Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:46:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam Quốc Sơn Hà - Quyển 8  (Đọc 240153 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #380 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:51:06 am »

 Bọn Mai Cầm còn đang trù trừ, thì có tiếng nói vọng từ trong ra, rất quen thuộc:

- Tây-hồ tam kiệt trong tay có đến ba hiệu Thiên-tử binh, mấy đàn thú, hàng trăm nỏ-thần, thế mà được mời dự tiệc lại sợ. Thôi! Trở về Thăng-long đổi tên là Tây-hồ thất cầy sấy đi cho rồi.

 Sáu người không đừng được, đành theo ả thị nữ tiến vào trong dinh, tay để vào đốc kiếm. Bước vào đại sảnh, đưa mắt nhìn, sáu người thấy có ít nhất gần trăm thực khách vừa văn, vừa võ, vừa nam vừa nữ chia nhau ngồi cạnh các bàn tiệc đầy sơn hào hải vị. Một đội ca-nhi đang múa hát. Thấy khách vào, nhã-nhạc, ca-nhi ngừng lại.

 Quan sát một lượt, cả bọn thấy chỗ bàn chủ vị có có bốn người, đó là Côi-sơn công chúa Trần Thanh-Nguyên, Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh, Hà Mai-Việt. Cạnh đó còn có cả Thần-vũ thập anh.

 Cả sáu người vội cung tay hành lễ:

- Sư thúc, nguyên soái Thương-Kiệt cho biết sư thúc tổng chỉ huy đánh Cổ-vạn... thế mà... thế mà... sao sư thúc lại hiện diện ở đây?

 Công-chúa Côi-sơn là con út của đại-hiệp Trần Tự-An, thụ hưởng giòng máu ngang tàng của cha, lại ảnh hưởng của các anh là Thông-Mai, Tự-Mai về cái tật coi trời bằng vung; nhưng được bản sư là Tịnh-Huyền, một thần-ni đắc đạo giáo huấn, nên công chúa chỉ ngang với người trên, mà rất ôn nhu với thuộc hạ, với con cháu. Công chúa mỉm cười:

- Các cháu vượt biển suốt đêm qua, vừa đói, vừa mệt rồi. Hãy ngồi xuống uống hớp rượu, ăn tiệc đã.
Bà đứng lên nắm tay Phương-Đơn, Phương-Dược, Phương-Quế cho ngồi bên cạnh, rồi nhỏ nhẹ nói với các sư điệt:

- Để sư thúc dạy khôn cho! Các con có thấy một sự lạ là, một cái châu Cổ-vạn với những tướng sĩ Tống toàn hạng giá áo túi cơm, thì sư-thúc Tôn Đản, Cẩm-Thi, nguyên-soái Thường-Kiệt chỉ cần sai vợ chồng Đinh Hoàng-Nghi đánh là được rồi, việc gì phải cử ta với Tôn phò mã đảm trách. Có phải thế không?

- Bọn cháu cũng hơi ngạc nhiên, nhất là để Vũ-kị đại tướng quân Hà cùng Thần-vũ thập anh theo trong đạo này nữa, thực quá dư thừa!

- Đúng thế!

 Bà chỉ Phương-Quỳnh:

- Con thuật cho các bạn nghe đi.

- Tuân chỉ sư thúc.

 Phương-Quỳnh thuật:

- Sau khi đánh Cổ-vạn, sư-thúc dùng Thần-vũ thập anh tập trung tù binh Tống gồm bảo-binh, cùng binh Quảng tổ chức thành đội ngũ, lập ra hiệu binh Cổ-vạn dùng để tiến đánh các đồn nhỏ xung quanh. Khi tế-tác báo cho biết Lưu Di sai điều đạo quân thứ 34, lữ-kị thứ 44 ở Khâm-châu về cứu Cổ-vạn, Tây-bình, Lộc-châu; sư thúc sai chim ưng báo tin cho Tín-nghĩa vương tiến đánh Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long. Còn đích thân người cùng Vũ-kị đại tướng quân, Thần-vũ thập anh, anh Hoàng-Nghi với em đem kị binh Đại-Việt, hiệu binh Cổ-vạn, Thần-nỏ phục ở chân núi Thập-vạn đại-sơn đánh viện binh. Đạo binh thứ 34 của Tống do hai viên giám-áp Văn Lương, Ngô Phu chỉ huy. Lữ kị binh do hai viên chỉ-huy sứ Tống Đạo, Đinh Toại chỉ huy. Đây là hai đạo binh từng dự trận ở Tây-hạ, nên rất thiện chiến. Tuy bị trúng phục binh, thế mà chúng chiến đấu rất hăng. Trận chiến kéo dài suốt nửa ngày, đạo binh Cổ-vạn hao hụt mất một phần ba mà chúng vẫn không bỏ chạy. Vì đường núi gập ghềnh, nên Thần-nỏ, kị-binh, đội binh thú không tiến lên được. Sau Thần-vũ thập anh phải điều đội Thần-nỏ, Thần-hổ, Thần-báo vượt thung lũng phía sau, đánh vào hậu quân chúng. Bấy giờ chúng mới bỏ chạy.

 Nàng ngừng lại, hớp một hớp nước rồi tiếp:

- Chúng chạy về tới Thiên-long, thì bị quân của Tín-nghĩa vương chặn đánh. Chúng đành đầu hàng. Anh Hoàng-Nghi đề nghị với sư thúc, mình nên dùng cờ xí, binh phục Tống, để đánh úp Khâm-châu. Sư thúc đồng ý, nhưng các tướng Tống nhất định không chịu dẫn quân Việt đánh quân họ. Sư thúc sai Thần-vũ thập anh cho binh sĩ giả làm binh tướng Thiên-long bại trận, kéo về Khâm-châu. Khi quân ta sắp đến Khâm-châu, có một số võ lâm Tống phát hiện được, họ báo cho tướng trấn thủ Trần Vĩnh-Thái biết. Nhưng giữa lúc ấy, y đang cùng bạn hữu, văn võ bá quan dự tiệc sinh nhật bà vợ thứ mười. Y không tin, sai võ sĩ đuổi mấy võ lâm Tống ra. Đội quân đầu của ta là kị binh do Hà đại tướng quân chỉ huy, mang cờ Tống, y phục Tống, phi như bay. Còn Thú-binh, Thần-nỏ đi sau. Ta ập vào thành, giữa lúc Trần Vĩnh-Thái cùng các quan đang chuẩn bị nhập tiệc. Chúng ta bắt trọn ổ các quan trong thành Khâm-châu. Vừa lúc đó các anh chị từ biển đánh vào cửa Nam, Bắc, Đông. Sư thúc dùng tiệc của Vĩnh-Thái làm tiệc khao quân... và chờ các anh, các chị tới.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #381 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:52:12 am »

Ghi chú,

 Tống-sử, Lĩnh-ngoại đai đáp, thuật rằng: Trước khi quân Đại-Việt tới, đã có kẻ hở cho người Tống biết rằng quân Việt sắp đánh úp Khâm-châu. Dân Khâm mách với Trần Vĩnh-Thái; nhưng y không tin. Khi chiến thuyền Việt ập vào bến, lại có người báo quân Việt đổ bộ, y vẫn không tin, còn bầy tiệc rượu uống. Quân Việt vào thành bắt được Vĩnh-Thái, cùng tất cả bộ hạ đem giết. Sau khi chến tranh Lý-Tống hết, Tống triều cho lập đền, tô tượng Vĩnh-Thái để thờ, phong là Chuyển-trí đại-vương. Vì Trần Vĩnh-Thái đần quá, nên sau này muốn chê ai đần độn thì gọi người đó là Trần Thừa-chỉ. Bởi thừa-chỉ là hàm của Vĩnh-Thái.
Tôi thấy thuyết này vô lý. Bởi bấy giờ Tống triều đang cho tuyển binh, luyện binh, đóng chiến thuyền chuẩn bị đánh ta; Vĩnh-Thái là biên cương trọng thần, thì y với bộ hạ phải có màng lưới tình báo rất bén nhậy, và đặt binh tướng trong tình trạng báo động, chứ có đâu để hoang như vậy? Hơn nữa, khi đạo quân Tôn Đản đánh sang biên giới, chính Lưu Di ra lệnh cho y chuyển quân về Tây cứu viện, thì ít ra y cũng phải cảnhgiác đề phòng chứ? Quách-thị Nam-chinh và Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký lại chép rằng: « Quân Đại-Việt vượt biển trong đêm, thình lình đổ lên đánh xưởng đóng chiến thuyền, đốt phá hạm đội, cùng trèo tường nhập thành Khâm, giữa lúc Trần Vĩnh-Thái đang làm lễ sinh nhật cô vợ thứ mười ».

 Trong Tống-triều công thần bi ký phần văn bia Chuyển chí đại vương ghi rằng: « Tướng Đại-Việt là hoàng-tử Chiêu-Văn thăng cho Văn Lương, Ngô Phúc làm thiên tướng; Tưởng Cẩn, Tống Đạo làm thần tướng; Đinh Toại làm vũ-tướng. Còn Vĩnh-Thái được giữ nguyên chức Vân-ma đại tướng quân, Đông-hưng hầu; lại tập hợp tù hàng binh lập ba hiệu binh mới trao cho Từ Bá-Tường chỉ huy. Tường truyền Vĩnh-Thái cùng bộ hạ đánh Liêm-châu. Vĩnh-Thái không tuân, nên bị xử lăng trì cùng Âu-dương Dẫn. Chiêu-Văn sai Từ Bá-Tường dem quân đánh Liêm, Dung, Nghi, Bạch châu ».

 Ở đây tôi thuật theo Quách-thị Nam chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký và Tống triều công thần bi ký.


 Mọi người nhập tiệc.

 Tiệc được một tuần, thì thân binh báo:

- Nguyên soái Đại-tư-mã xin yết kiến công chúa điện hạ.

 Tuy Thường-Kiệt là vai sư điệt của công-chúa Côi-sơn, nhưng ông là chúa tướng, nên công chúa vội cùng chư tướng ra đón. Đi theo Thường-Kiệt còn có cả đô-đốc Lý Kế-Nguyên, bốn đô đốc chỉ huy bốn hạm đội, cùng Triệu Thu, Phương-Liễu.

 Thường-Kiệt cung tay:

- Cháu được Thấn-ưng của sư thúc Tôn Đản, Cẩm-Thi báo tin đại giá tiểu sư thúc đánh sang Đông, cháu cứ nghĩ ít ra phải năm bẩy ngày nữa sư thúc mới đánh tới. Nào ngờ!

 Có tiếng nói đâu đó vọng lại:

- Anh Kiệt! Anh không nhớ thân mẫu thường nói sao! Người cho rằng trong nhà mình, thì dùng người tài nhất là bố, dùng binh vô địch thiên hạ là cậu Tự-Mai. Mấy tháng gần đây cậu Tự-Mai ở cạnh dì Út, thì dì Út không học được hết bản lĩnh dùng binh của cậu, thì cũng học được phân nửa. Đâu có gì lạ?
Tiếng nói vừa dứt thì Tín-Nghĩa vương cùng bọn Trần Di, Dương Minh, Phương-Lý, Phương-Cúc tới.

 Lễ nghi tất, mọi người nhập tiệc.

 Nguyên-soái Thường-Kiệt ngồi vào chủ vị, bên trái là công-chúa Côi-sơn, bên phải là Tín-Nghĩa vương. Kế tiếp là Động-đình thất kiệt, chư tướng. Ông hỏi Tín-Nghĩa vương:

- Hiền đệ! Việc hiền đệ đánh các ảo Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, cùng Thiên-long ra sao?

- Cánh quân của đệ không gặp may như các cánh Cổ-vạn, Tây-bình, Thái-bình, Hoành-sơn. Khi hạm đội Thần-phù của đô-đốc Trần Hải đổ hai hiệu Vũ-thắng của Trần Di, Phương-Lý, hiệu Long-đực của Dương Minh, Phương-Cúc lên Tiên-yên, thì tế tác giặc đã biết. Đệ cho Trần Di, Phương-Lý đánh ải Thiên-long; Dương Minh, Phương-Cúc đánh Như-tích, Để-trạo; đô-đốc Trần Hải dùng thủy-binh đánh Như-hồng. Như-hồng bị hạ trong ba giờ, chúa trại đấu với đô-đốc Trần Hải được năm mươi hợp thì bị giết chết. Thiên-long có tới năm nghìn Bảo-binh rất thiện chiến. Trần Di, Phương-Lý đánh suốt một ngày, Thần-tượng bị thiệt ba thớt voi, Thần-hổ, Thần-báo chết mất mươi con. Tin này đưa đến, đệ phải thân tới đốc chiến. Đệ truyền cho đội Thần-tiễn dùng tên lửa bắn vào trong, phút chốc khắp ải biến thành biển lửa. Giữa lúc đó ta mới tràn vào được. Thành ra khi chiếm xong ải, Thiên-long chỉ còn là một đống tro tàn. May mắn là kho lương thảo để ở giữa ải, tên bắn không tới, nên còn nguyên.

 ... Giữa lúc đó, thì Thần-ưng đưa tin cho biết Phương-Cúc đánh trại Như-tích, tuy giết được chúa tướng là Ngũ Hoàn, nhưng cũng bị thương nặng. Trần Di đánh trại Để-trạo suốt hai ngày không vào được, Phương-Cúc phải đem quân tiếp viện. Hai người chia quân ra làm hai đạo, cứ một đạo đánh, một đạo nghỉ, vì vậy hôm sau tướng trần thủ là Trương Thủ bị trúng tên chết. Quân trong ải mệt quá, mở cửa xin hàng.

 Vương kết luận:

- Lương-thực chứa ở bốn trại này không nhiều, vì Tống cất ở Khâm-châu, Liêm-châu, rồi dùng thủy quân chở sang bên ta.

 Thường-Kiệt hỏi Lý Kế-Nguyên:

- Đại-đô đốc! Việc đánh xưởng đóng chiến thuyền, cùng hạm đội Khâm-châu ra sao?

 Lý Kế-Nguyên cung tay:

- Trình nguyên-soái, đô-thống Triệu Thu chỉ huy đội Giao-long Tây-hồ hoàn thành nhiệm vụ trót lọt. Sau khi đô-thống làm xong, bơi thuyền ra khơi, thì hiệu Thần-điện do Triệu phu nhân là Phương-Liễu tấn công xưởng đóng chiến thuyền. Khi quân ta lọt vào trong phóng hỏa khắp nơi, thì thủy quân, cùng thợ đóng thuyền mới tỉnh giấc. Họ phóng mình vào trại với chân tay không, nên bị giết quá nửa. Còn lại chúng bỏ chạy lẫn vào với dân chúng.

 Triệu Thu lắc đầu nói với Tây-hồ thất kiệt:

- Cũng may thái-hậu quyết định ra quân trước, bằng không để Tống đánh sang, thì mình đến mất nước. Thực kinh khiếp, xường đóng chiến thuyền đã hoàn thành được hai trăm chiến thuyền lớn loại chở năm trăm quân, ba trăm chiến thuyền nhỏ, loại chở hai trăm quân. Chỉ trong vòng nửa năm nữa hạm đội của họ có thể chở một lúc mười lăm vạn quân đánh mình!!! Còn lương thảo, vũ khí chất cao như núi trong hơn ba mươi dẫy nhà. Tính ra có thể nuôi mười vạn binh trong một năm.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #382 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:52:59 am »

 Thường-Kiệt hỏi công-chúa Côi-sơn:

- Sư-thúc! Sư thúc đã kiểm kê lương thảo trong thành Khâm-châu chưa?

- Không cần! Kiểm làm gì?

 Bà giảng giải: Ta bắt được Âu-dương Dẫn, khiền cho y một trận, thì lập tức y đem sổ sách về tình hình lương thảo, tiền bạc của Khâm-châu cùng các trại Như-hồng, Như-tích, Để-trạo, Thiên-long ra nộp.

 Nói rồi bà đưa mắt cho Âu Huyền:

- Con đem sổ ra trình nguyên-soái!.

 Thường-Kiệt tiếp cuốn sổ ghi lương thảo, vũ khí mà rùng mình. Ông lắc đầu nghĩ thầm:

- Tên Vương An-Thạch thực siêu phàm. Y mới áp dụng Tân-pháp có tám năm mà quốc-sản, kho đụn Tống đã súc tích như thế này. May mà ta ra tay trước!

 Thường-Kiệt ban lệnh:

- Tất cả tù binh, cao nhất là Trần Vĩnh-Thái, thấp nhất là phu đóng chiến thuyền, nhất nhất được nuôi dưỡng đầy đủ, không được đánh, không được giết, cũng chẳng nên làm nhục người ta. Sau khi thanh lọc, kiểm kê, trao cho Động-đình thất kiệt, để tùy theo tội chúng nặng nhẹ mà xử, để làm mát lòng dân.
Trưa ngày Mậu-Dần 20 tháng 11 năm Ất-Mão (DL. 30-12-1075)

 Động-đình thất kiệt cho người mang loa đi khắp nơi chiêu dụ những binh tướng ẩn trốn ra trình diện, sẽ được ân xá. Bẩy người họp suốt hai ngày với võ-lâm, với sư huynh sư đệ cũ, với gia đình họ hàng, rồi quyết định đem bọn quan lại Tống, bọn đầu trộm đuôi cướp ra xử. Nguyên tắc của Thất-kiệt là quan lại ở đâu, bọn ác bá ở đâu, thì đem về đó họp dân chúng, để ai có ơn thì ra làm chứng, hầu giảm án hoặc tha tội; kẻ làm ác thì bị hành hình.

 Trước đây Trần Vĩnh-Thái, ỷ được Vương An-Thạch tín cẩn, nên y lộng hành quá đáng trong vịệc bắt dân chài, dân buôn cùng thợ thuyền xung quân, khiến gia đình họ đói khổ. Y lại ra sức truy lùng họ hàng, thân thích Thất-kiệt. Thất-kiệt quyết định đem y ra xử lăng trì (xẻo từng miếng thịt). Viên giám-thuế Âu-dương Dẫn tham ô quá độ, bị dân chúng giết cả nhà, còn chính y bị mổ bụng lấy gan ăn sống cho hả giận. Ngược lại bọn Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo, Đinh Toại chỉ là những tướng chỉ huy quân, bị đầy xuống Lưỡng-Quảng, mà lại liêm khiết, nên được ân xá.

 Trong khi Động-đình thất kiệt xử tội bọn tham quan, bọn ác bá thì nguyên-soái Thường-Kiệt họp chư tướng ở trong soái phủ thành Khâm-châu. Tướng-sĩ hiện diện đầy đủ. Nguyên-soái nói mấy lời ngợi khen tướng-sĩ đã lập được kỳ tích trong thời gian qua.

 Ông xoa tay vào nhau:

- Ba vị đại hiệp Phụ-Quốc, Bảo-Dân, Trung-Đạo cunmg cấp tin tức cho ta thực ích lợi vô cùng tận. Ta đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng chín, mà mãi đền ngày 11 tháng 11 (DL.21-12-1075) Tống triều mới hay Cổ-vạn thất thủ. Tiếp theo ta đánh Thái-bình, Hoành-sơn, Vĩnh-bình, Tây-bình ngày 2 tháng mười, Lưu Di có gửi lệnh cho quân Khâm-châu tiếp viện từ ngày 15 tháng 11, nhưng cho đến hôm nay là ngày 20 tháng 11, tức 45 ngày sau mà Lưu Di cũng chưa biết các ải kia thất thủ. Thì hỏi sao Tống triều biết được? Lợi dụng tình hình đó, ta tiến về Ung-châu trước khi Tống triều ra tay.

 Ông đứng nói với chư tướng:

- Đạo quân bộ của Tôn sư thúc giờ này đang lên đường tiến về Ung-châu theo trục Nam-Bắc. Bây giờ ta cũng tiến về Ung-châu theo đường Đông-Tây. Đạo quân Tôn sư thúc tiến lên, trong khi phía sau có vua bà Thiên-Thành trấn thủ Bắc-cương Đại-Việt; phò-mã Thân Cảnh-Long cùng các tướng Lưu Kỷ, Hoàng Kim-Mãn, Vi Thủ-An với các hiệu binh Bắc-biến trấn ở Thái-bình, Hoành-sơn, Vĩnh-bình, Tây-bình, Cổ-vạn. Nay ta tiến quân, cũng cần phải có tướng trí dũng song toàn trấn Khâm-châu, cùng cửa biển Nam-hải. Việc trấn thủ này cực kỳ quan trọng. Bởi khi được tin ta tiến về Ngũ-lĩnh, ắt Tống thừa hư trong nước không có trọng binh, họ sẽ đem thủy quân Mân-Triết, thủy quân Kinh-hồ chở đại quan đánh úp Thăng-long. Như vậy ta vừa mất đường về, và mất luôn nước.

 Ông đứng dậy nói với Tín-Nghĩa vương, Lý Kế-Nguyên:

- Ta để cho hiền đệ bốn hạm đội trấn Khâm-câu, tuần thám biển Đông. Ta cũng để đại-đô đốc Lý
Kế-Nguyên làm phó cho hiền đệ. Liệu hiền đệ có đảm đương nổi không?

 Tín-Nghĩa vương khẳng khái:

- Đại huynh đừng lo, em với Lý đại đô đốc có thể chu toàn nhiệm vụ. Em thấy Khâm-châu đã chiếm, đại huynh tiến về Tây, mà bên hông phải còn các châu Liêm, Dung, Bạch, Nghi. Vậy em xin lĩnh nhiệm vụ đánh các châu này, bảo vệ hông phải cho đại ca, cùng cản viện quân từ Quảng-châu xuống.

- Hiền đệ thực là người tinh-minh mẫn cán, lại trí dũng có thừa. Như vậy ta mới yên tâm. Nhưng hiền đệ chỉ có thủy quân, thì lấy đâu ra quân đánh các châu kia?

- Liêm-châu nằm sát bờ biển, thì thủy quân có thể đổ lên bờ đánh được. Còn các châu kia ư? Đệ dùng bảo-binh bắt được, hoặc đầu hàng ở các ải biên giới, hợp với tù hàng binh của Khâm-châu, thiết lập thành đội binh mới. Tuy quân này ô hợp, nhưng dùng để đánh các châu Liêm, Dung, Bạch, Nghi cũng được.

- Dùng quân người đánh người có nguy hiểm lắm không?

 Tín-Nghĩa vương ghé miệng vào tai Thường-Kiệt:

- Không khó. Hiện cha mẹ, vợ con, gia sản của chúng, đệ đã đem về giữ ở trong thành Khâm-châu. Bây giờ đệ ra lệnh: Kẻ nào phản trắc, hèn nhát, thì không những bản thân khó toàn, mà gia thuộc cũng bị giết. Đệ giao các hiệu binh này cho Động-đình thất kiệt, để họ chỉ huy chúng. Thế của Động-đình thất kiệt bây giờ như ngồi trên lưng cọp, không thể bước xuống được nữa. Họ chỉ có thể tới, mà không thể lui! Vậy huynh phải gửi tấu chương về triều, xin phong chức tước cho Động-đình thất kiệt, để đào thêm hố căm thù của Tống với họ, và cột chặt họ với ta.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #383 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:53:43 am »

 Nguyên-soái Thường-Kiệt vội sai chim ưng mang biểu về triều. Hai hôm sau có chiếu chỉ ban ra: Phong cho tất cả Động-đình thất kiệt đều lĩnh ấn thiên-tướng, tước hầu. Từ Bá-Tường tước Vạn-sơn hầu, Lý Tân tước Thiên-long hầu, Hà Quan tước Đông-hưng hầu, Vũ An tước Như-tích hầu, Mao Cang tước Liêm-Đông hầu, Đạo Vi tước Khâm-Nam hầu, Phúc Chi tước Dung-Nghi hầu.

 Nguyên-soái Thường-Kiệt truyền quân sĩ nghỉ ngơi mấy ngày cho lại sức. Trong khi Tín-Nghĩa vương Lý Chiêu-Văn, đại-đô đốc Lý Kế-Nguyên cho kiểm kê lọc những bảo-binh, Quảng-binh, binh triều ẩn náu trong dân. Tổng số hàng binh, tù binh lên tới ba vạn người. Vương lập thành ba hiệu binh, mang tên Đông-Việt, Nam-Việt và Tây-Việt. Thăng giám áp Văn Lương, Ngô Phu lên làm thiên-tướng chỉ huy hiệu Đông-Việt; thăng chỉ-huy-sứ Tống Đạo, Đinh Toại lên làm thần-tướng chỉ huy hiệu Nam-Việt; thăng tuần kiểm Tưởng Cẩn lên làm vũ-tướng chỉ huy hiệu Tây-Việt. Ba hiệu binh này mang tên Lĩnh-Nam binh, được trao cho Động-đình thất kiệt chỉ huy. Lại cử Từ Bá-Tường cùng với Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đi các nơi an dân, cắt đặt quan tước cai trị.

 Ngay ngày hôm sau, vương truyền ba hiệu binh Đông-Việt, Nam-Việt, Tây-Việt tiến đánh các cửa Bắc, Nam, Tây thành Liêm-châu. Đô-đốc Trần Lâm với thủy quân hạm đội Động-đình đánh cửa Đông. Đại đô đốc Lý Kế-Nguyên tổng chỉ huy công thành.

 Vì thành Khâm-châu bị chiếm, nên thành Liêm-châu tổ chức phòng vệ cực kỳ chu đáo. Trong thành Liêm có đạo quân triều thứ 35 giám-áp Chu Tông-Thích chỉ-huy, lữ kị thứ 45 do chỉ-huy-sứ Ngô Tông-Lập em ruột Tông-Thích chỉ huy. Ngoài ra còn hai vạn bảo-binh do tri huyện Hợp-phố Lương Sở chỉ huy. Tướng trấn thủ là chiêu-thảo-sứ Lỗ Khánh-Tôn, tuổi già, trí dũng tuyệt vời. Vì vậy ba hiệu binh Đông, Nam, Tây-Việt được Thần-nỏ, Thần-hổ, Thần-báo cùng hạm đội Động-đình trợ chiến, mà đánh suốt hai ngày, hai đêm vẫn không hạ được thành. Hai thiên-tướng Ngô Phu, Văn Lương bị trúng tên chết. Trong khi tướng trấn thủ cửa Tây là Chu Tông-Thích, cửa Nam là Ngô Tông-Lập cũng bị đán bắ chết. Trận chiến diễn ra cực kỳ khốc liệt.

 Tin đưa về Khâm-châu, Tín-Nghĩa vương phải thân tới đốc chiến. Vương thân cầm dùi đánh trống thúc quân. Thủy-quân thuộc hạm đội Động-đình dùng máy bắn đá, phá cửa Đông thành, tướng trấn thủ là Lương Sở bị đá trúng sọ chết. Quân trấn thủ rối loạn, nhờ vậy quân Đại-Việt xua Thần-hổ, Thần-báo xung vào trước, thủy quân vào sau. Bấy giờ trong thành hỗn loạn, quân vây các cửa kia mới vào được. Quân Việt làm chủ hoàn toàn thành Liêm vào giờ Dậu ngày Tân-Tỵ 23 tháng 11 năm Ất-Mão (DL. 2-1-1076). Chiêu-thảo sứ Lỗ Khánh-Tôn cùng hơn trăm đệ tử phá vỡ vòng vây phía Bắc chạy thoát. Khi y rời khỏi thành hơn mười dặm, thì gặp Vạn-sơn hầu Từ Bá-Tường cùng đô-thống Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh đi an dân về tới. Cho rằng Bá-Tường phục binh đánh mình, Tôn không nói không rằng xung vào đánh liền. Y đấu với Bá-Tường được hơn trăm hiệp thì mất mạng.

 Tín-Nghĩa vương vào thành Liêm-châu, yết bảng yên dân, truy thăng phủ tuất cho gia đình tử sĩ. Vương truyền tha thuế cho dân, tha tất cả thuế thiếu những năm trước. Năm nay không phải nộp bất cứ thứ thuế gì. Lại tha hết tù, bất kể nặng nhẹ, thành án hay chưa. Vương cho hủy bỏ tất cả Tân-pháp của Vương An-Thạch như Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-giáp, Thủy-lợi v.v. lấy của trong khi phát cho dân nghèo. Dân chúng sung sướng vô cùng. Họ gọi quân Lý là quân của cha mẹ dân (Dân chi phụ mẫu). Vương tự tay soạn một bài hịch gọi là « Điếu dân, khử bạo hịch », rồi sai khắc mộc bản, in ra gửi đi niêm yết khắp nơi:
« Đạo trị dân tự cổ đến nay, trải Tam-hoàng, Ngũ-đế, đều lấy an dân làm gốc. Á-thánh Mạnh-tử nói rằng: Dân vi quý, xã tắc thứ chi. Phép giữ Xã-tắc lấy toàn cương thổ để nêu chính thống. Điều này, không những sĩ thiên hạ biết, mà cho đến ngu dân cũng thuộc nằm lòng.

 Nay Hy-Ninh đế lòng dạ u mê, hôn ám, trọng dụng tên khuyển nho Vương An-Thạch, phá bỏ tất cảđạo trị dân của thánh nhân, coi khinh cương kỷ của các tiên đế Tống triều; rồi đặt ra những gì là Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-giáp, Bảo-mã làm cho dân sống không nổi, mà chết cũng không xong. Trời sầu đất thảm, núi khóc, sông rên, khắp các triều đại Hoa-hạ, chưa bao giờ có một hôn quân như vậy, chưa bao giờ có một tên quan ngông cuồng, ác độc như vậy.

 Thời đức Thái-tông, Chân-tông, Nhân-tông, trong dụng các bậc đại nho, ngoài dùng chính sách vỗ về, mà bốn phương được phẳng lặng, dân chúng được ấm no. Từ ngày Hy-Ninh lên làm vua, trọng dụng yêu pháp của Vương An-Thạch, rồi gây chiến với Tây-hạ, đến nỗi hao binh tổn tướng, trong khi đó cúi đầu khuất phục đem vàng lụa cống Liêu; nay cắt dất, mai cắt đất dâng cho chúng... để được yên thân. Hỡi ôi, từ Tam-hoàng, Ngũ-đế đến nay, có bao giờ Trung-nguyên nhục nhã như vậy đâu?

 Mấy năm qua, Hy-Ninh nghe lời Vương An-Thạch, bắt dân vùng Kinh-Nam, vùng Nam Ngũ-lĩnh luyện tập binh bị, khiến cho việc nông tang bị bỏ phế, học phong bị suy đồi; lại tích trữ lương thảo dọc Nam-thùy, chuẩn bị sang đánh Đại-Việt ta. Dù ta có nínnhịn đến đâu cũng không chịu được. Nay ta ra quân, không có ý chiếm đất Trung-nguyên, cũng chẳng có lòng muốn diệt bỏ Tống triều, mà trước là phá hết những chuẩn bị đánh sang Đại-Việt ta, sau là điếu dân khử bạo.

 Ta đã nghiêm cấm quân, không được phạm đến dân chúng, kẻ nào không tuân thì bị giết ngay. Ta đã ban chỉ cho tướng sĩ rằng: Trước thả hết tù, dù thànhán hay chưa thành án; tha thuế trong một năm, tha cả thuế đã thiếu những năm trước; kho lẫm của Hy-Ninh, Vương An-Thạcvh vơ vét của dân bấy lâu, được phát cho dân nghèo; hủy bỏ hoàn toàn Tân-pháp, mà trở lại với đạo lý thánh hiền đời vua Thái-tông, Chân-tông, Nhân-tông. Dân chúng bị bắt xung quân, bị bắt làm bảo-binh, được cho về nhà.
Vậy ta ban bố tờ hịch này đến nhân-sĩ, dân chúng để yên lòng ».

 Thái-Ninh vạn vạn niên, nay là năm thứ tư mùa Đông, tháng chạp.

Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #384 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:54:21 am »

 Quân nghỉ được một tuần (ghi chú: tuần của Lịch-việt là 10 ngày), nguyên-soái Thường-Kiệt truyền quân kéo cờ tiến về Đông, hợp với đạo binh Tôn Đản, Cẩm-Thi công phá Ung-châu, sau đó kéo lên đất thiêng của tộc Việt là vùng núi Ngũ-lĩnh.

 Phụ lục: Chiêu-thiền tự

 Kể từ hồi này, hành trạng của hai vị Thánh-tăng Minh-Không, Đạo-Hạnh trong công cuộc cứu nước rất quan trọng. Vì vậy thuật giả xin chép vào phụ lục một số di tích về hai ngài, nay vẫn còn.

 Chiêu-thiền tự còn có tên là chùa Láng. Chùa tọa lạc tại làng Yên-lãng, huyện Từ-liêm, nay thuộc Đống-đa, Hà-nội. Chùa dựng dưới thời vua Lý Thần-tông để ghi lại Bồ-tát Từ Đạo-Hạnh tu đắc đạo. Hồi thơ ấu (1950-1954) thuật giả thường cùng các bạn hẹn nhau tới chùa này chơi vào cuối tuần. Chùa hiện còn cây muỗm trồng từ thời nhà Trần (xem hình).

 Ngài Từ Đạo-Hạnh húy Lộ, quê quán tại làng Yên-lãng. Cha là Từ Vinh làm Tăng-quan đô-án. Từ Vinh có hiềm với Diên-thành hầu. Hầu nhờ Pháp-sư Đại-Điên (Đinh Kiếm Thương) dùng Pháp thuật đành chết, vứt thây xuống sông Tô-lịch. Xác ông trôi đến cầu Quyết, trước nhà Diên-thành hầu thì dựng đứng dậy chỉ tay vào nhà Hầu. Hầu lại đi mời Đại-Điên tới. Đại-Điên phải làm phép, xác mới đổ xuống, trôi đi. Từ Đạo-Hạnh muốn trả thù cha, nhưng không đủ phép. Ngài tiếp tục học. Sau khi đủ phép,ngài tìm giết Đại-Điên rồi tu ở chùa Phật-tích trên núi Sài-sơn. Nay là Thiên-phúc tự thường gọi là chùa Thầy. Xin xem hồi 37 NQSH.
Bấy giờ vua Lý Nhân-tông không có con trai, muốn tìm con của tông thất nối ngôi. Em vua là Sùng-Hiền hầu không con, muốn có con, nhờ ngài Đạo-Hạnh, Minh-Không giúp. Hai ngài hứa giúp. Minh-Không dùng thuốc trị bệnh cho Hầu. Còn Đạo-Hạnh dặn hầu rằng khi phu nhân lâm bồn thì báo cho ngài biết. Đến ngày phu nhân trở dạ, Hầu sai người cáo với ngài. Ngài tắm rửa, thay áo, rồi vào hang núi xuất hồn nhập vào xác thai nhi. Phu nhân sinh một trai đặt tên là Lý Dương-Hoán. Dương-Hoán được vua Lý Nhân-tông nhận làm con nuôi, sau được nối ngôi, tức vua Lý Thần-tông (1128-1138) (Xác này khi Trương Phụ sang đô hộ Đại-Việt đã đem đốt đi).

 Khi lên ngôi, vua Thần-tông cho xây chùa để tưởng niệm kiếp trước của mình. Trong chùa thờ ngài Từ Đạo-Hạnh mặc áo vàng, thờ luôn cả vua Lý Thần-tông ngồi trên ngài. Hằng năm vào ngày 7-3 Âm-lịch là ngày kỷ niệm Ngài hóa. Trước hết là nghi lễ tắm tượng, sau đó rước bài vị Ngài sang xã Yên-quyết, Dịch-vọng, rồi diễn lại tích Ngài đánh nhau với Đại-Điên.

 Độc giả có thể đọc các sách chữ Hán dưới đây để tìm hiểu thêm về ngôi chùa này:

- Thiền-uyển tập anh.

- Hoàn-long huyện chí.

- An-lang Chiêu-thiền tự.

- Hà-nội địa dư.

- Ngoại truyền kỳ lục.

- Bắc-thành địa dư chí lục.

- Thăng-long cổ tích khảo.

- ĐNNTC.

- Hoàng-Việt địa dư chí.

- La-thành cổ tích vịnh.

- Bắc-kỳ giang sơn cổ tích.

 Chùa Láng hay Chiêu-thiền tự

 Cổng Tam Quan

 Tượng vua Lý Thần Tông tại Chiêu Thiền Tự

 Nhà Bát giác trong sân chùa


Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #385 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:55:10 am »

Chương 36
Đường về đất Tổ

 Niên hiệu Thái-Ninh thứ tư, đời vua Lý Nhân-tông của nước bên Đại-Việt, nhằm niên hiệu Hy-Ninh thứ tám đời vua Tống Thần-tông bên Trung-nguyên, tháng chạp, ngày Đinh-Dậu (10 tháng chạp Ất-Mão, DL. 10-01-1076).

 Trong đại bản doanh của quân Đại-Việt, đóng cách thành Ung-châu hai trăm dặm về phía Nam. Chư tướng cánh quân thứ nhất của Đại-Việt, phạt Tống đều tề tựu. Trên trướng, ngồi giữa là Long-thành ẩn-sĩ Tôn Đản với phu nhân Ngô Cẩm-Thi, bên trái là công-chúa Thiên-Ninh, bên phải là Vũ-kị đại tướng quân Hà Mai-Việt. Tiếp theo các tướng, theo thứ tự ngồi gồm Long-biên ngũ hùng cùng năm vị phu nhân, Tuyết-sơn thập anh, tám tướng Bắc-biên chỉ huy tám đội binh Long, Phong, Hầu, Ưng, Ngao, Tượng, Hổ, Báo, các tướng chỉ huy Thạch-xa, Thần-nỏ.

 Long-thành ẩn-sĩ Tôn-Đản xoa tay vào nhau, hỏi chư tướng:

– Kể từ khi khai chiến đánh Cổ-vạn ngày 15 tháng chín, cho đến nay, xấp xỉ đã ba tháng. Trong ba tháng đó, chúng ta cho quân nghỉ ngơi, thao luyện, cùng nghiên cứu tình hình trước khi tiến xa hơn. Bây giờ chúng ta chuẩn bị đánh Ung-châu. Chư tướng có ý kiến gì không?

 Đô-thống Vũ Quang hỏi:

– Thưa sư thúc, đệ tử được sư phụ (ghi chú: chỉ Khai-Quốc vương) dạy rằng: Binh qúy hồ tốc. Phàm phép dụng binh, ai ra tay trước thì nắm được tiên cơ thắng lợi. Thế sao sau khi ta chiếm được các thành Nam phòng của Tống, lại không thừa thế chẻ tre tiến lên đánh Ung-châu ngay, mà để cho đến nay mới khởi sự? Vì ta chậm chạp, mà nảy sinh ra ba điều khó khăn vô cùng tận.

 Nhìn qua sắc diện chư tướng, thấy dường như họ đều đồng ý với Vũ Quang; Tôn Đản hỏi:

– Theo đô-thống, năm khó khăn của ta là gì?

– Thưa sư thúc, khó khăn thứ nhất là tướng trấn chủ. Tướng trấn thủ Ung-châu tên Tô Giàm, vốn xuất thân tiến sĩ, võ công bình thường, nhưng là người văn mô vũ lược, can đảm khó ai bằng. Giàm từng trấn thủ Nam thùy Tống hơn ba mươi năm qua, nên y nắm rất vũng tình hình Đại-Việt ta. Thời vua Thái-tông, khi Nùng Trí-Cao khởi binh, tài trí như Quảng-Đông ngũ cái, cũng bại về tay y. Thế mà nay ta đánh biên giới rồi dùng quân lại, tất y củng cố đề phòng rất nghiêm mật. Đó có phải là điều tự ta tạo lấy khó khăn không?

– Đúng thế!

 Tôn Đản hỏi: Còn điều khó khăn thứ hai?

– Thành Ung là bản doanh chỉ huy tất cả lực lượng Nam-thùy Tống, trong thành có hai đạo binh triều 29, 30, một sư kị binh 40. Các đạo binh này do Kinh-Nam vương huấn luyện, từng tham dự các trận đánh với Tây-hạ nến rất thiện chiến, thếm vào đó ba vạn bảo-binh, cộng sáu vạn người. Trong binh pháp, cứ một thủ thành thì phải mưởi mới đánh nổi. Đối diện với sáu vạn binh thủ, ta lấy đâu ra sáu mươi vạn mà đánh? Đã vậy, còn chậm chạp, giúp Tô có thêm thời gian chuyển một số quân ở trấn xung quanh về. Y lại tùng quyền bắt tất cả trai tráng xung quân; bởi thế số người trấn trong thành Ung nay lên tới hơn mười vạn. Đó có phải là ta chậm chạp mà nảy sinh ra khó khăn này không?

Ghi chú,

 Về quân số thủ thành Ung, các sách chép bất nhất. Có sách chép 2.800 người. Có sách chép năm vạn, có sách chép sáu vạn. Nhưng cuối cùng tất cả đều chép giống nhau rằng, quân Lý vào thành giết sáu vạn người.

– Tống-sử quyển 446 ghi rõ: Quân Việt xếp đầu ngưởi thành đống, mỗi đống một trăm đầu, cộng 580 đống.
– Quách-thị Nam-chinh, Triệu-thị chinh tiễu Giao-chỉ ký, Tống-triều công thần bi ký chép giống nhau: Quân trong thành Ung có sáu vạn người gồm đạo binh 29, 30 đạo kị-binh 40, ba vạn bảo-binh, và bốn vạn dân binh. Tổng-cộng mười vạn người thủ thành.
Vì vậy, tôi chép là mười vạn.

– Được lắm! Nhận xét như vậy thực đáng tài đại tướng. Còn khó khăn thứ ba?
– Thành Ung xây bằng đá ong, vừa cao, vừa chắc. Hào vừa rộng, vừa sâu. Với ba tháng nghỉ ngơi, chần chờ của ta khiến cho Tô-Giàm đã đào hào thêm rộng, thêm sâu; đặt bẫy đặt chông thực nhiều. Y lại cho đắp thành thêm cao, đem gỗ đá vào, chế thêm cung nỏ. Bây giờ ta mới tiến đánh, có phải tự ta tạo thêm khó khăn cho ta không? Vậy sư thúc định thế nào, xin dạy cho bọn hậu bối các cháu.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #386 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:56:06 am »

 Tôn Đản chậm rãi trả lời:

– Cháu đừng lo. Ta đã hội với thái-hậu, với nguyên-soái Thường-Kiệt, rồi đưa ra ý kiến rằng: Binh-pháp có muôn hình vạn trạng, ta không thể dùng một số phương-pháp nào đó mà áp dụng cho toàn thể. Này cháu! Binh bất yếm trá! Phàm dụng binh phải biết lừa địch. Khi địch cho rằng ta khôn, thì ta phải làm ra dại. Khi địch cho rằng ta dại, ta phải làm ra khôn. Người chỉ huy quân đối đầu với ta là Lưu Di. Từ khi xuống trấn Lưỡng-Quảng đến giờ, Lưu thường khinh ta là man di, mọi rợ, không biết lễ nghi phép tắc, tức y tưởng ta dại. Cho nên ta khôn bằng cách đánh úp hàng rào mười hai ải Nam biên của y, lại chiếm Khâm, Liêm châu. Tin này đưa về triều thì từ Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch cho rằng ta quá khôn. Bây giờ ta phải làm ra dại, thì mới thành công. Vì vậy ta mới dừng quân lại, để tỏ ra dại, khiến chúng sinh ra nghi ngờ. Trong phép dụng binh, điều tối kị là trì nghi bất quyết của tướng. Bây giờ chúng đang hoang mang, ta dễ dàng thắng chúng.

 Vũ-kị đại-tướng quân Hà Mai-Việt hỏi:

– Xin tiên sinh cho biết mục đích của ta khi giả dại để làm gì?

– Lão-phu xin vì các vị mà nói. Mục đích của cuộc tiến quân này là gì? Ta có cần chiếm đất không? Ta có cần khai chiến với toàn thể Trung-nguyên không? Trước hết chư vị phải hiểu rõ về mục đích cuộc tiến quân. Cuộc tiến quân có hai mục đích, mưc đích gần là phá từ trong trứng nước cuộc chuẩn bị đánh ta của Tống; do vậy phải chiếm các kho tàog chứa lương thảo, thành trì khắp Nam biên, làm cho Tống khó có thể tập kích ta. Mục đích này ta đã thành cống rồi. Bao nhiêu lương thảo bị chiếm, phát cho dân; bao nhiêu vũ khí chở về Đại-Việt hết; bao nhiếu thành trì, cầu cống đường xá bị phá hết rồi. Mục đích thứ nhì là phá bỏ Tân-pháp. Việc này thì đâu có thể làm ào ào một lúc, mà phải làm từ từ. Khắp vùng ta chiếm được, phải cử người về từng trang, từng ấp chứ? Phải nghiên cứu, chia lại ruộng đất cho đều, bằng bất công thì có khác gì lấy bạo tàn thay bạo tàn không?

 Ông mỉm cười:

– Nhưng giờ này, từ Hy-Ninh đế, Vương An-Thạch cho đến Khu-mật viện Tống đều tưởng chúng ta tiến quân chiếm lại cố-thổ như thời vua Trưng, như Nùng Trí-Cao. Họ đang nghĩ rằng, ta sẽ tiến quân lên chiếm Quảng-châu, Ung-châu, rồi vượt Ngũ-lĩnh chiếm Trường-sa. Do đó họ không giám đem quân từ Kinh-châu về cứu Khâm-châu, Liêm-châu như đã cho Địch-Thanh làm hồi trước. Họ cũng không dám đem quân Trường-sa vượt Ngũ-lĩnh cứu Ung-châu. Thế nhưng ta để ba tháng không tiến quân, họ cho rằng ta ngu, nên họ mới dùng cái thành Ung kiên cố để nhử ta đâm đầu vào vách đá, đợi cho ta hao binh, tổn tướng rồi mới phản công. Trong tâm, họ quyết ta không đủ quân số đánh thành này. Vì chủ quan, họ quên mất địa thế thành Ung ở vào vùng đất quá cao, trong thành nhiều quân, đông dân. Ta chỉ việc khơi lạch cho nước chảy đi hết, thì quân dân trong thành sẽ chết khát.

 Chư tướng vỗ tay hoan hô.

 Ngô Cẩm-Thi tiếp lời:

– Các vị có thấy không? Ta có năm hiệu Thiên-tử binh, với hiệu kị-binh, quân số chưa quá sáu vạn người, lại đi đường xa mệt mỏi, mà đến đây hơn ngày rồi Tô Giàm cũng không dám đem quân ngưng chiến, thì rõ ràng y nhử ta đánh thành, để ta mua lấy cái thất bại. Ta biết rõ ý đồ của Tô là không xuất khỏi thành đánh ta, thì ta cũng không cần đánh thành vội. Hiện tại Quế-châu có ba đạo binh triều mang số 1, 2, 3 và đạo kị-binh 47. Kinh-châu còn đạo 19, 35. Khi ta vây Ung-châu gấp, ắt Lưu Di cho ba đạo binh 1, 2, 3 và kị binh 47 xuống cứu. Các đạo binh này nhất định phải đi qua núi Đại-giáp, Hỏa-giáp nằm trên đường từ Quế-châu đi Ung-châu, Tân-châu.

 Bà chỉ Vũ Quan, Võ Kim-Loan, Đinh Hoàng-Nghi, Phương-Quỳnh:

– Ta phải chuẩn bị chặn đánh cánh quân tiếp viện này. Vậy hai đô-thống đem hiệu Quảng-thánh, Quảng-vũ, một lữ Thạch-xa, một lữ Nỏ-thần, một lữ thú, đội Thần-tiễn Long-biên phục ở núi Đại-giáp để chặn lại.

 Đô-thống Phạm Dật hỏi:

– Thưa sư thúc, ta chỉ có hai hiệu Thiên-tử binh mà phải chặn đánh ba đạo binh triều, một đạo kị-binh, e có nguy hiểm không? Hơn nữa, khi ta tiến quân mà phía sau thì thành Ung còn đó. Vạn nhất Tô Giàm cho xuất quân ra đánh cắt mất đường tiếp tế lương thảo thì nguy tai.

– Ta mong như thế.

 Cẩm-Thi khẳng định: Nếu Tô xuất quân ra, thì bị trúng kế dụ hổi khỏi hang. Ta sẽ có cách làm cho y kinh hồn táng đởm đến không dám ra khỏi thành nữa. Các vị tưởng rằng ta chỉ có năm hiệu binh thôi ư? Không! Chỉ nội chiều nay bẩy hiệu binh của canh quân đánh Khâm, Liêm sẽ tới, ấy là chưa kể ba hiệu binh thuộc binh Lĩnh-Nam của Tín-Nghĩa vương bất cứ lúc nào cũng có thể nhập cuộc.

 Vũ Quang, Hoàng-Nghi lĩnh mệnh rời trướng.

 Tôn Đản ban lệnh tiếp:

– Bây giờ lợi dụng việc Tô Giàm không dám xuất thành, mà ta thì quân ít không thể tấn công, ta làm kế nghi binh, khiến cho lòng y nghi hoặc, quân sĩ mệt mỏi. Đợi khi nguyên-soái Thường-Kiệt tới, ta mới đánh thực sự. Vậy...

 Ông mỉm cười:

– Phạm Dật, Lê Kim-Liên đánh cửa Tây; Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên đánh cửa Nam; Trần Ninh,rần Ngọc-Hương đánh cửa Đông. Hà Mai-Việt đánh cửa Bắc. Ngày mai, giờ Thìn bắt đầu khai pháo.

 Kim-Liên kinh ngạc:

– Trình sư thúc, như vậy là ta đánh thành chứ đâu phải gây hoang mang?
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #387 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:56:52 am »

– Sư-thúc chưa nói hết. Ta chỉ đánh cầm chừng thôi. Đến đêm thì rút ra xa cho binh sĩ nghỉ ngơi, nhưng vẫn phải cho Thần-ưng, Thần-ngao tuần tiễu đề phòng chúng cướp trại. Sang ngày thứ nhì, thì chỉ mình Phạm Dật, Lê Kim-Liên công phá cửa Tây; ngày thứ ba Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên công phá cửa Nam; ngày thứ tư Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương công phá cửa Đông; ngày thứ năm Hà Mai-Việt công phá cửa Bắc.

 Trần Ngọc-Hương bật cười:

– Tô Giàm là người đa mưu túc trí, trong lòng y nghĩ sằng ta sẽ đánh ào ạt bằng một quân số đông đảo. Không ngờ mỗi ngày ta chỉ công phá một cửa thành, với một quân số bằng một phần mười quân thủ. Nhất định y sẽ hoang mang vô cùng tận. Nhưng thưa sư thúc, tỷ như y thử cho quân xuất thành đánh ta, thì ta phải đối phó ra sao?

 Tôn Đản hài lòng:

– Phu-nhân đặt câu hỏi thực thông minh. Ta mong như thế. Mỗi ngày, khi các hiệu binh tấn công, ta đều cho dàn trận phía sau gồm Thần-hổ, Thần-báo, Thần-tượng và Thần-phong. Khi Tô Giàm đem quân ra tập kích, thì các vị cho quân giao chiến qua loa rồi chạy về sau tỏa ra như hình rẻ quạt. Nếu chúng đuổi tiếp sẽ trúng vào trận phục kích của ta. Hiện Tuyết-sơn thập anh với ba trăm đệ tử đã tới ngày hôm qua. Họ trang bị giống quân Tống. Đợi giữa lúc quân Tống trúng phục binh đang hỗn loạn, họ trà trộn nhập thành, để chờ làm nội ứng ngoại hiệp.

 Cuộc họp chấm dứt. Tôn Đản sai thư lại ghi chép chi tiết kế hoạch, rồi cho chim ưng mang đến cho nguyên-soái Thường-Kiệt.

 Sáng hôm sau, Long-thành ẩn-sĩ Tôn-Đản cùng phu-nhân đứng quan sát các đạo quân lên đường. Ông bà cùng đệ tử đi sau cùng, tiến về thành Ung.

 Từ xa xa, nhìn lên thành, thấy binh Tống đi đi lại lại phòng vệ nghiêm mật, cờ xí bay phất phới, gươm đao sáng choang. Ông nói với chư tướng:

– Tô Giám quả xứng đáng là biên-cương trọng thần của Tống, tài y thực không tầm thường. Nhưng tiếc rằng y không có phần nên phải ở dưới quyền bọn tham quan ngu như lợn Dư Tĩnh, Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di. Nếu y ở vào chức vụ An-vũ kinh lược sứ Lưỡng-Quảng, thì dễ gì mình đã đến được đây.

 Giữa lúc đó có tiếng trống thúc vang dội, quân reo dậy đất, cùng tiếng pháo lệnh nổ liên hồi, thì ra đã tới giờ Thìn, quân Đại-Việt bắt đầu công hãm. Loạt đầu Thạch-xa bắn đá lên thành, rồi bộ binh reo hò tiến đến bờ hào. Nhưng quân trên thành cũng bắn tên, quẳng đá xuống, làm quân Việt lại phải lùi lại.

 Sau hai lần xung phong thử thách sức phòng ngự, Tôn Đản cho quân lùi ra xa, đánh trống reo hò hư trương thanh thế. Cứ như thế kéo dài suốt ngày, rồi cùng rút ra xa an nghỉ. Sang ngày thứ nhì, Phạm Dật, Kim-Liên; ngày thứ ba Lý Đoan, Trần Ngọc-Liên công thành đều vô sự. Sang ngày thứ tư đến lượt Trần Ninh, Trần Ngọc-Hương công cửa Đông. Từ sáng đến chiều, bộ binh dàn thế trận trước cửa, rồi cho hai đội Thạch-xa, thần tiễn Long-biên ứng trực. Cứ mỗi khắc, Thạch-xa lại bắn những tảng đá lớn lên cổng thành, mặt thành. Quân Tống kinh sợ, không dám nhô đầu lên. Thỉnh thoảng một vài đội trưởng vừa thò đầu lên quan sát, là bị đội thần tiễn Long-biên bắn ngã lộn xuống liền. Cứ như vậy từ sáng tới chiều, hai người vừa định cho quân lui lại, thì Thần-ưng bay tuần thám trên trời báo hiệu trong thành có cuộc chuyển quân ở cửa Bắc, Nam, Đông.

 Trong những năm nghiên cứu binh pháp của Tống, các tướng Đại-Việt được biết rằng, mỗi khi cho quân trong thành tiến ra phá vòng vây, thì đầu tiên họ cho đội cung thủ lên mặt thành bắn tên ào ạt, khiến quân vây thành phải lùi lại. Bấy giờ họ mới mở cửa xông ra.

 Bây giờ đứng trước việc quân Tống chuẩn bị xuất ra ba cửa, Trần Ninh ước đoán rằng hai cánh xuất ra cửa Bắc, Nam sẽ đánh kẹp hai hông, rồi kị binh sẽ mở cửa Đông đánh trực diện.

 Trong Long-biên ngũ-hùng, thì Trần Ninh là người trầm tĩnh, can đảm bậc nhất; chàng vội sai báo cho Tôn Đản biết, rồi lệnh quân cho đổi thế trận: Chia quân làm hai, đối lưng chờ đợi. Còn đội Thạch-xa, Thần-tiễn, Nỏ-thần vẫn tiếp tục tấn công mặt trước.

 Quả nhiên, trên thành phát ba tiếng pháo lớn, quân Tống xuất hiện trên cửa Đông thành, dùng cung tên bắn xuống, mục đích đẩy lui quân Việt, cho kị binh xông ra. Nhưng khi họ vừa lên mặt thành, thì đội thần-tiễn Long-biên với đội Thạch-xa bắn những tảng đá khổng lồ bay vi vu, rơi xuống đầu như mưa, khiến kẻ vỡ dầu, người dập thây; người nào thoát được thì lại bị đội thần tiễn bắn ngã. Rồi cửa thành mở lớn, kỵ binh vọt ra ào ào.

 Trần Ninh đứng trên bành voi, phất cờ đỏ, lập tức Thần-nỏ tác xạ. Chỉ ba loạt tên liên châu, hơn nghìn kị binh ngã lổng chổng ngay phù kiều chồng chất lên nhau, làm đám kị binh đi sau ùn lại. Toán Thần-tiễn Long-biên dàn ra sau đội Nỏ-thần, cứ kị binh nào xông ra kéo xác người, xác ngựa để mở lối là bị bắn chết. Trong khi đó hai đạo tả, hữu đang giao chiến khốc liệt với quân Tống từ cửa Nam, Bắc đánh kẹp lại.

 Một hồi chiêng lệnh vang lên.

 Đội Thần-nỏ chia hai, quay lại tác xạ ào ào yểm trợ cho hai đạo Đằng-hải tả hữu. Nhờ vậy cánh quân Tống từ cửa Nam, Bắc phải lùi mấy bước.

 Một tiếng pháo lệnh nổ lớn.

 Hiệu Đằng-hải chia làm bốn cánh, mỗi cánh đều kéo cờ hồng trên thêu con rồng mầu đỏ, với hàng chữ ”Đằng-hải, đô-thống Trần” bỏ chạy về phía Đông, tỏa ra như hình rẻ quạt. Trong khi đội Thần-nỏ được hai trăm hổ, hai trăm báo yểm trợ vừa tác xạ vừa lùi. Đến đây bộ binh, kị binh trong thành đã đổ ra, tất cả cùng đuổi theo quân Việt.

 Một bên đuổi, một bên rút được khoảng hơn bốn dặm (2km ngày nay), có ba tiếng pháo thăng thiên nổ tung trên bầu trời, biến thành hình hai con ưng mầu đen bay giữa mặt trời mầu đỏ chói. Đó là hiệu tập trung binh vào đội giữa. Lập tức hiệu Đằng-hải đang tung ra như hình rẻ quạt, đổi thế trận, tập trung thành trận như hình bốn mũi tên, hàng lối ngay thẳng: Giữa là đội Thần-nỏ, Thạch-xa, hai bên, hai hiệu
Đằng-hải tả, hữu. Quân khí hùng tráng ngút trời.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #388 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:57:38 am »

 Quân Tống cũng dàn ra thành ba phía như muốn bao vây lấy quân Việt. Rồi một toán quân từ hàng ngũ Tống hộ vệ một người cỡi ngựa đi dưới lá cờ có chữ Trấn-Nam đại tướng quân Tô. Bên phải bên trái là có bốn tướng cỡi ngựa theo bên cạnh từ từ tiến ra.

 Bên trận Việt cũng phát ba tiếng pháo, rồi một đoàn nhã nhạc gồm hơn trăm nhạc công nam nữ đi thành hai hàng vừa tấu nhạc vừa tiến ra. Phía sau là hai cỗ xe. Trên cỗ xe thứ nhất một trung niên nam tử mình hạc xương mai ngồi, dáng người tiên phong đạo cốt. Trên cỗ thứ nhì, một trung niên thiếu phụ sắc nước hương trời, tay cầm cây phất trần. Cạnh hai cỗ xe, có lá cờ đề chữ Thuận-thiên đệ ngũ, một lá khác có hàng chữ Đại-Việt Long-thành ẩn-sĩ, Tôn. Phía sau, một đội đệ tử trường Long-thành, lưng đeo cung tên, tay cầm bảo đao đi hộ tống. Khi hai cỗ xe tới trước trận Tống thì ngừng lại.

 Một đệ tử trường Long-thành hô lớn:

– Đệ ngũ nhân trong Thuận-Thiên thập hùng, Long-thành ẩn sĩ Tôn Đản xin được thưa chuyện với Tô đại tướng quân.

 Tô Giàm thấy quân mình đông gấp ba quân Việt, dàn trận bao vây đối phương, thế mà chúa tướng đối phương lại ngồi xe, ung dung tấu nhạc ra trước trận, thì trong lòng bắt đầu nghi hoặc, từ nghi-hoặc đến chột dạ. Y cung tay:

– Tiểu bối từng nghe danh Tôn lão sư trong lần đi sứ Trung-nguyên thời vua Nhân-tôn: Cùng Kinh-Nam vương, U-bon vương diệt trừ dư đảng Hồng-thiết giáo Trung-nguyên. Khi về nước lão sư lại vang danh trong trận chư vương khởi loạn thời Thuận-Thiên. Rồi lão sư lại oai trấn Nam phương trong hai lần bình Chiêm. Gần đây trong trận đánh Chương-giang, Quảng-châu với Dư Tĩnh, người cùng phu nhân đuổi Dư Tĩnh chạy trên hai trăm dặm. Hôm nay, tiểu tướng mới được diện kiến với lão-sư cùng phu nhân, thực là tam sinh hữu hạnh.

 Tôn Đản cung tay đáp lễ:

– Đa tạ Tô đại tướng quân quá khen.

– Tiểu bối hằng khâm phục cái đức của lão sư cùng phu nhân. Tuy công lao trùm hoàn vũ, mà một đồng bạc, một đấu thóc của nhà vua lão sư cũng không nhận. Thanh cao thay, nghĩa khí thay. Nhưng thưa lão sư, nay giữa lúc hai dân Tống Việt đang sống thanh bình, lão sư với phu nhân lại đem quân đánh phá suốt một giải Nam thùy của Đại-Tống, khiến quân sĩ hai bên phơi thây trên chiến địa như núi, máu chảy thành sông đã đành; mà... dân chúng còn tan nhà nát cửa điêu linh vô cùng tận. Dám hỏi, đó có phải là võ đạo của lão tiên-sinh không? Mong lão tiên sinh dạy cho một lời.

 Tôn Đản phe phẩy chiếc quạt lông, rồi mỉm cười:

– Chết thực, một người trong lòng chứa không biết bao nhiêu cơ trí, kiến thức như Tô tướng quân mà sao lại nói vậy? Này tướng quân ơi, thời đức Chân-tông, Nhân-tông bên quý quốc, các ngài yêu thương dân như con đỏ, coi binh tướng như chân tay. Cho nên hơi có đụng chạm ở Nam-thùy là người ban chỉ dàn xếp cho êm đẹp. Vì vậy Tống triều không phải lo mặt Nam, mới đủ sức chống với Tây-Hạ, Bắc-Liêu. Có đúng thế không?

– Quả như lão-sư dạy.

– Hy-Ninh dùng ma pháp, tà-pháp của Vương An-Thạch, làm cho nhân-sĩ, võ-lâm thiên hạ đều oán hận, dân chúng khổ đến sống không nổi, mà chết cũng không xong vì pháp Thanh-miêu, Trợ-dịch, Bảo-mã, Bảo-giáp; oán khí bốc lên đến trời xanh. Để che lấp tội trạng, Hy-Ninh tích trữ lương thảo chuẩn bị đánh chiếm tám vùng tộc Việt. Triều đình, võ-lâm Đại-Việt biết hết. Con chó, con mèo bị dồn đường cùng, nó cũng phải cắn lại, huống hồ chúng tôi? Cho nên triều đình võ-lâm Đại-Việt quyết định đánh sang, trước giúp dân Lĩnh-Nam thoát khỏi nỗi thống khổ của ma pháp họ Vương, sau là diệt từ trong trứng nước âm mưu gây chiến của Hy-Ninh. Này Tô tướng quân.

 Ông vận nội lực nói thực lớn:

– Vơ vét của dân làm giầu là Hy-Ninh, là Vương An-Thạch, thế nhưng chúng sai những bọn vừa ngu, vừa đần Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di xuống Lĩnh-ngoại này lăng xăng gây chiến, rồi đẩy Tô tướng quân với tướng sĩ vào chỗ chết. Này Tô tướng quân! Nay hùng sư Đại-Việt sang đây, thế nghiêng trời lệch đất, liệu Tô tướng quân có chống nổi không?? Dĩ nhiên là không! Biết rằng chống không nổi, mà vẫn chống, tự lăn mình vào chỗ chết, tấm thân phơi cho ruồi bâu cho quạ ăn đã đành, mà vợ con, tôi tớ đều chết oan cho bọn cú diều Hy-Ninh, Vương An-Thạch, hỏi có đáng không? Như vậy là ngu trung, si dũng. Tôi có đề nghị với tướng quân.

– ? ? ?

– Sẵn binh lực trong tay, tướng quân cũng lão phu đem quân đánh Quế-châu, bắt tên Lưu Di ngu dần cùng cả nhà chúng giết cho hả giận, rồi sang Đại-Việt sống, như vậy vừa giữ được tấm thân kẻ sĩ, vừa bảo trọng được gia quyến; mà sĩ thiên hạ đều ngợi khen.

 Từ lâu rồi, Tô Giàm đã viết thư khuyến cáo bọn quan trên như Tiêu Chú, Thẩm Khởi, Lưu Di không nên dùng chính sách khiêu khích với Đại-Việt e có chiến tranh lớn. Nhưng bọn này nhận mật chỉ từ Tống triều, nên không những không nghe lời Tô, mà còn khiển trách Tô nữa. Nay giữa trận tiền, Tôn Đản nói ra cái sự thực, cái phẫn hận của mình, làm cho Tô mát lòng, mát dạ. Nhưng Tô xuất thân tiến-sĩ, lại có tiếng trong thiên-hạ, vì vậy Tô không thể nghe theo Tôn, hàng Đại-Việt. Tô cất cao tiếng nói:

– Thưa lão tiên-sinh. Tiểu tướng ăn cơm, mặc áo chúa thì dù phơi thây nơi sa trường cũng...

 Thình lình có tiếng pháo nổ, rồi tiếng quân reo dậy đất. Tô Giàm kinh hoảng nhìn về phía phải, nơi đó có đạo quân hùng tráng, trọn đời Tô chưa từng thấy qua. Đi đầu đạo quân, là một đôi nam nữ, tuổi khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm, cạnh có lá cờ mầu hồng, chính giữa thêu hình con rồng vàng, với hàng chữ Ngự-long, đô-thống Phạm. Cạnh hai tướng, bên phải là đội hổ, bên trái là đội báo, phía sau là mười cỗ xe chở Thần-nỏ.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #389 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2009, 02:58:23 am »

 Bình tĩnh, Tô cho quân dàn ra chuấn bị chiến đấu. Quân chưa dàn xong, lại có tiếng pháo nổ, rồi một đội quân khác, cũng do đôi nam nữ tướng chỉ huy, nhưng trên cờ thiêu con rồng mầu xanh, với hàng chữ Bổng-nhật, đô thống Lý, phía sau cũng có hổ, báo, Thần-nỏ. Bị ba hiệu Ngự-long, Bổng-nhật, Đằng-hải vây ba phía, Tô Giàm kinh hoảng, cho chia quân làm ba chuẩn bị nghinh chiến trong thế tuyệt vọng.

 Ba tiếng pháo nổ lớn.

 Cỗ xe chở Tôn Đản tiến tới trước trận, ông vẫy tay một cái, ba hiệu binh Việt đang hùng hổ lập tức dừng lại, trống trận ngừng thúc, tiếng reo im bặt. Hiện diện quân Việt có tới hơn ba vạn, mà im phăng phắc, không một tiếng động. Quân sĩ hùng tráng, kỷ luật như vậy, trọn đời Tô chưa hề thấy qua, nghe qua. Tôn
Đản chỉ tay vào trận Tống, ông vận nội lực nói lớn:

– Chư quân Tống nghe đây! Ban nãy kị binh các người tràn ra như sóng vỗ, nhưng chỉ một loạt Nỏ-thần của ta, đã khiến hơn nghìn người ngựa chết nghẹt cửa thành, lấp hào sâu. Nay các người bị vây, mà còn chống trả thì chẳng khác gì tự tử. Ta chuyên lấy nhân nghĩa đối xử với người. Quân Đại-Việt ta là quân anh hùng, không bao giời giết hại tù hàng binh. Vậy các người cứ thong thả mà vào thành suy nghĩ kỹ nên hàng hay nên chết vô lý.

 Tô Giàm thấy quân Việt tuy hùng tráng, nhưng vẫn ít hơn quân mình, y chưa quyết đánh hay lùi, thì từ xa xa, bụi bay mịt mờ, trống thúc vang dội, bẩy hiệu Thiên-tử binh nữa tiến tới. Tham tướng chỉ vào đoàn quân đang tới nói với Tô:

– Thưa tướng quân, đây là bẩy hiệu Thiên-tử binh, sau khi hạ Khâm, Liêm châu, đã tiến về đánh thành Ung ta. Bẩy hiệu này được chỉ huy bởi bẩy tướng trẻ và bẩy cô vợ, cũng là nữ tướng, được mang mỹ danh Tây-hồ thất kiệt. Bẩy cặp này mưu trí không bằng năm cặp Long-biên ngũ hùng, nhưng cực kỳ can đảm.

 Tô Giàm không còn ý chí chiến đấu, y cung tay hướng Tôn Đản:

– Xin kiếu từ lão tiên sinh và phu nhân.

 Rồi y cùng chư tướng cản hậu cho quân rút vào thành. Sau khi cho quân trấn các cửa thành, Tô than với các tham tướng:

– Thời Đại-Việt giúp Nùng Trí-Cao, tôi từng giao chiến với Thiên-tử binh, thì thấy cũng không hơn binh triều của ta làm bao. Nay sao lại hùng mạnh, tinh nhuệ, kỷ luật đến như vậy? Tôi thấy rõ, khi kị binh ta ào ào tràn ra, mà nháy mắt một cái thế trận của họ đã đổi. Đội Thạch xa tiếp tục bắn lên khiến đội cung thủ của ta không lên mặt thành yểm trợ cho quân kị vì vậy bên ngoài Thần-nỏ của họ bắn vào đội hình kị của ta hàng loạt, kị binh ta ngã lổng chổng. Một số kị của ta thoát khỏi Thần-nỏ, thì lại bị đội tiễn thủ bắn, bị bộ binh lăn dưới đất chặt chân ngựa. Binh như thế thì dù ta có đem năm vạn quân xuất thành cũng không thắng nổi một vạn của họ.

 Một tham tướng phụ trách tế-tác, trước đây từng theo đội võ sĩ của Yên Đạt, Tu Kỷ cứu Chiêm-thành, nên y biết rất rõ tình hình Đại-Việt, y nói:

– Từ bẩy năm nay, mười hai hiệu Thiên-tử binh được chỉ huy bởi mười hai tướng trẻ. Mười hai tướng này được vua Đại-Việt ban cho mỹ hiệu Tây-hồ thất kiệt và Long-biên ngũ hùng. Đặc biệt mười hai tướng này có mười hai bà vợ tài quá trượng phu. Về võ công, họ là những cao thủ hạng nhất. Về mưu trí, đởm lược của họ, nói ra thực xấu hổ, tôi chưa từng thấy tướng nào của ta có thể so sánh được. Trong bẩy năm, họ bắt binh tướng luyện tập suốt ngày, hóa cho nên mỗi Thiên-tử binh trở thành một chiến tướng.
Rồi y thuật lại phương thức tổ chức, huấn luyện, trang bị Thiên-tử binh cho Tô Giàm nghe. Giàm nghe xong, mặt trở thành lầm lỳ không nói không rằng.

 Thế là hai cánh quân của Tôn Đản, Lý-thường-Kiệt đã từ hai hướng Nam, Đông tiến lên vây Ung-châu.

 Lê Kim-Loan hỏi Tôn Đản:

– Thưa sư thúc, lúc nãy ta có thể xua quân diệt đạo binh Tô Giàm, sao sư thúc lại tha cho họ?

– Phu nhân giỏi chiến trận, nhưng chưa biết nhìn xa. Phu nhân phải biết rằng chúng ta đánh sang kỳ này chỉ với mục đích phá kho lẫm, thành trì Tống, chứ đâu có cần giết người? Trận này ta ra quân bất thần mà thành công. Sau trận này ta còn phải đối đầu với trận báo thù của Tống, nên ta cần tiết kiệm xương máu cho trận sau mới là trận quyết định. Ta biết rõ mười vạn người trong thành Ung đều nghiến răng căm hận ta đem quân vào cướp nước họ. Nếu ta giao chiến với họ, thì họ có chết hết mười vạn người, ta cũng chết mất bốn vạn. Như thế đến trận sau tinh lực ta còn gì? Cho nên ta cố dụ cho quân Tống ra ngoài thành, tuyên cáo tội ác của Hy-Ninh, Vương An-Thạch, để phá đi cái khí thế do căm hờn của họ. Cho nên ta mới buông tha cho họ vào thành. Bây giờ trong thành, mười vạn người như một cùng oán hận Hy-Ninh, Vương An-Thạch. Sau này ta muốn đánh thành, khí thế của họ không còn, thì đánh đâu có khó?

 Tôn Đản, Lý Thường-Kiệt hội binh lại bàn kế sách: Sau khi đánh xong thành Ung thì lui quân. Lợi dụng thành Ung bị vây, cho Tuyết-sơn thập anh cùng chư tướng đi về các thôn xã, khê động tuyên cáo: Tha thuế, bãi bỏ Tân-pháp, ân-xá mọi tội trạng, thu thóc lúa công nho Tống phát cho dân chúng. Theo ước tính của Ngô Cẩm-Thi, thì cần khoảng 45 ngày mới làm xong. Vì vậy không cần đánh thành ngay. Tạm thời chia quân làm ba phần, mỗi ngày một phần công thành để làm cho quân thủ mệt mỏi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM