Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:09:12 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 21 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 09:10:06 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Các bức điện từ Sài Gòn gửi về Paris trong tháng Chín và tháng Mười cho biết nhiều vụ "đụng độ" đã xảy ra giữa quân Pháp và các lực lượng "phiến loạn". Các chi tiết và sự đánh giá mức độ nghiêm trọng khác nhau nhưng tất cả báo cáo đều nêu lên số lượng lớn các quân "phiến loạn" mà người Pháp đã tiêu diệt31. Một báo cáo ngày 7 tháng Mười đã minh họa "một trận phục kích xảy ra ở vùng Tân An đã làm một đồng chí hy sinh và hai đồng chí bị thương. Thương vong của quân phiến loạn rất nghiêm trọng32. Lính "páctidăng" - ý nói các binh sĩ Việt Nam đứng trong hàng ngũ quân Pháp (ngụy binh) thường chiếm số đông trong số thương vong của Pháp. Người Pháp cố gắng thành lập đội quân páctidăng, rồi đến ngày 19 tháng Chín, cao ủy Pháp yêu cầu Paris trang bị cho 9.300 lính páctidăng tại Nam Kỳ và 3.200 lính páctidăng ở Nam Trung Kỳ33. Có vẻ như lính páctidăng thường được sử dụng để canh giữ các tiền đồn có nhiều nguy cơ bị tiến công nhất. Cũng trong ngày 19 tháng Chín, Sài Gòn báo cáo: "Tại vùng Hóc Môn, Thủ Dầu Một, các đội tuần tra của chúng ta đã hoạt động thuận lợi: 6 tên phiến loạn bị giết, 3 bị thương, 23 bị bắt làm tù binh trong đó có nhiều ủy viên "ban ám sát". Trong cùng một vùng, páctidăng đã bỏ một bốt dưới áp lực của bọn phiến loạn và 2 người thiệt mạng, 1 người mất tích"34.


Trong hai tuần lễ cuối cùng trước lệnh ngừng bắn theo định của Tạm ước ngày 14 tháng Chín có hiệu lực từ ngày tháng Mười, Việt Minh đã tiến hành một cuộc tấn công quân sự. Ngày 26 tháng Mười, d'Argenlieu thông báo về một cuộc tấn công lớn vào thành phố Mỹ Tho nằm ở tây nam Sài Gòn35. Đến tháng Mười, nhà báo Philippe Devillers khẳng định Việt Minh thực tế kiểm soát được ba phần tư lãnh thổ Nam Kỳ36.


Như vậy, điều chúng ta đã thấy ở miền Nam là hai bên đều cố gắng cải thiện vị thế của mình. Nước Pháp thành lập các thiết chế tự trị mới bất chấp lời hứa của họ trong Hiệp định ngày 6 tháng Ba và Việt Minh, về phần mình, cũng gia tăng hoạt động nổi dậy. Trong bối cảnh đó, hai bên đều cố nâng cao vị thế của mình bên này bắt bên kia phải trả giá. Ở miền Bắc, tình hình diễn ra tương tự. Sau nhiều lần trì hoãn, quân đội Trung Hoa cuối cùng đã rời khỏi Hà Nội và Việt Minh có thể từng bước loại bỏ ảnh hưởng chính trị của các đảng phái thân Trung Hoa.


Khi quân đội Trung Hoa rút đi, chính phủ nhanh chóng tái chiếm phần lớn các tỉnh trước đây quân đội Trung Hoa đã nhường lại cho các đảng phái thân Trung Quốc và dân quân vũ trang. Phần lớn những nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội và Việt Nam Quốc dân Đảng đã sang Trung Quốc hoặc tới một số ít đồn trại kiên cố gần biên giới Việt - Trung. Trong tháng Bảy, các sở chỉ huy sào huyệt của chúng đều bị các đơn vị công an xung phong tiến công và lục soát. Nhiều thi thể nạn nhân là quân nhân Pháp bị tra tấn và bị giết đã được phát hiện, được xem như những bằng chứng mà các đảng phái thân Trung Quốc là thủ phạm của những vụ bắt cóc công dân Pháp37. Theo quan điểm của người Pháp tại miền Bắc, Việt Minh hiện nay hoàn toàn ôn hòa, nếu đem so sánh với Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội. Sau đó, Việt Minh có thể trấn áp lực lượng đối lập và độc quyền hóa quyền lợi chính trị của họ ở miền Bắc và không gây ra tình trạng đối đầu với Pháp. Thật khó khăn đối với người Pháp khi muốn phản đối nhà đương cục Viẹt Nam khi họ bắt một số người bị kết tội đã tổ chức bắt cóc và giết hại thường dân Pháp, hoặc khi họ can thiệp để ngăn chặn những tờ báo đối lập không được gây ra các chiến dịch nảy lửa chống lại nước Pháp. Lại nữa, việc chỉ xóa bỏ sự chống đối về chính trị ở miền Bắc đã được nhà đương cục Pháp tại Sài Gòn quan sát với sự chán ngán, nhất là Léon Pignon, phụ tá chính về chính trị và ủy viên về các công việc chính trị của Cao ủy d'Argenlieu. Ông ta có thể thấy bức tranh chính trị rộng lớn hơn và mong muốn Việt Minh bị tổn thương vì các cuộc đấu tranh nội bộ và sự thách thức thật sự đến từ bất kỳ phe đối lập nào, bất kể thái độ đối với Pháp như thế nào. Pignon biết rằng những hành động đó liên quan đến quyền lợi hơn là về thái độ, và sau này sẽ thay đổi cơ cấu quyền lực ở Hà Nội. Trong một cuộc trò chuyện với tác giả năm 1973, Pignon thừa nhận rằng, khi ông từ Fontainebleau quay trở lại Sài Gòn, ông đã mất hết hy vọng về một giải pháp hòa bình chủ yếu vì Việt Minh đã giải quyết xong với các phe nhóm chính trị đối lập ở miền Bắc, như thế Pháp sẽ phải đối phó với một khối đại đoàn kết dân tộc38.


Thế là ở miền Bắc cũng như miền Nam, Việt Minh đã tăng cường vị thế của mình. Trong hai tháng Bảy và Chín, tình hình Pháp lại không được như thế. Họ đã đưa được quân đội ra miền Bắc và rải lực lượng ra đóng ở các vị trí được quy định theo Hiệp định ngày 6 tháng Ba và các bản phụ lục về quân sự, nhưng vị thế của họ trong tương quan so sánh không phải vì thế mà được cao lên nhiều lắm. Các đơn vị quân Pháp lại miền Bắc đã xây dựng kế hoạch để có thể sử dụng được mọi tình trạng khẩn cấp nhằm gia tăng sự kiểm soát các thành phố nơi họ đã triển khai lực lượng. Mọi nỗ lực xây dựng lòng tin lẫn nhau và sự hợp tác giữa quân Pháp và Việt Nam chỉ giành được những thành công rất hạn chế.


Khi một thỏa thuận đạt được giữa hai bên nhưng không bên nào thật sự hài lòng, thì sau đó vẫn còn có cơ hội để sự thỏa thuận đó có hiệu lực vì nhu cầu hòa bình, niềm tin lẫn nhau và tiếp đó là sự thỏa hiệp. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã có giá trị tích cực, không phải về mặt quốc tế, kể cả ở Pháp cũng vậy. Geor Bidault đã nói ở Đại hội đồng Đảng MRP họp ngày 8-10 tháng Ba rằng Đông Dương đã được "cứu vớt"39. Các đảng phái cánh tả ở Pháp thấy khuây khỏa trong lòng khi được tin những người chỉ huy phe de Gaulle ở Đông Dương đã bằng lòng thích nghi được những nguyện vọng của người Việt Nam và nhiều người thuộc phe tả ở Pháp đã nhiệt tình đón tiếp và chăm sóc Hồ Chí Minh khi ông đến thăm Pháp. "Hòa bình" là giá trị nổi bật trong thời kỳ sau chiến tranh ở châu Âu và đã có nhiều lực lượng phản đối các dự định đưa thêm quân vào cuộc chiến tranh thuộc địa mới. Có lẽ vì thế mà rốt cuộc có thể có cơ may để thi hành nghiêm chỉnh thỏa thuận đã đạt được cũng như có thể mở thêm những cuộc thương lượng mới có kết quả hy vọng. Nhưng muốn thế chắc phải thay đổi người lãnh đạo ở một bên hay cả hai bên trong cuộc thương lượng và trước tiên là ở Pháp. Mặc dù người ta bênh vực về lý thuyết và lấy làm kiêu hãnh về Hiệp định ngày 6 tháng Ba, Chính phủ Pháp không gây áp lực đối với d'Argenlieu để nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định, thay vào đó, lại cho phép ông ta tổ chức và xây dựng Liên bang Đông Dương chống Việt Minh chứ không phải chống Việt Nam. Một cách giải thích đối với tình hình đó có thể là sự bất ổn chính trị ở Pháp đã ngăn cản Chính phủ Pháp trong việc tiếp tục thi hành một chính sách hòa hợp nhất quán.

 22 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 09:08:00 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Lý do chính khiến người Pháp không chịu ấn định thời hạn tổ chức trưng cầu ý dân ý là những hành động "khủng bố" đang hoành hành khắp nơi tại Nam Kỳ. Trong báo cáo kết thúc nhiệm vụ vào tháng Sáu 1946, Leclerc chỉ trích chính phủ Hà Nội vừa thương lượng với Pháp, vừa ủng hộ cuộc chiến tranh chống nước Pháp ở miền Nam. Đó là sự thật, nhưng Chính phủ Việt Nam không ngại ngùng chối bỏ vấn đề đó. Họ lên tiếng đòi chủ quyền trên "toàn bộ lãnh thổ Việt Nam" và coi cuộc đấu tranh du kích ở miền Nam như một biện pháp ủng hộ đòi hỏi đó. Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám 1945, Việt Minh đã lãnh đạo phong trào ở miền Bắc lan rộng xuống cả miền Nam. Tại Nam Bộ, hai giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài đã rút về nông thôn và lực lượng tờrôtxkít khá mạnh ở các đô thị. Phong trào cộng sản ở miền Nam do các phần tử trí thức lãnh đạo, họ thiên về lý thuyết hơn là thực tiễn và họ kém thành thạo về mặt sách lược và ngoại giao hơn các đồng chí của họ ở miền Bắc. Sự tranh chấp của phong trào quốc gia ở miền Nam đã tạo thuận lợi cho cuộc bình định của Leclerc cuối năm 1945 và đầu năm 1946. Ông ta đã lần lượt tước vũ khí của Hòa Hảo, Cao Đài và Việt Minh. Thoạt đầu, ông ta giành được thắng lợi vang dội về quân sự. Nhiều binh sĩ Cao Đài rời bỏ hàng ngũ kháng chiến, quay súng chạy sang phía quân Pháp. Tháng Ba 1946, Leclerc đánh giá rằng quân đội của ông không chỉ kiểm soát được các thành phố và đô thị mà cả 80% các thôn ấp23. Tuy nhiên về chính trị, nước Pháp đã đối đầu và xa rời dân chúng. Và khi Việt Minh tổ chức lại lực lượng của họ và cải thiện một cách có hệ thống mối quan hệ hợp tác với các giáo phái, thì phong trào du kích lại nổi lên ngay cả ở những làng trước đây người Pháp nghĩ rằng đã bình định được. Leclerc đã bố trí các đơn vị nhỏ tại nhiều đồn bốt nhỏ. Khi du kích triển khai các cuộc tiến công vào ban đêm thì các đồn bốt nhở đó đã không trụ vững và người Pháp lại phải tái tập trung quân đội của họ. Theo báo cáo mới đây của Leclerc, đến tháng Giêng 194724, người Pháp chỉ kiểm soát được 10% các thôn ấp ở Nam Kỳ. Đương nhiên, trong vòng chưa đầy một năm, tỷ lệ các làng do Pháp kiểm soát đã rớt từ 80% xuống 10%. Đúng hơn là những thắng lợi mà Leclerc đã đạt được trong hai tháng Giêng và tháng Hai 1946 đã trở nên trống rỗng mặc dù chưa hiện ra một cách rõ ràng ngay lập tức. Lực lượng kháng chiến Việt Nam cần có thời gian tập hợp lại và củng cố sau cuộc đàn áp ồ ạt từ tháng Chín 1945. Không phải chỉ có Sư đoàn Bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) và Sư đoàn Xe bọc thép số 2 (2è DB) đã tham gia tích cực vào việc đàn áp lực lượng kháng chiến Nam Bộ mà còn có cả quân Anh - Ấn, được quân Nhật trợ giúp (sau khi đầu hàng Đồng minh, quân Nhật lại được tái tập hợp dưới sự chỉ huy của sĩ quan người Anh trong những cuộc hành quân đẫm máu). Theo báo cáo của quân Anh, có 3 người Anh 37 người Ấn, 85 người Pháp, 129 người Nhật và 1 người Mỹ (Trung tá Peter Dewey) trong số thương vong ở Nam Đông Dương những tháng lộn xộn bắt đầu từ tháng Mười 1945 cho đến khi trật tự tưởng như đã được vãn hồi vào ngày 13 tháng Giêng 1946. Trong số thương vong người Việt có 641 người bị quân Anh - Ấn sát hại 1.565 người bị quân Pháp giết, 2.756 người là nạn nhân của quân Nhật25. Lính Nhật giết, làm bị thương và bắt được tù binh Việt Nam nhiều hơn so với quân Anh và Pháp. Sĩ quan chỉ huy Anh kinh ngạc thấy tinh thần kỷ luật trong chiến đấu của lính Nhật trong những cuộc hành quân tác chiến vì nghĩa vụ đáng lẽ ra không phải của họ. Khi Việt Minh tập hợp và tổ chức lại lực lượng kháng chiến và phát động chiến tranh du kích tại miền Nam, quân Anh đã rút đi, quân Nhật đã được đưa về nước, các sư đoàn thiện chiến của Pháp (2è DB, 9è DIC) đã đưa ra miền Bắc. Sư đoàn 3 Bộ binh thuộc địa (3è DIC) của Pháp, ít kinh nghiệm chiến đấu hơn, được đưa vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Campuchia. Nguyễn Bình, người chỉ huy lỗi lạc của du kích Nam Bộ mới được đưa từ miền Bắc vào đã tổ chức lại cuộc kháng chiến và nhanh chóng giành được thắng lợi hơn hẳn những người chỉ huy tiền nhiệm của ông.


Việc tổ chức lại các lực lượng du kích ở miền Nam không chỉ được thực hiện bơi những người lãnh đạo Việt Minh Nam Bộ, mà còn do Nguyễn Bình, một cựu đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản và sớm có một vai trò tương tự như Võ Nguyên Giáp ở miền Bắc. Ông dẫn đầu phái đoàn quân sự của Chính phủ Trung ương gửi vào miền Nam, sau đó nắm quyền chỉ huy trực tiếp chiến khu miền Đông Nam Bộ, bao gồm Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng thời giữ trách nhiệm phối hợp ba chiến khu miền Nam. Nguyễn Bình nổi lên như một người chỉ huy huyền thoại, có uy tín lớn trong nhân dân mà không một nhà lãnh đạo đấu tranh chống thực dân nào ở miền Nam sánh kịp. Cho đến tháng Ba 1946, ông tập trung cố gắng vào việc tổ chức lại bộ máy kháng chiến, tránh những cuộc giao chiến lớn. Đầu tháng Ba, khi phần lớn lực lượng Pháp chuyển ra Bắc, Nguyễn Bình thấy thời cơ thuận lợi đã đến với ông, ông chuyển sang hành động. Đó là lúc Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ thành lập. Bấy giờ, không một nhà lãnh đạo địa phương nào ủng hộ Chính phủ lâm thời Nam Kỳ hay hợp tác với người Pháp có thể thoát được nguy cơ bị ám sát. Con số các vụ sát hại về chính trị tăng lên nhanh chóng và các lực lượng du kích bắt đầu quấy rối các đơn vị quân Pháp đi lẻ. Ngày 10 tháng Tư, một mặt trận thống nhất dân tộc thu hút các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và các nhóm kháng chiến khác tham gia đã được thành lập dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Bình. Ngày 19 tháng Tư, Nguyễn Bình ra lệnh tổng tiến công để "ủng hộ" Hội nghị Đà Lạt lần thứ nhất26. Chiến tranh du kích ở miền Nam phát triển mạnh từ tháng Năm đến tháng Tám và khi quân Pháp rút quân đóng ở các đồn bốt lẻ, tập trung thành những đơn vị lớn, những ban hội tề (chính quyền bù nhìn) đều rời khỏi các thôn ấp không ai che chở. Theo Pignon, việc tập trung lực lượng quân Pháp thành những đơn vị lớn là cần thiết về mặt quân sự nhưng là một tai họa về chính trị27. Trong thời gian Hội nghị Fontainebleau đang họp, Pignon đã tố cáo các nhà đương cục quân sự Pháp là "cực kỳ ngây thơ"28. Trong hai tháng Chín và Mười, trong thời gian lệnh đình chiến theo qu định của Tạm ước ngày 14 tháng Chín có hiệu lực thi hành Nguyễn Bình đã đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở miền Nam29. Các phương pháp được sử dụng trong chiến tranh du kích đã được hướng dẫn qua các chỉ thị phát đi từ Hà Nội, ký tên Trần Huy Liệu, một cựu đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng đã kết nạp Nguyễn Bình vào Quốc dân Đảng và chính ông đã giác ngộ chủ nghĩa cộng sản khi bị giam giữ trong nhà tù từ cuối năm 1930. Hai người trước đây đã kết bạn với nhau, nay ông Bình là người thực hành, còn ông Liệu thì làm bộ trưởng chịu trách nhiệm về công tác tuyên huấn trong chính phủ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trần Huy Liệu đã dẫn đầu phái đoàn Chính phủ lâm thời vào Huế tiếp nhận việc thoái vị của Bảo Đại cuối tháng Tám 1945. Trong các tài liệu sử học của Việt Nam, việc giáo dục các nguyên tắc chiến tranh du kích thường gắn với tên tuổi của Tổng Bí thư Trường Chinh và Tổng Chỉ huy Võ Nguyên Giáp. Nhưng trong thời gian đầu, các tài liệu do Trần Huy Liệu khởi thảo đều "duy ý chí" và ông đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng và vào cuối đời, ông chỉ còn là một nhà sử học chuyên nghiệp. Bỏ qua số phận của Trần Huy Liệu thời gian sau này, chúng ta thấy những chỉ thị của ông từ năm 1946 đã miêu tả một cách sinh động các chiến thuật mà những "con hổ" Việt Nam đã sử dụng trong gần 30 năm sau này trong cuộc chiến với những "con voi" phương Tây. Ông nói:

Các chiến sĩ du kích hành động trong một không khí gia đình. Bí mật và bất ngờ là điều kiện giành thắng lợi trong những cuộc đụng độ với đối phương bối rối, kém thông tin và hoạt động trong môi trường không thuận lợi.

Điều kỳ diệu của chiến tranh du kích là có sự tham gia của toàn thể dân chúng. Người lính là người dân và dân cũng là lính. Chiến thuật là tránh đánh vào các vị trí được phòng thủ tốt, tiến công các đồn bốt sơ hở, tiến khi quân thù rút và rút khi quân thù tiến, tổ chức các trận phục kích quân địch có quân số đông và thiện chiến. Một trong các chiến thuật du kích là làm cho kẻ thù như bị "mù", chiến sĩ du kích không mặc quân phục, không tập trung trong các lều trại và họ lẩn trốn trong đám đông được nhân dân che giấu nếu cần thiết. Trong trường hợp đó, lính Pháp không thể phát hiện được sự có mặt của họ. Một cách đánh du kích nữa là làm cho kẻ thù như bị "điếc"30.

Trên đây chỉ là một phần trong những chỉ thị của Trần Huy Liệu. Những lời chỉ dẫn đó cho biết người Việt Nam thông thạo về chiến tranh du kích đến mức nào.

 23 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 09:04:45 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Tại Sài Gòn, các nhà đương cục Pháp thành lập Chính phủ lâm thời Nam Kỳ, nhưng vì tuyệt đại đa số người miền Nam tán thành thống nhất18 nên chính phủ lâm thời chỉ đại diện cho một thiểu số rất nhở những người giàu có thân Pháp. Chính phủ này phải đối phó với công luận đối nghịch và sức mạnh đang tăng lên một cách đáng kể của phong trào du kích do Việt Minh lãnh đạo, hợp tác với các giáo phái mạnh mề. Người Pháp không bao giờ tin rằng chính phủ Nam Kỳ có thực lực. Cuối cùng, thử nghiệm Nam Kỳ tự trị có thể coi là một thất bại của Pháp.


Mấu chốt trong liên bang của d'Argenlieu là Nam Kỳ. Một tuần sau ngày 6 tháng Ba, Hội đồng Nam Kỳ đòi được hưởng cùng một quy chế như Chính phủ Việt Nam, muốn trở thành "một quốc gia tự do". Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ, Jean Cédile tuyên bố rằng Hiệp định ngày 6 tháng Ba chỉ là một thỏa thuận có tính chất địa phương đối với miền Bắc và cuộc trưng cầu ý dân nêu trong Hiệp định chỉ được tổ chức một khi trật tự được hoàn toàn khôi phục19. Ngày 26 tháng Ba, Hội đồng Nam Kỳ đã chỉ định bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là Chủ tịch chính phủ mới của Cộng hòa Nam Kỳ, nhưng điều này chỉ có hiệu lực từ ngày 1 tháng Sáu trước khi ông ta được Cao ủy chính thức công nhận. Quyết định ngày 26 tháng Ba đã làm dấy lên một làn sóng mưu sát những tên "phản quốc" và gia tăng chiến tranh tuyên truyền đang diễn ra giữa những người "tán thành thống nhất" và những người "chủ trương ly khai" tại miền Nam. Vào tháng Tư, một phái đoàn Nam Kỳ đã đến thăm Paris và d'Argenlieu yêu cầu Chính phủ Pháp đưa ra một quyết định càng sớm càng tốt. Chính phủ tảng lờ không trả lời. Sau đó, theo lệnh của d'Argenlieu, ngày 1 tháng Sáu 1946 Cộng hòa Nam Kỳ ra một bản tuyên bố chính thức. Hai ngày sau một bản thỏa ước Pháp - Nam Kỳ được ký kết giữa Ủy viên Cộng hòa Pháp Jean Cédile và bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Ngay sau đó Hội đồng Nam Kỳ mở rộng thành phần tới 92 thành viên, tất cả đều do Cao ủy chỉ định. Có nhiều lời đồn đại như chắc chắn hậu quả của trưng cầu ý dân sẽ là thống nhất đất nước. Nhà báo Philippe Devillers dẫn chứng lời của một thành viên người Pháp trong Hội đồng Nam Kỳ ví hành động đó được hiểu như một cuộc bỏ phiếu ủng hộ hay chống lại nước Pháp và 90% số phiếu sẽ là "chống lại chúng ta"20. Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn Charles Reed nghĩ rằng 65-70% số phiếu sẽ là tán thành thống nhất. Ông nhấn mạnh báo chí của phe tán thành thống nhất bỏ xa báo chí phe ly khai về số lượng phát hành21. Cộng hòa Nam Kỳ mới giành được sự ủng hộ rất hạn chế.


Ngày 31 tháng Năm, Hồ Chí Minh và Đoàn đàm phán Việt Nam rời Hà Nội tới Paris, Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Họ đến Pháp đúng vào lúc cuộc tổng tuyển cử vừa kết thúc ngày 2 tháng Sáu, dẫn đến cuộc khủng hoảng nội các đang diễn ra. Chính phủ mới chưa thành lập. Trưởng Đoàn đàm phán Phạm Văn Đồng đã sẵn sàng ở Pháp sau khi dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam thăm hữu nghị chính thức Pháp từ ngày 26 tháng Tư. Do chưa chuẩn bị đầy đủ, do cuộc khủng hoảng nội các chưa kết thúc và cùng do d'Argenlieu phản đối cuộc đàm phán diễn ra trên đất Pháp, nên ngày khai mạc Hội nghị Fontainebleau đã phải lùi lại nhiều tuần lễ. Do đó, Hồ Chí Minh và những nhà thương lượng Việt Nam có thời gian nhàn rỗi trong những ngày đầu lưu trú trên đất Pháp. Hồ Chí Minh đi nghỉ tại Biarritz, một thành phố nhỏ trên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp rất xa đấu trường chính trị của Pháp. Tuy nhiên, bắt đầu từ ngày 22 tháng Sáu đến 4 tháng Bảy, ông được tiếp đón như một vị khách chính thức của Chính phủ Pháp tại Paris, rồi ông ở lại đó trong khi những nhà thương lượng Việt Nam gặp gỡ đối thủ của họ tại Fontainebleau. Hội nghị chính thức khai mạc ngày 6 tháng Bảy, ngay lập tức đã gặp khó khăn với những lời tố cáo của người Việt Nam đối với người Pháp vì đã bảo trợ cái gọi là Cộng hòa Nam Kỳ một tháng trước đó. Hội nghị giậm chân tại chỗ mà không thể làm sáng tở các vấn đề then chốt là độc lập và thống nhất của Việt Nam. Cuối tháng Bảy, Đoàn đàm phán Việt Nam được biết d'Argenlieu đã triệu tập Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai khai mạc ngày 1 tháng Tám mà không mời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự, chỉ có các đại biểu được chọn lọc kỹ lưỡng từ một vài vùng lãnh thổ mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho rằng chưa có chủ quyền đầy đủ. Điều này thôi thúc người Việt tạm thời cắt đứt thương lượng. D'Argenlieu không báo trước cho Moutet về Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai sắp khai mạc, khiến vị Bộ trưởng Hải ngoại Pháp phản ứng mạnh mẽ không phải về chủ trương triệu tập mà về thời điểm họp không thích hợp. Moutet tán thành về nguyên tắc việc xây dựng Liên bang Đông Dương năm quốc gia do Pháp đứng đầu cơ quan chấp hành.


Trong lúc Hội nghị Fontainebleau đang bế tắc, tại Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai họp vào tháng Tám, các đại biểu của Nam Kỳ họ với các đoàn đến từ Lào, Campuchia và những quan sát viên đến từ Nam Trung Kỳ và một số vùng thiểu số cao nguyên. Theo quan niệm của d'Argenlieu, Hiệp định ngày 6 tháng Ba chỉ liên quan đến Bắc Kỳ, nhưng ông dự định tạo ra một hệ thống các hiệp định tương tự ký với tất cả các thành viên khác trong Liên bang. Hiệp định đầu tiên đã được ký trước đó với Campuchia ngày 7 tháng Giêng. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã được d'Argenlieu xem là chỉ áp dụng với Bắc Kỳ và là hiệp định thứ hai thuộc loại này (sau Campuchia). Văn bản thỏa thuận thứ ba đã được ký với Nam Kỳ ngày 3 tháng Sáu và bản thỏa thuận thứ tư được ký với Lào vào ngày 27 tháng Tám. Riêng Trung Kỳ chia ra hai phần Bắc Trung Kỳ và Nam Trung Kỳ hai bên vĩ tuyến 16 không thể có một văn bản thỏa thuận tương tự. Hội nghị liên bang của d'Argenlieu tại Đà Lạt đã tỏ ra thất bại một phần vì tại Fontainebleau, Đoàn đàm phán Việt Nam đã phản đối kịch liệt, buộc Chính phủ Pháp phải chỉ thị cho Sài Gòn tạm gác lại một số điểm trong chính sách xây dựng liên bang và tại Đà Lạt, các Đoàn đại biểu Campuchia và Lào không nhiệt tình ủng hộ vai trò của Pháp thống trị liên bang như d'Argenlieu đã hy vọng. Và hội nghị còn đưa ra những đề xuất chi tiết về thành phần và nhiệm vụ của các thiết chế liên bang cũng như việc lấy Đà Lạt là thủ đô tương lai của liên bang. D'Argenlieu đã chuẩn bị chuyển bộ máy của cao ủy từ Sài Gòn lên Đà Lạt và đã ra lệnh chuyển số lớn trang thiết bị từ Pháp sang phục vụ công việc này, song số thiết bị đó đã không đến đúng thời hạn mong muốn khiến ông ta phải phàn nàn22.

 24 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 09:02:54 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
HAI LỰC LƯỢNG TIẾN LÊN

Lý do thứ hai khiến hai bên Pháp và Việt Nam không đi đến một thỏa thuận mới nào sau ngày 6 tháng Ba, ngoại trừ một bản thỏa ước ký ngày 14 tháng Chín tại Paris, là cả hai chính Pháp và Việt Nam không bên nào thực sự thấy rõ giá trị của nó. Cả hai bên đều coi thỏa thuận đạt được như là bước đệm để đưa vị thế của mình lên cao hơn nữa hơn là bắt đầu một quá trình thỏa hiệp hoặc đi đến một giải pháp mà hai bên cùng thắng cuộc. Thay vì chuẩn bị cho mình về mặt tâm lý và thực tiễn để cùng tiến lên phía trước, hai bên đều tìm cách thay đổi quan điểm lập trường để nâng cao vị thế của mình trước khi đi vào một vòng đàm phán mới.


Đã có thể có mảnh đất để thỏa hiệp. Việt Nam Dân chủ Cộn hòa có thể chọn lựa việc tập trung sức để xây dựng một quốc gia độc lập trong phạm vi miền Bắc, tránh tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam, tạm hoãn vấn đề thống nhất đến giai đoạn sau này. Nói cách khác, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể chấp nhận một điều gì đó ít hơn là sự độc lập, tùy thuộc vào việc Pháp thừa nhận trưng cầu ý dân để thống nhất đất nước. Người Pháp có thể để miền Bắc đi theo con đường của họ và tập trung vào việc hiện đại hóa xứ Nam Kỳ, Campuchia và Lào. Nếu không, họ có thể thừa nhận một quá trình phát triển tiến tới thống nhất Việt Nam trong khi vẫn cố đòi được hưởng một số đặc quyền, được thừa nhận có mặt về quân sự của Pháp trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Hiệp định ngày 6 tháng Ba đã không đưa lập trường hai bên xích lại gần nhau để thỏa hiệp theo một cách khác, từ đó thay vì mua bán chủ quyền và thống nhất, nó đã đưa hai trong những yêu cầu chính của quốc gia đi được nửa đường. "Tự do" không phải là hoàn toàn giống như "độc lập", nhưng có thể được hiểu là con đường đi đến độc lập. Trưng cầu ý dân cũng không phải là thống nhất đất nước một cách trọn vẹn nhưng có thể hy vọng đem lại thống nhất.


Khi Sainteny nói với Hồ Chí Minh sau khi ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba rằng ông đã hài lòng như thế nào khi thấy con đường chiến tranh đã bị chặn đứng, Hồ Chí Minh trả lời: "Bản hiệp định đã làm tôi đau lòng vì căn bản các ông đã thắng cuộc. Các ông biết rõ tôi muốn hơn thế... Nhưng rốt cuộc tôi cũng hiểu người ta không thể đạt được mọi thứ trong một ngày'"14. Thỏa hiệp sẽ giành được một cách dễ dàng khi một bên tiến thì bên kia lùi thay vì cả hai cùng tiến hay nghĩ rằng họ đang làm như vậy. Người Việt Nam đã tìm kiếm con đường củng cố vững chắc thể chế cộng hòa ở miền Bắc, tăng cường sự kiểm soát toàn miền Bắc (Bắc Kỳ hay Bắc Bộ theo cách gọi của họ) ngay sau khi quân đội Trung Hoa rút đi. Họ cũng muốn nhân cơ hội này loại bỏ những đại biểu các "đảng phái quốc gia" khỏi Chính phủ liên hiệp kháng chiến, đã được mơ tưởng thay thế sự thống trị Pháp bằng ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ. Và ở Nam Kỳ (hay Nam Bộ theo cách gọi của Việt Nam), Chính phủ Việt Nam đã chấp nhận giảm bớt việc tăng cường hoạt động du kích để làm nản lòng những phần tử hợp tác với Pháp chừng nào sự thỏa thuận đã giành được. Người Pháp, về phần mình, đã cố gắng thành lập chính phủ tự trị địa phương tiến bộ và thân Pháp tại Nam Kỳ và xây dựng Lào, Campuchia thành những thành phần vững chắc của Liên bang Đông Dương. Trong khi thực hiện những công việc trên đây, Pháp cố tránh gây ra những rắc rối mới với chính phủ Hà Nội mà họ coi như chỉ đại diện cho Bắc Kỳ. Người Pháp hy vọng xây dựng các thiết chế liên bang mạnh mẽ rồi hợp tác với chính phủ Hà Nội như đại diện của một trong năm xứ trong Liên bang Đông Dương. Về lâu dài, người Việt Nam không còn muốn sự có mặt về quân sự của người Pháp trong khi người Pháp cũng chẳng muốn chấp nhận một nhà nước do Việt Minh kiểm soát. Chủ trương của người Pháp là không để Hà Nội kiểm soát miền Nam, trong khi người Việt Nam đặt mục tiêu hàng đầu là thống nhất Nam - Bắc.


Tất cả những điều này có nghĩa là hội nghị trù bị Pháp - Việt ở Đà Lạt (d'Argenlieu thích chọn địa điểm này) từ 17 tháng Tư đến 11 tháng Năm và cuộc đàm phán chính thức diễn ra tại Fontainebleau từ ngày 6 tháng Bảy đến 10 tháng Chín ngay đầu đã đi vào chỗ bế tắc. Cả hai bên đều đã chuẩn bị kỹ và đã tiến hành một số cuộc thảo luận náo nhiệt. Nhưng điểm bế tắc là ở vấn đề trưng cầu ý dân để thống nhất Việt Nam đã được hứa hẹn hồi tháng Ba 1946. Người Việt Nam khăng khăng đòi Pháp phải ấn định một thời hạn và họ tin chắc sẽ thắng trong cuộc bỏ phiếu sau này. Người Pháp thì lập luận rằng đó mới chỉ là một dự kiến mà đã dập tắt mọi hy vọng của người Nam Kỳ trong việc thành lập các thiết chế tự trị mạnh mẽ, có nghĩa là từ chối đặt thời hạn trước cho trưng cầu ý dân. Điều này đã quyết định số phận của các cuộc thương lượng.


Tại Đà Lạt, hai nhà thương lượng chủ yếu về phía Pháp là Max André, người của Đảng Dân chủ Công giáo, nghị sĩ Quốc hội Pháp, và về phía Việt Nam là Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam, người của Việt Nam Quốc dân Đảng. Trong khi d'Argenlieu đứng đầu Liên bang Đông Dương, cố đóng vai trò là người chủ trung lập. Với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao, ông Tam không tham gia đàm phán trực tiếp, trong thực tế, Đoàn đại biểu Việt Nam do Võ Nguyên Giáp dẫn đầu. Không khí hội nghị ngay từ đầu đã không mấy tốt đẹp. Khi hội nghị tan vỡ, d'Argenlieu cảm thấy đã đến lúc củng cố phần còn lại của Đông Dương và rời khỏi Bắc Kỳ trở về với số phận dành cho ông. Ông báo cáo về Paris rằng sự có mặt của người Trung Quốc khiến cần thiết phải tiếp tục đặt chân một cách thận trọng lên miền Bắc, nhưng nếu nước Pháp tập trung vào việc tăng cường sức mạnh của các quốc gia thành viên khác trong liên bang, thì "quốc gia tự do ở miền Bắc" chắc chắn sẽ mong muốn gia nhập liên bang trong giai đoạn sau, ít nhất là về mặt quân sự, kinh tế và văn hóa. Ông ta khẳng định: Hội nghị Pháp - Việt tại Fontainebleau, nếu thất bại - như đã dự kiến - thì cũng chẳng gây tổn hại gì nhiều lắm cho liên bang. Lào, Campuchia, Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ - không nêu tên nước Pháp - sẽ được "hoàn toàn tự do hành động"15. Khi chính phủ bác bỏ đề nghị này, ông ta mời các đại biểu của các "quốc gia" khác trong liên bang đến Đà Lạt dự một cuộc họp được ông gọi là "Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai"16.


Thiết nghĩ, không cần phải lục lại hồ sơ của các cuộc thương lượng17 vô bổ này, chúng ta chỉ cần nhìn vào các nỗ lực của mỗi bên trong việc đưa ra hội nghị các quan điểm, lập trường của họ trong khi chờ đợi quân đội Trung Hoa rời khỏi miền Bắc. Người Pháp có kinh nghiệm trong việc vận động thành lập Nam Kỳ tự trị và xây dựng các thiết chế liên bang để cai trị tất cả năm xứ trong liên bang trước đây, nhưng phong trào du kích tại miền Nam đang làm tiêu tan các kinh nghiệm đó và Việt Minh đang cố gắng thiết lập sự kiểm soát bên trong đối với toàn miền Bắc, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang để tiến hành kháng chiến lâu dài. Nhưng hành động đó có thể giải thích là do không đạt được sự thỏa thuận nào tốt hơn những gì đã nói ra ở Đà Lạt hay Fontainebleau.

 25 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 09:00:44 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Leclerc tiếp tục nuôi dưỡng ảo tướng Việt Minh sẽ tỏ ra biết điều hơn sau khi quân đội Trung Hoa rút đi. Khi phần lớn lực lượng Trung Hoa đã rút khỏi Bắc Đông Dương vào đầu tháng Sáu, ông viết cho Maurice Schumann, người đứng đầu Đảng Cộng hòa bình dân (MRP) rằng không cần phải nhân nhượng nhiều hơn nữa đối với Việt Nam. Theo lập luận của Leclerc, nước Pháp bây giờ nắm được những vị trí then chốt tại Đông Dương. Tôi nghĩ trong hoàn cảnh đó sẽ rất nguy hiểm nếu các đại biểu của chúng ta trong đàm phán với Việt Nam bị mê hoặc vì những cách nói tuyệt vọng (như dân chủ, kháng chiến, nước Pháp mới) mà Hồ Chí Minh và đồng đội của ông đã hoàn thiện đến bậc thầy11. Schumann đã đưa bức thư của Leclerc cho Thủ tướng Georges Bidault.


Lập trường của Leclerc đã cứng rắn hơn nhưng thái độ chung của ông ta không có gì thay đổi, đều theo một hướng chung là phải có lực lượng tại chỗ đủ để răn đe đối phương dù xuất phát từ quan điểm riêng của ông. Khi nào sự có mặt về quân sự đã được củng cố vững chắc, Pháp có thể quyết định thái độ hào hiệp đến mức nào nếu muốn. Khi Tướng Leclerc rời khỏi vị trí chỉ huy của ông và quay về Paris, ông nói với một nhóm nhà báo có ảnh hưởng rằng thái độ cương quyết của Pháp có thể làm cho người Việt Nam duy trì thái độ ôn hòa hơn. Trong trường hợp xảy ra xung đột, Chính phủ Việt Nam phải rút lui về nội địa. Và nếu điều đó xảy ra, sự kiểm soát của Pháp đối với xứ Nam Kỳ giàu có và các địa điểm then chốt ở miền Bắc Việt Nam sẽ có thể, sau đó một thời gian, buộc người Việt Nam phải thay đổi thái độ12. Leclerc rời sở Chỉ huy của ông ngày 18 tháng Bảy. Người thay thế ông là Tướng Jean Etienne Valluy, cho đến lúc đó ông này vẫn là chỉ huy quân Pháp ở Bắc Đông Dương. Đó là lúc các cuộc đàm phán Pháp - Việt đang diễn ra tại Fontainebleau, các tiểu ban lần lượt thành lập và thảo luận từng chương, mục trong một hiệp ước tương lai sẽ được đưa ra hội nghị toàn thể thông qua. Với dự định thúc đẩy lập trường tiến bộ xa hơn nữa, trước khi quân đội Trung Hoa ra đi, Pháp không hề đưa ra thêm một sáng kiến đáng kể nào để đi tới thỏa hiệp. Trong báo cáo cuối cùng kết thúc nhiệm kỳ của mình, Leclerc nhấn mạnh quân đồn trú Pháp ở miền Bắc như "những tù nhân" bị bó chân tay, không có chỗ nào mà cựa, đó là một vấn đề khó khăn cần phải giải quyết. Điều đó là kết quả của bản phụ lục về quân sự gắn với Hiệp định ngày 6 tháng Ba, và tiếp theo là bản thỏa ước tham mưu (Convention de la Conférence d'état-major) mà Tướng Salan đã ký ngày 3 tháng Tư13. Hiệp định ngày 6 tháng Ba quy định rằng một lực lượng gồm 10.000 binh sĩ Việt Nam và 15.000 binh sĩ Pháp (gọi là quân tiếp phòng) sẽ thay thế quân đội Trung Hoa tại phía bắc vĩ tuyến 16. Số quân Pháp và Việt Nam đóng tại mỗi doanh trại cùng đã được ấn định. Binh sĩ Việt Nam do người Việt kiểm soát nhưng đặt dưới quyền của một tổng chỉ huy Pháp. Quân số Pháp tại miền Bắc Việt Nam được ấn định rõ ràng là không quá 15.000 người trong khi không có một mức trần nào quy định cho quân đội Việt Nam ngoài lực lượng tiếp phòng. Một phái bộ quân sự thường trực Việt Nam được đặt bên cạnh Bộ Chỉ huy Pháp và để phòng ngừa không xảy ra các vụ rắc rối ở địa phương, nhà đương cục Việt Nam sẽ được Pháp thông báo trước 48 tiếng đồng hồ về mọi cuộc di chuyển như thay quân, tiếp tế... Một ban liên lạc hỗn hợp Pháp - Việt đươc tổ chức ở các cấp quan trọng. Khi Valluy rời khỏi chức vụ chỉ huy quân đội tại miền Bắc để vào Sài Gòn nắm quyền Tổng Chỉ huy Quân đội Pháp tại Đông Dương thì người thay thế ông tại miền Bắc là Đại tá Jean Crépin, nhưng ông này chỉ tại vị được một tháng, trong thời gian đó xảy ra vụ đụng độ tại Bắc Ninh, phía bắc Hà Nội. Một thời gian ngắn sau đó, tướng ba sao Louis Morlière nắm quyền chỉ huy quân đội Pháp tại miền Bắc. Trong suốt thời gian thay đổi các chỉ huy quân Pháp tại miền Bắc, không xảy ra một vụ rắc rôi nào lớn gây tổn hại đến quan hệ với quân đội Trung Hoa cũng như Chính phủ Việt Nam, và sự có mặt của quân đội Trưng Hoa đã là nhân tố chủ yếu để ngăn ngừa các vụ đụng độ như vụ Bắc Ninh không để đi đến leo thang chiến tranh.


Chừng nào sự có mặt của quân đội Trung Hoa còn kéo dài thì cả hai phía Pháp và Việt Nam không thể làm cứng rắn thêm lập trường của mình dẫn đến tình hình căng thẳng không thể kiểm soát được. Việt Minh muốn thanh lọc dứt khoát các đảng phái quốc gia thân Trung Quốc trước đây nhờ sự ủng hộ của quân đội Trung Hoa đã chiếm đóng một số nơi. Sự hợp tác với các đảng phái quốc gia trong Chính phủ liên hiệp không hề dễ dàng được cải thiện. Việt Minh rõ ràng mong muốn quân đội Trung Hoa rút lui nhanh chóng, và người Pháp có thể cũng không mong họ ở lại thêm nữa. Người Trung Quốc tiếp tục đe dọa người Pháp đòi phải trả giá cho việc rút quân của họ. Người Trung Quốc hứa hẹn rồi tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ rút quân theo Hiệp ước Pháp - Hoa ký tại Trùng Khánh ngày 28 tháng Hai. Họ chần chừ việc rút hết quân đến tháng Sáu và để lại một số đơn vị quan trọng của lực lượng Vân Nam tại thành phố chiến lược Hải Phòng. Cuối cùng, ngày 18 tháng Chín họ mới xuống tàu rời khỏi cảng Hải Phòng để kéo quân lên miền Bắc Trung Hoa, tham gia nội chiến đã bùng nổ tại Mãn Châu vào tháng Sáu. Cuối cùng, việc thiết lập cơ cấu quyền lực tam giác ở Bắc Đông Dương đã mở đường cho cuộc xung đột hai cực giữa Pháp và Việt Minh, được cả hai bên chờ đợi một cơ may thúc đẩy lập trường từ trạng thái hòa hoãn mà họ buộc phải chấp nhận lúc ký kết Hiệp định ngày 6 tháng Ba đến trạng thái đối đầu trong quan hệ Pháp - Việt.

 26 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 08:48:51 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
TRUNG HOA CHẬM RÚT QUÂN KHỎI BẮC ĐÔNG DƯƠNG

Việc kéo dài sự có mặt của người Trung Hoa tại miền Bắc có hại cho cả hai phía Pháp và Việt Nam. Trong lúc Pháp thấy Việt Nam tỏ ra vui mừng khi thoát được ra khỏi sự "che chở" của người Trung Quốc, thì các nhà lãnh đạo Việt Nam mong đến ngày đuổi được những phần tử "quốc gia chống cộng" ra khỏi chính phủ và các tỉnh dọc biên giới do bọn này đã chiếm được nhờ sự ủng hộ của quân đội Trung Hoa. Chính phủ liên hiệp vào tháng Tư đã yêu cầu Sư đoàn 53 quân Trung Quốc ở lại Bắc Kỳ cho đến khi Việt Nam Kỳ được hiệp định chính thức với Pháp, nhưng đó là chủ trương của Việt Nam Quốc dân Đảng mà người cầm đầu đang giữ cương vị Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ liên hiệp3.


Sự có mặt của người Trung Hoa là một trong những lý do khiến Chính phủ Pháp quyết định mời Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp. Leclerc và Sainteny muốn tách Hồ Chí Minh khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa. Ngày 15 tháng Ba, Leclerc gửi một bức điện cho d'Argenlieu cảnh báo sự cần thiết phải chống lại ý đồ của Trung Hoa muốn phá hoại quá trình hợp tác Pháp - Việt vừa mới khởi động sau ngày 6 tháng Ba: "Để làm thất bại mưu đồ ấy, chúng ta phải phá hủy sự cấu kết Trung - Việt càng sớm cà tốt, tách Việt Minh khỏi ảnh hưởng của Trung Hoa và các đảng phái quốc gia cực đoan được Trung Hoa ủng hộ"4. Leclerc tạo thuận lợi cho các cuộc đàm phán Pháp - Việt được tiến hành ngay tại Pháp. Ông chỉ thị cho Tướng Salan thông báo cho Hồ Chí Minh cuộc đàm phán sẽ sớm được tiến hành tại Paris5. Đó là lập trường của Leclerc trước khi tiến quân vào Hà Nội. Lời hứa hẹn của ông đã không được d'Argenlieu tán thành, ông này đã báo cáo với Chính phủ Pháp một tuần sau đó rằng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu cuộc đàm phán Pháp - Việt được tiến hành tại Paris vì như vậy sẽ làm suy giảm quyền lực của vị cao ủy Pháp, khiến cho Bắc Kỳ có một vị thế tốt hơn các thành viên khác trong Liên bang Đông Dương. Rõ ràng, ông ta không muốn phá hoại mọi dự định của Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm Pháp sẽ gây ảnh hưởng đối với chính giới Pháp, và thông qua các cuộc tiếp xúc ở Pháp, sẽ phát huy vai trò người cựu trào của công cuộc truyền bá giáo lý cộng sản. D'Argenlieu chấp nhận rằng cần phải tách những người đại diện Việt Nam ra khỏi không khí chính trị không lành mạnh tại Hà Nội, nhưng là người thần tín của de Gaulle, ông cho rằng không khí chính trị tại Paris còn tệ hại hơn nữa. Theo d'Argenlieu, địa điểm tốt nhất cho cuộc đàm phán Pháp - Việt sẽ là Đà Lạt, ít nhất tại đây khí hậu mát mẻ là một nơi nghỉ dưỡng được ưa thích giữa mùa hè nóng nực đối với các quan chức cai trị thuộc địa. Ông ta còn nhắm vào mục tiêu dài hơi là sẽ biến Đà Lạt thành thủ phủ mới của Liên bang Đông Dương trong tương lai. Họp tại Đà Lạt, hội nghị đàm phán Pháp - Việt sẽ không bị các cuộc biểu tình tự phát hoặc có tổ chức của quần chúng gây rối không khí thương lượng"6. Ngày 24 tháng Ba, vị cao ủy mời Hồ Chí Minh ra gặp ông trong một cuộc nói chuyện tay đôi (nghĩa là không mời Leclerc tham dự) trên boong tàu chiến Emile Bertin tại Vịnh Hạ Long phía bắc cảng Hải Phòng. Tại cuộc gặp, d'Argenlieu đã bác bỏ đề nghị của Hồ Chí Minh sớm mở cuộc đàm phán Pháp - Việt tại Paris, như thế là trái với ý định của Leclerc. Điều này làm cho ông ta bực tức7.


Lập luận của Leclerc trong bức điện ngày 15 tháng Ba đã chỉ ra động cơ chính của thái độ hòa giải của vị tướng này là nỗi lo sợ xảy ra đồng thời hai cuộc xung đột Pháp - Việt và Pháp - Trung. Nhận định của ông ta dựa vào những điều đã xảy ra tại miền Bắc. Còn d'Argenlieu nhìn xa hơn, ông lo sợ Hồ Chí Minh sẽ giành được sự nhượng bộ của xu hướng thiên tả trong Chính phủ Pháp lúc bấy giờ, sau khi de Gaulle rời khỏi chính quyền. Ngày 27 tháng Ba, Leclerc bênh vực giá trị của Hiệp định ngày 6 tháng Ba trong một bản báo cáo dài gửi de Gaulle trước khi ông này rời chức vụ đứng đầu chính phủ8. Nếu lực lượng của ông phải lao vào cuộc chiến đồng thời với hai đối thủ là người Việt và người Trung Hoa thì như ông nói, "cuộc tái chiếm Bắc Kỳ dù chỉ là một phần cũng sẽ không thể thực hiện được", ông chỉ trích d'Argenlieu (tuy không nêu đích danh) vì đã không báo cáo hết sự thật về mối hiểm nguy đó cho Chính phủ Pháp. Theo Leclerc, Pháp chỉ có thể giành phần thắng bằng phương sách chính trị và các cuộc thương lượng. Trung Hoa rút quân càng sớm khỏi Bắc Đông Dương càng tốt, các vấn đề khác sẽ giải quyết dễ dàng hơn, vì lúc này vị thế của Pháp sẽ được cải thiện hơn trong quan hệ với Việt Nam9.


Nhưng Leclerc đã nhầm khi ông ta nghĩ rằng ảnh hưởng của người Trung Quốc đã làm cho người Việt Nam kém biết điều hơn. Như chúng ta đã thấy, người Trung Quốc bây giờ mong muốn Chính phủ Việt Nam hợp tác với Pháp. Nói rộng ra, Việt Minh cũng cần Pháp làm đối trọng với Trung Hoa, một khi người Trung Quốc rút hết quân rồi, Việt Minh sẽ kiểm soát được tốt hơn tình hình quốc nội, sẽ có triển vọng tốt hơn trong cuộc kháng chiến lâu dài sau này với Pháp và do đó sẽ tỏ ra kém sẵn sàng thỏa hiệp trong đàm phán với Pháp. Điều này đã được Léon Pignon vật then chốt trong việc đề ra chính sách Pháp, hiểu rất rõ. Ông đã làm trợ lý cho Sainteny trong các cuộc đàm phán dẫn tới Hiệp định ngày 6 tháng Ba, sau này đã có vai trò quan trọng trong đoàn đại biểu Pháp tại Hội nghị Fontainebleau. Từ tháng Bảy đến tháng Chín 1946 và từ ngày 2 tháng Mười, ông ta trở thành phụ tá về chính trị cho d'Argenlieu tại Sài Gòn. Pignon là cựu sinh viên có thành tích học tập xuất sắc tại Trường Thuộc địa Pháp và là "nhân vật tầm cỡ Machiavelli" của chính quyền thuộc địa Pháp. Đối với ông ta, quyền lợi của nước Pháp, chứ không phải lý tưởng mới là điều đáng kể. Đầu năm 1946, khi ảnh hưởng của Trung Hoa và các đảng phái Việt Nam thân Trung Hoa đang lên mạnh, Pignon đã có ý định tách Việt Nam khỏi ảnh hưởng Trung Hoa và hướng về Pháp10. Do đó, ông ta đã hăng hái trợ giúp Sainteny trong các cuộc thương lượng với Hồ Chí Minh. Sau Hiệp định ngày 6 tháng Ba Pignon nhanh chóng nhận ra rằng Hồ Chí Minh là đối thủ đáng gờm nhất của Pháp, ông ta lại quan tâm nhiều hơn đến Cựu hoàng Bảo Đại, cũng như những người cầm đầu các đảng phái quốc gia thân Trung Hoa, như là các lực lượng đối trọng với Việt Minh. Mặc dù không được chào đón bởi cả người Việt Nam và người Pháp, nhưng sự có mặt của quân đội Trung Hoa lại là cần thiết cho cả Pháp lẫn Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề của mình mà không phải sử dụng vũ lực. Một khi quân đội Trung Hoa rút đi rồi, không bên nào phải lo sợ đối phó với mặt trận thứ hai. Pignon và d'Argenlieu gặp nhau trong tầm nhìn dài hơi của họ, hiểu rõ vấn đề hơn Leclerc chỉ nhìn trước mắt.

 27 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 08:46:46 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Chương 3
BẢN TẠM ƯỚC


Đêm khuya ngày 14 tháng Chín 1946, Hồ Chí Minh đến nhà riêng của Marius Moutet tại Paris. Người đã ở Pháp suốt mùa hè vừa qua, trả lời phỏng vấn nhiều nhà báo, tạo nên một hình ảnh không thể xóa nhòa gây ấn tượng mạnh với nhiều nhà báo Pháp và nước ngoài, trong khi cuộc hội đàm chính thức Pháp - Việt tại Fontainebleau cách xa Paris, một nơi giao lưu quốc tế với nhiều xu hướng khác nhau về chủng tộc, về chính kiến, đã không đi đến một thỏa thuận nào. Sự bế tắc chủ yếu vẫn là vấn đề độc lập dân tộc và thống nhất ba "kỳ". Nước Pháp đã không sẵn sàng trao trả độc lập cho Việt Nam và người Việt Nam cũng không sẵn sàng mềm dẻo hơn trong lập trường thương thuyết của họ, trừ phi có một sự dàn xếp tạm thời. Và điều quan trọng hơn nữa là Pháp đã từ chối ấn định thời gian cho việc tổ chức trưng cầu ý dân về việc thống nhất đất nước, và người Việt Nam cũng không chịu ký một văn bản thỏa thuận nào trừ phi họ thấy thời hạn tổ chức trưng cầu ý dân được ghi trong lịch trình của họ.


Một ngày trước đó, các nhà thương thuyết Việt Nam - trừ Hồ Chí Minh còn ở lại Paris - đã rời khỏi Fontainebleau về cảng Marseille để lên tàu Pasteur về nước, để lại sau lưng họ công việc còn dở dang trong cuộc đàm phán Việt - Pháp. Hồ Chí Minh ăn trưa với Moutet và hai người thỏa thuận rằng việc Hồ Chí Minh về nước với hai bàn tay trắng là không thể chấp nhận được. Các bản dự thảo đã được trao đổi để đi đến một thỏa thuận sơ bộ, xác nhận lại Hiệp định ngày 6 tháng Ba, nhưng có một số điểm bổ sung và ấn định thời hạn cho một vòng đàm phán vào tháng Giêng 1947. Buổi chiều hôm đó Moutet đã tiếp Hồ Chí Minh tại nhà riêng và sau lúc nửa đêm 14 rạng ngày 15 tháng Chín, hai ông đã ký vào bản thỏa ước tại phòng ngủ của Moutet1. Trên đường trở về nhà Hồ Chí Minh đã linh cảm trước những phản ứng của dư luận trong nước nhằm hạ thấp kết quả chuyến đi Pháp dài ngày của Người từ tháng Năm đến nay. Người ta nói rằng Hồ Chí Minh đã thầm nhủ với mình: "là vừa mới ký một tờ khai tử"2.


Tuy nhiên, đồng bào trong nước của Hồ Chí Minh đã không lên án ông. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hưởng lợi từ bản thỏa ước, văn bản này đã gây tổn hại cho vị thế của Pháp, đặc biệt là ở Nam Kỳ. Điểm quan trọng nhất trong thỏa ước là ngừng bắn ở miền Nam, nơi đây du kích Việt Minh đã tăng cường hoạt động từ khi những lực lượng thiện chiến nhất của quân Pháp được đưa ra miền Bắc từ tháng Ba. Thỏa thuận về ngừng bắn ở miền Nam có nghĩa là sự thừa nhận trong thực tế lực lượng du kích và là một khó khăn cho Pháp trong việc tố cáo hoạt động của du kích như những hành động khủng bố. Tạm ước ngày 14 tháng Chín gồm 11 điều, nêu ra một cách đại cương những điều kiện cho việc hợp tác Pháp - Việt trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, ngoại giao và quân sự, nhưng nếu không kể việc ngừng bắn và lời hứa hẹn của hai bên tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, bản thỏa ước đã không nói lên những nhân nhượng mới của mỗi bên. Bản thỏa ước còn ghi nhận một vòng đàm phán mới để giải quyết dứt khoát những vấn đề then chốt trong bang giao Pháp - Việt, sẽ được tổ chức sau khi Đệ tứ Cộng hòa Pháp được tuyên bố thành lập vào tháng Giêng 1947.


Tại sao cả Pháp và Việt Nam đều cố gắng đi đến một thỏa thuận đầy chông gai vào mùa xuân (ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba) và mùa hè (ký Tạm ước ngày 14 tháng Chín) năm 1946? Tại sao hai bên đã làm cho nhau hài lòng khi ký Tạm ước ngày 14 tháng Chín? Trước khi đi vào phân tích việc thực hiện Hiệp định ngày 6 tháng Ba, chúng ta phải tìm lời giải cho những câu hỏi nói trên. Có thể có ba lý do cần được xem xét. Một là, việc quân đội Trung Hoa tiếp tục có mặt tại Bắc Đông Dương. Hai là, hai bên Việt và Pháp không bên nào hài lòng về Hiệp định 6 tháng Ba. Sau này, bên nào cũng cho đó chỉ là một bước tạm nghỉ để tiến lên hướng về mục tiêu của mình. Ba là, tình hình không rõ ràng tại nước Pháp. Nền Đệ tứ Cộng hòa mới thành lập, còn chưa có Hiến pháp, chưa có đường lối chính trị rõ ràng.

 28 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 08:43:09 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
KẾT QUẢ

Từ 11h trở đi, Hải Phòng đã im tiếng súng, nhưng chưa người lính Pháp nào được đặt chân xuống mặt đất. Chiều hôm đó, một đại đội tượng trưng được phép đổ bộ. Ngày 7 tháng Ba, thêm một số lính Pháp được rời tàu sau khi hai đại diện Chính phủ Việt Nam lên tàu Sénégalais đón Leclerc. Leclerc nói với họ một cách thô lỗ rằng "dù phía các ông có đồng ý hay không" thì Pháp vẫn cứ đến74. Quân Tưởng chỉ định một khu vực quân Pháp được phép hạ trại, sau đó một nhóm lớn lính Pháp đầu tiên mới thực sự đổ bộ và hạ trại tại đó. Trong hai tuần tiếp theo, chưa có gì chắc chắn là Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba sẽ đứng vững. Phản ứng của dân chúng Việt Nam chưa có gì là rõ ràng. Mặc dù chữ ký của Vũ Hồng Khanh đặt đặt cạnh chữ ký của Hồ Chí Minh, song những người dân tộc nghĩa đối lập với Việt Minh vẫn lên án chính phủ bán nước. Trước tình hình đó, chính phủ triệu tập một cuộc míttinh lớn ở Hà Nội tối mùng 7 tháng Ba để bảo vệ lập trường của mình, ông Giáp, ông Khanh và Hồ Chí Minh phát biểu giải thích sự cần thiết phải thỏa hiệp với Pháp, đám đông dân chúng hoan nghênh, ông Giáp trình bày ba lựa chọn trước mắt: một cuộc kháng chiến lâu dài, một cuộc kháng chiến ngắn, hay thỏa hiệp bằng đàm phán. Lựa chọn thứ nhất sẽ gây ra nhiều mất mát, thương vong mà không chắc chắn thành công vì điều kiện thế giới chưa thuận lợi. Lựa chọn thứ hai sẽ dẫn đến thất bại vì Pháp có đầy vũ khí tối tân. Do vậy, chính phủ đã chọn phương án thứ ba. Phương án này cho phép Việt Nam có thêm thời gian xây dựng lực lượng cả về kinh tế và quân sự. Ông Giáp so sánh Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba với hiệp định của chính phủ cách mạng của Lênin với Đức tại Brest-Litovsk năm 1918: "Chẳng phải nhờ hiệp định này mà nước Nga đã trở thành cường quốc hay sao? Tư tưởng chủ đạo, mục tiêu cuối cùng của chính phủ là hòa bình để phát triển. Con đường mà hiệp định này mở ra dẫn đến độc lập hoàn toàn trong tương lai, và chúng ta quyết giữ mục tiêu đó"75. Phát biểu của ông Giáp và Hồ Chí Minh đã dẹp đường cho lực lượng Leclerc tiến từ Hải Phòng đến Hà Nội và đặt chân vào thủ đô Hà Nội ngày 18 tháng Ba. Theo nguồn tin lịch sử chính thức, Hiệp định ngày 6 tháng Ba được coi là một giải pháp giúp Chính phủ Việt Nam tránh phải tranh đấu đồng thời với cả Trung Quốc và Pháp. Chính phủ Việt Nam đã "tìm kiếm thỏa hiệp với người Pháp để chấm dứt tình trạng chiếm đóng của quân Tưởng Giới Thạch và để kéo dài thêm thời gian"76, cần thêm thời gian để dẹp không chỉ quân Tưởng chiếm đóng, mà còn phải tiêu diệt bè lũ "phản cách mạng" được quân Tàu Tưởng nâng đỡ, để xây dựng và chuẩn bị cho quân đội Việt Nam kháng chiến lâu dài.


Cũng khó mà biết được Pháp có ý định tôn trọng hiệp định này hay không. Lính Pháp trong thành Hà Nội chưa mất hy vọng trả thù, và quân viễn chinh Pháp vẫn lăm le triển khai Chiến dịch Bến Tre. Ngày 8 tháng Ba, d'Argenlieu than phiền riêng với Tướng Valluy: "Tôi kinh ngạc, vâng, ngài đại tướng ạ, tôi không biết dùng từ gì khác hơn là kinh ngạc, rằng nước Pháp có một lực lượng quân viễn chinh hùng hậu như vậy, mà các chỉ huy của lực lượng này lại muốn đàm phán hơn là đánh nhau"77. Ngày hôm sau, trong một bài diễn văn tưởng niệm những người kháng cự quân Nhật khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba năm trước, ông ta nói rằng ông ta chấp nhận Hiệp định ngày 6 tháng 3, rằng hiệp định này "cũng tốt"78, nhưng ông ta dùng cụm từ "chính phủ Hà Nội" khi nói đến Chính phủ Việt Nam, và ông ta so sánh quy chế của Việt Nam với quy chế của Campuchia đã ký hiệp định với Pháp ngày 7 tháng Giêng79. Trong khi đó, binh lính và sĩ quan Pháp ở Hải Phòng lăm le tiến về Hà Nội. Quân Tưởng chần chừ không muốn rút vì thấy tình hình chưa thực sự yên, nhưng Pháp hối thúc Tàu Tưởng trao chính quyền cho Pháp trước cuối tháng Ba, thực hiện nghĩa vụ theo Hiệp ước Trùng Khánh. Lúc này Pháp đặt lại với Tàu Tưởng vấn đề trang bị lại vũ khí cho lính Pháp trong thành Hà Nội. Quân Tưởng miễn cưỡng chấp thuận cho 10 máy bay Pháp chất đầy súng cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất ở ngoại thành Sài Gòn, bí mật mang tới sân bay Gia Lâm, từ đây, số súng này sẽ được chuyển vào nội thành Hà Nội bằng xe tải. Bất ngờ Tàu Tưởng đổi ý, Tướng Salan đành phải ra lệnh cho các máy bay này chuyển hướng hạ cánh ở Pạcxê, Lào. Ngày 21 hay 22 tháng Ba, súng mới được chuyển đến, lúc đó quân Leclerc đã có mặt trong thành phố mà không phát đạn nào được bắn ra80.


Không một ai cảm thấy biết ơn quân Tưởng vì đã đóng vai trò nhất định trong việc thiết kế Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba và giám sát buộc các bên tôn trọng hiệp định này trong mấy tuần sau khi hiệp định được ký. Hai mươi vạn quân Tưởng, đặc biệt là cánh quân Vân Nam đã cướp bóc, vơ vét mọi thứ trên mặt đất. Cả người Việt và người Pháp đều căm ghét chúng. Hầu như cùng lúc Hiệp định ngày 6 tháng Ba được ký tại Hà Nội, cựu Thủ tướng Winston Churchill đọc một bài diễn văn nổi tiếng tại Fulton, bang Missouri, trong đó có đoạn: "Từ Stettin ở biển Bantích tới Triest ở vùng biển Adriatic, một tấm màn sắt đã sập xuống cắt ngang lục địa [châu Âu]. Sau tấm màn đó là tất cả các thủ đô của các nước châu Âu cổ xưa thuộc Trung Âu và Đông Âu. Warsaw (Vácsava) Berlin (Béclin), Prague (Praha), Vienna (Viên), Budapest (Buđapét) Belgrade (Bengrết), Bucharest (Bucarét) và Sofia (Xôphia)... Tình hình cũng hết sức đáng ngại ở Viễn Đông và đặc biệt là ở Mãn Châu". Xtalin lúc này vừa quyết định rút quân Liên Xô khỏi Mãn Châu trước khi Tưởng Giới Thạch kịp bố trí một lực lượng quân đội đủ mạnh tại đây nhằm ngăn cản Hồng vệ binh tiếp quản Mãn Châu. Tháng Sáu 1946, nội chiến thực sự bùng nổ tại Trung Quốc, và ba năm sau, Tưởng Giới Thạch buộc phải chạy ra Đài Loan. Năm 1950, một số sĩ quan Tàu Tưởng từng phục vụ quân Tàu Tưởng tại Việt Nam trong thời gian 1945-1946 được Mao Trạch Đông cử quay lại "vùng giải phóng" ở Bắc Đông Dương với tư cách cố vấn, huấn luyện viên và chuyên gia cầu cống giúp Việt Minh81. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chú ý nhiều đến việc tuyên truyền vai trò của Tàu Tưởng trong những năm 1945-1946, nhưng khi chúng ta rà lại những sự kiện xảy ra trong thời gian từ tháng Hai đến tháng Ba 1946, chúng ta thấy rõ rằng "nền hòa bình ngắn ngủi và mong manh từ tháng Ba đến tháng Mười một, tiền đề để Hồ Chí Minh đến thăm nước Pháp và bước vào chính trường thế giới với tư cách đại diện quốc gia, cũng như tạo điều kiện cho ông Giáp xây dựng quân đội Việt Nam, là một nền hòa bình do Tàu Tưởng dựng lên. Quân át chủ bài của Trung Quốc là cả Việt Nam và Pháp đều muốn tránh nguy cơ chiến tranh trên cả hai mặt trận. Tướng Valluy đã nói rõ với Thủ tướng Pháp rằng chiến tranh trên cả hai mặt trận là không thể chấp nhận được: "Chỉ có thể trì hoãn giải pháp cho Bắc Kỳ trong vòng tối đa là một hay hai tháng nữa. Giải pháp này không nên thể hiện dưới hình thức hành động quân sự thuần túy, vì điều đó sẽ khiến ta ở vào thế cùng lúc đối đầu với Tàu Tưởng và An Nam". Các nhà lãnh đạo Việt Minh cũng nhận định tương tự như vậy một thời gian ngắn trước khi họ quyết định ký Hiệp định ngày 6 tháng Ba: "Nếu Pháp công nhận chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có thể hòa hoãn. Hòa hoãn để dẹp Tàu Tưởng tham tàn, tiêu diệt bè lũ phản cách mạng trong nước và tàn dư phátxít Pháp. Nếu không, chúng ta sẽ bị cô lập và phải chiến đấu với hai kẻ thù cùng lúc và có thể thất bại"82.


Tàu Tưởng đã tiếp tục tác động trong bao lâu để giữ nền hòa bình đó? Theo ý kiến chưa được khẳng định, cho tới tận ngày 18 tháng Chín, khi đơn vị lính Tưởng cuối cùng rút khỏi Hải Phòng, quân Tưởng mới buông tay. Chừng nào mà còn ít nhất vài tên lính Tưởng chiếm đóng ở Bắc Đông Dương, mọi sự đối đầu vũ lực công khai giữa Pháp và Việt Nam đều có nguy cơ gây chấn động ở tầm quốc tế. Tam giác quyền lực của ba quốc gia đều có lực lượng quân đội hiện diện trên cùng một lãnh thổ có khuynh hướng tạo ra cân bằng có lợi cho hòa bình. Tác phẩm của tam giác quyền lực là một loại tạm ước không chính thức, trong đó Pháp và Việt Nam giằng co với nhau, không bao giờ thỏa thuận. Tuy vậy, ngày 15 tháng Chín, ba ngày trước khi sự chiếm đóng của Tàu Tưởng kết thúc vào ngày 18 tháng Chín, Hồ Chí Minh và Marius Moutet quyết định ký một tạm ước khác, lần này chỉ của riêng hai bên.

 29 
 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2026, 08:40:08 pm 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
CƯỠNG BỨC HÒA BÌNH

Không thể xác định một cách chính xác vai trò của Tưởng Giới Thạch trong các sự kiện sau đây. Tức là có thể các tướng lĩnh Tưởng hành động độc lập với ông ta khi từ chối đề nghị hỗ trợ Chiến dịch Bến Tre của Pháp87. Nhưng có nhiều khả năng "Tưởng Quốc trưởng" đồng ý với các tướng lĩnh này và chính ông ta ra lệnh cho họ ngăn cản việc quân Pháp đổ bộ cho tới khi hiệp định Pháp - Việt được ký. Trong nội bộ Trung Quốc thì chính sách cưỡng bức, tống tiền đã manh nha trong phần kiến nghị của một báo cáo đề ngày 6 tháng Hai của Yuan Zijian, cố vấn chính trị của Tướng Lư Hán, chỉ huy quân Tưởng chiếm đóng ở Bắc Đông Dương: "Tại thời điểm này, Pháp không làm gì được Việt Nam, và chúng ta giữ chìa khóa của tình hình". Yuan Zijian kết luận rằng cách duy nhất để ngăn thảm họa nối tiếp nhau xảy ra là ép Pháp phải đạt được một thỏa thuận công bằng ở mức nhất định với Việt Nam, bao gồm cả thỏa thuận về quy chế chính trị của Việt Nam58.


Giờ thì chúng ta hãy cùng nhau điểm lại theo trình tự thời gian những sự kiện xảy ra trong bốn ngày Tàu Tưởng thực hiện cưỡng bức để có hòa bình:

Ngày 3 tháng Ba: Một sĩ quan liên lạc của Pháp ở Hà Nội hỏi đồng nghiệp Tàu Tưởng xem nếu Pháp đổ bộ khi chưa có thỏa thuận Pháp - Việt, liệu quân Tưởng có nổ súng hay không. Câu trả lời là có, nhưng phía Tưởng đang gây áp lực mạnh mẽ buộc các đảng phái ở An Nam đoàn kết. Pháp nên đợi một thời gian để phía Việt Nam thực sự đoàn kết lại trong một khối liên minh chân thành. Quân Pháp không được xuất hiện trước khi khối liên minh này hình thành59. Một ngày trước, Quốc hội đã phê chuẩn việc thành lập Chính phủ liên hiệp mới của Hồ Chí Minh, nhưng tới ngày 4 tháng Ba, Chính phủ liên hiệp kháng chiến mới họp.


Ngày 4 tháng Ba: Trong một cuộc hội đàm Pháp - Trung kéo dài tại Hà Nội, Tướng Ma Ying nêu khả năng "sinh biến với các phe phái Việt Nam. Nếu có đánh nhau, sẽ có lộn xộn, [và] an ninh trật tự sẽ bị ảnh hưởng; do đó, phải tìm kiếm một giải pháp hạn chế những rắc rối có thể xảy ra trong trường hợp có lộn xộn". Ban đầu, Salan trả lời là "quả thật có khả năng xảy ra đánh nhau, nhưng khi chúng tôi triển khai xong việc đổ bộ, trách nhiệm giữ an ninh trật tự sẽ chuyển sang chúng tôi và khi đó chúng tôi sẽ có đầy đủ phương tiện để bảo đảm an ninh trật tự. Có thể ban đầu có một số xáo trộn nhất định, nhưng tình hình sẽ nhanh chóng lắng xuống và không có lý do gì phải lo ngại xảy ra rắc rối lớn". Một thoáng sau, Salan nói thêm: "Vả lại đàm phán với chính phủ An Nam đang được tiến hành và không loại trừ khả năng chúng tôi làm bạn với họ... Khi các ông rời đi thì rất có thể thỏa thuận với An Nam đã ký xong, như thế tình hình sẽ sáng tỏ hơn nhiều". Phía Tàu Tưởng nói họ thấy nên giải quyết bằng con đường chính trị trước khi quân Pháp đến thì tốt hơn. Salan trả lời: "Chúng tôi đang cố"60.


Cũng trong ngày 4 tháng Ba, Chính phủ liên hiệp mới của Hồ Chí Minh tổ chức phiên họp đầu tiên và trao cho Hồ Chí Minh quyền tiếp tục đàm phán. Trong khi đó, Cominindo hỏi Cao ủy d'Argenlieu liệu ông ta có trì hoãn chiến dịch quân sự cho đến khi thỏa thuận được với Hồ Chí Minh hay không, và nói thêm: "Chúng tôi mong muốn ông cố gắng hết sức để đạt được thỏa thuận với phía Việt Nam trước khi mở màn chiến dịch quân sự"61. D'Argenlieu cho Leclerc biết Chính phủ Pháp tỏ ý muốn chừng nào thỏa thuận với Hồ Chí Minh ký xong thì "chiến dịch tiếp quản" mới diễn ra, nhưng bổ sung rằng cá nhân d'Argenlieu đã biết rõ về kế hoạch đổ bộ của quân Pháp tại Hải Phòng, Hòn Gai và cướp ngục tại Hà Nội. "Và cuối cùng thì ngài phải tự quyết định thôi", d'Argenlieu nói62. Ý nghĩa của chuyện này có lẽ là mặc dù biết rõ mong muốn của Chính phủ Pháp, d'Argenlieu toan tính cứ đổ bộ ngay cả khi không có thỏa thuận với Hồ Chí Minh và cho rằng Leclerc cũng tính như mình. Để Chính phủ Pháp không chỉ trích họ, d'Argenlieu khuyến cáo Marius Moutet là cần phải cảnh giác với âm mưu của Tưởng và có thể phía An Nam đã "đi đêm" với quân Tưởng ở Đông Dương và điều đó rất có thể là gây ra xung đột vũ trang. Có lẽ vì d'Argenlieu không muốn nói trắng ra về nguy cơ này nên ngôn từ của ông ta đầy bí hiểm: "Nếu chính phủ tiếp tục ủng hộ chúng và đó là một điều cực kỳ quan trọng, chuyến này chúng ta sẽ cầu... Tôi cho rằng điều nên làm là cho phép mọi chuyên xảy ra phơi ra ánh nắng mặt trời một vài ngày để đánh giá hành động mà chúng ta quyết tâm làm. Đừng ngạc nhiên nếu các thông báo của tôi có vẻ lạnh lùng và bàng quan"63. Đây là lời lẽ của một người biết rằng quyết định của mình có thể làm bùng nổ chiến tranh, và chính phủ của ông ta sẽ không ưa gì quyết định đó, nhưng cũng sẽ không dám chỉ trích ông ta, chủ yếu là vì ông ta được Tướng de Gaulle ủng hộ.


Ngày 5 tháng Ba: Buổi sáng, chỉ huy Đại đoàn 53 quân Tưởng gửi một bức điện từ Trùng Khánh tới Hà Nội với nội dung: "Thúc Hồ Chí Minh ký với Pháp... Lệnh Sư đoàn 130, Đại đoàn 53 cản Pháp đổ bộ khi đàm phán Pháp - Việt chưa hoàn tất"64. Salan cùng báo cho Leclerc rằng quân Tưởng đã cam kết gây áp lực mạnh đối với Hồ Chí Minh trong đêm đó để thúc đẩy thỏa hiệp65.


Ở Hà Nội lúc này, các cuộc hội đàm giữa Salan với các tướng lĩnh Tàu Tưởng trực tiếp đả động tới tiến trình đàm phán giữa Sainteny và Hồ Chí Minh...

Tướng Zhao Zhenfan không dễ bị đe dọa, mà ngược lại còn kiên quyết: "Không như các ngài, tôi ngờ rằng sẽ có những vụ việc nghiêm trọng. Phía An Nam chắc chắn sẽ tấn công cả quân Pháp và quân Tưởng. Nếu xảy ra tấn công, chúng tôi phải tự vệ và không bảo vệ được thường dân Pháp nữa đâu". Salan bèn nhắc lại lời hứa của ông ta vài ngày trước là sẽ chịu trách nhiệm cá nhân nếu xảy ra bất kỳ vụ việc nào: "Có thể có chết chóc, nhưng không ai có thể ngăn cản điều đó cả. Theo cách lập luận của ngài thì người Pháp chẳng lẽ không bao giờ đổ bộ được hay sao... Điều tôi yêu cầu chỉ đơn giản là quân Tưởng không bắn vào quân Pháp, là không để xảy ra va chạm giữa quân Tưởng với quân Pháp, và rằng phía Tàu Tưởng để chúng tôi đổ bộ. Chúng tôi chịu trách nhiệm về những việc còn lại".


Phía Tàu Tưởng giả ngây giả điếc trước yêu cầu này và nêu lại sự cần thiết phải ký thỏa thuận với Hồ Chí Minh trước đã. Salan phản đối: "Không ai thỏa thuận được điều gì với ông ta... Chỉ cần chúng tôi lên bến thì mọi chuyện ở đây sẽ được giải quyết êm đẹp"66.


Cũng vào lúc đó, tác giả của kế hoạch Bến Tre là Trung tá Lecomte nhận ra rằng Pháp đã tự đưa mình vào một cái bẫy. Ông ta ở Hà Nội và chỉ có thể liên lạc bằng vô tuyến điện với Leclerc. Ông ta bèn viết tay một lời nhắn Sainteny mà về sau trở nên nổi tiếng với nội dung như sau:

Lúc này ta không thể sửa đổi cách triển khai kế hoạch của chúng ta nên chúng ta có nguy cơ vướng phải những xung đột đẫm máu với quân Tưởng, và những sự kiện như vậy sẽ còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng trên bình diện quốc tế. Hy vọng duy nhất của chúng ta để thay đổi thái độ của quân Tưởng là báo cho họ rằng thỏa thuận giữa ta với An Nam đã được ký. Trong tình huống nghiêm trọng này và xét phạm vi của cuộc xung đột có thể sẽ xảy ra, nhân danh Tướng Leclerc, người đã cho phép tôi nói với ông điều này, tôi yêu cầu ông ngay lập tức làm tất cả những gì ông có thể làm để đạt được một thỏa thuận càng sớm càng tốt, kể cả khi phải chấp nhận những điều mà về sau có thể phủ nhận67.


Như vậy là vào thời điểm này, về cơ bản, đáng lẽ Hồ Chí Minh có thể giành được bất kỳ điều gì ông muốn, ít nhất là trên giấy tờ. Nhưng tất nhiên Tàu Tưởng không chỉ tống tiền Pháp. Họ cũng gây áp lực với cả phía Việt Nam nữa. Không may là các nhà sử học vẫn chưa có điều kiện tiếp cận bất kỳ biên bản trao đổi nào giữa Hồ Chí Minh và tướng lĩnh Tàu Tưởng. Tối mùng 5 tháng Ba, Tướng Zhao gặp Hồ Chí Minh rồi sau đó đích thân chuyển đề xuất của Hồ Chí Minh tới đoàn đàm phán Pháp68. Vào thời điểm muộn màng này, bất ngờ đoàn Việt Nam đưa ra một vấn đề tranh cãi mới là sự cần thiết phải xác định số quân Pháp được phép có mặt ở miền Bắc, họ được ở lại bao lâu và đóng đồn ở những điểm nào. Còn vài giờ nữa thì sang ngày mới, Việt Nam vẫn kiên quyết không chấp nhận cho bất kỳ tên lính Pháp nào vào Hà Nội và đòi Pháp phải đưa tất cả những binh lính đang bị giam giữ tại thành Hà Nội về nước. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy lại không thể xin ý kiến Paris hay Sài Gòn, Sainteny và Salan đã đặt bút ký vào những nghĩa vụ mà về sau chính phủ của họ sẽ thấy khó mà tôn trọng. Những nghĩa vụ đó được viết trong một phụ lục quân sự đi kèm với hiệp định chính trị mà nội dung của nó đã được chốt lại69.


Ngày 6 tháng Ba: Rạng sáng, những chiến hạm Pháp đầu tiên đến Hải Phòng và vấp phải hỏa lực mạnh của quân Tưởng. Ban đầu, quân Pháp không đáp trả mặc dù phải chịu khá nhiều thương vong, nhưng sau đó quân Tưởng tiếp tục xả súng, Pháp liền nã pháo vào các cứ điểm của Tàu Tưởng khiến một kho đạn của Tàu Tưởng trúng phải đạn pháo của Pháp và nổ tung. Hai bên đọ súng tới 11h trưa, trong lúc đó hai đoàn đàm phán tại Hà Nội tiếp tục mặc cả về những chi tiết cuối cùng của phụ lục về các vấn đề quân sự đính kèm hiệp định. Từ 6h sáng, khi hai bên bắt đầu phiên đàm phán, nội dung hiệp định tạm coi là đã xong nhưng hai bên lại đàm phán tiếp về phụ lục cho đến tận 11h trưa, vì vậy đến 4h chiều văn bản mới làm xong. Tướng Salan chỉ có một khoảng thời gian ngắn để đọc lại văn bản trước khi đặt bút ký toàn bộ Hiệp định sơ bộ, bao gồm phụ lục về vấn đề quân sự. Lễ ký được tổ chức vào lúc 5h chiều70.


Một báo cáo tình báo của Pháp khẳng định phía Tàu Tưởng có vai trò nhất định trong việc tác động đến quyết định của Hồ Chí Minh vào giai đoạn đàm phán cuối cùng: "Giới chức Tàu Tưởng được [các thành viên đoàn đàm phán Việt Nam] thông báo diễn biên tình hình đàm phán đến từng phút một"71. Phía Tàu Tưởng có lẽ cũng thiết kế chi tiết để không chỉ Chủ tịch mà cả Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến là Vũ Hồng Khanh cũng đều ký vào Hiệp định cùng với Sainteny72. Điều này có ích cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh vì nó khiến Vũ Hồng Khanh và đảng của ông ta không thể lên án Việt Minh bán nước cho Pháp.


Tối hôm đó, d'Argenlieu giải thích cho Chính phủ Pháp lý do ông ta cho phép ký Hiệp định: "Các tham mưu của Tàu Tưởng ở Trùng Khánh lật lọng, đồng thời giới chức quân sự Tàu Tưởng tại chỗ thúc bách ta ký một thỏa thuận với chính phủ An Nam tại Hà Nội trước khi cho quân đổ bộ, tất cả điều này buộc chúng tôi phải gấp rút ký kết Hiệp định"73.

 30 
 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2026, 03:46:14 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
*


Sau ba ngày hành quân, đi một lối hoàn toàn chỉ biết trên bản đổ, nhưng rất may, đoàn của San lại có Giàng Chẩn Mìn và các chiến sĩ người Mông đưa đi, và chỉ chạm địch có 3 phút, phần thắng lại về mình, nên với San chuyện như vậy là bình thường, chỉ có một điều San hơi lo, đến có trúng nơi Bộ Chỉ huy Quân khu Xiêng Khoảng trú đóng không, và rồi các anh ấy nhất là Tư lệnh Khăm Mằn, có gặp được ngay không. Vậy mà rồi đã toại nguyên. Sau ba ngày, cái vất vả của đi đường, của sương mưa và nỗi lo, đã được một thứ nước nóng, sực nức mùi hương của lá hoắc hương đã như rũ sạch mọi mệt nhọc. San đứng giữa khoảng trống của căn phòng có hai gương, giây lát anh lại đi đi lại lại. Còn Vân ngồi đầu giường đang hý húi lục trong ba lô, một lúc sau anh đưa cho San một tập pơ luya mỏng đầy chữ, trong đầu có dòng chữ như sau: “Les H'Mong du Laos Facs an dévolopement”. Dòng thứ hai chữ cũng to như dòng chữ tiếng Pháp ở trên như sau: “Nguồn gốc lịch sử và quá trình phát triển của dân cư H’Mông ở Lào”. San đọc lướt qua, bất chợt anh reo khẽ :

- Trời ơi! Tuyệt lắm Vân ơi! Cậu tài nhỉ, kiếm đâu vậy?

- Chẳng có gì là tuyệt cả. Mấy bố ở Cục Nghiên cứu gửi cho tôi, họ bảo tôi và anh nên học thuộc lòng đấy. - Vân nói.

- Sẵn sàng. - San gật gật, vừa giở lướt qua các trang sau - Mình cũng đã có một chút kiến thức khi hai đứa ta ở Khang Khay đấy. Nhưng vốn liếng chưa đựng đầy vỏ hến về hiểu biết dân tộc này...

Khăm Mằn tươi cười vào, tay xách một bi đông Mỹ bằng chiếc bi đông rượu anh đã rót mời hai người. San mời Khăm Mằn ngồi, còn anh cũng một ghế đối diện, bên anh là Vân.

San mặt rạng rỡ, hỏi Khăm Mằn:

- Nàng Khăm Kẹo của siều đâu, có khoẻ không, đã mấy nhóc rồi?

Khăm Mằn cười gật gật:

- Khăm Kẹo ở gần đây, trông coi bệnh viện của Quân khu. Một thằng nhóc rồi, sắp hai đấy...

San vỗ tay nhẹ nhẹ, còn Vân chìa tay bắt tay Khăm Mằn, giọng bổng lên:

- Thế là Tư lệnh nặn được thêm một chú lính Pa-thét...

- Còn siều San và siều Vân, gia đình con cái? - Khăm Mằn hỏi.

Vân quàng tay qua lưng San:

- Em rể của mình... hai đứa cũng mỗi đứa một nhóc.

Khăm Màn vỗ tay ran cười vang:

- “Lon hàm” đầy đủ quá... Giờ qua đây chung chiến hào với nhau, thế là Giời Phật sắp đặt đấy...

Cả ba bất chợt cùng lặng đi. Khăm Màn cúi xuống, giây lát anh ngẩng lên nhìn San và Vân, hai mắt to sáng chợt mòng mọng, anh thấp giọng:

- Trân trọng báo cáo với hai siều, mới cách đây một giờ anh Viêng Xay vừa điện hỏi hai siều đã tới chưa. Mình mừng quá, báo cáo lại với anh Viêng Xay toàn bộ. Rồi anh dặn dò mình: Tình hình của ta ở Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, đang bị đẩy vào thế bị động. Mà ở Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum như vậy thì các nơi khác ở Lào cũng vậy. Thế rồi anh ấy nhắc nhở mình cái ý này làm cho mình giật mình nhé. Rằng, đã có bốn tiểu đoàn Pa-thét ở Nam Lào bổ sung cho Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum, do đề xuất của Tổng tư lệnh Khăm Phăn Đon Na Xi, vậy cần chú ý giúp đỡ anh em, vì họ khác vùng, khác khí hậu, khác phong tục, để họ chóng làm quen với nơi ấy... Nhất là trong quan hệ với dân...

San nói bật ra:

- Đúng đúng... đúng lắm...

- Chúng ta sẽ bổ sung cho họ một số chuyên gia, ở cùng chiến đấu cùng, siều Khăm Mằn yên tâm đi.

Khăm Mằn gật đầu, giơ bi đông rượu lên:

- Đây là rượu ngâm với xương con Khái 1, để hai siều uống tăng sức. - Khâm Mằn lại vặn nắp, rót một nắp đưa cho Vân, một nắp đưa cho San và cho mình, rồi vừa khà ra một hơi dài, anh vừa vặn nắp vào chiếc bi đông.

Khăm Mằn đứng lên bắt tay hai người ra về, nói nhỏ ân cần:

- Sáng mai, hai siều nhé...

Hai người, San và Vân đi tiễn Khăm Mằn một quãng, quay vào cả hai cùng ngồi xuống bên bàn, vẻ mặt cả hai tư lự. Vô tình một cuộc hội ý ngắn xảy ra:

Vân:

- Mình đề nghị trước mắt trong quá trình thâm nhập thực tế và triển khai, ta cho anh em học tập kỹ tài liệu về “Phương pháp giúp đỡ Bạn”, tài liệu tôi đem đây rồi...

San: - Đồng ý, và mời cả bên chuyên gia Dân Chính Đảng của ta ở đây tham dự nữa, chứ không trong lúc này mà ông chẳng bà chuộc là chết, chết không đường ra đâu...

- Đúng thế... Bây giờ tôi xuông hội ý với anh em mấy việc cần làm nhé. San cứ ở nhà...

San gật đầu, nhìn Vân vội vã đi. Anh ngồi bên bàn giở ra trên mặt bàn tệp tài liệu mỏng, mà vừa nãy Vân đưa cho anh.

San đọc, hai mất như hút lấy hàng chữ:

Tài liệu 2 2 

“... Theo một tác giả người Pháp thì người H’Mông thời nguyên thủy cư trú trên bờ sông Euphrate và sông Tigre 3. Từ đây, có lẽ họ đi lên phía Bắc hoặc qua miền Côcadơ, hoặc qua Turkestan vào một thời kỳ không xác định được. Việc tìm tới vùng khí hậu ôn hoà hơn có thể đã đưa họ đến miền Đông Á. Ở đây chúng ta thấy họ sinh cơ lập nghiệp ở bờ sông Hoàng Hà hơn 25 thế kỷ trước Công Nguyên... Ngày nay không thể xác định được con đường đi từ Bắc đến Nam, nhưng có lẽ họ đã qua miền Tây Tạng; ý của tác giả cho rằng quê hương của người H’Mông đầu tiên ở vùng Bắc Sibiri.

Theo truyền thuyết của người Hán thì người H’Mông xuất hiện sớm nhất là ở lưu vực sông Hoàng Hà. Truyền thuyết có đoạn nói: “Người Miêu (Trung Quốc gọi người H’Mông lả người Miêu) theo Xuy Vưu chống lại Hoàng đế... (Khoảng thiên niên kỷ thứ ba trước Công Nguyên). Sau đó Huy Viên (người Hán) đã đánh lại Xuy Vưu và xưng vua (cách khoảng 2.700 năm trước Công Nguyên). Sau đó người H’Mông đi dần về hồ Động Đình và hồ Bành Lãi, xây dựng nên nước Tam Miêu đóng đô ở Trường Sa. Địa vực của Tam Miêu lúc bây giờ bao gồm đất Giang Tô, Triết Giang, Hồ Nam, Hồ Bắc, Doãn Nam và Đại Nam.
Sách “Chiến quốc” ghi địa vực cư trú của người Miêu thời Hạ Vũ (khoảng đầu thiên niên kỷ thứ hai trước Công Nguyên) có chép lời Ngô Khởi nói: “Nước Tam Miêu ở phía trái có hồ Động Đình, phía phải có hồ Bành Lãi, phía nam có núi Văn Sơn. Phía bắc là núi Bành Sơn, vì chính trị không tốt nên bị vua Vũ đuổi đi. Như vậy địa vực cư trú của Tam Miêu là thuộc vùng An Huy, Hồ Nam, Giang Tây ngày nay”.

Sách “Thanh đại Miêu dẫn khởi nghĩa” có đoạn nói “Tổ tiên người Miêu, người Dao trước kia đã biết trồng cây lương thực sớm nhất Trung Quốc”. Điều đó rất phù hợp với tên gọi của người H’Mông lúc bấy giờ ở lưu vực sông Hoàng Hà là Miêu tử tức là người phát minh ra nghề làm ruộng sớm nhất.

Nhưng sau đó sử Trung Quốc trong khoảng 100 năm không nhắc tới tên Tam Miêu nữa. Mãi đến thế kỷ thứ 9, thứ 10, tên tộc danh Miêu mới lại xuất hiện. Không rõ sự liên quan lịch sử từ Tam Miêu đến người Miêu sau này như thế nào.

Hiện nay nhiều người có xu hướng không công nhận Tam Miêu là gốc người H’Mông ngày nay. Vì vậy nguồn gốc lịch sử người H’Mông nói chung cần được hợp tác nghiên cứu mới có thể làm sáng tỏ một cách chính xác khoa học được.

Nguồn gốc lịch sử người H’Mông ở Lào Cai và ở Xiêng Khoảng:

Theo một sô nhà nghiên cứu về người H’Mông ở Lào thì: Người H’Mông có nguồn gốc xa xưa từ bên Trung Quốc, tổ tiên họ thiên di từ Trung Quốc qua Việt Nam và sau đó vào Lào qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau.

Theo Henri Roux thì người H’Mông ở bắc Đông Dương di cư từ cực tây tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc cách đây khoảng 230 - 140 năm (tính từ 1954 trở về trước). Theo Paul Le Boulanger thì người H’Mông xuất hiện ở Lào vào năm 1849. Theo Vương Quỳnh Anh (một học giả Trung Quốc) thì người H’Mông di cư vào Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Theo điều tra nghiên cứu của Ban Dân tộc Việt Nam dẫn lời một cụ già người H’Mông 120 tuổi ở Bản Đông vùng Tả Cả, miền tây tỉnh Nghệ An kể lại thì người H’Mông ở nam Trung Quốc bị vua chúa nhà Thanh khủng bố nên phải chạy về phía nam. Lúc ấy ông cụ còn nhỏ, được đưa đến vùng Mèo Vạc (Hà Giang) sau đó là qua Tây Bắc rồi đi dần về phía Noọng Hét. Sau khi ông Pa Chay khởi nghĩa thất bại, bị Pháp khủng bố nên một số chạy sang Kỳ Sơn, Nghệ An.

Theo tài liệu nghiên cứu ở Luang frabang, dòng họ Và của ông Sê Sua trước là Pìn, nay là chủ tịch xã Chôn Chiêng, huyện Xiêng Ngân có quá trình chuyển cư như sau:

- Lao Xai Và, sinh ở Trung Quốc và di cư vào Việt Nam.

- Xìa Đinh Và, sinh ở Lào Cai và di cư sang Lào.

- Nhìa Câu Và con của Xìa Đinh Và, sinh ở Chôm Chít, Chôm Chăn, Luang frabang.

- Sê Sua Và 60 tuổi, con thứ ba của Nhìa Câu Và sinh ở Bản Xả, huyện Pắc Xoòng. Như vậy dòng họ Và của ông Sê Sua từ Trung Quốc qua Việt Nam vào Lào đã 4 đời khoảng 100 năm. Theo tài liệu điều tra của tỉnh Xiêng Khoảng thì người Mông ở đây cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc qua Việt Nam rồi vào Lào.

Cụ Chư Và, 78 tuổi ở làng Xẳn Đôn, Noọng Hét nghe cháu của người tù trưởng đầu tiên đến Noọng Hét kể lại: Khoảng 100 năm trước ở nam Trung Quốc có giặc, người Mông phải chạy lên rừng. Sau đó họ di chuyển dần xuống các sườn núi phía nam. Đầu tiên họ tới Việt Nam vào vùng Mường Thanh (Điện Biên Phủ), Mường Lay (Lai Châu) rồi đi dần xuống các triền núi phía nam như Phu Luông, Phu Nốc, Con Ké (bắc Hủa Phăn) họ ở đó khoảng 30 năm thì chuyển xuống Chẹng Lung, Chẹng Ly (Sầm Tớ). Tới đây họ gặp một người Hoa kiều đi buôn tên là Tông Ma, người đó rủ những người Mông về Noọng Hét làm ăn. Nhóm Mông đến Noọng Hét làm ăn khoảng 20 gia đình thuộc dòng họ Giàng, họ đi theo đường Bản Hồng bắc Bản Ban rồi xuống Khăng Pha Niên. Sau một vụ trồng ngô, trồng thuốc phiện, được mùa Chu xa, họ trở lại Chẹng Lung, Chẹng Ly đưa thêm 80 gia đình nữa thuộc các dòng họ Lầu, Lý, Vàng, Mùa... đến ở Khăng Pha Niên, về sau các họ phân tán đi làm ăn khắp các vùng Noọng Hét (Như vậy dòng họ đến vùng Noọng Hét đầu tiên là dòng họ Giàng).

Nguyên nhân và thời gian tạo nên các đợt di cư của người Mông từ Trung Quốc sang Việt Nam vào Lào, theo một số nhà nghiên cứu thì có 3 thời kỳ:

1. Vào khoảng thế kỷ thứ XVII - XVIII có phong trào đấu tranh của người Mông ở Quý Châu (Trung Quốc) chống chính sách có tên là: “Cải thổ quy lưu” (tức là chính sách bãi bỏ chế độ tù tộc trưởng trong người Mông) của phong kiến Trung Quốc. Phong trào đó bị đàn áp khốc liệt, nên người Mông phải di cư sang đất mới làm ăn sinh sống.

2. Thời kỳ thứ hai người Mông phải di cư vì bị đàn áp sau cuộc khởi nghĩa của người Mông chống vua Càn Long và vua Gia Khánh nhà Thanh từ 1796 đến 1820.

3. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ người Mông hưởng ứng phong trào khởi nghĩa: “Thái bình thiên quốc” chống vua quan nhà Thanh từ 1840 đến 1860. Phong trào thất bại người Mông phải di cư sang Việt Nam và Lào.

Lịch sử và truyền thống đấu tranh của người Mông ở Lào:

Lịch sử tồn tại và phát triển của người Mông là lịch sử đấu tranh không khuất phục đối với mọi thế lực áp bức bóc lột. Ngay lịch sử di cư của họ cũng thể hiện sự đấu tranh nhằm bảo tồn bộ tộc mình. (Sau các thời kỳ đấu tranh chống phong kiến Trung Quốc, họ đều có những cuộc di chuyển về phía nam đến Việt Nam và Lào).

Vào Lào, người Mông đã có những cuộc đấu tranh vẻ vang tiêu biểu, nhất là phong trào khởi nghĩa của Chậu Phạ Pa Chay và phong trào kháng chiến chống Pháp của ông.

Phong trào khởi nghĩa do Pa Chay lãnh đạo (1910-1922).

Đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào đấu tranh của người Mông trước năm 1945 và là một trong những cuộc khởi nghĩa có vị trí quan trọng trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp nô dịch và thống trị của nhân dân các bộ tộc Lào.

Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là ông Sênh Chung Pa Chay (Sênh Chung có nghĩa là vua). Tên thật của ông là Chừ Pa Vừ, quê ông ở Pa Khưng, Mường Thanh (Điện Biên Phủ, Việt Nam).

Khẩu hiệu của cuộc khởi nghĩa là “Chống thuế, chống đi phu, giành quyền tự chủ cho người Mông”. Khẩu hiệu đó phản ánh được nguyện vọng của nhân dân Mông lúc bấy giờ, nên đã thu hút đông đảo nhân dân Mông ở nhiều vùng tham gia cuộc khởi nghĩa.

Phạm vi phong trào khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang của cuộc khởi nghĩa Pa Chay rất rộng lớn. Lần đầu tiên là cuộc đấu tranh chống sưu thuế của người Mông và nhân dân các dân tộc ở Mường Thanh (Điện Biên Phủ, Việt Nam). Về sau chuyển sang Lào, lấy căn cứ ở vùng Chom Chít, Chom Chăn (khu vực Phôn Thoong, Mường Ngòi, tỉnh Luang frabang). Phong trào lan rộng ra khắp các vùng đồng bào Mông ở Phôn Thoong, Mường Ngòi, Xiêng Ngơn, Pắc Xoàng (Luang frabang), Sốp Bào (Phong Sa Lỳ), Nhọt In, Huội Mươi (Kưa Phăn) và khắp tất cả vùng có đồng bào Mông ở Xiêng Khoảng, nhất là vùng Noọng Hét (ở Việt Nam phong trào này củng lan rộng khắp các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ, Lào Cai, thành một mặt trận liên minh chống Pháp mạnh mẽ trong một khu vực rộng lớn ở cả hai nước Việt Nam và Lào, gây cho Pháp nhiều thiệt hại, buộc chúng phải đối phó rất khó khăn và lúng túng).

Cuộc khởi nghĩa kéo dài 4 năm. Cuối cùng bị thất bại sau khi Tào Xư Đà, một người chỉ huy xuất sắc của nghĩa quân tử trận và Pa Chay bị bắt, bị giết thì phong trào tan rã. Hàng trăm người bị bắt và bị giết. Ở Xiêng Khoảng cũng còn những cuộc khởi nghĩa lẻ tẻ khác; năm 1905 nhân dân đã giết 9 tên đi thu thuế ở Mường Khăm và Khăng Pha Niên, sau đó còn tấn công vào trụ sở huyện Mường Khăm, cuối cùng các cuộc khởi nghĩa nhỏ này cũng thất bại.

Một số vấn đề về phong tục tập quán của người Mông (Lào Sủng):

- Người Mông ở cao từ 1.000m trở lên. Và không ở đông, mà ở từng nhóm nhỏ dăm bẩy nếp nhà. Trên nương rẫy họ trồng một loại lúa gọi là “M lề tề” gieo thẳng, không cấy, còn trên ruộng lúa nước họ trồng, kỹ thuật không kém người dưới xuôi. Thường ăn ngô độn. Năng suất lúa kém vì không bón phân. Còn trồng cải bắp, cà chua, bí đỏ, hành tỏi và cây thuốc phiện.

Người Mông rất giỏi chăn nuôi gia súc. Lợn, ngựa của họ đều giống tốt. Những con lợn người Mông nuôi thường nặng vài trăm cân. Bầy gà sống thiến của người Mông không nơi nào so sánh được. Họ rất yêu quý gia súc, có năng khiếu bẩm sinh thuần hoá thú hoang, gia súc và chăm nom gia súc rất chu đáo. Người Mông chia ra ba ngành lớn, người Mông trắng, người Mông đen, và người Mông hoa. Sự phân biệt này không do tiếng nói hay tập quán phong tục, mà do cách ăn mặc của phụ nữ. Nam thì quần và áo nhuộm chàm, trên đầu chít khăn chàm.
Ngày phiên chợ đàn bà và con gái Mông mặc rất đẹp, là các cô gái kín đáo đều muốn khoe tài dệt vá may của họ với các chàng trai. Trang phục cổ truyền của nữ là một váy ngắn đến gối có gấp nhiều nếp. Phủ bên ngoài váy ở đằng trước là một miếng vải thêu đẹp, rộng như tạp dề. Một chiếc áo dài, để hở ngực rất rộng và sau lưng đính một miếng vải vuông như áo của thuỷ thủ. Trên đầu vấn khăn, chân cuốn xà cạp. Váy đàn bà Mông hoa thêu các hình trang trí bằng chỉ mầu. Váy đàn bà người Mông đen nhuộm xanh tham, và họ đeo nhiều trang sức như vòng cổ, vòng tay, nhẫn, hoa tai.

Người Mông rất quý khách. Khách đã đến nhà dẫu quen hay lạ họ đều đối đãi rất tử tế. Họ rất trọng chữ tín. Khi đã hứa với ai cái gì, dẫu gặp khó khăn đến mấy cũng làm bằng được, vốn là những người có nếp sống từ ngàn đời giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, rộng lớn nên họ rất yêu tự do, và kiên quyết đấu tranh cho tự do, chiến đấu bảo vệ cuộc sống tự do...”.


San gập tệp tài liệu lại, hai bàn tay lồng các ngón vào nhau để nguyên trên bàn, trước mặt. Giây lát anh lại giở ra từng trang và hai mắt lần lượt lại đóng đứng vào những hàng chữ mà trong anh có nhu cầu xem xét thêm.

Vân vào, với quyển sổ công tác trên tay, hỏi và ngồi xuống bên kia bàn:

- Cậu đọc xong rồi? Tài liệu rất hay có phải không?

- Xem xét bất cứ vấn đề gì, mà lại thiếu hụt những hiểu biết cơ bản về xuất xứ, về lịch sử, thì nguy thật đấy. Nhất là vấn đề dân tộc, cậu ạ. - San rời mắt khỏi trang tài liệu nhìn Vân, nói tiếp chậm rãi: - Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum bây giờ là “đất phỉ, dân phỉ”... Không phải thế, điều này cần trao đổi kỹ để Bạn cùng có với mình một quan niệm thế này: Không có nhân dân xấu, chỉ có kẻ thù mới là kẻ xấu mà thôi.

Vân gật đầu, nói tiếp vào điều San vừa nói:

- Đúng vậy... Chỉ có nhân dân đã được giác ngộ, và nhân dân chưa được giác ngộ... Và, một khi nhân dân ở đây chưa được giác ngộ thì đó là lỗi của chúng ta, của cán bộ Đảng... những cán bộ của Đảng Lao động Việt Nam và những cán bộ của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào... Chúng ta, Bạn và ta phải chịu trách nhiệm chứ, còn ai vào đây nữa.

- Vân ạ, anh sẽ giúp Bạn nhận thức sâu sắc vấn để cốt tử này. - San nói.

Vân tiếp mềm mại:

- Quên rồi, cả hai, cả hai chứ.

Họ cùng cười.

Giàng Chẩn Mìn và mấy anh lính đồn Nậm Ca hiện ra ngoài hàng hiên cửa gian phòng San và Vân ở. Giàng Chẩn Mìn chào lối quân sự, nói lưu loát:

- Em tạm biệt hai thủ trưởng. Chúng em về Nậm Ca đây.

San vội đi ra, đứng trên hiên nói với Mìn và các chiến sĩ:

- Mình bàn với các cậu thế này, chỉ ngày mai là cũng sẽ có ô tô về Nặm Ca đón đoàn anh Hoán, các cậu ở lại đi cùng luôn cho đỡ vất vả.

Giàng Chẩn Mìn:

- Báo cáo không được. Dạo này tình hình căng, bọn em phải quản lý con đường Mả Ngựa đó kỹ càng hơn nữa và vùng ngoại vi đó, nó là khu vực kiểm soát của đồn Nậm Ca mà, với lại Bạn với ta cũng cùng ý kiến như vậy, nên bọn em phải về bộ, để còn gặp đội tuần từ đồn sang, thông báo đoạn đã đi, em cũng...

- Mình hiểu rồi. Chặt chẽ như vậy tốt lắm. Các nhu yếu phẩm gạo, đạn có đủ đây chứ? - San hỏi Giàng Chẩn Mìn, bắt tay từng người.

Giàng Chẩn Mìn nói nhỏ với San:

- Đoàn trưởng ra đây cho em trao đổi cái này.

Hai người tách ra cách tốp lính chừng mươi bước. Còn Vân cũng ra tiễn thì đứng lại trò chuyện với họ.

- Thưa Đoàn trưởng, em có nguyện vọng chuyển về làm lính của Đoàn trưởng.

- Mình nhận ngay. Mình và anh Vân cũng đã nghĩ đến trường hợp của cậu trong mấy ngày nay. Để có gì mình sẽ xin với trên về Mìn nhé. Mình sẽ khẩn trương làm việc này...

- Em cũng đề đạt lên ngành dọc của em qua đồn trưởng Phạm Tuấn. Vậy thì em mừng lắm. Sang đây em có điều kiện được cống hiến nhiều hơn nữa đấy... Rồi Đoàn trưởng sẽ thấy em có ích cho hai thủ trưởng như thế nào...

San nhẹ nhàng:

- Có ích cho cách mạng của Bạn chứ...

Cả hai cùng cười. San quàng ôm lấy Giàng Chẩn Mìn, nói nhỏ:

- Gửi lời thăm đến đồn trưởng Phạm Tuấn nhé. Chúc các em mọi thắng lợi trên đường tuần tra.



-----------------------------------------------------------------
1. Khái: Khăm Mằn dùng từ gọi con hổ của người xứ Nghệ.
2. Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn - Trường đoàn Chuyên gia quân sự của ta tại Quân khu Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum cung cấp.
3. Đây là hai con sông của miền đất Sirya.



Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM