Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Cha ông ta đánh giặc => Tác giả chủ đề:: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:23:48 AM



Tiêu đề: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 2
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:23:48 AM
Tên sách: LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM - TẬP 2:  ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP TỰ CHỦ (từ năm 179 TCN đến năm 938)
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 2001
Số hoá: ptlinh, UyenNhi05

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/AnhbaLSQSVNT2.jpg)

Ban chủ nhiệm:

- Đại tá, PGS,TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
- Đại tá, TS. LÊ ĐÌNH SỸ 
- Đại tá TRẦN BÍCH

Tác giả:
 
- GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG (Chủ biên)
- Đại tá TS. LÊ ĐÌNH SỸ



                                                                        Các Vua Hùng đã có công dựng nước
                                                                                          Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước
 
                                                                                                                 

                                                                                                                          HỒ CHÍ MINH



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:33:43 AM


LỜI GIỚI THIỆU

Nhân kỷ niệm 55 năm ngày toàn quốc kháng chiến (19-12 -1946 – 19 - 12-2001), 57 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân (22-12-1944 - 22-12-2001), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tập 2 của bộ Lịch sử quân sự Việt Nam mang tiêu đề Đấu tranh giành độc lập tự chủ (từ năm 179 TCN đến năm 938) do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam chủ trì biên soạn.
 
Đây là giai đoạn lịch sử đau thương, bi tráng nhất của dân tộc kéo dài tới 1.117 năm kể từ sau khi Triệu Đà xâm lược đến lúc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938; là giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, đồng hoá và chống đồng hoá, giao thoa văn hoá liên tục, đấu tranh giành độc lập tự chủ và giữ gìn bản sắc văn hoá để đất nước do các vua Hùng khởi nghiệp mãi mãi là của các thế hệ người Việt Nam.

Có thể xem tập sách này là kết quả của sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới về việc nghiên cứu, trình bày tiến trình lịch sử dân tộc trong đêm trường nô lệ, mà sự kiện sớm nhất diễn ra cách đây đã 2.180 năm và gần nhất cũng đã diễn ra 1.063 năm trong hơn mười một thế kỷ đất nước rơi vào ách thống trị của ngoại bang.  Ở giai đoạn lịch sử đó, các triều đại phong kiến phương Bắc kế tiếp nhau cai trị nước Trung Hoa rộng lớn, lúc thì thống nhất, khi thì phân liệt, các thế lực tranh hùng xâu xé lẫn nhau. Khi đã xác lập được quyền thống trì, xưng vương, xưng đế là các triều đại Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy, Đường, Nam Hán lập tức mang quân chinh phục, bành trướng các nước láng giềng.
 
Nhiều dân tộc ở phía bắc, tây bắc và phía nam Trung Quốc đã hoặc đang trong quá trình hình thành quốc gia - dân tộc lần lượt bị xoá sổ hoặc bị Hán hoá, đặc biệt là các dân tộc Bách Việt vùng Giang Nam gần sát nước ta.

Từ thất bại của An Dương Vương năm 179 TCN trước quân xâm lược Triệu Đà, nước Âu Lạc của các Lạc tướng và Lạc dân cũng rơi vào tình thế thử thách sống còn, bị biến thành các châu quận trực thuộc các đế chế của Hán tộc Trung Hoa.
 
Trong hơn một ngàn năm đô hộ ấy, kẻ thù đã tiến hành chế độ cai trị cực kỳ tàn khốc, bòn rút, vơ vét dã man về kinh tế để thoả mãn lòng tham của đội quân cai trị và dâng hiến triều đình. Chúng tiến hành những thủ đoạn chính trị hiểm độc lúc công khai, khi giấu mặt, khi nới lỏng vỗ về, lúc thắt buộc hà khắc nhằm chia rẽ dân tộc, làm giảm sức mạnh cố kết của toàn dân ta để dễ bề cai trị và cơỡng bức đồng hoá.
 
Có thể nói trong lịch sử mấy ngàn năm oai hùng khởi nguồn từ nền văn minh sông Hồng rực rỡ, đây là giai đoạn lịch sử đau buồn, một chương bi thảm nhất - đất nước đứng trước thảm hoạ diệt vong.

Nhưng cũng trong hơn một ngàn năm thương đau ấy, ông cha ta chưa bao giờ khuất phục cam chịu làm nô lệ, đã liên tiếp nổi dậy tiến hành các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, từ quy mô vùng miền đến quy mô toàn quốc, nhiều giai đoạn ngắn đã giành được quyền tự chủ, hàng ngàn cuộc nổi dậy và chiến tranh giải phóng đã diễn ra mà cuộc nổi dậy sớm nhất sử sách còn ghi chép được là cuộc khởi nghĩa của Tây Vu Vương năm 111 TCN chống lại nhà Tây Hán và tiếp đó là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40), Bà Triệu (248), Lý Bí - Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử (542-602), Lý Tự Tiên - Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766-791), Dương Thanh (819-820), Khúc Thừa Dụ (905-930), Dương Đình Nghệ (931-937)... và cuối cùng là cuộc kháng chiến của Ngô Quyền với việc đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, khôi phục đầy đủ quyền độc lập tự chủ của đất nước, mở đầu cho sự phục hưng rực rỡ của Đại Việt sau này.

Ngoài việc trình bày sáng rõ diễn trình lịch sử, khai thác triệt để các nguồn tư liệu lịch sử ít ỏi còn lưu lại trong các bộ sử và những công trình khoa học đã được khẳng định, các tác giả của tập sách đã dành nhiều tâm huyết để luận giải, đúc kết, khái quát truyền thống và nghệ thuật quân sự của cha ông ở giai đoạn lịch sử này với những hình thức chủ yếu là từ khởi nghĩa địa phương tiến lên tiến hành chiến tranh giải phóng, và khi đã giành được tự chủ ở các cấp độ khác nhau phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược để bảo vệ nền tự chủ.

Đối tượng tác chiến của dân tộc ta lúc này là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, thế lực lớn mạnh nhất ở phương Đông có trình độ văn minh cao, quân đội hùng mạnh và dày dạn kinh nghiệm chiến trận trong đấu tranh giành quyền lực nội bộ và chinh phục bên ngoài. Trong điều kiện phải lấy yếu chống mạnh lấy ít địch nhiều, không còn cách nào khác ông cha ta phải dùng kế đánh lâu dài, lấy đánh du kích là phương thức tác chiến chủ yếu, bước đầu hình thành nghệ thuật tổ chức và thực hành khởi nghĩa của toàn dân, chú trọng tổ chức lực lượng và địa bàn khởi nghĩa, lợi dụng địa bàn hiểm yếu để đánh trận quyết chiến chiến lược, mở đầu cho truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Là những nhà nghiên cứu am tường lịch sử cha ông từ cội nguồn, các tác giả của tập sách đã luận giải một cách tường minh vì sao dân tộc ta mất nước và chịu ách thống trị của ngoại bang lâu dài đến như vậy? Vì sao dưới sự thống trị bạo tàn và âm mưu đồng hoá hiểm độc của kẻ đô hộ mà nền văn hoá dân tộc vẫn tiếp tục trường tồn cùng lịch sử?



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:34:14 AM

Vùng Hoa Hạ, cái nôi của nền văn minh nông nghiệp trồng khô: kê - mạch - cao lương của người Hoa - Hán đã phát triển rực rỡ từ rất sớm, nhà nước tập quyền chuyên chế đã được xác lập Và ngày càng hùng mạnh. Tự cho mình là tộc người ưu tú đứng ở trung tâm thiên hạ, giai cấp thống trị quý tộc người Hoa - Hán’ mặc nhiên xem mình thay trời hành đạo, nảy sinh tư tưởng tự tôn gánh vác trách nhiệm “bình thiên hạ” của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán.

Có thể xem các triều đại của đế chế Trung Hoa là điển hình của việc chính quyền ra đời từ các cuộc chiến tranh khốc liệt.  Quân đội của họ được tổ chức chặt chẽ, lại không ngừng tiếp thu hình thức tác chiến kỵ binh vốn là sản phẩm của các tộc người du mục miền bắc, các đội thuyền chiến lớn của miền sông nước Giang Nam, lại được cổ vũ bởi các học thuyết quân sự lớn, nên rất hùng mạnh, thiện chiến và tàn bạo.
 
Một dân tộc nhỏ bé chưa vượt thoát mô hình chế độ quân chủ bộ lạc, dân số chỉ chừng một triệu người, quân ít và trang bị thô sơ khó có thể đứng vững trước kẻ thù bành trướng hùng mạnh, số dân đến 50 triệu, quân đội lúc cao nhất có tới hàng trăm vạn. Sau khi chiếm được đất nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc tiến hành nhiều hình thức cai trị ngày càng hà khắc, chính quyền của nó lúc đầu chỉ cai quản được ở châu quận, dần dần vươn tới hương, xã.

Đồng thời với việc cai trị và bòn rút của cải, kẻ thống trị tiến hành những thủ đoạn đồng hoá cưỡng bức rất thâm độc và bạo tàn, hy vọng có thể Hán hoá được toàn bộ dân tộc ta, xoá bỏ toàn bộ đất nước ta. Sau mỗi lần cha ông ta nổi dậy giành quyền tự chủ, các thế lực ngoại bang lại huy động những đội quân xâm lược lớn sang đàn áp khốc liệt hơn, thiết lập hệ thống cai trị chặt chẽ hơn. Thất bại của những cuộc khởi nghĩa trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc chính là thất bại bởi hoàn cảnh lịch sử.

Nhưng kỳ diệu thay, cha ông ta mất nước nhưng không mất làng. Chính làng xóm cổ truyền của người Việt là nơi lưu giữ sức mạnh văn hoá Việt Nam, nơi con người cố kết, đùm bọc lẫn nhau tạo ra sức mạnh bền chặt chống lại ách đô hộ, chống lại mưu đồ đồng hoá, qua đấu tranh để rèn luyện bản lĩnh và đặc tính dân tộc.
 
Chính xóm làng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá cổ truyền mà còn mở rộng tiếp thu chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại sinh tiên tiến, kể cả nền văn hoá chân chính, đẹp đẽ của người Trung Hoa, là pháo đài kiên cố chống lại mưu đồ đồng hoá thâm độc của kẻ thù.
 
Nhờ sức mạnh bền chặt của nền văn hoá Việt Nam mà hạt nhân cơ bản là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quật cường, cố kết, tương thân tương ái, vừa dũng cảm, vừa thông minh, sáng tạo đã là nhân tố quyết định làm cho dân tộc ta qua 1.117 năm bị đô hộ nhưng không hề bị đồng hoá và cuối cùng đã giành được độc lập tự chủ.
 
Ôn lại chương sử bi hùng của hơn một ngàn năm mất nước để ghi nhớ, nghĩ suy và rút ra những bài học cần thiết trong hành trình dân tộc tiến tới tương lai theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta lựa chọn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.  Do điều kiện khách quan và trình độ của người biên soạn, cuốn sách khó tránh khỏi còn những thiếu sót. Nhà xuất bản cùng các tác giả rất mong bạn đọc gần xa góp ý kiến để sửa chữa và bổ sung hoàn chỉnh hơn.

                                                                                                                   
                                                                                                                Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
                                                                                                                                      Tháng 12 năm 2001
                             
                                                                                                                         NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:40:17 AM

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình lịch sử quân sự Việt Nam, sau giai đoạn dựng nước và giữ nước thời Hùng Vương - An Dương Vương là một thời kỳ dài hơn mười một thế kỷ đấu tranh giành độc lập tự chủ, thời kỳ mà sử sách nước ta gọi là thời Bắc thuộc.  Đây là một đêm trường đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam.  Đất nước bị ngoại bang đô hộ, nhân dân phải sống trong kiếp nô lệ, lầm than với biết bao đau thương tủi nhục.
 
Đất nước Văn Lang - Âu Lạc của các vua Hùng, vua Thục của người Việt lâm vào thảm hoạ diệt vong, đứng trước thử thách của sự mất còn. Nhưng không cam chịu làm nô lệ, không chịu để nước mất nhà tan, nhân dân ta thời kỳ đó đã vùng lên đấu tranh chống Bắc thuộc.
 
Trải qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, nhân dân ta đã từng bước giành thắng lợi và cuối cùng cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc đã toàn thắng. Bắt đầu là tinh thần quật khởi của nhân dân thời Hai Bà Trưng (năm 40), kết thúc là chiến thắng Bạch Đằng vào năm 938. Chiến công này như một cột mốc lịch sử quan trọng, chấm dứt thời kỳ đau thương của đất nước mở ra kỷ nguyên độc lập lâu dài, phục hưng rực rỡ của dân tộc.

Đã có nhiều nhà khoa học nhà sử học nghiên cứu và viết về giai đoạn lịch sử này. Trong mấy thập kỷ gần đây, giới sử học, khảo cổ học, dân tộc học văn hoá học, v.v. đã công bố những kết quả nghiên cứu của mình trên nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, về đất nước và con người Việt Nam giai đoạn Bắc thuộc.
 
Nhiều công trình khoa học được xuất bản, trong đó có những bộ Lịch sử Việt Nam, phản ánh khá sâu đậm về lịch sử dân tộc thời kỳ này. Đó là thành quả, là những cố gắng lớn của giới sử học nước nhà.
 
Tuy nhiên, lịch sử giai đoạn này còn nhiều khoảng trống chưa được nghiên cứu, và đặc biệt, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình lịch sử quân sự nào phản ánh đầy đủ các hoạt động quân sự trong diễn trình Bắc thuộc và chống Bắc thuộc.

Vì thế, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, trong bộ sách Lịch sử quân sự Việt Nam (14 tập) đã dành tập 2 viết về thời Bắc thuộc, về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X.

Mong muốn của Ban chỉ đạo và các tác giả của tập sách là kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đây, tập hợp tư hếu lịch sử cổ của Việt Nam và Trung Quốc, đề xuất những ý kiến mới, nhằm phản ánh một cách hệ thống, tương đồi đầy đủ, toàn diện về lịch sử quân sự dân tộc ta trong hơn một ngàn năm đấu tranh giành độc lập tự chủ.

Lịch sử quân sự Việt Nam từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X là lịch sử của các hoạt động quân sự của nhân dân ta trong cuộc trường chinh chống ách đô hộ ngoại bang.

Thời bấy giờ, làn sóng xâm lược, bành trướng Đại Hán qua nhiều triều đại như: Tần, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương. Trần, Tuỳ, Đường dồn dập tràn xuống phía nam. Nhiều quốc gia, dân tộc đã thành lập hoặc đang trong quá trình hình thành đã bị đồng hoá; bị xẻ chia và sáp nhập.
 
Duy chỉ có tộc Việt sống trên lãnh thổ Văn Lang - Âu Lạc xưa là trụ vững không những không bị đồng hoá mà còn sớm biết bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hoá cổ truyền đồng thời biết hấp thụ các nhân tố văn hoá tiến bộ khác làm phong phú cho nền văn hoá dân tộc, tăng thêm nội lực cho đất nước.
 
Cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ các di sản văn hoá cổ truyền của nhân dân ta đã thành công. Đến thế kỷ X, nhân dân ta đã giành được quyền tự chủ đất nước.
 
Thực tiễn công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong hơn mười một thế kỷ ấy đã diễn ra như thế nào? Nguyên nhân thành công và thất bại của từng cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược trong giai đoạn này là gì? Nguồn gốc sức mạnh cứu nước của dân tộc ta từ đâu? Tại sao sau hơn một ngàn năm mất nước mà nhân dân ta đã giành lại được nước? Điều kỳ diệu này của lịch sử dân tộc cần được lý giải ra sao? v.v.. Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề khoa học này cũng chính là mục đích của Ban chỉ đạo và các tác giả tham gia nghiên cứu và viết lịch sử quân sự giai đoạn này.

Thắng lợi trên lĩnh vực dấu tranh quân sự của dân tộc trong hơn một ngàn năm nói trên có ý nghĩa lớn lao trên nhiều lĩnh vực. Phong trào đấu tranh chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nền văn hoá dân tộc, chứng tỏ sức mạnh cứu nước - giữ nước Việt Nam được xây đắp từ buổi đầu dựng nước; đồng thời cũng thể hiện quyết tâm giành độc lập, ý chí tự lực tự cường, tinh thần quật khởi và khí phách anh hùng bất khuất của nhân dân ta trong sự nghiệp chống ngoại xâm. Ý chí độc lập tự chủ và tinh thần đoàn kết thống nhất luôn luôn là cội nguồn cơ bản tạo nên sức mạnh kỳ diệu của dân  tộc ta.

Những trang sử dưới đây sẽ góp phần phản ánh thực tiễn chân thực và sinh động của cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá của nhân dân ta; góp phần làm sáng tỏ chân lý lịch sử: Một dân tộc dù nhỏ nhưng đã dơng nên và làm chủ đất nước mình và số phận mình, là bất khuất và bất diệt.  Nó có thể tạm thời bị thất bại, nhưng không một sức mạnh nào có thể tiêu diệt được nó. Cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập tụ chủ, cuối cùng sẽ toàn thắng.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:44:54 AM


NƯỚC ÂU LẠC DƯỚI ÁCH ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC.
KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC DO HAI BÀ TRƯNG LÃNH ĐẠO
(TỪ NĂM 179 TCN ĐẾN NĂM 44)

I. NƯỚC ÂU LẠC TỪ SAU THẤT BẠI CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG ĐẾN TRƯỚC THỜI TRƯNG VƯƠNG

1. Âu Lạc dưới ách thống trị của Nam Việt (179 -111 TCN)

Trước khi bị người phương Bắc chiếm đóng, Âu Lạc đã trải qua một thời kỳ dài dựng nước và giữ nước. Trên lãnh thổ Âu Lạc vốn đã xuất hiện một nền văn minh rực rỡ. Đó là văn minh sông Hồng mà người ta thường gọi là văn minh Đông Sơn hay văn minh Văn Lang - Âu Lạc, một nền văn minh bản địa có cơ sở từ nền kinh tế Nông nghiệp trồng lúa nước và một kết cấu xã hội kết hợp chặt chẽ giữa nhà - làng, vùng - miền và nước của cộng đồng người Việt cổ.
 
Xã hội Âu Lạc thời An Dương Vương đã phân hoá với những đặc trưng của hình thái Á châu. Tầng lớp dân tự do là thành viên của công xã Nông thôn tuy bị bóc lột nhưng vẫn bảo tồn được quan hệ bình đẳng trong kinh tế - xã hội. Tầng lớp thống trị đã vượt lên trên xã hội, nhưng chưa tách hẳn khối bình dân và mức độ bóc lột chưa gay gắt. Tầng lớp Nô tì bị bóc lột nặng nề hơn nhưng chỉ là thứ yếu trong xã hội.
 
Năm 179 TCN cuộc chiến đấu giữ nước của An Dương Vương thất bại. Từ đây cơ đồ Âu Lạc bị chìm đắm trong thảm hoạ bị người phương Bắc đô hộ, bắt đầu từ Nam Việt - Triệu Đà tiếp sau là các thế lực phong kiến Hán tộc trong nhiều triều đại khác nhau như Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ và Đường.

Sau khi chinh phục được Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vào lãnh thổ Nam Việt và tổ chức việc cai trị trên vùng đất này. Lãnh thổ Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh).

Trước đấy, năm 206 TCN, Triệu Đà chiếm lĩnh địa bàn lưu vực Tây Giang gồm các quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (bắc và đông Quảng Tây) và Tượng (tây Quảng Tây và nam Quý Châu), thành lập nước Nam Việt với kinh đô là Phiên Ngung (Quảng Châu).

Bằng cách chia Âu Lạc thành hai quận nói trên, Triệu Đà đã biến Âu Lạc thành những khu vực hành chính của lãnh thổ Nam Việt dưới quyền cai trị của mình. Với hơn nửa thế kỷ sinh sống ở đất Việt, Triệu Đà (gốc người nước Triệu, Hoa Bắc) đã ít nhiều Việt hoá.

Triệu Đà đặt hai viên quan sứ (đại diện của triều đình Phiên Ngung) để trông coi hai quận mới chiếm được. Sách Quảng châu ký (thế kỷ V) viết: “Nam Việt Vương Uý Đà đánh phá An Dương Vương, sai hai quan sứ trông coi hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là Âu Lạc vậy” (1).
 
Như thế, tổ chức chính quyền mới của Nam Việt đã bước đầu hình thành và phân chia dân cơ theo khu vực. Nhưng tất nhiên, tổ chức cũ theo huyết thống và tộc người còn tồn tại dai dẳng khá lâu ở đây không đặt thái thú cũng không có võ uý, chứng tỏ triều đình Nam Việt không trực tiếp cai trị Âu Lạc.
 
Trên thực tế, dưới cấp quận chưa có một hệ thống hành chính mới nào khác, nghĩa là chế độ “Lạc tướng cai trị Lạc dân” cơ bản vẫn như cũ. Trong hàng Lạc tướng, chúng ta vẫn thấy có các chức “vương” (Tây Vu Vương). Tây Vu là đất đai của bộ lạc cũ của họ Thục, vậy Tây Vu Vương có thể là con cháu của Thục Phán và có thể Triệu Đà vẫn để cho con cháu An Dương Vương làm chủ đất Tây Vu (Cổ Loa).
Trong các vùng (bộ hay “bộ lạc” theo Việt sử lược ) các Lạc tướng vẫn đứng đầu, cha truyền con nối, gọi là “phụ đạo” (2).  

Lạc tướng vốn là các tù trưởng bộ lạc chuyển hoá mà thành. Họ có các trợ thủ và đội thân binh giúp việc cai quản và bảo vệ.


(1) Dẫn theo Tư Mã Thiên: Sử ký, q.113, T.2b.
(2).  Nhà ngôn ngữ học GS,TS. Hoàng Thị châu đã cho rằng “phụ đạo , là một loại hình p’ tao , m’ tao . . . , có nghĩa hiện đại là “thủ lĩnh địa phương”.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:48:36 AM

Như vậy, Âu Lạc tuy đã mất chủ quyền nhưng chế độ Lạc tướng vẫn y nhiên tồn tại và tổ chức vùng (bộ hay bộ lạc) của người Việt cổ vẫn chưa hề bị xoá bỏ, cơ sở xã hội Âu Lạc vẫn chưa hề bị xáo trộn.  Cũng có người coi đây là một mánh khoé cai trị của nhà Triệu, tức là “ràng buộc lỏng lẻo”, muốn tranh thủ sự ủng hộ của các thủ lĩnh địa phương, muốn làm cho người Việt không dễ dàng nhận ra bộ mặt cát cứ, xâm lược và đồng hoá của nhà Triệu. Đây cũng là tuỳ theo cách nhìn nhận và đánh giá.

Cái triều đình Âu Lạc ấy chừng nào còn tồn tại được, ngoài sự giúp rập của một thiểu số quan lại Nam Việt người Hán (Trung Quốc) là nhờ vào sự ủng hộ của các thủ lĩnh địa phương người Việt. Các Lạc tướng, Âu quân ở Âu Lạc vẫn cai trị dân như trước dưới quyền kiểm soát của hai viên quan sứ nhà Triệu.
 
Bên cạnh các viên quan sứ Triệu Đà còn đặt một chức võ quan và một số quân đồn trú đóng tại các quận lỵ nhằm vừa giúp việc cho sứ giả vừa để kiềm chế các Lạc tướng.  Các sứ giả của nhà Triệu đã tiến hành lập sổ hộ khẩu ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân để dễ bề thống trị, bóc lột.  Tổng dân số kê khai lúc đó là hơn 40 vạn người.  Tổ chức chính quyền nói trên của họ Triệu ở Âu Lạc là nhằm mục đích thực hiện chính sách dung dưỡng để thống trị, có lợi dụng tổ chức thị tộc bộ lạc cũ của Âu Lạc để áp bức bóc lột nhân dân các công xã Âu Lạc.

Trong tình hình đó, để bắt dân Âu Lạc thần phục, phương thức bóc lột chủ yếu của nhà Triệu là bắt nộp các cống phẩm cho Nam Việt thông qua hai sứ giả. Sử cũ không chép cụ thể chế độ bóc lột của nhà Triệu ở Âu Lạc, nhưng thông qua các sản phẩm cống nộp thì có thể hiểu phần nào. Năm 120 TCN, Nam Việt cống Hán Vũ Đế voi và chim biết nói. Sách Thuỷ kinh chú chép rằng, năm 111 TCN “... hai sứ giả của Việt Vương đem 100 con bò, 1.000 hũ rượu cùng sổ hộ khẩu của hai quận ấy (tức Giao Chỉ và Cửu Chân) đến nộp cho Lộ tướng quân”. Số bò và rượu ấy tất nhiên họ đã lấy của nhân dân Âu Lạc qua trung gian các Lạc tướng.
 
Theo Tiền Hán thư, số đồ cống của Triệu Đà gửi dâng Hán Vũ Đế gồm có: một đôi ngọc bích trắng 1.000 con chim thuý (chim bói cá lông đẹp), 10 sừng tê 500 viên ngọc bối tía, một lọ quế đố (cà cuống), 40 đôi chim thuý sống, hai đôi chim công. . . Các đồ cống đó có lẽ do nhà Triệu đã vơ vét được ở Âu Lạc. Ngoài ra, có lê dân Âu Lạc còn phải cung đốn lương thực cho bọn quan lại và binh lính nhà Triệu đóng trên lãnh thổ Âu Lạc và tham gia sửa đắp thành luỹ, xây dựng nhà cửa cho bọn quan lại đô hộ ở các trung tâm cai trị.

Xét trong tình hình như vậy, xã hội Âu Lạc không mấy đổi thay. Dưới các viên quan sứ, các Lạc tướng vẫn cai quản vùng (bộ lạc) và các công xã thị tộc dưới quyền mình. Tất nhiên quá trình phân hoá xã hội vẫn diễn hành. Lạc tướng và tầng lớp quý tộc Âu Lạc bên cạnh việt phục vụ cho chính quyền nhà Triệu vẫn tìm cách làm giàu cho chính họ bằng việc bóc lột nhân dân. Mâu thuẫn trong xã hội Âu Lạc bấy giờ chủ yếu là giữa toàn thể nhân dân Âu Lạc dưới quyền lãnh đạo của tầng lớp quý tộc người Việt với ách thống trị của nhà Triệu. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sử liệu ghi chép cụ thể về những biến động chính trị - quân sự ở Giao Chỉ và Cửu Chân trong thời gian hơn sáu mươi năm dưới sự thống trị của Nam Việt.

2. Nhà Hán chinh phục Nam Việt

Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Hán là một triều đại tồn tại lâu nhất, trên bốn thế kỷ, từ năm 206 TCN đến năm 220 SCN, chỉ gián đoạn trong mười mấy năm, thời Vương Mãng thoán vị (năm 8 đến năm 23).
 
Đây là một trong những triều đại phát triển rực rỡ nhất ở Trung Quốc gồm hai giai đoạn: thứ nhất là Tây Hán cũng gọi là Tiền Hán (từ 206 TCN đến năm 23) (1) , có kinh đô ở Tràng An (Tân An); thứ hai là Đông Hán cũng gọi là Hậu Hán (từ năm 25 đến năm 220), kinh đô ở Lạc Dương nay thuộc Hà Nam Trung Quốc).
 
Trong giai đoạn Tây Hán, đến đời Hán Vũ Đế (từ năm 140 đến năm 87 TCN), nhà Hán đã phát triển thành một đế chế rộng lớn và là giai đoạn phát triển cường thịnh nhất.  Hán Vũ Đế độc tài, nóng nảy, cương quyết, nhiều tham vọng nhưng cũng rất mưu lược và tài năng, vừa sùng Nho học vừa ưa Đạo giáo, muốn trường sinh bất tử, như Hán Cao Tổ và Tần Thuỷ Hoàng. Ông dùng cả Pháp lẫn Nho để hoàn thành cuộc cải cách chính trị, củng cố chính thể quân chủ chuyên chế. Quyền hành tập trung cả ở triều đình, trong đó gồm một hệ thống quan lại là những kẻ sĩ có tài năng được tiến cử lên và do hoàng đế tuyển dụng, xếp đặt.


(1) Từ đầu năm 24 đến năm 25 ngôi vua thuộc về Lưu Huyền và Lưu Bồn Tử (một chú bé chăn bò được nghĩa quân Nông dân tôn lên làm vua). Xem Lịch sử thế giới trung đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.194-195.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:50:37 AM

Sau khi đánh dẹp được cuộc loạn bảy nước, nổ ra thời Hán Cảnh Đế (157-141 TCN) do Ngô Vương và Sở Vương khởi xướng, quyền lực trung ương được củng cố tới các miền xa. Trung Quốc thống nhất, chính trị ổn định, kinh tế có điều kiện phát triển.

Thời kỳ này Hán Vũ Đế có những cải cách kinh tế tiến bộ. Nhà nước độc quyền sản xuất và buôn bán sắt, muối và rượu; kiểm soát thương mại để ổn định giá cả hạn chế gian thương, trừng trị bọn cho vay nặng lãi. Nhà nước còn thi công những công trình lớn nhằm thu hút thợ thủ công. Công thương nghiệp phát triển, nhu cầu xa xỉ của giai cấp thống trị lớn, nên nhà Hán mong muốn mở rộng thị trường ra ngoài nước nhất là xuống phương Nam và sang phương Tây.

Trong lịch sử Trung Quốc, đây là giai đoạn bành trướng mạnh mẽ của đế chế Hán về mặt quân sự. Hán Vũ Đế là người kế tục đường lối bành trướng “bình thiên hạ” của Tần Thuỷ Hoàng, tức là phát triển về phía tây, phía thảo nguyên và phía bắc. Hán Vũ Đế muốn đẩy Hung Nô ra xa biên giới để chấm dứt cái hoạ Hung Nô truyền Kiếp, phá thế liên minh của các bộ lạc du mục do Hung Nô cầm đầu và kiểm soát được con đường thông thương qua phía tây để tăng thêm nguồn lợi về thương mại. Ngoài những lý do đó, còn để giữ thể diện, vì Vũ Đế không muốn chịu nhục nhã phải cống nộp cho Hung Nô cả sản vật và công chúa.

Muốn tiêu diệt hoạ Hung Nô và mở rộng bờ cõi thì quân đội phải mạnh. Hán Vũ Đế đã chú tâm xây dựng quân đội và vận dụng chính sách của Pháp gia, không tha thứ cho những viên tướng nhỡ bị thua trận; trái lại, vua Hán cũng thưởng công rất hậu cho những tướng nào thắng trận. Quân đội thời Hán rất mạnh và thiện chiến, trong đó có cả những đoàn kỵ mã lừng danh.

Phía bắc, nhà Hán tiến công Hung Nô, chiếm được một vùng rộng lớn, gần Lũng Tây, Lũng Đông, Hà Tây, mở đường thông tới Tây Vực (Trung Á). Năm 110 TCN, đế chế Hán cử 10 vạn quân chinh phục tộc Thương; năm 101 TCN, chinh phục nước Đại Uyển. Các nước Tây Vực khác lần lượt chịu thần phục và triều cống nhà Hán.

Năm 108 TCN, thuỷ, lục quân Hán tiến công sang phía đông bắc, chiếm Cao Ly (bán đảo Triều Tiên ngày nay ), vừa để uy hiếp Hung Nô, vừa để chiếm nguồn lợi thương mại trong quan hệ với Nhật Bản. Để mở đường tiến đến nước Thân Độc (Ấn Độ), nhà Hán chinh phục miền tây nam Di (vùng tây nam Trung Quốc) vào năm 111 TCN đồng thời cũng để mở thông đường đi chinh phục Nam Việt.
 
Năm 109 TCN nhà Hán chinh phục Điền quốc (Vân Nam ngày nay). Như vậy: nhà Hán đã bắt đầu tiến xuống phía nam, bành trướng đế chế về miền nhiệt đới, mở cửa để tiến xuống vùng Đông Nam Á và tiếp xúc với thế giới Ấn Độ Dương (nói theo khái niệm địa lý hiện đại).
 
Cuộc xâm lược bành trướng của đế chế Hán xuống phía nam Trường Giang, một công cuộc kế tục tiên Tần và sẽ còn tiếp tục dọc dài lịch sử gần hai chục thế kỷ tạo thành một trong những sự kiện lớn của lịch sử Đông Á: dài lâu về thời gian và đầy biến động phức tạp về di động dân cư hỗn chủng, làm biến mất hay biến đổi sâu xa nhiều nền văn hoá và văn minh cổ xưa, giao tiếp và giao lưu văn hoá, tiêu diệt nhiều quốc gia cổ đại như nước Điền ở Vân Nam (vùng Côn Minh), Dạ Lang ở Quý châu (trên trục giao thông Tứ Xuyên - Quảng Đông), Mân Việt ở Phúc Kiến , v.v..
 
Quân Hán chinh phục nước Điền vào năm 109 TCN. Vua Điền còn nhận vương hiệu của nhà Hán đến đời Chiêu Đế (87-76 TCN), rồi bị bãi bỏ sau một âm mưu chống đối. Từ năm 86 đến 82 TCN, nhà Hán chinh phục các bộ lạc “Côn Minh”, bành trướng tới giáp lãnh thổ Miến Điện (1).

Trước đây, Mân Việt bị nhà Tần chinh phục, sau đã tạm thời giành lại nước sau cuộc loạn cuối Tần, rồi lại bị Nam Việt thần phục, tuy nhiên vẫn luôn chống lại Nam Việt. Đến năm 110 TCN thì Mân Việt hoàn toàn bị nhà Hán chinh phục.

Về phần Nam Việt, sau khi Triệu Đà mất (137 TCN), cháu là Triệu Hồ lên thay. Năm 135 TCN, chư hầu của Nam Việt là Mân Việt nổi lên chống lại và đánh các biên ấp của Nam Việt. Triệu Hồ cầu cứu nhà Hán. Lợi dụng cơ hội này, nhà Hán phát binh đánh Mân Việt.

Để đánh các tiểu quốc pha nam, đế chế Hán dùng thủ đoạn chính trị thâm độc là kích động những cuộc bất hoà và xung đột giữa các triều đình và thủ lĩnh đất Việt rồi lợi dụng cơ hội đó mà can thiệp bằng quân sự. Quân Hán chưa đến nơi, em Mân Việt Vương  Sính là Dư Thiệu đã giết anh, đầu hàng nhà Hán.


(1)  Nay là Myanma.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 11:54:24 AM

Vua Hán sai Nghiêm Trợ sang sứ phủ dụ Nam Việt, mua chuộc và đe doạ để buộc Nam Việt chịu “nội thuộc”. Triệu Hồ phải cho con là Anh Tề sang làm con tin ở triều đình Hán. Anh Tề lấy thêm vợ Hán (Cù Thị). Được hơn 10 năm, Triệu Hồ chết, Anh Tề lên thay (tức Triệu Minh Vương lập Cù Thị làm hoàng hậu và con Cù Thị là Hưng làm thái tử. Lữ Gia làm thái phó.
 
Đối với triều Hán, Anh Tề tuy vẫn tỏ lòng thần phục, song vẫn muốn duy trì chính quyền Nam Việt. Năm 113 TCN, Anh Tề chết, Triệu Hưng lên thay (tức Triệu Ai Vương), tôn mẹ làm thái hậu. Triều đình Nam Việt ngày một Hán hoá.  Nhà Hán sai tình nhân cũ của Cù Thái hậu là an quốc Thiếu Quý sang dụ Cù Thị và Triệu Hưng thần phục; lúc đó cũng có cả bọn biện sĩ và dũng sĩ đi theo để giúp sức, dụ dỗ và doạ dẫm.

Tập đoàn thống trị của Nam Việt chia làm hai phe. Phe thân Hán, đại biểu là Cù Thị và Triệu Hưng, sẵn sàng đầu hàng nhà Hán. Phe thứ hai đại biểu là Lữ Gia, cố sức duy trì chính quyền Nam Việt, muốn xây dựng một quốc gia riêng biệt.

Lữ Gia là lão thần của Nam Việt, là thông gia hai chiều với vua Nam Việt, thế lực rất lớn. Lữ Gia thấy nếu Nam Việt quy phục Hán thì chẳng những mất quyền tự chủ mà thế lực của mình cũng bị mất do đó càng kiên quyết chống lại nhà Hán. Nhà Hán sai Hàn Thiên Thu đem theo 200 dũng sĩ sang Nam Việt để giết Lữ Gia. Lữ Gia cùng em dấv binh giết Cù Thị, Triệu Hưng và sứ giả nhà Hán, lập con trưởng Minh Vương (con người vợ Việt) là thuật dương hầu Kiến Đức làm vua, phá tan được quân Hán (112 TCN).

Nhà Hán liền cất quân đánh Nam Việt. Đạo quân này có hơn 10 vạn người (1), trong đó có cả quân lâu thuyền, có các tội nhân và một số người Việt đầu hàng làm quan tướng cho Hán, dưới quyền thống lĩnh của phục ba tướng quân Lộ Bác Đức, chia thành nhiều đường tiến vào Nam Việt. Trong số các tướng chỉ huy có ba tướng người Việt đầu hàng quân Hán. 

Mùa đông năm 111 TCN, quân Hán vào đất Nam Việt, tiến đánh quân tiên phong của Nam Việt, bắt được vài vạn người và chiếm được nhiều thuyền chở lúa. Quân Hán thừa thắng tiến đánh Phiên Nhung (Quảng châu). Đô thành thất thủ, Lữ Gia, Kiến Đức cùng vài trăm người định dùng thuyền vượt biển. Nhưng do nội bộ Nam Việt phân hoá, chia rẽ, hiệu uý tư mã của Nam Việt là Tô Hoẵng bắt Kiến Đức, quan lang người Việt là Đô Kê bắt sống Lữ Gia, đem nộp cho Lộ Bác Đức. Bọn quan lại Nam Việt lần lượt đầu hàng nhà Hán (2)  .
 
Chớp thời Cơ đó trên đất Âu Lạc cũ, Tây Vu Vương (3) đã lãnh đạo dân chúng nổi dậy khởi nghĩa, chống lại bọn sứ giả nhà Triệu.

Khởi nghĩa Tây Vu Vương là cuộc nổi dậy chống Bắc thuộc đầu tiên của nhân dân ta mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới sự  lãnh đạo của một thủ  lĩnh thuộc dòng quý tộc Âu Lạc cũ, nhằm khôi phục quyền độc lập cho đất nước Âu Lạc.

Nhưng cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại. Tây Vu Vương bị viên tả tướng nhà Triệu là Hoàng Đồng chém chết. Bọn quan lại nhà Triệu, sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa đã đầu hàng Lộ Bác Đức, dâng đất đai Âu Lạc cho nhà Hán. Từ đây lãnh thổ và cư dân Âu Lạc bị nhà Hán cai trị (111 TCN).
 
Vậy là, đế chế Hán đã thống trị trên một lãnh địa rộng lớn, phía bắc tới Mãn châu, Triều Tiên, phía nam tới nước ta và Miến Điện, phía tây và tây bắc tới Tây Tạng và vùng Trung Á (theo cái nhìn địa lý ngày nay).


(1) Tư Mã Thiên: Sử ký, Binh chuẩn thu chép là hơn 20 vạn.
(2) Ở vùng Sài Sơn (núi Thầy - Quốc Oai - Hà Tây) và vài nơi khác có lập đền và thờ Lữ Gia với tâm thức Lữ Gia là người kháng Hán.
(3) Tây Vu Vương, tức thủ lĩnh Tây Vu, có lẽ thuộc dòng dõi An Dương Vương, cai trị vùng đất Cổ Loa, phía bắc châu thổ Bắc Bộ thời thuộc Triệu. Cổ Loa là đất thuộc bộ Tây Vu; thời thuộc Hán, đổi thành huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Theo Hậu Hán thư, dân số huyện Tây Vu gần bằng số hộ cả quận Cửu Chân. Sau đó, khi Mã Viện đã đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chia huyện Tây Vu thành ba huyện: Tây Vu, Phong Khê và Vọng Hải thuộc quận Giao Chỉ.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 09:45:24 PM

Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, khi nghe tin quân Hán đến, Thương Ngô Vương Triệu Quang, cùng họ với vua Nam Việt, cai trị phần đông và bắc Quảng Tây đã cùng huyện lệnh Yết Dương là Định đầu hàng quân Hán. Quan giám sát Quế Lâm (phần tây và nam Quảng Tây giáp địa giới Âu Lạc) của Nam Việt là Cư Ông (người gốc Việt) đã dụ bọn sứ giả nhà Triệu ở Âu Lạc đầu hàng, thần phục nhà Hán. Sử chép:

“Giám Quế Lâm của Việt là Cư Ông dụ bảo hơn 40 vạn dân Âu Lạc hàng (Hán), được phong làm tương thành hầu” (1).  Sách Giao châu ngoại vực ký chép rằng: “Lộ tướng quân (tức Lộ Bác Đức) đến Hợp Phố (nay thuộc tỉnh Quảng Tây), hai sứ giả của Việt Vương đem 100 con trâu bò, 1.000 hũ rượu cùng sổ hộ khẩu của dân hai quận ấy đến nộp cho Lộ tướng quân. Bèn cho hai sứ giả ấy làm thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân, các Lạc tướng cai quản dân như cũ” (2).
 
Sách Đại Việt Sử ký toàn thư cũng chép tương tự: “Bấy giờ, nước Việt ta sai ba quan sứ đem 300 con trâu. 1.000 chung rượu và sổ hộ của ba quận Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam đến xin hồng; Lộ Bác Đức nhân đó cho ba người ấy làm thái thú ở ba quận để trị dân như cũ” (3).

3. Chính sách cai trị của nhà Tây Hán trên đất Âu Lạc (từ năm 1 11 TCN đến năm 23 )

Chinh phục được Nam Việt và Âu Lạc, đế chế Hán đã chiếm được một vùng rộng lớn trong đó có những miền châu thổ phì nhiêu, đông dân (lưu vực sông châu, sông Hồng), những trung tâm kinh tế, chính trị (Phiên Ngang, Cổ Loa), những vùng cáng thị quan trọng, giao thông thương mại thuận lợi (Quảng châu, Vân Đồn), những miền có lâm sản, hải sản quý như ngà voi, sừng tê, ngọc trai, đồi mồi, chim trả...

Nhà Hán chia đất nước Nam Việt thành chín quận:

Đam Nhĩ, Chu Nhai (Hải Nam), Nam Hải (Quảng Đông), Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh - Nghệ Tĩnh) và Nhật Nam (từ Đèo Ngang đến Quảng Nam). Chính sử nước ta chép rằng: “Nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán. Nhà Hán cho Thạnh Đái làm thái thú chín quận (chế độ nhà Hán lấy châu lãnh quận, trừ hai quận châu Nhai và Đam Nhĩ đều ở giữa biển, còn bảy quận thuộc Giao châu, Đái làm châu thái thú. Thời Tây Hán, trị sở của thái thú đặt tại Long Uyên, tức Long Biên.  Thời (đầu) Đông Hán đặt tại Mê Linh (tức Yên Lãng)” (4).  

Theo Tiền Hán thư, số hộ khẩu bảy quận trên như sau:

Tên quận             Sốhộ                               Số nhân khẩu
Nam Hải             19.613                                   94.253
Uất Lâm              12.415                                   71.162
Thương Ngô         24.379                                   146.160
Giao Chỉ              92.379                                   746.237
Hợp Phố              15.398                                   78.980
Cửu Chân            35.743                                   166. 013
Nhật Nam            15.400                                   69.485
Tổng cộng           215.387                                 1.372.290

Chỉ tính riêng ba quận (ở nước ta bấy giờ) là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, số hộ là 143.643 với 981.735 người (5).   

Năm 106 TCN, nhà Hán đặt châu Giao Chỉ, thống suất bảy quận ở lục địa, trụ sở đặt tại đất Mê Linh, quận Giao Chỉ - quận lớn nhất và quan trọng nhất.
 
Đứng đầu là chức thứ sử, phụ trách thanh tra công việc của các quận. Mỗi quận có một viên thái thú và một viên đô uý (coi việc dân sự và quân sự). Dưới quận là huyện. Nhưng ở huyện, “phần nhiều” còn do các Lạc tướng “trị dân như cũ” . Phương thức bóc lột cơ bản vẫn là phương thức cống nạp.  Thứ sử có quyền xem xét kiểm tra việc cai trị ở các quận theo sáu điều sau:

1. Những cường Tông hào hữu có ruộng đất, nhà cửa quá phép đã định, lấy mạnh lấn yếu, lấy đông hiếp ít.
 
2. Quan vào bậc 2.000 thạch lúa (tức lương bổng hằng năm) là quan thái thú (quận thú), không vâng theo chiếu chết bỏ công theo tư nhận chiếu thư mà thủ lợi hà hiếp trăm họ vơ vét gian tham.

3. Quan vào bậc 2.000 thạch không để ý xét các nghi án, hung dữ giết người, giận thì mặc sức giết, vui thì tha hồ thưởng, phiền nhiễu hà khắc, bóc lột dân đen, trăm họ đều ghét, phao đặt những điềm gở như núi lở, đá tan. . .

4. Quan vào bậc 2.000 thạch mà tuyển bổ không công bằng, a dua người mình yêu, che lấp người hiền, yêu dùng kẻ dở.

5. Con em các quan vào bậc 2.000 thạch mà cậy thế cậy thần, xin xỏ công việc.

6. Quan vào bậc 2.000 thạch mà làm trái lẽ công, bè đảng với kẻ dưới, a phụ hào cường, thông hành hồi lộ, tổn phạm chính lệnh (6).


(1).  Tư Mã Thiên: Sử ký, q. 113; Tiền Hán thư, q.9 T.13a.
(2).  Giao châu ngoại vực ký.
(3).  Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. T.1 tr.153, 155.  
(4).  Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. T.1 tr.153, 155.
(5)  Theo Tiền Hán thư, q.28, hạ, Địa lý chí, T.9b-10a.
(6) Dẫn theo Hán quan điển chức nghi, Tiền Hán thư, q.19, thượng, biểu 13a.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 09:52:17 PM
Dưới chức thứ sử là chức thái thú, ăn lương 2.000 thạch, cầm đầu một quận; bên cạnh thái thú có viên đô uý cũng hưởng lương 2.000 thạch, coi việc quân sự, đàn áp nhân dân thuộc quốc.
 
Buổi đầu, hai viên sứ giả nhà Triệu đầu hàng đã được nhà Hán cho làm thái thú hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Thái thú là kẻ trực tiếp đại diện cho chính quyền phong kiến trung ương để thống trị dân chúng Âu Lạc. Hằng năm, thái thú nộp thuế cống thu được trong quận để đưa lên triều đình trung ương. Số đồ cống đó, thái thú bắt các Lạc tướng đốc thúc dân nộp lên. Lạc tướng dưới quyền kiểm soát của thái thú và vẫn “trị dân như cũ’, nghĩa là vẫn được hưởng quyền thế tập như xưa, chủ trì công việc trong “địa phương” của mình.

Song “bộ lạc” đã đổi thành huyện, lạc tướng cũng được mang danh là huyện lệnh, với “ấn đồng dây tua xanh” .

Như vậy, thời kỳ đầu nhà Hán vẫn kế tục chính sách cai trị cũ của nhà Triệu trên đất Âu Lạc, đó là chế độ “dung dưỡng để thống trị”. Theo Sử ký và Tiền Hán thư, chính sách của nhà Tây Hán đối với các quận mới chinh phục được là “lấy tục cũ của nó mà cai trị” (1).
 
Tuy nhà Hán đã áp đặt được một bộ máy đô hộ ở cấp châu, cấp quận song chính giới thống trị Hán tộc cũng phải thú nhận rằng chúng chỉ có thể “dùng tục cũ mà cai trị”; chúng không nắm được các huyện vì ở huyện vẫn theo chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt.

Điều đó có nghĩa là đẳng cấp quý tộc Việt cổ vẫn giữ được thế mạnh là quyền uy của Tông tộc mà cai trị dân Việt.  Phương thức bóc lột cơ bản vẫn là phương thức cống nạp.  Đồ cống phần nhiều là của báu, vật lạ, như sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc cơ... Tiền Hán thư chép, năm Nguyên Khang thứ tư (62 TCN), đời Hán Tuyên Đế “Quận Cửu Chân dâng thú lạ” (2).

Năm thứ nhất niên hiệu Nguyên Thuỷ, “mùa xuân, tháng giêng Việt Thường thị qua nhiều lần dịch tiến đem dâng một con trĩ trắng, hai con trĩ đen”. Sách Hán nghi thức của Linh Phù nói rằng: “Cửu Chân, Giao Chỉ, Nhật Nam, dùng hai sừng tê dài chín tấc và một mai đồi mồi; Uất Lâm dùng một ngà voi dài ba thước trở lên và 20 bộ lông chim trĩ để thay cho vàng” (3).
 
Ngoài các thứ trên, cây tre của Âu Lạc cũng là vật quý lạ đối với Trung Quốc. Sách Lã thị Xuân thu (thời Tần, q.14) chép: “Các thứ tốt có gừng của Dương Phác, quế của Chiêu Dao, tre khuẩn của Lạc Việt”. Tre khuẩn còn có tên là xạ đồng. Sách Bác vật chí của Lưu Uyên Lâm chép: “Xạ đồng (tre) do Ngô đều sản xuất ở Giao Chỉ và Cửu Chân”.
 
Tiền Hán thư cũng chép rằng “ở huyện Tây Quyển, quận Nhật Nam (Quảng Bình) có thứ tre có thể làm gậy được” (4).   
Ngoài phương thức bóc lột bằng cống nạp, bọn quan lại nhà Hán còn bóc lột nhân dân Âu Lạc bằng việt mua bán thổ sản và Nô tì. Tiền Hán thư chép rằng một viên hầu tước nhà Hán là ích Xương “năm thứ tư hiệu Ngũ Phượng (54 TCN can tội khi làm thái thú Cửu Chân, trộm sai người mua sừng tê và Nô tì, tang vật có trăm vạn (tiền đồng) trở lên...” (5).  

Sau khi xâm lược được Nam Việt, trong đó có Âu Lạc, việc buôn bán ở khu vực phía nam của người Hán rất phát triển; bọn quan lại và thương nhân nhà Hán làm giàu rất chóng. Buôn bán thổ sản của người bản xứ là một phương thức thu nhập quan trọng của bọn thống trị Hán tộc đối với nhân dân ở những vùng chúng đã chinh phục.

Dưới ách thống trị của nhà Hán, nhân dân Âu Lạc luôn nổi dậy chống lại, tình trạng mất an mình là thường xuyên đối với bọn quan lại nhà Hán. Vua Hán phải luôn năm phái quan lại và quân đội từ Hoa Nam xuống để đàn áp: “Cách một năm lại phải điều động hàng vạn người, phí tổn đều trông vào quan đại nông” (6).  vì thế, “quân sĩ miền Kinh Sở (Hồ Quảng) mệt mỏi vì Âu Lạc” (7).  
 
Đó cũng là kết quả tất yếu của chính sách xâm lược và thống trị của nhà Hán trên đất Âu Lạc và biểu hiện tinh thần quật cường của dân Âu - Lạc Việt.


(1).  Tư Mã Thiên: Sử ký, q.30, t.14a; Tiền Hán thư, Thức hoá chí, q.24, hạ, t.14a. Nguyên văn tiếng Hán: “dĩ kỳ cố tre trị”.
(2).  Tiền Hán thư, q.8, t.13b.
(3).  Dẫn theo Hậu Hán thư, q.3, t.7a và 8a.(4).  Tiền Hán Thư, q.28 hạ, t.10b.(5).  Tiền Hán thư, q.17, t.13b.
(6).  Tư Mã Thiển: Sử ký, q.30; Tiền Hán thư, q.24, hạ.
(7).  Theo Viên Khoan: Diêm thiệt luận, q. 14.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 09:58:19 PM
4. Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội Âu Lạc dưới chế độ thống trị của nhà Hán.

 Vì tình trạng văn hoá - xã hội của các vùng miền Âu Lạc không giống như các khu vực của người Hán ở Trung Nguyên đã từ lâu chuyển sang chế độ phong kiến, nên nhà Triệu cũng như nhà Hán sau khi chinh phục Âu Lạc, không thể trực tiếp tiến hành lối thống trì kiểu phong kiến tập quyền, mà phải dùng phương pháp thống trị kiểu “ràng buộc” (kimi).

Đối tượng “ràng buộc” của bọn quan lại phong kiến Trung Hoa là các phần tử quý tộc thủ lĩnh đã phân hoá từ trong lòng công xã như các Lạc hầu, Lạc tướng, v.v.. Các quý tộc đó được chính quyền Hán tộc phong cho chức tước (như huyện lệnh), khiến họ kết hợp lợi ích đẳng cấp của họ với lợi ích của bọn thống trị người Hán để cùng bóc lột nhân dân Âu Lạc.
 
Phương thức thống trị kiểu ràng buộc đó chỉ thực hiện được ở những nơi mà trong xã hội đã bắt đầu có sự phân hoá khiến cho tầng lớp quý tộc vung miền (1) trở thành cơ sở xã hội cho bộ máy thống trị của bọn phong kiến nhà Hán. Trong buổi đầu thống trị của nhà Triệu cũng như nhà Tây Hán, nhà cầm quyền phong kiến ngoại tộc không thể với tay xuống tới toàn thể các miền đất Âu Lạc.
 
Lĩnh vực hoạt động chính trị của bọn chúng ban đầu chỉ hạn chế xung quanh những trung tâm cai trị của chúng như Mê Linh, Tây Vu (Cổ Loa), Luy lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) , Tư Phố (Thanh Hoá), nghĩa là ở những nơi sản xuất đã tương đối phát triển và sự phân hoá xã hội đã rõ rệt.

Do chế độ thống trị kiểu ràng buộc như vậy, nên phương thức bóc lột chỉ có thể là cống nạp. Đó là hình thức cưỡng bức siêu kinh tế, là hình thức lệ thuộc sớm nhất của cư dân vào giai cấp thống trị, cũng là hình thức đơn giản nhất của quan hệ phụ thuộc giai cấp. Nó thường dựa vào bạo lực quân sự trực tiếp. Bọn thống trị phong kiến nhà Hán dùng áp bức quân sự và chính trị bắt các Lạc tướng nộp cống phú cho chúng.

Trong thời kỳ đầu, quan lại nhà Hán chưa thể kiểm soát được các bộ lạc (huyện). Lạc tướng vẫn làm chủ trong bộ lạc của mình; họ thu cống phú của nhân dân công xã, một phần hưởng lợi riêng, một phần nộp cho quan lại phong kiến Hán tộc. Đó là mối quan hệ lệ thuộc giữa các Lạc tướng người Việt với chính quyền đô hộ mà các thứ sử, thái thú là kẻ đại diện.

Tất nhiên phong kiến nhà Hán không thể thoả mãn với lối thống tn kiểu “ràng buộc”, chỉ ngồi ở quận mà chờ cống phẩm của các Lạc tướng đưa tới, với phạm vi thống trị loanh quanh ở vài trung tâm cai trị ở các quận trị, huyện trị, đô uý trị. Chúng đồng thời cũng mưu đồ không ngừng khuếch trương thế lực của mình. Cho nên, sau khi chinh phục được Âu Lạc, ngoài việc phong chức tước cho các quý tộc bộ lạc để “trị dân như cũ", chúng đã thiết lập một số trung tâm quận huyện tại những miền có nền kinh tế phát triển, phái quan lại và đem quân binh đến chiếm đóng.

Tiếp theo đó, phong kiến Hán tộc tiến hành di dân hàng loạt đến miền đất mới chinh phục được, khai thác ruộng đất, nhằm củng cố các trung tâm, đặng chuẩn bị mở rộng phạm vi thống trị. Trong số dân di cơ đó có những người Nông dân nghèo phá sản bị địa chủ Hán tộc bóc lột xâm chiếm đất đai, hoặc những biên dân Trung Quốc sang “hoà bình khẩn thực” ở Giao Chỉ . . .
 
Trước kia sau khi chinh phục được miền nam Ngũ Lệnh, nhà Tần đã phát binh đến đóng giữ, lại đem “những quan lại xử án không ngay thẳng đày đi đất Việt” (Sử ký); nghĩa là phong kiến Trung Hoa đã đưa cả tội nhân lưu đày sang đất Việt.  Chính sách đó cũng được vận dụng dưới triều Hán. Sách Hậu Hán thư viết: “Phàm đất Giao Chỉ, tuy đã đặt quận huyện nhưng ngôn ngữ khác nhau, phải nhiều lần dịch mới hiểu...  Sau đó, dời những người tội nhân Trung Quốc đến cho ở lẫn với họ, mới hơi biết ngôn ngữ, dần dần thấy hoá theo lễ” (2).
 
Trong số những người Trung Quốc sang Âu Lạc và vùng biên viễn phía nam, ngoài quan lại, quân sĩ, người di dân, kẻ bị lưu đày, còn có thương nhân, "những người Trung Quốc  sang buôn bán phần nhiều trở nên giàu có” (3) .


(1) Nhân học văn hoá - xã hội hiện đại thường gọi là local chim fdoms, local chieftains. Chúng Tôi tạm dịch là “thủ lĩnh địa phương”, kiểu “12 sứ quân” ở thế kỷ X.  
(2).  Hậu Hán thư, q.116, T.5b. Có nghĩa là người Việt dần dần thích nghi với lễ giáo, trật tự Hán Hoa.
(3).  Tiền Hán thư, q.28, hạ, t.21b.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:05:57 PM

Tất nhiên trong số đó cũng có cả bọn hào dân - tức địa chủ người Hán. Chẳng hạn như khổng hương hầu Phó Yến, thiếu phủ Đổng Cung “bị bãi chức, bắt đi Hợp Phố” (1) ; hoặc sau khi mở xong đường, nhà Hán liền “mộ hào dân đến làm ruộng ở Nam Di, nộp thóc cho quận quan rồi lấy tiền nạp vào trong nội phủ . . .

Đó là chính sách “di dân khẩn thực’ của nhà Hán thi hành trong các miền mà chúng mới chinh phục được. Và cũng từ đó, xuất hiện sự truyền bá lối sống văn hoá Hán trên đất Việt, truyền bá “ôn hoà”, qua giao lưu kinh tế - văn hoá, qua di dân Trung Quốc sang đất Việt và truyền bá “cưỡng bức”, qua hệ thống đô hộ hành chính - quân sự.

Trước khi nhà Triệu và nhà Tây Hán đặt ách thống trị, trên đất Âu Lạc đã tồn tại nền văn minh Đông Sơn với mô hình kinh tế - văn hoá Nông nghiệp lúa nước cổ truyền thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt.
 
Sự hiện diện đích thực của cơ cấu văn minh Đông Sơn - cái kỳ diệu của nền móng Việt cổ - mấy trăm nam đầu giai đoạn “Bắc thuộc” phản ánh sức sống  mãnh liệt của nền văn minh Việt cổ, tinh thần bền bỉ chống đồng hoá, chống mọi thứ pha tạp xâm nhập có hệ thống, có tổ chức của bè lũ thống trị phương Bắc.
 
Nhưng chủ nhân của nền văn minh Việt cổ - người Âu Lạc - không hề bài ngoại, mà vẫn tiếp thu có ý thức và chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại sinh để biến thành cái vốn của mình, làm phong phú thêm bản sắc riêng của mình.

Những người dân Trung Quốc nói trên một khi đến miền đất mới, cùng ở lẫn lộn với người Âu Lạc, cùng lao động với nhân dân Âu Lạc, đã đem theo công cụ và kỹ thuật canh tác tiên tiến của người phương Bắc truyền bá tới miền Âu Lạc.
 
Do vậy, trên thực tế đã diễn ra sự tiếp xúc và biến đổi, đan xen và giao thoa giữa hai nền văn hoá Việt và Hán. Khảo cổ học đã chứng minh, bấy giờ đã có sự tồn tại song song của hai loại hình cư trú - làng xóm với nhà sàn Đông Sơn và thành quách với mô hình nhà đất bằng, mô hình giếng nước, bếp lò, chuồng trại trong mộ Hán ở Thiệu Dương, Thanh Hoá và nhiều nơi khác (Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, Mạo Khê - Uông Bí, Quảng Ninh, Nam Sách, Chí Linh, Hải Dương, Nghi Vệ (Và) Bắc Ninh, v.v.).

Các vật dụng, công cụ, vũ khí tìm thấy chứng tỏ sự tồn tại song song của hai lối sống, hai phương thức sinh hoạt; trong đó tất nhiên phương thức chủ đạo vẫn là phương thức Việt, vì Hán tộc chỉ là một thiểu số thống trị và một ít cư dân Hán sống tập trung ở một số ít thành quách, thị trấn, quận huyện lỵ.

Tuy nhiên, dưới ách thống trị của nhà Triệu và nhất là của nhà Tây Hán, do di dân Hán sang đất Việt ngày càng đông, lại “ở lẫn lộn với người Việt” nên dần dần giữa hai phương thức Việt và Hán có sự dung hoà và chuyển hoá lẫn nhau. Dù sớm hay muộn, đã nảy sinh sự giao tiếp và đan xen văn hoá, một sự giao thoa văn hoá vừa tự nguyện vừa cưỡng bức. Bắt đầu một quá trình năng động, trên cơ tầng Việt đã vận hành một cơ chế Hán, đã diễn tiến dưới ảnh hưởng của văn hoá Hán - văn hoá thống trị - và, đang biến đổi từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang một mô thức mới mô thức Việt - Hán đan xen.

Trong giai đoạn này, cơ sở kinh tế - xã hội vẫn là nền tảng Nông nghiệp trồng lúa nước với kết cấu xóm làng khá bền chắc. Trước và sau thời Hán Cao hậu (187-180 TCN), Nam Việt vẫn thường mua của Trung Quốc đồ điền khí bằng sắt kiểu Hán. Từ đầu công nguyên, việc dùng cày lưỡi sắt có trâu bò kéo được mở rộng ở phương Nam (2).  
 
Người Hán di dân xuống đất Việt hẳn cũng đã mang theo nhiều đồ điền khí bằng sắt kiểu Hán. ở Giao châu, bên cạnh nghề trồng lúa nước vẫn là chủ đạo, còn có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng bông, đay, gai để có cái mặc.

Sách Hán thư cũng nói: “Giao Chỉ ở gần biển, có nhiều hoa quả” . Người Trung Quốc đặc biệt chú ý đến long nhãn và vải quả của người Việt, ngoài ra còn có chuối, quýt, mơ... Hoa quả của người Việt biến thành cống phẩm cho nhà Hán. Năm Nguyên Đỉnh thứ sáu (111 TCN) , sau khi chiếm được Nam Việt, Hán T Đế sai xây Phù Lệ cung (cung vải quả) ở kinh đô Trường An (Thiểm Tây) để trồng những cây cỏ kỳ lạ quý hiếm mới lấy được từ miền đất Việt. Vũ Đế sai đem 100 cây vải, hai cây chuồi tiêu trồng ở Phù Lệ cung nhưng không có cây nào sống.

Quả vải bị sung làm đồ tuế cống, việc phục dịch chuyên chở vải cống trở thành một tai hoạ lớn đối với nhân dân Âu Lạc trong suốt cả một quá trình dài.

Nhà Hán đặt chức “phố tu quan” ở Nam Hải và chức “tu quan” ở huyện Liên lâu quận Giao Chỉ (Thuận Thành, Bắc Ninh) để coi việc tiến cống hoa quả và các thức ăn. Cũng từ đời Hán Vũ Đế, ở Giao Chỉ có đặt chức quất quan (quan coi quýt) ăn lương 200 thạch lúa mỗi năm, chuyên trông việc cống quýt ngự.


(1).  Tiền Hán thư, q.12, T. la.
(2).  Trước đó, phương thức canh tác ở phương Nam là dùng lửa đốt rẫy làm nương (“hoả canh”), dùng trâu, sức người dẫm đất dẫm nước cho ngầu bùn (“thuỷ nậu”).  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:32 PM

Bấy giờ, ở Âu Lạc đã có nghề trồng mía làm mật. Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, dê, chó... Theo sử cũ, sứ giả nhà Triệu đã cống nạp cho nhà Hán đường phèn (1) , trâu bò và rượu; đồng thời cũng mua ngựa của Trung Quốc về nuôi.  Nghề thủ công cổ truyền ở Âu Lạc vẫn tiếp tục phát triển và có sự kết hợp với kỹ thuật của người Hán. Bên cạnh đồ đồng Đông Sơn còn có đồ đồng Hán. Hoa văn trống đồng có ảnh hưởng tới hoa văn trên gương đồng từ trung kỳ Tây Hán.
 
Ngoài nghề đúc đồng và nghề rèn sắt, nghề gốm, nghề dệt ở Âu Lạc vẫn phát triển. Các tác giả Sử ký và Tiền Hán thư đều phản ánh rằng, người Việt trồng dâu, đay, gai, nuôi tằm, xe sợi và dệt cửi. Sản phẩm tư tằm, vải cát bá (vải bông) của Âu Lạc rất mịn, sợi nhỏ.
Nghề làm muối phát triển ở vùng ven biển và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Âu Lạc. Bọn thống trị Tây Hán nắm độc quyền mua bán muối-sắt-rượu, và đã nhanh chóng đặt chức “diêm quan” để quản lý việc sản xuất và thu thuế muối ở Giao châu.

Thời Tây Hán thương mại khá phát đạt. Nhiều lái buôn Trung Quốc đến đất Việt buôn bán. Tiền Hán thư chép: “Đất Việt ở gần biển, có nhiều tê, voi, đồi mồi, ngọc châu, ngọc ky, vàng, đồng, hoa quả, vải. Người Trung Quốc đi lại buôn bán, phần nhiều trở nên giàu có” (2).  Âu Lạc bị thu hút vào thị trường trong và ngoài nước của Trung Quốc. Do vị trí địa lý thuận lợi, do sự phong phú về sản phẩm nhiệt đới, Giao châu trở thành một trạm quan trọng trên đường giao lưu hàng hoá giữa Trung Quốc và các nước Nam Dương, Nam Á và Tây Á (Trung Cận Đông).

5. Tình hình nhà Đông Hán và Âu Lạc những năm đầu công nguyên.

Trung Quốc quân chủ tập quyền đến cuối thời Tây Hán sa vào khủng hoảng xã hội nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do việc xâm chiếm ruộng đất của bọn quý tộc và đại thương gia đối với tiểu Nông. Thuế má nặng nề và chiến tranh liên miên làm tăng gánh nặng của Nông dân.
 
Cuối đời Hán Vũ Đế, cuộc sống của Nông dân, Nông nô, Nô tì rất cực khổ, buộc họ phải nổi dậy bạo động chống chính quyền bóc lột. Đến đời Thành Đế (32-7 TCN) và Ai Đế (6-1 TCN), tình trạng đó càng nghiêm trọng hơn. Năm 1 TCN, Bình Đế lên ngôi mới có chín tuổi, thái hậu lâm triều, giao quyền chính cho Vương Mãng là một quý tộc ngoại thích. Năm 3, Vương Mãng giết Bình Đế, tự xưng là “Giả Hoàng Đế”. Năm 8, Vương Mãng lên ngôi hoàng đế, lấy quốc hiệu là Tân và Âu Lạc bị lệ thuộc vào triều đại này (từ năm 8 đến năm 23).
 
Để củng cố chính quyền của mình và để cứu vãn đời sống xã hội cuối thời Tây Hán, Vương Mãng tiến hành cải cách điền địa, tuyên bố quốc hữu hoá ruộng đất, cấm mua bán nô tì thực hành quản chế công thương nghiệp, bình quân vật giá đổi mới tiền tệ, v.v..
 
Các biện pháp của Vương Mãng những tưởng tiến bộ, vì nó “mới mẻ”, vì ông ta mong có sự “công bằng tài sản” và xoa dịu mâu thuẫn xã hội, nhưng trên thực tế quốc gia chẳng được lợi lộc gì vì bọn tham quan ô lại càng có cơ hội vơ vét của dân, số thuế thu được cho triều đình rất ít, quốc khố vẫn trống rỗng.
 
Kết quả những cải cách của Vương Mãng làm cho khủng hoảng xã hội càng trầm trọng thêm, thuế má nặng nề, lao dịch khổ sở. Cuối cùng, Vương Mãng phải xoá bỏ mọi cải cách và nhà nước không thể kiểm soát, bảo vệ được tầng lớp tiểu nông. Kinh tế, xã hội bị phá hoại nghiêm trọng, nhân dân bị đói rét và hình phạt tàn khốc luôn uy hiếp sự sống còn của họ, vì thế nhiều cuộc bạo động chống đối đã hên tiếp nổi lên, tiêu biểu là khởi nghĩa của quân Lục Lâm (Hồ Bắc), của quân Xích Mi (Sơn Đông), v. v.
 
Quý tộc Hán và tầng lớp đại địa chủ, đại thương nhân cũng thừa cơ nổi lên chống lại Vương Mãng.  Bấy giờ, Lưu Tú ở Nam Dương (cháu sáu đời của Cảnh Đế) đã dựa vào thành quả của phong trào nông dân và các lực lượng chống đối khác để giành chính quyền. Được thế lực địa chủ Hoa Bắc giúp đỡ, Lưu Tú đã tiến vào đánh chiếm Trường An (3),  tiêu diệt các thế lực cát cứ. Các cuộc khởi nghĩa Nông dân và các thế lực cát cứ đều bị loại bỏ. Lưu Tú khôi phục nhà Hán, lên ngôi hoàng đế, hiệu là Quang Vũ, thiên đô sang phía đông tức Lạc Dương, nên nhà Hậu Hán còn được gọi là Đông Hán, tồn tại gần hai thế kỷ (từ 25-220).  [Hán Quang Vũ lập lại được trật tự trong nước sau 20 năm nhiễu loạn, chăm lo chính trị, giảm quan, bớt việt, nhẹ thuế khoá đất nước được thanh bình. Quang Vũ coi trọng Nho học. Tầng lớp kẻ sĩ trở nên có uy tín. Ông phong nhiều công thần làm chư hầu, mà công thần thường là những người đại diện cho tầng lớp đại điền chủ trung thành với nhà Hán.


(1). Đường phèn là một sáng tạo của người Chăm, miền Trung Việt Nam.
(2).  Tiền Hán thư, q.28, hạ, T.36 a. 
color=red](3) [/color] Khi quân khởi nghĩa chưa đến nơi, ở Trường An đã xảy ra binh biến, Vương Mãng bị giết chết. Xem Lịch sử thê’giới trung đại, Sđd, tí. 194.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 25 Tháng Mười Hai, 2008, 10:14:24 PM

Hán Quang Vũ sử dụng sức mạnh quân sự để gây áp lực và uy thế của mình ở các vùng xa; đồng thời còn sử dụng lối tặng biếu của cải để mua chuộc các thủ lĩnh địa phương, đàn áp các cuộc chống đối, nổi dậy. Đối với Giao Chỉ, Quang Vũ Đế cử Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, sau đó lại cử Tô Định làm thái thú Giao Chỉ. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, Quang Vũ Đế đã sai Mã Viện sang đánh dẹp.
 
Khi xã hội Trung Quốc cuối thời Tây Hán biến loạn, một số khá đông người Hán, trong đó có cả quý tộc, địa chủ, sĩ phu đã di cơ sang Giao Chỉ để ẩn náu. Ví như tổ tiên Lý Bí vốn là người Trung Quốc, vào cuối thời Tây Hán, “khổ vì việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được bảy đời thành người Nam” (1).  Tổ của Sĩ Nhiếp vốn là người Vấn Dương, nước Lỗ “đến khi có loạn Vương Mãng, dời sang ở Giao châu, sáu đời đến Sĩ Nhiếp” (2).  Hồ Cương, tổ bốn đời của thái phó Hồ Quảng đời Đông Hán, khi Vương Mãng nhiếp chính, “cởi mũ áo treo ở cửa phủ rồi trốn sang ở Giao Chỉ, ẩn tại khu hàng thịt” (3).  

Bọn quý tộc, địa chủ, sĩ phu người Hán này tất nhiên đã dựa vào chính quyền thống trị ở Giao Chỉ để phát triển thế lực trong những vùng họ mới đến. Lúc đó, châu mục Giao Chỉ là Đặng Nhượng, thái thú quận Giao Chỉ

là Tích Quang cùng các thái thú khác dưới quyền Đặng Nhượng đều không muốn thần phục chính quyền Vương Mãng. Buổi đầu, Vương Mãng có thi hành một số cải cách hành chính, như đổi tên quận trị Cửu Chân là Tư Phố gọi là Hoàn Thành và dời đến VÔ Biên (Cửu Chân đình), dời quận trị Nhật Nam đến Tây Quyển (Nhật Nam đánh đổi chức thái thú thành đại doãn. . . Nhưng cuối đời Vương Mãng, các thái thú ở Giao châu đã chống lại mệnh lệnh của ông ta.  Sau khi Hán Quang Vũ lên ngôi, thái thú Giao Chỉ là Tích Quang đưa lễ vật, cống tiến, được phong làm liệt hầu.  Tích Quang cũng như Nhâm Diên đều vẫn làm thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân, và thích nghi với chính sách thống trị mới của nhà Đông Hán.

Theo sử sách nhà Hán thì Tích Quang và Nhâm Diên tiến hành chính sách “giáo hoá” ở Âu Lạc. Hậu Hán thư viết:

Đám quý tộc, quan liêu, địa chủ Hán di cơ xuống Giao châu, dựa vào chính quyền đô hộ mà “sinh cơ lập nghiệp”, xâm lấn ruộng đất và tài sản của người Việt. Chính quyền đô hộ có thêm vây cánh, thêm kẻ đồng mưu tính kế, giúp sức bành trướng, tổ chức quận huyện, đồng hoá người Việt, bóc lột nhân dân bản xứ. Tích Quang ở Giao Chỉ, Nhâm Diên ở Cửu Chân trước sau đều dùng lối sống Hoa để cải biến phong hoá người Việt, từ việc hôn nhân đến việc mở trường dạy lễ nghĩa, chế tạo giày mũ, ăn mặc, canh tác v.v. đều nhất mực theo lối Hán, kiểu Hán. Nhưng đã có định hướng Hán hoá ở phía thống trị thì ắt phải có sự chống Hán hoá ở phía cơ dân bản địa.

Dưới thời Đông Hán, đứng đầu Giao châu vẫn là chức châu mục ăn lương 2.000 thạch lúa. Trước đây, đến tháng 8, thứ sử châu mục đi tuần hành các quận quốc, đầu năm sau về kinh đô bẩm báo; sang thời Đông Hán, đặt lệ “kê lại”, thứ sử không tự mình đến kinh đô tâu việc nữa mà chỉ sai một người “kê lại”, thay mặt mình về triều báo cáo. Thứ sử luôn ở tại trị sở, thậm chí có tang cha mẹ cũng không được bỏ chức.  Giúp việc cho châu mục có các lại viên gọi là tòng sự sử. Ở Giao châu có bảy viên tòng sự sử giúp thứ sử coi việc dân và việc tuyển bổ. Coi việc quân sự có các quan binh tào tòng sự, biệt giá tòng sự, cùng hộ tống thứ sử khi đi tuần hành các nơi. Ngoài ra, còn các chức khác như bạc tào tòng sự coi việc sổ sách, tiền nong, thuế má, chức giả tá coi các việc văn thư, môn đình, tế tự v.v..

Đứng đầu mỗi quận là một viên thái thú, cũng ăn lương 2.000 thạch như thứ sử, có viên quận thừa giúp việc. Biên quận đặt một thừa trưởng sử để có thể thay mặt thái thú coi việc trong quận; chức vụ này về sau thay thế chức thái thú.  Thái thú mùa xuân đi tuần hành kiểm tra các huyện mùa thu sai một vài quan lại xét các việc án mục, thuế khoá. Cuối năm, một viên lại tâu báo lên trên.

Trong quân quyền hành của thái thú rất lớn. Ngoài các quan đô uý và các lại sử, tuỳ mỗi quận, còn đặt các chức diêm quan (thu thuế muối), thiết quan (thu thuế sắt), công quan (thuế sản vật, thủ công), thuỷ quan (thuế thuỷ sản, đầm ao). Ở Âu Lạc cũ, huyện lệnh vẫn là các Lạc tướng dưới huyện có một viên thừa và một vài viên uý, ngoài ra còn đặt các tào lại coi văn thư, sổ sách, v.v..
 
Như vậy, dưới thời Đông Hán, việc cai trị các châu quận ở vùng biên viễn, các thuộc quốc có phần thắt buộc chặt chẽ hơn, hà khắc hơn thời Tây Hán. Đi đôi với việc cai trị, việc khai thác kinh tế, Tô thuế thu cống phẩm cũng tăng cường mạnh mẽ hơn. Từ đây, mức độ đồng hoá và lối bóc lột của chúng nặng nề hơn.

Năm 34, Hán Quang Vũ cử Tô Định sang thay Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ. Mức độ bóc lột và đồng hoá dân ta của các quan lại Hán dưới quyền Tô Định càng trở nên khốc liệt hơn. Sử sách phản ánh, Tô Định là kẻ gian tham hơn các thái thú khác, y hễ “thấy tiền thì giương mắt lên”. Thái thú cùng bọn đốc bưu đốc thúc đồ cống, thu các thứ thuế ráo riết hơn, khống chế đè nén các Lạc tướng và con cháu họ ở cấp huyện dưới quyền. Chính vì thế dân chúng, quý tộc Âu Lạc vốn đã căm ghét bọn quan lại Hán tộc nay càng oán hận chính quyền đô hộ. Nhiều phong trào khởi nghĩa đã nổ ra, tiêu biểu hơn hết là cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo.


(1).   Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T.1, tr. 178.
(2).  Tam quốc chí, Ngô chí, Sĩ Nhiếp truyện.
(3).  Lê Trắc: An Nam chí lược.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:21:08 PM

II. KHỞI NGHĨA  HAI BÀ TRƯNG
SỰ THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN TỰ CHỦ TRƯNG VƯƠNG (40-42)

1. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40).

Trước sức bành trướng mạnh mẽ của đế chế Hán, với những lực lượng quân sự áp đảo và những thủ đoạn chiến lược chính trị, kinh tế, ngoại giao vừa trắng trợn, tàn bạo, vừa giấu mặt tinh vi, vừa chặt chẽ thắt buộc, vừa rộng rãi buông lỏng... kết hợp tuỳ nơi, tuỳ lúc khá tinh vi của kẻ xâm lược, người Việt đã dũng cảm nổi dậy kháng cự, tấn công quân Hán, chống áp bức, giết quan lại Hán. Phong trào lúc âm ỉ, lúc công khai, song nhìn chung, đó mới chỉ là những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ, mang nặng tính chất manh động, địa phương, thiếu tổ chức, thiếu phối hợp chặt chẽ, cuối cùng đều bị thất bại.

Từ những năm đầu công nguyên, chính sách nô dịch và đồng hoá của triều đình phong kiến Đông Hán đã xô đẩy nhân dân Âu Lạc vào một cảnh ngộ lầm than không kể xiết; mâu thuẫn dân tộc càng mạnh mẽ hơn. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là kết quả tất yếu của tinh thần chống ngoại xâm của người Việt. Đó là cuộc nổi dậy chống chính quyền đô hộ Đông Hán của nhân dân Giao Chỉ, cùng với nhân dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố dưới sự lãnh đạo của hai chị em Bà Trưng, giữa mùa xuân năm 40.

Hai Bà Trưng, chị là Trưng Trắc, em là Trưng Nhị là con gái Lạc tướng Mê Linh, vùng lãnh thổ Âu Lạc từ Ba Vì đến Tam Đảo, đất bản bộ cũ của các vua Hùng. Dưới thời Nam Việt, quận Giao Chỉ và Cửu Chân có hai sứ giả; đến thời Hán có thái thú và ở châu có thứ sử, nhưng ở huyện vẫn là lạc tướng trị dân như cũ. Chức Lạc tướng tương đương với chức huyện lệnh trong quan chế Hán. Sách Thuỷ kinh chú chép:

“Huyện Mê Linh là nơi Hán Vũ Đế đặt đô uý trị vào năm Nguyên Đỉnh” (111 TCN). Sách Giao châu ngoại vực ký chép: “Việt vương sai hai sứ giả làm chủ dân hai quận Giao Chỉ - Cửu Chân. Về sau, khi Hán sai phục ba tướng quân Lộ Bác Đức đánh Việt vương; Lộ tướng quân đánh Hợp Phố, Việt vương ra lệnh hai sứ giả đem 100 trâu bò, 1.000 vò rượu và sổ hộ khẩu dân hai quận ra dâng Lộ tướng quân. Lộ Bác Đức bèn phong hai sứ giả làm thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân; các Lạc tướng cai trị dân như cũ’ (1).
 
Lạc tướng Mê Linh được coi là thuộc dòng dõi Hùng - Lạc, chắc chắn là một thủ lĩnh kiệt thiệt của người Việt. Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng: “Hai Bà Trưng họ Hùng”; sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “(Vua) tên huý là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc”; sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Trưng Trắc họ Lạc, lại có biệt tính là Trưng” . Truyền thuyết của ta cũng nói Hai Bà Trưng là dòng dõi vua Hùng xưa. Như vậy, Trưng Trắc thuộc thành phần quý tộc Âu Lạc có danh vọng lúc đó (xin chú ý, thời đó dân ta không có các ký hiệu họ - tên kiểu Hoa như ngày sau vay mượn).

Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng Chu Diên. Chồng Trưng Nhị là Hùng Nguyên cũng ở Chu Diên (2).
 
Hai huyện Mê Linh và Chu Diên nằm sát liền nhau; hai gia đình Lạc tướng vừa là quý tộc lại là thông gia, cùng mưu toan sự nghiệp lớn, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn. Theo sách Giao châu ngoại vực ký,  “con trai Lạc tướng Chu Diên là Thi Sách lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người gan dạ, dũng cảm giúp Thi làm giặc, đánh phá châu quận, khiến các Lạc tướng đều theo”.
 
Kết quả nghiên cứu khoa học hiện nay cho biết hai huyện Mê Linh và Chu Diên đã liên kết với nhau rất chặt chẽ về chính trị và quân sự. Huyện Mê Linh là một căn cứ chiến lược, có thế lực và hoàn chỉnh trong lãnh thổ Âu Lạc cũ, nên Mê Linh đã trở thành thủ phủ của bộ Giao Chỉ gồm bảy quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô và Nam Hải, trong đó quận Giao Chỉ là quận quan trọng nhất, vì đất đai rộng lớn nhất, dân cơ đông đúc và kinh tế phát triển nhất. Thi Sách là một tướng giỏi; Hùng Nguyên chồng Bà Trưng Nhị cũng là một tướng quân, một thủ lĩnh quân sự thuộc tầng lớp quý tộc. Do đó, sau này hai bà trở thành những người đứng đầu tầng lớp quý tộc ở cả Mê Linh và Chu Diên.


(1).  Dẫn theo Thủy kinh chú sớ bản của Từ Hành Khoa do Trung Quốc khoa học viện đồ thư quán ảnh ấn, q. 37, t.13a.
(2).  Huyện Chu Diên là đất châu thổ, có hai sông lớn chảy qua là sông Nhị và sông Đáy, phía đông là Hưng Yên, phía đông giáp sông Luộc (Thái Bình), phía nam đến Kim Bảng, Duy Tiên (Hà Nam), phía bắc đến vùng Đan Phượng (Hà Tây). Trung tâm chính trị, kinh tế của Chu Diên có thể là vùng ngã ba sông Nhuệ, sông Tô Lịch, tức vùng Đại áng, Lạc Thị, Vĩnh Ninh, Quỳnh Đô, nay là ngoại thành Hà Nội. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách là do chuyên sử chép. Chồng Trưng Nhị là Hùng Nguyên chỉ là huyền tích.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:21:57 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/HaiBaTrung1.jpg?t=1230379715)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:26:35 PM
Thi Sách có mưu lược lớn, liên kết những người thuộc dòng dõi vua Hùng và con em các Lạc tướng, Lạc hầu mưu chống Tô Định, tên thái thú tham lam tàn ác trị nhậm quận Giao Chỉ, nhằm lật đổ nền đô hộ Đông Hán. Việc bị bại lộ, Thi Sách cùng nhiều đồng sự khác bị Tô Định giết (1).  

Thần tích Thiều Hoa công chúa ở Hiền Quan, Tam nông ghi rằng: “Non sông mờ mịt nòi giống lầm than với một chính sách tham tàn bạo ngược, như Tô Định đã bắt dân xuống bể mò ngọc trai, lên rừng tìm ngà voi. Nhân dân không chịu những sự tàn ác ấy, cho nên ông Thi Sách đã chống lại, liền bị Tô Định giết”.

Cùng với Thi Sách, nhiều hào kiệt khác cũng nuôi chí lớn, ngậm mối thù tụ nghĩa chờ thời. Trước khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa đã có nhiều anh hùng chiêu mộ nghĩa binh, tìm gặp hào kiệt, ngày đêm luyện tập chờ ngày vùng dậy đánh đuổi giặc nước.

Sách Hậu Hán thư chép: “Thái thú Tô Định lấy pháp luật ràng buộc, Trắc oán giận cho nên làm phản”. Theo Thuỷ kinh chú thì Trưng Trắc “cùng Thi Sách khởi binh đánh phá châu quận”. Như vậy, chính sách cai trị thắt buộc, tàn bạo của nhà Đông Hán mà đại diện là thái thú Tô Đình đã thôi thúc Trưng Trắc cùng Thi Sách họp mưu tính kế nổi dậy kháng Hán và được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Đặc biệt, Trưng Trắc được bà mẹ (tên truyền thuyết là Man Thiện, hết lòng cổ vũ giúp đỡ trong việc tổ chức lực lượng, giao thiệp với các quan lang, phụ đạo, thủ lĩnh trong các vùng xung quanh, động viên và chiêu mộ nghĩa binh cùng dân chúng tham gia khởi nghĩa (2).  
Theo truyền thuyết và sử cũ, hành vi tàn bạo của Tô Định, giết chết Thi Sách đã không làm Trưng Trắc nản chí, mà trái lại càng làm cho bà cùng em gái là Trưng Nhị thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp xưa của các vua Hùng (3).

Cuộc khởi nghĩa nổ ra từ cửa sông Hát (tức Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Tây). Theo truyền thuyết dân gian và thần tích đền Hát Môn - đền thờ chính Hai Bà Trưng - nơi đây hai bà đã dựng một điện thờ trước khi nổi dậy. Trước hàng quân cùng đông đảo dân chúng Mê Linh,Trưng Trắc đã long trọng đọc lời thề đánh giặc:

Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bôn xin vẻn vẹn sở công lênh này!
                                                                                               
                                                                                       (Thiên Nam ngữ lục)
Cuộc khởi nghĩa bùng nổ vào mùa xuân năm 40. Sách Hậu Hán thư chép: “Mùa xuân, tháng hai, niên hiệu Kiến Vũ thứ 16” (4).  Có lẽ việc chọn thời điểm phát động khởi nghĩa không phải là ngẫu nhiên. Mùa xuân, đặc biệt là tháng hai, là mùa sôi sục từ núi rừng thượng du đến châu thổ hạ du, không khí của những lễ hội nông nghiệp truyền thống hằng năm của người Việt.
 
Đó là mùa sinh hoạt cộng đồng của các làng chạ cổ xưa và trong không khí náo nức, rộn ràng mà nghiêm trang kỳ vĩ của mùa xuân ấy, những người Việt cổ làm nghề nông thường hội họp để bàn bạc, quyết định những việc lớn hệ trọng trên chu kỳ đời sống của mình, trong cả một năm mới. Chọn thời điểm khởi nghĩa vào dịp hội xuân, mùa trai gái giao duyên họp bạn, là chọn lựa một nhân tố bất ngờ về thời gian, kẻ địch bị bất ngờ, không phòng bị trước mà dân gian thì dễ dàng tập hợp lực lượng.
 
Vì thế khởi nghĩa Hát Môn đã có tiếng vang lớn, dễ dàng và nhanh chóng truyền lan khắp các địa phương với không khí hừng hực sôi sục của mùa xuân trong lòng người cũng như ở ngoài đất trời.  Chính nghĩa được nêu ra sáng rõ trong Lời thề sông Hát.  Trưng Trắc tự xem mình là dòng dõi vua Hùng và tự đặt cho mình nhiệm vụ khôi phục sự nghiệp xưa của vua Hùng. Đó là nền tảng tư tưởng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng; đó cũng là nền tảng của truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt ngàn năm chống Bắc thuộc mở đầu bằng cuộc nổi dậy từ sông Hát.


(1).  Trong công trình nghiên cứu của Taylor: Sự ra đời của nhà nước Việt Nam viết về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã căn cứ vào các tài liệu lịch sử nhà Hán có nói khác rằng, Thi Sách không bị giết; cho rằng tên chồng của Trưng Trắc là Thi và là một tướng tham gia khởi nghĩa (?). Sách Thủv kinh chú cũng có ghi như vậy (?).
(2).  Theo truyền thuyết dân gian và thần tích miếu Mèn và đình Nam Nguyễn, mẹ của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị người làng Nam Nguyễn (huyện Ba Vì, Hà Tây). Ở đó nay còn mộ của bà gọi là Mả Dạ. Bà được coi là cháu chắt bên ngoại vua Hùng, goá chồng sớm, đảm đang nuôi dạy hai con gái trồng dâu nuôi tằm và mời thầy đến dạy võ nghệ.
(3).  Hậu Hán thư, q.1, hạ, t. 10a.
(4).  Hậu Hán thư, q.1, hạ, t.10a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:32:33 PM

Nội dung của Lời thề Trưng Trắc nồng đượm tính chất anh hùng, kết hợp giữa nợ nước và thù nhà, cái riêng tư không lấn át cái nghĩa lớn, lý nước tình nhà đều thấm sâu, trọn vẹn (1).

Từ Mê Linh, từ sông Hát, từ núi rừng Ba Vì, lời thề của nghĩa quân, của chủ tướng vang vọng, lan truyền. Nghĩa quân Hai Bà Trưng, được dân chúng khắp vùng hưởng ứng, cả gái cả trai ào ào xuất trận. Quân đi tới đâu như gió lướt tới đấy:

Ngàn Tây nổi áng phong trần
ầm ầm binh mã xuồng gần Long Biên

                                                                                               (Đại Nam quốc sử diễn ca)
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng được nhiều người yêu nước, nhiều đội quân khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa, được sự hưởng ứng của cả Lạc tướng, Lạc dân toàn lưu vực sông Hồng (quận Giao Chỉ).
 
Người Việt xưa có cách ghi nhớ các sự kiện lịch sử theo lối riêng: Họ đã dựng đền thờ các nhân vật  lịch sử để ghi công lao của các anh hùng có công với nước.  Khắp lãnh thổ Âu Lạc xưa, trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Bộ, có hàng trăm đình đền được dựng lên từ xa xưa để thờ phụng, tưởng nhớ các nữ tướng trẻ anh hùng tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Riêng ở Phú Thọ và Vĩnh Yên đã có 85 đền thờ, Hà Nội có 24 đền thờ, Hà Tây có 41 đền thờ hai bà và các tướng. . .

Gắn với những di tích đó là một kho tàng truyền thuyết, một loạt tín ngưởng, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá dân gian ca ngợi những anh hùng chống ngoại xâm. Cũng cần nhận rõ rằng, trong xã hội người Việt bấy giờ còn mang nặng cơ cấu cổ truyền, trong một thời gian dài sau đó vai trò và địa vị của phụ nữ trong sản xuất, trong sinh hoạt xã hội còn rất cao. Trong dân gian vẫn có thói quen Tôn trọng phụ nữ, đánh giá cao vai trò của họ trong chiến đấu giữ nước.
 
Vì vậy, không những khi hai bà còn cầm quân xướng nghĩa, nơi nơi đều hưởng ứng mà trong số các tướng quân của hai bà có rất nhiều nữ tướng. Trong Bộ chỉ huy cũng như đội ngũ nghĩa quân đông đảo có đủ mặt các lớp người trong xã hội, trong đó nổi bật lên vai trò quan trọng của phụ nữ với truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Dưới trướng của hai bà có rất nhiều nữ tướng.
 
Kết quả điều tra một số địa phương cho thấy số tướng nữ thường chiếm tỷ lệ khoảng từ một phần ba đến một nửa. Trong số 69 tướng của hai bà ở hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc có 32 tướng nữ. Hà Nội có 7 tướng nữ, trong số 23 . Hà Tây có 9 tướng nữ trong số 40. Họ hầu hết là những cô gái mười sáu đôi mươi, đầy hăng hái, nhiệt tình và yêu nước.

Bên cạnh đó, cũng rất nhiều tướng nam, từ trẻ đến già.  Những vị đó luôn gắn liền với từng địa phương, hoặc là thành hoàng thờ trong đình làng, hoặc là những vị thẩn thờ trong đền miếu . . . , tất cả đều được nêu tên với tấm lòng ngưỡng mộ, kính trọng trong nhân gian đã trải bao đời (2).  Đây là những sự kiện văn hoá dân gian, nhưng có lẽ nó vẫn có một cái nền lịch sử, và đã phát sáng rực rỡ từ buổi đầu công nguyên đến hàng ngàn năm sau đó.


(1).  Đây là một ngôn từ muộn mằn hơn ngàn năm sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng nên chứng Tôi nêu lên một giả thiết như vậy, e rằng nó khó phản ánh thật sự tâm tư người Việt thời đầu công nguyên.
(2).  Xin tham khảo thêm:
Lưu Quốc Hùng: Một sô di tích còn lại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Luận văn tốt nghiệp Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1972.
- Nguyễn Thị Minh Hiển: Tính nhân dân của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Luận văn tốt nghiệp Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1972.
- Nguyễn Ngọc Chương: Bước đầu giới thiệu một số nguồn tư liệu xung quanh di tích lịch sử thuộc cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 146, 10-1972.
- Danh sách các nơi thờ Hai Bà Trưng và tướng của Hai Bà Trưng, tư liệu của Chi hội Văn nghệ dân gian Vĩnh Phú, lập ngày 6-7’1972. Theo thống kê trong 15 huyện, có 51 xã thờ 62 tướng (trong đó có 32 nữ tướng) và 21 tì tướng (trong đó có 10 tì tướng nữ người Mường).
Vũ Tuấn Sán: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tại thủ đô Hà Nội (qua một số di tích lịch sử), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 149, tháng 3 và 4-1973. Trong 24 địa điểm lịch sử ở nội ngoại thành có liên quan đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng có 23 tướng (trong đó có 7 tướng nữ) được thờ phụng.
Hoàng Hữu Lượng: Vấn đề chiến trường Lãng Bạc và cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, Luận văn tốt nghiệp Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1982. Hai cụm các đền thờ nam tướng.  nữ tướng của Hai Bà Trưng tập trung ở vùng Gia Lương, Bắc Ninh:
1. Vùng sông Lục Đầu ở cửa sông Đống - bờ nam sông Đống, bờ tây sông Lục Đầu (tác giả ghi đây là chiến trường Lãng Bạc?);
2.Vùng núi Thiên Thai, một điểm chốt quan trọng của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:33:30 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/HaiBaTrung2.jpg?t=1230379839)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:35:56 PM

Tham gia cuộc nổi dậy toàn dân đó có đủ mọi thành phần tộc người và thành phần xã hội trên lãnh thổ nước ta lúc bấy giờ. ‘Người Man Lý” là tất cả các thành phần dân tộc ở miền xuôi và miền ngược, người Lạc Việt cũng như người Âu Việt, là toàn thể cư dân nước Âu Lạc thuở đó. Lạc tướng và Lạc dân, trai cũng như gái, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội đều tụ họp lại trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung của đất nước, của dân tộc.

Từ Mê Linh, từ Giao Chỉ, phong trào nổi dậy chống chế độ áp bức thống trị hà khắc của bọn quan lại Đông Hán lập tức được sự hưởng ứng của nhân dân các châu quận khác, được các Lạc tướng người Việt ở Nam Việt và cả Âu Lạc tham gia. Hậu Hán thư chép: “Đến năm (Kiến Vũ) thứ 16, người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái Trưng Nhị làm phản, đánh phá châu quận, Trưng Trắc là con gái Lạc tướng Mê Linh, là vợ Thi Sách người Chu Niên, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc phẫn nộ, vì thế mà làm phản. Do vậy, những người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng.  Gồm chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ còn giữ được thân mình mà thôi” (1).

 Nhân dân Tày, Nùng ở Việt Bắc, nhân dân Choang ở Quảng Tây (Trung Quốc) còn giữ nhiều kỷ niệm và truyền thuyết về Hai Bà Trưng. Ở phía nam hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc) còn có “miếu Bà Trắc”, thờ Trưng Trắc.  Theo Hậu Hán thư (quyển 54 và quyển 86), những người Man, người Lý, tức là các tộc Việt ở phương Nam ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa toàn dân rộng lớn này để lại biết bao tấm gương cảm động. Nhiều gia đình hầu như cả nhà cùng đánh giặc: ba mẹ con bà Man Thiện, năm mẹ con bà Lê Thị Hoa (Thanh Hoá), vợ chồng Phương Dung - Đào Kỳ (Hà Nội), hai chị em Nguyệt Thai - Nguyệt Độ (Nam Định), ba anh em họ Đào (Hà Nội), v.v.. Tình cảm “nước mất nhà tan”, “tình làng nghĩa nước” đã được dấy lên, bắt đầu từ các làng chạ toả lan cả nước. Có tác giả gọi đây là “chủ nghĩa yêu nước xóm làng”.

Tư liệu lịch sử hạn chế không cho phép hiểu biết toàn diện cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chúng ta chỉ có thể hình dung diễn biến của phong trào này như sau:

Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Mê Linh (Giao Chỉ). Bắt đầu là đánh phá đô uý trị của giặc ở đây. Tiếp đó, hai bà tiến quân xuống miền đông, vùng Tây Vu (Cổ Loa) . Nghĩa quân đánh chiếm và nghỉ tại Cổ Loa. Từ Cổ Loa, nghĩa quân vượt sông Hoàng, sông Đống, xuôi sông Dâu đánh chiếm Luy Lâu (Liên lâu - Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh) là châu trị và quận trị Giao Chỉ, là thủ phủ của chính quyền đô hộ. Đây là vị trí quan trọng nhất của chính quyền nhà Đông Hán ở phương Nam. Đòn tiến công chiến lược vào cơ quan đầu não ở Luy Lâu khiến quân giặc choáng váng. Cả bộ máy chính quyền đô hộ xây dựng trên 200 năm, qua mấy triều đại phong kiến nước ngoài rung chuyển và sụp đổ từng mảng.

Trước khí thế ngút trời của phong trào quần chúng nổi dậy, bọn đầu sỏ địch hết sức hoảng sợ, không kịp và không dám chống cự, bỏ lại của cải, giấy tờ, ấn tín chạy tháo thân về phương Bắc. Bản thân thái thú Tô Định phải cắt tóc, cạo râu mới thoát chết, sống sót lẻn trốn về Nam Hải (Quảng Đông).  Sách Hậu Hán thư nói rằng, thái thú tháo chạy “chỉ kịp giữ lấy thân mình” mà thôi. Sau này, Mã Viện dâng sớ tâu lên vua Hán tố cáo Tô Định tham lam hèn nhát: “Thấy tiền thì giương mắt lên, thấy địch thì cụp mắt xuống”, vì thế Tô Định đã bị vua Đông Hán hạ ngục trị tội.

Giải phóng toàn bộ Giao Chỉ, uy tín của Hai Bà Trưng lên cao, Lạc tướng và nhân dân ở các quận huyện khác đều đứng lên chống Hán. Nhân dân khắp các vùng ở Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm và Hợp Phố, kẻ trước người sau theo thủ lĩnh địa phương nổi dậy đập tan chính quyền đô hộ Hán ở cấp quận, huyện. Các thủ lĩnh địa phương, các Lạc tướng đều tuyên bố theo phục Hai Bà Trưng. Sử chép, Trưng Trắc “công phá châu quận, hàng phục được các Lạc tướng, họ đều suy Tôn Trắc làm vua” (Thuỷ kinh chú).

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã thắng lợi hoàn toàn.  Cả một vùng lãnh thổ rộng lớn của người Việt từ Quảng Đông, Quảng Tây, có thể đến tận Quảng Nam, bao gồm 65 huyện thành đã được giải phóng. Đó là kết quả của sự thức tỉnh dân tộc, là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm lúc công khai của người Việt cổ. Đó là thắng lợi của phong trào nổi dậy của toàn dân dưới sự lãnh đạo của hai vị nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị. Trưng Trắc được Tôn làm vua chứng tỏ uy tín và tài năng của bà. Đấy là nét son của truyền thống phụ nữ Việt Nam.

Cuộc khởi nghĩa nói trên là sự bùng nổ tất yếu của một tinh thần, một ý thức mong muốn một lối sống khác, một nền văn hoá khác Hoa Hạ đã phát triển của nhân dân ta trước một thử thách lớn lao của lịch sử. Nhân dân ta nhất tề vùng dậy chiến đấu một mất một còn với kẻ thù không phải do phản ứng tự phát có tính chất bản năng khi cuộc sững vật chất bị chà đạp, mà với ý thức sâu sắc quyết giữ gìn văn hoá Việt quyết “đem lại nghiệp xưa họ Hùng” như Lời thề sông Hát đã khẳng định. Đó là một bước phát triển sớm của lịch sử văn hoá tộc người, chứng tỏ sự cố kết cộng đồng trên một nền tảng văn hoá thống nhất của cả một thời đại hàng trăm, hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước trước đó đã tạo lập nên.


(1).  Hậu Hán thư nói là lấy được 65 thành. Đây không phải là thành luỹ của quân đội và chính quyền thống trị. Đời Đông Hán, mỗi huyện có một thành: Giao Chỉ 12 thành, Cửu Chân 5 thành, Nhật Nam 5 thành, Hợp Phố 5 thành, Nam Hải 7 thành, Thương Ngô 11 thành, Uất Lâm 11 thành. Tổng cộng gồm 56 thành. Song ở thời Trưng Trắc số thành đó còn ít hơn; về sau, khi Mã Viện đàn áp được phong trào Trưng Vương, đi đến đâu y còn xây thành cho các huyện đó: điều ghi chép trên chứng tỏ phong trào Hai Bà Trưng toả rộng và thắng lợi rực rỡ.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:39:01 PM

2. Sự thành lập chính quyền tự chủ Trưng Vương

Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa địa phương đã phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng và nhanh chóng giành được thắng lợi. Các cuộc khởi nghĩa địa phương đã hoà nhập với nhau tạo thành một phong trào nổi dậy rộng lớn của quần chúng các thành phần Việt tộc ở phương Nam, đánh phá và lật đổ chính quyền đô hộ của đế chế Hán trên một vùng rộng lớn, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc cũ.

Sách Thuỷ kinh chú cũng chép: “Con trai Lạc tướng Chu Diên tên là Thi (Sách) lấy con gái Lạc tướng Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có can đảm dũng lược, cùng Thi khởi binh, đánh phá châu quận, hàng phục được các Lạc tướng; đều suy Tôn Trắc làm vua, đóng ở huyện Mê Linh, tha thuế hai năm cho dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân” (1).

Sự nổi dậy đồng loạt trong cuộc khởi nghĩa và chiến tranh do Hai Bà Trưng lãnh đạo phản ánh bước phát triển của tinh thần dân tộc của người Việt cổ, thể hiện sự thức tỉnh ý thức sống riêng theo lối riêng của các Lạc tướng và Lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ. Các Lạc tướng cùng con cái họ (tức là tầng lớp quý tộc Âu Lạc) và đại biểu của phong trào đã cùng nhau suy Tôn Trưng Trắc làm vua (Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh, giữa hai dãy núi hùng vĩ Ba Vì - Tam Đảo với sông Cái (Nhị hà) chảy ở trung tâm.

Đô Kỳ đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta!

                                                                                                 (Đại Nam quốc sử diễn ca)

Kinh đô mới đóng tại Mê Linh, nghĩa là ở khu vực thuộc quyền cai trị trực tiếp của Hai Bà Trưng. Điều đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng toả rộng và thành công ở trên 65 huyện thành, trong các vùng, không chỉ ở Giao Chỉ, Cửu Chân mà cả ở Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm, tức là từ Quảng Đông, Quảng Tây đến tận Quảng Nam ngày nay, chính quyền đô hộ ở các quận huyện đều tan rã, các Lạc tướng Âu quân đều suy Tôn Trưng Trắc làm vua; thế nhưng Trưng Vương chỉ cai quản hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là chỉ trên lãnh thổ Âu Lạc cũ vốn là một liên minh các thủ lĩnh vùng miền Âu Việt - Lạc Việt.
 
Điều đó chứng tỏ kết cấu Âu Lạc là khá vững chắc trải qua nhiều thử thách gian nan của lịch sử, tinh thần cộng đồng của cư dân Âu Lạc là bền chặt, không chỉ trước đây, trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, mà cả mãi về sau cũng vậy.
 
Phong trào khởi nghĩa thành công, nhân dân suy Tôn Trưng Vương nắm quyền quản lý và lãnh đạo quốc gia độc lập Nhân dân Âu Lạc đã làm chủ vận mệnh đất nước, mong muốn đi theo một lối sống riêng của mình khác Hán. Đó là một niềm tự hào to lớn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết:

“Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương”.  Sử gia Lê Văn Hưu cũng nói: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương vậy” (2).

 Hai Bà Trưng và hàng chục, hàng trăm nữ tướng, cả một đội ngũ đông đảo phụ nữ Việt Nam tham gia phong trào kháng Hán, góp phần tạo dựng truyền thống anh hùng bất khuất cho giới mình và cho cả dân tộc mình. Đó là một nét văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đang được hình thành và phát triển trong lịch sử. Đó cũng là một biểu tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại.


(1).  Thủy kinh chú. Đoạn này Lịch Đạo Nguyên dẫn Giao châu ngoại vực ký để nói về huyện Mê Linh. Có ván bản chép là: “xá thuế” (tha thuê), cũng có văn bản chép là thu thuế được hai năm (?).  
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T. I, tr. 157.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 07:44:21 PM
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng vì vậy, trở thành một trang sử bất hủ của Việt Nam vào đầu công nguyên.  Sau hơn hai thế kỷ bị phong kiến phương Bắc đô hộ từ 179 TCN đến năm 40), nhân dân Âu Lạc đã giành lại độc lập, được sống trong tự do và làm chủ đất nước mình. Chính quyền Trưng Vương thành lập. “Cung điện” được xây dựng ở kinh đô Mê Linh (Vĩnh Phúc) (1).  

Chính quyền Trưng Vương là  mầm mống đầu tiên của một chính quyền tự chủ, dựng lên trong quá trình đấu tranh chống ách thống trị của phong kiến Trung Hoa, trên cơ sở thắng lợi của phong trào dân chúng. Sử sách không cho ta rõ trong giai đoạn này Trưng Vương đã làm được những việc gì. Tuy nhiên, trong thời gian đó, các Lạc tướng vẫn cai quản nhân dân dưới quyền mình như cũ và toàn thể các Lạc tướng cũng phục tùng Trưng Vương.

Nếu như theo một số văn bản của Thuỷ kinh chú, Trưng Vương xá thuế hai năm cho nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân thì Trưng Vương đã thực sự dựa vào dân để khôi phục lại sự nghiệp xưa của vua Hùng, vua Thục sau một thời kỳ dài bị bọn phong kiến ngoại bang Nô dịch và đồng hoá.

Thắng lợi to lớn của cuộc khởi nghĩa, việt Trưng Trắc xưng vương cùng với những chính sách của chính quyền mới là sự phủ định hiên ngang dối với những chính sách đồng hoá của chế độ đô hộ “Thiên triều’, đối với cái quyền uy “bình thiên hạ” của đế chế Hán.
 
Âu Lạc từ khi Triệu Đà thôn tính, bị sáp nhập vào lãnh thổ Nam Việt. Khi nhà Hán thống nhất Trung Quốc, chinh phục Nam Việt thì Âu Lạc bị chung số phận với các tộc Việt ở phương Nam. Sự phục tùng của các tộc “man di”, của các “phiên bang” đối với “Thiên tử” nhà Hán được người Hán coi là một việc dĩ nhiên. Bọn thống trị Hán tộc ra sức truyền bá tư tưởng “Tôn quân đại thống nhất’ nhằm mục tiêu làm cho các dân tộc ở vùng xa phải phục tùng “Thiên tử” và “Thiên triều’. Điều đó tưởng chừng như không ai dám làm trái lại?  Hai Bà Trưng đứng lên chống lại, đánh đuổi bọn thống trị Hán tộc. làm chủ cả cõi Nam. Đó là một sự kiện gây chấn động hết sức lớn.

Từ ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt này, toả ra một chân lý lịch sử: Một dân tộc dù nhỏ nhưng tự mình đã dựng lên và làm chủ đất nước và số phận mình, là bất khuất và bất diệt. Nó có thể tạm thời bị thất bại, nhưng không một sức mạnh nào có thể tiêu diệt được nó.

Theo truyền thuyết dân gian, sau khi lên ngôi vua, Trưng Vương đã sai Thánh Thiên chỉ huy quân đội đề phòng mạn bắc, Đô Dương trấn giữ Cửu Chân đề phòng phía nam.  Bà Lê Chân được giao trọng trách “chưởng quản binh quyền nội bộ”, đóng bản doanh ở trung tâm Giao Chỉ. Truyền thuyết đó phản ánh một sự thật lịch sử là Trưng Vương đã có kế hoạch để bảo vệ vương quyền và bảo vệ nền độc lập của đất nước mới giành lại được.

Trên thực tế, Hai Bà Trưng đã xây dựng và giữ vững quyền tự chủ được ba năm, đó là thành quả tạm thời đầu tiên của cuộc chiến đấu chống xâm lược và xây dựng đất nước của nhân dân Âu Lạc sau bao năm mất nước, là thành quả rực rỡ đủ nói lên sức mạnh nổi dậy toàn dân và ý chí tự chủ của nhân dân cả nước.

III. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC
ĐÔNG HÁN (42 - 44). SỰ THẤT BẠI CỦA TRƯNG VƯƠNG

1. Cuộc tiến binh của phục ba tướng quân Mã Viện.

Trong thời gian Trưng Trắc khởi nghĩa, xưng vương ở phương Nam, thì ở phương Bắc, nhà Đông Hán dưới triều vua Hán Quang Vũ đang phải lo đối phó với một số biến cố ở Trung Nguyên. Năm 39, Quang Vũ Đế hạ lệnh cho các châu, quận đo ruộng đất nhằm tăng số thu về thuế, thực hiện quân bình mức thuế để phần nào đó xoa dịu bớt những mâu thuẫn xã hội. Bọn quan liêu - địa chủ ở các địa phương cấu kết với thái thú, thứ sử, gian dối trong việc đo đạc ruộng nương, dồn gánh nặng thuế má xuống vai nông dân, đến nỗi ‘trăm họ ta oán, đón đường kêu than” (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện).
 
Năm 40, các “họ lớn” và binh lính nổi dậy khắp nơi, nhất là ở bốn châu Thanh, Từ, U, Ký (vùng Sơn Đông, Hà Bắc) (2).   Quang Vũ Đế phải điều động bọn quan lại địa phương đem quân đàn áp và dùng chính sách dụ lợi để phân hoá, giết thủ lĩnh, dời dân sang quận khác.


(1).  Về vị trí kinh đô Mê Linh hiện nay còn tồn tại hai ý kiến: ý kiến thứ nhất cho rằng Mê Linh ở vùng Hạ Lôi (thuộc Yên Lãng, Vĩnh Phúc); ý kiến thứ hai cho rằng Mê Linh ở gần chân núi Ba Vì (Hà Tây). Xem thêm Đinh Văn Nhật trong các bài: Huyện Mê Linh về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 172 (1977); Đất Mê Linh, trung tâm chính trị, quân sự... Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 196 và 191 (1980); Huyện Mê Linh qua thư tịch cổ, Tạp chí nghiên cứu lịch sù, số20 (1982); Thành cổ mê Linh..., Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 224 (1985). Theo Tôi lãnh địa Mê Linh trải dài từ Tản Viên tới Tam Đảo, là vùng đỉnh đầu tiên của tam giác châu sông Nhị - Hồng (TQV chú).   
(2).  Hậu Hán thư, q.1, hạ, t.10a; Hậu Hán kỷ, q.7, t.12q.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 08:00:50 PM
Mùa thu năm 41, nông dân Hoãn Thành (An Huy) do Lý Quảng cầm đầu đã nổi dậy chiếm được thành. Đầu năm 42, miền Thục quận cũng có loạn. ở Ích Châu (Vân Nam), các dân tộc tây nam di cũng nổi dậy khởi nghĩa và sang năm 43, cướp được quận thành.

 Chính vì vậy, nhà Hán đã không thể phát quân đàn áp ngay cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng để chinh phục lại miền Âu Lạc.  Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã gây nên chấn động lớn, khiến triều đình Hán Quang Vũ rất lo lắng và đã tìm cách để đối phó. Vua Hán ra lệnh sửa soạn thật kỹ cho cuộc xâm lược mới ở phương Nam. Hậu Hán thư chép: “Quang Vũ Đế hạ chiếu cho các quận Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ sắm sửa xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông miền khe núi, trữ sẵn thóc gạo” (1).

Điều ghi chép trên có mâu thuẫn, bởi Giao Chỉ và Hợp Phố đều đã được giải phóng, song qua đó cũng thấy được sự chuẩn bị của nhà Hán; có thể Hán Quang Vũ ra lệnh cho các thái thú còn sống sót làm việc đó.

Mùa hạ tháng tư năm Kiến Vũ thứ 18, tức năm 42, Hán Quang Vũ đưa tỉ thư, phong Mã Viện làm phục ba tướng quân, thống suất quân sĩ sang xâm lược đất nước của Trưng Vương. Đó cũng là danh hiệu mà Hán Vũ Đế, năm 112 TCN, đã phong cho Lộ Bác Đức đi chinh phục Nam Việt.

Mã Viện lúc này đã 58 tuổi, là một viên lão tướng có tài quân sự, đã từng đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa của người Thương (Tạng-Miến) và bàn tay y đang còn nhuốm máu nông dân Trung Quốc ở Hoãn Thành.

Phiêu kỵ tướng quân Đoàn Chí, kẻ đã cùng Mã Viện chém giết Lý Quảng và nông dân Hoãn Thành, được phong làm lâu thuyền tướng quân, cùng Mã Viện chỉ huy thuỷ quân Hán tiến sang Giao Chỉ.

Thái thú Nam Quận (Hồ Bắc) Lưu Long được cử làm trung lang tướng, tước phù lạc hương hầu làm phó tướng cho Mã Viện trong cuộc nam chinh. Ngoài ra còn nhiều tướng khác, trong đó có bình lạc hầu Hàn Vũ (2).

Số quân mà nhà Đông Hán huy động tham gia cuộc viễn chinh tái chiếm Âu Lạc là bao nhiêu? Cho đến nay chúng ta chưa biết được số liệu chính xác. Theo Hậu Hán thư, quân lính Mã Viện gồm hơn một vạn người, lấy từ các quận Trường Sa, Linh Lăng (Hồ Nam), Quế Dương, Thương Ngô - (bắc và đông Quảng Tây). Nhưng theo lời tâu của Mã Viện (tháng chín năm Kiến Vũ thứ 19, tức năm 43) lên Quang Vũ Đế, dẫn theo sách Thuỷ kinh chú của Lịch Đạo Nguyên thì Mã Viện đã cùng 12.000 quân tinh nhuệ của Giao Chỉ, hợp với đại binh là 20.000 người, thuyền xe lớn nhỏ 2.000 chiếc” (3).
 
Thế nghĩa là Mã Viện đã chuyển quân ở Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương và Thương Ngô làm đại binh, xuất phát từ Hồ Nam xuống Quảng Tây, Quảng Đông và ở đây Mã Viện lấy thêm 12.000 tinh binh Giao Chỉ nữa (số quân này có thể tuyển từ các quận phía bắc Giao Chỉ (như Thương Ngô chẳng hạn).
 
Như vậy là, trong tay Mã Viện và các tướng Đông Hán có 20.000 quân chủ lực, 2.000 thuyền xe, ngoài ra hẳn còn một số lượng lớn lính chèo thuyền và phu chiến đi theo để tải lương và phục dịch lính chiến.

Trước kia, nhà Tây Hán huy động 10 vạn quân do phục ba tướng quân Lộ Bác Đức chỉ huy chinh phục Nam Việt, trong số đó có cả quân lâu thuyền, những người Việt đầu hàng Hán và các tội nhân. Lần này, Đông Hán tiến đánh Giao Chỉ chỉ thấy nói đến nhà Hán điều quân lâu thuyền, các quân chủ lực thuỷ bộ, chứ không thấy tài liệu nói đến các tạp quân như trước.

Hai cánh quân thuỷ và bộ của Đông Hán từ phía bắc tiến xuống tập kết ở Hợp Phố để chuẩn bị, cùng tiến vào Giao Chỉ.  Nhưng vừa đến nơi thì lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí bị bệnh chết, do đó vua Hán đã hạ chiếu cho Mã Viện thống suất luôn cả thuỷ quân của Đoàn Chí.
 
Thuyền ít, không đủ chở cả đại quân vượt biển. Mã Viện phải tổ chức hành quân cả theo đường bộ và đường thuỷ, vừa dùng thuyền đi đường biển vừa đi theo đường núi ven biển, men núi, phát cây rừng mở đường hơn ngàn dặm. Sách Hậu Hán kỷ chép: “Viện phải vượt biển vào Giao Chỉ thuyền ít, không đủ vượt biển, theo núi mở đường hơn ngàn dặm” (4).

Như thế, quân Đông Hán đã tiến vào Âu Lạc theo hướng đông bắc, trục đường đi của những là ven theo bờ biển, cả đường bộ và đường thuỷ cách nhau không xa lắm để hai cánh quân có thể thường xuyên liên hệ, phối hợp với nhau. Từ vùng biển Bái Tử Long và Hạ Long, Mã Viện tất đưa quân thuỷ, bộ của mình ngược sông Bạch Đằng tới sông Lục Đầu rồi tiến sâu vào nội địa Giao Chỉ (5).


(1).  Hậu Hán thư, Nam man truyện, q.116, t.6a.   
(2).  Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, q.52, t.8a.
(3).Thủy kinh chú, q.37, t.7a.
(4).  Hậu Hán kỷ,  7, T. 12a.   
(5).  Từ sông Lục Đầu, quân thủy của Mã Viện có thể ngược sông Thiên Đức để vào vùng châu thổ Bắc Bộ. Cũng ở bờ tây sông Lục Đầu có con đường cổ - nay là đường liên tỉnh 182 - chạy thẳng về Luy lâu, thủ phủ Giao châu (Thuận Thành, Bắc Ninh). Ở Luy lâu có dòng sông dâu chảy ngang, nối hến với sông Thiên Đức. Con đường đó tương truyền là “Đường quân xâm lược”. Quân bộ của Mã Viện có thể theo đường này tiến đến Luy lâu.  cả bộ và thuỷ từ Mê Linh đến Luy Lâu.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 08:03:37 PM
2. Trận Tây Vu

Sử sách không ghi chép cụ thể về trận Tây Vu. Trên thực tế đã diễn ra cuộc chiến đấu của quân đội của Trưng Vương với quân xâm lược Đông Hán do Mã Viện chỉ huy trên địa bàn huyện Tây Vu mà Cổ Loa - thành cổ của An Dương Vương là trung tâm.

Theo Hậu Hán thư, Cổ Loa thuộc huyện Tây Vu, quận Giao Chỉ. Dân số Tây Vu gần bằng số hộ của cả quận Cửu Chân. Vùng Tây Vu nói chung và Cổ Loa nói riêng có một vị trí khá đặc biệt trong khu vực châu thổ sông Hồng. Các nhà địa lý học phân tam giác sông Hồng thành ba vùng: vùng cao, vùng giữa và vùng thấp, thì Cổ Loa nằm trong vùng “đất cao Tây Bắc”.
 
Cổ Loa cách đỉnh tam giác châu Việt Trì 35km, cách biển khoảng 65 km, sườn đông của núi Tam Đảo chỉ cách Cổ Loa 18km. Quanh Cổ Loa có một hệ thống sông ngòi chằng chịt, nối liền với hai dòng sông lớn nhất của châu thổ là sông Hồng và sông Đống. Cổ Loa nằm trên trục đường cổ.
 
Thời An Dương Vương cũng như những thế kỷ sau đó, Cổ Loa nói riêng Tây Vu nói chung là một vị trí có ý nghĩa quân sự quan trọng.  Chính vì thế, trong cuộc tiến binh đánh Trưng Vương, Mã Viện tất phải hành quân qua Tây Vu và đã có cuộc đụng độ với quân đội của Trưng Vương trấn giữ ở đây.

Năm 40, trên đường kéo quân từ Mê Linh xuống Luy Lâu để đuổi đánh Tô Định, Hai Bà Trưng đã ghé qua thành Chủ (khu vực Cổ Loa) và nghỉ ở đó một đêm. Đến năm 42, khi phục ba tướng quân Mã Viện thống lĩnh quân đội sang đánh Trưng Vương, thì thành Chủ trở thành một căn cứ chống giặc, nơi quân của hai bà trấn giữ cản bước tiến của quân Đông Hán từ phía bắc tiến đến Mê Linh.

Ở quanh cổ Loa còn có nhiều đền thờ và thần tích ghi nhớ công lao đánh giặc của các tướng thời Trưng Vương, như làng Gia Lộc thờ Đông Bảng, làng Đại Vĩ thờ thần Thuý Hải và thần Đăng Giang. . . Truyền thuyết ở Gia Lộc, một làng ở đông bắc Cổ Loa (nay thuộc xã Việt Hùng, Đông Anh) có kể rằng, tại Gia Lộc có một đồn của nghĩa quân Hai Bà và là đồn ngoại vi Cổ Loa. Đông Bảng đã chỉ huy cuộc chiến đấu ở đây và hy sinh vào thời kỳ đầu khi quân Đông Hán tiến tới. “Ngày hoá” là mồng 10 tháng hai. Nếu đúng đó là ngày hy sinh của ông thì cũng vào khoảng nửa đầu tháng 3-42, ứng với thời gian Mã Viện đánh Tây Vu.
 
Hoặc như thần tích Đức Bà ở làng Dâu tức làng Cổ Chân (nay thuộc xã Vân Hà, Đông Anh, cũng ở phía đông bắc Cổ Loa) cho biết, Đức Bà tên là Vĩnh Huy cũng đã hy sinh ngay trên đất này trong một trận chiến đấu chống quân Mã Viện.

Theo Nam Việt Trưng nữ vương Trắc Nhị nhị ngọc phả cổ lục thì khi quân Mã Viện tiến sang, “nhận được tin báo cấp Trưng Vương cử tướng tuyển binh. Trên 30 danh tướng đã được phái đến các đạo ải quan cự chiến. . . Quân Hán thường thua, vừa chết trận vừa chết bệnh tới quá nửa, phải lùi về Giang Hán, dâng biểu lên vua Hán Quang Vũ cho thêm 15 vạn viện binh” và “Trưng Vương nghe tin quân Hán lại vào bờ cõi, vội cùng em là Bình Khôi công chúa thay đai giáp nam giới, cưỡi ngựa cầm gươm, hợp cùng các tướng tuỳ tòng 500 người cũng mặc áo quần nam giới và 1.000 tướng nam nghênh chiến. Qua vài tháng hai bên đánh dư 10 trận, không phân thắng bại”...
 
Nếu có yếu tố thực trong ngọc phả này thì điều đó cũng chứng tỏ, trước khi Mã Viện lui về Lãng Bạc đã có những trận giao chiến giữa quân của Trưng Vương và quân Đông Hán. Trong số đó có thể là trận Tây Vu - Cổ Loa.

Như vậy, có thể trước khi đến Lãng Bạc, Mã Viện đã tiến đánh huyện Tây Vu mà khi đó Cổ Loa là trung tâm, có thành trì kiên cố. Theo Thuỷ kinh chú (q.37): “Mã Viện thấy miền Lãng Bạc đất cao, bèn từ Tây Lý (tức Tây Vu) kéo quân đến đóng đồn ở đó”. Hậu Hán thư cũng ghi câu nói của Mã Viện rằng: “Lúc ta (tức Mã Viện) đang ở giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Tây Vu), quân giặc chưa dẹp yên...”.

Có thể Mã Viện từ phía bắc đến đã tiến thẳng đến Tây Vu và chính y chỉ huy cuộc tiến công đánh chiếm Cổ Loa, nhưng đã thất bại, vì theo Mã Viện thú nhận: “quân giặc chưa dẹp yên...”.

Đào Duy Anh trong sách Cổ đại Việt Nam, tập IV, cũng phán đoán: “Có lẽ Mã Viện nhằm thẳng tới Mê Linh, kinh đô của ta lúc bấy giờ, nhưng đến Tây Vu là căn cứ của An Dương Vương xưa kia và bấy giờ hẳn cũng là căn cứ dụng binh quan trọng của nghĩa quân hai bà, Mã Viện bắt đầu gặp sự kháng cự quyết liệt nên phải lui quân về Lãng Bạc” (trang 64) . 

Ý kiến đó là hợp lý, bởi vì như phần trên đã nói, sau khi đánh đuổi Tô Định, giành lại đất nước, Hai Bà Trưng rất quan tâm đến việc giữ nước, đề phòng quân Hán trở lại, do đó đã phân phong cho các tướng đi trấn giữ các vùng xung yếu Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, đất thánh của những chủ nhân xây Loa thành, chế nỏ Liên châu và những mũi tên đồng lợi hại, là một càn cứ quân sự thuỷ bộ rất kiên cố, kiểm soát cả một vùng rộng lớn, chắc chắn phải được hai bà chú ý và xây dựng thành một căn cứ chủ yếu trong kế hoạch phòng thủ Mê Linh ngay từ phía tả ngạn sông Hồng, sông Đống. 

Có thể coi trận Tây Vu, trận đánh phòng ngự ở Cổ Loa là một trận mở màn cho cuộc chiến mùa xuân năm 42 giữa quân đội của Trưng Vương với quân xâm lược Đông Hán. Sử sách không ghi chép, nhưng chắc chắn cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra rất ác liệt, quân hai bên đều tổn thất lớn. Ở trận này, Mã Viện bị thất bại, chịu bó tay sau một thời gian khá dài công phá. Rốt cuộc, quân Đông Hán đã phải rút sang Lãng Bạc. Lúc đó, vào khoảng tháng 4-42.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 08:09:34 PM
3. Trận Lãng Bạc

Mùa hạ năm 42, đại quân của Mã Viện tiến qua Long Biên và Tây Vu đến vùng Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa (1) .
 
Tây Vu là cả một vùng rộng lớn, có thể quân Hán đi qua miền Tiên Du đến Lãng Bạc. Lãng Bạc, nơi đóng quân của Mã Viện tất là nơi đất cao ở giữa Cổ Loa và Long Biên, có thể đó là vùng đồi phía nam thị trấn Từ Sơn ngày nay, khu vực Tam Sơn, Tiên Sơn, núi Bất Lự, núi Móng và núi Chè, tiếp giáp với vùng dồi núi Tiên Du (Lạn Khu, Bát Vạn, Long Khám, Vân Khám, đồi Lim...). Quanh đó là vùng đồng sâu, hồ nước mênh mông, với những cơn mơa mùa hè.
 
Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục chép: “Mã Viện theo đường biển tiến quân, qua núi đốn cây, đi hơn ngàn dặm đến Lãng Bạc, đánh nhau với quân Trưng Vương” .  Hậu Hán thư, Mã Viện truyện, cũng nói là Mã Viện tiến quân đến Lãng Bạc. Vậy, Lãng Bạc thuộc miền đất nào? Tác giả Lịch Đạo Nguyên trong sách Thuỷ kinh chú - sách đầu tiên nói về vị trí Lãng Bạc, cho rằng, con sông Nam (trong hai sông phía bắc xuất phát từ Mê Linh) sau chảy qua phía bắc huyện Phong Khê “lại chảy về đông qua Lãng Bạc. Mã Viện cho đấy đất cao, từ Tây Lý (Tây Vu - TG) tiến quân đến đóng đồn ở đó. Sông ấy lại chảy về đông, qua phía nam thành cũ huyện Long Uyên (Long Biên)” (q.37, t.6a).
 
Như thế, Lãng Bạc tiếp giáp với huyện Phong Khê, Tây Vu và Long Biên.  Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục đều chép nhầm Lãng Bạc là ở miền Hà Nội, tức là Hồ Tây ngày nay (2).

Năm 1918, trong chuyên đề nghiên cứu về cuộc viễn chinh của Mã Viện, H.Maspéro đã nhận định về vị trí Lãng Bạc: “Theo Thuỷ kinh chú, con sông chảy về phía đông qua Lãng Bạc, vì nơi đây đất cao, Mã Viện từ Tây Lý đến, bèn đóng ở đó: Lãng Bạc ở phía bắc của con sông ở phía  nam nhất của hai con sông phía bắc... của Giao Chỉ, giữa thành của An Dương Vương, tức Cổ Loa ở phía tây và Long Uyên, hơi quá về phía Bắc Ninh. Như vậy, chắc chắn, đó là đồi Tiên Sơn”.

Năm 1957, Đào Duy Anh trong luận văn Giai đoạn quá độ sang chêm độ phong kiên đã dẫn thêm sách Hậu Hán thư (q 96) như sau : . . . Theo lời Mã Viện về sau nói với thuộc hạ thì chúng ta biết rằng khi Mã Viện đang đóng quân “ở giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Tây Vu), quân giặc chưa dẹp yên, trời thì dưới nước lụt, trên mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thì thấy diều hâu đương bay bỗng rơi xuống nước chết”.

Đào Duy Anh cho rằng: “Theo ông H.Maspéro thì Lãng Bạc là miền núi Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Ông đã dựa vào sách Thuỷ kinh chú mà chỉ định Lãng Bạc ở nơi ấy Chúng tôi tán thành ý kiến của H.Maspéro” (3).
 
Năm 1964, trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh viết: “Thuỷ kinh chú nói rằng, trong khi đem quân đánh Trưng Trắc, Mã Viện thấy Lãng Bạc là đất cao, bèn từ Tây Vu lui quân đóng ở đây. Viện từ Tây Vu đến tất là đi theo con sông ấy (sông Cà Lồ - TG). Lãng Bạc hẳn là miền đồng sâu ở xung quanh huyện Từ Sơn ngày nay, xưa kia có lẽ còn sâu như hồ cho nên tên gọi như thế. Ở phía nam huyện lỵ Từ Sơn có nhiều đồi là miền cao ráo nhất trong cả vùng ấy, có lẽ Mã Viện đóng quân ở vùng đó” (4).


(1).  Theo Hậu Hán thư, Mã Viện truyện, thì từ “mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 18 (tức năm 42) quân) Mã Viện đến Lãng Bạc”. Có thể thời điểm này không chính xác vì mùa hè năm ấy (tháng 4) Mã Viện mới được Hán Quang Vũ phong chức phục ba tướng quân để đi đánh Giao Chỉ. Nam Man truyện và Đế kỷ (q.1, hạ) đều ghi chép mùa hạ tháng 4 năm Kiến Vũ thứ 19 (tức năm 43) Viện phá được Giao Chỉ. Theo sách Thuỷ kinh chú và Di vật chí, Trưng Trắc chạy về Kim Khê Cứu, 2-3 năm sau Mã Viện mới bắt được. Như vậy, có thể trận Lãng Bạc diễn ra vào mùa hè năm 43 và sau đó Hai Bà Trưng rút về Kim Khê Cứu (?).
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.156.
(3).  Dẫn và tham khảo Đinh Văn Nhật: Vùng Lãng Bạc về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 155 và 156, 1974.
(4).  Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964, tr.35-36.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 27 Tháng Mười Hai, 2008, 08:16:11 PM

Như vậy, căn cứ vào Thuỷ kinh chú, các ông H.Maspéro (1918) và Đào Duy Anh (1957 và  1964) đều thống nhất nhận định “các nơi đất cao vùng Lãng Bạc” mà Mã Viện đã đóng quân là các đồi thấp thuộc huyện Tiên Du, Bắc Ninh.

Đinh Văn Nhật, trong chuyên khảo Vùng Lãng Bạc về thời Hai Bà Trưng, sau khi vận dụng phương pháp khảo sát địa hình của khoa học địa lý vào việc nghiên cứu địa danh lịch sử, đã đưa ra kết luận: “Chúng Tôi đã bước đầu chứng minh rằng hồ Lãng Bạc từ xưa ở vào vùng hai bên bờ sông Cầu, ngang thị xã Bắc Ninh ngày nay và mô tả những nét lớn của vùng địa hình bậc thềm bao quanh vùng địa hình trũng Lãng Bạc (trong đó có hồ Lãng Bạc, tức vùng Bắc Ninh - Bắc Giang ngày nay.

Chúng Tôi gọi vùng bậc thềm này là vùng “bậc thềm Tây Vu” và “Các truyền thuyết dân gian, các thần tích các vị tướng của Hai Bà Trưng và các trang sử còn lại chỉ rõ rằng chiến trường Lãng Bạc gồm tới ba khu vực: một là vùng đồi thấp và bãi sông mà sau này ta gọi là vùng bãi Tiên Du; hai là vùng đồi thấp bậc thềm có tên là Lãng Sơn, nằm giữa ngã ba sông Thương, sông Lục Nam; ba là vùng bậc thềm Cổ Loa, nơi có thành luỹ kiên cố nhất của toàn khu phòng ngự Lãng Bạc; trận đánh có tính chất quyết định có lẽ đã xảy ra ở vùng Tiên Du” (1).  

Tác giả Đinh Văn Nhật cho Lãng Bạc là một vùng hồ rộng lớn nằm trên đất năm huyện giáp giới giữa Bắc Giang và Bắc Ninh với trung tâm là các vùng trũng Trung Đồng và Đẩu Hàn, quanh các địa danh Kiếp Bạc, Lãng Sơn, Lãng Ngâm, Yên Lãng, Phù Lãng.

Hoàng Hữu Lượng, trong Vấn đề chiến trường Lãng Bạc và cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng (Luận văn tốt nghiệp Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1982) cho rằng, Lãng Bạc là vùng Lục Đầu Giang ở cửa sông Đống. Từ đó đến núi Thiên Thai có nhiều đền thờ Hai Bà Trưng và các tướng, có huyền tích về “bãi xác giặc Mã Viện”.

Những ý kiến trên tuy có khác nhau về việc xác định vị trí Lãng Bạc, nhưng đều có điểm chung giống nhau rằng, phục ba tướng quân Mã Viện đã tiến quân đến Lãng Bạc và đóng trên một miền đất cao ở gần Tây Vu (Cổ Loa), có thể là miền đồi núi Tiên Du, Bắc Ninh. Đó là một vị trí chiến lược nằm trên trục đường tiến công của Mã Viện.
 
Như trên đã nói, đạo quân xâm lược của Mã Viện là một đạo quân rất mạnh, gồm cả thuỷ binh và bộ binh đông tới 20.000 người và 2.000 chiến thuyền. Đó là chưa kể đến số phu chiến, những người lính hậu cần, chèo thuyền, v.v..  Quân bộ của giặc đi đến đâu thì ngay sau đó các chiến thuyền cùng đến. Khi binh thuyền nhà Hán tập kết ở hồ Lãng Bạc thì số binh cả thuỷ và bộ đã đóng trại quân ở những khu đất cao. Và, bản doanh của chủ tướng Mã Viện cũng là một vị trí trung tâm để Mã Viện dễ dàng nắm, chỉ huy toàn bộ cả quân thuỷ và quân bộ đóng ở vùng Lãng Bạc, đặc biệt là đối với thuỷ quân.

Ở cửa sông Bạch Đằng và dọc sông Kinh Thầy, ở Lục Đầu Giang và dọc bờ nam sông Đồng đều có di tích đền thờ và huyền tích về việc các tướng của Hai Bà Trưng chống trả quân Mã Viện. Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi quân Hán xâm phạm lãnh thổ Âu Lạc, các tướng của Trưng Vương đã tích cực đánh chặn làm chậm bước tiến của quân giặc.
 
Hai Bà Trưng (sách Hậu Hán thư chỉ chép Trưng Nhị) đã tiến quân từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc để đánh quân Hán, nhằm chặn đánh từ xa bảo vệ quốc đô Mê Linh.  Một trận chiến đấu rất ác liệt, có tính chất quyết định của toàn bộ cuộc chiến đã diễn ra vào mùa hè năm 42 (2) ở Lãng Bạc mà sử sách đã ghi bằng tên chung là “trận Lãng Bạc”.

Khu vực trận đánh lớn nhất diễn ra có thể là vùng đồi, chân đồi và bãi sông thuộc đất Tiên Du. Quân ta đã chiến đấu ngoan cường, cầm cự vời định nhiều ngày. Tình cảnh quân tướng giặc có nhiều gian nan, nao núng, một phần do Hai Bà Trưng liên tiếp tung quân đánh trả, phần nữa do thời tiết đầu hè nóng bức, quân xâm lược phương Bắc “bất phục thuỷ thổ” phương Nam. Viên tướng bình lạc hầu Hàn Vũ lại “bị bệnh” chết. Về sau, Mã Viện nói với bọn tướng sĩ dưới quyền rằng: “Lúc ta đang ở giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Tây Vu) quân giặc chưa dẹp yên, trời thì dưới nước lụt, trên mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thì thấy diều hâu đương bay bỗng rơi xuống nước chết” (3).

Trong tình cảnh đó, Mã Viện đã chợt nhớ đến lời khuyên của người em họ (4) : Kẻ sĩ sinh ra ở đời chỉ cần ăn mặc vừa đủ, đi cái xe thấp, cưỡi con ngựa gầy, làm một chức quan nhỏ, song được ở gần nhà chăm sóc mồ mả tổ tiên, làng mạc, được khen là người tốt, thế là đủ rồi? Rõ ràng lúc ấy tâm lý của viên lão tướng có phần buồn chán.

Cùng với những khó khăn do thời tiết đang chuyển từ cuối xuân sang đầu hạ - oi bức và ẩm ướt, là sự lúng túng về phương lược tiến đánh. Mã Viện chưa hẳn tìm ra được một cách đánh có hiệu quả.


(1).  Đinh Văn Nhật: Vùng Lãng Bạc về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 156, 1974, tr.56-57.
(2).  Có tài liệu cho rằng trận Lãng Bạc xảy ra vào mùa hè năm 43.
(3).  Hậu Hán thư, Mã Viện truyện, q.54. Đông quan Hán ký, q.12. 
(4).  Có tài liệu nói là anh.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 28 Tháng Mười Hai, 2008, 11:52:43 PM
Giữa lúc đó, nghĩa quân kéo đến tiến công. Đây là một sai lầm về chiến lược của Hai Bà Trưng? Vì quân Hán sang đánh Giao Chỉ với phương châm đánh nhanh thắng nhanh, phương thức quen thuộc của những đạo quân viễn chinh xâm lược.

Với ưu thế về kỹ thuật chiến đấu, quen với lối đánh lớn, tập trung, chúng rất mong sớm gặp được đối phương để tác chiến, nếu không nói là phải tìm cho ra ngay đối phương để thực hiện những trận đánh lớn. Bấy giờ, để chống lại một đạo quân mà phần lớn là quân nhà nghề chính quy đã từng trải chinh chiến lâu năm ở phương Bắc, lại có một đội ngũ tướng lĩnh chỉ huy dày dạn, có nhiều kinh nghiệm tác chiến như đạo quân của Mã Viện, thì việc Hai Bà Trưng dàn quân bày trận là một thất sách. Có thể nói rằng, cách đánh đó đã gỡ thế bí về chiến lược cho Mã Viện.

Dù hai bà cùng nghĩa quân chiến đấu hết sức dũng cảm với quyết tâm rất lớn, nhưng thực tế khi đó quân Đông Hán còn rất mạnh, quân số đông, có lực lượng thuỷ, bộ phối hợp, quen trận mạc, thành thạo đánh tập trung theo cách đánh trận địa. Mã Viện là một lão tướng già dặn kinh nghiệm chiến trường, từng lập nhiều chiến công trong các cuộc đàn áp các phong trào nổi dậy chống nhà Hán.

Hai Bà Trưng đem đội quân mới được tổ chức, còn ô hợp, thiếu nhiều vũ khí trang bị và thiếu kinh nghiệm chiến đấu trong những trận đánh lớn, lại không có thành luỹ bảo vệ, vì thế đã bị thiệt hại nặng.
 
Theo Mã Viện truyện trong Hậu Hán thư, quân Đông Hán đã chém hơn ngàn đầu và bắt được hơn một vạn người.  Bấy giờ, nếu hai bà không mang quân chủ lực đến Lãng Bạc mà chủ trương đánh du kích lâu dài, tránh cuộc tiến công của Mã Viện, không chủ trương đánh lớn với giặc, chờ cho quân Đông Hán rải ra chiếm đóng các nơi, nhất là khi chúng phải chia quân ra để bảo vệ đường liên lạc tiếp tế từ phương Bắc sang, để cho chúng bị sa lầy trong cuộc chiến tranh du kích, ngày càng bị hao mòn, mệt mỏi, mất hết ý chí chiến đấu, tiến thoái lưỡng nan, rồi chớp thời cơ phản công tiêu diệt thì hai bà có thể giành được thắng lợi.
 
Một khi cuộc chiến tranh kéo dài thì quân xâm lược chắc chắn sẽ bị tổn thất và cuối cùng sẽ bị thất bại. Nhưng trong chiến tranh, đã sai lầm về chiến lược thì sẽ bị trả giá. Hai Bà Trưng và nghĩa quân bị tổn thất lớn. Dẫu sao thì trận Lãng Bạc, một trận đánh rất lớn so với điều kiện lịch sử bấy giờ cũng đã khẳng định bản lĩnh của Hai Bà Trưng và làm sáng tỏ truyền thống của dân tộc là thà chết chứ quyết không làm nô lệ, không chịu khom lưng, quỳ gồi trước quân xâm lược, tất cả vì nền độc lập tự chủ.

4. Cuộc chiến ở căn cứ Cấm Khê

Hai Bà Trưng buộc phải lui binh. Có lẽ sau một thời gian ngắn cầm chân địch ở thành Cổ Loa, Mê Linh và ở một số nơi khác, lực lượng của Hai Bà Trưng phải lùi hẳn về Cấm Khê.  Thuỷ kinh chú viết: “... Mã Viện đem quân đánh, Trắc, Thi chạy vào khe Kim Khê, ba năm mới bắt được” (1).  Sách Việt điện u linh soạn đời Trần chép: “... Quân Hán kéo đến Lãng Bạc, bà đánh lại, quân ít không địch nổi, rút về giữ Cấm Khê(2).  Lĩnh Nam chích quái soạn khoảng cuối thế kỷ XV (thời Lê) cũng ghi: “... Quân địch đến Lãng Bạc, bà chống cự; qua năm bà thấy binh thế Mã Viện cường thịnh..., bèn lui về giữ đất Cấm Khê” (3).  Như thế, sử sách cổ của Trung Quốc cũng như sử sách thời phong kiến ở nước ta đều thống nhất cho rằng, sau khi Hai Bà Trưng thất trận ở Lãng Bạc đã lui về Cấm Khê.

Cấm Khê hay Kim Khê Cứu nói trên, trước đây có nhà nghiên cứu cho là thuộc huyện liên Lạc (nay là huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) . Nhưng kết quả nghiên cứu mới về địa lý học lịch sử cho rằng, Cấm Khê có thể là vùng thung lũng Suối Vàng, ở chân ngọn núi Vua Bà cao 525m, trong dãy Ba Vì thuộc Hà Tây. Đó là vùng đồi núi và bậc thềm Sơn Tây - Ba Vì, xưa cũng thuộc đất Mê Linh. Đây là một vùng đất có thế thiên hiểm. Lưng tựa vào miền núi rừng hiểm trở (Hoà Bình) và có đường thượng đạo thông vào Cửu Chân (Thanh Hoá), ba mặt nhìn ra ba dòng sông lớn (là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy).(4).
 
Căn cứ cấm Khê, tức căn cứ Sơn Tây - Ba Vì có nhưng điểm thuận lợi về mặt phòng ngự: Căn cứ đó được ba con sông lớn bảo vệ về ba mặt tây, bắc và đông; thời đó, sông Đáy còn là một phân lưu lớn của sông Hồng, lòng sông và bãi sông cũng rộng. Nếu mặt tây, sườn núi Tản Viên - Ba Vì dốc tuột về phía sông Đà, thì về mặt bắc và mặt đông, sườn núi rất thoải về đồng bằng vì eo bậc thềm phù sa cũ là vùng Xuân Mai; nhưng ngay ở hai mặt này, căn cứ Cấm Khê vẫn còn được bảo vệ bằng một con sông thứ hai là sông Tích Giang hay sông Con. Đây là con đường giao thông thuận lợi, kín đáo chạy dọc suốt khu căn cứ và còn ăn thông về phía nam với sông Bùi, vào ngã ba Thá và sông Đáy. Con sông Tích Giang này có điểm đặc biệt là không chảy hoàn toàn trên đồng ruộng Sơn Tây mà lại chảy ngay trên mép của bậc thềm, do đó có khúc thì sông Con chảy trên đồng bằng, nhưng cũng có khúc thì hai bên sông lại là những đồi thấp hay có vách thẳng đứng, rất có lợi cho việc bố phòng.

Ở trong lòng căn cứ là vùng bậc thềm Xuân Mai, đất phù sa cũ, tương đối bằng phẳng, trong đó có nhiều suối nước to nhỏ, nên vùng này là nơi định cơ ổn định, an toàn, và trở thành một trung tâm có vị trí quan trọng của toàn huyện Mê Linh. Từ Cấrn Khê có thể giao lưu với các vùng khác nhờ hệ thống sông ngòi và đường bộ; ngoài đường đi về phía nam là sông Con, cửa ngõ quan trọng nhất của khu căn cứ, ăn thông vào đất Cửu Chân, là đường hành lang núi đá vôi Xuân Mai, Miếu Môn, Nho Quan, tức con đường “thượng đạo từ Bắc Bộ vào Thanh Nghệ, qua cửa sông Tlạch Thành, Phố Cát sau này.

Với giá trị chiến lược nổi bật như vậy, căn cứ Cấm Khê thực sự đã trở thành một chỗ dựa khá an toàn để Hai Bà Trưng tiếp tục kháng chiến và đã gây nhiều khó khăn cho quân xâm lược Đông Hán. Mã Viện thắng trận Lãng Bạc vào mùa hè năm 42, nhưng mãi một năm sau, vào mùa xuân năm 43 (theo Mã Viện truyện) y mới thắng được trận Cấm Khê. Nếu chỉ tính riêng mùa khô năm 42-43, thì cuộc chiến ở Cấm Khê đã kéo dài trên sáu tháng.


(1).  Thủy kinh chú, q.37, t 5a.
(2). Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, bản dịch của Đinh Gia Khánh, Nxb. Văn học, Hà NộI, 1972, tr.48.   
(3).  Lĩnh Nam chích quái, bản dịch, Nxb. Văn hoá Hà Nội, 1960, tr.63.
(4).  Về vị trí Cấm Khê, xin tham khảo Đinh Văn Nhật: Đất Cấm Khê, căn cứ cuối cùng của Hai Bà Trung trong cuộc khởi. nghĩa Mê Linh năm 40-43, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 193, 1980.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Mười Hai, 2008, 12:00:08 AM

Ngoài vùng núi Vua Bà và thung lũng Suối Vàng ở giữa khu căn cứ, còn có một số cứ điểm bảo vệ vòng ngoài. Hai di tích vòng ngoài của Cấm Khê còn lại, một ở mặt bắc và một ở mặt nam, đó là “vết tích một thành cũ nay đã gần bằng địa”, nơi bà Man Thiện, mẹ Hai Bà Trưng đóng quân, ở xã Nam Nguyễn, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây; hai là vết tích thành Miếu Môn do bà Chu Thước, nữ tướng của Hai Bà Trưng đóng giữ, “vết thành còn từng khúc khá cao, gần như thành Cổ Loa”, ở xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.  Ngoài ra còn có thành cổ Mê Linh đã được phản ánh trong Đại Nam nhất thông chí (1).

Tóm lại, Cấm Khê - căn cứ kháng chiến của Hai Bà Trưng là vùng đồi núi bậc thềm Sơn Tây - Ba Vì, nằm giữa ba con sông lớn là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy, thuộc địa hạt hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình. Đất Cấm Khê là trung tâm của huyện Mê Linh vào đầu công nguyên và Cấm Khê có giá trị chiến lược giúp Hai Bà Trưng trong quá trình phòng ngự chống lại cuộc tiến công của Mã Viện.

Căn cứ Cấm Khê, Kim Khê (hay Suối Vàng) có thể nằm trong vùng chân núi Ba Vì tiếp liền với miền núi rừng hiểm trở chạy dài cho đến Tam Điệp, ngăn cách châu thổ Bắc Bộ với vùng châu thổ Thanh Hoá.

Đó là một vị trí tập kết, phòng ngự tốt của quân dội Trưng Vương sau thất bại Lãng Bạc.  Sách Trung Quốc, Việt chí và Thuỷ kinh chú cho rằng Hai Bà Trưng dựa vào Cấm Khê cầm cự trong 2-3 năm mới bị thất bại. Chắc chắn đấy là một cõi chiến trường đẫm máu, nơi đã diễn ra nhiều trận chiến đấu gay go, quyết liệt trong thời gian dài giữa quân ta với quân xâm lược. Tại đây Hai Bà Trưng đã hy sinh anh dũng trong trận chiến đấu cuối cùng với lũ giặc (2)  việc này xảy ra vào mùa hè tháng tư năm Kiến Vũ thứ 19, tức khoảng tháng 5-43 theo sử nhà Hán.
 
Theo sử cũ của ta, hoặc theo truyền thuyết dân gian thì Hai Bà Trưng hoá vào ngày mồng tám tháng ba năm Quý Sửu (24-4-43). Ngày đó hằng năm trở thành ngày hội chính ở đền Hát Môn. Còn tại đền Đồng Nhân (Hà Nội) thì mở hội vào ngày mồng sáu tháng hai: ngày tắm tượng. Vì đền Đồng Nhân tại thủ đô Hà Nội nên ngày mồng sáu tháng hai đã được lịch ghi là ngày kỷ niệm chính thức Hai Bà Trưng.

 Truyền thuyết và sử diễn ca thời Nguyễn cũng cho rằng hai bà đã tự vẫn ở Hát Giang.

“Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo,
Chị em thất thế phải liều với sông”.
                                                             
                                                                                                (Đại Nam quốc sử diễn ca)

Theo Thủy kinh chú, bấy giờ Tây Thục (ở Vân Nam, có thể là một nhánh dòng dõi vua Thục cũ) cũng phát binh tiến sang cùng Mã Viện đánh Trưng Vương. Như thế, Mã Viện từ lãng Bạc tiến lên Mê Linh, Tây Thục từ Vân Nam tiến xuống. Hai Bà Trưng và quân đội của mình buộc phải lui về hữu ngạn sông Hồng và vùng núi Ba Vì - vùng Cấm Khê, dựa vào địa hình hiểm trở và nhân dân ở đây để chống lại sự tiến công của giặc.

Cuộc chiến ở Cấm Khê đã diễn ra gay go, quyết liệt và lâu dài. Sử cũ của ta không cho biết nhiều về cuộc chiến đấu của Hai Bà Trưng ở đây. Sử cũ Trung Quốc nói rằng, trong trận Cấm Khê, Mã Viện đã “đánh bại họ (tức Hai Bà Trưng - TG) mấy lần, họ mới bỏ chạy tản đi” và đã “giết hơn ngàn, bắt hơn hai vạn” (theo Lưu Long truyện). Mãi đến cuối mùa nước năm 43, vào tháng chín âm lịch, Mã Viện mới tâu về triều Hán rằng: “... Kẻ hạ thần đã cùng một vạn hai ngàn tinh binh hợp với đại binh thành hai vạn người và thuyền xe lớn nhỏ 2.000 cỗ, tự vào đất Giao Chỉ đến nay đã thành công” (3).

Đối với Mã Viện, Cấm Khê là một trận bao vây tiêu diệt khu căn cứ và quân đội của Trưng Trắc, kéo dài sáu tháng mùa khô và cuối cùng đã tiêu diệt được một phần lực lượng của Trưng Vương. Hai Bà Trưng hy sinh, một bộ phận khá lớn quân đội còn lại do tướng ĐÔ Dương chỉ huy đã kịp thời rút lui về Cửu Chân qua con đường hành lang Miếu Môn, Nho Quan và cửa Thạch Thành để tiếp tục cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Đông Hán.


(1). Xem Đại Nam nhất thông chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, T. IV, tr.216.   
(2).  Về cái chết của Hai Bà Trưng - cũng như cái chết của chồng Bà Trưng Trắc thì giữa sử Trung Quốc và sử nước ta phản ánh có khác nhau. Sử sách phong kiến Trung Quốc tuy chép gần với thời điểm sự kiện, nhưng thường có lối khoa trương đề cao uy danh Thiên tử nhà Hán và uy thế bình thiên hạ của chúng, do đó đã thổi phồng các võ công của các cuộc chiến tranh chinh phục. Sử ký Việt Nam ra đời muộn hơn, lại theo một tập truyện dân gian, tuân theo tình cảm - lịch sử của người Việt là không muốn hạ thấp cái chết oanh liệt của người anh hùng dân tộc. Vì thế cả hai bên đều chép theo một ước lệ tượng trưng. Hậu Hán thư, Lưu Long truyện thì chép, từ Lãng Bạc, Lưu Long đuổi đánh Trưng Vương, đến cửa Cấm Khê, bắt được Trưng Nhị, chém giết hơn ngàn người, bắt hàng hơn hai vạn người ( Hậu Hán thư, Mã Viện truyện thì chép, Mã Viện mang quân đuổi theo Trưng Trắc đến Cấm Khê, hai bên giao chiến nhiều lần, quân hai bà bị thua luôn, về sau Mã Viện giết được Trưng Trắc, Trưng Nhị, đưa đầu hai bà về kinh đô Lạc Dương. Theo thần tích của ta thì hai bà “lên núi”, “xuống nước” và “hoá” ... Thần tích Hạ Lôi chép Trưng Nhị tử trận, còn Trưng Trắc lên núi Mi Sơn, v.v..
(3).  Thủy kinh chú, q.14.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 29 Tháng Mười Hai, 2008, 12:03:42 AM
5. Cuộc chiến trên đất Cửu Chân

Chính quyền của Trưng Vương mới được xây dựng hai năm, chưa có cơ sở và tổ chức vừng chắc và trước sức tiến công của xâm lược ngoại bang với quân hùng tướng mạnh, đã không thể chống đỡ nổi. Sau thất bại ở căn cứ Cấm Khê, lực lượng chủ lực của Hai Bà Trưng tan vỡ, một bộ phận rút vào Cửu Chân và phong trào kháng chiến còn duy trì ở một số vùng xa. Vì thế Mã Viện còn phải tung quân đi lần lượt tiến đánh và tiêu diệt các đội quân kháng chiến khác còn lại ở các huyện thành Giao Chỉ.

Trước sức chiến đấu ngoan cường, quyết liệt của quân đội Trưng Vương, quân Đông Hán gặp nhiều khó khăn và bị tổn thất không nhỏ. Quân giặc đã tàn sát rất nhiều tướng sĩ và binh lính của Hai Bà Trưng.

Sau khi đàn áp một cách dã man các đội quân kháng chiến của nhân dân Giao Chỉ, Mã Viện được phong tước tân tức hầu, ăn thực ấp 3.000 hộ. Lưu Long được phong làm Trường Bình hầu (huyện Trường Bình thuộc quận Nhừ Nam). Mã Viện cho giết trâu bò, bày tiệc rượu khao thưởng quân sĩ.

Lúc bấy giờ, theo sử nhà Hán, các tộc tây nam Di cũng nổi dậy khởi nghĩa. Năm Kiến Vũ thứ 18 (42), “cừ suý người Di là Đống Tàm cùng các giống người ở Cô Phục, Diệp Du, Lộng Đống, Liên Nhiên, Điền Trì, Kiến Linh, Côn Minh làm phản, giết trưởng lại. Thái thú Ích Châu là Phồn Thắng chiến đấu với họ nhưng bị thua; lui giữ Thù Thi” (1).   Năm Kiến Vũ thứ 19 (43), “tây nam Di cướp quận Ích Châu” (2) Viên lão tướng Mã Viện hiếu chiến và tham công đã tâu xin vua Hán được đưa lính từ Mê Linh đi ngược sông Nhị (sông Hồng) lên Ích Châu để đàn áp phong trào nổi dậy của nhân dân các dân tộc vùng này.

Mã Viện đã tâu lên vua Hán rằng: “Đi từ Mê Linh (Bạch Hạc) ra Bôn Cổ (nay là huyện Kiến Thuỷ, tỉnh Vân Nam) để đánh Ích Châu, thần đem hơn 10 vạn người Lạc Việt, có hơn hai ngàn người tập quen chiến đấu, cung có tên độc, bắn một lần mấy phát, tên bắn ra như mưa, trúng ai nấy chết. Thần cho hành binh đường ấy rất tiện, nhờ thuỷ lợi mà dùng được mau chóng như thần” (3).  

Mã Viện lại nói: “Theo con đường thuỷ ở huyện Mê Linh ra cửa Tiến Tang (huyện Nguyên Giang, Vân Nam - cửa Tiền Tang nay là Hà Khẩu), đến huyện Bôn Cổ, ích châu, sự chuyển vận tiện lợi, đó là con đường binh xa vận tải” (4).  Mã Viện định dùng người Giao Chỉ đánh các tộc tây nam Di để lập công, cầu lợi cho mình. Y đã khuếch đại tác dụng của đường thông thương dọc theo thung lũng sông Thao - Nhị từ Bắc Bộ sang Vân Nam... 
 
Tuy vậy, Hán Quang Vũ cho việc đó không quan trọng bằng việc điều quân đánh dẹp “dư đảng” của Hai Bà Trưng ở Cửu Chân, cho nên đã xuống chiếu cử tướng Lưu Thương đi đánh tây nam Di, còn Mã Viện được lệnh điều quân tiến vào Cửu Chân.

Theo Thuỷ kinh chú thì “quận Cửu Chân mở năm Nguyên Đinh thứ sáu (111 TCN), đời Hán Vũ Đế, trụ sở là huyện Tư Phố...”. Như vậy, tính đến thời Trưng Vương thì quận Cửu Chân đã thành lập được trên 150 năm. Theo Tiền Hán thư thì quận Cửu Chân có bảy huyện: Tư Phố, Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết và Vô Biên, với quận trị là Tư Phố và đô uý trị là Vô Thiết (Vô Công) (5).   Tháng 10 năm Kiến Vũ thứ 19 (tháng 11-48), Mã Viện đem 20.000 binh và 2.000 lâu thuyền lớn nhỏ, chia hai đường thuỷ bộ tiến vào Cửu Chân.

Từ Giao Chỉ vào Cửu Chân, đầu tiên Mã Viện phải qua vùng Thần Phù là dải đất hẹp bậc thềm ở chân dải núi đá vôi Ninh Bình - Thanh Hoá. Thời đó, đi thuyền từ Giao Chỉ vào Cửu Chân bắt buộc phải vòng xa qua các mỏm núi đá vôi cuối cùng, rồi mới vòng trở vào các đảo hoặc các cửa sông của Thanh Hoá. Từ vùng Thần Phù ra đến mỏm đá vôi rồi vào Hà Trung cũng đã phải vòng mất khoảng 17 km. Mã Viện muốn tránh đi đường bộ qua hai đèo Phố Cát và Đồng Giao vì dễ bị phục kích, nên trong hành quân chuyên dùng lối thuỷ bộ dựa vào nhau và song song cùng tiến. Vì thế, quân Đông Hán bắt buộc phải đi theo đường biển ở đoạn này rồi vào hành lang Chính Đại - Hoàng Cương - Bạch ác. Mã Viện đã phải rải quân chiếm đất đầu cầu là vùng Thần Phù, phải cho đục sâu rộng thêm một khe núi đá cho thuyền đi qua, phải xếp đá làm đê ngăn sóng ở Chính Đại và ở một vài chỗ nông, phải đào thành kênh cho thông đường thuỷ. Sách Nam Việt chí, dẫn trong sách SƠ học ký (q.8, t.40b) nói rằng:

‘Mã Viện đã đào một lối ngang qua những núi của Cửu Chân” và “Mã Viện đã xếp đá thành một con đê để ngăn sóng biển. Từ đó người ta không bị bắt buộc phải đi ra biển nữa”. Sách Thái Bình hoàn vũ ký và Quảng châu ký đều  phản ánh việc Mã Viện cho đục đá gọi là “tạc khẩu” (6),  để mở rộng khe núi.


(1).  Hậu Hán thư, q.116, t.18a.
(2).  Hậu Hán thư, q.1, t.12b.  
(3) Thủy kinh chú, q.37, t.3b.[/i]
(4).  Theo Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd,  
(5)  ]“Công” và “Thiết” hai chữ Hán tự dạng gần giống nhau.
(6).   Hiện nay ở vùng Thần Phù - Tạc Khẩu (huyện Yên Mô, Ninh Bình) vẫn còn di tích Mã Viện thời Đông Hán.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Một, 2009, 12:11:27 AM

Như vậy, có thể Mã Viện đã dẫn quân đi dọc theo lưu vực sông Đáy, qua Tạc Khẩu (Thần Phù, Yên Mô, Ninh Bình).  Đến đây, để tránh đường biển có sóng to gió lớn Mã Viện đã sai quân đào sông thông qua dải núi đá (có thể là sông Chính Đại nối với sông Tống Sơn, Thanh Hoá), đem quân thuỷ bộ dựa vào nhau song song cùng tiến vào Cửu Chân.
 
Dọc đường tiến quân của Mã Viện, có nơi thủ lĩnh người Việt đầu hàng, có nơi thủ lĩnh không địch nổi đã rút lui vào rừng núi không chịu hàng giặc và có nơi quân dân ta đã chiến đấu chặn giặc đến cùng.

Vì Vô Thiết (Vô Công) là một cửa ngõ vào Cửu Chân nên trận đánh đầu tiên của Mã Viện trên đường vào Cửu Chân đã xảy ra ở đây, tức ở vùng Thần Phù - Nga Sơn sau này.  Theo truyền thuyết và thần phả thì vị thành hoàng ở làng Vĩnh Ninh (Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội) là Nàng Tía, một tướng giỏi của Hai Bà Trưng, đã tham gia nhiều trận chiến đấu và sau khi hai bà hy sinh, Nàng Tía rút quân về Cửu Chân. Nàng Tía đã hoá trong một trận ác chiến ở Thần Phù ngày 13 tháng 11 âm lịch (tháng 12-43).
 
Để mở đường qua Tạc Khẩu và qua hành lang đá vôi Chính Đại - Hoàng Cương - Bạch Ác, Mã Viện đã mất nhiều ngày và quân Đông Hán phải vất vả đục đá, xếp đá làm đê và đào kênh. Mùa xuân năm 44, quân giặc mới ra khỏi hành lang Bạch ác và đi thẳng vào cửa Tâm Khẩu để đánh vào vùng Dư Phát ở sâu trong vùng đồi Hà Trung và thung lũng Phố Cát là Tâm Khẩu, vì nơi đây có một trang lớn thời xưa là trang Tâm Quy.

Ở đây có thể đã diễn ra trận chiến đấu. Vì truyền thuyết và thần phả vị thành hoàng Nguyễn Thành Công của xã Cổ Linh (Gia Lâm, Hà Nội) nói rằng, ông là một trong số các vị tướng của Hai Bà Trưng trấn giữ vùng Lãng Sơn, phía đông hồ Lãng Bạc; sau khi Hai Bà Trưng hy sinh, ông đã rút vào Cửu Chân và bị hại trong trận Tâm Quy vùng Hà Trung. Ở đó còn có đền thờ ông (1).

Đối với Cửu Chân thời xưa, vùng thung lũng Phố Cát và cửa thung lũng này có địa danh Tâm Quy - Dư Phát cùng với dải đất chạy sát chân núi phía Bỉm Sơn là vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. Khảo cổ học đã phát hiện một số mộ Hán ở Bỉm Sơn (2).  

Truyền thuyết dân gian cho biết, tại Dư Phát, tướng của Trưng Vương là Chu Bá cùng quân sĩ của mình đã cự chiến với giặc, nhưng thế yếu phải rút vào rừng sâu, chằm rộng, sống cùng tê, voi, trâu rừng, không chịu khuất phục.

Tài liệu khảo cổ học cũng cho biết có thể có trận chiến giữa quân của Đô Dương với quân Hán đã diễn ra ở núi Trịnh (Thiệu Hoá). Những mũi tên đồng, những di cốt và tàn tích chiến tranh tìm được cùng với việc xác định niên đại là mạt kỳ thời đại đồng thau, tương ứng thời kỳ Hai Bà Trưng đã cho phép kết luận về một di tích chiến trường thời ấy (3). 
 
Sau trận núi Trịnh, Mã Viện đã chia quân đi đánh dẹp các huyện Vô Biên và Cư Phong. Huyện Cư Phong thời Hán là một huyện lớn ở miền núi gồm Thường Xuân, Như Xuân, Nông Cống, Triệu Sơn và một phần Thọ Xuân ngày nay.

Tại đây quân Đông Hán đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của thủ lĩnh và nhân dân địa phương. Nhiều thủ lĩnh, hàng ngàn quân sĩ và dân binh của ta đã anh dũng hy sinh trong chiến đấu.

Sử cũ chép, sau khi dẹp tan được lực lượng kháng chiến của Đô Dương, chiếm Cư Phong, Mã Viện lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của nhà Hán. Mã Viện còn thề rằng: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt” .

Sách Thuỷ kinh chú viết: “... Viện lại chia quân vào huyện Vô Biên là Cửu Chân đình ở đồi Vương Mãng. Đến huyện Cư Phong, tướng giặc không hàng, đều bị chém từ mấy chục đến trăm người. Cửu Chân bèn yên” (4).  Như vậy, thủ lĩnh và quân dân ở đây đã kháng chiến chống Mã Viện đến cùng, không chịu đầu hàng.

Huyện Vô Biên tức vùng nam thị xã Thanh Hoá, khu vực Tĩnh Gia và Diễn châu (Nghệ An) ngày nay. Theo sự ghi chép của Thuỷ kinh chú thì quân của Mã Viện đã dừng cuộc tiến công tại đây, chúng không vượt quá biên giới phía nam Cửu Chân. Trong cuộc hành quân đàn áp ở Cửu Chân, sử nhà Hán (Mã Viện truyện) khoe là, Viện đã giết được hơn 5.000 người. Đến đây cuộc kháng chiến của nhân dân Giao châu đã bị dập tắt.



(1).  Theo Vũ Tuấn Sán: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở thủ đô Hà Nội Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 149, 1973 tr.44. 
(2).  Lê Văn Lan, Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Linh: Những dấu vệt đầu tiên của thời đại đồng thau Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội Hà Nộì, 1963, tr.37.
(3).  Lê Văn Lan: Tài liệu khảo cổ học và việc nghiên cứu thời kỳ Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 148.  
(4).  Thủy kinh chú.    


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Một, 2009, 12:15:29 AM
Nếu tính từ khi quân Đông Hán tiến vào Giao Chỉ (mùa hạ, tháng tư năm 42) đến khi Mã Viện hành quân trở về Trung Quốc (mùa thu năm 44) là hơn hai năm. Đó là cả thời gian chiến tranh chinh phục của Mã Viện và cũng là thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm của quân ta dưới sự lãnh đạo của Trưng Vương và các tướng.

Trong quá trình đó, với sức mạnh quân sự áp đảo, Mã Viện đã thực hiện chiến lược chiến tranh để tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Không chỉ quân xâm lược đã đánh chiếm Mê Linh, Cấm Khê, tiêu diệt lực lượng của Hai Bà Trưng, tiến vào tận Cửu Chân, tiêu diệt đạo quân của Đô Dương và Chu Bá, mà còn tiến hành đàn áp hết sức dã man nhân dân ta và cướp phá những di sản văn hoá của người Việt.

Trải qua cuộc đàn áp của Mã Viện, hàng vạn nhân dân Lạc Việt bị giết, nhiều dòng họ quý tộc Lạc Việt bị trấn áp triệt để. Ngoài số thủ lĩnh bị giết, hơn 300 thủ lĩnh Việt tộc đã bị bắt đày sang Linh Lăng (Hồ Nam). Mã Viện đã cướp đi một số lớn trống đồng của người Lạc Việt để “đúc thành một con ngựa lớn, cao 3 thước 5 tấc (khoảng 1m4) , vòng thân rộng 4 thước 4 tấc (khoảng 1m8) để dâng công lên vua Hán.
 
Trống đồng là một vật quý thời kỳ Hùng Vương, một vật tượng trưng cho uy quyền của các tù trưởng, mà sử sách đã ghi lại là giá trị tương đương hàng ngàn con trâu, bò thời bấy giờ Sách Trung Quốc ghi rằng, người nào có được hai hay ba trống đồng là có thể “tiếm hiệu xưng vương” (Minh sử, q 212). Phá hoại các vật báu đó là nhằm thủ tiêu uy quyền của tầng lớp quý tộc người Việt đồng thời xoá bỏ những gì là tiêu biểu cho nền văn hoá lâu đời, đã đạt trình độ cao của nhân dân ta thuở ấy.

Việc giết hại quý tộc Việt và đày một số lớn quý tộc sang tận Hồ Nam, Trung Quốc cùng với việc triệt phá trống đồng là một âm mưu rất thâm độc của kẻ xâm lược. Chế độ Lạc tướng đã tồn tại từ lâu ở Âu Lạc đến đây cơ bản là tuyệt tích và nền văn hoá Đông Sơn cũng bị lụi tàn.  vua Hán sai Mã Viện lập thành quách, xếp đặt quan lại, đắp thành Kiến Giang ở Phong Khê (Yên Lãng, Vĩnh Phúc).  Thành hình tròn như cái tổ kén nên gọi là Kiến thành.

Nhà Hán cử quan lại sang cai trị tới cấp huyện ở Giao châu. Mùa thu năm 44, Mã Viện mang quân về Bắc. Viện mang theo con ngựa đồng để dâng vua Hán và chuyên chở hàng xe sản vật của Giao Chỉ về nước. Quân đi 10 phần, quân về chỉ còn 4 - 5 phần (1). Đó là cái giá bằng máu mà quân xâm lược phải trả cho cuộc viễn chinh này.

Nước Âu Lạc từ sau thất bại của An Dương Vương đến cuộc kháng chiến chống xâm lược Đông Hán thời Hai Bà Trưng là cả một thời gian dài hơn hai thế kỷ (từ 179 TCN đến năm 44). Đây là giai đoạn “Tiền Bắc thuộc” hoặc “Sơ kỳ Bắc thuộc” trong lịch sử nước ta.
 
Giai đoạn này đất nước trải qua ách thống trị của Nam Việt và nhà Hán (gồm cả Tây Hán và phần đầu Đông Hán). Tất nhiên, do điều kiện xã hội thuở đó, mức độ bóc lột và đồng hoá của kẻ đô hộ chưa thật khốc liệt như các giai đoạn sau, nhưng chính sách thống trị và vơ vét của chúng đã làm cho quý tộc và dân chúng Âu Lạc oán giận. mâu thuẫn dân tộc ngày càng tích tụ và phát triển, dẫn đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40). 

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu  tiên dưới thời thuộc Hán, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Dưới sự lãnh đạo của hai vị nữ anh hùng dân tộc, nhân dân ta trên toàn cõi đất nước nhất tề đứng dậy khởi nghĩa. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một cuộc khởi nghĩa toàn dân với khí thế tiến công mãnh liệt và có mục tiêu chiến đấu rõ rệt. Nghĩa quân và dân chúng nổi dậy đã nhanh chóng chiếm được 65 huyện thành, lật đổ nền thống trị của nhà Đông Hán đang lúc cường thịnh, giải phóng toàn bộ đất nước. Chính quyền tự chủ được khôi phục và giữ vững trong ba năm.

Bản anh hùng ca ngắn ngủi. Sau đó ba năm, đất nước và nhân dân ta lại bị bọn phong kiến phương Bắc đô hộ. Sau các trận quyết chiến ở Lãng Bạc, Mê Linh, Cấm Khê và Cửu Chân, cuộc kháng chiến giữ nước do Hai Bà Trưng lãnh đạo bị thất bại. Tuy vậy, tiếng vang của khởi nghĩa và cuộc chiến tranh thời Hai Bà Trưng đời đời bất diệt.

Sự nghiệp của Hai Bà Trưng chứng minh hùng hồn, tập trung một bước phát triển của tinh thần dân tộc Việt Nam. Tinh thần đó là sản phẩm của một quá trình lịch sử lâu dài, kết tinh của nền văn minh sông Hồng trong thời đại dựng nước và trước thảm hoạ mất nước, nó bùng lên thành sức mạnh quật khởi của nhân dân.

Sự nghiệp đó là tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam vô địch, coi độc lập là cái quý nhất, với ý chí không gì và không bao giờ lay chuyển được là giành lại và giữ gìn đất nước của tổ tiên.Nó gieo hạt giống tốt của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam, không sợ địch, dù chúng mạnh đến đâu, bởi vì địch là kẻ xâm lược, phi nghĩa.


(1)  Theo Hậu Hán thư, q.54; Hậu Hán kỷ, q.7. ở nước ta, dân gian còn truyền tụng rằng khi đi và khi về Mã Viện phải qua Quỷ Môn Quan, nên có thơ rằng:

                                                               Quỷ Môn Quan! Quỷ Môn Quan
                                                                              Thập nhân khứ, kỷ nhân hoàn
                                                                              (Cửa ải Quỷ! Cửa ải Quỷ
                                                                              Mười người qua, mấy ai về)



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:16:40 PM

Nó tiêu biểu cho ý chí quật cường của dân tộc, khai mào cho xu hướng phát triển của lịch sử Việt Nam, mở đường cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong cả ngàn năm Bắc thuộc.

Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa mùa xuân 40 là một trong những sự kiện chói lọi gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm hồn con người và lịch sử dân tộc ta. Bà Trưng làm vua được ba năm, nhưng lấy cái tài trí của người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng đủ để lại tiếng thơm cho muôn đời.
 
Cũng chính vì thế hình ảnh Hai Bà Trưng sống mãi trong lòng người Việt ai cũng coi đó là một niềm tự hào, lòng ngưỡng mộ đó như một trong những biểu tượng hào hùng của ý chí quật cường, tinh thần quật khởi và khí phách anh hùng của dân tộc.  Nhân dân khắp nơi lập đền thờ hai bà để ghi tạc cái danh tiếng của hai nữ anh hùng tiêu biểu nhất trong những năm đầu công nguyên.

Văn bia Trưng Vương sụ tích bi ký, ghi sự tích Trưng Vương tại đền Đồng Nhân (Hà Nội) nói rằng:

“Trong nữ giới mà trượng phu, chính là Hai Bà Trưng, hai bà là con Lạc tướng, cháu Lạc vương vốn không phải người thường. Nhưng từ khi nước Văn Lang bị mất, thế nước thuộc về nhà Thục (?),  nhà Triệu rồi đến nhà Hán, lệ thuộc nước ngoài hơn hai trăm năm. Việc ấy không cần bàn luận. Thêm vào đó, bọn thái thú nhà Hán hoành hành bạo ngược, những bậc hào kiệt chưa ai nổi dậy. Buổi ấy, trong nước có việc kỳ lạ lắm thay. Đó là việc Bà Trưng chị vì chồng, Bà Trưng em vì chị xắn cánh tay, hô một tiếng, bọn thái thú bạo ngược bỏ chạy.  Trong khoảng vài ngày, bình định được hơn năm mươi thành, oai vũ lừng khắp cõi Lĩnh Nam, thanh danh làm rung động đất Hoa Hạ. Mặc dầu trí dũng như phục ba mà hai bà vẫn ba lần đánh thắng, thanh thế làm cho người Hán bao phen ngày đêm vất vả. Đến lúc việc chẳng chiều lòng, cùng nhau xắn tay, nhảy xuống sông Hát. Trí tuệ như thế ai mà sánh kịp, tài lược như thế ai mà sánh kịp, nghĩa khí như thế ai mà sánh kịp. Chị em một nhà, anh hùng muôn thuở, hai bà quả là bậc người hiếm có trong nữ giới và việc làm của hai bà cũng khó mà có được trong nữ lưu. Các đấng trượng phu làm việc vốn không cần bàn luận thành bại, mà việc làm của hai bà lại càng không nên lấy thành bại mà luận bàn.  Ngàn đời sau, đọc trang sử cũ, khiến mọi người đều tăng thêm chính khí. Đến bản triều hai bà vẫn được ghi vào nền tự điển (1).  Ngoài ra, miếu thờ hai bà đâu đâu cũng có, ấy là do uy thiêng của hai bà lưu truyền lại”.
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang11.jpg?t=1231768746)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang12.jpg?t=1231768807)


(1).  Tự điển: sự tích các thần thánh và phép tắc thêm lệ thờ cúng ở các đền miếu của các triều vua xưa. Hễ một vị thần được ghi vào tự điển tức là được triều đình xếp hạng.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:22:42 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang21.jpg?t=1231768862)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang22.jpg?t=1231768893)

 Tấm gương đó được các thế hệ người Việt Nam, nhất là phụ nữ noi theo, kế thừa, phát huy trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, tạo nên truyền thống bất khuất, anh hùng.  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó, ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” (1) và “Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến... Phụ nữ Việt Nam đã xứng đáng là con cháu Hai Bà” (2).



(1).  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.148.[/b](2).  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr.431.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:27:34 PM


CHƯƠNG II

PHONG TRÀO CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ SAU TRƯNG VƯƠNG ĐẾN CUỘC CHIẾN CHỐNG QUÂN TÙY XÂM LƯỢC
(TỪ NĂM 44 ĐếN NĂM 602)

I- SỰ THỐNG TRỊ CỦA PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC CỦA NGƯỜI VIỆT

1. Trung Quốc từ thế kỷ I đến thế kỷ VI.

Trung Quốc từ đầu công nguyên đến thế kỷ VI, trải qua các triều đại Đông Hán (25-220), Tam quốc (Ngụy, Thục, Ngô, từ 220-280), nhà Tấn (280-316), Nam Bắc triều (Lục triều , từ 316 - 580) (1) và nhà Tùy (581 - 618).
 
Nhà Đông Hán phát binh sang chinh phục Âu Lạc trong lúc trong nước tình hình kinh tế - xã hội tương đối ổn định.  Nhờ khởi nghĩa nông dân mà nhà Đông Hán được thành lập, cho nên trong thời kỳ đầu, triều đình Đông Hán cũng thi hành nhiều chính sách mua chuộc lòng dân, như giải phóng nô lệ, giảm thuế, giảm bớt quan lại và quân lính, xây dựng  các công trình thủy lợi.

Văn minh Trung Hoa thời Hán tiếp tục hưng thịnh trong khoảng ba đời vua đầu Đông Hán (25-88) với sự phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó có kỹ thuật luyện sắt, tư lụa, làm giấy và nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác.

Sau đời vua Hán Minh Đế, đặc biệt là sau đời Hán Thương Đế, Đông Hán bước vào giai đoạn suy thoái. Trong triều đình thường diễn ra các cuộc tranh giành quyền bính, làm cho tình hình chính trị càng trở nên rối ren, dân tình thống khổ. Các vua đều lên ngôi từ khi còn nhỏ tuổi, có vua lại sớm ham mê tửu sắc và bạc nhược, nên mọi quyền hành đều nằm trong tay thái hậu và bọn ngoại thích. Bọn này vơ vét của cải, chiếm đoạt ruộng đất, nhà cửa và bóc lột nhân dân thậm tệ. Chẳng hạn, viên ngoại thích Lương Ký đã bắt mấy ngàn dân nghèo làm nô lệ mà hắn gọi là “những người tự bán mình”, chiếm một vùng ruộng đất có chu vi đến ngàn dặm ở phía tây Hà Nam để nuôi cầm thú làm nơi săn bắn tiêu khiển. Tài sản của hắn trị giá bằng nửa số tiền thuế mà nhân dân toàn quốc nộp trong một năm. Một số đại thần trong triều đình sống cực kỳ xa hoa, trụy lạc.
 
Những kẻ sĩ trung thành với họ Lưu đã sử dụng bọn hoạn quan làm tay trong để diệt trừ hiểm họa ngoại thích. Nhưng khi dẹp được ngoại thích thì bọn hoạn quan lại hống hách, lộng hành, trở lại hãm hại các sĩ phu. Sử gọi đó là sự kiện “đảng cô” vào cuối đời Hoàn Đế (năm 167).

Hơn nửa thế kỷ triều đình hỗn loạn vì luôn luôn các phe phái, các bè đảng chống đối và tàn sát lẫn nhau để tranh giành địa vị. Vì thế, chính trị, kinh tế suy thoái, nhân dân khổ cực. Sau vụ “đảng cố”, từ đời Linh Đế, nhà Hán còn suy hơn nữa. “Trong triều, hoạn quan và ngoại thích tranh nhau thay giữ chính quyền, thuế khóa nặng nề, trăm họ khốn đốn.  Ngoài xã hội thì bọn vương hầu, quý tộc, phú hào, người nào nhà cửa cũng hàng trăm, ruộng tốt đầy nơi, Tôi tớ từng bầy, kẻ xu phụ có tới vạn mà đều ăn không ngồi rồi”. Nông dân bị bóc lột quá đỗi, số người đói rét nhan nhản đầy đường, do đó ở nhiều nơi nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa.

Cuối thế kỷ II, nông dân được tổ chức thành một lực lượng thống nhất, lớn mạnh do Trương Giác lãnh đạo. Quân khởi nghĩa đầu chít khăn vàng để làm dấu hiệu nên gọi là quân Hoàng Cân (khăn vàng) (2).  Thanh thế của Hoàng Cân rất mạnh. Chỉ trong một thời gian ngắn, khởi nghĩa Hoàng Cân đã lan ra khắp nơi trong khu vực Hoàng Hà và lưu vực Trường Giang. Hoàng Cân đi đến đâu cũng tiến công vào thành thị, đốt phá các dinh thự của bọn quan lại. Quân chủ lực của Trương Giác đóng ở bờ bắc sông Hoàng Hà. Nghĩa quân tiến công vào kinh đô Lạc Dương.



(1).  Cũng có nhiều sách sử dùng khái niệm “Đông Hán - Lục triều”.  Lục triều là: Nguỵ - Tấn - Nam triều (Tống - Tề - Lương - Trần).
(2).   Ý thức hệ - tín ngưỡng của đội quân Hoàng Cân là cái mà sau này ta gọi là Đạo giáo (Taoism).  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:29:53 PM

Triều đình Đông Hán kinh hoàng, phải huy động toàn bộ lực lượng để đàn áp phong trào nông dân. Vua Linh Đế cử Tào Tháo thống lĩnh một lực lượng quân đội lớn đi đánh dẹp. Quân Hoàng Cân đã chiến đấu rất anh dũng, nhưng vì một lúc phải đương đầu với cả quân triều đình lẫn lực lượng vũ trang của các thế lực địa chủ, quân phiệt địa phương nên lực lượng bị tổn thất nặng. Tháng 11-184, khởi nghĩa Hoàng Cân bị đánh bại.
 
Trương Giác ốm chết, nhiều thủ lĩnh tử trận, năm vạn nghĩa quân trung thành đã nhảy xuống sông tự tử. Phong trào nông dân vì thế yếu ớt dần, rồi bị dập tắt.

Đế quyền khi ấy chỉ còn là hư danh. Trong quá trình đàn   áp nông dân, quan lại địa phương xây dựng lực lượng quân sự lớn, mỗi tên chiếm cứ một phương, tạo thành cục diện cát cứ và hỗn chiến ở cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III: Đổng Trác, Viên Thiệu, Tôn Sách - Tôn Quyền... Kinh đô Lạc Dương chìm trong khói lửa. Kinh tế suy sụp.
 
Năm 189, vua Linh Đế chết, kẻ nắm binh quyền lúc này là đại tướng quân Hà Tiến (là anh của Hà hoàng hậu) ngầm liên kết với Viên Thiệu và Đổng Trác để tiêu diệt bọn hoạn quan, nhưng việc không thành bị hoạn quan giết chết. Viên Thiệu sử dụng binh lực của mình giết hơn 2.000 hoạn quan, nhưng thế lực Đổng Trác mạnh hơn nên đã nắm mọi quyền hành trong triều.  Năm 192, Đổng Trác bị tướng dưới quyền là Lã Bố giết chết. Từ đó, cuộc nội chiến giữa các thế lực quân phiệt càng lan rộng và quyết liệt, còn vua Hán Hiến Đế thì bị các tập đoàn quân phiệt thay nhau khống chế.

Năm 196, Tào Tháo rước Hiến Đế đến Hứa Xương, từ đó khống chế được triều đình nhà Đông Hán. Năm 200, Tào Tháo thắng Viên Thiệu, thâu tóm cả miền bắc Trung Quốc. Trong số cát “quần hùng cát cứ” lúc đó thì Tào Tháo là tay kiệt phiệt nhất, nắm được vua lâu nhất, tự Tôn là Ngụy vương (216).
 
Tào Tháo tuy là thừa tướng của Hán Hiến Đế, nhưng lại tự xưng là Ngụy vương, tức có ý chiếm ngôi. Bấy giờ có hai thế lực cát cứ lớn mạnh khoe là Tôn Quyền ở phía đông nam và Lưu Bị ở phía tây cùng với lực lượng Tào Tháo ở phía bắc chống nhau, tạo thành thế chân vạc, chia Trung Quốc thành ba khu vực.
 
Năm 213, Tào Tháo muốn diệt Tôn Quyền, đem quân tấn công, nhưng Tôn Quyền và Lưu Bị liên hợp với nhau kháng cự, trong trận Xích Bính nổi tiếng, 30 vạn quân của Tào Tháo đã thua năm vạn liên quân của Tôn Quyền và Lưu Bị .

Năm 220, Tào Tháo chết, con là Tào Phi bắt vua Hiến Đế phải nhường ngôi. Nhà Đông Hán đến đây chấm dứt, tồn tại được 196 năm. Tào Phi lên ngôi, đóng đô ở Lạc Dương, đặt tên nước là Nguỵ.

Sau khi Tào Phi lên ngôi lập nước Ngụy ở phía bắc thì năm 221, Lưu Bị cũng xưng hoàng đế, đóng đô ở Thành Đô, lấy quốc hiệu là Hán, lịch sử thường gọi là Thục. Năm 222, Tôn Quyền cũng xưng vương rồi xưng đế, đóng đô ở Vũ Xương (Hán Khẩu), đặt tên nước là Ngô.

Lịch sử Trung Quốc bước vào thời kỳ mới - thời kỳ Tam quốc 220-280): Ngụy ở phía bắc, kinh đô là Lạc Dương; Ngô ở đông nam, kinh đô là Vũ Xương và sau là Kiến Nghiệp (Nam Kinh); Thục ở phía tây, kinh đô ở Thành Đô (Tứ Xuyên). Trong ba nước, Ngụy mạnh nhất. Hai nước Ngô và Thục tuy có chiến tranh với nhau nhưng từ năm 223 về sau đã liên kết chống lại Ngụy. Vì thế, chiến tranh thời Tam quốc chủ yếu diễn ra giữa một bên là Ngụy và một bên là Ngô và Thục liên kết với nhau. Cục diện giằng co, không phân thắng bại này đã kéo dài mấy chục năm trời.

Đến năm 263, nước Thục suy yếu và bị nước Ngụy thôn tính. Cuối đời Ngụy, Tư Mã ý nắm binh quyền. Năm 265, cháu Tư Mã ý là Tư Mã Viêm bắt vua Ngụy nhường ngôi, lập triều đại mới gọi là triều Tấn, lịch sử thường gọi là Tây Tấn (hay Tiền Tấn).

Năm 280, Ngô bị Tấn tiêu diệt, kết thúc 60 năm nội chiến và chia cắt của thời Tam quốc. Tư Mã Viêm (Tấn Võ Đế) kiến lập nhà Tấn, thống nhất Trung Quốc, nhưng chỉ được 37 năm ổn định. Khi nhà Tấn bị rợ Hồ chiếm hết phương bắc thì một người trong Tôn thất là Tư Mã Huệ trốn xuống phương nam, lập đô ở Kiến Khang (Nam Kinh), sử gọi đây là triều Đông Tấn (Hậu Tấn, 317-420).
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:31:30 PM

Trung Quốc thời Tấn đã diễn ra nhiều cuộc nội chiến triền miên giữa các phe phái và sắc tộc. Cuộc đấu tranh bè phái này dược gọi là “loạn bát vương” kéo dài 16 năm làm cho Tây Tấn suy yếu. Nhân đó các tộc Hung Nô, Yết, Tiên Ti, Đê và Phương, gọi chung là Ngũ Hồ đã nổi dậy thống Tây Tấn, sử còn gọi là “Ngũ Hồ Loạn Hoa”.

Năm 304, một quý tộc Hung Nô là Lưu Uyên tự xưng là Hán Vương; tiếp đó đánh chiếm Lạc Dương và Trường An, tiêu diệt Tây Tấn (312). Vua Hung Nô đổi quốc hiệu từ Hán thành Triệu. Trung Hoa từ đây đã chia hai: Nam và Bắc, tức là giai đoạn Nam Bắc triều, kéo dài trên 250 năm.

Thời Nam Bắc triều là thời loạn nhất trong lịch sử Trung Quốc, dài bằng thời Chiến quốc, nhưng lại rối ren hơn nhiều.  Cả miền bắc bị rợ Ngũ Hồ chiếm đóng. Sau “Ngũ Hồ loạn Hoa”, đất đai phương bắc lại bị chia nhỏ thành 16 nước tức là “Ngũ Hồ thập lục quốc” mà tầng lớp thống trị là người phi Hán tộc. Những người dân du mục phương bắc muốn chiếm đất đai của người Hán biến thành đồng cỏ chăn nuôi. Người Hán oán giận chống lại. Hỗn chiến kéo dài, người chết trông nhau. Trải qua một thời gian dài chia cắt, chính quyền Bắc Ngụy thuộc bộ tộc Tiên Ti thành lập và thống nhất miền bắc.  Các vua Bắc Ngụy có ý thức học tập kinh nghiệm trị nước của phong kiến Hán tộc, lại có ưu thế binh lực của dân du mục, nên đã hùng mạnh và làm chủ cả một vùng rộng lớn từ Trường Giang trở lên.
 
Vì thế, văn hóa Hán cũng đã xâm nhập vào cuộc sống người Hồ. Dân du mục cũng dần dần định cư làm ruộng như người Hán. Ky binh Hán học được của người Hồ cách dùng yên ngựa (bàn đạp) ; người Hồ học của Hán cánh thành lập bộ binh, v.v. .  Ở phía nam các vua Đông Tấn bất tài, binh quyền rời vào tay ngoại thích và một số đại thần. Cuối cùng, một tướng giỏi tên là Lưu Di tập hợp lực lượng, chiếm ngôi của Đông Tấn, xưng đế và lập ra nhà Tống tức Tiền Tống (420-479).
 
Sáu mươi năm sau, tướng Tiêu Đạo Thành thâu tóm quyền hành, tự phong là tướng quốc, tước Tề Vương, rồi phế vua Tống, lập nhà Nam Tề (479-502). Nam Tề tồn tại ngắn ngủi (21 năm).
 
Đến năm 502, Tiêu Diễn khởi binh lật đổ Tề đổi tên nước là Lương (502-557). Năm 557, Trần Bá Tiên bắt vua Lương phải nhường ngôi và lập nên triều Trần (557-589), triều đại cuối cùng của Nam triều.

Bốn triều đại Tống, Tề, Lương và Trần đều đóng đô ở Kiến Khang, thống trị vùng phía nam Trường Giang. Lịch sử Trung Quốc gọi các triều đại này là Nam triều. Ở giai đoạn này, nhà Lương đã tiến hành cuộc chiến tranh chinh phục Giao châu (545), trong đó Trần Bá Tiên giữ chức kinh lược sứ, phụ trách tác chiến dưới quyền của thứ sử Giao châu là Dương Phiêu.

Bấy giờ, một thế lực qúy tộc - sĩ tộc mạnh mẽ hình thành ở Giang Nam (bọn Vương, Tạ . . . , thời đại của Vương Khải, Thạch Sùng), áp đặt ý chí của họ trên đế quyền trung ương.  Phật giáo cực kỳ hưng thịnh và lấn át Nho giáo; một nền văn chương, nghệ thuật phát triển rực rỡ, nền kinh tế thương mại được phục hồi ở phía nam.

Trong suốt năm thế kỷ đầu công nguyên, đất nước Trung Hoa liên tục lâm vào tình trạng chia cắt vì nội chiến và luôn bị Ngũ Hồ xâu xé. Sự phát triển của kinh tế - xã hội bị hạn chế nghiêm trọng. Chiến tranh kéo dài đã làm tăng thêm gánh nặng đảm phụ của nông dân, an ninh xã hội bị phá vỡ.
 
Đến năm 581, ở phía bắc, Dương Kiên giành được ngôi vua, lập nên triều Tùy, đóng đô ở Trường An. Năm 589, Dương Kiên cử 50 vạn quân vượt Trường Giang tiêu diệt triều Trần, tình trạng chia cắt Nam Bắc triều chấm dứt, Trung Quốc được thống nhất. Nhà Tùy trở nên cường thịnh, đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chinh phục, mở rộng lãnh thổ và quyền uy, trong đó có cuộc chiến tranh xâm lược nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế vào năm 602-603.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:34:43 PM

2. Đất nước ta từ đầu công nguyên đến thế kỷ III - Cuộc đấu tranh của người Chăm và người Việt thống xâm lược, chống Hán hóa.
 
Sau cuộc đàn áp tàn bạo của Mã Viện, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân các dân tộc ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân bị chìm lắng trong một thời gian. Chính sách nô dịch và đồng hóa của người Hán được đẩy mạnh hơn trước. Để duy trì nền thống trị và áp bức, bóc lột, nhà Hán áp dụng luật pháp hà khắc, tàn bạo đối với người Việt. Dưới sự thống trị của chính quyền đô hộ Đông Hán, chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị bãi bỏ. Chế độ cai trị cấp huyện của đế chế Hán được tăng cường.

Tuy chế độ quận huyện thắt buộc hơn trước, nhưng bọn thống trị Hán tộc vẫn không với tay được xuống dưới cấp huyện, vẫn không khống chế trực tiếp được tới đông đảo các tầng lớp nhân dân. Ngay Mã Viện, dù đã đàn áp xong phong trào Hai Bà Trưng vẫn vấp phải một thực tế nghiệt ngã: xã hội Việt khác xã hội Hán, không thể bệ nguyên xi pháp độ Hán sang áp dụng ở đất Việt.

Theo Hậu Hán thư, “Viện tâu rằng luật Việt và luật Hán khác nhau tới hơn 10 việc, (nay) xin làm sáng tỏ cựu chế đối với người Việt” (1).  “Cựu chế” là việc người Hán, từ thời Vũ Đế, vẫn phải “dùng tục cũ của họ (của người Việt) mà cai trị”. áp lực của hằng số lịch sử phương Nam - những truyền thống mạnh mẽ của cơ cấu xã hội nông nghiệp trồng lúa nước với nền tảng xóm làng của người Việt - trên thực tế đã hạn chế mức độ và phạm vi thống trị của kẻ địch, khiến cho chính sách thống trị của nhà Hán và các triều đại phong kiến Trung Hoa tiếp sau rút cuộc vẫn chỉ có thể là một chính sách ràng buộc lỏng lẻo. Nhiều miền đất ở nước ta còn nằm ngoài phạm vi khống chế của phong kiến Trung Hoa.
 
Theo lời thú nhận của Tiết Tổng, thái thú Giao Chỉ đầu thời Ngô (thế kỷ III) thì dưới thời Hán, tại Giao Chỉ nhiều nơi “trưởng lại tuy đặt, có cũng như không”, “huyện quan ràng buộc để cho sợ uy mà phục” còn thì “phần nhiều buông lỏng” (2).
 
Ở Giao Chỉ và Cửu Chân, nhà Hán tiến hành chia lại cư dân theo khu vực, chia nhỏ các huyện cũ quá to thành nhiều huyện nhỏ. Tây Vu là đất bản địa của Tây Vu Vương, nay bị chia làm ba: Tây Vu (Tiên Du), Phong Khê (vùng Cổ Loa) và Vọng Hải (vùng bắc Cà Lồ). Nhà Hán muốn phá tan cơ sở vật chất của chế độ Lạc tướng thế tập trước đó.  Bọn Mã Viện tìm cách củng cố và mở rộng các cứ điểm thống trị của chính quyền đô hộ.
 
Hậu Hán thư chép: “Viện đi qua nơi nào đều xây thành quách cho các quận huyện” (3).  Điều đó có nghĩa là các huyện mới được đặt ra, các huyện trưởng mới là người Hán và các lại viên khác, cùng với quân đồn trú cấp huyện cần có thành lũy phòng vệ. Nó chứng tỏ sự trấn áp của chính quyền đô hộ đối với người Việt khốc liệt hơn. Dưới thời Đông Hán, quận Giao Chỉ có 12 thành tương ứng với 12 huyện; hai quận Cửu Chân và Nhật Nam mỗi quận có năm thành, tương ứng với năm huyện.

Những thay đổi về chế độ cai trị, việc cải tổ pháp chế và những cải cách khác dưới thời Đông Hán đã đánh dấu một bước thay đổi quan trọng trong chính sách thống trị thực dân của phong kiến phương Bắc. Chính sách quận huyện, chính sách đồng hóa, áp bức và bóc lột của kẻ xâm lược có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển về vật chất và tinh thần của dân tộc ta. Sự phát triển kinh tế - xã hội bị kìm hãm, nhiều đặc điểm văn hóa dân tộc bị mai một. Chế độ thống trị ngoại tộc được củng cố một bước, và theo đó nhân dân Âu Lạc phải chịu thêm gánh nặng áp bức bóc lột. Chính vì thế mà nhân dân ở các quận huyện phía nam đã liên tiếp nổi dậy chống lại sự cai trị thắt buộc của chính quyền đô hộ ngoại tộc.


(1).  Hậu Hán thư, q.54.
(2).  Tam quốc chí, Ngô chí, q.8, Tiết Tổng truyện. 
(3).   Hậu Hán thư, q.54, t.8b.     



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:36:47 PM
Bảng thống kê tóm tắt các cuộc nổi dậy lớn các châu quận phía nam mà sử sách nhà Hán còn ghi lại dưới đây cho ta hình dung được tình hình đấu tranh của nhân dân ta ở thế kỷ II (xem bảng):

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang31.jpg?t=1231768933)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang32.jpg?t=1231768967)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang33.jpg?t=1231769002)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:41:44 PM

Trong thời gian này, bọn quan lại Đông Hán mặc sức bóc lột nhân dân. Đời Minh Đế (58-75), nếu Hậu Hán thư cố đề cao Lý Thiệu, thái thú Nhật Nam “Lấy sự thương yêu ân huệ làm chính sự, vỗ về dân khác tục cho họ theo mình” thì lại lộ ra một Trương Khôi, thái thú Giao Chỉ cùng thời can tội ăn hối lộ một ngàn lạng vàng, buộc phải triệu về kinh, tịch thu của cải (1) .

Dưới ách đô hộ tàn bạo của bọn đô hộ phương Bắc, người Chăm cũng như người Việt - Âu Lạc đều bị áp bức, bóc lột, nên đã có mâu thuẫn sâu sắc với chính quyền ngoại tộc.  Nhân dân hai nước lại có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với nhau trong lao động và đấu tranh. Cả hai dân tộc Việt và Chăm đều bị xâm lược, đã cùng hợp sức chiến đấu, sớm tạo ra mối quan hệ mới của một cộng đồng. Người Chăm thuộc quận Nhật Nam, tức miền đất từ Hoành Sơn đến Quảng Nam đã nhiều lần nổi dậy cùng với nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân đấu tranh chống chính quyền đô hộ. Từ mùa xuân năm 40, họ đã từng hưởng ứng mạnh mẽ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, góp phần tạo nên thắng lợi oanh liệt của một cuộc đấu tranh giành quyền độc lập quy mô lớn.

Sau cuộc đàn áp của Mã Viện, phong trào đấu tranh tuy có lắng xuống một thời gian, nhưng rồi lại trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ II mà trung tâm là quận Nhật Nam. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên là của nhân dân huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam vào mùa hè năm 100, với hơn 2.000 người tham gia, đốt phá chùa chiền và nhà cửa của bọn quan lại. Chính quyền đô hộ phải điều quân của quận và các huyện đến đàn áp sát hại thủ lĩnh của nghĩa quân và dập tắt cuộc khởi nghĩa.

Tháng 11- 116, người ở các quận Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố thuộc Giao châu nổi dậy đánh phá quận Thương Ngô. Nhâm Trác, chỉ huy quân đội đàn áp người Việt Năm 136, nhân dân Tượng Lâm lại nổi dậy và đặc biệt trong năm 137, toàn thể nhân dân Nhật Nam đã đứng lên đánh phá quận phủ.

Hậu Hán thư chép: “Man Di ở ngoài cõi Tượng Lâm, quận Nhật Nam là bọn Khu Liên mấy ngàn người đánh huyện Tượng Lâm, đốt thành, chùa, giết trưởng lại”. (2) Thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn đem hơn một vạn quân  binh của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân vào đàn áp.  Nhưng binh lính Giao Chỉ và Cửu Chân đã chống lại cuộc hành quân, quay lại đánh phá quận trị. Cuộc binh biến này đã kìm chân bọn đô hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân Nhật Nam phát triển.
 
Quân Hán ở Tượng Lâm không chống đỡ nổi nghĩa quân, buộc nhà Hán phải cử Chúc Lương sang làm thái thú quận Cửu Chân, Trương Kiều làm thứ sử quận Giao Chỉ. Chúc Lương đã dùng thủ đoạn chiêu dụ, mua chuộc, ly gián nên cuộc khởi nghĩa bị thất bại sau hơn một năm hoạt động. Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất của người Chăm ở Tượng Lâm, tạo điều kiện tốt và chuẩn bị cho sự xuất hiện quốc gia Chăm pa được thành lập vào cuối thời Đông Hán.

Phong trào chống áp bức ở Nhật Nam phát triển mạnh khiến cho bọn quan lại đô hộ rất lo lắng. Năm 138, vua Hán phải triệu tập bách quan công khanh, duyệt lại và thuộc viên ở bốn phủ để bàn phương lược đàn áp. Nhưng bấy giờ tình hình nội bộ nhà Đông Hán ở Trung Quốc cũng rất rối ren, nhân dân Trung Hoa cũng đang liên tiếp khởi nghĩa, do đó không cho phép nhà Đông Hán rảnh tay đưa đại quân sang Nhật Nam được.
 
Bấy giờ, đại tướng quân Lý Cố hiến kế dời hết quân lính và quan lại Trung Hoa ở hai quận Nhật Nam và Cửu Chân về Giao Chỉ, dùng chính sách “dĩ Di công Di”, dùng của cải, quan tước, ruộng đất để mua chuộc các thủ lĩnh nghĩa quân, khiến nhân dân hai quận tự đánh lẫn nhau mà tan vỡ.

Do bọn quan lại đô hộ đứng đầu là huyện lệnh Cư Phong (Cửu Chân) tham tàn, bóc lột nhân dân thậm tệ, nên mọi người ai cũng căm phẫn. Năm 157, nhân cơ hội đó, Chu Đạt kêu gọi nhân dân đứng lên, cùng quân sĩ đánh giết huyện lệnh. Lực lượng nghĩa quân lên tới 4.000 - 5.000 người. Thái thú Cửu Chân là Nghê Thức đem quân đàn áp, bị giết tại trận. Cuộc đấu tranh kéo dài đến ba năm (157-160), lực lượng có lúc phát triển đến hơn hai vạn, gồm cả người Việt và người Chăm. Nhà Hán buộc phải cử Nguỵ Lãng làm đô uý Cửu Chân dùng kế dụ dỗ và sử dụng nhiều quân lính đàn áp mới dẹp được.


(1).  Hậu Hán thư, q.6, t.9b.
(2).  Hậu Hán thư, q.71,t.9a. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 09:46:17 PM
Tuy nhiên, nhân dân Nhật Nam và Cửu Chân vẫn không ngừng nổi dậy khởi nghĩa; triều đình nhà Hán phải nhiều lần cử đô úy Cửu Chân đi đàn áp và mãi từ năm 144 đến năm 160 mới tạm dẹp yên được phong trào ở Nhật Nam.
 
Cuộc đấu tranh chống áp bức ở phương Nam có lúc tạm lắng, có lúc lại bùng lên mạnh mẽ bởi ách áp bức, bóc lột và vơ vét của quan lại đô hộ. Sử nhà Hán viết rằng “Xưa đất Giao Chỉ có nhiều sản vật quý: ngọc minh cư, lông chim sẻ, sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương lạ, gỗ đẹp không gì không có.  Các thứ sử trước sau phần lớn không thanh liêm, trên thì bợ đỡ kẻ quyền quý, dưới thì thu vét của cải của dân, đến khi đầy túi, liền xin dời đổi” (1).  Chu Thặng, thứ sử Giao châu dâng thư lên vua Hán cũng nói: “Giao châu nơi xa cách, quan lại tập tục tham ô. Họ lớn làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột nhân dân” (2).  chính vì thế, nhân dân Hợp Phố, Giao Chỉ, Ô Hứ, Cửu Chân, Nhật Nam, khắp nơi nổi dậy đánh chiếm các quận huyện (3).

Lãnh tụ nghĩa quân ở Giao Chỉ bấy giờ nổi tiếng nhất là Chu Đạt và Lương Long, đã tổ chức được những cuộc khởi nghĩa lớn. Lương Long liên kết với cả thái thú Nam Hải là Khổng Chi, cùng nổi dậy chống triều đình, chiếm lĩnh được các quận huyện trong bốn năm (178-181). Nhà Hán cử Chu Tuấn đem binh lính bảy quận đàn áp, Lương Long bị giết, nghĩa quân tan rã. Lúc đó cũng có những viên thái thú đã lợi dụng phong trào của binh lính và nông dân chống chính quyền để cát cứ, như thái thú Hợp Phố là Lai Đạt...  Nhìn chung các cuộc khởi nghĩa chống Đông Hán từ sau phong trào Hai Bà Trưng đến cuối thế kỷ I có sút kém.
 
Sang thế kỷ II, phong trào phát triển hơn mà trung tâm chủ yếu là miền Nhật Nam, đặc biệt ở Tượng Lâm (Quảng Nam), nơi sinh sống của dân tộc Chăm. Từ nửa sau thế kỷ II, nhân dân cả ba quận trên đất nước ta đều nổi dậy, phát triển lực lượng nhanh, đốt phá thành ấp, giết chết bọn quan lại nhà Hán, từ huyện lệnh đến thứ sử. Có những cuộc nổi dậy đã duy trì được ba, bốn năm, đạt tới sự liên kết nhất định, đặc biệt là ở Nhật Nam và Cửu Chân. Binh lính người Việt của chính quyền đô hộ được nhân dân thức tỉnh cũng nhiều lần làm binh biến.
 
Từ những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ, phong trào đã mạnh lên, lớn dần và đã đoàn kết được dân chúng các quận.  Tình hình đó chứng tỏ khối cộng đồng người Việt và khối đoàn kết các dân tộc anh em chung sống trên dải đất này ngày càng được củng cố qua các phong trào yêu nước chống ngoại xâm.
 
Chính quyền đô hộ Hán tộc ở châu, quận không có khả năng đàn áp những cuộc khởi nghĩa đó. Chỉ sau khi triều đình Đông Hán tổ chức những cuộc chinh phục quy mô lớn với những thủ đoạn chính trị xảo quyệt chia rẽ dân tộc, các phong trào khởi nghĩa mới bị dập tắt, chính quyền đô hộ mới được khôi phục.

Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước sau đều bị đàn áp dã man, song nó cũng có tác dụng rất lớn trong lịch sử; nó đã hun đúc truyền thống bất khuất, quật cường của người Việt trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc.
 
Đặc biệt, nhân sự suy yếu của nhà Đông Hán, cuộc đấu tranh bền bỉ của nhân dân Tượng Lâm và toàn quận Nhật Nam cuối cùng đã giành được thắng lợi - một quốc gia độc lập mới đã được thành lập ở cuối thế kỷ II. Đó là nước Chăm pa (tức Lâm Ấp) nằm trên địa bàn huyện Tượng Lâm cũ và sang đầu thế kỷ III, đã đẩy lùi cương giới của đế chế Hán ra phía bắc sông Gianh, sát với dải Hoành Sơn.


(1).  Hậu Hán thư, q.61, t.14a.
(2).   Lê Trắc: An Nam chí lược, q.7.
(3).  Hậu Hán thư, q.8, t.6a, q.116, t.8b.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:03:25 PM

Trong tình hình rối ren đó, bọn quý tộc sĩ đại phu kéo sang Giao châu rất đông.  Thực ra, tình hình Giao châu lúc đó cũng chẳng yên ổn gì.  Bọn quan lại ở đây vẫn hoành hành đục khoét nhân dân, nên ai cũng hờn giận bọn chúng.

Nhà Hán cho phép bọn thứ sử, thái thú được trưng tập danh sĩ làm thuộc viên và những phần tử được thu hút vào giai cấp thống trị theo lối đó quả là phức tạp. Bọn quý tộc quan liêu lớn cũng có thể tuyển con em trong họ hàng ra làm quan. Chẳng hạn thứ sử Giao châu cuối đời Đông Hán là Chu Phù người Cối Kê, phần nhiều dùng người đồng hương như bọn Ngu Bao, Lưu Ngạn làm trưởng lại. Bọn này bắt dân đóng thuế nặng nề, một con cá vàng cũng thu một hộc thóc. Trăm họ oán ghét làm phản, kéo đi đánh châu quận, Chu Phù phải chạy ra biển (1).

Cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, miền đất nước ta nằm dưới quyền thống trị kiểu cát cứ của cha con, anh em Sĩ Nhiếp.  Lợi dụng tình thế rối ren, thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp dâng biểu xin cho em là Sĩ Nhất làm thái thú Hợp Phố, em thứ hai là Sĩ Vĩ làm thái thú Cửu Chân và em Vĩ là Sĩ Vũ làm thái thú Nam Hải. Quyền hành của anh em Sĩ Nhiếp ở Giao châu rất lớn, họ sống xa xỉ như đế vương.

Bấy giờ, Lưu Biểu cử Ngô Cự sang làm thái thú Thương Ngô; Tôn Quyền cát cứ ở Giang Đông. Lưu Biểu muốn thu hút Giao châu vào phạm vi thống trị của mình ở Kinh châu. Vì thế, Giao châu trở thành miếng mồi tranh chấp giữa nhà Hán - Lưu Biểu và nhà Ngô - Tôn Quyền. Lúc đầu Sĩ Nhiếp một lòng theo Hán, nhưng từ khi Ngô Cự đầu hàng Tôn Quyền và nhất là từ khi Tôn Quyền cử Bộ Chất sang làm thứ sử Giao châu thì Sĩ Nhiếp lại thần phục triều Ngô.

Hằng năm Sĩ Nhiếp phải đem sản vật địa phương cống cho Ngô Tôn Quyền, trong số cống phẩm đó có nhiều lương thực, hàng ngàn tấm vải cát bá loại mịn, ngọc minh châu, đại bồi xà cừ, lưu li, lông chim trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi và các thứ hoa quả lạ như chuối tiêu, dừa, nhãn và vải lấy ở Giao Chỉ.
 
Sĩ Nhiếp vốn người gốc Hán nhưng có phần bản địa hóa. Nhân Trung Hoa có vài trăm người sang nương tựa, Sĩ Nhiếp đã khuếch trương việc truyền bá Nho giáo ở Giao châu. Việc nhà Nho ở nước ta đời sau đề cao Sĩ Nhiếp, Tôn là Sĩ vương hoặc gọi ông là “Nam giao học tổ” cũng chính vì vậy.
 
Sau khi Sĩ Nhiếp chết, con là Sĩ Huy chống lại Ngô, không chịu nhận mệnh, nổi binh giữ quận Giao Chỉ. Nhà Ngô sai thứ sử Lữ Đại đem đại binh vượt biển sang đàn áp Sĩ Huy. Gia đình Sĩ Huy, tất cả sáu người cùng nhiều tướng lĩnh tay chân bị giết; hàng vạn nhân dân Cửu Chân nhân đó khởi nghĩa cũng bị tàn sát. Tôn Quyền sáp nhập Quảng châu với Giao châu và cho Lữ Đại làm thứ sử, tước Phiên Ngung hầu. Nhà Ngô tánh khu vực Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây) ra khỏi Giao châu.

Cuộc tàn sát đẫm máu của Lữ Đại không làm nhụt ý chí bất khuất của nhân dân ta. Người Việt vẫn không ngừng nổi dậy. Sách Ngô chí viết: “Miền biên giới bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, châu Quan vẫn chưa yên” (2).  Lữ Đại ra đi (năm 231), thái thú Giao Chỉ Tiết Tổng dâng sớ cho Tôn Quyền nói: “Giao châu đất rộng người đông, hiểm trở độc hại, dân xứ ấy rất dễ làm loạn, rất khó cai trị” (3).  Trong phong trào chống Ngô thời đó, cuộc khởi nghĩa Bà Triệu có thanh thế vang động hơn cả.


(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T.1 , tr.167 .
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, T.1 , tr.167 .  
(3).  Ngô chí, q.16.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:08:39 PM

II. KHỞI NGHĨA BÀ TRIỆU (Năm 248)

Dưới ách thống trị của nhà Ngô, nhân dân Giao Chỉ, Cửu Chân bị áp bức, bóc lột rất nặng nề. Chính quyền đô hộ cai trị bằng biện pháp “lấy binh uy mà ức hiếp”. Sách Ngụy chí cho biết: “Giặc Ngô chính hình bạo ngược, phú liễm không biết thế nào là cùng” (1).  Quân xâm lược vẫn một lối vơ vét của cải vô hạn định gọi là nộp cống và bắt hàng ngàn, hàng vạn trai tráng đất Việt, xích trói họ đem sang Ngô đi lính, làm bia thịt trong cuộc hỗn chiến phong kiến Tam quốc: Ngụy - Thục - Ngô. Sách Tán thư viết: “Tôn Tư là người tham bạo, làm cho bách tính khổ sở” (2).  

Thái thú Tôn Tư đã bắt hơn 1.000 thợ thủ công Giao Chỉ về nộp vua Ngô. Trước sau, với dân ta, nhà Ngô thực thi một kiểu cách “đều lấy binh uy mà ức hiếp” (3),  kiểu cách của một chính quyền quân sự độc tài dựa vào địa chủ thực dân Hán ở Giang Nam mà lập triều đình cát cứ.

Năm 231, nhà Ngô dời đô từ Vũ Xương (Hàn Khẩu) về Kiến Nghiệp (Nam Kinh) là do sức kéo của bọn “hào hữu Giang Nam” này. Đất Ngô, dân giỏi khai mỏ đồng, đúc tiền, giỏi nghề nấu muối ven biển, nhưng thiếu thợ xây dựng. Vì thế, hàng ngàn thợ thủ công giỏi ở Giao Chỉ đã bị cưỡng bức sang Ngô xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp.
Lời sớ của Tiết Tổng, thái thú Giao Chỉ đời Ngô nêu lên rằng bọn quan lại sang cai trị Giao châu đều tàn ác: “Hoàng Cái ở Nam Hải làm thái thú Nhật Nam khi đến nơi thấy đồ cung đơn, trần thiết không đủ, đánh chết người chủ bạ, nhưng rồi cũng bị đánh đuổi. Thái thú Cửu Chân là Đam Manh vì bố vợ là Chu Kinh mà bày tiệc mời các quan to. Khi rượu say cho cử nhạc, công tào Phan Hâm đứng dậy múa, rồi mời Kinh. Kinh không chịu đứng lên. Hâm cứ thúc ép mãi.  Manh nổi giận giết Hâm. Em của Hâm là Miên đem quân đến đánh Manh. Thái thú Giao Chỉ trước là Sĩ Nhiếp sai quân đến đánh dẹp không được” (4).  Điều đó nói lên tình trạng loạn lạc và thái độ hống hách của bọn quan lại nhà ngô. Đối với nhân dân, chúng còn bóc lột, đối xử thậm tệ hơn nhiều.

Chính vì vậy, người Giao Chỉ, Cửu Chân đã không ngừng nổi dậy; bọn thứ sử, thái thú nhà Ngô không sao đàn áp được.  Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tân Hợi (231 - Ngô Hoàng Vũ năm thứ ba) Ngô vương cho là đất miền Nam đã dẹp yên, gọi thứ sử Lữ Đại về. Thái thú Hợp Phố là Tiết Tổng dâng thư nói:... “(Giao châu) đất rộng người đông, núi rừng hiểm trở, dễ làm loạn... Nay Giao châu tuy tạm yên..., nhưng nếu Đại không trở lại phương Nam nữa thì thứ sử mới nên chọn người nào cẩn thận, chu đáo, có phương lược mưu kế để vỗ về mới có thể yên được” (5).

Năm 248, nhân dân Giao Chỉ và Cửu Chân lại nổi dậy khởi nghĩa, đánh chiếm thành ấp, toàn thể Giao châu đều chấn động. Tiêu biểu hơn hết là cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu ở Cửu Chân (Thanh Hóa) .

Sử cũ của ta chép rằng: Năm Mậu Thìn (248) “người Cửu Chân lại đánh hãm thành ấp, châu quận rối động. Ngô vương cho Hành Dương đốc quân đô úy Lục Dận làm thứ sử kiêm hiệu úy. Dận đến nơi, lấy ân đức tín nghĩa hiểu dụ, dân ra hàng phục đến hơn ba vạn nhà, trong châu lại yên. Sau, người con gái ở quận Cửu Chân là Triệu ẩu tập họp dân chúng đánh chiếm các quận huyện (ẩu vú dài ba thước, vắt ra sau lưng, thường ngồi trên đầu voi đánh nhau với giặt)” (6).  

Sách Giao Chỉ chí chép: “Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần” (7).

Triệu ẩu, Triệu Thị Trinh hay Triệu Trinh Nương đều là tên gọi dân gian và bác học của Bà Triệu.

Các sách Nam Việt chí và Quảng châu ký (viết vào thế kỷ IV-V) là những sách đầu tiên ghi chép về Bà Triệu.  Những ghi chép từ đầu thế kỷ XX về trước nhìn chung đều thống nhất khi nói về quê hương của bà. Sách Thái Bình hoàn vũ ký (viết ở thế kỷ X) đã phác họa hình ảnh oai phong của Bà Triệu và chua dưới mục Quân Ninh (tức huyện Quân Yên cũ) là quê hương của bà.


(1).  Nguỵ chí, q.15, t.6a.
(2).  Tấn thư, q.57, t.5a.
(3). Ngụy chí, q.4, t.27a.
(4).  Ngô chí, q.8, t.7b.   
(5). (6). (7).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 1, tr. 166-167, 168, 169.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:11:16 PM

Các tài liệu địa lý học lịch sử đã cho chúng ta biết cụ thể, huyện Quân Ninh có tên từ đời Tùy và đến đời Đường được đổi thành huyện Quân An rồi Quân Ninh.  Sách Đại Nam nhất thông chí chép rõ hơn, rằng: “Triệu ẩu người huyện Quân Yên, Cửu Chân, tập hợp đồ đảng trong núi Bồ Điền. Nay xét huyện Quân Yên xưa tức huyện Yên Định bây giờ và Bồ Điền xưa tức xã Phú Điền bây giờ, đền thờ bà ở chân núi xã ấy” (1).

Quân Yên là ruột trái núi lớn thuộc địa phận xã Định Công, huyện Thiệu Yên, Thanh Hóa. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, tên gọi ấy vẫn tồn tại đến nay. Quanh núi Quân Yên luôn luôn gắn bó với những sự kiện lịch sử sôi động, đó là một vùng văn hóa đậm nét dân tộc. Dưới chân núi, khảo cổ học đã tìm thấy - trên cánh đồng Nếp Bắt - một làng cổ thời Đông Sơn muộn, một khu mộ táng cổ Đông Hán - Lục triều ở Cồn Bang, Cồn Chùa, với rất nhiều trống đồng loại I muộn.  Khu làng, khu mộ ấy chính là đất quê hương Bà Triệu, cũng là quê hương tiến sĩ Thưởng Công Phụ thế kỷ VIII.
 
Về mặt địa lý, vùng Quân Yên xưa đã tụ hội được những yêu cầu cần thiết của một trung tâm huyện lỵ. Sông Mã, một đầu mối giao thông đường thủy quan trọng bậc nhất đã xuôi ngang qua Định Công với ngã ba Sét phía trên, ngã ba Bông phía dưới. Sông Cầu Chày như một vòng đai lớn ôm trọn những làng xóm Định Công cổ truyền. Chính vì vậy, từ thế kỷ III, vùng này đã là nơi đô hội, hẳn là chỗ trấn trị của huyện Quân Ninh ngày ấy.
Kho tàng văn hóa dân gian quanh Định Công hiện còn lưu giữ những tài liệu vô cùng quý giá.

Tại thôn Cẩm Trướng, cáe thế hệ ở đây thường truyền nhau câu chuyện về con voi trắng. Truyền thuyết kể rằng, quanh vùng núi Quân Yên, bỗng xuất hiện một con voi trắng một ngà hết sức hung dữ, thường hay phá hoại mùa màng. Bà Triệu quyết vây bắt bằng được. Bà cùng bạn bè lùa voi xuống đầm lầy rồi nhảy lên đầu cưỡi buộc voi phải khuất phục. Từ đó voi trắng đã trở thành người bạn hết sức trung thành và theo bà trận mạc.

Cũng ở đây, rất phổ biến câu chuyện Đá biết nói. Chuyện rằng: Nghĩa quân Bà Triệu những ngày đầu mới nhóm họp,các mưu sĩ đã đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao:
 
“Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương”.

Nhờ đó, cả vùng đã loan truyền rằng: núi Quân Yên biết nói, báo hiệu cho dân chúng biết Bà Triệu là “Thiên tướng giáng trần” giúp dân, cứu nước. Trai tráng khắp nơi nô nức kéo về Quân Yên tụ nghĩa, vì vậy, hàng ngũ và thanh thế nghĩa quân ngày một lớn mạnh.

Truyền thuyết và thần tích cho chúng ta biết: Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ, tức là năm 226. Bà là em gái Triệu Quốc Đạt, một huyện lệnh có thế lực trong vùng. Cha mẹ mất sớm, bà ở với anh, năm 20 tuổi, chưa lấy chồng, bà đã chiêu nạp trai tráng trong vùng, luyện tập võ nghệ. Sau hợp binh với anh nổi dậy khởi nghĩa.

 
(1).  Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, T. 2, tr.285.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:13:46 PM

Khi Triệu Quốc Đạt mất, bà được nghĩa quân Tôn làm chủ soái.  Sách Việt Nam sử lược chép: “Năm Mậu Thìn (248), vì quan lại nhà Ngô tàn ác, dân gian khổ sở. Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu Chân. Bà ấy (tức Bà Triệu -TG) đem quân ra đánh giúp anh, quân sĩ của Triệu Quốc Đạt thấy bà ấy làm tướng có can đảm bèn Tôn lên làm chủ...” (1).  

Sách Lịch sử Việt Nam chép: “Bà Triệu - tên là Triệu Thị Trinh, có anh là Triệu Quốc Đạt, một thủ lĩnh có thế lực ở huyện Quân An, quận Cửu Chân (miền núi Nưa, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa). Bà là người có sức khỏe, có chí lớn và giàu mưu trí. Năm 19 tuổi, người con gái đầy khí phách ấy đã cùng anh tập hợp những nghĩa sĩ trên đỉnh núi Nưa, mài gươm, luyện võ, chuẩn bị khởi nghĩa. Nhân dân khắp vùng nô nức hưởng ứng công cuộc cứu nước của Bà Triệu” (2).  
 
Theo Giao Chỉ chí, bà là em gái họ Triệu, một thủ lĩnh lớn trong vùng. Hình ảnh Bà Triệu trong sử sách và tâm trí dân gian đã được huyền thoại hóa, nhưng sách Nam Việt chí còn phác họa cho ta một hình ảnh cổ kính khá chân thực về Bà Triệu: “Mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trận” .

Sau một thời gian chuẩn bị, Bà Triệu cùng nghĩa quân đã vượt sông Chu đến vùng núi Nưa, cách quê hương mình hơn 30 km để lập căn cứ, chuẩn bị tiến xuống đồng bằng.  Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Nưa - núi Tùng.

Núi Nưa là dãy núi cuối cùng về phía đông của một mạch núi kéo dài từ Tây Hiếu (Nghệ An) qua Như Xuân (Thanh Hóa) đổ về. Với độ cao gần 500m, đây là một trong những núi cao nhất rải rác quanh châu thổ Thanh Hóa. Nó đã được Nguyễn Trãi nhắc đến trong Dư đia chí: “Núi Na (tức núi NƯA-TG), núi Tùng và sông Mã ở về Thanh Hóa” (3).
 
Đây chính là bức tường thành đông nam của một thung lũng rộng lớn chạy suốt từ xã Hợp Thành, Hợp Lý đến Thọ Tiến, Thọ Tân của huyện Triệu Sơn. Thung lũng này được khép lại ở mạn đông bắc bằng những dãy đồi đất đỏ, thấp và tròn như những quả trứng. Có thể vì vậy hệ thống đồi thấp này được người xưa đặt cho cái tên là “Cửu Noãn sơn” (núi chín quả trứng).  Vòng dưới chân núi Nưa phía đông là một dòng sông nhỏ bắt nguồn từ xã Thọ Tiến, len lỏi giữa các đồi hình bát úp rồi đổ về phía đông nam. Lòng sông tuy hẹp nhưng sâu thẳm, bờ sông dốc đứng, nước chảy lững lờ, chậm chạp. Nhân dân quanh núi Nưa gọi nó là Lãn Giang (sông Lười) là vì vậy.
 
Thung lũng núi Nưa nằm trên vành đai bao quanh đồng bằng châu thổ phía bắc, qua tây đến cực nam Thanh Hóa.  Phía đông núi Nưa là châu thổ, đất đai màu mỡ, từ sớm đã là những tụ điểm dân cơ đông đúc. Ngược về phía nam núi là một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở.

Ở vào nơi có vị trí địa lý - quân sự quan trọng của quận Cửu Chân, núi Nưa đã được Bà Triệu chọn làm một căn cứ, bàn đạp của cuộc khởi nghĩa.

Từ xa xưa, dân gian quanh vùng núi Nưa đã huyền thoại hóa hình ảnh Bà Triệu trong tâm thức của mình. các thế hệ nơi đây thường truyền nhau truyền thuyết về Bà chúa Thượng Ngàn: Trên đỉnh núi Nưa có một nàng tiên xinh đẹp.  Nàng sống trong một chiếc am quanh năm mây vờn bao phủ.  Sáng chiều, nàng thường ẩn hiện sau những rặng cây xanh, luôn luôn có hai nàng tiên nữ đeo kiếm theo hầu. Nàng đẹp tuyệt trần và có quân gia hàng vạn. Nàng tiên ấy chính là Bà Triệu và am Tiên chính là chỗ ở của bà để mưu việc đánh đuổi giặc Ngô. . .


(1).  Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Sài Gòn, 1954, tr.53. 
(2).  Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, i.I, tr. 109.
(3) Nguyễn Trái: Dư địa chí, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960, tr.39. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:16:00 PM

Cảm phục chí khí hiên ngang cứu nước của người con gái trẻ, dân chúng Cửu Chân một lòng ủng hộ, theo phục Bà Triệu. Đã bao đời nay, trẻ em quanh vùng núi Nưa đã phổ biến trò chơi và một bài đồng dao quen thuộc miêu tả về cuộc khởi nghĩa của bà:

“Này cò này cấu
Này đấu này thưng
Lưng sào cánh ná
Này lá, này lao
Nghe cồng bà rao
Nghe lệnh ông Gióng
Chong chóng chạy về. . .”

Cùng với truyền thuyết và đồng dao, quanh vùng núi Nưa đâu đâu cũng ghi dấu tích về Bà Triệu và những hoạt động của nghĩa quân. Đó là Bãi Bò, nơi nghĩa quân nuôi bò lấy thịt; Đồng Bể, nơi nghĩa quân trồng lúa lấy lương ăn; Eo én, nơi nghĩa quân dùng én để tập bắn cung tên; khe Đá Bàn, nơi Bộ chỉ huy nghĩa quân thường họp nhau để bàn kế hoạch; đồi Chiêng Trống, nơi Bà Triệu gióng trống phất cờ khởi nghĩa, v.v. .

Nhân dân quanh vùng còn có truyền thuyết về chiếc Cồng Bà Triệu . Đó là chiếc cồng bị kẹp chặt trong lòng một cây đa cổ thụ trải nhiều đời. Truyền thuyết không phải là lịch sử. Nhưng nó được lưu truyền mãi vì Bà Triệu đã được nhân dân tôn thờ, ngưỡng mộ như một nhân vật huyền thoại.

Nhân dân khắp nơi ở Thanh Hóa và cả nước luôn luôn truyền nhau câu nói nổi tiếng đầy khí phách tương truyền là của Bà Triệu phát ra trên núi: “Tôi muôn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta” .

Một bài ca dao đã đi vào lòng biết bao thế hệ trẻ, trở thành thân thuộc, phản ánh khí thế đầu quân và lòng dân Cửu Chân theo Bà Triệu nổi dậy cứu nước:

“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rủa bành cho voi,
Muôn coi lên núi mà coi
Coi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh phượng cho chồng ra quân”.

Rất nhiều câu chuyện về tình dân với khởi nghĩa Bà Triệu. Đây một ông già mù miền núi đã đi khắp nơi, dùng tiếng đàn, giọng hát của mình để cổ vũ dân chúng đánh giặc; kia một bà cụ hàng nước giúp cả chõng chuối chín với chum nước chè xanh cho nghĩa quân đang trẩy quân qua giải khát.  Dọc sông Mã vùng Cẩm Thạch có truyền thuyết và di tích về một nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Ngô. Vùng Khang Nghệ có truyền thuyết nói rằng: Thời xưa sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường; đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát như lá tre. Một chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà Triệu và trở thành một dũng tướng của nghĩa quân. . .

Đầu năm 248, từ núi rừng Ngàn Nưa, nghĩa quân Bà Triệu đã ào ào tiến công thành Tư Phố. Sử sách không cho biết diễn biến cụ thể của cuộn tiến công này, chỉ nói “Bà Triệu đã nhóm họp đảng phái đánh thành Tư Phố”.
 
Tư Phố thuở đó là đầu não của chính quyền đô hộ ở Cửu Chân.  Cuộc tiến công thành Tư Phố đã mau chóng giành được thắng lợi. Bà Triệu cùng nghĩa quân vượt sông Mã xuống căn cứ Phú Điền (Bồ Điền).

Phú Điền là một thung lũng nhỏ giữa hai dãy núi đá vôi.  Phía bắc (Chân Lộc) là dãy cuối cùng của mạch núi đá vôi từ Hòa Bình vào, ngăn cách giữa Thanh Hóa và Ninh Bình; phía nam là đoạn chót của mạch núi khác từ phía tây bắc đổ xuôi về nam sông Mã. Thung lũng này ăn thông với miền đồng bằng ven biển thuộc Hoàng Hóa, Hậu Lộc. . . và bị chặn ngang phía tây bởi dòng sông Lèn.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:17:30 PM

Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngõ từ châu thổ miền Bắc vào xứ Thanh, nên Phú Điền trở thành một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cho cả công lẫn thủ. Từ đây có thể ngược sông Lèn, sông Âu ra sông Mã, rút lên mạn Định Công (quê hương Bà Triệu), hoặc tới căn cứ núi Nưa lúc cần thiết, cũng có thể chủ động tiến công ra phía bắc theo lối Thần Phù, để khống chế quân địch.  Ở đây còn có núi Chung Chinh, Bà Triệu cùng ba anh em họ Lý đã cho xây dựng liên tiếp bảy đồn lũy và một trại quân doanh. Tại Bồ Điền đã diễn ra 30 trận đánh lớn nhỏ giữa quân ta với giặc Ngô. Dưới chân núi còn lưu giữ một loạt các địa danh có liên quan với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, như cánh đồng Lăng Chúa (lăng Bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc. . .

Dựa vào căn cứ Bồ Điền và được đông đảo dân chúng Cửu Chân hưởng ứng, nghĩa quân phát triển lực lượng và tiến công đánh phá các thành ấp của giặc. Nhiều huyện thành được giải phóng, quan lại nhà Ngô từ thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ bị bắt, kẻ chạy trốn trong cơn hoảng loạn.

Từ Cửu Chân. cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Đức, Nhật Nam. Thứ sử Giao châu mất tích. Bọn quan lại đô hộ ở Giao châu và triều đình nhà Ngô hết sức hoảng sợ trước thanh thế và sức mạnh của lực lượng nghĩa quân.

Đứng trước nguy cơ bị tan rã của chính quyền đô hộ, nhà Ngô cử danh tướng Lục Dận (cháu viên danh tướng Lục Tốn) làm thứ sử Giao châu, với chức danh An Nam hiệu úy, đem thêm 8.000 quân sang nước ta đàn áp nhân dân khởi nghĩa. Lục Dận vừa dùng binh lực uy hiếp vừa theo mưu mô xảo quyệt dùng của cải mua chuộc, dụ dỗ, lung lạc một số thủ  lĩnh địa phương nhằm tập trung binh lực tiến vào Cửu Chân; vì thế bọn Hoàng Ngô và một số thủ lĩnh khác cùng với ba ngàn hộ ở Cao Lương (Hợp Phô) đã theo hàng.

Lục Dận đã thận trọng tiến binh vào Giao Chỉ và Cửu Chân, khi phát quân đàn áp, khi dừng quân dùng của cải, tiền bạc mua chuộc các thủ lĩnh địa phương. Rút cục, rất nhiều thủ lĩnh đã theo hàng quân Ngô.  Ổn định được Giao Chỉ, Lục Dận đưa toàn bộ lực lượng tiến vào Cửu Chân. Chắc hẳn viên danh tướng này đã hành quân theo con đường quen thuộc mà bọn xâm lược phương Bắc thường sử dụng, do Mã Viện mở khi tiến quân truy quét “dư đảng” của Hai Bà Trưng năm 43-44.

Bằng một lực lượng quân sự nhà nghề thiện chiến, chủ yếu là quân thủy, Lục Dận đã tiến theo hai đường: một từ Tạc Khẩu qua hành lang Hoàng Cương - Chính Đại - Bạch Ác, ngược sông Lèn tiến đánh mặt bắc; một mũi theo đường biển vòng vào sông Sung và sông Vích (cửa Lạch Trường) vu hồi phía nam. Quanh vùng Yên Mô (Ninh Bình) hiện còn truyền thuyết về một trận quyết chiến giữa nghĩa quân Bà Triệu với quân Ngô; có thể đó là trận đánh của đạo nghĩa quân do Bà Triệu điều từ Thanh Hóa ra đánh chặn quân địch ở mặt bắc.

Truyền thuyết dân gian kể rằng: Bà Triệu đã chiến đấu chống giặc Ngô trên 30 trận thắng lợi. Giặc gọi tên bà là Nhụy Kiều tướng quân (Vị tướng nữ yêu kiều), là “Lệ Hải Bà Vương” (vua bà vùng biển mỹ lệ). Quân Ngô sợ bà thường nói: “Đương hổ dị, đối thị nan” (chống với hổ thì dễ, nhưng chống lại Bà Triệu thật khó), hoặc còn có câu:

“Hoành qua đương hổ dị
Đối diện thị Vương nan!”.
(Múa ngang ngọn giáo chông hùm dễ
Đối mặt Vua Bà thực khó ghê)

Cũng theo truyền thuyết dân gian, về sau có kẻ phản bội, mách với Lục Dận rằng bà là nữ tướng “ái khiết úy ô” (yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn). Quân Ngô liền trần truồng tiến đánh bà. Bà hổ thẹn, giao binh cho bà tướng họ Lý, lên núi tự vẫn.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:24:49 PM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/LangBaTrieu.jpg?t=1231769403)
Đó chỉ là truyền thuyết. Trên thực tế, sau hơn 30 trận thất bại, quân Ngô bị tổn thất lớn, chúng đã tăng cường binh lực, cử thêm tướng tài quyết tâm tiêu diệt nghĩa quân. Trong một trận ác chiến ở khu căn cứ Bồ Điền, Bà Triệu đã anh dũng hy sinh. Đó là ngày 22 tháng hai năm Mậu Thìn (248). Nhân dân thương tiếc, kính phục bà; từ bao đời nay ngày đó đã trở thành ngày lễ hội tại đền thờ Bà Triệu dưới chân núi Tùng.
 
Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh của người con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng “giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ ‘ vẫn muôn thuở không mờ phai trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam.

“Tùng sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh”.

                                                             
                                                                              (Thơ ca dân gian)
Cuộc khởi nghĩa đã để lại một dấu son sáng chói trong lịch sử quân sự nước ta. Đây là cuộc nổi dậy tiêu biểu, mạnh mẽ nhất, rộng lớn nhất và “là đỉnh cao của phong trào nhân dân thế kỷ II-III, nổ ra ngay trong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lượng hùng mạnh, đã củng cố được ách thống trị trên đất nước ta và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hóa của chúng” (1).Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu là sự kết tinh của một chặng đường dài đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân ta. Khởi nghĩa Bà Triệu đã để lại những bài học lịch sử về việc tổ chức lực lượng, về xây dựng căn cứ địa, về phương thức đấu tranh chống xâm lược. . .

Hình ảnh và ý chí Bà Triệu sống mãi trong tâm thức dân gian. Vai trò và vị trí người phụ nữ được đề cao, đó là một truyền thống nhân văn của dân tộc ta. Câu nói: “Na sơn nhất phiến nhất hô thiên hạ biến” (một tiếng hô ở núi Nưa đã chuyển biến cả thiên hạ) muốn đề cao sự nghiệp của vị nữ anh hùng ấy.
 
Bà Triệu mất. Giặc Ngô tăng cường ách áp bức và bóc lột.  Nhưng chúng vẫn không thể dập tắt được tinh thần quật cường, bất khuất của nhân dân ta.


(1).  Lịch sử Việt Nam, Sđd, T.1, tr.l09.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:28:23 PM

III- TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC SAU KHỞI NGHĨA BÀ TRIỆU:
XU HƯỚNG LY TÂM CHÍNH TRỊ Ở GIAO CHÂU (TỪ THẾ KỶ III ĐẾN THẾ KỶ VI)

1. Giao châu sau khởi nghĩa Bà Triệu

Năm 248, người Lâm ấp đã tiến đến sông Thọ Linh (Sông Gianh), lấy đó làm cương giới. Sau khi để tuột khỏi tay phần đất phía nam, đặc biệt sau cuộc nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân Cửu Chân, chính quyền đô hộ ở nước ta càng lo lắng và tìm mọi cách trấn áp phong trào chống đối. Quân xâm lược tăng cường bóc lột nhân dân.
Năm 262, nhà Ngô sai quan sát chiến tên là Đặng Tuân sang Giao Chỉ bắt dân phải nộp chim công, lợn lớn đem về Ngô. Bấy giờ, người Giao Chỉ phải nộp 3.000 chim công và phải đi lao dịch nơi đất xa cực khổ. Nhân sự bất bình của nhân dân, một quan lại ở Giao Chỉ là Lữ Hưng đã tập hợp hào kiệt trong châu cùng binh dân nổi dậy, giết chết thái thú Giao Chỉ và quan sát chiến Đặng Tuân. Nhưng sau đó Hưng và bọn quan lại nhà Ngô ở Giao châu lại thần phục nhà Ngụy, dâng đất nước ta cho Ngụy, rồi Tấn. Quan lại ở Giao châu, kẻ hàng Ngụy - Tấn, kẻ trung thành với Ngô đã đánh nhau. Một số thủ lĩnh địa phương nhân tình thế rối ren đó mà củng cố quyền tự trị.
 
Bấy giờ, ở Trung Hoa, quân Ngụy đang tiến vào đất Ba Thục để tiêu diệt Thục. Lữ Hưng sai sứ là bọn đô úy Đường Phổ sang Ngụy xin thái thú và binh lính. Nhà Ngụy cấp cho một vạn dân đồn điền làm binh. Như vậy, Lữ Hưng đã hoàn toàn phản bội - dựa vào phong trào nhân dân và binh lính để giết thái thú, đuổi trưởng lại, nhưng sau lại đầu hàng bọn phong kiến Trung Hoa.
 
Tất nhiên, do dân chống đối mạnh mẽ nên Lữ Hưng phải xin viện binh từ nước Ngụy và Lữ Hưng cũng đã được trao quan tước thống trị ở Giao Chỉ. Nhà Ngô tìm mọi cách giành lại đất Giao châu từ tay Ngụy.  Tháng 7-264, nhà Ngô tách Giao châu, đặt Quảng châu.  Quảng châu lúc này chỉ gồm ba quận: Nam Hải, Uất Lâm và Thương Ngô. Đất Hợp Phố và ba quận phía nam Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam thuộc Giao châu.

Giao châu trong nhiều năm trở thành bãi chiến trường giữa hai thế lực theo Ngô và theo Tấn (Ngụy), đặc biệt là cuộc chiến giữa Đào Hoàng và Đổng Nguyên. Cuối cùng Đổng Nguyên chết, nhà Ngô dùng Đào Hoàng làm thứ sử Giao châu. Thái thú Giao Chỉ theo Tấn là Dương Tắc cùng tướng quân Mao Cảnh sau đó đều phải hàng Ngô. Tuy Đào Hoàng ra sức bình định Giao châu, nhưng lúc đó có nhiều vùng ở Giao châu không chịu đầu hàng chính quyền thực dân; dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng, họ vẫn bảo toàn được đất đai thuộc phạm vi bộ lạc mình mà quân Ngô vẫn không thể đánh chiếm nổi.

Đào Hoàng dùng quỷ kế, ra lệnh không bán sắt và muối cho người Giao Chỉ, để buộc nhân dân phải hủy bỏ khí giới làm đồ điền khí. Tuy nhiên, các cuộc chống đối vẫn diễn ra; nổi tiếng nhất trong phong trào chống Ngô lúc đó là cuộc chiến đấu của người Phù Nghiêm.
 
Thủy kinh chú dẫn Giao châu ngoại vực ký nói rằng : “Miền cương giới quận Giao Chỉ có khe Phù Nghiêm ở về phía bắc quận, cách một con sông mà phía bắc sông ấy đối ngay với huyện Chu Diên” (1).  Cư dân ở đó gọi là người Phù Nghiêm Di, tức người Lão (2).  Đây là đất huyện Phong Khê đời Hán, bao gồm phần đất nằm giữa sông Cà Lồ, sông Đống, núi Tiên Du và sông Hồng. Trải qua biến loạn cuối đời Hán và đầu đời Ngô, người Phù Nghiêm đã thoát khỏi sự thống trị của chính quyền đô hộ . Theo Tấn thư, đó là miền “đất hiểm trở, Di Lão hùng mạnh, trải nhiều đời không theo phục” (3).

Năm 271 , giành lại được Giao châu từ tay quan lại nhà Tấn, tướng Ngô kiêm thứ sử Giao châu Đào Hoàng đã bình định được Phù Nghiêm Di, đặt thành quận Vũ Bình.
 
Cũng thời gian này, Đào Hoàng tiến quân vào đàn áp các phong trào ở Cửu Chân, “mở thêm 30 huyện thuộc quốc” (Tấn thư), lập thêm quận Cửu Đức (nay là Đức Thọ, Hà Tĩnh) .
 
Nhà Tấn không từ bỏ ý định lấy lại Giao châu từ tay Ngô. Năm 272, tướng Ngô ở Tây Lăng là Bộ Siển (cháu Bộ Chất, thứ sử Giao châu trước đây) hàng Tấn, được phong làm “đô đốc Tây Lăng chư quân sự, vệ tướng quân, nghi đồng tam ti”, gia phong “Giả tiết lĩnh Giao châu thứ sử” (4).


(1).   Thủy kinh chú, q.37.
(2).  Theo Tống thư, q.38, t.22a.
(3).  Tấn thư, q.57, t.5b.
(4).  Ngô Chí, q. 7, t. 17a.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:31:22 PM

Năm 280, Ngô bị Tấn diệt. Đào Hoàng buộc phải hàng Tấn, sai sứ đem ấn về kinh đô Lạc Dương. Tấn Vũ Đế vẫn cho Đào Hoàng làm Giao châu mục, phong làm Uyển Lăng hầu, sau đổi làm quán quân tướng quân. Bấy giờ, nhà Tấn chủ trương giảm binh bị toàn quốc, nhưng Đào Hoàng dâng sớ xin Tấn Vũ Đế đừng giảm binh lính ở Giao châu và được vua Tấn chấp thuận. Trong lời sớ đó, Đào Hoàng có đề cập đến ba nội dung phản ánh tình hình Giao châu như sau:

1 . Tình trạng mất an ninh thường xuyên của phương Nam “gần như không khi nào được yên ổn luôn trong ba ngày”.
 
2. Tính hạn chế của quyền lực đô hộ của phong kiến Ngô - Tấn, gần như đơn thuần dựa vào binh lực và những cuộc hành quân đàn áp mà vẫn phải chịu áp lực thường xuyên của phong trào bất phục tùng và phản kháng của dân chúng Giao châu.

3. Những người Việt tuyệt vời quật cường bất khuất; vì trong con mắt kẻ địch, họ là những kẻ “chán yên vui, thích làm loạn”, “bè đảng dựa vào nhau, cậy ở nơi hiểm yếu, không chịu thần phục”, “thường hay cướp bóc làm giặc, đánh phá quận huyện, giết hại trưởng lại...” (1).

Những điều trên chứng tỏ, sau cuộc khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, phong trào chống Ngô, thống đô hộ của nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân vẫn liên tiếp diễn ra dưới nhiều hình thức, khi lặng lẽ, lúc công khai, kiên nhẫn và bền bỉ lan tràn khắp các địa phương, khiến cho bọn quan lại xâm lược luôn luôn lo lắng, không yên và tìm mọi cách để đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân ta.

2. Giao châu dưới thời thuộc Tấn (280 - 420).

 Như trên đã nói, năm 280, Tây Tấn diệt Ngô kết thúc cục diện phân liệt thời Tam quốc. Nhưng sự thống nhất ở Trung Quốc chỉ được hơn 10 năm thì xảy ra “loạn bát vương” trong 15 năm, rồi tiếp đến giai đoạn “Ngũ Hồ loạn Hoa”. Năm 316, nhà Tấn phải dời kinh đô từ Lạc Dương về Kiến Nghiệp, khống chế khu vực Trường Giang và phương nam; sử gọi là Đông Tấn (317 - 420) .

Từ khi Đào Hoàng đầu hàng Tấn Vũ Đế, Giao châu bị đặt dưới ách thống trị của Tây Tấn và sau đó là Đông Tấn.  Đông Tấn phải đối phó với các triều đại do các tộc tây bắc lập nên, chính quyền cục bộ của Đông Tấn xây dựng trên nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng, như mâu thuẫn giữa các sĩ tộc phương bắc dời về phương nam, giữa sĩ tộc nam và bắc, giữa sĩ tộc và nhân dân, nhất là giữa địa chủ và nông dân. Vì thế, Đông Tấn không thể kiểm soát chặt chẽ được Giao châu.
 
Trên thực tế, quyền hành ở Giao châu nằm trong tay bọn quan lại đô hộ, giống như một chính quyền cát cứ, chỉ phụ thuộc một cách lỏng lẻo, chỉ trên danh nghĩa đối với chính quyền trung ương triều Tấn. Cha con, anh em bọn thái thú, thứ sử Giao châu kế tiếp nhau thống trị. Giao châu ngày càng tách rời khỏi Trung Quốc.

Vì chính quyền Giao châu mang tính chất cát cứ như vậy, nên bọn quan lại ở đây thường mâu thuẫn, đánh giết nhau, tranh giành quyền bính; vả lại vua Lâm Ấp cũng thường cho quân đánh Nhật Nam và Cửu Chân.

Trong tình hình hỗn chiến ấy, sức sản xuất ở nước ta bị đình trệ, đời sống nhân dân cực khổ. Bọn quan lại Giao châu mặc sức hoành hành, bọn địa chủ quan liêu chiếm đoạt ruộng đất không hạn chế, nhân dân bị bóc lột, sưu cao thuế nặng, lao dịch khổ sở. mâu thuẫn giữa nhân dân ta và bọn quan lại đô hộ càng thêm sâu sắc. Khởi nghĩa nông dân đã thường xuyên no ra.

Đào Hoàng cai trị Giao châu 30 năm, nhưng “Phải luôn năm đánh dẹp”. Y phải tâu xin vua Tấn thường xuyên duy trì lực lượng quân sự lớn để trấn áp nhân dân.

Khi Đào Hoàng chết, nhà Tấn cử viên ngoại lang tán kỵ thường thị Ngô Ngạn sang làm nam trung đô đốc, Giao châu thứ sử. Bấy giờ, quân sĩ ở Cửu Chân do Triệu Chỉ cầm đầu đã nổi lên khởi nghĩa, bao vây quận thành, đánh đuổi thái thú Cửu Chân. Nhưng đã bị Ngô Ngạn dẫn quân vào đàn áp.
 
Dưới đời Tấn và Nam Bắc triều, ngoài chức thứ sử cai trị ở các châu, còn đặt chức đô đốc chư quân sự coi việc quân nhiều châu gộp lại; năm 309, Sơn Giản được cử làm Chinh nam tướng quân, đô đốc quân sự ở bốn châu: Kinh, Tương, Giao và Quảng; hoặc năm 411, Chử Thúc Độ làm “đô đốc Giao Quảng nhị châu chư quân sự, kiến uy tướng quân, lĩnh Bình Việt trung lang tướng. . .” .


(1).  Tấn Thư, q.57 Đào Hoàng truyện có chép nguyên văn tờ sớ của Đào Hoàng.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:34:28 PM

Sau Ngô Ngạn, nhiều quan lại Hán thay nhau cai trị Giao châu. Trong một thời gian dài, chính quyền ở Giao châu do anh em con cháu họ Cố (Cố Bí, Cố Thọ) và họ Đào (Đào Hoàng, Đào Cơ, Đào Tuy) kế tiếp nhau nắm giữ, thứ sử Giao châu không phải do triều đình trung ương phái đến.
 
Trên thực tế, chính quyền ở Giao châu từ đây như một chính quyền cát cứ, hoặc do bọn chỉ huy quân sự địa phương thao túng, hoặc ở trong tay bọn thứ sử, thái thú “lập nghiệp” trên đất Giao châu lâu đời biến thành “cự tộc” bản địa.

Do triều đình Đông Tấn suy yếu nên Giao châu trở thành nơi tranh giành đánh cướp lẫn nhau giữa bọn quan lại thực dân, như bọn Vương Cơ, Lương Thạc, Vương Lượng, Đào Khản, Đỗ Viện... Quan lại cự tộc đánh giết nhau lung tung để tự lập, kẻ nào mạnh, cướp được quyền hành thì mang danh nghĩa thay mặt eho triều đình. Từ thời Tấn xu hướng ly tâm chính trị là chủ đạo.

Bọn quan lại đô hộ ra sức bóc lột vơ vét của nhân dân.  Sách Tấn thư nói rằng: “Thứ sử Giao châu và thái thú Nhật Nam phần nhiều tham lợi, lấn hiếp”, cướp bóc của cải của các thương gia và nhân dân (1).  Trên cơ sở đó, bọn quan lại và bọn địa chủ Hán tộc xây dựng thực lực kinh tế và chính trị, nảy sinh xu hướng cát cứ. Năm 380, cha con Lý Tốn chiếm cứ Giao châu. Tông thư chép: “Cha con Lý Tốn là người khỏe mạnh, có quyền thế, uy lực khống chế cả đất Giao châu” (2).

Tình hình ấy, khiến cho Lâm ấp có cơ hội luôn năm vào cướp phá Giao châu. Nhân dân Cửu Chân và Nhật Nam ngoài ách áp bức bóc lột của quan lại đô hộ còn chịu bao nhiêu tai vạ do chiến tranh. Có khi Lâm ấp còn đánh ra bắc, bao vây châu thành Long Biên. Đỗ Viện đánh đuổi được Lâm ấp và làm thứ sử Giao châu ba đời liền.

Triều chính cuối thời Đông Tấn suy yếu, các thủ lĩnh quân sự địa phương như Vương Cung, Âu Trọng Khanh, Hoàn Huyền, Dương Truyền Kỳ, v.v. khởi loạn, không thụ mệnh.
 
Lúc đó, ở Trung Quốc có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra; trong đó có khởi nghĩa của Lư Tuần ở Quảng châu, sau ảnh hưởng đến Giao châu (411) và đã phối hợp với nhân dân Giao châu chống chính quyền thống trị.

Ở Giao châu bấy giờ có Lý Tử Tốn, Lý Dịch, Lý Thoát tập hợp nhân dân khởi nghĩa, dẫn 5.000 - 6.000 người liên minh với Lư Tuần, cùng tiến công thành Long Biên (6- 411) . Đỗ Tuệ Độ (con Đỗ Viện) lúc đó là “Sứ trì tiết đốc Giao châu chư quân sự, quảng vũ tướng quân, Giao châu thứ sử” cùng em là thái thú Giao Chỉ Đỗ Tuệ Kỳ và thái thú Cửu Chân Đỗ thường Dân đốc hết thảy quân thủy bộ hợp sức đánh bại Lư Tuần và quân khởi nghĩa.

Nghĩa quân thất bại, các thủ lĩnh bị giết.  Đỗ Tuệ nhờ đó được phong làm Long Biên hầu, ăn thực ấp 1.000 hộ (3).  Năm 412, dư đảng của nghĩa quân Trung Quốc do Lư Khánh Đạo chỉ huy lại chạy sang Giao châu. Những dân nghèo người Việt đã liên kết với họ nổi dậy khởi nghĩa, đánh phá quận Cửu Chân, giết chết viên thái thú quận này. Đây là hình thức liên kết đầu tiên giữa nhân dân Giao châu với nông dân miền nam Trung Quốc cùng chống bọn quan lại thống trị.


(1).  Tấn thư, q.49, t.5b và q.97.
(2).  Tống thư, q.92, t.2b.
(3).  Tấn thư, q.100, t.16b, Đỗ Tuệ truyện; Thuỷ kinh chú, q.37, t.6a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:37:44 PM
Năm 420, sau khi đánh tan được cuộc khởi nghĩa nông dân Tôn An, Lưu Dụ chuyên quyền và cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, mở đầu triều đại Nam triều ở Trung Quốc (420 - 579); sử thường gọi là Lưu Tống hay Tiền Tống để phân biệt với nhà Tống năm thế kỷ sau. Đỗ Tuệ Độ đầu hàng Tống và được tiến hiệu phụ quốc tướng quân.
 
3. Giao châu dưới sự cai trị của nhà Tống (420-479). Khởi nghĩa Lý Trường Nhân (468)

Năm 423, Đỗ Tuệ Độ chết, con là Đỗ Hoàng Văn lên thay làm thứ sử Giao châu và tập tước Long Biên hầu. Năm 427, nhà Tống cử Vương Huy Chi sang thay Đỗ Hoàng Văn. Từ đây, chính quyền trung ương nắm Giao châu chặt chẽ hơn, thường xuyên cử thứ sử sang cai quản Giao châu.
 
Năm 471, nhà Tống tách đất Hợp Phố khỏi Giao châu và hợp với một số quận khác của Quảng châu thành lập Việt châu. Ở Giao châu đặt thêm hai quận mới Nghĩa Xương và Tống Bình (khu vực Hà Nội); việc quân sự ở Giao châu thường giao cho bọn thứ sử Quảng châu kiêm giữ; còn các chức quận huyện quan thì do thứ sử Giao châu tự ý bổ nhiệm.  Nhà Tống quản lý chặt các quan thứ sử và thái thú Giao châu vì nhìn thấy nguồn lợi từ xứ sở này.
 
Theo An Nam chí lược, Tống Hiến Đế (454 - 464) là kẻ rất tham tài lợi, thường bắt các quan thứ sử và thái thú ở đây phải dâng nộp tiền của và sản vật (1).  Do đó, bọn quan lại tha hồ bóc lột nhân dân, vơ vét làm của riêng và dành một phần đút lót cho vua Tống.  Tống thư cho biết, thứ sử Đàn Dực Chi sang cai trị ở Quảng châu chỉ ba năm (462 - 465) mà khi về nước đem theo của báu có tới hàng vạn (2);  thứ sử Hoàn Phiệt đời Tống Hiến Đế có gia tư tài sản nhiều không kể xiết.

Chịu tai họa vì chiến tranh giữa quan lại Trung Hoa ở Giao châu với người Lâm ấp, lại bị bọn chúng bóc lột khổ sở, nên cuối đời Tống nhân dân đã nổi dậy liên tục, tiêu biểu là phong trào do Lý Trường Nhân lãnh đạo (468). Sử Trung Quốc chỉ nói Lý Trường Nhân là một “thổ nhân”, một “Giao châu nhân” (người Giao châu). Có lẽ ông thuộc tầng lớp hào trưởng địa phương và trước đó chưa làm quan chức gì cho chính quyền đô hộ.

Khi thứ sử Giao châu chết, Lý Trường Nhân đã lãnh đạo nhân dân giết hết bọn quan quân đô hộ, bọn thuộc hạ của thứ sử cùng những người lưu ngụ từ phương Bắc sang; tự xưng là thứ sử.

Nhà Tống cử Ngô Hỷ, Tông Phụng Bá sang Giao châu, làm thứ sử nhưng bọn Hỷ, Bá đều sợ không dám đi. Tháng 8-468, Lưu Bột được cử sang làm thứ sử Giao châu, nhưng bị Lý Trường Nhân chống lại và bị chết. Lý Trường Nhân sai người sang Tống xin hàng, nhưng vẫn quản lãnh công việc ở Giao châu. Nhà Tống buộc phải chấp thuận chức thứ sử đó.
 
Khi Lý Trường Nhân chết, em họ là Lý Thúc Hiến lên thay làm thứ sử Giao châu. Năm 477, nhà Tống cử tả thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán sang Giao châu làm thứ sử; chỉ công nhận cho Lý Thúc Hiến làm ninh viễn tư mã, lĩnh thái thú hai quận Vũ Bình và Tân Xương. Thúc Hiến đã được mệnh của triều đình nhà Tống, lại được lòng người theo phục, bèn đem quân giữ nơi hiểm, không chịu thu nạp Thẩm Hoán. Thẩm Hoán phái ở lại Uất Lâm rồi chết. Vua Tống bèn cho Lý Thúc Hiến làm thứ sử, cai trị đất phương Nam. Chính quyền của Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến đã có màu sắc tự trị.


(1).   Lê Trắc: An Nam chí lược, q.8.[/i]
(2).  Tống thư, q.84, t.8a.[/i]


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:40:43 PM

Năm 420, sau khi đánh tan được cuộc khởi nghĩa nông dân Tôn An, Lưu Dụ chuyên quyền và cướp ngôi nhà Tấn, lập ra nhà Tống, mở đầu triều đại Nam triều ở Trung Quốc (420 - 579); sử thường gọi là Lưu Tống hay Tiền Tống để phân biệt với nhà Tống năm thế kỷ sau. Đỗ Tuệ Độ đầu hàng Tống và được tiến hiệu phụ quốc tướng quân.
 
3. Giao châu dưới sự cai trị của nhà Tống (420-479). Khởi nghĩa Lý Trường Nhân (468)

Năm 423, Đỗ Tuệ Độ chết, con là Đỗ Hoàng Văn lên thay làm thứ sử Giao châu và tập tước Long Biên hầu. Năm 427, nhà Tống cử Vương Huy Chi sang thay Đỗ Hoàng Văn. Từ đây, chính quyền trung ương nắm Giao châu chặt chẽ hơn, thường xuyên cử thứ sử sang cai quản Giao châu.
 
Năm 471, nhà Tống tách đất Hợp Phố khỏi Giao châu và hợp với một số quận khác của Quảng châu thành lập Việt châu. Ở Giao châu đặt thêm hai quận mới Nghĩa Xương và Tống Bình (khu vực Hà Nội); việc quân sự ở Giao châu thường giao cho bọn thứ sử Quảng châu kiêm giữ; còn các chức quận huyện quan thì do thứ sử Giao châu tự ý bổ nhiệm.  Nhà Tống quản lý chặt các quan thứ sử và thái thú Giao châu vì nhìn thấy nguồn lợi từ xứ sở này.
 
Theo An Nam chí lược, Tống Hiến Đế (454 - 464) là kẻ rất tham tài lợi, thường bắt các quan thứ sử và thái thú ở đây phải dâng nộp tiền của và sản vật (1).  Do đó, bọn quan lại tha hồ bóc lột nhân dân, vơ vét làm của riêng và dành một phần đút lót cho vua Tống.  Tống thư cho biết, thứ sử Đàn Dực Chi sang cai trị ở Quảng châu chỉ ba năm (462 - 465) mà khi về nước đem theo của báu có tới hàng vạn (2);  thứ sử Hoàn Phiệt đời Tống Hiến Đế có gia tư tài sản nhiều không kể xiết.

Chịu tai họa vì chiến tranh giữa quan lại Trung Hoa ở Giao châu với người Lâm ấp, lại bị bọn chúng bóc lột khổ sở, nên cuối đời Tống nhân dân đã nổi dậy liên tục, tiêu biểu là phong trào do Lý Trường Nhân lãnh đạo (468). Sử Trung Quốc chỉ nói Lý Trường Nhân là một “thổ nhân”, một “Giao châu nhân” (người Giao châu). Có lẽ ông thuộc tầng lớp hào trưởng địa phương và trước đó chưa làm quan chức gì cho chính quyền đô hộ.

Khi thứ sử Giao châu chết, Lý Trường Nhân đã lãnh đạo nhân dân giết hết bọn quan quân đô hộ, bọn thuộc hạ của thứ sử cùng những người lưu ngụ từ phương Bắc sang; tự xưng là thứ sử.

Nhà Tống cử Ngô Hỷ, Tông Phụng Bá sang Giao châu, làm thứ sử nhưng bọn Hỷ, Bá đều sợ không dám đi. Tháng 8-468, Lưu Bột được cử sang làm thứ sử Giao châu, nhưng bị Lý Trường Nhân chống lại và bị chết. Lý Trường Nhân sai người sang Tống xin hàng, nhưng vẫn quản lãnh công việc ở Giao châu. Nhà Tống buộc phải chấp thuận chức thứ sử đó.
 
Khi Lý Trường Nhân chết, em họ là Lý Thúc Hiến lên thay làm thứ sử Giao châu. Năm 477, nhà Tống cử tả thái thú Nam Hải là Thẩm Hoán sang Giao châu làm thứ sử; chỉ công nhận cho Lý Thúc Hiến làm ninh viễn tư mã, lĩnh thái thú hai quận Vũ Bình và Tân Xương. Thúc Hiến đã được mệnh của triều đình nhà Tống, lại được lòng người theo phục, bèn đem quân giữ nơi hiểm, không chịu thu nạp Thẩm Hoán. Thẩm Hoán phái ở lại Uất Lâm rồi chết. Vua Tống bèn cho Lý Thúc Hiến làm thứ sử, cai trị đất phương Nam. Chính quyền của Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến đã có màu sắc tự trị.


(1). Lê Trắc: An Nam chí lược, q.8
(2). Tống thư, q.84, t.8a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:49:26 PM
4. Tình hình Giao châu dưới thời thuộc Tề

Tề Cao Đế (Tiêu Đạo Thành) lên ngôi năm 477. Hai năm sau, tháng 7-479, vua Tề xuống chiếu “xá tội” cho Giao châu, sai sứ sang tuyên dương Lý Thúc Hiến là “văn võ toàn tài” và công nhận Thúc Hiến làm thứ sử Giao châu (1).  Đối với Tề Cao Đế đó là một việc bất đắc dĩ, song đối với nhân dân Giao châu thì đó là một thắng lợi lớn, là kết quả quan trọng của cả quá trình không ngừng nổi dậy chống ách áp bức đô hộ ngoại bang ở Giao Chỉ và Cửu Chân.

Cũng như Lý Trường Nhân trước đây, Lý Thúc Hiến tuy là quan thứ sử ở phương Nam, song ông có ý thức tự chủ ở Giao châu, đã đoạn tuyệt mọi cống nộp với triều đình phương Bắc. Tuy nhiên, lực lượng mới gây dựng của Lý Thúc Hiến hãy còn yếu, vì thế thành quả của cuộc khởi nghĩa nhân dân dưới sự lãnh đạo của họ Lý không duy trì dược lâu dài.

Thấy nhức nhối vì một Giao châu đang có xu hướng ly tâm chính trị, đầu năm 485, nhà Tề tổ chức cuộc chinh phục để chiếm lại Giao châu. Đại tư nông Lưu Khải dược cử làm thứ sử Giao châu, chỉ huy quân đội các quận Hiến Khang, Lư Lăng và Thủy Hưng sang đàn áp Lý Thúc Hiến và phong trào tự trị.

Lý Thúc Hiến sai sứ sang Tề tâu xin bãi binh và theo lệ vài năm lại dâng Tề Cao Đế 20 cỗ mũ đầu mâu toàn bằng bạc và dải lụa bằng lông công, nhưng vua Tề không nghe. Trước sức ép đó, Thúc Hiến phải sang đầu hàng nhà Tề (2).  Lưu Khải vào trấn, Giao châu tiếp tục rơi vào ách thống trị của phong kiến ngoại bang.

Tập đoàn thống trị mới ở Giao châu mặc sức bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân. Khi thứ sử Phòng Pháp Thừa đến trấn trị ở Giao châu thay Lưu Khải đã mượn cớ ốm đau, chỉ ngồi đọc sách, sai bọn sử lại cung đốn, phục dịch. Vì thế, viên trưởng lại Phục Đăng Chi chuyên quyền tự thay đổi các tướng lại. Quan lục sự Phòng Tú Văn đem việc đó nói với Pháp Thừa, do đó Đăng Chi bị bắt giam 10 ngày. Đăng Chi buộc phải đút lót người nhà thứ sử, nên mới được tha. Tiếp đó Đăng Chi đã đem bộ khúc bất ngờ đánh úp châu trị, bắt giam Pháp Thừa, rồi tâu về triều đình là Pháp Thừa bị bệnh tim, không thể trông coi việc chính trị ở Giao châu được. Vua Tề phế Pháp Thừa, sử dụng Đăng Chi làm thứ sử (3).  

Cuối thời Tề, bọn quan lại Giao châu thâu tóm các quyền hành, có ý cát cứ Nhân dân Giao châu không chịu nổi ách áp bức thống trị của bọn chúng, đã không ngừng nổi dậy. Điều đó cũng được sách Nam Tề thư phản ánh: “Dân (Giao châu) cậy ở nơi hiểm trở xa xôi, luôn luôn thích làm loạn” (4).   Tuy nhiên, triều Tề chỉ tồn lại được 21 năm, với ba đời vua ngắn ngủi. Tướng Tiêu Diễn khởi binh giành ngôi vua, lập ra nhà Lương (502 - 557).

5. Giao châu dưới thời thuộc Lương

Đầu thế kỷ thứ VI, Lý Nguyên Khải thay Đăng Chi làm thứ sử Giao châu. Nhân khi Tiêu Diễn đoạt ngôi vua Tề, Nguyên Khải cố tình cát cứ, không chịu mệnh. Lương Vũ Đế sai trưởng sử Lý Tắc đem “Tông binh” sang đánh, giết Nguyên Khải. Từ tháng 11-516, vua Lương xuống chiếu cử Lý Tắc làm thứ sử Giao châu. Tắc dẹp yên được các dư đảng của Lý Khải.

Trước đây Giao châu gồm các quận Giao Chỉ, Tân Xương, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam. Lúc này, nhà Lương chia nhỏ các châu, nâng số quận và huyện lên hàng châu. Năm 523, nhà Lương chia đất Giao châu, đặt Ái châu (Thanh Hóa) . Đồng thời đổi quận Cửu Đức thành Đức châu và lập hai châu mới là Lợi châu và Minh châu. Năm 535, nhà Lương cắt một phần đất miền ven biển quận Giao Chỉ, đặt ra Hoàng châu.

Thế là đến đời Lương (thế kỷ VI), miền đất nước ta bao gồm bảy châu. Đó là Giao châu, Ái châu, Hưng châu, Hoàng châu, Đức châu, Lợi châu và Minh châu. Diện tích một châu lại càng bị thu hẹp, có khi không bằng diện tích một quận trước kia. Dĩ nhiên, châu nhiều thì quan lắm, bộ máy đô hộ đã nặng nề lại càng nặng nề hơn.


(1).   Nam Tề thư, q.2, t.3a và q.58, t.7a.[/i](2).  Nam Tề thư, q.58, t.7a; Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t., tr.177.
(3).   Nam Tề thư, q. 58, t.5b; Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.177.
(4).  Nam Tề thư, q. 14, t. 13a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 12 Tháng Một, 2009, 10:52:53 PM
Ngoài các thái thú, thứ sử và các quan được triều đình cử đến, hệ thống quan lại các cấp ở nước ta thời bấy giờ hình thành từ hai nguồn. Thứ nhất, chính quyền của bọn thống trị Trung Quốc muốn thu được nhiều Tô thuế, bắt dân lao dịch, tróc nã cống phẩm, v.v., tất chúng phải dựa vào các hào trưởng địa phương người Việt; vì vậy, chính quyền cũng bổ nhiệm một số trong lớp hào trưởng địa phương làm quan hạ cấp Trong số hào trưởng này cũng có những người vốn là cơ dân người Hán hoặc sĩ tộc từ phương Bắc di cư sang Giao Chỉ từ lâu đời, đã Việt hóa. Họ là những người có thế lực ở địa phương.

Tuy nhiên, tất cả họ không được chính quyền đô hộ trọng dụng, chỉ được xem là lớp “hàn môn” không thể sánh với các sĩ tộc Bắe phương mới. Loại thứ hai, được chính quyền Nam triều ở Trung Quốc tin tưởng dựa vào, là bọn sĩ tộc phương Bắc mới dời đến phương Nam. Bọn này có đặc quyền, đem theo cả lực lượng vũ trang, do họ hàng và bộ hạ hợp thành. Sĩ tử phương Nam nói chung bị chèn ép, địa vị chính trị thấp kém, đặc biệt là các hào trưởng người Việt, như Triệu Chỉ, Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến trước đây, hoặc như Lý Bí, Tinh Thiều sau này.

Nhà Lương thống trị đất Việt, tiếp tục áp đặt chính sách thống trị và bóc lột khắc nghiệt của nhà Tề. Chế độ “sĩ tộc” được coi trọng và thịnh hành. Nội dung của chế độ sĩ tộc là: những họ lớn nhà thế phiệt được coi là “danh gia vọng tộc”, có quyền lực chính trị, được pháp luật bảo hộ, có ưu thế tuyệt đối về kinh tế. Họ nắm giữ quyền lực ở địa phương, lũng đoạn tuyển cử, yết bảng “môn đệ” của mình lên và dần dần trở thành một loại có thân phận đặc biệt. Giữa sĩ tộc và không phải sĩ tộc có một giới hạn rất chặt chẽ, như việc “cử người hiền không ngoài thế tộc, pháp luật không được động đến quyền quý”, “thượng phẩm không có người nghèo, hạ phẩm không có thế tộc”.
 
Ở Giao châu, tầng lớp sĩ tộc “danh gia vọng tộc” được làm quan to. Họ nắm đặc quyền về chính trị và kinh tế, họ chiếm dụng nhiều ruộng đất, thu thuế rất nặng, hàng trăm thứ, đến như cây dâu dài một thước cũng danh thuế, bán vợ con cũng phải nộp thuế 4%. Nhiều người bần cùng phải bán vợ đợ con mà vẫn không đủ tiền trả nợ thuế. Vì thế, hào trưởng địa phương bị chèn ép và nông dân bị bóc lột đã cùng nổi dậy chống chính quyền và bọn quan lại thống trị, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Thư tịch cổ Trung Quốc cũng viết rằng, do thứ sử Tiêu Tư “quá đỗi hà khắc, làm mất lòng dân chúng”, Lý Bí đã “liên kết các hào kiệt các châu, đồng thời nổi loạn”.


IV- KHỞI NGHĨA LÝ BÍ. SỰ THÀNH LẬP NHÀ NƯỚC
VẠN XUÂN ĐỘC LẬP (542-602)

1. Khởi nghĩa Lý Bí (542-543)

Phong trào của nhân dân chống ách đô hộ nhà Lương ngày một lên cao, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Lý Tông Hiến (516), và đỉnh cao nhất là khởi nghĩa Lý Bí (542) bắt đầu từ phủ Long Hưng (Thái Bình) rồi tỏa lan nhanh chóng ra các châu huyện khác.

Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) (1),  quê ở huyện Thái Bình, quận Giao Chỉ, xuất thân từ một gia đình đời đời là nhà hào hữu thủ lĩnh địa phương). Lý Bí tài kiêm văn võ, một thời ra làm việc với chính quyền đô hộ với chức giám quân ở Cửu Đức đức Thọ, Hà Tĩnh). Do lòng yêu nước, thương dân, bất bình với bè lũ đô hộ, ông đã sớm từ quan, về sống ở quê hương Thái Bình. Từ đó ông chuyên tâm vào việc chuẩn bị khởi nghĩa chống ách đô hộ của nhà Lương. Trong nhiều năm, Lý Bí đã bí mật đặt quan hệ với hào kiệt các châu, chiêu tập hiền tài, tụ họp nghĩa binh, cùng nhau bàn mưu tính kế, chuẩn bị khởi nghĩa.


(1).  Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tổ tiên Lý Bí người phương Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về đánh dẹp, mới lánh nạn sang ở đất phương Nam; trải qua bảy đời thành người Nam. Sử Trung Quốc như Lương thư (q.3) và Trần Thư (q.1) đều gọi ông là “Giao châu thổ nhân” hay là “thổ hào”. Về quê hương Thái Bình của Lý Bí còn nhiều tài liệu phản ánh khác nhau. Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục và nhiều cuốn sử cổ của nước ta, Lý Bôn người Thái Bình thuộc Long Hưng. Tên Thái Bình đặt từ đời Vũ Đức thứ tư (621) triều Đường, tên Long Hưng đặt từ đời Trần (1225-1400). ở xã Từ Đường, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái bình, Nam Định có đền thờ Lý Bôn. Nay thuộc thôn Tứ Các, xã Thái Độ, huyện Thái Thuỵ, Thái Bình. Có tài liệu nói rằng, huyện Thái Bình quận Giao Chỉ thuộc Sơn Tây (Lịch sử Hà nh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, i I, tr.81). Báo Nhân dân (1986) đăng bài của Minh Tú cho rằng, Lý Bí quê ở châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc. Đinh Văn Nhật, trong bài Đi tìm quê hương gộc của Lý Bí (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 1989, tr.81) đưa ra kết luận: “Lý Bí đã sinh sống trong một điền trang lớn mang tên là trang Thái Bình, trên đất Giã Năng, thuộc quận Vũ Bình, vùng ngã ba sông Công và sông Cầu, nay thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái (Thái Nguyên)”.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Một, 2009, 07:15:40 PM
Vùng quê ông có Tinh Thiều, giỏi văn chương, đã lặn lội sang kinh đô nhà Lương (Nam Kinh) xin được bổ một chức quan (trước năm 521). Nam triều ở Trung Quốc cho đến đời Lương, có sự phân biệt tôn ti chặt chẽ giữa quý tộc (danh gia vọng tộc) với bình dân (hàn môn), chỉ coi trọng tầng lớp sĩ tộc người Hán, khinh thường người Việt. Tư Mã Quang nói rằng:

“Miền Giang Nam từ Đông Tấn trở lại đây... bọn thế tộc chèn lấn những nhà hàn môn” (Tư trị thông giám). Lại bộ thượng thư nhà Lương lúc đó là Sài Tốn cho rằng họ Tinh không phải là vọng tộc, chưa hề có người đỗ đạt, nên chỉ cho Tinh Thiều làm Quảng Dương môn lang, tức là một chức quan bé canh cổng thành phía tây kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh).  Tinh Thiều lấy làm tủi thẹn, không nhận chức, về quê, cùng Lý Bí mưu tính:việc tập hợp lực lượng chống ngoại xâm. Như vậy hai thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa lúc dó đều thuộc tầng lớp phú hào người Việt, bị bọn phong kiến Trung Quốc xem là hàn tộc, có hận thù lớn đối với chính quyền đô hộ.
 
Bấy giờ, cả Giao châu cũ ở dưới quyền cai trị của vũ lâm hầu Tiêu Tư. Tiêu Tư là Tôn thất nhà Lương. Họ Tiêu là một trong những cự tộc phương Bắc dời về Nam, uy quyền rất lớn. Đó là một thứ sử khét tiếng tàn bạo. Chính sử Trung Quốc như Lương thất, Trần thư đều công nhận rằng Tiêu Tư là một kẻ “tàn bạo, mất lòng dân” . Khi đi đàn áp phong trào nhân dân ở phương Nam, Trần Bá Tiên cũng phải nói về nguyên nhân những cuộc “phản loạn” ấy là do “tội ác của các Tôn thất”, trong đó có quan thứ sử.

Nhân lúc mâu thuẫn giữa nhân dân với chính quyền thống trị rất sâu sắc, Lý Bí đã hên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất nước ta đồng thời nổi dậy chống Lương.  Lương thư chép: “Lý Bí đã liên kết với hào kiệt vài châu đồng thời làm phản” (1).  Sử cũ của ta cho biết, thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) tên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, khâm phục tài đức của Lý Bí đã đem quân của mình và dân binh hưởng ứng đầu tiên.
 
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua bấy giờ làm chức giám quân ở châu Cửu Đức, nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Niên phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo” (2).  Phạm Tu (3) (có đền thờ ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội) cũng là một tướng tài của Lý Bí ngay từ buổi đầu khởi nghĩa.
 
Các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thông chí và thần tích, bi ký, truyền thuyết ở làng Giá tức làng Cổ Sở (Yên Sở, Thanh Trì, Hà Nội) đều phản ánh Phạm Tu (có sách chép là Lý Phục Man) đã cùng dân làng tham gia cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước. Về sau nhân dân mở hội Giá để nhớ lại sự kiện đó.
 
Trong lễ “niêm quân” của ngày hội cho thấy, không phải chỉ Phạm Tu tham gia cuộc khởi nghĩa, mà đông đảo dân làng Giá đã vùng dậy với người anh hùng của quê hương góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cứu nước do Lý Bí lãnh đạo.
 
Lý Bí, khi đã lên ngôi, đánh giá rất cao công lao của Phạm Tu và gả con gái cho ông. 

Sử cũ không chép rõ Lý Bí đã chiếm được các quận huyện, đánh đuổi bọn quan lại Trung Hoa như thế nào. Chỉ biết rằng, đó là cuộc khởi nghĩa rộng lớn, đã liên kết được đông đảo các hào kiệt và dân chúng các châu, nhanh chóng giành thắng lợi. Lý Bí đã không gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của bọn quan lại đô hộ. Sử cho biết, nghe tin Lý Bí nổi dậy, vũ lâm hầu Tiêu Tư sợ hãi, không dám chống cự, vội sai người đem vàng bạc của cải đút lót cho Lý Bí rồi chạy trốn về Việt châu (bắc Hợp Phố) và Quảng châu (4).


(1).  Lương thư, q.8.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thu, Sđd, T.1, tr.179.
(3).  Về nhân vật Phạm Tu, hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.  Phạm tu có phải là Lý Phục Man không? Kết quả nghiên cứu còn tồn tại ba quan niệm: là một người, là hai người và hoài nghi chưa kết luận. Do sử sách ghi chép không rõ ràng và những tư liệu thu thập được cho đến nay đều có thể khai thác, theo những góc độ khác nhau để chứng minh cho những quan niệm trên.
(4).  Lương thư, q.3, t.11b; Trần thư, q.8, t.1a; Tư trị thông giám, q 158, t. 13a. Lương thư chép: Tiêu Tư chạy trốn về (Hợp Phố). Một số sách khác chép: Tiêu Tư chạy về Quảng châu.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Một, 2009, 07:26:31 PM

Quan thứ sử bỏ trốn thì hẳn bọn quan lại còn lại trong chính quyền đô hộ kẻ chạy theo Tiêu Tư về Quảng châu, kẻ đầu hàng quân khởi nghĩa.

Nổi dậy từ tháng 1-542 (tháng chạp năm Đại Đồng thứ bảy), không quá ba tháng, nghĩa quân đã chiếm được thành Long Biên (Bắc Ninh). Bè lũ đô hộ đã bị quét sạch trước khí thế tiến công và nổi dậy khắp nơi của nhân dân ta.
   
Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có phản ứng đối phó, nhanh chóng tổ chức phản công lại nghĩa quân. Lương thư chép rằng: “Tháng ba năm Đại Đồng thứ tám (4-542) (vua Lương) sai thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Nịnh Cự, thứ sử An châu là Lý Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán, cùng đi đánh Lý Bí ở Giao Châu” (1).  Sự phản ánh trên của sử nhà Lương cho thấy, phía nam Giao châu lúc đó còn thuộc quyền thống trị của quan lại Trung Hoa. Trong ba tháng đầu của cuộc khởi nghĩa, Lý Bí và nghĩa quân mới làm chủ được vùng Bắc Bộ ngày nay.

Sử cũ không ghi chép chi tiết về cuộc phản công trên và ta cũng không biết được Lý Bí chống cự ra sao; song điều chắc chắn là cuộc phản công đã hoàn toàn thất bại, bởi vì nhà Lương đã phải tổ chức cuộc phản công lần thứ hai vào cuối năm 542 đầu năm 543.

Có lẽ sau khi đánh tan được cuộc phản công thứ nhất, thì ở phía nam, thứ sử Ái châu Nguyễn Hán cũng bị thất bại; nghĩa quân đã vượt Ái châu tiến thẳng vào giải phóng Đức châu, nơi Lý Bí đã làm quan trong một thời gian và đã có uy tín với các hào kiệt và nhân dân vùng này. Ta có thể khẳng định điều đó, vì như sự phản ánh của Đại Việt sử ký toàn thư, mùa hè năm 543 khi Lâm ấp đưa quân vào cướp Cửu Đức đã bị đại tướng Phạm Tu đánh tan (2).   

Sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang (q.158) ghi: “Mùa hè tháng tư, vua Lâm ấp tiến công Lý Bí, viên trưởng của (Lý) Bí là Phạm Tu đã phá quân Lâm ấp ở Cửu Đức”. Như vậy đến đây nghĩa quân đã toàn thắng và nắm quyền làm chủ đất nước. Từ đồng bằng Bắc Bộ, Lý Bí đã kiểm soát được tới Đức châu (Hà Tĩnh) ở phía nam, các vùng Ái châu, An châu (Quảng Ninh) và cả vùng bán đảo Hợp Phố ở phía bắc.  Bị thua đau, vua Lương lại sai thứ sử Cao châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tôn châu là Lư Tử Hùng thống lĩnh binh mã, một lần nữa tiến sang Giao châu để tiêu diệt nghĩa quân Lý Bí. Sự kiện này diễn ra vào cuối năm âm lịch, sử của ta chép:
"Mùa đông, tháng 12 (542), Lương Đế sai Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng sang lấn” (3).

Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thấy cuộc phản công lần trước đã thất bại, uy thế của nghĩa quân rầm rộ, nên e ngại, dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi đến mùa thu hẵng khởi binh. Nhưng thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh không nghe, vũ lâm hầu Tiêu Tư cũng sốt ruột thúc giục, cho nên bọn Tôn Quýnh bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1-543).

Chủ động đánh giặc, Lý Bí đã tổ chức một trận tiêu diệt chiến lớn ở ngay miền cực bắc Giao châu. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt ở Hợp Phố. Lính giặc, 10 phần chết tới 7, 8 phần; bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm không được.  Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thất bại, dẫn tàn quân chạy về Quảng châu.

Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng “giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân”.  Thấy quân lính bị thiệt hại quá nhiều, giận vì không tiêu diệt được Lý Bí, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả hai viên tướng cầm đầu phải chết ở Quảng châu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đổi mùa thu. Bấy giờ thứ sử Quảng châu là tân dụ hầu không cho; vũ lâm hầu Tư cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết 6, 7 phần, quân tan vớ mà trở về Tư tâu vua rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi. Vua bắt bọn họ đều phải tự tử” (4).


(1).  Lương thư, q.3, t.11b.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.l79; Sách Lịch sử Hà Tĩnh, Sđd, t.1, tr.87, chép rằng: “Nam 542,... vua Chăm pa là Rudravarman I đã đem quân vượt Hoành Sơn đánh lên Đức châu.  Năm 543, Lý Bôn đã phải cử Lý Phục Man, sau đó cử thêm Phạm Tu, đem quân vào chống cự. Chiến trận diễn ra ở đây và quân Chăm pa bị đánh bại hoàn toàn”.
(3).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(4).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 13 Tháng Một, 2009, 07:34:17 PM
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang41.jpg?t=1231769045)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang42.jpg?t=1231769074)

Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thấy cuộc phản công lần trước đã thất bại, uy thế của nghĩa quân rầm rộ, nên e ngại, dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi đến mùa thu hẵng khởi binh. Nhưng thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh không nghe, vũ lâm hầu Tiêu Tư cũng sốt ruột thúc giục, cho nên bọn Tôn Quýnh bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1-543).

Chủ động đánh giặc, Lý Bí đã tổ chức một trận tiêu diệt chiến lớn ở ngay miền cực bắc Giao châu. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt ở Hợp Phố. Lính giặc, 10 phần chết tới 7, 8 phần; bọn sống sót đều tan vỡ cả, tướng sĩ ngăn cấm không được.  Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng thất bại, dẫn tàn quân chạy về Quảng châu.

Tiêu Tư dâng tờ khải về triều, vu cho Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng “giao thông với giặc, dùng dằng không tiến quân”.  Thấy quân lính bị thiệt hại quá nhiều, giận vì không tiêu diệt được Lý Bí, Lương Vũ Đế xuống chiếu bắt cả hai viên tướng cầm đầu phải chết ở Quảng châu. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Quýnh lấy cớ là chướng khí mùa xuân đương bốc, xin đổi mùa thu. Bấy giờ thứ sử Quảng châu là tân dụ hầu không cho; vũ lâm hầu Tư cũng thúc giục. Bọn Tử Hùng đi đến Hợp Phố, 10 phần chết 6, 7 phần, quân tan vớ mà trở về Tư tâu vua rằng Quýnh và Tử Hùng dùng dằng không chịu đi. Vua bắt bọn họ đều phải tự tử” (1).

Sau khi đánh tan được quân xâm lược phía bắc, Lý Bí phải lo ngay việc đối phó với nước Lâm ấp ở phía nam. Biên giới phía bắc của nước Lâm ấp lúc đó là Hoành Sơn (Quảng Bình). Vua Lâm ấp Rudravarman I nhân cơ hội ở Giao châu quan lại Trung Hoa bị đuổi, nên đã đem binh thuyền đánh phá Đức châu (5-543). Lúc đó, như các tài liệu đã dẫn ở phần trên thì, Lý Bí đã cử đại tướng Phạm Tu đưa quân vào đánh tan quân Lâm ấp ở huyện Cửu Đức, vua Lâm ấp phải chạy trốn (2).
Đất nước đã được giải phóng. Biên giới phía nam và phía bắc, đều tạm thời ổn định. Khởi nghĩa Lý Bí đã hoàn toàn thắng lợi. Đó là một cuộc khởi nghĩa toàn dân, từ địa phương Thái Bình phát triển rộng ra cả nước và giành lại được độc lập tự chủ.
 
Nửa cuối thế kỷ thứ VI quả là một thời điểm đột phá lớn trong lịch sừ hơn ngàn năm thống Bắc thuộc của nhân dân ta. Nó tiếp tục và phát huy truyền thống đấu tranh giành độc lập mà Hai Bà Trưng đã phất ngọn cờ đầu tiên. Nó được đánh dấu bởi một cuộc khởi nghĩa lớn và tiếp sau đó là một thời kỳ độc lập.


(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(2).  Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t. 1, tr.179; Lương thư, q 3, t.11b; Tư trị thông giám, q.158, t.13a. Theo Thiên Nam ngữ lục thì Phạm Tu đã phá tan quân Lâm ấp rồi sau đó, Lý Bí cử Lý Phục Man vào trấn thủ biên thuỳ phương Nam (?).   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Một, 2009, 01:19:11 PM

2. Sự thành lập nhà nước Vạn Xuân độc lập (544-602)

Sau những thắng lợi trên cả hai chiến trường biên giới bắc và nam, giành lại và bảo toàn lãnh thổ cơ bản có từ thời dựng nước đầu tiên, mùa xuân, tháng giêng năm Giáp Tý (tức 2-544), Lý Bí tuyên bố dựng nước, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Chính sử nước ta chép “Giáp Tý(Thiên Đức) năm thứ nhất (544). Mùa xuân tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy” (1). 
 
Lý Bí lên ngôi hoàng đế, tự xưng là Nam Đế vua nước Nam), tổ chức một triều đình riêng với hai ban văn và võ, dựng điện Vạn Thọ để làm nơi triều hội (2).  Triệu Túc làm thái phó, giữ cương vị gần như tể tướng; Tinh Thiều, nhà Nho học giỏi được cử cầm đầu ban văn; Phạm Tu, vị tướng tài vừa chiến thắng ngoại xâm được cử đứng đầu ban võ. Nam Đế phế bỏ niên hiệu nhà Lương, đặt niên hiệu mời là Thiên Đức (Đứe trời) hay Đại Đức (Đức lớn) (3).  ông sai dựng một ngôi chùa mới, lấy tên là chùa Khai Quốc (mở nước). Nhớ ơn vị nữ anh hùng tiền bối, Lý Nam Đế ban sắc phong thần cho Bà Triệu . . .

Bộ biên niên sử lớn của Trung Quốc thời Tống Tư trị thông giám của Tư Mã Quang biên soạn các năm 1064- 1084, phần Lương kỷ ghi 19 sự kiện quan trọng nhất năm Giáp Tý (544), thì sự kiện đầu tiên chính là việc Lý Bí xưng đế ở Giao châu: “Mùa xuân, tháng giêng, Lý Bí xưng Việt đế, đặt trăm quan, đổi niên hiệu là Đại Đức”.

Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên xưng hoàng đế, Việt đế theo sử Trung Quốc (Tư trị thông giám) hay Nam Việt đế theo sử nước ta (Đại Việt sử ký toàn thư). Xưng đế, định niên hiệu riêng, đúc tiền riêng, coi phương Nam là bờ cõi riêng với phương Bắc, lấy Việt đối sánh với Hoa..., những điều đó nói lên sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tin ở khả năng tự mình vươn lên, phát triển một cách độc lập. Đó là sự ngang nhiên phủ định quyền làm “bá chủ toàn thiên hạ” của hoàng đế phương Bắc, vạch rõ sơn hà, cương vực và là sự khẳng định dứt khoát rằng: nòi giống Việt phương Nam là một thực thể độc lập, là chủ nhân của đất nước và nhất quyết phải giành quyền làm chủ vận mệnh của mình. Có thể coi đó là “hành động cách mạng” của nhân dân ta kiên quyết chống sự thống trị của phong kiến Trung Hoa để giành lại quyền độc lập, tự chủ và tự do cho dân tộc.

Lý Bí (Lý Nam Đế) cũng là người đầu tiên nhận ra vị tr địa lý trung tâm đất nước của miền sông nước, phù sa Tô Lịch. Hà Nội cổ, từ giữa thế kỷ VI, bước lên hàng đầu của lịch sử đất nước, bắt nguồn từ Lý Nam Đế. Chúng ta có quyền tự hào về ý thức, về tầm nhìn của ông.
 
Cơ cấu chính quyền mới hẳn còn sơ sài, nhưng ngoài hoàng đế đứng đầu đã có các tướng văn, tướng võ. Triệu Túc giữ chức thái phó, bên cạnh Tinh Thiều và Phạm Tu phụ trách hai ban văn và võ. Có tài liệu còn chép: Lý Phục Man làm tướng quân coi giữ một miền biên cảnh từ Đỗ Động (Thanh Oai, Hà Tây) đến Ba Vì “để phòng ngừa Di Lão” (4).
 

(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.179.
(2).  Điện Vạn Thọ, còn gọi là điện Vạn Xuân. Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử triều Tống, huyện Long Biên có đài Vạn Xuân. Đài này của Lý Bôn ở Giao Chỉ làm quan năm Đại Đồng triều Lương. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đài Vạn Xuân thuộc xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì, có hồ Vạn Xuân gọi là đầm Vạn Phúc. Điện Vạn Xuân có lẽ ở đấy.  
(3).  Sử Trung quốc gọi là Đại Đức, sử Việt Nam gọi là Thiên ‘ Đức Khảo cổ học đã tìm thấy những đồng tiền Thiên Đức đúc thời Lý Nam Đế.  
(4).  Lý Phục Man được thờ ở Yên Sở (Hà Nội) và nhiều vùng đồng bằng, tương truyền ông là người Yên Sở tức làng Cổ Sở xưa.  Phạm Tu và Lý Phục Man là một hay hai người và quan hệ với nhau như thế nào, đấy là một vấn đề được đặt ra từ rất lâu, nhưng chưa đủ cứ liệu khoa học để kết luận.     


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Một, 2009, 01:22:12 PM
Triều đình Vạn Xuân độc lập, chính quyền mới là sự mô phỏng theo hình thức nhà nước Trung Hoa, mô hình lần đầu được Việt Nam thâu hóa và áp dụng, một cơ cấu nhà nước mới theo chế độ tập quyền trung ương. Lý Nam Đế cho xây một “đài Vạn Xuân” để làm nơi văn võ bá quan triều hội.  Triều đình Vạn Xuân là khởi hình của một cơ cấu nhà nước theo chế độ tập quyền trung ương.

Lúc này Phật giáo đang phát triển mạnh ở nước ta cũng như ở Trung Quốc. Giới tăng ni là tầng lớp trí thức đương thời, chắc chắn đã ủng hộ Lý Nam Đế. Chính một người trong dòng họ ông và làm tướng dưới quyền ông đã mang một cái tên gọi đượm màu sắc sùng bái đạo Phật: đó là Lý Phật Tử.
 
Nhà nước Vạn Xuân, dù mới dựng, cũng đã rất quan tâm đến việc thờ Phật, xây chùa Khai Quốc, tiền thân của chùa Trấn Quốc ở Hà Nội ngày nay; nơi đó trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học lớn ở nước ta. Ngay cái tên “chùa mở nước” cũng đã hàm chứa xiết bao ý nghĩa. Và các tên gọi Vạn Xuân, Nam Đế, Thiên Đức hay Khai Quốc cũng đều hàm chứa nhiều ý nghĩa hết sức sâu sắc.
 
Việc dựng nước độc lập mang tên Vạn Xuân nói lên lòng tin vững chắc của nhân dân ta ở khả năng có thể vươn lên và làm chủ vận mệnh đất nước mình. Trước các triều đại hoàng đế phương Bắc thay nhau đô hộ, tư tưởng vạch rõ sơn hà từ thời dựng nước đầu tiên, đã trở thành ý chí của Lý Nam Đế và nhân dân Vạn Xuân. Sau gần năm thế kỷ bị đô hộ, tình cảm yêu nước Việt Nam không bị dập vùi dưới ách áp bức nặng nề và bởi âm mưu đồng hóa.  Trái lại, tình cảm ấy càng thêm sâu sắc, ý thức dân tộc càng thêm mạnh mẽ.

Tổ chức bộ máy nhà nước Vạn Xuân tuy còn sơ sài, nhưng thực có ý nghĩa lớn lao, đây là một chính quyền tự chủ của một quốc gia độc lập sau hơn 500 năm đấu tranh bền bỉ của nhân dân ta. Nó khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vào năng lực quản lý, làm chủ đất nước của tầng lớp quý tộc bản địa, khẳng định nền độc lập tự chủ của nhân dân ta và phủ nhận quyền đô hộ, thống trị của đế chế phương Bắc đối với đất nước và dân tộc ta. Nó đánh dấu một bước phát triển của phong trào đấu tranh giành lại độc lập của nhân dân ta thời Bắc thuộc.

Về nước Vạn Xuân, sử sách cũ ghi chép thật khiêm tốn, ngắn ngọn. Lý Nam Đế còn làm vua đến năm 548 mới mất.  Nhưng thực ra nước Vạn Xuân độc lập chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm. Mùa hè năm 543, chính quyền Nam Kinh đã tổ chức cuộc chiến tranh chinh phục mới. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước, để bảo vệ thành quả đấu tranh của mình.

V- CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG LƯƠNG (545-550)

Đồng thời với cuộc nổi dậy của Lý Bí ở Giao châu, ở miền sơn động thuộc Quảng châu những người Lý, Lã (tức dân tộc thiểu số) cũng nổi lên nhiều. Sau khi Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng bị giết vì lý do đi đánh Lý Bí bị thất bại, em Tử Hùng là Tử Lược, có bọn gia thuộc Giang Nam là Đỗ Thiên Hợp và em Đỗ Tăng Minh giúp sức, cùng với cháu của Tôn Quýnh nổi dậy báo thù, bắt viên đô đốc Nam Giang là Thẩm Khởi, rồi tiến đánh Quảng châu.
 
Vì Quảng châu náo động nhà Lương phải lo tập trung lực lượng đàn áp, nên chưa thể tổ chức chinh phục Giao châu ngay. Thứ sử Quảng châu là Tiêu Ánh hợp lực cùng Trần Bá Tiên, mang 3.000 quân đánh giết được Đỗ Chiêm Hợp. Đỗ Thiên Ánh buộc phải ra hàng.
 
Mùa đông năm 544, Tiên Ánh chết, nhà Lương cử Lan Khâm thay làm thứ sử Quảng châu để trù tính việc đánh Lý Bí.  Tuy nhiên, Lan Khâm chưa kịp đánh Giao châu thì đã bị Nam An hầu giết vì hận đã giành chức thứ sử của y. 
 
Đầu năm 545, nhà Lương bắt đầu tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược Vạn Xuân nhằm chinh phục lại Giao châu mà chúng gọi là “thuộc quốc” cũ. Dương Phiêu được cử làm thứ sử Giao châu, Trần Bá Tiên - viên tướng vũ dũng xuất thân từ “hàn môn” nhưng vừa lập công đánh bọn Tử Lược dẹp yên Quảng châu, được cử làm tư mã Giao châu, lĩnh chức thái thú Vũ Bình, cùng tổ chức cuộc chinh phục Vạn Xuân.

Trong quá trình đàn áp Quảng châu, Trần Bá Tiên thu nạp được nhiều quân vũ dũng, khí giới đều tốt; vì thế Dương Phiêu rất vui mừng, cho giữ chức kinh lược sứ, phụ trách tác chiến.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Một, 2009, 01:29:27 PM

Sử sách không ghi chép rõ số quân lính Trung Hoa trong cuộc chinh phục này là bao nhiêu. Chỉ biết đạo quân tiến đánh Vạn Xuân gồm nhiều bộ phận hợp thành: quân triều đình dưới quyền chỉ huy của Dương Phiêu, đạo quân riêng của Trần Bá Tiên lúc đánh Quảng châu đã có tới 3.000 người thiện chiến, quân của các thứ sử mấy châu ở phương Nam kề cận nước ta cùng được lệnh tập trung về Phiên Ngung (Quảng châu) .

Lúc đó, thứ sử Định châu là Tiêu Bột cũng được lệnh mang quân tới hội ở Tây Giang (Quế Lâm). Nhưng Tiêu Bột biết quân sĩ sợ đi xa, mưu dỗ quân lính và can ngăn Dương Phiêu không nên đánh Giao châu; hẳn viên thứ sử này đã biết trước được sự nguy hại nếu liều lĩnh tiến quân vào Vạn Xuân. Nhiều tướng sĩ khác cũng ngần ngại bàn lùi.
 
Dương Phiêu họp tất cả các tướng sĩ để hỏi mưu kế . Trần Bá Tiên chủ chiến, hung hăng chủ trương kiên quyết tiến binh, nói rằng: “Giao châu làm phản, tội do ở người Tông thất, để mấy châu hỗn loạn trốn tội đã nhiều năm nay. (Thứ sử) Định châu (Tiêu Bột) chỉ muốn trận yên trước mắt, không nghĩ đến kế lớn. Tiết học vâng chiếu đi đánh kẻ có tội, phải nên liều sống chết, há nên dùng dằng không tiến để nuôi cho thế giặc thêm mạnh mà làm ngăn trở quân mình hay sao?” (1).  Là một viên tướng vũ dũng, hiếu chiến và đầy tham vọng, Trần Bá Tiên đã khích động Dương Phiêu, vì thế Dương Phiêu, đã cử Bá Tiên làm tướng tiên phong đem quân đi trước.

Trước nguy cơ đất nước bị xâm lược, Lý Bí cho gấp rút xây dựng lực lượng, huy động quân đội, đắp thành lũy, tăng cường bố phòng để sẵn sàng đánh giặc. Từ Phiên Ngung, thủy bộ phối hợp, quân Trần Bá Tiên hẳn đã đi theo con đường ven biển đông bắc ngày xưa Mã Viện đã mở.

Tháng 7-545, quân xâm lược tiến sâu vào nội địa lưu vực sông Hồng.  Lý Nam Đế đã đem ba vạn quân trấn giữ Chu Diên (mạn Hưng Yên), thiết lập chiến lũy, bố trì thành thế trận phòng ngự lớn để chặn đánh quân Bá Tiên ở đây. Vì quân giặc mới vào khí thế đương hăng, liên tục tiến công đột phá thành Chu Diên; vì tương quan lực lượng không có lợi cho quân ta nên Lý Bí bị thua, phải lui giữ cửa sông Tô Lịch, dựng thành lũy để chống lại quân Bá Tiên.

Chiếm được Chu Diên, Trần Bá Tiên kéo đại quân đến bao vây, tiến công thành Tô Lịch. Theo Trần thư, quân đội Vạn Xuân có khoảng vài vạn người giữ thành ở cửa sông Tô  Lịch, chiến đấu rất ác liệt, đánh bại nhiều đợt tiến công của  quân Lương. Tuy nhiên, thành đất, lũy tre gỗ, không mấy  kiên cố, mà quân địch lại dũng mãnh tiến công ráo riết, thế  trận của ta dần dần bị vỡ, Lý Nam Đế buộc phải lui binh  ngược sông Hồng, về giữ thành Gia Ninh trên miền đồi núi  trung du vùng ngã ba sông Trung Hà - Việt Trì.
   
Theo thần tích đền Thanh Liệt, trong cuộc chiến đấu ở  cửa sông Tô Lịch, lão tướng Phạm Tu, tướng trụ cột của Lý Nam Đế, người đứng đầu hàng võ quan trong triều đình Vạn Xuân, đã chiến đấu rất anh dũng và đã hy sinh vào ngày 20 tháng bảy năm Ất Sửu (8-545) (2).
 
Phạm Tu, người làng Cổ Sở, đã tham gia khởi nghĩa Lý Bí và có công lớn trong sự nghiệp giải phóng trước đây. Sau đó, được phái vào nam đánh tan quân Lâm ấp ở Cửu Đức (Hà Tĩnh), rồi trấn giữ vùng Đường Lâm (Ba Vì, Hà Tây). Khi nhà Lương phái quân tái chiếm nước ta, Phạm Tu chỉ huy một cánh quân lớn chiến đấu và hy sinh rất anh dũng. Thi hài của ông được đưa về bến Hồ Mã, an táng tại quê hương. Đó là khu Mả Thánh, cây cối mọc như rừng, nên được gọi là Rừng Giá hay Rừng Cấm nổi tiếng là thiêng: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng” . Nhân dân thương nhớ lập miếu thờ và suy Tôn làm thành hoàng của làng.
 
Năm 1016, vua Lý Thái Tổ qua bến Cổ Sở, đã sai lập đền thờ và đắp tượng Phạm Tu. Từ đó, các triều vua đều có sắc phong và hằng năm vào ngày 10-3, tương truyền là ngày sinh của Thánh Giá, nhân dân lại mở hội Giá nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao, sự nghiệp của người anh hùng.  Chiến đấu chống quân Lương xâm lược, Lý Nam Đế chỉ dựa vào một đội quân mới được tổ chức, co cụm ở một vài thành lũy mà cố thủ, lực lượng kháng chiến vì thế mà bị sứt mẻ, suy yếu dần.


(1).  Đại Việt sử kí toàn thư, Sđd, t.1, tr.180; Trần thư, q.1, t.2a, Đê kỷ, Cao Tổ.
(2).  Về cái chết của Phạm Tu chính sử không chép. Thần tích làng Thanh Liệt cho biết Phạm Tu hy sinh trong trận đánh quân Lương ở cửa sông Tô Lịch ngày 20-7 năm Ất Sửu. Truyền thuyết làng Giá và nhiều đền thờ cũng phản ánh như vậy. Nhưng sách Việt điện u linh nói rằng Phạm Tu hy sinh vào năm Đinh Mão (547) khi Lý Nam Đế rút vào động Khuất Lão. Sách Thiên Nam ngữ lục cho rằng Phạm Tu chết ở động Khuất Lão còn Lý Phục Man hy sinh trong một trận đánh nhau với Lâm ấp.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Một, 2009, 01:33:40 PM

Hạ được thành Tô Lịch, Trần Bá Tiên thúc quân tiến lên truy kích quân ta rồi bao vây và tiến công thành Gia Ninh, đồng thời cử người báo tin thắng trận cho chủ tướng Dương Phiêu. Đã qua đi cái do dự buổi đầu, Dương Phiêu liền đem hậu quân từ tuyến sau theo đường thủy, ngược sông Hồng lên tiếp ứng.

Gia Ninh là một chiến thành lớn, Lý Bí tập trung lực lượng quyết tâm bảo vệ. Dựa vào thành Gia Ninh, quân ta cố thủ cầm cự với giặc trong suốt mùa khô năm 545. Sau ba tháng tiến công liên tục, Trần Bá Tiên không chiếm được thành, quân sĩ bị chết rất nhiều, nhưng y vẫn không từ bỏ kế hoạch đánh chiếm Gia Ninh.
 
Sang tháng 2-546, quân vũ dũng của Trần Bá Tiên, có đại quân của Dương Phiêu phối hợp, bao vây, công phá và cuối cùng đã hạ được thành Gia Ninh của Lý Nam Đế vào ngày 25-2-546.
 
Theo Lương thư, năm Trung Đại Đồng thứ nhất, mùa xuân tháng giêng ngày ất sửu, phá thành Gia Ninh. Lương thư và Tư trị thông giám đều chép việc phá thành Gia Ninh là do thứ sử Giao châu Dương Phiêu chỉ huy.

Từ khi Trần Bá Tiên tới Giao châu (7-545) đến khi thành Gia Ninh bị hạ (2-546) là tám tháng. Đó là cả quá trình chiến đấu cầm cự của quân ta với quân Lương tại đây. Lực lượng quân sự do Trần Bá Tiên chỉ huy không đủ sức tiêu diệt quân Lý Nam Đế tại Gia Ninh, mà chỉ bao vây trong một thời gian dài, khiến cho quân Lương lúc đó như Bá Tiên nói: “tướng sĩ mệt mỏi” (1).

Và đến tháng 2-546, đợi đến khi đại quân của Dương Phiêu đến, quân Lương mới có đủ lực lượng để công phá và hạ được thành Gia Ninh.  Thành Gia Ninh bị vỡ, Lý Nam Đế cùng một số binh tướng tổ chức phá vây kéo quân lên miền động Khuất Lão ở Tân Xương (miền đồi núi Phú Thọ trên lưu vực sông Lô).  Quân Lương đóng lại ở cửa sông Gia Ninh.

Lý Nam Đế vào núi rừng Tây Bắc, ngoài số binh tướng còn lại sau trận thất thủ Gia Ninh, ông đã mộ thêm được nhiều nghĩa quân, những người tình nguyện đánh giặc cứu nước.  Nghĩa quân dựng lán trại trong rừng, hạ nhiều cây, xẻ ván đóng thuyền bè, chuẩn bị một hình thức kháng chiến mới.
 
Sau một thời gian chỉnh đốn lại lực lượng, tháng 10-546, Lý Nam Đế kéo quân từ trong núi rừng “Di Lão” ra hạ thủy trại ở vùng hồ Điển Triệt. Lực lượng quân đội lúc đó lên tới  ba, bốn vạn, sĩ khí rất hăng. Sách Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục chép: “Lý Bôn lại đem quân từ trong xứ người Lão ra, đóng đồn ở hồ Điển Triệt. Quân Lương sợ cứ đóng ở cửa hồ, không dám tiến” (2).

Hồ Điển Triệt (tên Nôm là Đầm Miệng) thuộc xã Tứ Yên huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ, nằm bên bờ sông Lô, cách Bạch Hạc khoảng 15 km về phía bắc (3).  Hiện nay hồ còn rộng khoảng 50 mẫu, dài 1 km, khúc rộng nhất khoảng 400 m, có bảy ngách lớn và nhiều ngách nhỏ, mùa khô nước vẫn còn sâu 3 - 4m. Hồ cách sông Lô 300m, xưa có một con ngòi thông ra sông này. Ba phía đông, nam, bắc là một dải cao gồm mấy chục quả gò, cộng hơn 300 mẫu; phía tây có một gân đồi thấp, chỉ cao hơn mặt nước chừng 2-3m, bị đứt đoạn bởi một khoảng rộng chừng 180m, làm thành cửa hồ, thông với vùng chiêm trũng, chằm lầy rộng hàng ngàn mẫu.

Theo truyền thuyết dân gian, nghĩa quân Lý Nam Đế đã đóng trại trên dải đồi này, thuyền bè thả đầy mặt hồ. Có một quả đồi, gọi là Thành Dền hay Thành Lĩnh, tương truyền là bản doanh của triều đình Vạn Xuân. Một quả đồi cao nhất ở sát bờ hồ, mang tên Đồi Vua Ngự, từ đấy có thể nhìn rõ Bạch Hạc, Việt Trì.

Tương truyền, Lý Nam Đế hằng ngày thường lên đó quan sát địch tình ở cửa sông Lô, phía Bạch Hạc và đôn đốc quân sĩ đóng thuyền độc mộc. Quanh hồ, có nhiều bến, như bến Chảy, nhân dân lưu truyền là bến vua tắm, nước rất trong; bến Bêu, nơi đậu các thuyền phiến. . . Chỉ có một đường độc đạo từ sông Lô đi vào phía bắc hồ.

Hiện nay bốn thôn thuộc xã Tứ Yên đều ở trên dải đồi đó cả bốn thôn đều có đền thờ Lý Nam Đế, Lý Thiên Bảo (anh ruột Lý Nam Đế) và Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đê) cùng các tướng sĩ khác và hằng năm có tục bơi chải. Dân vùng này trước kiêng chữ “Phần” (chữ Bí cũng đọc là Phần) và chữ “Bảo”.

Quân Lương từ Gia Ninh bạch Hạc) ngược dòng sông Lô tiến lên Điển Triệt, định đánh phá doanh trại của Lý Nam Đế. Nhưng căn cứ Điển Triệt rất hiểm yếu, khó đánh, khí thế nghĩa quân lại đang hồi phục, dũng cảm chặn địch cả dưới nước lẫn trên bộ.


(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.180.
(2).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, t,1, tr.171.
(3).  Tham khảo Vũ Kim Biên: Về hồ Điển Triệt, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 172, 1’2-1977.  
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 16 Tháng Một, 2009, 01:42:58 PM
Quân Lương thấy tình thế khó khăn, chỉ dừng lại ở ngoài cửa hồ, không dám tiến sâu thêm. Chính sử triều Lê chép : “Mùa thu, tháng tám vua lại đem hai vạn quân từ trong đất Lão ra đóng ở hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền, chật cả mặt hồ. Quân Lương sợ, cứ đóng lại ở cửa hồ không dám tiến vào” (1).  Quốc sử quán triều Nguyễn, trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng phản ánh tương tự như vậy
.
Trước tình hình đó, Trần Bá Tiên đã họp các tướng bàn đánh. Bá Tiên nói: “Quân ta ở đây đã lâu, tướng sĩ mỏi mệt, vả lại thế cô không có tiếp viện. Tiến sâu vào trong lòng nước người, nếu một đánh mà không thắng, thì đừng có mong sống sót. Nay nhân lúc bọn họ vừa thua luôn, lòng người chưa vững, mà người Di Lão ô hợp, dễ bề đánh giết, chính nên cũng ra tay liều chết, cố sức đánh lấy, không có cớ gì mà dừng lại, thì lỡ mất thời cơ”. Tuy vậy, các tướng vẫn im lặng, không ai dám hưởng ứng (2).

Rất tiếc, Lý Nam Đế đã bỏ mất thời cơ này. Đáng lẽ nhân lúc quân địch đương rất lúng túng, hoang mang và chưa có kế sách đối phó, quân ta tổ chức tiến công hoặc đánh úp chúng, để giành thế chủ động, thì hẳn cục diện sẽ có lợi, bởi vì lúc đó khí thế trong quân đã khá hơn. Sau những trận thất bại lớn ở Tô Lịch, ở Gia Ninh, phải chăng Lý Nam Đế đã có phần trù trừ, e ngại, thiếu quyết đoán, khiến cho Trần Bá Tiên có thời gian dò biết được tình hình bên ta để nhân sơ hở của quân ta mà tiến công trước?

Chủ trương trên của Trần Bá Tiên không được các tướng ủng hộ. Ban ngày cả hai bên đều án binh. Nhưng đêm hôm ấy, những trận mưa lũ cuối mùa khiến cho nước sông đột nhiên lên to, tràn vào chằm ao, ruộng trũng, chảy róc vào hồ, thuyền lớn của địch có thể dễ dàng cơ động, còn khu căn cứ của quân Lý Nam Đế trở nên như một cô đảo giữa vùng sông nước mênh mông. . .

Lợi dụng nước lớn mưa nhiều, Trần Bá Tiên ra lệnh dốc toàn lực tiến công; các thuyền chiến lớn của địch nối nhau xung trận, trống đánh quân reo, ào ào tiến vào hồ Điển Triệt. Lý Nam Đế và nghĩa quân bị tập kích bất ngờ, không kịp phòng bị, hàng quân tan vỡ, không thể chống đỡ nổi. Sử chép: “Đêm hôm ấy nước sông lên mạnh, dâng cao bảy thước, tràn đổ vào hồ. Bá Tiên đem quân bản bộ theo dòng nước tiến trước vào. Quân Lương đánh trống reo hò mà tiến. Vua vốn không phòng bị, vì thế quân tan vỡ, phải lui giữ ở trong động Khuất Lão” (3).

Sử của ta cũng như sử Trung Quốc (Trần thư) đều chép về cuộc tiến công của quân Lương trong đêm mưa lũ đó. Đây là một trận đánh lớn cuối cùng của Lý Nam Đế. Truyền thuyết dân gian vùng Tứ Yên cũng kể rằng, do một đêm có trận lũ to, nước tràn vào đồng, quân địch vượt thuyền vào đánh. Quân ta thua. Đê Thác là tràn ruộng chiêm - mùa, so với các tràn ruộng khác thì nó không lầy thụt bằng. Đấy là con đường duy nhất có thể rút về phía Tam Đảo. Trần Bá Tiên đã cố tình đánh chặn ba mặt rút lui vào đất liền, dồn quân ta xuống dòng sông Lô. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt nhằm mở đường thoát lên đất liền, chỗ Đê Thác, nhưng đều bị quân giặc chặn lại. Lý Nam Đế phải xuống thuyền sang hữu ngạn sông Lô, bí mật chạy trốn vào động Khuất Lão.  Sách Thiên Nam ngữ lục cho rằng, Tinh Thiều đã hy sinh trong trận hồ Điển Triệt.

Động Khuất Lão là tên một khu đồi hiện nằm giữa hai xã Văn Lang và Cổ Tiết thuộc huyện Tam nông (Phú Thọ), gồm ba quả đồi ở bờ phải sông Hồng, hiện cách sông khoảng 1 km.  Dân gian còn gọi là khu “Cổ Bồng”, “Tam Khơ’ hay “Khu Lãng”, vì tương truyền đây chính là khu mộ vua Lý Nam Đế; xưa có đền thờ Lý Nam Đế và Lý Thiên Bảo, sau dời ra làng Danh Hựu. Quanh khu đồi là đầm lầy bao bọc. Xưa kia là khu đất cấm, chỉ có ngày tế lễ, dân mới vào, đi bằng thuyền.  Cũng như Danh Hựu, làng Tự Cường ở gần đó cũng có đền thờ Lý Nam Đế và Lý Thiên Bảo.

Theo sử cũ của ta, sau thất bại này, Lý Nam Đế giao quyền cho đại tướng Triệu Quang Phục là con thái phó Triệu Túc điều khiển việc binh. Hai năm sau Lý Nam Đế mất (548) (4).  

Về Lý Nam Đế, sử thần Lê Văn Hưu bàn rằng: “Sách bình pháp có nói: “ba vạn quân đều sức, thiên hạ không ai địch nổi”. Nay Lý Bí có năm vạn quân mà không giữ được nước, thế thì Bí kém tài làm tướng chăng? Hay là quân lính mới họp không thể đánh được chăng? Lý Bí cũng là bậc tướng trung tài, ra trận chế ngự quân địch giành phần thắng không phải là không làm được, nhưng bị hai lần thua rồi chết, bởi không may gặp phải Trần Bá Tiên là kẻ giỏi dùng binh vậy” (5). 

Đó cũng là một cách giải thích. Thực ra, Lý Nam Đế đã không có cách đánh thích hợp trong điều kiện phải lấy nhỏ đánh lớn, yếu khổng mạnh.


(1).  Đại việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 180.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.180; Trần thư, q.1, t.2a, Tư trị thông giám , q. 159, t. 11b .
(3).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.180. .
(4). Từ khi Lý Bí tiến quân ra đóng ở hồ Điển Triệt rồi bị thua, chạy vào động Khuất Lão cho đến khi mất là gần hai năm. Chắc là sau khi Lý Bí chạy vào động Khuất Lão, quân Lương không đuổi theo nữa. Lương thư coi như “Giao châu đã bình”. Trong thời gian đó, Trần Bá Tiên đi chinh phục các châu quận phía nam, như Ái châu, Đức châu...      
(5).   Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.182.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 01:03:27 AM
Tuy nhiên, sự nghiệp của Lý Nam Đế thật là vĩ đại. Sự nghiệp đó được sử sách Việt Nam và Trung Quốc ghi lại. Sau khi ông mất, nhân dân thương nhớ, lập nhiều đền thờ. ở các tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thái Bình... đã thống kê được 20 làng thờ Lý Bí làm thành hoàng.
 
Lực lượng kháng chiến chống quân Lương của nước Vạn Xuân từ đây chia làm hai cánh:

Một cánh dưới sự chỉ huy của Lý Thiên Bảo, anh ruột Lý Bí, trong đó có Lý Thiệu Long (Lý Phật Tử?) rút vào miền Trung.

Theo sử Trung Quốc, Trần thư, Lý Thiên Bảo và Lý Thiệu Long đã tổ chức được lực lượng hai vạn quân, tiến đánh Đức châu (Hà Tĩnh), giết chết thứ sử Trần Văn Giới.  Hai ông lại tiến quân ra vây châu Ái nhưng bị quân của Trần Bá Tiên đánh bại. Vì thế, Lý Thiên Bảo phải lùi lên vùng thượng du châu Ái (vùng rừng núi Thanh Hóa), ở động Dã Năng, xưng là Đào Lang Vương.

Một cánh quân khác, với số lượng hơn một vạn, do Triệu Quang Phục, vị tướng trẻ tài năng của Lý Bí cầm đầu, lui về xây dựng căn cứ mới ở Dạ Trạch.
 
Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: Lý Nam Đế sau khi rút vào động Khuất Lão đã “ủy cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên” và “Đinh Mão, Thiên Đức năm thứ tư (547)... Triệu Quang Phục cầm cự với Bá Tiên, chưa phân thắng bại. Nhưng quân của Bá Tiên rất đông, Quang Phục liệu thế không chống nổi, bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch” (1).
 
Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép: “Quang Phục cầm cự với Bá Tiên, chưa phân được thua. Quân Bá Tiên nhiều và mạnh lắm. Quang Phục liệu mình không chống nổi, bèn lui giữ Dạ Trạch” (2).   sử Sách Trung Quốc không thấy chép về Triệu Quang Phục.
 
Sách xưa nhất của nước ta chép về Triệu Quang Phục là Việt điện u linh (1329) dẫn lại Sử ký của Đỗ Thiện (đã thất lạc) nói rằng: “Triệu Quang Phục, người huyện Chu Diên, giúp vua Lý Bí, làm tả tướng quân. ở Chu Diên có một cái đầm to, rộng và sâu không ước lượng được. Khi vua Lý Bí mất, Quang Phục thu các binh sĩ được vài vạn người, ông đứng lên chỉ huy vào ẩn trong đầm, đêm ra đánh phá trại địch, ngày lại rút về mai phục. Trần Bá Tiên kéo đến vây chặt Dạ Trạch, cố sức đánh nhưng không thể được, buộc phải đóng quân chung quanh chặn mọi đường tiếp tế của nhân dân cho nghĩa quân. Tướng sĩ Tôn Quang Phục làm Dạ Trạch Vương (3).
   
Dạ Trạch ở huyện Chu Diên (tức bãi Màn Trò, Khoái châu, Hưng Yên) là một vùng đầm lầy ven sông Hồng, rộng mênh mông, lau sậy um tùm. ở giữa là một bãi phù sa rộng, có thể làm ăn sinh sống được. Đường đi vào rất kín đáo khó khăn, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống bằng sào lướt đi trên cỏ mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối thì không biết đường vào, lỡ sa xuống nước thì bị rắn cắn chết.

Theo sử cũ, Triệu Quang Phục đóng quân ở trên bãi đất nổi ấy. Ngày ngày quân sĩ thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa phát bờ cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc binh lương. Ban ngày thì tuyệt không để lộ khói lửa dấu người, ban đêm thì dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh úp trại giặc, giết và bắt được rất nhiều, lấy được lương thực khí giới của địch để làm kế lâu dài. Người trong nước gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương. Nghe tin Lý Nam Đế mất, ông xưng là Triệu Việt Vương.

Ở vùng đồng bằng Chu Diên tuy không có thế đất hiểm như ở miền đồi núi, nhưng ở đây có nhiều sông rạch chia cắt, nhiều đầm hồ lầy lội, cây cối lau sậy um tùm, có lợi cho việc giấu quân, không có lợi cho việt hành binh của những đạo quân lớn.
 
Địa thế như vậy buộc quân lương phải phân tán, chia quân đánh nhỏ, làm mất sở trường đánh tập trung của chúng; ngược lại tạo điều kiện cho quân ta đánh du kích, tiêu diệt gọn từng bộ phận nhỏ, tiêu hao địch về chiến lược. Đồng bằng còn là nơi đông dân cơ, nơi có nhiều sức của, sức người, có thể cung cấp cho cuộc chiến đấu lâu dài của quân ta.  Mặt khác, Chu Diên là đất bản bộ của họ Triệu, mà như sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Họ Triệu. . . người huyện Chu Diên uy hùng sức mạnh” (4),  do đó hoạt động chiến đấu ở vùng quê hương hẳn có nhiều thuận lợi cho Triệu Quang Phục.
 
Đến giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Triệu Việt Vương, cuộc kháng chiến của quân dân ta đã thay đổi về phương thức tác chiến. Triệu Quang Phục dựa vào nông thôn đồng bằng, dựa vào đầm Dạ Trạch để “làm kế trì cửu chiến” với quân giặc, nghĩa là đến đây đã đổi thay cơ bản về mặt chỉ đạo chiến lược so với giai đoạn Lý Nam Đế.


(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 181 .   
(2).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.172.
(3).  Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, Sđd.
(4).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.182.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 01:08:21 AM
Triệu Việt Vương đã từ bỏ lối tác chiến cố thủ, phòng ngự bị động trước đây, vận dụng cách đánh du kích, tiêu hao địch, từng bước xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến. Sử chép: “Vua giữ đất hiểm, dùng kỳ binh để đánh giặc lớn” (1) tức là muốn nói đến cách đánh mới của Triệu Việt Vương.

Nhờ sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay đổi phương thức tác chiến mà cục diện chiến tranh cũng thay đổi ngày càng có lợi cho quân ta. Quân ta phát huy được sở đoản của mình, hạn chế sở trường của giặc, nên quân địch gặp nhiều bất lợi và bị tiêu hao sinh lực.
 
Sử chép: “Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được” (2),  nghĩa là quân Lương đã mất thế chủ động, không tổ chức được một trận đánh nào khả dĩ có thể tiêu diệt bớt lực lượng kháng chiến của Triệu Quang Phục. Chúng cố sức đánh vào vùng Dạ Trạch, nhằm phá vỡ đầu não kháng chiến và chủ lực quân của ta, nhưng âm mưu đó không thực hiện được. Trái lại, quân ta giữ vững căn cứ Dạ Trạch, ngày ẩn đêm hiện, với lối đánh du kích liên tục tập kích, quấy phá doanh trại giặc.
 
Qua gần bốn năm chiến tranh (từ 547 đến 550), ta càng đánh càng mạnh, quân Lương càng đánh càng gặp nhiều khó khăn, ngày càng suy yếu. Chiến lược “tốc quyết” (đánh nhanh thắng nhanh) của Trần Bá Tiên bị đập tan.

Trong khi phong trào kháng chiến của nhân dân ta đang phát triển theo chiều thuận lợi, thì trái lại, phía kẻ thù gặp khó khăn không chỉ ở trên chiến trường mà ngay cả ở chính quốc Trung Quốc đang lâm vào thời kỳ chiến tranh đẫm máu giữa các hoàng tộc và các viên trấn tướng địa phương nhằm thanh toán lẫn nhau.
 
Từ năm 547, viên tướng chủ chốt của địch là Trần Bá Tiên đã trở về Quảng châu làm thái thú Cao Yên lo việc nội bộ; việc binh ở Giao châu giao lại cho tì tướng Dương Sàn.
 
Năm 548, bên triều Lương xảy ra loạn Hầu Cảnh (548-552). Viên hàng tướng này đã cướp kinh sư, rất nhiều quý tộc nhà Lương bị giết, bọn hào trưởng địa phương nhân đó nổi dậy khắp nơi chống lại chính quyền.

Phía bắc, triều Tây Ngụy, từ lưu vực sông Vị, tổ chức nhiều cuộc tiến công nhằm vào đế chế nhà Lương, năm 553, chiếm Tứ Xuyên, cắt đứt quan hệ của chính quyền Nam Kinh với vùng Trung á; chiếm Tương Dương (Hồ Bắc), xâm nhập tới Giang Lăng, vùng trung lưu Trường Giang, lập nên triều Hậu Lương bù nhìn.
 
Quan tướng các châu, trong đó có cả Trần Bá Tiên, đã kéo đổ về kinh sư của Lương với danh nghĩa “cứu viện kinh sư”, dẹp loạn Hầu Cảnh. Nội chiến vì thế đã xảy ra liên miên. Thực lực quân sự của Trần Bá Tiên trội hẳn.
 
Bá Tiên tiến quân về kinh đô và năm 550, ngay trên đường từ Giang Tây về Nam Kinh, Bá Tiên được vua Lương phong làm Uy minh tướng quân Giao châu thứ sử.  Tuy nhiên, Trần Bá Tiên đã không sang cai trị Giao châu mà đã ở lại kinh sư làm thừa tướng, rồi đến tháng 11-557 đã phế bỏ Lương Kính Đế Tiêu Phương Trí (lúc đó 16 tuổi), tự xưng hoàng đế, cướp ngôi là Lương, lập triều Trần (557-589).
 
Tình trạng lộn xộn trong nội bộ nhà nước phong kiến phương Bắc trong năm năm liền (547-552), cộng thêm cuộc đảo chính của Hầu Cảnh, khiến nhà Lương hoàn toàn bất lực không nắm được Giao châu.
 
Khi Trần Bá Tiên được vua Lương triệu về để dẹp loạn Hầu Cảnh, phó tướng là Dương Sàn chỉ huy quân đội đánh nhau với quân ta. Bấy giờ, thế giặc suy yếu, thế ta đã mạnh. Quân xâm lược trên đất nước ta bị tiêu hao lớn, tư tưởng hoang mang, lo sợ bao trùm.
 
Chớp thời cơ đó, Triệu Quang Phục từ căn cứ Dạ Trạch, đã tung quân thực hiện cuộc phản công chiến lược, tức là mở một loạt cuộc tiến công vào các căn cứ đóng quân của giặc rồi đánh vào trị sở Long Biên.

Cuộc phản công của quân dân ta thời đó diễn ra thuận lợi, quân ta chiếm lại thành Long Biên, đuổi sạch quân xâm lược, giành lại quyền tự chủ trên toàn bộ đất nước Vạn Xuân.

Về sự kiện này, sử xưa của ta ghi chép một cách vắn tắt rằng: “Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi (Bá Tiên) về, ủy cho tì tướng là Dương Sàn đánh nhau với vua. Vua tung quân ra đánh, Sàn chống cự, bị thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Nước ta được yên. Vua vào thành Long Biên ở” (3) .

Như vậy, trải qua sáu năm kháng chiến (545-550), quân và dân nước Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Việt Vương đã anh dũng, kiên cường chiến đấu chống ngoại xâm và đã giành được thắng lợi. Nước Vạn Xuân non trẻ lại được độc lập trong một thời gian.


(1). (2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 181.  
(3).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.183.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 01:13:33 AM
VI- NƯỚC VẠN XUÂN SAU CHIẾN THẮNG QUÂN LƯƠNG
VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG QUÂN TÙY  LƯỢC

1. Nước Vạn Xuân thời Triệu Việt Vương và Hậu Lý Nam Đế.

Theo sử sách Trung Quốc, năm 557, Trần Bá Tiên đã  giành được ngôi vua, lập ra nhà Trần, kinh đô ở Kiến Khang (Nam Kinh). Tuy nhiên, toàn bộ miền Lĩnh Nam vẫn rối loạn, triều đình Nam Kinh không kiểm soát được các châu Lĩnh Nam. Trần Bá Tiên đã phái Âu Dương Nguy đi chinh phục vùng này (558).
 
Sách Tư trị thông giám chép: “Các quận ở Lĩnh Nam đều hàng, Nguy lấy được Quảng châu.  Lĩnh Nam đã bình định hết” (1).  Có lẽ lúc đó Giao châu đúng hơn là một phần Giao châu đã bị chiếm lại. Âu Dương Nguy làm thứ sử Quảng châu, sai em là Âu Xương Thịnh làm thứ sử Giao châu, em thứ ba là Âu Dương Thúy làm thứ sử Hành châu. Vì thế, theo Trần thư: “Cả nhà họ Âu Dương hiển quý, danh tiếng chấn động cả cõi Nam” (2).  
 
Đối với nước ta, nhà Trần chủ trương nâng quận Tân Xương trước thuộc Giao châu lên hàng châu, gọi là Hưng châu (tức huyện Mê Linh đời Hán).
 
Năm 563, Âu Dương Ngột thay cha làm thứ sử Quảng châu, kiêm coi 19 quận phía nam trong đó có một phần đất nước ta, tuy nhiên miền Giao Chỉ vẫn không yên ổn. Sau khi Âu Dương Ngột làm phản, nổi dậy chống lại nhà Trần nhưng bị thất bại và bị giết (569), cả họ Âu Dương bị mất chức, sự kiểm soát của bọn quan lại Trung Hoa đối với miền đất nước ta càng lỏng lẻo hơn.

Như vậy, đến đời Trần (Trần Bá Tiên) sự kiểm soát, cai trị của phong kiến Trung Hoa đối với miền Giao châu chủ yếu chỉ trên danh nghĩa. Nhà Trần tuy vẫn coi đất nước ta là các châu quận lệ thuộc, trên thực tế quyền hành ở đây đã thuộc về những đại biểu của tầng lớp hào trưởng bản địa.
 
Điều này cũng phù hợp với thực tế của xã hội Trung Hoa thuở ấy. Bạo loạn quân sự và nội chiến ở Nam Kinh đã đưa Trần Bá Tiên lên ngôi hoàng đế tại Giang Nam, song lúc đó nhà Trần không có cơ sở xã hội vững chắc, chỉ dựa vào quân lính, tầng lớp sĩ tộc - quý tộc đã mất quyền hành. Nhà Trần vì thế rất hèn yếu, không thể kiểm soát được các châu phía tây và phía bắc. Tùy thư chép rằng: “Đến đời Trần, đất đai càng thu hẹp, tây mất Thục Hán, bắc mất Hoài Phì, uy lực không vươn ra khỏi miền Kinh, Dương...” (3).  

Ngay trên đất Quảng châu, về thực tế cũng nằm trong sự quản lý của các quan lại địa phương cát cứ. Giao châu lại là nơi hiểm viễn, từ sau khởi nghĩa Lý Bí, chính quyền thống trị ngoại tộc không kiểm soát được miền này, nó đã tách khỏi phạm vi thống trị trực tiếp của chính quyền trung ương, trở thành một địa phương tự trị; thực chất đó là nền độc lập của nhà nước Vạn Xuân do Lý Nam Đế tổ chức.

Nền độc lập của dân tộc ta ở thế kỷ thứ VI còn rất non trẻ, chưa vững chắc. Ở đây kế thừa những tàn dư của chế độ thủ lĩnh bộ lạc cũng trải qua năm sáu trăm năm bị đế chế Trung Quốc “ràng buộc”, đã hình thành những thế lực cát cứ trong các vùng, có khuynh hướng xung đột, lấn chiếm nhau.  Ý thức độc lập tuy đã mạnh, nhưng thực lực để củng cố nền độc lập khối liên kết, đoàn kết trong nội bộ dân tộc - chưa đủ vững.

Triệu Quang Phục sau khi thực hành cuộc phản công thắng lợi đã tiến vào thành Long Biên, tổ chức triều chính, lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước. Tuy vậy, trong điều kiện lúc đó, Triệu Quang Phục đã không kiểm soát được toàn bộ đất nước.
 
Ông đã xưng vương, đóng đô ở Long Biên và có uy tín lớn, song ông chưa có đủ lực lượng lớn đặng kiểm soát được các châu quận phía nam đất nước. Bấy giờ, ở vùng Ái châu đang tồn tại lực lượng của Lý Thiên Bảo Và Lý Phật Tử.

Trước đây, khi Lý Nam Đế ở động Khuất Lão, Lý Thiên Bảo cùng với tướng Lý Phật Tử dẫn ba vạn quân rút vào Cửu Chân (4).  Quân Lương cũng đuổi theo và cuộc chiến giữa Trần Bá Tiên với Lý Thiên Bảo diễn ra ở Ái châu. Lý Thiên Bảo bị thua lui quân lên vùng thượng du, đóng quân ở động Dã Năng (miền tây Thanh Hóa), đắp lũy thành để bảo vệ và xưng là Đào Lang Vương.


(1).  Tư trị thông giám, q.167, t.5a.
(2).  Trần thư, q.9, t.4a. Âu Dương Nguy truyện.
(3).  Tùy thư, q.29,  t.12a.   
(4).  Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.183.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 01:17:48 AM

Khi ở phía bắc nước ta, quân xâm lược Lương bị Triệu Việt Vương đánh bại, thì lực lượng của Lý Thiên Bảo và Lý Phật Tử ở phía nam cũng hồi phục và phát triển. Năm 555, Lý Thiên Bảo (tức Đào Lang Vương) mất, Lý Phật Tử thay thế thống lĩnh toàn quân.

Năm 554, Lý Phật Tử từ Ái châu tiến quân ra vùng đông bắc, đánh Triệu Việt Vương ở vùng quê cũ Thái Bình. Sau năm lần giáp trận, hai bên không phân thắng phụ; thế quân của Lý Phật Tử hơi núng, nên đã xin giảng hòa với Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương nghĩ rằng, Lý Phật Tử là tướng cũ và cùng họ với Lý Nam Đế nên đã chấp thuận, lấy địa giới là bãi Quân Thần vùng Thượng Cát, Hạ Cát (thuộc Từ Liêm, Hà Nội). Thực chất đấy là sự phân chia địa giới vùng ảnh hưởng của hai thế lực giữa Thái Bình - họ Lý và Chu Diên - họ Triệu, với sự nhượng bộ của Triệu Quang Phục.

Lý Phật Tử đóng ở Ô Diên, Triệu Việt Vương ở Long Biên, cùng nhau kết mối thông gia: con trai Lý (Nhã Lang) lấy con gái Triệu (Cảo Nương). Cuộc tình duyên trở nên trắc trở bởi mưu mô quân sự - chính trị của Lý Phật Tử và được dân gian thần thoại hóa giống như chuyện Mỹ châu - Trọng Thủy ngày trước, từ “nỏ thần Kim Quy” của An Dương Vương đến “mũ đầu mâu móng rồng” của họ Triệu: những bí mật quân sự bị lấy cắp.
 
Năm 571, Lý Phật Tử đánh úp Triệu Việt Vương, đoạt toàn bộ quyền hành và đất đai. Triệu Việt Vương bị bất ngờ, không chống nổi và chạy về sông Đại Nha (Hà Nam) rồi tự vẫn ở đấy. Triệu Việt Vương mất đi là một tổn thất lớn của phong trào dân tộc. Nhân dân thương tiếc ông, lập đền thờ ở nhiều nơi.
 
Theo Nam Việt thần kỳ hội lục, Triệu Quang Phục được thờ trong 25 làng, Lý Bí được thờ trong 20 làng, Lý Phục Man được thờ trong 20 làng, Trương Hống và Trương Hát được thờ trong nhiều làng ở dọc sông Cầu (1).

Lý Phật Tử cũng tự xưng là Nam Đế, sử cũ gọi là Hậu Lý Nam Đế, vua nước Nam bề ngoài có sự thần phục ít nhiều đối với chính quyền nhà Trần ở Nam Kinh.

2. Nhà Tùy và những ảnh hưởng ở Giao châu.
 
Trung Quốc thời kỳ Nam Bắc triều (420-581) thật rối ren.  Bốn triều đại Tống, Tề, Lương và Trần đều đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh và chỉ thống trị được vùng phía nam Trường Giang, lịch sử Trung Quốc thường gọi các triều đại này là Nam triều, kéo dài 169 năm (420-581).
 
Ở phía bắc Trung Quốc dưới sự thống trị của Bắc Ngụy từ năm 439; nhưng đến năm 535, Bắc Ngụy chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Năm 550, Cao Dương cướp ngôi vua Đông Ngụy, đổi tên nước là Tề (Bắc Tề). Năm 557, Vũ Văn Giác cướp ngôi vua Tây Ngụy, đổi tên nước là Chu (Bắc Chu). Cuộc chiến lâu dài giữa hai nước này đã dẫn đến kết cục, năm 577, Bắc Chu tiêu diệt Bắc Tề.
 
Vua Bắc Chu nhu nhược thối nát, mọi quyền bính rơi vào tay bố vợ là Dương Kiên. Năm 581, Dương Kiên giành ngôi vua của Bắc Chu, đổi tên nước là Tùy, dời đô về Trường An. Như vậy, ở Trung Quốc một triều đại mới xuất hiện : triều Tùy ( 581 - 618).

Năm 589, sau khi cướp ngôi nhà Chu, Tùy Văn Đế (Dương Kiên) phái đại quân chia làm hai hướng, vượt Trường Giang tiêu diệt nhà Trần và thống nhất cả nước. Sau bốn thế kỷ Trung Quốc lâm vào cục diện chia cắt, nội chiến liên miên và bị Ngũ Hồ xâu xé, đến đây đã được thống nhất.
 
Ở Lĩnh Nam, sau khi nhà Trần mất, một số thứ sử đầu hàng nhà Tùy, một số thứ sử và thái thú khác nổi lên chống lại nhà Tùy.

Ở Giao châu, năm 590, Lý Xuân (Lý Phật Tử?) cũng đã không chịu thần phục vua Tùy. Tùy thư chép rằng: Tháng 11 năm Khai Phong thứ 10 (590) “người Vụ châu là Uổng Văn Tiến, người Cối Kê là Cao Trí Tuệ, người Tô châu là Thẩm Huyền Khoái đều cử binh làm phản, tự xưng Thiên tử, đặt trăm quan. Bọn Sái Đạo Nhân ở Lạc An, Lý Lang ở Trường Sơn, Ngô Đại ở Nhiêu châu, Thẩm Hiếu Triệt ở Vĩnh Gia, Vương Quốc Kháng ở Tuyền châu, Dương Bảo Anh ở Dư Hằng, Lý Xuân ở Giao Chỉ đều tự xưng là đại đô đốc đánh phá các châu, huyện. Hoàng đế xuống chiếu cho chức thượng trụ quốc, nội sử lệnh, Việt quốc công Dương Tố đi đánh dẹp được” (2).  Trên thực tế, Dương Tố chỉ tiến quân đến Triết Giang và Phúc Kiến, chưa hề tiến xuống Giao châu. 

Bấy giờ Quảng châu cũng nổ ra cuộc khởi nghĩa của Vương Trọng Tuyên và các thủ lĩnh ở Lĩnh Nam phần lớn đều hưởng ứng. Tùy Văn Đế sai Bùi Củ đi “vỗ yên” đất Lĩnh Nam.


(1).  Theo Nguyễn Văn Huyên: Contribution à du de d’ungénie tutélaire ananmite: Lý Phục Man, BEFEO. XXXVIII, 1938, tr.30.
(2).  Tùy thư, q.2, 4a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 01:22:18 AM

Chính sách của nhà Tùy đối với Lĩnh Nam bấy giờ là dung dưỡng, ràng buộc. Bùi Củ đi “vỗ về” hơn 20 châu nhưng cũng chỉ là “thừa thế bổ bọn cừ súy làm thứ sử và huyện lệnh” (1) rồi về.

Do mức độ tập trung của chính quyền Tùy còn yếu và thế lực phong kiến cát cứ còn mạnh nên nhà Tùy chưa nắm hẳn được miền Lĩnh Nam, buộc phải trao chính quyền ở đây cho các hào trưởng địa phương, tuy rằng về danh nghĩa, họ vẫn nhận chức tước ở triều đình trung ương.

Trong con mắt của nhà Tùy, Lý Xuân cũng là một “cừ súy” ở Giao châu từ năm 590. Vua Tùy nhận thấy đất Giao châu “tuy có nội thuộc nhưng chỉ là đất kimi (ràng buộc lỏng lẻo)” (2).  Nhưng qua thời gian, nhà Tùy càng ổn định và phát triển thì họ càng lấn tới. Tùy đặt phủ tổng quản ở Quế châu để kiểm soát các châu quận ở Lĩnh Nam.
 
Năm 597, Linh Hồ Hy làm tổng quản Quế châu, có quyền cử quan lại từ thứ sử trở xuống. Tùy thư chép: “Trước đây các châu huyện ‘cường ngạnh, bọn trưởng lại phần nhiều không đi làm quan được, phải nương nhờ vào phủ tổng quản, Linh Hồ Hy đến khiến bọn trưởng lại đi đến chỗ làm quan” (3).  Đến đây, nhà Tùy đã kiểm soát Lĩnh Nam chặt chẽ thêm một bước. Lý Phật Tử, ở trong nước vẫn tự xưng là Nam Đế, nhưng bề ngoài cũng phải tỏ sự thần phục phủ tổng quản Quế châu. Linh Hồ Hy đã thay đổi tên gọi một số châu huyện thuộc đất nước ta. 
 
Theo Tùy thư: “Hy thấy có nhiều huyện trùng tên nhau nên tâu xin đổi An châu thành Khâm châu, Hoàng châu làm Phong châu, Lợi châu thành Trí châu, Đức châu thành Hoan Châu” (4).

Dần dần nhà Tùy bắt các thủ lĩnh địa phương ở Lĩnh Nam phải “vào chầu Thiên tử”. Lý súy An châu (Khâm châu) là Nịnh Mãnh Lực “từ đời Trần đã cát cứ ở Nam Hải”, đến đời Tùy được cử làm An châu thứ sử “nhưng vẫn kiêu ngạo, dựa hiểm trở chưa từng yết kiến Hy” (5).  Nhưng đến đời con là Nịnh Trường châu, tuy vẫn tập chức cha làm thứ sử nhưng đã phải vào chầu hoàng đế Trung Hoa.
 
Đầu năm 602, đến lượt “Lý súy” ở Giao châu là Lý Phật Tử bị gọi vào triều. Vào chầu Thiên tử có nghĩa là thần phục, nội thuộc hoặc là một hành động đầu hàng. Vì thế, Lý Phật Tử đã hiên ngang chống lại lệnh của vua Tuỳ.
 
Tùy thư chép rằng: “Linh Hồ Hy phụng chiếu sai cừ súy Giao châu là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến tháng trọng đông (tức tháng 11-TG) sẽ lên đường. Bản ý của Linh Hồ Hy cũng chỉ muốn ràng buộc Phật Tử nên y lời xin của Phật Tử. Có người đến cửa khuyết kiện Hy ăn hối lộ của Phật Tử. . . Vua nói có ý ngờ. Đến khi Phật Tử làm phản, hỏi đến nơi, vua giận lắm, tin ngay việc trên sai sứ giả trói Hy đem về triều. . . Đến khi hành quân tổng quản Lưu Phương bắt được Phật Tử về kinh sư, nói rằng ở nhà Hy không có tang vật gì, vua mới tỉnh ngộ. . .” (6).

Nếu điều ghi chép trên của Tùy thư là sự thực thì Lý Phật Tử quả đã có uy thế lớn ở Giao châu. Nhà Tùy thường bổ “cừ súy” làm thứ sử, Lý Phật Tử cũng là một “cừ súy”, vậy tất Lý Phật Tử cũng đã được công nhận làm thứ sử Giao châu.
 
Chính vì vậy, vua Tùy đã cho vời vào chầu như những thứ sử khác. Tuy nhiên, Lý Phật Tử đã tự xưng là Nam Đế, đã giữ quyền tự trị ở Giao châu trong một thời gian, nay bị bắt buộc phải vào chầu vua Tùy. Lý Phật Tử đã chống lại mệnh lệnh của vua Tùy, kiên trì giữ đất Giao châu trong phạm vi tự trị của mình. Chính vì thế, nhà Tùy đã quyết định tổ chức một cuộc xâm lược lớn để chiếm lại Giao châu. 


(1).  Tùy thư, q.67, t.5b.
(2).  Tùy thư, q.56, t.2b.
(3).  Tùy thư, q.56, t.3a.
(4). (5).  Tùy thư, q.56, t.3a.
(6).  Tùy thư, Linh Hồ Hy truyện, q.56, t.3a.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 10:55:36 PM

3. Cuộc xâm lược của nhà Tùy. Thất bại của Lý Phật Tử.

Nhà Tùy âm mưu đặt ách đô hộ trên đất nước ta. Biết rằng, Lý Phật Tử chỉ thần phục trên danh nghĩa, nên hoàng đế Tùy đã hạ chiếu triệu Lý Phật Tử về chầu ở kinh đô, thực chất là bức Lý Phật Tử quy hàng, để cho nhà Tùy thiết lập chính quyền đô hộ ở Giao châu.

Lý Phật Tử chống mệnh, một mặt kiên quyết bác bỏ yêu sách đó, mặt khác tích cực triển khai quân đội để chống lại quân xâm lược sắp kéo sang. Quân sĩ Vạn Xuân được chia ra đóng giữ ở ba tòa thành lớn, hình thành ba cụm phòng ngự ở đồng bằng châu thổ sông Hồng:
 
- Lý Đại Quyền - cháu Lý Phật Tử, đem quân trấn giữ thành Long Biên (Bắc Ninh).

- Biệt tướng Lý Phổ Đỉnh chỉ huy quân giữ thành Ô Diên (Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây).

- Lý Phật Tử thân thống suất đại quân tổ chức phòng ngự tại “thành cũ của Việt Vương”, tức thành Cổ Loa.
 
Ngoài ra, Lý Phật Tử còn phái những đội quân nhỏ chốt giữ ở những nơi hiểm yếu, dựa vào thành lũy và địa hình thiên nhiên để chặn đánh địch ngay từ biên ải hoặc dọc theo trục đường mà quân địch có thể tiến qua.

Tháng giêng năm 603, vua Tùy phong Lưu Phương làm Giao châu đạo hành quân tổng quản, Kính Đức Lượng làm trưởng sử, thống suất 27 quân doanh (khoảng 10 vạn quân), mở cuộc tiến công xâm lược Vạn Xuân, dưới danh nghĩa là đi đánh dẹp việc “làm phản” của Lý Phật Tử.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, “Lưu Phương người Tràng An, có tài lược làm tướng”; “quân lệnh của Phương rất nghiêm, ai phạm tất chém” (1).  Lưu Phương dẫn quân từ đường Vân Nam tiến vào nước ta; tới Doãn châu (huyện Quảng Thông, Vân Nam) thì Kính Đức Lượng ngã bệnh không đi được nữa.
 
Đến núi Đô Long (2),  quân xâm lược gặp trận địa mai phục của quân ta. Tại đây Lý Phật Tử đã cho hơn 2.000 quân trấn giữ. Khi quân giặc đến quân ta xông ra chặn đường, đánh rất quyết liệt. Nhưng vì quân ta ít, quân địch đông, tiến nhanh, đánh gấp, nên quân ta nhanh chóng bị đánh tan. 

Thắng thế, quân Tùy tiến sâu vào nội địa nước ta. Tuy bị những đạo quân nhỏ lẻ ở nhiều nơi đánh chặn, nhưng quân của Lưu Phương đều vượt qua được và nhanh chóng tiến vào trung tâm nước Vạn Xuân. Chúng tập trung vây đánh hai căn cứ phòng ngự lớn của Lý Phật Tử ở Ô Diên và Long Biên.
 
Các tướng Lý Đại Quyền và Lý Phổ Đỉnh chỉ huy quân đội tổ chức chiến đấu bảo vệ thành rất quyết liệt, quân Tùy tuy có tổn thất, song chúng tập trung toàn lực tiến công, thế rất mạnh, nên quân ta không thể cản phá được, buộc phải bỏ thành rút về Cổ Loa.

Cổ Loa lúc đó là một căn cứ phòng ngự mạnh. Hàng vạn quân dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Phật Tử, dựa vào thành lũy kiên cố, chiến đấu chống lại quân xâm lược. Quân Tùy bao vây và tiến đánh từ nhiều mặt. Chúng kết hợp vừa dùng binh uy hiếp vừa dùng thủ đoạn chính trị đe dọa, dụ dỗ, mua chuộc.
 
Lý Phật Tử vì thế càng sa vào thế bị động, bất lợi.  Dựa vào ưu thế lực lượng áp đảo, Lưu Phương mở cuộc tiến công lớn vào Cổ Loa. Thành Cổ Loa thất thủ. Nhiều tướng của Lý Phật Tử đã cùng quân, dân ta chiến đấu rất dũng cảm, nhưng vì thế yếu nên đã bị quân giặc tàn sát. Lý Phật Tử bị bắt và sau đó bị dẫn về kinh đô Trường An.
 
Chiếm được Vạn Xuân, nhà Tùy mở rộng chiến tranh xâm lược xuống phía nam. Năm 605, Lưu Phương cùng thứ sử Hoan châu chỉ huy quân đội mở rộng chiến tranh đánh chiếm vương quốc Lâm ấp (tức Chiêm Thành). Quân xâm lược cướp vàng bạc, châu báu, chiếm đất đai Lâm ấp thành lập ba châu mới ở phía nam Hoành Sơn.


(1).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tập 1, chua rằng: Theo Thanh nhất thông chí, núi Đồ Long còn gọi là vùng núi ở Phủ Khánh Viên thuộc nước ta, xưa thuộc Hà Giang, thực dân Pháp cắt nhượng cho Mãn Thanh, nay là đất Khai Hoá, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.186.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 10:58:50 PM

Theo sử cũ của Trung Quốc, vua Lâm ấp là Phàn Chí đã lãnh đạo dân chúng chống lại. Phàn Chí cho quân đóng giữ nơi hiểm yếu, lập nhiều đồn sách để cự giặc. Khi quân Tùy đến, Phàn Chí đã nhiều lần tung quân ra đánh trả. Nhưng Lưu Phương đã dùng kế phục binh, bẫy voi chiến và đánh tan các đội tượng binh của Lâm ấp. Vì thế, quân Lâm ấp đã tan vỡ. Vua Phàn Chí chạy ra biển. Lưu Phương thu được miếu chủ, người vàng, cướp phá cung thất của Lâm ấp, bắt người cướp đất lập ba châu: Đảng châu, Nông châu và Xung châu (Tùy thư).
 
Cuộc kháng chiến chống quân Tùy xâm lược đầu thế kỷ thứ VII bị thất bại. Sau 60 năm độc lập, đến cuối năm 603 nước ta lại rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc Nước Vạn Xuân vừa thoát khỏi cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Lương lại diễn ra cuộc nội chiến kéo dài giữa các thế lực trong nước. Tình trạng đó làm cho thế nước suy yếu. Lý Phật Tử lãnh đạo kháng chiến chưa có đủ uy tín để tập hợp lực lượng, không phát huy được sức mạnh của cả dân tộc để kháng xâm lược.

Từ cuối thế kỷ VI, đế chế Tùy đã thống nhất được Trung Quốc, đã xây dựng được chính quyền trung ương vững mạnh trong cuộc chiến tranh này, nhà Tùy đã huy động một lực lượng quân sự rất lớn. Lưu Phương là một viên tướng có nhiều mưu lược, quỷ quyệt. Quân Tùy thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, dùng lực lượng quân sự lớn, tiến ồ ạt đánh thẳng vào quốc đô Cổ Loa của nước Vạn Xuân. Lý Phật Tử áp dụng chiến lược phòng ngự, tập trung quân chống giữ ở ba tòa thành lớn. Quân của Lý Phật Tử mới xây dựng, số lượng chưa nhiều, sự cố kết dân tộc chưa cao. Bởi thế, kẻ thù có điều kiện nhanh chóng tiến vào trung tâm nước ta và tập trung lực lượng lớn đánh mạnh vào những căn cứ cố thủ của Iý Phật Tử.
 
Khi những vị trí phòng ngự lớn bị thất thủ, nhất là khi kinh thành Cổ Loa lọt vào tay giặc thì những lực lượng kháng chiến của địa phương cũng nhanh chóng bị quân xâm lược Tùy đàn áp. Đó là lý do thất bại của Nam Đế Lý Phật Tủ trong cuộc chiến tranh chống xâm lược nhà Tùy năm 603.


CHƯƠNG III

NỀN THỐNG TRỊ CỦA ĐẾ CHẾ TÙY – ĐƯỜNG Và PHONG TRÀO KHỞI NGHĨA CHỐNG CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ NHÀ ĐƯỜNG (TỪ ĐẦU THẾ KỶ VII ĐẾN CUỐI THẾ KỶ IX)

I. TRUNG QUỐC THỜI TUỲ - ĐƯỜNG

1. Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội

Những cuộc hôn nhân Hán - Hồ và đường lối chính trị Hán hoá có hệ thống của triều Bắc Ngụy đã tạo ra một tầng lớp quý tộc hỗn huyết ở Trung Quốc. Những gia đình lớn nắm vận mệnh Trung Quốc thời Tuỳ - Đường trong khoảng từ năm 600 đến đầu thế kỷ thứ VIII có dòng họ gốc Tuyết hay Tiên Ti như Vũ Văn, Mộ Dung, Linh Hồ, Độc Cô, Uất Trì, v.v.. Dù mang một tên họ hoàn toàn Hán đi nữa, như họ “Dương” dưới triều Tuỳ và họ “Lý” dưới triều Đường thì tầng lớp thống trị Tuỳ - Đường vẫn có dòng máu nửa Tuyết (Đột Quyết).
 
Nhà Tuỳ và nửa đầu nhà Đường vẫn là những đế chế quý tộc cả về con người lẫn các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá thời Nam Bắc triều của Trung Quốc, một xã hội dựa trên sự đối lập giữa một bên là quý tộc thống trị, một bên là tầng lớp bị trị: “Khách”, “bộ khúc”, “Nô tì”...

Tuy nhiên, đối với lịch sử Trung Quốc, thời Tuỳ - Đường (581 - 907) là một giai đoạn nhà nước phong kiến thống nhất và phát triển. Triều Tuỳ tồn tại 37 năm (581 - 617), với hai triều vua là Tuỳ Văn Đế (581 - 604) và Tuỳ Dượng Đế (605 - 617).

Sau khi giành ngôi vua của Bắc Chu, Tuỳ Văn Đế đã thi hành nhiều chính sách nhằm xây dựng chính quyền thống nhất, thực thi chế độ quân điền, giảm nhẹ gánh vác cho nông dân, lập kho “nghĩa xương” chẩn cấp lúa cho dân nghèo, thống nhất tiền lệ, mở khoa thi để chọn nhân tài trong tầng lớp địa chủ bình dân.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:00:21 PM

Để tăng cường tập quyền trung ương, Tuỳ Văn Đế đã cải cách chế độ phủ binh, chấn chỉnh lại hương binh. Cấm binh và phủ binh thay nhau bảo vệ kinh đô, trấn giữ những vị trí xung yếu, tạo điều kiện để nhà nước khống chế quân đội và duy trì sự thống nhất.

Nhờ những cải cách tiến bộ, đất nước Trung Quốc sau bao năm suy thoái đã được ổn định, kinh tế phát triển.  Đầu thế kỷ VII, dân số Trung Quốc có khoảng chín triệu hộ (50 triệu người). Nhà nước tích trữ được nhiều của cải.  Các kho lớn của nhà vua đầy ắp, có đến hàng chục triệu thạnh lương và mấy chục triệu súc vải lụa. Trong nước chia thành 11 vùng, dưới vùng là quận, xã . . . Vùng Lĩnh Nam (phía nam dãy Ngũ Lĩnh) trong đó có đất Giao Chỉ gồm 16 quận ở đất liền và ba quận ở đảo Hải Nam.

Dưới đời Tuỳ Văn Đế, kinh đô Trường An trở thành nơi đô hội, thương nghiệp phát đạt. Tuy nhiên, Trường An phát triển thì Nam Kinh mất địa vị; vì thế, giới quý tộc, đại địa chủ và quan lại cũ ở Nam Kinh vốn đã rất bất bình với những chính sách của Văn Đế, nay đứng hẳn về phe thứ sử Dương Quảng, chống lại Tuỳ Văn Đế và thái tử.
 
Năm 604, họ đã thực hiện âm mưu giết vua và thái tử, lập Dương Quảng lên ngôi, hiệu là Tuỳ Dượng Đế (có sách gọi là Tuỳ Dạng Đế).  Tuỳ Dượng Đế rất xa xỉ, hoang dâm và bạo ngược. Ngay từ khi mới lên ngôi, năm 605, Dượng Đế đã dựa vào thế nhiều người lắm của để xây cất các công trình công cộng phục vụ cho cuộc sống xa hoa của mình. Hàng triệu dân được huy động đi xây dựng đông đô Lạc Dương, xây vườn Tây Uyển và hàng chục li cung, đắp một hệ thống đường sá dài mấy ngàn dặm và một mạng lưới sông đào dài 4.000 dặm, lấy Lạc Dương làm trung tâm, phía bắc đến Trúc Quân, phía nam đến Giang Tô và thông đến Dư Hàng ở nam Trường Giang, nối liền ba con sông lớn Hoàng Hà, sông Hoài và Trường Giang.

Tuỳ Dượng Đế đã huy động rất nhiều nhân lực, vật lực, tốn kém không biết bao nhiêu mà kể. Bọn quan lại tàn ác bắt làm việc kiệt sức, dân phu chết đến bốn, năm phần mười.  Sau khi gấp rút hoàn thành hệ thống đường sá và kênh đào Tuỳ Dượng Đế năm nào cũng tổ chức những kỳ du ngoạn. Đoàn du thuyền của nhà vua về miền Trường Giang đông tới 50 vạn người gồm cả hoàng hậu, cung phi, quý tộc, quan lại, binh lính... với hơn 5.000 chiếc thuyền lớn nhỏ.  Riêng thuyền rồng của hoàng đế cao 45 thước, dài 200 thước và số dân phu dùng để kéo đoàn thuyền đông đến tám vạn người. Những vùng đoàn thuyền đi qua, nhân dân địa phương trong vòng 500 dặm phải dâng của ngon vật lạ để vua và đoàn tuỳ tùng ăn uống.

Vì xa hoa lãng phí như thế, vua Tuỳ Dượng Đế đã tiêu sạch ngân khố quốc gia, để có tiền hắn đã bắt nhân dân phải nộp thuế trước 10 năm. Nhân dân Trung Quốc thời đó sống cơ cực, tâm lý bất bình lan tràn khắp nơi.
Đại khởi nghĩa nông dân đã nổ ra liên tiếp ở Hà Bắc, ở Sơn Đông và nhiều nơi khác.

Phong trào đấu tranh của nhân dân càng ngày càng phát triển và lan rộng ra toàn quốc, tính ra có đến hàng trăm cuộc khởi nghĩa. Dần dần các cuộc khởi nghĩa có quy mô rộng lớn, trong đó mạnh nhất là quân Ngoã Cương ở vùng Hà Nam do Lý Mật lãnh đạo, nghĩa quân Hà Bắc do Đậu Kiến Đức cầm đầu và nghĩa quân Đỗ Phục Uy hoạt động ở nam sông Hoài.

Triều đình nhà Tuỳ đã điều hàng chục vạn quân đến đánh dẹp quân Ngoã Cương ở Lạc Dương, nhưng liên tiếp bị thất bại. Hoảng sợ trước phong trào nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân, năm 616, Tuỳ Dượng Đế bỏ Trường An chạy xuống Giang Tô.

Trong khi quân Ngoã Cương và quân Tuỳ đang tập trung đánh nhau ở Lạc Dương, thì bọn quan lại, địa chủ ở nhiều nơi cũng tổ chức quân đội chống lại triều đình; trong số đó mạnh nhất là lực lượng của Lý Uyên.

Lý Uyên là một quan lại cao cấp của triều Tuỳ được phong Đường quốc công, làm thái thú Thái Nguyên, một trọng trấn gần biên giới phía bắc, thuộc Sơn Tây ngày nay. Lý Thế Dân, con Lý Uyên là người kiệt thiệt trẻ tuổi, có tài cầm quân, giỏi cả văn lẫn võ, bắn tên bách phát bách trúng. Thế Dân cùng cha đem 10 vạn quân vượt Hoàng Hà, đánh chiếm Trường An, rồi Tôn một người cháu của Dượng Đế mới 13 tuổi làm hoàng đế.

Năm 618, sau khi vua Tuỳ Dượng Đế bị bộ hạ giết tại Giang Tô, Lý Uyên lên làm vua, đặt tên nước là Đường, đặt hiệu là Đường Cao Tổ, phong con trưởng là Kiến Thành làm thái tử, cho Lý Thế Dân làm Tần vương và em của Thế Dân là Nguyên Cát là Tề vương.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:03:09 PM

Sau khi lên ngôi, Đường Cao Tổ và tiếp sau là Đường Thái Tông (tức Lý Thế Dân) đã dần dần đánh bại hoặc thu phục được hầu hết các cánh quân khởi nghĩa, tiêu diệt được các thế lực cát cứ và đến năm 628, Trung Quốc lại hoàn toàn thống nhất.

Nhưng, ngay từ đầu thành lập đế chế, trong triều chính nhà Đường đã xảy ra cuộc tranh chấp nội bộ sâu sắc. Lý Thế Dân, con thứ Lý Uyên đã lập nhiều công tích trong việc tiêu diệt nhà Tuỳ và đàn áp các phong trào chống đối, đã có ảnh hưởng rất lớn trong triều đình. Vì thế, Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát có ý muốn trừ khử Thế Dân, đã tổ chức đầu độc Thế Dân, nhưng không thành.

Năm 626, Lý Thế Dân cùng một số tướng lĩnh thân cận đã đem quân phục ở cửa Hoàng Thành, giết Kiến Thành và Nguyên Cát. Sau sự kiện đó, Lý Uyên thoái vị, Lý Thế Dân lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đường Thái Tông.

Những cuộc khởi nghĩa nông dân trước đây đã làm cho nhà Tuỳ giàu có đã mất ngôi rất nhanh. Sự thực đó đã đem lại bài học sâu sắc cho nhà Đường. Từ bài học của nhà Tuỳ, Đường Thái Tông cho rằng: “Thuyền ví như vua, nước ví như dân, nước có thể nâng thuyền lên, cũng có thể lật thuyền” (1).   Do đó, Đường Thái Tông đã thực hiện nhiều chính sách nhằm xoa dịu mâu thuẫn xã hội, nhất là chính sách đối với nông dân. Sử sách Trung Quốc gọi đó là “chính sách nhượng bộ nông dân của nhà Đường trong buổi đầu”.

Nội dung chủ yếu của chính sách này là chế độ ruộng đất và thuế má sao cho vừa, tranh thủ lôi kéo được nông dân mà vẫn bảo tồn được quyền lợi của giai cấp địa chủ. Vì thế, vua Đường đã thực hiện một chế độ ruộng đất và thuế khoá mới.  Nhà Đường ban hành chế độ quân điền, lấy những vùng đất rộng lớn bị bỏ hoang trong thời chiến tranh để chia cho dân cày. Quy định những “làng rộng” (ruộng nhiều người ít) mỗi đinh từ 18 tuổi trở lên được chia 100 mẫu, trong đó có 20 mẫu “vĩnh viễn” thuộc quyền sở hữu của nông dân và 80 mẫu ruộng “khẩu phần”, khi chết phải trả lại. Những “làng hẹp” (ruộng ít người nhiều), mỗi đinh trên 18 tuổi chỉ được chia 40 mẫu ruộng “khẩu phần”. Chế độ quân điền không xâm phạm đến ruộng đất của giai cấp địa chủ. Bọn quý tộc, quan lại vẫn theo đẳng cấp mà được nhiều ruộng vĩnh viễn của vua ban, đồng thời dựa vào thế lực mà chiếm thêm nhiều ruộng đất khác.

Về thuế má, quy định mỗi thanh niên hằng năm phải nộp thóc một thạch (20 đấu), lụa hai trượng và đi phu 20 ngày. Người nào không đi phu được có thể nộp lúa thay thế, mỗi người ba thước. Nếu gặp nạn lụt và hạn hán, nhà nước có thể tuỳ thiệt hại nặng, nhẹ mà giảm hoặc miễn thuế. Việc bắt phu được tạm thời ngừng trong ngày mùa.  Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp được khôi phục và phát đạt.

Nhiều thành thị lớn xuất hiện. Trong các thành phố đã có nhiều hiệu buôn, phường thủ công và hàng hội. Hiệu buôn chuyên mua hàng để bán. Phường thủ công tự bán các sản phẩm của mình làm ra. Ở thành phố Trường An có hai khu chợ đông và tây, mỗi khu có 220 hàng hội. Thành phố Lạc Dương có 120 hàng hội. Nhiều vùng nổi tiếng về sản xuất hàng mỹ nghệ, dệt gấm hoa (Tứ Xuyên), làm gương đồng (Dương châu), làm đồ vàng bạc (Thành Đô), làm đồ sơn (Tương Dương) . . .

Trường An là đô thành và là trung tâm giao thông của cả nước, có đường lớn thông đến Sơn Đông, Hà Bắc, Cam Túc, Tứ Xuyên, Hồ Bắc. Lạc Dương là đông đô và là trung tâm đường thuỷ của sông Đào. Dương châu nằm sát ngã ba sông, chỗ sông Đào nối vào Trường Giang, là nơi tập trung và phân phối hàng bán ở Giang Nam.

Các thành phố lớn ven biên giới và ven biển còn là đầu mối buôn bán với nước ngoài. Thành Đô là nơi buôn bán phồn thịnh với các nước Nam Chiếu và Thổ phồn. Các thành phố phía tây bắc buôn bán với Tây Vực và Trung á. Những đội lái buôn vượt sa mạc đem hàng ngọc và chăn bông đến bán. Quảng châu là hải cảng lớn nhất hồi đó. Việc quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước Ba Tư, Trập, Ấn Độ, Java (Inđônêxia), Cao Ly (Triều Tiên)...  khá phồn thịnh. Các nước đến bán hương liệu, Trung Quốc bán ra hàng tơ lụa, gương đồng, đồ sắt, sứ, chè ...

Người ấn Độ và Việt Nam truyền vào Trung Quốc cách ép mía làm đường. Cùng với sự phồn thịnh về kinh tế, văn hoá thời Đường rất thịnh đạt, phát triển, nên luật thư Đường truyền đến ngày nay. Thời đó xuất hiện các nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ và cuối đời Đường có Bạch Cư Dị. Kỹ thuật ấn loát bản gỗ ra đời càng tạo điều kiện truyền bá rộng rãi văn chương đời Đường.


(1).   Tư trị thông giám, Sđd q 128.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:04:42 PM


Năm 629, nhà sư Huyền Trang (Tam Tạng) sang ấn Độ, sau 10 năm đã đưa về Trường An được 650 bộ kinh Phật rồi dịch ra chữ Hán. Tiếp đến năm 671, nhà sư Tăng Nghĩa Tịnh lại đến ấn Độ đưa về 400 bộ kinh Phật. Do vậy, dưới triều Đường, Phật giáo phát triển mạnh và tồn tại song song với Nho giáo.

Trong một thời kỳ dài, chính trị, kinh tế, xã hội ở Trung Quốc phát triển ổn định. Lịch sử Trung Quốc gọi thời kỳ trị vì của Đường Thái Tông là “nền thịnh trị Trinh Quán” (niên hiệu vua Đường Thái Tông) và coi đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của chế độ phong kiến Trung Quốc. Đường Thái Tông tỏ ra là một hoàng đế sáng suốt, eo tài về chính trì, quân sự và biết thương dân. ông đã có nhiều chính sách tiến bộ và những biện pháp mị dân, nên đã khích lệ quần chúng và được nhân dân ủng hộ.

Thanh thế của đế chế Đường rất lẫy lừng, thịnh hơn cả thời Lưỡng Hán. Sự cường thịnh còn bao hàm cả trên lĩnh vực tổ chức hành chính và quân sự. Quân đội nhà Đường có tổ chức chặt chẽ, rất đông và linh hoạt, có tổ chức hậu cần hợp lý.

Nhưng từ năm 649, từ khi Đường Thái Tông chết, tình hình chính trị ở Trung Quốc có nhiều biến đổi. Đường Cao Tông nối ngôi, nhưng là một người nhu nhược, ốm yếu, nên dần dần mọi công viện triều chính đều do hoàng hậu Võ Tắc Thiên quyết định.
 
Nhờ có sắc đẹp và mưu mô khôn ngoan, xảo quyệt Võ Tắc Thiên từ một nữ quan của Đường Thái Tông, được Cao Tông yêu cho làm cung phi rồi trở thành hoàng hậu (655). Từ đó, trên thực tế, Võ hậu nắm mọi quyền bính trong triều đình.
 
Năm 683, Cao Tông chết, Trung Tông rồi Duệ Tông lần lượt được đưa lên làm vua bù nhìn, mọi quyền hành vẫn nằm trong tay Thái hậu họ Võ. Tuy vậy, bà vẫn chưa thoả mãn, cho nên đến năm 690, Võ Tắc Thiên xưng làm hoàng đế đổi tên nước thành Chu.
 
Trong suốt mấy chục năm chấp chính, nhất là sau khi lên làm hoàng đế, Võ Tắc Thiên tập trung mọi cố gắng nhằm xây dựng nền độc tài cá nhân để giữ vững quyền lực của mình. Để đạt mục đích, Võ Tắc Thiên thẳng tay khủng bố những quý tộc, quan lại chống đối. Rất nhiều Tôn thất, công thần, quý tộc đã bị giết hại. Dưới sự thống trị của Võ Tắc Thiên, nhân dân Trung Quốc ngày càng cực khổ vì nghĩa vụ lao dịch, binh dịch, thuế khoá nặng nề, cùng với nạn quan lại tham ô và tàn bạo.

Năm 705, Võ Tắc Thiên ốm nặng, trong cung đình nổ ra chính biến và Võ hậu buộc phải thoái vị. Nhà Đường được khôi phục, nhưng tình trạng trong triều vẫn rối ren, chỉ trong bảy năm xảy ra nhiều vụ chính biến, ba vua được lập lên rồi bị phế truất.

Năm 712, Đường Huyền Tông lên ngôi. Thời gian đầu Huyền Tông tỏ ra là một ông vua có tài năng, đã thi hành nhiều chính sách nhằm ổn định tình hình trong nước. Về chính trị, Huyền Tông chỉnh đốn lại bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, phái các vương đi làm thứ sử ở các châu để tránh hoạ chính biến ở kinh đô.

Về kinh tế, ông rất chú ý phát triển sản xuất và tiết kiệm trong tiêu dùng: ra lệnh ngừng một số công trình xây dựng, phái quan lại về địa phương đốc thúc sản xuất, chủ trương không tìm kiếm và tiêu xài châu ngọc, gấm vóc... Nhờ vậy, kinh tế phát triển, xã hội ổn định, chính quyền nhà Đường vững vàng và Trung Quốc bước vào một thời kỳ phồn vinh mà lịch sử gọi là “nền thịnh trị thời Khai Nguyên, Thiên Bảo” (hai niên hiệu của Đường Huyền Tông) .

Nhưng đến cuối đời, vua Đường Huyền Tông sa vào rượu chè và sắc đẹp, nhất là say đắm Dương Quý Phi, do đó mọi công việc triều chính đều giao cho Dương Quốc Trung (anh Dương Quý Phi) và tập đoàn “ngoại thích” họ Dương. Gia đình họ Dương chiếm nhiều chức vụ quan trọng. Triều chính nhà Đường không ổn định. Ở các địa phương, giai cấp địa chủ tăng cường chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, chế độ quân điền tan rã, thế lực của các tiết độ sứ ở vùng biên cương phát triển, mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn giữa trung ương với địa phương trở nên sâu sắc.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:06:43 PM

Trong bối cảnh đó, năm 755, ở miền bắc, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh nổi dậy chống lại nhà Đường, sử sách gọi tắt là “loạn An - Sử”. An Lộc Sơn vốn là người Hồ, làm tiết độ sứ ba trấn ở biên giới đông bắc, nắm quyền bính cả vùng Hà Bắc, do đó có lực lượng vũ trang rất mạnh. An Lộc Sơn từ Hà Bắc đánh chiếm Lạc Dương rồi tiến về Trường An.

Năm 756, không chống cự nổi, vua Huyền Tông cùng triều đình, vương thất phải bỏ chạy sang Tứ Xuyên. Giữa dường, do sức ép của các tướng sĩ, Đường Huyền Tông buộc phải cho giết Dương Quý Phi và Dương Quốc Trung.

Nhờ sự giúp đỡ của viện binh Hồi Hột, nhà Đường thoát khỏi hoạ An Lộc Sơn và Sử Tư Minh, chiếm lại Trường An và thu hồi Lạc Dương. Vụ “loạn An - Sử” kéo dài tám năm đến đây chấm dứt. Tuy vậy, nó để lại hậu quả lớn lao trong lịch sử Trung Quốc thời Đường và thực tế “loạn An Lộc Sơn” cũng là mốc đánh dấu nhà Đường từ chỗ thịnh trị bước vào thời kỳ suy yếu.

Vua Đường chỉ làm bù nhìn, mọi quyền hành do hoạn quan lũng đoạn. Bọn hoạn quan có thể tự ý phế lập các vua, khống chế các quan kể từ tể tướng trở xuống. Ở địa phương, thế lực các tiết độ sứ ngày càng lớn mạnh, làm chủ chính quyền và tổ chức những đội quân lớn, trở thành những lực lượng cát cứ độc lập, không chịu sự khống chế của triều đình. Trong khi đó nhà Đường bị nước Thổ Phồn (ở Tây Tạng) và Nam Chiếu (ở Vân Nam) tiến công và xâm chiếm mất nhiều đất đai.

Cuối triều Đường, chính sách dùng tiết độ sứ làm cho chính quyền phong kiến Trung Hoa xảy ra hiện tượng “ngoài mạnh hơn trong, cán nặng hơn gáo” và quyền lực trung ương vì thế ngày một suy giảm. Phiên trấn cát cứ phát triển mạnh, buộc đế chế Đường phải thừa nhận quyền tự trị của họ. Tiết độ sứ mạnh lên có quyền chỉ định người nối chức, dần dần thành tập quyền. Miền biên cương của đế chế Đường nằm trong tay các tiết độ sứ. Lúc đầu, tiết độ sứ chỉ nắm quân quyền, về sau quyền lực mở rộng dần, tiết độ sứ kiêm cả dân chính và tài chính, “đã có đất lại có dân, có giáp binh, có của cải”.

Ở phiên trấn, tướng nhiều quyền có khuynh hướng tự trị, lại có quân đội nhà nghề trong tay, tất nhiên chính quyền trung ương phải suy yếu. Điều này thể hiện rất rõ nét trong cái chính thể bộ máy đô hộ ở Giao Chỉ.  Cùng với hiện tượng cát cứ đó, phong trào khởi nghĩa nông dân đã phát triển, tiến công mạnh vào chính quyền phong kiến.

Vào cuối đời Đường, các phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, ở nhiều nơi, trong đó lớn mạnh nhất là các cuộc khởi nghĩa ở Hồ Bắc và Sơn Đông do Vương Tiên Chi và Hoàng Sào lãnh đạo (năm 874, 875). Nghĩa quân của Hoàng Sào tiến đánh nhiều nơi, giành được chính quyền ở nhiều vùng từ bắc xuống nam, từ nam qua Giang Tây, An Huy, Triết Giang, rồi xuống tận Phúc Kiến, Quảng Đông.
 
Năm 879, từ Quảng Đông, Hoàng Sào lại kéo quân lên phía bắc, tiến đánh Trường An. Triều đình nhà Đường bỏ Trường An chạy sang Tứ Xuyên. Hoàng Sào vào Trường An, xưng hoàng đế, đặt tên nước là Đại Tề (881).

Trước tình hình đó, giai cấp phong kiến đã tạm dẹp mâu thuẫn nội bộ, liên kết với nhau phản công lại và đem quân bao vây Trường An. Trong tình hình gay go, nội bộ nghĩa quân chia rẽ. Chu Ôn, một đại tướng của Hoàng Sào đã phản bội, đầu hàng nhà Đường. Lực lượng nghĩa quân bị tổn thất lớn và đến năm 883, Hoàng Sào rút về Hà Nam, Sơn Đông, tiếp tục chiến đấu và năm sau bị quân Đường đánh bại. Hoàng Sào tự tử ở hang Hổ Cốt phía đông nam núi Thái Sơn) (1).

Phong trào chiến tranh nông dân thời cuối Đường phát triển mạnh mẽ, đã giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô lập chính quyền riêng, nhưng cuối cùng đã bị thất bại. Tuy không trực tiếp lật đổ được nền thống trì phong kiến, nhưng phong trào này đã làm cho đế chế nhà Đường lung lay nghiêng ngả, sự tồn tại của triều Đường chỉ còn trên danh nghĩa.

Năm 907, Chu Ôn, kẻ phản bội phong trào nông dân và được triều đình trọng dụng, đã phế bỏ vua Đường, lên ngôi vua, đổi tên nước là Lương, lịch sử gọi là nhà Hậu Lương, đóng đô ở Khai Phong. Nhà Đường tồn tại ngót 289 năm (618 - 907), đến đây chấm dứt.


(1).  Theo Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Sào bị rợ Sa Đà bắt, giết (Sử Trung Quốc, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1996, t.1, tr.316).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:08:08 PM
2. Binh chế Trung Quốc thời Tuỳ - Đường

Giai đoạn Tuỳ - Đường là giai đoạn mà nhà nước phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế thống nhất của Trung Quốc được tái lập, các dân tộc Trung Hoa thêm một bước dung hợp, kinh tế phát triển, thế nước hưng thịnh. Đây cũng là thời kỳ chế độ phủ binh được hoàn bị một bước rồi chuyển sang sa sút, chế độ quân sự Trung Quốc có nhiều thay đổi quan trọng.

Dưới thời Tuỳ - Đường, hệ thống tổ chức quân sự khá hoàn bị. Hạt nhân của quân đội vẫn là quân đội quý tộc.  Tầng lớp thống trị bấy giờ chưa phải là quý tộc văn nhân mà  vẫn là quý tộc có truyền thống thượng võ, mê chiến tranh, có ảnh hưởng hoặc có dòng dõi du mục Hoa Bắc.

Trước đây, những định chế quân sự thiết lập từ Tây Ngụy (535 - 557) - chế độ phủ binh là nhân tố trọng yếu của việc thống nhất Trung Quốc. Do đó, triều Tuỳ tiếp tục phát triển “phủ binh chế” của Tây Nguỵ và Bắc Chu. Hoàng đế thống soái quân đội, thiết lập 12 vệ phủ; mỗi vệ phủ thống lĩnh một “quân”, có một đại tướng quân và hai tướng quân chỉ huy, phía dưới là các phiêu kỵ tướng quân, xa kỵ tướng đại đô đốc và đô đốc. Quân phủ được bố trí tại kinh thành và các địa bàn xung yếu, theo phương châm “trung ngoại phương duy, trọng đầu khinh túc” (trong ngoài liền nhau, nặng đầu nhẹ chân). Bấy giờ, cấm binh và phủ binh thay nhau, kiềm chế nhau, tạo điều kiện để hoàng đế khống chế quân đội và duy trì sự thống nhất cả nước.

Để tăng cường tập quyền trung ương, Tuỳ Văn Đế đã cải cách phủ binh, chấn chỉnh lại hương binh và đặt hương binh dưới sự quản lý của nhà nước. Binh lính được nhận ruộng theo chế độ quân điền, được miễn Tô dung điệu; ngày thường sản xuất; hằng năm thay phiên canh gác trong một thời gian nhất định; thời chiến thì xuất chinh; đồ tư trang tự sắm lấy.  Bấy giờ thực hiện “binh nông hợp nhất”, “tại gia vi nông tại quan vi binh”. Đó cũng là chế độ “ngụ binh ư nông” thời Tuỳ - Đường. Quân đội thường trực nhà Tuỳ có khoảng 60 - 70 vạn, thời chiến có thể huy động đến hàng trăm vạn, như năm 612 trong cuộc xâm lược Cao Ly, Tuỳ Dượng Đế đã huy động tới 130 vạn quân.

Cũng như quân đội Tuỳ, hạt nhân của quân đội Đường vẫn là quân đội quý tộc. Dưới triều Đường phủ binh chế được hoàn thiện hơn triều Tuỳ. Quân thường trực nhà Đường lấy phủ binh làm nòng cốt. Bình thường thuộc 12 vệ của hoàng đế và sáu soái của Đông cung của hoàng thái tử. Mỗi vệ đặt một đại tướng quân, hai tướng quân; mỗi soái đặt một chủ soái và hai phó soái chỉ huy. Khi trong nước có chiến tranh, hoàng đế ra lệnh triệu tập chủ tướng. Việc quân cơ do tể tướng thay mặt hoàng đế giải quyết. Bộ binh có quan thượng thư đứng đầu, chủ yếu giải quyết các việc sự vụ trong quân như sát hạch, tuyển bổ võ quan, tổ chức biên chế, quản lý quân trang, vật dụng.

Đường Thái Tông chỉnh đốn chế độ phủ binh. Mỗi vệ (trong số 12 vệ) thống lĩnh từ 40 - 60 phủ. Thượng phủ có 1.200 người, trung phủ 1.000 người và hạ phủ 800 người. Lúc đông nhất, trong nước có 634 phủ, gồm khoảng 60 vạn quân; chủ yếu phân bố tại các trung tâm lớn với phương châm “cơ trọng ngự khinh” (nặng nơi ở, nhẹ nơi chống) và “cử quân đông chi chúng dĩ tâm tứ phương” (lấy sức mạnh tập trung ở quân đông để hướng về bốn phương) .

Bấy giờ, “triết xung phủ’ là đơn vị tổ chức cơ bản của phủ binh. Mỗi phủ cai quản 4 - 6 đoàn, đặt các chức triết xung đô uý tả quả nghị đô uý, hữu quả nghị đô uý, trưởng lại, binh tào, biệt tướng chỉ huy. Mỗi đoàn có 200 người dưới sự cai quản của một hiệu uý; đoàn chia thành hai lữ do các lữ soái chỉ huy; mỗi lữ soái quản hai đội do các đội trưởng chỉ huy; mỗi đội chia thành năm hoả, mỗi hoả 10 người, đứng đầu là hoả trưởng. Vào mùa đông hằng năm các triết xung đô uý phải chỉ huy binh mã phủ binh mình luyện tập quân sự.  Quyền điều động, chỉ huy phủ binh thuộc về triều đình, đứng đầu là hoàng đế. Phủ binh phải thay nhau đóng ở kinh sơ gọi là “thượng phiên”, mỗi kỳ một tháng, mỗi năm ba lần.  Phủ binh còn được điều đi đóng giữ ở các khu vực xung yếu, mỗi năm một kỳ.

Chế độ phủ binh dưới thời Bắc Chu mới áp dụng cho các gia đình chuyên nghề binh, đến đời Đường mở rộng ra cả nông dân, tổ chức thành từng đội, đóng ở quanh kinh đô, ở Thái Nguyên và trên biên giới phía bắc. Phủ binh thường tuyển từ nông dân tự canh và địa chủ; về sau do thiếu nên tuyển cả dân nghèo. Quy định của nhà Đường, cứ ba năm tuyển lính một lần. Đàn ông từ 20 tuổi trở lên, có sức khoẻ đều là đối tượng tuyển lính. Tiêu chuẩn tuyển là tài sản, sức khoẻ và số dinh: “của bằng nhau thì chọn người khoẻ hơn, sức bằng nhau thì chọn người giàu hơn”. Thường là 21 tuổi vào lính, 61 tuổi xuất ngũ.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:09:53 PM
Càng về sau chinh chiến càng nhiều, quyền lợi của người lính không có mấy, địa vị xã hội giảm, nên địa chủ không thích đi lính nữa. Đặc biệt kỳ hạn binh dịch không thực hiện nghiêm chỉnh, ruộng đất bị thôn tính, chế độ quân điền bị phá hoại, không còn nguồn cung cấp lương cho lính, nên phủ binh bỏ trốn hàng loạt. Vua Đường Huyền Tông cho giảm phục dịch xuống 15 năm (từ 25 tuổi đến 50 tuổi), không phải ba năm mà sáu năm một lần tuyển lính. Tuy thế, chế độ phủ binh vẫn không thực hiện tốt, dẫn đến tình trạng triết xung phủ không có quân lính.  Đến năm 749, buộc phải bỏ chế độ “thượng phiên”, do vậy, triết xung phủ chỉ còn hữu danh vô thực.

Vì chế độ phủ binh theo lối nghĩa vụ suy sụp, nhà Đường vận dụng chế độ binh lính tuyển mộ, từ chỗ lính nghĩa vụ chuyển sang lính đánh thuê, việc binh lương do quan chủ cung cấp. Với chế độ mộ binh, quân đội được chấn chỉnh, tính tự trị và quyền hành của bọn tướng lĩnh được tăng lên. Các tàu ngựa nhà vua lại đầy ngựa chiến. Tuy nhiên, chế độ chiêu mộ quy định trước sau không nhất quán, nên không duy trì lâu được.

Đầu đời Đường, quân đội đóng ở kinh thành, ở trong cung gọi là cấm binh hay Thiên tử cấm quân. Phủ binh có 12 vệ luân phiên được điều tới bảo vệ kinh đô, gọi là nam nha cấm binh. Những cấm binh chuyên đóng ở phía bắc kinh thành gọi là bắc nha cấm binh. Lúc đầu số này có ba vạn người tuyển chọn trong quân khởi sự của Lý Uyên (Đường Cao Tổ và thực hiện cha truyền con nối bảo vệ cấm thành. Đến khi Thái Tông lên ngôi, triều đình loại bỏ quân ấy, chọn lấy 100 kỵ sĩ thiện xạ dũng mãnh để bảo vệ hoàng đế gọi là bách kỵ.  Đường Thái Tông còn cho lập bảy doanh bắc nha cấm quân, chọn những trai tráng khoẻ mạnh đóng ở tả, hữu vũ môn, gọi là phủ kỵ. Thời Đường Cao Tông đặt tả, hữu vũ lâm quân. Võ Tắc Thiên đổi “bách kỵ” làm “thiên ky”, tăng cường lực lượng hộ vệ. Thời Đường Trung Tông lại đổi “thiên kỵ” thành “vạn kỵ”, phân làm tả, hữu doanh. Thời Huyền Tông thêm tả, hữu long vũ quân... Cuối đời Đường các vua vẫn phải dựa vào cấm binh để duy trì nền thống trị vốn đã mục nát, suy yếu.
 
Nhà Đường chú trọng phát triển kỵ binh (cưỡi ngựa, vũ trang bằng cung). Giữa thế kỷ VII, nhà Đường có. khoảng 500.000 ngựa, chăn nuôi ở miền Thiểm Tây, Cam Túc. Ngoài ra còn chăn nuôi ngựa riêng. Phủ binh đi lính phải mang theo ngựa của mình. Quân đội tập trung chủ yếu ở kinh đô và trên biên thuỳ phía bắc và tây bắc.

Lực lượng quân đội bảo vệ biên cương buổi đầu Đường gọi là trấn và thú. Trấn và thú đều phân chia thành thượng, trung, hạ. Thượng trấn 500 người, trung trấn 300 người và hạ trấn 100 người, trung thú 30 người và hạ thú dưới 30 người. Mỗi thú có chức thú chủ và thú phó cai quản. Lính canh giữ biên cương chủ yếu là quân địa phương làm nghĩa vụ, thời hạn phục dịch ba năm, tự túc lương thực. Ngoài ra còn có lính mộ thêm, gọi là phòng định. Số lính mộ về sau phục vụ lâu dài, lương thực vật dụng do nhà nước cung cấp.  Cuối thời Đường, quân phiên trấn chủ yếu là loại lính nhà nghề đó.

Dưới thời Võ Tắc Thiên, các châu ở phía bắc còn lập các đội vũ trang dân chúng, gọi là đoàn kết binh, ở một số địa phương thành lập thổ trấn, thổ đoàn, đoàn luyện quân. Số lính đó được quan phủ cấp lương ăn, miễn sai dịch. Nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp với quân đội để bảo vệ biên cương. Chỉ huy lực lượng quân sự đó là các tiết độ sứ.

Triều Đường đã có pháp luật quân sự, những quy định tương đối hoàn chỉnh về nghĩa vụ trách nhiệm và thưởng phạt đối với quân nhân, ví như Cấm vệ luật, Thiện hưng luật Bổ vong luật, Cung vệ luật, Quân phòng lệnh, Binh bộ thức, Binh bộ cách, v.v. .

Để chống kẻ ngoài xâm lấn và sửa soạn bành trướng, nhà Đường xây dựng các phiên trấn (hay phương trấn) ở dọc biên giới, đứng đầu là các tướng lĩnh, gọi là tiết độ sứ (Lúc đầu có 10 tiết độ sứ) kiêm quản mấy châu, cả về binh chính, dân chính và tài chính. Sự hình thành những đội quân lớn lính nhà nghề ở các địa phương xa thực sự đã đe doạ chế độ trung ương tập quyền. Tuy vậy, Đường Huyền Tông vẫn phải o bế các tướng lĩnh, đặc biệt là tin yêu An Lộc Sơn, cho kiêm giữ tiết độ sứ ba trấn Bình Lừ, Phạm Dương và Hà Đông (vùng Kinh Bắc trong tay có tới 20 vạn quân, thế lực rất mạnh.
 
Tình trạng dựa cậy vào các tướng bên ngoài trong đó có cả bọn tướng gốc ngoại lai cũng như việc tăng cường quyền lực và quân đội của các tiết độ sứ ở phiên trấn, chứng tỏ triều đình và quân đội trung ương đang rạn nứt, suy yếu.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:11:44 PM

Trước nguy cơ thất thủ Trường An vào giữa thế kỷ VIII, các tướng sĩ trong triều phải thúc ép Đường Huyền Tông giết Dương Quý Phi và Dương Quốc Trung để cứu vãn tình thế.

Cuối đời Đường, các tiết độ sứ khống chế chính quyền địa phương; dựa vào nhân lực, vật lực trong vùng để tổ chức và nuôi dưỡng những đội quân lớn, đối .lập với triều đình, khiến cho tình trạng “trong nặng ngoài nhẹ” trước đây trở thành, “ngoài nặng hơn trong” sau này. Một khi triều chính đã suy yếu thì quân đội cũng không thể mạnh và tình trạng cát cứ tất yếu sẽ phát triển, chia sẻ đế quyền. Đó là biểu hiện dẫn đến sự sụp đổ của triều đại phong kiến nhà Đường.
 
3. Chiến tranh chinh phục thời Tuỳ - Đường

Như phần trên đã nói, Tuỳ Dượng Đế đã kế thừa một đường lối chính trị bành trướng phản động. Dượng Đế rất ham dùng binh và không ngớt phát động chiến tranh về phía nam. Ngay sau khi cướp ngôi cha, năm 605, Tuỳ Dượng Đế đã sai Lưu Phương tiến đánh Lâm ấp. Vua Phàn Trí phải bỏ thành chạy trốn. Đất Lâm ấp bị chia thành ba quận: Lâm ấp, Tỷ Cảnh và Hải âm. Các quận này đến đời Đường đổi thành ba châu: Lâm châu, Cảnh châu và Sơn châu.  Ngoài việc đánh Lâm ấp, nhà Tuỳ còn phát binh đánh người Đột Quyết và nước Thổ Cốc Hồn (nay thuộc tỉnh Thanh Hải) và bắt nhân dân các nước đó thần phục. Quân đội Tuỳ cũng đã tiến công chinh phục Đài Loan, quần đảo Lưu Cầu, chinh phục Tây Đồ quốc trên vùng Palembang và đảo Xumatưra.

Đặc biệt, Tuỳ Dượng Đế đã tiến công xâm lược theo cả đường bộ và đường thuỷ vào vương quốc Cao Ly. Năm 611, Dượng Đế gấp rút chuẩn bị lực lượng tiến công Cao Ly, bằng cánh xây dựng một hạm đội thuyền chiến lớn mạnh, tăng cường quân số, xe ngựa, đặt thêm nhiều quân phủ ở khắp nơi. Dưới triều Tuỳ, chiến tranh xâm lược Cao Ly có quy mô lớn nhất. Dượng Đế đã bắt tất cả các phú gia trong nước bỏ tiền ra mua ngựa cho đủ 100.000 con và sắm binh khí tốt. Ông cho huy động hàng triệu dân công đem cả lừa, ngựa và thuyền bè của mình để vận chuyển quân lương, khí giới ra biên giới. Thợ thủ công làm việc suốt ngày đêm để đóng đủ 300 chiến hạm, năm vạn cỗ binh xa. Thợ thuyền ốm chết vì cực khổ, nông thôn thiếu người và trâu bò cày cấy, ruộng đất phải bỏ hoang.

Năm 612, Tuỳ Dượng Đế đích thân thống lĩnh 130 vạn quân theo đường bộ từ quận Trác (Hà Bắc) tiến đánh Cao Ly. Số dân phu huy động vận tải cho chiến tranh đến trên hai  triệu người. Một cánh quân khác theo đường biển xuất phát  từ quận Đông Lai (Sơn Đông) cùng tiến sang Cao Ly.
   
Bấy giờ, nhân dân Cao Ly chiến đấu rất anh dũng,  đánh chặn địch ở vùng ngoài kinh đô (Bình Nhưỡng), khiến quân xâm lược bị tổn thất nặng nề. Một cánh quân Tuỳ hơn 30 vạn khi qua sông Liêu chỉ còn lại 2.700 người.  Quân lương, khí giới, người, ngựa thiệt hại vô kể. Cuộc tiến công xâm lược Cao Ly của Tuỳ Dượng Đế bị thất bại.  Năm 613 và 614, quân Tuỳ lại hai lần xâm lược Cao Ly, nhưng đều bị đánh tan.

Bạo chính ở bên trong và bành trướng ra bên ngoài dưới thời Tuỳ Dượng Đế đã làm cùng kiệt sức lực của dân, trong ngoài đều oán giận, nhiều thế lực đã nổi lên chống đối nhà vua. Đó là nguyên nhân khiến nhà Tuỳ nhanh chóng mất ngôi hoàng đế.

Nhà Đường sau khi ổn định được tình hình trong nước đã nghĩ đến việc mở rộng đất đai. Dưới thời Đường, chủ nghĩa bành trướng phát triển rất mạnh. Có thể nói thế kỷ thứ VII là thế kỷ đại bành trướng của Trung Quốc (dưới triều Đường Thái Tông và Đường Cao Tông). Đường Thái Tông đã từng ngạo nghễ nói về võ công chinh phục và đế chế rộng lớn của mình rằng: “Chinh phục Man Di ngày trước, chỉ có Tần Thuỷ Hoàng và Hán Vũ Đế. Ta nay với thanh gươm ba thước, đã khuất phục hai mươi vương quốc, dẹp yên bốn biển, bọn Man Di ở cõi xa cũng lần lượt về quy phục” (Đường thư).
 
Người mở đầu việc xâm lấn các nước xung quanh là Đường Thái Tông. Sử Trung Quốc viết: “Sự nghiệp của Đường Thái Tông cũng to lớn như Hán Cao Tổ”, là muốn nói về thành tích mở rộng đất đai của vua Đường Thái Tông.

Trong lịch sử, người Trung Quốc thường phải cảnh giác với các tộc du mục ở phía bắc và phía tây, coi đó là mối hoạ lớn phải đề phòng. Chính vì vậy, nhà Đường tuy đã làm chủ hết Hoa Bắc vẫn phải đối phó với các bộ tộc du mục mà trước tiên là người Đột Quyết (Thổ Nhĩ Kỳ). Người Đột Quyết vốn sống ở dãy núi Antai bằng nghề chăn nuôi. Giữa thế kỷ VI, người Đột Quyết đánh bại người Nhu Nhiên và các nước phía tây, làm chủ cả một vùng rộng lớn, phía đông đến dãy núi Hưng An (đông Mông Cô), phía tây đến biển Lý Hải, phía bắc đến vùng Antai (hồ Bai can). Đến đời Tuỳ, Đột Quyết chia làm Đông Đột Quyết từ sa mạc Qua Bích tới cuối biên giới phía đông Trung Quốc và Tây Đột Quyết ở Trung á, phía bắc Thiên Sơn.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 17 Tháng Một, 2009, 11:13:36 PM
Đường Thái Tông ra sức chuẩn bị đánh Đột Quyết, tích cực đôn đốc việc huấn luyện quân đội và còn tự mình dạy tướng sĩ bắn cung, đồng thời luôn luôn tìm hiểu tình hình Đột Quyết, chờ thời cơ tiến công xâm lược.
 
Năm 630, nhân lúc nội bộ người Đột Quyết bị chia rẽ, vua Đường sử dụng ky binh tinh nhuệ, vượt Trường Thành tập kích bất ngờ vào bản doanh Đông Đột Quyết. Vua Đột Quyết bị bắt sống. Quân Đường chiếm cả vùng Nội Mông, phía nam sa mạc lớn và lôi kéo các bộ lạc đã bị Đông Đột Quyết thống trị.

Tiếp đó, nhà Đường chuyển sang tiến công Tây Đột Quyết. Được quân Hồi Hột giúp sức, Đường Thái Tông và con là Đường Cao Tông liên tục tổ chức các cuộc tiến công và giành được nhiều thắng lợi, khống chế cả một vùng rộng lớn từ Tây Vực đến biển Aral. Chinh phục được Đột Quyết là võ công lớn nhất trong chiến tranh của Đường Thái Tông.

Trước sau Đường Thái Tông và Đường Cao Tông đã phát quân đánh Thổ Cốc Hồn ở Thanh Hải, Tăng Gút ở biên giới Tứ Xuyên, các cư dân du mục và Bách Tế ở bán đảo Cao Ly (660); giao thông với Nhật Bản, chinh phục các vùng ở Trung á như Ham, Tuyếcphân, Kanasa, Kusa (640 - 658); đem quân xâm nhập miền Bắc Ấn, can thiệp vào Ba Tư Sátxanít trên sông Tigơrơ, v.v. . Bấy giờ, các bộ lạc ở phía bắc, ở khu vực Ngoại Mông, một số tiểu quốc vùng Ba Tư, Ấn Độ, cùng nhiều bộ tộc xa xôi ở Tây á sợ uy danh của nhà Đường đều cử sứ giả tới xin thần phục.

Nhà Đường lập tới sáu đô hộ phủ hoặc đô đốc phủ, một loại hình đô hộ và bảo hộ bằng quân sự:

- An Nam (Việt Nam).

- Bắc Đình (Berhbalik, miền Urumchi ngày nay).

- An Tây (tây Cam Túc).

- An Đông (Liêu Ninh, nam Mãn châu).

- An Bắc (tây bắc miền Hà Sáo).

- Thiền Vu (đông bắc miền Hà Sáo, trên đất Mông Cổ).

Sức mạnh và thanh thế đế chế Đường lừng lẫy, thịnh hơn cả thời Lưỡng Hán. Đất đai Trung Hoa bành trướng cực rộng, từ Triều Tiên tới IRan, từ lưu vực sông Ili (Trung á) đến miền Trung Việt Nam ngày nay. Đế chế Trung Hoa thời Đường còn rộng lớn hơn cả thời Hán.

II. ĐẤT NƯỚC TA DƯỚI ÁCH ĐÔ HỘ CỦA TUỲ - ĐƯỜNG

1. Tổ chức hành chính, bộ máy cai trị của nhà Tuỳ và nhà Đường

Năm 589, sau khi tiêu diệt nhà Trần, nhà Tùy lo vươn tới đất Giao châu bằng sự ràng buộc, dụ dỗ, mua chuộc. Khi dụ dỗ không thành công nhà Tuỳ chuyển sang chính sách đàn áp khủng bố. Năm 602, Lưu Phương được cử làm tướng sang đánh Lý Phật Tử. Bình xong Lý Phật Tử, nhà Tuỳ tổ chức cai trị Giao châu.

Năm 607, Tuỳ Dượng Đế bỏ các tên châu, đổi thành quận, thực hiện phân phong cho Tôn thất công thần, chuyên dùng quan liêu, đặt khoa cử để củng cố nền thống trị của chính quyền trung ương. Bấy giờ Giao châu gồm bảy quận như sau:

- Giao Chỉ gồm 9 huyện, 30.056 hộ (Bắc Bộ).

- Cửu Chân gồm 7 huyện, 16.135 hộ (Thanh Hoá).

- Nhật Nam gồm 8 huyện, 9.915 hộ (Nghệ Tĩnh) .

- Tỷ Cảnh gồm 4 huyện, 1.815 hộ (Bình Trị Thiên).

- Hải âm gồm 4 huyện, 1.100 hộ (Bình Trị Thiên).

- Lâm ấp gồm 4 huyện, 1.220 hộ *Bình Trị Thiên).

- Ninh Việt (gồm Ngọc châu và Khâm châu).
 
Trị sở quận Giao Chỉ được dời từ Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình (Hà Nội).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:08:24 AM

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang5.jpg?t=1231769162)

Về danh nghĩa, các quận trực tiếp phụ thuộc chính quyền phong kiến trung ương Trường An. Nhưng trên thực tế, như  lời thú nhận của vua Tuỳ, các quận thuộc Giao châu chỉ là  “đất ràng buộc lỏng lẻo”.
 
Vào những năm triều Tuỳ có biến loạn, đất nước ta hoàn toàn cánh tuyệt với phương Bắc. Lúc bấy giờ, Lâm Sĩ Hoẵng khởi nghĩa ở Giang Tây tự xưng là Sở đế chiếm cứ một vùng từ Cửu Giang (Giang Tây) đến Phiên Nhung. Bọn quan liêu, địa chủ cũng nổi dậy cát cứ. Tiêu Tiễn (Tôn thất nhà Lương) chiếm Ba Lăng (Hồ Nam), sau chiếm đất của Lâm Sĩ Hoẵng.
 
Cựu Đường thư chép: “Ninh Trường Chân đem đất Uất Lâm đi theo Tiêu Tiễn, Phùng áng đem đất châu Nhai và Phiên Ngang đi theo Lâm Sĩ Hoẵng” (1).  Tuỳ Dưỡng Đế chết (617) mà thái thú Giao Chỉ là Khâu Hoà vẫn không biết. Khâu Hoà bóc lột thậm tệ nhân dân ta và các vùng phương Nam khác, nên có nhiều minh châu, sừng tê, vàng bạc “giàu ngang vương giả” và cùng về hùa với bọn quan lại, địa chủ cát cứ.

Tiêu Tiễn hám lợi, sai Ninh Trường Chân đem quân đánh Khâu Hoà, Khâu Hoà sai trưởng sử Cao Sĩ Liêm đem quân đánh thắng; nhưng thế lực Tiêu Tiễn rất mạnh, nên về sau Khâu Hoà cũng đi theo Tiêu Tiễn. Như vậy, từ ‘cuối đời Đại Nghiệp (605 - 617) nhiều lần oán hận nổi lên” (2),  cho đến khi nhà Tuỳ mất, vùng đất nước ta chỉ là nơi cát cứ của bọn quan lại Trung Quốc, nơi xảy ra những cuộc đánh cướp lẫn nhau giữa bọn chúng.


(1).  Cựu Đường thư, q.59, Khâu Hoà truyện, t.4b; Tân Đường thư, q.90, t.7a và b.
(2).  Tuỳ thư q31


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:10:44 AM

Từ khi thiết lập nhà Đường (618), tình trạng cát cứ ở phía nam tạm ổn. Khâu Hoà ở Giao Chỉ, họ Ninh ở Khâm châu đều đầu hàng nhà Đường. Khâu Hoà được vua Đường phong tước đàm quận công, làm đại tổng quản Giao châu.  Tuy vậy, thái thú Cửu Chân là Lê Ngọc - có vợ là người Việt - cùng các con trai, con gái chia binh đắp thành chống lại triều Đường, mãi sau mới bị quân Đường đánh bại. Thái thú Lý Giao, cát cứ ở Nhật Nam, tới giữa năm 622 mới hàng nhà Đường.

Những điều trên chứng tỏ, sức ly tâm chính trị của miền đất nước ta đối với triều đình phương Bắc luôn tiềm ẩn hoặc bột phát dưới nhiều dạng thức phức tạp. Từ khoảng năm 618 - 622, nền đô hộ của nhà Đường dần dần được xác lập và củng cố. Nền đô hộ đó ngày càng nặng nề và quỷ quyệt, thâm độc hơn.

Nhà Đường bãi bỏ các quận do nhà Tuỳ lập, khôi phục lại  hệ thống các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Trùm lên các  châu thuộc miền đất nước ta, năm 622 nhà Đường lập Giao châu đô hộ phủ, tới năm 679 đổi thành An Nam đô hộ phủ.  Địa danh “An Nam” có từ đó.
 
Đô hộ phủ là cơ quan cai trị  bằng bạo lực quân sự các thuộc quốc “vệ tinh” của đế chế Đường, tức khu vực “ngoại địa”. Từ sau khởi nghĩa Lý Bí, về hình thức, bọn đô hộ không thể duy trì những phương thức và thủ đoạn cai trị tàn bạo, trắng trợn và lộ liễu theo dấu vết của triều Hán.

Việc lập An Nam đô hộ phủ đánh dấu sự thất bại sau 700 năm thống trị của bọn đô hộ nước ngoài trong âm mưu đồng hoá nhân dân ta và biến đất nước ta thành “nội địa” Trung Hoa. Mặt khác, có thể đó là một sự “khôn khéo” với những thủ đoạn chiến lược mới nhằm mục đích dập tắt hoặc làm mai một ý chí giành độc lập của dân tộc ta. Chính sách đặt các đô hộ phủ để khống chế các thuộc quốc cũng được nhà Đường vận dụng ở các vùng khác như đặt An Tây đô hộ phủ để khống chế các tộc Thổ Phồn (miền Tân Cương, Thanh Hải và Khang Tạng ngày nay) và An Đông đô hộ phủ để khống chế Cao Ly (668) . . .

Cơ cấu chính quyền mới được thiết lập với mục đích để khống chế toàn bộ miền đất nước ta, song bấy giờ nhà Đường mới xây dựng, chưa củng cố được quyền lực bên trong, nên đối với các miền biên viễn triều đình vẫn trao quyền hành cho những thủ linh cát cứ đã đầu hàng, dần dần chính quyền phong kiến nhà Đường phát triển và thống nhất, một mặt nền thống trị bên trong được củng cố, mặt khác uy lực đối ngoại cũng tăng lên. Nhà Đường tiến hành các cuộc hành quân chinh phục và biến đế chế Đường thành một đế quốc rộng lớn hơn cả đế chế Hán thời cực thịnh.

Nhà Đường đã chia đất An Nam ra làm 12 châu, 59 huyện (bao gồm miền đất nước ta hiện nay từ Bắc Bộ đến đèo Ngang và một phần phía nam các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây); đó là các châu:

1 - Giao châu. 2- Phong châu . 3- Trường châu : Bắc Bộ

4-  Ái châu. 5- Phúc Lộc châu.  6- Diễn châu. 7- Hoan châu: Bắc Trung Bộ
 
8- Lục châu: Thuộc Quảng Tây (Trung Quốc) và Quảng Ninh (Việt Nam)

9- Thanh châu. 10- Vũ Nga châu  11- Vũ An châu.  12-  Chi châu: Thuộc Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc)

Bấy giờ, vùng Bình Trị Thiên ngày nay còn là vùng đất của người Chăm pa.

Từ giữa thế kỷ thứ IX, quân Nam Chiếu hoành hành trên vùng đất nước ta, chính quyền đô hộ suy yếu không giữ được phủ thành Tống Bình. Năm 863, vua Đường bãi bỏ phủ đô hộ, rút quân về đóng ở Hải Môn (thuộc Uất Lâm, Trung Quốc) gọi là hành Giao châu. Mãi đến năm 866, sau khi Cao Biền đánh lui được quân Nam Chiếu, chiếm lại phủ thành, phủ đô hộ ở Tống Bình mới được đặt lại.

Trong hệ thống chính quyền lúc đó, dưới phủ có các cấp: châu, huyện, hương, xã. Đại tổng quản Giao châu Khâu Hoà là người đầu tiên đặt ra hương, xã.
 
Theo An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng thì hương gồm đại hương (hương lớn) và tiểu hương (hương nhỏ); xã gồm đại xã (xã lớn) và tiểu xã (xã nhỏ). Hương lớn từ 160 - 540 hộ, hương nhỏ từ 70 - 150 hộ; xã lớn từ 40 - 60 hộ, xã nhỏ từ 10 - 30 hộ.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:12:55 AM

Từ cuối thế kỷ VIII, Triệu Xương được cử sang làm An Nam đô hộ đã bỏ sự phân chia thành hương lớn, hương nhỏ, gọi chung là hương. Trong đời Hàm Thông (860 - 874), Cao Biền chia đặt tất cả 159 hương có lẽ chỉ tính riêng vùng đồng bằng, không kể các châu kimi.

Như vậy, đến đời Đường, cả nước ta thành một đơn vị hành chính thống nhất. Nhà Đường đã với tay đến tận các hương, xã. Đó là điều khác hẳn so với các thời trước.  Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền đô hộ mới chỉ nắm được các cấp châu, huyện và phần nào cấp hương, chưa thể với tới cấp xã vốn dựa trên cơ sở công xã nông thôn mang tính tự trị cao độ.

Đứng đầu phủ có chức quan đô hộ. An Nam là một phủ lớn, thuộc loại thượng phủ, nên đô hộ cũng có quyền lực rất lớn. Chức đô hộ này, lúc đầu được gọi là đại tổng quản, rồi gọi là đô đốc. Từ năm 679 thì chức đô đốc gọi là đô hộ. Những lúc việc chiến tranh bề bộn, nhà Đường đại đổi đô hộ làm kinh lược sứ (ví như kinh lược sứ Trương Bá Nghi, kinh lược sứ Vũ Hồn, kinh lược sứ Thái Tập) nhằm nhấn mạnh tính chất quân sự của chức vụ đó.

Đến thời Cao Biền, nhà Đường đổi chức đô hộ thành tiết độ sứ với ý tăng thêm quyền lực cho chức vụ này. Như vậy, An Nam đô hộ phủ là một tổ chức chính quyền thực dân có nhiều quyền hạn, lúc đầu phụ thuộc vào chính quyền trung ương nhưng sau phụ thuộc vào tiết độ sứ Lĩnh Nam (ở Quảng châu) . Tiết độ sứ là chức vụ thay mặt cho uy quyền hoàng đế, đặt ở các miền biên cương bắt đầu từ đời Vĩnh Huy (650 - 655). Đến đời Huyền Tông, biên cảnh Trung Quốc có 10 tiết độ sứ, trong đó có tiết độ sứ Lĩnh Nam, đặt vào năm Chí Đức thứ hai (757).

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/DenthoLyNamDe.jpg?t=1231769360)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:13:57 AM
Đối với miền núi, nhà Đường đặt các châu kimi (ràng buộc lỏng lẻo) do tù trưởng miền núi cai quản. An Nam đô hộ phủ quản 41 châu kimi, chủ yếu gồm vùng Việt Bắc ngày nay. Năm 791, nhà Đường lập Phong châu đô đốc phủ (vùng Sơn Tây, Hưng Hoá cũ) kiêm quản các châu kimi miền thượng lưu sông Hồng (vùng các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày - Thái và Tạng - Miến) và Hoan châu đô đốc phủ (vùng Nghệ Tĩnh) kiêm quản các châu kimi miền bắc Trường Sơn giáp Lào (bấy giờ thuộc đất Chân Lạp) .

Đứng đầu mỗi châu là một quan thứ sử. Nhiều thứ sử là người bản địa (như Dương Thanh làm thứ sử Hoan châu...); nhiều người Việt cũng được giữ chức trưởng lại, chỉ huy quân đội. Điều đó đánh dấu sự mở rộng chính quyền từ tay bọn đô hộ ngoại bang sang tay các đại biểu của tầng lớp hào trưởng bản địa.

Đứng đầu An Nam đô hộ phủ là một viên đô hộ hoặc kinh lược sứ Thản hoặc đã có người nước ta nắm giữ chức phó đô hộ An Nam. Buổi đầu, An Nam trực thuộc chính quyền Trường An, nhưng từ năm 757 trở đi thì trực thuộc tiết độ sứ Lĩnh Nam và đến nửa cuối thế kỷ thứ IX thì An Nam có chức tiết độ sứ riêng.

Như vậy, quyền lực chính trị trên miền đất nước ta ngày càng có xu hướng tách khỏi sự khống chế của triều đình trung ương Trường An. Nền chính trị tự chủ và quyền độc lập của dân tộc ta được xác lập từ thế kỷ X sẽ là sự phát triển tất yếu của tình hình chính trị của đế chế Đường nói chung và miền đất nước ta nói riêng từ nửa sau thế kỷ VIII và thế kỷ IX mà đỉnh cao là các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.

Nhà Đường đã dùng mọi biện pháp để tăng cường khống chế nhân dân An Nam, tuy vậy, các cuộc phản kháng của người Việt vẫn nổ ra liên tiếp. Đất An Nam hầu như không lúc nào yên. Vì thế đến năm 757, nhà Đường đổi tên An Nam thành Trấn Nam, với ý nghĩa An Nam không còn “an” nữa, bọn thống trị thấy cần phải dùng chính sách trấn áp bằng vũ lực, tăng cường đàn áp quân sự để ổn định tình hình.

2. Thành trì và quân đội

Để chống phá phong trào khởi nghĩa của nhân dân địa phương và ngăn chặn các cuộc xâm lấn của các dân tộc láng giềng như người Chà Và, Mã Lai, Lâm ập và Nam Chiếu, bọn quan lại đô hộ nhà Đường ra sức xây đắp thành luỵ, tăng cường quân linh phòng thủ ở các châu thành, đặc biệt là tại phủ thành Tống Bình (Hà Nội) .

Mỗi châu quận đều có trì sở, nơi ở và làm việc của bọn quan lại đô hộ trong các địa phương. Dưới đời Tuỳ, Giao châu gồm 7 quận, 36 huyện sang đời Đường, An Nam quản 12 châu, 59 huyện. Trị sở của chính quyền đô hộ, sau năm 607, chuyển từ Long Biên về Tống Bình. Phần lớn các trung tâm quận, châu và huyện đều có thành luỹ và binh lính bảo vệ; đặc biệt ở các châu, quận lớn những nơi có quan đô hộ, kinh lược sứ, tiết độ sứ hay thứ sử trấn giữ như Tống Bình, Hoan châu, Ái châu, v.v. .

Năm 767, đô hộ Trương Bá Nghi bỏ thành cũ đắp thành mới ở phía bắc, cách sông Tô Lịch 200 thước. Đó là La thành, nhưng bấy giờ thành còn thấp và hẹp. Năm 791, sau khi đánh dẹp được cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng, Triệu Xương làm đô hộ An Nam và cho xây đắp thêm La Thành chắt và cao hơn trước .

Năm 801, đô hộ Bùi Thái thay thế Triệu Xương, bắt quân sĩ và dân chúng lấp bỏ hào rãnh ở trong thành, hợp làm một thành và đắp các thành mới ở Hoan châu và Ái châu. Năm 808, đô hộ Trương Chu sửa đắp La Thành một lần nữa. Lúc đó, trong thành có tới 40 gian kho ở lầu Giáp Trượng để chứa khí giới và hơn 400 chiến thuyền “mông đồng”, mỗi thuyền có 25 chiến binh sử dụng cung nỏ và 32 tay chèo. Năm 824, quan đô hộ Lý Nguyên Hỷ lo sợ “nhân dân làm phản” đã dời phủ trị đến bên bờ Tô Lịch, bắt dân đắp thành mới, nhưng sau đó (825) lại chuyển về Tống Bình, vì thành mới đất lún sập không thể đắp được. 



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:15:43 AM
Năm 867, sau khi đánh lui quân Nam Chiếu, Cao Biền đã bắt dân ta đắp lại La Thành một cách đại quy mô. Chu vi thành dài 1.982 trượng 5 thước (khoảng 6.610m), thân thành cao 2 trượng 6 thước (khoảng 8m6), chân thành rộng 2 trượng 5 thước (8m3) . Phía trên thành đắp một con chạch nhỏ cao 5 thước 5 tấc (1m7), xây 55 lầu canh gác, 6 cửa ống, 3 con cừ. Cao Biền lại cho đắp xung quanh thành một con đê dài 2.12(5 trượng 8 thước (khoảng 7.079m), cao 15 thước (4m9), chân rộng 2 trượng (6m6). Phủ thành được bảo vệ rất cẩn mật.

Trong những lần xây đắp, tu sửa hoặc dời thành, nhân dân ta phải chịu nhiều thứ phục dịch rất cực khổ. Đường thư chép: “... Ruộng bị đại hạn, lại bắt dân đi làm luỹ gỗ, hàng năm phải nộp tiến, đã không ìàm xong kịp thời, còn bị trách phạt gắt gao” (1).

Phủ thành đô hộ (Tống Bình) có 4.200 quân đồn trú và 300 con ngựa. Biên quận An Nam còn có vệ quân đóng giữ như ở miền Lâm Tây, Chân, Đăng (Hưng Hoá cũ) hằng năm có tới 6.000 quân “phòng đông” - phòng thủ mùa khô, chống sự xâm lấn của quân Nam Chiếu.

Sách Đường hội yếu, đoạn chép về An Nam đô hộ phủ cho biết: Lực lượng quân sự của đô hộ Trương Chu ở Tống Bình (đầu thế kỷ IX) có tới 400 chiến thuyền, mỗi thuyền có 25 lính cung nỏ và 32 tay chèo.  Nếu vậy, số quân thuỷ dưới quyền Trương Chu có một vạn lính chiến đấu và 12.800 phu chèo thuyền.

Quân lính đồn trú buổi đầu trưng tập phủ binh và dân binh Trung Hoa, nhưng từ đời Trung Tông (đầu thế kỷ VIII) trở về sau, dân đinh An Nam cũng phải đảm đương việc đồn trú biên giới, họ được điều động cùng với thú binh Trung Hoa bảo vệ biên cương.  Quan đô hộ ở An Nam xem xét nơi nào có bộ lạc lớn, họ to thì bắt phải cung cấp giáp binh, kê tên cùng với hạnh kiểm, tài cán tâu về triều đình để xét bắt lính, sung vào túc vệ.  Binh lính trấn giữ ở các châu, quận buổi đầu đời Đường thường là phủ binh được tuyển từ nội địa Trung Hoa. Các đơn vị quân đội do triều đình điều đi đóng ở các phiên trấn được gọi là “trấn” và “thứ’ luân phiên canh giữ. Nhưng về sau, các quan đô hộ, hoặc tiết độ sứ có quyền lực lớn, đã tự tổ chức lấy lực lượng quân sự, họ đã tuyển nhiều người bản địa làm lính, thậm chí một số chức vụ võ quan nhỏ cũng được giao cho người địa phương.

Vì thế, binh lính đóng giữ ở các châu trị, quận trì ngày càng có nhiều người Việt, đó là những   người nông dân bị cưỡng bức mặc áo lính đi giữ thành và bảo vệ chính quyền đô hộ. Số binh lính người Việt bị lao dịch nặng và bị đối xử bất công. Họ luôn phải đi đánh dẹp, xây đắp phủ thành và phục dịch khổ sở, vậy mà gia đình vợ con họ vẫn bị bóc lột thậm tệ; vì thế đã xảy ra nhiều vụ binh biến chống lại chính quyền đô hộ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa binh lính do Dương Thanh lãnh đạo (819 - 820), cuộc binh biến của Vương Thăng Triều chống đô hộ Hàn Ước (828), vụ binh sĩ trong phủ nổi dậy đốt thành, cướp kho đuổi kinh lược sứ Vũ Hồn chạy về Quảng châu (843), v.v..

Từ cuối thế kỷ IX, việc “quân, dân An Nam nổi dậy đánh đuổi” đã xuất hiện ngày càng nhiều. Binh biến và khởi nghĩa liên tiếp nổ ra khiến cho cáu tiết độ sứ không tài nào sống yên ổn được. Đó là điều kiện thuận lợi để đến đầu thế kỷ X, Khúc Thừa Dụ giành được chính quyền từ tay bọn quan lại đô hộ.

3. Những biến chuyển về kinh tế

Chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc đã kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển về mọi mặt của đất nước và dân tộc ta. Tuy vậy Việt Nam thời đó vẫn có những chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực đời sống kinh tế-xã hội.

Cũng như nhà Tuỳ, nhà Đường tăng cường khai thác kinh tế thuộc quốc, tăng cường bóc lột các dân tộc nhỏ yếu và mở mang buôn bán với bên ngoài. Giao châu thuộc Tuỳ hoặc An Nam thuộc Đường đều được coi là một trọng trấn. 

Chế độ bóc lột kinh tế của chính quyền đô hộ trên đất nước ta rất nặng nề. Dưới thời Tuỳ, bọn thái thú Giao Chỉ thả sức bóc lột, vơ vét Tô thuế và sản vật, vừa để chở về kinh đô, vừa để thoả mãn lòng tham của họ. Có những kẻ như Vương Hoà trước làm thái thú, sau làm đại tổng quản mà “giàu ngang vương giả”.


(1).  Cựu Đường thư, q.38, t.36.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:19:13 AM
Khi nhà Đường thống trị vẫn áp dụng thủ đoạn bóc lột truyền thống của các triều đại phong kiến trước là chế độ Tô thuế và cống nạp. Có rất nhiều thứ thuế và sử sách nhà Đường cũng phải công nhận là bọn quan lại ở An Nam đánh thuế rất nặng. Riêng thuế muối và thuế sắt hằng năm ở Lĩnh Nam đã lên tới 40 vạn quan tiền.

Trong việc tiếp tế muối cho các bộ tộc thượng du, bọn quan lại người Trung Hoa cũng thừa cơ ra sức bóc lột. Kinh lược sứ An Nam là Lý Trác đã đổi cho dân một đấu muối lấy một con trâu.  Theo sách Thái Bình hoàn vũ ký, cư dân châu lục (vùng ven biển Hạ Long) sống bằng nghề nấu muối và mò ngọc trai, hằng năm mỗi hộ phải nộp thuế 100 hộc gạo. Ngoài ra còn thuế đay, gai, bông và nhiều thứ thuế gọi là “ngoại suất” (tính ngoài thuế chính là Tô dung điệu, lưỡng thuế).

Ở phương Nam, nhà Đường dựa theo tài sản, chia các hộ làm ba loại để thu Tô thuế, “thượng hộ” nộp 1 thạch 2 đấu, “thứ hộ” nộp 8 đấu, “hạ hộ” nộp 6 đấu. Các hộ dân người thiểu số (Lý, Lão) thì nộp một nửa Tô thuế đó. Tuy thế, bọn quan đô hộ thường lợi dụng ép buộc nhân dân nộp cả thuế theo định ngạch. 

Nhà Đường là một triều đại trong đó bọn quý tộc, quan lại sống xa hoa cực độ. Kho đụn ở Trường An đã đầy ắp lúa gạo. Nhà Đường còn muốn vơ vét của phương Nam vật quý và tiền bạc. Hằng năm, các châu huyện thuộc “An Nam” phải nộp cống cho triều đình nhiều lâm thổ sản quý (ngà vòi, sừng tê vàng, bạc...), nhiều sản phẩm thủ công địa phương (tơ lụa, sa, the, đồ mây, bạch tạp...). Cống phẩm mỗi châu trị giá bằng 50 tấm lụa. Chúng quy định: Tô điệu của châu Dương nộp bằng tiền, Giang Nam nộp bằng vải, An Nam nộp bằng tơ lụa.

Ngoài việc bóc lột của triều đình Trường An, lại thêm sự vơ vét bóc lột, bòn rút của bọn đô hộ. Bọn quan lại đô hộ khi đến An Nam thường rất mau chóng trở nên giàu có.

Tân Đường thư chép về Hàn ước - quan đô hộ An Nam là kẻ “do tiền gạo mà tiến thân, hơn nữa đất An Nam là nơi giàu có, tích luỹ tụ tập được của cải, vốn liếng càng nhiều” (1).  Lý Thọ, Tôn thất nhà Đường đời Trinh Quan (627 - 649) làm đô hộ Giao châu “vì tham nhũng, phải tội” (2).  Vi Công Cán làm thứ sử Ái châu, thấy trong châu có cột đồng muốn chiếm lấy để bán, nhưng bị dân phản đối.

Sử sách nhà Đường thừa nhận, An Nam là nơi giàu có, nhiều người muốn làm quan, phải đút lót nhiều tiền của và khi đã trở thành quan đô hộ thì mặc sức vơ vét, tích luỹ vốn riêng. Cao Chính Bình “phú liễm nặng”, Lý Trác “tham ăn hối lộ, phú thuế bạo ngược” (3),  Lý Tượng Cổ “tham túng, bất kể pháp luật” (4) v.v..

Như vậy, An Nam - vùng đất trước kia nhà Đường dùng lưu đày các quan có tội, nơi từng bị chúng coi là “chướng lệ, đi tất không về”, đã trở nên hấp dẫn đối với bọn quan lại đô hộ, nhiều tên đã phải hối lộ bọn hoạn quan mới được bổ xuống miền nam để làm giàu.  Bọn quan lại “do tiền gạo tiến thân” đó càng lo vơ vét vô hạn độ để nhanh chóng bù đắp vào số tiền bỏ ra mua quan chức và sau còn tích luỹ vốn riêng. Đảm phụ của nhân dân, do vậy càng tăng lên gấp bội.

Do chính sách bóc lột tàn nhẫn của bọn đô hộ, do chịu hai tầng áp bức nên dưới thời thuộc Đường đã xảy ra hiện tượng bần cùng hoá nhanh chóng, với quy mô ngày càng lớn của các tầng lớp nhân dân. Từ nửa sau thế kỷ VIII, lụt lội và hạn hán xảy ra hên tiếp. Cộng thêm là tình trạng chiến tranh liên miên khiến sức sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng.
 
Tuy bị áp bức, bóc lột hết sức nặng nề nhưng nhân dân ta rất anh dũng chiến đấu và cần cù lao động, chịu cực, chịu khổ, vượt mọi khó khăn, lại biết khéo léo vận dụng những mặt tích cực mà chế độ nhà Đường vô hình chung đã tạo ra, nên đã làm cho kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, giao thông vận tải và thương nghiệp... có những bước tiến bộ hơn trước.


(1).   Tân Đường thư, q.179.
(2).   An Nam chí lược, q.9, t.1a.[/i]
(3). Cựu Đường thư, q.182.
(4).  Tân Đường thu, q.80.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:21:36 AM

a) Về nông nghiệp

Sau khi thống nhất đất nước Trung Hoa, nhà Đường thi hành một số chính sách về nông nghiệp nhằm khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp. Chính sách quân điền được ban hành và đi đôi với nó là chính sách thuế Tô dung điệu. An Nam tuy nằm ở xa, nhưng cũng chịu ảnh hưởng những chính sách đó. Chính quyền đô hộ cũng phải ra sức ổn định tình hình ruộng đất để đánh thuế. Việc trồng lúa hai mùa, trồng khoai và các loại hoa màu khác được mở rộng, nông dân trồng nhiều loại cây có sợi để dệt vải như đay, gai, bông. Nghề trồng dâu nuôi tằm đặc biệt phát triển, từ Phong châu (bắc Hà Tây, Vĩnh Phúc) đến Ái châu (Thanh Hoá) đều nuôi tằm một năm tám lứa. Nghề làm vườn và trồng cây ăn quả cũng được đẩy mạnh. Về chăn nuôi, ngoài các loại gia súc, gia cầm còn nuôi và săn bắt chim công, chim trả để lấy lông. “Ngựa Thục” cũng đã được du nhập vào nước ta thuở ấy.

Nhà Đường thực hiện ban đất chức phận cho các quan đô hộ cao cấp và thiết lập bộ phận ruộng công cho các phủ, châu, huyện. Hàng vạn mẫu ruộng của nhân dân biến thành ruộng của bọn quan lại hay ruộng của chính quyền thực dân. Hàng loạt nông dân chịu sự bóc lột trực tiếp của các quan lại phong kiến.

Từ nửa sau thế kỷ VII, chính sách quân điền phá sản, hàng loạt ruộng đất bị bọn quý tộc, quan lại cướp biến thành điền trang. Cũng như các thế kỷ trước, do chính sách lập nghiệp của chính quyền đô hộ, ở nước ta đã hình thành một số trang trại của quan lại, địa chủ người Hán. Đô hộ Vũ Hồn khoanh vùng đất Mộ Trạch, lập điền trang của mình. Trên đất nước ta, xuất hiện nhiều nhà hào phú họ Phùng, họ Ngô ở Đường Lâm, họ Khúc ở Hồng châu, họ Dương và họ Lê ở Ái châu.

Nhà Đường cho kê khai sổ hộ khẩu, định thuế các loại Tô dung, điệu và sau đó đổi lại là phép lưỡng thuế, cho phép chính quyền đô hộ cướp đoạt ruộng đất của nhân dân ta làm ruộng công do chính quyền đô hộ quản lý, ban cấp ruộng đất chức phận cho bọn quan lại cao cấp.

Những chính sách đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân hoá xã hội người Việt Tuy đại bộ phận cơ dân là nông dân sống trong các làng xã, hoặc là nông dân lệ thuộc cày ruộng nộp Tô cho bọn quan lại, hào trưởng địa phương hoặc biến thành nông Nô, trong xã hội đã hình thành một tầng lớp địa chủ ít nhiều có thế lực ở địa phương thuộc nhiều nguồn gốc và xu hướng chính trị khác nhau
.
Cuối đời Đường, do chiến tranh liên miên, nền kinh tế nông nghiệp bị tàn phá nghiêm trọng, đến nỗi có lúc sáu năm liền chính quyền đô hộ không thu được thuế. Chính sách vơ vét nhũng nhiễu của bọn quan lại cũng hạn chế nhiều đến năng suất của nông dân, khiến cho Cao Biền, tuy tăng cường khai phá đất hoang lập thêm hương ấp, vẫn không giải quyết được nạn đói, gây nên sự bất bình lớn trong xã hội.

b) Về thủ công nghiệp

Bên cạnh nghề nông và nghề nuôi tằm, nghề dệt vẫn là nghề thủ công quan trọng nhất ở nông thôn nước ta. Các mặt hàng dệt, ngoài các loại cổ truyền như vải đay, tơ chuối, vải, bông, sử sách nhà Đường còn ca ngợi các loại lĩnh, sa, the,  gấm vóc của nước ta, đặc biệt là tơ lụa. Vì thế, nhà Đường đã  quy định Tô điệu của An Nam phải nộp bằng tơ lụa và hàng  dệt đã dùng làm cống phẩm cho triều đình.  Nhà nước đô hộ cũng bắt dân ta khai mỏ vàng, đồng, thiếc, làm cho ngành thủ công này phát đạt hơn. Nghề làm  mía nổi tiếng đã được truyền sang Trung Quốc. Nghề đóng thuyền cổ truyền Việt Nam được nhà Đường lợi dụng triệt để.   

Thời Trương Chu làm đô hộ, thợ thủ công ta đã phải đóng  hàng trăm chiến thuyền mông đồng lớn để phục vụ giao  thông và quân sự. Thợ rèn sắt nổi tiếng cũng được trưng  dụng để chế, rèn hàng chục vạn vũ khí hoặc các vật dụng cần thiết cho quân đội chiếm đóng, bảo vệ phủ thành. Ngành xây dựng được phát triển với kỹ nghệ xây thành, xây dinh thự,  lăng mộ cho quan lại đô hộ và các đền chùa thờ Phật.

Đấy là  thủ công nghiệp “quan doanh”; còn thủ công nghiệp nói  chung vẫn phát triển không tách rời nông nghiệp. Ở gần các thị trấn lớn như Tống Bình, dần dần hình  thành các phường thủ công chuyên sản xuất các đồ dùng cần thiết cho thị dân hay các loại đồ trang sức. Như vậy, với sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và sự hình thành các trung tâm kinh tế, các nghề thủ công nghiệp nước ta tiếp tục phát triển lên một mức độ cao hơn trước.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:23:00 AM

c) Về giao thông vận tải và thương nghiệp

Một sự kiện đáng chú ý của thời kỳ này là sự hình thành của các trục giao thông lớn trong nước từ biên giới Việt - Trung xuống châu thành Giao châu, từ Tống Bình đi ra miền biển qua Thái Bình, đi lên Bạch Hạc, đến các khu vực dân tộc Lý - Lão, đi vào Cửu Chân và từ Ái châu qua Hoan châu sang An Viễn (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) đi vào nam qua sông La (sông Ròn), đến sông Đàn Động (sông Gianh) và đi vào đất nước của Hoàn Vương (Chăm pa) .

Ngoài các đường giao thông trên bộ, các con đường thuỷ trên sông, trên biển cũng mở mang, nơi liền các khu vực hành chính trong nước. Tất nhiên, việc xây đắp hệ thống đường giao thông nói trên của chính quyền đô hộ nhằm mục đích duy nhất là chuyển thuế cống và điều quân đi đàn áp các cuộc nổi dậy của-nhân dân ta. 

Giao thông thuận lợi hơn trước, một vài khu kinh tế mới như Giao châu, Ái châu hình thành càng tạo điều kiện cho việc trao đổi giữa các miền được thịnh đạt hơn. Mối giao lưu giữa miền xuôi và miền núi luôn được duy trì. Buôn bán trong nước ở thời kỳ này có những mặt phát triển. Miền núi Hoan châu có chợ họp đều kỳ, 10 ngày một lần.

Ở biên giới phía bắc, đã xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán, đổi chác.  Trên sông biển, thuyền buôn nước ta và các nước Trung Quốc, Côn Lôn (Mã Lai), Chà Và (Giva), ấn Độ, Ba Tư, Trập... qua lại, trao đổi các sản phẩm thủ công, các sản vật quý, lạ như hương liệu, thuốc men, đồ sứ, các vải lụa, tư tằm...  Mặc dầu bị phá hoại và kìm hãm, nền kinh tế dân tộc vẫn tự mở lấy đường đi. Sự phát triển của nền kinh tế ở An Nam vào các thế kỷ VII - IX dần dần biến nước ta thành một khu vực độc lập, tự túc, ngày càng vững chắc.

Sự phát triển về giao thông thuỷ bộ, sự phát triển buôn bán trong và ngoài nước thời kỳ này về khách quan đã tạo cơ sở thuận lợi cho giao lưu liên kết kinh tế, văn hoá giữa các địa phương, củng cố thêm sự thống nhất trong nước và dân tộc ta có điều kiện để hiểu biết và hội nhập những yếu tố tích cực từ bên ngoài.  Trên cơ sở đó, tinh thần dân tộc, ý thức quốc gia của người Việt đang nảy nở mạnh mẽ eo thêm điều kiện để củng cố dễ dàng. Nó tạo thành một tiền đề kinh tế cần thiết cho sự khôi phục nhà nước độc lập ở nước ta.

4. Bước phát triển mới của văn hoá Việt

Văn hoá Trung Quốc thời Đường đã có những bước phát triển rực rỡ và ảnh hưởng của nó lan tràn khắp vùng Viễn Đông. Vì thế, nhân dân ta, trong ba thế kỷ dưới ách đô hộ của nhà Tuỳ và nhà Đường cũng như những thế kỷ trước đó, bao giờ cũng tiếp thu văn hoá Trung Hoa (và các nền văn hoá ngoại lai khác) trên nền vốn cũ của bản thân cộng đồng người Việt Sự giao tiếp, đan xen văn hoá giữa Việt và Hoa hay Ấn. . . trên đất Việt là tất nhiên và không bao giờ đơn thuần là một hành động vay mượn Nô lệ.

Trong suốt ba thế kỷ thuộc Đường, nhân dân ta cũng tạo điều kiện để phát triển văn hoá lên một bước, chuẩn bị cho sự ra đời một nền văn hoá dân tộc.

Bấy giờ, Nho giáo và chế độ khoa cử phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc. Cáo quan lại đô hộ phần lớn xuất thân khoa cử và cũng có thư văn sáng tác. Triệu Xương đã từng đi thăm các thắng cảnh, miếu mạo nước ta, viết nên quyển Phủ chí.  Mã Tổng mở trường dạy học nhằm phổ biến đạo Nho. Cao Biền là một nhà thư có tiếng. Tăng Cổn đã soạn sách Giao châu ký lưu hành đến đời sau...

Nhiều người tài giỏi ở nước ta có học hành và tham dự các kỳ thi ở Trung Quốc, trong đó nổi tiếng nhất là hai anh em Thưởng Công Phụ và Thưởng Công Phục. Thưởng Công Phụ là người Ái châu, đỗ tiến sĩ và làm quan đời Đường Đức Tông (780-805). Công Phụ rất được vua Đường sủng ái, đã có lúc được thăng lên chức gián nghị đại phu đồng trung thư môn hạn bình chương sự. Công Phụ để lại bài phú Bạch Vân chiếu xuân hải nổi tiếng. Em là Thưởng Công Phục cũng từng sang du học Trường An, đỗ tiến sĩ, làm đến lang trung bộ lễ ở triều Đường.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:23:55 AM
Trong lúc ở Trung Quốc Nho học phát triển và đến cuối đời Đường, Phật giáo suy vi, thì ở nước ta, Nho học chưa thể xem là thịnh, không được dân gian hưởng ứng nhiều, tác động chậm, chủ yếu ở một số thiểu số có học. Có thể ảnh hưởng lớn nhất của Nho giáo với nước ta là sự củng cố vững chắc thêm việc thờ cúng tổ tiên rất đặc trưng của tín ngưỡng dân gian Việt; trái lại Phật giáo lại phát triển mạnh mẽ và còn thịnh đạt trong cả nhiều thế kỷ sau. Hai dòng phái Thiền Tông được truyền bá vào Việt Nam dưới thời thuộc Tuỳ - Đường.

Thiền phái Nam Phương truyền vào nước ta sớm hơn.  Ông tổ là Tiniđalưuchi (Vinitaruci) người nam Ấn Độ, năm 573 sang nhà Đường, làm đồ đệ thiền sơ Tăng Xán. Sau đó, năm 580 xuống Giao châu đến trụ trì tại chùa Pháp Vân (Thuận Thành, Bắc Ninh), dịch bộ kinh Tổng từ. Năm 594, sư chết, học trò là Pháp Hiền họ Đỗ người Chu Diên kế nghiệp Pháp Hiền chuyển về dựng chùa ở núi Từ Sơn. Đệ tử rất đông. Lúc nào trong chùa cũng có hơn 300 tăng ni.

Những năm sau, phái Nam Phương phát triển mạnh, lan rộng khắp nơi. Sư Thanh Biện dựng chùa Kiến Dương, sư Định Khuông dựng chùa Quỳnh Lâm, v.v. . Tuy là Thiền, nhưng Nam Phương có khuynh hướng thiên về Mật giáo, lại kết hợp cả thuyết sấm vĩ, phong thuỷ, hẩu như chịu ảnh hưởng nhiều Phật giáo ân Độ Tây Tạng hơn là ảnh hưởng Trung Hoa, lại có tính cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo, vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nghèo khổ. 

Phái Quan Bích truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ IX.  Tổ sư là Vô Ngôn Thông, người Quảng Châu. Năm 820, sư sang An Nam, tu ở chùa Kiến Sơ (Tiên Du, Bắc Ninh).  Những người kế tục là Cảm Thành, Thiện Hợi phát triển phái Quan Bích ra khắp Giao châu. Quan Bích chịu ảnh hưởng của Tịnh độ giáo và cũng có ảnh hưởng của Mật giáo, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn nhưng lại khác với các thiền phái Trung Hoa.

Cũng như thiền phái phương Nam, phái Quan Bích đã rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống (“nhập thế”) trong khi vẫn duy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình. 

Ở thời này, Đạo giáo cũng khá phát triển, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Đạo giáo Trung Hoa nhưng lại hỗn dung với những tín ngưỡng dân gian của người Việt, với những thần sông, thần núi của đất nước Việt và đặc biệt với việc thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng (anh hùng khai hoá, anh hùng dựng nước và giữ nước) của dân tộc Việt Nam.

Lời tựa sánh Địa lý Cao Biền cảo viết rằng khi Cao Biền sắp sang An Nam, vua Đường Ý Tông triệu vào điện bảo rằng: “Trẫm nghe nói rằng ở An Nam có nhiều ngôi đất thiên tử, ngươi tinh thâm về địa lý học thì nên hết sức yểm đi và vẽ hình thế đất ấy về cho trẫm xem”. Nhưng Cao Biền vẫn tỏ ra bất lực trước việc “yểm” núi Tản Viên và thần Sơn Tinh, yểm đất Long Đỗ (Hà Nội) và thần Tô Lịch v.v. . Điều đó chứng tỏ không một thứ Tôn giáo, phù phép nào làm mờ được lòng yêu nước và tinh thần độc lập dân tộc, là cốt lõi ý thức hệ của nền văn hoá Việt Nam.

Phật giáo cũng như Đạo giáo được truyền bá từ Ấn Độ và Trung Hoa vào từ đầu công nguyên và đến thế kỷ VI đã khả sâu rễ bền gốc ở nước ta; chúng cũng được dung hoà và dung hoá với những tín ngưỡng dân gian vốn có, dẫn đến kết quả là thần điện Việt thêm phong phú và bác tạp. Sự hỗn dung văn hoá và Tôn giáo đã sớm nảy nở, phát triển trở thành một nét đặc thù của bản sắc văn hoá Việt.

Hơn ba trăm năm dưới thời thuộc Tuỳ - Đường, nhân dân ta biết tiếp thu và dân tộc hoá vốn liếng vay mượn của nước ngoài - của Trung Hoa, Ấn Độ và các nước khác - cả vật chất và tinh thần, văn hoá và kỹ thuật để phục hưng và phát triển nếp sống văn hoá riêng của dân tộc, từ thế kỷ X. 

Sự thịnh đạt của đế chế Đường, sự huy hoàng của văn hoá Đường, chính sách bành trướng, âm mưu đồng hoá, thủ đoạn cai trị xảo quyệt, hà khắc và ngu dân của bọn đô hộ nhà Đường vẫn không làm cho dân tộc ta bị đồng hoá, không làm cho nhân dân ta bị khuất phục. Trái lại, trong suốt ba thế kỷ bị nhà Đường thống trị, người Việt không ngừng nổi dậy chống lại ách áp bức nặng nề, sự bóc lột tàn bạo và đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 02:26:25 AM
5. Xung đột với các vương quốc láng giềng

Nhà Đường từ sau các mến hiệu Khai Nguyên, Thiên Bảo đời Huyền Tông (712 -756) bắt đầu suy đốn. Chính quyền đô hộ ở An Nam cũng không còn đủ sức khống chế được mâu thuẫn sâu sắc giữa nhân dân ta với chế độ thực dân, khởi nghĩa nổ ra hết nơi này đến nơi khác. Lợi dụng sự bất lực của chính quyền đô hộ, các vương quốc láng giềng tiến hành cướp phá miền đất nước ta. Chiến tranh nổ ra luôn giữa quân lính của chính quyền đô hộ với người Chà Và, Lâm ấp, Côn Lôn và Nam Chiếu. Nhân dân ta đã bị bóc lột kinh tế nặng nề lại phải cung đốn cho chiến tranh, nên càng khổ cực.

a. Nạn cướp phá của Chà Và, Lâm ấp

Năm 717, người Chà Và (còn gọi là Tráo Oa hay Java) thuộc miền hải đảo Inđônêxia tràn vào cướp phá, đánh lên tận châu thành phủ đô hộ. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi phải cho người cầu cứu đô uý châu Vũ Định Cao Chính Bình.  Viện quân đến phối hợp với quân phủ đánh lui được quân cướp. Để đề phòng, Trương Bá Nghi đã huy động binh lính và nhân dân đắp lại La Thành.

Vương quốc Lâm ấp đứng đầu là vua Phàn Trí (Phạm Phàn Trí) sau khi bị Lưu Phương đánh bại đã phải chịu xưng thần, triều cống Trung Quốc. Phàn Trí tổ chức khôi phục quốc gia Lâm ấp, đặt quan hệ hoà hiếu với Chân Lạp ở phía nam. Từ khi nhà Tuỳ ở phương Bắc suy yếu, Lâm ấp đoạn tuyệt triều cống. Đến lúc nhà Đường thay nhà Tuỳ ở Trung Quốc, vua Lâm ấp lại cử sứ giả sang triều cống trong các năm 623, 625 và 627. Năm 629, Phàn Trí chết, con là Đầu Lê (Phạm Đầu Lê) lên thay và các năm 630, 631 đã cho sứ sang cống vua Đường nhiều của báu như “Ngọc hoả châu to bằng trứng gà, tròn, trong trắng, ánh sáng chiếu qua đến mấy thước, trong như thuỷ tinh, giữa trưa hướng về mặt trời mà hơ thì sinh ra lửa” (1).  Vua Đường rất thích thú, nên khi Đầu Lê chết được tạc tượng đặt trước lăng mộ Đường Thái Tông.
 
Nước Lâm ấp từ thế kỷ VII đã xây dựng nhiều đền đài ở Mỹ Sơn (Trà Kiệu) và nhiều nơi thuộc Quảng Nam ngày nay.  Thời kỳ này, Lâm ấp đã mở rộng thế lực về miền nam. Tuy cử sứ giả triều cống vua Đường nhưng Lâm ấp vẫn cố sức giành lại đất đai vùng Nhật Nam cũ, vì đầu đời Đường, Trung Quốc kiểm soát một cách khá lỏng lẻo miền đất phía nam Hoành Sơn.

Vào khoảng giữa thế kỷ VIII, nhà Đường đổi gọi Lâm ấp là Hoàn Vương. Cả miền nam sông Gianh đều thuộc Hoàn Vương. Năm 803, vua Hoàn Vương là Harivácman I đem quân ra đánh phá hai châu Hoan và Ái. Quân lính của Hoàn Vương rất thiện chiến. Sử nhà Đường mô tả rằng: “họ có thể dùng cả nỏ và lao; lấy mây làm áo giáp, lấy trúc làm cung, cưỡi voi mà chiến đấu” (1).
(1). Cựu Đường thư, q.197, Lâm ấp.

Quân Đường đóng ở đây không chống cự nổi phải bỏ thành mà chạy. Harivácman I chiếm Hoan, Ái, đặt các chức đô thống để cai trị. Mãi đến năm 809, đô hộ Trương Chu củng cố xong các thành trì ở Giao châu, kéo quân vào đánh Hoan, Ái. Hai bên đánh nhau kịch liệt.  Hàng vạn người bị giết. Quân Hoàn Vương phải rút về nước.  Hoan, Ái trở lại thuộc nhà Đường. Năm 819, nhân lúc đô hộ Lý Tượng Cổ tham lam tàn bạo và Dương Thanh - thứ sử Hoan châu nổi dậy chống lại chính quyền đô hộ, người Hoàng Động đã liên lạc với quân Hoàn Vương vào cướp phá Lục châu. Quân nhà Đường phải đánh mãi mới dẹp yên được hoạ Lâm ấp.

b) Sự xâm lược của quân Nam Chiếu

Từ đời Tuỳ - Đường trở về trước, cả dải đất từ bắc Việt Nam đến Dạ Lang là địa bàn cơ trú của người Lão. Tù trưởng bộ lạc người Lão trong khu vực Dạ Lang cũng được gọi là Việt Vương. Phong kiến Trung Quốc thường gọi là “Sinh Lão” nghĩa là những người Lão không thần phục chính quyền Trung Hoa. Tới nửa sau thế kỷ VII, phong kiến Trung Hoa mới bắt đầu vươn tới vùng này.


(1).  Cựu Đường thư, q.197, Lâm ấp, t.1a và b.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 09:59:31 AM

Nước Lâm ấp từ thế kỷ VII đã xây dựng nhiều đền đài ở Mỹ Sơn (Trà Kiệu) và nhiều nơi thuộc Quảng Nam ngày nay.  Thời kỳ này, Lâm ấp đã mở rộng thế lực về miền nam. Tuy cử sứ giả triều cống vua Đường nhưng Lâm ấp vẫn cố sức giành lại đất đai vùng Nhật Nam cũ, vì đầu đời Đường, Trung Quốc kiểm soát một cách khá lỏng lẻo miền đất phía nam Hoành Sơn.
Vào khoảng giữa thế kỷ VIII, nhà Đường đổi gọi Lâm ấp là Hoàn Vương. Cả miền nam sông Gianh đều thuộc Hoàn Vương. Năm 803, vua Hoàn Vương là Harivácman I đem quân ra đánh phá hai châu Hoan và Ái. Quân lính của Hoàn Vương rất thiện chiến. Sử nhà Đường mô tả rằng: “họ có thể dùng cả nỏ và lao; lấy mây làm áo giáp, lấy trúc làm cung, cưỡi voi mà chiến đấu” (1).  

Quân Đường đóng ở đây không chống cự nổi phải bỏ thành mà chạy. Harivácman I chiếm Hoan, Ái, đặt các chức đô thống để cai trị. Mãi đến năm 809, đô hộ Trương Chu củng cố xong các thành trì ở Giao châu, kéo quân vào đánh Hoan, Ái. Hai bên đánh nhau kịch liệt.  Hàng vạn người bị giết. Quân Hoàn Vương phải rút về nước.  Hoan, Ái trở lại thuộc nhà Đường. Năm 819, nhân lúc đô hộ Lý Tượng Cổ tham lam tàn bạo và Dương Thanh - thứ sử Hoan châu nổi dậy chống lại chính quyền đô hộ, người Hoàng Động đã liên lạc với quân Hoàn Vương vào cướp phá Lục châu. Quân nhà Đường phải đánh mãi mới dẹp yên được hoạ Lâm ấp.

b) Sự xâm lược của quân Nam Chiếu

Từ đời Tuỳ - Đường trở về trước, cả dải đất từ bắc Việt Nam đến Dạ Lang là địa bàn cơ trú của người Lão. Tù trưởng bộ lạc người Lão trong khu vực Dạ Lang cũng được gọi là Việt Vương. Phong kiến Trung Quốc thường gọi là “Sinh Lão” nghĩa là những người Lão không thần phục chính quyền Trung Hoa. Tới nửa sau thế kỷ VII, phong kiến Trung Hoa mới bắt đầu vươn tới vùng này.

Năm 638, thứ sử Giao châu Lý Đạo Ngạn đàn áp thổ nhân ở bắc Quý châu. Năm 751, đô hộ An Nam Hà Lý Quang đem quân đánh Nam Chiếu ở Vân Nam, thu phục thành An Ninh và cho dựng cột đồng làm địa giới. Nam Chiếu là vương quốc của người Di (tức người Lô Lô - ngôn ngữ Tạng Miến) và các bộ lạc ở vùng tây nam Trung Quốc.

Đầu thế kỷ thứ VIII, Nam Chiếu dưới quyền cai trị của Bì La Cáp thần phục nhà Đường. Khi Trung Quốc có loạn An - Sử, con Bì La Cáp chinh phục các bộ lạc xung quanh, hùng cứ vùng tây nam (Vân Nam ngày nay). 

Ở phía tây bắc nước ta lúc bấy giờ là địa bàn của các dân tộc thiểu số mà sử nhà Đường gọi là người Di Lão, nằm dưới sự kiểm soát lỏng lẻo của An Nam đô hộ. Từ năm 791, nhà Đường đặt Phong châu đô hộ phủ kiêm quản 18 châu kimi.  Quan đô hộ Mã Thực đã dùng chính sách mua chuộc các thủ lĩnh người thiểu số để dễ bề cai trị và thu Tô thu thuế. Nhưng đến đời Lý Trác làm kinh lược sứ An Nam thì chính sách áp bức bóc lột đã rất thậm tệ. Tân Đường thư chép rằng: “Lý Trác làm kinh lược sứ An Nam, hà khắc tham lam, đem mỗi đấu muối đổi lấy một con trâu, người An Nam không chịu được” (2) Các dân tộc vùng Tây Bắc đã nổi dậy chống lại.  Vua Nam Chiếu nhân cơ hội đó đem quân đánh An Nam.
 

Năm 832, Nam Chiếu chiếm được châu Kim Long, nhưng bị đánh lui. Năm 846, quân Nam Chiếu lại đến và bị kinh lược sứ Bùi Nguyên Dụ đánh tan. Năm 847, tướng Nam Chiếu là Đoàn Tù Thiện dẫn quân đánh thẳng vào phủ đô hộ. Lý Trác phải vất vả lắm mới đánh lui được Đoàn Tù Thiện. Năm 851 , Nam Chiếu lại kéo sang đánh An Nam. Đô hộ Vương Thức phải tuyên bố giảm thuế ngoại phụ mới động viên được binh lính đánh lui quân Nam Chiếu.


(1).  Cựu Đường thư, q.197, Lâm ấp.
(1) Tân Đường thư, q.222, Nam Chiếu truyện.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 10:01:52 AM

Đô hộ Lý Hộ giết chết tù trưởng người bản tộc (Thái) là Đỗ Thủ Trừng. Nhân dân thiểu số căm giận, liên kết với quân Nam Chiếu kéo xuống đánh chiếm phủ thành. Lý Hộ chạy thoát về Vũ châu cầu cứu Quảng châu. Được quân Ung, Quảng giúp sức, năm 861 Lý Hộ trở về đánh được quân Nam Chiếu, chiếm lại phủ thành. Vương Khoan thay Lý Hộ làm đô hộ An Nam; nhưng khi quân Nam Chiếu kéo sang cướp, Vương Khoan lại cho người về kinh đô cáo cấp. Vua Đường bèn phong Thái Tập làm kinh lược sứ An Nam điều quân các đạo Hứa, Hoạt, Từ, Biện, Kinh, Tượng, Đàm, Nghe, hơn ba vạn sang cứu, quân Nam Chiếu vì thế mới rút lui.  Nhưng hai năm sau (863), trên năm vạn quân Nam Chiếu lại tràn sang đánh phá. Thái Tập cầu cứu vua Đường. 5.000 quân Đường được huy động, nhưng bấy giờ phủ thành đã bị bao vây và bị hạ. Thái Tập bị tên bắn đầy người phải nhảy xuống sông tự tử.

Theo sử cũ “Nam Chiếu hai lần hãm Giao Chỉ giết và cướp bắt 15 vạn người” (1).  Vua Nam Chiếu là Mông Thế Long để hai vạn quân ở lại, cử tướng Dương Tử Tấn chỉ huy. Phủ đô hộ rơi vào tay người Nam Chiếu.

Năm 864, vua Nam Chiếu đem sáu vạn quân đánh Ung châu. Quân Đường thua to, về sau phải liều chết mới đánh lui được. Đến đây nhà Đường mới lo điều quân để chống Nam Chiếu và chiếm lại đất An Nam; nhưng người đảm rách việc đó là kinh lược sứ Trương Nhân sợ quân Nam Chiếu, không dám tiến quân.  Vua Đường phải cử viên tướng giỏi là kiêu vệ tướng quân Cao Biền thay thế.

Cao Biền đến Hải Môn tổ chức luyện tập quân sĩ. Năm 865, Cao Biền dẫn 5.000 quân vượt biển tiến vào Nam Định (Gia Bình, Bắc Giang). Cao Biền bất ngờ đánh úp, tướng Nam Chiếu là Trương Thuyên bị chém, quân Nam Chiếu bỏ chạy về cố thủ ở châu thành. Vua Đường cử ngay Vi Trọng Tể dẫn 7.000 quân đến Phong châu tiếp ứng cho Cao Biền.  Cao Biền được vua Đường phong hàm kiểm hiệu công bộ thượng thư và ra lệnh tiếp tục tiến công. Biền thúc quân đánh thành, giết chết Đoàn Tù Thiện và nhiều tướng lĩnh của Nam Chiếu. Quân Nam Chiếu bị thất bại, Cao Biền thu phục phủ đô hộ và đất nước ta trở lại bị nhà Đường thống trị như trước.

Những lần đánh phá của quân Nam Chiếu và những cuộc chiến tranh giữa Nam Chiếu và bọn đô hộ nhà Đường đã gây nhiều thiệt hại cho nhân dân ta: tàn phá nền kinh tế, giết hại dân chúng, huỷ hoại nhà cửa, đền chùa, miếu mạo. . .  Thái độ của chính quyền đô hộ trước những cuộc tiến công của quân Nam Chiếu, sự kháng cự yếu ớt của quân sĩ đô hộ, tinh thần bỏ mặc của bọn quan lại nhà Đường rõ ràng đã có tác động đến tinh thần và ý thức tự chủ của nhân dân ta.
 
Nhân dân ta ngày càng thấy rõ rằng, chính mình phải đứng lên tự bảo vệ quê hương, đất nước và những di sản của tổ tiên mình. Những kẻ đô hộ như Cao Biền, đuổi được quân Nam Chiếu đi rồi, chỉ ra sức khai thác, trấn áp và củng cố nền thống trị của chính quyền đô hộ ngoại tộc. Lối thoát duy nhất cửa nhân dân ta là đoàn kết đứng dậy đấu tranh tự giải phóng, đánh tan mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ của riêng mình.

III- PHONG TRÀO KHỞI NGHĨA CHỐNG CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ NHÀ ĐƯỜNG

1. Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687)

Sau khi thiết lập đế chế ở Trung Quốc, nhà Đường chủ trương bãi bỏ các quận do nhà Tuỳ lập trên đất nước ta và khôi phục lại hệ thống các châu nhỏ như dưới thời Nam Bắc triều.

Năm 622, nhà Đường đặt Giao châu đô hộ phủ để khống chế toàn bộ miền đất phía nam. Một trong những chính sách của nhà Đường để khống chế các “thuộc quốc” ngoại vi là việc đặt các đô hộ phủ, như An Nam đô hộ phủ, An Tây đô hộ phủ, An Đông đô hộ phủ...


(1).  Tư trị thông giám, q.250, t.17a.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 10:04:39 AM
Năm 768, nhà Đường đổi Giao châu trở lại thành An Nam đô hộ phủ. Từ đó, nhà Đường cũng tiến hành cải cách cơ cấu hành chính ở nước ta, chia đặt An Nam làm 12 châu, 59 huyện và các châu kimi ở vùng thượng du.

Vì không đủ quyền lực để đặt quan cai trị trực tiếp, nhà Đường phải thông qua một số quan lại người Việt và các thủ lĩnh bộ lạc để bóc lột cống phú. Đối với các tù trưởng, bọn quan lại nhà Đường vừa nhượng bộ, vừa mua chuộc. Một số tù trưởng cũng được cử làm thứ sử hoặc quan lại trong bộ máy chính quyền đô hộ.

Trong buổi đầu thuộc Đường, do một số chính sách tương đối rộng rãi của triều đình mới lên, do ách bóc lột nhũng nhiễu chưa đến nỗi quá đáng, nên tình hình Giao châu cũng được ổn định. Nhưng chẳng được bao lâu bọn quan lại đô hộ quay ra hạch sách, vơ vét của cải của nhân dân để làm giàu, nhất là đối với các dân tộc ít người.  Chế độ bóc lột Tô thuế và cống nạp được vận dụng rất hà khắc. Số Tô thuế, của cải vơ vét của nhân dân vừa để vận chuyển về kinh đô Trường An, vừa lọt vào tay bọn quan lại đô hộ. Lệ thuế nhà Đường đã rất nặng nề là bọn quan lại thực dân lại tự quyền tăng Tô thuế cho nên số thu nhập của nhân dân bị bóc lột gần hết.

Theo chế độ của nhà Đường, nhân dân “Di Lão” còn gọi là người Lý (có lẽ là người Tày, Mường) chỉ phải nộp nửa Tô thuế theo quy định chung nhưng viên đô hộ lúc đó là Lưu Diên Hựu đã bắt dân phải nộp cả số Tô thuế. Vì thế, mặc dù nhà Đường đã dùng mọi biện pháp để tăng cường việc khống chế chặt chẽ nhân dân An Nam, nhưng các cuộc phản kháng của nhân dân vẫn nổ ra. Tiêu biểu, trước hết là cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687.

Nhân lòng oán giận của nhân dân, Lý Tự Tiên đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại chính quyền đô hộ Lưu Diên Hựu. Lưu Diên Hựu đem quân đàn áp, bắt giết Lý Tự Tiên. Các thủ lĩnh khác của nghĩa quân như Đinh Kiến, Tư Thận tiếp tục chỉ huy các cuộc khởi nghĩa. Nghĩa quân được nhân dân ủng hộ, tiến vây phủ thành Tống Bình (Hà Nội). Bọn quan quân đô hộ ở trong phủ thành không chống đỡ nổi, chỉ đắp luỹ cố thủ, đóng cửa thành cầm cự, chờ cứu viện. Nghĩa quân tiến công phá cửa thành, tràn vào bắt giết quan đô hộ Lưu Diên Hựu.

Trước tình hình đó, nhà Đường đã cử viện binh do tư mã Quý châu là Tào Huyền Tĩnh và đô đốc Quảng châu là Phùng Nguyên Thường chỉ huy, theo hai đường thuỷ bộ tiến vào Tống Bình. Vì lực lượng ít hơn địch, các thủ lĩnh nghĩa quân như Đinh Kiến, Tư Thận tuy đã chiến đấu rất kiên cường, anh dũng, nhưng cuối cùng đều bị địch giết hại. Nghĩa quân tan vỡ. Lúc đó, nhà Đường do Vũ Hậu thống trị, có lực lượng quân đội mạnh; quân khởi nghĩa mới nhóm họp, chưa đủ sức giành thắng lợi trước sự phản công mạnh mẽ của quân thù.

Về cuộn khởi nghĩa này, sử cũ của ta, Đại Việt sử ký toàn thư chép vắn tắt như sau: “Mùa thu, tháng bảy (687), các hộ người Lý ở Lĩnh Nam theo như lệ cũ nộp nửa thuế, đô hộ Lưu Diên Hựu bắt phải nộp cả. Các hộ người Lý mới oán giận, mưu làm loạn. Lý Tự Tiên làm chủ mưu, Diên Hựu giết đi.  Dư đảng là bọn Đinh Kiến họp quân vây phủ thành. Trong thành binh ít không chống nổi, đóng cửa thành cố giữ để đợi quân cứu viện. Đại tộc ở Quảng châu là Phùng Tử Do muốn lập công, đóng quân không đến cứu, Kiến giết Diên Hựu. Sau tư mã Quế châu là Tào Trực Tĩnh đánh giết được Kiến” (1).


 (1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.189. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 10:08:46 AM
2. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)

Đầu thế kỷ VIII, chính sách quân điền triều Đường bị phá sản. Bọn đại quý tộc các nơi nổi lên cướp ruộng đất của nông dân, lập trang trại riêng. Trong tình hình đó, bọn đô hộ ở các châu phủ xa cũng ra sức hoành hành, hạch sách nhân dân. nông dân phải nai lưng đóng thuế, lặn lội nơi rừng sâu để tìm hương liệu quý, xuống biển sâu để mò ngọc trai nộp quan lại. Cùng với những lao dịch nặng nề đó, hằng năm  nhân dân ta còn phải chuyền nhau gánh vải và nhãn tươi nộp cho nhà Đường.

Sự nhũng nhiễu, ách áp bức bóc lột nặng nề về Tô thuế và lao dịch đã dẫn đến sự bùng nổ các phong trào chống đối mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan ở Hoan châu. Hai câu đồi của người đời sau ghi lại ở đền thờ trên núi Hùng:

                                                 Lý Đường vũ trụ kinh thương hải,
                                                         Hoan, Diễn sơn hà tự cổ kim.


(Nghĩa là: Vũ trụ thời Lý - Đường đã trải qua biết bao dâu bể, mà sông núi Hoan, Diễn tự ngày xưa vẫn thế!). 

Mai Thúc Loan - sử sách nhà Đường còn gọi là Mai Huyền Thành - quê ở Mai Phục, một làng chuyên làm muối ở vùng ven biển thuộc xã Thạch Bắc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.

Đây trước là một vùng đất cao ven biển, gần cửa Sót (Thạch Kim), tổ tiên dòng họ Mai đến đây lập nghiệp ở trên gò đất cao và san đất thành bãi phơi nước biển làm muối để sinh sống, dần dần hình thành một làng làm muối với tên gọi là Mai Phụ (1) (gò đất họ Mai).
 
Cư dân ở đây phần lớn họ Mai, cuộc sống vất vả, suốt ngày phơi nắng tắm gió biển, khiến cho nhân dân ai nấy đều da đen sạm. Mai Thúc Loan sống với mẹ và cùng mẹ dời nhà lên vùng Ngọc Trừng (huyện Nam Đàn). Ông nhà nghèo, phải làm nghề kiếm củi để sống, sau đi ở cho nhà giàu, chăn trâu, cày ruộng. ông rất khoẻ và sáng dạ, người đen trũi, khoẻ mạnh, nổi tiếng giỏi vật cả một vùng.

Sử cũ viết rằng, Mai Thúc Loan lớn lên da  đen như sắt, “thân dài hơn bảy thước”, khí độ hùng vĩ, mọi người đều sợ phục” (2) .

Cũng như mọi người dân đất Việt, Mai Thúc Loan phải đi phu trên giấy tờ quy định, nhân đinh phải chịu lực dịch cho chính quyền (mỗi năm từ 20 - 50 ngày), quanh năm phục dịch vất vả cho bọn quan lại đô hộ nhà Đường.


(1) Ở Mai Phụ năm 1999 đã phát hiện ra giếng Chăm ở vùng này. Đây là vùng giáp ranh Việt - Chăm và rất có khả năng Mai Thúc Loan có dòng giống Chăm - Việt.
(2). Theo truyền thuyết, mẹ Mai Thúc Loan sinh con phải vất vả kiếm sống mới nuôi nổi. Dần dần do chịu không nổi ách áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn diêm quan, lại là phận gái yếu ớt, bà phải cõng con bỏ làng ra đi, tha phương cầu thực. Trên đường kiếm ăn, bà đã dừng lại ở thôn Ngọc Trừng, làng Xa Lệ (thuộc Nam Đàn, Nghệ An). ở đây ngày ngày bà đi làm thuê, cấy mướn hoặc vào núi Giẻ hái củi về bán lấy tiền mua gạo nuôi con. Mai Thúc Loan lớn lên trong cảnh nghèo khô đó đã phải đi chăn trâu cho nhà giàu ở địa phương. Nhờ sức khoẻ bẩm sinh, Loan lớn lên nhanh như thổi, lại vốn thông minh nhanh nhẹn, nên chỉ học mót qua con nhà chủ mà đọc được sách. Trong các cuộc đấu vật ở đàng, ông tham gia và đều thắng cuộc, được mọi người khâm phục và quý chuộng. Nhờ đó, ông làm quen được nhiều thanh niên trai tráng trong vùng, vừa sớm được họ tôn trọng vừa hiểu được nguyện vọng chung của người dân lao động ở địa phương.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 10:12:24 AM

Nhân dân ta đang khổ cực vì tệ áp bức, bóc lột nặng nề của bọn quan lại. Ngoài Tô ruộng, bọn thống trị còn bắt dân ta phải nộp các sản phẩm thủ công, nộp thuế đinh, đi lao dịch, vào rừng kiếm sừng tê, ngà voi, lông trả, trầm hương..., không ít thanh niên bị bắt đi lính và làm Nô lệ phục dịch cho quan lại đô hộ. Bọn vua quan đô hộ rất thích ăn hoa quả ngon của người Việt. Vải tươi là một trong những thứ mà bọn vua chúa, quý tộc nhà Đường rất ham thích. Hằng năm, cứ đến mùa vải chín, hàng loạt thanh niên trai tráng bị bắt gánh vải và chuyền nhau từ An Nam sang tận kinh đô Tràng An cách xa hàng vạn dặm.

Ở Nam Đàn (Nghệ An) còn truyền lại một bài hát chầu văn kể tội bọn đô hộ nhà Đường, vạch rõ nỗi thống khổ của nhân dân. Quan lại, quân lính nhà Đường về làng đánh đập dân, vơ vét tư lụa, tiền thóc, bắt phu và bắt dân phải cống nộp vải quả:

“Nhớ khi nội thuộc Đường triều,
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê tai
Sâu quả vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đã héo hon”.

Cảnh lao dịch nói trên đã khiến nhiều người không chịu nổi, phải chết dọc đường; không những thế, việc thu gom vải tươi lại là một dịp cho bọn quan lại đô hộ thả sức hạch sách, hành hạ nhân dân ta.

Sống trong cảnh bị hạch sách, bóc lột như vậy, Mai Thúc Loan cũng như một số bạn bè rất căm giận. Theo Đường thư, Dương Tư Húc truyện, đầu thời Khai Nguyên vào một năm được mùa vải tươi, Mai Thúc Loan bị bắt làm phu gánh vải đi cống cho triều Đường. Truyền thuyết kể lại rằng, do ông có sức khoẻ lại được mọi người mến phục, bọn quan lính nhà Đường đi áp tải đã cho ông phụ giúp việc đốc thúc dân phu. Sau mấy ngày đi đường mệt mỏi, gặp lúc trời nắng nóng, mọi người đều khát nước rát cả họng. Ông thấy đã đến lúc hành sự bèn xin bọn quan lính áp tải cho mọi người được nghỉ để rồi đi nhanh hơn. Lợi dụng lúc bọn chúng lăn ra ngủ vì mệt, ông bèn cùng với mọi người vùng lên giết hết lũ quan lính áp tải và truyền cho mọi người bỏ vải ra ăn hết, xong ai nấy về quê nhà chuẩn bị khởi nghĩa.

Theo thần tích đền Đông Liệt, ông cho người đi các nơi vận động nhân dân tham gia. Hưởng ứng lời kêu gọi của ông, hàng trăm người của các phường săn quanh vùng và sau đó nhân tài, hào kiệt khắp các châu Hoan, Diễn, Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) cũng đến tụ họp dưới lá cờ nghĩa. Thế lực nghĩa quân dần dần thêm mạnh.

Sử nhà Đường chép rằng, Mai Thúc Loan đã liên kết được với các tù trưởng và dân chúng 32 châu chung quanh.
Những người có nghĩa khí các nơi, nghe tin Mai Thúc Loan dựng cờ khởi nghĩa, đã kéo nhau đến tụ hội. Một hào tộc họ Trần ở làng gần đấy đã đem người nhà và trai tráng trong làng đến gia nhập, được Mai Thúc Loan giao quản lãnh đạo quân phía đông (sau này, nhân dân lập đền thờ gọi là quản đông phương chi thần). Một người khác giỏi võ, đã được Mai Thúc Loan cho thống lĩnh quân thuỷ bộ, đóng bản doanh tại Đông Liệt (nhân dân gọi là thống lĩnh thuỷ bộ quân chi thần). Hai anh em họ Phan ở làng Khai Xưng, có tài văn võ, cũng đem hơn 100 con em đến theo nghĩa quân. Mai Thúc Loan đã phong người anh làm tướng chỉ huy quân cánh trái, đóng tại Biếu Sơn; phong người em giữ chức chỉ huy quân tiên phong ở cánh nam, đóng đồn ở Liêu Sơn (được nhân dân phong anh là chưởng tả đông dực dũng lược chi thần, em là chưởng tiền nam dực dũng lược chi thần).

Lợi dụng địa thế vùng Sa Nam, một vùng rừng núi rậm rạp cạnh sông Lam (thuộc Nghi Xuân), Mai Thúc Loan cùng nghĩa quân xây dựng căn cứ chống giặc. ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm và đóng đại bản doanh.

 Thời xưa Vệ Sơn và Nam Sơn nối liền nhau, tre gỗ mọc san sát, ken kín nhau nhiều đoạn hình thành những tường luỹ tự nhiên. Dọc bờ sông Lam, nghĩa quân đắp một hệ thống chiến lũy dài hơn ngàn mét. Đấy là thành Vạn An nổi tiếng, có núi Đụn (Hùng Sơn) làm chỗ dựa; phía trong núi là dải thung lũng rộng vài thục mẫu, có nhiều đồn trại đóng ở cạnh sườn gần quanh núi. Bao quanh khu trung tâm (Vệ Sơn), nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồn trại nương dựa vào nhau: Biếu Sơn bảo vệ cánh tả, Liêu Sơn bảo vệ mặt trước, Ngọc Đái Sơn cạnh thành Vạn An, là đồn của chủ tướng, thống Linh cả hai đạo quân thuỷ, bộ.  Hùng Sơn phía sau cách Vệ Sơn 2 km. Mai Thúc Loan chọn làm nơi cố thủ khi căn cứ trung tâm bị địch chiếm. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 10:14:40 AM

Trong núi Hùng có một thung lũng rộng vài chục mẫu có thể làm nơi vừa sản xuất lương thực, vừa dựng doanh trại, đặt lò rèn đúc vũ khí chiến đấu lâu dài. Sông Lam chạy vòng quanh núi, tạo nên một cái hào tự nhiên lợi hại. Nghĩa quân còn đắp luỹ ở dọc bờ sông Lam nối tiếp Vệ Sơn. Trên lũy cắm cọc gỗ, quanh lũy có rào tre bao bọc toàn khu căn cứ Sa Nam nhằm ngăn chặn thuỷ quân của giặc. Để bảo vệ căn cứ trung tâm Sa Nam, Mai Thúc Loan còn cho xây dựng khu chiến đấu ở phía nam núi Hồng Lĩnh, có núi Can Mai làm sở chỉ huy phía sau, có núi Tháp Cờ cắm cờ hiệu, núi Cụ Hắc (chỉ Mai Hắc Đê) có lầu voi khe ngựa tắm...

Mai Thúc Loan xưng đế và đóng đô ở thành Vạn An. Sử gọi ông là Mai Hắc Đế (vua đen họ Mai). Đấy cũng là sự bác bỏ hiên ngang quyền thống trị của đế chế Đường trên đất nước ta, vào giữa lúc nhà Đường đang đạt đến độ cực thịnh dưới thời Huyền Tông (Đường Minh Hoàng, 712 - 756). 

Người Việt miền xuôi cũng như tù trưởng và dân chúng miền núi thuộc các châu kim của Hoan châu đô đốc phủ đều nhiệt liệt hưởng ứng cuộc khởi nghĩa . Chính quyền đô hộ địa phương lần lượt bị tiêu diệt. Mai Hắc Đế còn cử người giao thiệp, liên kết với các nước Chăm pa ở phía nam, Chân Lạp ở phía tây và cả nước Kim Lân (Malaixia hiện nay) đặng có thêm lực lượng chống nhà Đường.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư thép: “Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn” (1).  Nghĩa quân bao vây và chiếm châu lỵ Hoan châu rồi từ đấy đánh ra Ái châu và Giao châu. Đúng như lời nhân dân ca ngợi:

Tiếng hô hưởng ứng bốn phương,
Uy danh bách chiến khiến Đường phải kinh.
Sông Lam trăng lấp sóng kình,
Núi Hùng sớm đã bặt hình sói lang.

Từ Vạn An, có một số quân từ các nước khác giúp sức, nghĩa quân đã tiến ra Bắc, tiến công phủ thành Tống Bình.  Trước khí thế ngút ngàn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của người Việt, bè lũ đô hộ Quang Sở Khách đã bỏ thành chạy tháo thân về nước.

Đất nước ta được giải phóng, nhân dân khắp nơi nô nức theo Mai Hắc Đế, lực lượng nghĩa quân phát triển tới hàng chục vạn người (sử nhà Đường chép là 40 vạn). Nhân dân nhiều nơi ở Giao châu cùng nổi dậy. Có nơi phong trào bùng lên khá mạnh như ở vùng Bình Hà (Thanh Hà, Hải Dương). Ở đây, năm anh em họ Nguyễn đã tổ chức nhân dân nổi dậy, đánh chiếm huyện thành. Ở vùng Đường Lâm (Cam Lâm, Ba Vì, Hà Tây) một người họ Phùng kêu gọi nhân dân nổi dậy rồi sau đó theo Mai Hắc Đế. 

Nhưng vào thời điểm này chính quyền nhà Đường còn trong giai đoạn thịnh đạt. Đường Minh Hoàng cử ngay tướng nanh vuốt Dương Tư Húc, thống lĩnh 10 vạn quân tinh nhuệ cùng quan đô hộ An Nam Quang Sở Khách tiến sang đàn áp cuộc khởi nghĩa.

Năm 722, quân giặc tiến công Tống Bình rồi đánh vào Hoan châu. Trước thế giặc hung bạo và có tổ chức, Mai Thúc Loan buộc phải lui quân về thành Vạn An cố thủ. Các tướng thống lĩnh quân thuỷ, bộ, quân đông phương, chưởng tả đông dực, chưởng tiền nam dực, bạch kha . . . đã phối hợp chiến đấu chống giặc quyết liệt.

Sau nhiều trận đánh khốc liệt từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực sông Lam, Mai Hắc Đế thất trận, nghĩa quân tan vỡ, một bộ phận phải rút vào rừng. Quân xâm lược nhà Đường đàn áp, tàn sát nhân dân rất dã man, chất xác nghĩa quân thành gò cao ở giữa bãi Sa Nam, gọi là Kình Quán, để ghi chiến công chinh phục, đề cao uy thế Thiên triều, và hòng đe doạ nhân dân ta. Tội ác của giặc ngày càng chồng chất cao lên mãi.

(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.190; Tân đường thư, Dương Tư Húc truyện, chép số quân của Mai Thúc Loan là 40 vạn người.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:05:03 PM

Theo truyền thuyết dân gian, Mai Hắc Đế bị bệnh, chết ở trong rừng (có tài liệu nói ông bị rắn độc cắn chết ở Hùng Sơn). Nhân dân ta đời đời nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông ở núi Vạn Sơn (núi Vệ) và trong thung lũng Hùng Sơn.  Một bài thư chữ Hán còn ghi trong Tiên chân báo huấn tân kinh để ở đền, ca tụng công đức ông như sau tạm dịch):

Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công
Lam thuỷ trăng in, tăm giặc lặn.
Hùng Sơn gió lặng, khói lang không.
Đường đi công vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung.


Tương truyền từ sau cuộc khởi nghĩa lớn này, bọn quan lại đô hộ cũng có chùn tay và nhượng bộ. Nhà Đường không dám bắt nhân dân ta nộp cống vải quả hằng năm nữa.

3. Cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng (766-779) và nền tự chủ mong manh (780-791)

Từ giữa thế kỷ VIII, Trung Quốc sau một thời kỳ phồn vinh dưới đời vua Huyền Tông trong các niên đại Khởi Nguyên và Thiên Bảo, đã bắt đầu suy yếu. Vua Đường Huyền Tông say đắm Dương Quý Phi, nên bỏ bê việc triều chính, quyền hành lọt vào tay Dương Quốc Trung. Các thế lực địa phương nhân đó nổi lên cát cứ, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân; các tiết độ sứ vùng biên cương phát triển mạnh, mâu thuẫn giữa trung ương với địa phương trở nên sâu sắc.

Chiến tranh giữa “phiên trấn” và “triều đình” - mà đỉnh cao là giữa triều đình với thế lực địa phương mạnh nhất ở miền bắc là An Lộc Sơn và Sử Tư Minh, sử sách gọi tắt là “loạn An - Sử” - càng làm cho nhà Đường lụn bại. Uy quyền tiết độ sứ và đô hộ phủ ngày càng tăng, chúng tự ý trưng thu thuế má, tha hồ vơ vét của cải và bóc lột nhân dân địa phương.

Vụ loạn An Lộc Sơn kéo dài tám năm (755 - 763), là một cái mốc lớn đánh dấu triều Đường bước vào thời kỳ suy yếu Các thế lực địa phương ngày càng lớn mạnh và nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổi lên khắp nơi, tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Vương Tiêu Chi và Hoàng Sào lãnh đạo.
 
Bấy giờ, trên miền đất nước ta, Cao Chính Bình, hiệu uý châu Vũ Định (vùng Việt Bắc), năm 767 giúp kinh lược sứ An Nam Trương Bá Nghi đánh bại được cuộc xâm lược của quân Chà Và ở Chu Diên, sau đó được cử làm đô hộ An Nam. Y ra sức bòn rút của cải của nhân dân ta, đánh thuế rất nặng. 

Trương Bá Nghi trong chức vụ kinh lược sứ đã cho tu sửa La Thành ở Tống Bình để đề phòng sự phản kháng của dân chúng. Tuy vậy, các cuộc phản kháng của nhân dân vẫn nổ ra ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa ở Đường Lâm do Phùng Hưng lãnh đạo. 

Vào khoảng niên hiệu Đại Lịch (766 - 779), chưa rõ đích xác vào năm nào nhân lòng căm phẫn của nhân dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình nổi loạn, người hào trưởng đất Bình Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Tây) là Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ. 

Ông cha họ Phùng đời đời làm quan lang ở châu Đường Lâm, nhà giàu, có uy tín lớn đối với nhân dân quanh vùng.  Hằng năm những lúc nhân dân đói kém, họ Phùng thường đem bán thóc lúa, chẩn cấp, nên rất được nhân dân quý mến.  Trong ký ức lâu đời của nhân dân quê hương, anh em Phùng Hưng, Phùng Hải có sức khỏe vật nổi trâu, đánh được hổ, cõng thuyền nặng đi hàng chục dặm . . .

Phùng Hưng cùng em là Phùng Hải mộ quân nổi dậy làm chủ Đường Lâm rồi tiến đánh và giải phóng được cả một miền rộng lớn quanh vùng thuộc Phong châu, xây dựng thành căn cứ chống giặc. Phùng Hưng xưng là Đô Quân, Phùng Hải xưng là Đô Bảo, giữ đất tự chủ, chống lại nhà Đường. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:08:26 PM
Theo kế của thủ lĩnh Đỗ Anh Hàn, một người đồng hương, anh em Phùng Hưng đã dẫn quân tiến xuống Tống Bình, vây chặt phủ thành đô hộ. Cao Chính Bình đem quân ra ngoài đón đánh nghĩa quân, nhưng bị thua luôn. Cao Chính Bình sợ quá thành bệnh mà chết.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa hạ, tháng tư, người ở Đường Lâm thuộc Giao châu là Phùng Hưng dấy binh vây phủ. Chính Bình lo sợ mà chết” (1).  Nghĩa quân kéo vào chiếm đóng phủ thành.  Phùng Hưng chia quân bảo vệ phủ, rồi tổ chức lại việc cai trị, mong xây dựng chính quyền tự chủ lâu dài.
 
Theo sách Giao châu ký (dẫn theo Việt điện u linh), Phùng Hưng dựng quyền tự chủ được bảy năm thì mất. Rất tiếc không có sử sách ghi chép cụ thể về những công việc mà chính quyền của ông đã làm trong bảy năm ấy.

Sau khi ông mất, nội bộ những người yêu nước xảy ra tranh chấp về quyền lực. Nhiều người muốn lập Phùng Hải. Nhưng người đầu mục phụ tá là Bồ Phá Cần, rất vũ dũng, nhất định không nghe, lập con Phùng Hưng là Phùng An nối nghiệp và đem quân chống lại Phùng Hải. Phùng Hải né tránh Bồ Phá Cần, bỏ lên ở động Chu Nham (?), về sau không rõ kết cục ra sao. Lực lượng xây dựng nền tự chủ vốn đang còn non trẻ lại càng suy yếu vì sự chia rẽ đó, vì sự tranh chấp huynh đệ tương tàn.

Phùng An lên ngôi, dâng Tôn hiệu cha là Bố Cái Đại Vương (2).   và nối nghiệp Phùng Hưng được hai năm. Tuy nhiên, tình trạng tranh chấp nội bộ đã khiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước và chính quyền tự chủ mà Phùng Hưng đã đặt cơ sở không thể tiếp tục phát triển tốt được. Lực lượng nghĩa quân cũng vì thế chia xẻ và suy yếu, không thể sẵn sàng chống giặc ngoại xâm.

Chính quyền đô hộ nhà Đường phải chấp nhận sự thất bại trước sức mạnh của cuộc khởi nghĩa do Phùng Hưng lãnh đạo, không phải rút chạy khỏi đất nước ta (779), tuy nhiên âm mưu trở lại xâm lược của chúng vẫn còn.

Nhân biến loạn giữa Phùng An và Phùng Hải, nhà Đường gấp rút động binh, phong cho Triệu Xương làm tiết độ sứ trực tiếp chỉ huy đạo quân xâm lược sang đánh Phùng An.

Là một viên tướng đầy quỷ quyệt, một mặt Triệu Xương tổ chức một đội quân lớn, gọi là nhu viễn quân để gây sức ép quân sự; mặt khác Triệu Xương sai sứ giả đem đồ lễ đến Tống Bình để mua chuộc, dụ dỗ Phùng An. 

Năm 791, Triệu Xương đem quân tiến đánh Phùng An. Thế giặc mạnh mà tinh thần và lực lượng của Phùng An lại không vững vàng. Phùng An không chống cự nổi, bị giặc bắt (3).   Người của họ Phùng tan tác đi các nơi. Nền tự chủ mới mong manh xây dựng được trên dưới chín năm lại bị tan vỡ. 

Khởi nghĩa Phùng Hưng thể hiện tinh thần độc lập tự chủ mạnh mẽ của nhân dân ta thuở đó. Cuộc khởi nghĩa thắng lợi và có tác dụng cổ vũ rất lớn đối với phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta đời Phùng An chống quân xâm lược Đường mang tính chất của một cuộc chiến tranh giữ nước, vì bấy giờ nước ta là một nước có chủ quyền, nhà nước do Phùng Hưng kiến lập là một nhà nước độc lập và nền độc lập ấy đã được xây dựng trong chín năm.

Trước cuộc tiến công xâm lược của quân Đường, những điều kiện chủ quan và khách quan chưa đầy đủ để Phùng An tổ chức được một cuộc kháng chiến thắng lợi. Đất nước ta lại rơi vào ách thống trị của nhà Đường (791).

Triệu Xương là một tên đô hộ có nhiều kinh nghiệm. Y cho đắp lại La Thành, đặt quân nhu viễn, ra sức trấn áp tinh thần đấu tranh của nhân dân An Nam, đồng thời tìm cách mua chuộc lừa phỉnh họ với hy vọng duy trì ách thống trị thực dân vững chắc hơn.


(1).   Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 191.
(2).   Gần đây, giới nghiên cứu sử học và ngôn n học đã minh giải lại ý nghĩa từ Bố Cái (không phải là Bố Mẹ) mà là Vua ớn. Bố Cái (Nôm) Đại Vương (Hán Việt).   
(3).  Có tài liệu nói Phùng An đầu hàng Triệu Xương. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.192, viết: “Xương sai sứ dụ An, An đem quân hàng”.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:10:54 PM

4. Khởi nghĩa Dương Thanh (819 - 820)

Sau 10 năm làm đô hộ, Triệu Xương thác cớ đau chân xin về. Nhà Đường cử lang trung bộ binh là Bùi Thái sang thay, làm An Nam đô hộ (801). Bùi Thái đến phủ, thấy nhân dân An Nam “rất hung tợn”, nghĩa là sẵn sàng phản kháng mình, nên đã bắt quân sĩ và nhân dân sửa sang La Thành, xây đắp thêm hai thành ở Hoan châu và Ái châu. Quân sĩ vất vả, nhọc mệt lại được nhân dân ủng hộ bèn theo An Nam tướng Vương Quý Nguyên nổi dậy đánh phá, đuổi Bùi Thái chạy trốn (803).

Triệu Xương được tái cử đô hộ An Nam. Cuộc binh biến do Vương Quý Nguyên đứng đầu bị đàn áp. Tuy vậy, sự bất bình trong hàng ngũ binh lính vẫn rất lớn, ít lâu sau lại bùng nổ một cuộc binh biến lớn hơn, mang tính chất như một cuộc khởi nghĩa, do Dương Thanh cầm đầu.

 Khoảng cuối đời Nguyên Hoà 806 - 820), tên Tôn thất nhà Đường là Lý Tượng Cổ nổi tiếng “khắc nghiệt, hung bạo, làm mất lòng người”, kéo hơn một ngàn gia thuộc sang cai trị đất nước ta, lĩnh chức đô hộ. Nhân dân bị bóc lột, vơ vét của cải, ai cũng hết sức căm thù, mưu nổi dậy.

Dương Thanh là một thủ lĩnh người Việt, dòng dõi hào trưởng lâu đời, có nhiều thế lực, làm thứ sử Hoan châu. Dương Thanh vẫn nuôi lòng căm ghét bọn quan lại đô hộ nước ngoài, tìm thời cơ chống lại chúng. Nhưng để dễ bề khống chế ông, Lý Tượng Cổ đã điều ông về Tống Bình, cho làm “nha môn tướng” của mình. 

Bấy giờ, nhân dân Tày - Nùng - Choang ở miền tả, hữu giang (sử nhà Đường gọi là “Man Hoàng Động”) luôn luôn nổi dậy chững đế chế Đường. Vua Đường hạ chiếu sai Lý Tượng Cổ đem quân đàn áp. Lý Tượng Cổ cử Dương Thanh chỉ huy 3.000 quân sĩ với trang bị vũ khí đầy đủ đi đánh dẹp Hoàng Động. Thấy lòng người ai cũng oán giận chính quyền đô hộ, nhân dịp này Dương Thanh cùng con là Dương Chí Liệt và một người thân tín là Đỗ Sĩ Giao bàn mưu, kêu gọi binh lính dưới quyền không nên đi đánh dân Hoàng Động mà hãy “trở giáo” chĩa mũi nhọn vào Lý Tượng Cổ và bè lũ đô hộ. 

Được binh lính yêu nước nhiệt tình ủng hộ, ngay đêm hôm xuất quân, Dương Thanh đã cùng nghĩa quân quay lại tập kích phủ thành đô hộ, giết chết Lý Tượng Cổ cùng hơn một ngàn bộ hạ của y, chiếm giữ phủ thành. 

Năm 819, vua Đường cử Quế Trọng Vũ làm đô hộ An Nam thay Lý Tượng Cổ và dùng mưu xảo quyệt, hạ chiếu “tha tội” cho Dương Thanh, cử ông làm thứ sử Quỳnh châu (trên đảo Hải Nam) , thực chất là định đày ông đi biệt xứ rồi tìm cách hãm hại ông. Không mắc mưu giặc, Dương Thanh đã chống lại mệnh lệnh của vua Đường, kiên quyết giữ thành Tống Bình. Vua đường sai Quế Trọng Vũ đánh Dương Thanh nhưng không thắng được.

Sử cũ của ta, Đại Việt sử ký toàn thư chép về cuộc khởi  nghĩa Dương Thanh như sau: “Năm Kỷ Hợi (819) mùa đông, tháng 10, đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo hà khắc mất lòng dân chúng. Tướng của Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man, khoảng niên hiệu Khai Nguyên nhà Đường,  làm thứ sử Hoan châu, Tượng Cổ vẫn kiêng dè, gọi cho làm  nha tướng, đến đây sai đi đánh người Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ, đang đêm trở về đánh úp châu, chiếm được, giết Tượng Cổ. Vua Đường  sai Quế Trọng (Vũ) đánh Dương Thanh mà không thắng” (1). 
 
“ Quế Trọng Vũ đánh mãi không thắng bèn chuyển sang dùng kế ly gián mua chuộc một số người cầm đầu nghĩa quân và binh sĩ dưới quyền Dương Thanh; sau đó cất quân tiến công phủ thành Tống Bình. Một số người đã đầu hàng Trọng Vũ nhưng số còn lại vẫn theo Dương Thanh kiên quyết kháng cự.


(1).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.192.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:12:34 PM
Thấy lâu ngày mà tình hình An Nam vẫn chưa yên, vua Đường bèn biếm chức Trọng Vũ, cử Bùi Hành sang thay. Bùi Hành đến trấn Hải Môn thì bị ốm, chết. Quế Trọng Vũ lại tiếp tục đánh và mua chuộc. Cuối cùng thành bị hạ. Dương Thanh cùng con là Chí Trinh bị giặc giết, gia sản bị tịch thu, cả họ Dương Thanh bị bọn đô hộ tru di. Dương Chí Liệt và Đỗ Sĩ Giao lui quân về giữ Tạc Khẩu ở Trường châu (Yên Mô, Ninh Bình) nhưng ít lâu sau cũng bị thất bại (7-820). 

Cuộc khởi nghĩa Dương Thanh tuy thất bại, nhưng nó chứng tỏ rằng, sự phản kháng, chống chính quyền đô hộ trên đất nước ta đã lan rộng mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp nhân dân, ngay cả trong hàng ngũ võ quan và binh lính của chính quyền địch. Bấy giờ, thực hiện thủ đoạn “dĩ Di công Di”, triều Đường cũng như triều Hán trước đây, sử dụng một bộ phận quan lại và binh lính người Việt trong chính quyền đô hộ. Do tác động của phong trào yêu nước của đông đảo nhân dân ta, số quan lại, binh sĩ người Việt này càng ngày càng bị phân hóa sâu sắc. Một số quan lại, binh sĩ yêu nước đã nhiều lần gây binh biến, thậm chí đã tổ chức khởi nghĩa chống lại chính quyền đô hộ .

Sau khởi nghĩa Dương Thanh, lòng căm thù quân xâm lược của nhân dân đã lên cao, bọn quan lại đô hộ không tài nào ổn định nổi tình hình. Dưới sự lãnh đạo của tầng lớp hào trưởng quan lại yêu nước, nhân dân ta cùng các binh sĩ yêu nước đã nhiều lần tổ chức khởi nghĩa, tiêu biểu trong các năm 828, 841, 858, 860, 880, v.v.. Sau mỗi lần khởi nghĩa, hầu hết bọn đô hộ phải bỏ chạy về nước để xin cứu viện.

                                                               
Phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống ách đô hộ của nhà Đường có tính chất phổ biến, tương đối liên tục suốt ba thế kỷ và nổ ra ở khắp nơi, miền xuôi cũng như miền núi, từ miền bắc đến Hoành Sơn.

Phong trào mang tính chất quần chúng khá rõ rệt, bao gồm mọi tầng lớp nhân dân, quân sĩ hào trưởng, quan lại yêu nước và nhân dân các dân tộc trên lãnh thổ nước ta. các tộc thiểu số miền núi cũng liên tục nổi dậy đấu tranh mạnh mẽ, cùng nhân dân miền xuôi chống chính quyền đô hộ.

Những cuộc khởi nghĩa lớn ở địa phương (Mai Thúc Loan, Phùng Hưng. . .) đều đưa đến việc xây dựng căn cứ chống giặc, đánh đổ chính quyền của bọn đô hộ ở địa phương, giành chính quyền ở từng nơi, từng bộ phận. 

Phong trào nhân dân có tính chất tiến công cao; nhiều cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, phần nhiều đánh vào tận sào huyệt, đại bản doanh của quân thù (Tống Bình) . Lực lượng địch tan rã nhanh chóng trước khí thế tiến công của quần chúng khởi nghĩa.  Bọn kinh lược sứ, đô hộ . . . hoặc bị giết, hoặc bỏ chạy.

Trong những nhân tố trên thì nhân tố quần chúng nhân dân tham gia đông đảo, với khí thế tiến công ngày càng mạnh là rất quan trọng, khiến quân giặc hoảng sợ nhất.  Sử cũ của Trung Quốc ghi lại rất ít những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta; và nếu nói đến cũng chỉ rất vắn tắt, sơ lược. Tuy vậy, trong các thế kỷ dưới sự thống trị của nhà tưởng, nhân dân ta liên tục đứng dậy chống lại chính quyền đô hộ.

Khác với những giai đoạn trước, sự phân biệt giữa chính quyền đô hộ và nhân dân ta trong thời gian này rất rạch ròi. Những quý tộc hay quan lại nhà Đường sang sinh sống lâu dài bên An Nam, không được tham dự chính quyền và giữ các chức vụ cao cấp như cũ. Do đó, cuộc đấu tranh của nhân dân ta cũng nhằm đúng kẻ thù hơn trước. 

Cuộc đấu tranh chống ngoại xâm càng về sau càng ảnh hưởng đến hàng ngũ quân sĩ giữ thành. Những người nông dân bị cưởng bức mặc áo lính, đi canh giữ thành và bảo vệ chính quyền cho bọn thống trị đô hộ lại phải chịu lao dịch nặng nề. Họ thông cảm với cảnh sống của nông dân, cùng căm thù kẻ xâm lược ngoại bang, nên dễ giác ngộ và quyết tâm đứng về phía nhân dân chống lại bọn đô hộ, giành lại cuộc sống tự do độc lập.

Khởi nghĩa diễn ra liên tục, nhưng chưa thành công, vì tuy chính quyền đô hộ An Nam luôn luôn bị lật đổ, quan đô hộ nhiều lần phải chạy trốn về nước, nhưng đế chế Đường - kẻ thù của nhân dân ta - ở kề ngay phía bắc đất nước, còn đang mạnh, vẫn còn đủ sức tổ chức những đạo quân viễn chinh lớn sang xâm lược lại và chinh phục lại đất nước ta.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:20:18 PM

Và bên trong, tuy tinh thần quốc gia tự chủ, ý thức dân tộc đã ngày càng được củng cố và phát triển, song sự tồn tại của chế độ thủ lĩnh ở các địa phương vẫn còn là một cản trở đối với sự cố kết dân tộc. Khi đánh địch, kẻ thù trực tiếp là chính quyền đô hộ mà đầu sỏ là bọn đô hộ, kinh lược sứ, tiết độ sứ. . . thì các thủ lĩnh địa phương có sự liên kết với nhau, nhưng khi giành được thắng lợi tạm thời thường đã xảy ra sự tranh chấp quyền lực tối cao (vương vị, đế vị), khiến phong trào bị chia rẽ, lực lượng bị phân tán.

Và khi những đạo quân viễn chinh lớn của nhà Đường tiến sang thì không khỏi có một số thủ lĩnh hoang mang, dao động, mắc mưu chia rẽ và mua chuộc của kẻ thù, nên đã đầu hàng, câu kết với giặc, làm phương hại lớn đến kết quả của phong trào đấu tranh.

Phải trải qua nhiều “cuộc diễn tập” lớn, vượt qua vô vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh, ý thức dân tộc mới trưởng thành, phong trào đấu tranh mới vững mạnh và giành được thắng lợi.

Quy mô của các cuộc khởi nghĩa dưới thời thuộc Đường ngày càng lớn. Phong trào đấu tranh ngày càng tập trung mũi nhọn vào chính những kẻ cầm đầu chính quyền đô hộ.  Qua những cuộc đấu tranh anh dũng đó, tinh thần quốc gia tự chủ, ý thức dân tộc được củng cố và phát triển mạnh mẽ. Chính quyền đô hộ bị đả kích mãnh hệt.

Tuy chính quyền đô hộ đã sử dụng nhiều biện pháp trấn áp quân sự, nhưng kết quả rất hạn chế và sự tan rã của nó cũng đã bắt đầu và không thể nào tránh khỏi. Phong trào đấu tranh chống chính quyền đô hộ nhà Đường đến cuối thế kỷ IX đã báo hiệu sự xuất hiện của bình minh sau một đêm dài tăm tối dưới ách thống trị ngoại tộc.

CHƯƠNG IV

GIÀNH QUYỀN TỰ CHỦ, CỦNG CỐ ĐỘ LẬP VÀ
THỐNG NHẤT QUỐC GIA.
HAI LẦN CHỐNG NAM HÁN. SỰ NGHIỆP GIÀNH LẠI QUYỀN TỰ CHỦ TOÀN THẮNG (905 - 938)

I. KHÚC THỪA DỤ GIÀNH QUYỀN TỰ CHỦ, XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

1. Đế chế Trung Hoa cuối thế kỷ IX - đầu thế kỷ X
 
Cuối thế kỷ IX, triều đình nhà Đường đổ nát. Chính quyền trung ương ở Trường An suy yếu, nạn cát cứ của các tập đoàn quân phiệt phong kiến (phiên trấn) ngày càng trầm trọng, chế độ quân điền bị phá sản. Bọn lãnh chúa và địa chủ địa phương ra sức cướp đất lập trang trại và thu nạp dân lưu vong. Các thế lực phong kiến lớn nhân đó xây dựng lực lượng, tách dần khỏi ảnh hưởng của triều đình trung ương.
 
Nhân dân Trung Quốc, nhất là nông dân lâm vào cảnh mất đất, đói kém, dịch bệnh và chết chóc. Những người bỏ làng đi tha phương cầu thực bị bọn lãnh chúa phong kiến kéo buộc vào các trang trại của chúng. Cùng lúc đó, nạn ngoại xâm đe dọa ở biên giới, càng làm cho nhà Đường lúng túng, bất lực.
 
Từ năm 860, phong trào khởi nghĩa nông dân chống áp bức ngày càng phát triển, trước hết là nông dân vùng Triết Giang với ba vạn người nổi lên chiếm giữ thành trong vòng ba tháng và tiếp đến là khởi nghĩa nông dân ở Từ châu (862), ở Quế châu (868) và nhiều nơi khác.

Làn sóng đấu tranh đó kết lại trong cuộc khởi nghĩa lớn do lãnh tụ Hoàng Sào đứng đầu (874-884), đã làm lung lay tận gốc nền thống trị của nhà Đường.
 
Năm 880, nghĩa quân đã kéo lên bao vây thành Lạc Dương - kinh đô của nhà Đường - rồi chiếm lấy thành; Hoàng Sào tự xưng hoàng đế, phong chức cho các tướng và chuẩn bị việc bố phòng.
 
Giai cấp phong kiến Trung Quốc đã cấu kết với quân đội nước ngoài phản công lại, đàn áp được cuộc khởi nghĩa. Tuy vậy, cuộc chiến tranh nông dân vĩ đại này đã làm rung chuyển cả Trung Quốc, phá đổ nhà Đường và ảnh hướng lớn đến tình hình các nước xung quanh, trong đó có An Nam. Tàn dư của nhà Đường còn tồn tại đến năm 907 thì sụp đổ.

Ở Trung Quốc tình trạng cát cứ phát triển mạnh. Các tiết độ sứ xâm lấn nhau lập thành nhiều nước: Tấn ở Thái Nguyên (tỉnh Sơn Tây), Kỳ ở Bảo Kê (Thiểm Tây), Định Nam ở Diên An (Thiểm Tây), Triệu ở Thạch Gia Trang (Hà Bắc).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:34:02 PM

Tại lưu vực Hoàng Hà, Chu Ôn là tướng của Hoàng Sào, sau khi phản bội, đầu hàng nhà Đường được phong vương và tiếp tục phát triển trở thành thế lực quân phiệt lớn nhất ở vùng này. Năm 907, Chu ôn phế bỏ vua Đường, tự xưng hoàng đế lấy quốc hiệu là Lương (Hậu Lương), kiểm soát khu vực từ sông Hoài và nam sông Hán về phía bắc.

Trong 27 năm trị vì, nhà Hậu Lương chinh phục được các nước nói trên (trừ Định Nam). Tiếp sau Hậu Lương là bốn triều đại khác kế tiếp nhau thống trị miền bắc Trung quốc, đó là Hậu Đường (năm 923), Hậu Tấn (936), Hậu Hán (947 Hậu Chu (951). Nhà Chu mở rộng đến Trường Giang. Năm 96, khu vực Thái Nguyên có Lư Sùng nổi lên, tách ra lập nước Bắc Hán. Sử Trung Quốc gọi thời kỳ năm triều đại này là thời kỳ “năm đời’, còn gọi là đời Ngũ đại hoặc hậu Ngũ đại. Năm đời này cộng lại tồn tại được 53 năm.

Ở miền nam Trung Quốc cũng có nhiều thế lực quân phiệt cát cứ và trước sau đã dựng lên các nước:

• Năm 891, Vương Kiến chiếm cứ vùng Tứ Xuyên, lập ra nước Tiền Thục; đến năm 925 bị Hậu Đường thôn tính.

• Năm 892, Dương Hành Mật chiếm vùng Giang Tây, từ hạ du sông Trường nang đến nam sông Hoài lập nước Ngô.

• Năm 893, Tiền Cù xưng vua ở Triết Giang lập nước Ngô Việt.

• Năm 893, Vương Thẩm Tri chiếm cứ Phúc Kiến, xưng vương lập nước Mân, nước Mân sau bị Nam Đường và Ngô Việt xâm lấn, đến năm 954 chỉ còn lại khu vực từ Đức Hóa - Trường Bình về phía nam gọi là Thanh Nguyễn.

• Năm 896, Mã Ân chiếm vùng Hồ Nam lập thành nước Sở đến năm 951 bị Nam Đường thôn tính.

• Năm 905, Lưu ẩn chiếm cứ vùng đông Lĩnh Nam (tỉnh Quảng Đông ngày nay) lập nước Nam Hán.  Năm 907, Cao Quý Hưng chiếm vùng Giang Lăng (Trường Sa) lập nước Nam Bình.

• Năm 933, mâu Trì Đường đánh Hậu Đường giành lại Tứ Xuyên lập nước Hậu Thục.

• Năm 937, Lý Thăng nổi lên chiếm vùng Giang Tô, đánh đổ nước Ngô lập nước Nam Đường. Nam Đường đã thôn tính nước Mân và nước Sở.

  Sử Trung Quốc gọi chung giai đoạn tồn tại các nước đó với Bắc Hán cát cứ ở Sơn Tây là thời kỳ “mười nước’ và gọi chung cả giai đoạn là cục diện “Ngũ đại thập quốc” (Năm đời mười nước), kéo dài từ năm 907 đến khi Triệu Khuông Dẫn lập nên nhà Tống (năm 960).
 
Trong thời gian đó, Trung Quốc bị chia cắt làm 10 nước: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở, Mân, Nam Bình và Bắc Hán.  Thế lực của Trung Quốc do đó không được như trước nữa, uy quyền của hoàng đế không ra đến ngoài thế lực ai mạnh thì người ấy xưng đế, xưng vương, giành giật nhau quyền lợi, các tập đoàn phong kiến thống trị cũng không còn thì giờ dòm ngó các vùng đất xa.

Toàn bộ tình hình nói trên có ảnh hưởng đến An Nam và là bối cảnh lịch sử, là điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 22 Tháng Một, 2009, 11:38:58 PM
2. Họ Khúc dựng nền tự chủ, củng cố độc lập

Từ cuối thế kỷ IX, triều đình Trường An cũng như chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu. Ở miền tây nam Trung Quốc (Vân Nam), nước Nam Chiếu cường thịnh và luôn đem quân đánh phá đất An Nam.

Cuối năm 862 đầu năm 863, năm vạn quân Nam Chiếu xâm lấn An Nam, chiếm phủ thành Tống Bình. Nhà Đường bỏ An Nam đô hộ phủ, chỉ lo phòng giữ Ung châu, tự mình thủ tiêu quyền thống trị trên đất An Nam.

Theo sử nhà Đường, trong những năm đó, các hào trưởng địa phương người Việt đã tự đem quân trấn giữ các hương ấp chống quân Nam Chiếu (1).

Cuối năm 865, Cao Biền đánh bại quân Nam Chiếu và cố gắng khối phục lại chính quyền đô hộ. Từ năm 866, An Nam đô hộ phủ đổi thành  Tĩnh Hải quân tiết trấn, đứng đầu là chức tiết độ sứ. Nhưng những biện pháp trấn áp quân sự kết hợp với thuật phong thủy của Cao Biền cũng không cứu vớt được rnãi nền đô hộ vốn đang lung lay của nhà Đường trên đất nước ta. Sự tan rã của nó đã bắt đầu trong suốt thế kỷ IX và trở thành không thể nào tránh khỏi.

Khi cuộc khởi nghĩa của Hoàng Sào lan rộng xuống phía nam, nhân dân ta cũng rục rịch chuẩn bị chống lại bọn đô hộ.  Năm 880, khi Hoàng Sào vây kinh đô Lạc Dương, quân sĩ An Nam đã nổi dậy đánh phá phủ thành Tống Bình, đuổi tiết độ sứ Tăng Cổn. Các đạo quân nhà Đường đóng giữ Ung Quản cũng thường chống đối, tự đào ngũ, bỏ trốn.

Bọn quan lại đô hộ đã lập lại nền thống trị trên đất An Nam nhưng thế lực của chúng cũng không còn như trước nữa. Vấn đề chủ yếu là phong trào đấu tranh mãnh liệt của nhân dân ta từ trước đã thức tỉnh ý thức dân tộc, đoàn kết các thế lực địa phương và làm cho tầng lớp hào trưởng người Việt thấy rõ vai trò và lực lượng của mình.

Phong trào đấu tranh đó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các hào trưởng lãnh đạo các cuộc đấu tranh của nhân dân. Và, khi tình hình rối loạn của nhà Đường xảy ra thì chính quyền đô hộ ở An Nam cũng đã tan rã. Quân đội - chỗ dựa duy nhất của chính quyền đô hộ - không còn trung thành với nhà Đường nữa.
 
Trong xu thế cát cứ của xã hội thời cuối Đường, các hào trưởng và thủ lĩnh người Việt dần dần tách biệt với chính quyền đô hộ. Tầng lớp hào trưởng dân tộc đã trưởng thành. Một số hào trưởng có uy tín đã xây dựng được lực lượng riêng và sẵn sàng đứng đầu phong trào yêu nước, giành lại chính quyền từ tay bọn quan lại đô hộ phương Bắc.

Phong trào đấu tranh yêu nước lâu dài và quyết liệt của nhân dân ta chống áeh ngoại xâm đã củng cố ý thức dân tộc của họ. Nhận thức được vai trò và lực lượng của mình, họ quyết tâm lãnh đạo nhân dân đánh đổ chính quyền đô hộ của nhà Đường.

Đầu thế kỷ X, phong trào đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao. Tiết độ sứ An Nam Chu Toàn Dục không tài nào trấn áp được. Chu Toàn Dục là anh Chu Toàn Trung (Chu Ôn). Chu ôn sau khi phản bội phong trào nông dân, đầu hàng nhà Đường, leo lên chức nguyên soái đã xin vua Đường cho Toàn Dục làm tiết độ sứ An Nam (892).
 
Chu Toàn Dục sau lại được tiến phong tước đồng bình chương sự nghĩa là được toàn quyền sinh sát trên miền đất nước ta.  Đó là một kẻ thô lỗ, vô tài đến nỗi đầu năm 905, Chu Ôn phải xin bãi chức của Toàn Dục, trong danh hiệu “thái sư về trí sĩ”.

 Nhà Đường cho Toàn Dục về hưu và cử thị lang Độc Cô Tổn sang thay (2).  Đây là viên tiết độ sứ cuối cùng mà nhà Đường cử sang cai trị ở nước ta. Độc Cô Tổn vốn là tể tướng dưới đời Đường Chiêu Tông, vì bị bãi chức mà phải sang An Nam thay chân Chu Toàn Dục.
 
Sang An Nam vào tháng 4 - 905, chưa đầy hai tháng y đã nổi danh là “Ngục thượng thư’ (thượng thư ác) . Vì không về phe đảng với Chu Toàn Trung, y bị biếm làm thứ sử Lệ châu rồi ti hộ Quỳnh châu trong đảo Hải Nam và bị giết chết trong khoảng tháng 6, tháng 7 - 905. 


(1).  Cựu Đường thư, q.10, thượng.
(2).  Họ “Độc cô”, tiếng Hoa đọc là Tuyếccô (Tre) cùng nhiều minh chứng khác đã tỏ ra rằng nhà Đường với vua sáng lập Lý Thế Dân (Thái Tông) không phải thuộc dòng dõi Lý Đam - hay Lý Nhĩ (Lão Tử) như sử Đường thường rêu rao, mà chính là có gốc nửa thiểu số Đột Quyết (semi-ture).  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 08:24:30 AM
Sau khi Độc Cô Tổn, viên tiết độ sứ ngoại tộc cuối cùng rời khỏi đất nước ta, chớp thời cơ triều đình nhà Đường hấp hối, chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta như rắn mất đầu.
 
Nhân dân ta lại một lần nữa kiên quyết đứng dậy tự quyết định lấy vận mệnh đất nước. Một người hào trưởng ở đất Hồng châu (Hải Dương) là Khúc Thừa Dụ, được nhân dân ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Tống Bình (Hà Nội), xưng là tiết độ sứ, xóa bỏ thực chất của chính quyền đô hộ nhưng khéo léo lợi dụng bộ máy và danh nghĩa của bọn đô hộ cũ để chuyển sang giành quyền độc lập dân tộc một cách vững chắc.

Các sách Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư đều không chép đến tên tuổi Khúc Thừa Dụ. Sách Tân ngũ đại sử (Nam Hán thế gia) cũng chỉ chép đến tên Khúc Hào và Khúc Thừa Mỹ. Tên Khúc Thừa Dụ được chép trong sách Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời Tống. Sách ấy chép rằng:

“Năm Thiên Hựu thứ ba 90 mùa xuân, tháng giêng... ngày ất sửu gia phong cho Tĩnh Hải tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ chức đồng bình chương sự” và chua thêm rằng: “Khúc Thừa Dụ thừa lúc loạn lạc, chiếm cứ An Nam”. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn cũng chép Thừa Dụ là Khúc tiên chúa, Khúc Hào và Khúc Thừa Mỹ đều là con cháu.
 
Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên, q.5) viết: “Họ Khúc là một dòng họ lớn lâu đời ở Hồng châu (1).  Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy Tôn. Gặp thời loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là tiết độ sứ và xin mệnh lệnh với nhà Đường; nhân thế vua Đường cho làm chức ấy” (2).

Để tiến từ Hồng châu ra chiếm phủ thành Tống Bình, nơi đang còn quân đội và quan lại của nhà Đường chiếm giữa tuyệt nhiên không phải là một việc dễ dàng. Tầng lớp thống trị ngoại tộc không thể dễ dàng chấp nhận chuyển giao quyền bính cho một hào trưởng người Việt mà không hề có một sự phản kháng nào. Cho nên, tuy sử cũ không chép nhưng chúng ta có thể suy đoán rằng, họ Khúc chiếm được phủ thành, giành quyền chính trị trong xứ tất đã phải trải qua một cuộc đấu tranh về mặt quân sự và ngoại giao, cuộc đấu tranh đó dựa trên cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân ta từ lâu nhằm lật đổ chính quyền đô hộ.

Có lẽ khi nhà Đường cử thị lang Độc Cô Tổn sang thay Chu Toàn Dục, Khúc Thừa Dụ đã có thế lực mạnh và nổi dậy ở Hồng châu chống lại chính quyền đô hộ. Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu một dòng họ lớn ở Hồng châu, một hào trưởng có nhiều uy tín và có chí lớn, biết nhân thời thế mà tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người rồi khi thời cơ đến đã đứng dậy chống lại bọn quan đô hộ. Nghĩa quân của ông đã chiến đấu mạnh mẽ và liên tiếp giành thắng lợi.

Tiết độ sứ Độc Cô Tổn đành bó tay trước khí thế của nghĩa quân, khiến nhà Đường tức giận, ra lệnh bắt Độc Cô Tổn phải chịu biếm chức rồi bị giết. Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và phải gia phong cho ông tước đồng bình thường sự.
 
Như vậy, Khúc Thừa Dụ đã mở đầu một tập tục khôn khéo trong thế ứng xử đối ngoại với triều đình phong kiến phương Bắc: “độc lập thật sự, thần phục trên danh nghĩa”.
 
Sau khi đã nắm được quyền lực thực tế trên đất đai “An Nam” cũ, Khúc Thừa Dụ vẫn giữ danh nghĩa xin mệnh lệnh nhà Đường và được nhà Đường công nhận tiết độ sứ, đại diện của triều đình tại An Nam.  Khúc Thừa Dụ phong con là Khúc Hạo chức vụ  nh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu, tức là chức vụ chỉ huy quân đội và sẽ thay cha năm quyền tiết độ sứ.

Tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường, về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, giành lấy chính quyền từ tay bọn phong kiến nước ngoài, Khúc Thừa Dụ đã kết thúc về cơ bản ách thống trị hơn một ngàn năm của phong kiến phương Bắc.
 
Như vậy, từ năm 905, An Nam thực sự thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của nước ngoài, thực sự trở thành một nước tự chủ, dẫu rằng chính quyền của nó còn tổ chức theo hình thức cũ của nhà Đường. 


(1).  Hồng châu là tên đất đời Lý - Trần. Đời Lê là hai phủ Thượng Hồng và Hạ Hồng, sau là đất Bình Giang, Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương. Hiện nay ở đó vẫn còn đình thờ họ Khúc (ở Cúc Bồ, Ninh Giang). Theo Lê Quý Đôn, họ Khúc gốc ở Lỗ Xá (Bình Giang, Hải Dương).
(2). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.218.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 08:27:04 AM

Năm 905 đánh dấu sự thắng lợi oanh liệt của nhân dân ta liên tục trong hơn một ngàn năm chống Bắc thuộc và xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, thoát hẳn ách đô hộ lâu dài của các triều đại phong kiến Trung Hoa. Thành quả to lớn của nhân dân ta bấy giờ không phải là kết quả chỉ của cuộc đấu tranh riêng của một thế hệ đương thời mà là thành quả của hàng chục thế kỷ đấu tranh kiên cường, liên tục và toàn diện của nhân dân Việt Nam.

Lịch sử ghi nhớ công lao của Khúc Thừa Dụ như là một trong những người đặt cơ sở nền độc lập dân tộc. Ông là một nhà chính trị có tài và nhân đức được nhân dân tin yêu mến phục. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép: Thừa Dụ tức là Khúc tiên chúa. Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ đều là con cháu. Ngày 23-7-907 Khúc Thừa Dụ chết. Mặc nhiên Khúc Hạo nối nghiệp cha, cũng xưng là tiết độ sứ. Lúc này nhà Đường đã mất, triều đại đầu tiên trong Ngũ đại thống trị Trung Nguyên là Hậu Lương (907-923) do Chu Toàn Trung làm hoàng đế cũng buộc phải công nhận Khúc Hạo làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ (1 - 9- 907).

Miền Quảng châu bấy giờ nằm dưới quyền cát cứ của cha con họ Lưu: Lưu Ân và Lưu An. Lưu Ân sau một thời gian làm chức tiết độ phó sứ giữ quyền “lưu hậu” ở Quảng châu, đến năm 905 được nhà Đường công nhận tiết độ sứ và năm 907 gia phong cho Lưu An làm kiểm hiệu thái úy kiêm thị trung.

Tuy nhà Hậu Lương đã công nhận chức tiết độ sứ của Khúc Hạo năm 907, nhưng năm sau (908) lại cho Lưu Ân kiêm chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, An Nam đô hộ. Điều đó chứng tỏ chính quyền Trường An vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm chinh phục lại miền đất nước ta.

Muốn giành được độc lập dân tộc, nhân dân ta, trước đây cũng như sau này, phải tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt chống bọn xâm lược và bành trướng phương Bắc. Phát huy ý chí tự lập tự cường của cha ông, Khúc Hạo kiên quyết kháng cự lại mệnh lệnh của nhà Hậu Lương, kiên trì giữ vững đất Giao châu, xây dựng nền móng của một quốc gia độc lập tự chủ.

Nối nghiệp cha và nối chí cha, Khúc Hạo đã đảm đương một cách tài giỏi trọng trách củng cố nền tự chủ còn non trẻ của dân tộc Việt Nam.  Tuy vẫn giữ danh hiệu tiết độ sứ giữ quyền “lưu hậu’ của nhà Đường và đóng trị sở ở Đại La, nhưng trong những năm giữ cương vị ấy, Khúc Hạo đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng để cải thiện đời sống nhân dân và chăm lo xây dựng nền độc lập dân tộc.

Sử cũ chép rằng: “Khúc Hạo nhờ vào cơ nghiệp cũ, giữ lấy La Thành, tự xưng là tiết độ sứ, thiết đặt các lộ, phủ, châu và xã ở các xứ; đặt ra chánh lệnh trưởng và tá lệnh trưởng, bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch; lập sổ hộ khẩu, kê rõ tên quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi.  Chính sự cốt khoan hoà giản dị. Nhân dân đều được yên vui.  Khi đó, nhà Lương dùng tiết độ sứ Quảng châu là Lưu Ân kiêm chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và phong tước Nam bình vương. Lưu Ân giữ thành Phiên Nhung. Khúc Hạo giữ Giao châu. Hai bên chực thôn tính lẫn nhau” (1).

Về mặt hành chính. Khúc Hạo chia cả nước thành các lộ phủ, châu, giáp và xã, mỗi xã có một người chánh lệnh trưởng và một người tá lệnh trưởng. Một số xã gần nhau trước gọi là hương nay đôi là giáp , mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc thu thuế.
 
Theo An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt 150 giáp, cộng với những giáp có trước cả thảy gồm 314 giáp. Chính quyền tự chủ ngay từ khi mới thành lập đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến việt tổ chức bộ máy cơ sở cấp giáp và xã, những đơn vị hành chính cấp cơ sở xây dựng trên cơ sở kinh tế - xã hội vốn có của công xã nông thôn và nhằm quản lý công xã đó.
 
So với con số 159 hương đời Đường, thì con số 314 giáp của chính quyền họ Khúc chứng tỏ một bước mở rộng và củng cố đáng kể của chính quyền độc lập vừa mới giành lại được.
 
Về mặt Tô thuế, Khúc Hạo sửa lại chế độ điền Tô, thuế má và lực dịch. ông chủ trương “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi”.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân, Khúc Hạo tha bỏ lực dịch, quân bình thuế ruộng.  Điều này vừa có ý nghĩa xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với đất đai cả nước, vừa có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và đề cao tính ưu việt của một nhà nước tự chủ. Bấy giờ, toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu công xã, chưa có sở hữu tư nhân về ruộng đất.
 
Họ Khúc thực hiện chính sách tha bỏ lực dịch, bình quân thuế ruộng là vừa giám nhẹ mức độ bóc lột đối với nhân dân, vừa xoá bỏ mâu thuẫn phi lý do chính quyền đô hộ gây ra. Bằng cách đó, họ Khúc đã khôi phục lại vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức bóc lột phù hợp với kết cấu kinh tế - xã hội thực sự của nhà nước ta lúc bấy giờ, tạo nên sự dung hợp thoả đáng giữa nhà nước và công xã, tức giữa Nước và Làng, Làng và Nước.


(1).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.218.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 08:30:14 AM
Những cải cách của họ Khúc bao gồm những nội dung lớn:

• Bỏ lực dịch tức là xoá bỏ chế độ bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ, nhất là thời thuộc Đường.

• Nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước là thuế ruộng đánh đồng đều theo hộ khẩu chứ không phải căn cứ vào diện tích ruộng đất.

• Ở cấp xã, giáp trưởng là những người quản lý hộ khẩu và cũng là người chịu trách nhiệm thu thuế nộp cho cấp trên.  Đối với nhà nước, thuế ruộng tính theo hộ khẩu nhưng đơn vị thu là xã.

Chính sách cải cách nổi tiếng của Khúc Hạo là cơ sở để nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và công xã thời đó.  Chính sách Tô thuế lúc đó chỉ có thể hiểu và giải thích được khi ta hiểu rõ tổ chức hương - giáp - xã trên nền tảng công xã nông thôn.

Lúc bấy giờ công xã nông thôn còn tồn tại phổ biến và giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội.  Những công xã đó có những đặc điểm riêng của Việt Nam, nhưng cũng mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của hình thái á châu mà đặc điểm quan trọng nhất là trong thời kỳ đầu, toàn bộ ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu của công xã, chưa có sở hữu tư nhân về ruộng đất.

Đường lồl chính trị chung của Khúc Hạo thừa kế từ người cha Khúc Thừa Dụ được tóm tắt ngắn gọn song rất rõ ràng rằng “chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị. Nhân dân đều được yên vui” (1).  KHOAN - GIẢN - AN - LẠC là chiến lược chính trị của thời tự chủ Việt Nam thuở đó.
 
Khoan dung, tức là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với dân, chống bọn tham quan ô lại, một tệ nạn lớn của thời Bắc thuộc.

Giản di, là không làm phiền hà, nhiễu dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu. . .

An lạc (yên vui), “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi làng xóm.

Đường lối đó của Khúc Hạo phản ánh quan hệ dân chủ bên trong công xã và quan hệ còn mang ít nhiều chất dân chủ giữa nhà nước với công xã nông thôn.

Tóm lại, đường lối chính trị của Khúc Hạo là một đường lối chính trị thân dân. Nó chứng tỏ bất cứ một phong trào dân tộc chân chính nào cũng phải có một nội dung dân chủ nào đó. Trong khi phải tập hợp mọi lực lượng yêu nước để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chính sách của họ Khúc đã phát huy được nhiều tác dụng lớn.

Từ một mô hình của chính quyền đô hộ, nhằm khắc phục tính phân tán của quyền lực thủ lĩnh địa phương, Khúc Hạo đã có những cố gắng đầu tiên hết sức lớn lao nhằm xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương cho đến cơ sở làng xã.

Vì nhu cầu chống ngoại xâm các hào trưởng địa phương phải phục tùng chính quyền trung ương nhưng vẫn có xu hướng cát cứ và họ Khúc cũng như nhiều triều đại độc lập tiếp theo, vẫn phải dựa vào họ để củng cố chính quyền ở các cơ sở .Xu hướng của lịch sử Việt Nam, mở đầu từ cuộc cải cách của Khúc Hạo, là độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia.

Công cuộc xây dựng nền tự chủ, thống nhất của họ Khúc mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam mà các triều đại sau đó sẽ hoàn thành. Những việc làm của Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo thể hiện rõ tinh thần tự chủ của nhân dân ta, cũng biểu lộ quyết tâm lớn thoát khỏi hẳn ách thống trị của chính quyền ngoại tộc.

Công cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta đến đây đã giành được thắng lợi căn bản. Đánh giá về công lao của họ Khúc, sử thần Lê Tung đầu thế kỷ XVI nhận xét: “Khúc tiên chúa (Thừa Dụ) mấy đời là hào tộc, mạnh sáng trí lược, nhân nhà Đường mất, lòng người yêu mến, suy Tôn làm chúa, dựng đô La Thành, dân yên nước trị, công đức truyền mãi, nhưng hưởng tuổi không dài. Khúc trung chúa (Thừa Hạo) nối cơ nghiệp trước, khoan hòa có phong thái của ông nội, trù hoạch quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi các nước Bắc triều, là bậc chúa hiền của nước Việt” (2).

Bộ mặt chính trị - xã hội nước ta từ thế kỷ X đã đổi mới.  Những công việc của Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo có tầm quan trọng đáng kể đối với nhân dân và đất nước ta đương thời. Nó tăng thêm lòng tin của nhân dân ta vào tương lai độc lập và do đó nâng cao quyết tâm bảo vệ đất nước khi có nạn ngoại xâm.

(1).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1,tr218.  
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr 121.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 08:51:14 AM

II. CUỘC CHIẾN CHỐNG NAM HÁN LẦN THỨ NHẤT(930 - 931).
DƯƠNG ĐÌNH NGHỆ KHÔI PHỤC QUYỀN TỰ CHỦ (931 - 937).

1. Nhà Nam Hán và âm mưu xâm lược nước ta.

 Năm 905, nhà Đường công nhận Lưu An là tiết độ sứ và năm 907 gia phong làm kiểm hiệu thái úy kiêm thị trung.  Sau khi nhà Đường sụp đổ (năm 908) nhà Hậu Lương phong cho Lưu Ân làm tiết độ sứ Quảng châu, kiêm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, An Nam đô hộ, tước Nam bình vương với ý định buộc Giao châu phụ thuộc vào chính quyền của Lưu Ân ở Quảng châu. Lưu Ân cát cứ ở Quảng châu, đóng phủ trị ở Phiên Nhung (cảng thị Quảng châu).

Năm 911, Lưu Ân chết em là Lưu Cung lên thay (1).  Tháng 9-917, Lưu Cung cát cứ ở Quảng châu, tự xưng là hoàng đế.  Năm 918, Lưu Cung đổi niên hiệu là Hán, tức Nam Hán, một trong mười nước cát cứ thời Ngũ đại - Thập quốc (2).
 
Như vậy, Nam Hán là một tiểu triều đình Trung Quốc cát cứ ở phía nam (Quảng châu). Lưu Cung vốn là tướng của nhà Hậu Lương đã được phong tước Nam Hải vương, đã từng cầm quân dẹp Lưu Xương Lỗ, cướp lại Cao châu, đánh tan Lưu Quang Trù lấy lại Kiến châu và Thiều châu, bắt sống Lưu Sĩ Chính lấy lại Quế châu, đuổi Bàng Cơ Chiến giành lấy Dụng châu, giết Diệp Quảng Lược bao chiếm Ung châu. . .  quân Lưu Cung tiến đến đâu thắng đến đó.

Với việc lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Hán, Lưu Cung có ý thức coi nước Hán của mình (thế kỷ X) là kế tục đế thống nước Hán của Lưu Bang (TCN) thay thế Đại Tần. Từ tư tưởng Đại Hán đó, Lưu Cung chủ trương tiến quân lên phía tây chiếm đất Thục, tiến về đông bắc, ra tận biển, tiến xuống phía nam, xâm lược lại Giao châu, Chiêm Thành và các nước lân cận.

Theo sử cũ ghi chép thì Lưu Cung thường muốn lôi cuốn quân sĩ vào các cuộc chiến tranh chinh phục, y chủ trương tung nhiều của cải để hậu đãi mua chuộc các danh tướng.  Chẳng hạn, trường hợp Triệu Quang Dận là tướng cũ của nhà Đường thường phàn nàn việc phải sang làm tướng cho Nam Hán là việc nhục, bị hạ thấp danh dự. Biết tâm trạng đó, Lưu Cung sai người đem xe ngựa về tận Lạc Dương đón hai con trai của Dận về Quảng châu, cấp nuôi với một chế độ bổng lộc rất hậu. Quang Dận vì thế cảm động đã thề với Lưu Cung rằng: “Xin đem hết sức lập công ở cõi ngoài, để đền đáp ân huệ”.

Đối với vùng Nam Hải, Lưu Cung từng trấn trị lâu ngày, khi lên ngôi y càng tìm cách vơ vét nhiều hơn ngọc trai, châu báu. Sử chép: “Lưu Nghiễm (tức Lưu Cung) sống quá xa xỉ, châu ngọc lấy từ Nam Hải về chứa chất đầy nhà, trang sức cung điện động lẫy; khách khứa, thương nhân đến hầu cống, Lưu Nghiễm thường mang châu báu ra khoe” (3).
 
Đối với phía tây, Lưu Cung chủ trương chiếm đất Kiềm, đất Thục, mở rộng thêm mấy ngàn dặm trong quá trình bành trướng thế lực để chiếm đất và vơ vét ngọc ngà châu báu; dùng của cải hoặc hôn nhân để tranh thủ thế lực các hào trưởng địa phương. Như Lưu Cung gả công chúa, con gái người anh họ cho Trịnh Mân - chúa vùng Vân Nam. Trịnh Mân đã thần phục Nam Hán và sai sứ tặng Lưu Nghiễm một con ngựa trắng có bờm đỏ.

Đối với phương Bắc, Nam Hán thường đặt quân đội để ngầm do thám thế lực vùng Trung Nguyên. Hà Từ lấy danh nghĩa là thống sứ với Đường Trang Tông thực chất là tâm phúc của Lưu Cung, đã báo về rằng: “thế lực nhà Hậu Đường chẳng có gì đáng sợ”. Vì thế Nam Hán đã quyết tám cất quân đánh Giao châu.


(1).  Sử sách nước ta gọi là Lưu Cung hoặc Lưu Nham; sử Trung Quốc còn gọi là Lưu Nghiễm, sau đổi là Lưu Yểm. Trong thời kỳ cầm quyền, vua Nam Hán có sáu lần đổi tên.
(2).   Sử Trung Quốc gọi là Nam Hán để phân biệt với nhà Hậu Hán thành lập năm 947 ở triều đình trung ương và nhà Bắc Hán thành lập ở Sơn Tây, Thái Nguyên.  
(3).  Tân ngũ đại sử, q.65, chế gia 5.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 09:04:51 AM

Đối với phương Nam, Lưu Cung thèm khát đã lâu, nhưng y biết không dễ gì bắt Giao châu thần phục ngay được. Một phần do người Giao châu ngoan cường, quả cảm; một phần do tình hình Trung Quốc đầu thế kỷ X rất phức tạp. Khi mới lập quốc Nam Hán còn phải lo đánh chiếm các khu vực chung quanh.

Trước khi lập quốc, họ Lưu đã đánh bại được các trại ở Giang Đông, giết bọn Xương Lỗ, đổi đặt thứ sử mới, đem binh đánh bại họ Lư, chiếm được Triều châu, Thiều châu; về phía tây, họ Lưu chiếm được Ung Quản (Nam Ninh) tranh đất Dùng, Quế với Sở vương Mã Ân. Nhờ khai thác được nhiều ngọc trai và phát triển buôn bán với miền nội địa Trung Quốc, lại giao hảo với Nam Chiếu ở Vân Nam, họ Lưu tích luỹ được nhiều của cải, Nam Hán trở nên cường thịnh và có xu hướng bành trướng.

Năm 928, Nam Hán định đánh Giao châu, nhưng lại bị Sở đưa quân vây chiếm đất Hạ Giang. Mấy trận đầu Nam Hán thua Sở. nhưng sau đó nhờ chiến thuật thủy trận tài tình của đại tướng Tô Chương, Nam Hán mới thắng quân Sở.  Lúc đó, Lưu Cung sai Tô Chương đem 3.000 quân bắn nỏ giỏi lập mưu mai phục ở hai bên bờ sông và dùng dây xích sắt thả lửng giữa sông đánh bại được cuộc tiến công của nước Sở ở Giang Hạ thuộc Phong châu, bảo vệ an toàn vùng biển giới phía bắc.

Khi đã có thế lực mạnh, lại tạm yên được mặt bắc, Lưu Cung bắt đầu thực hiện âm mưu bành trướng xuống phía nam, mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là miền đất nước ta. Nhưng lúc đó họ Khúc đang vươn lên mạnh mẽ khẳng định quyền làm chủ đất nước, thế lực ngày một mạnh,  nên đã là một trở lực đối với mưu đồ xâm lược phương Nam của Nam Hán.

 Khúc Thừa Mỹ nối nghiệp cha (Khúc Hạo) làm tiết độ sứ  khoảng năm 917 - 918. Ngay từ khi còn sống, Khúc Hảo đã rất cảnh giác mặt bắc, đã cho Khúc Thừa Mỹ sang Nam Hán để “kết mối hòa hảo” làm “khuyến hiếu sứ” nhưng thực chất “là mượn tiếng hòa hảo để dò xét tình hình hư thực” (1).  

Từ khi sang sứ ở Quảng châu về thay cha trị nước, Khúc Thừa Mỹ đã thấy thế lực họ Lưu mạnh mẽ, có thể uy hiếp nước ta.  Khúc Thừa Mỹ chưa đủ tự tin vào sức mạnh dân tộc, đã sai sứ sang nạp cống cho triều đình Hậu Lương, “xin lĩnh tiết việt”, định nhờ cậy uy thế của triều đình Trường An để chế ngự triều đình Nam Hán mà ông vẫn gọi là “ngụy đình”.  Khúc Thừa Mỹ cũng muốn dựa vào nhà Hậu Lương để tăng thêm uy tín đối với thổ hào trong nước, chuẩn bị lực lượng chống quân Nam Hán.

Qua 25 năm khôi phục quyền tự chủ, họ Khúc vẫn chưa có điều kiện đưa nước ta, từ một miền đất “xơ xác” do nạn Bắc thuộc kéo dài trở thành một quốc gia tự chủ mạnh; quyền kiểm soát chính trị và huy động lực lượng quân sự trong cả nước cua Khúc Thừa Mỹ còn nhiều hạn chế do uy tín và tài năng của ông không đủ cao và uy thế của các hào trưởng địa phương còn lớn.

Do đó, âm mưu xâm lược phương Nam của nhà Nam Hán lúc ấy quả là một mối đe dọa lớn đối với nước ta, một đất nước khi mà nền độc lập vừa mới giành lại chưa được củng cố vững chắc. Nguy cơ bị ngoại bang thống trị vẫn treo lơ lửng trên đầu.

2. Cuộc chiến chống xâm lược Nam Hán (930 - 931).

Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ (931 - 937) Năm 930, vua Nam Hán nhân cớ Khúc Thừa Mỹ thần phục nhà Hậu Lương và có ý chống lại Nam Hán, đã sai các tướng Lý Thủ Dung và Lương Khắc Trinh đem quân sang đánh Giao châu.

Vốn thiếu tự tin ở sức mạnh dân tộc, lại không lo chuẩn bị cuộc kháng chiến, không đoàn kết được toàn dân để đánh giặc giữ nước, Khúc Thừa Mỹ đã không đứng vững trước cuộc tiến công ồ ạt của quân xâm lược Nam Hán. Nước ta lại bị xâm chiếm. Khúc Thừa Mỹ bị bắt đưa về Quảng châu.

Cuộc kháng chiến bị thất bại nhanh chóng. Theo sách An Nam kỷ yếu trước kia Lưu Cung nghe nói Thừa Mỹ đã nhận “tiết việt” của nhà Lương, giận lắm, sai tướng giỏi là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Thừa Mỹ đưa về (2).

 
(1).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1,tr42.  
(2). Dẫn theo Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t,1 tr220.    


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 09:07:47 AM
Quân Nam Hán sau khi chiếm được Giao châu đã ra sức đàn áp, cướp bóc của cải của nhân dân ta. Lương Khắc Trinh còn đem quân tiến vào Hoan châu, Ái châu, vượt qua dãy Hoành Sơn tiến công Chăm pa cướp nhiều báu vật đưa về.
 
Vua Nam Hán cử Lý Tiến làm tiết độ sứ Giao châu cùng Lương Khắc Trinh giữ thành Đại La (1).   Nhưng quân Nam Hán chỉ có thể đánh thắng được thế lực của Khúc Thừa Mỹ chứ không thể đánh thắng được ý chí quật cường của nhân dân ta và càng không thể thiết lập được nền thống trị của chúng.
 
Căm phẫn quân cướp nước tàn bạo, nhân dân khắp nơi nhất tề nổi dậy chống xâm lược. Chính quyền địch trong thực tế chỉ chiếm được phủ thành Đại La và kiểm soát được một số vùng chung quanh, vì thế chúng càng ngày càng bị cô lập.
 
Cái chính quyền đô hộ mà Nam Hán vội vã dựng lại ở Đại La chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Lưu Cung phải thừa nhận: “Dân Giao Chỉ hay làm loạn, chỉ có thể ràng buộc (kimi) mà thôi” (2).   

Ở các địa phương, các tướng lĩnh cũ của họ Khúc, các hào trưởng vẫn duy trì lực lượng riêng và nắm quyền quản lý từng vùng rộng lớn như họ Ngô ở Đường Lâm ba Vì, Sơn Tây), họ Kiều ở Phong châu (vùng Ba Vì và Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc), họ Đinh ở Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình), họ Lê ở giáp Bối Lý (Thiệu Yên, Thanh Hóa), họ Lý ở hương Cổ Pháp (Đình Bảng Tiên Sơn, Bắc Ninh)... và đặc biệt là họ Dương ở Dương Xá (Thiệu Hoá, Thanh Hóa).

Tương truyền rằng ông tổ họ Dương là Đô Dương (có nghĩa là đô vật họ Dương) người lão tướng anh hùng của quân đội Trưng Vương, đã cùng Chu Bá kiên cường chiến đấu chống quân xâm lược Mã Viện cho đến những ngày cuối cùng trên đất Cửu Chân. Trải qua nhiều đời sinh cơ lập nghiệp trên vùng đất trù phú có đường giao thông thủy rất  thuận tiện và là trung tâm kinh tế, chính trị, quán sự của vùng Ái châu, họ Dương trở thành một thế lực hùng mạnh trong vùng, thóc lúa, tiền của đầy kho.

Ở lò võ làng Ràng (Dương Xá, Thiệu Hóa,Thanh Hóa) đã hình thành một trung tâm kháng chiến khá mạnh, đứng đầu là hào trưởng Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của họ Khúc.  Ông công khai nuôi dưỡng 3.000 con nuôi, (nghĩa tử) trong nhà, ngày đêm luyện tập, chuẩn bị tiến ra Giao châu tiêu diệt quân xâm lược.

Dinh cơ của họ Dương trở thành nơi “tụ nghĩa” của hào kiệt khắp nơi trong nước ta. Con Ngô Mân, thứ sử Phong châu là Ngô Quyền từ Phong châu, Đinh Công Trứ từ Trường châu (Ninh Bình) . . . đều đưa gia thuộc vào làng Ràng tụ nghĩa.
 
Dương Đình Nghệ cử Đinh Công Trứ trấn trị Hoan châu, giữ Ngô Quyền làm gia tướng dưới trướng doanh, gả con gái cho, sai chỉ huy đội quân chủ lực.  Dương Đình Nghệ ráo riết chuẩn bị lực lượng, mộ thêm quân, xây thành lũy ở nơi mình đóng.

Sử chép, Đình Nghệ có chí khôi phục Giao châu, có nuôi ba ngàn tráng sĩ làm nha binh.  Lý Tiến được nhiều lần báo tin đó, song sợ, không dám làm gì, chỉ cho người cấp báo với Lưu Cung. Để lấy lòng Dương Đình Nghệ, chúa Nam Hán còn phải “trao tước vị” và cho ông giữ Ái châu.

Nhưng Dương Đình Nghệ và các hào kiệt nước Nam đâu có thèm công nhận cái uy quyền của vua Nam Hán. Sau một thời gian chuẩn bị lực lượng tháng 3-931 - không đầy nửa năm sau cuộc xâm lược của Nam Hán - từ Ái châu, Dương Đình Nghệ đã cử binh tiến ra Giao châu, bao vây và tiến công thành Đại La, dinh lũy chiếm đóng của giặc Nam Hán.

Lý Tiến chống không nổi, cho người về Quảng châu cáo cấp.  Vua Nam Hán vội vàng cử thừa chỉ Trình Bảo (Trần Bảo) đem quân sang cứu viện. Nhưng quân tiếp viện chưa đến nơi thì thành Giao châu đã bị Dương Đình Nghệ chiếm, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết, thứ sử Lý Tiến cùng tàn quân thoát vây chạy trốn.

Quân cứu viện vừa đến, định tổ chức bao vây lại quân ta, nhưng Dương Đình Nghệ đã nhanh chóng bố trí lực lượng phòng vệ, biến Đại La thành pháo đài kiên cố và chủ động dẫn quân ra ngoài thành để chiến đấu, chặn giặc. Quân Nam Hán bị đánh tan, Trần Bảo bị giết tại trận. Lý Tiến bỏ trốn về Nam Hán, bị Lưu Cung sai bắt giết. 

Đất nước ta lại được giải phóng. Ngọn cờ tự chủ chuyển từ tay họ Khúc qua tay họ Dương. Dương Đình Nghệ xứng danh là một vị anh hùng dân tộc.


(1).   Các sách Trung Quốc như Ngũ đại tân sử, Nam Hán thế gia.
(2).   Ngũ đại sử ký, q.65 (Nam Hán thế gia); An Nam chí nguyên, q . 3 .


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 09:28:44 AM
Về chiến công của Dương Đình Nghệ, sử cũ của ta chép vắn tắt rằng: “theo sách An Nam kỷ yếu chúa Nam Hán sau khi bắt được Thừa Mỹ, sai Lý Tiến sang làm thứ sử cùng với Khắc Chính đóng giữ Giao châu.  Dương Đình Nghệ lấy tư cách là tướng cũ của Khúc Hạo, tập họp quân sĩ đánh bại Khắc Chính. Khắc Chính phải chạy về Nam Hán. Chúa Nam Hán ý muốn chiêu dụ, tạm phong tước vị cho Diên Nghệ. Chúa Nam Hán bảo những kẻ tả hữu mình rằng: Dân Giao châu thích nổi loạn, ta chỉ có thể kimi (ràng buộc) được thôi” (1).

Cuộc kháng chiến của Dương Đình Nghệ hoàn toàn thắng lợi. âm mưu xâm chiếm nước ta, đặt ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa đã bị đập tan. Chiến thắng của Dương Đình Nghệ chứng tỏ ý chí độc lập của nhân dân ta đang trưởng thành, kiên quyết bảo vệ những thành quả đấu tranh bao đời nay, kiên quyết bảo vệ mảnh đất thân yêu của mình.  Chiến thắng của Dương Đình Nghệ càng củng cố thành quả độc lập dân tộc, mở màn cho hàng loạt cuộc kháng chiến kiên cường, đầy sáng tạo của dân tộc ta trong những thế kỷ tiếp theo.

Sau khi đánh tan giặc Nam Hán, Dương Đình Nghệ vẫn tự xưng là tiết độ sứ để giữ quan hệ hòa hiếu với phong kiến phương Bắc. Ông tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, lo củng cố chính quyền vừa giành lại được, tổ chức lại công cuộc cai trị đất nước, phát triển lực lượng dân tộc. Dương Đình Nghệ đã dùng một số người thân tín có tiếng tăm như Đinh Công Trứ (bố Đinh Bộ Lĩnh) làm thứ sử Hoan châu, kết tình thông gia và cho Ngô Mân (bố Ngô Quyền) làm thứ sử ái châu. Chính quyền tự chủ non trẻ đã vượt qua một thử thách nguy hiểm.  Nhân dân ta, đất nước ta sau hơn chục thế kỷ bị đè nén kìm kẹp, giờ đây đang có điều kiện vươn lên làm chủ vận mệnh của mình.

Như vậy, cũng như họ Khúc, họ Dương còn giữ chức tiết độ sứ, có nghĩa là chưa công khai tuyên bố nền độc lập, cố giữ thái độ hoà hoãn với đối phương để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng độc lập của đất nước. Quyền tự chủ của nước ta do Dương Đình Nghệ khôi phục tồn tại được bảy năm (931-937), từ khi đánh tan quân xâm lược Nam Hán đến khi Dương Đình Nghệ bị tên phản bội Kiều Công Tiễn giết chết. 


III- CUỘC CHIẾN TRANH CHỐNG NAM HÁN LẦN THỨ  HAI.
NGÔ QUYỀN VÀ CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG LỊCH SỬ (938)

1. Sự phản bội của Kiều Công Tiễn và âm mưu mới của nhà Nam Hán.

 Năm 937, hào trưởng Phong châu là Kiều Công Tiễn, vốn là nha tướng của Dương Đình Nghệ, đã giết chết Dương Đình Nghệ để đoạt chức tiết độ sứ.

Những thế lực hào trưởng địa phương chủ nghĩa, đã đóng một vai trò tích cực trong công cuộc giữ đất, giữ dân, đuổi đánh bọn đô hộ, nhưng khi đất nước vừa sạch bóng quân thù thì họ lại lao vào các cuộc đấu đá tranh giành quyền lực, phá hoại công cuộc thống nhất quốc gia, gây nguy hại cho nền độc lập tự chủ vừa mới giành được.

Giặc Nam Hán còn đang ngấp nghé ngoài bờ cõi, chưa chịu từ bỏ dã târn xâm lược bành trướng, nên sự phản bội của Kiều Công Tiễn càng làm tổn hại đến sức mạnh dân tộc.
 
Chủ nghĩa địa phương (Regionalism) là một trở lực lớn trên hành trình giành quyền tự chủ của ta trong suốt thời Bắc thuộc. Hành động phản trắc của Kiều Công Tiễn, giết người chủ tướng có công đánh đuổi quân Nam Hán, đã gây nên sự phẫn nộ trong các tầng lớp quân dân.
 
Từ Ái châu, Ngô Quyền là tướng và là con rể của Dương Đình Nghệ, sửa soạn tiến quân ra bắc diệt trừ tên phản bội. Kẻ phản chủ nhanh chóng trở thành tên phản quốc. Trước sự căm ghét và phản kháng của nhân dân trong nước, Kiều Công Tiễn tự thấy thế cô lực yếu, đã đê hèn cho người sang cầu cứu vua Nam Hán. Đấy là dịp tốt để Nam Hán thực hiện âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa.

Lợi dụng thời cơ đó, nhà Nam Hán lại phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, lần này nguy hiểm hơn lần trước vì chúng hy vọng dùng được bọn phản bội Kiều Công Tiễn như một lực lượng nội ứng. Vì đã một lần thất bại, mà tham vọng càng lớn hơn, Nam Hán cố dồn hết sức xâm chiếm nước ta cho kỳ được.
Chúa Nam Hán hội họp triều thần bàn mưu tính kế.  Trước tác tá lang hầu là Dung khuyên Lưu Cung nên thôi binh để cho dân nghỉ ngơi. Sùng văn hầu Tiêu Ích, viên quan cao cấp của nhà Nam Hán, kẻ theo dõi chặt chẽ và rất am hiểu tình hình nước ta lúc đó, đã khuyên vua Nam Hán:


(1).  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1,tr220.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 09:59:16 AM

“Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm. Ngô Quyền lại là người kiệt hiện, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên cẩn trọng, chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến” (1).  

Lời bàn của Tiêu ích tỏ ra thận trọng nhưng lại hoàn toàn trái ý Lưu Cung, bởi vì bấy giờ vua Nam Hán đang say sưa ôm mộng chiếm nước ta một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Sử chép: “Lưu Cung không nghe, sai Hoằng Tháo, đem thuyền chiến kéo thẳng sang Giao châu. . . Phong Hoằng Tháo làm Giao vương, xuất quân đến sông Bạch Đằng để đánh Ngô Quyền” (2).   

Vua Nam Hán cho rằng đây là cơ hội đặc biệt thuận lợi mà Nam Hán có được để thực hiện ý đồ xâm lược. Vấn đề mà Lưu Cung cần đưa ra bàn định trong triều là bằng cách nào để có thể chiếm dược Giao châu nhanh gọn nhất. Do đó, bất chấp sự can gián của Tiêu Ích và một số triều thần, Lưu Cung đã tự mình đề ra một kế hoạch nhằm thực hiện nhanh chóng cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Rút kinh nghiệm của lần thất bại trước đây, lần này vua Nam Hán quyết định sử dụng một lực lượng binh thuyền lớn, giao cho con là Vạn vương Hoằng Tháo (3).  làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ thống lĩnh quân đội đánh chiếm nước ta. Lưu Cung còn đổi Vạn vương thành Giao vương với ý đồ sau khi cướp được Giao châu thì lấy đó làm nơi phong cấp cho Hoàng Thạo. Vua Nam Hán cũng tự mình làm tướng đem hậu quân tiến đến đóng ở trấn Hải Môn (phía tây nam huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây), sát biên giới nước ta, làm kế thanh viện, kịp thời yểm trợ cho con khi cần thiết và chờ dịp kéo vào nước ta.

Cả hai cha con vua Nam Hán lao vào cuộc chiến tranh xâm lược với quyết tâm cướp lại nước ta, đánh bại chính quyền tự chủ họ Khúc, họ Dương vừa mới xây dựng, xoá bỏ thành quả đấu tranh mà nhân dân ta phải trả bằng bao nhiêu xương máu mới giành lại được.

Cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn và mang đầy tham vọng này của nhà Nam Hán được che đậy dưới chiêu bài “cứu giúp” Kiều Công Tiễn (?).
 
Quân đội Nam Hán là quân đội đã dày dạn trong hỗn chiến ở vùng Hoa Nam và trong cuộc chiến tranh đàn áp các phong trào chống đối của các “Man trại” ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây.
 
Từ khi lên ngôi hoàng đế, Lưu Cung càng lo củng cố và tăng cường quân đội của mình để chờ dịp bành trướng xuống phía nam. Lực lượng mà Lưu Cung điều động tiến đánh nước ta lần này chủ yếu là thủy quân đã kinh qua chiến trận, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Chỉ huy đoàn quân xâm lược, ngoài Hoàng Thạo vừa là con Lưu Cung, vừa là tướng lĩnh cao cấp, còn có những viên tướng đã từng trải trận mạc và am hiểu tình hình Giao châu.

Thủ đô Quảng châu của nhà Nam Hán là vị trí trọng yếu trên con đường biển qua lại thông thương quan trọng nhất giữa nước ta với Trung Quốc. Hải cảng Quảng châu đã từng là căn cứ xuất phát của những đoàn quân xâm lược từ phương Bắc tiến vào nước ta.

Trải qua hơn 1.000 năm xâm lược và thống trị bọn phong kiến phương Bắc hiểu rõ lợi hại của con đường có ý nghĩa chiến lược này. Chúng biết địa thế nước ta có bờ biển dài, sông ngòi chằng chịt, theo đường thủy có thể đi ngang dọc khắp nơi. Hơn thế, những trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa của ta thường nằm sát các con sông lớn.

Vùng Quảng Đông (Trung Quốc) lại là nơi sản xuất các loại thuyền nổi tiếng chắc chắn và có hiệu quả chiến đấu.  Dân vùng Quảng Đông là cơ dân rất thạo nghề sông nước, giỏi chèo thuyền. Chính vì thế, đạo quân xâm lược của Nam Hán có ưu thế lớn về thủy chiến.

Hoàng Thạo vừa được sự tiếp ứng của Lưu Cung ở phía sau, vừa có lực lượng nội ứng của bọn phản bội Kiều Công Tiễn ở ngay trong nước ta. Lúc đó, Kiều Công Tiễn đang cố gắng cố thủ ở thành Đại La để chờ quân cứu viện nhà Nam Hán chống lại quân kháng chiến. Đất nước ta đang đứng trước một thử thách gay go: nền tự chủ vừa mới được khôi phục đã bị đe dọa bởi cả thù trong và giặc ngoài.


(1).   Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 203.
(2).   Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr .222.
(3).   Về tên Hoằng Tháo, nhiều sách chép không thống nhất: Có sách chép là Hoàng Thạo hoặc Hồng Thạo (Ngũ đại sử ký), hoặc Hoằng Tháo (Việt sử lược). Chúng Tôi tạm dùng tên Hoàng Thạo theo Ngũ đại sử ký.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 10:06:25 AM

2. Ngô quyền chuẩn bị kháng chiến

Trước yêu cầu của lịch sử, Ngô Quyền, người đại diện chính của dân tộc ta lúc đó, đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết mọi lực lượng kháng chiến, trung tâm quy tụ mọi nguồn sức mạnh của đất nước.
 
Từ Ái châu, Ngô Quyền đã chủ động giường cao ngọn cờ chính nghĩa, lãnh đạo quân dân ta kiên quyết tiến hành kháng chiến cứu nước. Hành động đê hèn của Kiều Công Tiễn càng làm cho nhân dân cả nước căm giận và kiên quyết ủng hộ Ngô Quyền chuẩn bị cuộc kháng chiến.

Ngô Quyền (898-944) người làng Đường Lâm (xã Đường Lâm, huyện Ba Vì (Hà Tây), sinh ra và lớn lên trong một gia đình và vùng quê có truyền thống yêu nước chống phong kiến phương Bắc xâm lược. Đường Lâm là quê hương của Phùng Hưng và làng Nam Nguyễn ở gần đó là quê bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng. Tương truyền ông tổ xa đời của Ngô Quyền là Ngô Xuân, người đã làm quan từ thời Lý Nam Đế từng chiêu mộ hàng trăm thủ hạ theo Triệu Quang Phục tiến hành kháng chiến thống Lương. Cha Ngô Quyền là Ngô Mân là một hào trưởng địa phương từng làm châu mục Đường Lâm: thứ sử Phong châu và được Dương Đình Nghệ cử làm thứ sử Ái châu.

Ngô Quyền sinh năm Mậu Ngọ (898) . Ngay từ nhỏ ông tỏ ra là một người trí dũng, có chí lớn. Sử cũ miêu tả ông: “Khi vua mới sinh, có ánh sáng là đầy nhà, trạng mạo khác thường, có ba nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo rằng sau này có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Đến khi lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc” (1).  
 
Ở làng Cam Lâm hiện nay vẫn lưu giữ nhiều di tích và truyền thuyết về tuổi trẻ của ông. Từ sớm ông được cha dạy bảo các thuật bắn cung nỏ và sử dụng gươm giáo. Với lòng nồng nàn yêu nước và căm thù quân xâm lược, ông mong muốn có ngày ởtợc đánh giặc lập công.

Lớn lên trong lúc đất nước vừa mới giành được quyền tự chủ, Ngô Quyền tiếp nối ý chí cha ông, đứng ra tập hợp lực lượng, dần dần có thế lực lớn ở vùng Đường Lâm và ngày càng nổi lên như một hào trưởng hùng mạnh ở Giao châu, khiến cho Dương Đình Nghệ ở Ái châu cũng sớm biết tiếng.

Lúc đó, Dương Đình Nghệ đang dốc lòng chuẩn bị lực lượng khôi phục đất nước, cần phải tập hợp những hào trưởng có thế lực. Ngô Quyền đã nhận lời mời về làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ và Dương Đình Nghệ đã gửi gắm nhiều hy vọng ở người hào trưởng trẻ tuổi đất Đường Lâm. Dương Đình Nghệ đã cử Ngô Mân trấn giữ Ái châu và gả con gái yêu cho Ngô Quyền.

Cuối năm 931, Dương Đình Nghệ dùng Ngô Quyền làm tướng tiên phong tiến ra Giao châu đánh đuổi quân Nam Hán. Sau khi đánh tan giặc, Ngô Quyền được kế tục sự nghiệp của Ngô Mân coi giữ Ái châu.
 
Được Dương Đình Nghệ trọng dụng cho quản lãnh cả vùng Ái châu rộng lớn, Ngô Quyền đã tích cực chiêu mộ nhân dân phát triển sản xuất, giữ vững an ninh vùng quê hương họ Dương.
 
Trưởng thành trong những năm đất nước vươn lên mạnh mẽ khẳng định quyền tự chủ, kiên quyết giành và giữ nền độc lập dân tộc, Ngô Quyền sớm bộc lộ tài năng kiệt xuất và trở thành một vị tướng nổi tiếng được nhân dân kính mến, quân sĩ khâm phục. Tài năng, nghị lực bản thân và thực tiễn phong phú, sôi động của cuộc đấu tranh dân tộc đã rèn luyện Ngô Quyền thành một nhà quân sự dày dạn kinh nghiệm, một thủ lĩnh có uy tín và ảnh hưởng rộng lớn. Tài năng và uy tín của Ngô Quyền không chỉ lẫy lừng trong nước, mà ngay cả triều đình Nam Hán cũng phải thừa nhận là “người kiệt hiệt” không thể coi thường được.

Trước sự phản bội của Kiều Công Tiễn và nguy cơ xâm lược của nhà Nam Hán, Ngô Quyền là niềm hy vọng của toàn dân, trở thành người thủ lĩnh có đủ tài năng và uy tín đảm đương sứ mạng đoàn kết và lãnh đạo các lực lượng yêu nước, bảo vệ độc lập dân tộc.

Được tin quân Nam Hán chuẩn bị kéo sang xâm lược, Ngô Quyền thấy việc cần kíp trước hết là nhanh chóng phải diệt trừ bọn phản bội trong nước, đập tan lực lượng nội ứng cho giặc. ông đã tổ chức đạo quân từ ái châu tiến ra Giao châu để trị tội tên phản bội. Các tầng lớp nhân dân căm phẫn trước hành động phản phúc của Kiều Công Tiễn đã nhanh chóng theo và ủng hộ Ngô Quyền.


(1).   Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 204; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.221.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 10:19:22 AM
Sách Thiên Nam ngữ Lục đã diễn tả thực tế đó bằng những hình ảnh cụ thể và xúc động:

“Thôi bèn ra bảo ba quân,
áo thô khăn trắng khóc rân dậy trời.
Bây chừ thiên hạ gái trai,
Thương ngươi Đình Nghệ, khen ngươi Ngô Quyền.

Bảo nhau dắt trẻ, phù già,
Bỏ chưng Công Tiễn về nhà Ngô vương
Dưới cờ cả, bé khóc thương,
Nguyện xin trả nghĩa họ Dương cho tuyền.
Chúng tôi sức bé tài hèn,
Chồng nguyền quẩy vác, vợ nguyền đem cơm.
Giúp công quét sạch giang sơn,
Uyển thành chuyển thủ mới yên lòng hờn.

Nguyện thôi bèn lại ra quân,
Gái trai áo trắng đòi lần theo đi.
Xin thấy đầu Dương nghĩa nhi,
Thấy nào một phút sẽ về cùng con. . .”.


Trên thực tế, lúc bấy giờ lực lượng của Kiều Công Tiễn vẫn là một mối đe dọa lớn đối với vận mệnh đất nước. Ngoài đội quân riêng của một dòng họ đứng đầu Phong châu và các thế lực ủng hộ Kiều Công Tiễn trong mưu đồ tranh quyền đoạt ngôi trước đây, bọn phản bội còn có thêm thành Đại La kiên cố.

Tuy vậy, sau hơn một năm tập hợp, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, Ngô Quyền đã có một đội quân mạnh, khá đông đảo với nhiều tướng lĩnh vốn là những hào kiệt trung thành với Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền.

Lã Minh ở trang Liễu Chứ (nay là thôn Liễu Lâm, xã Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh) tìm đến gặp Ngô Quyền và xin cùng hội quân ở Bình Kiều (xã Hợp Lý, Triệu Sơn, Thanh Hóa). Sau đó, Lã Minh chỉ huy quân sĩ đánh quân của Kiều Công Tiễn ở vùng Siêu Loại (Thuận Thành).
 
Phạm Bạch Hổ (tên tự là Phạm Phòng Át) người xã Ngọc Đường (Kim Thi, Hưng Yên) đã sớm theo Ngô Quyền diệt thù cứu nước. Theo thần tích và truyền thuyết địa phương, ông sinh ngày 10 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (9-2-922). Phạm Bạch Hổ (hay Phạm Phòng Át) ở Ngọc Đương (có đền thờ ở xã Đằng châu, huyện Kim Động, Hưng Yên) là người nổi tiếng thông minh, học giỏi và có tài. Ngô Quyền mời ông đến và phong làm đó chỉ huy sứ tiền đạo tướng quân.

Đỗ Cảnh Thạc, một hào trưởng vùng Đỗ Động (vùng Thanh Oai - Quốc Oai, Hà Tây); Phạm Chiêm, người đứng đầu dòng họ Phạm ở vùng Nam Sánh, Hải Dương; Đinh Công Trứ ở Hoa Lư, thứ sử Hoan châu, Dương Tam Kha, con Dương Đình Nghệ, em vợ Ngô Quyền . . . đều đã đến với Ngô Quyền và tôn ông làm người chỉ huy tối cao.

Thần tích xã Bái Dương, tổng Bái Dương huyện Nam châu (Nam Ninh, Nam Định) cho biết Kiều Công Hãn ở Phong châu, là cháu của Kiều Công Tiễn nhưng phản đối hành động của Công Tiễn và sớm đến với Ngô Quyền, tình nguyện chiến đấu trong lực lượng dân tộc (1).
   
Như vậy, dưới trướng của Ngô Quyền đã có Ngô Xương Ngập., con của Ngô Quyền mới ngoài 20 tuổi; Dương Tam Kha, người đã kinh qua nhiều năm chiến đấu và xây dựng chính quyền tự chủ; Đỗ Cảnh Thạc, hào trưởng Đỗ Động; Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường, vị tướng trẻ mới 17 tuổi; Lã Minh ở Liễu Chứ thuận Thành, Bắc Ninh); Phạm Chiêm ở Nam Sách; Đinh Công Trứ ở Hoa Lư. . .

Trong số phụ nữ tham gia cuộc kháng chiến có tên tuổi Dương Phương Lan, người bạn đời của Ngô Quyền từ trước khi ông vào Thanh Hoá theo Dương Đình Nghệ và trở thành con rể họ Dương. Sự tích người phụ nữ anh hùng này được phản ánh trong Thiên Nam ngữ lục và trong thần tích đền Yên Nhân (Chương Mỹ, Hà Tây).

Nhiều thanh niên các làng xã hai bên sông Bạch Đằng hăng hái nhập ngũ hoặc tự vũ trang thành các đội dân binh tham gia chiến đấu. Đó là trường hợp ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (Thủy Nguyên, Hải Phòng), chàng trai họ Nguyễn ở Lâm Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), chàng trai họ Phạm ở Đằng Giang (An Hải, Hải Phòng).

Tương truyền rằng, Nguyễn Tất Tố là người giỏi bơi lội, thông thạo sông nước Bạch Đằng được Ngô Quyền tin cậy giao cho chỉ huy đội thuyền nhẹ làm nhiệm vụ khiêu chiến nhử đoàn thuyền địch vượt qua bài cọc khi nước triều lên cao và dẫn chúng vào trận địa mai phục đã bố trí sẵn.

Chàng trai họ Nguyễn ở Lâm Động là người đã giúp Ngô Quyền tìm hiểu những đặc điểm sông nước và thủy triều cửa sông Bạch Đằng, bố trí trận địa cọc và đã hy sinh anh dũng trong chiến đấu.
 

(1).  Theo các tư liệu sau đây:
- Bia sự tích Lã Minh ở xã Song Liễu, Thuận Thành, Bắc Ninh.  Thần tích Phạm Bạch Hô ở Đằng châu, Kim Đồng Hưng Yên và Đại Nam nhất thông chí, Hưng Yên địa chí.
- Thần tích và truyền thuyết Đỗ Cảnh Thạc ở Cự Đà, Thanh Oai, Hà Tây và Liệp Tuyết, Quốc Oai, Hà Tây.
- Việt điện u linh; Đại Việt sử ký bản kỷ của Nguyễn Nghiễm và Đại Nam nhất thông chí.
- Thần tích xã Bái Đường, Nam Ninh, Nam Định. 
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 10:59:55 AM
Tháng 10-938, Ngô Quyền tiến quân ra bao vây thành Đại La (1). Khí thế quân đội của Ngô Quyền quá rầm rộ khiến Kiều Công Tiễn hết sức khiếp sợ và không thể chống đỡ nổi.
 
Trước khi quân Nam Hán tiến vào, Kiều Công Tiễn đã bị bêu đầu ở ngoài cửa thành. Mối họa nội phản đã được trừ khử. Thành công này đã góp phần tích cực vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vừa làm thất bại ngay từ đầu âm mưu dùng nội ứng của địch, vừa tạo ra thế chủ động cho công cuộc chuẩn bị kháng chiến.

3.  Chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938). Sự nghiệp giành lại quyền tự chủ toàn thắng.

Bấy giờ, Hoàng Thạo đã được lệnh chỉ huy đạo thủy quân  tiến vào sông Bạch Đằng. Trước tình hình đó, tại thành Đại La, Ngô Quyền họp các tướng, bàn rằng: “Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Song họ có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua chưa thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước, vát nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của họ nhân khi nước triều lên tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không cho chết nào ra thoát” (2).

Nhận định của Ngô Quyền chứng tỏ ông là một người tướng giỏi, biết mình biết người. Nhờ nhiều nguồn tin và kinh nghiệm chiến đấu dày dạn của bản thân, Ngô Quyền đã nắm vững và phán đoán đúng tình hình địch. ông biết rất rõ nhược điểm của Hoàng Thạo là tuổi trẻ tuy hung hăng nhưng còn có những hạn chế về kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu.

Dưới mắt ông, “Hoằng Tháo là một đứa trẻ dại” mà thôi.  Quân đích từ xa đến, còn mệt mỏi, lại mất kẻ nội ứng, tinh thần yếu kém; trong khi đó khí thế quân ta đương mạnh, lại làm chủ địa hình và biết đánh. Đó chính là những điều kiện dẫn tới sự tất thắng của quân ta, sự bại vong không thể tránh khỏi của địch.
 
Tuy vậy, ở đây Ngô Quyền cũng chỉ rõ lợi thế của địch là việc chúng có thuyền chiến mạnh, nếu ta không phòng bị chu đáo thì kết cục thắng hay bại của cuộc kháng chiến chưa thể lường trước được. Chính vì vậy, mọi người ai cũng khâm phục kế sách của Ngô Quyền. 

Nam Hán không phải là một triều đại lớn ở Trung Quốc. Quân đội Nam Hán tuy đã từng trải trong chiến tranh, nhưng cũng từng nếm mùi thất bại trong lần xâm lược năm 93 1, nay chúng lại tổ chức một cuộc tiến công trong điều kiện tự nhiên đầy khó khăn. Chúng phải vượt qua một chặng “đường biển hiểm trở xa xôi” để tiến vào sông Bạch Đằng và trong điều kiện thời tiết mùa đông giá rét “mưa dầm đã suốt mấy tuần”. Chính vì vậy, như Ngô Quyền khẳng định t’quân lính tất mỏi mệt”. Trong khi đó Ngô Quyền còn cho người bắn tin để Lưu Cung và Hoàng Thạo biết là Kiều Công Tiễn đã bị giết không còn hy vọng ở nguồn nội ứng, để chúng càng thêm hoang mang.

Tất nhiên, rút kinh nghiệm lần trước và để giành thắng lợi trong lần này, quân Nam Hán đã phát huy thế mạnh, sử dụng những thuyền chiến vừa to vừa chắc, có trang bị đầy đủ và có khả năng chiến đấu trên sông biển.

Từ hàng ngàn năm nay, Quảng châu là một trung tâm mậu dịch đối ngoại lớn, có nhiều thuyền buôn trên biển. Nhà Nam Hán có thủy quân mạnh và quân đội của họ đã có kinh nghiệm trận mạc. Lực lượng chiến đấu của thủy quân hầu hết là những người đã từng làm nghề đánh cá, làm muối, những thủy thủ và bọn cướp biển - những người lính đã được huấn luyện chu đáo vì mục đích chinh phục và ăn cướp.

Vũ khí trang bị ngoài câu liêm, móc treo, gươm giáo và áo giáp, còn có nhiều cung nỏ.  Nỏ có nhiều loại, trong đó với nỏ nặng có hiệu suất chiến đấu cao. Quân Nam Hán rất giỏi sử dụng nỏ. Năm 928, một đội quân cung nỏ do Tô Chương chỉ huy đã tiêu diệt đoàn thủy quân Sở ở Hạ Giang. Chính vì thế, sử Trung Quốc đã gọi họ là đội quân “thần nỏ”. Những điều đó, Ngô Quyền đều biết và ông đã đánh giá cao những lợi thế về thuyền, về khả năng thủy chiến của giặc, cho đó là vấn đề phải phòng bị trước.


(1).  Về sự kiện này các sách chép thời gian không thống nhất.  Việt sử lược chép “mùa đông tháng chạp”; Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép: “mùa đông tháng 12”; Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “tháng 9 mùa thu". Sử xưa thường chỉ ghi lái thời gian xảy ra và thời gian kết thúc sự kiện. Chúng Tôi cho rằng sự kiện này xảy ra vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, những tháng đầu mùa đông năm 938; còn tháng chạp là lúc Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng. Việt sử lược chỉ nhắc đến sự kiện này trong bối cảnh chung của trận Bạch Đằng nên chép “mùa đông tháng chạp” là nơi thời gian diễn ra trận Bạch Đằng chứ không phải lúc Ngô Quyền từ Ái châu ra Đại La tiêu diệt Kiều Công Tiễn.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thu, Sđd, t.1, tr203. Về việc “bịt sắt’ Tân Ngũ đại sử (Nam Hán thế gia) chép: thực thiết quyết = đóng cọc sắt (hiểu là đóng cọc gỗ bịt sắt). Việt sử lược (q.1, t.14b) viết: thực thiết đầu đại dực = đóng cọc lớn đầu bịt sắt. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 12:27:32 PM

Sử sách cũ không cho biết rõ lực lượng của địch, của ta trong cuộc chiến tranh là bao nhiêu. Tuy nhiên, qua lời bình của nhà sử học Lê Văn Hưu về cuộc kháng chiến chống Nam Hán mà sách Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại rằng: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân Lưu Hoằng Tháo” (1),  chúng ta có thể biết được tương quan lực lượng giữa địch và ta rất chênh lệch.

Về quân đội của Ngô Quyền, chúng ta chỉ biết rằng số đó bao gồm quân riêng của Ngô Quyền trấn giữ Ái châu trước đây, những đơn vị trung thành với Dương Đình Nghệ, cùng với quân của các tướng, các hào kiệt địa phương đến tụ hội và các đội dân binh do các làng xã tổ chức. Đó là đội quân ra đời và phát triển trong chiến tranh yêu nước, có thể có số lượng đông đến vài vạn người có tinh thần hăng hái, giàu lòng yêu nước, nhưng phần lớn mới được tổ chức và về mặt vũ khí, chiến thuyền còn hạn chế so với quân Nam Hán.

Trước họa xâm lăng của quân Nam Hán, bên cạnh lực lượng quân đội, khắp nơi đều có những đội dân binh các làng xã theo tiếng gọi cứu nước đã tự tổ chức thành đội ngũ sẵn sàng tham gia và ủng hộ quân đội giết giặc.

Trong quá trình gấp rút chuẩn bị kháng chiến, Ngô Quyền đã đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng thủy quân, cho sửa chữa, đóng mới và huy động nhiều thuyền phục vụ quân đội.
 
Hẳn lúc đó, quân đội của Ngô Quyền đã dùng nhiều loại thuyền, trong đó có thuyền ,’mông đồng” mà sử sách thường nhắc tới. Thuyền “mông đồng mỗi thuyền có 25 chiến thủ, 23 tay chèo, thuyền chèo ngược xuôi, nhanh như gió” (2)  là thứ thuyền hẹp và dài, có hai đáy, lớn nhỏ khác nhau, rất tiện sử dụng trong chiến đấu. 

Không có tài liệu nào ghi chép về vũ khí của quân đội Ngô Quyền, nhưng qua lời Tống Cảo tâu lên vua Tống về tình hình vũ khí của quân ta thời Lê Hoàn (nửa thế kỷ sau) và qua nghiên cứu khảo cổ học, chúng ta có thể đoán quân đội của Ngô Quyền được trang bị các loại cung, nỏ, mộc (khiên), lao, gậy tre, kiếm, dao găm, giáo, kích... Ngoài ra, khi chiến đấu trên thuyền, quân sĩ còn sử dụng cả câu liêm, móc treo, lưới cá, v.v…

Xét trên góc độ tiềm lực vật chất, trang bị quân sự thì có thể quân ta còn thua kém quân giặc. Song sức mạnh chiến đấu, sức mạnh của quân đội mỗi bên tham chiến ngoài nhân tố tiềm lực vật chất - kỹ thuật còn được tạo nên bởi các nhân tố khác như chế độ chính trị của đất nước, tinh thần chiến đấu của quân đội, tài thao lược của tướng lĩnh, những điều kiện thiên nhiên thuận lợi, v.v. hoặc theo cách nói của tổ tiên ta thời xưa, đó là các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Nếu đem so sánh tương quan sức mạnh giữa địch và ta về các mặt thì quân ta mạnh hơn hẳn quân Nam Hán xâm lược. Chính vì thế, Ngô Quyền đã khẳng định quân địch sẽ bị “dễ bề chế ngự” và “tất phá được”.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá một cách chính xác tương quan lực lượng giữa ta và địch, thấy mặt mạnh của địch và mặt hạn chế của ta, đồng thời lại thấy rõ mặt yếu chí mạng  của địch và mặt mạnh cơ bản của ta mà ở đây, trong cuộc chiến đấu sắp tới, những nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tài thao lược của tướng lĩnh lại là những nhân tố hợp thành nguyên nhân quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi bên tham chiến, Ngô Quyền đi đến xác định mưu lược đánh thắng cuộc tiến công xâm lược của địch bằng kế tổ chức một trận đánh lớn tiêu diệt đạo binh thuyền giặc ngay tại vùng cửa sông Bạch Đằng, nơi chúng tất phải đi qua dể có thể tiến vào nội địa nước ta.

Trong lời bàn với các tướng, Ngô Quyền đã đề xuất kế sánh đánh thủy quân giặc là sai người đem cọc lớn vạt nhọn  đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển và lợi dụng quy luật lên xuống của nước triều để chế ngự thuyền giặc, không cho chúng chạy thoát.

Đó chính là mưu lược phản công với quyết tâm đánh thắng địch ngay khi chúng vừa xâm phạm đến bờ cõi nước ta, nhanh chóng giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến bằng một trận phản công, kết hợp giữa phục kích và vận động chiến nhằm tiêu diệt gọn đạo quân xâm lược ngay từ cửa ngõ Tổ quốc.


(1) Đại Việt sử ký toàn thu, Sđd, t.1,tr 204.
(2)  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr 192.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 12:33:51 PM
Qua mưu lược chống giặc mà Ngô Quyền đã bàn với các tướng có thể thấy mục đích của trận đánh là nhằm tiêu diệt toàn bộ đạo binh thuyền lớn do Hoàng Thạo chỉ huy khi chúng vượt biển tiến tới vùng cửa sông Bạch Đằng. Đạo binh thuyền lớn của Hoàng Thạo là đạo quân xâm lược đi đầu, đạo quân chủ lực của địch. Còn đạo quân do Lưu Cung trực tiếp chỉ huy đóng ở trấn Hải Môn là đạo tiếp sau, thê đội hai, lực lượng dự bị của địch.

Nếu Hoàng Thạo tiến sang thuận lợi chỉ bị quân ta chặn đánh tiêu hao, vẫn tiếp tục tiến sâu được vào nội địa nước ta, thì đạo quân dự bị của Lưu Cung ắt sẽ tràn sang tăng cường để đè bẹp lực lượng kháng chiến.  Nhưng nếu đạo quân Hoàng Thạo bị ta chặn đánh tiêu diệt gọn một cách nhanh chóng thì đạo quân Lưu Cung sẽ không kịp sang tăng viện, mà chỉ còn cách duy nhất là hạ cờ rút lui để bảo toàn tính mạng.

Bởi vậy, một khi thực hiện được mục đích trận đánh là nhanh chóng tiêu diệt gọn đạo binh thuyền Hoàng Thạo khi chúng vừa tiến vào cửa sông Bạch Đằng làm cho Lưu Cung khiếp sợ, buộc phải rút quân về, thì cũng tức là đạt được mục đích chiến lược của cuộc kháng chiến: tiêu diệt lực lượng quân địch, làm tan rã ý chí xâm lược của nhà Nam Hán, kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giữ nước, bảo vệ vững chắc chủ quyền của dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Qua lời Ngô Quyền định kế chống giặc trên có thể thấy rõ một số điểm thuộc cách đánh trong trận quyết chiến này như sau:

Về đối tượng tác chiến: Toàn bộ đoàn binh thuyền lớn của địch do Hoàng Thạo chỉ huy, gồm hàng vạn quân với hàng trăm thuyền chiến cỡ lớn.

Về địa bàn tác chiến: Ngô quyền nhọn một cửa sông mà khả năng quân địch sẽ tiến vào để bố trí trận địa mai phục, đó là cửa sông Bạch Đằng, nơi có địa thế hiểm trở eo thể bố trí một trận thủy chiến.

Về cách đánh: Ngô Quyền chủ trương bố trí trận địa mai phục với những cọc gỗ bịt sắt nhọn đóng ngầm dưới nước để cản phá thuyền giặc, kết hợp giữa vận động tiến công và mai phục, đợi khí nước triều lên sẽ khiêu chiến nhử địch vào trận địa cọc ngầm rối tiến công tiêu diệt phòng khi nước triều xuống.

Về sử dụng lực lượng: Lực lượng chiến đấu sẽ có hai bộ phận: một lực lượng với những chiến thuyền nhỏ và nhẹ, cơ động nhanh, có nhiệm vụ khiêu chiến, nhử địch; bộ phận chủ lực gồm phần lớn quân thủy, bộ bố trí mai phục để tiến công tiêu diệt khi không đã lọt vào trận địa cọc ngầm.  Quân đội chủ lực của Ngô quyền sửa soạn chiến đấu trong sự phối hợp với các đội dân binh của các làng xã và sự tham gia phục vụ chiến đấu của toàn dân.

Theo thần tích, truyền thuyết dân gian và gia phả họ Dương ở làng Ràng (Dương Xá, Thiệu Hóa, Thanh Hóa), ngoài Ngô Quyền là vị chỉ huy tối cao, tham gia trận quyết chiến này còn có các tướng Ngô Xương Ngập (con em Ngô Quyền), Dương Tam Kha (con Dương Đình Nghệ, em vợ Ngô Quyền), Đỗ Cảnh Thạc (hào trưởng Đỗ Động).
 
Sau khi đánh tan bọn phản bội Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền và Bộ tham mưu tiến quân về vùng biển Đông Bắc cùng với nhân dân địa phương chuẩn bị thế trận đón đánh quân Nam Hán.

Vùng sông Bạch Đằng, nơi được Ngô Quyền chọn làm chiến trường quyết chiến là một vùng địa lý quan trọng, là cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta. Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từ vùng Đông Bắc Bắc Bộ đổ ra vịnh Hạ Long. Từ cửa biển ngược lên gần 20 km là đến cửa sông Chanh. Phía hữu ngạn có dãy núi đá vôi Tràng Kênh với nhiều hang động sông lạch và thung lũng hiểm trở.
 
Trước cửa sông Bạch Đằng, về phía bắc, là những đảo nhỏ từ vịnh Hạ Long kéo tới. Thuyền từ biển vào sông, len qua vùng quần đảo này khi gặp sóng to gió mạnh vẫn bảo đảm an toàn.  Hai bên bờ sông, nay là đồng ruộng và xóm làng nhưng xưa kia còn nhiều cánh rừng rậm. Dấu ấn của rừng xưa còn như in trên tên sông, tên đất: sông Rừng, bến đò Rừng, xóm Rừng, giếng Rừng... Sông Bạch Đằng (hay sông Rừng) rộng lớn, có sóng bạc đầu; tuy không dài lắm, chỉ khoảng vài chục kilômét, nhưng cảnh sắc thiên nhiên ở đây rất hùng vĩ, nơi có thế “thiên hiểm” như Trương Hán Siêu đã mô tả:

Bát ngát sóng kình muôn dặm,
Thướt tha đuôi trĩ một màu
Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu,
Bờ lau san sát, bến lách đìu hiu
(Bạch Đằng Giang phú)


Giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương xây dựng một thế trận mai phục lợi hại để chủ động phá giặc.

Ngô Quyền huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vạt nhọn, bịt sắt rồi cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài, tạo nên một bãi cọc, một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên cửa sông. Khi nước triều lên mênh mông thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền qua lại. Sách Đại Việt sử ký toàn thư thép: “Định kế rồi, (Ngô Quyền) bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển” (1). 

 
(1).     Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr 203.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 12:43:39 PM
Trận địa cọc ngầm là một nét độc đáo, sáng tạo của nghệ thuật thủy chiến Việt Nam mà Ngô Quyền là người khởi xướng đầu tiên. Khi chuẩn bị trận địa, Ngô Quyền không những lợi dụng địa hình thiên nhiên, mà còn lợi dụng cả chế độ thủy triều.

Đây cũng là một trận đánh biết lợi dụng con nước thủy triều sớm nhất trong lịch sử quân sự nước ta, mở đầu cho truyền thống lợi dụng thủy triều trong nhiều trận thủy chiến sau này.

Trận địa cọc có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ thế trận của Ngô Quyền. Nó sẽ giúp quân ta “dễ bề chế ngự” đoàn thuyền địch - như Ngô Quyền đã khẳng định với các tướng sĩ.

Song, trận địa đó sẽ mất hết tác dụng nếu đoàn thuyền giặc không bị đánh bại ở phía trong hàng cọc. Vì vậy, đồng thời với việc xây dựng trận địa cọc ngầm, Ngô Quyền đã tập trung công sức bố trí một thế trận mai phục quy mô lớn phía trong hàng cọc vùng hạ lưu và cửa biển Bạch Đằng.
 
Các bộ sử cũ không ghi chép cụ thể về vấn đề này, nhưng qua kết quả khảo sát thực địa, nghiên cứu dấu tích thành lũy, di tích và phong tục thời Ngô Quyền, Ngô Xương Ngập, các truyền thuyết dân gian có liên quan và nhất là qua một số thần tích, ngọc phả sưu tầm được ở vùng cửa sông Bạch Đằng, có thể hình dung được phần nào sự bố trí lực lượng của Ngô Quyền.

Dương Tam Kha chỉ huy một cánh quân chủ yếu là thủy binh bố trí bên tả ngạn sông Bạch Đằng, phục sẵn ở các kênh rạch bên sông, lợi dụng thuận dòng nước triều xuống, bất ngờ chặn đầu, tiến công thẳng vào đoàn thuyền địch, hãm chúng sa vào trận địa cọc ngầm.

Tham gia lực lượng này còn có đội thuyền do Đào Nhuận, người làng Gia Viễn chỉ huy. Một cánh quân khác do Đỗ Cảnh Thạc và Ngô Xương Ngập chỉ huy bố trí và đánh địch từ phía hữu ngạn sông Bạch Đằng. Cánh quân này chiến đấu có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng dân binh địa phương, những đội dân binh của anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở Hoàng Pha (xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên) và của chàng trai họ Nguyễn ở Lâm Động (Thủy Nguyên).

Lực lượng do Đỗ Cảnh Thạc chỉ huy gồm cả thủy binh và bộ binh, cả quân chủ lực và dân binh. Họ mai phục trong rừng cây ven sông, rạch, phối hợp với cánh quân bên tả ngạn của Dương Tam Kha, từ hai phía tiến công vào đoàn thuyền chiến của quân Nam Hán. Có thể lúc đó có một đạo thủy quân mạnh phục sẵn làm nhiệm vụ chẹn đầu, chờ khi nước xuống sẽ xuôi dòng đánh vỗ mặt đội hình tiến công của quân giặc.

Theo thần tích Ngô Quyền ở Gia Viên, trước khi quân Nam Hán đến xâm lược, Ngô Quyền đã lập đồn bên sông Gia Viên (tức sông Cấm) để chặn giặc. Đồn Gia Viên là trung tâm, tập trung một lực lượng lớn thủy binh và bộ binh do Ngô Quyền trực tiếp chi huy ở đồn Lương Xâm (An Hải) nay vẫn còn một số câu đối phản ánh điều đó, như:

“Sư xuất vạn toàn, Hán tướng Bắc lai vô phản bái,
Danh lưu thiên cổ, Cấm giang đông hạ cựu hành doanh”.

 
(Quân trảy vẹn toàn, tướng Hán từ phương Bắc kéo sang không còn ngọn cờ quay lại, Tiếng lưu muôn thuở, sông Cấm về phía đông chảy xuống, nối tiếp hành doanh).

Quân thủy bộ, dưới sự thống lĩnh của Ngô Quyền đã bố trí mai phục sẵn ở phía trong bãi cọc, có lẽ trong khoảng hạ lưu và trung lưu sông Bạnh Đằng; giấu quân trong các nhánh sông dưới rừng cây hai bên bờ sông.
 
Trong thế trận của Ngô Quyền, lực lượng mai phục trên sẽ giữ vai trò quyết định” trận địa cọc ngầm ở cửa sông nhằm cản phá, chặn đường tháo chạy của giặc. Sự bố trí kết hợp giữa hệ thống bãi cọc ngầm và quân mai phục chứng tỏ quyết tâm chiến lược của Ngô Quyền nhằm tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược bằng một trận đánh quyết định.
 
Như vậy, chiến trận Bạch Đằng diễn ra trong một cuộc đọ sức quyết định giữa ta và địch. Quân địch quyết tâm xâm chiếm nước ta. Quân ta quyết tâm đánh một trận tiêu diệt triệt để, giành lại quyền độc lập tự chủ.

Về diễn biến và hình thái cuộc chiến tranh, toàn bộ cuộc kháng chiến được thực hiện bằng một trận quyết chiến chiến lược lớn.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 12:56:39 PM
Cuối tháng 12-938, đoàn binh thuyền Nam Hán do Hoàng Thạo chỉ huy từ Quảng Đông (Trung Quốc) vượt biển xâm phạm vào lãnh thổ nước ta. Đoàn chiến thuyền thuận chiều gió đông bắc theo đường Đông Kênh qua châu Vĩnh An, theo trại Đại Bàng (đảo Kế Bào ngày nay) thuộc Ngọc Sơn, len qua các đảo nhỏ tiến vào vịnh Hạ Long. Dọc đường chúng không gặp một sự kháng cự nào. Hoàng Thạo là viên tướng trẻ tuổi hung hăng, rất chủ quan khinh địch, vội vàng thúc quân tiến thẳng vào cửa sông Bạch Đằng.

Khi những chiếc thuyền chiến đầu tiên của quân Nam Hán vừa đến vùng cửa biển Bạch Đằng thì đội quân khiêu chiến của ta trên những chiếc thuyền nhẹ bỗng nhiên xuất hiện. Dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Văn Tố, quân ta chiến đấu rất dũng cảm, quyết liệt, vừa cố kìm chân giặc chờ cho nước triều lên cao, vừa để chúng không hoài nghi, giữ bí mật tuyệt đối cho trận địa mai phục. Quân Nam Hán vừa tiến vừa đánh; lợi dụng quân đông khí thế đương hăng và lúc nước triều dâng cao, chúng tăng tốc tiến sâu vào vùng cửa sông Bạch Đằng.

Lúc nước triều đã dâng cao ngập cọc thì đội thuyền chiến của Nguyễn Văn Tố “dường như không còn sức”, họ vừa đánh vừa rút, để nhử địch vào trận địa đúng lúc, đúng chỗ, theo kế hoạch của Ngô Quyền.

Thấy quân ta ít lại đang tìm cách tháo chạy, Hoàng Thạo ra lệnh đuổi theo tiêu diệt. Càng đuổi, quân Nam Hán càng tiến sâu vào cửa sông và lọt vào trận địa mai phục của quân ta. Sánh Đại Việt sử ký toàn thư chép: “khi nước triều lên, Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào” (1).

Khi đoàn chiến thuyền của Hoàng Thạo vượt qua vùng cửa sông Bạch Đằng thì nước triều bắt đầu xuống; đó cũng là lúc toàn bộ đội hình quân giặc lọt vào trận địa mai phục của ta. Đúng lúc đó, đội quân khiêu chiến của Nguyễn Văn Tố được lệnh đánh quật trở lại và Ngô Quyền đích thân chỉ huy đại quân đổ ra từ ba phía, tiến đánh dữ dội.
 
Trận tiến công bất ngờ, mãnh liệt của thủy quân ta từ thượng lưu đánh xuống chặn đầu, kết hợp với quân thủy bộ mai phục ở hai bên bờ sông đánh tạt ngang vào đội hình quân giặc. Thuyền chiến của ta nhỏ nhẹ, cơ động “nhanh như gió”, lại xuôi theo dòng nước lao thẳng vào đội hình thuyền chiến của giặc khiến cho chúng không kịp chống đỡ, bị rối loạn, lúng túng.

Các cánh quân của Dương Tam Kha, Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Xương Ngập, Nguyễn Văn Tố cùng các lực lượng dân binh nhất tề tiến công quân giặc. Toàn bộ đội binh thuyền của Hoàng Thạo nằm gọn trong vòng vây của quân ta. Chúng bị đánh chặn quyết liệt phía trước, bị liên tiếp tiến công từ hai bên cạnh sườn. Tất cả các lực lượng thủy bộ phối hợp chặt chẽ cùng tiến công tiêu diệt các thuyền chiến của địch.

Quân Nam Hán cố tìm cách chống đỡ, nhưng chúng dường như bất lực trước sức tiến công mãnh liệt của quân ta. “Hoằng Tháo không kịp chỉnh đốn binh thuyền”, tổ chức chống đỡ yếu ớt và định tìm đường rút chạy ra biển, nhưng không kịp, chúng đã sa vào bãi cọc ngầm của quân ta.

Sử cũ của ta chép rằng: “Hoằng Tháo phải chống cự luôn tay, mà nước triều xuống rất nhanh, thuyền bè đều bị vướng vào trong cọc. Quyền đánh hăng, đại phá được Hoằng Tháo” (2); và khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc, nước triều rút, cọc nhô lên, “Quyền bèn tiến quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. [Quân Hoằng Tháo] không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nửa” (3).   Bị cọc chặn, bị quân ta đánh, thuyền địch không sao thoát ra biển được. Toàn bộ chiến thuyền của giặc bị đánh chìm, hầu hết quân giặc bị tiêu diệt. Đạo quân thủy xâm lược của Nam Hán đã vĩnh viễn bị nhấn chìm xuống dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Chủ soái của giặc là Lưu Hoàng Thạo bị giết tại trận”.

Chính sử của Trung Quốc thời Tống cũng thừa nhận: “Thuyền chiến mắc phải cọc bịt sắt không trở về được: Quân Hán bị thua to, Hoàng Thạo bị chết đuối” (4).  sách Ngũ đã; Sử ký Chép Về Sự k;ện này như sau: ‘thuyền của Hồng Thạo (tức Hoàng Thạo) bị mắc cạn nên mắc vào cọc bịt sắt, vỡ đắm gần hết. Hồng Thạo tử trận” (5).


(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr203.
(2).  Việt sử lược bản dịch, Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, tr.41.
(3).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr. 203-204.
(4).  Theo cương mục của Chu Hy, dẫn trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.II, tr.166.
(5).  Ngũ đại sử ký, q.65, thế gia.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 01:28:50 PM
Cuộc chiến đấu diễn ra và kết thúc chỉ trong vòng một con nước triều, nghĩa là chỉ trong vòng một ngày; thời gian chiến đấu ác liệt nhất là lúc nước triều xuống mạnh cho đến lúc nước rặc, nghĩa là chỉ nửa ngày.

Toàn bộ đạo quân xâm lược hung hăng ngạo mạn với đoàn thuyền chiến lớn đã bị tiêu diệt ở ngay tại vùng cửa biển Bạch Đằng, nghĩa là tại địa đầu sông nước của đất nước, khi chúng chưa kịp đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc ta, chưa kịp gây tội ác đối với nhân dân ta.

Cuộc kháng chiến chống Nam Hán lần thứ hai này kết thúc thắng lợi nhanh, gọn. Đó là cuộc chiến tranh chống xâm lược tiêu biểu nhất cho lối đánh thần tốc có hiệu quả cao của dân tộc ta.

Khi Hoàng Thạo đang bị bao vây và bị đánh tan tành ở hạ lưu và cửa biển Bạch Đằng thì Lưu Cung cùng đạo quân ở Trấn Môn vẫn hoàn toàn không hay biết gì.

Chiến thắng Bạch Đằng diễn ra nhanh chóng, triệt để đến mức vua Nam Hán đang đóng quân ở sát biên giới mà không sao tiếp ứng kịp cho con. Nghe tin thất bại quá bất ngờ và kinh hoàng, chúa Nam Hán đành thương khóc, hết sức thất vọng, thu nhặt tàn quân quay về nước.
 
Sử chép: “Nghiễm thương khóc thu nhặt tàn quân bỏ về nước” (1),  hoặc: “Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về” (2).  

Chiến thắng Bạch Đằng lừng lẫy đã phá tan kế hoạch xâm lược của Nam Hán. Từ đó, triều Nam Hán phải vĩnh viễn từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, không dám đụng chạm đến chủ quyền lãnh thổ của ta nữa. Sử Trung Quốc cũng thừa nhận: “Trong thời Lưu Nghiễm (tức Lưu Cung), Quyền giữ Giao châu, Nghiễm sai Hồng Thạo sang đánh, Hồng Thạo tử trận, rồi bỏ không đánh nữa” (3).

Chiến thắng Bạch Đằng chứng tỏ sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam, sự lớn mạnh của nhân dân ta về trí tuệ và khả năng đánh thắng quân thù không chỉ bằng du kích mà cả bằng chính quy, không chỉ ở trên bộ mà cả bằng thủy chiến. Đó là một thí dụ điển hình về mưu trí sáng tạo, về sự tính toán chính xác trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta.

Sức mạnh giữ nước trong trận Bạch Đằng là sức mạnh trỗi dậy của cả dân tộc, của chiến tranh nhân dân yêu nước chống xâm lược trong giờ phút quyết định của cuộc chiến đấu Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vận mạng của đất nước, của dân tộc trải qua những thử thách cực kỳ hiểm nguy.
 
Trong cuộc đấu tranh trường kỳ vì nền tự chủ đó, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh chống ngoại xâm của nhân dân ta ngày càng được củng cố và phát triển.

Trải qua Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí, Mai Thúc Loan và Khúc Thừa Dụ, ý thức dân tộc Việt Nam từng bước trưởng thành; và chiến công năm 938 phản ánh sức mạnh trỗi dậy của nền văn hoá dân tộc nhằm kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh cho nền độc lập.

Trong trận Bạch Đằng năm 938, bên cạnh chính quyền độc lập và một quân đội còn non trẻ là cả một dân tộc đang đứng lên quyết tâm giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu quyết định để hoàn tất sự nghiệp giải phóng đất nước.

Trong Bộ chỉ huy của Ngô Quyền có nhiều vị tướng tài giỏi thuộc lớp “cự tộc”, “hào trưởng”, những người thuộc tầng lớp trên nhưng yêu nước căm thù giặc, tự nguyện đứng trong hàng ngũ dân tộc chống ngoại xâm.
Bên cạnh quân đội của Ngô Quyền là các đội dân binh địa phương được động viên với tinh thần đấu tranh vì nước vì nhà, mà chính lực lượng vũ trang đông đảo này thực sự đã giữ vai trò rất quan trọng trong chiến tranh.

(1).  Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án, Văn hoá á châu xuất bản, 1960, tr.79.
(2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr. 204.
(3).  Ngũ đại sử ký, q.65.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 23 Tháng Một, 2009, 01:31:19 PM
Chiến thắng Bạch Đằng 938 là kết tinh của sức mạnh yêu nước và đoàn kết của một dân tộc có một kỷ nguyên văn minh và độc lập của buổi đầu dựng nước, trải qua thử thách trong đêm trường mất nước đau thương và tủi hờn, đang vùng lên quyết giành và giữ non sông đất nước và cuộc sống độc lập tự do.

Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ (thế kỷ XVII) cho rằng:

“Thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc phục lại quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy danh lẫm liệt để lại ấy.Trận Bạch Đằng là vũ công cao cả, vang dội đến ngàn thu há phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi” (1).

Nhà sử học Lê Văn Hưu viết: “Tiền Ngô vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy” (2).   

Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 được ghi vào lịch sử như một võ công chói lọi, đời đời bất diệt, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, có ý nghĩa to lớn, hoàn toàn chấm dứt thời kỳ đô hộ nơn một ngàn năm của các triều đại phong kiến Trung Quốc, mở ra thời kỳ độc lập dân tộc lâu dài và phát triển rực rỡ của đất nước.

Sau vua Tổ dựng nước (Vua Hùng), Ngô Quyền được Lê Quý Đôn và giới sử học mới suy Tôn là Tổ phục hưng dân tộc. 
 
Đầu thế kỷ X, trong một hoàn cảnh đặc biệt thuận lợi, khi ở Trung Quốc triều đình nhà Đường đang hấp hối và ở nước ta chính quyền đô hộ cũng đã bị lung lay dữ dội; nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Khúc Thừa Dụ đã vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền một cách nhanh gọn, hầu như không đổ máu.

Bấy giờ, mặc dù chỉ xưng là tiết độ sứ - nghĩa là về danh nghĩa vẫn coi mình như một đại diện của chính quyền nhà Đường, nhưng trong thực chất, họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta đến đây đã giành được thắng lợi cơ bản.
 
Khúc Thừa Dụ vừa là người có công thúc đẩy sự trưởng thành nhanh chóng của lực lượng dân tộc, vừa là người đặt nền móng vững chắc cho cuộc đấu tranh tiến tới độc lập hoàn toàn. Từ đây, những tiền đề của một quốc gia độc lập dần dần được xây dựng. Lãnh thổ thống nhất lại. Một nền kinh tế có tính chất tự chủ và hoàn chỉnh dần dần hình thành. Nền văn hóa dân tộc được phục hồi.

Khúc Hạo kế tục ý chí của cha, lên nắm quyền tiết độ sứ trong hoàn cảnh mới và đã quyết tâm đi sâu vào việc cải cách xã hội, xây dựng một nước độc lập thực sự. Những việc làm của Khúc Hạo thể hiện rõ tinh thần tự chủ của nhân dân ta, càng biểu lộ quyết tâm thoát khỏi áeh thống trị của chính quyền ngoại tộc.

Sự xuất hiện nhà Hậu Lương ở Trung Quốc, đặc biệt là sự xuất hiện vương triều Nam Hán ở Quảng châu và những âm mưu của chúng trở lại nắm chính quyền ở nước ta chứng tỏ bọn phong kiến Trung Hoa vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược, tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phía nam.
 
Chiến công của Dương Đình Nghệ (931) và đặc biệt là chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền (938) đã đưa đất nước ta, nhân dân ta thời đó vượt qua những thử thách hiểm nghèo nhất trong toàn bộ lịch sử tồn tại và phát triển của mình, chứng tỏ sức sống phi thường, kỳ diệu của dân tộc ta.  Chiến thắng đó như một cột mốc lịch sử, thời kỳ đau thương của đất nước đã chấm dứt, một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên độc lập lâu dài và phục hưng rực rỡ của dân tộc Việt Nam.


(1) Ngô Thì Sĩ: Việt Sử tiêu án, Sđd, tr. 80.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1,tr. 204-205.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:33:38 PM

CHƯƠNG V

SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA VĂN HÓA – VĂN MINH
DÂN TỘC. TRUYỀN THỐNG QUÂN SỰ TRONG
THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP TỰ CHỦ.

Kể từ khi kháng chiến chống Triệu bị thất bại cuối đời An Dương Vương (năm 179 TCN) đến chiến thắng Bạch Đằng lịch sử do Ngô Quyền lãnh đạo (năm 938), thời Bắc thuộc kéo dài 1.117 năm.
 
Một dân tộc bị đô hộ trên mười một thế kỷ, quả là một thảm hoạ khủng khiếp. Tuy nhiên, đối với lịch sử Việt Nam, trong đêm trường bị đô hộ đó không chỉ có Bắc thuộc mà còn có chống Bắc thuộc, không chỉ có Hán hoá mà còn có chống Hán hoá.

Trong hơn mười một thế kỷ, biết bao cuộc khởi nghĩa dân tộc, chiến tranh giải phóng và chiến tranh tự vệ đã bùng nổ, được tổ chức, lúc thành công lúc thất bại, có khi giành được độc lập và giữ được chính quyền tự chủ trong một thời gian, nhiều khi bị đàn áp, nhấn chìm trong biển máu... Nhưng nhìn chung phong trào dân tộc ngày càng phát triển, từng bước nâng cao ý thức độc lập tự chủ, xây đắp nên những truyền thống đấu tranh, thể hiện sức sống trường tồn của dân tộc ta trong cuộc trường chinh vì độc lập tự do. 

I - SỨC SỐNG CỦA NỀN VĂN HÓA - VĂN MINH DÂN TỘC. ĐỒNG HÓA VÀ CHỐNG ĐỒNG HÓA.
   
Đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, giai đoạn Văn Lang - Âu Lạc là một giai đoạn hết sức trọng yếu, có ý nghĩa lớn lao trên nhiều lĩnh vực; ở đó đã nảy nở văn minh sông Hồng - một nền văn minh lúa nước bản địa với bản sắc riêng. Chính trong thời kỳ đó, nhiều giá trị tinh thần, nhiều yếu tố văn hoá truyền thống mang tính cách dân tộc được tạo lập, đồng thời cũng đã diễn ra quá trình hình thành bản lĩnh văn hoá dân tộc, xây dựng nền tảng văn hoá Việt Nam và truyền thống tinh thần Việt Nam.

Từ khi Âu Lạc bị Triệu Đà và sau đó bị nhà Hán chinh phục, đất nước ta đã dần dần bị lôi cuốn vào quỹ đạo của đế chế Trung Hoa và trở thành một miền “ngoại địa”, ở ngoại vi của đế chế đó, trở thành những châu, những quận cực nam thuộc rniền nhiệt đới ẩm của một đế chế rộng lớn, cường thịnh ở miền Đông á.

Tổ tiên ta đã trải qua một thời kỳ dài “mất nước”. Lúc đó không còn một nước Việt cổ đại, và nếu nói theo Ăng ghen thì bấy giờ dân Việt cổ không còn có “một hành động độc lập trong lịch sử” (1) nữa .

Từ đầu công nguyên trở đi, nền văn minh Đông Sơn - mà sợi dây liên kết là nhà nước Âu Lạc với thiết chế xã hội là thể chế Lạc tướng - đã bị giải thể cấu trúc. Đó là sự đứt gãy của truyền thông - truyền thống Đông Sơn, truyền thống Việt cổ, một sự đứt đoạn trong quá trình phát triển liên tục của lịch sử Việt Nam trước sự tiến công mạnh mẽ của các thế lực bành trướng và đồng hoá.

Lịch sử dân tộc đắm chìm với bao bi kịch, đắng cay của thời kỳ Bắc thuộc. Một cuộc chiến đấu trường kỳ vì sự mất còn của dân tộc đang diễn ra.  Đối tượng đấu tranh trực tiếp của nhân dân ta trong giai đoạn Bắc thuộc là chủ nghĩa bành trướng Đại Hán ở Trung Quốc mà kẻ đại diện là những thế lực bành trướng lớn mạnh nhất phương Đông, tiêu biểu là các đế chế Hán, Đường.
 
Trung Quốc là quốc gia của người Hoa - Hán phát triển sớm, có lịch sử lâu đời và một nền văn minh rực rỡ. Nằm trên ngã tư đường của các luồng thương mại lớn đông - tây, nam - bắc trong đại lục á châu và miền bình nguyên Âu - á, văn minh Trung Quốc ảnh hưởng sâu sắc văn hoá du mục ở phía bắc và tây bắc. Một nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế sớm được xác lập ở Trung Quốc tuy về cơ bản là văn minh nông nghiệp trồng khô: kê - mạch - cao lương nhưng khá nổi bật, trong đó mối quan hệ khắt khe bạo ngược đối lập giữa nhà nước và thần dân. Đó là một nhà nước luôn đề cao tư tưởng Tôn giáo thiên mệnh, một quân vương hoàng đế, tự xưng là “Thiên tử” chịu mệnh trời, “Thế Thiên hành đạo” (thay Trời trị dân).


(1)  Ph.ăng ghen: Lút vích Phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1957, tr.79.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:35:43 PM

Từ cơ sở đó, giai cấp thống trị người Hoa hoặc tầng lớp quý tộc ngoại tộc bị Hoa hoá đã nảy sinh cái tư tưởng tự tôn, dần dần phát triển thành một thứ tư tưởng thâm căn cố đế về sự “ưu tú của Hoa Hạ” rằng cái Nôi của Hoa Hạ là “trung tâm vũ trụ”, kỳ thị Man - Di - Nhung - Địch, tiến tới tự phong cho mình cái “sứ mệnh cao cả” Trời trao cho là “Thiên tử,,, “giáo hoá Di Địch”, “dụng Hạ biến Di” và do đó, những bậc “chính nhân”, “đại nhân”, “quân tử”, ngoài trách nhiệm “tu thân, tề gia, trị quốc” phải có sứ mệnh gánh vác trách nhiệm “bình thiên hạ”. Dựa vào sức mạnh của một nước đất rộng, dân đông, có một nền văn minh cao một quân đội đông, trong bành trướng xâm lược, họ lấy đông hiếp ít, lấy mạnh hiếp yếu, lấy thịt đè người làm nguyên lý chiến tranh, lấy sự kết hợp dùng binh uy gây áp lực, dùng của cải mua chuộc, dùng mánh lới chính trị chia rẽ - “dĩ Di công Di” - làm thủ đoạn chiến lược chinh phục và vừa chinh phục vừa đồng hoá, chinh phục đến đâu đồng hoá đến đó.

Bằng chinh phục để thôn tính các nước, mở rộng đế chế.  Bằng đồng hoá để vĩnh viễn xoá bỏ sự tồn tại của các quốc gia - dân tộc bị chinh phục, thủ tiêu khả năng quật khởi và phục hưng của các nước đó, sáp nhập hẳn vào lãnh thổ Trung Quốc.

Trên cơ sở chinh phục và đồng hoá như vậy, đế chế mở rộng đến đâu thì quá trình Hán hoá được thực hiện và đất nước Trung Quốc cũng lan rộng đến đấy, dẫn đến sự đồng nhất giữa đế chế và quốc gia. Có thể coi đây là một phương thức bành trướng đặc trưng của chủ nghĩa Đại Hán, được thực hiện như một quốc sách từ các đế chế Tần, Hán.
 
Chủ nghĩa bành trướng với thuyết “bình thiên hạ”, với việc phân biệt chủng tộc giữa Hoa - Hạ với Man - Di - Nhung - Địch, và một hệ thống chiến lược, phương thức thủ đoạn bành trướng như trên, đã bước đầu xây dựng trong thời Tây Chu - Xuân thu - Chiến quốc và phát triển dữ dội với các đế chế Tần, Hán, Tuỳ, Đường. Trong nền văn hoá Trung Quốc cần phân biệt rõ hai luồng văn hoá hoàn toàn đối lập nhau: luồng văn hoá chân chính, đẹp đẽ của nhân dân Trung Quốc tiêu biểu cho những thành tựu sáng tạo của nhân dân lao động và những nhà văn hoá tiến bộ ở Trung Quốc; và luồng văn hoá đê chế hiểm độc của giai cấp thông trị, công cụ Nô dịch nhân dân trong nước và xâm lược, đồng hoá các dân tộc bên ngoài. Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán là một bộ phận tạo thành, một sản phẩm tổng hợp của văn minh đế chế. Bạo lực bành trướng được kết hợp với những thủ đoạn xảo quyệt về chính trị, tư tưởng, văn hoá… trở thành những phương thức được các đế chế Hán, Đường vận dụng để bành trướng mạnh mẽ ra bốn phương.

Từ miền châu thổ Hoàng Hà, các đạo quân hùng tướng mạnh của các đế chế Tần - Hán - Tuỳ - Đường rầm rập tiến về bốn hướng, đặc biệt về phía nam và đông nam, tiêu diệt nhiều quốc gia và thâu hoá các nền văn hiến phương Nam.
 
Mỗi khi thống nhất được Trung Quốc, ổn định xong tình hình nội bộ là lập tức Tần Thuỷ Hoàng, Hán Vũ Đế, Tuỳ Dưỡng Đế, Đường Thái Tông đều thực hiện bành trướng, xâm lược và chinh phục, tạo nên tấn bi kịch cho các dân tộc Đông á. 

Giang Nam từ Tần - Hán đến Tuỳ - Đường, vốn xưa là xứ sở của những cư dân phi Hán tộc, tổ tiên của các dân tộc Tày - Thái, Tạng - Miến, Môn - Khơme, Anhđônêdiêng. . . , gọi những là Man Di, Bách Việt..., đã lần lượt trở thành quận, huyện của đế chế Trung Hoa, nơi “di dân khẩn thực” của quan lại, địa chủ Hán tộc cùng bộ thuộc của chúng.

Các quốc gia cổ vùng này như Ba Thục, Kinh Sở, Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Dạ Lang, Điền (rồi Nam Chiếu, Đại Lý về sau) lần lượt bị thôn tính, bị xoá bỏ, bị Hán hoá. Tuy vẫn còn duy trì phần nào bản sắc địa phương, nhưng rất nhiều dân tộc Việt trong Bách Việt đã bị nô dịch, đồng hoá. Cả một vùng rộng lớn từ Trường Giang đến Tây Giang, sau mấy thế kỷ bị chinh phục và đồng hoá, đã trở thành đất Hán phương Nam! (1).   
 
Chinh phục được vùng lãnh thổ rộng lớn nói trên, các đế chế Trung Hoa có thêm kho người, kho của và tiếp thu thêm những yếu tố văn minh mới để từ đó, lấy làm chỗ dựa tiếp tục tràn mãi xuống phương Nam.
 
Đất nước Văn Lang - Âu Lạc của các vua Hùng, vua Thục, của người Âu Việt, Lạc Việt, lâm vào thảm hoạ diệt vong, đứng trước thử thách của sự mất còn! Các triều đại Trung Quốc từ Hán (206 TCN-220) đến Tuỳ (581 - 618) , Đường (618- 907) đã áp dụng nhiều thủ đoạn đàn áp nhằm dập tắt ngọn lửa đấu tranh của người Việt và thực hiện nhiều chính sách đồng hoá nhằm sáp nhập đất nước Âu Lạc vào lãnh thổ Trung Quốc.


(1)  Xin tham khảo Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, t.1, tr. 483-484.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:37:03 PM

Năm 111 TCN, triều Hán thôn tính cả Chăm pa, mở rộng đế chế đến vùng nam Trung Bộ. Cuộc đấu tranh của các dân tộc trên lãnh thổ nước ta thật lâu dài và gian khổ khôn lường.  Sự tiến triển kinh tế ở Trung Quốc thời Hán, từ Cao Hậu đến Vũ Đế, đã thúc đẩy công cuộc bành trướng của nhà Hán ra khắp bốn phương. Bấy giờ thương mại - chiến tranh - ngoại giao xoắn xuýt vào nhau và tác động lẫn nhau trong quá trình chinh phục của đế chế Hán . Ngoài việc sử dụng quân viễn chinh, nhà Hán còn sử dụng phương thức biếu xén của cải để mua chuộc, chia rẽ các thủ lĩnh địa phương, trong đó có các thủ lĩnh Việt tộc. Người ta ước lượng tổng thu nhập thường niên của đế chế Hán từ giữa thế kỷ I TCN đến năm 150 là khoảng 10 tỉ đồng, trong đó có tới 4 tỉ dành làm quà biếu xén đối ngoại, chủ yếu là vàng và lụa, mỗi năm khoảng từ 10.000 đến 30.000 tấm lụa. Công cuộc bành trướng, chinh phục của nhà Hán sở dĩ thực hiện được, một phần là do sự chia rẽ trong nội bộ Việt tộc. “Âu Lạc tương công, Nam Việt động giao” (Âu Lạc đánh lẫn nhau, Nam Việt rung động) là lời bình của thái sử công Tư Mã Thiên thời Hán.
 
Có ngoại kích của quân chinh phục và bọn bành trướng, có nội công giữa các thủ lĩnh Việt tộc, nhiều vùng lãnh thổ của Bách Việt bị chinh phục và tập nhiễm văn hoá Hoa Hạ.  Rồi dần dần cơ dân bản địa gốc Việt hợp với di dân Hoa Hạ trở thành “Hán nhân”, hoặc ảnh hưởng lối sống Hán tộc.  Tuy nhiên, người Lạc Việt và Âu Việt đã chống trả quyết liệt và lãnh thổ của họ là mảnh đất cuối cùng của “sơn hà Bách Việt” duy trì sức sống mãnh liệt, bảo vệ bản sắc riêng của mình.

Người Việt đã dũng cảm kháng cự, liên tiếp nổi dậy chống lại ách áp bức bóc lột và đồng hoá, kế tiếp đứng lên tiến công quân Hán, giết quan lại Hán. Song trước sức bành trướng khủng khiếp, trước những lực lượng quân sự áp đảo và những thủ đoạn chiến lược tinh vi về chính trị, kinh tế, ngoại giao khi trắng trợn công khai, khi giấu mặt, khi thắt buộc chặt chẽ, khi rộng rãi, buông lỏng. . . thì những cuộc khởi nghĩa đơn lẻ, địa phương manh động, thiếu tổ chức phối hợp, cuối cùng đều bị thất bại.

Một trong những nguyên nhân không thành công đó là do kết cấu xã hội từ xóm làng đến vùng miền của người Việt còn mang tính chất tự trị, làm chậm sự phát triển của kết cấu quốc gia - dân tộc. Nước Văn Lang - Âu Lạc, cũng như một số nước Việt khác bấy giờ chưa thoát khỏi mô hình “liên minh các vùng - bộ lạc” để hình thành vững chắc mô hình “dân tộc”, chế độ chính trị - xã hội chưa hoàn toàn vượt thoát mô hình “chế độ quân chủ bộ lạc” để hình thành vững mạnh mô hình “chế độ quân chủ trung ương tập quyền” với một hệ thống vua quan, tương ứng với một hệ thống các đơn vị hành chính từ cao xuống thấp, có tính chất thống nhất, có uy tín tập hợp lực lượng chống ngoại xâm . . .

Mức độ bóc lột đồng hoá dân ta của bè lũ quan lại Hán ngày càng trở nên khốc liệt. Nhân dân, quý tộc Âu Lạc đều oán hận chính quyền đô hộ và điều tất yếu là dẫn đến một cuộc khởi nghĩa lớn: khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ và thành công. Cuộc khởi nghĩa này là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm, Iúc công khai của người Việt cổ. Đấy là một sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc Việt, sự phản ánh ý thức về lồi sống riêng đã khá rõ nét của các Lạc tướng và Lạc dân Âu Lạc. Dẫu rằng sau đó Hai Bà Trưng cùng quân dân Âu Lạc đã không đứng vững được trước sức tiến công mãnh liệt của quân xâm lược Đông Hán (năm 42 - 44), nhưng cuộc chiến đấu do Hai Bà lãnh đạo đã chứng tỏ ý chí quật cường của dân tộc ta, khai mào cho xu thế phát triển của lịch sử đấu tranh giải phóng của nhân dân ta.
 
Mã Viện và quân Đông Hán đàn áp rất dã man, hàng vạn nhân dân Âu Lạc bị giết hại, nhiều dòng họ quý tộc Lạc Việt và Âu Việt bị trấn áp triệt để. Mã Viện đã bắt đày sang Linh Lăng (Hồ Nam) hơn 300 thủ lĩnh Việt tộc. Việc bắt đày và giết hại quý tộc người Việt là một hành động thâm độc của người Hán, chúng muốn tiêu diệt hết những người có uy tín và khả năng đoàn kết nhân dân chúng ách áp bức của ngoại bang.
 
Mã Viện thu gom đồng để đúc các cột đồng lớn, chôn làm mốc khẳng định địa giới của nhà Hán và doạ rằng nếu để cột đồng gãy thì sẽ diệt cả Giao Chỉ. Mã Viện còn cướp đi một số lớn trống đồng của người Lạc Việt đúc thành một con ngựa lớn để làm quà biếu, dâng công trạng lên vua Hán. 

Trống đồng là một bảo vật thời kỳ các vua Hùng, một vật thiêng liêng tượng trưng cho uy quyền của các tù trưởng; là biểu trưng của tinh thần cộng đồng được sử dụng trong các lễ hội dân gian của người Việt; là sản phẩm có giá trị cao cả về vật chất và tinh thần, cả về kỹ thuật và nghệ thuật của tổ tiên ta. Phá hoại vật báu đó, quân xâm lược nhằm thủ tiêu uy quyền của tầng lớp quý tộc Việt, đồng thời xoá bỏ những gì là tiêu biểu cho nền văn hoá lâu đời, tinh hoa biểu trưng của cộng đồng Việt tộc.

Việc giết hại các thủ lĩnh và đày hàng trăm quý tộc Việt sang tận Hồ Nam cùng với việc tiêu huỷ trống đồng và thạp đồng là một hành vi hết sức thâm hiểm của quân thù, nằm trong âm mưu đồng hoá của người Hán.  Chế độ Lạc tướng đã tồn tại từ lâu đời ở Âu Lạc đến đây cũng bị lụi tàn. Nền thống trị của nhà Hán từ sau cuộc chinh phục của Mã Viện được tăng cường về mọi mặt và các chính sách bóc lột, nô dịch và các thủ đoạn đồng hoá cũng được thực hiện ráo riết hơn trước. Chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị bãi bỏ. Chế độ quận huyện của người Hán được tăng cường. Trong tình hình đó, phong trào đấu tranh của nhân dân ta có lắng xuống một thời gian.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:38:14 PM
Cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, miền đất nước ta nằm dưới quyền kiểm soát cát cứ của cha con Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp gốc Hán nhưng lại xây dựng “triều đình riêng”. Sĩ Nhiếp ra sức đưa Nho học vào đất Việt. Nhiều trí thức Giao châu đã trở thành “nhà Nho” và có ảnh hưởng trong dân chúng. Đấy là cơ sở hình thành văn hoá Việt - Hán.

Chính quyền ở Giao châu dưới các triều Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương thực tế là một chính quyền cát cứ, hoặc do bọn chỉ huy quân sự địa phương thao túng hoặc ở trong tay bọn thứ sử, thái thú đã “lập nghiệp” lâu đời trở thành “cự tộc” Bấy giờ trào lưu di tản của sĩ phu, quan lại và Hán dân sang Giao châu ngày càng mạnh “không bao giờ dứt” (Trương Hoa: Bác vật chí).
 
Nhà Tây Hán thi hành chính sách “di dân khẩn thực”, đem những người tù tội di cư hàng loạt sang Giao Chỉ; hoặc theo sử cũ: “sĩ phu Trung Quốc sang Giao Chỉ lánh nạn, nương tựa Sĩ Nhiếp có hàng trăm người” (Ngô chí).

Vì vậy, quá trình giao lưu và ảnh hưởng kinh tế, văn hoá, xã hội của văn minh Trung quốc đối với đất Việt cũng ngày càng mạnh mẽ hơn. Số người Hán di cư và lập nghiệp ở Giao Chỉ càng củng cố thêm cơ sở cho chính quyền thống trị ở Giao châu và đẩy nhanh xu hướng Hán hoá trên đất Việt.
 
Trong khi đó, bọn quan lại đô hộ lại bắt đi rất nhiều người tài giỏi gốc Việt sang Trung Quốc, nhằm phục vụ cho cuộc sống cung đình của giai cấp phong kiến. Việc thái thú Giao Chỉ Tôn Tư bắt hơn 1.000 thợ thủ công người Việt dâng vua Ngô xây cung Kiến Nghiệp hẳn đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - văn hoá của người Việt thuở ấy. 

Nhà Tuỳ rồi nhà Đường đã chia đặt lại tổ chức hành chính ở nước ta. Đó là chế độ quận huyện hoặc châu huyện và dưới huyện là các hương xã. Đứng đầu An Nam đô hộ phủ là một viên “đô hộ” hoặc “kinh lược sứ”; đứng đầu mỗi châu là chức thứ sử và nhiều người khác làm “trưởng lại”, chỉ huy quân đội.

Nền đô hộ dưới triều Tuỳ và nhất là dưới triều Đường càng nặng nề, quỷ quyệt và thâm độc hơn. Bọn quan lại đô hộ ra sức đắp luỹ xây thành, tăng cường quân phòng thủ ở Tống Bình (Hà Nội) và các châu, quận nhằm chống phá phong trào yêu nước của nhân dân ta. Chính sách bóc lột và đồng hoá của bọn xâm lược ở An Nam - nơi chúng coi là một “trọng trấn” rất nặng nề và dưới nhiều hình thức.

Có nhiều viên tướng của nhà Đường kiêm cả nghề phù thuỷ, đạo sĩ; chúng được phái sang miền đất nước ta - trong đó tiết độ sứ Cao Biền là đầu sỏ - bày trò đi các nơi tìm các ngôi “đất quý”, có ẩn tàng “khí vượng đế vương” để “yểm long mạch” . Đó là một thủ đoạn thâm hiểm, tinh vi nhằm trấn áp tinh thần độc lập tự chủ của dân ta, gieo rắc dị đoan rằng An Nam không còn là đất “đế vương” - có nghĩa là không thể và không còn là một nước độc lập nữa.

Làm sao nói hết và hiểu hết những đau thương, tủi nhục mà nhân dân ta phải trải qua hơn ngàn năm Bắc thuộc! Kẻ thù không chỉ dừng lại ở chỗ cướp nước, xoá bỏ độc lập chủ quyền, bóc lột vơ vét tham tàn, mà còn ráo riết thực hiện chính sách đồng hoá nhằm vĩnh viễn Hán hoá đất nước này, dân tộc này. Tất cả những gì là cơ sở tồn tại và sức mạnh phục hồi của một quốc gia - dân tộc từ lãnh thổ, tiếng nói, đến phong tục tập quán, lối sống, ý thức tư tưởng, văn hoá . . .  đều bị chúng tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để huỷ hoại. 

Nhưng kỳ diệu thay, qua chặng đường lịch sử đầy gian nan ấy, trong bối cảnh phần lớn khối “Bách Việt” đã vĩnh viễn bị thôn tính, bị Hán hoá thì đất nước ta, dân tộc ta đã không bị diệt vong và đồng hoá. Người Việt Nam đã rèn luyện bản lĩnh và cá tính dân tộc qua cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc. Và do đó, con người Việt Nam vẫn tìm thấy và khẳng định bản thân trong lịch sù của mình dưới điều kiện Bắc thuộc với tất cả mưu đồ đồng hoá vừa tàn ngược vừa thâm độc của kẻ thù.

Thuở ấy, nhân dân ta mất nước nhung không mất làng.  Sau khi cướp nước ta, kẻ thù đã thủ tiêu chủ quyền quốc gia, xoá bỏ thể chế nhà nước sơ khai của các vua Hùng, vua Thục, nhưng trong suốt thời Bắc thuộc, chúng không thể nào với tay tới và can thiệp, làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền của nhân dân ta.

Bám vào làng xã, đoàn kết đùm bọc lấy nhau, người Việt đã đấu tranh mãnh liệt chống lại chính sách Nô dịch và đồng hoá của người Hán. Trong , làng xã, nhân dân vẫn giữ được cốt cách làm ăn và phong tục, tập quán riêng, không chỉ bảo lưu giá trị văn hoá cổ truyền mà còn biết tiếp thụ có chọn lọc nhưng yếu tố văn hoá ngoại sinh phù hợp với cuộc sống của mình và liên kết lại trong cuộc đấu tranh giành đất nước. Các lễ hội dân gian, giỗ tết, thờ cúng tưởng nhớ tổ tiên, ý thức uống nước nhớ nguồn, suy tôn những người anh hùng có công với dân, với nước. . . là phong tục đẹp đẽ vẫn duy trì. Tiếng Việt và bản sắc văn hoá, nghệ thuật được gây dựng từ thời dựng nước vẫn được bảo tồn, phát triển.



Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:40:21 PM

Ngay từ đầu công nguyên, mặc dầu bọn thống trị Hán tộc đã tăng cường chế độ cai trị quận huyện, nhưng chúng vẫn không thể với tay xuống dưới cấp huyện, vẫn không khống chế trực tiếp được đông đảo các tầng lớp nhân dân. Mã Viện đã đàn áp được phong trào Hai Bà Trưng nhưng lại vấp phải một thực tế nghiệt ngã: xã hội Việt khác xã hội Hán. “Luật Việt và luật Hán khác nhau tới hơn mười việc”, không thể bệ nguyên xi pháp độ Hán sang áp dụng ở đất Việt đó là lời tâu của Mã Viện lên vua Hán.

Áp lực của hằng số lịch sử phương Nam – những truyền thống mạnh mẽ của cơ cấu xã hội nông nghiệp trồng lúa nước với nền tảng xóm làng của người Việt trên thực tế đã hạn chế mức độ và phạm vi thống trị của kẻ địch, khiến cho chính sách thống trị của nhà Hán cũng như các triều đại phong kiến Trung Hoa kế tiếp rút cuộc vẫn chỉ có thể là một chính sách ràng buộc lỏng lẻo mà thôi.
 
Từ Hán đến Đường chính quyền đô hộ được củng cố, tăng cường ngày một mạnh và chặt chẽ hơn, thậm chí nhà Đường đã chia lập các hương, xã, nhưng trước sau không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào nắm được làng xã và đặt nổi hệ thống xã quan trên đất nước ta. Các làng xã nông nghiệp vẫn giữ được quyền tự trị cao và tồn tại như “thế giới riêng” của người Việt.

Chính những làng xã cổ truyền mang đặc trưng của loại hình công xã nông thôn kiểu á châu ấy, với quyền tự trị rộng lớn của nó, lại là nền tảng xã hội, là cơ sở của nền văn hoá Việt Nam là nơi nuôi dưỡng, vun trồng những tinh hoa văn hoá cổ truyền.

Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống Bắc thuộc, những xóm làng hiền dịu, ủ ấp sau luỹ tre xanh của tuyệt đại đa số nhân dân ta đã giữ vai trò như những pháo đài xanh kiên cố chống lại một cách có hiệu quả những âm mưu đồng hoá của kẻ thù và như những đòn bẩy thần thánh dấy lên những cuộc khởi nghĩa giành lại quê hương, làng - nước.
 
Cũng dựa vào các tổ chức làng xã, nhân dân ta duy trì và phát triển sản xuất. Nhờ vậy, nền kinh tế nước ta vẫn có những bước phát triển. Những thành quả đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế, văn hoá làm tăng thêm sức mạnh của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống ách thống trị ngoại bang, giành lại chủ quyền dân tộc.
 
Bộ máy chính quyền đô hộ từ Triệu, Hán đến Tuỳ, Đường, với tất cả khả năng và cố gắng của chúng cũng không làm sao trực tiếp kiểm soát và khống chế nổi toàn bộ lãnh thổ nước ta. Nhiều vùng rộng lớn vẫn nằm ngoài phạm vi cai trị của chính quyền đô hộ. Miền Ô Hử (Đông Bắc Bắc Bộ) mãi đến cuối đời Hán bọn đô hộ mới lập được chính quyền cấp huyện thì lại bị dân nổi lên đánh phá và cho đến đời Ngô hàng mấy vạn nhà dân vùng này vẫn chưa chịu thần phục.  Miền Phù Nghiêm (Thái Nguyên) đến đời Tấn mới lập được chính quyền cấp huyện. Miền Lâm Tây (Tây Bắc) cho đến đời Đường vẫn chưa thể đặt được ách cai trị, kẻ thù vẫn phải thực hiện chính sách ràng buộc hết sức lỏng lẻo. . . Chính quyền đô hộ thực tế chỉ khống chế trực tiếp được các vùng quanh các phủ thành, huyện thành, trấn thành hoặc đồn binh của chúng và những nơi có đông các “lại dân Trung Hoa” sinh sống.

Mạng lưới đô hộ Hán - Đường ngay thời bình đã thủng nhiều mắt lưới, còn đến lúc “loạn’ thì càng dễ bị xé rách từng mảng lớn, thậm chí bị xé toạc hoàn toàn dù chỉ là tạm thời, trong một thời gian ngắn.

Nhưng một tình hình thực tế cần được lưu ý là nước ta, từ đời An Dương Vương, tồn tại bên cạnh đế chế Trung Hoa lớn mạnh, liền núi liền sông và cùng chung biên giới với nước đi xâm lược và đô hộ. Do đó, mỗi khi chính quyền đô hộ bị quật đổ thì các triều đại phong kiến Trung Quốc lại tổ chức ngay các lực lượng chi viện hoặc những cuộc đàn áp và chinh phục lại “thuộc quốc”.
 
Cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc, vì thế đã diễn ra rất khó khăn vất vả, dai dẳng và nó cũng chứng tỏ nền đô hộ của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán là không vững mạnh và ổn định. Nền đô hộ đó chỉ có bề dài về thời gian, chứ không có bề rộng trong không gian và càng thiếu hẳn bề sâu trong lòng cấu trúc của xã hội người Việt.

Đối với lịch sử Việt Nam hơn một ngàn năm này là cả một quá trình đan xen giữa Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, giữa bị đồng hoá và chống đồng hoá. Cả hai mặt đối lập đấu tranh quyết liệt đó chi phối toàn bộ cuộc sống của nhân dân ta, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của lịch sử dân tộc.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:41:57 PM

Trong cuộc đấu tranh đó, nền văn hoá cổ truyền của người Việt bị đặt trước một thủ thách lớn lao. Nền văn hoá Hán được du nhập và truyền bá vào đất Việt, có mặt ôn hoà qua một số dân di cơ Trung Quốc, song mặt chủ yếu là mang tính chất cưỡng bức qua bàn tay bọn đô hộ như một công cụ đồng hoá và Nô dịch. Trong sự giao thoa văn hoá cưỡng bức theo mưu đồ Hán hoả của chính quyền đô hộ, nền văn hoá việt tránh sao khỏi những mất mát và ảnh hưởng. Văn minh Đông Sơn vào khoảng những thế kỷ đầu công nguyên đã bị suy thoái, bị giải thể cấu trúc và những mảnh vụn được bảo lưu của nó hoà tan vào nền văn hoá dân gian trong các xóm làng Việt cổ.

Nền thống trị của Hán - Đường như “một công cụ vô thức của lịch sử” (C.Mác), đã buộc người Việt phá vỡ một số truyền thống cũ của chế độ tù trưởng bộ lạc và công xã. Đó là những cản trở không nhỏ đồi với phong trào khởi nghĩa và kháng chiến hồi đầu thời Bắc thuộc.

Phải trải qua nhiều kinh nghiệm xương máu, chủ nghĩa yêu nước và ý thức dân tộc mới chiến thắng được những tư tưởng bộ lạc và khuynh hướng tản mạn địa phương, làm cho phong trào dân tộc có độ liên kết ngày càng cao hơn. Cái trớ trêu của lịch sử là chế độ đô hộ của phong kiến Trung Hoa đã đóng vai trò như một công cụ vô thức góp phần phá vỡ những tổ chức bộ lạc và thế lực cát cứ địa phương. Xoá bỏ cơ cấu bộ lạc, giữ lại và củng cố cơ cấu xóm làng, tăng cường sự cố kết dân tộc, thích ứng với cơ cấu quận huyện là một tổ chức có tính chất hành chính - địa vực, đó là những chuyển biến lớn của xã hội Việt Nam thời Bắc thuộc.

Sự hiện diện đích thực của cơ cấu văn minh Đông Sơn - cái kỳ diệu của nền móng Việt cổ - mấy trăm năm đầu Bắc thuộc phản ánh sức sống mãnh liệt của nền văn minh ấy, tinh thần bền bỉ chống đồng hoá, chống mọi thứ pha tạp xâm nhập có hệ thống, có tổ chức của bọn thống trị phương Bắc. 

Tuy nhiên, chủ nhân của nền văn minh Việt cổ không hề bài ngoại mù quáng cũng không bắt chước để bị lệ thuộc vào nền văn hoá khác mà hấp thụ có chọn lọc những yếu tố văn hoá ngoại sinh và biến thành cái vốn của mình, làm phong phú thêm bản sắc riêng của mình và tăng thêm tiềm lực mọi mặt của đất nước. Quá trình lịch sử ấy, vẫn để mượn lời của C Mác và Ph.ăng ghen dã diễn ra một cách gần như tự nhiên.
 
Cuộc đấu tranh chống đồng hoá về văn hoá thật gian truân đòi hỏi nhiều tâm lực và trí tuệ, khôn khéo và mềm dẻo. Trước khi có cuộc tiếp xúc trực tiếp và cưỡng bức với văn hoá Hán, người Việt đã có mối giao lưu rộng rãi với các nước láng giềng gần xa. Nhiều yếu tố văn hoá ngoại sinh trong đó cả trên lĩnh vực quân sự đã được tiếp thu để làm cho văn hoá Đông Sơn thêm phong phú và đa dạng (1).  Người Việt đã biết cải biên để hoà nhập, biết tiếp thu sàng lọc để bảo vệ và phát triển văn hoá. Điều đó nói lên sức mạnh của văn hoá “mở ‘ của người Việt xưa, nói lên truyền thống và trí tuệ Việt trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước ngay từ buổi đầu lịch sử mà truyền thống đó đang được bảo tồn và phát huy trên chặng đường đấu tranh chống đồng hoá thời Bắc thuộc.
 
Trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt - Hoa đã có sự truyền bá lối sống, văn minh - văn hoá Hán trên đất Việt Sự truyền bá đó diễn ra bằng hai con đường: con đường chính thống từ triều đình và Nho sĩ, và con đường dân gian.  Đó là sự truyền bá cưỡng bức, qua bọn đô hộ hành chính quân sự và truyền bá ôn hoà qua giao lưu kinh tế văn hoá của dân cơ Trung Quốc sang sinh sống trên đất Việt.

Con đường triều đình, Nho sĩ được sử sách ghi chép khá đầy đủ là con đường “chuyển tải” có hệ thống và có chủ trương, nhưng thường hay vấp phải sự phản kháng từ phía tiếp nhận; ngược lại con đường dân gian đi từ di cư, cộng cư rồi đến hội nhập thường diễn ra âm thầm và lặng lẽ do các tầng lớp nhân dân lao động người Hán tiến hành. Đây là con đường mang tính chất tự nguyện, theo quy luật đi từ “chuyển tải” đến “hội nhập”, từ “tiếp biến” đến “đồng nhất”.


(1)  Trong nhiều “mộ thuyền” có mền đại trước sau công nguyên người ta đã tìm thấy gươm đồng kiểu Chiến quốc, dao găm sắt kiểu Hán... Ngay cái gọi là “mũi tên đồng Cổ Loa” cũng có chịu ảnh hưởng mũi tên đồng kiểu Xít tư (Scythie) của vùng đồng cỏ Trung á.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:44:01 PM

Sự tồn tại song song hai lối sống, hai phương thức sinh hoạt Việt và Hán, trong đó phương thức Việt là chủ đạo, là đa số cũng như sự dung hoà và chuyển hoá lẫn nhau giữa hai phương thức đã trở thành một đặc điểm của xã hội nước ta thời Bắc thuộc. Dẫu sao sự truyền bá nói trên cũng đã biểu hiện rất phong phú với những mức độ khác nhau trong các lĩnh vực văn hoá như ăn, ở mặc, phong tục tập quán, Tôn giáo tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn tự, nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, v.v..

Trong cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp để bảo vệ di sản văn hoá truyền thống thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của văn hoá ngoại sinh phù hợp với đặc tính, tâm hồn Việt Nam để làm phong phú nền văn hoá truyền thống.

Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc, tất nhiên sẽ dẫn tới biến đổi, có giữ và có bỏ, có thêm và có bớt. Tất nhiên, giữ, kế thừa và phát triển những nét đẹp, tiên tiến và phù hợp, bỏ bớt những gì lạc hậu, kém cỏi. Trên cơ sở ý thức dân tộc và tinh thần tự cường nhưng không bảo thủ, đóng kín, nhân dân ta đã biết kết hợp giữa truyền thống và cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, đã tiếp thu một số cái hay, cái đẹp của văn hoá ngoại sinh. Một sự tiếp nhận có chọn lọc, có ý thức có sự dung hợp.

Điều đó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, như từ tập quán giã gạo bằng chày tay đã chuyển sang lối giã gạo bằng cối đạp từ đầu công nguyên; từ tập tục nhà sàn dần dần người Việt chuyển sang ở nhà nền đất nện. Trong trang phục, y phục nghệ thuật cũng được làm phong phú, đa dạng và phát triển cao hơn trên cái căn bản của nền văn hoá cổ truyền.

Trên lĩnh vực ngôn ngữ - một trong những đặc trưng cơ bản của dân tộc, hơn 1.000 năm Bắc thuộc cũng là cả quá trình đơn âm tiết hoá và thanh âm hoá của tiếng Việt. Bên những âm tiết thuần Việt đã xuất hiện trong kho tàng tiếng Việt ngày một nhiều, âm tiết Hán Việt, không giống tiếng Hán cổ mà cũng không giống bất cứ phương ngữ nào của Trung Quốc, cả cấu trúc ngữ âm và ngữ nghĩa đều thay đổi đáng kể để nằm gọn trong lòng cấu trúc ngữ âm và ngữ nghĩa tiếng Việt, để làm cho tiếng Việt có khả năng diễn đạt ngày một phong phú hơn. Tiếng nói của dân tộc được giàu lên bằng việc học chữ Hán mà vẫn giữ đặc tính Việt Nam.

Trên lĩnh vực tư tưởng Tôn giáo - tín ngưỡng, Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo từ Trung Quốc đã du nhập vào nước ta, mỗi thứ đều mang theo một mô hình khác nhau. Tuy nhiên, Nho giáo chưa và không thể thịnh đạt ngay trong thời Bắc thuộc, không được người Việt hưởng ứng nhiệt tình, vì nó tượng trưng cho sự kỳ thị và áp bức dân tộc. Hán Nho với thuyết “nội Hạ, ngoại Di” đặt Trung Quốc là trung tâm thế giới; ngoài người Hán ra, tất cả các dân tộc, các quốc gia khác đều là man di mọi rợ, người Việt bị gọi là “rợ phương Nam”.
 
Ngược lại, Phật giáo từ ấn Độ và Trung Quốc truyền vào đã tìm thấy một môi trường thuận lợi để cắm rễ trong quần chúng lao khổ và đầy khát vọng giải thoát. Vả lại, Phật giáo không chống đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Tôn trọng anh hùng của người Việt. Tư tưởng Phật giáo, dù thấm sâu vào tâm hồn ngườiViệt vẫn không gây ra một ý thức tiêu cực, không thủ tiêu ý chí đấu tranh giành lại độc lập tự do của người Việt. Phật giáo đã sớm tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nên sớm đi vào tâm hồn Việt Nam, sớm thành “quốc giáo” ngay ở giai đoạn đầu của thời kỳ độc lập phật giáo thế kỷ X chủ yếu thuộc hai thiền phái Tiniđalưuchi và Vô Ngôn Thông với ảnh hưởng sâu sắc của Mật giáo. Nó dễ kết hợp với tín ngưỡng dân gian và dung hoà với đời sống công xã, tạo nên yếu tố tinh thần lành mạnh trong xã hội thời đó.

Cũng như Phật giáo, Đạo giáo được “Việt hoá” và có tác dụng hỗ trợ tinh thần dân tộc. Sống gần gũi với dân chúng và thấm nhuần ý thức dân tộc, dù là dưới màu sắc thần linh, các đạo sĩ Việt Nam có tinh thần sáng tạo và được dân chúng lưu truyền rộng rãi với những câu chuyện kỳ dị, như chuyện thần Sơn Tinh và thần sông Tô Lịch chống lại tên phù thuỷ Cao Biền. Cao Biền chôn hàng ngàn cân đồng, cân sắt trước cửa đền Bạch Mã để “yểm”, đã bị thần Tô Lịch “hô sấm sét” phá tan. Cao Biền lập đàn tràng trên đền núi Ba Vì để “yểm” thần Tản Viên, nhưng Tản Viên đã cưỡi diều bay cao trên mây nhổ nước bọt vào giữa đàn tràng của tên phù thuỷ. Cao Biền kinh hãi kêu lên: “Linh khí ở nước Nam không thể lường được! ôi cái vượng khí ở đất này đời nào hết được... ở đây lâu tất chuốc lấy tai vạ. Ta phải mau trở về đất Bắc thôi” (1).
 
Thế mới hay, ở đất nước của vua Hùng này, tất cả các loại tư tưởng hay tín ngưỡng nào từ ngoài vào muốn tồn tại và phát triển, đều tự giác là sớm hay muộn phải tuân phục theo truyền thống văn hiến Việt từ ngàn xưa.
 

(1).   Theo Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái. Sđd.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 02 Tháng Hai, 2009, 10:45:13 PM
Trên cơ sở văn minh nông nghiệp và xóm làng, nhân dân ta tiếp thu một số yếu tố văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ và vùng biển phương Nam. Nền văn hoá Việt không co lại để tự vệ một cách bảo thủ cô lập. Nó không từ chối những đóng góp của những yếu tố bên ngoài, mà còn tỏ ra có khả năng thu nạp và dung hoá mạnh mẽ những cái hay, cái đẹp của các nền văn minh ngoại lai, kể cả của nước đang xâm lược và đô hộ mình.

Đáng lưu ý là trong văn hoá Trung Hoa được truyền bá xuống phương Nam có những yếu tố vốn là của Bách Việt được người Hán hấp thụ, hệ thống và nâng cao thêm, nên nó được người Việt tiếp nhận khá dễ dàng.

Qua Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nhân dân ta đã tìm biết một Trung Hoa cao cả và tốt đẹp của nhân dân lao động, thâu hoá một số thành tựu và văn hoá của nhân dân Trung Quốc, để chống lại thứ văn hoá đế chế hiểm độc, tàn bạo của giai cấp thống trị, công cụ bóc lột và nô dịch nhân dân trong và ngoài nước.
 
Đó là kết quả của quá trình “giao thoa văn hoá” - kết quả sự đan xen, hỗn dung, tiếp xúc - biến đổi, hội tụ và kết tinh văn hoá Việt cổ với các văn hoá khác để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh - Việt. Nói cách khác, đây là kết quả của sự tác động qua lại giữa những nhân tố ngoại sinh và nội sinh.
 
Người Việt Nam ở thời Bắc thuộc có ý thức về tầm quan trọng của văn hoá dân tộc trong cuộc đấu tranh chổng đô hộ Hán - Đường. Nếu để bị đồng hoá về mặt văn hoá thì dù có bám trụ kiên cường trên quê cha đất tổ, dù có giữ được dòng máu dân tộc đi nữa thì sớm muộn cũng sẽ bị mất nước, mất độc lập tự do. Người Việt trụ vững trên quê hương, quyết tâm bảo vệ và phát huy bản lĩnh, bản sắc của mình.  Những giá trị vật chất và tinh thần được cha ông sáng tạo, giữ gìn và phát huy trong suốt chặng đường tiến hóa lịch sử gắn liền với nền văn minh lúa nước sông Hồng đã thể hiện sức sống mãnh liệt, khả năng thích ứng rất cao trong mọi hoàn cảnh khó khăn, tiến hành đấu tranh có hiệu quả chống lại nền văn hoá đế chế độc hại của kẻ xâm lược.
 
Và nhờ những phẩm chất cao quý, những giá trị văn hoá của mình mà người Lạc Việt và Âu Việt có thể tồn tại như một thực thể độc lập của nền văn hoá phía nam sông Dương Tử sau hàng ngàn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc. Việc tiếp thu văn hoá Phật giáo từ ấn Độ - Nam á là một đối trọng làm dung hoà, cân bằng với việc tiếp thu văn hoá Nho giáo từ Trung Hoa - Đông á.

Trong diễn trình văn hoá Việt Nam thời Bắc thuộc có hai khuynh hướng đối lập:

- Khuynh hướng Hán hoá là mưu đồ có ý thức của bọn đô hộ và tay sai, phần nào có tác dụng gần như vô thức về phía dân gian.

- Khuynh hướng Việt hoá nhằm giữ lại và phát huy những tinh hoa văn hoá cổ truyền đã được định tính và định hình từ thời đại dựng nước, hấp thu, hội nhập những yếu tố văn hoá bên ngoài theo yêu cầu của cuộc sống và thời đại; sắp xếp, cấu trúc lại trên nền tảng Việt.

Thời Bắc thuộc, lịch sử và văn hoá Việt Nam đã có một lần đứt gãy: cái đứt gãy nặng nề, từ Đông Sơn sang “Hán hoá”, để tạo nên Hán - Việt, một dạng thức mới của cá tính Việt Nam. Bản sắc văn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Nền văn hoá dân tộc, trong đó những yếu tố làm thành bản sắc riêng, luôn được tuyển chọn và thắt loe, luôn được kế thừa và đổi mới, thêm giàu có và đầy sức sống, luôn đấu tranh, vươn lên, phát triển không ngừng. Thực tế lịch sử trong hơn 1.000 năm chống Bắc thuộc đã chứng tỏ sức sống và sự vươn lên kỳ diệu của nền văn hoá - văn minh Việt cổ.

Dưới thời Bắc thuộc, việc “Hán hoá” tưởng chừng như không tránh khỏi. Nhưng kết cuộc thì Việt hoá mạnh hơn Hán hoá. Trong cả hai khuynh hướng trên, dĩ nhiên khuynh hướng Việt hoá luôn là chủ đạo và trên cơ sở đó, trong cuộc đấu tranh phong Bắc thuộc, đất nước ta không bị diệt vong, dân tộc ta không bị đồng hoá, mà còn lớn lên về mọi mặt để có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần chiến thắng chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, giành lại độc lập tự chủ.  Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng, cuộc đấu tranh chống Hán hoá, bảo vệ di sản văn hoá cổ truyền nói trên là một bộ phận của sự nghiệp đấu tranh chống Bắc thuộc vừa là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tiến trình đấu tranh vũ trang giành độc lập của nhân dân ta vào đầu thế kỷ X với sự toàn thắng của phong trào dân tộc.

Một sự kiện hiếm thấy trong lịch sử thế giới là các bộ tộc người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, hình thành và phát triển một nền văn hoá dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để hoà hợp với và làm chủ thiên nhiên, hoà hợp với và làm chủ xã hội xóm làng, cố kết với nhau, tương thân tương ái, vừa dũng cảm vừa thông minh. Chính nhờ sức mạnh khôn lường của nền văn hoá ấy mà dưới ách áp bức, đô hộ hơn một ngàn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta đã không hề bị đồng hoá và cuối cùng đã vùng lên chiến thắng, giành lại độc lập tự chủ.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:23:26 AM

II. VỀ TRUYỀN THỐNG VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC

Từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ X, trên đất nước ta diễn ra cuộc đấu tranh bền bỉ kiên cường của dân tộc ta, một dân tộc đang trên bước đường hình thành nhưng có một sức sống mãnh liệt chống lại ách thống trị của quân xâm lược hung bạo, nhất định không để mất nước, không chịu làm nô lệ, không để các lực lượng bành trướng xâm lược đồng hoá. Hơn 1.000 năm Bắc thuộc cũng là hơn 1.000 năm đấu tranh kiên trì chống Bắc thuộc để khẳng định quyền làm chủ đất nước của mình.

Trong lịch sử nhân loại, không một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, bị mất nước suốt trong hơn 1.000 năm mà lại quật khởi vùng lên giành lại được độc lập. Cái gì đã giúp nhân dân ta làm nên điều kỳ diệu ấy?

Có thể giải thích điều đó ở sức sống mãnh liệt của dân tộc bắt nguồn trước hết từ nền văn hoá, văn minh dân tộc, từ truyền thống độc lập tự cường, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc ta, một truyền thống được hun đúc từ bao đời và được tôi luyện trưởng thành trong quá trình đấu tranh chống xâm lược. Và cũng trong quá trình đó những truyền thống quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam đã bước đầu hình thành, phát triển và thể hiện tính ưu việt của nó trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh vì độc lập dân tộc.

Do điều kiện tư liệu lịch sử quân sự còn lại quá nghèo nàn, nên không thể trình bày được nghệ thuật quân sự của riêng từng cuộc khởi nghĩa, từng cuộc chiến tranh, dưới đây chỉ nêu khái quát một số biểu hiện bước đầu của truyền thống quân sự và nghệ thuật quân sự trong giai đoạn lịch sử này.
 
1. Các hình thức khởi nghĩa và chiến tranh chống phong kiến phong Bắc xâm lược.

 Các sử gia phong kiến Trung Hoa cố tình che giấu khi thép về cuộc đấu tranh của các dân tộc bị đô hộ, nhưng trong thực tế lịch sử thì đã nổ ra rất nhiều cuộc khởi nghĩa. “Ngươi Giao châu hay nổi loạn” (1),  đó là kết luận rút ra của kẻ thống trị. Thực chất, đó là tinh thần quật khởi của nhân dân ta.  Cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta diễn ra liên tục, thường xuyên, lúc ngấm ngầm, lúc công khai, có khi thành công có khi thất bại, nhưng đó là cả một quá trình phát triển ngày càng cao của tinh thần dân tộc.

Cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau với hai loại hình khởi nghĩa và chiến tranh: thứ nhất là các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, chống ách đô hộ, giành lại độc lập; thứ hai là các cuộc chiến tranh tự vệ, các cuộc kháng chiến chống xâm lược nhằm bảo vệ nền độc lập tự chủ.

Sau thất bại của An Dương Vương (179 TCN), nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị chìm đắm trong đêm trường bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Và cũng từ giai đoạn này, lịch sử quân sự Việt Nam bắt đầu xuất hiện hình thức khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng để giành lại nền độc lập tự chủ. 

Khởi nghĩa Tây Vu Vương (năm 111 TCN) là cuộc nổi dậy đầu tiên của nhân dân ta chống Bắc thuộc mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới quyền lãnh đạo của một dòng họ quý tộc Âu Lại cũ, nhằm khôi phục lại quyền độc lập cho đất nước Âu Lạc.

Bấy giờ, quân Hán đánh chiếm Phiên Nhung, hạ đô thành Nam Việt (Quảng châu), nội bộ Nam Việt bị phân hoá chia rẽ, bọn quan lại Nam Việt nhiều người đầu hàng nhà Hán. Chớp thời cơ đó, Tây Vu Vương (thủ lĩnh Tây Vu - Cổ Loa) đã thống suất dân chúng nổi dậy khởi nghĩa chống bọn sứ giả nhà Triệu. Cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, Tây Vu Vương bị giết, nhưng nó đã mở ra một trang sử mới về tinh thần chống đô hộ của nhân dân ta.


(1) Xin xem lời tâu của thứ sử Đào Hoàng lên vua Tấn (thế kỷ III).  “Người Giao châu... chán sự yên vui, thích gây hoạ loạn” (Tấn thư, Đào Hoàng truyện).   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:25:00 AM

Từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên miền đất Âu Lạc, mức độ bóc lột và đồng hoá của bè lũ quan lại ngoại bang càng trở lên khốc liệt. Phong trào chống đô hộ của nhân dân ta trong buổi đầu công nguyên đã nổi dậy mà đỉnh cao nhất, chói lọi ngàn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Cuộc nổi dậy oanh liệt ấy là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại, nó như một tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam, tinh thần vùng lên khởi nghĩa, coi độc lập dân tộc là cái quý giá nhất: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. . . “ (Lê Văn Hưu) .

Đó là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn và phát triển thành chiến tranh giải phóng chống ách đô hộ của phong kiến Hán tộc đầu tiên của nhân dân Âu Lạc.

Khởi nghĩa Tây Vu Vương và khởi nghĩa Hai Bà Trưng là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống Bắc thuộc, chống Hán hoá, vì nền độc lập tự chủ, mở ra một trang mới trong lịch sử quân sự Việt Nam: lịch sử các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc.

Tiếp nối tinh thần quật khởi của Hai Bà Trưng, các tầng lớp nhân dân ta, từ quần chúng nghèo khổ cho tới các quý tộc và thủ lĩnh người Việt yêu nước. từ miền xuôi đến miền ngược, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược, hết giặc Ngô, giặc Tấn, giặc Tống, giặc Lương cho đến bọn phong kiến Tuỳ - Đường.

Qua thế kỷ này sang thế kỷ khác, phong trào đấu tranh giải phóng của nhân dân ta diễn ra sôi sục, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở nhiều quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178- 181 ; của Bà Triệu ở Cửu Chân rồi lan rộng ra Giao Chỉ năm 248, khiến “Cả Giao châu đều chấn động”; khởi nghĩa của Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến với việc giành lại được quyền tự chủ trong một thời gian (468-485).

Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn phát triển mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (544).

Từ thế kỷ VII, dưới ách cai trị bạo ngược của phong kiến nhà Tuỳ, rồi sau đó là của bọn phong kiến nhà Đường, các tầng lớp nhân dân, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên.

Điều đáng lưu ý nhất là các cuộc nổi dậy đó chủ yếu không phải là nổi dậy của dân cày chống bọn điền chủ vì sưu cao thuế nặng, mà chủ yếu là nổi dậy của dân tộc Việt Nam chống đô hộ, giành độc lập tự chủ.
 
Ách đô hộ nhà Đường thường bị rung chuyển bởi những đòn công phá của phong trào cứu nước của nhân dân ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687, của Mai Thúc Loan năm 722, của Phùng Hưng những năm 766-779 và của Dương Thanh những năm 819-820. Trong số những cuộc nổi dậy mạnh mẽ đó cũng có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế).

Từ căn cứ Vạn An (Nghệ An), nghĩa quân Mai Thúc Loan đã liên kết với nhiều lực lượng chống nhà Đường, tiến ra bắc, tiến công phủ thành Tống Bình. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách, trước khí thế ngút trời của cuộc chiến tranh giải phóng của người Việt đã bỏ thành, chạy tháo thân về nước.
 
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không duy trì được lâu bởi ngay sau đó vua Đường đã cử danh tướng Dương Tư Húc dẫn 10 vạn quân sang đàn áp. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa với hình thức đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn đó đã cổ vũ nhân dân ta tiếp tục đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

Đầu thế kỷ X, xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của Khúc Thừa Dụ. Bấy giờ, triều đình nhà Đường ở Trường An và chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu; cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao, bọn quan lại đô hộ bất lực. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng có uy tín ở Hồng châu nhân thời thế, tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người và khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống bọn đô hộ, giành được chính quyền rồi tự xưng là tiết độ sứ.

Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đại diện của triều đình Trường An tại An Nam. Về danh nghĩa thì như vậy, nhưng thực chất họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:29:09 AM

Trên thực tế, từ nửa cuối thế kỷ thứ V, anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến cũng lợi dụng khi chính quyền phong kiến phương Bắc suy yếu đã tự “dấy nghiệp”, xây dựng một chính quyền mang màu sắc “thứ sử” với ý thức dân tộc rất cao, đẩy mạnh xu hướng ly tâm chính trị ở Giao châu đối với Bắc quốc.

Đó là hiện tượng thường xảy ra mỗi khi đế chế Trung Hoa tan ra thành nhiều mảnh vụn phong kiến cát cứ, khi mà bộ máy thống trị, đô hộ của chúng ở nước ta không còn chặt chẽ và mạnh mẽ như trước nữa. Tuy nhiên, đến thời Khúc Thừa Dụ, tinh thần dân tộc Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và sự nghiệp của họ Khúc đã đặt nền móng vững vàng tạo nên sức mạnh dân tộc trong cuộc đấu tranh đi tới xoá bỏ hoàn toàn ách đô hộ trên đất nước ta. Họ Khúc, rồi sau này họ Dương còn giữ chức tiết độ sứ có nghĩa là chưa công khai tuyên bố nền độc lập, cố giữ thái độ hoà hoãn với đối phương để tranh thủ thời gian xây dựng chính quyền và lực lượng về mọi mặt.

Cánh ứng xử của họ Khúc quả là độc đáo mở đầu cho một truyền thống khôn khéo, mềm mỏng trong thế ứng xử đối ngoại với phong kiến phương Bắc, nhằm đạt mục đích là giành và giữ nền độc lập dân tộc.  Ở cạnh kề một nước lớn, từ sớm tổ tiên ta đã tỏ ra biết ứng xử linh hoạt để tồn tại và phát triển. Nhún nhường không phải lúc nào cũng biểu hiện yếu kém. Nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích mà lại đạt mục tiêu. Độc lập tự chủ là mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc ta thời đó.

Khởi nghĩa và chiến tranh giành độc lập tự chủ là hình thức đấu tranh chủ yếu của nhân dân ta trong suốt cả thời kỳ dài chống Bắc thuộc. Phần lớn các cuộc khởi nghĩa bị đàn áp thất bại; nhưng cũng có nhiều cuộc khởi nghĩa lớn ở địa phương phát triển mạnh, xây dựng được căn cứ chống giặc, giành được thắng lợi, đánh đổ chính quyền của bọn đô hộ ở từng nơi, từng lúc, từng bộ phận và thậm chí còn giành được chính quyền ở phủ thành, châu thành, khiến bọn quan lại đô hộ hoặc bị giết hoặc chạy tháo thân về nước.

Có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng có quy mô toàn quốc, lật đổ chính quyền đô hộ, thành lập chính quyền dân tộc trong một thời gian. Đó là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi và đưa đến thành lập chính quyền tự chủ của Trưng Vương năm (40-43). Đó là cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành công, đất nước được giải phóng, Lý Bí lên ngôi hoàng đế và thành lập nhà nước Vạn Xuân độc lập trong các năm 544-602. Đó là cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng (766-779), từ Đường Lâm tiến lên bao vây và hạ thành Tống Bình, rồi tổ chức chính quyền tự chủ, dẫu nền tự chủ đó còn rất mong manh...

Thời kỳ Bắc thuộc rất dài nhưng lại bị cắt thành nhiều khúc. Trưng Vương xây dựng và bảo vệ chính quyền tự chủ trong thời gian 3 - 4 năm; Nhà nước Vạn Xuân do Lý Bí thiết lập tồn tại trong gần 60 năm (544 - 602) . . .
Các cuộc khởi nghĩa dân tộc chính là sự đối trả bằng bạo lực có tổ chức của một dân tộc bị áp bức đối với kẻ đô hộ ngoại bang. Sự đối trả đó có thành công hay không tuỳ thuộc vào những điều kiện lịch sử, những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. 

Đó là sự đối sánh lực lượng giữa dân tộc bị áp bức với thế lực xâm lược thống trị họ, là sự chuẩn bị của quần chúng yêu nước và tài tổ chức chỉ huy của Bộ tham mưu khởi nghĩa.  Tuy chính quyền đô hộ luôn bị lật đổ, quan đô hộ nhiều lần phải chạy trốn về nước, nhưng các đế chế phong kiến Trung Hoa ở kề ngay phía bắc đất nước, còn đang mạnh, vẫn đủ sức tổ chức những đạo quân viễn chinh lớn sang xâm lược và tái chinh phục đất nước ta.

Chính vì thế, trong hơn mười một thế kỷ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nhân dân ta đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, các cuộc kháng chiến chống lại những đạo quân viễn chinh xâm lược của kẻ thù. Hai Bà Trưng cùng quân đội của mình đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc tiến công xâm lược tàn bạo của nhà Đông Hán trong suốt ba năm liền.

Nhà nước Vạn Xuân vừa được thiết lập, chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm thì đã bị quân Lương tiến công xâm lược. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước. Trải qua sáu năm kháng chiến, quân, dân Vạn Xuân chiến đấu anh dũng, kiên cường và giành được thắng lợi.

Tiếp sau cuộc kháng chiến chống Lương, nhân dân ta còn phải tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tuỳ xâm lược (năm 602) . Thất bại của Lý Phật Tử trong cuộc kháng chiến này đã đưa đất nước ta bị nhà Tuỳ rồi nhà Đường thống trị trong vòng ba thế kỷ. Chính quyền tự chủ của họ Khúc được xây dựng năm 905 và tồn tại trong 26 năm thì các năm 931 và 938, nhà Nam Hán liên tục hai lần đưa quân xâm lược.
 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:37:01 AM

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Lương Đình Nghệ (931) và Ngô Quyền (938) lãnh đạo đã đánh tan các cuộc tiến công xâm lược của quân Nam Hán, đưa đất nước vượt qua được những thử thách hiểm nghèo, chứng tỏ sự trưởng thành lớn mạnh của ý thức tự chủ và sức sống phi thường của dân tộc. Chiến công của Ngô Quyền là cột mốc lịch sử, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ lâu dài của phong kiến phương Bắc trên đất nước ta.

Như vậy, trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, lịch sừ quân sự Việt Nam đã xuất hiện hai hình thức đấu tranh chủ yếu: khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc và chiến tranh giữ nước. Với hai hình thức đó, cuộc chiến đấu của nhân dân ta tuy gian nan, vất vả, lâu dài và đầy hy sinh, nhưng cuối cùng đã giành được thắng lợi. Nhân dân ta đã lật đổ ách thống trị ngoại bang, đã xây dựng và bảo vệ được chính quyền độc lập tự chủ của mình.
 
2. Nghệ thuật “trì cửu chiến”, xây dựng căn cứ chiến đấu, tiến hành chiến tranh du kích.

Trong điều kiện phải vừa xây dựng lực lượng vừa chiến đấu, trong thế phải “lấy ít địch nhiều’, “lấy yếu chống mạnh”, ông cha ta đã biết dùng kế “đánh lâu dài” (trì cửu chiến) và lấy đánh du kích làm phương thức tác chiến chủ yếu để tiến công địch.

Cuộc kháng chiến chống Lương thời Lý Bí - Triệu Quang Phục là một cuộc chiến tranh điển hình về sự vận dụng các hình thức đánh giặc. Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài trong sáu năm (545-550), đã để lại những bài học đầu tiên về nghệ thuật tiến hành cuộc chiến tranh du kích đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù lớn mạnh.

Giữa năm 545, sau khi đã đàn áp xong các phong trào phản kháng của các dân tộc ít người, nhà Lương phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước Vạn Xuân, hòng đặt ách cai trị của chúng. Là một vương triều thống trị trên cả vùng Giang Nam rộng lớn, trù phú và đông dân, nhà Lương đã huy động một lực lượng quân sự mạnh cho cuộc viễn chinh, gồm hàng vạn quân do các tướng Dương Phiêu và Trần Bá Tiên chỉ huy.

Từ khi khởi nghĩa thành công, nhà nước Vạn Xuân được thành lập, Lý Nam Đế gấp rút xây dựng đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và chăm lo tổ chức lực lượng quân sự để phòng chống ngoại xâm.

Số quân thường trực cả nước lên tới vài vạn người. Tuy nhiên, so với quân Lương, một đội quân được tổ chức chính quy, được trang bị, huấn luyện đầy đủ và đã trải qua nhiều năm đàn áp các phong trào khởi nghĩa, thì quân đội mới được tổ chức của nước Vạn Xuân còn thua kém nhiều mặt. Trong hơn một năm đầu của cuộc kháng chiến, Lý Nam Đế chỉ thực hành một phương thức tác chiến là tập trung lực lượng quân đội tiến hành những trận lớn trong thế phòng ngự, do đó quân đội Vạn Xuân đã bị tổn thất nặng và liên tục phải rút bỏ hết nơi này đến nơi khác. 

Trước sức tiến công mãnh liệt của quân Lương, các thành Chu Diên, thành Tô Lịch và thành Gia Ninh đã nhanh chóng bị hạ. Sau thất bại lớn ở hồ Điển Triệt, quân đội Vạn Xuân hầu như tan rã, tướng Triệu Quang Phục, người được giao quyền chỉ huy lực lượng còn lại đã thay đổi cách đánh, rút quân về lập căn cứ ở vùng đầm Dạ Trạch, lấy đó làm đất đứng chân để tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dài.
 
Dạ Trạch là một vùng đầm lầy ven sông Hồng, rộng mênh mông, lau sậy um tùm. Ở giữa là một bãi phù sa rộng, có thể làm ăn sinh sống được. Đường ra vào rất kín đáo khó khăn, chỉ có thể ra vào bằng thuyền nhỏ. Vùng Dạ Trạch tuy có địa hình rất hiểm trở, nhưng lại nằm sâu giữa nội địa, ngay giữa miền đồng bằng đông dân, giàu lúa gạo, tức là vừa thuận lợi cho tác chiến du kích vừa thuận lợi trong việc động viên và tiếp nhận sự chi viện sức người, sức của dồi dào của nhân dân các địa phương quanh vùng.
 
Mặt khác, xét về khả năng tác chiến, quân Lương mạnh ở bộ binh và kỵ binh, còn quân ta lại thông thạo sông nước, giỏi thủy chiến. Vì vậy, chọn Dạ Trạch làm căn cứ để tiến hành cuộc chiến tranh du kích là chính xác, phát huy được sở trường của quân ta, hạn chế sở trường quân giặc.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:42:13 AM

Triệu Quang Phục đóng quân ở bãi đất nổi. Ngày ngày quân sĩ thay phiên nhau luyện tập và sản xuất, tự túc lương ăn, ban ngày im hơi lặng tiếng như không có người, ban đêm cho quân kéo thuyền ra đánh úp quân thù, “làm kế trì cửu’ đánh giặc.

Bằng hình thức đánh nhỏ, đánh lén, đánh úp nhằm tiêu hao và triệt đường lương thảo của giặc, quân ta đã hãm quân Lương vào một tình thế hết sức căng thẳng, người mệt, lương tuyệt, nguy khốn đến tuyệt vọng. Sau ba năm dựa vào căn cứ Dạ Trạch để đánh du kích, quân ta vừa làm thất bại các đợt tiến công, truy kích của giặc, vừa làm cho quân địch mệt mỏi, suy yếu, trái lại, lực lượng kháng chiến được tăng cường về mọi mặt.

Đến mùa xuân năm 550, nhân khi nhà Lương có nổi loạn, tướng Trần Bá Tiên cùng một bộ phận quân Lương bị điều về dẹp loạn, Triệu Quang Phục chớp thời cơ đã tập trung lực lượng chuyển lên phản công lớn, quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi.
 
Về cuộc chiến tranh du kích này, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Đinh Mão, Thiên Đức, năm thứ tư (1547)... Mùa xuân, tháng giêng. . . Triệu Quang Phục cầm cự với Trần Bá Tiên, chưa phân thắng bại. Nhưng quân của Bá Tiên rất đông, Quang Phục liệu thế không chống nổi, bèn lui về giữ đầm Dạ Trạch. Đầm này ở huyện Chu Diên, chu vi không biết bao nhiêu dặm, cỏ cây um tùm, bụi rậm che kín, ở giữa có nền đất cao có thể ở được, bốn mặt bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc nhỏ chống sào đi lướt trên cỏ nước mới có thể đến được. Nhưng nếu không quen biết đường lối thì lạc không biết là đâu, lỡ rơi xuống nước liền bị rắn độc cắn chết. Quang Phục thuộc rõ đường đi lối lại, đem hơn hai vạn người vào đóng ở nền đất trong đầm, ban ngày tuyệt không để lộ khói lửa và dấu người, ban đêm dùng thuyền độc mộc đem quân ra đánh doanh trại của quân Bá Tiên, giết và bắt sống rất nhiều, lấy được lương thực để làm kế cầm cự lâu dài. Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không đánh được. Người trong nước gọi là Dạ Trạch Vương” (1).  “Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi (Bá Tiên) về, uỷ cho tì tướng là Dương Sàn đánh nhau với vua. Vua tung quân ra đánh, Sàn chống cự, thua chết. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Nước ta được yên” (2).
 
Như vậy, cuộc kháng chiến chống Lương của nhân dân ta từ Lý Nam Đế qua Triệu Quang Phục đã có sự chuyển hướng chiến lược, tức là thay đổi phương thức tác chiến chiến lược. Nếu trong thời kỳ đầu, Lý Nam Đế chỉ dựa vào quân đội còn quá non trẻ, co cụm ở một vài thành luỹ mà cố thủ, chỉ sử dụng phương thức đánh lớn, đánh trận địa để ngăn chặn quân Lương, thì giai đoạn sau Triệu Quang Phục đã thực hành đánh lâu dài, lấy đánh tiêu hao, phục kích, đánh úp làm phương thức tác chiến chủ yếu.

Với lối đánh phòng thủ, dàn trận đối địch với giặc như ở Chu Diên, ở thành Tô Lịch ở Gia Ninh hay tại động Khuất Lão, Lý Nam Đế không thể giành được thắng lợi lực lượng quân sự nhỏ bé, non trẻ của nước Vạn Xuân không thể cản phá nổi sức tiến công hăng hái, mãnh liệt buổi đầu của gần chục vạn quân xâm lược nhà Lương.
Qua kinh nghiệm thất bại của những trận tập trung lực lượng đánh chặn địch ở giai đoạn đầu, Triệu Quang Phục đã chuyển hướng chiến lược, lui về đóng ở Dạ Trạch, thực hành cách đánh phù hợp với điều kiện đối sánh lực lượng hai bên, phát huy lợi thế bên mình, hạn chế sức mạnh của địch.

Do gặp khó khăn về địa hình, giặc Lương không thể thực thi được những trận tiến công lớn, truy kích ồ ạt, mà buộc phải chia quân bao vây quanh vùng, phải đánh nhỏ lâu dài với ta.  Đó chính là điều quân thù không muốn và không phải là cách đánh sở trường của kẻ xâm lược. Còn quân ta, với truyền thống giỏi bơi thuyền, đánh thủy, lại thông thuộc đường đi, nên chỉ bằng những lực lượng nhỏ được phân ra cơ động mau lẹ đánh chặn các ngả cũng có thể bẻ gãy các mũi tiến công của quân giặc, hoặc gặp khi tình thế bất lợi có thể nhanh chóng rút lui an toàn vào sâu căn cứ, khiến quân Lương không sao truy tìm được.

Sử chép: “Bá Tiên theo hút mà đánh, nhưng không sao đánh được’ chính là nói đến hiệu quả của lối đánh du kích của ta, cũng biểu hiện sự bất lực, thất bại của quân Lương trong các cuộc tiến công, truy quét vào khu căn cứ Dạ Trạch.

Không dừng lại ở những hoạt động tác chiến phòng ngự bảo toàn lực lượng ở Dạ Trạch, Triệu Quang Phục còn cho quân chủ động tiến công địch ở ngoài khu căn cứ bằng những trận phục kích, đánh lén với những lực lượng nhỏ nhưng thiện chiến để tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, từng đồn binh giặc, tịch thu lương thảo và khí giới, gây hoang mang cho chúng.
 
Với lối đánh “trì cửu’, hàng chụt, hàng trăm trận như thế đã diễn ra hết tháng này qua năm khác, tổng số thiệt hại của địch ngày càng lớn. Đó là điều kiện thuận lợi để Triệu Quang Phục chớp thời cơ phản công thắng lợi. 


(1), (2).  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr. 181. 183.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:25:18 PM

Hồi đầu công nguyên, sau khi thất bại ở Lãng Bạc, thất thủ ở Cổ Loa và Mê Linh, Trưng Vương đưa lực lượng kháng chiến của mình về chiến đấu cầm cự với quân Đông Hán tại vùng rừng núi Cấm Khê (Sơn Tây - Ba Vì). Cấm Khê đã trở thành một căn cứ kháng chiến của Hai Bà Trưng.

Đây là một vùng đất có thế thiên hiểm, tựa vào vùng rừng núi hiểm trở (Hoà Bình) và có đường thượng đạo vào Cửu Chân (Thanh Hoá) và gần với ba dòng sông lớn là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy. Cấm Khê là một căn cứ phòng ngự khá tốt của nghĩa quân Trưng Vương và Hai Bà Trưng đã cầm cự với quân Mã Viện trong hai, ba năm liền. Dựa vào căn cứ rừng núi có địa thế hiểm yếu, nhưng Hai Bà Trưng lại không có cơ sở sức người, sức của lợi hại như Triệu Quang Phục ở vùng Dạ Trạch. Lúc đó, quân Đông Hán còn rất mạnh, còn lực lượng quân đội của Trưng Vương đã bị tổn thất quá nhiều, lại không có cơ sở để phát triển, không thể tiến hành đánh du kích lâu dài được nên đã bị hao mòn và thất bại.

Nghệ thuật đánh lâu dài và tiến hành chiến tranh du kích của tổ tiên ta xuất hiện từ cuộc kháng chiến chống Tần cuối thế kỷ III TCN đã được kế thừa và phát triển một bước trong kháng chiến chống Lương thế kỷ VI.

Trước kẻ thù lớn mạnh, quân đông và tàn bạo, tổ tiên ta trong quá trình đấu tranh giành độc lập đã biết dựa vào dân và phát huy sức mạnh của đông đảo dân chúng ở các xã thôn, lợi dụng địa hình hiểm trở, với chiến lược đánh lâu dài và cách đánh thiên biến vạn hoá của chiến tranh du kích, từng bước làm suy yếu quân giặc, tạo điều kiện có lợi để phản công giành thắng lợi ở thời cơ thích hợp.
 
Tuy đang trong giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển, song nghệ thuật đánh giặc của người Việt cổ đã tỏ rõ trí thông minh sáng tạo, biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện cụ thể của mình nhờ đó đã có những lần giành được thắng lợi.

Cách đánh đó là cơ sở ban đầu rất quý báu, đặt nền móng cho một nền nghệ thuật đánh giặc độc đáo mang sắc thái riêng của người Việt Nam - nghệ thuật đánh giặc của một dân tộc nhỏ phải thường xuyên đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong suốt quá trình đấu tranh giữ nước.
 
Tuy rằng, nghệ thuật chiến tranh du kích buổi đầu còn đơn giản thô sơ, còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, nhưng nó đã thể hiện tài nghệ của người Việt cổ; về mặt quân sự đã biết dựa vào cấu trúc xã hội hạ tầng, phát huy sức mạnh truyền thống để tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh “nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều” trong quá trình chống xâm lược và đồng hoá, bảo vệ những giá trị thiêng liêng của người dân Việt.

Suốt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, sau các cuộc khởi nghĩa thắng lợi, trong quá trình xây dựng bộ máy chính quyền của mình, tổ tiên ta đã chuyển các tổ chức nghĩa binh thành quân đội thường trực. Nhưng do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, tổ chức chính quyền còn sơ khai, tính chất phân tán của các địa phương còn nặng, nên tổ chức quân đội thường trực còn rất đơn giản, trình độ trang bị, huấn luyện và tính chất chính quy còn rất thấp.

Chính quyền Trưng Vương, nhà nước Vạn Xuân hay nền độc lập do Phùng Hưng giành được tồn tại chưa được bao lâu thì các cuộc xâm lược mới của các đế chế Đông Hán, Lương và Đường đã ập đến với những đội quân thường trực rất đông, được trang bị và huấn luyện đầy đủ.

Các cuộc chiến tranh giữ nước tiêu biểu của thời kỳ này như kháng chiến chống Đông Hán của Hai Bà Trưng (42-44), kháng chiến chống Lương của Lý Bí - Triệu Quang Phục (545-550), kháng chiến chống Tuỳ của Lý Phật Tử (602) đều đã diễn ra trong sự hạn chế về mặt trình độ phát triển của tổ chức và trang bị quân đội.
 
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp các công xã cổ truyền mang nặng tính chất khép kín địa phương, nên sau mỗi lần khởi nghĩa thắng lợi thì xu hướng phân tán về chính trị lại bộc lộ rõ rệt và các cuộc xung đột tranh giành quyền lợi giữa các thủ lĩnh, thổ hào địa phương lại trỗi dậy, phân chia phạm vi thế lực. Điển hình là việc tranh đoạt quyền bính và phạm vi cai trị giữa Lý Thiên Bảo và Triệu Quang Phục sau kháng chiến chống Lương thắng lợi, việc tranh đoạt vương quyền giữa Phùng Hải và Phùng An sau khi Phùng Hưng mất.

Sự phân tán chính trị đó là trở ngại lớn trực tiếp ảnh hưởng đến việc biên chế, trang bị và chỉ huy chiến đấu của các lực lượng vũ trang.  Chính những hạn chế nói trên đã ảnh hưởng rất lớn đến phương thức tiến hành và hiệu quả chiến đấu trong các cuộc chiến tranh giữ nước giai đoạn này.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:26:47 PM
Các hình thức đánh lớn, đánh tập trung đối địch với quân xâm lược trong các cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, của Lý Bí hay Lý Phật Tử đều dẫn đến thất bại. Nghệ thuật quân sự chiến -tranh cứu nước của tổ tiên ta thời đó nổi bật và có hiệu quả là nghệ thuật đánh du kích. Do am hiểu địa hình sông nước, dựa vào làng xã, đầm lầy và núi non hiểm trở, đặc biệt là dựa vào sức mạnh của nhân dân, người Việt đã vận dụng cách đánh phục kích và tập kích từng bước tiêu diệt giặc.

Tuy cách đánh du kích trong giai đoạn chống Bắc thuộc còn đơn giản và là bước đầu của một truyền thống đánh giặc, nhưng đó là những khởi đầu rất quan trọng để các thế hệ sau kế thừa và phát triển thành một nền nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam.

3. Sự xuất hiện bước dầu nghệ thuật tổ chức và thực hành khởi nghĩa toàn dân.

Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nghệ thuật khởi nghĩa giành chính quyền đã bắt đầu hình thành với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống Đông Hán thời Hai Bà Trưng (năm 40) và cuộc khởi nghĩa chống Lương thời Lý Bí (năm 542-543), những phong trào quật khởi của toàn dân giành thắng lợi oanh liệt nhất.

Tính chất toàn dân đã biểu hiện khá rõ rệt và thể hiện trên các mặt chủ yếu: tổ chức lực lượng, xây dựng địa bàn và phương thức tiến hành khởi nghĩa.
 
a) Về tổ chức xây dựng lực lượng và xây dựn địa bàn khởi nghĩa:

Sau khi bị nhà Triệu thôn tính và sáp nhập vào Nam Việt (năm 179 TCN), Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ). Trong 70 năm cai trị Âu Lạc, nhà Triệu chưa áp đặt ở đây một bộ máy cai trị như ở Nam Việt, chỉ mới đặt hai viên thứ sử trông coi hai quận, bên cạnh có một bộ máy quan lại giúp việc và một số quân đồn trú nhất định để bảo vệ. Dưới cấp huyện, các Lạc tướng người Việt vẫn nắm quyền cai quản các địa phương như cũ.
 
Từ khi đế chế Hán thôn tính Nam Việt (năm 111 TCN) , Giao Chỉ và Cửu Chân cũng bị sáp nhập luôn vào lãnh thổ của đế chế Hán và là hai quận trong số bảy quận thuộc châu Giao Chỉ do nhà Hán mới lập ra. Trụ sở của châu buổi đầu đặt ở Mê Linh, sau dời về Luỵ lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) .
 
Nhà Hán đặt tại các quận trực thuộc Giao Chỉ một bộ máy cai trị mới: đứng đầu cả châu là một viên thứ sử, đứng đầu mỗi quận là một thái thú (quan trông coi dân sự) và một viên đô uý (quan trông coi việc quân sự); bên cạnh đó là nhiều quan lại, chức sắc người Hán giúp việc và một lực lượng lớn quân đội được điều từ khắp miền Kinh, Sở (miền nam Trung Quốc) sang trấn trị.

Hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân cũng giống như những quận khác, được chia thành nhiều huyện. Tuy ở cấp huyện không có bộ máy người Hán trực tiếp cai trị, các Lạc tướng vẫn nắm quyền cai quản như trước, nhưng bọn thái Thú, đô uý đóng ở quận trị đã dùng “pháp luật” của Trung Quốc để kiềm chế, trói buộc các Lạc tướng và khống chế, áp bức dân chúng ở các địa phương. ở mỗi huyện đều xây một thành, trại để quân Hán trấn giữ.

Cả Giao châu có 56 thành thì riêng Giao Chỉ có 12 thành và Cửu Chân có 5 thành. Ngoài bộ máy cai trị và lực lượng quân sự trấn giữ và đàn áp nói trên, ở Giao Chỉ và Cửu Chân còn có một số đông bọn quý tộc, quan lại, đại địa chủ Hán tộc mới tới và đương nhiên chúng là chỗ dựa đáng kể làm tăng thêm thế lực cho bộ máy cai trị và lực lượng quân sự nhà Hán trên đất nước ta.

Kể từ những năm 40 trở đi, nhà Hán càng ra sức khống chế, áp bức dân ta, như bãi bỏ chế độ Lạc tướng, đặt quan lại trực tiếp cai trị đến cấp huyện, xây thêm thành lũy và bổ sung quân đội chiếm đóng. Từ đó về sau, trải qua các thời thuộc Đông Hán, thuộc Ngô, thuộc Tấn, thuộc Tề và thuộc Lương, các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị nước ta đều có xu hướng tăng cường bộ máy áp bức và dùng lực lượng quân sự làm công cụ đàn áp các phong trào khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:31:43 PM
Sử ký của Tư Mã Thiên cho biết nhà Hán “cách hai năm lại phải điều hàng vạn người” (1) đi đánh dẹp các quận phía nam của đế chế. Sách Diêm thiệt luận của Viên Khoan cũng viết: “Quân sĩ miền Kinh, Sở (Hồ Quảng) mỏi mệt vì Âu Lạc” (2).

Dưới ách thống trị của một thế lực ngoại xâm nằm sát liền biên giới, với một bộ máy đô hộ bằng bạo lực như trên, người Việt thuở đó một khi nổi dậy đấu tranh giành quyền tự chủ tất yếu sẽ gặp khó khăn bởi sự đàn áp khốc hệt của chúng. Đó là sự trấn áp của ngay bộ máy đô hộ bạo ngược ở khắp các quận huyện, đồng thời có sự chi viện nhanh chóng lực lượng từ chính quốc.

Trong tình hình đó, muốn giành thắng lợi phong trào khởi nghĩa không chỉ bao gồm một vài thành phần xã hội nhỏ bé nào, hoặc không chỉ có dân chúng ở một vài địa phương riêng lẻ, mà phải thu hút, lôi cuốn được cả dân tộc, được dân chúng cả nước tham gia. Nói cách khác, để có thể đánh đuổi được kẻ thù xâm lược to lớn và tàn bạo đang thống trị trên đất nước ta, lực lượng khởi nghĩa phải là lực lượng của toàn dân liên kết lại dưới sự lãnh đạo thống nhất của một bộ chỉ huy nghĩa quân có đủ tài năng và uy tín.
 
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là điển hình đầu tiên về một cuộc khởi nghĩa toàn dân chống xâm lược, cởi ách đô hộ ngoại bang. Ngay trong buổi đầu của lịch sử khởi nghĩa chống xâm lược, Hai Bà Trưng đã biết cách tập hợp, tổ chức lực lượng và xây dựng địa bàn khởi nghĩa.

Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là con gái Lạc tướng Mê Linh, một thủ lĩnh kiệt thiệt của người Việt, thuộc dòng dõi vua Hùng. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng Chu Diên. Chính sách cai trị thắt buộc của nhà Đông Hán với sự tàn bạo của tên thái thú Tô Định đã thôi thúc hai bà hiệp mưu tính kế nổi dậy chống Hán.
 
Hành động anh hùng của con gái được người mẹ hết lòng cổ vũ và giúp đỡ để giao thiệp rộng rãi với nhiều quan lang, phụ đạo, thủ lĩnh các vùng chung quanh, chiêu mộ nghĩa quân chống giặc.

Việc Tô Định giết Thi Sách trước khi khởi nghĩa nổ ra, càng khiến Trưng Trắc cùng em gái thêm quyết tâm tiến hành cuộc đấu tranh đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp của vua Hùng thuở trước. 

Lời thề chính nghĩa dân tộc bên sông Hát (Hát Môn) là nền tảng tư tưởng là mục tiêu chiến đấu để hai bà động viên tập hợp nhân dân khắp nơi đồng lòng hiệp sức đánh giặc.  Cũng nhờ mục đích chính nghĩa, hợp lòng người ấy mà khởi nghĩa Mê Linh đã lập tức được sự hưởng ứng của nhiều lạc tướng, Lạc dân trong toàn lưu vực sông Hồng (quận Giao Chỉ).

Đặc biệt cuộc khởi nghĩa này có đông đảo phụ nữ tham gia. Trong đội ngũ nghĩa quân có nhiều phụ nữ được lịch sử suy tôn anh hùng dân tộc và được nhân dân thờ làm thần, có những bà mẹ già như Man Thiện, Diệu Tiên, có những người vợ như Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Thị Hoa, có những cô gái trẻ như Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, Xuân Nương, Liễu Giáp, Việt Huy, Ả Di, Ả Lã, Nàng Đê, v.v.. Tham gia nghĩa quân cũng có nhiều nam tướng như ông Đống, ông Nà, ông Cai, Đỗ Năng Tế, Hoàng Đạo, Đông Bảng, Đô Chinh, Đô Dương, v.v..

Từ Mê Linh, từ Giao Chỉ, phong trào nổi dậy chống Đông Hán thống trị đã nhanh chóng toả lan ra toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ.

Tính chất toàn dân, cả nước của khởi nghĩa Hai Bà Trưng được ghi chép trong sử sách của Việt Nam và Trung Quốc, được phản ánh cả trong chính sừ và truyền thuyết dân gian lưu giừ muôn đời.

Chính sử của ta Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: úc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng em gái là Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về Nam Hải. Quân bà đi đến đâu như gió lướt đến đấy. Các tộc Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Lấy lại và dẹp yên được 65 thành  đất Lĩnh Nam. Bà tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Các thứ sử, thái thú ở quận Giao Chỉ đều chỉ bảo toàn được mình mà thôi” (3)  .


(1)  Sử ký, q.30 (Bình chuẩn thư); Tiền Hán thư, q.24.
(2) Viên Khoan: Diêm thiệt luận, q.14.
(3)  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 83.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:34:03 PM

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là sự kết tinh của cả một quá trình đấu tranh yêu nước khi thầm lặng, khi công khai của toàn dân. Nó vừa mang tính quy tụ vừa mang tính toả rộng; vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do hai bà lãnh đạo, vừa toả rộng trên toàn cõi Âu Lạc cũ, đạt tới một phong trào nổi dậy nhất loạt trên quy mô cả nước.
 
Từ chỗ quy tụ ở trung tâm Mê Linh, sau đó tiến xuống Tây Vu đánh chiếm thành Cổ Loa, rồi từ Cổ Loa thủy binh của hai bà vượt sông Hoàng, sông Đống, xuôi dòng sông dâu đánh chiếm Luỵ lâu, nơi châu trị và quận trị Giao Chỉ. 

Đòn tiến công chiến lược của nghĩa quân đập ngay vào trung tâm đầu não của chính quyền đô hộ nhà Hán ở phương Nam.  Hoảng sợ trước khí thế nổi dậy ngút trời của quần chúng Âu Lạc, bọn đầu sỏ địch không kịp và không dám chống cự, bỏ chạy tháo thân về nước. Khí thế của khởi nghĩa Mê Linh đã toả rộng vào Cửu Chân, Nhật Nam, sang tận Uất Lâm, Hợp Phố. . . Dân chúng Âu Lạc kẻ trước người sau theo thủ lĩnh địa phương đều tuyên bố theo phục Hai Bà Trưng và suy Tôn Trưng Trắc làm vua.

Đúng năm thế kỷ sau trên đất nước ta lại một lần nữa diễn ra một sự kiện điển hình về sức mạnh quật khởi chống ngoại xâm của toàn dân, đó là cuộc khởi nghĩa Lý Bí những năm 542-543.

Nhân lòng oán giận của nhân dân đối với quân xâm lược, Lý Bí đã hên kết với hào kiệt các châu trên đất nước ta đồng thời nổi dậy. . . Tinh Thiều là người đồng hương giỏi văn chương bất mãn vì sự đối xử bất công của nhà Lương, thủ lĩnh Chu Niên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục cùng với Phạm Tu, một nhân vật nổi tiếng lúc đó đã sớm tham gia nghĩa quân Lý Bí. Đứng trước khí thế của cuộc khởi nghĩa lớn, có sự liên kết giữa hào kiệt và dân chúng các địa phương, Tiêu Tư khiếp hãi, chạy trốn về Quảng châu. Nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được thành Long Biên, trị sở của chính quyền đô hộ.

 Chính do sức mạnh nổi dậy của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên khắp các châu huyện cùng nổi dậy, cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành công nhanh chóng và sau đó đánh tan hai đợt phản công của quân Lương, giành toàn quyền làm chủ đất nước. Nhà nước Vạn Xuân độc lập ra đời và tồn tại trong 60 năm.

Ngoài hai cuộc khởi nghĩa điển hình nói trên, khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722) cũng là một phong trào nổi dậy chống đô hộ rộng lớn của nhân dân ta. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đê) là một dân phu có tài trí và khoẻ mạnh, do yêu nước, căm thù quân xâm lược đã kêu gọi những người anh em từng cùng ông phải đi gánh vải quả nộp cho chính quyền nhà Đường nổi dậy khởi nghĩa.
 
Hàng trăm người từ các phường săn quanh vùng và sau đó là nhân tài khắp các châu Hoan, Diễn, Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) cũng đến tụ hội dưới cờ nghĩa của ông. Sử nhà Đường cho rằng Mai Thúc Loan đã liên kết được dân chúng trong 32 châu (Cựu Đường thư).  Mai Thúc Loan lợi dụng địa thế vùng Sa Nam xây dựng căn cứ chống giặc.

Đấy là vùng rừng núi rậm rạp nằm cạnh sông Lam ở khúc hiểm sâu. ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm, đóng đại bản doanh. ở đấy có thành Vạn An và một hệ thống đồn trại nương dựa vào nhau, có thung lũng rộng làm nơi đóng quân và dự trữ lương thực, vũ khí. Chung quanh có Đụn Sơn, Biểu Sơn, Liêu Sơn, Ngọc Đái Sơn và sông Lam vây bọc, bảo vệ... 

Từ Vạn An, nghĩa quân hoạt động toả rộng khắp các vùng. Người Việt ở miền xuôi cũng như tù trưởng và dân chúng miền núi thuộc các châu kim của “Hoan châu đô đốc phủ’ đều nhiệt tình hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Thế lực của nghĩa quân càng thêm mạnh khi Mai Thúc Loan cử người đi giao thiệp, liên kết với các nước Chăm pa ở phía nam, Chân Lạp ở phía tây và cả nước Kim Lân ngoài biển (Malaixia). 

Trước khí thế ngút ngàn của cuộc khởi nghĩa, bè lũ đô hộ đã khiếp hãi bỏ thành, chạy tháo thân về nước. Đất nước được giải phóng, nhân dân khắp nơi nô nức theo Mai Hắc Đế, lực lượng nghĩa quân phát triển tới hàng chục vạn người.
 
Nghệ thuật tổ chức lực lượng và xây dựng địa bàn khởi nghĩa đã biểu hiện rõ nét trong các cuộc khởi nghĩa nói trên.  Tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng có đông đảo thành viên các tầng lớp người Việt, từ Lạc tướng, thủ lĩnh địa phương, đông đảo dân chúng và đặc biệt có cả phụ nữ.

Tham gia khởi nghĩa Lý Bí cũng có các hào trưởng, những nhân tài người Việt yêu nước và mọi tầng lớp nhân dân nổi dậy. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan đã tập hợp được đông đủ các thành phần xã hội. Từ những người dân phu, phường săn, nông dân và hào kiệt khắp các vùng đều tham gia nghĩa quân đánh giặc.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:35:52 PM

Tính chất toàn dân vì thế đã được thể hiện đậm nét. Địa bàn và không gian khởi nghĩa mở rộng khắp nơi. Phong trào Hai Bà Trưng nổ ra trên khắp 65 huyện, thành: từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm, Hợp Phố, v.v. . Khởi nghĩa Lý Bí nổ ra từ đất Thái Bình, rồi mở rộng ra khắp các địa phương, trên nhiều châu huyện cả nước. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan không bó hẹp ở các châu huyện miền Trung mà còn mở rộng ra vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ lưu vực sông Lam đến lưu vực sông Hồng, từ Vạn An tiến ra bắc, bao vây phủ thành Tống Bình (Hà Nội). Tình hình đó khiến kẻ thù không thể tập trung được lực lượng để đàn áp các phong trào khởi nghĩa.
 
b) Về phương thức khởi nghĩa: Có thể chia khởi nghĩa Hai Bà Trưng thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất, từ khi khởi nghĩa bùng nổ ở đất Mê Linh đến khi đánh đổ được chính quyền đô hộ, cơ quan đầu não của chúng ở Luy lâu.

- Giai đoạn thứ hai, từ sau khi hạ thành Luy lâu cho đến khi giành được quyền làm chủ trên cả 65 huyện thành.
 
Cả hai giai đoạn nói trên đều tiến triển rất nhanh chóng, do đó cuộc khởi nghĩa đã đi đến toàn thắng trong một thời gian ngắn. Giai đoạn đầu diễn ra trong vòng tháng hai năm Canh Tý, tức trong khoảng tháng 3-40. Giai đoạn hai của cuộc khởi nghĩa cũng chỉ trong vài ba tuần lễ; như vậy, toàn bộ quá trình khởi nghĩa từ khi bùng nổ cho đến khi giành toàn thắng chỉ diễn ra trong vòng hai tháng.
 
Có thể nêu ra một số nét đặc sắc trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng như sau:

Là cuộc khởi nghĩa toàn dân với đủ mọi thành phần tham gia. Từ Lạc tướng (những thủ lĩnh người Việt, trước thuộc đẳng cấp thống trị nay đương nhiên quyền lợi bị tước đoạt bị chèn ép, có tinh thần dân tộc, căm ghét bọn thống trị ngoại bang) cho đến Lạc dân (những người dân công xã bị bóc lột khổ cực trăm bề, vốn có truyền thống yêu nước nên càng căm thù giặc hơn).

Kết hợp giữa tiến công và nổi dậy: Dân chúng nổi dậy kết hợp với lực lượng vũ trang (nghĩa quân) tiến công vào thành lũy địch (thời kỳ này, người dân với giáo mác, gậy gộc cũng đã có thể biến thành người chiến binh, dân binh, sát cánh cùng nghĩa quân chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu).
 
Nhất tề nổi dậy đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch. Sau khi đập tan “đô uý trị” (kiểu như căn cứ quân sự quan trọng nhất của địch) liền lập tức đánh vào Luỵ lâu, trung tâm đầu não của bọn đô hộ, khiến chúng như “rắn mất đầu’, nhanh chóng tê liệt, rối loạn, tan rã... Trong khi đó nhân dân các quận huyện, nơi trước, nơi sau cùng nổi dậy giành chính quyền.

Từ căn cứ buổi đầu là Mê Linh, nghĩa quân được các Lạc tướng, các thủ lĩnh có uy tín và dân chúng các huyện nhất tề nổi lên hưởng ứng. Việc phát triển từ cuộc nổi dậy ban đầu ở Mê Linh thành cuộc đồng loạt nổi dậy ở khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân rồi lan khắp Nhật Nam ở phía nam, đến cả Uất Lâm, Hợp Phố ở phía bắc là một quá trình không phải ngẫu nhiên, tự phát mà nó phản ánh kết quả của phương thức tiến hành khởi nghĩa của tổ tiên ta thuở ấy.
 
Lúc đầu, lực lượng nghĩa quân có độ vài ngàn; nhưng do ảnh hưởng của nó, do uy tín và khả năng tổ chức động viên của Bộ tham mưu, lực lượng nghĩa quân cũng như địa bàn hoạt động ngày một toả rộng. Quần chúng vốn rất hận thù xâm lược, như “tức nước vỡ bờ”, ào ào tham gia nghĩa quân.
 
Lực lượng nghĩa quân chắc chắn không được tổ chức rèn luyện và trang bị đầy đủ như lực lượng quân sự đô hộ của chính quyền Đông Hán, nhưng với tinh thần quật khởi mạnh mẽ của cả một dân tộc quyết tâm đứng lên đánh giặc giành quyền độc lập tự chủ và với sự liên kết cùng nổi dậy đánh địch trên khắp các quận, huyện, cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã làm cho địch không sao có thể tập trung được lực lượng đối phó với một nơi nào; còn ta thì hoàn toàn nắm được quyền chủ động, liên tục tiến công và quy mô tiến công ngày một lớn, có hiệu quả.

Cuộc khởi nghĩa phát triển với các bước nhanh chóng và vững chắc. Sau khi giải phóng Mê Linh, nghĩa quân rầm rộ tiến về giải phóng Tây Vu, đánh chiếm thành Cổ Loa. Truyền thuyết kể rằng, quân của hai bà “voi đi nườm nượp trên bộ, thuyền bè tấp nập dưới sông” và theo mô tả của sách Đại Nam quốc sử diễn ca: “Ngàn Tây nổi áng phong trần, ào ào binh mã xuống gần Long Biên” . . . đã thể hiện khí thế hào hùng, mãnh liệt của đòn tiến công của nghĩa quân.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 01:37:13 PM
Từ Cổ Loa, nghĩa quân đánh chiếm Luỵ lâu, quận trị Giao Chỉ, giáng một đòn chí tử vào đầu não chính quyền đô hộ. Các cuộc nổi dậy tiếp theo ở mấy huyện còn lại ở Giao Chỉ và khắp các huyện khác thuộc Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm, Hợp Phố là những đợt tiến công dồn dập trong thế trận khởi nghĩa toàn dân, rộng khắp, giành chính quyền trên các quận, huyện; khiến cho bọn quan cai trị đô hộ nhanh chóng đầu hàng hoặc chạy tháo thân về nước. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

“Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục ...” , tức là muốn ca ngợi sự thành công mau chóng của nghĩa quân. 

Như vậy, từ một địa bàn ban đầu, tổ tiên ta đã tổ chức lực lượng nghĩa quân làm nòng cốt, nổi dậy từ địa phương rồi nhanh chóng vận động và liên kết với dân chúng khắp nơi cùng nổi lên, tiến công dồn dập và mãnh liệt khiến cho chính quyền đô hộ hoang mang rồi sụp đổ. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là sự biểu hiện đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta đi từ khởi nghĩa từng phần tiên lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Thành công của cuộc khởi nghĩa chứng tỏ hiệu quả to lớn của phương thức thực hành tiên công của một cuộc khởi nghĩa toàn dân chống xâm lược.

Cuộc khởi nghĩa Lý Bí giữa thế kỷ VI có những điểm khác với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng buổi đầu công nguyên. Khởi nghĩa Lý Bí không chấm dứt bằng việc đánh đuổi bọn quan lại đô hộ về nước, mà kết thúc toàn thắng lúc đánh bại hoàn toàn hai cuộc phản công tiếp ngay sau đấy của quân Lương.

Tính chất toàn dân được thể hiện không đậm nét bằng khởi nghĩa Mê Linh, nhưng quá trình khởi nghĩa cũng cho ta biết rõ, Lý Bí đã từng bước phát động nhân dân tiến hành đánh giặc. Cũng có thể hình dung cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu nổi dậy ở Thái Bình, giành thắng lợi ở một địa phương nhỏ; giai đoạn hai là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân khắp các châu, huyện, cùng nghĩa quân tiến công quân địch và chiếm thành Long Biên; giai đoạn ba là giai đoạn củng cố thắng lợi bằng hai lần đánh thắng các cuộc phản công của quân Lương. 

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đầu năm 542, khi Lý Bí đã tổ chức được lực lượng nghĩa quân nòng cốt do mình trực tiếp chỉ huy tại căn cứ ở Thái Bình. Tiếp đó, phong trào đã động viên và liên kết với các hào kiệt, thủ lĩnh ở nhiều châu và thông qua các hào trưởng ấy mà tổ chức nhân dân các châu, huyện cùng sẵn sàng nổi dậy phối hợp.

Như vậy, từ chỗ quy tụ ở một địa phương, phong trào đã toả lan ra các châu, huyện khác, rồi mở rộng phạm vi trên cả nước. Trước cuộc khởi nghĩa ngày một lớn, Tiêu Tư không dám chống cự, vội vàng mang vàng bạc của cải đút lót Lý Bí rồi chạy về nước. Trong vòng chưa đầy ba tháng, nghĩa quân cơ bản đã làm chủ được đất nước.

Bản thân Lý Bí từng đã trải qua chức giám quân ở Đức châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh) nên đã có kinh nghiệm về tổ chức quân sự. Các thủ lĩnh địa phương theo về với Lý Bí ngày một đông, như cha con Triệu Túc, Triệu Quang Phục ở Chu Diên đã đem theo cả quân bản bộ của mình, như Phạm Tu hay Tinh Thiều là những người giỏi có uy tín. Nếu so sánh với lực lượng chiếm đóng của quân Lương tại Giao châu và các châu khác trên đất nước ta được tổ chức chặt chẽ, trang bị đầy đủ và huấn luyện quân sự thường xuyên thì lực lượng nghĩa quân ban đầu ấy không thể đông và mạnh bằng.

Thế nhưng lực lượng khởi nghĩa đã chủ động tiến công, liên tục đánh đổ chính quyền đô hộ của địch hết nơi này đến nơi khác, đã từng làm tan rã lực lượng chiếm đóng tại chỗ của địch chuyển lên đánh thắng các cuộc phản công lớn của quân Lương từ Trung Quốc sang. Phát động cuộc khởi nghĩa tại một căn cứ buổi đầu rồi nhanh chóng chuyển thành phong trào nổi dậy đồng loạt hầu khắp các châu, huyện, đánh đuổi bọn quan lại đô hộ và cuối cùng là kết thúc thắng lợi bằng đánh thắng các cuộc phản công của giặc, đó là một đặc điểm nổi bật trong phương thức tiến hành khởi nghĩa của Lý Bí.

Cũng như Hai Bà Trưng, thắng lợi của Lý Bí là thắng lợi của phương thức khởi nghĩa toàn quốc, là thắng lợi của một nghệ thuật khởi nghĩa truyền thống đang bắt đầu hình thành và phát triển trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong thời chống Bắc thuộc, các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa chống Lương dưới sự lãnh đạo của Lý Bí, khởi nghĩa Mai Thúc Loan và khởi nghĩa chống Đường do Phùng Hưng lãnh đạo đều là những cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh giải phóng mang tính toàn dân.

Và, đương nhiên nghệ thuật quân sự trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ấy là nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của dân tộc Việt Nam. Đó là những mốc son đầu tiên đánh dấu sự ra đời và phát triển của loại hình nghệ thuật quân sự mới, mang đậm sắc thái Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:02:05 PM

4. Mở đầu truyền thống thủy chiến Bạch Đằng 

Truyền thống bơi tài, lặn giỏi, thạo thủy chiến đã hình thành sớm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong nhiều cuộc chiến tranh ở giai đoạn trước thế kỷ X, tổ tiên ta đã lợi dụng khả năng chiến đấu trên sông nước để đánh giặc. Từ thời An Dương Vương bảo vệ thành Cổ Loa, Hai Bà Trưng khởi nghĩa và kháng chiến chống Đông Hán hoặc khi Lý Bí - Triệu Quang Phục đánh quân Lương. . . , quân và dân ta đã sử dụng thuyền chiến và tiến hành tác chiến trên sông nước, ao hồ, đầm lầy.

Nhờ những cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục, truyền thống đó thường xuyên được thử thách và tiếp tục đóng vai trò tích cực trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc. Những biểu hiện cụ thể của truyền thống đánh giặc trên sông nước là quân thủy Hai Bà Trưng đánh quân Đông Hán trên sông Bạch Đằng và hồ Lãng Bạc, quân thủy Vạn Xuân đánh quân Lương ở sông Tô Lịch và hồ Điển Triệt; đặc biệt là đội quân du kích với thuyền độc mộc chiến đấu trên sông nước khu vực đầm Dạ Trạch dẫn đến cuộc phản công lớn đại phá quân Lương (năm 550).
 
Đó cũng là những trận đánh của đội quân của ông “Vua Đen” họ Mai (Mai Hắc Đế) trên dòng sông Lam hồi thế kỷ thứ VIII.  Truyền thống và nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta không ngừng trưởng thành, đã chuẩn bị vật chất cho cuộc nổi dậy có tính chất quyết định của nhân dân ta hồi đầu thế kỷ X, với những thắng lợi của họ Khúc, họ Dương trong lần kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ nhất (931).

Và cuối cùng, truyền thống đó được kết tụ và phát huy cao độ trong kháng chiến chống Nam Hán với trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng. Năm 938, Ngô Quyền cùng quân dân ta đã mở đầu một truyền thống đánh giặc mới: truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Bấy giờ nhân dân ta mới giành được độc lập. Chính quyền tự chủ họ Khúc mới xây dựng còn non trẻ và những hậu quả nặng nề của hơn 1.000 năm Bắc thuộc vẫn chưa dễ gì khắc phục được. Nhà Nam Hán tuy chỉ là một tiểu quốc ở miền đông nam Trung Quốc trong thời Ngũ đại thập quốc, nhưng lại là một nước mạnh đủ sức hùng cứ một phương, trấn giữ một vùng dồi dào về nguồn lợi kinh tế và đặc biệt là về quân sự, có một lực lượng thủy quân khá hùng hậu, trang bị nhiều thuyền chiến lớn chắc chắn, và một đội quân cung nỏ rất lợi hại.
 
Vua Nam Hán hết sức cay cú vì đã bị Dương Đình Nghệ đánh bại trong lần xâm lược năm 930-931, nên cuối năm 938, cha con Lưu Cung quyết tâm chiếm bằng được nước ta. Cuộc kháng chiến thống Nam Hán vì thế diễn ra trong một tình thế hết sức khó khăn. Ngô Quyền với một đội “quân mới họp của nước Việt” (1) mà phải chống lại hàng vạn quân thiện chiến của nhà Nam Hán, đó quả là một thử thách có ý nghĩa quyết định trên bước đường giành lại độc lập hoàn toàn của nhân dân ta.

Thế nhưng đoàn binh thuyền Nam Hán do thái tử Hoàng Thao chỉ huy vừa tiến vào cửa sông Bạch Đằng đã bị chặn lại  và bị đánh tan tành. Quân giặc vừa mới xâm phạm vào địa đầu Tổ quốc chưa kịp gây tội ác đã bị trừng trị đích đáng.

Cả cuộc kháng chiến được giải quyết bằng một trận quyết chiến chiến lược. Toàn bộ đạo quân xâm lược Nam Hán cùng chủ tướng đều bị nhấn chìm trong sóng nước Bạch Đằng.  Có thể nói trận Bạch Đằng năm 938 là trận quyết chiến chiến lược lớn nhất, có ý nghĩa to lớn nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam từ thế kỷ X về trước.

Trận đánh đã kế thừa và phát huy có hiệu quả cao truyền thống thủy chiến của dân tộc ta. Cả cuộc chiến tranh chỉ giải quyết nhanh gọn bằng một trận quyết chiến, chỉ diễn ra trong vòng một ngày, bắt đầu từ lúc nước triều lên và kết thúc vào lúc nước triều xuống thấp. Đó là một trận tiêu diệt nhanh, gọn, triệt để nhất, đánh tan quân xâm lược ngay từ cửa ngõ của đất nước. 

Chiến thắng đó chứng tỏ sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam, sự lớn mạnh của dân tộc Việt Nam về cả tinh thần và trí tuệ đánh giặc. Nó được ghi vào lịch sử như một võ công chói lọi, đời đời bất diệt vì nó khẳng định một cách chắc chắn sự toàn thắng của nhân dân ta trên chặng đường dài lịch sử chống Bắc thuộc, chống đồng hoá, quyết giành lại non sông đất nước, vì độc lập tự chủ. Chiến công năm 938 đã rửa sạch nhục mất nước hơn một ngàn năm, tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập và phát triển.

Trong mưu kế của quân Nam Hán khi xâm lược nước ta, ngoài đoàn binh thuyền của thái tử Hoàng Thao giữ vai trò chủ công và đạo quân do đích thân vua Nam Hán chỉ huy áp sát biên giới sẵn sàng tiếp ứng khi cần thiết, còn có lực lượng nội ứng của tên Việt gian Kiều Công Tiễn ở La Thành.

Do đó, để phá kế hoạch phối hợp của địch, Ngô Quyền đã chủ trương trước hết phải diệt trừ lực lượng phản bội, sau đó tập trung lực lượng đánh trận thủy chiến quyết định tiêu diệt đạo quân của Hoàng Thao thật nhanh gọn, khiến vua Nam Hán không kịp tiếp ứng, phải chấp nhận thất bại.


(1)  Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.204.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:03:13 PM

Lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Ngô Quyền đã lợi dụng thế “thiên hiểm” của sông Bạch Đằng để bố trí trận địa phục binh, kết hợp ém binh mai phục với bãi cọc ngầm vạt nhọn bịt sắt và lợi dụng nước triều lên xuống để đánh giặc. Sông Bạch Đằng sâu và rộng, núi rừng san sát ven bờ, trên bãi sông và trên các kênh rạch, lau lách và cây cối um tùm, có nhiều nhánh sông và nước triều lên xuống rất mạnh. Việc xác định không gian và thời gian quyết chiến của Ngô Quyền đều nhằm triệt để lợi dụng địa hình, phát huy cao độ ưu thế thủy chiến của quân dân ta trong điều kiện thiên thời, địa lợi và nhân hoà để đánh địch. Trận địa cọc ngầm đã có tác dụng to lớn; lối đánh nghi binh lừa và nhử địch vào trận địa phục binh đã thực hiện chính xác, đúng với ý định của Bộ tham mưu.

Trong lịch sử, kẻ thù của dân tộc ta chủ yếu là các thế lực phong kiến Trung Hoa ở sát liền biên giới. Trong nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, quân giặc thường tiến vào nước ta theo hướng bắc và đông bắc của Tổ quốc. Chúng kết hợp tiến công cả đường bộ và đường thủy, trong đó trên đường thủy, quân giặc lại hay theo hướng Vân Đồn - Bạch Đằng tiến vào nội địa nước ta.

Chính vì thế, trận Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 có ý nghĩa mở ra truyền thống đánh giặc trên sông nước Bạch Đằng. Nghệ thuật thủy chiến của Ngô Quyền đã để lại những bài học kinh nghiệm lớn mà ông cha ta trong các thế kỷ kế tiếp đã vận dụng thành công.

Năm 981, Lê Hoàn kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền đã cho đóng cọc trên sông Bạch Đằng và dùng thủy quân chặn đánh giặc Tống. Đặc biệt năm 1288, nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn đã kế thừa phát huy tuyệt vời truyền thống Bạch Đằng bằng một trận quyết chiến chiến lược vĩ đại kết thúc cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên. Trận quyết chiến đó cũng lợi dụng địa hình “thiên hiểm” Bạch Đằng, cũng bố trí trận địa cọc ngầm, cũng dùng quân mai phục nhử định và lợi dụng con nước thủy triều.

Trận Bạch Đằng năm 1288 cũng kết thúc thắng lợi nhanh gọn như trận Bạch Đằng năm 938. Cả đoàn thuyền chiến lớn hơn 600 chiếc với khoảng sáu vạn quân Nguyên cùng tất cả các tướng soái chỉ huy đều bị tiêu diệt hoặc bắt sống. Đó là một chiến công oai hùng của quân dân thời Trần dưới tài năng tổ chức, chi huy của Trầu Quốc Tuấn. Đó cũng là một đỉnh cao của sự kế thừa kinh nghiệm truyền thống Bạch Đằng được mở đầu từ thời Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán.

Như vậy, nếu như chính cậu bé làng Gióng xưa đã vươn mình thành người khổng lồ lập nên chiến công đánh tan giặc ngoại xâm, nếu như nước Việt ta thời Văn Lang - Âu Lạc đã vươn tới trưởng thành một Đại Việt thời phục hưng, thì truyền thống thủy quân và nghệ thuật thủy chiến Đại Việt cũng là sự tiếp nối truyền thống từ thời dựng nước và sau hàng ngàn năm Tôi luyện, trưởng thành trong ngọn lửa đấu tranh giành độc lập dân tộc.
 
Tuy nhiên, quá trình trưởng thành của sức sống dân tộc trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc cũng đồng thời là quá trình dân tộc ta dưới những hình thức mới, tiếp tục trao đổi văn hoá với các dân tộc xung quanh, tiếp thu những thành tựu văn hoá mới để làm cường tráng thêm sức sống của dân tộc ta.

Thủy quân Đại Việt từ thế kỷ X, một mặt đã kế tục duy trì được truyền thống căn bản thời dựng nước, mặt khác đã trưởng thành với nhiều yếu tố mới được tiếp thu trong quá trình tiếp xúc hay đấu tranh với ngoại bang.

Đó là những kinh nghiệm về mặt tổ chức, biên chế, cả trang bị thuyền bè, vũ khi, thậm chí cả nghệ thuật thủy chiến trong nghệ thuật quân sự Trung Quốc, mà thời bấy giờ - chủ yếu là nghệ thuật chiến đấu trên sông nước của các dân tộc Việt sống ở hạ lưu và phía nam sông Dương Tử, thông qua những cuộc đụng độ quân sự trực tiếp hay qua con đường sách vở. Sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dân tộc ta đã xây dựng và khẳng định thêm nhiều truyền thống mới, trong đó có truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Tóm lại, sức sống của nền văn hoá, sự phát triển của ý thức dân tộc, tài nghệ tổ chức và thực hành khởi nghĩa và chiến tranh của tổ tiên là những nhân tố quan trọng thúc đẩy cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta trong quá trình cởi bỏ ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ X.

Từ trong đêm trường nô lệ, với sức sống mãnh liệt của nền văn hoá dân tộc, với truyền thống quật cường của mình, nhân dân ta đã tạo ra một sức mạnh vô đích Việt Nam, đó là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc là khởi nghĩa toàn dân, có tinh thần quần chúng rộng rãi, mau chóng phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc.
 
Đối với lịch sử quân sự Việt Nam, giai đoạn trước thế kỷ X là giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự, trong đó chủ yếu là nghệ thuật quân sự của khởi nghĩa về chiến tranh giải phóng, đồng thời cũng là bước đầu hình thành nghệ thuật quân sự của chiến tranh giữ nước.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:18:36 PM
KẾT LUẬN

Năm 179 TCN, cuộc chiến đấu giữ nước của nhân dân Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương chống quân xâm lược Triệu Đà thất bại, từ đó nước ta bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường đô hộ. Sử sách trong nước gọi đó là thời B ắc thuộc .

Thời Bắc thuộc kéo dài hơn một ngàn năm (từ 179 TCN đến năm 938); trên thực tế gồm cả Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, cả đồng hoá và chống đồng hoá; chủ yếu đó là một đêm trường nô lệ, bị áp bức, nhưng cũng có những giai đoạn nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh thắng lợi, giành được quyền tự chủ tạm thời. Nhìn tổng thể, đấy là một thời kỳ đau thương của đất nước, một giai đoạn lịch sử đầy thử thách hiểm nguy đối với sức sống của dân tộc ta, một trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua được.

Nguy cơ lớn nhất không phải chỉ là thời gian mất nước quá dài mà là mưu đồ, là quốc sách đồng hoá của kẻ xâm lược Quân thù thật nham hiểm, muốn phế bỏ tất cả những truyền thống, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc ta đã được xây đắp từ thời dựng nước. Bọn cướp nước không chỉ dừng lại ở sự áp bức, bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, mà thâm độc hơn là muốn xoá bỏ vĩnh viễn đất nước này, sáp nhập hẳn vào lãnh thổ của nhà nước quân chủ phương Bắc.

Thống trị trên một quốc gia đất rộng người đông, có trình độ văn minh cao, với bao kinh nghiệm Nô dịch và đồng hoá, kẻ thù hoàn toàn có khả năng thực hiện âm mưu nham hiểm đó. Lịch sử cho thấy, lúc bấy giờ, trong hoàn cảnh tương tự như Âu Lạc, một số quốc gia đã thành lập hoặc trên đường thành lập, cuối cùng đã bị đồng hoá thực sự, vĩnh viễn không còn lãnh thổ và bản sắc riêng của mình; mà chỉ còn lại là những bản sắc địa phương của văn minh Trung Hoa (Giang Đông, Giang Nam, Tây Nam, Lưỡng Quảng).

Để thực hiện dã tâm đồng hoá, bọn đô hộ đã dùng mọi thủ đoạn nhằm khuất phục và làm mai một ý chí đấu tranh giành quyền tự chủ của nhân dân ta, làm mất đi những truyền thống tốt đẹp vốn có, làm suy yếu và tan rã sức mạnh cố kết của dân tộc ta. Tất cả cơ sở tạo nên sức mạnh thống nhất của dân tộc từ lãnh thổ - giang sơn gấm vóc đến ngôn ngữ cộng đồng và thành quả lao động, xây dựng của nhân dân ta trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá - tư tưởng đều bị chúng tìm cách phá huỷ. Sự cố kết cộng đồng được xây đắp từ bao đời đang trải qua một phen thử thách gay go.  Vận mệnh của đất nước đứng trước những mối đe doạ ghê gớm về nhiều mặt. Đó là nguy cơ bị diệt vong, nguy cơ bị đồng hoá và nền văn minh Âu Lạc - Việt cổ đứng trước nguy cơ tàn lụi. Sự trường sinh của nước nhà khác nào ngàn cân treo sợi tóc!

Tuy nhiên, sống trên một lãnh thổ đã được tổ tiên dựng xây từ sớm, nhân dân ta luôn ý thức sâu sắc về quê hương đất tổ, về làng - nước của mình. Trước cảnh nước mất nhà tan, mỗi một cơ dân người Việt thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều đứng lên đấu tranh để cứu nước, cứu nhà. Bất chấp mọi thủ đoạn chia rẽ, chia năm xẻ bảy và những hành động sáp nhập bằng bạo lực của kẻ thù, phong trào đấu tranh của nhân dân vẫn diễn ra liên tục và đã từng bước làm thất bại âm mưu của bọn cướp nước.

Mưu đồ biến nước ta thành “nội địa” của chúng không thực hiện được. Bằng lao động và đấu tranh bền bỉ, cộng đồng người Việt cổ đã tạo ra những bước phát triển nhất định trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội. Với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân ta không những phát huy kinh nghiệm cổ truyền của mình, giữ vững được những yếu tố truyền thống cơ bản, mà còn hấp thụ được nhiều nhân tố văn hoá tích cực ngoại sinh, kể cả từ nước đi xâm lược.

Qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, nền văn hoá dân tộc với bản sắc, bản lĩnh riêng và những truyền thống tốt đẹp của nó vẫn được nhân dân ta bảo lưu và phát triển từng phần. Những thành quả đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá đã góp phần tăng thêm tiềm lực cho sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước. 

Dưới ách thống trị của ngoại bang, đứng trước nhiều mối đe doạ và thử thách hiểm nghèo, sức sống của dân tộc mà cội nguồn cơ bản là tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, sự cố kết cộng đồng được tôi luyện và phát huy sức mạnh phi thường của nó. Ngọn lửa yêu nước không bao giờ bị dập tắt; lúc ngấm ngầm âm ỉ nơi xóm làng, lúc bùng cháy dữ dội khắp cả nước.  Phong trào đấu tranh thể hiện rõ quyết tâm giành độc lập và sức mạnh đoàn kết của toàn dân ta.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:20:36 PM
Tinh thần độc lập tự chủ kiên cường và chí khí đấu tranh bất khuất đã lôi cuốn thế hệ này đến thế hệ khác đứng lên chiến đấu chống kẻ thù chung.  Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị cùng Bà Triệu tiêu biểu cho khí phách dân tộc, cho ý chí quật cường, quyết tâm đánh tan giặc “giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ”. Hình ảnh của các bà lẫm liệt hiên ngang trên mình vòi chiến, chỉ huy nghĩa quân đánh giặc đã mãi mãi khắc sâu trong tâm trí người Việt Nam và trở thành những ngọn đuốc soi đường rực sáng tinh thần yêu nước, với ý chí không gì và không bao giờ lay chuyển được, là quyết tâm giành lại, giữ gìn đất nước của tổ tiên.

Từ đó các cuộc khởi nghĩa nổ ra ngày càng nhiều với quy mô và hiệu quả ngày càng lớn. Lý Bí đánh tan quân Lương, lập nước Vạn Xuân, tự xưng là Nam Đế (vua nước Nam, 544) .  Kháng chiến chống Tuỳ (602) cùng các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đường của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế, 722), của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương, 766 - 791), của Dương Thanh (819 - 820) . . . là những minh chứng cho sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của tinh thần quyết chiến đấu vì độc lập tự do.

Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa thành công, xây dựng chính quyền tự chủ họ Khúc (905 - 930), rồi chuyển sang chính quyền tự chủ họ Dương (Dương Đình Nghệ, 931 - 937); dẫn đến chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán 938), kết thúc thời kỳ bị mất nước kéo dài hơn một thiên niên kỷ.

Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nói trên là những biểu tượng hào hùng của ý chí tự cường, tinh thần quật khởi và khí phách anh hùng của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong đó có những cuộc khởi nghĩa toàn dân quy mô lớn cả nước, như khởi nghĩa Hai Bà Trưng khởi nghĩa Lý Bí; có những cuộc khởi nghĩa địa phương phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, thường là xây dựng căn cứ địa ở một vùng nhất định rồi chớp thời cơ tiến công vào sào huyệt của địch, giành thắng lợi trên cả nước, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan, khởi nghĩa Phùng Hưng; có những cuộc binh biến hay khởi nghĩa của sĩ quan và binh lính yêu nước trong chính quyền đô hộ như khởi nghĩa Triệu Chỉ, khởi nghĩa Dương Thanh. . .

Các cuộc khởi nghĩa đó sau khi giành được chính quyền đều phải bước vào cuộc chiến đấu giữ nước hết sức ác liệt; như thời Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng. . . Ngay cả trong hoàn cảnh đặc biệt thuận lợi, khi ở Trung Quốc nhà Đường đang hấp hối và ở nước ta chính quyền đô hộ cũng đã bị lung lay dữ dội, nhân dân ta, do họ Khúc cầm đầu đã vùng lên giành chính quyền một cách nhanh gọn, hầu như không đổ máu. Nhưng sau đó, phải bằng đấu tranh kéo dài 33 năm (905 - 938) với hai cuộc chiến tranh chống Nam Hán mới đi đến độc lập hoàn toàn.  Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc nói trên chứng tỏ:

1. Trong hơn một ngàn năm, kẻ xâm lược và đô hộ nước ta là một nước lớn, có khi phát triển thành đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông như đế chế Hán - Đường. Cùng với nhà Tần (221 TCN - 206 TCN), nhà Hán (206 TCN - 220) đã chinh phục Bắc Triều Tiên, chiếm đất đai các bộ lạc du mục phía bắc, mở rộng lãnh thổ về phía Trung á, xâm lược nước Dạ Lang, Điền ở tây nam, diệt các nước Nam Việt, Âu Lạc ở phía nam. Nhà Đường (618 - 907) mở rộng lãnh thổ về mọi phía, đặt An Tây, [Đông, Bắc, Nam] đô hộ phủ, xây dựng chính quyền xâm lược đến tận cấp hương, xã. Tuy nhiên, từ thế kỷ II TCN cho đến thế kỷ X, Trung Hoa cổ đại trải qua biết bao biến thiên. Khi thì thống nhất, khi thì phân tranh, các tập đoàn phong kiến liên tiếp xâu xé lẫn nhau, tranh bá đồ vương, ngự trị trên xương máu nông dân và nô lệ. Đối với các dân tộc mà chúng gọi là “Man Di’ thì quốc sách của chúng vẫn quán triệt tư tưởng bành trướng và xâm lược, buộc phải triều cống khuất phục, cuối cùng biến thành lãnh thổ của “thiên triều”.

Đối với nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp nhằm đồng hoá nhân dân ta. Âm mưu đồng hoá của kẻ thù vô cùng thâm độc. Chúng xoá bỏ tên nước, chia Âu Lạc thành quận huyện, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc như một số bộ tộc và nước Việt khác ở vùng Hoa Nam. Chúng phá trống đồng, huỷ hoại di sản văn hoá dân tộc, bắt dân ta phải từ bỏ lối sống của mình, phải thay đổi phong tục tập quán, theo pháp luật và lễ giáo phương Bắc.

Tất cả những gì là cơ sở tồn tại và sức mạnh phục hồi nền độc lập của một quốc gia, dân tộc đều bị chúng tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để huỷ hoại. Chúng dùng ưu thế sức mạnh nhiều mặt về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá để thống trị, áp bức và đồng hoá dân ta.  Chúng liên tiếp dùng binh đao để xâm lược, giết chóc và đàn áp cướp sạch của quý, triệt hết người tài, làm cho nền kinh tế kiệt quệ, làm biến đổi bản sắc văn hoá dân tộc. Đất nước, cơ đồ của các vua Hùng, vua Thục, mà người Việt đã xây đắp nên qua bao thế hệ lâm vào thảm hoạ diệt vong; cuộc sống của nhân dân ta thật đau thương, tủi nhục, khốn khổ trăm bề.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:22:01 PM
2. Nhưng kỳ diệu thay sức sống của dân tộc Việt. Người Việt phương Nam thuở ấy đã anh dũng đứng lên, biết ngăn chặn, dập tắt dần dần làn sóng bành trướng và đồng hoá đang từ phương Bắc tràn tới. Các thế hệ anh hùng từ Bà Trưng, Bà Triệu đến Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền . . . đã biết thổi bùng ngọn lửa yêu nước quật cường, bất khuất thiêu cháy bè lũ cướp nước và bán nước, chôn vùi mộng bành trướng và dã tâm đồng hoá của Thiên triều Đại Hán, Đại Đường.
 
Cuộc đấu tranh không khoan nhượng đã trải nhiều thế hệ; thế hệ trước ngã xuống, thế hệ sau đứng lên, tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, bất chấp sự đàn áp dã man của kẻ thù. Trong đau thương và thử thách chung của dân tộc, sự cố kết cộng đồng được xây đắp từ thời dựng nước, cũng trải qua một phen thử lửa ngặt nghèo.

Trải muôn vàn thử thách, đắng cay, nhiều hy sinh và thất bại, cuối cùng cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc đã toàn thắng. Nhân dân ta đã giành lại được non sông đất nước, phục hồi được chủ quyền và giữ gìn được lối sống, nền văn hoá của người Việt phương Nam. Làn sóng bành trướng và Hán hoá thời bấy giờ bị quật lại bởi một đối lực từ Nam lên Bắc; nó bị đẩy lùi từng bước và cuối cùng nhường chỗ cho quốc gia độc lập được phục hưng của người Việt. Việt Nam là đại diện cuối cùng và duy nhất còn sót lại của đại gia đình Bách Việt, vừa giành được độc lập giữ được truyền thống văn hoá của mình, vừa hiên ngang trong tư thế của quốc gia tự chủ, tự lập, tự cường.  Thật là một điều kỳ diệu, một sự kiện hiếm có trong lịch sử dân tộc và nhân loại.

3. Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, đồng hoá và chống đồng hoá, hai mặt đối lập và đấu tranh quyết liệt đó chi phối diễn trình lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử quân sự Việt Nam nói riêng qua hơn mười một thế kỷ. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc là hơn một ngàn năm đấu tranh kiên cường bất khuất chống Bắc thuộc. Trong cuộc đấu tranh đó, nền văn hoá cổ truyền của người Việt bị đặt trước một thử thách lớn lao.
 
Trước mưu đồ Hán hoá của chính quyền đô hộ, nền văn hoá Việt tránh sao khỏi những mất mát và ảnh hưởng. Muốn tồn tại và phát triển, cuộc sống đầy biến động của thời kỳ Bắc thuộc đã sớm dạy cho nhân dân ta một bài học ìớn là phải kết hợp giữa truyền thống và cách tân, giữa gìn giữ bảo lưu và kế thừa, hội nhập, phát triển. Chính vì thế, người Việt phương Nam đã sớm biết bảo tồn và phát huy những tinh hoa văn hoá cổ truyền, nhưng cũng biết hấp thu có chọn lọc những nhân tố văn hoá ngoại sinh để làm phong phú cho nền văn hoá dân tộc và tăng thêm nội lực cho đất nước.

Đó cũng là một quá trình đấu tranh của nhân dân ta nhằm giữ gìn và phát triển sản xuất, phát triển kinh tế và các cơ sở văn hoá - xã hội. Mặc dù chính quyền đô hộ ra sức tăng cường cai trị, tổ chức ngày càng chặt chẽ bộ máy quản lý từ châu, quận, huyện, đến hương, xã, nhưng trong thực tế, không một triều đại phương Bắc nào khuất phục được các làng xã mà người Việt dựng xây, do người Việt làm chủ. Làng, Chạ là thiết chế cơ bản và bền vững cua xã hội người Việt.

Nền đô hộ bạo ngược và thâm độc của phong kiến Trung Hoa thời Bắc thuộc có bề dài về thời gian, chứ thiếu bề rộng trong không gian và càng thiếu bề sâu trong lòng cấu trúc xã hội nước ta. Trong suốt cả thời kỳ này, quân xâm lược không thể với tay can thiệp và làm biến đổi được cơ cấu xóm làng, cùng với những tập tục của người Việt. Đây là cơ sở xã hội, nơi bảo lưu những truyền thống cổ truyền, là địa bàn, là căn cứ chống xâm lược và là một nhân tố hết sức cơ bản trong công cuộc phục dựng nền tự chủ của nhân dân ta.

Xét theo chiều dài thời gian, thời Bắc thuộc có tới hơn ngàn năm, nhưng không liên tục, nói đúng hơn là vừa hên tục vừa gián đoạn. Gián đoạn vì những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giành độc lập liên miên của nhân dân ta; vì thời gian giành độc lập tạm thời, xen kẽ của Trưng Vương - Lý Trường Nhân - Lý Nam Đế - Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử - Mai Hắc Đế - Bố Cái Đại Vương, v.v. . Mỗi chính quyền tự chủ đó có lúc tồn tại ba, bốn năm, thậm chí kéo dài đến năm, sáu thục năm.

Kẻ thù hết sức tàn bạo và nguy hiểm, nhưng cũng bộc lộ những chỗ yếu cơ bản mà nhân dân ta đã biết khoét sâu và tận dụng trong cuộc chiến đấu của mình, khiến chúng không ít lần bị mất quyền cai trị. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ vô cùng gian khổ và quyết liệt đó, đã nhiều lần nhân dân ta giành đượm thắng lợi. Những năm tháng độc lập quý giá ấy đã cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân ta chống Bắc thuộc thành công.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:25:07 PM


4. Cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ di sản văn hoá cổ truyền trong hơn một ngàn năm đã xây đắp nên một cơ sở quan trọng cho nền văn hoá cứu nước, những tảng nền của truyền thống quân sự quý báu của dân tộc ta.  Quá trình chống đô hộ, chống đồng hoá và áp bức cũng là quá trình phát triển của ý thức dân tộc.

Các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh hên tục diễn ra chứng tỏ thái độ của nhân dân ta kiên quyết chối bỏ ách thống trị ràng buộc của ngoại bang, không chấp nhận bộ máy cai trị áp đặt từ ngoài, không cam chịu lãnh thổ mình bị sáp nhập . . . Cuộc đấu tranh anh dũng và bền bỉ của cả một dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược, giữa đồng hoá và chống đồng hoá đã diễn ra liên tục dưới mọi hình thức.

Trong thời kỳ này, nhiều hình thức và phương thức đấu tranh mới lần đầu tiên xuất hiện; đó là các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, chống ách đô hộ, giành độc lập tự do; đó là các cuộc chiến tranh t vệ, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm diễn ra sau những giai đoạn nhân dân ta giành được quyền tự chủ đất nước.
 
Cuối thế kỷ V và đầu thế kỷ X đã xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của anh em Lý Trường Nhân - Lý Thúc Hiến và đặc biệt là Khúc Thừa Dụ. Lợi dụng lúc chính quyền đô hộ suy yếu, họ đã đứng lên giành lấy quyền tự quản - tự chủ đất nước. Một chính quyền mang màu sắc “thứ sử” hay “tiết độ sứ”, nhưng có tinh thần dân tộc cao và là nền móng để tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh xoá bỏ hoàn toàn ách đô hộ trên toàn cõi đất nước.

Dân tộc ta bước đầu đã có những sáng tạo lớn về nghệ thuật quân sự. Từ khởi nghĩa dân tộc đến chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, từ “kế trì cửu’ - lâu dài cho đến chiến lược đánh một trận là thắng, ông cha ta đã biết kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, mọi cách đánh, và cuối cùng đã giành thắng lợi.

Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nghệ thuật giành chính quyền đã được hình thành với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chững Đông Hán thời Hai Bà Trưng (năm 40) và cuộc khởi nghĩa chống Lương thời Lý Bí (năm 542 - 543) - những phong trào quật khởi của toàn dân giành thắng lợi oanh hệt nhất.

Đó là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh mang tính dân tộc và tính toàn dân rất cao, nó đã xác lập một phương thức đấu tranh mới, đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng đất nước: đoàn kết toàn dân, đấu tranh kiên cường, bất khuất cho độc lập dân tộc.

Hình thức và tính chất toàn dân, toàn quốc của hai cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nói trên chứng tỏ nhân dân ta thời bấy giờ đã có một truyền thống cố kết cộng đồng chặt chẽ, gắn bó trong một vận mạng chung, trên một nền tảng văn hoá thống nhất mà cả một thời đại dựng nước và giữ nước trước đó đã tạo lập.

Vì vậy dù cho bọn thống trị ngoại bang xoá bỏ tên nước, chia cắt để biến lãnh thổ ta thành quận huyện, âm mưu huỷ hoại những cơ sở tạo nên sức mạnh đấu tranh của dân tộc, nhân dân ta vẫn nuôi dưỡng và phát huy ý thức coi đất nước mình là một khối thống nhất, là giang sơn của người Việt và người Việt quyết chung sức, chung lòng đấu tranh để giành giữ lấy nó.

Dưới sự thống trị của phong kiến phương Bắc, nhân dân ta đã vùng lên khởi nghĩa liên tiếp. Quy mô, mức độ và hình thức đấu tranh tuy khác nhau, nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều thể hiện xu hướng phát triển tất yếu của phong trào đấu tranh giành độc lập.

Các phong trào yêu nước chân chính của nhân dân ta không có ý đồ cát cứ địa phương; tuy nổi dậy từ một địa bàn nhất định, nhưng sau khi giành thắng lợi cục bộ đã xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, chọn thời cơ mở rộng cuộc tiến công quyết định vào phủ thành đô hộ, tiến tới giải phóng eả nước. Phong trào càng ngày càng dâng cao, càng lan rộng khắp nơi, càng tập hợp đông đảo mọi lực lượng yêu nước nhằm lật đổ ách thống trị ngoại bang, giành độc lập tự chủ.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 02:26:43 PM

5. Hơn một ngàn năm đấu tranh bền bỉ, gian khổ, anh dũng chống Bắc thuộc, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã trải qua nhiều thử thách, được rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt. Trong khói lửa của cuộc đấu tranh lâu dài, sự cố kết dân tộc được tôi luyện, nền văn hoá dân tộc mà ta có thể gọi là nền văn minh thôn dã, nền “văn hoá xóm làng” càng ăn sâu, tồn tại và không ngừng phát triển khắp các làng xã, tạo nên sức mạnh to lớn mà các thế hệ phong kiến phương Bắc không thể nào phá vỡ nổi.

Chính quyền đô hộ càng ra sức áp bức, càng tăng cường dùng lực lượng quân sự đàn áp thì số lượng các cuộc nổi dậy càng nhiều; quy mô các cuộc khởi nghĩa càng lớn và hình thức đấu tranh càng phong phú hơn. Điều đó làm cho chính quyền đô hộ hoang mang, lo sợ và từng bước suy yếu, tạo thời cơ tốt cho công cuộc giải phóng của nhân dân ta. Năm 905, nhân lúc đế chế Đường suy sụp, chính quyền đô hộ ở nước ta bị lung lay nghiêm trọng, Khúc Thừa Dụ đã lãnh đạo nhân dân vùng lên giành lại quyền dân tộc, tự xưng là tiết độ sứ. Sự thành lập chính quyền tự chủ này là một thắng lợi lớn lao mở đầu một giai đoạn đấu tranh quyết định tiến tới độc lập hoàn toàn.
 
Chiến công năm 931 của Dương Đình Nghệ và đặc biệt là chiến thắng Bạnh Đằng năm 938 của Ngô Quyền là những trận đánh cuối cùng toàn thắng của dân tộc ta trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hoá, giành độc lập dân tộc. Trải qua biết bao thành công oanh liệt và thất bại đẫm máu, cuộc chiến đấu kéo dài hơn mười một thế kỷ để tự giải phóng của dân tộc ta cuối cùng đã giành được thắng lợi vĩ đại.

Vì đâu, trong khi hàng loạt quốc gia Bách Việt lần lượt bị thôn tính và bị xoá tên trên bản đồ, mà dân tộc ta thì lại đập tan được mưu đồ đồng hoá của các thế lực phong kiến phương Bắc, giành lại non sông gấm vóc do tổ tiên ta để lại? Trong lịch sử thế giới có dân tộc nào khác bị mất nước hơn một ngàn năm mà đã giành lại độc lập bằng sức mạnh tự giải phóng của chính mình? Đặt trong bối cảnh chung của đêm trường Bắc thuộc mới thấy hết giá trị và ý nghĩa của thành quả đấu tranh, càng thấy rõ hơn những bước trưởng thành của phong trào giải phóng của cả dân tộc.

Mất nước trên mười một thế kỷ thật là đêm trường khủng khiếp, là nỗi đau thương nhất trong mọi nỗi đau thương. Nhưng không cam tâm chịu làm nô lệ, không chịu khuất phục, nhân dân ta đã biết phát huy những thành quả của thời đại dựng nước, đấu tranh kiên trì, anh dũng, mưu trí và sáng tạo, vượt qua mọi hy sinh gian khổ, cuối cùng giành thắng lợi vẻ vang. ách đô hộ ngoại bang bị xoá bỏ.
 
Đất nước được hoàn toàn giải phóng. Di sản văn hoá và bản sắc dân tộc được bảo tồn. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lâu dài biến một đêm trường hận thành khúc ca anh hùng toả sáng những phẩm giá cao quý và sức sống kỳ diệu của dân tộc ta.

Và, cũng chính qua cơn thử lửa kéo dài hơn ngàn năm đó, truyền thống quân sự, lòng yêu nước, tinh thần cố kết của dân tộc càng được tôi luyện, trưởng thành và phát triển, một cơ sở mới của nền văn hoá cứu nước - giữ nước Việt Nam nảy sinh. Tất cả đã thể hiện một chân lý vĩ đại: Dân tộc Việt Nam là người chủ nhân của non sông đất nước Việt Nam, khi đã đoàn kết lại và đứng lên chiến đấu thì nhất định có đầy đủ khả năng chiến thắng mọi kẻ thù. Lịch sử quân sự dân tộc giai đoạn từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X, là những trang đầy đau thương, tủi nhục, nhưng cũng đầy anh hùng bất khuất; là một minh chứng hùng hồn cho chân lý vĩ đại ấy.
 
Chiến thắng Bạch Đằng cuối năm 938 của quân, dân ta do Ngô Quyền lãnh đạo đã kết thúc hoạ mất nước kéo dài trên mười một thế kỷ, đã khép lại trang lịch sử quân sự giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của dân tộc ta. Lịch sử quân sự dân tộc lại tiếp tục diễn trình của nó. Sau chiến công này, những trang sử mới bắt đầu.

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là thời kỳ dân tộc độc lập và thịnh vượng, thời kỳ quân và dân ta có điều kiện xây dựng tiềm lực quốc phòng, tiến hành các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập và chủ quyền đất nước. Nhân dân ta viết tiếp những trang sử mới của kỷ nguyên văn minh - kỷ nguyên Đại Việt với những thành tựu lớn lao trên cả hai lĩnh vực xây dựng và bảo vệ đất nước, rực rỡ văn trị, chói lọi võ công. .


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 09:43:15 PM

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1

VỀ KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG

I. NGỌC PHẢ, THẦN TÍCH VỀ HAI BÀ TRƯNG.

1. Ngọc phả của hai làng Hạ Lôi và Hát Môn (1)

Bản của Hạ Lôi có tên là Nam Việt Trưng Nữ Vương Trắc Nhị nhị vương ngọc phả cổ lục. ở cuối có ghi năm tháng cùng với tên họ của người soạn, người sao ngọc phả: Hồng Phúc nguyên niên (1572) chính nguyệt, sơ thập nhật, hàn lâm viện đông các đại học sĩ (thần) Nguyễn Bính phụng soạn:

Vĩnh Hựu tam niên (1737) nhị nguyệt, cát nhật, quản giám bánh thần tri điện, hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền phụng thảo đặc cổ bản Tôn sao; Tự Đức nhị thập lục niên (1874) chính nguyệt sơ thập nhật đồng xã Tôn sao.  Như vậy, bản ngọc phả này được phép lại vào năm 1874.
 
Bản của đền Hát Môn cũng có tên gọi, có niên đại, có soạn giả y như bản Hạ Lôi. Như thế thì về nội dung hai bản này phải hoàn toàn giống nhau mới phải. Nhưng ở đây, bản Hát Môn ngoài ba chỗ có thêm chú thích thì còn có hai đoạn khác hẳn bản Hạ Lôi. Đó là điều hơi lạ. Có thể đoán rằng trong hai bản có một bản gốc còn bản kia là do người chép lại ở địa phương đã thay đổi, thêm bớt một số tình tiết theo sự hiểu biết riêng cá nhân hoặc theo truyền thuyết ở địa phương mình. Nhưng do chưa thể xác định được điều này nên dưới đây chúng tôi tạm dịch toàn văn bản Hạ Lôi chỉ vì bản này có số chữ nhiều hơn.

Gặp chỗ bản Hát Môn kể khác thì chúng Tôi chua ngay chỗ khác biệt đó ở cuối trang. Như vậy cùng một lúc bạn đọc có thể theo dõi cả hai bản ngọc phả. Cũng xin nêu thêm là do chưa thể giám định - cả văn bản lẫn nội dung - nên việt giới thiệu hai văn bản này chỉ nhằm mục đích cung cấp cho bạn đọc những tư liệu thần tích cơ bản về Hai Bà Trưng mà lâu nay có khá nhiều người cho là đã bị mất hẳn - và cụ thể thì ở hai địa phương trên cũng không còn lưu giữ được thật (2).

2. Nam Việt Trưng Nữ Vương Trắc Nhị nhị vương ngọc phả cổ lục.

Nhớ xưa, tới cuối triều Hùng, thế nước cáo chung, truyền  đến Huệ Vương, đã là 18 đời; hưởng nước dư 2000 năm, đã là dài lâu. Duệ Vương không có con trai nối dõi, nên cho vời Thục An Dương Vương vốn là cháu xa của các vua Hùng và là con của Ai Lao bộ chủ đến truyền ngôi cho. Thục Vương phụng mệnh, nối họ Hùng, kế trị ở ngôi 60 năm. Thiên hạ thái bình, binh mạnh nước giàu, thấu suốt đạo Sơn Nam hạ và quận Cửu Chân.

Khi đó Triệu úy Đà nhà Tây Hán sang xâm lược, Thục Vương bị bại. Nước Nam lại thuộc nhà Hán. Trải qua Văn Đế, Vũ Đế, tới Kiến Xương (sửa là Vũ) Tô Định làm thái thú nước Nam. Hắn hiếu sát tham tàn, bạo ngược hại dân, mọi người oán hận. anh hùng bốn bể đều phải phẫn nộ.  Có Hùng Lạc tướng quân dòng dõi Lạc Long Quân, ngày ấy đã ngoài 60 tuổi. Vợ là Trần Thị Đoan cũng ngoài 40 tuổi.  Vậy mà chưa có con nối dõi. Một hôm bà Trần nằm mơ thấy một đoá mẫu đơn trong cung trăng nở hai bông. Sau đó bà có mang. Đến ngày mùng một tháng tám năm Giáp Tuất trời bỗng tối sầm, trong phòng thì gió thơm ngào ngạt, khí lành phát sáng. Bà trở dạ sinh hai gái, mặt như gương ngọc, sắc như bình vàng, mày ngài, mắt phượng, má phấn, môi son, quả là tiên nữ chốn Bồng Lai, chúa hoa ở Lãng Uyển, không phải là hạng con gái tầm thường. Ông bà chăm chút hai con, đến năm hai con lên ba tuổi, đặt tên là Trắc nương, Nhị nương công chúa.


(1)  Ở Thư viện Khoa học xã hội có một bộ sưu tập các thần tích do hương lý chức sắc các làng ở Bắc Bộ gửi nộp cho Trường Viễn Đông bác cổ vào năm 1938. Những thần tích này hoặc là bản có từ xưa (bản cổ). Trong kho tài liệu này có bản ngọc phả của làng Hạ Lôi (Yên Lãng) và bản ngọc phả của làng Hát Môn.
(2).  Ông Trần Quốc Phi trong bài mở đầu cuốn Truyền thuyết Trun.g Vương (Chi hội Văn học dân gian tỉnh Vểnh Phú xuất bản, 197 có viết: “Đáng tiếc là trong kháng chiến chống Pháp, giặc Pháp và bè lũ tay sai đã phá hoại (làng Hạ LôD... làm mất ngọc phả”.  ông Nguyễn Quang Ngọc trong bài Hà Nội với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trung trên báo Hà Nội Mới ngày 7-10-1979 có viết: “Rất đáng tiếc là thần tích Hát Môn không còn nữa”.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 09:48:01 PM

Chú: Thời đó con cái vua chúa và các quan lang phụ đạo, trai thì gọi là hoàng lang, gái gọi là công chúa (Lời chú này không rõ của ai, Nguyễn Bính hay Nguyễn Hiền? T.G). 

Từ đó năm tháng thoi đưa, hai chị em đã 1o tuổi. Nhan sắc nghiêng thành, tư dung tuyệt thế, làm say hoa đắm nguyệt, cá lặn chim sa. Cả hai văn võ kiêm toàn, tài trí như thần, kiếm cung đều giỏi, cầm kỳ đều hay. Ai cũng coi là thế thượng thân thiên, nữ trung hào kiệt.

Năm Trắc nương 19 tuổi, gả về Chu Diên, huyện lệnh Thi Sách. Vợ chồng hoà hợp được vài năm. Thi Sách bị Tô Định giết hại. Trắc nương cảm nghĩa chồng, căm giận giặc Tô, nuôi chí báo phục, mới dành chứa binh lương, chiêu mộ anh hùng hào kiệt. . . Bà thường nguyện: bốn bể anh hùng hãy tới giúp chúng tôi trừ Tô Định, lấy lại non sông.  Một ngày kia, Trắc nương phong em làm Quốc Khôi công chúa (1).  , sai truyền hịch chiêu dụ phụ tướng nữ binh trong thiên hạ tới phù tá. Quốc Khôi phụng mệnh. Trong 15 ngày phụ tướng nữ binh anh tài trí dũng có dư 2.000 người kéo tới ứng mộ, cho làm nội giá.

Lại nói Trưng Vương khởi binh được một năm, tướng sĩ nam nữ tới ba vạn người, hội tại Phong châu thành bên sông Bạch Hạc. Trắc nương xưng là Trưng Nữ Vương, mổ trâu, ngựa khao quân, phong tước mệnh, phân phẩm trật cho chư tướng. Các đạo nội giá đều là nữ, đông tới 2.000 người.  Ngay ngày hôm đó, cử binh đến cửa Hát Giang, đại hội ở bãi Trường Sa, Trưng Nữ Vương điểm binh sĩ, lập đàn kỳ đảo thiên địa bách thần (2).   .

Khấn rằng: “Nguyện trời đất bách thần phù trì: Thiếp tôi là nữ nhi, lòng thù dấy nghĩa, những mong trừ Tô Định là kẻ khác nòi giống. Hắn đối với dân rất bạo ngược dạ sói lang hình dê chó, nhiễu loạn non sông làm sinh dân nghiêng ngửa. Thiếp tôi lòng đau nghĩ tới tính mệnh mọi nhà mà khởi binh trừ Tô Định. Nguyện trời đất bách thần phù trị giúp đỡ cho thành công. Đức ấy dài vậy”.
 
Khấn xong, bỗng trên đàn mây đen bao phủ, gió mưa dữ dội, cờ xí phần phật bay, chỉ về phía đất giặc. Trưng Nữ Vương cùng bách quan lễ tạ.

Cùng ngày, Trưng Nữ Vương cử binh tiến về huyện Chu Diên thuộc phủ Tam Đới (3).   Thời gian đó Tô Định xây thành Chu Diên. Trưng Nữ Vương tiến đến trang Cổ Lôi, lập đồn binh cự chiến Tô Định. Lúc đó trang Cổ Lôi các họ đều theo hai bà (4).  còn chọn thêm 27 cô gái tài ba đi theo hầu nội giá.  Đến ngày mùng bảy tháng giêng, khao quân trong vòng 10 ngày. Sau đấy binh tướng chia các đạo đánh thành Tô Định. Bốn mặt la hò, các đạo cùng tiến, lửa đốt tứ bề.  Tô Định không kịp dàn binh, bỏ chạy ra ngoài thành.  Trưng Nữ Vương và chư tướng tiếp đến. Tô Định đại bại, chạy thẳng. Trưng Nữ Vương đuổi Tô Định đến Cổ Lôi trang, nơi đây đã có lập sẵn đồn binh. Phục binh đổ ra. Quân Tô binh tướng chịu chết, hơn 1.000 tên bị mất đầu. Đất Cổ Lôi máu chảy thành sông, xương cốt cao như núi. Tô Định chạy về bắc ngạn.

Trưng Nữ Vương lấy lại ngoài 60 thành, thu phục cõi bờ. Từ đó Nam bang nhất thống. Trăm quan đón xa giá Trưng Nữ Vương vào thành Chu Diên, bà lên ngôi vua, xưng là Trưng Vương, phong em là phó vương. Từ đó thanh bình.  Trưng Vương lập đô thành tại đất Phấn Lộ, huyện Chu Diên (5).  Ở Cổ Lôi trang, Trưng Vương lập một hành cung, năm tháng ban yến tiệc tại xứ Đầu Bàng thượng là một dải đất có thế đẹp như một nhị sen hoá thành nơi chim phượng quần hội, gò đống bao bọc lấy minh đường, sông nước nhiễu quanh xinh đẹp .


(1).     Bản Hát Môn: “Bình Khôi công chúa”.
(2).     Bản Hát Môn thêm lời chú thích: “Nay, ngày mùng bốn tháng chín đại tế tam sinh là do ngày này mà có”.  
(3).   Bản Hát Môn thêm ìờ chú thích: “Nay là phân phủ Vĩnh Tường”. Chi tiết này chứng tỏ bản Hát Môn được sao lại sau năm 1832 là năm tách hai huyện Yên Lạc và Yên Lãng đặt làm phân phủ Vĩnh Tường.
(4).   Bản Hát Môn thêm lời chú thích: “Nguyên tên cổ là Cổ Lai, sau cải là Cổ Lôi, sau nữa mới cải là Hạ Lôi” (chú thích này nhầm, vì chính ra là: Cổ Lôi - Cổ Lai - Hạ Lôi)..
(5).  Bản Hát Môn chép khác hẳn: “Trưng Vương lập đô tại Mê Linh (nay là Hạ Lôi, yên Lãng), đổi ra họ Trưng, đặt quốc hiệu là Triệu, lấy Cổ Lai làm thang mộc ấp, sửa hành cung, phong hầu cho năm họ, chốn cỏ rậm thành triều đình. Dân chúng không ai ngờ lại có ngày như vậy, thật rạng rỡ uy nghi, bốn phương ngưỡng vọng, thoát tai ách, được thái bình. Từ đấy nước Nam yên vui. Trưng Vương ở ngôi bốn năm, rừng vắng hổ báo, nước chẳng ba dào...” (trở đi giống như bản Hạ Lôi).


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 09:55:53 PM

Lại nói từ Trưng Vương ở ngôi, dân Cổ Lôi được ban họ tên, ra vào cung điện, quan tước đầy triều, vua tôi đồng đức. Thiên hạ thanh bình. Trăm họ Âu ca. Không ai không thoả lòng về cuộc sống. Không một vật nào là không được nuôi dưỡng.

Trưng Vương ở ngôi ba năm, rừng vắng hổ báo, nước chẳng ba đào, vua sáng tôi hiền, thiên hạ đều ái mộ. Đức như núi cao biển rộng, khác nào trời Nghiêu ngày Thuấn . . .  Lại nói Hán Quang Vũ nghe nước Nam có vua đàn bà, bên sai phục ba tướng quân Mã Viện đưa quân sang đánh nước ta.  Quân Hán hơn 10 vạn, tướng 3.000 viên, rầm rộ tiến tới biên giới. Quân thủy cũng gồm trên một vạn thuyền đi theo sông Giang, Hán. Lại có thêm hàng vạn ngựa chiến kèm theo.

Nhận được thư cáo cấp của biên quan, Trưng Vương cử tướng tuyển binh (chú: Cổ Lôi có năm tướng thuộc năm họ được phong hầu) . Trên 30 viên danh tướng được phái đến các đạo ải quan cự chiến.

Qua vài năm, quân Hán thường thua, vừa chết trận, vừa   chết bệnh tới quá nửa, lùi về Giang, Hán, dâng biểu lên vua Hán (1).  Quang Vũ cho thêm 15 vạn binh.

Trưng Vương nghe tin quân Hán lại vào cõi, cùng em là Bình Khôi công chúa thay đai giáp nam giới, cưỡi ngựa cầm gươm cùng các nữ tướng tuỳ tòng 500 người cũng mặc áo quần nam tướng và 1.000 tướng nam ra nghênh chiến. Qua vài tháng, hai bên đánh dư 10 trận không phân thắng bại.
 
Tới một ngày, quân Hán tiến tới phủ Hạ Hồng, Hải Dương, nơi đó quân Trưng Vương đã lập đại đồn. Mã Viện phân các đạo bao vây tứ phía. Hai bà không kịp bày trận, liền lên ngựa dẫn cánh quân thủ túc xông ra phá vây, chém được vài chục viên tướng Hán. Bỗng trời nổi gió dữ thổi tung cân đai, làm lộ hình là nữ. Quân Hán thấy vậy reo to lên: “Vua đàn bà, tướng đàn bà, ta nhất định bắt sống”. Chúng cởi hết quần áo xông vào. Nữ quân Trưng Vương hổ thẹn chạy toán loạn.
 
Trưng Vương cũng phi ngựa chạy, đến Thạch Thành huyện thuộc phủ Kinh Môn, hai chị em thúc ngựa phi lên đỉnh núi và hoá. Đó là ngày mùng tám tháng ba. Lúc đó trời u ám tối sầm gió mưa gầm rít. Quân Hán rút chạy về thành.  Từ đó nước ta lại bị Đông Hán đô hộ.

Nói về các bề tôi của Trưng Vương, cảm công đức của bà đứng ra tu sửa hành cung (nơi ban yến tiệc) thành đền miếu phụng thờ.

Năm Hồng Phúc thứ nhất (1572) mùng 10 tháng giêng, hàn lâm viện đông các đại học sĩ, bề Tôi là Nguyễn Bính phụng soạn.

Năm Vĩnh Hựu thứ ba (1737) ngày lành tháng hai, quản giám bách thần tri điện, hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền xét riêng bản cổ mà sao lại.

Năm Tự Đức thứ hai mươi sáu (1874) mùng 10 tháng giêng, đồng xã sao lại.


(1).  Bản Hát Môn chép khác: “lùi về Giang, Hán. Viện có ý lo sợ Hắn nhớ lời em Thiếu Du nói dạo trước, cái ngày da ngựa bọc thây có thể là lúc này chăng! Viện tâu vua Hán xin viện binh.  Quang Vũ cấp thêm cho mấy vạn lính.
Lúc này quân Trưng Vương đóng ở Hải Dương, Hạ Hồng Phủ. Mã Viện hợp binh lại đánh. Qua mấy tháng xảy ra vài chục trận không phân thắng bại. Bỗng một trận gió mạnh nổi lên làm loạn quân ta, không giống như trận gió ngày trước ở đàn thề. Thế không giữ được, Vương cùng phó vương lui giữ Cấm Khê. Viện tiến quá Đông Kinh, quân đến hồ Lãng Thị - Chợ Ngân), đóng tại đó, thề không đội trời chung với giặc. Bỗng hiện một người vận triều phục, tâu rằng: ‘phụng mệnh Thượng đế ở dương trần đã lâu. Nay vận số đã hết, thỉnh xe rồng về chầu trời. Chốn thủy cung sẽ là nơi lăng tẩm mộ phần”. Vương biết số trời khó tránh. Anh hùng không luận ở thành bại. Ngày mùng tám tháng ba, Vương và bà em gieo mình xuống Hát Giang, anh hồn thường giúp dân giúp nước. Dân nhớ công ơn lập miếu thờ. Hồng Phúc năm thứ nhất...(trở đi giống bản Hạ Lôi).  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 10:12:26 PM
II- VĂN BIA VỀ SỰ TÍCH HAI BÀ TRƯNG

Cho đến nay, trên toàn khu lưu vực sông Hồng chỉ mới biết có hai tấm bia nói về sự tích hai bà. Hai tấm bia này lại cùng một nơi: đền Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng - nội thành Hà Nội), ra đời cách nhau tám năm. Cả hai đều có tên là Trưng Vương sự tích bia ký.

1. Bia ghi sự tích Trưng Vương.

Trên đời có những sự nghiệp kỳ lạ, làm cho người ta không thể ngăn được lòng hâm mộ và xúc động.  Nước Đại Nam ta, từ đời Hồng Bàng đến đời Lê, trước sau trong khoảng mấy ngàn năm, có những bậc anh hùng nối tiếp nhau chiếm cứ các vùng châu thổ, dựng nên các triều chính thống như bốn họ Đinh, Lý, Trần, Lê.
 
Than ôi ! Đấng trượng phu là phải như thế!

Trong nữ giới mà trượng phu, chính là Hai Bà Trưng, hai bà là con Lạc tướng, cháu Lạc Vương, vốn không phải người thường. Nhưng từ khi nước Văn Lang bị mất, thế nước thuộc về nhà Thục, nhà Triệu, rồi đến nhà Hán, lệ thuộc nước ngoài hơn hai trăm năm. Việc ấy không cần bàn luận. Thêm vào đó, bọn thái thú nhà Hán hoành hành bạo ngược, những bậc hào kiệt chưa ai nổi dậy. Buổi ấy, trong nước eo việc kỳ lạ lắm thay. Đó là việc Bà Trưng chị vì chồng, Bà Trưng em vì chị, xắn cánh tay, hô một tiếng, bọn thái thú bạo ngược bỏ chạy.

Trong khoảng vài ngày, bình định được hơn năm mươi thành, oai vũ lừng khắp cõi Lĩnh Nam, thanh danh làm rung động đất Hoa hạ. Mặc dầu trí dũng như phục ba mà hai bà vẫn ba lần đánh thắng, thanh thế làm cho người Hán bao phen ngày đêm vất vả.
 
Đến lúc việc chẳng chiều lòng, cùng nhau xắn tay, nhảy xuống sông Hát. Trí tuệ như thế ai mà sánh kịp, tài lược như thế ai mà sánh kịp, nghĩa khí như thế ai mà sánh kịp. Chị em một nhà, anh hùng muôn thuở, hai bà quả là bậc người hiếm có trong nữ giới và việc làm của hai bà cũng khó mà có được trong nữ lưu.

Các đấng trượng phu làm việc vốn không cần bàn luận thành bại, mà việc làm của hai bà lại càng không nên lấy thành bại mà luận bàn. Ngàn đời sau, đọc trang sử cũ, khiến mọi người đều tăng thêm chính khí. Đến bản triều hai bà vẫn được ghi vào nền tự điển.

Ngoài ra, miếu thờ hai bà đâu đâu cũng có, ấy là do uy thiêng của hai bà lưu truyền lại. Tại làng Đồng Nhân, huyện Thanh Trì, từ xưa có lập đền thờ hai bà ở bãi sông. Về sau sông lở, dân làng chọn được một nơi ở Võ Miếu cũ, thuộc thôn Hương Viên, huyện Thọ Xương, được ban cấp hơn sáu mẫu đất để lập đền làm nơi hương đèn - phụng thờ. Việc ấy được vua xuống chỉ chuẩn y. Thế là triều đình đã thể theo nguyện vọng của dân, điều đó có bằng cứ rõ ràng. Còn như việc thi thể không hoá và những điều linh ứng lạ lùng thì đều là những sự truyền miệng thêm thắt.

Nhân tìm được tấm bia bỏ không ở nơi đền mới, người ta cậy tôi viết bài văn, ý muốn mượn bia để truyền lại những việc đó. Tôi cũng mượn bia này để bày tỏ ý kiến, giúp người xem bia hiểu cho đúng. Vậy có bài ký này.

Năm Minh Mạng thứ 21 trong muôn vạn năm, Canh Tý (1840) trung tuần tháng năm ngày tốt dựng bia.  Tiến sĩ khoa Bính Tuất 1826) nguyên đốc học Bắc Ninh, Vũ Hoán Phủ, hiệu Đường Xuyến soạn (1).


                                                                            Theo bản dịch của Lê Thước - Trần Huy Bá
                                                                                 (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 149)

2. Bia ghi sự tích Trưng Vương

Trong khoảng vũ trụ, sự nghiệp kỳ lạ phần nhiều ra từ những khách trượng phu. Phận gái mà làm nên sự nghiệp lạ, chẳng cũng là bậc nữ trượng phu sao? Như thế lại càng đáng ghi lắm.

Nhớ Hai Bà Trưng người châu Phong, cha là Lạc tướng, tổ là Hùng Vương. Kể về dòng dõi kẻ thường không sánh được Huống nữa hai bà đem tấm thân ngọc trắng giá trong,  ôm cái chí tang bồng, hoài bão không phải vừa. Hành động lớn lao chẳng ở đấy thì ở đâu?

Từ khi nước Văn Lang nửa vời sụp đổ, bờ cõi mất về tay Thục, Triệu và Lưỡng Hán đến vài năm. Thêm nỗi ngọn lửa bạo ngược của Tô Định lại lưng trời ngùn ngụt bốc.  Hai bà, vợ vì chồng, em vì chị, bừng bừng nổi giận, cùng  dấy nghĩa binh, ném trâm thoa mà mặc giáp trụ, nhãng gương lược mà cầm gươm đao, không đầy vài tháng mà lược định 56 thành ngoài Ngũ Lĩnh, dựng nước, xưng vương, định đô Mê Linh. Chẳng phải sự nghiệp kỳ lạ là gì đấy?  Đến lúc phải lui về Cấm Khê, tuẫn tiết ở Hát Giang, cũng là bởi trời chứ há nên bình luận anh hùng theo thành hay bại.

Nhưng xét đến gan dạ kia, mưu lược kia, tiết tháo kia thì hai bà thật không thẹn là dòng dõi thần minh.  Sau khi mất, chân thân hai bà hoá thành đá hiển linh ở bến sông Nhị Hà. Năm Đại Định thứ ba (1142) vua Lý Anh Tông sai lập đền thờ ở bãi Đồng Nhân, huyện Thanh Trì để thờ hai bà, rất linh ứng. Các triều đều có sắc phong.  Hoàng triều ta trọng điển lễ, đã phong sắc rồi. Năm trước, đền cũ, hư hỏng vì nỗi sông lở cát bay, đã được chỉ dụ nhà vua cho dời vào thôn Hương Viên, huyện Thọ Xương để dân xã thờ phụng.

Ngàn thu hương lửa, dằng dặc với trời đất không cùng.  Nay nhân sửa đền, xỉn kinh thuật sơ qua sự tích hai bà để khắc vào đá, truyền lâu dài.

Hậu quân đô thống phủ đô thống rỉnh Hà Ninh tổng đốc Vũ Khê tử Tôn Thất Bật kính ghi.

Năm Tự Đức thứ nhất trong muôn vạn năm (1848) ngày lành, tháng tư. Cử nhân tỉnh Hưng Yên hiện làm đốc họe Hà Nội, Dương Duy Thanh kính soạn (2).

                                                                                          Theo bản dịch của Hoa Bằng
                                                                                     (Tạp chí Tri tân, số 39, 24-3-1942)



(1).   Chính là Vũ Tông Phan (1804 - l862) gốc ở Bình Giang (tỉnh Hải Dương cũ) ngụ tại làng Tự Tháp, huyện Thọ Xương, tức khu vực các phố nhà thờ, cuối Hàng Trống, giữa phố Lê Thái Tổ ngày nay. ông là một danh sĩ của Thăng Long thời đó.
(2).  Dương Duy Thanh (1804 - 1861) hiệu là Nhạn Phong, đỗ cử nhân năm 1828, người làng Phú Thị, phủ Khoái châu (nay là huyện châu Giang, tỉnh Hưng Yên), là một nhà giáo dục nổi tiếng đồng thời là một nhà thư đặc sắc. Người bấy giờ khen là một trong ‘quốc sĩ tứ kiệt”.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 10:35:42 PM
III. MỘT SỐ DI TÍCH VỀ HAI BÀ TRƯNG

1. Đền Hạ Lôi.

Đền ở về rìa phía đông nam làng Hạ Lôi. Ở địa phương này, có người nói ngôi đền ấy dựng trên nền nhà cũ của bà mẹ hai bà, cũng có người nói trước đó là miếu thờ Thi Sách, sau mới mở mang thành đền thờ Thi Sách và hai bà.
 
Đền Hạ Lôi bắt đầu có từ bao giờ thì không thể nói chắc được, chỉ biết là chiếu theo thực trạng hiện nay thì từ quy cách kiến trúc đến đồ thờ tự, trang trí đều không vượt quá thế kỷ XIX.
 
Đền xây trên một khu đất rộng thoáng, giữa cánh đồng cao, nhìn ra đê sông Hồng. Cổng đền đẹp, trên khung cửa chính có bức hoành mang bốn chữ “Ly chiếu tứ phương” (ánh sáng chiếu ra bốn phương). Sau cổng là một vạt sân rộng, cuối sân có hồ bán nguyệt. Trên bờ hồ là nhà tiền tế. Tại đây có một tấm bia và một cái chuông nhưng không cổ lắm. Bia có tên là Cải chính miếu hướng bi ký (Bia về việc sửa lại cho đúng hướng miếu) nói về việc sửa đổi hướng đền, khắc năm Thành Thái thứ nhất (tức năm 1899). Chuông thì có dòng niên đại đúc là năm Gia Long thứ hai tức năm 1803 (như vậy, diện mạo và hướng đền ngày nay mới có từ năm 1899).
 
Phía trong nhà tiền tế là hậu cung. Tại đây trên bệ thờ vốn đặt tượng Bà Trưng Trắc và tượng ông Thi Sách, đặt ngang hàng. Theo tờ khai của hương lý làng này (tháng 4-1938) thì, đời xưa đó là hai pho tượng bằng đất luyện, đến năm Gia Long thứ 11 (tức năm 1822) mới thay bằng tượng gỗ. Đặt bên ngoài tượng là bài vị Bà Trưng Nhị. Bài vị này bằng đá tạc (như vậy ở đây thờ vợ chồng Thi Sách là chính). Nhưng hai pho tượng gỗ và bài vị đá ấy đã bị bọn tay sai giặc Pháp phá hủy vào thời gian đầu của cuộc kháng chiến (1947 - 1948). Từ ngày hoà bình lập lại (năm 1954) dân làng mới nhờ người vẽ lại hình hai pho tượng hai bà ở đền Đồng Nhân đem về treo ở hậu cung.

Ở hậu cung và nhà tiền tế có một số hoành phi, câu đối.  Hai bức hoành phi giàu ý nghĩa tự hào là bức “nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam) và “Hoàng đế từ” (Đền đức vua).  Đôi câu đối có niên đại xưa nhất là của Vĩnh Tường tri phủ Nguyễn Thái cung tiến năm Tự Đức Tân Tị, tức năm 1881:

                                               Bất thế anh hùng vương tỷ muội
                                                       Nhưng liền cơ chỉ tuế xuân thu


Nghĩa là:

                                        Vua chị vua em, hào kiệt thế gian khó sánh. 
                                                Còn nền còn móng, xuân thu hương lửa dài lâu.


Một câu đối khác cũng khá chỉnh là của huấn đạo Phạm Quang Tiến (đứng liên danh với đồng tri phủ và thương biện phân phủ Vĩnh Tường) soạn năm Duy Tân Canh Tuất, tức năm 1910:

                             Sổ thiên niên Diên quận cố đô, uất uất thông thông giang sơn ngô thổ.
                                   Thập bát thế lạc Hùng di trụ, oanh oanh liệt liệt tỷ muội nhất môn.


Nghĩa là :

                             Mấy ngàn năm Diên quận đô xưa (1) đất nước nhà ta vẻ vang rục rỡ.
                                   Mười tám đời Lạc Hùng dòng cũ, chị em một cửa hiển hách vang lừng.


Ngày trước, hằng năm việc tế lễ chủ yếu là vào những ngày mùng sáu tháng giêng tương truyền là ngày yến hạ khao quân, ngày mùng một tháng tám là ngày sinh và ngày mùng tám tháng ba là ngày hoá của hai bà. Nhưng lễ lớn nhất là ngày mùng sáu tháng giêng, thường được bà con các làng lân cận gọi là “ngày hội Hạ Lôi”. Vào ngày hội này có lệ cúng bánh dày và có rước kiệu. Chính đám rước ấy là “cái đinh” của ngày hội.

Từ trong đền ba cỗ kiệu được rước ra công, kiệu Thi Sách đi trước, đến kiệu Bà Trưng Trắc, sau cùng là kiệu Bà Trưng Nhị. Nhưng ra đến đường cái - ở đây gọi là đường Trống quân - thì kiệu Thi Sách lại dừng lại để kiệu hai bà tiến lên trước (gọi là giao kiệu) vì theo lễ “nội gia huynh đệ, ngoại quốc quân thần”, nghĩa là “trong việc nhà là anh em, ra ngoài việc nước là vua tôi”.

Điều hấp dẫn là các đô tùy khiêng hai cỗ kiệu hai bà đều là nữ đồng trinh, những cô gái mười tám, đôi mươi chưa chồng, đã qua sự tuyển chọn nên cô nào cũng xinh và nhất là vóc người và tầm cao thì đều tăm tắp như nhau.  Mỗi cỗ kiệu có 32 đô tùy chính, 32 đô tùy dự bị, lại còn thêm hàng chục cô cầm tàn, cầm lọng, cầm các đồ lễ bộ. Như vậy là có tới khoảng một trăm rưỡi cô gái tham gia vào đám rước, cô nào cũng xinh, trang phục ngày hội.

Kiệu Thi Sách thì do đô tùy nam khiêng, cũng đủ lệ bộ, khoảng bảy chục người.

Đám rước đi trên đường Trống quân, ra đường cái, rồi tiến về dinh để “hội đồng” với bốn vị thành hoàng Đô, Hồ, Bạch, Hạc và ông thánh Cốt Tung.

Có tài liệu viết rằng, đám rước này ra sông Hồng lấy nước giữa dòng cho vào một cái choé đem về để dùng làm lễ tắm tượng (mộc dục) và dâng cúng quanh năm. Nhưng hỏi tất cả các vị cố lão trong làng thì không hề có chuyện này.  Thực ra, nghi thức lấy nước đó chỉ là của đám rước đền Đồng Nhân (sẽ nói ở phần sau).

Có tài liệu viết là đồ tế khí ở đền Hạ Lôi đều sơn đen.  Cũng không phải ? Đồ thờ ở đây như kiệu, ngai . . . đều sơn son thếp vàng và cờ quạt đều bằng vải lụa ngũ sắc. Ở Hạ Lôi này chỉ có đền thờ Cốt Tung mới kiêng màu đỏ.


(1)  Đây là tác giả quan niệm, làng Hạ Lôi này vốn thuộc huyện Chu Diên. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 10:56:01 PM
2. Đền Hát Môn

Làng Hát Môn nay thuộc xã Hát Môn, ở huyện Phúc Thọ. Đền thờ hai bà, thường gọi là miếu Hát, nằm ở rìa phía đông bắc làng, mé trong đê sông Hát.

Ngay chân đê là một hàng bốn cột hoa biểu đồ sộ, trên cột có khắc nhiều câu đối. Từ đây vào đền còn khoảng non trăm bước. Tương truyền ngày hai bà khởi binh, đàn thề đã lập tại đây.

Ngày ấy chưa có đê, chưa có các xã Vân Nam, Vân Phúc nên dòng Hát Giang chảy không xa nơi lập đền thờ là mấy. Theo lời kể ở địa phương thì đền này được lập từ đời Tiền Lê, nhưng đó cũng là lời truyền miệng chứ không có giấy mực ghi chép.

Theo Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái thì dường như đền Hát Môn được lập ngay sau khi hai bà hy sinh.
 
Việt điện u linh: “Hai bà thua trận và cùng mất thổ nhân thương tiếc lập đền thờ tại địa hạt huyện An Hát”.
 
Lĩnh Nam chích quái: “Hai bà thế cô, bị hại trong trận. Người trong châu thương cảm, lập miếu ở cửa sông Hát”.
 
Lại cũng hai sách này cho biết “đời Lý Anh Tông (1138 - 1175) gặp đại hạn, vua sai sư Tĩnh Giác lên đền cầu mưa, quả nhiên ứng nghiệm”.

Như vậy, từ trước thế kỷ XII ở Hát Môn đã có đền thờ hai bà, nhưng nói rằng đền này có ngay sau khi hai bà tử trận thì còn phải khảo sát kỹ càng hơn mới khẳng định được (1).

Cứ theo quy cách kiến trúc và đồ thờ tự thì diện mạo hiện nay là có từ cuối thế kỷ XIX, đúng như lời kể của một tấm bia dựng ở hành lang (sẽ nói tới sau).

Tại nhà tiền tế có một bức hoành phi khắc bốn chữ “Lạc Hùng chính thống” có ý biểu dương sự nghiệp của hai bà là đã nối lại nền chính thống của các vua Hùng ngày trước.

Về câu đồi có một đôi bằng chữ Nôm khá đặc sắc:

Giặc Bắc đền nhà, gia quốc thù chung hai nữ tướng
Trời Nam có chủ, non sông riêng gánh một bà vua.

                                                                                                (Cử nhân Dương Bá Trạc)

Nhưng đôi câu đối mà nhiều người biết đến là đôi sau:
 
Đồng trụ triệt hoàn Giao lĩnh trĩ.
Cấm Khê doanh hạc Hát Giang trường 

                                                                              (Khuyết danh)
Nghĩa là:

Đồng trụ gãy hay còn, núi non Giao Chỉ vẫn vững.
Cấm Khê đầy hay cạn, sông nước Hát Giang vẫn dài.

 
Ở hậu cung không có tượng mà chỉ có bài vị và là bài vị Hai Bà Trưng. Không có bài vị của Thi Sách. Như thế. nơi đây chỉ thờ có hai bà.

Thêm một điểm khác với bên Hạ Lôi (Yên Lãng) là thần tích thì chép hai bà tự vẫn ở Hát Giang nhưng đồ thờ phụng, hoành phi, câu đối, hương án, long kiệu... đều phải sơn đen. Không có màu đỏ. Ngày trước có lệ định là ai bước chân vào đền cũng phải cởi bỏ mọi thứ trang phục màu đỏ (như thắt lưng, khăn, yếm . . .) .

Như vậy, lệ định này chấp nhận giả thuyết hai bà chết về gươm đao.  ở Hát Môn có lệ cởi hội vào ngày mùng tám tháng ba; tục truyền là ngày hai bà hy sinh.

Thuở trước, tiệc cúng khá đặc sắc: tiệc bánh trôi, còn gọi là bánh tù tì. Nhưng tiệc này không phải là dựa vào sự tích Giới Tử Thôi bên Trung Quốc như quan mềm khá phổ biến xưa nay (2).  Ở đây là dựa theo sự tích bà Âu Cơ sinh trăm trứng. Cho nên bánh cũng nặn thành trăm chiếc hình trứng chim.


 (1).  Theo lời kể từ xưa truyền lại ở đây (qua đời khai của hương lý làng này tháng 4-1938) thì trước khi thờ hai bà, làng Hát Môn thờ thần Bạch Thạch, cao như cột định. Bạch Thạch là đá trắng.  Phải chăng đó là ký ức của một thời cổ đại còn thờ cúng cự thạch hoặc linga.
(2) Đời Chiến quốc, Giới Tử Thôi phò tá Trùng Nhĩ lúc còn hàn vi Khi lên làm vua, Trùng Nhĩ quên Giới. Giới ẩn trong rừng. Có người nhắc, Trùng Nhĩ cho người đi gọi, nhưng Giới không ra.  Trùng Nhĩ ra lệnh đốt rừng. Giới cũng không ra và chịu chết cháy.  Sau đó người Trung Hoa có lệ không nhóm bếp vào ngày Giới chết, ngày mùng ba tháng ba; vì vậy từ ngày hôm trước họ làm bánh trôi để ăn vào ngày này.   


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:15:46 PM

Lễ xong, dân làng đem 49 chiếc đặt trong bông hoa sen đưa ra sông Hát (khi còn là một sông lớn) thả cho trôi xuôi. Tục này có lẽ để nhắc lại hai bà là dòng dõi Lạc Hùng, vì theo thần thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ thì trong số 50 người con theo cha (tức Lạc Long Quân) về xuôi một người ở lại Phong châu, còn 49 người kia đi về các miền khác sinh cơ lập nghiệp thành các Lạc tướng Lạc hầu.  Lạc tướng Mê Linh tương truyền là dòng dõi Hùng Vương (1).   

Ngoài ngày mùng tám tháng ba, ở Hát Môn còn có tiệc lễ ngày mùng bốn tháng chín; tương truyền là ngày hai bà lên đàn thề tế cáo trời đất. Tiệc cúng trong ngày ấy là trâu thui cả con.

Tại đền này có một số bia cổ nhưng nội dung không liên quan gì tới sự tích hai bà. Chỉ là những bia ghi về việc tu sửa ngôi đền. Cổ nhất là bia Cung tiên bản tù nhị vị đại vương giám sát huệ điền bi ký. Bia đã mòn nhiều, người soạn là một tiến sĩ khoa Ất Mùi (1595) làm binh bộ thượng thư (chỗ ghi tên họ bị mờ hết). Kể việc viên quan nội giám cúng ruộng cho đền. Bia khắc năm Vĩnh Tộ thứ ba (1622).

Một bia khác có tên Khắc thạch bi, do Nguyễn Trí Cung soạn. ông này đỗ hội nguyên khoa Quý Mão đời Chính Hoà (1703). Bia khắc năm Vĩnh Hựu Bính Thìn (1736) nói về việc sửa đền.

Bia có niên đại gần nay nhất là Miếu hướng bi ký, do tú tài Hồ Danh Bật soạn năm Tự Đức thứ 35 (1882). Nội dung cho biết đền Hát là nơi quốc tế (vua phải cử khâm sai thay mặt đến tế) nhưng bị hư hỏng nhiều. Dân đóng góp tiền của công sức tu sửa và chuyển hướng đền.

3. Đền Đồng Nhân

Đền Hạ Lôi tương truyền là nền nhà cũ của hai bà. Đền Hát Môn là nơi hai bà hội quân. Còn đền Đồng Nhân được dựng lên do một huyền tích. Huyền tích đã được kể lại trong Trưng Vương lưỡng vị thánh sắc: Sau khi gieo mình xuống sông Hạc (Hạc Giang), hai bà hoá thành tượng đá rực sáng, trôi xuôi đến bãi Đồng Nhân... Vua Lý Anh Tông biết chuyện cho người ra đón rước nhưng không được. Dân làng Đồng Nhân lấy vải đỏ ra đón thì được. Tượng đá lớn và nặng, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay trỏ lên trời, một chân quỳ, một chân ngả. Vua bèn truyền cho dân làng ấy lập đền thờ hai cỗ tượng trên ở bên sông. Đó là vào năm Đại Định thứ ba tức năm 1142 (2).
 
Như vậy, đền Đồng Nhân có từ giữa thế kỷ XII ở sát ngay cạnh bờ sông Hồng. Cũng hai tài liệu trên có kể tiếp là đến năm Gia Long thứ 18 (tức năm 1819) bãi Đồng Nhân bị lở.  Dân Đồng Nhân được phép dời đền hai bà tới làng Hoa Viên thuộc tổng Hậu Nghiêm huyện Thọ Xương, dựng trên nền Tập Võ sở của triều Lê. Rồi người làng Đồng Nhân một phần cũng dời vào cư trú xung quanh đền và lập ra một làng Đồng Nhân mới trên đất làng Hoa Viên (làng Hoa Viên tới khoảng giữa thế kỷ XIX đổi thành Hương Viên, tới đầu thế kỷ XX lại đổi ra là Phương Viên) .

Như vậy, điều chắc chắn là đền Đồng Nhân được xây dựng ở vị trí hiện nay từ năm 1819. Trước đó, đền ở ngoài bãi Đồng Nhân, nhưng theo các chính sử, như Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư, thì đền được làm trên bãi ấy từ mùa xuân năm 1160 chứ không phải 1142 như lời truyền thuyết.  “Canh Thìn năm thứ 21 (1160), mùa xuân, tháng giêng, làm đền hai bà và đền Xuy Vưu ở phường Bố Cái”. Chữ Bố Cái chính ra là Búa Cái (Búa có nghĩa là bến, nay là khu vực có bãi Đồng Nhân).


(1) Có một thuyết khác giải thích lệ tiệc bánh trôi như sau:Trước lúc hai bà xuất quân có một bà lão làm bánh trôi dâng tiến.  Do đó mà có lệ người dân Hát Môn không ai dám ăn bánh trôi trước ngày lễ mùng tám tháng ba, vì như thế là vô lễ, dám hưởng món quà này trước hai bà. Bà lão dâng bánh cũng được lập miếu thờ cạnh đền hai bà.  Như vậy, diện mạo và ngay cả hướng đền ngày nay mới có từ năm 1882.
(2).  Trưng Vương lưỡng vị thánh sắc là một cuốn sách chép tay, chỉ có 52 trang, gồm phần ghi lại các đạo sắc phong cho Hai Bà Trưng của các đời vua từ Lê Chính Hoà (1680 - 1705) đến Nguyễn Duy Tân (1907 - 1916) và phần ghi sự tích hai bà. Phần này hoàn toàn là sao lại lịch sử hai bà mà mọi người đều biết. Chỉ ở cuối sách có chép các linh tích, tức các dấu tích linh dị - như kiểu nói về tượng đá kể ở trên - là có giá trị tư liệu tham khảo.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:19:33 PM
Ngày nay, làng xóm đã đổi thay. Đền Đồng Nhân bây giờ là ở vào phố 317, quận Hai Bà Trưng. Trước đền là hồ bán nguyệt. Một hàng cột hoa biểu đồ sộ vốn có khắc nhiều câu đối nhưng nay bị vỡ nhiều. Tiếp đó là một cái sân rộng. Trên sân ở phía bên phải đền là một tấm bia khá lớn dựng trên rùa đá. Đó là bia Trưng Vương sự tích bi ký do Vũ Tông Phan, tiến sĩ khoa Bính Tuất (1826) soạn vào năm 1840.
 
Nội dung văn bia là biểu dương sự nghiệp hai bà và kể lại việc dân làng Đồng Nhân dời đền từ bờ sông vào nơi hiện nay.  Trong đền, ở nhà tiền tế có hai thớt voi sơn đen, voi gỗ nhưng ngà thật. Theo ông Hoa Bằng trong bài Đền hai bà ở Đồng Nhân in trên Tạp chí Tri tân, số 39 thì “tương truyền hai cặp ngà voi đó là tặng phẩm do triều Lý ban cho dân làng Đồng Nhân để chế voi thờ, nên trong bản Thần tích làng Đồng Nhân hãy còn chép cả hai vế biền văn trích trong tờ biểu dân làng tạ ơn vua Lý về việc ban tặng ấy”.

Cũng ở nhà tiền tế giáp tường phía bên trái còn có một tấm bia do Hà Nội đốc học là cử nhân Dương Duy Thanh soạn năm 1818 cũng có tên là Trưng Vương sự tích bi ký. Nội dung bia này cũng không khác gì mấy so với nội dung tấm bia do Vũ Tông Phan soạn.

Đến hậu cung sẽ thấy tượng hai bà đặt trên bệ cao. Nhưng không phải là tượng đá mà bằng đất luyện. Hai tay tượng không trỏ lên trời, mà đưa ngang ra phía trước. Đầu không đội mũ trụ. Vậy, đây không phải là tượng từ đời Lý mà là mới đắp sau này (tất nhiên không loại trừ khả năng bên  trong tượng hiện nay có một cái cốt đá, kiểu như “đá Mỵ châu’ bên Cổ Loa).

Ở nhà tiền tế cũng như hậu cung có nhiều câu đối hay như:

Đồng Nhân miếu, Tôn tượng lúc thanh cao, hào khí như sinh, Bắc cố mục trung vô Hán quốc.
Hát thủy môn, nộ đào thời chấn đãng, anh phong bất tử, Nam âm sở thượng hữu Bà Vương.
                                                                                                    (Khuyết danh)

Nghĩa là:

Miếu Đồng Nhân, tượng báu trang nghiêm hào khí như còn, ngoảnh ngó Bắc phương không nước Hán.
Cửa sông Hát, sóng hờn sôi sục anh phong không dứt, tiếng vang Nam sử có Vua Bà.

Hoặc:

Khả liên Hán đế xưng Quang Vũ
Bất để thoa quần khởi nghĩa binh.

                                                                                       (Khuyết danh)

Nghĩa là:

Khá thương vua Hán phô oai mẽ
Khôn đọ quần thoa dấy nghĩa binh.

Trước đây, hằng năm làng Đồng Nhân mở hội từ ngày mùng bốn Tết đến mùng tám tháng hai, chính hội là vào mùng năm. Tương truyền đó là ngày dân bãi Đồng Nhân xưa đón tượng hai bà từ sông lên.

Trong ngày hội mùng năm tháng hai ấy, dân Đồng Nhân rước kiệu hai bà ra bờ sông Hồng, chỗ làng Đồng Nhân gốc, rồi dừng kiệu lại, đem đôi choé xuống thuyền đã túc trực sẵn, bơi ra giữa dòng lấy nước. Nước này sẽ dùng để tắm tượng và dâng cúng quanh năm.
 
Đặc biệt đám rước ấy có đôi voi gỗ đi dẹp đường, quản tượng là đàn ông. Còn các đô tùy khiêng kiệu thì toàn là nữ, tức cũng giống như nghi vệ ở đám rước hằng Hạ Lôi. Nhưng các nữ đô tùy này chỉ có một số ít là người địa phương, còn thì là những cô gái các làng có giao hiếu với Đồng Nhân như Phụng Công (ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) là nơi tương truyền có người đã cùng dân Đồng Nhân rước tượng hai bà ở sông lên từ đời nhà Lý, như Hạ Lôi bấy lâu coi như quê của hai bà . . .

Có năm, vùng Thường Tín (Hà Tây) cũng cử người lên giúp hội.  Sau khi đám rước trở về bắt đầu làm lễ tế. Có năm tổ chức tế nữ quan, tức là mọi thủ tục tế lễ do phụ nữ hoàn toàn đảm nhiệm, từ chủ tế, bồi tế đến các thấp sự (những người phục dịch) .


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:36:00 PM

Cạnh đền hai bà, phía bên phải là ngôi đình của dân làng Đồng Nhân và bên trái là chùa của làng này. Chùa có tên là viên Minh tự” (chùa Viên Minh). Cả đình lẫn chùa cũng chỉ có thể có từ sau năm 1819. Nhưng cái tên Viên Minh thì bắt nguồn từ một sắc phong vào năm 1533. Vào năm đó - năm Nguyên Hoà thứ nhất đời vua Lê Trang Tông - có sắc phong cho hai bà là Quảng Giáo Viên Minh linh Thạch Trưng Vương Phật. Chữ Viên Minh lấy từ pháp hiệu này.
 
Phụ chú: Qua sự tích đền Đồng Nhân, có thể hiểu rằng từ đời Lý, từ là hai vị anh hùng cứu nước, Hai Bà Trưng được vương triều này Tôn lên là hai nữ thần bảo hộ nông nghiệp.  Tới đời Lê Trung hưng, hai bà lại được Tôn lên làm Phật.  Ngoài ra, nhìn dưới góc độ dân tộc học thì ở ngày hội của các làng trên có những lễ tiết đã trộn lẫn tín ngưỡng nguyên thủy vào chủ đề lịch sử tưởng niệm hai bà. Như ở Đồng Nhân, việc rước nước sông Hồng có thể là hình thức hội nước (thờ nước, cầu mưa); một lễ tiết tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy. Hoặc lễ bánh trôi ở Hát Môn có thể là sự tôn xưng biểu dương thành quả của lao động nông nghiệp trồng lúa nước.

4. Quán Ao Sen

Tại xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, Hà Tây cũng có đền thờ Hai Bà Trưng. Theo ý kiến của ông Đinh Văn Nhật thì Hạ Bằng - tức Hạ Lôi và Bằng Trù - là một khu thuộc trang Cổ Lôi ngày xưa, quê hương của Hai Bà Trưng. Nhưng hai bà lại không phải là thành hoàng làng (thành hoàng là ba anh em Cao Hưng, Tuấn Tĩnh, Trung Liệt, các con của Lạc Long Quân) nên không thờ ở đình mà thờ riêng ở quán.

Vùng xứ Đoài cũ có tập quán gọi nơi thờ các thần thánh là quán tức cũng như các làng vùng khác gọi là nghề hoặc đền.  Quán thờ hai bà nguyên ở trên một cái gò cạnh một ao sen nên có tên là quán Ao Sen. Tương truyền đó là nơi Hai Bà Trưng mở tiệc khao quân.
 
Sau, quán lại được chuyển sang một cái gò đối diện (nay là địa điểm nhà trạm y tế xã).  Theo một người cao tuổi ở đây - ông cụ Đặc ở xóm Cốc - thì quán này thời xưa các cố lão còn gọi là quán Dạ. Phải chăng chữ Dạ ở đây cũng giống như chữ Dạ trong Mả Dạ ở Nam An, quê hương bà Man Thiện?

Như vậy, có thể hiểu “quán Dạ” là ‘quán đức Bà”. Và cái tên gọi này chính cũng là tia ảnh xạ của một thời mà tiếng Lạc Việt chưa chia ra làm hai (tiếng Kinh và tiếng Mường) tức thời kỳ Hai Bà Trưng vậy.

5. Thành Dền

Làng Cơ An nay thuộc xã Tam Đồng, huyện Mê Linh. Trước đây làng này có tên là Cự Triền. Tại đó có một dấu tích thành cổ mà dân làng gọi là thành Dền. Có lẽ Dền là tên Nôm cổ của Cự Triền, vì những địa danh có tên bằng chữ Hán là Triền thì đều là phiên âm chữ Dền của tên gọi Nôm (ví dụ chỗ cuối phố Huế, đầu phố Bạch Mai ngày trước có một cửa ô tên Nôm là cửa Ô Cầu Dền thì các sách chữ Hán đều chép là Triền kiều ô môn).

Cái tên Cư An chỉ mới có từ thế kỷ XIX, vì ở sách Kiên văn tiểu lục soạn vào những năm cuối thế kỷ XVIII, tác giả là Lê Quý Đôn còn dùng chữ Cự Triền: “ở xã Cự Chiền (Cự Triền) có nền thành cũ, tương truyền phục ba tướng quân cùng Trưng Nữ Vương đánh nhau ở đây” (bản dịch, trang 506, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1962).
Nhưng đến sách Đại Nam nhất thông chí (soạn vào thời gian nửa cuối thế kỷ XIX) thì đã có tên Cư An: “Lũy cổ Trưng Vương: ở xã Cơ An, huyện Yên Lãng, có hai lũy, cách nhau không xa, nền cũ nay vẫn còn, tương truyền đấy là lũy cũ của Trưng Vương” (bản dịch, tập IV, trang 213, sách đã dẫn).
 
Như vậy, thành Dền nằm ở địa phận làng Cư An. Làng này nay thuộc xã Tam Đồng. Nhưng theo sự phân chia lại địa giới gần đây thì thành Dền lại thuộc về địa phận xã Tự Lập, vẫn là huyện Yên Lãng, nay là huyện Mê Linh.
 
Thành cách đền Hạ Lôi chừng 6 km về phía tây bắc, tương truyền là nơi Bà Trưng Nhị đóng quân. Cứ như cách gọi ở địa phương, ngoài tên thành Dền, thành này còn được gọi là thành Trại, thành Cờ, thành Tam Kha.
 
Theo sự mô tả của ông Nguyễn Lộc trong bài Những vết tích khảo cổ về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phú (Những vấn đề lịch sử Vĩnh Phú, trang 119) thì thành Dền có hình dáng khá đặc biệt: không đắp theo hình vuông, hoặc chữ nhật, hoặc đa giác đều như các thành thường gặp trên đất nước ta mà là hình bầu dục. Chỗ dài nhất là 200 m, chỗ hẹp nhất là 170 m . Tường thành cũng còn cao tới 1,5 m so với mặt hào chạy xung quanh thành. Hai đầu thành ở phía bắc và nam hiện còn hai khu đất được đắp vòng rộng ra ngoài ước khoảng gần 1 sào Bắc Bộ. Có thể đó là hai cái mang cá?  Trong thành về phía nam có một gò cao. Ở đỉnh gò còn dấu vết nền móng ngôi miếu cổ tương truyền là nơi thờ Bà Trưng Nhị và vốn là cột cờ xưa.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:41:12 PM
Ở mặt phía đông của vòng thành có một quãng bị cắt ngang vì ở đó có một hố nước. Một bên thành được đắp vòng ra ngoài hố nước ấy, còn một bên thì nhập vào một gò đất cao khá cao. Nơi đó có thể là cổng thành.

Trong nội thành, đối diện với cổng còn có một nền đất phẳng hình chữ nhật giống như nền nhà. Tại góc bắc thành có một hồ nước rộng khoảng 1 sào Bắc Bộ và hiện còn sâu tới 0,8 mét. Có thể đó là giếng nước dùng chung cho cả nội thành.  Còn dãy hào chạy xung quanh thành thì nay bị san lấp nhiều; tuy vậy, có chỗ còn rộng tới 10m, sâu chừng 0,6 mét, so với mặt ruộng xung quanh.

Theo thần tích của làng Cư An thì sau khi đánh đuổi Tô Định, Bà Trưng Nhị được cử về nơi đây xây dựng thành lũy để làm kinh đô. Liên quan đến toà thành Dền này còn có một toà thành khác, cách 2 km về phía đông. Đó là thành Vượn ở địa phận làng Nam Cường, giáp giới Cơ An (Nam Cường nay hợp với Cư An và Văn Lôi thành xã Tham Đồng). Theo lời kể ở địa phương thì Mã Viện đã kéo quân tới đánh thành Dền trong nhiều ngày nhưng không hạ nổi. Hắn đành phải cho xây một toà thành ở đây để làm nơi trú quân lâu dài. Đó là thành Vượn.

Thành Vượn có hình gần tròn, rộng khoảng 2 héc ta. Đường kính khoảng 150 mét đến 170 mét. Chỗ thành cao nhất là 1,5 mét so với mặt hào. Mặt thành có đoạn rộng trên 8m. Phía bắc thành có một gò đất cao, cũng gọi là gò cột cờ.

Kể ra, bảo rằng đây là thành do Mã Viện cho đắp thì cũng có thể tin được. Vì các sử Trung Quốc đều có chép rằng Mã Viện đã xây Kiền thành ở huyện Phong Khê. Vậy mà huyện Yên Lãng, nay gọi là huyện Mê Linh, chính là huyện Phong Khê ngày xưa. Vả lại Kiền thành có nghĩa là “thành Cái kén”. Ở đây, thành Vượn có hình gần tròn rất giống một cái kén tằm. Do đó, có thể Kiền thành ghi chép trong sử sách chính là thành Vượn.

Như vậy, thành Vượn có thể coi là hiện vật để gián tiếp chứng minh sự có mặt của thành Dền vào thời kỳ Hai Bà Trưng. Thực tế Cự Triền đúng là một làng cổ. Các nhà khảo cổ đã cho biết rằng những di vật đào được ở lòng đất trong thành Dền (gồm gốm và đồng) có niên đại trước công nguyên, thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên và Đồng Đậu (1).  Và kiểu dáng của thành cũng đã được coi là loại thành cổ.
 
Lê Văn Lan có nhận xét: “Đặc điểm đáng chú ý nữa là kiểu dáng của những toà thành này (Cự Triền và Miếu Môn) nếu một mặt tỏ ra khác biệt với những thành quách của bọn thống trị đương thời và của đất nước ở những thời kỳ sau - thường có hình tứ giác - thì mặt khác, lại đồng dạng với thành Cổ Loa và cùng với Cổ Loa làm nên một phong cách xây thành riêng: tạo một bình diện hình gần tròn hoặc những đường con tự do khép kín của tường thành”.

Tất nhiên trải qua hai mươi thế kỷ, nhiều đội quân đã đóng ở Cự Triền, như quân Nguyễn Khoan (thế kỷ X) hoặc nghĩa quân của các phong trào nông dân mà cụ thể nhất là phong trào Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương. Bấy nhiêu đội quân tất có tham gia nhiều hoặc ít vào việc làm thay đổi diện mạo thành Dền.

6. “Miếu Bà Trắc” ở Hồ Nam (Trung Quốc).

Trên đất Trung Quốc mà lại có đền Bà Trưng. Kỳ lạ nhưng có thật? Vì nguồn thông tin này nằm trong thư của danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803). Nguyên là trong Hoàng hoa đồ phả, một tập thư và hoạ do Ngô Thì Nhậm sáng tác trong thời gian đi sứ nhà Thanh (năm 1793) có một bài nhan đề Phân Mao lĩnh (núi Phân Mao):

Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao
Hoàng Mao dịch lộ thập Phân Mao
Thiên thư bất tận Hành Sơn
(2) lĩnh
Địa khí hoàn phù Nhạn Trạch mao
(3)
Trưng Trắc kiêm mang khai động phủ.
Úy Đà quê đô lạc sơn sào
Phong lai giải uấn tây nam lợi
Vi hứa Hùng Bi vạn nhận cao.



(1) Xem thêm bài Phát hiện một sô/ di tích khảo cổ ở Vĩnh Phú của Hà Văn Hiện trong Những phát hiện mới khảo cổ học 1972, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973.
(2)  Hành Sơn: Tên chỉ chung dãy núi trùng điệp trên địa phận huyện Hành Dương.
(3)  Nhạn Trạch: chim nhạn bay về Nam nhưng tới Hành Dương gặp ngọn núi Hồi Nhạn cao quá phải quay về. Nhưng lông nhạn rụng xuống lại theo sông Ly trôi về Nam. Khúc sông đó gọi là Nhạn Trạch.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 04 Tháng Hai, 2009, 11:54:29 PM

Nghĩa là:

Một dải núi xanh ở giữa nơi giáp giới Sở và Việt
Trên đường đến trạm Hoàng Mao nhậ n ra đó là núi Phân Mao.
(Ranh giới của Trung Hoa do) Sách trời định ra không quá núi Hành Sơn,
Khí đất làm trôi ngược lông chim nhạn ở Nhạn Trạch (về phía nam).
Lưỡi kiếm của Bà Trưng mở ra động phủ.
Sâu quê của Triệu Đà còn đầy trong hang-núi
(1)
Gió từ tây nam làm nguôi cơn nồng Coi thường núi Hùng Bi dù cao tới muôn sải (2)
 
Ngô Thì Nhậm có lời chú thích rằng: “Núi Phân Mao ở địa giới Hành Sơn, tỉnh Hồ Nam, có cỏ mao rẽ hai ngả nam bắc, trên đường đi có biển để Phân Mao lĩnh” (3).   

Như vậy, núi này là chỗ ranh giới hai nước Sở, Việt. Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Gọi là Hồ Nam vì ở phía nam hồ Động Đình. Và vậy là theo bài thư này tại Hồ Nam có đền thờ Bà Trưng Trắc.

Trong một tập thư khác của Ngô Thì Nhậm - tập Yên Đài thu định cũng gồm những bài thư do ông viết trong chuyến đi sứ năm 1793 - có một lời ghi chú khác: “Phía nam hồ Động Đình có miếu thờ Bà Trưng.
 
Bà đã chống với Mã Viện ở Hồ Nam và giữ được vài tháng. Sau đó bà chiến đấu ở Khẩu Phong và thất bại ở Tương Âm rồi mất. Nay ở đó còn có miếu thờ Hai Bà Trưng, tục gọi là miếu Bà Trắc, rất linh ứng”.
 
Rõ ràng đây chỉ là truyền thuyết. Vì chính sử Trung Quốc không ghi sự việc này. Nhưng cơ sở để hình thành truyền thuyết trên thì có thể giải thích được: Chính sử có ghi là sau khi Mã Viện hoàn thành công việc xâm lăng, hắn đã bắt trên 300 cừ súy người Việt đưa về Trung Quốc, an trí tại Linh Lăng. Linh Lăng chính là phần đất phía nam tỉnh Hồ Nam. Số ba trăm cừ súy đó tất phải là các thủ lĩnh nghĩa quân, tướng lĩnh của hai bà và các Lạc hầu Lạc tướng đã kiên cường chống lại giặc Hán.

Những người dân Việt yêu nước này, tuy bị đày ải xa quê hương, nhưng họ vẫn hướng về đất tổ, vẫn nuôi mối hờn căm đối với quân thù; họ đã lập “miếu Bà Trắc” để tưởng nhớ thủ lĩnh của mình đồng thời cũng là thể hiện ý chí bất khuất của người dân nước Việt.

Những câu chuyện về cuộc khởi nghĩa và cuộc kháng chiến ngày đó tất cũng được lưu truyền trong cộng đồng ấy, nhưng rồi do trải qua bao đời, bao thế hệ, cùng với quá trình địa phương hoá (tức là bị Trung Hoa hoá) những câu chuyện đó bị “khúc xạ” đã trở thành ra truyền thuyết Bà Trưng đánh Mã Viện trên đất Hồ Nam.

“Miếu Bà Trắc” ở bên bờ hồ Động Đình đúng là một biểu tượng hiên ngang của tinh thần ngoan cường bất khuất của người dân Việt thời Hai Bà Trưng dù bị tách khỏi quê hương vẫn dám phủ định uy quyền của kẻ thù đang ở thế thắng. 

                                                Theo Nguyễn Vinh Phúc: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội,               
                                                                             Nxb. Hà Nội, 1983.


(1)  Triệu Đà không muốn cống quế cho nhà Hán, bịa ra chuyện cây quế bị sâu phá hoại và bắt sâu này đem nộp, thực ra đó là con cà cuống.
(2)  Hùng Bi là một dãy núi ở huyện Kỳ Dương, huyện cực nam tỉnh Hồ Nam.
(3) Xin cảm ơn anh Ngô Linh Ngọc và anh Trần Lê Văn đã cung cấp cho chúng tôi tư liệu về thư Ngô Thì Nhậm.     


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 12:20:57 AM

PHỤ LỤC 2

GIAO THÔNG VẬN TẢI NƯỚC TA THỜI BẮC THUỘC

Khi xã hội Việt Nam bước sang thời kỳ Bắc thuộc thì bên cạnh nhu cầu về kinh tế, những nhu cầu về hành chính, quân sự của nhà nước phong kiến ngoại tộc đã khiến cho hệ thống giao thông cần được phát triển hơn trước.
 
Trước hết ta xét đến tình hình giao thông giữa miền đất nước ta và miền nội địa Trung Quốc ở giai đoạn đầu của thời kỳ Bắc thuộc. Theo tài liệu hiện nay chúng ta biết, việc thông thương với miền nội địa Trung Quốc đương thời có thể có bốn con đường.
 
Con đường thứ nhất từ Trường Sa (Hồ Nam) qua Ngũ Lĩnh xuống Nam Việt rồi vào Bắc Bộ ở phía đông bắc. Đó là con đường hành quân của Đồ Thư đời Tần và của Lộ Bác Đức đời Tây Hán (1).  

Đường thứ hai là con đường sông Tây Giang nối Ba Thục với Phiên Nhung, thủ đô Nam Việt và dọc theo các nhánh tả, hữu giang của sông đó mà vào miền Đông Bắc Bắc Bộ.

Đường thứ ba là đường biển từ miền bờ biển Giang Nam qua vịnh Bắc Bộ mà tới miền đất nước ta.
 
Đường thứ tư là con đường sông Hồng nối liền miền đất nước ta với miền “tây nam Di” của Trung Quốc,’ qua đó tới miền Ba Thục. Mã Viện cho rằng đó là con đường thủy hành binh vận chuyển rất tiện lợi (2).

Đường giao thông giữa Việt Nam với các nước miền Nam Hải thì từ trước và bước đầu thời Bắc thuộc người ta đã thấy có dấu vết của sự lưu thông giữa miền Việt Nam và miền Inđônêxia. Đó là con đường biển chảy dọc theo biển Đông và phương tiện lưu thông là những thuyền đi biển khá lớn mà những hình thuyền khắc trên trống đồng là một minh chứng (3).
   
Đó là những đường giao thông với các miền các nước bên ngoài. Về những đường giao thông trong nội địa ở giai đoạn này, ta chưa thấy có tài liệu nào nói đến một cách cụ thể. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình sông ngòi ở Giao Chỉ cùng phương tiện giao thông bằng thuyền bè còn ghi lại dấu vết trên đồ đồng thì cũng có thể thấy được việc đi lại trên các lưu vực sông lớn ở Giao Chỉ đã được tiến hành khá phổ biến.

Song trừ phương tiện giao thông thủy thuận tiện nói trên, việc đi lại ở các miền xa lưu vực các sông lớn thuộc Giao Chỉ Bắc Bộ và giữa hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân có lẽ chưa được thuận tiện. Mãi sau này Mã Viện từ Phiên Nhung vào đánh Giao Chỉ vẫn phải phát núi mở đường hành quân và khi từ Giao Chỉ tiến vào Cửu Chân, Mã Viện còn phải đào sông ở miền Tạc Khẩu (Ninh Bình) (4).

Nhìn chung lại, đường giao thông trong và ngoài nội địa tuy đã có song chưa phát triển. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho bọn thống trị nhà Triệu và Tây Hán khi đặt nền đô hộ trên đất nước ta chưa thể nắm được thật chặt hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân.

Sang giai đoạn thứ hai từ Đông Hán đến Lục triều, các đường giao thông thủy bộ phát triển hơn trước. Muốn nắm chắc được Giao châu, chính quyền đô hộ buộc phải thắt chặt sợi dây liên hệ giữa chính quốc với phiên thuộc. Đường trạm dịch được tổ chức chu đáo hơn để đảm bảo việc chuyên chở sắc thư, chiếu sớ của chính quyền trung ương sang Giao châu và để đem đồ cống tiến, của cải bóc lột vơ vét được ở Giao châu về Trung Quốc.

Trong việc giao thông với miền nội địa Trung Quốc lúc này, đường biển đóng vai trò chủ yếu. Đồng thời đường biển cũng còn là đường giao thông chính giữa các quận của Giao châu với các nước miền nam. Đó là con đường giao thông hàng hải quốc tế, và cũng là con đường mà những sĩ phu Trung Quốc vượt biển lưu vong sang Giao Chỉ.


(1).  Hoài Nam tử, Nhân gian huấn. Sử ký, q.V, q.CXII, q.CXIII, Tiền Hán thư, q.XCV
(2).  Thuỷ kinh chú, q.37.  
(3).  Xem Hoàng Lương và Trần Hà: Thử bàn về quan hệ trao đổi trong xã hội nguyên thủy Việt Nam, Tập san Nghiên cứu lịch sử, số 31 - 82, tháng 10-1961.
(4).  Hậu Hán thư, q.LIV, Mã Viện truyện - Nam Việt chí.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 07:59:32 AM

Trong việc giao thông với miền nội địa Trung Quốc lúc này, đường biển đóng vai trò chủ yếu. Đồng thời đường biển cũng còn là đường giao thông chính giữa các quận của Giao châu với các nước miền nam. Đó là con đường giao thông hàng hải quốc tế, và cũng là con đường mà những sĩ phu Trung Quốc vượt biển lưu vong sang Giao Chỉ.

Bên cạnh đường biển, đường bộ từ Giao Chỉ sang miền nội địa Trung Quốc cũng được mở mang thêm. “Trước kia bảy quận Giao Chỉ đem đồ cống tiến, chuyển vận đều đi theo đường Đông Đã (Phúc Kiến) vượt biển mà đi, sóng gió rất là gian nan, nạn chìm đắm xảy ra luôn luôn. Trịnh Hoằng tâu xin mở đường núi ở quận Linh Lăng, quận Quế Dương (Hồ Nam). Từ bấy giờ đường đi được bình thản, đến nay đời Lưu Tống – (TG) đã thành con đường thường đi” (1).  

Trạm dịch đường bộ được tổ chức cứ 10 dặm có một trạm, 5 dặm có một quán đón (2).  Đó là con đường bộ mới được khai phá dọc thung lũng sông Thương, qua Bằng Tường, Quảng Tây, Hồ Nam, nhằm mục đích làm cho việc chuyển cống phẩm bóc lột ở Giao Chỉ về Trung Quốc được dễ dàng. Đó cũng là con đường trạm dùng ngựa để chuyển đạt thư từ, chiếu lệnh từ triều đình trung ương đến Giao châu. Đồng thời nó cũng còn có tác dụng trong việc thông thương hàng hoá từ Trung Quốc sang Giao Chỉ.

Ở phía thung lũng sông Hồng, đoạn sông từ Mê Linh lên Bôn Cổ (tức là huyện Kiến Thuỵ tỉnh Vân Nam nay -TG) vẫn được coi là con đường thủy đi lại thuận tiện. Đó là con đường “binh xa vận tải”; Mã Viện đã định hành binh theo đường ấy lên ích châu vì “nhờ thủy lợi mà có thể được nhanh chóng như thần” (3).  Con đường này nối liền Giao Chỉ với Vân Nam, Tứ Xuyên. Sĩ  Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ vẫn thường liên hệ với hào trưởng Ung Khải ở ích châu. Hứa Tĩnh từ Trung Nguyên sang tị nạn ở Giao Chỉ, sau lại từ Giao Chỉ sang ích châu làm quan với nhà Thục (4).  

Trong sớ của Đào Hoàng tâu với vua Tấn có đoạn nói rằng : “Miền Hưng Cổ thuộc Ninh châu (Vân Nam - TG) ở mạn thượng lưu Giao Chỉ 1.600 dặm, đường thủy đường bộ đều thông, bảo vệ lẫn nhau” (5).  Như vậy là con đường từ thung lũng sông Hồng sang Vân Nam lên Tứ Xuyên là con đường quan trọng có ý nghĩa kinh tế chính trị và quân sự to lớn.

Không những phương tiện giao thông với nước ngoài được mở rộng hơn trước mà ở trong nội địa, hệ thống giao thông cũng được mở mang phát triển thêm lên. Từ miền đồng bằng quận Giao Chỉ đi lên miền bắc có đường bộ dọc thung lũng sông Thương tới biên giới phía bắc và đường thủy dọc sông Hồng lên miền núi phía tây bắc.
 
Đi xuống miền nam có đường sông Hồng xuôi ra biển về phía đông nam và đường sông Đáy ra cửa biển mạn Thần Phù. Việc thông thương giữa Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, ngoài đường biển, lúc này đường sông và đường bộ cũng đã được mở mang.

Khi Mã Viện đem quân tiến vào Cửu Chân, theo Nam Việt chí, Viện đã “đào (một con sông) thông qua dải núi Cửu Chân, lại chất đá đắp thành đê để ngăn sông biển” (6) làm đường hành quân. Chỗ núi Mã Viện đào gọi là Tạc Sơn, cửa biển mà Mã Viện ngăn sông gọi là Tạc Khẩu. Tạc Khẩu chính là cửa biển Thần Phù.


(1) Hậu Hán thư, q.33, t.20b, 21a.
(2).   Hậu Hán thư, q.4.
(3).   Thuỷ kinh chú q.37.
(4).   Ngụy chí, q.4, t.3b.
(5) Tấn thư, q.LVII, t.6a.
(6).  Nam Việt chí dẫn ở Sơ học ký, q.8 - 40b.(6).  Ca dao của ta có câu:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 10:56:41 PM

Đi từ sông Đáy đến cửa Thần Phù (Yên Mô - Ninh Bình) hay gặp sóng to gió lớn. viện muốn tránh gió bão, bèn sai đào sông thông qua dải núi đá vôi Ninh Bình - Nga Sơn (Thanh Hoá) để từ đó đi sâu vào miền Cửu Chân (1).  Con đường này trở thành mạch máu giao thông chính nối liền Giao Chỉ với Cửu Chân và Nhật Nam.
 
Đối với bọn thống trị Trung Hoa, nó là phương tiện để siết chặt ách áp bức bóc lột nhân dân ta. Còn đối với nhân dân ta nó sẽ góp phần trong việc phát triển kinh tế.
 
Về phương tiện vận tải bộ ở giai đoạn này người ta thuần phục nhiều voi để tải đồ, để cưỡi và để dùng trong chiến trận.  Đương thời người ta cũng nuôi nhiều ngựa. Ngựa dùng để cưỡi và để chạy trạm, có thể cũng còn để thồ hàng. Phương tiện đi lại bằng xe cũng đã xuất hiện, tất nhiên là chỉ hạn chế trong phạm vi tầng lớp thống trị ngoại tộc hay tầng lớp quy tộc bản xứ.

Từ thời kỳ tồn tại của nước Nam Việt, ta đã thấy Triệu Đà “ngự xe mui vàng bên trái có cắm cờ” (Sử ký, y Đà liệt truyện). Đời Hán, Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân “đi xe một mình vào trong đám giặc” (Hậu Hán thư, Nam man truyện).

Sang thời Tam quốc, ta thấy thư tịch xưa chép: Sĩ Nhiếp khi đi đâu thì “Xe ngựa đầy đường thê thiếp ngồi xe căng màn, con em cưỡi ngựa...” (Tam quốc chí, Sĩ  Nhiếp truyện). Tướng tá của nhà Ngô như Đào Hoàng thứ sử Giao châu) có loại xe thiều (Tấn thư, Đào Hoàng truyện).
 
Như vậy xe và ngựa là hai phương tiện đi lại chủ yếu của tầng lớp thống trị, còn đại da số nhân dân thì phương tiện chủ yếu hẳn vẫn là đôi chân Xe cũng còn được dùng trong việc vận chuyển sản vật, hàng hoá..., như khi Mã Viện đi đàn áp Giao Chỉ trở về đã chở theo một xe ý dĩ (Hậu Hán thư, Mã Viện truyện).

Về mặt vận tải thủy, ta thấy bấy giờ kỹ thuật hàng hải ở miền biển Nam Hải và Ấn Độ Dương đã rất tiến bộ. Đại để bấy giờ có các thuyền buôn của Trung Quốc, ấn Độ, Ba Tư, Phù Nam, Lâm ấp và các nước Nam Hải khác. Sách Nam châu di vật chí của Vạn Chấn (thế kỷ III) chép về các thuyền đó như sau:

Người ngoại vực gói “”thuyền” là “bạc” thuyền lớn dài hơn 20 trượng, cao hơn mặt nước 2, 3 trượng, trông như nhà gác, chở được 6, 7 trăm người, hàng vạn hộc sản vật” (2),  “người ở ngoài cõi tuỳ theo thuyền to nhỏ mà làm buồm, căng ở phía trước, phía sau. Có thứ cây lô đầu lá to như cửa sổ, dài hơn một trượng, đem dệt làm buồm. Bốn buồm không phải đều, căng thẳng hàng về phía trước cả mà đặt xiên nghiêng tụ hợp với nhau để cho gió thổi vào; khi gió thổi vào phía sau hất mạnh vào buồm, thì các buồm đều được sức gió; nếu thuyền cần chạy gấp đôi thì tùy tiện mà tăng giảm số buồm, kéo lệch đi để lấy sức gió không sợ nguy hiểm. Vì vậy khi đi không phải tránh lúc gió to sóng cả, do đó có thể đi nhanh được” (3).   

Ngoài thuyền buồm khi đi biển, người ta còn dùng loại thuyền độc mộc. Ngô thời ngoại quốc truyện chép: “nước Phù Nam chặt cây làm thuyền, dài chừng 12 tầm, rộng 6 thước đầu đuôi giống như hình con cá, lấy sắt đóng nẹp vào thuyền. Thuyền lớn có thể chở 100 người, mỗi người chèo thuyền có mái chèo dài, mái chèo ngắn và sào. Từ đầu thuyền đến cuối thuyền có chừng 50 người hoặc hơn 40 người tùy theo thuyền to nhỏ, khi đứng thì dùng chèo dài, khi ngồi thì dùng chèo ngắn, nước nông thì dùng sào. Người ta chèo rất đều nhau, tiếng những mái chèo khua nước hoà thành một tiếng (4).


(1).  Từ dải núi đá vôi Ninh Bình - Nga Sơn, Mã Viện vào Cửu Chân, qua huyện Vô Công trước hết. Thủy kinh chú chép rằng con sông phía bắc đối với huyện Chu Diên “chảy về đông qua huyện Phố Đương (sửa là Tư Phố - TG), qua phía bắc huyện Vô Công”. Con sông ấy là sông Đáy, mà Chu Diên là miền Hà Nam, Hưng Yên ngày nay.  Vậy Vô Công phải ở hạ lưu sông Đáy, tức là miền Ninh Bình bây giờ (đất Ninh Bình cho đến đời Nguyễn vẫn là đất Thanh Hoá ngoại, tức là đất Cửu Chân xưa) lấy được Vô Công (Ninh Bình ngày nay) , Mã Viện đào sông thông qua núi, tức là đào con sông Chính Đại nối với sông Tống Sơn (Nga Sơn) mà vào Dư Phát (Nga Sơn ngày nay). Đánh được Dư Phát, Mã Viện tất qua sông Mã, dọc tới ngã ba Đầu (làng Ràng Thiệu Dương, ngày nay) mà đến huyện Cư Phong đời Hán. Đó là nơi tụ cơ đông đúc nhất của đất Cửu Chân. Từ đó Mã Viện điều binh vào huyện Vô Biên (miền Tĩnh Gia, Thanh Hoá).
(2).  Dẫn ở Thái Bình ngự lãm, q.DCCLXIX.
(3).  Dẫn ở Thái Bình ngự lãm, q.DCCLXXI.
(4).  Dẫn ở Thái Bình ngự lãm, q.DCCLXIX.  


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:02:52 PM

Nam Tề thư cũng viết: Phù Nam có “thuyền dài 8,8 trượng, rộng 6, 7 thước, đầu đuôi như cá” (1).  Loại thuyền này về mặt cấu tạo, trang sức, đại thể cũng tương tự như loại thuyền hiện tại người Khơme vẫn dùng đi lại trên sông Cửu Long.  Lâm ấp cũng có những thuyền đi biển lớn, gọi là lâu thuyền. Năm 431 Phạm Dương Mai “sai đem hơn 100 lâu thuyền đến cướp Cửu Đức, vào cửa Tứ Hội” (2).

Miền Giao châu bấy giờ cũng có nhiều thuyền biển. Khi đi đánh Lâm ấp hay các nước miền nam, bọn quan lại Trung Quốc ở Giao châu đều dùng thuyền chở quân theo đường biển (3).   
 
Như trên ta thấy, ở hai giai đoạn một và hai của thời bắc thuộc, đường giao thông thủy bộ đảm bảo việc giao lưu giữa miền đất nước ta và miền nội địa Trung Quốc đã tương đối phát triển.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh và đặc biệt trải qua nhiều cuộc nổi dậy của “người Di Lão” ở miền núi Giao chỉ, hệ thống giao thông giữa các địa phương ở miền đất nước ta cũng như giữa An Nam và miền nội địa Trung Quốc bị gián đoạn.

Đến giai đoạn thuộc Đường, các đường giao thông thủy bộ chính giữa An Nam và miền nội địa Trung Quốc được khai thác trở lại, khiến cho việc đi lại thêm dễ dàng.  Đường biển nối liền Quảng châu với Giao châu và các nước miền Nam Hải trước đó vẫn là phương tiện giao thông chủ yếu, đến năm 867 Cao Biền lại đào ghềnh Bắc Thúc phá đá ngầm để thuyền bè đi lại thuận tiện hơn.

Đường dọc theo lưu vực sông Hồng sang Vân Nam lên Tứ Xuyên từ trước đã là đường giao thông quan trọng có ý nghĩa kinh tế, chính trị và quân sự to lớn. Đến đời Đường con đường đó lại được khai thác trở lại.
Năm 638, đô đốc Giao châu là Lý Đạo Ngạn đàn áp người Lão ở phía bắc Quý châu (4)  cốt là để duy trì con đường giao thông giữa An Nam - Quảng Tây - Vân Nam với kinh đô Trường An và duy trì sự lưu thông giữa miền tây nam Trung Hoa với Miến Điện và Ấn Độ (5).  
Đời Tuỳ, Lưu Phương đã từng hành quân theo đường này sang đánh Lý Phật Tử. Đến giữa thế kỷ IX quân Nam Chiếu cũng lại theo đường này xuống đánh cướp miền đất nước ta.

Về phía đông bắc Bắc Bộ, con đường dọc theo thung cũng sông Thương trước kia do Trịnh Hoằng tâu xin khai phá để nối liền Giao châu với Linh Lăng (Hồ Nam) đến đây càng được tăng cường khai thác, sử dụng. Đó là đường giao thông với miền bắc. Còn đường giao thông với miền nam, lúc này ngoài đường biển là giao thông thuận tiện nhanh chóng nhất, sử sách còn nói đến đường giao thông trên đất liền từ Hoan châu (châu trị là Cửu Đức - Đức Thọ - Hà Tĩnh) qua Lục Chân Lạp (bấy giờ giáp giới với Hoan châu) sang tới Mã Lai (La Việt - Johore).

(1).  Nam Tề thư, q. LVIII Phù Nam truyện.
(2). (3).  Tống thư, q.XCVII, t. 1a; Tân Thư q.XCVII.
(4).   Văn hiên thông khảo, q.CCCXXVIII - Lão.  
(5).   Con đường ấy được Giả Đam mô tả như sau : “Từ An Nam (phủ thành Tống Bình - Hà NộD đi qua Giao Chỉ (Từ Liêm - Hà Nội) Thái Bình (Vĩnh Phúc) hơn 100 dặm thì đến Phong châu (Bạch Hạc - Việt Trì). Lại đi qua Nam Đền 130 dặm đến huyện Âu Lâu rồi đi đường thủy 40 dặm đến châu Trung Thành. Lại đi 200 dặm đến châu Đa Lợi.  Lại đi 300 dặm đến châu Chu Quý. Lại đi 400 dặm đến châu Đan Thường. Đó đều là đất đai Sinh Lão (Lão không thần phục) lại đi 450 dặm đến bến Cổ Dũng (Man Hảo), đường thủy cách An Nam 1.550 dặm. Lại đi 180 dặm qua núi Phù Đông, núi Thiên Tỉnh. Trên núi đường hẹp, đều là đất sụt lở, khó bước chân được. Đi 30 dặm sau hai ngày đến châu Thang Truyền (gần Mông Tự), lại đi O dặm đến châu Lộc Sách, lại đi 15 dặm đến châu Long Vũ (Lâm An). Đó đều là đất đai dân Nam Thoán trong cõi An Nam. Lại đi 83 dặm đến Thảng Trì đồn, lại qua thành Bát Bình 80 dặm thì đến sông Đông Thạo. Lại qua Nam Đình 160 dặm thì đến đất Khúc Giang của Kiếm Nam (đạo Kiếm Nam bao gồm Tứ Xuyên, phần bắc và đông Vân Nam). Lại đi qua trấn Thông Hải (Thông Hải nay thuộc Vân Nam) 160 dặm, qua Hải Hà, Lợi Thuỷ, đến huyện Giang, lại đi 800 dặm đến trạm Tấn Ninh (gần Tấn Ninh ngày nay) sau 800 dặm đến thành An Ninh (tây nam Côn Minh)” (Trinh nguyên thập đạo lục dẫn ở Tân Đường thư q.XLIII, hạ, 17b. - Cũng xem Pelliot. Deuxitnéraires de chine en In de à la fin du VIII đường đó sẽ đến miền sông Iaraoát I (Irrawa ddI) của đất Miến Điện rồi đến miền sông Hằng của Ấn Độ.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:07:48 PM
Tân Đường thư chép: “Từ Hoan châu đi về phía tây ba ngày vượt qua núi Vụ Ôn (Hương Sơn - Hà Tĩnh) lại đi hai ngày đến Nhật Lạc thuộc Đường châu; qua sông La Luận và núi Thạch Mật của Cổ Lãng động, đi ba ngày đến huyện Văn Dương, châu Đường, lại qua lạch Li Li, đi bốn ngày đến huyện Toán Đái nước Văn Đan, lại đi một ngày đến nội thành, còn gọi là Lục Chân Lạp” (1).  Dọc theo bờ biển có đường bộ từ Hoan châu đi đến nước Hoàn Vương (Chiêm Thành) (2).  Những con đường giao thông chính kể trên, một mặt nhằm siết chặt hơn nữa nền đô hộ nhà Đường trên đất đai An Nam, một mặt đã nối liền Trung Quốc với các nước Nam Hải và ấn Độ, phục vụ sự phát triển của nền thương mại quốc tế của đế chế Đường.
 
Song song với sự phát triển giao thông với nước ngoài ở giai đoạn này, người ta đã thấy trên khắp các châu huyện thuộc miền đất nước ta, đường chính cũng như phụ, thủy cũng như bộ đã được khai thác triệt để, khiến đã hình thành nên một mạng lưới giao thông giữa trung tâm hành chính và kinh tế An Nam (trị sở An Nam đô hộ phủ là Tống Bình tức miền Hà Nội ngày nay) với các châu trực trị cũng như các châu kimi, giữa trị sở của châu này với châu khác, và giữa trị sở của châu xuống các huyện trực thuộc.

Tất nhiên quá trình hình thành cả một hệ thống đường giao thông không thể diễn ra một sớm một chiều, và cũng không phải hoàn toàn đến đây mới bắt đầu có. Chính ra là nó đã được xây dựng dần dần từ đời này qua đời khác, từ ít đến nhiều, liên tục trong các giai đoạn lịch sử trước kia và đến lúc này nó đã tương đối được hoàn chỉnh.

Để có một ý niệm cụ thể về mạng lưới giao thông trong nước, chúng Tôi xin hệ thống lại trong những bảng kê khái quát dưới đây, về tình hình giao thông ở An Nam theo sách Nguyên hoà quận huyện chí do Lý Cát Phủ đời Đường biên soạn  (3).  
 
Bảng kê dưới đây phản ánh khái quát tình hình đường giao thông từ trung tâm của An Nam đô hộ phủ đến các châu và giữa các châu với nhau. Các bảng kê tiếp sau phản ánh khái quát về tình hình đường giao thông ở một số châu chính.

Bảng 6: Đường giao thông từ các châu đến An Nam đô hộ phủ

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang6.jpg?t=1231769196)

 Đứng về phương diện địa lý lịch sử mà xét thì sách Nguyên hoà quận huyện chí có một số sai lầm trong việc định phương hướng các huyện. Nhưng việc xác định vị trí các huyện đời Đường không phải là trọng tâm nghiên cứu ở đây, nên tạm thời chúng tôi không xét đến.

Bảng 7: Đường giao thông ở miền Bắc Bộ ngày nay

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang7.jpg?t=1231769228)


(1). (2).   Tân Đường thư, q.XLIII, hạ.
(3).   Sách Thái Bình hoàn vũ ký cũng có ghi chép kỹ về tình hình các đường giao thông ở An Nam như sách Nguyên hoà quận huyện chí. Chúng Tôi có đối chiếu hai sách đó thì thấy trong cái đại đồng vẫn có cái tiểu dị, và xét thấy sách Nguyên hoà quận huyện chí ít có những sai sót bất hợp lý như sách Thái Bình hoàn vũ ký nên chúng tôi căn cứ vào sách Nguyên hoà quận huyện chí với mục đích để bạn đọc có một ý niệm chung về mạng lưới giao thông thời bấy giờ.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:13:05 PM
Bảng 8: Đường giao thông ở Ái châu (Thanh Hoá ngày nay)

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang8.jpg?t=1231769261)

(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang910.jpg?t=1231769281)
(http://i468.photobucket.com/albums/rr47/UyenNhi05/Tap2-bang1011.jpg?t=1231769332)


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:17:09 PM

Sự phát triển đường giao thông với nước ngoài - giữa miền đất nước ta với miền nội địa Trung Quốc và các nước miền Nam Hải, cùng với sự phát triển mạng lưới giao thông giữa các châu, huyện trên miền đất nước ta nếu một mặt có tác dụng phục vụ đắc lực việc phát triển nền thương mại quốc tế của đế chế Đường và tăng cường củng cố nền đô hộ của chúng trên đất nước ta thì mặt khác sự phát triển giao thông trong và ngoài nước ấy, còn có tác dụng quan trọng trong việc phát triển việc lưu thông hàng hoá giữa các châu, huyện trong cõi An Nam và với nước ngoài.
 
Về phương tiện vận tải, (như phần trên đã nói) lúc này ở An Nam có giống ngựa Thục là loại ngựa nổi tiếng, nghề đóng thuyền tiếp tục phát triển. Thuyền có hai loại. Một loại thuyền nhỏ dùng trong nhân dân để đi lại trên đầm, hồ, sông. Theo Lĩnh biểu lục di, ở Giao châu, người ta thường không dùng đinh để đóng thuyền mà dùng dây cây quan lang (có lẽ là dây móc) bện lại mà buộc, rồi gắn bằng nhựa trám, cho xuống nước không bở. Còn một loại khác là chiến thuyền cho quân đội, có lẽ là do các thợ thủ công của các quan xưởng chế tạo. Đó là loại thuyền lớn đi trên sông biển.

Theo sách Đường Hội yếu, đầu thế kỷ IX: “Trương châu sai tạo thuyền mông đồng tới hơn 400 chiếc. Mỗi thuyền có 25 chiến thủ và 32 tay chèo, thuyền đi nhanh như bay”. Những thuyền buồm lớn đi trên biển hẳn cũng có quy mô to lớn như vậy.
 
Tóm lại hơn một ngàn năm Bắc thuộc, do những nhu cầu về kinh tế đặc biệt là thương nghiệp, những nhu cầu về hành chính, chính trị, quân sự, nhu cầu về giao lưu văn hoá... giao thông vận tải ở miền đất nước ta đã có sự phát triển đáng kể.  Đất nước ta là một miền tương đối nhỏ hẹp, nhiều sông ngòi, lại thuộc vùng ven biển. Nhân dân Việt từ lâu đời đã nổi tiếng “Thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền”. Chính vì vậy giao thông và vận tải thủy đóng vai trò quan trọng. Các trung tâm chính trị và kinh tế quan trọng thời Bắc thuộc đều thiết lập trên bờ các sông lớn.

Người Việt đã chế được những thuyền, mảng rất tốt đi trên sông và trên biển với kỹ thuật độc đáo: thuyền độc mộc thuyền gắn nhựa trám, thuyền bọc đồng, lâu thuyền...

Biển Đông chiếm vị trí quan trọng trên đường giao thông quốc tế.  Ngoài đường giao thông thủy, sau hơn một ngàn năm phát triển chậm chạp cũng đã xuất hiện một mạng lưới giao thông bộ nối liền miền xuôi và miền núi, miền bắc và miền trung cùng các địa phương ở đồng bằng. Từ đầu thế kỷ VII, Tống Bình (Hà Nội) trở thành đầu mối và là nơi quy tụ của các đường giao thông đó. Các đường giao thông thủy bộ ở trong xứ lại gắn liền hoặc một bộ phận của những con đường giao thông giữa các nước: đất nước ta gắn liền với Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ, Chân Lạp, Nam Dương...
 
Hệ thống giao thông thủy bộ trong xứ tạo điều kiện thuận lợi cho thương nghiệp phát triển, hạn chế tính chất phân tán cát cứ địa phương, có tác dụng như một chất keo gắn liền các địa phương trong xứ thành một khối thống nhất. Đó cũng là một trong những điều kiện tiền đề cho sự nảy sinh của nhà nước trung ương tập quyền độc lập ở thế kỷ thứ X.
 
Từ khi bước vào ngưỡng cửa của xã hội văn minh, miền đất nước ta đã không phát triển cô lập mà có liên hệ với nhiều nước khác nhau nhờ vị trí thuận tiện trên đường tiao thông quốc tế. Do sự phát triển của giao thông vận tải, từ những ngả đường khác nhau, thương nhân các nước Trung á, Thiên Túc, Chân Lạp La mã trập, Ba Tư, Nam Dương, Trung Quốc . . . cũng như kiều dân các nước đó đến buôn bán làm ăn sinh sống, truyền đạo ở miền đất nước ta. Qua đó sự giao lưu văn hoá vật chất cũng như tinh thần dần dần được đẩy mạnh


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:35:15 PM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Aurousseau L: La première conquête chinoise des pays Annamites. No te sur les origines du Peuple Annamite, BEFEO XXIII, 1923.

2. Âu Dương Tu: Ngũ đại sử ký, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

3. Âu Dương Tu, Tống Kỳ: Tân Đường thư, Súc nạp ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

4. Ban Cố: Tiền Hán thư, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

5. Bùi Thiết: Ngọc phả và truyền thuyết về Hai Bà Trưng ở làng Hạ Lôi, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (204), 1982.  6. Bùi Thiết. Có một phòng tuyến sông Đáy trong khởi nghĩa, kháng chiến của Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 2 (209), 1983.

7. C. Mác: Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976.

8. Cao Hùng Trưng: An Nam chí nguyên, Viện Viễn Đông bác cổ, Hà Nội, 1932.

9. Cao Xuân Phổ: Văn hoá trong phát triển. Vấn đề phẩm chất cuộc sông. Trong Phương pháp luận về văn hoá trong phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983. 

10. Chử Văn Tần: Công tác nghiên cứu về Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 2 (209), 1983.

11. Chử Văn Tần: Cây lúa và nghề trồng lúa xưa ở Việt Nam , Tạp chí Khảo cổ học, 1 - 1980 .

12. Coedès G: Histoirl ancienne des pays hindouisés d Exitrême Orient, Hanoi, 1944.

13. Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, Thanh Hoá, 1972.
 
14. Chương Thâu: Đinh phu nhân hay chính là Ấu Triệu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 88, 1966.

15. Diêu Tư Liêm: Trần thư, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

16. Diêu Tư Liêm: Lương thư, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

17. Duy Hinh: Tính chất cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 72, 1965.

18. Duy Hinh: Thử xem xét nguyên nhân gì khiến cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc và Trưng Nhị phải thất bại, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 36, 1962.

19. Đại học Quốc gia Hà Nội - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Khoa Lịch sử: Một chặng đường nghiên cứu lịch sử (1995 - 2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
 
20. Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, Hà Nội, 1956.

21. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội, 1964.

22. Đặng Xuân Bảng: Sử học bị khảo, bản chữ Hán và bản dịch của Viện Sử học, Hà Nội, 1997.

23. Đỗ Văn Ninh: Xung quanh tư liệu về ba toà thành: Mê Linh, Dền và Vượn thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử.

24. Đỗ Văn Ninh: Thành cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.

25. Đỗ Đức Hùng: Về tên đất Thái Bình, quê hương của Lý Bôn, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 191, 1980.  26. Đinh Văn Nhật: Vùng Lãng Bạc thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 155, 1974.

27. Đinh Văn Nhật: Đất Cửu Chân về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 159, 1972.

28. Đinh Văn Nhật: Huyện Mê Linh về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 (172), 1977. 

29. Đinh Văn Nhật: Vùng đất Ba Vì - đất Mê Linh: trung tâm huyện Mê Linh về thời Hai Bà Trưng (tư liệu ảnh), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1, 1980.

30. Đinh Văn Nhật: Đất Mê Linh - trung tâm chính trị, quân sự và kinh tê của huyện Mê Linh thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 190), 1980. 


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:37:32 PM

31. Đinh Văn Nhật: Huyện Khúc Dương về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 09), 1983. 

32. Đinh Văn Nhật: Thành cổ mê Linh của quân Hán và vết tích quân chiêm đóng phương Bắc ở bờ trái sông Con, Tạp chí Nghiên cỨu lịch sử.

33. Đinh Văn Nhật: Huyện chu Diên về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 5 (235), 1987. 

34. Đinh Văn Nhật: Hai huyện Câu Lâu và An Định về thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5 (252), 1990. 

35. Đinh Văn Nhật: Đất Cấm Khê, căn cứ cuối cùng của Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa Mê Linh năm 40 - 43, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 193, 1980.

36. “Chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam thời cổ - trung - cận đại” Giáo trình Lịch sử quân sự, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.

37. Hà Văn Tấn: Bản sắc văn hoá cổ, trong văn hoá - phát triển và bản sắc, Hà Nội, 1995.

38. Hoàng Hữu Lượng: Vấn đề chiến trường Lãng Bạc và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Luận án tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1982.

39. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 1-6, 12.

40. Hồng Nam - Hồng Lĩnh (chủ biên): Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chông phong kiên Trung Quốc xâm lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.
 
41. Jennifer Holmgren: Chinese colonisation of Northern Viêtnam (công cuộc thực dân của Trung Hoa ở Bắc Việt Nam), Australia, 1949.

42. Keith Weller Taylor: The birth of Vietnam (Sự sinh thành của Việt Nam), California, 1983.

43. Khổng Đức Thiêm: Sự tham gia của nhân dân Vũ Ninh vào cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 161, 1975.

44. Lã Sĩ Bằng: Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam, Trung văn, Hồng Công, 1955. 

45. Lê Đình Sỹ: Bạch Đằng Giang hai lần cuộn sóng, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3, 1998.

46. Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam quốc sử diễn ca, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1999.
 
47. Lê Thước - Trần Huy Bá: Tấm bia đá trước sân đền Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 149, 1973.
 
48. Lê Trọng Khánh: Từ cử liệu đia danh, ngôn ngừ có từ “kẻ”, suy nghĩ về không gian cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 2 (209), 1983.
 
49. Lê Quý Đôn: Vân Dài loại ngữ, bản dịch, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1962.

50. Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái: Đại Nam quốc sử diễn ca, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1966.
 
51. Lê Trắc: An Nam chí lược, bản chữ Hán, chép tay.
 
52. Lê Văn Lan: Tài liệu tham khảo khảo cổ học về việc nghiên cứu thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lích sử, số 148, 1973.

53. Lịch Đạo Nguyên: Thuỷ binh chú, Quốc học sơ bản tùng thư, Thương vụ ấn thư quán.

54. Lý Thuyên: Việt đn u linh, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960, Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tập I

55. Lịch sử Hà Tĩnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập I.

56. Lưu Trần Tiêu: Cọc Bạch Đằng trong đợt khai quật năm 197ớ, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1 (172), 1977.
 
57. Lương Ninh: Mấy vấn đề về vương quốc Chăm pa, Tạp chí Khảo chọc, 3-1980.

58. Lưu Quốc Hồng: Một số di tích còn lại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên đất Hà Tây, Luận án tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1972.
 
59. Ngô Minh Chính - Vương Miện Quý: Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc, Nxb. Văn hoá - Thông tin, thành phố Hồ Chí Minh, 1994.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:41:58 PM
60. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tập I.
 
61 . Nguỵ Trưng: Tuỳ thư, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.
 
62. Nguyễn Danh Phiệt: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 1 (208), 1983.
 
63. Nguyễn Đình Khoa: Các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, Hà Nội, 1970.

64. Nguyễn Đình Thực: Các khu cục hành chính của quận Cửu Chân thời Hai Bà Trung (nhân bài “Đất Cửu Chân... “ của ông Đinh Văn Nhật), Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 5, 1976.

65. Nguyễn Đình Thực: Suy nghĩ về cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 147, 1972.
 
66. Nguyễn Hiến Lê: Sử Trung Quốc, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1996, tập I-II.

67. Nguyễn Hoàng - Vũ Văn Phái: Dặc điểm phát triển vùng cửa sông Bạch Đằng, Hội nghị khoa học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Hải Phòng, 1981.

68. Nguyễn Hoàng: “Hai Bà Trưng” (đọc sách) Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (173), 1977.

69. Nguyễn Khắc Xương: Mấy vấn đề về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua tư liệu Vĩnh Phú, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 151, 1973.

70. Nguyễn Lộc: Đi tìm dấu vết thời kỳ Hai Bà Trưng trên miền đất đóng đô của hai bà, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử số 150, 1973.

71. Nguyễn Lộc: Vài ý kiên về bài: “Huyện Mê Linh về thời Hai Bà Trưng”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4, 1977.
 
72. Nguyễn Minh: ôn lại cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Văn Sử Địa, số 5, 1955.

74. Nguyễn Ngọc Chương: Bước đầu giới thiệu một sô’ tư liệu xung quanh di tích lịch sử thuộc về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 146, 1972.
 
75. Nguyễn Ngọc Thuỵ: Thuỷ triều trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 203, 1982.
 
76. Nguyễn Ngọc Thuỵ: Góp phần nghiên cứu thời kỳ Hai Bà Trưng, ý nghĩa khoa học của các sử liệu trong lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 209, 1938.
 
77. Nguyễn Quang Ngọc: Chiến trường Bạch Đằng năm 938. Hội nghị khoa học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Hải Phòng, 1981.

78. Nguyễn Quang Ngọc: Từ một số địa danh trong chuyên đề nghiên cứu đia lý học lịch sử thời Hai Bà Trưng, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 5 (206), 1982.
 
79. Nguyễn Minh Hiển: Tính nhân dân của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Luận án tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội 1972.

80. Nguyễn Tuấn Lương: Thêm một số tư liệu về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên đất Lĩnh Nam, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 1 (190), 1980.

81. Nguyễn Văn Dị: Tìm hiểu thêm về chiến tranh chông xâm lược Đông Hán của nhân dân ta thời Hai Bà Trưng (42 - 44), Tạp chí Nghiên cửu lịch sử, số 2 (173), 1977.
 
82. Nguyễn Vinh Phúc: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1983.

83. Nguyễn Xuân Lâm: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong sử sách cổ kim (thư mục nghiên cứu), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 148, 1973.

84. Nguyễn Việt - Vũ Minh Giang - Nguyễn Mạnh Hùng: Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983.

85. Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn – Lương Ninh: Lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983, tập I.

86. Phan Huy Lê: Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 vị trí, ý nghĩa lịch sử và những vấn đề khoa học đang đặt ra, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, 1982.


Tiêu đề: Re: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Tập 2.
Gửi bởi: UyenNhi05 trong 05 Tháng Hai, 2009, 11:43:04 PM
87. Phan Huy Lê: Tìm về cội nguồn Nxb. Thế giới, Hà Nội 1999, tập I-II.

88. Phan Ngọc: Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb. Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 1998.

89. Phạm Việt: Hậu Hán thư, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

90. Phòng Kiều: Tấn thu, Súc ấn bách nạp bản, Thương vụ ấn thư quán.

91. Thế kỷ X - Những vấn đề lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984.

92. Trần Bá Chí: Mai Thúc Loan trong Danh nhân Nghệ T nh, Nxb. Nghệ TĨnh, 1980, tập I.

93. Trần Cương: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng qua một số thư tịch Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (209), 1983.

94. Trần Lương: Mấy vấn đề cần làm sáng tỏ trong lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ VI, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4 (235), 1987.

95. Trần Độ: Bàn về vị trí địa lý “quận Tượng”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 (235), 1987.

96. Trần Quốc Vượng (chủ biên): CƠ sở văn hoá Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997.

97. Trần Quốc Vượng: Một vấn đề địa lý lịch sử: Những trung tâm chính trị của đất nước ta trong thớt kỳ cổ đại, Tạp chí Nghiên cửu lịch sử số 6, 1959.

98. Trần Quốc Vượng : Về quê hương Ngô Quyền, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 101, 1967.

99. Trần Quốc Vượng: Theo dòng lịch sử Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1966.

100. Trần Quốc Vượng: Tìm hiểu truyền thông thượng võ của dân tộc, Nxb. Y học và thể dục thể Thạo, Hà Nội, 1996.
 
101 . Trần Quốc Vượng: Vị thế Luy lâu , Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (315) , 2001.

102. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.
 
103. Trần Văn Giàu: Sự hình thành về cơ bản của hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5, 1998.

104. Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, Sài Gòn, 1954

105. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tập I.
 
106. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Nghệ thuật quân sự Việt Nam cổ- trung đại, Hà Nội, 1999.

107. Viện Sử học: Biên niên sử cổ - trung đại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.

108. Viện Sù học: ĐÔ thị cổ Việt Nam, Hà Nội, 1989.
 
109. Việt sử diễn âm: (Nguyễn Tá Nhí sưu tầm giới thiệu biên dịch), Nxb. Văn hoá - Thông tin? Hà Nội 1997.
 
110. Việt sử lược (bản dịch của Trần Quốc Vượng), Nxb.Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960.

111 Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Hà Nội, 1974, 1975, tập I-II.
 
112. Vũ Kim Biên: Hồ Điển Triệt, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 172, 1977.

113. Vũ Kim Biên: Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng Vương, Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hoá Việt Nam, Hà Nội, 1999.

114. Vũ Quỳnh, Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1960.

115. Vũ Tuấn Sán: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tại Thủ đô Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 149, 1973.


- HẾT TẬP II -