỷ luật và những đòi hỏi của TQLC. Không có trại huấn luyện nào của binh chủng khác sánh bằng TQLC. Ngay từ giây phút đâu tiên chúng tôi đã nhận ra điều đó.” Cha tôi phải mặc quân phục TQLC, đeo thẻ bài TQLC. Ông được xem phim ảnh chiến đấu cùa TQLC và tập bẳn súng lục nòng .45. Ông phải dậy lúc sáng tinh mơ để tập hành quân với lính TQLC vốn không bao giờ biết mệt.

        Ông được xem những cảnh quay thực sự lính TQLC bị thương tích ghê rợn trên chiến trường. Quân y tá Overmyer nhớ lại: “Chúng tôi học cách bò dưới hỏa lực để giải cứu người bị thương. Chúng tôi học làm nẹp bó vết thương bằng cỏ, giấy, cành cây, và bất cứ thứ gi.”

        Nhiều năm sau, tôi hỏi ông điều khác biệt nào giữa hai chương trình huấn luyện của Hải quân và TQLC. Ông đáp ngay: “Niềm tự hào. Khi được huấn luyện theo truyền thống TQLC, người ta cảm thấy một niềm tự hào khác hẳn. Binh chủng TQLC làm cho chúng tôi cảm thấy chúng tôi là thành viên của một đội ngũ đặc biệt.”

        Trong tháng 2 và 3/1944, cha tôi tiếp tục theo học khóa huấn luyện quân y tá trong khi Rene được điều về miền đông. Cũng vào thời gian này, Franklin được phép về thăm nhà sau khi hoàn tất khóa huấn luyện ở trại tân binh, còn Mike, Ira và Harlon cũng được nghỉ phép sau khi về đến San Diego.

        Đối với dân thường, chiến tranh không có gì là khó hiểu. Hàng hàng lớp lớp người và chiến cụ tiến ra tiền tuyến, trong khi người người vẫy cờ và những bài quân ca vang lên. Đối với nhũng người ở hậu phương thì chiến tranh là rõ ràng và có logic.

        Những chiến binh trở về từ tuyến đâu nhanh chóng nghi ngờ ý thức về chiến tranh. Những hình ảnh khủng khiếp mà họ không thể hiểu nổi lấp đầy ý nghĩ của họ, dằn vặt đầu óc của họ. Hoang mang và chết lặng, họ không thế thổ lộ tâm tư với những người ở hậu phương, vốn không thể thấu hiểu mọi nỗi niềm của họ chi qua ngôn từ.

        Mike, Ira và Harlon - ba chiến binh trở lại địa ngục tăm tối của Thái Bình Dương - bây giờ kề cận với cái chết. Hai người tin rằng trận chiến kế tiếp sẽ là trận chiến cuối cùng của mình. Còn người kia sống mòn mỏi thêm 10 năm trước khi thoát khỏi cơn ác mộng.  Khi bước lên bờ ở San Diego, Ira biên thư cho cha mẹ. Ông vẫn tỏ ra hào hứng trong thư: “Con đã về đến Dago... đến đây vào ngày thứ Hai cùng với cả trung đoàn. Tụi con được nghi phép 30 ngày bắt đầu từ thứ Hai... Con sẽ về thăm nhà càng sớm càng tốt.

        Vài ngày sau, ông về đến Khu Bảo tồn Gila. Ngay khi ông từ xe buýt bước xuống, mẹ Nancy của ông đã nhận ra đứa con trai có nhiều thay đổi.

        Mẹ Nancy thấy ông, ở tuổi 20, đã trở nên vạm vỡ hơn. Sau thời gian huấn luyện ở trại tân binh anh tăng thêm 7 kg cơ bắp và vẫn giữ như thế trong cơn ác mộng ở rừng già Bougainville. Chàng trai thanh mảnh ít nói ngày nào đã trở thành một thanh niên rắn rỏi.

        Nhưng bà mẹ nhận thấy sự thay đổi thực sự là về tư thái. Mẹ Nancy nghĩ ông trông lạ lẫm trong bộ quân phục. Trở nên già dặn hơn nhiều so với trước đây. Trước đây lúc nào đứa con cũng có gương mặt trang nghiêm, đĩnh đạc. Nhưng bây giờ trông càng lầm lì hơn. Hầu như không thể nở nụ cười.

        Mẹ Nancy nghĩ trước đây đứa con lúc nào cũng có vẻ nghiêm nghị. Nhưng bây giờ nhiều khi ông còn tỏ ra u uẩn.

        Ira không bao giờ nhìn nhận chuyện gì làm cho mình phiền muộn. Nhưng trong một lá thư gửi về từ Bougainville cho mẹ, lần đâu tiên ông ngụ ý nói đến những hồi ức sau này sẽ ám ảnh mình suốt đời: “Tụi con mất vài đứa bạn thân nhất... mà nhớ lại chi thấy buồn.”

        Khi sắp hết hạn nghi phép, cha mẹ ông lại tổ chức một tiệc tiễn đưa. Khách mời là các nhà lãnh đạo bộ tộc, các cha bề trên trong nhà thờ, và ca đoàn.

        Sau khi ăn uống xong, hội đồng bộ tộc yêu cầu ông phát biểu. Ira chậm chạp đứng lên và cất tiếng. Ngôn từ của ông vẫn chín chắn và hiền hòa, nhưng không còn là ngôn từ của một chú nhóc. Bây giờ, một người đàn ông đang phát biểu, người đàn ông đã kinh qua nhiều biến cố.

        Ông nghĩ về tình chiến hữu. Ông ca ngợi những đồng đội TQLC vì họ đã tỏ ra dũng cảm, vô vụ lợi, trong tình huynh đệ chi binh. Ira nhận xét: “Họ sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi.” Để kết luận, Ira hứa sẽ không bao giờ gây ô nhục cho bộ tộc mình. Khi ông dứt lời, mọi người đến ôm hôn ông một cách nồng ấm. Trong khi ca đoàn ngân giọng, ông khóc rấm rứt. Và rồi ông trở lại chiến trường.

        Mike Strank trở lại Quận Franklin sau khi bị vùi dập trong chiến trận, còn mang thêm bệnh sốt rét từ Đảo Bougainville.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:06:46 PM

        Hai người bạn Mike và Eva Slazich dẫn ông đi chơi ở thị trấn. Họ đi xem một phim chiến tranh. Slazic hỏi bạn mình nghĩ gì về truyện phim. Mike Strank nhỏ nhẹ nhận xét: “Thực tế không phải vậy.”

        Sau buổi tối đi chơi, Mike quay qua bạn mình, nói: “Mình không chắc sẽ gặp cậu lần nữa. Mình không nghĩ sẽ có ngày trở về.” Slazich cảm thấy sốc, đáp: “Đừng nói thế!”

        Mike tin chắc rằng trận đánh kế tiếp của mình sẽ là trận cuối cùng. Nhưng cha mẹ muốn ông sống, và sống trên nước Mỹ, lánh xa cuộc chiến. Vào một buổi tối, người cha kêu Mike đến ngồi nói chuyện ở bàn ăn trong nhà bếp. Người cha hỏi liệu có cách nào Mike xin làm nhiệm vụ huấn luyện trên đất Mỹ để gia đình được gặp ông thường xuyên hơn.

        Với thể chất mệt nhọc vì bệnh sốt rét, Mike tin rằng mình sẽ không bao giờ trở về nhà lần nữa. Ồng nhìn vào đôi mắt của người cha và nói: “Cha ạ, cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn ngoài kia. Các chàng trai trẻ đang chiến đấu. Và cha ạ... họ cần con giúp sức.”

        Trước khi ra đi, Mike kéo em gái qua một bên để nhắn nhủ. Ông khuyên em gái tiếp tục chăm sóc cha mẹ, trau dồi Anh ngữ để tiếp tục viết thư cho mình.

        Ông nói với đứa em gái Mary 11 tuổi: “Em hãy tiếp tục viết thư cho anh. có thể em không nhận được hồi âm nhưng cứ tiếp tục viết.” ít ngày sau ông ra đi. Cô em nhỏ Mary đã không bao giờ gặp lại anh mình nữa.

        Harlon Block nghi phép về thăm nhà ở miền đông Bang Texas, và cũng cho rằng đấy là lần cuối cùng. Trong kỳ nghỉ phép này, giữa vùng trồng chanh đang phát đạt, Harlon làm những việc mà mẹ Belle, cha Ed và bạn bè của ông không bao giờ hiểu được. Ông đi lang thang trong vùng đầm lầy gần Rio Grande đầy loài muồi gây sốt rét. Ông muốn bị nhiễm sốt rét. Đấy không phải là do hèn nhát. Harlon chỉ hy vọng nếu ông bị bệnh thì đó là ý muốn của Thượng đế rằng mình sẽ không phải trở ra tiền tuyến mà tiếp tục giết người.

        Nhưng những con muỗi mang mầm bệnh sốt rét không hề tìm đến ông. Thượng đế không muốn Harlon Block thoát nợ trần gian một cách dễ dàng như thế. Khi nhận ra điều này, Harlon bắt đầu chuẩn bị tư tưởng cho những người thân cận với ông về cái chết sắp đến của mình.

        Không phải cho tất cả mọi người. Ông không đả động gì với mẹ Belle và cha Ed. Nhưng ông nói chuyện với Jean, là vợ của người bạn thân Leo Ryan thủa còn chơi bóng. Ông gặp Jean trong văn phòng của bà ở trại mồ côi Sunny Glen do giáo hội tổ chức; Jean là thư ký điều hành cho vị giám đốc ở đây. Ông mời bà đến một quán cà phê thành phố. Trong khi hai người đang nhâm nhi ly cà phê, ông chỉ nói đơn giản: “Tôi không nghĩ mình sẽ trở về lần nữa. Tôi đã hưởng hết vận may và không còn vận may nào cho lần kế tiếp.”

        Sau đó, Harlon cũng nói điều tương tự với vài người bạn và thân nhân.

        Catherine Piece là người trong số này. Một buổi chiều, Harlon đến thăm cô bạn đặc biệt tại một trường nội trú ở Keene, Bang Texas, nơi cô đang học năm cuối trung học. Lập tức Catherine nhận ra có điều gì đấy khang khác ở Harlon. Ông trông gầy đi một tí, nhưng đấy không phải là quan trọng. Ông có vẻ trầm mặc. Nhưng dưới vẻ bề ngoài cẩn trọng ấy, bà có thể cảm thấy những cảm xúc sâu sắc. Sau này bà nhớ lại rằng trong buổi gặp gỡ đây bối rối giữa buổi chiều nắng ấm, tâm tư ông vẫn nghĩ về việc phải trở lại chiến trường Thái Bình Dương. Ông đã yêu bà nhưng không hề dặn dò bà phải chờ đợi ông.

        Bà lấy làm kinh ngạc khi nghe ông nói: “Carthrine ạ, anh không nghĩ mình sẽ trở về.”

        Sau này, Catherine kể với tôi: “Anh ấy là một người hoàn toàn khác hẳn. Trước khi đi ra chiến trường anh ấy rất vui, đầy hăng hái. Nhưng khi trở về anh ấy trở nên ít nói, giống như có cái gì đó đè nặng lên tâm tư. Tôi cố vực dậy tinh thần cùa anh. Tôi nói: "Này, Harlon đừng có ngốc nghếch thế. Sẽ không có chuyện gì xảy đến cho anh đâu". Nhưng anh ấy vẫn tỏ vẻ hờ hừng. Anh ấy nói một cách chắc nịch: "Catherine, anh tin rằng mình sẽ không trở về.”

        Ý nghĩ của những người lính TQLC trẻ như Mike và Harlon đã thấy trước cái chết của họ - đặc biệt sau khi kinh qua trận chiến - có vẻ như là điều bình thường, thậm chí có thể đoán trước được. Nhưng thật ra, những ý nghĩ như thế là hiếm hoi. Hầu như tất cả chiến binh đều tin tưởng ràng “những người khác chứ không phải là tôi sẽ gặp số phận như thế.” Không phải là điều bình thường mà nghĩ là mình sắp chết để rồi vẫn thi hành nghĩa vụ một cách bình thường.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:08:22 PM

        Một bác sĩ quân y phục vụ chiến trường Iwo Jima viết lại hồi ký cho thấy ý nghĩ của Mike và Harlon về cái chết của họ là hiếm hoi:

        Khi chầm chậm trở về miền bắc trên chiếc xe jeep, tôi nhớ đến một khẩu hiệu thường được phát biểu trong cuộc chiến: “Những người lính TQLC của chúng ta sẵn sàng hy sinh thân mình vì đất nước”. Câu nói này là hoàn toàn vô nghĩa, vì phần lớn các chiến binh nghĩ rằng họ sẽ không phải hy sinh, mà chi có người khác mới bị tử trận hoặc mang thương tật. Họ không có ý định hy sinh thân mình vì đất nước hoặc vì bất kỳ thứ gì khác. Mỗi người đều nghĩ rằng họ sẽ là một trong số người may mắn được trở về nhà an toàn. Những người không có niềm tin như thế chẳng chóng thì chầy sẽ gặp phải số phận không may.

        Ngôi làng Hilltop ở Bang Kentucky rộn rã đón tiếp Franklin Sousley về thăm trong chuyến nghỉ phép. Lúc này, ông đã là một con người đây hãnh diện, với chủ đích và định hướng mới trong cuộc đời non trẻ của mình.

        Người bạn tên J.B. Shannon - lúc ấy còn là cậu bé 13 tuổi với đôi mắt tròn xoe - nhớ về ông: “Khi Franklin trở về nhà, cộng đồng nhỏ bé của chúng tôi xem như là sự kiện quan trọng. Anh ấy bước xuống tàu hòa trong bộ quân phục đại lễ của TQLC màu xanh dương, trông thật oai phong.”

        Nhiều năm sau, Emogene Bailey vẫn còn nhớ rõ: “Trên đường về nhà, anh ấy ghé ngang nhà tôi. Anh ấy trông thật đẹp trai trong bộ quân phục. Tôi dẫn anh ấy đi ra khu vườn sau nhà và bắt anh đứng cho tôi chụp ảnh. Ngày nay tôi vẫn còn giữ bức ảnh ấy. Emogen phụ giúp Goldie làm bữa ăn tiếp đãi trong khi ở phòng khách Franklin kể cho đứa em trai Julian của tôi về những mẩu chuyện hào hùng.” Vào buổi tối cuối cùng trong chuyến về thăm nhà, Franklin mượn dì Catherine chiếc ô tô để hẹn hò với Marion Hamm. Bà kể lại: “Anh ấy đến nhà tôi rồi chúng tôi đi dạo bên nhau. Anh ấy nói với tôi về niềm tự hào là lính TQLC, cảm thấy phấn chấn được phục vụ đất nước trong màu áo binh chủng này.” Trước khi từ giã, giống như hàng triệu chàng trai khác trong Thế chiến II đối với những bạn gái đặc biệt của họ, anh có một yêu cầu đối với Marion: “Anh ấy xin tôi chờ đợi anh ấy.”

        Sau khi từ giã Marion, Franklin không ngủ được. Ông đi đến Trung tâm Bách hóa Hilltop. Người bạn thân Aaron Flora kể: “Chúng tôi ngồi trên ngạch cửa cho đến ba giờ sáng. Flanklin nói với chúng tôi anh ấy cảm thấy tuyệt vời khi làm lính TQLC”.

        Sáng hôm sau, Franklin buồn rầu nói lời giã biệt với bạn bè và gia đình. Họ ôm nhau mà khóc. Ông tặng mẹ Goldie một bức ảnh chân dung chính thức TQLC của mình. Rồi Franklin bước lùi lại. Nở nụ cười toe toét, ông nói: “Mẹ à, con sẽ làm việc gì đấy cho mẹ tự hào về con.”

        Sau đấy, anh đến từ giã Marion. Mặt sau bức ảnh chân dung ông tặng bà, ông viết:

        Chọn một nụ hoa biết nói
        Giống như chọn một cánh hoa trong vườn
        Chỉ chọn hoa đẹp nhất.
        Yêu em,
        Franklin


        Những lời sau cùng ông nói với người mình yêu là: “Khi trở về, anh sẽ là một anh hùng.”

        Ở sân ga, J.B. Shannon không có can đảm nói lời giã biệt với người bạn thân. Ông đã định đáp tàu hỏa đi Maysville cùng với Franklin, nhưng tiền tàu mỗi chiều là 25 cent - vào năm 1944 là số tiền lớn đối với một anh con trai 13 tuổi. Nhưng khi Franklin đang chuẩn bị bước lên tàu, J.B. bốc đồng thốt lên: “Này, Franklin, tôi sẽ lên tàu đi với cậu.”

        J.B. kể lại: “Trên tàu, anh ấy nói cảm thấy phấn khởi làm lính TQLC. Anh ấy nói mình đã làm đúng, trong bộ quân phục TQLC. Anh ấy nói anh đang thực hiện giấc mơ của mình. Khi đến Maysville, J.B. vầy tay giã từ khi đoàn tàu chở Franklin chạy ra khỏi sân ga.” Bốn mươi năm sau, J.B. nói với tôi: “Lúc ấy và cho đến giờ, anh ấy vẫn là một người anh hùng đối với tôi.”

        Chính trận đánh trên đảo san hô Tarawa ở vùng Trung tâm Thái Bình Dương đã phủ một cái bóng lên số phận của Mike, Harlon, Franklin, Ira, Rene, cha tôi, và tất cả những chiến binh TQLC khác.

        Tarawa là một hòn đảo nhò xíu, diện tích chưa đến 3 km2, chiều rộng chi có 700 m, nằm trong Quần đào Gilbert, về phía bắc Đảo Bougainville.

        Tarawa biểu hiện bước khởi đầu cho chiến dịch của Tướng Smith “Tiến về Tokyo”, mặt trận thứ hai được mở ra để chống lại Nhật Bản. Đây là một mặt trận mới trên cát, san hô và đá núi lửa, khác xa với những khu rừng già xa xôi ở Nam Thái Bình Dương.

        Chiến dịch Trung tâm Thái Bình Dương không giống bất cứ trận chiến nào ở Nam Thái Bình Dương. Quân Nhật đã củng cố vững chắc những hòn đảo tiền đồn này mà muốn chiếm được, Thủy quân Lục chiến Mỹ phải mở những đợt tấn công vào kẻ thù sắt đá đang chực chờ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:09:25 PM

        Vào năm 1943, những sĩ quan có cân nhắc đã tỏ ý nghi ngờ: “không chắc lực lượng đổ bộ có thể tấn công nổi một hòn đảo được phòng thủ kiên cố.” Những sĩ quan này “thành thực tin rằng... các đào san hô được gia cố vững chãi trên vùng Trung tâm Thái Bình Dương sẽ là mồ chôn của bất kỳ lực lượng Mỹ nào điên rồ muốn "nhảy vào chỗ chết”.

        Tướng Smith không ở trong số những sĩ quan này. Ông biết mình đang cố thực hiện “những cuộc hành quân gian khổ nhất: có thể phải đổ bộ trước những họng súng máy sẵn sàng đốn ngã hàng trăm người.” Ông biết TQLC sẽ phải hy sinh nhiều mạng sống. Nhật Bản đã rêu rao rằng Tawara “sau một nghìn năm vẫn không thể chiếm được.” Nhưng Smith tự tin rằng lính TQLC dưới quyền ông sẽ thành công.

        Những chiến hạm khổng lồ của Hải quân và máy bay mở đợt pháo kích và oanh tạc khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh cho đến thời điểm này. vị tướng Hải quân chỉ huy cuộc pháo kích còn hứa mình sẽ “xóa tan” hòn đảo.

        Nhưng vào buổi sáng 20/11/1943, sau ba đợt đổ bộ TQLC mới nhận ra ràng đợt pháo kích của Hải quân không đem lại kết quả gì, mà chi làm xới tung lớp cát. Hỏa lực quân Nhật bắn nát đội hình TQLC. Hoang mang ngự trị.

        Những người lính TQLC bị ép mình trên bãi cát mong chờ tiếp viện. Hai đợt tàu đổ bộ chở binh sĩ, xe tăng và pháo đang trên đường đến gần.

        Thế rồi, thảm họa ập đến.

        Khi còn cách bờ gần 500 m, các tàu đổ bộ chạm phải rạn san hô và bị mắc cạn.

        Phải 44 năm sau, nhà vật lý Donald Olson mới tìm ra rằng vào ngày đổ bộ lên Tarawa, Mặt trăng ở vị trí xa Quả đất nhất và đúng vào lúc triều ròng, làm cho biên độ mức nước triều chi là dăm ba phân thay vì vài ba mét.

        Hành động của lính TQLC bị mắc kẹt trên rạn san hô là yếu tố quyết định kết quả trận đánh. Nếu họ do dự hoặc rút lui, đồng đội của họ trên bãi biển sẽ bị tiêu diệt.

        Nhưng họ không do dự. Họ là chiến binh TQLC. Từ những chiếc tàu bị mẳc cạn, họ nhảy xuống mức nước cao đến ngực, giơ cao súng đạn lên khỏi đầu.

        Đấy là một trong những cảnh tượng dũng cảm nhất trong lịch sử chiến tranh: lính TQLC bì bõm trong làn nước sâu tiến vào trong những làn đạn súng máy. Bị ngập gần cả thân người và hai tay mang đây quân dụng, họ không có cách nào chống trả được. Nhưng họ vẫn tiến vào bờ. Đạn bắn vèo vèo vào hàng ngũ của họ, bẳn tung những mảng thịt và tia máu lên không trung giữa những tiếng thét xé toang bầu trời.

        Hỏa lực quân Nhật đốn ngã trên 300 lính TQLC đang cố tiến vào bờ. Khi những người sống sót hào hển ngã vật trên bãi cát, đôi giày bốt của họ thấm đẫm nước biến pha trộn máu đỏ tươi.

        Với ý chí kiên cường và dũng cảm của từng người lính TQLC chống trả lại sức mạnh áp đảo, sau ba ngày chiến đấu trong hỏa ngục, quân Mỹ chiếm được Đảo Tarawa. Chi trong vòng 72 giờ chiến đấu, TQLC bị thương vong 4.000 sau khi đã xóa sạch toàn bộ 5.000 quân Nhật trấn đóng trên đảo.

        Khi trận đánh kết thúc, Smith đích thân đi thị sát cách phòng thủ của quân Nhật trên hòn đảo. Vì lẽ nước ngầm chi cách mặt đất hơn một mét, quân Nhật không thể xây công sự ngầm. Thay vào đó, họ phải xây lô cốt trên mặt đất.

        Smith cùng với vài sĩ quan và phóng viên Robert Sherrod của tuần báo Time xem xét các công sự trên Đảo Tarawa. Sherrod viết:

        Công sự dài 12 m, rộng gần 2 m rưỡi và cao 10 m, được xây bằng những thân cây dừa có đường kính từ 20 đến 25 cm. Các bức tường của công sự cách nhau 1 m, được xây bằng hai lớp thân cây dừa. Các thân cây này được ghép với nhau bằng đinh thép 20 cm uốn thành hình chữ C. Giữa hai hàng thân cây dừa là lớp cát dầy 1 m, phía trên công sự có thêm một lớp cát dầy hơn 1 m. Thảo nào mà bom và pháo của ta đã không phá hủy được những công sự này! Loại bom 1 tấn có thể phá hủy một phần, nhưng máy bay không thế thả bom chính xác - ngay cả loại máy bay bổ nhào xuống khi thả bom.

        Thực tế là rõ ràng: Quân Nhật xây công sự kiên cố mà bom đạn Mỹ không phá hủy được. Phải cần đến lính TQLC với súng trường trên mặt đất đánh đuổi họ.

        Sau khi xem qua hệ thống phòng thủ của quân Nhật, Smith hiểu rằng con đường của TQLC tiến đến Tokyo còn đầy máu lửa. Khoảng cách giữa hòn đảo này và Tokyo là trên 3.000 km - một thách thức nặng nề xét theo không gian.

        Vào năm 1812, Napoléon dẫn đoàn quân của ông trên quãng đường dài 2.400 km tiến đến Moskva; vào thế kỷ 13, Thành cát Tư hãn tiến quân hơn 6.400 km từ Mông Cổ đến bờ biến Địa Trung Hải. Nhung hai chiến dịch này thất bại vì khoảng cách xa xôi. Bây giờ, TQLC đang đối diện với một chiến dịch có khoảng cách gần bằng từ New York bên bờ Đông sang San Francisco bên bờ Tây của nước Mỹ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:12:52 PM

        Tướng Smith đau đớn đi trên bãi biến để tận mắt nhìn thi thể những người lính TQLC mặt úp xuống nước trôi dập dềnh, và những thi thể khác nằm la liệt trên bãi cát nhuộm đỏ máu.

        Phần lớn người dân Mỹ kinh hoàng khi xem những đoạn phim thời sự mà trong đó hình ảnh cho thấy từng hàng thi thể lính TQLC trôi dập dềnh trên sóng biển. Một bài báo đăng tít lớn: “Không Được Xảy Ra Nữa!” Một bà mẹ biên thư cho một sĩ quan chỉ huy: “Ông đã giết con trai tôi ở Tarawa.”

        Thông tín viên Sherrod lo âu rằng dân Mỹ không có đủ can đảm nhìn thấy TQLC phải chịu hy sinh nặng nề trong chiến dịch chinh phục Thái Bình Dương. Ông thấy rõ chiến lược của Nhật là cố thủ trên tất cả các hòn đào ở vùng Trung tâm Thái Bình Dương nhằm gây thiệt hại khủng khiếp cho quân Mỹ, hy vọng rằng nước Mỹ sẽ từ bỏ ý định tiến quân và chịu đàm phán. Nhật Bản đang trông mong dân Mỹ sẽ kinh hãi với cái giá nhân mạng phải trả khi tấn công nước Nhật và cùng lúc TQLC sẽ chùn chân trước sức chống trả điên cuồng của người Nhật.

        Tuy nhiên, dù Smith không rõ dân Mỹ hậu thuẫn đến đâu, ông vẫn tin tưởng bởi quyết tâm và lòng dũng cảm của lính TQLC dưới quyền.

        Ở chặng cuối trên đường thị sát trên đảo, nơi bờ vực mà lính TQLC phải vượt qua đế tiến lên Tarawa, Smith nhìn thấy một hình ảnh về lòng dũng cảm. Sherrod viết đoàn thị sát đã nhìn thấy “một xác chiến binh TQLC ngả người tựa bờ vực, một cánh tay vẫn còn giơ lên nhờ thân hình chống đỡ. Trên đỉnh bờ vực, ngay phía trên bàn tay còn giơ lên, là một lá cờ màu xanh và trắng để đánh dấu địa điểm cho đợt đổ bộ kế tiếp. Holland Smith nói: ‘Làm thế nào những người lính như thế bị đánh bại được?’ Nhiệm vụ của người lính TQLC này là cầm lá cờ hiệu ấy trên bờ vực. Anh đã làm tròn nhiệm vụ, dù phải hy sinh mạng sống.

        Tarawa là cuộc đổ bộ tấn công quan trọng đầu tiên mà TQLC va phải sức đối kháng mạnh mẽ trên bờ biển. Chiến thắng này tạo đà tiến cho TQLC trong vùng Trung tâm Thái Bình Dương, với những cuộc đồ bộ tấn công còn khó khăn hơn. Các cấp chỉ huy thấy rõ rằng sẽ cần thêm lính TQLC can trường và được huấn luyện nhuần nhuyễn để thắng cuộc chiến này.

        Vì thế, vào tháng 3/1944, TQLC ra chi thị mới cho sáu chàng trai - những người sau này đã trở thành những anh hùng vang danh thế giới. Họ phải trình diện ở một doanh trại mới để gia nhập một sư đoàn TQLC mới. Những biến cố quan trọng bắt đầu đưa đẩy sáu người giương ngọn cờ hội tụ với nhau, chẳng bao lâu, ba chiến binh Ira, Harlon và Mike - còn xa lạ với nhau ở Bougainville - sẽ được giới thiệu với nhau. Thêm ba người còn xa lạ với nhau nhập bọn: Franklin Sousley, Rene Gagnon và người ngoài binh chủng, một quân y tá Hải quân được tăng phái có tên Jack “Doc” Bradley.

        Trong khi sáu người đang được điều đi làm nhiệm vụ mới, một ngọn núi tí hon ở giũa Thái Bình Dương đang nằm chờ đợi.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 12 Tháng Sáu, 2018, 11:15:40 PM
     
Chương 5

TRUI RÈN MŨI GIÁO

        
Nếu Lục quân và Hải quân
        Từng nhìn lên trời cao xanh
        Họ sẽ thấy đường sá dược bảo vệ
Bởi Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ

        TRÍCH CÂU TỪ "THỦY QUÂN LỤC CHIẾN HÀNH KHÚC"

        Đấy giống như là một thành phố, nhưng không phải là thành phố. Ít nhất nó trông không giống thành phố mà sáu chàng trai đã từng thấy hay mường tượng ra: một thành phố thấp lè tè đây những cơ giới, vũ khí và đạn dược. Thành phố này trải dài trên dải đất giữa Los Angeles và San Diego, còn rộng lớn hơn thị trấn nơi quê nhà của họ.

        Hầu như chú nhóc nào khi đến cánh cổng thành phố cũng cảm thấy choáng ngợp. James Buchanan nhớ lại: “Trại Pendleton rộng đến nỗi tôi có cảm tưởng nó như là bất tận. Tôi nghĩ nó kéo dài đến New York.”

        Trong những năm trước chiến tranh, Trại Pendleton chỉ là một trại tân binh nhỏ - một căn cứ nhỏ ngái ngủ phía nam Los Angeles, được đặt tên theo Trung tướng Pendleton, cha đẻ của chương trình huấn luyện Thủy quân Lục chiến ở bờ Tây. Vào tháng 3/1942, Bộ Hải quân mở rộng diện tích một cách đáng kể bằng cách trưng dụng hơn 52.000 ha đất ở vùng Rancho Santa Margarita.

        Vùng này gồm những vực núi, những dãy đồi, gia súc, đồng cỏ, bụi rậm, rắn chuông, và chấy rận. Sóng biển Thái Bình Dương vỗ dạt dào quanh chu vi ở phía tây.

        Trại Pendleton mới - với địa hình cô lập và hiểm trở - tạo nên môi trường thuận lợi cho việc đào tạo lính TQLC rẳn rỏi. Sáu người sẽ giương ngọn cờ trải qua 6 tháng ở đây, đi qua khắp vùng hoang sơ, không bao giờ ngủ trong doanh trại, không bao giờ được tắm trong phòng tắm, phải tham gia chữa cháy rừng, chỉ thỉnh thoảng mới thấy được dấu vết của nền văn minh là một con đường đất. Người bạn Grady Dyce của họ kể với tôi: “Chúng tôi ở trong vùng hoang sơ. Ngoài đó chỉ có rắn chuông, cừu và chó sói. Chúng tôi phải dùng rựa để chặt cỏ.”

        Thành phố chuyên dụng mới gồm những quân nhân chuyên biệt giúp nhào nặn ra một lớp người mà những thành phố truyền thống phải mất nhiều thế hệ mới làm được. Thật ra, nơi này đào tạo một lớp những người chuyên môn mà không một xã hội văn minh nào cần đến: những nhà chỉ huy trong tích tắc phải quyết định chuyện sống chết; những bác sĩ phải sẵn sàng thực hiện giải phẫu bộ não với rất ít thời gian chuẩn bị; người phát thư phải mang thư đến những địa chi luôn di động, những tuyên úy có nhiệm vụ chính là đọc lời chúc phúc cuối cùng; những đầu bếp phải nấu ăn ngày ba bữa cho cả nghìn “thực khách”; hàng đoàn những thư ký, thợ cơ khí, lái xe, người huấn luyện chó trận; và còn nhiều nữa - mỗi người đều phải thi hành nhiệm vụ của mình cho đồng bộ với người khác, trong tinh thần cộng tác tuyệt đối, và trong bom đạn.

        Thường thì thành phố này chỉ đào tạo những người biết cách bắn trả và tiêu diệt kẻ thù. Mục đích bao quát là nhanh chóng biến cha tôi, Rene, Ira, Mike, Franklin, Harlon và 21.000 người khác từ kỹ năng bậc trung trở thành một lực lượng ưu tú sẽ được điều động an toàn trên đại dương để tham gia một trận đánh trên một hòn đảo.

        Trại Pendleton là nơi sản sinh ra một sư đoàn TQLC hoàn toàn mới. Sư đoàn 5, được chính thức thành lập ngày 11/11/1943, Ngày Đình chiến1. Trong những tháng kế tiếp, những hoạt động tất bật đế tạo nên một lực lượng tác chiến thu hút tất cả năng lực và trí tuệ của nền công nghiệp Hoa Kỳ.

        Tình trạng cấp tập chung quanh việc thành lập Sư đoàn 5 TQLC là do thực tế chiến trường thúc đẩy. Trận đánh đẫm máu trên Đảo Tarawa đã chứng tỏ cần có thêm nhiều chiến binh TQLC để thanh toán những ổ phòng ngự của quân Nhật. Chính tại Trại Pendleton mà Sư đoàn 5 lĩnh hội những kỹ năng cần thiết cho con đường dẫn đến Tokyo.

        Chính ở Trại Pendleton mà sáu chàng trai giương ngọn cờ gặp nhau. Họ bị cuốn vào trong những làn sóng lính mới hằng ngày đổ xô về thành phố không tưởng này. Họ đến chen chúc trên những chiếc xe vận tải chạy dọc Xa lộ 101 và trên những toa tàu chật ních chạy xinh xịch dọc tuyến đường sắt Santa Fe nối dài. Đấy như thể là cả nước Mỹ đang điều đi những chàng trai trẻ, và họ đổ dồn về đây.

        Sau khi tham dự trận đánh Bougainville rồi đi nghi phép về thăm nhà, Mike, Harlon và Ira đến trình diện tại Trại Pendleton. Lực lưựng mới này có khoảng 40% những chiến binh kỳ cựu như ba người. Cha tôi, Franklin và Rene đại diện cho 60% còn lại: những chàng trai trẻ mới hoàn tất chương trình huấn luyện cơ bản ở trại tân binh. Cha tôi nhập trại trong Tháng Tư sau khi hoàn tất khóa học tại Trường Quân y Dã chiến ở San Diego. Frank đến từ trại tân binh ở San Diego. Rene đến từ trại tân binh ở Charleston rồi gia nhập Đại đội Quân cảnh ở Trại Pendleton. Nhưng trong vòng bốn ngày sau, ngày 8/4, ông được chuyển đến một đại đội mới. Một đại đội sẽ chịu nhiều gian lao và rồi trở nên nổi danh.

-------------------
        1. Ngày 11/11/1918, các nước Đồng minh và Đức ký hiệp định đình chiến đế chấm dứt Thế chiến I.



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:43:46 AM

        Đấy là Đại đội Easy, tức Đại đội E, một sự trái khoáy nhức nhối1 xét theo định mệnh của đơn vị này.

        Đại đội E có quân số là 250, được chia ra làm ban chi huy, 3 trung đội súng trường, 1 trung đội súng máy nhằm bổ sung cho 3 trung đội súng trường kia, và một phân đội cối 60 ly để yểm trợ toàn đại đội. Cha tôi là một trong hai quân y tá được tăng phái đến Trung đội 3 do Trung úy Keith Wells làm Trung đội trưởng (Trên danh nghĩa, quân y tá nằm trong biên chế Hải quân, nhưng được huấn luyện và hoạt động cùng với đơn vị mà họ sẽ chăm sóc trên chiến trường).

        Mike, Harlon, Franklin và Ira ở trong Trung đội 2 do Trung úy Ed Pennel làm Trung đội trưởng. Cơ số 40 người được chia làm 4 tiểu đội. Trung sĩ Mike là tiểu đội trưởng, trực tiếp dưới quyền có 3 hạ sĩ. Một người là Hạ sĩ Harlon Block, dưới quyền có Binh nhất Franklin Sousley và Binh nhất Ira Hayes. Rene thì thuộc một tiểu đội khác.

        Nắm quyền Đại đội trưởng Đại đội E là Đại úy Dave Severance, một người mảnh khảnh, cao lớn gốc Bang Wisconsin; con người trực tính đã tỏ rõ lòng dũng cảm qua chiến trận, chứng tỏ uy quyền qua cách nói khéo léo, trầm tĩnh và bình thản, có hiệu lực nêu gương cho thuộc hạ.

        Đại đội E nằm trong Tiểu đoàn 2 do Trung tá Chandler Johnson làm Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 2 là thành phần của Trung đoàn 28 do Đại tá Harry Liversedge làm Trung đoàn trưởng.

        Sư đoàn mới có vinh dự nhận biệt danh: Mũi giáo. Gần 600 lính TQLC tham dự cuộc thi thiết kế phù hiệu trên vai áo để thể hiện biệt danh này. Thiết kế của Trung úy Fergus Young được giải, thể hiện một mặt khiên màu đỏ tía, chữ V màu vàng, và một mũi giáo màu xanh lam đâm thẳng lên.

        “Mũi giáo” thể hiện nhiệm vụ của sư đoàn trong những trận đánh đang trông chờ họ trên hòn đảo khắc nghiệt kia. Sau khi hoàn tất chương trình huấn luyện, Sư đoàn Mũi giáo sẽ dẫn đầu làn sóng người gồm hàng trăm nghìn lính TQLC nhảy từ đảo này sang đảo khác trên đường tiến về nước Nhật.

        Sư đoàn Mũi giáo sẽ chỉ tham gia một trận đánh. Bộ tư lệnh quân Mỹ chỉ rõ mục đích này vào mùa thu 1944 nhưng vẫn giữ bí mật tuyệt đối về địa điểm. Một hòn đào nhỏ xấu xí gồm đá và núi lửa, cách chính quốc Nhật Bản gần một nghìn kilomet về hướng nam.

        Thế là, với bộ chi huy, các cơ sở và phương tiện, cờ hiệu và huy hiệu đeo vai đã được chuẩn bị đây đủ, Trại Pendleton bắt đâu nhào nặn lực lượng xung kích để đổ lên một hòn đảo xấu xí nhưng chưa được gọi đích danh.

        Hệ thống chỉ huy đầy cảm hứng là chìa khóa cho sự nổi bật của binh chủng TQLC. Sĩ quan TQLC các cấp nhấn mạnh nhiệm vụ chăm sóc cho những yêu cầu của thuộc hạ. Con người bí ẩn Poller có lần đã chỉ thị cho sĩ quan dưới quyền ông: “Mỗi khi đến giờ ăn, binh sĩ cấp thấp nhất phải được cho ăn trước, kế đến là hạ sĩ quan, còn sĩ quan ăn sau cùng.”

        Robert Leader, trong Trung đội 3 của Đại đội E cùng với cha tôi, kể về người chỉ huy của ông: “Trong binh chủng TQLC, tôi chưa từng thấy một sĩ quan nào uống nước trong khi thuộc hạ anh ấy chưa uống. Trung đội trưởng của tôi, Trung úy Wells, sẵn sàng mang hộ đạn súng máy cho những binh sĩ đang vác ì ạch.

        Đạn súng cối khá nặng, nhưng Trung úy Wells vẫn muốn mang ít quả để chia sẻ gánh nặng với người lính tải đạn. Có một tình đồng đội trung kiên giũa binh sĩ và sĩ quan, giữa tất cả mọi người. Chúng tôi biết nếu phải tiến vào lửa đạn thì các cấp sĩ quan cũng tiến cùng chúng tôi.”

        Joe Rodriguez, đồng đội của Ira và Franklin (dưới quyền Harlon, và Harlon dưới quyền Mike), nhớ về tài chỉ huy của Mike:

        Mọi người xem Mike là thần tượng. Anh ấy là nhà chỉ huy thiên bẩm. Harlon, Ira và Franklin đều yêu mến anh. Ngay cả Trung úy Pellen [cấp chi huy trực tiếp của Mike] cũng có phần nể trọng Mike.

        Anh ấy chỉ huy bằng cách nêu gương: luôn đi cùng binh sĩ. Anh là cấp chỉ huy dạn dày chiến trận, nhưng không bao giờ khoe khoang về điều này. Anh ấy luôn tỏ ra quan tâm thực sự đến chúng tôi; anh ấy là người anh cả đối với chúng tôi. Chúng tôi là những chàng trai trẻ và anh ấy trấn an chúng tôi. Anh nói: “Mình sẽ đưa các cậu về với mẹ các cậu ở quê nhà.”

        Một ví dụ khác về tài chỉ huy trong Sư đoàn là một con người gần như là huyền thoại, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, mà Đại đội E là một trong những đại đội của trung đoàn này. Đấy là Đại tá Harry Liversedge, người ở Volcano, Bang California, vận động viên Thế vận hội môn ném tạ, có chiều cao 1,92 m, đã nhận Huân chương Thập tự Hải quân vì lòng dũng cảm khi chiến đấu trong rừng rậm ở New Georgia.

        Vào năm 1942, ông là sĩ quan Đặc công. Bây giờ, hai năm sau, ông chi huy các chàng trai ở Trại Pendleton, một thần tượng sẵn sàng dẫn dắt họ lặn lội vào chiến trận khủng khiếp.

-------------------
        1. Nói là “trái khoáy nhức nhối” vì tên hiệu của Đại đội Easy có nghĩa là “dễ dàng”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:46:30 AM

        Nhiệm vụ của Harry ở Trại Pendleton là nhào nặn cơ số 3.400 của Trung đoàn 28 thành một lực lượng tác chiến cơ động, có nghĩa là vẫn đạt kết quả dù tác chiến với nhau như là một trung đoàn hoặc tác chiến biệt lập trong những đơn vị nhỏ lẻ. Có thể là một binh sĩ đơn độc tấn công một lô cốt, một phân đội 3 người, một trung đội 40 người, một đại đội 250 người, một tiểu đoàn 900 người, hoặc một trung đoàn 3000 người bất kỳ theo cách nào, những binh sĩ dưới quyền ông phải biết cách phân tán ra hoặc tập hợp lại theo yêu cầu.

        Đại tá Liversedge và những sĩ quan còn lại trong bộ chỉ huy tập hợp và hoàn thiện một lực lượng chiến đấu ăn khớp với nhau như đồng hồ Thụy Sĩ, theo những giai đoạn được tính toán tinh vi. Chương trình huấn luyện với mấu chốt quan trọng nhất trong cỗ máy chiến đấu vĩ đại: người lính súng trường.

        Điều tiên quyết là phải sử dụng vũ khí một cách thành thạo.

        Những chàng trai đã tập tác xạ trong khóa huấn luyện cơ bản, thường là sau khi đã qua lầm lỗi, họ mới hiểu tại sao lính TQLC tôn thờ khẩu súng trường. Bây giờ, họ còn hiểu thêm rằng khẩu súng trường là vũ khí thiết yếu trong cuộc chiến này. Hải quân đang tung hoành trên mặt biển và Không lực đang làm chủ bầu trời nhưng, như trận đánh Tarawa cho thấy (và những trận đánh trong tương lai cũng thế), việc oanh tạc của Không lực, việc pháo kích của Hải quân đều không thể gây tổn thất cho quân Nhật cố thủ trong lô cốt, dù cho quang cảnh trông tan nát đến đâu dưới mắt người Mỹ nhìn từ oanh tạc cơ hoặc chiến hạm.

        Phải cần đến người lính súng trường, lội bì bõm trong làn đạn. Phải cần đến người lính súng trường, lọt thỏm giữa những tiếng kêu gào và những tử thi trôi dập dềnh của đồng đội. Phải cần đến người lính súng trường, sợ hãi và chơ vơ mà không có
gì che chắn, cố nhướng mắt nhìn qua làn khói mù mịt và quang cảnh hỗn độn để tìm ra bóng dáng người lính bên kia chiến tuyến. Phải cần đến người lính súng trường để quyết định cục diện của trận chiến.

        Người lính súng trường TQLC là đối tác của lính bộ binh trong Lục quân. Dù cho cuối cùng nhận công tác gì chăng nữa, tất cả lính TQLC đều trải qua huấn luyện với súng trường. Cha tôi cũng phải học bằn súng trường mặc dù ông là quân y tá. Rene cũng phải học bắn súng trường dù ông chuyên chạy bộ để làm giao liên. Mike, Harlon và Franklin đều là những tay súng trường thiện nghệ. Còn đối với Ira, vũ khí của ông tiên tiến hơn: khẩu trung liên BAR. Có nòng dài và trọng lượng nặng (hơn 10 kg), trung liên BAR có thể bắn từng phát hoặc bắn liên thanh. Với băng đạn gồm 20 viên, nó giống như là một súng máy, có hỏa lực mạnh gấp ba lần so với khẩu súng trường. Trong một trận chiến, anh chàng giữ khẩu trung liên BAR được đồng đội rất yêu mến.

        Dave Severance kể lại với tôi: “Họ học chiến thuật vừa bắn vừa di chuyển". Chúng tôi phải thực tập như đang chiến đấu thực sự. Hai đại đội súng trường nã đạn đến một mục tiêu trong khi đại đội súng trường khác di chuyển. Rồi họ luân phiên thay đổi nhiệm vụ mà tiến đến phòng tuyến đối phương - lính súng trường như Ira và Franklin phải làm theo nhiệm vụ được Trung sĩ Strank và Hạ sĩ Block giao phó. Điều cốt lõi là phải hỗ trợ cho nhau: vài nhóm nã đạn để yểm trợ một nhóm khác trong khi tất cả cùng tiến đến những vị trí mới.” Jesse Boatwright nhớ lại nguyên tác chủ chốt của tác chiến tập thể. Ông nói: “Tác chiến là hoạt động tập thể từ cấp binh nhì trở lên, mọi người phải được nhận rõ mệnh lệnh là như thế nào và phải tuân thủ như thế nào. Để cùng nhau hoạt động như là một tập thể. Để tuân hành mệnh lệnh từ trên xuống dưới.”
         
        Chương trình huấn luyện rất cam go. Tex Stanton kể lại: “Chúng tôi phải thức dậy từ sáng tinh sương, hành quân lên một đỉnh đồi và thực tập tác chiến. Chúng tôi phải bò và chạy vòng quanh đỉnh đồi dưới ánh nằng như đổ lửa, xong rồi đi bộ về doanh trại, và rất khổ nhọc.” Don Mayer nhớ lại: “Lặp đi lặp lại và đơn giản. Chúng tôi phải làm đi làm lại những động tác đơn giản cho đến khi có thể tự động làm một cách thuần thục” và giống như thật. Grady Dyce kế: “Trong Trại Pendleton, chúng tôi bắn rất nhiều đạn thật đến nỗi chúng tôi luôn làm cỏ cây bốc cháy. Chúng tôi luôn phải lo chữa cháy. Ngay cả những đám cháy rừng.”

        Vào Tháng Tư, tất cả đơn vị đều phải thực tập ngoài trời, tham gia hành quân chiến thuật đến lả người và tập đóng trại ngoài trời trong ba ngày.

        Cùng lúc, những đơn vị chuyên môn của sư đoàn phải học tập kỹ năng hiện đại trong những công tác phá hoại, vẽ bản đồ, đặt mìn bẫy, ngụy trang, xây cầu đường. Thêm những người khác được huấn luyện chuyên sâu về thông tin, từ những máy thu phát thanh khổng lồ đặt trên cơ giới cho đến bộ đàm cầm tay. Tất cả từ trên xuống dưới đều phải đạt tiêu chuẩn cao trong việc thích ứng với mọi địa hình, trên đất khô cũng như dưới nước. Bơi lội là kỹ năng được nhấn mạnh đặc biệt. Người không biết bơi được huấn luyện để bơi giỏi. Người đã bơi giỏi được huấn luyện để bơi càng giỏi hơn.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:48:31 AM

        Khi xuân hết và hạ qua, Sư đoàn Mũi giáo tăng tốc chương trình huấn luyện lên đến đỉnh cao. Kế tiếp là những giai đoạn đầu trong chương trình huấn luyện chiến thuật đổ bộ: hàng nghìn lính thiện xạ vạm vỡ và chuyên viên kỹ thuật quân sự đi trên hải vận hạm rồi đổ xuống xe cơ giới lội nước, rồi nhảy xuống vùng nước nông và chạy lên bãi biển do đối phương phòng thủ, lúc nào cũng ở dưới hỏa lực mạnh mẽ của đối phương. Chính ở giai đoạn này, chương trình huấn luyện của Sư đoàn Mũi giáo bắt đầu đi sát với thực tế của một điệp vụ đặc biệt được thi hành một cách chi tiết.

        Trong Trại Pendleton, binh sĩ tập luyện để trấn áp nỗi khiếp đảm khi trèo qua lan can rồi di chuyển xuống thân một chiếc hải vận hạm cao như một tòa nhà nhiều tầng để chuyển xuống một tàu đổ bộ nhỏ chạy bằng bánh xích (LVT). Họ thực tập với những mô hình được xây trên mặt đất khô với những bức tường gỗ thẳng đứng phủ những tấm lưới thưa bện bằng dây thừng.

        Kế tiếp là thực tập tấn công y như thật. Cuộc tập trận giả quy tụ chín mũi đổ bộ, mỗi mũi là một tiểu đoàn có đủ các loại vũ khí, xe bọc thép và những đơn vị hỗ trợ khác. Vào đầu Tháng Bảy, các đơn vị lên hải vận hạm ở San Diego đến Đảo San Clemente, ngoài khơi bờ biển California, đế thực tập hai cuộc đổ bộ tấn công. Sau khi đã hoàn tất đợt tấn công thứ hai, các đơn vị lập tức lên hải vận hạm để tiến đến chặng cuối cùng: một đợt tấn công lên một mục tiêu mà các cấp chỉ huy bây giờ gọi là “Đảo Pendleton”, và giải thích đó là “một căn cứ không quân tiền phương của quân Nhật trong vùng Tây Thái Bình Dương được phòng vệ vững chắc - một căn cứ đang uy hiếp các lực lượng của Mỹ.”

        Chưa ai nói rõ “căn cứ không quân được phòng vệ vững chắc” này nằm ở đâu.

        Chính trong những giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện này, vào tháng 7/1944, có một vị khách đặc biệt thường xuất hiện ở Trại Pendleton. Nhiều binh sĩ trông thấy ông từ đàng xa, đang dùng ống nhòm thị sát họ: một người trong chiếc áo choàng màu sẫm, ngồi trên một chiếc ghế vải đặt kế bên một chiếc xe hòm khổng lồ màu đen. Đây là Tổng Tư lệnh của họ, đã đi từ thủ đô Washington xuyên qua lục địa để thị sát Sư đoàn Mũi giáo; vị Tổng thống huyền thoại mà các chàng trai đã mê mẩn khi nghe chương trình “Chuyện trò bên lò sưởi” từ máy thu thanh trong gia đình họ chi mới vài năm trước. Đấy là Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Delano Roosevelt.

        Suốt sáu tháng huấn luyện tại Trại Pendleton, tất cả binh sĩ của Sư đoàn Mũi giáo - chiến binh kỳ cựu cũng như tân binh - bắt đầu cảm thấy thái độ tôn trọng của các cấp chỉ huy đối với họ, tuy tinh tế nhung rõ ràng. Không còn là chế độ khắc nghiệt như trong trại tân binh. Những người lính TQLC này vẫn phải giữ kỷ luật và thể chất mạnh khỏe. Nhung bây giờ họ không còn là tân binh, mà được công nhận là chiến binh thực thụ. Mối quan hệ bây giờ là tính chuyên nghiệp rạch ròi thay cho chế độ chỉ huy độc đoán. Một năm sau khi khoác lên bộ quân phục, những chàng trai trong Sư đoàn Mũi giáo bây giờ sống trong tình huynh đệ chi binh.

        Donald Howell của Đại đội E giải thích: “Semper Fidelis1" có nghĩa là mỗi người phải trung thành với những đồng đội quanh mình. Nếu trong trận chiến không có đồng đội xung quanh thì bạn khó thoát được. Nếu có một người lính TQLC kế bên mình thì bạn biết mình còn có cơ may.”

        Robert Leader nói thêm về tình huynh đệ chi binh: “Tôi tin rằng chúng tôi đang chiến đấu vì những người bạn của mình. Điều này nghe có vẻ giả dối bởi vì chúng tôi vẫn thường đánh đấm nhau sau một chầu bia, hoặc ăn nói xúc phạm đến em gái của bạn mình, nhưng sau đó chúng tôi sẵn sàng chịu rủi ro mạng sống vì bạn mình. Nó giống như một gia đình có lúc gấu ó với nhau, nhưng khi có một anh cớm can thiệp thì tất cả đàn ông và đàn bà trong gia đình đều quay sang anh cớm kia! Lính TQLC không nói ra mình thương yêu nhau nhưng thực sự là vậy. Chúng tôi rất thương yêu nhau.”

        Cha tôi thể hiện tình huynh đệ chi binh này theo nhiều cách. Là quân y tá của Hải quân tăng phái qua Đại đội E, ông có nhiệm vụ liên hệ với năm người giương ngọn cờ kia. Mặc dù theo biên chế chính thức thuộc Trung đội 3, trong thực tế ông cũng chỉ huy sáu quân y tá khác trong đại đội; ông lãnh nhiệm vụ đáp ứng những yêu cầu về quân y của cả đại đội khi tác chiến. Theo cách này Mike, Harlon, Ira, Franklin, và Rene mặc dù ở trong Trung đội 2 nhưng vẫn gặp gỡ cha tôi trong hoạt động hằng ngày. Ông đã được huấn luyện thành một người lính TQLC giống như những người khác, vì thế họ tôn trọng ông như là người ngang hàng với họ. Trung đội trưởng của ông, Trung úy Keith Wells, sau đó có lời khen ngợi cha tôi và những quân y tá khác: “Những quân y tá dưới quyền tôi cũng là TQLC.”

------------------
        1. Khấu hiệu bâng tiếng Latin của TQLC Mỹ, có nghĩa: luôn trung thành.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:49:42 AM

        Riêng Mike Strank thể hiện tình huynh đệ chi binh một cách bay bướm. Trong khi nhiều binh sĩ xem anh là thần tượng, nhiều lúc anh tỏ ra tếu để không lên mặt mình là quan trọng. Nằm trong số những người lính TQLC khoái xin phép xả trại được “tự do” để đi tìm thú vui ở những thị trấn và quán bar gần vùng, Mike thấy thích thú khi nhìn cành tượng diễn ra sau mỗi chuyến binh sĩ được tự do: mỗi anh phải được một quân y tá khám để phát hiện bệnh lây lan qua đường tình dục, trong khi vị tuyên úy với vè mặt thành kính đứng kế bên.

        Tex Stanton mô tả cách phát hiện triệu chứng: “Mỗi anh phải móc ra cây súng nhỏ của mình đế quân y tá khám xem nó có "khóc" hay không. Rồi một ngày, Mike sáng tác một bài thơ về chuyện này.”

        Theo cách Tex nhớ lại, bài thơ như sau:

        Bạn bước ngay vào
        Mà không cần chào
        Kéo quần bạn xuống
        Móc ra cái cuống
        Lật da lên và bóp lấy nó
        Cứ tự nhiên mà đứng yên đó.


        Ngoài những chứng bệnh do chị em giang hồ truyền sang, còn có một rủi ro từ môi trường bên ngoài: rắn chuông. Loại rắn này không hề có ấn tượng với những biến động và những cuộc càn quét ào ạt do lực lượng TQLC đang tập trận chung quanh. Đã có vài binh sĩ hoảng hốt dùng khẩu súng trường để cố xua đuổi một con rán chuông ngo ngoe kế bên mình. Có đêm nọ, một con rắn chuông lẻn vào căn lều của Tex Stanton và Franklin Sousley. Nửa thế kỷ sau, Tex khúc khích cười kể lại chuyện này: “Một anh đang ngủ mê, cảm thấy nhột nhột ở cổ, tưởng là có con sâu bọ nào đây bèn đưa tay lên đập, hóa ra đó là con rắn. Thế là cả đêm anh ta mất ngủ luôn.”

        Cũng có những phiền toái khác không đến nỗi ảnh hưởng đến tính mạng. Binh sĩ của Trung đoàn 28 cắm trại ở một địa điểm cách bờ biển khoảng 15 km, bị cô lập bởi một vực núi sâu, mà những người di dân Tây Ban Nha đặt tên là “Vực núi chấy rận”.

        Nhưng chấy rận chỉ là một phần giúp cho binh sĩ đỡ buồn tẻ. Thời tiết buổi sáng lạnh như băng (phải tập hợp sớm lúc 6 giờ) và nước để tắm rửa càng lạnh hơn. Vào mùa xuân này mưa nhiều hơn mọi năm, thế nên các chàng trai tha hồ mà ướt át.

        Trong những tình cảnh này, cha tôi vẫn tỏ ra điềm đạm, giúp cho những chàng trai trong Đại đội E được trấn tĩnh. Giống như trong bức ảnh nổi tiếng cho thấy tính chất của ông: đứng giữa đồng đội, giơ tay lên để hổ trợ họ. Tuy mới ở tuổi 20, ông đã được xem là “ông già” giữa những quân y tá khác, ông ít giao du thân mật với ai; rất hiếm khi uống rượu mỗi khi được phép xả trại. Ông trở thành thợ cắt tóc không chính thức cho đại đội, sẵn sàng trổ tài tạo dáng mái tóc mỗi khi được yêu cầu, còn không thì ông xa lánh đám đông mà đọc sách.

        Đấy là nói những khi ông không phải bò trên mặt đất phía sau trung đội mình. Phần lớn thời gian khác, ông đi theo lính súng trường, xem họ diễn tập, giữ khoảng cách gần với họ để sắn sàng ra tay khi có ai bị thương. Lúc trước, ông nội tôi đã khuyên ông nên đi tìm một “chiếc giường sạnh sẽ” trong Hải quân, nhưng bây giờ suốt cả năm ông không được ngủ trên một chiếc giường nào cho đàng hoàng.

        Dần dà, mọi người đều nhận ra cha tôi là người tốt bụng. Một lính TQLC tên Lloyd Thompson bị thương ở lưng khá nặng nhưng không muốn xin nghỉ bệnh. Mỗi buổi sáng cha tôi đều đến lều của ông để giúp ông mang vào đôi giày bố ngõ hầu có thể tham gia tập hợp buổi sáng. James Buchanan luôn nhớ đến cha tôi vì không những đã chữa chứng bệnh sốt mèo, mà vài tuần sau còn hỏi thăm sức khỏe của ông. Buchanan nói: “Không ai có cách đối xử như thế. Ông ấy thật tốt bụng.”

        Linh mục Paul Bradley (không có quan hệ gì với gia đình tác giả), người Brooklyn, Tuyên úy Công giáo của Trung đoàn 28, nhớ lại là cha tôi đã tình nguyện trợ giúp ông trong buổi lễ đầu tiên ở doanh trại - một cử chi thường thấy của cha tôi vốn là người mộ đạo. Vị linh mục kể: “Tôi hỏi: "Có ai biết phụ giúp hành lễ không?" Doc tiến về phía tôi. Ông ấy biết cách đáp lời bằng tiếng Latin. Lúc nào ông ấy cũng tỏ ra mộ đạo. Nhiều người lính trở nên buông thả, nhưng Doc thì không, ông ấy tham dự đều đặn các buổi hành lễ."

        Chính ở Trại Pendleton, cha tôi gặp một chàng trai có số phận hẩm hiu, chiến hữu thân nhất của ông và có lẽ đóng vai trò quan trọng khiến cho ông sau này không muốn nói về sự kiện giương ngọn cờ. Chính ở đây, lần đâu tiên cha tôi gặp Iggy.

        Ông này có tên nguyên là Ralph Ignatowski - cái tên nghe vang dội hơn chính con người. Ông ở cùng quê Wisconsin với cha tôi, khi còn trẻ thích chơi bóng chày và phóng xe đạp, là út trong số chín anh em của một gia đình Milwaukee có mối liên hệ chặt chẽ với Công giáo Châu Âu. Người cha Walter sinh năm 1885 tại Ba Lan, còn bà mẹ Frances sinh năm 1890 trong một gia đình đã sản sinh ra một tu sĩ (Linh mục Bruce, người con áp út) và bốn người tham gia quân ngũ. Ralph được thương yêu nhất. Nhiều năm sau, người chị Julia nhỏ nhẹ nói với tôi: “Chúng tôi rất thương yêu nó.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:50:16 AM

        Giống như Rene Gagnon, Iggy còn tré - hầu như là quá trè - để vào quân ngũ: Ông mới 17 tuổi khi tham dự huấn luyện nâng cao ở Pendleton; 18 tuổi khi tham gia tấn công Iwo Jima. Giống như Franklin Sousley, có vẻ như Iggy thiếu tính khí của một chiến binh; ông là người thích giễu cợt, là một đứa con giàu tình cảm đối với gia đình. Bức ảnh chụp trong bộ quân phục TQLC cho thấy một nét mặt tuổi thiếu niên, thông minh, cởi mở, đôi mắt sáng và tự tin - gương mặt điển trai với dáng vẻ hòa nhã. Nhưng con người ông thì sắt đá: Ralph đã quyết chí gia nhập TQLC sau khi học xong trung học ở Milwaukee vào tháng 4/1944. Nhưng ông bị từ chối vì mẫu nước tiểu của ông có vấn đề. Lúc này, đáng lẽ Ralph có thể đứng ngoài cuộc chiến mà không ai thắc mắc gì cả. Nhưng vài ngày sau, ông mang một mẫu nước tiểu mới đến trung tâm tuyển quân. Mẫu nước tiểu này là của một người khác. Ông được chấp nhận gia nhập binh chủng.

        Iggy lấy làm hãnh diện là lính TQLC, như người anh Al Ignatowski nhiều năm sau cho tôi biết: “Tôi được Lục quân cấp phép để đi thăm Ralph ở Trại Pendleton. Tôi thấy một Trung sĩ huấn luyện viên quát mắng một anh tân binh trẻ. Tôi bảo Ralph: "Như thế này là khác với Lục quân. Ở đây người ta hành xác tân binh quá mức!" Nhưng Ralph ưỡn ngực hãnh diện trả lời: "Lính TQLC tụi em phải là như thếđấy!’”

        Trong Trại Pendleton, cha tôi và Iggy kết bạn với nhau và nhanh chóng kết thành “đôi bạn” theo cách của TQLC. Mặc dù TQLC không muốn binh sĩ có quá nhiều tình bạn thân thiết – vì chiến trận sẽ tạo ra những nỗi đớn đau quá nặng trong hàng ngũ - binh chủng vẫn đề nghị mỗi người có một chiến hữu thân thiết để làm đồng minh gần gũi, làm tai mắt, là cái bóng của chính cá nhân mình trong trận chiến. Và cũng có thể là người này sẽ an ủi cha mẹ của người kia. Trên cơ sở đó, hai chàng trai từ Wisconsin tạo nên mối quan hệ mật thiết để nhanh chóng biến thành tình huynh đệ. Họ ngủ chung lều với nhau, cùng ăn kem lạnh với nhau, cùng xin đi nghỉ phép xả trại với nhau; mỗi người thấu hiểu những niềm hy vọng, nỗi hãi sợ và niềm vui của người kia.

        Trong số những người được hưởng lợi từ tính tốt bụng của cha tôi ở Pendleton có Ira Hayes.

        Mẹ Nancy của Ira đã nhận xét đúng. Sau khi trở về từ Bougainville, Ira đã trải qua sự thay đổi nào đấy. Cậu con một thời “ngoan hiền” nghiêm chỉnh, có đâu óc thích cải cách, có lúc đã khóc khi nghe bài giảng trong nhà thờ về “Rượu và tinh thần Cơ đốc giáo”, đang quay lại thói hư tật xấu đối nghịch với những bản năng tốt đẹp của ông, và sau này ảnh hường tai hại đến cuộc đời ông.

        Ông vẫn là một chiến binh TQLC giỏi, tuy bụng sau này có hơi phệ khiến vài người nghĩ sai rằng ông không đủ sức chịu đựng gian khổ. Ông vẫn ngưỡng mộ binh chủng TQLC. Ông vẫn quan tâm đến những người bạn “hữu hảo” của mình thậm chí cho đến phút cuối đời. Nhưng chỉ có một nhóm nhỏ là người bạn'“hữu hảo” - Mike, Franklin, Harlon và cha tôi là những người chính yếu, còn những người khác không dám giỡn mặt với ông. Franklin sau này trở nên thân thiết với Ira đến mức hai người chia nhau một hố cá nhân, nhưng lúc mới gặp nhau ở Trại Pendleton vì tính bông đùa ông đã vô tình hỏi: “Anh thuộc dân tộc nào?” Ira chộp ngay: “Tôi là người Mỹ nguyên thủy! Thế là đủ rồi.”

        Ira tôn trọng Mike và Harlon bởi vì họ, giống như ông, đã là chiến binh dày dạn và đã mục kích cái chết tàn khốc. Thật ra, ông tôn trọng Mike gần như đến mức ngoan ngoãn; ông nói chuyện với Mike một cách thân tình và thông minh mà không nói như thế với bất kỳ ai khác. Nhiều người nhớ lại ràng, Mike Strank là người duy nhất có thể giúp cho Ira thật sự bình thản.

        Quan hệ giữa ông với cha tôi thì có phần khác. Giống như những lính TQLC khác, Ira cảm nhận cha tôi là người hiền hòa và tốt bụng. Vê phần cha tôi, ông thấu hiểu và chấp nhận Ira là con người nhạy cảm, không thích đùa.

        Clifford Langley, quân y tá bạn thân của cha tôi, nhớ lại một đêm hai người được phép xả trại, đi chơi ở Los Angeles thì gặp Ira đang say xin và cáu gắt, bị hai quân cảnh kèm hai bên. Hai quân y tá yêu cầu hai quân cảnh giao Ira cho họ quản lý. Nhưng việc này vẫn không giúp gì được cho Ira. Langley nói: “Chúng tôi không thể kiểm soát anh ấy. Anh ấy la hét: "Để mặc tao, mày không thể ra lệnh cho tao phải làm gì". Cuối cùng Doc nói: "Nếu anh ây không muốn chúng ta giúp thì để anh ấy tự lo". Và chúng tôi làm như thế. Anh ấy bị quân cảnh bắt lại và nhốt vào quân lao.”

        Ira thường mặc pông-sô độn ở phần dây lưng - như thấy rõ trên bức ảnh giương ngọn cờ - theo cách thức của người Pima. Giường ông ngủ thường rất bừa bộn, và ông ít khi cột dây giày.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:53:20 AM

        Ira thường tỏ ra lầm lì và bạn bè chỉ có thể phỏng đoán này nọ về tâm tư của ông. Riêng Kennrth Milstead thì thấu hiểu vì một ngày nọ đã nghe ông tâm sự:

        Tôi thường gác chung ca với Ira. Chúng tôi thường ngồi canh gác một cánh cổng nào đấy, không có ai khác chung quanh, chi có màn đêm đen kịt. Ira luôn tỏ ra chán nản.

        Anh hay nhắc đi nhắc lại: ‘Tôi không có gì đế mà trở về. Không có gì chờ đợi tôi ở quê nhà.” Tính anh đã sẵn chán nản như thế. Anh không tâm sự với ai nhiều nên họ không biết được, nhưng khi nói chuyện với tôi thì anh thổ lộ rất chân tình. Chính vào những lúc ấy, tôi thường lái qua câu chuyện khác.


        Nhưng những lá thư của ông viết về nhà thì có vẻ lạc quan hơn. Vào đầu Tháng Bảy, ông viết thư kể như là đứa trẻ đi cắm trại vào dịp hè: “Con thích ở trong lều hơn là trong doanh trại. Nếu ở trong doanh trại thì lúc nào cũng phải giữ gìn sạch sẽ... hơn nữa, tụi con còn có bàn gỗ, sáu đứa chia nhau một lều, có đèn và cũng có máy thu thanh riêng.”

        Đến cuối Tháng Tám, có vẻ như ông tin vào định mệnh: “Con được cho cơ hội để đi học ở trường thông tin rồi được thăng cấp nhanh và tránh xa cuộc sống gian khổ này. Nhung con từ chối. Vị thế của con là lính súng trường. Con không muốn đến đây để có cuộc sống nhàn hạ. Thà rằng tụi con nhanh chóng đi ra chiến trường để rồi cuộc chiến này sẽ chấm dứt. Xin đừng lo lắng cho con. Bây giờ con đã là người lớn, không còn là chú nhóc nữa.” “Người lớn bây giờ” có tính tình khác hẳn so với một cậu bé có ấn tượng với bài giảng trong nhà thờ về rượu và tinh thần Cơ đốc giáo. George Scott trong Đại đội E nhớ lại một đêm khuya sau khi đi phép xả trại về, ngồi trong lều nói chuyện với vài người bạn. Ira lẻn vào lều và, không nói không rằng, phóng một lưỡi lê về hướng Scott đang ngồi. Mũi lê cắm xuống đất. Scott kể: “Tất cả chúng tôi đều nhìn anh ấy mà không nói gì. Anh ấy chi quắc mắt đứng đấy. Tôi không nghĩ anh ấy cố ý làm hại tôi. Anh ấy chỉ giận dữ. Anh thường giận dữ mà không có nguyên nhân rõ rệt. Anh sẵn sàng gây hấn với thiên hạ; bằng cách nào đấy anh muốn tách ra khỏi mọi người.”

        Có lẽ điều ngạc nhiên nhất là Franklin Sousley lại là bạn thân của Ira.

        Franklin đi đến Trại Pendleton với “đôi mất sáng và tóc bù xù” như cách người Kentucky quê ông thường nói, một chàng trai ở tuổi 18, gầy trơ xương, ăn nói lè nhè, tóc hoe vàng lòa xòa. Ông đã to khỏe lên trong trại tân binh, bây giờ cao hơn 1,8 m, người chỉ toàn là xương và cơ bắp. Nhưng tính khí thì vẫn thế: trong khi Ira khắc khổ thì Franklin lại xuề xòa. Khi mới gặp bạn bè có vài phút là anh đã có thể làm cho họ cười ngặt nghẽo. Bài “Thủy quân Lục chiến Hành khúc” đã trở nên phổ biến trong trại, và bây giờ anh viết ra một giai điệu mới, nửa đùa cợt nửa nghiêm túc gọi là “Oh, Lord, Make Me Lucky (Take Me Home to Kentucky)1.”

        Bạn bè anh thích đùa cợt về tính dân dã của anh. Bill Ranons thích nói vui: “Trong cả đám, chi có hắn nghĩ các loại khẩu phần K là ngon.”

        Đầu óc Franklin luôn nghĩ đến Kentucky và những người ở quê nhà. Vào Tháng Bảy, ông viết một lá thư hết sức cảm động cho bà mẹ đang làm lụng vất vả: “Mẹ viết thư cho con, con biết mẹ đang bệnh. Con muốn mẹ đừng làm việc ngoài cánh đồng ấy nữa để được mạnh khỏe mà chờ con về. Mẹ có được một vụ thuốc lá mỗi mùa hè, nhưng con không thể có được một người mẹ khác như mẹ.”

        Mike Strank làm việc theo nhiều cấp độ khác nhau, vào ngày cuối tuần ông là bạn nhậu, lúc vui vẻ ông làm trò hề, rồi đến sáng thứ Hai ông nghiêm túc trở lại. Ông được nhiều người nhất trí cho là tiểu đội trưởng tài ba nhất trong trung đoàn. Tổ của ông - gồm có Harlon, Ira và Franklin dưới quyền - cũng được xem là tổ giỏi nhất trong trung đoàn.

        Cách thức của Mike là kỷ luật pha trộn với tính dịu hiền. Trong những chuyến di chuyển lên xuống dọc theo vực núi

        Pendleton, khi các chàng trai than thở vì những hoạt động đơn điệu nhàm chán, Mike cho dừng quân, lục trong túi lầy ra một thỏi sô-cô-la, cẳt thành từng mảnh nhỏ, rồi nói: “Đây là thuốc bổ cho các bạn.” Mọi người đều cười.

        Robert Radebaugh vẫn còn thích thú khi nhớ về một đêm Mike tổ chức một buổi cầu hồn trong lều của ông, giữa một đám nhóc với đôi mẳt nhảm nghiền và hai bàn tay xòe phía trên mặt bàn. Ông nói mình sẽ đặt những câu hỏi cho chiếc bàn và chiếc bàn sẽ trả lời bằng cách gõ trên sàn (Dĩ nhiên, Mike là người gõ).

------------------
        1. Tương tự như cách nói “Lạy Trời cho con về, trở về nhà mụ xề.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:55:57 AM

        Ngày 19/9 - trùng với sinh nhật của Franklin - lính TQLC rời San Diego trên những chiếc hải vận hạm. Chuyến hải hành mất bốn tháng. Nhiều người trong số này sẽ không bao giờ gặp lại quê nhà ở nước Mỹ nữa. Nhưng tất cả đều thoáng thấy được Thiên đường trước khi cơn bão lửa ập đến. Và còn một “thành phố chuyên dụng” thứ nhì, cũng to lớn, nằm trong Thiên đường ấy.

        Thiên đường - Hawaii - từ boong tàu trông thật xanh tươi và mời gọi khi các hải vận hạm thả neo trong vịnh Hilo. Một số chàng trai trẻ quen sống sâu trong đất liền chưa từng thấy cảnh nào lạ lẫm đến thế. Một lính TQLC sau này nhớ lại đấy như là “một khối ngọc bích khổng lồ lấp lánh trong màu xanh thảm của Thái Bình Dương.”

        Họ bước lên những toa tàu chạy trên đường sắt khổ hẹp đến doanh trại mới, dọc đường ngắm nhìn những thác nước, đồn điền trồng dứa, rừng già dương xi với những chùm hoa khoe sắc, chim két kêu chói tai khi bay lượn. Đây là “Đảo Lớn”, chính là Đảo Hawaii.

        Tuy nhiên, mọi người đều nhanh chóng xóa bỏ ảo tưởng mà trở về với thực tại trước mắt - bãi đất tập luyện bụi mù, gian khổ. Hóa ra chặng cuối cùng của Sư đoàn Mũi giáo lại là một trại huấn luyện khác được thiết lập từ một trang trại nuôi bò. Lúc cuộc chiến mới diễn ra, người chủ Richard Smart của trang trại đồng ý cho binh chủng TQLC thuê trang trại rộng hơn 16.000 ha với giá một đô la mỗi năm. Đây là nơi Sư đoàn 2 TQLC về nghi ngơi sau trận Tarawa năm 1943. Binh chủng TQLC đã đặt tên mới là Trại Tarawa, và tên này vẫn còn được sử dụng cho đến cuối cuộc chiến.

        Trại Tarawa trải dài giữa hai ngọn núi lửa Mauna Kea và Mauna Loa, mà binh sĩ từ đây có thể nhìn thấy hai đỉnh núi phủ tuyết. Trại nằm cách thị trấn Hilo hơn 100 km và cách bờ biển 25 km. Quang cành ở đây còn kém xa Vườn Địa đàng. Mặt đất phủ đầy những phiến đá đen bóng loáng và dung nham đã khô cứng. Phủ trên mặt đá là lớp bụi núi lửa bị cuộn tung lên mù mịt mỗi khi có trận gió thổi qua, bay vào mắt các chàng trai, tăng thêm hương vị cho thức ăn của họ.

        Roy Steinfort kể lại: “Ôi trời, với đây những đá dung nham và bụi luôn tung mù mịt như thế, Trại Tarawa là chốn khổ ải. Hội Chữ thập Đỏ cho biết nơi đây không thích hợp đế giam giữ tù nhân. Thế là nó trở thành nơi hoàn hảo cho lính TQLC.”

        Còn nói về thực phẩm, binh sĩ không hề được nếm qua món bít-tết mà trang trại nuôi bò đã cung ứng cho dân sành ăn nước Mỹ. Một binh sĩ kể lại: “Chúng tôi ở trong một trại nuôi bò lớn nhất trên Đảo Hawaii, nhưng không hề được ăn thịt bò và không hề được uống nước dứa. Thay vào đấy, chúng tôi phải sống qua ngày với thịt cừu.”

        Một phụ nữ bản địa - một người nấu bếp có tên thân mật là Sue - đến thay cho cho khẩu vị các chàng trai bàng một món đặc sản: bánh mì kẹp thịt. Mỗi ngày, Sue kiếm một con bê ở lò sát sinh và cho vào máy xay thịt. Những phân thịt thăn và sườn tạo thêm nhiều hương vị, và còn có rau cần tây và vỏ bánh mì. Lính TQLC xếp hàng dài để mua bánh mì kẹp thịt của Sue đến nỗi dân địa phương không thể chen chân vào được.

        Một hôm, Sue trông thấy một anh chàng trông giống như người bản xứ, có lẽ là cư dân của Đảo Hawaii. Cô hỏi anh có đúng thế không. Anh chàng đáp không phải, anh là người Da đỏ Mỹ. Anh tự giới thiệu tên mình là Ira Hayes.

        Ở đây, trong bốn tháng cuối cùng trước khi sư đoàn xuống hạm đội khổng lồ để đi đến nơi hiện vẫn còn giữ tối mật - vì hòn đảo của Nhật chi được nêu tên trong bản đồ là “X” - lính TQLC hoàn thiện những kỹ năng vô cùng chuyên sâu mà họ sẽ rất cần cho thử thách lớn lao sắp tới. Họ sẽ học nhảy xuống nước từ trên tàu, chạy lên bờ, rẽ trái, rồi cô lập một ngọn núi.

        Thuật ngữ “nhảy xuống nước” không diễn tả hết sự khó khăn chết người của bước đầu này trong chuỗi các hoạt động. Người lính phải thót tim từ lan can tàu tụt xuống mành lưới dây thừng giăng theo thân tàu - mỗi bước tụt xuống càng thêm nặng nề vì chiếc ba lô nặng trĩu - rồi hạ người xuống tàu đổ bộ đế tiến vào bờ biển. Các chàng trai phải cố bám chắc khi chiếc hải vận hạm liên tục lắc lư giữa những ngọn sóng cuồn cuộn. Vài binh sĩ bị sẩy chân và rơi từ trên cao xuống nước, vài người khác bị va đập mạnh vào thân tàu khi hai tàu va chạm nhau.

        Khi tôi còn nhỏ, có một lần cha tôi kể sự thách thức của hoạt động này. Đấy là một trong những lần rất hiếm hoi mà ông kể về đoạn đời của mình trong cuộc chiến, vì thế càng làm cho tôi có ấn tượng mà nhớ mãi.

        Ông kể lại việc phải cố bám chặt để giữ mạng sống, cố kìm hãm cơn nôn ọe và nỗi kinh hoàng trong khi ông tụt xuống theo một người lính bên dưới, ông nói với tôi: “Cha phải liên tục tự nhủ "nếu hắn làm được thì mình cũng làm được".”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 12:59:54 AM

        Trong nhiều tháng kế tiếp, nhũng gì mà các chàng trai phải làm, những gì liên hệ đến sự sống còn, những gì thuộc về sự tỉnh táo trong cơn nguy hiểm loạn cuồng, chỉ quy về việc ấy: tụt xuống theo một người lính khác bên dưới. Nếu anh kia làm được thì họ cũng làm được.

        Những cuộc diễn tập ở Trại Tarawa với địa hình đầy đá sỏi, mở rộng đến những đợt sóng Thái Bình Dương cuồn cuộn, được thiết kế gần với thực tế chiến trường nhất, để giúp người lính trải qua điêu kiện thực sự trước khi đi đến Iwo Jima, để kinh qua những phản xạ, những bản năng, những giấc mơ. Kết quả lý tưởng của Tarawa là, một khi đã bước vào trận chiến, người lính sẽ không phải suy nghĩ. Đầu óc họ sẽ không có chọn lựa nào khác mà phạm sai lầm. Họ đã kinh qua thực tế chiến trường trước khi bước vào chiến trường thực sự.

        Trong khi các chàng trai tập luyện đi tập luyện lại, thì một buổi họp bí mật ở Trân Châu Cảng sĩ quan cấp tá và cấp tướng của họ bàn thảo chiến lược dựa theo những chỉ thị rạch ròi từ thủ đô Washington. Sĩ quan các cấp cùng mổ xẻ và hoàn thiện chiến lược này trong một căn phòng cấm người ngoài nhòm ngó, nằm gần tổng hành dinh sư đoàn, một tòa nhà có cái tên giản dị là “trung tâm hội nghị”.

        Các cửa sổ của trung tâm hội nghị đều được kéo rèm kín, các cánh cửa đều có hai lớp khóa, xung quanh tòa nhà đều được rào bảng dây kẽm gai, luôn có Quân cảnh canh gác. Bất kỳ ai vào trung tâm hội nghị đều phải có giấy phép đặc biệt.

        Chính tại tòa nhà tối tăm này vào tháng 11/1944 một nhóm nhỏ huấn luyện viên được biết Đảo “X” chính là Iwo Jima. Fred Haynes, dưới quyền Harry, nhớ lại chương trình huấn luyện ở Trại Tarawa đã thay đổi thế nào sau khi họ nghiên cứu những bản đồ của Iwo Jima:

        Chúng tôi biêt sẽ đổ bộ lên Bãi biển màu lục ngay dưới chân núi Suribachi. Và chúng tôi biết sẽ phải cô lập núi Suribachi.

        Trên Đảo Hawaii, chúng tôi tìm ra một ngọn núi đá - là núi lừa đã tắt - có chiêu cao gần bằng Suribachi, khoảng 170 m. Chúng tôi đánh dấu một “Bờ biển” quanh Núi Suribachi này.

        Roi chúng tôi cho binh sĩ tập luyện “đổ bộ” lên Đảo “Iwo” này. Ra lệnh cho họ băng ngang hòn đào này để cô lập ngọn núi khỏi phần còn lại của hòn đảo.

        Chúng tôi chia lính súng trường thành từng tốp trên dưới 25 người đế ngồi trên tàu đổ bộ, kế cả sáu người giương ngọn cờ cũng phải tập luyện như thế nhiều lần. Mỗi nhóm lập đội hình ở khoảng cách như thế họ đang ở trên biển, rồi tiến vào “Bờ biển”. Họ tiến lên cho đến vị trí ghi dấu bờ biển rồi thiết lập vị trí. Tiểu đoàn 1 tiến thẳng lên băng ngang hòn đảo trong khi Tiểu đoàn 2 cùng Đại đội E lập tức vòng qua bên trái để cùng nhau chiếm giữ ngọn núi.

        Chúng tôi đã mài mòn cả nghìn đôi giày làm bằng cao su cứng vì phải chạy trên đá núi lửa lởm chởm. Cung ứng đủ giày cho binh sĩ là việc khó khăn.

        Sau những lần tập luyện trong Trại Tarawa, Ira Hayes vẫn cố lấy lại thời tuổi trẻ người Pima của mình. Nhũng lúc hiếm hoi được rảnh rỗi, ông cùng với người bạn Ed Castle đi tìm ngựa để cưỡi. Việc này thì dễ nếu người ta không sợ cưỡi ngụa lưng trần. Castle nhớ lại: “Không có chiếc yên nào, vì thế chúng tôi phải đứng trên một chỏm đá rồi nhảy xuống lưng ngụa. Chúng tôi phải nắm chặt lấy bờm ngựa... để khỏi bị ngã xuống đất. Ira cưỡi ngụa rất giỏi mà lại thích cưỡi ngụa lưng trần. Lúc ấy anh nói đến cảm giác được tự do, rong ruổi cùng khắp vùng bình nguyên tuy không có khu bảo tồn nào.”

        Franklin không được may mắn. Ông không thể trở về thăm quê nhà ở Kentucky. Vì thế ông tìm cách mang một chút hương vị Kentucky đến Tarawa.

        Một ngày, Bill Ranous ngửi thấy một mùi lạ lùng trong khu lều của đại đội, gần lều của Franklin. Còn hơn cả lạ lùng: đúng là mùi thối. Ông hỏi Franklin: “Mùi gì thế?”

        Franklin ngó quanh quất để biết chắc không có ai khác, rồi ra dấu cho Ranous đi đến chiếc chõng của mình. Ông lẳng lặng giở tấm chăn lên để lộ một cái chậu chứa đây chất sền sệt gì đó sậm màu và nặng mùi.

        Ranous hỏi: “Cái gì thế?”

        Franklin trả lời một cách hãnh diện: “Rượu nho!”

        Ranous nhanh chóng được biết đó là thứ mà anh trai trẻ người Kentucky sẽ lọc để làm ra một loại rượu lậu nhâm nhi cho đỡ nghiền.

        Franklin giải thích cho Ranous nghe là khi phục vụ nhà bếp ông lấy được một ít nho. Ông cho vào một ít men rồi chờ cho thiên nhiên làm những việc còn lại. Đấy là kỹ năng nghề cũ mà ông mang đến từ rặng núi Appalachians.

        Ranous nhớ lại: “Anh ấy thực sự hãnh diện về món rượu lậu làm từ nho của mình.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:01:55 AM

        Cha tôi trải qua những ngày trong Trại Tarawa vừa làm nhiệm vụ vừa nghĩ về quê nhà. Theo những gì các bạn ông còn nhớ, ông vẫn tỏ ra trầm lặng và chú tâm đến công việc cũng giống như những ngày hạnh phúc ở Wisconsin. Con tim ông nung nấu một giấc mơ ngay khi một địa ngục bắt đầu sục sôi ở bên kia đại dương: một giấc mơ rõ ràng và giản đơn là mong một ngày nào đấy được trở về nhà để mở dịch vụ mai táng. Dù cho chung quanh ông lấp đầy những hoạt động xôn xao, ông luôn ấp ủ giấc mơ ấy trong đầu.

        Robert Lane còn nhớ về tính trầm lặng của cha tôi trong những ngày này. Ông nói: “Anh ấy có vẻ già dặn hơn phần lớn những người khác. Anh ấy không bao giờ tham gia vào một chầu nhậu nào. Và anh ấy thường kế cho tôi nghe làm thế nào để đổi xử với những người đang đau khổ vì mất người thân. Anh ấy thường làm như thế, trong dịch vụ mai táng.”

        Vào tháng 11, những binh sĩ mà bang của họ ở quê nhà cho phép bầu cử khiếm diện được quyền bỏ lá phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử. Nhưng đa số các chàng trai chưa đủ tuổi đi bầu. Trong thời gian này, các trung đoàn bộ binh đang thực tập những cuộc hành quân kéo dài 72 giờ, trong khi chiến đấu cơ và oanh tạc cơ gầm rú trên đầu. Các cuộc thực tập đổ bộ tiếp tục và vẫn tiếp tục.

        Chính vào tháng 11 Harlon Block đã có một cử chỉ để ghi dấu ấn cho tình thương với mẹ Belle của ông. Sư đoàn 5 công bố một kế hoạch bán bảo hiểm cho mọi người. Harlon mua một hợp đồng bảo hiểm trị giá 10.000 đô la. Người thụ hưởng là mẹ Belle. Không phải là cha Ed, cũng không phải cả hai cha mẹ như thông lệ, mà chỉ mình mẹ Belle. Làm như thế, ông nghĩ nếu mình có mệnh hệ nào thì bà mẹ vẫn được thoải mái về vật chất.

        Vào tháng 11, vài tuần trước khi xuống tàu ra đi, Harlon viết một bức thư cho bà mẹ. Trong thư ông mường tượng ra cảnh sống ở quê nhà: “Xem nào, vụ cam đầu mùa đã qua, vụ quýt cũng thế. Tháng sau mẹ sẽ bán được một vụ khác.” Ông hỏi tin tức về đám bạn chơi bóng đá Mỹ mà cả bọn cùng kéo nhau đi đăng ký nhập ngũ: “Những đứa khác cùng nhập ngũ với con có khỏe không?”

        Khi nghĩ đến Giáng sinh, ông nhắc đến cô bạn gái mà ông đã bảo mình sẽ không bao giờ trở về: “Mẹ mua giùm con một món quà cho Catherine và gửi đến cô ấy. Mẹ mua món nào thích hợp cho dịp này. Mẹ hẳn biết rành hơn con.” Harlon yêu cầu mẹ Belle: “Mẹ mua quà gì đó cho tất cả bọn trẻ, còn cha nữa, đừng quên ông ấy.” Rồi chàng trai hướng đến bà mẹ mình, và tưởng tượng mình là ông già Noel của bà: “Trên hết, mẹ đừng quên chính mình. chỉ cần đi ra thị trấn mà mua cho mẹ một chiếc mũ, áo choàng, áo ngắn và đôi giày và cả ví. Mẹ cứ xài tiền cho thoải mái.”

        Tháng 12/1944. Mùa Giáng sinh cuối cùng đối với quá nhiều chàng trai trẻ. Rồi chuyến hải hành bốn mươi ngày đến Ivvo

        Jima. Những chàng trai của Sư đoàn Mũi giáo đã được huấn luyện dày dạn trong mười tháng. Họ đã lãnh hội được tất cả kỹ thuật chiến tranh. Nhưng quan trọng hơn, họ là một tập thể đồng nhất. Mỗi người sẵn sàng chiến đấu vì người kia. Những chàng trai này gắn bó với nhau qua những cảm nghĩ còn sâu sắc hơn bất kỳ người nào khác trong đời họ.

        Thành phố mênh mông, chuyên dụng đầy rẫy những người - thật ra là những trai trẻ, nhưng bây giờ trở thành người có kỹ năng thuần thục, sẵn sàng cho nhiệm vụ - chuẩn bị tiến ra Thái Bình Dương. Phía sau họ, trên nước Mỹ an bình, danh ca Bing Crosby cất tiếng hát về một Giáng sinh tuyết trắng, giống như những Giáng sinh mà ông đã từng biết. Phía trước các chàng trai là một hòn đảo nóng bỏng gồm cát đá đen sì, nơi mà nhiều người trong số họ sẽ đảm bảo một tương lai lâu dài của nhiều ngày Giáng sinh bằng cách hy sinh mạng sống của mình.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:06:19 AM
         
Chương 6

HẠM ĐỘI

Xin đừng lo lắng cho con, Mẹ ạ.
Con sẽ được bình an.

Trích bức thư cuối cùng của một người lính TQLC trên đường đi đến Iwo Jima

        Không có đám đông nào reo hò để đua tiễn Mike, Harlon, Ira, Doc, Rene và Franklin khi họ rời Trại Tarawa. Đế bảo toàn bí mật quân sự, họ di chuyển đến Cảng Hilo trong đêm tối.

        Đích đến của họ là “Đảo X”. Họ chỉ biết thế. Đối với lính TQLC hoạt động trên vùng Thái Bình Dương, chuyện như thế cứ được lặp đi lặp lại. Huấn luyện trong nhiều tháng, đổ bộ tấn công một hòn đảo chưa ai từng nghe nói đến, rồi lại thêm huấn luyện và một cuộc tấn công khác.

        Ở Châu Âu, binh sĩ giải phóng những thành phố và được hoan hô như là anh hùng. Nhưng trên vùng Thái Bình Dương thì lại là chuyện khác. Sau khi bước bì bõm trong những khu rừng già hôi thối và chiến đấu qua những bãi san hô, những người sống sót sau chiến trận chỉ mang hồi ức của những đồng đội đã bò mình khi đứng trên tàu nhìn ra biển trên đường trở về căn cứ để tham dự thêm huấn luyện.

        Nhưng các chàng trai đang trên đường đến Đảo “X” thì được đối xử đặc biệt. Cùng với gần 500 con tàu trong hạm đội, họ ghé qua Trân Châu Cảng để được nghỉ phép xả trại trước khi bước vào chiến trận.

        Honolulu!

        Mike chen chúc giũa chiến hữu cũ ở đội biệt kích trong những quán bar chật ních lính TQLC đang vui hưởng như thể sợ sẽ không còn có dịp uống bia nữa. Đối với nhiều người, điều này sẽ trở thành sự thật. Ira và Joe Rodriguez bước dọc theo các đại lộ qua khu phố Tàu của Honolulu, nơi mà các chàng trai đông gấp 100 lần số phụ nữ. Doc và Rene đứng xếp trong hàng dài ở khu giải trí cung cấp phương tiện viết thư, phòng chơi bài, và quầy bia rượu. Nhân dịp này, Franklin có động thái tỏ lộ tình yêu mến bất diệt đối với binh chủng: ông cho xăm lên cánh tay phải huy hiệu của TQLC.

        Khi một chiếc sà lan tiến kế bên chiếc tàu chở Harlon để đón ông lên bờ, ông thoáng thấy một khuôn mặt quen thuộc trong đám lính TQLC. Ông lẳng lặng bước xuống thang dây, nhảy xuống xà lan, gây bất ngờ cho chiến hữu cũ Glen Cleckler bằng cách đập lên lưng ông này. Glen Cleckler là cầu thủ hậu vệ của đội bóng Panthers mà Harlon thường thi đấu cùng anh.

        Hai chàng trai đi tha thẩn trong thành phố rồi gặp một số cựu học sinh Weslaco khác. Có quá nhiều cựu học sinh Weslaco như thể toàn bộ binh chủng TQLC đã kéo về nơi này! Các chàng trai reo lên: “Đây phải là trận đánh lớn”, có ý nói cuộc tấn công lên chính quốc Nhật Bản.

        Nhưng trong khi cả đám còn hồ hởi cho đến khuya, Harlon lại trở nên nghiêm túc. Trong khi những người bạn ông đang bước ra từ một rạp chiếu bóng, ông lẳng lặng quay sang Glen, tháo chiếc nhẫn của mình ra cùng với vài bức ảnh trong túi, nhét vào tay của Glen. Ông nói: “Trao những món này cho bà mẹ mình. Vận may của mình xem như sắp hết. Mình không nghĩ sẽ có ngày trở về.” Giống như những người khác khi nghe câu này, Glen chỉ cười để đánh trống lảng. Ông cố trả lại các món vật, nhung Harlon có vẻ phật ý, thế nên Glen đành nhún vai mà nhận lấy. Ông kể với tôi: “Tôi không hiểu sự thể ra sao, nhưng Harlon trông rất nghiêm nghị.”

        Ít ngày sau, ngay trước khi rời Hawaii, Harlon gặp một đồng đội trong đội bóng Weslaco Panthers, Leo Ryan. Harlon lùng sục Leo cho đến khi tìm được ông này trong một căn lều quân y viện Hải quân bên ngoài Honolulu. Leo bị thương khá nặng, được băng bó khắp người và tạm thời bị mù vì một quả pháo của quân Nhật trong trận đánh Tarawa.

        Leo sống sót một cách may mắn. Một quả pháo 155 ly nổ giữa ông và đám bạn. Ông nằm giữa những xác người chồng chất như đống củi khiến cho người ta nghĩ ông đã chết. Khi một quân y tá tìm ra ông, quả đạn đã khiến cho mũi ông nát vụn, mặt bầy nhầy đầy thương tích, một bên xương hàm trật ra ngoài, cả hai con ngươi bật ra khỏi hốc mắt - treo lủng lẳng bên ngoài, chỉ còn dính bởi cuống con ngươi.

        Người quân y tá thấy ông nằm mê man và bất động trên đống xác người, yêu cầu gửi một điện tín cho Jean Ryan báo là chồng bà đã hy sinh. Chỉ sau đấy, khi một quân y tá khác đi ngang nhận thấy ông còn nhúc nhích, ông mới được kéo ra khỏi đống xác người, được chữa trị rồi được chuyển về Oahu. Không những ông được phục hồi sức khỏe mà sau cùng còn lấy lại thị lực.

        Bây giờ, trong căn lều quân y tại một thành phố chỉ toàn lều quân y trải dài dọc nhiều con đường - có rất nhiều con đường -  hai chàng trai trẻ thầm thì chuyện trò trong khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Harlon chủ yếu nói chuyện; Leo lúc này còn bị mù và mặt mũi băng kín thì chỉ lắng nghe. Vinh quang của một mùa bóng không hề thua trận nào dường như đã là quá khứ xa xôi.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:08:22 AM

        Harlon thổ lộ những ý nghĩ về định mệnh của mình như ông đã từng thổ lộ với những người khác. Ông vẫn điềm tĩnh như khi nói với anh Ed Jr. và chị Maurine. Ông đã suy nghĩ về số phận của mình: ông sẽ thi hành nhiệm vụ đối với đất nước. Ông sẽ chiến đấu. Ông sẽ chết. Ông nói với Leo: “Cho đến giờ mình vẫn còn được may mắn an lành. Nhưng mình sẽ không có may mắn nữa. Phần số của mình đã hết.”

        Nhưng còn nữa. ông nói đến kỳ nghi phép ở Weslaco nhiêu tháng trước như là: “Một món quà của Thượng đế, một hoạt động của định mệnh đã cho anh ấy cơ hội cuối cùng để nói với người thân rằng anh sẽ không quay về.” Rồi Block nói về đức tin tôn giáo đang xuất hiện trở lại trong tâm tư ông. Ông nhận ra rằng, mình phải ra chiến tuyến để giết đối phương, nhưng cảm thấy không được thoải mái khi làm như thế. Harlon nói về ý nghĩa của Điều Giáo lệnh thứ Năm “Con không được giết người”, và bây giờ chính phủ lại ra lệnh ông phải giết người. Leo nhớ lại: “Eleanor Roosevelt1 đã than phiền rằng lính TQLC là một đám hoang dã sau khi vài người lính đã đập phá một số quán bar ở miền bờ biển phía tây. Harlon cảm thấy bị xúc phạm vì việc này, sau khi được huấn luyện cách giết người chống lại đức tin tôn giáo của mình và rồi bị lên án là kẻ giết người.”

        Cuối Tháng Giêng, hạm đội khổng lồ chậm chạp rời Trân Châu Cảng, rẽ sóng thành đội hình dài trên 100 km. Trên chiếc hải vận hạm uss Missoula là sáu chàng trai đặc biệt: sáu chàng trai tóc đang lộng gió, không hề biết gì về vị trí của họ sau này trong lịch sử bí ẩn.

        Các chàng trai đang tiến đến vận mệnh của mình. Cha tôi, Ira, Mike, Franklin, Harlon và Rene đang tiến đến điểm hẹn với tinh thần cả quyết, tận tụy để bảo vệ quê nhà thiêng liêng. Những chàng trai Mỹ thích an bình sắp đối mặt với những samurai bị ám ảnh về truyền thuyết. Đây không chỉ đơn thuần là một trận đánh. Đây sẽ là một cuộc chạm trán khốc liệt về văn hóa giữa Đông và Tây. Văn hóa phương Tây là tinh hoa của nền văn minh dân trị và hệ thống sản xuất hàng loạt theo phương cách Mỹ: qua nhân lực tự nguyện, qua công nghệ, đào tạo và nền tảng công nghiệp; văn hóa phương Đông là giai cấp thừa hành ưu tú của một xã hội được quân sự hóa triệt để với giáo điều cho rằng không có vinh quang nào cao hơn là hy sinh khi chiến đấu.

        Kết quả cuộc xung đột lần này sẽ thay đổi số phận của cả phương Đông và phương Tây trong hàng thế kỷ.

        Hạm đội khổng lồ của Hoa Kỳ gồm những công nghệ hiện đại nhất rẽ sóng đêm ngày trong hành trình dài gần 6.500 km. Sau khi bị cú bất ngờ ở Trân Châu Cảng rồi bị tơi tả từ trận này qua trận khác trước sức tấn công vũ bão của Nhật Bàn, cuối cùng Hoa Kỳ định thần trở lại và đã tập trung được sức mạnh. Bây giờ người khổng lồ Mỹ đã hoàn toàn tỉnh giấc và tỏ ra quyết tâm, đang lùng sục đại dương và mọi ngóc ngách của đất liền để đánh đuổi đối phương.

        Chỗ ăn ngủ trên chiếc Missoula không thể nào được thoải mái. Con tàu chỉ có vài khoảng hẹp để tụ tập, thế nên phần lớn các chàng trai phải ở trong khoang giường ngủ cùng với ba lô, khẩu súng và mũ sắt. Khoang buồng ngủ là hầm chứa hàng hóa phía dưới boong tàu, đặt những giường tầng từ sàn lên đến trần. chỉ khổ cho những anh nào nằm ở tầng dưới khi cái anh nằm ở tầng trên đang bị say sóng. Những ngày trôi qua như dài vô tận. Vài người lính chơi bài, vài người đọc sách kể truyện bí ẩn hoặc truyện cao bồi, những người khác có tính cẩn thận thì lau đi lau lại vũ khí của họ. Nhiều cuộc họp chiến thuật được tổ chức; sĩ quan và hạ sĩ quan trình bày chiến thuật trên bờ biển cho những tiểu đội và trung đội dưới quyền, hết lần này đến lần khác. Binh sĩ biết rõ sẽ phải tác chiến như thế nào. Họ đã thực hành cả năm qua. Một lần nữa, họ ôn lại các chi tiết.

        Một chú nhóc đi khắp boong tàu cho biết mình nhận làm công việc mài dao. Anh ta nhận mài dao, kéo và lưỡi lê cho bất kỳ ai. Không cần biết trước đây anh đã mài dao cho ai không, chỉ cần tìm ra việc để làm. Phải làm việc gì đấy cho qua thời giờ.

        Chiếc Missoula chở 1.500 người trong đó toàn bộ Đại đội E. Vào lúc hạm đội này kết hợp với hạm đội thứ hai đang từ Úc tiến lên phía bắc, tổng số tàu sẽ là hơn 800 chiếc, vận chuyển ba sư đoàn TQLC được bổ sung với những thành phần yểm trợ. Tất cả những tàu và chiến binh này đang tụ hội đến một hòn đào rộng khoảng 20 km2 cách thủ đô Tokyo của Nhật Bản gần 1000 km về hướng nam.

------------------
        1. Phu nhân Tổng thống Roosevelt.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:09:06 AM

        Việc di chuyển trên 100.000 người - TQLC, các đơn vị yểm trợ của Hải quân và lực lượng Duyên phòng - với khoảng cách gần 6.500 km trên mặt đại dương trong ba tuần đã là một chiến thắng cho nền công nghiệp Hoa Kỳ đang lớn mạnh từng ngày sau thời gian đất nước bị lâm nguy. Lúc khởi đầu cuộc chiến, sức mạnh của Hải quân Nhật Bản là gấp hơn hai lần so với Hải quân Hoa Kỳ. Nhưng xuyên suốt đại lục Mỹ, những nhà máy trước đây làm việc ì ạch giờ đã hồi sinh. Phần lớn các con tàu đang rẽ sóng hiện giờ chỉ mới được xuất xưởng trong vòng sáu tháng gần đây. Tất cả các chiến trường đều được yêu cầu hỗ trợ và họ đều cung ứng những gì có thể được. Có những hỗ trợ từ Thống tướng MacArthur ở Philipines, từ các bộ chỉ huy ở Trung Hoa và Ấn độ. Thống tướng Eisenhower ở Châu Âu thắc mắc: “Họ đang làm gì ở đằng ấy?”, và rồi điều một số hải vận hạm trước đây đã chuyên chở binh sĩ từ Anh quốc đến các bờ biển ở Normandie bên Pháp.

        Và đây không chỉ là chuyện khí tài. Nhiều người dân Mỹ đã cung ứng nhiều thứ cho các chàng trai. Sau lưng mỗi người trên con tàu là hàng trăm công nhân trong những nhà máy ở những thành phố và thị trấn, trên những cánh đồng. Nam Hướng đạo sinh thu thập giấy và kim loại để tái chế. Một cô gái trẻ, sau này mang tên Marilyn Monroe, đang trình diễn ở công xưởng quốc phòng.

        Người dân Mỹ đã cống hiến rất nhiều cho lực lượng hùng mạnh này.

        Đối với mỗi người lính TQLC trong tổng số 90.000 có gần 600 kg quân nhu và quân cụ. Vài thứ nghe có vẻ kỳ khôi như là chỉ được dùng trong gia đình: thức ăn cho chó, thùng đựng rác, bóng đèn, sơn... Vài thứ sẽ được dùng trong văn phòng trên đào: máy sao chép, giấy than, máy chiếu phim. Vài món nghe như là vật dụng cho các chú nhóc đi cắm trại: giấy vệ sinh, bít tất, dây cột giày, giấy và bút chì, đèn pin, chăn mền. Vài món được dùng cho mục đích nghiêm túc hơn: hỏa châu, plasma, bông băng, thập tự giá và hình tượng Chúa, nước thánh để hành lễ, chất khử trùng để xịt lên tử thi. Còn nhiều thứ cho mục đích trước mắt: đại bác, súng máy, súng trường tự động, lựu đạn, và các loại đạn dược. Các hải vận hạm còn mang theo 6.000 chiếc can, mỗi chiếc đựng gần 20 lít nước đủ để lính TQLC dùng trong hai tháng. Lính TQLC Mỹ cũng mang theo 5 triệu bao thuốc lá.

        Hai ngày sau khi rời Honolulu, mọi người mới được biết “Đảo X” là Iwo Jima.

        Một số người lính trong Thế chiến II sẽ có vinh dự giải phóng Thủ đô Paris của nước Pháp; những người khác sẽ giải phóng Thủ đô Manila của Philipines. Còn Đại đội E được giao một khoảnh đất nhỏ xấu xí nằm giữa đại dương, hầu như không có cây cỏ. Đấy là vùng đất hoang vu khô cằn, phủ tro màu đen của núi lửa tỏa mùi lưu huỳnh nồng nặc. “Iwo Jima” có nghĩa “Đảo Lưu huỳnh”. Hòn đảo phình to ở cao nguyên phía đông bắc, hẹp dần ở Núi Suribachi phía tây nam giống như một quả lê đặt ngược lên mà Suribachi nàm ở phần cuống quả.

        Núi Suribachi ở cực nam là một núi lửa đã tắt, và dòng dung nham khi nó còn hoạt động tạo nên những phần còn lại của hòn đảo, chảy dài gần 9 km rồi lan ra hơn 4 km ở phần rộng nhất. Bãi biển có thế đổ bộ được bắt đầu ở chân Núi Suribachi và kéo dài hơn 3 km dọc bờ biển phía đông. Ở phía hòn đảo mở rộng, mặt đất cao dần lên đến đinh đồi Motoyama, độ cao chỉ hơn 100 m khống chế góc tây bẳc của hòn đảo. Nhũng cột hơi nước và mùi lưu huỳnh nồng nặc vẫn còn tỏa ra từ đồi Motoyama cho thấy núi lửa vẫn đang âm ỉ phía dưới.

        Đảo Iwo Jima có thảm thực vật rất nghèo nàn bởi trên mặt chỉ gồm những đá tảng, cát và đất mặn nồng nặc mùi lưu huỳnh. Không hề giống như một hòn đảo Thái Bình Dương trong mơ, chỉ có lưa thưa vài bụi rậm xơ xác, không có nước ngọt. Đúng như một người lính Nhật đã viết: “Một nơi mà chim sẻ không cất tiếng hót.”

        Trên khắp các con tàu trong hạm đội, nhiều bản đồ đang được trải ra: bản đồ được in đầy đủ chi tiết, bản đồ được vẽ ra từ không ảnh, mô hình sa bàn làm bằng cao su, các loại bản đồ lớn dùng để treo trên tường và trải trên mặt bàn rộng.

        Các bản đồ cho thấy sự thách thức về quân sự. Lần đầu tiên các chiến binh nhìn thấy hình thể tam giác của hòn đảo. Chắc chắn là Mike, Harlon, Franklin, Ira, Rene và cha tôi đều chăm chú đến một núi lửa nhỏ được phòng ngự vững chắc nằm gần bờ biển nơi họ sẽ đổ bộ lên.

        Các chàng trai - nhiều người chưa dày dạn trận mạc nhưng đã qua khổ luyện - xem xét các bản đồ với tinh thần cảnh giác theo kiến thức đã học. Vài sĩ quan chiến trường - những người có thể xem các ký hiệu trên bản đồ để suy ra thực tế chiến trường - đều cảm thấy kinh ngạc. Một người trong số họ lẩm bẩm: “Nó sẽ khó nuốt như là cái lõi ngô.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:11:28 AM

        Tôi chỉ có thể tưởng tượng những người giương ngọn cờ nghĩ gì khi họ xúm xít quanh bản đồ Iwo Jima trên chiếc Missoula. Được đóng dấu “MẬT” và ghi ngày 12/11/1944, bản đồ này dựa trên “KHÔNG ẢNH HẢI QUÂN” chụp ngày 19/8 và 1/9 năm 1944. Sáu người hẳn phải chú tâm đến bãi đổ bộ của họ, được ghi “BÃI LỤC”, kế bên Núi Suribachi.

        Trung đoàn 28, trong đó có Đại đội E, sẽ đổ bộ gần Suribachi nhất. Họ nằm trong nhóm sẽ phóng lên từ phần thắt hẹp lại của hòn đảo cắt Núi Suribachi khỏi phần còn lại của hòn đảo. Từ đây, họ sẽ di chuyển về bên trái để chiếm lấy quả núi.

        Mặt đất của Iwo Jima có màu trắng trên bản đồ, nhưng màu trắng gần như bị che lấp hoàn toàn bởi những chẩm đen nhỏ thể hiện vị trí các loại vũ khí sẽ bẳn về phía đối phương khi họ đổ bộ lên Bãi Lục1 để tiến vào đất liền dưới chân Núi Suribachi.

        Hầu như mọi khí tài cho việc phòng thủ vào năm 1945 đều được thể hiện bằng những chấm đen ấy. Tất cả đều được chú giải ở góc dưới bên phải của bản đồ: Pháo Duyên phòng, Pháo Nòng đôi, Ụ Đại bác, Hố Súng trường, Hố Cá nhân, Súng Phòng không, Súng Máy, Lô cốt, Công sự Bê-tông Ngầm và Công sự Đất nện.

        Hàng trăm chấm đen nhưng không có tòa nhà nào. Không hề có cơ sở nào làm nơi ăn ở cho 22.000 quân Nhật trú phòng.

        Tháng trước, trong phòng hội nghị ở Trại Tarawa, Đại úy Dave Severance lần đầu tiên được xem qua các bản đồ. Ông kinh ngạc vì những hình vẽ uốn cong và những ký hiệu hình chữ nhật và hình tam giác, mỗi ký hiệu biểu thị vị trí đặt súng hoặc lô cốt. Ý nghĩ của ông quay về lịch sử quân sự. Ông kể: “Tôi sợ đến chết khiếp. Nó nhắc lại hình ảnh những trận đánh trong cuộc Nội chiến, với từng hàng người tiến lên thế vào chỗ những hàng người ngã xuống. Tôi biết cuối cùng chúng ta sẽ lên đến đỉnh ngọn núi ấy, nhưng bao nhiêu người sẽ ngã xuống?

        Các binh sĩ đi trên hạm đội có những phản ứng khác nhau khi biết qua mục tiêu. Vài người hy vọng trận đánh sẽ kết thúc nhanh; những người khác e sợ một chiến dịch kéo dài. Nhiều người mài đi mài lại lưỡi lê của họ không biết bao nhiêu lần, trong khi những người khác thinh thoảng mân mê chiếc bùa hộ mệnh của họ.

        Để được may mẳn, Rene gài vào tấm lưới mũ sẳt của ông bức ảnh của Pauline Harnois 19 tuổi, cô bạn gái ở khu công nghiệp dệt Chicopee nơi quê nhà. Bức ảnh cho thấy Pauline mặc bộ áo maxi dạ hội. Pauline là người mà ông đã gặp trong khi làm việc tại nhà máy dệt. Mẹ ông không thích Pauline vì nghĩ rạng cô quá bạo dạn, lấn lướt cậu con trai nhỏ của mình. Nhưng Rene thì mong bức ảnh của Pauline sẽ che chở ông trong trận chiến sắp đến.

        Phương tiện để bảo vệ Mike Strank là tính hài hước của ông. Ông làm ra vẻ cóc cần, thêm cái cười nhăn nhở và những trò đùa cợt. Ông đội chiếc mũ sắt lệch qua một bên và kể chuyện cười bằng khẩu âm thời xa xưa khiến cho những anh nông dân và thư ký văn phòng cũng phải cười bò.

        Joe Rodriguez nhớ lại ngày Mike nghe lỏm được mình kể lể cha mẹ ông đã khổ sở ra sao trong cuộc Đại suy thoái; bà mẹ ông đã may áo gối ra sao từ những bao bột cũ.

        Strank ngắt ngang: “Mấy anh hẳn đã giàu kinh khủng rồi. Để tôi kể cho mấy anh nghe mẹ tôi làm gì. Khi tôi còn nhỏ, bà may mấy chiếc quần soóc cho tụi tôi bằng bao đựng bột. Mấy anh biết không, phải mất gần sáu tuần sau khi gia nhập TQLC tôi mới biết cái chỗ mở nút đó dùng để làm gì!”

        Đầu Tháng Hai, đoàn tàu vượt qua Kinh tuyến 180 độ -  đường múi giờ quốc tế phân chia ngày cũ và ngày mới. Những cựu binh như Mike báo cho tân binh biết là khi tiến qua đường múi giờ này, họ đã quay trở lại ngày trước. Mike làm đầu têu cho trò đùa khôi hài: Binh sĩ bị kéo ra khỏi giường, bị cạo trọc đâu, phải mặc vào những bộ quần áo kỳ quặc, bị bằt phải ăn một thứ “hôi thối” gì đấy, rồi bị xịt nước khi họ đang chạy lên xuống boong tàu. Các nạn nhân bị buộc phải quỳ xuống mà hôn đôi bàn chân trần của Neptune, vị thần của biển cả.

        Mike chỉ đạo những trò này, cười cợt không dứt. John Fredatovich kể lại: “Anh ấy lôi tôi ra khỏi giường trong khi tôi đang bị say sóng, nhưng rồi anh ấy không hành hạ tôi khi thấy tôi bị say sóng nặng. Nhưng tôi cũng thấy vui. Ai cũng cười. Và Mike là kẻ đầu têu.”

        Rodriguez nhớ lại là những binh sĩ trẻ tuổi khoái trò vui nhộn này. Những chú nhóc trong bộ quân phục ấy muốn làm giống như Mike; những chú nhóc chưa đủ tự tin đều muốn làm theo Mike.

-----------------
     1. Bãi biển đổ bộ được chia ra thành từng đoạn mang tên theo màu sắc: Trung đoàn 28 đổ bộ lên Bãi Lục, Trung đoàn 27 đố bộ lên Bãi Đỏ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:17:12 AM

        Đây là hành động có tính toán. Những chú nhóc ấy - nhiều người vẫn còn ngây thơ và không mảy may nghi ngại gì - như là những đứa em trai của Mike. Họ đều tỏ ra chân chất với ông. Cuộc huấn luyện gian khổ, những doanh trại san sát nhau, những giờ nghỉ phép xả trại, nhũng bàn bài phé, những cuộc tọa đàm để hoạch định phương án tác chiến - tất cả bây giờ đã qua đi. Mọi chỉ tiết đều đã được loan báo. Mike nhận rõ cốt lõi trong bản thể của những chú nhóc này. Họ sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình - đặc biệt là hy sinh cho nhau. Nhưng phần lớn bọn họ chưa biết điều này có nghĩa là gì. Mike là người dẫn dắt họ. Ông được họ tin cậy. Bây giờ ông đang nỗ lực hết mình để mang họ trở về quê nhà.

        Mike - người nhập cư ở Mỹ - là đại diện cho những nhà chỉ huy trẻ tuổi tài ba nhất trên vùng Thái Bình Dương. Mang quân hàm trung sĩ, ông không ra oai dựa trên quân hàm của mình đối với ai cả. Ông đã thấm nhuần lý tưởng đồng đẳng của lính Biệt kích: không có sự phân chia giữa các chiến binh, không có giai cấp.

        Mike ăn cùng với thuộc hạ của mình thay vì đến ăn ở nhà ăn hạ sĩ quan. Vài tuần trước chuyến đi đến Iwo Jima, Đại úy Dave Severance cố đề bạt quân hàm Trung sĩ nhất1 cho Mike. Mike từ chối ngay, nói: “Tôi đã hứa với lính của tôi là sẽ đi cùng họ.”

        Dù cho mọi trò hoạt náo có như thế nào thì tâm trí các chàng trai vẫn bị ám ảnh bởi một khía cạnh đáng sợ của trận đánh sắp đến. Có lý do để tin rằng trận Iwo Jima còn khốc liệt hơn những trận đánh trước đây. Có lý do để trông chờ quân Nhật sẽ chiến đấu kiên cường hơn trước.

        Trong con mắt của người Nhật, Iwo Jima tuyệt đối có giá trị hơn là Tarawa, Guam, Tinian, Saipan, và những đào khác. Đối với người Nhật, Iwo Jima thể hiện cái gì đấy căn cơ hơn: Đây là lãnh địa của Nhật Bản. Miền đất thiêng liêng. Theo truyền thống Thần đạo của Nhật, hòn đảo này là một phần do Núi Phú Sĩ sinh ra ở thời khai nguyên lịch sử. Nền hành chính sau này vẫn thể hiện truyền thống ấy: Iwo Jima là một phân của Tỉnh

        Tokyo, tuy cách Thủ đô Tokyo hơn 1000 km. Thị trưởng Tokyo cũng đảm trách cai quản hành chính địa bàn Iwo Jima. Vì thế, Iwo Jima là một phần của lãnh địa đế quốc vốn từ 4.000 năm nay chưa hề bị xâm phạm.

        Đại đội E và những đơn vị TQLC khác sẽ bị xem như là kẻ xâm lấn Nhật Bản.

        Chính cá nhân Hoàng đế Hirohito đã tỏ ra lo lẳng với viễn cảnh người nước ngoài xâm phạm đến nước Nhật ở Iwo Jima. Vào tháng 5/1944, ông đích thân bổ nhiệm một người tin cẩn -  Trung tướng Tadamichi Kuribayashi, Tư lệnh Đội phòng vệ hoàng cung - lĩnh nhiệm vụ bảo vệ danh dự của nước Nhật ở trên Đảo Iwo Jima.

        Tổ tiên của Kuribayashi thuộc giai cấp samurai, qua năm thế hệ đã phục vụ các Hoàng đế Nhật. Hirohito tin tưởng rằng, đây là người sẽ cứu cho Nhật Bản khỏi cơn nhục nhã.

        Kuribayashi có tầm vóc cao so với người Nhật, cao 1,74 m, người vạm vỡ, bụng tương đối thon. Ông đã kinh qua nhiều chức vụ, từ các trường võ bị của Nhật đến nhiệm vụ tại các đại sứ quán Nhật ở Canada và Hoa Kỳ cho đến các chức vụ chỉ huy ở Trung Hoa và Mãn Châu.

        Ông quen thuộc với nước Mỹ, nói tiếng Anh rất giỏi. Vào năm 1928, khi đang là đại úy ở tuổi 38 ông làm phó tùy viên quân sự ở Đại sứ quán Nhật Bản tại Hoa Kỳ, ông đã đi ngược xuôi khắp nước Mỹ, tìm hiểu về người Mỹ và cách sống của họ. Ông thấu hiểu và tôn trọng đối phương của mình.

        Giữa tháng 6/1944, vào đêm cuối trước khi đến Iwo Jima, ông được Hoàng đế Hirohito tiếp kiến riêng - một vinh dự hiếm hoi đối với người ngoài hoàng gia. Điều thiết yếu là đám quân hoang dã không chiếm được Iwo Jima.

        Nhà lãnh đạo cao nhất của Mỹ cũng chọn người làm Tư lệnh TQLC. Vì lẽ Tướng Smith đã cao tuổi, 62, lại thêm chứng bệnh tiểu đường, Tổng thống Roosevelt phải đích thân can thiệp để đua người chiến binh già này ra chỉ huy trận chiến trên bộ.

        Bây giờ, khi lướt sóng tiến đến Iwo Jima cùng với hạm đội, Smith là “Patton của Thái Bình Dương.” Tính tình ông nóng nảy, thường có ý kiến báng bổ và liên tục xúc phạm các cấp chỉ huy Hải quân2. Nhưng cũng giống như Patton, ông đã chiến thắng nhiều trận đánh. Cho đến đâu năm 1945, ông đã có một loạt chiến thắng trên hơn 1.600 km khiến cho ngay cả Tướng Patton cũng phải ghen tị.

--------------------
        1. Với quân hàm này, Mike sẽ là trung đội phó, phải rời Tiểu đội của ông mà đi cùng ban chỉ huy trung đội.

        2. Vào lúc diễn ra Trận Iwo Jima, TQLC còn ở dưới sự chỉ huy của Hải quân, sau này mới được nâng lên ngang hàng với ba binh chủng Hải, Lục và Không quân của Quân đội Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 01:21:57 AM

        Không giống như những chiến binh khác của Quân đội Hoa Kỳ trong Thế chiến II, Smith và lính TQLC dưới quyền ông chua hề bại trận nào. Mỗi khi người lính TQLC đặt chân lên một hòn đảo trên Thái Bình Dương thì quân Mỹ giữ quyền kiểm soát luôn đảo ấy.

        Vì thế, Iwo Jima sẽ là bãi chiến trường giữa hai đại diện của Hoàng đế Nhật Bản và Tổng thống Hoa Kỳ. Smith sẽ cố đá cánh cửa chính mở vào nước Nhật; Kuribayashi sẽ cố quét Smith ra khỏi ngạch cửa thiêng liêng. Kuribayashi tôn trọng thành tích đáng tự hào của TQLC Mỹ trên vùng Thái Bình Dương. Nhưng ông quyết chí chôn vùi thành tích này dưới lớp cát đen sì của Iwo Jima.

        Vào ngày 11/2, hạm đội chở Sư đoàn 5 bắt tay với Sư đoàn 3 và Sư đoàn 4 ở Đào Saipan. Lấp đây chân trời là hơn 800 chiếc tàu, dừng lại lần cuối trước khi đi chặng hải hành cuối cùng dài hơn 1.100 km đến Iwo Jima.

        Mới tám tháng trước, TQLC đã đoạt lấy Đào Saipan từ tay quân Nhật. Bây giờ, những đường băng trắng lóng lánh đã thay thế những thi thể sình thôi nằm giữa các cánh đồng mía trên đảo này.

        Các chàng trai của Đại đội E ngắm nhìn những oanh tạc cơ Siêu pháo đài bay B-29 nặng nề chạy dọc những đường băng dài gần 5 km rồi từ từ cất cánh trên hành trình đi thả bom chính quốc Nhật. Họ không biết rằng, sẽ có những chiếc B-29 không trở về chỉ vì Iwo Jima. Chính bởi lý do này mà Mỹ đã quyết định mở trận đánh Iwo Jima.

        Vào mùa thu 1944. Hội đồng Tham mưu Liên quân Hoa Kỳ đã từ chối kế hoạch của Thống tướng MacArthur nhằm tấn công Nhật Bản từ Đài Loan và Trung Hoa. Thay vào đấy, họ ủng hộ kế hoạch của Thủy sư Đô đốc Nimitz nhằm tấn công trực diện Nhật Bản. Đánh bom phủ đầu những nhà máy công nghiệp quốc phòng và các thành phố của Nhật là một phần của kế hoạch này.

        Trở ngại lớn nhất đối với các phi công B-29 khi cất cánh từ Tinian và Saipan là mối nguy hiểm chết người từ Iwo Jima. Với hai đường băng và một đài radar, hòn đảo này nằm gần với điểm giữa Quần đảo Marianas và Nhật.

        Trên đường đến đất Nhật, khi các Pháo đài bay tiến gần Iwo Jima, đài radar trên đảo báo động cho các đơn vị phòng vệ trên đất liền để họ có hai tiếng đồng hồ chuẩn bị. Những Pháo đài bay nặng nề trên hành trình đi về hơn 4.000 km sẽ là miếng mồi ngon cho chiến đấu cơ nhanh nhẹn của Nhật cất cánh từ Iwo Jima.

        Sau khi đã vượt qua hỏa lực phòng không và chiến đấu cơ trên vùng trời Nhật, các chiếc B-29 thường bị hư hại, trên đường về một lần nữa phải đối mặt với chiến đấu cơ từ Iwo Jima. Đã có quá nhiều phi công và phi hành đoàn phải bỏ mình trên vùng nước chung quanh đảo này. Trung tướng Curtis LeMay, Tư lệnh Không đoàn 20 đã cảnh báo rằng, phi công dưới quyền ông không thể tiếp tục chịu thiệt hại như thế nữa.

        Không chỉ các oanh tạc cơ trên không trung làm mồi ngon cho Nhật. Sau cuộc chiến, Không lực Mỹ đã kết luận rằng số máy bay B-29 bị phá hủy trên mặt đất ở Tinian và Saipan còn nhiều hơn là số bị bẳn hạ trên không phận nước Nhật.

        Nhưng việc đánh đảo Iwo Jima không chỉ nhằm làm giảm thiệt hại. Nếu nằm trong tay Đồng minh, Iwo Jima sẽ có giá trị chiến lược: Các máy bay B-29 có thể đáp xuống đảo này để luân phiên thay đổi phi hành đoàn nhanh hơn, chuyển thương binh đi chữa trị nhanh hơn, và tiếp nhiên liệu cũng nhanh hơn. Và còn có những chiến đấu cơ P-51 cất cánh từ Iwo Jima bay hộ tống nhờ quãng đường đã được rút ngân.

        Do những lợi điểm vượt trội như thế, Mỹ thấy rằng cần phải đánh chiếm Iwo Jima cho dù phải trả giá đắt.

        Không lực Mỹ đang thi hành nhiệm vụ tàn phá Iwo Jima để hỗ trợ cho TQLC. Bẳt đầu từ ngày 8/12 và liên tục suốt 72 ngày, các oanh tạc cơ B-29 và B-24 đã đánh phá hòn đảo một cách không thương, tiếc, lập kỷ lục về mục tiêu bị đánh bom nặng nhất và đợt oanh tạc dài ngày nhất trên chiến trường Thái Bình Dương. Một phi công trên Đảo Saipan đã quá tự tin mà nói với Chuck Lindberg của Đại đội E: “Các bạn chỉ việc lo dọn dẹp thôi. Không ai sống sót được sau khi bọn tôi giội bom như thế.”

        Vài người hy vọng một cách lạc quan rằng, chiến dịch giội bom chua hề có tiền lệ như thế sẽ giúp cho việc chinh phục Iwo Jima hoàn tất trong vòng 2 đến 3 ngày. Nhưng trên chiếc soái hạm uss Eldorado, Tướng Smith không chia sẻ ý nghĩ lạc quan này. Ông đang nghiên cứu những không ảnh cho thấy mọi tấc đất của hòn đảo đều đã bị giội bom. “Không đoàn 7 đã thả 5.800 quả bom trong 2.700 phi xuất. Trên một dặm vuông (2,5 km2), một tấm không ảnh cho thấy có 5.000 hố bom. Thủy sư Đô đốc Nimitz nghĩ các phi công đang giội bom theo mức độ “đủ để nghiên nát mọi thứ trên hòn đảo.” Nhưng điều khó tin là sức mạnh phòng thủ của quân Nhật lại đang tăng lên. Khi chiến dịch oanh tạc bắt đâu, quân Nhật có 450 công sự phòng thủ quan trọng. Bây giờ đã có 750 công sự. Tướng Smith nhận xét: “Chúng tôi nghĩ các cuộc không kích sẽ xóa sạch bất kỳ hòn đảo nào khỏi bản đồ quân sự, san bằng tất cả công sự phòng thủ dù cho kiên cố thế nào chăng nữa, và tiêu diệt quân trú phòng. Nhưng những việc này đã không hề xảy ra. Giống như con đỉa càng khỏe thêm khi bị cẳt khúc, Iwo Jima đã lớn mạnh theo các cuộc không tập của ta.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:09:45 PM

        Mấy tấm không ảnh khiến cho vị Tham mưu trưởng của Tướng Smith bị sốc. Sau này, ông viết: “Cuộc không tập kéo dài xuống Iwo Jima, diễn ra trong suốt 72 ngày, không tạo kết quả nào trong việc làm suy giảm các vị trí kiên cố của địch.”

        Các cuộc không tập được tiếng là những hoạt động làm suy yếu quân Nhật, nhưng thật ra Iwo Jima đang trở nên cứng cỏi thêm.

        Ngoài khơi Saipan, bây giờ cha tôi được biết rằng dù cho trận đánh có dữ dội thế nào chăng nữa, ông sẽ không phải tụt xuống trên tấm lưới dây thừng - việc mà ông rất kinh sợ. Mười đợt đổ bộ đầu tiên của lực lượng tấn công được chuyển qua tàu đổ bộ LST để đi chặng cuối đến Iwo Jima. Thay vì tụt xuống trên tấm lưới dây thừng như khi huấn luyện, Đại đội E sẽ bước xuống những khoang tăm tối của tàu đổ bộ LST và chui vào xe bánh xích lội nước LVT. Các xe LVT này sẽ hạ một cánh cửa nằm xuống làm chiếc cầu dốc cho người và cơ giới tiến lên bờ.

        Một cuộc diên tập cuối cùng được tổ chức, với Tinian làm mục tiêu. Các xe bánh xích lội nước LVT từ ngoài khơi chạy vào bờ biển và đến phút cuối sẽ quay ngang. Lần kế tiếp, khi các chàng trai cảm thấy chân mình chạm đất thì xem như họ đặt chân được lên Iwo Jima.

        Ngày 15/2, đoàn quân từ giã Saipan. Chuyến hải hành kéo dài bốn ngày qua hơn 1.100 km. Ngày D được định là 19/4.

        Thời tiết tốt suốt cuộc hành trình; phần lớn binh sĩ ngủ trên boong tàu đổ bộ LST. Bây giờ, khi thời điểm chiến trận đang đến gần, họ trở nên trầm lặng và nghiêm nghị hơn. Họ mài dao và lưỡi lê, lau đi lau lại khẩu súng trường. Những buổi lễ tôn giáo đều đông đủ người. Trong đêm, họ đứng bên lan can tàu im lặng nhìn ra mặt biển lấp lánh trong khi các con tàu LST rẽ sóng Thái Bình Dương.

        Hạm đội tiến đều đặn, với định mệnh của một sức mạnh lịch sử. Không gì có thể làm chậm tiến độ. Một binh sĩ bị mất thăng bằng trên boong tàu, rơi xuống nước và thấy mình chơ vơ giữa biển khơi. Tàu của anh không dừng lại. Không có chiếc tàu nào dừng lại. Anh hoảng hốt vẫy tay kêu cứu. Những con tàu vẫn lướt qua anh. Những đồng đội của anh kinh hoàng dõi theo hình bóng anh dần xa, rồi mất hẳn. Hạm đội không thể dừng lại chỉ vì một cá nhân. Hạm đội đã được lên lịch, và phải giữ đúng giờ.

        Nhưng đây không phải là cuộc tấn công bất ngờ. Vào ngày hạm đội rời khỏi Saipan. Tướng Kuribayashi ra lệnh binh sĩ dưới quyền túc trực tại các điểm phòng ngự của họ, còn ông thì chuyển vào công sự chỉ huy của mình. Ông viết: “Tôi cầu nguyện cho một trận đánh anh hùng.”

        Đối với Tướng Kuribayashi, “trận đánh anh hùng” có nghĩa là một trận đánh quyết tử, tất cả thuộc hạ của ông sẽ hy sinh.

        Quân đội Nhật Bản không trao tặng huy chương cho người sống sót; chỉ cái chết anh hùng mới được tưởng thưởng huy chương.

        Trong Thế chiến II, người lính Nhật được kỳ vọng hơn bất kỳ người lính nước nào khác. Họ phải chiến đấu dũng cảm mà không hy vọng gì sống sót. Tất cả lính Nhật trên Iwo Jima biết rằng, hòn đảo này sẽ là nơi họ gửi nắm xương tàn.

        Kuribayashi không mong mình sẽ thắng trong trận đánh này. Ông biết quân Mỹ sẽ phóng hỏa lực và các đơn vị hùng hậu tiến đánh ông. Và vào lúc này, ông cũng nhận ra rằng Hải quân Nhật sẽ không thể đến giải cứu ông vì đã suy yếu.

        Mục đích của ông là tiền đề cho chiến lược mà đối phương của Mỹ sau này áp dụng ở Việt Nam: bất quân Mỹ phải trả cái giá quá đắt về sinh mạng để hy vọng chính quyền Washington phải chùn bước mà không dám xâm lấn chính quốc Nhật Bản. Ông ra chỉ thị cho binh sĩ dưới quyền rằng nhiệm vụ của họ là “giết mười lính Mỹ trước khi anh ngã xuống”.

        Ông đã để lại những bức thư cuối cùng để được chuyển đến thân nhân của mình ở vùng nông thôn Kyushu. Ông viết cho bà vợ: “Đừng trông chờ anh trở về!”

        Binh sĩ Nhật đã gom góp tiền bạc của họ để gửi về kho bạc ở Tokyo. Đối với cấp chỉ huy, đời sống của họ chỉ đáng giá bằng một tấm bưu thiếp, nhưng có lẽ chính quyền Tokyo có thể sử dụng tiền của họ. Mọi người trên đảo đều biết rằng, mình không còn cần đến tiền bạc nữa.

        Tất cả những gì mà binh sĩ Nhật trông chờ là bắn chết càng nhiều lính đối phương càng tốt trước khi dâng mạng sống của mình cho Nhật Hoàng.

        Binh sĩ Nhật trên Đảo Iwo Jima là những người dày dạn chiến trận. Để đảm bảo sự phòng thủ vững chắc, quân đội Nhật đã điều Trung đoàn 145 Bộ binh thiện chiến từ Mãn Châu về.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:14:05 PM

        Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, tư tưởng người lính Nhật đã được lấp đầy do bộ máy tuyên truyền nhồi nhét, ở trường sơ cấp, ở trường trung học và bây giờ là trong quân đội. Từ thời niên thiếu, họ đã được nhồi nhét rằng những anh hùng đích thực của Nhật Bản “luôn nhắc đến tên của Nhật Hoàng khi hy sinh”, chiến dịch tuyên truyền ở quê nhà luôn tô bóng cái chết vinh quang trên trận tuyến, nhưng những chiến binh dày dạn đều biết rằng lời cuối cùng mà một chàng trai thốt lên khi hấp hối trên trận địa là về một người nào khác, không phải về vị Hoàng đế. Hầu như tất cả chiến binh xuyên suốt dòng lịch sử đều thốt lên cùng một cách khi đang thều thào những hơi thở cuối cùng. Họ nói theo những ngôn ngữ riêng, nhưng ý nghĩa thì như nhau. Tiếng cuối cùng của người lính Nhật là: “Okasan”, của người lính Đức: “Mutter”, của người lính Anh-Mỹ: “Mother!” “Mom!” hoặc “Mommy”.1

        Dù cho trước khi chết người lính Mỹ và người lính Nhật phản ứng giống nhau, nhưng khi còn sống họ chiến đấu theo cách rất khác nhau. Trong chiến trận, quân Nhật sử dụng những chiến thuật tàn bạo hơn bất kỳ chiến binh nước nào khác trong Thế chiến II. Phương châm chiến đấu “không đầu hàng” có nghĩa là không thể lường trước họ sẽ hành động ra sao, vượt quá những cung cách thông thường của người lính phương Tây. Trong Trận Tarawa, chỉ có 17 lính Nhật đầu hàng, phần lớn trong tình trạng bất tỉnh, choáng váng hoặc đã quá kiệt sức; 5.000 lính Nhật còn lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Ira viết thư kể với cha mẹ: “Con thà chiến đấu với lính Quốc xã hơn là lính Nhật.” Nhiêu lính TQLC có cùng tâm trạng này.

        Nếu bị bao vây, lính Đức sẽ đầu hàng, nhưng lính Nhật vẫn tiếp tục chiến đấu. Nếu bị thương, lính Anh chấp nhận bị bắtlàm tù binh, còn lính Nhật chực chờ cơ hội để làm nổ tung chính mình và đối phương. Khi bị thương, lính TQLC trông chờ được cứu chữa, nhưng họ không thể cứu chữa một thương binh Nhật. Họ không thể làm gì khác hơn là kết liễu cuộc đời anh này.

        Binh sĩ Mỹ lo lẳng về cách thức quân Nhật đối xử với tù binh. Quân đội các nước đều phạm tội tàn ác với đối phương, nhưng đấy là những sự cố lẻ tẻ mà cấp chỉ huy cao hơn không dung túng. Nhưng chính quyền Nhật Bản ở Tokyo, kể cả Nhật Hoàng, lại dung túng một số hành động của binh sĩ Nhật trong cuộc chiến. Lề luật cho phép lính Nhật bắt đối phương làm nô lệ, tra tấn có hệ thống, thực hiện những cuộc thí nghiệm y khoa tàn bạo, ăn thịt người, và những hoạt động khác.

        Những chuyến tàu địa ngục chất đầy tù binh Đồng minh trong những khoang tối tăm và hôi thối, đưa họ đến Trung Hoa, Đại Hàn và Nhật Bản, rồi bắt họ làm việc như là nô lệ trong hầm mỏ, nhà máy và nông trại. Lính Đồng minh bị bắt làm nô lệ để xây “Đường tàu Tử thần” chạy qua Sông Kvvai với cái giá gần 200 mạng người cho mỗi kilomet đường sắt.

        Quân Nhật cũng có một đơn vị như Mật vụ của Đức Quốc xã: những đội tra tấn mà tiếng Nhật gọi là Kempei Tai. Một trong những cách hành hạ của họ là nhét một nảm cơm xuống cổ họng một tù binh rồi luồn vào miệng người này một vòi nước cho đến khi bụng anh ta căng đây, sau đó nhảy lên người anh ta một cách không thương xót.

        Đến năm 1945, lính TQLC đã được biết về những hoạt động tàn bạo của lính Nhật. Có một bức ảnh được truyền tay trong số binh sĩ Đồng minh ở Thái Bình Dương. Bức ảnh cho thấy một phi công Úc bị bất làm tù binh, bị bắt quỳ, bịt mắt, hai tay bị trói quặt sau lưng. Một sĩ quan Nhật đứng phía trên anh ta giơ cao cây gươm samurai dáng vẻ như chuẩn bị chặt đầu người tù binh Úc. Những người lính Nhật đứng phía sau, tươi cười nhìn quang cảnh.

        Khi cuộc chiến kết thúc, số liệu thống kê cho thấy mức độ tàn bạo mà lính Nhật đôi xử với tù binh. Có 1,1% tù binh Đồng minh chết trong tay quân Đức trên chiến trường Đông Âu, nhưng 37% tù binh Đồng minh chết trong tay quân Nhật.

        Bởi vì quân Nhật chiến đấu theo những lề luật khác nhau, TQLC cũng thay đổi vài lề luật của họ. Tôi nghĩ đến cha tôi, lúc ấy 21 tuổi đang ở trên tàu đổ bộ LST tiến đến Iwo Jima. Đối với mọi người ông là “đốc tờ” - quân y tá của Hải quân. Nhưng đồng nghiệp của ông trên chiến trường Châu Âu không thể nhận ra ông là lính quân y.

        Cha tôi ăn mặc giống như mọi lính TQLC khác. Nhưng nếu chiến đấu ở Châu Âu, ông hẳn đã mang một chữ thập đỏ trên chiếc mũ sắt và có hy vọng quân Đức sẽ không làm hại mình vì lính quân y không phải là binh sĩ chiến đấu. Nhưng vì quân Nhật không công nhận lề luật này, nên cha tôi không mang một dấu hiệu gì đặc biệt. Trên chiến trường châu Âu, đội ngũ quân y không mang vũ khí do tuân thủ Hiệp ước Geneva; quân Đức thường không cố ý bắn quân y của đối phương. Nhưng trên chiến trường Thái Bình Dương, cha tôi và những người khác trong bộ phận quân y được cấp súng lục 45 để tự vệ. Quân Nhật có chủ đích bắn hạ quân y Đồng minh để ngăn họ chăm sóc đồng đội bị thương.

------------------
        1. Tất cả các từ này đều có nghĩa: “Mẹ!” hoặc “Má!”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:15:10 PM
   
        Tuy còn trẻ tuổi, song cha tôi là quân y tá bậc cao nhất của Đại đội E - được xem như quân y tá trưởng. Với cương vị này, thỉnh thoảng ông gọi những quân y tá khác đến họp để bàn bạc, thông báo tin tức, rà soát những quy trình. Nhưng dần dà không cần họp nữa: không có nhiều tin tức mới lạ, còn các quân y tá đều đã thông thạo nhiệm vụ của mình.

        Thế là cha tôi tìm cách tạo an bình cho chính ông: sâp xếp những vật dụng trong “Đơn vị 3”, và cứ làm đi làm lại việc này. Đơn vị 3 là chiếc túi lớn mà lính quân y mang vắt qua ngực, rất giống như chiếc túi đựng báo mà ngày trước cha tôi dùng để đi bỏ báo. Nhưng chiếc túi này không phải để cho cậu thiếu niên Jack Brackley mang về những tờ đô-la cho cha mẹ. Chiếc túi này là để cứu mạng sống con người. Nó chúa những vật dụng y tế: bông băng, kim tây, nhíp, bột sulfa, penicilline - vẫn còn mới1 và đắt đỏ - được cung cấp hạn chế. Khi còn là cậu bé đi bỏ báo, cha tôi hay ngồi bên hè đường sắp xếp những tờ báo vào một chiếc túi; bây giờ ông thường ngồi đâu đó trên boong tàu xếp đi xếp lại các vật dụng trong Đơn vị 3. Ông thuộc nằm lòng vị trí của mỗi món để khi nguy cấp trên trận địa ông có thể nhanh chóng lấy ra thứ mình cần.

        Có những ống morphine chứa khoảng 16 mg morphine dùng để tiêm cho thương binh đang đau đớn nhằm làm cho họ dịu cơn đau rồi cha tôi tiếp tục cứu chữa họ hoặc để giúp họ không vật vã khi đi vào cõi chết.

        Có những cuộn băng dày để nẹp vết thương, sẽ bị nhuộm đỏ do máu phun ra từ các động mạch trong khi quân y tá loay hoay với vết thương nặng do một cánh tay hoặc cẳng chân bị đứt lìa.

        Có những miếng băng lớn đính với những sợi dây để cột trên người thương binh. Khi người lính bị thương ở phần ngực, phổi bị thủng, cha tôi sẽ dùng loại băng này đáp lên vết thương, hy vọng chú nhóc có thể cầm cự cho đến khi được chuyển về bệnh xá.

        Có những chiếc kẹp cầm máu với hai đầu dẹp để đưa vào một vết thương và kẹp lại một động mạch bị đứt.

        Tôi có thể mường tượng ra hình ảnh của cha tôi, vào cuối ngày thu xếp xong xuôi Đơn vị 3 của mình. Có lẽ ông hy vọng nó sẽ mang đến may mắn cho ông, che chở ông, khi đeo nó ngang người ông sẽ được an toàn như khi đeo túi đựng báo ở quê nhà.

        Tuy ông có thể nghĩ rằng lính súng trường TQLC chịu nhiều hy sinh nhất, thực tế là số thương vong của ngành quân y lên đến 414 người ở Trận Saipan, trong khi ở Trận Tarawa chỉ là 1/8. Ở Iwo Jima, SỐ thương vong của quân y sẽ gấp đôi.

        Dù cho ông có nghĩ gì trên chiếc tàu đổ bộ LST, thì cũng không thể biết rằng ở Iwo Jima quân Nhật đã đặt ra lề luật đặc biệt về việc đối xử với lính quân y TQLC như ông. Họ đã được huấn luyện để nhận ra ông là mục tiêu đầu tiên. Mục đích là nếu họ giết một quân y tá thì sẽ có thêm thương binh TQLC không được chăm sóc mà chảy máu cho đến chết trên nền cát.

        Lính Nhật được chỉ thị là, tốt hơn, nên làm bị thương một quân y tá Mỹ. Vì lính TQLC trọng vọng và tìm cách bảo vệ lính quân y của họ, nếu một quân y tá ngã xuống sẽ có 3 đến 4 lính TQLC xông đến để cứu giúp, thế là có thêm mồi ngon.

        Và làm thế nào lính Nhật nhận ra quân y tá như cha tôi, đó là nhờ có Đơn vị 3.

        Huấn luyện viên Nhật chỉ vào quân y tá đang chạy trên chiến trường trong những bức ảnh do quân báo Nhật cung cấp, hô lớn: “Đơn vị 3! Đơn vị 3!”

        Bây giờ chỉ còn vài ngày là đến mục tiêu, có lẽ mối lo sợ lớn nhất của các chàng trai là về những điều họ chưa biết. Có bao nhiêu lính Nhật trên Iwo Jima? Liệu các đợt pháo kích và không tập sẽ loại ra được phần lớn quân Nhật không? Quân Nhật bố trí phòng thủ như thế nào?

        Quân báo Mỹ nắm trong tay nhiều tấm không ảnh của Iwo Jima, nhưng họ hiếm khi nhìn ra người lính Nhật nào. Vì lẽ hòn đảo thiếu nước ngọt, quân báo Mỹ kết luận chỉ có khoảng 13.000 lính Nhật. Họ đã sai lạc nhiều. Thực ra là có đến 22.000 quân Nhật.

        Vào mùa hè 1944, giới chỉ huy quân đội Nhật kết luận rằng họ không thể thằng trong cuộc chiến nhưng có thể buộc nước Mỹ đi đến bàn đàm phán hòa bình. Họ tin rằng, công luận nước Mỹ sẽ không chấp nhận một cuộc chiến kéo dài trên Thái Bình Dương với thương vong ngày càng cao. Vì thế, người Nhật chỉ thị tiến hành chiến tranh tiêu hao: tiếp tục chiến đấu để làm chậm bước tiến và gây thương vong nặng nề cho quân Mỹ. Chiến thuật này dựa trên hai sở trường của quân Nhật: khả năng trụ lại mà chống trả và khả năng chịu đựng được những cuộc không kích tàn khốc.

-----------------
        1. Thuốc trụ sinh penicillin được nhà vi trùng học người Anh Alexander Fleming tìm ra năm 1928, nhưng phải đợi đến cuối năm 1941 mới được sản xuất hàng loạt, nên vào thời điểm diễn ra Trận Iwo Jima vẫn còn tương đối mới mẻ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:17:39 PM

        Vào tháng 8/1944, Bộ Tổng Tham mưu Nhật Bàn ban hành nhũng chỉ thị về việc “giao chiến chịu đựng” bằng cách trụ lại trong nhũng “vị trí Fukkaku”, là những vị trí phòng vệ ngầm nối với nhau như tổ ong. Người lính Nhật sẽ không phải xung phong đến đối phương như ngày xưa; Bây giờ họ nhận lệnh phải chiến đấu từ những địa đạo và hang núi được bố phòng vững chắc.

        Trong khi chờ hạm đội Mỹ tiến đến, Tướng Kuribayashi không những đã hấp thụ nhũng bài học từ trận đánh vừa qua trên vùng Thái Bình Dương, mà còn rút kinh nghiệm từ những sai lầm của Đức khi chống trả cuộc đổ bộ của Đông minh lên bờ biển Normandie chỉ mới bảy tháng trước.

        Normandie là thất bại nặng nề của Hitler, người đã ra lệnh xây “Bức tường Đại Tây dương” trong nhiều năm như là một chướng ngại vật mà không một lực lượng nào có thể thâm nhập từ mặt biển. Hàng chục nghìn binh sĩ trú đóng dọc phòng tuyến dài cả trăm kilomet đã tự tin rằng những lô cốt bê-tông cốt thép, chướng ngại vật trên bờ biển, hàng rào kẽm gai, và những khẩu đại pháo sẽ đẩy lùi bất kỳ đoàn quân nào. Nhưng lực lượng dưới quyền Thống tướng Eisenhower đã vượt qua bức tường này trong vòng 24 giờ.

        Riêng ở Iwo Jima, lực lượng phòng ngự đã biết chính xác quân Mỹ sẽ đổ bộ ở đâu. chỉ có không đến 4 km bờ biển trên toàn chu vi đảo là thích hợp cho việc đổ bộ. Cả đoàn quân Mỹ sẽ phải vượt lên khoảng hẹp này, dưới hỏa lực chết người từ Núi Suribachi.

        Kuribayashi đã lĩnh hội được bài học ở Normandie: dù hệ thống phòng ngự có kiên cố đến đâu vẫn không thể ngăn chặn vô thời hạn quân Mỹ trên bờ biển. Vì thế, dù cấp thừa hành của ông chống đối, ông vẫn nhất quyết ra lệnh tháo dỡ những công sự phòng thủ trên bờ biển và kéo các khẩu pháo lùi vào phía trong. Ông không muốn bỏ công sức thiết lập tuyến phòng thủ mà quân Mỹ có thể vượt qua trong vòng một ngày. Tướng Kuribayashi nhất quyết gây cho quân Mỹ thương vong càng nhiêu càng tốt trong thời gian càng dài càng tốt.

        Kuribayashi kết luận chiến thuật tiêu hao là tốt nhất đối với ông. Ông muốn củng cố những vị trí bên trong hòn đảo để tạo nên một trường bản giết, hy vọng sau khi bị thương vong cao quân Mỹ sẽ chùn bước và sẽ khiến cho chính quyền Mỹ không còn muốn xâm lấn chính quốc Nhật Bản nữa. Để đạt được mục đích này, ông ra lệnh cho các lực lượng dưới quyền nhường hẳn bờ biển cho quân Mỹ, và chuyển tất cả công sự phòng thủ xuống sâu dưới lòng đất.

        Kuribayashi đã quan sát kỹ lớp cát thô trên bờ biền và dự đoán quân sĩ và khí tài của Mỹ sẽ bị sa lầy ở đây, rồi binh sĩ của ông sẽ nã đạn về phía binh lính Mỹ đang xúm xít. Với làn đạn dày đặc đan chéo nhau như mưa xuống một bờ biển chật hẹp nhung nhúc những lính TQLC thì khó trượt một mục tiêu nào.

        Binh lính Mỹ nếu sống sót trên bờ biển sẽ chạy lên vùng đất đáng sợ, không một bóng người vì đối phương đều ở dưới địa đạo, không ai ló mặt lên. Đạn sẽ bay tua tủa từ những khe hở được ngụy trang; pháo sẽ bẳn vòng cung từ những giếng sâu dưới mặt đất. Kuribayashi chuẩn bị hệ thống phòng thủ để khiến cho mỗi bước tiến của TQLC là một bước của hỏa ngục.

        Kuribayashi xây lên một tòa pháo đài tài tình nhất trong lịch sử chiến tranh. Vào lúc ông hoàn tất, Iwo Jima trở thành hòn đảo được gia cố vững chãi nhất trong Thế chiến II. Ông đã biến Iwo Jima thành một tòa pháo đài khổng lồ.

        Những kỹ sư công binh tài giỏi nhất của Nhật được điều đến: chuyên gia đào hầm, kỹ sư hầm mỏ, những tiểu đoàn công binh thi công, những đơn vị xây pháo đài. Họ thiết lập những tiêu chí cho xương sống của cơ sở phòng thủ: một hệ thống những hang động nằm sâu dưới lòng đất được kết nối bằng mạng lưới địa đạo.

        Vào mùa thu 1944, toàn bộ 22.000 quân Nhật đều hoạt động dưới lòng đất. Có thêm hai tầng đường hầm, một phía trên và một phía dưới hệ thống địa đạo. Nhiều đường hầm đủ cao để người lính có thể chạy thẳng người. Tướng Kuribayashi sẽ điều động trận đánh từ trung tâm chỉ huy - một gian hầm được gia cố để chống bom nằm sâu 22 m dưới lòng đất.

        Binh sĩ trú phòng còn xây dựng 1.500 phòng ngầm, nhiều phòng được cấp điện và thông hơi. Phần lớn tường của các gian phòng được tô vữa. Phòng không có điện thì dùng đèn dầu và nến. Các phòng này nằm sâu 10 đến 15 m dưới lòng đất, được tiếp cận bằng hành lang và cầu thang. Có đủ diện tích để lưu trữ đạn dược, thức ăn và nước uống cùng nhũng hàng hậu cần khác. Mỗi phòng đều có nhiều lối ra vào để khi một lối bị lấp kín, binh sĩ Nhật vẫn có thể thoát đến những nơi khác.

        Những cơ sở khác cũng nằm sâu trong lòng đất: khu doanh trại, phòng họp, trung tâm thông tin, thậm chí những quân y viện với đây đủ trang thiết bị giải phẫu. Một quân y viện có sức chúa 400 thương binh với đây đủ giường bệnh được khoét sâu vào các bức tường đá.

        Các lô cốt vươn lên khỏi mặt đất, tường xung quanh được xây bằng bê-tông cốt thép dày 4 m và tường trần dày 2 m.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:18:31 PM

        Quân Nhật dùng cát để ngụy trang lô cốt. Vì thế, máy bay thám thính và Tướng Smith chỉ nhận ra được một số ít lô cốt. Những điểm đen mà các chàng trai trẻ quan sát trên bản đồ tác chiến chỉ là những miệng hầm mở ra trên mặt đất của một hệ thống địa đạo chằng chịt bên dưới. Đây là phần nổi của một băng đảo, là tia nước nhỏ của một con cá voi khổng lồ.

        Các lô cốt có thể hỗ trợ tầm bắn cho nhau, vì được bố trí sao cho quân Nhật có thể bắn đan chéo nhau trên từng mét vuông của hòn đảo.

        Các lô cốt có những khe hở rất hẹp, chỉ vừa đủ cho một nòng súng máy chĩa ra ngoài. Các khẩu pháo phòng không chĩa ra bờ biển thì được che giấu giũa những tảng đá dọc triền núi. Những chiếc xe tăng nằm chờ sẵn phía sau những bức tường đá dày 2 m, chỉ có nòng súng là lộ ra ngoài. Những khẩu pháo bảo vệ bờ biển được giấu trong những boong-ke bê-tông.

        Lính bẳn tia phục sẵn ở các cửa hang và miệng đường hầm, từng đống lựu đạn sẵn kế bên.

        Mìn chống cá nhân được bố trí trên bờ biển đổ bộ. Các loại mìn lớn hơn được chôn phía trong để chờ xe tăng Mỹ tiến qua. Những dàn phóng hỏa tiễn và những ổ súng cối được che giấu dưới lớp bê-tông bảo vệ. Súng cao xạ không chĩa lên trời mà chĩa ngang để chờ đón lính đổ bộ Mỹ.

        Bản đồ trên các hải vận hạm không chỉ ra cho các chàng trai Mỹ biết rằng họ sẽ phải chạy trên mặt đất che giấu phía dưới là 1.500 gian hầm được nối với nhau bằng 25 km địa đạo. Chạy trên đầu 22.000 binh sĩ được ăn uống đây đủ với thực phẩm dùng đủ 5 tháng. Không thể thấy đối phương trong khi đối phương nhìn thấy họ rất rõ.

        Viên phi công của Không lực Mỹ đã nói đúng khi cho biết các chàng trai trẻ sẽ không thấy bóng dáng người nào trên hòn đảo. Nhưng đấy không phải là do chiến dịch không kích mà là vì quân Nhật không phải hiện diện trên Iwo Jima. Họ hiện diện trong Iwo Jima.

        Ngày 17/2, Ngày G-2 các bác sĩ quân y trên hạm đội báo cáo có bệnh dịch tiêu chảy. Các chàng trai đang cảm thấy lo lắng.

        Nhưng dù cho quân Nhật xây dựng hệ thống phòng thủ như thế nào chăng nữa, TQLC nghĩ họ có một con bài tủ. Đại pháo của Hải quân sẽ mở một đợt bắn phá trước khi binh sĩ đổ bộ. Các chàng trai đã nhìn thấy những thiết giáp hạm neo đậu ngoài khơi Saipan và khởi hành đi Iwo Jima trước họ vài ngày để trấn an lính TQLC: những khẩu pháo khổng lồ bắn những quả đạn nặng hơn 1 tấn, có kích thước bằng một chiếc ô tô lớn nhằm phá nát lô cốt của đối phương. Mỗi một quả đại pháo này sẽ cứu được nhiều mạng lính Mỹ.

        Các chàng trai TQLC không biết rằng con át chủ bài này sẽ bị vô hiệu hóa - bởi chính vị Tư lệnh của họ.

        Trận chiến Iwo Jima thật ra là cuộc hành quân của Hải quân. Lính TQLC dưới quyền Tướng Smith thật ra là lính bộ của Hải quân. Smith và Bộ Tham mưu của ông là những người giỏi hàng đầu thế giới về chiến thuật tấn công đổ bộ. Họ biết rằng bắt buộc phải cần đến tàu thiết giáp của Hải quân pháo kích trong 10 ngày trước khi lính TQLC tiến lên bờ. Ngày 24/10, Smith gửi bản yêu cầu cho cuộc pháo kích này.

        Vị Tướng điếng người khi nhận được phúc đáp của Hải quân: 10 ngày là “không thể được.” Vị Tướng này cảm thấy hoàn toàn xa lạ với ý niệm “không thể được”’. Hải quân chỉ có thể thực hiện pháo kích trong 3 ngày. Cái logic quan liêu của họ khiến cho vị Tướng TQLC lặng người: “do những hạn chế về số tàu chiến, những khó khăn trong việc cung ứng đạn dược, và không còn yếu tố bất ngờ.”

        Smith biết rằng quân Nhật không thể nào bị bất ngờ sau 70 ngày đã bị máy bay oanh tạc và cũng biết rõ có một hạm đội gồm 880 chiếc tàu đang tiến đến họ. Ông tin rằng, có thể tìm đủ đạn dược vốn có thế thay thế được để cứu lấy những mạng sống không gì thay thế được. Nhưng mấu chốt là ở chỗ “những hạn chế về SỐ tàu chiến”.

        Hội đồng Tham mưu Liên quân đã đặt mục tiêu chính của Đồng minh trên Thái Bình Dương là chiếm lấy Iwo Jima. Nhưng Hải quân đã vì năng nổ lập công nên muốn chứng tỏ rằng không riêng chỉ Không lực mà chính họ cũng có thể bẳn phá chính quốc Nhật Bản. Thế là họ đã chuyển một số tàu đi thực hiện nhiệm vụ này - tạo tiếng vang nhưng không có giá trị về chiến lược. Tướng Smith nổi giận đùng đùng cố van nài có thêm pháo kích dọn đường. Ồng phải ngã giá 9 ngày, 7 ngày rồi xuống 4 ngày, chỉ được thêm một ngày so với quyết định áp đặt của Hải quân. Lời khẩn cầu của ông bị từ chối. Smith biết rằng chỉ pháo kích 3 ngày có nghĩa là thêm nhiều lính TQLC dưới quyền ông phải hy sinh. Nhưng Hải quân sẽ được tiếng tăm khi bắn phá.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:19:52 PM

        Rồi đến phút cuối cùng, Hải quân lại sỉ nhục lần nữa. Số chiến hạm pháo kích sẽ ít hơn so với thỏa thuận ban đầu, vì Hải quân “cần có thêm tàu để bắn phá chính quốc Nhật.” Việc này càng khiến cho cuộc pháo kích ở Iwo Jima kém hiệu quả. Phó Đô đốc Raymond Spruance được nghe chính những tùy viên Hải quân của ông bày tỏ bất đồng ý kiến về việc điều chuyển các chiến hạm. Ông gắng gượng viết cho Tướng Smith: “Tôi lấy làm tiếc vì có sự lộn xộn trong kế hoạch hành quân vốn đã được chuẩn bị kỹ lưỡng của ông, nhưng tôi biết ông và binh sĩ dưới quyền có thể xoay xở được.”

        “Xoay xở được.” Câu nói như bỡn cợt đã thể hiện một thực tế khắc nghiệt. Nhung viên Tham mun trưởng của Tướng Smith không cần biết đến nhũng ngụ ý. Ông viết: “Lính TQLC sẽ phải trả giá sinh mạng cao hơn bởi vì hỗ trợ của Hải quân bị suy yếu đến nỗi làm phương hại đến sự thành công của chiến dịch.”

        Sự việc còn tồi tệ hơn.

        Hải quân đã lên kế hoạch pháo kích trong ba ngày: 16,17 và 18/2. Nhưng đến ngày 17, cuộc pháo kích chấm dứt.

        Vấn đề ở chỗ, Hải quân đặt ra lề luật về việc pháo kích: chỉ được nã pháo khi thấy rõ mục tiêu và nếu máy bay thám thính có thể quan sát được kết quả.

        Ngày đâu tiên, sau khi pháo kích được 10 phút thì mây kéo đến. Việc pháo kích bị ngưng lại; các oanh tạc cơ từ căn cứ Marianas quay trở về mà không thả một quả bom nào. Vào ngày 18/2 mây vần vũ khiến cho mọi hoạt động của phía Mỹ tiếp tục ngưng trệ.

        Cấp chỉ huy TQLC van nài chỉ thêm một ngày pháo kích nữa. Họ biện luận rằng đấy là để cứu mạng sống của nhũng người lính TQLC trẻ. Nhưng Phó Đô đốc Blandy chỉ huy cuộc oanh kích từ chối và báo cáo lên cấp trên: “Mặc dù thời tiết không cho phép sử dụng toàn bộ đạn dược đã cung ứng và nếu pháo kích thêm một ngày sẽ phá hủy thêm một số công sự, tôi vẫn tin rằng ngày mai có thể tiến hành cuộc đổ bộ như dự tính.”

        Smith luôn nhớ rằng những hầm đạn dược của các chiến hạm dưới quyền Blandy vẫn còn chứa hàng trăm quả đại pháo không được bắn đi bởi vì lề luật của Hải quân. Sau khi Thế chiến kết thúc ông viết một cách chua chát: “Nếu Hải quân hợp tác tốt hơn vói TQLC thì số thương vong của chúng tôi đã thấp hơn.” Nhiều tháng trước, một sĩ quan TQLC đã tóm tắt thái độ của Hải quân khi ông chỉ tận mặt sĩ quan Hải quân đối tác của ông mà nói: “Ngay cả khi sĩ quan Hải quân các anh tiến đến gần khoảng cách 1.000 m, tôi muốn nhắc cho các anh nhớ rằng các anh vẫn còn có một ít lớp thép che chấn. Tôi muốn các anh biết rằng lính TQLC tiến vào bờ biển với lưỡi lê, và lớp bảo vệ mà họ có chỉ là chiếc áo ka-ki.”

        Trong khi Đại đội E mặc áo ka-ki đang tiến gần đến định mệnh của họ, 70 thông tín viên dân sự tụ tập trên chiếc soái hạm Eldorado đang thả neo ngoài khơi Iwo Jima để dự buổi thông báo cuối cùng.

        Đô đốc Kelly Turner nói với các phóng viên ràng trận chiến sẽ gian nan - “Các cơ sở phòng thủ dày đặc” - và rằng Iwo Jima là “một vị trí cố định được bố phòng vững chắc nhất trên thế giới ngày nay.”

        Có lẽ còn le lói hy vọng nên ông thêm: “Theo những gì được biết và có thể làm được, chúng ta đang có những bước đi để giảm thiệt hại xuống đến mức càng thấp càng tốt.”

        Tướng Smith gật đầu khi Turner - cấp trên của ông - ngồi xuống kế bên ông. Đấy là những gì ông có thể làm được để kiềm chế phẫn nộ. Ông biết rất rõ các bước mà Hải quân đã không thực hiện. Bây giờ, Smith bước lên bục. Ông tiên đoán một cách ảm đạm là thương vong sẽ cao, trận chiến sẽ khó khăn. Trong khi lời nói của ông ngấm dần vào tâm tư các phóng viên, ông nói tiếp một cách hãnh diện và nhò nhẹ: “Đây sẽ là một trận đánh gian nan. Chính vì thế mà lính TQLC của tôi đã đến đây.”

        Khi người chiến binh già ngồi xuống, đôi mắt ông long lanh qua màn lệ. Iwo Jima sẽ là trận đánh cuối cùng của ông, là lần cuối cùng ông chỉ huy “lính TQLC của tôi”. Kế tiếp, một vị khách đặc biệt đứng lên phát biểu. Ông mặc bộ quân phục dã chiến TQLC nhưng không mang quân phù. Ông là sếp lớn, Bộ trưởng Hải quân James Forrestal, đến dự khán cuộc hành quân lớn nhất của Hải quân Hoa Kỳ trong lịch sử. Rồi ông nói rõ rằng ông biết ai sẽ chịu mũi dùi trong chiến dịch này.

        Trong phân tích gần đây nhôi, chính người lính sử dụng súng trường và súng máy sẽ thắng cuộc chiến và chịu nhiêu hy sinh để bảo vệ nền tự do của chúng ta. Tôi xin ngả mũ mà khen ngợi TQLC. Tôi nghĩ Trung tướng Julian Smith phát biểu những cảm nghĩ của tôi đúng nhất. Sau trận Tarawa, trong một bức thư gửi người vợ, ông ấy viết: “Mỗi khi tôi gặp lại người lính TQLC Hoa Kỳ, tôi đều có cảm nghĩ tôn kính họ. ”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:21:22 PM
       
        Mọi người đều im phăng phắc khi Forrestal ngồi xuống. Tướng Smith nở một nụ cười hãnh diện.

        Đô đốc Turner phá tan bầu không khí im lặng: “Có câu hỏi gì không?”

        Từ hàng cuối, một phóng viên hỏi: “Khi nào có chuyến tàu về lại Trân Châu Cảng?”

        Chắc chắn là quân Nhật trú phòng trên Iwo Jima không đồng ý với Forrestal về TQLC. Những người lính Nhật này chưa từng chiến đấu với quân Mỹ, và so với những tiêu chuẩn của họ, lính TQLC là những kẻ hèn nhát từ chối cái chết danh dự và chỉ muốn đầu hàng. Lính TQLC chỉ muốn được nổi tiếng và tìm quyền lợi vật chất. Tệ hại nhất, họ không có động lực về tâm linh như chiến binh Nhật, mà thay vào đó chỉ biết lệ thuộc vào khí tài hiện đại.

        Phóng viên chiến trường Robert Sherrod - người đã đổ bộ lên Tarawa và cũng đổ bộ lên Iwo Jima - thì nghĩ khác. Theo ông, nếu nói sức mạnh của nền công nghiệp Mỹ đang trên đường chiến thắng thì ai cũng nói được. "Những người nào chưa từng chứng kiến Tarawa, Saipan... thì nghĩ rằng thép Mỹ nằm trong những khẩu súng và những quả bom. Nhung cũng có nhiều chất thép trong con tim của những người xông lên các bờ biển.”

        Đối với các chàng trai của Đại đội E, một năm huấn luyện đặc biệt ở Trại Pendleton và Trại Tarawa đã biến họ thành những người sẵn sàng trả bất kỳ giá nào cho đồng đội, như là một tập thể, trong tình huynh đệ. Họ sẽ chiến đấu cho trung đội của họ, cho những tiểu đội của họ. Những mối dây liên kết ở cấp độ này sẽ định đoạt kết quả của trận đánh. Ira đã viết về nhà: “Có một thứ tình thân hữu thật sự giữa tất cả đồng đội chúng con; và con nghĩ dù được hứa cho một nghìn đô, không ai trong bọn con muốn xa rời đồng đội của mình. Chúng con tin cậy và tùy thuộc lẫn nhau; trong cuộc chiến vẫn sẽ là như thế. Tụi nó đều là những đứa tốt.”

        Lính Nhật sẽ chiến đấu cho đến chết vì Hoàng đế của họ. Động lực này khiến cho lính Nhật trở nên đáng sợ. Nhưng những chàng trai trẻ này sẽ chiến đấu cho đến chết vì đồng đội của họ. Động lực này khiến cho họ trở nên bất bại.

        Sau khi trở thành giáo sư thực thụ môn Mỹ thuật tại Đại học Notre Dame năm 1979, Robert Leader viết:

       Đấy giống như là có mặt trong đội điền kinh đoạt giải và mỗi người đều thi thố hết sức mình. Liệu bạn có thế nào mường tượng ra tình thương yêu thầm lặng mà chúng tôi cảm nhận ve nhau luôn? Tình thương yêu đã khiến cho người lính đem mạng sống của mình dâng hiến cho nhau mà không hề do dự và, tôi nghĩ, cũng không hiểu tại sao. Tuy thế, đặt mình vào giữa mỗi hiểm nguy mà không nghĩ đến người thân của mình là hành động thương yêu tối thượng.

        Mike, Harlon, Franklin, Ira, Rene và cha tôi sắp tiến vào một trận địa chống lại đối phương đang ẩn mình dưới địa đạo đã chịu đựng đợt oanh tạc dữ dội nhất trên vùng Thái Bình Dương mà không hề hấn gì. Cách duy nhất để trấn áp những kẻ liều chết chui rúc trong hang động là tấn công trực diện; những chàng trai trẻ Mỹ đang tiến thẳng vào trận địa hỏa lực của Nhật.

        Đấy sẽ là một trận chiến mà xương thịt Mỹ chống lại bê-tông Nhật. Các chàng trai chỉ còn biết trông cậy vào đồng đội của họ - những đồng đội sẵn sàng liều chết cho nhau. Chẳng bao lâu, họ sẽ làm như thế.

        Vào buổi chiều Ngày D trừ 1, 18 tháng 2, một ngày mà chín năm sau trở thành sinh nhật của tôi, cha tôi và những người lính trong đội quân tấn công vẫn chưa nhìn thấy mục tiêu của mình. Mọi việc đều được lên lịch chính xác theo từng phút. Các tàu đổ bộ sẽ tiến đến Iwo Jima đúng giờ đã định, đúng trước thời khắc đổ bộ lên bãi biển.

        Bây giờ, tất cả các chàng trai đều trầm lặng, mỗi người chìm đắm trong ý nghĩ của mình. Đêm ấy, họ hẳn cảm thấy mất tự tin khi nghe Hoa Hồng Tokyo1 nêu tên nhiều chiếc tàu và số hiệu của các đơn vị TQLC. Cô nói với lính Mỹ rằng, cần những chiếc tàu khổng lồ để chở họ đến Iwo Jima, nhưng sau đó những người sống sót có thể chui vào vừa một tủ điện thoại.

        Hai vị chỉ huy ở hai bên chiến tuyến tìm cách dỗ giấc ngủ trước khi trận đánh xảy ra. Tướng Smith được thoải mái với quyển Kinh Thánh trong ca-bin của ông trên chiếc Endorado.

        Kuribayashi cũng ở trong gian phòng riêng của mình - hang động và địa đạo nằm sâu hơn 20 m dưới lòng đất. Ánh nến lung linh soi rọi “Lời nguyền Chiến trận Anh dũng” được dán trên tường, và ông cũng ra lệnh dán trên tường của tất cả boong-ke, hang động và lô cốt trên hòn đảo. Lời nguyền như sau:

        Chúng ta ở đây đế bảo vệ hòn đảo này cho đến sức cùng lực kiệt. Chúng ta phải cống hiến hết mình cho nhiệm vụ này. Mỗi phát đạn phải giết nhiều người Mỹ. Chúng ta không thể đế kẻ địch bắt sống. Nếu vị trí chúng ta bị tràn ngập, chúng ta sẽ mang bom và lựu đạn rồi liều mình dưới xe tăng. Chúng ta sẽ xâm nhập phòng tuyến kẻ địch để tiêu diệt chúng. Không ai được chết nêu chưa giết ít nhất 10 lính Mỹ. Chúng ta sẽ quấy rối kẻ địch bằng chiến thuật du kích cho đến người cuối cùng. Hoàng đế muôn năm!

        Không có ghi chép nào cho thấy những ý nghĩ cuối cùng của Kuribayashi trước khi ông thiếp đi đêm ấy. Nhưng trong một buổi phát sóng đến chính quốc trên đài phát thanh Tokyo, ông đã nói: “Hòn đảo này là tuyến đầu để bảo vệ chính quốc chúng ta và tôi sẵn sàng hy sinh ở đây.” Và ông viết cho đúa con trai Taro: “Cuộc sống của cha con giống như ngọn đèn trước gió.”

        Nhưng trước khi ông dẫn 22.000 binh sĩ dưới quyền vào chỗ chết, có một ý nghĩ mà ông không hề bày tỏ với họ. Nhiều năm trước, khi ông phục vụ trên đất Mỹ, di chuyển khắp nơi trên đất nước này ông viết cho bà vợ: “Nước Mỹ là nước cuối cùng Nhật muốn đánh.”2

-------------
        1. Biệt hiệu của xướng ngôn viên đài phát thanh Nhật Bản trong những chương trình tiếng Anh.

       2. Ý nói là thà Nhật Bản đánh nước nào khác chứ không nên đánh Mỹ.



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:26:20 PM

Chương 7

NGÀY D
         
Cuộc sông chẳng bao giờ có quy luật cả. Chúng tôi đã thay đổi từ ngày đôi chân chúng tôi giẫm lên thứ cát dó.
BINH NHÌ TEX STANTON, TRUNG ĐỘI 2, ĐẠI ĐỘI E       

        Sự việc diễn ra như là cảnh tượng ma quái vào ban đêm.

        Giữa bầu trời tăm tối trên Thái Bình Dương, từng vệt màu đỏ phóng lên rồi rơi xuống, tiếp theo là những tiếng nổ vang dội từ xa. Những lính TQLC không thể ngủ được đứng trên boong tàu đổ bộ LST nhìn ngấm cảnh tượng khi họ còn cách bờ 20 km.

        Đối với Robert Leader trong Đại đội E, quang cảnh trông giống như sấm sét vào một đêm mùa hè. Ông nghe một giọng nói trong đêm tối, như là trong một giấc mơ: “Đấy là Đảo Lưu huỳnh.” Leader thầm thì mà mắt vẫn nhìn lên bầu trời: “Anh nói gì?” Người kia, một lính Hải quân, đáp: “Anh không biết sao? Iwo Jima có nghĩa là Đảo Lưu huỳnh.”

        Mặt trời dân ló ra màu hồng. Phía chân trời trở nên trong xanh, hòn đảo lưu huỳnh đang bốc khói.

        Hôm nay là ngày 19/2/1942.

        Đầu bếp trên các hải vận hạm đã nấu bữa ăn sáng ngon lành cho những con người trẻ tuổi sẳp khốn khổ và chết: bít-tết và trứng.

        Cùng với mọi người, cha tôi thức dậy trước khi mặt trời mọc. Câu đầu tiên mà ông nghe là từ một chiến binh dày dạn: “Về phần tôi, tôi có đủ kinh nghiệm để tránh đạn. Còn anh, có lẽ anh sẽ lãnh một viên đạn giũa hai con mắt.”

        Mike đã thức gần suốt đêm để ngắm cuộc pháo kích. Ed Blankenburger đứng kế bên ông tỏ ra phấn khởi: Cuộc pháo kích này chắc chằn sẽ làm cho đối phương tan tác. Nhiều chàng trai cũng lạc quan như ông. Donald Howell, 17 tuổi, tin chắc không lính Nhật nào còn sống sót được, đến nỗi anh ta cảm thấy thư giãn mà đọc quyển House Madam viết về những nhà ngủ chứa gái bán hoa dọc bờ biển phía Tây.

        Vào lúc gần sáng, Blankenburger kinh ngạc nghe Mike nói nhỏ nhẹ: “Ed, mình sẽ không trở về sau trận này.”

        Hơn 70.000 lính TQLC - gồm Sư đoàn 3, 4 và 5 - chen chúc trên những con tàu đã đến Đảo X, sẵn sàng đổ lên bãi biển dài chưa đến 4 km. Ẩn mình dưới địa đạo và không hề ló mặt ra là 22.000 chiến binh ưu tú của Nhật - thuộc Lực lượng Mặt trời mọc - những người hiểu rằng họ sẽ chết.

        Lúc 7 giờ sáng, những chàng trai của Đại đội E đi xuống những bậc thang của chiếc tàu mang số hiệu LST-481 để bước vào các xe bánh xích lội nước. Những thao tác huấn luyện kinh hoàng ở Hawaii mà cha tôi phải thực hiện khi tụt xuống mành lưới lắc lư, thì bây giờ không có cơ hội để ứng dụng. Nhưng cũng còn lý do khác để sợ hãi. Quân y tá Vernon, bạn thân của cha tôi, nhớ lại: “Tôi sợ đến chết điếng khi bước vào chiếc xe bánh xích. Mới ra trận lần đầu nhưng tôi cảm nhận ngay cả những người dạn dày cũng khiếp sợ. Parrish càng cảm thấy sợ hãi hơn khi một người lính kỳ cựu nhìn chăm chăm đến Iwo Jima và nói qua khóe miệng: “Bạn không biết chuyện gì sẽ xảy ra đâu. Trong 5 phút đầu tiên ở đây bạn sẽ được học nhiều hơn là cả năm huấn luyện.”

        Bây giờ đoàn xe bánh xích lội nước đâu tiên đang xả tốc lực hướng đến hòn đảo, để lại những vệt bọt trắng xóa. Tiếng máy nổ khiến cho 20 người trên mỗi xe cảm thấy nhức óc inh tai. Phía sau lưng và trên đầu họ là một lực lượng Mỹ hùng mạnh kiểm soát mặt biển và bầu trời: trên mặt biển là hạm đội đang thả neo kéo dài hơn 15 km; trên bầu trời là các máy bay Hellcat của Hải quân đang chúc xuống để bắn phá Núi Suribachi.

        Trong những thời khắc cuối cùng trước khi đợt đổ bộ đâu tiên diễn ra, nhiều binh sĩ vẫn còn tin rằng họ sẽ không phải tốn một giọt mồ hôi. Họ tin tưởng như thế mặc dù xung quanh có những dấu hiệu ngược lại: các bác sĩ quân y và quân y tá với những dụng cụ và bàn giải phẫu sẵn sàng được thiết lập trên bờ biển. Những giáo sĩ Do thái giáo, linh mục Công giáo và mục sư Tin Lành đang hiện diện giữa hàng quân, cũng chuẩn bị đổ bộ và chịu hiếm nguy để sẵn sàng an ủi người đang hấp hối. Và những chiếc tàu đi theo chở bao đựng xác người.

        Có lẽ sẽ không cần đến những vật dụng như thế. Phải chăng hòn đảo đang bị bắn phá tan thành từng mảnh? Những chiếc tàu thiết giáp khổng lồ đậu ngoài khơi đang nã những quả đạn nặng một tấn lên hòn đảo. Nhũng khẩu đại pháo này tạo sức chấn động mãnh liệt khiến vài chiếc tàu nhỏ suýt bị đầm.

        Trong những thời khắc cuối cùng này, một chú nhóc ngồi chung xe bánh xích với cha tôi vẫn vô tư giúp vui đồng đội mình bằng những giai điệu du dương trong phim ảnh. Trong những thời khắc cuối cùng này, anh lính Jim Buchanan 18 tuổi từ Portland, Bang Oregon, vẫn còn xem cuộc oanh kích là quang cảnh đẹp đẽ như trong phim ảnh; hòn đảo gần như bị chìm lấp hoàn toàn dưới lớp bụi màu xám, vàng và trắng do hỏa tiễn và bom cày xới lên. Anh quay qua đồng đội, một chú nhóc tên Scotty, và hỏi với niềm hy vọng: “Anh nghĩ liệu sẽ còn lính Nhật nào cho mình không?”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:27:49 PM

        Jim Buchanan không thể nào thấu hiểu những gì đang chực chờ trước mặt. Không ai trong bọn họ hiểu được.

        Các đợt oanh kích không hề làm suy suyển những cơ sở nằm trong lòng đất. Phải cần đến lực lượng Mỹ trên bộ phá hủy từng công sự một, với cái giá khủng khiếp. Trận đánh diễn ra giữa 120.000 quân Mỹ1 và Nhật trên hòn đảo và ngoài khơi kéo dài 36 ngày gây thương vong cho trên phân nửa số chiến binh trên hòn đảo, và có những sắc thái không hề giống những trận đánh nào khác trong thế kỷ 20.

        Trận Iwo Jima là cuộc đối đầu giữa những giác đấu: giác đấu Nhật trong hang động và địa đạo, còn giác đấu Mỹ chơ vơ trên mặt đất, dùng xăng để đốt cháy đối phương trong những vị trí ẩn náu. Tất cả xảy ra trên một hòn đảo dài chưa đến 9 km và chỉ rộng hơn 3 km. Một diện tích nhỏ hơn thị trấn quê nhà Antigo của cha tôi nhưng chứa số người gấp 10 lần. Một chiếc ô tô chạy chưa đến 100 km giờ chỉ mất 5 phút rưỡi là chạy hết chiều dài hòn đảo, nhưng lính TQLC đã phải mất hơn một tháng.

        Hải quân Mỹ ngưng pháo kích lúc 8 giờ 57 phút. Lúc 9 giờ 02 phút, chỉ 120 giây sau lịch trình đã định ở Hawaii, đợt đổ bộ đầu tiên - những xe thiết giáp bánh xích lội nước, mỗi chiếc gắn đại bác 75 li - vượt qua những con sóng để chạy lên lớp cát đen mềm của Iwo Jima.

        Nhũng xe bánh xích chở binh sĩ đầu tiên tiến vào bờ 3 phút sau, lúc 9 giờ 05 phút, tiếp theo sau là hàng trăm chiếc khác. Đại đội E đi theo đợt đổ quân thứ 12, lúc 9 giờ 55 phút. Đại đội E nằm trong Trung đoàn 28 có nhiệm vụ đổ bộ lên Bãi Lục Một - đoạn bờ biển gần Núi Suribachi nhất, chỉ cách không đây 400 m. Trung đoàn sẽ tạo một phòng tuyến cắt ngang đoạn thắt lại của hòn đào để cô lập và sau đó tiến chiếm ngọn núi. Nhiệm vụ này có nghĩa là Đại đội E nằm trong cánh quân 2.000 người có chiến tuyến cách biệt với diện tấn công chính. Một số đơn vị của Sư đoàn 5 và toàn thể Sư đoàn 4 sẽ tỏa ra bên cánh phải và tiến về phía bắc theo chiều dài của hòn đảo để tiêu diệt quân chủ lực trú phòng. Trước khi trận đánh kết thúc, một phần của Sư đoàn 3, ban đầu được xem là lực lượng dự bị, cũng sẽ được tung vào trận chiến.

        Trung đoàn 28 lĩnh nhiệm vụ nặng nề. Như Tướng Smith sau này cho biết: “Sự thành công của cả chiến dịch tùy thuộc vào việc chiếm lấy ngọn núi sát khí ấy.”

        Các chàng trai nheo mắt ngước nhìn những hướng tiến quân đã được chỉ định cho họ, tiếp theo đó là ngọn núi xấu xí cằn cỗi. Từ một điểm cách bờ nước khoảng 30 m, bờ biển dốc ngược lên thành ba bậc thang, mỗi bậc cao khoảng 2 m rưỡi và cách xa nhau 5 m. Trong thời bình, bờ biển trông giống như sân khấu ngoài trời uốn hơi cong. Theo ngữ cảnh ở đây, đấy là sân khấu nơi Thần chết sẽ trình diện. Các chàng trai sẽ phải bước lên trên nên tro núi lửa mềm dẻ bị lún, khiến cho mỗi bước đi càng thêm nặng nề. Những xe cơ giới trong đợt đầu tiên lập tức bị lún trên lớp tro mềm. Binh sĩ đi vòng xung quanh bắt đầu thận trọng bước lên các bậc thang mà không có gì che chấn. Khung cảnh hoàn toàn yên ẳng.

        Có lẽ những người lính TQLC lạc quan đã đúng lý. Có lẽ trận chiến đã kết thúc. Donald Howell nhớ lại: “Khi cửa xe đổ bộ thả xuống, tôi chỉ việc bước lên bờ biển. Tôi thấy tự tin. Mọi người xúm xít xung quanh. Tôi nghĩ chiến thắng là điều chắc chằn.”

        “Điều chắc chắn” chỉ kéo dài một tiếng đồng hồ. Sự yên ắng nằm trong chiến lược của Tướng Kuribayashi: chờ cho quân đổ bộ lấp kín bờ biển rồi mới hành động.
       
        Sau khi Đại đội E đổ bộ được 20 phút và đã đến vị trí tập hợp, cuộc tàn sát bắt đầu.

        Thình lình cả bầu không gian đầy khói và tiếng nổ inh tai. Những lô cốt trên mặt đất phẳng nhìn ra đại dương - mà nãy giờ không ai nhận ra - bắt đầu xả súng máy về phía lính Mỹ không hề được che chằn. Nhưng cơn bão lửa thực sự nổ ra từ Núi Suribachi. Đạn súng cối, đại pháo và súng máy rót xuống, những người lính Mỹ đã bắt đầu choáng váng. Hai nghìn lính Nhật tàng hình bắn xối xả về phía họ với mọi loại vũ khí từ súng trường đến pháo phòng thủ duyên hải. Đối với Trung úy Keith Wells, Trung đội trưởng Trung đội 3 của cha tôi, Suribachi biến thành một cây Giáng sinh khổng lồ với đầy những ánh lấp lánh, là những nòng súng đang bắn xối xả xuống trung đội ông.

        Không có gì che chắn. Đạn súng máy và pháo cày xới từ mọi hướng: Tướng Kuribayashi đã thiết kế một trường bẳn đan chéo nhau bằng cách kết hợp với những đơn vị Nhật ở hướng bắc. Cả đội hình quân Mỹ bị bao trùm trong những quả cầu lửa. Các chàng trai hốt hoảng cố đào công sự phòng thủ, nhưng lớp tro mềm chuồi xuống sau mỗi vệt đào bằng tay hoặc xẻng. Những chiếc xe Jeep và xe bọc thép trúng đạn pháo nổ tung lên trời thành từng mảnh vụn. Những người lính bị trúng đạn pháo không chỉ bỏ mình, mà thân thể họ cũng biến mất hẳn.

---------------
        1. Từ điển bách khoa Wikipedia cho biết tổng cộng có 100.000 quân Mỹ tham gia trận đánh, con số này hẳn là chưa tính đến những đơn vị Không lực, Hải quân... cùng tham gia.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:28:43 PM

        Không chỉ có lính TQLC. Robert Leader kể lại: “Khi chúng tôi tiến lên, tôi đang nhìn một xe bánh xích chạy gần đó. Rồi có một tiếng nổ khủng khiếp, và chiếc xe biến mất. Tôi tìm kiếm mảnh vụn và người sống sót, nhưng không thấy gì. Không thể tin được. Mọi thứ đều bốc hơi.”

        Cha tôi ngồi chung tàu đổ bộ với Leader.

        Các chàng trai trên bờ biển cố chạy lên phía truớc. Một người kể: “Đấy giống như là bước qua một đống lõi ngô”. Người khác nói: “Giống như leo lên một đống bột.” Giống như một thùng lúa mì. Giống như lớp tuyết dày.

        Những chiếc xe tăng theo đà tiến nghiền nát những người lính bị thương không thể cử động để tránh đi nơi khác. Những người lính khác không bị thương nhưng bị đồng đội phía sau giẫm đạp mà chết. Guy Castorini nói: “Càng lúc càng có nhiều tàu đổ bộ thả thêm binh sĩ chạy lên bờ biển. Họ phải xô đẩy những người phía trước giống như chà đạp họ cho đến chết.”

        Nhiều người lính có những ý nghĩ và hành vi lạ lùng vì bị sốc. Một số ngã ra bất tỉnh giữa cơn cuồng sát và sĩ quan phải đá cho họ tỉnh dậy. Một số thường quay về với thói quen cảnh vẻ của cuộc sống dân sự. Một chàng trai trẻ đang bị thương nặng, khi được đồng đội trao một điếu thuốc đã châm lửa, thều thào: “Tôi không hút thuốc.”

        Jim Buchanan, người đã hy vọng vài lính Nhật còn sống để chiến đấu với mình, trở lên phẫn nộ khi thấy những gì đang xảy ra. Anh thét lên với một đồng đội kế bên: “Mày có thấy những tên lính Nhật đang bắn ta không?”

        Anh kia trả lời: “Không. Mày có bắn trả không?”

        Buchanan trả lời: “Không. Tao không nghĩ đến việc này. Trước đây tao chưa từng ở trong làn đạn”.

        Phil Ward nhảy ra khỏi chiếc xe bánh xích cùng với cha tôi, cũng kinh qua tình huống mới mẻ: “Ở Hawaii chúng tôi đã thực tập với đạn thật vì thế tôi đã quen với tiếng súng, nhưng ở đây thình lình tôi nhận ra tại sao có sự khác lạ. Tôi nói: ‘Mẹ kiếp! Bọn họ đang bắn về phía tôi!’”

        Bờ biển đầy rẫy những xe cơ giới và xe Jeep bị lún dưới cát hoặc bị pháo bẳn tan tành. Nhiều xác người chồng chất dọc bờ biển. Quân y tá Roy Steiníbrt nhớ lại: “Khi tiến lên, tôi thấy nhiều người nằm trên bãi biển. Tôi nghĩ: "Hay quá! Họ đã yểm trợ cho chúng tôi đổ bộ", nhưng khi đến gần tôi mới biết họ đều đã chết.”

        Trong những phút đầu tiên, cả đoàn quân bị tiêu diệt là chuyện có thể xảy ra. Các cấp chỉ huy trên hạm đội liên tục nhận tin qua sóng vô tuyến cho thấy khả năng này: “Bị hỏa lực cối và súng máy dữ dội!” “Đang chịu thiệt hại nặng và không thể tiến lên!” “Đạn cối đang giết chúng tôi!” “Tất cả các đơn vị đều bẹp gí dưới hỏa lực pháo và cối!” “Thương vong nặng! Cần tăng yểm trợ nhanh để di chuyển đến bất kỳ nơi nào!” “Bị hỏa lực mạnh và bước tiến dừng lại!” “Hỏa lực súng máy và pháo mạnh chưa từng thấy!”

        Nhưng tình thế còn tồi tệ hơn là những báo cáo qua sóng vô tuyến. Không ai nằm ngoài vùng nguy hiểm. Một phóng viên nhiếp ảnh của hãng tin Associated Press (AP) tên là Joe Rosenthal, người cao 1 m 60, đổ bộ cùng với Sư đoàn 4, cố sức chạy thoát thân giữa những làn đạn. Sau này ông tuyên bố: “Không bị trúng đạn là giống như chạy giũa cơn mua mà không bị ướt.”

        Quân y tá Greg Emery vừa bò trên hai chân hai tay vừa ngoái nhìn lại một chiếc xe đổ bộ đang tiến vào; cánh cửa hạ xuống; đạn súng máy ria vào bên trong xe. Các chàng trai ngã xuống chết chồng chất lên nhau khi họ vừa mới bước ra.

        Đại đội E cố chạy tìm nơi thoát thân trên những bậc thang của bờ biển, người vẫn mang ba lô nặng trĩu. Một người nhớ lại: “Giống như leo lên một thác nước.” Jerrry Smith cố nằm rạp sát mặt đất, cảm thây đạn bẳn xuyên qua chiếc ba lô trên lưng, ông nhớ lại: “Ngay cả các đôi bít tất trong ba lô của-tôi cũng chi chít lỗ đạn.” Lớp tro núi lùa làm chậm bước tiến của TQLC và khiến cho họ không thể đào hố trú ẩn, nhưng mặt khác lại giúp giảm số thương vong: Lớp tro mềm hấp thu nhiều mảnh đạn ối và hạn chế tác hại khi quả đạn nổ tung.

        Trung đội 2 dưới quyền Trung úy Ed Pennel suýt bị lạc lối trong thời khắc đầu tiên giữa tình thế hỗn loạn. Trung đội này - trong đó có tiểu đội dưới quyền của Mike cùng với Harlon, Franklin và Ira - đổ bộ chệch mục tiêu về hướng bắc của Bãi Lục. Ngay sau khi quân Nhật nổ súng, Đại tá Harry Liversedge, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, cho gọi Đại úy Dave Severance chỉ huy Đại đội E và hỏi: “Anh đã sẵn sàng để di chuyển chưa?” Severance đáp: “Tất cả đã sẵn sàng ngoại trừ Trung đội 2 chưa đến!” Vị Đại tá quát: “Này, anh có 5 phút đế đi tìm trung đội đó, nếu không anh sẽ ra tòa án binh!”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:29:14 PM

        Chẳng bao lâu, Trung đội 2 tập hợp cùng với Đại đội. Khi vừa mới đổ bộ và trước khi cuộc tàn sát xảy ra, đã có một khoảnh khắc khôi hài. Trung úy Pennel đã nghĩ đến việc động viên tinh thần binh sĩ dưới quyền bằng một sô dũng cảm giống như siêu sao điện ảnh John Wayne. Khi cánh cửa xe đổ bộ hạ xuống, ông thét: “Tiến lên, tụi bay!” và rồi ngã úp mặt xuống nền tro núi lửa sũng nước. Ông nhớ lại: “Tụi nó vừa chạy qua người tôi vừa phá lên cười.”

        Không phải ai cũng cười. Sau này, Ira kế lại: “Tôi là đứa khốn kiếp trong nỗi sợ kinh hoàng. Tàu chúng tôi chạm phải nền đất cứng và cánh cửa hạ xuống. Tôi nhảy ra xa ngoài cánh cửa. Khoảng 3 m cách đó, một lính TQLC nằm chết ngay trên bờ nước, bị bắn trúng đầu. Anh ta chưa bắt đầu chiến đấu. Bụng dạ tôi nhộn nhạo và rồi tôi bắt đầu thấy rùng mình hãi sợ.”

        Vài người có những mối quan hệ trong đời sống dân sự trước đây. Wesley Kuhn đến từ Back Creek, Bang Wisconsin, năm ấy 19 tuổi. Wesley không quen biết cha tôi lúc ấy có lẽ đứng cách ông vài chục mét, nhung ông quen biết vợ tương lai của cha tôi, Betty Van Gorp. Wesley và Betty diễn với nhau trong một vở kịch khi đang học lớp 9 với nhau. Wesley đóng vai “Đạo tặc hôn hít”, có đoạn phải hôn trộm Betty thủ vai một người nội trợ ngây thơ.

        Kuhn nhìn đâu cũng thấy xác người và những phần của thi thể. “Điều kinh hoàng nhất khi tôi nhớ lại là lần đầu tôi thấy một thân người với lồng ngực mở toang, lấp đầy đất cát.” Có những khoảnh khắc hài hước kỳ quặc. Monroe Ozment từ Bang Virginia cùng đồng đội của ông đang tiến lên bậc thang thứ 3 và đang bị bùa vây bởi đạn súng mầy và cối thì một người la lên: “Turner đã bị bắn.” Ozment nhớ lại: “Turner dáng người phục phịch, thế nên chúng tôi thường trêu anh ta rằng nếu anh ta bị bắn thì sẽ bị bẳn vào mông. Tôi la lên: "Hắn bị bẳn ở đâu?", và có người đáp lại: "Ở mông”.

        Nhưng có thêm những khoảnh khắc đau khổ tột cùng. Quân y tá Danny Thomas, 19 tuổi, phóng lên bờ biển lúc 10 giờ 45 phút, chi cách vài bước phía sau người đồng đội thân thiết Chick Harris. Trong trại huấn luyện, Thomas và Harris được gọi là “Nhóc Sữa” vì trong những ngày xả trại cả hai chưa đủ tuổi để uống bia rượu. Thomas nhớ lại: “Tôi đang chạy về phía trước và thấy Chick đứng trên bãi biển, quay mặt ra biển, lưng quay về phía trận tuyến.” Người bạn ông có dáng vẻ kỳ lạ: Đầu và thân người đều thẳng lên như thể ông để cho mình bị chôn nửa người dưới cát trong trò đùa tinh nghịch nào đó. Khi Thomas chạy ngang người bạn, ông thét lên tiếng chào hỏi và thấy bàn tay cùng đôi mắt của Chick cử động, đáp lại ông.

        Rồi Thomas thoáng nhìn thấy cái gì khác khiến cho ông khuỵu xuống và nôn mửa. “Cái gì khác” là máu và nội tạng. Thomas nhớ lại: “Tôi nôn thốc nôn tháo. Tôi nhận ra là Chick đã bị cát làm đôi. Phân nửa người dưới của anh ấy đã mất đi. Đó là người lính tử trận đầu tiên mà tôi trông thấy.”

        “Nhóc Sữa Chick” lúc ấy chỉ mới 15 tuổi. Ông đã nói dối về tuổi của mình để gia nhập TQLC.

        Guy Castorini và vài lính mới tò te chạy theo người chỉ huy của họ, một người lính kỳ cựu có tên Lundsford. “Chúng tôi chua biết đưực liệu trận đánh này là khả quan hay tồi tệ. Một anh lính thét lên: "Này, Lundsford, đây có phải là trận đánh xấu không?" Lundsford thét đáp trả: "Trận đánh mẹ kiếp!" Có lẽ hai phút sau - Bùm - một quả đạn cối rơi xuống chúng tôi. Tôi cúi người xuống tránh; có cái gì đó rơi trên lưng tôi rồi lăn xuống. Như là một quả dừa hay cái gì đại loại như thế. Tôi nhìn xuống và thấy đó là cái đâu của Lundsford. Đó là câu nói cuối cùng của anh ấy: "Trận đánh mẹ kiếp!”

        Bằng cách nào đây, lính TQLC vẫn tiến lên. Bằng cách nào đấy, kỷ luật vẫn được giữ vững. Bằng cách nào đấy, tính kiên cường trấn áp nỗi sợ hãi. Bằng cách nào đấy, những người lính trẻ dưới làn đạn chi chít vẫn thi hành nhiệm vụ cơ bản, gan góc để tiếp tục cuộc đổ bộ.

        Thái độ điềm tĩnh của những người lính kỳ cựu là yếu tố giúp cho tân binh giữ vững tinh thần. Yếu tố khác là một năm trải qua huấn luyện trong các trại TQLC ở California và Hawaii. Quân y tá Langley giải thích: “Chương trình huấn luyện dạy cho chúng tôi cách kiềm chế nỗi sợ hãi. Chúng tôi đều biết có khả năng mình sẽ chết hoặc bị thương. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng phải tiến tới để không phải chết. Chúng tôi học được rằng có thể làm được nhiều thứ trong khi đang sợ thất thần.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:30:14 PM

        Y như rằng, Mike Strank là một trong những chiến binh kỳ cựu vẫn giữ vững tinh thần. Khi quân Nhật vừa trút cơn mưa đạn cối, binh sĩ của Đại đội E vẫn còn đang lần mò tìm đường về đội hình chính của Đại úy Severance, Lloyd Thompson nhìn lên về phía tay phải và không tin vào mất mình. “Mike đang ở đây, ngồi thẳng người, đang trút cát ra từ đôi giày như thể là không có chuyện gì xảy ra.” Bill Ranous nhớ lại quang cảnh ấy: “Tôi đã vùi mặt mình xuống cát. Rồi tôi nhìn lên và thấy Mike đang ngồi thẳng người trút cát ra từ đôi giày.”

        Sau khi đã tự chứng tỏ, Mike dẫn thuộc hạ dưới quyền đến nơi tụ họp với đơn vị của Dave Severance. Joe Rodriguez còn nhớ ông chạy tới lui giữa Tiểu đội, nhắc nhở họ phải dãn đội hình: “Đừng xúm xít với nhau! Đừng có như một buồng chuối1!”

        Chính vì thái độ như của Mike - có lẽ có hàng trăm người như thế, phần lớn đã bị lãng quên - đã giúp cho lính Mỹ chống chọi với cơn cuồng nộ của hỏa lực từ vũ khí vô hình, rồi thậm chí họ còn bắt đầu trả đũa để gây thiệt hại.

        Gây thiệt hại cho ai? Đấy là câu hỏi được lặp đi lặp lại ở Iwo Jima. Không có mục tiêu nào cả. Các pháo thủ đối phương đều vô hình, được che chắn, những sinh vật dưới lòng đất. Thượng sĩ nhất Lyndolph Ward thốt lên sự chán nản: “Điều khiến cho tôi tức tối là không thể đáp trả. Không thấy kẻ địch nào để nhắm bẳn.” Thậm chí khi lính TQLC gây thương vong cho đối phương, ít khi họ nhìn thây kết quả: Quân Nhật nhanh chóng kéo đồng đội của họ bị thương hoặc tử trận vào bên trong hang động và lô cốt. Vì thế, có rất ít dấu hiệu cho thấy chiến công, và việc này ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ. Trong những ngày tiếp theo, máy bay trinh sát nhận xét chiến trường trông giống như lính TQLC đang chiến đấu với chính hòn đảo chứ không phải với đội quân bảo vệ hòn đảo.

        Thật ra, ngay buổi sáng đầu tiên trong hỏa ngục ấy, lính Mỹ đã gây thiệt hại cho đối phương - bằng cách nghiến răng chiến đấu và tiếp tục như thế ròng rã 36 ngày cho đến khi tất cả 22.000 quân phòng vệ bị quét sạch: tiến lên giữa làn đạn mà không có gì che chằn, xông đến miệng lô cốt hoặc cửa hang động, bắn phá và đốt cháy đối phương ở cự ly gần.

        Một trong những chiến thuật của họ là xác định “làn hỏa lực”. Khi quan sát nơi đạn súng máy đối phương ghim xuống đất và xới tung lớp tro núi lửa, người lính có thể xác định chu vi tác xạ của đối phương: khoảng cách khẩu súng quay sang phải và trái bên trong lô cốt hoặc hang động. Từng đơn vị dãn rộng đội hình tiến lên bên ngoài ranh giới làn hỏa lực - tuy nhiều người chết và bị thương vì hỏa lực đan chéo - cho đến khi người còn sống sót tiến đến cửa hang hoặc phía sau lô cốt. Rồi một quả lựu đạn được ném vào hoặc một ngọn lửa màu cam từ súng phun lửa, thế là ổ kháng cự im bặt.

        Những lúc đầu tiên, lính Mỹ phạm sai lầm khi cho rằng một ổ kháng cự im bặt là đã bị tiêu diệt. Không phải vậy. Hệ thống địa đạo của Tướng Kuribayashi đảm bảo rằng nhiều lính TQLC sẽ bị hạ khi di chuyển qua một ổ kháng cự “đã bị tiêu diệt”: Lính Nhật từ phía dưới nhanh chóng chạy lên thay thế cho đồng đội của họ đã ngã xuống.
        Suốt buổi sáng đẫm máu này, từng đợt lính Mỹ vẫn tiếp tục đổ bộ. Sau một tiếng rưỡi đồng hồ, họ đã đạt vài kết quả. Vào lúc 10 giờ 35 phút, một nhóm nhỏ trong những đợt đổ bộ đầu tiên -  Đại đội A thuộc Trung đoàn 28 - còn sống sót sau khi đã chạy như thể muốn tự tử hơn 600 m băng ngang hòn đảo đến bờ biển phía tây. Thế là Núi Suribachi bị cắt đứt khỏi phần còn lại của hòn đảo. Giống như con rắn: đâu vẫn còn ngo ngoe và nguy hiểm, nhưng đã bị cắt rời khỏi thân thể.

        Làm thế nào họ hoàn thành nhiệm vụ này là hình ảnh thu nhỏ của chiến thắng cuối cùng. Đấy là nhờ tinh thần anh dũng của Tony Stein đã nêu gương cho người khác.

        Stein là Hạ sĩ 23 tuổi, quê ở Dayton, người đầu tiên nhận Huân chương Danh dự ở Iwo Jima. Để chuẩn bị cho trận chiến này, ông mang theo một khẩu súng máy nhẹ lấy ra từ một chiếc máy bay rồi cải tiến thành súng bắn nhanh. Khi đồng đội của ông bị chặn đứng vì hỏa lực tập trung của Nhật, Stein đứng thẳng dậy thu hút hỏa lực đối phương về phía mình để đồng đội tiến vào vị trí. Nhưng đấy là Stein chỉ mới khởi động gân cốt. Kế tiếp, ông một mình xông lên những công sự kế bên, rồi lặp lại việc này vài lần, hạ 20 lính đối phương ở cự ly gần. Khi hết đạn, ông vứt chiếc mũ sắt và đôi giày xuống rồi chạy chân trần xuống bờ biển để trang bị lại cho mình. Cứ 8 lần như thế, mỗi lần ông cõng một người bị thương đến chỗ an toàn. Gần đến cuối ngày, ông bẳn che cho Trung đội rút lui về vị trí của Đại đội, tuy có hai lần vũ khí của ông bị bẳn rớt khỏi tay.

----------------
        1. Theo cách nói của người Việt là “xâu táo”: đứng gần nhau quá thì một viên đạn sau khi xuyên qua một người có thể xuyên tiếp qua người kế bên.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:31:14 PM

        Trong lúc ấy, những chàng trai trẻ dũng cảm khác đang làm những nhiệm vụ không vinh quang gì ở bờ nước, để giúp cơ giới tiếp tục hoạt động. Không màng đến cơn mưa lửa đạn đang trút lên đâu, vài người cắm cúi trải những tấm lưới sắt dưới bánh xích của xe tăng đang bị lún; một số khác bình tĩnh leo lên những xe ủi đất để bắt đầu kiến tạo một con đường.

        Đấy là những bản năng có từ công tác huấn luyện và lòng can đảm vốn vẫn ngự trị sau khi cú sốc đã dịu đi; lòng can đảm được thổi bùng lên bởi tình đồng đội mạnh mẽ. Danny Thomas nhớ lại: “Tụi tôi đều quen biết nhau và có thể trông nhờ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau. Tụi tôi đã cùng tập luyện với nhau và có sợi dây thân ái kết nối.”

        Một điều khó khăn là không thần tượng hóa cái chết. Lính TQLC nhanh chóng nhận ra rằng thậm chí những anh hùng cũng có thể chết. Trung sĩ John Basilone, người nhận Huân chương Danh dự, người đã giúp đảo ngược tình thế tại Guadalcanal, đang dẫn đầu một toán lính súng trường tiến dọc bờ biển đến một vị trí quân Nhật. Ông hô hào đồng đội: “Tiến lên, anh em, phải xóa sạch mấy ô’ súng đó khỏi bờ biển.” Rồi một quả đạn cối kết thúc cuộc đời ông.

        Những khoảnh khắc can trường lan tỏa. Trong số những anh hùng là người có nhiệm vụ mang đến niềm an ủi. Quân y tá Emery thấy một lính quân y khác đang ngồi thẳng người, nên ông thét lên: “Nằm xuống!” Khi bò đến gần, ông thấy người kia đang xoay xở buộc một nẹp cầm máu quanh phần chân của mình đã bị cắt đứt, thốt lên: “Lo chăm sóc cho người khác, tôi sẽ ổn.” Một lúc sau, khi bò trở lại, ông thấy người lính quân y bị thương khi nãy đã chết.

        Sau này, Ira kể lại: “Người chết nằm la liệt khắp nơi; mùi kỳ dị của thuốc súng pha lẫn mùi khói và máu lấp đây không gian.”

        Linh mục Paul Bradley tháp tùng đợt đổ bộ thứ ba. ông kể: “Lúc ấy tôi còn trẻ và không nghĩ gì đến hiểm nguy cho mình. Và tôi quá bận rộn bò từ người chết này sang người chết khác. Tôi luôn nghe câu "Cha ơi, đến đây!" Một lần, tôi quỳ trên cát đang làm phép cho một người lính đã trúng đạn. Có một tiếng bịch lớn. Anh ấy bị bẳn lần nữa, rồi bỏ mình. Có người khác gọi "Cha ơi, đến đây!" Tôi bò đến người kế tiếp.”

        Một chiến binh đón nhận số phận với sự việc xảy ra trên không, khi nhóm đổ bộ trong đợt đầu tiên tiến lên bờ biển. Các chiến đấu cơ TQLC đang kết thúc cuộc oanh kích ở cao độ thấp, và khi phi công cuối cùng lái chiếc Corsair bay lên, quân Nhật nổ súng bắn trúng máy bay cùa ông. viên phi công, Thiếu tá Ray Dollins, cố giữ cao độ để tránh lao xuống đội hình TQLC đang tiến vào bãi biển, nhưng máy bay của ông bị hư hỏng nặng. Trên một chiếc xe bánh xích, Trung úy Keith Wells với cha tôi đứng kế bên nhìn lên. Wells kể: “Chúng tôi có thể nhìn thấy anh ấy trong buồng lái. Máy bay anh đang chúi mũi xuống một nhóm xe bánh xích chất đầy lính TQLC. Đến giây đồng hồ cuối cùng, anh ấy lật ngược chiếc máy bay và hướng nó xuống giữa hai hàng thiết giáp lội nước. Chúng tôi thấy nước bắn tung tóe lên không trung.”

        Từ trên các boong tàu, người ta không những nhìn thấy máy bay của Dollins rơi xuống, mà còn có thể nghe những lời cuối cùng của ông qua sóng vô tuyến. Đấy là ngôn từ có ý khinh thường, nhại theo một bài thơ:

        Ôi, ban mai đẹp sao
        Ôi, ngày trời đẹp sao
        Ta cảm thấy kinh hoàng
        Mọi thứ đón đầu ta.


        Tám ngày trước, khi trên đường đến Iwo Jima, Thiếu tá Dollins đã nhận tin đứa con đầu của ông ra đời, một bé gái. Ông là người lính đầu tiên của Sư đoàn 5 TQLC bỏ mình trong trận đánh này.

        Cha tôi hiện diện giữa tất cả cuộc tàn sát và hỗn loạn ấy. Cha tôi, với chiếc túi của quân y, Đơn vị 3, quàng qua vai. Người thiếu niên đi bỏ báo ngày xưa, giờ đang làm nhiệm vụ khác.

        Hầu như vừa đặt chân lên bãi biển là ông bận rộn ngay - dù quân y tá đồng đội Cliff Langley còn bận rộn trước đó nữa. Vài tuần lễ sau trận chiến, khi trả lời một cuộc phỏng vấn, cha tôi nói: “Gliff nhảy lên bờ khoảng mười giây đông hồ trước tôi, và khi tôi bước lên thì anh ấy đang cứu chữa cho một người bị thương.” Đấy là một trung úy bị bắn xuyên qua hàm, xem chừng khá nặng. Langley hỏi ông: “Anh có muốn được tải thương không?” Người thương binh nói trệu trạo: “Không, tôi không sao, cảm ơn”, rồi chạy trở lại bãi chiến trường.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:32:12 PM

        Thurman Fogarty, lúc ấy 18 tuổi, còn nhớ những bác sĩ quân y và quân y tá của Hải quân đã nhúng ngay vào máu sau khi họ đổ bộ lên. Cá nhân Fogarty đã bị vùi dập vì những cơn chấn động do đại pháo hai bên bắn qua lại, giống như những cơn gió lốc. Sau một lúc, ông ngã xuống, cố đào lấy một hố lõm để ẩn náu. Cha tôi đang cúi xuống kế bên ông để chăm sóc một vết thương nhỏ trên chân mình.

        Fogarty kể: “Tôi tình cờ nhìn qua bên trái và thấy một người lính TQLC đã bị bẳn gần đứt một cánh tay, chỉ còn dính một chút lủng lẳng trên vai. Tôi chỉ cho Doc xem. Anh ấy lăn qua trên chân tôi để chăm sóc người kia vẫn còn tỉnh táo. Doc bình tĩnh đặt một thanh ga-rô cầm máu nơi vết thương và bảo anh kia giữ lấy. Rồi anh ấy chích cho anh kia một mũi morphine và cột cánh tay đang lủng lẳng ở phần còn dính lại. Rồi anh lấy tay chỉ cho người kia đi về phía bệnh xá.”

        Sau đấy, Fogarty và cha tôi tách rời nhau. Bò lên một bậc thang, Fogarty thấy một chàng trai trẻ bị những mảnh đạn phá mất một mảng trên đầu. Quang cảnh khiến cho ông nhộn nhạo, rồi tuồn xuống một hố bom để nôn mửa. Ở đây, ông gặp lại cha tôi, đang chăm sóc một người với lồng ngực đã bị xẹp xuống. Cảnh tượng này làm cho ông nôn thêm. Ông kể: “Doc hỏi tôi bị thương ở đâu. Tôi nói mình chỉ nôn mửa. Anh ấy mỉm cười rồi trấn an tôi: "Anh sẽ ổn thôi’.”

        John Fredatovich, cũng 18 tuổi, là người bị thương đầu tiên của Đại đội E, cần cha tôi chăm sóc ngay khi vừa bước lên bờ. Ông nhớ lại một cách sinh động:

        “Tôi nghe tiếng đạn cối nổ, rồi cảm thấy người lạnh toát, thần kinh bị kích xúc khi những mảnh đạn xuyên vào cánh tay và đùi tôi. Tôi bị một vết cắt sâu từ đầu gối lên đến mông và dưới cánh tay. Xương đùi tôi bị vỡ.

        Doc đi đến. Anh ấy bảo mọi người tránh xa. Thái độ anh rất cương nghị và có khả năng nắm vững tình thế. Trong khi tôi đang nửa tinh nửa mê thì anh ấy truyền máu cho tôi. Rồi bốn lính TQLC mang tôi đến một vị trí trên bãi biển đế chờ tải thương.”

        Vị trí này không hề được che chắn. Mọi tấc đất đều có thể là mục tiêu. Fredatovich phải nằm chờ cho đến 4 giờ chiều, trông thấy chết chóc và tàn phá diễn ra quanh mình. Ông nhìn thấy một chiếc thuyền chở đây lính TQLC bị hất bay lên trời giữa một cột nước khổng lồ rồi nổ tung vào hư không. Ông nhìn thấy những anh lính trẻ bị thương đang trên cáng thì bị đạn pháo bắn vụn thành từng mảnh. Ông nhìn thấy những chú nhóc trên bờ biển đang dỡ chất nổ từ trên thuyên xuống thì trúng đạn pháo, da thịt hòa vào khối cầu lửa.

        Tuy nhiên, quang cảnh sẽ ám ảnh mãi tâm tư của nhà giáo tương lai này thì thật là khác thường: Ông thoáng thấy Harlon Block khi ông này chạy ngang mình để hướng tới vị trí chiến đấu.

        Fredatovich nhớ lại: “Tôi gọi anh ấy, nhưng anh vẫn tiếp tục chạy. Có vẻ gì đấy trong đôi mắt anh ấy khiến cho tôi kinh ngạc. Đôi mắt anh ấy thẫn thờ, không hề có cảm xúc, như thể những hoài niệm ngày xưa đang trở về tâm trí anh. Sau này, tôi nghiên cứu khoa tâm lý học và biết rằng hai cặp đồng tử nở to ấy có nghĩa là anh bị sốc vì cái gì đó, bị sững sờ vì một hình ảnh nào đó trong quá khứ. Như thể là tiếng nổ của đạn cối đã đưa anh trở lại với hồi ức về quá khứ.”

        Sau này, Fredatovich kết luận rằng Harlon đang khơi lại những hình ảnh của cái chết: có lẽ là những cái chết ông đã thấy ở Bougainville. Hoặc có lẽ là cái chết của chính ông.
        Đến giữa trưa, thương vong vẫn còn cao nhưng không còn có nguy cơ bị tiêu diệt. Khoảng 9.000 lính đã đổ bộ, và những đợt đổ bộ khác vẫn tiếp tục. Lính TQLC sẽ lưu lại đây trong thời gian dài.

        Suốt buổi chiều đằng đẵng, các chàng trai trẻ Mỹ vẫn giữ vững vị trí, thậm chí còn tiến lên dù vẫn đang đối diện với cơn ác mộng là chiến đấu với đối phương vô hình. Hỏa lực đan chéo của Nhật vẫn tiếp tục, thậm chí còn ác liệt hơn. Đạn bay đến từ mọi hướng trên hòn đảo; ngay cả đại bác đặt gần Mũi Kitano cách hơn 10 km về phía bắc cũng đang bấn phá tới tấp. Từ bờ biển phía đông, bên sườn phải quân Mỹ, hàng loạt đợt súng máy quét ngang dọc. Nhiều xe cơ giới bị nổ tan tành do những quả bom của máy bay được thả xuống nhưng không nổ nằm dưới cát có tác dụng như là mìn chống tăng. Những “bẫy nhện” và hang động hiện diện khắp nơi được nối với hệ thống địa đạo, tạo ra vô số vị trí để quân Nhật xuất hiện, nổ súng, lủi mất, rồi xuất hiện lại ở vị trí khác. Người lính TQLC kỳ cựu đã khoe khoang với cha tôi ràng ông có đủ kinh nghiệm để tránh đạn thì bây giờ thấy rằng tình thế này hoàn toàn xa lạ đối với ông. Sau này, nhiều người sống sót nói rằng sự khác biệt giữa sự sống và cái chết chỉ là do may mắn. Lính Mỹ trở thành mục tiêu nếu họ di chuyển. Và họ vẫn là mục tiêu nếu ở yên một chõ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Sáu, 2018, 11:33:18 PM

        Vài mưu mẹo của Tướng Kuribayashi giống như từ sách khoa học giả tưởng bằng hình vẽ mà lính TQLC đã đọc hồi còn nhỏ. Nhiều người lính nhớ lại mình đã kinh hoàng thấy một lỗ châu mai bỗng dưng mở ra trên sườn Núi Suribachi, giống như một tảng đá mở miệng ngáp. Nòng một khẩu pháo thò qua lỗ châu mai bắn ra một quả. Trước khi pháo Mỹ có thể định tọa độ của lỗ châu mai này thì nó đã khép lại. Đấy là một tấm bừng thép chắc chắn, hoạt động mở khép như là một cánh cửa ga-ra khổng lồ.

        Tuy thế, như William Wayne nhớ lại: “Chúng tôi hành động theo mệnh lệnh dưới hỏa lực súng máy: vẫn cố tiến đến trung tâm hòn đảo. Có lúc chúng tôi nhảy xuống một rãnh chống tăng để ẩn núp và rồi người chỉ huy của chúng tôi thét lên "Mìn!" và chúng tôi phải đổi hướng. Chúng tôi tiêu diệt từng công sự theo cách như khi được huấn luyện. Nhưng khác với việc huấn luyện ở chỗ đối phương xuất hiện trở lại và bẳn chúng tôi từ sau lưng. Nhưng chúng tôi hoàn tất nhiệm vụ. Chúng tôi đã tiến băng ngang hòn đảo.”

        Vào buổi chiều, những đơn vị đã đổ bộ được gồm có 8 tiểu đoàn và các tiểu đoàn tăng của hai sư đoàn, cùng những bộ phận của 2 tiểu đoàn pháo.

        Càng về sau, việc đổ bộ càng khó khăn hơn - không chỉ vì hỏa lực đối phương. John Gramling nhớ lại là chiếc xe bánh xích chở anh phải chạy lòng vòng ngoài biển trong khi các chàng trai căng thẳng vì sợ trúng đạn pháo. Ông nói: “Chúng tôi không thể tiến vào bờ vì lối vào bị nghẽn. Khi vào được bờ, chúng tôi thấy những xác người chồng chất.” Chiếc xe bánh xích chở Wesley Kuhn va phải nhiều thi thể khi còn cách bờ khá xa. Ông nói: “Họ nổi trên mặt nước, mặt úp xuống vì ba lô của họ chứa không khí.”

        Robert Sherrod, một trong những phóng viên chiến trường, đứng trên boong tàu ngoài khơi quan sát trận chiến qua ống nhòm. Đối với ông, những chiếc tăng đang xoay trở trông giống như “nhiều con bọ hung đen đang ngọ ngoạy trên hác ín lỏng.”

        Khoảng 5 giờ chiều, Sherrod bước xuống một tàu đổ bộ để tiến vào bờ. Ông gặp phóng viên Keith wheeler của tờ Times ở Chicago, vừa từ bãi biển trở ra. Wheeler khuyên ông: “Nếu là anh, tôi sẽ không đi vào. Có nhiều cảnh còn khủng khiếp hơn là tất cả những gì tôi đã thấy cộng lại.”

        Giữa hỏa ngục này lúc chiều tà, Harlon đang bò qua một con rãnh, dẫn đâu một hàng các chàng trai bò trên hai tay và hai chân. Bill Ranous ở ngay phía sau ông, va vào người ông khi ông thình lình dừng lại.

        Ranous kể: “Chúng tôi đều hướng mắt nhìn để xem cái gì đã khiến cho Harlon dừng lại. Anh ấy đang trân trân nhìn hai cái chân còn gắn vào hông nhưng phía trên thân người thì không còn nữa. Anh ấy chỉ sững sờ mà không nói lời nào.” Đối với William Wayne, cũng đi trong hàng, hai cái chân trông vô tri vô giác - cái gì đấy không làm ông bận tâm. Ông nói: “Tôi có ý chí muốn sống, và khi thấy hai cái chân, lúc ấy tôi vẫn dửng dưng. Nhưng đối với Harlon, đấy là phần của một con người. Sau một lúc, anh quay sang tôi, nhỏ nhẹ nói: ‘Tại sao ta không chôn anh ấy?’”

        Mỗi người lính có cách phản ứng khác nhau. Roland Chiasson thì ngã vào một cái hố và suýt lăn trên một lính TQLC đã bị mất cánh tay phải. Ông nhớ lại: “Tôi cảm thây mình xuẩn ngốc. Tôi không biết nói gì. Bạn phải nói gì với một người vừa mất cánh tay phải?”

        Suốt ngày Mike Strank đã hành động một cách dũng cảm, lo dìu dắt các chàng trai trẻ, nhưng đâu óc ông vẫn nghĩ đến định mệnh nghiệt ngã của mình. Aloise Biggs nhớ lại lúc đang ngồi nghỉ trong một hố đạn pháo cùng Mike vào buổi chiều. Với giọng thản nhiên, Mike nói: “Đây là chiến dịch thứ ba của tôi, và lần này tôi sẽ không thoát được.”

        Biggs nói: “Tôi đã kinh qua Bougainville và lúc ấy tôi không nghĩ gì nhiều đến trận đánh đó.”

        Quân y tá cũng chịu chung số phận như nhiêu người khác. Clifford Langley, quân y tá làm việc cùng với cha tôi, nhìn thấy sáu quân y tá ngồi thành vòng tròn, đang bàn bạc với nhau. Một quả đạn rơi xuống đầu họ. Langley nói: “Thế là tất cả đều bỏ mình.”
        Đêm xuống, lính Mỹ đã kiểm soát được bãi biến. Lúc mặt trời đang lặn, bờ biến trông càng thêm rùng rợn vì đây những thây người: Mỗi lính TQLC từ tuyến đầu quay về để nhận tiếp tế bổ sung đêu cõng theo một người chết hoặc bị thương. Những tiếng rên rỉ của họ vang lên dọc bờ biển. Nhiều người trong số họ đã chết ở đây, trúng đạn pháo khi nằm trên cáng để chờ được chuyển về tàu quân y.

        Nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm - đặc biệt đối với quân y. Thêm nhiều người bị thương. Thêm hàng trăm người, đang nằm rải rác khắp bãi chiến trường. Với cương vị đứng đầu đội quân y tá, cha tôi tiếp nhận báo cáo và cố gắng điều thuộc hạ đi cứu chữa.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:34:43 PM

        Đại đội A là một trong số những đơn vị bị thiệt hại nặng nhất vì đổ bộ trong đợt đầu và dũng cảm tiến qua bờ biển phía tây. Clifford Langley kể với tôi: “Cha anh phái tôi đi đến đấy. Đội quân y của họ đều bị thương vong và họ cần trợ giúp. Ban đầu đại đội có 250 người, bây giờ chỉ còn lại có 37. Họ phải trả cái giá như thế khi tiến chỉ hơn 600 m băng ngang hòn đảo.” Khi đến nơi, Langley gặp 8 người bị thương còn đi được trong số thương vong. Ông nói: “Họ đang đau đớn và tôi phát thẻ xác định họ là thương binh để họ được chuyên về trạm xá. Đáng lẽ họ đã có thể rút về mà nhận huy chương Quả tim Tím, rồi lấy làm hãnh diện.” Nhưng giống như vị Trung úy bị bắn xuyên hàm buổi sáng, không ai trong nhóm người này muốn rút lui.” Langley nhớ lại: “Trong khi bị chảy máu họ vẫn đứng đấy, nhưng họ từ chối xa rời đồng đội.”

        Đêm đâu tiên trên đảo Iwo Jima mang đến những quang cảnh rùng rợn đặc thù.

        Những tia lửa màu đỏ như trong địa ngục xuất hiện trở lại giống như lúc sáng sớm, trộn lẫn với những tia màu tráng, đấy là do: đạn lửa định vị; 10.000 quả đạn pháo từ đoàn tàu khu trục ngoài khơi bắn vào; những quả đạn lân tinh nổ tung lên thành những vệt sáng trắng; những luồng đèn pha đế soi sáng Núi Suribachi; những trái hỏa châu tạo nên tiếng phụt! khi nổ để soi sáng và từ từ rơi xuống dưới một cánh dù. Những trái hòa châu này tạo nên làn ánh sáng ma quái trên hòn đảo, khi đong đua trong gió tạo nên những bóng đen chập chờn một cách sống động.

        Đối với Danny Thomas đang ẩn mình trong hố cá nhân, bầu trời đêm giống như một tấm màn của ánh sáng nóng bỏng, một tấm lưới của hỏa lực đan chéo nhau. Ông nói: “Như thể bạn đưa một điếu thuốc lên mà châm lửa được.”

        Cấp chỉ huy của Sư đoàn Mũi giáo khó mà nghi ngơi được. Đại tá Harry Liversedge rời bộ chỉ huy Trung đoàn 28 của mình tiến đến trận địa thêm gần 200 m để sẵn sàng cho đợt tấn công lên đỉnh núi vào sáng hôm sau.
        Ngoài khơi, từng đoàn thuyền rẽ sóng trong đêm, mang vào thêm người sống, mang ra thêm người chết. Tại Tòa Bạch ốc, Tổng thống Roosevelt rùng mình khi nghe kết quả ngày đầu tiên trên Iwo Jima. “Đây là lần đâu tiên trong cuộc chiến, qua những tin tốt lẫn xấu, người ta mới thấy Tổng thống há hốc miệng trong kinh hoàng.”

        Ngày đầu tiên đã gây thương vong cao hơn toàn chiến dịch Guadalcanal: 566 người tử trận trên bờ và ngoài khơi, 1.755 người bị thương.

        Những binh sĩ khác cố giữ yên tĩnh; người cố dỗ giấc ngủ, người cố tránh cơn buồn ngủ. Họ đã được huấn luyện để bắn bất cứ mục tiêu nào di động, xem như đấy là đối phương. Những đốm hỏa châu rọi sáng mọi vật; những cái bóng chập chờn qua lại. Bất kỳ cái bóng nào cũng có thể là một binh sĩ Nhật đang nhẹ nhàng bò tới đế ra tay giết chóc.

        Một bác sĩ quân y đã thiết lập một phòng giải phẫu ở nơi mà ông cho là an toàn. Với bao cát và vải bạt, ông tạo nên một bệnh viện dã chiến. Nhưng khi cố dỗ giấc ngủ, ông nghe có âm thanh giống như tiếng nước bên ngoài phía dưới chân mình. Ông tự hỏi: Có phải mình đang mơ không? Ông lấy tay cào lớp tro núi lửa mềm để rân mò ra bâng chứng. Những đâu ngón tay của ông cào phải một lớp gì đấy cứng chắc: lớp gỗ lợp nóc của một hang động được gia cố. Vị bác sĩ đã dựng bệnh viện dã chiến của mình ngay trên đâu đối phương.

        Phil Ward còn nhớ những mật khẩu trong đêm ấy là dựa trên những hiệu ô tô của Mỹ. Thốt lên tiếng “Nash”, “Plymouth”, “Chevrolet” hoặc “Dodge” vào thời khắc gay cấn có thể tạo nên sự khác biệt giữa sự sống và cái chết.

        Ward kể: “Lúc đêm đã khuya, một anh chĩa súng vào đầu tôi nhưng tôi lại quên hết các mật khẩu.” Không hiểu vì sao, ông được tha mạng.

        Ngày đâu tiên của trận đánh Iwo Jima đã qua. Còn lại 35 ngày nữa.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:36:32 PM
     
Chương 8

NGÀY D CỘNG 1
       
Chiến tranh tàn khốc như thế lại là điều hay, nếu không chúng ta có thể đâm ra thích chiến tranh.

ROBERT E. LEE        

        Thứ Ba, ngày 20/2, khi các chàng trai Đại đội E thức dậy và nhìn lên ngọn núi thì trời đang đổ mưa. Mưa và gió lạnh sẽ hành hạ họ trong ba ngày kế tiếp. Biển lặng trong ngày đổ bộ, nhưng bây giờ đang dậy lên những con sóng cao hơn một mét với lớp bọt màu xám xấu xí ập lên bờ. Bây giờ, việc chuyển hàng hậu cần bị cản trở không chỉ vì pháo của đối phương, và tinh thần bộ chỉ huy chùng xuống. Tướng Smith than vãn trong tập hồi ký của mình: “Đấy là một trận đánh chống lại biển cả, sóng gió, tro núi lửa và quân Nhật - tất cả hợp lại thành khối liên kết khổng lồ chống lại chúng tôi.”

        Đấy là một đêm giá lạnh, đầu óc căng thẳng. Từ những vị trí trên bờ biển phía tây, Mike, Ira, Harlon cùng những người khác có thể nghe tiếng đạn cối, hỏa tiễn và đại pháo Nhật, suốt đêm không hề giảm sút. Đạn rót xuống hai trạm xá dã chiến trên bãi biển đổ bộ, sát hại nhiều thương binh.

        Những người lính TQLC trẻ đã chuẩn bị ứng chiến đợt xung phong của quân Nhật. Tướng Smith đã cảnh báo họ về việc này. Dù gây kinh hoàng, nếu có đợt xung phong như thế, ít nhất quân Nhật hẳn đã phơi mình trước họng súng Mỹ; quân tấn công thường chịu tổn thất cao hơn quân phòng thủ. Tướng Smith nhận xét khi ra lệnh binh sĩ dưới quyền phải chuẩn bị: “Thường là thế khi ta đập tan sức kháng cự của họ.” Nhưng không có đợt xung phong nào cả. Chiến thuật lì lợm của

        Kuribayashi đã kiềm chế sự chống đối của binh sĩ dưới quyền ông. Thay vào đấy, đạn cối và đại pháo tiếp tục rót xuống trong đêm, giết hại thêm nhfêu lính Mỹ hơn là cách xung phong.

        Và mối đe dọa rình mò dưới ánh sáng hỏa châu lập lòe là có thực; không phải tất cả bóng đen là ma quái. Vào khoảng 2 giờ sáng, một quả lựu đạn Nhật rơi vào giữa vị trí Đại đội E, làm bị thương Ed Kurelik và Phil Christman. Tuy mệt nhọc, trong màn đêm cha tôi vẫn phải lần mò trên hai bàn tay và đầu gối để chữa trị người bị thương, kêu tên mình để không bị bắn nhầm.

        Richard Wheeler nhớ lại là Kurelik, một chú nhóc Chicago, đã nổi điên lên vì quân Nhật không đường hoàng ra mặt mà đánh. Khi Doc băng vết thương cho anh, Kurelik cáu kỉnh nói: “Tôi nghe có ai đấy tiến đến giao thông hào và rồi tên Nhật ấy ném một quả lựu đạn.”

        Ánh sáng ban mai soi rọi cảnh tàn phá trong đêm. Đối với phóng viên kỳ cựu Robert Sherrod - người nghĩ mình đã thấy hết những gì tồi tệ nhất trên chiến trường Thái Bình Dương -  đấy không khác gì “cơn ác mộng trong địa ngục.” Bản tin của ông viết tiếp: “Vào buổi sáng, dọc bờ biển đầy những xác người... Họ chết trong cảnh tàn khốc nhất. Tôi chưa từng thấy nơi nào trên Thái Bình Dương có nhiều thây người chết tan nát như thế. Nhiều người bị cắt hẳn ra làm đôi. Nhũng ống chân và cánh tay nằm cách thân người cả mấy chục mét.”

        Vì thế, đối với những lính TQLC mới vài giờ trước còn mong trời mãi tối, bây giờ họ mới thấy bình minh là một ơn phước.

        Trung đoàn 28 dưới quyền Đại tá Liversedge đã bố trí vắt ngang phần thật hẹp của hòn đảo, cô lập Núi Suribachi chỉ cách họ vài trăm mét về hướng nam. Bây giờ, 3.000 người lính Trung đoàn 28 sẽ bắt đầu mũi tiến công nguy hiểm về ngọn núi lửa, trong khi 33.000 lính TQLC khác trên đảo sẽ tiến về hướng bắc xuyên qua trung tâm hòn đảo để đánh chiếm các sân bay và vùng đất cao.

        Lính Mỹ sẽ phải trả giá cao cho việc chiếm Suribachi, nhưng họ vẫn chuẩn bị thi hành nhiệm vụ khắc nghiệt này. ít lâu sau khi mặt trời mọc, Liversedge bố trí Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 tiếp tục tiến công lên Suribachi. Đại đội E không đi theo, mà được giữ lại trong thành phần Dự bị của Trung đoàn. Đại đội E sẽ tiến theo hướng của họ ngày hôm qua, về hướng nam để vào khu vực kiểm soát của Tiểu đoàn 2. Ở đây, họ sẽ lập vị trí dự phòng để có thể tiến lên trận địa.

        Đợt oanh kích bùng nổ khi ánh mặt trời ló rạng. Máy bay của Hải quân phóng hỏa tiễn, bom nổ và bom xăng đặc xuống Núi Suribachi.

        Lúc 8 giờ 30, Liversedge ra lệnh tấn công. Tiểu đoàn 3 dưới quyền Trung tá Charles Shepard dẫn đầu. Khi những người lính TQLC di chuyển zíc-zẳc dưới màn mưa hướng đến Suribachi, thiết giáp bánh xích và tàu khu trục Mỹ nã pháo lên núi nhưng không gây thiệt hại gì cho đối phương dưới lòng đất. Đại úy Severance điều Trung đội 1 của Đại đội E lĩnh nhiệm vụ tấn công lúc sáng sớm. Trung úy Trung đội trưởng George Stoddard đã bị thương và được di tản. Suốt buổi sáng, cuộc tấn công chỉ tiến được không đến 70 m, theo cách thức xưa cũ: bằng súng phun lửa, súng cầm tay, và bộc phá.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:39:56 PM

        Khoảng 11 giờ sáng, Trung tá Johnson, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, gửi tin báo về Tổng hành dinh Sư đoàn 5: “Địch chống cự mạnh hơn dự liệu. Cứ dăm mét có một công sự. Đợt yểm trợ bắn tốt nhưng chỉ phá hủy một ít công sự hoặc hang động. Binh sĩ phải tiến chiếm từng vị trí, đang chịu thiệt hại nặng.”

        Trong khi đợt tấn công tiến rồi chùng bước, Đại đội E - thiếu Trung đội 1 - tiếp tục tiến theo hướng bắc, lúc nào cũng thấy các ngọn núi và pháo thủ Nhật không cách quá xa. ít xảy ra chạm trán gần, ngoại trừ trường hợp một binh sĩ của Trung đội 3 - con một thợ rèn và là người lập dị từ Montana tên là Don Ruhl. Ồng đã trở thành mẫu người kỳ khôi khi huấn luyện: ghét mang mũ sắt, giảng cho đồng đội là đánh răng chỉ làm răng mòn đi, và cho biết mình đã xong huấn luyện; sẵn sàng chiến đấu.

        Vào Ngày D, Ruhl đã cho mọi người thấy là mình không nói đùa. Trông thấy một đám 8 lính Nhật đang bỏ chạy khỏi lô cốt đã bị nổ tung, anh lính trẻ một mình đuổi theo, bắn hạ một người và dùng lưỡi lê đâm chết một người khác.

        Bây giờ, vào khoảng 11 giờ sáng Ngày D+1, Ruhl tìm đến Thượng sĩ John Daskalakis với ý đồ cũng mạo hiểm: Một anh lính TQLC bị thương đang nằm cách vị trí Đại đội E khoảng gần 40 m, và Ruhl xin phép mang thương binh ấy vào. Vài lính TQLC và quân y đã cố làm việc này nhưng đều phải lùi bước, nhiều người bị thương do đạn súng máy. Thượng sĩ Daskalakis giải thích việc này cho Ruhl và bảo ông này cứ thi hành. Daskalakis kể lại: “Hắn nhảy ra khỏi rãnh chống tăng nơi chúng tôi đang ẩn nấp, chạy qua vùng lửa đạn cối và súng máy, tiến đến anh thương binh kia, rồi nửa kéo lê nửa cõng anh này trở về.” Ruhl huy động một người trợ giúp và một người khiêng cáng rồi mang anh ta đi dưới làn đạn, đến Bệnh xá Tiểu đoàn cách xa gần 300 m. Rồi anh chạy về và trở vào vị trí của mình.

        Bãi biển vẫn còn nóng bỏng. Không giống như bãi biển Normandie đã yên áng sau 24 tiếng đồng hồ, ở đây bờ nước Iwo Jima tiếp tục nhận thêm thương vong trong nhiều ngày. Quân y tá Hector McNeil không bao giờ quên cảnh tượng những người lính trẻ bị thương đang nằm trên cáng, bị trúng đạn pháo tan xác. Roy Paramor, người gốc Thành phố Lufkin ở Bang Texas, thấy những người lính đội Ong Biển và tài xế xe ủi đất bị bắn chết khi chính ông đang dỡ hàng hậu cần trong lửa đạn.

        Linh mục Paul Bradley và vị trợ lý Max Haefele cũng phơi mình trước hiểm nguy, vì lo chăm sóc cho những người bị thương. Max đặc biệt nhớ về một anh lính TQLC trẻ đã giẫm phải một quả mìn. “Chúng tôi giở tấm chăn của anh ấy lên thì thấy hai chân và một cánh tay đã trở thành thịt băm. Anh ấy sẽ không thể sống được. Nhưng anh chỉ nằm đấy im lặng mà hút một điếu thuốc.”

        Nhưng phía trước trận tuyến, các chàng trai Mỹ đang điên tiết phục thù cho những tổn thất ngày trước. Vài người dữ tợn nhất trong số này là những chú nhóc mới ở tuổi thành niên. Jacklyn Lucas là ví dụ cho số này. Ông gia nhập TQLC khi mới 14 tuổi, đánh lừa nhân viên tuyển mộ bằng thân hình cơ bắp và tác phong có kỷ luật, vì ông đã vào một quân trường trước khi đăng ký tòng quân. Khi được giao nhiệm vụ lái xe tải ở Hawaii, ông cảm thấy chán ngán; ông muốn chiến đấu. Ông lẻn lên một chiếc hải vận hạm rời Honolulu, sống lay lắt nhờ lính TQLC động lòng chia sẻ thức ăn cho ông.

        Ông đổ bộ vào Ngày D mà không có súng trường. Ông vớ lấy một khẩu nằm trên bãi biển rồi tiến vào đảo mà chiến đấu.

        Bây giờ, vào Ngày D+1, khi cùng ba đồng đội đang bò qua một con rãnh, cha tôi trông thấy 8 lính Nhật phía trước mặt. Ông bắn vào đầu một người. Rồi khẩu súng trường của ông bị kẹt đạn. Trong khi ông đang loay hoay, một quà lụư đạn rơi dưới chân ông. Ông thét lên cảnh báo đồng đội và vùi quả lựu đạn dưới lớp tro mềm. Tức thì một quả khác lăn vào. Jack Lucas, 17 tuổi, ngã lên hai quả lựu đạn. Ông nhớ lại ý nghĩ: “Luke1, mày sẽ chết.”
       
        Jack Lucas sau này kế lại với một phóng viên: “Sức ép của vụ nổ bân tung tôi lên không trung. Máu trào ra từ miệng và tôi không thể nhúc nhích. Tôi biết tôi sẽ chết.” Đồng đội của ông tiêu diệt hết những lính Nhật còn lại rồi trở lại với cha tôi để thu lượm thẻ bài từ các thi thể của đồng đội. Họ ngạc nhiên vui mừng khi thấy Jack Lucas không những sống sót mà còn tỉnh táo. Bác sĩ quân y trên chiếc Samaritan lấy làm khó tin. Một người nói: “Có lẽ hắn quá trẻ và quá dai sức nên khó chết.” Ông chịu đựng 21 cuộc giải phẫu chinh hình và trở thành người trẻ nhất trong cả nước được tưởng thưởng Huân chương Danh dự và là học sinh năm thứ nhất phố thông trung học duy nhất nhận Huân chương này.

        Năm mươi ba năm sau hành động ấy, khi tôi hỏi: “Tại sao ông nhảy lên hai quả lựu đạn ấy?” thì ông không ngần ngại trả lời: “Vì tôi muốn cứu bạn bè của mình.”

------------------
        1. “Luke” là tên gọi thân mật của “Lucas”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:42:37 PM
   
        Giữa khi chiến trận còn đang nóng bỏng, lính TQLC vẫn lo chôn cất đồng đội. Don Mayer, 19 tuổi, lúc trước chưa từng bao giờ chạm đến một tử thi, nhưng hôm nay kéo hết tử thi này đến tử thi khác từ dưới nước lên: những chú nhóc nhảy từ xe lội nước xuống rồi chết đuối hoặc bị trúng đạn.

        Bob Schmidt từ Appleton, Bang Wisconsin, làm việc cho bộ phận đăng ký bia mộ (Giống như “Đạo tặc Hôn hít”, ông lớn lên gần cha tôi nhưng hai người chưa quen biết nhau; vài năm sau họ chơi gôn với nhau). Đơn vị của ông đáng lẽ phải đổ bộ vào Ngày D, nhưng bãi biển bị ùn tắc nên đến 2 giờ chiều Ngày D+1 ông mới lên được bờ. Schmidt kể: “Trong 24 tiếng đồng hồ, chúng tôi ngồi trong chiếc xe bánh xích nhỏ ây mà chỉ đi lòng vòng. Đây như là tra tấn. Tôi ngủ thiếp đi, rồi bừng tỉnh và thấy biển nổi sóng dữ dội. Tất cả những gì mọi người có thể biết là chiếc xe đổ bộ bị bẳn tung lên bãi biển.”

        Cuối cùng, khi đã bắt đầu công việc của mình, ông nhận ra rằng trận chiến này là loại khác hẳn. Ông nói: “Tôi đã lo chôn cất người chết ở Saipan, nhưng ở đây có khác là từ thi bị giập nát nhiều. Quân Nhật dùng nhiêu vũ khí nặng hơn là những gì chúng tôi từng thấy. Trên Đảo Saipan, mỗi lính TQLC được chôn trong một nấm mồ riêng rẽ. Nhưng trên Iwo Jima, chúng tôi phải dùng xe ủi đất đào một hố chôn tập thể dài hơn 30 m, rộng hơn 3 m. Chúng tôi chôn theo từng hàng. Chúng tôi có nhân viên trắc địa đánh dấu vị trí.”

        Tuyên úy Gage Hotaling không bao giờ quên được quang cảnh chôn cất: “Chúng tôi chôn mỗi lần 50 người trong từng hố. Chúng tôi không thể biết ai theo Do thái giáo, ai theo Công giáo hay tôn giáo nào khác, vì thế chúng tôi đọc lời cầu nguyện chung chung: "Chúng con xin giao anh cho đất và xin phó thác anh cho Thượng đế." Riêng tôi đã lo chôn cất cho 800 chàng trai.”

        Khoảng 4 giờ chiều Ngày D+1, với Trung đội 2 và Trung đội 3 thêm một tiểu đội súng máy yểm trợ cho mỗi trung đội, Đại đội E nhận lệnh tiến ra tuyến đầu.

        Nhiệm vụ của họ là thay thế một đơn vị đã chiến đấu cả buổi chiều và chịu nhiều tổn thất. Tiểu đoàn 2 đã tiến về phía Núi Suribachi được 100 m. Mặt trời mùa đông đang lặn xuống ngọn núi, và những người lính Đại đội E di chuyển vào cái bóng khổng lồ của quả núi. Nhiều chàng trai trẻ có cảm giác ràng quả núi đang nhìn đến mình. Đúng thế, với hàng nghìn con mắt của quân Nhật đang cố thủ dưới lòng đất.

        Khi tiến đến tuyến đầu, Richard Wheeler hỏi một anh lính súng trường đang ép sát bụng trên đất: “Tình hình ở đây thế nào?” Người lính đáp cộc lốc: “Đang bị bắn tàn bạo.” Hầu như lập tức, Đại đội E kinh qua thực tế này. Kenneth Milstead, bạn thân của Mike, Ira, Franklin và Harlon trong Trung đội 2, vừa nhảy xuống một hố cá nhân nông choẹt mà ông vừa đào thì một quả đạn rơi xuống kế bên ông và hất tung ông trở lên. Máu chảy từ mảnh đạn đang ghim trên mặt ông. Milstead kể: “Đáng lẽ tôi đã được tải thương, nhưng bọn Nhật làm cho tôi bực mình. Từ sợ hãi tôi chuyển thành tức giận. Đấy là ngày mà tôi thực sự trở thành lính TQLC.”

        Phía trên đầu các chàng trai, đạn từ xe tăng và tàu khu trục của Mỹ rót xuống quả núi. Phil Ward nhớ lại: “chỉ có tiếng ồn.” Chiến đấu cơ của TQLC và Hải quân bay đến, tàn phá những sườn núi dốc bàng bom xăng đặc, gây nên những cụm khói lửa màu cam.

        Trên mặt đất, cha tôi lùng sục khắp nơi dưới hỏa lực đối phương, quàng trên vai Đơn vị 3 để đi tìm người bị thương.

        Bác sĩ James Wittmeier, quân y sĩ tiểu đoàn, nhớ lại: “Trạm xá của chúng tôi chỉ là khẩu súng trường cấm xuống đất. Lúc Doc Bradley mang một người bị thương vào, tôi ra lệnh cho anh ấy nghỉ cho người khác thay phiên vì anh đã mệt nhọc, nhưng anh từ chối. Anh ấy nói: "Tôi không muốn bỏ rơi đồng đội. Tôi muốn ở bên cạnh họ." Rồi anh ấy trở lại bãi chiến trường.”

        Đấy là ngày của lòng dũng cảm và thảm trạng đối với Đại đội E; đôi lúc hai điều này pha trộn với nhau. Khi lính TQLC tiến sát gần chân núi hơn, Trung úy Ed Pennel nhìn thấy 5 người bị thương nặng đang nằm cách mình không xa, trên một khoảnh đất trống. Họ cần được giải cứu ngay, nhưng họ đang nằm dưới những làn đạn đan chéo nhau. Pennel nhìn quanh quất để tìm giải pháp. Cuối cùng, một vài chiếc tăng đang chầm chậm tiến đến; chiếc gần nhất chỉ cách không đến 100 m. Trung úy Pennel chạy nhanh đến đây, may mắn là không hề gì. Ông ra lệnh cho tài xế chạy đến hai trong số những người bị thương. Mike, Harlon, Ira và Franklin chạy đến hai người, một phần được chiếc tăng che chắn, và kéo hai người xuống một con rãnh. Pennel ra lệnh cho chiếc tăng đến đậu ngang hai người, rồi cùng kéo họ vào bên trong qua cánh cửu thoát hiểm. Rồi ông hướng dẫn một chiếc tăng khác tiến đến 3 người bị thương kia, và thêm hai lần nữa ông lao vào những thao tác rủi ro như thế. Ông được thưởng Huân chương Thập tự Hải quân do lòng dũng cảm.

        Còn Don Ruhl vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu.

        Một khẩu pháo Nhật đặt ở vị trí cách sườn trái của Đại đội E khoảng gần 70 m. Một đại đội khác kế bên đã chịu tổn thất trong khi cố tiêu diệt khẩu pháo này. Bây giờ, con người ghét bàn chải đánh răng Ruhl cùng một đồng đội đi đến Trung úy Keith Wells, Trung đội trưởng Trung đội 3, để xin tình nguyện. Trong khi hàng chục đồng đội quan sát, hai chàng trai chạy nhanh qua khoảnh đất đã khiến những người lính khác bỏ mình. Khi tiến đến khẩu pháo, họ thấy không có lính Nhật nào ở ụ súng. Cả hai trấn giữ ụ súng cạnh khẩu pháo suốt đêm để ngăn quân Nhật chiếm lại. Thu mình trong bóng tôi, Ruhl tìm ra một địa đạo cách mình không xa. Không nghĩ gì đến việc có những người rất thù nghịch đang ở trong địa đạo này, anh chàng từ Bang Montana lập dị bò vào trong, bật hộp quẹt để thăm dò suốt chiều dài địa đạo. Anh tìm thấy vài chiếc chăn len, mang lên cho những đồng đội đang sững sờ vì hành động của mình.

        Khi cái bóng của Suribachi trải dài trong màn đêm, những người lính Đại đội E chui rúc dưới hố cá nhân để qua thêm một đêm không ngủ lạnh lẽo. Họ biết những gì đang chờ đợi mình khi mặt trời mùa đông nhô lên. Họ hiểu rằng vào buổi sáng, tiếu đoàn họ sẽ tấn công lên đinh núi. Và họ sẽ là thành viên trong lực lượng tấn công này.

        Thêm một đêm, những trái hỏa châu và ánh sáng rọi tìm phủ đây những sườn núi Suribachi, lại mang đến cho các chàng trai những ý nghĩ ma quái. Như thể tạo nên âm thanh nên cho những ý nghĩ này, một quả đạn cối rơi xuống kho đạn quân Mỹ trên bãi biển. Những tiếng nổ liên tiếp cả giờ đồng hồ.

        Vào cuối ngày này, Sư đoàn 4 và Sư đoàn 5 chỉ kiểm soát được chưa đến 2 km rưỡi của hòn đảo. Để đạt được thành quà này, Sư đoàn 5 đã chịu 1.500 thương vong, còn Sư đoàn 4 khoảng 2.000. Nhưng lính Mỹ vẫn chưa nhìn thấy đối phương, những kẻ đã gây ra thương vong cho mình. Đối với phần lớn các chàng trai trẻ, họ vẫn chưa thấu hiểu rằng quân phòng ngự không phải hiện diện trên Iwo Jima, mà trong Iwo Jima, đang đi tới lui trong những địa đạo dài gần 25 km. Họ có trạng thái tâm lý là mình đang bắn những bóng ma, và bị những bóng ma bắn trả.

        Và bây giờ, trong phần đất đen tối của những bóng ma -  trong ngôi nhà của ma quỷ điên dại - những chàng trai cố dỗ giấc ngủ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:46:54 PM

Chương 9

NGÀY D CỘNG 2

Vài người băn khoăn suối cuộc đời mình rằng liệu họ đã tạo nên ảnh hưởng quan trọng nào không. Lính TQLC không vướng víu với vấn đề này.

RONALD REAGAN       

        Một Cơn dông thổi vào từ đại dương; từng đợt gió giật mạnh; từng đợt sóng nhô cao cả 2 m. Nhưng những điều này không có nghĩa lý gì đối với cơn bão tố địa ngục sẽ bùng nổ trên phần thắt hẹp của hòn đảo. Lúc 9 giờ 30 sáng, một chiến tuyến mỏng manh của những chàng trai không có gì che chắn sẽ đúng lên và xông đến một ngọn núi được phòng ngự kiên cố nhất trong lịch sử thế giới. Gần một phần ba trong số họ sẽ bỏ mình hoặc mang thương tật. Nhưng không phải là vô ích: Cuộc tấn công của họ sẽ đánh dấu bước khởi đầu cho hồi kết cục của Suribachi “bất khả xâm phạm” - và cũng là yếu tố đóng góp cho kết cục của Iwo Jima.

        Bị ướt sũng, lạnh giá và mệt mỏi, những người lính TQLC thức dậy, nhìn lên quả núi lửa hoang sơ sẽ quyết định vận mệnh của họ. Trong khoảnh khắc im lặng và căng thẳng khi vầng đông vừa ló rạng, Đại đội E nằm ở bên sườn Tiếu đoàn 2 chờ lệnh tiến quân. Đại đội đang đối mặt với đường tiến quân dài, nguy hiểm chết người trên mạn sườn phía đông-bắc. Nhũng chàng trai dưới quyền Đại úy Dave Severance sẽ phải chạy gần 200 m trên khoảnh đất trống trải hướng về chân núi, mà không có gì nhiều để che chấn.

        Hỏa lực Nhật sẽ biến khoảnh trống 200 m giữa Trung đoàn 28 và chân núi thành một bãi sát thương khủng khiếp nhất trên chiến trường Thái Bình Dương. Lòng núi Suribachi đã được khoét thành hệ thống địa đạo thần kỳ gồm 7 tầng, được gia cố

        bằng những tường ngăn xây bằng bê-tông rồi được trát vữa mặt ngoài, thêm hệ thống thoát nước thải và đường ống dân không khí, điện, nước và hơi nước. Có đến 1.300 lính bộ binh và 640 lính hải quân lấp kín các gian phòng và địa đạo, được trang bị với mọi loại vũ khí.

        Khoảnh đất giữa lính TQLC và quả núi không chỉ trọc lốc, mà còn nằm giữa những hướng hỏa lực đan chéo nhau. Dọc theo chân núi là chỉ chít những công sự bê-tông cốt thép và giao thông hào cho bộ binh Nhật. Các lỗ châu mai được đặt theo nhiêu hướng sao cho lính Nhật có thể quan sát lẫn nhau và hỗ trợ cho nhau bằng hỏa lực súng máy.

        Khoảng 7 giờ 30 sáng, những khẩu pháo của TQLC mở đợt khai hỏa làm rung chuyển mặt đất. Đạn pháo bay tầm thấp trên đầu lính TQLC, bắn tung từng tàng đá trên sườn núi. Những chàng trai dọc rìa chu vi nằm thụp xuống để tránh mảnh đạn lạc. Đại tá Harry Liversedge, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, đã thét lên: “Yêu cầu bắn tận lực!” Không có lý do gì mà kiềm chế: sau ngày này sẽ không có khoảng trống nào để ngắm tầm đạn. Trận chiến sẽ trở thành giáp lá cà.

        Sau đợt pháo là 40 vận tải cơ bay tầm thấp, bắn hỏa tiễn thành từng loạt đinh tai nhức óc. Vài quả bom rơi chỉ cách lính TQ"LC khoảng chiều dài sân đá bóng.

        Những chiếc máy bay rời xa; Giờ H đã đến gần: 8 giờ sáng. Các chàng trai chuẩn bị đón chờ tiếng hô “Tấn công!” - tiếng hô có thể đánh dấu giây phút cuối cùng trong đời họ.

        Nhưng chưa có đợt tấn công nào.

        Vấn nạn là do xe tăng. Đại tá Harry Liversedge đã trông chờ vài chiếc tăng đến để che chắn cho đợt tấn công, nhưng không thấy chiếc nào xuất hiện. Tăng đã mất nhiều thời giờ để tái trang bị và tiếp nhiên liệu, thêm đạn pháo Nhật khiến cho họ bị chặn đứng. Harry trì hoãn đợt tấn công cho đến 8 giờ 15, hy vọng rằng bất kỳ lúc nào đoàn tăng sẽ xuất hiện.

        Không có chiếc tăng nào cả.

        Lúc 8 giờ 30, Đại tá Liversedge phải đi đến quyết định có phần bất lợi. Dù không có thiết giáp làm lá chắn cho các chàng trai, ông không thể trì hoãn được nữa. Ông ra lệnh tiến quân.

        Một cảm giác kinh hoàng lan khấp trung đoàn. Lính TQLC thấy rằng xe tăng không hiện diện trên trận tiền. Không có tăng; không có lá chân thép để che chắn khi họ chạy đến các công sự Nhật. Không có tăng; không có gì cả ngoài những tấm thân người hứng đạn. Ý nghĩ cầm chắc cái chết lan rộng. Các chiến binh dày dạn không cất lên tiếng thét hô hào. Richard Wheeler có cảm giác đau đớn vì tuyệt vọng: “Tôi cảm thấy nỗi sợ hãi trì nặng quai hàm.” Sau này, Trung úy Keith Wells nhìn nhận mình nhớ lại kỷ niệm từ thời thơ ấu về lò mổ gia súc của người cha: dáng vẻ của những con bò như thể nhận ra chuyện gì sẽ xảy ra khi các cánh cửa chung quanh đóng lại.

        Và rồi những anh hùng của chiến trận ngày hôm nay đứng dậy.

        Một trong những người đầu tiên là Trung úy Keith Wells, Trung đội trưởng Trung đội 3 của Đại đội E. Trung úy Wells không cần ra lệnh cho thuộc hạ làm theo mình. Ông chỉ việc đứng lên, huơ khẩu súng về phía quả núi, và bắt đầu chạy. Sau này, ông kể: “Tôi chỉ nghĩ đấy như là tự sát.”

        Hành động thầm lặng nêu gương của ông làm cho những binh sĩ dưới quyền bừng tỉnh. Sau lưng ông, hàng trăm chàng trai cũng đứng dậy, nòng súng hướng về phía trước, tiến về phía quả núi. Bên phải của Trung đội 3 (có cha tôi) là Trung đội 2 dưới quyền Trung úy Ed Pennel (có Mike, Harlon, Ira và Franklin) tiến sát theo Wells.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:48:47 PM

        Harlon, Doc, Ira và Franklin tiến về phía trước cùng với những người khác của Đại đội E, nhóm tiền phong của đợt tấn công. Lập tức, đạn pháo đủ loại của Nhật bắt đầu đốn ngã chiến binh Mỹ. Giữa âm thanh inh tai nhức óc chen vào những tiếng kêu của các chú nhóc: “Y tá! Y tá!”.

        Cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đều tơi tả dưới làn đạn, bị bắn tan xác, bị đạn súng máy cày nát, bị mảnh đạn pháo cắt ngang thân người. Từng nhóm bị đốn hạ, và nhóm kế tiếp bị đốn hạ. Trong khu vực của Hạ sĩ Richard Wheeler, một quả đạn cối giết chết Hạ sĩ Edward J. Romero, cựu lính dù đến từ thành phố Chicago. Wheeler phóng xuống một hố bom và chưa kịp hoàn hồn thì một quả đạn khác nổ tung, phá nát quai hàm ông. Trong khi máu đang phun ra như suối, quân y tá Clifford Langley -  người đã cứu chữa một ca vỡ hàm khác vào ngày D - tiến đến đắp bông băng cho Wheeler. Rồi Langley đến chăm sóc cho một người khác bị thương gần đấy. Trong khi ông đang đóng lại chiếc túi cứu thương và chuẩn bị rời khỏi hố bom, tay cầm khẩu súng trường của Wheeler, thêm một quả đạn cối rơi xuống họ. Quả đạn này tiện đứt cẳng chân trái của Wheeler và bẳn mảnh vào người Langley. Người lính quân y trẻ phó mặc những vết thương của mình, một lần nữa băng bó cho vết thương của Wheeler. Rồi cả hai nhận ra rằng quả đạn đã làm cho người bị thương gần đấy có thêm thương tích; cả hai chân anh này đều bị xé nát, anh nằm úp mặt, tuy còn tỉnh táo nhưng đang hấp hối

        Nhưng chưa hết. Quả đạn cối thứ tư rơi xuống, nhưng là quả đạn thối. Nếu quả đạn này nổ, những người xung quanh sẽ chết hết.

        Quân y tá Langley - bây giờ quần áo đã ướt đẫm máu của chính mình - một lần nũa đóng lại túi cứu thương theo đúng thao tác, cầm lấy khẩu súng của Wheeler rồi tiếp tục đi làm nhiệm vụ.

        William Wayne thấy một viên đạn đã phá nát mặt một đồng đội của mình. Ông kể: “Hàm răng anh ấy đang nằm đó. Nếu lúc ấy tôi nghĩ đến việc này thì tôi sẽ điên mất.”

        Anh hùng ngày hôm qua trở thành tử sĩ ngày hôm nay. Tính ngông cuồng lập dị của Don Ruhl cuối cùng đã làm hại ông. Ruhl và người dẫn đầu cho trung đội, Trung sĩ Henry Hansen, đang ở vị trí tiên phương của một đợt tấn công đã tiến đến chân núi. Họ chạy ngang những boong-ke đã bị bom phá hủy, nhưng chẳng bao lâu thấy mình đối diện với quân trú phòng vẫn còn chiến đấu. Cả hai nhảy lên một công sự đã bị phá hủy và ria đạn vào một nhóm lính Nhật, cùng lúc nhóm lính này ném lựu đạn về phía họ. Trong khi họ đang nhả đạn, một quả lựu đạn rơi xuống giữa hai người.

        Những binh sĩ mục kích cảnh tượng kể lại ràng Ruhl, lúc ấy đang đứng ở rìa nóc công sự, có thể dễ dàng luồn xuống một bên để tự cứu nguy. Nhưng bản chất của ông không phải như thế. Ông tính toán vị trí của Hansen - đứng chơ vơ giữa nóc công sự - rồi hành động: với tiếng thét cảnh báo “Coi chừng, Hank!” ông phóng mình nằm trên quả lựu đạn.

        Trung sĩ Hansen đã thấy quả lựu đạn rơi xuống, nhận ra mình không còn lối thoát, vội nằm rạp người xuống. Ông kể: “Hy vọng các mảnh bay qua phía trên người tôi". Và cùng lúc nghe tiếng hô của Ruhl. Ông ghi lại trong báo cáo chính thức về vụ việc: “Tôi nghe một tiếng nổ nhỏ. Tôi kéo Ruhl xuống khỏi boong-ke nhung anh ấy đã chết. Tôi tin chắc rằng, nếu không do anh ấy hy sinh thân mình thì tôi đã bỏ mạng hoặc bị thương nặng.”

        Trong số những người đầu tiên đến bên Ruhl là cha tôi, hai tay ôm lấy chàng trai trẻ trong khi ồng khám xét để tìm dấu hiệu của sự sống.

        Vì hành động dũng cảm này, Don Ruhl được truy tặng Huân chương Danh dự.

        Phản ứng dây chuyền của cuộc tàn sát vẫn tiếp tục. Khi Wheeler bị thương ở hàm1, một đông đội tên Louie Adrian, thuộc bộ tộc

        Da đỏ Spokane, chạy ra khỏi hố cá nhân ấy rồi nhảy xuống một hố cá nhân khác. Người bạn thân Chick Robeson đang núp ở đây. Hai chàng trai từ Washington đã cùng nhau đi đăng ký, đã cùng nhau đi đến Trại Pendleton bằng xe lửa, và ở chung một lều trong thời gian huấn luyện. Khi có phép xả trại, cả hai cùng nằm ngủ trên một bãi biển và cùng choàng tỉnh khi bị một con sóng khổng lồ đánh lên.

        Bây giờ, hai người bạn thâm giao sát cánh bên nhau, cùng bắn súng trường và ném lựu đạn, cùng thay phiên nhau hụp đầu lên xuống trong cơn mưa giá lạnh. Robeson kể lại: “Trong khi tôi đang hụp xuống để nạp đạn và Louie nhô lên, một viên đạn bắn trúng vào tim anh ấy. Anh ngã xuống, người trắng bệch khi hắt hơi thở cuối cùng. Louie là người bạn thân nhất của tôi. Mối liên hệ đến quê nhà tôi. Tôi vẫn đang nhìn anh ấy thì Hạ sĩ chỉ huy chúng tôi la lên "Tiến, Chick! Tiến! Tiến!’” Và thế là anh lính Chick Robeson 17 tuổi đứng lên và xông về phía trước. Anh là lính TQLC và anh có nhiệm vụ phải thi hành.

----------------
        1. Richard Wheeler được đưa về chữa trị rồi được xuất ngũ sáu tháng sau, năm 1945. Ông trở nên nổi tiếng nhờ viết trên 15 quyến sách về lịch sử chiến tranh, trong đó có hai quyến về Đại đội E trên Iwo Jima được đánh giá cao.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:50:13 PM

        Trung đội 2 đang chiến đấu trong gian nguy ở sườn trái dưới những loạt đạn cối dồn dập. Ira, Franklin, Harlon và Mike chạy zíc-zẳc từ hố bom này đến hố đạn pháo khác, vừa tiến lên vừa tìm bất kỳ vị trí che chắn nào. Chung quanh bốn người, đồng đội của họ trong Đại đội E tiếp tục chịu thương vong. Một quả pháo bắn tan xác hai chàng trai trẻ. Một quả pháo rơi gần Tex Stanton, sức ép bẳn Tex lên cao 3 m; ông rơi xuống với những vết bỏng nặng ở hai chân và hông.

        Nhưng họ vẫn tiến lên. Ngay cả khi số thương vong lên đến mức có thể khiến cho bất kỳ lực luựng tấn công nào khác hoảng hốt và rút lui, nhưng những lính TQLC này vẫn nhớ đến những gì mình được huấn luyện ở Pendleton và Tarawa, vẫn tiếp tục tiến lên. Một cách can trường, họ thục hiện nhiệm vụ đã được giao phó và giữ vững tinh thần đồng đội. Lính súng trường và súng máy còn sống sót hướng hỏa lực đến các lỗ châu mai - thường chỉ là những khe hẹp ngoài vách núi đá. Và khi đối phương cúi thấp người, đội mang bộc phá và súng phun lửa vượt qua những làn đạn đan chéo nhau để tìm cách tiếp cận ngõ hầu ra đòn cuối cùng.

        Giữa cuộc tàn sát, cha tôi vẫn di chuyển, cố làm những gì có thể làm được trong biển máu. Chỉ trong vòng 30 phút sau khi mở đợt tấn công, mặt đất vương vãi những thân hình lính Mỹ. Cậu bé bỏ báo ngày xưa bây giờ phó mặc lừa đạn để cố giành lấy mạng sống con người.

        Ông nhìn thấy một lính TQLC xông vào những làn đạn súng máy đan chéo rồi ngã xuống. Cha tôi không hề do dự. Với chiếc túi “Đơn vị 3” đeo bên người, ông chạy 30 m qua những làn đạn dày đặc - đạn cốỉ lẫn súng máy - để đến gần chàng trai trẻ đang bị thương. Trong khi đạn đang bay veo véo xung quanh, ông nhận thấy anh lính TQLC đang chảy máu khá nhanh, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Không thể tải thương, mà cần phải cầm máu trước. Trong khi hỏa lực Nhật vẫn còn bao phủ quanh người, cha tôi chú tâm vào công việc như đã được huấn luyện, ông buộc chai plasma vào khẩu súng trường của chú nhóc rồi cắm lưỡi lê trên đầu súng xuống đất. Ồng lấy thân mình chắn giũa chú nhóc và phía có hỏa lực. Rồi, trong khi thân mình vẫn còn nhô lên mà không có gì che chắn, ông lo sơ cứu cho người bị thương.

        Đồng đội của ông nấp dưới những hố đại bác tin chắc ông sẽ bị đốn ngã bất kỳ lúc nào. Nhưng cha tôi vẫn tiếp tục công việc cho đến khi ông nghĩ có thể di tản người bị thương một cách an toàn. Rồi ông giơ một bàn tay ra dấu cho đông đội, không phải để yêu cầu trợ giúp, mà để ra hiệu họ cúi xuống ẩn nấp. Rồi cha tôi đứng lên giữa lửa đạn kéo người lính TQLC bị thương trở lại đoạn đường 30 m về chỗ an toàn. Ông luôn để ý chăm sóc cho đến khi người lính được di tản an toàn.

        Hành động này - can trường đến nỗi hai Trung sĩ và Đại úy Severance cùng đứng ra xác nhận - giúp ông được tặng thưởng Huân chương Thập tự Hải quân1, một vinh dự mà ông không hề nhẳc đến trong gia đình chúng tôi. Đấy là một trong những hoạt động dũng cảm nhất của cha tôi xảy ra vào một trong những ngày can trường nhất trong lịch sử của TQLC vốn đã nổi danh vì lòng can trường.

        Trong số nhiều anh hùng trên chiến trận, không ai vượt qua tính can đảm từ đầu đến cuối của Trung úy Keith Wells, Trung đội trưởng chỉ huy Don Ruhl và là người đã đứng lên cầm đầu cuộc xung phong.

        Trung úy Wells bị thương nặng ngay từ lúc đầu. Chuyện này xảy ra khi Đại đội E, trong nỗ lực dữ dội hướng đến các mục tiêu, đã vượt lên trước đơn vị bên sườn phải bắt đầu đón nhận hỏa lực không nhũng từ phía trước mà còn từ bên sườn. Chẳng bao lâu, Đại đội bị bao phủ bởi lựu đạn và đạn các loại súng từ một lô cốt. Tệ hơn nữa, còn có thêm đạn cối rót xuống. Hai chú nhóc tình nguyện lui về phía sau để nhận thêm lựu đạn, nhung bị hỏa lực từ lô cốt bẳn hạ. Hai người lính cầm súng phun lửa Chuck Lindberg và Robert Goode chạy đến nhưng không thể vượt qua lưới đạn cổì. Rồi một quả đạn nổ tung gần Trung úy Wells làm ông và bốn người khác bị thương kể cả William Wayne.

        Wells bị nhiêu mảnh đạn ghim vào hai chân và quần áo bị cháy sém một phần. Cha tôi phóng đến bên ông, chích một mũi morphine rồi bảo ông lui về hậu tuyến. Wells không chịu. Trung đội của ông bắt đầu trận đánh sáng nay với 42 người, bây giờ chỉ còn lại 25. Không thể bỏ uổng phí người nào. Hai chân ông bắt đầu có cảm giác trở lại; ông quyết định tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

        Tính cương nghị của Trung úy Wells làm cho thuộc hạ của ông càng thêm quả cảm. Lindberg và Goode đứng dậy với súng phun lửa trong tay rồi không màng gì đến những làn đạn đang hướng vào họ, tiến đến một công sự. Chẳng bao lâu cả hai phun ra những tia lửa tỏa đi khắp hướng. Không những họ thiêu chết hàng chục lính Nhật - với mùi thịt cháy lan tỏa theo ngọn gió ẩm ướt - tia lửa lỏng còn thiêu hủy vài công sự khác và làm đạn dược của lính Nhật nổ tung hàng loạt.

--------------
        1. John Bradley được dề xuất nhận Huân chương Danh dự, nhưng ông được thưởng huân chương thấp hơn một bậc.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:50:47 PM

        Sau này, Chuck Lindberg kể lại những mối hiểm nguy khi đeo bên mình một cái bình chứa hơn 30 kg xăng đặc dưới áp suất hơn 500 kg. Ông kể: “Mỗi đợt phun lửa chỉ kéo dài 6 giây. Chúng tôi bẳn thành tùng loạt ngắn. Đấy là thao tác nguy hiểm.” Hành động quả cảm và điềm tĩnh của Lindberg mang đến những chiến công đỉnh cao mà ít người sánh bằng. Công việc trong ngày này đã giúp ông nhận Huân chương Sao Bạc.

        Bầy giờ, hàng chục xe tăng muộn màng kéo đến trận tiền, với tiếng vòng thép của bánh xích hòa lẫn tiếng pháo ầm ầm dọc khắp phòng tuyến của TQLC. Được che chắn bởi những khối thép, lính bộ binh có thể áp sát đến các công sự và boong-ke mà không phơi mình cho đối phương nhằm bắn. Quân Nhật trong những vị trí này - những người chưa bị bẳn hạ hoặc thiêu cháy - bắt đầu tháo chạy về quả núi. Tuyến đầu phòng ngự của quân Nhật đang sụp đổ.

        Nhưng cái giá cho chiến thắng này vẫn phải trả tiếp, và có thêm nhiều anh hùng ngã xuống. Năm trong số sáu người giương ngọn cờ chiến đấu sát bên nhau dưới sự chỉ huy của hai Trung úy Wells và Pennel, và bây giờ đến phiên Pennel bị thương cần được di tản. Ông đang chạy từ hố này sang hố khác khi một quả đạn rơi xuống, hất tung ông đi 10 m. Gót chân trái ông bị cắt bay mất, hông phải và đùi phải bị cắt máu ra xối xả, còn ống quyển trái bị mảnh đạn ghim vào. Nửa thế kỷ sau, Pennel vô tư và dí dỏm kể lại câu chuyện:

        “Tôi nửa mê, nửa tỉnh. Tôi nghe tiếng rên của ai đấy, rồi nhận ra là tiếng rên của mình. Tôi cảm thấy có dòng nước đang chảy từ đùi xuống và nghĩ sức lực mình đang cạn kiệt dần. Tôi nhìn xuống giữa hai đùi để xem còn lại cái gì. Xem ra ổn thỏa. chỉ có căng tin của tôi đang rò ri vì bị tổn hại.

        “Một quân y tá đến cho tôi uống tí rượu và chích cho tôi một ống morphine. Tôi dỡ chiếc mũ sảt xuống và úp lên của quý. Trong nhiều giờ, tôi nằm trong cái hố giống như cái liễn đựng súp - một phần cơ thể bị cắt đứt, không có quần áo, chỉ có chiếc mũ sắt che đậy của quý. Tôi nằm đấy với mọi loại đạn nổ tung xung quanh.”

        Một chiếc xe bánh xích lội nước cố tiến đến gần ông, nhưng cán phải một quả mìn và nổ tung, tất cả binh sĩ bên trong đều thiệt mạng. Vài tiếng đồng hồ sau, bốn lính TQLC tiến đến, quấn ông vào một tấm pông-sô, mỗi người nắm lấy một góc rồi lui ra bờ biển. Một người bị trúng đạn khiến cho pông-sô rơi phịch xuống đất. Ba người còn lại kéo ông về đến bãi biển.

        Ông nằm trên một băng ca cho đến khi trời tối. Ông kể: “Tôi cảm thấy trơ trọi, giống như khi đứng trên một khán đài cho mọi người nhìn đến. Những loạt đạn phát ra tiếng vang rền trong bóng tối: Phùm! Phùm! Phùm! Nhiều người ngã xuống xung quanh tôi. Khung cảnh hoàn toàn hỗn loạn.”

        Cuối cùng, Trung úy Pennel cùng với vài chàng trai bị thương được, đặt lên một tấm bản dài. Một chiếc xe lội nước bánh xích đưa họ ra tàu quân y đậu ngoài khơi. Rồi những tâm bản được móc vào dây cáp để máy tời từ từ kéo lên boong tàu. Ông kể: “Một dây cáp của tấm bản ngay phía trước tôi bị đứt. Những người nằm trên đó la thét và chìm xuống biển.”

        Cơn khổ ải của Trung úy Pennel vẫn chua dứt. Khi một quân y tá kiểm tra ông, một quả đạn Nhật rơi trên boong tàu rồi lăn lông lốc vào khoang nhiên liệu. Người lính quân y xoay người, với ống nghe áp vào thành khoang nhiên liệu, lắng nghe quả đạn lăn tròn, chắc hắn tự hỏi mình và những người xung quanh liệu sắp bị nổ tung hay không. Nhưng đấy là quả đạn thối.

        Quần áo ướt đẫm với chính máu của mình, gần như tê liệt vì đau đớn, Trung úy Keith Wells tiếp tục chỉ huy cuộc tấn công của Trung đội 3 cho đến gần tối, nhưng ông yếu sức dần. Ông đã ngã xuống một lần trong khi đang chạy tránh làn đạn, và những vết thương cũ lại phun máu. Cha tôi lập tức tiến đến bên ông. Cha tôi chích thêm morphine cho ông cùng lúc thét lên: “Đủ rồi! Ra khỏi chiến trường này đi!”

        Wells gang gượng trụ lại thêm nửa giờ đồng hồ, điều động các mũi tấn công và khích lệ binh sĩ dưới quyền. Cuối cùng, khi nửa mê nửa tỉnh vì cơn đau và tin rằng đã cầm chắc chiến thẳng, ông giao quyền chỉ huy Trung đội cho Trung sĩ nhất Boots Thomas rồi bò về bệnh xá. Ông được tặng thưởng Huân chương Thập tự Hải quân.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Sáu, 2018, 11:51:49 PM

        Cơn mưa ban sáng kéo dài đến xế chiều và trận đánh vẫn đang dằng dai, TQLC chịu thêm tổn thất. Chính lính quân y cũng ngã xuống trong khi đang cố giành giật mạng sống cho người khác. Một quân y tá tên Kelly vừa nhô đâu khỏi một gò núi và giương ống nhòm lên ngắm để tìm vị trí một lính bắn tỉa đang hướng đến chỗ của ông. Đúng vào lúc ấy, người lính bẳn tỉa bắn trúng cổ ông. Một quân y tá khác tên Hoopes vội lo cứu chữa đồng đội mình. Hoopes kể lại: “Tôi lấy kẹp cầm máu đua vào vết thương ở cổ để cố kẹp lấy động mạch. Máu anh ấy vẫn tuôn ra. Anh chỉ im lặng nhìn tôi. Anh biết tôi đang cố cứu mạng sống cho anh. Tôi tìm mọi cách mình biết nhưng không thể làm được. Tôi đã cố hết sức. Dòng máu quá nhờn. Tôi không thể tìm được động mạch. Trong khi tôi đang cố hết sức, anh ấy chỉ nhìn tôi, anh ấy nhìn thẳng vào mặt tôi. Trong khi dòng máu tuôn ra ít dần, hành động cuối cùng của anh ấy là vỗ lên cánh tay tôi như thể muốn nói "Được rồi". Rồi anh ấy tất thở.”

        Nhưng trường hợp thoát chết cũng kinh khủng gần như thế, đặc biệt khi những người thoát chết làm cho người khác ngã xuống. Walter Gust bị một mảnh đạn ghim vào một bên đầu. Xương sọ ông không bị vỡ nhưng ông mất thần trí, đi lòng vòng. Howell và vài đồng đội tóm lấy ông và trong khi kéo ông về một quân y tá thì một quả đạn khác phát nổ bắn tung Howell lên trời và cắt gần đứt lìa một cánh tay của Gust. Lính TQLC lại đưa Gust lên một băng ca, rồi một loạt đạn súng máy giết chết những người khiêng băng ca và bắn lìa cánh tay kia của Gust. Howell kể lại: “Tôi nhìn những gì đang xảy ra nhưng không thể làm gì được. Gust được cứu sống. Anh ấy sống gần tôi trong nhiều năm. Tôi là phù rể trong lễ cưới của anh ấy.”

        Đến hết buổi chiều đảm máu, việc chinh phục ngọn núi có vẻ như nằm trong tầm tay của lính Mỹ. Tinh thần kỷ luật và mối liên kết sẵn sàng hy sinh của những người lính TQLC trẻ đang chế ngự bê-tông, thép và đá núi lửa vững chác. Nhưng ngay cả khi các công sự đã sụp đổ hoặc bị thiêu rụi, quân Nhật vẫn quyết tử. Trong khi Trung đoàn 28 tiến từng bước về phía trước, máy bay thám thính của Hải quân báo cáo cho biết một đám lính Nhật đã hiện ra từ bên trong quả núi và đang dàn đội hình để chuẩn bị phản công. Trong vòng vài phút, máy bay Mỹ chúi xuống thấp để bắn phá khu vực cùa quân Nhật. Tiếng động cơ gầm thét và tiếng hòa tiễn nổ ầm ầm làm rung chuyển lính TQLC kế cận.

        Cuối cùng, đội máy bay rút đi, và trong vài khoảnh khác chiến trường trở lên yên ắng, căng thẳng chờ đợi những gì sắp đến.

        Chính Mike Strank, trong Trung đội 2 bây giờ đang ở bên sườn trái, phá tan bầu không khí im lặng. Ông đứng thẳng người, thét lên: “Cho bọn khốn kiếp thấy thế nào là xung phong thật sự! Đại đội E, tiến!”

        Lính TQLC mệt nhọc tận xương tủy, bầm giập vì chiến trận, đồng loạt đứng dậy, một lần nữa tiến lên lửa đạn. Bên cánh phải của Trung đội 2 là Trung đội 3, bây giờ dưới quyền chỉ huy của Trung sĩ nhất Boots Thomas, cùng tham gia cuộc tấn công lên Suribachi.

        Boots Thomas là người anh hùng tỏa sáng kế tiếp. Trong khi địa hình gồ ghề khiến cho xe tăng bị bỏ lại phía sau khoảng 70 m, anh chàng Hạ sĩ quan 23 tuổi từ Bang Florida nhận thấy Trung đội mình lại lâm vào vị thế trơ trọi. Giữa bãi chiến trường mịt mù, ông nghĩ ra giải pháp táo bạo. Ông chạy về phía sau, băng qua lưới đạn, tiến đến chiếc tăng gần nhất, và trong khi vẫn còn trơ trọi giữa lưới đạn ông hướng dẫn lính tăng nã súng đến những công sự còn ngoan cố chống trả. Rồi ông chạy lại về phía trước để hô hào binh sĩ dưới quyền. Sau đó ông lại chạy lui về đội hình tăng để hướng dẫn bắn phá công sự. Ông chạy lui chạy tới như thế vài lần.

        Nỗ lực của ông đã cho kết quả: Trung đội 3 tiêu diệt chính những thành phần đối phương trước đây đã gây thiệt hại cho Trung đội. Khi màn đêm đang buông xuống, Thomas tìm ra những điếm yếu trên tuyến phòng ngự và đích thân chỉ huy binh sĩ dưới quyền chọc thủng qua sườn dốc của Suribachi, giơ cao lưỡi lê khỏi đầu để ăn mừng chiến thắng. Ông được tặng thưởng Huân chương Thập tự Hải quân.

        Suribachi chưa thất thủ, nhưng chiến thẳng của quân Mỹ xem chừng là điều tất yếu. Một ngày mưa gió chấm dứt khi Trung đoàn 28 trấn giữ nửa vòng tròn lớn quanh chân quả núi lửa, đang củng cố lực lượng cho đợt tấn công cuối cùng được dự trù vào sáng hôm sau. Đối với Đại đội E, đây là một ngày của tổn thất đau buồn và của lòng dũng cảm lịch sử: Đơn vị nhận được một Huân chương Danh dự, 4 Thập tự Hải quân, 2 Sao Bạc và một số Quả tim Tím - một trong những đại đội của TQLC Hoa

        Kỳ nhận nhiều huy chương nhất trong vòng một ngày. Nhưng vinh dự này được trả bằng máu: Đại đội E bị 30% thương vong.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 10:38:31 AM

        Đại đội đã tiến quá xa và quá nhanh, khiến cho việc tự bảo vệ có vấn đề. Những chàng trai dưới quyền Đại úy Dave Severance đã xâm nhập qua vài đơn vị quân Nhật vẫn còn hoạt động, rồi phải qua đêm mà bị cô lập với những đơn vị khác của tiểu đoàn. Họ trấn giữ một khoảnh đất đá nhấp nhô ở chân núi hướng nam. Dave Severance lập ban chỉ huy Đại đội E của ông gần sát chân núi để có một phòng tuyến quan sát được hai cánh. Vào buổi tôi, đèn rọi từ các tàu khu trục Mỹ cho thấy hình như quân Nhật muốn tiến về hướng Đại đội E. Khi hạm đội bắt đầu bắn phá sườn núi với những quả đạn 40 li, Đại úy Severance dời ban chỉ huy của mình lui về khoảng 30 m, sát mép nước, để có tầm quan sát sườn núi tốt hơn. Đây là động thái khôn ngoan: Sáng hôm sau, họ thấy vị trí ban đầu của ban chỉ huy bị chôn vùi dưới đống đá nặng nhiều tấn đã trượt xuống từ đợt pháo kích trong đêm.

        Thiếu tiếp tế thực phẩm, lính Đại đội E đành phải nhai những thanh sô-cô-la cuối cùng để chờ thêm một ngày nữa trên Iwo Jima.

        Lính TQLC tiến lên mọi mặt trận trên hòn đảo với tổn thất nặng nề. Báo cáo chính thức bây giờ là 644 người tử trận, 4.168 bị thương, 560 mất tích. Chính Tướng Smith tỏ ra đau buồn khi biết qua tình hình.

        Nhưng những chuyện khủng khiếp của ngày chiến đấu này vẫn chưa chấm dứt trong đêm tối.

        Ngay khi màn đêm buông xuống, hạm đội neo ngoài biển nổi còi báo động. Đối với Don Mayer, 19 tuổi đến từ Portland, đấy giống như là một sô diễn hoành tráng: “Tất cả tàu đều đồng loạt bẳn lên hàng nghìn quả đạn lửa. Trông còn đẹp hơn bất kỳ buổi bắn pháo bông nào trong ngày 4 Tháng Bảy1.”

        Đối với những chàng trai trên hạm đội, quang cảnh không đẹp như thế. Lính trực vô tuyến Cecil Gentry trên chiếc uss Lawrence Taylor không thể cử động khi nghe Hạm trưởng ra lệnh mọi người nằm xuống. Ông kể: “Tôi chết điếng. Tôi chỉ đứng đấy. Một chiếc máy bay lướt ngay trên đầu. Tôi có thể nhìn thấy gương mặt phi công Nhật. Tôi có thể thấy anh ta lộ vẻ sợ chết. Anh há hốc miệng, hai môi dãn ra khỏi hai hàm răng.”

        Viên phi công này lái máy bay đâm thẳng xuống chiếc uss Bismarck Sea, bên cạnh chiếc Lawrence Taylor. Bốn quả ngư lôi trên tàu bị nổ tung, một khối lửa màu cam khổng lồ bốc lên, chiếc tàu nhanh chóng chìm xuống, mũi tàu dựng lên thẳng đứng trong khi thân tàu luồn vào những đợt sóng to trong cơn mưa. Thủy thủ trên tàu Lawrence Taylor cố cứu được khoảng 120 người trong số thủy thủ đoàn 8oo người rơi xuống nước. Những tàu khác cứu thêm được hàng trăm người. Cecil Gentry kể đã nhìn thấy quân y tá sử dụng dao cạo râu, cưa, và dao cắt thịt ở nhà bếp đế phẫu thuật cẳt bỏ chân các thủy thủ. Nhưng hơn 200 thủy thủ mất tích vì máy bay Nhật nã súng xuống mặt nước.

        Trên hòn đảo, lính TQLC bị lạnh cóng, đói khát và mệt mỏi còn phải đối mặt với một mối đe dọa khác trong đêm. Nỗi sợ đối phương xâm nhập - nỗi sợ những bóng đen chập chờn - đã ám ảnh tâm trí lính Mỹ mỗi đêm từ Ngày D. Vào đêm này, nỗi sợ càng tỏ ra đúng lý thêm. Vào đêm này, lũ quỷ điên dại trong ngôi nhà ma phóng ra đủ trò loạn cuồng.

        “Chó sói rình rập” là biệt danh mà Tướng Kuribayashi gọi những toán lính Nhật chuyên lén lút bò đến phòng tuyến đối phương để ám hại vào ban đêm. Bây giờ, vì muốn cứu vãn pháo đài quả núi, nhiều toán lính Nhật lẻn ra.

        Vào khoảng 9 giờ tối, tại vị trí nằm về phía bắc của Trung đoàn 28, Thomas Mayers đến từ Bronx đang đứng trong hố cá nhân để quan sát bên ngoài thì một trái hỏa châu nổ trên bầu trời. Ánh sáng soi rọi một quang cảnh rùng rợn, theo sau là những tiếng thét: Hai lính Nhật đang dùng lưỡi lê chém hai chàng trai Mỹ tên Crull và Dortsch. Mayers cùng một đồng đội nhảy lên để hành động. Một trong các “chó sói” xoay người ném một quả lựu đạn về phía họ. Quả lựu đạn không nổ, nhưng đập trúng đầu người lính Mỹ kia khiến anh này bất tinh. Mayers chỉ kịp bắn một viên đạn thì khẩu súng bị kẹt nòng. Những người lính Nhật liền tiến đến Mayers. Anh binh nhì này móc ra lựu đạn. Lính Nhật đã tiến quá gần nên anh không thể ném lựu đạn trên cao. Anh rút chốt an toàn, tung lựu đạn cho lăn trên mặt đất gần miệng hố cá nhân của mình rồi nhảy xuống hố.

        Hai lính Nhật rú lên rồi ngã vật xuống, chân họ bị ghim đầy những mảnh lựu đạn. Mayers leo lên khỏi hố cá nhân, dùng dao cắt cổ họ. Rồi anh chạy đến hố cá nhân kia. Crull đã chết. Mayers kêu đến Dortsch: “Anh có súng không?” Chàng trai thều thào: “Crull có khẩu .45 trong áo anh ấy.” Mayers nắm lấy khẩu súng, nhưng anh không bẳn được vì khẩu súng đã đẫm đầy máu của Crull.

        Bây giờ, thêm hai lính Nhật tiến đến Mayers. Anh ném vài quả lựu đạn đến phía họ và cúi rạp mình giữa tiếng nổ, sau đó dùng dao kết liễu họ.

        Thomas Mayers nhận Huân chương Thập tự Hải quân vì những hành động của mình.

        Ông không bao giờ quên được chuỗi những động tác trong cuộc cận chiến đẫm máu ấy. Crull, chàng trai gốc Ireland chưa đến 18 tuổi với gương mặt đây tàn nhang, đang la thét trong khi tiến gần đến cái chết. Và lời lẽ của ông luôn ám ảnh Myers: “Mẹ! Mẹ! Nó giết con! Mẹ, nó giết con !"

------------------
        1. Ngày Quốc khánh của Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 10:41:02 AM
         
Chương 10

NGÀY D CỘNG 3
     

        
Đây không phải là vấn đề sống hoặc chết hoặc chiến đấu.
        Đây là vấn đề trợ giúp đồng đội của mình.

QUÂN Y TÁ ROBERT DECEUS        

        Chiến trường tạm yên ắng sau cơn dông ngày trước. Và một ngày kinh khủng để chiếm giữ một quả núi. Cơn mưa nặng hạt nhất và lạnh giá nhất kể từ Ngày D quất xuống những người lính TQLC còn sống sót. Gió mạnh gần 40 km/giờ thổi những con sóng dâng cao 3 m. Cơn mưa biến tro núi lùa thành một bãi bầy nhầy và làm sũng nước nhiều loại vũ khí của lính Mỹ.

        Đang ướt sũng khi bám lấy vị trí bị cô lập, Đại đội E bắt đầu Ngày D+3 bằng nguy cơ đe dọa của hỏa lực bạn khiến họ suýt bị xóa sổ.

        Như Đại úy Severance kể lại: “Hải quân phái oanh tạc cơ đến để oanh kích quả núi lửa. Hẳn các phi công đã nhìn râm chúng tôi thành những "mục tiêu Nhật còn hoạt động" và định ném những quả bom 50 kg xuống những vị trí của chúng tôi.”

        Severance ra lệnh bấn hỏa châu màu đỏ để báo hiệu cho các oanh tạc cơ. Không ai tìm ra băng đạn dùng để bắn hỏa châu. Các máy bay đang tiến đến gần. Liên lạc vô tuyến với ban chỉ huy tiểu đoàn đã bị cắt đứt. Càng có thêm tiếng nổ. Trong nỗi tuyệt vọng, Severance cố gọi qua tần số riêng của Đại tá Harry Liversedge, la lớn: “Máy bay anh đang thả bom chúng tôi!”

        Người lính phụ trách máy vô tuyến của vị Đại tá trả lời một cách lịch sự: “Ông không được phép dùng tần số này.”

        May mắn cho Đại đội E, Trung tá Chandler Johnson tình cờ đứng gần người lính phụ trách máy vô tuyến, ông đích thân ra lệnh báo tin để máy bay Hải quân kịp thời bay đi hướng khác trước khi gây nên tổn thất cho chính quân mình.

        Bây giờ, sau khi đã hoàn toàn tỉnh táo, Đại đội E chuẩn bị cho một ngày củng cố khi lính Mỹ chờ cho thời tiết tốt hơn. Trung tá Johnson, Tiểu đoàn truởng Tiểu đoàn 2, ra lệnh Severance tái tổ chức và bổ sung đại đội ông này. Severance phái một toán tiền thám tiến quanh chân núi phía nam để tìm cách bắt tay với Tiểu đoàn 3 và để thăm dò lính Nhật trong các hang động dọc chân núi.

        Vài cuộc chạm súng lẻ tẻ đã diễn ra quanh chân núi ở mặt tây. Linh cầm súng phun lửa của Đại đội E đốt cháy rụi vài hang động ở các mặt nam và đông.

        Bây giờ, quân Mỹ đang bao vây Suribachi; khí tài nặng của Mỹ hoạt động mà hầu như không bị cản trở. Xe tăng, đại bác và các loại súng nòng lớn khác thi nhau bằn phá quả núi như thể đấy là những mục tiêu trong trường tập bắn. Các sĩ quan tiểu đoàn dời ban chỉ huy của họ đến sát chân núi. Xe lội nước chạy tới lui giữa bờ biển và tuyến đầu, tự do chuyên chở thực phẩm và đạn dược. Nhũng toán phụ trách công phá tiến đến các công sự và boong-ke để rửa hận cho đồng đội đã ngã xuống.

        Đôi lúc một lính Nhật đang ấn núp, khi thấy vị trí mình bị tràn ngập thì cố mở đường xông qua đội hình TQLC để thoát thân. Số phận của họ thường bị định đoạt bởi một viên đạn súng trường Mi. Một sĩ quan Nhật huơ thanh kiếm samusai xông ra: một sai lầm lớn. Một lính TQLC, đang sôi sục sáu 4 ngày đau buồn và kinh hoàng, đoạt lấy thanh gươm từ tay samurai rồi chém chủ nhân nó cho đến chết. Hai bàn tay người lính TQLC bị cắt ngang dọc nhưng anh vẫn nắm chặt thanh gươm như thể muốn giữ làm kỷ niệm.

        Nhiều lính Nhật vẫn cố thủ trong lòng đất. Tiếng nói rầm rì của họ và tiếng động khi họ di chuyển tạo nên bầu không gian ma quái trong các đợt lùng quét. Một lính TQLC kể: “Chúng tôi có thể nghe họ chuyện trò và di chuyển ngay dưới chân mình mà trước đây cứ ngỡ dưới đấy toàn là lớp đá. Chúng tôi đào xuống thì thây mái rui. Rồi chúng tôi thả bộc phá hoặc rót xăng xuống. Rồi họ càng gây thêm tiếng ồn hơn.”

        Các chàng trai mệt nhoài vì chiến trận có cách thức khác với những gì họ đã nhìn thấy và hành động. Vài người nói chuyện với tuyên úy. Vài người tất bật với nhiệm vụ mà quên mình. Đối với Ira, tính hài hước của ông tạo lớp chắn cho vùng tăm tối. Trong khi Đại đội E tập trung lại ở chân núi Suribachi, Ira cứ miệt mài dùng hai tay đắp nên những mô đất nhỏ. Đối với Joe Rodriguez, những mô đất này trông giống như những nấm mồ mới đắp, và thật ra Ira đã có ý định như thế. Khi Franklin Sousley đi ngang qua, Ira tạo một trò đùa bằng cách chơi điệu kèn báo ngủ, rồi nói: “Đấy là phòng trường hợp tôi không rảnh rỗi khi anh trúng đạn.”

        Rodriguez kể: “Franklin chỉ lấy chân đá các mô đất.”

        Việc chuẩn bị chiếm Suribachi không phải là hoạt động duy nhất trên Iwo Jima. Về hướng bác, lực lượng chính của TQLC đã chiến đấu với lòng quả cảm và cũng chịu thương vong nặng nề.

        Vào cuối Ngày D+3, quả núi lửa đã bị bao vây, ngoại trừ khoảng trống rộng gần 400 m trên bờ biển phía tây. Bị bao vây, nhưng vẫn tỏ ra nguy hiểm: Một số quân phòng ngự vẫn là những sát thủ đầy quyết tâm; không ai biết được khi nào và lúc nào một sát thủ có thể xuất hiện với một quả lựu đạn hoặc một khẩu súng máy. Tuy nhiên, khi đêm xuống, chính lính Nhật làm suy giảm mối nguy hiểm này qua một hành động khác thường: tự ý rời bỏ vị trí.

        Chỉ có phân nửa lực lượng còn lại làm việc này, nhưng đấy giống như lời thú nhận rằng số phận quả núi pháo đài đã khép lại. Đại tá Kanehiko Atsuchi - sĩ quan chỉ huy Suribachi - đã ra lệnh này. Khi 150 lính Nhật xông ra khỏi quả núi để mong bắt tay với những đơn vị Nhật ở phía bắc, họ bị đốn ngã bởi lính TQLC vốn thích chí chiến đấu với đối phương hữu hình. chỉ có khoảng 25 lính Nhật chạy thoát. Khi chạy đến bộ chỉ huy của lực lượng phòng vệ Hải quân Nhật, họ không được chào đón theo cách tử tế hơn. Đại úy Samaji Inouye - sĩ quan phụ trách bộ chỉ huy - lên án trung úy của họ là phản quốc, rút gươm ra định chặt đầu ông này. Người trung úy ngoan ngoãn cúi đầu, nhưng một sĩ quan cấp dưới ngăn Đại úy Samaji lại. Vị Đại úy chỉ biết nức nở, rên rỉ: “Suribachi thất thủ! Suribachi thất thủ!”

        Trước đây vào buổi chiều, các cấp chỉ huy quân Mỹ đã có cùng ý nghĩ. Đại tá Hariy Liversedge nhận lệnh phải chiếm ngọn núi. Ông đi đến gặp Trung tá Chandler Johnson ở ban chỉ huy Tiểu đoàn 2 và ra một mệnh lệnh cụt ngủn: “Ngày mai chúng ta leo lên”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:00:54 PM
 
Chương 11

"ĐỂ MỖI TÊN KHỐN KIẾP CÓ THỂ NHÌN THẤY"

Tôi thấy vài anh đang loay hoay với cán cờ và tôi nhảy vào chỉ để giúp họ một tay. Đơn giản có thế.

DOC BRADLEY       

        Trước hừng đông ngày thứ năm, cái đâu con rán này vẫn còn lơ lửng trên đầu họ sau khi đã giáng xuống họ nhiêu cú. Sau bốn ngày hứng chịu bom đạn, bộc phá, lưỡi lê và xăng đặc, cuối cùng Suribachi nằm im lìm. Nhưng nó đã bị kết liễu chưa? Liệu cái đầu khổng lồ này cuối cùng là một xác chết? Hoặc liệu nó vẫn còn nọc độc bên trong và vẫn còn sức để vùng vẫy trở lại? Chỉ có một cách cho TQLC tìm ra sự thật. Họ phải giẫm lên cái đầu xem nó có nhúc nhích hay không.

        Ánh sáng ban mai ngày 23/2/1945 ló rạng khi thời tiết vẫn giá lạnh, biển vẫn nổi sóng như những ngày trước. Nhưng đến giữa buổi sáng thì trời quang, mây tạnh.

        Ngay từ sáng sớm, máy bay Hải quân đến ném bom xăng đặc xuống quả núi. Donald Howell - người đã thư giãn với quyển House Madam - nhớ lại: “Đấy là cả một màn lửa.” Max Haefele đồng ý: “Một trận bắn phá tuyệt vời.” Nhưng vào khoảng 9 giờ sáng, cuộc oanh kích chấm dứt. Cái đâu con rắn vẫn nằm im lìm, bí ẩn. Và việc thăm dò nguy hiếm bằng chân bắt đầu.

        Trung tá Johnson, mang chiếc mũ mềm với cánh lưỡi trai lật ngược lên, phái hai toán tiền thám, mỗi toán 4 người, đi thăm dò những con đường dẫn lên sườn bắc của Suribachi. chỉ có toán thuộc Đại đội F lên được đến đỉnh núi. Toán trưởng là Trung sĩ Sherman B. Watson; ba người kia là George Mercer từ Bang Iowa, Ted White từ Thành phố Kansas, và Louis Charlo từ Bang Montana.

        Với tinh thần căng thẳng, bám lấy rẽ cây và đá để lấy thăng bằng, cảnh giác bị phục kích ở mỗi bước tiến, toán tiền thám của Watson đúng giữa những đống đổ nát còn đang nghi ngút khói. Con rắn vẫn còn đang nằm mê ngủ; đợt pháo kích xem dường không tạo ảnh hưởng gì. Với tinh thần dũng cảm và tính kỷ luật phát sinh từ chiến trận, Trung sĩ Watson và ba thuộc hạ tiến đến miệng hố núi lửa, thậm chí còn liều lĩnh nhìn vào bên trong một khối đổ nát, cảm thấy hài lòng, rồi vội vã trở lại chân núi để báo cáo cho Chandler Johnson.

        Khi quan sát Trung sĩ Watson đi xuống, Johnson tính toán ông có thể đánh liều sử dụng một lực lượng lớn hơn. Ông nắm lấy một điện thoại dã chiến, sạc cho đầy pin1 rồi ban hành một mệnh lệnh qua đường dây đầy tạp âm cho Dave Severance, lúc này đang đóng trại cùng với Đại đội E, vẫn còn bám lấy những tảng đá ở mũi đông nam: “Gửi cho tôi một trung đội!”.

        Severance kiểm tra binh sĩ dưới quyền. Trung đội 2 - có Mike, Harlon, Franklin, và Ira - đã đi tuần tra dọc chân núi Suribachi. Trung đội 1 đã hạ trại cách xa vài chục mét. Vì thế, Severance chọn những người sống sót của Trung đội 3 (Trung đội của cha tôi) đóng gần ban chỉ huy của Trung tá Chandler Johnson, để trở thành trung đội lính Mỹ đầu tiên leo lên ngọn núi. Cơ số của Trung đội 3 đã bị hao hụt, vì thế Severance điều 12 người từ Trung đội Súng máy cùng vài người từ đội súng cối 6o ly. Trung đội 3 tiền thám bây giờ có 40 người.

        Đích thân Đại tá Harry Iiversedge chọn Trung đội trưởng: Trung úy H. “George” Schrier, đại đội phó dưới quyền

        Severance. Đại tá Liversedge đã quen biết Schrier từ khi hai người cùng phục vụ trong lực lượng Đặc công TQLC2. Ông ngưỡng mộ kinh nghiệm chiến đấu của người sĩ quan dưới quyền, và đánh giá cao năng lực anh này trong việc điều phối hỏa lực từ máy bay, đại pháo và tàu chiến bằng máy vô tuyến. Không ai dám tin rằng, cái đâu con rắn đã hết ngo ngoe.

        Trước khi đội tiền thám 40 người bẳt đâu leo núi, Trung tá Chandler Johnson quay sang Thiếu úy sĩ quan tùy viên Greeley Wells, bảo anh này trao cho ông món gì đấy từ thùng đựng bản đồ. Rồi Trung tá Chandler Johnson kêu Trung úy Schrier qua một bên và trao cho anh này món vật.

        Johnson bảo Schrier: “Nếu anh lên được đến đỉnh, dựng nó lên.”

        Cái mà Trung tá Johnson trao cho anh Trung úy là một lá cờ Mỹ do Greeley Wells mang lên từ chiếc tàu USS Missoula. Lá cờ tương đối nhỏ: dài khoảng 1,4 m, rộng khoảng 0,7 m.

        Dave Severance không bao giờ quên ngôn từ của mệnh lệnh này. Ông vạch rõ: “Ông ấy không nói "khi anh lên được đến đỉnh," mà nói "nếu".”

-------------------
        1. Loại điện thoại dã chiến này sử dụng pin dynamo, trước khi có cuộc gọi thì phải quay một cái cần đế dynamo chuyến động tạo năng lượng cho pin.

        2. Trước khi xảy ra Trận Iwo Jima, lực lượng Đặc công TQLC bị giải tán, sĩ quan và binh sĩ của lực lượng này được phân bổ vào những đơn vị TQLC thông thường.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:01:56 PM

        Trung đội chuẩn bị sẵn sàng tiến bước. Tôi mường tượng cha tôi đang nhìn quanh quất để tìm người bạn thân Ralph Ignatowski, tức Iggy. Một Trung sĩ TQLC có tên Louis Lowery -  phóng viên nhiếp ảnh cho tập san Leatherneck Magazine - xin phép đi theo để săn hình. Những chàng trai trong đơn vị ngước nhìn lên trên, lượng định những gì sẽ xảy ra với họ.

        Chính Thomas là người ra lệnh khởi hành: “Đội tiền thám, leo lên đồi; nào, ta cùng đi!”. Sau này, Dave Severance thú nhận với tôi: “Tôi đã nghĩ mình đưa họ đến chỗ chết. Tôi đã nghĩ quân Nhật đang chuẩn bị đối phó với một lực lượng mạnh hơn.”

        Khi đội hình 40 người len lỏi tiến lên, hình ảnh của họ trở nên rõ nét trên sườn núi gần như dốc đứng; lính TQLC trên bãi biển và trên đất bằng ở hướng bẳc ngước nhìn theo họ. Ngay cả những người trên hạm đội neo ngoài khơi cũng dùng ống nhòm để dõi theo dòng người mong manh. Hầu như mọi người đều có cùng ý nghĩ: Họ sẽ đi đến đích.

        Những người đang leo lên đỉnh núi chia sẻ chung nỗi khiếp đảm. Harold Keller tình cờ liếc qua hai chiếc băng ca được mang đi cùng. Ông kể: “Tôi nhủ thầm: Có lẽ chúng ta sẽ cần thêm một đám chết tiệt nhiều hơn thế này.”

        Với chiếc túi Đơn vị 3 quàng trên vai, cha tôi cũng tự hỏi bao nhiêu người sẽ còn sống mà trở về. ít lâu sau trận đánh, trong một cuộc phỏng vấn ông nói: “Khi mới xuất phát, không ai trong số 40 người chúng tôi nghĩ sẽ sống sót. Tất cả chúng tôi đều mường tượng quân Nhật sẽ xuất hiện từ các hang động khắp sườn núi cho đến đỉnh.”

        Và cha tôi còn có một lo lắng khác: “Suốt đoạn đường, tôi luôn tự hỏi làm thế nào mình sẽ giữ số thương vong ở mức thấp?”

        Don Howell để ý thấy toán tiền thám tiến một cách chậm chạp, đây cảnh giác. Ông kể: “Chúng tôi đi lên từng bước, vừa đi vừa phá hủy các hang động. Khi thấy một cửa hang trước mặt, chúng tôi tháo chốt lựu đạn rồi ném vào.” Khi đi qua các cửa hang khác, Howell có thể thấy lăn lóc những chai rượu sa kê rỗng và những bao gạo.

        Phil Ward không bao giờ quên được cách thức Trung đội tiến lên theo một hàng dọc. “Không có lối đi rõ ràng, và có nhiều tảng đá vỡ vụn. Chúng tôi zíc-zâc đi mà tiến lên dần dần. Nhiều lúc chúng tôi bò trên hai bàn tay và hai đầu gối. Chúng tôi mang theo vũ khí nặng và hai binh sĩ mang súng phun lửa nặng nề trên lưng. Tất cả chúng tôi đều sợ hãi.”

        Một trong hai lính TQLC mang súng phun lửa là Chuck Lindberg. Ngay cả ông này cũng sẵn sàng chuẩn bị cho cảnh đổ máu xảy ra bất cứ lúc nào. Sau này, ông nói: “Chúng tôi đã nghĩ đấy sẽ là một lò sát sinh kéo dài đến đỉnh Suribachi. Bây giờ, tôi vẫn không hiểu tại sao chúng tôi không bị tấn công.”

        Khi những người lính TQLC tìm đường tiến lên, lần đầu tiên họ trông thấy toàn cảnh Iwo Jima theo góc nhìn của lính Nhật. Trải dài dưới mằt họ là những bãi biển đổ bộ, hạm đội đang thả neo ngoài đại dương, nơi hòn đảo thắt lại mà đơn vị của họ đã chiếm được với nhiều thương vong, các đường băng cho máy bay đối phương, và phần đất trung tâm nhô dần lên cao về hướng bắc. Và họ cũng thấy những đồng đội đang dõi mắt nhìn về phía mình. Dưới mắt họ, mọi quang cảnh đều gần gũi làm sao, thân mật làm sao và an bình một cách kỳ quái làm sao.

        Sau khi đã đi được hai phần ba chặng đường, Trung úy Schrier điều đội hình hai sườn dãn ra hai bên để yếm trợ cho nhau. Robert Leader kể: “Chúng tôi đều căng thẳng, nghĩ kẻ thù sẽ bất thình lình nhảy ra, hoặc một người trong chúng tôi sẽ giẫm lên một quả mìn. Nhưng tất cả đều hoàn toàn yên ắng. Không hề có một tiếng súng. Chúng tôi mất 40 phút để lên đến đỉnh.”

        Trung sĩ Lowery ghi hình chặng đi lên với một chiếc máy ảnh cồng kềnh. Có một lúc, ông yêu cầu một anh lính TQLC giở lá cờ ra để ông có thể chụp một bức ảnh của lá cờ đang được mang lên.

        Lúc 10 giờ sáng, Trung đội đi đến rìa miệng núi lửa. Khi nhìn xuống đáy, các chàng trai nhận ra cảnh tàn phá: những khẩu pháo phòng không của Nhật bị nung chảy vào nhau bởi sức nóng của các đợt oanh tạc của máy bay Mỹ, những khối thép vặn vẹo, đá tảng bị nghiền nát. Robert Leader không thể kiềm chế một nụ cười vui sướng khi nhìn thấy hai cái bồn lớn - bồn xăng bổ sung mà máy bay Hải quân thả xuống sau khi đã cạn hết xăng. Ông nói: “Tôi cười khúc khích khi nghĩ lúc bọn Nhật nhìn thấy hai bồn xăng này rơi xuống.”

        Hành động kế tiếp của Leader có lẽ thể hiện thái độ của tất cả lính TQLC trẻ đã đối mặt với quà núi: “Tôi nói với Leo Rozek "Này, tôi muốn đi tè." Rozek trả lời "Ý kiến hay." Thế là hai chúng tôi cùng tè xuống quả núi. Tôi nói "Tôi tuyên bố núi lửa này là sở hữu của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:02:19 PM

        Hank Hansen tỏ ra bất bình: “Thôi đi! Anh nghĩ anh là ai?” Leader có ngay câu trả lời: “Tôi là công dân Mỹ!” Hansen thay đổi đề tài: Ông chuyển yêu cầu của Đại tá Harry Liversedge là Leader - với cương vị họa sĩ bán chính thức của Trung đội - vẽ phác quang cảnh xung quanh. Leader bắt đâu công việc.

        Rồi Thomas đi lên ra lệnh: “Xem có thể tìm một cái cán để cột lá cờ lên không.” Leader bỏ qua một bên tập giấy vẽ - ông đã buộc những bản vẽ với nhau bằng băng y tế do cha tôi cung cấp - rồi cùng Rozek sục sạo tìm kiếm trong đống đổ nát dưới chân. Quân Nhật đã xây trên mặt miệng núi lửa một hệ thống hứng nước mưa, và nhiều đoạn ống nằm rải rác đây đó. Khi lục lọi trong lớp bùn, Rozek tìm ra một đoạn ống còn dùng được. Ông và Leader dựng đoạn ống thẳng lên và thấy một lỗ đạn mà họ có thể luồn sợi dây thừng qua. Rồi họ mang đoạn ống đến cho Thomas đang đứng chờ. Rồi ban chỉ huy Trung đội đến tham gia vì biết khoảnh khắc quan trọng này sẽ được chụp ảnh.

        Trung úy Schrier, Trung sĩ nhất Thomas, Trung sĩ Hansen và Hạ sĩ Lindberg tụ tập quanh ngọn cờ. Họ giở lá cờ ra và cột vào

        vị trí. Lou Lowery chụp liên tiếp nhiều bức ảnh để ghi lại trình tự công việc. Ông tiến đến gần, chỉ dẫn thế đứng, bảo họ phải nở nụ cười.

        Louis Charlo nhập vào đám bốn người. Lúc 10 giờ 20, họ đẩy cột cờ đứng thẳng trong ngọn gió, lá cờ nước ngoài đầu tiên bay trên đất Nhật. Vì muốn có thêm nét sinh động cho bút ảnh, Lowery ra hiệu cho Jim Michels để ông này ngồi xuống phía trước với khẩu carbine trên tay. Thế rồi, có trở ngại: Lowery la lên: “Chờ một chút!” Ông đã hết phim và cần vài giây đồng hồ để thay cuộn phim mới. Lindberg càu nhàu bảo ông phải khẩn trương: Những người đang nắm cột cờ là mục tiêu ngon xơi cho đối phương.

        Với cuộn phim mới trong máy ảnh, Lowery yêu cầu bức ảnh cuối cùng: Hansen, Thomas và Schrier nắm lấy cột cờ, Lindberg và Charlo đứng cách ít bước nhìn họ, Michels ngồi ở phía trước với khẩu carbine. Trong khi Lowery bấm máy, nhiều âm thanh hỗn tạp vang lên từ hòn đảo và từ hạm đội ngoài khơi. Hàng nghìn lính TQLC và Hải quân đã dõi theo trung đội tiền thám leo lên rìa miệng núi lửa. Khi lá cờ nhò bay phất phới, trong một vài khoảnh khắc Iwo Jima biến thành Quảng trường Times vào đêm đón mùng năm mới. Lính bộ binh reo hò, huýt sáo, còn hạm đội ngoài khơi mở còi hú. Đây là biểu tượng của một giấc mơ tưởng là không thể nhưng đã thành hiện thực. Đây là biểu hiện cho việc chinh phục núi Suribachi. Đây là lá cờ nước ngoài đầu tiên được cắm trên lãnh địa của Nhật Bản.

        Là người không dễ dàng buông thả theo cảm xúc, Chuck Lindberg nhớ lại đấy như là một cơn sóng to đổ ụp lên họ, mang đến cho ông cảm giác rùng mình trong hạnh phúc mà trước đó và mãi sau này ông không hề kinh qua.

        Robert McEldowney từ Roanoke, Bang Illinois, đã đứng ở bãi biển đổ bộ dõi theo họ, bây giờ tham gia reo hò khi nếm trải khoảnh khắc huy hoàng. Ông nói: “Thật là xúc động! Khi họ giương lá cờ ấy, tôi sẽ không bao giờ quên được - cả hòn đảo bùng nổ với tiếng reo hò. Tôi cảm thấy lạnh cả sống lưng.”

        Max Haefele cũng dõi theo quang cảnh từ ống nhòm. Ồng nói: “Thật là sung sướng. Khi lá cờ được giương lên, nhiều âm thanh vang dội cả hòn đảo.”

        Nhiều lính TQLC trẻ trong cơn choáng váng nghĩ trận đánh đã kết thúc. Về việc này, họ đã nhầm to. Robert Leader là một chiến binh không nghĩ thế. Giữa cơn sướng thỏa, ông cảm nhận một ý nghĩ tiêu cực hơn là suy nghĩ của Lindberg hoặc của McEldowney. Ông nhớ lại: “Khi trông thấy lá cờ, tôi nghĩ giương nó lên ở đấy là ý tưởng không hay. Nó giống như nằm giữa hồng tâm của tấm bia tập bắn.”

        Nồi e ngại của Leader nhanh chóng trở thành lời tiên tri. chỉ vài khoảnh khác sau khi lá cờ Sao và Sọc được giương lên, đinh núi lửa lại lâm vào cảnh lửa đạn.

        Người lính Nhật đâu tiên xuất hiện từ địa đạo nhưng quay lưng về phía lính TQLC. Harold Keller nhận ra ngay, và kẹp khẩu súng trường ngang hông mà bẳn ba phát. Người lính Nhật rơi vào cái hố nơi anh đã bước ra. Một lính Nhật bắn tỉa khác lập tức xuất hiện và chĩa mũi súng trường vê phía lính Mỹ; Chick Robeson bắn hạ anh này. Kế tiếp là một sĩ quan Nhật, hẳn là đã trở nên điên khùng vì tay cầm một thanh gươm gãy; một lính TQLC đang cảnh giác cao độ bắn hạ ông.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:03:35 PM

        Bây giờ, miệng núi lửa sinh động trở lại với nhiều tiếng nổ. Cái đâu con rắn vẫn chưa chết hẳn. Lựu đạn bắt đâu được ném ra từ vài cửa hang. Lính TQLC tìm chỗ ẩn nấp và cũng ném trả lại lựu đạn.

        Phóng viên nhiếp ảnh Lou Lowery đang đứng gần cột cờ khi một lính Nhật ló đâu ra khỏi một cửa hang và ném một quả lựu đạn. Lowery nhảy qua rìa miệng núi lửa rồi lộn người, chuồi hơn 10 m xuống bờ dốc gồ ghề rồi mới đứng lên được. Ông bị vài đường trầy sướt nhưng không bị thương nặng. Chiếc máy ảnh của ông bị vỡ, nhưng cuộn phim thì an toàn. Lowery nghĩ đã đến lúc đi xuống để tìm một chiếc máy ảnh khác.

        Cuộc chạm trán chỉ xảy ra trong vòng vài phút; lính Mỹ không bị thương vong. Và rồi đối phương vô hình lại im bặt.

        Sau khi tình hình êm dịu trở lại, vài anh lính trẻ cảm thấy lạ lẫm với quang cảnh bên dưới. Donald Howell tìm ra trong đống đổ nát ống kính đôi nhìn xa1 của pháo binh - điều lạ lùng là vẫn còn nguyên. Ông dựng chân ba càng lên, rồi nhìn qua ống kính. Ông cảm thấy kinh ngạc. Ông kể: “Ổng kính cho thấy rõ quang cảnh của bãi biển. Họ [quân Nhật] trông thấy hết hành động của chúng ta.”

        Đến phiên anh chàng 18 tuổi Jim Buchanan. Trong một khoảnh khắc, cuộc chiến tan biến, và ông được trở lại thời thơ ấu khi cảm thây kỳ lạ: “Tôi nhìn qua ống kính và thấy được toàn cảnh Iwo Jima. Thật là đẹp.”

        Đối với những người khác, buổi sáng này vẫn đòi hỏi nhiệm vụ khắc nghiệt.

        Chuck Lindberg nhớ lại là ông cùng đồng đội mất cả tiếng đồng hồ để tảo thanh quả núi. “Chúng tôi sử dụng súng phun lửa hoặc bộc phá cho những hang động mình không thể vào được, và nếu vào được thì chúng tôi cố tiến vào. Chúng tôi thiêu rụi bọn họ. Chúng tôi không biết quân Nhật sẽ tiến ra từ hướng nào, thế nên chúng tôi phải hành động nhanh.”

        Chỉ về sau, lính TQLC mới hiểu ra hiểm nguy vẫn còn hiện diện như thế nào trong lòng quả núi Suribachi vào buổi sáng ngày 23/2 ấy. ít ngày sau, khi lùng sục trong một hang thông ra bên ngoài để tìm món kỷ niệm, Chuck Lindberg và Chick Robeson trông thấy một cảnh tượng buồn nôn: thi thể của ít nhất 150 lính Nhật, vừa mới chết. Họ đã tự sát.

        Robeson nhớ lại: “Mùi hôi thối nồng nặc đến nỗi chúng tôi phải mang mặt nạ phòng hơi độc. Chúng tôi đi vào với một chiếc đèn pin nhỏ, và thấy đó là một hang lớn gồm hai phần. Lính Nhật nằm chết khắp cùng - dày đặc đến nỗi chúng tôi phải giẫm đạp lên vài thi thể. Nhiêu người tự tử bằng cách ôm lựu đạn cho nổ gần bụng.”

        Robeson tiếp: “Tại sao quân Nhật không cố chạy ra cửa hang và áp đảo toán tiền thám giương ngọn cờ thì vẫn còn là điều bí ẩn. Họ có quân số vượt trội với tỷ lệ 4 đánh 1. Điều khó lý giải hơn là nhiều hang khác cũng có quân Nhật trú đóng. Chúng tôi chẳng bao giờ biết được đáng lẽ có bao nhiêu lính Nhật đổ ra đánh chúng tôi. Nhưng chắc chắn là họ có khả năng giết tất cả chúng tôi.”

        Có một lời giải thích cho những người lính Nhật tự tìm đến cái chết này: Họ hiểu tinh thần Võ sĩ đạo một cách sai lạc, vì đã bị chế độ quân phiệt Nhật đâu độc tư tưởng. Một samurai theo truyền thống có thể chấp nhận cái chết trên chiến trường và cảm thấy vinh dự vì việc này. Anh ta có thể tự sát để chuộc lại một lỗi lầm về đạo đức hoặc do thiếu can đảm. Nhưng tự sát như là cách thể hiện sự hy sinh cuối cùng cho đất nước mình thì không phải là giá trị samurai truyền thống. Đấy là chủ thuyết mà giới quân sự điên rồ đặt ra nhàm bắt buộc những người lính - mà họ cho là vô giá trị - phải cống hiển tối đa.

        Trong khi Trung đội 3 đang kiểm soát đỉnh của quả núi Suribachi, những hoạt động khác vẫn diễn ra phía dưới,

        Trong đêm trước, Bộ trưởng Hải quân James Forrestal đã quyết định muốn đi lên đảo và chúng kiến giai đoạn cuối của trận đánh chiếm quả núi. Bây giờ, ông đang đi lên bờ cùng với Tướng Smith, với thỏa thuận là ông sẽ nghe theo mọi chỉ thị của vị Tướng. Chiếc thuyền chở họ cập vào bờ biển ngay sau khi lá cờ được giương lên, và cả bộ chỉ huy đều tỏ ra sướng thỏa. Khi nhìn lên lá cờ, Forrestal nhận xét với vị Tướng: “Holland, việc giương ngọn cờ trên Suribachi có ý nghĩa đặc biệt đối với Binh chủng TQLC trong năm trăm năm sắp tới.”

-------------------
        1. Tương tự loại ống nhòm cầm tay nhưng được gắn trên chân ba càng, có tầm nhìn xa hơn đế pháo binh nhận ra điểm rơi của đạn pháo mà điều chỉnh đạn đạo.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:04:28 PM

        Forrestal bị cuốn vào không khí cuồng nhiệt trong khoảnh khắc này, đến nỗi ông nảy sinh ý muốn giữ lá cờ Suribachi làm vật kỷ niệm. Tin tức về ý muốn này không hợp với Trung tá Chandler Johnson, người có tính nóng nảy giống như Tướng Smith có tính dữ dằn. Khi nhận được tin này, vị Trung tá nhổ nước bọt: “Cóc cần biết!” Đối với cá nhân ông, lá cờ thuộc về Tiểu đoàn 2 dưới quyền ông. Thế là ông quyết định thu giữ lại lá cờ này càng sớm càng tốt, và phái Trung úy Ted Tuttle, tùy viên hành quân, đi ra bãi biển để tìm một lá cờ thay thế. Rồi như chợt nảy thêm ý nghĩ, ông nói với theo Tuttle: “Và phải tìm một lá cờ lớn hơn.”

        Gần thời gian này, một nhà nhiếp ảnh thấp bé, cận thị, có ria mép tên là Joe Rosenthal đang cố xoay xở trong một buổi sáng tồi tệ.

        Rosenthal đang săn tin về cuộc đổ bộ cho hãng tin Associated Press (gọi tắt là AP). Vào buổi trưa Ngày D, ông đã đổ bộ lên Iwo Jima và chấp nhận hiểm nguy đến tính mạng mình nhằm chụp được những bức ảnh giữa trận chiến. Nhưng vào buổi sáng ngày 23/2, có vẻ như mọi chuyện đều không ổn đối với ông. Rosenthal đã trượt chân trên mành lưới ướt và rơi xuống biển, giữa một chiếc tàu chỉ huy và một tàu đổ bộ. Sau khi được vớt
lên, ông mở túi chống thấm nước đựng chiếc máy ảnh - kiểu Speed Graphic cồng kềnh nhưng bền bỉ - rồi chụp một tấm cho thấy Forrestal và Smith đang nhìn về phía bờ biển một cách quyết tâm.

        Khi ông đang ngồi trong một chiếc tàu đổ bộ để tiến vào Iwo Jima cùng với Bill Hippie, phóng viên cho một tập san, chỉ huy chiếc tàu thông báo mình đã nghe qua máy vô tuyến là một đội tuần tra đang leo lên Núi Suribachi.

        Hippie nói: “Anh nói đến chuyện địa ngục.”

        Người chỉ huy nói: “Tôi cũng nghe như thế.”

        Hippie và Rosenthal cùng hướng đến quả núi, cần thận tránh những điểm đánh dấu có mìn, cho đến lúc họ đi đến bộ chỉ huy Trung đoàn 28. Nơi đây, họ gặp hai lính TQLC cũng là phóng viên nhiếp ảnh chiến trường: Binh nhì Bob Campbell tác nghiệp với một chiếc máy ảnh, và Trung sĩ Bill Genaust có một máy quay phim màu.

        Genaust nhận xét: “Tôi nghĩ chúng ta đã đến quá muộn cho việc giương ngọn cờ.”

        Nhung Rosenthal đã đi xa được đến đây nên không muốn quay vê. Ông nói: “Tôi vẫn muốn đi lên núi.” Rồi ông thuyết phục Campbell và Genaust - cả hai đều được vũ trang - cùng đi với mình. Ba người đeo máy móc lên vai mà bước lên trên núi dốc.

        Trong khi Trung úy Tuttle đang đi tìm lá cờ để thay thế, Chandler Johnson đi đến quyết định là Trung úy Schrier đang ở trên ngọn núi có thể sử dụng một đường dây điện thoại nối với căn cứ thay cho điện thoại vô tuyến dã chiến của ông lúc này đã yếu pin. Johnson gọi cho Đại úy Dave Severance ở Đại đội E và ra lệnh một toán quân đi đặt đường dây điện thoại. Tiểu đội 2 vừa đi tuần tra quanh chân núi trở về. Severance ra lệnh cho Mike, Harlon, Ira và Franklin đi đến ban chỉ huy tiểu đoàn để nối một đường dây điện thoại, từ đó nhóm kia sẽ kéo dài dây lên đỉnh núi. Strank chỉ nói ngân gọn: “Ta đi thôi!”

        Các chàng trai đã mệt mỏi, nhưng không ai hỏi ông là sẽ đi đâu; không ai phàn nàn. Và sau này, Ira viết: “Đúng là chúng tôi không cảm thấy an tâm.”

        Đại úy Dave Severance cũng phái liên lạc viên của ông, Rene Gagnon lúc ấy 19 tuổi, đi đến ban chỉ huy tiểu đoàn để mang bộ pin mới SCR-300 cho Schrier.

        Họ đi đến bộ chỉ huy tiền phương của Trung tá Chandler Johnson ngay khi Trung úy Tuttle vội vã xuất hiện. Tuttle đang mang về một lá cờ Mỹ mà ông lấy được từ chiếc tàu mang số hiệu LST-779 đang đậu ở bờ biển. Do ngẫu nhiên mà lá cờ này - dài 2,4 m và rộng 1,4 m, lớn hơn nhiều so với lá cờ đang tung bay trên đỉnh núi - được tìm thấy trong một kho chứa vật liệu cũ ở Trân Châu Cảng, sau khi được thu hồi từ một chiếc tàu sắp chìm vào cái ngày sẽ sống mãi trong sự bi ổi.

        Tuttle trao lá cờ cho Chandler Johnson, đến phiên ông này trao cho Rene để cho vào ba lô của Rene. Vị Trung tá bảo Mike: “Khi lên đến đỉnh núi, anh bảo Schrier treo lá cờ này lên, và tôi lệnh cho anh ấy giữ lá cờ nhỏ cho tôi.”

        Với chuyến tải hàng gồm dây điện thoại, bộ pin và lá cờ, 5 chàng trai đi lên đinh núi, vừa đi vừa tháo cuộn dây điện thoại ra mà đặt theo đường đi. Trong lúc này, cha tôi vẫn còn ở trên đinh núi.

        Khoảng giũa trưa, họ lên đến đỉnh núi. Mike đến trình diện với Trung úy Schrier và giải thích về việc bàn giao dây điện thoại cùng bộ pin, và về ý của Johnson muốn giữ lại lá cờ đầu tiên. Khi Rene trao lá cờ mới cho Mike, Mike nghĩ nên có lời giải thích.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:07:05 PM

        Ông nói với vị Trung úy: “Trung tá Johnson muốn lá cờ lớn này bay cao, để mỗi tên khốn kiếp trên cả hòn đảo chết tiệt này có thể nhìn thấy nó!”

        Mike chỉ thị cho Ira và Franklin đi tìm một sợi dây thừng. Ông và Harlon bằt đầu thu dọn một chỗ để đặt cột cờ, và Harlon bắt đầu chất lên những viên đá.

        Trong khi từ miệng núi lửa đi xuống, Lou Lowery gặp Joe Rosenthal, Bill Genaust và Bob Campbell đang lần mò đi lên. Lowery nói với ba phóng viên nhiếp ảnh rằng ông đã chụp được cảnh giương ngọn cờ. Cả ba định quay trở về. Nhutig Lowery có ý khác: “Các anh nên lên trên ấy. Quang cảnh của bến tàu trông đẹp lắm.” Ba phóng viên nhiếp ảnh tiếp tục đi lên.

        Khi Rosenthal đến đinh núi ít lâu sau giữa trưa, một quang cảnh đẹp theo cách khác đón chờ ông: Lá cờ Mỹ bay phần phật trong gió. Vài năm sau, ông trả lời người phỏng vấn: “Nói cho anh biết, tôi vẫn còn cảm thấy xúc động vì lòng yêu nước khi nhớ lại lúc nhìn thấy lá cờ của chúng ta tung bay trên đấy.”

        Rồi Rosenthal trông thấy một quang cảnh còn thú vị hơn bên kia rìa miệng núi lửa: Vài lính TQLC đang mang một cột sắt đi đến một lính TQLC khác, anh này đang cầm một lá cờ khác, được xếp lại thẳng thớm.

        Theo bản năng nghề nghiệp, những ngón tay của Rosenthal lần mò cầm lấy chiếc máy ảnh Speed Graphic. Có lẽ cuối cùng thì ông cũng chụp được một bức ảnh về việc giương ngọn cờ.

        Cây cột mà Ira và Franklin đang mang là một đoạn ống nước thải nặng hơn 50 kg. Khi hai người tiến đến gần vị trí, Trung úy Schrier đề nghị toán của Mike nên làm việc này. Ông muốn giương lá cờ mới lên và hạ lá cờ cũ xuống cùng một lúc.

        Mike cột lá cờ vào cây cột. Schrier kêu vài người lính TQLC đến để hạ cột cờ thứ nhất xuống, và rồi đứng giữa hai nhóm người, ông chỉ đạo họ.

        Ba phóng viên nhiếp ảnh đi quanh quất xa xa, gần rìa miệng núi lửa. Mỗi người tìm cho mình một vị trí đế chụp ảnh. Campbell đi ra xa rồi tiến đến một vị trí gần sườn đồi, sát ngay dưới lá cờ thứ nhất, để có thể chụp ngược lên khi lính TQLC hạ lá cờ xuống. Genaust đứng vai kề vai gần bên Rosenthal, cách lá cờ thứ hai khoảng 30 m, chỉ còn vài mét phim màu trong máy quay phim nên ông quyết định chờ đến khi đúng thời khắc để sử dụng. Con người Rosenthal cao 1,6 m đã đặt chiếc máy ảnh Speed Graphic xuống, cúi về trước, chất vài hòn đá và một bao cát để đứng cho cao và ngắm nghía góc chụp. Ông đặt máy ở tốc độ 1/400 giây, với khẩu độ giữa f8 và fi6.

        Những người khác hiện diện trên đinh núi không để ý đến những gì đang diễn ra. Họ cho việc này có ý nghĩa tầm thường như là ném một quả bóng mới vào sân cỏ cho hai đội bóng tiếp tục thi đấu.

        Tất cả diễn ra chỉ trong vài giây đồng hồ. Chiếc máy quay phim của Genaust thu hình được tất cả diễn tiến. Một mình trong phòng khách ở nhà, tôi đã xem đi xem lại những giây đồng hồ này, khi hình ảnh được chiếu chậm. Diễn tiến sự việc là như sau1:

        Harlon đứng trụ vững phía trên vị trí đã định, chung quanh đầy vật liệu đổ nát, sẵn sàng đón nhận phần chân cột cờ. Ở đâu kia, Mike đang chỉ huy, hướng cột cờ về phía mình, đoạn ống được đặt lên vai ông.

        Mike giữ cho lá cờ rộng quấn chung quanh cột cờ để tránh bị gió thổi mạnh, chờ đến khi dựng cột cờ xong mới mở ra.

        Mike và bốn binh sĩ dưới quyền đi vòng đến gần cột cờ hơn. Họ giơ chân cao ở mỗi bước đi để tránh giâm lên vật liệu đổ nát. Giống như thể họ đang đi trên lớp tuyết dày.

        Ira đi đến cột cờ, đối diện với Mike, quay lung về khung ảnh của Genaust. Ông nói gì đấy với Mike, nhung nghe không rõ trong cơn gió mạnh. Ira đang mang tấm chăn của người Da đỏ quấn quanh dây thắt lưng.

        Mike thấy cha tôi đang đi ngang với bông băng y tế trên tay, và kêu ông đến trợ giúp. Cha tôi để bông băng xuống đất và tiến đến cột cờ, ngay giũa Mike và Harlon.

        Từ tiền cảnh trong đoạn phim của Genaust, Franklin đi đến cột cờ.

        Rene từ phía sau tiến gần đến, về bên phải, khẩu súng trường của ông vắt ngang vai. Ông đứng phía sau cha tôi lúc này đang ở phía trước cột cờ trong đoạn phim.

        Các chàng trai xúm xít quanh Harlon, lúc này đang cúi thấp người dưới chân cột cờ. Cha tôi nắm lấy cột cờ ở đoạn giữa.

        Rosenthal nhận ra diễn tiến và nằm lấy chiếc máy ảnh.

        Genaust đứng cách Rosenthal khoảng 1 m, hỏi: “Tôi có che khuất anh không, hở Joe?”

        Rosenthal đáp “Ồ, không.” Sau này, ông nhớ lại: “Tôi quay sang anh ấy và qua khóe mắt mình, tôi nói: ‘Này, Bill, được rồi đây!’”

        Ông giơ máy ảnh lên, chụp lấy một tấm. Cùng lúc này, cột cờ được nhanh chóng dựng lên theo hình vòng cung. Lá cờ bật ra khỏi tay Mike, rồi phất phới trong cơn gió mạnh.

-----------------
        1. Có thế xem đoạn phim này trên một số trang web, ví dụ như trên trang của từ điển bách khoa Wikipedia.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:09:46 PM

        Rosenthal nhớ lại: “Vì giữ lịch sự với nhau, chúng tôi suýt vuột mất quang cảnh. Tôi quay vòng chiếc máy ảnh cho đến khi tôi đoán ra là động tác lên đến đinh điểm, rồi tôi bấm máy.”

        Và rồi mọi chuyện đều xong xuôi. Lá cờ đã được giương cao.

        Campbell đã chụp được bức ảnh như ý ông mong muốn: Lá cờ đâu tiên đang được hạ xuống ở tiền cảnh trong bức ảnh, và lá cờ thứ hai đang được giương lên ở cách xa một khoảng. Genaust quay được đoạn phim mà ông đã trù định: Đoạn phim màu cho thấy diễn tiến việc giương lá cờ thay thế.

        Chỉ có Rosenthal là không biết chắc. Thậm chí nhà phóng viên nhiếp ảnh của hãng AP đã không có cơ hội nhìn khung cảnh qua kính ngắm trên máy ảnh. Sau này, ông kể: “Dĩ nhiên là tôi không thể nói chắc về bức ảnh. Nó giống như chụp ảnh một cầu thủ đang chơi bóng; bạn không thể khoe khoang về bức ảnh khi chưa in ảnh ra.” Ông đã ghi hình ảnh trong một phần 400 giây của tổng cộng diên tiến 4 giây đồng hồ. Ông không biết được liệu bức ảnh bị nhòe rung, ảnh chụp lên bầu trời, hay là bức ảnh tạm chấp nhận được.

        Sáu người lính tiếp tục chống đỡ cột cờ nặng nề trong cơn gió mạnh. Cột cờ đã được dựng thẳng đứng. Harlon giơ hai bàn tay lên nắm chặt lấy cột cờ, dùng sức nặng thân người mình để cắm cây cột xuống đất. Ira cũng làm thế. Rồi Franklin thêm vào sức nặng. Mike giúp níu chặt mọi thứ.

        Trong vòng vài giây đồng hồ kế tiếp, cột cờ đã tự đứng thẳng, lá cờ bay phần phật trong gió. Sau một lúc, Frank và vài người khác đi tìm đá để tấn thêm vào chân cột. Cha tôi đưa ra sợi dây thừng ông mang theo để dùng cột thương binh vào cáng, và tất cả bọn họ neo chặt cây cột cờ.

        Không ai chú ý đến việc họ làm. Đấy chỉ là một lá cờ thay thế. Lá cờ quan trọng - lá cờ đầu tiên được giương lên vào buổi sáng - được mang xuống chân núi giao cho Trung tá Johnson, và ông này cho vào tủ sắt của tiểu đoàn. Lá cờ mang nhiều giá trị lịch sử đối với tiểu đoàn nên không thể để chơ vơ trên đỉnh Suribachi1.
         
Lá cờ thay thế tung bay trong ba tuần lễ, cuối cùng bị gió mạnh thổi bay mất.

        Một lúc lâu sau khi giương ngọn cờ, Joe Rosenthal lặp lại động thái mà vài giờ trước đây Lowery đã làm. Ông gọi vài người lính TQLC đến đứng quanh cột cờ cho ông chụp một bức ảnh theo kiểu “gung-ho”. Trung úy Schrier tập hợp một nhóm các chàng trai cho bức ảnh này. Mike, Ira, Doc, Franklin và 14 lính TQLC khác hãnh diện đứng dưới lá cờ, giơ tay lên, vung lên vũ khí và mũ sắt.

        Ira Hayes tươi cười trong bức ảnh2 - gương mặt ông hằn những nét nhăn vì nụ cười toe toét hạnh phúc. Ông là người ngồi duy nhất trong số 18 người.

        Mike đứng kế bên Trung úy Schrier, chẩu môi ra như thế đang thốt lên một tiếng sướng thỏa.

        Franklin và cha tôi đứng phía sau Mike, mỗi người nhìn qua một bên vai của Mike. Franklin nở nụ cười chiến thắng và giơ khẩu carbine lên cao.

        Sau này, cha tôi nói “Chúng tôi đều vui sướng!” và trong bức ảnh ông lộ vẻ như thế: Ông nở nụ cười tươi khi tay phải giơ cao chiếc mũ sắt.

        Joe Rosenthal cảm thấy hài lòng về bức ảnh được dàn dựng này. Ông tin chắc rằng, với những chàng trai trẻ tươi cười và bãi đổ bộ được nhìn thấy phía dưới, ông đã có một bức ảnh đáng được chọn để lên báo ở quê nhà.

        Nhưng nhà phóng viên nhiếp ảnh cho hãng AP sẽ phải chờ vài ngày mới biết được. Đêm hôm ấy, cuộn phim của ông được máy bay mang về Guam để tráng và rửa. Bức ảnh nào có thể cho đăng sẽ được chuyên về New York bằng tín hiệu vô tuyến.

        Vài tháng sau, Tiểu đoàn 2 nộp “Báo cáo Hành động” về vai trò của Tiểu đoàn trong Trận Iwo Jima. Báo cáo trình bày những diễn tiến trong ngày 23/2, về việc tiền thám vào buổi sáng sớm. Báo cáo tường thuật việc đội tiền thám 40 người của Trung úy Schrier từ Đại đội E đi lên đỉnh Suribachi, việc giương ngọn cờ đầu tiên vào lúc 10 giờ 20 sáng. Báo cáo nhắc đến việc phá hủy các hang động, việc thu được kính nhìn xa của Nhật, và sự chống cự lẻ tẻ của lính Nhật đang đào thoát.

        Báo cáo Hành động không nhắc đến việc giương lá cờ thứ hai. Dù sao chăng nữa, đấy chỉ là lá cờ thay thế.

-----------------
        1. Chính lá cờ này được sử dụng trong cảnh quay Iwo Jima của phim Sands oflwo Jima (tạm dịch: Những hạt cát ở Iwo Jima) vào năm 1949.

        2. Có người nhận xét là đây là bức ảnh duy nhất cho thấy Ira mim nụ cười.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:17:43 PM

Chương 12

NHỮNG CHUYỆN HOANG TƯỞNG

       
Đây là một [bức ảnh] cho mọi thời đại!

John bodkin, biên tập ảnh hãng AP ở Guam       

        Trong bốn ngày tiếp theo, những chiến binh đã chinh phục Núi Suribachi được nghỉ ngơi trên lớp da giòn của con rắn đã chết. Vài người lo truy lùng và phá hủy những hang động và địa đạo; vài người biên thư về gia đình.

        Họ đã đánh bại quả núi. Và vì thế, họ nghĩ đối với cá nhân mình trận đánh đã kết thúc. Ít nhất họ được an toàn - hoặc an toàn hơn là trong gần 100 tiếng đồng hồ đầu tiên. Họ đã phải cảnh giác đề phòng lính Nhật thinh thoảng rình mò xâm nhập trong đêm tối. Nhưng bây giờ, quân Nhật đang chủ yếu tự hủy hoại thân mình và hủy hoại lẫn nhau. Trong đêm, các chàng trai nghe thấy những hành động bệnh hoạn đang xảy ra dưới chân họ, ở 7 tầng trong lòng Núi Suribachi. Chick Robeson nhớ lại: “Khi đang cố dỗ giấc ngủ trong hố cá nhân, chúng tôi có thể nghe tiếng nổ của lựu đạn mà họ ôm sát vào bụng.”

        Cuộn phim do Joe Rosenthal chụp ngày 23/2 với 12 bức ảnh, cùng với phim ông đã chụp vào ngày trước, đang được các cấp quân sự xừ lý trên đường chuyển về nước Mỹ. Đầu tiên, phim được đưa lên một máy bay quân thư hướng về Guam, trên quãng đường 1.600 km về phía nam Thái Bình Dương. Ở đây, phim và ảnh qua tay nhiều người, người nào cũng có thể đưa nó vào sọt rác. Chuyên viên phụ trách việc tráng phim và rửa ảnh có thể phạm sai sót khiến cho phim bị vút bỏ. Rồi nhân viên kiểm duyệt sẽ xem xét, và cuối cùng sếp sẽ xem qua từng bức ảnh để quyết định chuyển bức ảnh nào về nước Mỹ qua đường ảnh vô tuyến và phải loại ra ảnh nào.

        Trong số 12 pô ảnh chụp ngày 23/2, hai pô bị hư hại vì ánh sáng lọt vào máy ảnh. Đấy là hai pô ảnh kế cận pô thứ 10, pô mà Rosenthal chỉ bấm máy mà không nhìn qua ống ngắm. Vì lý do nào đấy, pô này không bị ánh sáng làm hỏng.

        Ba ngày sau việc giương ngọn cờ, cha tôi có thời giờ biên thư về nhà. Ông tỏ lòng quan ngại cho bác cả tôi James Jr. lúc ấy đang chiến đấu ở Châu Âu, và ông nội tôi đã qua một cơn đau tim. Nhưng vì cũng lo cho bà mẹ, người con 23 tuổi này, sau khi vướng vào một trong những trận đánh ác liệt nhất trong lịch sử, chi có ngôn từ trấn an:

        Iwo Jima
        Ngày 26 Tháng Hai, 1945
        Mẹ, Cha và tất cả thân thương,

        Con chi có thời giờ để viết ít dòng, con muốn nói cho mọi người rõ con hoàn toàn khỏe mạnh. Mọi người hẳn đã biết về trận chiến của chúng con ở đây và con ở trong đơn vị chiến thắng là Đại đội E Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 28 Thủy quân Lục chiến đã lên đến đỉnh núi Suribachi trước tiên. Con góp chút công lao trong việc giương ngọn cờ Mỹ và đấy là thời khắc hạnh phúc nhất trong đời con.

        Con lo lắng cho Cha. Con mong Cha được xuất viện và khỏe lại. Con nghĩ cả nhà có phần lo lắng cho con vì đã không nhận được tin con. Con không thể biên thư thường xuyên vì thế xin đừng lo lắng nếu nhà lâu không nhận được thư con.

        Con mong có tin tốt lành nhất về Jim1 và rằng mọi người ở nhà đêu mạnh khỏe & hạnh phúc.

        Khoáng một giờ sau khi chúng con lên đến đỉnh Núi, vị Tuyên úy Công giáo của chúng con cử hành Thánh lễ và con đến tham dự Lễ Ban Thánh thể1. Con có cầu nguyện đây đủ và việc này giúp cho con được bình an.

        Con sẵn sàng đối lấy cánh tay trái để được tắm dưới vòi bông sen và cạo râu; con đã để râu 6 ngày không cạo. Không có xà phòng hoặc nước kể từ khi đổ bộ. Trước đây cứ nghĩ rằng mình không thể song quá ba ngày nếu không có thức ăn, nước tắm hoặc thiếu ngủ, nhưng bây giờ mới biết rằng có thế vượt qua được.

        Con sẽ biên thư dài hơn khi có cơ hội, chúc tốt lành và gửi lời thăm hòi đến mọi người.

        Đứa con mãi yêu mến cha mẹ, Jack

        Chick Robeson, 17 tuổi, mô tả một cách chính xác hơn nỗi sợ hãi mà tất cả đã kinh qua: “Trước đây con chưa bao giờ sợ hãi đến thế. Khi đạn cối và pháo quân Nhật bắt đầu rót xuống, con không đừng được mà run lên như đang bị giá lạnh nhưng con nghĩ ai nấy cũng thế.”

----------------
        1. Tên thân mật của James, Jr.

        2. Lễ kỷ niệm bữa ăn cuối cùng của Jesus cùng 12 tông đồ, trước khi Jesus bị bắt và bị xử tội.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:28:13 PM

        Franklin biên thư cho mẹ Goldie, cố trấn an: bà không nên lo lắng, dù cho đạn đã bay vèo qua quần áo của ông.

        Iwo Jima
        Ngày 27 Tháng Hai, 1945

        Mẹ thân thương nhất,

        Như mẹ hẳn đã biết chúng con đánh Iwo Jima ngày 19 Tháng Hai, hôm nay là đúng một tuần. Trung đoàn của con chiếm lấy ngọn đồi với đại đội của con đi đầu. Quả đồi thật cứng rắn và con không hề nghĩ chiến tranh là như thế trong 4 ngày đầu tiên. Con nhận một ít  qua quần áo và chắc chắn là con lấy làm mừng vì mình vẫn được bình an.

        Hòn đảo này xem như đã được an toàn, vẫn còn đánh nhau ác liệt ở đầu kia và chúng con bị ít quấy rối vào ban đêm. Mẹ ạ, mẹ không bao giờ tưởng tượng được chiến trường trông ra sao. Chắc chắn là trông khủng khiếp. Hãy tìm bức ảnh mà xem vì con đã giúp giương ngọn cờ. Xin đừng lo lắng và hãy biên thư cho con.

        Con của mẹ,
        Franklin Sousley
        Thủy quân Lục chiền Hoa Kỳ


        Giống như Rosenthal, Franklin hy vọng bức ảnh tập thể trong đó có anh sẽ được đăng tải trên báo chí ở quê nhà.

        Còn Rene dành chút thời giờ để viết ít dòng cho người yêu Pauline Harnois:

        Bây giờ anh có thế cho em biết, anh tham gia chiến trận trên Iwo Jima và đấy là lý do anh không thể biên thư sớm hơn. Anh vẫn bình an và vài đồng đội vẫn còn bên anh, vài người bỏ mình hoặc bị thương. Sau khi đã nhìn qua những việc này anh mới nhận ra tự do thật sự có ý nghĩa như thế nào.

        Khi ở trên tàu anh đã nhận được những bức ảnh của em với chiếc áo mặc buổi tối, thế nên anh gài những ảnh này lên chiếc mũ sắt và mang theo bên người. Ảnh không bị hư hại nhiêu. Em trông vẫn đẹp, em yêu ạ.

        Lính TQLC trên Suribachi không biết, nhưng người Mỹ ở quê nhà đều dõi theo từng hoạt động của họ. Iwo Jima đã trở thành tin số một đăng trên mọi tờ báo khắp nước Mỹ. Và trở thành trận đánh trong Thế chiến II được tường thuật chi tiết nhất, được viết trên nhiều bản tin nhất.

        Những độc giả chỉ vài ngày trước chưa từng nghe nói đến hòn đảo lưu huỳnh, bây giờ đã thuộc nằm lòng những đường cao độ của hòn đảo. Vì cuộc chiến trên Châu Âu đã đến hồi kết cục, phóng viên từ chiến trường này chuyển qua Thái Bình Dương để tường thuật những trận đánh ngày càng lan rộng ở đây. Bài viết của họ tràn ngập báo chí - nhiều tờ in thêm ấn bản “phụ trội” - và bản tin thời sự trên truyền thanh. Rạp chiếu bóng trình bày những đoạn phim về cuộc tấn công, đôi lúc cập nhật hằng ngày khi nhận được phim mới. Lần đầu tiên trong lịch sử, các mạng truyền thanh tường thuật trực tiếp từ chiến trường đang nóng bỏng.

        Tin tức được cập nhật nhanh chóng một cách đáng kinh ngạc. Trong những chiến dịch tấn công trước khi xảy ra Trận Iwo Jima, bản tin phải “đi nhờ” về nước Mỹ trên bất kỳ phương tiện giao thông nào có sẵn. Bản tin thường được chuyến về Honolulu trên máy bay chở thương binh. Theo cách thức cầu may này, phóng viên phải chờ cho đến khi một đường băng được quân Mỹ kiểm soát để đón máy bay. Rồi họ phải lo giao bản tin lên máy bay; sau đây chỉ biết hy vọng bản tin về đến tổng hành dinh báo chí của Hải quân sau khi máy bay đáp xuống Trân Châu Cảng.

        Đấy là quy trình mất nhiều thời gian. Thường phải qua nhiều ngày tin tức mới về đến nước Mỹ. Trận đánh 3 ngày trên Đảo Tarawa đã kết thúc nhưng bản tường thuật tại chỗ đầu tiên vẫn chưa về đến nước Mỹ. Phải mất trọn 8 ngày bức ảnh đầu tiên về cuộc tấn công lên Đảo Saipan mới về đến quê nhà.

        Nhưng tại Iwo Jima, quy trình nhanh hơn và gọn hơn. Trong vòng 24 giờ, bản tin hằng ngày đã tường thuật chỉ tiết. Báo chí đăng nhiều trang về những mẩu chuyện bên lề, với nhiều bản đồ và biểu đồ. Thình lình, dân thường tụ tập trong quán café và quanh máy nước mát ở văn phòng bàn tán một cách thông suốt, nói lên một cách dễ dàng nhũng cái tên như “Bãi Lục,” “Suribachi” và “Kuribayashi”.

        Bỗng dưng tính chuyên nghiệp trong việc săn tin và tải tin được hình thành. Trước khi trận đánh diễn ra, không ai được biết tin tức gì. Iwo Jima nổi lên trên trang nhất của tờ The New York Times ngày thứ Hai, 19/2, dưới hàng tít đậm: TQLC MỸ ĐỔ BỘ LÊN ĐẢO IWO.

        Trong cả tuần lễ kế tiếp, Iwo Jima luôn là tin tức hàng đầu. Hàng tít của tờ The New York Times ngày thứ Ba nổ tung: TQLC MỸ TIẾN ĐÁNH SÂN BAY TRÊN ĐẢO IWO; CHIẾM BÃI ĐẦU CẦU 2 DẶM; 800 TÀU HỖ TRỢ ĐỔ BỘ.

        Dưới hàng tít là bức ảnh phóng to về Iwo Jima ghi 18 vị trí chiến lược. Điểm nổi bật là Núi Suribachi, được tờ báo trang trí thêm với lá cờ Nhật cắm trên đỉnh.

----------------
        1. Franklin Sousley viết không rõ ràng: “I got some”, hẳn vì không muốn viết rõ kẻo bà mẹ lo lắng.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:32:10 PM

        Người ta không chú ý lắm đến việc Tướng Patton đang đánh xuyên qua nước Đức, hoặc Tổng thống Roosevelt đang trở về sau hội nghị thượng đinh lịch sử ở vùng Crimea1. Những tin tức khác đều có tầm quan trọng thứ yếu so với tin tức đưa về từ Iwo Jima. Hàng tít ngày thứ Tư ám chỉ chiến thắng: TQLC CHIẾM SÂN BAY, KIẾM SOÁT MỘT PHẦN BA IWO.

        Giọng điệu được tờ báo làm dịu đi qua trích dẫn lời nói của Tướng Holland M. Smith: “Trận đánh gay go nhất của chúng tôi trong vòng 168 năm.”

        Ngày thứ Năm, hàng tít mang đến tin ảm đạm hơn: TQLC DỪNG BƯỚC Ở IWO, GẦN SÂN BAY THỨ NHẤT.

        Và trên trang 4 của tờ The New York Times, trong bài báo có tựa TRẬN ĐÁNH CAM GO NHẤT CỦA TQLC, những con số thống kê rùng rợn bẳt đầu xuất hiện:

        Bây giờ Thủy quân Lục chiến đã đi đến trận đánh cam go nhăt, trộn đánh họ vẫn chưa thắng được. Những đợt tấn công đầu tiên gần như bị tiêu diệt: 3.650 lính TQLC tử trận, bị thương hoặc mất tích chỉ sau hai ngày chiến đấu trên hòn đảo được phòng vệ vững chắc nhất thế giới, hơn cả số thương vong ở Tarawa, gần bằng số thương vong ở Guadalcanal trong 5 tháng chiến đấu trong rừng già.

        Người Mỹ giật nảy mình. Đây là chuyện tồi tệ hơn bất kỳ chuyện gì khác mà nhũng chàng trai đã gánh chịu trong Thế chiến II: tồi tệ hơn Tarawa, tồi tệ hơn Normandie, tồi tệ hơn đầu cầu ở Anzio. Binh chủng TQLC tham gia vào trận đánh đẫm máu nhất kể từ trận Gettysburg. Số thống kê làm người ta choáng váng: số thương vong trong 4 ngày ở Iwo Jima còn cao hơn số thương vong ở Guadalcanal trong 5 tháng.

        Bản tin được truyền đi nhanh trên toàn thế giới, nhưng vào năm 1945 phải mất 2 ngày mới chuyển được hình ảnh từ chiến trường về tòa soạn. Vì thế hàng tít mang hy vọng của tờ The New York Times ngày thứ Sáu 23/2: TQLC CHIẾM VỊ TRÍ CHỦ YẾU SURIBACHI TRÊN IWO - không có hình ảnh nào đi kèm theo.

        Người đọc vui mừng khi tin tức cho biết: CHIẾM ĐƯỢC NÚI LỬA - CẮM CỜ TRÊN ĐỈNH SƯRIBACHI, nhưng niềm vui giảm sút bởi hàng tít QUÂN NHẬT PHẢN CÔNG - THƯƠNG VONG QUÂN TA LÊN ĐẾN 5.372.

        Ngày thứ Bảy, 24/2 mang hàng tít đáng lo hơn: TQLC TIẾN CHẬM Ở TRUNG TÂM IWO.

        Đêm thứ Bảy này, người Mỹ hẳn đã lên giường ngủ với con tim nặng trĩu. Normandie đã là một kinh nghiệm đau thương, nhưng dù sao chỉ cần mất một ngày để chiếm các bờ biển. Số thương vong ở đây không cao như ở Iwo Jima, mà người đọc còn được an ủi khi biết về một chiến thắng chóng vánh.

        Nhưng ngày D lớn nhất trên chiến trường Thái Bình Dương thì hoàn toàn khác hẳn. Hàng tít xuất hiện mỗi buổi sáng trong 5 ngày đâu đây những con số thương vong khó tin. Người Mỹ dò tìm qua các cột báo cho ẩn ý về niềm hy vọng. Nỗi băn khoăn bất chợt ở Thái Bình Dương, càng nặng nề thêm sau những tin chiến thắng ở Châu Âu, tạo nên nỗi lo âu chán ngán.

        Và rồi, cũng bất ngờ như chính tin tức về cuộc đổ bộ, một hình ảnh tươi sáng của chiến thắng lan đi toàn thế giới.

        Một trong những người đâu tiên chú ý đến điều này là John Bodkin, Biên tập ảnh hãng AP ở Guam. Trong một buổi tối làm việc ở văn phòng như thường lệ, ông nhặt ra bức ảnh của lá cờ “thay thế”. Ông nhìn vào bức ảnh. Ông ngừng lại, lắc đâu vì kinh ngạc, rồi huýt sáo một tiếng, thốt lên mà không chủ định nói với ai: “Đây là một bức ảnh cho mọi thời đại!” Rồi không để mất một giây nào, ông truyền bức ảnh qua sóng vô tuyến về văn phòng trung ương hãng AP ở Thành phố New York lúc 7 giờ sáng, giờ địa phương.

        Chẳng bao lâu, tòa soạn các báo khắp nước Mỹ nhận được bức ảnh của hãng AP. Chủ biên các nhật báo, đã quen với việc điểm qua vô số hình ảnh chiến trận, ban đâu liếc qua bức ảnh một cách ơ hờ, rồi trở nên kinh ngạc. Họ thét lên: “Ảnh chủ đạo, trang 1, trên nếp gấp2.”

------------------
        1. Hội nghị thượng đỉnh ở Thành phố Yalta, vùng Crimea (miền nam Ukraina), trong thời gian 4-11 Tháng Hai giữa Thủ tướng Anh Winston Churchill, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Joseph Stalin và Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, đế bàn tính kế sách chiến tranh chống Đức và Nhật.

        2. Báo thường được gấp lại, chỉ cho thấy nửa phần trên ở sạp báo, trong máy bán báo... vì thế hàng tít và ảnh quan trọng được in ở nửa phần trên đế dễ thu hút sự chú ý.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Sáu, 2018, 11:35:10 PM

        Không chỉ dân chuyên nghiệp làm báo mới cảm thấy sững sờ vì bức ảnh. Vào ngày thứ Bảy khi bức ảnh được truyền đi khắp noi, Đại tá Hải quân T.B Clark đang làm việc ở Căn cứ Không quân Bang Virginia. Ông xem xét bức ảnh trong chốc lát rồi trao cho Trung sĩ Hải quân Felix de Weldon.

        De Weldon là di dân từ Áo, theo học ngành hội họa và điêu khắc Châu Âu. ông được điều đến xưởng vẽ của Căn cứ Không quân để vẽ tấm bích họa về Trận Coral Sea.

        De Weldon không thể rời đôi mắt khỏi bức ảnh. Theo những đường tam giác cổ điển, ông nhận ra những nét tương đồng với những pho tượng cổ nổi tiếng mà ông đã nghiên cứu.

        Với phản xạ nghề nghiệp, ông mang ra đất sét và đồ nghề điêu khắc. Suốt đêm, ông cật lực làm việc với bức điêu khắc; bức ảnh đặt trước mặt. Cho đến mờ sáng, ông đã tái tạo hình ảnh sáu chàng trai đang đẩy cột cờ, giương lên lá cờ.

        Sáng hôm sau, Chủ Nhật, 25/2, hàng triệu người Mỹ cũng cảm thấy sững sờ tương tự bởi hình ảnh này. Giây phút đầu tiên nhìn thấy bức ảnh, người ta luôn nhớ đến lúc ấy mình đang ở đâu, tương tự như sau này khi người ta nghe tin về cái chết của Tổng thống Kennedy. Bức ảnh giương ngọn cờ đã báo hiệu chiến thẳng và hy vọng, để đáp trả những hình ảnh về các chiến hạm đang chìm ở Trân Châu Cảng thể hiện sự thất trận và sợ hãi bốn năm về trước.

        Đàn ông và phụ nữ còn ngái ngủ cúi xuống ngạch cửa để nhặt tờ báo, xem qua một thoáng, rồi gọi vọng vào trong nhà: “Này, xem đây!”

        Ở thành phố những người đi đường trao 3 cent cho người bán báo, đi vài bước, rồi trở lại và mua thêm một tờ.

        Charles Sweeney, người sau này thả quả bom nguyên tử xuống Thành phố Nagasaki cho biết, bà mẹ theo Công giáo của ông chỉ cho phép treo hai bức ảnh trong phòng ăn của gia đình: Jesus và FDR. Nhung đến khi bà nhìn thấy bức ảnh, bà cho đóng khung rồi treo lên tường như là một biểu tượng cao cả thứ ba.

        Nhiều bà mẹ có con trai chiến đấu ở Thái Bình Dương tự hỏi liệu có con mình trong bức ảnh hay không. Nhưng đối với bà mẹ của Harlon thì không có gì phải nghi ngờ. Bà biết chắc chắn.

        Sáng hôm ấy, người anh của Harlon, Ed Block Jr. được Không lực cho nghỉ phép về thăm nhà, bước lên ngạch cửa và cúi xuống để nhặt số ra ngày Chủ Nhật của tờ Mid-Valley News của Weslaco.

        Khi ông vừa ngồi trên ghế đu trong phòng khách và cầm lấy tờ báo trước mặt, thì bà mẹ bước vào. Lúc đi ngang qua ông, bà liếc qua tờ báo. Rồi bà dừng lại. Bà nghiêng qua vai của Ed, chỉ vào người trong ảnh đang đẩy cây cột cờ xuống đất, thốt lên: “Nhìn này, Junior! Đấy là em Harlon của con!”

        Ed chăm chú nhìn người trong bức ảnh mà bà mẹ đang chỉ. Không thể nào nhận dạng được người này, một lính TQLC quay lưng về ống kính. Bức ảnh chỉ ghi chú Vinh quang Ngày cũ vươn lên ở Iwo, còn bài báo không nêu tên người nào.

        Ed nói: “Mẹ ạ, không có cách nào để mẹ biết được đấy là Harlon. Đấy chỉ là tấm lưng của một lính TQLC. Và hơn nữa, chúng ta còn không biết Harlon có mặt trên Iwo Jima hay không”.

        Bà mẹ vẫn khẳng định khi cầm lấy tờ báo từ tay Ed: “Đây chắc chân là Harlon.” Và khi bà đi vào nhà bếp, đôi mắt dán lên bức ảnh, Ed nghe bà nói: “Mẹ biết rõ con trai của mẹ.”

        Tác động của Bức Ảnh lan truyền như làn sóng. Cùng chiều Chủ Nhật ấy, 25/2, một nhà báo chuyên mục cho tờ The New York Times viết một bài về “bức ảnh đẹp nhất trong cuộc chiến.” Một cây bút cho tờ Times-Union ở Rochester, Bang New York, nơi đặt trụ sở chính của Công ty Eastman Kodak và nơi mà từ vựng ngành nhiếp ảnh trở thành ngôn ngữ thông dụng, tuyên bố bức ảnh là “tác phẩm tương đương với bức họa "Bữa ăn Cuối cùng" của Leonardo”.

        Trong vòng một tuần sau khi bức ảnh xuất hiện, nhân viên lễ tân ở tòa soạn các tờ báo lớn báo cáo một điều gì đấy bất thường. Tổng đài điện thoại của họ nhận tới tấp lời yêu cầu bản sao của bức ảnh. Chảng bao lâu, các tòa soạn cho ra mắt “Ấn bản thật Đặc biệt,” một tờ báo in “Ảnh Màu!” trong khi một tờ khác hứa hẹn “In trên giấy dày, thích hợp để làm khung!” Họ không thể in kịp. Tất cả đều được bán sạch.

        Không ai biết nhũng người giương ngọn cờ là ai, nhưng Joe Rosenthal lập tức trở thành người nổi tiếng. Ngày 27/2, tờ The New York Times in một chân dung to của Joe, ghi ông là nhà nhiếp ảnh “đã được cả nước ca ngợi vì bức ảnh của ông.”

        Ông A.B.R. Shelly ở Raleigh, Bang North Carolina, nhìn thấy bức ảnh và lập tức biên thư cho chủ bút của tờ The New York Times, được đăng tải ngày 28/2:

        Trên trang nhất của tờ Times ngày 25 Tháng Hai là một bức ảnh xứng đáng đế tạo nên một đài tưởng niệm chiến tranh hoành tráng. Đấy là bức ảnh của những người lính TQLC trong Sư đoàn 5 giương cao Vinh quang Ngày cũ trên đỉnh Núi Suribachi. Có nhiều bức tượng về chiến tranh, nhưng phần lớn đề là hư cấu. Nếu được tái thể hiện bằng đồng thau, quang cảnh thật sự này sẽ có giá trị mỹ thuật cao và là sự tôn vinh xứng đáng đối với người Mỹ và lòng dũng cảm Mỹ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 07:49:29 AM

        Cả nước đều nhất trí rằng đấy là một hình ảnh đẹp. Nhưng đối với những người muốn biết đầy đủ sự kiện, thì bức ảnh thể hiện điều gì? Mọi người đều cho rằng bức ảnh thể hiện một thực tế hoàn toàn khác biệt so với những gì lính TQLC đang kinh qua ở Iwo Jima.

        Cùng ngày, bức ảnh về lá cờ thay thế xuất hiện trên nước Mỹ, từ vị trí đóng quân, Trung sĩ nhất Boots Thomas được triệu về soái hạm của Tướng Smith. Nơi đây, ông được một phóng viên hãng CBS phỏng vấn. Cuộc phòng vấn không đề cập đến bức ảnh của Rosenthal. Phóng viên CBS không biết đến bức ảnh này. Dù ông có biết, ông này hẳn không nhẳc đến: Dù sao chăng nữa, đấy chỉ là việc cắm lá cờ thay thế. Nó không có ý nghĩa đối với những người trên Iwo Jima. Đổi với mọi người trên hòn đảo, việc “giương ngọn cờ” chỉ liên quan đến việc mà Boots tham dự.

        Trong cuộc phỏng vấn, Boots nói ra sự thật khiêm tốn: Trung đội tiền thám của ông đi lên đỉnh núi mà không gặp sức kháng cự, rồi giương lên lá cờ mà nhà nhiếp ảnh Lowery bấm máy quang cảnh.

        Nhưng có một số yếu tố kết hợp lại để tạo nên nhận thức hoàn toàn khác hẳn đối với người Mỹ ở quê nhà.

        Thứ nhất, hàng nghìn người reo hò khi lá cờ đầu tiên được cắm trên đỉnh Suribachi, nhưng từ khoảng cách xa. chỉ có ít người đứng gần để nhìn ra chính xác những ai giương ngọn cờ. Không một ai chú ý đến hoặc reo hò khi lá cờ thay thế được giương lên. Và không ai màng người nào đã giương lên. Đối với phần đông lính TQLC trên hòn đảo, đấy chỉ là việc cắm cột cờ.

        Thứ hai, bởi vì những bức ảnh của hãng AP do phóng viên dân sự Rosenthal được chuyển đi nhanh hơn những bức ảnh quân sự của anh lính TQLC Lowery, chỉ có một vụ giương ngọn cờ được thể hiện trên các tờ báo ở quê nhà.

        Thứ ba, người ta ít nói đến việc giương lá cờ thay thế bởi vì đấy là sự kiện không quan trọng. Vì thế, độc giả ở quê nhà cho rằng chỉ có một sự kiện giương ngọn cờ: Hình ảnh mà họ nhìn thấy trên trang đâu của các tờ báo.

        Thứ tư, phóng viên được an toàn trên hạm đội cách Suribachi nhiều hải lý và biên tập cách nửa vòng trái đất đã không tường thuật tất cả sự kiện, mà còn vô tình tạo nên một huyền thoại gây hoang mang về việc giương ngọn cờ, kéo dài cho đến ngày nay.

        Hình ảnh gần như là huyền thoại của quả núi tạo nên yếu tố quyết định. Hâu hết không ảnh đều thể hiện Núi Suribachi; mọi bản đồ đều chỉ rõ quả núi này, còn các bản tin đề nhấn mạnh hỏa lực đối phương trút xuống từ quả núi này. Vì thế, dù cho đầu phía bắc của hòn đảo là phần đẫm máu nhất của trận đánh, lẽ tự nhiên là độc giả cho rằng một khi Núi Suribachi -  điểm cao của hòn đảo - bị thất thủ, trận đánh sẽ kết thúc nhanh chóng.

        Thế rồi, khi cuộc tấn công lên quả núi lửa đến hồi chấm dứt, việc săn tin cũng chuyển hướng. Phóng viên ở nơi xa cung cấp nhiều chỉ tiết về chiến trận dữ dội khi TQLC tiến đến chân quả núi. Rồi họ thêm thắt những chỉ tiết tưởng tượng và méo mó về ba ngày chiến trận trên những sườn núi Suribachi. Nhưng họ không hề nhắc đến chuyến đi âm thầm lên đinh núi vào sáng ngày thứ Sáu, 23/2 ấy. Vào ngày này, vì thiếu hình ảnh về chuyến đi, các biên tập viên đăng tải một bức ảnh cho thấy TQLC bị chặn đứng trên một ngọn đồi ở xa về hướng bắc. Bức ảnh này tạo ấn tượng sai lạc là TQLC bị chặn đứng trên triền núi Suribachi.

        Vào ngày thứ Bảy, 24/2, một ngày sau vụ giương ngọn cờ và một ngày trước lúc bức ảnh xuất hiện, các phóng viên tiếp tục tô vẽ cho huyền thoại về trận đánh ở Suribachi:

        Tiến đến suribachi trong trận đánh dữ dội

        Đường đến chân núi lửa cháy vì súng phun lửa trước khi tiến lên núi lửa

        TQLC lên đỉnh khi Nhật ném lựu đạn và nã súng như mưa


        Các chàng trai của Đại đội E hẳn đã gào lên phản đối những ngôn từ cường điệu ấy, nhưng tờ The New York Times vẫn tiếp tục đăng tải. Suribachi là hiện thân của quỷ dữ “tỏa hơi nước và khói núi lửa”, quân Nhật “lăn những quả lựu đạn xuống triền núi dốc cho nổ tung trước mặt lính TQLC đang tiến lên” trong khi lính TQLC “yêu cầu dây thừng và băng ca để đưa thương binh xuống qua vách đá bén nhọn.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 07:49:51 AM

        Những chuyện hoang tưởng và tin tức sai lạc đã định hình nhận thức của người Mỹ về trận chiến trong nhiều ngày trước khi bức ảnh xuất hiện. Khi đánh mạnh vào tâm tư của người Mỹ vào buổi sáng thứ Bảy ấy, bức ảnh hòa lẫân với những chuyện hoang tưởng, và có vẻ như chỉ ra chiến thắng cuối cùng trong khi trận chiến vẫn còn đang nóng bỏng.

        Tờ The New York Times chưa xong xuôi, mà vẫn tiếp tục thổi bùng ngọn lửa của lòng can trường trên đỉnh núi với bản tin cho là Boots đã “mang ra lá cờ hiệu, dài khoảng 3 feet, trong khi đại đội của anh đang chịu hỏa lực mạnh từ lính bắn tia.”

        Làm thế nào lý giải cho trò hề thiếu chính xác này? Làm thế nào một chuyến đi an bình trong 45 phút lên ngọn núi và việc giương ngọn cờ trong khung cảnh trầm lặng lại được mô tả thành trận đánh dũng cảm đến hơi thở cuối cùng?

        TQLC không bị quy kết. Không một người lính TQLC nào được dẫn là nguồn tin, và từ đấy cho đến nay không ai bị quy kết cho sự cường điệu gây nhầm lẫn.

        Nói một cách đơn giản, giới báo chí đã va vấp trong nghề nghiệp của mình. Họ đã thay thế việc săn tin trung thực bằng chủ nghĩa lãng mạn. Bị lôi cuốn bởi lòng dũng cảm hằng ngày của TQLC, làm việc ở khoảng cách an toàn nhưng ngu muội, đắm mình trong trí tưởng tượng về một trận đánh có tính phiêu lưu ly kỳ nhằm chiếm lấy một quả núi, các phóng viên đã dựng nên trận chiến anh hùng trên những sườn núi, và việc giương ngọn cờ giữa khi đạn bay vèo vèo - hoàn toàn là bịa đặt.

        Trong những năm tháng về sau, khi người ta đã nhận ra đấy là những chuyện hoang tưởng, các phóng viên bèn chĩa mối nghi ngờ về phía những người hiện diện trên đỉnh núi. Rồi một chuyện hoang tưởng mới bén rễ, được phát tán bởi những phóng viên dễ dãi vốn không chịu tìm hiểu sự thật.

        Việc giương ngọn cờ không báo hiệu trận đánh sẽ chấm dứt. Đấy chỉ là bước khởi đầu.

        Khu vực nơi Đại đội E trấn đóng được kiểm soát, nhưng không có nơi nào khác trên hòn đảo được an toàn. Những khẩu đại pháo ở phía bắc hàng đêm vần nã đạn về quả núi.

        Dave Severance - một sĩ quan rất ít khi hoảng hốt - kể lại một đợt oanh kích đặc biệt trầm trọng: “Đây là lần đầu tiên tôi kinh qua đại pháo, và tôi sợ muốn chết. Tôi bám lấy rìa miệng núi lửa thật chặt đến nỗi dần dần người nhích lên bên ngoài.”

        Vào ngày thứ Tư, 28/2, Trung đoàn 28 TQLC nhận lệnh chuẩn bị di chuyển đến hướng bắc. Nhiệm vụ của họ là thay thế Trung đoàn 27 TQLC trên mặt trận của Sư đoàn 5 vẫn còn đang chiến đấu dữ dội dọc bờ biển phía tây của hòn đảo.

        Lệnh phải nhanh chóng rời quả núi khiến Đại đội E lo lắng. Boots Thomas tâm sự với một đồng đội: “Sinh nhật thứ 23 của tôi là ngày 10/3, nhưng tôi sẽ không sống đến ngày đó.”

        Vào buổi tối ấy, Tex Stanton nhảy vào một hố cá nhân mà ông và Mike strank đã đào trước đấy không lâu. Mike đã ở đấy, và Stanton lập tức cảm nhận điều gì đấy khác lạ về ông.

        Stanton nhớ lại: “Anh ấy đang nằm ủ rũ, hai tay bắt sau đầu. Và anh im lìm. Mike luôn năng động, luôn nói năng, và tôi chưa bao giờ thấy anh bất động. Thế nên tôi hỏi: "Chuyện gì thê?" Mike trả lời: "À, không có gì. Mình chỉ đang tự hỏi mình sẽ đi về đâu với những chuyện như thế này.”

        Tex Stanton cảm thấy ớn lạnh. Ông bị xúc động mạnh đến nỗi ông nhảy ra khỏi hố cá nhân. Nhiều năm sau, Tex vẫn nói: “Anh ấy đang nói về cái chết của mình. Mike đã biết anh ấy sẽ chết.”

        Chiến trường phía bác là yếu tố quyết định. Cảnh nhàn nhã trên đinh núi Suribachi sắp chấm dứt. Khi nhìn trận chiến qua Ống nhòm, Harold Keller tóm tắt những gì Đại đội E sẽ đối mặt ngày hôm sau. Một đồng đội hỏi ông đã thấy những gì, Keller đáp ngắn gọn: “Bọn Nhật kiểm soát toàn diện; quân mình bị đánh tơi bời.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 10:53:31 PM
         
Chương 13

"GIỐNG NHƯ ĐỊA NGỤC MÀ KHÔNG CÓ LỬA"

        Họ nói: “Tướng lĩnh rút ra dược bài học trong cuộc chiến trước. Sẽ không có chuyện tàn sát. ” Tôi muốn hỏi làm thế nào chiến thắng mà không có tàn sát?

Evelyn Wauch, trong nhật ký năm 1939       

                Harold Keller không thể nào biết được mình đã nói đúng.. Qua ống nhòm, ông nhìn thấy khu vực tồi tệ: một lò lửa của bạo lực mà chẳng bao lâu sẽ gây đau khổ và chết chóc cùng cực.

        Không ai có thể tiên đoán những chuyện khủng khiếp sắp đến. Xét qua số thương vong 4.574 người và việc giương ngọn cờ chiến thằng ngày 23/2, hầu như cả thế giới đều tin rằng Trận Iwo Jima đã kết thúc. Sư thật sẽ là ngược lại.

        Đối với Đại đội E cũng như với nhiều người lính TQLC khác, trận chiến Iwo Jima thực sự chỉ mới bắt đầu.

        Vào ngày 1/3, ngày mà Đại đội E phóng vào cơn điên loạn, Harlon biên thư cho bà mẹ ở Weslaco: “Chỉ ít dòng cho mẹ biết con vẫn bình an. Con đã kinh qua mà không suy suyển gì cả. À vâng, con có thấy Carl Sims trước khi chúng con tiến quân. Anh ấy vẫn khỏe. Con đoán vào lúc này mẹ trông ngóng tin con. Thư này không dài bởi con chỉ có thể viết đến thế. Con sẽ viết thêm thư sau.”

        Trận chiến thực sự sẽ diễn ra đúng theo những gì mà Tướng Kuribayashi mong muốn. Đây sẽ là trận chiến tiêu hao trên mảnh đất không phân định chiến tuyến rõ rệt; nơi mà quân tấn công chơ vơ không được che chấn còn quân trú phòng được bảo vệ kiên cố; nơi mà mỗi tảng đá, mỗi con rãnh, mỗi khoảnh đất trống trải đều có thể che giấu đối phương đang chui rúc dưới lòng đất, sẵn sàng chịu hy sinh. Và nơi mà những người lính TQLC dũng cảm - vốn đã được huấn luyện phải tiến dù cho gặp mọi khó khăn và thiệt hại - sẽ tiến qua từng thước đất đẫm máu trong bốn tuần nơi địa ngục trần gian, cho đến lúc mùi hôi thối của những xác chết làm ngay cả đội mai táng cũng phải choáng váng và những người sống sót của cả hai bên trông giống như những bóng ma xác xơ hơn là trai trẻ sinh động.

        Họ sẽ tiến quân và hy sinh, phần lớn không được đất nước chúc lành hoặc cảm thông. Người ta không còn chú ý nhiều đến Iwo Jima nữa, dù cho cảnh xương trắng máu đào chính yếu chỉ mới bắt đâu. Vụ giương ngọn cờ trên Suribachi đã cung cấp cho báo giới một biểu tượng thuận lợi về “kết cục hạnh phúc.” Khoảng 70 phóng viên đã tháp tùng hạm đội để đi đến hòn đảo. Trong tuần lễ đâu đây biến cố, họ đã lưu lại trận địa và gửi về hàng trăm nghìn chữ cho các tờ báo, tuần san và mạng truyền thanh - chưa kể vô số hình ảnh và phim thời sự.

        Nhưng bây giờ, có vẻ như phần lớn các phóng viên này xem câu chuyện đã chấm dứt. Sau khi từ khoảng cách an toàn trên hạm đội đậu ngoài khơi họ đã bóp méo một cách tệ hại việc tiến lên Suribachi và đưa tin sai lạc về hai vụ giương ngọn cờ, các quý ông của báo giới - hoặc phần lớn trong số họ - rút lui. có nhũng trận địa khác cần được theo dõi; có nhũng vùng xa lạ khác cho những bản tin mới.

        Bây giờ, người ta không biết đến nỗi đau đớn sắp diễn ra. Bây giờ, người ta không ăn mừng lòng dũng cảm.

        Sau khi đã tụ họp lại với đơn vị tiền thám xuống từ Suribachi đêm trước, Đại đội E sẵn sàng tham gia trận tiến công lớn lao trên vùng cao nguyên phía bắc. Bây giờ, chết chóc sẽ bắt đâu tệ hại hơn.

        Đại đội E xông vào vòng chiến cùng với những đơn vị còn lại của Trung đoàn 28 dọc bờ biển phía tây, trong vùng hành quân của Sư đoàn 5. Đấy là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm. Địa hình không có gì giúp che chắn - những cao nguyên đá vươn lên trên những vách dốc, những vực cạn; “giống như địa ngục mà không có lửa” theo lời một phóng viên. Trung đoàn 28 tung tất cả 3 tiểu đoàn vào trận địa, và pháo thủ ẩn khuất của Nhật lại tiếp tục gặt hái thành quả. Đại đội E phải vượt qua địa hình gồ ghề trống trải chống lại một rặng đồi được phòng vệ vững chác.

        Hòa lực quân Nhật không hề tỏ ra tôn trọng những anh hùng.

        Một trong số những người đầu tiên trúng đạn là Chuck Lindberg, bị bắn vào cánh tay. Lập tức cha tôi có mặt bên ông (Pee Wee Griffiths nói với tôi: “Lần đầu tiên tôi thấy cha anh là lúc ông ấy đang chạy. Có ai đấy đang la thét, và ông ấy đang chạy”). Cuộc chiến của người anh hùng cầm súng phun lửa đã chấm dứt. Ông được di tản khỏi hòn đảo.

        Ít phút sau, lời tiên tri về điều đen tối của Mike Strank biến thành sự thật.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 10:56:09 PM

        Khi Mike đang dẫn đầu Ira, Harlon, Franklin cùng vài lính TQLC khác tiến qua một vùng đất nguy hiểm thì một nhóm lính bắn tia Nhật nã súng. Jesse Boatwright bị một viên đạn vào bụng, vết thương không nguy hiểm nhưng đủ để đẩy ông sa vào một hố đạn. Đồng đội của ông cùng chạy tìm chỗ ẩn núp. Mike và vài người khác nhào đến phía sau một mô đá trông có vẻ như che chắn cho họ được ba phía. Mặt trống trải duy nhất hướng ra biển, nơi có những tàu khu trục của Mỹ đang thả neo. Khi quân bắn tia vẫn nổ súng, Mike dò xét tình hình với nhóm kỳ cựu. Pee

        Wee Griffiths, L.B. Holly và Franklin nghiêng mình về phía ông, chờ nhận lệnh.

        Mike bàn về những lối thoát hiểm. Rồi ông có vẻ như chìm vào nỗi riêng tư. Sau một lúc, ông phá bầu không khí im lặng bằng câu nói bí ẩn với L.B.: “Holly, bạn biết mà, đấy sẽ là một kinh nghiệm chết tiệt.” L.B. chờ cho ông nói tiếp, rồi cuối cùng hỏi: “Anh muốn nói về chuyện gì?” Mike không đáp, mà chỉ đến một người lính TQLC đang nằm sóng soài cách ít bước.

        Nhiều năm sau, Holly nghĩ lại: “Ý anh ấy nói với tôi là anh ấy sẽ chết. Và đúng như thế: hai phút sau, Mike chết.”

        Joe Rodriguez nhìn thấy sự việc ở khoảng cách gần; chính ông cũng suýt tử vong. Ông kể: “Mike kêu tôi đến. Anh ấy đang quỳ một chân với Franklin và những người khác chung quanh, chuẩn bị vẽ ra phương án trên mặt cát để dẫn chúng tôi thoát ra. Nhung trước khi anh ấy có thể cất tiếng thì một quả đạn nổ tung.”

        Franklin và Holly bị sức nổ đánh bật ngã xuống, nhung không bị thương. Pee Wee Griffiths bị dính mảnh đạn trên mặt và vai, tạm thời bị mù. Rodriguez tinh dậy vài giây sau với “cảm giác ấm trong lồng ngực, không thể cử động hai chân.”

        Mike Strank không tỉnh lại.

        Quả đạn rơi ngay xuống vị trí của Mike. Sức nổ khoét một lỗ thủng trong lồng ngực xé toang quả tim ông.

        Không người lính Nhật nào có thể báo công về việc này. Hầu như chắc chắn là quả đạn đến từ một tàu khu trục của Mỹ, xuyên qua mặt trống trải duy nhất của mô đá. Người di dân từ Tiệp Khắc đến nước Mỹ, sinh cùng ngày sinh của binh chủng TQLC, đang phục vụ chiến dịch thứ ba cho đất nước đã tiếp nhận ông, người trung sĩ thân thiện với thuộc hạ, bị đốn ngã vì hỏa lực của quân bạn.

        Melvin Duncan, mới 19 tuổi, cúi xuống ôm lấy Mike trong hai cánh tay. Sau này, ở tuổi 72, Melvin xúc động nhấc đến lòng kính trọng mà ông và những người khác dành cho Mike: “Nếu có cách nào đấy cho tôi chết thay Mike, thì tôi đã sẵn lòng.”

        L.B. Holly nhẹ nhàng đặt chiếc mũ sắt của Mike lên đầu người lính ngã xuống và nói: “Mike, bạn là người lính TQLC tốt nhất mà tôi từng biết.” Rồi Holly tháo ra chiếc đồng hồ của Mike và trao cho Harlon, người đã xem Mike là thần tượng. Bây giờ, Harlon là tiểu đội trưởng.

        Và rồi trận chiến tiếp tục.

        Quân Mỹ tiến chậm chạp xuyên qua vùng cao nguyên đá sỏi lộng gió. Trung đoàn 28 đã xuất quân lúc 9 giờ sáng. Đến 9 giờ 30, quân Nhật nổ súng từ phía sau. Cách bờ biển gần 700 m, trên trận tuyến rộng gần 200 đến 450 m, Trung đoàn bị kẹt giữa vùng địa hình khó khăn của những mô đá và vực núi. Dưới mặt đất là mê cung của hang động và địa đạo. Như một người lính sau này viết: “Nếu máy bay thả một quả bom hạng nặng xuống một cửa hang, khói sẽ tỏa ra từ những cửa hang khác, đôi lúc ở khoảng cách khá xa.”

        Trung đoàn 28 bị cầm chân trong gần 4 tiếng đồng hồ, các chàng trai phải nằm bẹp chịu trận hỏa lực rót xuống đều đặn, rồi mới có thể tiếp tục di chuyển.

        Di chuyển mà không được che chắn chỉ tạo thêm hiểm nguy. Đại đội E dàn đội hình thành hàng dài, chạy nháo nhào trên đá cứng về hướng mũi đất phía bắc của hòn đảo. Hỏa lực nhằm về phía họ chỉ rải rác nhưng vẫn gây thiệt hại. Khi chạy theo Hank Hansen qua một nền đất trống, cha tôi thấy ông này ngã xuống. Không ai nghe tiếng nổ, và lúc đâu cha tôi nghĩ người trung sĩ đã vấp ngã. Nhưng Hansen không đúng dậy, và trong khi những người lính TQLC khác chạy tản ra, cha tôi chạy đến kéo ông vào một hố đạn pháo gần đấy.

        Viên đạn đã xuyên qua lưng và trổ ra bụng của Hansen. ít tháng sau, cha tôi trả lời phỏng vấn của một tạp chí: “Đấy là vết thương nặng, nhưng chúng tôi được huấn luyện không nên bỏ cuộc. Tôi kêu ai đấy cầm chai plasma cho tôi trong khi tôi bịt bông băng cho anh ấy. Đối với tôi, đấy là điều may mân nhất mà tôi đã từng làm.”

        Hansen đang hấp hổi, nhưng nhờ tiếng gọi trợ giúp của cha tôi mà đã cứu được chính mạng sống của ông. Tex Hipps đi xuống cái hố để hỗ trợ. Rồi ông nhìn qua vai cha tôi và kêu lên: “Coi chừng, Bradley!” Bốn lính Nhật, một người cầm gươm, đang xông đến hò hét “Banzai”. Hipps bóp cò khẩu Mi bẳn hạ viên sĩ quan và một lính Nhật; hai người kia rút lui. Bây giờ có thêm hai lính TQLC chạy vào, ném lựu đạn về phía lính Nhật đang mất dạng trong một cửa địa đạo. Sau khi dọn dẹp, lính Mỹ tìm ra mười tử thi đối phương.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 10:56:36 PM

        Nhưng Hank Hansen bỏ mình. Giống như quá nhiều chàng trai trẻ, ông chết trong vòng tay của cha tôi. Cha tôi tháo ra chiếc đồng hồ của Hank, thề sẽ trao cho mẹ người đã khuất.

        Nhiệm vụ của Block Harlon làm tiếu đội trưởng thay thế Mike Strank chỉ kéo dài cho đến chập tối.

        Khi trời chạng vạng, anh chàng từ Bang Texas di chuyển với tiểu đội dưới quyền, ra lệnh cho mọi người đào hố cá nhân và bố trí vùng hỏa lực.

        Khi Tex Stanton đã thu mình dưới hố cá nhân của ông, Harlon - vẫn với chiếc mũ sẳt đội lệch một bên theo cách cố hữu - đi đến miệng hố và hỏi: “Hauskins đâu rồi?”

        Stanton đáp: “Ở đàng kia”, và tiếp: “Harlon, anh nên thấp người xuống.”

        Melkin Dulcan nhớ lại: “Rồi Harlon nổ tung. Anh ấy bị bắn tung lên trời; chung quanh anh là bụi đất và những mảnh vụn.”

        Stanton có thể thấy Harlon đã bị chẻ đôi từ phần háng cho đến cổ. Ngôi sao bóng đá Mỹ - chàng trai có thời đã cưỡi một con ngựa tráng dọc Sông Rio Grande - đứng đấy trong một khoảnh khác, hai bàn tay đây một bọc nặng màu đỏ. Ông kêu lên trong tiếng nghẹt thở: “Bọn nó giết tôi!” Ông giãy giụa với khúc ruột của mình thêm một lúc, rồi ngã xuống đất, mặt úp xuống mà tắt hơi.

        Tấm lưng của ông - đã tạo nên một trong những đường nét khích động nhất trong bức ảnh giương ngọn cờ - bây giờ nằm im lìm, phơi dưới ánh nắng chiều tà. Lá thư ông viết cho mẹ Belle - nói mình đã kinh qua mà không suy suyển gì - vẫn chua rời khỏi hòn đảo. Chỉ đến ngày 14/3, thư mới được đóng dấu gửi đi.

        Vào ngày Mike và Harlon nằm xuống, Dân biểu Joseph Hendricks của Bang Florida phát biểu trong tòa nhà Hạ viện Hoa Kỳ để trình dự thảo luật cho phép dựng đài tưởng niệm. Việc này nhằm ghi nhớ “hành động anh hùng của TQLC như được thế hiện bởi những người lính TQLC trong bức ảnh này. Tôi đã ghi trong dự thảo luật rằng bức ảnh này là hình mẫu cho đài tưởng niệm bởi vì tôi tin không có sản phẩm trí tuệ của nghệ nhân nào có thể sánh bằng bức ảnh sinh động như thế này. Tôi chưa từng thấy bức ảnh nào gây ấn tượng đến thế.”

        Cùng lúc, Maurine Block đang van nài mẹ Belle không nên cứ nói với mọi người rằng đấy là Harlon ở chân cột cờ trong bức ảnh. Đây chỉ là tấm lưng của một lính TQLC. Không ai biết chắc đấy là ai.

        Nhưng mẹ Belle thì biết chắc. Câu trả lời của bà là câu của một người mẹ: “Mẹ đã thay nhiêu tấm tã trên cái mông của thằng bé ấy. Mẹ biết rõ con của mẹ.”

        Nhiệm vụ của Đại đội E trong hai ngày 2 và 3/3 là tiến quân. Mục tiêu của họ là một dãy những chỏm đá thấp vắt ngang những vực cạn đầy vật liệu đổ nát. Quân Nhật đang đóng quanh những chỏm đá này, lợi dụng thiên nhiên che chắn cũng như mê lộ hang động và địa đạo của họ.

        Trời đổ mưa và nổi những cơn gió giá lạnh. Các chàng trai bó mình trong tấm pông-sô mà vẫn run rẩy. Trong đêm, hòn đảo tắm trong ánh sáng ma quái của hỏa châu. Glen Cleckler nhớ lại: “Lúc nào cũng có chuyện xảy ra. Chúng tôi luôn tự hỏi lúc nào nó sẽ xảy đến cho mình.”

        Cho đến ngày 3/3, vân còn khoảng 16.000 quân Nhật trong số 22.000 người ban đầu. Quân Mỹ chịu 16.000 thương vong, với 3.000 người tử trận. Vào ngày này, Trung tá Chandler Johnson, Tiểu đoàn trưởng có tính nóng nảy của Tiểu đoàn 2 - người đã lưu giữ lá cờ đầu tiên trên đỉnh Suribachi - bị tan nát thân thể, một khúc xương nơi này, một nhúm thịt nơi khác.

        Những người anh hùng khác tiếp tục ngã xuống. Trung sĩ nhất Boots Thomas - người đã dẫn đâu mũi tiến công đến chân núi Suribachi và được phỏng vấn trên đài phát thanh CBS -  nhận lấy điện thoại dã chiến do Phil Ward trao cho. Trong khi ông đang trả lời cuộc gọi, một viên đạn của lính bắn tỉa Nhật bản trúng khẩu súng trường của ông làm vuột khỏi tay. Ông không nao núng. Viên đạn kế tiếp xuyên qua miệng khiến ông tắt hơi lập tức.

        Chiến trận diễn ra một cách khác nghiệt trên địa hình chật chội. Năm người của Sư đoàn 5 được thưởng Huân chương Danh dự chỉ trong ngày này, lập kỳ lục mới trong chiến tranh hiện đại.

        Quân y tá George Wahlen, 20 tuổi, từ Ogden của Bang Utah, là một trong số năm người ấy. Ông phải xa mặt trận sau khi từ chối rời đồng đội dù đã bị thương nặng ba lần. Lần thứ nhất, một quả lựu đạn nổ ngày 16/2, khiến cho mắt của ông bị mù; ông phó mặc và cũng không màng đến những mảnh đạn ghim vào mông và hai chân. Ngày 2/3, một quả đạn cối sướt một mảng thịt vai ông, nhưng ông vẫn tiếp tục chăm sóc cho người bị thương quanh mình. Cuối cùng, vào ngày 3/3, một quả đạn cối phá nát chân phải ông. Nhiều năm sau, Wahlen kể cho tôi: “Tôi nghe mấy anh khác la cầu cứu. Tôi cố đi đến chỗ họ nhung không đi được. Tôi tự băng bó và chích cho mình một mũi morphine.” Với một bàn chân chỉ còn dính với phía trên một chút, ông bò gần 50 m đế sơ cứu cho một chàng trai khác trước khi được tải thương.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 10:57:57 PM
   
        Tôi hỏi: “Tại sao?” George Wahlen trả lời: “Bởi vì tôi quan tâm đến đồng đội của mình.”

        Chính vào ngày 4/3 mà những người lính TQLC bị bầm giập hiểu được tại sao họ phải chiến đấu và hy sinh trên hòn đảo bé tí xấu xí này. Một chiếc oanh tạc cơ B-29 có tên Dinah Might đang bị hư hại sau khi trở về từ cuộc không tập Tokyo, trở thành chiếc máy bay đầu tiên hạ cánh khẩn cấp xuống Iwo Jima. Những người lính TQLC ở gần đấy kinh ngạc thấy phi hành đoàn nhảy ra khỏi chiếc máy bay rồi cúi hôn mặt đất. Mặt đất đang rung chuyển vì đạn pháo. Lính TQLC nghĩ phi hành đoàn đã đáp xuống địa ngục. Ý nghĩ của họ đổi khác khi một người trong phi hành đoàn tỏ ra vui mừng vì không phải đáp xuống Thái Bình Dương, la to: “Cảm ơn Thượng đế vì các bạn TQLC!”

        Mưa và giá lạnh bao trùm lấy quân Mỹ vào ngày này. Bill Genaust - người đã quay đoạn phim màu cảnh giương ngọn cờ và hỏi “Tôi có che khuất anh không, hở Joe?” - đi vào một hang động đã “an toàn” để hong khô người. Việc cuối cùng mà ông làm là bật sáng chiếc đèn pin. ông hưởng thọ 38 tuổi, để lại người vợ sau 17 năm chung sống. Người ta không tìm được thi thể ông1.

        Vào ngày này, Joe Rosenthal đáp xuống Guam, và vô tình tạo nên chuyện hoang tưởng là bức ảnh của ông - giờ đã nổi tiếng -  được “dàn dựng.”

        Như sau này ông kể lại:

        “Khi tôi bước vào tổng hành dinh báo chí, một phóng viên đi đến nói: "Chúc mừng, Joe, về bức ảnh giương ngọn cờ trên Iwo".

        Tôi nối: "Cảm ơn".

        Anh-ấy nói: “Đấy là bức ảnh đẹp. Anh có dàn dựng không?”

        Tôi đáp: "Đương nhiên rồi".

        Tôi nghĩ ý anh ấy nói về bức ảnh chụp nhóm đông mà tôi dàn dựng với lính TQLC giơ tay và reo hò, nhưng rồi một người khác cầm bức ảnh giương ngọn cờ đi đến, mà lần đâu tiên tôi mới thấy.

        Tôi nói: "Tốt lắm, được rồi, nhưng tôi không dàn dựng bức ảnh này. Tôi ước gì mình nhận công lao dàn dựng, nhung không được".

        Nếu tôi có dàn dựng thì như thế là dàn dựng tồi: đáng lẽ tôi đã phải chọn ít người hơn, vì sáu người là quá đông trong bức ảnh đến nỗi một người - Trung sĩ Michael Strank - chỉ thấy được hai bàn tay.”

        Mẩu đối thoại trên sẽ ám ảnh Rosenthal suốt đời ông. Vài phóng viên nghe ông nói đã cho rằng không phải ông nói đến bức ảnh theo kiểu “gung-ho” mà là bức ảnh chụp trước, giờ đã trở nên nổi tiếng. Chẳng bao lâu, lời gièm pha lan rộng: rằng bức ảnh của việc giương lá cờ thay thế - mà bây giờ nhiều người tin rằng bức ảnh giương ngọn cờ duy nhất - là giả tạo, là cảnh dàn dựng (Còn bức ảnh của Lou Lowery về việc giương lá cờ đầu tiên, được gửi về Mỹ chậm hơn, thì không gây ấn tượng nào cho công luận Mỹ).

        Sự gièm pha càng tệ hại hơn do lòng đố kỵ của vài phóng viên thích đặt nghi vấn về bức ảnh vốn đã làm mờ khuất công việc của họ, và do sự hờ hững của giới truyền thông nên không muốn kiểm tra sự thật. Tuần báo Time trên chương trình truyền thanh của mình đã tường thuật sự “dàn dựng” mà không màng kiểm chứng lời đồn đại. Ngay sau khi về đến nước Mỹ, Joe Rosenthal cố gắng giải thích. Hãng AP yêu cầu tờ Time xin lỗi công khai, và được chấp nhận. Tiếp theo sau là những tường thuật sai lạc khác, và thêm lời xin lỗi. Bức ảnh chụp với tốc độ 1/400 giây của Joe Rosenthal mang đến niềm tự hào lẫn nỗi chán ngán cho đời ông.

        Trở lại Iwo Jima, Don Howell đã trải qua thời khắc khủng hoảng và anh dũng. Khi cùng với vài đồng đội bị lính Nhật bao vây trong một khu vực hạn hẹp, Howell đã tự biến mình thành một cỗ máy sát thủ như làm xiếc.

        Trong khi chạy lùi về qua một địa hình nguy hiểm, né tránh làn đạn, ông bình tĩnh tháo một dây đạn trên vai và khéo léo nạp vào khẩu súng máy của mình, rồi ria vào đám lính Nhật trong khi đồng đội của ông lủi vào nơi an toàn. Vì hành động này, ông được trao tặng Huân chương Thập tự Hải quân.

        TQLC chịu tổn thất nặng nề, nhưng ít nhất có một người Nhật thấy rõ số phận mình sẽ ra sao. Tướng Kuribayashi gừi báo cáo qua sóng vô tuyến về Tokyo: chẳng bao lâu nữa Iwo Jima sẽ

        thất thủ, tạo nên “tai họa cho đế quốc chúng ta. Tuy nhiên, tôi lấy làm an ủi khi thấy những sĩ quan và binh sĩ dưới quyền hy sinh mà không hối tiếc sau khi đã chiến đấu qua từng tấc đất...”

        Cha tôi vẫn tiếp tục được may mắn. Vào ngày 4/3, thêm một lần ông thoát chết trong gang tấc.

        Ông kể cho em trai Tom tôi nghe là khi đang chữa trị cho một lính TQLC bị thương trong một hố đạn pháo, ông nhìn lên và thấy một lính Nhật xông đến với một lưỡi lê.

        Ông nhớ lại: “Cha hạ anh ta bằng khẩu súng lục.”

        Tom hỏi: “Rồi cha làm gì?”

        “Cha kết thúc công việc và chạy đến người bị thương kế tiếp.”

        “Cha không kiểm tra xem ông kia có chết không hay sao?”

        “Đấy không phải là công việc của cha.”

------------------
        1. Trong khi TQLC thu thập xác đồng đội để an táng tại nghĩa trang của họ trên Iwo Jima, họ không đi vào hang nơi Bill Genaust ngã xuống đế thu thập xác ông vì cho rằng hang này không an toàn. Thay vào đó, họ bịt kín miệng hang bằng xe ủi đất.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 10:58:41 PM

        Nhưng vài người thân cận nhất với cha tôi không được may mắn như thế. Sau vụ việc trên, cha tôi trở lại trung đội của mình nhưng không tìm thấy người bạn đặc biệt Iggy.

        Ralph Ignatowski đã đi cùng với cha tôi ngay trước khi cha tôi đến chữa trị cho anh lính TQLC trong hố đạn pháo. Bây giờ, Iggy không thấy đâu. Cha tôi hỏi han vài anh lính TQLC về Iggy. Không ai biết.

        Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 2 được thế chỗ. Đại úy Severance dẫn Đại đội 2 trở về phía nam, hướng đến Suribachi. Ông dẫn họ đi bơi. Động thái này là đặc thù của Severance: Phút trước còn là người chỉ huy chiến trường nghiêm khác và điềm tĩnh, ban hành mệnh lệnh thông minh và đơn giản trong lửa đạn; phút kế tiếp là người dẫn dắt nhạy cảm và sâu sắc, theo cách của Mike Strank. Dave Severance được tặng thưởng Huân chương Sao Bạc vì sự chỉ huy bậc thầy đối với Đại đội E suốt chiến dịch Iwo Jima.

        Bây giờ, trên bãi biển phía tây, những chú nhóc bầm giập duới quyền Dave xếp đống vũ khí mà lao xuống nước. Đấy hẳn là cảnh không tưởng đối với họ; cũng là đối với tôi khi tôi cố mường tượng ra: Một nhóm lính TQLC người ngợm cáu ghét, dạn dày trận mạc, đã từng đối mặt với cái chết trong những hố cá nhân bẩn thỉu, bây giờ biến thành những chú nhóc trần truồng bơi lội và té nước trong lòng đại dương.

        Trong khi họ đang vui đùa, ấn bản ngày 5/3 của tuần báo Time đang được đưa đến các sạp báo. Bức ảnh nổi tiếng được in trang bìa,với ghi chú:

        VINH QUANG NGÀY CŨ TRÊN NÚI SURIBACHI NGANG BẰNG VỚI THUNG LŨNG FORGE, GETTYSBURG VÀ TARAWA

        Những chàng trai đang vui đùa trong sóng nước hẳn có thể nghĩ họ đã trượt chân khỏi rìa quả địa cầu rồi rơi vào một cõi xa xôi mà những người thân của họ không biết đến và không liên lạc được. Họ hẳn sẽ lấy làm ngạc nhiên thích thú khi biết rằng người Mỹ đang dõi theo sự chiến đấu của họ. Bài báo của tờ Time nói rõ điều này: “Không trận đánh nào trong Thế chiến II, ngay cả Trận Normandie, được nhân dân Mỹ nghe ngóng sâu sát đến thế.”

        Trong thời gian Đại đội E thư giãn với sóng nước Thái Bình Dương, cha tôi vẫn băn khoăn về Iggy. Ông hỏi han nhiều người; nhưng lúc gần đây không ai thấy Iggy. Ông lầy làm bứt rứt vì chuyện bí ẩn này. Tình huynh đệ chi binh đã lan tỏa ra hành vi của lính TQLC. Không thể nào Iggy rời đại đội mà không nói gì với ai, mà không có lý do.

        Riêng việc Đô đốc Spruance rời đi thì không phải là điều bí ẩn. Vị tướng chỉ huy hải quân trong vùng đã đến thị sát mặt trận, và rời hòn đảo ngày 5/3. Trận chiến còn kéo dài thêm 21 ngày nữa.

        Ngày kế tiếp, Đại đội E vẫn lưu lại gần bờ biển phía tây.

        Ngày 7/3, Đại đội lại di chuyển, hướng đến bãi chiến trường đâm máu phía bắc.

        Dân biếu Mike Mansfield của Bang Montana, đại sứ tương lai tại Nhật Bản, phát biểu trước Hạ viện một đề nghị khiến cho trí tưởng tượng của đồng nghiệp ông bay bổng. Một chuyến Du hành Trái phiếu - chuyến thứ bảy kể từ khi cuộc chiến bắt đầu -  đang được tổ chức để gây quỹ cho nỗ lực chiến tranh. Trái phiếu của chính phủ đã giúp trang trải cho chi phí trong hai cuộc đại chiến. Những chuyến Du hành Trái phiếu là những sô diễn hoành tráng đi khắp nước Mỹ, do Bộ Tài chính tổ chức. Thiên hạ tụ tập trong sân vận động hoặc quảng trường trung tâm thành phố để nghe các ban nhạc trình bày và xem các ngôi sao điện ảnh Holywood cùng anh hùng chiến tranh hô hào mua trái phiếu.

        Mansfield kêu gọi lấy hình ảnh giương ngọn cờ làm biểu tượng cho chuyến đi lần này, để “chúng ta góp phần vào việc giữ cho lá cờ tung bay ở quê nhà cũng giống như họ đã làm khi giương ngọn cờ trên bãi chiến trường nước ngoài.” Đề xuất của ông được đón nhận nồng nhiệt.

        Cùng ngày, một nữ quân y tá tên Norma Harrison, từ Mansfield của Bang Ohio, đáp xuống Iwo Jima, chặng đầu tiên đi qua 7 nơi. Bà có chuyên môn về chăm sóc thương binh trên máy bay. Bà nhớ lại: “Tôi thấy hòn đảo được bao quanh bởi tàu hải quân xa tận chân trời. Khi một chiến hạm nã pháo, tôi cảm thấy sức ép lan đến cả nghìn mét. Giống như là chính mình sống trong một đoạn phim thời sự.”

        Mỗi khi đáp xuống đất, đoạn phim của Norma trở nên gan góc. “Không có thời giờ đế mà sợ hãi. Thương binh nằm trên cáng đặt trong một nhà lều lớn. Tôi chưa bao giờ thấy những vết thương như thế.”

        Norma và những y tá khác (không có bác sĩ trên máy bay) giúp chuyển những chàng trai da thịt bị bầm giập và xương cốt bị gãy lên máy bay. Bà kể: “Đạn pháo nổ ầm ầm nhưng thương binh đều trầm lặng. Một quân y tá và tôi thấy một người qua đời, và chúng tôi quyết định không phủ mặt anh vì những người khác chưa nhận ra. Nhũng chuyến tải thương đều trầm lặng.”

        Norma Harrison nhớ lại những chàng trai đang mang thương tích đã ngỡ ngàng và cảm kích đến thế nào - “nhột nhạt gần chết” - khi trông thấy một phụ nữ. Một anh chàng hỏi bà có thoa son môi hay không. Bà trả lời “Có”, và tự hỏi tại sao chú nhóc muốn biết.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 11:01:07 PM

        Chú nhóc hỏi: “Cô làm ơn thoa chút son môi được không? Tôi muốn nhìn thấy một phụ nữ thoa son.”

        Norma Harrison tiếp tục làm y tá trong nhiều năm, cả trong chiến tranh lẫn thời bình. Bà đã nhìn thấy nhiều loại thương binh. Bà đã chăm sóc thương binh của Hải quân và TQLC. Nhưng tâm khảm bà vẫn mãi ghi hình ảnh những người lính TQLC này ở Iwo Jima.

        Bà nói: “Sự khác biệt là tinh thần của họ. Không hề có ai tỏ lộ nản chí. TQLC có esprit de corps. Họ có thể bị bỏng và mang đầy mảnh đạn, đang đau đớn, nhưng không hề nản chí.”

        Vào ngày 8/3, Đại đội E tìm ra Iggy. Ông đã bị tóm lấy, có lẽ từ phía sau, rồi bị kéo vào một hang đầy lính Nhật. Vì là quân y tá của Đại đội, cha tôi có nhiệm vụ làm việc với những gì còn lại của thi thế Iggy sau ba ngày bị tra tấn dã man. Tôi tin chắc ràng cú sốc mà cha tôi kinh qua đã khiến cho ông về sau không muốn nhớ gì nhiều đến những hồi ức trong chiến tranh.

        Chick Robeson trúng đạn vào lúc sẩm tối ngày 8/3 khi cứu mạng sống của cha tôi. Ông đã chạy ra một khoảng trống đế cứu chữa một lính TQLC. Khi hoàn tất công việc, ông kêu đồng đội bắn yểm trợ cho mình. Chick và vài người khác đứng thằng người lên, không có gì che chân, và vãi đạn về hướng đối phương trong khi cha tôi chạy về. Một viên đạn của Nhật bẳn rơi khẩu BAR khỏi tay Chick và gây vết thương trên ngón tay. Ngay khi về đến chỏ an toàn, cha tôi lo cứu chữa cho Chick. Robeson sau này kể là một bác sĩ giải phẫu cho ông đêm ấy hỏi: “Này anh con trai, có thích rời khỏi hòn đảo này không?” Chick nghĩ điều này nghe hay hay.

        Ngày hôm sau, Trung đoàn 28 tiến từng bước chầm chậm không đến 150 m, xen kẽ những thời gian đơn điệu và nguy hiểm. Địa hình hiểm trở khiến cho xe tăng không thể yểm trợ họ được. Bảy người trong Tiểu đoàn 2 hy sinh.

        Ngày hôm sau vẫn như thế.

        Đối với Dân biểu Homer Angell của Bang Oregon khi đăng đàn trổ tài hùng biện, thì bức ảnh giương ngọn cờ thể hiện “tinh thân dũng cảm Mỹ bất diệt.” Cách nửa vòng trái đất, những chàng trai không có vẻ bất diệt như thế. Đến thời điểm này -  thời điểm vượt xa những gì mà các chiến binh khác trong lịch sử đã chịu đựng - hiệu năng chiến đấu của TQLC có dấu hiệu suy giảm; các chàng trai đã bắt đâu trông giống như những bóng ma còn sót lại của một lực lượng chiến đấu.

        Họ để cho râu ria mọc xồm xoàm. Bộ quân phục rách bươm, dày lên do mồ hôi và cáu ghét. Môi phù mọng, đen sì; miệng trễ xuống như thể đang bị khó thở.

        Hoạt động hằng ngày - cực kỳ chán ngán và hãi hùng - đang biến họ thành những người máy. Mỗi ngày đều như nhau: pháo binh bắn yểm trợ đợt buổi sáng, rồi bò qua địa hình trống trải, rồi đợt bắn yểm trợ buổi xế chiều, rồi bò thêm một đoạn. Khi màn đêm buông xuống, các chàng trai co rút trong hố đạn pháo hoặc khe đá để trú thân. Sáng hôm sau, lại bắt đầu mọi chuyện.

        Họ đã tiến vào vũ trụ đen tối của chiến trận sâu hơn là bất cứ chiến binh nào trước đây. Như Richard Wheeler sau này viết: “TQLC được yêu cầu phải thi thố hầu như quá sức chịu đựng của con người, về cả thể chất lẫn tinh thần. Lịch sử đây rẫy những ví dụ về số thương vong cao trong chiến tranh, nhưng ít khi đoàn quân nào đã chịu thương vong hơn phân nửa lại được ra lệnh tiếp tục tấn công, đặc biệt khi đối diện với tuyến phòng thủ kiên cố. Nếu không có esprit de corps như TQLC thì không đoàn quân nào có thể trụ được.”

        Một trong những người lính TQLC ít khi lộ vẻ đau đớn hoặc mệt mỏi là Ira Hayes. Jack First còn nhớ Ira là con người giỏi chịu đựng, luôn chú tâm vào nhiệm vụ. First nói: “Có vài đêm tôi với anh ấy chia chung một hố cá nhân. Anh ấy có tính trầm lặng, ít nói năng.” Lloyd Thompson cũng đồng ý như vậy: Ông nói: “Khi gặp anh ấy, tôi thường kêu: "Có khỏe không, Tù trưởng1?" Mọi người đều tôn trọng anh ấy như là một người lính TQLC.” Còn Phil Ward, người đã chia chung một hố cá nhân với Ira suốt một tuần ở phía bắc, nói: “Tôi lấy làm vui được anh ấy canh gác cho tôi2.”

        Nhung đôi lúc bản chất con người thật của Ira cũng lộ ra. Bill Ranous kể: “Một đêm, có một lính Nhật lẻn đến gần hố cá nhân của chúng tôi; Ira bắn chết anh ta. Sáng hôm sau, tôi nhận ra gương mặt Ira đượm buồn khi anh nhìn thi thể người lính Nhật. Anh ấy lộ vẻ xúc động.”

-----------------
        1. Như đoạn trước đã ghi, “Tù trưởng” chỉ là biệt hiệu do đồng đội Ira đặt cho để nói đùa thân mật; Ira không phải là tù trưởng thực sự.

        2. Hai người chia nhau một hố cá nhân thì thay phiên nhau: một người ngủ và người kia canh gác.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 11:01:37 PM

        Khi các chàng trai đã cam chịu đời sống vĩnh cửu trong hỏa ngục mà vất vả tiến từng bước qua cuộc hành quân xem dường bất tận trên Iwo Jima, họ bẳt đầu đạt thành quả.

        Vào ngày 9/3, trên 300 chiếc B-29 - không còn bị chiến đấu cơ Nhật từ Iwo Jima quấy rầy - mở một trong những đợt oanh kích tàn khốc nhất xuống Tokyo. Họ thả trên 1.600 quả bom cháy khiến cho gần 100.000 người tử vong, 125.000 người bị thương, 1,2 triệu người mất nhà cửa. Số thương vong trong những cuộc oanh kích này còn cao hơn so với hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki được thả sau đó 5 tháng.

        Ngày kế trên Iwo Jima, hoạt động của cha tôi lại làm cho Dave Severance chú ý. Khi trung đội của cha tôi bị hỏa lực Nhật chặn đứng, một người lính ngã xuống. Trong báo cáo đề xuất cho cha tôi nhận Huân chương Thập tự Hải quân, Dave Severance viết: “Khi đợt tấn công thứ hai bắt đâu, dưới hỏa lực yểm trợ của trung đội tấn công, Bradley chạy đến người bị thương để chăm sóc giữa làn hỏa lực của địch, cho đến khi biết chắc người kia đã chết.”

        Lính TQLC vẫn tiến từng bước trên mặt đất khô cứng của Iwo Jima, vừa hạ sát đối phương vừa bị đối phương hạ sát. Vào ngày 11/3, hai đại đội tiến được không quá 25 m nhưng chịu 23 thương vong. Ngày hôm sau, họ bị chặn đứng với 27 thương vong. Cuộc chiến đấu của họ vẫn khó khăn như thế.

        Thượng Nghị sĩ Joseph O’Mahoney của Bang Wyoming, khi phát biểu cảm nghĩ đang dâng cao cả nước, đề xuất trên diễn đàn Thượng viện là cho phát hành một con tem mang hình Bút Ảnh.

        Và vào ngày này, cuộc chiến của cha tôi đến hồi chấm dứt.

        Sam Trussed, người đã bị thương cùng với cha tôi, nhớ rõ việc này. Cả hai đang ẩn núp ở chân một vách đá cùng với vài lính TQLC. Họ nghĩ mình được vách đá trên đâu che chắn, nhưng một quả đạn cối bắn trúng vách đá, văng ra nhiêu mảnh thép bay tung tóe. Trussell kể: “Tôi bị mù, và Doc kéo tôi vào một cái hố. Rồi anh ấy dìu tôi về trạm xá. Tôi nghe vài anh nói hai chân Doc chảy máu, nhưng tôi không thể thấy vết thương của anh ấy nặng nhẹ ra sao.”

        Cha tôi bị nhiều mảnh đạn ở đùi, bắp chân và bàn chân bên phải, cùng với bàn chân bên trái. Nhưng lúc đầu, ông vẫn không chịu ngưng công việc. Rolla Perry còn nhớ thoáng thấy ông chạy ngang: cả hai chân ông đều chảy máu, nhưng ông vẫn lo chăm sóc 5 người lính khác bị thương. Sau này, Dave Severance viết bản báo cáo về cha tôi: “Khó mà tính hết anh ấy đã cứu sống bao nhiêu mạng người qua việc cứu chữa nhanh chóng và thạo tay nghề, làm việc mà không màng gì đến sự an nguy của mình, và cũng không thể diễn tả hết lòng tận tâm của anh ấy đã nâng cao tinh thần đến thế nào đối với những người đã chiến đấu bên cạnh anh ấy và được anh ấy cứu chữa.”

        Cha tôi được đưa đến trạm xá của tiểu đoàn để được cứu chữa khẩn cấp, rồi được đưa về bệnh viện dã chiến để được gắp ra vài mảnh đạn. Sáng hôm sau, ông được đưa lên máy bay về Guam, rồi được chuyển về một bệnh viện ở Hawaii.

        Trên những bãi chiến trường đẫm máu vùng Thái Bình Dương, cha tôi chỉ là một ca bị thương, một trong số nhiều nghìn thương vong. Nhưng trên nước Mỹ, hàng triệu người đang tìm hiểu về con người ông qua Bức Ảnh, tự hỏi ông và những người giương ngọn cờ hiện đang ở đâu. Tờ báo New York Sun đã lồng ghép bức vẽ nổi tiếng “Tinh thần 76” ở một góc của bức ảnh. Sau khi tờ báo được phát hành, 48.000 người yêu cầu nhận bản sao của bức ảnh này.

        Vào ngày cha tôi được tải thương, lần đâu tiên Rene Gagnon khai hỏa khấu súng trường của mình.

        Ông và một đồng đội đi vào một hang động, cho ràng không có ai bên trong - một sai lầm vốn đã khiến cho nhiêu lính Mỹ mất mạng. Hai chàng trai đối mặt với một người lính Nhật đang cầm khẩu súng trường chĩa về phía họ. Nhiều năm sau, Rene kể với con trai mình là trong tích tẳc của giây đồng hồ ấy một ý nghĩ hiện ra trong trí óc ông: “Tất cả chúng ta đều có mẹ. Tất cả chúng ta đều là con người. Tại sao lại phải như thếnày?”

        Rene cầm khẩu súng trường nhưng còn do dự. Dù không có logic nào, ông vẫn mong người lính Nhật hạ vũ khí của anh ta xuống. Thay vào đó, đối phương nổ súng. Đồng đội của Rene ngã xuống chết. Trong giây đồng hồ kế tiếp, đến phiên Rene. Ông bóp cò, và người lính Nhật ngã xuống.

        Rene run rẩy đứng trong hang động. Trận chiến đã mang đến những hoàn cảnh như thế. Ông tâm sự với đứa con trai: “Tại sao cha phải làm chuyện ấy? Nhìn đến đôi mắt một người ở cuối nòng súng và phải giết anh ta. Không có gì vinh quang trong chuyện này cả.”

        Tuy thế, vinh quang nằm trong tâm trí của Thượng nghị sĩ Raymond Willis của Bang Indiana, người cảm thấy xúc động vì Bức Ảnh. Ngày 13/3, ông hô hào đồng nghiệp phải “khấn trương” biểu quyết một luật để tôn vinh “lòng quả cảm đến khó tin” của những người lính TQLC trên Thái Bình Dương.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Sáu, 2018, 11:04:50 PM

        Ngày hôm sau, học sinh ở Tokyo - những đứa trẻ đã sống sót sau các cuộc thả bom cháy của Mỹ - đóng góp vào một chương trình truyền thanh đặc biệt gửi đến những người phòng ngự hòn đảo còn sống sót. Những học sinh này hát “Bài ca Iwo Jima” bắt đầu như sau:

        Nơi ngọn triều đen cuồn cuộn đại dương,
        Đảo hình cánh chim với tiếng tăm vĩ đại
        Gìn giữ cửa ngõ cho đế quốc ta:
        Iwo Jima là cái tên...


        Vào ngày 14/3, Thủy sư Đô đốc Nimitz tuyên bố đã chinh phục được Iwo Jima và “tất cả quyền hạn của chính phủ Đế quốc Nhật Bản ở hòn đảo này đề bị đình chỉ.” Hai ngày sau, Nimitz chính thức tuyên bố đã làm chủ Iwo Jima, và quân Nhật đã chấm dứt kháng cự.

        Khi nghe qua câu nói này, Binh nhì TQLC Bob Campbell nổi cáu: “Cái ông đô đốc đang đùa với ai thế? Quân ta vẫn còn đang bị sát hại!”

        Cùng ngày này, nghĩa trang của Sư đoàn 5, nơi Mike và Harlon an nghi, được khánh thành. Đôi mắt Tướng Smith đảm lệ khi ông nói với sĩ quan tùy viên: “Đây là chuyện tồi tệ.”

        Trên đường đi đến Quốc hội để thông báo về Hội nghị Thượng đinh Yalta, Tổng thống Roosevelt được tin về việc khánh thành nghĩa trang. Ông ứng khẩu với các đại biểu Quốc hội “Những kẻ hiếu chiến Nhật phải biết họ không được bỏ qua. Người Nhật phải biết câu nói ‘TQLC Hoa Kỳ đã đổ bộ" có ý nghĩa ra sao. Và tôi có thể thêm, khi xét qua Iwo Jima, chúng ta đang làm chủ tình hình.”

        Jim Buchanan thì nhớ đến những ngày cuối cùng ấy theo ý nghĩa khác. Ông nói về đơn vị của mình: “Chúng tôi bị sa bẫy! Đang bị địch bắn liên tục. Tôi chỉ là binh nhì, thế mà tân binh đến trình diện với tôi. Không còn ai khác.”

        Ngày 16/3, Tướng Kuribayashi gọi điện về Tokyo: “Trận chiến đang đến hồi kết thúc. Từ lúc địch đổ bộ, ngay cả thiên thần cũng rơi lệ vì lòng dũng cảm của sĩ quan và binh sĩ dưới quyền tôi.”

        Cùng ngày này, Louis Ruppel, biên tập điều hành của tờ báo Chicago Herald American, gây nên cơn chấn động. Ông gũi một điện tín cho FDR, đề xuất mang những người giương ngọn cờ trong bức ảnh nổi tiếng của Joe Rosenthal - đã được chỉ định là biểu tượng cho những chuyến Du hành Trái phiếu - tham gia vào chuyến du hành của chiến dịch.

        Đây là tình huống thật đặc biệt: Bức Ảnh đã gây xúc động đến nỗi Tổng thống Hoa Kỳ dự định phong những người giương ngọn cờ là anh hùng quốc gia với sự phê chuẩn của chính phủ. Tuy thế, không ai biết họ là ai, hoặc họ đã làm gì.

        Vào ngày 17/3, Thủ tướng Nhật Bản Kuniaki Koiso loan báo trên đài phát thanh là lực lượng phòng ngự dưới quyền Tướng Kuribayashi trên Đảo Iwo Jima đã chiến bại.

        Nhưng các loại súng lớn nhỏ vẫn còn đang khai hỏa. Trong khi đang túi bụi với nhiệm vụ chỉ huy, Đại úy Dave Severance, Đại đội trưởng Đại đội E, bắt đầu đón nhận những lời yêu cầu mà thoạt tiên làm ông bực mình và phân tâm: Có thể nào ông vui lòng cho biết tên những người lính TQLC trên Bức Ảnh?

        Severance nói với tôi: “Tôi phải thú nhận là lúc ấy mình không quan tâm đến vụ việc. Chúng tôi đang chiến đấu để bảo toàn mạng sống, bao trùm một trận địa rộng lớn cho cả một đại đội, nhưng bây giờ chỉ có hai trung đội bị hao hụt, do các hạ sĩ và trung sĩ cầm đâu. Tôi không thiết tha gì đến việc nêu tên những người giương ngọn cờ.”

        Đến lúc này, những bài báo đăng tải bức ảnh giương ngọn cờ đã được gửi đến hòn đảo. Phóng viên TQLC Keyes Beech là một trong những người thuộc giới báo chí thấy việc đi tìm tung tích những người giương ngọn cờ là mẩu tin sáng giá. Nhưng vào lúc này, những chàng trai ấy hoặc đã bị thương vong hoặc đang phân tán chiến đấu ở phía Bắc. chỉ có liên lạc viên Rene Gagnon là có thế giúp xác minh.

        Rene đoán ra được 5 cái tên: Franklin Sousley, Mike Strank, John Bradley, chính mình, và Henry Hansen. Rene cho rằng Hansen là người ngoài cùng bên tay phải, quay lưng về ống kính, đang cắm cán cờ xuống đất.

        Harlon Block và Ira Hayes không được nhắc đến.

        Ngày 18/3, sau khi đã khổ sở và chứng kiến nhiều gian lao, Tex Stanton nhận thêm một số thương tích.

        Ông kể với tôi: “Suốt bốn ngày tôi thu mình trong hố cá nhân. Mỗi khi tôi nhô đâu lên là bọn chúng nã đạn về phía tôi.” Ông không nghe tiếng đạn bắn, “chỉ có đất đá tung tóe khắp nơi.” Ira và Franklin cùng ở trong hố cá nhân kế bên, cùng chịu chung những đợt súng cối. Hai người thấy có chuyện gì đó xảy ra cho Tex.

        Tex kể một cách thản nhiên: “Tôi cố đứng dậy nhưng khi nhìn xuống thì thấy hai chân mình không còn nữa. Nhưng tôi không muốn rời đi. Tôi muốn họ [quân y tá] để tôi ở lại với đồng đội.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:11:36 PM

        Rolla Perry cũng chứng kiến vụ việc và xác nhận: “Tôi thấy Stanton bay ra khỏi hố cá nhân, khi rơi xuống đất thì một bàn chân đã đứt lìa, bàn chân kia còn lủng lẳng. Thật tội nghiệp khi thấy anh ây vẫn cố nắm lấy khẩu BAR để bắn hỗ trợ cho trung đội, mặc dù phần lớn những người đầu tiên không còn ở đây nữa. Tôi luôn cảm thấy an tâm khi có anh ấy ở kế bên bắn yểm trợ, vì anh ấy là người giỏi nhất. Khi nằm trên băng ca và bắt đâu được chuyên về hậu cứ, tôi nghe anh ấy nói "Anh không thể mang tôi đi. Anh bạn thân Perry cần đến tôi.”

        Dù Tex phải chịu những thương tích khủng khiếp, nhiều chàng trai trên hòn đảo sẵn lòng chịu thế chỗ của ông. Tuy không còn hai bàn chân, nhưng ông đã nhận một “thương tích triệu đô” - một tấm vé để rời khỏi hòn đảo. Không giống như nhiều người còn đang chiến đấu, ông sẽ sống sót. Trận chiến đã trở nên quá khốc liệt và những chàng trai trẻ này đã trải qua nhiều cảnh tàn bạo, đến nỗi bây giờ họ thấy hy sinh một cánh tay hoặc một cẳng chân là điều hay.

        Đầu óc họ ngập đầy những hình ảnh chết chóc đến nỗi khi máu của đồng đội vương vãi trên người, họ vẫn cho rằng đấy là do hoang tưởng. Trong nhiều năm sau khi cuộc chiến kết thúc, những hoang tưởng này đi vào cơn ác mộng từng đêm của họ.

        Cho đến ngày 21/3, lực lượng Mỹ đã tấn công 31 ngày liên tiếp - một nỗ lực chưa từng có trong chiến tranh hiện đại. Nhiệm vụ hằng ngày của họ đều giống nhau: tiến chiếm một chỏm đá kế tiếp. Một trận chiến để giành từng mét đất, đôi lúc thậm chí từng phân. Một trận chiến tàn bạo và đây chết chóc nhắm đến đối phương ẩn náu trong lòng đất, được phòng ngự kiên cố, không chịu rút lui. chỉ còn 5 ngày nữa, nhưng không ai biết được điều này. Thiếu ngủ, ăn uống thiếu kém, bây giờ chai lì với mối đe dọa thường trực của cái chết, các chàng trai vẫn từng bước tiến lên. Tính cảnh giác, bản năng tự sinh tồn đã bị hạ thấp xuống trạng thái giống như bị thôi miên.

        Có lẽ đây là lời giải thích cho những gì xảy ra với Franklin Sousley.

        Đồng đội của ông nhận thấy ông đã trưởng thành trong cuộc chiến. Có vẻ như ông đã già dặn và khôn lớn lên. Lần cuối cùng L.B. Holly nhìn thấy chàng trai trẻ từ Bang Kentucky này đang ôm một người lính TQLC bị thương giữa hai chân mình trong khi quân y tá đang lo chữa trị. Holly nghĩ ông là lính TQLC tốt. Một chàng trai biết lo cho người khác.

        Và rồi, Franklin mất tập trung chỉ trong một khoảnh khẳc.

        Việc này xảy ra lúc 2 giờ 30 chiều. Lính Mỹ đã gần như làm chủ hoàn toàn hòn đảo. Vài đơn vị TQLC đã quay ra các hải vận hạm đậu ngoài khơi. Trung tướng Keller E. Rockey đang bận bịu khánh thành nghĩa trang của Sư đoàn 5. Còn Franklin Sousley chỉ lang thang trên một con đường.

        Đây là khu vực được biết có lính Nhật bẳn tia. Có lẽ Franklin đã quên điều này. Có lẽ ông ngỡ quân Nhật đã ngưng bắn. Có lẽ trí óc ông đang mơ màng nghĩ đến người yêu Marion.

        Viên đạn bẳn từ phía sau. Trong khi các chàng trai xung quanh ông nằm rạp xuống mặt đất, Franklin lơ đãng đập tay ra sau lưng, như thể tìm cách xua đuổi một con ruồi. Rồi ông ngã xuống.

        Một đồng đội gọi: “Anh có sao không?” Franklin đáp: “Không sao. Tôi không cảm thấy gì hết.” Và rồi cái chết cướp ông đi.

        Các chiến binh Mỹ đã gây thiệt hại nặng cho đối phương, nhưng đã trở thành đờ đẫn mà không trông thấy thành quả của mình. Bây giờ, những dấu hiệu đã rõ ràng: Chiến thắng cuối cùng đã gần kề. Lô cốt hoang vắng của Tướng Kuribayashi bị phá hủy cùng ngày Franklin trúng đạn. Công việc cần đến 4 tấn thuốc nổ. Donald Howell đang tiến cùng một đơn vị ở đầu phía bắc của hòn đảo, nhìn theo một chiếc xe tăng gần đấy chĩa mũi súng phun lửa vào một boong-ke, càn quét lính Nhật bên trong. Trong khi những người lính này chạy ra tìm đường sống, Howell đốn ngã họ bằng từng loạt súng máy. ông kể: “Họ ngã chồng lên nhau. Tôi nhanh chóng ria họ khi họ túa chạy ra. Tôi cảm thấy tởm lợm; tôi nôn mùa; tôi xơ xác trong cả một tiếng rưỡi đồng hồ. Đấy chỉ do ý nghĩ về việc mình đã làm với con người khác. Họ không làm gì với tôi cả, và tôi không thể chịu đựng nổi chuyện này. Khác với chuyện bắn người đang đe dọa mình.”

        Trong cảnh tuyệt vọng, lính phòng ngự trở nên liều lĩnh. Bây giờ, hàng đêm họ đều cố xâm nhập phòng tuyến quân Mỹ, làm mồi ngon cho xạ thủ bản tia. Một đợt xung phong vào đêm 22/3 bị dập tắt: 50 trong số 60 lính Nhật bị bắn hạ. Từng khu vực này đến khu vực khác được loan báo “an toàn” - mỗi khu vực đều trả một cái giá đắt khủng khiếp.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:12:32 PM
   
        Ngày 22/3, Kuribayashi điện về nước: “Chúng tôi vẫn còn đang chiến đấu. Lực lượng dưới quyền tôi hiện giờ là khoảng 400 người. Xe tăng đang tấn công chúng tôi. Quân địch dùng loa phóng thanh kêu gọi đầu hàng, nhưng các sĩ quan và binh sĩ dưới quyền tôi chỉ cười mà không thèm để ý.”

        Đấy là báo cáo cuối cùng của Kuribayashi. Thi thể ông không hề được tìm thấy.

        Ngày hôm sau, hai trung đội trưởng còn sống sót đến gặp Dave Severance với vẻ lo âu trong khi Frank Crowe dõi nhìn. Ông kể: “Họ đang thầm thì về những thiệt hại và về việc không còn khả năng tiêu diệt đối phương. Ông đại úy lắng nghe, rồi khẽ khàng ra mệnh lệnh cho trận chiến ngày hôm sau. Thái độ điềm tĩnh của ông có hiệu quả mạnh. Cảm nghĩ tuyệt vọng biến thành quyết tâm thầm lặng.”

        Vị đại úy với vóc người cao lớn, với phẩm giá, với tinh thần chiến đấu mạnh mẽ hơn là vẻ bề ngoài. Hôm ấy, ông đã nhận được tin từ quê nhà cho biết vợ mình đã sinh con nhưng đứa trẻ chết non. Ít lâu sau, Severance nghe tin về một hạ sĩ nhất có tên Dave Bowman trong đại đội của mình: vợ sắp sinh con. Bowman đang bàn giao công việc cho tiểu đội trưởng lên thay trước khi ông bước lên chiếc hải vận hạm đậu ngoài khơi để về thăm nhà. Trong khi đang trình bày, ông bị bẳn chết.

        Như thể là quá sức chịu đựng của Severance. Ông nói với Richard Wheeler: “Tôi đi đến một góc vắng vẻ mà khóc. Rồi dần dà tôi bình tâm trở lại mà tiếp tục nhiệm vụ.”

        Ba ngày sau, trận chiến kết thúc đối với Đại đội E.

        Lực lượng của Đại đội E ban đâu là 310 người kể cả quân bổ sung. Vào ngày 26/3, Đại úy Severance dẫn 50 người sống sót đến viếng Nghĩa trang Sư đoàn 5 mới được khánh thành. Rồi họ được một chiếc tàu nhỏ đưa ra một hải vận hạm, chiếc Winged

        Arrow (Mũi tên có cánh), để trở về hậu cứ. Họ phải níu một tấm lưới chuyển hàng hóa mà leo lên tàu. Nhiều người đã kiệt sức đến nỗi thủy thủ phải giúp nâng họ qua lan can tàu.

        Nhiều năm sau, tôi hỏi Severance sự việc kết thúc như thế nào. Ông suy nghĩ một lát rồi đáp: “Chúng tôi chiếm toàn thể tiện nghi của con tàu.”

        Severance là sĩ quan duy nhất trong số sáu sĩ quan của Đại đội E bước ra khỏi hòn đảo. Trong Trung đội 3 dưới quyền ông - những người đâu tiên đã leo lên đỉnh Núi Suribachi - chỉ có Harold Keller, Jim Michels, Phil Ward và Grady Dyce là còn lành lặn. Đại đội E đã chịu 84% thương vong.

        Trong số 18 chàng trai chiến thắng trong bức ảnh giương ngọn cờ “gung-ho” do Joe Rosenthal chụp, 14 người nằm trong số thương vong.

        Những con số thống kê thương đau chỉ rõ sự hy sinh của Tiểu đoàn 2 dưới quyền Trung tá Johnson: 1.400 chàng trai đổ bộ Ngày D, kế tiếp có 288 người bổ sung khi trận chiến tiếp diễn, tổng cộng 1.688 người. Trong số này, 1.511 tử trận hoặc bị thương. chỉ có 177 người còn đi được để rời hòn đảo. Và trong số 177 người cuối cùng này, 91 người đã bị thương ít nhất một lần và đã trở lại chiến đấu tiếp.

        Phải cần đến 22 chiếc hải vận hạm chật ních để chuyên chở Sư đoàn 5 đến hòn đảo. Những người sống sót ngồi thoải mái trên 8 chiếc tàu trở về.

        Quân Mỹ đã sát hại 21.000 lính Nhật, nhưng chịu thương vong 26.000 người. Đây là trận đánh duy nhất trên Thái Bình Dương mà bên tấn công chịu thương vong cao hơn bên phòng ngự.

        Trong Thế chiến II, TQLC chỉ chiến đấu trong 43 tháng. Nhưng một phần ba số tử thương của họ xảy ra chỉ trong 1 tháng trên Iwo Jima. Họ đã để lại nhũng nghĩa trang lớn nhất vùng

        Thái Bình Dương: tất cả có gần 6.800 nấm mộ. Hàng nghìn gia đình không có niềm an ủi nhận xác người thân để chào vĩnh biệt; chỉ có thông tin trừu tượng là người lính “đã bỏ mình khi thi hành nhiệm vụ” và được mai táng trong một lô, theo một hàng, ở một mã số nấm mộ. Mike nấm ở Lô 3, Hàng 5, Mộ 694; Harlon ở Lô 4, Hàng 6, Mộ 912; Franklin ở Lô 8, Hàng 7, Mộ 2189.

        Khi tôi nghĩ về Mike, Harlon và Frank nằm ở đấy, tôi nhớ đến câu từ có người đã khắc bên ngoài nghĩa trang:

        Khi người về nhà
        Nói giùm chúng tôi
        Ngày mai của người
        Tôi cho hôm nay.

        Phần lớn quân Nhật tử trận bị vùi lấp trong hang động, nơi thân xác họ trở thành giống như xác ướp vì tác dụng của khí lưu huỳnh. Nhiêu thập kỷ sau, nhiều xác vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn, vẫn còn mang đôi tròng kính. Vài người sống sót vẫn tiếp tục chiến đấu. Một người đầu hàng nhiều tháng sau khi quân Mỹ đã rút, rồi di cư qua Brazil vì cảm thấy nhục nhã nên không muốn trở về nước Nhật. Hai người đầu hàng cuối cùng là vào năm 1949.

        Trong vòng 1.364 ngày kể từ Trận Trân Châu Cảng cho đến ngày Nhật Bàn đầu hàng, với hàng triệu người Mỹ chiến đấu khắp các mặt trận trên toàn thế giới, chỉ có 353 người Mỹ được tặng thưởng Huân chương Danh dự - huân chương cao quý nhất cho lòng dũng cảm. Lính TQLC nhận 84 Huân chương này, trong số đó có đến 27 Huân chương chỉ trong một tháng trên Iwo Jima - một kỷ lục cho một trận đánh trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ. Iwo Jima vẫn là trận đánh anh hùng nhất của nước Mỹ.

        Chiến thắng của quân Mỹ tại Iwo Jima đã thúc đẩy nhanh kết cục của cuộc chiến. Trong những tháng tiếp theo, khoảng 2.400 oanh tạc cơ B-29 chở 27.000 nhân viên trong phi hành đoàn hạ cánh khẩn cấp xuống Iwo Jima, qua đó cứu nhiều mạng sống.

        Các chàng trai chiến đấu ở Iwo Jima cảm thấy một chút an ủi khi biết được điều đó. Một chút thôi.

        Robert McEldowney nói: “Những người còn sống như chúng tôi là do may mắn. chỉ là may mắn.”

        Quân y tá Robert DeGeus nói: “Đấy không phải là vấn đề sống hoặc chết hoặc chiến đấu. Đấy là vấn đề trợ giúp đồng đội của mình.”

        Quân y tá William Hoopes khuyên tôi: “Hãy cho bạn đọc của anh biết ràng tôi đang mặc bộ đồ trận màu xanh của TQLC. Bộ đồ này đã thô ráp vì máu quánh đặc lại rồi nứt nè. Đây không phải là máu của tôi.”

        Đối với Tex Stanton, đấy là hòn đảo của những người anh hùng. “Nếu người lính nhận một huy chương, câu tuyên dương là họ đã thực hiện việc gì đấy "vượt quá yêu cầu của nhiệm vụ." Tôi đã nhìn thấy nhiều người anh hùng trên hòn đảo ấy, và tôi nghĩ nếu anh có tham gia 24 giờ ở đấy, anh sẽ làm việc gì đó "vượt quá yêu cầu" chỉ để sống tồn.”

        Một trong những việc cuối cùng mà Danny Thomas làm trước khi rời hòn đảo là đi tìm mộ của Chick Harris. Chick và Danny là hai “Nhóc Sữa” - hai người bạn thân chưa đủ tuổi để uống bia rượu những ngày xả trại. Vào Ngày D, Danny chạy ngang qua người bạn đã bị đứt thân và đang hấp hối.

        Bây giờ, Danny quỳ trước nấm mộ nơi Chick đang yên nghi và hứa thầm: Một lời hứa không liên quan gì đến chiến tranh hoặc lá cờ hoặc những quốc gia hoặc Thế kỷ của Thái Bình Dương mà Trận Iwo Jima đã tạo ra.

        Danny nói: “Tôi hứa sẽ uống mừng cho anh ấy một ly sữa bơ.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:15:32 PM
   
Chương 14

ANTIGO

        Nơi hiếm khi nghe câu nói ngã lòng
        Và bầu trời cả ngày không có mây.


Ca từ của bài hát "home on the range"        .

        Trong thời gian lớn lên ở Antigo, tôi không hề biết gì về những chuyện đó. Tôi hầu như không biết gì cho đến ngày cha tôi qua đời, vào năm 1994.

        Khi tôi chào đời thì Thế chiến II đã chấm dứt gần được 10 năm. Tuy thế, đối với một đứa trẻ sống trong thị trấn nhỏ bé đây bóng cây này, cuộc chiến nghe như là đã diễn ra trong thời Trung Cổ - một câu chuyện sống động, hào hùng, phấn khích, đây những hình ảnh của chiến hạm và máy bay và xe tăng và binh sĩ tiến lên dưới chiếc mũ sắt tròn. Sống động và hào hùng, nhưng lại là xa xôi, là một thứ huyền thoại. Tôi cùng lứa bạn hàng xóm chơi trò chiến tranh và cảm thấy khích động với những phim chiến tranh trên truyền hình. Khi trưởng thành hơn, tôi đọc nghiến ngấu sách lịch sử; tôi tìm hiểu về Eisenhower và MacArthur. Nhưng tôi chưa bao giờ gắn kết bất kỳ việc gì với cuộc sống của tôi, hoặc cuộc sống của cha tôi. Cả các anh chị em của tôi cũng thế. Những cái tên như Lực lượng Viễn chinh Đồng minh hoặc Mũi giáo đều là lạ lẫm ở Antigo.

        Cảm nghĩ thấy xa xôi như thế dĩ nhiên quả là điều lạ lùng, nếu xét qua sự kiện là tất cả chúng tôi đều biết - ngay từ ngày đầu - rằng cha chúng tôi là một người trong bức ảnh nổi tiếng kia.

        Nhưng chúng tôi chỉ biết có thế. Cha chúng tôi không bao giờ nhắc đến bức ảnh. Ông không muốn ai hỏi han về chuyện này. Không có bản sao nào của bức ảnh trong nhà. Chúng tôi đều không biết đến những tên người Mike, Harlon, Ira, Franklin và Rene. Cái tên Iggy cũng thế.

        Và thế là cuộc chiến, và Bức Ảnh, đều hiện diện bên lề thời thơ ấu của tôi, ở đâu đấy giữa thực tại và giấc mộng xa xôi.

        Đây là thực tại: Chúng tôi cư ngụ tại số nhà 321, Đại lộ thứ Năm, trong ngôi nhà lớn thứ nhì của thị trấn. Một ngôi nhà có khung sườn trắng và cửa chớp đen, như thể đã được xây từ lâu lắm và sẽ tồn tại rất lâu, với ba tầng thấp, với sân trước rộng được một cây phong che bóng mát, và sân sau nơi chúng tôi chơi đá bóng và trò cút bắt.

        Và đây cũng là thực tại: Cha chúng tôi là chủ nhân của Nhà Mai táng McCandless, Zobel & Bradley, là một trong những công dân hàng đầu ở Antigo. Chúng tôi không bao giờ thắc mắc tại sao tên ông đứng cuối trong tên của nhà mai táng cho dù ông là chủ nhân duy nhất. Đấy chỉ là một phần của cuộc sống. Giống như cái nhà xe đầy những xe đạp. Giống như ngôi Nhà thờ St. John cũ kỹ và Trường Công giáo St. John, nơi cha tôi đã theo học, chỉ cách hai khu phố. Hoặc Sông Antigo, cách hai khu phố theo hướng kia. Những thứ thực sự; những thứ vượt thời gian. Những thứ chỉ đơn giản là hiện diện ở đấy.

        Từ cuộc chiến trở về, cha tôi đi tìm người ông yêu từ thời học lớp 3, Elizabeth Van Gorp ở Appketon, làm lễ cưới với bà vào tháng 5/1946, rồi đưa bà chuyển về Milwaukee, nơi ông làm việc cho một nhà mai táng trong khi học thêm về khoa học mai táng. Hai người xây tổ ấm ttong một khu nhà dành cho cánh lái xe, trong một nhà xe. Năm 1947, chị Kathy của tôi ra đời, và cha tôi nghe nói có một Nhà Mai táng McGillan tại Antigo. Ông đưa vợ con về quê quán của mình. Có lẽ ông mang tất cả tiền mình có đặt vừa vặn trong túi áo.

        Bảy năm sau, ở tuổi 32, ông có cơ hội mua lại Nhà Mai táng McCandless & Zobel, là thương vụ lớn nhất trong hạt thời bấy giờ.

        Với thương vụ này, tên tuổi ông chiếm trang đầu của tờ báo Antigo Daily. Chảng bao lâu, người ta gọi đấy là Nhà Mai táng Bradley. Nhưng tên chính thức là McCandless, Zobel & Bradley.

        Cha giữ cái tên nguyên thủy này suốt thời gian ông làm ăn gần 40 năm. McCandless & Zobel có ý nghĩa gì đấy đối với lịch sử của thị trấn, đối với kỷ niệm của chính nó. Đối vói cha tôi, như thế quan trọng là hơn trưng ra cái tên của chính cá nhân mình.

        Cha mua lại nhà mai táng vào khoảng thời gian tôi được thôi nôi, tháng 2/1955. Tôi là đứa con thứ tư trong 8 người con. Trước tôi là chị Kathy, anh Steve và anh Mark; sau tôi là em gái Barbara, em trai Patrick, em trai Joe và em trai Tom. Tôi vẫn còn treo trong phòng làm việc của mình hóa đơn bệnh viện hộ sản cho tôi. Cha tôi đã trả toàn bộ số tiền một tháng sau khi tôi chào đời. Tôi gây tốn kém 71,90 đô-la.

        Ngôi nhà của chúng tôi trên Đại lộ Số Năm có lẽ được xây trong thập kỷ 1910. Nó trông giống như có thể trụ được một cuộc tấn công hạch nhân. Ngôi nhà có một phòng khách rộng, một phòng ăn rộng, một phòng làm việc, và một phòng sinh hoạt gia đình. Một gian phòng thư giãn có nhiều cửa sổ để nhận ánh nắng, có sàn lát bằng đá với ống truyền hơi nước chôn phía dưới làm hệ thống sưởi.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:15:57 PM

        Gia đình chúng tôi là gia đình của những người làm việc. Mọi người đều có nhiệm vụ đặc biệt riêng cho mình. Khi tôi còn nhỏ, nhiệm vụ đặc biệt của tôi vào mùa đông là thức dậy lúc 5 giờ sáng để xem bên ngoài có tuyết phủ hay không. Phòng ngủ của tôi trên tầng hai có một cửa sổ, nên thích hợp cho việc này. Vào lúc 5 giờ sáng, thường có lớp tuyết đây khoảng 1 m, và đôi lúc mọi người khó biết được lớp tuyết này có phải mới rơi xuống hay không. Nhưng tôi thì biết. Nếu quan sát kỹ dây điện thoại -  ngay cả trong bóng tối - tôi có thể nhìn thấy những đường tuyết mỏng song song nếu là tuyết mới rơi.

        Nếu đấy là tuyết mới rơi, tôi phải đánh thức hai người anh dậy rồi chúng tôi mặc áo thật dày đi bộ đến nhà mai táng, cách xa khoảng sáu khu phố, thường đi qua đoạn đường chưa được dọn tuyết. Rồi chúng tôi dùng xẻng để xúc tuyết.

        Nhà mai táng là một tòa nhà hai mặt tiền, và chúng tôi phải xúc tuyết trên một khoảng rộng: một via hè, những lối ra vào có bậc thềm rộng, và một sân đỗ xe bao la. Công việc hoàn toàn do sức lao động; thời ấy có rất ít máy xúc tuyết chạy bằng xăng. Ba anh em chúng tôi bắt đầu trước khi mặt trời mọc và phải xúc cà khối tuyết tưởng chừng nặng dăm ba tấn. Và sau khi đã xong xuôi ở đây, chúng tôi trở về nhà để xúc tuyết trên lối đi và đường ô tô ra vào.

        Phải làm xong công việc xúc tuyết nặng nhọc ở hai nơi trước khi đi học. Sau đó chúng tôi mới nhào vào bàn ăn sáng: bánh mỳ nướng kiểu Pháp, bánh nướng, trứng mà Mẹ đã làm sẵn.

        Nhưng chúng tôi thấy vui. Chúng tôi không hề thắc mằc, không hề than van. Đấy là một phần trong “Hệ thống” do Cha và Mẹ.

        Hai người không bao giờ gọi như thế. Nhưng nó vẫn là thế. Và tôi nghĩ đấy là điều hay. Hay ho và cần thiết, cha mẹ tôi vừa phải lo làm ăn vừa phái nuôi nấng 8 anh chị em tôi. Vì thế, khi lớn lên, mỗi đứa chúng tôi nhận một trách nhiệm mới. Rửa tô đĩa. Cắt cỏ ở sân trước và sân sau. Quét dọn nhà cửa. Anh chị em chúng tôi không bao giờ than phiền hoặc nài ni gia giảm. Chúng tôi chỉ tuân hành, vì đấy là cách gia đình sinh sống. Mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Gia đình chúng tôi là một tập thể hoạt động trơn tru, phụ thuộc vào nhau. Đấy là bổn phận của chúng tôi.

        Tôi nghĩ Cha áp dụng ý niệm về Hệ thống như thế trong cả đời ông - dù rằng nếu tôi có nói thế thì ông sẽ phủ nhận. Ông thấy vai trò của mình trong nghề mai táng là một phần của bổn phận. Người ta luôn hỏi tôi là con trai của một chủ nhân dịch vụ mai táng thì như thế nào: Cậu có nhìn thấy nhiều xác chết không? Cậu có phải xem người ta ướp xác không? Không bao giờ. Cha tôi không làm công việc ướp xác; ông có nhũng trợ lý làm việc này. Ồng là nhà ngoại giao. Ông là chuyên gia tâm thần học kiêm chuyên gia tâm lý học, nhà cố vấn và khuyên bảo.

        Những gia đình có người thân qua đời đều gọi cho Cha. Nếu họ có vấn đề với Cơ quan An sinh Xã hội, Cha có thể giúp đỡ. Nếu họ không biết làm thế nào trả viện phí ư? Cha tôi có kế hoạch cho họ.

        Ông tập trung vào nhũng nhu cầu của các gia đình. Ông thường làm việc đến 10 giờ tối. Ông trở về nhà dùng bữa tối, ngủ một chốc, rồi trở lại với công việc. Nhiều khi phải thức trong đêm khuya. Đáng lẽ ông có thể phái những trợ lý làm thay, nhung ông thường tự mình hiện diện.

        Ông thường đứng ở đầu cầu thang bên trong lối vào nhà mai táng để đón tiếp tang quyến. Ông nhớ được tên rất nhiều người. Những người sống ngoài thị trấn, những người nhiều năm ông không gặp lại, sẽ lấy làm vui khi ông kêu tên họ và còn hỏi han về những điều mà họ không nhớ đã kể cho ông nghe - những lễ tân hôn, bệnh tật, con trẻ mới sinh. Hẳn cha tôi phải cất công mới làm được như thế, nhưng tôi tin ông không phải khó nhọc lắm. Và lúc nào cũng tỏ ra chân thành. Luôn là thế. Ông quan tâm đến nguừi khác, đến những chuyện bon chen của họ, những thành đạt của họ. Và người ta cảm nhận là ông có lòng quan tâm.

        Tôi còn nhớ lần đâu tiên đi cùng ông đáp lại cuộc gọi yêu cầu đến nhận xác. Lúc ấy tôi khoảng 12 tuổi. Cha bảo: “Được rồi. Chúng ta sẽ đi đến nhà ấy, và chúng ta sẽ đón bà ấy. Gia đình họ có mặt ở đấy; họ sẽ khóc.” Và rồi, ông thêm: “Cha chỉ muốn con tỏ vẻ như thể chúng ta đến đón mẹ con. Chúng ta sẽ đối xử với bà ấy như đối xử với mẹ con.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:17:13 PM

        Trong tinh thần phục vụ như thế, cha tôi là chủ tịch hầu hết các tổ chức ở thị trấn: ban quản trị trường học, hội phụ huynh học sinh, Rotary, những tổ chức từ thiện... Ông chỉ là một người đứng đầu. Nhưng việc này cũng tạo thuận lợi cho công ăn việc làm của ông. Ông đã gây dụng nên một trong nhũng nhà mai táng lớn nhất Bang Wisconsin - là việc gần như không thể làm được vì Antigo là một thị trấn nhỏ. Nhưng vào lúc ấy, cha tôi làm chủ dịch vụ mai táng được nhiều gia đình trong các hạt chung quanh ưa chuộng.

        Cha tôi trở thành một nhân vật đáng kính trong thị trấn, nhưng vẻ tao nhã của ông không pha trộn tính phù phiếm. Sau khi ông qua đời, mẹ tôi trao cho tôi chiếc kẹp tiền mang tên tắt của ông: “JHB”. Bà nói rằng có lẽ một người bán hàng đã tặng ông chiếc kẹp này, bởi vì nếu ông tự đặt làm chiếc kẹp với tên mình thì là quá phô trương. Tôi đáp trả: “Nhưng Mẹ ạ, Cha đã có những bộ áo vét đặt may, những áo choàng đặt may, những đôi giày đẹp. Ông ấy luôn chỉ tiên nhiều cho bề ngoài của mình.”

        Mẹ tôi đáp: “Đúng, nhưng đấy là cho công việc làm ăn. Ông ấy phải ăn mặc đàng hoàng khi làm ăn.” Bà nói đúng: Suốt đời ông luôn lái nhũng chiếc Cadillac mới. Nhưng những chiếc xe mới bóng lộn ấy được sử dụng ở nhà mai táng. Sau khi nghi hưu, ông lái một chiếc xe bán tải hiệu Chevrolet nhỏ nhất, được trang bị tối thiểu.

        Ông điều hành nhà mai táng với lòng chuyên cần hoàn toàn cho chất lượng và dịch vụ. Mọi thứ đều sạch bong, được bảo dưỡng cẩn thận. Một lần, khi tôi làm việc ở đấy, ông bảo tôi lau chùi chiếc xe vừa được sử dụng để trao những bó hoa còn dư cho một nhà điều dưỡng. Tôi lau chùi và lau chùi, đánh bóng và đánh bóng. Xong xuôi, tôi hãnh diện báo cho ông xem xét. Cha tôi đi vào ga-ra, sỏi đá kêu lạo xạo dưới mũi giày. Ông mở cánh cửa sau, nhấc tấm thảm sàn xe lên, mang ra bánh sơ cua, chỉ vào một cánh hoa duy nhất.

        Ông nói: “Cha nghe con nói đã làm sạch.” Tôi hiểu ra. Tôi nghĩ như thế là công tâm. Phải sạch theo tiêu chuẩn cao nhất".

        Và phải đạt tiêu chuẩn cao nhất khi quan hệ với cộng đồng. Đấy không phải là sự quỵ lụy hoặc tạo vẻ bề ngoài giả dối, mà là mang đến dịch vụ thật sự. Ông không nói dông dài về việc này, nhưng chúng tôi đều hiểu rằng con người là quan trọng. Họ đáng được tôn trọng.

        Tinh thần lãnh đạo theo bẩm sinh đặt ra một quy chuẩn bất thành văn trong gia đình. Các anh tôi là những trưởng lớp. Trong trường học, anh em nhà Bradley thường là người đọc thông báo buổi sáng. Phát ngôn viên cho nhà trường là một thành viên nhà Bradley. Tôi là trưởng lớp liên tiếp sáu, bảy năm. Đấy là chuyện người ta xem là đương nhiên. Gia đình Bradley là những người lãnh đạo.

        Có vẻ như Cha không cố tình vun quén tinh thần lãnh đạo của ông. Ông có cuộc sống bảo thủ. Ông không phải là ngôi sao theo ý nghĩa nào. Nhưng mọi người đều yêu mến cha tôi. Có lẽ một phần bí quyết của ông là làm người ta cảm thấy an tâm khi nói chuyện với mình. Có lẽ đấy là do cách ông lắng nghe họ. Hai vành tai to của ông - càng trở nên to hơn vào cuối đời - có chức năng đặc biệt hơn là ngoại hình thuần túy.

        Ông là tín đồ Công giáo thuần thành, thực thi giáo lý. Ông đi hành lễ mỗi ngày Chủ Nhật, ông xin rửa tội, ông tin vào giáo điều. Đối với ông, giáo đường là nguồn an ủi trong sáng. Linh mục là nhân vật được kính trọng. Lễ ban phước đánh dấu những chặng đường sinh ra, lớn khôn và chết đi. Tất cả đều là minh bạch, thực tế, ổn cố - giống như con người cha tôi. Chúng tôi đều biết quỳ mà lần tràng hạt đọc kinh. Không phải vì Cha bắt buộc các con phải làm việc này. Ông không hề giảng giải cho chúng tôi về đức tin. Nhưng hành động của ông luôn thể hiện mạnh mẽ hơn là ngôn từ.

        Những hành động của ông - đúng hơn là những hành động từ ngày này sang ngày khác trong cuộc đời dài, trầm lặng và đầy đức tin như là cột trụ cho cộng đồng Antigo - được nói lên một cách mạnh mẽ đến nỗi những ngôn từ mà chúng tôi muốn nghe không hề hé lộ: những ngôn từ giúp lý giải cho chúng tôi biết chiến tranh là như thế nào đối với ông. Iwo Jima là như thế nào. Và được hiện diện trong Bức Ảnh là như thế nào. Đấy là cách sống của con người cha tôi. Hành động của ông giúp xác định con người mình cho chúng tôi hiểu. Còn nếu muốn tìm hiểu về ngôn từ thì chúng tôi phải nhờ đến nơi nào khác.

        Trong nhiều thập kỷ - cả một thế hệ - những ngôn từ ấy vẫn không hề được thốt lên. Thế nên ngôn từ trở thành kém quan trọng, ít nhất là trong phần lớn thời gian. Tất cả chúng tôi đều biết về bức ảnh, nhưng ít biết gì về câu chuyện đem lại ý nghĩa cho bức ảnh này. Người ta đã dựng lên những tượng đài có hình ảnh cha tôi trong đấy, nhưng ngoài đời cha tôi không mang thắt lưng có hình dạng bức tượng; ông không châm thuốc hút bằng bật lửa có hình dạng bức tượng. Ông giấu kín tâm Huân chương Thập tự Hải quân; chỉ khi ông qua đời gia đình chúng tôi mới biết ông được tặng thưởng huân chương cao quý này.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:20:22 PM
       
        Khi cha tôi còn sống, cả tám anh chị em tôi đều chưa từng đọc một quyển sách nào về Iwo Jima.

        Làm thế nào chúng tôi có thể vô tâm đến thế? Đấy không phải là do thiếu khả năng. Chúng tôi đều biết cách thu thập thông tin. Chúng tôi hiểu cách sử dụng thư viện. Và khi lớn lên, chúng tôi theo học đại học với nguồn thông tin bao la. Làm thế nào chúng tôi cứ mãi trong tình trạng mù mờ như thế?

        Tôi nghĩ câu trả lời nằm trong thái độ của cha tôi cho rằng sự kiện ấy không có gì là quan trọng. Đối với ông, “sự kiện” không đơn thuần là trận đánh ở Iwo Jima. Nó luôn trở nên phức tạp -  bị giả mạo - bởi tiếng tăm của một trong những người giương ngọn cờ - thứ tiếng tăm mà ông không mong muốn. Vì thế, nó trở thành không quan trọng. Điều quan trọng là xem nó không quan trọng.

        Một lần, em gái Barbara của tôi nhận xét: “Đọc một quyển sách về Iwo Jima ở nhà giống như là đọc tạp chí Playboy1. Đây giống như là việc em phải che đậy.”

        Và thế là chỉ có người ngoài, người xa lạ mới hỏi han ông về sự việc ấy. Phần lớn là ký già và phóng viên truyền thanh, những người gọi điện đến mỗi năm một lần, vào đầu tháng Hai, gần ngày kỷ niệm sự kiện giương ngọn cờ. Cha không bao giờ tỏ ra giận dữ hoặc chán nản đối với những câu tra vấn phiền hà ấy. Một trong những phương cách của ông là nhờ chúng tôi - gia đình ông - xử lý những câu tra vấn càng nhiều càng hay. Chúng tôi đã được dặn dò là không bao giờ trao điện thoại cho ông khi có cuộc gọi như thế. Thay vào đấy, chúng tôi phải nói với các mạng truyền thanh và báo chí rằng cha tôi “không thể tiếp khách, đang đi câu cá ở Canada.”

        Cha tôi không bao giờ đi câu cá ở Canada. Khi chúng tôi trả lời cuộc gọi như thế, ông thường ngồi kề bên.

        Tôi không nhớ cha tôi đã lý giải tại sao ông không muốn trả lời các cuộc gọi. Cùng lắm, ông chỉ khẽ lắc đầu như thể đang đối phó với chuyện phiên toái khi bị chứng dị ứng hoặc cận thị. Đấy là nỗi khổ sở của cá nhân ông.

        Hoặc nên gọi đấy là tâm tính khác thường của ông - rằng 1 phần 400 giây đồng hồ đã đóng khung ông vào trí tưởng tượng của cả nước. Cha tôi là người gắn bó với thế giới của những sự việc thật, những giá trị thật. Ông không muốn nêu lý thuyết, ức đoán, gây cường điệu cho những cảm xúc. Bức Ảnh thể hiện điều gì đấy riêng tư đối với ông, điều gì đấy mà ông không bao giờ diễn tả thành lời. Nó không thể hiện điều gì trừu tượng như “lòng dũng cảm” hoặc “tinh thần chiến đấu Mỹ.” Có lẽ nó chỉ thể hiện Mike, Harlon, Ira, Franklin và Rene, cùng những chàng trai chiến đấu bên cạnh ông trên Đảo Iwo Jima - những chàng trai mà ông đã cứu được mạng sống hoặc cố cứu nhung không thành.

        Ông không bao giờ miệt thị Bức Ảnh. Chỉ có điều ông không bao giờ đề cập đến nó.

        John Filbrandt, cư dân Antigo đã quen biết với cha tôi lâu nhất từ lúc họ học mẫu giáo đến khi cha tôi qua đời, kể cho tôi về lần duy nhất ông nghe cha tôi nói về chuyện giương ngọn cờ. Một nhân viên môi giới chứng khoán từ nơi xa đến để trình bày về nhóm đầu tư của họ. Có người nào đấy đã nói cho ông nghe về quá khứ của cha tôi. Nhà môi giới chứng khoán vội vã tìm đến cha tôi.

        Đôi mắt sáng lên, ông ấy bắt đâu: “Tôi được biết ông là một trong những người giương ngọn cờ ở Iwo Jima.”

        Cha tôi bình thản hóa giải nỗi hiếu kỳ của ông khách, nhẹ nhàng đáp: “Vâng, chuyện đó xảy ra lâu rồi.” Và ông hướng cuộc đối thoại sang những chuyện khác.

        Tôi đoán cha tôi đã chuẩn bị trước những câu nói phủ đầu như thế nhằm đánh lạc hướng những lời tra vấn mà không gây mất lòng. Một lần, khi tôi dò hỏi thì ông trả lời: “Giá như không có lá cờ trên cột cờ ấy.”

        Cột cờ ấy. Ông luôn gọi đấy là “cột cờ.” Việc này là chìa khóa đối với ông và là cảm nghĩ của ông về hành động ấy. Cha tôi là mẫu người vững vàng, giản dị và đơn sơ, giống như cột cờ mà ông giúp dựng lên. Giúp Mike Strank với cột cờ - đấy là việc cha tôi đã làm. Cách nói “Vinh quang Ngày cũ” là quá lớn lao đối với cha tôi và đối với những gì ông nghĩ trong đầu ngày ấy. Thay vào đấy, trong cuộc phỏng vấn duy nhất trả lời một đoàn ở Chicago làm phóng sự về Iwo Jima vào năm 1985, ông cho biết rằng ông hẳn đã có thể làm việc ấy mà không cần khoác lên người tấm áo anh hùng cả đời:

       Hỏi: Xét qua tất cả sự nổi tiếng như thế mà bức ảnh tạo ra, nếu phải làm lại việc ấy mà biết rằng sẽ trở nên nổi tiếng, liệu ông có nhảy vào như năm người kia không?

        Đáp: Không, tôi nghĩ mình sẽ không muốn nhảy vào. Nếu tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra với bức ảnh thì chắc chắn tôi đã không nhảy vào để phụ một tay giương lá cờ ấy lên.

        Hỏi: Tại sao?

        Đáp: Tôi vẫn có thể phục vụ mà không cần có áp lực và quan hệ với giới truyền thông. Tôi chỉ là một cá nhân sống đời riêng tư và tôi thích mình vẫn sống như thế.

------------------
        1. Playboy: tạp chí xuất bản ở Mỹ, dành cho người lớn, có nhiều ảnh khỏa thân.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:23:16 PM

        Ít nhất cha tôi đã tỏ ra nhất quán. Khi tôi bắt đầu tìm hiểu về quá khứ của ông, tôi yêu cầu mẹ tôi kể cho tôi nghe tất cả những gì ông đã nói với bà về Iwo Jima.

        Mẹ tôi đáp: “À, thế thì không phải mất nhiều thời giờ. Ông ấy chỉ đề cập đến Iwo Jima có một lần, vào dịp cha mẹ hẹn hò lần đầu tiên. Mẹ đang hỏi han ông ấy về chỉ tiết vụ việc, và ông ấy kể lại trong vòng 7 hoặc 8 phút. Lúc ây, ông lơ đãng vân vê chiếc bật lửa bằng bạc trong tay. Chỉ có thế. Đấy là lần duy nhất ông ấy chịu nói trong suốt cuộc hôn nhân 47 năm.”

        Anh Mark của tôi có lần hỏi ông về sự kiện ấy để làm bài tập của trường. Câu trả lời của cha tôi là: “Cha và những đồng đội chỉ tình cờ có mặt ở đấy, giúp nhau dựng cây cột cờ lên, rồi có ai đấy chụp một bức ảnh.” Chấm dứt cuộc phỏng vấn.

        Chị Kathy của tôi cũng va phải bức tường im lặng khi yêu cầu Cha đến thuyết trình về Iwo Jima cho lớp 2 của chị. Kathy kể: “Cha nhìn xuống, hướng đôi mắt nơi khác, lắc đầu từ chối mà không nói lời nào. Chị đi tìm Mẹ hỏi về việc này, và bà đáp: "Cha con nghĩ những anh hùng thật sự là những người đã nằm xuống ở Iwo Jima.”

        Tại sao ông hầu như không bao giờ nhắc đến quá khứ của mình, và chỉ nói ra một cách đau khổ giữa những khoảng im lặng dài ngày đau đớn như thế?

        Có nhiều câu trả lời hiện ra trong trí tôi.

        ' “Báo giới” nằm trong một câu trả lời. Cha ngờ vực một cách sâu sắc những phóng viên săn tin. Khi còn trẻ, ông đã lấy làm kinh ngạc mà thấy các phóng viên thường tô điểm như thế nào những cuộc phỏng vấn ông, thậm chí ngụy tạo lời phát biểu để phục vụ nhãn quan hoa mỹ của họ. Ông thường nói về Quyền thứ Tư1: “Họ đã có sẵn bài viết trước khi phỏng vẫn cha.”

        Và họ không hề giữ con tim mình cho đúng mực. Họ không hề hiểu bản chất thật sự của việc giương ngọn cờ. Giới truyền thông luôn muốn viết về sự kiện theo những thái cực, không hề giữ mức dung hòa theo thực tế. Cha còn nhớ báo chí đã tường thuật việc giương ngọn cờ như là một trong những hành động dũng cảm trong lịch sử loài người - lính TQLC chiến đấu trên những triền núi tử thần để dựng lên biểu tượng chiến thẳng giữa những làn đạn.

        Câu chuyện thật, như Cha thấy, là giản đơn và không hoa mỹ: Cân phải giương lên một lá cờ. Cây cột cờ thì nặng nề. Mặt trời đang lên đúng tầm. Một pô bấm máy may rủi đã biến một hành động tầm thường thành một bức ảnh quan trọng.

        Vài năm trước khi qua đời, ông nói với Mark: “Con không thể biết được họ sẽ hỏi gì hoặc họ sẽ tô vẽ ra sao về chuyện này.” Đấy là khi ông giải thích tại sao mình đã từ chối lời yêu cầu phòng vấn của hãng CBS. Ban điều hành đài truyền hình đồng ý về bất kỳ điều kiện nào: Họ sẽ cử Walter Cronkite hoặc Charles Huralt2 thực hiện cuộc phỏng vấn nếu Cha muốn; họ sẽ giữ băng ghi hình phỏng vấn trong tủ sẳt cho đến khi ông qua đời nếu ông muốn thế; họ sẽ cho ông biên tập chương trình phỏng vấn. Bất kỳ việc gì. Ông từ chối.

        Có những câu trả lời hợp lý khác: ví dụ như Iggy. Nỗi đớn đau và giận dữ khi nhớ lại những gì đã xảy ra cho Iggy, và chuyến đi thăm hỏi cha mẹ Iggy khi chiến tranh kết thúc, để an ủi hai người.

        Tôi tin chắc rằng hồi ức về Iggy đã phần nào khiến cho cha tôi giữ im lặng. Mặt khác, tôi không thấy có biểu hiện nào là ông tỏ ra cay đắng với chiến tranh. Cay đắng không phải là phần bản chất của ông. Ông không bao giờ nói một cách khinh miệt “bọn Nhật” hoặc “kẻ thù”, hoặc thậm chí “người Nhật.” chỉ trừ có một nhận xét cộc lốc với anh em tôi khi giải thích tại sao ông không muốn đi chơi ở nước Nhật, ngoài ra cha tôi không muốn tiếp tục cuộc chiến sau khi đã trở về nhà.

        Thế thì, sự thật là ra sao?

        Tôi dần dà tin rằng câu trả lời có lẽ chỉ đơn giản, không có gì là bí ẩn, giống như chính con người cha tôi. Tôi nghĩ cha tôi giữ im lặng với cùng lý do của phần lớn những người đã giữ im lặng sau khi kinh qua chiến trường Thế chiến II - hoặc bất kỳ cuộc chiến nào. Đơn giản bởi vì nếu nói ra hết cái tổng thể thì ngôn từ là quá đau đớn.

------------------
        1. Quyền Thứ tư là chỉ giới truyền thông, sau ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong định chế xã hội.

        2. Walter Cronkite là người dẫn chương trình thời sự nổi tiếng của hãng CBS phát đi toàn nước Mỹ (đặc biệt nối tiếng qua những chương trình tường thuật cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân ở Việt Nam), còn Charles Huralt cũng là biên tập truyền hình kỳ cựu; hai người này chỉ thực hiện phỏng vấn những nhân vật có liên quan đến sự kiện quan trọng.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:25:32 PM

        Vài cựu chiến binh đối phó với nỗi đau qua bia rượu hoặc chất gây nghiện. Những người khác tìm đến sự hỗ trợ của chuyên gia tâm thần học - hoặc không muốn tìm. Vê việc này, tôi nghĩ cha tôi có phần khác biệt: Ông đối phó bằng cách không muốn nghĩ gì về cuộc chiến, hòn đảo, những đồng đội đã nằm xuống. Ông đối phó bằng cách tiếp tục cuộc sống của mình.

        Có vẻ như ông gần xóa sạch chuyện ấy khỏi hồi ức của mình. Khi kể cho tôi nghe về cái ngày Iggy mất tích, có vẻ như ông không còn nhớ tên của Iggy1. Trong cuộc phỏng vấn truyền hình duy nhất, khi được hỏi ông nghĩ điều gì là hay nhất khi làm người giương ngọn cờ, ông bí lời. Ông chưa bao giờ nghĩ về điều này. Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông đưa ra nhiều chỉ tiết lầm lạc một cách đáng ngạc nhiên: chỉ tiết vê nơi ông được huấn luyện thành quân y tá, chỉ tiết về việc ông đi đến cây cột cờ.

        Đấy chỉ là vì ông đã quên.

        Nhưng đối với con người thì không dễ gì mà quên. Phải mất một thời gian ông mới quên được. Ông đã lơ đãng nói về Iwo Jima trong 7 hoặc 8 phút với mẹ tôi lúc hai người hẹn hò lần đầu tiên. Nhưng sau khi hai người thành hôn, mẹ tôi cho tôi biết ông thường khóc trong đêm tối, trong giấc ngủ. Bốn năm, ông khóc trong giấc ngủ.

        Gia đình ông, bạn bè ông và cộng đồng nơi ông sinh sống đều hiểu rằng ông muốn mọi người biết về mình theo đúng con người mình, không phải theo hình ảnh cao cả hơn con người thật. Ông cảm thấy thoải mái với chính mình; ông không cần được tô vẽ. Thế là gia đình, bạn bè và cộng đồng đều khép chặt chung quanh để bảo vệ ông tránh thế gian vốn lúc nào cũng muốn tìm hiểu. Vào năm 1985, nhân dịp kỷ niệm tròn 40 năm sự kiện giương ngọn cờ, tờ báo ở quê nhà ông đăng một bài nói về việc đã không đăng tải cư dân nổi tiếng nhất của họ:

        Đại diện báo chí và các đài truyền thanh-truyền hình cả nước đã liên hệ với các chủ bút tờ Antigo Daily Journal, muốn biết tại sao nhà báo không viết bài về Bradley.

        Tổng Biên tập Gene Legro, người đã làm việc cho tờ báo gần 40 năm, nói tờ báo đã bỏ cuộc khi cố xin phỏng vấn Bradley vì ông ấy không muốn được phỏng văn. Ông muốn được để yên một mình. Legro nói ông ấy muốn được riêng tư cá nhân và không thích chuyện này.

        Legro hỏi: “Bạn muốn biết về Bradley hở? Hắn là anh chàng dễ mến.”


        Bọn con cái chúng tôi tôn trọng ý của Cha không muốn nói về Bức Ảnh, nhưng đôi lúc vì hiếu kỳ mà chúng tôi muốn tìm hiểu chứng cứ về những kinh nghiệm của ông trong thời chiến. Tôi còn nhớ lúc lên 6 tuổi, có lần lục lọi trên tầng áp mái đặt những thùng đựng các bài báo viết về cha tôi mà mẹ tôi đã cất giữ (Ba chiếc thùng cac-tông mà chúng tôi tìm ra không nằm trong số thùng này). Cha không bao giờ cho phép mang những thứ ấy xuống tầng dưới, để phô bày hoặc bàn tán.

        Tôi tìm thấy một bức ảnh chụp bức tượng nguyên thủy được dựng lên để tôn vinh bức ảnh, được khánh thành ngày 10/11/1945. Tôi tìm thấy một bài báo viết về việc cha tôi ra hầu tòa ở Appleton năm 1946 vì tội lái xe vượt tốc độ. Bài báo viết vị thẩm phán đã tuyên hủy vụ việc khi biết mình đang xử “John Bradley của Iwo Jima.”

        Và cuối cùng, tôi tìm thấy một quảng cáo đăng nguyên trang báo về chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy mà cha tôi tham gia. Mẩu quảng cáo có ngôn từ rầm rộ: “Bạn đã nhìn thấy bức ảnh, bạn đã nghe anh ấy phát biểu qua đài phát thanh, bây giờ xuất hiện là con người thật ở Sân Vận động Hạt Milwaukee. Hãy đến gặp anh hùng Iwo Jima: John H. Bradley.”

        Anh hùng. Tôi nghĩ lý do khiến cho cha tôi giữ im lặng là nằm trong từ ngữ sai lệch như thế.

        Ngày nay, việc dùng từ “anh hùng” đã giảm bớt, bị nhầm lẫn với “người nổi tiếng”. Nhưng đối với thế hệ của cha tôi, ngôn từ ấy có nghĩa khác.

        Người nổi tiếng muốn tạo tên tuổi cho mình. Họ hành động để làm cho người khác chú ý. Rất thường khi, hành động của họ không mang nội dung đạo đức nào đặc biệt. Những anh hùng là anh hùng bởi vì họ liều hy sinh cái gì đấy để giúp người khác. Hành động của họ thế hiện lòng can đảm. Những anh hùng này thường lơ là sự quan tâm của công luận. Nhưng ít nhất, người anh hùng có thể hiểu được sự tập trung của cảm xúc. Dù cho anh ta nâng cao hoặc hạ thấp giá trị hành động của mình, tự hành động ấy đã là một thành tựu.

----------------
        1. Ý tác giả muốn nói người cha không thế nhớ ra nguyên tên thật Ralph Ignatowski; Iggy chỉ là tên gọi thân mật.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:26:25 PM

        Khoảnh khắc khiến cha tôi phải mang danh nghĩa “anh hùng” không cho thấy hành động nào đáng phải ghi nhớ. Lần đâu tiên được thấy bức ảnh, ông không hiểu mình đang nhìn gì. Ông không nhận ra chính mình hoặc những người khác trong bức ảnh. Việc dựng lên cây cột cờ ấy đáng được quên đi như là khi ông cột dây giày.

        Dĩ nhiên, điều trái khoáy nằm ở chỗ cha tôi đích thực là một anh hùng ở Iwo Jima - anh hùng gấp bội lần. Thật ra, việc giương ngọn cờ có thể được xem là một trong những khoảnh khắc hiếm hoi mà ông không hành động một cách anh hùng. Vào năm 1998, Bác sĩ James Wittmeier, quân y sĩ cấp trên cha tôi ở Iwo Jima, ngồi bên tôi mà đắn đo về lời tôi yêu cầu ông giải thích, hoặc ức đoán, tại sao cha tôi không hề nói gì về ngày ấy. Cuối cùng, sau nhiều phút kéo dài, ông quay sang nhìn tôi mà nhỏ nhẹ nói: “Anh đã từng nắm trong tay một quả trứng tươi bị vỡ, phải không? Đấy là tình trạng khi cha anh và tôi ôm lấy đầu của các trai trẻ.” Đầu của những anh hùng, đang hấp hối trong vòng tay cha tôi.

        Thế là cha tôi đã biết anh hùng thực sự như thế nào. Ông có thể phân biệt giữa thực chất và hình ảnh giả dối. Dù cho hàng triệu người có ý nghĩ khác, ông vẫn hiểu rằng hình ảnh anh hùng tính ấy không phải là thực chất.

        Cha tôi không muốn cuộc đời mình bị chi phối bởi những gì diễn ra trong tâm trí của thiên hạ khi họ nhìn thấy Bức Ảnh. Bức Ảnh thể hiện điều gì đấy đối với thiên hạ nhung không phải là thực chất đối với con người cha tôi. Đẹp đẽ, cao quý, gây phấn khích, đúng thế. Bức ảnh được in ra nhiều nhất trong lịch sử, đúng thế. Hình mẫu cho đài tưởng niệm cao nhất thế giới, chắc hẳn rồi.

        Nhưng vẫn bị hiểu sai lạc. Về cơ bản là sai lạc ở điều chủ chốt. Thật ra, bức ảnh không thể hiện cái tổng thể - ít nhất khi xét qua hàng nghìn tiếp nối hàng nghìn tích tắc đồng hồ mà cha tôi và đồng đội của ông đã chứng kiến trong trận đánh ấy.

        Antigo, khung cảnh hiền hòa trong thời thơ ấu của tôi, là nơi cha tôi ẩn cư để tránh né tất cả: nơi của tình người trong sáng và giản đơn, nơi người ta hiểu nhau qua con người đích thực và qua hành động thực tế họ làm. Nơi mà người ta làm lụng cực nhọc, dịch vụ và tình yêu gia đình có giá trị thực sự, không phải qua huyền thoại và hoang tưởng.

        Antigo là nơi trên nước Mỹ mà Bức Ảnh không làm méo mó sự việc. Nơi mà mãnh lực khác thường của nó bị che lấp bởi sức mạnh của những con người bình thường.

        Nhưng ý thiết tha của cha tôi muốn trở về khung cảnh yên bình này không được thỏa nguyện nhanh chóng như ông mong đợi.

        Vào ngày 30/3/1945, qua một trong những quyết định cuối cùng trên cương vị Tổng thống trước khi qua đời hai tuần sau đó, Franklin D. Roosevelt ban hành một chỉ thị mật cho Tổng hành dinh TQLC trên vùng Thái Bình Dương. Đấy là chỉ thị sẽ thổi bùng thêm tác động của bức ảnh trong đời sống người Mỹ -  phóng to thêm khoảng cách giữa con người John Bradley và chiến binh Doc Bradley trong Bức Ảnh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Sáu, 2018, 08:28:13 PM
    
Chương 15

TRỞ VỀ NHÀ

        Không có gì u uẩn như là thắng một trận đánh trừ khi bại trận.

QUẬN CÔNC WELLINGTON        

        Tại sáu vùng của đất nước Mỹ, sáu bà mẹ đang ngóng trông tin tức.

        Họ chưa quen biết nhau, nhưng chẳng bao lâu sẽ được nối kết nhau suốt đời qua những sự kiện ngẫu nhiên và lịch sử. Vào cuối tháng 3/1945, họ chỉ là sáu bà mẹ trong số khoảng 100.000 bà mẹ đang chờ tin tức từ Thái Bình Dương. Báo đài và phim thời sự chiếu ở rạp hát đã nói rõ rằng một trận chiến khủng khiếp đã diễn ra. Ai còn và ai mất - đây vẫn là bí ẩn lớn.

        Sáu bà mẹ: sẽ được nối kết nhau trong lúc này, với bà mẹ thứ bảy, qua tình cảnh đau khổ vì nhận dạng sai lầm.

        Ở Weslaco của Bang Texas, mẹ Belle Block nghĩ rằng mình đã nhận được tin - theo một nghĩa nào đấy - và là tin tốt lành. Gia đình Block chưa nhận được lá thư của Harlon đề ngày 1/3 cho biết “đã kinh qua mà không suy suyển gì cả.” Nhưng mẹ Belle cảm thấy an tâm. Bà cảm nhận mối dây liên hệ bí ẩn với đứa con trai bởi vì, như bà nói với mọi người, đứa con hiện diện trong bức ảnh. Không ai tin mẹ Belle; họ hỏi làm cách nào bà biết được. Nhưng bà biết, và bởi vì bà biết, bà cảm nhận rằng Harlon vẫn còn sống. Bức Ảnh làm cho bà an tâm là Harlon sẽ không chết.

        Vào một ngày lộng gió, gần cuối tháng, một bức điện tín của Tham mưu trưởng TQLC đua đến, cho biết chuyện khác hẳn.

        Nhưng dù cho những bức điện tín mang đến nỗi đau buồn cho các gia đình như nhà Block, thì một luồng tâm tư mới - tâm tư hồ hởi - đang dấy lên trên cả nước. Bức Ảnh đã tạo nên luồng tâm tư này. Bức Ảnh dường như rọi sáng cả khung trời chung quanh, làm dấy lên tia hy vọng và niềm kiêu hãnh, đôi lúc khơi dòng lệ những người nhìn thấy qua - kể cả những người kiên cường không nghĩ mình chịu ảnh hưởng của hình ảnh “gây cảm hứng” ấy.

        Công chúng muốn tay mình chạm đến Bức Ảnh, làm chủ một tấm, và đặt nó vào giữa những món vật linh thiêng trong nhà. Tờ Chronicle ở San Francisco thông báo “Ảnh màu do Họa sĩ Chuyên nghiệp Vẽ tay” và bán hết sạch chỉ trong một ngày. Nghị viện Bang California biểu quyết lời kêu gọi Bưu điện in tem mang hình ảnh giương ngọn cờ Iwo Jima để vinh danh lòng quả cảm của chiến binh Mỹ. Hãng AP đặt trụ sở ở New York đã thiết lập “Bàn Joe Rosenthal” để tiếp nhận làn sóng người hỏi han về bức ảnh. Bây giờ, khi viết về đề tài này, báo giới thường dùng các thuật ngữ “bức ảnh lịch sử”, “bức ảnh nổi tiếng”, cho thấy những người lính TQLC “anh hùng” đang giương lá cờ. Hầu như không có bài tường thuật nào đề cập đến những sự kiện thực tế chung quanh việc giương ngọn cờ. Sự kiện là không quan trọng. Bức ảnh có anh hùng tính, thế là đủ.

        Chắc chắn đấy là đủ đối với Bộ Ngân khố. Cuộc chiến trên hai mặt trận cùng việc bí mật chế tạo bom nguyên tử đã làm ngân quỹ quốc gia cạn kiệt. Không chỉ lo tịch thu tài sản dân chúng mà bổ sung được ngân khố. Trong ý niệm của nền dân trị Mỹ vào thập kỷ 1940, chiến phí được xem là phần nằm ngoài ngân sách liên bang bình thường. Một chính phủ trong thời chiến phải liên tục mang vẩn đề ra trình bày trước công chúng và hy vọng có sự đáp ứng tự nguyện vì lòng yêu nước.

        Trái phiếu chiến tranh là cơ chế chủ chốt cho việc tài trợ tự nguyện này, thực chất đấy là tiền chính phủ vay mượn từ dân chúng. Mỗi trái phiếu với mệnh giá 18,75 USD giúp chính phủ tạm thời sử dụng tiền của người mua; và người mua được hứa trong 10 năm sẽ nhận lại 25 USD. Chính phủ tổ chức những đợt bán trái phiếu qua từng nỗ lực quan hệ cộng đồng dưới tên gọi Phong trào Vay Chiến tranh. Mỗi phong trào bao gồm lời kêu gọi trên báo đài, thư gửi trực tiếp và - lúc đỉnh điểm -  là chuyên du hành qua mọi miền đất nước kéo theo những người nổi tiếng, anh hùng chiến tranh và diễn giả yêu nước. Những chuyến đi này được gọi là “Bond Tour” - Du hành Trái phiếu.

        Trong quá khứ, những chuyến Du hành Trái phiếu đã cho kết quả tuyệt vời. Nhưng trong cuộc chiến này đã có sáu chuyến đi, và với mặt trận Châu Âu đang đến hồi kết thúc, các quan chức Bộ Ngân khố đang lo lẳng về kết quả của chuyến du hành thứ bảy. Cho đến lúc này, người dân Mỹ đã chịu đựng nhiều. Bây giờ, vào tháng 3/1945, trong khi các lực lượng Đồng minh đang tiến về Thủ đô Berlin của Đức Quốc xã, ai có thể đo lường được phản ứng của khối dân đã mệt mỏi - hoặc hầu bao còn lại sau khi đã chỉ trả qua sáu đợt? Liệu sẽ thu được đủ tiền cho chi phí chống giới quân sự Nhật cuồng tín trên vùng Thái Bình Dương - vốn hứa hẹn sẽ còn nhiều đẫm máu? Bộ Ngân khố không muốn phiêu lưu.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:07:08 AM

        Việc trù định cho chuyến du hành đã được bắt đầu nhiều tháng trước - một khối lượng công việc khổng lồ. Hàng triệu người tình nguyện đã sẵn sàng để mang sô diễn đi khắp đất nước. Bây giờ, các nhà tổ chức đang lo lắng của Bộ Ngân khố có một động thái nhằm tạo ra một yếu tố có thế giúp chuyến Du hành thứ Bảy tỏa sáng hơn bao giờ: sự tham dự của những hình ảnh sống từ biểu tượng giương ngọn cờ.

        Chính vị Tổng thống đã góp phần tạo ảnh hưởng cho kế hoạch.

        Khi người đưa thư gõ cửa, mẹ Martha Strank đang có mặt trong “lâu đài” - ngôi nhà tại địa chỉ 121 Phố Pine, Quận Franklin, Bang Pennsylvania. Đối với những phụ nữ như mẹ Martha thì điện tín là điềm chảng lành. Hai con trai của bà đang phục vụ trong quân ngũ: Mike ở Iwo Jima, và Pete, thủy thủ trên chiếc uss Flanklin ờ Thái Bình Dương.

        Sau này, đứa con trai John kể lại lúc mẹ Martha đứng ở ngưỡng cửa cố hình dung làm thế nào đối phó với sự hiện diện của người đua thư, tờ giấy màu vàng anh cầm trên tay, tin dữ mà bà biết chắc là sẽ nhận được.

        John kể: “Bà hãi sợ đến nỗi bảo anh đua thư "Anh mở ra đi." Anh ấy trả lời: ‘Tôi không làm như thế được." Bà vẫn van nài: "Nhưng tôi muốn anh mở giúp." Người đua thư mở bức điện tín và đọc cho bà nghe. Bà ngã ra bất tỉnh.”

        Nhiều chục năm sau, John kể với tôi: “Tóc bà ấy bạc trắng trong vòng vài tháng. Trước khi Mike qua đời, mái tóc bà còn đen tuyền.”

        Trong khi Bộ Ngân khố chuẩn bị cho chuyến du hành “thứ Bảy Đồ sộ,” dân chúng ở Đại lộ Madison tỏ lòng ủng hộ nhiệt tình. Khoảng 22 công ty quảng cáo giỏi nhất nước Mỹ tình nguyện cống hiến kỹ năng và ý tưởng tiếp thị. Các nhà chuyên nghiệp kỳ cựu vốn đã từng cạnh tranh với nhau khốc liệt để bán mọi thứ từ xà phòng, ô tô đến thuốc lá thì bây giờ hợp tác với nhau để cùng tiếp thị cho niềm hy vọng và lòng yêu nước. Cùng với 6 triệu tình nguyện viên - khoảng 4% dân số nước Mỹ - đây là cuộc tổng động viên của nhân tài trong khối quần chúng, cũng lớn lao như việc tập hợp hạm đội để tấn công Iwo Jima. Trong khi những họa viên, nhà viết kịch bản, nhà thiết kế và nhiếp ảnh gia tạo nên những tấm pa-nô cùng với những tờ buớm và trang quảng cáo đây ấn tượng, thì những nhà quản trị kỳ cựu bỏ thời giờ rảnh rỗi để thiết kế những chiến dịch vận động cho mỗi thành phần của xã hội: nông dân, nội trợ, công nhân nhà máy, ngư dân, giới doanh nghiệp - mỗi nhóm đều được tiếp cận qua những hình thức hấp dẫn khác nhau.

        Tuy nhiên, trong mỗi chiến dịch cần có một hình ảnh tỏa sáng kết nối các thành phần với nhau.

        Đấy là một hình ảnh mà công chúng Mỹ đã tỏ lòng yêu thương, như thể tìm ra trong đó một sự xác nhận cho đích nhằm của quốc gia mà không có chính trị gia hoặc quyển sách lịch sử nào làm được. Bức Ảnh đã trở thành Sự Kiện. Tự nó đã có một số đông người ngưỡng mộ. Chuyến du hành "Thứ Bảy Đồ sộ" sẽ gắn kết hai bên trong niềm tin chiến thắng.

        Và bây giờ, con người Roosevelt già yếu có một động thái nhằm đảm bảo sự gắn kết này. Vào ngày 30/3, vị Tổng thống được dân chúng yêu mến - người lúc trước đã đi đến thị sát Sư đoàn 5 đang huấn luyện để chuẩn bị cho Iwo Jima - ban hành một chỉ thị mật lập tức được chuyển qua sóng vô tuyến đến Tổng hành dinh TQLC ở Thái Bình Dương: ĐIỀU VỀ NƯỚC LẬP TỨC BẰNG MÁY BAY... SÁU BINH sĩ HOẶC SĨ QUAN ĐÃ THẬT SỰ XUẤT HIỆN TRONG BỨC ẢNH ROSENTHAL GHI CẢNH GIƯƠNG NGỌN CỜ TRÊN NÚI SURIBACHI.

        Khi chỉ thị của Tổng thống Roosevelt được chuyển đến, những người sống sót của Đại đội E đã rời Iwo Jima được bốn ngày trên chiếc Winged Arrow. Theo sự nhận dạng sơ sài của phóng viên TQLC Keyes Beech, chỉ có một người giương ngọn cờ hiện diện trên tàu: Rene Gagnon. Còn Mike, Franklin và Hen Hanson (người được nhận diện nhầm) đã tử trận; Harlon chưa được nhắc đến; và không ai biết cha tôi hiện đang ở đâu. Ira đang ở trên tàu, nhưng chưa ai biết ông là người giương ngọn cờ. Nếu Ira muốn làm theo ý mình thì sẽ không ai được biết.

        Ira biết mình hiện diện trong bức ảnh, biết Rene cũng biết thế; và Ira cảm thấy không vui. Ông chỉ muốn ở lại với những đồng đội mà mình thương mến. Người chiến binh kỳ cựu bảo với anh liên lạc viên trẻ rằng mình không muốn tham gia chuyến Du hành Trái phiếu. Ira còn dọa rằng nếu Rene cáo giác Ira có mặt trong bức ảnh thì mình sẽ giết anh ta.

        Việc này khiến cho Rene bị ấn tượng mạnh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:07:49 AM

        Khi giấu tung tích của mình, Ira làm ngược lại chỉ thị của vị Tổng Tư lệnh quân đội - đối với TQLC thì đấy là một trọng tội do vi phạm kỷ luật. Nhưng Ira không thể nghĩ ra cách nào khác. Công luận đang nghĩ gì? Liệu họ có thể hiếu ra sự khác biệt điên rồ giữa những gì ông và đồng đội đã chịu đựng với những gì họ đang đòi hòi ông thực hiện? Sau một tháng chứng kiến chết chóc và bắn giết không ngừng, ý nghĩ đi khắp miền đất nước để được tung hô vì đã hiện diện trong một bức ảnh thì không phù hợp với cá tính của con người nông thôn thuộc sắc tộc thiểu số - về bản chất vẫn như là đang sống trong thế kỷ 19. Nhũng hồi ức của ông về Iwo Jima thì không liên quan gì đến Bức Ảnh. Chắc chắn nó không phù hợp với ý nghĩa và tinh thần của binh chủng TQLC. Và sự hiểu biết của Ira về nền văn hóa Mỹ nói chung không có nền tảng vững chắc trong uy quyền đang lên của giới truyền thông hoặc hình ảnh qua ống kính.

        Đấy giống như là Ira đang từ địa ngục trở về và thấy mình lạc đến một hành tinh xa lạ.

        Dù cho động lực gì chăng nữa, Rene không muốn thách thức ý muốn của người đồng đội kỳ cựu. Ông đồng ý giữ bí mật trường hợp của Ira, và chiếc Winged Arrow rẽ sóng tiến về cảng Eniwetok trong Quần đảo Marshall. Nơi đây, vào ngày 3/4, Rene chào giã biệt các đông đội của mình. Ông đáp một chuyến bay ưu tiên để trở về Mỹ. Mãi đến 34 năm sau, Rene vẫn còn nói về việc một đại tá được yêu cầu nhường chỗ ngồi trên chuyến bay cho mình: “Tôi, một tên lính quèn, đã đẩy một đại tá ra khỏi máy bay!”

        Ông không thể là một “tên lính quèn” mãi được. Chẳng bao lâu, ông trở thành chiến binh nổi tiếng nhất nước Mỹ. Trong số ba người giương ngọn cờ còn sống, ông là người đầu tiên đối mặt với những ánh chớp của máy ảnh phóng viên. Còn cha tôi, hai chân bị mảnh đạn ghim nát bấy, đã được tải thương về Guam và bây giờ đang dưỡng thương trong một bệnh viện ở Honolulu. Ira vẫn ngậm miệng mà ở lại với Đại đội E, trên một chiếc hải vận hạm hướng đến Hilo. chỉ một mình Rene đang trên đường gặp gỡ định mệnh của mình.

        Rene đáp xuống Thủ đô Washington ngày thứ Bảy, 7/4. Một chiếc ô tô chực sẵn đưa ông về Tổng hành dinh TQLC. Nơi đây, trong một phòng họp rộng đây những nhân viên ghi chép và được ngự trị bởi bức ảnh phóng to của Rosenthal, các cấp chỉ huy TQLC thúc giục người anh hùng mới nổi cho biết danh tính của những người giương ngọn cờ. Giống như phóng viên Keyes Beech, Rene kể ra năm cái tên: Strank, Bradley, Sousley, Hansen (được nhận diện lầm), và chính mình.

        Nhưng bức ảnh phóng đại cho thấy có 6 người. “Ai là người thứ sáu?”

        Rene lặng người, đăm đăm nhìn bức ảnh trong nhiều phút kéo dài. Cuối cùng ông thú nhận, vâng, dường như có 6 người. “Ai là người thứ sáu?” Hai bàn tay Rene bất đầu run rẩy. Ông trả lời rằng mình biết người ấy là ai nhưng đã lỡ hứa không nói ra. Họ đáp trả là không thể được, cả 6 người phải tuân hành chỉ thị của Tổng thống.

        Cuối cùng, chầm chậm và đau khổ, Rene nói ra điều bí mật. chỉ thị được truyền đến Thái Bình Dương để điều về người thứ sáu. Chuỗi ngày của Ira làm lính TQLC đơn thuần sẽ chấm dứt.

        Trong lúc này, một phóng viên của tờ Union-Leader ở Manchester được một bản tin viễn ký của hãng AP thông báo, nên đến gõ cửa nhà mẹ Irene Gagnon của Rene. Bà bật khóc vì nhẹ nhõm và vui mừng khi biết con trai mình không những còn sống mà còn là một anh hùng.

        Chàng phóng viên đề nghị được lái xe đưa bà đến nhà của Pauline để chụp ảnh cả mẹ và bạn gái của người anh hùng. Thế là, trên trang đâu tờ Union-Leader ra ngày 7/4 đăng hai bức ảnh khổ to: chân dung của Rene trong bộ đại lễ TQLC và bức ảnh của mẹ và hôn thê đang “giật nẩy người”: Irene Gagnon và Pauline Harnois 19 tuổi.

        Khi chàng phóng viên hỏi Pauline là bà có biết Rene hiện diện trong bức ảnh hay không, bà không ngần ngại đáp: “Tôi hầu như biết chẳc trong thâm tâm đấy là Rene. Tôi nghĩ đấy là do linh tính của phụ nữ.”

        Linh tính của bà hẳn phải là đáng kể, bởi vì Rene hầu như bị khuất lấp trọn vẹn trong bức ảnh. chỉ có phần đỉnh chiếc mũ sắt, một đâu gối và hai bàn tay là được thấy rõ phía sau cha tôi.

        Trong vòng vài ngày, Pauline - công nhân sống làm việc qua ngày trong những nhà máy ở Chicopee - nổi lên với một biệt hiệu cả nước đều biết đến: bà là “Người yêu của Iwo Jima”.

        Chủ Nhật, ngày 8/4, TQLC công bố danh tính của sáu nhân vật trong bức ảnh theo như Rene cho biết. Ngày hôm sau, bức ảnh xuất hiện trở lại trên các tờ báo khắp nước Mỹ, ĩân này với một danh tính nối qua một mũi tên với từng hình ảnh, ngoại trừ một người. Bản tin của hãng AP cung cấp tiếu sử của năm trong số sáu chàng trai: Hank Hansen, Doc, Ira, Rene, và Mike. chỉ CÓ Franklin, tử trận ngày 21/3, là chua được công bố danh tính vì còn chờ thông báo với mẹ ông.

        Ngày thứ Hai, 9/4, mẹ ông được thông báo.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:10:37 AM

       TRỞ VỀ NHÀ

        Họ của mẹ Goldie không còn là Sousley1. Bà đã tái hôn với một người tên Hensley Price. Nhà của bà cũng không có điện thoại. Nhưng TQLC vẫn tìm ra bà.

        Sau khi mẹ Goldie nhận được thông báo, tin tức lan truyền nhanh chóng khắp vùng.

        Marion Hamm lúc này đã học xong trung học, nhưng trong phòng ngủ bà vẫn giữ bức ảnh chân dung chính thức TQLC của Franklin.

        Bà nhận tin Frank tử trận trong khi làm thư ký. Với giọng rõ ràng, bà kể: “Khi biết được, tôi rất buồn. Tôi trở về nhà mang ra tất cả thư từ của anh ấy, huy hiệu trên chiếc mũ anh ấy tặng tôi, cùng mọi thứ, rồi mang đến nhà mẹ Goldie. Tôi trao cho bà tất cả. Tôi nói: ‘Tôi nghĩ bà hẳn muốn giữ những kỷ vật này’.”

        Chàng trai J.N. Shannon, người đã đi theo tiễn Frank trên chuyến tàu ở Hilltop - chuyến đi trong đó Franklin đã hứa “Khi trở về, tôi sẽ là một anh hùng”2 - còn nhớ khoảnh khắc ấy. “Lúc ấy tôi 13 tuổi, đang giúp cày bừa trên mảnh đất quê nhà để chuẩn bị trồng vụ thuốc lá. Mẹ tôi đi ra và cho tôi biết Frank đã chết. Tôi rất đau khổ. Tôi tháo chiếc cày ra khỏi mấy con ngựa, không còn thiết làm việc gì nữa.”

        Nhưng chính phản ứng của mẹ Goldie mà ngôi làng Hilltop sẽ nhớ mãi, với niềm thương tiếc sâu đậm nhất. Mẹ Goldie, người vẫn làm việc dài ngày trên trang trại như những ngày Franklin còn nhỏ. Mẹ Goldie, người đã thường mang nụ cười rạng rỡ, vẫn luôn cất lời khích lệ những người khác.

        Người con trai của bà với khuôn mặt tàn nhang đã thừa hưởng nụ cười ấy, được thể hiện trong phòng khách của bà: một bức ảnh của Franklin trong bộ quân phục, vẻ điển trai như ngôi sao điện ảnh, và nụ cười. Nhũng người quen biết nói mẹ Goldie thường lật bức ảnh lại để đọc lời đề tặng của đứa con trai viết sau bức ảnh:

        Với người thân thương nhất tôi từng biết
        Người tôi đã tâm sự về mọi khó khăn
        Bạn có thế nhìn qua thế giới,
        nhưng sẽ không tìm được ai khác
        Như mẹ, người Mẹ yêu quý của con

        Kính thương Frankklin.


        Bức điện tín được mang đến Trung tâm Bách hóa Hilltop. Bởi vì mẹ Goldie không có điện thoại, một đứa trẻ chạy chân trần mang bức điện đến trang trại của bà.

        Cho đến 53 năm sau, em gái Florine Moran của mẹ Goldie kể cho tôi là những người hàng xóm có thể nghe mẹ Goldie la khóc suốt đêm ấy cho đến sáng. Những người hàng xóm sống cách nhầ bà hơn 1 km.

        Ở Bang Pennsylvania, ít lâu sau giấy báo tử của Mike Strank là tin cho biết chỗ đứng của ông trong bức ảnh hình tượng ấy. Người em John Strank nhớ lại: “Chúng tôi đang trên đường trở về từ buổi lễ cầu hồn cho Mike. Tôi thấy nhiều người tụ tập quanh nhà. Lộn xộn đây những người hàng xóm và báo chí địa phương. Tôi đang tự hỏi: "Chuyện gì đang xảy ra?" Rồi người ta cho tôi biết là Mike hiện diện trong bức ảnh.”

        Xa hơn về phía tây bắc, ở vùng nông thôn Wisconsin, những người hàng xóm của bà nội Kathryn của tôi và ông nội tôi có biệt danh “Cabbage” đến nhà chúc mừng họ. Ông nội tôi tỏ ra sướng thỏa vì đứa con được nổi tiếng, nhưng bà nội tôi - vốn có tính khí giống cha tôi hơn - thì lo lắng vì e mình tỏ vẻ thiếu khiêm tốn.

        Chẳng bao lâu, bà lại lo lắng chuyện khác khi được biết đứa con trai Jack có mặt trong bức ảnh. Bà đọc lại những bài báo gần đây về sự kiện này. Bà tìm thấy một bản tin của Hãng AP ghi xuất xứ “Trân Châu Cảng” nói về việc Rene đang trở về nhà, và cho biết: “Có sáu người trong bức ảnh lịch sử - 5 người lính TQLC và một quân y tá Hải quân.” Rồi bản tin thêm một câu lạnh người: “Người lính Hải quân sau này đã mất một chân trên chiến trường.”

        Thêm một nhầm lẫn: Người lính Hải quân không phải mất một chân. Thật ra ông đang nằm dưỡng thương trong một bệnh viện ở Honolulu khi lần đầu tiên ông nhìn qua Bức Ảnh. Nhiều năm sau, ông kể lại phản ứng của mình:

        “Tôi nghĩ: ‘Trời đất, quả là một bức ảnh tuyệt vời!’ Có nhiều nỗi hoang mang. Chúng tôi không biết chắc những ai mang ngọn cờ. Tôi không thể nhận ra mình trong đó. Vào lúc ấy, đó không phải là chuyện hệ trọng.”

------------------
        1. Phụ nữ phương Tây lấy chồng thì đổi họ theo họ của chồng. Bà mẹ có tên thời con gái là Goldie Mitchell, khi cưới cha của Franklin Sousley thì có tên Goldie Sousley, khi tái hôn với Hensley Price thì có tên Goldie Price.

    2. Ở chương 4, tác giả nguyên bản cho biết Franklin đã nói câu này với người yêu Marion Hamm.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:11:13 AM

        Không hệ trọng đối với những chàng trai ở Thái Bình Dương, nhưng hệ trọng đối với nước Mỹ đang chờ đợi họ trở về. Cuộc sống của cha tôi đã bắt đầu thay đổi nhanh chóng. Ngay trước khi việc này xảy ra - một ngày trước khi ông trở về nhà - người bạn thâm giao Bob Connelly đến thăm ông. Connelly kể với tôi: “Tôi đi tìm kiếm cha anh trong bệnh viện ở đó. Tôi đang đi qua một khu bệnh nhân thì nghe có người gọi mình. Anh ấy ở đó, với hai chân được băng bó. Anh ấy có vẻ rất linh hoạt; anh nói chuyện huyên thuyên. Anh ấy kể cho tôi là vào thời gian đầu của trận chiến, mỗi khi anh ấy kêu đồng đội yểm trợ là nhiều cái đầu nhô lên để bắn che cho anh. Nhưng dần dà những người kỳ cựu ngã xuống, những tân binh quá sợ hãi nên không dám bắn yểm trợ cho anh ấy.

        Anh ấy kể việc chạy ra ngoài để kéo một người bị thương vào nơi an toàn và quay lưng về phía quân Nhật để bảo vệ những người đáng quý của mình.

        Anh ấy kế về những thi thể nằm hàng dài trên bờ biển và việc chú nhóc gốc Ba Lan từ Bang New Milwaukee bị tra tấn. Vê việc họ đập nát hàm răng của nạn nhân, cắt lưỡi, móc ra đôi tròng mắt, cắt hai vành tai, gần như cắt lìa hai tay hai chân của anh này.

        Anh ấy nhận ra rằng bức ảnh sẽ gây phản ứng ồn ào. Tôi thấy thích đôi giày bốt TQLC của anh ấy. Anh bảo: ‘Cứ giữ lấy. Bây giờ binh chủng TQLC sẽ cho tôi mọi thứ”.

        Cùng ngày 9/4, chỉ thị đưa đến chiếc Winged Arrow cho biết nhũng ngày Ira trốn lánh sắp qua đi. Trung sĩ Daskalakis cáu tiết hỏi Ira: “Làm cái thá gì mà anh không nói cho tôi biết anh có mặt trong bức ảnh!?” Ira chỉ có thể nhún vai và nói khẽ: “À, tôi không biết.”

        Chiếc hải vận hạm cập bến Hilo ngày 12/4. Ba ngày sau, Ira miễn cưỡng bước lên một chiếc máy bay để về Tổng hành dinh TQLC ở Thủ đô Washington.

        Ở Thành phố Boston, các tờ báo vô tình dâng tải một mẩu tin bi thảm và đau xót nhất trong số những nhầm lẫn liên quan đến việc giương ngọn cờ ở Iwo Jima. Bản tin mang đến niềm an ủi sau này mới biết đó chỉ là niềm an ủi tạm thời đối với bà mẹ đang u buồn của Hank Hansen - bà Joseph Evelley. Nở một nụ cười, bà hãnh diện cầm Bức Ảnh cho một phóng viên xem.

        Bà nói: “Nhìn bức ảnh này. Đấy là con trai tôi với bàn tay trái nẳm chặt lấy cán cờ. Henry đã giương lá cờ Mỹ trên Iwo Jima.”

        Ở Weslaco, mẹ Belle Block vẫn không tín lời xác minh ấy. Khi ông chồng đưa ra bức ảnh có tên Hansen, bà chỉ lắc đầu. Bà lặp lại có lẽ là lần thứ một trăm: “Tôi không màng báo chí nói gì. Tôi biết rõ con trai của tôi.”

        Joe Rosenthal, con người khiêm tốn không màng được mọi người chú ý, vẫn tiếp tục xác minh giá trị sự nổi tiếng của mình. Ông luôn nói rõ rằng, bức ảnh của mình chỉ là về việc giương lá cờ thứ hai; ông vẫn luôn nhắc đến yếu tố may mắn. Tuy thế, giữa nhũng làn sóng ca tụng, người ta không chú ý đến lời xác minh thinh thoảng mới được đăng tải.

        Một bình luận viên trên hệ thống truyền thanh NBC cáo giác một cách lộ liễu rằng Joe đã “dàn dựng một cách cẩn thận” bức ảnh. Lời cáo giác sau đó được rút lại, còn Joe vẫn bình thản. Tờ The New Yorker trong số ra ngày 7/4 trích lời ông: “Nếu nghĩ ra việc dàn dựng như thế thì vẫn không phải là điều nhục nhã gì cả. Nhưng sự thực là tôi không làm thế. Tôi được may mắn, thế thôi - ngọn gió thổi lá cờ theo đúng hướng, những người lính đứng đúng vị trí và có đủ nắng nên mọi chỉ tiết đều sắc nét.”

        Trước khi danh tính những người giương ngọn cờ được tiết lộ, bản thân bức ảnh đã thể hiện một chiến thắng quân sự vĩ đại. Bây giờ, với những cái tên đi theo sáu người, công chúng bắt đầu nhận ra đây là sự thể hiện những giá trị Mỹ trường cửu.

        Vào lúc đầu, chính Rene là người thỏa mãn cơn khao khát của nước Mỹ muốn biết về những chỉ tiết có chất con người của những nhân vật trong Bức Ảnh. Trong khi Ira còn đang ẩn mình và cha tôi chưa xuất đầu lộ diện, chính anh chàng từ Manchester - với bà mẹ và ý trung nhân đứng kế bên - là người đã xác minh những thành tố yêu dấu nhất của huyền thoại Mỹ thời chiến: Một chiến binh anh hùng cũng giống như chàng trai nhà láng giềng, tha thiết muốn kết hôn, biết chăm lo sửa hàng rào, và có bà mẹ nấu ăn ngon.

        Vị Thống đốc bang đến thăm nhà Gagnon và ngồi nói chuyện tại bàn ăn trong nhà bếp. Rene phát biếu trước Nghị viện New Hampshire giữa những tiếng hoan hô cuồng loạn. Ông đến thăm hội Hướng đạo sinh Nhi đồng và ký tặng hàng trăm bức ảnh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:11:36 AM

        Sự kiện đỉnh điểm được trù định vào ngày thứ Năm, 12/4. Sáng hôm ấy, Rene thức dậy mà cảm thấy kích động với viên cảnh là giấc mơ thời trai trẻ sắp trở thành hiện thực: Thị trấn quê nhà của ông đang tổ chức một buổi diễu hành để tôn vinh ông. Những ban nhạc diễu hành, những nhà lãnh đạo giáo hội, và những chính khách trên toàn bang đang quy tụ về Manchester để tham gia. Chú nhóc lạc loài của một gia đình tan vỡ, nhân công ở nhà máy dệt rồi trở thành liên lạc viên TQLC, đã bước lên bục vinh quang. Thay vì một mình đi rề rà dọc Phổ Elm đến rạp chiếu bóng, liếc nhìn hình ảnh mình phản chiếu trên cửa kính các hiệu buôn, Rene Gagnon sẽ tham dự cuộc diễu hành trên một chiếc xe mui trần với đầy đủ nghi thức. Rồi đám đông sẽ đổ xô ra chiêm ngưỡng.

        Nhưng sự việc cuối cùng không phải thế. Một buổi tiệc khai mào diễn ra như trù định lúc 6 giờ chiều. Nhưng rồi một thông báo gây sốc làm đảo lộn tất cả. Một bản tin được truyền đi khắp các làn sóng phát thanh và được chuyển đến phòng đại tiệc. Tổng thống Hoa Kỳ đã qua đời. Franklin Delano Roosevelt đã bị cơn tai biến màng não ở Warm Spring, Bang Georgia. Ông đang mặc một chiếc áo choàng sâm màu để ngồi cho họa sĩ vẽ chân dung thì bị cơn tai biến.

        Chuyến diễu hành của Rene trên xe mui trần không bao giờ diễn ra. Nỗi thất vọng sẽ tạo nên một động lực cho đời sống bị thu gọn của ông: Cuộc diễu hành mà ông luôn mong đợi sẽ không bao giờ bắt đầu.

        Cha tôi trở về nước Mỹ trong thầm lặng. Khi được đưa đến Bethesda, ông gọi điện về nhà, nói chuyện với ông bà nội tôi sau nhiều tháng vắng mặt. Ông thản nhiên nói về những vết thương của mình và về chỉ thị của Tổng thống triệu ông về Washington. Sau cuộc điện đàm, bà nội tôi tỏ ra rất buồn. Trong một thời gian dài, bà vẫn giữ lý do trong đầu: Đứa con trai không muốn mẹ buồn nên không nói gì về việc bị cụt một chân.

        Ngày 12/4, Thượng viện Bang Wisconsin bỏ phiếu ra nghị quyết ca ngợi “John Bradley” là người đã “giúp cắm cột cờ Mỹ trên đỉnh Suribachi.”

        “Doc” là biệt hiệu mà chẳng bao lâu ông sẽ dẹp qua một bên cùng với những kỷ vật thời chiến. Cái tên thân mật “Jack” thì ông vẫn giữ cho gia đình và bạn bè mình ở Wisconsin; nhưng ông sẽ được giới thiệu là “John” cho tất cả những người gặp ông từ lúc này trở về sau.

        Ngày thứ Năm, 19/4, người giương ngọn cờ còn sống cuối cùng hạ cánh xuống Washington. Ira đã thấy Rene đến từ New Hampshire và cha tôi đến từ Bethesda trên đôi nạng gỗ. Cho đến lúc này, cả ba đã phục vụ Bộ Chiến tranh. Nhưng bây giờ theo chỉ thị của Tổng thống, nhiệm vụ của họ được chuyển sang Bộ Ngân khố trong một cuộc đấu tranh mới - lần này là đấu tranh vì tiền bạc. Và Bộ Ngân khố muốn làm nổi đình nổi đám ngay từ đầu. Ngày kế tiếp, ba người được diện kiến lần Tổng thống Harry Truman ở Tòa Bạch ốc.

        Trong khi Ira báo cáo vụ việc ở doanh trại TQLC, ông được cho xem bức ảnh phóng to của việc giương ngọn cờ. Ira lập tức nhận ra sự sai lầm ban đầu. Hình ảnh người lính ở chân cột cờ không phải là Hank Hansen, mà chính là Harlon Block. Ira nhớ lại sự việc mà Rene Gagnon và cha tôi không thể nhớ, bởi vì hai người này nhập bọn ở khoảnh khắc cuối cùng: Chính Harlon,

        Mike, Franklin và Rene đã đi lên Suribachi để đặt đường dây điện thoại; chính Rene đã đi cùng để mang lá cờ thay thế. Hansen không tham gia vào những việc này.

        Ira hành động theo sự thôi thúc ban đầu: để nói lại sự thật. Ông vạch ra sự nhầm lẫn với sĩ quan giao tế TQLC, người nhận trách nhiệm để mắt trông chừng anh trai trẻ sắc tộc Pima. Câu trả lời của vị sĩ quan khiến Ira vô cùng kinh ngạc: Phải ngậm miệng lại. Đã quá muộn nên không thể làm gì được; báo cáo đã được công bố.

        L.B. Holly - người vẫn giữ quan hệ với Ira trong nhiêu năm sau đó - kể cho tôi: “Khi đến Washington, Ira bảo với họ đây không phải là Hansen mà chính là Harlon. Một hạ sĩ bảo Ira phải giữ bí mật, vì mọi người đã được nhận dạng. Sau đó, Ira bảo với tôi rằng anh ấy rất bức xúc vì được lệnh phải nói dối. Anh ấy nói mình đã khiếu nại nhưng không thể làm được gì khác.”

        Ira cảm thấy bất an khi gặp lại Rene. Ira không ra tay giết đồng đội cũ như đã hăm dọa. Nhưng ông cũng không tha thứ tội mách lẻo. Ira chỉ nói chuyện với Rene thông qua cha tôi.

        Công chúng Mỹ không hề nhìn ra sự rạn nứt này. Đối với đám đông, các chàng trai giống như là Ba chàng Ngự lâm Pháo thủ, ngoại trừ là họ có một tên chung khác biệt: Đôi lúc họ là “những anh hùng giương ngọn cờ Iwo Jima”; thường thường họ được gọi là “những anh hùng”.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:12:53 AM

        Đối với các chàng trai, đấy có vẻ như là điều không tưởng. Anh hùng? Họ vừa trở về từ những cảnh tượng khủng khiếp ở một trong những trận chiến đẫm máu và khốc liệt nhất lịch sử, nơi mà những anh hùng xung quanh họ đã hành động với lòng dũng cảm không thể tưởng tượng được, chịu gian khổ, và ngã xuống hầu như từng phút một. Còn ở đây là đám quần chúng Mỹ đang tỏ ra cuồng nhiệt vì... vì cái gì? Vì một bức ảnh chụp cầu may trong một khoảnh khắc đáng lẽ ra phải quên đi, ghi lại một động thái không đáng kể trong một tháng đầy rẫy những động thái có ý nghĩa quan trọng.

        Như Ira viết trong bức thư gửi cha mẹ với sự ngạc nhiên: “Thật là khôi hài mà thấy một bức ảnh tạo ra những chuyện gì.”

        Ngày đầu tiên của chương trình “anh hùng tính” chính thức bắt đầu sớm và diễn tiến nhanh chóng. Bước lên những bậc thang của Tòa Bạch ốc, đi qua những hàng lính dàn chào, đi xuống những gian phòng lịch sử với công nhân viên chức đứng xếp hàng hoan hô, rồi đi vào Phòng Bầu dục1 lúc 9 giờ 15 sáng. Vị lần Tổng thống đứng dậy để chào đón họ.

        Sau đấy, cha tôi kể với tờ báo Boston Globe: “Trước khi gặp vị Tổng Tư lệnh, tôi rất lo lẳng. Nhưng sau khi bước vào, tôi cảm thấy không khác gì khi đi vào một văn phòng ở thị trấn quê nhà tôi để gặp một doanh nhân địa phương.”

        Ba chàng trai trẻ tặng Tổng thống Truman một tấm pa-nô chính thức cho chuyến Du hành Trái phiếu. Truman tươi cười yêu cầu ba chàng trai chỉ hình ảnh mình trên tấm pa-nô trong khi phóng viên nhiếp ảnh liên tục bấm máy - làm bản tin trên trang nhất ra ngày hôm sau, tạo giá trị thông tin cho chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy. Ông nắm chặt lấy tay cha tôi và rồi tay Rene, gọi họ là những anh hùng. Rồi ông quay sang Ira nói: “Anh là người Mỹ thực sự bởi vì anh là người Da đỏ Mỹ. Và bây giờ, anh con trai ạ, anh là người anh hùng Mỹ thật sự.”

        Chặng kế tiếp trên hành trình là Thượng viện Hoa Kỳ. Thượng nghị sĩ A.B. “Happy" Chandler của Bang Kentucky thông báo với đồng sự ràng những anh hùng của “một trong những bức ảnh vĩ đại của lịch sử Mỹ” đang chờ bên ngoài: “Tôi yêu cầu nhất trí chấp thuận cho ba người trai trẻ này được đua vào hội trường Thượng viện để tôn vinh họ.” Ba chàng trai bước vào, cả Thượng viện ngưng công việc đứng dậy vỗ tay, rồi dàn hàng và chen lấn nhau giống như nhiều Hướng đạo sinh Nhi đồng để đón tiếp cha tôi, Rene và Ira. Giữa lúc cảm nghĩ đang dâng trào, Ira Hayes trong khoảnh khác ngân ngủi tỏ lộ bản chất không màu mè của mình - một người xa lạ có ý thức về bản thân mình và không hề muốn che đậy tính thẳng thắn chân thật.

        Một thượng nghị sĩ từ một bang miền Tây vội bước đến Ira, đưa tay ra bắt, lập bập nói câu gì đấy mà ông tin rằng đúng theo ngôn ngữ sẳc tộc Pima. Ira chăm chăm nhìn ông trong một khoảnh khắc, rồi với sự thắng thắn vô tư, hỏi: “Ông muốn gì?”

        Khoảnh khắc qua đi, rồi Chủ tịch Hạ viện Sam Rayburn dẫn ba chàng trai dự bữa ăn trưa ở Điện Capitol.

        Tối hôm ấy, Rayburn hộ tống ba người đến Sân Vận động Griffith đế tham dự trận đấu khai mạc mùa bóng giữa hai đội Senators và Yankees. Người hâm mộ hướng mắt nhìn về ba chàng trai trong bộ quân phục, một người chống nạng khi họ ngồi xuống hàng ghế danh dự.

        Vị Chủ tịch Hạ viện ném quả bóng đầu tiên. Rồi ánh đèn pha rọi đến ba chàng trai trong khi loa phóng thanh vang dội cả cầu trường:

        “Thưa quý vị! Tất cả quý vị đã trông thấy hình ảnh sáu người Mỹ giương lá cờ của chúng ta trên Iwo Jima! Ba người trong số họ còn sống! xin giới thiệu ba người: Binh nhất TQLC Gagnon, Binh nhất TQLC Hayes và Quân Dược tá cấp Hai Bradley!”.

        Khoảng 24.000 người hâm mộ đứng dậy vỗ tay hoan hô ba chàng trai.

        Trong khi ba người sống sót đành phải thích nghi với cuộc sống của người nổi tiếng hư ảo, ở Weslaco gia đình Block cuối cùng đành phải thích nghi với cái chết không hề hư ảo của Harlon. Cuối cùng, mẹ Belle phải nhìn nhận với chính mình rằng đứa con Harlon sẽ không trở về nhà. Nhưng bà càng tỏ ra cương quyết về vị trí đích thực của Harlon trong Bức Ảnh thì Ira lại muốn thoát ra khỏi vị trí của mình. Người cha thu mình trong nỗi đau đầy sức chịu đựng theo cung cách Đức. Ed Sr. và Harlon đã trở nên thân thiết vào thời gian họ cùng lái xe tải chở dầu. Và ông đã nồng nhiệt cổ vũ cho tài năng của Harlon trên sân bóng.

        Ông không khóc, không nói ra thành lời nỗi đau của mình. Nhưng người bạn đứa con Corky của ông, Dale Collins, còn nhớ đã để ý đến dấu hiệu của nỗi đau mà người cha muốn giữ cho riêng mình:

        “Trong nhà thờ có đặt một chiếc bàn với những lá cờ Mỹ nhỏ thể hiện những chàng trai trong giáo xứ đã đi ra trận chiến. Nếu có người tử trận, anh sẽ có một lá cờ bảng vàng. Tôi vẫn nhớ mãi là ông ấy luôn ngồi ở hàng ghế xa bên cánh phải, theo góc độ để ông không nhìn thấy lá cờ của Harlon.”

        Nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp tục: Cuộc sống của những người trở về, cuộc sống của đất nước. Người cha của Harlon đang đau đớn hẳn không thể tưởng tượng gánh nặng mà ba đồng đội của Harlon mang trên người khi họ chuẩn bị tham gia Chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy. Rất có thể là bản thân ba chàng trai cũng không mường tượng hết.

        Nhưng những người khác thì mường tượng được. Sau khi ba chàng trai gặp gỡ Harry Truman, Bộ trưởng Ngân khố Morgenthau nán lại với vị lần Tổng thống chỉ để báo cáo ít con số nặng nề. Cuộc chiến đã ngốn hết 88 tỉ đô la Mỹ từ ngân sách trong năm tài chính là 99 tỉ đô la Mỹ. Nhưng tổng cộng các nguồn thu của chính phủ chỉ ở mức 46 tỉ đô la Mỹ.

        Điều thiết yếu là Chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy phải thu hoạch khoản tiền lớn.

----------------
        1. Tên phòng làm việc của Tổng thống Hoa Kỳ.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:14:21 AM

Chương 16

CHUYẾN DU HÀNH THỨ BẢY ĐỒ SỘ
         
        Thật là khôi hài khi thấy một bức ảnh tạo ra những chuyện gì.

IRA HAYES       

        Chính xác số tiền phải là mười bốn tỉ đô la. Đấy là chỉ tiêu mà Bộ Ngân khố đặt ra cho Chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy. Bảy ti từ giới doanh nghiệp và bảy tỉ từ những cá nhân.

        Mười bốn tỉ: chỉ tiêu cao nhất trong số tám phong trào trái phiếu của Thế chiến II. Số tiền lớn hơn tổng chi của chính phủ trong năm 1941 trước khi nước Mỹ tham chiến và bằng 1/4 ngân sách trong năm 1946.

        Mười bốn tì để cung ứng thực phẩm, trang phục, doanh trại, và vũ khí cho hàng triệu nam nữ quân nhân vẫn còn đang tham gia Thế chiến II, và cung cấp thêm máy bay, tàu thuyền và xe tăng cho nỗ lực chiến tranh. Mười bốn tỉ cho cuộc chiến đang tiêu tốn mỗi ngày 250 triệu USD; mỗi phút 175.000 USD; một cuộc chiến chống lại đối phương ở vùng Thái Bình Dương vẫn còn đang bổ sung mức thiệt hại 250.000 người mỗi năm.

        Dân số 160 triệu người được kêu gọi đóng góp 14 ti: tính bình quân là gần 100 USD cho mỗi đàn ông, phụ nữ và trẻ nhỏ nước Mỹ. Đấy là ở một quốc gia mà thu nhập 1700 USD mỗi năm đủ cho một gia đình sống thoải mái; nơi mà chỉ phí theo học Đại học Harvard tốn 1000 USD; nơi mà tiền phòng khách sạn ở New York giá 3 USD một ngày; nơi mà một bữa ăn sáng đây đủ giá 32 cent.

        Đấy là cả một núi tiền đây khó khăn như là núi Suribachi. Và bây giờ, ba người giương ngọn cờ còn sống sót phải tiến lên để chinh phục cái núi tiền ấy.

        Những Chuyến Du hành Trái phiếu có chỗ đứng thân thương trong truyền thống Mỹ vào thời này. Có hai mục đích: Để kêu gọi sự chú ý đến nhu cầu thời chiến mà mua trái phiếu chính phủ, và để kêu gọi người dân bước ra khỏi nhà và văn phòng của họ mà đi mua trái phiếu ở những địa điểm mở rải rác khấp thị trấn và thành phố. Đấy là những nơi mà sô diễn đây sắc màu hoành tráng được tổ chức.

        Có tầm mức quốc gia nhưng chi tiết thay đổi tùy từng địa phương, những Chuyến Du hành Trái phiếu kết hợp nhiều thành phần truyền thống của văn nghệ tạp kỹ, hội chợ miền quê, diễu hành ngày Quốc khánh. Cũng có thêm nhiều màn thu hút đông đảo quần chúng, giống như những năm sau Elvis, nhóm Beatles, và nhóm Rolling Stones thu hút các fan hâm mộ.

        Trong khi những gia đình tụ tập mắt đảo điên, vẫy những lá cờ dọc hai bên những con đường chính, thì từng đội hình binh sĩ và ban nhạc nổi khúc quân hành đi qua, tiếp theo là những xe mui trần chở những ngôi sao điện ảnh vẫy tay chào khán giả và chở những anh hùng chiến trận mang huy chương. Những trận đánh giả được tổ chức ở các công viên và sân vận động. Và trong khi loa phóng thanh thông báo tên tuổi những chính khách, người nổi tiếng và anh hùng sống tại địa phương - nhiều người cụt một tay hoặc một chân - người ta kêu gọi đám đông cùng tham gia hỗ trợ đất nước mà mua trái phiếu.

        Đấy là sự thách thức nặng nề - và sự phấn khởi không gì sánh được - khi phải vươn ra đám đông vào thời gian chưa có truyền hình: Một sô diễn vĩ đại từ nơi này qua nơi khác để mang đến từng gia đình Mỹ những hiện thực của chiến tranh. Một nỗ lực của chính phủ nhằm vận động nhiều người dân trong cách thức gần như mặt đối mặt để tự nguyện hy sinh hơn là tìm cách tịch thu tiền bạc qua các khoản thuế và phí. Một nỗ lực rộng lớn của nền dân trị mà bây giờ đã biến mất khỏi đời sống văn hóa.

        Chuyến Du hành Trái phiếu thứ Bảy sẽ tổng hợp những sắc thái của sáu chuyến trước, và còn hơn thế nữa. chuyến Du hành thứ Bảy Đồ sộ sẽ lấy biểu tượng là bức ảnh nổi tiếng nhất trong lịch sử nhiếp ảnh. Và sẽ đem trưng bày, cho quần chúng chiêm ngưỡng, ba trong số sáu nhân vật từ bức ảnh mà bây giờ đã trở thành gần như là thiêng liêng. Cuộc du hành sẽ đi qua 33 thành phố rồi trở về thủ đô vào ngày Quốc khánh 4/7. Trong khi chuẩn bị để xuất phát ngày 9/5 ở Thủ đô Washington, ma lực của Bức Ảnh đối với đất nước đã trở nên sâu sắc hơn.

        Bức Ảnh đã tạo ra cảm xúc cho cả nước Mỹ, thể hiện tất cả những gì cao đẹp mà người Mỹ muốn noi theo, trở thành một lăng kính vĩ đại thu hút ánh sáng của mọi giá trị Mỹ rồi phát tán ra một cầu vồng chói lọi của cảm nghĩ và tư tưởng. Một doanh nhân đê nghị trả Hãng AP 200.000 USD để mua bản quyền của bức ảnh. Dân biểu w. Sterling Cole của New York tuyên bố bức ảnh phải là “sở hữu công cộng” - vì ý nghĩa quá to tát đối với đất nước nên không được sử dụng cho mục đích thương mại. Cuối cùng, Hãng AP quyết định trao bản quyền cho chính phủ, với mọi khoản tác quyền được đưa vào quỹ nghi hưu cho hải quân.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:14:56 AM

        Nhà điêu khắc Felix de Weldon tạo ra một đài tưởng niệm việc giương ngọn cờ. và ở Quảng trường Times, một bức tượng của việc giương ngọn cờ cao bàng tòa nhà 5 tầng đang được xây dụng.

        Ngày thứ Ba, 8/5, báo chí đăng tải mẩu tin trọng đại nhất trong cuộc chiến: Đức đã đầu hàng. Thêm một mẩu tin liên quan đến Bức Ảnh được đưa lên trang nhất của tờ The New York Times: Joe Rosenthal đã đoạt giải Pulitzer.

        Thông thường, tác phẩm báo chí trong năm 1945 chỉ được xét trao giải vào năm 1946. Nhưng trong lần đầu tiên và duy nhất này, Đại học Columbia đã phá lệ tuyên bố: “Bức Ảnh nổi tiếng của Joe Rosenthal về việc giương ngọn cờ ở Iwo thể hiện một trong những khoảnh khắc vĩ đại nhất của cuộc chiến”, một “tia sáng của lịch sử được ngưng đọng”.

        Ngày hôm sau, ánh nắng chan hòa và những ngọn gió hiu hiu mùa xuân tạo thuận lợi cho buổi lễ xuất phát Chuyến thứ Bảy Đồ sộ ở Washington. Trong khi dàn kèn quân nhạc tòa ánh chói sáng và cờ xí bay phấp phới trên đầu, những thành viên của Nội các và của cả hai viện Quốc hội tụ tập bên ngoài Điện Capitol để chúc phúc cho chuyến du hành.

        Sau vài bài diễn văn và giới thiệu, màn trình diễn bắt đâu. Ban nhạc TQLC trỗi bản quốc thiều Mỹ. Rene đứng nghiêm nghị, trong khi cha tôi và Ira kéo lá cờ lên trên nóc vòm của Điện Capitol. Trong khi giương lá cờ ở đây, các chàng trai đã đưa một di tích quốc gia vào lịch sử nước Mỹ.

        Trong vòng vài tiếng đồng hồ, Ira, Rene và cha tôi - bây giờ là những “anh hùng bất tử" - tiến bước lên đường với di tích thiêng liêng của họ để khuấy động lòng người.

        Họ bước lên tàu hỏa đi New York. Trong khi họ đang trên đường đi, Bộ trưởng Ngân khố Morgenthau và Tham mưu trưởng TQLC nhận xét về chuyến du hành của họ trong chương trình phát thanh ở Washington cùng với Bob Hope. Rồi Hope song ca với Bing Crosby qua cầu truyền thanh nối với Hollywood. Bài hát sẽ được phát đi phát lại trên toàn nước Mỹ trong nhiều tháng kế tiếp, do Crosby ghi âm với tựa đề Buy, Buy Bonds (Mua, Mua Trái phiếu đi).

        Ba chàng trai du hành mà không thiếu người tháp tùng. Một phóng viên TQLC lĩnh nhiệm vụ như là người bảo mẫu: Keyes Beech. Ira giải thích vai trò của Beech trong bức thư viết cho cha mẹ ông: “Bốn người chúng con đi trong chuyến này. Gagnon, Bradley, và Thượng sĩ Beech, người trông nom chúng con và chăm sóc cho những sự việc trong chuyến đi. Anh ấy là người tuyệt vời và con mến anh ấy.”

        Ira mến Beech vì một số lý do, kể cả vài lý do lệch lạc. Lý do chủ yếu là Beech đã củng cố ý niệm của Ira về thời gian vui thú. George McArthur, bạn thân của Beech sau này, kể với tôi: “Keyes uống rượu như hũ chìm. Anh ta nghiện rượu nặng cho đến lúc gia nhập Alcoholics Anonymous vào cuối thập niên 1960. Anh ta bảo tôi là anh ta và Ira uống rượu hàng đêm trong chuyến Du hành Trái phiếu, trong khi nhiệm vụ chính của anh ta là dẫn dắt Ira tham dự những tiết mục theo lịch trình.”

        Các chàng trai xuống tàu hỏa ở Ga Trung tâm New York, được một ủy ban đón tiếp vỗ tay nồng nhiệt. Họ há hốc nhìn tấm pa-nô khổng lồ cổ động Chuyên Du hành Trái phiếu phủ mặt tiền tòa Thị sảnh Thành phố. Được dẫn đi suốt mười khu phố từ Đại lộ Park cho đến Waldorf-Astoria, họ đều thấy hình ảnh của mình bao phủ hầu như mọi mặt tiên tòa nhà trong thành phố.

        Hầu như tất cả cư dân New York đều trông thấy những hình ảnh này. Pa-nô cổ động trái phiếu phất phới từ cột đèn chiếu sáng, trang trí cho xe buýt và taxi, tô điểm cho cửa sổ các tòa nhà ngân hàng, nhà máy, nhà bưu điện và trung tâm bách hóa. Theo cách thức hữu hình, các chàng trai đã nổi tiếng trước khi họ đi đến.

        Thêm một bức ảnh phóng đại che phủ phía trên lối vào của Waldorf. Khi ba chàng trai bước vào tiền sảnh, nhân viên của khách sạn nổi tiếng trên thế giới này sấp hàng dọc theo lối đi của họ mà vỗ tay.

        Ngay khi đã nhận phòng, cha tôi bị hoa mắt liền nắm lấy một tờ giây viết thư của khách sạn và viết vài dòng gửi về nhà:

        Cha Mẹ và mọi người thân thương,

        Chúng con đã đến New York và hãy nhìn nơi chúng con treo mũ. Chao ôi, cái nhà xí quả là điệu đàng. Con không đủ sức trả tiền phòng dù có $100. Tất cả các bữa ăn đều miễn phí và dịch vụ bồi phòng cũng thế... Con thật sự lấy làm khích động vì mọi thứ, thế nên nếu con nói không giống như chính mình thì nhà hẳn hiểu tại sao.



Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:16:25 AM

        Cùng lúc, Ira cũng hí hoáy biên thư về nhà:

        Cha mẹ và các em,

        Chúng con đi từ Washington đến Thành phố New York đã được 2 giờ. Con khó mà nhận ra mình đang ở đây trong khách sạn nổi tiếng nhất thế giới. Nhưng con đang ở đây...

        Ngày mai sẽ là ngày hội lớn. Chúng con sẽ đến Nhà hát Roxy vào buổi sáng đế dự chương trình ra mắt. Rồi chúng con đi Quảng trường Times đế khánh thành đài tưởng niệm việc giương ngọn cờ ở Iwo, cao gần 8 m. Và rồi buổi tối là tiệc đãi chúng con. Rồi chúng con sẽ đi Philadelphia và Boston sau đó trở về New York. Vì thế mà nhà sẽ thấy chúng con bận rộn.

        Đứa con phấn khích nhưng hạnh phúc...
        Ira H. Hayes.


        Chỉ tiêu bán trái phiếu ở Thành phố New York là 287 triệu USD, và lịch trình của ba chàng trai bị chật kín. Họ bắt đầu vai trò của mình như là những người nổi tiếng: diễu hành vào sáng thứ

        Năm với buổi tặng chữ ký trong Nhà hát Roxy ở Quảng trường Times. Những người hâm mộ đứng chật kín cả tiền sảnh, trố mất nhìn ba chàng trai dưới bức ảnh khổng lồ của Rosenthal chen vào giũa những bức chân dung nhỏ hơn của Roosevelt và Truman.

        Cùng lúc, những hoạt động gây quỹ diễn ra khắp thành phố. Tại Astor, đại diện giới may mặc cam kết đóng góp 100 triệu USD. Những nhà điều hành bảo hiểm nhân thọ thì được mời ăn tối nơi khác, cam kết 30.000 nhân viên bảo hiểm sẽ đóng góp.

        Nhưng sô diễn lớn nhất là ngày thứ Sáu, 11/5, ở Quảng trường Times. Nơi đây, bức tượng Iwo được khánh thành với sự chứng kiến của Thị trưởng Fiorello La Guardia và hàng chục nghìn cư dân New York. Ngày hôm sau, tờ báo Times in hình cha tôi đang kéo lá cờ lên pho tượng trong khi Rene, Ira và Tham mưu trưởng TQLC Vandegrift và vị thị trưởng đứng nghiêm chào.

        Hết lần này qua lần khác, dù cho có nhiều cơ hội, ba chàng trai vẫn không hùa theo giới truyền thông và chức sắc đọc diễn văn, vẫn không cho rằng mình là chiến binh quả cảm đã giương lá cờ giữa làn đạn của đối phương. Các phóng viên New York ném cho họ nhiều cơ hội. Nhưng thay vào đấy, ba chàng trai kế lại sự thật giản đơn: Họ chỉ làm mỗi công việc là giương lên lá cờ thay thế. Có lẽ vì chua chát phần nào, tờ Times tường thuật rằng cả ba “có vẻ cảm thấy như bị quây rầy và thú nhận rằng xuất hiện trong Chiến dịch Vay Chiến tranh thứ Bảy "không có vè vui như bề ngoài cho thấy.”

        Rõ ràng là tính khiêm tốn thì không đủ đối với báo giới hung hăng vùng đô thị. Vinh quang là thứ giúp báo được bán chạy. Báo giới muốn những mẩu chuyện anh hùng tính máu lửa từ những biểu tượng sống đứng trước mặt. Cuối cùng, chính cha tôi là người ngăn chặn các phóng viên ở một cuộc họp báo ứng khẩu. Cha tôi nói họ nên đăng tải sự thật: “Phải nhờ đến mọi người trên hòn đảo và những người trên các tàu đậu ngoài khơi mới kéo được lá cờ trên núi Suribachi.”

        Ira đã học cách tránh né những chuyện phiền hà này trong cái chai thân yêu của ông. Tật uống rượu khiến cho người bảo mẫu bét nhè không kém phải thêm vất vả. Trong buổi đại tiệc đêm ấy, Beech phải cố gắng lắm mới có thể giữ anh chàng Ira váng vất còn đủ tỉnh táo để “phát biểu ít lời” khi đến phiên mình. Sau này, Beech viết:

        Quá là ngượng nghịu khi giới thiệu với khán giả một anh chàng đang ngáy khe khẽ kế bên mình. Nhưng cái anh Tù trưởng luôn tỉnh táo trở lại khi tôi nói đến tên anh ấy.

        Anh đứng dậy, đáp lại lời giới thiệu bằng cách ngoác miệng ra ngáp khiến cho khán giả đồng loạt có phản ứng, rồi ngồi xuống và lấy lại giấc ngủ.

        Ira là một chiến binh tài giỏi, nhưng không phải là mẫu người thích hợp để đi trên Chuyến Du hành Trái phiếu. Beech tin rằng tật uống rượu của Ira là cách bảo vệ chống lại mặc cảm thiếu tự tin.

        Ngày thứ Bảy, nhiều đám đông ở Philadelphia tụ tập để hoan hô và được nhìn thoáng qua các chàng trai trong khi đoàn ô tô chạy đến Tòa Độc lập (Independence Hall). Nơi đây, những ánh đèn nhiếp ảnh lóe lên khi họ đứng trước Chuông Tự do (Liberty Bell). Báo giới săn lùng một câu chuyện dị thường, nhưng ba chàng trai chi có thể nói đến chuyện mà họ còn nhớ, chủ yếu là việc giương ngọn cờ.

        Và một lần nữa, báo giới thăm dò một khía cạnh nóng. Một phóng viên không nói đến chứng cứ nào nhưng lại đề cập lời đồn đại rằng bức ảnh được dàn dựng. Ba chàng trai trả đũa rằng: “Bức Ảnh là do hoàn toàn ngẫu hứng”.

        Chặng kế tiếp là Boston, nơi mà một vụ việc gây sốc nhắc nhở mọi người rằng cuộc chiến là có thật và gần gũi quê nhà: Ba tàu ngầm Đức đã bị bắt cách bờ biển không xa và đang bị kéo về Cảng Boston để chịu đầu hàng.

        Sự kiện này nâng cao tầm quan trọng của Chuyến Du hành Trái phiếu. Chi tiêu cho Bang Massachusetts là 700 triệu USD và những ngôi sao Hollywood kể cả Joan Fontaine và Jane Wyman - lúc này là vợ của Ronald Reagan1 - đã đi đến để tạo thêm vẻ mê hoặc cho các chương trình lễ hội.

--------------------------
        1. Tống thống sau này của nuớc Mỹ Ronald Reagan và Jane Wyman cưới
nhau năm 1940, ly dị nhau năm 1948.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Sáu, 2018, 04:17:01 AM

        Cô Fontaine và cô Wyman lâm vào hoàn cảnh bị một kè nghiệp dư trơ tráo nhất lấn át.

        Vào buổi sáng Chủ Nhật, trong khi nhân viên báo giới đang xúm xít ở Ga Nam để chờ chuyến tàu chở các chàng trai, một cô gái xinh đẹp không biết từ đâu xuất hiện và đi đến gặp họ. Với ngữ âm New Hampshire đặc thù, cô thông báo với các phóng viên là cô đến để gặp “hôn phu-anh hùng” và đề nghị họ có thể chụp một bức ảnh khi hai người gặp nhau trong hạnh phúc.

        Đấy là Pauline, đã tự đi từ Manchester đến Boston. Khi tàu dừng bánh, cô xông đến chào đón ba anh chàng Ira, cha tôi và Rene đang bước xuống - mà người cô yêu không tỏ ra chưng hửng. Rồi cô trở thành ngôi sao sáng nhất trong ngày.

        Mánh khóe táo bạo của cô không được lòng hai anh chàng kia. Vốn luôn lúng túng khi gặp phụ nữ, Ira nghĩ Pauline đã quá khiếm nhã khi bám lấy Rene một cách công khai như thế. Vốn là tín đồ Công giáo bảo thủ, cha tôi không chấp nhận việc một cô gái chưa chồng không có bảo mẫu mà lại đến trà trộn với họ.

        Pauline không hề bận tâm về những điều này vì cô nhận ra mình đang sáng giá. Ngay khi Rene vừa trở về nhà, cô đã bắt đầu thúc ép anh cưới cô.

        Mẹ Irene của Gagnon cố bảo vệ cậu con trai tránh sự tấn công của Pauline. Đứa con trai của Gagnon kể cho tôi:

        “Bà nội tôi bảo cha tôi: "Đừng kết hôn sớm như thế, đừng ngu xuẩn. Con đang chuẩn bị cho chuyến Du hành Trái phiếu. Hãy đợi đấy. Tính kỹ thêm khi trở về nhà."

        “Nhưng Pauline vẫn thúc đẩy cha tôi. Khi cha tôi trở về như là người anh hùng, mẹ tôi sống trong lớp hào quang này. Điều này có nghĩa bà được đi đây đi đó và làm được thêm nhiều việc. Đầu óc bà luôn nghĩ về việc này.”

        Một cơn mưa nặng hạt không ngăn cản 200.000 cư dân Boston đứng dọc hai bên đường để hoan hô đoàn diễu hành. Các ngôi sao màn bạc ngồi trên xe jeep mang những tấm biển lớn ghi tên của họ, còn các chàng trai ngồi trên một chiếc xe không có biển gì cả. Ai cũng có thể nhận ra họ.

        Họ kéo lên lá cờ ở tòa nhà hành chính của bang cùng với Thống đốc bang, rồi cùng với 100.000 cư dân Boston dự khán buổi diễn tập quân sự. Hết xướng ngôn viên này đến xướng ngôn viên khác nói về lòng dũng cảm của các chàng trai.

        Và một lần nữa, chính Ira là người gây sốc khi phát biểu ngôn từ không được ghi trong kịch bản. Sau khi vị Thống đốc đã giới thiệu Ira là “người duy nhất ở đây có thể xung mình là người Mỹ thực sự”, Ira bước đến micrô và làm mọi người chưng hửng: “Tôi là người Da đỏ và tôi lấy làm hãnh diện về điều này, vậy đấy!”

        Ira cũng khiến cho báo giới hiếu kỳ về ông. Tờ Boston Globe in mẩu chuyện kể ràng “con người Da đỏ Pima thuần chủng từ Bang Arizona... cảm thấy thoải mái với khẩu súng trường trong tay hơn là đứng trước micrô.” Mấu chốt của mẩu chuyện là “với ký ức về nhiều đồng đội bị thương vong trên Iwo Jima và với cuộc chiến vẫn còn gian khổ phía trước chống lại bọn Nhật thù địch, Ira không muốn trở về nước.”

        Đấy là một bản tin gây nhiều cảm xúc, nhưng không xác thực. Ira thích mọi thứ trong Chuyên Du hành Trái phiếu, đặc biệt là những giờ khuya khoắt. Nói đúng hơn, anh thích hầu như tất cả mọi thứ ngoài nhiệm vụ chính của mình: phát biểu với báo giới và công chúng.

        Vào buổi chiều thứ Hai, 14/5, ba “người anh hùng” trở lại New York để tham dự vào những nghi lễ cam kết đóng góp trái phiếu chiến tranh ở Phố Wall. Có thêm một tiết mục cho chuyến trở về: Ba bà mẹ của ba người giương ngọn cờ đã ngã xuống được mời lên khán đài cùng với Ira, cha tôi và Rene.

        John Strank hộ tống mẹ Martha đi từ Quận Franklin của Bang Pennsylvania. John kể: “Cha tôi quá đau khổ sau cái chết của Mike nên không đi được. Chuyến đi là sự thách thức đổi với mẹ tôi. Bà lo lẳng tiếng Anh của mình không được trôi chảy.”

        Mẹ Goldie - bây giờ là bà Hensley Price - đến từ Hilltop của Bang Kentucky. Bà nói với một phóng viên rằng mình chưa bao giờ đi xa khỏi nhà quá 240 km.

        Từ Somerville của Bang Massachusetts, mẹ Madeline Evelley của Hank Hansen (vẫn còn được xem là người thứ sáu giương ngọn cờ) đi đến cùng với con gái Gertrude.

        Cả bầu đoàn thê tử vào nhận phòng tại khách sạn Waldorf. Nơi đây, các chính khách và cấp chi huy quân đội túc trực đón tiếp họ. Trong một bữa dạ tiệc cùng ngày, vợ chồng Quận công Windsor - có lẽ là cặp vợ chồng nổi tiếng nhất thế giới - yêu cầu được giới thiệu với ba chàng trai.

        Nhưng đối với Ira, cha tôi và Rene, những nhân vật mà họ quan tâm nhất là ba bà mẹ “Sao Vàng” (“Sao Vàng” là tấm băng rôn treo trên cửa sổ của ngôi nhà lịch sử).


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:07:17 AM

        John Strank còn nhớ: “Ira Hayes níu lấy mẹ tôi; anh ấy quá xúc động không muốn rời xa bà. Anh khóc thút thít. Phải cần đến vài người mới kéo được anh ra khỏi bà.”

        Cha tôi và bà Evelley làm thân với nhau. Ông đã là bạn thân của Hank. Ông đã chạy đến Hank khi ông này bị thương và cố ra tay để cứu mạng sống nhưng không thành. Bây giờ, trong khung cảnh lộng lẫy của một thế giới khác hẳn, cuối cùng cha tôi có thể làm một động thái thầm lặng mà ông đã tự hứa với lòng mình giữa cơn lửa đạn ở Iwo Jima: Ông rút ra chiếc đồng hồ đeo tay mà ông đã tháo ra từ cổ tay của liệt sĩ Hank, và đặt vào lòng bàn tay người mẹ liệt sĩ.

        Sáng hôm sau, ba bà mẹ và ba chàng trai được đưa đến ban công dự khán ở Trung tâm Chứng khoán New York. Mọi giao dịch được ngưng lại khi bảng hiệu đèn lóe ra dòng chữ CHÀO MỪNG NHỮNG ANH HỪNG IWO JIMA và những người giao dịch đồng loạt vỗ tay.

        Thêm hàng nghìn người chờ đợi họ bên ngoài trong khi ban nhạc tấu lên những cung điệu theo không khí lễ hội. Phố Wall chật ních người; nhân viên văn phòng nhìn qua của sổ hướng đến rừng pa-nô Du hành Chứng khoán.

        Đúng giữa trưa, ban nhạc im tiếng, đám đông xì xào trong khi ba bà mẹ mang cành phong lan sẫm với vẻ mặt choáng ngợp được hướng dẫn đến khán đài.

        Tờ Times nhận xét: “Ba người sống sót không nhìn đến các tấm pa-nô, và ba bà mẹ của ba chiến binh ngã xuống cũng thế.”

        Rồi vị Chủ tịch Trung tâm Chứng khoán New York tuyên bố một lời cam kết đây ngạc nhiên: “Hiệp hội Trung gian Chứng khoán Phố Wall sẽ đóng góp một ti đô la - đủ để tài trợ việc thành lập một không đoàn Siêu pháo đài bay gồm 1.600 chiếc B- 29, nhằm hướng đến sự tàn phá của Nhật Bản.”

        Đối với sáu vị khách danh dự trên khán đài - ba “người anh hùng” giương ngọn cờ và ba bà mẹ đang để tang - đây là khoảnh khắc của những cảm xúc dâng trào.

        Trở về từ chiến trường, ba chàng trai chưa hoàn hồn thoát ra khỏi những hình ảnh khủng khiếp. Cha tôi khóc trong giấc ngủ. Ira bét nhè vì rượu. Còn Rene bị phát chứng động kinh mà không bao giờ thuyên giảm. Tuy nhiên họ có mặt nơi đây, ít nhất tạo nên một phần hứng khởi để giúp kêu gọi đóng góp tiền của nhằm hy vọng có thể cứu sinh mạng của hàng nghìn lính Mỹ.

        Còn đối với ba bà mẹ đang mang tang, họ vẫn còn chìm trong nỗi u buồn. Tôi thường nghe những thành viên trong ba gia đình cho biết nỗi đớn đau của họ không thể nào nguôi ngoai: Bức Ảnh đã khiến họ nhớ lại và nhớ lại mãi nỗi buồn đau.

        Những đám đông khổng lồ, một “dàn diễn viên triệu đô” gồm những ngôi sao Hollywood và ba ngày sôi sục trong lòng yêu nước chờ đợi họ ở Thành phố Chicago, nơi mà vài trăm nghìn học sinh tình nguyện làm người tiếp thị trái phiếu. Chỉ tiêu ở đây là 327 triệu USD. Có mặt Humphrey Bogart, Lauren Bacall, Ida Lupino và Pauline Harnois. Một lần nữa, cô nàng từ New Hampshire cố chen vào để bước ra ánh đèn vinh quang, cũng với cách thức không nói không rằng xuất hiện ở nhà ga khi đoàn tàu vừa đỗ. Biết được Ira có ý khinh bỉ và cha tôi thầm bài bác, Rene đành phải gượng gạo cho qua chuyện.

        Ngày thứ Bảy, 19/5, 100.000 người chen lấn nhau hoan hô trong một cuộc mít tinh khổng lồ ở trung tâm Chicago. Ba chàng trai làm nhiệm vụ dưới bức họa vĩ đại vẽ hình ảnh quen thuộc ấy.

        Một lần nữa, chính cha tôi có phát biểu suy nghĩ dây chín chắn. Đáp lại lời chào mừng của quan chức, cha tôi bước đến micro và lặp lại thông điệp súc tích mà ông đã phát biểu ở những thành phố khác:

        “Những chiến binh trên các mặt trận không thể hiếu được tại sao phải có những cuộc tụ tập để bán trái phiếu nhàm lấy tiền mua những hàng hậu cần vô cùng thiết yếu. Người mua trái phiếu không chỉ được yêu cầu cống hiến tiền bạc mà còn có tiền lãi. Người chiến binh được yêu cầu cống hiến cuộc đời mình.”

        Đám đông lâng nghe và cúi gầm mặt.

        Số đỉnh điểm được dành cho ngày Chủ Nhật, được tài trợ bởi tập đoàn truyền thông Hearst. Tập đoàn này cũng tài trợ cho việc xây dựng một mô hình núi Suribachi ở sân vận động Soldier Field1. Khoảng 50.000 người đổ vào sân vận động gần hồ Michigan để xem diễu hành và chiêm ngưỡng những ngôi sao màn bạc như Pat O'Brien, Forrest Tucker2 và Henny Youngman.

-------------------
        1. Soldier Field: tên sân vận động của đội bóng đá Mỹ chuyên nghiệp Chicago Bears (Những Con gấu Chicago) ở Thành phố Chicago, Bang Illinois.

        2. Forrest Tucker: nam diễn viên sau này đóng trong phim Sands oflwo Jima (tạm dịch: Những hạt cát ở Iwo Jima) thế hiện lại trận đánh này.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:09:21 AM

        Nhưng những ngôi sao đích thực trong ngày là ba chàng trai - những người chưa bao giờ đóng phim, chưa bao giờ ghi âm ca khúc, và chua bao giờ kể chuyện hài hước trước đám đông. Và 50.000 người dự khán đã dâng trào cảm xúc thực sự còn sâu sắc hơn là việc ái mộ những ngôi sao màn bạc nổi tiếng.

        Dù sao chăng nữa, ở đây là những người tạo nên hậu phương vững chắc cho Thế chiến II: những công nhân nam nữ làm việc bên dây chuyền sản xuất để tạo ra xe tăng và đại pháo; những người đã tiễn đưa con cái mình vào cuộc chiến; nhũng người thu nhặt giấy vụn, chai lọ và sắt thép phế liệu để hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh; những mục sư và linh mục đem đến niềm an ủi; những công dân đời thường hy sinh những xa xỉ cho mục tiêu chiến thâng. Bây giờ, duới ánh nắng chói chang của một buổi chiều rực rỡ, những người Mỹ ở hậu phương này hòa nhập vào nhau thành một tập thể vĩ đại, cùng sánh vai với những người anh hùng trong hành động “bất tử”, và trở thành người như họ.

        Tuy nhiên, một trong số ba anh hùng đã tái diễn cái tật cũ. Suốt đêm thứ Bảy Ira đi đâu mất tăm, cuối cùng cành sát tìm thấy ông đang lang thang ở khu trung tâm thành phố sau một buổi tôi bét nhè. Ông cất tiếng phản đổi. Ông đã giương một lá cờ trên Iwo Jima và không hiểu tại sao bây giờ mình lại phải giương một lá cờ khác. Mặc cho ông phản đối, Beech và những người khác vẫn lôi ông về khách sạn, đổ nước đá lên người ông, và “tát cho anh chàng vài cú để anh tỉnh lại phần nào”. Sẽ có thêm một buổi lễ giương ngọn cờ trong một tiếng đồng hồ nữa.

        Để tham dự cuộc diễu hành chiến thắng vòng quanh sân vận động trên một chiếc Cadillac mui trần, Beech phải cấn thận đẩy Ira ngồi kẹp giữa cha tôi và Rene để con người nát rượu không bị rơi ra ngoài. Trong số những người dự khán nhìn thấy tất cả là Tham mưu trưởng TQLC Vandegrift. ông đã nhận báo cáo cho biết “người Da đỏ” đang gây tiếng xấu cho chính mình và cho binh chủng. Hiển nhiên là phải có biện pháp xử lý Ira Hayes. Ira khật khưỡng suốt buổi diễn lại việc giương ngọn cờ, cùng với cha tôi và Rene kéo lên lá cờ nổi tiếng. Và rồi Ira Hayes phải thu xếp hành trang để lên đường đi tiếp.

        Sau vài ngày ở Detroit và Indianapolis, đoàn người quay lại Chicago. Ngày 24/5, Ira biên thư cho cha mẹ ông báo tin hai chặng kế tiếp sẽ là St. Louis và Tulsa, ngạc nhiên và thích thú về món quà là cây bút trị giá 21 USD ông đang dùng để viết lá thư, và kết thúc nói rằng ông phải xuống dùng bữa sáng. Đấy là lá thư cuối cùng ông viết và bữa ăn sáng cuối cùng ông dùng trong chuyến du hành này.

        Sau đó, cũng trong buổi sáng ấy một đại tá TQLC gọi điện cho Beech ra lệnh dẫn Ira đến văn phòng ông. Trong phòng lễ tân, Ira ngồi xuống một chiếc ghế, hai tay đút túi quần. Khi một đại tá và một đại úy TQLC đến, viên đại úy bảo Hayes đứng dậy. Anh chàng người sắc tộc Pima mặt sưng mày sỉa đứng lên để nghe chuyện không hay.

        Đại tá Fordley cho biết Ira phải trở về đơn vị cũ, Đại đội E, trên vùng Thái Bình Dương. Chính Tham mưu trưởng TQLC đưa ra chi thị này. Thoạt đầu, Ira im lặng. Rồi ông hỏi liệu có thể về thăm bà mẹ ở Arizona trên đường đi được không. Vị Đại tá ngắt lời, nói là không được.

        Binh chủng TQLC và nhà tổ chức Chuyến Du hành Trái phiếu giúp đưa lý do để gỡ thể diện cho Ira - một cách trái khoáy vì đã xác định hình ảnh về một chiến binh tha thiết muốn chiến đấu mà báo chí gán cho: Ông “chủ động yêu cầu” để được trở lại mặt trận.

        Sáng hôm sau, trong khi Rene, cha tôi và Beech lên đường đi St. Louis, Ira ghé qua San Francisco để gửi một lá thư về nhà. Tự khám phá bản thân theo cách ít có câu tuyên bố của “con người rắn rỏi” với báo chí cho thấy, lá thư thể hiện sự lúng túng, niềm kiêu hãnh bị tổn thương và nỗi khao khát bị vỡ mộng của chàng trai trẻ vẫn còn hiền hòa nhưng đã bị xúc phạm sâu sắc:

        Gửi cha mẹ và các em:

        Nhà có thể thấy sốc nhưng không nên lo sợ. Sáng nay con rời Chicago và hiện đang ở San Francisco rồi sẽ đi tiếp đến Trân Châu Cảng cùng ngày.

        Có một màn nào đó diễn ra ở đấy, thế nên Tướng Rockey muốn con quay trở lại để đối phó. Rồi sẽ trở lại đây để tái nhập Gagnon, Bradley và Beech, vì thế nhà đừng lo lắng.

        Hôm nay Bradley, Gagnon cùng đoàn đi St. Louis và chắc chắn con muốn đi với họ nhưng phải chờ đến ngày khác.

        Con chấm dứt ở đây vì phải làm vài việc. Xin Thượng đế ban ơn cho tất cả và đừng lo lắng cho con.

        Đứa con và người anh vẫn hằng thương yêu.


I. H. H.       


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:10:21 AM

        “Một màn” mà Ira nói đến chi là ý định tấn công chính quốc Nhật Bản, lúc này còn đang trong vòng chuẩn bị. Khi nói đến việc vị Tướng Tư lệnh Sư đoàn Mũi giáo cần đến sự tham dự của mình, Ira đã viện lý do lớn lao - và bóp méo - để che đậy nỗi nhục nhã của mình.

        Những lời đồn thổi cho rằng Ira là con người ngây thơ bị Chuyến Du hành Trái phiếu làm hư hỏng, rằng ông chán ghét từng giây phút trong chuyến đi. Nhưng sự thật là khi được miên trừ trách nhiệm này thì ông lại muốn đi tiếp chuyến du hành.

        St. Louis, Tulsa, San Antonio, Austin, Portland, Seattle. Các thành phố bắt đầu mờ nhạt. Nhưng những ngôn từ nịnh hót - được báo giới thổi phồng thêm - là trái ngược lại với cảm nghĩ của các chàng trai. Tại El Paso, cha tôi vẫn nhất quyết tuyên bố: “Chúng tôi không phải là anh hùng... bất kỳ người lính nào trên hòn đảo cũng có thể xuất hiện trong bức ảnh... chúng tôi không làm việc gì vượt quá mức bình thường.”

        Rene cũng tỏ ra khiêm tốn như thế, thường trả lời phỏng vấn bàng câu: “Có ai đấy kêu lên "phụ giúp chúng tôi một tay", thế là tôi đến giúp.” Ông nhấn mạnh nhiều lần rằng lá cờ mà họ giương lên là lá cờ thứ hai sáng hôm ấy.

        Thật ra, các chàng trai không nói được gì nhiều về việc giương lá cờ thứ hai. Suy cho cùng, không có gì nhiều để nói. Hành động ấy không có tầm quan trọng; họ đã không quan tâm nhiều về việc này. Cha tôi và Rene nhiều lần nhấn mạnh ràng họ “không biết gì” về sự hiện diện của nhà nhiếp ảnh nào, thậm chí còn chưa được gặp mặt Joe Rosenthal - “cái ông đã khiến chúng tôi lâm vào tình cảnh này”. Hai chàng trai nói nhiều hơn về việc giương lá cờ thứ nhất - kể đến những nỗ lực của Trung sĩ nhất Boots Thomas, Trung úy Schrier, phóng viên nhiếp ảnh Lou Lowery, và những người khác.

        Không ai để ý đến những điều này. Có vẻ như những chuyện bình thường thì không đủ. Bức Ảnh đã gây xúc động cho nhiều người Mỹ đang lo lắng, đau buồn và hãi sợ chiến tranh để có một tinh thần rạng rỡ: Một cõi thiêng liêng nơi mà đức tin, lòng yêu nước, lịch sử huyền thoại và hy vọng đan chen với nhau.

        Trong lúc ấy, cách hơn 6.000 km về hướng tây, một con người “bất tử” bị sụp đổ, đành chấp nhận một lần nữa đời sống trong quân ngũ.

        Ira đã trở về Đại đội E ở Hawaii - nơi Sư đoàn 5 TQLC đang được huấn luyện để chuẩn bị cho việc tấn công nước Nhật -  cùng lúc bám lấy lý do giữ thể diện mà binh chủng đã biếu ông: Vì “muốn trở về với đồng đội”. Ông đã trở về với vẻ vênh váo mà có lẽ tự mình không nhận ra, với một chiếc túi quân trang đầy những hình ảnh của các nữ nghệ sĩ ký tặng, và nỗi khát khao hơi men mà trước Chuyến Du hành Trái phiếu không thể hiện rõ. Lloyd Thompson là lính Đại đội E đầu tiên nhìn thấy Ira đang cười toe toét trước lều chi huy của đại đội. Ông nói: “Anh ấy đã thay đổi. Anh thường say xỉn và gây chuyện lôi thôi. Trước đây anh ấy có lối sống khá khổ hạnh.”

        Đồng đội ông chạy tuôn ra khỏi lều của họ để chào đón ông, và trong một thời gian ông được cả Trung đoàn 28 nâng ly chúc mừng. Nhưng chẳng bao lâu, đồng đội ông nhận ra ông không hòa mình với họ. Thompson kể: “Anh ấy lãnh nguyên phần bia của sáu ngày thứ Bảy rồi một mình biến đi. Anh ấy không bao giờ ngồi nhậu cùng chúng tôi.”

        Thật tình mà nói, bây giờ có nhiều người mới hơn là bạn bè cũ. Những chàng trai mà Ira quan tâm đến nhất thì bây giờ đã nằm xuống gần hết.

        Ira viết thư cho cha mẹ ông: “Con không bao giờ quên họ.” Và ông cẩn thận vẽ ra chuyện giả tưởng việc tự nguyện trở lại.

        ... Con biết có nhiêu người nghĩ con điên khùng mà trở lại trong khi đáng lẽ con có thể ở trong nước mãi mãi. Nhưng như con đã nói trước đây, con có một lý do... Không ai ngoại trừ con hiểu thấu được con. Và con nghĩ đấy là do Thượng đế, vẫn còn ở bên con. Và bây giờ con trở lại, càng thêm tự tin và mạnh mẽ trong tinh thần và con không hãi sợ. Vì con vẫn còn có Chúa đế khấn nguyện...

        Con được vui một thời gian trong chuyến Du hành Trái phiếu. Con không thể chịu đựng thêm, đặc biệt là phóng viên và nhiếp ảnh báo chí.

        Nơi đây, con thấy dễ chịu hơn nhiều. Con cảm thấy như là chính mình, chỉ là một người lính TQLC, và đấy là điều con muốn.

        Xin đừng đau lòng về quyết định nhanh chóng của con...


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:11:08 AM
       
        Appleton, El Paso, Houston, Dallas, Phoenix, Tucson, Denver, Milwaukee, Atlanta, Greensboro, Tampa, Columbia, Charleston, Richmond, Norfolk. Trong khi chuyến du hành chuyển về phương nam, Tháng Sáu qua và Tháng Bảy đến; thời tiết trở nên nóng bức, hai chàng trai cảm thấy mệt mỏi và tê cứng. Lúc nào vẫn là những ga tàu hỏa, sân bay, đèn chớp máy ảnh, những gương mặt mê thích, những giường ngủ xa lạ, mất ngủ, cũng những câu hỏi quen thuộc. Xa xỉ không còn là một bữa đại tiệc thịnh soạn, một phòng khách sạn sang trọng. Xa xỉ là được cạo râu, ngâm mình trong bồn nước nóng, thức ăn hợp khẩu vị. Con người cảnh vẻ của cha tôi bắt đầu để ý đến việc giặt là quần áo vốn không thể theo kịp lịch làm việc của ông. Trong những tuần lễ cuối cùng, việc giặt là quần áo trở thành mối bận tâm của trưởng ban tổ chức địa phương: Hai chàng trai cho biết nếu không nhận được quần áo mới giặt là, họ sẽ không cho báo giới phỏng vấn. Dịch vụ được cải thiện rõ rệt.

        Lần thứ ba khi được hỏi có phải Bức Ảnh được dàn dựng hay không, cha tôi đáp thẳng thừng: “Lúc chụp bức ảnh thì tôi không hay biết. Nếu tôi biết thì tôi đã chạy ra khỏi nơi đó và sẽ không phải tham gia chuyến đi này.”

        Khi chuyến du hành gần đến hồi kết thúc sau 8 tuần đi khắp nước Mỹ, cha tôi và Rene hẳn không thể đánh giá đủ thành tựu mà họ đã đạt được. Chuyến Du hành thứ Bảy Đồ sộ vượt quá mọi kỳ vọng, với chiến dịch đánh Okinawa đang trải đầy các hàng tít và tinh thần yêu nước đang dâng cao, chuyến đi đang thu hoạch những khoản đóng góp theo mức độ sẽ khiến cho cả nước kinh ngạc khi tổng kết.

        Thu nhập từ Chuyến Du hành Trái phiếu có nhu cầu sử dụng lập tức. Nước Mỹ đang đổ mọi nguồn lực vào mặt trận Thái Bình Dương. Vào đầu Tháng Sáu, Tổng thống Truman đã loan báo tăng gấp đôi quân số, lên mức 7 triệu quân, để chống Nhật Bản - nhiều hơn quân số điều đến Châu Âu lúc cao điểm. Tất cả chiến lược đều nhắm đến việc tấn công chính quốc Nhật Bản. Một lực lượng viễn chinh gồm 770.000 người đang được tập hợp chỉ cho đợt đầu, dự trù sẽ đổ bộ lên Đảo Kyushu (Normandie chỉ cần quân số 175.000).

        Ngày 18/6, các cố vấn quân sự của Truman trình lên Tổng thống những dự báo khủng khiếp: Khoảng 35% quân số - gần 270.000 người - sẽ bị thương vong trong 30 ngày chiến đấu đầu tiên. Sau 120 ngày, thời gian ấn định để kiểm soát toàn bộ hòn đảo, số thương vong có thể lên đến 395.000.

        Đấy chỉ là đợt tấn công đâu tiên. Đợt thứ hai - đổ bộ lên Đào Honshu và chiếm Thủ đô Tokyo dự định khởi động vào tháng 3/1946 - sẽ cần đến lực lượng 1 triệu quân. Và sẽ phải chịu vài trăm nghìn thương vong.

        Vào đêm Quốc khánh, ngày 4/7, thủ đô nước Mỹ tưng bừng với pháo hoa. Khoảng 350.000 người dự khán - còn đông hơn cuộc biểu tình lớn lao của Martin Luther King 18 năm sau -  ngước nhìn pháo hoa trên Đài Tưởng niệm Washington, biến mặt nước Sông Potomac thành một mặt gương đủ sắc màu suốt gần một tiếng đồng hồ. Pháo hoa phủ đầy bầu trời với những đường nét của lá cờ Mỹ, gương mặt của Tổng thống Truman, và cảnh giương ngọn cờ trên Iwo Jima.

        Chuyến Du hành thứ Bảy Đồ sộ đã kết thúc trong thẳng lợi; bây giờ là lúc trở về nhà.

        Ngày hôm sau, Rene trình diện tại Tổng hành dinh TQLC. Ông được nghỉ phép ngắn hạn trước khi được chuyển về San Diego. Ngày 7/7, ông làm lễ cưới với Pauline ở Baltimore. Cha tôi làm rể phụ. Mẹ chú rể không đến dự.

        Pauline đi theo Rene về phía Tây càng xa càng tốt, cho đến Pasadena. Đến ngày 7/11, Rene được điều đến Tsingtao, Trung Hoa.

        Đến cuối mùa hè, Chuyến Du hành thứ Bảy Đồ sộ được đúc kết, thu được gần gấp đôi so với chỉ tiêu: người Mỹ cam kết đóng góp 26,3 tỉ USD. Con số này gần bằng phân nửa tổng ngân sách Chính phủ Hoa Kỳ trong năm 1946 là 56 ti USD.

        Khi tôi nói chuyện qua điện thoại với một viên chức Bộ Ngân khố để xác minh những con số này, ông cảm thấy ngạc nhiên lạ lùng với thành tựu của Chuyến Du hành thứ Bảy Đồ sộ. Ông im lặng một lúc trong khi thu xếp giấy tờ trên bàn làm việc. Rồi ông nói ngắn gọn: “Lúc ấy chúng ta là một.”

        Bức ảnh vẫn tiếp tục tạo nguồn cảm ứng cho dân giàu đóng góp.

        Một con tem kỷ niệm Iwo Jima được phát hành ngày 11/7, ngày thành lập TQLC Trừ bị. Đấy là con tem đầu tiên in hình nhân vật còn sống. Ngay cả các Tổng thống Mỹ phải chờ cho đến khi chết mới có hình ảnh trên tem. Con tem Iwo Jima phá kỷ lục bán chạy, ngày đầu tiên: 400.000. Theo thời gian, 150 triệu con tem được in, đạt kỷ lục con tem được bán chạy nhất cho đến thời bấy giờ.

        Sau khi được cứu chữa thêm ở Bethesda, cha tôi - người giương ngọn cờ duy nhất hiện diện - im lặng ngồi kế những người quyền cao chức trọng trong những buổi lễ ở Washington mở màn cho việc bán con tem. Được giám đốc cơ quan bưu điện trao tặng con tem đầu tiên từ máy in chạy ra, cha tôi chỉ nói “Cảm ơn” rồi lại ngồi xuống.

        Ông nghe giám đốc cơ quan bưu điện tuyên bố: “Chúng ta tôn vinh những cá nhân được thế hiện, những người nhờ ơn Chúa vẫn còn sống với chúng ta. Nhưng họ được thể hiện trên con tem này như là những cá nhân. Theo truyền thống vinh quang của Binh chủng TQLC, họ đã bỏ qua những tính chất cá nhân mà cống hiến trọn vẹn cho Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.”

        Tôi chỉ có thể mường tượng những ý nghĩ lướt qua trong đâu cha tôi khi ông nghe những lời này: Cha tôi, một thanh niên tuổi 21, người chưa bao giờ mong muốn điều gì thiết tha hơn là được trở về Wisconsin, cưới vợ, gây dựng một gia đình và mở dịch vụ mai táng - một giấc mơ thầm lặng mà ông vẫn ôm ấp qua những tháng dài trên vùng Thái Bình Dương, người đúng thật là đã “cống hiến trọn vẹn cho Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.”

        Bây giờ, cha tôi đang nghe mẩu tin rằng nhân dạng ông sẽ không còn là của ông nữa: nó sẽ là tài sản quốc gia.

        Ông sẽ không thể nào rời xa hình ảnh ấy. Hình ảnh sẽ không rời xa ông.

        Ông là bóng hình trong Bức Ảnh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:14:22 AM

Chương 17

XUNG ĐỘT DANH DỰ
 
        Đấy chắc chắn là Harlon. Mẹ biết rõ con trai của mẹ.

BELLE BLOCK       

        Trong khi Chuyến Du hành Trái phiếu đang hướng đến miền đông trong chặng thẳng lợi cuối cùng thì tại Weslaco của Bang Texas, cha Ed Block và mẹ Belle Block của Harlon đang thu xếp đồ đạc để làm một chuyến đi riêng về miền tây. Họ đi đến California - đi đến Loma Linda, nơi có đông đảo tín đồ Cơ đốc Phục lâm.

        Loma Linda thể hiện ý tưởng của mẹ Belle. Hay nói đúng hơn, bà muốn là phải thế. Người con gái Maurine, chị của Harlon, bây giờ là Maurine Mitchell, sống ở đây cùng chồng và hai con. Con trai trưởng Ed Jr. của bà phục vụ trong Không lực ở gần đấy. Nhưng điều cũng quan trọng đối với mẹ Belle là Loma Linda không giống Thung lũng. Mẹ Belle không thể nào thích nghi với khí hậu khắc nghiệt, vị trí cô lập và công việc vắt sữa liên tục của nông trang miền nam Texas. Cha Ed đã thích nghi giỏi; đấy là cuộc sống mà ông biết nó đã thấm vào trong xương thịt của ông - cuộc sống duy nhất. Nhưng ông không phản đối ý định của bà vợ muốn rời đi. Nỗi buồn và cô đơn đã khiến cho cuộc hôn nhân giũa hai người lâm vào cảnh trắc trở, và cha Ed hy vọng có lẽ thoát ra khỏi nơi đây hồi ức đau buồn sẽ giúp hoàn cảnh trở nên êm đẹp hơn. Ông hy vọng ít nhất bà có thế bỏ lại phía sau ý nghĩ bận rộn về Harlon như là người trong bức ảnh. Và ông thầm hy vọng là một ngày nào đó, khi cơn đau buồn đã nguôi ngoai, hai vợ chồng có thể trở về nhà.

        Tình trạng căng thẳng tinh thần đã bắt đầu trước cả khi họ nhận tin báo cái chết của Harlon. Khi bức điện tín đến nơi, họ đã bán ngôi nhà. Tin dữ chỉ khiến cho mẹ Belle càng thêm quyết chí rời đi. Sau này, Maurine kể: “Cái chết của Harlon đã đẩy Mẹ ra khỏi Thung lũng. Bà không thế tiếp tục; có quá nhiều đau đớn. Bà thường nói: ‘Mọi chuyện tồi tệ đến với mẹ đều xảy ra ở Thung lũng.”

        Theo vẻ bề ngoài, mẹ Belle vẫn là một bà chủ gia đình trầm tĩnh và chú tâm. Ở tuổi 50, bà là một phụ nữ đẹp người, thẳng thắn và có ý thức về tính gia giáo của mình; mái tóc đen được búi gọn, đôi mát nâu lục nhạt trông dễ mến sau đôi tròng kính tròn. Nhưng những người biết rõ bà hiểu rằng, có cái gì đấy trong bà đã tan vỡ. Cái gì đấy trong cả nhà Block. Travis Truitt, bạn của Harlon ở Weslaco, nhớ lại: “Cái chết của Harlon khiến cho gia đình ấy tan nát. Đây như thể cầm một ly thủy tinh cho rơi xuống nền bê-tông - tất cả đêu vỡ vụn.”

        Thế là, vào tháng 6/1945, trong khi cả nước đang ăn mừng chuyến du hành của các chàng trai giương ngọn cờ còn sống sót, cha Ed và mẹ Belle thầm lặng chất đồ đạc lên chiếc xe, rồi với ba đúa con trai nhỏ Mel, Larry và Corky đi cùng, rời Weslaso của Bang Texas để đi California.

        Vào cuối Tháng Bảy, lãnh đạo ba đại cường Đồng minh - Winton Churchill của Anh quốc, Harry Truman của Hoa Kỳ và Joseph Stalin của Liên Xô - gặp nhau ở Potsdam để đặt kế hoạch chấm dứt chiến tranh trên vùng Thái Bình Dương1.

         Họ nhanh chóng loại bỏ các phương án phong tỏa và thả bom rải thảm: Rõ ràng là guồng máy chiến tranh hiểm ác của Nhật Bản chỉ chịu đầu hàng khi các lực lượng tấn công trực diện và vũ bão.

        Phải đập tan guồng máy này với bất cứ giá nào. Ba nhà lãnh đạo Đồng minh nhất trí với phương án đổ bộ tấn công nước Nhật.

        Đấy sẽ là chiến dịch lớn lao nhất và tốn kém nhất trong lịch sử chiến tranh: 1,5 triệu chiến binh sẽ tham gia những đợt tấn công đâu tiên, với nhũng lực lượng trừ bị nâng tổng số lên 4,5 triệu. Số thương vong dự báo vượt mọi óc tưởng tượng: 1 triệu người Mỹ, nửa triệu người Anh.

        Churchill, Truman và trợ lý của họ bí mật tham khảo với nhau về một phương án xa hơn, mới lộ diện: Vũ khí hủy diệt mà mảnh vụn vẫn còn đang bay theo gió phía trên bãi thử ở Căn cứ Không quân Alamogordo, Bang New Mexico. Vụ nổ đã xảy ra lúc 5 giờ 30 sáng ngày 16/7.

        Sau này, Churchill viết: “Không hề có vấn đề là liệu có nên hay không nên sử dụng bom hạch nhân để buộc Nhật Bản đầu hàng. Có sự đồng ý toàn diện, tự động, không bị chất vấn... và tôi cũng không nghe lời đề xuất nhỏ nhoi nào rằng chúng tôi nên làm khác đi.”

        Ngày 26/7, ba nhà lãnh đạo Đồng minh ra Tuyên bố Potsdam: Nhật Bản phải đầu hàng, nếu không sẽ đối mặt với “sự tàn phá mãnh liệt và toàn diện.”

        Nhật Bản phớt lờ tối hậu thư ấy. Họ vẫn còn 2,5 triệu quân đang chiến đấu và khối thường dân có thế gọi làm nhiệm vụ để thành lập một lực lượng phòng vệ cảm tử. Câu châm ngôn là “Một trăm triệu quả tim có cùng nhịp đập.” Xứ sở Mặt trời Mọc sẽ chiến đấu đến binh sĩ cuối cùng.

----------------------
        1. Hội nghị Potsdam diễn ra trong thời gian 17/7 đến 02/8/1945. Lúc này, Đức đã đầu hàng Đồng minh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:15:36 AM

        Hàng trăm nghìn chàng trai Mỹ, kể cả những chiến binh kỳ cựu ở hai mặt trận Châu Âu và Thái Bình Dương, đều chuẩn bị cho khả năng chết chóc trên những bãi biển của Kyushu và Honshu. Đại đội E được huấn luyện cùng với Sư đoàn 5 ở Trại Tarawa cho “Trận đánh lớn.” Ira Hayes nhận được một gói quà ấn tượng: một tờ in những con tem làm kỷ niệm mang chữ ký của Tổng thống Truman, Tham mưu trưởng Vandegrift và John Bradley. Ông chỉ liếc qua tờ giấy rồi vò nhàu và ném vào chiếc túi quân trang.

        Trong khi người chồng mới cưới đi nhận nhiệm vụ ở Tsingtao, Trung Hoa, Pauline Harnois - bây giờ là bà Rene Gagnon - trở về với cuộc sống công nhân nhà máy ở Manchester, New Hampshire. Một trong số những kỷ vật mà bà quý nhất là bức ảnh màu của Rene trong bộ đại lễ TQLC.

        Rene Jr., con trai của Rene Gagnon, nói với tôi: “Mẹ tôi luôn nói với tôi là cha tôi mặc bộ quân phục ấy trong lễ cưới. Nhưng khi lớn lên, tôi trông thấy một bức ảnh trong một bản tin cũ cho thấy cha tôi mặc bộ quân phục thông thường trong lễ thành hôn. Tính mẹ tôi là thế. Bà luôn muốn giữ vẻ bề ngoài nào đấy cho cha tôi, cho mọi thứ phải trông đâu vào đấy.”

        Đúng là Loma Linda mang lại cho mẹ Belle đôi chút an bình. Gia đình bà mua một ngôi nhà nhỏ, và mẹ Belle bận rộn với cuộc sống cho giáo hội và cho ba con trong khi cha Ed đi tìm mua đất làm trang trại.

        Tuy thế, ý nghĩ kiên quyết của mẹ Belle về vị trí của Harlon trong bức ảnh vẫn không suy suyển. Một trong những món đầu tiên bà mang ra để sắp xếp trong ngôi nhà mới là bản sao của bức ảnh. Một ngày, có sinh viên Russell Youngberg từ Weslaco đến thăm. Ông kể: “Bà ấy cho tôi xem bức ảnh, và nói đấy là Harlon đang cằm cây cột cờ xuống đất. Tôi nghĩ thầm "Làm thế nào bà ấy biết chắc được?’”

        California đón tiếp cha Ed không được chu đáo. Ông thấy nó không hợp với ông, giống như Texas không hợp với vợ ông. Ông không tin được giá đất ở đây cao đến thế, vượt xa số tiền ông dành dụm được. Vì còn xa lạ với những ngân hàng tại địa phương, ông không thể vay tiền. Giấc mơ làm chủ một trang trại dần héo hẳt. Cảm thấy chán nản và khố sở, một ngày ông bảo bà: “Anh phải kiếm sống, Anh định trở về Texas.”

        Bất kỳ hy vọng gì về bà đều bị đập tan khi bà nói: “Đi đi. Nhưng tôi không đi.”

        Maurine nói: “Ông ấy luôn nghĩ dần dà bà sẽ quay về với ông. Tôi nghĩ bà đã phụ lòng ông.”

        Suốt mùa hè 1945, Iwo Jima tiếp tục phục vụ cho mục đích mà qua đấy quân Mỹ đã đánh chiếm: để tạo căn cứ cho máy bay yểm trợ và làm sân bay khẩn cấp cho oanh tạc cơ B-29 cất cánh từ Tinian đi đánh phá những mục tiêu trên đất Nhật.

        Trong ánh sáng mờ mờ lúc tinh sương ngày 6/8/1945, viên phi công của một trong những oanh tạc cơ như thế, trên phi vụ đầu tiên đến Nhật, hút loại thuốc lá Bond Street qua ống vố Kaywoodie trong khi Iwo Jima hiện ra trước tầm mắt. Ông lượn một vòng trong khi chờ hai chiếc B-29 khác nhập đội hình. Nhìn xuống từ chiếc máy bay ông đã đặt tên theo tên bà mẹ, viên phi công nghĩ trận đánh khủng khiếp quả là đáng giá: “Hòn đảo, vốn trước đây là tiền đồn phòng ngự quan trọng của Nhật, nằm ngay dưới đường bay của chúng tôi từ Marianas đến Tokyo. Nếu không đánh chiếm được nó, nhiệm vụ của chúng tôi hẳn phải khó khăn thêm.”

        Trong vòng 12 phút, hai chiếc B-29 kia đã theo kịp. Lúc 6 giờ 07, ba chiếc oanh tạc cơ khẽ lắc cánh để giã từ Mike, Harlon và Franklin, cùng hàng nghìn chàng trai đang an nghỉ bên dưới.

        Viên phi công là một trong số hàng nghìn phi công đã bay đến Nhật mà không bị cản trở bởi vì TQLC đã chinh phục được đảo lưu huỳnh. Nhưng có một cái gì khác biệt về phi vụ này của ông. Trong túi áo ông là 12 viên cyanide: 1 viên cho mỗi thành viên phi hành đoàn trong trường hợp họ bị bắn hạ. Họ thi hành một điệp vụ bí mật quan trọng, không thể bị tiết lộ dưới sự tra tấn của quân Nhật.

        Tên của viên phi công là Paul Tibbets, còn tên của chiếc oanh tạc cơ là Enola Gay, chỉ chở một vũ khí duy nhất có biệt hiệu là “Little Boy” (Cậu bé). Mục tiêu là Hiroshima1.

----------------------
        1. Đại tá Paul Tibbets lấy tên người mẹ Enola Gay đặt tên cho chiếc máy bay, còn “Little Boy” (Cậu bé) là tên được đặt cho quả bom nguyên tử mà ông thả xuống Hiroshima. Sau chiến tranh, Tibbets về hưu với quân hàm thiếu tướng, ông qua đời ngày 1/11/2007, hưởng thọ 92 tuổi.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:16:09 AM

        Trong hai tuần cuối Tháng Bảy và vào đầu Tháng Chín, cha tôi đến Trung tâm Y khoa Hải quân Bethesda ngoài Thủ đô Washington để được chữa trị thêm cho những vết thương ở hai chân, bị trì hoãn do Chuyến Du hành Trái phiếu. Đến giữa Tháng Chín, ông nhận được phép và vội về thăm Appleton.

        Ông đi chơi golf với Bob Schmidt, người bạn cùng thị trấn quê nhà và cũng là đồng nghiệp quân y tá phụ trách việc chôn cất trên Iwo Jima. Schmidt kể: “Chúng tôi không nói về Iwo Jima ngoại trừ nhận xét lính TQLC có tình đồng đội tốt. Chúng tôi đi ra ngoài để vui thú và không ai muốn nói về chiến tranh.”

        Một hai ngày sau, mẹ tương lai của tôi, Betty Van Gorp, có buổi hẹn hò tại một câu lạc bộ khiêu vũ. Bà kể cho tôi: “Jack bước vào với vài người bạn và ngồi chung ô với nhóm của mẹ. Cha mẹ đã không gặp nhau nhiều năm, thế là hai người đều muốn nối lại mối quan hệ. Người bạn của mẹ không khiêu vũ, nên Jack mời mẹ khiêu vũ.”

        Vài tuần sau, bà gặp lại cha tôi. Ông đi cùng một người bạn trai của bà đến tòa án nơi bà làm công việc xã hội. Họ chuyện trò, rồi hai người đàn ông ra về. chỉ ít phút sau, điện thoại của bà reo. Đấy là cha tôi. Ông muốn mời bà đi ăn vào tối hôm sau.

        Mẹ tôi kể: “Sau này, mẹ được biết có vài người đang chờ trong một chiếc xe đậu bên ngoài nhà Jack để đón ông đi dự một buổi diễn thuyết, ông ấy đang gọi mẹ nhưng đường dây bị bận. Những người kia đang thúc giục "Nhanh lên!" Nhưng Jack vẫn tiếp tục quay số cho đến khi nói chuyện được với mẹ. Ông ấy nói với vẻ thư giãn như thể có dư dà rất nhiều thời gian.”

        Cha tôi lấy ô tô của ông bác tôi Glen Hoffman để đưa bà đến câu lạc bộ giải trí Jake Skall’s ở Appleton. Mẹ tôi kể: “Trong khi ăn uống, mẹ hỏi ông ấy về chuyện giương ngọn cờ. Ông đốt một điếu thuốc và bắt đâu mân mê chiếc bật lửa bằng bạc, nhìn nó, thần trí lơ đãng. Rồi ông kể với mẹ có lẽ giống như ông đã kể chuyện này nhiều lần; như một bài phát biểu, không có chất cá nhân trong đó, mà chỉ là sự việc. "Người ta gọi bọn anh là những anh hùng, nhưng không đúng." "Đấy chỉ là thêm một việc phải làm ngày hôm đó." Đại loại như vậy.”

        Sau đó, họ đi đến một câu lạc bộ khiêu vũ và trò chuyện với những người bạn hồi còn trung học. Trên đường về nhà, cha tôi mời bà đi xem chiếu bóng hôm sau - đêm cuối cùng ông về thăm nhà - và bà chấp thuận. Bà có ấn tượng là ông đã trưởng thành, ông đã kinh qua nhiều việc, những nhiệm vụ đối với sự sống của con người khiến cho ông cần đi đến những quyết định quan trọng, nhanh chóng vượt quá tuổi còn trẻ của ông.

        Tôi hôm sau, khi xem phim được 15 phút, cha tôi hỏi bà: “Anh ra ngoài hút một điếu thuốc được không?” Vài phút sau, ông trở vào, nhưng đi ra ngoài thêm hai lần để hút thuốc. Cuối cùng, bà hỏi ông: “Anh có muốn về không?” Ông đáp muốn.

        Không lâu sau đó, cha tôi ôm chặt bà trong hai cánh tay và nói với bà: “Anh yêu em với cả con tim và tâm hồn.” Bà xúc động vì cách nói của cha tôi: “con tim và tâm hồn.” Chưa bao giờ có ai nói với bà như thế. Bà nói: “Mẹ biết ông ấy thực sự yêu mẹ.”

        Ngày hôm sau, cha tôi ra đi để được tiếp tục chữa trị ở Trung tâm Y khoa Hải quân Bethesda.

        Khi việc giải phẫu đã xong xuôi, nghĩa vụ của người trong Bức Ảnh lại tiếp tục. Ngày 10/11/1945 là tròn 170 năm ngày thành lập Binh chủng TQLC. Để kỷ niệm ngày này, Felix de Weldon đã tạc một bức tượng của 6 chàng trai. De Weldon, cha tôi và Tham mưu trưởng TQLC Vandegrift sẽ khánh thành bức tượng trước tòa nhà Hải quân trên Đại lộ Connecticut ở Washington. Đêm này, cha tôi sẽ được phỏng vấn trên mạng lưới NBC truyền thanh cả nước, là chương trình truyền thanh “anh hùng” cuối cùng của ông trước khi ông xuất ngũ. ông khiêm tốn biên thư cho mẹ tôi: “Nếu không bận việc lúc 9 giờ 30 tối thứ Bảy, em có thể bắt đài mà nghe.”

        Trong cuộc phỏng vấn từ biệt này - được Tham mưu trưởng TQLC Vandegrift và Bộ trưởng Hải quân James Forrestal tháp tùng - cha tôi không tập trung vào chính mình mà vào đồng đội của ông, những người lính TQLC. Ông nói:

        “Điều mà quân y tá vẫn nhớ mãi là dù cho họ [những người lính TQLC] có bị thương nặng đến thế nào, họ vẫn không bao giờ than vãn. Chúng tôi sống cùng họ, làm bạn với họ, và đấy không phải là việc chữa trị một thương binh, mà là chăm sóc những người bạn của mình. Đấy là điều mà tôi luôn cảm nhận về TQLC.”

        Ba ngày sau, cha tôi được xuất ngũ. Ông và mẹ tôi làm lê hứa hôn ngày 3/12. Tháng 1/1946, cha tôi bắt đầu khóa học tại Viện Khoa học Mai táng Wisconsin ở Milwaukee, trong khi làm việc bán thời gian tại Nhà Mai táng Weiss ở đây. Cuộc sống mà ông đã mơ ước ở California, ở Hawaii, trên đảo lưu huỳnh, đang trở thành hiện thực. Cuộc sống trước kia đã lùi dần vào hư vô.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:17:25 AM

        Sau một tháng phục vụ cùng với các lực lượng chiếm đóng, ngày 25/10 Ira đáp tàu từ Nhật Bản trở về nhà. Ông lên bờ ở San Francisco ngày 9/11 rồi đến ngày 1/12/1945 làm thủ tục xuất ngũ ở San Diego. Chỉ mới 22 tuổi, ông đã qua 39 tháng làm lính TQLC, trong đó có 23 tháng phục vụ ở ngoài nước Mỹ.

        Pete Strank - một trong hai em trai của Mike và là binh sĩ Hải quân - cũng trở về, theo một ý nghĩa. Theo ý nghĩa khác, Pete không bao giờ trở về.

        Pete có nhiều điểm giống Mike: to con, cao 1 m 93, ồn ào, đẹp trai với nụ cười phô hàm răng tráng, đây sức sống.

        Tất cả đều thay đổi vào ngày 19/3/1945, khi tàu của Pete, chiếc hàng không mẫu hạm uss Franklin, đang ở cách bờ biển Nhật khoảng 100 km thì bị một máy bay cảm tử Nhật mang hai quả bom 225 kg đâm xuống. Đang chất đầy nhiên liệu và chiến đấu cơ được vũ trang, chiếc Franklin tự trở thành một quả bom - một quả bom nổi 30.000 tấn. Từng tiếng nổ kinh hoàng phát ra, xăng vừa chảy tràn như suối vừa bắt cháy. Sức ép khủng khiếp nâng chiếc tàu khỏi mặt nước và lắc từ bên này qua bên kia. Trong khi cột khói đen bốc lên tạo thành một đám mây hình nấm, 744 thủy thủ đoàn thiệt mạng.

        Không ai nghĩ chiếc Franklin sẽ trụ được. Nhưng chiếc tàu vẫn nổi tuy bản thân chỉ còn là cái vỏ của chính mình, lê lết về đến nước Mỹ và là chiến hạm bị hư hại nặng nhất trong lịch sử Hải quân Mỹ; thủy thủ đoàn nhận huy chương nhiều nhất. Pete sống sót theo cách tương tự - chỉ còn là cái vỏ của chính mình. Vợ ông, Ann, nói với tôi: “Những dây thần kinh của Pete bị hủy hoại. Hai bàn tay anh ấy run rẩy; hành vi của anh trở nên bất thường. Sau chiến tranh anh ấy uống quá nhiều rượu để cố quên.”

        Trong đêm, ông thường rên rỉi trên giường bên cạnh Ann. Một lần, bà ôm lấy ông thì ông bật dậy, hai tay bóp lấy cổ bà.

        Ann kể: “Chuyện duy nhất về Hải quân mà anh ấy từng nói với tôi là chiếc kamikaze1 đâm xuống tàu của anh ấy, và họ phải dùng xẻng xúc than để xúc những mảnh thi thể người chết.”

        Còn John Strank, người em, nói với tôi: “Tôi bị mất hai người anh trong Chiến tranh Thái Bình Dương.”

        Sau hơn 15 năm, bắt đầu từ 1946 thế giới được hưởng lại nền hòa bình. Giống như cha tôi, hàng triệu cựu chiến binh trở về lao vào những ước mơ mà họ đã hoãn lại: kết hôn, làm cha mẹ, một ngôi nhà mới, theo học đại học nhờ trợ cấp cựu chiến binh.

        Nhiều trai trẻ này chuyển qua cuộc sống yên bình mà không bị căng thẳng gì. Don Mayer ở trong hàng chục nghìn người ghi danh vào đại học. Ông nói: “Thật là tuyệt. Không phải trả học phí và tiền sách vở, mà hàng tháng chúng tôi còn được lãnh 65 đô la.” Cuối cùng, Jack Lucas bẳt đầu lo hoàn tất bậc trung học - người duy nhất nhận Huân chương Danh dự còn theo học ở cấp này.

        Sau khi tỉnh lại với nhiều vết thương đau đớn và một ngày dài nằm chịu trận dưới hỏa lực ở Iwo Jima, Robert Leader trở lại đại học, cuối cùng làm giáo sư mỹ thuật tại Đại học Notre Dame ở Bang Indiana. Nhiều năm sau, ông cả quyết: “Không có tội. Tôi chỉ cố chu toàn nhiệm vụ và đấy là việc phải làm.”

        Và Donald Howell bày tỏ tâm tư của nhiều người khi nói: “Tôi chỉ tiếp tục cuộc đời sau Iwo Jima. Có nhiệm vụ phải thi hành và chúng tôi thi hành; chỉ có thế. Nếu bạn muốn nằm ì ra đó và tiếc nuối về mình thì cứ làm.”

        Nhưng đối với nhiều cựu chiến binh thì không dễ dàng. Nhiều người không hưởng được sự an bình. Đối với nhiều người, “ước mơ” có nghĩa gì đấy hoàn toàn khác biệt. Nhiều người - như Pete Strank - để lại phía sau những phần của chính mình, trong cuộc chiến của cõi mơ không bao giờ chấm dứt.

        Tex Stanton nói: “Cuộc sống không bao giờ trở lại bình thường. Chúng tôi đã thay đổi kể từ khoảnh khắc chúng tôi đặt chân lên bãi cát ấy.”

        Chỉ đến khi cuộc chiến đã kết thúc, Quân y tá George Whalen - người được tặng thưởng Huân chương Danh dự trên Iwo Jima - mới nhận ra ràng mình đã bị chấn thương tinh thần. Ông kể với tôi: “Sau trận Iwo Jima, tôi có những cơn ác mộng khi nằm trong bệnh viện. Tôi la hét trên giường. Họ phải đưa tôi vào một phòng riêng vì tôi thường làm người khác thức giấc. Tôi thường mơ thấy Trung sĩ Trung đội phó của mình bị bay mất cả mặt, hai chân bị cắt đứt.”

        Đối với Danny Thomas, uống chúc mừng bao nhiêu cũng không đủ để quên đi “Nhóc Sữa”. Ông nói: “Ít lâu sau, những ác mộng bắt đầu. Và ác mộng vẫn lặp đi lặp lại - ông có biết sóng biển đánh vào bờ, đánh vào và rút ra như thế nào không? Trong cơn ác mộng, tôi thấy đợt sóng đánh lên bờ Iwo có những xác chết của bạn tôi, chỉ dập dềnh tới lui. Và tôi không thể làm gì được cho họ.”

        Jim Buchanan thây khó mà chú tâm vào việc gì. Ông nói: “Tôi cảm thấy cuộc đời rất ngắn ngủi. Tôi thấy cuộc sống và gia đình tôi không là gì cả. Tôi thiếu động lực. Tôi không thể xem bất cứ việc gì là nghiêm túc.”

----------------
        1. Máy bay mang bom cảm tử của Nhật, phi công có chủ ý đâm xuống tàu Mỹ và chịu hy sinh.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:18:33 AM

        Quân y tá Cliff Langley không thể ngăn chặn những cơn ác mộng: Ông nói: “Trong ác mộng, tôi đối mặt với cái chết, tôi sắp bị hạ sát nhưng rồi không có chuyện gì xảy ra. Nếu tôi thức dậy, bước ta khỏi giường thì cơn ác mộng chấm dứt. Nhưng nếu tôi cứ nằm đấy, ác mộng sẽ tiếp nối. chuyện này tiếp diễn trong nhiều năm.”

        Wesley Kuhn - người đóng vai “Đạo tặc Hôn hít” từ Appleton - cũng gặp nhiều khó khăn trong đêm tối. Ông nói: “Khi tôi đi xa vì công việc, việc đầu tiên sau khi tôi nhận phòng là đặt một con dao trên chiếc ghế cạnh giường.”

        Cha tôi đã thoát được sự hành hạ của ác mộng. Trong những tháng đầu sau khi trở về từ Milwaukee và viện Khoa học Mai táng, ông thường biên thư cho mẹ tôi và không đề cập gì đến Iwo Jima trong các bức thư. Ông luôn tỏ ra bình thản và hạnh phúc, theo một cách thức bình thường trong sáng: “Ôi trời, anh thấy khó tập trung trong bài tập này và như thế là không ổn. Trong lúc này có một điều hay là anh luôn nghĩ về em và muốn được gần em.”

        Sự trong sáng và hạnh phúc. Tuy thế, thậm chí sau khi hai người đã cưới nhau, trong suốt bốn năm cha tôi vẫn khóc trong giấc ngủ.

        Tháng 4/1946, Rene trở về từ Trung Hoa. Ông về nhà vứi hy vọng được thuận lợi nhờ vị thế “anh hùng” để thực hiện giấc mơ của mình: Trở thành nhân viên cảnh sát của bang.

        Ông nghĩ mình có thể đạt điều này mà không cần “ô dù”, nhìmg Rene không đạt đủ tiêu chuẩn, và không ai trong Sở Cảnh sát New Hampshire muốn thu nhận ông dựa trên sự nổi tiếng. Chẳng bao lâu, Rene trở lại công việc ở nhà máy Manchester cùng với Pauline.

        Ira trở về cuộc sống cũ ở Khu Bảo tồn Pima phía nam Phoenix, sống trong ngôi nhà của gia đình ông. Mẹ Nancy treo bức ảnh giương ngọn cờ trên tường, nhưng Ira không muốn nói về chuyện này. Cha Jobe của ông cũng thế. Sara Bemal, người em họ đã sống một thời gian cùng gia đình Hayes, kể lại: “Cha anh ấy luôn trầm lặng, rất ít khi mở miệng. Ông ấy lo làm lụng ngoài đồng. Ông cần làm những việc phải làm. Ông không bao giờ nói về việc giương ngọn cờ và Ira thì giống y như cha anh ấy.”

        Ira nhận làm những công việc: hái bông vải, khuân nước đá trong xưởng làm nước đá. Dần dà ông mua được nơi cư ngụ cho riêng mình: một phòng trong một doanh trại bỏ hoang, trong chiến tranh nó được dùng để tập trung người Mỹ gốc Nhật được di dời về đây. Ông mua căn phòng với giá 50 USD nhờ sự ưu đãi dành cho cựu chiến binh.

        Nếu Ira nghĩ rằng mình đi một đoạn đường dài để trở về cuộc sống ngày xưa - nếu ông nghĩ những chuyện ồn ào về bức ảnh giương ngọn cờ đã chấm dứt khi mà cuộc chiến đã kết thúc - thì ông đã sai lầm.

        Sau này, ông kể với một phóng viên: “Nhiều du khách lái xe khắp Khu Bảo tồn để tìm tôi. Họ thấy tôi trên cánh đồng, cầm máy ảnh chạy đến và hỏi: ‘Có phải anh là người Da đỏ đã giương lá cờ trên Iwo Jima không?’”

        Có lẽ điều không tránh khỏi là Ira quay lại niềm an ủi trong men rượu như ông đã làm trong Chuyến Du hành Trái phiếu.

        Arnold Charles, người bạn của Ira trong thời gian này, kể: “Chúng tôi cùng làm việc trên cánh đồng và sau đó cùng uống rượu với nhau. Chúng tôi uống bất cứ thứ gì, phần lớn là rượu vang Tokay và bia Coors. Chúng tôi uống ngoài đường vi luật cấm người Da đỏ uống trong quán bar. Cảnh sát có thể thấy chúng tôi uống ngoài trời, thế là chúng tôi bị bắt giam ở Phoenix vì tội say rượu và gây rối trật tự công cộng.”

        Arnold Charles còn nhớ Ira là người dễ thân thiện, một chàng trai tốt bụng. Nhưng anh họ Buddy Lewis của Ira thì nhớ đến điểm nhạy cảm của Ira.

        Lewis nói: “Khi được hỏi về Iwo, nó thường trả lời: "Đó toàn là chuyện cà chớn." Nó nói như vậy để cắt ngang câu chuyện.

        Khi có người gọi nó là anh hùng, nó trả lời: ‘ừ, ừ,’ rồi bước đi nơi khác’.”

        Điều trái khoáy là vị thế “anh hùng” của Ira lại khiến ông mua rượu được dễ dàng. Lúc nào cũng có người mua rượu hộ ông. Ông thấy là ở Phoenix người ta không tống cổ ông khỏi quán bar; chủ quán đều cảm thấy hãnh diện mà chiêu đãi anh chàng Da đỏ đặc biệt này bên quầy rượu của mình.

        Tuy thế, Ira vẫn là người cô đơn. Khi tật uống rượu tái diễn, ông ngủ trong một ngõ hẻm hoặc dọc theo đường ray tàu hỏa. Mặt ông chảy xệ, thân người nặng nề thêm, ông bị bắt thêm nhiều lần, vẫn với tội danh say rượu và gây rối trật tự công cộng. Buddy Lewis nói: "Ira là đứa dễ thương nhưng khi say thì tính tình thay đổi. Nó có triệu chứng tâm thần phân liệt. Khi say nó trở lên cục cằn. Bình thường nó cười cợt nhưng khi có ai nhắc đến Iwo Jima thì nó nổi cáu. Nó không muốn nói gì về chuyện ấy.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Sáu, 2018, 04:19:16 AM

        Vào mùa xuân 1946, hôn lễ của cựu chiến binh là chuyện thường nhật, nhưng ngày Chủ Nhật 5/5 bức ảnh của một lễ cưới được in trên các tờ báo khấp nước Mỹ. Câu ghi chú của bức ảnh là: “Một trong những người giương ngọn cờ trên Iwo Jima, John H. Bradley, ngày thứ Bảy vừa qua đã làm lễ cưới người yêu ở quê nhà có nhũ danh Elizabeth Van Gorp, ở Nhà thờ Công giáo St. Mary tại Appleton.”

        Sau đêm tân hôn ở khách sạn sang trọng Pfister tại Milwaukee, họ xây dựng tổ ấm trong thị trấn, cha tôi thuê gian phòng dành cho tài xế, phía trên nhà để xe của một ngôi nhà sang trọng trong khu giàu có của thị trấn. Ông bắt đầu làm việc toàn thời gian cho Nhà Mai táng Fass.

        Phóng viên, tác giả viết sách và người thu thập kỷ vật tìm kiếm ông và luôn đòi hỏi chiếm thời giờ của ông. Nhưng người chồng trẻ và công dân thầm lặng đã tách mình ra khỏi những chuyện như thế. Gần cuối cuộc đời, trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi ông nói: “Đây là việc bỏ tất cả thời gian để hoặc cho phỏng vấn hoặc kiếm tiền nuôi sống gia đình. Thế là tôi quyết định kiếm tiền nuôi sống gia đình tôi và đối xử với mọi người ngang nhau: không cho ai phỏng vấn hết.”

        Từ những ngày đầu tiên trong cuộc hôn nhân, cha mẹ tôi thường cùng nhau thầm cầu nguyện mỗi đêm. Mẹ tôi kể:

        “Rồi một đêm, mẹ hỏi ông ấy cầu nguyện gì. Lời cầu nguyện của cha mẹ tương tự như nhau, vì thế cha mẹ bắt đầu cất tiếng cầu nguyện.

        “Sau khi cùng cầu nguyện như thế vài ba lần, mẹ nghe ông ấy nói ra thêm vài tiếng. Mẹ hỏi ông ấy: "Anh cầu nguyện gì?" Ông ấy tỏ vẻ bối rối và trả lời: "À, anh chỉ nói: “Xin Đức Mẹ phù hộ chúng con cho mọi chuyện yên ổn."” Cả cha con và mẹ đều im lặng trong một phút và rồi ông ấy thêm: "Anh còn cầu nguyện về Iwo Jima”

        Tuy vậy, cha tôi không muốn nói về thói quen hàng đêm kia. Khi mẹ tôi hỏi ông ấy về việc này lúc trời sáng, ông chỉ ngoảnh mặt đi.

        Mẹ tôi nhớ lại: “Ồng ấy nằm ngủ, mắt nhắm lại nhưng đang thút thít. Người ông ấy co giật, lệ trào ra khóe mát, chảy xuống khuôn mặt.”

        Cuộc sống của Ira trở nên khô cằn: ban ngày làm việc trên cánh đồng, buổi tối uống rượu ở Phoenix, ngủ trên hè phố, trở về nhà với cha mẹ đang lặng im trông ngóng, rồi câm nín nhìn ra khoảng không đây ánh sao. Không ai can thiệp vào những xáo trộn trong tâm trí ông; họ không có thói quen đó. Người mẹ luôn chuẩn bị sẵn thức ăn nóng cho ông.

        Rồi một ngày vào tháng 5/1946, Ira Hayes quyết định hành động theo ý nghĩ đang nhảy múa trong bầu trời đêm.

        Ông không nói gì với ai. Có lẽ ông ăn mặc như một ngày làm việc bình thường: chiếc áo cotton ngân tay để hở cổ, quân jeans xanh với hai gấu vén lên cao theo kiểu cách thời ấy, giày cao cổ. Ông đi khỏi khu bảo tồn sông Gila để ra Xa lộ Pearl Harbor. Nhưng thay vì đi nhờ xe đến Phoenix, ông vẫy tay xin đi nhờ đến Thành phố Tucson ở hướng nam.

        Từ Tucson ông đi về hướng đông dọc đường quốc lộ hai làn xe dưới ánh nắng chói chang, đi qua những thị trấn nhỏ mang tên Dragoon, Wilcox và Bowie, rồi vượt qua biên giới Bang New Mexico và những thị trấn mang tên Lordsburg và Deming. Có lẽ ông đi nhờ xe tải trang trại hoặc bất kỳ xe nào nhận chở một người Da đỏ. Có lẽ ông không hề giới thiệu tên của mình.

        Có lẽ ông ngủ khi thấy mệt: trong công viên Thành phố Las Cruces, hoặc trong một chiếc xe bị bò hoang trên sa mạc. Vượt qua biên giới Bang Texas phía bằc E1 Paso, có lẽ đi qua cách Alamogordo khoảng 120 km.

        Tại San Antonio, có lẽ Ira xin đi nhờ xe về hướng nam: đến nơi Sông Rio Grande chảy ra Vịnh Mexico. Nơi phép lạ của hệ thống thủy nông đã hứa hẹn những vườn chanh và những cánh đồng bông vải sẽ thay thế đầm lầy lau sậy. Hướng về Thung lũng Rio Grande. Đi về hướng những thị trấn nhỏ nơi mà ngày xưa có người bạn thân chơi trong một đội bóng không hề thua trận và cưỡi ngựa không yên bên cạnh người bạn Mexico tên Ben Sepeda.

        Ở Weslaco, có lẽ Ira hỏi han địa chỉ của Ed Block (Hầu như chắc chắn là ông không biết gia đình Block đã rời đi, mà chỉ một mình Ed Block quay lại). Có lẽ không ai quan tâm đến câu hỏi của ông: Họ hằn nghĩ ông là một công nhân tìm kiếm công việc ở nông trại trồng bông của Ed.

        Trong ba ngày, Ira đã đi nhờ xe trên quãng đường dài gần 2.100 km.

        Theo lời chỉ dẫn, Ira vẫy xe đi nhờ trở lại hướng bắc, ra khỏi Weslaco vài dặm, rồi đi bộ về hướng tây hơn 3 km đến một ngã tư không tên. Nhìn về hướng bắc, ông trông thấy ngôi nhà của Ed Block. Ông bước đến, gõ cửa. Không ai trả lời. Ira quay ra nhìn cánh đồng bông vải, thấy một người đơn độc đang cúi mình dưới trời nắng. Ira thấu hiểu tất cả về việc trồng bông vải.

        Ông lẳng lặng đi đến phía sau lưng người ấy, nhỏ nhẹ hỏi: “Ông là Ông Block phải không? Cha của Harlon phải không?”

        Nhiều năm sau, Rebecca Salazar - người sau này trở thành vợ thứ hai của Ed - vẫn còn nhớ rõ tiếng nói phấn khích của Ed khi ông gọi điện cho bà.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2018, 07:07:29 AM

        Rebecca kể:

        “Ồng ấy hầu như thở không ra hơi. Ông ẩy hỏi tôi: "Em có biết cái anh Da đỏ trong bức ảnh giương ngọn cờ không?" Tôi nói: "Biết..."

        “Rồi Ed tiếp tục: "Này, hôm nay anh ấy đến đây! Anh ấy vừa đi. Anh ấy đã bước tới và kể cho anh nghe về Harlon, về việc hai đứa là bạn thân như thế nào. Anh ấy nói về việc Harlon chơi bóng đá, về việc Harlon lái xe tài chở dầu cùng với anh. Anh ấy biết mọi chuyện! Anh ấy và Harlon là bạn thân với nhau".”

        Rebecca Salazar kể tiếp về lời tường thuật của Ed:

        “Anh không biết nói gì. Anh không thể nói lên lời. Anh ấy hỏi anh có biết Harlon hiện diện trong bức ảnh không, người cầm cột cờ xuống đất đó. Anh nói ở nhà đã bán tín bán nghi về việc này. Ira nói đúng thật là Harlon; anh ấy nói rằng Harlon và anh ấy đã cùng nhau leo lên ngọn đồi, và Ira biết đấy chính xác là Harlon. Anh ấy nói ở Washington có sự nhầm lẫn về bức ảnh và khi Ira cố gắng nói ra sự thật thì người ta bịt miệng anh ấy. Anh ấy rất tức giận về chuyện này và muốn sự thật phải đâu vào đó".”

        Hiển nhiên là cuộc đối thoại ngoài cánh đông bông vải không kéo dài. Như Ed kể cho Rebecca:

        “Khi anh ấy an tâm là anh biết Harlon hiện diện trong bức ảnh, anh ấy chỉ nói: "Được rồi, à, tôi nghĩ tôi sẽ ra về." Anh và anh ấy bắt tay nhau rồi anh ấy đi ra khỏi cánh đồng.

        “Anh quá kinh ngạc đến nỗi không nghĩ ra hỏi anh ấy định đi đâu hoặc từ đâu đã đến đây. Đáng lẽ anh phải kiếm món gì đó cho anh ấy ăn, hoặc xem anh ấy có cần một chỗ ngủ hay không. Nhưng đâu óc anh không nghĩ ra. Anh ấy chỉ đứng đó trước mặt anh, nói về Harlon, và rồi ra đi.”

        Mẹ Belle - mẹ Belle bị ám ảnh, mẹ Belle bị khổ sở, mẹ Belle không mệt mỏi, kiên định - từ đâu đến cuối đã nói đúng.

        Phải đợi đến 14 ngày Ed mới thu đủ can đảm để nhấc điện thoại mà gọi cho bà vợ ly thân ở California. Khi nghe tin, bà tỏ ra bình thản, bà biên thư yêu cầu Ira xác nhận và được hồi âm.

        ... Có Thượng đế chứng giám tôi hạnh phúc như thế nào khi nhận được thư bà!

        Tôi rất quen thân với con bà. Tôi nói như thế bởi vì tôi biết rõ, tôi đã ở đó và đã nhìn thấy. Harlon hiện diện trong bức ảnh đó.

        Nhưng làm thế nào người ta làm rối mù sự việc về bức ảnh thì tôi không rõ. Tôi là người cuối cùng trở về nước để tham dự Chuyên Du hành Trái phiếu thứ Bảy... khi tôi về đến Washington D.c. tôi cố nói ra sự thật nhưng có một ông đại tá bảo tôi không được nói gì vì hai người đã chết, tức Harlon và Hansen. Hơn nữa, lúc ấy người ta đã biết ai là ai trong bức ảnh và không muốn rối ren vào giờ chót.

        ... Một người lính TQLC anh dũng như con của bà mà không được đất nước công nhận thì là điều không phải chút nào.


        Không bao lâu sau đấy, bạn của Harlon, Leo Ryan trở về quê nhà và đến thăm Ed Block. Leo kể: “Ông ấy nói với tôi rằng, Ira Hayes đã đến thăm ông và rằng Harlon hiện diện trong bức ảnh. Ông ấy chỉ vào người trong bức ảnh và nói: "Đây là con trai tôi, và tôi sẽ cố làm hết sức để nó được nhìn nhận".”

        Ngày 16/8/1946 - kỷ niệm tròn một năm chiến thẳng Nhật Bản - các bậc lão thành ở Buffalo mời ba người giương ngọn cờ đến tham dự nghi lễ yêu nước. Cha tôi từ chối: Ông đã ra lề luật và hơn nữa mẹ tôi sắp sinh. Ira và Rene chấp nhận lời mời. Nhưng họ sẽ nhầm to nếu hy vọng sống lại không khí hào hùng của Chuyến Du hành Trái phiếu. Hoàn cảnh giờ đã thay đổi, và cả hai người không còn như xưa. Một bức ảnh trên tờ The New York Times cho thấy rõ: Ira và Rene một lần nữa lại giương lá cờ, nhung dáng vẻ của họ có nét gì đấy buồn tẻ. Riêng đối với Ira, nhũng cơn say và công việc nặng nhọc đã gây vết hằn trên khuôn mặt ông.

        Bài báo bắt đầu: “Hai người trước đây tham dự vào việc giương ngọn cờ lịch sử trên Iwo Jima, hôm nay có vẻ buồn bã và vỡ mộng khi Buffalo hoan hỉ cử hành kỷ niệm tròn một năm Ngày Chiến thắng.” Bản tin cho biết Rene “cảm thấy thất vọng phần nào vì người ta đã không giữ lời hứa đưa ra khi cuộc chiến đang tiếp diễn”, và tường thuật phản ứng của Rene:

        “Và tôi nói điều đó không phải chỉ cho riêng tôi,” anh ấy nói tiếp: “Không phải thế. Đó cũng là vì cho những người bạn nữa".

        “Tôi không thế xin việc ở sở cảnh sát hoặc sở cứu hỏa tại Manchester. Tôi không thể tìm chỗ ổn định cuộc sống trong thị trấn của tôi. Tôi phải sống với họ hàng bên vợ tôi ở Hooksett cách xa khoảng 8 dặm.”


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2018, 07:09:06 AM

        Bài báo không đề cập đến sự kiện là không có bằng chứng cho thấy Rene xin tham gia chương trình huấn luyện để đạt đủ điều kiện cho những công việc trên. Rõ ràng là người giương ngọn cờ trẻ nhất và ngây thơ nhất - chỉ mới 21 tuổi vào năm 1946 - đã ngộ nhận là lớp vỏ “anh hùng” sẽ giúp ông dễ dàng được cất nhắc kèm theo lương bổng đầy đủ. Trong chuyến du hành, cha tôi đoán trước điều này. Có lần ông nói với tôi: “Tất cả các chức sắc trong chuyến du hành đều vỗ lưng bọn cha và hứa sẽ thu xếp công ăn việc làm nếu bọn cha cần đến. Cha không tin lắm, nhưng mắt Rene sáng rực lên. ông ấy nghĩ mình sẽ được lợi.” Cùng lúc, Ira thổ lộ nỗi bất mãn theo cách khác. Ông nói với các phóng viên: “Tôi muốn được tự lập, nhưng ở Arizona người da trắng xem người Da đỏ như là kè thấp hèn và bất kỳ ở đâu bên ngoài Khu Bảo tồn tôi đều không có cơ may, trừ khi tôi đi về miền Đông.”

        Những người sa vào tật nghiện rượu thường ta thán về mình như thế. Nhưng có lẽ nhận xét kế tiếp của Ira nói lên nguồn cơn thực sự của nỗi bức xúc đúng lý: “Đa số những bạn thân của chúng tôi đã nằm xuống. Ba trong số những người giương ngọn cờ đã nằm xuống. Chúng tôi đổ bộ lên Iwo với 250 người và một tháng rưỡi sau chỉ còn 27 người. Tôi vẫn luôn nghĩ về việc này.”

        Tôi tin rằng lời ta thán được lặp đi lặp lại này là nguyên nhân cho những nỗi phiền muộn của Ira Hayes.

        Nhưng dù cho Ira tiếp tục suy nghĩ về những đồng đội đã nằm xuống và tiếp tục uống rượu trong cơn đau buồn, hành động khác thường nhất về anh hùng tính có đạo đức của ông bắt đầu mang lại kết quả. chuyến đi tổng cộng gần 4.200 km mùa xuân năm trước - từ Khu Bảo tồn Sông Gila ở Arizona đến cánh đồng bông vải của Ed Block ở Nam Texas rồi trở về - đã kích hoạt một loạt những động thái nhanh chóng lan đến cấp chỉ huy cao nhất của TQLC Hoa Kỳ.

        Sau khi nghe Ed kể về chuyến viếng thăm của Ira, mẹ Belle của Block hành động lập tức. Bà viết một bức thư cho Dân biểu Milton H. West, đại diện Quận Weslaco, ký tên “Bà E.F. Block” và dùng địa chỉ của Ed ở Thung lũng Rio Grande:

        Khi xem xét bức ảnh nổi tiếng về việc giương ngọn cờ trên đỉnh Suribachi, tôi tin chắc người lính TQLC ở chân cột cờ là con trai tôi. Tôi đã biên thư cho vài người lính TQLC mà tôi quen biết đế dò hỏi liệu con trai tôi có phải là người trong bức ảnh hay không và được họ xác nhận là đúng, nhưng tôi không có chứng cứ xác thực cho đến khi tôi liên hệ với Ira Hamilton Hayes, một trong những người giương ngọn cờ còn sống và nhận được một lá thư dài của anh ấy xác nhận và chứng thực đấy là con trai tôi...

        Vị Dân biểu chuyển cả hai lá thư cho Tham mưu trưởng Vandegrift, yêu cầu giải thích. Vị Tham mưu trưởng hành động nhanh chóng: phái một sĩ quan tùy viên đi đến Khu Bảo tồn Pima ở Arizona để lấy lời khai của Ira.

        Ngày 10/12, người sĩ quan tùy viên phỏng vấn Ira ở Phoenix, và thấy lời khai của Ira có tính thuyết phục. Ngoài những chi tiết được hỏi, Ira còn kể lại rõ ràng rằng chính Harlon là người đã chất những tảng đá xung quanh chân cột cờ. Rồi Ira yêu cầu vị Đại tá xem qua vài bức ảnh có Hank Hansen khi ông này giúp giương lá cờ thứ nhất. Ira chỉ ra rằng, Hansen đang đội một chiếc mũ bằng vải, không phải là mũ sắt, và rằng Hansen cũng mang dây đeo súng và giày bố của lính nhảy dù với ống quần túm vào bên trong. Tất cả những chỉ tiết này khác hẳn với hình ảnh người lính ở chân cột cờ.

        Ira kết luận: “Người này chắc chẳn là Harlon Block.”

        TQLC gửi lời khai của Ira cùng với các bức ảnh đến cha tôi và Rene. Hai người đều xác nhận rằng hình ảnh người đang nằm trong vòng nghi vấn không phải là Hank Hansen, có lẽ đấy là Harlon Block.

        Vào ngày 15/1/1947 - gần hai năm sau khi bức ảnh xuất hiện - Tham mưu trưởng Vandegrift gửi một bức thư dài hai trang đến “Ông và Bà Block.” Ông xác nhận đã có sự nhầm lẫn: Henry Hansen không hiện diện trong Bức Ảnh. Dựa trên chứng cứ và quan điểm nhất trí, người lính TQLC đang cắm cột cờ xuống đỉnh Suribachi là Harlon Block.

        Vandegrift quy trách nhiệm về sự nhầm lản cho phóng viên nhiếp ảnh Joe Rosenthal chứ không phải cho TQLC như Ira đã cáo giác. Còn về việc con trai của hai người không được xác nhận suốt 23 tháng thì vị Tham mưu trưởng chỉ trình bày một cách cứng nhắc: “Một việc nhận dạng nhầm lần như thế là điều vô cùng đáng tiếc.”

        Dù ngôn từ là thế nào, mẹ Belle của Block đã được minh oan. Bà đã lập tức nhận ra con trai mình khi chỉ nhìn phía sau hình người mờ nhòe trong bức ảnh chuyển bằng sóng vô tuyến qua khoảng cách hơn 9.600 km.

        Có lẽ cuối cùng thì việc TQLC thú nhận họ đã nhầm lẫn không phải là điều quan trọng. Maurine nói: “Tôi tin chắc rằng dù chính phủ có nói gì chăng nữa, khi qua bên kia thế giới mẹ tôi vẫn sẽ kiên quyết cho là con trai Harlon của bà hiện diện trong bức ảnh ấy.”

        Mẹ Belle biết rõ con trai của bà.


Tiêu đề: Re: Ngọn cờ của cha
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Sáu, 2018, 07:14:42 AM

Chương 18

PHIM ẢNH VÀ ĐÀI TƯỞNG NIỆM
       
        Nếu mọi thứ không phải là đen và trắng, tôi xin hỏi “Tại cái quái gì mà không phải”?

JOHN WAYNE       

        Bây giờ họ không còn là trai trẻ; họ là những người hậu chiến. Nhung mọi việc họ làm đều được đưa lên bản tin thời sự.

        Năm 1947, năm mà Chiến tranh Lạnh bắt đầu, cả nước vẫn nhìn những hình người trong Bức Ảnh để tìm nguồn trấn an. Tháng 2/1947, vào ngày kỷ niệm tròn hai năm sự kiện giương ngọn cờ, hình ảnh thời sự cho thấy cha tôi trong bộ áo vét đang sẳp xếp lại những đóa hoa trong một nhà mai táng; một nông dân Arizona tên Ira mặc một chiếc áo làm việc hở cổ; Rene mặc áo lót đang làm việc trong một nhà máy Chicopee nóng bức. Khi cha tôi tốt nghiệp Viện Khoa học Mai táng Wisconsin, khi Rene Jr sinh ra ở Manchester, khi Kathleen Badley sinh ra ở Milwaukee, khi cha tôi tìm được việc làm trong thị trấn Antigo - khi tất cả những việc này xảy ra, ánh đèn máy ảnh lóe sáng và những hàng tít chạy dài kể đâu đuôi câu chuyện.

        Ira tiếp tục tạo ra những hàng tít theo chiều hướng đen tối. Những vụ bắt giam anh ở Phoenix và các thị trấn chung quanh càng chồng chất thêm. Báo chí địa phương đăng tải các vụ giam giữ trở nên thường xuyên đến nỗi chuyện này không còn là mới mẻ nữa; rồi họ xem tin tức về việc bắt bớ Ira như là chuyện trộm cắp vặt thường ngày.

        Đối với những phóng viên và du khách không bao giờ chịu buông tha Ira, ông vẫn tỏ ra chịu đựng nhung tìm cách lánh xa họ. Trong khi làm việc trên cánh đông bông vải, Ira nhét một lá cờ Mỹ trong túi để khi có người lạ đến yêu cầu thì ông đành phải chiều lòng họ mà móc lá cờ ra cho họ chụp ảnh. Nhưng ông không bao giờ nói về việc giương ngọn cờ hoặc về chi