Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:19:26 PM



Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:19:26 PM
Thời sôi động
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
Năm xuất bản: 2004
Người số hóa: macbupda

(https://lh3.googleusercontent.com/Oid8S3fR6boBkU6b252FhrdwJUWYMV0bwshDvCgTE8d_Hc6gGxITkYgYE1zlucuqdf0RavS4GcDgrHnZtsIwIXePwcRYkIVJrL5Xti3_mIudEWRRv7rVYNxnyCX8YkzA60y_wqR8gt6AUIeyuw95kEowEv_QmS37BUFWGjzlA5HucVrRustJOR2xjoITRKyPcqNk3SsjabOCbvJhxKvApXkc6_YH5gMB8BcDUc7jl10viX3z4lHVpumAP8NS1aQ2TtaeMW1d9j2qrB0j6rteE-3SHOxQd4cwEk5A_7JEk11zJPafudEJj4gVIqdC0weEhmO4cM9g-a0FdC86VPR-LHmkEfTqETade1GZsqF44SgWNW_2bLvYya4KkeUd_MuUJQ7PhN2sTUTlzYs24QVEmX5tY8iHfi5DjqeCHejE2Jsc4QPiQQNVZnq5bgEtkF5IWrueXW-dR7NPcbPrU0nlK_gtnSAV4yPAbuwGihLGSPT38PhqhEKdQR_k17a13HX8h9H7bgFJPGT0qBku3e3gsxgk_TTQ_IxDDjRkJRloAaquF1HH2CzzELPShVSeNUVVwOcG5WSDFm988xuPToN4ZUPqddHhqOZ3ewfGPi0=w563-h832-no)

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Là một thanh niên sớm giác ngộ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930, trực tiếp tham gia cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có thể nói cuộc đời của đồng chí Đại tướng Chu Huy Mân đã tham gia vào hầu hết những sự kiện quan trọng của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, bị bắt, sống cuộc sống cam go, khổ cực trong nhà tù thực dân, rồi vượt nhà lao, tham gia Tỉnh ủy Quảng Nam, vào quân đội, giữ chức Chính trị viên tỉnh đội, Trung đoàn trưởng, Chính ủy đại đoàn, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Việt Nam tại Lào, tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Tây Bắc, Quân khu 4, Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, cho tới khi giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, là cả một chặng dài vừa chiến đấu, vừa công tác, vừa tự học tự rèn, dâng hiến không mệt mỏi cho dân cho nước của đồng chí Chu Huy Mân. Dù ở bất cứ vị trí công tác nào đồng chí cũng sáng suốt, dũng cảm, quyết đoán hoàn thành tốt nhiệm vụ và trọng trách mà Đảng, Quân đội và nhân dân tin cậy giao phó.

Cuốn “Thời sôi động” của Đại tướng Chu Huy Mân do Đại tá Lê Hải Triêu thể hiện sẽ cho người đọc thấy được một phần cuộc đời cách mạng với những sự kiện sôi động, oanh liệt của đồng chí Chu Huy Mân, vị Đại tướng của quân đội, với cái tên Hai Mạnh (Mạnh về quân sự, mạnh về chính trị). Cuốn sách chia làm sáu giai đoạn (từ năm 1929 đến năm 1975) và tuân theo trình tự thời gian các sự kiện đã xảy ra với phương pháp thể hiện là hồi ức xen lẫn với những tổng kết đánh giá của chính người trong cuộc.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
                                                                                                                                                                               
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:22:53 PM
Chương 1
TỪ YÊN LƯU ĐẾN ĐẮC TÔ

Ngày sinh của tôi là 17 tháng 3 năm 1913 (Quý Sửu). Tôi là con trai út trong một gia đình có tám chị em. Nơi tôi sinh là xã Yên Lưu, bên bờ sông Lam thuộc tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay là xã Hưng Hóa thành phố Vinh tỉnh Nghệ An). Tôi ra đời được 14 tháng thì bố tôi mất. Với chín miệng ăn, khó quá, mẹ tôi phải bán bớt hai chị cho nhà giàu, số còn lại đi làm thuê hoặc làm đứa ở. Là con út, nên tôi được mẹ, các chị, các anh rất thương. Lên tám tuổi, tôi được đi học chữ Hán, bốn năm đầu học liên tục, bốn năm sau phải vừa học vừa làm thuê để phụ giúp gia đình.

Yên Lưu đồng chua nước mặn. Năm này qua năm khác, bà con nơi đây phải chống chọi với bao thử thách để có bát cơm manh áo. Cuộc sống cơ cực đã gắn bó mọi người với nhau, gian truân nhưng khẳng khái.

Khoảng năm 1923, từ Vinh, Bến Thủy những câu chuyện mới lạ truyền miệng lan về Yên Lưu. Ở nước Nga xa xôi có ông Lý Ninh (Lê-nin) lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân làm cách mạng thành công, xây dựng chủ nghĩa cộng sản... được người dân quê tôi đón nhận với một tâm trạng náo nức, vui mừng, nhưng bâng khuâng, suy nghĩ.

Rồi những từ “cách tân”, “tiến bộ cách mạng”, “đấu tranh” cũng xuất hiện đâu đó. Mặc dù chưa hiểu nhiều về nghĩa của các từ mới này nhưng dần dần những từ đó đã trở nên quen thuộc với lớp học sinh chúng tôi. Tôi còn được nghe từ khi đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam, khắp ba kỳ Bắc – Trung – Nam đâu cũng có những văn nhân, chí sĩ yêu nước tập hợp lực lượng, chiêu mộ nhân tài, kêu gọi đồng bào kết đoàn đấu tranh chống thực dân phong kiến. Vua Duy Tân bỏ ngai vàng đi chống Pháp; cụ Phan Đình Phùng lập chiến khu chiêu mộ hiền sĩ, tập hợp lực lượng mưu việc lớn; cụ Đề Thám lập căn cứ chống thực dân Pháp ở Bắc Giang... Từ Bắc chí Nam nhiều người du học tìm đường cứu nước mà số đông là người Nghệ An, Hà Tĩnh; trong đó có ông Nguyễn Ái Quốc, người ở huyện Nam Đàn đang sống và hoạt động ở nước Nga Xô-viết, nay mai về nước chỉ lối đấu tranh giải phóng đồng bào. Tin này gắn liền với câu chuyện núi Đụn xẻ đôi, khe Bò Đái nước vẫn chảy nhưng không rì rào như trước. Những tin ấy được nhân dân, nhất là lớp trẻ chúng tôi đón nhận một cách thích thú.

Cũng vào thời gian này nhiều thơ ca kêu gọi tinh thần yêu nước thương nòi của cụ Phan Bội Châu, người làng Đan Nhiệm huyện Nam Đàn ra đời (sau này tôi được biết cụ là một chí sĩ yêu nước vĩ địa của lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX). Cụ là lãnh tụ của các phong trào Duy Tân, Đông Du, Việt Nam quang phục hội. Tuy sự nghiệp cứu nước của cụ không thành, nhưng lòng yêu nước và chí căm thù quân xâm lược của cụ thì mãi mãi không thể phai mòn trong tâm trí người Việt Nam. Nhiều câu thơ của cụ Phan Bội Châu thức tỉnh lòng người, tôi còn nhớ đến bây giờ, như:

            Ba tấc lưỡi mà gườm mà súng...
            Một ngôi đình vừa trống vừa chiêng.


Hay:            Sinh vi nam tử yếu hy kỳ
            Khẳng hứa càn khôn tự chuyên di
            Ư bách niên trung tu hữu ngã
            Khởi thiên tải hậu cánh cô thùy
            Giang sơ tử hy sinh đồ nhuế,
            Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.
            Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
            Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.


Dịch là:         Làm trai phải lạ ở trên đời
            Há để càn khôn tự chuyển dời
            Trong khoảng trăm năm cần có tớ
            Sau này muôn thuở, há không ai?
            Non sông đã chết sống thêm nhục,
            Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
            Muốn vượt biển Đông theo cánh gió,
            Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.


Đây là bài thơ chúng tôi thích nhất lúc bấy giờ, bởi vì nó đã thể hiện rõ tư thế, quyết tâm của tuổi trẻ, quan niệm chết vinh còn hơn sống nhục đã thức tỉnh tinh thần yêu nước thương nòi của đồng bào thật sôi động nung nấu tâm can. Trong lúc ấy, người dân Yên Lưu quê tôi vẫn phải chứng kiến cảnh Tây đoan sục sạo bắt bớ đánh đập người dân vô tội, rượu ta nấu chúng cho là rượu lậu, muối ta làm nó bảo muối gian. Ngày ngày nhìn sông Lam mùa trong mùa đục, núi Hồng cao vút, sáng chiều, nghe tiếng còi của nhà máy xe lửa Trường Thi và Bến Thủy mà lòng khao khát có sự đổi đời.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:24:50 PM
Vào những ngày này tôi còn nghe thấy người ta thì thầm với nhau: “Nghệ An quê mình đã có cộng sản” với thái độ trân trọng tự hào, mừng, lo suy nghĩ.

Yên Lưu nhiều trường học chữ Hán, thầy giáo và học sinh trường Quốc học Vinh thường về quê giao lưu giúp cho học sinh nông thôn tiếp thu được cái mới.

Mở đầu phong trào cách mạng của nhân dân Yên Lưu là cuộc mít tinh tuần hành vào cuối tháng 10 (âm lịch) năm 1929 tổ chức ở bãi tha ma Chùa Phủ. Hàng năm cứ đến ngày 15, 16, 29 và 30 tháng 10 (âm lịch) nước thủy triều tràn ngập cánh đồng lúa, đồng lác. Về đêm, rươi dưới bùn đất liên tiếp chui lên nổi thành đám, nhân dân đi vớt về làm mắm ăn hoặc đưa ra chợ bán. Anh Chu Văn Chín rủ tôi đi vận động một số thanh niên dự mít tinh. Năm ấy tôi mười sáu tuổi, lần đầu tiên tham gia cuộc mít tinh lớn ở xã. Để giữ bí mật, chúng tôi đều mang theo vợt, thúng và gậy như những người đi vớt rươi. Khoảng 11 giờ đêm, có khoảng 300 quần chúng tới dự. Diễn thuyết là Trần Huy Trí, người làng Yên Ấp. Anh mặc áo dài đen, đội mũ trắng, nói tiếng Bắc lơ lớ nhưng thuyết phục. Anh nói về các vấn đề: Đánh đổ đế quốc Pháp, Nam triều phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng, nhà máy cho thợ thuyền, chính quyền công nông, chủ nghĩa cộng sản (lúc này chưa có cụm từ chủ nghĩa xã hội)... Những khẩu hiệu mới lạ, thật ra có những người dự mít tinh chưa ai hiểu được bao nhiêu, nhưng ai nấy đều sung sườn đến trào nước mắt vì biết được nước mình đã có cách mạng và có nhiều người tài giỏi, nhất định những cuộc đời nô lệ sẽ được đổi thay.

Sau khi nghe diễn thuyết, mọi người hô vang khẩu hiệu: “Đánh đổ đế quốc Pháp”, “Thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng, nhà máy cho thợ thuyền”, “Giành chính quyền về tay công nông”, v.v...

Ra khỏi bãi tha ma Chùa Phủ, đoàn biểu tình chia làm hai đoàn. Đoàn một đi về Yên Ấp rồi giải tán, đoàn thứ hai đi vào Yên Lạc, qua Long Mã, Đông Thịnh, Hậu Tư, Gia Phúc đến bãi tha ma Nhã Nam thì giải tán. Đoàn người vừa đi vừa hô khẩu hiệu làm cho nhân dân các làng mà đoàn đi qua im phắc, hình như nín thở.

Sáng 30 tháng 10 là phiên chợ Trụ, người đi chợ không đông như những phiên trước, thái độ mọi người có vẻ trầm lặng, hình như muốn thăm dò tối qua làng mình có ai đi biểu tình? Bọn cường hào và tay sai, tên nào cũng có vẻ lấm lét. Có tên uống rượu mượn chén nói những lời không ra nịnh bợ, không ra hăm dọa. Nhân dân Yên Lưu không ít người qua một đêm thức trắng vui mừng, kín đáo cảm thấy có gì đó quan hệ đến cuộc đời của mình. Cũng trong phiên chợ này, qua những người ở các xã lân cận Nghị Xuân (Hà Tĩnh), Nam Đàn, Hưng Nguyên tôi được biết ở mọi noi phong trào cách mạng đã bắt đầu trở nên rầm rộ.

Sau cuộc mít tinh này, tôi bắt đầu học chữ quốc ngữ, có ít vốn chữ Hán nôm nên học chữ quốc ngữ cũng thuận lợi. Một năm sau thì biết đọc, biết viết, biết đọc những tài liệu in trên thạch và đá. Chuyển từ thơ phú sang dân tộc giai cấp quốc tế.

Từ sau cuộc mít tinh đầu tiên đánh dấu phong trào cách mạng ở Yên Lưu ấy, các thôn xóm đều có những cuộc họp bí mật của quần chúng để nghe cốt cán giải thích những vấn đề nói trên một cách cặn kẽ, cụ thể hơn. Tết Nguyên đán năm ấy một số người từ Yên Dũng, Vinh, Bến thủy, Nghi Lộc về Yên Lưu dưới danh nghĩa du xuân để nói chuyện với phong trào cách mạng ở các địa phương trong cả nước. Do được học hành chút ít, lại sớm tiếp thu không khí cách mạng nên tôi thấy ham thích đi làm cách mạng. Dù là chuyện bí mật, tôi mạnh dạn thưa với mẹ:

- Mẹ ơi, con đã lớn rồi, mẹ cho con thoát ly hoạt động cách mạng, góp phần đánh đổ bọn đế quốc và Nam triều phong kiến để dân mình thoát khỏi ách nô lệ lầm than, mẹ nhé!

Vì tôi là con trai út lại hiền lành, nết na, là niềm an ủi lớn của tuổi già, mẹ tôi trăn trở suy nghĩ mấy ngày đêm, tôi cảm thấy bà không ngủ, ít ăn. Một đêm đông trời khuya gió lạnh, quanh nhà phẳng lặng không nghe tiếng động của bọn mật thám rình mò, mẹ tôi nén xúc động nói từng lời:

- Mẹ đã nghĩ kỹ rồi, con đã quyết, mẹ không ngăn, nhưng đi hoạt động cách mạng thì dễ bị bắt bỏ giam cầm, không biết rồi con có chịu nổi không?

Tôi nhìn thẳng vào mẹ, chớp chớp mắt và nói:

- Dù gian khổ đến thế nào đi nữa (tôi suýt buột miệng nói dù có phải chết) con cũng chịu đựng được, mẹ hãy tin con! Cách mạng thế nào cũng thắng.

- Mẹ tin. Nhưng đã đi thì phải cố cho bằng anh bằng em, con nhé!

Từ đó mẹ luôn quan tâm đến tôi, nhất là mỗi khi đi đêm về, hôm nào mẹ cũng lấy khăn nóng lau chân và đắp chăn cho tôi khỏi lạnh, đề phòng bọn mật thám bất ngờ xông vào kiểm tra, thấy chân lạnh, chúng nghi và cho rằng mới đi hoạt động về.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:25:42 PM
Mùa Xuân năm 1930, không còn là những tin đồn mà cờ đỏ búa liềm đã xuất hiện ở Yên Lưu. Mỗi người dân đều biết quê mình đã có cộng sản. Sau đó ít lâu tôi đã biết chi bộ Đảng đầu tiên ở Yên Lưu có ba người: “Dương Cu (bí danh Hủ), Đinh Văn Ái (bí danh Be), Trần Huy Trí (bí danh Bắc). Bí thư chi bộ không ai khắc chính là Trần Huy Trí – người diễn thuyết trong cuộc mít tinh tuần hành, thị uy đầu tiên – nhà anh khá giả, học chữ Hán nhiều năm, làm nghề bốc thuốc bắc chữa bệnh. Dương Cu nhà nghèo, bố mẹ mất sớm, ở với người cô ruột, được học ít chữ Hán. Đinh Văn Ái nhà nghèo, bố mất sớm, sống với mẹ cũng được học chút ít chữ Hán. Ái khá điển trai, thường theo đoàn hát chèo và hãy đóng vai Thúy Kiều hoặc Thúy Vân.

Ngày 8 tháng 3, Yên Lưu tổ chức mít tinh lớn với khẩu hiệu: “Nam nữ bình quyền”, “Việc làm ngang nhau, tiền lương ngang nhau”, “Phụ nữ cũng được đi học”. Lần đầu tiên được nghe đến quyền lợi của mình, một số chị em bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng.

Ngày 1 tháng 5 năm 1930, Đảng Cộng sản Đông dương chủ trương phát động lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động đầu tiên ở Việt Nam. Để phối hợp với các cuộc đấu tranh ở nhiều nơi trong cả nước, tại Nghệ An đã có cuộc biểu tình lớn của nông dân Yên Dũng, Yên Lưu, Lộc Đa, Đức Thịnh (Hưng Nguyên), An Hậu, Đức Hậu (Nghi Lộc) phối hợp với công nhân nhà máy ở Vinh – Bến Thủy đấu tranh đòi chính quyền thực dân phong kiến thực hiện các yêu sách: giảm thuế ruộng đất, bỏ thuế thân, thuế thổ trạch, thuế chợ, thuế đò; bỏ lệ bắt phu tạp dịch, ngày làm 8 giờ... Đoàn biểu tình không mang gậy gộc, chỉ kéo cờ búa liềm và biểu ngữ, hàng ngũ chỉnh tề vừa đi vừa hát vang bài Quốc tế ca. Công sứ Pháp ở Vinh huy động lính đến canh gác bảo vệ các nhà máy và sai tri phủ Hưng Nguyên đưa lính đến ngăn cản, nhưng binh lính không ai bắn vào những người biểu tình. Đoàn người vẫn tiến về phía nhà máy xe lửa Trường Thi. Công nhân trong nhà máy nhập vào đoàn người biểu tình kéo về Bến Thủy. Tại đây, hai bên đã xảy ra đụng độ. Quân Pháp nổ súng giết hại 6 người, làm bị thương 18 người. Tuy bị tổn thất, nhưng đây là lần đầu tiên công nhân và nông dân cùng sát cánh bên nhau để đấu tranh chống lại bọn thực dân Pháp và tay sai.

Ngày 1 tháng 9 năm 1930, cuộc biểu tình lớn nhất ở Nghệ An với gần 2 vạn người tham gia đã diễn ra tại huyện Thanh Chương. Cuộc biểu tình này được coi là mốc mở đầu đánh dấu sự ra đời của cao trào Xô-viết – Nghệ Tĩnh.

Từ sau cuộc biểu tình có ý nghĩa lịch sử ở Thanh Chương, không ai đóng thuế chợ và cũng không ai dám thu, mọi người tự do lập hội, tự do biểu tình. Như vậy, phong trào cách mạng đã phát triển đột biến, vượt ra ngoài dự đoán ban đầu. Áp lực đấu tranh mạnh mẽ của nông dân đã làm cho bộ máy chính quyền thực dân phong kiến từ huyện đến các làng xã đều bị tê liệt.

Một tuần sau, ngày 8 tháng 9 năm 1930, khoảng 7.000 nông dân Anh Sơn biểu tình kéo vào phủ đương đưa yêu sách. Thực dân Pháp cho máy bay đến ném bom hai lần vào đám đông, làm chết 9 người và làm bị thương nhiều người khác.

Tại Hưng Nguyên, ngày 12 tháng 9 năm 1930, cuộc biểu tình với quy mô lớn nhất với khoảng 8.000 nông dân hàng ngũ chỉnh tề, mang theo gậy gộc, giáo mác, dây thừng, giương cờ đỏ búa liềm kéo về ga Yên Xuân bắt trói tên sếp ga, cắt đường dây điện tín, đồng thời ra lệnh cho đoàn tàu từ Bắc vào phải dừng lại. Khách trên tàu cũng nhập vào đoàn biểu tình biến thành cuộc mít tinh lớn. Chị Nguyễn Thị Quỳnh Nga đứng lên diễn thuyết tố cáo tội ác của thực dân Pháp và Nam triều phong kiến, kêu gọi quần chúng đi theo Đảng Cộng sản. Tiếng hô khẩu hiệu vang dậy cả một khu vực lớn.

Thực dân Pháp cho một toán lính bắn dọa. Trời lại đổ mưa nhưng đoàn biểu tình vẫn giữ vững đội ngũ, tiến về hướng phủ huyện. Khi đoàn biểu tình đến Thái Lão, thực dân Pháp cho hai máy bay thay nhau ném bom và bắn trọng liên vào giữa đoàn biểu tình làm nhiều người chết và bị thương. Cuộc biểu tình phải giải tán. Khi bà con ta khâm liệm và mai táng những người bị quân Pháp giết hại, máy bay của chúng lại đến ném bom, bắn phá một lần nữa. Tổng số người thiết mạng lên tới 217 người và bị thương 1254 người. Vụ tàn sát cực kỳ dã man này đã làm chấn động dư luận trong nước và thế giới.

Thực dân Pháp tưởng rằng với bom đạn, chúng có thể dập tắt ngọn lửa Xô-viết Nghệ Tĩnh như chúng đã làm với các cuộc biểu tình trước đó. Nhưng chúng càng tàn bạo thì lòng căm thù của người dân Nghệ An, Hà Tĩnh càng dâng cao. Ngay trong đêm 12 tháng 9 năm 1940, gần 5.000 quần chúng Nam Đàn đã nổi trống, mõ biểu tình kéo lên huyện đường phản đối hành động giết người của chính quyền thực dân phong kiến. Ở Thanh Chương cũng vào đêm ấy có khoảng 4.000 nông dân biểu tình phản đối hành động vô nhân đạo của thực dân Pháp và làm lễ truy điệu những người hy sinh. Công nhân các nhà máy ở Vinh – Bến Thủy liên tiếp bãi công; học sinh ở Anh Sơn, Đô Lương, Nghi Lộc bãi khóa... Xứ ủy Trung Kỳ, các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đã phát truyền đơn, đăng báo ca ngợi tinh thần đấu tranh của quần cúng và lên án tội ác của thực dân Pháp và tay sai.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:26:52 PM
Ngày 12 tháng 9 năm 1930, tuy không thực hiện được ý định giành chính quyền toàn tỉnh Nghệ An nhưng đây là cuộc tập dượt có ý nghĩa lớn. Ngày này về sau đã trở thành ngày Xô-viết Nghệ Tĩnh.

Đến lúc này vai trò lãnh đạo của chi bộ Đảng đối với quần chúng ở Yên Lưu chỉ có anh Dương Cu cùng đội tự vệ đỏ. Độ Tự vệ đỏ lúc đó còn gọi là Thanh niên xích vệ, đội được thành lập trước ngày 12 tháng 9 năm 1930 do anh Trần Vượng làm đội trưởng, tôi làm đội phó.

Sau sự kiện ngày 12 tháng 9 năm 1930, phong trào quần chúng Yên Lưu được giữ vững và bước đầu có kinh nghiệm. Trong dịp Tết Nguyên đán năm ấy, một cuộc biểu tình lớn đã nổ ra ở Yên Lưu. Quần chúng mang theo gậy gộc, giáo mác với ý định đập tan bọn cường hào, thành lập chính quyền Xô-viết ở xã. Nhân dân tuần hành hô vang những khẩu hiệu cách mạng, rồi kéo đến nhà bọn hào lý và tên địa chủ Võ Quý Sơ đập phá thị uy, bắt bọn hào lý đem theo sổ sách và triện đồng ra đình trung nộp cho cách mạng. Đội Tự vệ đỏ chúng tôi tiếp nhận những thứ ấy, nhưng chưa biết xử lý thế nào. Chúng tôi giải thích, răn đe bọn hào lý rồi thả cho chúng về nhà. Nhiều tên sau đó không dám hung hăng như trước.

Tháng 11 năm 1930, chị bộ Đảng ở Yên Lưu ngoài ba người đã có có thêm Trần Ngũ, sau đó thêm Trần Tư (Tư Dài), Đinh Tư (Tư Tròn) và tôi.

Tôi được kết nạp Đảng vào một đêm mùa đông, trong gian nhà bếp của anh Chu Văn Chín. Dưới ngọn đèn dầu lạc chỉ có mấy người, sau khi giới thiệu người cán bộ thượng cấp đến chứng kiến, người thượng cấp rút trong túi áo ra một lá cờ đỏ búa liềm nhỏ xíu rồi nói:

- Hôm nay chi bộ Yên Lưu tổ chức kết nạp đồng chí Chu Văn Điều vào Đảng. Đồng chí đã tự nguyện vào Đảng, phải suốt đời đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa công sản, nếu bị kẻ thù bắt bớ, đánh đập phải quyết không cung khai, tù đày không nản chí, vào sống ra chết không sờn lòng.

Sau đó tôi đứng ra trước lá cờ Đảng tuyên thệ:

- Tôi, Chu Văn Điều xin thề trước cờ Đảng nguyện chiến đấu trọn đời cho Đảng, cho cách mạng, nếu bị bắt bớ, cực hình tra tấn quyết không cung khai, dù phải chịu tù đày quyết không nản chí, vào sống ra chết quyết không sờn lòng.

Tuy chỉ có mấy lời ngắn gọn trước cờ Đảng như vậy nhưng tôi thấy sao mà thiêng liêng đến thế. Tôi cảm thấy rất vinh dự và tự nhủ mình từ đây trách nhiệm sẽ nặng hơn vì Đảng chỉ thu nạp những ai tự nguyện hy sinh phấn đấu vì Tổ quốc, vì nhân dân, để dân đỡ nghèo khổ hơn.

Cũng như nhiều đồng chí khác, lời hứa đơn giản và thiêng liêng ấy cứ sống mãi với thời gian, sống mãi trong tâm trí, trở thành động cơ chiến đấu và chính động cơ đó được chứng minh trong những tình huống thử thách gian nguy, sống chết vẫn giữ vững khí tiết của tôi sau này, của một đảng viên cộng sản.

Sau khi được kết nạp vào Đảng, có một sự việc nhỏ nhưng tâm trí tôi không bao giờ quên được. trong xóm có gia đình anh chị Thẹo Ngơi quá nghèo khổ. Chị vợ sinh cháu đầu lòng, chồng đi lên Bến Thủy kiếm việc làm đã năm ngày, không được một đồng xu. Chị vợ đói, không có sữa cho con bú. Tôi nghĩ cách đi xin gạo ở các gia đình về nấu cháo cho chị ăn để có sữa cho cháu.

Khoảng tháng 3 năm 1931, chính quyền thực dân phong kiến bắt đầu thi hành chính sách khủng bố trắng. Chúng đề ra chính sách “Quy thuận”, bắt mỗi tráng đinh, nhất là đầu đinh phải ký vào sổ cam đoan “từ nay không theo cộng sản nữa”. Mỗi người còn phải nhận một thẻ, nội dung trong thẻ ghi: “Xin nguyện một lòng quy thuận, theo lệnh triều đình bảo vệ an toàn, nếu theo Đảng Cộng sản chống đối chính quyền, cam chịu tội chết”, và bắt mọi người phải “vái cờ vàng”. Chính sách này làm cho bọn tổng lý và bọn tay sai càng lên mặt hà hiếp, dọa nạt dân.

Chi bộ phân công nhan vận động giải thích âm mưu thủ đoạn của địch để nhân dân không chấp nhận ký vào sổ và đeo thẻ “Quy thuận”. trong thời gian này một vài đổng chí đảng viên bị lộ, bị địch bắt giam ở nhà lao Vinh, sau đó bị phát vãng đi các nhà ngục khác. Ở Yên Lưu có hai người là Trần Huy Trí (bí thư chi bộ) và Dương Cu bị địch bắt giam ở nhà lao Vinh, sau đó bị đày vào Buôn Ma Thuột. Một người khác chạy theo bọn mật thám. Mấy tháng sau Trần Tình (là quần chúng) cũng bị bắt và phải đi đày ở Buôn Ma Thuột. Chính quyền thực dân còn thành lập hệ thống bang tá từ xã đến tỉnh. Bang tá có quyền bắt những ai chúng nghi ngờ là cộng sản, tập trung lại để tra tấn đánh đập tàn nhẫn và bắt họ ký vào sổ đầu hàng.

Bang tá Yên Lưu là cửu phẩm, bá hộ Võ Quý Công cầm đầu bọn tay chân độc ác, lập danh sách những người chúng nghi vận và lùng sục bắt để tra tấn. đầu tháng 6 năm 1931, Võ Quý Công cho bọn tay chân lập “trường” tra tấn ở nhà cựu phó lý Cửu Cự (Cự Hương). Chúng ngâm roi mây vào thùng nước mắm phơi nắng nhiều ngày, để khi đánh dễ bị tróc da, tứa máu.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:27:58 PM
Trận đầu tiên chúng bắt tôi và khoảng 50 người khác (hầu hết là Tự vệ đỏ, anh Trần Tư và Đinh Tư chưa bị bắt lần này). Chúng dồn chúng tôi vào sân nhà Cửu Cự, thay nhau dùng roi mây quất túi bụi vào mặt, vào đầu, vào người suốt mấy tiếng đồng hồ. Tất cả đều cắn răng chịu đựng. Trước sự gan góc của mọi người chúng càng hung hăng, đánh đập dã man hơn. Đến gà gáy, nhiều người chịu không nổi đành phải “quy thuận”, cam đoan không theo cộng sản, được chúng tha về. Số còn lại chỉ có tôi, Trần Thực, Nguyễn Giác và mấy người nữa vẫn kiên quyết không chịu khuất phục. Suốt ngày hôm đó, Võ Quý Công trói chúng tôi vào gốc cây và cho mỗi người lưng bát cháo loãng.

Đêm thứ hai, chúng lại thay nhau tra tấn đánh đập dữ dội hơn. Nửa đêm thêm hai người nữa không chịu nổi trận đòn hiểm độc đành phải ký vào bản “quy thuận” và được thả về. Khi còn lại mình tôi, chúng tưởng dễ khuất phục nên vừa dụ dỗ vừa hăm dọa nhưng không được, bọn chúng xông vào đánh tới tấp. Bang tá vừa đánh vừa uống rượu đến lúc say khướt. Tỉnh dậy chúng hất hàm hỏi:

- Có chịu quy thuận không?

Tôi im lặng không trả lời. Những lúc như vậy tôi nhớ lời thề của mình trước Đảng và cảm thấy như mình có sức mạnh để vượt qua đau đớn về mặt thể xác.

Tức giận trước tinh thần đó, mấy tên tay chân bang tá lực lưỡng lại xông vào đánh dồn dập đến khi tôi ngất xỉu chúng mới chịu tha.

Những ngày tôi đau đớn do bị đánh đập, mẹ tôi vất vả bội phần. Bà chạy chữa vết thương, kiếm lá chuối non trải cho tôi nằm đến khi hồi phục.

Sau đó tôi mới biết, trong hai đêm bang tá và tay sai tra tấn những người bị bắt ở nhà Cửu Cự, thì một số cốt cán thay nhau bí mật đứng sau lũy tre theo dõi và thông báo cho nhau về tinh thần bất khuất trước quân thù của anh em. Nhiều người bí mật gửi quà bánh, gạo, thực ăn đến, nhờ vậy nên tôi chóng lành vết thương. Tôi càng thấm thía một điều: Nhân dân không bao giờ xa Đảng, bà con luôn luôn ở bên cạnh Đảng, sẵn sàng bảo vệ và giúp đỡ Đảng. Đảng càng kiên định vững vàng thì lòng dân càng rộng mở. Đó là bài học đầu tiên và cũng theo tôi suốt cuộc đời, đúng là: “Đồ trường tri mã lực, Xử cửu thức nhân tâm”. Tạm dịch: “Đường dài hay sức ngựa, ở lâu biết lòng người”.

Thời gian này các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến xứ ủy, tỉnh ủy đều bị địch đánh phá gây tổn thất nghiêm trọng. Nhiều đồng chí lãnh đạo các cấp của Đảng như Trần Phú, Nguyễn Đức Cảnh lần lượt hy sinh. Ở Nghệ An từ tháng 6 năm 1951 đến tháng 5 năm 1932, tòa án Nam triều tỉnh Nghệ An đã kết án 1.356 người, trong đó có 16 án tử hình, 89 án tù chung thân, 219 người bị tù khổ sai từ 7 đến 13 năm, 663 người bị từ từ 1 đến 5 năm, 373 người bị án treo quản thúc ở xã. Riêng ở nhà tù Buôn Ma Thuột, số tù nhân quê ở Nghệ An chiếm gần một nửa.

Trước những âm mưu, thù đoạn thâm độc của địch, nhân dân có một bộ phận hoang mang và do dự. Để duy trì tổ chức sự lãnh đạo và uy tín của Đảng, các cấp ủy Đảng đã không ngừng bí mật hoạt động, nhất là công tác tư tưởng thông qua những lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày, tuyên truyền cổ động nâng cao giác ngộ cách mạng của quần chúng. Đi đôi với công tác tư tưởng, công tác tổ chức cũng được các cấp bộ Đảng đề cao. Ở một số huyện đã lập ra các phân bộ Đảng để chỉ đạo từng vùng cho sát. Các cơ quan làm việc của Đảng, nơi tiếp đón cán bộ và hệ thống liên lạc giữa các cấp ủy Đảng được chấn chỉnh lại cho thuận tiện và bí mật hơn.

Cũng vào thời gian này Xứ ủy Trung Kỳ đã ra chi thị “Thanh Đảng” phổ biến xuống tận cơ sở. Nội dung chính của chỉ thị là đưa ra khỏi Đảng các tầng lớp xuất thân là trí thức, giàu có hoặc con em các quan lại lớn nhỏ. Tôi còn nhớ những câu gay gắt quá tả: “Trí phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Tham gia phong trào, là người trong cuộc, tôi thấy sức mạnh quần chúng như vũ bão. Trong lúc bà con xông tới, nếu ai đó lạ mắt đứng ra can ngăn có thể bị thiệt mạng.

Do chỉ thị thanh Đảng đưa ra không có sự chuẩn bị về tư tưởng trước, lại quá tả nên các cấp bộ Đảng có sự phản ứng ngầm bằng cách chần chừ trong thực hiện, không khai trừ đảng viên. Tuy vậy, nhiều nơi đã thực hiện việc chuyển vị trí và hạ tầng công tác hầu hết đảng viên thuộc đối tượng thanh Đảng ra khỏi các cương vị chủ chốt trong cấp ủy và thay thế bằng những đảng viên thành phần xuất thân công – nông, trình độ thấp. Trong tình hình địch đang khủng bố trắng, chủ trương này đã gây tổn thất không nhỏ cho phong trào.

Khi nhận được thông tin về việc thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ, ngày 20 tháng 5 năm 1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời phê phán chủ trương sai lầm về thanh Đảng và chỉ ra phương hướng đúng đắn về công tác xây dựng Đảng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:28:45 PM
Mùa Hè năm 1931, một bộ phận cơ quan Xứ ủy Trung Kỳ về xã Yên Lưu đóng ở nhà cựu lý trưởng Đình Hồ. Trong bộ phận này đồng chí Chu Văn Biên phụ trách văn phòng. Sau mấy tuần về xã, bộ phận này bị lộ, mật thám về vây ráp truy bắt. Chính quyền thực dân tay sai cho một trung đội lính lê-dương về Yên Lưu đóng ở nhà cựu lý trưởng Trần Thao. Ngày đêm chúng đi tuần tra, thỉnh thoảng lại bắn vài phát súng chỉ thiên để hăm dọa.

Dựa bóng lính lê-dương, bọn cường hào, tay sai càng hống hách gây không khí căng thẳng và uất ức trong quần chúng. Chính sách khủng bố trắng qua mây tháng là bước đầu đào luyện phong trào, bước đầu giúp cho lực lượng tích cực trong nhân dân tin tưởng vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng.

Bước sang năm 1932, phong trào cách mạng ở Yên Lưu cơ bản được giữ vững. Các cụ phụ lão dùng đạo lý nói rõ phải trái, cảm hỏa bọn cường hào bang tá. Những đảng viên cốt cán còn lại bí mật giải thích tình hình cho quần chúng, đồng thời tích cực tìm cách liên lạc với cấp trên. Mùa Đông năm 1932, chi bộ Đảng Yên Lưu bắt liên lạc được với cấp trên qua Châu Hoán (Hoán là người Yên Dũng, làm nghề cắt tóc, lấy vợ người Yên Lưu). Chi bộ nhóm họp ở nhà Trần Tư gồm có: Trần Tư, Đinh Văn Tư, Trần Ngũ, Nguyễn Giác, Trần Thực và tôi. Sau khi bàn công việc nắm lực lượng quần chúng và chủ trương khôi phục phong trào của cấp trên, chúng tôi đã dùng dây thừng treo mấy người để thử sức chịu đựng đề phòng khi sa vào tay địch và bị tra tấn. Những người bị treo tuy có đau nhưng đều chịu được. Tuy thế, đó chưa phải là sự thực. Cuối cuộc họp là việc cử bí thư. Hầu hết đảng viên nhất trí bầu Trần Ngũ, nhưng anh nhất định từ chối. Chi bộ chuyển sang bầu Trần Tư (Tư Dài) làm bí thư.

Gần Tết Nguyên đán, chúng tôi được tin Trần Tình được trả tự do. Tuy anh chưa phải là đảng viên nhưng chúng tôi và số đông nhân dân vui mừng vì quê mình có một cựu chính trị phạm được thả về, rất có lợi cho phong trào. Chi bộ bí mật vận động quần chúng góp tiền và cử người đi đón Trần Tình. Sau mấy tuần sức khỏe ổn định, Tình sửa nhà và lấy vợ. Lấy vợ xong, Tình xin thôi hoạt động. Sau này chúng tôi được tin, khi vào ngục Buôn Ma Thuột, Tình tỏ ra yếu đuối nên sớm được trả tự do. Mấy tháng sau, Huy Trí cũng từ Buôn Ma Thuột trở về. Chi bộ bí mật cử người đem quà đến thăm. Gặp anh em trong chi bộ, Trí nói:

- Tôi không hoạt động cách mạng nữa. Các anh cũng không đủ sức làm được việc gì đâu!

Anh ta còn gọi những đảng viên trong xã là những con “nhái sọc”... Anh ta tìm cách bí mật cho bọn cường hào biết mình thôi hoạt động cách mạng.

Sau Tết Nguyên đán (đầu năm 1933) Châu Hoán phản bội, Trần Tư bí thư chi bộ bị bắt đưa lên giam ở nhà lao Vinh. Tư bị giam mấy tháng rồi được thả về. Anh ta lầm lỳ, suốt ngày đóng cửa không tiếp xúc với ai, cả đảng viên và quần chúng. Trong lúc Tư bị bắt, số đảng viên còn lại, chúng tôi thông báo tạm ngừng sinh hoạt và phải cảnh giác đề phòng địch bắt, đồng thời động viên nhau giữ vững quyết tâm, bám sát quần chúng, chuẩn bị khôi phục chi bộ vào những tháng tới.

Mùa Đông năm 1933, chúng tôi lại liên lạc được với cấp trên qua ngả Nghi Lộc. Chi bộ đảng Yên Lưu lần thứ hai được khôi phục. Số đảng viên lần này gồm có: Trần Ngũ, Nguyễn Giác, Trần Thực, Trần Lữ và tôi. Chúng tôi lấy gia đình Trần Lữ làm nơi sinh hoạt. Theo sự chỉ đạo của cấp trên, chi bộ Yên Lưu thực hiện một số nhiệm vụ trước mắt là: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng, mở rộng đội ngũ cốt cán, chuẩn bị tổ chức đoàn thể nông dân, phụ nữ, thanh niên, chuẩn bị chuyển hướng đấu tranh nửa công khai hợp pháp, nửa bí mật bất hợp pháp. Cuối cuộc họp chi bộ bầu bí thư, toàn thể đảng viên trong chi bộ nhất trí bầu Trần Ngũ làm bí thư vì anh hiểu biết rộng, nói năng lưu loát, lanh lợi, nhưng không hiểu vì sao Trần Ngũ kiên quyết từ chối, nhiều ý kiến của chi bộ thuyết phục vẫn không làm cho anh thay đổi ý kiến; do vậy chi bộ đã bầu tôi làm bí thư. So với Ngũ nhiều mặt tôi không bằng, nhưng có lẽ qua cuộc tra tấn của bọn bang tá, các đảng viên trong chi bộ và quần chúng trong xã có cảm tình và lòng tin nhất định đối với tôi.

Năm 1935 chi bộ đảng Yên Lưu hoạt động mạnh hơn, bàn nhiều biện pháp nhằm chuyển hướng đấu tranh đòi quyền lợi thiết thực cho quần chúng, cụ thể là:

- Cấp lại ruộng đát công, theo đúng hương ước, ba năm một lần. Vì lẽ, gần mười năm trước đó bọn chường hào nhờ dụng tình hình khó khăn của nhân dân, khả năng đấu tranh của gia đình những người đã chết, bọn chúng chia nhau sử dụng.

- Giảm và bỏ thuế thân: Qua mấy năm khủng bố trắng, chính quyền thực dân phong kiến tăng thuế thân rất tàn nhẫn. Những ai muốn mang thẻ đỏ (được đi làm ăn xa) phải nộp ba đồng bạc giấy Đông Dương. Còn bần đinh mang thẻ mun (chỉ được đi làm ăn trong phạm vi hẹp) phải nộp 2 đồng bạc giấy Đông Dương.

- Bỏ thuế đò: Yên Lưu còn mấy bến đò qua lại sông Lam. Tiền đò của người qua lại, một nửa là của người lái, số còn lại vào túi bọn cường hào.

- Bỏ thuế chợ: Yên Lưu có chợ Trụ, mỗi tháng họp sáu phiên. Nhân dân ra chợ dù bán cái gì cũng phải nộp thuế. Người thu thuế được hưởng một phần, phần lớn vào tay hào lý.

- Buộc bọn hào lý trả lại mười mẫu ruộng tu lý. Hoa lợi hàng năm của loại ruộng này là để chữa đường sá, đình chùa nhưng mấy năm vừa rồi bọn cường hào ăn chặn hết. Buộc nhà cầm quyền phải lập trường dày chữ quốc ngữ, xây dựng nhà thương chữa bệnh cho nhân dân.

Tất cả những yêu sách trên được nhân dân đồng tình ủng hộ. Nhân dân tin Đảng vẫn còn và đã nhìn nhận được những đảng viên nào là đúng tư cách.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:29:46 PM
Về biện pháp đấu tranh, chúng tôi đưa đơn công khai lên chánh tổng, tri phủ và tổng đốc Nghệ An, đồng thời gửi cho triều đình và khâm sứ Huế. Trong khi phát đơn kiện công khai, chi bộ động viên quần chúng gây sức ép, đòi họp trong làng và toàn xã. Những cuộc họp như vậy quần chúng nhân dân tham gia rất đông. Chi bộ còn lập ban đấu tranh công khai, cử Trần Lữ đứng đầu đơn kiện, Trần Thích lo giấy tờ, sau đó kéo lên phủ Hưng Nguyên và tỉnh đường Nghệ An ngồi lỳ trước sân tỉnh đường đưa yêu sách buộc nhà cầm quyền phải giải quyết.

Tháng 5 là mùa thu thu thuế của chính quyền, gia đình tôi phải nộp tất cả là 4 đồng 5 hào. Nhà thiếu 5 hào phải chờ dệt chiếu bán mới có tiền nộp. Chu Văn Đạm – phó lý làng Thượng là anh họ tôi, do bị bọn phản động xui bậy, lợi dụng việc thiếu thuế đã đánh tôi một trận đòn đau. Tôi bực mình với người anh họ vì bị xúi giục mà đánh em, thế là chỉ giữ lại họ Chu, đổi Văn Điều thành Huy Mân. Lúc bấy giờ thanh niên trong thôn thích chữ huy là sáng, chữ mân là có chữ ngọc.

Cuối năm ấy, chi bộ Yên Lưu còn liên lạc với đảng bộ huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) qua anh Lê Tính mới ở tù về. Thời gian này đảng viên của chi bộ đã khá đông, có cả nam và nữ. Cũng từ năm 1935 trở đi, hàng năm cứ đến ngày 8 tháng 3 (Quốc tế Phụ nữ), ngày 1 tháng 5 (Quốc tế Lao động), ngày 14 tháng 7 (Cách mạng tư sản dân quyền Pháp), ngày 12 tháng 9 (Xô-viết Nghệ Tĩnh), tôi và một số cán bộ lãnh đạo ở địa phương thường bị địch bắt giam ở nhà lao Vinh trước những ngày lễ trên từ 5 đến 10 ngày, sau những ngày đó mới được chúng ta về. Mục đích của bọn thống trị là ngăn chặn không để nổ ra những cuộc mít tinh, biểu tình lớn.

Mùa Đông năm 1935, tôi được trên chỉ định đi họp Tỉnh ủy Nghệ An mở rộng ở làng Kỳ Trân, Nghi Lộc. Cuộc họp này đánh giá phong trào, lực lượng có tổ chức, sau hai năm chuyển hướng đấu tranh vì dân chủ, dân sinh và quyền lợi thiết thực của quần chúng, đồng thời đề ra chủ trương chống chiến tranh và phát xít, bảo vệ hòa bình và Liên bang Xô-viết. Người điều khiển cuộc họp là Đinh Văn Dy (ít lâu sau tôi mới biết Dy là xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ, trực tiếp làm Bí thư tỉnh ủy Nghệ An) nói năng lưu loát, khúc chiết, những người tham dự rất khâm phục.

Cuối cuộc họp, Đinh Văn Dy và một đồng chí nữa gặp riêng tôi giao nhiệm vụ thường xuyên giữ vững liên lạc, truyền đạt chỉ thị cấp trên, trao đổi kinh nghiệm của Yên Lưu với chi bộ các xã Đức Quang, Đức Thịnh, Lộc Đa, Yên Dũng Thượng, Yên Dũng Hạ và Mỹ Dụ. Cũng từ đấy tôi thường tiếp xúc, làm việc với anh Trình, cố Hân (Yên Dũng), ông Trần Cu (Mỹ Dụ). Phong trào và lực lượng tổ chức ở những xã này vào cuối năm 1935 có bước phát triển. Các tổ chức mới lần lượt ra đời và công khai hoạt động như: hội hiếu, hội hỷ, hội ái hữu giúp nhau làm nhà và cày cấy, được quần chúng hoan nghênh.

Bước sang năm 1936, phong trào dân chủ, dân sinh bắt đầu phát triển mạnh, quần chúng phấn khởi, chi bộ có thêm kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo. Thời gian này những thanh niên đầu năm 1931 hoang mang về nhà nằm im cũng bắt đầu trở lại hoạt động. Có người xin vào Đảng với động cơ xuất hiện nhiều trước quần chúng. Mấy chính trị phạm ở Buôn Ma Thuột về chỉ có Dương Cu là kiên trì hoạt động; Trần Huy Trí tiêu cực, anh ta tiếp tục nói giọng của quan thầy; Tôi không thể làm cách mạng nữa, những người hoạt động ở Yên Lưu hiện nay có khác gì những con “nhái sọc”; Trần Tình vẫn xa lánh đảng viên và quần chúng.

Tận dụng khả năng đòi dân chủ, dân sinh khi Mặt trận bình dân Pháp cầm quyền để đẩy mạnh phong trào dân chủ, dân sinh ở Việt Nam và Đông Dương, Đảng ta chủ trương triệu tập Đông Dương đại hội. Đông Dương đại hội ở Nghệ An họp ở Vinh, trong một hội trường khá lớn. Đại biểu xã Yên Lưu có tôi và anh Trần Ngũ. Đại biểu các tầng lớp nhân dân, các địa phương khác đến rất đông. Các diễn giả đều tập trung vào nội dung dân chủ, dân sinh, hòa bình, chống chiến tranh phát xít và đề ra yêu cầu tự do hội họp, tự do ngôn luận, báo chí, v.v... và đòi tha tù chính trị, giảm sưu cao, thuế nặng, bãi bỏ những sưu thuế bất hợp lý.

Trước phong trào đấu tranh hợp pháp của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, nhất là ở Vinh, công sứ kiêm đốc lý thành phố Vinh đã phải cùng các chủ nhà máy, các hiệu buôn, các nhà thầu khoán bàn bạc cách giải quyết các yêu sách của dân chúng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:30:56 PM
Mùa hè năm 1936, được tin từ Pa-ri, phái bộ Gô-đa, đảng viên đảng cấp tiến, đặc phái viên của Chính phủ Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương sẽ tới Nghệ An; Ủy ban hành động tỉnh đã vận động nhân dân các địa phương tập trung càng đông càng tốt ở một số điểm dọc tuyến đường số 1 từ cầu Gát trở vào đến Vinh để đón và trao cho ông ta bản thỉnh nguyện đòi tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thả hết chính trị phạm.

Ngày 23 tháng 7 năm 1937, Gô-đa đến Vinh. Từ 2 giờ chiều, quần chúng các xã Yên Lưu, Yên Dũng, Lộc Đa đã kéo về ngã ba trước cửa nhà máy xe lửa Trường Thi, họ dừng lại để chờ công nhân từ trong nhà máy đi ra. Bọn chủ đóng cửa nhà máy không cho công nhân đi đón Gô-đa. Các đoàn quần chúng nông dân hô khẩu hiệu đòi mở cửa nhà máy. Cuộc đấu tranh quyết liệt của nông dân đã buộc bọn chủ phải nhượng bộ và mở cửa nhà máy; anh em công nhân ùa ra, nông dân đứng sang hai bên nhường đường cho công nhân đi trước. Đến 20 giờ Gô-đa tới Vinh. Ông ta xuống xe đi bộ trước hàng vạn người, hàng ngũ chỉnh tề kéo dài hàng cây số, hai tay giờ cao biểu ngữ, hô vang các khẩu hiệu:

- Ủng hộ Mặt rận bình dân Pháp!

- Cơm, công việc làm!

- Tự do lập nghiệp đoàn!

- Thi hành luật lao động!

- Bỏ thuế thân!

- Tổng đại xá chính trị phạm.

Cuộc đón và trao thỉnh nguyện cho Gô-đa thắng lợi, nhưng ba ngày sau đó tôi và một số đồng chí lãnh đạo Yên Lưu bị bắt lên nhà lao Vinh, trực tiếp đấu khẩu với Ưng Úy – tổng đốc Nghệ An. Vì không có chứng cứ cụ thể, mấy ngày sau chúng buộc phải trả tự do cho chúng tôi. Cuộc đấu tranh công khai hợp pháp tuy kết quả còn ít nhưng khí thế quần chúng sôi nổi, lực lượng dân chủ phát triển ở Việt Nam và Đông Dương.

Mùa Đông năm 1936, Tỉnh ủy Nghệ An họp mở rộng ở làng Kỳ Trân (Nghi Lộc), tại nhà anh Trần Thực. Là bí thư chi bộ xã Yên Lưu, tôi được tham gia. Trong cuộc họp này anh Hà Sâm - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy giao cho chúng tôi nhiệm vụ quan trọng, đó là xây dựng cơ sở trong nhà máy xe lửa Trường Thi. Đầu năm 1937, tôi bắt tay vào công việc và đã liên lạc được với anh Đinh Lễ, vì vậy công tác có phần thuận lợi hơn. Do phong trào cách mạng ở Yên Lưu lên cao, chúng tôi chủ trương mở rộng cốt cán, tiếp tục giáo dục, thuyết phục những người nhụt chí, nằm im trước đó. Anh chị Bống, anh chị Lữ, cố Cu Trì, cố Dương Thông tuy không giàu nhưng sẵn sàng nuôi cán bộ trong những lúc khó khăn.

Trong dịp Tết Nguyên đán đầu năm 1937, yên Lưu tổ chức hội chợ xuân, Các gánh hàng từ Vinh về, từ Nghi Xuân – Hà Tĩnh sang, nhân dân tập hợp về đây đông vui, một dịp tốt để giáo dục quần chúng.

Đầu tháng 6 năm 1937, trong công nhân nhà máy Trường Thi đã hình thành nhóm hoạt động bí mật do anh Trần Doanh Tuyên phụ trách. Nhóm này liên lạc với anh Hà Huy Giáp – một cựu chính trị phạm về hoạt động trong phong trào công khai hợp pháp ở Vinh và đã có vai trò lớn trong cuộc đón tiếp Gô-đa.

Ngày 13 tháng 7 năm 1937, chúng tôi phối hợp với nhóm này bí mật vận động công nhân nhà máy xe lửa Tràng Thi tắt máy, ngừng làm việc 45 phút và cử đại biểu gặp chủ nhà máy đưa yêu sách bảy điểm:

1. Tăng lương 30 phầm trăm vì giá cả đắt đỏ.

2. Công nhân được đối đãi như nhau.

3. Không phân biệt quá đáng giữa các ngạch, bậc.

4. Làm việc ngoài giờ phải được hưởng lương gấp đôi.

5. Đến hạn phải được nâng lương, đốc công không được thiên vị.

6. Triệt để thi hành luật lệ lao động.

7. Tự do lập nghiệp đoàn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:31:46 PM
Chủ nhà máy một mặt chấp nhận yêu sách, mặt khác báo cho mật thám bắt giam những người đưa yêu sách và công nhân tắt máy điện. Lập tức toàn thể công nhân nhà máy kéo đến tòa công sứ Pháp đòi thả những người bị bắt. Bọn chúng không chịu thả, công nhân nhìn ăn ngồi trước tòa công sứ và cử người đến gặp công sứ và tổng đốc Nghệ An đưa yêu sách. Bọn chúng không những không chấp nhận yêu sách mà còn ra lệnh đóng cửa nhà máy và dán yết thị cấm công nhân tụ tập trái phép.

Chiều ngày 6 tháng 7 năm 1937, trên một nghìn công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi tuyên bố bãi công tập thể, đồng thời kêu gọi công nhân ngành đường sắt toàn quốc phối hợp đấu tranh.

Ngày 12 tháng 7 năm 1937, công nhân xe lửa Nha Trang, Phan Rang, Đà Nẵng, Sài Gòn, Dĩ An đình công, tiếp đó là công nhân nhà máy xe lửa Gia Lâm và công nhân ngành đường sắt Hà Nội.

Cuộc bãi công của công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi nổ ra giữa lúc Chính phủ Pháp đang ngả về phái hữu. Thủ tướng Blum từ chức, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương nhân đó cố tình trì hoãn việc thực hiện chính sách cải cách của chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp. Chúng dùng thủ đoạn thâm độc để phá đến cùng cuộc tổng bãi công. Trong tình hình đó các anh Hà Huy Giáp và Trần Danh Tuyên – lãnh đạo phong trào bị bắt cùng với một số đại biểu công nhân. Cuộc bãi công của công nhân nhà máy xe lửa Trường Thi kéo dài hơn một tháng đã kết thúc vào ngày 12 tháng 8 năm 1937.

Mùa Thu năm 1937, tình hình có nhiều khó khăn, trên quyết định điều tôi sang làng Cẩm Mỹ, lấy danh nghĩa dạy học cho mấy người con ông Dương Thông và một số cháu khác để tổ chức đường dây bí mật chỉ đạo phong trào nhà máy xe lửa Trường Thi và các xã mà chi bộ Yên Lưu có nhiệm vụ quan hệ giúp đỡ. Sau mấy tháng, địch theo dõi và bắt tôi lên nhà lao Vinh. Lúc này phong trào cách mạng ở Yên Lưu cũng khó khăn, mọi hoạt động của chi bộ coi như bị đình trệ.

Từ tháng 7 năm 1937 ở châu Âu có nhiều biến động, phát xít Đức và Ý công khai can thiệp vào Tiệp Khắc và Tây Ban Nha. Ở châu Á, phát xít Nhật mở rộng chiến tranh xuống vùng Hoa Nam (Trung Quốc), chuẩn bị xâm lược Đông Nam Á. Nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới nổ ra là điều khó tránh khỏi. Tại Pháp, chính phủ ngày càng thiên hữu, phản bội cương lĩnh tiến bộ của Mặt trận bình dân. Do vậy bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương thẳng tay đàn áp cộng sản, khống chế phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.

Đầu năm 1938, hiểm họa phát xít bao trùm lên nhiều khu vực của thế giới, đe dọa trực tiếp đến Trung Quốc và các nước Đông Dương. Sau Hội nghị Trung ương tháng 3 nam 1938, Đảng ta đã có nghị quyết về vấn đề phòng thủ Đông Dương nhằm làm cho quần chúng đề cao cảnh giác, chống âm mưu xâm lược của phát xít Nhật, chống sự đầu hàng, thỏa hiệp của thực dân Pháp đối với phát xít Nhật. Cũng vào thời gian này, nhà văn Siêu Hải (tức Nguyễn Nhật Tân), một cán bộ của Tỉnh ủy Nghệ An đã viết cuốn “Họa chiến tranh” về vấn đề phòng thủ Đông Dương. Tác phẩm này đã góp phần làm rõ chủ trương đúng đắn của Đảng ta và hướng dẫn quần chúng hành động theo chủ trương đó. Ở Vinh – Bến Thủy, công nhân có lưu truyền bài “Họa chiến tranh”. Bài thơ có đoạn như sau:

      Khốc hại dường bao họa chiến tranh
      Công nông không lẽ chịu làm thinh
      Lợi quyền thu sạch, giàu tuy nó
      Sưu thuế tăng cao, khổ bọn mình.
      Sông máu, rừng xương, đau đớn cảnh
      Nhà tan, cửa nát, thảm thê tình!
      Bao giờ thế giới hòa bình nhỉ?
      Khốc hại dường bao họa chiến tranh.


Tháng 7 năm 1938, tôi nhận được chỉ thị bàn giao cơ sở trong nhà máy xe lửa Trường Thi cho cấp trên. Sau hơn một năm tôi hoạt động bí mật trong nhà máy xe lửa Trường Thi, đã thành lập được một chi bộ có ba đồng chí, do Nguyễn Hoàng làm bí thư, một bộ phận cốt cán và nhiều anh em cảm tình. Cách bàn giao như sau: bí thư chi bộ nhà máy xe lửa Trường Thi đến một quán nước ở cầu Nại, người thượng cấp cũng đến đó, thấy một gói thuốc lào, một bao diêm, xin cho hút một điếu, bí thư chi bộ nhà máy trả lời: “hút hai điếu cũng được”. Sau đó hai người cùng đi với nhau để trao đổi công việc. Mấy tuần sau tôi và Nguyễn Hoàng cùng bị bắt vào nhà lao Vinh.

Những ngày ở nhà lao Vinh chúng tôi có dịp đánh giá phong trào cách mạng Yên Lưu. Chúng tôi thấy rõ, trên ba năm phấn đấu, dù bọn phản động quấy phá, hàng năm đảng viên bị bắt nhiều lần lên Vinh, nhưng đảng viên cốt cán vẫn phát triển, phong trào dân chủ, dân sinh trong xã khá cao, nhân dân hiểu và tin Đảng hơn. Đi đôi với đấu tranh đòi quyền lơi thiết thực, các tổ chức yêu nước dưới hình thức hội đoàn được phát triển. Phong trào truyền bá chữ quốc ngữ được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Ở đâu nhân dân cũng đứng ra mở các lớp học chữ quốc ngữ theo từng độ tuổi. Nhiều địa phương đấu tranh đòi bọn hào lý trích quỹ công ích để dựng thêm trường tư thục cho con em được học hành. Đảng viên và đoàn viên có văn hóa tùy theo khả năng của mình mà nhận dạy các lớp phù hợp.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:33:22 PM
Sáng ngày 14 tháng 10 (âm lịch) tại Yên Lưu, trì phủ Hưng Nguyên kéo theo khoảng 20 lính khố xanh có tên lãnh binh Nghệ An về đình trung, chúng đánh mõ, sắp xếp bàn ghế, lý trưởng, hương kiểm tề tựu. Những người đi chợ Trụ linh cảm nhà cầm quyền chuẩn bị khủng bố và xóa bỏ những quyền lợi mà họ vừa giành được trong mấy năm qua. Cố Trần Vượng, đội trưởng Tự vệ đỏ năm 1930 chạy vội về báo cho bí thư chi bộ và Ủy ban đấu tranh công khai. Các đồng chí trong Ủy ban đấu tranh công khai và Thường vụ chi bộ vắng mặt. Không thể để cho chúng ngang nhiên khủng bố, tôi chạy ra đình trung. Khi ra tới nơi thì thấy anh Trần Thực đang bị hai tên lính đánh tới tấp. Tôi chạy sấn đến và nói: “Các ông không được đánh người vô tội”. Chúng dừng tay đánh anh Trần Thực và xông vào đánh tôi túi bụi. Tôi nghiêm sắc mặt và nói: đánh xong để cho tôi phát biểu ý kiến. Lúc này quần chúng kéo đến mỗi lúc một đông, cùng hô vang: “Tri phủ không được đánh người!”. Trước khí thế của quần chúng, trì phủ Hưng Nguyên cho bọn lính dừng tay. Cựu lý trường Đinh Truyền với danh nghĩa là thầy học cũ khuyên tôi: “Thế thời hiện nay đã khác, không như hồi năm ba mươi đâu. Anh cũng nên vừa phải thôi”. Tôi thưa lại với ông: “Thưa thầy, thời cuộc có thể nào đi nữa, phong trào có lúc lên, có lúc gặp khó khăn nhưng tôi vẫn tin cách mạng sẽ thành công, nhân dân ta nhất định sẽ thoát khỏi ách nô lệ của bọn đế quốc thực dân. Rồi thầy sẽ thấy! Công lý và lẽ phải nhất định sẽ thắng”.

Trước thái độ kiên quyết, lời lẽ rắn rỏi của tôi và khí thế quần chúng, tri phủ Hưng Nguyên chột dạ. Nhiều tên lính từng chạm mặt với tôi cũng tỏ ra chùn tay không đánh nữa mà thả tôi ra với lời lẽ đe dọa: “Hãy coi chừng đấy! Chúng tao không để yên dâu”. Mấy hôm sau tôi lại bị bắt lên nhà lao Vinh.

Bước sang năm 1939, tình hình càng khó khăn hơn, chính quyền thực dân phong kiến bắt thanh niên Việt Nam đi lính sang Pháp tham gia chiến tranh, có loại gọi là lính ONS. Phong trào quần chúng chuyển hướng đấu tranh sang chống bắt lính, chống chiến tranh, đòi hòa bình và phòng thủ Đông Dương bảo vệ Liên bang Xô-viết. Cũng năm này, tôi bị bắt ba lần. Lần thứ nhất: ngày 28 tháng 4; lần thứ hai: ngày 13 tháng 7 và lần thứ ba: ngày 10 tháng 9. Chúng giam tôi ở nhà lao Vinh, sau đó đưa lên giam lỏng ở Hưng Nguyên. Đến tháng 3 năm 1940 tôi được trả tự do.

Về đến Yên Lưu tôi tìm cách tổ chức sinh hoạt chi bộ. Hội nghị lần này đánh giá tình hình phong trào Yên Lưu và dự kiến một số tình huống khó khăn. Chi bộ thống nhất trong tình huống nào nội bộ chi bộ nhất thiết phải đoàn kết nhất trí, đảng viên phải đi sát nắm chắc quần chúng và chuẩn bị người thay thế bí thư chi bộ và các đồng chí khác.

Trong trường hợp này, hầu hết đảng viên chi bộ càng thấy rõ: Gần 10 năm đấu tranh với bao thử thách gay go, nhưng với khí tiết cách mạng của đảng viên, tinh thần cách mạng của quần chúng, mọi khó khăn đều nghiến răng chịu đựng, chủ động vượt qua, nhờ đó Yên Lưu trở thành nơi có phong trào vững. Chi bộ Yên Lưu còn góp phần nhỏ của mình xây dựng các chi bộ: Đức Quang, Đức Thịnh, Lộc Đa, Yên Dũng Thượng, Yên Dũng Hạ, Mỹ Dụ. Đặc biệt chi bộ Yên Lưu vinh dự được làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng trong nhà máy xe lửa Trường Thi. Bí thư chi bộ được đi họp tỉnh ủy mở rộng hai lần đã giúp cho các đảng viên sớm nhận được đường lối, chủ trương của Đảng. Kinh nghiệm 10 năm là rát quá, trong trường hợp nào, gay go ác liệt đến đâu, đảng viên cũng tự mình phấn đấu, gắn bó với quần chúng nhân dân, chắc chắn sẽ thắng lợi.

Ngày 5 tháng 5 (âm lịch), xứ Nghệ đang làm mùa nắng, nóng và gió Lào. Mới mờ sáng trời nóng hầm hập, tôi kéo lăn nốt mấy bó lúa, còn mẹ tôi làm thịt gà, đồ xôi để cúng Tết Đoan ngọ. Sau khi làm xong lúa, tôi ra sông tắm. Về đến nhà, chưa kịp thắp hương thì ba tên lính lệ mang theo xiềng ập vào nhà. Một tên xẵng giọng nói:

- Ông Mân, chúng tôi được lệnh bắt ông!

Tôi hỏi lại:

- Các anh bắt tôi về tội gì?

- Tôi gì, ông cứ về nhà lao sẽ rõ. Và cũng xin thông báo trước, lần này ông sẽ phải đi xa đấy!

Tôi bình tĩnh nói:

- Tôi biết các ông là người thừa hành công vụ, nhưng đề nghị các ông cho tôi ít phút thay quần áo, chào mẹ và vợ con tôi.

Mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn tâm lý, sớm muộn gì tôi cũng sẽ có ngày như thế này. Bà đứng lặng không khóc, có lẽ nước mắt mẹ đã lặn vào trong. Bà nhìn tôi với tấm lòng tin yêu và an ủi, động viên tôi cố gắng vượt qua tù đày thực hiện đúng lời tôi đã hứa với Đảng. Còn vợ tôi nước mắt ngắn nước mắt dài, xin mấy người lính cho tôi ăn chút ít rồi đi, nhưng họ nhất định không cho.

Tôi an ủi vợ và bế đứa con trai đầu lòng một chút, chào mẹ ra đi. Mẹ tôi, vợ tôi nhìn mấy người lính xiềng tay tôi mắt ngấn lệ, không biết ngày nào tôi được trở về nhà. Tôi chỉ nói, mẹ cứ tin ở con.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:35:30 PM
Tin tôi bị bắt nhanh chóng lan khắp làng, nhiều người kéo đến đứng xa nhìn, vẫy tay như nhắn nhủ chào tạm biệt. Không thể dừng lại để nói mấy lời cảm ơn, có thể tôi không trở lại quê hương, nhưng tôi tin cách mạng sẽ thắng, độc lập tự do sẽ về với nhân dân cả nước và bà con ta, ánh cờ hồng buổi sáng bình minh là của ta. Có người không cầm được nước mắt trong cảnh chia ly. Một số cụ già đứng trong hàng rào nói vọng: “Anh cứ đi bình an, ở nhà có chúng tôi lo liệu!”.

Bọn lính dẫn tôi vào nhà lao Vinh. Ở đây tôi gặp lại hầu hết những người đã tham gia hai cuộc họp tỉnh ủy mở rộng trước đây. Địch giam chúng tôi ở nhà lao Vinh đúng một tuần lễ. Một tuần lễ ngắn ngủi nhưng đối với chúng tôi thật là quý giá. Chúng tôi có điều kiện “tổng kết” lại 10 năm qua, kể từ ngày Xô-viết – Nghệ Tĩnh. Đánh giá về địch, về ta, phân tích từng con người. Và bài học đầu tiên là cách xem xét đánh giá con người trong lúc khó khăn hiểm nguy: ai trung thành, ai cơ hội...

Một tuần ở nhà lao Vinh trôi qua, bọn địch đưa chúng tôi lên xe lửa từ ga Vinh đi về phía nam. Đến Kon Tum, bắt gặp đường 14 đến Tân An, con đường mà năm 1931 chính quyền thuộc địa khai phá bằng sức lực của tù chính trị Kon Tum. Sáu tháng mùa đông tên chủ ngục cho lính đánh đập tù dã man, vì nếu đánh chết cộng sản chúng sẽ được khen thưởng. Vì đó, lạnh, sốt rét ác tính nên trên 200 chiến sĩ cộng sản đã để lại những nắm xương tàn bên chân đồi, khe suối. Chúng tôi nhắc nhở nhau phải hun đúc chí căm thù quân cướp nước và tay sai bán nước, căm thù và cảnh giác. Nếu ai đó quên quá khứ là tội ác. Trên chuyến tàu này, vào đến Đà Nẵng chúng tôi gặp Trịnh Hưng Ngẫu, người Nam Bộ. Anh là một nhà báo tiến bộ, biết trục phát xít Béc Lanh, Đông Kinh, La Mã đã hình thành. Hồng quân Liên Xô đang chuẩn bị để chiến thắng phát xít. Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô không những bảo vệ Liên bang Xô-viết – nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên của cách mạng thế giới mà còn tạo thời cơ đặc biệt cho phong trào giải phóng dân tộc.

Về tình hình trong nước, Trịnh Hưng Ngẫu cho biết – quân Nhật vẫn ngồi trên đầu bọn cai trị Pháp và Nam triều, chúng thẳng tay cướp bóc, giết hại dân lành, gây nên bao cảnh thê lương đối với đồng bào ta. Địch khủng bố ngày một khốc liệt hơn, bắt giam bất cứ ai có lòng yêu nước. Chúng bắt cán bộ, đảng viên vào chật ních các nhà tù. Phong trào cách mạng đang gặp khó khăn. Và Trịnh Hưng Ngẫu đã cho chúng tôi biết một tin quan trọng: Nguyễn Ái Quốc sắp về nước. Thế là cách mạng Việt Nam ta đã có ngọn cờ lãnh đạo đầy uy tín đối với cả dân tộc và hế giới, rồi đây tình hình sẽ thay đổi, phải xây dựng lại cơ sở ở mọi nơi, cả thành thị, nông thôn và rừng núi, nhất là vùng nông thôn rộng lớn.

Từ Quy Nhơn lính áp tải đẩy chúng tôi lên xe vận tải đi theo đường 19 qua đèo An Khê, Măng Giang đến Kon Tum. Thỉnh thoảng chúng tôi lại bắt gặp từng tốp đồng bào Thượng nước da cháy nắng, đàn ông mặc khố, đàn bà quấn vải tự dệt theo hoa văn dân tộc, lưng cõng gùi, tay cầm con dao cán dài, miệng phì phèo đuốc thuốc lá vừa thơm vừa khét, kích thích sự thèm khát của những đồng chí nghiện thuốc lào kỳ hai ở Vinh. Nhìn họ lam lũ khó khăn, mỗi người chúng tôi đều cảm thấy nức lòng và có trách nhiệm.

Trong lúc chờ tàu chuyển bánh, trong chúng tôi ít nhiều ai cũng nặng lòng vì phải xa phong trào cách mạng của quần chúng, xa quê hương và gia đình, nhưng cảnh và người lại thôi thúc tinh thần kiên trì chiến đấu cho đến ngày thắng lợi. Trước mắt là cảnh bà con ngược xuôi tất bật chỉ vì kiếm mấy đồng xu, sống thoi thóp qua ngày, mấy chị công nhân làm vệ sinh tay cầm chổi, mắt nhìn theo đoàn tàu. Mọi người nhìn đoàn tù chính trị với tình thương và hy vọng.

Xe đến Đắc Lây, lính áp tải đưa chúng tôi đến báo cáo viên đồn trưởng Bli-ô, đại úy quân đội Pháp, người đảo Coóc-xơ. Hắn nhìn chúng tôi một lượt rồi ra hiệu cho mấy người lính Thượng (ai cũng cả răng, căng tai) đưa chúng tôi xuống hai dãy nhà dài cột gỗ, lợp tôn, tượng đất, quét màu nâu loang lổ ở dưới chân đồi khá rộng, pha đất đỏ, sàn nằm bằng nứa đập giập. Mỗi dãy nhà đều có mấy lớp hàng rào kẽm gai bao quanh với bốn chòi gác. Trại này có hơn 100 tù nhân, không có chi bộ Đảng, anh em bầu ra ban quản lý chịu trách nhiệm mọi mặt sinh hoạt. Anh Lên Văn Hiến mang số tù 13 được anh em phân công làm trưởng trại, quan hệ với tên chủ ngục, thu xếp mọi việc trong anh em. Tôi mang số tù 19 được phân công phụ trách “tài chính” kiêm chủ bếp.

Công việc quan trọng là tuyên truyền cảm hóa anh em lính người dân tộc Tây Nguyên. Đi đôi với tìm cách gần gũi, tuyên truyền giác ngộ, anh em ta chịu thiếu tốn một chút dành ít gạo, muối, thịt, cá mắm để giúp những người lính vì họ mang theo vợ con, đời sống quá cực khổ. Anh em cũng chủ trương vận động cô Tư người Huế, vợ chủ ngục Bli-ô. Anh Tường cũng người Huế, đã tốt nghiệp y tá chuyên lo sức khỏe của anh em TS(1). Thỉnh thoảng anh Tường phải lên đồn chăm lo sức khẻo cho lính và vợ chồng chủ ngục, có điều kiện quan hệ với cô Tư. Mỗi buổi chiều cô Tư lại xuống vườn rau dạo chơi, nhưng chính là để nói chuyện với anh em ta. Sau mây tháng thì cô Tư lo bút, giấy cho anh em học. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, cô Tư về Huế, trở thành cán bộ phụ nữ cơ sở và hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


(1) Trại lao động đặc biệt trên các miền hẻo lánh ở Việt Nam, viết tắt những chữ đầu tiếng Pháp: Travail Special.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:37:53 PM
Ban quản lý trại chủ trương biến trại giam thành trường học. Nội dung học lý luận là duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học, đường lối chính trị và chủ trương của Đảng ta. Thầy dạy là những đồng chí tù chính trị Côn Đảo, khám lớn Sài Gòn và một số nơi khác đến Đắc Lây. Nội dung toán, lý, hóa, văn, sử, địa, tiếng Pháp thì đủ thầy dạy. Vở ghi chép của mỗi người là 3 – 4 thanh tre được phơi khô với chiếc bút chì, viết xong lại xóa, lại viết tiếp. Cả trại có một “tờ báo”, nội dung tờ báo có xã luận, tin tức và thơ ca. Có một bài thơ mà tôi còn nhớ, đó là bài “Chiều Đắc Lây” :

         Sốt rét! Hai hàm răng lập cập
         Run rẩy cả đất trời không trừ ai
         Cứ mỗi chiều, qua rào gai cửa sổ
         Và mang theo cả tiếng hát của chim rừng
         Không một lời tạm biệt!
         Đêm đến, thế chán ngây
         Lính thay phiên gác
         Đôi nai rừng háo hức – cất tiếng gọi đầu giờ
         Trăng sùi sụt nâng mây ngang mặt
         Trời u sầu buông vạt tóc mưa
         Con chim chi? “Trót thì bóp”
         Chung một tiếng bạn tình đáp lại
         Rừng lạnh thâu đêm tê tái
         Mà hơi ấm vẫn xa nhau
         Bình minh vừa dụi mắt
         Lại hẹn hò chờ đợi đêm sau
         Bạn tù bao đêm trằn trọc
         Việc gần xa, việc nước non dồn dập
         Thao thức nhiều ê ẩm cả toàn thân
         Nhưng lại vui trong cát thấy vàng


Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Hít-le ào ạt tấn công Liên bang Xô-viết, thì mấy hôm sau Chính phủ cách mạng Đắc Lây thành lập. Chính phủ trịnh trọng tuyên bố: Tuyên chiến với Hít-le, kiên quyết bảo vệ Liên bang Xô-viết. Việt Nam phải độc lập, tự do, thống nhất. Lê Văn Hiến được cử làm thủ tướng lâm thời. Nguyễn Duy Trinh làm bộ trưởng ngoại giao. Chu Huy Mân làm bộ trưởng tài chính và cùng các bộ khác. Sáng hôm sau Bli-ô xuống trại rất sớm, hỏi anh Hiến: Tụi bay đã bị giam, sao còn tuyên chiến với Hít-le. Anh Hiến trả lời; Thân thể chúng tôi bị các ông giam cầm, nhưng tinh thần chúng tôi vẫn tự do.

Mấy ngày đầu những người mới đến, ai nấy đều khó ngủ, thao thức nghĩ ngơi mông lung, nhiều người nghĩ tìm cơ hội vượt trại giam trở về với Đảng, với phong trào. Ít ngày sau, anh em trao đổi đề ra những yêu cầu thiết thực. Đấu tranh thuyết phục đòi tên chủ ngục Bli-ô cho được làm vườn trồng rau, chăn nuôi gà, lợn cải thiện đời sống, để khắc phục bệnh sốt rét. Đây là ý định kín đáo nhằm lợi dụng hình thức hoạt động ngoài trại, tạo điều kiện để anh em bí mật thoát khỏi trại giam.

Trong cao trào dân chủ, dân sinh 1936 – 1939, chính quyền thuộc địa Đông Dương bị báo chí tiến bộ phê phán về chính sách đối với tù chính trị ở Đông dương, chúng giảm bớt việc đưa tù chính trị vào các nhà ngục, nhưng lại ngoan cố lập các trại lao động đặc biệt trên các miền ở Việt Nam.

Tình hình thế giới, trong nước bức xúc, anh Tố Hữu và anh Huỳnh Ngọc Huệ đã bàn với nhau trốn trại giam. Đó cũng là tâm trạng chung của mọi người. Một hôm anh Huỳnh Ngọc Huệ mạnh dạn nói như thăm dò tôi và anh Nguyễn Duy Trinh về ý định trốn trại giam của mình. Anh Nguyễn Duy Trinh suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Vượt ngục lúc này là cần thiết nhưng không thể giản đơn và phiêu lưu, muốn chắc chắn cần có một bản đồ và tốt nhất có người địa phương dẫn đường.

Anh Huỳnh Ngọc Huệ tiếp lời:

- Bản đồ làm sao có được?

Anh Nguyễn Duy Trinh chỉ lên nhà tên chủ ngục nói:

- Thử tìm cách đánh cắt hoặc vẽ lại những nét chính của hướng đi.

Tôi chăm chú theo dõi hai anh trao đổi rồi thận trọng nói:

- Chẳng được đâu! Đợi có bản đồ thì chết già ở đây.

Hai người như muốn tôi có ý kiến nhanh:

- Thế theo anh nên làm thế nào?

- Đi đông người khó lọt, tốt nhất từng nhóm hai người một. Điều quan trọng nhất là phải giữ bí mật, nếu bất ngờ gặp dân thì phải niềm nở, vận động, thuyết phục. Phải giữ kín hai đêm một ngày rồi chủ động báo cho chúng biết có người trốn. Khi đó chúng có báo động truy bắt thì anh em mình đã chạy xa rồi. Tuy vận, ban đêm phải đánh lừa được mấy người lính Thượng, họ vốn máy móc trong công việc, tối nào cũng đi đếm, miễn đủ số tù nhân là xong. Lợi dụng sự đơn giản của lính người Thượng, cách tốt nhất là đến giờ thì mọi người đắp chăn nằm vờ ngủ. Trong chăn có hai người, khéo léo làm hai chân thành bốn, một đầu thành hai. Lính vào đếm xong là qua.

Mọi người nhìn tôi, đều tỏ ra tán dương, vui mừng. Chúng tôi bàn với anh Lê Văn Hiến suy nghĩ cách xử lí với tên chủ ngục. Anh Trinh và tôi sẽ bàn với anh Vinh và anh Châu thực hiện kế hoạch nghi binh hai người thành bốn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:38:41 PM
Hai anh Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ thoát được một ngày hai đêm. Theo đúng kế hoạch, anh Lê Văn Hiến báo cho chủ ngục biết: Trong anh em chung tôi có hai người vừa mới trốn khỏi trại. Bli-ô ra lệnh báo động và dồn tất cả chúng tôi vào nằm im trong trại. Ngày hôm sau chúng cho một trung đội đuổi bắt. Đơn vị này đến làng Đak Bla thì dừng lại uống rượu cần và nhảy múa. Sau bốn ngày họ trở về, người đội trưởng báo với chủ ngục là đuổi không kịp. Nhưng cũng chính lúc ấy, họ báo lại với anh Lê Văn Hiến: Anh em mình về đánh Prăng, chúng tao không đuổi. Qua việc này chúng tôi càng thêm hiểu về sự quan trọng của công tác binh vận và tìm cách để mỗi người có thể trốn ra ngoài tiếp tục hoạt động.

Trong lúc đó, thực hiện kế hoạch trên, anh Tố Hữu và anh Huỳnh Ngọc Huệ về đến Đà Nẵng. Anh Tố Hữu thoát, còn anh Huỳnh Ngọc Huệ do bị sốt cao phải nằm lại ven đường. Một người kéo xe thương tình đưa anh vào bệnh viện. Chẳng may ở đây có dán lệnh truy nã, bị mật thám nhận diện, Huỳnh Ngọc Huệ bị đưa trở lại Đắc Lây.

Giữa năm 1942, vì có sự trốn trại giam, địch cho là Đắc Lây gần Quảng Nam, nên chúng chuyển chúng tôi từ Đắc Lây về Đắc Tô. Chúng bắt tất cả tù chính trị hành quân bộ. Gian nan nhất là những người bị sốt rét, gầy rộc, mắt trũng sâu, môi tím ngắt, da vàng bủng chống gậy run rẩy đi từng bước. Có người kiệt sức nằm vật bên đường, chúng tôi phải làm võng nứa khiêng nhau. Bộ phận nhà bếp dành được gần 1 kg bột trừng gà và một ít giò nạc để bồi dưỡng. Nhìn đoàn tù chính trị bệnh tật, rách rưới, không ai có thể ngờ rằng trong trái tim mỗi người vẫn đang sôi sục nuôi chí lớn chờ ngày trốn trại giam để tiếp tục lao vào cuộc đấu tranh cách mạng.

Cuộc hành quân gian nan vất vả nhưng anh em đùm bọc, khiêng cõng nhau cuối cùng đều về đến Đắc Tô, không một ai phải chết ở dọc đường. Tình thương yêu giai cấp của những người tù chính trị làm cho những binh lính người Thượng cũng mủi lòng.

Cuối năm 1942, tình hình thế giới thay đổi, Hồng quân và nhân dân Liên Xô đã phản công chống phát xít thắng lợi và tình hình trong nước trở nên khẩn trương, nhiệm vụ, thời cơ thôi thúc chúng tôi táo bạo hành động. Lúc đầu theo kế hoạch là ba người gồm anh Nguyễn Duy Trinh, anh Huỳnh Ngọc Huệ và tôi. Nhưng gần đến ngày xuất quân Hà Thế Hạnh biết, nhất quyết đòi đi theo nên đành phải để anh cùng đi. Kế hoạch vượt trại giam có bàn kỹ với anh Hiến. Đêm hôm chúng tôi trốn, hai anh Nguyễn Trọng Vĩnh, Trường Châu làm công việc nghi binh “một người thành hai” để lính gác đếm đủ số người. Anh Lê Văn Hiến lại tìm cách để đối phó với tên chủ ngục.

Chiều hôm ấy, sau khi ăn cơm xong mọi người vào hết trong trại, bốn anh em chúng tôi ẩn lại dưới nhà bếp, mỗi người chui vào một góc để đợi đến giờ trốn. Đến 11 giờ đêm chúng tôi bắt đầu vượt hàng rào thép gai, theo con đường đã chuẩn bị sẵn, lần lượt vượt rào là anh Nguyễn Duy Trinh, Hà Thế Hạnh, Huỳnh Ngọc Huệ, cuối cùng là tôi. Cả bốn người ra khỏi hàng rào trót lọt. Lúc tôi chưa ra khỏi hàng rào, đôi chim từ bụi cỏ bay lên kêu tiếc, tiếc. Không biết nó ngượng ngùng hay nói lời thân thiết, tiễn người đi phối hợp với Hồng quân. Chúng tôi nhằm hướng đông mà đi. Mờ sáng hôm sau đã đến Ka Nắc, cả bốn người vào một khu rừng le rậm rạp ẩn nấp suốt một ngày nghe ngóng và phân công anh Nguyễn Duy Trinh và anh Huỳnh Ngọc Huệ đi ra hướng Bắc, tôi và Hà Thế Hạnh xuống Quy Nhơn rồi vào Nam. Lúc chia tay tài sản của bốn người có sáu đồng bạc Đông Dương chia đều mỗi người một đồng rưỡi. Năm viên ký ninh chia cho mỗi người một viên còn thừa một viên các anh dành cho tôi vì lúc đó tôi đang sốt.

Bốn chúng tôi chia tay nhau vô cùng xúc động nhưng không ai khóc, chỉ nắm chặt tay nhau hứa hẹn ngày thắng lợi sẽ gặp lại nhau. Sáng hôm sau, tôi và Hà Thế Hạnh ra đường 19 đón xe khách đi Quy Nhơn. Ngồi trên xe tôi ngỡ mình như đang bay bổng.

Nhốt lâu ngày chim không hề mỏi cánh.

Từ rừng núi Đắc Tô ngược chiều gió mạnh.

Đến ngoại ô Quy Nhơn, chúng tôi xuống xe đi bộ. Lúc này Hà Thế Hạnh mặc bộ com-plê xin của một ông già người Nam Bộ đóng vai thầy ký, còn tôi đóng vai bồi. Chúng tôi đi nhanh đến ga Diêu Trì mau vé tàu vào Nha Trang. Trên chuyến tàu chạy vào Nam tôi và Hà Thế Hạnh thỏa thê nhìn trời cao, biển rộng mà thấy đất nước mình đẹp bội phần. Chúng tôi nói với nhau: non sông gấm vóc của mình phả người mình làm chủ mới trở nên rạng rỡ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:39:26 PM
Chiều hôm sau chúng tôi đến Nha Trang, vừa ra khỏi ga đã thấy bản niêm yết họ tên bốn người chúng tôi. Thấy vậy Hà Thế Hạnh gọi giật “bồi!”, tôi “dạ” và chạy nhanh theo Hạnh. Cả hai lên xe kéo về nhà Hà Thế Tiết (em ruột của Hạnh). Chúng tôi ở lại hai ngày rồi chia tay nhau. Hà Thế Hạnh đi vào Đà Lạt, tôi ra Ninh Hòa kiếm việc làm và tìm cách móc nối cơ sở. Nhưng ở Ninh Hòa ít ngày cũng chẳng tìm được việc, phải quay lại Nha Trang. Một buổi chiều tôi đang lang thang ở xóm Bóng lân la hỏi xin việc làm thì may sao gặp một người đàn ông đứng tuổi phúc hậu, ông ta chỉ cho tôi vào một gia đình thầu khoán, có cỗ xe bò chở đá. Tôi mạnh dạn nêu nguyện vọng của mình, cả hai vợ chồng nhìn tôi hồi lâu, xe ra có vẻ ưng ý, họ cho vào nhà và nói: “Anh tắm rửa rồi ăn cơm tối. Công việc của anh là đánh xe bò chở đá từ Đồng Đế đi sân bay Nha Trang, nơi quân Nhật đang sửa sân bay”.

Tôi mừng thầm nhận lời. Đêm hôm đó ngủ một giấc ngon lành, sáng dậy bắt tay ngay vào công việc chở đá. Việc mới mẻ, phải tìm bạn cùng nghề để học đồng thời tuyên truyền giác ngộ họ.

Ở gia đình này ít lâu, tôi được biết vợ chồng ông Bửu Thảo (tên ông chủ) rất có thế lực nên đã đem hết sức mình làm việc cho ông. Sau ba tháng, Bửu Tháo thấy tôi làm được việc, ông chủ động nêu vấn đề kết nghĩa anh em. Tôi chấp nhận đề nghị của ông. Hai ngày sau Bửu Thảo gọi lý trưởng xóm Bồng đến và bảo ông ta cấp cho tôi một thẻ đỏ. Khi tôi nhận được thẻ đỏ mang tên Lê Thế Mỹ và Bửu Thảo đưa cho một tượng thánh giá bằng đồng thì vừa lúc Hà Thế Hạnh biên thư cho Tiết nhắn rằng tôi vào Đà Lạt ngay vì anh đã tìm được “bố mẹ” (Đảng). Trong lúc tôi đang chuẩn bị lên đường thì lại được tin Hà Thế Hạnh đã bị mật thám Đà Lạt bắt trong lúc đang xem hát. Từ lúc Hạnh quyết liệt đòi đi theo, chúng tôi biết con người vóc dáng cao to này thông minh, nhưng không chín chắn, dễ lộ.

Tôi xin phép vợ chồng Bửu Thảo, nói là có việc phải về quê, nhưng tôi nghĩ Hạnh bị bắt, có thể sẽ gặp khó khăn ở địa bàn Khánh Hòa. Vì vậy, tôi đi ra Tân Lâm tìm con ông Lê Thế Hiếu vừa ở tù ra. Đến Tân Lâm, Cam Lộ, Quảng Trị cụ Tú Hiếu giới thiệu cô Lê Thị Nhung, Lê Thị Quế ở Tân Tường, Cam Lộ. Tôi tìm vào nhà chị Quế. Chị đang ngồi sàng gạo. Thấy tôi chị chủ động nói với giọng hơi lạnh: “Tôi đã ăn chay niệm phật, việc đời tạm gác, anh thông cảm đi tìm nơi khác”. Thấy thái độ lạnh lùng của chị, tôi liền quay ra.

Rời nhà chị Quế, vừa ra đến đầu ngõ, đã gặp phó chánh tổng và mấy tên ập tới. Chẳng nói chẳng rằng chúng hô nhau trói chặt tay tôi giải đến nhà chánh tổng, tôi chủ động hỏi:

- Tôi có tội gì mà các ông bắt tôi?

- Anh là cộng sản trốn tù có lệnh truy nã.

Vừa nói chánh tổng vừa giơ tờ giấy. Nhìn qua đúng là tên tôi thật, nhưng trong người, đã có thẻ đỏ với họ tên là Lê Thế Mỹ, và lại có tượng chúa Giê-su bằng đồng của Bửu Thảo cho, tôi nói với chánh tổng một cách thuyết phục:

- Tôi là Lê Thế Mỹ chứ không phải Chu Huy Mân. Các ông bắt nhầm người rồi!

Tôi đưa thẻ đỏ và tượng chúa Giê-su ra như là vật chứng. Viên chánh tổng ầm ừ một lát rồi ra lệnh thả.

Rồi nhà chánh tổng Tân Tường, trên đường đi Tâm Lâm tôi gặp vợ chồng anh chị Thuận là cơ sở của ta. Tôi ghé vào gia đình này ít ngày. Anh Thuận giới thiệu tôi đến làm thuê cho Nguyễn Như Hà, một viên quan bát phẩm thường gọi là Bát Hà. Công việc của tôi là nấu cơm cho những người thợ kéo gỗ chờ thời tìm gặp chị Lê Thị Nhung, con gái cụ Tú Hiếu.

Ba tháng làm thuê cho Nguyễn Như Hà, tôi lúc ở rừng nấu cơm cho thợ, khi thì về làm những việc vặt trong gia đình. Gặp được chị Nhung nêu nguyện vọng, chị từ chối những đề nghị của tôi. Như vậy, hai đầu mối ở Quảng Trị đã không đạt được ý định như dự kiến. Tôi suy nghĩ, phân tích tình hình, lúc đó ở miền Trung chỉ có tỉnh Quảng Nam là nơi phong trào khá mạnh nên quyết định quay vào. Đến Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tôi ghé vào nhà ông bà Đức Long, người quê Nam Định, chủ cửa hàng bánh kẹo, xin việc làm. Công việc chủ yếu là gánh nước, phụ việc vặt. Mỗi lần ra sông Vĩnh Điện gánh nước, tôi gặp mấy anh em tù chính trị ở nhà la Quảng Nam cũng ra sông tắm. Chúng tôi vừa tắm vừa nói chuyện với nhau. Qua anh Võ Văn Đặng, tôi liên lạc được với Đảng bộ Quảng Nam. Thật vô cùng sung sướng. Tỉnh ủy Quảng Nam lúc này danh nghĩa bên ngoài là Ban Việt Minh tỉnh do anh Trần Quế làm bí thư. Các anh trong tỉnh ủy biết tôi là người Nghệ An, đã vượt nhà lao Đắc Lây, Đắc Tô về với phong trào nên tin tưởng cho tôi tham gia tỉnh ủy (Tỉnh ủy lúc đó có 9 đồng chí). Mấy tháng sau, tôi gánh kẹo lên chợ Mỹ Lược bán. Ở đây tôi gặp anh Huỳnh Ngọc Huệ, bạn tù ở Đắc Tô. Thế là chúng tôi thường xuyên trao đổi tình hình công việc với nhau trên những chiếc đò con của cơ sở cách mạng trên sông Ông Đốc – chợ Mỹ Lược xuôi sông Thu Bồn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:40:58 PM
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, viện cớ Pháp bác bỏ tối hậu thư, quân Nhật tấn công vào các vị trí đóng quân của Pháp ở Hà Nội. Chúng chiếm Phủ toàn quyền Đông Dương và bắt giữ các quan chức của Pháp, trong đó có tướng A-mê – tổng tư lệnh quân đội Pháp toàn Đông Dương. Quân Nhật nhanh chóng đè bẹp sức kháng cự của quân Pháp ở mọi nơi. Đến chiều ngày 10 tháng 3 năm 1945, quân Pháp đầu hàng, quân đội Nhật làm chủ các đô thị lớn ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và nhiều tỉnh lỵ khác. Lúc này lực lượng quân sự Pháp hoàn toàn tan rã, bộ máy thống trị của Pháp đã đầu hàng. Toàn bộ Đông Dương trở thành thuộc địa của phát xít Nhật.

Một thuận lợi lúc này là cuối năm 1944 đầu năm 1945 đã có hàng trăm cán bộ, đảng viên cộng sản bị địch giam trong các nhà tù đã nổi dậy phá trại giam trở về cơ sở. Phong trào chống Nhật, chuẩn bị khởi nghĩa ở các địa phương có thêm những hạt nhân lãnh đạo. Trong lúc này những cán bộ, đảng viên Trung Trung Bộ đi qua Quảng Nam thường ghé lại gia đình ông Kế ở thôn ở Văn Trai, xã Kỳ Khương, huyện Tam Kỳ. Cụ ông làm nghề thuốc bắc, cụ bà làm mấy sào ruộng, đến mùa đánh một đống rơm có chỗ hổng đủ một người nằm. Khi chúng tôi đến, nếu thấy động là cụ chỉ vào chỗ hổng và bảo nằm ở đó. Sau đó biết chắc bốn bề yên ổn, cụ mới gọi chúng tôi ra ăn cơm và vào giường ngủ.

Thời gian này, Ban Việt Minh tỉnh Quảng Nam tổ chức cuộc họp quán triệt chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng: “Nhật Pháp bắt nhau và hành động của chúng ta”. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhận định của Trung ương. Trước đây ta phải dồn sức đánh đuổi cả Nhật lẫn Pháp, từ nay kẻ thù chính, kè thủ cụ thể của nhân dân ta là phát xít Nhật. Hành động của chúng ta lúc này là dấy lên một cao trào chống Nhật cứu nước, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa một khi thời cơ đến.

Tiếp đó, chúng tôi bàn các chủ trương và biện pháp cụ thể mở rộng phong trào, khôi phục, phát triển lực lượng và tổ chức, chuẩn bị thực lực cách mạng chờ thời cơ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cuộc họp được tổ chức ở nhà ông Cả Đáng ở Kỳ Khương (nay là Tam Hiệp) – một cơ sở trung kiên của ta. Mấy đêm liền cụ Cả Đáng thức trắng nghe ngóng tình hình để bảo vệ hội nghị. Ngoài số cán bộ cũ, trong cuộc họp này còn có thêm các anh Nguyễn Xuân Nhị, Võ Toàn, Phan Thêm... Tất cả những người tham dự cuộc họp đều hăng hái và nhất trí cao vấn đề mở rộng phong trào, xây dựng tổ chức để lực lượng quần chúng dần dành thành đội ngũ khi hành động.

Cũng vào thời gian này, được tin Nhật đảo chính Pháp, ngay 10 tháng 3 năm 1945, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Chiều ngày 11 tháng 3, khởi nghĩa Ba Tơ bùng nổ, bắt đầu bằng cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại sân vận động; sau đó phát triển thành cuộc nổi dậy của quần chúng bao vây đồn Ba Tơ và nha Kiềm lý. Phối hợp với nổi dậy của quần chúng, lực lượng du kích chiếm nha Kiềm lý; đồng thời vận động binh lính địch là nội ứng chiếm đồn Ba Tơ, thu 17 súng, 15 hòm đạn và nhiều quân trang, quân dụng

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, ban khởi nghĩa tổ chức mít tinh với hàng ngàn quần chúng tham gia. Ban khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền đế quốc tay sai, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân. Cũng trong ngày 12 tháng 3, đội du kích Ba Tơ được thành lập gồm 26 người, chia thành 3 tiểu đội do anh Phạm Kiệt làm đội trưởng, anh Nguyễn Đôn làm chính trị viên. Đội du kích Ba Tơ ra đời có ý nghĩa quan trọng cho cao trào kháng Nhật cứu nước, giành chính quyền ở Quảng Ngãi; đồng thời thúc đẩy lực lượng cách mạng ở Quảng Nam và các tỉnh lân cận đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Đầu tháng 8 năm 1945, Tỉnh ủy và Ban Việt Minh tổ chức cuộc họp tại nhà anh Nguyễn Xuân Nhị. Trong cuộc họp này, anh Huỳnh Ngọc Huệ tìm đâu ra một khẩu súng lục với ba viên đạn, mọi người đều phấn khởi, cầm súng ngắm nhìn rồi đề nghị giữ lại khẩu súng cho cơ quan chỉ đạo khởi nghĩa toàn tỉnh, tôi có chiếc đồng hồ quả quýt mới mua 3 đồng cũng được sung công. Đây là cuộc họp quan trọng thông qua kế hoạch hành động cụ thể về thời gian và phân công phụ trách các hướng khởi nghĩa, giành chính quyền. Anh Trần Quế - Bí thư Tỉnh ủy chỉ đạo hung, có thêm mấy anh giúp sức. Anh Huỳnh Ngọc Huệ phụ trách một số đồng chí đi Đà Nẵng. Anh Võ Toàn(1) và chị Phan Thị Nề đi Hội An. Tôi chỉ huy một số anh em tự vệ chiếm thành Quảng Nam.


(1) Anh Võ Toàn tức Võ Chí Công.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:42:03 PM
Đêm 17 rạng 18 tháng 8 năm 1945, tôi chỉ huy lực lượng tự vệ vũ trang đến tập kết tại nhà anh Khiềng (thợ rèn) ở cửa nam thành Quảng Nam. Mở sáng mấy người lính khố xanh ra ngoài thành báo cáo. Thấy tôi chính là anh Hai, người làm rau muống trong thành bấy lâu thì vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, họ van xin tôi cùng một số tự vệ tiến vào dinh tỉnh trưởng. Khi vào dinh, tôi nói: “Các ông phải nộp vũ khí và ngồi yên không được chống đối cách mạng, chính quyền mới sẽ có lệnh sau” và giải thích thêm: “chính quyền bù nhìn đã bị lật đổ, các anh hãy quay về với cách mạng, với nhân dân, sẽ được hưởng khoan hồng...”. Những người lính này ngoan ngoãn nộp súng và sau đó được về nhà làm ăn.

Ngày 24 tháng 8, tôi được Tỉnh ủy phân công làm trưởng ban tổ chức cuộc mít tinh lớn để chính quyền cách mạng ra mắt nhân dân.

Ngay từ sáng sớm, hàng nghìn người đã mang theo cờ đỏ sao vàng kéo về sân vận động. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu dương lực lượng. Tự vệ vũ trang, thanh niên tuyên truyền xung phong cùng quần chúng cách mạng tỏa đi trên các đường phố lớn hô vang các khẩu hiệu cách mạng.

Sau khi thành lập chính quyền ở Quảng Nam, Ban Tỉnh ủy họp bầu anh Thanh Hải (Bạch Truật) làm bí thư Tỉnh ủy thay anh Trần Quế. Tôi được bầu làm phó bí thư Tỉnh ủy và được phân công làm chính trị viên chi đội (tỉnh đội). Anh Phan Tuyến (tức Trọng) làm chỉ huy trưởng. Theo chỉ thị của trên, chúng tôi khẩn trương thành lập một số đại đội bộ binh làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng, sẵn sàng chiến đấu và đi vào phía nam. Chỉ sau một thời gian ngắn, 3 đại đội đã được hình thành về tổ chức và có thể đảm nhiệm những công việc tuần tra canh gác, trấn áp bọn phản động làm cho nhân dân yên tâm tin tưởng.

Tin Nhật đầu hàng Đồng minh nhanh chóng lan truyền khắp cả ba miền Bắc – Trung – Nam. Làn sóng cách mạng sục sôi trong những ngày mùa thu tháng Tám. Cách mạng thành công, chính quyền mới được thành lập, cả dân tộc Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ của chế độ thực dân. Đây là bước ngoặt vĩ đại chưa từng có của dân tộc, song nó cũng đặt ra nhiều vấn đề lớn, phức tạp và mới mẻ đối với Đảng ta. Lúc này, trừ một số ít đau ốm bởi chế độ giam cầm trong nhà tù đế quốc, hầu hết đảng viên trước Cách mạng Tháng Tám đều phấn khởi, hăng say lao vào cuộc chiến đấu mới. Ít tuần sau, Xứ ủy Trung Kỳ điều tôi ra Huế và giao nhiệm vụ làm Chủ tịch Ủy ban quân chính Khu C gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam.

Xứ ủy quyết định điều động tôi cũng là điều dễ hiểu. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, lịch sử dân tộc Việt Nam và Đảng ta chuyển sang chương mới. Cảnh mất nước, nô lệ của nhân dân ta đã cơ bản chấm dứt. Lớp đảng viên chúng tôi vẫn nhớ chân lý “Giành chính quyền cách mạng đã khó, bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng càng khó hơn”. Cảm ơn chặng đường 15 năm hoạt động, là điều kiện may mắn cho chúng tôi được thử thách. Tình cảm chung là thế, nhưng mấy đêm liền vẫn trăn trở, những kỷ niệm sâu sắc về vùng đất và con người Quảng Nam cũng như miền Trung Trung Bộ vẫn trỗi dậy. Tôi sống và hoạt động trên quê hương thứ hai này, thời gian chưa nhiều nhưng nghĩa tình sâu sắc. Tôi nhớ gia đình ông bà Đức Long coi trọng người lao động. Nhớ bến tắm sông Vĩnh Điện, nơi anh Võ Văn Đặng – người tù chính trị trong nhà lao tỉnh Quảng Nam được tự do đi tắm, người tù chính trị đã thoát chết khỏi vòng kiềm tòa, gặp nhau nhưng vẫn “còn nợ”. Câu chuyện tuy ngắn nhưng có ý nghĩa lớn, vì tôi đã thực sự trở về với Đảng, với đồng bào, đồng chí. Bến đò Ông Đốc trên chiếc đò con, nghe sông Thu Bồn náo nức chuyển sang thu. Ông Cả Đáng tuổi già mấy đêm liền thức canh cho cán bộ dự hội nghị Việt Minh tỉnh được an toàn. Tôi đề nghị canh gác thay nhưng bác Đáng bảo: Chú cứ ngủ để ngày mai làm việc, cứ để bác canh gác có sao đâu. Lực lượng trong cuộc họp mà bị bắt thì cách mạng Quảng Nam càng gặp khó khăn hơn. Ông bà cụ Kế với đống rơm làm hầm che chở cho những người hoạt động cách mạng đi qua. Ông Sáu, bà Lành sống trong túp lều ở cửa đông thành Quảng Nam rất biết trọng nhân cách con người. Chiếc đò con từ Hội An qua bến Kim Bồng đưa đón những đảng viên. Sông phẳng lặng, lòng người như sóng dậy, đón thu về... Sáng hôm tôi ra đi, mấy anh chị em tiễn đưa trìu mến.

Tạm biệt Quảng Nam, với những vùng đất và con người như Vĩnh Điện, Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên... nghĩa khí trung kiên đã nuôi nấng, che chở những người đảng viên cộng sản trên con đường hoạt động cách mạng gian nan. Khi đội ngột phải xa Quảng Nam, tôi không khỏi bùi ngùi xúc động. Không có thơ, văn nào nói lên hết, ghi vào đây nhiều cũng không đủ, nhưng trong sâu thẳm tôi thầm tự hứa nhất định sẽ có ngày trở lại vùng đất quê hương thứ hai này, với những con người đầy nghĩa khí cách mạng hào hùng và tình yêu thương vô hạn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:44:17 PM
Chương 1I
THAM GIA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Từ Quảng Nam ra Huê, tôi gặp các anh Trần Hữu Dực – Chủ tịch Ủy ban hành chính Trung Bộ, Tố Hữu – Thường vụ xứ ủy Trung Kỳ. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau và nói: Đã hẹn là gặp. 15 năm thử thách chưa là bao. Song cái vốn ấy bảo đảm cho chúng ta cùng bước trên con đường ngàn dặm, bất chấp chông gai, cùng nhau đến đỉnh vinh quang của Tổ quốc. Sau khi trao đổi tình hình và công việc, tôi được các anh giao làm Chủ tịch Ủy ban quân chính Khu C – một tổ chức tạm thời có nhiệm vụ chỉ đạo, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương từ đường 9 – Đông Hà – Xa-va-na-khệt, đồng thời sẵn sàng đối phó với tàn quân Pháp từ tây sang và quân Tưởng từ bắc vào. Ủy ban quân chính Khu C gồm có anh Trần Hường (Quảng Bình), anh Đoàn Khuê (Quảng Trị), anh Lê Tự Đồng (Thừa Thiên) và tôi (Chu Huy Mân) cùng một số sĩ quan cũ. Ủy ban hoạt động được mấy tuần thì anh Lê Thiết Hùng – Khu trưởng Khu 4(1) vào nhận nhiệm vụ phụ trách các tỉnh miền Trung. Theo đề nghị của tôi, anh Lê Thiết Hùng đồng ý cho tôi về thăm quê, sau đó anh giao cho tôi làm chính trị viên Mặt trận Đường 9 – Đông Hà – Xa-va-na-khệt.

Trời mùa đông se lạnh. Ngồi trên tàu từ Huế ra Vinh, gần một ngày là thời gian quý để tôi có dịp suy nghĩ lại những gian truân, thử thách đã trải qua và có bước trưởng thành. Rồi bỗng dưng một câu hỏi ập đến: Mẹ còn hay mất?

Xuống ga Vinh tôi đi thẳng về quê. Đến đầu xã Yên Lưu, tôi gặp Chu Văn Tứ, con ông anh họ. Tứ ôm lấy tôi rồi òa khóc nức nở. Tôi chưa hiểu chuyện gì, gặng mãi, Tứ nói trỏng nước mắt:

- Chú Mân ơi! Bà và em Chân đã mất rồi!

Tôi hỏi dồn:

- Mất lâu chưa?

- Bà và em chết đói trước khi ta giành chính quyền mấy tháng.

Tim tôi đau thắt trước mất mát quá lớn, cảm giác này đeo đuổi tôi suốt cuộc đời. Đến đầu làng thì bà con kéo đến vây lại để xem mặt, vì họ nghe tin tôi đã chết. Về đến nhà, bà con ập đến rất đông. Vợ tôi chỉ biết khóc, đứa con thứ hai Chu Thị An (gần 5 tuổi) không nhận cha. Các cụ niên lão trong làng hình như thay phiên nhau đến rồi lại về, lại đến. Đêm hôm ấy, các cụ kể cho nghe nhiều chuyện đã xảy ra suốt 5 năm tôi xa quê...

Sáng hôm sau, tôi và vợ đi ra bãi tha ma Chùa Phủ thắp hương mộ bố, mẹ và con trai đầu. Lòng trung hiếu, nỗi đau cay đắng trong tâm hồn tôi dồn đọng lại mấy dòng như một điếu văn:

         Mới mười bốn tháng tuổi ấu thơ
         Cha đi để lại một “cơ đồ”
         Nhà tre trống rỗng đàn con dại
         Mẹ đau thân phận đến bao giờ

         Dứt ruột mang con bán cửa người
         Tôi đòi, đứa ở sống cầm hơi
         Món nợ, tang cha lo trả sớm
         Để người yên nghỉ tránh mỉa mai

         Bán hai, còn sáu vẫn gian nan,
         Rau cháo ngày qua mẹ đỡ buồn
         Con út lớn lên niềm an ủi
         Nhưng nước non đã gọi tuổi xuân

         Vào cuộc, cầm tay cảnh lao lung
         Ban đêm trăn trở mẹ vui lòng
         “Dù chết vô danh nơi chiến địa
         Chỉ mong con xứng với tổ, tông”.

         Con về sau hội lớn Mùa Thu
         Mùa Thu đến muộn mẹ khó chờ
         Giặc đói cướp luôn bà lẫn cháu
         Đau buồn, xin trọn nghĩa với ông cha

         Mẹ ơi!
         Từ mùa đông ấy một lời nguyền
         Mười lăm năm, không ít gian truân
         Con về cha, mẹ đều đã khuất
         Chứng giám lòng con có nhân dân

         Đường lên phía trước vẫn chông gai
         Nắm hương thơm không nói hết lời
         Đất thơ cha, mẹ yên giấc ngủ
         Sẽ có ngày non nước trường xuân



(1) Khu 4 lúc này gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiện.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:45:10 PM
Trước khi trở lại Quảng Trị, tôi gặp các anh lãnh đạo trong xã trao đổi tình hình chung và giải quyết ý nguyện của nhân dân trong xã.

Tôi trở lại Mặt trận Đường 9 – Đông Hà – Xa-va-na-khệt với cương vị là chính trị viên. Cùng trong Ban chỉ huy mặt trận là anh Nguyễn Tụ, một đảng viên Quốc dân đảng thời Nguyễn Thái Học bị đày ra Côn Đảo mới về. Nhiệm vụ của chúng tôi là sẵn sàng đánh tan quân Pháp từ Xa-va-na-khệt tiến công về Đông Hà; phối hợp với các bạn Lào vận động bà con Việt kiều phục vụ cách mạng Lào và hướng về sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Lực lượng Mặt trận Đường 9 – Đông Hà – Xa-va-na-khệt khoảng 3.000 người, nên việc bảo đảm hậu cần gặp khó khăn. Sau khi đi kiểm tra chiến trường, nắm lại tình hình chính trị, tư tưởng bộ đội tôi quay về Cam Lộ giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho bộ đội.

Trên đường về Cam Lộ, tôi ghé lại Tân Lâm thăm gia đình chị Thuận, gia đình ông Cửu Liệu và gia đình Nguyễn Như Hà (còn gọi là Bát Hà), người Hà Tĩnh cư trú gần chợ huyện Cam Lộ. Bát Hà, là chủ đồn điền khai thác gỗ vùng Tân Lâm, sau Cách mạng Tháng Tám, bị chính quyền mới Quảng Trị bắt giam. Khi làm việc với anh Đặng Thế - Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị, anh cho tôi xem lá đơn của Bát Hà xin chính quyền cách mạng cho được tại ngoại. Trong đơn, Bát Hà có nhắc đến ông Lê Thế Mỹ (bí danh của tôi – Chu Huy Mân) đã ở trạm kéo gỗ Tân Lâm và ở nhà riêng của ông ta. Đọc xong lá đơn tôi xác nhận những nội dung Bát Hà nói về tôi là chính xác. Anh Đặng Thế hỏi tôi:

- Theo anh, Bát Hà là người thế nào? Và xử lý với anh ta ra sao?

Tôi nói:

- Theo tôi, Bát Hà không ưa gì cách mạng, nhưng cũng không phải là mật thám, nếu các anh tha và giao một nhiệm vụ gì đó, ủng hộ kháng chiến có thể ông ta làm được.

Anh Đặng Thế đồng ý ngay với ý kiến của tôi. Và cũng sau buổi làm việc này, tôi và anh Đặng Thế trở nên thân thiết.

Bát Hà được thả tự do, chính quyền Quảng Trị giao cho ông ta làm Chủ tịch Ủy ban ủng hộ kháng chiến huyện Cam Lộ chuyên vận động nhân dân đóng góp lương thực, thực phẩm ủng hộ cách mạng, chủ yếu bộ đội Mặt trận Đường 9 – Đông Hà – Xa-va-na-khệt.

Một thời gian sau, tôi và mấy cán bộ Mặt trận Đường 9 đến gia đình Bát Hà bàn việc huy động lương thực. Thấy chúng tôi đến, Bát Hà từ ngỡ ngàng đến mừng vui. Tôi hỏi thăm tình hình làm ăn của ông ta và việc huy động lương thực của Ủy ban ủng hộ kháng chiến. Bát Hà vui vẻ nói như báo công:

- Từ ngày ông bảo lãnh tôi được tự do, cách mạng lại giao làm Chủ tịch Ủy ban ủng hộ kháng chiến, tôi đã cố gắng vận động bà con đáp ứng tốt mọi yêu cầu của chính quyền cách mạng, nhất là lương thực thực phẩm và cả những nhu yếu phẩm khác nữa phục vụ bộ đội ta.

Tôi động viên Bát Hà:

- Cuộc kháng chiến còn dài, mọi người đều phải đóng góp sức người sức của cho cách mạng, có như vậy kháng chiến mới mau chóng thành công.

Bát Hà nhanh nhảu:

- Xin hứa với ông Mỹ, à ông Mân, tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa vận động nhân dân tiếp tục ủng hộ cách mạng để bộ đội ăn no đánh thắng quân Pháp.

Cuối buổi làm việc ông ta thiết tha đề nghị đoàn chúng tôi nghỉ lại gia đình. Đáp lại lời mời, đêm ấy chúng tôi ở lại gia đình Bát Hà.

Bữa cơm tối Bát Hà tiếp chúng tôi khá thịnh soạn. Trước lúc ăn, tôi nói ông ta mời cả vợ và cô con gái cùng ngồi. Qua cử chỉ và ánh mắt của họ, tôi biết rằng cả gia đình rất vui trong bầu không khí bình đẳng, cởi mở của những cán bộ cách mạng.

Sau này tôi được biết, Bát Hà rất tích cực trong việc bảo đảm lương thực, thực phẩm cho bộ đội Mặt trận Đường 9 – Đông Hà.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:46:11 PM
Trong dịp Tết Nguyên đán năm 1945, anh Võ Nguyên Giáp (thường gọi là anh Văn) đến Sê-pôn kiểm tra tình hình, đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Anh Văn phổ biến tình hình:

- Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Thường vụ Trung ương chỉ thị kháng chiến – kiến quốc, vạch ra đường lối đối nội, đối ngoại trong tình hình mới.

Về tình hình chiến sự ở miền Nam, anh cho biết:

- Hiện nay ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ giặc Pháp đã chiếm được nhiều tỉnh lỵ, nhưng ta vẫn làm chủ ở nông thôn. Nhiệm vụ quân sự lúc này là động viên toàn dân kiên trì kháng chiến. Đường lối kháng chiến là toàn dân, toàn diện, lâu dài. Cách đánh phù hợp của ta trong điều kiện so sánh lực lượng giữa ta và địch lúc này là đánh du kích.

Đầu năm 1946, chúng tôi được biết giữa Anh, Mỹ, và Trung Hoa dân quốc với Pháp đã cố sự dàn xếp về Đông Dương. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, Hiệp ước Pháp – Hoa được ký, thực chất của hiệp ước này là kết quả của sự mua bán đổi chác giữa Pháp và Tưởng. nhưng nó còn cho thấy bọn Mỹ, Tưởng, Anh, Pháp từ giành nhau địa vị thống trị Đông Dương chuyển sang chủ trương điều hòa quyền lợi với nhau. Mỹ và Anh đều muốn ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Vì vậy, Anh đã mở đường và tạo thuận lợi cho Pháp trở lại Nam Bộ, Mỹ ủng hộ Tưởng đưa quân vào miền Bắc, thiết lập một chính quyền thân Tưởng và như vậy sẽ lệ thuộc vào Mỹ. Nửa năm qua Tưởng đã không làm được chuyện đó. Gần 20 vạn quân Tưởng bị sa lầy ở Việt Nam, trong khi cách mạng Trung Quốc đang phát triển rất mạnh, đã đến lúc Tưởng phải lo rút quân về để chống giữ hậu phương.

Ở miền Nam, sau khi đặt chân lên Nam Bộ, Pháp muốn tiến ngay ra Bắc, nhưng sự có mặt của quân Tưởng đã không cho phép Pháp làm được điều đó. Mặt khác đã 5 tháng chiến tranh mà Pháp chưa chiếm được miền Nam, nếu dùng vũ lực với cả miền Bắc là việc làm khó với họ. Họ cần có sự hậu thuẫn của Chính phủ Việt Nam khi quân Pháp ra Bắc. Như vậy, vừa tránh được xung đột mà quân Tưởng lại không có cớ dây dưa trong việc rút quân. Đúc lúc này, bọn Việt Nam Quốc dân đảng lại kích động dân ta đứng lên chống Pháp. Dã tâm của chúng là đẩy ta trực tiếp chống lại Hiệp ước Pháp - Hoa. Nếu mắc mưu chúng thì cả ba lực lượng quân Tưởng, quân Pháp và bọn phản cách mạng ở Việt Nam sẽ cùng quay lại diệt lực lượng ta.

Từ nhận định trên, Bác Hồ và Thường vụ Trung ương đặt ra vấn đề: Đánh hay hòa với Pháp? Có ý kiến đề nghị quyết đánh, rút về chiến khu tổ chức chiến tranh du kích. Có ý kiến nên tạm thời hòa hoãn với Pháp. Cuối cùng Bác kết luận: Ta không nên cùng một lúc đánh nhau tay năm, tay sáu với lũ cướp nước và bán nước, đấm bằng hai tay một lúc là không mạnh. Ta đã sớm biết trước kẻ thù chính là thực dân Pháp. Đấy không phải là do ta lựa chọn theo ý muốn, mà là do ta phân tích một cách khách quan những quan hệ và những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Trước sau ta cũng phải đánh thắng Pháp thì mới giành được độc lập... Vì lẽ đó, bây giờ nên hòa hoãn với Pháp. Hòa với Pháp để gạt quân Tưởng, loại trừ bọn Việt gian theo Tưởng. Hòa với Pháp để tạo điều kiện cho nhân dân Pháp chống bọn phản động Pháp.

Cùng thời gian này, chúng tôi còn được biết ngày 2 tháng 3, Quốc hội nước ta họp giải quyết một số vấn đề hệ trọng. Trước hết Quốc hội xác định kháng chiến là việc hệ trọng nhất. Theo đề nghị của Bác Hồ, Chính phủ lâm thời xin từ chức và trao quyền cho Quốc hội tổ chức một chính phủ mới – Chính phủ kháng chiến kiến quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm chủ tịch.

Những ngày đầu tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc đàm phán giữa Việt Nam và đại diện Cộng hòa Pháp. Về phía Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thứ trưởng ngoại giao Hoàng Minh Giám, về phía Pháp có Xanh-tơ-ni, sau thêm Pi-nhông. Sau 6 ngày đàm phán, có những cuộc họp kéo dài đến 2 giờ sáng, cuối cùng ngày 6 tháng 3 năm 1946, hai bên đã đi đến ký kết một bản Hiệp định sơ bộ, gồm một số nội dung: Nước Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ, có nghị viện, có quân đội, tài chính của mình ở trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ Pháp cam đoan sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu ý dân về vấn đề thống nhất ba kỳ. Nước Việt Nam chấp thuận để 15 nghìn quân Pháp vào Bắc Việt Nam làm nhiệm vụ thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc. Số quân Pháp này sẽ phải rút hết sau một thời gian được quy định. Hai bên đình chiến để mở một cuộc đàn phán chính thức. trong khi đàm phán quân hai bên ở đây vẫn đóng ở đấy.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:47:44 PM
Sau khi vào miền Bắc, quân Pháp liên tiếp vi phạm hiệp định. Chúng tăng quân, gây nhiều vụ xung đột, mở rộng phạm vi đóng quân ngoài những khu vực hiệp nghị quy định. Quá trình diễn ra các cuộc đàm phán ở Đà Lạt và Phông-ten-nơ-blô cũng là quá trình phía Pháp tiếp tục các hành động khiêu khích và lấn chiếm, kể cả sau khi tạm ước 14 tháng 9 đã được ký kết.

Cuối năm 1946, trên điều tôi ra Việt Bắc. Đối với tôi đây là dịp tốt được gần Trung ương để học tập và có dịp gặp Bác Hồ. Trên đường về Việt Bắc, tôi qua Hà Nội. Được sống ở một ngày ở thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phải sau 20 năm hy vọng, chờ mong điều ấy với tôi mới trở thành sự thật.

Tình hình chiến sự mỗi ngày một nóng lên. Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc khẳng định: Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp.

Đến Thái Nguyên, cơ quan Khu 1 đã chuyển ra chùa Hang. Tôi gặp anh Chu Văn Tấn(1) – Khu trưởng Khu 1. Sau khi hàn huyên, anh Tấn giao cho tôi làm trưởng ban kiềm tra (nhưng lại làm công việc của Ban tổ chức), có nhiệm vụ xây dựng cơ sở Đảng trong quân khu. Trước tình hình cấp bách, Khu trưởng lại giao cho tôi phụ trách một đoàn cán bộ đi kiểm tra hai con đường số 3 và số 2 chuẩn bị phương án đánh địch khi chúng tiến công Phú Yên và Thái Nguyên.

Càng về cuối năm 1946, khả năng hòa hoãn càng giảm, nguy cơ nổ ra chiến tranh toàn cục càng gia tăng. Để giành chủ động trước tình thế chiến tranh không thể tránh khỏi, đêm 19 tháng 12 năm 1946 lực lượng vũ trang cả nước được lệnh nổ súng tiến công địch.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:

“Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có sùng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.


Lời kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông, là mệnh lệnh tiến công thôi thúc, giục giã mọi người dân Việt Nam đứng dậy cứu nước.

Đáp lời kêu gọi của Bác Hồ, chấp hành lệnh lệnh của Khu trưởng, chúng tôi tổ chức cho bộ đội phá cầu Đuống, phối hợp với Hà Nội và các địa phương trong cả nước. Tiếp đó, chúng tôi tổ chức cho bộ đội hạ cây, phá hoại hai con đường số 2 và số 3, ngăn chặn địch tiến lên căn cứ địa Việt Bắc. Việc phá hoại các con đường lúc đó được coi là nhiệm vụ trung tâm của quân và dân ta.


(1) Đầu năm 1946, trong một lần anh Chu Văn Tấn vào Mặt trận Đường 9 – Đông Hà, chúng tôi gặp nhau, anh Tấn có ý xin tôi về Việt Bắc. Anh Chu Văn Tấn là người Tày, tôi họ Chu nên một số người cũng ngỡ tôi là người Tày.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:48:43 PM
Mùa Hè năm 1947, trên quyết định tôi làm Trung đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn 72 và tham gia ủy viên Quân khu ủy. Trung đoàn 72 lúc này gồm 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 43, Tiểu đoàn 49 và Tiểu đoàn 255. Tôi và anh Hoàng Xuân Tùy (chính trị viên trung đoàn) bắt tay ngay vào chấn chỉnh tổ chức, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ, huấn luyện, xây dựng quyết tâm chiến đấu của bộ đội.

Khoảng 8 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1947, chúng tôi đang kiểm tra bộ đội làm nhiệm vụ cắm chông chống địch nhảy dù ở khu vực Bờ Đậu, bỗng nghe tiếng của từng tốp máy bay chiến đấu, máy bay vận tải của địch từ Hà Nội bay về hướng Cao Bằng rồi lại quay về Hà Nội. Sau này, chúng tôi được biết, những người chỉ huy quân đội Pháp ở Pa-ri và Hà Nội đã huy động 2 vạn quân mở cuộc tiến công lớp lên Việt Bắc, nhằm đánh phá căn cứ địa và cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến của ta, bằng hai gọng kìm. Ở phía tây, do binh đoàn Com-muy-nan từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 và sông Lô tiến lên Việt Trì, Phú Thọ, Tuyên Quang. Ở phía đông, do binh đoàn Bô-phrê, xuất phát từ Tân Yên, Đình Lập, theo quốc lộ số 4, hợp quân ở Lạng Sơn, đánh lên Cao Bằng.

Để đánh đòn bất ngờ, diệt cơ quan đầu não của ta và hỗ trợ cho hai cánh quân, ngày 7 tháng 10 năm 1947, địch đã thả 500 quân dù đổ bộ xuống thị xã Bắc Kạn và Chợ Mới. Tiếp đến, ngày 9 tháng 10 năm 1947 chúng ném 300 quân dù xuống chiếm thị xã Cao Bằng. Ngày 12 tháng 10 năm 1947, chúng tả tiếp quân dù xuống Na Sầm, Đông Khê, Chợ Đồn, nhưng quân Pháp đã vấp phải tinh thần chiến đấu của quân và dân ta ở các địa phương nói trên.

Quân Pháp nhảy dù đánh chiếm Bắc Kạn (7-10-1947), Cao Bằng (9-10-1947), rồi nối Cao Bằng với Bắc Kạn, hình thành một gọng kìm ôm lấy căn cứ địa trên hướng đông – bắc, càn xuống phía nam vùng căn cứ chúng nghi là có cơ quan tổng hành dinh của ta.

Trước tình hình trên, anh Chu Văn Tấn cho gọi tôi và anh Hoàng Xuân Tủy về Bộ tư lệnh. Anh nói:

- Địch đã đổ binh đoàn quân dù xuống thị xã Bắc Kạn, Chợ Mới, mở đầu cho cuộc tiến công quy mô lớn hòng đánh úp cơ quan đầu não kháng chiến của ta. Các anh cho bộ đội cơ động theo đường Chợ Chu và Chợ Đồn đứng phía sau thị xã Bắc Kạn, phối hợp với lực lượng địa phương vận dụng các hình thức phục kích tập kích tiêu diệt từng bộ phận của địch, triệt để phá hoại đường sá, cầu cống, triệt đường tiếp tế của chúng, giúp nhân dân làm vườn không, nhà trống triệt để, phối hợp cùng nhân dân phòng gian, trừ gian.

Chúng tôi tổ chức cho trung đoàn hành quân bộ, cả ngày lẫn đêm qua Chợ Chu, vượt Đèo Khế, tới Chợ Đồn.

Đêm 30 tháng 11, chúng tôi sử dụng Đại đội 395, phối hợp với du kích tập kích đồn Phủ Thông, do một đại đội địch chiếm đóng. Bộ đội dùng thang vượt tường xông vào đồn địch dùng lưỡi lê, mã tấu, giáo búp đa đánh địch, diệt hơn 50 tên. Số còn lại tháo chạy. Trong trận này tiểu đội trưởng Chu Văn Vận chiến đấu dũng cảm diệt 9 tên địch, phá hủy 3 ổ hỏa lực, thu 3 súng các loại, được đơn vị suy tôn là chiến sĩ tiêu biểu. Trận đánh thắng chưa phải lớn, nhưng có tác động cổ vũ tinh thần của bộ đội.

Giữa tháng 11 năm 1948, anh Nguyễn Trọng Vĩnh – Chính ủy Quân khu 1, lên Bắc Kạn gặp tôi để cùng nhau bắt liên lạc với Tỉnh ủy Bắc Kạn. Cùng đi với anh Vĩnh có chính trị viên trung đội Nguyễn Hữu An.

Đầu tháng 1 năm 1948, chúng tôi tổ chức Đại đội 77 phối hợp với du kích Ngân Sơn phục kích địch ở Nà Tòng bắn cháy 2 xe quân sự, diệt 10 tên địch. Cuối tháng 1 năm 1948, Trung đoàn 72 tổ chức hàng loạt trận tập kích ở Bành Thạnh, phục kích ở Nà Tàn, tiến công đồn Nà Pặc, Lũng Vài, Lũng Phầy, Khuổi Đăm buộc địch rời khỏi các vị trí trên.

Tháng 2 và tháng 3 năm 1948, Trung đoàn 72 vừa chiến đấu vừa tranh thủ rút kinh nghiệm, vì vậy trình độ chỉ huy cán bộ ngày một khá hơn, tinh thần và khả năng chiến đấu của bộ đội cũng được nâng lên đáng kể.

Tiểu đoàn 55 đã chủ động đánh địch trên trục đường số 3 uy hiếp thị xã Bắc Kạn và Phủ Thông, trong đó có trận tiểu đoàn phối hợp với đơn vị bạn chặn đánh một đoàn xe 64 chiếc của địch từ Cao Bằng về Bắc Kạn từ ki-lô-mét 12 đến ki-lô-mét 15, phía bắc thị xã, diệt 60 tên lính Âu – Phi, phá hủy 3 xe quân sự, thu nhiều vũ khí và quân dụng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:49:33 PM
Mùa Hè năm 1948, trên lại điều tôi lên Cao Bằng làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74. Người thay tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 72 là anh Đoàn Thế Hùng.

Khi tôi về Trung đoàn 74 làm trung đoàn trưởng và Bí thư trung đoàn ủy thì anh Dương Đại Lâm từ trung đoàn trưởng chuyển sang làm trung đoàn phó, anh Lê Quang Ấn làm chính trị viên, bí thư Trung đoàn ủy, chuyển sang làm phó bí thư. Sự thay đổi này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tư tưởng của anh Dương Đại Lâm và Lê Quang Ấn. Song ngay từ đầu nhờ sự chân thành của mỗi người nên đã tạo được không khí thân mật, đoàn kết trong ban chỉ huy. Đây là vấn đề quan trọng, là cơ sở để thống nhất với lãnh đạo tỉnh Cao Bằng.

Bộ đội Cao Bằng trong chiến dịch Thu – Đông năm 1947 đã lập công lớn. Trận địa phòng không của Đại đội 675, đã bắn rơi một máy bay quân Pháp ở cánh đồng Hòa Trung, thị xã Cao Bằng. Chiếc máy bay này có 12 sĩ quan cao cấp trong đó có đại tá Lăm-be – phó tham mưu trưởng quân Pháp ở miền Bắc Đông Dương. Ta thu được toàn bộ bản đồ và kế hoạch tác chiến mùa đông 1947 của địch, giúp Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh phương án đánh địch, góp phần làm thất bại hoàn toàn cuộc tiến công của quân Pháp lên Việt Bắc, diệt và làm bị thương hơn 6.000 tên (có hơn 3.000 tên bỏ xác trên những nẻo đường rừng và những dòng sông) và 270 tên địch ra hàng.

Sau chiến thắng Thu – Đông, Trung đoàn 74 gặp nhiều khó khăn trong huấn luyện và trong nuôi dưỡng, nên đơn vị chỉ hoạt động cầm chừng, nên có dư luận: “Không đánh được địch thì không cho ăn”, tạo không khí nặng nề trong đơn vị. trước tình hình trên, tôi sang tỉnh ủy gặp anh Bùi Bảo Vân – Bí thư Tỉnh ủy, anh Hồng Kỳ - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến cùng một số đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng. Tuy lần đầu tiếp xúc, chúng tôi trao đổi thẳng thắn, chân thành những vấn đề bức xúc của tỉnh mà chúng tôi quan tâm. Về phần Trung đoàn 74, tôi hứa với các đồng chí trong Thường vụ Tỉnh ủy sẽ chăm lo xây dựng củng cố quyết tâm của bộ đội để bộ đội đánh thắng. Các anh lãnh đạo và chính quyền tỉnh Cao Bằng lo kiếm gạo nuôi quân. Từ cuộc họp này, tôi và anh Hồng Kỳ trở thành đội bạn tâm đắc.

Cuối tháng 8 năm 1948, thực hiện chỉ thị của Bộ, đáp ứng yêu cầu của Quân khu Giang Tá (Trung Quốc), Trung đoàn 74 chúng tôi tổ chức thành một cánh quân sang giúp bạn đánh quân Tưởng mở rộng căn cứ địa Hoa Nam. Sau hơn 1 tháng chiến đấu, Trung đoàn 74 đã giải phóng Thủy Khẩu, Long Châu, Hà Thạch, Hà Đống. Trong đợt chiến đấu này, Trung đoàn 74 có 9 chiến sĩ hy sinh, thi thể của anh em được mai táng gần Hạ Lang (Trung Quốc).

Mùa Đông năm 1948, ở Quân khu 1 rộ lên vụ H122, gọi là vụ gián điệp. Một bộ phận cán bộ quân đội bị bắt và tra tấn bừa bãi, do lãnh đạo sử dụng cán bộ phụ trách công việc này cực đoan, cơ hội, lộng quyền. Quân khu ra lệnh cho Trung đoàn 74 Cao Bằng bắt 27 cán bộ ở cơ quan và đơn vị, yêu cầu của trưởng phòng chính trị quân khu là phải bắt ngay và báo về quân khu. Tôi điện cho quân khu đề nghị kiểm tra lại, tỉnh táo đề phòng bắt ẩu tra tấn ẩu gây tổn thất về cán bộ nhưng không được quân khu trả lời.

Trung đoàn ủy chúng tôi họp hai lần, mọi người đều cảm thấy đây là một lệnh kỳ cục, nếu bắt 27 cán bộ như trong danh sách thì trung đoàn sẽ tan nát, nhưng không chấp hành lệnh của trên thì ra sao? Anh Dương Đạt Lâm và anh Lê Quang Ấn, vừa thấy lệnh bắt người không đúng lại vừa lo Quân khu đặt ra vấn đề kỷ luật. Về phần mình, tôi không đồng ý cho bắt cán bộ của đơn vị khi chưa có bằng chứng họ phạm tội, tôi cam đoan trước Trung đoàn ủy sẽ chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau đó tôi đến trao đổi với Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng về vấn đề trên, các anh trong Thường vụ cũng đồng tình với quyết định của tôi.

Mấy tháng sau, Trung ương phát hiện vụ H122 là sai lầm và cử anh Trần Đăng Ninh lên Việt Bắc. Quân khu triệu tập hội nghị, anh Trần Đăng Ninh nghe các đơn vị lần lượt báo cáo số người bị bắt, số đã thả và số còn lại. Anh Trần Đăng Ninh chuyển sang hỏi Trung đoàn 74, tôi báo cáo:

- Trung đoàn 74 đã nhận được danh sách 27 cán bộ trong diện phải bắt ngay. Xét thấy anh em là cán bộ tốt, không có bằng chứng họ phạm tội nên chúng tôi không bắt ai cả, thành ra Trung đoàn 74 cũng không phải thả ai cả.

Mùa Xuân năm 1949, các mạng Trung Quốc đang trên đà phát triển mạnh. Quân đội Tưởng Giới Thạch đang thua to, chúng cố dồn lực lượng xuống bám giữ lấy Hoa Nam nên tình hình ở đây, đặc biệt là khu vực giáp biên giới Trung – Việt gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó một vấn đề cấp bách đặt ra đối với cách mạng Trung Quốc lúc này là phải nhanh chóng phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ở khu vực Hoa Nam để sẵn sàng đón quân giải phóng Trung Quốc tiến xuống giải phóng khu vực này. Tháng 3 năm 1949, Trung Quốc cử đại diện đến Việt Nam gặp Trung ương Đảng ta đề nghị cho một số đơn vị bộ đội Việt Nam cùng lực lượng của bạn mở rộng và củng cố vùng giải phóng Ung Minh, Long Châu, Khâm Châu nối liền với vùng biên giới Đông Bắc của ta.

Thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh đã chỉ thị cho một số đơn vị đi làm nhiệm vụ quốc tế. Theo đề nghị của bạn, ta mở hai hướng, thành hai mặt trận. Mặt trận thứ nhất ở phía tây dãy Thập Vạn Đại Sơn (mười vạn núi lớn) thuộc huyện Long Châu. Mặt trận thứ hai ở phía đông Thập Vạn Đại Sơn, thuộc huyện Ung Châu và Khâm Châu. Hướng tây đánh trước, hướng đông đánh sau.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:50:55 PM
Mặt trận hướng tây do anh Thanh Phong làm chỉ huy trưởng, tôi (Chu Huy Mân) làm chính ủy. Mặt trận phía đông do anh Lê Quảng Ba làm chỉ huy trưởng, anh Trần Minh Giang đại diện Giải phóng quân Trung Quốc – Biên khu Việt Bắc làm chính ủy.

Lực lượng tham gia ở hướng tây gồm có: Tiểu đoàn 73, Trung đoàn 74, Tiểu đoàn 35 (của Bộ), 1 đại đội sơn pháo 75 ly, 1 đại đội trợ chiến, 2 đại đội địa phương các huyện Văn Uyên, Thoát Lãng... Trước khi xuất kích vượt biên giới theo thỏa thuận với Quân khu Tả Giang – Long Châu, chúng tôi cấp cho mỗi cán bộ chiến sĩ một tấm quân hiệu bằng vải màu vàng in chữ Trung Quốc màu đỏ: “Trung Quốc nhân dân giải phóng quân – 35Đ” gài lên ngực áo. Tôi nói với anh em:

- Từ giờ phút này trở đi, chúng ta chiến đấu trên chiến trường Trung Quốc với danh nghĩa Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, các đồng chí phải làm đúng 10 lời thề và 12 điều răn của Bác Hồ.

11 giờ đêm, vào lúc trời mưa, lạnh giá cũng là lúc quân ta bắt đầu vượt biên giới tiến vào đất Trung Quốc bao vây Thủy Khẩu – một căn cứ đối diện với Phục Hòa (Cao Bằng). Sở chỉ huy của chúng tôi đặt trên núi Bát Giác, một nơi có thể quan sát toàn bộ Thủy Khẩu.

Trong lúc các đơn vị chiếm lĩnh đánh địch ở Thủy Khẩu thì chúng tôi cho Đại đội 164 tiến sâu vào lòng địch, chiếm núi Độc Sơn để phối hợp tiến công Thủy Khẩu, đồng thời chặn đường rút của quân Tưởng từ Thủy Khẩu, La Hồi, Hạ Đống chạy về Long Châu.

Sáng hôm sau, mưa tạnh, chúng tôi ra lệnh tiến công Thủy Khẩu bằng những loạt đạn pháo 75 ly. Tiểu đoàn 73 vác cờ đỏ búa liềm tiến sát đồn Thủy Khẩu cùng những tiếng hô vang dội. Quân Tưởng dùng chiến thuật “quân dã ngoại giữ thành” của Nhật để đối phó lại ta. Chúng cho quân ra ngoài, chỉ để một bộ phận trong đồn bắn tỉa. Nhưng quân dã ngoại bị ta bao vây đã không dám nổ súng mà nằm rạp trườn đi từng thước trên mặt đất rồi tháo chạy về Long Châu. Chúng tôi ra lệnh cho bộ đội truy kích.

Sau hai ngày đêm bị quân ta trong đánh, ngoài vây, gọi hàng, toàn bộ quân địch ở Thủy Khẩu bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Trận này quân ta hy sinh mười một cán bộ, chiến sĩ.

Thủy Khẩu được giải phóng, chung tôi tiếp tục tiến đánh La Hồi, diệt và bắt một tiểu đoàn quân Tưởng ở chân núi Độc Sơn. Từ Long Châu, quân Tưởng đưa một tiểu đoàn xuống ứng chiến. Ngày 15 tháng 6 tiểu đoàn này bị bộ đội ta đánh dồn vào các hang đá ven bờ sông Tả Giang gần Hạ Đống. Đến sáng ngày 18 tháng 6 năm 1949, chúng kéo cờ trắng xin hàng. Thừa thắng, chúng tôi cho bộ đội tiến lên thị trấn Long Châu. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân Tưởng tháo chạy và rút luôn các vị trí Thượng Thạch, Hạ Thạch, Ninh Minh.

Thế là cả một dải đất dài trên 30km từ Thủy Khẩu, La Hồi, Hạ Đống đến Long Châu chỉ trong vòng 15 ngày đã sạch bóng quân Tưởng. tại Long Châu, chúng tôi đã giúp cơ quan lãnh đạo địa phương mở rộng ảnh hưởng trong nhân dân, phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang củng cố các khu vực mới giải phóng. Vũ khí, quân cụ thu được của địch khá nhiều, chúng tôi tổ chức bàn giao lại cho chính quyền địa phương. Nhân dân Hạ Đống, Long Châu đốt pháo chào mừng quân giải phóng. Việt kiều ta ở đây mang bánh, hoa, quà gửi tặng cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, họ vui mừng khôn xiết.

Trong cuộc chiến đấu này, cánh quân của chúng tôi đã có 18 cán bộ, chiến sĩ anh dũng hy sinh và mấy chục anh em bị thương vì nghĩa vụ quốc tế cao cả. Những người hy sinh được bạn và ta tổ chức an táng theo nghi lễ quân đội Trung Quốc, lĩnh cữu được phủ lá cờ đỏ búa liềm, có tiêu binh. Nơi an nghỉ của các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam nằm bên bờ sông Tả Giang.

Trên mặt trận phía đông Thập Vạn Đại Sơn, bộ đội Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương Khâu Châu, tiêu diệt hơn một trung đoàn trong số 3 trung đoàn quân Tưởng đóng ở khu vực này. Cánh quân hướng đông còn tiêu diệt và bức rút 10 trong số 12 vị trí của địch. Chiến thắng đã tạo điều kiện cho các khu căn cứ của bạn được nối liền một dải, phạm vi chiếm đóng của địch bị thu hẹp lại.

Sau chiến thắng Việt Bắc, Thu – Đông năm 1947, tình hình trên chiến trường đã có sự chuyển biến mới. Ta càng đánh càng mạnh, tương quan lực lượng giữa ta và địch đã thay đổi có lợi cho ta, từ chủ động chiến dịch ta đã đi đến chủ động chiến lược một bước mạnh bạo hơn. Sự chuyển biến quan trọng ấy đặt ra đòi hỏi tiêu diệt địch, giải phóng đất đai. Để đạt yêu cầu chiến lược ấy, phải có những đơn vị cỡ trung đoàn mạnh, tiến tới các đại đoàn đánh những đòn quyết định.

Lực lượng vũ trang trong cả nước, xây dựng và trưởng thành đặc biệt là trên chiến trường chính Bắc Bộ. Do yêu cầu của nhiệm vụ chiến lược xây dựng các đơn vị chủ lực mạnh đáp ứng với cách đánh vận động chiến, Bộ Tổng chỉ huy đã có điều kiện xây dựng các trung đoàn mạnh và đại đoàn chủ lực của Bộ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:52:25 PM
Ngày 9 tháng 8 năm 1949, địch rút khỏi thị xã và toàn bộ chiến trường tỉnh Bắc Kạn. Rõ ràng, thời cơ thôi thúc.

Theo chỉ thị của Bộ, Đại đoàn 308, Trung đoàn 174, Trung đoàn 209 được thành lập, tiếp sau là Đại đoàn 304. Đây là những đơn vị chủ lực đầu tiên của Bộ có nhiệm vụ đi tiên phong trên con đường vận động chiến.

Trung đoàn 174, quân số gần 4.000 người, hình thành từ các tiểu đoàn khá nhất của Trung đoàn 72 (Bắc Kạn), Trung đoàn 74 (Cao Bằng), Trung đoàn 28 (Lạng Sơn). Khi về đứng trong đội hình Trung đoàn 174; Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 đổi là Tiểu đoàn 255; Tiểu đoàn 73 Trung đoàn 74 đổi là Tiểu đoàn 251; Tiểu đoàn 386 Trung đoàn 28 đổi là Tiểu đoàn 249. Đây là những tiểu đoàn từng lập công lớn kể từ sau ngày toàn quốc kháng chiến. Tiểu đoàn pháo binh thành lập lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 253, biên chế 2 đại đội pháo 75 ly, mỗi đạo đội 2 khẩu, 1 đại đội cối 120 ly, 2 khẩu. Ngoài 4 tiểu đoàn trên, Trung đoàn 174 còn có 6 đại đội trực thuộc (1 đại đội trợ chiến, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội công binh, 1 đại đội cao xạ, 1 đại đội cảnh vệ).

Cơ quan trung đoàn tổ chức thành ban: Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Cung cấp, đều lấy những cán bộ có năng lực của hai trung đoàn 28 và 74.

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 hầu hết là con em các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan... của 3 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn hợp lại, dũng cảm, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, số anh em người Kinh cũng nhanh chóng hòa mình sống và chiến đấu dưới ngọn cờ của trung đoàn

Ban chỉ huy trung đoàn gồm có tôi (Chu Huy Mân) - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74 giữ chức Chính ủy, Bí thư Đảng ủy trung đoàn; anh Đặng Văn Việt - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28 giữ chức Trung đoàn trưởng; anh Đoàn Trần Phong giữ chức Trung đoàn phó.

Sau khi có quyết định thành lập (ngày 19 tháng 8 năm 1949) Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Trung đoàn tổ chức những trận đánh phục kích lớn trên đường số 4 nhằm làm tê liệt, cắt đứt con đường chuyển chiến lược này của địch. Chúng tôi hạ quyết tâm trận đầu ra quân phải thắng. Trong trận đánh này, trung đoàn vẫn chọn khu vực đoạn Bông Lau - Lũng Phầy và khu vực Núi Đá - nơi tháng 4 năm 1949 địch đã bị diệt 53 xe các loại từ Bông Lau đến Lũng Phầy là một đoạn của con đường số 4. Địch biết ta vẫn thường phục kích ở đây, nên thường bắn phá và ném bom dữ dội nhưng chúng vẫn bị đánh đi đánh lại. Ban chỉ huy Trung đoàn xác định vấn đề: trong khi chuẩn bị chiến trường để chiến đấu giành thắng lợi là phải chủ động tìm tòi, sáng tạo và khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, thời gian này đơn vị có nhiều vũ khí tốt, nhiều phái viên của Bộ khi đến trung đoàn phải ngạc nhiên. Vấn đề là ở chỗ trên chiến trường Cao - Bắc - Lạng mấy năm qua cả trung đoàn đã thực hiện tốt khẩu hiệu: lấy súng địch đánh địch. Ngoài ra cả 3 tỉnh cũng quan tâm bồi đắp cho bộ đội.

Quá trưa ngày 3 tháng 9 năm 1949, một đoàn xe 150 chiếc từ từ tiến vào trận địa. Khi cả đoàn xe lọt vào trận địa gần hết, bộ đội được lệnh nổ súng. Chiếc xe đầu chạy thoát, chiếc thứ hai trúng đạn bốc cháy, các xe sau hoảng loạn dồn lên, gây ùn tắc cả đoạn đường. Hỏa lực ta áp đảo địch, tạo điều kiện cho các tổ xung kích từ khe suối xông lên mặt đường tiêu diệt địch. Trận đánh kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ thì kết thúc.

Kết quả, ta phá hủy 53 xe (có 16 xe tăng), diệt hơn 200 lính Âu - Phi, bắt 60 tên, (còn khoảng 300 tên bị thương ta thả ngay tại trận), đốt cháy 500 phuy xăng, thu trên 100 súng các loại và nhiều quân dụng.

Đây là chiến công đầu của Trung đoàn 174. Điều quan trọng là cán bộ chiến sĩ đã thực hiện thắng lợi quyết tâm trước trận đánh, mở đầu truyền thống của Trung đoàn 174 “đã đánh là phải thắng, thắng ngay trận đầu”.

Tiếp đến, ngày 15 tháng 9 năm 1949, trung đoàn tổ chức trận phục kích táo bạo ở Bản Nầm, phá hủy 26 xe, diệt hơn 100 tên địch. Ngày 17 tháng 9 năm 1949, trung đoàn lại tổ chức trận đánh ở đoạn Thất Khê đi Na Sầm diệt 26 xe địch, 1 tiểu đoàn bộ binh hộ tống. Với 3 trận đánh liên tiếp, Trung đoàn 174 đã chặt đứt con đường số 4 đoạn Na Sầm đi Cao Bằng. Từ tháng 12 năm 1949, địch không dám sử dụng đường bộ mà phải dùng máy bay tiếp tế cho đồng bọn ở Cao Bằng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:54:54 PM
Trong thời gian Trung đoàn 174 bám đường số 4, chặn đánh giao thông địch, Đảng ủy trung đoàn chỉ thị cho anh Hoàng Tiêu Sơn - Trưởng ban chính trị Trung đoàn ra tờ báo (đúng ra là một tờ tin nội bộ) lấy tên “Chặt đường số 4”. Tôi còn nhớ một trang báo có đăng mấy vần ca dao chiến sĩ:

Đố ai quét sạch lá rừng
Để ta bảo gió gió đừng rung cây
Đố ai biết được Vệ(1) đây
Bao đêm phục kích bao ngày hành quân

Mấy vần ca dao trên phần nào nói lên tinh thần lạc quan, niềm tự hào của người chiến sĩ trên mặt trận “Chặt đường số 4”, đồng thời nói lên sự phát triển của những đơn vị chủ lực từ Thu - Đông 1948 đến Thu - Đông 1949.

 Trung tuần tháng 12 năm 1949, Trung đoàn 174 vừa về tập kết ở Nước Hai, Cao Bằng, chuẩn bị tổ chức lễ thành lập. Cùng thời gian này có khoảng 20.000 tàn quân Tưởng của quân đoàn Bạch Sùng Hy bị quân giải phóng Trung Quốc tiến công đang tràn qua biên giới vào vùng Hà Quảng. Viên tướng họ Bạch, viết thư ngạo mạn đòi ta cung cấp gạo, thịt cho người, thóc cho ngựa, mở đường cho chúng vào Cao Bằng để nhập vào quân Pháp. Tôi nói với cán bộ lãnh đạo chỉ huy trung đoàn:

- Cái giống này chỉ già đòn non nhẽ, Hãy giáng cho chúng một đòn phủ đầu thật nặng. Địch mười nhưng chúng là tàn quân, bại trận, ta một nhưng là đội quân có tổ chức, bộ đội có tinh thần chiến đấu rất cao. Nhất định chúng ta sẽ thắng.

Tiểu đoàn 249 và Tiểu đoàn 255, một đại đội pháo 75 ly, một đại đội trợ chiến và một đại đội địa phương, bố trí khu vực cửa khẩu Sóc Giang chặt đánh cánh quân đông nhất của địch (10 nghìn tên) thuộc 2 Sư đoàn 19 và 119 của quân đoàn Bạch Sùng Hy.

Tiểu đoàn 251 làm nhiệm vụ đón lõng quân Tường ở Bông Lau - Lũng Phầy chặn không cho chúng xuống Thất Khê.

Cuộc chiến đấu ở Sóc Giang, Hà Quảng diễn ra quyết liệt. Quân Tưởng bị thương vong nặng không thể vượt qua những ngọn núi ở khu vực Na Giàng để thọc xuống Mỏ Sắt. chúng buộc phải bỏ lại lừa, ngựa, quân trang, quân dụng rồi theo đường biên đi về hướng Trà Lĩnh.

Trong trận này, anh Đoàn Trần Phong - Trung đoàn phó khi chỉ huy Tiểu đoàn 249 đã anh dũng hy sinh ở chợ Mỏ Sắt.

Chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn 255 hành quân gấp chiếm đèo Mã Phục, chặn quân Tưởng ở Trà Lĩnh về Cao Bằng, Tiểu đoàn 249 chiếm đèo Canh Phác (Quý Uyên).

Ngày 30 tháng 1 năm 1950, trung đoàn tổ chức một trận lớn, diệt khoảng năm nghìn tên, Số còn lại tháo chạy về bên kia biên giới. Bộ đội ta truy kích và bắt liên lạc được với quân giải phóng Trung Quốc. Ta và bạn phối hợp chiến đấu ở Bình Nghị diệt 1.000 tên, 4.000 tên hạ vũ khí đầu hàng. Trước khi Trung đoàn 174 lui quân, quân giải phóng Trung Quốc tặng tôi một số súng đạn, trong đó có mấy khẩu pháo 75 ly.

Sau trận thắng oanh liệt quân đoàn Bạch Sùng Hy, trung đoàn về Nước Hai - Cao Bằng đón xuân Canh Dần, làm lễ ra mắt ở bản Nà Niêm xã Đức Long, Hòa An, Cao Bằng, có lãnh đạo, nhân dân địa phương cùng dự vui vẻ.

Sau tết bộ đội vào Trùng Khánh “luyện cán, chỉnh quân”, chuẩn bị chiến trường theo nhiệm vụ mới là đánh cứ điểm địch. Quân số trung đoàn thời kỳ này gần 5.000 người, vũ khí được trang bị khá hơn trước. Vũ khí trước đây của trung đoàn nhiều kiểu nhiều loại do lấy được của địch, nay được trang bị thống nhất bằng vũ khí Liên Xô và Trung Quốc. Tiểu đội có trung liên, trung đội có đại liên hạng nhẹ, đại đội trợ chiến của tiểu đoàn có đại liên Mác-xim, cối 81 ly. Trung đoàn có 12 khẩu 12 ly 7 bắn máy bay. Đại đội pháo binh phát triển thành tiểu đoàn mang phiên hiệu 253 được trang bị 6 khẩu 75 ly và rất nhiều đạn.

Từ tháng 2 năm 1950 biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có đoạn khai thông. Đảng, Nhà nước ta có điều kiện tiếp xúc với Trung Quốc, Liên Xô. Các đoàn cán bộ của bạn đến, các đoàn cán bộ của ta ra nước ngoài đều qua biên giới Cao Bằng. Trung đoàn 174 vinh dự được Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ bảo vệ đưa đón các đoàn đến và đi an toàn trong đó có đoạn của đồng chí La Quý Ba với cương vị là Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, đoàn của đồng chí Lê-ô Phi-ghe - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Pháp sang thăm nước ta.


(1) Vệ: Nói tắt của Vệ quốc đoàn, chỉ bộ đội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:55:47 PM
Một sự kiện đáng ghi nhớ nhất đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 là được bảo vệ Bác Hồ đi Trung Quốc và Liên Xô. Khi Bác đi, Tỉnh ủy Cao Bằng đón tiếp, chúng tôi cử một số đại đội của tiểu đoàn 251 và 255 bố trí bảo vệ từ đoạn Quảng Uyên đến Trùng Khánh. Khi Bác đi Liên Xô về, tôi được lệnh cùng anh Hoàng Tiêu Sơn - Trưởng ban chính Trị Trung đoàn đến Pò Peo (Trùng Khánh) sát Trịnh Tây đón Bác. Một đại đội quân giải phóng Trung Quốc đã bảo vệ Bác và đưa Bác vào đất ta ở Trùng Khánh. Đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy Bác. Khó nói hết niềm vui khi được trông thấy Người. Đêm hôm đó Bác nghỉ trong cơ quan huyện ủy do Trung đoàn 174 bảo vệ. Chúng tôi tổ chức lửa trại, liên hoan ca múa cùng với đơn vị quân giải phóng Trung Quốc đến nửa đêm.

Mùa hè năm 1950, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng họp mở rộng thảo luận và đánh giá tình hình đã đi đến một quyết định có tầm quan trọng đặc biệt. Về tình hình thế giới, Hội nghị cho rằng, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ nhân dân công nhận chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa làm cho thế của ta thêm mạnh. Thực dân Pháp ngày càng bị động lúng túng. Trước tình hình đó, ta tranh thủ thời cơ giành một số thắng lợi lớn về quân sự.

Tháng 6 năm 1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch biên giới Với mục đích là: Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch; mở đường giao thông quan trọng với Trung Quốc và thế giới, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Bộ chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tư lệnh là Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy. Các lực lượng tham gia chiến dịch gồm phần lớn là các đơn vị cơ động chiến lược của Bộ: Đại đoàn 308, Trung đoàn 174, Trung đoàn pháo binh 95, Tiểu đoàn 209, Tiểu đoàn 426, Tiểu đoàn 428, Tiểu đoàn 888 và một số đại đội địa phương của hai tỉnh Cao Bằng Lạng Sơn và mười vạn dân công.

Phương án lúc đầu là tiến công địch ở thị xã Cao Bằng, Nhưng sau khi nghiên cứu tình hình thực địa, đồng chí Tổng tư lệnh phát hiện chủ trương tiến công vào thị xã Cao Bằng mở màn chiến dịch theo phương án đã định là chưa chính xác. Ngày 16 tháng 8 năm 1950, Đảng ủy mặt trận họp bàn định lại phương án tác chiến thấy rằng thị xã Cao Bằng nằm giữa hai con sông Bằng và sông Hiên, có thành cổ với nhiều công sự nổi và chìm án ngữ con đường chính vào thị xã, có hệ thống đồn trại, pháo đài phòng ngự kiên cố do hai tiểu đoàn địch đóng giữ nên có nhiều vấn đề chiến thuật bộ đội chưa đáp ứng được. Đối chiếu với những nguyên tắc chỉ đạo tác chiến tiêu diệt sinh lực địch, đánh thắng trận đầu, đánh nhỏ trước đánh lớn sau, vừa đánh vừa học... Hội nghị Đảng ủy mặt trận thấy chủ trương đánh thị xã Cao Bằng trước là không đúng và đề nghị Trung ương đại cho đánh Đông Khê trước. Đề nghị này được Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Bác Hồ đồng ý.

Khi phân tích đánh Đông Khê, Bác nói: ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi định tương đối yếu nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê địch buộc phải cho quân ứng cứu, ta có cơ hội thuận lợi tiêu diệt chúng trong vận động. Quân ứng cứu địch đã tan thì địch khó giữ nổi Cao Bằng, chúng rút khỏi Cao Bằng ta đánh càng thuận lợi.

Thực hiện tư tưởng của Bác, kế hoạch tác chiến chiến dịch Biên Giới chia làm 4 bước: tiêu diệt Đông Khê, đánh quân ứng cứu lên Đông Khê, đánh Thất Khê và đánh Cao Bằng.

Như trên đã nói, Trung đoàn 174 thời kỳ này có khoảng 5.000 quân, trước khi mở chiến dịch Bộ Tổng Tham mưu đặt điều của trung đoàn 2.000 quân và một số vũ khí. Tuy vậy, trung đoàn vẫn sung sức. Bước vào chiến dịch, Trung đoàn 174 được tăng cường Tiểu đoàn 246 và 6 khẩu sơn pháo 75 ly. Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Trung đoàn là đơn vị chủ công đánh vào Đông Khê từ bắc xuống. Trung đoàn 209 đánh Đông Khê từ phía nam lên. Trung đoàn 36 làm lực lượng dự bị và đánh quân nhảy dù.

Đêm 15 tháng 9 năm 1950, Trung đoàn 174 bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa. 5 giờ sáng ngày 16 tháng 9, các đơn vị đã vào vị trí quy định sẵn sàng chờ lệnh.

Đông Khê là cụm cứ điểm bao gồm khu trung tâm (trong đó có Đổn To) nằm trên ngọn đồi nổi lên giữa thị trấn Đông Khê là quan trọng và vững chắc nhất. Vòng ngoài còn có bảy vị trí tiền tiêu.

Ngày 26 tháng 5 năm 1950, Trung đoàn 174 đã đánh công kiên cứ điểm Đông Khê, diệt trên 1 đại đội Âu - Phi, 1 đại hội quân ngụy. Nhưng ngay chiều 26 tháng 5 địch đổ quân chiếm lại Đông Khê, chúng tăng cường củng cố, đào thêm hầm ngầm, giao thông hào, có nắp từng quãng. Vòng ngoài địch xây dựng gần như mới, có thể thống dây thép gai dày đặc, bố trí thêm những hỏa điểm bí mật để sát thương quân ta. Ở phía bắc và đông bắc cứ điểm (Trung đoàn 174 đột phá lần trước) địch cải tạo địa hình thành khoảng trống, khi vận động bộ đội ta phải phơi mình dưới làn đạn địch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:56:51 PM
Mặc dù Trung đoàn 174 đánh Đông Khê lần thứ nhất thắng lợi, được nhiều người khen; một số cán bộ cơ quan tác chiến của Bộ còn sửng sốt, coi 174 đánh thắng Đông Khê như một chuyện lạ ngoài trí tưởng tượng của họ. Nhưng tôi cho rằng, đánh Đông Khê lần thứ nhất là sự ấu trĩ về mưu lược. Ngay khi bàn phương án, thái độ của tôi dứt khoát là không đánh. Vì ta đánh Đông Khê quân Pháp bị bất ngờ, có thể chúng thua trận này, sau đó địch chiếm lại, tăng cường phòng ngự sẽ gây khó khăn cho ta khi vấn đề giải phóng biên giới đặt ra.

Nhân đây tôi nói lại một sự kiện, đầu tháng 8 năm 1995, một số anh em cán bộ Trung đoàn 174 đã nghỉ hưu và tôi đến thăm anh Văn. Trong câu chuyện chúng tôi có nhắc đến trận Đông Khê lần thứ nhất. Trước sau tôi vẫn cho trận đánh đó là sai lầm., Anh Văn cũng cho là sai. Anh hỏi:

-Sao lúc ấy anh Mân không điện về Bộ?

Tôi trả lời:

- Tôi có điện về Bộ và Tổng cục Chính trị nhưng không được trả lời!

Thế là quan điểm về trận Đông Khê lần thứ nhất sau nhiều năm đã được giải quyết.

Trở lại trận Đông Khê trong chiến dịch Biên Giới.

6 giờ sáng ngày 16 tháng 9, pháo binh ta đồng loạt đạn vào cứ điểm Đông Khê. Tiểu đoàn 249 được phân công đánh chiếm các cứ điểm ngoại vi. Tiểu đoàn 251 đánh hướng chủ yếu từ phía bắc xuống.

9 giờ sáng ngày 16 tháng 9, Tiểu đoàn 249 chiếm được cứ điểm Yên Ngựa, 10 giờ sáng làm chủ Phìa Khóa rồi phát triển xuống Khu nhà thương.

Tiểu đoàn 251 mặc dù được pháo binh chi viện như cả ba lần tiến công đều không thành. Tuy là hướng tiến công lần trước nhưng địa hình địch đã cải tạo lại bằng phẳng, trống trải khác trước nhiều, địch lại tập trung hỏa lực các loại vào đó, tiểu đoàn bị thương vong nặng (Hơn 200 cán bộ chiến sĩ). Lần thứ hai trung đoàn tăng thêm lực lượng tiếp tục đột phá, diễn biến đúng như lần thứ nhất, bộ đội tiếp tục bị thương vong gần 200 người mà vẫn không tiến lên được. Ở phía nam, Trung đoàn 209 lúc đầu tiến công thuận lợi nhưng vào sâu đã bị địch chặn lại. Sau một ngày đêm chiến đấu quyết liệt trung đoàn 174 đã chiếm được cứ điểm Yên Ngựa, Phìa Khóa và Cạm Phầy, khép vòng vây quanh Đồn To. Địch tuy bị thiệt hại nhưng chúng lợi dụng hầm ngầm cổ thủ đồng thời tung lực lượng ra phản kích, cố đẩy ta ra ngoài.

Trước tình hình trên, chúng tôi đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch xin chuyển hướng đột phá sang hướng Đông Bắc. Trong lúc chúng tôi đang chấn chỉnh lại bộ đội chuẩn bị cho đợt tiến công mới, thì nhận được điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chuyển chỉ thị của Bác: dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu. Chúng tôi phổ biến nhanh chỉ thị của Bác đến từng chiến sĩ, đồng thời sắp xếp và tổ chức lại lực lượng chuẩn bị cho đợt tiến công mới. Sau này chúng tôi được biết từ mờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1950 Bác Hồ mặc bộ quân phục lên điểm cao quan sát trận đánh. Tại đây Người đã chỉ thị cho chúng tôi đánh cho kỳ thắng trận đấu.

17 giờ ngày 17 tháng 9, các đơn vị đồng loạt tiến công vào trung tâm Đông Khê, trung đoàn tổ chức mở hướng mới, chiếm nhiều vị trí trong thị trấn nhưng khi tiến công lên Đồn To thì vấp phải sự kháng cự quyết liệt của địch, một số cán bộ thương vong. Trong lúc khó khăn, Lý Văn Mưu, quê Cao Bằng đã bò đến từng ngách hầm thu thập các gói thủ pháo gom lại thành khối thuốc nổ hơn chục ki-lô-gam rồi giật nụ xùy từ tuyến xuất phát lao lên. Bị địch bắn bị thương, Mưu vẫn ráng sức áp sát người và khối bộc phá ép vào thành lô cốt. Bộc phá nổ, lô cốt giặc sụp đổ, quân ta ào lên. Trên hướng mở đông bắc, xuất hiện La Văn Cầu, chiến sĩ bộc phá bị trúng đạn nát cánh tay phải. Cầu nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay cho đỡ vướng rồi tiếp tục dùng tay trái ôm khối thuốc nổ lao lên dập tắt hỏa điểm địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị đánh vào Đồn To.

Trận đánh then chốt Đông Khê kéo dài đến 1 giờ sáng ngày 18 tháng 9 năm 1950 kết thúc thắng lợi. Ta diệt và bắt sống trên 500 tên, bắn rơi 1 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:57:55 PM
Đông Khê mất, tuyến chiến lược đường số 4 của địch bị cắt đứt. Trước tình hình trên, Bác dự kiến có thể địch sẽ chiếm lại Đông Khê để giữ Cao Bằng hoặc phải đánh lên để đón quân Cao Bằng rút về. Người còn cho rằng đây là thời cơ nhử thú dữ vào tròng để “khép chặt lưới thép” tiêu diệt chủng.

Đúng như dự kiến của Bác, sau thất bại Đông Khê, bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định rút quân khỏi Cao Bằng. Mặt khác chúng vét hết lực lượng dự bị chiến lược ở Bắc Bộ mở cuộc hành quân lên Thái Nguyên hòng kéo chủ lực ta về giao chiến vào đây để đỡ đòn cho mặt trận biên giới.

Về ta, thực hiện chỉ đạo của Bác Hồ, Bộ chỉ huy chiến dịch xác định kiên trì tập trung lực lượng ở hướng chính là biên giới, tiêu diệt cả hai binh đoàn địch, tập trung lực lượng tiêu diệt binh đoàn Lơ Pa-giơ trước, sau đó diệp binh đoàn Sác-tông, Lực lượng địch ở biên giới bị tiêu diệt ắt chúng sẽ phải rút khỏi Thái Nguyên.

Sau chiến thắng Đông Khê, trung đoàn 174 nhanh chóng ổn định tổ chức và cơ động xuống nam Thất Khê trú quân ở Khuổi Lích, Bản Bẻ, Đèo Khách sẵn sàng diệt những đồn quanh Thất Khê và ngăn chặn viện binh từ Na Sầm lên.

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 10 năm 1950, chớp thời cơ quân địch chuẩn bị rút chạy, tiểu đoàn 255 diệt đồn Na Leng, Tiểu đoàn 249 diệt đồn ở Đèo Khách, Tiểu đoàn 251 diệt Na Cam. Ngày 4 tháng 10, chúng tôi nhận lệnh của Bộ: địch đã rút khỏi Cao Bằng, Trung đoàn 174 hành quân gấp về Thất Khê.

Sáng ngày 3 tháng 10 năm 1950, binh đoàn Sác-tông rút khỏi thị xã Cao Bằng. Ở hướng chính các trung đoàn 36, 88, 209 chỉ còn một phần ba quân số, còn đại bộ phận phải đi vác gạo nên không đơn vị nào còn nguyên quân số xuất kích. Hơn nữa phần lớn cán bộ lại đi nghiên cứu Thất Khê. Tuy vậy, khi có lệnh các đơn vị đã dồn quân số xuất kích tiến công địch ở dãy điểm cao Nà Mục, Chốc Ngà, Khâu Áng và Khâu Luông. Trận đánh kéo dài suốt ngày 3 và 4 tháng 10. Địch tổn thất nặng buộc chúng phải dạt sang phía tây đường số 4 với ý định tiến dần lên dãy núi Cốc Xá đón quân Sác-tông ở Cao Bằng về. Dãy núi đá vôi Cốc Xá cách Đông Khê 7km về phía tây nam, khu vực này có những điểm cao 477, 760, 765, 649, địch lợi dụng địa hình hiểm trở ở đây để bố trí phòng ngự.

Ngày 5 tháng 10, 4 tiểu đoàn của Đại đoàn 308 và Trung đoàn 209 cùng tiến quân đến khu vực Cốc Xá hình thành thế bao vây, tất cả đã sẵn sàng đợt tiến công quyết định.

Ngày 7 tháng 10, ta bắt đầu nổ súng tiến công, quân địch hoảng loạn tháo chạy, bộ đội ta bám sát vừa đánh vừa gọi hàng. Chiều 8 tháng 10, quân ta bắt được Lơ Pa-giơ tại Nà Kéo (cách Cốc Xa 4km), tàn quân của binh đoàn Lơ Pa-gơ dồn lại trên một mảnh đất dài khoảng 1km sát điểm cao 477, trên các mỏm cao toàn là cỏ tranh. 7 giờ sáng ngày 7 tháng 10 các chiến sĩ Đại đoàn 308 mở đợt tiến công binh đoàn Sác-tông, đến 17 giờ ngày 7 tháng 10 năm 1950, trận đánh kết thúc. Sác-tông bị bắt làm tù binh. Chiến thắng của quân ta ở điểm cao 477 đưa chiến dịch tới toàn thắng.

Trung đoàn 174 chúng tôi được giao nhiệm vụ bố trí dọc bờ sông Bắc Khê, đón lõng bắt tù binh. Mẻ lưới thu được kết quả khá, cơ quan trung đoàn bộ cũng bắt và gọi hàng nhiều tù binh.

Ngày 10 tháng 10 năm 1950, trung đoàn 174 vào đến Thất Khê thì định đã bỏ thị trấn, để lại rất nhiều xe pháo ở bờ bắc sông Kỳ Cùng. Ba ngày sau trung đoàn giao Thất Khê cho huyện Tràng Định. Trung đoàn vừa truy bắt tù binh vừa tiến về phía Na Sầm. Quân địch ở Na Sầm phát hiện lực lượng ta đông, chúng vội vàng rút chạy.

Ngày 17 tháng 10, quân Pháp rút khỏi Đồng Đăng, rạng sáng ngày 18 tháng 10 chúng rút khỏi thị xã Lạng Sơn. Địch chạy vội vã bỏ lại nguyên hai pháo đài Đèo Giằng và Văn Võ với kho tàng đầy ắp súng đạn, quân trang, quân dụng đủ trang bị cho vài trung đoàn bộ binh.

Chiến dịch Biên Giới, chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của ta kết thúc thắng lợi. Ta diệt và bắt 8.000 tên (bắt 3500 tên), diệt 5 tiểu đoàn (có 5 tiểu đoàn ứng chiến), chiếm một nửa lực lượng cơ động chiến lược của quân Pháp ở Bắc Đông Dương. Ta giải phóng 5 thị xã, 13 thị trấn và một dải biên giới 750km, căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Tám, 2018, 10:58:52 PM
Trung đoàn 174 chúng tôi đóng quân gần thị xã Lạng Sơn ít ngày, tôi nhận điện của Tiền phương Bộ Tổng gọi về nhận nhiệm vụ. Thời gian này cơ quan Tiền phương Bộ đóng ở Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Đến cơ quan, một sĩ quan tham mưu dẫn tôi vào nơi làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chúng tôi quen gọi là anh Văn). Anh Văn ân cần tiếp tôi, hỏi thăm sức khỏe, tình hình đơn vị, tình hình về nơi đóng quân. tôi báo cáo tóm tắt một số nét anh Văn yêu cầu. nghe xong, anh Văn nói:

- Tôi và anh sẽ gặp Bác.

Nghe anh Văn nói đi gặp Bác, tôi như không tin ở tai mình. Mong ước của tôi từ miền Trung ra Việt Bắc được gần Trung ương, có dịp bặp Bác Hồ bây giờ đã thành sự thật. Lần đón và tiễn bác đi Trung Quốc, Liên Xô tôi chỉ đứng xa nhìn Người, còn hôm nay, thì vài phút nữa thôi tôi sẽ được nắm bàn tay Bác, được nghe Người dạy bảo. Trong lòng tôi lúc đó vừa háo hức vừa lo lo.

Anh Văn đi trước, những bước chân nhanh nhẹn, dứt khoát. Tôi đi sau, vừa đi vừa nghĩ khi gặp Bác câu đầu tiên sẽ nói gì. Gần chục phút sau, chúng tôi đã đến nơi Bác ở, là một chiếc lán đơn sơ, nhưng gọn gàng sạch sẽ. Tôi chào Bác và chúc sức khỏe Người rồi cầm bàn tay ấm của Bác thật lâu. Anh Văn giới thiệu tôi với Bác. Bác cười đôn hậu, rồi nói:

- Chú là Tự vệ đỏ năm 1930, vác gậy tre hóa, đánh Tây ở nhà thờ Bản Thổ phải không?

- Dạ thưa Bác, hồi đó còn nhỏ, thấy thằng Tây nó ác quá, chúng cháu muốn góp sức đánh đuổi nó.

Đợi tôi nói xong, Bác chỉ một chiếc ghế bảo ngồi xuống.

Bằng chất giọng xứ Nghệ trầm, ấm, Bác nói như giảng giải với toi:

- Trung đoàn 174 của chú vừa lập công lớn trong trận Đông Khê, chuyển lời Bác khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trung đoàn. Bây giờ Bác nói về nhiệm vụ tới của đơn vị chú.

Tôi nhanh chóng lấy sổ tay ghi những lời Bác dặn:

- Bộ đội và nhân dân ta vừa thắng lợi lớn về quân sự, ta giải phóng cả dải biên giới, giải phóng rồi ta phải thắng lợi về chính trị. Đơn vị chú có nhiệm vụ tiếp quản thị xã Lạng Sơn, cùng với lãnh đạo, chính quyền địa phương làm tốt những công tác vùng mới giải phóng. Trước hết, bảo đảm an ninh, an toàn trật tự để cho đồng bào làm ăn, sinh sống tiếp tục góp sức đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, bảo vệ các công sở, kho tàng rồi giao cho chính quyền địa phương quản lý. Những thứ đã thu được sẽ góp phần tiếp tục kháng chiến.

Ngừng một lát, Bác nhìn tôi với cặp mắt đầm ấm rồi nói tiếp:

- Các chú phải giáo dục bộ đội cùng với cán bộ địa phương làm tốt công tác tuyên truyền chiến thắng, tuyên truyền và giải thích chính sách của Đảng và Chính phủ để đồng bào tin tưởng, đoàn kết một lòng, sản xuất chiến đấu, học hành. Những người bị địch ép buộc làm việc hoặc đi lính cho chúng tin ở chính sách khoan hồng của ta, ở lại với gia đình, làng xóm, làm ăn, lập công mới.

Trong khi làm nhiệm vụ trên, bộ đội phải thực thà, tôn trọng giúp đỡ dân, đoàn kết quân dân, đoàn kết dân tộc, làm cho vùng mới giải phóng thật vui vẻ. Bộ đội phải giữ nghiêm kỷ luật, giúp đỡ Đảng bộ chính quyền địa phương làm những việc cần thiết.

Nói xong, Bác quay sang tôi:

- Chú còn hỏi gì không?

- Thưa Bác, cháu hứa sẽ làm đúng những điều Bác dặn.

Ngay chiều hôm ấy, tôi gấp rút trở về đơn vị tổ chức bộ đội tiếp quản thị xã Lạng Sơn. Công việc đầu tiên là phổ biến những quy định khi nào tiếp quản thị xã.

Thị xã Lạng Sơn và thành phố Hải Phòng là hai nơi quân Pháp chiếm đóng đầu tiên ở miền Bắc nước ta. Thị xã này có nhiều ngôi nhà kiểu Pháp. Trung đoàn đến đâu cũng được nhân dân hồ hởi đón chào. Chợ Lỳ Lừa lại họp khá đông. Công việc đầu tiên chúng tôi phải làm là vận chuyển chiến lợi phẩm ra ngoài thị xã đề phòng địch oanh tạc phá hoại. Theo tài liệu chúng tôi nắm được thì địch để lại Lạng Sơn 1.500 tấn trang bị, 4.000 khẩu tiểu liên, 2.000 tấn quân nhu, 150 tấn thuốc, đặc biệt là 10 nghìn quả đạn pháo (lúc đó đạn pháo ta rất thiếu, Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho ta cũng không nhiều), số đạn pháo này rất quý.

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 vừa làm nhiệm vụ canh giữ, vừa bốc dỡ lên xe. Xe ô tô vận tải của ta liên tục quay vòng cả ngày lẫn đêm chuyển số chiến lợi phẩm lên đưa vào động Tam Thanh bàn giao cho cán bộ hậu cần và cho chính quyền tỉnh Lạng Sơn.

Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã thực hiện tốt lời Bác Hồ căn dặn trước khi vào tiếp quản thị xã Lạng Sơn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:10:45 PM
*
*   *

Mùa xuân năm 1951, sau cuộc đi thăm và làm việc với Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc trở về, Bác bàn với Trung ương, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi, Đã đến lúc Đảng ra hoạt động công khai, lãnh đạo toàn dân đẩy mạnh kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau một thời gian họp trù bị, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II khai mạc ngày 11 (từc mùng 6 tết Tân Mão) và kết thúc vào ngày 19 tháng 2 năm 1951, tại xã Quảng Vinh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang với sự tham gia của 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Tôi được trên chỉ định là đại biểu chính thức của Đoàn đại biểu quân đội. Buổi chiều hôm trước, tôi về đến địa điểm đại hội, sáng hôm sau đang tập thể dục thì bất ngờ Bác đi tới. tôi chúc Bác sức khỏe. Bác vui vẻ nói ngay: Sáng nay sau khi ăn cơm, chú Mân cùng với một số chú khác trong đoàn đại biểu quân đội tới hội trường xin phép đại hội cho về chuẩn bị chiến đấu. Đúng như vậy, anh Bùi Quang Tạo, tôi và một vài đồng chí khác đến hội trường rồi gần nhau. Trước giờ khai mạc Bác nói: có mấy chú đại biểu quân đội xin phép đại hội về chuẩn bị chiến đấu. Cả hội trường vỗ tay, cũng là cho phép. Anh Bùi Quang Tạo cảm ơn các đồng chí đại biểu, chúc sức khỏe mọi người, chúc sức khỏe Bác Hồ, chúc đại hội thành công rực rỡ. Chúng tôi ra khỏi cổng trường với cả lòng tin và phấn khởi.

 Sau đại hội, tôi được các đồng chí cơ quan Trung ương phổ biến và tôi còn nhớ, tham dự Đại hội còn có đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Thái Lan. Sau lời khai mạc của Bác Tôn Đức Thắng, Bác Hồ đọc báo cáo chính trị. Người điểm lại quá trình hoạt động của đảng ta từ khi thành lập và khẳng định đường lối của Đảng là đúng, cán bộ đảng viên ta tận tụy, hy sinh đi sát lãnh đạo quần chúng, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ chính, nhiệm vụ cấp bách của Đảng trong thời kỳ mới là: tập trung sức đẩy mạnh kháng chiến đánh bại thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, Đảng phải đề ra và thực hiện những chính sách và biện pháp nhằm hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Đông Dương phải ra hoạt động công khai và tổ chức ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, một đảng cách mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi hoàn toàn. Ở Việt Nam Bác đề nghị lấy tên Đảng Lao động Việt Nam - Đảng Lao động Việt Nam phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Tiếp đó, đồng chí Trường Chinh đọc báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam”, trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm của hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng nước ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới. đồng chí đã trình bày trước đại hội toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, phân tích đúng đắn tính chất xã hội, đối tượng cách mạng, động lực cách mạng, vai trò lãnh đạo cách mạng… Báo cáo cũng nêu rõ kẻ thù cụ thể trước mắt của cách mạng Việt Nam là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ cùng bọn bù nhìn tay sai của chúng. Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế quốc xâm lược, đánh đổ các thế lực phong kiến tay sai của đế quốc, giành độc lập dân tộc, thực hiện dân chủ nhân dân, làm cho người cày có ruộng, rồi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa...

Trong báo cáo về cách mạng Việt Nam đồng chí Trường Chinh đã trình bày 12 chính sách của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là: Đẩy mạnh kháng chiến đến toàn thắng; Tiêu diệt đế quốc xâm lược và bè lũ tay sai; Thi hành từng bước chính sách ruộng đất; tiến tới thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng, xóa bỏ các hình thức bóc lột phong kiến và nửa phong kiến; Xây dựng củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân về chính trị, kinh tế và văn hóa chuẩn bị tiến lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa; Củng cố mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc xâm lược; Xây dựng và phát triển quân đội nhân dân; Chính sách dân tộc, Chính sách tôn giáo; Chính sách đối với vùng bị địch chiếm; Chính sách đối với ngoại kiều; Chính sách đối ngoại: Ra sức ủng hộ cách mạng Lào và Cam-pu-chia; Góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và độc lập dân tộc của nhân dân thế giới.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc báo cáo quân sự, phân tích sâu sắc tình hình quân sự và âm mưu chiến lược cụ thể của địch quy mô phát triển chiến tranh xâm lược thực dân. Đồng thời nêu rõ tình hình của ta, sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang nhân dân, phương châm chỉ đạo chiến lược, phương châm chỉ đạo tác chiến cùng chủ trương xây dựng quân đội…

Chúng tôi tâm đắc với bản báo cáo quân sự do đồng chí Võ Nguyên Giáp trình bày đã đúc kết những bài học kinh nghiệm bằng xương máu của quân đội ta trong 5 năm chiến đấu vừa qua, nhất là những kinh nghiệm của 2 chiến dịch lớn Biên Giới và Trung Du.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:12:35 PM
Đại hội đã thảo luận sôi nổi, hào hứng trong 9 ngày và khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là cuộc chiến tranh nhân dân. Đặc điểm của nó là toàn dân, toàn diện và trường kỳ gian khổ nhưng cuối cùng nhất định thắng lợi. Cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp với cách mạng Lào và Miên nên phải tích cực giúp đỡ Miên - Lào phát triển du kích chiến tranh, xây dựng lực lượng, xây dựng căn cứ địa. để đưa kháng chiến đến thắng lợi phải nắm vững phương châm chiến lược của chiến tranh nhân dân là: Các mặt công tác chính trị, kinh tế, văn hóa đều nhằm mục đích làm cho quân sự thắng lợi. đồng thời đấu tranh quân sự phải phối hợp với đấu tranh chính trị, kinh tế… Phối hợp đánh trước mặt địch với đánh du kích và đánh sau lưng. Về phương châm tác chiến: lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ; nhưng phải đẩy mạnh hoạt động chiến tiến lên để vận động chiến trở thành chủ yếu. Mặt khác phải nắm vững nguyên tắc tiêu diệt chiến để bồi dưỡng lực lượng ta.

Bác Hồ phát biểu trước đại hội, Người nói:

- Lúc đầu kháng chiến, quân đội ta là quân đội thơ ấu. tinh thần dũng cảm có thừa, nhưng thiếu vũ khí, thiếu kinh nghiệm, thiếu cán bộ, thiếu mọi mặt... Quân đội địch là một đội quân nổi tiếng trong thế giới. Chúng có hải quân, lục quân, không quân. Chúng lại có đế quốc Anh - Mỹ giúp, nhất là Mỹ... lực lượng của ta và địch so le nhiều như thế, cho nên lúc đó, có người cho rằng cuộc kháng chiến của ta là “châu chấu đá voi”. Nhưng Đảng ta theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chúng ta không chỉ nhìn vào hiện tại, mà nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc. Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lưng chừng và bi quan kia rằng:

Nay tuy châu chấu đá voi
Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra

Sau Đại hội lần thứ II của Đảng, để đáp ứng đòi hỏi nhiệm vụ giai đoạn mới cần phải có một khối chủ lực mạnh trên chiến trường Bắc Bộ. Một trong những đại đoàn chủ lực đó là Đại đoàn 316, được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951, tại làng Cốc Lùng, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, với nòng cốt là Trung đoàn 174 trực thuộc Bộ, cùng Trung đoàn 98 của mặt trận Đông Bắc. Ít lâu sau, Trung đoàn 176 và một số đơn vị trực thuộc đưa quân số đại đoàn lên hơn 9.000 người hầu hết là con em của đồng bào Cao, Bắc, Lạng đã từng chiến đấu lập công cũng về đội hình đại đoàn. Lễ thành lập tổ chức gọn nhẹ, khẩn trương. Anh Lê Quảng Ba - Đại đoàn trưởng, tôi (Chu Huy Mân) - Phó chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy đại đoàn. cơ quan đại đoàn khi mới thành lập chỉ có một số ban và tổ. Ít lâu sau, Bộ điều động cán bộ của các quân khu Việt Bắc, Tây Bắc về kiện toàn cơ quan đại đoàn. Anh Nguyễn Kiệm làm Chủ nhiệm chính trị, anh Phạm Đức Hòa làm Tham mưu trưởng, anh Đan Thành làm Chủ nhiệm cung cấp.

Đến lúc này, Quân đội ta đã có những đại đoàn: 308, 304, 312, 320, 325, 351. Cùng với các đại đoàn khác, sự ra đời của Đại đoàn 316 đánh dấu một bước trưởng thành, lớn mạnh, vững chắc của quân đội ta, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến.

Đảng ủy đại đoàn khi mới thành lập cũng có: tôi (Chu Huy Mân) - Bí thư Đảng ủy, anh Lê Quảng Ba, anh Trần Huy, anh Lê Quang Ấn(1), anh Hà Nhân Nghĩa(2). Cuối tháng 5 năm 1951, Đảng ủy đại đoàn 316 họp phiên đầu tiên, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, đồng thời đánh giá một cách toàn diện tình hình của đại đoàn, qua đó ra nghị quyết xây dựng đại đoàn đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Chúng tôi xác định Trung đoàn 174 là đơn vị chủ công của đại đoàn. Trung đoàn này phải đánh được những vị trí kiên cố cỡ đại đội của địch, Đồng thời tiêu diệt từng tiểu đoàn địch khi đánh vận động ở địa hình rừng núi và đồng bằng. Trung đoàn 98, đánh tốt quân địch trong công sự vững chắc cỡ đại đội, đánh vận động diệt từng đại đội đến tiểu đoàn địch ở địa hình rừng núi và đồng bằng. Đại đoàn tập trung xây dựng Trung đoàn 176 có thể đảm nhiệm được các nhiệm vụ chiến đấu độc lập với quy mô từng đại đội, tiểu đoàn tiến lên đánh tập trung lớn. Đối với các đơn vị binh chủng kỹ thuật, chúng tôi đặt ra chỉ tiêu yêu cầu huấn luyện là có thể đánh hiệp đồng với bộ binh trong đội hình đại đoàn và trung đoàn. Các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp đại đoàn và trung đoàn tổ chức kiện toàn nhanh chóng, xây dựng chức trách, chế độ, nền nếp công tác, trình độ nghiệp vụ, chuyên môn đáp ứng yêu cầu tác chiến đánh tập trung. Để đại đoàn vươn tới một sự biến đổi về chất như vậy, lãnh đạo chỉ huy phải giải quyết nhiều vấn đề cả về tổ chức và tư tưởng, cả về chiến hoặc và kỹ thuật cũng như công tác cung cấp.

Tôi và anh Lê Quảng Ba phân công nhau cùng cơ quan lần lượt xuống từng trung đoàn, tiểu đoàn trực thuộc để kiểm tra xem xét tình hình cụ thể. Thực tiễn đã cho chúng tôi một cái nhìn mới. Ví như có những vấn đề mới xem tưởng như đơn giản, nhưng nghiên cứu kỹ nó lại bao hàm những nội dung rất cơ bản. Ngược lại, có những việc khó khăn phức tạp, nhưng bình tĩnh khôn khéo vận động quần chúng, phát huy trí tuệ tập thể tìm cách giải quyết thì mọi việc xem ra lại đơn giản, nhẹ nhàng. Hàng loạt công việc dồn dập, đòi hỏi những người lãnh đạo, chỉ huy chúng tôi phải xác định được những vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định cho việc xây dựng đơn vị.


(1) Anh Lê Quang Ấn – Chính ủy Trung đoàn 98 hy sinh tháng 4-1952 trong cuộc chống càn ở Bắc Ninh.
(2) Anh Hà Nhân Nghĩa – Chính ủy Trung đoàn 176 hy sinh tháng 12 năm 1952 trong chiến dịch Tây Bắc.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:13:33 PM
Trước hết chúng tôi tập trung củng cố hệ thống tổ chức đảng trong đại đoàn, đầu tiên là chi bộ và giải quyết vấn đề sắp xếp cán bộ, đồng thời gấp rút tổ chức việc huấn luyện quân sự, chính trị cho bộ đội theo phương hướng đánh tập trung có hiệp đồng binh chủng. qua huấn luyện mà rèn luyện kỹ thuật và tác phong chiến đấu cho bộ đội.

Sau thất bại nặng nề tại biên giới, thực dân Pháp thấy rõ không thể của mình theo đuổi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Mặc dù giữa Pháp và Mỹ có mâu thuẫn nhưng Pháp vẫn buộc phải câu kết với Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh. về phía Mỹ, cũng muốn chiếm Đông Dương làm thuộc địa kiểu mới và phòng tuyến chống cộng, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á. vì thế, một mặt Mỹ giúp Pháp, mặt khác tìm cách hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương. Được Mỹ giúp sức, Pháp chủ trương thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng tập trung lực lượng phòng ngự và bình định đồng bằng Bắc Bộ, hòng đầy lực lượng cách mạng ra khỏi khu vực đông người nhiều của nhất Đông Dương này, đồng thời tạo điều kiện phản công giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường.

Trung tuần tháng 12 năm 1950, chính phủ Pa-ri cử viên tướng già năm sao Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi sang Việt Nam làm tổng chỉ huy kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương để điều hành chiến tranh với hy vọng làm thay đổi cục diện chiến trường.

Việc làm đầu tiên của Đờ Lát là tập trung quân tinh nhuệ thành lập các binh đoàn cơ động mạnh và một số tiểu đoàn dù để đối phó với chủ lực ta, đồng thời ông ta cho xây dựng phòng tuyến boong-ke, thiết lập “vành đai trắng” bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ để ngăn chặn nhân lực và vật lực tiếp tế của ta, không cho ta có khả năng tổ chức đánh lớn. Đờ Lát còn tiến hành “chiến tranh tổng lực”, bình định vùng đã chiếm và đánh phá vùng du kích, huy động sức người, sức của; lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, chuẩn bị phản công kết hợp đánh phá hậu phương của ta bằng biệt kích, gián điệp, không quân, chiến tranh tâm lý, bao vây và phá hoại kinh tế. Đặc biệt Đờ Lát rất chú trọng xây dựng các binh đoàn cơ động, gọi tắt là GM. Chỉ trong vòng tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đã xây dựng năm binh đoàn, kể cả hai binh đoàn trước đó, ông ta đã có trong tay 7 tỉnh đoàn cơ động.

Tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, địch ra sức củng cố hành lang phòng thủ chạy dài từ Lục Nam theo đường số 13 qua thị xã Bắc Giang nối liền với dòng sông Cầu sang Tiên Du, Phù Lỗ. Địch còn cho quân triệt phá các làng mạc, lập thành “vành đai trắng” với chiều rộng từ 5 đến 10km, buộc nhân dân phải vào sống trong vùng kiểm soát của chúng. Mặt khác địch còn ra sức bắt lính để bổ sung quân số, chấn chỉnh các tổ chức quân để đàn áp nhân dân.

Đứng trước những hoạt động ráo riết của địch, cuối tháng 8 năm 1951, Bộ Tổng tư lệnh điều Đại đoàn 316 từ Thoát Lãng, Văn Uyên, Lộc Bình (Lạng Sơn) về đứng chân ở Hữu Lũng, Phồng, Kép (Bắc Giang). Đây là cuộc chuyển quân lớn đầu tiên của đại đoàn về hướng đồng bằng. Chúng tôi chỉ đạo cho các trung đoàn làm tốt công tác tư tưởng, nhất là đối với anh em người dân tộc lần đầu xa quê hương.

Đến thăm và kiểm tra Trung đoàn 98, với tấm bản đồ Việt Nam còn dày đặc ký hiệu đồn bốt giặc, tôi giới thiệu tình hình nhiệm vụ của đại đoàn, qua đó giáo dục nâng cao trách nhiệm của cán bộ chiến sĩ với Tổ quốc, với nhân dân, gắn tình yêu quê hương với tình yêu đất nước.

Ngày 10 tháng 9 năm 1951, chúng tôi sử dụng Trung đoàn 98 được tăng cường Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) có nhiệm vụ đi trước phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, phá kế hoạch củng cố vành đai trắng của địch ở Thái Đào, Thạch Rã, cầu Lồ, Dĩnh Kế.

Ngày 8 tháng 10 năm 1951, tôi và anh Lê Quảng Ba thống nhất lệnh cho Trung đoàn 98 dùng 2 đại đội của Tiểu đoàn 251 đánh 2 tháp canh Quất Lâm và Đại Giáp do lực lượng Âu - Phi chiếm giữ. Hai tháp canh này tuy là mục tiêu nhỏ, nhưng địch xây bằng xi măng cốt thép vững chắc, nằm ngay trên mặt đường quốc lộ, giữa đồng chiêm ngập nước, lại được bảo vệ bằng nhiều lớp rào kẽm gai và mìn. Nếu đánh thắng hai tháp canh này tức là ta đánh vào chỗ dựa chính của lực lượng địch chiếm đóng trên tuyến đường 13, mở một cửa ngõ vào vùng sau lưng địch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:14:03 PM
Ý nghĩa trận đánh quan trọng là vậy, nhưng khi thực hành bộ đội ta không nắm hết những đặc điểm trên, lại không được huấn luyện cách đánh tháp canh địch, nên trận đánh không thành, một số cán bộ, chiến sĩ thương vong.

Ngay sau trận đánh, chúng tôi chỉ thị cho Trung đoàn 98 đưa Tiểu đoàn 215 về phía sau tổ chức rút kinh nghiệm, nghiên cứu học tập lại cách đánh. Tiểu đoàn đã xây dựng một tháp canh bằng gỗ đất trên địa hình gần giống như tháp canh của địch. Bộ đội khẩn trương luyện tập ngày đêm. Sau mỗi buổi tập anh em lại liên hệ rút kinh nghiệm bổ sung cho lần tập sau.

Sau khi nghe chỉ huy Trung đoàn 98 báo cáo tiểu đoàn 215 đã hoàn thành phương án tác chiến, bộ đội luyện tập thành thục, tôi bàn với anh Lê Quảng Ba cho tiểu đoàn 215 đánh lại vị trí Quất Lâm. Trận đánh diễn ra chưa đầy 20 phút, toàn bộ lực lượng Âu - Phi bị tiêu diệt. Tiểu đoàn 215 còn phá sập cầu sắt Quất Lâm cắt đứt đường số 13. Sau đó anh em rút về căn cứ an toàn, không một ai bị thương vong.

Trận Quất Lâm diễn ra trong thời gian ngắn, lực lượng địch bị tiêu diệt không nhiều, nhưng đã làm rung chuyển quân địch trên toàn tuyến phòng thủ được cho là bất khả xâm phạm. Lãnh đạo chỉ huy đại đoàn chúng tôi có thêm kinh nghiệm trong công tác tổ chức chỉ huy đánh địch có công sự vững chắc.

Những ngày tiếp sau, Trung đoàn 98 và Tiểu đoàn 215 đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang đánh tan nhiều cuộc càn quét của địch; đồng thời giúp địa phương khôi phục lại phong trào kháng chiến, bộ quân địch phải co lại cho các vị trí phòng thủ của chúng.

Sau gần một năm ra sức củng cố thế phòng ngự, tiến hành bình định và tăng cường lực lượng, cuối năm 1951, Tát-xi-nhi đã có trong tay gần 130 nghìn lính Âu - Phi tổ chức thành 88 tiểu đoàn, 210 nghìn lính bản xứ tổ chức thành 72 tiểu đoàn, trong đó có 27 tiểu đoàn nằm trong biên chế quân viễn chinh Pháp và 45 tiểu đoàn trong quân đội chính quyền tay sai. Đờ Lát tổ chức 7 binh đoàn cơ động và 9 tiểu đoàn dù, tăng quân số cơ động từ 6% lên 18% so với toàn bộ binh lực của Pháp ở Đông Dương. Hỏa lực và phương tiện cơ động của quân đội Pháp cũng được tăng đáng kể, gồm 18 tiểu đoàn pháo binh 105 ly và 155 ly, 7 chi đoàn thiết giáp, 7 tiểu đoàn công binh, 5 tiểu đoàn xe vận tải. Với viện trợ được Mỹ tăng cường và lực lượng được xây dựng mạnh hơn trước, đặc biệt là quân cơ động, những người chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng đã đến lúc họ phải giành lại quyền chủ động chiến lược. Mục tiêu tiến công của quân Pháp trước hết là Chợ Bến, tiếp sau là Hòa Bình. Việc quân Pháp mở cuộc tiến công Hòa Bình không nằm ngoài dự kiến của Bác Hồ và Trung ương Đảng ta. Đây là cơ hội rất tốt để ta có điều kiện tiêu diệt nhiều sinh lực địch, Vì địch đánh vào Hòa Bình là tiến sâu vào vùng tự do của ta đến 60-70km.

Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp đánh chiếm Chợ Bến. Năm ngày sau (14-11-1951), chúng mở tiếp cuộc hành quân đánh chiếm thị xã Hòa Bình. Mở đầu, chúng cho 3 tiểu đoàn dù nhảy xuống thị xã Hòa Bình. Lực lượng quân địch huy động cho hai cuộc hành quân này là 5 binh đoàn cơ động chiến lược và một số tiểu đoàn độc lập gồm 20 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, thiết giáp, tàu chiến.

Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra chỉ thị về nhiệm vụ phá tan cuộc tiến công Hòa Bình của địch. Trung ương đã phân tích những đặc điểm của thời cơ mới và nhấn mạnh: Địch phải phân tán các đội ứng chiến của chúng trên một mặt trận rộng lớn, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố. Đó là cơ hội tốt để ta đánh địch. Địch dùng phần lớn lực lượng Âu – Phi tinh nhuệ của chúng đánh ra Hòa Bình, một địa bàn rừng núi rộng lớn, hiểm trở khiến cho binh lực của chúng ở đồng bằng Bắc Bộ bị dàn mỏng, thế của chúng càng sơ hở. Đây là cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt sinh lực địch cả trên chiến trường, phía trước và vùng địch hậu. Mọi nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta lúc này tập trung vào nhiệm vụ đánh bại cuộc hành binh của địch chiếm đóng Hòa Bình. Trong thư Bác Hồ gửi cho các lực lượng vũ trang. Người chỉ rõ:

“Trước khi ta phải lừa địch ra mà đánh. Ngay địch tự ra cho ta đánh, đó là một cơ hội rất tốt cho ta.

Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động bí mật, mau chóng kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh.

Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan, khinh địch.

Bộ đội chủ lực đánh, bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh, các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ. Để tiêu diệt sinh lực địch, để đánh tan kế hoạch Thu Đông của chúng”.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:14:59 PM
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bác Hồ, Tổng Quân ủy quyết đồng thời đánh địch trên cả hai mặt trận. Sử dụng các đại đoàn 308, 304 vây hãm tiêu diệt quân địch trên mặt trận đường số 6 – Hòa Bình. Các đại đoàn 316, 320 mở mặt trận ở vùng sau lưng địch nhằm mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích phối hợp với chiến trường Hoà Bình. Ở phía bắc gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Vĩnh Phúc là Đại đoàn 316. Ở phía nam gồm các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình là Đại đoàn 320.

Đầu tháng 12 năm 1951, Bộ tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 được tăng cường Trung đoàn 246, tiến về Bắc Ninh, Bắc Giang và Vĩnh Phúc. Chúng tôi sử dụng Trung đoàn 98 tiến vào Bắc Ninh đứng chân ở khu du kích của ba huyện Tiên Du, Quế Dương và Võ Giàng. Trung đoàn 174 tăng cường 1 tiểu đoàn phòng không và 1 tiểu đoàn sơn pháo tiến sang Vĩnh Phúc. Trung đoàn 176 hoạt động ở huyện Lạng Giang và Lục Ngạn làm nhiệm vụ bảo vệ đường liên lạc giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm qua tuyến đường 13.

Sở chỉ huy cơ bản của đại đoàn đặt tại Bắc Giang do anh Lê Quảng Ba chỉ huy. Tôi được phân công đi cùng 2 trung đoàn 174 và 98 vào vùng sau lưng địch thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Vĩnh Phúc. Hai tỉnh này có nguồn nhân lực, vật lực dồi dào. Vì vậy, từ lâu ở đây đã diễn ra những cuộc chiến đấu hết sức quyết liệt giữa ta và địch. Nhiều khu du kích nổi tiếng, nhiều làng chiến đấu vẫn hiên ngang trước mũi súng quân thù đã xuất hiện.

Đây là lần đầu tiên đại đoàn ra quân với một lực lượng lớn, từ rừng núi xuống trung du, đồng bằng, vừa đánh địch vừa làm công tác tuyên truyền vận động nhân dân mở rộng vùng du kích, căn cứ du kích, phát triển thực lực kháng chiến.

Đêm 5 rạng 6 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 do anh Nguyễn Hữu An làm tiểu đoàn trưởng nổ súng tiêu diệt đồn La-ri-vê trên phòng tuyến boong-ke thuộc huyện Đa Phúc, mở đầu cho đợt hoạt động của đại đoàn. Trận đánh bắt đầu từ 23 giờ 45 phút, đến 3 giờ 50 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Chiến thắng La-ri-vê có ý nghĩa hết sức quan trọng, chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống boong-ke phòng thủ của địch, cổ vũ tinh thần chiến đấu cho cán bộ chiến sĩ trong đại đoàn.

Trên hướng Bắc Ninh, Trung đoàn 98 vượt sông Cầu, sông Đuống vào đứng chân ở Chi Lăng, Hưng Đạo (Bắc Ninh), sau đó tiến về thôn Tưởng Xá làm công tác chuẩn bị tiêu diệt đồn Thứa. Đồn Thứa được địch xây dựng và củng cố nhiều lần nên khá vững chắc, lực lượng ở đây có 1 đại đội quân ngụy và 1 trung đội bảo an do một viên quan ba người Pháp chỉ huy. Đêm 10 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 215 do anh Nguyễn Đức Y là tiểu đoàn trưởng chỉ huy được lệnh nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra trong một thời gian ngắn, quân địch bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh, trong số tù binh có một quan ba người Pháp, ta thu được nhiều chiến lợi phẩm.

Chiến thắng đồn Thứa càng tăng thêm niềm tin cho cán bộ chiến sĩ đại đoàn và làm nức lòng nhân dân quanh vùng.

Đồn Thứa, một vị trí gần Hà Nội bị mất đã tác động mạnh đến tinh thần những người chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, buộc địch phải đưa một bộ phận lực lượng ở phân khu Sông Đà về đối phó với ta ở mặt trận Bắc Ninh. Như vậy, ta đã đạt được mục đích của chiến dịch, căng địch ra mà đánh.

Theo kế hoạch đã định, Trung đoàn 98 sau khi tiêu diệt đồn Thứa triển khai lực lượng chặn đánh quân địch càn quét.

Có lực lượng tăng cường, ngày 13 tháng 12 năm 1951, địch mở cuộc càn quy mô lớn có máy bay, xe tăng và pháo binh chi viện từ Cẩm Giàng theo đường 20 đánh vào Cỗ Lãm, Lĩnh Mai thuộc huyện Gia Lương với ý đồ chiếm lại Thứa.

Trung đoàn 98 phối hợp với dân quân, du kích địa phương chiến đấu quyết liệt, diệt nhiều tên, bắn cháy 1 xe tăng địch. Trong những ngày tiếp theo, Trung đoàn 98 tiếp tục chặn đánh các cánh quân địch càn vào vùng Đoàn, Ngụ Triệu, Lĩnh Mai diệt trên 300 tên. Tiểu đoàn 938 phục kích trên đường 18 diệt 1 trung đội Âu – Phi. Đêm 19 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 439 được lệnh tiến sang Thuận Thành tiêu diệt bốt Dâu, uy hiếp địch ở cầu Đuống và Gia Lâm.

Trận đánh bốt Dâu, Tiểu đoàn 439 thắng lớn, diệt và bắt 59 tên, thu hơn 100 súng (có 2 cối 81 ly, 2 cối 60 ly), nhiều máy thông tin.

Bốt Dâu bị diệt, thấy cuộc càn quét không đạt kết quả như mong muốn lại bị uy hiếp ở tuyến sau, địch phải kết thúc cuộc hành quân.

Sau một tháng chiến đấu, Trung đoàn 98 đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng 3 huyện Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành tạo thành thế liên hoàn vững chắc. Phong trào chiến tranh du kích của địa phương phát triển mạnh, cơ sở kháng chiến được củng cố tạo điều kiện để Đại đoàn 316 bước vào đợt 2 của chiến dịch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:15:50 PM
Cũng trên chiến trường sau lưng địch, phối hợp với Đại đoàn 316, ở vùng đồng bằng Liên khu 3, Đại đoàn 320 mở hướng tiến công chủ yếu vào vùng tạm bị chiếm có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa thuộc các tỉnh Ninh Bình, Nam Định. Đêm 9 tháng 12, các đơn vị của Đại đoàn 320 tập kích thị trấn Phát Diệm, diệt và bắt nhiều lính Âu – Phi và lính ngụy. Đại đoàn còn tiêu diệt nhiều vị trí địch ở Nam Định, Phủ Lý. Tiếp đó, một số đơn vị của đại đoàn vượt sông Hồng chiến đấu ở Thái Bình. Chỉ trong một thời gian ngắn, Đại đoàn 320 đã tiêu diệt hơn chục vị trí lớn, giải phóng hoàn toàn các huyện Tiền Hải, Thái Ninh và hầu hết huyện Kiến Xương. Đặc biệt, đại đoàn diệt vị trí Đào Thành, mở cống thoát nước vào hơn 3 vạn mẫu ruộng khô nẻ vùng căn cứ du kích Tiên – Duyên – Hưng. Cuộc tiến công của Đại đoàn 320 vào sâu trong vùng địch tạm bị chiếm, tiêu diệt hàng loạt vị trí then chốt của địch, làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương và cuộc đấu tranh của nhân dân vùng sau lưng địch phát triển.

Thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận vùng sau lưng địch đã làm thay đổi thế trận chiến tranh nhân dân ở đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa quan trọng với thắng lợi của toàn bộ chiến dịch Hòa Bình.

Ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, ta đã tiêu diệt 22 nghìn tên địch. Đây là số địch bị tiêu diệt cao nhất từ trước đến thời điểm đó trong một chiến dịch. Riêng ở mặt trận sau lưng địch ta đã diệt 15 nghìn tên, tiêu diệt, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh, chiếm hai phần ba tổng số đồn bốt của địch. Các căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền nhau thành thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh, tới sát đường số 5 qua Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông với 2 triệu dân được giải phóng.

Ngày 15 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75 ly nhận lệnh hành quân gấp về Bắc Ninh. Như vậy ở Bắc Ninh có 2 trung đoàn của Đại đoàn 316 cùng hoạt động. Sở chỉ huy tiền phương của đại đoàn do tôi trực tiếp chỉ huy. Sở chỉ huy cơ bản do anh Lê Quảng Ba chỉ huy, ở tuyến ngoài vùng tự do Bắc Giang, lực lượng còn lại có Trung đoàn 176 và các đơn vị còn lại đề phòng địch đánh lên Lạng Sơn và giải quyết những công việc phía sau của đại đoàn.

Vào đến địa bàn tỉnh Bắc Ninh, chỉ huy đại đoàn chỉ thị cho Trung đoàn 174 tổ chức đánh 2 vị trí Cầu Ngà và Phố Mới. Ngày 22 tháng 12, đúng thành ngày lập Quân đội nhân dân Việt Nam, trung đoàn 174 sử dụng Đại đội 671 của Tiểu đoàn 215 tiến công Cầu Ngà. Trận đánh diễn ra thuận lợi, bộ đội ta nhanh chóng làm chủ trận địa. Ở Phố Mới, Tiểu đoàn 255 gặp khó khăn do địch chống trả quyết liệt. Nhiều lần đơn vị tổ chức tiến công đều không lên được. Ngày 30 tháng 12, Trung đoàn 174 tăng cường lực lượng tổ chức đánh lần hai vẫn không thành công. Trung đoàn 174 cho bộ đội lui quân tổ chức rút kinh nghiệm. Đảng ủy và cán bộ chỉ huy Trung đoàn 174 đã nghiêm khắc tự phê bình, nêu rõ nguyên nhân không hoàn thành nhiệm vụ trong trận đánh Phố Mới lần thứ nhất là do tư tưởng chủ quan, tự mãn sau trận La-ri-vê thắng lớn, đánh giá địch thấp, không dự kiến những tình huống khó khăn, phức tạp, sử dụng lực lượng phân tán, nên có bộ phận vào được đồn đã không còn đủ sức phát triển chiến đấu. Trận đánh Phố Mới lần thứ hai, đơn vị lại quá nôn nóng, không nắm chắc tình hình địch khi chúng đã thay đổi. Tổ chức chiến đấu không chặt chẽ, bộ đội bị lạc trong khi hành quân chiến đấu, không có kế hoạch kìm chế hỏa lực địch ở các đồn xung quanh nên bộ đội bị pháo địch bắn chặn không triển khai được đội hình. Thông tin liên lạc bị đứt, không hiệp đồng giữa hỏa lực và xung lực. Trận đánh Phố Mới không thành là bài học xương máu không chỉ của Trung đoàn 174 mà còn là bài học chung cho cả đại đoàn sau này.

Đầu năm 1952, chúng tôi đưa các trung đoàn 174 và 98 xuống hoạt động ở nam Bắc Ninh. Lần này chúng tôi chỉ đạo hai trung đoàn tổ chức những trận đánh phục kích trên đường 20 ở Vân Trai, diệt gọn 1 trung đội địch; bao vây bức hàng đồn bảo an Đạm Trai; giải tán tổ chức tề ở Cường Tráng. Đặc biệt trong đêm 15 tháng 1, Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) tiêu diệt đồn Kênh Vàng, diệt 25 tên, bắt 45 tên, thu toàn bộ vũ khí. Sáng ngày 16 tháng 1, các đồn bảo an ở khu vực Đan Tràng bỏ chạy. Chỉ trong một đêm ta đã nhổ 5 vị trí địch, mở rộng vùng giải phóng Gia Lương đến bờ sông Thái Bình.

Đêm 23 tháng 1 năm 1952, chúng tôi chỉ thị cho Trung đoàn 174 đưa 2 tiểu đoàn vượt sông Thái Bình phối hợp với bộ đội địa phương chiến đấu tiêu diệt 2 vị trí địch ở An Dật và Vạn Tải, bắt sống toàn bộ bọn ngụy quyền đang họp trong bốt. Bộ đội địa phương ao vây bức hàng các tháp canh, giải phóng các xã xung quanh An Dật. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bộ đội ta vượt sông trở lại Bắc Ninh ngay trong đêm.

Thực hiện chỉ thị của Bộ, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động trong vùng sau lưng địch, ngày 2 Tết Nhâm Thìn, chúng tôi ra lệnh cho Trung đoàn 98 và Trung đoàn 174 cùng đánh địch ở khu vực Thiên Thai. Trung đoàn 98 vây địch ở ven sông Đuống. Trung đoàn 174 triển khai ở phía đông đường 38. Địch ở Thiên Thai bị vây hãm và uy hiếp mạnh, sau một tuần chúng phải xin quân cứu viện. Ngày 7 tháng 2 năm 1952, địch dùng 100 xe cơ giới chở 3 tiểu đoàn từ cầu Đuống theo đường 38 đánh vào Nghi An, Cửu Cáp nhưng bị quân ta chặn đánh, chúng buộc phải co cụm về Trạm Trai, Lạc Thổ.

Sáng sớm hôm sau, địch tiếp tục mở cuộc tấn công mới. Các chiến sĩ Trung đoàn 98 và Trung đoàn 174 chiến đấu kiên cường bẻ gãy các đợt tiến công giải vây cho đồng bọn ở khu vực Thiên Thai của địch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:16:37 PM
Đầu tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Đại đoàn 316 đẩy mạnh đánh địch, mở rộng địa bàn hoạt động để phối hợp với mặt trận Hòa Bình. Chúng tôi tiếp tục động viên cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 và Trung đoàn 98 đánh địch ở Bắc Ninh; đồng thời mở hướng tiến công mới sang các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương. Trung đoàn 176 được lệnh bàn giao địa bàn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang cho lực lượng địa phương để tiến vào tỉnh tỉnh Vĩnh Phúc.

Trung tuần tháng 2 năm 1952, chúng tôi sử dụng Trung đoàn 98 đánh địch ở Tiên Du, Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh), diệt và làm bị thương nhiều tên, giữ vững địa bàn quân ta đã chiếm được.

Tôi trực tiếp đi với Trung đoàn 174 vượt đường số 5 sang hoạt động ở Bình Giang. Mục tiêu đầu tiên chúng tôi chọn đánh là đồn Vân Độ. khu vực này địch chà đi xát lại nhiều lần, cơ sở cách mạng nhiều nơi bị phá vỡ, cán bộ bị sát hại, nhân dân hoang mang. Khi bộ đội ta về nhiều người chưa tin. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã kiên trì làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân. Đồng bào dần gần gũi, tin cậy và sẵn sàng giúp đỡ bộ đội chiến đấu.

Đêm 26 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 174 sử dụng Tiểu đoàn 249 tiến công đồn Văn Độ. Do chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ, chỉ sau 40 phút trên đấu ta đã làm chủ trận địa, diệt gọn 1 đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Phát huy thắng lợi, bộ đội được nhân dân giúp đỡ đã tỏa đi bao vây, gọi hàng làm tan rã hàng loạt đồn bốt, tháp canh, giải phóng một vùng rộng lớn của huyện Bình Giang, Thanh Miện, trực tiếp uy hiếp địch ở Hải Dương, đường số 5. Hàng trăm thanh niên Bình Giang, Thanh Miện đã tình nguyện tòng quân, đứng trong đội ngũ đại đoàn.

Cũng vào thời điểm này (ngày 23 tháng 2 năm 1952), địch rút khỏi Hòa Bình.

Theo lệnh của Bộ, Đại đoàn 316 để lại Trung đoàn 98 tiếp tục chiến đấu ở Bắc Ninh, Trung đoàn 174 hành quân về Thuận Thành sau đó ra vùng tự do.

Trước khi sở chỉ huy tiền phương đại đoàn ra vung tự do, tôi cùng một số cán bộ cơ quan Đại đoàn xuống Trung đoàn 98 bàn việc tổ chức lực lượng chống càn. Tỉnh Bắc Ninh thành lập Ban chỉ đạo chống càn do đồng chí Bí thư tỉnh ủy làm Trưởng ban. Trung đoàn 98 cử anh Lê Quang Ấn - chính ủy tham gia ban chỉ đạo. Sau khi làm việc với ban chỉ đạo chống càn Bắc Ninh, thống nhất phương châm không đánh lớn, không đánh chính diện với địch, chủ yếu dùng lực lượng vừa phải tập kích bên sườn và phía sau đội hình quân địch, tiêu diệt các trận địa pháo, cơ quan chỉ huy, các bộ phận đi lẻ quân địch. Điều quan trọng là phải xây dựng hệ thống hầm hào, làng chiến đấu vững chắc, trong lúc địch chưa đánh cần tổ chức cho bộ đội cùng dân quân du kích tăng cường luyện tập nâng cao khả năng và sức chiến đấu dẻo dai để phối hợp với chủ lực khi ta đánh mạnh.

Cuối tháng 3 năm 1952, định mở cuộc càn lớn ở ba huyện Kiến Xương, Thái Ninh, Tiền Hải tỉnh Thái Bình. Để phối hợp chiến đấu với đơn vị bạn, đêm 2 tháng 4, Trung đoàn 98 tiến công đồn Lạc Thổ ở bờ nam sông Đuống. Đồn Lạc Thổ được xây dựng khá kiên cố, có thể khống chế một vùng rộng lớn từ núi Thiên Thai tới cánh đồng dọc theo đường 38, lực lượng địch có 2 đại đội. Trận đánh diễn ra thuận lợi, sau gần 1 giờ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) đã tiêu diệt và bắt toàn bộ quân địch, thu nhiều vũ khí trang bị và quân trang quân dụng. Trung đoàn 98 được Bác Hồ tặng lá cờ thêu bốn chữ vàng “Thành tích đáng khen”.

Lạc Thổ bị mất, thị trấn Gia Lâm và Hà Nội bị uy hiếp, Xa-lăng vội điều một binh đoàn cơ động từ Ninh Bình về Bắc Ninh để đối phó với ta. Lực lượng của địch ở khu vực Bắc Ninh lên tới 4 binh đoàn cơ động. Binh đoàn số 3 bố trí dọc đường 18 từ Phố Mới đến thị xã Bắc Ninh. Binh đoàn số 2 án ngữ đường 18 từ Vĩnh Kiều đến Lạc Thổ. Binh đoàn số 7 rải dọc theo đê phía nam sông Đuống. Binh Đoàn số 1 bố trí xung quanh khu vực Phả Lại. Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 4 năm 1952 địch mở trận càn Pô-lô, Poóc-tô, Tuyếc-cô vào nam và bắc phần Bắc Ninh.

Sau khi bố trí lại lực lượng, sáng ngày 18 tháng 4 địch cho hai tiểu đoàn đánh vào làng Thịnh Liên. Tiểu đoàn 938 Trung đoàn 98 cùng dân quân du kích đã chặn đánh quyết liệt quân địch. Ở Đại Vi, Tiểu đoàn 215 chiến đấu hết sức quả cảm diệt hàng chục tên địch, bắt 10 tù binh. Đến 17 giờ 30 phút, chỉ huy Trung đoàn 98 ra lệnh phản công trên toàn tuyến. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 98 chiến đấu dũng cảm đánh bật chúng ra khỏi làng Đại Vi, diệt hàng trăm tên định rồi bí mật trở về Quế Dương. Đêm 19 tháng 4, Trung đoàn 98 tiếp tục rút quân ra vùng Yên Dũng, bắc đường 18, nhưng do bị lộ, địch tập trung ngăn chặn. Trung đoàn phải quay lại địa bàn cũ tiếp tục chiến đấu đến ngày 23 tháng 4 năm 1952.

Cuộc chiến đấu của trung đoàn 98 cùng quân và dân Thuận Thành, Bắc Ninh chống lại lực lượng tập trung lớn của quân địch kéo dài gần 10 ngày. Quân và dân ta đã tiêu diệt trên 2.000 tên thuộc lực lượng tinh nhuệ của địch, có nhiều sĩ quan chỉ huy. Tuy vậy, do lực lượng ta có hạn, lực lượng quân địch lớn lại có máy bay, pháo binh, xe tăng yểm trợ nên đã gây cho Trung đoàn 98 rất nhiều khó khăn tổn thất, hơn 600 cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, bị thương và mất tích, trong đó có anh Lê Quang Ấn - Chính ủy và anh Nguyễn Minh Đại - Tham mưu trưởng Trung đoàn đã chỉ huy bộ đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ trận này là vào thời điểm lực lượng ta không ưu thế hơn địch, thì phương châm chống càn phân tán đến từ đại đội, kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân làm chủ là chiến đấu, tiêu hao sinh lực địch và vận động nhỏ, tập kích từng trận rồi di chuyển đi nơi khác là đúng. Nhưng rất tiếc Trung đoàn 98 đã không thực hiện ý định, quyết tâm và kế hoạch tác chiến đã thống nhất trước mà lại tập trung lực lượng lên bắc phần Bắc Ninh nên tổn thất nặng do bị hỏa lực phi pháo của địch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:17:47 PM
*
*   *

Tháng 5 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 316 về đứng chân tại địa bàn giữa hai tỉnh Bắc Giang và Thái Nguyên, để thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy, tất cả các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, cơ quan, nhà nước từ Liên khu 5 trở ra bước vào chính huấn chính trị. Đây là cuộc vận động học tập chính trị tập trung lớn nhất của quân đội ta kể từ ngày thành lập. Tôi còn nhớ, cán bộ từ cấp đại đội trở lên học tài liệu: “Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam”; cán bộ trung đội, tiểu đội và chiến sĩ học tập tài liệu: “Quân đội nhân dân Việt Nam” và “Kháng chiến trường kỳ gian khổ nhất định thắng lợi”. Phương châm và phương pháp chỉnh huấn là phát huy tự do tư tưởng, liên hệ lý luận với thực tế, liên hệ nhận thức mới với nhận thức cũ, thảo luận phân rõ đúng sai, thực hành phê bình và tự phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. những vấn đề ai là bạn? Ai là thù? Kháng chiến để làm gì? Vì sao kháng chiến phải lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi? Trách nhiệm và đạo đức cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân như thế nào?... là những vấn đề bộ đội tranh luận sôi nổi nhất.

Đối với những đơn vị thuộc đại đoàn tham gia chiến đấu ở vùng sau lưng địch, tư tưởng cán bộ, chiến sĩ có nhiều diễn biến, chủ yếu theo hai chiều hướng: Đối với những đơn vị chiến đấu thuận lợi, giành thắng lợi trong các trận đánh ở giai đoạn cuối chiến dịch thì tin tưởng phấn khởi, song còn đơn giản chưa có cơ sở vững chắc. Đối với đơn vị gặp khó khăn, tổn thất này sinh hiện tượng tiêu cực, cầu an, sợ địch, phê phán một chiều về chỉ đạo cách đánh, về tổ chức bảo đảm. Trước tình hình trên Đảng ủy Đại đoàn đã họp quán triệt nhiệm vụ xây dựng các đơn vị một cách cơ bản và toàn diện, nhất là đối với các đơn vị chủ lực cơ động là yêu cầu bức thiết trước mắt cũng như về lâu dài đối với đại đoàn. Vì vậy, việc lãnh đạo tư tưởng phải đặt thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có một số tư tưởng chính trị vững chắc, nhận rõ bạn thù, nâng cao giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc, xây dựng lòng tin kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.

Đảng ủy Đại đoàn chủ trương tập trung lãnh đạo làm chuyển biến tình hình của đội công tác vững chắc, trước hết giải quyết bốn vấn đề cơ bản là: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tất cả các cấp, coi trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tổ chức huấn luyện quân sự, nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật, trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu hiệp đồng; chấn chỉnh tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị vũ khí theo quy định của Bộ; chú trọng cải tiến công tác cung cấp, thực hiện các chế độ, tiêu chuẩn của bộ đội, cải thiện đời sống, nâng cao sức khỏe của bộ đội đáp ứng các yêu cầu tác chiến ngày càng cao của đại đoàn. Đảng ủy đặc biệt nhấn mạnh vấn đề củng cố Trung đoàn 98 để đơn vị sau một thời gian ngắn khôi phục sức mạnh chiến đấu với chất lượng cao, đủ sức mạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu trong những chiến dịch mới

Cũng thời gian này, Bộ Tổng tư lệnh bổ nhiệm anh Vũ Lập làm Tham mưu trưởng Đại đoàn, anh Vũ Lăng được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98. Biên chế tổ chức của đại đoàn ngoài 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn phòng không, còn có thêm một số các tiểu đoàn và đại đội trực thuộc: pháo binh, công binh, thông tin, vận tải, trinh sát, vệ binh, bảo đảm hậu phương... Các trung đoàn, tiểu đoàn cũng được tổ chức thêm các đại đội, trung đội, tiểu đội trực thuộc với các thành phần như trên. Đặc biệt mỗi tiểu đoàn bộ binh còn tổ chức 1 đại đội mạnh gồm 4 trung đội được trang bị nhiều hỏa khí trợ chiến và bộc phá. Đại đội hỏa lực của tiểu đoàn được trang bị cối 81 ly, 82 ly, ĐKZ và đại liên. Các đại đội bộ binh có cối 60 ly. Các cơ quan đại đoàn, trung đoàn và tiểu đoàn cũng được tổ chức gọn, nhẹ, có chất lượng, tăng quân số cho đơn vị chiến đấu.

Công tác tổ chức biên chế được làm hết sức tích cực và khẩn trương. Trung tuần tháng 7 năm 1952, đại đoàn hoàn chỉnh về tổ chức và bước vào đợt huấn luyện quân sự theo chương trình và nội dung thống nhất. Chúng tôi đặc biệt chú trọng quá trình huấn luyện bộ đội phải kết hợp tốt những kinh nghiệm chiến đấu của đại đoàn và các đơn vị bạn được đúc kết biên soạn bổ sung vào giáo trình. Sau huấn luyện cơ bản các trung đoàn đều tổ chức diễn tập thực binh cấp tiểu đoàn, có sự tham gia hợp luyện của các đơn vị binh chủng và hỏa lực.

Bước sang năm 1952, Trung ương Đảng và Chính phủ đã cho thi hành chế độ cung cấp, chế độ quân trang, chế độ thuốc men cho bộ đội. Nhờ có điều lệ tạm thời về dân công được ban hành, sức người sức của hậu phương được huy động có tổ chức tránh lãng phí. Năm 1952 là năm đánh dấu bước ngoặt đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang.

Qua 4 tháng củng cố, xây dựng và huấn luyện, các đơn vị thuộc đại đoàn đều trưởng thành, lớn mạnh, cùng các đơn vị bạn sẵn sàng lên đường tham gia chiến đấu.

Đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, với mục đích tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai vùng Tây Bắc. Tây Bắc được giải phóng, chúng ta sẽ mở rộng và củng cố được căn cứ địa Việt Bắc và tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào. Lực lượng tham gia chiến dịch của các đại đoàn 316, 308, 312, 351 và Trung đoàn 148. Các đại đoàn 320 và 304 có nhiệm vụ đánh vùng sau lưng địch để phối hợp với chiến trường Tây Bắc.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:18:40 PM
Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Chỉ huy từ trung đoàn trở lên, từ Liên khu 4 trở ra đều có mặt. Thời gian này trời mưa tầm tã. Vào ngày họp cuối cùng, Bác hai ống quần xắn cao, tay cầm gậy nhanh nhẹn bước vào. Chúng tôi được báo trước Bác sẽ tới, nhưng không ai nghĩ Người lại đến giữa lúc trời mưa to. Cả hội trường vỗ tay vang dội. Bác ra hiệu cho chúng tôi yên lặng. Bác nói:

- Hôm nay trời mưa to, suối nước lũ, khi đến một cái suối nước chảy mạnh, thấy bên kia có một số đồng bào đang ngồi đợi nước xuống để sang, Bác nghĩ: nếu không đi ngay, e các chú phải đợi mất thì giờ. Nên Bác cùng mấy chú nữa quyết tâm cởi quần áo, tay sào tay gậy lần sang được. Thấy Bác sang được, nhóm đồng bào kia cũng quyết tâm sang. Đó là kinh nghiệm cho các chú. Bất kỳ việc gì, to hay nhỏ, mình có quyết tâm thì làm được, mà còn lôi cuốn người khác cũng quyết tâm như mình.

Bác nói tiếp:

- Trung ương và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường trong thời gian tới và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi. Quyết tâm đó từ Trung ương qua các chú đến từng chiến sĩ. Quyết tâm đó phải thành một khối thống nhất từ trên xuống và từ dưới lên trên. Quyết tâm phải thấm nhuần sâu sắc đến mọi người. Gặp thuận lợi thì phải quyết tâm phát triển, gặp khó khăn thì phải quyết tâm khắc phục. Gặp cái dễ mà không quyết tâm phát triển thì nó có thể biến thành cái khó, gặp cái khó mà quyết tâm khắc phục thì cũng thành dễ.

Bác bắt tay, thân mật hỏi chuyện từng đoàn. Khi đến Đại đoàn 316, Bác hỏi:

- Chú Mân, chiến dịch này quyết tâm của 316 là thế nào?

Tôi đứng nghiêm thưa với Bác:

- Thưa Bác, thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 316, cháu xin hứa trong chiến dịch này gặp thuận lợi quyết tâm phát triển, gặp khó khăn quyết tâm khắc phục.

Chúng tôi khẩn trương trở về đại đoàn, mang theo ý chí và quyết tâm của Bác qua câu chuyện vượt suối lũ của Người truyền cho tất cả cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 316.

Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh, từ đầu tháng 10 năm 1952, các đại đoàn 320 và 304 mở đợt tiến công mới vào vùng sau lưng địch tại Ninh Bình, Nam Định, nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, thu hút lực lượng cơ động đánh lạc hướng địch.

Ngày 12 tháng 9 năm 1952, Đại đoàn 316 hành quân về Tây Bắc.

Từ Na Lương, Bố Hạ, đại đoàn hành quân theo thứ tự: Trung đoàn 174, một bộ phận hỏa lực của Đại đoàn do anh Lê Quảng Ba chỉ huy hành quân qua đèo Khế, vượt sông Lô bằng đò sang Yên Bái, sau đó vượt tiếp sông Hồng tại Âu Lâu (Yên Bái) nhằm mục tiêu là Ba Khe. Trung đoàn 98 (thiếu Tiểu đoàn 938) do anh Vũ Lăng chỉ huy. Trung đoàn 176 (thiếu Tiểu đoàn 888) do anh Bắc Quân chỉ huy hành quân theo hướng Trung đoàn 174. Nhưng đến Phú Thọ thì Trung đoàn 98 hành quân theo hướng Yên Lập, vượt sông Thao tiến vào khu vực bản Mo. Trung đoàn 176 ở lại Phú Thọ sẵn sàng đánh địch bảo vệ hậu phương chiến dịch khi địch từ Trung Hà, Việt Trì đánh vào sau lưng quân ta. Sau khi vượt sông Lô đến Phú Thọ, anh Lê Quảng Ba bị sốt nặng, phải vào viện điều trị cho đến hết chiến dịch.

Cuộc hành quân của đại đoàn càng tiến sâu vào Tây Bắc, địa hình càng hiểm trở, nhiều vực sâu, dốc đá tai mèo, rừng rậm chằng chịt dây rừng. Bộ đội mang nặng vũ khí, đạn dược, lương thực. Vất vả hơn là anh em các đơn vị sơn pháo và súng cối phải tháo rời từng khẩu pháo, rồi thay nhau khiêng vác, nhích từng bước tiến vào khu vực tập kết. Ngày 12 tháng 12 năm 1952, các đơn vị của đại đoàn đã ở trong tư thế sẵn sàng nổ súng đánh địch.

Ngày 14 tháng 12, phối hợp với Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiên công địch ở Sài Lương, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 98 đánh vào Bản Trại (Phù Yên, Sơn La), Tiểu đoàn 255 (Trung đoàn 174) đánh địch ở Ca Vịnh, Tiểu đoàn 249 (Trung đoàn 174) bao vây Ba Khe. Ca Vịnh và Ba Khe là hai vị trí thuộc phân khu Nghĩa Lộ, án ngữ khu vực ngã ba đường từ Yên Bái đi Sơn La và Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Lực lượng địch ở mỗi vị trí có khoảng 100 tên, có từ 3 đến 5 hàng rào dây kẽm gai xen kẽ là chông, mìn. 17 giờ 45 phút, Trung đoàn 174 mở màn chiến dịch bằng hai trận đánh tiêu diệt cứ điểm Ca Vịnh và Ba Khe. Trước sức tiến công của quân ta, quân địch ở Ca Vịnh và Ba Khe bỏ chạy. Trung đoàn 174 truy quét diệt 28 tên (có 3 sĩ quan Pháp), bắt 95 tên.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:19:14 PM
Trên hướng Trung đoàn 98 ở Phù Yên, do Trung đoàn vừa trải qua tổn thất lớn ở Thuận Thành, Quế Võ vừa được củng cố nên trận đầu ra quân có ý nghĩa lớn đến tinh thần bộ đội. Nhưng vấn đề đặt ra là đánh Bản Trại – một đồn ngoại vi tiểu khu Phù Yên hay đánh Bản Mo – một căn cứ được xây dựng khá kiên cố trên một khu đất cao bằng phẳng, có tầm quan sát rộng, lực lượng có trên 200 lính chính quy, do một tên quan ba Pháp chỉ huy. Sau khi cân nhắc tình hình, chúng tôi quyết định đánh Bản Trại trước.

Ngày 14 tháng 10, Trung đoàn 98 sử dụng Tiểu đoàn 439 tiến công Bản Trại, diệt bắt gọn 1 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Trận đầu thắng lợi làm cho cán bộ chiến sĩ trung đoàn phấn khởi tự tin.

Sau khi Bản Trại bị diệt, tôi trao đổi với anh Vũ Lăng, phải đánh ngay Bản Mo với toàn bộ lực lượng của trung đoàn và tăng cường thêm 1 đại đội sơn pháo 75 ly của Bộ. Tôi và anh Vũ Lăng thống nhất sử dụng sơn pháo 75 ly, đưa vào gần khoảng 400 đến 500m ngắm bắn và trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 215 trên hướng chủ yếu. Một giờ sáng ngày 18 tháng 10 năm 1952, Vũ Lăng ra lệnh cho pháo binh nổ súng. Lợi dụng pháo bắn trên các hướng, các đội bộc phá lần lượt phá những lớp rào kẽm gai và bãi mìn mở thông cửa cho bộ binh xung phong.

Tiểu đoàn 215 hiệp đồng chiến đấu tốt, yểm trợ nhau nhanh chóng chiếm lô cốt đầu cầu rồi thọc sâu, đập tan nhiều ổ đề kháng của đích, đánh chiếm sở chỉ huy.

Trận đánh kéo dài 55 phút. Trung đoàn 98 hoàn toàn làm chủ trận địa. Toàn bộ quân địch trong cứ điểm Bản Mo bị diệt và bị bắt làm tù binh, trong đó có tên quan bay chỉ huy tiểu khu và tên tri châu Phù Yên. Ta thu toàn bộ vũ khí, lương thực trong căn cứ. Số chiến lợi phẩm này có ý nghĩa trong lúc ta đang gặp khó khăn do công tác vận chuyển, tiếp tế.

Trận tiêu diệt cứ điểm Bản Mo đem lại niềm phấn khởi lớn trong đại đoàn.

Cùng thời gian này, trên các hướng của chiến dịch, các đại đoàn bạn cũng lập công lớn. Đại đoàn 308 tiêu diệt 1 đại đội địch ở Bản Tú (Nghĩa Lộ) và các vị trí địch ở Nghĩa Lộ Đồi, Nghĩa Lộ Phố, Cửa Nhì, bắt sống toàn bộ chỉ huy phân khu Nghĩa Lộ. Đại đoàn 312 tiêu diệt đồn Sài Lương, phục kích diệt quân tăng viện ở Nậm Mười, diệt địch ở Gia Hội, Tú Lệ, Cao Phạ, Ít Ong, Nậm Sơn và giải phóng Quỳnh Nhai (Lai Châu).

Chỉ sau 10 ngày chiến đấu, các đơn vị bộ đội chủ lực đã phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng một khu vực rộng lớn giữa sông Thao và sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai làm chủ đường 13 nối liền Yên Bái với Nghĩa Lộ. Quân ta diệt trên 500 tên, bắt sống hơn 1.000 tên, trong đó có 300 lính Âu – Phi, thu hàng nghìn súng các loại và nhiều quân trang quân dụng. Ta chủ động kết thúc đợt một chiến dịch.

Chiến dịch phát triển thuận lợi, khu giải phóng mở rộng nên việc tiếp tế không theo kịp đà phát triển của chiến dịch. Tuyến tiếp tế giữa rừng núi hiểm trở dài thêm hàng trăm ki-lô-mét. Bộ đội phải ăn cháo đánh giặc. Tôi và anh Vũ Lăng nhiều ngày cũng phải ăn cháo với hoa chuối rừng cùng bộ đội đuổi giặc. Chúng tôi phải sử dụng một lực lượng chiến đấu ra làm nhiệm vụ sửa đường, vận chuyển gạo, đạn để phục vụ cho đơn vị phía trước.

Cơ quan tham mưu đề nghị ngừng hoạt động quân sự, tập rung bộ đội đi vận chuyển gạo. Đường 13 được công binh tập trung sửa chữa để xe ô tô chở gạo từ Phú Thọ lên. Ta cũng sửa đường 14 từ Hồi Xuân lên Xồm Lồm để vận chuyển gạo từ Thanh Hóa ra và sửa đoạn đường số 6 từ suối Rút lên Mộc Hạ. Vì xe ô tô có hạn, dân công Thanh Hóa có sáng kiến dùng xe đạp thồ thay quang gánh đưa mức vận chuyển tăng gấp năm, gấp mười lần.

Trước thất bại nặng nề của tuyến tả ngạn sông Đà, địch rất hoang mang. Chúng vội vã tăng cường cho Tây Bắc 9 tiểu đoàn cùng với 7 tiểu đoàn còn lại, đưa tổng số quân ở Tây Bắc lên 16 tiểu đoàn và 12 đại đội, tập trung ở hai khu vực là Nà Sản và Lai Châu. Địch tập trung xây dựng Nà Sản thành một tập đoàn cứ điểm, lực lượng gồm 5 tiểu đoàn, được bố trí thành ba khu vực Hát Tiếu – Mường Lụm, Tạ Khoa, Bản Hoa. Khu vực thứ hai là Lai Châu, lực lượng gồm 4 tiểu đoàn, chiếm giữ thị xã Lai Châu, Phong Thổ, Pác Má và Điện Biên Phủ. Ngoài ra, địch còn bố trí ở Tuần Giáo, Mộc Châu, Thuận Châu, Quỳnh Nhai mỗi nơi 1 tiểu đoàn.

Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đợt 2 sẽ mở hướng chính đánh vào khu vực Tạ Khoa, Ba Lay, Mộc Châu, phá vỡ khu vực phòng thủ chủ yếu của địch.

Giữa lúc ta chuẩn bị bước vào đợt hai chiến dịch thì ngày 5 tháng 11 năm 152, chúng tôi được tin địch sử dụng một lực lượng lớn đánh lên Phú Thọ, đe dọa hậu phương chiến dịch của ta. Ta đã dự kiến tình huống này nên bố trí tại đây Trung đoàn 176, một tiểu đoàn của Trung đoàn 246 cùng với bộ đội địa phương có nhiệm vụ chặn địch, bảo vệ hậu phương chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch cho rằng hành động thu hút lực lượng của ta về giảm nhẹ áp lực ở Tây Bắc của địch là sự đối phó bị động. Ta chỉ sử dụng Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) về tăng cường cho mặt trận Phú Thọ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:19:45 PM
Trung đoàn 176 cùng lực lượng địa phương đánh địch ở dọc đê sông Thao, Vĩnh Lại, Ngọc Tháp, thị xã Phú Thọ gây cho chúng nhiều tổn thất.

Trung đoàn 36 tổ chức trận phục kích trên đoạn đường số 2 từ Chân Mộng đến Trạm Thản diệt trên 400 tên, phá hủy 44 xe quân sự, có 17 xe tăng, xe bọc thép.

Ngày 27 tháng 11, sau những thất bại nặng nề quân địch buộc phải rút khỏi Phú Thọ.

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh, Trung đoàn 98 vượt sông Đà. Bên kia sông Đà là vùng địch kiểm soát, do vậy không thể bắc cầu phao qua sông. Chúng tôi yêu cầu chỉ huy Trung đoàn 98, tổ chức cho bộ đội huy động thuyền của dân, nếu thiếu thì tự làm bè mảng. cần tổ chức một bộ phận những người bơi giỏi sang sông trước để bảo vệ bến vượt; đồng thời kết hợp giữa người bơi giỏi với người không biết bơi hoặc chỉ bơi được chút ít để bảo vệ an toàn cho người và vũ khí.

Ngày 27 tháng 11, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) sau khi sang bờ nhanh chóng triển khai đội hình, chiếm giữ địa bàn có lợi, bảo đảm an toàn cho các đơn vị tiếp sau và tiến hành vây ép đồn Ba Lay. Đến đêm 6 tháng 12, các đơn vị của Đại đoàn 316 đã vượt sông theo đúng kế hoạch. Ngày 7 tháng 12 năm 1952, theo lệnh của trên, Trung đoàn 98 bàn giao việc vây ép vị trí Ba Lay cho Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) cơ động về làm lực lượng dự bị cho Trung đoàn 174 tiến công Mộc Châu.

Mộc Châu là vị trí án ngữ trên ngã ba đường số 6 và đường 41 từ Hòa Bình lên Sơn La và từ Mộc Châu qua Pa Háng sang Sầm Nưa (Lào). Đây là lá chắn, là vị trí then chốt cửa ngõ tiến vào Tây Bắc và Thượng Lào. Nếu ta chiếm được Mộc Châu sẽ khai thông tuyến vận chuyển bảo đảm hậu cần chiến dịch.

Đồn Mộc Châu được xây dựng trên núi đá khá kiên cố; nhiều lô cốt, hầm ngầm, rào mìn bao quanh. lực lượng địch gồm một tiểu đoàn ngụy Thái, 2 đại đội com-măng-đô do tên quan ba Pháp chỉ huy. Trong đồn chúng còn có pháo, cối, trọng liên và nhiều loại vũ khí khác.

Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75 ly, 1 đại đội cối 120 ly là lực lượng tiến công chủ yếu, Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) làm dự bị, Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) và Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) làm nhiệm vụ bao vây, đánh quân đổ bộ đường không và quân viện.

Đêm 19 tháng 12, phối hợp với Trung đoàn 88 đánh địch ở Chiềng Đông, Yên Châu vào Cò Nòi, Trung đoàn 174 được lệnh nổ súng vào cứ điểm Mộc Châu. Mặc dù công tác chuẩn bị rất chu đáo đến từng tiểu đội nhưng khi lực lượng đánh bộc phá nên phá rào mở cửa thì địch dùng hỏa lực đánh chặn. bộ đội thương vong nhiều trong đó có tiểu đoàn phó Khai Tâm hy sinh. Trước tình hình trên, chúng tôi điện cho anh Đặng Văn Việt xốc lại đội hình tiếp tục đột phá. sau một thời gian chấn chỉnh lực lượng, Trung đoàn 174 mở hướng tiến công mới trên hướng đông bắc. Trong đợt tiến công này có công lớn của trung đội trưởng Nông Văn Vương, anh đã dũng cảm thông minh, lợi dụng lúc hỏa lực ta chế áp vít đầu quân địch trong công sự nhanh chóng dùng bộc phá phá nào, rồi đánh chiếm lô cốt đầu cầu, từ đó phát triển phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm sở chỉ huy quân địch, tiêu diệt và bắt sống 350 lính lê-dương, trong có tên quan ba Pháp, thu toàn bộ vũ khí kho tàng của địch.

Trận đánh cứ điểm Mộc Châu của Trung đoàn 174 mở màn đợt 2 chiến dịch thắng lợi, con đường từ Hòa Bình lên Sơn La được nối liền.

Trên các hướng khác, Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đang chiếm Mường Lụm, Bản Hoa, Ba Lay. Trước sức tấn công mạnh mẽ dồn dập của quân ta, định ở các vùng ven sông Đà từ Hát Lót đến Tạ Khoa và trên dọc đường 41 hoảng hốt tháo chạy. Bộ đội ta được lệnh truy kích địch giải phóng Thuận Châu, thị xã Sơn La và tiến về Điện Biên Phủ. Địch các nơi dồn về cố thủ Nà Sản, nâng tổng số quân địch ở đây lên 8 tiểu đoàn bộ binh, 4 đại đội pháo binh do viên tướng Gin chỉ huy, với ý định vừa bảo tồn lực lượng vừa bám trụ lại Tây Bắc, chờ thời cơ chiếm lại những vị trí đã mất. Chiến dịch Tây Bắc kết thúc sớm hơn dự kiến.

Vùng giải phóng được mở rộng, lực lượng chủ lực của ta dồn lên Tây Bắc khá đông, vì vậy công tác bảo đảm hậu cần lúc này trở nên cấp thiết. Trước tình hình đó, trên điều tôi sang làm công tác hậu cần lo gạo đạn cho quân ta ở Tây Bắc trên đoạn ngã ba Xồm Lồm nên Yên Châu, Gò Nòi.

Thời gian này Đại đoàn 316 về đứng chân ở Mộc Châu, tranh thủ chấn chỉnh tổ chức huấn luyện bổ sung, chuẩn bị cho nhiệm vụ mới tiếp theo. Tư lệnh đại đoàn Lê Quảng Ba sức khỏe đã hồi phục, về dự tổng kết cùng với cán bộ đại đoàn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:21:18 PM
*
*   *

 Sau chiến dịch Tây Bắc, vùng giải phóng của ta đã mở rộng sát với Thượng Lào, tạo thuận lợi cho quân và dân Việt - Lào có điều kiện giúp đỡ nhau trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung.

Ngay sau khi thất bại ở Tây Bắc, Bộ Chỉ huy quân Pháp nhận thấy nguy cơ ta đánh sang Thượng Lào, nên chúng đặt Thượng Lào dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ. Địch tăng cường cho Sầm Nưa 2 tiểu đoàn, đưa quân số ở đây lên 3 tiểu đoàn (1.700 quân) và xây dựng thị xã Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm nhỏ. Trên những điểm cao chung quanh thị xã Sầm Nưa, chúng sửa chữa nâng cấp như ở Nà Sản, Việt Nam. Khu vực Cánh Đồng Chum ở Xiêng Khoảng địch cũng tăng thêm một tiểu đoàn. Tuy nhiên quân ngụy Lào chiếm 90% tổng số binh lực, chất lượng thấp, không có khả năng đương đầu với chủ lực ta.

Sau chiến thắng Tây Bắc, lực lượng ta khi bị tiêu hao, nhưng việc bổ sung lực lượng thời kỳ này không gặp khó khăn lắm. Thời tiết đang là cuối mùa khô, sông suối ít nước thuận lợi cho việc cơ động. Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Thượng Lào và đề nghị quân và dân Lào cùng tham gia nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, giúp Chính phủ kháng chiến Lào xây dựng hậu phương cho kháng chiến; đồng thời tạo điều kiện để bộ đội rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ, mặt khác ta cần duy trì thế tiến công liên tục để ngăn chặn địch tái chiếm Tây Bắc. Tôi được biết, các đồng chí lãnh đạo Chính phủ kháng chiến Lào rất tán thành chủ trương của ta và tích cực phối hợp.

Thượng Lào gồm 6 tỉnh: Luông Pha-băng, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Phông-xa-lỳ, Huội Sài, diện tích khoảng 135 nghìn ki-lô-mét vuông với trên một triệu dân. Thượng Lào chia làm hai vùng: Vùng rừng núi ở phía đông giáp Tây Bắc Việt Nam và vùng đồng bằng ở phía tây dọc theo lưu vực sông Mê Kông. Đường bộ từ Việt Nam sang Lào có đường số 7 từ Vinh (Nghệ An) đi Xiêng Khoảng. Đường số 6 từ Hòa Bình, Mộc Châu đi Pa Háng, Sầm Nưa. Từ Sơn La đi Sốp Nao có con đường ngựa thồ. Những con đường này đều hư hỏng nhiều, ô tô chỉ đi được từng đoạn ở phía Việt Nam. Về đường thủy có hai con sông là sông Mã và sông Chu đều bắt nguồn từ Sầm Nưa. Mở chiến dịch Thượng Lào khó khăn nhất là vấn đề tiếp tế từ hậu phương sang. Do vậy ta huy động 80 xe ô tô, gần 900 thuyền các loại, 2000 xe đạp thồ, 180 ngựa thồ và dân công cùng quang gánh.

Bộ chỉ huy chiến dịch, về phía Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Tư lệnh, anh Hoàng Văn Thái – Tham mưu trưởng, anh Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm chính trị, anh Trần Đăng Ninh – Chủ nhiệm cung cấp. Bộ Chính trị cử anh Nguyễn Khang - Ủy viên Trung ương đặc trách công tác ở Lào đi cùng. Về phía bạn Lào có Hoàng thân Xu-pha-nu-vong – Thủ tướng Chính phủ kháng chiến, anh Cay-xỏn Phôm-vi-hản – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, anh Sin-ka-pô – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; anh Thao Ma – Bí thư Tỉnh ủy Sầm Nưa. Lực lượng của ta trên hướng chính gồm 6 trung đoàn: 3 trung đoàn thuộc Đại đoàn 308, 2 trung đoàn thuộc các đại đoàn 312, 304, Đại đoàn 316 sử dụng Trung đoàn 98, Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176). Hỏa lực gồm: 4 đại đội sơn pháo, 3 đại đội cối 120 ly, 2 tiểu đoàn súng 12,7 ly, 1 tiểu đoàn công binh và 1 đại đội trinh sát.

Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào thời gian này được tổ chức thành 3 đoàn công tác, mỗi đoàn có từ 4 đến 6 đại đội hoạt động ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Luông Pha-băng. Lực lượng của bạn có khoảng 1.500 người, tổ chức thành 6 đại đội, 24 trung đội, chia ra hoạt động ở 3 tỉnh. Chỉ có 2 – 3 đại đội tập trung.

Trung đoàn 174 và Tiểu đoàn 970 (Trung đoàn 176) đứng chân ở Yên Châu và Mộc Châu bảo vệ hậu phương chiến dịch không cho địch chiếm lại Mộc Châu.

Đây là lần đầu tiên ta đưa một lực lượng lớn chủ lực sang giúp bạn nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh ủa liên minh chiến đâu Việt – Lào. Đảng ủy và chỉ huy đại đoàn chúng tôi đã tổ chức quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm chiến đấu đến từng cán bộ, chiến sĩ; đặc biệt là giữ vững kỷ luật trong quan hệ quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền, phong tục tập quán, tính mạng và tài sản của nhân dân bạn.

Ngày 8 tháng 4 năm 1953, chiến dịch Thượng Lào bắt đầu. Từ nhiều hướng các đơn vị chủ lực ta lần lượt vượt qua biên giới. Trung đoàn 98 từ Mường Hung tiến về Sầm Nưa. Ngày 9 tháng 4, Đại đoàn 308 vượt sông Mã tiến vào đất bạn Lào. Ngày 10 tháng 4, các đại đoàn 312, 304 từ hai hướng cùng tiến quân vào nước bạn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:22:34 PM
Theo lệnh của Bộ, chúng tôi điều Tiểu đoàn 888 đi trước áp sát thị xã Sầm Nưa. Chiều ngày 13 tháng 4, phát hiện được lực lượng của ta đang tiến về Sầm Nưa địch hốt hoảng tháo chạy. Chúng tôi lệnh cho trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 đưa bộ đội khẩn trương đánh địch. Anh Vũ Lăng phát lệnh cho Tiểu đoàn 888 hành quân cả đêm, đến Mường Hàm thì gặp địch. Tiểu đoàn 888 nổ súng gọi hàng và vây bắt được toàn bộ bọn ngụy quyền tỉnh Sầm Nưa ngay trong đêm 13 tháng 4. Từ Sầm Nưa đi Xiêng Khoảng khá xa (200km), chỉ có đường mòn xuyên rừng núi, địa hình hiểm trở, với 1.700 quân có cả gia đình đi theo chắc chắn chúng không thể đi nhanh được. Chúng tôi phán đoán như vậy và động viên bộ đội gắng lên một bước thì giành thắng lội, chần chừ mà bỏ lỡ thời cơ diệt địch là có tội.

Cả Trung đoàn 98 xốc lại đội hình, đi như bay. Đến sáng 14 tháng 4, Tiểu đoàn 439 bắt kịp quân địch ở Nà Noọng. Đây là cơ quan chỉ huy phân khu Sầm Nưa, có tiểu đoàn biệt động ngụy số 8 và 2 đại đội của tiểu đoàn dù đi cùng bảo vệ. Tiểu đoàn 439 nhanh chóng triển khai chiến đấu. Bị đánh từ nhiều hướng, quân ngụy Lào không nghĩ đến việc chống cự, tháo chạy tán loạn. Ta diệt 52 tên, trong đó có viên quan ba Rút-xơ-lô – chỉ huy phó tiểu đoàn 8 ngụy Lào, bắt 228 tên, có 15 lính Âu – Phí và 5 sĩ quan Pháp (Đờ La-gác – tham mưu trưởng phân khu Sầm Nưa, Ơ-gien – tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 ngụy Lào, Pe-ranh Rơ-hơ, Moóc-văng đều là chỉ huy đại đội). Theo tài liệu của Pháp thú nhận, trong trận Nà Noọng chúng đã mất 40% quân số.

Sau khi làm chủ Nà Noọng, Trung đoàn 98 để lại một bộ phận thu dọn chiến trường, lực lượng còn lại tiếp tụ đuổi địch theo hướng Mường Pơn.

Trên hướng Đại đoàn 308, Tiểu đoàn 79 – bộ phận đi đầu của Trung đoàn 102 tới Hứa Mường thì được nhân dân cho biết quân địch vừa đi được 1 giờ. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 lập tức ra lệnh đuổi quân địch. Chỉ hơn 1 giờ sau bộ đội ta đuổi kịp chúng. Sự xuất hiện bất thần lần thứ hai của bộ đội ta trên đường quân ngụy Lào rút chạy là cho chúng mất hết tinh thần. Chúng không nghe theo lệnh chỉ huy người Pháp, vứt vũ khí đạn dược lao thục mạng vào rừng. Những sĩ quan Pháp cũng chẳng còn đường nào khác đành chạy theo lính ngụy Lào trong tình thế hoàn toàn tan vỡ. Bộ đội ta chia thành từng tốp vào rừng truy bắt quân địch, diệt một đại đội có 40 lính Âu – Phi, một quan tư và một quan ba chỉ huy tiểu đoàn này chết tại trận. Tiểu đoàn 79 bắt thêm 2 sĩ quan chỉ huy các đại đội dù.

Đến đây, 3 tiểu đoàn địch cùng với bộ máy ngụy quyền tỉnh Sầm Nưa coi như bị xóa sổ.

Ở phía nam, Đại đoàn 304 diệt vị trí Noọng Hét, buộc địch ở Bản Ban và thị xã Xiêng Khoảng phải bỏ chạy.

Ở phía bắc, Trung đoàn 148 tiến công uy hiếp Mường Ngòi, Nậm Bạc (Luông Pha Băng).

Để mở rộng và củng cố vùng giải phóng, trên điều Trung đoàn 98 mở hướng tiến công lên phía bắc Luông Pha-băng, phối hợp với Trung đoàn 148 đánh địch ở Pắc Seng, Mường Ngòi. Thực hiện nhiệm vụ này, Trung đoàn 98 sử dụng Tiểu đoàn 215 được lệnh hành quân gấp. Sáng 18 tháng 4, trên đường hành quân, Trung đoàn 98 nhận lệnh đuổi bắt tên quan năm Man-pơ-lát cùng với binh lính đồn Mường Hiềm chạy trốn đêm 17 tháng 4. Thực hiện nhiệm vụ trên, Trung đoàn 98 cho một bộ phận xuyên rừng chặn địch, lực lượng còn lại tiếp tục hành quân vào Pắc Seng. Ta đuổi địch cách Keo Nhôm 4km thì gặp chúng. Bộ đội ta nổ súng tiến công, quân địch hốt hoảng xin hàng. Ta bắt 50 tên, thu nhiều vũ khí, trang bị. Đại bộ phận Trung đoàn 98 cách Pắc Seng 50km thì được tin Trung đoàn 148 đã tiêu diệt vị trí Mường Ngòi, địch ở Bản Le chạy về Bản Sẻ, một vị trí nằm giữa Mường Ngòi và Pắc Seng. Phán đoán địch có thể rút chạy, Trung đoàn 98 lệnh cho tiểu đoàn 938 tổ chức một lực lượng hành quân tới bao vây, không cho chúng dồn về Pắc Seng. Nhưng khi Tiểu đoàn 938 đến Bản Sẻ thì địch đã bỏ chạy. Ta tiếp tục truy kích đến mờ sáng ngày 26 tháng 4 gặp địch ở Hát Kéo. Mặc dù quân số it lại phải hành quân nhiều ngày liền, nhưng bộ đội ta vẫn quyết tâm chiến đấu, diệt 8 tên, bắt 60 tên, thu nhiều vũ khí trang bị. Ngay đêm đó, một phần do quá mệt mỏi, một phần sơ hở mất cảnh giác, đơn vị đã để cho số tù binh này bỏ trốn hết.

Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 98 phối hợp với Trung đoàn 148 tiến đánh Pắc Seng. Kết quả, ta diệt 36 tên, bắt 69 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Mặc dù chiến dịch Thượng Lào đã kết thúc nhưng Trung đoàn 98 vẫn phối hợp với Trung đoàn 148 tiếp tục đánh Mường Khoa để phát huy thắng lợi của chiến dịch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:23:10 PM
Mường Khoa là cụm cứ điểm mạnh trên tuyến Nậm U, lực lượng địch ở đây có khoảng 300 tên do tên quan ba Tớt-đê-ê chỉ huy. Chúng xây dựng thành 4 cứ điểm nằm bên hữu ngạn sông Nậm U. Cứ điểm 1 ở vị trí cao nhất, khống chế toàn bộ khu vực, quân số 70 tên. Cứ điểm 2 có hình dáng như mâm xôi nên gọi là đồi Mâm Xôi, quân số 53 tên. Cứ điểm thứ 3 là sở chỉ huy tiểu khu, quân số 120 tên. Cứ điểm 4 là trụ sở bọn ngụy quyền Mường Khoa, quân số 50 tên.

Trung đoàn 148 sử dụng 1 tiểu đoàn tăng cường đánh các cứ điểm 3 và 4. Trung đoàn 98 sử dụng Tiểu đoàn 215 và Đại đội 729 đánh cứ điểm 1 và 2. Tiểu đoàn 439 làm lực lượng dự bị.

Theo kế hoạch tác chiến của Trung đoàn 98, Tiểu đoàn 215 đánh cứ điểm 1, Đại đội 729 bao vây cứ điểm 2. Khi dứt điểm cứ điểm 1 sẽ bức hàng cứ điểm 2, trường hợp cần thiết sẽ sử dụng Tiểu đoàn 439 tiêu diệt cứ điểm này.

0 giờ 45 phút ngày 18 tháng 5 năm 1953, trận đánh bắt đầu. Sau 30 phút chiến đấu, Trung đoàn 148 đã tiêu diệt hai cứ điểm 3 và 4. Ở hướng chính của Tiểu đoàn 215 do xác định sai cửa mở, hỏa lực bắn không trúng, đội hình tiến công bị địch chống trả quyết liệt nên không phát triển được. Trước tình thế khó khăn của Tiểu đoàn 215, chỉ huy Trung đoàn 98 tung lực lượng dự bị vào chiến đấu, nhưng cũng không làm thay đổi được tình thế. Trong khi đó, ở hướng thứ yếu của Tiểu đoàn 215 lại phát triển tốt, chiếm được lô cốt đầu cầu, tiêu diệt một số hỏa điểm địch. Thấy hướng chính gặp khó khăn, anh em đã chủ động đánh vào sau lưng địch làm chúng hoảng loạn. Tranh thủ thời cơ, chỉ huy Tiểu đoàn 215 cho bộ đội đồng loạt xung phong làm chủ trận địa. Ta bắt nhiều tù binh trong đó có tên chỉ huy cứ điểm 1.

Tại cứ điểm 2, tuy bị bao vây nhưng địch vẫn ngoan cố chống cự. Chỉ huy Trung đoàn 98 cho bộ đội siết chặt vòng vây, đồng thời đưa tên chỉ huy cứ điểm 1 vừa bị ta bắt kêu gọi đồng bọn đầu hàng. Hoang mang trước nguy cơ bị tiêu diệt, toàn bộ quân địch ở cứ điểm 2 hạ vũ khí ra hàng.

Mường Khoa được giải phóng, nhân dân các bộ tộc Lào vô cùng phấn khởi, họ mang đến cho bộ đội ta hoa quả, gạo nếp, gà, heo để bồi dưỡng cho anh em bị thương. Nhân dân còn tổ chức mai táng những chiến sĩ hy sinh theo phong tục của nước bạn. Đại đoàn 316 mãi mãi ghi nhớ những tình cảm thân thương mà nhân dân các bộ tộc Lào dành cho cán bộ, chiến sĩ đại đoàn trong những ngày chiến đấu trên đất bạn.

Phối hợp với Trung đoàn 98 ở chiến trường Thượng Lào, Trung đoàn 174 ở yên Châu, Mộc Châu đã bền bỉ bám sát địch, chặn đánh những cuộc hành quân của chúng từ Nà Sản ra vùng hậu phương của ta, diệt nhiều tên địch, thu nhiều vũ khí trang bị.

Tính chung trong chiến dịch Thượng Lào, ta và bạn đã tiêu diệt, bắt sống, làm tan rã gần 2.800 sĩ quan và binh lính địch, chiếm một phần năm tổng số lực lượng địch ở Lào; giải phóng tỉnh Hủa Phăn, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và Phông-xa-lỳ, chiếm một phần năm diện tích Bắc Lào với hàng vạn nhân dân các bộ tộc Lào, nối liền vùng giải phóng của bạn sát với hai tỉnh Thanh Hóa và Sơn La của Việt Nam.

Ngay sau khi chiến dịch Thượng Lào kết thúc, Bộ chỉ huy chiến dịch mở hội nghị tổng kết và hội nghị cán bộ trong bộ đội tình nguyện Việt Nam có mặt ở Thượng Lào. Lễ mừng chiến thắng cũng được tổ chức sau đó tại ngôi nhà khá lớn giữa thị xã Sầm Nưa vừa giải phóng. Về phía Việt nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một số cán bộ cơ quan Bộ Quốc phòng và một số cán bộ của các Đại đoàn. Về phía bạn lào có Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, anh Cay-xỏn Phôm-vi-hản và một số đồng chí lãnh đạo Chính phủ kháng chiến. Trong buổi lễ mừng chiến thắng, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nói: “Sầm Nưa giải phóng là kết quả của bao nhiêu năm đấu tranh chống xâm lược của các bộ tộc Lào. Sầm Nưa giải phóng là kết quả của tình đoàn kết anh em giữa hai nước Việt – Lào, của sự giúp đỡ không điều kiện của nhân dân, của quân đội Việt Nam tiêu diệt kẻ thù chung”. Tiếp sau buổi lễ mừng chiến thắng là tiệc mừng với món xôi được nấu theo kiểu dành riêng cho nhà vua do phu nhân của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông trực tiếp làm. Sau đó mọi người hát Chăm-pa và múa Lăm-vông thâu đêm.

Theo yêu cầu của bạn, Bộ Tổng tư lệnh để lại Trung đoàn 98 về nước sau, cùng với các đơn vị tình nguyện ở lại thị xã Sầm Nưa và vùng Nậm Hu. Từ đây Sầm Nưa trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng lào trong suốt hai cuộc kháng chiến.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:24:00 PM
*
*   *

Thất bại của Pháp ở Tây Bắc, Thượng Lào và các chiến trường khác trong cả nước đã dẫn tới những thay đổi to lớn về lực lượng so sánh giữa ta và địch. Ở chiến trường chính, quân ta luôn lập được ưu thế binh lực và giữ quyền chủ động tiến công, buộc địch phải chấp nhận những hình thức chiến đấu và những chiến trường do ta lựa chọn. Tình hình trên đã đẩy địch vào tình thế nguy ngập. Quân viễn chinh Pháp mặc dù được tăng nhanh từ 338 nghìn quân (năm 1951) lên 465 nghìn quân (năm 1953) nhưng chất lượng lại rất kém. Vì vậy, chúng lúng túng giữa tập trung ra miền Bắc và phân tán chiếm đóng ở miền Nam, giữa tiến công ra vùng tự do và lo giữ vững chúng kiểm soát, giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ hay bảo vệ Thượng Lào. Thất bại về quân sự và khó khăn về kinh tế, xã hội ở ngay nước Pháp đã làm nhụt ý chí xâm lược của giới cầm quyền Pháp.

Được Mỹ tăng viện trợ, những người cầm quyền Chính phủ Pháp tăng viện binh sang Đông Dương và tăng thêm quân ngụy. Đầu năm 1954, tổng quân số địch lên tới 480 nghìn.

Tháng 5 năm 1963, Chính phủ Pháp cả tướng Na-va – Tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc đại tây dương làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Báo chí Pháp ca ngợi Na-va là viên tướng trẻ xuất thân từ tình báo được đào tạo trong những trường lớn và có tư tưởng tiến công, có khả năng tìm ra lối thoát trong những tình huống khó khăn.

Sau 2 tháng ở Đông Dương, Na-va lên kế hoạch tác chiến gồm hai bước. Bước thứ nhất, trong Đông – Xuân 1953-1954 giữ vững thế phòng ngự chiến lược ở phía bắc vĩ tuyến 18 và tránh đương đầu với chủ lực của quân ta. Khẩn trương xây dựng lực lượng tổng dự bị chiến lược, đồng thời thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam và miền Trung Đông Dương, xóa bỏ vùng tự do Liên khu 5. Bước thứ hai, với lực lượng cơ động chiến lược đã được xây dựng từ mùa thu năm 1954, chuyển toàn bộ lực lượng ra miền Bắc, mở cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi quân sự, gây sức ép, buộc ta phải chấp nhận đàm phán tho những điều kiện do chúng đề ra nếu không chúng sẽ tiếp tục tiến công và tiêu diệt ta. Nội dung chủ yếu của kế hoạch Na-va là tổ chức khối chủ lực cơ động đến năm 1954 làm 7 sư đoàn cơ động chiến lược, gấp ba số binh đoàn hiện có.

Cả Pháp và Mỹ đều đặt niềm tin vào kế hoạch Na-va, họ hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược và sẽ chuyển bại thành thắng. Kế hoạch Na-va là cố gắng cao nhất, đồng thời cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong kế hoạch này, Na-va đã tính đế khả năng tiến công của quân ta, nhưng lại không đánh giá đúng sức mạnh của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện của nhân dân ta, không hiểu được thế và lực của quân đội ta, cũng như thế và lực đang xuống của chúng.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông – Xuân 1953-1954, ra nghị quyết có ý nghĩa lịch sử. Bộ Chính trị phân tích cực diện chiến tranh ở Đông Dương và âm mưu mới của Pháp – Mỹ, khẳng định kế hoạch Na-va tuy có gây cho ta những khó khăn mới, nhưng bản thân nó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Đại bộ phận chủ lực của địch đã tập trung ở Bắc Bộ, chủ yếu là đồng bằng. Ở các chiến trường khác, nhất là rừng núi chúng có nhiều sơ hở và yếu.

Quán triệt phương hướng chiến lược của hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1 năm 1953) là tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng. Bộ Chính Trị chủ trương đưa bộ đội chủ lực lên Tây Bắc. Ở đây ta có khó khăn lớn về tiếp tế, nhưng buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo ra thời cơ để ta tiêu diệt sinh lực của chúng.

 Bộ Chính trị dự kiến khi ta mở cuộc tấn công lên Tây Bắc có thể xảy ra chất công tích lớn đánh vào quân địch tăng viện ở vùng này.

Đó là những diễn biến chính trên chiến trường Đông Dương trong Hè - Thu năm 1953.

Thời gian này, sau chiến dịch Thượng Lào, theo lệnh của Bộ, Đại đoàn 316 đóng quân và hoạt động trên một địa bàn rất rộng. Đại bộ phận trung đoàn 98 làm nhiệm vụ bảo vệ và vận động quần chúng ở thị xã Sầm Nưa, 1 tiểu đoàn đứng chân ở đông bắc Luông Pha-băng. Trung đoàn 176 (thiếu) đứng chân ở Mộc Châu, còn một tiểu đoàn hoạt động mạnh gần Nà Sản. Đại đoàn bộ và Trung đoàn 174 hành quân về Cẩm Thủy, Thạch Thành (Thanh Hóa) làm nhiệm vụ chính huấn chính trị, huấn luyện bổ sung và củng cố tổ chức. Trung đoàn 174 có điều kiện tập trung, nên chúng tôi chỉ đạo sinh hoạt chính trị, huấn luyện quân sự đối với trung đoàn này, từ đó rút kinh nghiệm cho hai trung đoàn 98 và 176. Do đặc điểm vừa sẵn sàng chiến đấu, vừa học tập huấn luyện nên các trung đoàn 98 và 176 luân phiên, cứ 2 tiểu đoàn học tập huấn luyện thì 1 tiểu đoàn hoạt động đánh địch từ xa và làm công tác vận động quần chúng.

Chủ trương trên đã đem lại kết quả tốt, tạo bước ngoặt trong nhận thức tư tưởng và quyết tâm chiến đấu cũng như trình độ kỹ thuật, chiến thuật của cán bộ, chiến sĩ trong đại đoàn; nhất là kỹ thuật bắn súng, đánh bộc phá và chiến thuật đánh địch trong công sự vững chắc.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:24:48 PM
Kế hoạch tác chiến của ta trong Đông - Xuân năm 1953 - 1954 có mấy vấn đề lớn: Sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt địch, giải phóng Lai Châu. đề nghị bản Lào phối hợp với bộ đội tình nguyện Việt Nam mở cuộc tiến công ở Trung Lào tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng Phông-xa-lỳ. phối hợp với bộ đội Ít-xa-rắc (Cam-pu-chia) đánh địch mở rộng vùng giải phóng Đông Bắc Cam-pu-chia. tập trung phần lớn chủ lực Liên khu 5 mở cuộc tiến công lên Tây Nguyên.

Đây là kế hoạch chủ động mở cuộc tiến công quy mô lớn, có sự phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực của Bộ, chủ lực của quân khu và bộ đội địa phương tỉnh, huyện. Đồng thời có sự phối hợp giữa các chiến trường trong nước và giữa ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia.

Như vậy kế hoạch tác chiến của ta buộc Na-va phải bị động đối phó. Na-va muốn tập trung binh lực, xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh. Trái lại, ý định của ta buộc địch phải phân tán đối phó, phá vỡ kế hoạch xây dựng khối cơ động tập trung của địch và điều từng bộ phận chủ lực của chúng ra những hướng ta đã chọn để tiêu diệt.

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ, đầu tháng 11 năm 1953, Đại đoàn 316 từ Thanh Hóa hành quân lên Tây Bắc. Trước đó, Trung đoàn 176 đã kết hợp cùng quân và dân tỉnh Sơn La tiêu diệt và bắt hơn 2.000 tên phỉ dọc đường 41, giữa tả ngạn sông Mã đến hữu ngạn sông Đà, mở đường cho đại đoàn tiến vào Tây Bắc. Khi đại đoàn hành quân đến dốc Cun (Hòa Bình), thì anh Lê Quảng Ba - Đại đoàn trưởng đi theo bộ đội, còn tôi được lệnh về Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nghe phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954. Nhìn lại khu rừng quen thuộc với những lán nứa đơn sơ, chúng tôi ai cũng có cảm giác như mình vừa mới đi xa về. Vẫn những con đường rừng quen thuộc, vẫn hội trường lợp lá cọ, thưng nứa dưới tán cây cổ thụ kín đáo, nhưng hôm ấy bỗng trở nên náo nhiệt. Ngày đầu hội nghị nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp Thay mặt Tổng Quân ủy phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị và kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh trong chiến cuộc Đông - Xuân năm 1953-1954. Sang ngày thứ hai, chúng tôi được trên thông báo tình hình mới: ngày 20 tháng 11 năm 1953, Na-va cho 6 tiểu đoàn dù nhảy xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ. Một tình huống chiến lược mới đã xuất hiện. Thế là trước sự uy hiếp của ta, địch phải bị động đối phó, phải phân tán một lượng cơ động lên Điện Biên Phủ. Chúng tôi bàn tán nói về sự chỉ đạo tài tình của Bộ Chính trị và tổng Quân ủy đã điều địch lên Điện Biên Phủ.

Ngày 23 tháng 11 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giải thích: “vô luận rồi đây địch thay đổi thế nào, địch phải nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta. Nó bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa phân tán trên đóng đất đai và tập trung lực lượng, giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng”.

Tối 23 tháng 11, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi tôi đến và giao nhiệm vụ, Đại tướng nói:

- Anh Chu Huy Mân về đại đoàn gấp, tổ chức cắt bằng được con đường Lai Châu - Điện Biên Phủ, đồng thời giải phóng Lai Châu. Nếu địch bỏ chạy thì đuổi đánh đến cùng. Đại đoàn 316 sẽ mở màn thắng lợi cho chiến dịch Đông - Xuân.

 Tôi hứa với đồng chí Tổng Tư lệnh: Đại đoàn 316 quyết tâm thực hiện bằng được nhiệm vụ đồng chí đã giao. Tạm biệt đồng chí Tổng Tư lệnh, tôi hối hả ra về, đuổi theo cho kịp đơn vị. Phương tiện của tôi lúc đó cũng chỉ có chiếc xe đạp. Tôi ra Yên Thông nghỉ để sáng hôm sau đi sớm. Trong đầu tôi lúc đó luôn nghĩ: có lẽ Bộ Tổng tư lệnh đã có ý định sơ bộ, địch đã dấn thân lên Điện Biên, còn có cơ hội nào bằng!

4 giờ sáng hôm sau tôi vượt Đèo Khế theo đường đi Bình Ca (Yên Bái), đến đây tôi mua thêm mấy cân gạo và vài đôi má phanh xe đạp. Tôi đạp xe lên dốc, xuống đèo, má phanh siết vào vành xe khét lẹt. Đến đỉnh đèo Lũng Lô tôi còn chặt một cành cây khá to buộc sau xe. Đến ngày 25 tháng 11 năm 1953 qua đèo Pha Đin đến Tuần Giáo tôi mới gặp đơn vị. Tôi và anh Lê Quảng Ba hội ý thống nhất: Tập trung toàn bộ lực lượng đại đoàn vào hướng đông bắc Điện Biên Phủ. Đại đoàn bộ, Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 125 và Trung đoàn bộ Trung đoàn 98 hành quân theo hướng Tuần Giáo - Điện Biên đến Nà Tấu sẽ xuyên rừng vượt qua núi Pu San - Mường Pồn. Tiểu đoàn 938 làm nhiệm vụ bảo vệ Tuần Giáo, đề phòng địch nhảy dù đánh cắt hậu phương ta. Trước khi Trung đoàn 98 hành quân, tôi tranh thủ đến động viên anh em, tôi nói: “Địch đã bỏ Lai Châu rút chạy về Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ của đại đoàn ta là phải tiêu diệt cánh quân này không cho chúng về tăng cường cho Điện Biên Phủ. Các đồng chí hãy phát huy kinh nghiệm đuổi địch ở Thượng Lào và Trung đoàn 98, nắm vững thời cơ, kiên quyết đuổi đánh đến cùng, tiêu diệt địch đến cùng”.

Đã 20 ngày đêm hành quân không nghỉ, trèo đèo lội suối, băng qua đạn bom quân địch đánh chặn, ai nấy đều thấm mệt nhưng trước thời cơ tiêu diệt địch giải phóng Lai Châu, cả đại đoàn tràn đầy khí thế giết giặc lập công.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:25:14 PM
Đại đoàn bộ và Trung đoàn 174 từ Tuần Giáo theo đường Điện Biên Phủ hành quân qua Nà Tấu, vượt đốc Bống gặp con đường từ Mường Tòng về Điện Biên Phủ. Cạnh con đường này là sông Nậm Mức, mùa khô không sâu lắm, bộ đội có thể lội qua được.

Bộ phận đi trước của Trung đoàn 174 tới khu vực Mường Muôn – Mường Pồn triển khai đội hình chiến đấu sẵn sàng đánh quân địch từ Lai Châu chạy về.

Cùng thời gian này Tiểu đoàn 439 theo đường 41 tiến lên thị xã Lai Châu. Đến đèo Cơ-la-vô gặp địch, đơn vị tổ chức tiến công. Khi ta nổ súng tiến công, quân địch hốt hoảng bỏ chạy. Được nhân dân địa phương dẫn đường, ngay trong đêm 12 tháng 12, Tiểu đoàn 439 vượt qua cầu Sắt đánh chiếm và làm chủ thị xã Lai Châu. Thế là sau 8 năm kể từ Cách mạng tháng Tám thành công, thị xã Lai Châu mới được giải phóng.

Sáng ngày 12 tháng 12 năm 1953, Tiểu đoàn 251 (Trung đoàn 174) cho 1 đại đội tiến xuống Mường Pồn. Phát hiện trong bản có địch, chỉ huy tiểu đoàn cho bộ đội bao vây. Địa hình ở đây trống trải, nên địch phát hiện được, chúng tập trung hỏa lực bắn dữ dội; đồng thời gọi máy bay từ Điện Biên Phủ lên đánh phá ác liệt quanh Mường Pồn. Các chiến sĩ Đại đội 674 từng tổ, từng tiểu đội yểm hộ nhau áp sát quân địch. Thấy lực lượng ta ít lại ở thế không có lợi, địch chia làm ba mũi đánh ra phá vây. Các chiến sĩ Đại đội 674 chiến đấu dũng cảm, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Chiến sĩ liên lạc Bế Văn Đàn mang lệnh cho tiểu đội Chu Văn Pù giữa lúc anh em đang gặp khó khăn, cả tiểu đội còn 4 người đang phải ngăn chặn một cánh quân địch. Tiểu đội trưởng Chu Văn Pù với khẩu trung liên đang lúng túng vì địa thế thấp không phát dương hỏa lực. Bế Văn Đàn lao đến trước Chu Văn Pù, anh quỳ xuống nhấc hai chân súng đặt lên vai mình và giục Chu Văn Pù bắn. Sau một phút do dự, Chu Văn Pù siết cò. Hàng chục tên giặc gục ngã, cánh quân địch bị chặn đứng. Gương chiến đấu hy sinh của Bế Văn Đàn đã cổ vũ toàn đơn vị xông lên đánh tan quân địch.

2 giờ sáng ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 251 được tăng cường Đại đội 317 bắt đầu nổ súng tiến công địch. Chỉ sau 30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa, loại khỏi vòng chiến đấu 2 đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn ngụy số 301 và 1 đại đội vận tải.

Cũng vào những ngày này, cánh quân địch từ Điện Biên Phủ lên đón cánh quân từ Lai Châu chạy về cũng bị chặn đánh từ Bản Tấu đến Mường Pồn. Đường từ Mường Pồn đi Điện Biên Phủ bị chặn đứng, cánh quân từ Lai Châu phải chia thành hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất gồm các đơn vị ở Nậm Lầm, Sốp Nhom tìm đường xuyên rừng luồn về Điện Biên Phủ. Bộ phận thứ hai gồm tàn quân Mường Tòng, Mường Bum, Mường Chà ở vùng Pa Cối, Mường Mô tìm đường chạy sang Lào.

Chúng tôi sử dụng Tiểu đoàn 255 (Trung đoàn 174) hành quân lên hướng Mường Tòng phối hợp với Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) từ Lai Châu đánh xuống. Các tiểu đoàn 249, 251 (Trung đoàn 174) hành quân đến Nậm Lầm, Sốp Nhom. Tiểu đoàn 215 (Trung đoàn 98) bố trí ở Mường Pồn để tiếp sức Trung đoàn 174 khi cần thiết. Tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 176) đứng chân ở Mường Pồn sẵn sàng đánh địch từ Điện Biên Phủ lên Lai Châu và quân địch từ Lai Châu chạy về.

Chiều ngày 13 tháng 12 năm 1953, bộ phận đi Lai Châu của Tiểu đoàn 255 đến cách Mường Tòng 1km bắt liên lạc với Tiểu đoàn 439 từ Lai Châu tiến xuống. Hai cánh quân của ta gặp nhau, chỉ huy đại đoàn ra lệnh đánh Mường Tòng ngay. Quân địch ở đây chống cự yếu ớt rồi tháo chạy. Bộ đội ta truy đuổi ráo riết đến 21 giờ thì gặp địch, diệt được một số tên và bắt 24 tên, trong đó có tên quan ba Pháp Guy-éc-mít. Bọn địch sống sót chạy về Nà Pheo, chưa kịp hoàn hồn thì bị quân ta tiến công diệt gọn 1 đại đội. Tiểu đoàn 255, Tiểu đoàn 439 tiếp tục đuổi đánh địch về phía Sí Pa Phin, qua Mường Chà bắt gọn một tốp địch 36 tên, Tại Mường Nhí các chiến sĩ nuôi quân dùng mưu bắt 40 tên nữa.

Tại Sốp Nhom, Tiểu đoàn 249 và Tiểu đoàn 251 hành quân đến Huồi Mét gặp địch đánh tan 1 đại đội, bắt gần 40 tên, thu nhiều vũ khí. Đến đây mũi đuổi địch ở phía tây của Đại đoàn 316 cơ bản hoàn thành nhiệm vụ.

Trong 12 ngày đêm liên tục đuổi đánh địch trên mọi chặng đường dài 300km, Đại đoàn 316 thể hiện tinh thần chiến đấu rất cao, tốc độ tiến công nhanh, sức chiến đấu dẻo dai, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Trong cuộc đuổi địch này, đại đoàn đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch: đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, 24 đại đội thu 528 súng trường, 148 trung liên, 5 súng cối, 12 máy thông tin, 200 lừa ngựa, nhiều quân trang quân dụng. Đặc biệt, đại đoàn tiêu diệt cánh quân từ Lai Châu rút về Điện Biên Phủ, đã giáng một đòn mạnh vào âm mưu tập trung lực lượng của Na-va.

Chiến thắng Lai Châu đã kết thúc vĩnh viễn 90 năm giặc Pháp thống trị địa bàn này, làm sụp đổ các chế độ phong kiến phản động, phá tan khối quân ngụy Thái, đập vỡ hoàn toàn âm mưu lập “Xứ Thái tự trị” của địch, chia rẽ các dân tộc.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:26:25 PM
*
*   *

Tháng 12 năm 1953, địch ra sức tăng cường và củng cố Điện Biên Phủ. Chúng cho binh lính ngày đêm hoàn thành hai sân bay dã chiến ở Mường Thanh và Hồng Cúm, xây dựng hầm hào và trận địa. mỗi ngày máy bay vận tải chở hàng chục tấn đồ dùng quân sự. Xe tăng, pháo lớn được tháo rời từng bộ phận đưa lên lắp ráp tại chỗ. Địch thường xuyên có ở Điện Biên Phủ 20.000 tấn lương thực, đạn dược dự trữ.

Đến khi ta nổ súng tiến công, địch có gần 4 tháng để xây dựng và củng cố hệ thống phòng ngự ở Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng 12 tiểu đoàn, 7 đại đội bộ binh, hai tiểu đoàn pháo 105 ly (24 khẩu), 2 tiểu đoàn cối 120 ly (20 khẩu), 1 đại đội trọng pháo 155 ly (4 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 đại đội xe vận tải (200 xe ô tô) và 1 phi đội máy bay (14 chiếc).

Trong phạm vi một lòng chảo dài 11km, rộng 3km, địch xây dựng 49 cứ điểm, chia thành 8 trung tâm phòng ngự, có hệ thống hỏa lực yểm trợ nhau chặt chẽ, có giao thông hào đi lại thuận lợi. Mỗi cứ điểm có hằm hào tiến cố và hàng rào dây thép gai bao quanh từ 50 đến 200m xen lẫn là các bãi mìn. Tại Mường Thanh và Hồng Cúm có hai trận địa pháo. sân bay Mường Thanh và sân bay Hồng Cúm nối tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với Hà Nội bằng sân bay Gia Lâm và với Hải Phòng bằng sân bay Cát Bi. Điện Biên Phủ còn được sự yểm trợ bằng máy bay chiến đấu cất cánh từ các sân bay Gia Lâm và Cát Bi.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chia thành ba phân khu: Phân khu Trung tâm nằm ở ngay giữa Mường Thanh, có 5 tiểu đoàn chiếm đóng, 3 tiểu đoàn cơ động. Tại đây được tổ chức hàng năm trung tâm để kháng bao bọc lấy cơ quan chỉ huy của tập đoàn. các trung tâm đề kháng đó là: Đồi D, phòng ngự hướng đông bắc gồm các cứ điểm D1, D2, E1, D3, 203, 204, 507, 508 do ba tiểu đoàn An-giê-ri trên giữ. Trung tâm để kháng Đồi A1 phòng ngự hướng đông và đông nam, là khu vực phòng ngự then chốt của trận địa trung tâm gồm các cứ điểm C1, C2, A3, 512, 506, 511, do tiểu đoàn 1 Ma-rốc và 2 tiểu đoàn ngụy Thái chiếm giữ. Trung tâm đề kháng nam sân bay Mường Thanh, phòng ngự hướng Tây Nam gồm các cứ điểm 309, 310, 311B, 305, 322, 603... do tiểu đoàn lê-dương chiếm giữ.

Phân khu Bắc gồm hai trung tâm đề kháng là đồi Độc Lập, do 1 tiểu đoàn An-giê-ri chiếm đóng và trung tâm Bản Kéo do tiểu đoàn ngụy Thái chiếm đóng.

Phân khu Nam (Hồng Cúm), có nhiệm vụ ngăn chặn quân ta từ phía nam lên: lực lượng 1 tiểu đoàn lê-dương (tiểu đoàn An-giê-ri), 1 đại đội pháo 105 ly và 1 trung đội xe tăng (3 chiếc).

Địch cho rằng Điện Biên Phủ nằm giữa núi rừng Tây Bắc, rất xa căn cứ hậu phương ta, khiến ta hoàn toàn không có khả năng huy động hậu cần cung cấp cho bộ đội trong một thời gian dài cũng như sẽ gặp khó khăn trong vấn đề vận chuyển vũ khí nặng. Đó là chưa kể đến những trở ngại và tổn thất rất lớn mà quân Pháp có thể gây ra cho việc chuyển quân và tiếp tế của ta. Mặt khác, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đóng giữ thung lũng khá rộng, ta rất khó giải quyết vấn đề đưa bộ đội vượt qua cánh đồng bằng phẳng để tiến công. Từ những nhận định trên, Na-va chuẩn bị một cuộc đọ sức với chủ lực ta. Hắn coi Điện Biên Phủ là chiến trường lý tưởng được lựa chọn để “nghiền nát” chủ lực ta nếu ta mạo hiểm mở cuộc tiến công.

Ngày 14 tháng 1 năm 1954, cán bộ chỉ huy các đại đoàn được triệu tập về hang Thẩm Púa. Tôi gặp anh Lê Trọng Tấn, Đại đoàn 312; anh Vương Thừa Vũ, anh Cao Văn Khánh, Đại đoàn 308; anh Nam Long, Đại đoàn 304 và anh Phạm Ngọc Mậu, Đại đoàn 351.

Đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng chiến dịch trình bày tình hình chung trên các chiến trường. Đồng chí nêu quyết tâm của trung ương Đảng, của Bác Hồ trong việc mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch tiến công lớn nhất của quân đội ta. Trận đánh sẽ đánh dấu bước tiến vượt bậc của quân đội ta; đồng thời đánh bại cố gắng cao nhất về chiến tranh của quân đội viễn chinh Pháp. Sau đó, chúng tôi thảo luận hai phương án: “Đánh chắc, tiến chắc” và “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”. “Đánh chắc” thì hướng chủ yếu là hướng đông; “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” lấy hướng tây làm chủ yếu. Hướng tây là hướng địch yếu hơn, từ hướng tây, chúng ta có thể đánh thẳng vào sở chỉ huy trung tâm, đầu não của tập đoàn cứ điểm. Sau khi thảo luận, chúng tôi nhất trí phương án “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Tuy nhiên, dựa trên nguyên tắc “đánh chắc thắng” của Nghị quyết Trung ương lần thứ 4; chúng tôi cũng nhất trí rồi đây tình hình địch có thay đổi, Có thể chúng ta sẽ chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc”. Cuối cùng, hội nghị hạ quyết tâm: tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Địch cố thủ kiên quyết đánh! Địch bỏ chạy kiên quyết truy! Địch tăng cường kiên quyết diệt!


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:27:20 PM
Theo kế hoạch ban đầu, bộ chỉ huy chiến dịch ấn định ngày nổ súng là 24 tháng 1 năm 1954. Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tiến công các cứ điểm A1, A2 và Khu C. Đúng ngày giờ quy định, toàn đại đoàn và các đơn vị bạn trong mặt trận đã chiếm lĩnh xong trận địa, sẵn sàng nổ súng. Giữa lúc đó, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh hoãn cuộc tiến công. Toàn đại đoàn lại bí mật rút khỏi trận địa. Bộ đội ngỡ ngàng trước lệnh rút quân. Về vị trí tập kết, bộ đội mới được giải thích, do tình hình địch thay đổi nhiều nên chủ trương: “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” phải thay đổi thành “Đánh chắc, tiến chắc”, tạm dừng tiến công để chuẩn bị tốt các mặt như làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa, vận chuyển lương thực, đạn dược…

Thực hiện chủ trương tác chiến mới, theo kế hoạch của Bộ chỉ huy chiến dịch, các đại đoàn làm đường kéo pháo và xây dựng trận địa tiến công. Đại đoàn 316 có nhiệm vụ làm con đường kéo pháo từ Nà Tấu qua cánh đồng Mường Phăng, con đường từ Bản Sôm đi Pú Hồng Mèo.

 Bộ chỉ huy chiến dịch cho đại đoàn 316 đưa lực lượng chốt giữ khu vực đồi Xanh, một dãy điểm cao nối tiếp nhau ngăn cách cánh đồng Mường Thanh với dãy Tà Lèng, nhằm bảo đảm an toàn cho lực lượng làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa bao vây tiến công ở phía đông tập đoàn cứ điểm. cuộc chiến đấu giữ đồi Xanh diễn ra ác liệt suốt 32 ngày đêm, các chiến sĩ Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) đã đánh bại 6 lần tiến công của địch, tiêu diệt 680 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắn hỏng 1 xe tăng.

Cùng thời gian này, các đơn vị của đại đoàn đã hoàn thành hai con đường kéo pháo dài 34km, với hai chiếc cầu từ 3 đến 15m, trước thời gian quy định.

17 giờ 10 ngày 13 tháng 3 năm 1954, 40 khẩu pháo 75 ly, cối 120 ly; lựu pháo 105 ly được lệnh nhả đạn. Đạn pháo cối của ta rót trúng Him Lam, khu trung tâm tập đoàn cứ điểm, sân bay Mường Thanh, sân bay Hồng Cúm. Chỉ huy trưởng và phó cụm Him Lam cùng viên trung tá thuộc phân khu Trung tâm và cả ban tham mưu địch đều bị tiêu diệt trong đợt này.

Được pháo binh chi viện, các chiến sĩ Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 ngoan cường chiến đấu, đến 23 giờ 30 phút hoàn toàn làm chủ cứ điểm Him Lam. hơn 200 tên bị diệt, 270 tên bị ta bắt làm tù binh. Mất Him Lam, bộ chỉ huy quân Pháp bàng hoàng và liên tục tung quân ra phản kích chiếm lại. Nhưng suốt ngày 14 tháng 3 quân địch ở Điện Biên Phủ phải lo đối phó với các cuộc pháo kích của pháo binh ta.

Đêm 14 tháng 3, ta mở đợt tiến công vào cụm cứ điểm đồi Độc Lập một cứ điểm cách trung tâm Mường Thanh 4km về phía bắc. Trung đoàn 165 Đại đoàn 312 và trung đoàn 88 Đại đoàn 308 do anh Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 chỉ huy đã chiến đấu từ 2 giờ sáng đến 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4, ta hoàn toàn làm chủ đồi Độc Lập. Địch bị ta diệt 483 tên, bắt 206 tên.

Hai trung tâm Him Lam và Độc Lập thất bại, tinh thần binh lính ở Bản Kéo suy sụp. 15 giờ ngày 17 tháng 3, sau khi ta bắn 20 lựu pháo, binh lính tiểu đoàn ngụy Thái kéo cờ trắng ra hàng.

Địch mất Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, cánh cửa tiến vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của ta đã mở. để chuẩn bị cho tiến công vào trung tâm Mường Thanh, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ cho các đơn vị phải nhanh chóng xây dựng trận địa tiến công, bao vây quân địch ở khắp các hướng trong cự ly có hiệu lực của các loại súng bộ binh; đồng thời chia cắt phân khu Hồng Cúm với trung tâm Mường Thanh. Thực hiện kế hoạch trên, Đại đoàn 316 xây dựng trận địa từ Khe Chít xuống tây nam nối với trận địa của Đại đoàn 308 ở Cò Mị. Đại đoàn 312 xây dựng trận địa từ Huối Phạ vòng qua tây bắc đồi Độc Lập. Trận địa ba đại đoàn tạo thành vòng vây bao quanh khu trung tâm Mường Thanh. Ở phía nam, Đại đoàn 304 được tăng cường Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 (Đại đoàn 316) làm trận địa chạy từ đông sang tây, cắt phân khu Hồng Cúm khỏi khu trung tâm.

Xây dựng, triển khai trận địa trong điều kiện gần địch, do vậy các đơn vị đều gặp không ít khó khăn. Đoạn đường do Đại đoàn 316 phụ trách phải qua nhiều núi đá. Những nơi cần phá đá, anh em công binh phải khoan đá đặt mìn xong xuôi để khi pháo của ta bắn vào Điện Biên Phủ thì đồng thời cho nổ mìn phá đá. Mọi công việc phải làm vào ban đêm và ngụy trang hết sức kín đáo. Những trận mưa làm cho hào đầy nước lầy lội. Chiến sĩ ta phải đầm mình trong bùn nước, đào từng mét công sự, hầm hào. Đến cuối tháng 3 năm 1954, đại đoàn đã đào được 34km đường hào, hơn 10 nghìn hầm hố lớn nhỏ, hàng chục trận địa hầm pháo; trận địa xuất phát xung phong của các trung đoàn 174 và 98 đã làm xong dưới chân các cứ điểm A1, C1.

Đợt 2 chiến dịch bắt đầu. Hướng tiến công của chiến dịch chuyển sang phía đông, lực lượng chủ yếu là Đại đoàn 316. Trung đoàn 174 có nhiệm vụ tiêu diệt đồi A1, Trung đoàn 98 tiêu diệt đồi C1, C2. Thời gian bắt đầu tiến công đợt 2 vào chiều ngày 30 tháng 3 năm 1954. Sau mấy ngày mưa trời đã tạnh, bộ đội ta chiếm lĩnh trận địa. 17 giờ 30 phút, pháo binh chiến dịch bắn chuẩn bị, cuộc tiến công lớn vào các cứ điểm pháo binh bắt đầu.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:28:01 PM
Trên hướng đông, Trung đoàn 98 do anh Vũ Lăng làm trung đoàn trưởng chỉ huy tiến công cứ điểm C1. Sau 45 phút, trung đoàn làm chủ cứ điểm, diệt 106 tên, bắt 30 tên lính Ma-rốc. Thừa thắng, trung đoàn điều Tiểu đoàn 215 tiến công sang C2 (một quả đồi thấp hơn dính liền với C1 bởi một “yên ngựa”. C2 nằm vào phía trong tập đoàn cứ điểm C1 án ngữ vòng ngoài).

Tiểu đoàn 215 dùng Đại đội 35 liên tục xung phong xuống C2. Kết quả, 1 trung đội đột nhập vào C2, nhưng ngay sau đó thì mất liên lạc. Về sau chúng tôi biết qua lời kể của tù binh: Những chiến sĩ của trung đội ấy đã chiến đấu với một tinh thần rất cao, làm cho binh lính địch khiếp sợ. Hết đạn, hết cả lựu đạn, họ dùng đến quả bộc phá cuối cùng, lao cả người và bộc phá vào đội hình quân thù. Tất cả những chiến sĩ ấy đều hy sinh trong tư thế chiến đấu hiên ngang, lẫm liệt.

Trận đánh C2 không thành.

Trên hướng Trung đoàn 174 tiến công A1, Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội súng cối 120 ly, 1 đại đội sơn pháo 75 ly được chi viện 1 đại đội lựu pháo 105 ly. A1 là vị trí có tầm quan trọng bậc nhất, làm điểm cao then chốt trong dãy điểm cao phòng ngự phía đông tập đoàn cứ điểm. Chiếm được A1, ta có thể uy hiếp mạnh mẽ và phong tỏa được khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời, thu hẹp phạm vi thả dù, tiến tới triệt hẳn tiếp tế đường không của địch. A1 còn là bàn đạp rất tốt để đánh vào khu trung tâm Mường Thanh. A1 vốn là đồn cũ do quân Pháp xây dựng từ năm 1940, sau được Nhật tu sửa thêm, nay được Pháp cải tạo, củng cố. Trên đồi có nhiều tuyến chiến hào giao thông liên hoàn. Dựa vào địa thế tự nhiên, địch chia A1 làm 3 tuyến phòng thủ. Ngoài cùng là tuyến chủ yếu, tuyến trung gian có đặt hỏa lực, tuyến trong cùng có mỏm đồi cao nhất là tuyến cố thủ và sở chỉ huy. Bên ngoài có 5 lớp rào dày trên 100m, xen kẽ nhiều mìn.

Trung đoàn 174 tổ chức đột phá hai mũi, đến 21 giờ 30 phút các mũi mở cửa xong, bộ binh xung phong đánh vào cứ điểm. Địch dựa vào hầm ngầm trên đỉnh đồi chống cự rất quyết liệt, cuộc chiến đấu của Trung đoàn 174 diễn ra ác liệt. Trung đoàn đã tung hết lực lượng dự bị, nhưng đến sáng 31 tháng 3 cũng chỉ chiếm được một phần A1.

Đêm thứ hai, Bộ chỉ huy chiến dịch điều Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) sang hướng đông tiếp tục đánh đồi A1. Trung đoàn 102 (thiếu) do anh Hùng Sinh chỉ huy, anh Vũ Yên – Tham mưu trưởng đi sát giúp đỡ, anh Vương Thừa Vũ – Đại đoàn trưởng 308 tăng cường chỉ huy.

Đêm 31 tháng 3, Trung đoàn 102 và một bộ phận Trung đoàn 174 tiến công A1 lần thứ hai. Cuộc chiến đấu kéo dài đến ngày 1 tháng 4, ta chiếm được hai phần ba vị trí. Ban ngày địch tổ chức phản kích chiếm lại phần lớn trận địa. Đêm 1 tháng 4, ta tổ chức tiến công lần thứ ba cũng không thành. Trận đánh ở khu vực này kéo dài đến ngày 4 tháng 4, ta chỉ chiếm được một phần ba đồi A1. Bộ chỉ huy chiến dịch cho Trung đoàn 102 rút về củng cố và giao cho Trung đoàn 174 phòng ngự giữ phần đồi đã chiếm được.

Trên toàn mặt trận, đợt tiến công lần thứ hai tuy chưa thực hiện được nhiệm vụ, mục tiêu đề ra, nhưng ta cũng giành được những thắng lợi quan trọng. Ta đã tiêu diệt được 3 tiểu đoàn tinh nhuệ của địch, bắn rơi 4 máy bay, đánh chiếm 4 điểm cao quan trọng và một phần đồi A1.

Tại khu đông, địch còn giữ được C2 và phần lớn A1. Ta nhận định địch có thể đánh ra giành lại C1 để tạo thế bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh. Bộ chỉ huy Đại đoàn 316 lệnh cho Trung đoàn 98 tổ chức phòng ngự C1.

Trung đoàn 98, sau khi chiếm lại hoàn toàn C1 cử đơn vị công binh cùng 1 trung đội tăng cường của Đại đội 70 tổ chức phòng ngự. Suốt mấy ngày địch vẫn thường xuyên bắn pháo và cối lên C1 và khu vực trận địa xuất phát xung phong của ta. Phán đoán trước ý đồ của địch, sáng sớm ngày 10 tháng 4, Trung đoàn 98 điều 2 trung đội của Đại đội 28 lên tăng cường C1. Với ưu thế hơn hẳn về binh lực và hảo lực, 5 đại đội địch lần lượt mở nhiều cuộc phản kích. Đại đội 70 đánh bật địch trở lại, nhưng ta thương vong nhiều. 8 giờ, ta buộc phải lui xống giữa nửa đồi phía đông, điều tiếp Đại đội 28 đến tăng viện. Trước sức đánh trả của ta, địch phải co về củng cố tuyến mới chiếm được. Nhận thấy ta không dủ sức phản kích ngay, ta cho các đơn vị sửa chữa công sự bố trí lại lực lượng, kiên quyết giữ vững trận địa còn lại. Đồng thời, trung đoàn cũng điều bổ sung lực lượng tăng cường cho hướng này.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:28:41 PM
Ngày 8 tháng 4, địch tăng viện cho Điện Biên Phủ tiểu đoàn dù thứ tư. Ngày 9 tháng 4, chúng tổ chức phản kích hòng chiếm lại C1. Lực lượng phòng ngự của Trung đoàn 98 chiến đấu dũng cảm bẻ gẫy nhiều đợt xung phong của địch, nhưng do địch đông và được các cứ điểm lân cận hỗ trợ nên đến trưa ngày 10, chúng chiếm được một nửa đồi phía tây, ta chỉ giữ được nửa đồi phía đông. Từ đây đồi C1 chia đôi, ta và địch mỗi bên một nửa, cách nhau 15-20m. Cuộc chiến chuyển sang giằng co, ta và địch giành giật từng giờ từng phút. Trong ba ngày chiến đấu hết sức dũng cảm trên đồi C1, quân ta đã tiêu diệt 3 đại đội thuộc tiểu đoàn lê-dương số 1 và số 8.

Sau khi tạm ngừng đợt tiến công, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức rút kinh nghiệm, kết hợp tự phê bình, phê bình chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực; đồng thời hạ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đề ra cho đợt 2.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 10 tháng 4, Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ cho các đon vị như sau:

Đại đoàn 316 làm trận địa tiến công ở đông Mường Thanh, bên trái tiếp giáp Đại đoàn 312, bên phải tiếp giáp Đại đoàn 308, xây dựng trận địa tiến công cứ điểm A1, C2, củng cố trận địa phòng ngự ở đồi C1, A1.

Đại đoàn 308 bố trí trận địa phía tây, từ sông Nậm Rốm đến Bản Kéo, có nhiệm vụ làm các trận địa tiến công các cứ điểm 206, 311A, 311B, 310, bố trí chặn viện giữa các cứ điểm 105, 206, 208, phối hợp với Đại đoàn 312 đào giao thông hào cắt ngang sân bay ở đoạn nam cứ điểm 206.

Đại đoàn 312 bố trí ở phía bắc từ Bản Kéo đến đoạn đông sân bay Mường Thanh, có nhiệm vụ củng cố trận địa phòng ngự ở các cứ điểm 201, 202, xây dựng trận địa tiến công các cứ điểm 105, 203, phối hợp với Đại đoàn 308 đào giao thông hào cắt ngang sân bay.

Đại đoàn 351 xây dựng trận địa pháo ở tây bắc Mường Thanh, đưa pháo vào sát vùng lòng chảo, tổ chức phòng không, hiệp đồng chặt chẽ các loại pháo chi viện cho bộ binh và kiềm chế pháo địch.

Là một trong những lực lượng tiến công chủ yếu trong đợt hai, cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 316 đã hết sức cố gắng chiến đấu ngoan cường, góp phần vào thắng lợi chung. Trận đánh chiếm đồi C1 đêm 30 tháng 3 cũng như những trận tiến công, phản công, phòng ngự trên đồi A1, C2 những ngày qua thể hiện tinh thần kiên cường, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ ta. Mặc dù đạt được một số thành tích như vậy, song so với yêu cầu của chiến dịch thì Đại đoàn 316 chưa làm tròn nhiệm vụ trên giao, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch chung và bị tổn thất nhiều. Trước tình hình đó, tư tưởng tiêu cực xuất hiện. Có cán bộ không tin chiến sĩ mới, không tin đơn vị mình có khả năng tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ, thắc mắc với trên, đổ lỗi cho dưới… Trong chiến sĩ, một số sợ máy bay, pháo địch, không đi nằm trận địa, không dám lên trận địa phòng ngự…

Đảng ủy Đại đoàn chủ trương mở đợt giáo dục tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ để nâng cao quyết tâm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, kiên quyết chống tư tưởng tiêu cực. Đảng ủy Đại đoàn chủ trương lấy tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp, đấu tranh đến cùng với kẻ thù giai cấp và lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình.

Các đồng chí ủy viên Đảng ủy Đại đoàn gương mẫu tự phê bình và phê bình thắng thắn, chỉ ra những thiếu sót trong công tác lãnh đạo và chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh. Các đơn vị cũng tiến hành đấu tranh nghiêm túc trên tình đồng chí, giúp đỡ nhau. Mọi người nhìn rõ chỗ mạnh của đơn vị và bản thân; đồng thời cũng thấy chỗ hạn chế và khuyết điểm của mình, nhận rõ những khó khăn trước mắt trên đường đi tới thắng lợi của ta, thấy chỗ mạnh tạm thời của và thất bại không thể tránh khỏi của chúng. Mọi công tác chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới của đại đoàn được tiến hành khẩn trương, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ xây dựng trận địa, đánh lấn, bắn tỉa, đánh phá hậu phương, kho tàng địch. Công tác chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới được tiến hành tích cực.

Trung đoàn 98 đào 3 con hào từ hướng đông, đông bắc và đông nam vào. Tiểu đoàn 439 xây dựng trận địa hỏa lực của trung đoàn trên mỏm Thia Lia kề với C2, cách hàng rào cuối cùng 60m. Ở A1, ngoài các con hào từ phía đông và đông bắc vào, Trung đoàn 174 đào thêm hào ở phía tây nam lượn theo chân đồi E (cách đông nam A1 khoảng 200m), lợi dụng khe suối cạn thọc ra đường 41, rồi quặt lên phía tây nam A1. Khi đào con hào này, bộ đội gặp phải sự khống chế quyết liệt của pháo binh và lưới lửa của bộ binh địch ở A1, A3 và Mường Thanh. Nhưng chính đường hào này sẽ tạo điều kiện cho bộ binh ta áp sát A, hình thành vòng vây từ ba phía đông, đông nam và tây nam. Lực lượng ta thọc sâu vào A3 ở phía tây nam A1, sẽ cắt hoàn toàn con đường tiếp tế của địch từ Mường Thanh lên A3, A1; đồng thời sẽ là đòn hiểm đánh vào sau lưng A1, bịt hẳn đường rút chạy của địch. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã không ngại gian khổ, ác liệt nhiều lần trinh sát, tìm mọi cách bảo đảm an toàn cho bộ đội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:29:34 PM
Khi phát hiện ta đào các đường hào, địch điên cuồng dùng bom đạn ngăn chặn. Mỗi mét hào đều thấm máu cán bộ, chiến sĩ ta. Anh em đã sáng tạo nhiều biện pháp giảm thương vong và thúc đẩy công việc tiến triển nhanh, như: mài xẻng thật sắc để gọt đất cho êm, kéo rơm thật chặt làm lá chắn đỡ đạn, bện rơm làm “áo giáp” che lưng, đào dúi kết hợp với đào ngầm, khoét từng đoạn đường hào ngầm rồi đánh sụp, hất đất và ngụy trang xong lại đào tiếp…

Lúc này một vấn đề quan trọng trong kế hoạch tiến công A1 thu hút tâm trí các đồng chí chỉ huy đại đoàn là tìm cách đào hầm ngầm. Nhiều phương án được đưa ra bàn bạc. Cuối cùng kế hoạch đào một đường hầm từ trận địa ta đến chân hầm địch, rồi dùng một lượng thuốc nổ 1.000 kg đánh sập hầm được Bộ chỉ huy Đại đoàn báo cáo lên Bộ chỉ huy chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch phê chuẩn và tăng cường cho đại đoàn một tổ công binh có kỹ thuật và kinh nghiệm cùng với công binh đại đoàn thực hiện nhiệm vụ đào hầm ngầm.

Tối ngày 20 tháng 4, anh Lê Quảng Ba – Đại đoàn trưởng trực tiếp chỉ đạo đào đường hầm, nghe báo cáo kết quả từng ngày. Chiến sĩ công binh khẩn trưởng bắt tay vào nhiệm vụ nghiên cứu định hướng, bộ binh thay phiên nhau nằm đào. Đào được vài đêm thì địch phát hiện tiếng động trong lòng đất, chúng nghi ngờ cho máy bay, pháo binh bắn phá liên tục xuống trận địa ba. Ban đêm bộ binh địch ném lựu đạn, xả súng bắn xuống đường hầm ta đang đào.

Đường hào đào vào càng sâu công binh càng gặp khó khăn về kỹ thuật như thiếu ánh sáng và không khí, cách đào để giữ cho hướng và độ chênh của đường hầm vào đúng vị trí hầm ngầm, cách đưa đất ra ngoài sao cho vừa nhanh vừa không lộ… đều là những vấn đề nan giải. Bộ Tư lệnh Đại đoàn đã gửi cho anh em công binh bộ đèn sô-lếch vẫn dùng ở sở chỉ huy, lực lượng dân công tập trung khâu gấp hàng nghìn túi vải dù để đựng đất kéo ra và làm bờ công sự. Việc giữ sáng đúng hướng và động chênh của đường hầm được thực hiện bằng cách tính toán của pháo binh với cách hiệu chỉnh đơn giản, dùng cây hương cháy đỏ làm vật chuẩn và ống tiêm đựng nước làm ống thăng bằng. Để không khí trong hầm bớt ngột ngạt, anh em dùng quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Với sự cố gắng và nỗ lực cao, con đường hầm đã được hoàn thành đúng kế hoạch.

Ngày 16 tháng 4 năm 1954, chiến hào của Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 nối liền với nhau cắt đôi sân bay Mường Thanh. Đêm 18 tháng 4, sau nhiều ngày vây lấn, Trung đoàn 165 tiến công dứt điểm cứ điểm 105. Sáng ngày 19 tháng 4, địch cho quân ra phản kích bị Đại đoàn 308 chặn đánh phải quay lại cứ điểm 105. Cứ điểm bảo vệ phía bắc sân bay bị xóa sổ. Đêm 22 tháng 4, Trung đoàn 36 sau ba ngày vây lấn cũng đã tiến công chiếm gọn cứ điểm 206. Ngày 24 tháng 4, địch tung tiểu đoàn lê-dương số 12 cùng 5 xe tăng có pháo binh, không quân yểm trợ mở đợt phản kích quyết liệt, hòng đánh ta ra khỏi 206 và khu vực sân bay. Được pháo binh chi viện đắc lực, bộ đội ta đã đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ cắt đôi sân bay Mường Thanh, thu hẹp phạm vị chiếm đóng của địch.

Từ trung tuần tháng 4, kết hợp với vây hãm, đánh lấn, các đơn vị còn tích cực tham gia bắn tỉa, tổ chức các đội dũng sĩ luồn sâu, các tổ đoàn dù gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực, phương tiện, căng thẳng về tinh thần.

Cùng với hoạt động vây ép của bộ binh, pháo cao xạ và súng máy phòng không của các đại đoàn tiến sâu vào thung lũng, tạo một lưới lửa phòng không không cho địch dùng máy bay tiếp tế cho quân địch bị vây trong lòng chảo Điện Biên Phủ. Đến giữa tháng 4, ta đã hạ 50 máy bay địch, buộc chúng phải thả dù ở độ cao trên 3km, do đó trên một phần ba số dù tiếp tế rơi vào trận địa của ta.

Đến cuối tháng 4, mọi công tác chuẩn bị cho đợt tiến công mới đã hoàn tất. Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra nhiệm vụ trong những ngày đầu tháng 5 là phải đánh chiếm xong khu ngoại vi, diệt thêm một số sinh lực địch, đánh chiếm toàn bộ các điểm cao phía đông và một số cứ điểm phía tây, hoàn thành triệt tiêu đường tiếp tế của địch.

Để tạo khí thế sôi nổi, Bộ chỉ huy chiến dịch phát động đợt thi đua từ ngày 1 đến ngày 19 tháng 5 để chào mừng ngày Quốc tế lao động và ngày sinh Bác Hồ. Đối với Đại đoàn 316, đây còn là đợt thi đua lập thành tích chào mừng 3 năm ngày thành lập Đại đoàn (1-5-1951 - 1-5-1954). Theo phương án của Bộ chỉ huy chiến dịch, mở đợt 3, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ đánh chiếm khu bộ đồi C1; đồng thời dùng một bộ phận nhỏ phối hợp đánh ở phía A1, nhằm phân tán sự đối phó của địch, tranh thủ mở rộng bàn đạp tiến công.

Cho đến cuối tháng 4 năm 1954, vòng vây của quân ta đã siết chặt, phạm vi chiếm đóng của định mỗi bề chỉ còn lại từ 1,3 đến 1,7km, lực lượng của chúng cũng không vượt quá 37 đại đội. việc thả dù tiếp tế cho Điện Biên Phủ cũng hết sức khó khăn, lương thực, phẩm khan hiếm, binh lính địch thực sự lâm vào tình trạng khốn quẫn. trong lúc bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp và can thiệp Mỹ đang lúng túng chưa tìm được lối thoát cho Điện Biên Phủ, thì ta quyết định tiến hành đợt tiến công thứ ba vào đầu tháng 5 năm 1954.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:30:21 PM
Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tiêu diệt C1 và giữ vững trận địa ở đó; đồng thời đánh lấn sang C2 để phù hợp với trận địa ở A1. Nếu điều kiện thuận lợi thì phát triển đánh chiếm C2 tổ chức chiếm những lô cốt quan trọng ở A1.

Đại đoàn 312 tiêu diệt các cứ điểm 505 và 505A, dùng một bộ phận lực lượng bộ binh và hỏa lực chặn viện khi đại đoàn tiến công C1.

 Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm 310, 311A, 311B.

Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 có nhiệm vụ kiềm chế pháo binh địch và đánh lấn vào phân khu Hồng Cúm.

 12 ngày 1 tháng 5 năm 1954, đợt tiến công thứ ba bắt đầu. Pháo chiến dịch của ta trút đạn vào các trận địa pháo địch trong suốt gần 1 giờ đồng hồ. Hỏa tiễn 122 của ta lần đầu tiên xuất hiện làm cho binh lính địch càng thêm hoảng sợ. Cụm pháo địch ở khu Mường Thanh, Hồng Cúm chìm trong khói đạn bị tê liệt hoàn toàn. Một kho đạn pháo với trên ba nghìn quả đạn bị nổ tung. Theo kế hoạch, 17 giờ, lực lượng phòng ngự trên đồi C1 bí mật lùi xuống mở cửa để hỏa lực của Trung đoàn 98 bắn áp chế trận địa trên C1. Đạn pháo ta bắn chính xác, địch hết sức bất ngờ, lúng túng. Tiểu đoàn 439 thực hiện xung phong. bên cánh trái, đại đội 811 chiếm lô cốt số 8, cắt đứt đường địch rút chạy về C2. Ở cánh phải, đại đội 148b chiếm lô cốt số 4, sau đó đánh tiếp lô cốt số 5, số 6, chặn đường của địch chạy về đồi Mâm Xôi. Sau 1 giờ chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ đồi C1, diệt 114 tên, bắt 40 tên, 44 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị.

Ở A1, Trung đoàn 174 đánh chiếm được 2 ụ súng số 7 và số 8 ở gần cửa hầm của ta. Ngay đêm đầu tiên chiến đấu của đợt ba, Đại đoàn 316 đã hoàn thành mục tiêu đề ra.

Trên hướng Đại đoàn 312, tại hướng đông sông Nậm Rốm, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tiến công các cứ điểm 505 và 505A. Đến 4 giờ sáng ngày 2 tháng 5, Trung đoàn hoàn toàn làm chủ hai cứ điểm này. Trong khi đó, ở hướng tây, Trung đoàn 88 sư đoàn 308 cũng diệt gọn cứ điểm 311A chỉ trong vòng 30 phút. Ở phân khu Hồng Cúm, Trung đoàn 57 tăng cường vây ép, chiến công diệt nhiều sinh lực địch.

Thấy nguy cơ Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, ngày 3 tháng 5, Cô-nhi - Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ ra lệnh cho Đờ Cát-xtơ-ri tìm đường rút chạy sang Thượng Lào. Nhưng kế hoạch rút chạy của định chưa việc triển khai thì Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ thị cho các đơn vị “sẵn sàng nắm thời cơ, khi có điều kiện chuyển sang tổng công kích ngay và phải bao vây chặt không cho địch rút chạy”.

Đại đoàn 316 lúc này được tăng cường Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) làm lực lượng dự bị, trong khi đó tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 98 Đại đoàn 316) phối thuộc cho Đại đoàn 304 làm nhiệm vụ bao vây và chuẩn bị tiến công Hồng Cúm.

Trung đoàn 174 tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh A1. Khi đánh xong A1, Nếu Trung đoàn 98 gặp khó khăn thì Trung đoàn 174 tổ chức một bộ phận đánh sang, kiên quyết chặn địch từ Mường Thanh phản kích ra; đồng thời chuẩn bị tiêu diệt A3. Toàn Đại đoàn bước vào chiến đấu với một quyết tâm rất cao.

 Ở hướng A1, tiểu đoàn 255 (Trung đoàn 174) được lệnh chuyển sang đồi Cháy. trận địa được bàn giao cho Tiểu đoàn 249. Ở phía tây nam, Tiểu đoàn 251 có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt số 7. Đây là một đòn hiểm nhằm đánh vào lưng A1, bịt đường chạy của địch; đồng thời cắt rời A1 với khu trung tâm Mường Thanh. 1.000kg thuốc nổ được chia làm 50 gói xếp gọn trong hầm sâu. các phương pháp gây nổ đã được tính toán kỹ lưỡng. Tuy vậy, để bảo đảm chắc chắn, Đại đội 317 từ hai đảng viên tình nguyện trong trường hợp trục trặc thì mỗi người ôm khối thuốc nổ 20kg giặt nụ xùy lao vào.

Đúng 20 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, lệnh nổ bộc phá được ban ra. Khác với sự mong đợi của mọi người, không có tiếng nổ lớn mà chỉ có ánh lửa chớp và một tiếng ục nặng nề. Đài quan sát thấy trên đồi A1 có nhiều cột khói bốc lên. Chúng tôi lại cho anh Nguyễn Hữu An cho bộ đội tiến công. Khối thuốc nổ của ta đã phá hủy một mảng hầm ngầm, tiêu diệt một số địch; đồng thời làm choáng váng số còn lại. Địch chưa hoàn hồn thì bộ đội ta tràn lên chiến hào. Tiểu đoàn 249 (Trung đoàn 174) chiếm được một phần phía nam. Ở phía tây nam, các chiến sĩ bộc phá ta nhiều lần đánh lên lô cốt 17 đều bỉ hỏa lực chặn lại. Phát hiện thấy một ụ súng địch bố trí bí mật ở ngoài lô cốt, ta kịp thời tiêu diệt, tạo điều kiện để phát triển chiến đấu và sẵn sàng đánh địch tiếp viện; đồng thời tổ chức một lực lượng nhỏ đánh xuống A3, buộc địch phải đối phó, không đánh được vào phía sau quân ta trên A1.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:32:32 PM
Địch ở A1 chống cự quyết liệt, chúng hy vọng chờ quân từ Mường Thanh lên. Các mũi của ta chưa đánh được vào mục tiêu quy định. Thấy tình hình khó khăn, Đại đoàn ra lệnh cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An lệnh cho Tiểu đoàn 249 đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. Ta đánh chiếm được Khu B, phát triển vào hầm ngầm, nhưng khi đánh tới trận địa súng cối của địch, thì quân địch ở đây chống cự quyết liệt. Các đơn vị vừa chiến đấu vừa chấn chỉnh lực lượng, chia làm nhiều hướng tiếp tục xung phong, đến 2 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 5, ta làm chủ được khu vực trận địa cối, bắt 120 tù binh, trong đó có tên Pu-giê - chỉ huy cứ điểm A1.

4 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 174 đã làm chủ A1. Ngay sau đó, trung đoàn hỏa lực bắn mạnh sang C2 chi viện cho Trung đoàn 98. Trung đoàn trưởng Vũ Lăng lệnh cho Tiểu đoàn 439 là mũi vu hồi từ C1 qua đồi Mâm Xôi vòng sang đánh vào phía tây bắc C2. Trong khi đó, tại hướng chủ yếu, 2 giờ sáng ngày 7 tháng 5, một tiểu đội xung kích của Đại đội 38 do chính trị viên đại đội chỉ huy dũng cảm mưu trí vượt qua làn đạn vào tiếp sức cho lực lượng trung đoàn. Từ đây, quân ta chia làm hai mũi đánh khu mỏm B. Trung đoàn 98 một mặt lệnh cho hỏa lực tích cực chi viện, một mặt lệnh cho Tiểu đoàn 215 sử dụng lực lượng dự bị vào chiến đấu. Lúc này Trung đoàn 174 đã chiếm được A1, Bộ Tư lệnh Đại đoàn chúng tôi nhận định: dù quân địch ở C2 còn đông và ngoan cố nhưng chắc chắn không thể chống cự nổi nếu ta tiến công liên tục. Bản thân Trung đoàn 98 còn khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 98 nhanh chóng của Tiểu đoàn 215 và Tiểu đoàn dự bị 375 vào chiến đấu.

Để tạo điều kiện cho bộ binh xung phong, Bộ Tư lệnh Đại đoàn đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch dùng lựu pháo bắn vào C2. 200 quả lựu pháo của ta đã nã đạn chính xác xuống C2.

7 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, ta bắt đầu xung phong lên C2 bằng 3 mũi, lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu. Tướng Đờ Cát cố vét 8 trung đội tung ra phản kích, nhưng những đơn vị này vừa tiến được vài trăm mét thì bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 439 cùng hỏa lực Trung đoàn 174 chặn đứng lại, phải chạy về Mường Thanh.

9 giờ 30 phút, quân ta làm chủ C2, sáu đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê-dương số 2 và tiểu đoàn dù ngụy 5 gồm hơn 600 tên gì diệt và bị bắt làm tù binh. Đến giờ phút này, các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và sẵn sàng chuyển sang tổng công kích.

Khoảng 10 giờ ngày 7 tháng 5, trong khi các đại đoàn đang xúc tiến việc chuẩn bị bảo đảm cho tổng công kích thì cơ quan quân báo phát hiện địch có dấu hiệu rối loạn và có khả năng đầu hàng. 13 giờ ngày 7 tháng 5, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trước giờ quy định: Phải đánh thẳng vào sở chỉ huy, phải đánh mạnh, bao vây chặt không cho Đờ Cát hoặc bất cứ tên địch nào chạy thoát.

Chấp hành mệnh lệnh, từ hướng đông Trung đoàn 109 đánh thẳng vào Mường Thanh. Tiếp sau là các trung đoàn 98 và 174. Bên phía tây, Trung đoàn 36 tiến thẳng vào cứ điểm cuối cùng che chở sở chỉ huy của Đờ Cát. Trung đoàn 98 cũng mở đường qua sân bay tiến vào sào huyệt cuối cùng của địch. Bộ đội ta tiến tới đầu quân địch đầu hàng tới đó. 17 giờ 15 phút, một cánh quân của Đại đoàn 312 tiến sát sở chỉ huy địch, tại cửa hầm của Đờ Cát xuất hiện cờ trắng xin hàng. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ tiến vào hầm bắt sống tướng Đờ Cát cùng toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu liên tục, các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, bắn rơi tại mặt trận 57 máy bay; ta thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, trong đó có 28 pháo lớn, 64 xe, 5.915 súng các loại.

Ngay tối hôm đó, Đại đoàn 304 nhận lệnh tiến công Hồng Cúm, khu cứ điểm cuối cùng của địch. Biết không thể giữ nổi, địch đã bí mật rút chạy. Ta truy kích, đến nửa đêm thì toàn bộ 2.000 tên địch bị bắt gọn.

Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày, toàn mặt trận vô cùng phấn khởi được thư khen ngợi của Bác, Người viết:

“Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bước đầu, chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lấy độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mơi đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt.


                                                                                                                                                                             
Ngày 8 tháng 5 năm 1954
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH”

Ngay sau chiến dịch, Đại đoàn 316, một bộ phận được giao nhiệm vụ áp giải hàng nghìn tù binh từ Điện Biên Phủ về Sầm Sơn (Thanh Hóa), một bộ phận tiếp tục ở lại Điện Biên Phủ làm nhiệm vụ tổ chức trao trả thương binh địch, thu dọn chiến trường, giúp nhân dân địa phương ổn định một bước đời sống và sản xuất.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:33:04 PM
*
*   *

Tạm biệt Điện Biên Phủ, trên đường về đông bằng ven biển đến Hoằng Hóa, Thanh Hóa được hai ngày, Đảng ủy Đại đoàn họp mở rộng đến cán bộ trung đoàn và cơ quan trao đổi kinh nghiệm có kết luận sơ bộ và tóm tắt để đi dự hội nghị tổng kết do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập. Sau chín năm chiến đấu, chiến thắng, học tập, rèn luyện nếu tính cả trường đời thật phong phú. Nhưng ở đây chỉ tóm tắt: Cán bộ Đại đoàn 316 đã học được những gì.

Sau chiến thắng của quân và dân Việt Bắc, bước đầu đánh bại âm mưu chính trị thâm độc cũng là đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của quân viễn chinh Pháp. Sau chiến thắng Việt Bắc, Trung ương Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương đã sớm thấy cần có khối chủ lực cơ động, quả đấm chiếm lược để thực hiện nhiệm vụ cơ bản là tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng đất đai, phát huy cao độ sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đánh từ những đòn quyết định để đi đến toàn thắng. Trung đoàn 174 và cả Đại đoàn 316 được tham gia từ chiến dịch giải phóng Trung Du – Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình (phối hợp đánh vào vùng sau lưng địch), Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ lịch sử. Từ những thuận lợi và cả những khó khăn, cán bộ đại đoàn đã hiểu được:

Đường lối toàn dân đánh giặc của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, là sức mạnh to lớn bền bỉ. Tổ chức và xác định rõ nhiệm vụ của ba thứ quân trên chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường có những đặc điểm và vị trí chính trị, chiến lược khác nhau. Để đập lại âm mưu của quân xâm lược – lấy Đông Dương làm một chiến trường để bao vây chia cắt, chủ yếu nhằm thắng trên chiến trường chính – Việt Nam thì nhân dân các dân tộc ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cũng có quyền liên minh chiến đấu nhằm mục đích chính nghĩa của mình.

Đảng và Bác Hồ đã xác định: Bắc Bộ Việt Nam là chiến trường chính. Do đó trong hoạt động thường xuyên cũng như trong chiến dịch tiến công lớn trên chiến trường chính Bắc Bộ có sự phối hợp đắc lực các chiến trường trên bán đảo Đông Dương.

Trên chiến trường chính Bắc Bộ, khối chủ lực cơ động tập trung mở chiến dịch vào hướng chính có các địa bàn, các hướng chiến đấu phối hợp đắc lực. Trên chiến trường ta có các địa bàn chiến lược quan trọng: miền núi, trung du, đồng bằng, đô thị và ven biển. Hậu phương kháng chiến có hậu phương chiến lược, hậu phương của từng chiến trường, từng quân khu, từng tỉnh có khả năng hỗ trợ lẫn nhau và tập trung cho hướng chính.

Xây dựng và rèn luyện các lực lượng vũ trang theo phương châm: vừa học, vừa làm, vừa chiến đấu và rèn luyện tập trung là bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Đảng ủy Đại đoàn 316 hết sức chăm lo xây dựng Đảng bộ về tư tưởng và tổ chức. Trong chiến đấu dễ dàng phát hiện những chiến sĩ tốt qua giáo dục để kết nạp vào Đảng. Đảng viên cơ sở là nguồn lực dồi dào để bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức phẩm chất qua hoạt động chiến đấu có đủ khả năng cho sự phát triển và tiêu hao, xem thực hiện việc bồi dưỡng con người là then chốt. Cán bộ trưởng thành về chính trị là cơ sở để học tập nắm vững và không ngừng sáng tạo nghệ thuật quân sự.

Nhất trí đoàn kết trong nội bộ là cơ sở để đoàn kết và xây dựng niềm tin trong nhân dân các dân tộc, trước hết là ở những nơi đại đoàn đóng quân và hoạt động. Trong các chiến dịch tiến công, Đại đoàn 316 thường đi rước về sau, phù hợp với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc để chiến thắng.

Thắng lợi Điện Biên Phủ vang vọng khắp địa cầu, là bước trưởng thành nhảy vọt của lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, là cơ sở vững chắc đi đi tới hoàn thành mục đích cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tiếp tục phương châm vừa làm, vừa học, vừa chiến đấu và rèn luyện để đi tiếp là quán triệt lời Bác Hồ căn dặn trong thư Người gửi cho cán bộ, chiến sĩ Điện Biên: “thắng lợi là to lớn nhưng mới là bước đầu”.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Tám, 2018, 10:38:22 PM
(https://lh3.googleusercontent.com/wf5bNGxDiV7P1ykQNjscZodkl4n5ZIOu_T6_5GziLFg4fIZWCd5NDBRJk3Xm97y0DFtL2ippWbrR-wHkSQRXFFtmWQAk_me_R0Xo2mTSwbLy_51Q-86px7EhTRPDwBiDyqQbitgE4oL2Szd5-bhLi0T7V2ng9QpsEeFIu_GXrEhWKJjyDIJfDVIv2LJGVaVQCGmv6T2VMsvx3KDfQPhINY51xEQIORVb-hCP0s4Hmb4HK-EoW0WzMjs0z-Mtm2_djdNSu7mLLtH-qOeCkp83IKiLXjlmC82a0JMEKReRAccwgOn5NUNEVfuaEnTOgM1dz62Om8BMXjOnuvGngKClEtpP9UDMMxOxix73u6q4RXGU1sK6GqwIrTgGP1HS2EZl-Ho_kdXYnIFWc0MpCALj20hPK9eHhOYHoVtf3exObCQjqTZonbBixLBfnYexH0HJfIY0J_nq53jig-972K-AR-o2RaD9VStkqOioPPa5KUjOBTR_uKmwV0RB1uHvIk9-1kiShMh_2FjlyJUMOKzk5jaIhOSBNpOGNI7F8r8-UNJwa-lUebVTMwFpKcEIvAZpbc74XvqsvBuhdL22GDULQiSuKHbFWPtbAw1eHag=w563-h800-no)

Bị bắt lên nhà lao Vinh (Nghệ An), ngày 8 tháng 3 năm 1935.

(https://lh3.googleusercontent.com/MRAPsN9VmuGvi0iEqtAjJIPKrGjph8bf7lQqfPr67AXYcDSPAM3Si1SremU7RlqEpMXnpjxX3hxxWPuC_gHZfyK4brM6pk_yc8gA0NGau05I3b2bMJE8whO5FukXz_WgcRQZ0GqibddDnQeH5yawPe2u-BfTSTxiJ--L_YgL8ExMZS_rWQbcfnMUrgP4ibXFcW-GQpJKkuekaBJslUwp99ElCUrk2tfUe4QkoxTFhcD7qx8wQdI3DD76pCdPJo8q1LefsOy-5Ee0BfMX89VoXraOxPenFdwSltOV6NqyVf5Sn4chqM1-Sd-3ppepeTl5Pp-MIMgzJoC0sy0vuhab6p4R0GLx6_MFGt31_4pTo-Qa4ld9E4q6LTZVS86OG2QY4ZhHyBdwXWFbPI-LUdxPbbCJ8fDCNxcs0ZiqmGORgwg3HIfIhjX68dLMlEh1PFNPG4uBbz4esQME1Qgi53MRyjBbwXMZjusJOdsZ_NYu_MAB1WIbvIaXzZsDMYVAlmO-tu79avm-rmYJ9FTsGjwGVdWhdyuOUyZIZC4eGJCA0_1QHMpWrnD6hLk9rAZYkPL-kudaN4d8-tuDxY8RsMBP6yoUlQvVypKatFZSKLk=w410-h832-no)

Sổ danh bạ căn cước mang ký hiệu A.19, tại nhà lao Kon Tum

(https://lh3.googleusercontent.com/a8MsWsPZ19FWoqNwaLi2JlgqxKzmUBI4tZOIBqDidhlAkxR7qRucJy1aK3qmnAb4GP0GA2Q6jwiYDA6x0vKiibtzjkzlHxzuLkl5ZG1m8_wb3zPjdQBnsqjXJDzOkNYzFtj6YI7eSxpbnDxEwhgvJfeyfcyY7IxfTaOY5ilX4Tt69GNSP5pliztWIWFjW1S8eotUtO5RmtdQMEGJYwUd9hYygKkoLlH6odSEFtLoharj6cY38HHYG6xFc4PEPIGW02oi5pRODOEktnW6XiGMPCL42NT9gsXpWX8NL222IsxmrX99c3J65GpG8ARrJB3trgq8GM4s5o0VvxmoGbXDTzuXz3jA41utZFTny6N52SLXEJx-J9OxI__1oUDKnAOQGolYl_K83ql-G3bHz0JrdpVBjKMwISYvVLeQu5QyKcYmQLv1Is9i0XSzCtSO8S_jg6VbxJXRmsTTSCqwFN7BPkp_0PP_LsZUomrpjAVnib0V5lu2B8NNOWHgakQM6u46vRDiKCclit1--Pa-k7y5k4-NYn7_l-okI-IFqr4ZOjN8Xtm-IIgFCvUZZ8p9ME6f_gppMEQuFaH1in6zCnrTYbdTKsnq2r0ItwcjkOo=w800-h531-no)

Bác Hồ chỉ đạo chiến dịch Biên Giới năm 1950, bên trái Người là Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
bên phải Người là Chu Huy Mân - Chính ủy Trung đoàn 174.


(https://lh3.googleusercontent.com/J4ilDBa4F4t4nahKpspxT2BSwfQ24Dfwrd3x0Mst_wl9HSr5siIBbqtQojkC9XZRO3CrJciX4008dWH1PY5l9GPFtrC8gL7qFfmJ8Y54h6M44_5nvmekVwUuHG5Nf2UyCpwnxLvolF4tFRwf7rVOMLMyCfbWUWN-FVpuoGwljAzTujBo-fmGs_0quBY-v8QMEHQFOYY9yRAJDs3jMk5c6VvXLsFgiR-XvcbymH5fhDneI9GvtM8inXexEKdclZ4xmNnFlqSEowyRdX6-XJ6TPjCP2nzkKthgvedkIYQWWmTHte2Y4WLkthY5R5qJt-9us2zR6kLyy1S-X5BCNF9KP6zkMTa-xvn55LDZtcHkR1V_9FhkLonp_3gGe1w5843Rwwuu0A66fjEQl5TKuemeEZXRKwfPRcZENPDnMVbHNcTaiKbzzig9N00ABRoCN70Kq0R_tnefGP2ERWiBtIvxzJd1Y9AQTaQjK8SKa7X9CQmTIlPwmfxI3ole1ZW0jQfJ461XV12q3YrGXP-0kW5uu7sCDLdEget2Gg0H7o-V-3BWvNK-Ympvm4XuWBXceWVgGmtDTrdeKmJAL_B5ueU2305P9fpVx56iERruUlM=w480-h625-no)

Chính ủy Đại đoàn 316 - Trước khi lên đường đi chiến dịch Tây Bắc (năm 1952).

(https://lh3.googleusercontent.com/AKPl5ZoowYaiJeB6rL3iK780CPu6Q84ZiUp9HAkt1DuO7fApDFUHMiK6-4a_6mh631doEnTM0mrTjYwtu6Umqy0bh8R49H7Z3ybZl8stUBh5xMUgujHmLA-9TvNTxjMliNgj9j--jlLl8yghWZT3C2Wnm63nYYRZyYCQP9MdMtQ-j7BflL3Gi9UIewdeiml2Wg1yd9lfUn_1B1CeZXcyVHjkUBDpZqwtc8qDrP0bBZhUsv2D0WzVPJGIiOo8UBUt34uDjrZs3zMnyWuYJpvg7-LVxxUgVaqucJmQ8oO2iZ0HDColFjKXdP2pZKtoeltS-0cCcbkELr4YzvEZd3bXDpdCgbXRQIYs1u1bz1GScoPiPAKt9rfszHvbc9rkJSqAmEMgiBtUZME5CLUxQtHwqRycE2u2wsB5i6dYfATQ-ZZtfjDfxdIYCVgUg08BTuxaxNzq_LevFEDnbvfhMjI-Qt2fO6SMLe2JGOCveog0lNai4tCbwla83zBTz_ZBTlvWeGink47UTfI1aMJnGaYa6pVyN4eR8c11TmLmROQq4TWeUweXIgRXgt6wCIW_x8ZmWO6sB9mVjklv7oHgqhkC-DK5rLAWh9X97EoFPbM=w800-h517-no)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ chiến đấu cho các đơn vị tại sở chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:09:16 AM
Chương III
GIÚP BẠN LÀ TỰ GIÚP MÌNH

Trước khi viết cụ thể về hai lần chủ yếu được Đảng và Bác Hồ giao nhiệm vụ sang Lào giúp bạn, tôi muốn dành mấy trang nói đôi nét về lịch sử bang giao và sự hình thành liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù xâm lược, vì độc lập, tự do, thống nhất, vì sự phát triển phồn vinh của ba dân tộc.

Khi loài người phát triển đến xã hội phong kiến thì mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân ngày càng tăng. Các quốc gia dân tộc lớn nhỏ khác nhau, do địa lý tự nhiên sống gần nhau, giai cấp cầm quyền các nước lớn thường tìm cách lấn chiếm đất đai, rừng biển và “đồng hóa” các dân tộc nhỏ. Nhân dân lao động các nước trước hết là ở sát biên giới với nhau có mối quan hệ láng giềng, dòng tộc, thân thiện và hỗ trợ nhau chống thiên tai hỏa hoạn, tối lửa tắt đèn có nhau, hợp tác với nhau trên những lĩnh vực có chung lợi ích. Cũng có những tình huống, bọn cầm quyền nước lớn lôi kéo nước nhỏ đi xâm lược nước thứ ba, thúc đẩy một số nước khác liên minh với nhau chống trả. Rõ ràng dưới thời phong kiến đã xuất hiện tình hình cá lớn nuốt cá bé, nhưng trong phạm vi hẹp, chưa bao giờ vượt khỏi một châu lục.

Đầu thế kỷ XIX, giai cấp tư sản phương Tây ra đời và lớn mạnh. Chúng công nghiệp hóa nền kinh tế, đồng thời cũng là chế độ người bóc lột người. Mâu thuẫn và đấu tranh giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản bắt đầu. Không bao lâu công nghiệp tư bản phương Tây tự nó chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. Chúng bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân trong nước tận xương tủy vẫn chưa đầy túi tham. Vì thế, các nước đế quốc đua nhau đi xâm lược thuộc địa. Nhân dân các châu lục hầu hết phải sống dưới chế độ thực dân nô lệ. Chính quyền thực dân và tay sai ra sức khai thác tài nguyên, bóc lột công nhân rẻ mạt, công nghiệp hóa có mức độ các nước thuộc địa để phục vụ nền kinh tế chính quốc. Từ đó đẻ ra giai cấp công nhân ở thuộc địa.

Đến đây mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước thuộc địa vì quyền lợi kinh tế, chính trị có mối liên hệ kiểu mới với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mối liên hệ mật thiết này có chung một kẻ thù. Cuộc đấu tranh đầu tiên mang tính tự phát, cho đến khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành tự giác, liên minh chính nghĩa đi vào tổ chức.

Thị trường thuộc địa chia xong một thời gian, vì quyền lợi không đều, phát triển không đều giữa các nước đế quốc phương Tây, chúng lại chia thành hai phe đế quốc để chia lại phạm vi thống trị. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ chưa phân thắng bại thì Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thành công. Nhà nước công nông đầu tiên ở một nước lớn ra đời. Bước ngoặt vĩ đại này làm thay đổi cục diện chính trị thế giới, là bước tiến vĩ đại của loài người tiến bộ. Từ đó liên minh chính nghĩa và phi chính nghĩa cũng rõ ràng và chuyển sang giai đoạn mới.

Vào giữa thế kỷ XIX, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần lượt bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân các dân tộc trên bán đảo Đông Dương chỉ cảnh mất nước, nô lệ lầm than. Cuộc đấu tranh của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cũng bắt đầu vì độc lập tự do và con đường phát triển dân tộc.

Vì đặc điểm địa lý sẵn có từ xa xưa, ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương đời này qua đời khác sống trong tình làng nghĩa xóm, sát biên giới còn có quan hệ dòng tộc giúp đỡ nhau trong những lúc thiên tai hạn hán để lao động kiếm sống.

Khi thực dân Pháp xâm lược thì tư tình nghĩa láng giềng thân thiện đến chung kẻ thù xâm lược thống trị, chung cảnh ngộ nước mất nhà tan, chung mục đích đấu tranh, đánh đuổi xâm lăng vì độc lập, tự do, thống nhất, là cơ sở vững chắc phát triển dân tộc đến phồn vinh.

Thực dân Pháp vừa đặt chân đến bán đảo Đông Dương thì ngay lập tức dưới ngọn cờ của những chí sĩ yêu nước, quần chúng đoàn kết đứng lên chống ngoại xâm.

Ở Việt Nam phong trào nổi lên liên tiếp, có Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng... nhưng tất cả đều không thành công mà chỉ thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân trong phạm vi khác nhau. Sau những phong trào nói trên ở Việt Nam còn có phong trào thanh niên xuất dương tìm đường cứu nước. Nhưng mọi con đường được tìm kiếm công phu vẫn không phù hợp với tiến trình lịch sử khách quan của thời đại…


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:09:50 AM
Cho đến khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau nhiều năm bôn ba đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và mang tư tưởng chính nghĩa đó về nước; qua thời gian chuẩn bị, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương; từ đây liên minh chiến đấu ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù chung vì mục đích chính nghĩa chuyển sang giai đoạn mới, mang bản chất mới. Sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, một số Đảng viên Cộng sản người Việt đã sang Lào bắt nhân mối và xây dựng cơ sở. Năm 1930 phong trào cách mạng ở Việt Nam rầm rộ trong cả nước mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, ảnh hưởng lớn đến nhân dân Lào và Cam-pu-chia. Khi chuyển thành Đảng Cộng sản Đông Dương thì những người cộng sản Việt Nam tự nguyện sang hoạt động ở Lào và Cam-pu-chia. Qua 15 năm đấu tranh cách mạng, ở cả ba nước đều có cơ sở nhưng ở Việt Nam mạnh hơn. Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và đồng minh toàn thắng chủ nghĩa phát xít và quân phiệt Nhật là điều kiện khách quan thuận lợi lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Hầu hết các dân tộc thuộc địa đều khao khát được giải phóng nhưng đa số họ chờ đợi, chỉ có Việt Nam và Lào đứng lên “đem sức ta giải phóng cho ta”. Trên 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ba nước đánh thắng hai đế quốc to. Mùa xuân năm 1975 các nước trên bán đảo Đông Dương lần lượt giải phóng. Đó là sức mạnh của liên minh chính nghĩa. Nhân dân Việt Nam được Đảng và Bác Hồ giáo dục đã thực hiện được nhiệm vụ dân tộc và quốc tế trọn vẹn, dám hi sinh và biết hi sinh vì nhân dân hai nước anh em. Thực tế lịch sử đã chứng minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, cách mạng Việt Nam là trụ cột.

Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, với đường lối quan điểm và phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp, thì mới có sự nhận thức đầy đủ về tính tất yếu của sự đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, đánh dấu bước phát triển từ tự phát sang tự giác của liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương. sau khi thành lập Đảng, một đảng viên cộng sản người Việt đã sang Lào tìm nhân mối và xây dựng cơ sở.

Sự chuyển biến về chất của liên minh ba nước Đông Dương trong giai đoạn lịch sử này không chỉ đóng khung trong tình đoàn kết giữa các dân tộc láng giềng, mà đã mang nội dung của tình đoàn kết trên đầu rất lớn giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức. nhờ sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lê-nin nên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của ba nước đã gắn chặt được với trào lưu chung của cách mạng thế giới, giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước đế quốc. Đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đông Dương trở thành nơi đụng đầu gay gắt giữa thế lực cách mạng và mặt của thời đại. Do tính nhất quán trong âm mưu chiến lược toàn cầu phản cách mạng, chủ nghĩa đế quốc coi Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia là “một thực thể Đông Dương” và là “một chiến trường chung”.

Trên thực tế, chính thực dân Pháp đã tổ chức ra liên bang Đông Dương có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên để bóc lột nhân dân ba nước. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần thứ hai, chúng đã lập lại Đông Dương thuộc Pháp. Sau bị thất bại nặng nề trong âm mưu xâm lược, từ năm 1950 Pháp buộc phải xóa bỏ Đông Dương thuộc Pháp và bày trò trao quyền tự trị cho ba nhà nước liên kết với Pháp.

Về phía ta, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương trước đây và các chính đảng ở mỗi nước sau này đều không tách rời với việc xây dựng khối đoàn kết liên minh chiến đấu của ba dân tộc và việc không ngừng chống lại sự chia rẽ phá hoại dưới mọi hình thức của mọi kẻ thù.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia được xây dựng trên cơ sở đoàn kết hữu nghị truyền thống lâu đời giữa ba dân tộc, là thành quả vĩ đại của nhân dân ba nước được vun đắp bằng công sức, xương máu của bao thế hệ của ba dân tộc anh em phát triển từ không đến có, từ thấp đến cao và trở thành một nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng ba nước Đông Dương.

Yếu tố cơ bản nhất tạo nên mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào là do hai nước tuy có những điểm khác nhau về sự cấu thành chủng tộc văn hóa, ngôn ngữ, tâm lý xã hội... nhưng đó là những quốc gia cùng chung sống lâu đời trên bán đảo Đông Dương, nhân dân hai nước có chung một kẻ thù, một cảnh ngộ mất nước, bị áp bức bóc lột, nô lệ lầm than. Trong những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của chế độ thuộc địa ở Đông Dương trước đây, lợi ích của mọi người dân mất nước ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia là lợi ích toàn Đông Dương, nó nằm trong lợi ích chung của cả ba dân tộc nhằm xóa bỏ toàn bộ chế độ thuộc địa, giành lại độc lập chủ quyền cho cả bán nước và phát triển dân tộc phồn vinh.

Thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức đã không chịu sự phán quyết của lịch sử, đã ngoan cố quay lại xâm lược Việt Nam và các nước Đông Dương một lần nữa. Lần xâm lược này thực dân Pháp sử dụng chiến lược “đánh nhanh giải quyết nhanh”. Họ tập trung lực lượng mở cuộc hành binh lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ tham mưu của cách mạng nước ta. song trực tuyến trên chiến trường đã không theo ý muốn chủ quan của họ. Thất bại nặng nề ở Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 những người cầm đầu chính quyền ở Pa-ri phải chấp nhận đánh lâu dài theo cách đánh của ta. Họ đã biến Đông Dương thành một chiến trường để bao vây chia cắt, hỏng thắng ta ở chiến trường chính Việt Nam và quyết thắng trong cuộc chiến này. Những người chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã dồn phần lớn đinh lực vào chiến trường chính ở Bắc Bộ Việt Nam. Không còn con đường nào khác, cả ba dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia lại đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, cùng lấy Đông Dương là một chiến trường để phối hợp tiến công quân xâm lược. Theo đề nghị của chính phủ kháng chiến và mặt trận yêu nước Lào cũng như lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia, quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt trên các chiến trường Bắc, Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:10:24 AM
Qua 9 năm chiến đấu gian khổ của quân và dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, với chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, ta đã buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán. Từ ngày 8 tháng 5 năm 1954, hội nghị Giơ-ne-vơ - hội nghị quốc tế giải quyết vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương có các đoàn đại biểu Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam dân chủ cộng hòa, Anh, Pháp, Mỹ và đại diện ba chính phủ theo Pháp ở Việt Nam, Lào, Campuchia tham gia.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, các bên đã thỏa thuận được nhiều vấn đề và các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần lần được ký.

Hiệp định về đình chỉ chiến sự Việt Nam gồm 47 điểm, trong đó Điều 1 quy định về giới tuyến quân sự tạm thời để định lượng hai bên Việt Nam và Pháp sẽ tập kết ở bên này và bên kia giới tuyến, lấy sông Bến Hải, cầu Hiền Lương làm chuẩn. Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp ở phía nam giới tuyến.

Bản tuyên bố cuối cùng gồm 13 điều trong đó Điều 6 quy định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam; Điều 7 khẳng định các bên tham gia hội nghị người nhận về nguyên tắc sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, việc hiệp thương tổng tuyển cử diễn hành vào tháng 7 năm 1956; điều 11, Pháp cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.

Hòa bình lẽ ra đã được lập lại trên bán đảo Đông Dương. Song, ỷ vào sức mạnh kinh tế và tiềm lực quân sự mạnh nhất và đế quốc, Mỹ đã sớm lộ rõ dã tâm xâm lược các nước Đông Dương. Là một nước lớn, lẽ ra Mỹ phải có trách nhiệm ký vào bản Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng họ đã khước từ không chịu ký, kể cả bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. trưởng đoàn đại biểu Mỹ Xmít nói một cách lập lờ rằng: Mỹ không tham gia vào bản tuyên bố chung, nhưng chính phủ Mỹ sẽ không phá hoại bằng vũ lực bản tuyên bố và những hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Lào và Miên. Tuy vậy, chỉ một ngày sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (21 tháng 7 năm 1954), Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã công khai tuyên bố: chính phủ Mỹ không bị ràng buộc bởi các Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương. Lời tuyên bố đó có thể coi là sự mở màn cho cuộc viễn chinh xâm lược tàn bạo, đẫm máu và lâu dài của Mỹ đối với nhân dân ba nước Đông Dương.

Tiếp đó, ngày 8 tháng 9 năm 1954, chính quyền Ai-xen-hao đã lôi kéo một số nước ở Đông Nam Á và phương Tây lập nên khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia dưới cái ô bảo hộ của khối này.

Trong kế hoạch chiến lược của Mỹ, Việt Nam được coi là trọng điểm. Lợi dụng tình hình nguyên khốn về quân sự và kinh tế tài chính của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam nước ta, Dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và lập nên một đội quân tay sai trang bị vũ khí Mỹ và do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Đồng thời chúng thẳng tay đàn áp những người kháng chiến cũ, thanh trừng luôn cả lực lượng thân Pháp.

Theo điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ quy định, sau thời gian tập kết 300 ngày, quân Pháp phải rút vào miền Nam Việt Nam, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. Các lực lượng chính trị và vũ trang của ta ở miền Nam tạm thời tập kết ra Bắc. Sông Bến Hải chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời. Sau hai năm đại diện hai miền Nam - Bắc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Song, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai với âm mưu chính trị không thay đổi là chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thực hiện chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở Đông Dương. Họ lớn tiếng hô hào: “Bắc tiến!” và “Lấp sông Bến Hải!”.

Đối với nước Lào, do vị trí nằm ở phía tây nước ta và tiếp giáp với Thái Lan - nơi đặt cơ quan chỉ huy của khối SEATO, tự nó đã nói lên tầm quan trọng của nước này đối với Mỹ. Mục tiêu của Mỹ là biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương.

Cũng theo hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng Pa-thét Lào được quyền kiểm soát hai tỉnh Sầm Nưa và Phông-xa-lỳ và một dãy hành lang nối liền hai tỉnh xuyên qua phía đông tỉnh Luông Pha-băng. Đây là một vùng rừng núi hiểm trở diện tích khoảng 32.700 km2 với 32 vạn dân. Hai tỉnh này có đường biên giới chung với Tây Bắc và Khu 4 của Việt Nam. Hiệp định ký chưa ráo mực, lợi dụng lúc quân tình nguyện Việt Nam vừa rút về nước, các lực lượng Pa-thét Lào mới tập kết về hai tỉnh chưa kịp cũng có, ngày 20 tháng 11 năm 1954, Mỹ đưa Cà Tày lên nắm quyền. Cà Tày trắng trợn tuyên bố thừa nhận “sự bảo hộ” của khối SEATO. Chính quyền tay sai đã huy động hai phần ba số quân chủ lực (khoảng 10 tiểu đoàn) ồ ạt tấn công vào khu tập kết hàng tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào. Đồng thời mở các cuộc hành quân càn quét liên tục dài ngày vào các vùng kháng chiến cũ ở 10 tỉnh do chính quyền Viêng Chăn kiểm soát. Chúng thẳng tay khủng bố đàn áp dã man đối với các cán bộ Pa-thét Lào và những người kháng chiến cũ, gây tình hình căng thẳng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân do Pa-thét Lào quản lý.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:11:47 AM
Trong khi đó, ở Cam-pu-chia nhờ sự tranh thủ được những điều kiện chính trị và quân sự có lợi, chính quyền Vương quốc Cam-pu-chia đã mặc nhiên đứng ra tiếp nhận những thành quả cuộc kháng chiến của nhân dân Khơ-me mang lại. Sau khi lên nắm quyền, những người cầm quyền trong Vương quốc Cam-pu-chia thi hành một chính sách cai trị ngày càng phản động, họ thẳng tay đàn áp của những người kháng chiến cũ trong đó có những đảng viên cộng sản. Trên nhiều vùng ở Cam-pu-chia nhất là ở khu đông nam và tây nam như: Kam-pốt, Tà Keo, Kăng Đan... đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng. Họ chất vấn người đại diện của phía Vương quốc trong các tổ liên hiệp đình chiến, đòi họ không được báo thù người kháng chiến cũ, đòi quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thực sự của đất nước Cam-pu-chia. Các cuộc đấu tranh đó đã nâng cao khí thế của nhân dân ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với chính quyền Vương quốc, buộc họ nhiều lần phải hứa hẹn chấp hành đúng đắn những điều khoản quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng về mặt đối ngoại, chính quyền Vương quốc theo đuổi chính sách hòa bình trung lập, cố giữ một thế cân bằng nào đó giữa các nước đế quốc và các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Song với Mỹ, Cam-pu-chia là một đối tượng của chính sách thực dân mới của họ. Do vậy, Mỹ coi chính sách trung lập của Cam-pu-chia là một mối nguy cơ đe dọa lợi ích của Mỹ, nên đã tìm mọi cách mua chuộc, phá hoại, buộc Cam-pu-chia từ bỏ con đường trung lập và tham gia vào khối quân sự SEATO. Những âm mưu của Mỹ đã bị chính quyền Cam-pu-chia nhiều lần chống lại.

Rõ ràng đối với Mỹ, Hiệp định Giơ-ne-vơ chỉ là mớ giấy lộn. mục tiêu của Mĩ từ trước cũng như vào thời điểm lúc ấy không có gì khác là đàn áp phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ của nhân dân Lào và Cam-pu-chia, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, phòng xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương, “biển Đông Dương mà trọng điểm là Việt Nam nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ” (Tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ Đa-lét ngày 23 tháng 9 năm 1954).

Sau 100 ngày thực hiện hiệp định đình chiến ở Cam-pu-chia, được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân, quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi việc rút quân về nước. hệ thống tổ chức lãnh đạo của Đảng Cam-pu-chia từ trung ương xuống cơ sở được củng cố, Hầu hết các tỉnh thành và gần một nửa số huyện trong cả nước đã thành lập các cơ quan tỉnh ủy, huyện ủy để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Ở Việt Nam, kết thúc thời hạn 300 ngày quân Pháp rút khỏi miền Bắc, đồng thời các lực lượng kháng chiến ở miền Nam ra Bắc tập kết. Quân và dân ba nước Đông Dương đã giành được thắng lợi bước đầu, buộc đối phương phải chấp thuận thực hiện một số điều khoản về quân sự của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tuy nhiên, khi chuyển sang đấu tranh thực hiện những vấn đề cơ bản về chính trị như: tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, thực hiện các quyền tự do dân chủ nhân dân, chống khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ thì các thế lực phản cách mạng lại lật lọng, không chịu thi hành.

Trên đất nước Cam-pu-chia do sự can thiệp của một số nước lớn, nên ở nước này không có khu tập kết như ở nước Lào. Vì vậy, theo tinh thần hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết, các lực lượng vũ trang Khơ-me, Ít-xa-rắc sẽ phục viên tại chỗ. các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng phần lớn hiện vào hoạt động bí mật. Một bộ phận ra hoạt động công khai với danh nghĩa “nhóm nhân dân”, còn một bộ phận cán bộ đảng viên được đưa sang Việt Nam học tập, chuẩn bị cho công cuộc chiến đấu và xây dựng sau này.

Nhân đây tôi xin nói về cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng của nhân dân Lào.

Nước Lào nằm trên bán đảo Đông Dương, rộng khoảng 236 nghìn ki-lô-mét vuông với khoảng 85% diện tích là rừng núi. Tài nguyên lâm sản, khoáng sản khá phong phú nhưng chưa được khai thác, nền kinh tế cơ bản là tiểu nông tự cấp, tự túc. Dân số Lào trên ba triệu, gồm hơn 60 dân tộc, bộ tộc sống xen kẽ với nhau suốt từ bắc đến nam.

Lịch sử của nhân dân các bộ tộc Lào trong vòng một trăm năm trở lại đây là lịch sử đấu tranh chống đế quốc xâm lược. Cuối thế kỷ XIX (1893) thực dân Pháp đem quân xâm lược nước Lào, đặt ách thống trị thực dân lên nhân dân các bộ tộc Lào hơn 60 năm ròng rã. Và cũng từ đó phong trào đấu tranh của các bộ tộc Lào bằng mọi biện pháp tuy bị thất bại nhưng đã nhen lên trong lòng nhân dân các bộ tộc Lào ngọn lửa yêu nước, không bao giờ tắt và xây dựng nên truyền thống đấu tranh bất khuất chống đế quốc xâm lược của dân tộc Lào. Năm 1944, một số tổ chức yêu nước, chống phát xít ở Lào được thành lập để tập hợp quần chúng tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp. Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh và Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công, cơ quan lãnh đạo ở Lào đã nắm thời cơ, tập trung các lực lượng thanh niên, học sinh, công chức và binh sĩ yêu nước, có cả bà con Việt kiều tham gia tiến hành khởi nghĩa thắng lợi, thành lập chính phủ lâm thời và ngày 12 tháng 10 năm 1945 đã tuyên bố nền độc lập của nước Lào trước thế giới.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:13:40 AM
Tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước Lào một lần nữa. quân và dân Lào dưới sự chỉ huy của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã chiến đấu anh dũng gây cho địch nhiều thiệt hại. Song để bảo toàn lực lượng, các đơn vị vũ trang yêu nước Lào tạm thời rời thành phố quốc về căn cứ rừng núi và nông thôn để phát động quần chúng đấu tranh lâu dài chống quân Pháp xâm lược. Phong trào chiến tranh du kích ngày càng phát triển, nhiều đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân từng bước được hình thành ở nhiều địa phương trong cả nước như đội Lát-xa-vông ở Sầm Nưa, đội Pha Ngừm ở Viêng Chăn, độ Pạt-chay ở Xiêng Khoảng, độ Xây-xệt-thà ở Trung Lào, đội Xày-ca-phát ở Hạ Lào... Đây là những đơn vị bộ đội đầu tiên được tổ chức, lãnh đạo và chỉ huy chặt chẽ, bao gồm con em các bộ tộc tự nguyện cầm súng chiến đấu chống xâm lược và tay sai, mang tính chất một quân đội cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào.

Năm 1949, Quân đội Lào Ít-xa-la (Quân đội nhân dân Lào) được thành lập tại đơn vị Lát-xa-vông do đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản chỉ huy. Tháng 8 năm 1950, Mặt trận dân tộc thống nhất “Neo Lào Ít-xa-la” và Chính phủ kháng chiến Lào ra đời do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Thủ tướng và đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản làm tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Lào Ít-xa-la.

Đây là những sự kiện chính trị hết sức quan trọng đã thúc đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân các bộ tộc Lào tiến lên một bước mới.

Từ đó, mặc dù số lượng không nhiều, vũ khí còn thô sơ, nhưng nhà chủ trương đúng đắn, biết dựa vào dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội tình nguyện Việt Nam, các lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã mở nhiều chiến dịch và nhiều đợt tiến công, có lúc phối hợp với chiến trường chính Việt Nam, giành được nhiều thắng lợi, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân ba nước Đông Dương, bọn thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954.

Thực hiện hiệp định Giơ-ne-vơ, các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào gồm các đơn vị tập trung, các lực lượng địa phương cả nước về tập kết và xây dựng tại hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ. Nhưng Hiệp định Giơ-ne-vơ ký chưa ráo mực, đế quốc Mỹ đã tìm cách hất cẳng Pháp, can thiệp vào Lào, ngang ngược đặt Lào dưới cái ô bảo hộ của khối Đông Nam Á. Chúng dùng viện trợ quân sự, kinh tế và hệ thống cố vấn lũng đoạn, điều khiển bộ máy chính quyền và quân đội Vương quốc Lào, đẩy bọn phản động tiến công ồ ạt vào hai tính tập kết nhằm nhanh chóng tiêu diệt lực lượng cách mạng, hòng xóa bỏ thành quả cách mạng và đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh của nhân dân các bộ tộc Lào mới giành được.

Cuộc đấu tranh chống can thiệp Mỹ, thực hiện hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc bắt đầu từ đó. Các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào đã đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các bộ tộc trong hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ tiến hành cuộc đấu tranh vũ trang tự vệ kết hợp với đấu tranh chính trị mạnh mẽ của nhân dân cả nước.

Sự phối hợp chiến đấu giữa ba chiến trường của ba nước mà nổi bật là sự có mặt của quân tình nguyện Việt Nam cùng cán bộ chuyên gia Việt Nam ở Lào và Cam-pu-chia theo yêu cầu của bạn là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của phong trào kháng chiến và các lực lượng bạn. Ngược lại, cách mạng Lào và Cam-pu-chia trưởng thành thắng lợi là sự hỗ trợ trực tiếp và giúp đỡ vô tư, có ý nghĩa lớn của cách mạng Việt Nam càng vững vàng, thuận lợi trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế của mình.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:14:48 AM
*
*   *

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các đơn vị chủ lực của quân đội ta lần lượt hành quân về đồng bằng. Đại đoàn 316 chúng tôi vốn là đơn vị luôn đi trước về sau, lần này được bộ tổng tư lệnh giao nhiệm vụ ở lại Điện Biên một thời gian giúp chính quyền và nhân dân địa phương ổn định tình hình. Đến trung tuần tháng 7 năm 1954, Đại đoàn 316 hành quân về đứng chân ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Cán bộ chiến sĩ Đại đoàn 316 hầu hết làm người Cao - Bắc - Lang. Lần đầu họ được nhìn thấy biển rộng, nước xanh, bãi cát chạy dài, ruộng đồng bát ngát, ai nấy đều thích thú. nhiệm vụ của đại đoàn trước mắt lúc đó là ổn định tổ chức, học tập chính trị, bình bầu khen thưởng, đồng thời giúp địa phương chống địch ép buộc đồng bào công giáo di cư vào Nam. Trong lúc Đảng ủy Đại đoàn đang họp ban chủ trương lãnh đạo nhiệm vụ trước mắt thì chúng tôi nhận được điện triệu tập của Bộ Tổng tư lệnh về dự hội nghị tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ. Thế là chúng tôi phải tạm dừng cuộc họp Đảng ủy Đại đoàn. Đoàn cán bộ Đại đoàn 316 do tôi phụ trách (anh Lê Quảng Ba ở lại đơn vị) gồm Vũ Lập - Tham mưu trưởng đại đoàn, Nguyễn Kiện - Chủ nhiệm chính trị đại đoàn, Vũ Lăng - Trung đoàn trưởng trung đoàn 98, Nguyễn Hữu An - Trung đoàn trưởng trung đoàn 174. Thời gian này ta chưa tiếp quản Thủ đô, chúng tôi hành quân bằng xe đạp qua Hòa Bình, Phú Thọ về Định Hóa, Thái Nguyên. Vừa đặt chân căn cứ ATK (an toàn khu) chiều hôm trước, thì sáng hôm sau anh Nguyễn Chí Thanh, lúc đó là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cho họ tôi đến nơi ở và cũng là nơi làm việc của anh để nhận nhiệm vụ. Anh nói:

- Tình hình của Lào, sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, bạn đang gặp khó khăn về mặt quân sự. Đảng bạn yêu cầu Đảng và Chính phủ ta từ một đoàn cố vấn quân sự sang giúp xây dựng Quân giải phóng Pa-thét Lào. Đây là một nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị chiến lược quan trọng để chuẩn bị thực lực cách mạng tiếp tục phát triển cuộc đấu tranh trong thời kỳ mới; đồng thời tổ chức chiến đấu bảo vệ hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ thành căn cứ cách mạng của cả nước Lào. Anh đã từng sống và chiến đấu ở chiến trường Lào, lại có kinh nghiệm tổ chức xây dựng lực lượng, Trung ương Đảng và Bác tin tưởng giao cho anh làm Trưởng đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy đoàn cố vấn quân sự. anh có ý kiến gì không?

 Tôi trả lời:

- Thưa anh, nhiệm vụ cố vấn rất mới mẻ và khó khăn, nhưng được Đảng và Bác tin cậy thì khó khăn, gian khổ đến mấy tôi cũng xin hứa quyết hoàn thành.

 Anh Nguyễn Chí Thanh giật giật mái đầu:

- Thế là tốt rồi.

Ngừng một lát anh Nguyễn Chí Thanh nói tiếp:

- Sang đó, anh sẽ được tham gia Ban cán sự của Đảng ta ở Lào. Nhiệm vụ của đoàn cố vấn là giúp bạn xây dựng cơ quan Bộ Quốc phòng gồm tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị chuyên môn, kỹ thuật trực thuộc Bộ, tổ chức các lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân. Anh tìm hiểu kỹ tình hình thực tế xem giúp bạn xây dựng tổ chức quân đội quy mô nào là hợp lý. Tổ chức đảng và tiêu chuẩn đảng viên cũng vậy. Anh nên gợi ý, nêu vấn đề để bạn suy nghĩ và tự quyết định cho phù hợp với thực tiễn của họ. Gợi ý, lý giải vấn đề, khiêu gợi bạn suy nghĩ hình thành ý định, lại trao đổi bổ sung để bạn quyết định thành chủ trương kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện, phát huy những thành tích ưu điểm và khéo léo bổ sung thiếu sót cho đến khi công việc thành công.

Đối với những công việc quan trọng, anh cần có dự kiến trước, xác định sớm yêu cầu nội dung, cung cấp tình hình và trao đổi kinh nghiệm với bạn, để bạn suy nghĩ, chuẩn bị và quyết định. Ta nên xây dựng hình mẫu, làm thử trước, bạn căn cứ vào đó tự làm. Sau từng việc từng thời gian gợi ý cho bạn sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

Theo tôi biết, bạn làm gì cũng muốn được mắt thấy tai nghe, ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu. Do đó, phương pháp trực quan với những hình thức tham quan, hình mẫu, tập huấn, làm thử trước là phù hợp với bạn, nhất là ở những đơn vị cơ sở.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:15:33 AM
Vấn đề quan trọng nhất là giúp lãnh đạo bạn trong công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao giác ngộ cho bộ đội và nhân dân tinh thần yêu nước, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng Lào. Việc xây dựng hai tỉnh tập kết thành căn cứ địa cách mạng của cả nước Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng. Mặt khác, cần xác định lực lượng chính trị vũ trang về đứng ở hai tỉnh không phải lâu dài vô hạn mà nhất thiết phải tiếp tục phát triển đấu tranh đi tới hoàn thành nhiệm vụ cơ bản nhất của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước Lào.

Thứ hai, coi trọng công tác xây dựng cơ sở trong lực lượng vũ trang của bạn, đặc biệt là công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, trước hết tuyển lựa những người xuất sắc trong lực lượng gồm một vạn người ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, bồi dưỡng họ trở thành cán bộ của quân đội Lào.

Thứ ba, về huấn luyện, trước mắt làm cho cán bộ, chiến sĩ biết sử dụng thành thạo vũ khí trang bị, biết áp dụng những hình thức chiến thuật thông thường như phục kích, tập kích. Phải xây dựng tinh thần dám đánh và lòng tin đánh thắng quân địch, giữ vững kỷ luật, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa quân đội và nhân dân.

Đối với nội bộ, đoàn cần nhanh chóng xây dựng chế độ công tác đúng đắn. Trong quan hệ với bạn phải theo nguyên tắc: “Được việc được lòng được người cán bộ”.

Những vấn đề anh Nguyễn Chí Thanh nêu ra đã giúp tôi nhiều cả trong suy nghĩ lẫn việc làm trong suốt thời gian hoạt động trên chiến trường Lào.

Lực lượng tham gia đoàn cố vấn quân sự được lựa chọn từ một số cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội, có phẩm chất chính trị tốt, có kinh nghiệm xây dựng, chiến đấu và bảo đảm chiến đấu, đã qua công tác ở những cơ quan chiến lược, các đại đoàn chủ lực, các lực lượng vũ trang địa phương để có thể đáp ứng ngay các yêu cầu xây dựng, chiến đấu khẩn trương của bạn. Ngoài ra Bộ Tổng tư lệnh còn giao cho Bộ chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam ở Lào lựa chọn một số cán bộ hoạt động lâu năm ở chiến trường Lào và một số đồng chí thông thạo tiếng Lào làm phiên dịch. Tổng quân số Đoàn cố vấn quân sự là 100 người. Chỉ huy đoàn gồm tôi (Chu Huy Mân) - Đoàn trưởng, Bí thư Đảng ủy; anh Lê Tiến Phục - Phó bí thư; các anh Nguyễn Đức Phương, Quốc Vinh trong ban chỉ huy đoàn. Hầu hết anh em trong đoàn đều tham gia cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp, chưa ai một lần về phép thăm nhà. Thế mà khi nhận nhiệm vụ gọi người đều hăng hái lên đường, không hề suy tính. Tuy vậy, trong thời gian làm công tác chuẩn bị chúng tôi giải quyết cho những anh em ở gần về thăm gia đình. Lúc đó tôi biết mấy câu thơ như thế này:

            Chiến thắng Điện Biên chưa tổng kết
            Chưa kịp về thăm hỏi người thân
            Thăm những xóm làng đã tiễn chân
            Nói những lời chưa nói hết


Chúng tôi khẩn trương làm công tác tổ chức và chuẩn bị cho cuộc hành quân xa với một nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ.

Hai ngày trước khi lên đường, Bác Hồ Gọi anh Thanh và tôi đến nơi ở và làm việc của Người. Vừa nhìn thấy tôi, Bác đã lên tiếng:

- Chú Mân phải không? Vào đi.

Bác chỉ chiếc ghế tre đối diện chỗ ngồi của Người cũng bằng ghế tre. Tôi tiến lại gần chúc sức khỏe của Bác và ngồi xuống. Đã mấy lần được gặp Bác, nhưng lần này tôi được ngồi gần, nhìn Người được rõ hơn. Vầng trán cao, đôi mắt sáng với bộ quần áo sạch nhưng bạc màu.

Người ân cần:

- Chú Thanh đã báo cáo với Bác về quyết tâm rất cao của chú và em trong đoàn. Chú chịu khó học tập, rèn luyện, biết cả chính trị, quân sự và công tác tổ chức, vừa có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu như thế là rất tốt.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:16:58 AM
Tiếp đó, Bác nói về âm mưu của Mỹ và phải hữu đối với cách mạng Lào, đặc biệt là sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, tình hình của bạn rất khó khăn.

Tôi mở sổ ghi từng lời Bác dặn, không sót một ý nào:

- Mục tiêu giúp bạn xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trưởng thành cả về phẩm chất và năng lực, tự đảm đương được nhiệm vụ, làm chủ lấy công việc của mình là yêu cầu cơ bản đối với cách mạng và quân đội Lào cả trước mắt và lâu dài. Trong quan hệ với bạn, hết sức chú ý xây dựng sự đoàn kết hữu nghị giữa hai nước. Chú phải kết hợp chặt chẽ giữa giúp công việc và giúp bồi dưỡng con người. Chú luôn luôn nhớ rằng giúp bạn là tự giúp mình. cách mạng Lào quân đội nào trưởng thành tức là góp phần tăng thêm sức mạnh chiến đấu của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương. Vì vậy, phải có ý thức đầy đủ, có kế hoạch chu đáo, tỉ mỉ, tôn trọng chủ quyền của bạn, giúp bạn làm chủ từng việc, đến toàn diện với tinh thần cách mạng Lào do nhân dân, cán bộ, chiến sĩ nào tự làm lấy là chủ yếu, chẳng bao biện làm thay. Chú cần nhớ ba điều cốt yếu của cách mạng Lào là: lâu dài, gian khổ; tự lực cánh sinh là chính và cuối cùng nhất định thắng lợi.

Nói xong, Bác hỏi tôi:

- Chú còn thắc mắc gì không?

- Thưa Bác, cháu xin hứa sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ mà Bác giao cho!

“Giúp bạn là tự giúp mình” - lời dạy giản dị của Bác đã trở thành phương châm hành động của anh em Đoàn 100 trong suốt thời gian làm nhiệm vụ trên đất bạn Lào.

Trước ngày lên đường, anh Nguyễn Chí Thnh gặp gỡ động viên cán bộ, chiến sĩ Đoàn cố vấn, anh nói:

- Ngày 16 tháng 7 năm 1954 Bộ Tổng tư lệnh đã ký quyết định thành lập Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam giúp nước bạn Lào mang mật danh là Đoàn 100(1). Nhiệm vụ của các đồng chí đã ghi rõ trong quyết định thành lập, hôm nay, tôi nói thêm một số điểm. Đảng ta có kinh nghiệm phong phú trong nhiều năm về xây dựng thực lực cách mạng vững mạnh về mọi mặt, trước hết là xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, coi đây là nhân tố hàng đầu, quyết định thắng lợi của cách mạng. Để giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng vững chắc, cán bộ bạn trưởng thành nhanh chóng, làm chủ được công việc của mình, điều quan trọng trước hết là các đồng chí phải nắm vững đường lối, quan điểm mục tiêu giúp bạn của Đảng ta.

Phương pháp thể hiện đường lối quan điểm gắn với mục tiêu, nguyên tắc thành một thể thống nhất, nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Trong mọi trường hợp phương pháp giúp bạn đều phải đạt được ba yêu cầu: công việc của bạn phải đạt được kết quả cao nhất; đội ngũ cán bộ của bạn phát triển, trưởng thành nhanh chóng và vững chắc; quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa ta và bạn ngày càng được củng cố và tăng cường. Trong ba nội dung trên, yêu cầu về sự trưởng thành của bạn là cơ bản nhất.

Kết thúc buổi nói chuyện anh Nguyễn Chí Thanh vui vẻ nói:

- Muốn giúp bạn tốt ta phải “cố” hết sức để bạn “vấn” thật nhiều, nếu bạn không “vấn” thì ta không còn là “cố” nữa.

Thay mặt cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100, tôi hứa với đồng chí ủy viên thường vụ Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị dù khó khăn gian khổ đến mấy, cán bộ, chiến sĩ trong đoàn quyết tâm thực hiện tốt nhất là căn dặn của đồng chí và coi đây là nhiệm vụ của Đảng và Bác Hồ giao cho cán bộ, chiến sĩ cho đoàn.


(1) Mật danh là Đoàn 100 vì biên chế của Đoàn có 100 cán bộ, chiến sĩ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:17:31 AM
Sau buổi gặp mặt, anh Nguyễn Chí Thanh mời cán bộ, chiến sĩ trong đoàn bữa cơm tối thân mật, đậm chất chiến khu: thịt lợn, măng rừng và xôi. Bữa cơm giản dị mà đầm ấm lạ thường.

Tạm biệt căn cứ địa Việt Bắc, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100 chúng tôi hành quân bằng xe ô tô Mô-lô-tô-va do Liên Xô giúp và xe Jíp (chiến lợi phẩm). Xe chúng tôi chạy giữa ban ngày từ Định Hóa, Thái Nguyên qua bến Bình Ca đi Phú Thọ. Đi đến đâu cũng thấy không khí chiến thắng, hai bên đường cờ đỏ sao vàng, gương mặt mọi người ai cũng hân hoan, rạng rỡ. Chúng tôi đến khu Đồn Vàng, Tu Vũ lúc này đang là mùa mưa. nước sông Đà hung dữ, và cũng không chờ xe qua được đành để xe lại, cả đoàn đi ca nô ngược sông Đà đến Bến Ngọc, đoạn hạ lưu thị xã Hòa Bình. tại đây Bộ Tổng tư lệnh đã đón sẵn đưa chúng tôi xuống Nho Quan. Từ Nho Quan chúng tôi hành quân tiếp bằng xe ô tô theo đường Thạch Thành, Cẩm Thủy. La Hán, Hồi Xuân (Thanh Hóa) đúng vào ngày Quốc khánh 2 tháng 9. Chúng tôi dừng lại cho anh em liên hoan mừng ngày độc lập của dân tộc. Ngày 3 tháng 9 cả đoàn bắt đầu hành quân bộ theo con đường mòn tiến về phía tây. Sau ba ngày hành quân ròng rã, ngày đi đêm dựng lán nghỉ, đến chiều ngày 5 tháng 9 chúng tôi đã đặt chân lên bản Na Mèo thuộc tỉnh Hủa Phăn nước Lào. Na Mèo là một bản nhỏ, đường bản khá rộng, ruộng bậc thang, nhà sàn và nhiều chùa mái nhọn chi chít các hoa văn, những cây đại (chăm pa) đầy hoa, cây me, cây muỗm... Những cô gái nào để trần nửa ngực và hai bờ vai đang giã gạo, dệt vải, gùi nước tươi cười với bộ Việt Nam... Cán bộ, chiến sĩ ta không biết tiếng Lào chỉ tay cười đáp lại.

Đón chúng tôi là một số anh trong Ban cán sự Đảng ta ở Lào và một số đồng chí của mặt trận Neo Lào Hắc-xạt. Đại bản doanh của bạn là một cánh rừng đất bằng, nơi con suối Na Mèo chảy qua rất thơ mộng. Đoạn suối này khá rộng, nước trong có thể nhìn rõ từng hòn đá cuội ở lòng suối và cả những đàn cá bơi lội, Nếu thả một chiếc lá vàng xuống dòng suối, chiếc lá có thể về đến Việt Nam. Ban lãnh đạo của bạn và Ban cán sự của Đảng ta ở cách nhau vài trăm mét. nhà ở và nhà làm việc đều làm bằng tre, gỗ, chanh và phên nứa.

Công việc đầu tiên của Đoàn 100 chúng tôi là xác định khu vực làm nhà ở, nhà làm việc, khu vệ sinh, khu khai phá trồng rau, nơi đào giếng, ngăn suối... Mấy ngày đầu anh em phân công nhau vào rừng chặt gỗ, tre nứa, cắt gianh, dựng lán... Chỉ huy đoàn chúng tôi đến chào anh Nguyễn Khang và một số đồng chí Thường vụ Ban cán sự và xin ý kiến chỉ đạo của các anh. Tiếp đó, chúng tôi đến chào đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản (anh Bẩy) - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Xi-xa-vạt Kẹo-bun-tha - Tổng tham mưu trưởng (lúc này quân đội Lào chưa có Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Sau đó chúng tôi đến chào Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (cụ Chính) và các thân sĩ Phai Dan (Lào Sủng), Xi Thôn (Lào Thơng). Cùng thời gian này, một số cán bộ của Đoàn 100 được bạn hướng dẫn đến nơi ở của anh chị em từ các tỉnh của Lào về tập kết tại Hủa Phăn.

Sau khi nhận được sự chỉ đạo của Ban cán sự Đảng ta ở Lào, nghe ý kiến của lãnh đạo bạn, tìm hiểu tình hình thực tế lực lượng của bạn, Đảng ủy Đoàn 100 tiến hành hội nghị đề ra chủ trương lãnh đạo. Lúc đầu trong lãnh đạo có những quan điểm khác nhau về đánh giá tình hình lực lượng vũ trang của bạn, về xây dựng tổ chức và cách đánh. Nhưng có vấn đề phải bàn bạc nhiều lần mới đi đến thống nhất:

Bộ đội bạn nên tổ chức ở quy mô nào là hợp lý. Một số đồng chí cho rằng với trình độ của bạn quá thấp, thì chỉ nên tổ chức đến trung đội và tác chiến cũng chỉ đánh du kích, Nếu tổ chức cao hơn là không thực tế. Số đông lại khẳng định quy trình độ của bạn có thấp, nhưng nếu tổ chức lực lượng của bạn ở cấp trung đội thì không thể bồi dưỡng đào tạo cán bộ, không thể phát triển đánh lớn và còn phải nghĩ đến tương lai, khi cách mạng Lào toàn thắng. Do đó tổ chức lực lượng cho bạn phải cỡ tiểu đoàn là cơ bản, sau một thời gian tùy tình hình có thể nâng lên cao hơn. Có như vậy mới xây dựng được hệ thống tổ chức Đảng từ trung ương đến tiểu đoàn ủy, chi bộ đại đội và tổ đảng ở trung đội. Qua đó mà bồi dưỡng bạn nâng dần khả năng đảm đương công việc của mình.

 Cuối cùng Đảng ủy Đoàn 100 đã thống nhất đề án xây dựng tổ chức biên chế bộ đội bản thành các tiểu đoàn bộ binh, các đại đội trợ chiến, chuyên môn kỹ thuật, ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và một trường quân chính. Các đơn vị và cơ quan sẽ có lớp bồi dưỡng ngắn ngày. Tổ chức biên chế thành tiểu đoàn là đáp ứng yêu cầu trước mắt của bộ đội Lào, đồng thời chúng tôi cũng tìm đến yêu cầu khách quan lúc nào đó từ tiểu đoàn phát triển thành trung đoàn, cao hơn là sư đoàn. Còn việc phân định vị trí chiến trường, tổ chức các quân khu kết hợp với cấp ủy địa phương đảm bảo tính nhân dân và toàn diện sẽ bàn bạc thống nhất khi cách mạng Lào lắm toàn bộ chính quyền.

Cũng cần phải nói thêm rằng, tổ chức biên chế bộ đội bạn đến quy mô nào là hợp lý thời gian này quả là một vấn đề lớn, liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ mà Đảng và Bác giao cho. Chúng tôi là cố vấn, chỉ nêu vấn đề, đưa ra đề án cho bạn cân nhắc quyết định. Chúng tôi đưa đề án biên chế đến cấp tiểu đoàn với quân số trên 400 người là đã đặt ra yêu cầu về lãnh đạo, chỉ huy và quản lý của cán bộ xuất phát từ yêu cầu thực tế để đào tạo bồi dưỡng cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn. Đồng thời đây cũng là trường học rèn luyện bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của bạn. Trong đó cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tiểu đoàn có vị trí và trách nhiệm chính trị cao hơn đối với cách mạng Lào, nó không phải như cán bộ tiểu đoàn quân đội các nước khác. Và, chỉ có tổ chức như vậy mới tập hợp được hết những chiến sĩ tích cực vào đội ngũ cán bộ cho quân đội và cách mạng Lào sau này.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:18:19 AM
Mặt khác, chúng tôi nghĩ biên chế tổ chức đến cấp tiểu đoàn nhằm đáp ứng một yêu cầu cơ bản bảo đảm cho một tiểu đoàn độc lập chiến đấu (trong tiểu đoàn có những đại đội bộ binh và đại đội trợ chiến). Trường hợp cần thiết tập trung hai, ba tiểu đoàn hoặc nhiều hơn thì Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu có thể tổ chức sở chỉ huy tiền phương chỉ huy một trận đánh hay một đợt hoạt động quân sự. Vấn đề tổ chức sở chỉ huy tiền phương cũng là bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược của bạn.

Đề án tổ chức biên chế bộ đội bạn của Đoàn 100 do tôi trình bày trong Hội nghị Thường vụ Ban cán sự Đảng ta ở Lào được thảo luận rất sôi nổi. Ở đây cũng có ý kiến cho rằng lực lượng vũ trang Pa-thét Lào chỉ có thể đánh du kích, nhỏ lẻ, phân tán, chưa thể đánh tập trung dù quy mô đại đội, tiểu đoàn. Do vậy, chỉ nên tổ chức nhiều trung đội và một vài đại đội thí điểm. Lại có ý kiến, Đoàn 100 không nên áp dụng kinh nghiệm của quân đội Việt Nam vào Lào. Tuy vậy, cũng có ý kiến không nhất trí tổ chức nhiều trung đội vì như thế khó cho việc lãnh đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng và Quân ủy Trung ương bạn. Nhưng nếu tổ chức tiểu đoàn lại không tin bạn có thể tổ chức chỉ huy được. Sau khi nghe nhiều ý kiến trao đổi, anh Nguyễn Khang kết luận đồng ý đề án của Đoàn 100 về tổ chức bộ đội bạn thành những tiểu đoàn bộ binh, đại đội trợ chiến, chuyên môn kỹ thuật, ba cơ quan tham mưu, chính trị và hậu cần ở Bộ Quốc phòng, ngoài ra cần tổ chức một trường quân chính.

Cuối buổi họp Thường vụ Ban cán sự, tôi gặp riêng anh Nguyễn Khang đề nghị khi làm việc với bạn anh chỉ nêu những vấn đề chung, có tính định hướng chiến lược, những vấn đề cụ thể Đoàn 100 chúng tôi giải quyết trên nguyên tắc tôn trọng sự lựa chọn của bạn. Chúng tôi cũng sẽ không đưa đề án của ta cho bạn dịch sang tiếng Lào.

Từ sau Hội nghị Thường vụ Ban cán sự, tôi thường xuyên làm việc với anh Bẩy. Anh Bẩy là một người thông minh, rất chịu khó học hỏi, nói thạo tiếng Việt, nhưng luôn giữ được tính tự chủ. Tôi còn nhớ lần đầu đến nơi ở, cũng là nơi làm việc của anh. Đó là một ngôi nhà sàn mái dốc dựng trên nền tam cấp, không nguy nga nhưng rất thanh nhã, hiên rộng đủ kê bộ bàn trà, trong nhà có các phòng ăn, phòng ngủ, phòng tiếp khách. Cửa sau là con đường dẫn xuống suối Na Mèo trong anh. Cũng tại phòng tiếp khách này tôi và anh đã trao đổi nhiều vấn đề về tổ chức biên chế, giáo dục, huấn luyện, bảo đảm hậu cần, sẵn sàng chiến đấu công tác và xây dựng Đảng, xây dựng quân đội, xây dựng căn cứ địa, thực hiện hòa hợp dân tộc... Qua những lần làm việc, chúng tôi gặp nhau về quan điểm đối với sự nghiệp cách mạng của Lào – vấn đề then chốt là củng cố phát triển Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ; trong đó mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ trưởng thành tiến bộ cả về phẩm chất và năng lực, tự đảm đương được nhiệm vụ, làm chủ lấy công việc của mình là một yêu cầu cơ bản, có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với cách mạng và quân đội Lào trước mắt cũng như lâu dài.

Thông thường, cứ khoảng 3 giờ chiều, lúc thì tôi đến nơi làm việc của anh Bẩy, khi thì anh Bẩy sang nơi làm việc của tôi. Chúng tôi trao đổi bàn bạc cân nhắc từng vấn đề một cách thận trọng chân thành. Chúng tôi thống nhất đề ra một số công tác cụ thể trước mắt là đoàn kết và lãnh đạo toàn diện cuộc đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến. Dựa vào lực lượng của ta và hiệp định đình chiến để thương lượng, hợp tác với Chính phủ nhà Vua tiến hành tổng tuyển cử tự do và thành lập chính phủ liên hợp thống nhất, tiến tới xây dựng nước Lào dân củ và hoàn thành độc lập, góp phần bảo vệ hòa bình ở châu Á và thế giới. Giữ vững và củng cố hai tỉnh tập kết thành căn cứ đấu tranh trong cả nước. Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang. Tăng cường khối đoàn kết toàn dân, mở rộng mặt trận thống nhất. Đẩy mạnh công tác vùng sau lưng địch. Thành lập chính đảng cách mạng Lào, coi trọng công tác đào tạo cán bộ, coi đây là một vấn đề then chốt quyết định.

Những bữa cơm chiều thường là hai chúng tôi cùng ăn với nhau, dần dần tôi và anh Bẩy trở nên thân thiết “vừa tình đồng chí, vừa tình anh em”. Ngoài công việc chung, những chuyện riêng tư chúng tôi cũng không giấu nhau điều gì. Anh Bẩy kém tôi 7 tuổi(1), quê anh ở bản Na Xiêng huyện Khăm-tha-bi-ni, tỉnh Xa-va-na-khệt, là con một gia đình viên chức. Sau khi học xong tiểu học tiếng Lào và tiếng Pháp, anh sang Hà Nội học tiếp tại trường bảo hộ Pháp. Trong những năm từ 1936 đến 1939, ở Việt Nam có phong trào thanh niên đấu tranh đòi tự do dân chủ, gọi tắt là Hội thanh niên cứu quốc. Anh Bẩy đã tham gia phong trào này. Năm 1943, tốt nghiệp trung học, anh tiếp tục học khoa Luật, trường đại học ở Hà Nội. Năm 1945, anh Bẩy về nước tham gia giành chính quyền từ tay phát xít Nhật tại Xa-va-na-khệt và được cử phụ trách đơn vị bộ đội của tỉnh này. Từ năm 1946 đến năm 1949, anh tham gia nhiều công việc, đặc biệt là làm công tác xây dựng lực lượng chính trị, tổ chức lực lượng vũtrang, xây dựng căn cứ địa Đông Bắc Lào. Đầu năm 1949, anh Bẩy được cử làm Tư lệnh Quân đội Ít-xa-la Lào. Ngày 6 tháng 1 năm 1949, anh gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương và ngày 28 tháng 7 năm 1949 anh Bẩy trở thành đảng viên chính thức.


(1) Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản sinh ngày 13 tháng 12 năm 1920.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:21:03 AM
Năm 1950, tại Đại hội Mặt trận Lào kháng chiến toàn quốc, anh được bẩu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Mặt trận Lào Ít-xa-la và làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ kháng chiến Lào.

Năm 1951, anh Bẩy tham gia Đại hội lần thứ hai Đảng Cộng sản Đông Dương, được đại hội giao cho nhiệm vụ cùng với các đồng chí đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương người Lào chuẩn bị thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào.

Qua mấy ngày trao đổi, đề án xây dựng lực lượng vũ trang và bảo vệ hai tỉnh tập kết của quân đội Lào đã được anh Bẩy chấp nhận, trở thành đề án chính thức của bạn.

Đầu tháng 12 năm 1954, Hội nghi quân chính quân đội Lào tổ chức tại bản Cang Thạt và Cang Mùng thuộc huyện Mường Xôi do anh Bẩy chủ trì.

Tại hội nghị, các đoàn đại biểu thuộc các đơn vị, cơ quan, các địa phương của Lào đã nhất trí nội dung báo cáo do anh Bẩy trình bày, với chủ trương là:

Trước mắt, củng cố và xây dựng lực lượng vũ trang Lào Ít-xa-la thành một quân đội cách mạng vững mạnh, có đủ khả năng phá tan âm mưu quân sự của đối phương, bảo vệ hai tỉnh tập kết, đồng thời làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh chính trị. Về lâu dài, nếu địch gây lại chiến tranh, quân đội sẽ là lực lượng nòng cốt tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng hoàn toàn đất nước Lào.

Về phương châm xây dựng quân đội, anh Bẩy nhấn mạnh: Phải lấy giáo dục chính trị và công tác bồi dưỡng cán bộ làm chính. Tổ chức lực lượng phải gọn nhẹ, có tính dân tộc, phù hợp với trình độ chỉ huy của cán bộ và điều kiện khả năng cung cấp của chiến trường tại chỗ. Kết hợp xây dựng bộ đội chủ lực với xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích; xây dựng cơ quan với xây dựng đơn vị. Đặc biệt coi trọng xây dựng hệ thống lãnh đạo của Đảng và hệ thống công tác chính trị trong quân đội.

Việc giúp bạn sớm xác định và nhất trí cao trong nội bộ đề án xây dựng lực lượng là thắng lợi bước đầu có ý nghĩa quan trọng, bạn và ta đều phấn khởi, tin tưởng, tạo được mối quan hệ tốt đẹp ngay từ đầu.

Sau Hội nghị quân chính, anh Bẩy đã ký quyết định biểu biên chế toàn quân. Cuối tháng 12 năm 1954, ba cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần thuộc Bộ Quốc phòng cùng hệ thống cán bộ thuộc các đơn vị, địa phương cũng hình thành cơ cấu hợp lý của một đội quân chủ lực tập trung gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trợ chiến, 1 tiểu đoàn vận tải, 1 đại đội thông tin, 1 đại đội quân báo, 1 đại đội vận tải, 1 trung đội bảo vệ cơ quan, 12 đại đội độc lập và đại đội địa phương, 1 trường quân chính (Com-ma-đam), 2 cơ quan tỉnh đội Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ.

Sau khi thống nhất phương án xây dựng và bảo vệ hai tỉnh, Trưởng đoàn 100 lại làm việc với anh Bẩy về phương châm chế độ công tác của đoàn cố vấn và quan hệ hợp tác giữa Việt – Lào. Lúc đầu tôi gợi ý toàn bộ chế độ phương châm giúp bạn, anh Bẩy thấy rất khó thực hiện vì anh em Lào ít suy nghĩ chiều sâu, ngại khó khăn, nhưng sau mấy lần trao đổi, anh bẩy thấy vấn đề rất hay và phấn khởi, anh sẽ động viên giáo dục anh em cán bộ Lào thấu hiểu làm đúng phương châm, chế độ. Qua khó khăn bước đầu sẽ đi đến có bước trưởng thành vững chắc. Phương châm chế độ là một vấn đề mới, nhưng qua trao đổi nhiều lần đã đảm bảo sự nhất trí giữa Đoàn 100 và cán bộ Lào. Cán bộ Đoàn 100 cũng phải quán triệt mục tiêu then chốt, là cán bộ bạn trưởng thành, ta kiên trì vất vả một thời gian sẽ đi đến làm việc với nhau thoải mái hơn. Cán bộ Đoàn 100 phải chống tư tưởng nóng vội làm thay, tư tưởng dân tộc lớn. Sau khi tài liệu được chính thức ban hành, hai bên tranh thủ quán triệt và kiên trì thực hiện.

Cùng với sự hình thành tổ chức biên chế của quân đội bạn và thống nhất phương châm chế độ làm việc giữa hai bên, Đoàn 100 chúng tôi kịp thời sắp xếp đội ngũ cố vấn giúp bạn, cụ thể như sau:

Tôi là Đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy, có cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và cố vấn các tiểu đoàn, các đội kỹ thuật. Cơ quan tham mưu do anh Ngữ, anh Thăng Bình phụ trách, có Nguyễn Hữu Nghị làm cố vấn dân quân, Nguyễn Ngọc Anh cố vấn tác chiến, Lương Thế Nho cố vấn quân báo, Trần Văn Sơn cố vấn quân sự, Hoàng Chất cố vấn thông tin và Phạm Bá Dũng cố vấn cơ yếu. Cơ quan chính trị do anh Lê Tiến Phục làm chủ nhiệm kiêm cố vấn tổ chức, có Hà Minh Tân làm cố vấn tuyên giáo, Nguyễn Phong cố vấn bảo vệ, Đỗ Xuân Nghiêm cố vấn thanh niên. Cơ quan hậu cần, anh Nguyễn Đức Phương là chủ nhiệm; Nguyễn Lung cố vấn quân y, Đỗ Đình Hữu cố vấn ban quân khí. Đến tháng 3 năm 1955, Bộ bổ sung thêm Nguyễn Kiên, Lê Trung Tín, Đỗ Đình Lợi, Hoàng Tiến Thi, Nguyễn Giềng, Nguyễn Bạt, Cao Đình Cự, Đinh Văn Tuy và Phạm Văn Miện. Ngoài ra còn có cố vấn quân sự Võ Quốc Vinh, cố vấn chính trị Lê Tự Lập của trường Com-ma-đam. Có cố vấn biên chế trong 10 tiểu đoàn: 585, 589, 593, 601, 609, 705, 701, 613, 617 và tiểu đoàn 605; cố vấn của 3 đại đội kỹ thuật gồm công binh, quân báo, thông tin và Đinh Văn Tuy, tổ trưởng cố vấn tỉnh Phông-xa-lỳ, anh Đoàn Bổng kiêm tổ trưởng cố vấn tỉnh Hủa Phăn thay Nguyễn Hữu Nghị về nước năm 1955, các tổ giúp bạn đều có phiên dịch, cấp dưỡng người Việt riêng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:22:56 AM
Sau một thời gian triển khai các nhiệm vụ, chúng tôi tổ chức cho cán bộ rút kinh nghiệm và quán triệt một lần nữa về phương châm giúp bạn. Qua thảo luận, từ lãnh đạo chỉ huy đến cán bộ cố vấn đã rút ra một số nội dung cơ bản có tính nguyên tắc, đó là phải tôn trọng chủ quyền của bạn, trước hết và trực tiếp là tôn trọng ý kiến của cán bộ bạn. Trong mọi công việc cán bộ cố vấn phải nghiên cứu chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, có nội dung và kế hoạch cụ thể. Phải làm tốt việc nêu vấn đề làm cho bạn hiểu và nắm chắc nội dung công việc, rồi tự đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện. Chúng tôi nói với anh em cố vấn những ý kiến của bạn nêu lên dù còn đơn giản ta cũng vui mừng cổ vũ bạn và gợi ý để bạn tiếp tục suy nghĩ cho đến khi hoàn chỉnh. Chỉ có như vậy mới nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự lực, tự cường cho cán bộ bạn để họ phấn đấu rèn luyện ngày một trưởng thành, tự đảm đương sự nghiệp cách mạng Lào.

Trong quan hệ với bạn, cán bộ cố vấn phải tạo được sự gắn bó và lòng tin của bạn. Cán bộ ta được lòng cán bộ bạn là cực kỳ cần thiết. Nếu cán bộ cố vấn của ta không bình tĩnh, khôn khéo, chân tình mà nóng vội, thúc ép để bạn bất bình thì hỏng việc. Song được lòng mà bao biện làm thay thì cũng không đạt được mục đích cao nhất là giúp bạn đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Thực tế lúc đầu, không ít cán bộ bạn tiếp xúc với công việc mới mẻ, nhưng tình huống phức tạp đã tỏ ra ngần ngại, muốn nhờ anh em Việt Nam làm giúp cho anh. Trong trường hợp này cán bộ Việt Nam làm thay hết cho bạn thì có thể được lòng bạn, nhưng không thực hiện được yêu cầu giúp cán bộ bạn rèn luyện trong mọi hoàn cảnh. Tất cả những vấn đề trên là rất cụ thể và rất cơ bản, thực hiện tốt hay không sẽ ảnh hưởng lớn đến việc củng cố tăng cường quan hệ đoàn kết Việt – Lào và nâng cao hiệu quả công tác giúp bạn trong tình hình mới.

Lúc đó chúng tôi dự kiến nếu ta nắm vững phương châm, chế độ giúp bạn thì trong khoảng ba năm sẽ có thể tạo cơ sở và điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ bạn tiến bộ, làm chủ được mọi công việc của mình. Để làm được những nội dung trên, vấn đề đặt ra đối với quân đội Lào lúc này là trong những năm kháng chiến chống Pháp, các đơn vị quân đội Lào Ít-xa-la hoạt động phân tán, không thể huấn luyện và giáo dục tập trung. Thực hiện phương châm “lấy xây dựng chính trị tư tưởng làm chính, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm chính” như trong đề án xây dựng lực lượng, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho một số cán bộ tuyên huấn và quân huấn có kinh nghiệm giúp bạn biên soạn gấp các tài liệu giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự trong toàn quân. Chúng tôi coi đây là một việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang của bạn, bảo vệ vững chắc hai tỉnh tập kết.

Vấn đề đặt ra đối với chúng tôi về nội dung giáo dục chính trị lúc này bao gồm:

Thứ nhất, đất nước Lào là của người Lào, do nhân dân các bộ tộc Lào làm chủ.

Thứ hai, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ quán triệt tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng Lào, nhận rõ nước Lào có vị trí quan trọng của cách mạng Lào có vị trí quan trọng ở bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á; đồng thời, thấy rõ âm mưu của Mỹ và tay sai đang dùng mọi thủ đoạn nham hiểm và tàn bạo cả về chính trị, quân sự, kinh tế hòng thôn tính nước Lào.

Thứ ba, phát huy bản chất, truyền thống, vai trò nhiệm vụ của quân đội. Từ chỗ chỉ có những đơn vị vũ trang tuyên truyền hoạt động phân tán như các đơn vị Lát-xa-vông, Pha Ngừm, Xay chắc Vai Phắt, Xét-tha-thi-lạt và các đơn vị du kích đến nay đã hình thành lực lượng vũ trang ba thứ quân, có hệ thống lãnh đạo, chỉ huy từ trung ương xuống đến các đơn vị, các địa phương. Đây là vốn vô cùng quý báu của nhân dan các bộ tộc Lào, từ đó cán bộ, chiến sĩ nâng cao lòng yêu nước, chỉ căm thù giặc, ý thức độc lập tự chủ. Chỉ khi nào nhân dân có thực lực chính trị, quân sự đủ mạnh thì mới giành được thắng lợi, giữ vững và phát triển được thắng lợi của cách mạng.

Thứ tư, ra sức xây dựng hai tỉnh tập kết trở thành căn cứ địa vững mạnh về mọi mặt, làm chỗ dựa vững chắc cho việc đánh địch và xây dựng lực lượng.

Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội bạn.

Những nội dung trên được anh em cố vấn và cán bộ bạn hoàn thành trong thời gian ngắn, tài liệu được cấp đến các đơn vị cơ sở và các địa phương. Tuy tài liệu còn sơ lược nhưng ưu điểm dễ nhớ, dễ hiểu, dễ liên hệ với hành động cụ thể của từng người, phù hợp với trình độ của bạn lúc này.

Sau một thời gian tập trung giáo dục, nhận thức của các đơn vị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã được nâng lên rõ rệt.

Vấn đề xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và kết nạp đảng viên lúc này trong Đoàn cố vấn cũng có những ý kiến khác nhau. Một bộ phận cho rằng phải có thời gian để anh em học tập văn hóa, nói và viết được tiếng Lào rồi mới nói đến chuyện bồi dưỡng kết nạp vào Đảng. Số đông cán bộ lại khẳng định rằng mặc dù trình độ cán bộ bạn thấp nhưng nhiều người đã trải qua chiến đấu, họ tự nguyện rời bỏ mường bản về khu tập kết. Đó là vấn đề cơ bản, có thể vừa cho họ học tập chính trị, quân sự, văn hóa vừa kết nạp họ vào Đảng là phù hợp với thực tiễn ở Lào lúc bầy giờ.

Với phương châm trên, sau gần một năm số lượng đảng viên tăng lên đáng kể, tổ chức chi bộ được hình thành, số cán bộ cốt cán ngày một đông đảo là cơ sở góp phần thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:24:53 AM
Cùng thời gian này, chúng tôi cùng thống nhất với lãnh đạo bạn là đi đôi với giáo dục chính trị phải quan tâm huấn luyện quân sự, tập trung làm cho cán bộ, chiến sĩ thành tạo sử dụng vũ khí, nắm vững những hình thức chiến đấu thông thường như phục kích, tập kích; vận dụng tốt các hình thức chiến thuật từ tổ ba người, tiểu đội, trung đội, đại đội; chú trọng kiểm tra bắn đạn thật và diễn tập thực binh. Quá trình huấn luyện là quá trình xây dựng quyết tâm chiến đấu, dám đánh và tin tưởng đánh thắng quân địch, bảo vệ vững chắc hai tỉnh tập kết.

Trình độ năng lực của cán bộ lúc đầu còn hạn chế, nhiều anh em gặp khó khăn trong công tác giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự. Trước tình hình này, chúng tôi trao đổi với các đồng chí lãnh đạo và cơ quan Bộ Quốc phòng Lào tổ chức những lớp bồi dưỡng, tập huấn cán bộ, giáo viên cho bạn. Cán bộ cố vấn của ta làm động tác mẫu giúp cán bộ bạn nắm vững nội dung cơ bản rồi trực tiếp lên lớp hướng dẫn cho cơ quan và đơn vị của mình.

Để giúp bạn bảo đảm tốt đời sống bộ đội và phục vụ kịp thời các yêu cầu xây dựng và chiến đấu, Đoàn 100 chúng tôi đã bàn với Bộ Quốc phòng bạn phát động phong trào sản xuất trong toàn quân. Mỗi cơ quan, đơn vị đều thi đua trồng rau, trồng lúa, ngô… chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà… Nhờ phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh nên đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội được cải thiện. Nhân dân các bộ tộc Lào ngày càng phấn khởi, tin tưởng bộ đội con em của mình, tích cực tham gia kháng chiến xây dựng mường bản, chấp hành các chủ trương chính sách của mặt trận và Chính phủ kháng chiến Lào. Chỉ tính riêng tỉnh Hủa Phăn trong năm 1955 đã có 32.874 lượt người đi dân công và 3.000 lượt ngựa thồ phục vụ tiền tuyến.

Với sự giúp đỡ tận tình có hiệu quả của tổ cố vấn của ta ở các cơ quan đơn vị bạn, một phong trào thi đua học tập rèn luyện đã diễn ra sôi nổi trên khắp các địa phương, các đơn vị vùng giải phóng Pa-thét Lào. Các đợt giáo dục chính trị huấn luyện quân sự đã được bạn và ta tập trung chỉ đạo, tiến hành khẩn trương liên tục, đạt nhiều kết quả tốt, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt chính trị của quân đội Lào.

Cùng thời gian này mặc dù ta giữ bí mật, nhưng phía chính quyền phái hữu tìm mọi cách buộc cán bộ Việt Nam phải rút về nước, để họ dễ bề lừa gạt, mua chuộc, chia rẽ nội bộ Lào, chia rẽ Lào và Việt Nam. Họ còn thẳng tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân trong nước và dùng mọi cách đóng quân thiết lập chính quyền vương quốc ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, tiến tới chiếm trọn hai tỉnh này bằng vũ lực. Chính quyền phái hữu một mặt tỏ ra ôn hòa, sốt sắng trong hội nghị hiệp thương, mặt khác lợi dụng hội nghị này để thực hiện những âm mưu thâm độc như thôn tính hai tỉnh tập kết…

Biết rõ âm mưu của địch như vậy, sau khi thống nhất với anh Nguyễn Khang, anh Bẩy vẫn quyết tâm cử đoàn đại biểu dự hội nghị hiệp thương để tỏ rõ thiện chí, đồng thời tranh thủ, giải quyết nhiều vấn đề khác. Ta thực hiện phương châm vừa đàm phán vừa ra sức củng cố và phát triển lực lượng. Trước mắt phải làm cho cán bộ từ trên xuống dưới nhận thức rõ cuộc đấu tranh còn phải lâu dài, gian khổ. Vấn đề mấu chốt lúc này là giữ vững hai tỉnh tập kết, đòi địch thực hiện quyền tự do dân chủ để đi đến tổng tuyển cử. Dù trong trường hợp nào ta cũng phải giữ vững ngọn cờ hòa bình, dân chủ, thống nhất và độc lập, không để cho địch lừa gạt. Đồng thời, phải có sách lược đối với từng phe phái, đoàn kết với các bộ phận trong nhân dân, các nhân vật trong chính phủ vương quốc kể cả người thân Pháp, không đoàn kết được thì trung lập, tập trung chống bọn thân Mỹ.

Theo tinh thần hiệp định Giơ-ne-vơ, sau khi Neo Lào Hắc-xạt chuyển quân về hai tỉnh tập kết xong, hai bên sẽ tiếp xúc thành lập Ủy ban hiệp thương chính trị, cùng nhau đàm phán tìm ra một giải pháp chính trị để giải quyết hòa bình, thống nhất nước Lào. Song, phía chính quyền tay sai của Mỹ đã ra sức phá hoại hiệp định, cho quân lấn chiếm, trì hoãn không chịu tiến hành đàm phán hiệp thương chính trị. Cho đến đầu năm 1955, Hội nghị hiệp thương chính trị mới bắt đầu được nhóm họp tại Cánh Đồng Chum.

Tham gia Hội nghị hiệp thương về phía Neo Lào Ít-xa-la có ông Phu-mi Vông-vi-chít - Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ kháng chiến làm trưởng đoàn và hai thành viên là ông Nu-hắc - Bộ trưởng Kinh tế, đại tá Si-ka-pô. Phía Vương quốc Lào có: Thông-đi - Bộ trưởng Canh nông (là thân tín của Kà Tày) làm trưởng đoàn. Đoàn của Vương quốc Lào có năm thành viên là: Su-khăm-thát - nghị sĩ Quốc hội, Đại biểu tỉnh Thà Khẹt, Sa-khăm - nguyên đại tá Vương Quốc Lào tại Băng Cốc (Thái Lan), lúc đó phụ trách cảnh sát Vương quốc Lào (Sa-khăm là một tên rất nguy hiểm), Ba-thong - đại biểu quốc hội tỉnh Sầm Nưa cũ, Phu-mi Nô-xa-vẳn - thiếu tá quân đội Vương quốc Lào và Ủa-hươn Nô-ra-sinh.

Ngày 18 tháng 1 năm 1955, tại bàn Khăng-ma-len (Cánh Đồng Chum), hội nghị hiệp thương chính trị lần thứ nhất Neo Lào Ít-xa-la và Vương quốc Lào khai mạc. Tại hội nghị, đại diện Neo Lào Ít-xa-la kiên trì đề nghị thảo luận giải quyết ba vấn đề: Một là, đính chỉ xung đột quân sự ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ. Hai là, lập hội đồng chính trị hiệp thương. ba là, giải quyết vấn đề hành chính, quân sự ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phông-xa-lỳ. Phía Vương Quốc chỉ chú ý đến vấn đề thứ ba - nghĩa là sắp nhập hai tỉnh Sầm Nưa, Phông-xa-lỳ và chính quyền Vương   quốc. Hai bên trình bày lập trường 19 ngày vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào thì ngày 5 tháng 2, đoàn Vương quốc tự ý bỏ về Viêng Chăn. Hội nghị tạm dừng, mãi đến ngày 3 tháng 3 họ mới trở lại bàn đàm phán tại Cánh Đồng Chum.

Hội nghị hiệp thương chính trị giữa Pa-thét Lào Và Vương Quốc Lào cuối cùng cũng ra được tuyên bố chung cam kết chấm dứt ngay mọi hoạt động công kích lẫn nhau. Mỗi bên ra lệnh cho lực lượng vũ trang của mình đình chỉ mọi hoạt động quân sự.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:26:24 AM
*
*   *

Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương (2-1951), sau một thời gian khẩn trương làm công tác chuẩn bị, ngày 22 tháng 3 năm 1955, những người Đảng viên cộng sản nào đã khai mạc hội nghị thành lập (cũng là đại hội lần thứ I). Dự hội nghị có 20 đại biểu chính thức thay mặt cho hơn 300 đảng viên của cả nước Lào (đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương cũ) đang chiến đấu và công tác trên khắp các chiến trường từ Thượng Lào, Trung Lào đến Hạ Lào. Hội nghị họp từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6 tháng 4 năm 1955. Hội nghị đã tích cực thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng, trong đó có báo cáo việc thành lập Đảng Nhân dân Lào. Xuất phát từ đặc điểm chính trị xã hội ở Lào, Hội nghị đã quyết định thành lập một chính đảng lấy tên là Đảng Nhân dân Lào. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình. Đại hội xác định: lãnh đạo toàn dân đoàn kết đấu tranh hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất, phồn vinh. Đại hội còn thông qua chương trình hành động trước mắt của Đảng; tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Lào; Điều lệ Đảng Nhân dân Lào.

Hội nghị thành lập Đảng đã bầu ra ban lãnh đạo toàn quốc của Đảng (có tính chất như một Ban Chấp hành Trung ương) gồm 5 đồng chí: Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Nu-hăắc, Thao Bun, Xi-xa-vạt, Khăm Xay. Sau đó ban lãnh đạo đã đề nghị bổ sung thêm 4 Ủy viên là các đồng chí: Xu-pha-nu-vông, Phu-mi Vông-vi-chít, Phun Xi-pa-xớt và một đồng chí nữa sẽ bổ sung sau.

Ban lãnh đạo toàn quốc đã bầu đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản làm Bí thư Ban lãnh đạo kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương và Tổng chỉ huy quân đội.

Việc chính thức ra đời của đảng Nhân dân Lào (đến năm 1972 đổi tên là Đảng Nhân dân cách mạng Lào) là một cái mốc lịch sử quan trọng, nói lên sự phát triển của cách mạng Lào. Kể từ đây, kế tục sự nghiệp vinh quang của Đảng cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Lào sẽ đứng ra gánh vác sứ mệnh lãnh đạo nhân dân các dân tộc Lào đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia tiến hành cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước.

Xuất phát từ đặc điểm địch - ta ở Lào, Đông Dương và xu thế phát triển chung của tình hình Đông Nam Á và thế giới lúc bấy giờ, với quyết tâm giữ vững thành quả cách mạng, tập trung mũi nhọn đấu tranh vào Đế quốc Mỹ xâm lược và tập đoàn tay sai, Đảng Nhân dân Lào đã đề ra đường lối chính trị và sách lược cụ thể trong giai đoạn mới, đấu tranh cho một nước nào hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc, thành lập chính phủ liên hợp thống nhất quốc gia trên cơ sở thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đây là ngọn cờ được Đảng Nhân dân cách mạng Lào Dương cao trong suốt kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và tỏ ra có hiệu quả rất to lớn trong việc tập hợp lực lượng cách mạng ở trong nước và sự đồng tình mạnh Mẽ của dư luận thế giới.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trên, Đảng Nhân dân cách mạng Lào chủ trương trước mắt tập trung chỉ đạo xây dựng hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ thành căn cứ địa cách mạng của cả nước; đồng thời phát động phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân mười tỉnh do phía Vương quốc kiểm soát. Phương châm đấu tranh lấy đấu tranh chính trị là chính, riêng ở hai tỉnh tập kết kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự…

Sự ra đời của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã tạo cơ sở vững chắc về tư tưởng và tổ chức cho việc đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trong quân đội Pa-thét Lào - một nhân tố quyết định thắng lợi cho cuộc đấu tranh giữa hai tỉnh tập kết của bạn; đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của cách mạng Lào và quân đội Pa-thét Lào trong các giai đoạn tiếp theo.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:27:40 AM
*
*   *

Cuối mùa Xuân năm 1957, trước bữa cơm chiều thân mật như mọi lần, đồng chí Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Tổng chỉ huy lực lượng Pa-thét Lào sang chỗ tôi rất sớm. Trước khi ăn cơm, anh Bẩy bắt đầu câu chuyện:

- Mới chưa đầy ba năm, chúng ta đã nỗ lực thực hiện hai nhiệm vụ có tầm chiến lược. Xây dựng thành công các đơn vị bộ đội tập trung; xây dựng và bảo vệ trọn vẹn hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, đã tạo được lực lượng khá vững chắc để tiếp tục phát triển cách mạng Lào đến thành công. thành quả đó đối với chúng tôi thật vô cùng quan trọng. Hôm nay tôi nói với anh Mân về thành tựu đã đạt được của cách mạng Lào ở hai tỉnh trong cả nước, về ý nghĩa và tương lai tốt đẹp của nó. các đơn vị tập trung của lực lượng vũ trang Pa-thét Lào, không những cùng với lực lượng vũ trang hai tỉnh đánh bại âm mưu đánh chiếm của quân địch mà nỗ lực rèn luyện trưởng thành một bước khá vững. Nhân dân các bộ tộc hai tỉnh được giác ngộ cách mạng thêm một bước, tình đoàn kết được nâng lên, lao động sản xuất tiến bộ, đời sống vật chất văn hóa khá hơn trước. Lực lượng vũ trang hai tỉnh được xây dựng một bước. Hai tỉnh đã trở thành căn cứ địa của cả nước. Trong khi đó cơ sở chính trị của các tỉnh trong cả nước cũng được duy trì và phát triển.

Đảng Nhân dân cách mạng Lào được xây dựng bước đầu đã thành hệ thống từ trung ương đến cơ sở trong cả nước. Đảng viên và cán bộ trong lực lượng vũ trang được tăng lên gấp bội. Lực lượng này là sự kế tục vững chắc, là nòng cốt của Đảng Lào và cách mạng Lào ngày nay và cả mai sau.

Dừng một lát anh Bẩy nói tiếp:

- Tôi không thể quên, lúc gần một vạn con người từ các tỉnh về tập kết, cả cán bộ, chiến sĩ, tư tưởng cơ bản tốt, nhưng hiểu biết quá thấp. đến nay nhận thức đường lối chính trị và tư tưởng cách mạng có bước tiến bộ rõ rệt. Trong lãnh đạo chúng tôi cho đây là cái vốn đáng quý. Từ cái vốn con người được chuẩn bị, khi tỏa về cả nước gắn bó với cơ sở địa phương sẽ thành sức mạnh. Đặc biệt cán bộ trong quân đội là lực lượng nòng cốt kế thừa và phát triển. Tôi chân thành cảm ơn Bác Hồ, cảm ơn Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam đã chọn lựa 100 anh em sang giúp cho tôi một cách vô tư tận tình, chân thành và tin cậy.

 Nói đến đây anh Bẩy rất xúc động và nhờ tôi chuyển lời cảm ơn anh em trong đoàn cố vấn 100.

Tôi hiểu ý anh Bẩy nên đặt vấn đề:

- Cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào còn dài, thử thách gian nan chắc không ít. Anh Bẩy có thể lường trước để giành chủ độc không?

Anh hiểu ý tôi nên nói:

- Chắc chắn là như thế, tôi và Trung ương Đảng nhân dân Lào sẽ tiếp tục giáo dục, động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nâng cao ý chí độc lập tự do, tinh thần tự lực tự cường.

Tôi mạnh dạn nói:

- Tôi hoàn toàn nhất trí với anh, đó mới thật là cách mạng của nước nào do nhân dân nước ấy làm lấy là chủ yếu.

Một lần nữa anh Bẩy xúc động và nói:

- Nhưng cách mạng hai nước sẽ dựa vào nhau, liên minh chiến đấu của Lào - Việt Nam vẫn tồn tại lâu dài.

Tôi nói tiếp:

- Trước hết là dự kiến những tình huống cụ thể và cách xử trí trong quá trình đi lên của cách mạng. không ai hiểu cách mạng Lào bằng anh, tới đây nếu thực hiện được hòa hợp dân tộc thì thử thách không ít, nhưng thử thách bao giờ cũng là trường rèn luyện đội ngũ tiên phong của cách mạng. Nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí, cán bộ đảng viên kiên cường gương mẫu, được nhân dân các bộ tộc yêu mến, các mạng sẽ phát triển và chiến thắng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:29:00 AM
Từ khi Pa-thét Lào về tập kết ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ theo điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, quân đội Chính phủ Hoàng gia và bọn phỉ Vàng Pao được Mỹ tiếp sức đã tập trung lực lượng lớn quân chủ lực cùng hàng chục toán phỉ liên tiếp mở các bộ tiên không lấn chiếm hai tỉnh do Pa-thét Lào quản lý. Chúng còn cho quân mở những cuộc hành quân càn quét, khủng bố nhiều khu vực kháng chiến cũ ở 10 tỉnh thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ Hoàng gia.

Ở Hủa Phăn, quân phái hữu có 6 tiểu đoàn chủ lực, 11 đội com-măng-đo và hàng chục toán biệt kích lấn chiếm và đóng quân trái phép trên 13 điểm là: Mường Phơn, Tích Le, Nà Nội Nà-xa, Hủa Mường, Na Kèng, Mường Lai, các điểm cao 1059 và 1948, quan trọng nhất là dãy núi đá Pa Thí, Pa Kha.

Ở Phông-xa-lỳ, quân đội phải hữu tập trung 3 tiểu đoàn, 5 đại đội biệt kích, 300 tên phỉ địa phương... do bộ tham mưu quân Chính phủ Hoàng gia chỉ huy mở nhiều cuộc tiến công vào Hạt Nang và dòng sông Nậm Bút.

Trước sự vi phạm trắng trợn các điều khoản của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Lào, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ kháng chiến Lào chủ trương động viên mọi lực lượng trong quân và dân hai tỉnh cùng nhân dân cả nước Lào đẩy mạnh đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh quân sự một cách kiên quyết và bền bỉ để giữ vững và phát triển căn cứ cách mạng hai tỉnh, cũng là căn cứ địa cách mạng của cả nước; giữ vững và phát triển cơ sở cách mạng ở 10 tỉnh, làm thất bại mọi âm mưu tấn công phá hoại của Mỹ và tay sai. bỏ trốn phải thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, tiến tới xây dựng một nước Lào hòa bình, dân chủ, thống nhất và độc lập thực sự.

Chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ kháng chiến Lào là vậy, trong tình hình quân đội của bạn cũng rất khó khăn. Các đơn vị Pa-thét Lào mới tập trung xây dựng còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng chiến đấu, nhiều cán bộ, chiến chịu ảnh hưởng tập quán cũ, kiêng sợ đổ máu, sát sinh... Nếu không chuẩn bị tốt về tư tưởng và tổ chức mà tập trung lực lượng tác chiến ngay có thể không thắng mà còn bị tổn thất, sẽ tác động bất lợi đến tư tưởng, tâm lý và lòng tin của bạn. Mặt khác công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật của bạn lúc này còn hạn chế, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị trong một thời gian nhất định mới có thể đáp ứng được.

Để giúp bạn khắc phục khó khăn, thực hiện tốt chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng và Chính phủ kháng chiến Lào, Đảng ủy và chỉ huy đoàn 100 chúng tôi đã nghiên cứu đề xuất với Bộ Quốc phòng và kế hoạch tác chiến, cụ thể là: sử dụng lực lượng tại chỗ của hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ với công tác binh vận, địch vận ngăn chặn và hạn chế quân địch nống ra, lấn chiếm. Tập trung xây dựng, huấn luyện các tiểu đoàn chủ lực, tiến hành các mặt công tác bảo đảm hậu cần và công tác thiết bị chiến trường.

Về tổ chức và bố trí lực lượng, chúng tôi đề nghị với Bộ Quốc phòng Lào chia tỉnh Hủa Phăn thành ba khu vực. Khu vực thứ nhất gồm các huyện Mường Xôi, Sầm Tố, một phần Mường Sầm và các xã thuộc khu vực phía đông đường số 6 thuộc huyện Hủa Mường. khu vực này bố trí 2 tiểu đoàn chủ lực, 3 đại đội địa phương huyện. Khu vực thứ hai, gồm huyện Xiềng Khọ, 1 phần luyện Mường Sầm và các xã thuộc phía tây đường số 6 của huyện Hủa Mường. Tại đây bố trí 1 đại đội chủ lực, hai đại đội địa phương huyện. Khu vực thứ 3, gồm 145 bàn thuộc 13 xã của huyện Mường Xon, lực lượng vũ trang bố trí 1 đại đội chủ lực, 2 đại đội địa phương huyện.

Tỉnh Phông-xa-lỳ chia thành hai khu vực. Phía bắc gồm 2 huyện: Mường U, Mường Xừn và thị xã Phông-xa-lỳ. tại đây bố trí 1 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội trận chiến. 3 trung đội địa phương huyện. Phía nam gồm các huyện còn lại của tỉnh Phông-xa-lỳ, lực lượng vũ trang bố trí 1 tiểu đoàn chủ lực, 2 trung đội địa phương.

 Bộ Quốc phòng trực tiếp năng lực lượng cơ động gồm 3 tiểu đoàn chủ lực, một tiểu đoàn trợ chiến, 1 tiểu đoàn tải và 3 đại đội thông tin, công binh, quân báo.

 Căn cứ vào tình hình các địa phương các đơn vị, chúng tôi cử anh Nguyễn Hữu Nghị về giúp tỉnh đô Hủa Phăn, anh Đinh Văn Tuy lên phía bắc giúp tỉnh đội Phông-xa-lỳ.

Sau một thời gian giúp bạn về tổ chức và huấn luyện, triển khai lực lượng, thiết bị chiến trường và phát động nhân dân các bộ tộc Lào tham gia, bước đầu ta đã tạo được một thế trận chiến tranh nhân dân ở hai tỉnh, từng bước đẩy mạnh hoạt động ngăn chặn có hiệu quả các cuộc tiến công lấn chiếm của địch.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:30:39 AM
Thời gian này Chính phủ Hoàng gia cho quân vào chiếm sân bay Nọng Khạng và tiến công khu vực Hủa Mường - Mường Phơn ở Hủa Phăn. Tôi bàn với anh Bẩy phải đưa lực lượng đến khu vực Nọng Khạng vừa làm công tác tuyên truyền vừa tổ chức chiến đấu Ngăn chặn địch ở Nọng Khạng; đồng thời tổ chức đánh quân địch ở sân bay Nọng Khạng giành lại sân bay này.

Thực hiện kế hoạch chung, hai tiểu đoàn chủ lực của bạn bao vây áp sát sân bay Nọng Khạng. Phát hiện thấy lực lượng của Pa-thét Lào, quân địch hốt hoảng bỏ chạy ngay trong đêm. Bộ đội Pa-thét Lào tiến vào chiếm sân bay rồi tổ chức phòng thủ chống quân dù và cả bộ binh địch, đồng thời kêu gọi hơn 20 binh lính địch ra trình diện và nộp vũ khí.

Ngày hôm sau, chính quyền Hoàng gia tố cáo Pa-thét Lào vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ và yêu cầu ủy ban giám sát quốc tế đến kiểm tra đòi quân đội Pa-thét Lào rút khỏi Nọng Khạng.

Cố vấn các tỉnh đoàn được sự chỉ đạo của Đoàn ủy 100, sau khi đã thống nhất với bạn, giúp bạn nắm vững các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào, dùng lý lẽ đấu tranh với Ủy ban giám sát quốc tế.

Qua ba ngày đấu tranh, Ủy ban giám sát quốc tế ở Lào đã thừa nhận Nọng Khạng thuộc vùng quản lý của Pa-thét Lào, quân đội Pa-thét Lào không vi phạm Hiệp định Giơ-ne-vơ.

Trận đánh sân bay Nọng Khạng tuy không tiêu diệt được nhiêu sinh lực địch, song điều quan trọng là giúp cán bộ, chiến sĩ quân đội Pa-thét Lào hiểu rõ hơn về ý chí kém cỏi của quân đội Hoàng gia, tăng thêm niềm tin vào khả năng của mình có thể đánh thắng quân địch.

Tôi đề nghị anh Bẩy: Trận đánh sân bay Nọng Khạng ta vừa đánh thắng, vừa kiện thắng. Bộ đội Pa-thét đã biết làm công tác vận động chính trị đối với nhân dân và biết làm công tác địch vận. Anh nên có thư khen và biểu dương.

Sau gần một năm lực lượng vũ trang được xây dựng, nhất là từ đầu năm 1955 đến tháng 5 năm 1955, hoạt động của quân và dân Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ đã thu được một số thắng lợi. Cục diện chung có lợi cho phía Pa-thét Lào, Tuy vậy, ta vẫn chưa tổ chức được trận thắng nào lớn, quân địch chưa bị đánh đau nên chúng vẫn ngoan cố thực hiện âm mưu lấn chiếm. Cuối tháng 5 năm 1955, một tiểu đoàn quân đội Hoàng gia từ Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng đánh chiếm dãy đồi Na-sa-la, Sa-lói tạo bàn đạp tiến công Mường Hàm (cách thị xã Sầm Nưa 28km).

Trước tình hình trên, anh Bẩy và anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn – Tổng tham mưu trưởng Quân đội Pa-thét gặp tôi. Anh Bẩy nói:

- Quân đội Hoàng gia chiếm Na-sa-la, Sa-lới là có ý đồ chính trị thâm độc. Đây là thời cơ để ta tập trung lực lượng tiêu diệt quân địch, lấy thực tế chiến trường để giải quyết vấn đề tư tưởng cho bộ đội Pa-thét Lào là họ hoàn toàn có thể đánh thắng quân đội Hoàng gia. Ta thắng trận này còn có ý nghĩa răn đe quân phái hữu, buộc chúng từ bỏ tham vọng lấn chiếm và thôn tính hai tỉnh do Pa-thét Lào kiểm soát, tạo uy thế chính trị, quân sự cho phái đoàn Pa-thét Lào tại Hội nghị hiệp tương với Chính phủ Hoàng gia ở Viêng Chăn.

Ngừng lời, anh Bẩy quay sang tôi:

- Ý anh Mân thế nào?

Suy nghĩ một lát, tôi nói:

- Ý nghĩa của trận đánh anh Bẩy vừa nêu là hoàn toàn đúng và rất cần thiết. Nhưng để có một trận thắng lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ chiến trường và điều quan trọng hơn là gây được niềm tin cho bộ đội thì phải làm công tác chuẩn bị thật chu đáo, đảm bảo chắc thắng có ý nghĩa to lớn.

Anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn có vẻ sốt ruột, hỏi:

- Đề nghị anh Chu Huy Mân nói cụ thể hơn.

Tôi hiểm tâm trạng của anh Xi-xa-vạt. Trong tình huống nào anh cũng là người trực tiếp chỉ huy trận đánh, nên anh muốn tôi nói chi tiết những công việc cần làm. Tôi chậm rãi nói:

- Trước hết, đề nghị với các anh phải làm tốt công tác chuẩn bị chiến trường, nắm thật chắc lực lượng và quy luật hoạt động của địch. Kinh nghiệm của chúng tôi, chuẩn bị tốt là thắng một nửa. Sau khi chuẩn bị thực địa xong, phải lập được sa bàn, thực trạng bố trí đóng quân của chúng. Từ đó mới lên phương án tác chiến. Thảo luận phương án tác chiến trên sa bàn là cách tốt nhất đối với các đơn vị tham gia trận đánh, bởi nó dẽ hiểu, dễ nhớ.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:31:49 AM
Về sử dụng lực lượng, theo tôi quân phái hữu có một tiểu đoàn, nhưng từ xa vừa đến, sự chi viện của chúng gặp nhiều khó khăn, nên ta chỉ cần sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội ĐKZ57 và 1 đại đội cối 81 là đủ. Vấn đề quan trọng, các đơn vị này phải được làm tốt công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm và lòng tin vào khả năng của mình là đánh thắng quân địch. Từ đó, tiến hành tập luyện theo phương án tác chiến thuần thục từ phân đoạn đến trong hợp. Việc huấn luyện bổ sung và diễn tập thực binh, chúng tôi sẽ bàn kỹ với cố vấn trực tiếp giúp đỡ cán bộ của các anh.

Một vấn đề quan trọng nữa là, để tạo sự thống nhất cao, cần tổ chức các chi bộ sinh hoạt quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm, mỗi đảng viên phải thực sự là nòng cốt cho đơn vị.

Cuối cùng, tôi nêu một số tình huống cơ bản có thể xảy ra trong quá trình chiến đấu và dự kiến cách xử trí các tình huống này. Đồng thời cũng đề nghị anh Bẩy cho các tiểu đoàn chủ lực ở Hủa Phăn hành quân đến đóng ở tuyến sau có thể quan sát diễn biến trận đánh, làm như vậy rất có ý nghĩa cho sau này rút kinh nghiệm, anh em có thực tiễn.

Anh Bẩy chăm chú nghe tôi nói, thỉnh thoảng anh vuốt vuốt mái tóc ngắn, suy nghĩ hồi lâu anh nói với Tổng tham mưu trưởng Xi-xa-vạt Kẹo-bun-hăn:

- Tôi nhất trí ý kiến của anh Chu Huy Mân, để vừa làm, vừa học, vừa chiến đấu và rèn luyện, công việc của chúng ta bây giờ là chỉ đạo các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần lập kế hoạch cụ thể theo chức trách của mình. Nhưng quan trọng nhất là tổ chức trinh sát thực địa, lập kế hoạch tác chiến và tổ chức cho bộ đội tham gia tiến công tập theo phương án tác chiến. Đồng thời, tiến hành lập kế hoạch hành quân chiếm lĩnh lĩnh, kế hoạch bảo đảm hậu cần (gạo, đạn, vận tải, nuôi quân, cứu chữa thương binh), công tác chính sách (thương binh, tử sĩ, chiến lợi phẩm, tù hàng binh)... Trận này ta nên lập cơ quan chỉ huy tiền phương của Bộ Quốc phòng do anh trực tiếp chỉ huy, để rèn luyện cán bộ.

Nói xong, anh bẩy quay sang tôi, hỏi:

- Ý anh Chu Huy Mân thế nào?

- Tôi tán thành ý kiến của anh Bẩy. về phía Đoàn 100, trong trận này, tôi và một số cán bộ các ngành sẽ đi cùng sở chỉ huy của anh Xi-xa-vạt, sẽ cử thêm cán bộ cố vấn xuống trực tiếp các tiểu đoàn và các đại đội hỏa lực để hỗ trợ anh m trong quá trình chiến đấu.

Chúng tôi đã chuẩn bị quyết tâm và kế hoạch giúp bạn đánh thắng một trận điển hình, sau trận đánh thắng oanh liệt đó tiến tới tổng kết với trọng tâm là cán bộ, chiến sĩ bạn (cả lực lượng chiến đấu, lực lượng tham quan) tự kết luận: độc lập tác chiến được, có thể đánh và đánh thắng lực lượng phái hữu trong quân đội Hoàng gia.

Sau cuộc trao đổi của chúng tôi, mọi công tác chuẩn bị cho trận đánh được thực hiện (theo đúng kế hoạch).

Khoảng 9 giờ ngày 30 tháng 6 năm 1955, khi sương mù vừa tan, từ Sở chỉ huy tiền phương Bộ Quốc phòng Lào đặt trên ngọn đồi cách Na-sa-la khoảng 3km, chúng tôi nhìn qua ống nhòm thấy rõ nhà lính, công sự và quân địch đi lại. Anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn ra lệnh cho các đơn vị hỏa lực bắt đầu bắn phá. Sau những loạt đạn bắn thử trúng mục tiêu, anh Xi-xa-vạt ra lệnh cho trận địa cối 81 ly bắn cấp tập vào các vị trí đóng quân của địch. Đòn hỏa lực vừa dứt, tiểu đoàn bộ binh 705 và tiểu đoàn bộ binh 617 của quân đội Pa-thét Lào có cố vấn quân sự Việt Nam đi cùng từ hai hướng tiến vào, thọc sâu đánh chiếm từng công sự, nhà lính, rồi nhanh chóng chiếm lĩnh điểm cao khống chế toàn bộ quân địch.

Bị đòn hỏa lực mạnh và bộ binh tiến công bất ngờ, quân địch thương vong nặng, chúng chống cự yếu ớt, rồi rút chạy về phía tây, lẩn trốn vào các khe suối, bụi rậm.

Khi thấy quân địch tháo chạy, tôi đề nghị với anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn cho cối của ta đánh chặn và động viên bội đội truy kích.

Tiểu đoàn 705 và Tiểu đoàn 617 hăng hái truy đuổi quân địch. Tôi và anh em Đoàn 100 cũng hành quân theo sở chỉ huy tiền phương của bạn. Quân đội Pa-thét Lào truy kích địch đến bản Ngôn gần khu vực Mường Phum thì trời tối. Chúng tôi cho bộ đội dừng lại, triển khai đội hình sẵn sàng chiến đấu; đồng thời cử một bộ phận cán bộ chiến sĩ vào các bản làm công tác tuyên truyền chiến thắng của quân đội Pa-thét Lào và ổn định tư tưởng cho nhân dân.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Tám, 2018, 10:32:49 AM
Trận đánh Na-sa-la kết thúc thắng lợi, ta đã diệt và làm bị thương hơn 100 tên phái hữu, trong đó có tên tiểu đoàn trưởng, bắt hơn 40 tên, thu nhiều vũ khí và đồ quân dụng, giải phóng khu vực Na-sa-la, Na Ngôn, Na Nọng, Na Kiềng.

Ngay đêm hôm ấy, theo đúng kế hoạch, tôi và anh Xi-xa-vạt trao đổi nhiều nội dung cần tổng kết của trận đánh này.

Sáng hôm sau, chúng tôi cho bộ đội hành quân về nơi đã định và bắt tay ngay vào công việc củng cố đơn vị. Việc tổng kết trận đánh được tiến hành từ đơn vị cơ sở trung đội đến tiểu đoàn (cả đơn vị trực tiếp chiến đấu và đơn vị tham quan). Cơ quan Bộ Quốc phòng theo chức năng nhiệm vụ của mình cũng tiến hành rút kinh nghiệm.

Tôi còn nhớ, hôm tổng kết, hội trường trang trí lộng lẫy, tham dự hội nghị có các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các anh trong cơ quan Đảng bạn và các anh lãnh đạo Bộ Quốc phòng, các đơn vị thân sĩ trong Mặt trận yêu nước Lào cùng hơn 300 cán bộ từ trung đội trở lên trong quân đội Pa-thét về dự đông đủ, với một khi thế phấn khởi tin tưởng, ai cũng thấy thắng lợi như của chính mình.

Mở đầu hội nghị, anh Bẩy đọc lời khai mạc, sau khi biểu dương các đơn vị đã lập công lớn trong trận Na-sa-la và cảm ơn cán bộ Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam, anh nói:

- Chiến thắng Na-sa-la đã làm nức lòng quân và dân hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ và sẽ làm nức lòng nhân dân các bộ tộc trong cả nước, đồng thời với hỏa lực mạnh, đánh gần, xung phong dũng mãnh, Quân đội Pa-thét đã làm cho quân đội phái hữu phải khiếp sợ. Từ chiến thắng này chúng ta có thể khẳng định Quân đội Pa-thét có đủ khả năng dập tan các cuộc tiến công lấn chiếm của địch không những trước mắt mà cả sau này, khi bộ đội ta phải độc lập tác chiến.

Về nhiệm vụ mới, anh Bẩy nói tiếp:

- Yêu cầu cấp thiết hiện nay đối với Quân đội Pa-thét Lào là phải phấn đấu nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu độc lập của từng tiểu đoàn, khi cần có thể tập trung hai, ba tiểu đoàn chiến đấu dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ. Đồng thời phải phấn đấu nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ và ý thức tự lực tự cường, làm cho Quân đội Pa-thét Lào sớm có khả năng độc lập tác chiến và công tác, tự đảm đương việc quán triệt đường lối nhiệm vụ, làm chủ lấy công việc của mình.

Tiếp đó, anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn đọc báo cáo tổng kết trận đánh. Anh phân tích rất kỹ những việc làm được, những vấn đề cần rút kinh nghiệm từ trong quá trình chuẩn bị, hành quân chiếm lĩnh, nổ súng tiến công, truy kích địch và rút ra một số kinh nghiệm cụ thể. Về cơ bản những nội dung anh Xi-xa-vạt trình bày ở hội nghị là những vấn đề tôi và anh đã thống nhất ngay trong đêm truy kích địch trên đồi gianh ở Mường Pho.

Có thể nói chiến thắng Na-sa-la đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với cục diện quân sự ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ. Từ đó quân phái hữu hành động dè dặt và thận trọng hơn trong các cuộc hành quân lấn chiếm. Về phía Pa-thét Lào, các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương đều có niềm tin vào những kinh nghiệm trông các tình huống chiến đấu và càng tin tưởng vào khả năng của mình.

Khoảng giữa tháng 7 năm 1955, tôi nhận được bức điện của Thủ tướng Chính phủ qua Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam phê bình: “Trận Na-sa-la dùng hết 180 quả đạn cối là quá lãng phí và máy móc”. Sau khi nhận được điện của Thủ tướng, tôi hội ý Đảng ủy Đoàn 100 nghiêm túc kiểm điểm. Tập thể Đảng ủy đoàn đều nhất trí cho rằng trận Na-sa-la là trận đánh tập trung đầu tiên của Quân đội Pa-thét Lào, thắng lợi hay thất bại của trận đánh này có ảnh hưởng rất lớn đến lòng tin của bộ đội bạn. Hơn nữa, lực lượng quân địch tới một tiểu đoàn, lại hình thành căn cứ có công sự (tuy chưa phải vững chắc), với số lượng đạn cối trên đánh phá công sự, diệt sinh lực và uy hiếp tinh thần của lính Hoàng gia là không nhiều; chưa kể đánh địch trong quá trình truy kích. Sau cuộc họp Đảng ủy, tôi điện về Hà Nội trình bày việc sử dụng số đạn cối trên. Từ đó về sau tôi không thấy trên nhắc đến việc sử dụng “lãng phí” đạn cối trong trận Na-sa-la.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:07:40 AM
Tuy bị thất bại nặng nề ở Na-sa-la, quân đội Hoàng gia vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng của Pa-thét Lào. Ngày 25 tháng 7 năm 1955, chúng cho 2 tiểu đoàn chiếm khu vực Hủa Mường. Tiếp đó, trong hai tháng 8 và 9 năm 1955, địch cho lực lượng lấn chiếm khu vực Pa Thí và Huội Nhạ hòng uy hiếp thị xã Sầm Nưa từ phía tây. Sau khi cân nhắc các vị trí địch chiếm đóng, tôi bàn với anh Bẩy và anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn:

- Trong tất cả các vị trí địch chiếm đóng, thì Huội Nhạ uy hiếp trực tiếp đến thị xã Sầm Nưa của ta. Nếu ta tiêu diệt quân địch ở đây sẽ làm rung chuyển những vị trí khác của chúng. Chỉ có điều Huội Nhạ là một vùng núi hiểm trở, bộ đội Pa-thét chưa có kinh nghiệm đánh tập kích quân địch ở điểm cao đã tổ chức phòng ngự. do đó công tác chuẩn bị phải kỹ hơn trận Na-sa-la, bộ đội phải tập kỹ hơn từ kỹ thuật đánh bộc phá phá hàng rào đến hiệp đồng xung phong.

Anh Bẩy nói:

- Tôi nhất trí ý kiến đề xuất của anh Chu Huy Mân chọn Huội Nhạ đánh trước. Đánh trận này có mấy ý nghĩa: Thứ nhất, quân địch đóng trên điểm cao, có công sự chắc, có hàng rào bảo vệ, chúng có thể chủ quan cho rằng Quân đội Pa-thét không thể đánh nổi. Nếu ta đánh thắng, các vị trí khác của chúng cũng sẽ bị lung lay. Thứ hai, trận đánh này cũng là trận tập dượt cho bộ đội cách đánh địch trong công sự vững chắc có hiệp đồng bộ binh và hỏa lực. Đây cũng là cách nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy và trình độ tác chiến cho bộ đội.

Anh Bẩy dừng lại, hỏi anh Xi-xa-vạt:

- Ý kiến của tổng tham mưu trưởng thế nào?

Anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn đang chăm chú ghi chép, bỗng dừng lại:

- Tôi nhất trí ý kiến của anh Chu Huy Mân và anh Bẩy. Tôi xin đề nghị sử dụng lực lượng trong trận này: ta dùng Tiểu đoàn 609, một đại đội của Tiểu đoàn 705 có kinh nghiệm trong trận Na-sa-la, 1 đại đội trợ chiến tăng cường của tiểu đoàn 605, một đại đội độc lập của tỉnh Hủa Phăn. Chúng tôi sẽ cho trinh sát kỹ, lập sa bàn để bộ đội huấn luyện. Trong trận này ta nên sử dụng kèn đồng và pháo hiệu làm hiệu lệnh tiến công động viên khí thế bộ đội.

Nghe anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn nói, anh Bẩy cười rất tươi, rồi nói:

- Chúc Tổng tham mưu trưởng đánh trận này thắng lợi.

Về phía Đoàn 100, anh Võ Quốc Vinh và anh Ngọc Ánh đi cùng sở chỉ huy tiền phương của Bộ Quốc phòng Lào do anh Xi-xa-vạt chỉ huy.

Trận đánh Huội Nhạ diễn ra đúng như phương án đã định. Khi được lệnh tiến công, hỏa lực của Quân đội Pa-thét bố trí ở những điểm cao xung quanh đã nã những quả đạn chính xác xuống các mục tiêu, quân địch kinh hoàng chui rúc vào các ngõ ngách. Đội kèn đồng phát lệnh xung phong. Quân địch hoảng loạn chóng cự yếu ớt rồi bỏ đồn tháo chạy về phía tây. Quân Pa-thét Lào làm chủ căn cứ rồi tiếp tục truy kích địch.

Đúng như dự kiến của ta, sau khi Huội Nhạ bị ta tiêu diệt, quân địch ở Pa Thí, Hủa Mường thuộc tỉnh Hủa Phăn cũng rút chạy.

Cùng thời gian này, ở tỉnh Phông-sa-lỳ, địch lấn ra chiếm Pha Chon để bảo vệ Púng Nhạng – nơi tập trung chỉ huy đầu sỏ của phỉ.

Tháng 9 năm 1955, Bộ Quốc phòng Lào lệnh cho Tiểu đoàn 701 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương diệt đồn Pha Chon. Pha Chon nằm trên một điểm cao ở tả ngạn sông Nậm Nua chảy từ Lai Châu (Việt nam) sang Lào qua Nậm U về ngã ba sông ở Mường Khoa. Con sông này chính là đường thủy tiếp tế từ Việt Nam sang Lào. Trận đánh thắng lợi, đã đẩy lùi một bước âm mưu của địch lấn chiếm vùng đất do Pa-thét Lào kiểm soát; đồng thời bảo vệ con đường tiếp tế quan trọng từ Việt Nam sang.

Trước sự chuyển biến mới của tình hình thế giới và trong nước, để thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mau chóng tiến đến thắng lợi, Ủy ban chấp hành Trung ương mặt trận Lào Ít-xa-la đã triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc tại Sầm Nưa từ ngày 6 đến ngày 31 tháng 1 năm 1956. Hàng trăm đại biểu thay mặt cho các tầng lớp nhân dân các bộ tộc Lào, đảng phái, tôn giáo, thân sĩ yêu nước trong cả nước đã về dự đại hội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:08:28 AM
Sau khi thảo luận báo cáo chính trị của Ủy ban vận động thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, Đại hội thống nhất đổi tên Neo Lào Ít-xa-la thành Neo Lào Hắc-xạt (Mặt trận Lào yêu nước) và thông qua cương lĩnh chính trị nêu lên nhiệm vụ chủ yếu của Mặt trận Lào yêu nước là lãnh đạo nhân dân các bộ tộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, xây dựng một nước Lào hòa bình, trung lập, độc lập và phồn vinh. Về đối ngoại, Lào chủ trương theo đuổi chính sách hòa bình, trung lập; về đối nội, thực hiện đường lối hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, tôn trọng ngôi vua, tôn trọng tôn giáo, các quyền tự do dân chủ của nhân dân được bảo đảm. Bản cương lĩnh đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao mức sống của nhân dân; ban hành chính sách thuế khóa hợp lý, giúp đỡ nông dân sản xuất, bảo đảm công ăn việc làm cho công nhân, chăm lo giáo dục, y tế và văn hóa dân tộc.

Giữa lúc Quân đội Pa-thét Lào đang đánh trả địch thắng lợi, việc Mặt trận Lào yêu nước đề ra cương lĩnh hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc là một đòn phản công chính trị có ý nghĩa lớn và các tác động sâu rộng.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Neo Lào Hắc-xạt gồm 47 đại biểu do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm chủ tịch và 6 phó chủ tịch là: Si-thôn Com-ma-đăm, Phay-đang, Tha-vi, Chăn-mi, Khăm-tôn, Chao-xúc.

Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt thành lập đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cách mạng Lào trên con đường giải phóng dân tộc. Vấn đề cấp thiết trước mắt là giữ vững khu căn cứ cách mạng, đập tan các hành động vũ trang lấn chiếm của quân đội phái hữu. Tính đến tháng 4 năm 1956, gần 4.000 tên địch đã bị diệt và bị thương. Âm mưu tiến công quân sự nhằm thôn tính hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, làm suy yếu lực lượng cách mạng tiến tới xóa bỏ việc đàm phán hiệp thương với Pa-thét Lào của phái hữu bị thất bại về cơ bản.

Để củng cố và xây dựng hai tỉnh tập kết thành căn cứ cách mạng vững chắc, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh trong cả nước, Neo Lào Hắc-xạt đặc biệt quan tâm công tác vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, cải thiện dân sinh. Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt ban bố một số hình thức bóc lột lỗi thời của chế độ thực dân phong kiến, đồng thời ban hành chính sách nhằm khuyến khích sản xuất, nâng cao một bước mức sống của nhân dân.

Năm 1956, sản lượng nông phẩm ở cả hai tỉnh tăng rõ rệt, Mặt trận neo Lào Hắc-xạt cung cấp những hàng thiết yếu như gạo, muối, vải, nông cụ cho nhân dân. Đặc biệt, mặt trận quan tâm cải thiện các mặt văn hóa xã hội cho nhân dân các bộ tộc Lào. Từ năm 1955 đến năm 1956, hàng nghìn người đã thoát nạn mù chữ. Tình hình trên đã có ảnh hưởng lớn đến một bộ phận giai cấp thống trị trong chính phủ Hoàng gia. Ngay trong quốc hội Viêng Chăn một số nghị sĩ đã công khai phê phán chính sách thân Mỹ cực đoan của Kà Tày, đòi giải quyết vấn đề Lào bằng con đường hiệp thương, đòi thực hiện chính sách đối ngoại trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình.

Trước sức ép của phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân các bộ tộc Lào, các lực lượng yêu nước, các thân sĩ tiến bộ, chính phủ tay sai đầu tiên của Mỹ ở Lào do Kà Tày làm thủ tương lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Sau 47 ngày khủng hoảng nội các, ngày 14 tháng 2 năm 1956, Kà Tày buộc phải từ chức. Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma được chỉ định đứng ra thành lập chính phủ mới. Thành phần chính phủ mới tập hợp các nghị sĩ thuộc ba đảng: Liên hiệp quốc gia, Độc lập và Dân chủ, do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và Bộ Thông tin, các thành viên chính phủ gồm: Kà Tày Đôn-xa-xô-rút – Phó thủ tướng; Phủi A-bay – Bộ trưởng Nội vụ, Cứu tế, Xã hội; Lươm Ta-xi-xiêng-may – Bộ trưởng Tài chính, Kinh tế, Kế hoạch; Chau-súc Su-vông – Bộ trưởng Giao thông công chính, vận tải; U-đôm Xu-va-na-vông – Bộ trưởng Y tế; Ngôn Xa-na-ni-con – Bộ trưởng Giáo dục thanh niên; Un-hươn Na-xa-xinh – Bộ trưởng Tư pháp, Lễ nghi…

Chính phủ mới của ông hoàng Phu-ma tuyên bố chính sách đối nội, giải quyết vấn đề các lực lượng Neo Lào Hắc-xạt theo đúng Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954; thực hiện hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia trên cơ sở độc lập dân chủ. Về chính sách đối ngoại, chính phủ của ông trung thành với 5 nguyên tắc chung sống hòa bình,l ập quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, đặc biệt là các nước láng giềng của Lào.

Trước diễn biến mau lẹ của chính quyền Viêng Chăn, vào một buổi tối cuối tháng 4 năm 1956, anh Bẩy đến chỗ tôi, vừa nhìn thấy tôi anh cất tiếng:

- Anh Mân, có một số vấn đề mà tôi đã bàn với anh Nguyễn Khang và muốn trao đổi thêm với anh!


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:09:16 AM
Tôi mời anh ngồi vào chiếc ghế tự tạo đơn sơ, vừa pha nước, tôi vừa nói:

- Tôi biết sớm muộn gì chính quyền Kà Tày cũng phải đổ, nhưng tôi không ngờ nó đổ nhanh như vậy. anh có tin gì mới không?

- Có, có đây! Anh Phạm Văn Đồng vừa thông báo cho tôi là Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội nói với anh về vấn đề Lào là hãy tranh thủ trung lập, đẩy lùi sự can thiệp, viện trợ của Mỹ ra, gây quan hệ thân thiện với Ấn Độ, Việt nam và Trung Quốc. Chính phủ nhà vua phải thừa nhận người của Neo Lào Hắc-xạt tham gia các cơ quan chính quyền Vương quốc Lào từ trung ương xuống các địa phương. Bảo đảm quyền công dân, không khủng bố những người của Pa-thét Lào và hòa hợp dân tộc. Neo Lào Hắc-xạt thừa nhận chính quyền nhà vua ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ.

Chính phủ Trung Quốc cũng nhất trí quan điểm của Chính phủ Liên Xô, là cần ngăn chặn chính sách theo Mỹ của Chính phủ Lào, ủng hộ chính sách hòa bình, trung lập. Trung Quốc nhất trí điều kiện phải bảo đảm tương đối những quyền lợi của Pa-thét Lào và họ phải được tham gia Chính phủ từ trung ương xuống địa phương thì mới đồng ý để chính quyền nhà vua được quản lý hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ.

- Quan điểm của các đồng chí Liên Xô và Trung Quốc như vậy là hợp với chủ rương của chúng ta. Đây là một thuận lợi lớn đối với cách mạng Lào. Tôi đề nghị anh cần làm rõ nội dung trung lập cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các bộ tộc Lào nắm vững.

Anh Bẩy tiếp lời:

- Đấu tranh cho một nước Lào trung lập trên cơ sở Hiệp nghị Giơ-ne-vơ để tạo điều kiện thực hiện mục tiêu là xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ và thống nhất. còn về nội dung trung lập, chủ yếu làm cho nước Lào dần dần thoát khỏi sự kìm chế và ảnh hưởng của Mỹ. Về đối nội, phải thực hiện quyền tự do dân chủ trên cơ sở dân chủ và thống nhất. Về đối ngoại thì theo 5 nguyên tắc chung sống hòa bình và bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc.

Anh Bẩy ngừng lời, nhìn tôi, anh hỏi:

- Anh Chu Huy Mân thấy thế nào?

Tôi chậm rãi rả lời:

- Những vấn đề anh nêu là rất đúng. Chủ trương của Đảng Nhân dân cách mạng và Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt là vậy, nhưng để đạt được mục tiêu ấy, đề nghị anh quan tâm, đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng lực lượng ở hai tỉnh tập kết và cơ sở quần chúng ở 10 tỉnh do chính phủ nhà vua kiểm soát. Ta phải kiên quyết đánh bại mọi âm mưu quân sự của phía Vương quốc đối với hai tỉnh. Cần mở rộng mặt trận Neo Lào Hắc-xạt, tiến tới thành lập một mặt trận chống Mỹ, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng và thống nhất hành động. Nên kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh của quần chúng và vận động nối lại hội nghị hiệp thương, kết hợp giữa phong trào đấu tranh trong nước với đấu tranh của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào hòa bình dân chủ thế giới. Điều quan trọng nhất là đòi Chính quyền nhà vua phải để lực lượng của Pa-thét Lào tham gia chính quyền từ trung ương đến địa phương, thừa nhận quyền hợp pháp của Pa-thét Lào. Trước mắt, đấu tranh thực hiện cho được việc đình chỉ xung đột.

Như vậy, những quan điểm cơ bản chúng tôi đã gặp nhau.

Trung tuần tháng 5 năm 1956, Đoàn cố vấn nhận được điện của anh Võ Nguyên Giáp chỉ đạo về vấn đề Pa-thét Lào tham gia Chính phủ liên hiệp và bộ đội Pa-thét vào hòa hợp, đại ý: tranh thủ thành lập Chính phủ liên hiệp càng sớm càng có lợi nhiều mặt không những cho Lào mà còn cho cả các nước láng giềng. Thế giới đều đồng tình ủng hộ việc hòa bình, trung lập và thành lập Chính phủ liên hiệp. Nếu việc đàm phán gặp khó khăn, Pa-thét có thể nhân nhượng một bước về vấn đề hai tỉnh do Pa-thét quản lý để tranh thủ lập được Chính phủ liên hiệp sớm. Nếu không sớm lập được Chính phủ liên hiệp, không giải quyết vấn đề hai tỉnh thì tình hình có thể kéo dài, không thúc đầy được chính sách hòa bình, trung lập. Từ đó Mỹ có thể kiếm cớ và có có thời gian gia tăng các hoạt động phá hoại. Về vấn đề quân đội của Pa-thét Lào, anh Võ Nguyên Giáp cho rằng đây là vấn đề chủ yếu và có nhiều khó khăn, do vậy phải thật mềm dẻo, trước mắt phải đấu tranh thực hiện cho được việc đình chỉ xung đột. Phía Vương quốc đưa ra đề án để lại toàn bộ quân đội Pa-thét Lào và biên chế từng tiểu đoàn. Ta có thể đòi để một số đơn vị đứng ở hai tỉnh tập kết và một số đơn vị khác về đóng ở những nơi có lợi trong 10 tỉnh hoặc ở đâu về đóng ở đó là tốt nhất. Điều cốt yếu nhất là phải giữ nguyên đơn vị cũ, không xáo trộn. Sau khi thống nhất quân đội, Pa-thét đấu tranh đòi giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng, hai thứ trưởng hoặc Tổng tham mưu trưởng quân đội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:10:40 AM
Thực hiện chủ trương trên, ngày 28 tháng 5 năm 1956, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông chủ động đề nghị Chính phủ Vương quốc do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng nối lại Hội nghị hiệp thương chính trị.

Ngày 31 tháng 7 năm 1956, phái đoàn Neo Lào Hắc-xạt do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông dẫn đầu đến Viêng Chăn. Tham gia đoàn đàm phán phía Pa-thét Lào còn có các ông Phu-mi Vông-vi-chít, ông Nu-hắc Pun-xa-vẳn, ông Phun Xi-pa-xớt, ông Thao Ma.

Phía Chính phủ Vương quốc, có Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma – Trưởng đoàn, ông Ngôn Xa-na-ni-con, ông U-đôm Xu-va-na-vông, ông Thong Xa-li-vông-no-rát, ông Nhúi rát-ta-na-vông, ông Xom Xa-rít, đại tá Uôn Na-ti-con, trung tá Phu-mi Nô-xa-vẳn, ông Kô A-phay, ông Ri-rúc Hát-cha-pa-xắc.

Trong các phiên họp, hai bên đã thảo luận các vấn đề chủ yếu sau đây: Thi hành các điều khoản của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ để bảo đảm nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ và thống nhất. Nước Lào đi theo đường lối hòa bình, trung lập. thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân, Xóa bỏ chế độ đi phu, tạp dịch. Bảo đảm quyền công dân cho các lực lượng Pa-thét Lào, những người kháng chiến cũ và họ có quyền tham gia chính quyền các cấp, các ngành chuyên môn tùy theo khả năng của họ. Vấn đề tổng tuyển cử, lập Chính phủ Liên hiệp. Việc giải quyết hai tỉnh tập kết của Pa-thét Lào.

Sau 5 ngày đàm phán, ngày 5 tháng 8 năm 1956, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông tuyên bố chung:

Chính phủ Vương quốc kiên quyết đi theo con đường hòa bình, trung lập, thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, đặt quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng. Một lần nữa Chính phủ Vương quốc tuyên bố bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử. Xóa bỏ chế độ đi phu, tạp dịch. Thừa nhận các tổ chức chính trị của Pa-thét Lào được hoạt động công khai theo đúng với luật pháp như các đảng phái khác.

Đối với hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, về hành chính đều đặt dưới quyền tối cao của Chính phủ Vương quốc và tổ chức theo chính quyền nhà vua. Về quân sự, bộ đội Pa-thét đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu và chính phủ vương quốc. Hai bên còn nhất trí thành lập Ủy ban chính trị quân sự để tìm cách giải quyết các vấn đề tồn tại và thực hiện các vấn đề đã thỏa thuận. Riêng vấn đề tổ chức tổng tuyển cử thành lập Chính phủ Liên hiệp hai bên tiếp tục nghiên cứu.

Đến ngày 10 tháng 8, bản tuyên bố chung cuối cùng giữa hai ông hoàng cùng đạt được một số thỏa thuận: Tổ chức tuyển cử bổ sung trong cả nước bằng cách tự do bỏ phiếu kín, có các lực lượng Pa-thét Lào và những người kháng chiến cũ tham gia. Thành lập một Chính phủ Liên hiệp dân tộc, có sự tham gia của các đại biểu Pa-thét Lào. Thành lập các ủy ban hỗn hợp chính trị và quân sự để tiến hành các cuộc đàm phán cụ thể.

Cùng thời gian này, chính quyền Vương quốc từ bỏ một phần thái độ thù địch với nước Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Ngày 29 tháng 8 năm 1956, một phái đoàn Chính phủ Vương quốc do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma dẫn đầu đến Hà Nội, tiếp đó đoàn đến Bắc Kinh. Bản tuyên bố chung giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Lào khẳng định: Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng; xa xưa vốn đã có mối tình giao hữu, nay tiếp tục phát triển mối quan hệ đó dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Hiệp định Giơ-ne-vơ cần được thực hiện ở Việt Nam và Lào để củng cố hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới. Vương quốc Lào kiên quyết đi theo chính sách hòa bình, trung lập. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận chính sách hòa bình, trung lập của Vương quốc Lào và đồng ý tăng cường hợp tác kinh tế và văn hóa vì lợi ích của nhân dân mỗi nước.

Thực hiện thỏa thuận giữa Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, đại diện Neo Lào Hắc-xạt và Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, đại diện Chính phủ Vương quốc, từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 2 tháng 11 Hội nghị hiệp thương chính trị đã được nhóm họp tại Viêng Chăn.

Tham gia đoàn hiệp thương chính trị về phía Neo Lào Hắc-xạt gồm có: Ông Phu-mi Vông-vi-chít - trưởng đoàn, ông Nu-hắc Phun-xa-vẳn, ông Sin-ka-pô Chun-la-ma-ni, ông Thao-ma, ông Ma-ba Khăm-phăn Vi-la-chít, ông A-phôi (thư ký).

Phía Chính phủ Vương quốc gồm các ông: Ngôn Xa-na-ni-con - Trưởng đoàn, ông Nu-inh Rát-ta-na-vông, ông Thong Xu-thi-vông-no-rét, ông Thao-tan Chum-la-mun-ti, ông Thao-văn, ông In Phong-xu-li-nho-thay, ông Kmôn (thư ký).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:11:13 AM
Thực hiện chủ trương trên, ngày 28 tháng 5 năm 1956, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông chủ động đề nghị Chính phủ Vương quốc do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng nối lại Hội nghị hiệp thương chính trị.

Ngày 31 tháng 7 năm 1956, phái đoàn Neo Lào Hắc-xạt do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông dẫn đầu đến Viêng Chăn. Tham gia đoàn đàm phán phía Pa-thét Lào còn có các ông Phu-mi Vông-vi-chít, ông Nu-hắc Pun-xa-vẳn, ông Phun Xi-pa-xớt, ông Thao Ma.

Phía Chính phủ Vương quốc, có Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma – Trưởng đoàn, ông Ngôn Xa-na-ni-con, ông U-đôm Xu-va-na-vông, ông Thong Xa-li-vông-no-rát, ông Nhúi rát-ta-na-vông, ông Xom Xa-rít, đại tá Uôn Na-ti-con, trung tá Phu-mi Nô-xa-vẳn, ông Kô A-phay, ông Ri-rúc Hát-cha-pa-xắc.

Trong các phiên họp, hai bên đã thảo luận các vấn đề chủ yếu sau đây: Thi hành các điều khoản của Hiệp nghị Giơ-ne-vơ để bảo đảm nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ và thống nhất. Nước Lào đi theo đường lối hòa bình, trung lập. thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân, Xóa bỏ chế độ đi phu, tạp dịch. Bảo đảm quyền công dân cho các lực lượng Pa-thét Lào, những người kháng chiến cũ và họ có quyền tham gia chính quyền các cấp, các ngành chuyên môn tùy theo khả năng của họ. Vấn đề tổng tuyển cử, lập Chính phủ Liên hiệp. Việc giải quyết hai tỉnh tập kết của Pa-thét Lào.

Sau 5 ngày đàm phán, ngày 5 tháng 8 năm 1956, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông tuyên bố chung:

Chính phủ Vương quốc kiên quyết đi theo con đường hòa bình, trung lập, thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, đặt quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng. Một lần nữa Chính phủ Vương quốc tuyên bố bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử. Xóa bỏ chế độ đi phu, tạp dịch. Thừa nhận các tổ chức chính trị của Pa-thét Lào được hoạt động công khai theo đúng với luật pháp như các đảng phái khác.

Đối với hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ, về hành chính đều đặt dưới quyền tối cao của Chính phủ Vương quốc và tổ chức theo chính quyền nhà vua. Về quân sự, bộ đội Pa-thét đặt dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu và chính phủ vương quốc. Hai bên còn nhất trí thành lập Ủy ban chính trị quân sự để tìm cách giải quyết các vấn đề tồn tại và thực hiện các vấn đề đã thỏa thuận. Riêng vấn đề tổ chức tổng tuyển cử thành lập Chính phủ Liên hiệp hai bên tiếp tục nghiên cứu.

Đến ngày 10 tháng 8, bản tuyên bố chung cuối cùng giữa hai ông hoàng cùng đạt được một số thỏa thuận: Tổ chức tuyển cử bổ sung trong cả nước bằng cách tự do bỏ phiếu kín, có các lực lượng Pa-thét Lào và những người kháng chiến cũ tham gia. Thành lập một Chính phủ Liên hiệp dân tộc, có sự tham gia của các đại biểu Pa-thét Lào. Thành lập các ủy ban hỗn hợp chính trị và quân sự để tiến hành các cuộc đàm phán cụ thể.

Cùng thời gian này, chính quyền Vương quốc từ bỏ một phần thái độ thù địch với nước Việt Nam và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Ngày 29 tháng 8 năm 1956, một phái đoàn Chính phủ Vương quốc do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma dẫn đầu đến Hà Nội, tiếp đó đoàn đến Bắc Kinh. Bản tuyên bố chung giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Lào khẳng định: Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng; xa xưa vốn đã có mối tình giao hữu, nay tiếp tục phát triển mối quan hệ đó dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Hiệp định Giơ-ne-vơ cần được thực hiện ở Việt Nam và Lào để củng cố hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới. Vương quốc Lào kiên quyết đi theo chính sách hòa bình, trung lập. Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận chính sách hòa bình, trung lập của Vương quốc Lào và đồng ý tăng cường hợp tác kinh tế và văn hóa vì lợi ích của nhân dân mỗi nước.

Thực hiện thỏa thuận giữa Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, đại diện Neo Lào Hắc-xạt và Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, đại diện Chính phủ Vương quốc, từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 2 tháng 11 Hội nghị hiệp thương chính trị đã được nhóm họp tại Viêng Chăn.

Tham gia đoàn hiệp thương chính trị về phía Neo Lào Hắc-xạt gồm có: Ông Phu-mi Vông-vi-chít - trưởng đoàn, ông Nu-hắc Phun-xa-vẳn, ông Sin-ka-pô Chun-la-ma-ni, ông Thao-ma, ông Ma-ba Khăm-phăn Vi-la-chít, ông A-phôi (thư ký).

Phía Chính phủ Vương quốc gồm các ông: Ngôn Xa-na-ni-con - Trưởng đoàn, ông Nu-inh Rát-ta-na-vông, ông Thong Xu-thi-vông-no-rét, ông Thao-tan Chum-la-mun-ti, ông Thao-văn, ông In Phong-xu-li-nho-thay, ông Kmôn (thư ký).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:13:19 AM
Để hoàn thành nhiệm vụ trên, hội nghị đã thông qua chương trình hành động của Mặt trận yêu nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và ngoại giao.

Ngày 28 tháng 12 năm 1956, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma – Thủ tướng Chính phủ Vương quốc và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông – lãnh tụ các lực lượng Pa-thét Lào ký bản thông cáo chung về vấn đề thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc có Pa-thét Lào tham gia. Bản thông cáo ghi rõ: Chính phủ Liên hiệp dân tộc mà trong đó Pa-thét Lào có một vị trí xứng đáng, sẽ tượng trưng cho mối hòa hợp dân tộc, trên cơ sở bản cương lĩnh chính trị nhằm xây dựng một nước Lào hòa bình, dân chủ, thống nhất, độc lập và phồn vinh.

Trong những tháng cuối năm 1956 đầu năm 1957, tình hình chiến sự ở các chiến trường trên đất nước Lào có phần lắng xuống là điều kiện tốt để các lực lượng vũ trang Pa-thét có điều kiện tập trung xây dựng nâng cao hơn nữa chất lượng và khả năng chiến đấu của mình. Thời gian này, tôi đề nghị anh Cay-xỏn Phôm-vi-hản cho rút dần các tổ cố vấn quân sự Việt Nam ở các tiểu đoàn tập trung, giúp ba cơ quan Bộ Quốc phòng và Trường quân chính Com-ma-đam mở các lớp tập huấn ngắn ngày. Anh Cay-xỏn đã nhất trí đề nghị của tôi.

Thế là với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, chiến sĩ quân đội bạn và sự giúp đỡ tận tình của Đoàn cố vấn quân sự Việt Nam, các lực lượng vũ trang Pa-thét Lào có bước trưởng thành vượt bậc. Tính đến tháng 12 năm 1956, theo tài liệu tôi nắm được, quân số của Quân đội Pa-thét Lào là 7.518 người, gồm 9 tiểu đoàn chủ lực, 11 đại đội độc lập, 3 đại đội vận tải, 1 đại đội công binh, 1 đại đội bảo vệ, 1 đại đội quân báo. Cán bộ quân đội bạn có 74 cán bộ tiểu đoàn, 275 cán bộ đại đội, 593 cán bộ trung đội, 1.267 cán bộ tiểu đội. Phần lớn cán bộ Pa-thét Lào đảm đương được cương vị của mình, ngày càng thể hiện rõ vai trò là lực lượng trụ cột và là công cụ sắc bén của Đảng Nhân dân các mạng Lào và Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt trong cuộc đấu tranh vì hòa bình trung lập, hòa hợp dân tộc ở Lào.

Đầu tháng 5 năm 1957, được sự đồng ý của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ tổng tư lệnh sau khi trao đổi với lãnh đạo Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Bộ Quốc phòng Neo Lào Hắc-xạt, tôi được điều về làm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Đoàn 100 ở lại tiếp tục giúp bạn. Thời gian này, Tổng Quân ủy giao cho Bộ Tổng tham mưu chịu trách nhiệm chỉ đạo và phân công anh Văn Tiến Dũng chịu trách nhiệm theo dõi Đoàn 100. Bộ tổng tư lệnh điều anh Đinh Văn Tuy thay tôi làm đoàn trưởng Đoàn 100, các anh Lê Tiến Phục, Lê Tự Lập, Nguyễn Đức Phương làm đoàn phó.

Trong những ngày tôi chuẩn bị lên đường về nước, hàng ngày cứ khoảng 4 giờ chiều anh Bẩy lại sang chỗ tôi trò chuyện, nhiều lần anh ở lại ăn cơm cùng tôi. Những giờ phút gần nhau, chúng tôi thường trao đổi và nói nhiều về vấn đề Pa-thét Lào tham gia Chính phủ Liên hiệp, việc sáp nhập quân đội, vũ khí của Pa-thét Lào vào quân đội quốc gia. Đặc biệt là vấn đề xây dựng cơ sở chính trị và công tác phát triển Đảng(1).

Trước ngày tạm biệt đất nước Vạn Tượng, anh Bẩy mời cơm tôi. Bữa cơm kéo dài, chúng tôi nói bao nhiêu chuyện lớn, nhỏ. Cuối bữa, mâm cơm dường như còn nguyên.

Lúc chia tay, anh Bẩy ôm chặt tôi hồi lâu, tôi và anh đều xúc động như không muốn rời nhau.

Trên cơ sở đường lối, chính sách dối ngoại của Đảng và Nhà nước ta nói chung và đối với cách mạng Lào noi riêng; quán triệt lời dạy của Bác Hồ “giúp bạn là tự giúp mình”, Đoàn 100 được xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc từ lúc bắt đầu cho đến lúc hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang. Cụ thể hóa tư tưởng của Bác, mọi hoạt động chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100 phải tuân thủ nghiêm túc phương châm, chế độ giúp bạn mà trọng tâm là được việc, được lòng, được người cán bộ; nhằm phấn đấu trong một thời gian ngắn, tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của bạn được nâng cao, đảm đương được nhiệm vụ, làm cho mọi công việc của mình mà trung tâm là độc lập tác chiến.


(1) Tính đến tháng 12 năm 1956, số lượng đảng viên của Lào là 2.289 người, gồm 334 chi bộ (có 182 chi bộ ở nông thôn, 64 chi bộ ở bộ đôi, 82 chi bộ ở cơ quan...).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:13:42 AM
Hầu hết cán bộ, đảng viên trong đoàn ai nấy đều thành tâm học tập và thực hiện nghiêm túc lời dạy của Bác, đồng thời nhắc nhở nhau lời hứa thiêng liêng khi được kết nạp vào Đảng: tự nguyện, đoàn kết chiến đấu sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì sự nghiệp cách mạng cao cả của Tổ quốc và nhân dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc Việt Nam mở trang mới. Cái ách thực dân và nô lệ chấm dứt, kết thúc chiến cuộc lịch sử Điện Biên Phủ vang vọng địa cầu nhưng đó cũng chỉ là bước đầu. Chính quyền Mỹ không ký vào Hiệp định Giơ-ne-vơ, điều chắc chắn chúng có thể đưa quân xâm lược miền Nam, phá hoại miền Bắc nước ta. Chiến tranh thực dân mới có thể nổ ra, Đông Dương lại là một chiến trường. Đó là nhận thức, ý chí của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đoàn đã qua chín năm thử thách trong chiến đấu ác liệt gian khổ, có bước trưởng thành quan trọng về chính trị, tư tưởng. Nhưng hầu hết từ 18 đến 20 tuổi đều hăng say lao vào cuộc chiến đấu cộng với chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đến lúc này đã trên 30 mùa xuân. “Trai ba mươi tuổi đương xoan”, tuổi già chưa phải là sức ép cao độ lắm, nhưng với cha mẹ chưa có dịp về thăm, làm tròn chữ hiếu. Con đã cắp sách đi học nhưng chưa thấy mặt cha. Tình bạn, tình yêu nhưng nửa đường hành quân hay tạm trú mấy hôm chưa nói hết lời. Đường chiến đấu còn dài, thời gian bao giờ cũng hối hả, biết đâu là cơ hội! Qua kháng chiến chín năm, trên chiến trường nông thôn rừng núi, nước suối rau rừng, bây giờ trở lại rừng núi, làm việc và sống giữa dãy Trường Sơn, cứ mỗi chiều hoàng hôn ráng đỏ, mây trắng vờn quanh, rừng xanh bát ngát, trong lòng lại thấy xúc động.

Sự thật là thế, nhưng sau khi học tập chỉ thị của Bác Hồ, ai cũng chân thành, háo hức làm tròn nhiệm vụ, trăm người như một, quyết đi và quyết hoàn thành nhiệm vụ giúp bạn với chất lượng cao. Trên đường từ Định Hóa – Thái Nguyên qua bến Bình Ca, qua Phú Thọ đến Thanh Hóa, ngoặt về phía tây đến suối Na Mèo; ngày hành quân, chiều đến các đồng chí trong Đoàn ủy cùng một số cán bộ lại quây quần bên nhau trao đổi: Hiểu thế nào về lợi dạy của Bác và nghiêm túc đưa tư tưởng của Bác vào hoạt động thực tiễn, hiểu được tư tưởng tâm lý của bạn thế nào để đi đến xây dựng phương châm giúp bạn. Phương châm chế độ này phải thống nhất với bạn, làm cho bạn thấy bước đi trong một số năm để lãnh đạo, cán bộ, chiến sĩ của bạn tin tưởng ngay từ đầu, đoàn kết và tin cậy ngay từ đầu là yếu tố quyết định, “được việc, được lòng, được người cán bộ”, phải có nhận thức quan điểm đúng đắn, phương châm, chế độ ngay từ đầu, tất nhiên chưa hoàn chỉnh, nhưng cả ta và bạn thống nhất, phải vừa học vừa làm, sơ kết, tổng kết, bổ sung cho đầy đủ và phong phú. Khi phương châm, chế độ được thống nhất, giữa ta và bạn thì về phía ta, cán bộ, chiến sĩ phải thực hiện nghiêm túc. Vì sự trưởng thành nhanh chóng của bạn, đặc biệt là sau một thời gian bạn độc lập tác chiến được, cho nên cán bộ của đoàn được phân công làm việc gì phải hiểu sâu công việc, kiên trì thuyết phục, động viên để bạn tự suy nghĩ, tự làm lấy, chống tư tưởng nóng vội, bao biện làm thay, đồng thời chống thái độ buông trôi, kết quả thế nào là do bạn. Mỗi công việc làm nhỏ bạn tự suy nghĩ, tự làm lấy, kết quả là sự động viên khích lệ lớn nhất. Bạn phấn khởi, ta vui, tinh thần đoàn kết, tin cậy được nâng lên thì trong vài ba năm nhất định đạt được mục đích cao nhất – bạn độc lập tác chiến được.

Sự lựa chọn từ các địa phương, đơn vị ghép lại thành 100 người nên cũng gọi là Đoàn 100. Đồng chí Lê Tiến Phục là người của Tổng cục Chính trị cùng với cán bộ cơ quan Tổng cục đề ra tiêu chuẩn rồi đi lựa chọn. Các đơn vị địa phương được chọn người đi giúp bạn Lào trong tình hình mới cũng tận tình vui vẻ lựa chọn và đưa về Tổng cục những cán bộ đảm bảo ý thức đoàn kết nội bộ và khả năng giúp bạn.

Đến Na Mèo, qua mấy tuần tiếp xúc với bạn, phương châm giúp bạn được bổ sung tương đối hoàn chỉnh. Sau khi được phép anh Nguyễn Khang – Bí thư Ban cán sự Đảng ta ở Lào, Bí thư Đoàn ủy 100 tiếp xúc với anh Bẩy trao đổi trước hết về phương án tổ chức và xây dựng lực lượng để bảo vệ hai tỉnh. Quả thật, lúc đầy anh Bẩy thấy khó, nhưng sau nhiều lần trao đổi, anh vui vẻ nhất trí. Có thể nói, lúc đầu làm việc như thế là tốt, tạo được không khí vui vẻ. Anh Bẩy nhất trí hoàn toàn và phấn khởi nhất là xây dựng đội ngũ đảng viên, đào tạo đội ngũ cán bộ từng bước rất nhanh chóng. Nhiều lần anh nhắc đi, nhắc lại với tôi, đội ngũ cán bộ là vấn đề rất quyết định, đề nghị Đoàn 100 hết lòng giúp đỡ.

Có phương châm, chế độ giúp bạn làm cốt cho mỗi công tác lớn nhỏ, cho công tác hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng để hai bên kiểm điểm. Mỗi lần tổng kết, nếu một việc gì đó hai cán bộ Quân đội Việt nam chưa nói cho bạn rõ, phải tự kiểm điểm giúp bạn. Cán bộ Quân đội Việt Nam kiểm điểm trước, tự nhận khuyết điểm một cách thật thà có tác dụng lớn.

Đảng ủy gương mẫu cũng là nhân tố làm cho trăm người như một. Do đó khả năng giúp bạn ngày một hiệu lực, giữa bạn và ta đoàn kết tin cậy nhau. Cán bộ bạn từ chỗ thấy khó khăn, nhưng đến khi làm được việc, tiến bộ rõ ràng thì lòng tự tin, tinh thần tự lực cũng nâng lên.

Từ kết quả cụ thể, lực lượng Pa-thét Lào trở thành đội ngũ, số cán bộ đảng viên tăng, cán bộ Đoàn 100 được anh Bẩy, cụ Chính, các đồng chí lãnh đạo Đảng bạn dành cho tình cảm chân thành, tin cậy và cũng từ đó không khí làm việc giữa bạn và ta luôn sôi nổi. Cán bộ bạn thấy rõ cán bộ Quân đội Việt Nam, trực tiếp là cán bộ Đoàn 100 thực sự giúp mình tiến bộ, trưởng thành. Một số nhân viên từ các tỉnh về tập kết cũng như nhân dân tại chỗ của bạn đều biết Đoàn 100 đã giúp mình xây dựng lực lượng và bảo vệ hai tỉnh. Những ai đã biết Đoàn 100 đều dành cho đoàn tình cảm chân thành và tốt đẹp.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:15:21 AM
*
*   *

Về đến Hà Nội, tôi nhận quyết định vào Quân khu 4, với nhiệm vụ Chính ủy và Bí thư Quân khu ủy. Mấy ngày ở cơ quan Bộ Quốc phòng, tôi được biết tình hình miền Nam hết sức căng thẳng. Ngày 11 tháng 5 năm 1957, trong buổi gặp Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao tại Nhà trắng, Ngô Đình Diệm tuyên bố: Coi miền Nam Việt Nam là dinh lũy của “thế giới tự do” và biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17! Mỹ muốn biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Ngô Đình Diệm một mặt xin viện trợ Mỹ nhiều hơn, mặt khác tiếp tục đẩy mạnh hoạt động “tố cộng, diệt cộng” lên hàng “quốc sách” dù đã bị thất bại. Đáp lời Diệm, Mỹ thay Cô-lin bằng Đơ-brao làm đại sứ ở Sài Gòn. Đại sứ Mỹ thâu tóm tất cả các hoạt động của các tổ chức Mỹ ở miền Nam nhằm củng cố chế độ độc tài gia đình trị họ Ngô. Cùng với việc thay đại sứ Mỹ, Ai-xen-hao còn ra lệnh cho Lầu năm góc tăng nhanh nhịp độ vận chuyển vũ khí và phương tiện chiến tranh vào miền Nam. Chúng gấp rút xây dựng bến cảng, tiếp nhận tàu hàng vận tải lớn; đồng thời xây dựng nhiều sân bay quân sự. Tính đến cuối năm 1957, toàn miền Nam đã có tới 46 sân bay lớn, nhỏ. Chính quyền Sài Gòn còn mở rộng mạng lưới đường bộ ở khắp miền Nam. riêng ở Tây Nguyên, cùng với việc mở mang đường sá, Mỹ - Diệm còn thực hiện cái gọi là “quốc sách dinh điền”, thực chất là những trại tập trung trá hình. Chúng tuyên bố: phải làm cho những khu dinh điền trở thành những cứ điểm bao vây Việt cộng.

Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta có bước phát triển. Trên địa bàn Quân khu 4, thời gian này ở khu vực giới tuyến nam cầu Hiền Lương rất căng thẳng; tình hình nội bộ Quân khu 4 cũng có những hiện tượng tư tưởng phức tạp; một bộ phận cán bộ vướng mắc những sai lầm về chỉnh đốn tổ chức trong cải cách ruộng đất... Những vấn đề trên tôi đã được anh Nguyễn Chí Thanh thông báo khá đầy đủ. Anh nói: nhiệm vụ trước mắt của tôi là cùng Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu làm tốt công tác tư tưởng, ổn định tình hình. đồng thời tổ chức tốt thế trận của một quân khu tuyến đầu miền Bắc, sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu của địch nếu dùng liều lĩnh đánh ra miền Bắc.

Sau hơn ba tháng ở Quân khu 4, tôi tìm hiểu tình hình và làm được một số việc để ổn định tư tưởng cán bộ, chiến sĩ, đi thăm và kiểm tra một số địa phương và đơn vị ở giới tuyến. Lần kiểm tra và làm việc ở Vĩnh Linh cho chúng tôi một thực tế: Đời sống của nhân dân và bộ đội ở đây có rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng niềm tin vào Đảng và cuộc đấu tranh chống Mỹ, thống nhất đất nước của nhân dân thì không lay chuyển. Nhưng vấn đề xây dựng thế trận phòng thủ, việc tổ chức lực lượng tại chỗ, lực lượng cơ động, công tác bảo đảm thông tin, y tế, xây dựng trận địa pháo mặt đất, trận địa pháo cao xạ... còn rất nhiều việc phải làm.

Cuối tháng 8 năm 1957, trong lúc tôi đang bắt đầu đi sâu vào giải quyết từng việc để bảo đảm cho Quân khu 4 có thể đánh bại mọi cuộc tiến công của Mỹ - ngụy một khi chúng liều lĩnh đánh ra miền Bắc thì nhận được điện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh gọi ra Hà Nội. Nhận được điện, tôi trao đổi công việc của Quân khu với anh Nam Long rồi sắp xếp lên đường.

Tại Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh, có các anh Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và một số cán bộ của Văn phòng Bộ và Bộ Tổng tham mưu. Mở đầu anh Võ Nguyên Giáp nói, đại ý: Tình hình ở Lào đang phát triển có lợi cho cách mạng bạn. Quân và dân Neo Lào Hắc-xạt đã làm thất bại âm mưu dùng lực lượng quân sự để tiêu diệt các lực lượng chiến đấu Pa-thét Lào. Cơ sở quần chúng ở 10 tỉnh do chính phủ vương quốc quản lý được củng cố. Neo Lào Hắc-xạt tranh thủ được một số thân sĩ. Đảng Nhân dân Lào đã đề ra đường lối đấu tranh cho nước nào đi theo con đường hòa bình, trung lập, phồn vinh. Nhưng phong trào đấu tranh trong nước chưa đồng đều và mạnh mẽ, nhất là ở vùng đồng bằng và các đô thị. Trong khi đó Mỹ và tay sai ở Lào ra sức phá hoại hòa bình, trung lập, chúng chưa từ bỏ mưu toan biến Lào thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới. Chúng lôi kéo nhà vua, gây áp lực lật đổ Chính phủ do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng. Chính phủ Phu-ma tuy vẫn thi hành một số điều đã ký với Neo Lào Hắc-xạt nhưng nội bộ lủng củng, gặp nhiều khó khăn. do đó Phu-ma ngả nghiêng chưa quyết tâm đi theo con đường hòa bình, trung lập và chưa từ bỏ âm mưu tiêu diệt lực lượng Pa-thét Lào.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:16:08 AM
Về phía cách mạng Lào, cần chuyển cuộc đấu tranh nên một bước mới cao hơn, phát huy mạnh mẽ lực lượng quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị bằng mọi hình thức. Thực hiện hòa hợp dân tộc là mở rộng thế và lực cách mạng ra cả nước. Địa bàn có vị trí chiến lược trong cuộc đấu tranh này là thủ đô Viêng Chăn và các đô thị khác. Song song với các lực lượng chính trị, vũ trang ở hai tỉnh tổng kết về thủ đô Viêng Chăn và các thị xã, thành phố khác, sẽ tổ chức các cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng kết hợp với đàm phán ở trên. từ đó chủ động thúc đẩy cục diện có lợi cho phương hướng cơ bản do Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra.

Chính sách hòa hợp dân tộc là phù hợp với điều kiện khách quan và nguyện vọng của nhân dân các bộ tộc Lào. Nhưng đây là cuộc đấu tranh cách mạng rất gay go phức tạp. Để giúp bạn chủ động trong cuộc đấu tranh này, Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh cử anh trở lại giúp bạn Lào trước khi Neo Lào Hắc-xạt đưa lực lượng của mình về Viêng Chăn thành lập Chính phủ liên hiệp.

Về phần mình, như những lần nhận nhiệm vụ trước đây, tôi hứa trước anh Võ Nguyên Giáp sẽ đem hết sức mình hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, quân đội giao cho.

Đầu tháng 9 năm 1957, tôi trở lại Hủa Phăn. Những ngày đầu tôi đến chào anh Nguyễn Khang và các anh trong Ban cán sự miền Tây. Tiếp đến, tôi đến chào anh Bẩy và anh Xi-xa-vạt Kẹo-bun-phăn.

Qua cuộc tiếp xúc trên tôi nắm được tình hình của bạn. Nhìn chung khả năng của lực lượng Pa-thét Lào và nhân dân hai tỉnh có bước tiến về nhận thức chính trị, về ý thức đoàn kết dân tộc, đời sống nhân dân hai tỉnh khá ổn định. Uy tín của Pa-thét Lào ngày càng lớn đối với nhân dân các địa phương trong cả nước. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã trưởng thành một cách rõ rệt và biết làm công tác vận động quần chúng, quân đội có đủ khả năng độc lập chiến đấu. Nhưng để vào Viêng Chăn thực hiện hòa hợp dân tộc, lực lượng vũ trang Pa-thét phải được ủng cố cả về tổ chức và tư tưởng, phải tiến hành tập huấn chính tị, làm cho mỗi người hiểu rõ tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh mới để nâng cao cảnh giác cách mạng và ý chí, quyết tâm thắng địch trong mọi tình huống.

Chúng tôi bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị. Sau khi làm việc với anh Nguyễn Khang, anh Bẩy thường sang chỗ tôi trao đổi kỹ từng vấn đề. Không ít buổi chúng tôi thức đến 12 giờ đêm. Trong những buổi làm việc với anh, tôi càng nhận ra những phẩm chất cao quý của người lãnh đạo chủ chốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân các bộ tộc Lào. Điều trăn trở nhất của anh là làm thế nào để xây dựng, củng cố hải tỉnh Hủa Phưn và Phông-xa-lỳ vững mạnh, làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh trước mắt và lâu dài. Vấn đề thứ hai, củng cố và phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và bán vũ trang ở hai tỉnh và trong cả nước đủ sức đánh bại mọi hành động phiêu lưu của địch. Vấn đề thứ ba, đẩy mạnh sản xuất, cải thiện dân sinh tạo ra cơ sở vật chất cho cách mạng, tiến tới độc lập tự chủ về kinh tế.

Về kế hoạch chuẩn bị đưa các lực lượng Pa-thét Lào tham gia hòa hợp dân tộc, anh Bẩy nói:

- Đảng nhân dân cách mạng Lào đã chủ động đề ra chính sách hòa bình, trung lập, hòa hợp dân tộc, nhằm mục tiêu xây dựng nước Lào độc lập dân chủ, thống nhất và phồn vinh. Chính sách đó phù hợp với tình hình khách quan ở khu vực và thế giới. Nhưng phía Chính phủ Vương quốc (chủ yếu là các thế lực phái hữu thân Mỹ) đang tìm mọi cách tạo ra cơ hội chia rẽ và thủ tiêu lực lượng cách mạng Lào, chủ yếu là lực lượng vũ trang. Vì vậy, cuộc đấu tranh sắp tới của quân và dân Lào sẽ diễn ra phức tạp và quyết liệt, rất cần sự giúp đỡ của các đồng chí Việt Nam, mặc dù hình thức, biện pháp có thể thay đổi.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:17:06 AM
Anh Bẩy còn cho tôi xem bức thư bí mật của Chính phủ Vương quốc gửi sứ quán Lào ở các nước, do Bua-xỉ ký. Nội dung đại thể là: Chính phủ đã ký với Neo Lào Hắc-xạt thảo thuận những biện pháp thống nhất đất nước. Đó là đường lối duy nhất có thể giải quyết vấn đề hòa bình trong nước Lào có 3.000km biên giới chung với Trung Quốc và Việt Nam, ta phải làm cho hai nước đó yên tâm, nước Lào mới bảo đảm được an toàn. Chính phủ biết rõ chơi với cộng sản là nguy hiểm và trái với đường lối của chính phủ phong kiến, đồng thời cũng phải đề phòng âm mưu thâm độc của cộng sản là thâm nhập dần vào để trèo lên đầu lên cổ ta. Biết rõ lợi hại như thế, nhưng buộc ta phải giải quyết hòa bình ở trong nước, nếu không nước Lào sẽ trở thành chiến trường của hai khối lớn trên thế giới. Chính phủ biết rằng Neo Lao Hắc-xạt được Trung Quốc và Việt Nam bí mật ủng hộ và các hiệp nghị đã ký kết giữa Chính phủ với Pa-thét Lào cũng được họ ủng hộ. Nhưng ta không sợ vì Pa-thét Lào cũng đã mỏi mệt, trong nhóm lãnh đạo của Pa-thét Lào cũng có người không phải cộng sản. Ta không sợ Pa-thét Lào lôi kéo tiêu diệt ta, mà ngược lại ta sẵn có lực lượng để lôi kéo họ đi với ta. Việc ta ký với Neo Lào Hắc-xạt là trái với ý muốn của Mỹ, Thái Lan và miền Nam Việt Nam. Mỹ đã hăm dọa Lào cắt viện trợ, hạn chế xăng dầu, kéo ta tham gia khối Đông Nam Á, đòi đặt sân bay Sê-nô dưới quyền của khối SEATO. Chính phủ sẽ không tham gia hoặc nhận được sự giúp đỡ của khối Đông Nam Á nếu không có sự xâm lăng của nước ngoài. Chính phủ làm như thế sẽ không hại gì nước nhà, mà còn được hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ thống nhất vào tập thể quốc gia. Trong lúc thi hành chính sách nói trên chắc chắn sẽ có sự phản ứng tốt hoặc xấu của một số nước trên thế giới.

Đại sứ ở các nước tìm cách giải thích lập trường của chính phủ để tránh sự hiểu lầm.

Kế hoạch chuẩn bị đưa lực lượng Pa-thét Lào về hòa hợp dân tộc đã được Đoàn 100, trực tiếp là anh Đinh Văn Tuy giúp bạn dự thảo tổ chức lực lượng tham gia hòa hợp dân tộc và kế hoạch bảo đảm hành quân an toàn. Nhiệm vụ trước mắt mà ta và bạn thống nhất là: Tranh thủ thời gian làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ để họ hiểu rõ lập trường chính trị và quyết tâm của Đảng Nhân dân cách mạng và Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt; đồng thời thấy rõ âm mưu của đối phương. Qua đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ dù ở cương vị nào, và trong bất cứ hoàn cảnh nào đều phải là những “hạt giống đỏ” gieo mầm cách mạng trong nhân dân các bộ tộc Lào.

Trong thời gian làm công tác chuẩn bị thực hiện hòa hợp dân tộc, anh Bẩy sau khi đã làm việc với anh Nguyễn Khang và các anh trong Ban Thường vụ cán sự miền Tây vẫn thường sang chỗ tôi ở Đoàn cố vấn quân sự 100 bàn thảo những vấn đề cần thiết. Anh Bẩy đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều tình tiết phức tạp để cùng suy nghĩ, trao đổi và đi đến thống nhất. vấn đề quyết định nhất vẫn là công tá tổ chức và cán bộ cho lực lượng tham gia hòa hợp dân tộc có bản lĩnh chính trị và luôn tỉnh táo biết dựa vào dân, được nhân dân tin cậy, là cơ sở để phát huy sức mạnh, khắc phục khó khăn, đấu tranh thắng lợi.

Về công tác tổ chức sắp xếp quân đội Pa-thét Lào, chúng tôi thống nhất hình thành hai lực lượng. Một là, chọn lọc kỹ 1.500 cán bộ, chiến sĩ trong đó có 133 đảng viên, biên chế thành 2 tiểu đoàn mạnh (lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2). Dự kiến tiểu đoàn 1 vào đóng ở khu vực Luông Pha-băng. Tiểu đoàn 2 đóng ở Cánh Đồng Chum. Mỗi tiểu đoàn có 750 người, sáp nhập với quân đội Vương quốc, trực tiếp đấu tranh bảo vệ Chính phủ Liên hiệp và bộ phận trung ương Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt ra hoạt động công khai, hợp pháp. Đặc biệt ưu tiêu cho Tiểu đoàn 2 để tiểu đoàn này có khả năng đấu tranh, thuyết phục đối phương và biết vận động nhân dân để tồn tại, phát triển.

Các tổ chức đảng trong quân đội phải được giáo dục kỹ, nắm vững đường lối chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và nhiệm vụ chính trị của Quân đội Pa-thét. Trong tình hình mới, về phương thức hoạt động phải tuyệt đối giữ bí mật, nhất là các cuộc sinh hoạt Đảng không để kẻ địch lợi dụng phá hoại.

Lực lượng quân đội còn lại, trong đó có 630 đảng viên(1) cần được giáo dục chu đáo, sau đó cho anh em phục viên về các tỉnh để tăng cường lực lượng cách mạng ở cơ sở, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng trong cả nước.


(1) Tính đến tháng 10 năm 1957, Quân đội Pa-thét Lào có 844 đảng viên, tổ chức thành 87 chi bộ, so với tổng quân số 8.593 người thì tỷ lệ đảng viên trong quân đội chiếm gần 10%.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:26:35 AM
Tôi và các anh lãnh đạo Đoàn 100 còn thống nhất với bạn chọn khoảng 500(1) cán bộ chiến sĩ trẻ, khỏe, chính trị tốt sang Việt Nam học văn hóa, chính trị, quân sự đào tạo thành cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và các ngành chuyên môn kỹ thuật chuẩn bị cho việc phát triển quân đội của bạn về sau.

Thời gian này, chính quyền Ai-xen-hao tìm mọi cách ngăn cản việc giải quyết vấn đề Lào bằng biện pháp chính trị, họ ra sức phá hoại việc thực hiện các hiệp nghị đã được ký kết giữa chính phủ Vương quốc và Pa-thét Lào. Mỹ và một số nước phương Tây rùm beng về cái gọi là “nguy cơ cộng sản” ở Lào và đe dọa đình chỉ viện trợ nếu Pa-thét Lào tham gia nội các. Bất chấp sức ép của Mỹ và các phe phái phản động, xu hướng thương lượng vẫn thắng thế. Quốc hội Vương quốc thông qua đạo luật bầu cử mới, quy định quyền bầu cử cho các công dân nam, nữ từ 18 tuổi trở lên. Hai đoàn đại biểu của Chính phủ Vương quốc và Pa-thét Lào đã ký kết các hiệp nghị bổ sung về hiệp thương chính trị.

Những sự kiện trên càng làm cho Nhà trắng tức tối, họ ra mặt đe dọa Thủ tướng Phu-ma. Chính phủ Mỹ, Anh, Pháp trao cho đại sứ của Vương quốc Lào ở các nước đó công hàm yêu cầu Chính phủ Lào giữ “lập trường kiên quyết” và chấm dứt đàm phán với Pa-thét Lào. Đại sứ Mỹ ở Lào cho người gặp các nghị sĩ Quốc hội Vương quốc đe dọa họ về những hậu quả nếu để cộng sản Lào tham gia chính phủ. Cơ quan phân phối viện trợ Mỹ tuyên bố đình chỉ cấp lương cho công chức Lào. Họ còn xúi Thái Lan không bán gạo và các hàng hóa khác từ Thái Lan vào Lào.

Chính phủ của Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma sau cuộc khủng hoảng nội các gần ba tháng cuối cùng ông vẫn được chỉ định thành lập chính phủ mới. Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma tuyên bố tiếp tục thực hiện các hiệp nghị đã ký kết, Chính phủ Vương quốc nối lại các cuộc đàm phán với Pa-thét Lào.

Ngày 20 tháng 10 năm 1957, đoàn đại biểu Chính phủ Vương quốc và đoàn đại biểu các lực lượng Pa-thét Lào ký hiệp nghị về thành lập Chính phủ liên hiệp và giải quyết vấn đề hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ. Bản hiệp nghị có đoạn ghi: Đoàn đại biểu hai bên đều nhận thấy việc lập Chính phủ liên hiệp, việc giải quyết đưa chính quyền, quân đội và cán bộ phía Pa-thét Lào ở hai tỉnh sáp nhập vào Vương quốc là để xây dựng sự thống nhất quốc gia; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đồng thời thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vo, thi hành các bản tuyên bố chung và các hiệp nghị đã ký kết mà Quốc hội đã nhất trí thông qua ngày 29 tháng 5 năm 1957.

Ngày 2 tháng 11 năm 1957, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đại diện Neo Lào Hắc-xạt và Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma đại diện Chính phủ ra tuyên bố chung thỏa thuận một số điểm để giải quyết vấn đề hòa bình ở Lào như sau: Mở rộng Chính phủ Vương quốc Lào hiện nay thành Chính phủ liên hiệp có Neo Lào Hắc-xạt tham gia. Sáp nhập hai tỉnh Hủa Phăn, Phông-xa-lỳ và một số đơn vị chiến đấu Pa-thét Lào vào Chính phủ Vương quốc. Nhất trí lấy chương trình chính trị của Chính phủ liên hiệp làm phương hướng hoạt động như trong tuyên bố ngày 9 tháng 8 năm 1957 của Hoàng thân Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma. Đồng ý thừa nhận Neo Lào Hắc-xạt là một tổ chức chính trị được hưởng mội quyền lợi như các tổ chức, đảng phái chính trị khác theo đúng luật pháp của Vương quốc Lào.

Về tổ chức chính quyền Vương quốc ở hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ; Kể từ ngày ký, hai tỉnh Hủa Phăn, Phông-xa-lỳ sẽ thuộc chính quyền Vương quốc và sẽ tổ chức lại theo hình thức của chính quyền Vương quốc Lào. Tại tỉnh Hủa Phăn, người của Vương quốc Lào giữ chức tỉnh trưởng, viên chức của Neo Lào Hắc-xạt làm phó tỉnh trưởng. Châu mường, thị xã Phông-xa-lỳ là người của Chính phủ Vương quốc. Số nhân viên hành chính trong các ngành ở mỗi tình thì mỗi bên giữ một nửa.

Về lực lượng vũ trang của Pa-thét Lào, hai bên thỏa thuận: Phía Chính phủ Vương quốc Lào đảm bảo sáp nhập tất cả quân đội, vũ khí của Pa-thét Lào vào quân đội quốc gia. Những người tình nguyện tiếp tục ở lại quân đội sẽ được đưa vào quân thường trực của Vương quốc Lào. Các đơn vị Pa-thét Lào sáp nhập vào quân đội quốc gia sẽ được hưởng quyền lợi bình đẳng về mọi mặt. sau khi sáp nhập vào quân đội quốc gia, các đơn vị Pa-thét Lào sẽ được đóng tại quân khu cũ của mình. Sĩ quan và chuyên viên kỹ thuật được biên chế vào đơn vị của họ. Những người xin giải ngũ sẽ đăng ký làm quân dự bị quốc gia. Phía Vương quốc nhận giải quyết quyền lợi chính sách dối với những người giải ngũ, thương binh và các gia đình quân nhân. Thời gian sáp nhập các đơn vị chiến đấu Pa-thét Lào vào quân đội quốc gia là 60 ngày kể từ ngày thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc.


(1) Lúc đầu thống nhất chọn 500 anh chị em đi đào tạo dài hạn, sau do yêu cầu của nhiều nhiệm vụ khác nên bạn chỉ cử được 330 người.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:27:58 AM
Nhân dịp cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớn, buộc phía Vương quốc phải thành lập Chính phủ Liên hiệp, thực hiện hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, anh Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã gửi thư cho các cán bộ Đảng và toàn thể đảng viện. Nội dung gòm một số điểm chính là: Trong hơn 60 năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, kế tục truyền thống đoàn kết đấu tranh của nhân dân các bộ tộc Lào quân đội và nhân dân các bộ tộc Lào đã vùng dậy tiến hành cuộc chiến đấu anh dũng, bền bỉ, lâu dài và cuối cùng đã giành được thắng lợi vẻ vang. Thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Ngay sau đó, đế quốc Mỹ lại ráo riết thâm nhập vào Lào, âm mưu xâm chiếm và biến Lào thành thuộc địa, căn cứ quân sự của chúng. Trước tình hình ấy, Đảng kêu gọi toàn thể nhân dan đoàn kết chặt chẽ, tập trung mội lực lượng đấu tranh chống kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc, xây dựng một nước Lào hòa bình, trung lập, thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Lào đã đấu tranh anh dũng kiên cường, từng bước làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù, buộc chúng phải tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp nghị hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, thực hiện chính sách hòa bình trung lập, đó là một thắng lợi to lớn của cách mạng Lào. Tuy nhiên, trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn do đế quốc Mỹ và tay sai gây ra. Chúng ráo riết hoạt động ngăn cản việc thi hành các hiệp nghị đã được ký kết, phá hoại sự thống nhất quốc gia, dân tộc.

Tiếp đó, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Tổng bí thư kiêm chỉ huy tối cao lực lượng vũ trang Neo Lào Hắc-xạt kêu gọi đảng viên trong cả nước, nhận thức rõ nhiệm vụ của Đảng là đấu tranh cho nước Lào hòa bình trung lập, nhân dân Lào đều có quyền tự do dân củ để củng cố nền độc lập của dân tộc, xây dựng đời sống phồn vinh. Bất cứ ở cương vị công tác nào, mỗi đảng viên phải là nòng cốt xung phong gương mẫu trong việc thực hiện chính sách hòa bình trung lập hòa hợp dân tộc của Đảng, dựa vào dân, tin tưởng ở lực lượng của nhân dân trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.

Ngày 19 tháng 11 năm 1957, Quốc hội Vương quốc Lào thông qua danh sách Chính phủ Liên hiệp lần thứ nhất. Thành phần Chính phủ gồm:

Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma – Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bưu điện, Thông tin; Phủ Xa-na-ni-con – Bộ trưởng Ngoại giao; Hoàng thân Xu-pha-nu-vông – Bộ trưởng Kế hoạch, kiến thiết; Phu-mi Vông-vi-chít – Bộ trưởng Lễ nghi, Mỹ thuật; Ngôn Xa-na-ni-con – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thanh niên, Cựu binh, Thể thao; Kà Tày Bôn-xả-xô-rít – Bộ trưởng bộ Nội vụ; Un-hươn No-ra-ninh – Bộ trưởng Kinh tế; Chậu Súc Búc-vông – Bộ trưởng Bộ Công chính, vận tải; Thong-đi Sun-thao-vi-chít – Bộ trưởng Bộ tư pháp; Nhui A-bay – Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Du lịch; Xổm-xa-nít – Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Thao-nít No-khăm – Thứ trưởng Bộ Tài chính; Nụ-phạt Chum-la-ma-ny – Thứ trưởng Bộ Nông lâm; Bun-xỉ - Thứ trưởng Bộ Công chính.

Sau khi Chính phủ Liên hiệp dân tộc Lào lần thứ nhất ra đời, các bên hữu quan xúc tiến việc thực hiện các điều khoản của Hiệp định Viêng Chăn. Quá trình này gồm hai nội dung quan trọng: Một là, đưa cán bộ Pa-thét Lào tham gia bộ máy chính quyền Viêng Chăn, hai là, đưa lực lượng vũ trang Pa-thét Lào sáp nhập vào lực lượng vũ trang của quốc gia.

Trước mắt, đại diện Chính phủ Vương quốc và đại diện Pa-thét Lào tổ chức lế chuyển gia hai tỉnh Hủa Phăn và Phông-xa-lỳ cho chính quyền trung ương .

Sáp nhập lực lượng vũ trang Pa-thét Lào vào lực lượng vũ trang của quốc gia là vấn đề mà Ban lãnh đạo Trung ương Pa-thét Lào dự kiến sẽ có nhiều tình huống phức tạp nên phải tập trung chuẩn bị thật chu đáo.

Sau 4 tháng làm việc ráo riết, cán bộ chiến sĩ quân đội Pa-thét Lào phấn khởi tin tưởng sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ mới, đồng thời đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng. Giữa tháng 12 năm 1957, các đơn vị của bạn từ hai tỉnh tập kết bắt đầu hành quân di chuyển lực lượng về các địa phương, các khu vực theo sự thỏa thuận giữa Pa-thét Lào và Chính phủ Vương quốc.

Cán bộ chiến sĩ Đoàn 100 cũng chuẩn bị lên đường về nước.

Một cuộc chia tay lịch sử đã diễn ra tại khu tập kết tỉnh Hủa Phăn. Phát biểu trong buổi lễ trọng thể này, anh Cay-xỏn Phôm-vi-hản xúc động nói: Sự trưởng thành và thắng lợi của cách mạng Lào bắt nguồn từ khi Đảng cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Bác Hồ đã dày công vun đắp cho tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt của hai dân tộc, hai quân đội Lào – Việt anh em. Chúng tôi mãi mãi biết ơn Đảng, nhân dân và quân đội Việt Nam, biết ơn Đoàn cố vấn quân sự 100 đã hết lòng, hết sức giúp đỡ cách mạng Lào và Quân đội Pa-thét Lào trưởng thành như hôm nay.

Năm tháng sẽ qua đi, nhưng tình nghĩa Lào – Việt vẫn mãi sáng ngời trong lịch sử.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:28:40 AM
Lúc chia tay các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt, các vị thân sĩ bắt tay và ôm hôn từng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 100. Ai nấy miệng cười mà nước mắt cứ ứa ra.

Trước khi lên xe, anh em chỉ huy Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào tặng tôi một con yểng, mỏ và chân vàng óng, lông đen mượt nhốt trong một chiếc lòng xinh xắn do anh em tự làm. Các chiến sĩ Pa-thét Lào còn đưa một gói ớt làm thức ăn cho yểng.

Tôi trở về Quân khu 4 với cương vị cũ của mình.

Ở Quân khu 4 đang bắt, bén công việc thì tháng 5 năm 1958, tôi lại nhận quyết định về làm chính ủy Quân khu Tây Bắc.

Từ Khu 4 ra Hà Nội, tôi được anh Lê Đức Thọ mời đến nhà riêng, anh nói:

- Bộ Chính trị và Bác đã cân nhắc kỹ việc điều anh từ Khu 4 lên Tây Bắc. Hiện nay việc xây dựng Tây Bắc thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng Việt Nam là một nhiệm vụ chiến lược cấp bách. Tây Bắc là cầu nối hai vùng căn cứ cách mạng Việt – Lào. Ta và bạn có thể dựa vào nhau, hỗ trợ nhau, phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung đưa cách mạng hai nước tiến lên. Nhiệm vụ trước mắt của anh là cùng lãnh đạo, chỉ huy khu động viên bộ đội, nhân dân đẩy mạnh sản xuất, nhanh chóng chấm dứt nạn đói kinh niên, giảm khó khăn về đời sống cho nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang, giảm khó khăn cho Trung ương trong việc phải điều gạo từ dưới xuôi lên. Đồng thời phát động nhân dân kêu gọi những tên phỉ còn lẩn trốn về sống với gia đình, làng bản, bảo đảm an ninh chính trị, chuẩn bị tiến hành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Đặc biệt là xây dựng việc tổ chức, đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số. Anh cần xác định sẽ ở Tây Bắc lâu dài. Anh nên đưa chị và các cháu lên “sinh cơ lập nghiệp” ở đó.

Tôi thầm nghĩ, chưa đầy một năm, từ tháng 7 năm 1957 đến nay (tháng 5-1958) tôi đã mấy lần thay đổi công tác. Từ Lào về Khu 4, từ Khu 4 sang Lào, lại từ Lào về Khu 4. Ở Khu 4 chưa được bao lâu lại lên Tây Bắc.

Tôi đến nhà riêng thăm và chào anh Lê Đức Thọ. Hình như đoán tôi chưa tin điều anh nói, nên khi bắt tay tạm biệt, anh quả quyết:

- Anh hãy tin, lần quyết định này là dứt khoát đấy!

Cùng trở lại Tây Bắc với tôi lần này còn có Sư đoàn 316 được tổ chức biên chế lại cho phù hợp với nhiệm vụ mới.

Trước ngày Sư đoàn 316 xuất quân, Bác Hồ đã đến thăm và động viên cán bộ, chiến sĩ sư đoàn. Cùng đi với Bác có anh Võ Nguyên Giáp và tôi. Nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 316, Bác nói:

- Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ theo dõi sự cố gắng và mỗi thắng lợi của đơn vị và cá nhân xuất sắc. Bác trao cho đơn vị 100 chiếc huy hiệu làm giải thưởng trong bước đầu và mong tất cả mọi người sẽ làm tròn nhiệm vụ, thi đua cùng với toàn dân thực hiện kế hoạch dài hạn của Nhà nước.

Cuối cùng, Bác hỏi:

- Nhiệm vụ lên Điện Biên Phủ khó khăn, phức tạp lắm. Sư đoàn đã thắng Tây ở đây, nay có thắng được nghèo nàn, lạc hậu ở Điện Biên Phủ không?

Cả hội trường đứng dậy đồng thanh hô lớn:

- Quyết tâm hoàn thành ạ!

Trước khi ra về Bác tặng sư đoàn bài thơ:

               Đá rắn, quyết tâm ta rắn hơn
               Núi cao chí khí ta còn cao hơn
               Khó khăn ta quyết vượt cho kỳ được
               Gian khổ không làm lòng ta sờn
               Đảng phái ta lên mặt trận sản xuất
               Nhiệm vụ ấy ta quyết tâm cho tròn
               Đội ơn đào tạo người quân đội
               Quyết chí đền bù nghĩa nước non


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Tám, 2018, 06:29:08 AM
Quân khu Tây Bắc thời kỳ này do anh Bằng Giang làm Tư lệnh, anh Vũ Nhất làm Chính ủy, anh Vũ Lập làm Tham mưu trưởng, anh Hồng Kỳ làm Chủ nhiệm chính trị. Tôi lên làm Chính ủy Bí thư Quân khu ủy thì anh Vũ Nhất làm Phó chính ủy. Khi Bộ Chính trị quyết định tôi làm Bí thư Khu ủy thì anh Lê Trung Đình quyền Bí thư Khu ủy làm Phó bí thư. Sự thay đổi một số vị trí công tác đặt cho tôi vấn đề suy nghĩ làm thế nào củng cố, tăng cường đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng Tây Bắc phát triển về mọi mặt, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh. Tuy vậy, tôi và các đồng chí lãnh đạo Khu ủy và Quân khu ít nhiều đã biết nhau nên trong công tác cũng khá thuận lợi.

Theo chỉ thị của trên, chúng tôi tổ chức hai nông trường Điện Biên và Mộc Châu. Nông trường Điện Biên lấy lực lượng của Sư đoàn 316 và đưa dần gia đình các anh em từ miền xuôi lên. Sư đoàn 316 sử dụng lực lượng công binh sư đoàn tự thiết kế và thi công đắp hồ Huối Pả và hệ thống dẫn nước về cánh đồng Mường Thanh. Nông trường Mộc Châu lấy lực lượng Sư đoàn 335 khai phá. Thời gian đầu trồng những cây lương thực, hoa màu ngắn ngày, giải quyết khó khăn trước mắt. Đồng thời tích cực chuẩn bị trồng cây công nghiệp, nhất là chè và phát triển chăn nuôi đại gia súc. Từ khi bắt đầu khai phá đến nay, nông trường Mộc Châu không ngừng phát triển. Ngoài ra quân khu còn tổ chức nhiều đơn vị làm nhiệm vụ sản xuất vật liệu xây dựng và đơn vị xây dựng. Những thành quả lao động bước đầu của các nông trường quân đội, công trường quân đội còn nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn mở đầu cho sự ra đời của những nông trường, công trường của đất nước trên mảnh đất Điện Biên lịch sử.

Một nhiệm vụ cũng rất quan trọng đối với chúng tôi thời gian này là xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở các vùng dân tộc thiểu số. Địa bàn khu Tây Bắc rộng nên thâm nhập cơ sở đến từng thôn bản mất rất nhiều thời gian vì đường sá quá xấu, lại cách xa nhau. Qua thực tế, chúng tôi phát hiện một vấn đề, nhân dân các dân tộc vùng Tây Bắc rất nhiều anh chị em đã từng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu lập được thành tích trong cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung và trong chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng nhưng chưa được tổ chức giáo dục để kết nạp vào Đảng. Trong khi đó nhiều thôn, bản không có đảng viên. Trước tình hình trên, tôi trao đổi trong Thường vụ Khu ủy tổ chức kế hoạch giáo dục phát triển đảng viên mới, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng mang tính chất trọng tâm đột xuất trong thời gian ngắn, bảo đảm nguyên tắc, nhưng phải sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn. Thường vụ Khu ủy phân công tôi và anh Bắc Dũng – Trưởng ban tổ chức khu trực tiếp chỉ đạo công tác này.

Tôi bàn với anh Bắc Dũng chuẩn bị tài liệu tuyên truyền giáo dục chung đến cơ sở làng bản. Qua giáo dục về Đảng, các huyện ủy cùng với cán bộ chuyên trách tuyển lựa những anh chị em tốt nhất, trong số người có đơn tự nguyện đứng trong đội ngũ của Đảng để giáo dục đợt hai với nội dung cao hơn và tiến hành giao công việc có tính chất thử thách. Thường vụ Khu ủy chọn Thuận Châu làm thí điểm trước. Chúng tôi chỉ đạo huyện ủy mời anh chị em có thành tích trong công tác và chiến đấu về huyện để giáo dục tập trung. Sau khi học, huyện ủy tuyển chọn những người có nhận thức tốt, có thành tích trong chiến đấu tự nguyện xin vào Đảng giáo dục tiếp và kết nạp vào Đảng. Những xã, những bản có 3 đảng viên dự bị thì tổ chức thành chi bộ dự bị. Chi bộ dự bị được giao nhiệm vụ cụ thể. Sau một thời gian, các đảng viên dự bị được công nhận đảng viên chính thức, chi bộ cũng được công nhận là chi bộ chính thức.

Sau hơn một năm kiên trì thực hiện những biện pháp trên, hầu hết nông thôn Tây Bắc đã có cơ sở Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng có hệ thống từ khu xuống chi bộ. Mấy năm sau, lớp đảng viên đầu tiên này nhiều người trở thành cán bộ chủ chốt của huyện và tỉnh. Kinh nghiệm trên đã được các đồng chí trong ban Tổ chức Trung ương nhận xét: Việc làm sáng tạo, đã bồi dưỡng sử dụng những người tiêu biểu được thử thách qua chiến đấu đứng vào đội ngũ của Đảng.

Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tôi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tiếp tục công tác ở Tây Bắc.

Thượng tuần tháng 12 năm 1960, trong lúc tôi đang chủ trì cuộc họp Thường vụ Khu ủy chuẩn bị tổng kết năm 1960 và bàn phương hướng nhiệm vụ năm 1961 thì nhận được điện của Bộ Chính trị gọi về Hà Nội gấp, chuẩn bị đi Lào.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:23:10 PM
Chương IV
TỪ VIÊNG CHĂN ĐẾN CÁNH ĐỒNG CHUM – XIÊNG KHOẢNG

Trước khi nói kỹ về cuộc hành binh từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, tôi muốn khái quát tình hình chính trị chủ yếu diễn ra ở Lào từ cuối năm 1957 đến cuối năm 1960 để bạn đọc theo dõi một giai đoạn lịch sử phức tạp của đất nước Lào.

Thắng lợi của Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt và Ủy ban hòa bình trung lập trong cuộc bầu cử quốc hội là một bằng chứng về sự ủng hộ của nhân dân Lào đối với mặt trận Lào yêu nước. Trong khi đó bọn phản động thân Mỹ ngày càng bị cô lập, chúng tìm cách gây sức ép đối với quốc hội làm tê liệt hoạt động của Chính phủ Liên hiệp dân tộc. Ở các địa phương, bọn phái hữu cho tay chân đàn áp, giết hại những người kháng chiến cũ. Các phe nhóm phản động tìm cách tác động đối với ông Phu-ma, buộc ông lên tiếng yêu cầu Ủy ban quốc tế rút khỏi Lào, với lý do tình hình ở Lào đã bình thường do việc thành lập Chính phủ Liên hiệp. Đây là thủ đoạn của Mỹ và lực lượng thân Mỹ nhằm tạo điều kiện rảnh tay hoạt động ở Lào.

Trước âm mưu của Mỹ và tay sai đòi giải tán Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến ở Lào, Trung ương Đảng ta đã gửi thư cho Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào thông báo quan điểm của Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc về chủ trương duy trì Ủy ban quốc tế ở Lào. Các thành viên trong Ủy ban quốc tế cũng tỏ thái độ khác nhau trong vấn đề này. Ca-na-đa đồng ý giải tán, Ba Lan thì phản đối, còn Ấn Độ đưa ra hai phương án: Ủy ban quốc tế chỉ để lại ở Lào 9 người tiếp tục nhiệm vụ, hoặc Ủy ban quốc tế ở Việt Nam kiêm luôn công tác giám sát và kiểm soát tình hình ở Lào. Rõ ràng ai cũng biết lúc này sự có mặt của Ủy ban quốc tế ở Lào vẫn rất cần thiết, bởi lẽ nhiều vấn đề chính trị giữa hai bên còn chưa được giải quyết. Hơn nữa việc thi hành các điều khoản của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương nói chung và ở Lào nói riêng chưa thể nói rằng đã được hoàn tất.

Tháng 6 năm 1958, để giành đa số ghế trong quốc hội, các phe phái thân Mỹ đã xúc tiến việc hợp nhất hai đảng của Phủi Xa-na-ni-con và Kà Tày thành đảng mới gọi là “Đảng Lào luôn Lào” do Xu-va-na Phu-ma làm Chủ tịch, Kà Tày làm Phó chủ tịch thứ nhất, Phủi Xa-na-ni-con làm Phó chủ tịch thứ hai. Nhờ đó phái thân Mỹ chiếm được đa số ghế trong quốc hội (36/59 ghế).

Ngày 22 tháng 7 năm 1958, sau khi gây sức ép buộc Ủy ban quốc tế ở Lào phải đình chỉ hoạt động, mặc dù có sự phản đối của Chính phủ Ba Lan, chúng tiếp tục gây khó khăn: về kinh tế cắt viện trợ, hạ giá đồng kíp (từ 35 kíp xuống 100 kíp 1 đô-la), gây nhiều khó khăn cho chính phủ Phu-ma, buộc chính phủ của ông phải từ chức.

Thế là sau 8 tháng tồn tại, Chính phủ Liên hiệp dân tộc lần thứ nhất phải giải tán. Hoàng thân Phu-ma bị đẩy đi làm đại sứ ở Pháp. Còn đại diện Neo Lào Hắc-xạt bị gạt ra khỏi chính phủ. Tháng 8 năm 1958, Phủi Xa-na-ni-con thành lập chính phủ mới, do ông ta lên cầm quyền, Phủ Xa-na-ni-con đã thực hiện một loạt thay đổi. Về đối nội, thẳng tay đàn áp các lực lượng chủ trương hòa hợp dân tộc, xóa bỏ các hiệp nghị Viêng Chăn, chuẩn bị thủ tiêu Neo Lào Hắc-xạt. Về đối ngoại: Chính quyền Phủi Xa-na-ni-con đặt quan hệ chặt chẽ với chính quyền Sài Gòn, phái đoàn đại diện Vương quốc Lào ở Sài Gòn được nâng lên cấp đại sứ. Chính quyền Lào cấu kết với Ngô Đình Diệm hoạt động gián điệp dọc các vùng biên giới Lào – Việt Nam. Chính sách thù địch của ngụy Lào đối với Việt Nam là một bộ phận trong kế hoạch của Mỹ thực hiện âm mưu “Bắc tiến” của Ngô Đình Diệm. Phủi Xa-na-ni-con cho biệt kích và cả một số đơn vị chính quy xâm nhập lãnh thổ Việt Nam. Chúng còn cho máy bay xâm phạm vùng trời các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La. Ngày 5 tháng 1 năm 1959, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Phủi Xa-na-ni-con lưu ý về việc quân đội Vương quốc Lào liên tiếp xâm phạm Việt Nam dân chủ cộng hòa ở vùng biên giới. Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu Chính phủ Vương quốc Lào sớm có biện pháp chấm dứt tình trạng đáng tiếc nói trên.

Tháng 2 năm 1959, Phủi Xa-na-ni-con đọc diễn văn công kích Neo Lào Hắc-xạt. Sự kiện này mở đầu cho một loạt hành động đàn áp quyết liệt lực lượng cách mạng Pa-thét Lào. Chính quyền Phủi Xa-na-ni-con còn ra lệnh giám sát chặt chẽ nhà ở của các nghị sĩ quốc hội Neo Lào Hắc-xạt ở Viêng Chăn. Tiếp đó, họ chuẩn bị tiêu diệt hai tiểu đoàn chủ lực của Pa-thét Lào đang đóng quân ở hai khu vực riêng biệt.

Theo các hiệp định được ký kết tại Viêng Chăn giữa Neo Lào Hắc-xạt và Chính quyền Vương quốc, hai tiểu đoàn bộ đội Pa-thét Lào vào sáp nhập với quân đội Vương quốc. Tiểu đoàn 1 đóng ở Xiêng-ngôn thuộc tỉnh Luông Pha-băng, Tiểu đoàn 2 đóng ở Thong-hay-lin thuộc tỉnh Xiêng Khoảng.

Ngay từ ngày đầu vào hòa hợp, Mỹ và tay sai không từ một thủ đoạn nào làm cho hai tiểu đoàn nòng cốt của lực lượng Pa-thét Lào tan rã. Nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 đã giữ vững phẩm chất của quân đội cách mạng, không những làm thất bại âm mưu của kẻ thù mà còn hăng hái tham gia sản xuất, tích cực giúp đỡ nhân dân xây dựng bản mường. Do đó hình ảnh bộ đội Pa-thét Lào đã gây ấn tượng sâu sắc với nhân dân vùng đơn vị đóng quân và tác động mạnh mẽ đối với binh lính quân đội Vương quốc khi chúng làm nhiệm vụ kiểm soát các chiến sĩ Pa-thét.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:23:40 PM
Dùng thủ đoạn mua chuộc bằng tiền tài, địa vị, lôi kéo cá nhân không đạt kết quả, Chính quyền Vương quốc chuyển sang dùng biện pháp gây sức ép về kinh tế, cắt giảm khẩu phần lương thực, thực phẩm, không cấp lương và thuốc men… Những hành động trên tuy có gây một số khó khăn cho chiến sĩ Pa-thét Lào nhưng chúng cũng không thể lung lạc được ý chí của họ.

Cuối cùng Phủi Xa-na-ni-con ra lệnh cho quân đội Vương quốc bao vây hai tiểu đoàn bộ đội Pa-thét Lào và ra lệnh cho hai đơn vị này đúng ngày 11 tháng 5 – ngày kỷ niệm thông qua Hiến pháp Lào lần thứ 12 phải có mặt tại một địa điểm đã định để “dự lễ phong quân hàm và sáp nhập vào quân đội Vương quốc”. Chúng yêu cầu các chiến sĩ Pa-thét Lào không được mang theo vũ khí và phải tập hợp trong một khu vực có dây thép gai bao quanh và trong vòng vây của quân đội Vương quốc.

Tiểu đoàn 2 ở Xiêng Khoảng, bị bao vây bốn phía, địa hình trống trải, lực lượng và trang bị chênh lệch, lại không liên lạc được với cấp trên. Nhưng cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 2 đã đoàn kết một lòng phát huy dân chủ, biết dựa vào dân đề ra kế hoạch vượt vòng vây kẻ thù.

Ngày 18 tháng 5 năm 1960, sau khi tăng thêm quân và vũ khí, quân đội Vương quốc gửi tối hậu thư cho cán bộ chỉ huy Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào buộc họ phải đầu hàng trong vòng 24 tiếng, nếu không sẽ bị tiêu diệt. Nhưng ngay trong đêm 18 tháng 5, toàn thể cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 cùng gia đình đã khôn khéo nghi binh địch vượt qua vòng vây của kẻ thù một cách bí mật, an toàn.

Sau 1 tuần hành quân táo bạo với nghệ thuật giấu quân tài tình lại được nhân dân hết lòng giúp đỡ, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 2 đã về căn cứ an toàn trước sự vui mừng của nhân dân địa phương cũng như quân dân trong cả nước.

Về đến căn cứ địa, Tiểu đoàn 2 đã ra tuyên bố kiên quyết chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động bảo vệ Chính phủ Liên hiệp, bảo vệ đường lối hòa bình trung lập và kêu gọi nhân dân trong cả nước sát cánh cùng các lực lượng vũ trang cách mạng trong cuộc chiến đấu chống sự can thiệp của Mỹ và phản trắc của Phủi Xa-na-ni-con.

Cùng lúc ấy, Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào do những điều kiện khó khăn hơn Tiểu đoàn 2, nên chỉ gần một nửa quân số của tiểu đoàn thoát khỏi vòng vây của địch trở về căn cứ.

Trước những thất bại cay đắng trong âm mưu tiêu diệt Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào, kể từ cuối tháng 5 năm 1959 trở đi, Mỹ và Phủi Xa-na-ni-con phát động cuộc “chiến tranh đặc biệt” trên quy mô cả nước Lào, đặt Neo Lào Hắc-xạt ra ngoài vòng pháp luật hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng, biến Lào thành một căn cứ quân sự thực dân kiểu mới của Mỹ ở Đông Dương. Chúng đem cảnh sát và hiến binh bao vây trụ sở Trung ương Neo Lào hắc-xạt, tòa báo và nhà in Neo Lào Hắc-xạt. Phủ Xa-na-ni-con còn đe dọa đưa các lãnh tụ Neo Lào Hắc-xạt ra tòa. Chúng vu cáo Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và các lãnh tụ của Neo Lào Hắc-xạt là đã ra lệnh cho Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào rút đi để chóng lại chính phủ (!) và đã liên lạc với nước ngoài để gây rối loạn ở Lào (!)… nhằm buộc lãnh đạo Neo Lào Hắc-xạt cái tội “phản quốc” để hãm hại họ.

Phủi Xa-na-ni-con cho cảnh sát và hiến binh ngày đêm vây chặt nhà riêng của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông ở cửa sông Bát-xắc, “không cho trong ra, không cho ngoài vào”, làm cho gia đình Hoàng thân và gia đình một số vị lãnh đạo khác của Neo Lào hắc-xạt gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Mặc dù bị nhân dân và dư luận phản đối, Mỹ vẫn thúc ép Phủi Xa-na-ni-con ra lệnh bắt giam Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng 15 cán bộ Neo Lào Hắc-xạt tại Viêng Chăn, trong đó có 8 lãnh tụ và 7 nghị sĩ Quốc hội đương chức. Nhưng uy tín của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và các lãnh tụ của Neo Lào Hắc-xạt rất sâu rộng trong nhân dân, ngay cả đơn vị cảnh sát và sau đó một đơn vị quân đội Vương quốc đã từ chối không chịu thi hành mệnh lệnh của Xa-na-ni-con. Họ trả lời rằng “đây là một việc to tát quá họ không có can đảm thi hành”. Năm mươi cảnh sát và binh sĩ đó lập tức bị tống giam. Cuối cùng Xa-na-ni-con buộc phải dùng vũ lực ép một đơn vị quân đội khác đến “mời Hoàng thân đi gặp chính phủ”.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:24:25 PM
Thế ngày 28 tháng 7 năm 1959, Mỹ và Phủ Xa-na-ni-con đã thực hiện âm mưu đen tối bắt giam Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng các nghị sĩ và một số nhà lãnh đạo của Neo Lào Hắc-xạt, tất cả gồm 16 người. Dưới đây là bản danh sách đã gây sự xúc động mạnh trong nhân dân và binh sĩ Lào.

- Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, nguyên Thủ tướng Chính phủ kháng chiến Lào chống xâm lược Pháp, Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp và nghị sĩ đương chức tại Quốc hội Lào;

- Phu-mi Vông-vi-chít - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, Trưởng đoàn đại biểu Pa-thét Lào đàm phán và ký kết các Hiệp nghị Viêng Chăn với Chính phủ Vương quốc, Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp và nghị sĩ Quốc hội Lào;

- Nu-hắc - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, nghị sĩ Quốc hội Lào;

- Si-thôn Com-ma-đăm - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, nghị sĩ Quốc hội Lào;

- Khăm-phải Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, nghị sĩ Quốc hội Lào;

- Thao Phao - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt;

- Thao Mừn - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt;

- Đại tá Sin-ka-pô - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt; ủy viên Hội đồng quân sự Liên hiệp;

- Đại tá Thao Phun - nghị sĩ Quốc hội Lào; ủy viên Hội đồng quân sự Liên hiệp;

- Xi-xa-nạ - nghị sĩ Quốc hội Lào; chủ bút báo Neo Lào Hắc-xạt;

- Thao Ma - Tỉnh phó tỉnh Hủa Phăn, sau Hiệp nghị Viêng Chăn;

- Ma-ha-xôm-bun - cán bộ Neo Lào Hắc-xạt;

- Khăm-phết - cán bộ Neo Lào Hắc-xạt;

- Phu-khẩu - cán bộ Neo Lào Hắc-xạt;

- Bun-xỉ - cán bộ Neo Lào Hắc-xạt;

- Ma-nạ - cán bộ Neo Lào Hắc-xạt.

Trong danh sách những người bị bắt giam đáng lẽ có cả anh Chao-xúc - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt, nghị sĩ Quốc hội Lào và chị Khăm-pheng - nghị Sĩ Quốc hội Lào, nhưng anh Chao-xúc đi vắng, còn chị Khăm-pheng đang có mang nên chúng không bắt.

Chính phủ Phủi Xa-na-ni-con đã đem giam Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và các nhà lãnh đạo Pa-thét Lào trong một nhà giam ngay cạnh doanh trại quân đội hoàng gia ở Phôn-khiêng cách trung tâm Viêng Chăn 3km.

Cuối năm 1959, cuộc cuộc đấu tranh giành giật quyền lực diễn ra trong hàng ngũ phải cầm quyền Viêng Chăn. Phủi Xa-na-ni-con gạt ra ngoài chính phủ những tên cầm đầu hung hăng nhất của cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc gia”. Ngày 31 tháng 12 năm 1959, được Mỹ ủng hộ, Phu-mi Nô-xa-vẳn và Thao Xổm-xa-nít làm đảo chính lật đổ chính phủ Xa-na-ni-con. Hành động đầu tiên của Nô-xa-vẳn là tuyên bố giải tán quốc hội, sửa lại thể thức tổng tuyển cử.

Ngày 24 tháng 4 năm 1960, cuộc tổng tuyển cử được tiến hành dưới lưỡi lê và đô la Mỹ. Nhờ khủng bố và gian lận, “Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc gia” của Phu-mi Nô-xa-vẳn và Thao Xổm-xa-nít (từ đây đổi tên là Đảng Dân chủ xã hội) chiếm 46/59 ghế trong quốc hội. Đảng Dân chủ xã hội đứng ra lập chính phủ mới: Thao Xổm-xa-nít làm Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phu-mi Nô-xa-vẳn giữ chức Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ quốc phòng; Hoàng thân-Xu-va-na Phu-ma được bầu làm Chủ tịch Quốc hội Lào.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:25:04 PM
Sau khi thiết lập được bộ máy cai trị chính quyền, Xổm-xa-nít tiến hành một chính sách khủng bố dã man. Chúng trắng trợn tuyên bố lập lại an ninh bằng sự đầu hàng không điều kiện của Neo Lào Hắc-xạt. Xổm-xa-nít còn tập trung dân thành những làng tụ tập kiều “khu trù mật” của Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam. Do tính chất cực kỳ phản động của Xổm-xa-nít, nên các tầng lớp nhân dân trong cả nước, kể cả binh lính cảnh sát của chúng cũng nổi dậy đấu tranh chống chính sách cực đoan hiếu chiến của Xổm-xa-nít.

Sau gần 10 tháng, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông bị giam giữ trái phép, 2 giờ sáng ngày 24 tháng 5 năm 1960, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Viêng Chăn, một số cơ sở ở nội thành phối hợp với binh lính gác trại giam đã giải thoát Hoàng thân và các nhà lãnh đạo của Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc-xạt ra khỏi trại giam trở về vùng căn cứ cách mạng.

Đầu tháng 6 năm 1960, anh Nguyễn Khang - Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, nguyên Bí thư Ban cán sự miền Tây từ Hà Nội lên Tây Bắc truyền đạt chỉ thị của Trung ương, tôi và anh cùng đi vào Điện Biên Phủ đón Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Chúng tôi vội lên xe chạy thẳng đến bản Long Nhai. Khó tả hết niềm vui và xúc động khi chúng tôi gặp Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Chiều hôm ấy và cả trong bữa cơm thân mật, chúng tôi được nghe Hoàng thân kể tỉ mỉ cuộc vượt ngục lịch sử của ông. Hoàng thân Xu-pha-nu-vông chậm rãi nói:

- Ngay khi mới bị đưa vào trại giam, chúng tôi đã nghĩ ngay đến việc phải tìm cách thoát trở về lãnh đạo phong trào. Nhưng quan sát trại bốn bề tường kín, ba lượt rào cao, lại bị vây giữa một trại hiến binh và nhà ở của sĩ quan, nên muốn vượt khỏi trại giam sẽ phải tến hành một cuộc chuẩn bị kiên trì, gian khổ và hết sức thận trọng mới có hy vọng. Chúng nhốt anh em tôi mỗi người ở một buồng riêng, ngày đêm khóa cửa. Việc tiếp xúc với bên ngoài và sự liên lạc với nhau ở trong trại cũng bị cắt đứt. Chúng tôi sống trong cảnh hoàn toàn bị bưng bít, không có báo, không được tin tức từ bên ngoài, nên rất khó định đoạt hành động của mình.

Ngừng một lát, vẫn giọng trầm trầm chậm rãi Hoàng thân kể tiếp:

- Đã hơn một tháng, bọn địch như cảm nhận mọi việc đã ổn nên chúng rút cảnh sát, chỉ để lại hiến binh canh gác trại. Những người hiến binh lạnh lùng trước đây, nay qua thái độ của họ chúng tôi biết họ đã bắt đầu tỏ lòng thương cảm. Họ không dám chuyện trò, nhưng vẻ mặt, cử chỉ mỗi lần ra vào mở cửa đã nói lên tấm lòng của họ. Thế là tôi chợt này ý định sẽ tìm cách giác ngộ những người hiến binh này. Những lúc chỉ có một hai người ở cửa buồng giam, tôi dần dà hỏi thăm chuyện trò khi một câu, khi vài câu với họ. Cứ thế thành quen, chúng tôi đã tìm thấy nhiều người tốt trong số hiển binh kia để tuyên truyền giác ngộ lòng yêu nước cho họ. Một số hiến binh đã từng ở chùa, dần dần bộc lộ sự thương xót vì kính trọng tôi và anh em cán bộ Neo Lào Hắc-xạt. Có người bí mật giúp chúng tôi những đồ dùng thiết yếu. Chúng tôi bắt đầu liên lạc được với nhau và phân công bí mật giáo dục riêng từng người. Những người hiến binh được giác ngộ càng ngày càng quý mến chúng tôi. Sau 3 tháng, giám thị bắt đầu nới lỏng, một ngày cho chúng tôi ra ngoài ít giờ để lao động, tôi và anh em của ta đã cuốc đất trồng rau, biến mảnh đất nhỏ thành mảnh vườn xinh xắn. Một số anh em hiến binh đã tự kiếm những giống rau ngon, hoa đẹp để cho chúng tôi trống. Đến khi thấy rau xanh tốt, hoa nở thắm tươi anh em hiến binh rất khâm phục những người trong Mặt trận Lào yêu nước. Một số hiến binh giáp ngộ nhất bắt đầu giúp chúng tôi từ tiếp tế thực phẩm đồ dùng, liên lạc với gia đình ở Viêng Chăn để lấy tin tức hàng ngày. Vòng vây bưng bít của bọn tay sai bị phá tan dần. Chúng tôi đã biết được tình hình Tiểu đoàn 2 Pa-thét vượt vòng vây quân thù trở về căn cứ. Chúng tôi đã nghe tin tức kịp thời ở trong nước và cả những tin quan trọng trên thế giới.

Hơn một trăm hiến binh canh gác, chúng tôi đã giác ngộ được trên 40 người. Trong đó chúng tôi chọn một số trung kiên nhất, tổ chức họ thành từng nhóm bí mật với nhau tuyên truyền kỹ hơn.

Trước tinh thần giác ngộ của binh sĩ, chúng tôi tin tưởng vào vạch kế hoạch vượt ngục. Chúng tôi tìm được tám người giác ngộ và kiên quyết nhất để giao nhiệm vụ chuẩn bị vượt ngục, trong đó có hai anh cai xếp U-đôn và Chăn-tha-vi. Tôi nói anh Nu-hắc làm kế hoạch cụ thể cho chuyến đi lịch sử sắp tới. Hai anh em U-đôn và Chăn-tha-vi được bố trí bí mật liên lạc với cán bộ Neo Lào Hắc-xạt đang hoạt động ở Viêng Chăn để tổ chức đón chúng tôi về căn cứ Pa-thét Lào gần nhất. Chăn-tha-vi còn được giao liên lạc với bốn nhà sư ở một ngôi chùa gần đó để làm tổ dẫn đường trong chặng đầu từ Viêng Chăn ra.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:25:41 PM
Dừng một lát, uống ngụm nước chè, Hoàng thân kể tiếp:

- Vấn đề khó khăn nhất là làm sao cho tám người được lựa chọn kia cùng gác một phiên với nhau, vì các lượt gác không thể chủ động bố trí nên cứ có người này lại thiếu người khác. Đáng khen cho anh Nu-hắc, rất khéo bày kế để họ bố trí sắp xếp đúng như kế hoạch. Cơ hội tốt đã đến!

Tối ngày 23 rạng ngày 24 tháng 5 năm 1960, năm người trong số tám anh em trung kiên cùng gác một phiên. Còn ba người nữa cuối cùng cũng vận động gác thay cho những hiến binh khác.

Việc chuẩn bị đủ số quân phục hiến binh cần thiết và băng tay tuần tra đóng giải hiến binh đi tuần tra cũng được anh Nu-hắc giao cho hai anh em U-đôm chuẩn bị đầy đủ trong ngày 23 tháng 5. Thực phẩm lương khô và ni-lông cũng được hai anh em U-đôm chuẩn bị kỹ càng.

Ba giờ chiều ngày 23 tháng 5, tôi được tin bên ngoài cho biết đã bố trí xong người liên lạc và đón ở các địa điểm quy định. Ngay chập tối, một liên lạc từ bên ngoài cử tới được anh em hiến binh bí mật đưa vào nằm sẵn trong trại giam.

8 giờ tối, tôi nói anh Nu-hắc phổ biến kế hoạch cụ thể về việc lên đường. Và lúc này tám hiến binh kia mới biết quyết định vượt ngục của chúng tôi. Cả tám anh em tuy đột ngột biết tin, nhưng đều tỏ ra sung sướng sẵn sàng ủng hộ kế hoạch của đoàn.

12 giờ kém 5 phút, một trinh sát báo cáo đã có thể đi được. Kế hoạch được nhắc lại một lần nữa, tôi và mọi người đã cải trang thành những hiến binh. Sau khi kiểm tra lại thêm một lần nữa, tôi cho lệnh lên đường. Thế là một đội hiến binh tuần tra gồm 25 người đi hàng một hồi hộp và náo nức tiến ra phía đường cái. Đèn pha vẫn sáng, các cửa trại giam mở ra rồi được khóa lại như thường lệ. Xung quanh vắng lặng, binh sĩ và sĩ quan đều đã ngủ say. Mấy người lính thiết giáp gác giờ này cũng chẳng thèm chú ý đến đội “hiến binh tuần tra” đang lộp cộp đi ngang qua.

Sang khỏi cầu Phôn-khiêng, cả đoàn rẽ vào rừng chờ người dẫn đường. Một lát sau, thấy có tiếng người đi vào và loáng ánh đèn pin, chúng tôi hơi chột dạ. Tiếng Chăn-tha-vi rõ dần, chúng tôi lên tiếng nhận nhau. Từ đây cả đoàn gồm 30 người, chia thành ba nhóm do các nhà sư dẫn theo con đường bí mật được chuẩn bị sẵn trong rừng. Trời tối mù mịt, không ai nhìn thấy ai. Đến một chỗ nơi trống trải tôi cứ theo hướng phía trước mà đi. Bỗng tôi giật mình, sao lại vắng vẻ thế này. Định thần một lúc, biết mình đã bị lạc. Do đã lường trước tình huống khi lạc trong đêm tối, hãy đứng im một chỗ sẽ có người tìm đến, vài chục phút sau anh em tìm thấy tôi. Mọi người đều cảm thấy nhẹ nhõm, đều vui mừng, chúng tôi tiếp tục lên đường.

Càng về khuya, tôi càng cảm thấy chân tay rã rời. Có lẽ tuổi đã cao, lại bị giam cầm nhiều ngày trong gian khổ thiếu thốn, tôi cảm thấy đuối sức, hơn nữa chân đã bắt đầu sưng, bật máu nên ngã nhiều lần. Anh em ái ngại. Nhưng vì tôi mà hỏng việc lớn sao đành, cách mạng Lào đang cần chúng tôi trở về, nghĩ đến lúc về căn cứ gặp lại đồng chí, đồng bào tôi như được tiếp sức mạnh. Thế là tôi cắn răng đứng dậy, vịn vào người khỏe hơn mà bước.

Khoảng 4 giờ sáng, chúng tôi đã đến gần đường số 13 phía bắc Viêng Chăn. Ở đây đã có một trung đội Pa-thét Lào chờ sẵn, họ vui mừng tiếp tục đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.

Tôi và anh Nguyễn Khang ngồi nghe Hoàng thân Xu-pha-nu-vông kể về những ngày không thể nào quên đối với ông. Tôi càng trân trọng tinh thần yêu nước của Hoàng thân, đã xem thường nguy hiểm gian nan đi làm cách mạng. Hoàng thân nhắc lại nhiều lần tinh thần và tình cảm của nhân dân các bộ tộc Lào đã dành cho ông và những nhà lãnh đạo Pa-thét Lào trong những ngày bị giam cầm, đặc biệt là sau khi ra khỏi nhà tù băng rừng về căn cứ đã được người dân che chở, nuôi nấng.

Chúng tôi cảm nhận được, qua thử thách tôi luyện, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cũng như các nhà lãnh đạo Neo Lào Hắc-xạt lớn lên với tầm vóc cao hơn nhiều. Những nhà lãnh đạo Pa-thét Lào thực sự là niềm tự hào, là hy vọng và chỗ dựa tinh thần cho nhân dân các bộ tộc Lào và cách mạng Lào. Trong bữa cơm chan hòa niềm vui hiếm có của tinh thần quốc tế và tình hữu nghị Việt – Lào, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông mấy lần xúc động nhắc đến công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Lào. Hoàng thân cho biết trong lúc bị giam cầm trong nhà lao, hình ảnh thân thương của Bác đã giúp ông và các nhà lãnh đạo Neo Lào Hắc-xạt thêm sức mạnh để chiến đấu. Lần này về Hà Nội thế nào Hoàng thân cũng xin được gặp Bác để thăm và chúc sức khỏe Người.

Sáng hôm sau, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và anh Nguyễn Khang lên máy bay về Hà Nội, tôi trở lại Thuận Châu.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:27:41 PM
*
*   *

10 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1960, tôi nhận được bức điện của Bộ Chính trị do anh Văn ký, nội dung bức điện như sau:

Gửi đồng chí Chu Huy Mân.

Theo đề nghị của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bộ Chính trị quyết định anh sang Lào giúp bạn. tình hình rất khẩn trương, anh thu xếp về Hà Nội ngay, càng sớm càng tốt.


VĂN

Rất may, hôm đó Thường vụ Khu ủy Tây Bắc họp chuẩn bị cho tổng kết năm và đề ra nhiệm vụ năm tới, các anh trong Ban Thường vụ Khu ủy có đủ cả: anh Lê Trung Đình, anh Trần Quyết, anh Bắc Dũng, anh Bình Phương và anh Quốc Mạnh. Văn phòng Khu ủy làm bữa cơm thân mật, chia tay tôi. Chúng tôi vừa dùng cơm vừa nói chuyện toàn giao công việc. Sau bữa cơm tôi chào mọi người, rồi ghé qua nhà tạm biệt vợ con.

Năm 1957, từ Lào về, nhà tôi Lê Thu Thủy, lúc này là Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh Bắc Giang, sau nhiều năm xa cách chúng tôi mới có cháu gái Chu Minh Hà. Từ khi về làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Tây Bắc, tôi chuyển gia đình từ Bắc Giang lên huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La. Tháng 8 năm 1959 nhà tôi sinh cháu trai Chu Thế Sơn(1) và tháng 9 năm 1960, cháu gái Chu Minh Châu chào đời.

Sau khi tôi đi Lào, nhà tôi lại đưa các cháu về Bắc Giang. trong điều kiện xa chồng, nhà tôi vẫn đảm đang việc nước việc nhà; làm Tỉnh ủy viên, Hội trưởng Hội phụ nữ Bắc Giang, rồi Tỉnh ủy viên, Hội trưởng Hội phụ nữ Hà Bắc; nuôi dạy các cháu khôn lớn và trưởng thành.

Đến thị xã Sơn La, tôi vào quân khu báo tin cho anh Bằng Giang, anh Vũ Nhất, anh Vũ Lập và anh Hồng Kỳ, đồng thời trao đổi một số công việc trước mắt. tôi đề nghị các anh tiếp tục giáo dục cho bộ đội thấy được vị trí của Quân khu Tây Bắc; tình hình Lào hiện nay rất phức tạp, bộ đội phải nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa Tây Bắc và sẵn sàng làm nhiệm vụ quốc tế.

Làm việc với các anh trong Bộ tư lệnh Quân khu vài chục phút, tôi lại vội vã lên đường. Xe chạy qua Hát Lót, Cò Nòi, Mộc Châu rồi sang phía nam Chợ Bờ mới dừng lại một quán nước ven đường để lái xe nghỉ một chút cho lại sức. Quán nước có một con sáo nhỏ trắng nói tiếng người khác sõi: “bà ơi, có khách”. Có lẽ sáo chẳng biết phân biệt khách qua đường như thường lệ và khách trên đường đi ra chiến trường xa xôi.

Khoảng 12 giờ đêm ngày 10 tháng 12 tôi đã có mặt tại “Nhà Rồng” - Văn phòng Quân ủy Trung ương.

Mấy phút sau, anh Văn đến thăm bà hỏi một số công việc của khu và quân khu, trước khi ra về anh nói:

- Sáng mai anh Mân nghe Bộ Tổng Tham mưu báo cáo tình hình của Lào. Anh nắm luôn những cán bộ cùng đi đợt này, chuẩn bị gấp rồi sang Lào giúp bạn.

Sáng chủ nhật ngày 11 tháng 12 năm 1960, cán bộ cơ quan Bộ Tổng tham mưu và tôi bắt đầu làm việc. Qua trao đổi tôi được biết kỹ hơn về biến cố chính trị hồi tháng 8, làm đảo lộn mọi sự tính toán của Mỹ và tay sai ở Lào. Chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1960, giữa lúc hầu hết các bộ trưởng trong Chính phủ Xổm-xa-nít đi dự lễ hỏa táng nhà vua Lào Xi-xa-vang Vông, thì tiểu đoàn dù 2, một số đơn vị cơ giới, tiểu đoàn bộ binh số 25, một số phi đội không quân phối hợp với đông đảo học sinh, sinh viên Viêng Chăn dưới sự chỉ huy của đại úy Coong-le và Thao Dươn Xu-xa-lát làm cuộc đảo chính lật đổ chính phủ Xổm-xa-nít vào lúc 2 giờ 45 phút ngày 9 tháng 8 năm 1960. Do được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ, nên chỉ trong một thời gian ngắn được đảo chính đã chiếm đài phát thanh, ngân hàng, bưu điện, Bộ Quốc phòng và nhiều cơ quan quan trọng khác của chính phủ. Xổm-xa-nít và đa số các bộ trưởng đi dự lễ hỏa táng nhà vua nên không ai bị bắt.


(1) Trung tá Chu Thế Sơn, cán bộ Văn phòng Bộ Tổng tham mưu trong Đoàn cán bộ quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam do đồng chí Trung tướng Đào Trọng Lịch, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đầu 13 cán bộ tướng lĩnh và cán bộ cấp cao khác đi thăm và làm việc tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bị tai nạn máy bay và tất cả đã hy sinh hồi 10 giờ 20 phút ngày 25 tháng 5 năm 1998 tại tỉnh Xiêng Khoảng. Chu Thế Sơn là con trai duy nhất của Đại tướng Chu Huy Mân (người viết).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:29:16 PM
7 giờ sáng cùng ngày, Ủy ban đảo chính đã ra tuyên bố kêu gọi nhân dân, binh lính, sĩ quan trong cả nước ủng hộ Ủy ban đảo chính và thông báo mục đích của cuộc đảo chính là: chống nội chiến, chống sự xâm nhập của đế quốc Mỹ, thanh trừng bọn tham nhũng, xây dựng một nước Lào độc lập, trung lập và phồn vinh. Về đối nội, Ủy ban đảo chính nêu ra một số chính sách cụ thể như: Chính phủ Xổm-xa-nít phải từ chức; thanh trừng những phần tử xấu ra khỏi quân đội và các cơ quan chính phủ; chấm dứt nội chiến, thực hiện hòa hợp dân tộc, thống nhất quốc gia; phát triển công - nông - nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Về đối ngoại, Ủy ban đảo chính đề ra một số chính sách cụ thể như: Thực hiện chính sách trung lập thật sự; tôn trọng Hiến chương Liên hiệp quốc, các hiệp nghị đã ký kết với các nước kể cả Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương; đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, nhận viện trợ của cả hai phe; đuổi quân đội nước ngoài ra khỏi Lào, xóa bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài ở Lào.

Với những chính sách tiến bộ đó nên Ủy ban đảo chính đã được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, công chức, sĩ quan, binh lính, cảnh sát, các nhà tu hành, thân sĩ yêu nước.

Ủy ban đảo chính đặt tổng hành dinh tại Bộ Tổng tham mưu Quân đội Hoàng gia và nắm trong tay toàn bộ quyền điều khiển về hành chính và quân sự.

Ngày 9 tháng 8 năm 1960, ngay sau khi quần đảo chính lật đổ Chính phủ phát động thân Mỹ Xổm-xa-nít và Phu-mi Nô-xa-vẳn, Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc-xạt đã ra tuyên bố: Hoàn toàn ủng hộ cuộc đảo chính và các chủ trương của Ủy ban đảo chính đề ra. Neo Lào Hắc-xạt sẵn sàng tiếp sức, đàm phán với Ủy ban đảo chính thực hiện đường lối do Ủy ban đảo chính công bố, lập lại an ninh và thực hiện hòa hợp dân tộc.

Phía Neo Lào Hắc-xạt cũng đưa ra một số đề nghị cụ thể: Nhanh chóng thành lập một chính phủ liên hiệp dân tộc gồm đại biểu các dân tộc, đảng phái yêu nước tiến bộ để thực hiện các đường lối, chính sách do Ủy ban đảo chính đề ra đã được chính phủ thông qua. Phát động phong trào đấu tranh sau cuộc đảo chính ra các tỉnh thành, nông thôn và đô thị trong các nước. Trừng trị bọn phản động tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, không để chúng tập hợp phản công lại. Lực lượng Pa-thét Lào và lực lượng đảo chính cùng nhau phối hợp hành động để chống lại bỏ âm mưu can thiệp của đế quốc Mỹ và bọn phản động. Ban hành những chính sách cụ thể bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân... Thả tất cả những người yêu nước, yêu hòa bình bị chính quyền thân Mỹ bắt giữ trái phép. Bảo đảm quyền tự do hoạt động của các đảng phái yêu nước tiến bộ trong đó có Neo Lào Hắc-xạt và Ủy ban hòa bình trung lập, cải thiện đời sống nhân dân.

Từ sau ngày 9 tháng 8 năm 1960, các binh sĩ yêu nước, dưới quyền lãnh đạo của Ủy ban bảo đàm an ninh ở Viêng Chăn. Nhiều truyền đơn nói rõ mục đích của cuộc đảo chính là đưa nước Lào ra khỏi nội chiến, thủ tiêu ách thống trị của bọn thân Mỹ. Các tầng lớp nhân dân ủng hộ đường lối chính nghĩa của Ủy ban đảo chính.

Trước khí thế đấu tranh và đòi hỏi chính đáng của quần chúng, Quốc hội Vương quốc phải bỏ phiếu không tín nhiệm chính phủ Xổm-xa-nít. Sau khi được Nhà vua đồng ý, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma đứng ra lập chính phủ mới. Ngày 18 tháng 8 Quốc hội nhất trí biểu quyết tán thành chính phủ do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng. Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma tuyên bố chính phủ của ông kiên quyết đi theo đường lối hòa bình, trung lập, sẵn sàng nối lại hiệp thương với phái Pa-thét Lào.

Ngày 31 tháng 10 năm 1960, một số chính khách yêu nước đã có sáng kiến thành lập Ủy ban xây dựng hòa bình trung lập, hòa hợp dân tộc và thống nhất quốc gia. Nhiệm vụ của ủy ban này là thống nhất các lực lượng yêu nước và yêu hòa bình nhằm giúp Chính phủ Vương quốc thực hiện đường lối hòa bình trung lập và hòa hợp dân tộc. Trong chính phủ Phu-ma, những người trung lập yêu nước do ông Kin-nim Phôn-xê-na lãnh đạo ngày càng có thái độ muốn đi hẳn với lực lượng của Neo Lào Hắc-xạt. Trong khi đó, đại sứ Mỹ tìm cách vận động Phu-ma để cố gắng hòa giải giữa thủ tướng và phải hữu. Sau khi gặp đại sứ Mỹ, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma đồng ý thương lượng với Nô-xa-vẳn. Trong những cuộc hội đàm diễn ra giữa hai bên ở Luông Pha-băng, lúc đầu Phu-mi Nô-xa-vẳn và vài bộ trưởng trong chính phủ cũ hứa hẹn sẽ về Viêng Chăn tham gia Chính phủ Phu-ma. Nhưng sau đó, Nô-xa-vẳn đứng ra thành lập cái gọi là “Ủy ban cách mạng” ở Xa-va-na-khệt do Bun Ùm làm chủ tịch. Chúng thách thức chính quyền của Phu-ma, tuyên bố đình chỉ việc thi hành hiến pháp của Vương quốc và tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước. Sở dĩ chúng làm như vậy vì được sự ủng hộ của Mỹ. Từ giữa tháng 9, Mỹ liên tục chở vũ khí và trang bị cho quân đội phải hữu ở Nam Lào.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:29:59 PM
Những hành động ngang ngược của Mỹ và Bun Ùm, Nô-xa-vẳn đã đưa đến một kết quả trái ngược với mong muốn của chúng. Thủ tướng Lào từ chối không đáp ứng sự gợi ý của vua Xa-vang Va-tha-na triệu tập một cuộc họp giữa ba Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, Xu-pha-nu-vông và Bun Ùm ở Luông Pha-băng. Hoạt động lật đổ của phái Nô-xa-vẳn và sự can thiệp trắng trợn của Mỹ làm cho Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma thấy rõ bộ mặt xấu xa của Mỹ, nên ông không còn con đường lựa chọn nào khác là liên minh với Neo Lào Hắc-xạt.

Ngày 11 tháng 10 năm 1960, Chính phủ Vương quốc bắt đầu đàm phán với đại diện Neo Lào Hắc-xạt ở Viêng Chăn. Ngày 18 tháng 11, hai hoàng thân gặp nhau ở Sầm Nưa. Hai bên nhất trí cho rằng việc thành lập một chính phủ liên hiệp có đại diện của các dân tộc, đảng phái yêu nước, kể cả Neo Lào Hắc-xạt, đáp ứng sự đòi hỏi của toàn dân, đấu tranh cho một nước lào độc lập, thống nhất, phồn vinh, hạnh phúc là cần thiết.

Thời gian này, Chính phủ Vương quốc chính thức lập quan hệ với Liên Xô và sẵn sàng nhận viện trợ của Liên Xô. Đồng thời cử một đoàn đại biểu sang thăm Việt Nam và Trung Quốc.

Trong khi đó, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề Viễn Đông đến Viêng Chăn gặp Phu-ma. Ông ta đặt điều kiện nếu Chính phủ Phu-ma thực hiện sẽ nhận được viện trợ của Mỹ. Ba điều kiện đó là: đình chỉ đàm phán với Pa-thét Lào; đưa Phu-mi Nô-xa-vẳn vào chính phủ và dời đô về Luông Pha-băng.

Cả ba điều kiện đã bị Hoàng thân Phu-ma khước từ. Nhà trắng thấy rằng chỉ còn một cách cuối cùng nếu muốn cứu vãn tình thế, đó là cho phép Bun Ùm và Nô-xa-vẳn tiến hành chiến tranh.

Chúng tôi đang trao đổi những diễn biến phức tạp trên và dự kiến một số tình huống có thể xảy ra thì anh Văn tới cùng nghe. Một lát sau được tin một sĩ quan thuộc Ủy ban đảo chính lái chiếc máy bay T28 từ Viêng Chăn sang hạ cánh ở sân bay Bạch Mai đưa thư của Chủ tịch Ủy ban đảo chính Coong-le gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị Chính phủ Việt Nam có sự giúp đỡ khẩn cấp, trước mắt là cố vấn quân sự. Tôi đề nghị anh Văn cho dừng cuộc họp để làm công tác chuẩn bị và có thể đi ngay. Anh Văn đồng ý cho dừng cuộc họp và nói thêm một số vấn đề:

- Phía lực lượng cách mạng đang gặp khó khăn, Nhìn chung tình hình khó khăn hơn trước và chiều hướng xấu đi. Mỹ can thiệp rất thô bạo với Lào, trực tiếp chỉ huy các lực lượng tay sai triển khai chiến đấu hòng chiếm Viêng Chăn. Trên một mặt trận đang nóng bỏng, lại rất nhạy cảm về chính trị và ngoại giao như thủ đô Viêng Chăn, thì lúc này sự giúp đỡ của Việt Nam phải bí mật và nhanh chóng, chủ yếu là giúp ý kiến cho bạn Lào làm, không dùng lực lượng Việt Nam. Trường hợp giữ được Viêng Chăn hay phải rút khỏi Viêng Chăn đều phải sử dụng tốt lực lượng Coong-le để liên minh chiến đấu với Pa-thét Lào lâu dài, chĩa mũi nhọn chống Mỹ và phải cực hữu tay sai Mỹ. Anh Mân làm nhiệm vụ Trưởng đoàn cố vấn quân sự lúc này rất nặng nề và tế nhị. Ra trận một mình, rất gấp, lại thiếu hẳn một cơ quan tham mưu như lẽ thông thường càng khó cho anh hơn. Anh Mân làm cố vấn quân sự cho cả hai phải là Chính phủ Vương quốc và Neo Lào Hắc-xạt. Khi lâm trận thì làm cố vấn cho những người chỉ huy đánh trận. Điều đặc biệt là hợp tác với những người trong Chính phủ Vương quốc mà mình chưa hiểu họ, còn đánh giặc thì đánh bằng lực lượng của Quân đội Vương quốc, một quân đội mà mình không tổ chức, không huấn luyện, chưa từng chỉ huy họ, trong tác chiến gay go ác liệt họ có thể nghe theo mình, cũng có thể chống lại mình.

Dừng một lát, anh Văn nói tiếp:

- Sao giúp đỡ bên cạnh Trung ương bạn trong tình huống nào ta cũng cố gắng giữ cho được lực lượng trung lập, quan trọng là nhóm sĩ quan Coong-le để có điều kiện thực hiện liên minh chiến đấu, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất của cách mạng Lào. Tạm thời có thể không giữ được thủ đô Viêng Chăn. Những mục tiêu trước mắt của cách mạng Lào là khôi phục và tăng cường thực lực mở rộng ảnh hưởng chính trị, mở rộng địa bàn. Lực lượng trung lập đã đứng lên làm đảo chính thắng lợi, quan điểm chính trị của họ như thế nào cần phải nghiên cứu. Nhưng đề nghị với bạn cố gắng tranh thủ Coong-le, trước hết là phối hợp chiến đấu với họ.

Cuối cùng, anh Văn nói:

- Anh Mân sang Viêng Chăn nắm lại tình hình, chúng ta sẽ bàn với nhau qua điện đài. Bộ Tổng tham mưu sẽ tổ chức ngay nhóm chuyên trách theo dõi chiến trường Lào do anh Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách, cùng với một số cán bộ Cục Tác chiến, Cục Tình báo.

Tôi chào anh Văn và hứa sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao cho.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:30:33 PM
Anh Lê Đức Thọ từ nhà riêng điện thoại cho tôi. Sau khi hỏi một số công việc, anh Thọ nói: “Ý định anh Mân ở Tây Bắc lâu dài như đã nói trước đây, xem như không thực hiện được. Hôm nay không kịp gặp nhau, chúc anh lên đường thắng lợi”.

Tôi cảm ơn anh Lê Đức Thọ đã dành tình cảm cho tôi trước lúc sang Lào.

Anh Nguyễn Chí Thạnh gọi điện. Sau khi trao đổi một số công việc, anh Thanh nói: “Tình hình rất gấp, cậu cần đi sớm sang đó, có thực tiễn khi gặp nhau sẽ bàn kỹ hơn”.

Như vậy, sang Lào lần này tôi mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bộ Chính trị không những đã có riêng một nghị quyết về công tác giúp Đảng Nhân dân cách mạng Lào, lại giao cho đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tư lệnh theo dõi và chỉ đạo giúp đỡ bên cạnh Trung ương bạn. Anh Lê Đức Thọ, anh Thanh cũng rất quan tâm đến vấn đề này, động viên tội trước lúc lên máy bay. Tất cả những vấn đề nói trên thầm nhắc tôi rằng phải nỗ lực và nỗ lực thật nhiều để không phụ lòng tin của Bộ Chính trị nói chung và lòng tin của anh Văn, anh Thọ, anh Thanh nói riêng. Tôi lên máy bay từ sân bay Gia Lâm sang Lào.

Chuyến bay ngoài tổ lại là người Liên Xô còn có tôi (Chu Huy Mân), anh Ngọc – sĩ quan quân báo, cậu Điền – công vụ cùng một tổ điện đài. Trước khi đóng cửa máy bay, mỗi người chúng tôi được phát một ba lô dù và hướng dẫn: Khi bay trên đất Lào nếu gặp máy bay địch tấn công thì thủ trưởng và các đồng chí theo cửa mở nhảy ra ngoài thì nhanh chóng bấm nút cho dù tung ra, xuống đất, theo hướng đông về Việt Nam. Tôi nói với anh Ngọc: Chả lẽ học nhảy dù đơn giản thế thôi sao? Nếu tình huống xảy ra như dự kiến, ta cứ nhảy và nhớ hô khẩu hiệu “Vì nghĩa vụ quốc tế vô sản muôn năm!”.

Từ trên máy bay nhìn xuống ai cũng thấy dãy Trường Sơn chạy theo hướng Bắc Nam. Rừng xanh bát ngát, những con suối uốn khúc, đến một đoạn nào đó từ dòng nước trong xanh tung lên bọt trắng khi chảy qua thác ghềnh. Đây đó những cụm dân cư, người H’mông đã sống lâu đời. Thật là bức tranh đẹp. Bức tranh ấy như nhắc nhủ mọi người hãy vì cái đẹp, con người và thiên nhiên mà cống hiến. Máy bay địch mấy lần lượn vòng quanh máy bay Liên Xô nhưng không dám hành động. Anh em ta nói đùa với nhau “có lẽ chúng đến chào những người khách quý”.

Sau gần hai giờ bay, đến 15 giờ máy bay hạ cánh xuống sân bay Vát Tày, Viêng Chăn an toàn. Từ cầu thang máy bay tôi đã thấy mấy anh em Pa-thét Lào và chiếc xe GMT to tướng ra đó. Xe chở chúng tôi về một gia đình cơ sở cách mạng ngoại ô phía bắc thủ đô Viêng Chăn. Người đầu tiên chúng tôi gặp là anh Phun Xi-pa-xớt - Ủy viên Thường vụ Đảng Nhân dân cách mạng Lào và đại tá Sin-ka-pô - Ủy viên Trung ương Neo Lào Hắc-xạt. Chúng tôi ôm nhau thắm thiết. Anh Phun Xi-pa-xớt vừa nắm tay tôi vừa nói:

- Tôi được trên thông báo có cố vấn quân sự cấp cao của Việt Nam sang, tôi đoán và hy vọng người đó là anh, quả đúng vậy.

Chúng tôi cùng ngồi xuống sàn gỗ chung quanh tấm bản đồ khu vực Viêng Chăn. Anh Dĩnh – sĩ quan quân báo Việt Nam báo cáo:

- Được sự giúp đỡ của Mỹ, bọn phản động Thái Lan, bọn tay sai Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Phu-mi Nô-xa-ẳn ráo riết tập trung quân về đóng ở phía nam và tây thủ đô Viêng Chăn. Ngày 21 tháng 9 chúng đánh chiếm thị trấn Pạc-san (nam Viêng Chăn).

Để chuẩn bị cho cuộc tấn công vào thủ đô, Mỹ và Nô-xa-vẳn đã xúi giục bọn tay chân gây bạo loạn. Điển hình là cuộc đảo chính do tên đại tá Cu-ra-xít chỉ huy chiếm một số công sở nhưng đã bị các lực lượng yêu nước đánh bại. Ba ngày sau (9-12-1960), hơn 2.000 quân Thái Lan và quân ngụy Sài Gòn đổ bộ sang tây thủ đô Viêng Chăn. Bọn này dựa vào lãnh sự quán của chính quyền Ngô Đình Diệm ở ngay gần bờ sông Mê Công làm một đầu cầu. Hiện nay chúng đang triển khai quân từ căn cứ Chi-nai-nô ở phía nam thủ đô chuẩn bị tấn công vào Viêng Chăn…

Nghe anh Dĩnh báo cáo xong, chúng tôi chủ động đến gặp Coong-le – trong thời cuộc của đất nước Lào lúc bấy giờ thì Coong-le là một người có vị trí rất quan trọng – Chủ tịch Ủy ban đảo chính, Tư lệnh lực lượng vũ trang trung lập. Lúc này Coong-le và những người cộng sự gần gũi của ông ta như đại úy Két-xa-na, trung úy Đươn, trung úy Thoong-my đang rất lo lắng trước lực lượng tiến công ưu thế của địch. Họ đều nhìn chúng tôi với anh mắt “Các ông có thể giúp gì cho chúng tôi?”.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:31:32 PM
Giữa lúc chúng tôi đang bàn thảo thì pháo binh từ Noọng Khai (trên đất Thái Lan) bán sang các khu vực cửa ngõ Viêng Chăn. Coong-le và một số sĩ quan Vương quốc bắt đầu nao núng. Chúng tôi nói với Coong-le động viên binh sĩ trung lập nỗ lực chiến đấu chặn quân Phu-mi Nô-xa-vẳn. Quân địch chưa thể chiếm thủ đô Viêng Chăn trong vài ngày tới.

Trước tình hình quân đội Thái Lan nã pháo 105 ly và cối 120 ly vào thủ đô Viêng chăn, trong khi lực lượng quân đội Vương quốc lại không có pháo, tôi điện về Hà Nội, đề nghị anh Văn như một ngoại lệ đưa sang hai đại đội pháo binh với thành phần rút gọn, số còn lại sẽ bổ sung bằng các chiến sĩ Lào.

14 giờ ngày hôm sau, máy bay Liên Xô từ Hà Nội sang đem theo 1 đại đội lựu pháo 105 ly (2 khẩu) và 1 đại đội cối 120 ly (2 khẩu) với 29 cán bộ, chiến sĩ do trung tá Lê Kích chỉ huy. Anh em pháo binh ta triển khai ngay trận địa sẵn sàng đợi lệnh nổ súng.

Pháo binh Thái Lan từ Noọng Khai lại tiếp tục bắn sang Viêng Chăn chi viện cho bộ binh và thiết giáp của Nô-xa-vẳn tiến vào thủ đô. Nhân dân Viêng Chăn bắt đầu gồng gánh, xe thồ, xe đẩy dắt díu nhau sơ tán ra vùng ngoại ô. Trước sức ép của pháo binh Thái Lan, anh Lê Kích và Coong-le đề nghị cho pháo của ta đánh trả, tôi cân nhắc rồi quyết định bắn 10 quả đạn lựu pháo 105 ly vào trận địa pháo Noọng Khai, đúng lúc nó bắn sang đất Lào.

Anh Lê Kích đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, buộc pháo binh Thái Lan “câm họng”. Sau đó pháo ta còn bắn vào một số cụm quân phái hữu triển khai ở căn cứ Chi-nai-mô phía nam Viêng Chăn, gây thương vong cho địch. Quân lính của Coong-le cũng như bản thân ông ta vui ra mặt, họ ca ngợi pháo binh Việt Nam bắn giỏi.

Tôi thống nhất một số quy đinh sơ bộ có tính nguyên tắc về quan hệ làm việc giữa chúng tôi và Coong-le. Coong-le và những người cùng đi phấn khởi sẵn sàng nói mọi chuyện, xem ra không có vẻ giấu giếm. Bắt đầu từ đây nảy sinh mối quan hệ tay ba: Việt Nam – Pa-thét Lào - Ủy ban đảo chính. Chúng tôi thống nhất với anh Phun Xi-pa-xớt và anh Sin-ka-pô những nội dung đã thống nhất thì Pa-thét Lào làm việc trực tiếp với Coong-le. Nếu Coong-le hỏi lại, chúng tôi nói đúng như đã bàn giữa chúng ta. Cũng có việc chúng tôi chủ động bàn với Coong-le, sau đó báo lại cho bạn biết. Cách làm việc này đã nâng cao uy tín của Pa-thét Lào, đồng thời nhiệm vụ giúp bạn đã xuất hiện điều kiện mới đòi hỏi cán bộ quân sự Việt Nam phải có cách nghĩ và cách làm mới để vừa đề cao vị thế Pa-thét Lào vừa nắm được lực lượng Coong-le.

Trận đánh hỏa lực đã cho chúng tôi một kinh nghiệm thức tế ở Lào, lúc này hơn lúc nào hết vai trò của hỏa lực pháo binh rất quan trọng. Quân Thái Lan và quân phái hữu rất sợ phản pháo. Dù chúng ta chỉ có hai đại đội, nhưng bộ phận pháo binh này do Lê Kích chỉ huy đóng một vai trò to lớn.

Lực lượng phòng thủ Viêng Chăn của bạn chỉ có 1 tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn thiết giáp 20 xe bọc thép AM và 1 đại đội Pa-thét Lào (36 người), cùng một bộ phận thanh niên Lào tình nguyện trong lực lượng trung lập, có 2 đại đội pháo binh độc lập, tổng cộng khoảng 700 người. Trong khi đó lực lượng phái hữu do Mỹ chỉ huy đông hơn ta nhiều lần. Một lực lượng của địch đã lọt vào Viêng Chăn, ấn nấp ở các sứ quán Mỹ, Thái Lan, ngụy Sài Gòn và trụ sở của cơ quan viện trợ Mỹ.

Cuộc chiến Viêng Chăn diễn ra theo cách quân địch tiến công vào tuyến phòng thủ bị quân đội Coong-le đánh trả chúng lùi lại củng cố, ngày hôm sau đánh tiếp. Chúng không dám trực tiếp đánh vào nơi quân Coong-le bố phòng. Một tuần lễ trôi qua, quân Nô-xa-vẳn chưa có khả năng đánh bại quân Conog-le. Quân Coong-le cũng không có khả năng đánh những đòn mạnh buộc quân phái hữu phải từ bỏ cuộc tiến công.

Nhưng tôi nhận thấy một vấn đề bất lợi cho bạn là kẻ địch dựa vào các bàn đạp trên đất Thái Lan, dựa vào quân đông nên chúng đã triển khai lực lượng chiếm dần các khu vực xung quanh Viêng Chăn. Sân bay Vát Tày, nơi quân Coong-le giữ làm đầu cầu hàng không nối Viêng Chăn – Hà Nội cũng bị uy hiếp. Trong lúc quân đội phái hữu ngày được tăng thêm lực lượng đánh chỗ này chỗ khác thì quân Coong-le hầu như không được tăng cường, chỉ giữ tuyến phòng ngự phía đông thủ đô Viêng Chăn. Phòng ngự đơn thuần là bị động và thất bại nếu không nói là chết – nghĩ như vậy cũng phù hợp với ý định dự kiến của lãnh đạo hai đảng Việt – Lào về tình huống phải rút khỏi Viêng Chăn đang trở thành hiện thực.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:32:53 PM
Ngày thứ tư, anh Bẩy và một bộ phận giúp việc bí mật từ Hà Nội bay sang Viêng Chăn. Mấy năm xa cách giờ gặp lại nhau giữa chiến trường nóng bỏng chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Lúc này về phía Việt Nam có thêm anh Đào Việt Hưng và anh Đình Khánh. Chúng tôi bắt tay ngay vào bàn phương án. Anh Bẩy và tôi đã xem xét tình hình cùng thống nhất rút khỏi Viên Chăn.

Vấn đề lớn nhất cần tính đến rút khỏi Viêng Chăn Thì đưa lực lượng bạn đi đâu? Phải có một vùng sát căn cứ của Pa-thét Lào để làm chỗ dựa, làm địa bàn đứng chân cho họ, bảo đảm quân lính của họ không những không bị tan rã, mà còn củng cố được đội ngũ từ Viêng Chăn rút ra, xây dựng được lòng tin vào Pa-thét Lào cùng với Pa-thét Lào chiến đấu, liên minh lâu dài vì sự nghiệp lớn và cao cả của nhân dân các bộ tộc Lào.

Sau khi trao đổi với Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và những đồng chí đã từng hoạt động ở Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng và Mường Phương, làm việc với anh Bẩy, tôi đưa ra ba phương án:

- Phương án thứ nhất, rút lực lượng về Sầm Nưa – một vùng căn cứ địa khá vững chắc của Pa-thét Lào. Nhân dân các bộ tộc ở đây đã qua mấy năm kháng chiến chống thực dân Pháp, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Sầm Nưa một tỉnh tập kết, một căn cứ quan trọng. Hơn ba năm Sầm Nưa là địa bàn đứng hân của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Mặt trận Neo Lào Hắc-xạt và phần lớn lực lượng vũ trang về tập kết. Qua mấy năm, mấy cuộc vận động giáo dục mở ra liên tiếp, nhân dân các dân tộc ở đây đã có nhận thức khá rõ về thủ, bạn. Sầm Nưa giáp Sơn La, Thanh Hóa (Việt Nam), giao thông vận tải tương đối thuận lợi. Nhưng địa bàn này chỉ có khả năng phòng ngự, ít có khả năng tiến công phát triển. Rút lực lượng về Sầm Nưa, bộ đội bạn phải băng rừng lội suối trên 500km. Hậu cần tiếp tế rất khó khăn. Lực lượng trung lập chưa được động viên giáo dục chu đáo. Họ chưa từng nếm trải khó khăn gian lao, lại có gia đình sĩ quan đi theo, chặng đường dài này khó tránh khỏi hiện tượng “ngang tắt” và không loại trừ họ có những hành động phiêu lưu. Điều quan trọng nhất trong phương án này rõ ràng là bất lợi về chính trị - từ lực lượng trung lập liên minh chiến đấu trở thành lực lượng sáp nhập với Pa-thét Lào. Cả địa lý tự nhiên và vị trí chính trị khó lôi kéo được Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, Kin-nim và những nhân vật khác về hội tụ ở Sầm Nưa để mưu cầu việc lớn. Điều quan trọng nhất là cách mạng Lào không tận dụng được thời cơ nhanh chóng phát triển thế và lực, đã không phát triển tất nhiên khó khăn mới sẽ xuất hiện. Phương án này không thể lưa chọn.

Phương án thứ hai, rút lực lượng bạn về Mường Phương, một căn cứ rừng núi khá vững chắc về phía bắc thủ đô Viêng Chăn 100km. Mường Phương được xem như là một trong những căn cứ địa của tỉnh Viêng Chăn. Nhân dân ở đây đã trải qua mấy năm kháng chiến chống thực dân Pháp dưới sự lãnh đạo của Trung ương Neo Lào Hắc-xạt. Được tuyên truyền giáo dục nhiều, hầu hết nhân dân một lòng đi theo cách mạng. Ở đây có mấy cánh đồng, không rộng lắm, nhưng nhân dân đủ ăn và có thừa chút ít. Nhưng giao thông liên lạc thực sự khó khăn, không có sân bay dù chỉ là dã chiến. Mường Phương ở vào thế sát Thái Lan xa Việt Nam. Phòng ngự, tiến công đều khó. Bộ đội tập trung ở đây lâu ngày sẽ phát sinh hiện tượng phức tạp. Có thể nói vị trí này rất thấp, cả về ý nghĩa chính trị, chiến lược, không có khả năng phát triển cách mạng Lào. Vị trí này càng khó lựa chọn.

Phương án thứ ba, mở cuộc hành quân đưa lực lượng bạn táo bạo, bí mật, bất ngờ tấn công tiêu diệt và làm tan rã quân địch giải phóng cao nguyên Cánh Đồng Chum và thị xã Xiêng Khoảng. Cơ bản là giải phóng một tỉnh phần đông là dân tộc H’mông. Cánh Đồng Chum là một cao nguyên ở Bắc Lào, hay nói Bắc Đông Dương cũng được. Sân bay Cánh Đồng Chum tuy lát bằng phên sắt nhưng máy bay vận tải của Liên Xô và của đối phương lên xuống thuận lợi. Sửa sang một chút ít có thể sử dụng loại máy bay hiện đại hơn. Hãng thông tấn Mỹ UPI ngày 31 tháng 12 năm 1960 nhận định: “Hệ thống sân bay này được coi là tốt nhất ở Lào”. Từ sân bay Cánh Đồng Chum đi về hướng nam mấy chục cây số đường ô tô thì đến thị xã Xiêng Khoảng. Ở đây có tỉnh đường của viên tỉnh trưởng, cơ quan hành chính các ngành của tỉnh Xiêng Khoảng, có mấy dãy phố của gia đình công chức và thường dân buôn bán. Từ Cánh Đồng Chum theo đường số 7 về hướng đông, đầu tiên bắt gặp thị trấn Phôn Xa Văn cao ráo rộng rãi với những rừng thông già bát ngát quang cảnh tuyệt đẹp. Qua một chặng nữa không dài lắm đến thị trấn Bản Ban, vị trí Noọng Het gần biên giới Nghệ An, Việt Nam. Giải phóng Bản Ban có thêm con đường ngựa đi sang tỉnh Sầm Nưa. Từ Cánh Đồng Chum đi theo đường số 7 về hướng tây bắc qua ngã ba Phiêng Luông đến Mường Sủi, bắc Păng Păng, ra ngã ba Xa-la-phu-khum. Đến đây rẽ phải đi Luông Pha-băng (kinh đô cũ của Vương quốc Lào) rẽ trái sang đường 13 đến thủ đô Viêng Chăn. Có thể nói giải phóng được cao nguyên Cánh Đồng Chum, tỉnh Xiêng Khoảng, cách mạng Lào sẽ phát triển cao cả về thế và lực. Địa bàn này có vị trí chính trị chiến lược, rất có thể tập hợp được Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, Kin-nim và những nhân vật khác để mưu tính việc lớn, đồng thời đây cũng là thời cơ thuận lợi cho công tác ngoại giao cả hai phía.

Cánh Đồng Chum là một cao nguyên có lợi thế về quân sự như cách mặt khác đã nói: Làm chủ được Cánh Đồng Chum có khả năng khống chế thủ đô Viêng Chăn, cố đô Luông Pha-băng về phía đông sát với hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An (Việt Nam). Cục diện chiến tranh Đông dương lần thứ hai có thể diễn ra, đế quốc Mỹ sẽ liên minh với lực lượng Xổm-xa-nít có thêm hỏa lực đổ bộ xuống Cánh Đồng Chum ngăn chặn đường tiến của lực lượng bạn. Trên dọc đường tiến công, bọn phỉ Vàng Pao có thể liên tục đánh tỉa gây khó khăn cho ta. Sau khi bạn về giải phóng Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Mỹ và ngụy Lào có thể có những hành động mà ta chưa lường hết. Cho nên bí mật, vượt khó khăn trở ngại, tranh thủ thời gian tiến công nhanh là những yếu tố quyết định.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:34:07 PM
Sau mấy lần trao đổi với anh Bẩy, chúng tôi báo cáo về Hà Nội sự lựa chọn phương án thứ ba. Những ý kiến từ chiến trường cũng phù hợp với ý định của Hà Nội.

Trong bức điện ngày 14 tháng 12 năm 1960 của anh Văn, có nói: “Cánh Đồng Chum là một địa bàn hấp dẫn về chiến lược, một cao nguyên rộng lớn mà địch đang sơ hở, ta có thể dùng lực lượng không lớn nhằm vào chỗ sơ hở này đánh đòn bất ngờ chớp nhoáng làm chủ cao nguyên, tiếp theo giải phóng cả thị xã Xiêng Khoảng, Bản Ban. Nếu làm tốt có thể biến cuộc rút lui khỏi Viêng Chăn thành đòn tiến công có ý nghĩa chiến lược đánh chiếm Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, cách mạng Lào có bước phát triển mới và cao hơn”.

Sau khi nghe tôi trình bày tổng hợp thành ba phương án và đề nghị lựa chọn phương án thứ ba cho cuộc rút quân và tiến công, anh Bẩy vui vẻ nắm chặt tay tôi và nói:

- Cảm ơn tướng quân Thao Chăn (tên của tôi khi ở Lào). Ý tưởng thật tuyệt vời. Chúng ta quyết tâm giành thắng lợi có ý nghĩa chính trị chiến lược này.

Ngừng một lát, anh Bẩy nói giọng trầm trầm:

- Phương án tuyệt vời, nhưng khó khăn thử thách không nhỏ, có những khó khăn phức tạp mà ta chưa lường hết, cần tiếp tục suy nghĩ để giành quyền chủ động.

- Ý kiến của anh rất đúng – Tôi nói – Kinh nghiệm xưa nay của đấu tranh cách mạng và chiến tranh yêu nước, mỗi cuộc tiến công mục đích lớn có ý nghĩa sâu sắc bao giờ cũng gắn liền với thử thách khó khăn. Thắng lợi qua khó khăn quyết liệt, giá trị càng cao. Chúng ta sẽ cùng nhau cố gắng.

Chúng tôi cùng thống nhất giữ kín ý định này, chưa nói sớm với ông Kin-nim Phôn-xê-na và Coong-le. Một hai ngày tới, chúng ta khéo gợi ý để họ đề ra phương án phù hợp. Lúc ta nói rõ ý định Coong-le sẽ không bỡ ngỡ lắm gây không khí thuận lợi ban đầu.

Ngày 18 tháng 12 năm 1960, chúng tôi chỉ để lại ở thủ đô Viêng Chăn một đội du kích và mấy chục thanh niên tình nguyện bám địch, tiếp tục chiến đâu, kìm chân địch, đại bộ phận lặng lẽ rời khỏi thủ đô Viêng Chăn. Trong đội hình hành quân bộ phận Việt Nam và Pa-thét Lào có anh Bẩy, anh Phun Xi-pa-xớt, anh Sin-ka-pô và ông Kin-nim Phôn-xê-na. Khi đến Pôn-khiêng, tôi nhận được điện của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Chủ động gặp Kin-nim Phôn-xê-na – Phó thủ tướng Vương quốc (lúc này Phu-ma đang nghỉ ở Phnôm Pênh), nói rõ phương án tiến công của hai lực lượng và mời ông ta đến Hà Nội nghỉ, đồng thời bàn công việc sắp tới”.

Tôi cho người báo trước Kin-nim, hẹn cuộc gặp vào 9 giờ sáng. Lúc này ông đang ở một bản sát quốc lộ 13.

Đúng giờ hẹn, tôi đến đã thấy ông đợi sẵn ở chân cầu thang nhà sàn. Sau ít phút chào hỏi xã giao, tôi chuyển lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời ông sang Hà Nội nghỉ và bàn một số vấn đề trọng đại. Kin-nim từ tốn đáp lễ và tỏ lòng cảm ơn Chính phủ ta. Khi trao đổi về tình hình chiến sĩ, Kin-nim thắng thắn nói:

- Quân phái hữu đã chiếm lại thủ đô của chúng tôi, trước hết đề nghị Việt Nam cho quân đội sang đánh đuổi lực lượng này, giành lại thủ đô Viêng Chăn, lúc đó sẽ bàn đến việc thành lập Chính phủ Liên hiệp có Pa-thét Lào tham gia.

Tôi trình bày khái quát tình hình thế giới và khu vực, tương quan lực lượng giữa trung lập và Pa-thét Lào với lực lượng phái hữu lúc bấy giờ, cuối cùng tôi nói:

- Viêng Chăn là thủ đô của nhân dân các bộ tộc Lào, trước sau Viêng Chăn cũng thuộc về lực lượng trung lập và Pa-thét Lào, thuộc về nhân dân Lào. trước mắt như tôi đã tình bày ở trên chưa thể thực hiện được sự mong muốn chính đáng của ngài. Trong cuộc chiến này, tạm lui một bước để tiến lên nhanh và cao hơn.

Kin-nim có vẻ không thỏa mãn những điều tôi nói:

- Nếu Việt Nam thật lòng muốn giúp chúng tôi thì tốt hơn hết là cho quân đội sang đánh giữ thủ đô Viêng Chăn.

Tôi tiếp tục lý giải và thuyết phục, vẻ mặt ông dịu dần. Cuối cùng Kin-nim đồng ý hôm sau lên máy bay từ Văng Viêng sang Hà Nội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 30 Tháng Tám, 2018, 10:35:19 PM
Ngày hôm sau, một sĩ quan phái viên Bộ Tổng tham mưu từ Hà Nội bay sang hạ cánh tại sân bay dã chiến Văng Viêng, truyền đạt chỉ thị của anh Văn, đại ý: Phải nỗ lực cao nhất tiến công Cánh Đồng Chum, nhanh chóng chiếm lấy cao nguyên này; trường hợp quân Coong-le quá yếu kém tan rã trên đường tiến quân thì thực hiện phương án đưa Coong-le và một số người gần gũi anh ta về Sầm Nưa, khôi phục và phát triển lực lượng này, liên minh với Pa-thét Lào chống Mỹ Anh Mân cho chấn chỉnh lực lượng ở khu vực Văng Viêng, bố trí một bộ phận giữ nam bờ sông Nậm Lịch (cầu Hin Hợp), gấp rút chuẩn bị cho cuộc tiến công.

Phải làm sao sử dụng tốt nhất lực lượng trung lập Coong-le luôn luôn là vấn đề làm tôi trăn trở. Thuận lợi cho công việc thời gian này là Coong-le rất kính phục thầy giáo cũ Sin-ka-pô, ý kiến của anh Sin-ka-pô và tôi đều được Coong-le thực hiện tốt. Tôi có phần yên tâm đối với Coong-le, nhưng cũng thấy cần thận trọng trong việc ứng xử với các phó chỉ huy của anh ta. Dù sao cho đến lúc này có thể coi đại đội Pa-thét Lào và lực lượng trung lập cũng như bộ đội Việt Nam. Việc cần thiết là rà soát tổ chức biên chế, trang bị và đánh giả khả năng chiến đấu của từng phân đội.

Thật không may, trong lúc bao công việc dập dồn, bao vấn đề cần giải quyết thì tôi bị sốt cao triền miên, cộng thêm bệnh kiết lỵ hành hạ, người xuống sức nhanh chóng. Giữa lúc đó thì anh Văn điện sang. Tôi phải về Hà Nội gấp, giữ kín việc tôi về nước đối với Coong-le.

Buổi chiều về đến Hà Nội, sáng hôm sau anh Văn chủ trì một cuộc họp bàn phương án tiến công giải phóng cao nguyên Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Cuộc họp kéo dài mấy tiếng đồng hồ, đáng chú ý là một số tình huống cơ bản: Địch phát hiện hướng hành quân của ta, chúng có thể tăng cường lực lượng xuống Cánh Đồng Chum để ngăn chặn. Trên đường hành quân đi qua vùng người Lào Sủng, bọn phỉ Vàng Pao có thể chặn đánh và bắn tỉa. Khi gặp tình huống khó khăn, Coong-le có thể làm phản diệt anh em Việt Nam và Pa-thét Lào rồi quay về Viêng Chăn. Khi bạn chiếm được Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, quân phái hữu có thể dùng máy bay oanh tạc và cho quân nhảy dù chiếm lại...

Các tình huống trên trong cuộc họp khi nêu ra, mọi người đều dễ thống nhất biện pháp xử trí. Một vấn đề quan trọng đặt ra lúc này là ai sẽ tạm thay nhiệm vụ giúp bạn trong lúc tôi ốm. Cơ quan chức năng đưa ra mấy đồng chí để cân nhắc. Anh Văn ngồi hồi lâu lộ vẻ băn khoăn, vẫn chưa quyết định ai đi thay tôi. Đón bắt tâm tư của anh Văn, tôi nói:

- Nhiệm vụ giúp bạn đang vào thời điểm khẩn trương, chậm là mất thời cơ. Tình hình ở Lào tôi là người nắm khá chắc, cả lực lượng Pa-thét Lào và lực lượng trung lập Coong-le. Đề nghị anh Văn ngày mai tôi không vào Viện 108 chữa bệnh như dự kiến, mà đi Lào ngay.

Anh Văn và những người trong cuộc họp như vui lên. Anh Văn nói:

- Anh Mân đi Lào thực hiện nhiệm vụ giúp bạn là rất thuận lợi. Nhưng anh đang ốm, tôi phải báo cáo xin ý kiến của Bác, trước khi quyết định để anh đi.

Nói xong, anh Văn ra khỏi phòng họp. Chúng tôi tiếp tục trao đổi kỹ thêm một số tình huống, trong đó có vấn đề tôi đề nghị cơ quan Bộ Tổng tham mưu, khi bạn giải phóng được Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng thì các anh gửi thêm vũ khí, khí tài để dự phòng. Các anh cơ quan đều nói sẽ đáp ứng yêu cầu. Vài chục phút sau anh Văn trở lại phòng họp, anh nói:

- Bác Hồ nhắc lại, chúng ta giúp bạn phải giúp tận tình, anh Mân đi nếu xảy ra việc gì cũng phải chấp nhận. Anh nên mang thuốc trị bệnh và phải thường xuyên giữ liên lạc với chúng tôi.

Qua ý kiến của Bác, tôi hiểu rằng Bác Hồ và lãnh đạo Đảng ta rất quan tâm đến yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào về việc giúp bạn trong thình hình hiện nay. Anh Văn còn nói nhiều vấn đề về chủ trương và kế hoạch, để ngỏ những phương án hành động cụ thể, tôi căn cứ vào tình hình thực tế mà quyết định kịp thời. Chúng tôi tâm đắc phương án tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng nhưng cũng có nhiều lo lắng về sự kiên định của quân trung lập Coong-le, đặc biệt là những người chỉ huy. Chứng tôi đã trao đổi những vấn đề rất cụ thể như nắm địch và đánh giá tình hình địch, nắm chất lượng ba con đường (số 13, số 7 và số 6) có thuận lợi cho hành quân cơ giới không? Việc bảo đảm vật chất, kỹ thuật cho cuộc hành quân...

Kết thúc cuộc trao đổi, anh Văn dặn:

- Phải nắm chắc Coong-le, đề phòng Coong-le và một số người lúc khó khăn có thể làm phản rồi chạy trốn. Dọc đường số 7 có nhiều phỉ Mẹo, cần tổ chức đánh phỉ để mở đường tiến quân; đến Mường Sủi cho trinh sát nắm địch ở ngã ba Phiêng Luông và Cánh Đồng Chum, đánh giá tình hình và quyết định tiến vào Cánh Đồng Chum hay đi qua Sầm Nưa do anh Mân quyết định và điện báo cáo ngay về Bộ. Ở phía đông bắc tôi sẽ cho Quân khu 4 đánh chiếm Noọng Hét và Bản Ban hỗ trợ cho anh trong cả hai trường hợp đánh chiếm Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng hoặc không đánh được phải đưa lực lượng Coong-le theo đường số 6 đi Sầm Nưa.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:42:23 AM
Tôi cảm nhận sự lo lắng của anh Văn, người trong lúc này được Bác Hồ và lãnh đạo Đảng ta giao trực tiếp phụ trách công việc ở Lào.

Dường như anh Văn cũng thông cảm những khó khăn phức tạp khi phải gấp rút bắt tay vào thực hiện một nhiệm vụ khá đặc biệt trên một chiến trường chưa được chuẩn bị. Trong điều kiện đó, anh Văn muốn đòi hỏi người chỉ huy ở chiến trường một sự khôn ngoan và sáng tạo để thực hiện cho bằng được yêu cầu chính trị to lớn trong lúc này; đồng thời muốn giúp đỡ tôi trên cương vị “người tư lệnh chiến trường” phải độc lập tác chiến trong điều kiện thiếu thốn nhiều thứ, nhất là lực lượng, vẫn phải ra đi, dù “đơn thương độc mã” cũng phải hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi thầm hứa với anh Văn sẽ hết lòng làm tốt điều mà anh Văn mong muốn.

Trở lại Văng Viêng, việc đầu tiên của tôi là kiểm tra công tác chuẩn bị để bắt đầu cho một cuộc hành quân tiến công. Tôi gặp riêng Coong-le, nói rõ ý định tiến công giải phóng cao nguyên Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, phân tích cái lợi lớn nhất của cuộc tiến công, xác định nguyên tắc hành động là bí mật, bất ngờ, nhanh chóng. Quan trọng nhất là giữ bí mật, khi còn đóng quân ở Văng Viêng phải làm như sẽ còn ở đây lâu dài, nhưng khi xuất quân phải tiến nhanh, làm cho kẻ địch không kịp đối phó. Trên đường tiến quân, địch có thể cản trở bằng các lực lượng địa phương, ta phải khéo léo thu phục các lực lượng đó. Chỉ khi nào chúng nổ súng chống lại thì ta mới đánh. Khi đã đánh phải hành động nhanh để tiến quân tới địch.

Lực lượng bảo vệ khu vực từ Văng Viêng đến sông Nậm Lịch, chỉ để lại một trung đội Pa-thét Lào và một khẩu pháo 105 ly, trường hợp địch từ Viêng Chăn tiến lên thì kiên quyết chặn chúng lại bờ nam sông Nậm Lịch. Các phân đội ở lại Văng Viêng hoạt động bình thường, cần phô trương lộ liễu, làm như lực lượng lớn vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Buổi sáng ngày 29 tháng 12 năm 1960, thung lũng Văng Viêng sương mù tan nhanh, bầu trời không một gợn mây. Chiếc máy bay từ Hà Nội sang hôm trước đã có thể cất cánh về Việt Nam. Thông thường trong chiến tranh, vô vàn những giờ phút tiễn đưa dạt dào tình cảm, kẻ xông pha ngàn dặm hứa hẹn chiến công, người về hậu phương ngày đêm háo hức chờ mong. Tiễn chân anh Bẩy có anh Phun Xi-pa-xớt, về phía Việt Nam có anh Đình Khanh và anh Đào Việt Hưng. Anh Bẩy nắm tay tôi nói từng lời:

- Chúng ta ai cũng thấy mục đích lớn, ý nghĩa sâu xa của cuộc tiến công Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng. Nhưng một thực tế khó rút khỏi suy nghĩ của chúng ta là lực lượng trung lập Coong-le ít qua chiến đấu, công tác động viên khuyến khích họ chúng ta làm chưa đủ, bộ đội Pa-thét Lào chỉ có vài chục cán bộ chiến sĩ, sức khỏe của anh Mân lại chưa thật ổn định, dọc đường hành quân, biết bao những tình huống cụ thể chưa lường hết, tôi rất phân vân. Rất tiếc tôi không thể cùng đi với anh tiến thẳng đến Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng.

Nắm tay anh Bẩy như không muốn rời, tôi nói:

- Đề nghị anh Bẩy và các anh về Hà Nội cùng với các anh khác trao đổi tình hình, dự kiến công việc sắp tới. Khi bộ đội và tôi về đến Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng chắc chắn công việc nhiều mới mẻ và phức tạp, mời các anh lên thật sớm để bàn bạc thống nhất và có kế hoạch hành động.

Thâm tâm thôi nghĩ, nói như thế cũng là hạ quyết tâm lần cuối để các đồng chí lãnh đạo ở hậu phương yên lòng.

Tối ngày 29 tháng 12 năm 1960, thị trấn Văng Viêng hiểm trở chứng kiến cuộc xuất quân hào hùng. Từng đoàn xe quân sự đèn pha sáng trưng nổi máy chấn động cả núi rừng bắt đầu cuộc tiến quân. Đi đầu là một đại đội thiết giáp (6 chiếc), một đại đông công binh. Tiếp đến là lực lượng chủ yếu gồm tiểu đoàn dù, một đại đội thiết giáp (6 chiếc), hai đại đội pháo (Việt Nam) và một đại đội Pa-thét Lào. Toàn bộ lực lượng khoảng 1.400 người. Tôi và anh Sin-ka-pô đi cùng đại đội Pa-thét Lào. Hàng trăm xe ô tô và xe thiết giáp cố tiến nhanh trên con đường 13 chật hẹp và hiểm trở chạy ven các triền núi một bên là vực sâu, một bên là vách núi dựng đứng xuyên giữa những cánh rừng già. Tôi nhiều lần được báo cáo là: “Công binh đang sửa đường” hoặc “Xe hỏng, đang sửa chữa”. Sốt ruột quá tôi vượt lên kiểm tra một số trường hợp xe hỏng làm tắc đường tiến quân, trao đổi với anh Sin-ka-pô rồi đề nghị: Bỏ lại xe hỏng, kéo xe hỏng vào vệ đường khe núi, giải phóng mặt đường, tiến quân lên! Mệnh lệnh được chấp hành và đoàn xe lại chuyển bánh.

Một trăm ki-lô-mét đầu tiên đã vượt qua.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:43:47 AM
15 giờ chiều hôm sau đại đội thiết giáp đi đầu và quân trung lập Coong-le sau khi chiếm được điểm cao 1692 liền chia làm ba mũi. Mũi thứ nhất tiến theo đường 13 đánh vào Xa-la-phu-khum ở ngã ba đường 13 và đường số 7. Mũi thứ hai tiến công ở Pu Xủng phía nam đường số 7. Mũi thứ ba làm nhiệm vụ nghi binh đánh lên hướng Luông Pha-băng.

Tại Xa-la-phu-khum, 1 tiểu đoàn quân chính quy của Nô-xa-vẳn đóng tại đây vì tin những lời của Phu-mi Nô-xa-vẳn đinh ninh là quân Pa-thét và quân Coong-le đã mất hết pháo binh, nên cố bám giữ vị trí này. Nhưng đến khi pháo 105 ly của ta bắn thì tất cả sĩ quan binh lính của chúng hốt hoảng dẫm đạp lên nhau, đứa chết, đứa bị thương, một đại đội xin hàng. Tiểu đoàn địch bị đánh tan. Ngã ba chiến lược quốc lộ số 13 và quốc lộ số 7 được giải phóng. Đường số 7 – con đường tiếp vận duy nhất còn lại của lính Nô-xa-vẳn giữa Luông Pha-bang và Xiêng Khoảng bị cắt đứt.

Mũi thứ hai tiến công địch ở Pu Xủng làm chủ 5km đầu tiên của con đường số 7, con đường dẫn tới Cánh Đồng Chum. Nhiều đơn vị cỡ trung đội, đại đội gặp bộ đội Pa-thét Lào xin đầu hàng. Tôi trao đổi với anh Sin-ka-pô sử dụng một số hàng binh, cho ăn no, thả họ về, vận động dân làng tiếp tế lương thực thực phẩm cho quân chính phủ đánh Luông Pha-băng.

Tin quân Pa-thét và quân Coong-le đánh Luông Pha-băng nhanh chóng được lan truyền. Trong khi đó xuất hiện một mũi đánh lên hướng này (lực lượng không là bao, 1 đại đội quân Coong-le), càng làm cho quân Nô-xa-vẳn tin ta đánh Luông Pha-băng thật. Vì thế Nô-xa-vẳn càng chủ quan cho rằng bộ đội Coong-le và Pa-thét Lào chỉ tìm đường lên phía bắc, làm gì có lực lượng đánh sang Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng!

Trong khi đó quân của Chính phủ Vương quốc và Pa-thét lào liền tập trung đánh dọc theo đường số 7 sang phía đông. Các vị trí địch hoảng hốt bắt đầu phá cầu, ngả cây chặn lối hòng ngăn cản cuộc tiến quân của ta. Lực lượng công binh do đại úy Thoong Phun chỉ huy đi đầu làm việc ngày đêm mở đường cho đại quân cơ giới tiến lên. Tiến trên đường số 7 chưa được là bao thì lực lượng của ta gặp phỉ Vàng Pao chặn đánh, đội hình hành quân phải dừng lại ngay trên đường.

Bộ phận anh em Việt Nam và anh Sin-ka-pô nghỉ gần một bản người Lào Sủng chịu ảnh hưởng của phỉ Vàng Pao. Lúc đầu anh em Pa-thét Lào rất ngại vào bản người Lào Sủng nhưng nằm giữa đường đều cảm thấy không an toàn. Tôi lại nghĩ khác. Nếu mình làm tốt công tác vận động, thì đóng quân trong bản có khi an toàn hơn nghỉ ở ven đường. Thế là chúng tôi mạnh dạn đi vào bản. Người dân ở đây đã chạy hết, chỉ còn một gia đình với hai ông bà già. Ông cụ bước ra nhìn chúng tôi có vẻ thăm dò. Chúng tôi chào cụ bằng tiếng Lào Sủng. Thấy anh em Việt Nam nói tiếng Lào Sủng, nét mặt cụ rạng dần. Ông cụ mời mọi người vào nhà. Chúng tôi giải thích cho hai cụ anh em Pa-thét Lào và quân Chính phủ đi đánh quân phiến loạn, tay sai của Mỹ, bảo vệ nhân dân các bộ tộc Lào. Cụ nghe, mắt dõi nhìn chúng tôi, thỉnh thoảng lại gật gật mái đầu rối bù đã bạc. Chúng tôi hỏi tình hình dân làng, sức khỏe hai cụ. Cụ chỉ tay vào vết thương đang rỉ máu ở chân. Đồng chí y tá nhanh tay lấy thuốc và băng chữa trị vết thương, rồi pha một cốc sữa mời cụ uống. Trước thái độ chu đáo ân cần của anh em Pa-thét Lào và Việt Nam, ông bà cụ mời anh em nghỉ lại trong bản. Tối hôm ấy, chúng tôi mời ông bà cụ cùng ăn cơm. Ông cụ, tay chống gậy dẫn chúng tôi đến chỗ đông người, Ông nói:

- Bộ đội Pa-thét và bộ đội Việt Nam là con em của nhân dân. Bộ đội chỉ đánh quân phiến loạn bọn tay sai nước ngoài để bảo vệ dân bản. Người Lào Sủng chúng ta phải ủng hộ bộ đội.

Lúc này chúng tôi mới biết, ông cụ là người rất có uy tín đối với dân trong bản.

Đêm hôm đó mọi người ngủ ngon. Anh em Pa-thét Lào, đã có thêm một bài học về công tác dân vận và hiểu ra không phải người Lào Sủng ai cũng xấu.

Sáng hôm sau, dân bản đem đến một con lợn. Ông cụ người Lào Sủng nói:

- Đây là tấm lòng dân bản ủng hộ bộ đội để có sức đánh giặc…

8 giờ đại quân tiếp tục lên đường. Cả một buổi sáng đội hình cơ giới dài dằng dặc chỉ vượt được một chặng đường khoảng 13km từ Nậm-chét đến Sắc-păng-păng. Trước tình hình trên tôi và anh Sin-ka-pô vượt lên phía trước, nhìn các phân đội quân Coong-le triển khai chiếm lĩnh các điểm cao hai bên đường, tôi trao đổi với anh Sin-ka-pô:

- Mục tiêu của chúng ta không phải là phỉ Mẹo mà là Cánh Đồng Chum, vì thế không được phép dừng quân. Anh yêu cầu Coong-le cho thu quân để tiến gấp, phải vừa đánh phỉ vừa tiến. Nếu phỉ đánh vào bộ phận nào thì ở đó để lại một phân đội nhỏ đánh trả, còn đại bộ phận phải tiến nhanh.

Lính Coong-le cứ nghe tiếng súng nổ phía trước là tự ý dừng quân, cụm lại thành từng nhóm quanh các sĩ quan rồi dàn trận, xả súng bắn vô tội vạ vào rừng. Mỗi lần như vậy, anh Sin-ka-pô lại ra lệnh ngừng bắn và thúc giục binh lính tiến lên. Thực tế quân phỉ chỉ là các nhóm nhỏ vài tên, hoạt động mang tính quấy rối. Một ngày hành tiến trên đường số 7 chỉ đi được 50 km, Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng còn cách xa khoảng 100 km.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:45:32 AM
Sáng ngày 31 tháng 12 năm 1960, đoàn quân tiến nhanh hơn vì đoạn này trống trải, quân phỉ Vàng Pao không dám ra sát đường. Bầu trời trên đường số 7 máy bay vận tải của địch bay nhiều về hướng Cánh Đồng Chum. Theo tin chúng tôi nắm được, Nô-xa-vẳn đã đổ một tiểu đoàn, tăng cường cho lực lượng địch ở đây. Một cuộc chạy đua với địch diễn ra. Chúng tôi yêu cầu Coong-le thúc quân chiếm ngay Mường Sủi – một điểm dân cư khá đông đúc cách Cánh Đồng chum 40km đường chim bay, đồng thời nhanh chóng chiếm cầu Nậm Ngừm.

Bộ phận Việt Nam và Pa-thét Lào đến đỉnh Sắc-păng-păng dừng lại thổi cơm, đun nước bổ sung. Tôi điện báo về Hà Nội sau 20 tiếng đồng hồ mất liên lạc.

Đoàn xe cơ giới do đại úy Két-xa-na chỉ huy mở hết tốc lực chạy vun vút trong cát bụi mịt mù tiến về ngã ba Phiêng Luông. Từ ngã ba này đi Cánh Đồng Chum chỉ còn 20km, nếu rẽ trái đi theo hướng đông bắc về Sầm Nưa cũng chỉ còn 140km.

Trinh sát báo về địch đã tăng cường phòng ngự, chúng bố trí 2 đại đội tại khu vực cầu sắt Nậm Ngừm, còn 3 đại đội đóng ở sân bay Cánh Đồng Chum. Quân Coong-le tiến lên bị địch đánh chặn ở cầu Nậm Ngừm. Một trong các phó chỉ huy của Cooong-le là Thoong-my hy sinh, hai người bị thương.

Coong-le và mấy phụ tá đến gặp, tôi bắt tay và nói lời chia buồn với Conog-le, Két-xa-na và nhờ họ chuyển lời chia buồn đến gia quyết đại úy Thoong-my và nói:

- Trong chiến đấu khó tránh khỏi thương vong thậm chí tổn thất, nhưng ở tình huống này, thắng lợi lớn đã cầm chắc trong tay. Có lẽ vào giờ phút này quân phái hữu, tay sai Mỹ đang sợ ông và các chiến hữu của ông. Sự bình tĩnh của ông có ý nghĩa lớn đối với tinh thần binh sĩ. Ông hãy động viên binh lính, chấn chỉnh đội ngũ, chuẩn bị tiến công tiếp. Chúng tôi sẽ cho pháo binh chi viện cho các ông. Đêm nay các ông đánh chiếm sân bay Cánh Đồng Chum và tiếp đó giải phóng thị xã Xiêng Khoảng. Quân địch phải kính nể các ông, nhân dân các bộ tộc Lào hoan nghênh các ông.

Coong-le và các sĩ quan dường như tin rằng pháo binh Việt Nam sẽ thay họ làm được tất cả.

Theo kế hoạch, anh Lê Kích cho 2 khẩu 105 ly bắn dọc theo đường số 7 từ Nậm Nừng đến sân bay Cánh Đồng Chum (số đạn tập trung chủ yếu vào sân bay). Đây là đòn hỏa lực đầu tiên đánh vào quân địch phòng ngự, có tác dụng chế áp và uy hiếp mạnh quân địch cả và cổ vũ tinh thần quân trung lập. Pháo ngừng bắn, chúng tôi ra kiểm tra trận địa, đoàn quân của Coong-le mệt mỏi trong khi chờ ăn cơm tối, cả cán lẫn binh lăn ra ngủ, họ ngủ liều lĩnh “muốn đến đâu thì đến”…

Đối với quân địch ở Lào thì trận tập kích pháo vừa rồi có thể là một đòn hỏa lực mạnh “chưa từng có” làm kinh hồn binh lính của chúng. Kinh nghiệm ở Viêng Chăn cho thấy quân phái hữu sợ pháo như trẻ con sợ sấm, đêm nay rất có thể chúng lợi dụng bóng tối để rút chạy. Ở Cánh Đồng Chum chưa chắc đã còn địch – tôi nghĩ vậy. Vừa lúc ấy, trinh sát báo cáo phía trước không có địch!

Tôi như bừng tỉnh. Đúng nó chạy rồi! Chiến tranh ở Lào lúc này là vậy. Địch nghe pháo ta bắn, sợ cái uy của ta mà rút chạy và có thể đã chạy xa. Ta tiến lên lúc này chính là đánh vào chỗ hoàn toàn không có trận địa phòng ngự. Phải nhanh chóng vào trung tâm Cánh Đồng Chum, phải bắn pháo ở đó để tuyên cáo quyền làm chủ của ta, phải chiếm ngay sân bay nối liền Cánh Đồng Chum với Hà Nội bằng đường không, ta sẽ có tất cả.

Tôi cho gọi trung tá Lê Kích đến và nói:

- Địch đã rút chạy, tôi cùng trinh sát vào sân bay Cánh Đồng chum chờ quân ta ở đó. Anh cho bộ đội thu pháo hành quân gấp và báo cho Coong-le đánh thức quân lính dậy tiếp tục tiến vào Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. anh cùng với Két-xa-na tổ chức hai đại đội bộ binh (hành quân bằng ô tô), 1 đại đội thiết giáp và pháo binh tiến thẳng xuống giải phóng thị xã Xiêng Khoảng.

Giao nhiệm vụ cho Lê Kích xông, tôi, anh Long, anh Ngọc và cậu Điền (bảo vệ) cùng hai trinh sát ngồi trên một chiếc xe Jeep của Mỹ do một sĩ quan quân đội Coong-le lái. Chiếc xe bật đèn sáng vượt cầu sắt Nậm Ngừm. Dọc theo đường số 7, thỉnh thoảng lại thấy xác lính chết lẫn trong quân cụ. Xe chạy khoảng 20 phút, ngươi lái xe dừng lại nói: “Báo cáo tướng Thao Chăn, đây là sân bay Cánh Đồng Chum!”. Sau khi kiểm tra xác định đúng là sân bay Cánh Đồng Chum, tôi nhìn đồng hồ lúc đó là 1 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961. Bốn chữ số 1 là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng là sự trùng hợp thú vị, khó phai mờ trong ký ức của tôi.

Cũng lúc đó, mấy chục xe cơ giới nối đuôi nhau chạy vào sân bay Cánh Đồng Chum. Trung tá Lê Kích và đại úy Két-xa-na báo cáo: “Có mặt”. Tôi bắt tay và chúc mừng thắng lợi Két-xa-na và yêu cầu anh ta không cho bộ đội xuống xe mà tiếp tục truy kích ngay quân địch giải phóng thị xã Xiêng Khoảng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:47:18 AM
Anh Lê Kích được dùng một đại đội pháo binh đi cùng chi viện cho bộ binh và thiết giáp giải phóng thị xã ngay trong đêm, chậm nhất là 7 giờ sáng. Giao nhiệm vụ xong cho cánh quân tiến công giải phóng Xiêng Khoảng, tôi điện báo cáo anh Văn: “Cuộc tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum đã giành thắn lợi theo phương án một vào lúc 1 giờ sáng nay (1-1-1961). Sân bay Cánh Đồng Chum nguyên vẹn, sử dụng tốt. Chúng tôi sử dụng một tiểu đoàn thiết giáp, một đại đội pháo binh truy kích địch và tiến công giải phóng thị xã Xiêng Khoảng. Tình hình biến đổi rất nhanh, lực lượng ta quá mỏng, đề nghị anh tăng cường lực lượng cả bộ binh và pháo binh”.

Mở sáng, chúng tôi cho ba chiếc GMC chạy hàng ngang mấy lần trên đường băng ghép bằng những tấm ghi mắt cáo để bảo đàm tuyệt đối an toàn cho máy bay của ta khi hạ cánh.

9 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961, anh Lê Kích cho người về báo cáo đã làm chủ thị xã Xiêng Khoảng.

Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng đã về ta. Ngay lúc đó tôi chưa hình dung hết ý nghĩa to lớn của cuộc hành quân từ Viêng Chăn đến Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Một cuộc hành binh táo bạo, với lực lượng không lớn nhưng lợi dụng sơ hở của địch, ta đã tạo được một thế lợi và thời cơ hiếm có để trong 22 ngày đêm đã đánh chiếm một vùng cao nguyên rộng lớn 2.000km2.

Các hãng thông tấn phương Tây không ngớt nói về thất bại nghiêm trọng của quân phái hữu Nô-xa-vẳn. Hãng thông tấn UPI của Mỹ đánh giá: “Sân bay quân sự Cánh Đồng Chum là sân bay tốt nhất ở Lào đã thuộc về tay cộng sản”. Còn hãng thông tấn Rôi-tơ của anh thì cho rằng: “Vùng chiến lược Xiêng Khoảng là cái chìa khóa của nước Lào về mặt quân sự”.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1961, chuyến bay đầu tiên chở anh Hoàng Nghĩa Khánh và 2 khẩu súng cối 120 ly với mấy trăm viện đạn từ Hà Nội sang đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Cánh Đồng Chum, trong sự vui mừng khôn xiết của anh em Lào – Việt.

10 giờ sáng cùng ngày, Nô-xa-vẳn đổ hai đại đội dù xuống Than Viêng (nam thị xã Xiêng Khoảng), anh Lê Kích cho pháo 105 ly bắn mấy chục quả trúng khu vực đổ bộ, làm chết và bị thương một số binh lính địch. Quân dù và quân địa phương còn lại hốt hoảng tháo chạy tán loạn về hướng nam Tha Viêng và Tha Thom. Dù vậy, tình hình vẫn căng thẳng, chúng tôi chuẩn bị phương án đề phòng địch nhảy dù chiếm lại sân bay Cánh Đồng Chum. Lúc này ở sân bay Cánh Đồng Chum chỉ còn 1 đại độ bộ binh trung lập và hai khẩu cối 120 ly do anh Hoàng Nghĩa Khánh vừa chuyển sang sẵn sàng đánh quân đổ bộ.

Tình hình Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng tạm ổn, anh Văn điện tôi về Hà Nội làm việc với lãnh đạo đảng bạn và Kin-nim về một số vấn đề hệ trọng.

Chiều hôm ấy Văn phòng Bộ cho người mang đến một bộ com-plê, nói là theo ý kiến của Bộ trưởng, tôi nên mặc thường phục để gặp Kin-nim Phôn-xê-na. Trong bộ com-plê tề chỉnh, tôi đang nói chuyện với anh Văn ở nhà riêng thì Bác Hồ đến. Chúng tôi đứng dậy, chào Bác và chúc sức khỏe Người.

Bác Hồ vui vẻ nói:

- Chú Mân vừa chiến thắng trở về có thêm cái dây (cra-vát).

Tôi báo cáo với Bác là tôi mặc theo lệnh của Đại tướng Bộ trưởng.

Bác cười đôn hậu, nói:

- Đi làm việc đối ngoại phải đàng hoảng thế mới được!

Bác hỏi thăm tình hình sức khỏe của anh em, tình hình chiến trường Lào và căn dặn tôi một số ý khi tiếp xúc với Kin-nim, rồi Người ra về.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:48:32 AM
Đúng 17 giờ 30 phút, tôi và anh Nguyễn Cơ Thạch đến nhà khách Chính phủ tại đường Ngô Quyền, đã thấy Kin-nim ra cửa đón. Ông ta không khách khí ngoại giao mà ôm chầm lấy tôi, nói luôn:

- Cám ơn và xin lỗi tướng Thao Chăn, vì những ngày giữa tháng 12 năm ngoái, trên đường hành quân từ thủ đô Viêng Chăn đến Văng Viêng, trong cuộc gặp nhau đầu tiên tôi đã gay gắt trong việc đề nghị đưa lực lượng quân sự Việt Nam sang đánh địch, giữ Viêng Chăn. Thật ra lúc đó tôi chưa hiểu được tầm nhìn chiến lược và lòng tốt của Chính phủ Việt Nam chủ trương rút khỏi Viêng Chăn và mở cuộc hành quân táo bạo giải phóng cao nguyên Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng, tạo ra bước chuyển biến lớn, đưa sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của nước Lào tiến lên.

Đợi ông ta ngừng lời, tôi nhẹ nhàng nói:

- Cảm ơn ngài Kin-nim Phôn-xê-na. Tôi rất mừng là ngài đã hiểu tinh thần vô tư, đoàn kết hữu nghị giúp cách mạng Lào của Chính phủ chúng tôi. Tôi cho rằng chân thành và hiểu biết lẫn nhau là điều kiện tốt cho mối quan hệ lâu dài giữa hai nước. Cũng như vậy, lực lượng trung lập và Pa-thét Lào đoàn kết, tin cậy nhau, tôi tin rằng sẽ vượt qua những khó khăn mới và giành thắng lợi mới vì sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Lào.

Trong bữa cơm, Kin-nim vui vẻ và nói rất nhiều. Ông ta đề cập cách làm việc tiếp theo khi anh Tô giới thiệu tôi sẽ là cố vấn của Chính phủ Liên hiệp Lào.

Anh Nguyễn Cơ Thạch nói:

- Trong đàm phán ở hội nghị có tính chất quốc tế cũng vậy. Chính phủ hợp pháp Vương quốc Lào và Pa-thét Lào tin cậy và thống nhất với nhau, tiếng nói nặng cân hơn nhiều.

Trưa hôm sau tôi trở lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tiếp đến là Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, anh Phu-mi Vông-vi-chít, anh Bẩy và bộ phận văn phòng Trung ương Đảng Lào. Mấy hôm sau Thủ tướng Phu-ma về đến Cánh Đồng Chum, lúc này đại sứ các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt đến. đầu tiên là đại sứ Ba Lan trong ban liên lạc đình chiến, tiếp đến là các nhà báo các nước xã hội chủ nghĩa, phóng viên Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp. Cán bộ các cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam lần lượt đến Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nghiên cứu tình hình và giải quyết những vấn đề cụ thể giúp bạn.

Theo đề nghị của Chính phủ Phu-ma, Việt Nam cùng với Liên Xô mở đường hàng không Hà Nội - Cánh Đồng Chum. Cùng thời gian này, vấn đề quan hệ giữa cố vấn Việt Nam với Pa-thét Lào và lực lượng trung lập đặt ra yêu vấn đề mới. Yêu cầu trước hết là củng cố, tăng cường vai trò và ảnh hưởng của Pa-thét Lào đối với lực lượng trung lập (Phu-ma, Kin-nim, Coong-le), đồng thời tránh không để lực lượng trung lập nghi kỵ Việt Nam thiên vị Pa-thét Lào. Những việc lớn tôi chủ động bàn với anh Bẩy, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và anh Phu-mi Vông-vi-chít để lãnh đạo Lào gặp Kin-nim và Coong-le trước. Có những trường hợp khẩn trương tôi gợi ý với Kin-nim và Coong-le, Sau đó báo với lãnh đạo Đảng Lào biết.

Khó khăn nhất là tiếp đại sứ và phóng viên các nước. Thời gian này có sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, lúc đầu tôi tiếp và làm việc với họ trong rừng thông. Anh Văn và anh Nguyễn Duy Trinh điện cho tôi làm một chiếc nhà tạm để tiếp khách, các anh cho chuyển 100 tấm tôn kẽm dựng một cái nhà gần 100 mét vuông. Nhà ngăn đôi, một nửa tiếp khách quốc tế với bàn ghế do anh em công binh tự tạo bằng hòm đạn gỗ thông ghép lại, một nửa tiếp khách trong nước và có mấy chiếc giường cho anh em ta nghỉ. Đồng thời chúng tôi làm 13 chiếc lán nhỏ lập có tranh, bên trong có hai chiếc giường và một bàn viết cũng bằng cây le, cho phóng viên các nước xã hội chủ nghĩa.

Những thắng lợi to lớn của quân và dân các bộ tộc Lào làm cho giới cầm quyền Mỹ lúng túng. Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao vội vã triệu tập một số tướng lĩnh và giám đốc Cục tình báo trung ương đến họp bàn về vấn đề Lào. Ngày 10 tháng 1 năm 1961, sau khi thông qua quyết định “Viện trợ khẩn cấp” cho bọn tay sai ở Lào, Oa-sinh-tơn cấp thêm cho chúng một số vũ khí hiện đại trong đó có máy bay quân sự T.6. Hạm đội 7 của Mỹ ở Thái Bình Dương được lệnh sẵn sàng tham chiến. Tất cả các căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương đều đặt trong tình trạng báo động. Mỹ còn bay trò “chính phủ” Bun Ùm - Nô-xa-vẳn yêu cầu khối quân sự Đông Nam Á cử “quan sát viên” đến Lào. Hàng nghìn binh lính, sĩ quan Thái Lan - ngụy Sài Gòn... đã trà trộn vào hàng ngũ quân Nô-xa-vẳn. Trong những trận tiến công vào các vị trí của quân đội chính phủ hợp pháp và Pa-thét Lào ở các tỉnh A-tô-pơ và Xa-va-na-khệt có lính của sư đoàn 1 quân ngụy Sài Gòn tham chiến.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:49:45 AM
Nô-xa-vẳn huy động 2 GM bộ binh, hai tiểu đoàn thiết giáp theo đường 13 và từ Xa-la-phu-khum tiến hành phản kích hòng chiếm lại cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Quân chiếm đóng khu vực Bản Ban vẫn nguyên vẹn, có lẽ lực lượng Quân khu 4 sau khi giải phóng vị trí Noọng Hét gặp khó khăn gì đó chưa tiến lên giải phóng được Bản Ban theo ý định. Sảm Thông, Loong Chẹng, một căn cứ quan trọng của Vàng Pao, chúng cho từng tốp nhỏ xuống phục kích trên đoạn đường từ sân bay Cánh Đồng Chum đi thị xã Xiêng Khoảng. Tình hình trên đặt ra cho lực lượng bạn phải có 3 trận địa tiến công phòng ngự trên 3 hướng với mục đích chung: mở thông con đường số 7 từ Việt Nam sang cao nguyên Cánh Đồng Chum. Ngăn chặn, tiêu diệt tiêu hao đánh tan cánh quân từ Xa-la-phu-khum vào Mường Sủi. Đánh tan căn cứ phỉ Vàng Pao ở Sảm Thông Loong Chẹng bảo đảm an toàn cho khu vực mới giải phóng. Ba trận chiến đấu diễn ra như sau:

Trận tiêu diệt quân đồn trú Bản Ban, mở thông đường vận chuyển từ Nghệ An sang Cánh Đồng Chum. Để chiến thắng trận này thật nhanh, chúng tôi bàn với Coong-le sử dụng 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội thiết giáp đảm bảo tiêu diệt địch giải phóng khu vực. Bộ đội Coong-le sau khi chiến thắng tỏ ra say sưa chơi bời, khó tập hợp để đi chiến đấu, nhưng rất may nhờ Hoàng thân Xu-pha-nu-vông chỉ thị cho Coong-le và động viên bộ đội trung lập đi chiến đấu. Họ tổ chức đội hình xe cộ đầy đủ có cờ và kèn hành quân rầm rộ, vừa xuống đến Bản Ban thì quân địch ở đây chạy tán loạn, một bộ phận ra hàng. Đường số 7 được mở thông và ta có thêm con đường từ Bản Ban đến Sầm Nưa.

Chiến đấu phòng ngự trận địa tây cao điểm Sắc-păng-păng xuống Nậm Chất. Trận đánh này với mục đích tiêu diệt nhỏ, tiêu hao nhiên tục đi đến đánh tan, đẩy lùi cánh quân của Nô-xa-vẳn từ ngã ba Xa-la-phu-khum tiến vào. Địa hình trên con đường này như xương sống con trâu, thuận lợi cho việc xây dựng công sự chiến đấu lâu dài. Cánh quân địch từ Viêng Chăn tiến lên đã đến Văng Viêng, Mường-ta-xí. Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam liên tiếp thúc giục chúng tôi phải đánh bại cánh quân của phái hữu phản kích, bảo vệ an toàn cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Cái khó nhất lúc này là không biết lấy đâu ra lực lượng. Bộ đội trung lập còn một bộ phận nhưng không đủ sức, Pa-thét Lào có một đại đội, nhưng phải tỏa ra làm công tác vận động quần chúng từ sau thắng lợi. Lúc này Tiểu đoàn 3 của Sư đoàn 335 sau khi thông đường đã có mặt ở thị trấn Phôn-xa-vẳn, Tôi khẩn khoản đề nghị mấy lần cho sử dụng tiểu đoàn này ra mặt trận Sắc-păng-săng nhưng Bộ Tổng Tham mưu không chấp nhận. Trong tình hình khẩn trương, căng thẳng này ai cũng có thể biết trước nếu cánh quân Nô-xa-vẳn vượt điểm cao Sắc-păng-păng tiến vào Mường Sủi thì cái giá phải trả, trách nhiệm chính trị, không ai khác thuộc về những người chỉ huy ở chiến trường. Sau khi cân nhắc mọi mặt, tôi quyết định điều động Tiểu đoàn 3 hành quân nhanh chóng chiếm lĩnh Sắc-păng-păng, từ đó đi ra suối Nậm Chất tìm đoạn địa hình dốc nhất xây dựng công trình phòng ngự, sẵn sàng chiến đấu. Đi với Tiểu đoàn 3 có tôi và anh Phạm Nghiêm - Chính ủy trung đoàn. Biết trước từ điểm cao Sắc-păng-păng đi về hướng tây thế nào bọn phỉ Vàng Pao cũng phục kích, anh em công binh cho đất vào bao bố chất thành công sự trên xe GMC và bắt tôi phải ngồi trong đó. Quả thật như vậy, trên đường đi từ Sắc-păng-păng trở ra, đoàn xe bị phục kích, chiếc xe đi trước bị bắn hỏng phải dừng lại dùng cối 60 ly bắn địch để sửa chữa xe rồi đi tiếp.

Sau ba ngày đêm, Tiểu đoàn 3 cơ bản xây công sự bằng gỗ đất khá vững chắc. Lúc này tôi mới điện cho Bộ Tổng Tham mưu biết tiểu đoàn 3 đã ra xây dựng trận địa chiến đấu.

Ngày thứ tư thì quân của Nô-xa-vẳn có thiết giáp đi cùng bắt đầu tiến quân từ suối Nậm Chắt lên. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Địch tiến công, ta chiến đấu phòng ngự, địch tiến lên bị thương vong, xe thiết giáp bị bắn cháy chúng lại lui xuống, ngày hôm sau chúng lại tiến lên và cứ thế diễn ra liên tiếp. Sau hơn tháng chiến đấu bị thiệt hại nặng, địch bỏ chạy. Anh Lê Kích sau khi xin ý kiến Bộ Tổng Tham mưu đã dùng một bộ phận bộ binh và cối 120 ly đuổi địch. Bộ phận này đuổi địch đến Mường-tà-xí thì địch nhảy dù ở phía sau. Đội hình của ta bị chia cắt đành phải bỏ súng cối lại trong rừng, anh em luồn rừng về Sắc-păng-păng. Đây là một kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường. Cuộc phản kích của địch bị đánh bại, địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được giữ vững.

Trận đánh tan căn cứ Loong Chẹng của Vàng Pao cơ bản không cho quân phỉ quấy rối phía tây cao nguyên và con đường từ Cánh Đồng Chum đi Xiêng Khoảng. Ta không có bộ binh và đặc công tinh nhuệ, đành phải làm đường khiêng sơn pháo 85 ly lên dãy đồi cách căn cứ địch khoảng 1km để bắn thẳng. Sau khi bộ đội pháo binh xây dựng xong trận địa, ta bắn mấy quả đạn, căn cứ Vàng Pao bốc cháy, quân địch tán loạn.

Ba trận chiến đấu trên các hướng khác nhau đã hoàn thành nhiệm vụ, bảo đảm an toàn cho mọi hoạt động trên vùng mới giải phóng.

Cùng thời gian này, ông Thao Tu, một người có uy tín lớn đối với dân tộc Lào Sủng, chiếc xe chở ông không may trúng mìn của phỉ Vàng Pao, ông hy sinh. Được tin tôi đến tận nơi ông bị nạn, sau đó viết báo cáo về Hà Nội. Anh Văn điện cho tôi nói rõ ý kiến của Bác Hồ là “phải bàn vừa lãnh đạo bạn tổ chức an táng ông Thao Tu thật chu đáo, củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết dân tộc”.

Khoảng 4 giờ chiều tôi gặp anh Bẩy. Chưa kịp trao đổi anh Bẩy đã cho gọi mấy cán bộ đến giao nhiệm vụ sáng mai tổ chức chôn cất ông Thao Tu.

Nhìn anh Bẩy mệt mỏi sau mấy ngày bị sốt cao, tôi không nói gì thêm. Bữa tối hôm ấy chúng tôi cùng ăn cơm với nhau như những lần trước đó. Sau bữa cơm, chúng tôi ngủ chung trên sàn nữa. Anh Bẩy ngủ thiếp đi, còn tôi không sao ngủ được, ngồi trùm chăn suy nghĩ mông lung. Khoảng 2 giờ sáng, anh Bẩy tỉnh giấc, thấy tôi không ngủ, anh ngồi dậy, nói:

- Anh Mân có điều gì, sao không ngủ?

Thấy anh bớt mệt, vui vẻ, tôi chậm rãi nói:

- Ông Thao Tu là người có uy tín trong bộ tộc Lào Sủng, nếu ta tổ chức đám tang ông chu đáo sẽ rất có ý nghĩa về chính trị, củng cố tăng cường đoàn kết dân tộc. Bác Hồ nhắc anh và tôi phải tổ chức lễ tang ông Thao Tu trọng thị.

Anh Bẩy thật thà:

- Chiều qua, tôi mệt quá nên muốn giải quyết cho xong. Nghĩ lại mình sai rồi, phải sửa sai thôi.

Nói xong, anh Bẩy cho mời anh Phu-mi Vông-vi-chít và một số cán bộ đến bàn lại việc tổ chức lễ tang ông Thao Tu.

Lễ tang được tổ chức long trọng theo nghi thức của các bộ tộc Lào. Bà con Lào Súng đến rất đông, họ tỏ lòng thương tiếc người đã mất và biết ơn đối với những người lãnh đạo Neo Lào Hắc-xạt.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:51:47 AM
*
*   *

Ngày 21 tháng 1 năm 1961, Ken-nơ-đi lên nắm quyền. Đối với ông ta, Lào vẫn là một vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với nước Mỹ. Tổng thống Mỹ và các cố vấn của ông ta chán ngán khi thấy sự bất lực của tay sai Nô-xa-vẳn. Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1961, quân trung lập và Pa-thét Lào đã giải phóng hoàn toàn các tỉnh Phông-xa-lỳ, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng và đại bộ phận các tỉnh Luông Pha-băng, Khăm Muộn. Một số vùng ở Hạ Lào rơi vào ảnh hưởng của Pa-thét Lào. Khu vực thuộc quyền chính phủ hợp pháp còn khoảng 60% lãnh thổ nước Lào với trên 1 triệu dân. Giới cầm quyền ở Mỹ lo sợ cho số phận tay sai Nô-xa-vẳn. Tình hình đó đặt ra cho Nhà trắng nên lựa chọn việc can thiệp vào Lào hay là rút khỏi đất nước này? Có một biện pháp mà Lầu năm góc đã tính đến là sử dụng khối quân sự Đông Nam Á. Nhưng Pháp phản đối và sự lạnh nhạt của một số nước thành viên trong liên minh này đã làm bó tay Mỹ. Còn một biện pháp nữa là gửi bộ binh Mỹ sang Lào. Việc này đã được tổng thống và các cố vấn Nhà trắng xem xét một cách nghiêm túc, nhưng cuối cùng Ken-nơ-đi không dám lựa chọn biện pháp này. Ngoài lý do chính trị, Mỹ sẽ gặp khó khăn và bảo đảm hậu cần ở một chiến trường xa xôi, hơn nữa quân đội Mỹ chưa quen với chiến tranh du kích, họ sẽ gặp khó khăn trong chiến đấu. Sau khi đã cân nhắc nhiều bề, Ken-nơ-đi thấy lúc bấy giờ con đường ngồi vào bàn thương lượng là thượng sách.

Sau cuộc họp báo truyền đi toàn nước Mỹ ngày 22 tháng 3 năm 1961, Ken-nơ-đi nói với giọng vừa như đe dọa, vừa như ôn hòa để làm vừa lòng thế lực quân phiệt hiếu chiến ở Mỹ và giữ thể diện cho bản thân. Ông ta nhấn mạnh không thể có một giải pháp hòa bình nếu như không có một sự đình chỉ những cuộc tiến công của cộng sản được các thế lực bên ngoài ủng hộ. Nhưng đồng thời ông ta cũng cho biết là Hoa Kỳ tán thành những cuộc thương lượng có tính chất xây dựng nhằm mục đích giúp đỡ Lào trở lại con đường độc lập và trung lập.

Để phô trương thêm uy thế cho Mỹ trước khi ngồi vào bàn thương lượng, Ken-nơ-đi ra lệnh cho hạm đội 7 tiến vào biển Đông, đồng thời ra lệnh báo động quân Mỹ ở Ô-ki-na-oa.

Con đường đi đến một giải pháp chính trị ở Lào đã được mở ra. Lý do chủ yếu buộc giới cầm quyền Mỹ phải đồng ý thương lượng là sự bất lực quá rõ ràng của bọn tay sai Nô-xa-vẳn.

Ngày 24 tháng 4 năm 1961, trong bản tuyên bố chung, Liên Xô và Anh (hai đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ) đồng ý về nguyên tắc triệu tập một hội nghị quốc tế mới để giải quyết vấn đề Lào. Anh và Liên Xô gửi thư kêu gọi ba phái tham chiến ở Lào đình chỉ chiến sự, đề nghị Chính phủ Ấn Độ phục hồi hoạt động của Ủy ban quốc tế ở Lào và đề nghị 13 nước(1) cử đại biểu đến Giơ-ne-vơ trước ngày 12 tháng 5 năm 1961 để tham dự Hội nghị quốc tế về Lào.

Ngay sau tuyên bố của Liên Xô và Anh, Trung ương Neo Lào Hắc-xạt và Chính phủ hợp pháp của Lào tuyên bố hoan nghênh sáng kiến của hai đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ, sẵn sàng thương lượng với phái hữu.

Cuối tháng 4 năm 1961, Oa-sinh-tơn cũng tuyên bố đồng ý tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ mở rộng về Lào.

Ngày 3 tháng 5 năm 1961, Chính phủ của Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma và Pa-thét Lào ra lệnh đình chỉ chiến sự. Tiếp đó phái Bun Ùm – Nô-xa-vẳn cũng ra lệnh cho quân đội của họ chấm dứt các hoạt động về quân sự. Cùng thời gian này, Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế ở Lào trở lại hoạt động sau 3 năm gián đoạn.

Ngày 11 tháng 5 năm 1961, cuộc đàm phán giữa ba phái đã diễn ra tại bản Na-môn thuộc phạm vi Neo Lào Hắc-xạt kiểm soát. Nội dung tiến hành song song các cuộc thảo luận về chính trị và quân sự với mục đích mở rộng Chính phủ Vương quốc, cuối cùng thành lập một Chính phủ Liên hiệp để gửi một đoàn đại biểu thống nhất của Lào đến tham dự Hội nghị quốc tế ở Giơ-ne-vơ về Lào khai mạc ngày 16 tháng 5 năm 1951.


(1) Ngoài những nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, có 3 nước trong Ủy ban quốc tế ở Lào và có thêm Mi-an-ma, Thái Lan.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:53:20 AM
Trong thời gian Hội nghị Giơ-ne-vơ tiến hành, các cuộc thương lượng giữa ba phái vẫn tiếp tục ở bản Na-môn, nhưng vẫn không tiến triển. Phái Nô-xa-vẳn không chịu thảo luận vấn đề thành lập Chính phủ Liên hiệp vào do đó việc cử một đoàn đại biểu chung của Lào đi dự Hội nghị Giơ-ne-vơ chưa thể thực hiện được.

Trên chiến trường vẫn không có ngừng bắn thực sự. Bun Ùm – Nô-xa-vẳn cho quân tiến công vào các vùng do Chính phủ hợp pháp và Neo Lào Hắc-xạt kiểm soát. Điển hình là cuộc tiến công của 1.200 quân phái hữu cố vấn Mỹ chỉ huy đánh vào Pa-đông (gần Xiêng Khoảng) bị Pa-thét Lào và phái trung lập đánh bại.

Ngày 31 tháng 5 năm 1961, Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma công bố bức thông điệp, cùng ngày Ủy ban quốc tế ở Lào cũng gửi bản báo cáo tới hai chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ về tình hình chiến sự ở Lào.

Cuộc đấu tranh để tiến tới một giải pháp hòa bình ở Lào tiến triển thuận lợi, bất chấp sự phá hoại của Mỹ. Đoàn đại biểu các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân tộc chủ nghĩa cũng ra lời kêu gọi tất cả các nước phải thực sự công nhận và tôn trọng chủ quyền của Lào.

Trong thời gian này tại Duy-rích (Tây Đức) các đoàn đại biểu ba phái của Lào đã đạt được một số kết quả trong việc dàn xếp những vấn đề tranh chấp và tiếp tục công việc tại bàn hội nghị này.

Ngày 22 tháng 6 năm 1961, các đoàn đại biểu đã ra một thông cáo chung, trong đó ba phái thảo luận về nguyên tắc thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời, đồng thời đề ra một chương trình chính trị chung và những nhiệm vụ trước mắt của Chính phủ. Cuối tháng 7 năm 1961, Hội nghị Giơ-ne-vơ đã hoàn thành bản dự thảo tuyên bố về nền trung lập của Lào.

Trước Tết Nguyên đán, công việc nhiều và phức tạp, Quân ủy Trung ương điều anh Hoàng Sâm lên làm phó cho tôi chuyên phụ trách về quân sự. Trung tuần tháng 5 năm 1961, anh Lê Chưởng sang thay tôi giúp Pa-thét Lào và làm cố vấn Chính phủ do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng, tôi về nước.

Chúng tôi trao đổi với nhau thấy đáng mừng là sau khi giải phóng Cánh Đồng Chum, lãnh đạo Đảng bạn đã tận dụng thế lợi và thời cơ, khẩn trương xây dựng cơ sở chính trị trong cả nước đạt kết quả bước đầu. Các đồng chí cán bộ được Trung ương ta phải sang đã giúp bạn trong việc này tích cực và có hiệu quả.

Trước ngày tôi trở về Việt Nam, Thủ tướng Xu-va-na Phu-ma quyết định trao tới huân chương Bắc Đầu Bội Tinh và một thanh bảo kiếm. Lễ trao tặng huân chương tiến hành trọng thế. Phía Chính phủ Lào có Hoàng thân Xu-a-na Phu-ma, Kin-nim và một số nhân vật khác. Phía Việt Nam có tôi và anh Đạt (thư ký kiêm phiên dịch). Sau buổi lễ, Hoàng thân Phu-ma và Kin-nim tổ chức bữa tiệc. Dự tiệc có thêm công chúa Mun (con gái Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma). Trong bữa tiệc thân mật, Phu-ma hai lần cảm ơn Việt Nam, cảm ơn tôi. Kin-nim nói nhiều hơn, ông thuyết phục Phu-ma đi theo con đường trung lập hợp tác với Pa-thét Lào, quan hệ tốt với Việt Nam. Ông cũng cảm ơn và chúc mừng nhân tôi được tặng huân chương cao quý của Hoàng gia.

Hôm trước ngày trở về nước, tôi đến chào Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, Kin-nim, Coong-le và các chiến hữu của anh ta. Tiếp đó, tôi chào anh Bẩy, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông cùng các đồng chí lãnh đạo Pa-thét Lào. Cũng như những lần chia tay trước, lần này anh Bẩy nắm lấy bàn tay tôi rất lâu như không muốn rời. Chúng tôi nén xúc động để những giọt nước mắt không trào ra.

Về Hà Nội được hai hôm thì Văn phòng Trung ương gọi tôi sang dự một cuộc họp không nói rõ nội dung. Tham dự cuộc họp hôm ấy có một số anh Ủy viên Bộ Chính trị: anh Trường Chinh, anh Tô (Phạm Văn Đồng), anh Nguyễn Duy Trinh, anh Trần Quốc Hoàn và Phó tổng tham mưu trưởng Trần Quý Hai. Anh Ba Duẩn đi vắng, anh Văn là người chỉ đạo thường xuyên công việc bên Lào cũng không có mặt. Mở đầu cuộc họp, anh Tô nói:

- Hôm nay mời các anh đến đây để kiểm điểm mấy vấn đề diễn ra ở Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Anh Chu Huy Mân sang Lào làm được một số việc nhưng phạm ba sai lần lớn. Một là, gây mất đoàn kết với các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng ban. Hai là, không làm đúng công tác mặt trận với Coong-le. Vũ khí đạn dược từ Hà Nội chuyển sang anh Mân chia cho Pa-thét lào nhiều và loại tốt hơn. Ba là, làm một nhà ở lớn và một khách sạn quốc tế gây nên sự tốn kém về ngân sách.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:54:42 AM
Ngừng một lát, anh Tô nói tiếp:

- Anh Chu Huy Mân xuất thân là một bần nông, hoạt động cách mạng sớm. Đảng đã giáo dục rèn luyện đưa anh vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III. Anh cần thành khẩn sự phê bình những sai lầm khuyết điểm của mình, qua đó, Bộ Chính trị sẽ có thái độ rõ ràng dứt khoát. Chúng ta phải là những người gương mẫu.

Anh Tô ngừng lời, anh Trường Chinh chậm rãi nói:

- Chúng ta hãy bình tĩnh nghe anh Mân báo cáo cụ thể rồi sẽ có ý kiến.

Tôi hoàn toàn bất ngờ trước những vấn đề anh Tô nêu ra. Tôi tự trần tình và xem lại mình có mắc những sai lầm trên không? Có những việc có thể nói ngay được, song có những việc không thể giải thích vào lúc này. Sau một vài phút suy nghĩ, tôi đứng dậy, nói:

- Thưa các đồng chí, ba sai lầm của tôi khi làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào anh Tô vừa nêu tôi xin được báo cáo: Vấn đề làm mất đoàn kết với các đồng chí lanh đạo cao nhất của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, xin Bộ Chính trị cho kiểm tra, xác minh phân rõ đúng sai. Hai vấn đề còn lại tôi xin được trình bày cụ thể. Việc phân phát vũ khí từ Hà Nội chuyển sang đúng là chúng tôi cấp cho Pa-thét Lào nhiều và tốt hơn quân của Coong-le. Bởi vì, vũ khí giao cho quân Coong-le bao nhiêu vẫn không đủ, binh lính thường vứt vũ khí bừa bãi. Qua tiếp xúc làm việc với Coong-le và Bộ chỉ huy trung lập của anh ta, tôi có cảm nhận phải đề phòng Coong-le. Rất có thể một lúc nào đó anh ta làm phản.

Vấn đề làm nhà lớn và khách sạn quốc tế sự thực như thế này: khi Hà Nội chuyển lên 100 tấm tôn kẽm, anh em công binh lấy cây thông và dây mây dựng một nhà lớn khoảng 100 mét vuông. Khu rừng thông rộng và đẹp, mùa khô lá không rụng xuống như trải thảm. Anh em công binh thấy rừng thông đẹp quá nên ở lối vào ra ngoài cũng đã dùng rơm tết lại rồi căng lên bốn chữ “Khách sạn quốc tế”. Bởi lẽ trong rừng có 12 chiếc lán của phóng viên báo chí các nước xã hội chủ nghĩa và của Đảng Cộng sản Pháp. Tôi ở đây 4 tháng, tình hình chiến sự lại chưa ổn định, làm gì có điều kiện để làm nhà lớn và khách sạn quốc tế và cũng không có mục đích gì.

Sau khi nghe tôi báo cáo xong, anh Trường Chinh nói ngay:

- Những vấn đề anh Mân vừa trình bày có gì là khuyết điểm mà phải kiểm thảo. Riêng việc làm mất đoàn kết với lãnh đạo bạn, theo đề nghị của anh Chu Huy Mân, Bộ chính trị cần cho người kiểm tra lại, như thế mới khách quan và chính xác.

Anh Trường Chinh vừa ngừng, anh Tô đứng dậy, nói:

- Như vậy, những phản ánh từ Cánh Đồng Chum về là không đúng, anh Chu Huy Mân không có gì là sai lầm.

Cuộc họp kết thúc.

Nhân đây tôi cần nói một vấn đề, các cơ quan chức năng khi chọn cán bộ giúp việc cho cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước nói chung, nhất là cán bộ chủ trì phải là những người vô tư trung thực, khách quan, có ý thức trách nhiệm và tâm phải sáng.

Sau cuộc họp, tôi về trạm nghỉ chờ ăn cơm trưa rồi đi Quân khu 4. Nghĩ về hình ảnh cái nhà lớp kẽm và rừng thông thấy vui vui, nên có mấy dòng thơ hay gọi là câu đối cũng được:

            Trượng phu bốn biển là nhà
            Cơ đồ phải đâu là thứ ấy
            Quân tử một lòng vì nước
            Biết bao trung hiếu gọi là vừa


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:55:14 AM
Tôi cũng cần nói thêm một số chi tiết về mấy năm sau đó để bạn đọc hiểu thêm tình cảm các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với tôi. Mùa hè năm 1967, tôi từ Tây Nguyên ra Hà Nội chữa bệnh. Trong buổi gặp và làm việc, anh Ba nói:

- Mấy năm qua, cứ mỗi lần hội đàm giữa hai Bộ Chính trị Việt – Lào, các đồng chí lãnh đạo Đảng bạn lại đề nghị kéo Chu Huy Mân về sang giúp Lào. Mỗi lần như thế tôi đều cảm ơn và xin lỗi bạn vì chưa tìm được người thay thế!

Sau ngày miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng, anh Bẩy vào thăm Sài Gòn và ngỏ ý muốn gặp tôi. Anh Ba nói Văn phòng Trung ương điện ra Đà Nẵng gọi tôi vào Sài Gòn.

Chiều ngày 6 tháng 5 năm 1975, sau khi máy bay hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất, xe đã chở sẵn đón tôi đi thẳng vào khu nhà Văn phòng Trung ương (T78). Anh Bẩy ôm lấy tôi, tay vỗ vô vào lưng tôi nói:

- 15 năm ấy tưởng mất mà còn.

Chiều hôm ấy, anh Ba mời cơm thân mật. Tham dự có anh Ba, anh Văn, anh Phạm Hùng và tôi. Trong bữa cơm, mọi người nói chuyện vui vẻ, sau đó cùng đi xem vở cải lương “Đời cô Lựu”. Anh Bẩy kêu tôi ngồi gần, anh nói:

- Tôi và anh Ba đã bàn kỹ và đi đến thống nhất phải tranh thủ thời cơ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam thắng lợi mà giành toàn thắng cho cách mạng Lào, chậm nhất là mùa khô năm nay (tức 1975). Sau khi nước Lào giành thắng lợi sẽ bỏ qua chế độ quân chủ lập hiến mà thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Anh Bẩy ngừng lời, quay sang hỏi tôi:

- Anh Mân có ý kiến gì không?

- Ý kiến của anh Ba và anh Bẩy hoàn toàn đúng. Năm 1975 là thời cơ tốt nhất của cách mạng Lào và của nhân dân ba nước Đông Dương đứng lên giành độc lập tự do. Nếu để trễ tình hình sẽ phức tạp và khó khăn.

- Anh Mân sang với chúng tôi chứ?

- Nếu được anh Ba đồng ý tôi sẵn sàng đi ngay!

Hôm sau ngồi trao đổi chung khi kết thúc anh Bẩy đề nghị anh Ba cho tôi sang giúp Lào, anh Ba cười rất tươi và sổi nổi nói:

- Anh Bẩy về động viên quân và dân Lào “làm gấp”, nếu cần tôi cho Chu Huy Mân dẫn ba sư đoàn sang giúp anh.

Nhưng thực tế đã không có việc này.

Sau Đại hội lần thứ V của Đảng ta, Bộ Chính trị phân công thêm cho tôi phụ trách công tác giúp Lào, đồng thời là Giám đốc Trường Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt có nhiệm vụ bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ trung cấp của Đảng Lào.

Năm 1981, Đảng Nhân dân cách mạng Lào tiến hành Đại hội lần thứ IV. Thời gian này anh Bẩy có sang Việt Nam. Từ thành phố Hồ Chí Minh, anh điện cho tôi bay vào Nha Trang để làm việc. Chúng tôi gặp nhau ở khu biệt thự Cầu Đá. Trước khi bàn thảo anh Bẩy đưa cho tôi danh sách Ủy viên Trung ương khóa trước và danh sách dự kiến Ban Chấp hành Trung ương khóa IV để tôi tham gia ý kiến. Tôi hiểu đây là một sự tin cậy đặc biệt của anh Bẩy dành cho, nhưng là việc nội bộ không thể tham gia cụ thể. Tôi đề nghị anh cho được nêu ý kiến tình hình phương hướng nhiệm vụ 5 năm tới và một số tiêu chuẩn chính của một Ủy viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào.

Năm 1990 (lúc này tôi đã nghỉ), Ban Bí thư Trung ương Đảng Lào có gửi cho Ban Bí thư Trung ương Đảng ta mời tôi sang Lào nghỉ. Anh Bẩy còn cử anh Mai Xúc – Chánh Văn phòng Trung ương đưa máy bay sang Hà Nội đón tôi.

Khoảng 10 giờ ngày 14 tháng 4 năm 1990, tôi đến Viêng Chăn. Hai giờ chiều hôm ấy tôi và anh Bẩy gặp nhau. Chúng tôi trao đổi một số vấn đề trước khi anh Bẩy sang Hà Nội hội đàm với Bộ Chính trị ta. Cuộc hội đàm thành công tốt đẹp, anh Bẩy trở về Viêng Chăn rất vui.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:58:11 AM
*
*   *

Trở lại vấn đề Lào năm 1961.

Ngày 9 tháng 7 năm 1961, tôi được dự cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Đảng ta với đoàn đại biểu Đảng Nhân dân cách mạng Lào diễn ra tại Hà Nội. Tham dự hội đàm về phía Việt Nam có anh Ba Duẩn – Bí thư thứ nhất làm Trưởng đoàn, anh Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, anh Lê Văn Lương – Bí thư Trung ương Đảng, tôi (Chu Huy Mân) - Ủy viên Trung ương Đảng, anh Song Hào - Ủy viên Trung ương Đảng.

Về phía Đảng Nhân dân cách mạng Lào có bảy người: anh Bẩy – Bí thư thứ nhất làm Trưởng đoàn, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Ủy viên Bộ Chính trị, anh Khăm-tày Xi-phăn-đon - Ủy viên Bộ Chính trị, anh Khăm Xẻng - Ủy viên Bộ Chính trị, anh Xi-xôm-phôn - Ủy viên Bộ Chính trị, anh Thít Muôn - Ủy viên Bộ Chính trị.

Cuộc hội đàm gồm hai nội dung chính: Kiểm điểm về quan hệ giữa hai đảng và nguyên tắc quan hệ giữa hai đảng. Vấn đề thứ hai là trao đổi tình hình và phương hướng công tác của cách mạng. trước hết là việc đấu tranh thành lập Chính phủ Liên hiệp ở Lào.

Kiểm điểm về quan hệ giữa hai đảng, sau khi kiểm lại những kết quả đã đạt được, anh Lê Duẩn nhấn mạnh:

- Mối quan hệ giữa hai đảng nói chung rất tốt. Cán bộ Việt Nam đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, ra sức chịu đựng gian khổ hy sinh tận tụy nhưng cũng còn có những khuyết điểm. Sự phát triển của mỗi nước có khác nhau, nên cách nhìn vấn đề cụ thể thường khó nhất trí hoàn toàn.

Anh Bẩy nói:

- Cán bộ Việt Nam rất tốt, hy sinh tận tụy. Từ khi có sự kiện Viêng Chăn, các chú trương lớn đều đúng, nhưng khi làm cụ thể thì cũng có cái sai. Cán bộ Việt Nam sai cũng có, nhưng cũng do hoàn cảnh khách quan đòi hỏi, bộ máy của Lào mới tổ chức, nếu Việt Nam không làm thì thế nào? Do đó cán bộ Việt Nam buộc phải làm thay. Cán bộ Lào cũng có khuyết điểm là ỷ lại, không kịp nghĩ, không kịp làm. Đoàn cố vấn 100 và chuyên gia quân sự Việt Nam có quan điểm và phương pháp rất tốt, thật cần thiết thì phải làm thay nhưng kéo anh em Lào vào cuộc để cùng làm.

Anh Bẩy nói tiếp:

- Do tình hình phát triển mới, nguyên tắc cơ bản sẽ không thay đổi, nhưng tình hình cụ thể thay đổi, Việt Nam cần có quan hệ với Chính phủ Vương quốc Lào, do đó phải đặt quan hệ rõ ràng.

Sau khi kiểm điểm mối quan hệ vừa qua, anh Ba nhắc lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng Lao động Việt Nam dẫu còn nhiều khó khăn gian khổ, nhưng vẫn phải đem hết sức mình ra giúp cách mạng Lào. Đó là nhiệm vụ quốc tế, đồng thời cũng là nhiệm vụ đối với cách mạng Việt Nam”. Cuối cùng anh Ba trình bày một số nguyên tắc lớn về quan hệ và lề lối làm việc giữa ha đảng, anh nói:

- Quan hệ giữa Đảng Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, mọi công việc ở Lào đều do Đảng Lào phụ trách. Cách mạng Lào do cách đồng chí Lào lãnh đạo. Đường lối, chủ trương do Đảng Lào đề ra. Việt Nam góp ý kiến. Cũng có lúc Việt Nam thấy vấn đề trước thì đề xuất ý kiến nhưng quyền quyết định vẫn do Đảng Lào.

Về quan hệ giữa Đảng Lào với các đảng anh em khác, trong quan hệ quốc tế Đảng Lào tự mình trực tiếp bàn bạc thương lượng với các đảng anh em trong mọi vấn đề có liên quan. Trong phạm vi nào đó, theo yêu cầu của đảng anh em và với sự thỏa thuận của Đảng Lào, Việt Nam có thể làm trung gian giúp đỡ.

Quan hệ giữa hai nước, hai chính phủ tất nhiên khác hơn quan hệ hai đảng. Những vấn đề lớn trong quan hệ giữa hai chính phủ thì hai đảng cũng cần có sự trao đổi ý kiến trước với nhau.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 09:59:19 AM
Anh Bẩy nhất trí những nguyên tắc và chế độ làm việc anh Ba đề ra. Anh Bẩy đề nghị:

- Trong nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, đề nghị Việt Nam cử một số cán bộ giỏi về lĩnh vực này sang giúp Lào. Yêu cầu Việt Nam giúp về đường lối chính sách, nhưng giúp đào tạo cán bộ là vấn đề mấu chốt, giúp củng cố và mở rộng cơ sở Đảng. trong lực lượng vũ trang cũng giúp bồi dưỡng cán bộ và phát triển cơ sở Đảng. Kinh tế là vấn đề mới cần có sự giúp đỡ của Việt Nam, nhất là trong vùng căn cứ cả trước mắt và lâu dài, làm thế nào vùng căn cứ trở thành một tấm gương soi cho các vùng khác.

Về tình hình và hướng công tác trước mắt của cách mạng Lào, anh Bẩy nhận định:

- Âm mưu của Mỹ và bè lũ tay sai là không muốn đàm phán. Nhưng do tình thế bắt buộc, nội bộ chúng có nhiều khó khăn, chúng định lợi dụng đàm phán để củng cố nội bộ, nhưng vẫn cố kéo dài, không chịu thỏa thuận vấn đề chính trị.

Nói về tình hình cách mạng Lào, anh Ba cho rằng:

- Cách mạng Lào vừa qua thu được một số thắng lợi quan trọng. Pa-thét Lào có vị trí chính trị lớn, địa bàn rộng, có thế và lực mạnh. Lực lượng vũ trang có điều kiện tiến đến xây dựng một quân đội khá mạnh. Đó là thắng lợi căn bản nên chúng ta cần phải phát huy được thắng lợi đó.

Ta đã có thêm sức mạnh, nên củng cố được mặt trận với Phu-ma và do đó địch phải thua ta về quân sự và chính trị. Nhưng ta chưa đánh bại được quân của Phu-mi Nô-xa-vẳn, chúng còn có đội quân khá mạnh. Phía ta tuy lực lượng yếu nhưng có thế mạnh, có vị trí chính trị quốc tế. Về ảnh hưởng quốc tế đối với Lào, lực lượng Pa-thét Lào và phe ta có mối quan hệ chặt chẽ. Phu-mi Nô-xa-vẳn dựa vào Mỹ, Mỹ hết sức giúp Phu-mi củng cố lực lượng. Nhưng do tương quan lực lượng trước mắt, đế quốc Mỹ không thể tiếp tục đeo đuổi âm mưu quân sự đối với Lào như đã làm bấy lâu mà phải nhân nhượng. Chúng buộc phải công nhận nước Lào hòa bình trung lập, nhưng hòa bình trung lập theo kiểu nào thì còn tùy thuộc vào tương quan lực lượng trong nước quyết định.

Tương quan lực lượng hiện nay đang diễn biến phức tạp. Vấn đề rất căn bản và cấp thiết hơn là phải tích cực xây dựng lực lượng cả về quân sự lẫn chính trị. Vấn đề quan trọng thứ hai là tranh thủ Phu-ma, nắm vững Coong-le. Nắm Phu-ma và Coong-le cũng là vấn đề phức tạp nên công tác mặt trận trong những vấn đề quan trọng cần hết sức chú ý.

Về chủ trương đàm phán, anh Ba gợi ý:

- Ta không đặt vấn đề chia cắt dứt khoát có giới tuyến rõ ràng, vì nếu thế thì rất khó khăn. Ta kiên trì đấu tranh thực hiện một nước Lào thống nhất. Thống nhất thì Mỹ không thể bao vây Lào được. Ngược lại nếu chia cắt thì Mỹ xen vào. Kiên trì đấu tranh cho nước Lào thống nhất là một bước thắng lơi có tính triệt để. Tình hình Lào đã có thể cho phép ta kiên trì đi tới một đường lối như vậy. Thực tế địch đã không thôn tính được ta. Trên cơ sở đó ta đặt vấn đề Chính phủ Liên hiệp. Chính phủ Liên hiệp chỉ là một phương tiện để làm nhiệm vụ củng cố thắng lợi vừa qua, tạo điều kiện thuận lợi mới cho việc xây dựng lực lượng; tranh thủ củng cố mặt trận chắc hơn; đẩy lùi thế của Mỹ thêm nữa.

Trong phiên họp cuối cùng, Bác Hồ đến dự và phát biểu ý kiến. Bác nói:

- Trước hết, tôi mừng thắng lợi của cách mạng Lào gần đây và sau này nữa. Thắng lợi đó nhờ chính sách của Đảng Lào đúng, đồng thời các đảng anh em cũng giúp đỡ trực tiếp là Trung Quốc, Việt Nam... Trong lúc chúng ta làm việc với nhau có ưu điểm, cũng có khuyết điểm. Nói khuyết điểm thì cả Lào lẫn Việt đều có, làm thế nào giúp nhau thấy khuyết điểm, thành thật, phê bình có thế mới đoàn kết được chặt chẽ.

Sau khi phân tích sâu sắc tình hình Lào, Bác nêu ba vấn đề quan trọng:

- Việc thứ nhất là xây dựng Đảng. Tầm quan trọng ai cũng thấy rồi. Việc thứ hai là mặt trận, là một trong ba bửu bối. Mặt trận phải được củng cố và phát triển. Phải làm cho mạnh. Trong công tác mặt trận về nguyên tắc là bất di bất dịch, nhưng về hình thức và biện pháp thì phải biết nhân nhượng, biết hy sinh, ta phải chịu đựng nhiều hơn. Việc thứ ba, về quân đội nên “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Quân số vừa phải phù hợp với tình hình kinh tế, tài chính, tình hình cung cấp, vận chuyển khó khăn, tình hình thiếu cán bộ. Tóm lại tình hình cụ thể ở Lào phải căn cứ vào cán bộ, lượng thực mà đề ra mức xây dựng cho thích hợp.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 10:00:50 AM
*
*   *

Do thái độ hiếu chiến và ngoan cố của Mỹ và Nô-xa-vẳn, chúng vừa tiến hành đàm phán giữa ba phái vừa gây xung đột vũ trang. Song tất cả những cuộc tiến công của quân Nô-xa-vẳn đều bị các lực lượng yêu nước và trung lập đẩy lùi. Tình hình quân sự bất lợi đã buộc Bun Ùm – Nô-xa-vẳn dù muốn dù không cũng phải đi đến thỏa hiệp. Ngày 12 tháng 6 năm 1962, tại Cánh Đồng Chum đại biểu ba phái ký vào văn kiện thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm thủ tướng. Ngày 24 tháng 6 năm 1962, Chính phủ Liên hiệp dân tộc ra lệnh đình chỉ chiến sự trên toàn lãnh thổ Lào và cử đoàn đai biểu thống nhất của Lào do Bộ trưởng Ngoại giao Kin-nim Phôn-xê-na dẫn đầu đi Giơ-ne-vơ tham gia vào việc ký kết các văn bản. Ngày 23 tháng 7 năm 1962, tất cả các trưởng đoàn tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ, kể cả Mỹ ký hiệp nghị quốc tế về Lào. Trong văn kiện, điều khoản quan trọng nhất nêu rõ: “các nước tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1962 tuyên bố long trọng không được có những hành động làm nguy hại đến chủ quyền, độc lập, trung lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Vương quốc Lào”(1).

Hiệp định quốc tế về Lào khẳng định sự thắng lợi to lớn của các lực lượng cách mạng Lào liên minh với những người trung lập yêu nước. Qua đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao trong những năm 1960-1962, Pa-thét Lào đã lớn mạnh nhanh chóng. Với việc thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc lần thứ hai, lực lượng cách mạng đã từ địa vị bất hợp pháp trở thành một thành phầm tham gia chính phủ bình đẳng với các lực lượng khác.

Mùa hè năm 1961, tôi trở lại Quân khu 4, cho đến cuối thu 1962 được trên cho đi học. Trong hơn một năm ở Quân khu 4, tôi chỉ ghi lại một vấn đề quan trọng nếu cho qua thì Đảng bộ Quân khu và cán bộ quân đội vẫn nhắc đến trong lịch sử của mình.

Sau khi nắm lại tình hình chung, tôi và anh Nam Long cùng một số cán bộ vào Sư đoàn 325 và giới tuyến tạm thời gặp cán bộ lãnh đạo chỉ huy các đơn vị bố trí sát cầu Hiền Lương sông Bến Hải. Qua trao đổi, chúng tôi thấy: Trên chiến trường miền Nam chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy đã bị phá sản. Nguyễn Chánh Thi làm đảo chính hụt. Nội bộ quân ngụy tranh giành địa vị làm tay sai ngày càng lục đục. Mỹ leo thang chiến tranh xâm lược lên bước mới là điều không tránh khỏi. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống Mỹ và tay sai ngày càng quyết liệt, đặc biệt là nam giới tuyến giáp với tuyến đầu miền Bắc. trong lúc ây, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đứng ở tuyến đầu cũng như phía sau quân khu nhận thức hết sức sâu sắc, giáo dục huấn luyện bộ đội theo tư tưởng chiến lược phòng ngự tích cực với kế hoạch: nếu quân địch vượt sông Bến Hải sang bờ Bắc, ta đánh trả đến mức nào đó rồi lùi về tuyến hai lấy điểm cao 74 làm chuẩn. Quân địch tiếp tục tiến công, ta lại đánh trả một số trận rồi về tuyến dốc Sỏi... Đến đây sẽ có chủ lực quân khu và của Bộ ra phản công. Chúng tôi khêu gợi nhiều lần vẫn không ai có ý kiến vượt sông Bến Hải tiến vào phía Nam.

Đoàn kiểm tra về quân khu báo cáo với Thường vụ Đảng ủy đi đến quyết định: đề nghị với Quân ủy Trung ương cho triệu tập Đại hội Đảng bộ Quân khu 4 với mục đích chuyển nhận thức tư tưởng cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 từ tư tưởng phòng ngự tích cực sang tư tưởng chiến lược chủ động tiến công, sẵn sàng vượt sông Bến Hải cùng đồng bào Nam giới tuyến đánh địch. Bộ đội phải sẵn sàng chiến đấu, nhất là đội ngũ cán bộ được lệnh là lên đường, không được chần chừ, thời gian chỉ được tính T = 0. Đề nghị trên được Quân ủy chấp nhận.

Đại hội có khoảng 150 đại biểu thuộc Đảng bộ Quân khu và khá đông khách mới của các tỉnh ủy, cơ quan Bô Quốc phòng, nhà trường, học viện, Quân chủng Phòng không và các đơn vị chủ lực cơ động thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Các đại biểu dân chủ thảo luận sôi nổi phát huy trí tuệ của mọi người, đi tới thống nhất đề nghị với trên chuyển tư tưởng phòng ngự tích cực sang chủ động tiến công. Từ đó chuyển những nội dung cần thiết trong chương trình giáo dục chính trị, huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật và sẵn sàng chiến đấu. Kết thúc đại hội, các cán bộ ra về phấn khởi với quyết tâm cao. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân khu lần thứ 2 được Quân ủy Trung ương phê chuẩn.

Qua Đại hội Đảng bộ Quân khu, tôi học tập được ít nhiều kinh nghiệm, yên tâm ra Hà Nội để đi học nước ngoài.


(1) Tuyên bố về nền trung lập của Lào 27-7-1962, Điều I.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Chín, 2018, 10:06:55 AM
(https://lh3.googleusercontent.com/_VkAcSdpjeQW57YOxDOgwuF1zAPikiCOqOgzlqunBD9wdzYOqtIiQ6F2RGLllp2tmKzH8ELQcmZnJcD4KDrekoxmjlSelA8OCcLglRQgdJrd8rqetBN2QbI0UVCDV5MlpuCbFIP0yV0SaWpe__Qt7fzgqiXft_VQZsxes29T1TwOkB8fymsmPuOvfl95H6wSp8wpt4IqNZCvfqMlYdcKXaZvWbiuf_nP8AFpBkV34FR7g7wNHfsj4ZmY8XV3m4PpJziX-tiaH0JgzaED3zgxkdP7wW3mtT-v4i4t1uVz30Puwqhnj0byGf_rmL3bZmnfzoJccfpH281o2OV0XVSWpTxdpzqwbC_vpdIoBZLwJxwUD404xlNUohaw74kS3Gykp0YQuaEpNOla3UoEKsPZZCqrz9Km1YpJTISCk9Yp89z2M5d_3Cve9liMqjv-Mwr-0a0851HB5Z-GCFStrSwQAdIpozHXrNbQ9ZRlA744GFaaFSkC5S6czrQ-LR2Guaja4ryWc4G9U0FS3expWakpqEMTia6guFYUm8Mx1ccpdZO_Lh6F8zS0_exCYNMoWUYV9Gm_U46w_7yveK8lJczQJ3NUB6cjhEDGrB5U7ypjX3MWFgFiME7S8sBuTQ5mg1w=w591-h800-no)

Đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào đến thăm và chụp ảnh lưu niệm.
Trong ảnh: Cùng với gia đình đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản (1956).

(https://lh3.googleusercontent.com/LPT39d1Wl3QsgSWS9vDO52NbzqmXY_rCl9AXzTuCy8erFrykRdsHRAZI5lyFLZfHUSghzZ2fbaj1Iayn7yXg4zykwL-KG4ofSpTJdBPWvomPG25byb9E2_VCHJ-TIm5Go1y-ewPuYfPt9iWUvtRI7o5OC9bbj2_HeyJOLTsquoSbUxekuOW2SoKFQi9fGrETj_po5nPiF5FGOYB2FKiZ4l0ZzEbq6FTcox5c3Ty5X1PfwhvSnka20WFWvB8vwzEdkyp1cc8tKZM6BuUN8ox456_x197Ar64AOaScK5bVPc91WKLb8jeyzRVzRqraCEv1Q6a_uVYq7f-DyPYtlwXe7Uy8TlQUfnjzLH2dgapDzO2gF0P5qyucRABlXodmTEtRgEhStWxgI8OyrsJ4uSL6wxJSBIoa4Hmod7m4mtDs_Qg_cDatQO8JQKZj6ZRCI324Y-4w3U1nPFf-g5YhAKuQTls16xII8YnfdUAXMpfLQSLtec5xOBhPQe4U2MG4z4chnpPU-yc1N4ORx2UDBuq13mTbJObrhyCHHWelzfXvrRp9Kj0wSvuu4EcRMCeWaKMyQ86lwO2wjqpDt-1un7Ij0716AI9hfjpIDwi-2wix_LEAIkA4Cm6JK7uGnPyV7mU=w600-h602-no)

Cùng một số cán bộ chiến sĩ cơ quan Đoàn Bộ Đoàn 100 chụp ảnh lưu niệm (năm 1956)

(https://lh3.googleusercontent.com/gDJARvELS8vZlZhGbd3yC6ETWW6h7hPL2bY1LNxcv76BEnW5WtCRmCrPG3rwjAG1CZu_VnnxCLWIT7wlOgCJmwRPO610iU05kyKRL-LQsRNKiOSyK8KV-0-Dk-w9VU-MXpnQMfyUyyU3YUs7F9HycV3sP3vD12b30GT6TMRyRH4Ek1pJVoUiONS1wT2e_A9FhGy3oomNdPStSY37u6pnbRHuxZN-pfIq7TVHVdlAg_IxHtK2pTwgVCo6BM9Dk1HPKgX6xpYAei-tpHCdfP-UsOOlJ5vcOu0FDjQo9bL7ahfXQuIhg5zL8AbZKj4jmcR0D2DsYS6pUqDvdNPLvHvAaLHNjLBlN-HzJRH2qs_S3JQeLZfKkpHaHwL-i9eRrPTW5BmpIXj06aO9zzCI1oHad39P8YXayMZ7uKOhm-HE3AzyqnEfEuGcjvv-hV3zmkFrXrcVolVU6B6KgktoNDYpdY2TnjO7yLWKrKlAutwJxFAm7tEKH85nn7zkIVKU1X4zPlWEZN6YnqsYLbMdiP0IgfmU4SM0paLNXWjDaDsgq8T3w2zg85yykarSk48YcHu75NjK6-ldhrt04JoeinnolRRie7qdRtWxYV72Noa-a-d8sEiWZFZIXjoa_6gJCSs=s600-no)

Cùng cán bộ chiến sĩ cơ quan Đoàn 100 chụp ảnh chia tay với các đồng chí phụ trách ba cơ quan
tham mưu, chính trị, hậu cần của bạn tại Na Mèo khi đoàn chuyển trụ sở cơ quan sang nơi đóng quân mới (năm 1956).


(https://lh3.googleusercontent.com/qOZQnhNMo8DC_qcr3n6PboN5aDH10pEsvWQ8qQmzk9jQy3tXo6n86tlYS2ngRonTttm56RJbZibnyliUe9FPbrCKohpl58aK58EAxcV4K274t5d3ohzEdzBeIwLp5-OeHgD7MbjlbPcJzo-BzPYlPS0MYza8OZY5RFkN49gvj8VH_8snumXFz_OQTwhUnivpekKCzaIht7-BhkoFZJ9flQwEzEypu_4Ah185HDIWcL-NB7C4FfJ_OqvQqLlIlq_LGvYLJoffQ5A2W6egpHbntJNPS8Z51M-4DlOZONDWzZlC-dmZ-92Fvn_SOjeFFB-wtdQNgX62LIjadNve2a-Jttozl1sm3uAHpDC9t9XeHOO2jwEphAXNudjUZNdrq0UV5bqFYA8S6lfiGQC7uEJWEnx43xyADhb6FpR_har1rAqVeMWaXwd5FT7rIZtcxhJuUZBa0X4tBePOW3tvarDkBC0XAjMTyevHvyNb3EhPrn-OP16cUxj6xkfOxjn5PJ0idodGS2k3O80oo6faEkAn3SOWDmJzQaVVSdl-CwBuiMAJyQerCsKhQDPV-976AHQZl8Iu163IjBoSmh_ll_GUEpXgLJct4xubplXJjKaiiMwzM8pipVA-wT03F91-iIY=w555-h480-no)

Gắn huân chương Chiến công cho đồng chí Hà Minh Tân, cố vấn tuyên huấn.

(https://lh3.googleusercontent.com/Rq1R1s5Da8MsPZ9UgIcp2DgGoGU01v5ZPLANJZ-YzgZ2loRkEME1lce2RzC2E6nQeqLbTX6uYszI8OYWH_bYGskwFrzCG5iYhMPC-kDuPSC-CIZPOq0EgiNPgTij_4tJmha_7jOkOmNVVCRloj_6un3SGAYxDLve5brV-zCl_ysYfYRlE2BzhPMPGovBoFQX3Kqpey4hJ1hzAXYNh7J38DRYOpBkjh37y6EbOU1c0U-T_0WyZBKaO_g9QEssV6QRs9CZCwUOTrqwnPUpBesM3zd8N4yry1BGn2Ug5Jj8PXzNzh9cq0ImPZv8J_0H7gDgVlLjDsVHR9d0nplTRf_DLIT_BBy0g_uvMoHvdBWWwPI3vlbQjSESSChaABhgyCDbiLYepvep2HS2LfWXJIOsochFZqhti-JiTb2EPKZ8MxLiSyU8Y3jmoCSWhf6dvnOyIWhSRc68WyhYyvKPm3VoOdmd0JGAITX6VhjSSa1s_hF2cMuyMkOiwilCdqzZdfeIeURh5ZxXdOiPtPs8h39CTDI19S7JuryZi6W7DOuSvBSekyqsAcFC4Oa_sY0IIhdPJ6_oWFxVMSx1pk9C6mGL2v37N4cIR4l1ZKjt2A5xMZ0EQRVIRnbLJXbayTYftZA=w600-h724-no)

Cùng một số cán bộ Ban công tác miền Tây chụp ảnh lưu niệm (Sầm Nưa, tháng 7 năm 1961).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:29:49 PM
Chương V
TRỞ LẠI KHU 5 – TÂY NGUYÊN ĐÁNH MỸ

Sau một năm làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 4, trên quyết định tôi đi học công tác tham mưu ở Liên Xô. Sau mấy chục năm làm cách mạng không có điều kiện thọc tập thì đây là dịp tốt nhất để tôi nâng cao trình độ.

Thời gian này, để giải quyết tốt các vấn đề chiến dịch, chiến thuật của quân đội ta, nắm được phần nào khoa học và nghệ thuật quân sự của Liên Xô, Trung Quốc, Bộ Tổng tham mưu đề nghị cấp trên đặt vấn đề với các nước bạn giúp bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ lãnh đạo quân đội ta. Ở Liên Xô, ta đề nghị mở lớp bồi dưỡng riêng cho những người lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Tôi đi đợt 2, được phân công làm đoàn trưởng, bí thư chi bộ. Đoàn chúng tôi gồm có anh Lê Trọng Tấn (học nửa năm sau), anh Quang Trung, anh Lê Ngọc Hiền, anh Vũ Xuân Chiêm, anh Nguyễn Văn Bảo, anh Nguyễn Đường, anh Nam Thắng, anh Nguyễn Thanh, anh Phan Hàm, anh Hoàng Kiện, anh Phạm Hoàng.

Nội dung đại thể phân bố thời gian như sau: Khoảng 2 tháng học binh khí kỹ thuật, đến từng binh chủng, quân chúng nghe giới thiệu và xem các binh khí kỹ thuật. Riêng Hải quân có đến Hạm đội Ban-tích, đi xem các loại tàu tuần dương hạm, tàu ngầm, tàu phóng lôi, tàu đổ bộ, tàu quét lôi, tên lửa bờ biển, pháo bờ biển, máy bay của hải quân, xem biểu diễn thả thủy lôi, quét lôi. Xuống tàu tuần dương hạm dự cuộc thao diễn của Hải quân Liên Xô...

Khoảng bốn tháng học về các hình thức tác chiến cấp sư đoàn trong điều kiện tác chiến thông thường và trong điều kiện sử dụng vũ khí hạt nhân. Học viên phải nghiên cứu bài vở thật nghiêm túc, tham dự thảo luận do giáo viên chủ trì, làm bài tập chu đáo, luyện tập vẽ bản đồ, đọc bản đồ, thảo mệnh lệnh và đóng vai sư đoàn trưởng ra mệnh lệnh cho cấp dưới. Bạn cho rằng sư đoàn là đơn vị chiến thuật cơ bản nên các đồng chí chỉ huy chiến dịch và lãnh đạo quân đội đều phải học thật kỹ để có thể sử dụng tốt các sư đoàn. Đối với nhiều đồng chí của ta, nhất là các đồng chí có trình độ văn hóa thấp thì cách học của Liên Xô đòi hỏi phải chuẩn bị bài vở mất nhiều thời gian, phải động não nhiều, nhớ nhiều và phải biết cách ghi các số liệu kỹ thuật để thường xuyên ôn luyện nên trong những ngày đầu anh em học khá vất vả.

Sáu tháng còn lại học về chiến dịch, chiến lược, học chỉ huy tập đoàn quân chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, đề phòng đòn đột kích đầu tiên, chống quân đổ bộ đường biên, đường không... Môn lịch sử chiến tranh là môn học chính khóa, nội dung giới thiệu một cách có hệ thống lịch sử chiến tranh qua các thời đại, ý nghĩa thành công hay thất bại trong các cuộc chiến tranh lớn trên thế giới. Bạn cũng rất chú ý giữ gìn di tích các chiến trường lịch sử.

Chúng tôi đi thăm thành phố Xê-va-xtô-pôn, được giới thiệu về tổ chức phòng ngự một thành phố ở bở biển. Chúng tôi còn được xem chiến trường Bô-rô-đi-nô, nơi diễn ra trận chiến quyết định giữa quân đội Nga do tướng Cu-tu-dốp chỉ huy và quân đội Pháp do Na-pô-lê-ông chỉ huy (1812).

Kết thúc lớp học, trao đổi với các đồng chí lãnh đạo quân đội ta, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô đã cử một tổ giáo viên sang nghiên cứu chiến trường Việt Nam để có thể ra tưởng định làm bài tập trên chiến trường của ta.

Sau đợt đi nghiên cứu địa hình Việt Nam, tổ giáo viên Liên Xô có phát biểu với lãnh đạo quân đội ta: Các đồng chí Việt Nam nhất thiết phải xây dựng và huấn luyện bộ đội tác chiến hiệp đồng binh chủng. Chiến trường Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng xe tăng...

Vào trung tuần tháng 9 năm 1963, đoàn chúng tôi về đến Hà Nội. Ở lại Hà Nội vài ngày tôi được điều về làm Tư lệnh, Chính ủy – Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4.

Vào đến Quân khu 4, với nhiệm vụ được giao tôi nắm lại tình hình chung rồi xuống đơn vị tìm hiểu thêm và kết hợp thăm lãnh đạo các tỉnh thuộc địa bàn quân khu.

Tháng 12 năm 1963, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị lần thứ 9. Hội nghị đã nhận định tình hình, dự kiến các khả năng, vạch ra phương hướng cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới và nhấn mạnh phải kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định nhưng đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh tan lực lượng quân sự - chỗ dựa của nền thống trị của địch, làm cho cách mạng thắng lợi. Để thực hiện yêu cầu đó, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng ta về mọi mặt, đặc biệt là lực lượng quân sự.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:31:19 PM
Về nhiệm vụ trước mắt, Hội nghị xác định hai nội dung chủ yếu và cũng là hai mục tiêu chủ yếu phải quyết tâm đạt cho bằng được. Thứ nhất, tiêu diệt từng bộ phận quân địch, tạo điều kiện làm tan rã hoàn toàn lực lượng quân sự - chỗ dựa của Mỹ và tay sai ở miền Nam... Thứ hai, làm thất bại kế hoạch gom dân lập “ấp chiến lược” của địch, phá phần lớn các ấp chiến lược, giành nhân tài vật lực cho cách mạng làm chủ vùng rừng núi và phần lớn đồng bằng.

Tháng 1 năm 1964, Bộ Tổng tham mưu triệu tập Hội nghị Phòng không nhân dân toàn miền Bắc lần thứ nhất. Các cuộc diễn tập báo động phòng không, cứu thương, cứu hỏa, tổ chức việc xây dựng hầm trú ẩn, dự kiến các địa điểm sơ tán, di chuyển, bố trí phân tán kho tàng, bến bãi được thực hiện. Bộ đội phòng không nâng cấp trực chiến, tăng cường huấn luyện. Một mạng lưới bắn máy bay tầm thấp được hình thành trên toàn miền Bắc.

Ngày 27 tháng 3 năm 1964, tại Hà Nội, Bác Hồ triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Tại Hội nghị, sau khi điểm lại những sự kiện lớn trong 10 năm qua ở nước ta và trên thế giới, Bác Hồ đã tổ rõ thái độ của nhân dân ta đối với âm mưu xâm phạm miền Bắc của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác nói: “Tình hình miền Nam hiện nay chứng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mỹ trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” này. Cuộc “chiến tranh đặc biệt” mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng sẽ thất bại ở bất cứ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”(1).

Bác kêu gọi toàn dân, toàn quân nâng cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng đập tan mọi hành động khiêu khích và phá hoại của đế quốc Mỹ, mỗi người làm việc bằng hai, hết lòng hết sức ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Đó là lệnh động viên của Bác trước tình hình mới, là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với những âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Hội nghị chính trị đặc biệt do Bác triệu tập đã biểu thị ý chí sắt đá đoàn kết và chiến đấu của nhân dân ta ở miền Bắc, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết cả nước một lòng để bảo vệ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bảo vệ thành quả cách mạng lao động hòa bình, ra sức chi viện cho đồng bào miền Nam ruột thịt đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.

Đang triển khai công việc ở Quân khu 4 thì trên gọi tôi ra Hà Nội chuẩn bị đi Nam. Lúc đầu tôi được lệnh vào B2 (R), tức là Nam Bộ làm phó cho anh Nguyễn Chí Thanh. Công tác chuẩn bị theo hướng ấy. Nhưng mấy hôm sau lại đổi hướng tôi đi vào Khu 5. Chiến trường nào cũng thế, miến là được vào với đồng bào, đồng chí và đồng đội đánh Mỹ - ngụy, vì độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Mấy ngày liền, cứ mỗi buổi sáng tôi lại đeo ba lô trong đó có 8 viên gạch đi bộ lên Hồ Tây để rèn luyện gân bắp. Buổi chiều lại tìm cách nghe tình hình miền Nam và Khu 5, trong đó chú ý lắng nghe lãnh đạo đánh giá chiến trường.

Lúc ra đi tôi được lệnh chỉ định làm đoàn trưởng Đoàn kiềm tra của Quân uy Trung ương vào làm việc với Khu ủy và Quân khu ủy Khu 5. Đoàn có các anh Võ Bẩm, Trần Thọ, Đỗ Đức Kiên và một số cán bộ khác.

Xe vào đến Vinh, hôm sau đến làng Ho (Quảng Bình) thì bắt đầu đi bộ. Trước lúc ra đi, gạo, muối, lương khô cho từng người được quy định chặt chẽ. Trên đường đi chúng tôi quy định trong ngày hành quân nếu gặp rau rừng, rau tàu bay toàn đoàn dừng lại hái, bỏ túi bổ sung cho bữa ăn tối.

Qua Mường Noòng – đất bạn Lào – thì đoàn chúng tôi đi theo hướng đông. Anh Lương Khải Địch – Trưởng phòng Đặc công Quân khu 5 ra biên giới đón.

Chiều tối đoàn vượt đường 14, nơi đây rất gần quân địch ở Đắc Nhé. Khi qua đường mỗi người bước lên miếng ni-lông trải trên mặt đường để giữ bí mật, người cuối cùng đi qua cuốn miếng ni-lông đem theo. Đến chiều, đoàn đến cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Sáng hôm sau bắt đầu làm việc, trước hết là dự giao ban. Anh Ngưu – cán bộ tham mưu quân khu báo cáo kết quả đánh địch, anh nói: “Bộ đội địa phương đánh “tan rả gọn” mấy trung đội dân vệ”. Mọi người trong cuộc họp đều cười.


(1) Hồ Chí Minh – Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1970, tr. 349.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:32:27 PM
Sau hai ngày làm việc với quân khu, ngày thứ ba đoàn chúng tôi sang chào Khu ủy. Lúc này anh Võ Chí Công vừa về Khu 5 làm Bí thư Khu ủy. Đoàn chúng tôi đi xuống tây Quảng Ngãi nghiên cứu hai “ấp chiến lược” Phú Khương và Phú Thọ mà quần chúng mới nổi dậy giành quyền làm chủ. Làm việc với mấy đại đội địa phương Quảng Ngãi, khi báo cáo anh em cán bộ đại đội cho rằng họ đã đánh “tám trận công kiên”, diệt 8 trung đội dân vệ trong ấp chiến lược. Tôi nói với anh Đỗ Đức Kiên khoan bình luận. Gặp anh Hường – chính trị viên Tỉnh đội được biết cán bộ, chiến sĩ ở đây phần đông dù ra Bắc tập kết trở về, tinh thần tốt nhưng cách đánh chưa được bồi dưỡng đúng mức. Trong lúc chúng tôi công tác ở đây thì quân cơ động ngụy mở cuộc càn quét lớn lên vùng căn cứ khu và quân khu, địch gọi là Độ Xá.

Địch huy động vào cuộc càn này 12 tiểu đoàn (5.000 quân), 80 máy bay, có cố vấn Mỹ chỉ huy. Chúng đặt tên cuộc càn là “Quyết thắng 202” vào vùng Mang Xin (tây Quảng Ngãi).

Sau 30 ngày chiến đấu liên tục, quân và dân miền tây Quảng Nam có các đơn vị chủ lực tham gia (Tiểu đoàn 40 Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 97 Trung đoàn 2) và lực lượng đặc công của quân khu đã dũng cảm mưu trí phối hợp với các tuyến bố phòng dày dặc của quân dân địa phương, bẻ gãy cuộc càn của địch, diệt 500 tên, bắn rơi 17 máy bay, bắn bị thương nhiều chiếc khác.

Đoàn kiểm tra của Quân ủy Trung ương sau khi nắm tình hình trong khu đều nhất trí với Khu ủy và Quân khu ủy về năm vấn đề quan trọng tập trung xây dựng lực lượng vũ trang:

Một là, Bộ đội chủ lực không thể đánh theo lối phân tán, đánh nhỏ, đánh tiêu hao địch, mà phải tác chiến tập trung với quy mô thích hợp để tiêu diệt từng đơn vị địch, đáp ứng yêu cầu phát triển của chiến tranh.

Hai là, Tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo, tư tưởng nhằm bồi dưỡng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội nhân dân, nâng cao khí thế cách mạng sôi nổi, phát huy tinh thần dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, bồi dưỡng chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Trên cơ sở đó mà quán triệt sâu sắc tư tưởng tiến công địch, thấm nhuần nguyên tắc đánh tiêu diệt.

Ba là, Củng cố và tăng cường ý thức tổ chức kỷ luật của bộ đội trong việc chấp hành mệnh lệnh, chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường. Phải nghiêm khắc với hiện tượng đánh xua, đánh đuổi, không thu được vũ khí, trang bị của địch mà còn để mất vũ khí, đạn dược.

Bốn là, Nâng cao khả năng cơ động chiến đấu của bộ đội chủ lực. Tổ chức gọn nhẹ, từng bước nâng dần thành phần chiến đấu, tăng đơn vị chiến đấu giảm bớt đơn vị phục vụ.

Năm là, Nâng cao trình đội kỹ thuật, chiến thuật, nhất là các đơn vị chủ lực. Nghiên cứu đánh bại các thủ đoạn chiến thuật của địch, trước mắt đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của Mỹ - ngụy.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra, Bộ Chính trị quyết định tôi ở lại Khu 5 làm nhiệm vụ Phó bí thư Khu ủy, Bí thư Quân khu ủy, Chính ủy Quân khu 5; Anh Nguyễn Đôn – Tư lệnh Quân khu. Mấy tuần sau thì Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gọi anh Nguyễn Đôn ra Bắc để ổn định sức khỏe. Anh Đoàn Khuê – Phó chính ủy, anh Nguyễn Chánh – Phó tư lệnh lên Tây Nguyên phụ trách tiền phương của Quân khu.

Tháng 6 năm 1964, Khu ủy ra nghị quyết về nhiệm vụ và những công tác lớn trước mắt của Khu 5. Nghị quyết nhận định tình hình hiện nay trong khu: về địch, lực lượng ở Khu 5 vẫn còn tương đối đông (60-65 nghìn quân chủ lực, 22-23 nghìn quân bảo an, 6.000-8.000 biệt kích, 14-16 nghìn dân vệ), chúng thành lập 5 chiến đoàn ở quân đoàn 1, 9 chiến đoàn ở quân đoàn 2. Quân số địch tương đối đông, phong trào đấu tranh, diện làm chủ của nhân dân ta chưa mở rộng, đấu tranh chính trị và vũ trang của ta chưa căng kéo địch trên khắp chiến trường nên địch có điều kiện tập trung quân tương đối lớn để càn quét, điều quân phản ứng ta tương đối mạnh. Xe bọc thép M113 còn phát huy tác dụng. Ngoài các căn cứ lớn, địch có 500 đồn, bốt, ấp chiến lược còn nhiều (gần 2.700 ấp), cả đồng bằng và miền núi, nên địch còn kìm kẹp được đại bộ phận nhân dân đồng bằng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:33:50 PM
Về ta, khó khăn: Lực lượng của địch ở Khu 5 tương đối đông. Phạm vi giành dân của ta, nhất là ở đồng bằng còn quá ít. Kinh tế còn khó khăn lâu dài, cụ thể là lương thực, tài chính, nhân vật lực cho cách mạng. Trong thực hiện phương châm, vê tư tưởng và tác phong còn nhiều nhược điểm và khuyết điểm.

Thuận lợi: Có căn cứ miền núi được giữ vững và củng cố. Phong trào quần chúng nói chung đã chuyển lên một thế mới. Phong trào đồng bằng đã mở ra và giành dân được một mức độ. Lực lượng vũ trang của ta tương đối đông, cán bộ cần cù chịu đựng gian khổ, có trình độ. Công tác chỉ đạo đã có kinh nghiệm hơn trước. Ngoài ra còn có sự chỉ đạo đúng đắn của trên, có sự hỗ trợ chung của phong trào miền Nam.

Về nhiệm vụ chung và những công tác trước mắt, nghị quyết chỉ rõ: Căn cứ vào tình hình thực tế trong khu, để thực hiện nghị quyết của Trung ương Cục, nhiệm vụ của khu từ nay đến giữa năm 1965 là động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên chiến trường tranh thủ thời cơ liên tục tiến công tiêu diệt địch, ra sức phá “ấp chiến lược”, phá kìm kẹp, giành lại nông thôn đồng bằng và rừng núi (nhất là nông thôn đồng bằng), ra sức chống càn quét, chống lấn chiếm, xây dựng căn cứ rừng núi và vùng nông thôn – giải phóng, mở rộng diện tích tiêu hao, nâng cao mức tiêu diệt địch, đẩy mạnh phong trào nhân dân du kích chiến tranh, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận, phát triển công tác thanh phố, xây dựng thực lực chính trị, vũ trang của ta mạnh mẽ, tăng cường công tác kinh tế tài chính, đưa phong trào trong khu chuyển mạnh lên một bước phát triển mới, tạo điều kiện giành thắng lợi ngày càng to lớn. Sẵn sàng tư tưởng, tổ chức, đánh bại những bước leo thang mới của địch.

Trong những nhiệm vụ trên, có ba mục tiêu chính mà ta phải giải quyết cho được. Một là, phá ấp chiến lược, phá kìm kịp, giành và làm chủ phần lớn nông thôn đồng bằng, làm chủ rừng núi, xây dựng căn cứ và vùng giải phóng vững mạnh, đảm bảo giành được nguồn nhân lực lớn lao cho cách mạng. Hai là, tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã từng bộ phận quân đội địch, tiến lên thực hiện tốt nhiệm vụ của trên, tiêu diệt lớn sinh lực địch. Ba là, củng cố và phát triển mạnh mẽ lực lượng chính trị, vũ trang, tăng cường thực lực kinh tế của ta.

Ba nhiệm vụ trên có liên quan chặt chẽ với nhau, đảm bảo thắng lợi và hỗ trợ nhau.

Tháng 7 năm 1964, Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu 5 phát động phong trào đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt, tiêu hao thật nhiều sinh lực địch, bồi dưỡng ta. Xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh đi đôi với phong trào phá ấp giành dân. Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương mở chiến dịch Thu – Đông năm 1964.

Tôi xin phép Khu ủy xuống nam Tam Kỳ tìm hiểu tình hình phong trào quần chúng và các đơn vị bộ đội. Cùng đi với tôi có một số cán bộ tham mưu, chính trị. Đến Dốc Bộng thì chúng tôi được biết anh Nguyễn Duy Minh – trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 vừa trúng pháo địch hy sinh trong một trận phục kích quân địch trên đường Tiên Phước đi Tam Kỳ. Anh Lê Hữu Trữ - Trưởng phòng Tác chiến quân khu được giao nhiệm vụ làm trung đoàn trưởng. Đến vùng Dương Yên, tôi gặp anh Mười Chấp – Tỉnh ủy viên Quảng Nam, Bí thư huyện ủy Tam Kỳ, một đồng chí không ra Bắc tập kết ở lại bám trụ kiên cường. Sau khi nắm lại tình hình, tôi bàn với anh Mười Chấp huy động được mấy tấn gạo. Tôi đề nghị với anh Võ Chí Công và anh Nguyễn Đôn cho nốt đại đội đang bảo vệ khu về tiểu đoàn chuẩn bị cho đợt hoạt động mùa Thu.

Thực hiện kế hoạch tác chiến Thu – Đông 1964, Tiểu đoàn 90, Trung đoàn 1 được tăng cường, nhận nhiệm vụ đánh địch ở Kỳ Sanh.

Kỳ Sanh là một xã giải phóng của ta ở tây Tam Kỳ (Quảng Nam). Trong tháng 3 năm 1964, Mỹ - ngụy mở chiến dịch lấn chiếm chiếm lại. Sau một thời gian đánh phá, địch đã gom dâm vào trong sáu ấp chiến lược. Lực lượng địch ở đây có tiểu đoàn quân cộng hòa bố trí thành 3 cụm ở đồi 76 và hai thôn, thôn 7 và thôn 8.

Đánh Kỳ Sanh, bộ đội ta phải vận động trên địa hình trống trải, giữa hệ thống cứ điểm dày đặc, địch có thể phát huy được máy bay, pháo binh, cơ giới.

Trung đoàn 1 chuẩn bị cho trận Kỳ Sanh khá tốt, tinh thần chiến đấu tốt, sức khỏe bộ đội được cải thiện. Trước khi bộ đội xuất quân, tôi về trung đoàn để động viên anh em:

- Các đồng chí đánh trận này theo hình thức “đánh điểm, diệt viện”, nhằm kiên quyết tiêu diệt một bộ phận sinh lực quân cộng hòa cơ động, bắn cháy và bắt sống M113, đánh bại bước đầu chiến thuật “thiết xa vận” của địch, bắn rơi máy bay địch bằng súng trường và trung liên, đánh cả ba đêm và ban ngày, nâng cao trình độ và sức chiến đấu của trung đoàn chủ lực.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:34:36 PM
Nói xong tôi hỏi anh em:

- Các đồng chí có gì khó khăn?

Anh em giơ tay nói:

- Báo cáo thủ trưởng, trên 600 người đi vào trận đánh mà chỉ có không đầy hai chục xẻng cuốc, khó đào công sự xong trong đêm.

Trước giờ xuất quân, đòi hỏi của anh em rất thực tế. Thời gian chỉ còn lại mấy tiếng đồng hồ, làm thế nào giải bải toán hắc búa này? Tôi nói với anh Thạch và anh Huyền cho anh em tạm nghỉ, các đồng chí cùng suy nghĩ cách giải quyết.

Suy nghĩ một lúc, tôi mượn dao và cùng mấy đồng chí bảo vệ ra rừng tìm một cây gỗ thật cứng, chặt một đoạn vót nhọn.

Bộ đội được tập hợp trở lại, tôi cầm cây cọc gỗ vót nhọn cắm trước hàng quân và nói:

- Các đồng chí! Xưa kia Ngô Quyền đã chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng bằng những cây cọc gỗ như thế này, tất nhiên là lớn hơn, dài hơn. Ngày nay, các đồng chí hãy noi gương của cha ông, dùng những cọc gỗ để đánh Mỹ - ngụy. Gỗ có thể đâm thủng thuyền giặc, thì gỗ cũng có thể dùng để đào công sự chiến đấu.

Hiểu được ý của tôi, Tiểu đoàn 90 tỏa vào rừng, mỗi người chặt một đoạn cây vót nhọn để thay cuốc, xẻng. Đêm hôm ấy bộ đội đào công sự cá nhân khá tốt.

Theo đúng kế hoạch, đêm ngày 9 rạng ngày 10 tháng 8 năm 1964, một bộ phận của Tiểu đoàn 90 tiến công tiêu diệt 1 đại đội quân ngụy ở thôn 8.

Sáng ngày 10 tháng 8, chỉ huy tiểu khu Quảng Tín sử dụng 2 đại đội bộ binh và 9 xe bọc thép M113 dẫn đầu từ Hố Giang kéo lên Kỳ Sanh. Để yểm trợ cho lực lượng cứu viện, địch cho máy bay và pháo binh bắn phá ác liệt dọn đường. Những công sự đào vội bằng cọc gỗ vót nhọn chỉ sâu đến thắt lưng, cũng đủ để chiến sĩ ta vững tâm chờ địch.

9 giờ 35 phút ngày 10 tháng 8, đại bộ phận quân địch đã lọt vào trận địa phục kích của ta. Ngay từ những loạt đạn đầu, các chiến sĩ ta đã bắn cháy 2 xe M113 đi trước. Bảy chiếc đi sau vội vàng dừng lại. Máy bay, pháo binh thi nhau nã đạn vào trận địa Tiểu đoàn 90.

Bất chấp bom đạn, chiến sĩ của ta vừa anh dũng đánh chia cắt bộ binh địch bám theo xe bọc thép, vừa bình tĩnh đón đánh những chiếc xe M113 đang hung hăng ào tới. Sau hơn 30 phút, ta bắn cháy thêm 4 chiếc nữa. Vậy là ta đã diệt 6 trong số 9 chiếc M113. Tấm lá chắn bằng thép đã bị phá vỡ, bộ binh địch hốt hoảng bỏ chạy tán loạn. Quân ta lập tức xông lên truy diệt gần 100 tên địch nữa. Ta thương vong 41. Tuy chưa diệt gọn được toàn bộ quân địch nhưng đây là trận đầu tiên Tiểu đoàn bộ binh 90 đã trụ vững ở địa bàn đồng bằng. Chiến thuật “thiết xa vận” – thủ đoạn chủ yếu để thực hiện kế hoạch càn quét gom dân lập ấp chiến lược của địch lần đầu bị đánh bại trên chiến trường Khu 5.

Giữa năm 1964, trước những thất bại ngày càng nặng nề ở miền Nam Việt Nam, âm mưu của đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc đã trắng trợn hơn, các hoạt động trinh sát trên không, tung biệt kích vào phá hoại nhiều hơn.

Tháng 3 năm 1964, Giôn-xơn phê chuẩn kế hoạch Đê-sô-tô, dùng tàu khu trục Mỹ tuần tiễu ở vịnh Bắc Bộ để ngăn chặn tiếp tế vào Nam bằng đường biển của ta; đồng thời quấy rối trinh sát vùng ven biển, yểm hộ cho hoạt động của tàu biệt kích ngụy vây bắt nhân dân ta đánh cá ngoài biển để khai thác tin tức. Trung tuần tháng 4 năm 1964, hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch ném bom miền Bắc, thông qua danh sách 94 mục tiêu sẽ bị đánh phá.

Ngày 12 tháng 6, biệt kích ngụy phá cầu Hang (Thanh Hóa). Ngày 30 tháng 6, chúng lại phá nhà máy nước Đồng Hới. Từ ngày 30 tháng 7, tàu chiến Mỹ đã xâm phạm ven biển của ta, bắn phá các đảo Hòn Ngư (Nghệ An) và Hòn Mê (Thanh Hóa). Ngày 31 tháng 7, tàu khu trục Ma-đốc của Mỹ vào khu vực phía nam đảo Cồn Cỏ, bắt đầu do thám và uy hiếp dọc bờ biển của ta. Các ngày 31 tháng 7 và 1 tháng 8, máy bay Mỹ bắn phá đồn biên phòng Nậm Cắn...


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:35:24 PM
Trước tình hình đó, hải quân ta được lệnh đánh trả và trừng trị bọn cướp biển xâm phạm vùng biển và an ninh của nước ta.

Trưa chủ nhật ngày 2 tháng 8 năm 1965, ba tàu phóng lôi của hải quân ta được lệnh xuất kích tiến công tàu khu trục Ma-đốc đang vào hải phận của ta ở Hòn Mê và Lạch Trường (Thanh Hóa).

Nhưng đến ngày 4 tháng 8 năm 1964, chính quyền Giôn-xơn lại dựng lên câu chuyện tàu chiến Mỹ bị hải quân ta tiến công ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ thuộc hải phận quốc tế, lấy cớ ném bom miền Bắc trong ngày 5 tháng 8 năm 1964.

Với sự kiện vịnh Bắc Bộ, đế quốc Mỹ mong gỡ thế bí, thế sa lầy của chúng ở miền Nam Việt Nam, nhưng thực tiễn những năm sau đã chứng tỏ cuộc phiêu lưu mới đó đã không cứu vãn được những thất bại ngày càng nặng nề của chúng.

Đêm 5 tháng 8 năm 1964, tôi và anh Mười Chấp và mấy anh em đi cùng, mắc võng giữa vườn chè Kỳ Thạnh nhưng không sao ngủ được, thỉnh thoảng lại nói nhau không biết đêm nay Bác Hồ có ngủ được không? Đêm đã khuya, gió biển thổi vào làm những tàu lá dừa lay động xào xạc. Có đồng chí mỗi lần nhắc đến Bác thức hay ngủ lại nức nở khóc. Chúng tôi nói với nhau: điều quan trọng nhất là quân dân cả nước một lòng kháng chiến chống Mỹ - ngụy, quân, dân miền Nam và Khu 5 đánh thắng địch để Bác vui lòng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1964, báo Quân giải phóng - tờ báo của lực lượng vũ trang Trung Trung Bộ chính thức phát hành phục vụ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Tòa soạn báo Quân giải phóng được tổ chức do anh Lê Văn Ba làm thư ký tòa soạn (phụ trách chung), ban biên tập có các nhà văn, nhà thơ, gồm các anh Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Phan Đình Côn, Hà Giao... Chỉ sáu đồng chí, vừa làm phóng viên, biên tập, làm ma-két, chữa mo-rát... Trong điều kiện chiến trường đi lại rất khó khăn, để có bài tin kịp thời cổ vũ động viên bộ đội, cán bộ, phóng viên báo Quân giải phóng đã phải thường xuyên bám chiến trường, bám đơn vị. Nhiều phóng viên đã cùng với chiến sĩ chiến đấu trong các trận đánh đồn, phục kích, đánh giao thông, diệt cơ giới, chống càn quét, phá ấp chiến lược,

Giữa lúc phong trào đang phát triển thì Khu 5 bị một trận lụt khủng khiếp. Tháng 10 năm 1964, những cơn mưa như trút nước liên tục ròng rã nửa tháng trời biến đồng bằng Khu 5 thành biển nước. Hàng nghìn thôn ấp bị ngập trong nước. Lũ cuốn trôi nhiều nhà cửa, trâu bò, công cụ sản xuất. Núi sạt lở cuốn kéo theo một số buôn của đồng bào và một số bệnh xá, cơ quan, đơn vị. Riêng bộ đội đã có 70 cán bộ, chiến sĩ bị đất vùi. Theo các cụ già địa phương cho biết thì đây là trận lục chưa từng có trong vòng 100 năm ở đây. Trận lụt đã gây ra nạn đói nghiêm trọng, đe dọa khắp vùng ven biển miền Trung, tác động sâu sắc đến nhiều mặt của cuộc kháng chiến.

Kẻ thù tàn ác, chúng cho rằng trận lụt có giá trị như cuộc phản công của mấy sư đoàn. Giữa lúc nhân dân đang ngập chìm trong nước, hàng vạn người già, trẻ em đang chới với trên những mái nhà tranh, những ngọn cây thì cũng chính là lúc chúng tính kế xúc dân, lập ấp, đánh phá phong trào cách mạng. Từng đàn máy bay địch liên tục ném bom bắn phá các thôn xóm, các gò đất cao đang chen chúc những người chạy lụt. Xe bọc thép lội nước, xuồng máy của chúng lồng lộn rẽ nước chở quân đi càn quét hòng tiêu diệt các đơn vị chủ lực và du kích ta đang bị nước bao vây và xúc dân về các trại tập trung.

Khó khăn tưởng chừng không khắc phục nổi. Nhưng càng khó khăn gian khổ, Đảng bộ và nhân dân Khu 5 càng bền gan, vững chí, gan góc kiên trì chịu đựng và anh dũng vượt qua. Bộ đội và du kích vừa đánh địch càn quét vừa dùng thuyền, bè chuối lao đi dưới làn bom đạn địch để cứu dân. Bát cơm sẻ nửa, củ sắn chia đôi, mọi người chia nhau từng hạt lúa, củ khoai còn sót lại.

Trong những ngày khốn khó, Bác Hồ và nhân dân miền Bắc liên tiếp động viên thăm hỏi. Các chiến sĩ Đoàn 559 ngày đêm khẩn trương vận chuyển thuốc chữa bệnh của Bác Hồ và nhân dân miền Bắc gửi cho đồng bào, chiến sĩ Khu 5. Kẻ thù hy vọng trận lụt sẽ làm giảm sút sức chiến đấu của quân và dân Khu 5 trong một thời gian dài. Nhưng chúng đã lầm. Với truyền thống tự lực, tự cường, quân và dân Khu 5 đã nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn, đồng thời tạo ra sức mạnh chiến đấu mới.

Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương sử dụng Trung đoàn bộ binh 2, phối hợp với bộ đội địa phương huyện và dân quân, du kích mở đợt tiến công vào chi khu An Lão.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:40:17 PM
An Lão là một huyện của Bình Định, cách Tỉnh lỵ Bình Định 96km về phía tây bắc, là một huyện trung du chạy dài trong một thung lũng rộng 4km, dài 22km. Địch cho đây là vùng an toàn của chúng nên chỉ có lực lượng bảo an, dân vệ bố trí ở quận lỵ với công sự khá kiên cố, có một điểm cao, hai đồn cùng với 13 trung đội dân vệ trong 18 ấp chiến lược dọc địa bàn của huyện.

Trong đêm ngày 6 tháng 12 năm 1964, ta diệt gọn địch đóng ở trên điểm cao 193 và hai đồn dân vệ. Nhân dân các ấp nổi dậy bắt ác ôn, phá tan 18 ấp chiến lược, giải tán 13 trung đội dân vệ, nhưng ở quận lỵ ta chỉ tiêu hao được một phần quân địch. Đến sáng ngày 7 tháng 12 ta chuyển sang bao vây sẵn sàng đánh quân tiếp viện.

Trong hai ngày 7 và 8 tháng 12, ta tiếp tục đánh viện, diệt 6 xe M113 và một số tên địch, giữ vững các nơi đã chiếm được, tuyên truyền chính sách trong nhân dân, gây cơ sở du kích trong vùng giải phóng. Bị thất bại nặng nề, định rút khỏi vùng này.

Kết quả ta diệt và bắt 581 tên địch, khu 310 súng các loại (trong đó có 2 khẩu cối 106,7 ly), diệt và phá hỏng 6 xe M113, phá 18 ấp chiến lược, bắn rơi 1 máy bay, thu 12 tấn đạn, giải tán 13 trung đội dân vệ, giải phóng cả một vùng 11.000 dân.

Qua chiến thắng An Lão, lần đầu tiên ở Khu 5 xuất hiện phương thức tác chiến mới của chủ lực kết hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích dưới hình thức chiến dịch với quy mô trung đoàn. Chiến thắng An Lão đã làm cho quân và dân ta càng thêm phấn khởi và tin tưởng, ra sức khắc phục những khó khăn to lớn do nạn đói cuối năm 1964 gây ra và đã tạo nên một khí thế cách mạng mới.

Đợt hoạt động Xuân 1965, trên toàn bộ chiến trường Khu 5 được chuẩn bị khá hơn. Trong đợt này toàn khu có ba trọng điểm có chủ lực hỗ trợ cho phong trào diệt kẹp giành dân. Để căng kéo, chia cắt, tạo ra sức uy hiếp lớn, buộc địch phải lúng túng đối phó, ta đã tập trung 4 trong số 5 trung đoàn chủ lực của đồng bằng và Tây Nguyên, phối hợp với lực lượng địa phương ba tỉnh, tiến công địch trên toàn tuyến. Trong đó, chủ lực tập trung vào 4 khu chính: Trung đoàn 2 ở Phú Mỹ (Bình Định); Trung đoàn 10 ở đông tây đèo Măng Giang trên đường 19; Trung đoàn 320 ở Thành An - Thanh Bình trên đường 19 kéo dài; Trung đoàn 1 ở Quảng Nam. Trong đợt này quân khu còn sử dụng tất cả lực lượng đặc công, pháo cối đánh vào các sân bay. Trước Tết Nguyên Đán, cơ quan tham mưu quân khu tính toán và đề nghị nên nổ súng vào đêm 30 Tết. Sau khi cân nhắc, anh Năm Công và tôi đồng ý cho nổ súng đồng loạt vào tối 30 rạng ngày 1 Tết Nguyên Đán.

Theo đúng kế hoạch, đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965 (đêm 30 rạng ngày 1 Tết), chủ lực trên hướng trọng điểm cùng một lúc nổ súng tiến công sân bay Cù Hanh, trại Hô-lô-uê ở Plây Cu và cứ điểm Dương Liễu ở Bình Định.

Sân bay Cù Hanh là sân bay lớn, quan trọng nhất của Mỹ - ngụy ở Tây Nguyên. Trại Hô-lô-uê nằm ở quãng giữa sân bay và sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy. Trong trại có khoảng 1.000 cố vấn Mỹ.

2 giờ ngày 7 tháng 2, sau khi đã vượt qua tất cả hệ thống bố phòng, các chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 409 đã nằm sẵn dưới cánh máy bay địch. Được lệnh, hầu như cùng một lúc, hàng chục tiếng bộc phá nổ vang rền. Từng cột khói, lửa bốc lên. Cùng lúc đó, các chiến sĩ đại đội súng cối 60 ly Trung đoàn 320 tới tấp dội đạn xuống trại Hô-lô-uê.

Sau 30 phút chiến đấu, các chiến sĩ đã phá hủy và phá hỏng 42 máy bay các loại, diệt và làm bị thương 350 tên Mỹ(1).

Cùng lúc với trận tiến công sân bay Cù Hanh và trại Hô-lu-uê, Trung đoàn bộ binh 2 do trung đoàn trưởng Đỗ Phú Đáp và chính ủy Nguyễn Văn Ngật chỉ huy vụ nổ súng tiến công cứ điểm Dương Liễu, diệt gọn 1 đại đội cộng hòa và 3 trung đội dân vệ, cắt đứt đường số 1 từ Phù Mỹ đi Bồng Sơn (Bình Định). Tiểu đoàn đặc công 499 (thiếu) tiêu diệt cứ điểm Gia Hựu (Hoài Nhơn), diệt gọn 1 đội cộng hòa và 1 trung đội pháo 105 ly.


(1) Trong hồi ký, Giôn-xơn thú nhận 20 máy bay lên thẳng bị phá hủy và phá hỏng, 8 tên Mỹ chết và hơn 100 tên khác bị thương.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:41:14 PM
Ngày 8 tháng 2, địch cho 2 tiểu đoàn bộ binh và 1 chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn 22 ngụy theo đường số 1 tiến ra Dương Liễu. Theo kế hoạch đã vạch sẵn, các đơn vị của ta bố trí ở những khu vực địch đã lục soát và bí mật vận động tiếp cận. 13 giờ 30 phút, khi quân địch phát hiện đường dây điện thoại của trận địa chặn đầu cũng là lúc toàn bộ đội hình của chúng đã lọt vào trận địa của ta. Hàng loạt đạn súng cối trùm lên các điểm cao, trên đó có hàng chục tên địch. Các mũi xung kích bất ngờ từ các triền núi lao ra. Bị đánh mạnh và bị bao vây cá bốn phía, bọn chỉ huy quân ngụy liên tiếp kêu cứu. Hàng ngũ địch bắt đầu rối loạn tan rã. Một số tên lái xe bọc thép M113 cũng hốt hoảng bỏ xe chạy thoát thân.

“Bắt sống xe bọc thép”. Trung đội trưởng Bùi Xuân Bình vừa ra lệnh cho đơn vị vừa nhảy lên chiếc xe bọc thép đang nổ máy, quay nòng trọng liên bắn yểm hộ cho đồng đội.

15 giờ 30 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Trong trận này ta diệt, bắn bị thương và bắt sống 650 tên, bắn cháy 8 chiếc và bắt sống 2 xe bọc thép M113.

Trong lúc đó phía tây bắc thị xã Quảng Tín trung đoàn 1 tiêu diệt địch trong cụm cứ điểm Việt An, đồng thời đón đánh diệt quân cơ động ngụy. Sau khi Việt An được giải phóng, ngày hôm ấy định cho 1 tiểu đoàn biệt động lên cứu viện. Tiểu đoàn này đi qua chợ Vinh Huy thì lọt vào trận địa phục kích của ta. Bộ đội đồng loạt xung phong, quân địch bị bất ngờ, nhốn nháo, một đồng chí tiểu đội trưởng hô vang khẩu lệnh: “bám thắt lưng địch mà đánh”. Cán bộ, chiến sĩ ta xung phong tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn biệt động ngụy.

Ngày 7 tháng 2 năm 1965, lấy cớ đánh trả đũa vụ ta tiến công vào doanh trại quân Mỹ ở Plây Cu, Giôn-xơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch “Mũi lao lửa” ném bom bắn phá thị xã Đồng Hới. Tiếp đó, ngày 8 tháng 2, chúng ném bom bắn phá khu vực Chấp Lễ ở phía bắc Đồng Hới. Ngày 11 tháng 2 năm 1965, lại lấy cớ đánh trả đũa vụ ta tiến công vào khu nhà lính Mỹ ở Quy Nhơn, Mỹ tiếp tục ném bom các doanh trại quân đội ta ở Chánh Hòa, Chấp Lễ. Ngày 13 tháng 2, Giôn-xơn quyết định mở rộng các hoạt động đánh phá miền Bắc thành cuộc chiến tranh phá hoại.

Để chống lại cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân miền Bắc đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân dựa trên sức mạnh toàn diện của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt. Nhiều đơn vị phòng không được xây dựng gấp. Các loại pháo cao xạ và không quân, tên lửa phòng không hiện đại, các tổ, đội bắn máy bay tầm thấp của dân quân tự vệ triển khai rộng khắp, với quyết tâm địch đến là diệt, đánh thật mưu trí và đánh thắng ngay từ trận đầu.

Đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ phát triển đến đỉnh cao nhất với nửa triệu quân ngụy và hơn 23 nghìn cố vấn Mỹ, được trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại, nhưng chiến lược chiến tranh đó đã bị quân và dân ta đánh bại.

Để cứu chế độ ngụy quyền khỏi sụp đổ, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai tiểu đoàn thuộc lữ 4 sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 từ Ô-ki-na-oa (Nhật Bản) đổ bộ lên Đà Nẵng. Sau đó chúng lần lượt đưa quân Mỹ và chư hầu với vũ khí, trang bị hiện đại nhất vào miền Nam Việt Nam, chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt” sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” với cuồng vọng là bằng sức mạnh siêu cường tập trung đánh bật lực lượng kháng chiến của nhân dân miền Nam lên núi và bên kia giới tuyến 17.

Trước tình hình đó, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 3 năm 1965, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Hội nghị nhận định, với những âm mưu và hoạt động mới của đế quốc Mỹ, tình hình một nửa nước có chiến tranh một nửa nước có hòa bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền. Trong cuộc chiến tranh cách mạng yêu nước, nhân dân cả nước chống đế quốc Mỹ, miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn, những nhiệm vụ của miền Bắc là vừa xây dựng, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ cơ bản của ta là tích cực kìm chế và khẳng định trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở mức độ cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam nếu địch gây ra, tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện nay đến một trình độ ác liệt gấp bội hoặc chuyển nó thành một cuộc chiến tranh cục bộ cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam; ra sức giúp đỡ cách mạng Lào, đem toàn lực tiến công địch ở miền Nam, bảo vệ miền Bắc hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong cả nước”.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:42:27 PM
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 của Trung ương Đảng có những quyết định rất quan trọng. Với quyết tâm kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt vừa chuẩn bị cho cả nước bước vào một cuộc chiến tranh quy mô lớn với quân đội viễn chinh Mỹ, vạch ra nhiệm vụ cơ bản và nhiệm vụ cụ thể của cả nước và riêng từng miền, giữ vững thế chủ động cho quân và dân cả nước ta, sẵn sàng đánh và thắng địch khi chúng chuyển cuộc chiến tranh xâm lược thành chiến tranh cục bộ ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại trên miền Bắc.

Cuối tháng 3 năm 1965, Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 mở hội nghị cán bộ trung cao cấp trong toàn quân khu đề ra chủ trương: Tranh thủ thời cơ tiến công tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực tự động ngụy, tiếp tục diệt kẹp giành dân và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, dẫn chúng lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động, làm cho quân Mỹ Lâm vào thế lúng túng, hạn chế khả năng bình định của Mỹ - ngụy. Ra sức xây dựng củng cố thế trận chiến tranh nhân dân địa phương, xây dựng “vành đai diệt Mỹ” bao quanh các căn cứ quân sự Mỹ, khẩn trương chuẩn bị tổ chức đánh những trận phủ đầu quân Mỹ. Nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng ba thứ quân. Phát huy phong trào thi đua thực hiện “ba bám” (bám đất, bám dân, bám địch), quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn quân khu.

Tiếp đến, Quân khu ủy tổ chức hội nghị “du kích chiến tranh” để bàn kế hoạch xây dựng củng cố dân quân du kích, xây dựng làng xã chiến đấu và kế hoạch xây dựng “vành đai diệt Mỹ,” phát động phong trào thi đua giành danh hiệu “Thiện xạ diệt Mỹ”(1).

Sau các hội nghị trên đây, đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo mở đợt sinh hoạt chính trị trong toàn quân khu nhằm xác định tư tưởng, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, phát động tinh thần yêu nước, chí căm thù giặc Mỹ xâm lược và tay sai bán nước, biến nhận thức tư tưởng thành hành động cách mạng.

Cơ quan lãnh đạo chỉ đạo của quân khu cử nhiều cán bộ xuống các tỉnh và các huyện chung quanh các vành đai, trước hết là Đà Nẵng giúp các địa phương tổ chức lực lượng xây dựng thế trận vành đai diệt Mỹ. Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu khẩn trương củng cố các tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng từ khu đến cơ sở ở cả thành thị và nông thôn, đặc biệt là xây dựng các chi bộ trên các vành đai vững mạnh đủ sức lãnh đạo quân, dân vành đai tiến hành các hoạt động tác chiến và đấu tranh chống địch càn quét, bắn phá vào làng xóm, tàn phá ruộng nương. Các chi bộ vành đai, hầu hết đảng viên đều trực tiếp đánh giặc, nhiều đồng chí đã bám trụ ngay từ đầu để vận động quần chúng đánh Mỹ. Ở đây, chi bộ đảng thực sự là bộ tham mưu trực tiếp tổ chức, động viên, chỉ đạo chiến tranh nhân dân ở xã thuộc tuyến vành đai.

Việc xây dựng thế trận vành đai liên hoàn, vững chắc, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang đánh thắng giặc Mỹ, bảo vệ được nhân dân là nhân tố trực tiếp quyết định sự tồn tại và chiến thắng của vành đai diệt Mỹ. Quân và dân Khu 5 triệt để tận dụng nhân tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” vào việc xây dựng thế trận vành đai diệt Mỹ. Các lực lượng vũ trang và nhân dân đã đóng góp nhân tài vật lực để xây dựng làng xã, trận địa chiến đấu, hình thành từng tuyến vững chắc. Thế trận xen kẽ, có các căn cứ lõm bên trong, các tuyến chiến đấu ngăn chặn giam chân địch, phía sau có các trận địa hỏa lực chi viện cho phía trước. Các căn cứ lõm, các bàn đạp trận địa làng xã chiến đấu liên hoàn với nhau bằng mạng lưới đường dây liên lạc từ trong ra ngoài và ngược lại, cả hợp pháp, bất hợp pháp. Hệ thông công sự và địa đạo được xây dựng thành nhiều tuyến nối liền từ thôn này sang thôn khác, xã này sang xã khác, có nơi nối từ huyện này sang huyện khác. Xã chiến đấu Điện Hòa (Điện Bàn, Quảng Nam) đã xây dựng được 29km rào, 33km rào khu vực, 30km giao thông hào, 5.200 hầm trú ẩn, trên 2.000 hầm bí mật, hầm cất giấu tài sản, trâu bò, 3.000 cọc chống xe M113, hàng nghìn hầm chông, hố chông, cạm bẫy và 16km địa đạo... Hệ thống địa đào trên vành đai diệt Mỹ phía nam Chu Lai của các huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) dài 70km. Hệ thống công sự hầm bí mật ở vùng ven Đà Nẵng phát triển nhiều và bảo đảm an toàn có thể giấu từ một đại đội đến một tiểu đoàn. Thế trận vành đai như vậy đã hạn chế được ưu thế về vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại của quân Mỹ. Quân Mỹ và chư hầu bị vây hãm trong thế trận vành đai – thế trận chiến tranh nhân dân. Hầu hết các cuộc chống càn nống lấn, thăm dò, các cuộc tiến công để mở rộng phạm vi an toàn của địch đều bị các lực lượng vũ trang trên vành đai đánh bại.


(1) Tháng 5 năm 1965 đổi tên là “Dũng sĩ diệt Mỹ”


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:44:02 PM
Mặc dù được chuẩn bị tinh thần, tư tưởng, tổ chức quyết tâm đánh Mỹ sớm, nhưng quân và dân Khu 5 chưa hình dung được cách đánh cụ thể. Khi bàn cách tổ chức đánh phủ đầu quân chiến đấu Mỹ, Khu ủy – Bộ tư lệnh Quân khu xác định dân quân và du kích là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tại chỗ của phong trào toàn dân đánh giặc trên vành đai, nên lúc đầu đặt tên là “vành đai du kích diệt Mỹ”, lực lượng gồm du kích xã vành đai, bộ đội huyện, bộ đội tỉnh và các đại đội đặc công, pháo cối của quân khu tăng cường. Nhưng chúng tôi cho rằng như thế là hẹp nên đổi thành “vành đai diệt Mỹ”. Bộ đội địa phương tác chiến trên vành đai có quy mô tổ chức biên chế gọn nhẹ, cơ động nhanh, thực hiện phương châm lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn phù hợp yêu cầu nhiệm vụ của vành đai diệt Mỹ. Bộ đội địa phương và dân quân du kích xây dựng nhiều đơn vị mũi nhọn sẵn sàng cơ động tác chiến trên vành đai và chiến đấu trên khắp địa bàn, khiến quân Mỹ - ngụy đi đến đâu cũng sa vào mạng lưới thiên la địa võng của du kích. Những tên lính Mỹ và chư hầu được huấn luyện cho một cuộc chiến tranh quy ước, hoàn toàn bị bất ngờ, bị động trước cuộc chiến tranh du kích. Riêng du kích trên vành đai diệt Mỹ Chu Lai trong hai tháng (tháng 5 và tháng 6 năm 1965) đã diệt và làm bị thương 685 tên lính thủy đánh bộ Mỹ.

Từ kết quả diệt Mỹ trên các mặt trận vành đai, Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu 5 đi đến khẳng định: Du kích đã diệt được Mỹ thì bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực càng có khả năng đánh Mỹ, thắng Mỹ. Thực tế đã chứng minh: Trận Núi Thành (26-5-1965) Đại đội 2 Tiểu đoàn 70 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam được tăng cường một trung đội đặc công, sau 30 phút chiến đấu các chiến sĩ ta đã tiêu diệt gần hết 1 đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Trận Vạn Tường, Trung đoàn 1, Đại đội 21 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ngãi và du kích địa phương sau một ngày chiến đấu đã loại khỏi vòng chiến đấu 900 tên Mỹ, phá hủy 22 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 13 máy bay.

Chiến thắng oanh liệt của các trận đánh trên góp phần quan trọng vào việc xác định được cách đánh, xây dựng được lòng tin, quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ của quân và dân ta, cố vũ khí thế thi đua diệt Mỹ trên toàn chiến trường.

Hội nghị Khu ủy diễn ra vào đầu tháng 5 năm 1965, chủ trương đẩy mạnh đấu tranh chính trị, vũ trang và vận động binh sĩ địch đầu hàng nhằm tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, làm cho chúng rối loạn cao độ về chiến lược, suy sụp hoàn toàn về chính trị... Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng địch trong “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Về tác chiến, hội nghị chủ trương tập trung chủ lực mở hoạt động Hè trên ba hướng: nam Tây Nguyên, tây Gia Lai – bắc Kon Tum, bắc Quảng Ngãi.

Bắc Quảng Ngãi – hướng trọng điểm của hoạt động ở đồng bằng bao gồm ba huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và thị xã Quảng Ngãi. Địa bàn tác chiến chủ yếu của chủ lực là tây Sơn Tịnh. Vùng đất nằm kẹp giữa 4 chi khu quân sự: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Trà Bồng, Sơn Hà. Cách phía nam chi khu quân sự Sơn Tịnh 4km là thị xã Quảng Ngãi. Xa hơn 20km về phía bắc là căn cứ Chu Lai, nơi quân Mỹ vừa mới đổ vào ngày 7 tháng 5 năm 1965. Lực lượng địch, ngoài bảo an, dân vệ còn có tiểu đoàn 1, trung đoàn 51 độc lập đóng tại cứ điểm Gò Cao (còn có tên là Ba Gia). Sở chỉ huy trung đoàn 51 và các tiểu đoàn 2, 3 ở thị xã Quảng Ngãi. Địa bàn hẹp, lực lượng đông, cứ điểm dày đặc. Kể từ mùa Thu năm 1964, chủ lực ta chưa hoạt động ở đây. Do đó địch khá chủ quan sơ hở.

Lực lượng ta trong chiến dịch này có Trung đoàn 1 bộ binh do anh Lê Hữu Trữ làm trung đoàn trưởng và anh Nguyễn Đình Trọng – Chính ủy chỉ huy được tăng cường Tiểu đoàn 45 mới từ miền Bắc vào, cùng với lực lượng vũ trang địa phương. Tôi trực tiếp làm tư lệnh kiêm chính ủy chiến dịch.

Cách đánh chiến dịch được xác định là: đánh điểm, diệt viện, đánh địch ngoài công sự là chính. Vùng tây Sơn Tịnh được xác định là địa bàn chiến dịch.

Ngày 20 tháng 5 năm 1965, Trung đoàn 1 được lệnh hành quân rời Quảng Nam vào Quảng Ngãi. Trong buổi lễ xuất quân, toàn trung đoàn tổ chức lễ phát động thi đua “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”, đã làm bừng lên khí thế sôi nổi, hào hùng trong cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 1. Khi thảo luận phương án, anh Lê Hữu Trữ nói: “Trung đoàn 1 chúng tôi đang sung sức, nên mở đầu chiến dịch bằng tiêu diệt Ba Gia trước”.

Nhưng qua thảo luận, phân tích, thấy phương án diệt Ba Gia là không phù hợp, phải có cách đánh chắc chắn hơn, tìm cách khơi ngòi, lôi địch ra ngoài công sự để tiểu diệt. Quyết tâm chiến đấu của Trung đoàn 1 được quyết định như sau: Sử dụng một lực lượng nhỏ đánh vào một đơn vị dân vệ, kéo quân viện của địch ra tiêu diệt từ nhỏ đến lớn, tạo ra sự bùng nổ dây chuyền, buộc quân địch ngày càng lao sâu vào chỗ chết.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:44:33 PM
4 giờ 25 phút ngày 29 tháng 5 năm 1965, một trung đội bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh, cùng 1 trung đội trinh sát đặc công của Trung đoàn 1 đánh vào vị trí đóng quân của trung đội dân vệ ở thôn Lộc Thọ.

Đúng như ta dự đoán, sau khi bộ đội địa phương Sơn Tịnh nổ súng, bọn dân vệ liền kêu cứu. Địch cho pháo binh ở Ba Gia bắn vào Lộc Thọ vào ra lệnh cho đại đội đóng quân dã ngoại ở Núi Tròn kéo xuống ứng cứu.

Thực hiện ý định chiến đấu, các chiến sĩ ta không dùng súng trung liên và súng cối, mà chỉ dùng súng trường diệt địch. Chiến sĩ ta dựa vào công sự đợi địch lên gần tỉa từng tên khiến cả đại đội ngụy phải dừng lại. Bọn chỉ huy địch điều ngay 2 đại đội còn lại đi trên 8 xe GMC và 1 xe Jeép do hai cố vấn Mỹ chỉ huy kéo xuống giải tỏa.

Như vậy, ta đã kéo 1 đại đội ngụy vào khu chiến rồi tiếp tục giữ đại đội này trong thế tiến thoái lưỡng nan, để kéo cả tiểu đoàn 1 (trung đoàn 51) ngụy ra khỏi đồn để tổ chức tiêu diệt. Đội hình của Tiểu đoàn 1 địch đến gần cầu Gãy thì dừng lại. Lúc này, Tiểu đoàn 90 dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chơn từ xóm An Thanh, thôn Minh Thành đang bí mật vận động hình thành thế bao vây. 9 giờ 30 phút ngày 29 tháng 5, đội hình tiến công chủ yếu của Tiểu đoàn 90 đã ở ngay sát bên sườn và phía sau quân địch. Được lệnh nổ súng, các mũi xung phong đánh chia cắt quân địch ra từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Hai cố vấn Mỹ bị tiêu diệt ngay từ đầu. Cả ba mặt đều có lực lượng ta tiến công, đội hình chúng rối loạn không kịp chống cự. Số còn sống sót liều chết chạy ra cánh đồng hòng vượt sông Trà Khúc thoát thân. Tiểu đoàn 90 được lệnh truy kích. Các chiến sĩ nuôi quân, thông tin, vận tải, quân y tham gia bắt tù binh. Cả tiểu đoàn ngụy hoàn toàn bị tiêu diệt. Ta bắt 217 tên, có cả tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1.

Bị thua đau và hết sức bất ngờ, ngay chiều 29 tháng 5, địch điều tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3 đang càn quét ở Đức Phổ và tiểu đoàn biệt động quân 39 đang ở bắc Đà Nẵng tập trung về thị xã Quảng Ngãi. Một chiến đoàn hỗn hợp gồm tiểu đoàn 2, trung đoàn 51, tiểu đoàn biệt động quân 39 và tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3 được gấp rút tổ chức.

Về phía ta, sau chiến thắng oanh liệt vừa qua, trung đoàn khẩn trương củng cố để chuẩn bị đánh những trận sau lớn hơn.

Đúng như dự kiến, mờ sáng ngày 30 tháng 5, từng tốp máy bay phản lực ào tới dội bom xuống khắp các xóm làng và dãy điểm cao hai bên đường số 5 từ Sơn Tịnh đi Hà Thành. Pháo binh địch từ thị xã Quảng Ngãi bắn liên tiếp. Từng tốp trực thăng phóng rốc-két, bắn đạn 20 ly xuống các điểm cao Mã Tô, Núi Khí, Chóp Nón mở đường cho chiến đoàn địch tiến lên.

9 giờ 30 phút ngày 30 tháng 5, cả chiến đoàn địch được chở trên 20 xe GMC và 12 xe bọc thép M113 từ thị xã Quảng Ngãi tiến đến ngã ba Lâm Lộc chia làm hai cánh, tiểu đoàn biệt động quân số 39 rẽ về phía bắc và băng qua qua cánh đồng Vĩnh Khánh, tiến lên chiếm điểm cao núi Chóp Nón. Cánh quân chủ yếu gồm các đơn vị còn lại tiếp tục theo đường số 5 đánh lên Phước Lộc, điểm cao Mã Tô, Núi Khỉ rồi phát triển lên Ba Gia.

Từ đài quan sát chỉ huy trên đỉnh Núi Khí, trung đoàn liên tục theo dõi, nắm chắc mọi hành động của địch báo cáo và nhận định: So sánh lực lượng tiểu đoàn ta một địch một, nhưng địch có quân số đông hơn, hỏa lực phi pháo binh khí nhiều hơn. Ta không đủ khả năng tập trung tiêu diệt ngày một lúc toàn bộ quân địch. Do đó cách đánh của ta là tìm mọi cách tách quân địch ra từng tiểu đoàn, không cho chúng liên kết, chi viện lẫn nhau để ta có thể diệt chắc từng bộ phận địch.

Từ nhận định về địch và xác nhận cách đánh, Trung đoàn trưởng Lê Hữu Trữ chỉ thị từng mục tiêu cụ thể cho các tiểu đoàn. Trên các hướng, được sự hỗ trợ của du kích, quân ta nhanh chóng vận động, bí mật hình thành thế bao vây quân địch.

13 giờ 30 phút ngày 30 tháng 5, tiểu đoàn 39 đến núi Chóp Nón, tiểu đoàn 2 trung đoàn 51 và tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3 đang tiến vào làng Phước Lộc.

Theo tình huống đã dự kiến Tiểu đoàn 45 và đại đội 6 Tiểu đoàn 60 nổ súng đánh vào sau lưng tiểu đoàn 39 của địch. Nghe tiếng súng nổ, cánh quân chủ yếu của địch ở Phước Lộc triển khai đội hình chiếm đồi Mã Tố và điểm cao 47.

Lúc này toàn trung đoàn được lệnh xuất kích.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:45:16 PM
Tiểu đoàn 40 từ chân Núi Khỉ, hình thành hai mũi đánh chiếm phía tây làng Phước Lộc, phát triển dọc theo bờ bắc sông Trà Khúc, hình thành thế bao vây chặt phía nam quân địch. Tiểu đoàn 60 (thiếu) từ Vĩnh Lộc chia thành hai mũi đánh bật địch ra khỏi điểm cao 47, tiến thẳng vào làng Phước Lộc, cắt đôi đội hình địch, rồi vòng về phía đông, chiếm cầu Bà Mẹo cắt đường rút lui của địch, phối hợp với Tiểu đoàn 40.

Trận đánh diễn ra mỗi lúc một ác liệt, ta và địch giành giật nhau từng mô đất, từng đoạn chiến hào. Sau 2 giờ chiến đấu quyết liệt, chiến sĩ ta đã diệt phần lớn tiểu đoàn 39, đánh thiệt hại tiểu đoàn 2 (trung đoàn 51), đánh thiệt hại tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3. Trời tối, số quân còn lại của tiểu đoàn 39 cố thủ ở đồi Chóp Nón, tiểu đoàn 2 (trung đoàn 51) co cụm trong một đoạn chiến hào ở rìa làng Phước Lộc, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ số 3 co cụm ở điểm cao 47.

Như vậy, bằng nhiều trận đánh liên tiếp, ta đã gom địch lại thành ba cụm cách biệt nhau, buộc chúng phải trú quân lại trong đêm.

Về phía ta, sau một ngày chiến đấu căng thẳng, nhưng để diệt gọn cả chiến đoàn địch, cán bộ trung đoàn phân công nhau xuống từng đơn vị để động viên bộ đội, tổ chức lại đội hình, nắm địch và quyết định tập kích tiêu diệt ca ba cụm quân địch ngay đêm 30 tháng 5.

4 giờ 30 phút ngày 31 tháng 5, trận tập kích bắt đầu từ đồi Chóp Nón. Chỉ sau 7 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 45 đã tiêu diệt gọn quân địch làm chủ trận địa. Ở hướng Mã Tố và điểm cao 47, Tiểu đoàn 60 nổ súng, bọn địch không kịp chống cự mà lợi dụng đêm tối tháo chạy. Tiểu đoàn 60 truy kích, diệt gọn tiểu đoàn này.

Ở làng Phước Lộc, Tiểu đoàn 40 gặp khó khăn hơn, chưa nắm được địch. Cán bộ tiểu đoàn và đại đội đi trước nắm địch, khi nắm được địch nhanh chóng hình thành phương án, tổ chức chiến đấu và thực hành tiến công ngay. 4 giờ ngày 31 tháng 5, Tiểu đoàn 40 nổ súng. Sau 30 phút chiến đấu, toàn bộ lực lượng còn lại của tiểu đoàn 2 (trung đoàn 51) ngụy bị tiêu diệt.

Như vậy, sau 16 giờ chiến đấu liên tục, Trung đoàn 1 đã tiêu diệt hoàn toàn 1 chiến đoàn quân ngụy, diệt 916 tên, có 4 cố vấn Mỹ, bắt 65 tên, thu nhiều vũ khí quân trang, quân dụng.

Chiến thắng Ba Gia là một trận tiêu diệt chiến xuất sắc của chủ lực ta. Lần đầu tiên ta diệt gọn một chiến đoàn quân ngụy (tiểu đoàn biệt động 39, tiểu đoàn lính thủy đánh bộ 3, các tiểu đoàn 1 và 2 (trung đoàn 51) ngụy) và cũng là lần đần tiên trong một thời gian ngắn của chiến dịch (trong vòng 42 tiếng đồng hồ) ta diệt gọn 4 tiểu đoàn ngụy, với lực lượng một chọi một, chứng tỏ địch không còn đủ sức tiến công mà cũng không đủ sức phòng ngự nữa. Qua trận Ba Gia, bộ đội ta đã thể hiện xuất sắc chủ nghĩa anh hùng tập thể, đánh mạnh, xung phong mạnh.

Về mặt đấu tranh vũ trang thì chiến thắng Ba Gia đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam với lực lượng chiến lược là quân ngụy do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện, chỉ huy và sự phá sản đó lại đánh dấu sự thất bại bước đầu của chính sách thực dân mới và âm mưu ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam và Đông Nam Á của chúng.

Thắng lợi to lớn về quân sự, sức ép mạnh mẽ về chính trị và binh vận của nhân dna càng làm cho ngụy quân, ngụy quyền nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ngãi hoang mang, dao đọng. Nhân dân toàn tỉnh nổi dậy kết hợp với bộ đội địa phương và du kích tiến công giải phóng nhiều vùng nông thôn ở đông và tây Tư Nghĩa, bắc Nghĩa Hành, đông Mộ Đức, đông Sơn Tịnh, tây Bình Sơn. Nông thôn đồng bằng cơ bản được giải phóng.

Thị xã Quảng Ngãi lúc này chỉ có lực lượng bảo an. Trong cán bộ lãnh đạo có người cho rằng có thời cơ dùng Trung đoàn 1 tiến nhanh vào diệt địch giải phóng thị xã. Nhưng Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu thấy: thủy quân lục chiến Mỹ đã sẵn sàng ở Chu Lai, ta giải phóng được thị xã Quảng Ngãi nhưng thị xã sẽ bị địch oanh kích nát, Trung đoàn 1 có thể bị thương vong nhiều, nên quyết định cho bộ đội dừng lại nghỉ ít ngày chuẩn bị cho trận đánh thủy quân lục chiến Mỹ ở Vạn Tường.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:47:30 PM
*
*   *

Sau chiến thắng Plây Me, lãnh đạo và chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên đứng trước những khó khăn lớn buộc phải tìm cách giải quyết một cách kiên trì và chủ động. Các đơn vị từ miền Bắc chuyển vào cùng với lực lượng tại chỗ đưa tổng quân số lên tới 32 nghìn người, lương thực (gạo) chỉ có 40 tấn. Chúng tôi phải xuống Đắc Lắc bàn với Tỉnh ủy huy động gần 20 tấn gạo để đưa Trung đoàn 320 xuống đó hoạt động. Có chuyện thế này: Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Trung ương khi nhận được báo cáo của Bộ chỉ huy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí báo cáo lên Bộ Chính trị: “Gạo đã chở vào đầy đủ nhưng Bộ tư lệnh Tây Nguyên không chịu cấp phát cho bộ đội”. Điều dễ hiểu, 40 tấn gạo chia cho 32 nghìn quân, phải chăng đó là đẩy đủ? Sự việc này làm tôi suy nghĩ mãi. Nhận được điện của đồng chí ấy, tôi phải trả lời chi tiết. Qua bản báo cáo xác thực của Bộ tư lệnh Tây Nguyên, Tư lệnh Quân khu 5 có chỉ thị: Giải thể Mặt trận Tây Nguyên, 3 trung đoàn bộ binh chuyển cho các tỉnh Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình Định, cán bộ cơ quan của mặt trận điều về quân khu một số, bộ phận còn lại vào Trung ương Cục, hoặc ra Hà Nội, cán bộ lãnh đạo chỉ huy Mặt trận do Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương điều động.

Sau khi nghiên cứu điện của quân khu, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận họp thảo luận và báo cáo lên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5. Chiến trường Tây Nguyên có khả năng đánh tiêu diệt lớn quân địch, nhưng phải qua một thời gian chủ động đánh địch sáng tạo chiến trường. Trước hết khó khăn tạm thời, nếu giải thể Mặt trận Tây Nguyên, quân Mỹ có thể thực hiện được ý định giữ vững Cao Nguyên Trung Phần, uy hiếp và ngăn chặn con đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam, chia cắt Đông Dương. Giải pháp tích cực nhất chúng tôi đề nghị: Trong khoảng 6 tháng trước mắt cho phép bộ đội Tây Nguyên vừa chiến đấu vừa sản xuất, xây dựng căn cứ hậu phương trực tiếp, sau đó chuyển sang chiến đấu là chủ yếu; đồng thời tiếp tục sản xuất. Đề xuất này được Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương và Quân khu đồng ý. Sau 6 tháng bộ đội đã trồng trên 30 triệu gốc sắn, vườn rau, chăn nuôi phát triển ở hầu hết đơn vị và cơ quan mặt trận.

Vào mùa đông năm 1966, các đơn vị tại chỗ cũng như lực lượng hành quân từ ngoài Bắc qua căn cứ Tây Nguyên, tuy gạo còn thiếu những sắn thì đủ no. Các đơn vị hành quân nghiêm chỉnh thực hiện yêu cầu nhổ một gốc sắn phải trồng vào đó một gốc.

Sau khi có căn cứ hậu phương trực tiếp, bộ đội cùng nhân dân bắt đầu mở những con đường hành lang C01 đi xuống căn cứ khu 5. Đường hành lang C09 từ tây Gia Lai tiếp tế cho lực lượng hoạt động ở đông bắc Plây Cu. Đường hành lang C06, C10 chuyển hàng chi viện cho căn cứ kháng chiến các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Với sự hình thành đường hành lang bắc – nam, đông – tây các xã huyện vùng giải phóng ba tỉnh Tây Nguyên được nối liền thành căn cứ hậu phương tại chỗ, bảo đảm chỗ đứng chân xây dựng và tác chiến của lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhưng cũng sau chiến thắng Plây Me – Ia Đrăng, do hành quân dài ngày đến nơi là chiến đấu ngay, liên tục và ác liệt, thương vong của ta tương đối cao, mỗi đại đội chỉ còn hơn nửa quân số. Ăn uống kham khổ thiếu thốn. Muỗi rừng hành hạ gây bệnh sốt rét, có ca sốt ác tính. Trong các bệnh xá trung đoàn, bệnh binh nhiều gấp mấy lần thương binh. Hầu hết các đơn vị đều nảy sinh hiện tượng sinh hoạt rời rạc, kỷ luật nội bộ không nghiêm, kỷ luật dân vận kém, thậm chí có những hành động xấu. Có một số ít cán bộ cho tình hình này là nghiêm trọng.

Quân viễn chinh Mỹ biết được chừng nào đó tình hình đối phương, chúng tưởng đây là cơ hội làm giảm sút sức chiến đấu của bộ đội Tây Nguyên. Chúng ra sức dùng thủ đoạn chiêu hồi bằng máy bay L19, OV10, thả truyền đơn, chúng tuyên truyền, kêu gọi ra rả suốt ngày. Qua việc này chứng tỏ chính quyền và quân viễn chinh Mỹ không hiểu dân tộc Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam. Tính chủ quan kiêu ngạo sẵn có của họ sẽ khiến họ nhận lấy hậu quả khó lường.

Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng nói trên là do một số cán bộ đủ đã qua chiến đấu ác liệt, chiến thắng vẻ vang nhưng đây mới là bước thử thách cao độ lần đầu. Lập trường chính trị, ý chí chiến đấu chưa dược rèn luyện vững chắc, buông lỏng lãnh đạo tư tưởng, quản lý sinh hoạt cán bộ cấp dưới và chiến sĩ. Trong lúc khó khăn thái độ của cán bộ đối với chiến sĩ thiếu ân cần chăm sóc mà lại quát mắng làm cho cấp dưới và chiến sĩ càng chây lười, nên mệnh lệnh không có hiệu lực. Nội bộ một số đơn vị mất đoàn kết dẫn đến quan hệ quân dân có những biểu hiện xấu. Những thiếu sót này nếu không kịp thời chấn chỉnh sẽ dẫn đến mất sức chiến đấu nghiêm trọng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Mười, 2018, 02:48:04 PM
Tôi còn nhớ ngày 7 tháng 12 năm 1965, cơ quan chính trị mặt trận tổ chức buổi gặp mặt một số dũng sĩ diệt Mỹ xuất sắc của Trung đoàn 66. Anh em về nơi tập trung thì trời đã tối, cán bộ tuyên huấn cho anh em tắm giặt, ăn cơm rồi nghỉ để hôm sau làm việc. Sáng hôm sau các dũng sĩ kể lại tinh thần và kinh nghiệm đánh lính Mỹ. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp cùng ngồi nghe, thấy chiến sĩ ta rất vui vẻ. Bữa cơm chiều “chiêu đãi” anh em có gạo nương do đồng bào địa phương tặng, có sắn, thịt gà và canh rau. Sáng hôm sau anh Đặng Vũ Hiệp cho biết: Dũng sĩ C đã không về đơn vị. Ít ngày sau cán bộ đi tìm, thấy C bên bờ sông Nậm Bạc. Được cán bộ động viên, chiến sĩ C vui vẻ về đơn vị tiếp tục nhiệm vụ. Qua việc này nhiều người nhận thấy: một chiến sĩ cách mạng kiên cường, bền bỉ vẫn phải được giáo dục thường xuyên để sẵn sàng đón nhận nhiều thử thách, nhiều gian nan ác liệt.

Trước tình hình trên, Đảng ủy Mặt trận chủ trương tiến hành củng cố bộ đội toàn diện. Trước hết tập trung nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất đạo đức cách mạng, chủ yếu cho đội ngũ cán bộ. Trên cơ sở đó nâng cao trách nhiệm chính trị, xây dựng quyết tâm bền bỉ, đánh quân xâm lược Mỹ đến toàn thắng. Tiếp sau là học tập chính trị, xây dựng tư tưởng cho đơn vị chiến đấu và cơ quan. Sau đợt chỉnh huấn chính trị đến tập huấn quân sự bằng tổng kết về địch và về ta.

Thực hiện chủ trương trên, từ ngày 25 tháng 12 năm 1965 đến ngày 5 tháng 1 năm 1966, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức lớp chỉnh huấn chính trị đầu tiên cho 166 cán bộ trung cao cấp trong toàn mặt trận, trong đó có 13 cán bộ trung đoàn, 29 cán bộ tiểu đoàn, 124 cán bộ thuộc các cơ quan trung đoàn và mặt trận.

Nội dung đợt chỉnh huấn chính trị lần này chúng tôi tập trung quán triệt tình hình và nhiệm vụ cách mạng miền Nam nói chung và tình hình chiến trường Tây Nguyên nói riêng. Nội dung thứ hai, học tập truyền thống và bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Qua đó, mỗi người tự liên hệ kiểm điểm. Trong quá trình học tập cán bộ còn được nghe bài viết của đồng chí Trường Sơn (bút danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ngoài ra, cán bộ còn được nghe bác sĩ phòng dịch nói về cách phòng và chống bệnh sốt rét.

Chúng tôi chủ trương phát động tư tưởng cho cán bộ nói hết tâm tư vướng mắc của mình, qua đó trao đổi cùng nhau giải quyết. Đối với cán bộ trung cao cấp phải tự giác đề cao tự phê bình và phê bình, mỗi người làm hai bản kiểm điểm một bản nêu rõ ưu điểm và một bản nêu rõ những suy nghĩ và hành động trái với truyền thống và bản chất cách mạng của Đảng và quân đội ta.

Đây là đợt học tập tập trung đầu tiên đối với cán bộ trung cao cấp toàn mặt trận. Một cuộc sinh hoạt chính trị nghiêm túc và sâu sắc, một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trên lĩnh vực tư tưởng giữa một bên là tư tưởng cách mạng tiến công, quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi cuối cùng với một bên là tư tưởng gian gian khổ hy sinh, dao động, giảm sút ý chí chiến đấu. Những cuộc trao đổi thảo luận, cả những cuộc tranh luận gay gắt trong cán bộ, lãnh đạo chỉ huy các đơn vị để phân biệt đúng sai đã có tác dụng thiết thực, làm chuyển biến nhận thức theo chiều hướng tích cực. Từ đó dần dần thống nhất được nhận thức về mối quan hệ giữa đánh lâu dài và tranh thủ thời cơ, thống nhất được nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch (chủ yếu là Mỹ) là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của lực lượng vũ trang trên chiến trường. Càng về cuối đợt học tập tinh thần phấn khởi, lạc quan càng được nâng lên.

Hôm kết thúc chỉnh huấn chính trị, tôi cầm hai tập giấy khá dày nói:

- Đây là bản kiểm điểm của các đồn chí. Phần ưu điểm các đồng chí giữ lấy, để phát huy trong hoạt động chiến đấu lâu dài, còn đây là những bản trình bày khuyết điểm, tôi đọc và thấy các đồng chí đã tự phê bình một cách nghiêm túc trách nhiệm chính trị của mình trước Đảng và nhận rõ mỗi người đều có phương hướng phấn đấu cụ thể, thiết thực nên không cần phải giữ lại nó nữa. Tôi tuyên bố đốt tất cả những bản về khuyết điểm.

Đợi cho những tờ giấy cuối cùng cháy thành tro, tôi mời chính ủy các trung đoàn 66, 33, 320 lên rồi trao cho mỗi đồng chí một sợi dây thừng để trói tù binh Mỹ trong tiếng vỗ tay vang dậy cả một cánh rừng.

Suốt cuộc chỉnh huấn, ngành hậu cần của mặt trận đã cố gắng lớn. Gạo không đủ, có thêm sắn, khoai, thịt trâu hầm chuối xanh, có bữa thêm thịt lợn và các loại rau rừng. Bữa ăn cơm chiều, trước khi về đơn vị mỗi cán bộ với lòng tin và niềm vui ai cũng háo hức về củng cố và nâng cao sức của đơn vị mình, sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ mới, thực hiện tốt kế hoạch của trên.

Thường vụ Đảng ủy Mặt trận họp về đánh giá kết quả chỉnh huấn: Qua chiến đấu ác liệt với chiến công có ý nghĩa lớn lại nảy sinh hiện tượng tư tưởng hữu khuynh tiêu cực khá nghiêm trọng. Trong cuộc chỉnh huấn cán bộ đã tự giác thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc. Ý chí chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược và nghị lực được nâng cao. Thực tế đã rèn luyện anh em có bước trưởng thành vững chắc. Bộ đội chủ lực không những trụ vững ở chiến trường mà còn đủ khả năng phát triển. Khả năng chiến trường Tây Nguyên đánh lớn sẽ đến trong tương lai không xa.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:54:09 AM
*
*   *

Đầu năm 1966, Bộ tư lệnh Mặt trận mở lớp tập huấn về nghệ thuật chiến dịch tiến công cho cán bộ trung đoàn và sư đoàn nhiều lần để cán bộ chỉ huy biết tổ chức thế trận có chiều sâu (thế trận hình bậc thang để chống chiến thuật “cóc nhảy” của Mỹ), dùng mưu kế lừa địch, đánh trận then chốt quyết định để kết thúc chiến dịch.

Đặc điểm hành quân bộ của quân Mỹ ở Tây Nguyên khác với quân đội Pháp. Quân Mỹ ít đi theo trục đường mà thường cắt rừng theo góc phương vị để đến nơi đã định. Khi đổ quân bằng máy bay trực thăng, lúc đầu chúng lợi dụng những bãi trống nhưng bị quân ta phục kích đánh, nên sau đó quân Mỹ dùng bom phát quang dọn bãi rồi đổ quân. Đội hình hành quân hoặc trú quân của Mỹ phổ biến là từng đại đội. Mỗi đại đội là một mũi hành quân đồng thời cũng là một điểm đóng quân.

Từ thủ đoạn chiến thuật của quân Mỹ như vậy, muốn diệt chúng, ta phải nghiên cứu và phát triển hình thức chiến thuật cho phù hợp với đối tượng mới.

Những ngày này tôi và cơ quan tham mưu mặt trận nhiều đêm thức để soạn thảo tài liệu huấn luyện, tập trung vào những chiến thuật: chiến thuật vận động tiến công, chiến thuật chốt kết hợp vận động, nhằm tiêu diệt quân địch đang hành quân tìm diệt, chiến thuật tập kích, nhằm tiêu diệt quân địch trú quân hoặc co cụm, chiến thuật đánh quân đổ bộ đường không, nhằm tiêu diệt quân địch đổ bộ trực thăng.

Như trên đã nói, chỗ mạnh về quân số và vũ khí trang bị, kỹ thuật quân sự của quân Mỹ đã làm tăng thêm tính chất ác liệt trong chiến đấu, ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lý bộ đội, ảnh hưởng đến tổ chức và phương pháp tác chiến chiến dịch lẫn chiến thuật của ta. Từ thực tế đó đặt ra cho công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện chiến đấu những vấn đề mới: Làm thế nào để phát huy cao độ yếu tố chính trị tinh thần của ta, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân Mỹ. Địch nham hiểm xảo quyệt, lại có nhiều phương tiện trinh sát, truyền tin kỹ thuật hiện đại nên ta phải làm thế nào để giữ được bí mật bất ngờ, chống phá có hiệu quả mọi thủ đoạn chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý hoạt động, xâm nhập vào bộ đội ta. Quân Mỹ có hỏa lực phi pháo mạnh (kể cả máy bay chiến lược B.52), ta phải làm thế nào để hạn chế tác dụng đánh phá của địch, giảm thấp thương vong của ta. Đánh lớn, đánh liên tục dài ngày khó tránh khỏi thương vong, nên việc chấn chỉnh củng cố tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng đòi hỏi phải giải quyết thường xuyên kịp thời, vì vậy phải làm thế nào để đáp ứng yêu cầu đó.

Những vấn đề trên đã được phát động để mọi cán bộ, chiến sĩ tìm lời giải đáp ngay trong quá trình huấn luyện, đặc biệt xây dựng phẩm chất chính trị, tinh thần cho bộ đội là công việc thường xuyên, hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng, của công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị. Nhờ làm tốt công tác này, ta đã góp phần tạo nên bản lĩnh chính trị, tinh thần chiến đấu của cán bộ chiến sĩ trong cuộc chiến đấu Xuân – Hè 1966.

Từ sau Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1965), tình hình miền Nam biến chuyển rất nhanh. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ bước đầu thất bại. Nhà trắng và Lầu năm góc vẫn ngoan cố ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào miền Nam nước ta. Tính đến tháng 12 năm 1965, lực lượng quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam đã lên tới 20 vạn tên, chưa kể 7 vạn lính hải quân và không quân Mỹ trên các căn cứ quân sự của Mỹ ở Gu-am, Phi-líp-pin, Thái Lan và hạm đội 7 cùng trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định dù Mỹ có đưa quân vào miền Nam bao nhiêu đi nữa thì vẫn là chiến tranh xâm lược kiểu mới. Do đó ngụy quân, ngụy quyền vẫn có vai trò quan trọng. Như vậy, đối tượng tác chiến của quân và dân ta ở miền Nam là cả Mỹ và ngụy.

Trước thình hình trên, ngày 27 tháng 12 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ 12 định ra nhiệm vụ: Động viên lực lượng của cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Và xác định; Nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước hiện nay rõ ràng là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc ta, của cả nhân dân từ Nam chí Bắc. Vấn đề đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta lúc này là phải tập trung lực lượng của cả nước kiên quyết đánh địch và thắng địch trên cả chiến trường chính miền Nam. Ta chủ trương kiên trì phương châm ra sức hạn chế cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và thắng địch trong cuộc chiến tranh hạn chế đó là thắng địch một cách có lợi nhất cho cách mạng nước ta và cách mạng thế giới; tiếp tục phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, thực hiện ba mũi giáp công trong đó đòn quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị trí ngày càng quan trọng. Nhưng đấu tranh quân sự chỉ thu được kết quả lớn nhất nếu nó được kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị. Ta cố gắng cao độ để tranh thủ thời cơ tăng cường lực lượng về mọi mặt, chủ động liên tiếp tiến công địch, tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng quân Mỹ, tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy, do đó mà đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. Mặt khác, chúng ta vẫn phải ra sức chuẩn bị để đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh kéo dài và mở rộng ra cả nước. Chúng ta cũng cần hết sức tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và viện trợ quốc tế, một nhân tố góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta, do đó cần đẩy mạnh đấu tranh chính trị ngoại giao.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:55:07 AM
Thực hiện Nghị quyết 12 của Trung ương, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên kịp thời đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên là kiên định lập trường chiến đấu, vượt qua khó khăn, vượt qua ác liệt đánh thật nhanh, mạnh, liên tục, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ và quân chủ lực ngụy, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng diệt kìm, phá ấp, mở rộng vùng giải phóng, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, củng cố căn cứ địa hậu phương trực tiếp của chiến trường kết hợp sáng tạo chiến trường cho đánh lớn miền Bắc, nhiệm vụ đó đặt ra cho Đảng bộ và lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phải nỗ lực vượt bậc, chạy đua với thời gian về mọi mặt để kịp thời đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng lớn cho chiến trường và phương hướng chiến lược của Bộ.

Tháng 12 năm 1965, được sự đồng ý của trên, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 1 gồm các trung đoàn 33, 66, 320 là những đơn vị đã cùng chiến đấu trong chiến dịch Plây Me, do anh Nguyễn Hữu An làm sư đoàn trưởng, anh Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Lực lượng pháo binh của Tây Nguyên cũng có sự phát triển mới. Ngoài lực lượng pháo cối, súng 12,7 ly hiện có, Bộ đã bổ sung cho Tây Nguyên Tiểu đoàn cối 120 ly, Tiểu đoàn 30 súng máy phòng không 12,7 ly.

Về xây dựng hậu phương và bảo đảm hậu cần, từ năm 1965, Trung ương mở đường chi viện cho Tây Nguyên qua đất Cam-pu-chia. Tây Nguyên đã mở đường tiếp nhận sự chi viện đó từ VQ5 (sông Sê San) về chiến trường. Thời kỳ đầu (1965-1966) mới chỉ nhận gạo, muối. Năm 1965 nhận của trên 2.255 tấn, hai năm 1966-1967 nhận 14.954 tấn. Cùng với nguồn chi viện trên, chúng tôi đã ra sức thu mua và khai thác tại chỗ. Năm 1965 thu mua được 125,7 tấn, năm 1966 thu mua 4.455 tấn.

Sự đóng góp của nhân dân địa phương là nguồn cung cấp rất quan trọng, nhân dân Tây Nguyên có nhiều năm đã đóng góp 70-80% sản lượng lượng thực thua hoạch được để nuôi dưỡng bộ đội. Có gia đình chỉ để lại đủ thóc giống, phần lớn lúa đều đóng góp cho cách mạng, còn đồng bào thì ăn sắn và củ rừng thay cơm. Tinh thần yêu nước của nhân dân Tây Nguyên thật tuyệt vời. Năm 1965 nhân dân đóng góp 929,2 tấn, năm 1966 là 610,1 tấn và năm 196 là 925,6 tấn.

Tình hình chiến trường Tây Nguyên đã phát triển trên cơ sở phong trào đồng khởi, chiến tranh cách mạng đã phát triển và ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, do điều kiện của Tây Nguyên đất rộng, người thưa, kinh tế chậm phát triển, khả năng huy động sức người, sức của có hạn. Tại chiến trường không đủ điều kiện xây dựng được các đơn vị bộ đội chủ lực lớn và không đủ điều kiện để đưa chiến tranh du kích phát triển thành chiến tranh chính quy một cách nhanh chóng. Để khắc phục những nhược điểm ấy, Tây Nguyên phải dựa vào sự chi viện đắc lực của Trung ương. Từ năm 1964 trở đi, Trung ương đã phái vào Tây Nguyên nhiều trung đoàn. Khi các đơn vị đến chiến trường thì lực lượng tại chỗ đã chuẩn bị sẵn chỗ đứng chân và các bàn đạp tiến công địch khá tốt. Nhờ vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, bộ đội chủ lực đã có thể triển khai tiến công địch ngay. Chiến tranh du kích kết hợp chặt chẽ với chiến tranh chính quy đã làm cho thế trận chiến tranh nhân dân phát triển vững chắc, tạo ra sức tiến công liên tục đều khắp trên chiến trường.

Chiến tranh chính quy xuất hiện làm biến đổi nhanh chóng cục diện chiến trường. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ “chiến tranh cục bộ”, chủ lực ta phát triển rất nhanh, từ một vài trung đoàn trong năm 1964 đã tăng lên 3 sư đoàn trong năm 1966. Trong khi đó, lực lượng vũ trang địa phương phát triển chậm hơn. Tình hình đó phát sinh một mâu thuẫn mới là chiến tranh du kích không theo kịp và không hỗ trợ đắc lực cho chiến tranh chính quy. Trước tình hình đó, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận đã có một quyết định tôi cho là rất sáng tạo: Tổ chức những đơn vị chủ lực tại chỗ. Bộ đội chủ lực tại chỗ của ta là những trung đoàn bộ binh, những tiểu đoàn mũi nhọn, những đơn vị pháo, đặc công, công binh. Trung đoàn 33 đứng chân ở Đắc Lắc, Trung đoàn 95 đứng chân ở Gia Lai, Trung đoàn 24 đứng chân ở Kon Tum.

Nhiệm vụ của bộ đội chủ lực tại chỗ là cắm chân vững chắc trên địa bàn ba tỉnh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh tiêu diệt địch, kìm chân địch tại chỗ, phá bình định, xây dựng cơ sở chính trị địa phương sẵn sàng phối hợp với chủ lực cơ động trong những chiến dịch tiến công. Phương thức tác chiến của bộ đội chủ lực tại chỗ là kết hợp đánh vừa, đánh nhỏ với đánh lớn tiêu diệt và tiêu hao rộng rãi quân địch. Đồng thời bộ đội chủ lực tại chỗ phải ra sức tăng gia sản xuất và dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân địa phương để giải quyết vấn đề lương thực tại chỗ. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, bộ đội chủ lực tại chỗ ở Tây Nguyên đã phát huy vai trò to lớn. Bộ đội chủ lực tại chỗ đã cùng với lực lượng vũ trang địa phương đứng chân tại các hướng, tạo nên một thế trận chiến tranh nhân dân ở chiến trường rất vững chắc. Các đường giao thông của địch luôn bị uy hiếp, các thị xã luôn luôn bị đánh phá, các cuộc hành quân càn quét bị đánh trả quyết liệt. Thế trận chiến tranh nhân dân ở ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc phát triển đều đã tạo điều kiện cho chủ lực cơ động tập trung mở những chiến dịch tập trung lớn. Có thể nói rằng chủ lực tại chỗ là khâu trung gian, là sự điều hòa mối quan hệ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:56:01 AM
Bộ đội chủ lực ở Tây Nguyên đều được tổ chức và xây dựng ở miền Bắc đưa vào và gần hai phần ba khối lượng vật chất bảo đảm chiến đấu đều do hâu phương lớn chi viện cho chiến trường. Vì vậy đế quốc Mỹ đã tìm đủ mọi cách để ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam. Chúng cho rằng chặn được sự chi viện, thâm nhập của miền Bắc thì chiến tranh ở miền Nam sẽ lùi về trạng thái hoạt động du kích. Mỗi quan hệ giữa chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích trong chiến tranh giải phóng phải gắn liền hậu phương với tiền tuyến. Tự mỗi chiến trường phải có sự nỗ lực chủ quan nhằm phát huy tiềm năng tại chỗ lớn nhất để phục vụ chiến đấu. Nhưng dù cố gắng đến đâu, bản thân tại chỗ cũng không thể nào giải quyết được đầy đủ yêu cầu tác chiến quy mô lớn của bộ đội chủ lực.

Có thể nói rằng đối với chiến trường Tây Nguyên, hậu phương lớn miền Bắc là nhân tố thường xuyên quyết định chiến tranh, nhưng trực tiếp nhất là quyết định sự sáng tạo phát triển chiến tranh chính quy tại chiến trường.

Tuy bị thất bại liên tiếp nhưng thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ vẫn chưa thay đổi. Chúng còn ỷ vào sức cơ động nhanh, hỏa lực mạnh của không quân và pháo binh nên rất chủ quan và dễ bị mắc lừa. Khi phát hiện lực lượng đối phương, quân Mỹ thường nhảy cóc sâu vào phía sau lưng thực hiện bao vây, chia cắt chặn đường tiếp tế rồi đánh bật đối phương ra khỏi khu chiến.

Sau một năm đánh Mỹ, dần dần ta đã hiểu địch hơn, ta đã phát hiện ra quy luật phản kích chiến dịch của địch và đã biết lợi dụng quy luật đó để tiêu diệt chúng.

Do vậy, mưu kế của ta trong chiến dịch là làm sao kéo cho được địch vào nơi ta đã chuẩn bị trước để tiêu diệt chúng thật gọn. Mỹ là một kẻ địch biết nghiên cứu và rút kinh nghiệm nhanh chóng. Chúng rất chú trọng nghiên cứu từng đơn vị, từng trận đánh và thậm chí từng người chỉ huy của ta. Vì vậy, mưu kế lừa địch phải thực sự là một nghệ thuật, nói cho đúng hơn, nó là sự nhận thức quy luật ấy một cách đúng đắn và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể và tình huống cụ thể.

Khi đặt kế hoạch tác chiến, chúng tôi đều biết quân địch ham mồi tìm diệt, lại dựa vào khả năng cơ động có thể lôi kéo chúng vào khu vực ta đã chuẩn bị sẵn. Do đó chúng tôi chọn Sa Thầy mở chiến dịch mùa khô năm 1966.

Sông Sa Thầy chạy từ bắc Kon Tum vào nam Gia Lai. Phía đông sông Sa Thầy là sông Pô Kô. Đây là khu vực rừng già, rừng non xen kẽ, kín đáo, có những bãi cỏ tranh bằng phẳng và những ngọn núi cao nhô lên như những chiếc bát úp. Trên bờ đông sông Pô Kô địch thiết lập đồn biên phòng Plây Gi Răng, cách biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia 20km. Chọn nơi đây mở chiến dịch, ta hạn chế được sức cơ động bằng cơ giới và tác dụng binh khí kỹ thuật của quân Mỹ. Với địa hình mới lạ, xa căn cứ quân đoàn 2 ngụy, lại bị rừng rậm và sông suối bao bọc, quân Mỹ dễ rơi vào thế bị chia cắt, cô lập, đội hình chiến dịch của chúng sẽ tan vỡ. Đối với ta, đây là vùng căn cứ, bộ đội quen thuộc địa hình, thuận lợi cho việc tiếp tế, vận chuyển, cơ động và tập kết giấu quân, triển khai tác chiến. ta có điều kiện nhử địch vào khu quyết chiến đã chọn sẵn, buộc quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta trên địa bàn do ta lựa chọn.

Mở chiến dịch này, ta còn có ý định thu hút quân Mỹ lên Tây Nguyên, tạo điều kiện hỗ trợ chiến trường đồng bằng Khu 5; đồng thời phối hợp với chiến trường toàn miền đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ.

Trên hướng chủ yếu, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sử dụng Sư đoàn 1 (gồm 3 trung đoàn 66, 88, 320) và tăng cường Trung đoàn 95 (thiếu), 1 tiểu đoàn súng cối 120 ly và tiểu đoàn súng máy 12,7 ly.

Ở các hướng phối hợp, Trung đoàn 24, Trung đoàn 33 và lực lượng vũ trang địa phương bắt đầu hoạt động thu hút địch về phía bắc Kon Tum và bắc Buôn Ma Thuột.

Phương thức tiến hành chiến dịch là “vây điểm diệt viện”. Dùng một lực lượng bao vây uy hiếp đồn Plây Gi Răng, buộc địch phản kích, ta tổ chức liên tiếp tiến công tạo nên phản ứng dây chuyền, điều khiển địch từng bước kéo chúng sa vào quyết chiến điểm, đánh trận lớn then chốt tiêu diệt quân địch.

Sử dụng Trung đoàn 95 (thiếu) bao vây đồn Plây Gi Răng, khêu ngòi, kéo quân Mỹ đến phản kích. Trung đoàn 320 bố trí ở đông sông Sa Thầy đánh địch ở khu trung tuyến, tạo thời cơ kéo địch sang tây sông Sa Thầy mà đánh.

Trung đoàn 66 và Trung đoàn 88, các đơn vị cối 120 ly và đơn vị súng máy 12,7 ly bố trí ở tây Sa Thầy làm nhiệm vụ tiêu diệt địch trên khu quyết chiến.

Vật chất chuẩn bị cho hướng chính của chiến dịch là 1.005 tấn, gồm 829 tấn gạo, 91 tấn thực phẩm, 85 tấn vũ khí.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:56:25 AM
Ngày 18 tháng 10 năm 1966, Trung đoàn 95 bắt đầu bao vây đồn Plây Gi Răng và làm hai chiếc cầu treo trên sông Pô Kô để nghi binh dụ sư đoàn bộ binh số 4 từ Mỹ mới sang tham gia cuộc phản công chiến lược lần thứ hai. Khác với sư đoàn kỵ binh không vận số 1, thủ đoạn chiến thuật của sư đoàn 4 chủ yếu là hành quân xuyên rừng kết hợp với đổ bộ trực thăng ở những nơi cần thiết (đổ bộ các trận địa pháo và cơ quan chỉ huy).

Bị mắc lừa, địch dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm khu vực cầu treo và cho biệt kích sục sạo phát hiện lực lượng ta. Sư đoàn 4 Mỹ sau khi triển khai xong các tuyến chiến đấu ở phía tây Plây Cu, “bắt được mồi” liền vội vã mở cuộc hành quân “Pôn-ri-vơ 4” đánh vào khu vực đông và tây sông Sa Thầy. Trước khi triển khai đổ bộ sang bờ tây sông Sa Thầy, sư đoàn 4 Mỹ lập ngay các trận địa pháo binh ở Sùng Lễ, Sùng Thiện chiếm tuyến bàn đạp phía đông sông Pô Kô. Ngày 23 và ngày 24 tháng 10 năm 1966, sư đoàn 4 Mỹ bước bào chiến đấu ở đông và tây sông Pô Kô bắt đầu cuộc hành quân.

Ngày 26 tháng 10 năm 1966, các mũi bộ binh của sư đoàn 4 tiến đến sông Sa Thầy. Trung đoàn 320 đã triển khai sẵn ở đây đón đánh chúng quyết liệt, tiêu diệt một số đại đội, nhưng chưa diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ. Tuy vậy, theo quy luật phản kích, địch vẫn đổ quân sang bờ tây sông Sa Thầy. Ngày 11 tháng 11, tiểu đoàn 2 lữ 2 sư đoàn 4 được tăng cường 1 đại đội pháo 105 ly, 1 đại đội cối 106,7 ly đổ bộ 113 lần chiếc trực thăng xuống bãi C1. Ta đã cài thế buộc địch đổ đúng quân vào khu quyết chiến của chiến dịch.

Trung đoàn bộ binh 88 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66, Tiểu đoàn pháo 32 cối 120 ly đã bố trí trận địa phục sẵn ở đây từ trước ngày chiến dịch mở màn. Không thấy địch, nhiều cán bộ, chiến sĩ đâm ra sốt ruột, nản lòng, có ý kiến đề nghị khiêng pháo đi nơi khác, hiệp đồng với đơn vị bạn. Nhưng chúng tôi chỉ thị cho đơn vị phải tuyệt đối giữ bí mật, bất ngờ, kiên trì chờ đợi không được nôn nóng. Bây giờ quân Mỹ đã đổ ngay xuống bãi C1, cách bố trí của chúng gần đúng như dự kiến của ta.

Sáng ngày 12 tháng 11, ta tiến công vào C1. Do được chuẩn bị sẵn nên súng cối 120 ly bắn rất trúng đội hình quân địch. Kho đạn của địch bốc cháy, nổ tung, sở chỉ huy tiểu đoàn 2, đại đội pháo 105 ly, đại đội cối 106,7 ly và nhiều binh lính địch bị diệt. Đây là lần đầu tiên ta sử dụng súng cối 120 ly ở Tây Nguyên nên địch rất bất ngờ.

Trung đoàn 88 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66) băng qua những bãi cây cao khuất đầu người, lởm chởm gai, đánh chiếm bãi C1. Nhưng do rừng gai cản trở, các đơn vị của ta đã bỏ lỡ thời cơ diệt gọn tiểu đoàn Mỹ này. Đây là khuyết điểm trong chỉ đạo tổ chức thực hiện, đã không làm sẵn đường xuất kích cho bộ đội.

Ngày 13 tháng 11, dưới sự chi viện của không quân, một đại đội Mỹ nhảy xuống nhặt xác đồng bọn rồi vội vã rút khỏi bãi C1.

Cuối tháng 6 năm 1967, trong lúc triển khai chuẩn bị chiến dịch Đắc Tô, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gọi tôi ra Hà Nội để ổn định sức khỏe, vì qua nhiều lần sốt rét, gan có vấn đề.

Từ Tây Nguyên tôi đi ô tô vào Phnôm Pênh, mang hộ chiếu thương nhân Hồ Thạch Châu. Từ sân bay Pô Chen Tông, tôi đi Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Trong bữa cơm chiều ở nhà khách Quảng Châu, các đồng chí Trung Quốc cho biết: Bác Hồ đang nghỉ ở đây, nhưng vì chưa được phép và thời gian gấp, tôi không thể vào thăm sức khỏe của Người. Sáng hôm sau theo đúng kế hoạch, tôi lên máy bay từ Quảng Châu về sân bay Gia Lâm, Hà Nội. Hôm sau vào bệnh viện 108 để kiểm tra sức khỏe rồi mang thuốc về nhà số 5 khu Hồ Tây nghỉ, đồng thời làm việc với Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị. Mấy hôm sau Bác từ Quảng Châu về Hà Nội, Văn phòng gọi tôi sang khu nhà sàn gặp Bác và báo cáo tình hình với Người. Tôi đi đến chân cầu thang đón và chúc sức khỏe Bác. Chiếc bàn làm việc chỉ có hai chiếc ghế ngồi. Bác bảo:

- Chú Mân báo cho Bác nghe tình hình và công việc.

Thấy sức khỏe Bác không bình thường, phút đầu tiên tôi xúc động không nói được. Bác nói tiếp:

- Chú bình tĩnh nói đi. – Đồng thời gọi đồng chí thư ký bảo – nói nhà bếp nấu cơm, trưa nay chú Mân ăn với Bác.

Tôi bình tĩnh tự dặn mình không nên nói dài, Bác ngồi lâu sẽ mệt. Tôi chỉ báo cáo một số nét tóm tắt:

- Thưa Bác, quân chiến đấu Mỹ vào Tây Nguyên bị bộ đội ta đánh cho một đòn đau trong chiến dịch Plây Me – Ia Đrăng nhưng vẫn ngoan cố liều lĩnh, máy bay, pháo binh của chúng hoạt động suốt ngày gây khó khăn cho sản xuất, đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Sau thắng lợi lớn các đơn vị bộ đội có một bộ phận tinh thần không ổn định, kỷ luật quân đội và dân vận không nghiêm. Chúng cháu có giáo dục động viên, sức chiến đâu được giữ vững và đã chiến thắng trong chiến dịch Sa Thầy. Qua thử thách, bộ đội có khả năng bám trụ vững chắc và sáng tạo ở chiến trường Tây Nguyên để đánh lớn. Bộ đội đã sản xuất được mấy triệu gốc sắn, tích cực chăn nuôi lợn, gà và trồng rau xanh, hậu phương trực tiếp được hình thành, cán bộ, chiến sĩ yên tâm. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sản xuất quá thô sơ, đời sống kham khổ, muỗi rừng thường xuyên gây sốt rét, đau yếu không thuốc thang, nhưng tinh thần yêu nước chống Mỹ - ngụy rất tốt. Sản xuất và thu hoạch được lúa chỉ để làm giống cho mùa sau và dành cho nuôi quân. Đồng bào các dân tộc chủ yếu ăn sắn, củ mài, rau rừng, măng rừng. Đồng bào Tây Nguyên một lòng hướng về miền Bắc, về Bác Hồ. Các cụ già thường nói: Khi nào rừng Tây Nguyên chưa hết cây, cây rừng chưa hết lá, nước vẫn chảy xuôi dòng, người Tây Nguyên vẫn giữ nỏ cung đánh Mỹ - ngụy để có được độc lập, tự do.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:57:05 AM
Tôi lại xúc động khi thấy Bác lấy khăn lau nước mắt.

Tôi tóm lược và kết thúc báo cáo với Bác:

- Thừa Bác, thắng lợi vừa rồi là rất to lớn, nhưng mới là bắt đầu, khó khăn còn nhiều. Thay mặt cán bộ, chiến sĩ, cháu xin hứa với Bác cố gắng vượt khó khăn mới, giành thắng lợi mới.

Bữa cơm trưa hôm ấy, trên bàn có một đĩa thịt lợn kho, hai con cá kho, một bát canh rau. Bác tự lấy một chén cơm đầy, ăn xong, đặt bát xuống bà và nói ba ý:

- Bác còn ăn được nữa, nhưng phải nghe lời thầy thuốc, chú cứ ăn no rồi còn đi chiến trường.

Câu này hàm ý căn dặn tôi, cứ yên tâm sức khỏe Bác còn tốt.

- Đã làm tướng, trong tình huống nào cũng không được xúc động. Vì xúc động thì xử lý những tình huống gay go phức tạp dễ sai lầm.

Lời dặn này của Bác hàm ý: buổi sáng nay trước khi làm việc tôi xúc động vì sức khỏe của Bác.

Dừng hồi lâu, Bác nói:

- Chú ở Tây Nguyên làm cả nhiệm vụ chỉ huy và công tác chính trị phải không?

Tôi thưa với Bác:

- Quân ủy Trung ương và Tổng cục Chính trị chưa có cán bộ thay, cháu phải tạm làm cả hai nhiệm vụ.

Bác nói với tinh thần khẳng định và động viên:

- Chú chịu khó gánh cả hai vai cho khỏe càng tốt.

(Về đến Tây Nguyên, au khi nghe tôi nói câu chuyện, đồng chí thư ký Trần Quế liền nói đổi bí danh của tôi từ Hồ Thạch Châu sang “Hai Mạnh”. Từ ấy trong các điện và công văn tôi đều ký tên “Hai Mạnh”).

Sau bữa cơm, tôi chúc sức khỏe Bác và xin phép được về nhà nghỉ. Bác đưa tay cho tôi nắm, nhìn vào tôi và nói:

- Chú cứ yên tâm đi làm nhiệm vụ, nội bộ Đảng và quân đội đoàn kết nhất trí, quân dân cả nước một lòng, chiến đâu thắng lợi Bác càng khỏe.

Lần thứ hai Bác nhắc:

- Chú vào trong ấy chuyển lời Bác thăm bộ đội và đồng bào các dân tộc, các cán bộ địa phương. Chú cố gắng khôi phục sức khỏe và hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi chúc Bác sức khỏe và xin hữa làm đúng lời Bác dặn.

Tôi về lại nhà số 5 Hồ Tây mấy hôm thì sau bữa cơm chiều ngày 4 tháng 7 năm 1967 anh Nguyễn Chí Thanh và chị Cúc (vợ anh Thanh) lên thăm. Tự nhiên chia thành hai tổ đàm đạo của hai giới. Anh Thanh và tôi nói chuyện rất lâu. Không hiểu vì sao buổi nói chuyện đó lại đi sâu vào chiều dài lịch sử của dân tộc và của Lào, cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở mức ác liệt cao, nhưng từ đỉnh cao kẻ thù lại tụt xuống. Rồi nói cả đến thế cuộc lòng người, lửa thử vàng, gian nan thử sức, vàng thau đen trắng. Sắp kết thúc buổi trò chuyện, anh Thanh nói:

- Cậu ở lại thêm mấy hôm để ổn định sức khỏe, hiện tượng đau gan không nên xem thường, sự nghiệp còn dài. Mình vào Trung ương Cục trước, sau đó sẽ ra Tây Nguyên thăm bộ đội và giúp anh em làm công tác chính trị.

Tôi cảm ơn và hẹn gặp nhau ở Tây Nguyên.

Thật bất ngờ, một sự bất ngờ đau xót, tối ngày 6 rạng ngày 7 tháng 7 năm 1967, anh Nguyễn Chí Thanh ra đi đột ngột. Tôi thương tiếc anh vô cùng và thêm phần lo lắng, nhưng phải nén chịu không được đến nhìn mặt người đồng chí kính yêu lần cuối vì phải giữ bí mật.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 09:57:46 AM
Sáng ngày 8 tháng 7 năm 1967, anh Nguyễn Văn Vịnh, Trưởng ban Thống nhất Trung ương và tôi từ sân bay Gia Lâm, Hà Nội đi Quảng Châu, Quảng Đông Trung Quốc. Chiều hôm đó, bạn cho xe đưa chúng tôi ra Hoàng Phố lên tàu hàng Trung Quốc đi Si-ha-núc Vin (Cam-pu-chia). Trên biển Đông mênh mông lại gặp cơn bão. Anh Vịnh say sóng nằm im, còn tôi cứ ngày đêm thao thức qua những sự việc, sức khỏe của Bác giảm, anh Nguyễn Chí Thanh ra đi khi mới ngoài năm mươi tuổi. Tàu đi lại trong cơn bão... Tôi tự đặt cho mình phải chiến đấu, rèn luyện. Đến Si-ha-núc Vin, trên đường đi lên biên giới, anh Vịnh vào Trung ương Cục phổ biến Nghị quyết 11 của Ban Chấp hành Trung ương, tôi về thẳng Tây Nguyên.

Ngày 25 tháng 7 năm 1967, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của chiến dịch Sa Thầy mà Bộ Tổng tham mưu đã chuẩn y và đề ra nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong Đông năm 1967. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận tập trung theo dõi những diễn biến trên chiến trường, tính toán phương án tác chiến, kế hoạch bảo đảm hậu cần và xác định quyết tâm chiến dịch. Trong tình hình tinh thần chiến đấu của quân Mỹ bắt đầu suy yếu, sau chiến dịch Sa Thầy, chúng đã phải dè dặt, làm thế nào kéo được lực lượng lớn của địch ra xa căn cứ để tiêu diệt?

Sau hơn hai năm đánh nhau với quân Mỹ, ta càng ngày càng hiểu rõ địch hơn, nhưng quân địch cũng rất hiểu ta. Điều kiện đó đặt ra cho ta không được phép dừng lại ở những kinh nghiệm cũ, mà phải có những suy nghĩ mới. Trước hết là nghệ thuật chiến dịch. Muốn lập mưu kéo được địch về phía ta để tiêu diệt, vấn đề khêu ngòi lần này phải mang tính kiên quyết hơn, đánh địch đau hơn.

Trên hướng tiến công chính ta chọn hai khu vực tiến công. Khu vực tiến công chủ yếu ở tây nam Đắc Lắc từ Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Kom Liệt đến nam điểm cao 875 để tiêu diệt địch. Khu vực tiến công chủ yếu ở đông bắc Đắc Tô gồm các điểm cao của dãy Ngọc Va, Ngọc Sia, các điểm cao 1432, 1030 và quận lỵ Đắc Tô, để đánh vào phía sau đội hình địch, nhằm phân tán địch, hỗ trợ cho hướng chính. Trong chiến dịch này, ta tháo rời hai khẩu sơn pháo 75 ly đưa lên đỉnh núi Ngọc Bờ Biêng bắn thẳng vào quân địch ở Đắc Tô, Tân Cảnh.

Trong khu tiến công chủ yếu chia thành ba khu chiến:

- Khu chốt chiến dịch, gồm các cụm chốt bộ binh và pháo binh ở Ngọc Bờ Biêng, Ngọc Tang, uy hiếp địch ở Đắc Tô – Tân Cảnh và là nơi khêu ngòi để dụ kéo địch ra, tạo thời cơ diệt địch ngoài công sự.

- Khu chiến thứ nhất, ở điểm cao 782 Plây-lăng-lố - Kram và điểm cao 823, nhằm đánh bại các đợt phản kích và đòn phản đột kích thứ nhất của địch.

- Khu chiến thứ hai và là khu quyết chiến, ở Ngọc Kom Liệt, Bãi Le, điểm cao 875. Điểm cao 875 là trọng điểm.

Ở các hướng nghi binh chiến dịch, tỉnh Gia Lai tập trung lực lượng đánh địch trong khu vực Đức Cơ thị xã Plây Cu và đường 19. Tỉnh Đắc Lắc, tiến công tiêu hao kìm giữ địch ở Mê Van, bắc thị xã Buôn Ma Thuột.

Về tổ chức và bố trí lực lượng, Đảng ủy và Bộ tư lệnh dự kiến: Hướng bắc Kon Tum, khi ta công kích tiến công, lực lượng phản kích, phản đột kích của địch, có thể lên tới 12 đến 16 tiểu đoàn, trong đó có từ 8 đến 10 tiểu đoàn Mỹ (khoảng 2, 3 lữ đoàn), từ 4 đến 6 tiểu đoàn ngụy. Địch có thể phản kích, phản đột kích trên hai hướng bằng đổ bộ đường không vào các khu chiến của ta. Khu chốt Ngọc Bờ Biêng, địch cơ thẻ sử dụng từ 1 lữ đoàn (thiếu) đến 1 lữ đoàn. Khu vực Ngọc Dơ Lang, Ngọc Kom Liệt và điểm cao 875 có thể lên đến 2 lữ. Do vậy, tổ chức và bố trí lực lượng trên hướng tiến công chính của chiến dịch ở bắc Kon Tum gồm cáo lực lượng khêu ngòi, lực lượng đánh địch ở khu trung tuyến chiến dịch, lực lượng đánh địch ở khu quyết chiến và lực lượng đánh sau lưng địch.

Trong quyết tâm và kế hoạch tác chiến, chúng tôi dự kiến: Ở hướng tiến công chính, trước khi chiến dịch mở, nếu địch đã chiếm được dãy núi tây – tây nam Đắc Tô – Tân Cảnh thì tiểu đoàn chốt vẫn phải chiếm một số điểm cao xen kẽ với địch và thực hành tiến công. Đây cũng là một cách khêu ngòi, dụ địch ra khu chiến. Quá trình tiến công, nếu ta tiêu diệt gọn từ 1 đến 2 tiểu đoàn Mỹ trong đợt đầu thì địch sẽ đưa thêm lực lượng vào chiến đấu với ta ở khu vực quyết chiến. Nếu ta tiêu diệt hoặc tiêu hao thêm 1 đến 2 tiểu đoàn Mỹ nữa, sẽ có hai khả năng xảy ra: Khả năng thứ nhất, địch đưa thêm từ 1 đến 2 lữ đoàn và một số tiểu đoàn ngụy để đánh rộng ra, nhưng khả năng này có ít. Khả năng thứ hai, địch co về phòng ngự, giữ một số khu vực nhất định, khả năng này nhiều.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận triển khai công tác chuẩn bị tập trung vào những vấn đề then chốt sau đây. Chuẩn bị chiến trường, từ tháng 7 năm 1967, đoàn cán bộ mặt trận và Sư đoàn 1 đi thị sát chiến trường. Đến cuối tháng 8 cán bộ quân sự từ cấp tiểu đoàn trưởng đi trinh sát địa hình khu vực Đắc Tô.

 Để mở chiến dịch trên hướng bắc Kon Tum, việc chuẩn bị đường sá mang ý nghĩa rất quan trọng, nhất là hệ thống đường xe thồ từ cửa khẩu VQ5 trên đất Cam-pu-chia đến vùng ba biên giới dài gần 200km, qua hàng chục con suối, vượt hàng chục đèo cao. Bộ tư lệnh Mặt trận đã sử dụng lực lượng công binh và vận tải gấp rút sửa chữa những đoạn đường thồ hư hỏng, lầy lội. Bộ đội phải đi xa chặt nứa, lồ ô đan phên lát đường cho xe thồ đi, dài hàng chục ki-lô-mét. Để bảo đảm bí mật, khi chặt nứa, lồ ô phải rút hết xuống đất không để lại lá khô thành vệt, máy bay trinh sát phát hiện. Cùng với việc mở mang đường thồ, chiến dịch còn phải mở mạng đường bộ cho pháo binh mang vác.

Trong hoàn cảnh cơ sở vật chất còn mỏng yếu, lực lượng dự trữ trong địa bàn mở chiến dịch hầu như không có, việc tổ chức bảo đảm hậu cần chiến dịch đã được tiến hành với tinh thần hết sức tích cực chủ động. Ngành hậu cần đã triển khai hệ thống tổ chức bảo đảm có chiều sâu từ phía sau ra phía trước.

*
*   *

Tôi tham gia xây dựng quyết tâm và kế hoạch chiến dịch Đắc Tô, nhưng không trực tiếp chỉ huy vì đã có anh Hoàng Minh Thảo tư lệnh, anh Trần Thế Môn làm chính ủy. Chủ nhiệm Chính trị là anh Đặng Vũ Hiệp, Tham mưu trưởng là anh Nam Hà. Tôi trở lại Quân khu 5 làm tư lệnh. Tạm biệt Tây Nguyên với bao kỷ niệm sâu sắc, với những tình cảm nồng ấm trong tình huống vô cùng khó khăn của đồng bào, đồng chí, đồng đội. Trên hai năm chiến thắng trong thử thách, bộ đội chủ lực và địa phương Tây Nguyên được rèn luyện vững chắc, đặc biệt với đội ngũ cán bộ, hai năm chiến đấu trên chiến trường thật là vô giá, chiến trường chỉ mới sáng tạo một bước quan trọng, nhưng đã hứa hẹn rong một tương lai không xa. Tôi về Khu 5 được mấy hôm thì nhận được báo cáo của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chiến dịch Đắc Tô thắng lớn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:03:12 AM
Chương VI
THỬ THÁCH CUỐI CÙNG

Nhà trắng bước vào năm 1968 với những lo âu bao trùm “một cuộc tiến công lớn ác liệt sắp xảy ra” đã luôn luôn là mối đe dọa và ám ảnh giới cầm quyền Mỹ. Những tin tình báo, những báo cáo từ mặt trận gửi về đều dự đoán một “chiến dịch Đông – Xuân của Cộng sản”. Giôn-xơn hối hả gấp rút đưa số quân đã hứa sang cho Oét-mo-len. Ngày 21 tháng 11 năm 1967, ông ta nói rằng: “Đồng hồ đã điểm – chúng ta cần đưa tất cả số quân tăng thêm sang nhanh được chừng nào hay chừng ấy”. Giôn-xơn giục Oét-mo-len duyệt lại các kế hoạch, đặc biệt là lực lượng dự trữ cơ động để có thể đối phó ngay với tình hình. Đa số lính Mỹ được lệnh không nghỉ phép trong dịp Tết, quân ngụy cũng được yêu cầu như vậy.

Oét-mo-len báo cáo rằng mối đe dọa ở Quân đoàn 1 là nghiêm trọng nhất, nhất là chiến trường Khe Sanh và thành phố Huế; đồng thời Sài Gòn cũng là mục tiêu quan trọng. Tính đến cuối năm 1967, tổng số quân địch ở chiến trường miền Nam đã lên đến gần một triệu một trăm nghìn tên, gồm 22 sư đoàn, 17 trung đoàn. Quân Mỹ có 9 sư đoàn và 3 lữ đoàn quân ngụy 11 sư đoàn và 11 trung đoàn, quân chư hầu 2 sư đoàn và 3 trung đoàn. Về máy bay, Mỹ có 3.746 chiếc (1.000 máy bay chiến đấu).

Tháng 6 năm 1967, Trung ương Đảng họp đánh giá thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam đã đánh bại một bước rất cơ bản cuộc chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Địch bị lủng củng cả về quân sự lẫn chính trị, khả năng tăng quân Mỹ hơn nữa gặp nhiều khó khăn nên không có nhiều. Về ta, cả thế và lực đã có nhiều tiến bộ. Vì vậy, nhân lúc đế quốc Mỹ đang đứng trước thế tiến lùi đều khó và chuẩn bị bầu tổng thống mới, cần chuẩn bị đánh cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự.

Theo tinh thần đó của Trung ương, tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị đã họp và ra Nghị quyết lịch sử “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định”.

Về tình hình và nhiệm vụ trước mắt, Bộ Chính trị phân tích: Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn, đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược. Rõ ràng, so với mục đích chính trị và quân sự nhất quán của chúng ở miền Nam thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã tới đỉnh cao.

Sau khi điểm lại âm mưu cơ bản và những thất bại liên tiếp của địch, Bộ Chính trị đã nhận định: Do những thất bại có tính chất chiến lược của Mỹ ở miền Nam và do những thắng lợi to lớn của ta ở Đông – Xuân này, địch khó có khả năng mở cuộc phản công lần thứ ba. Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là chúng sẽ chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước.

Về phía ta, Bộ Chính trị nhận định: Chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược và chiến thuật, lực lượng quân sự và chính trị của ta ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào, ta đang nắm quyền chủ động trên khắp chiến trường, nhưng ta cũng có một số nhược điểm về đánh tiêu diệt lớn, công tác đô thị, bảo đảm vật chất trang bị, công tác binh vận…

Bộ Chính trị kết luận: Diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi, địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn. Tình hình cũng cho phép ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Từ sự phân tích và nhận định tình hình trên đây, Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích - tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định.

Bộ Chính trị dự kiến ba khả năng phát triển của tình hình. Một là, ta giành thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, công kích và khởi nghĩa thành công ở các đô thị lớn, ý chí xâm lược của địch bị đè bẹp, bắt chúng phải chịu thương lượng đi đến kết thúc chiến tranh theo mục đích, yêu cầu của ta. Hai là, tuy ta giành được thắng lợi to lớn ở nhiều nơi nhưng địch vẫn còn nhiều lực lượng, dựa vào căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta. Ba là, Mỹ tăng thêm lực lượng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Chúng ta phải nỗ lực phi thường để giành được thắng lợi cao nhất theo khả năng một nhưng cũng sẵn sàng đối phó với khả năng hai; khả năng ba tuy có rất ít nhưng cũng phải luôn chủ động đề phòng. Dù tình huống nào ta cũng phải giành thắng lợi to lớn làm xoay chuyển cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:04:01 AM
Tôi về khu 5 được giao nhiệm vụ là Tư lệnh Quân khu, Phó bí thư khu ủy và Quân khu ủy, anh Võ Chí Công giữ chức Bí thư Khu ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu, Chính ủy Quân khu. Về đến Bộ tư lệnh Quân khu thì Tết Mậu Thân đã đến gần. Sau khi làm việc với Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy, các anh đều nhấn mạnh quyết tâm và kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đã được cả hai tập thể cùng thông qua. Theo kế hoạch, nhiệm vụ giao cho các đơn vị địa phương trên toàn chiến trường như sau:

- Chiến trường trọng điểm Quảng Đà, được xác định là “chiến trưởng chính trị”, Sư đoàn 2 chủ lực có nhiệm vụ đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên, hình thành thế bố trí quân theo chiều dọc, làm bàn đạp nam, bắc sông Thu Bồn sẵn sàng đánh quân địch phản ứng giải tỏa hoặc cơ động tăng viện cho lực lượng khởi nghĩa trong Đà Nẵng. Lực lượng địa phương của tỉnh dùng hai tiểu đoàn đặc công đánh chiếm hai khu vực điểm cao khống chế tây và nam thành phố Đà Nẵng là núi Phước Tường và núi Non Nước. Tiểu đoàn 1 thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy, pháo binh bắn phá sân bay Đà Nẵng, lực lượng biệt động Lê Độ và cơ sở vũ trang trong thành phố đánh chiếm một số mục tiêu như đài phát thanh, tòa thị chính, để hỗ trợ cho quần chúng trong thành phố nổi dậy kết hợp với quần chúng nông thôn trào vào khởi nghĩa giành chính quyền. Tại Hội An, Tiểu đoàn 2 địa phương của tỉnh cùng lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với nhân dân nổi dậy công kích và khởi nghĩa giải phóng thị xã.

- Ở Quảng Nam, toàn bộ lực lượng tập trung của tỉnh dồn vào công kích thị xã Tam Kỳ, kết hợp với quần chúng nổi dậy khởi nghĩa để dứt điểm mục tiêu, cùng lúc đó đặc công quân khu tiến công, đánh phá căn cứ Chu Lai.

- Ở Quảng Ngãi, Trung đoàn đặc công 401 của quân khu công kích tiêu diệt tiểu khu. Các tiểu đoàn 48, 41, 83, 20 công kích đồng loạt vào sân bay và các mục tiêu then chốt trong thị xã để hỗ trợ cho quần chúng khởi nghĩa.

- Tại Bình Định, Sư đoàn 3 chủ lực đánh chiếm quận lỵ Phù Mỹ, sẵn sàng đánh quân địch phản kích; đồng thời sẵn sàng cơ động phối hợp với quần chúng khởi nghĩa ở Quy Nhơn. Việc công kích và khởi nghĩa ở Quy Nhơn do lực lượng địa phương (có một đơn vị đặc công quân khu phối hợp đánh vào khu đèo Son) và nhân dân đánh chiếm.

- Ở Khánh Hòa, hai đại đội của Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 20) hóa trang luồn vào Nha Trang từ chiều hôm trước để đêm N công kích một số cơ quan đầu sỏ ngụy quân, ngụy quyền phối hợp với quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền.

- Trên Tây Nguyên, Sư đoàn 1 chủ lực thực hành tác chiến kéo địch ra khu vực Đắc Tô – Tân Cảnh để tiêu diệt và kiềm chế chủ lực địch tạo điều kiện cho các đơn vị khác thực hành công kích giải phóng các thị xã. Nhiệm vụ công kích vào thị xã Buôn Ma Thuột do Trung đoàn 33 kết hợp với lực lượng địa phương Đắc Lắc đảm nhiệm. Nhiệm vụ công kích vào thị xã Kon Tum do Trung đoàn 24 và lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm. Trung đoàn 320 và các lực lượng vũ trang Gia Lai đánh vào thị xã Plây Cu, cùng lúc Trung đoàn 95 đánh và cắt đường số 19 đoạn An Khê đi Plây Cu không cho lực lượng địch từ đồng bằng lên Tây Nguyên và ngược lại.

Trong khi các lực lượng vũ trang và nhân dân đồng loạt công kích và khởi nghĩa đánh địch, giành chính quyền ở các thành phố, thị xã thì lực lượng vũ trang địa phương huyện và du kích kết hợp với nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện, xã giải phóng toàn bộ nông thôn.

Quyết tâm và kế hoạch của Khu ủy và Quân khu ủy đã thông qua, thật khó cho tôi lúc nghiên cứu. Kế hoạch tiến công nổi dậ của các tỉnh với hàng nghìn mục tiêu các nơi đã được xác định và bố trí, chỉ cần kiểm tra lại. Riêng trọng điểm Đà Nẵng – khu liên hiệp quân sự chỉ sử dụng 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 2 và đặc công, pháo cối đánh vào sân bay Đà Nẵng. Đánh vào Đà Nẵng mà chỉ dùng 1 tiểu đoàn chủ lực là quá ít, lại chưa được chuẩn bị, hỏi kỹ anh em tham mưu quân khu cho biết: đồng chí Phó bí thư Khu ủy phụ trách đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng đã nhận định: Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn là ba trọng điểm chính trị, trong cuộc tiến công chiến lược này cả ba trọng điểm đều lấy đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng là chính.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:04:43 AM
Đang nghiên cứu tìm hiểu kế hoạch tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân thì dược tin đoàn cán bộ Sư đoàn 2 đang ở trên điểm cao Đồng Mông – Đá Hàm chuẩn bị cho trận đánh giải phóng Quế Sơn bị biệt kích phát hiện, chúng gọi máy bay “rọ heo” của Mỹ bắn xối xả vào đội hình. Số cán bộ của Sư đoàn 2 hy sinh có các anh Lê Hữu Trữ, sư đoàn trưởng, Nguyễn Văn Đức, anh Mẫn – cán bộ tham mưu, anh Toản – Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31. Tôi xuống đơn vị ổn định tư tưởng và tổ chức an táng cán bộ hy sinh. Anh Giáp Văn Cương được chỉ định làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 2. Theo tôi, việc sử dụng Sư đoàn 2 đánh Quế Sơn nhằm thu gọn chiến trường là không cần thiết. Lẽ ra để sư đoàn này nghỉ ngơi mấy tuần chuẩn bị cho Tết Mậu Thân thì đúng hơn.

Giải quyết xong một số việc cho Sư đoàn 2, tôi về đến Bộ tư lệnh Quân khi thì Tết Mậu Thân đã đến, ngày giờ cuộc tiến công và nổi dậy sắp bắt đầu. Theo lệnh chính thức của Bộ thì tối 30 rạng ngày mùng 1 Tết Mậu Thân năm 1968 ta nổ súng đồng loạt tiến công hàng nghìn mục tiêu trong một đêm. Mục tiêu sau lưng địch nhiều hơn chính diện, không phải đơn vị nào cũng có điện đài mang theo. Mệnh lệnh của Bộ Tổng Tham mưu hoãn nổ súng lại một ngày, thực hiện vô cùng khó khăn. Quân khu chỉ hoãn được các đơn vị chủ lực tiến công chính diện, nhiều đơn vị khác đành phải để anh em thực hiện theo lệnh trước.

Thực hiện kế hoạch tiến công và nổi dậy, từ 23 giờ ngày 29 tháng 1 năm 1968 lực lượng vũ trang tỉnh Khánh Hòa nổ súng đánh vào sân bay Nha Trang, mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Đúng 0 giờ ngày 30 tháng 1, bộ đội ta đã nổ súng tấn công vào Tuy Hòa (Phú Yên). Tiếp đó, từ 0 giờ 45 phút ngày 30 tháng 1 năm 1968 các đơn vị ở hướng thị xã Buôn Ma Thuột, Plây Cu, Hội An, Quy Nhơn, Kon Tum đều nổ súng đánh địch.

Đòn công kích sâu, hiểm, bất ngờ cả về quy mô, mục tiêu, thời gian đã làm cho cả Mỹ lẫn ngụy choáng váng. Ngay từ phút đầu tiên, các lực lượng pháo, cối và bộ đội đặc công đã đánh mạnh làm tê liệt hầu hết các sân bay, các trận địa pháo, căn cứ hậu cần của Mỹ - ngụy, phá hủy nặng binh khí kỹ thuật và phương tiện chiến tranh của địch.

Tại thị xã Buôn Ma Thuột, ngay từ phút đầu ta đánh chiếm đài phát thanh, chiếm nhiều vị trí của sư đoàn 23 ngụy, tòa thị chính, ty cảnh sát, bắn phá sở chỉ huy tủng đoàn 45 và sân bay Buôn Ma Thuột. Một bộ phận khác đánh vào khu cơ giới và pháo binh. Ngay đêm đầu, ta đã diệt được một bộ phận cơ quan đầu não và sư đoàn bộ sư đoàn 23, các lực lượng bảo an, cảnh sát ở khu hành chính, đài phát thanh.

Hướng Plây Cu, các đơn vị ta chia làm nhiều cánh đánh chiếm khu biệt động ngụy, khu hành chính, khu cảnh sát vùng 2. Một bộ phận đánh vào trung tâm thị xã, diệt bọn cảnh sát, bảo an, phá 3 nhà lao, giải phóng 2.000 người bị địch giam giữ. Các đội đặc công tiến công sân bay A-rê-a và sân bay Cù Hanh. Trung đoàn 95 diệt đoàn xe 26 chiếc trên đường 19 không cho địch cứu viện cho Plây Cu.

Hướng Kon Tum, ta đánh chiếm khu hành chính tiểu khu Kon Tum, một phần biệt khu 24, sân bay, phá hủy nhiều kho tàng đạn dược, làm chủ một nửa thị xã.

Trên hướng trọng điểm Quảng Đà, ngay trong đêm, ta đánh chiếm thị trấn Nam Ô, một mỏm của núi Phước Tường và một khu vực ở Ngũ Hành Sơn, phá cầu Thủy Tú. Ta còn bắn phá sân bay Đà Nẵng, cắt đường số 1 ở đèo Hải Vân và từ cầu Đỏ đi Vĩnh Điện.

Ngày hôm sau, ta tiến công vào Đà Nẵng, một tiểu đoàn của Sư đoàn 2 mới vào được 1 trung đội. Trong Bộ tư lệnh tiền phương của khu có đồng chí nói: Cho bộ đội dừng lại để các đoàn, các cánh quân quần chúng có “đội quân tóc dài” vào trước. Một số cán bộ lo ngại không đảm bảo chắc thắng, tôi cũng đồng tình với mấy anh em này. Đồng chí đó còn tuyên bố: “Cá đã tức trứng”, chỉ cần có tiếng súng là quần chúng nổi dậy đè bẹp lực lượng quân sự địch, giành chính quyền. Cũng như từ lúc Mỹ vào Đà Nẵng, Chu Lai, anh đã tuyên bố: Chỉ cần còn có nương sắn, súng trường cũng thắng Mỹ. Thực tế thì quân địch ở Đà Nẵng đã ngăn chặn cả lực lượng quân sự và lực lượng quần chúng. Lực lượng của ta hoạt động trong nội thành Đà Nẵng không đáng kể, cuộc tiến công nổi dậy ở Đà Nẵng không thành. Các chiến trường địa phương từ Quảng Tín vào đến Khánh Hòa, Tây Nguyên thực hiện tốt. Trong lúc đó ở Huế và Sài Gòn tình hình khá sôi nổi.

Ngày thứ ba của cuộc tiến công và nổi dậy, anh Võ Chí Công và tôi nắm lại tình hình, đi đến quyết định dùng bộ phận nhỏ, đặc công, pháo cối tiếp tục đánh vào thị xã, thị trấn, còn lại đại bộ phận về nông thôn diệt địch và giữ vững thế trận chiến lược này.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:05:28 AM
Sau mấy ngày kết thúc đợt tiến công, anh T. về đến khu, nổi khùng, phê phán quân sự bất lực. Đồng chí Phó tư lệnh Quân khu thì rơi nước mắt. Cả hai cho rằng bộ đội chủ lực không làm được trò trống gì, các chiến trường có tướng tài, Khu 5 một tướng tồi. Vì sự nghiệp chung và đoàn kết nội bộ, tôi nghiến răng im lặng, dành thời gian cho các đồng chí ấy suy nghĩ.

Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân hướng vào hầu hết đô thị là hoàn toàn đúng, thắng lợi to lớn làm thay đổi cục diện chiến tranh. Nhưng suy nghĩ kỹ, nếu lãnh đạo, chỉ huy trên một chiến trường không ảo tưởng, ngả nghiêng, không đâm lao theo lao thì chắc chắn tránh được những tổn thất không đáng có.

Sau hơn một tháng nắm lại tình hình, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhận định: thắng lợi trong Tết Mậu Thân là to lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh, nhưng còn phải kiên trì chiến đấu mới có thể buộc địch phải xuống thang và rút quân. Bộ Chính trị biểu dương lãnh đạo, chỉ huy Khu 5 nhạy bén, sáng suốt sau đợt đầu đã chủ trương dùng phân đội nhỏ và pháo cối tiến công vào các căn cứ và đô thị, đại bộ phận lực lượng lùi lại diệt địch và giữ thế trận nông thôn đồng bằng. Anh T. đi Hà Nội về rất khấn khởi, anh nói: thật hạnh phúc cho khu ta có được anh Năm Công và anh Hai Mạnh nhạy cảm và sáng suốt, cơ bản giữ được lực lượng và giữ được thế trận nông thôn đồng bằng. Trong cuộc họp Khu ủy, anh T. tìm đến chỗ tôi xin lối về thái độ của anh sau khi tiến công và nổi dậy vào Đà Nẵng không thành. Tôi cười và nói:

- May mắn cho chúng ta có bước rèn luyện, chiến tranh thử thách ý chí, nghị lực và tài năng của con người, nhất là con người có trọng trách. Đấu tranh cách mạng là lâu dài. Mỗi thử thách là kinh nghiệm để chúng ta học tập, ý chí quyết tâm phải đi đôi với mưu lược, tinh thần chiến đấu dũng cảm phải đi đôi với sáng tạo.

Chiến tranh không phải là chuyện đùa, một cuộc dạo chơi như những tên lính Mỹ suy nghĩ lúc chưa đụng đầu với Việt Nam. Trung lập quân Mỹ và Nam Hàn, tập trung sức đánh tan quân ngụy, giành chính quyền về tay nhân dân là một sách lược không có cơ sở thực tế. Làm việc đó bằng sức mạnh của quần chúng, bộ đội chỉ cần có tiếng súng trong lúc quân địch còn nhiều và có tổ chức có thể nói là ngẫu hứng và duy tâm. Duy tâm phiêu lưu không dạt được nguyện vọng, nảy sinh hiện tượng tranh công đổ lỗi là điều không đáng có với những chiến sĩ cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Tổ quốc va nhân dân đòi hỏi cao trọng trách của chúng ta. Khuyết điểm của tôi khi nghiên cứu quyết tâm và kế hoạch đánh vào Đà Nẵng chỉ dùng 1 tiểu đoàn bộ binh rõ ràng là không đúng nhưng tập thể đã quyết định, đề nghị một vài lần không được thì không nói nữa. Đánh vào Đà Nẵng – một căn cứ liên hiệp quân sự lớn mà chỉ có 1 tiểu đoàn khoảng 200 tay súng là một việc quá xem thường quân địch. Không những thế bộ đội mới vào thành phố được 1 trung đội thì được lệnh ngăn lại để lực lượng quần chúng vào trước lại càng sai.

Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân dù thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược, nhưng chưa phải là nhân tố quyết định nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Với bản chất ngoan cố trước đòn tiến công choáng váng của ta, Mỹ đã đề ra biện pháp chiến lược “quét và giữ”. Chúng phân tán lực lượng từng trung đội lùng sục vào các thôn bản của nhân dân. Chính quyền cơ sở ngụy bị tê liệt, Mỹ cho tiểu đội trưởng của chúng làm ấp trưởng. Địch phân tán lực lượng để thực hiện biện pháp chiến lược “quét và giữ” lại thuận lợi cho du kích, bộ đội địa phương của ta chặn đánh. Tính chất quyết liệt càng tăng lên. Sau nhiều tháng chiến đấu liên tục chưa có thời gian học tập, củng cố, về tổ chức, quân số, một số ít cán bộ, chiến sĩ tỏ ra thiếu vững vàng kiên định, sa sút ý chí chiến đấu, ngại lâu dài ác liệt. Phát hiện tình hình trên, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu kịp thời triệu tập cuộc họp tổng kết rút kinh nghiệm. Bộ tư lệnh Quân khu còn ra chỉ thị phát động một đợt thi đua ngắn trong các lực lượng vũ trang quân khu, thời gian từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 20 tháng 7 năm 1968 lấy tên là “Làm đúng lời Bác dặn, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, lấy bảy điều Bác dạy trong bức điện Người gửi đồng bào, chiến sĩ miền Nam đầu tháng 3 năm 1968 làm nội dung thi đua. Bảy điều Bác Hồ dạy là:

- Ý chí phải thật kiên quyết.

- Kế hoạch phải thật tỉ mỉ.

- Kiểm tra phải thật kỹ càng.

- Phối hợp phải thật ăn khớp.

- Chấp hành phải thật chu đáo.

- Cán bộ phải thật gương mẫu.

- Bí mật phải giữ triệt để.

Chỉ thị nêu rõ: Những điều Bác dặn trong thư là những vấn đề lớn thuộc về lập trường, ý chí chiến đấu, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công tác, tinh thần trách nhiệm của cán bộ chiến sĩ ta. Phấn đấu làm tốt bảy điều Bác dặn sẽ tăng thêm sức mạnh chiến đấu, sẽ tạo ra nhiều nhân tố mới để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang toàn quân khu.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:06:08 AM
Trong đợt học tập này, bộ đội được quán triệt đầy đủ nội dung, yêu cầu và tính chất lâu dài quyết liệt của cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, thấy rõ đây là một giai đoạn, một quá trình tiến công và phản công sẽ diễn ra liên tục… Cán bộ, chiến sĩ đã nghiêm khắc vạch ra những thiếu sót của mình và cùng nhau bàn biện pháp khắc phục. Tư tưởng mệt mỏi bi quan, ngại lâu dài, nông nóng trông chờ thắng lợi, chỉ chú trọng chiến đấu trước mắt mà buông lỏng xây dựng lâu dài được đưa ra phân tích, phê phán và tự khắc phục. Tình cảm cách mạng và ý thức trách nhiệm đối với lịch sử, đối với nhân dân được nâng lên một bước. Các đơn vị đều có quyết tâm vươn lên lập công, xứng đáng với lời dạy của Bác.

Từ ngày 10 đến 17 tháng 4 năm 1968, Hội nghị Khu ủy Khu 5 đã đánh giá tình hình chiến trường hơn 3 tháng qua và kết luận những vấn đề cơ bản để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tổng tiến công, tổng khởi nghĩa thời gian tới. Mục đích cơ bản của giai đoạn tổng tiến công và nổi dậy là đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Quá trình tiến công và nổi dậy phải nắm thật vững vấn đề tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch đi đôi với phát triển thực lực ta. Tổng tiến công và nổi dậy là một giai đoạn tiến công chiến lược rất ác liệt và phức tạp, đánh lâu dài và liên tục. Trong tiến công và nổi dậy là quá trình vừa đánh địch vừa phát triển lực lượng ta, giành, giữ vững và phát triển thắng lợi với tinh thần hết sức khẩn trương.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Khu ủy Khu 5, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho các đơn vị toàn quân khu mở chiến dịch Hè 1968, bắt đầu từ ngày 5 tháng 5.

Chủ lực Quân khu đã hình thành bốn khu chiến trên bốn hướng khác nhau. Tại Khâm Đức, từ ngày 9 đến 12 tháng 5 năm 1968, Trung đoàn 21 Sư đoàn 2 được tăng cường 1 tiểu đoàn pháo 85 ly nòng dài và 1 tiểu đoàn cao xạ 23 ly tiến công giải phóng chi khu quân sự - quận lỵ Khâm Đức. Khâm Đức dược hoàn toàn giải phóng, hoàn chỉnh căn cứ địa quân khu ở miền núi Quảng Đà, nhất là đảm bảo và thông đường hành lang từ đường chiến lược vào địa bàn quân khu, tạo điều kiện mở đường vận chuyển cơ giới từ Đoàn 559 vào vùng giáp ranh Quảng Nam. Trận Núi Ngang, Núi Hoắc từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 năm 1968, Trung đoàn 31 Sư đoàn 2 lần đầu tiên vận dụng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt đã chủ động kéo quân viễn chinh Mỹ ra vùng đồi núi đã lựa chọn, kết hợp tác chiến của chủ lực với thế trận rộng khắp của du kích vùng giáp ranh ba huyện Tiên Phước, Thăng Bình, Tam Kỳ. Suốt 40 ngày chiến đấu liên tục, các chiến sĩ ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.865 tên Mỹ, bắn rơi 65 máy bay, phá hủy 30 xe quân sự của địch. Tại Bắc Phù Mỹ, Bình Định từ ngày 5 đến ngày 25 tháng 5, Sư đoàn 3 cùng lực lượng vũ trang địa phương Phù Mỹ, Hoài Ân chủ động kéo lữ đoàn dù 173 Mỹ ra khu bắc Phù Mỹ, nam Hoài Ân. Ngày 5 tháng 5 tại Mỹ Lộc (Phù Mỹ) và Ân Tương (Hoài Ân), quân ta đã diệt 21 xe tăng và xe bọc thép Mỹ, bắt sống 6 chiếc khác. Mờ sáng 6 tháng 5, bộ đội ta tập kích diệt toàn bộ một cụm xe 18 chiếc và 2 đại đội Mỹ. ngày 10 tháng 5 và ngày 25 tháng 5, Sư đoàn 3 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương diện 43 xe tăng và xe bọc thép, loại khỏi vòng chiến đấu 240 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay.

Trên hướng Tây Nguyên, Sư đoàn 1 sau các trận chiến đấu trên hướng đường 18 – Plây Cần, cơ động lực lượng tây Kon Tum, đánh quân Mỹ nống ra ngăn chặn ở khu vực Chư Tăng Kra, Chư Mo, Chư Tú Bla, Chư Ban, Chư Tang An… Bằng loạt trận liên tiếp phục kích, tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, Sư đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.160 tên Mỹ, bắn rơi 72 máy bay, phá hủy 42 xe quân sự.

Giữa tháng 6 năm 1968, sau các đợt tiến công và nổi dậy, Bộ tư lệnh Quân khu đã triệu tập hội nghị quân chính toàn quân khu sơ kết rút kinh nghiệm, nêu lên những mặt mạnh và khuyết điểm trong chỉ đạo, tổ chức chỉ huy của quân khu cũng như các đơn vị trong các đợt tiến công và nổi dậy. Qua diễn biến tình hình trên chiến trường, sau nửa năm các lực lượng vũ trang quân khu liên tục chiến đấu giành được thắng lợi to lớn nhưng lại nảy sinh nhiều vấn đề mới trong điều kiện mới, nhất là về chính trị tư tưởng.

Hội nghị đã dành nhiều thời gian để phân tích, đấu tranh đi đến thống nhất một số điểm và nhận thức đối với tình hình nhiệm vụ, giải quyết những hiện tượng hữu khuynh, tiêu cực vừa nảy sinh từ ảo tưởng giành thắng lợi dễ dàng đi đến bi quan tiêu cực, tạo sự nhất trí trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo của toàn quân khu để đẩy mạnh nhiệm vụ chiến đấu của lực lượng vũ trang thời gian tới.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:07:15 AM
Trung tuần tháng 8 năm 1968, Thường vụ Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch tiến công đồng loạt quân địch khắp ba vùng chiến lược cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị, tập trung lực lượng vào những trọng điểm then chốt, tiếp tục đẩy mạnh tiến công và khởi nghĩa. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 8 năm 1968, các lực lượng vũ trang Quân khu đồng loạt nổ súng tiến công địch trên khắp chiến trường. Tại Quảng Đà, lực lượng bộ binh, đặc công biệt động thành và pháo binh đã bất ngờ và đồng loạt tiến công và tuyến phòng thủ ven thành phố, đồng thời thọc sâu đánh chiếm khu vực nam, bắc cầu Đỏ, cầu Cẩm Lệ, quận lỵ Hòa Vang, thị trấn Nam Ô, tiêu diệt tiểu đoàn biệt kích ở sân bay Nước Mặn… Trên hướng Quảng Nam, Quảng Ngãi các tiểu đoàn bộ đội đặc công quân khu tiến công các vị trí của quân Mỹ ở Kỳ Hà, Chu Lai, Liệt Kiểm, điểm cao 230, Dừng Thám, núi Ông Sầm, Núi Xẻ (Quảng Nam), Tuy An, chi khu Nước Mặn, Bình Liên, Chợ Đình (Quảng Ngãi). Trên hướng Tây Nguyên, Sư đoàn 1 cùng lực lượng vũ trang Đắc Lắc đã tiến công quận lỵ Đức Lập và các vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến Đắc Xắc, Sa Pa, Đắc Lao…

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc đã tạo nên thế mạnh mới về quân sự và chính trị. Từ thế mạnh đó, ta đẩy mạnh tiến công ngoại giao, làm cho đế quốc Mỹ thêm bị động, lúng túng.

Ngày 25 tháng 1 năm 1969, Hội nghị bốn bên về Việt Nam khai mạc ở Pa-ri. Cục diện vừa đánh vừa đàm tạo cho ta điều kiện thuận lợi đẩy mạnh thế tiến công, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên những bước phát triển mới. Nhưng với bản chất hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn điên cuồng tiếp tục theo đuổi chiến tranh.

Giữa năm 1965, khi quyết định đưa quân chiến đấu ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, chính quyền Giôn-xơn cho rằng phía đối địch của chúng chỉ là “một nước nhược tiểu”, ngoài ra không có sự tham gia trực tiếp của một cường quốc nào khác. Thế nhưng, chỉ sau 4 năm đổ quân, đổ vũ khí, đổ tiền của, dồn hết tướng tài, chúng vẫn không xoay chuyển được tình hình ở trên chiến trường mà còn thất bại. Chiến tranh xâm lược Việt Nam đã trở thành một nơi chôn vùi tên tuổi biết bao tướng lĩnh và chính trị gia tài năng của nước Mỹ.

Sau thất bại Tết Mậu Thân, Giôn-xơn phải đề ra chủ trương “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Từ “tìm diệt” và “bình định” quân Mỹ chuyển sang “quét và giữ”. Âm mưu cơ bản của chúng là cố giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo thuộc địa kiểu mới của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta.

“Phi Mỹ hóa” của Giôn-xơn tiến hành chưa được bao lâu thì Ních-xơn lên làm tổng thống, tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng trong điều kiện nước Mỹ đã suy yếu. Ních-xơn đề ra học thuyết mang tên ông ta - “học thuyết Ních-xơn” và chiến lược quân sự “ngăn đe thực tế” với ba nguyên tắc cơ bản: sức mạnh Mỹ; chia sẻ trách nhiệm; thương lượng trên thế mạnh.

Với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Ních-xơn điều chính chủ trương “phi Mỹ hóa” của Giôn-xơn bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đây là thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” tiến hành theo công thức: “quân ngụy + vũ khí và cố vấn Mỹ”. Một kế hoạch chiến lược qua ba giai đoạn trong vòng ba năm rưỡi được Nhà trắng không qua.

Giai đoạn 1: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu cho quân ngụy, rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ, tiếp tục làm suy hiểu được lượng cách mạng bằng “bình định nông thôn”. Đây là giai đoạn mà tổng thống Mỹ cho là quan trọng và có ý nghĩa quyết định.

Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân ngụy, làm cho quân ngụy mạnh lên để đủ sức đương đầu với đối phương.

Giai đoạn 3: Củng cố thành quả đã đạt được, tiếp tục làm cho lực lượng ta suy yếu nghiêm trọng, chiến tranh vì thế sẽ lụi tàn dần.

Chúng dự kiến thời gian “Việt Nam hóa chiến tranh” đến giữa năm 1972 sẽ hoàn thành.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:08:18 AM
“Việt Nam hóa chiến tranh” là một âm mưu thâm độc xảo quyệt, là một nỗ lực rất lớn trong tình thế Mỹ đã suy yếu, nhằm đạt đến mục đích cuối cùng đánh bại cuộc chiến đấu yêu nước của nhân dân ta. Tuy nhiên, “Việt Nam hóa chiến tranh” là sản phẩm của một chuỗi thất bại. Nó ra đời khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “chiến tranh cục bộ” đã phá sản. Ngay từ lúc mới ra đời, nó đã chứa đựng những mâu thuẫn nội tại mà kẻ địch không sao khắc phục được.

Hội nghị Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 4 năm 1969 đã chỉ rõ: Vì thất bại và suy yếu nên buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, nhưng lại muốn chủ động xuống thang trên thế mạnh. Xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước mà lại muốn quân ngụy mạnh lên thay thế được quân Mỹ - một việc quân ngụy đã không làm được khi có hơn 50 vạn quân Mỹ đứng bên cạnh và có trong tay lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh. Muốn rút quân Mỹ càng sớm càng tốt để bớt thương vong, giảm chi phí chiến tranh, song rút sớm thì quân ngụy không thể đứng vững, nhưng kéo dài việc rút quân Mỹ thì thương vong của quân Mỹ càng lớn. Không rút được quân Mỹ thì mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ, mâu thuẫn giữa nhân dân Mỹ với chính quyền càng gay gắt, nhưng rút quân Mỹ ra, ngụy quân, ngụy quyền sẽ sụp đổ, bọn tay sai thấy chủ bỏ rơi, mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy sẽ phát sinh, mâu thuẫn giữa các phe phái trong ngụy quyền càng gay gắt. Áp dụng chiến lược quân sự “quét và giữ” trong lúc mục đích chiến tranh xâm lược là giành dân, chiếm đất. Phản công, tiến công đã thất bại thì một chiến lược mang nặng tính chất phòng ngự làm sao có thể thực hiện được mục đích xâm lược.

Tháng 4 năm 1969, Hội nghị Khu ủy Khu 5 (mở rộng) họp. Sau khi quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị và từ thực tiễn chiến trường, hội nghị đã khẳng định: Muốn đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh”, trước hết phải đánh bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch “bình định nông thôn”. Đây là một cuộc chiến đấu toàn diện, quyết liệt trên mọi mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Riêng về mặt quân sự phải nỗ lực thực hiện cho kỳ được hai nhiệm vụ: Một là, tiêu diệt của cán bộ bình định, ác ôn và các lực lượng kìm kẹp khác của địch ở cơ sở, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh làm thất bại kế hoạch gom dân, lập ấp, lập khu dồn của địch. Hai là, tiến công tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, nhất là các đơn vị quân Mỹ và cơ động ngụy, gây tổn thất lớn khiến cho đế quốc Mỹ không thể kéo dài sự chịu đựng; đồng thời làm mất chỗ dựa của lực lượng kìm kẹp tạo thế cho bộ đội địa phương, du kích và nhân dân đấu tranh làm thất bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch.

Hai nhiệm vụ này quan hệ khăng khít và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau. Có thực hiện tốt hai nhiệm vụ này mới thực hiện được hai mục tiêu cơ bản của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, giành và giữ quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, lúc này ta đang gặp khó khăn. Sau ba đợt tiến công lớn trong năm 1968, lực lượng vũ trang toàn khu đã bị tiêu hao. Một số đơn vị bị tiêu hao nặng chưa được bổ sung. Cuối năm 1968, Bộ điều 55% các đơn vị chủ lực của Tây Nguyên vào Nam Bộ. Việc chỉ đạo sản xuất trong năm 1968 không được coi trọng đúng mức nên sản lượng lương thực trong các vùng căn cứ giảm sút. Địch ra sức bao vây đã phá hoại kinh tế. Nguồn gạo lấy từ vùng địch ra lúc có, lúc không. Bộ đội, cơ quan và dân các vùng căn cứ đều thiếu ăn. Một số đơn vị và địa phương đói nghiêm trọng. Về tư tưởng, một số cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo khu, tính chủ quan cho rằng quân Mỹ đã rút, quân ngụy không thể đứng đầu nối với ta, từ đó dẫn đến coi thường các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch. Điều quan trọng nữa là trong lúc tình hình đã thay đổi, nghị quyết Khu ủy đã xác định: đánh bại kế hoạch “bình định nông thôn” của địch là nhiệm vụ trung tâm nhưng trong chỉ đạo vẫn còn lướng vướng với việc khởi nghĩa giành chính quyền ở đô thị.

Trong lúc nhận thức tư tưởng lẫn tổ chức lực lượng của ta chưa chuyển kịp với sự phát triển của tình hình mới, thì Mỹ - ngụy đang dồn sức phản kích hết sức quyết liệt trên cả hai chiến trường đồng bằng và rừng núi.

Địch chọn Tây Nguyên làm thí điểm “Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa quân ngụy ra đương đầu với chủ lực ta. Ngày 10 tháng 1 năm 1969, chúng tập trung 6 tiểu đoàn của liên đoàn biệt động số 2 và trung đoàn 45 sư đoàn 22 ngụy có máy bay và pháo binh Mỹ yểm trợ, bộ binh lính đứng ở tuyến sau đánh vào vùng Chư Pă (Gia Lai). Ngày 13 tháng 1 năm 1969, tám tiểu đoàn quân Mỹ và trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy được pháo của hạm đội 7 chi viện đánh vào khu căn cứ Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tiếp theo, các sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn A-mê-ri-cơn, lữ đoàn 173 quân Mỹ, sư đoàn Mãnh Hổ, sư đoàn Bạch Mã lính đánh thuê Nam Hàn lần lượt đánh vào các khu căn cứ Giang Rẫy (Quảng Đà), An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định), Cây Vừng, Kỳ Lộ, Sông Hinh (Phú Yên). Máy bay B.52 liên tục ném bom rải thảm dọc các trục hàng lang, các khu căn cứ mà bộ binh của chúng chưa thể đánh vào. Chị cho 10 ngày đầu năm 1969, Mỹ đã sử dụng 180 lần chiếc B.52 ném gần 5.000 tấn bom vào khu vực sở chỉ huy Quân khu 5 dọc nam và bắc sông Tranh (Quảng Nam).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:11:07 AM
Cùng lúc với các cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài, lực lượng còn lại của địch cũng đồng loạt bung ra càng quét, đánh phá để gom dân lập ấp khắp các vùng giải phóng, vùng tranh chấp ở ven biển và vùng đất băng ở Tây Nguyên.

Vừa chống địch càn quét, các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn khu vừa chuẩn bị cho cuộc tiến công phối hợp quy mô lớn với các chiến trường toàn miền Nam. Đặc công, pháo cối, biệt động vào bộ binh mũi nhọn của ta đồng loạt đánh vào 9 thị xã và thành phố, 33 chi khu quân sự và quận lỵ, 8 thị trấn, hầu hết các sân bay, bến cảng, các khu kho dự trữ chiến lược lớn An Đồn (Đà Nẵng), Đèo Sơn, Miếu Lở (Quy Nhơn), Cam Ranh (Khánh Hòa), La Sơn (Plây Cu), sở chỉ huy sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn A-mê-ri-cơn của Mỹ, sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, các trận địa pháo, bãi xe cơ giới của địch.

Với cách đánh bồi, đánh nhồi, tập trung nhiều lực lượng đánh vào một đơn vị, một cụm kho... ta không chỉ sát thương lớn về sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh làm giảm sức chiến đấu của một số đơn vị địch trong một thời gian nhất định mà còn khiến cho địch phải lúng túng bị động đối phó.

Bị đánh mạnh ở trung tâm sào huyệt, Mỹ - ngụy buộc phải chấm dứt các cuộc hành quân đánh phá ra vòng ngoài và phần lớn các cuộc hành quân yểm trợ “bình định nông thôn” để đưa lực lượng quay về tăng cường bảo vệ hậu cứ.

Sau khi đánh bại cuộc hành quân của quân ngụy vào vùng núi Chư Pă, chủ lực Tây Nguyên chuyển sang tiến công vào tuyến phòng thủ của địch ở phía tây thị xã Kon Tum.

Ta mở tiếp đợt tiến công Hè 1969. Trong đợt hoạt động này, các lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh đồng bằng ven biển đã tiêu diệt 3 tiểu đoàn hỗn hợp của Mỹ, đánh thiệt hại nặng các trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ, các lữ đoàn 196, 198 sư đoàn A-mê-ri-cơn của Mỹ, trung đoàn 5 sư đoàn 2 quân ngụy, phá tan 300 khu dồn và “ấp chiến lược”.

Ở Tây Nguyên, ta tập trung lực lượng tiến công vào tuyến phòng thủ cơ bản của định ở Đắc Tô. Địch tiếp tục thí điểm “Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa quân cơ động ngụy ra đối phó với chủ lực ta. Tuy được chi viện tối đa về hỏa lực, nhưng quân ngụy vẫn né tránh chủ lực ta. Tránh không được chúng liền chiếm điểm cao co cụm đội hình, tạo khoảng cách để máy bay và pháo binh đánh phá. Địch cố tránh, ta cố diệt. Cuộc đọ trí đọ sức diễn ra gay go và quyết liệt. Sau những trận đánh không thành công, ta đã kịp thời rút kinh nghiệm. Khi phát hiện được địch, bộ đội ta nhanh chóng áp sát đội hình, bao vây chặt không cho chúng tháo chạy hoặc tạo ra khoảng cách, bám thắng lưng địch liên tục tiến công chia cắt để tiêu diệt từng cụm, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Sau một tháng chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt và đánh quỵ 9 trong số 12 tiểu đoàn quân chủ lực ngụy. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ được thí điểm ở chiến trường Tây Nguyên vừa mới bắt đầu đã bị thất bại.

Bình định và chống bình định; lấn đất, kiểm soát dân và giành dân, giữ dân, giữ quyền làm chủ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra gay gắt, quyết liệt, dai dẳng hết tháng này sang tháng khác. Địch tập trung lực lượng, tập trung bom đạn cố sức đánh phá để giữ vòng trong và quét vòng ngoài. Ta phải dùng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân tiến công địch ở cả ba vùng chiến lược, cả ở phía trước và phía sau, nhằm tiêu diệt quân cơ động và phá hủy lớn phương tiện chiến tranh của địch, diệt ác phá kìm hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh giành quyền làm chủ. Do nhận thức tư tưởng và tổ chức lực lượng chưa chuyển kịp với tình hình nên sức tiến công của ta chưa đều và chưa rộng. Nhiều trận tiến công đồng loạt vào hàng trăm mục tiêu tuy vẫn còn có hiệu lực nhưng dần dần mất đi sức chấn động lớn lúc đầu. Địch phát hiện được quy luật tiến công ào ạt trong một thời gian ngắn của ta, khi ta tiến công mạnh, chúng co lại cố thủ chờ cho ta hết đạn, hết gạo, lui về củng cố, địch liền ra đánh mạnh vào lực lượng cơ sở thôn xã.

Vùng giải phóng và vùng làm chủ của ta mỗi lúc một thu hẹp. Lính Mỹ, lính ngụy, lính Nam Hàn ngày đêm hỗ trợ cho bọn “bình định” ác ôn đánh phá. Thủ đoạn càn quét gom dân của địch vẫn như cũ nhưng tập trung hơn, quyết liệt hơn. Trước những thủ đoạn đánh phá điên cuồng của địch, lực lượng ta mỗi lúc một giảm. Cơ sở chính trị không ít nơi tạm thời tan vỡ. Phần lớn các xã chỉ còn một tiểu đội hoặc một tổ du kích. Tỉnh ủy Quảng Đà phải giải tán một số đơn vị tập trung, lấy chiến sĩ người Bắc bổ sung cho du kích xã.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Mười, 2018, 10:11:40 AM
Quân địch đã thực hiện được một phần biện pháp chiến lược quét và giữ, tăng cường lực lượng, tăng cường bộ máy kìm kẹp ở cơ sở và “bình định” nông thôn. Đến cuối năm 1969, tổng quân số của Mỹ - ngụy và chư hầu ở Khu 5 từ 365 nghìn tên (cuối năm 1968) đã tăng lên 380 nghìn tên. Địch đã tổ chức 15 vạn phòng vệ dân sự có vũ trang. Về phương tiện chiến tranh, máy bay tăng 583 chiếc, pháo binh 115 khẩu, xe tăng, xe bọc thép tăng 454 chiếc. Thêm vào đó, vùng căn cứ rừng núi không ổn định. Căn cứ rừng núi bị uy hiếp, cơ quan khu, tỉnh phải thường xuyên di chuyển để tránh máy bay B.52 và biệt kích. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận trong khu lại bước vào một thời kỳ khó khăn mới. Tuy có khó khăn nhưng đại bộ phận cán bộ, bộ đội, du kích, nhân dân vẫn kiên cường trụ bám. Người này ngã xuống, người khác đứng lên. Nhân dân bị địch dồn đi nơi khác vẫn tìm mọi cách giúp đỡ cho du kích chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ chồng, con cái đều tham gia du kích. Ba, bốn gia đình hợp thành một cụm du kích Mỗi thôn, mỗi xóm vẫn là một trận địa đánh Mỹ.

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Trung đang ở trong thời kỳ khó khăn thử thách, thì một tin đau đớn đã đến: Bác Hồ kính yêu qua đời.

Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta không ai nén nổi tiếng khóc khi được tin đau thương này. Mọi người nước mắt lưng tròng vây quanh ảnh Bác, ai nấy đều xót xa ân hận tự thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm Khu 5, Tây Nguyên. Một bầu không khí đau buồn, trầm lặng bao trùm, ngay trong vùng kìm kẹp của Mỹ - ngụy nhân dân vẫn lập bàn thờ để tưởng niệm Bác.

Mặc dù Văn phòng Trung ương thông báo cho anh Năm Công và tôi biết Bác đang đau nặng khó qua, nhưng khi được thông báo chính thức, chúng tôi đau xót nghẹn ngào. Mấy đêm liền tôi thao thức, nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, nhưng lại tự mình khẳng định phải biến đau thương thành trách nhiệm chính trị cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kiên trì chống Mỹ thực hiện toàn vẹn lời Bác căn dặn: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong lễ tang tại Hà Nội, được nghe Điếu văn của đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Lê Duẩn và Di chúc thiêng liêng của Bác, chúng tôi mới thật ổn định tư tưởng và tiếp tục công việc.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, các đơn vị quân đội tổ chức trọng thể lễ truy điệu cùng ngày giờ với thủ đô Hà Nội.

Ngày 9 tháng 9 năm 1960, Khu ủy, Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu 5 tổ chức lễ truy điệu trọng thể Bác tại vùng căn cứ Khu 5 (ở sông Tranh, Quảng Nam). Hơn một nghìn con người cố kìm tiếng nấc nghẹn ngào lắng nghe từng chữ, từng câu Di chúc thiêng liêng của Bác và hướng tất cả lòng mình về thủ đô Hà Nội, nơi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang làm lễ truy điệu Người.

Thay mặt Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu và lực lượng vũ trang Quân khu 5, tôi đọc lời hứa trang nghiêm tại buổi lễ. Sau khi ôn lại công ơn trời biển và sự quan tâm săn sóc của Bác đã dành cho đồng bào và chiến sĩ Khu 5, Tây Nguyên qua mỗi chặng đường cách mạng, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, nâng cao quyết tâm chiến đấu, không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên chiến trường, xứng đáng với công ơn trời biển và sự quan tâm dạy dỗ của Bác.

Khu ủy, Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu gửi điện lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương hứa quyết tâm: Ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Bác, kiên quyết thực hiện đầy đủ lời dạy của Người, đạp bằng mọi chông gai, trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, cùng quân và dân cả nước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Bác đến đích cuối cùng.

Ngay sau đó, Khu ủy và Đảng ủy Quân khu 5, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, các tỉnh ủy tổ chức học tập Di chúc của Bác. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ những người cộng sản, những người lãnh đạo đã diễn ra vô cùng gay go, phức tạp. Dám bộc lộ những sai lầm, thiếu sót, dám công khai tự phê bình tư tưởng ngại gian khổ, hy sinh ngại ác liệt, dao động lòng tin... tự chiến thắng cái “tôi” để nỗ lực vươn lên không phải là điều dễ dàng.

Các lực lượng vũ trang toàn quân khu tiến hành đợt học tập chính trị với các yêu cầu: “Trung thực, thẳng thắn, đúng sai rõ ràng, sửa chữa tích cực”. Chiến thắng trên mặt trận tư tưởng là trận thắng có ý nghĩa quyết định trong việc giải quyết các khó khăn đưa cuộc kháng chiến phát triển lên giành thắng lợi mới.

Trong những ngày tháng đầy gian nan thử thách này, đã có người không chịu nổi, mất tinh thần, rời bỏ đội ngũ, thậm chí phản bội đầu hàng. Nhưng tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vẫn kiên định ý chí chiến đấu. Chính trong những tháng ngày cực kỳ gian khổ này, phẩm chất anh dũng của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và dân tộc ta lại càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:06:17 AM
*
*   *

Bước sang năm 1969, chiến trường Tây Nguyên gặp khó khăn lớn về đạn dược, thuốc men, quân lương và nhất là lương thực. Số gạo còn lại của năm 1968 chuyển qua năm 1969 chưa bằng một phần ba so với lượng tồn kho của năm 1967. Thực phẩm cung ít hơn 8 lần so với năm trước. Quân trang cũng trong tình trạng thiếu hụt lớn, tính chung toàn chiến trường, trong năm 1969 cứ 2 người lính chiến đấu ở phía trước, hoặc 8 người phục vụ ở phía sau mới được 1 bộ quân phục, nhưng phía sau tận tình nhường nhịn cho anh chị em trực tiếp chiến đấu.

Việc vận chuyển, tiếp tế lương thực từ hậu phương lớn vào chiến trường trong năm 1969 gặp rất nhiều khó khăn do địch đánh phá. Tây Nguyên chỉ tiếp nhận được khoảng 57% so với năm trước. Nguồn thu mua qua các cửa khẩu miền Tây cũng bị hạn chế do tình hình ở đây đang có nhiều phức tạp. Số lương thực, thực phẩm mua được trong cả năm 1969 chưa bằng được một nửa năm 1968 và ít hơn nhiều lần so với các năm trước đây. Trong lúc đó, ngoài việc bảo đảm nhu cầu các mặt cho toàn bộ khối chủ lực hoạt động trên địa bàn, Tây Nguyên còn có nhiệm vụ nuôi dưỡng các đoàn cán bộ, thương bệnh binh và các đơn vị bộ đội hanh quân qua chiến trường(1).

Từ giữa năm 1968 và nhất là trong năm 1969, Mỹ - ngụy mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét xúc tát gom dân, phá hoại sản xuất, triệt nguồn sinh sống của đồng bào, tiến hành “bình định cấp tốc” vô cùng khốc liệt. Âm mưu của chúng là lập vành đai trắng để “tát nước bắt cá”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi nhân dân.

Tình hình lương thực ở đồng bằng ven biển càng gay go căng thẳng gấp bội, địch phản kích điên cuồng và với việc đối phó chưa có hiệu quả của ta nên vùng giải phóng ngày càng mất ổn định. Số dân vùng làm chủ và vùng tranh chấp lúc này giảm sút. Đến cuối năm 1969, số dân vùng giải phóng và vùng căn cứ của ta chỉ còn 853 nghìn người. Thưa dân, đất trắng, sản xuất giảm sút, hai nguồn bảo đảm chủ yếu về lương thực là huy động của dân và thu mua trong vùng địch đều thấp nhiều so với năm trước. Ở các đơn vị chiến đấu, mỗi người một ngày chỉ còn nửa lon gạo. Cơ quan 8 người chỉ có 1 lon gạo để nấu cháo với rau rừng. Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 có lúc tất cả đơn vị đều ăn rau môn thục, củ móng ngựa. Gạo lấy được chỉ đủ cho thương binh. Trung đoàn Ba Gia phải lùi sâu lên căn cứ để dựa vào các rẫy sắn dự trữ. Nhưng phần lớn các rẫy sắn đều bị chất độc hóa học tiêu hủy. Bộ đội phải đi suốt hai ngày mới tìm được vài rẫy sắn. Mỗi người một ngày cũng chỉ được một ki-lô-gam sắn tươi. Các trung đoàn 38, 141 của Mặt trận 4 (Quảng Đà) cũng buộc phải lui về căn cứ tìm rẫy sắn để cứu đói. Thiếu đói nghiêm trọng ở tất cả các đơn vị. Bệnh sốt rét phát triển mạnh, số quân đau ốm ngày một tăng, ở một số đơn vị đã có anh em chết đói.

Địch lại liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, xúc bắt dân, phá hoại sản xuất, phá các đường hành lang, kho tàng, bãi tiếp nhận. Đói, đau, đạn, địch, là bốn từ anh em khái quát nói lên tình hình cực kỳ khó khăn gian khổ lúc bấy giờ.

Thường vụ Khu ủy, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung mọi trí tuệ làm việc ngày đêm, mở nhiều cuộc họp với cán bộ chủ trì các ngành và thủ trưởng các đơn vị nắm lại thực lực của chiến trường, đánh giá tình hình tư tưởng và khả năng khắc phục khó khăn của bộ đội, tìm ra những biện pháp có hiệu lực nhằm ổn định tình hình, tiếp tục đẩy mạnh mọi hoạt động trên chiến trường, đồng thời động viên, kêu gọi toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ đoàn kết thành một khối thống nhất, phát huy tinh thần cách mạng tiến công và truyền thống cần kiệm, tự lực khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, quyết đứng trên địa bàn chiến lược này để tiếp tục chiến đấu.

Sau chiến dịch Xuân – Hè năm 1969, căn cứ vào nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, nhiệm vụ chiến đấu lâu dài và tình hình thực tế khó khăn về vật chất là vấn đề lớn của chiến trường, nhất là lương thực, chẳng những không có dự trữ mà cung cấp hàng ngày cũng quá thiếu, đang có nguy cơ xảy ra đói trong nhân dân, cơ quan và bộ đội. Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu biên chế lại lực lượng vũ trang theo hướng: tinh, gọn, tăng thành phần chiến đấu, giảm thành phần cơ quan, tăng lực lượng địa phương, phát triển lực lượng đặc công, tinh nhuệ hóa các đơn vị chủ lực.


(1) Năm 1969 Tây Nguyên bảo đảm cho 61.500 lượt người qua lại.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:06:53 AM
Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu đã tạm thời giải thể Sư đoàn 3. Anh Huỳnh Hữu Anh – Sư đoàn trưởng được cử làm phó tham mưu trưởng quân khu. Anh Nguyễn Nam Khánh  – Chính ủy sư đoàn được điều về làm chủ nhiệm chính trị quân khu. Giải thể Trung đoàn 22 của Sư đoàn 3 để tăng cường cho các tỉnh Quảng Ngãi: 1 tiểu đoàn, Bình Định: 1 tiểu đoàn, Phú Yên: 1 tiểu đoàn. Cơ quan của Sư đoàn 3 được điều về bộ phận tiền phương của Quân khu ở Bình Định. Sư đoàn 2 phải tạm thời rời chiến trường ra bắc đường 9. Sư đoàn được giao nhiệm vụ chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.

Qua tổ chức lại, lực lượng 5 tỉnh đồng bằng (trừ Khánh Hòa) mỗi tình đều có 3 tiểu đoàn tập trung. Chủ lực quân khu còn 3 trung đoàn và 1 trung đoàn tăng cường đứng chân ở ba tỉnh: Trung đoàn 3 đứng chân ở Quảng Đà, Trung đoàn 21 đứng chân ở Quảng Ngãi, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12 đứng chân ở Bình Định.

Ở Tây Nguyên, để giảm bớt một phần khó khăn trước mắt về lương thực, ta đưa một bộ phận nhỏ lực lượng không trực tiếp chiến đấu về hậu phương lớn. Tháng 5 năm 1969, Trường Quân chính và Trường Quân y Mặt trận lên đường ra Bắc tiếp tục học tập, thương binh, bệnh binh mất sức chiến đấu cũng được nhanh chóng chuyển về hậu phương điều trị. Ta khẩn trương củng cố bộ đội, biên chế sắp xếp lại các đơn vị cho phù hợp với nhiệm vụ, hoàn cảnh thực tế của chiến trường, theo phương châm: tăng cường thành phần chiến đấu, tăng cường lực lượng cho địa phương, đảm bảo ít mà tinh gọn nhẹ nhưng có sức đột kích mạnh.

Bộ tư lệnh Quân khu tăng cường các loại vũ khi B40, B41, pháo cối... cho các trung đoàn chủ lực và bộ đội tập trung tỉnh, trang bị hỏa lực bắn máy bay cho các đơn vị đường dây, binh trạm, sản xuất và các địa phương; cử các đoàn cán bộ về giúp tỉnh đội xây dựng một số đơn vị kỹ thuật như đặc công, thông tin, công binh và các trạm sửa chữa vũ khí; tiến hành huấn luyện bộ binh đánh theo kiểu đặc công cho cả ba thứ quân; động viên các đơn vị phục vụ phía sau rút bớt quân số, bổ sung kịp thời cho các trung đoàn chiến đấu.

Kẻ địch dù ngoan cố đến đâu cũng chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể xoay chuyển được xu thế phát triển của lịch sử. Những gì kẻ địch tạm thời thực hiện được trong thời gian đầu đã dần dần trở nên mất tác dụng. Những yếu tố cơ bản của một cuộc chiến tranh xâm lược, của một chiến lược chiến tranh đề ra trong thế bị động, chắp vá ngày càng lộ rõ. Những điều Đảng ta dự kiến khi đế quốc Mỹ mới chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” dần dần trở thành hiện thực.

Đấu tranh với những nhận thức, tư tưởng sai trái, kịp thời tổ chức lại lực lượng, để ra cách đánh thích hợp nên từ năm 1970, quân và dân ta từ đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên đã chiến đấu ngăn chặn từng bước mọi thủ đoạn của kẻ thù. Khi đế quốc Mỹ phạm sai lầm chiến lược mở rộng chiến tranh ra cả ba nước Đông Dương, đưa quân ngụy sang chiến trường Cam-pu-chia, Lào, mở chiến dịch Lam Sơn 719 (Đường 9 - Nam Lào năm 1971), hòng nâng cao vị thế của quân chủ lực ngụy, cắt đứt đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam của ta; ta đã nhân lúc quân địch rút ra ngoại tuyến, nhanh chóng dồn sức tiến công, khôi phục lại thế chiến trường. Thắng lợi Xuân – Hè 1970 và mùa Xuân 1971 ở cả chiến trường đồng bằng và Tây Nguyên đã đánh bại bước đầu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường, góp phần vào việc mở rộng và tạo thế trận vững chắc ở Trung Đông Dương. Quân và dân toàn khu đã tạo được cơ sở vững chắc để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong phạm vi chiến trường tiến lên một bước mới. Thật là, càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan. Những chiến sĩ cách mạng chân chính được tôi luyện nhiều càng trở nên gang thép.

Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra vào tháng 5 năm 1971, sau khi phân tích đánh giá tình hình địch, tình hình ta, dự kiến âm mưu của địch trong thời gian tới đã quyết định: Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua...


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:07:54 AM
Ở chiến trường Khu 5, đến tháng 6 năm 1971, quân Mỹ chỉ còn sư đoàn A-mê-ri-cơn và lữ đoàn dù 173, quân chư hầu còn 2 sư đoàn và 1 lữ đoàn lính Nam Hàn. Tất cả đang co lại chờ ngày trở về nước. Để tăng nhanh quân ngụy, địch ra sức bắt lính, đôn quân, thành lập các tiểu đoàn bảo an làm lực lượng cơ động tại chỗ, thay cho quân cơ động cộng hòa. Về tổ chức phòng thủ, địch tiếp tục tăng cường hệ thống phòng ngự cơ bản để đủ sức đối phó với chủ lực của ta. Chúng củng cố hệ thống kìm kẹp bằng cách kết hợp các khu dồn, “ấp chiến lược” với các cứ điểm của 1 – 2 đại đội hoặc liên đội bảo an, 4 -5 trung đội dân vệ thành từng cụm phòng thủ liên hoàn. Xu hướng chung của địch là ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự, lấy hỏa lực và công sự vững chắc làm chủ yếu, có kết hợp với cơ động phản kích.

Sau Xuân – Hè 1971, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu họp, chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến lược năm 1972. Hội nghị quyết định: Gấp rút răng cường lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng các đơn vị chủ lực thành những quả đấm mạnh, đủ sức tiêu diệt từng trung đoàn, đánh quỵ từng sư đoàn quân chủ lực ngụy, phá vỡ từng đoạn hệ thống phòng ngự cơ bản của địch. Xây dựng bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích đủ sức độc lập hay phối hợp được với bộ đội chủ lực đánh bại quân địa phương của địch, tiêu diệt từng cụm cứ điểm lớn, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch từng khu vực rộng, mở vùng giải phóng liên hoàn 5, 7 xã. Tiếp tục phát động quần chúng xây dựng thực lực chính trị ở cả nông thôn và đội thị, xây dựng các đoàn thể quần chúng, củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị và các ban lãnh đạo đấu tranh chính trị. Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ, đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ; đồng thời ra sức khai thác thu mua vận chuyển nguồn hàng từ vùng địch ra và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn vào, chuẩn bị cho tác chiến quy mô tương đối lớn, dài ngày.

Thực hiện chủ trương trên, các lực lượng vũ trang trong toàn khu được tăng cường. Ở Tây Nguyên đã hình thành một khối chủ lực cơ động tương đối lớn gồm Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), 4 trung đoàn độc lập 24, 28, 66, 95, Trung đoàn đặc công 198 (thiếu), 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn công binh. Lần đầu tiên, khối chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng. Ở đồng bằng, quân số còn ít nhưng chất lượng chiến đấu khá hơn trước. Sư đoàn 3 được khôi phục lại. Tôi và một số cán bộ ba cơ quan quân khu vào Bình Định giúp đỡ Sư đoàn 3 bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện bộ đội, chuẩn bị cho đợt tiến công giải phóng bắc Bình Định vào đầu Xuân 1972. Sư đoàn 3 lúc này do anh Huỳnh Hữu Anh làm sư đoàn trưởng, anh Mai Tân làm chính ủy. Sư đoàn 3 gồm các trung đoàn 2, 12, 21. Ở phía bắc quân khu có 2 trung đoàn 31 và 38 (quá trình chiến đấu tăng cường thêm Trung đoàn 9). Thành lập cụm pháo hỗ hợp 572 (có pháo mặt đất, phòng không và xe tăng). Cũng trong thời gian này, quân khu thành lập 2 trung đoàn đặc công 359 và 493. Lực lượng tập trung tỉnh và huyện có 22 tiểu đoàn, 60 đại đội, 62 trung đội bộ binh, 5 tiểu đoàn pháo cối, 5 tiểu đoàn và 6 đại đội đặc công. Các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Đinh, Phú Yên đã xây dựng được một lực lượng tập trung từ 3 đến 6 tiểu đoàn (cả bộ binh và binh chủng). Lực lượng du kích cũng được củng cố và tăng cường trang bị. Toàn quân khu đã tổ chức được 203 đội, tổ du kích, đặc công, 91 đội, tổ du kích công binh.

Đến giữa năm 1971, toàn quân khu bước vào “chiến dịch gạo”. Hậu cần quân khu, mặt trận và các sư đoàn, tỉnh đội cùng cơ quan chi viện tiền phương của Khu ủy và các tỉnh ủy đều dồn sức thu mua và vận chuyển lương thực. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ liên tục mấy tháng liền đêm nào cũng vượt qua vùng địch kiểm soát xuống các vùng sâu ở đông đường số 1 để chuyển gạo cất giấu trong dân về căn cứ. Phụ nữ và thiếu nhi là lực lượng quan trọng chuyển gạo từ vùng địch ra vùng giải phóng. Mặt trận Tây Nguyên tổ chức thu mua và vận chuyển gạo từ đông bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào. Đến cuối năm 1971, Tây Nguyên đã dự trữ được 1.920 tấn gạo, đồng bằng 2.300 tấn gạo, ngoài ra còn vận chuyển 20.000 tấn vũ khí thuốc men, lương thực từ miền Bắc gửi vào.

Tháng 9 năm 1971, các tỉnh Bình Định, Gia Lai tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ. Tháng 10 và tháng 11 năm 1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ các tỉnh Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hòa. Đại hội các tỉnh đánh giá tình hình sau ba năm đấu tranh chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch và động viên đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh nắm lấy thời cơ lớn phát triển thế tiến công trên cả ba vùng, bằng ba mũi giáp công, thực hiện ba cao trào quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Tỉnh ủy Đắc Lắc họp đề ra những chủ trương biện pháp để chuẩn bị cho cao trào tiến công và nổi dậy ở địa phương.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:09:57 AM
*
*   *

Sau mùa Xuân năm 1971, quân ngụy mất khả năng tiến công, buộc phải đi vào phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Trong lúc đó, lực lượng ta lớn mạnh về mọi mặt, thế chiến lược phát triển có lợi cho ta. “Ta đang ở thế thắng, thế chủ động, thế thuận lợi, thế đi lên; địch đang ở thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống”. So sánh về thế và lực trên chiến trường lúc đó rất thuận lợi cho ta mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn vào Xuân – Hè năm 1972, nhăm đánh bại căn bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, tạo nên so sánh lực lượng mới, cục diện mới, dẫn đến một bước ngoặt trong chiến tranh, đưa cuộc cách mạng tiến lên những bước phát triển cao hơn, buộc đế quốc Mỹ phải chất nhận những điều kiện có lợi cho ta ở Hội nghị Pa-ri. Đảng ta chủ trương mở một cuộc tiến công chiến lược lớn vào năm 1972. Đến đây, tôi lại nhớ đến nguyên tắc: đấu tranh ngoại giao và quân sự đều quan trọng, nhưng quyết định là người cầm súng ở chiến trường.

Theo kế hoạch chung, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam sẽ tiến hành bằng ba đòn chiến lược. Đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những phương hướng chiến lược và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân ngụy miền Nam, phá vỡ từng bộ phận thế bố trí phòng ngự của địch, mở rộng vùng giải phóng. Đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh và phong trào nổi dậy của quần chúng. Đòn đấu tranh chính trị của nhân dân các đô thị, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng với khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch chuẩn bị khi có thời cơ cụ thể đẩy mạnh cuộc đấu tranh thành cao trào cách mạng.

Đòn tiến công của bộ đội chủ lực tập trung trên ba hướng: Hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới. Hướng thứ hai là bắc Tây Nguyên, tiêu diệt địch giải phóng vùng Đắc Tô – Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum, hướng phát triển có thể là hướng Plây Cu. Hướng thứ ba, Đông Nam Bộ, trọng điểm là đường 13.

Khu 5 – một trong ba hướng tiến công của bộ đội chủ lực; đồng thời là một hướng tiến công và nổi dậy quan trọng ở nông thôn. Tiến công tiêu diệt địch ở Tây Nguyên là để hỗ trợ mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng ven biển. Mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng ven biển là đánh một đòn nặng vào kế hoạch “bình định” của địch, tạo nên những khả năng mới để phát triển lực lượng.

Đến đầu năm 1972, lực lượng địch ở chiến trường Khu 5 chỉ còn 307 nghìn tên (80 nghìn quân Mỹ, 40 nghìn quân Nam Hàn, 187 nghìn quân ngụy). Quân Mỹ còn đông, nhưng bộ binh Mỹ đã căn bản chấm dứt vai trò chiến đấu. Quân cơ động ngụy còn khá đông và tập trung ở hai trọng điểm: Ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi thuộc phía nam quân khu 1 của địch, có sư đoàn 2 và liên đoàn quân biệt động số 1. Ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Bình Định thuộc phía bắc quân khu 2, địch có sư đoàn 22 (4 trung đoàn), sư đoàn 23 và liên đoàn quân biệt động số 2.

Từ cuối tháng 12 năm 1971, phương án tiến công Xuân – Hè năm 1972 của Khu 5 được chính thức thông qua: Ở Tây Nguyên, tập trung toàn bộ khối chủ lực gồm Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), các trung đoàn bộ binh 24, 66, 28, 95, các trung đoàn pháo 40, 675, Trung đoàn công binh 7, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ tự hành tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phòng ngự Đắc Tô – Tân Cảnh, tiêu diệt lực lượng dự bị quân khu 2 và tổng dự bị quân ngụy đến cứu viện. Khi có thời cơ, tiến công giải phóng thị xã Kon Tom. Ở bắc Bình Định, Sư đoàn 3 và 2 tiểu đoàn đặc công cơ động 403 và 406 của quân khu tiến công tiêu diệt trung đoàn 40 sư đoàn 22 ngụy, đánh vỡ một bộ phận phòng tuyến cơ bản của địch, giải phóng các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn hỗ trợ cho lực lượng địa phương Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa tiến công và nổi dậy đánh bại “bình định nông thôn” của địch, tạo ra một vùng giải phóng rộng từ nam Quảng Ngãi đến bắc đường 19 và liên hoàn với vùng căn cứ hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum. Ở Quảng Nam, Sư đoàn 711 (thiếu) và tiểu đoàn đặc công cơ động số 409 của quân khu tiến công tiêu diệt một bộ phận quân cơ động của sư đoàn 2 ngụy, kết hợp với lực lượng vũ trang các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy đập tan hệ thống kìm kẹp, đánh bại “bình định nông thôn” của địch, giành dân, giải phóng khu vực Quế Sơn, Tiên Phước, tây Thăng Bình, Nông Sơn, Trung Phước (Quảng Nam) và Đức Phổ, Ba Tơ, Minh Long, Giá Vụt ở nam Quảng Ngãi.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:13:17 AM
Cả Mỹ và ngụy biết ta chuẩn bị tiến công lớn, nhưng chúng không dự đoán được hướng, thời điểm, quy mô, cường độ tiến công của ta. Theo chúng, hướng tiến công chủ yếu của ta có thể là Kon Tum, hướng phối hợp là đường 9 và miền Đông Nam Bộ, cuộc tiến công sẽ vào dịp tết Nhâm Tý. Phán đoán sai thời gian, lại chờ đợi lâu ngày nên mặc dù đã chủ động đề phòng, quân địch vẫn bộc lộ nhiều sơ hở.

11 giờ trưa ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực ta trên hướng chủ yếu Trị - Thiên bắt đầu. Sau 5 ngày chiến đấu, đến ngày 4 tháng 4, ta đã tiêu diệt một loạt căn cứ cấp trung đoàn địch, bức hàng một trung đoàn, đánh thiệt hại nặng nhiều trung đoàn khác, phá vỡ tuyến phòng thủ mạnh của chúng dọc theo đường số 9, giải phóng hoàn toàn hai huyện Gio Linh và Cam Lộ. Chủ lực ta đã chiếm lĩnh các bàn đạp phía bắc và tây Quảng Tị, áp sát và uy hiếp trực tiếp khu vực Đông Hà – Ái Tử, thị xã Quảng Trị - La Vang và tăng sức ép ở phía tây Huế.

Ở miền Đông Nam Bộ, từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 4, ta phá vỡ tuyến phòng ngự biên giới của địch, tiêu diệt 3 chiến đoàn bộ binh (thiếu) và 2 trung đoàn thiết giáp (thiếu), giải phóng ba huyện Lộc Ninh, Bù Đốp và Thiện Ngôn. Ta đã chiếm lĩnh tuyến bàn đạp ở biên giới miền Đông Nam Bộ, chia cắt đường 13, bao vây tiến công thị xã An Lộc.

Ở Tây Nguyên, do phán đoán hướng tiến công chủ yếu là Kon Tum, đầu tháng 2 năm 1972, địch phát hiện Sư đoàn 320 đã có mặt ở chiến trường. Tiếp đến, địch lại phát hiện Sư đoàn 2 của ta từ đường 9 Nam Lào cũng có mặt ở Kon Tum, chúng càng tin chắc hướng tiến công chủ yếu của ta là ở đây. Những người chỉ huy quân Mỹ, ngụy ở Sài Gòn vội vã điều sư đoàn dù (thiếu) và liên đoàn biệt động quân số 6 từ Đông Nam Bộ ra Kon Tum để tổ chức tuyến phòng ngự dự phòng ở tây sông Pô Cô.

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 26 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn 95 bắt đầu cắt đường 14 ở đoạn Chư Thoi, phía nam thị xã Kon Tum. Tiếp đến, ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 12 (thiếu) Sư đoàn 3 tổ chức chặn đường 19 ở đông An Khê. Bộ đội địa phương và dân quân, du kích hai tỉnh Gia Lai và Bình Định kết hợp bom mìn, vật chướng ngại với các trận phục kích nhỏ, lẻ liên tục quấy rối, tiêu hao, góp phần làm tê liệt hoàn toàn việc vận chuyển tiếp tế của địch trên đường 19.

Quân đoàn 2 ngụy vội vã điều động các trung đoàn 45 và 53 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn 23 và trung đoàn 24 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn Mãnh Hổ - lính đánh thuê Nam Hàn ra phản kích. Cán bộ, chiến sĩ hai trung đoàn 95 và 12 kiên cường giữ vững trận địa, đánh bại tất cả các đợt phản kích, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng hơn chục đại đội, phá hủy gần 100 xe quân sự của địch.

Giữa lúc quân địch đang tập trung đối phó với các đơn vị đánh chia cắt của ta trên đường 19 và đường 14 thì bộ đội ta bất ngờ nổ súng đánh vào tuyến phòng ngự dự phòng của chúng ở phía tây sông Pô Cô. Đêm 30 tháng 3, Trung đoàn 52 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 bắt đầu vây ép tiểu đoàn dù số 2 ở điểm cao 1049.

Đến ngày 2 tháng 4, ta đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù 2 ở đây. Bọn địch thấy nếu để mất khu vực này thì từ đây đối phương có thể chọc thẳng sang đường 14, cắt đôi thế trận phòng ngự ở bắc Kon Tum, cô lập cụm phòng ngự Tân Cảnh và uy hiếp trực tiếp thị xã Kon Tum. Chỉ huy quân ngụy điều tiếp lữ dù sô 3 cùng sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn dù ra khu vực Kon Tum. Lữ đoàn dù 3 tung lực lượng ra phía tây sông Pô Kô thay thế cho tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 47) và tiểu đoàn 2 (lữ đoàn dù số 2).

Ngày 14 tháng 4, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 11 ở điểm cao 1015. Địch vội cho tiểu đoàn 3 lên phản kích. Tiểu đoàn vừa mò ra khỏi vị trí Đak Keng Pleng, đã bị ta đánh thiệt hại nặng phải tháo chạy. Sở chỉ huy của lữ đoàn dù số 2 và lữ đoàn dù số 3 đều bị pháo binh ta bắn phá. Thừa thắng, Sư đoàn 320 đưa một trung đoàn vượt sông Pô Kô tiến thắng ra đường 14. Vừa qua sông, trung đoàn phối hợp cùng Trung đoàn 28, tập kích tiêu diệt trận địa pháo địch ở Kông Trang Lang Loi, đánh thiệt hại tiểu đoàn 23 quân biệt động ngụy, diệt 2 chi đội xe bọc thép, cắt đứt đường 14 ở bắc thị xã Kon Tum.

Thời gian này trên chiến trường toàn Miền, quân và dân Trị - Thiên đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, đánh chiếm và làm chủ các căn cứ Ái Tử, La Vang, Đông Hà, thành Quảng Trị buộc địch phải lùi về phía nam sông Mỹ Chánh.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:14:03 AM
Ở miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã giải phóng huyện Lộc Ninh và đang tiến công vào thị xã An Lộc, cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. Chương trình “bình định” của chúng bị quét sạch khỏi nhiều vùng rộng lớn và phá sản ngay trên những khu vực chúng đã chà đi xát lại nhiều lần trong suốt mấy năm trời. Địch đã nhận ra hướng tiến công chủ yếu của chủ lực ta không phải là Tây Nguyên, sở chỉ huy nhẹ sư đoàn dù và lữ đoàn dù số 2 vội vã về tăng cường cho đồng bọn ở Đông Nam Bộ.

Qua bước một của chiến dịch, địch đã bị tiêu diệt và tiêu hao một lực lượng. Quân dù lại bị rút đi một nửa. Lực lượng còn lại bị phân tán, dàn mỏng. Khả năng phản kích của địch hầu như không còn nữa. Thời cơ chiến dịch đã xuất hiện, điều kiện đột phá đã đến lúc chín muồi, ta nhanh chóng thực hiện tiến công giải phóng vùng Đắc Tô – Tân Cảnh.

Trung đoàn 66 do anh Phùng Bá Thường – Trung đoàn trưởng, anh Lưu Quý Ngữ - Chính ủy chỉ huy nhanh chóng áp sát hàng rào chuẩn bị mở cửa. Đại đội 7 xe tăng từ vị trí tạm dừng tiến ra đường 14, lướt qua thị trấn Tân Cảnh lao về phía đông căn cứ 42. Quân địch bất ngờ vì sự xuất hiện một lực lượng lớn bộ binh ở hướng đông càng thêm hoảng loạn khi xe tăng ta xuất hiện. Chúng cố sức chống cự. Từng tốp xe tăng địch liều chết lao ra phản kích. Chiến sĩ B40 của ta bắn trúng ngay một chiếc xe tăng đầu tiên của địch vừa tiến đến cửa mở. Các chiến sĩ lái xe tăng của ta lao lên phối hợp chiến đấu.

Đúng 11 giờ ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Tên Lê Đức Đạt – sư đoàn trưởng sư đoàn 22 bị bán chết. Tên sư đoàn phó Vi Văn Bình chạy trốn cũng bị bắt sống cùng với số sĩ quan tham mưu và hơn 400 binh lính của hắn.

Cùng lúc, ở Đắc Tô 2, Tiểu đoàn đặc công 10 và Tiểu đoàn 60 Trung đoàn Ba Gia (Sư đoàn 2) được lệnh đánh thẳng vào sào huyệt của trung đoàn 47 ngụy.

Bốn xe tăng T54 và 1 pháo cao xạ tự hành 57 ly từ căn cứ 42 được lệnh ra phối hợp chiến đấu. Sức chống cự của địch nhanh chóng bị đè bẹp. Quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đắc Tô 2. Ngay trong ngày 24 tháng 4, ta tập kích căn cứ Diên Bình, diệt 2 liên đội bảo an, thu nguyên vẹn 6 khẩu pháo lớn, 7 ô tô và 2 máy bay lên thẳng.

Hai căn cứ trụ cột (căn cứ 42 và căn cứ 47) bị diệt gọn, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum của địch bị sụp đổ rất nhanh. Bọn địch ở hai căn cứ Ngọc Bờ Biêng và Ngọc Rinh Rua bị cô lập phải rút về Plây Cần. Bọn địch ở Trí Lễ, quận lỵ Đắc Tô và trên dãy điểm cao ở bờ tây sông Pô Kô bị uy hiếp phải chạy hết về khu vực thị xã Kon Tum. Toàn bộ hệ thống kìm kẹp của địch dọc hai bên đường 14 và đường 18 hoàn toàn tan rã.

Như vậy, trong vòng 10 tiếng đồng hồ quân ta đánh quỵ toàn bộ lực lượng tương đương 1 sư đoàn của địch, phá vỡ toàn bộ một trung tâm phòng ngự mạnh, giải phóng một vùng tương đối rộng. Chiến thắng Đắc Tô – Tân Cảnh đã mở ra cho các lực lượng vũ trang nhân dân niềm tin vào khả năng đánh tiêu diệt lớn. Việc giải phóng Tây Nguyên đã trở thành một khả năng thực tế.

Trên chiến trường đồng bằng Khu 5, để phối hợp với cuộc tiến công của chủ lực Mặt trận tây Nguyên, Sư đoàn 3 cùng với đặc công quân khu, lực lượng địa phương và nhân dân đã mở chiến dịch tiến công tổng hợp, phá vỡ tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở bắc Bình Định, giải phóng hai huyện Hoài Ân và Hoài Nhơn.

Đêm 8 tháng 4, Tiểu đoàn đặc công 40 tiến công cứ điểm Gò Loi. Trong vòng 20 phút, Tiểu đoàn 40 đã tiêu diệt và làm chủ căn cứ Gò Loi. Cũng trong đêm đó ta còn quét sạch một loạt 7 cứ điểm khác, mở rộng bàn đạp chuẩn bị cho trận đánh then chốt của chiến dịch.

Ngày 12 tháng 4, địch điều chiến đoàn đặc nhiệm 40 và một chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn 22 ngụy từ nam Bình Định ra giải tỏa. Trưa ngày 13 tháng 4, toàn bộ đội hình của địch đã nằm gọn trong thé trận bày sẵn của ta. Tối 14 tháng 4, bộ đội áp sát quanh các vị trí đóng quân của địch, nhất là dãy cao điểm Hòn Bồ.

Mờ sáng ngày 15 tháng 4, ta nổ súng tiến công. Đạn cối, đạn ĐK2 của ta trùm lên trận địa địch. Bộ đội xung phong, quân ta vừa nổ súng vừa truy kích, nhiều tên vứt súng chạy tháo thân. Thời cơ tiêu diệt toàn bộ quân địch đã đến. Từ các hướng, chiến sĩ ta đồng loạt xung phong. Cả chiến đoàn 40 địch bị cắt rời từng mảnh và nhanh chóng bị tiêu diệt.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:15:12 AM
Đêm 15 tháng 4, hai tiểu đoàn đặc công 403 và 406 tiến công đánh thiệt hại nặng chi khu Tam Quan và sở chỉ huy trung đoàn 40 sư đoàn 2 ngụy ở căn cứ Đệ Đức. Ở sau lưng địch, các tiểu đoàn 50, 52, và tiểu đoàn 8 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước… tiêu diệt hàng loạt chốt bảo an, dân vệ, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy giải phóng toàn bộ hoàn toàn 5 xã ở huyện Bình Khê, 30 thôn ở huyện Tuy Phước.

Trước tình hình phát triển thuận lợi, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho Sư đoàn 3 tiến công giải phóng quận lỵ Hoài Ân. Tỉnh ủy Bình Định chỉ thị cho huyện Hoài Ân phát động nhân dân hợp đồng với chủ lực nổi dậy giải phóng toàn huyện.

Ngày 18 tháng 4, quân ta đồng loạt nổ súng vào hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch. Bị đánh mạnh, lại không có quân cứu viện, tên quận trưởng Hoài Ân liền cho hủy kho tàng rồi mở đường máu tháo chạy. Gần 1.000 tên địch và 11 xe bọc thép M113 bị ùn lại trên một đoạn đường độc đạo, rồi chạy tung tóe ra khắp cánh đồng nước. Quân địch hoàn toàn bị tan rã.

11 giờ ngày 19 tháng 4, quận lỵ Hoài Ân sách bóng quân thù. Hơn 3 vạn nhân dân bị địch kìm kẹp suốt 18 năm được giải phóng.

Lúc đầu hầu hết lực lượng cơ động của quân đoàn 2 ngụy đang bị quân và dân Tây Nguyên vây hãm. Ở Bình Định, địch chỉ còn trung đoàn 41 đang ở Phù Mỹ. Đây là thời cơ thuận lợi để ta phát triển tiến công giành thắng lợi lớn hơn nữa.

Sau khi phân tích tình hình địch, ta ở Bình Định, chúng tôi quyết định:

Trước hết, bao vây Bồng Sơn, tiêu diệt cụm quân địch ở Bình Dương, làm suy yếu trung đoàn 41 ngụy, hình thành thế chia cắt chiến dịch giữa Bồng Sơn và Phù Mỹ.

Tiếp theo, tập trung lực lượng tiêu diệt lần lượt các cụm quân địch ở Bồng Sơn, Tam Quan, Đệ Đức giải phóng toàn bộ bắc Bình Định.

5 giờ ngày 25 tháng 4, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 41 nguỵ ở cứ điểm Bình Dương và 20 vị trí khác trên một tuyến dài từ bắc đèo Nhông đến phía nam Bồng Sơn. Chỉ sau hai ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 41 ngụy). Ngụy quân, ngụy quyền ở bắc Phù Mỹ tan vỡ. Nửa phía bắc huyện Phù Mỹ được hoàn toàn giải phóng. Trung đoàn 41 – lực lượng cơ động duy nhất của địch ở Bình Định đã mất sức chiến đấu. Thời cơ giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Nhơn đã đến.

Ngày 28 tháng 4, bộ đội ta bắt đầu đánh chiếm thị trấn Bồng Sơn. Thị trấn Bồng Sơn được giải phóng. Quân địch ở thị trấn Tam Quan vội vàng tháo chạy. Căn cứ Đệ Đức – nơi đặt sở chỉ huy trung đoàn 40 ngụy trở nên trơ trọi giữa vùng giải phóng của ta. Lực lượng địch ở đây còn khoảng 1.200 tên, phần lớn là tàn quân ở Bồng Sơn, Tam Quan chạy về.

5 giờ 30 phút ngày 2 tháng 5, ta nổ súng tiến công Đệ Đức. Trận đánh kéo dài đến 17 giờ 40 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Toàn bộ nửa phía bắc Bình Định gồm ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão và nửa phía bắc huyện Phù Mỹ rộng hơn 1.500km2 với 20 vạn dân hoàn toàn được giải phóng.

Tại mặt trận Quảng Nam, đêm 8 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 711 (thiếu) cùng với Tiểu đoàn đặc công 409 và lực lượng địa phương cùng một lúc nổ súng tiến công hai cứ điểm Liệt Kiểm và Chia Gan. Ở cả hai cứ điểm trận đánh diễn ra trong vòng 40 phút, quân ta làm chủ toàn bộ chiến trường, thu nguyên vẹn 4 pháo 105 ly. Chiếm xong cứ điểm ta liền quay nòng 4 pháo bắn phá các vị trí địch ở Hiệp Đức.

Để đẩy mạnh cuộc tiến công, từ giữa tháng 4 Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho Sư đoàn 711 sử dụng trung đoàn 38 vây ép Hiệp Đức và cho Trung đoàn 31 phát triển tấn công về hướng đường số 1. Cuộc tiến công này càng làm cho quân địch hoảng loạn, nhân dân nổi dậy giải phóng hai xã Bình Lâm, Bình Trị.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:16:38 AM
Ở Hiệp Đức, sau nửa tháng vây ép và tiến công, ta đã tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi. Ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 88 bắt đầu đánh vào trung tâm quận lỵ. Thấy không thể cố thủ được nữa, đêm 29 tháng 4, tên quận trưởng Hiệp Đức cùng binh lính bỏ đồn tháo chạy. Nhưng lực lượng này bị bộ đội địa phương và du kích vây đánh, diệt và bắt gần hết.

Sau 20 ngày đêm liên tục vây ép và tiến công, ta đã giải phóng huyện Hiệp Đức và nhiều xã dọc theo đường 16 của hai huyện Thăng Bình và Quế Sơn.

Ở Quảng Đà, đêm 13 tháng 4 ta bắn ĐKB vào sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn và các trận địa pháo, cối của địch. Bộ đội địa phương tỉnh tiến công tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn 17 ở Đầm Xé, công binh và du kích đánh sập các cầu Thủy Tú, Câu Lâu. Đêm 14 tháng 5 ta đánh quận lỵ Duy Xuyên, làm chủ thị trấn Nam Phước.

Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy khắp các địa phương trong tỉnh. Ngày 13 tháng 4, Tiểu đoàn 48 của ta tiêu diệt cứ điểm An Sen. Tiếp theo, tiểu đoàn lại cùng bộ đội địa phương huyện và du kích tiêu diệt một cụm ba chốt ở Đá Mú, Phú Quý, đồi Ông Hậu hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ta 6 khu dồn. Toàn bộ hệ thống kìm kẹp ở khu vực Ba Làng An đã bị phá tan.

Ở Phú Yên, sau khi tiến công tiêu diệt 2 liên đội bảo an ở Núi Sầm và Xuân Phước, lực lượng địa phương và nhân dân tiếp tục tiến công và bao vây bức rút một loạt 20 cứ điểm địch ở ba huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân. Du kích và công binh phá giao thông, đánh sập cầu Ngân Sơn làm tê liệt vận chuyển của địch trên đường số 6 đoạn La Hai đi Chí Thạnh và đường số 1 đoạn Ngân Sơn đi Sông Cầu.

Ở Khánh Hòa, Tiểu đoàn đặc công 407 mở màn đợt hoạt động Xuân – Hè đêm 8 tháng 4 bằng trận tập kích phá hủy 35 nghìn tấn bom ở khu kho dự trữ chiến lược Cam Ranh. Để phối hợp với Tây Nguyên, ngày 13 tháng 4, ta chặn đánh một đoàn xe 200 chiếc  ki-lô-mét 34-36. Tiếp theo, ta tiến công tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân biệt động “Cọp đen” ở ngã ba Đồng Xuân – Dục Mỹ, quân địch ở Ninh Thân, Ninh Thương hoang mang bỏ chạy. Du kích và nhân dân các xã Ninh Thọ, Ninh Ích, Ninh Diêm, Ninh Hà, Ninh Hương, Ninh Quang... nổi dậy diệt địch.

Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân – Hè 1972 của quân va dân miền Nam đã giáng một đòn nặng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Ta đã tiêu diệt được 2 sư đoàn, 9 trung đoàn và 38 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn, 10 trung đoàn, 31 tiểu đoàn bộ binh, tiêu diệt 12 trung đoàn thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo bin, phá vỡ ba tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở Quảng Trị, bắc Kon Tum, đường 13 Đông Nam Bộ. toàn bộ khối chủ lực của ta không những đứng vững trên những địa bàn chiến lược ở rừng núi mà nhiều trung đoàn, sư đoàn đã thọc sâu dược vào đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long tạo nên so sánh lực lượng mới có lợi cho ta, tạo nên thế tiến công mới và khả năng mới để đánh bại âm mưu “bình định nông thôn” – biện pháp chiến lược chủ yếu của “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta đã giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị, phần lớn tỉnh Kon Tum, nửa phân phía bắc tỉnh Bình Định và một khu vực rộng lớn ở miền Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Ta cũng giành được quyền làm chủ trong nhiều vùng quan trọng ở Quảng Đà, Quảng Ngãi (ven biển Khu 5) và Đồng Tháp Mười, nam-bắc đường quốc lộ số 4, U Minh, Cà Mau...

Lúc này ở Khu 5, sau khi đưa sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ ra tăng cường cho Trị - Thiên, quân đoàn 1 ngụy đưa trung đoàn 4 sư đoàn 2 và liên đoàn quân biệt động 1 về lại Quảng Nam, Quảng Ngãi và đưa sư đoàn 3 bị tiêu diệt ở Quảng Trị vừa mới khôi phục lại vào Quảng Đà. Ở phía nam, quân đoàn 2 ngụy lợi dụng mùa mưa ở Tây Nguyên đưa sư đoàn 22 vừa mới khôi phục và 2 liên đoàn quân biệt động số 2 và số 6 từ Kon Tum xuống đồng bằng để phản kích chiếm lại bắc Bình Định.

Bắc Bình Định được giải phóng. Để phối hợp có hiệu quả trên hướng tây Quảng Nam và nam Quảng Đà, bộ đội ta đã đánh địch giải phóng huyện lỵ Hiệp Đức và khu đồi Liệt Kiểm. Sau một thời gian không phát triển, tôi xin phép Thường vụ Khu ủy ra sở chỉ huy tiền phương khu vực nói trên thay cho anh Nguyễn Chánh – Phó tư lệnh quân khu và Tham mưu trưởng quân khu về sở chỉ huy cơ bản. Trước khi đi tôi đã đề xuất quyết tâm và phương án đánh quân cơ động của ngụy ra phản kích, giữ vững vùng giải phóng bắc Bình Định, tạo thời cơ trực tiếp, giải phóng huyện lỵ Phù Mỹ có thể phát triển xa hơn. Chúng tôi dự đoán sư đoàn 22 ngụy sẽ được khôi phục, sớm muộn chúng cũng từ phía nam ra phản kích, chiếm lại hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn ta vừa giải phóng. Để thực hiện quyết tâm và phương án trên, Sư đoàn 3 dùng công binh và một bộ phận bộ binh nhanh chóng xây dựng các cụm chốt trên dãy đồi sát đường A1, bắc huyện Phù Mỹ, đồng thời chuẩn bị kế hoạch tiến công địch giải phóng Phù Mỹ, trong khi làm những công việc trên phải thay phiên cho bộ đội nghỉ mấy ngày khôi phục sức khỏe. Khi sư đoàn 22 ngụy phản kích ra phía bắc, bộ đội ta dùng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt” kiên quyết tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã lực lượng cơ động ngụy khi chúng rút chạy là thời cơ trực tiếp giải phóng huyện lỵ Phù Mỹ, tiếp đến là thị trấn Đập Đá, xa hơn nữa về phía nam Bình Định


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:18:51 AM
Tôi ra sở chỉ huy tiền phương được mấy ngày, các đồng chí phụ trách chỉ huy sở cơ bản cho rằng: Lúc này chỉ có tiến công và tiến công mới khuếch trương được thắng lợi. Phòng ngự là bị động. Với tinh thần đó đồng chí phụ trách chỉ huy sở cơ bản đã ra lệnh điều Sư đoàn 3 từ bắc Bình Định ra đánh địch và giải phóng nam Quảng Ngãi, nối liền vùng giải phóng bắc Bình Định. Nhận lệnh hành quân cấp tốc, Sư đoàn 3 ra đến tây Đức Phổ (Quảng Ngãi) chuẩn bị chiến đấu, vừa lúc sư đoàn 22 ngụy từ nam Bình Định phản kích ra đã chiếm lại huyện Hoài Nhơn. Sư đoàn 3 lại được lệnh quay trở về, chỉ còn giữ được huyện Hoài Ân với 3 vạn dân. Tôi nhận được báo cáo của chỉ huy sở cơ bản gửi cho thì sự việc đã rồi.

Nhân sự việc này tôi muốn nói đôi nét về kinh nghiệm: Một cán bộ chỉ huy chiến đấu táo bạo và dũng cảm là vốn quý. Nhưng đi vào thực tế một sự việc nào đó không nên chỉ vì ý muốn cá nhân mà quyết định.

Về phía ta, sau Xuân – Hè cũng có sự điều chỉnh lại lực lượng. Sư đoàn 2 trở về đồng bằng. Sư đoàn 320 thọc sâu vào khu vực tây nam thị xã Plây Cu cùng với một số đơn vị độc lập đang đứng chân ở đây mở một mặt trận mới trên đường 19 kéo dài về phía tây và vùng nông thôn thuộc huyện 4 và huyện 5 Gia Lai.

Cũng thời gian này, Bộ tăng cường cho Khu 5 hai tiểu đoàn pháo 130 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ. Quân khu thành lập thêm 2 trung đoàn đặc công 459 và 493(1).

Mùa Hè năm 1972, yêu cầu phối hợp giữa chiến trường với bàn Hội nghị ở Pa-ri trở nên khẩn trương, bức thiết. Mâu thuẫn giữa yêu cầu về chính trị, ngoại giao và khả năng thực tế của lực lượng vũ trang trên chiến trường Khu 5 trở nên gay gắt. Do đó, quyết tâm cao phải đi đôi với sự tính toán bảo đảm thắng lợi. ta quyết định chọn chi khu Quế Sơn làm điểm tấn công.

Sau khi rút chạy khỏi quận lỵ Hiệp Đức, quân địch lui về củng cố tuyến phòng thủ cơ bản ở thung lũng Quế sơn. Tháng 6 năm 1972, địch có thêm lực lượng từ Trị - Thiên về tăng cường cho tuyến phòng thủ này gồm trung đoàn bộ binh 6 và trung đoàn thiết giáp 4 (thiếu), tiểu đoàn biệt động biên phòng 71, 3 liên đội và hàng chục đại đội bảo an, trung đội dân vệ. Có thêm lực lượng, địch từng bước mở rộng hệ thống cứ điểm, tăng cường củng cố công sự phòng ngự ở các điểm cao. Hòn Chiêng, Bản Thông, Đồng Đá Hàm và xây dựng Cấm Dơi – một căn cứ lớn của quân Mỹ trước đây thành cứ điểm then chốt của tuyến phòng ngự.

Nếu vị trí Hòn Chiêng bị ta diệt và chiếm thì quân cơ động chủ lực ngụy nhất định phải lao vào ứng cứu để bảo vệ Quế Sơn. Quả đúng như vậy. Sau khi ta dùng đặc công diệt 1 đại đội bộ binh địch trên Hòn Chiêng và cho 1 đại đội bộ binh của ta chiếm đóng, quân ngụy thay nhau đánh chiếm lại. Trong 10 ngày đầu tháng 8, hai trung đoàn 31 và 38 Sư đoàn 711 của ta liên tiếp tập kích, phục kích, vận động tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 và gần 10 đại đội của sư đoàn 2 ngụy, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn biên phòng số 77. Trong lúc đánh địch phản kích chiếm lại Hòn Chiêng, thì đại bộ phận Sư đoàn 711 khẩn trương chuẩn bị mọi mặt giải phóng chi khu quận lỵ Quế Sơn. Lúc này anh Nguyễn Chơn từ Sư đoàn 2 về thay anh Lê Kích làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 711.

Tôi bàn với anh Nguyễn Chơn dùng 2 khẩu 130 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp tạo điều kiện bất ngờ tiêu diệt địch giải phóng chi khu Quế Sơn. Trước khi tiến công vào Quế sơn xảy ra hai việc mà tôi cho là quan trọng:

Một là, Bộ Tổng tham mưu điện cho tôi (tiền phương quân khu) không nên đánh Quế Sơn vì lực lượng ta quá ít không đảm bảo.

Bức điện đến trong lúc các đơn vị đánh Quế Sơn đã bắt đầu xuất phát. Tôi hỏi anh Cao Phát – Tham mưu trưởng tiền phương:

- Địch đánh giá ta thế nào?

Anh Cao Phát trả lời:

- Mới đây Ngô Quang Trưởng (tư lệnh quân khu 1) có nhận định: Việt cộng đã mệt mỏi, các đơn vị chủ lực của chúng sẽ lui về nghỉ ngơi.


(1) Trung đoàn 459 gồm các tiểu đoàn đặc công 403, 406 và tiểu đoàn bộ binh 5; Trung đoàn 493 gồm các tiểu đoàn đặc công 404, 409 và tiểu đoàn bộ binh 80.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:21:54 AM
Thế là đã rõ. Chúng tôi thống nhất với nhau giấu kín bức điện của Bộ Tổng tham mưu, tiếp tục cho bộ đội tiến công giải phóng chi khu, quận lỵ Quế Sơn. Mấy tháng sau tôi ra Hà Nội, Cục trưởng Cục Tác chiến đến xin lỗi. Tôi cười và trả lời: Trong chiến tranh có trường hợp trên chiến trường tự quyết định và chịu trách nhiệm là việc bình thường.

Sự việc thứ hai, trước khi đánh Quế Sơn ba ngày, chỉ huy sở cơ bản quân khu điện cho tôi không được sử dụng pháo 130 ly và xe tăng.

Mặc dù xảy ra hai sự việc trên, tôi, anh Nguyễn Chơn và anh Cao Phát vẫn kiên quyết đánh không cần có pháo 130 ly và xe tăng. Anh Nguyễn Chơn, một cán bộ chỉ huy rất dũng cảm, sát địch, sát địa hình và các đơn vị cơ sở, có nhiều sáng tạo, nghệ thuật trong cách đánh, trong trường hợp này dễ dàng thống nhất.

Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 8 năm 1972, bộ đội với vũ khí đi cùng đã ém sát, bắt đầu nổ súng vào đồi Cấm Dơi (có hang đá) binh lính địch đã mất tinh thần. Trong đêm ta làm chủ Cấm Dơi, Trung đoàn 31 nhanh chóng phát triển đánh chiếm quận lỵ Quế Sơn, bao vây tiêu diệt các tiểu đoàn 2 và 3, trung đoàn 5, tiêu diệt tiểu đoàn 5, trung đoàn 4 thiết giáp ngụy. Hai trung đoàn 9 và 38 bao vây tiến công trung đoàn 6 và các tiểu đoàn bảo an. Bộ đội địa phương Quảng Nam và dân quân du kích hai huyện Quế Sơn, Thăng Bình tiêu diệt cụm chốt ngã ba Vinh Huy.

Trận Quế Sơn thắng lợi tương đối lớn, có lẽ trận cuối mùa của năm tấn công địch. Chỉ huy sở cơ bản quân khu với ý định sẵn có: dùng pháo 130 ly, xe tăng và toàn bộ lực lượng hiện có do anh Nguyễn Chơn chỉ huy hình thành ba mũi nhanh chóng tiến công giải phóng Đà Nẵng. Anh Nguyễn Chơn cho bộ đội tiến xuống đường số 1A ngã ba Phước Chỉ. Sau mấy ngày chiến đấu chưa tới đường 1A, Sư đoàn 711 của ta đã bị thương vong gần 100, cao hơn số thương vong trong trận đánh Quế Sơn. Do đó, lực lượng ta không đủ khả năng nên quay vào đánh địch giải phóng huyện lỵ Tiên Phước.

Lúc này, trên cho tôi biết: Anh Lê Đức Thọ và anh Xuân Thủy từ Pa-ri điện về, yêu cầu chiến trường miền Nam và Khu 5 đánh mạnh để thúc đẩy tiến triển trên bàn thương lượng. Thật đúng là giữa ngoại giao và chiến trường, trách nhiệm của người cầm súng trên chiến trường rất lớn, riêng chiến trường Khu 5 đã chiến đấu từ mùa Xuân, thắng lợi lớn nhưng bị tiêu hao mệt mỏi. Sau trận Quế Sơn, các đại đội bộ binh chiến đấu của ta chỉ còn 15-20 tay súng, hầu hết là cán bộ. Quân ngụy sau thất bại lớn đã cố gương lại, các chiến trường khác có lẽ cũng như thế. Thời cơ sôi động có lợi cho ta đã nguội dần. Tiêu diệt bộ phận lớn quân địch giải phóng Đà Nẵng trong hành tiến vào lúc này không đảm bảo chắc thắng. Một quyết tâm có tầm chiến lược thiếu cơ sở thực tế sẽ trở thành phiêu lưu trong chiến tranh, diễn biến tên chiến trường cũng có lúc cần táo bạo, phiêu lưu đẻ vượt lên, nhưng đó là phiêu lưu trong động tác chiến đấu của phân đội.

Suốt 10 tháng lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu liên tục tôi bị sốt rét. Nắm thời cơ và dùng ý chí để bỏ hút thuốc là là một kỷ niệm đáng quý của riêng tôi.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:23:15 AM
Trong lúc cuộc tiến công vào Quế Sơn đang bắt đầu, thì tôi nhận được bức thư của anh Ba Duẩn. Toàn văn bức thư như sau:

Gửi anh Bảy Cường, đồng gửi Năm Công, anh Hai Mạnh(1)...

Ngày 13 tháng 8 năm 1972

Các anh thân mến,

Phương hướng chiến lược của ta là tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy. Hơn bốn tháng hoạt động vừa qua, mặc dù ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, nhưng lực lượng dân vệ, bảo an, “nhân dân tự vệ” vẫn chưa tan rã lớn. Ta tiến công quân sự khá mạnh, nhưng quần chúng vẫn chưa nổi dậy, phã vỡ từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp của địch ở nong thôn. Địch tuy bị thiệt hại nặng, nhưng đã bắt lính, đôn quân trên 10 vạn tên, khôi phục nhanh những đơn vị đã bị tiêu diệt, tiêu hao nặng.

Tình hình nông thôn miền Nam hiên nay khác nhều so với lúc “đồng khởi” hoặc trong dịp Tết Mậu Thân. Trong hơn ba năm ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định”, địch đã kìm kẹp quần chúng tương đối chặt; đã cưỡng ép phần lớn các tầng lớp nhân dân tham gia các tổ chức chính trị hoặc vũ trang, nửa vũ trang của chúng từ “nhân dân tự vệ”, dân vệ, bảo an đến quân chủ lực. Có địa phương 70-80% gia đình có người nhà bị cưỡng ép tham gia các tổ chức của địch. Bằng những biện pháp phát xít, địch đã lập được một lực lượng quân địa phương khá đông vừa để giữ địa phương, vừa để đưa lên bổ sung cho quân chủ lực. Do đó, về lực lượng so sánh giữa ta và địch, nếu tính riêng quân chủ lực thì ta hơn địch, nhưng về quân địa phương tại chiến trường miền Nam thì địch có ưu thế hơn ta. Trong khi đó các cấp ủy đảng cũng như các lực lượng quân sự, chính trị của ta ở cơ sở chưa nhận rõ tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của việc làm tan rã lực lượng quân sự địa phương của địch, đồng thời chưa đề ra khẩu hiệu, biện pháp thích hợp để thực hiện nhiệm vụ mấu chốt đó...

Nguyện vọng sâu xa nhất, bức thiết nhất hiện nay của các tầng lớp nhân dân ta, đặc biệt là trong vùng tranh chấp, vùng địch tạm thời kiểm soát là đòi vãn hồi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, chống đôn quân, bắt lính. Ta cần thấu hiểu nguyện vọng này nêu lên thành khẩu hiệu hành động để tiến công làm tan rã hàng ngũ địch, nhất là lực lượng quân sự địa phương của chúng. Khẩu hiệu đòi hòa bình, chống bắt lính, đôn quân trong giai đoạn này là một cuộc vận động chính trị lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng như là cuộc vận động cải cách ruộng đất khi gần kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây. Phải lấy những khẩu hiệu này mở những chiến dịch tuyên truyền, vận động các gia đình có người thân trong các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang của địch, gây thành những đợt đấu tranh công khai, quy mô lớn, chống bắt lính, đôn quân, đòi chồng con bỏ ngũ trở về, đòi trả súng, không đi chiến đấu, v.v.... (Trong từng vùng, từng thời gian, từng đối tượng có thể nêu những khẩu hiệu cụ thể, thích hợp hơn nữa). Tuyên truyền, vận động không chỉ chú trọng bề rộng mà phải đi sâu vào từng thôn xã, từng gia đình, đối tượng khác nhau, như tổ chức cho bố mẹ, vợ con binh lính, cựu chiến binh, thương binh, phế binh, v.v... vận động binh sĩ địch tại ngũ.

Làm tan rã lực lượng quân sự địch là rất quan trọng và cấp bách. Phải có một phong trào quần chúng làm binh vận thật rộng rãi và mạnh mẽ. Các cấp ủy đảng phải phổ biến nhanh chóng chỉ thị này xuống tận cơ sở và làm quán triệt trong tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức quần chúng và lực lượng vũ trang, đồng thời phải có kế hoạch tổ chức thực hiện từng ngành, từng cấp, từng đơn vị và mỗi cấp phải có cán bộ phụ trách, có tổ chức nghiên cứu, theo dõi, giúp cấp ủy chỉ đạo cụ thể và chặt chẽ.

Trong khi chấp hành, có ý kiến gì thì các anh điện ra cho Trung ương biết.


BA

Thời gian này, trên mặt trận ngoại giao chúng ta lại giáng tiếp một đòn tiến công quyết liệt bằng cách đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã thừa nhận đây là một văn kiện rất quan trọng, mở đường cho Hội nghị Pa-ri về Việt Nam mau đi tới một giải pháp cơ bản. Nhưng ngay sau đó, phía Mỹ lđã trì hoãn việc ký kết rồi lật lọng đòi thay đổi nhiều vấn đề cơ bản mà các bên tham dự hội nghị đã thỏa thuận. Trong lúc đó, ở chiến trường, chúng ồ ạt đưa vũ khí vào cho quan ngụy, ráo riết bắt lính, đôn quân, tăng cường càn quét, “bình định”, khống chế kìm kẹp nhân dân vùng do chúng kiểm soát và tích cực tổ chức các cuộc lấn chiếm quy mô lớn ra các vùng giải phóng. Những việc làm đó đã bộc lộ rõ Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm chiếm miền Nam nước ta.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân va dân ta đang phát triển mạnh mẽ và triển vọng, vô cùng tốt đẹp. Mỹ đang gặp khó khăn chồng chất, càng kéo dài chiến tranh càng khó giành được thắng lợi mà còn có thể bị thất bại to lớn hơn. Tình hình kinh tế, chính trị và nội bộ nước Mỹ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Tương quan trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng cũng như các nước lớn trên thế giới cũng đòi Mỹ phải chấm dứt dính líu về quân sự ở Việt Nam. Vì vậy khả năng kết thúc chiến tranh sớm có thể xảy ra. Ta tập trung mọi cố gắng làm cho khả năng này trở thành hiện thực.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 311-314.
Anh Bảy Cường, tức đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam; anh Năm Công tức Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Khu 5; anh Hai Mạnh tức Chu Huy Mân - Ủy viên Trung ương Đảng, Thiếu tướng, Phó bí thư Khu ủy Khu 5, Tư lệnh Quân khu 5.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:24:07 AM
Quán triệt tinh thần trong thư của anh Ba, đồng thời theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 15 tháng 9 năm 1972, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 đề ra chủ trương hoạt động trong những tháng cuối năm là: Tranh thủ thời cơ có lợi, tập trung mọi lực lượng mở một chiến dịch tổng hợp quy mô lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, chủ yếu là địa phương quân, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành cho được những địa bàn quan trọng.

Thực hiện chủ trương trên, Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn đặc công 459 tiến công giải phóng quận lỵ Ba Tơ, mở rộng căn cứ rừng núi phía tây nam Quảng Ngãi và hỗ trợ cho lực lượng địa phương đánh địch, giải phóng đại bộ phận vùng nông thôn hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ.

Mỹ - ngụy đã xây dựng quận lỵ Ba Tơ thành một cụm cứ điểm mạnh gồm 10 cứ điểm ngoại vi và hai trung tâm là chi khu quân sự - quận lỵ và trại biệt kích Đá Bàn.

Từ đêm 16 tháng 9 đến 30 tháng 10 năm 1972 quân ta giải phóng toàn huyện Ba Tơ. Ta giành thắng lợi, nhưng hiệu suất chiến đấu thấp. Do đánh giá tình hình địch không sát, tưởng có thể giành dược thắng lợi dễ dàng nên đã phân tán lực lượng, tiến công trên nhiều hướng. Ở mỗi hướng cũng phân tán lực lượng đánh nhiều mục tiêu. Lực lượng dự bị không có nên từ chủ động tiến công ta phải dần chuyển sang bị động đối phó với các cuộc phản kích của địch.

Ở Tây Nguyên, ngày 12 tháng 10, Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn đặc công 37 tiêu diệt cứ điểm Plây Cần. Tiếp đến, ngày 29 tháng 10, ta lại tiến công tiêu diệt cứ điểm Đắc Xiêng, mở thông đường hành lang Bắc – nam dọc theo đường 18. Ngày 1 tháng 11, Sư đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt căn cứ Đức Cơ. Tiếp theo, Sư đoàn 320 lại cùng với lực lượng địa phương tiêu diệt ở căn cứ 43.

Đến tháng 11, hầu hết huyện 5 Gia Lai (trừ một số làng nhỏ chung quanh Thanh An) đã hoàn toàn được giải phóng. Ta đã tạo được một bàn đạp vững chắc để phát triển tiến công về hướng thị xã Plây Cu.

Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là chiến công xuất sắc của quân và dân ta ở miền Bắc, đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác cuối cùng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về Việt Na, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi nước ta. Hiệp định Pa-ri được ký kết là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nhưng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phá hoại hiệp định một cách hệ thống. Chúng vẫn tiếp tục dùng quân ngụy đẩy mạnh kế hoạch “bình định”, lấn chiếm các vùng giải phóng. Âm mưu của chúng là cố thắng ta dần từng bước bằng sức mạnh quân sự nhưng hạn chế về mức độ không gây ra chiến tranh lớn buộc quân Mỹ phải trực tiếp trở lại tham chiến.

Đầu tháng 1 năm 1973, Hội nghị Thường trực Quân ủy Trung ương bàn về tình hình miền Nam Việt Nam khi có giải phóng chính trị đã chỉ rõ: Ý đồ chiến lược của đế quốc Mỹ là chấm dứt mọi sự tham chiến trực tiếp về quân sự ở miền Nam, đồng thời giữ vững và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, tìm cách làm cho cách mạng nước ta dần dần yếu đi, hòng tiếp tục thực hiện “học thuyết Ních-xơn”, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới lâu dài ở nước ta. Trong tình hình mới, chúng sẽ cố gắng giữ cục diện miền Nam như hiện nay để làm cơ sở tìm cách tiến lên. Chúng sẽ ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền phá hoại hiệp định, phá hoại hòa bình. Từ đó hội nghị đề ra: Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất, địch gây chiến tranh trở lại.

Đúng như nhận định trên, từ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn tuyên bố không tôn trọng lệnh ngừng bắn và ra lệnh cho quân ngụy thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” ào ạt lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Tuy quân Mỹ và quân chư hầu đã rút, mật độ hỏa lực của địch nhìn chung giảm, nhưng do địch chỉ tập trung lực lượng đánh phá lấn chiếm từng khu vực mới, nên ở những nơi diễn ra chiến đấu, mật độ hỏa lực còn cao hơn trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Trong lúc đó, sau hơn 10 tháng chiến đấu liên tục, lực lượng vũ trang Khu 5 có thể nói là đã đuối sức. Tôi cùng một số cán bộ cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân khu đi vào nam Quảng Ngãi, bắc Bình Định xem xét khả năng của Sư đoàn 3 chống “tràn ngập lãnh thổ” của địch. Sư đoàn này mỗi đại đội bộ binh chỉ còn 12 đến 15 tay súng (kể cả cán bộ). Cả sư đoàn chỉ còn 180 viên đạn súng cối. Bộ đội thiếu ăn, sức khỏe giảm sút.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:24:47 AM
Chiến tranh có quy luật của nó. Chiến tranh du kích có vai trò hết sức quan trọng trong việc tiêu hao, căng kéo giam chân buộc địch phải sa lầy trong một thế trận “thiên la địa võng”, trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh. Nhưng muốn tiêu diệt lớn sinh lực địch, muốn làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra cục diện mới của chiến trường cần phải có những quả đấm của bộ đội chủ lực, với những chiến dịch tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn.

Do chưa nhận thức được yêu cầu chiến lược của giai đoạn chiến tranh mới, lại bị bức xúc do việc địch tập trung sức lấn chiếm vùng giải phóng, nên trong một số cán bộ, có cả cán bộ chủ chốt lãnh dạo muốn phân tán các sư đoàn chủ lực để tăng cường cho các tỉnh.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân – Hè 1972, lực lượng địa phương các tỉnh đã tự lực mở hướng hoạt động, phá vỡ hệ thống kìm kẹp, đánh bại quân đại phương của địch, mở từng mảng, liên mảng từ 8-10 xã. Nhưng khi địch đưa lực lượng cơ động lên phản kích, lực lượng địa phương của ta chưa đủ sức đánh bại. Phần lớn vùng mới mở lại bị địch líp lại. Do đó, muốn đánh bại lấn chiếm của địch, thì phải đánh bại lực lượng cơ động phản kích của chúng.

Quân Mỹ và chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam đã tạo ra sự thay đổi có lợi cho ta trong so sánh lực lượng giữa ta và quân ngụy. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã bước vào giai đoạn cuối. Tiêu diệt lớn quân ngụy, trước hết là các sư đoàn chủ lực ngụy, đánh bại hoàn toàn quân ngụy để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh đã trở thành nhiệm vụ bức xúc trước mắt của lực lượng vũ trang. Từ nhận định đó, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu đã chủ trương: Vừa tác chiến kết hợp với đấu tranh của quần chúng, giữ vững và cải thiện thế chiến trường vừa nỗ lực xây dựng nhanh chóng nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang, khẩn trương xây dựng mạng đường cơ giới, tổ chức thiết bị chiến trường, dự trữ vật chất cho tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng vừa và lớn.

Năm 1974, các tuyến đường ngang nối từ đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam vào đến đồng bằng Khu 5 đã cơ bản thông xe. Nhờ có năm tuyến đường cơ giới chiến trường ven biển miền Trung đã tiếp nhận một khối lượng trang bị kỹ thuật, lương thực và các cơ sở vật chất khác xấp xỉ với số lượng của 4 năm trước đó. Hệ thống kho dự trữ trải dài theo hai tuyến bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc. Tổng kho Làng Hồi (Quảng Nam) đến Bình Định. Đường thông tin dây trần và thông tin tiếp sức đã nối thông với Hà Nội.

Đầu tháng 5 năm 1973, anh Võ Chí Công và tôi ra Hà Nội dự hội nghị Bộ Chính trị mở rộng. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, các đồng chí ủy viên Trung ương ở các chiến trường: anh Nguyễn Văn Linh, anh Hoàng Văn Thái, anh Võ Văn Kiệt, anh Trần Văn Trà (từ Nam Bộ), anh Võ Chí Công và tôi (ở Khu 5), anh Trần Hữu Dực (ở Trị - Thiên). Bộ Chính trị đã dự thảo một báo cáo để hội nghị nghiên cứu và thảo luận những vấn đề quan trọng.

Mở đầu cuộc họp, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu một số vấn đề mà hội nghị vẫn đi sâu nghiên cứu, thảo luận và quyết định những vấn đề đường lối của cách mạng miền Nam hiện nay. Đồng chí nêu rõ: Trải qua 18 năm cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. Địch tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, ta đã đánh giá đúng tình hình địch, ta đề ra đường lối đúng đắn, do đó từng bước đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Tiếp đến, địch tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” cũng như chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cũng đều bị thất bại. Đồng chí Lê Duẩn kết luận: Đế quốc Mỹ đã thua, đã rút ra thì không bao giờ trở lại nữa. Hiện nay Mỹ muốn lập thế cân bằng ở Đông Nam Á và ở Việt Nam. Mỹ đang biến chính quyền tay sai thành một chính quyền lệ thuộc.

Đồng chí Lê Duẩn yêu cầu các anh ở chiến trường phát biểu trước. Lần lượt các anh có mặt đều phát biểu, nêu những nét lớn về tình hình địch, ta ở từng chiến trường, đồng thời bổ sung nhiều ý kiến cho dự thảo báo cáo.

Hội nghị nhất trí khẳng định địch còn những chỗ mạnh nhưng chỗ mạnh đó nằm trong thế thất bại, thế đi xuống chứ không phải thế thắng và thế đi lên. Trước đây quân Mỹ vào ta đã đánh thắng, nay Mỹ đã thua, đã rút hết quân chiến đấu của chúng. Trên chiến trường, chỉ còn quân ngụy chắc chắn ta sẽ thắng. Tuy nhiên, ngụy vẫn còn được Mỹ viện trợ. Nhưng ta có nhiều điều kiện thuận lợi rất lớn và nhất định sẽ thắng.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:25:24 AM
Hội nghị thảo luận dân chủ, sôi nổi, kéo dài hơn một tuần. Với trí tuệ tập thể của hầu hết các đồng chí dự hội nghị, đã phân tích đầy đủ tình hình và nhất trí cao những vấn đề nêu lên.

Những vấn đề quan trọng trong cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng trở thành một nội dung chủ yếu của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và thành Nghị quyết 21 tháng 10 năm 1973.

Sáng thứ ba, sau hai ngày làm việc, tôi chuẩn bị ăn sáng ở nhà nghỉ Quảng Bá thì Văn phòng Trung ương điện báo anh Ba Duẩn lên thăm. Anh Ba đến và bảo tôi: Anh cứ ăn sáng, tôi ngồi đây nói chuyện không sao.

Anh bắt đầu phân tích tình hình Mỹ và các nước lớn sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, tình hình miền Nam và miền Bắc, những thuận lợi khó khăn trong bước giành thắng lợi quyết định. Sau khi phân tích tình hình các mặt, anh nhấn mạnh:

- Chúng ta phải nỗ lực phi thường để giải phóng miền Nam trong hai năm, sớm hơn thì rất tốt, dài hơn thì rất phức tạp. Lấy hai năm làm mốc, nhưng phải nỗ lực chủ quan giành thắng lợi sớm hơn. Chỉ có như vậy mới đập tan được ý đồ của chúng – không cho Việt Nam thắng “trọn”.

Đó là những ý lớn, anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần và nói với tôi:

- Anh vào chiến trường Khu 5, một mặt tích cực chống bình định, nhưng mặt khác rất quan trọng là phải rèn luyện nâng cao sức chiến đấu, trước hết là quả đấm chủ lực; đồng thời chuẩn bị mọi mặt cho đòn quyết định. Ở ngoài này, Trung ương sẽ cố gắng bổ sung tân binh, vũ khí và lương thực, nhưng tại chỗ ở chiến trường phải nỗ lực lớn. Chất lượng và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang là quyết định, nhất là những trường hợp chiến đấu gay go, quyết liệt.

Trên đường quay trở lại chiến trường Khu 5, tôi suy nghĩ về những ý kiến chỉ đạo chiến lược của đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương là hoàn toàn đúng. Hai năm, sớm hơn thì tốt, kéo dài sẽ phức tạp. Với ý định chiến lược dứt khoát ấy, tôi tính toán về yêu cầu tạo lực, tạo thế về việc giải phóng căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng một trọng điểm của chiến trường Khu 5. Phải làm thế nào để vừa chống bình định có kết quả vừa xây dựng được quả đấm của chiến trường, chuẩn bị đường sá, lương thực, đạn dược để bắt đầu tiến công chỉ có thắng lợi. Đối với căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng, ta tranh thủ tạo điều kiện để thắng địch trong hành tiến nhưng phải tính đến có trận đột phá gay go và ác liệt. Từ suy nghĩ và sắp xếp sẵn trong đầu, về đến quân khu tôi đưa ra phương án.

Chống bình định giành dân giữ thế chiến trường, ta dùng toàn bộ lực lượng dân quân du kích, hai phần ba lực lượng địa phương tỉnh, huyện; pháo cối, đặc công của quân khu để đánh trả quân địch.

Chuẩn bị để đánh một số quận lỵ chi khu mở màn và nhất là đánh những đòn quyết định cùng các chiến trường miền Nam thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam trong thời gian đã định. Về thực lực, ngoài lực lượng trên bổ sung phải nuôi dưỡng anh em thương binh nhẹ nhanh chóng trở về đơn vị chiến đấu, giảm quân số ở cơ quan và đơn vị trực thuộc, tăng cường cho đơn vị chiến đấu. Mức đặt ra là từ 12 đến 15 tay súng một đại đội hiện nay, phải đạt tới khoảng 50 tay súng khi bắt đầu cuộc tiến công chiến lược.

Kế hoạch làm đường đảm bảo vận chuyển nói chung, nhất là các con đường áp sát mục tiêu chủ yếu trong cuộc tiến công và nổi dậy sắp tới là một phần rất quan trọng trong kế hoạch chuẩn bị. Từ con đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam, Khu 5 mở đường mới xuống giáp ranh đồng bằng vào mục tiêu đã định. Đến đầu năm 1974 thì đường ngang đã xuống đến tây Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bình Định. con đường dọc từ Trao đi vào Thạch Mỹ, dọc theo vùng giáp ranh Quảng Nam vào sông Re, vượt đỉnh Bà Nhà vào Ba Tơ (Quảng Ngãi) đến An Lão (Bình Định).


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:27:22 AM
Quyết tâm, kế hoạch nói trên được Thường vụ Quân khu và Thường vụ Khu ủy hoàn toàn nhất trí. Về sử dụng lực lượng và cách đánh:

Bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công đánh địch cả phía trước và phía sau.

Bộ đội chủ lực, một bộ phận phòng ngự bảo vệ các địa bàn xung yếu, đại bộ phận tập trung huấn luyện theo phương hướng tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Từng thời gian và theo yêu cầu cụ thể của chiến trường, ta sử dụng từng trung đoàn đánh những trận tiêu diệt gọn ở những hướng trọng điểm để hỗ trợ cho phong trào địa phương.

Mặc dù thu được những thành tích tốt trong 6 tháng cuối năm nhưng do ta có nhiều sơ hở trong 6 tháng đầu năm, nên đến tháng 12 năm 1973 địch vẫn còn lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng cũ ở các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Số dân vùng giải phóng từ 918 nghìn cuối tháng 1 năm 1973 chỉ còn lại 564 nghìn vào tháng 12 năm 1973.

Địch dùng toàn bộ lực lượng cơ động ra càn quét bình định. Trong lãnh đạo Quân khu và Khu ủy, một số đồng chí cho rằng địch tung toàn bộ lực lượng để càn quét bình định, ta cũng cần tung toàn bộ lực lượng để chống bình định. Có vài đồng chí lại cho rằng, nếu ta diệt kìm kẹp giành dân, phá 50% “ấp chiến lược” thì miền Nam khắc tự giải phóng; kết thúc chiến tranh chiến trường bị thu hẹp, ngụy quân, ngụy quyền không thể tồn tại. Từ Hà Nội, anh T. điện về nên biến tất cả các tiểu đoàn chủ lực thành đội công tác đi phá ấp giành dân. Nếu làm như thế thì chủ lực quân khu có 3 sư đoàn, 1 lữ đoàn có thể chia ra được 25 đội công tác.

Một đồng chí phó tư lệnh cho rằng: Để mất dân trong lúc hai phần ba chủ lực lo huấn luyện, công binh làm đường để làm gì? Tôi cố gắng thuyết phục trong Thường vụ và Bộ tư lệnh: địch tung hết lực lượng ra lấn chiếm, ta cũng tung hết lực lượng ra chống đỡ là bị động. Nếu cho chủ lực chia ra làm đội công tác, khi cần tập trung về thì đội ngũ chiến đấu sẽ loạc choạc khó thành quả đấm mạnh. Do vậy, nhất thiết không tung hết chủ lực ra chống càn, không biến các tiểu đoàn chủ lực thành đội công tác và không dùng xe tăng, pháo 130 ly vào những trận đánh vụn vặt. Địch lấn chiếm 20 xã, 30 xã hoặc hơn nữa là đáng tiếc, nhưng không kiên trì xây dựng lực lượng có tầm chiến lược thì không thể có những trận đánh quyết định.

Cuối năm 1973, Bộ tư lệnh Quân khu 5 chỉnh huấn cho 300 cán bộ chủ trì các trung đoàn, sư đoàn, tỉnh đội và cơ quan về nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 21, tổng kết kinh nghiệm năm 1972 và nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch. Ở Tây Nguyên, cũng tổ chức học nghị quyết, tập huấn và nghiên cứu về chiến thuật, chiến dịch.

Địch không thi hành Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta không còn con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng để giải phóng miền Nam.

Ở Khu 5, quân ngụy đã bị tiêu hao, mệt mỏi trong các cuộc hành quân lấn chiếm liên miên suốt năm 1973. Bước sang năm 1974, chiều hướng chung của địch là co lại để củng cố các tuyến chốt đối diện với các khu phòng giữ của bộ đội chủ lực ta. Trong các vùng địch đang kiểm soát, chúng mở các cuộc hành quân đánh phá dai dẳng với ý đồ tạo ra hình thái phân tuyến hai vùng rõ rệt.

Trên chiến trường đồng bằng ven biển, ta và địch trong thế giằng co. Ở vùng giáp ranh, ta vẫn giữ vững ba khu vực: Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định). Đây là ba bàn đạp quan trọng không cho địch thọc sâu vào vùng căn cứ, đánh phá các tuyến đường cơ giới và kho tàng của ta. Ở đây chủ lực ta và chủ lực địch tiếp xúc với nhau. Cả hai bên đều bố trí phòng ngự vững chắc. Trong khu vực này, có Thượng Đức – một vị trí trọng yếu của tây nam Đà Nẵng, trực tiếp uy hiếp tuyến đường cơ giới phía tây Quảng Đà của ta.

Ở Tây Nguyên, cũng giống như ở đồng bằng, chủ lực ta và địch trực tiếp tiếp xúc nhau ở bắc Kon Tum, Thanh An và Đức Cơ (Gia Lai). Địch đang còn một số cứ điểm ở Đắc Pét, Măng Đen, Măng Bút, Kon Rẫy (bắc Kon Tum), Ia Súp (tây bắc Đắc Lắc).

Tháng 1 năm 1974, Thường vụ - Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở một đợt hoạt động quân sự mạnh nhằm: Đánh bại một bước kế hoạch lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn, tiêu diệt các cứ điểm địch còn chốt lại trong khu căn cứ. Tạo thế cho quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong hậu phương địch, nhất là ở các thành thị, đồng thời rèn luyện bộ đội.

Trước hết, trong Xuân – Hè chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực cùng lực lượng địa phương tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, đánh bại thủ đoạn “chốt điểm” của địch, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh mở phong trào vùng địch và vùng tranh chấp, cải thiện thế chiến trường.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:29:40 AM
Ở Tây Nguyên, Sư đoàn 320 sau khi đánh bại cuộc phản kích của 27 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh và thiết giáp của quân đoàn 2 địch liền chuyển sang tiến công. Ngày 8 tháng 3, Sư đoàn 320 tiêu diệt cứ điểm Lệ Ngọc – một điểm chốt quan trọng của tuyến bảo vệ vòng ngoài thị xã Plây Cu của địch. Tiếp theo, sư đoàn lại tiêu diệt các cứ điểm 711 và 631, tiêu diệt gọn tiểu đoàn quân biệt động 82 và một chi đoàn xe tăng, xe bọc thép, thu 2 pháo 155 ly và 1 súng cối 106,7 ly.

Ngày 30 tháng 5, Trung đoàn 25 tiêu diệt cụm cứ điểm Ia Súp ở Đắc Lắc, diệt gọn tiểu đoàn bảo an số 211. Vùng giải phóng tây nam Gia Lai và tây tây bắc Đắc Lắc được nối liền nhau. Đường hành lang chiến lược mở thông từ tây nam Gia Lai vào đến Quảng Đức.

Khi phát hiện con đường vu hồi chiến dịch của ta đang vươn dài và chọc thẳng xuống phía tây đèo Măng Giang, quân đoàn 2 ngụy liền cho tiểu đoàn 95 và 2 đại đội của tiểu đoàn quân biệt động biên phòng 62 nống ra cắm chốt ở Kon Rẫy. Để giữ tiến độ thi công và bảo vệ vững chắc con đường cơ động quan trọng này, ngày 16 tháng 3, Sư đoàn 10 (thiếu) nổ súng đánh vào cụm quân của 2 tiểu đoàn địch ở phía đông Kon Rốc. Ta vây đánh diệt một số lớn, bắt 250 tù binh.

Ngày 24 tháng 4, ta lại tiêu diệt tiểu đoàn bảo an số 270 ở trong căn cứ Kon rốc. Quân địch ở khu vực Kon Rẫy bị quét sạch. Con đường cơ động của ta tiếp tục vươn dài về hướng bắc đèo Măng Giang.

Tiếp tục phát triển tiến công quét sạch quân địch ở các cứ điểm trong khu vực căn cứ của ta, ngày 15 tháng 5, Trung đoàn 66 Sư đoàn 10 tiến công cụm cứ điểm Đắc Pét – cứ điểm cuối cùng của địch còn chốt lại trên đường 14 ở bắc Kon Tum. Tháng 9 năm 1974, Trung đoàn 28 tiến công tiêu diệt chi khu quân sự, quận lỵ Măng Đen và quận lỵ Măng Bút. Ở Kon Tum, địch còn chỉ giữ được vùng ven và thị xã Kon Tum.

Cùng thời gian này, Tổng tham mưu trưởng cử anh Lê Trọng Tấn – Phó tổng tham mưu và một số cán bộ vào Quân khu 5 kiểm tra tình hình, sau đó anh Tấn ở lại thay tôi làm tư lệnh Quân khu 5.

Bộ tư lệnh Quân khu và các cơ quan báo cáo với anh Tấn và các đồng chí trong đoàn: Hai năm nay, sau biện pháp chiến lược “tràn ngập lãnh thổ”, địch tung hầu hết lực lượng ra lấn chiếm vùng giải phóng của ta, chúng đã bị tiêu hao mệt mỏi, thế chiến trường đã có lợi cho ta. Từ đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, các đường ngang xuống địa bàn quân khu hướng vào trọng điểm khu liên hiệp quân sự Đà Nẵng, vào tây Bình Định đã thông xe. Quân số chiến đấu mỗi đại đội của chủ lực từ 15, 20 tay súng lên trên dưới 50 tay súng, mỗi đại đội chiến đấu của bộ đội địa phương khoảng 30, 40 tay súng, sức khỏe của bộ đội tốt, được huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật hơn 2 tháng. Cán bộ được bồi dưỡng qua tổng kết kinh nghiệm. Quyết tâm và kế hoạch của quân khu là mở đợt tiến công Hè – Thu trên toàn bộ chiến trường nhằm tiêu diệt địch giành dân mở mảng tạo thế chiến trường nông thôn chuẩn bị cho Đông – Xuân tới. Qua đợt chiến đấu rèn luyện trong thực tế để nâng cao sức chiến đấu của các thứ quân, nhất là bộ đội chủ lực quân khu. Trên hướng Quảng Nam, Quảng Đà sẽ tiêu diệt và làm chủ cụm cứ điểm Đức Phú, Nông Sơn, Trung Phước và Thượng Đức, Khó khăn lớn nhất của quân khu là quân số bổ sung trong và sau đợt hoạt động để phát triển thắng lợi.

Sau khi nghe quân khu báo cáo anh Tấn phát biểu: Tình hình vừa rồi rất phức tạp, quân khu đã giữ được lực lượng, nâng được quân số chiến đấu, quyết tâm và kế hoạch tới là đúng, cần kiểm tra để đảm bảo chắc thắng.

Quân khu triệu tập một số cán bộ để nghe Phó tổng tham mưu trưởng nói chuyện, đại ý: Tình hình và công tác chuẩn bị của quân khu như thế là tốt; quyết tâm và phương hướng đúng. Tôi giao cho Chính ủy và Tư lệnh phải hoàn thành nhiệm vụ, yêu cầu gì Bộ sẽ đáp ứng.

Buổi chiều hôm đó trong bữa cơm thân mật, anh Tấn nói riêng với tôi: Công việc như thế không có vấn đề gì lớn, ngày mai tôi sẽ ra Hà Nội. Anh Mân cứ ở lại làm việc, chúc anh khỏe và thắng lợi, chúng ta còn nhiều dịp gặp nhau.

Anh Tấn và đoàn cán bộ đi được một ngày thì Bộ Tổng tham mưu thúc giục anh Tấn quay lại thực hiện ý định trước, nhưng anh Tấn và đoàn vẫn ra Hà Nội.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:30:15 AM
Khi anh Tấn vào tôi đã biết ý định của cấp trên. Tôi có điện đề nghị với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: Sau khi anh Tấn thay, cho tôi xuống một đơn vị nào đó chiến đấu cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng...

Ở đồng bằng ven biển, trong những năm gần đây, kẻ địch đã quen thấy ta thường mở đầu các đợt hoạt động vũ trang bằng một cuộc tiến công đồng loạt vào hàng trăm mục tiêu ở khắp các đô thị và nông thôn. Sau đó, cường độ tiến công yếu dần đi. Lần này Bộ tư lệnh Quân khu chủ trương sẽ tổ chức một đợt hoạt động mạnh trên toàn chiến trường. Các khu chiến của chủ lực sẽ đánh địch theo một lược đồ nối tiếp nhau trên những khu vực cách xa nhau nhưng lại liên quan chặt chẽ với nhau, nhằm tạo một cường độ tăng dần từ thấp đến cao và mở rộng không gian tiến công từ một khu vực rộng dần ra khắp các địa phương khiến cho quân địch bất ngờ và bị động đối phó.

Cuối tháng 6 năm 1974, theo quyết tâm và kế hoạch, quân khu dùng hầu hết các đơn vị chủ lực, không dùng pháo 130 ly và xe tăng tiêu diệt địch và giải phóng các quận lỵ chi khu mở rộng địa bàn làm chủ từng mảng. Đợt 1, tiêu diệt địch giải phóng khu Đức Phú, một chi khu được giải phóng trên 3 vạn dân, ta thương vong ít. Riêng quận lỵ, chi khu Minh Long do anh Vương Tuấn Kiệt – Phó tư lệnh chỉ huy. Anh Kiệt biết ý tôi không cho dùng pháo 130 ly và xe tăng để giữ bí mật bất ngờ; đồng thời không cho bộ đội ỷ lại vào hỏa lực nên nhân lúc tôi đi chỉ huy phía bắc, anh Kiệt điện về xin anh Võ Chí Công cho sử dụng pháo 130 ly bắn mấy chục viên mơi giải phóng được chi khu Minh Long.

Đợt 2, tiêu diệt căn cứ Nông Sơn và Thượng Đức. Tham mưu quân khu đắp sa bàn hai vị trí nói trên và mời cán bộ sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn của Sư đoàn 304 và Sư đoàn 2 thông qua quyết tâm và kế hoạch tác chiến (Sư đoàn 304 đánh Thượng Đức do Bộ tư lệnh Quân khu chỉ huy).

Trong cuộc họp, Sư đoàn trưởng 304 báo cáo quyết tâm, kế hoạch tác chiến và khẳng định: Chúng tôi sẽ dùng hỏa lực mạnh đợt đầu mấy chục tấn đạn lớn, nếu địch không hàng chúng tôi sẽ cho chúng mấy chục tấn nữa và cứ thế trút lên đầu chúng, nhất định nó phải hàng.

Trong giờ nghỉ, anh Võ Chí Công hỏi nhỏ: Anh ấy rất hăng hái nhưng hình như chủ quan, anh thấy có thể thắng không? Tôi trả lời: Sẽ thắng nhưng trả giá đắt.

Nông Sôn – Trung Phước là cụm cứ điểm với trên 10 vị trí lớn nhỏ. Toàn bộ cứ điểm rải ra trên một khu vực dài hơn 4km và rộng gần 3km. Nông Sơn là căn cứ then chốt của cụm cứ điểm được xây dựng kiên cố trên một mỏm núi đứng, có ba tầng hỏa lực và chỉ có một đường độc đạo có thể lên đến cứ điểm. Lực lượng địch khoảng 2.000 tên, trong đó có tiểu đoàn biệt động biên phòng 78. Điều bất ngờ đối với địch là chúng cho rằng ta chưa đủ sức tiến công tiêu diệt một cụm cứ điểm mạnh lại bố trí trên một chính diện rộng như vậy.

Sư đoàn 2 được lệnh tiến công cụm cứ điểm Nông Sơn – Trung Phước. Bộ đội pháo binh khiêng 2 khẩu sơn pháo 75 ly bí mật đặt cách Nông Sơn khoảng 800m. Dự kiến thời gian tiến công là 17 giờ, nhưng 11 giờ cùng ngày quân địch cho lên Nông Sơn tiểu đoàn 11 trung đoàn 56 sư đoàn 3 để thay phiên tiểu đoàn 78. Như vậy, trong căn cứ lúc này có 2 tiểu đoàn địch. Anh Nguyễn Chơn đề nghị với chỉ huy sở tiền phương quân khu, nếu buổi chiều địch không rút 1 tiểu đoàn thì đến giờ ta vẫn cứ nổ súng. Tôi nói lại với anh Nguyễn Chơn phạm vi căn cứ Nông Sơn không rộng lắm, chúng ở đó 2 tiểu đoàn khá dày đặc, ta nổ súng tiến công 2 tiểu đoàn trong một căn cứ có thể thời gian ngắn hơn dự kiến khỏi phải đi tìm tiểu đoàn thứ hai. Quả đúng như vậy, khi ta nổ súng tiến công, pháo bắn thẳng đã bắn tan 38 trong số 41 lô cốt và hỏa điểm của địch. Pháo binh ta bắn tập trung chính xác, tạo ra uy lực mạnh phá tan hệ thống công sự và hỏa lực của cụm cứ điểm. Bộ đội mở đột phá khẩu rất nhanh, địch trong căn cứ nhốn nháo, không đủ công sự ẩn nấp, bị thương vong lớn. Sau 4 giờ chiến đấu, ta đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ 2 tiểu đoàn địch. Ta thương vong trên 40 người.

Trong khi đó ở Thượng Đức, Sư đoàn 304 sau hai ngày đêm tiến công, bộ đội không mở được cửa, thương vong trên 300 người. Đêm thứ ba, anh Nguyễn Chánh – Phó tư lệnh Quân khu ra Thượng Đức giúp anh em chấn chỉnh lại đội ngũ và đưa pháo vào ngắn bắn trực tiếp. Đêm thứ tư, pháo bắn mấy chục quả phá hủy lô cốt, lỗ châu mai của địch, bộ đội Sư đoàn 304 mở cửa thuận lợi, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ tiểu đoàn quân biệt động biên phòng số 79 và 10 trung đội bảo an, dân vệ, giải phóng chi khu quân sự và quận lỵ Thượng Đức. Ngày 14 tháng 8, Sư đoàn 304 lại phát triển tiến công đánh chiếm tuyến Ba Khe, Bàn Tân, Lâm Phụng, đẩy lui quân địch về sát ven quận lỵ Ái Nghĩa.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:30:49 AM
Phối hợp với Nông Sơn – Trung Phước, Thượng Đức, đêm 17 tháng 7, lực lượng địa phương Quảng Nam tiêu diệt các chốt điểm Đá Bàn, Đá Đen tập kích quân địch ở đồn Kỳ Bích, đánh sập cầu Bà Bàu, đánh thiệt hại đồn Dương An. Trong các đêm 18 và 20 tháng 7 ta liên tiếp pháo kích vào tiểu khu Quảng Tín và sở chỉ huy sư đoàn 2 ngụy ở Chu Lai.

Lực lượng địa phương và nhân dân Quảng Ngãi tập kích địch trong thị xã Quảng Ngãi, quận lỵ Bình Sơn, quận lỵ Tư Nghĩa, tiến công, nổi dậy tiêu diệt và bức rút trên 40 cứ điểm, giải phóng một mảng 8 xã ở các huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh. Vùng giải phóng phía bắc của tỉnh nối liền từ vùng rừng núi Trà Bồng xuống đến sát biển.

Ở Bình Định, ngày 26 tháng 7, Sư đoàn 3 (thiếu) tiến công vào tuyến phòng thủ của địch trên đường số 1 ở phía bắc quận lỵ Phù Mỹ. Chỉ sau một giờ chiến đấu quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Trực Đạo và các cứ điểm ở núi Nùng

Ở Phú Yên, lực lượng vũ trang tỉnh tiêu diệt các vị trí địch ở hai xã Xuân Quàng và Xuân Phước, đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn bảo an. Ta tiếp tục tiến công, nổi dậy giải phóng và giành quyền làm chủ phần lớn các xã ở ba huyện Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân.

Ở Khánh Hòa, đêm 21 tháng 7, Tiểu đoàn đặc công 407 tiến công khu căn cứ hải quân ngụy ở Nha Trang và tập kích vào quân cảng Cam Ranh làm nổ 3 vạn tấn bom đạn, đốt cháy 1 triệu tấn xăng dầu.

Bị tổn thất nặng, lại phải phân tán đối phó trên các khu chiến của chủ lực ta nên lực lượng cơ động của quân đoàn 1 ngụy đã mỏng nay càng trở nên suy yếu. Chúng buộc phải đưa sư đoàn dù từ Trị - Thiên về tái chiếm Thượng Đức.

Cuộc chiến đấu giữa bộ đội chủ lực cơ động của ta và quân dù – lực lượng dự bị chiến lược của địch diễn ra liên tục hơn 100 ngày đêm, cuối cùng ta đã thắng. Chiến thắng Thượng Đức chứng tỏ khả năng chiến đấu của chủ lực cơ động ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch.

Quân địch đã bị bất ngờ trước đòn tiến công phối hợp dài ngày trên một diện rộng, có hiệu suất chiến đấu cao của ta. Kế hoạch lấn chiếm để thực hiện âm mưu phân tuyến ở vùng đồng bằng ven biển của địch đã bị đánh bại. Hệ thống phòng ngự cơ bản của địch ở vùng đồng bằng ven biển cũng bị đánh vỡ từng khu vực. Thượng Đức – điểm then chốt của tuyến phòng ngự vòng ngoài, chỉ cách căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng 40km đã bị ta đánh chiếm. Tuy nhiên, lúc này đang là mùa mưa, lực lượng ta ở các chiến trường miền Nam chỉ hoạt động nhỏ. Địch có thể cơ động lực lượng từ nơi khác đến để phản kích. Ta đã giành thắng lợi lớn, đang có điều kiện phát triển thắng lợi. Bộ tư lệnh Quân khu cho rằng nếu kéo dài hoạt động sẽ ảnh hưởng đến việc chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975. Vì vậy, chỉ sử dụng một bộ phận bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng địa phương tiếp tục đánh địch. Đại bộ phận chủ lực lui về củng cố.

Điểm nổi bật trong thời gian này là ta đã nhận thức đúng xu thế phát triển của tình hình nên đã khẩn trương xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận, chuẩn bị chiến trường. Khi kẻ địch không thực hiện Hiệp định Pa-ri, đưa hầu hết lực lượng cơ động vào kế hoạch “lấn chiếm”, “tràn ngập lãnh thổ”, ta đã kiên quyết giữ vững chủ trương: Chỉ sử dụng lực lượng địa phương và một phần chủ lực chống lấn chiếm. Đai bộ phận lực lượng chỉ lực tiếp tục tập trung xây dựng (tuy nhiên, chủ trương này trong lãnh đạo Khu ủy cũng có ý kiến chưa thống nhất). Gần một năm trời chiến đấu giằng co giữa ta va địch, tuy địch có lấn chiếm một số dân, một số vùng ta mới mở ra và một số vùng giải phóng cũ, gây cho ta một số khó khăn, nhưng lực lượng địch bị tiêu hao mệt mỏi. Chủ trương đúng đắn này là nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của đợt hoạt động trong Hè – Thu năm 1974.

Với một thế trận đã được xây dựng, với một sức mạnh đã được tăng cường, quân và dân ta đã tạo ra thế mới, lực mới, khả năng mới. So sánh lực lượng ta và địch trong phạm vi chiến trường đã thay đổi. Ta mạnh lên, địch yếu đi. Thế chủ động của ta ngày một phát triển, thế bị động của địch ngày một lộ rõ. Đây là những điều kiện hết sức thuận lợi của ta giành thắng lợi lớn hơn, thực hiện ý định chiến lược của lãnh đạo.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười, 2018, 09:31:27 AM
Cuối mùa Thu năm 1974, anh Võ Chí Công và tôi ra Hà Nội tham dự cuộc họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, thời gian từ ngày 30 tháng 9 đến 8 tháng 10. Tham gia hội nghị có các đồng chí ở chiến trường như anh Phạm Hùng, anh Trần Văn Trà (Nam Bộ), anh Võ Chí Công và tôi (Khu 5). Đánh giá tình hình, Bộ Chính trị thấy rằng, từ đầu năm 1974, bằng những cố gắng nhiều mặt, ta đã thu được những kết quả to lớn trong công tác chuẩn bị chiến lược. Ta đã giữ vững và phát triển mạnh mẽ thế chủ động tiến công, đẩy địch vào thế bị động trên toàn chiến trường. Ta đã tăng thêm sức mạnh của lực lượng vũ trang, đặc biệt là khối chủ lực, làm căng mỏng và suy yếu một bước quan trọng quân ngụy, nhất là đội quân chủ lực cơ động của địch.

Mỹ ngày càng gặp khó khăn trong chính nước Mỹ và trên thế giới. Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt chi viện cho quân ngụy mà còn khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa cũng không cứu vãn được ngụy quyền Sài Gòn khỏi sụp đổ.

Chúng ta đã thúc đẩy thời cơ chiến lược chín muồi, đã tạo nên những yếu tố chiến lược quan trọng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua phương án thực hiện giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 và đã chọn chiến trường Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong cuộc tiến công và nổi dậy rộng khắp trong năm 1975. Ở Tây Nguyên, địch tương đối yếu và ta có nhiều thế lợi để có thể phát triển lực lượng về phía nam, chia cắt miền Trung; ở đây ta lại tiện cho ta phát huy hết sức mạnh của các binh chủng kỹ thuật. Như vậy, Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng.

Kết luận hội nghị, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã phân tích ý nghĩa của quyết tâm chiến lược lịch sử này, đại ý: Bây giờ đã đến lúc chúng ta hạ quyết tâm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Đây là một điều hết sức trọng đại, hết sức quan trọng. Trọng đại, quan trọng là vì 30 năm nay, từ khi giành được chính quyền, chúng ta làm cách mạng liên miên, chiến tranh liên miên. Qua mây thời kỳ chống đế quốc, cuộc chiến tranh cách mạng của chúng ta đã có ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc, nó tập hợp cả một lực lượng to lớn, ở trên một vị trí chiến lược, đương đầu với tên đế quốc mạnh nhất, hung ác nhất. Bây giờ chúng ta hoàn thành cuộc cách mạng, thực hiện nhiệm vụ của thời đại trong cả nước. Nó ảnh hưởng không phải chỉ ở trong nước mà cả toàn Đông Nam Á và toàn thế giới.

Đồng chí nói tiếp: Nói như vậy để thấy hết tầm quan trọng của nó; đồng thời cũng thấy hết những khó khăn phức tạp của nó. Nhưng chúng ta đã thấy hết khả năng, thấy rõ so sánh lực lượng, thấy tất cả mọi cái để hạ quyết tâm này, với trí thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm của 30 năm nay cộng lại, không phải của từng người mà của tất cả chúng ta.

Khi thảo luận, câu hỏi đầu tiên đặt ra là nếu ta tiến công mạnh, ngụy quân, ngụy quyền có nguy cơ sụp đổ, Mỹ có dám nhảy vào tham chiến không? Đây là vấn đề học búa, rất nhiều ý kiên thảo luận sôi nổi, gay gắt. Tuyệt đại đa số ý kiến khi phân tích khả năng can thiệp của Mỹ, cho rằng Mỹ không còn khả năng đưa quân vào trên bộ, hơn nữa hành động đó cũng không cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của ngụy.

Anh Phạm Văn Đồng có nói một câu rất hay: Cứ đàng hoàng mà tiến, quân Mỹ đã vui mừng được rút ra khỏi chiến trường thì rồi đây cho ăn kẹo cũng không dám trở lại can thiệp vào miền Nam Việt Nam.

Bộ Chính trị quan tâm rất nhiều đến vấn đề thời cơ chiến lược. Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh tạo nên thời cơ, phong trào chính trị thúc đẩy thời cơ, tình hình thế giới và nội tại nước Mỹ là thời cơ từ bình thường đến vừa, đến cao, đến đột biến với tốc độ “1 ngày bằng 20 năm”, do đó cần phải khẩn trương, phải đánh nhanh hơn, nếu đã có thời cơ mà không kịp thời phát hiện, bỏ lỡ thì có tội lớn với dân tộc.

Do đó, ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm 1975-1976, cần phải có kế hoạch lợi dụng thời cơ đến vào đầu hoặc giữa năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Muốn lợi dụng thời cơ, phát triển thuận lợi, cần luôn luôn có lực lượng, có kế hoạch dự bị, sẵn sàng ở những địa bàn cơ động, vì thực lực của ta là nhân tố quyết định.

Sau cuộc họp, anh Phạm Văn Đồng mời tôi sang nhà riêng cùng ăn bữa cơm thân mật, anh nói:

- Thời gian qua Khu 5 làm như thế là khôn khéo, nhờ kiên trì chỉ đạo thực hiện nên hiện nay có cả lực mới và thế trận mới. Làm như Khu 5 là một kinh nghiệm rất tốt, tiêu diệt địch giải phóng từng quận lỵ, chi khu, mở từng mảng, giành từng khối dân, lại hiểu dược sức địch, sức ta, làm như rồi là đúng bài toán.

Bữa cơm đạm bạc, có mấy củ khoai lang tráng miệng. Tôi thật sự vui và tự suy diễn, có lẽ anh Đồng thấy được trách nhiệm thay Bác về tình cảm cách mạng để giữ vững lòng tin và sự thoải mái của lớp học trò kế cận của Bác. Củ khoai lang nếu có thêm bát nước chè xanh thì Nghệ An và Quảng Ngãi đậm đà giống nhau.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Mười, 2018, 09:06:14 AM
*
*   *

Sau hai năm chiến đấu, quân và dân miền Nam đã giáng cho địch những đòn thất bại nặng ở Trị - Thiên, Tây Nguyên, đồng bằng miền Trung, Đông Nam Bộ. Đến cuối năm 1974, tuy địch vẫn còn trên 1 triệu quân trong đó có 13 sư đoàn quân cộng hòa và 18 liên đoàn quân biệt động, hơn 2.000 xe tăng, xe bọc thép, 1.500 khẩu pháo lớn, 6 sư đoàn không quân nhưng chúng vẫn buộc phải lui về phòng ngự để giữ những phần dất do chúng kiểm soát, nhất là các đô thị và các vùng đông dân nhiều của. Quốc hội Mỹ cắt bỏ viện trợ bổ sung tháng 6 năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu phải đề ra chủ trương “đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo”, điều không thể nào làm được với một đội quân tay sai.

Giữa tháng 12 năm 1974, ta mở chiến dịch Phước Long. Trong hơn 20 ngày (12-12-1974 đến 6-1-1975) ta đã diệt và bắt trên 3.000 tên địch, thu trên 3.000 súng các loại, giải phóng đường 14, thị xã và toàn tỉnh Phước Long – tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Rõ ràng so sánh lực lượng giữa ta và địch đã chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ ta tiến công áp đảo quân địch để giành thắng lợi hoàn toàn.

Chiến trường Khu 5, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa ba vùng chiến lược và có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong từng khu vực.

Ở phía bắc, sau thắng lợi Hè – Thu 1974, ba tỉnh miền Trung: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi đã nối liền với bắc Kon tum, tạo thành một khu căn cứ rộng lớn kéo dài từ rừng núi đến đồng bằng. từ vùng giáp ranh xuống đồng bằng ven biển, thế trận của ta vững chắc và uy hiếp thế trận của địch.

Do nhận định sai lầm về chiến lược và lệ thuộc vào thế bố trí “nhẹ ở giữa nặng hai đầu”, lực lượng địch ở Khu 5 cũng bố trí theo thế “nặng ở phía bắc nhẹ ở phía nam”.

Cuối năm 1974, căn cứ vào mệnh lệnh sơ bộ của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh, Thường vụ Khu ủy, Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu 5 và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên sơ bộ hình thành kế hoạch chiến dịch.

Ở Tây Nguyên, tiến công và nổi dậy tiêu diệt từ 3 đến 4 trung đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực ngụy, diệt nhiều đơn vị bảo an, dân vệ, làm tụt nhanh quân số của địch; mở rộng đường hành lang chiến lược từ đường 14 qua Gia Nghĩa xuống đường 20 nối ba tỉnh đồng bằng phía nam Khu 5; diệt từ 3 đến 4 chi khu, từ 1 đến 2 tỉnh lỵ (Gia Nghĩa, Cheo Reo).

Giải phóng phần lớn vùng đất bằng phía nam Plây Cu và Cheo Reo, xung quanh Buôn Ma Thuột, đánh bại kế hoạch “bình định” lấn chiếm của địch, giữ vững và phát huy quyền làm chủ chiến trường, thực hiện chia cắt chiến lược, tích cực phối hợp với mặt trận đánh phá “bình định” của địch ở đồng bằng.

Đánh phá giao thông và hậu cứ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm cho tiềm lực kinh tế của địch giảm sút nghiêm trọng. Khi có thời cơ, thực hiện chia cắt hẳn các đường 14, 19, 21, trọng điểm là đường 21.

Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã, ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, các tổ chức biệt động, diệt ác ôn đầu sỏ, tạo thế làm chủ ở cơ sở.

Xây dựng ba thứ quân, xây dựng vùng giải phóng, xây dựng đường chiến dịch, chiến lược, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.

Trên chiến trường đồng bằng ven biển: Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị kết hợp ba mũi giáp công, ba quả đấm trên ba vùng chiến lược, tiêu diệt, bắt sống một bộ phận lực lượng quân sự của địch (sinh lực và phương tiện chiến tranh), phá vỡ bộ phận quan trọng hệ thống kìm kẹp, phá vỡ từng khu vực, từng đoạn hệ thống phòng ngự cơ bản của địch, đẩy mạnh du kích chiến tranh nhất là ở vùng sâu, đánh bại về cơ bản kế hoạch “bình định” của địch, giành đại bộ phận nông thôn, tạo nên một chuyển biến cơ bản trong so sánh lực lượng có lợi cho ta là điều kiện cơ bản nhất để tiến lên tổng tiến công và nổi dậy mạnh hơn giành thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, phải theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến cụ thể của thế trận chung toàn miền Nam, kịp thời tận dụng thời cơ khách quan đẩy mạnh tốc độ tiến công để giành thắng lợi cao hơn.


Tiêu đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Mười, 2018, 09:06:57 AM
Trung tuần tháng 12 năm 1974, anh Võ Chí Công và tôi ra Hà Nội dự họp Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng. Cuộc họp bắt đầu từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975. Chủ trì cuộc họp là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn. Bộ Chính trị gồm các đồng chí: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn. Thành phần mở rộng gồm: Trần Văn Trà (chiến trường Nam Bộ); Võ Chí Công, Chu Huy Mân (Khu 5). Cơ quan Bộ gồm: anh Song Hào – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đinh Đức Thiện – Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và mấy đồng chí thư ký. Trong 20 ngày hội nghị đi sâu vào mấy vấn đề lớn: đánh giá tình hình địch, ta trên chiến trường miền Nam từ sau ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, nhất là hai năm 1973-1974; quyết tâm mở cuộc tổng tiến công chiến lược và nổi dậy đều khắp, giải phóng miền Nam trong Xuân Hè 1975, tốt nhất là hoàn thành trước mùa mưa. Sở dĩ thời gian hội nghị kéo dài 20 ngày vì anh Ba muốn để tập thể cân nhắc chín chắn, dự kiến các tình huống, chiến lược thật kín, đảm bảo thắng nhanh, gọn tạo thời cơ phát triển nhanh và nhanh chóng làm chủ sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy. Đột phá, mở màn vào đâu. Hội nghị cân nhắc mấy phương án, cuối cùng chọn Buôn Ma Thuột, giải phóng cao nguyên trung phần trước. Từ nóc nhà Đông Dương này tạo thời cơ lớn tỏa đi các hướng chủ yếu, cuối cùng là tiêu diệt và làm tan rã quân địch; dứt điểm giải phóng Sài Gòn. Buôn Ma Thuột, Huế, Đà Nẵng phải giải phóng nhanh mở đường vận chuyển chiến lược (đường 1A). Mọi vấn đề lớn nêu ra được hội nghị thảo luận, hoàn toàn nhất trí.

Trên đường trở lại chiến trường, ngồi trên chiếc xe com-măng-ca đường rừng lắc lư để thực hiện quyết tâm lịch sử, tôi xúc động nhớ công ơn trời biển của Bác Hồ. Gần một nửa thế kỷ bôn ba quên mọi gian khổ, dám nhận hy sinh, Bác đã làm rạng rỡ non sông đất nước. Bác ra đi đã để lại một tập thể kế cận trung kiên tuyệt đối, có tầm nhìn xa, sáng tạo, đảm đương sức mạng lịch sử của Tổ quốc và nhân dân, thực hiện lời căn dặn của Bác: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giành lại trọn vẹn cả non sông gấm vóc. Qua cuộc họp lịch sử, tôi thấy những bộ não lớn, những tinh hoa sáng ngời tiêu biểu của dân tộc Việt Nam quy tụ lại trở thành sức mạnh to lớn. Tôi nghĩ chiến trường Tây Nguyên sẽ trở thành chiến trường lịch sử. trên 10 năm, quân và dân Tây Nguyên đã bất chấp hy sinh gian khổ, bám trụ đánh địch, giành dân, sáng tạo chiến trường để có ngày hôm nay và sắp tới. Từ cao nguyên này, nóc nhà Trung Đông Dương, đột phá mở màn, cuộc tiến công chiến lược: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Về đến Khu 5, chúng tôi khẩn trương triệu tập hội nghị Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy để quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị; thông qua phương án của quân, dân Khu 5 đã được chuẩn bị. Cuộc họp này cũng bàn thảo, lựa chọn một trong hai phương án để đi vào tổ chức thực hiện nắm quyền chủ động.

Phương án 1, mở đầu tiến công tiêu diệt quận lỵ chi khu Tiên Phước và căn cứ Phước Lâm. Làm công sự chốt chặt các điểm cao phía đông, kéo mấy trung đoàn cơ động ngụy vào ứng cứu, tiêu diệt chúng ở vùng giáp ranh. Khi quân địch không còn sức chiến đấu phải rút lui thì ta cho lực lượng dự bị có xe tăng phối hợp bất ngờ tiến công vào thị xã Tam Kỳ. Sau khi giải phóng Tam Kỳ, Sư đoàn bộ binh 2 của ta theo đường 1 tiến thẳng vào Đà Nẵng. Theo phương án này, căn cứ Chu Lai, thị xã Quảng Ngãi bị chia cắt. Ta chỉ dùng 1 trung đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo và 1 đại đội xe tăng cùng lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy để giải phóng.

Phương án 2, Sư đoàn bộ binh 2 của ta, mở đầu tiên diệt địch giải phóng quân lỵ chi khu Sơn Hà, sau đó nhanh chóng tiến công giải phóng thị xã Quảng Ngãi rồi chuyển vào phía nam giải phóng nam Quảng Ngãi, nối liền với bắc Bình Định. Ý định then chốt trong phương án này là trong mùa Xuân năm 1975, đồng bằng Khu 5 ăn chắc từ thị xã Quảng Ngãi đến trung Bình Định. Một vài anh em thường nói: Giải phóng vùng này là “bỏ túi trước”, Quảng Ngãi, Bình Định, sang hè sẽ chuyển ra bắc giải phóng Đà Nẵng.

Hai phương án nói tên đều có lý lẽ và đã tranh luận mấy tháng. Vì vậy, trước Tết Nguyên đán tôi xin phép Thường vụ Khu ủy và Thường vụ Quân ủy được kết luận: Theo phương án 1, để tập trung mọi lực lượng, tinh thần, vật chất chuẩn bị có chất lượng đảm bào chắc chắn. Theo phương án này thì lực lượng ta quá thấp phải cố gắng nhiều. Nhưng phương án 1, đứng về chiến lược cao hơn, chủ động hơn. Có thể nói, thực hiện phương án 1 tự mình nỗ lực chủ quan, tạo thời cơ trực tiếp, lợi dụng thời cơ chung, kín đáo và sắc bén hơ