Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:51:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý thuyết quân sự Trung Hoa  (Đọc 61275 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:56:00 am »

5.   TƯ TƯỞNG VỀ CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ
  Như đã đề cập trước đây, hệ thống chính ủy bị bãi bõ vào cuối thập niên 1920 và chỉ được tái lập vào đầu thập niên 1930 khi chiến dịch ”bao vây và trấn áp” chống Hồng quân tại tỉnh Giang Tây được tiến hành. Hệ thống đó dần dần lan ra tới mọi lực lượng võ trang kể cả các đơn vị cũ của các quân phiệt sáp nhập vào quân đội Dân Quốc sau khi thống nhất quốc gia. 
Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế Chiến thứ hai, quần chúng Trung Hoa cũng như chính quyền Mỹ đã bắt thành phần lãnh đạo của Quốc Dân Đảng và Cộng Sản phải ngồi lại với nhau để đàm phán về tương lai của Trung Hoa. Trong thời kỳ này, hệ thống quân chính của Quốc Dân đảng trở thành một mục tiêu hàng đầu cho cả Cộng Sản lẫn không Cộng Sản. Đối lập đòi Quốc Dân Đảng phải rút ra khỏi quân đội để cho quân đội chỉ là quân sự thuần túy chứ không phải là lực lượng riêng của Đảng. Đòi hỏi đó được người Mỹ yểm trợ và đo đó chính quyền Quốc Dân Đảng phải bắt buộc bãi bỏ chế độ chính ủy vào năm 1946. Thay vào đó là một phòng thông tin được thành lập để đảm trách việc giáo dục chính trị và tuyên truyền. Việc đàm phán hòa bình sụp đổ và các thất bại quân sự trong cuộc nội chiến khiến Quốc Dân Đảng phải quyết định phục hồi hệ thống chính ủy năm 1947. Thế nhưng cũng không có những cải tổ rõ rệt mãi tới 1950 khi Quốc Dân Đảng đã di chuyển ra Đài Loan thì mới phát động một cuộc thay đổi sâu rộng nhân dịp tái tổ chức quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Tưởng Kinh Quốc, vai trò của hệ thống chính ủy trong quân đội mới bành trướng mạnh mẽ. 
A.   Tưởng Kinh Quốc và Cải Cách Hệ Thống Chính Ủy
 Tưởng Kinh Quốc là con trai lớn của Tưởng Tổng Tài, rời Trung Hoa từ thập niên 1920 để du học tại Liên Xô. Ông ở đây hơn 10 năm cho đến cuối thập niên 1930 khi cuộc chiến Trung Nhật xảy ra mới trở về. 
Sau một vài năm làm việc tại địa phương tỉnh Giang Tây, ông được bổ nhiệm Giám đốc Nha Công Tác Chính trị kiêm Giám đốc Viện Chính Huấn Chính Ủy của Thanh Niên Quân năm 1944. Mặc dầu Thanh Niên Quân không được đưa ra chiến trường nhưng Tưởng Kinh Quốc rất có lợi thế nhờ đảm trách công tác lãnh đạo chính ủy dù chỉ một thời gian ngắn.
Năm 1949, Tưởng Tổng Tài cử ra một ủy ban duyệt xét tình trạng quân đội để tìm phương thức cải cách. Khi đề án hoàn thành, ông lập tức bổ nhiệm con ông, Tưởng Kinh Quốc làm Giám Đốc Tổng Nha Công Tác Chính Trị năm 1950 và yêu cầu ông phát động cải tổ. 
Như đã đề cập trước đây, trong tổ chức cũ, nhiệm vụ chính của hệ thống chính ủy là giáo dục chính trị và tuyên truyền. Tổ chức mới tiếp nhiệm tất cả các công tác cũ. Ngoài ra, hệ thống mới cũng đảm trách nhiều nhiệm vụ khác, chẳng hạn như bảo đảm an ninh cho lực lượng và sau này tổ chức công tác hành chánh tại chiến tuyến (Chiến Địa Chính vụ -Zhandi Zhengwu) và hệ thống chính ủy cho lực lượng du kích. Sau này họ còn chịu trách nhiệm tổ chức các quân nhân giải ngũ khai khẩn đất hoang và các hoạt động kinh tế khác. 
Năm 1954, sau hai nhiệm kỳ làm công tác này, Tưởng Kinh Quốc được bổ nhiệm Phó Tổng Thư Ký của Ủy Ban An Ninh Quốc Gia và chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động tình báo của chính quyền Đài Loan. Trong chức vụ này, ông vẫn trông coi công tác chính trị quân đội. 
Năm 1963, Tổng Nha Công Tác Chính Trị trở thành Tổng Nha Chiến Tranh Chính Trị của Bộ Quốc Phòng. Hệ thống chính ủy mọi cấp cũng mang danh xưng đó. Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử quân đội Dân Quốc, các chính ủy chính thức mang danh sĩ quan chiến tranh chính trị (Chính trị Tác Chiến Quân quan). Với cấp bậc mới và danh xưng mới, các chính ủy từ đó có thể được bổ nhiệm làm sĩ quan chỉ huy đơn vị trong quân đội. Sự phát triển đó giúp cho Tưởng Kinh Quốc và những người ủng hộ ông mở rộng quyền hành trong quân đội. 
Ngoài ra, sau khi Tưởng Kinh Quốc rời chức vụ Giám Đốc, chính phủ cũng bổ nhiệm một số sĩ quan cao cấp vào chức vụ Giám đốc Tổng Nha Chiến Tranh Chính Trị. Ngoài ra, các sĩ quan chiến tranh chính trị trong mọi cấp của quân đội phải đảm trách nhiệm vụ tham mưu trưởng cho cấp chỉ huy trong những vấn đề liên quan đến chính trị. Những sự kiện đó trên một qui mô lớn giải trừ các hiềm khích giữa các sĩ quan với các chính trị viên. Kết quả là một lần nữa Tưởng Kinh Quốc lại củng cố được sự kiểm soát chính trị của ông với quân đội. 
Sau khi cha ông chết, Tưởng Kinh Quốc sẽ trở thành Tổng Thống trong vòng hai năm. Thời gian đó ông bành trướng quyền hạn tới mọi lãnh vực quân sự. Trong khi ông vẫn dựa vào các chính trị viên để kiểm soát quân đội, ông e ngại khi thấy nhóm sĩ quan trong tổ chức chiến tranh chính trị có quá nhiều quyền hành. Ông bắt đầu tước dần quyền của họ.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:56:15 am »

B.   quan điểm của Tưởng Kinh Quốc về Chiến Tranh Chính Trị
 Như đã đề cập trước đây, Tưởng Tổng Tài đã nói là chiến tranh hiện đại bao gồm quân bình các yếu tố quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý. Trên thực tế, ông vẫn tin rằng quân sự là yếu tố quan trọng nhất trong 4 yếu tố. 
Khi thảo luận về quan điểm chính trị, ông đưa ra hai mức độ. Với nhãn quan chặt chẽ thì chính trị gồm có chính trị quốc nội và chính trị quốc tế. Trên một quan điểm rộng rãi hơn, chính trị theo từ ngữ chiến tranh bao gồm mọi thứ trừ quân sự. Nó có cả kinh tế, tâm lý và xã hội. định nghĩa đó dự trên quan niệm về chiến tranh toàn diện của ông, trong đó ông định nghĩa là một cuộc chiến trong đó mọi người, mọi thứ trong nước phải trực tiếp hay gián tiếp tham gia. 
Dựa trên quan niệm đó, Tưởng Tổng Tài phát triển lý thuyết về chiến tranh chính trị của ông. 
a/ Định nghĩa Chiến Tranh Chính Trị 
Theo Tưởng Giới Thạch, chiến tranh chính trị bao gồm chiến tranh tâm lý, tổ chức và quần chúng cùng với hoạt động tình báo và mưu kế. Các hoạt động ngoại giao, kinh tế và xã hội cũng có thể được xếp loại vào chiến tranh chính trị. Do đó, ông đưa ra một định nghĩa như sau: ”ngoài những gì trực tiếp dùng vũ khí chống kẻ thù, các hoạt động khác đều có thể coi là chiến tranh chính trị”.
Để nhấn mạnh vào sự quan trọng của chiến tranh chính trị, Tưởng công còn nói thêm là ”mọi loại chiến tranh hiện đại, dù giới hạn hay toàn thể, chỉ có khi nào người ta thắng được mặt trận tâm lý thì các hoạt động võ trang mới hiệu quả. Do đó, một cuộc chiến hiện đại thực sự là chiến tranh chính trị”. Ông đặc biệt nhấn mạnh về các hoạt động hỗ tương giữa nhiều hoạt động khác nhau của chiến tranh chính trị. Ông nói: 
Một chiến dịch ý thức hệ chỉ có thể thực hiện được bằng chiến tranh tâm lý, trong khi chiến dịch tình báo chỉ thực hiện khi có đủ tin tức. Đối với chiến tranh tổ chức thì hoàn toàn dựa trên kết quả của chiến tranh đại chúng. Cho nên, khi bản thể là chiến tranh ý thức thì phương tiện dùng đến phải là chiến tranh tâm lý. Khi chiến tranh mưu kế là mục tiêu thì phương tiện là chiến tranh tình báo, khi chiến tranh đại chúng là cốt tủy của chiến dịch tổ chức thì nó được dùng làm phương tiện thiết yếu của chiến tranh ý thức và mưu kế. 
Trong khi các loại chiến tranh ý thức, mưu kế và tổ chức được dùng chủ yếu để định hướng tại mức độ chiến lược thì chiến tranh tâm lý, tình báo và đại chúng được áp dụng tại mức độ chiến thuật. Những loại chiến tranh đó có thể tiến hành bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, do bất cứ ai bằng bất cứ phương pháp nào và cũng có thể theo cách thông thường hay bất thường, trực tiếp và công khai hay bí mật và vô hình. Các loại chiến tranh đó đều là ”chiến tranh căn bản dựa trên trí thông minh nhưng cũng không loại bỏ trường hợp phải dùng sức bởi vì những loại chiến tranh đó dựa trên việc chứng tỏ sức mạnh mà không phải đánh hay bằng nổi dậy và bạo động có võ trang”.
  Các chiến dịch chính trị luôn luôn hiện hữu. Nó khởi sự trước khi chiến dịch quân sự bắt đầu và tiếp tục sau khi cuộc chiến chấm dứt. Chiến tranh chính trị sử dụng chiến tranh tâm lý, chiến tranh du kích và đặc công phá hoại hậu cần hay mặt tiền của địch. Cũng có thể áp dụng tại những vùng mới chiếm để ngăn chặn các toán du kích của địch khỏi gây rối. Chiến tranh chính trị không dựa trên sức mạnh mà dựa trên thông minh và khôn ngoan. Theo Tưởng Giới Thạch, chiến tranh chính trị là phần vụ tế nhị và cao siêu nhất của chiến tranh.
 b/ Chiến Tranh Đại Chúng 
Dựa trên sự giải thích của Tưởng Giới Thạch về ảnh hưởng hỗ tương giữa 6 loại chiến tranh chính trị, rõ ràng là chiến dịch chủ yếu tập trung vào chiến tranh đại chúng vì cả 6 loại, trừ chiến tranh mưu kế đều nhắm vào quần chúng hoặc do quần chúng đảm trách. Mục tiêu của chiến tranh tuyên truyền hay chiến tranh tâm lý là nhằm ảnh hưởng vào quần chúng. Chiến tranh tổ chức là nhằm xách động quần chúng chiến đấu cho một mục tiêu. Cho nên chiến tranh đại chúng là tâm điểm của chiến tranh chính trị.
 Xách động quần chúng là công tác thiết yếu của chiến tranh đại chúng đạt được bằng phương thức tổ chức và vận động. Trước khi đoàn ngũ hóa được quần chúng, họ cần được vận động bằng tuyên truyền hay thuyết phục. 
Khi thảo luận về vận động và tổ chức quần chúng, Tưởng Giới Thạch đề cập đến hai nguyên tắc mà trên một qui mô lớn tương tự như của Cộng Sản.
  Nguyên tắc thứ nhất là ”đi vào quần chúng”. Tưởng công nói rằng đây là ”lệnh và chí nguyện của Đảng ... Đó là bước đầu để tổ chức quần chúng”.
 Phương thức tổ chức quần chúng nổi tiếng của Cộng Sản bao gồm hai phần: từ quần chúng đi ra và trở lại với quần chúng. Nó đã được Cộng Sản đề ra như một tiến trình lý tưởng của việc đưa ra một chính sách. Trước khi đề ra một chính sách, các lãnh tụ Đảng đi tới quần chúng để thu thập tin tức hay lắng nghe những ý kiến của dân chúng địa phương: đây là tiến trình ghi nhận. Sau khi cân nhắc cẩn thận những ý kiến khác nhau của quần chúng, đảng ủy mới đề ra chính sách sơ khởi và đem trở lại để quần chúng thảo luận về giải pháp đó. Nếu có những phản ứng gì nổi bật đối với đề nghị đó, đảng sẽ lượng giá phản ứng của quần chúng để điều chỉnh hay sửa đổi những gì cần. Sau giai đoạn này, đảng sẽ dùng tuyên truyền để phổ biến bản sửa đổi đó cho quần chúng. Quần chúng sẽ chấp nhận và thi hành nghị quyết sau cùng đó. 
Mặc dầu Tưởng Giới Thạch không nói cách nào để việc đi vào quần chúng phù hợp với việc đề ra chính sách nhưng ông có nói là ”hoạt động của Đảng trong đại chúng không giới hạn vào việc lôi kéo họ mà phải phải làm thế nào để nhận được những tin tức cần thiết từ họ”. Nếu như thế Tưởng Giới Thạch cũng có khái niệm về vận động quần chúng trong đầu.
 Nguyên tắc thứ hai là một mặt trận thống nhất. Cộng Sản gọi là Thống Nhất Chiến Tuyến (Tongyi Zhanxian) trong khi Quốc Dân Đảng gọi là Liên Hợp Chiến Tuyến (Lianhe Zhanxian). Thật ra hai đảng cùng nói về một vấn đề.
Nếu người ta tin rằng nguyên tắc ”đi vào quần chúng” được đưa ra nhằm tổ chức thường dân, mặt trận thống nhất là một dụng cụ để tổ chức các nhóm chính trị -xã hội đặc biệt. Theo Tưởng Tổng Tài, mặt trận thống nhất căn bản nhắm vào các tổ chức chính trị hay đảng phái hoặc trung lập trong xung đột giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản hay chống Cộng nhưng độc lập với Quốc Dân Đảng. Chuyển hóa tính chất trung lập thành chống Cộng và kéo họ vào đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc Dân Đảng là mục tiêu chính yếu của mặt trận thống nhất.
”Chủ nghĩa trung lập” nếu là một chiến lược, có thể được dùng trong chiến tranh chính trị cho những mục tiêu khác nhau. Nếu có những phần tử chống Quốc Dân Đảng hay thân Cộng thì đảng trước hết thuyết phục họ để họ giữ trung lập ngõ hầu tránh được việc tạo thêm kẻ thù. 
Nếu nhóm đó giữ thái độ trung lập thì đảng sẽ dùng đủ cách có thể làm để đưa họ vào con đường thân Quốc gia. Ngoài ra, khi đảng trong vị thế phòng ngự, tổ chức đảng sẽ dùng chiến lược trung lập để bảo vệ các căn cứ nằm trong quần chúng. Chiến lược đó rất giống các chiến lược của Cộng Sản. 
Trong việc xách động quần chúng, Tưởng Giới Thạch biết rằng việc xách động đó không thể dùng như một công cụ mà phải nhắm vào việc nâng cao trình độ giác ngộ của quần chúng. Trong quá khứ, xách động quần chúng thường được coi là một trò ma tịt do một số tay chuyên nghiệp giỏi về mị dân. Khi màn trình diễn chấm dứt thì xách động cũng xong. Vì thế, Tưởng công đòi hỏi Quốc Dân Đảng đổi phương hướng. Đảng phải nhận thức được rằng quần chúng là mục tiêu thiết yếu của cách mạng và kiến quốc. Không có mục tiêu nào ngoài những gì quần chúng quan tâm.
 c/ Chiến tranh chính trị trong vùng địch
 Vào cuối thập niên 1950, chính phủ Quốc Dân Đảng tuyên bố là ”những nguyên tắc chiến lược của họ trong chiến tranh phản công chống lại chế độ Cộng Sản tại Hoa lục chủ yếu là một cuộc chiến tranh chính trị, quân sự chỉ đóng vai hỗ trợ”. Chiến trường chính là lục địa chứ không phải là eo biển Đài Loan vì đây chỉ là một hậu cứ yểm trợ các chiến dịch tại Hoa lục. 
Dựa trên viễn cảnh đó, Tưởng Giới Thạch tuyên bố thêm là cuộc chiến tranh cách mạng chống lại Cộng Sản trong tương lai sẽ được thực hiện trong lòng địch hay tại hậu cứ của địch. Ông khẳng định là phương pháp của ông sẽ tập trung 70% vào vùng địch chiếm và chỉ dùng 30% tại trận tiền. Ông còn tưởng tượng ra rằng khi chiến dịch trong lòng địch thành công, ông không những lấy được của địch lương thực mà cả súng ống đạn dược. Dưới con mắt của Tưởng Giới Thạch thì việc đó bảo đảm thắng lợi cuối cùng trong một cuộc chiến trường kỳ chống lại Cộng Sản. 
Từ nhãn quan chiến lược đó, ông đề ra nguyên tắc tối thượng đằng sau các chiến thuật chống Cộng là tấn công kẻ thù từ hông hay từ sau. Ông muốn làm cho địch hoang mang bằng cách tấn công từ phía sau và bên hông, sau đó sẽ phá hủy các cơ sở và chặt đứt các đường giao thông.
 Nói chung, tư tưởng của ông về việc đưa chiến tranh chính trị vào đằng sau địch là sản phẩm của hoàn cảnh. Sự chênh lệch về lực lượng giữa hai bên, sự thiếu yểm trợ tích cực của Hoa Kỳ và các quốc gia không Cộng Sản khác trong việc thực hiện một chiến dịch tấn công vào Hoa lục bắt buộc ông phải nhấn nạnh vào chiến tranh chính trị trong lục địa mà không chính thức phát động một hành vi quân sự nào. 
d/ Hành chánh Quân sự trong Khu vực Chiến tranh  Điểm sau cùng trong các quan niệm của Tưởng Giới Thạch về chiến tranh chính trị đáng đề cập đến ở đây là hành chánh quân sự trong khu vực chiến tranh.
 Quân chánh đã có từ lâu trong lịch sử. Tuy nhiên nếu được coi như một vấn đề có tầm kích quan trọng trong chiến tranh thì tương đối mới phát triển và là sản phẩm của thời đại ngày nay. Quân chánh tại khu vực chiến tranh thành công và nổi tiếng nhất trong lịch sử hiện đại là hành chánh quân sự tại Đức và Nhật do các lực lượng Đồng Minh thành lập cuối Thế Chiến Thứ Hai. Mục tiêu của hành chánh là giúp cho phục hồi trật tự xã hội và hành chánh địa phương, bắt giữ và xử các can phạm chiến tranh và bảo vệ xã hội khỏi bị phá hoại.
 Tại Trung Hoa mới, sau khi Cộng Sản đánh bại Quốc Dân Đảng, họ cũng thành lập quân chánh tại các vùng mới chinh phục nhất là các đô thị lớn. Họ gọi là Quân Quản tức là cai trị bởi quân đội. Quốc Dân Đảng thì mãi tới thập niên 1950 mới coi vấn đề quân chánh là quan trọng khi họ đặt vấn đề có thể sẽ phản công tái chiếm lục địa. Quân chánh lúc đó thuộc về Tổng Nha Công Tác Chính Trị.
 Dùng nguyên tắc của chiến tranh chính trị, Tưởng Giới Thạch định nghĩa quân chánh trong vùng chiến tranh như sau:
 Hành chánh quân sự trong vùng chiến tranh được xếp loại là một chiến dịch chính trị. Mọi người phải biết rằng chiến thắng quân sự chỉ là bước đầu, sự thành công của quân sự hành chánh mới thực sữ và là chiến thắng sau cùng. Cho nên, hành chánh quân sự quan trọng hơn chiến dịch quân sự. 
Vì hành chánh quân sự là một phần trách nhiệm của hệ thống chính ủy, do đó là nhiệm vụ của các chính trị viên. họ không những phải đảm nhiệm vai trò chính quyền địa phương và đảng bộ tại vùng mới khôi phục mà còn là nhân sự chính trong các công tác tổ chức, văn hóa, kinh tế trong thời kỳ tái thiết xã hội.
 Dựa trên quan diểm đó, khi chiến dịch quân sự kết thúc, việc đầu tiên của các chính trị viên phải làm là thành lập chính quyền địa phương và vãn hồi trật tự xã hội. Theo sau đó, chính quyền bắt đầu truy tầm các thành phần địch còn lẩn trốn và các kẻ phá hoại trị an khác. Sau khi tái lập trật tự, các cơ quan hành chánh bắt đầu các công tác tái thiết xã hội và kinh tế để yêm trợ cho chiến dịch quân sự đang tiềp diễn. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:57:02 am »

6.   KẾT LUẬN -ẢNH HƯỞNG CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH TRONG CANH TÂN HÓA QUÂN SỰ
 Tưởng Giới Thạch là một quân sự gia chuyên nghiệp đã tham gia hầu hết các cuộc chiến tranh lớn trong lịch sử Trung Hoa cận đại. Chính ông là người chỉ huy quân đội Dân Quốc thống nhất Trung Hoa và kháng Nhật nhưng lại thua Mao Trạch Đông trong trận Nội Chiến. Những gì được và mất của cá nhân ông ảnh hưởng lớn trên sự phát triển của lịch sử chính trị Trung Hoa trong những năm gần đây. Thật khó có thể đánh giá ông một cách khách quan vì có quá nhiều khuynh hướng có thể làm thiên lệch cái nhìn của người bình luận. 
Trong lịch sử Trung Hoa cận đại, Tưởng Giới Thạch là một khuôn mặt chủ chốt trong tiến trình canh tân hóa quân sự. Từ thời Dương Vụ vận động vào giữa thế kỷ 19, các nhà cải cách Trung Hoa đã cố gắng nhiều cách để canh tân hệ thống quân sự Trung Hoa, nhưng không đạt được một kết quả khả quan cho tới đầu thế kỷ này, khi Viên Thế Khải bắt đầu du nhập phương pháp quân sự của Tây Phương để huấn luyện tân quân. Đây là một bước nhảy vọt trong tiến trình hiện đại hóa.
Sau khi thống nhất một nước Trung Hoa bị các quân phiệt chia cắt thành nhiều mảnh, Tưởng Giới Thạch đã đứng vào một vị trí hết sức thuận lợi cho công cuộc canh tân quân sự và xây dựng một quân đội thống nhất. Tuy nhiên ông chỉ thành công phần nào. Lý do quan trọng nhất của kết quả bất như ý này tình trạng hỗn loạn bất tận về chính trị và quân sự của giai đoạn đó. Từ khi hành quân Bắc Phạt thành công vào năm 1928, Trung Hoa trải qua khoảng 20 cuộc nổi loạn, nội chiến và xâm lăng của nước ngoài trong vòng chưa đầy một thập niên. Có lần chỉ vài tháng, có lần cả vài năm. Có việc ảnh hưởng một địa bàn rộng lớn, lan ra vài ba tỉnh. Những tranh chấp nội bộ đó chỉ ngừng lại khi quốc gia bắt buộc phải tham gia một cuộc chiến tranh tổng thể với Nhật Bản sau biến cố Lư Cầu Kiều (Marco Polo bridge incident) ngày 7 tháng 7 năm 1937. Tám năm Trung -Nhật chiến tranh cộng thêm 4 năm nội chiến Quốc -Cộng đã không cho phép Tưởng Giới Thạch hoàn thành các chương trình cải cách quân sự.
Nước Tàu vốn dĩ đã gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng về tài chánh nay lại phải gánh vác các cuộc chiến liên tục nên rơi vào tình trạng vỡ nợ. Người ta nói rằng năm 1928, 80% ngân sách quốc gia tiêu vào quân sự. Có khoảng 3 triệu người lính phải nuôi và con số càng gia tăng trong thời Trung Nhật chiến tranh và Nội Chiến. 
Việc gia tăng quân số không đi đôi với phát triển kỹ nghệ quân sự nên không thể duy trì khả năng chiến đấu cho thích hợp. Để giải quyết vấn đề này, các giới chức quân sự không còn gì khác hơn là mua vũ khí của các lái buôn quốc tế hay nhận viện trợ từ nước ngoài. Khi vũ khí ngoại quốc tăng lên, thì cũng gia tăng cố vấn quân sự là những người được mời tới để giúp việc sử dụng các loại võ khí nhập cảng này. Các vũ khí nhập cảng càng làm cho việc tiêu chuẩn hóa vũ khí cho binh sĩ Trung Hoa thêm khó khăn. Ảnh hưởng của các cố vấn quân sự ngoại quốc cũng có thể làm cho tình trạng thêm phức tạp và trì hoãn việc tiến hành công cuộc hiện đại hóa quân sự. 
Những cố vấn đó cũng du nhập nhiều mô hình tổ chức cá biệt tại nhiều cấp độ khác nhau của quân đội Trung Hoa. Thế nhưng người Trung Hoa lại chẳng rành rẽ một loại mô hình nào. Khi liên quan đến huấn luyện chiến thuật chiến lược thì người Tàu hầu hết chỉ bắt chước các nước Tây phương mà không cải biến cho phù hợp với tình thề của Trung Hoa. Trong khi đó, nghệ thuật quân sự cổ truyền không còn được các sĩ quan trẻ quan tâm đến nữa. Thành thử, quân đội quốc gia cũng chẳng hơn gì quân lực của nhiều quốc gia mới giành độc lập vốn dĩ không được các chính quốc huấn luyện chu đáo về chiến thuật chiến lược.
 Sau khi chạy ra Đài Loan, Tưởng Giới Thạch không thể làm gì khác hơn là tùy thuộc vào sự yểm trợ về cả chính trị lẫn quân sự của người Mỹ. Quân đội Quốc Dân Đảng bắt đầu tiêu chuẩn hóa vũ khí dùng các vũ khí Hoa Kỳ. Họ cũng du nhập mô hình tổ chức và huấn luyện theo lối Mỹ. Một hệ thống giáo dục quân sự toàn bộ được thành lập. Các sĩ quan phải trải qua những khóa tái huấn luyện. Những công tác đó khiến cho quân đội Dân Quốc tiến bộ rõ rệt tương ứng với các vấn đề chiến lược chiến thuật. 
Ngoài ra, sau khi Trung Cộng thử trái bom nguyên tử đầu tiên năm 1964, Tưởng Giới Thạch quyết định thành lập các chương trình nghiên cứu riêng để phát triển các vũ khí tân tiến bao gồm cả vũ khí hạch tân, hỏa tiễn và hệ thống điện tử từ năm 1965. Ông tập trung nỗ lực của mười ngàn khoa học gia và kỹ thuật gia và đổ hàng trăm triệu dollars mỗi năm cho các dự án này. 
Theo các tổng kết trên báo chí, sau hai mươi năm làm việc tích cực, chính phủ Đài Loan đã đạt được những thành quả đáng khích lệ. Nhiều loại hỏa tiễn đã thực hiện thành công. Không quân Đài Loan cũng có một trong năm loại máy bay huấn luyện. Máy bay này gần đây đã được biến chế để thành chiến đấu cơ A3. Các xưởng đóng tàu của Đài Loan cũng sản xuất nhiều loại chiến hạm tối tân thay thế các tàu lỗi thời. Họ cũng đã chế tạo một loại chiến xa mãnh liệt cỡ trung có tên là M48H.
Để đánh dấu sự tiến bộ của Quốc Dân Đảng và tri ân sự lãnh đạo của cố Tổng Tài, Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Đài Loan mới đây đã đặt một máy phản lực do Dân Quốc chế tạo dùng trong chiến đấu cơ TFE-1042 trước mộ của Tưởng Giới Thạch.
Những thành tựu về phương diện vũ khí có lẽ chưa có thể cạnh tranh được với các siêu cường và cũng chưa làm cho Đài Loan không phải lệ thuộc vào cung cấp của nước ngoài và cũng chưa đủ hữu hiệu bảo vệ Đài Loan khỏi bị Cộng Sản xâm lấn. Thế nhưng trên nhãn quan lịch sử, người ta không thể không đồng ý rằng người Trung Hoa, bao gồm cả Đài Loan lẫn Hoa lục, đã đạt được một tiến bộ vượt bực trong kỹ nghệ quân sự từ khi có cuộc Dương Vụ Vận Động bắt đầu vào thập niên 1860 tới nay. Dù sao chăng nữa, Tưởng Giới Thạch đã đóng góp vào những thành tựu ấy.
  Là tổng tư lệnh quân đội Dân Quốc, trên nguyên tắc, Tưởng Giới Thạch là người có vai trò thích hợp nhất để thực hiện những phát triển đáng kể trong tư tưởng quân sự. Tuy nhiên, dù để lại nhiều công trình, những tác phẩm của ông không được phân minh và có sức thuyết phục như người ta chờ đợi ở một đại lãnh tụ. Tư tưởng của ông không được sắp xếp theo một cơ cấu hợp lý. Nhiều bàn luận thời gian đầu chỉ là phê bình liên quan đến một số vấn đề chứ không chứa đựng những nguyên tắc vĩ đại. Những công trình thực hiện tại Đài Loan đã cho thấy ông dành phần cuối của cuộc đời viết về quân sự nhất là triết học quân sự. Một số cố đưa ra những nguyên tắc chung trong khi một số khác nhằm giải quyết các vấn đề riêng biệt. Dù sao chăng nữa thì hầu hết đều chứng tỏ một khuynh hướng truyền thống. Nhiều thảo luận của ông về triết học, chiến lược, chiến thuật giống như những bài giảng nhập môn do môt giáo sư soạn. Những bài đó không cho thấy cái nhãn quan sắc bén mà người ta mong đợi ở một đại chiến lược gia khi bàn về vấn đề. Nhiều bài chỉ là những kiến thức căn bản mang tính lý đương nhiên. Ông dành nhiều thời giờ bàn về các vấn đề triết học để tăng cường tính tu dưỡng của các sĩ quan. Tuy nhiên, dường như ông quá cường điệu ảnh hưởng triết học đối với khả năng chỉ huy quân sự trong chiến tranh. Ông nói về một cuộc phản công chống lại Cộng Sản trong tương lai, nhưng không có gì chứng tỏ rằng quan điểm của ông về chiến tranh đã thay đổi nhiều. Thực thế, những chiến lược, chiến thuật mà ông thích đưa ra vẫn chỉ để đối phó với kẻ địch cũ dùng chiến thuật cũ.
Dù Tưởng Giới Thạch và quân đội của ông đã sao chép các hệ thống quân sự ngoại quốc trong một thời gian dài, tư tưởng của ông cũng thiếu sáng tạo đáp ứng những thay đổi phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ông vẫn đóng góp cho sự canh tân hóa quân sự của Trung Hoa. Sau nhiều thập niên nhận viện trợ quân sự của người Mỹ trong cả vũ khí lẫn huấn luyện, Tưởng Giới Thạch và các tướng lãnh của ông đã đạt tới trình độ trưởng thành. Họ đã thuần thục triết học quân sự Âu Tây và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc áp dụng. Với những thành tựu đó, không thể nào nghi ngờ gì về khả năng của họ đi từ giai đoạn sao chép sang giai đoạn tự tìm kiếm những phát kiến trong lãnh vực này. Tưởng Giới Thạch đã bắt đầu phê phán sự yếu kém về chiến lược của kẻ đỡ đầu cũ là người Mỹ. Cho nên, sau khi duyệt lại sự phát triển về tư tưởng quân sự của ông so sánh với các giai đoạn trước đó, chúng ta có thể nói rằng Tưởng Giới Thạch đã đưa quân đội Dân Quốc từ một giai đoạn chỉ biết bắt chước hệ thống ngoại quốc sang giai đoạn có thể tự tìm lấy phương thức riêng để thích ứng với hoàn cảnh đặc thù của mình.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:57:35 am »

Chương 6: Tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông
Cuộc cách mạng vô sản Nga thành công năm 1917 đã có một ảnh hưởng hết sức to lớn đối với giới trí thức Trung Hoa lúc ấy đang đấu tranh cam go với vấn đề quân phiệt. Cuộc Ngũ Tứ Vận Động (May 4th Movement) càng làm cho người Trung Hoa nhìn ra nước ngoài để tìm kiếm những mô thức mới về văn hóa và chính trị. Sự thành tựu mau chóng của cuộc Cách Mạng Nga đã lôi cuốn sự chú ý của sĩ phu Trung Hoa và chẳng mấy chốc, chủ nghĩa Mác Xít đã được họ đón nhận như một mô thức mới thay thế cho cuộc Cách Mạng Tân Hợi. Ngay cả Bác Sĩ Tôn Dật Tiên cũng ngạc nhiên về sự thành công của Liên Xô nên gửi Tướng Tưởng Giới Thạch hướng dẫn một phái đoàn du hành quan sát sang Liên Bang Xô Viết năm 1923 và sau đó đã thiết lập quan hệ ngoại giao. Với các khích lệ và cơ hội như thế, Cộng Sản không ngại ngùng gì mà không bành trướng chủ nghĩa Mác sang Trung Hoa. Được sự giúp đỡ của các cán bộ Cộng Sản Quốc Tế (Comintern) như Gregory Voitinsky, Henricus Sneevliet (còn gọi là Maring), một nhóm nhỏ trí thức Trung Hoa thành lập Đảng Cộng Sản Trung Hoa vào tháng 5 năm 1921, và tổ chức một cuộc họp gồm 12 đại biểu vào tháng 7 cùng năm tại Thượng Hải. Buổi họp đó sau này được coi là đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Đảng và Mao Trạch Đông là một trong 12 đại biểu đầu tiên. 
Chỉ hai năm sau khi thành lập, một lần nữa có sự yểm trợ của đại biểu Cộng Sản quốc tế, đảng Cộng Sản Trung Hoa bắt đầu hợp tác với Quốc Dân Đảng. Các đảng viên đảng Cộng Sản Trung Hoa được quyền gia nhập Quốc Dân Đảng. Sau khi tái tổ chức, Quốc Dân Đảng họp đại hội toàn quốc lần thứ nhất vào tháng giêng năm 1924, Mao Trạch Đông và nhiều lãnh tụ Cộng Sản được bầu vào Ủy Ban Trung Ương. Sự hợp tác đó không được lâu nhưng nó đã mở cửa cho Đảng Cộng Sản Trung Hoa bước chân vào chính trường. 
Sau khi hợp tác Quốc -Cộng sụp đổ năm 1927, các đảng viên Cộng Sản bị loại trừ một cách triệt để khỏi Quốc Dân Đảng. Nhiều đảng viên bị giết trong cuộc Chính Biến Tháng Tư. Mao Trạch Đông chạy được về Tỉnh Cương Sơn (Jinggangshan) cùng với một nhóm nhỏ dân quân nhưng về sau có Chu Đức (Zhu De) và nhiều lãnh tụ khác sáp nhập. Một chế độ Cộng Sản tách biệt có vũ trang được thành lập trong vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam. Từ đó trở đi, Mao tiến lên thành phần lãnh đạo của Cộng Sản Trung Hoa và chẳng mấy chốc ảnh hưởng đã lan khắp nước và thế giới. Trong công cuộc chiến đấu với kẻ thù không đội trời chung là Tưởng Giới Thạch, Mao đã ngự trị chính đàn Trung Hoa suốt 50 năm. Cũng chính trong giai đoạn chống nhau với Tưởng mà tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông bắt đầu hình thành. 
Các cuộc chinh chiến tại Trung Hoa chống lại chủ nghĩa đế quốc của nước ngoài cũng như giữa các thế lực thù địch bên trong đã đưa công cuộc hiện đại hóa tiến lên mấy bước, hoàn toàn thoát khỏi được giai đoạn chỉ biết sao chép các hệ thống của ngoại quốc. Phần lớn các thành tích đó là của phe Mao và đảng Cộng Sản vì họ bị cô lập trong nội địa và bắt buộc phải chiến đấu để sống còn mà không nhận được nhiều giúp đỡ từ bên ngoài. Cho nên tư tưởng của Mao cũng ít bị ảnh hưởng tư tưởng quân sự ngoại quốc. Tuy thế, Mao vẫn dựa trên ý thức căn bản Mác Xít, dùng duy vật biện chứng làm phương pháp khai triển các chiến lược và chiến thuật. Ngoài ra, các yếu tố xã hội -chính trị đương thời cũng ảnh hưởng đến tư tưởng quân sự của Mao.
1.   BỐI CẢNH XÃ HỘI -CHÍNH TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ MAO TRẠCH ĐÔNG
A.   Giáo dục và Hoạt động Chính Trị lúc Thiếu thời
 Mao Trạch Đông sinh năm 1893 trong một gia đình nông dân tại huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam miền giữa Trung Hoa. Khi còn nhỏ, ông ta nhận thức được cái nhục thua trận của Trung Hoa trong Trung Nhật chiến tranh năm 1984, sự thất bại của cải cách đời vua Quang Tự (Guangxu) năm 1898 và loạn lạc thời Quyền Phỉ và Bát Quốc Liên Quân năm 1900. Những biến cố nhục nhã đó đã làm ông ta gia nhập quân đội cách mạng chống lại Thanh triều khi Cách Mạng Dân quốc xảy ra năm 1911. Tuy nhiên, khác với Tưởng Giới Thạch là Mao không cố gắng theo đuổi binh nghiệp bằng cách ghi tên theo học một trường võ bị và chỉ ở trong quân đội vài ba tháng. Thay vào đó, ông theo học trường Cải Cách đầu tiên ở Tràng Sa năm 1913 nơi ông gặp được người thầy và cũng là nhạc phụ tương lai, Dương Xương Tế (Yang Changji). Dương không những dạy ông ta về triết học Trung Hoa mà còn giảng về triết học Tây Phương và quan trọng hơn cả, cho ông ta đọc các tạp chí như Tân Thanh Niên (Xin Qing Nian), một tờ báo được nhiều người đọc do Trần Độc Tú (Chen Duxiu), Khoa Trưởng Văn Chương đại học Bắc Kinh làm chủ nhiệm. Trần sau này là lãnh tụ đầu tiên của Đảng Cộng Sản Trung Hoa.
 Sau khi thuyên chuyển đến đại học Bắc Kinh, Dương Xương Tế giới thiệu Mao cho Lý Đại Chiêu (Li Dazhao), Giám Đốc Thư Viện Đại Học để cho Mao làm phụ tá quản thủ năm 1919. Từ đó Mao Trạch Đông bắt đầu đọc về chủ nghĩa vô chính phủ và gia nhập một nhóm nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội do Lý Đại Chiêu và Trần Độc Tú bảo trợ. Hoạt động đó ảnh hưởng sâu rộng đối với Mao và đưa ông ta tới việc dấn thân vào Cách Mạng Cộng Sản suốt cuộc đời. 
Sau Ngũ Tứ Vận Động, Mao bắt đầu hoạt động trong các công tác xã hội -chính trị đầu tiên là tại tỉnh nhà Hồ Nam. Ông thành lập Tương giang Bình Luận (Xiangjiang Pinglun), một tờ báo tuyên truyền cho ý nghĩa của cuộc vận động ngũ tứ. Mao cũng tổ chức biểu tình phản đối các chế độ quân phiệt địa phương và sự áp bức của người Nhật ở Tràng Sa. Năm 1920, ông tổ chức một nhóm Cộng Sản tại Hồ Nam và hoạt động trong phong trào công nhân, do đó đã được tham dự Đại Hội Đảng Cộng Sản lần thứ nhất năm 1921 tại Thượng Hải. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #54 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:58:03 am »

B.   Ảnh hưởng của Quân Sự cổ điển Trung Hoa với Mao Trạch Đông
Trước khi được theo đuổi học trình chính thức tại các trường công, Mao Trạch Đông rất ham mê đọc các truyện cổ Trung Hoa và từ đó ông học được các tư tưởng quân sự cổ điển và lịch sử quân sự. Các bộ tiểu thuyết ông ưa thích là Tam Quốc Chí và Thủy Hử. 
Tam Quốc Chí không chỉ là một tác phẩm văn chương trác tuyệt mà còn là một tác phẩm chứa đựng nhiều lý thuyết quân sự Trung Hoa cổ điển. Các nguyên tắc Kỳ Chính, Hư Thực vốn dĩ là các nguyên tắc chính yếu của Tôn Tử Binh Pháp, được áp dụng một cách lớp lang cho các hoạt động quân sự trong sách này. Thông thường nhất của nguyên tắc Hư Thực là khi Thực thì làm như hư và ngược lại khi Hư thì giả như Thực. Tác giả không những áp dụng nguyên tắc này cho hầu hết các chiến dịch trong sách mà còn đánh lừa thêm một mức nữa. Ông cho rằng có thể địch đoán ra mình đánh lừa nên đôi khi phải ”khi mình thực thì cứ làm như là thực, và khi mình hư thì cứ làm như là hư”.
 Người ta bảo rằng Mao đọc Tam Quốc Chí giống như các dữ kiện lịch sử nên không đặt câu hỏi là các biến cố đó có thực hay không. Khi một giáo sư sử ký nói rằng đây chỉ là một cuốn truyện chứ không phải lịch sử, Mao đã vận động một số bạn học phản đối. Ông còn kiện lên tới ông Thị Trưởng Tràng Sa, đòi cách chức ông hiệu trưởng vì ông hiệu trưởng cùng phe với thầy giáo. Sự kiện đó không những nói lên tính cứng đầu cứng cổ của Mao mà còn khiến chúng ta ngạc nhiên vì Mao chấp nhận các quan điểm của cuốn sách không nghi vấn. 
Thủy Hử có lẽ là cuốn sách thứ hai ảnh hưởng đến tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông chỉ sau Tam Quốc Chí. Trong vài trường hợp, Mao đã nhắc lại một số ví dụ ở đây để giải thích các chiến lược, chiến thuật ông dùng. Chẳng hạn cuộc tấn công vào Chúc gia trang được coi như một mô hình lý tưởng để làm cách nào một cấp chỉ huy chọn chiến thuật sao cho thích hợp với tình thế trước mặt. 
Mặc dầu Mao quả quyết rằng ông chỉ đọc Tôn Tử Binh Pháp có một lần trước khi ông viết các thiên nghị luận về quân sự có lẽ cốt phủ nhận là ông bị ảnh hưởng bởi cuốn sách, nhưng chúng ta lại thấy ông gián tiếp nhận những bài học từ cuốn sách danh tiếng này. Những lý thuyết quân sự của Tôn Tử chẳng những được La Quán Trung mô tả đầy rẫy trong Tam Quốc Chí mà còn hiện diện trong rất nhiều sách sử ký và văn chương khác. Nếu ai từng đọc Mao cũng phải công nhận rằng ông có một kiến thức rộng rãi về lịch sử Trung Hoa và thừa kế truyền thống văn hóa nước Tàu một cách chọn lọc. Câu nói sau đây ngoài việc chứng tỏ thái độ của ông với lịch sử và văn hóa mà còn nói lên ông chỉ muốn du nhập lý thuyết Mác Xít -Lên nin nít vào văn hóa Trung Hoa trong những hoàn cảnh đặc biệt:
 ... Nhiệm vụ của chúng ta là học tập truyền thống lịch sử và dùng phương pháp Mác Xít để phê phán tổng hợp nó. Lịch sử chúng ta đã có mấy nghìn năm, có những nét đặc thù và vô số điều quí báu... Lịch sử Trung Hoa cận đại phát xuất từ Trung Hoa trong quá khứ, những người Mác Xít chúng ta trên con đường làm lịch sử thì không thể bỏ quên lịch sử. Chúng ta tổng kết lịch sử từ Khổng Tử tới Tôn Dật Tiên và thừa hưởng gia tài quí giá của họ... Chúng ta chỉ có thể thực hành chủ nghĩa Mác khi nào chúng ta nối kết được với những tính chất đặc thù của đất nước và đạt được một hình thái hoàn toàn quốc gia. 
Với cái nhìn về quá khứ như thế, thật khó mà tin rằng Mao không chịu ảnh hưởng các lý thuyết của Tôn Tử hay các chiến lược gia quân sự cổ thời khác.
 Mao thừa kế những gì từ triết học quân sự cổ điển của Trung Hoa là một đề tài còn phải thảo luận nhưng hầu hết các học giả đều đồng ý trên hai phương diện: việc nhấn mạnh vào yếu tố con người trong chiến tranh, và du kích hay chiến tranh lưu động. Nguyên tắc thứ nhất không những khiến cho các chiến lược quân sự của Mao thích hợp với tình trạng thực tế về xã hội -kinh tế của Trung Hoa cận đại mà còn hỗ trợ cho lý thuyết về vận động chính trị quần chúng và dân quân mà Chiến Tranh Nhân Dân đòi hỏi. Cộng Sản bắt mọi người hoặc gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia vào nỗ lực chiến tranh.
 Chiến thuật du kích và chiến tranh lưu động của Mao cũng chủ yếu dựa trên tư tưởng Tôn Tử. Như đã đề cập trong chương 2, Tôn Tử tin rằng mọi loại chiến tranh đều phải đánh lừa. Cho nên ”khi có khả năng thì làm như yếu đuối, khi hoạt động thì làm như bất động. Khi địch tập trung thì chuẩn bị để chống họ. Chỗ nào địch mạnh thì mình tránh... Tấn cộng khi địch không phòng bị, bất ngờ khi địch không mong đợi ”1 
Người nào đọc kỹ cũng có thể tìm thấy những sự tương đồng giữa lời Tôn Tử và công thức về chiến thuật du kích của Mao viết khi còn ở Tỉnh Cương Sơn:
Địch tiến thì ta rút lui, địch dừng lại đóng trại thì ta quấy phá, địch mỏi mệt không muốn đánh thì ta tấn công, địch rút lui thì ta truy kích.2 
1Quỷ đạo giả, cố năng nhi thị chi bất năng, dụng nhi thụ chi bất dụng. Thực nhi bị chi, cường nhi tị chi... Công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý... Tôn Tử Binh Pháp, Thủy Kế Thiên 2Địch tiến, ngã thoái -Địch đình, ngã loạn -Địch tị, ngã công -Địch thoái, ngã truy
Cũng như nhiều binh gia Trung Hoa khác, Mao cũng dùng những câu ”quấy nhiễu ở bên đông nhưng tấn công ở bên tây, xuất hiện ở bên nam nhưng lại ở bên bắc” để nói về các chiến thuật làm địch hoang mang. Đó cũng là những áp dụng của thiên mưu công.
Ngoài ra Mao cũng rút tỉa một phần từ các cổ thư Trung Hoa trong đó có ghi những trận đánh lớn thời xưa. Cuộc chiến giữa nước Tề với nước Lỗ đời Xuân Thu chép trong Tả Truyện (Duo Zhuan) là một thí dụ mà Mao dùng về môt lực lượng yếu đánh bại môt lực lượng mạnh. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #55 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:58:37 am »

C.   Ảnh hưởng của Tư tưởng ngoại quốc -chủ nghĩa Mác
Không ai thể ngờ gì về việc Mao bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chủ nghĩa Mác. Vấn đề là lý thuyết Mác đã ảnh hưởng những gì tới tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông. Theo Stuart Schram, Mao chỉ là một triết gia Mác Xít loại thường, chẳng đóng góp gì đáng kể trong phần hình nhi thượng trừu tượng của chủ nghĩa này. Tuy nhiên, từ những tác phẩm của ông người ta thấy Mao không mấy quan tâm đến phần lý thuyết thuần túy, mà trái lại có khuynh hướng nối kết mọi vấn đề vào đấu tranh giai cấp và một số giá trị khác.
 Schram vì thế không sai khi phê bình Mao không có tính chất triết gia. Thực ra, Mao cũng đã nói rõ là ông ta học chủ nghĩa Mác -Lê chỉ để ”học một khoa học làm cách mạng”. Vì thế không những ông ta muốn học các nghiên cứu cặn kẽ của lý thuyết này về đời sống thực và kinh nghiệm cách mạng ”mà còn muốn học những lập trường cùng phương pháp tìm hiểu và giải quyết vấn đề”. 
Thái độ đó cũng tìm thấy được ở một trong số vài bài luận thuyết ông viết, trong đó Mao đặc biệt nhấn mạnh việc áp dụng luật mâu thuẫn trong chiến lược quân sự: 
Trong chiến tranh, công và thủ, tiến và thoái, thắng và bại đều là những hình thái hỗ tương đối nghịch. Cái này không thể hiện hữu nếu không có cái kia. Hai mặt đó đối chọi nhưng đồng thời hỗ tương lệ thuộc lẫn nhau và điều đó nói lên toàn thể tính của một cuộc chiến, thúc đẩy cho nó phát triển và giải quyết những vấn đề nó đẻ ra.
 Dựa trên nhận thức đó, Mao đã nhấn mạnh về đặc tính của mâu thuẫn để giải quyết vấn đề cách mạng đặc thù của Trung Hoa. Khi phê bình chủ nghĩa giáo điều trong đảng Cộng Sản, ông nhấn mạnh về sự quan trọng của ”học tập tính đặc biệt của mâu thuẫn trong những sự vật vững chắc mà chúng ta phải đối diện ngõ hầu tìm cách thực hiện con đường cách mạng”.
Từ những thí dụ trên, chúng ta có thể nói rằng ảnh hưởng tiên khởi của chủ nghĩa Mác -Lê đối với tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông là phương pháp luận của nó. Nhận định đó có thể xác định bằng chính bài viết của ông ta nhan đề ”Các vấn đề của chiến lược đấu tranh cách mạng Trung Hoa”, trong đó ông hoàn toàn áp dụng duy vật biện chứng pháp để phân tích chiến tranh cách mạng Trung Hoa, từ luật chiến tranh đến chiến lược, chiến thuật, từ nguyên tắc tổng quát đến các tình trạng đặc biệt. Những thí dụ tương tự cũng có thể tìm thấy trong các luận văn khác như ”Các vấn đề của Chiến Lược Du Kích kháng Nhật”, ”Trường Kỳ Kháng Chiến”, và ”Các vấn đề Đấu Tranh và Chiến Lược”. 
Ngoài ảnh hưởng về phương pháp luận, Mao cũng đã hoàn toàn gắn liền chủ thuyết Mác -Lê Nin với chiến tranh du kích và hệ thống dân quân trong tư tưởng quân sự của ông. Trong lời giới thiệu tác phẩm Mao Trạch Đông bàn về Chiến Tranh Du Kích (Mao Tsetung on Guerilla Warfare), S. Griffith đã cho rằng các lý thuyết chiến lược, chiến thuật của Mao, dưới sự soi sáng của luật mâu thuẫn, dường như áp dụng quan niệm triết học cổ điển của Trung Hoa về Âm Dương thể hiện hai đối cực, đại diện cho nam nữ, sáng tối, nóng lạnh, tiêu trưởng. 
Nói chung, Mao kế thừa các quan niệm về bản chất, xếp loại và nhiều vấn đề khác nói về tri thức luận chiến tranh từ chủ nghĩa Mác. Tuy nhiên, Mao cũng chấp nhận chặt chẽ định nghĩa của Clausewitz về tương quan giữa chiến tranh và chính trị. 
D.   Ảnh hưởng của tình trạng Kinh Tế trên tư tưởng của Mao Trạch Đông
 Tình trạng vật chất thường quyết định đến kết quả của chiến tranh. Tôn Tử đã viết từ 500 năm trước Tây lịch là ”một đội quân thiếu trang bị nặng, cỏ khô, lương thực và tiếp liệu sẽ thất trận”. Khi quân đội ra trận, vấn đề tiếp liệu càng trở nên phức tạp và tốn phí. Lương thực nếu phải chở hàng ngàn dặm ới tới mặt trận. Ngoài ra, các chi phí ở nhà cũng như tại trận tiền, lương bổng và bảo trì cùng các phí tổn khác có thể ”tới mức một ngàn lượng vàng một ngày. Có được khoản tiền đó thì mới nói tới chuyện thành lập một đạo quân mười vạn người”. 
Vì sự lan rộng mọi phạm vi chiến tranh và sự phát triển kỹ thuật mới, một cuộc chiến hiện đại có thể vô cùng tốn phí và ảnh hưởng của điều kiện vật chất đối với kết quả cuộc chiến còn đễ đoán hơn thời trước. 
Là một người Mác xít, Mao hoàn toàn nhận thức được sự kiện là điều kiện vật chất trên một qui mô lớn có thể quyết định được chiến cuộc. Tuy nhiên, trong hầu hết cuộc đời lãnh đạo quân sự, ông phải bắt buộc chiến đấu trong môt tình trạng vật chất hết sức yếu kém. Trong cuộc chống càn bao vây trấn áp tại vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam, Hồng quân lúc ấy còn non nớt đã bị quân đội Quốc Dân Đảng cướp hết toàn bộ lương thực và vũ khí. tuy nhiên họ vẫn phải chiến đấu để sống còn. Một tình trạng tương tự cũng xảy ra hồi chiến tranh Trung Nhật tại vùng biên giới nơi chính quyền Cộng Sản và quân du kích trú đóng. Các đường tiếp tế của Cộng Sản thường bị Quốc Dân Đảng và quân Nhật cắt đứt. Để giải quyết vấn đề lương thực, Mao thực hiện thành công một số chính sách tại vùng biên cương. Chẳng hạn ông tung ra một chiến dịch xã hội vận động nông dân gia tăng sản xuất và ra lệnh cho đảng thi hành chính sách ”chiến đấu giỏi hơn, hành chánh giản dị hơn”. Chính sách đó nhằm củng cố quân đội bằng cách giảm nhân viên hành chánh và chi tiêu. 
Ông cũng ra lệnh cho Hồng quân khai phá đất hoang để cày cấy hầu có thể tự túc về lương thực. Đồng thời, ông áp dụng phương cách tương trợ cổ truyền của nông dân ở vùng Bắc Thiểm Tây để bành trướng lực lượng từ mặt nông nghiệp. Mao gọi đường lối này là Lao Võ kết hợp (Laowu Jiehe) có nghĩa là kết hợp nhiệm vụ lao động với công tác quân sự. Nhờ cách đó chẳng những ông có thể giải quyết được vấn đề lương thực tại mạn biên giới mà còn củng cố chế độ Cộng Sản và lực lượng quân sự đến một mức độ đáng kể. Tuy nhiên, để vượt qua được những cách biệt về nhân số cũng như vũ khí giữa Hồng quân và lực lượng Quốc Dân Đảng, Mao phải kêu gọi các tướng lãnh của ông sáng tạo các chiến thuật chiến lược mới. Ông nhận chân được vai trò quyết định của vật chất trong thắng bại nhưng theo đường lối cổ truyền là nhấn mạnh vào yếu tố con người trong chiến đấu. Mao viết:
Không thể nghi ngờ gì, thắng hay bại quyết định chính yếu bởi quân sự, chính trị, kinh tế và những điều kiện địa lợi của cả hai bên. Thế nhưng bấy nhiêu chưa đủ. Nó còn được quyết định bằng khả năng điều động chiến đấu chủ quan của mỗi bên. Muốn thắng trận, một quân nhân không thể vượt qua được những giới hạn của những điều kiện vật chất nhưng nhất định phải thắng bằng được trong phạm vi những giới hạn này. Khi nói về vai trò của con người, Mao không quá nhấn mạnh vào sức mạnh tinh thần như Tưởng Giới Thạch. Ông chỉ cố làm sao để dùng được các chiến thuật, chiến lược để lướt thắng những bất lợi vật chất mà thôi. Chiến lược du kích và chiến tranh lưu động, tập trung để có ưu thế quân số trong chiến dịch, nhấn mạnh vào hành quân ban đêm, tấn công bất ngờ, dân chủ quân đội, hệ thống chính trị viên trong quân ngũ và việc động viên võ trang quần chúng để yểm trợ mặt trận đều được đề ra nhằm thay đổi những tình trạng bất lợi của Hồng quân. Đó chính là tinh hoa của chiến tranh nhân dân.
E.   Cá tính con người Mao và tư tưởng quân sự
Schram nói rằng muốn tìm hiểu tư tưởng của họ Mao thì phải nối kết các tư tưởng hiện thời của các nước ngoài cùng truyền thống của Trung Hoa và cá tính của chính con người ông ta. 
Các nhà viết tiểu sử về Mao cũng như các học giả nghiên cứu về Trung Hoa thường kể lại những câu chuyện thuở thiếu thời để dựa vào đó móc nối với các tư tưởng của ông sau này kể cả tư tưởng quân sự mà cho rằng thể hiện từ tấm bé. Thật thế, Mao đã biết cách dùng quan điểm liên minh trong gia đình giữa mẹ và các anh chị em ông để chống lại người cha độc đoán. Ông cũng biết dùng chiến lược đe dọa để bắt cha ông chiều ý mình. Ông rất ghét làm ruộng nhưng rất thích đọc sử như Tam Quốc là những chứng cớ về khuynh hướng khi còn nhỏ đã định ra cuộc đời sau này. 
Một vài nhà nghiên cứu từ các mẩu chuyện này lại đi đến những kết luận khác nhau, nhưng không ai phủ nhận được Mao đã chứng tỏ có một khuynh hướng quan sát và phân tích các đối tượng chung quanh để khai thác bằng chính chiến lược của mình từ khi còn là một cậu bé con. Cho nên cũng không sai nếu nói Mao từ bản chất đã là một chiến lược gia. Truyền thống quân sự Trung Hoa rút ra từ Tam Quốc và phương pháp học từ duy vật biện chứng chỉ giúp ông ta phát huy khả năng tiềm tàng của một con người lỗi lạc.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #56 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 12:59:53 am »

2.   NHẬN THỨC LUẬN CỦA MAO VỀ CHIẾN TRANH
 Sau một thời gian dài loạn lạc, con người phải chịu nhiều đau thương thường tự hỏi cái gì đã gây ra chiến tranh? Hơn nữa, người ta lại hỏi Những ai tham gia? Bản chất chiến tranh là gì? Đó là những câu hỏi liên quan đến nhận thức luận (epistemology) về chiến tranh. Một chiến lược gia hay một chính trị gia cũng đặt những câu hỏi đó nhưng lại vì những lý do khác. Họ phải đối phó với chiến tranh và phải cố làm sao thắng trận. Thành thử, họ cần phải phân tích cho tường tận để đưa ra một chiến lược cho thích hợp. Vì thế chúng ta cần biết nhận thức của Mao về chiến tranh. 
A.   Nguyên nhân của Chiến Tranh
 Như đề cập tới trước đây, Mao tin rằng chiến tranh là sự nối dài của chính trị. Tuy nhiên, chiến tranh có những bản sắc riêng nên không thể đồng đẳng với chính trị trên bình diện tổng quát. Do đó, ông ta tin rằng ”chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác”. Để phân biệt hai chữ ”phương tiện”, Mao nói rằng ”khi chính trị phát triển tới một mức độ nào đó mà không thể vượt qua được bằng những phương tiện thông thường thì chiến tranh xảy ra để quét sạch những chướng ngại cản đường nó”. Ông cũng không giới hạn chiến tranh vào những xung đột quân sự trực tiếp, mà nhấn mạnh vào điểm dùng vũ khí làm phương tiện sau cùng để giải quyết vấn đề. Và vì thế, Mao viết ”chính trị là chiến tranh không đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu”. Quan niệm ”chiến tranh là phương tiện của chính trị để đạt những mục tiêu chính trị” được Clausewitz đưa ra được Lenin và các lý thuyết gia Cộng Sản khác lập lại. Và Mao cũng thừa hưởng của Lenin. Tuy nhiên, một quan điểm tương tự như thế cũng đã hiện hữu ở Trung Hoa trước khi Clausewitz và Lenin nói tới từ lâu. 
Theo Tư Mã Pháp, chiến tranh là phương cách để người cầm quyền cai trị quốc gia phải dùng đến khi các phương thức thông thường để đạt các mục tiêu chính trị không hữu hiệu. Phương thức thông thường là cai trị bằng nhân đức. Trong thời kỳ loạn lạc, người cai trị có thể dùng bạo lực để trấn áp ngõ hầu phục hồi trật tự xã hội.
 Theo lý thuyết Marx Lenin thì chiến tranh là cao điểm của sự phát triển các mâu thuẫn của xã hội mà theo duy vật biện chứng thì tồn tại trong mọi vật.
 Mặc dầu mâu thuẫn là một hiện tượng phổ quát nhưng sự phát triển của nó gia tăng nhanh chóng trong những xã hội có quan niệm tư hữu. Thật vậy, khi con người bắt đầu tranh chấp về sở hữu thì chiến tranh không thể nào tránh khỏi. Cho nên, theo Lenin, quyền tư hữu là nguồn gốc của chiến tranh và khi nào hay ở đâu nó còn tồn tại thì chiến tranh còn tồn tại.
 Khi mâu thuẫn xã hội tới một mức độ nào đó, thì nó trở thành đấu tranh giữa các nhóm người khác nhau chi phối hoàn toàn sự phát triển của lịch sử loài người. Marx gọi đó là đấu tranh giai cấp. Ông ta viết trong Tuyên Ngôn Cộng Sản (Manifesto of the Communist Party):
Lịch sử của mọi xã hội hiện hữu là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Người tự do và kẻ nô lệ, quí tộc và bình dân, lãnh chúa và nông nô, chủ xưởng và thợ thuyền hay nói chung là kẻ áp bức và người bị áp bức, lúc nào cũng ở thế đối nghịch, tiến hành một cuộc chiến liên tục khi ngấm ngầm, khi công khai. Cuộc chiến đó chỉ có thể chấm dứt hoặc bằng một cuộc cách mạng tái cấu trúc, hoặc phải xóa bỏ toàn bộ mọi giai cấp. 
Mao cũng đi xa hơn khi phát biểu chung về bản chất và nguồn gốc của chiến tranh.  Chiến tranh là hình thái đấu tranh cao cấp nhất để giải quyết các mâu thuẫn khi đã phát triển đến một mức độ nào đó giữa các giai cấp, quốc gia, tiểu bang hay các nhóm chính trị vì nó đã hiện hữu từ khi xuất hiện tư hữu và giai cấp. 
Mặc dù các Mác xít gia tin rằng tư hữu thúc đẩy sự phát triển mâu thuẫn trong xã hội, và mâu thuẫn đó khi lên cao trở thành cách biệt giai cấp, thù hận và chiến tranh nhưng họ không khẳng quyết rằng tư hữu là nguyên nhân duy nhất của chiến tranh. Còn nhiều yếu tố khác tác động vào sự phát triển của mâu thuẫn và do đó đưa đến chiến tranh. Các chiến lược gia Trung Hoa thời cổ như Ngô Tử chẳng hạn cho rằng có 5 động lực thúc đẩy một chư hầu gây chiến là tiếng tăm, lợi lộc, thù oán, bất ổn nội bộ và đói kém. Một vài tranh chấp không do tham vọng kinh tế hay lãnh tổ trực tiếp thúc đẩy nên Ngô Tử đã phân loại chiến tranh ra chiến tranh công chính, chiến tranh xâm lược, chiến tranh thịnh nộ và chiến tranh dấy loạn. Chiến tranh dùng để trấn áp bạo lực tái lập trật tự được coi là công chính, các loại chiến tranh khác không phải là công chính. Mao cũng đi đến một kết luận tương tự về xếp loại chiến tranh mặc dù dưới nhãn quan khác. Ông ta cũng chia thành chiến tranh công chính và chiến tranh không công chính.
B.   Chiến tranh công chính và không công chính
 Mao viết: Trong lịch sử chỉ có hai loại chiến tranh, công chính và không công chính. Chúng ta ủng hộ chiến tranh công chính và chống lại chiến tranh không công chính. 
Định nghĩa của Mao về công chính và không công chính căn cứ vào chiến tranh đó có phải là chiến tranh cách mạng hay không vì theo ông ta mọi loại chiến tranh phản cách mạng đều không công chính, mọi loại chiến tranh cách mạng đều công chính. Dựa trên giả định đó, ông kêu gọi mọi người chống lại chiến tranh không công chính và ủng hộ chiến tranh công chính. 
Những người Mác xít cho rằng ”quốc gia” chẳng qua chỉ là sản phẩm của giai cấp, là công cụ áp bức của giai cấp này đối với giai cấp khác, nên vì thế ”không thể tránh được việc gây ra nội chiến trong mọi xã hội một khi đấu tranh giai cấp cường điệu tới một mức nào đó”. Lý thuyết quốc gia là công cụ áp bức đã được áp đặt không chỉ vào việc giải thích nội chiến mà cả cho chiến tranh giữa nước này với nước khác mà cao điểm là chiến tranh đế quốc thời đại mới, theo Lenin là phương pháp các chính quyền và giai cấp thống trị của các đại cường dùng để chinh phục thuộc địa, bóc lột và trấn áp sự vùng lên của giai cấp công nhân của các nước khác. 
Dựa vào thuyết đó, người Mác xít đã coi mọi loại nội chiến chống chính quyền, mọi chiến tranh chống đế quốc xâm lược đều là chiến tranh cách mạng. Điểm duy nhất khác biệt giữa hai hai loại là một số Mác xít gia cho rằng chiến tranh chống đế quốc là chiến tranh quốc gia hay chiến tranh giải phóng. 
Đi theo con đường tư tưởng đó, Mao thêm vào chiến tranh giai cấp, chiến tranh cách mạng giải phóng quốc gia và chiến tranh phản cách mạng trong cách xếp loại của ông. Chiến tranh giai cấp cách mạng hay phản cách mạng chỉ nằm trong phạm vi nội chiến trong khi chiến tranh cách mạng hay phản cách mạng giải phóng liên quan đến những mâu thuẫn giữa các quốc gia. 
Có vẻ như Mao không gọi mọi loại nội chiến là xung đột giai cấp. Chẳng hạn ông nói rằng cuộc hành quân Bắc Phạt, Cách Mạng Nông Dân hay chiến tranh kháng Nhật đều là chiến tranh cách mạng vì tất cả đều là những người cách mạng chống lại phản cách mạng. 
Cuộc hành quân Bắc Phạt do Quốc Dân Đảng liên minh với Cộng Sản tiến hành chống các quân phiệt, Mao gọi là nội chiến nhưng không phải đấu tranh giai cấp, hoặc ít ra cũng không phải đấu tranh giai cấp theo nghĩa gay gắt. Cuộc chiến tranh Cách Mạng Nông Dân do Cộng Sản phát động chống lại Quốc Dân Đảng từ 1927 đến 1936, Mao coi là chiến tranh cách mạng giai cấp chống giai cấp địa chủ và tư sản. 
Trong việc ủng hộ chiến tranh cách mạng và chống lại chiến tranh phản cách mạng, Mao có khác Lenin một chút. Lenin không những công khai tuyên bố ủng hội nội chiến và chiến tranh giải phóng trên chính nước ông ta mà còn khẳng định sự ủng hộ các cuộc chiến tranh cách mạng của giai cấp công nhân các nước khác. Lenin viết: ”Trong các trường hợp đó, chiến tranh của bên ta ắt phải là chiến tranh hợp pháp và công chính. Đó là cuộc chiến vì chủ nghĩa xã hội, vì tự do của các dân tộc khác chống lại giai cấp tư sản.” 
Cái mà ông ta gọi là quyền hợp pháp và công chính của các quốc gia xã hội chủ nghĩa tiến hành chống giai cấp tư bản nơi các quốc gia khác vì chủ nghĩa xã hội đã được Liên Xô coi là một lý do chính đáng để can thiệp vào nội bộ của các quốc gia trong khối Cộng Sản ở Đông Âu. Tuy nhiên một lý thuyết tương tự không hiện hữu trong tư tưởng của Mao Trạch Đông. Mặc dù Mao có giúp Triều Tiên và Việt Nam tiến hành chiến tranh chống xâm lược nước ngoài, Trung Hoa không dùng vũ lực chống lại các quốc gia khác và can thiệp vào các vấn đề chính trị nội bộ của họ như Liên Xô đã làm. Ngay cả cuộc chiến biên giới Việt Hoa năm 1979 cũng không thể coi là một thí dụ về việc can thiệp vào một quốc gia khác. Đó chỉ có thể coi là chiến tranh ủng hộ việc giải phóng dân tộc Cam pu chia hay chiến tranh giữa hai quốc gia thù nghịch cũng như cuộc chiến Ấn Hoa năm 1962. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #57 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:00:28 am »

C.   Dùng chiến tranh để ngăn chặn chiến tranh
 Mặc dầu người Cộng Sản chỉ công nhận chiến tranh giai cấp cách mạng và chiến tranh giải phóng quốc gia, họ vẫn tin rằng sự loại bỏ hoàn toàn chiến tranh là điều không thể làm được. Theo Mao, chỉ có thể kết thúc chiến tranh bằng nỗ lực của con người. ”Khi xã hội tiến tới một thời điểm mà giai cấp và chính quyền đã bị loại bỏ, chiến tranh cũng không còn dù cách mạng hay phản cách mạng, công chính hay không công chính mà là thời kỳ hòa bình vĩnh cửu của nhân loại”.
Dựa trên giả thuyết chung về tương quan tất yếu giữa chiến tranh và đấu tranh giai cấp trong một nước, lời phát biểu của Mao bàn về sự loại trừ chiến tranh cũng tương tự như của Lenin. Lenin nói rằng ”chiến tranh không thể loại bỏ trừ khi xóa được giai cấp và thành lập chủ nghĩa xã hội”. ”Chỉ khi nào chúng ta đã lật đổ, xóa bỏ hoàn toàn giai cấp tư sản trên khắp thế giới, chứ không phải chỉ tại riêng một quốc gia thì lúc ấy chiến tranh mới không còn xảy ra”. Khác biệt giữa Mao và Lenin chỉ là mức độ chứ không phải ở quan niệm. Mao không nói rõ cần phải lật đổ giai cấp tư sản trong các bài viết về quân sự của ông trong thập niên 1930. 
Một lý do sở dĩ Mao hòa hoãn hơn Lenin vì tình trạng của ông khi đó khác với những gì Lenin phải đối phó. Mao phát biểu về vấn đề này vào tháng 12 năm 1936 ở Diên An (Yanan) lúc ấy đang mưu toan thực hiện chiến lược mặt trận liên minh kháng Nhật và đang cần sự hỗ trợ của giai cấp tư sản trong nước. Thành thử ông ta cần nhẹ nhàng hơn để tránh những hiềm khích tong vấn đề hận thù giai cấp. Quả thực lúc ấy Mao hế sức cần ngưng chiến với Quốc Dân Đảng ngõ hầu giải trừ các áp lực quân sự. Nếu không có vụ Tây An sự biến trong cùng tháng ấy thì Hồng quân đã bị đánh tan. 
Dù lời lẽ có hòa hoãn cách mấy nhưng Mao cũng như Lenin đều tiến hành quan điểm lấy chiến tranh để chấm dứt chiến tranh. Ông ta muốn ”lấy chiến tranh để đối phó với chiến tranh, lấy chiến tranh cách mạng chống với chiến tranh phản cách mạng, lấy chiến tranh cách mạng giai cấp chống với chiến tranh phản cách mạng giai cấp.” Nếu đứng trên nhãn quan lịch sử thì đây không phải chỉ là đường lối Mác xít mà cũng là triết học quân sự truyền thống của Trung Hoa. Tư Mã Pháp chẳng hạn đã viết về vấn đề này như sau: “giết những kẻ đe dọa tới hòa bình và an ninh của người khác là công chính, cũng có quyền tấn công một quốc gia để giải cứu nhân dân ở đấy khỏi ách bạo ngược. Dùng chiến tranh ngăn chặng chiến tranh là điều có thể chấp nhận được.” 
Không có chứng cớ nào bảo rằng Lenin bị ảnh hưởng bởi Tư Mã Pháp nhưng rõ ràng có sự tương đồng của hai bên. Cả hai đều đồng ý tiến hành chiến tranh giải phóng một quốc gia khác. 
Chiến tranh có thể hoàn toàn loại trừ được khỏi xã hội loàn người hay không tùy thuộc vào việc tiêu diệt được giai cấp bằng cách loại bỏ quyền tư hữu và xóa bỏ biên cương giữa các quốc gia. Câu hỏi lý luận thứ hai là liệu giai cấp xã hội có thể hoàn toàn loại bỏ, chiến tranh có thể tự nhiên biến mất nếu xã hội vô giai cấp? Một câu hỏi khác là liệu con người có còn duy trì được nếp sống văn minh nếu không có quốc gia hay một cơ chế tương tự thực hiện những nhiệm vụ của quốc gia. Câu hỏi đó chưa có câu trả lời đích xác và đây cũng không phải là nơi bàn cãi vấn đề này một cách tường tận. Tuy nhiên chúng ta cũng nên lập lại những gì đã đưa ra ở trên. Tư hữu không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra các xung đột trong xã hội và cũng không phải là nguyên nhân duy nhất đưa đến giai cấp và đấu tranh giai cấp. Loại trừ hoàn toàn quyền tư hữu chưa chắc đã ngăn chặn được việc phân thành giai cấp và hận thù giai cấp. Thực tế là khác biệt xã hội vẫn tồn tại trong các quốc gia Cộng Sản và xung đột giai cấp vẫn rõ rệt. 
Lenin cho rằng quốc gia sẽ tự nhiên biến mất nếu giai cấp vô sản dùng đó làm phương tiện lật đổ giai cấp tư sản, tịch thu toàn bộ của cải của họ. Tuy nhiên, ông ta cũng chống lại chủ thuyết vô chính phủ loại trừ chính quyền trong một thời gian chớp nhoáng. Ông theo đuổi quan điểm để cho quốc gia từ từ tàn lụi (witheringaway) nghĩa là quốc gia sẽ tồn tại khi nào còn cần thiết và cuối cùng ”nó trở nên không cần thiết từ mặt này đến mặt khác rồi tự nó biến đi”. 
Thật ra, quyền lực chính quyền trong các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội trở nên mạnh mẽ không quốc gia tư bản nào sánh kịp. họ không những chẳng loại trừ được các đối kháng xã hội mà cũng chẳng giảm bớt được các xung đột giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa mà trái lại dường như tranh chấp và mâu thuẫn có chiều gia tăng. Thành ra, dù người Mác xít có hoàn toàn làm chủ thế giới thì chiến tranh cũng không thể nào loại bỏ được.
D.   Các qui luật của chiến tranh và sự phát triển của nó
 Trong khi các chiến lược gia thời cổ của Trung Hoa (chẳng hạn như Tôn Tử) đã thiết lập những căn bản dùng các phương pháp khoa học phân tích tình trạng chiến tranh, các tác giả Trung Hoa về sau thường có quan niệm là các binh gia thời xưa có khuynh hướng coi việc điều binh như một nghệ thuật. dựa trên nhãn quan đó, danh từ Binh Pháp (Bing Pha) được dịch thành Nghệ Thuật Chiến Tranh mặc dù Pháp theo đúng nghĩa là luật lệ, phương thức, đường lối. Tôn Tử đã viết rằng vấn đề quân sự ”là chìa khóa của các binh gia để chiến thắng. Không thể nói trước được”3 Nhiều tác giả đã dựa vào câu này để khẳng dịnh rằng điều binh là một nghệ thuật.
3Thử binh gia chi thắng, bất khả tiên truyền dã (Tôn Tử, Thủy Kế Thiên)
 Đôi khi người ta cũng kết hợp chữ Pháp với Tâm để thành Tâm Pháp có nghĩa là một vấn đề mà chỉ có thể tự mình sở đắc bằng nghiền ngẫm hay trí tuệ chứ không ai có thể dạy ai. Cho nên chỉ có khi nào đối địch mới nảy sinh chứ không sao đưa ra những định luật trước được. Trong các tác phẩm của chiến lược gia thời đại ngày nay chúng ta cũng vẫn tìm thấy những giải thích như thế. 
Tuy nhiên khuynh hướng truyền thống đó lại bị Mao bác bỏ. Ông đặc biệt nhấn mạnh về các định luật khách quan của chiến tranh và các đặc tính khoa học của chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Không có chứng cớ nào cho ta thấy Mao cho rằng điều binh là một nghệ thuật. Ông định nghĩa chiến tranh một cách rõ ràng như sau: ”Mọi luật lệ và lý thuyết quân sự tự bản chất là định luật về kinh nghiệm của chiến tranh trong quá khứ được tổng kết trong thời đại trước hay thời đại ngày nay”; những luật lệ đó cũng ”giống các luật lệ chi phối mọi vấn đề khác, phản ảnh các thực tế khách quan của tâm hồn chúng ta”.
Khi thảo luận về học tập chiến tranh như thế nào, Mao khẳng định là ”qui luật chiến tranh là các vấn đề mà ai ai điều binh phải học và giải quyết”. Ông cũng viết: ”Ai cũng biết rằng khi ta muốn làm gì thì chúng ta phải hiểu rõ hiện trạng, bản chất và tương quan với các vật khác. Có thế chúng ta mới biết rõ các định luật chi phối nó, biết cách thực hiện và thực hiện được chu đáo”. 
Như đề cập trong phần trước, Mao chú tâm đặc biệt đến mâu thuẫn hơn tính phổ biến của sự vật. Cũng phương cách đó, ông nhấn mạnh đặc biệt vào các qui luật của chiến tranh. Ông cho rằng chiến tranh cách mạng Trung Hoa có những qui luật riêng khác hẳn các qui luật chiến tranh bình thường. Cho nên ông ta khuyên các cấp lãnh đạo quân sự là họ phải học tập ”không chỉ qui luật chiến tranh chung mà phải cả những qui luật riêng biệt của chiến tranh cách mạng Trung Hoa”. Vì hoàn cảnh khác biệt và bản chất của từng cuộc chiến, các đặc tính của qui luật chiến tranh mỗi lúc một khác. Mao vì thế chống lại quan điểm sao chép lại tư tưởng quân sự của nước ngoài và của cả Trung Hoa thời xưa nguyên văn không suy suyển. Ông ta cảnh cáo các sĩ quan là làm thế chẳng khác nào cắt ngón chân cho vừa với giày, và như thế chỉ đi đến thất bại. Mao còn chống luôn cả quan niệm chép y bản các tài liệu huấn luyện của Liên Xô vì tài liệu đó chỉ thích hợp cho những điều kiện đặc biệt của cuộc nội chiến và Hồng quân Liên Xô mà thôi, nhiều khía cạnh khác hẳn hoàn cảnh Trung Hoa.
 Tuy chống việc sao chép các kinh nghiệm cũ một cách mù quáng, Mao không bảo là những tư tưởng đó hoàn toàn vô dụng. Trái lại Mao muốn các cấp chỉ huy cẩn thận chọn lựa trong các qui luật của người xưa những gì còn có thể áp dụng. Sau đó kết hợp các quan điểm đó với quan điểm riêng của họ để đưa ra những khuynh hướng đối phó với một tình trạng cá biệt. 
Thử nghiệm luật lệ và kinh nghiệm của người khác trong chiến tranh rồi thêm thắt các kinh nghiệm riêng của mình có thể giúp cho suy ra một số nguyên tắc hữu ích trong việc điều quân. Tuy nhiên, tiến trình đó cũng vẫn chưa đủ hữu dụng vì chiến tranh không bất biến mà phát triển luôn luôn. Theo Mao các qui luật và kinh nghiệm thu thập từ người đi trước có thể lỗi thời vì những qui luật khác nhau được quyết định theo từng tình trạng khác nhau của mỗi cuộc chiến khác thời gian, khác địa điểm, khác bản chất. Theo thời gian cả chiến tranh lẫn qui luật đều phát triển, mỗi hoàn cảnh lịch sự có những trạng huống đặc biệt riêng, và qui luật chiến tranh của khung cảnh đó không thể nào áp dụng một cách máy móc vào trường hợp khác. 
Nhờ quan điểm lý thuyết quân sự phát triển, Mao không những thoát khỏi mô thức sao chép nước ngoài mà còn thoát ly được tư tưởng quân sự Trung Hoa cổ điển tuy vẫn chấp nhận những cái hay của nó. Có lẽ đó là lý do chính yếu tại sao Mao có thể khai triển được một lý thuyết độc đáo và thành công về chiến tranh nhân dân để đối địch. 
Lý thuyết phát triển đó là một phần của duy vật biện chứng pháp được cả người Mác xít lẫn người không Mác xít dùng trong nhiều cách khác nhau. Mao đem áp dụng vào chiến tranh du kích, vào việc tuyển mộ quân đội từ cấp thấp tới cấp cao và áp dụng vào việc chọn lựa các chiến lược, chiến thuật trong khi hành quân. Đó là cốt tủy đi sâu vào toàn bộ hệ thống tư tưởng quân sự của Mao Trạch Đông làm nó thêm uyển chuyển và năng động. Chúng ta sẽ thảo luận vào chi tiết sau. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #58 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:01:03 am »

3.   XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VÀ CÁC QUAN NIỆM CHỦ YẾU CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
 Hầu hết các chiến lược gia Tây phương khi nghiên cứu về lý thuyết quân sự của Mao thường dựa vào hai tác phẩm. Một là Bàn về Chiến Tranh du kích của Mao Trạch Đông, hai là Chiến Tranh Nhân Dân muôn năm! của Thống Chế Lâm Bưu. Cả hai đều do Samuel Graffith dịch và trở nên rất phổ thông hồi thập niên 1960 trong thời chiến tranh Việt Nam và Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Hoa đang lên cao. Thành ra, lý thuyết quân sự của Mao thường được gọi là chiến tranh du kích hay chiến tranh nhân dân. 
Đô đốc J.C. Wylie, tác giả cuốn Chiến Lược quân sự: Lý Thuyết tổng Quát về Kiểm soát Quyền Lực đã liệt lý thuyết chiến tranh của Mao là một trong bốn lý thuyết quân sự được công nhận trong thời đại mới. Ba thuyết kia là lý thuyết về lục địa chiến, hải chiến và không chiến là những lý thuyết nổi danh trong thế giới Tây phương ít ra cũng một nửa thế kỷ. Ông ta đặt cho thuyết của Mao là ”chiến tranh giải phóng” mà ”đó là lý thuyết chiến tranh phổ biến nhất hiện nay. Lý thuyết đó rõ ràng hơn mọi lý thuyết khác, chỉ rõ mục tiêu và đưa ra hệ thống đo lường thành quả”. Wylie không gọi thuyết của Mao là du kích chiến vì như thế ”quá giới hạn và dễ dẫn tới hiểu lầm như một nhan đề mô tả”. 
Thực ra, cả chiến tranh giải phóng lẫn chiến tranh du kích đều không mô tả trọn vẹn lý thuyết của Mao. Có lẽ nhan đề ”chiến tranh nhân dân” chỉ ra quan điểm căn bản rõ ràng hơn vì cốt tủy của lý thuyết Mao Trạch Đông xây dựng trên việc vận động, tổ chức, trang bị toàn bộ nhân dân đưa họ vào chiến đấu.
Sái Hiếu Càn (Cai Xiaoqian), tác giả cuốn Nghiên cứu về Tư Tưởng và Chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông4 chia nội dung chiến tranh nhân dân thành hai phần: một là chiến lược chỉ đạo và hai là phương pháp tiến hành. Chiến lược chỉ đạo bàn về những quan điểm căn bản của chiến tranh nhân dân như một đại chiến lược hay chiến lược chính trị, phương pháp thực hiện liên quan đến chiến lược và chiến thuật quân sự dùng trong hành quân.
 4Mao Trạch Đông quân tranh tư tưởng hòa nhân dân chiến tranh chi nghiên cứu -Đài Bắc 1971
Theo Sái Hiếu Càn, lý thuyết căn bản của chiến tranh nhân dân khởi thủy vào khoảng thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, được phát triển trong Trung Nhật chiến tranh và Chiến Tranh Giải Phóng. Về đại chiến lược thì chiến tranh nhân dân không thay đổi mấy từ khi hình thành tại Giang Tây-Hồ Nam tới nay. Tuy nhiên chiến lược và chiến thuật hành quân được phát triển thêm trong thời chiến tranh với Nhật Bản. Không những các lực lượng du kích vốn nằm trong vị thế chiến thuật nay được nâng lên hàng chiến lược mà còn hình thành một kế hoạch chuyển chiến tranh du kích sang chiến tranh lưu động rồi sang chiến tranh qui mô bằng cách cải tiến tổ chức, trang bị và huấn luyện. 
Chiến tranh nhân dân còn được coi là chiến tranh chính trị vì nó đặc biệt chú ý đến vận động quần chúng và các lực lượng võ trang. 
Chúng tôi sẽ bàn về việc phát triển các quan niệm căn bản của chiến tranh nhân dân trong xây dựng quân đội ở phần sau. Các vấn đề chiến lược, chiến thuật trong hệ thống chính ủy cũng được bàn tới.
 Mặc dù nói rằng chiến tranh nhân dân do Mao khởi thủy đề xuất tại vùng biên giới Giang Tây-Hồ Nam nhưng sẽ thiếu sót lớn nếu không đề cập tới những văn bản đầu tiên ông viết như ”Phân tích về giai cấp trong xã hội Trung Hoa” hay ”Tường trình về Điều Tra Nông Dân khởi nghĩa tại Hồ Nam”. Nếu nghiên cứu các tài liệu đó người ta sẽ thấy rằng một phần các quan điểm xây dựng quân đội của Mao tại vùng biên giới chỉ là khai triển các quan điểm từ trước. Nói khác đi, lý thuyết về chiến tranh nhân dân có thể tìm thấy từ hai văn kiện này.
A.   Phân tích về Cấu Trúc Giai Cấp của Trung Hoa và Quan Điểm Xây Dựng Quân Đội của Mao Trạch Đông
 a/ Liên Minh Cách Mạng -Nông Dân
 Ngay từ đầu phân tích của ông về giai cấp trong xã hội Trung Hoa, Mao đã khẳng định là muốn bảo đảm sự thành công của cách mạng, người Cộng Sản phải quan tâm đến việc kết hợp với mọi thành phần bạn thực sự để tấn công thành phần địch thực sự. Muốn phân biệt thế nào là bạn thực sự và thế nào là địch thực sự ”chúng ta phải phân tích tổng quát về tình trạng kinh tế của các giai cấp khác nhau trong xã hội Trung Hoa và thái độ tương ứng của họ với cách mạng”. 
Mao chia dân chúng Trung Hoa thành 5 nhóm tùy theo tình trạng kinh tế. Đứng đầu 5 nhóm là giai cấp địa chủ và các thành phần cấu kết mà theo Mao luôn luôn ngả về chủ nghĩa đế quốc tạo nên một bè lũ phản cách mạng. 
Giai cấp tư sản được coi là đại diện cho liên hệ sản xuất tư bản tại thành thị cũng như nông thôn. Họ có thái độ chống lại cách mạng. 
Giai cấp thứ ba theo cách xếp loại của Mao là tiểu tư sản trong đó bao gồm nông dân có ruộng đất, các thợ cả (đứng đầu một nhóm thợ), thành phần trí thức cấp dưới, các viên chức công quyền, thư ký, luật sư nhỏ và tiểu thương... Thành phần này ủng hộ cách mạng theo nhiều mức độ khác nhau.
Kế tiếp giai cấp tiểu tư sản là giai cấp bán vô sản gồm đa số nông dân vừa có đất vừa cày thuê, bần nông, thợ tiểu công nghệ, công nhân trong các tiện bán hàng và kẻ bán hàng rong. Thành phần này muốn xã hội thay đổi để đời sống được cải thiện.
Giai cấp sau cùng Mao gọi là vô sản được coi là thành phần tiến bộ nhất trong xã hội và là lực lượng lãnh đạo cách mạng Trung Hoa. Tổng số giai cấp này vào thập niên 1920 không quá hai triệu gồm các công nhân kỹ nghệ của Trung Hoa. 
Tóm tắt phân tích, Mao kết luận rằng kẻ thù của họ gồm tất cả những ai liên minh với đế quốc -quân phiệt, thư lại, giai cấp hợp tác, đại địa chủ và thành phần phản động trong giai cấp trí thức. Trong khi đó lực lượng lãnh đạo cách mạng là công nhân vô sản, các đồng minh của họ bao gồm toàn bộ giai cấp bán vô sản và tiểu tư sản. Thành phần tư sản thì phe hữu là địch, phe tả là bạn -nhưng vẫn phải cảnh giác coi chừng đừng để họ gây rối hàng ngũ cách mạng. 
Trong phân tích này, mặc dù Mao phong cho công nhân danh hiệu ”lực lượng lãnh đạo vận động cách mạng”, ông vẫn nhìn thấy nông dân (bán vô sản) là thành phần bạn thân thiết nhất. Ông đi thêm một bước khẳng định vai trò cách mạng quan trọng của nông dân trong điều tra về khởi nghĩa nông dân tại tỉnh Hồ Nam.
 b/ Thành phần Tiền Phong của Cách Mạng -Bần Cố Nông
 Trước khi việc hợp tác Quốc Dân Đảng -Cộng Sản sụp đổ vào thời kỳ đầu của hành quân Bắc Phạt, Cộng Sản đã từng tích cực tham gia vào các cuộc vận động nông dân ở bất cứ nơi nào họ hiện diện. Mao đã từng du hành quan sát 5 huyện thuộc Hồ Nam để tìm hiểu sự thực ngõ hầu giải quyết các ta thán trong và ngoài Đảng. Báo cáo của ông ta sau này cũng minh định là nông dân là lực lượng cách mạng đáng được Đảng tiến hành vận động giống như kết luận của phân tích về giai cấp tại Trung Hoa. Trong số những vấn đề ông đưa ra, có ba điểm trong báo cáo này là nòng cốt cho các chiến lược quân sự và chính trị trong cuộc cách mạng sắp tới. 
Thứ nhất, ông tìm ra là ”bần nông luôn luôn là lực lượng chính yếu trong những trận đánh khốc liệt tại nông thôn... Họ đáp ứng việc lãnh đạo của đảng Cộng Sản tích cực nhất. Họ là kẻ thù không đội trời chung với cường hào ác bá và tấn công chúng không ngần ngại”.
 Theo tìm hiểu của Mao tại huyện Trường Sa (Changsha), bần nông chiếm đến 70% tổng số dân chúng tại nông thôn, là xương sống của các hiệp hội nông dân và là đội quân tiên phong trong việc đánh đổ các thế lực phong kiến. ”Nếu không có bần nông thì không cách nào đưa tới được tình trạng cách mạng như hiện nay tại nông thôn... Không có bần nông thì không thể có cách mạng”. Thành ra ông nói rõ là kẻ nào phủ nhận vai trò nông dân thì kẻ đó phủ nhận cách mạng.
 Thứ hai, ông tìm ra là sau khi lật đổ được các thế lực phong kiến địa phương, cường hào ác bá, các hiệp hội nông dân dễ dàng nắm được quyền lực ở dưới cấp huyện và trở thành quyền lực chính trị chủ yếu tại khu hay thôn đó. Trong xã hội Trung Hoa ngày xưa, các quyền lực chính trị địa phương dưới cấp huyện tại nông thôn thường nằm trong tay giai cấp địa chủ và hào phú. 
Theo Mao, giới hào phú cai trị nông thôn chẳng khác gì vua chúa. Sau khi nông dân nổi dậy, quyền lực của giai cấp địa chủ thường bị đánh đổ và các cơ chế hành chánh nông thôn dễ dàng bị tàn lụi.
 Khi các thành phần bần nông có tổ chức dễ dàng phá hủy nhanh chóng giới chức quyền thế địa phương để thay bằng các hiệp hội nông dân thân Cộng có thể đã khiến Mao khai triển thành chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị và trở thành một phần bộ quan trọng trong chiến tranh nhân dân đánh bại lực lượng Quốc Dân Đảng trong cuộc chiến Quốc Cộng sau này. 
Thứ ba, nông dân võ trang là lực lượng quan trọng nhất của Hồng Quân. Chính họ giúp cho đảng Cộng Sản kiểm soát được nông thôn và đạt được mục tiêu chiến lược là lấy nông thôn bao vây thành thị. 
Tại nông thôn Trung Hoa, lực lượng võ trang thường do chính quyền địa phương, thân hào và địa chủ kiểm soát thường gọi là võ trang tự vệ hay an ninh. Khi các hiệp hội nông dân cướp chính quyền từ tay thân hào địa chủ họ không mất thời gian tái lập kiểm soát và tổ chức các lực lượng này theo nhu cầu. Các lực lượng đó tuy số lượng không nhiều nhưng được trang bị súng trường và các vũ khí nhẹ và gồm cả những lực lượng thiện chiến ở nông thôn.
 Ngoài ra, các hiệp hội nông dân cũng trang bị các hội viên với giáo mác hay những gì họ kiếm được ở nông thôn và tổ cức họ thành các đội quân. So với các lực lượng tự vệ trang bị đầy đủ thì khí giới của họ quá thô sơ nhưng bù lại có số đông nên trở thành một lực lượng đáng kể hỗ trợ cho quyền lực của nông dân ở thôn quê. Họ có thể đương cự được với các lực lượng địa phương, cảnh sát và sai nha tổng huyện không cho vào làng. Ngay cả khi cá viên chức chính quyền có việc phải xuống nông thôn họ cũng run sợ trước khí thế giáo mác không dám nhũng nhiễu. 
Khi Mao viết bản báo cáo này vào tháng ba năm 1927 thì ông ta không nghĩ rằng việc hợp tác với Quốc Dân Đảng lại đổ vỡ nhanh đến thế. Vì thế ông không tổ chức nông dân võ trang như một phần bộ của Hồng quân. Thế nhưng việc tương tranh xảy ra chỉ sau cuộc chính biến tháng Tư một vài tháng. 
Theo Mao, công cuộc vận động nông dân ở Hồ Nam đạt được nhiều thành quả to lớn mà Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và Quốc Dân Đảng tốn mấy chục năm không làm được. Ông còn nhận thấy các hiệp hội nông dân biến đổi nông thôn như một cuộc cách mạng quét sạch hệ thống cũ kỹ kéo dài hàng nghìn năm lật úp mọi thứ chỉ trong một đêm. Dựa trên những gì ông thấy và ông tưởng tượng, ông đi đến kết luận sau đây thể hiện rõ ràng phần nào chiến lược quân sự và chính trị trong cuộc cách mạng sắp tới.
Chỉ một thời gian ngắn, từ các tỉnh trung nam bắc của Trung Hoa hàng trăm triệu nông dân đứng dậy như một cơn bão táp, như một trận cuồng phong, một lực thật nhanh chóng, thật vũ bão mà không lực nào dù lớn đến đâu có thể ngăn lại được. Cơn bão đó đập tan mọi xiềng xích tiến lên đường giải phóng. Nó quét sạch đế quốc, quân phiệt, tham quan ô lại, cường hào ác bá xuống mồ sâu. Mọi đảng cách mạng, mọi cán bộ cách mạng sẽ được cơn bão đó thử thách, chấp nhận hay khai trừ. Chỉ có ba trường hợp. Tiến lên phía trước để lãnh đạo nó ư?. Hay đi theo phía sau, chỉ trỏ phê bình?. Hay đứng ngăn đường chống lại nó? Mọi người Trung Hoa có quyền tự do lựa chọn nhưng các biến cố sẽ bắt các anh lựa chọn thật nhanh.
Mao chọn trường hợp đầu tiên ông đưa ra. Ông quyết định lãnh đạo nông dân hoàn thành cuộc cuộc cách mạng. Nông dân vũ trang trở thành lực lượng nòng cốt của ông ta và tiên phong cho cách mạng, giúp cho ông ta và đảng Cộng Sản nắm được quyền.
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
dungrommel
Thành viên
*
Bài viết: 237


WWW
« Trả lời #59 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 01:02:05 am »

B.   Cuộc tranh đấu ở Tỉnh Cương Sơn (Jinggangshan) và sự hình thành Chiến Tranh Nhân Dân
 Cái tên ”chiến tranh nhân dân” xuất hiện trong tác phẩm Mao viết đầu thập niên 1940 trước khi Trung -Nhật chiến tranh kết thúc nhưng lý thuyết của nó đã được phát triển từ khi Mao bắt đầu đấu tranh võ trang chống lại Quốc Dân Đảng ở Tỉnh Cương Sơn trong vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam.
 a/ Vụ chính biến tháng Tư năm 1927 và nổi dậy của Đảng Cộng Sản
 Chỉ một năm sau khi Bác Sĩ Tôn Dật Tiên tạ thế, mối quan hệ giữa Quốc Dân Đảng và Cộng Sản Đảng trở nên căng thẳng. Sự phát triển của Cộng Sản trong nội bộ Quốc Dân Đảng cũng như ảnh hưởng của họ với nông dân và công nhân khiến cho Quốc Dân Đảng e ngại và xung đột giữa các viên chức địa phương, quân đội và các tổ chức công nông do Cộng Sản lãnh đạo bùng nổ từng đợt. 
Khi lực lượng Bắc Phạt đánh về phía hạ lưu sông Dương Tử, các vận động công nông của cộng Sản cũng lan sang vùng này. Phong trào nông dân ở Hồ Nam được Mao nghiên cứu trong báo cáo của ông chỉ là một trong nhiều trường hợp tương tự. Các hoạt động công nhân của họ cũng kiểm soát Thượng Hải, trang bị cho công nhân các loại vũ khí mới trước khi quân đội Quốc Dân Đảng tới đây và hoạt động chính của họ là tấn công người ngoại quốc và các thương gia người Hoa. Rối loạn đã khiến cho người ta e ngại một sự can thiệp quốc tế của các lực lượng đế quốc đóng trong khu vực này. Việc đó khiến cho Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng có cớ đem quân đàn áp các tổ chức công nhân và những người đỡ đầu cho họ là Cộng Sản. 
Biến cố đó xảy ra trước hết tại Nam Kinh ngày 24 tháng 3 năm 1927 khi quân đội tiến vào thành phố tấn công những người ngoại quốc và cướp của, mà chủ yếu là các chính trị viên Cộng Sản phải chịu trách nhiệm. Khi mỗi lúc một thêm hỗn loạn lan tới Thượng Hải, Tưởng giới Thạch ra lệnh cho quân đội đàn áp tại Thượng Hải vào ngày 12 tháng 4 chiếu nghị quyết của Ủy Ban Kiểm Sát Trung Ương Quốc Dân Đảng ban hành vài ngày trước. Cuộc trấn áp đó cũng được quân phiệt Trương Tác Lâm (Zhang Dao Lin) đồng thời tiến hành tại Bắc Kinh ngày 6 tháng 4, trong đó một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng Sản là Lý Đại Chiêu (Li Dazhao) bị treo cổ. 
Dù bị đàn áp tại ba nơi Thượng Hải, Nam Kinh và Bắc Kinh nhưng không vì thế mà Cộng Sản rút lui hoàn toàn ra khỏi Quốc Dân Đảng. Họ lợi dụng sự rạn nứt nội bộ của Quốc Dân Đảng nên nhờ Uông Tinh Vệ (Wang Jingwei) và cánh tả của ông ta tại Vũ Hán (Wuhan) bảo vệ được 4 tháng tới cuối tháng 7 thì Uông cũng đi theo cánh hữu của Quốc Dân Đảng mà loại trừ Cộng Sản ra khỏi Đảng. 
Chính quyền Vũ Hán trục xuất Cộng Sản đã mở đường cho Mao Trạch Đông xách động nông dân nổi lên mà ông ta tiên tri là sẽ đập tan xiềng xích và quét sạch quân thù. 
Sau vụ thanh lý Vũ Hán, các lực lượng võ trang dưới quyền Cộng Sản tập trung tại Nam Xương (Nanchang), thủ phủ tỉnh Giang Tây và quyết định nổi dậy chống lại Quốc Dân Đảng vào ngày mồng 1 tháng 8. một tuần sau, một buổi họp khẩn cấp được triệu tập tại Cửu Giang (Jiujiang) và ngoài những việc khác, kỳ này đại hội Đảng đã đề cử Mao vào chức vụ Bí Thư Ủy Ban tiền phương của Khởi Nghĩa Mùa Thu để chỉ huy Hồng Quân chiếm Vũ Hán và các tỉnh khác. Chiến dịch thất bại và Hồng quân tổn thất nặng nề. Mao bị coi là có trách nhiệm và vi phạm mệnh lệnh nên bị cách chức. Tuy nhiên, trước khi nghe lệnh bãi chức, ông đem hết quân bản bộ đến vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam lập căn cứ và xây dựng các Xô viết tại thị trấn Gia Lăng (Jialing) gần đó. Từ đó ông chính thức xây dựng Hồng Quân để củng cố thế lực tại vùng Tỉnh Cương Sơn.
 b/ Xây dựng Căn Cứ Địa và Cách Mạng Nông Dân
  Khi Mao đến vùng biên giới, ông lập tức quyết định đưa ra một loạt chính sách để thúc đẩy nổi dậy làm cách mạng trên toàn quốc. Chính sách đó là thiết lập căn cứ địa, thành lập một lực lượng chính trị, tiến hành cách mạng nông dân và bành trướng quân đội nhân dân bằng cách xây dựng Vệ Binh từ các thôn ấp trở thành quân đội chính qui. Ngay khi các công tác đó hoàn tất, lực lượng chính trị độc lập sẽ lan ra toàn quốc theo từng đợt. 
Xây dựng căn cứ địa: Một cơ chế chính trị độc lập muốn sống còn thì phải có quân đội hỗ trợ. Trong chiến tranh qui ước hay chiến tranh du kích, quân đội bao giờ cũng cần một căn cứ địa an toàn để bảo vệ họ khỏi bị tấn công bất thần. Nếu không có căn cứ thì họ khó lòng có thể thực hiện công tác. Vấn đề đó còn nghiêm nhặt hơn khi một lực lượng du kích phải thực hiện chiến lược ngay trong lòng địch. Sau khi thất bại trong Khởi Nghĩa Mùa Thu, Mao phải chạy tới vùng biên giới Giang Tây -Hồ Nam và hết sức cần một địa bàn an toàn ngõ hầu có thể tái tổ chức lực lượng bắt đầu một cuộc đấu tranh mới. Vì thế Mao coi việc thành lập căn cứ là công tác số một phải làm.
Mười năm sau thời Tỉnh Cương Sơn, khi bàn về việc thành lập một căn cứ địa trong vùng Nhật chiếm, Mao tóm lược kinh nghiệm cũ của ông bằng cách đưa ra phương thức làm sao để biến một căn cứ du kích thành căn cứ địa. Ông đưa ra những điều kiện căn bản như sau:
 ... Khi một lực lượng địch đông đảo đã bị quấy phá hay đánh bại, khi chính quyền bù nhìn đã bị phá vỡ, quần chúng nức lòng muốn hành động, các tổ chức quần chúng kháng Nhật đã thành lập, dân quân địa phương đã phát triển, quyền lực chính trị chống Nhật đã hình thành.
  Khi Mao bắt đầu thành lập thế lực chính trị vùng biên giới, ông đã có kinh nghiệm trong thời kỳ đấu tranh quân sự để lật đổ các thế lực địa phương và quân đội của họ. Cho nên ông chú trọng đến việc tiến hành sâu rộng cách mạng ruộng đất để bành trướng ảnh hưởng chính trị trong vùng biên giới và do đó củng cố lực lượng vừa thành lập. 
Cải cách ruộng đất: Cải cách ruộng đất còn được gọi là chia đất cho dân hay đấu tranh giành lại điền sản. Mặc dầu đây là một chương trình quan trọng của Cộng Sản trong công tác vận động nông thôn nhưng nó còn được dùng như một phương tiện của Đảng để xách động nông dân, đoàn ngũ hóa, võ trang họ để mở rộng Hồng Quân. Nếu không có phân chia ruộng đất đảng không thể nào đạt được mục tiêu cộng tác quân sự từ phía nông dân. 
Trong thời Trung Nhật chiến tranh, dưới chiêu bài Mặt Trận Liên Hiệp , chính sách phân chia ruộng đất được thay bằng chính sách ”giảm tô, giảm lãi”. Khi các chính quyền địa phương tỉnh Giang Tô tạm thời ngưng các chương trình này tại căn cứ của họ, nhiệt tình của nông dân trong việc ủng hộ du kích giảm xuống. Thành thử, Đảng Cộng Sản bắt buộc phải tái lập các chính sách đó dù bị Quốc Dân Đảng phản đối. Cho nên có thể nói rằng mục tiếu trước mắt của cải cách ruộng đất là quân sự hơn là chính trị trong những năm chiến tranh.
 Vận động nông dân các cơ cấu của đảng và chính quyền địa phương chỉ có thể thực hiện được nếu có Hồng quân hỗ trợ. Cho nên, các đảng bộ tại vùng căn cứ địa phải coi cải cách ruộng đất là ưu tiên. 
c/ Thành lập các Thế Lực Chính Trị
 Mao đã từng lập đi lập lại về sự cần thiết và khả dĩ thành lập các thế lực chính trị độc lập tại vùng biên giới dù hoàn toàn bị địch bao vây. Khi bàn về tại sao phe Cộng có thể duy trì một thực lực chính trị trong một thời gian dài, Mao đưa ra 5 lý do, là những vấn đề khách quan và tất yếu đã khiến cho các cơ chế tại biên giới tồn tại được. Đó là: thứ nhất, một quốc gia có một nền kinh tế lạc hậu bán thuộc địa do đế quốc cai trị một cách gián tiếp, thứ hai, chiến tranh liên miên giữa các thành phần của tần lớp cai trị khiến họ không tập trung được lực lượng để thanh toán Hồng quân, thứ ba, việc kiên trì phát triển cách mạng lên bình diện quốc gia, thứ tư, sự hiện diện thường trực của Hồng quân với một lực lượng tương đối mạnh bảo vệ căn cứ địa khỏi bị phá hoại hay tấn công và sau cùng nhưng không phải kém quan trọng nhất là có một tổ chức đảng để chỉ đạo chiến đấu. 
Có hai trong năm điều kiện quan trọng hơn các điều kiện khác, đó là tình trạng kinh tế và sức mạnh của Hồng quân.
 Khi Mao bàn về tình hình kinh tế, ông nhấn mạnh về đặc tính lạc hậu và kinh tế nông nghiệp địa phương. Ông cho rằng các kẻ địch lẫn lực lượng của họ phải tùy thuộc nặng nề vào khu vực nông nghiệp. Do đó, nếu có thể kiểm soát một khu vực biên giới tương đối khá về sản xuất nông phẩm thì Hồng quân có thể tồn tại một thời gian lâu dù bị cắt đứt các tiếp vận từ đô thị. Tuy nhiên, ông không quên tình trạng nghiêm trọng khi bị kẻ địch phong tỏa. Ông luôn luôn nhắc nhở Đảng phải cảnh giác về việc giải quyết các vấn đề kinh tế tại khu vực biên giới.
 Vì cuộc đấu tranh tại đây chủ yếu là quân sự, cả đảng lẫn quần chúng đều phải đặt trong tình trạng chiến đấu. Làm sao đối địch là một vấn đề. Theo Mao, một chế độ độc lập phải có lực lượng quân sự. Nếu không có chiến thuật đối phó thích hợp, thiếu chuẩn bị thì sẽ bị quân thù đè bẹp dù có trú đóng ở đâu chăng nữa. Dân chúng trong chiến khu thường được trang bị nhưng các Hồng vệ binh này chỉ thích hợp trong việc bảo vệ trị an hay đàn áp địa chủ chứ không đủ sức chiến đấu chống các lực lượng chính qui. Vì thế hết sức khẩn yếu ”không thể nào thành lập được một chế độ độc lập... nếu chúng ta không có một lực lượng chính qui đủ mạnh”. Mao đã viết như thế.
 Một lực lượng chính qui mạnh là một vấn đề quan trọng để bảo đảm cho chế độ tồn tại được nhưng quân đội chính qui đó muốn phát triển và bành trướng thì phải dựa vào sự hỗ trợ của quần chúng võ trang. 
d/ Quần chúng võ trang và sự Bành trướng của Hồng quân
 Động viên và trang bị quần chúng: Hồng quân vùng biên cương Giang Tây-Hồ Nam vào cuối thập niên 1920 phải thực hiện nhiều công tác không nằm trong phạm vi chiến đấu. Mao viết:
 Hồng quân là một bộ phận võ trang để thực hiện những công tác chính trị của cách mạng... Hồng quân chiến đấu không phải chỉ cho chiến đấu mà để thực hiện công tác tuyên truyền trong quần chúng, tổ chức, trong bị họ, giúp họ thành lập sức mạnh chính trị cách mạng. Nếu không có những mục tiêu này thì chiến đấu không còn ý nghĩa và Hồng quân không còn lý do tồn tại. 
Ông dùng những từ đó để phê bình cái gọi là quan niệm quân sự thuần túy của Hồng quân tại căn cứ địa. Tuy nhiên, ông không chủ trương là vai trò quan trọng của chiến đấu có thể làm ngơ. Thực tế, điều Mao thực sự muốn nhấn mạnh về vai trò không quân sự của Hồng quân là củng cố và bành trướng các đơn vị này.
 Trong việc động viên quần chúng, quân chính qui tổ chức nhân dân trong căn cứ thành nhiều nhóm khác nhau tùy theo tuổi tác, điều kiện thể lực, quá trình chính trị và huấn luyện quân sự... Nói chung, mọi nông dân đều được tổ chức để hoặc gia nhập Hồng quân , hoặc nằm trong các cơ sở ngoại vi của nó. Những người từ 18 đến 23 thuộc thành phần lý lịch tốt được đưa vào thanh niên tiền phong, người nào tỏ ra xuất sắc trong thao diễn quân sự, có lý lịch tốt được đưa vào đội kiểu mẫu. Người nào dưới 18 tuổi và trên 40 tuổi không đủ điều kiện gia nhập Hồng quân hay cơ sở ngoại vi thường được tổ chức vào các đội giặt giũ, văn nghệ hay thiếu nhi... Mọi người đều được trang bị với những gì khả dĩ trong thời đó và được chỉ định tập luyện các công tác quân sự, chính trị thời chiến.
 Các hoạt động tổ chức quần chúng tiếp tục và mở rộng thêm trong thời Trung -Nhật chiến tranh và thời Vận Động Công Xã cuối thập niên 1950 khi chiến dịch Mỗi Người Là Một Người Lính tới cao điểm. Để nối kết các tổ chức này lại với nhau, toàn dân vùng biên giới và sau này toàn quốc trở thành một binh đội. 
Ba Cấp độ Tuyển Mộ của Hồng Quân: Mặc dầu Cộng Sản thành lập các trường quân sự riêng của họ tại vùng biên giới vào thập niên 1930 để huấn luyện sĩ quan nhưng đặc điểm nổi bật nhất trong xây dựng quân đội của họ là công tác bén rễ. Phần vì tình trạng đặc biệt, phần vì quan điểm quần chúng, Mao đã đưa ra một hệ thống quân sự ba cấp bảo đảm cho việc chiến đấu khỏi bị kiệt quệ về nhân sự trong thời chiến. Hệ thống ba cấp đó gồm có quần chúng võ trang, Hồng quân địa phương và Hồng quân chính qui. 
Dưới cùng của ba cấp độ này là quần chúng võ trang được tổ chức thành những đơn vị ngoại vi hay Hồng Vệ Binh. Các tổ chức ngoại vi thành lập nơi thôn xã còn cấp Vệ binh thành lập nơi quận huyện. Trong khi Vệ binh trang bị súng trường và các võ khí tối tân khác, các tổ chức ngoại vi của công nông chỉ được trang bị giáo mác. Họ được coi như lực lượng võ trang địa phương trong thời kỳ đầu của cải cách ruộng đất. Trong thời chiến, Vệ binh được giao nhiệm vụ du kích quân chống xâm nhập, các tổ chức ngoại vi chủ yếu dùng để duy trì trật tự và hỗ trợ Vệ binh trong chiến đấu. 
Hệ thống đó sau được cải tổ cho chặt chẽ hơn theo một tiến trình phát triển toàn diện từ xã lên đến toàn vùng biên giới. Mao viết: ... mở rộng lực lượng nhân dân võ trang bằng một tiến trình toàn diện về xây dựng đầu tiên là Vệ Binh hàng thôn đến Vệ Binh hàng tổng lên Vệ binh hàng huyện, lên Hồng quân địa phương lên đến Hồng Quân chính qui. 
Theo hệ thống ba cấp, Vệ Binh bao gồm cả các tổ chức ngoại vi và Vệ binh không còn được coi là lực lượng võ trang địa phương nữa. Thay vào đó nay có một tổ chức mới với cái tên là Hồng Quân Địa Phương nằm giữa Vệ Binh và Hồng quân chính qui. Vệ binh tùy từng thời kỳ có khi được giao cho nhiệm vụ đơn vị tự phòng, dân quân, tổ chức ngoại vi công nông, đội kiểu mẫu và thanh niên tiền phong... đại diện cho lực lượng võ trang quần chúng, gắn chặt với chính quyền địa phương làng xã, tổng huyện. Đa số các trường hợp họ hoạt động bán thời gian và không được quyền tách rời khỏi vai trò chính yếu là sản xuất dù là công nhân hay nông dân. 
Hồng Quân Địa Phương được phát triển như các lực lượng khu vực trong thời gian sau này, chủ yếu được giao nhiệm vụ bảo vệ một địa phương nơi họ trú đóng khác với lực lượng chính qui có thể dùng để tiến đánh bất cứ nơi đâu.
 Trong khi Vệ binh chủ yếu động viên để củng cố căn cứ, mục tiêu tối hậu của họ là cung cấp một nguồn tiếp liệu vô tận về nhân lực để mở rộng Hồng quân chính qui. Dây là một trong những lý do chính của hệ thống ba cấp. Trước khi Trung Hoa thi hành hệ thống cưỡng bách nhập ngũ vào cuối thập niên 1950, Hồng Quân chủ yếu dựa vào hệ thống này để tuyển mộ binh lính. Một số đơn vị hay cá nhân xuất sắc trong Vệ Binh, hay dân quân sau này, thường được vận động gia nhập Hồng Quân địa phương, nơi Hồng quân chính qui lấy người bổ xung. Hệ thống tuyển bổ theo cấp bậc này thường được goi là thăng, theo đó Vệ binh và Hồng quân địa phương có thể được nâng lên theo từng bậc. Ngay cả sau khi chế độ cưỡng bách áp dụng vào năm 1957, cũng chỉ chọn lựa trong các đơn vị dân quân là tổ chức thay thế Vệ binh trong xã hội Trung Hoa. 
Logged

Không có bạn bè vĩnh viễn và kẻ thù vĩnh viễn. Tất cả chỉ vì sự tồn tại của mình.
Khi hai bàn tay nắm chặt và buông lơi một đất nước vĩ đại sẽ hình thành hoặc bị diệt vong.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM