Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?  (Đọc 65827 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2011, 11:51:32 pm »

Vương Thừa Vũ, tư lệnh khu đặc biệt Hà Nội tháng 12-1946 viết một bài báo 3 năm sau đó dưới tựa đề hứa hẹn "Sự thật về ngày 19-12 ở Hà Nội". Ông dành 7 trang rưỡi về bối cảnh quân sự, 6 trang cho cuộc chiến đấu anh dũng trong 2 tháng sau đó và nửa trang về sự kiện nổ súng. Nửa trang này viết rằng tự vệ tập trung ở tòa thị chính để tuyên bố sẵn sàng. Sau đó, lúc 20h03, quân Pháp gây hấn và chiếm đóng các công sở, buộc quân Việt Nam phải tự vệ. Tư liệu không chính xác này chỉ làm tăng thêm độ tin cậy của bức tranh do người Pháp vẽ ra, được hỗ trợ bởi bài phát biểu trên đài tháng 12-1949 của người lãnh đạo cuộc cách mạng tháng 8-1945 ở Sài Gòn và sau này là nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam Trần Văn Giàu, người dường như đã nói rằng phía Việt Nam bắt đầu cuộc chiến tranh 3 năm trước. Một thời gian ngắn ngay sau bài phát biểu - được phía Pháp theo dõi và sử dụng để tuyên truyền, ông mất chức bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Người Việt Nam hẳn phải có lý do để không đi sâu vào vụ nổ súng 19-12. Điều này có thể có nghĩa là người Pháp đúng. Tuy nhiên, nếu như lãnh đạo đảng, gồm cả Hồ Chí Minh nhất trí quyết định tấn công, vì sao họ phải đợi nhiều năm như vậy trước khi thừa nhận? Người ta có thể trông đợi họ sẽ tự hào kể rằng đảng đã lên kế hoạch và thực thi quyết định. Và nếu cuộc tấn công là kết quả của một quyết định được tính toán kỹ, một tuyên bố giải thích công khai chắc chắn phải được chuẩn bị trước và được tuyên truyền Việt Nam sử dụng ngay sau đó. Phải có điều gì đó mà người Việt Nam muốn giấu, điều gì đó còn đáng xấu hổ hơn một sự dối trá quanh co. Tiến trình của các sự kiện cho thấy điều gì đó đã diễn ra không đúng bên phía Việt Nam trong cái ngày định mệnh ấy.

Giải thích của Pignon được chấp thuận và phát lại bởi hầu hết giới thông tấn Pháp. Chỉ có 2 nhà báo Pháp tìm kiếm sự giải thích khác. Leon Boutbien của Franc-Tireur và Philippe Devillers của Le Monde. Boutbien phản bác quan điểm rằng nước Pháp đang đối diện với một khối thống nhất và tuyên bố giới lãnh đạo Việt Nam có sự chia rẽ. Võ Nguyên Giáp đứng đầu phái cực đoan đã ra lệnh tàn sát dân thường Pháp. Hoàng Hữu Nam và Hoàng Minh Giám thuộc phái ôn hòa và Hồ Chí Minh là một "nhân vật bí ẩn". Ở vài thời điểm, phái cực đoan đã đạt được quyền lực sau hậu trường. Chính phủ không thể rút lui và Hồ Chí Minh đã chấp nhận bị lôi kéo theo để không bị mất quyền. Philippe Devillers, người trở lại Pháp trước khi chiến tranh bắt đầu, sau 11 tháng ở cùng với bộ tham mưu của Leclerc và Valluy cũng chỉ ra những bất đồng nội bộ trong giới lãnh đạo Việt Nam, nhưng không xem Giáp là người cực đoan. Giáp trong một thời gian dài đã dàn xếp để duy trì không khí dễ chịu ở Bắc Bộ giữa người Pháp và người Việt Nam, nhưng ông đã chịu sức ép từ những thành phần cực đoan hơn. Chính sách Nam Bộ thuộc Pháp và việc từ chối nhượng bộ Hà Nội bất cứ điều gì đã tăng thêm sức mạnh cho phái cực đoan. Tháng 12, những hành động của Pháp đã làm người Việt Nam nổi giận đến mức phải cực đoan lên được vị trí cao nhất. Dưới góc nhìn của Devillers, đánh giá Việt Minh là một khối thống nhất - gộp chung những người Việt Minh ôn hòa và cực đoan thành kẻ thù của Pháp là một sai lầm nghiêm trọng.

Cả Boutbien lẫn Devillers đều không ở vị thế có thể đặt câu hỏi chi tiết về phiên bản do Pignon đưa ra, nhưng năm 1947, nhà báo Pháp Jean Bidault (không liên quan gì đến thủ tướng) xuất bản nặc danh một cuốn sách mỏng chống Việt Minh, có lẽ dựa trên những thông tin nội bộ từ một trong những cơ quan tình báo Pháp. Ông ta khác tuyên bố chính thức của Pháp ở một điểm quan trọng: khi Morliere cấm trại binh sĩ trong chiều 19-12, kế hoạch của Giáp đổ bể. Ý định của phía Việt Nam là tấn công toàn diện khi 1.200 lính Pháp đang phân tán ở các nhà hàng và quán cafe của Hà Nội. Khi Morliere triệu tập binh sĩ về doanh trại và (có lẽ) bố trí xe bọc thép tại các đầu mối mà quân Việt Nam phải đi qua để vào thành phố, Giáp không còn trông mong được vào tính chất bất ngờ. Ông sau đó cố gắng hủy bỏ chiến dịch, nhưng mệnh lệnh không đến được hết các đơn vị tự vệ và lúc 20h00, họ tiến hành theo phương án của mình. Điều này có thể giải thích vì sao các đơn vị quân đội Việt Nam tương đối kỷ luật xung quanh Hà Nội không tham chiến khi tự vệ nổ súng, và vì sao các điểm đồn trú khác chỉ bị tấn công sau đó khá lâu. Năm 1952, khi Devillers xuất bản cuốn Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, ông đưa quan điểm của Jean Bidault vào nhưng bổ sung thêm rằng có thể lực lượng tự vệ đã chủ tâm phớt lờ lệnh hủy bỏ tấn công.

Sự xem xét của Jean Bidault khá quan trọng, nhưng quan điểm rằng Hồ Chí Minh và Hoàng Hữu Nam viết thư hòa giải trong buổi sáng hôm đó nhằm mục đích đánh lừa người Pháp thì vẫn không bị bác bỏ. Khi Tướng Yves Gras xuất bản cuốn Histoire de la guerre d’Indochine năm 1979, ông để ngỏ câu hỏi liệu có "sự phản bội của Hồ Chí Minh và Giáp" hay họ không thể ngăn cản "bộ máy thù địch đã được thiết lập quá tốt". Liệu có phải những bức thư của Nam và Hồ là nỗ lực thông minh nhằm giảm căng thẳng, với mục đích hoãn cuộc tấn công của Giáp đến khi Hồ có tin từ Blum? Liệu có phải thông tin lính Pháp bị gọi về trại và số xe bọc thép bố trí ở những điểm chiến lược khiến cho người Việt Nam đi tới quyết định bất kể thế nào cũng đã đến lúc phải đánh? Quyết định hai bức thư hòa giải đó là trò lừa đảo, hay đó là nỗ lực chân thành cuối cùng nhằm ngăn chặn xung đột đòi hỏi phải có thông tin từng giờ của cái ngày mà mọi thứ như Devillers nói, "kỳ quái, phi lý và thậm chí đáng ngờ".
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:49:38 pm »

TRÒ LỪA HAY HY VỌNG

Lúc bình minh, báo chí Việt Minh ra lò lần cuối từ nhà in ở Hà Nội trong 8 năm. Báo Cứu Quốc phản kháng "trước sự thật là đại diện Pháp ở Việt Nam đã chủ tâm chuẩn bị cho cuộc tấn công của chúng ở Hà Nội nhằm mở rộng xung đột trong khi thủ tướng Pháp Leon Blum và ngài Moutet ủng hộ sự hợp tác Pháp-Việt". Tờ Dân Thanh kêu gọi tân thủ tướng Leon Blum "chấm dứt âm mưu của bọn thực dân, những kẻ đang sắp hoàn tất nỗ lực nhằm kéo hai dân tộc vào chỗ chết. Nhưng ông ta cần hành động nhanh chóng nếu muốn tới đây đúng lúc".  

Sáng sớm hôm đó, các đơn vị quân đội Việt Nam xung quanh Hà Nội được đặt trong tình trạng báo động, các tư lệnh ở đây cũng như các chiến khu khác nhận được mật lệnh mà sau này sẽ bị tiêu hủy theo chỉ thị của Giáp nhưng đã xuất hiện trong bộ hồi ức mới và hoàn chỉnh hơn được Giáp xuất bản khi đã gần 90 tuổi. Mệnh lệnh này gồm 3 phần. Đầu tiên, chỉ thị sau được gửi đi lúc 09h00: "Bọn xâm lược Pháp đã đưa ra tối hậu thư yêu cầu tước vũ khí bộ đội, tự vệ và công an. Chính phủ đã bác bỏ tối hậu thư này. Vì vậy trong vòng 24 giờ tới quân Pháp nhất định sẽ nổ súng. Chỉ thị Trung ương: Tất cả hãy sẵn sàng!".

Nó được tiếp nối bởi mệnh lệnh do chính Giáp ký:

"Tổ quốc lâm nguy!
Giờ chiến đấu đã đến!
Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng-Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc quân và dân quân tự vệ Trung-Nam-Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước.
Hy sinh chiến đấu đến giọt máu cuối cùng!
Tiêu diệt bọn thực dân Pháp!
Quyết chiến!"

Phần thứ ba là điện khẩn được gửi đi đầu buổi chiều. Nó không được gửi cho miền Nam nhưng được chuyển đến mọi chiến khu trên miền Bắc có quân Pháp đồn trú: 1 (Lạng Sơn), 2 (Sơn Tây, Yên Bái, Lào Cai), 3 (Hải Phòng, Hải Dương, Móng Cái), 4 (Vinh) và 11 (Hà Nội) và thành phố Đà Nẵng, nơi quân Pháp đóng một lực lượng mạnh. Người nhận được yêu cầu đảm bảo lệnh đến tay các chỉ huy chiến khu và mặt trận trước 09h30 ngày 19-12: "Chuyến hàng sẽ đến lúc 18h00 ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A+2 và B-2. Chú ý và nhận hàng đúng giờ". "Chuyến hàng" là cuộc tấn công nhằm vào quân Pháp. Theo quy ước ở hội nghị quân sự ngày 13-12, người nhận sẽ cộng thêm 2 tiếng (A+2) và trừ 2 ngày (B-2). Nghĩa là nổ súng lúc 20h00 ngày 19-12. Như vậy vào sáng 19-12 tất cả các đơn vị Việt Nam đã nhận được lệnh để thực hiện điều mà họ sẽ không làm, nhưng người Pháp lại tuyên bố đã làm, đó là đồng loạt tấn công lúc 20h00.

Lúc 11h00, một số đơn vị chính quy của Giáp đã vào vị trí giữa sông Hồng và hồ Tây ở Hà Nội, từ đây họ có thể tấn công thành Hà Nội, nơi tập trung phần lớn quân Pháp. Chỉ huy các đội cảm tử trong thành phố được lệnh chuẩn bị làm nhiệm vụ. Trong một mệnh lệnh do chính ủy Lê Hồng ký, họ được yêu cầu kiểm điểm số thương binh, tử sĩ và quân số sau chiến đấu và báo về sở chỉ huy ở làng Gia Quất Hạ, phía đông sông Hồng. Theo lệnh này, tín hiệu tấn công sẽ được phát theo một cách phức tạp khó tin: "tín hiệu chuẩn bị: các pháo hiệu xanh; tín hiệu tấn công: pháo hiệu đỏ tiếp nối bằng 3 tiếng nổ lựu đạn; tín hiệu sẽ được phát vào tối nay (19-12-1946) lúc 18h45". Kỷ luật quân đội được củng cố cứng rắn bằng hành quyết: "rút lui: xử tử; diễn giải sai lệnh: xử tử; tiết lộ bí mật: xử tử". Mặc dù dường như 3 hình phạt trên là hợp lý, cái thứ hai mang một ấn tượng ớn lạnh hơn số còn lại vì ngay cả sau này nhìn lại cũng không hề dễ dàng trong việc diễn giải lệnh của Lê Hồng. Ông tuyên bố sẽ có 2 tín hiệu, 1 xanh và 1 đỏ. Sau đó ông cho thời gian chính xác mà không nói là của tín hiệu nào. Giờ, tất nhiên đội cảm tử có thể đợi đến 18h45 để xem liệu có nhiều tín hiệu xanh hay chỉ một tín hiệu đỏ. Đối với các nhà sử học, những người (may mắn là) không có cơ hội diễn lại các sự kiện đó, nó còn khó khăn hơn, nhưng vì ta biết rằng Giáp đã ra lệnh tấn công lúc 20h00, ta có thể phỏng đoán tín hiệu mà Lê Hồng dự định gửi lúc 18h45 là xanh (trừ khi ông dùng 18h45 làm mật hiệu cho 20h00).

Trong khi các đơn vị chuẩn bị làm nhiệm vụ, các toán được phân công đặc biệt đang sẵn sàng tấn công các nhà người Pháp, chiếm vũ khí đạn dược và giải họ ra ngoài Hà Nội. trong khi ấy, tình hình trên đường phố đang được cải thiện. Công an Việt Nam đột nhiên xuất hiện khắp nơi, bận rộn thể hiện rằng họ có khả năng duy trì an ninh và trật tự. Công nhân Việt Nam trong Thành trở lại làm việc sau khi đình công, và các đội tuần tra Pháp-Việt tiếp tục làm nhiệm vụ. Sainteny tại văn phòng của mình đã được biết về sự chuẩn bị của phía Việt Nam nhờ một báo cáo của SEHAN (Ban nghiên cứu lịch sử Hà Nội, cơ quan tình báo do Leclerc lập ra) cho biết nội dung một mệnh lệnh của phía Việt Nam ngày 17-12 gửi tới các ủy ban, chỉ thị họ tiến hành những chuẩn bị cuối cùng cho chiến tranh và đảm bảo toàn dân “sẵn sàng chiến đấu khi Chủ tịch Hồ Chí Minh hạ lệnh”.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:50:08 pm »

Lúc 09h30, theo chỉ thị mà Hồ Chí Minh cử thư ký Vũ Kỳ mang tới, Hoàng Minh Giám đề nghị gặp Sainteny vào buổi chiều, nhưng Sainteny từ chối gặp cho đến sáng hôm sau. Hồ đã yêu cầu Giám gửi một bức thư ngắn mà giờ đây ông cử một người đưa tin mang đi. Bức thư hòa giải này hoặc là một mưu mẹo nhằm đảm bảo tính bất ngờ của cuộc tấn công, hoặc là một nỗ lực phút chót nhằm đạt được sự thỏa hiệp, qua đó cuộc tấn công có thể hoãn lại trong khi Hồ chờ đợi câu trả lời của Blum cho rất nhiều đề nghị của ông: “Ngài cao ủy, bạn kính mến. Tình hình đã trở nên căng thẳng trong mấy ngày gần đây. Điều này thực sự là đáng tiếc. Trong khi chờ quyết định của Paris, tôi trông chờ ngài và ông Giám sẽ tìm ra giải pháp cải thiện tình hình. Sainteny không trả lời. Thay vào đó ông gửi một bức thư lạnh nhạt tới Hồ, cảnh báo rằng nếu những kẻ sát hại dân Pháp không bị bắt và bỏ tù trong vòng 48 giờ, ông ta sẽ tự mình điều tra và làm những gì cần thiết để những tội ác đó không tái diễn trong tương lai. Có vẻ bức thư này đã không tới tay Hồ.

Sáng hôm đó Morliere viết cho Nam, lặp lại 5 yêu cầu mà ông ta đã nói miệng vào cuối ngày hôm trước: (1) triệt phá các chiến lũy và chấm dứt các hành động thù địch; (2) tước vũ khí lực lượng tự vệ “vô kỷ luật và vô trách nhiệm”; (3) thả tất cả những công dân Pháp bị bắt; (4) ngừng “chiến dịch tuyên truyền kích động” và (5) mọi cơ quan cùng hợp tác chặt chẽ để duy trì trật tự. Nếu Morliere đã nêu những yêu cầu này vào hôm trước, điều đó có thể lý giải việc trong mật lệnh của Giáp gửi các chiến khu lúc 8h sáng đã đề cập tới “tối hậu thư” của Morliere và yêu cầu giải giáp tự vệ của nó. Sau này người Việt Nam sẽ gọi bức thư của Morliere là “tối hậu thư thứ ba”.

Giờ, nói cho chính xác thì cả 3 “tối hậu thư” trên đều không phải tối hậu thư. Một tối hậu thư đặt ra thời hạn chấp nhận một số yêu cầu nhất định và đe dọa dùng vũ lực nếu nó không được thực hiện. Nếu một bên đưa ra tối hậu thư và không được chấp nhận, việc thực hiện lời đe dọa sau khi thời hạn trôi qua là rất quan trọng. Nếu hết thời gian mà không có gì xảy ra, nó sẽ mất đi sự tin cậy. Tối hậu thư của Debes ngày 23-11 là một ví dụ. Nó gồm một số yêu cầu đặc biệt – mặc dù là rất phi thực tế và Debes còn hơn cả sẵn sàng tiến hành lời đe dọa. Điều này khiến những đe dọa của Pháp trở nên đặc biệt đáng tin đến mức có thể người Việt Nam đã nghiêm trọng hóa những bức thư mà sau này họ nhận được ở Hà Nội. Bức “tối hậu thư thứ nhất” ngày 18-12 yêu cầu phá bỏ các chiến lũy và đe dọa rằng người Pháp sẽ tự làm nếu người Việt Nam không tiến hành, nhưng nó không có thời hạn nào lời đe dọa có hiệu lực được đặt ra. Bức “tối hậu thư thứ hai” do sĩ quan liên kiểm Fonde ký đặt ra thời hạn cho công an Việt Nam quay lại làm nhiệm vụ và duy trì an ninh trật tự. Nếu điều này không được thực hiện, quân Pháp sẽ nhận trách nhiệm duy trì an ninh trật tự ở Hà Nội muộn nhất là ngày 20-12. “Thời hạn” này dường như đã gây một ấn tượng mạnh cho người Việt Nam, và có thể nó đã góp phần vào quyết định mang tính định mệnh của họ. Morliere không đặt ra thời hạn chính xác nào trong “tối hậu thư thứ ba” và cũng không đề ra đe dọa nào. Thay vào đó, Morliere kết thúc bức thư khá hòa nhã: “Nhà chức trách Pháp đang chuẩn bị mở một cuộc điều tra chung khẩn cấp để thi hành những biện pháp cần thiết để tránh có thêm những sự cố và sẽ tạo điều kiện cho sự hợp tác chân thành và tin cậy”. Ai đó có thể cảm thấy sự đe dọa trong cụm từ “những biện pháp cần thiết để tránh có thêm những sự cố” và chắc chắn phía Việt Nam đã làm như vậy. Nhưng đe dọa của Morliere không rõ rang và cũng không gắn với thời hạn nào. Tất nhiên, các lãnh đạo Việt Nam không thể biết là chính phủ Pháp đã báo cho phái viên của d’Argenlieu và Valluy là Le Puloch một cách rõ rang là họ sẽ không khoan dung cho việc để lặp lại ở Hà Nội những gì đã xảy ra ở Hải Phòng. Nếu chiến sự xảy ra, nó phải khởi đầu từ phía Việt Nam. Vì vậy giới chức Pháp ở Đông Dương không thể đưa ra bức tối hậu thư thực sự nào. Những gì họ có thể làm là liên tục gia tăng sức ép với hy vọng buộc chính phủ Việt Nam phải hành động.

Nếu những bức thư của Sainteny và Morliere là phản hồi duy nhất của phía Pháp cho những đề nghị của Việt Nam, sẽ rất khó cho người nào bên phía Việt Nam tranh luận là nên tiếp tục hoãn cuộc tấn công. Có lẽ Giáp đã bước cả 2 chân vào trong cái bẫy mà người Pháp giăng ra, và chiến tranh có lẽ sẽ bắt đầu với một cuộc tấn công theo kế hoạch của Việt Nam. Giáp không thể chỉ ngồi nhìn một cách thụ động khi quân Pháp bắt đầu tước vũ khí tự vệ. Tuy vậy, người Pháp cũng đã gửi hai tín hiệu hòa giải trong ngày hôm đó. Cũng như đã làm trong buổi sáng hôm trước, các sĩ quan liên kiểm Việt Nam thăm dò bằng cách hỏi các đồng sự Pháp xem liệu lính Pháp có bị cấm trại tối hôm đó không. Cho lính Pháp vào thành phố sẽ có nhiều nguy cơ. Nhưng tín hiệu đi cả 2 chiều. Cho lính Pháp xả trại là một cách chắc chắn để cho phía Việt Nam thấy người Pháp không ở trong thế chuẩn bị tấn công. Vì vậy khi Sainteny và Morliere quyết định cho 1.200 binh sĩ nghỉ vào tối đó và thông báo cho phía Việt Nam quyết định này, lãnh đạo Việt Nam có thể thấy đây là dấu hiệu cho thấy họ vẫn còn thời gian để chờ đợi và xem chính phủ Blum có thể làm gì. Trong hồi ký Sainteny giải thích rằng cho binh lính xả trại là một "nước cờ" nhằm hai mục đích, giảm bớt căng thẳng và buộc Việt Minh "lộ mặt".
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2011, 10:50:40 pm »

Các lãnh đạo Việt Nam đã ở đâu? Giáp viết trong hồi ức gần đây rằng tổng hành dinh được đặt tại làng Vạn Phúc ở Hà Đông, cách Hà Nội 11km. Ngay trước khi phía Việt Nam tấn công lúc 20h00, Sainteny cho biết Hồ đã trở lại thủ đô sau vài ngày vắng mặt. Tình báo Pháp sau này báo cáo rằng Hồ, Giáp và các thành viên chính phủ đã rời Hà Nội lần nữa trong buổi chiều, vài tiếng trước khi nổ súng, nhưng Hồ viết trong bức thư gửi Blum ngày 23-12 rằng ông vẫn ở trong dinh khi quân Pháp tấn công và chỉ thoát được nhờ phép màu. Đây rõ ràng là điều không đúng. Sự thật là Hồ không trở về Hà Nội mà ở lại Vạn Phúc. Sáng 19-12, ông viết thêm một lá thư gửi Blum và một lá khác cho Vincent Auriol, phát ngôn viên Quốc hội Pháp. Hồ nói với hai thành viên đảng xã hội Pháp rằng ông đã yêu cầu đồng bào mình giữ bình tĩnh bất chấp sự khiêu khích. Ông làm điều này vì tình cảm với nước Pháp và sự tin cậy đối với Blum và Auriol: "Nhưng tôi sẽ còn phải chịu đựng việc trông thấy đồng bào tôi bị giết ngay trước mắt bao lâu nữa? Tôi khẩn thiết đề nghị với ngài một lần nữa. Vì lợi ích cao nhất của cả hai quốc gia, tôi đề nghị ngài cho chấm dứt ngay sự khiêu khích và đổ máu". Vũ Kỳ được giao mang thư này tới Hà Nội, cùng với bức thư ngắn của Hồ gửi Sainteny. Sau khi giao thư và gặp Hoàng Minh Giám, Vũ Kỳ quay về Vạn Phúc lúc 12h30 và thông báo cho Hồ Chủ tịch biết Sainteny từ chối gặp Giám. Hồ đi lại một lúc, cau mày, sau đó bước tới chiếc bàn nơi để bản thảo lời hiệu triệu, và theo như nhật ký của Vũ Kỳ được xuất bản sau này, ông nói rành mạch: "Hừ! Thì đánh!". Nếu đúng, điều này dường như cho thấy đầu tiên là mệnh lệnh mà Giáp gửi đi sáng hôm đó không mang theo quyết định rõ ràng cho việc nổ súng. Hồ vẫn chưa hạ bài. Thứ hai, tuy nhiên, câu của Hồ cho thấy giờ ông đã quyết định ngửa bài. Chúng ta không biết liệu Hồ và Giáp có thể liên lạc vào 12h30, nhưng theo người viết tiểu sử của Giáp Trần Trọng Trung thì chính là lúc này, sau khi Sainteny từ chối gặp Giám, Giáp đưa ra mệnh lệnh thứ hai với mật mã nổ súng lúc 20h00.

Trong khi đó, ở Hà Nội, Hoàng Hữu Nam trả lời "bức tối hậu thư thứ ba" của Morliere với tư cách phái viên Bộ trưởng Quốc phòng: "Tôi đã chuyển vấn đề cho bộ trưởng quốc phòng. Ông ấy giao cho tôi trả lời rằng ông sẽ đưa các đề nghị của ngài ra cuộc họp định kỳ hàng tuần của chính phủ diễn ra vào ngày mai, thứ Sáu, 20-12-1946. Trong thời gian ấy, ông đã đưa ra các mệnh lệnh nhằm tránh mọi sự hiểu nhầm. Ông hy vọng rằng về phía các ngài cũng sẽ đưa ra những mệnh lệnh cần thiết để không làm trầm trọng thêm tình hình", trong khi mệnh lệnh mà Giáp gửi đi vào đầu giờ chiều tới các tư lệnh và chính ủy trên thực tế là sẵn sàng tấn công lúc 20h00.

Hai tiếng rưỡi sau, lúc 14h30, theo Vũ Kỳ, 4 thành viên Thường vụ Trung ương Đảng - Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp - họp ở Vạn Phúc. Những yêu cầu mới của Morliere và việc Sainteny từ chối gặp Giám hẳn đã được đem ra tranh luận để ủng hộ tiến hành cuộc tấn công được lên kế hoạch từ trước. Việc Morliere đình chỉ cấm trại lính Pháp tạo ra thêm thuận lợi. Họ có thể truy lùng lính Pháp và tiêu diệt từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ. Mặt khác, thực tế là 1.200 lính Pháp sẽ tỏa ra khắp các quán bar và nhà hàng cũng cho thấy phía Pháp không ở trong thế chuẩn bị tấn công - tấn nhiên trừ khi đây là mồi nhử.

Trong khi những vấn đề trên có lẽ đang được thảo luận ở Vạn Phúc, một tin tức đến có thể chuyển cán cân sang duy trì hòa bình. Lúc 14h00, Sở thông tin Pháp biết được qua Radio Saigon rằng nội các Blum đã quyết định cử Moutet sang Đông Dương trong một sứ mệnh đặc biệt, tin này lập tức được báo cho phía Việt Nam. Phụ tá thứ hai Minh hết ức bất ngờ, đã đảm bảo rằng ông ta sẽ lập tức báo cho chính phủ. Chúng ta không biết liệu tin này có đến được với những người ở Vạn Phúc mà theo Vũ Kỳ đã tán thành việc giữ quyết định phát động toàn quốc kháng chiến tối hôm đó. Sau khi bổ sung thêm 5 từ do Lê Đức Thọ gợi ý, cuộc họp phê chuẩn lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh, yêu cầu Trường Chinh hoàn tất các chỉ thị liên quan tới tiến hành chiến lược kháng chiến toàn quốc và giao cho Giáp thẩm quyền tiến hành cuộc tấn công. Ở Hà Nội, tín hiệu sẽ là cắt điện ở nhà máy Yên Phụ. Và tín hiệu chung cho toàn quốc là lời kêu gọi của chủ tịch nước trên đài phát thanh quốc gia.

Câu hỏi ở đây là liệu quyết định của Thường vụ có phải là không thể thay đổi, hay Giáp vẫn còn thẩm quyền để hủy bỏ cuộc tấn công nếu có bằng chứng mới về ý định của chính phủ Pháp. Sau 15h15, khi cuộc họp kết thúc, Hồ Chủ tịch trở về nhà của cơ sở và bắt đầu chuẩn bị chuyển tới nơi khác. Tư liệu của Vũ Kỳ về ngày 19-12 kết thúc với việc Hồ chỉ thị cho ông giúp chuyển tới nơi trú ẩn mới ở Xuân Dưỡng. Tư liệu của Vũ Kỳ có vẻ khá đáng tin, vì nó dựa trên nhật ký cá nhân viết từng ngày của ông. Tuy nhiên bản gốc của nhật ký không được đưa vào thư viện của Bảo tàng Hồ Chí Minh khi Vũ Kỳ mất năm 2005. Thay vào đó, dường như nó đã được cất vào tàng thư của đảng, đồng nghĩa với các nhà nghiên cứu không thể tiếp cận.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:03:51 pm »

Dựa trên thông tin của tình báo Pháp, Devillers viết rằng Giáp triệu tập các chỉ huy quân sự quan trọng nhất ở Bạch Mai, ngay ngoại ô Hà Nội lúc 16h00, sau khi cuộc họp Thường vụ ở Vạn Phúc kết thúc. Điều này được chính Giáp và người viết tiểu sử của ông xác nhận. Họp ở Bạch Mai có người đứng đầu cơ quan tình báo Trần Quốc Hoàn, đại diện đảng; Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, người chịu trách nhiệm cho các liên lạc mã hóa và tư lệnh chiến khu 11 Nguyễn Văn Trân. Theo nhà viết tiểu sử gần đây nhất của Giáp và hồi ký của ông, Giáp dành thời gian còn lại của buổi chiều để kiểm tra lực lượng trong thủ đô và di chuyển về hướng Hà Đông trước giờ nổ súng. Trong toàn bộ thời gian, ông rất bình tĩnh và có vẻ yên tâm.

Tuy nhiên có ít nhất một nguồn tin đi ngược lại với bức tranh chung về nhất quán trong chỉ huy chuẩn bị chiến đấu. Lúc 16h45, đơn vị của tác giả cuốn nhật ký - Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh hủy bỏ cuộc tấn công mà họ đã được phân công. Chiêu viết rằng sẽ không được tấn công "dưới bất cứ lý do nào" trừ khi có lệnh viết tay hoặc truyền đạt từ bản thân Giáp hoặc 2 phụ tá trực tiếp của ông. Trong bất kỳ tình huống nào họ cũng không được khiêu khích số lính Pháp đang được xả trại trong thành phố. Điều này có vẻ lạ lùng, vì nó trái với quyết định mà theo Vũ Kỳ đã được đặt ra ở Vạn Phúc chỉ 2 giờ trước.

Tại sở chỉ huy Pháp, khi Morliere nhận được bức thư của Nam liên quan đến lệnh "tránh mọi sự hiểu nhầm", ông ta chỉ vừa mới thay đổi quyết định liên quan đến việc cho lính Pháp nghỉ. Ở một thời điểm nào đó trong buổi chiều, bộ chỉ huy Pháp nhận được thông tin quân đội Việt Nam đang tập trung ở ngoại ô Hà Nội và có kế hoạch tấn công vào buổi tối. Một trong những báo cáo này đến từ điệp viên Âu lai Á có tên Pháp là Charles Eugene Fernand Petit. Theo Jean Bidault, vào buổi sáng Petit được cho biết là sẽ nổ súng vào tối hôm đó, mặc dù anh ta không biêys là mấy giờ. Petit đã chuyển được tin này cho Surete ngay trước 18h00. Nó được xác nhận bởi tuyên bố mà Petit đưa ra khi tuyên thệ trước tòa án Pháp tháng 2-1947, khi anh ta tự giới thiệu là một "thanh tra của Surete" trong một đơn vị phản gián. Với thư giới thiệu của lãnh đạo Việt Minh sống ở Pháp, anh ta đã xâm nhập được vào đơn vị tự vệ của khu phố. Đầu tiên Petit được bảo rằng cuộc tấn công sẽ diễn ra vào đêm Noel, nhưng vào sáng 19-12 anh ta nghe các tự vệ nói rằng sẽ là "đêm nay". Vì lý do an ninh, Petit đợi đến khi trời tối mới chuyển tin cho Surete, nhưng làm vậy ngay trước 18h00. Khi trở về đơn vị, chỉ huy tự vệ ra lệnh cho Petit: "Hãy chuẩn bị. Chúng ta tấn công bọn Pháp lúc 20h00 tối nay. Vào vị trí chiến đấu!". Đầu tiên anh ta về nhà gặp người vợ Việt Nam và cho biết mình ra đi vì đất nước (part pour la patrie). Trước tòa, anh ta nhấn mạnh rằng khi nói đến đất nước, anh ta có ý nói là nước Pháp. Sau đó Petit trở lại đơn vị tự vệ và kiếm cớ xin vắng mặt vài phút. Người chỉ huy nói rằng nếu không quay lại, vợ con anh ta sẽ phải chịu hậu quả (và sau này đúng vậy). Petit đi thẳng tới gặp Đại tá Lami, chỉ huy phó của Morliere. Do lúc này đã sát 20h00, Lami khuyên anh ta ở lại cùng mình thay vì trở lại đơn vị tự vệ. Và như thế Petit đã tham gia bảo vệ dinh thự của Lami chống lại các đồng đội tự vệ của mình.

Có 2 điều kỳ lạ trong câu chuyện này. Thứ nhất, liệu Lami có chọn ở nhà nếu ông ta dự kiến trước một cuộc tấn công lúc 20h00. Không phải ông ta sẽ cần ở sở chỉ huy sao? Hoặc ông không coi cảnh báo của Petit là nghiêm trọng hoặc Petit đến quá trễ khiến Lami không có thời gian tiến hành các biện pháp đề phòng. Điều lạ thứ hai là thời gian. Nếu Petit nói đúng, vậy thì cả 2 lần báo cáo của anh ta đều không thể có tác động tới quyết định triệu hồi binh sĩ của Morliere diễn ra trước 17h00. Trong báo cáo đầu tiên ngay trước 18h00, Petit không biết thời gian nổ súng, nhưng rõ ràng người Pháp đã nhận được thông tin chỉ ra rằng nó có thể là 19h00. Có dấu hiệu cho thấy có thể SEHAN của Trocard, không phải Surete của Moret (mà Petit phục vụ) đã cùng cấp cho Morliere thông tin khiến ông ra lệnh gọi binh lính về doanh trai. Nhưng SEHAN có thể đã đoán cuộc tấn công diễn ra sớm hơn 20h00. Khi không có chuyện gì xảy ra lúc 17h00, 18h00 hay 19h00, người Pháp có thể đã kết luận không phải là đêm nay, vì đã từng có nhiều cảnh báo sai trong những tuần trước. Trong trường hợp này, có lẽ Đại tá Lami và Cao ủy Sainteny về nhà ăn tối không phải là vô trách nhiệm. Sau đó Petit đến gặp Lami, sau 19h00 và theo lời kể của anh ta - báo cho viên đại tá biết tự vệ sẽ nổ súng lúc 20h00.

Petit không bao giờ đề cập đến lệnh hủy bỏ nào. Điều này có nghĩa là cuộc tấn công không bao giờ bị hủy bỏ hoặc Giáp chỉ hủy bỏ sự tham gia của bộ đội chính quy. Có thể, khi phát hiện ra xe bọc thép Pháp đã khống chế những ngả đường quan trọng, ông quyết định không liều lĩnh cho chủ lực của mình tham chiến, nhưng vẫn để tự vệ nổ súng theo kế hoạch. Điều này giải thích vì sao đơn vị chủ lực của Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh hủy bỏ còn tự vệ của Petit thì không. Tuy nhiên cũng có thể Giáp đã không thành công trong việc ngăn tự vệ nổ súng. Jean Bidault ghi công cho Petit đã cứu sống hàng trăm lính Pháp, nhưng rõ ràng đây chỉ là huyền thoại. Morliere triệu hồi binh sĩ một giờ trước khi Petit đưa ra báo cáo đầu tiên. Câu chuyện về Petit đã làm tròn sứ mệnh là huyền thoại trong cộng đồng tình báo Pháp, "chứng minh" rằng đôi khi mật vụ là một công cụ hữu hiệu.

Tin lính Pháp bị cấm trại trở lại có thể đã đến với sở chỉ huy Việt Nam ngay khi những nỗ lực giải thích cho tự vệ và các đơn vị quân đội rằng cuộc tấn công sẽ bị hoãn lại. Giáp và tự vệ sẽ phản ứng thế nào? Còn Hồ thì sao? Liệu có phải tất cả bọn họ cảm thấy đang bị đánh lừa? Có phải Morliere đã lừa họ khi nói ông ta sẽ cho lính xả trại? Họ có thể đã lo ngại rằng cuộc tấn công của quân Pháp đang đến. Sau này Giáp sẽ viết trong hồi ức: "Hoàng hôn xuống rất nhanh… Có tin báo cáo về, ở các tiệm ăn uống, giải khát và trên khắp các đường phố đều không còn bóng một tên lính Pháp. Những xe bọc thép của địch đã tiến ra đứng chặn ở một số ngả đường".
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:59:06 pm »

CHỐNG ĐỐI HAY SAI LẦM?

Chúng ta đã giả định rằng thư hòa giải do Nam và Hồ viết cũng như việc phía Việt Nam đề nghị được biết quân Pháp có bị cấm trại không có thể đến từ một hy vọng thực sự nhằm liên lạc với chính phủ mới của Blum trước khi điều gì đó không thể cứu vãn được thực hiện. Không nhất thiết phải nghi ngờ Hồ và Nam như Pignon và Jean Bidault làm. Câu hỏi tiếp theo là vì sao phía Việt Nam lại tấn công lúc 20h00, nếu như các lãnh đạo Việt Nam muốn Blum có cơ hội can thiệp. Đó là do tự vệ đã chống đối, hay Giáp đã phạm phải sai lầm lớn nhất trong đời?

Khi chúng ta tới gần thời điểm 20h00, các diễn biến quá phức tạp đến mức đầu tiên cần khảo sát chúng từ phía Pháp, sau đó là từ phía Việt Nam. Triệu hồi binh sĩ về trại như đã quyết định lúc 17h00 chưa phải là một biện pháp triệt để nếu nhìn nhận có dấu hiệu sắp có một cuộc tấn công định trước. Morliere có thực sự tin rằng phía Việt Nam sẽ nổ súng, và ông có chuẩn bị để chiến đấu? Về mặt này, các nguồn tin có sự trái ngược. Hồ Chí Minh đính kèm một phụ lục trong bản bị vong lục ngày 31-12 thông tin từ một sĩ quan liên kiểm Việt Nam cho biết lúc 18h30 công an Việt Nam báo cáo xe bọc thép Pháp xuất hiện ở 5 điểm quan trọng. Jean Bidault cũng đưa ra thông tin đó và bổ sung rằng số xe này khống chế các trục đường mà quân đội Việt Nam ở ngoài Hà Nội sẽ phải đi qua nếu muốn tiến vào thành phố. d’Argenlieu bác bỏ, tuyên bố lý lẽ của Hồ Chí Minh là "hiển nhiên sai lầm". Chỉ có 2 xe bọc thép trong thành phố tối hôm đó, theo kế hoạch tuần tra hỗn hợp từ trước. Mục đích của báo cáo của d’Argenlieu là vừa buộc tội Hồ Chí Minh, vừa cho thấy sự bất tài của Morliere và mục đích đôi này đã ảnh hưởng tới diễn giải của ông ta, mặc dù công an Việt Nam có thể đã quan sát cùng 2 chiếc xe đó di chuyển qua 5 điểm khác nhau. Một phụ lục trong báo cáo của d’Argenlieu kết luận dứt khoát rằng quân Pháp ở Hà Nội bị bất ngờ, và binh lính ở trong doanh trại thay vì các vị trí báo động theo quy định. Và đây không phải nguồn duy nhất. Báo cáo của Phó lãnh sự Mỹ O'Sullivan và bản sao một trong những báo cáo đầu tiên được Hà Nội gửi Sài Gòn sau cuộc tấn công đầu tiên ủng hộ d'Argenlieu. O'Sullivan cho biết bộ phận đầu tiên của quân Pháp - chủ yếu là xe bọc thép, halftrack và xe jeep - bắt đầu tiến vào thành phố từ nhiều khu đóng quân khác nhau lúc 20h20, 17 phút sau khi cắt điện. Những "binh lính thiếu kinh nghiệm trên xe bổ sung thêm cho sự hỗn loạn bằng cách nổ súng gần như bừa bãi vào bất cứ thứ gì di chuyển", O'Sullivan viết. Điều này phù hợp với một báo cáo Hà Nội gửi Sài Gòn đêm đó nói quân Pháp bắt đầu can thiệp lúc 20h20. Cho đến 21h30, đường phố vẫn tương đối yên ổn nhưng sau đó chiến sự bắt đầu và nhanh chóng trở nên ác liệt. Điều này có nghĩa là cuộc phản công của quân Pháp không diễn ra cho đến 1 tiếng rưỡi sau khi phía Việt Nam nổ súng. Tờ Le Firago hôm 1-2-1947 cũng viết là lính Pháp không sẵn sàng và cũng không được bố trí để chiến đấu.

Với những thông tin trái ngược như vậy, rất khó để đánh giá mức độ chuẩn bị của quân Pháp. Thông tin chi tiết của công an Việt Nam về xe bọc thép Pháp bố trí ở 5 điểm chiến lược được Jean Bidault xác thực có vẻ đáng thuyết phục. Thiết giáp Pháp có lẽ đang khống chế các ngả chính vào thành phố nhưng bộ chỉ huy Pháp vẫn bị bất ngờ lúc 20h00. Liệu có phải người Pháp sự kiến cuộc tấn công sẽ diễn ra sớm hơn? Có thể họ tiến hành các biện pháp đề phòng vào buổi chiều, khi binh lính được gọi về trại nhưng sau đó hạ cấp khi có vẻ không có gì sẽ xảy ra. Có lẽ số xe bọc thép trên có mặt lúc 18h30 chứ không phải 20h00. Như vậy Hồ Chí Minh, Jean Bidault và d'Argenlieu có thể đều nói đúng. Morliere có vô trách nhiệm không khi bãi bỏ một số biện pháp an ninh sau 19h00? Không nếu ông và Sainteny nhận được thông tin đáng tin cậy rằng Giáp đã hủy bỏ cuộc tấn công. Sau 20h00, thực tế là bộ đội chủ lực của Giáp không tham gia chiến đấu có thể làm người Pháp bối rối. Chỉ huy Pháp biết đối phương có nhiều tiểu đoàn ở ngoại ô, và trong giai đoạn chiến đấu đầu tiên có thể họ ưu tiên phòng ngự trước một cuộc tấn công lớn - điều không bao giờ đến. Có lẽ Morliere cần thêm chút thời gian để hiểu rằng quân chủ lực Việt Nam sẽ không tham gia. Lúc đó ông tiến hành kế hoạch tấn công của mình. Như vậy chiến sự chỉ thực sự bắt đầu lúc 21h30. Nó đánh dấu sự mở màn cuộc "đảo chính" của Pháp được lên kế hoạch từ khá lâu. Trong không đầy 24 giờ, quân Pháp chiếm toàn bộ các công sở và điểm chiến lược trong thành phố, bao vây khu phố Hoa-Việt. Trong những tuần sau, tự vệ sẽ thực sự cần đến số nước họ đã dự trữ.

Nếu như Morliere bị bất ngờ lúc 20h00, thì chắc chắn Sainteny cũng vậy. Trong điện tín gửi từ Hà Nội lúc 17h00, ông nhấn mạnh sự "hòa nhã đặc biệt" trong bức thư của Hồ và chỉ đề cập qua loa rằng "thông tin khác" cảnh báo về một cuộc tấn công lớn tối hôm đó. Khi các nhà báo và sử gia thiếu kinh nghiệm thấy những nhà hoạch định nhận được cảnh báo trước về những sự kiện lớn như cuộc tấn công Trân Châu cảng hay Chiến dịch Barbarossa, họ thường lên án những nhà lãnh đạo vì đã không nghe theo cảnh báo. Dễ dàng quên mất việc trong đời thực, hầu hết các cảnh báo đều là về những sự kiện không bao giờ diễn ra. Hiển nhiên đối với một lãnh đạo thực sẽ khó khăn hơn nhiều so với một sử gia sau này trong việc xác định cảnh báo nào là đúng. Điện Sainteny gửi Sài Gòn vào giữa 18h00 đến 19h30 ngày 19-12 không hề có cảnh báo. Một bức về lá thư lịch thiệp của Hồ. Bức thứ hai thể hiện mong muốn mà Sainteny chia sẻ với d'Argenlieu rằng Cao ủy Cộng hòa nên trở lại trong Phủ toàn quyền càng sớm càng tốt trong "điều kiện cực kỳ thuận lợi". Sainteny đề nghị Vally khẩn cấp xem xét mệnh lệnh của ông ta trong việc trì hoãn hành động mang tính biểu tượng này vì nhiều lý do: dinh thự ông ta đang ở hiện rất lộ liễu; sự bất tiện trong việc đi lại ở một thành phố phức tạp; sự hữu ích trong việc tiến hành trước khi Đô đốc d'Argenlieu trở lại, như vậy ông ta sẽ xem như vô can trong việc này; hiệu quả tuyệt vời trong việc chiếm đóng Nha tài chính gần đây đối với tâm lý của dân chúng Việt Nam; và tránh scandal cho Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet khi ông ta tới đây. Sẽ không có thời điểm nào tốt hơn, và sẽ không có phản ứng nào nghiêm trọng. Như vậy, ngay trước 20h00, Sainteny đề nghị được phép đặt cửa nhiều hơn trong những ngày tới.

Khi điện và nước bị cắt lúc 20h00, Sainteny đang ở nhà hoặc trên đường về. Trong hồi ký, ông tuyên bố đã nghe thấy đồng hồ ở Viện Yersin điểm 8 tiếng khi rời trụ sở. Ngay khi ngồi vào xe, "chính xác" lúc 20h04, ông nghe thấy tiếng nổ và ánh đèn tắt phụt. Các nguồn tin không thống nhất về thời điểm chính xác điện bị cắt. Một bức điện của Pháp từ Hà Nội nói là 19h55, trong khi các tài liệu Việt Nam sau này nói: "Đúng 20h03 ngày 19-12-1946, đèn điện toàn Hà Nội phụt tắt". Bất chấp bóng đêm, rõ ràng Sainteny đã lái xe về nhà vì nửa giờ sau Morliere điều một xe bọc thép đến đón ông ta ở nhà riêng. Khoảng 21h00 chiếc xe vấp mìn. Sainteny bị thương và đau đớn trước hỏa lực của quân Việt Nam trong khi chờ đợi được cứu bởi một chiếc halftrack. Sự lúng túng của quân Pháp trong 1 tiếng rưỡi sau 20h00 và việc Sainteny lái xe về nhà thay vì ở lại trụ sở cùng chỉ ra một điều: bất chấp mọi cảnh báo, người Pháp không dự kiến một cuộc tấn công lúc 20h00. Như bằng chứng về sự bất tài của Morliere, Debes thông báo trực tiếp cho Valluy 2 ngày sau đó: "Thông tin được kiểm chứng cho thấy quân đồn trú ở Hà Nội hoàn toàn bị bất ngờ vào đêm 19".
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:00:51 pm »

Những gì diễn ra ở phía bên kia còn gây bối rối hơn. Mặc dù trong hồi ức Giáp trình bày lý luận về chiến lược công phu để khẳng định những gì mà quân đội của ông thực hiện hôm 19-12 và trong những ngày và tuần tiếp theo chính xác với kế hoạch, có vẻ là chỉ một phần của kế hoạch được thực hiện. Và những hoạt động đó được tiến hành một cách lộn xộn. Hoạt động duy nhất có hiệu quả lúc 20h00 là cuộc tấn công vào các nhà người Pháp của tự vệ (bao gồm cả một số tù được thả), bắt giữ 200 người và giết khoảng 20-30 người chống cự. Những hoạt động khác của tự vệ thuần túy là phá hoại: cắt điện nước, bịt các ngã tư bằng xe điện và một trục đường bằng tàu hỏa, đặt mìn trên đường phố và bắn súng cối và súng phòng không bừa bãi. Không có nỗ lực nào nhằm tấn công các đồn trại Pháp, và những nỗ lực nửa vời nhằm phá hủy cây cầu Long Biên quan trọng và tấn công sân bay Gia Lâm đều thất bại.

Liệu có phải đó là vỏ bọc cho việc bắt con tin? Vì sao các tiểu đoàn ở ngoại ô không tiến vào thành phố? Có phải lãnh đạo Việt Nam đã dao động trong thời khắc cuối cùng? Giáp cung cấp vài câu trả lời trong hồi ức của mình. Ông viết rằng bộ đội chính quy bên ngoài thành phố có nhiệm vụ bảo vệ chính phủ và cho các hoạt động sau này. Một đội quân yếu kém về vũ khí trang bị không thể thắng trận đánh trong thành phố. Vì vậy tốt hơn cả là chỉ để một tiểu đoàn trong Hà Nội để bảo vệ khu phố người bản xứ càng lâu càng tốt, cầm chân quân địch và tạo một tấm gương về sự dũng cảm và sáng tạo cho toàn quốc noi theo. Đây là những gì Giáp nói, và chúng có vẻ thuyết phục. Nhưng Giáp không thừa nhận bất cứ sự lúng túng nào đã có bằng chứng từ những nguồn khác, và ông hầu như không nói là cuộc tấn công đã diễn ra vào thời điểm tệ hại. Khai chiến và thực hiện những tội ác với dân thường đêm 19-12-1946 ở Hà Nội, ngay khi Blum vừa nhậm chức ở Paris và Moutet đang chuẩn bị tới Hà Nội là một sai lầm chiến lược ghê gớm, có lẽ là sai lầm chính trị và ngoại giao lớn nhất trong đời Hồ và Giáp. Đây là món quà tuyệt nhất mà họ cho giới diều hâu Pháp ở Sài Gòn: cái cớ tốt nhất để cắt đứt với VNDCCH một lần và mãi mãi, với cái giá phải trả chỉ là vài thất bại quân sự của Pháp. Câu hỏi lớn là: Giáp và Hồ đã phạm sai lầm? Hay ai đó dưới quyền họ đã can thiệp?

Vì Giáp đã ra lệnh cho mọi đơn vị tiêu hủy mệnh lệnh ngày 19-12 cùng tất cả phụ lục ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, đi sâu vào chi tiết của ngày 19-12 gần như là điều cấm kỵ ở Việt Nam. Vai trò cá nhân của Giáp là gì? Có phải ông quyết định tấn công vì cảm thấy cuộc đảo chính của quân Pháp sắp đến? Có phải ông đã cố hủy bỏ chiến dịch khi nhận ra quân Pháp sẽ không tấn công? Có phải ông đã không ngăn được lực lượng tự vệ? Có phải họ đã phớt lờ lệnh hủy bỏ vì sợ chính phủ sẽ chấp thuận yêu cầu giải giáp của phía Pháp? Có phải thành phần quốc gia không cộng sản thâm nhập vào bên trong đã kích động tự vệ khởi chiến, có thể là với sự thông đồng của gián điệp Pháp? Trước khi nghiên cứu những khả năng trên, chúng ta hãy điểm qua hệ thống phân tầng quyết định của Việt Nam:

Cấp 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh với thư ký Vũ Kỳ làm trợ lý.

Cấp 2a: Tổ chức đảng: Tổng bí thư Trường Chinh và Lê Đức Thọ.

Cấp 2b: Quân đội: Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, liên hệ mật thiết với người đứng đầu cơ quan tình báo Trần Quốc Hoàn, và Hoàng Văn Thái. Khi liên lạc với người Pháp, Hoàng Hữu Nam, Trưởng ban liên kiểm Việt Nam đóng vai trò phái viên đặc biệt của Giáp.

Cấp 3: Chiến khu Hà Nội dưới sự chỉ huy của người mới được bổ nhiệm Vương Thừa Vũ, dưới quyền Ủy ban kháng chiến Hà Nội gồm Nguyễn Văn Trân (chủ tịch), Vương Thừa Vũ (phó chủ tịch), Trần Độ (chính ủy), Trần Quốc Hoàn, Khuất Duy Tiến, Đặng Việt Châu, Trần Duy Hưng và Lê Quang Đạo.

Dưới cấp này là các đơn vị quân sự: vệ quốc đoàn, dân quân tự vệ và công an.

Nếu những ấn bản gần đây của Việt Nam là đáng tin cậy thì thẩm quyền cao nhất là Thường vụ Trung ương Đảng do Trường Chinh đứng đầu và cuộc họp ở Vạn Phúc từ 14h30 đến 15h15 là then chốt. Như đã nói, tình báo Pháp dường như không nắm được về Thường vụ. Họ cho rằng cơ quan đứng đầu là Tổng bộ Việt Minh và có vẻ Trường Chinh cùng Lê Đức THọ không trong tầm ngắm của họ. Một báo cáo của SEHAN cho biết Giáp và Hồ không hề tách rời trong những ngày quan trọng tháng 12 để đảm bảo sự phối hợp đầy đủ về chính trị, quân sự, ngoại giao. Điều này không đúng. Như ta đã thấy, Giáp có mặt ở Hà Nội nhiều lần, đáng chú ý nhất là sau cuộc họp ở Vạn Phúc ngày 19-12, trong khi Hồ Chí Minh ở lại nhà cơ sở, và sở chỉ huy của Giáp nằm ở một nơi khác.

Ngay trước ngày 19-12, SEHAN nhận được báo cáo về xung đột bên trong Quân đội Việt Nam, giữa các sĩ quan thuộc quân đội thuộc địa được Pháp đào tạo và các sĩ quan trẻ được Giáp huấn luyện. Số sau thường là con của các lãnh tụ kỳ cựu của đảng được đào tạo ở các trường quân sự mới lập. Một nghiên cứu của Giáp vào tháng 4-1947 với tựa "Cuộc chiến tranh giải phóng của chúng ta - chiến lược và chiến thuật" lên án "một số cá nhân" chống lại chiến lược chiến tranh du kích trường kỳ với lý do Việt Minh chưa có một lực lượng chủ lực để duy trì chiến tranh du kích, và rằng Việt Nam nhỏ hơn Trung Quốc nhiều nên trong trường hợp nào cũng rất khó áp dụng chiến lược của Mao vào Việt Nam, nơi quân địch có thể kiểm soát toàn bộ các thành thị và đường giao thông, từ đó làm tê liệt sự đề kháng. Hơn thế, những "cá nhân" trên cho rằng với tầm hoạt động của địch và sự lạc hậu của kinh tế Việt Nam, sẽ rất khó thành lập một quân đội quốc gia ở cấp chiến thuật. Tổng bí thư Trường Chinh cũng đang đối phó với những vấn đề tương tự trong một chỉ thị của Đảng cộng sản Đông Dương ngày 22-12-1946. Nó kêu gọi chiến tranh du kích trường kỳ trên toàn quốc chống lại thực dân Pháp xâm lược, và đoàn kết với nhân dân Lào và Campuchia và các dân tộc bị áp bức trong khối Liên hiệp Pháp. Đảng phải bảo vệ và tuyên truyền thu hút nhân dân. Mục tiêu là khiến kẻ địch đói, khát, què quặt, mù lòa, câm điếc, mệt mỏi và chán nản. Cuộc kháng chiến sẽ gồm 3 giai đoạn, phòng ngự trong đó các đô thị lớn sẽ phải bỏ sau khi đã kháng cự quyết liệt, sau đó là cầm cự, khi đối phương sẽ liên tục chịu tổn thất và cuối cùng là phản công. Người ta có thể hình dung là tháng 12-1946, những sĩ quan được đào tạo bài bản sẽ muốn tham chiến một trận thật sự ở Hà Nội, trong khi Giáp và Trường Chinh muốn giữ họ làm dự bị cho cuộc chiến lâu dài. Trong chỉ thị của mình, Trường Chinh phân tích các giai đoạn và nói về giai đoạn một: "Giai đoạn phòng ngự: có thể vạn bất đắc dĩ phải tạm thời bỏ những thành thị lớn sau khi kháng chiến quyết liệt ở đó [Chú ý: Phải luôn luôn quấy nhiễu những nơi tạm bỏ]). Trận đánh quyết định - liệu có phải Giáp đã cân nhắc nghiêm túc khả năng sử dụng nhiều chủ lực hơn trong trận đánh Hà Nội?
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:23:58 pm gửi bởi chiangshan » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:01:24 pm »

Lực lượng quân sự Việt Nam ở Hà Nội bao gồm:

-   Ít nhất 4 tiểu đoàn chính quy bố trí xung quanh Hà Nội và 1 tiểu đoàn bên trong thành phố, bảo vệ các công sở và trên hết là Dinh chủ tịch. Đơn vị bảo vệ văn phòng của Hồ đã chiến đấu dũng cảm trong đêm 19 rạng 20-12-1946 và tất cả đều hy sinh.

-   Các đội cảm tử với nhiệm vụ đặc biệt như phá xe bọc thép, có lẽ do Lê Hồng làm chính ủy và có thể báo cáo cho Trần Quốc Hoàn. Họ đóng vai trò tích cực trong các hoạt động lúc 20h00. Một nhân chứng Pháp đã nhìn thấy pháo hiệu đỏ.

-   Lực lượng tự vệ do Ủy ban hành chính trung ương đứng đầu, gồm khoảng 3.500 người chia thành các đội trong mỗi khu của thành phố. Họ làm nhiệm vụ phá hoạt và tham gia những trận đọ súng phi hiệu quả trong đêm 19-12. Một số tự vệ được những quân nhân Nhật bỏ ngũ đào tạo và có thể họ chịu trách nhiệm cho việc bắt giữ người Pháp. Theo Giáp, chỉ huy tự vệ là Lê Trung Toản.

Giờ chúng ta có thể quay lại câu hỏi then chốt: quyết định cuối cùng được đưa ra ở cấp nào? Giáp tấn công vì đánh giá nhầm ý định của người Pháp, hay tự vệ đã chống lệnh hủy bỏ? Trước tiên hãy thử khảo sát các lý lẽ ủng hộ cho giả thuyết rằng lãnh đạo Việt Nam đã cố gắng hủy bỏ cuộc tấn công khi biết tin Blum cử Moutet đến trong sứ mệnh hòa bình nhưng không thành.

Đầu tiên, lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến của Giáp và Hồ được đưa ra sau khi chiến sự bắt đầu, không phải như tín hiệu tấn công mà hội nghị Vạn Phúc đã quyết định. Do vậy các nơi quân Pháp đồn trú trên miền Bắc chỉ bị tấn công sau này, vì thế yếu tố bất ngờ đã mất. Nếu Giáp luôn luôn kiên định trong việc tấn công lúc 20h00, có lẽ ông đã có thể khiến các chỉ huy của mình nổ súng đồng thời - theo như mệnh lệnh của ông sáng hôm đó. Việc quân đội Việt Nam không làm quân Pháp bất ngờ ở nơi nào khác trừ Hà Nội cho thấy lệnh họ nhận được dường như khá mơ hồ. Giáp đưa ra một mệnh lệnh chiến đấu công khai cho tất cả các đơn vị ở mọi mặt trận, nhưng nó chỉ được công bố sau 20h00. Devillers nói rằng 21h30, ngay khi quân Pháp bắt đầu phản kích ở Hà Nội. Và vì sao lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh đã được thông qua ở hội nghị Vạn Phúc không được đài phát thanh Bạch Mai công bố cho đến tận hôm sau?

Chúng ta nên xem kỹ lời hiệu triệu của HCM và bối cảnh của nó. Có 3 điều lạ: thứ nhất là về chính lời lẽ của nó, nói về mong muốn hòa bình, thay vì ngay lập tức kêu gọi nhân dân chiến đấu.

Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Vì sao Hồ cho thêm 3 đoạn đầu thay vì bắt đầu đơn giản với " Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!"? Như thể là ông đang tranh luận với chính mình, hay tìm cách biện hộ cho hành động của mình. Đây là điều lạ thứ nhất. Thứ hai là Hồ không bao giờ ký lời hiệu triệu. Toàn bộ bản thảo do ông viết tay, nhưng 5 từ được Lê Đức Thọ góp ý ở hội nghị Vạn Phúc được Trường Chinh bổ sung bằng tay, nhưng ông cũng bổ sung luôn cả chữ ký của Hồ. Theo các chuyên gia ở Hà Nội, rõ ràng chữ ký Hồ Chí Minh là do Trường Chinh viết. Điều lạ thứ ba là lời hiệu triệu không được công bố trên đài tới ngày hôm sau. Do vậy nó được đề ngày 20-12 trong Toàn tập của Hồ. Các nguồn khác nhau không thống nhất về thời điểm nó được phát. Devillers tuyên bố là tận 21-12. Tuy nhiên phía Pháp báo cáo cho Paris ngày 21-12 là đài phát thanh Bạch Mai đã im tiếng trong 24 giờ, từ 19-12 đến 20-12 và lời hiệu triệu của Hồ Chí Minh được phát tối 20-12 và một lần nữa vào sáng 21-12. Người viết tiểu sử của Giáp Trần Trọng Trung cho biết Giáp nghe lời kêu gọi của Hồ trên đài vào sáng 20-12 ở làng Tây Mỗ. Đài phát thanh quốc gia của Việt Nam đặt ở Bạch Mai, cùng địa điểm với sở chỉ huy của Giáp. Vì sao nó không được phát lúc 20h00 19-12-1946 như là tín hiệu tấn công đồng loạt ở mọi nơi như hội nghị Vạn Phúc đã quyết định? Vấn đề kỹ thuật, các sử gia của Hà Nội nói.

Có thể.

Cần nói thêm rằng tờ báo chính của Việt Minh, Cứu Quốc ngày 19-12 vẫn tỏ ra là sẽ xuất bản như thường lệ vào hôm sau. Quân Pháp sau này phát hiện một bản báo Cứu Quốc đề ngày 20-12 với lời tuyên bố của Ủy ban Việt Minh ở Hà Nội chỉ đề cập tới chuẩn bị kháng chiến: "Thời khắc quan trọng đã đến. Mặt trận Việt Minh ở Hà Nội kêu gọi đồng bào bình tĩnh và đoàn kết tối đa, chuẩn bị sẵn sàng để đứng lên khi có lệnh của chính phủ".

Vấn đề phức tạp tiếp theo là hành động của bộ đội chính quy. Một tiểu đoàn trong thành phố bảo vệ các công sở và chuẩn bị cùng tự vệ cố thủ lâu dài khu phố Việt-Hoa. Vì sao bộ đội chính quy ở ngoại ô không tham chiến lúc 20h00? Bản mệnh lệnh nghiêm khắc mà đơn vị Ngô Văn Chiêu nhận được yêu cầu chỉ thực thi lệnh của bản thân Giáp hay hai trợ tá của ông cho thấy Giáp không hoàn toàn tin tưởng thuộc cấp. Có lẽ hành động của bộ đội vốn có kỷ luật hơn phản ánh ý định của Giáp chính xác hơn là hành động của tự vệ. Bộ đội làm gì trong và ngoài Hà Nội sau 20h00? Báo cáo đầu tiên của Pháp gửi Sài Gòn chỉ nói rằng điện cắt và "hoạt động của Việt Minh" bắt đầu. Trong bức điện tiếp theo, điện bị cắt và hỏa lực súng cối và súng máy của quân Việt Nam "bắt đầu đồng thời ở mọi nơi". Một bức điện ngày 21-12 bổ sung rằng đơn vị bộ đội đóng trong tòa nhà công ty Vân Nam (trong nội thành Hà Nội) đã nổ súng vào Văn phòng liên kiểm trung ương lúc 20h05. Nếu đúng, điều đó có nghĩa là có ít nhất một đơn vị bộ đội đã nổ súng trước khi quân Pháp phản kích, nhưng một cuộc tấn công như vậy có thể bắt nguồn từ sự tự phát. Ngô Văn Chiêu viết trong nhật ký rằng khoảng 50 thanh niên đi ngang qua đơn vị lúc 18h30 và một trong số đó hô: "Sớm thôi các đồng chí. Chúng ta sẽ thắng. Hồ Chủ tịch muôn năm!". Ngay sau đó Ngô Văn Chiêu thấy tự vệ rời nhà với vũ trang bằng súng săn, một người khác bằng một thanh gươm lớn. Anh lo ngại rằng họ có thể chống lệnh và hỏi trung đoàn trưởng nên làm gì. Câu trả lời là: "Anh muốn làm gì? Bắn họ à?". Lúc 19h20 chỉ huy đơn vị bên cạnh cho Chiêu biết rằng quân Pháp đã được gọi về trại và anh ta nghĩ "sẽ là tối nay". Như vậy 40 phút trước khi điện cắt, ít nhất vài đơn vị bộ đội không nhận được lệnh nào khác kể từ lệnh hủy bỏ tấn công. Đơn vị Ngô Văn Chiêu nhận được lệnh mới lúc 19h50. Họ được lệnh đi vòng qua thành phố và chiếm lĩnh vị trí trên trục đường tới Hải Phòng.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:11:27 pm gửi bởi chiangshan » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:02:33 pm »

Thứ ba, tự vệ được tổ chức lộn xộn. Họ là kết quả của việc hợp nhất các đội tự vệ của Việt Minh và VNQDĐ do Giáp áp đặt từ tháng 8. Một báo cáo không rõ ngày tháng của Việt Nam bị quân Pháp thu được sau ngày 19-12 kết luận rằng tự vệ Hà Nội là một "tổ chức phức tạp, vô kỷ luật, không kiểm soát được và rất khó tổ chức lại. Nhưng với sự hỗ trợ của các nhóm Việt Minh, ta có thể hy vọng tập hợp họ dưới mục tiêu của chúng ta". Phần lớn tự vệ không được huấn luyện quân sự. Các tiểu đội trưởng và trung đội trưởng được học qua 2 khóa dài 2 ngày và 3 ngày. Một cuộc họp của Ủy ban kháng chiến Hà Nội ngày 18-10 quyết định nâng cao chất lượng đào tạo. Hà Nội được chia thành 7 khu, mỗi khu chọn 3 người đi học một khóa cơ bản. Sau đó họ được kỳ vọng sẽ đào tạo cho 100 đồng đội. Nhiệm vụ chính của tự vệ là bảo vệ khu phố của mình. Do vậy vai trò chủ yếu của họ là phòng ngự, nhưng mỗi khu cũng dự kiến tuyển đủ người để lập ra một đội cảm tử, và họ sẽ được huấn luyện các kỹ thuật du kích và một số hoạt động tấn công khác, đáng chú ý nhất là phá hủy xe bọc thép. Trong một tài liệu đưa ra ở cuộc họp Việt Minh địa phương ngày 24-10-1946, chỉ có 217 tự vệ là thành viên Việt Minh. Trong một thông tri gửi các chỉ huy tự vệ ngày 12-12, họ được yêu cầu báo cáo về tinh thần, lý tưởng và nguyện vọng những người dưới quyền, và ai trong số đó là "phản động" - thành viên của các nhóm chống đối thân Tàu.

Vài người trong số "phản động" ấy cho rằng xung đột Pháp-Việt là cách duy nhất để loại bỏ Việt Minh và hy vọng sự can thiệp của Trung Quốc và Mỹ sẽ đồng thời loại bỏ cả Pháp và cộng sản cùng lúc. Moret, trùm Surete ở Hà Nội ngày 9-12 viết rằng giới thượng lưu "trong khi suy tính về viễn cảnh chiến tranh ở Hà Nội với sự khiếp hãi, đã đi đến hy vọng là nó sẽ đến ngay lập tức, vì đó là con đường sống duy nhất của họ". Trong những tuần trước 19-12, người Pháp bắt liên lạc được với nhiều phần tử chống cộng ở Hà Nội và Huế. Theo một báo cáo sau này từ Sainteny, họ gồm 2 thành phần: "VNQDĐ và Đại Việt có xu hướng dân tộc chủ nghĩa hạn hẹp rất khó tiếp cận và giới Công giáo-bảo hoàng có xu hướng dân tộc chủ nghĩa khôn ngoan hơn". Nhóm sau này được chia thành thành phần cánh tả (Nguyễn Mạnh Hà), thành phần truyền thống, bảo hoàng và tương đối thân Pháp (Nguyễn Đệ, Trần Văn Lý) và thành phần dân tộc cực đoan mà nếu thoát khỏi sự kiểm soát của Pháp "sẽ quay ra chống lại chúng ta" (Ngô Đình Diệm). Sainteny nói rằng Ngô Đình Diệm tự đặt mình vào giao điểm của mọi xu hướng chống Việt Minh, và ông ta đặt cho Diệm một "mật danh" (Jacob), giễu cợt với ý tưởng rằng Diệm sẽ đóng một vai trò nào đó ở một Hà Nội không có Việt Minh, cho rằng "gần như mọi mưu đồ đều đến từ ông ta hoặc chuyển qua ông ta".

Xu hướng của VNQDĐ-Đại Việt đang suy tàn. Các lãnh đạo Đại Việt, những người từng cộng tác với Nhật như Trần Văn Lai, Đào Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và Hoàng Xuân Hãn đã bị Pháp quản chế sau ngày 19-12. Các lãnh đạo VNQDĐ, như Vũ Hồng Khanh, người ký hiệp ước 6-3 cùng Hồ Chí Minh và Sainteny và cựu bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Tường Tam đã tị nạn ở Trung Quốc, Khanh từ tháng 7, nhưng có vẻ Tam từ tháng 11. Nhưng vài phần tử VNQDĐ vẫn ở Hà Nội. Thiếu vắng người lãnh đạo, họ "xem chúng ta như hy vọng cuối cùng", Sainteny nói. Đầu tháng 10, hai đại diện VNQDĐ (Trần Trọng Dung, Phạm Gia Đô) đã "tìm đường tới Cao ủy Cộng hòa". Còn có một nhân vật quan trọng ở Hà Nội: Nghiêm Kế Tổ, người từng làm thứ trưởng ngoại giao thời kỳ Nguyễn Tường Tam làm bộ trưởng. Từ tháng 3 đến tháng 7-1946, Tam và Tổ điều hành đường lối ngoại giao của VNDCCH. Vào tháng 4, dưới sự phê chuẩn của Hồ Chủ tịch, họ cử cựu hoàng Bảo Đại tới Trung Quốc trong một sứ mệnh thất bại nhằm thuyết phục Tưởng Giới Thạch duy trì một số quân ở Việt Nam. Khi Trung Hoa rút hết quân, Tổ ở lại. Vào tháng 10, sau khi thoát chết trong gang tấc, ông ta ẩn mình với hộ chiếu Trung Quốc mang tên Ly Hai Kwang. Hồ sơ của Pháp không nói ông ta liên lạc được với Nguyễn Tường Tam ở Nam Kinh khi nào. Ngày 19-12, ngay tức thì sau khi chiến sự nổ ra, Nghiêm Kế Tổ bị bắt giữ bởi Surete, những người đã theo dõi ông ta một thời gian dài, nhưng Tổ từ chối đóng bất cứ vai trò chính trị gì trong vùng chiếm đóng của Pháp. Sainteny phàn nàn trong tháng 1 rằng Tổ chỉ muốn làm một công dân Trung Hoa bình thường. Dù vậy, sau này Nghiêm Kế Tổ sẽ xuất hiện với tư cách đảng trưởng VNQDĐ đã bị thu nhỏ nhiều.

Pignon có thể đã nghĩ đến Nghiêm Kế Tổ khi khẳng định hôm 17-12 rằng VNQDĐ đang hoạt động bí mật ở Hà Nội, và đang xâm nhập hàng ngũ tự vệ với ý đồ đẩy họ xung đột với Pháp "nhằm gây khó khăn cho các lãnh đạo Việt Minh". Ngay sau đó Sainteny và Morliere phát động một chiến dịch tuyên truyền nhằm chia rẽ Quân đội Việt Nam chính quy và tự vệ mà Morliere tiếp nối hôm 19-12 với yêu cầu giải giáp tự vệ. Câu trả lời của Hoàng Hữu Nam cho Morliere hứa điều này sẽ được chính phủ Việt Nam thảo luận vào ngày hôm sau. Liệu có khả năng tự vệ lo ngại bị chính phủ của mình lừa dối? Sáng hôm đó các chỉ huy tự vệ đã được biết qua lệnh của Giáp rằng chính phủ đã bác bỏ yêu cầu giải giáp tự vệ. Trong lệnh Giáp viết rằng có thể quân Pháp sẽ bắt đầu tước vũ khí tự vệ trong vòng 24 giờ tới. Các chỉ huy tự vệ sẽ nghĩ gì khi được tin Hồ và Giáp sẵn sàng thảo luận về các yêu cầu của Pháp? Liệu có thể họ quyết định chống lại lệnh hủy bỏ tấn công từ Giáp?

Một thực tế đau đầu dường như chỉ ra rằng cuộc tấn công không tuân theo kế hoạch định trước: ngày 19-12, các nhân viên văn phòng chính phủ ở Hà Nội (Bắc Bộ phủ) vẫn tiếp tục công việc của mình, đóng dấu các tài liệu cho đến 18h00 và thậm chí không nghĩ đến tiêu hủy những tài liệu khá nhạy cảm (mà do đó ngày nay có thể tra cứu ở lưu trữ thuộc địa Pháp tại Aix-en-Provence).

Ai ra lệnh cắt điện và nước đêm 19-12? Ngô Văn Chiêu viết trong nhật ký rằng lúc 20h00 tự vệ gác nhà máy điện "báo động". Liệu có thể kẻ nào đó đã trà trộn vào tự vệ nhà máy điện? Tự vệ đã bị xâm nhập bởi VNQDĐ, được tổ chức yếu kém và đang bị đe dọa tước vũ khí. Ba yếu tố trên có thể khiến họ khó khăn trong việc tuân thủ lệnh hoãn tấn công theo kế hoạch. Dù vậy nó vẫn có vẻ hơi gượng gạo khi hình dung ra một mạng lưới những kẻ xâm nhập, có hoặc không có sự hỗ trợ của Pháp có thể tự ý ra tín hiệu "báo động" tất cả những sự nổ súng, đặt mìn, giết chóc và bắt bớ diễn ra ngay lập tức sau 20h00.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:41:47 pm gửi bởi chiangshan » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:06:02 pm »

Đến lúc này chúng ta đã xem xét hết những lý lẽ ủng hộ giả thuyết Giáp cố hủy bỏ cuộc tấn công nhưng không thành. Có rất nhiều thực tế đau đầu nhưng đều không thể tính là bằng chứng trước toà. Hãy quay về với bằng chứng chỉ ra rằng cuộc tấn công đến từ một quyết định tỉnh táo của những lãnh đạo cao nhất Việt Nam (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức THọ, Võ Nguyên Giáp) sau hội nghị Vạn Phúc chiều hôm đó. Giả thuyết này có nghĩa là Giáp không cố gắng hủy bỏ cuộc tấn công, mà nghiêm chỉnh thực thi quyết định của cuộc họp Vạn Phúc bất chấp tin Blum đã cử Moutet tới Hà Nội.

Đầu tiên, đây chính là điều các sử gia Việt Nam ngày nay tuyên bố và chính Giáp công nhận trong hồi ức. Phiên bản của ông được chấp nhận gần như trong toàn bộ các ấn bản hiện tại, cả ở Việt Nam và nước ngoài. Tuy nhiên chúng ta không thể lấy đó để cho rằng Giáp cùng các sử gia của quân đội và đảng đang nói thật và chỉ sự thật. Có vẻ đó là chuyện bình thường khi lời kể ưa thích của họ là lãnh đạo đảng và quân đội luôn kiểm soát được mọi thứ, tất cả đều đồng lòng và làm mọi thứ theo kế hoạch.

Thứ hai, bưu điện Hà Nội lúc 7 giờ tối biết cuộc tấn công sẽ diễn ra. Trong một lá thư nội bộ của Việt Nam đề ngày 23-12, "chính trị viên" ở bưu điện trung ương Hà Nội (có nhiệm vụ báo động những nơi khác bằng điện tín khi chiến sự bắt đầu) nói rằng ngay trước 7 giờ tối anh ta được chính trị viên đơn vị vệ quốc đoàn ở đó thông báo về cuộc tấn công. Nếu người chính trị viên vệ quốc đoàn này làm theo lệnh Giáp, nó có nghĩa Giáp chưa bao giờ dao động hoặc ông đã đổi ý nhiều lần.

Thứ ba, những hành động của phía Pháp vào cuối buổi chiều gợi đến nguy cơ của một cuộc tấn công. Bắt đầu từ khoảng 5 giờ chiều, binh lính và sĩ quan Pháp vốn đã được cho vào thành phố nghỉ một lẫn nữa biến mất khỏi đường phố. Khi biết tin này, có thể Giáp đã nghĩ rằng Morilere lừa dối khi nói với Hoàng Hữu Nam lính Pháp sẽ được xả trại. Và có thể ông đã nhận tin này khi đang cố thuyết phục thuộc cấp rằng cần kiên nhẫn hơn, Bác Hồ cần thêm thời gian để xem tân thủ tướng của Pháp sẽ làm gì. Giáp không phải người có thể bị hoảng loạn, nhưng ông có thể lo ngại rằng người Pháp đang cố đánh lừa mình. Không lâu sau khi lính Pháp bị triệu hồi về trại, Giáp nhận được báo cáo phát hiện xe bọc thép của Pháp ở 5 điểm chiến lược, và một nhóm người Pháp trong Khách sạn Metropole trước đó đã được các nữ phục vụ phòng báo là giấu súng dưới gầm giường đang chiếm vị trí trong một nhà hàng đối diện dinh thự của Hồ. Thông tin hay tin đồn này có thể đã khiến ông nghĩ rằng quân Pháp đang chuẩn bị hành động để tước vũ khí tự vệ hoặc bắt giữ các lãnh đạo Việt Nam. Nếu Giáp đã tự thuyết phục bản thân ở thời điểm nào đó giữa 18h30 và 20h03 rằng quân Pháp chuẩn bị tấn công, ông có thể đã quyết định cho nổ súng để không mất thế chủ động, cho dù là với cái giá phải mở một cuộc tấn công thiếu sự phối hợp. Có thể đơn giản là ông quyết định đi cùng với cái có vẻ là dòng chảy của lịch sử thay vì nỗ lực vô ích để thay đổi nó. Như vậy có thể Giáp đã đổi ý hai lần: trong buổi sáng và đầu buổi chiều ông có kế hoạch tấn công; vào cuối buổi chiều (sau khi biết Blum cử Moutet và Morliere hứa cho lính Pháp nghỉ tối hôm đó), ông do dự; và vào buổi tối (khi lính Pháp bị gọi về trại và xe bọc thép Pháp chiếm lĩnh các vị trí chiến lược), một lần nữa ông quyết định tấn công. Bất kể Giáp có do dự hay không, dường như ông đang nói sự thật trong hồi ức khi nhận trách nhiệm cho quyết định lịch sử này:

Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn điện tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên. Chúng ta cần bóng tối để trợ lực khi khởi sự. Làm được việc này không dễ. Trung tâm phát điện là nhà máy điện Yên Phụ do một lực lượng hỗn hợp Việt, Pháp cùng canh gác. Cần bí mật đưa vào nhà máy một lượng thuốc nổ đặt vào nơi cần thiết sát giờ nổ súng. Nếu địch phát hiện, quân Pháp có cớ chiếm ngay nhà máy và tiến công trước vào bộ đội trên toàn thành phố.

Tuy nhiên ở đây, nhà sử học Giáp đã không đánh giá đúng đối thủ cũ cũng như viên tư lệnh Giáp đã hiểu sai ý đồ của người Pháp hôm 19-12. Người Pháp cần một cái cớ tốt hơn nhiều nếu muốn mở một cuộc tấn công toàn diện. Họ không thể dùng một phát hiện nhỏ nhặt về ý đồ đưa thuốc nổ vào nhà máy điện làm cái cớ, vì chính phủ Pháp đã cấm họ chủ động chiến sự. Họ cần Giáp ra tay trước.

Nhà máy điện và nhà máy nước đóng vai trò chủ chốt trong khởi đầu tấn công, đặc biệt là nhà máy điện Yên Phụ; bóng tối đột ngột lúc 20h03 được tất cả lưu ý đến. Ở những chương trước ta biết rằng tình báo Pháp từ trước 19-12 khá lâu đã có trong tay bản kế hoạch của phía Việt Nam nói rằng cuộc tấn công tổng lực sẽ được kích hoạt bởi cắt điện và nước. Chúng ta cũng biết rằng các sĩ quan tham mưu của Valluy đã có kế hoạch cắt các đường dây điện thoại ở Hà Nội trong giai đoạn mở màn cuộc đảo chính mà họ chuẩn bị, hoặc bằng cắt dây, hoặc bằng cắt điện (dù phương pháp sau sẽ để lại thiệt hại). Cả nhà máy điện và nhà máy nước Yên Phụ đều nằm giữa hồ Trúc Bạch và sông Hồng, phía bắc Thành Hà Nội. Đây là khu vực mà quân Pháp tiến hành hoạt động phá chiến lũy mạnh nhất trong những ngày trước 19-12.

Một báo cáo của Surete cung cấp mô tả chính xác về những gì diễn ra khi chiến tranh bùng nổ: "19-12-1946. Lúc 20h00, Việt Minh cho nổ turbine ở nhà máy điện và cắt nguồn cung cấp nước cho toàn thành phố". Surete bổ sung nhiều chi tiết hơn trong một báo cáo khác: ba quả bom hay bộc phá nổ trong nhà máy điện "sau khi người Việt Nam phá các máy dự phòng bằng cách đổ a xít". Làm cách nào Việt Minh lọt vào nhà máy và tìm ra phương thức phá hoại?

Nhà máy điện được điều hành chung bởi một giám đốc người Pháp và Việt và từ lâu đã được bảo vệ bởi đội gác hỗn hợp Pháp-Việt. Sáng 17-12, một sự cố nghiêm trọng xảy ra khi lính gác Pháp bắn chết người lính Việt Nam. Công nhân nhà máy đình công để phản đối nhưng sau đó quay lại làm việc sau khi chính phủ Việt Nam thuyết phục. Theo hồi ký của Giáp, đêm 19-12 công nhân nhà máy, thành viên của đội tự vệ ở đây dưới sự chỉ huy của một người tên Giang đã "hoàn thành xuất sắc việc phá máy đúng thời gian".

Sau ngày 19-12, viên giám đốc người Việt của nhà máy Hoàng Văn Ngọc đã bị quân cảnh Pháp bắt giữ sau khi bị viên giám đốc Pháp Cavalin tố cáo. Không may, chúng ta không biết lời cáo buộc là gì nhưng Moret, sếp của Surete đã can thiệp đòi thả Hoàng Văn Ngọc, chỉ ra thái độ "chống Việt Minh" và ca ngợi ông ta đã có cống hiến quý giá cho Surete. Để tăng thêm sức nặng, Moret - theo đề xuất của Pignon sau này đã nhận được thăng cấp đặc biệt cho "sự cảnh giác" của ông ta hồi tháng 12-1946 - bổ sung: "Ngài Pignon biết việc này". Cavalin, viên giám đốc người Pháp không vui trước việc người đồng nghiệp Việt Nam không bị trừng phạt và ông ta quyết định tự mình ra tay. Hôm 23-12 ông ta đi cùng một nhân viên Pháp tới nhà viên giám đốc Việt và bắn vào cổ Hoàng Văn Ngọc, làm bị thương ông này. Đây có thể chỉ là mâu thuẫn cá nhân, nhưng nó có vẻ đáng ngờ trong vai trò quan trọng mà nhà máy điện đã đóng 4 ngày trước đó. Người ta có thể tự hỏi liệu có phải tội của viên giám đốc Việt chống Việt Minh là nhắm mắt làm ngơ, câu kết với Surete và cho phép người của Giáp mang thuốc nổ vào. Nếu ông ta cho phép nhà máy bị phá hoại, có thể viên giám đốc chống cộng này đã phục vụ xuất sắc cho cả Giáp lẫn Pignon cùng lúc. Đồng thời việc đó cũng làm vừa lòng những người quốc gia chống cộng, những người muốn Pháp và Việt Minh đánh lẫn nhau để mở đường cho chủ nghĩa quốc gia không cộng sản.

Tuy nhiên, cuối cùng cộng sản là người chiến thắng. Tám năm sau, khi trở về Hà Nội sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva, một trong những nơi đầu tiên Giáp đến thăm ở thủ đô là nhà máy điện Yên Phụ: "Tôi siết chặt tay những người thợ áo quần đầy muội than đã phá máy làm tắt nguồn điện của Hà Nội, thay hiệu lệnh tiến công đêm 19-12".
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:25:20 pm gửi bởi chiangshan » Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM