Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:31:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận chiến Điện Biên Phủ  (Đọc 69883 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 09:57:46 pm »

Ngày 4 tháng hai 1954


Sáng hôm đó, lúc bảy giờ ba mươi, sau đêm hành quân thứ ba, trung đoàn 57 tới nơi trú quân mới của mình trên một ngọn núi ở hướng bắc cách bọn "Tây" năm kilômét đường chim bay, lúc này còn chưa nhìn thấy chúng. Chắc hẳn là trên sườn ngọn Pha Song, gần bản Na Khau Hu. Lúc đó trung đoàn biết được nhiệm vụ của mình: kéo các khẩu pháo 105 trên các trận địa của chúng.

Chuyện bất ngờ đối với đại úy Hiền, đó là thấy mình ở giữa một số lượng đáng kể các khẩu đội pháo cao xạ với những chiếc nòng dài, thanh thoát như những cây sào nhô lên khỏi các bụi cây, nơi mà đơn vị vừa chui vào đêm qua, cho đến tận lúc này, vẫn nằm ở ngoài rìa bãi chiến trường. Giờ đây trung đoàn 57 thấy mình được ném vào giữa trung tâm các sư đoàn, trong làn sóng đan chéo nhau của những chiến binh mang vũ khí và các dân công bước đi chân sáo dưới gánh nặng của khối hàng tiếp tế và đạn dược. "Bắt Navarre xuống đây đi, các anh?...", người ta hét to câu ấy với các pháo thủ cao xạ, đứng chen chúc xung quanh các bệ pháo. Hai lạng gạo, một ít thịt, một thìa đường cho bữa ăn tối và những tiếng vỗ tay, quả là ít ỏi để ăn Tết và đón mùa xuân. Có tin đồn là, từ dưới đồng bằng gửi lên, việc chuyển vận rất nhiều thư từ và tặng phẩm đã bị chậm lại, nhường cho những công văn cao cấp thượng khẩn nhưng đối với mỗi con tim, có cái tết nào vui hơn là cái đêm ba mươi ở giữa những khẩu pháo vẫn còn chưa khạc lửa và một số người đi lại sờ vào những khẩu pháo ấy, tựa như không còn tin vào đôi mắt của mình nữa.

Khi mảnh trăng lưỡi liềm biến vào sau những đỉnh núi phía tây, trung đoàn tiến lại gần những khẩu pháo 105 mà họ phải đẩy vào trong các căn hầm do các chiến sĩ công binh đêm ngày đào khoét thẳng vào sườn núi, dưới một tấm lưới dây leo che giấu công việc khỏi con mắt nhòm ngó của máy bay và vừa đào, vừa xoá hết dấu vết. Những truyền thuyết đã ra đời, mà người ta nhắc đi nhắc lại. Người ta nêu tên một chiến sĩ khi những sợi dây kéo pháo bị đứt đã lấy thân mình chèn vào các bánh xe của khẩu pháo đang trên đà lăn xuống dốc. Khắp nơi người ta hát bài ca trong vài tuần lễ đã trở nên nổi tiếng bài Hò kéo pháo:

… Vực sâu thăm khẳm
Vực nào sâu bằng chí căm thù
… Kéo pháo ta lên đi nào
Trận địa đây vùi xác quân thù...

Lần này, vinh dự thuộc về trung đoàn 57, đúng vào lúc nhiều loạt đạn pháo 105 do các khẩu đội của đại tá Piroth bắn tới, rơi xuống, có thể không phải là cần câu, ngay gần ở đó, khiến cho khu rừng rung lên và rên rỉ.

Trên một sườn dốc bốn mươi nhăm độ tiếp nối một khe sâu, các trung đội cột dây thừng vào người, trong lúc đó các pháo thủ, khom lưng bên các bánh xe, đẩy những thanh chèn to tướng vào dưới các lốp xe. Bài hát nổi tiếng, ông Hiền biết rằng không phải ở đây người ta hát. Hai bàn tay nắm chặt lấy các sợi dây, đôi chân bám sâu vào lớp đất, mọi người lắng nghe tiếng nói the thé và kéo dài của người chỉ huy khích lệ cố gắng.

- Huây!... Hà!

Hai càng trước quay lên trên cao, khẩu pháo nhích lên vài xăngtimét, dừng lại, rồi lại nhích lên. Trung bình mỗi phút nhích lên một mét trên những góc độ gay go nhất, như vậy mỗi giờ chỉ chuyển dịch được năm chục mét và tính cả giờ nghỉ, mỗi ngày nửa kilômét. Ban đêm, chỉ được một nửa. Cần thiết là trước khi rạng sáng, khẩu pháo phải được cột chặt và ngụy trang, hoà lẫn vào cây rừng xung quanh, mọi dấu vết kéo pháo phải biến mất để cho các máy bay quan sát và chụp ảnh không phát hiện được tí gì.

- Huây!...Hà!

Các lồng ngực hít dài, rồi thì thân người và đôi cánh tay căng ra hết mức. Mồ hôi chảy ròng ròng trên các khuôn mặt, và phần thân trên, trong lúc đó người chỉ huy điều hoà nhịp điệu. Ở cách tập đoàn cứ điểm như vậy và trên các đỉnh núi mà máy bay thường xuyên bay lượn, người ta không thể tưởng tượng rằng các khẩu pháo có thể được kéo cả ban ngày. Còn về những hầm pháo, vẫn còn lại một vài căn hầm mà người ta có thể lên tới được ở trên núi, sau nhiều giờ đi bộ khi mà bản thân những chiếc xe Jeep cũng không có đường lên nữa. Lúc đó người ta gặp lại những đoạn hầm dài đan chéo nhau, được đào bằng cuốc chim, giống như tổ những con chim mồi, bây giờ không còn con đường nào dẫn tới đó nữa do vì nước mưa và cây cỏ đã xoá sạch hoặc che lấp mọi lối vào. Giờ đây, có lẽ đó là nơi trú ngụ của lũ gấu. Bên trong hầm vẫn còn lại, nửa thân chôn xuống lớp đất, những chiếc vỏ đạn pháo đã bị rỉ sét vì ẩm ướt và một vài mảnh vải rách bám dưới trần hầm, cấu trúc bằng những thanh gỗ tròn lớn được chống đỡ bằng những thân cây chuyển tới đây trên lưng người. Thời gian nhanh chóng huỷ hoại những gì còn lại của các vị trí hoả lực và những nơi nghỉ ngơi cũng như các ổ chứa đạn. Nếu như người ta dám tiến lên và nếu như có thể gạt hết bụi rậm và cành cây che kín lỗ châu mai sang một bên, người ta sẽ nhìn thấy thung lũng Điện Biên Phủ, những đoạn sông uốn khúc và những cột khói bốc lên trên các thôn bản hay những cánh đồng và cơn gió cuốn hút những cột khói lên núi. Ngày xưa, bằng mắt thường, người ta có thể phân biệt được hệ thống dây thép gai như lưới mắt cáo, các khẩu đội pháo binh của đại tá Piroth nằm trong những ô tròn như tổ ong, và gần một gốc cây cụt thẳng đứng ờ giữa cánh đồng, sở chỉ huy của đại tá De Castries.

Buổi tối. che giấu dưới một miếng vải nilông căng lên làm mái lều, đại úy Hiền thắp lên một ngọn đèn nhỏ làm bằng một hộp kẹo ho Valda cũ, bên trong có nhét đầy bông tẩm dầu hỏa và một chiếc van xe đạp dùng làm ống muống. Ngày 4 tháng hai 1954, bằng dòng chữ nhỏ li ti như vết chân ruồi, sau này vất vả lắm mới đọc lại được, đại úy ghi dòng sau dây vào cuốn sổ nhỏ xinh trong đó có nhật ký hành quân: "Cái lạnh và cái đói quấy phá chúng tôi, nhưng chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ tiêu diệt quân địch".
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Tư, 2008, 12:49:28 am gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 10:04:06 pm »


Ngày 5 tháng hai 1954


Ở thời điểm này, ai có thể nghĩ là Việt Minh có bao giờ lại tấn công? Việc ra đi của sư đoàn 308 tựa như chứng minh điều đó: tướng Giáp sẽ không dám. Người duy nhất nhìn đúng và đánh hơi thấy mưu mẹo đó là Cogny. Ngày 3 tháng hai, trong một bản chỉ lệnh gửi cho Castries, Cogny đã dự cảm thấy ý định của đối phương có thể là đi quấy rối về phía Luang Prabang và sau đó kéo sư đoàn 308 trở lại Điện Biên Phủ. Trái ngược với ý định của Navarre định rút bớt lực lượng của đội quân đồn trú, ông quyết định chỉ tin là tướng Giáp từ bỏ tấn công nếu như sư đoàn 312 và pháo binh đi theo sư đoàn 308. Cogny vẫn tin chắc là ngay cả trong trường hợp đó, tướng Giáp cũng tìm cách nghi binh.

Ngày hôm ấy, Navarre viết thư cho Cogny nói rằng sở dĩ ông yêu cầu tính đến cuộc hành binh Xénophon là do mối lo ngại phải đối phó với chuyện xấu nhất. Đối với ông, tình huống bất trắc Xénophon đã không còn giá trị và tướng Giáp tự thấy không đủ khả năng tấn công Điện Biên Phủ. Như vậy, chính Cogny đã có lí.

Khi tôi hỏi tướng Giáp vì sao ông đã tung sư đoàn 308 sang Lào, ông đã trả lời tôi: "Để đánh một đòn lạc hướng và quét sạch các đơn vị của các ông ở đó". "Chính xác hơn, ông nói thêm, nhằm mục đích quét sạch một vài tiểu đoàn cơ động mà quân viễn chinh Pháp đã bố trí cheo leo trên các rặng núi và để che giấu công việc chuẩn bị tấn công của chúng tôi, và hợp tác với các đơn vị Pha thét Lào để cắt đứt mọi đường rút lui của tướng Navarre về phía nước Lào".

Trong trường hợp này, Cogny lại càng có lí: mạng vệ tinh của ông ta, nếu như được tổ chức vững mạnh và được đặt lên quỹ đạo của nó, đã có thể gây trở ngại cho tướng Giáp. Về điều này, lúc đó không một ai có nghi ngờ gì, ngoại trừ có thể là Navarre. Điều mà người ta nghi ngờ, đó là khả năng bố trí, duy trì và di chuyển mạng vệ tinh đó; đó là việc trong vòng vài ngày hà hơi tiếp sức cho cái binh đoàn bao gồm những đơn vị nhỏ bé, đó là một việc làm không thể nào ứng tác nhanh chóng: tạo ra tính thống nhất, lòng ham muốn và ý chí chiến đấu.

Thực tế có hề gì, nếu như chỉ riêng sự hiện diện của mạng vệ tinh đó cũng đã khiến cho tướng Giáp ở trong trạng thái thiếu an toàn, trạng thái mà Cogny mơ ước, trạng thái ngăn cản tướng Giáp mở cuộc tấn công? Ở đây hình như người ta lại rơi vào những ảo tưởng. Tướng Giáp sẽ không vất vả gì nhiều lắm để quét sạch cái mạng vệ tinh ấy cũng như ông đã phủi bụi ở nước Lào: một sư đoàn quân Việt chuyển động và chiến đấu trong rừng rậm; đối phó với nó, những câu chuyện tưởng tượng không có ích gì. Ngoài ra, liệu Cogny có sợ rằng tướng Giáp tấn công tập đoàn cứ điểm hay không? Câu trả lời là "Không". Không, trong câu trò chuyện ở hành lang, Không, để mang tới cho Castries những bình thở ôxy1, hay là Không, trong vòng bí mật của những suy ngẫm? Với con người xứ Normandie Cogny; thật khó khăn để mạo hiểm trong sự vững tin. Với Cogny không bao giờ là "Có hay Không ''; mà là “Có và Không". Về ý nghĩ thật sự của Cogny lúc đó, giờ đây không còn dấu vết. Cũng sẽ như thế, nếu như Cogny lúc đó có tin rằng Điện Biên Phủ sẽ kết thúc trong thảm họa.



Ngày 6 tháng hai 1954


Ở Paris, Uỷ ban Quốc phòng họp lại. Ngài Pléven nêu nhận xét là tình hình ở nước Lào là khó khăn và rằng tướng Navarre có thể đặt ra cho ngài một câu hỏi, hai bức điện của viên tổng chỉ huy và của ngài Dejean có vẻ đã nêu ra câu hỏi đó: việc bảo vệ nước Lào liệu có vẫn luôn luôn còn là một mục tiêu trong đường lối của chính phủ hay không? Ý kiến của thống chế Juin là số phận của đạo quân viễn chinh phải đặt trước số phận của nước Lào, và hội nghị của ủy ban thống nhất tán thành ý kiến đó. Thống chế nói thêm, ông tin là có khả năng rút bỏ Điện Biên Phủ nhưng căn bệnh tâm thần về chiến thuật những con nhím được phổ biến trong quân đội, có nguy cơ làm tê liệt các sáng kiến.

Ngài Pléven, ngày hôm sau nữa sẽ bay sang Đông Dương. Ủy ban dành cho ngài, ngoại trừ những gì liên quan đến các cuộc thương lượng với đối phương, toàn quyền quyết định về mặt quân sự trong trường hợp khẩn cấp không cho phép ngài xin ý kiến của chính phủ. Thực tế, cùng với ngài Pléven, chính là uỷ ban các tham mưu trưởng, với tướng Ely là chủ tịch sẽ đi sang nghiên cứu tình hình tại chỗ và sửa chữa các sai lầm. Ngài Pléven, người đã phàn nàn mình chỉ là một người cho máu, đột nhiên có được những quyền lực mà ít chính khách trước ông có được.



Ngày 7 tháng hai 1954


Đến từ Sài Gòn và Séno trên chiếc máy bay của tướng Navarre, ngài De Chevigné, quốc vụ khanh về chiến tranh, hạ cánh xuống Điện Biên Phủ. Trước lúc hạ cánh mấy phút, viên phi công có nguy cơ bắt buộc phải nhào xuống khu lòng chảo khá táo bạo để tránh đạn pháo cao xạ đã đề nghị vị bộ trưởng buộc chặt dây an toàn. Ngài De Chevigné, vốn không biết là có pháo cao xạ, tỏ vẻ ngạc nhiên. Nỗi ngạc nhiên của ngài càng gia tăng khi máy vô tuyến chuyển tới ngài một thông báo trong đó tướng Cogny và đại tá Castries báo cho biết là nghi lễ đón chào ngài không diễn ra trên đường băng, hiện nằm dưới hoả lực súng cối của đối phương và yêu cầu ngài khẩn trương ra khỏi máy bay, ngay khi máy bay dừng bánh và lên chiếc xe Jeep đang chờ đón ngài.

Sau này ngài De Chevigné nói về nỗi sửng sốt mà ngài cảm thấy lúc đó. Thậm chí ông còn nói: "Kể từ thời Roland ở Roncevaux chưa bao giờ người ta thấy những chiến binh đi bộ trong một hẻm núi như vậy". Sự thật, nếu như ông biết được các phi công đã mệnh danh khu lòng chảo Điện Biên Phủ với cái tên gì thì khi nhảy vào ngồi bên cạnh De Castries trong chiếc Jeep, và tướng Cogny ngồi ghế phía sau, thì cảm tưởng của ông sẽ là tức giận. Điện Biên Phủ quả thật là cái bô nước tiểu mà đội quân đồn trú chiếm giữ ở dưới đáy và Việt Minh thì ở trên miệng bô.

Nguyên chỉ huy trưởng một lữ đoàn thuộc địa của các lực lượng nước Pháp tự do ở Trung Đông, nguyên trưởng phái đoàn quân sự của tướng De Gaulle ở Washington, bị thất bại, nguyên cao ủy ở Madagascar, hòn đảo mà ông đã bình định với những phương sách đặc biệt, liên kết với gia đình De Castries, ngài De Chevigné có thân hình và giọng nói của một anh hàng thịt dễ mến, đã muốn ở lại Điện Biên Phủ hai ngày để nắm được tình hình trước khi ngài Pléven tới. Ông đã gặp gỡ trong nhiều giờ với các đại tá và các tiểu đoàn trưởng để nhìn thấy hết và hiểu hết sự thật. Phải chăng tại đây sau khi bất cẩn làm nổ một trái lựu đạn gài bẫy người ta đưa cho ông xem, ông đã chất vấn là người ta đánh đồng loạt những vết xước nhỏ như những vết thương chiến tranh hay sao? Một buổi tối, cải trang thành anh lính trơn, ông đã tham gia một đội tuần tra. Nhưng mà thử hỏi một vị bộ trưởng có thể rút ra kết luận gì khi mà đứng trước mặt ông, các sĩ quan luôn luôn giữ thái độ dè dặt kể cả những người như Gaucher hoặc Piroth, cùng tốt nghiệp một khoá trường Saint Cyr với ông? Hay nữa, như Langlais, bạn học cũ trong trường sĩ quan dự bị với ông. Điều mà ngài De Chevigné nắm được khi rời khỏi Điện Biên Phủ đó là vị trí có vẻ vững mạnh mặc dầu việc tổ chức trận địa đôi chỗ chưa đầy đủ và rằng đội quân đồn trú sẽ bị hất trở lại dữ dội ngay khi nó tìm cách trèo lên miệng bô, nơi mà nó đã bị dính chặt vào. Để trình diễn với ông, Castries đã cho xuất trận hai tiểu đoàn rất giỏi, được pháo binh và máy bay yểm trợ, hai tiểu đoàn này cũng không ra quá khu lòng chảo được hơn một kilômét; nhưng mà trận chiến đấu đã không xảy ra và không một ai tỏ vẻ lo ngại về kết cục của trận đánh. Mọi người đều nói với ông như Castries và Cogny: “Điện Biên Phủ sẽ là Nà Sản nhân lên mười lần. Chúng tôi sẽ không chỉ đè bẹp một mà là bốn sư đoàn”.



Ngày 8 tháng hai 1954


Ở Sài Gòn, ba hôm trước, tướng Blanc đã phác họa với ngài Jacquet một bức tranh khá u ám về tình hình chính trị và quân sự. Trong dáng điệu hào hiệp và giọng nói vùng Catalan, tướng Blanc nhìn thấy sáng suốt, đánh giá nhanh chóng và phát biểu ý kiến của mình kể cả khi người ta mong muốn là không chấp nhận ý kiến đó. Cá tính của ông có lúc nào đó, đã cản trở ông có được những cương vị mà ở đó những cái đầu mềm dẻo ít kháng cự hơn cái đầu của ông, rồi sau đó ông lại được chỉ định để giữ một nhiệm vụ khó khăn. Trong thời gian dài bị đánh giá là không biết phục tùng, ông đã chứng minh là mình sinh ra là để chỉ huy. Về Đông Dương, ông đã có cái nhìn thực tiễn: năm 1950, dự cảm thấy mối thảm hoạ đang thai nghén, ông đã khuyến cáo việc rút bỏ Cao Bằng. Trung Quốc, Việt Minh, tình trạng yếu kém của quân đội Việt Nam2 và sự bất tài của những người chỉ huy đội quân đó, mang đến cho ông những lo ngại nghiêm trọng về Điện Biên Phủ. Theo ý ông, cần phải rút bỏ xứ Bắc Kỳ để có thể giữ vững Nam Kỳ và Trung Kỳ và để đạt được mục đích đó, tiến hành thương lượng để chấm dứt trong danh dự một cuộc chiến tranh trong tương lai sẽ kéo theo việc đánh mất vùng Bắc Phi. Đối với ông, tiếp tục làm tổn hại sinh mạng của đạo quân viễn chinh mà các lực lượng dự trữ đang suy giảm dần là một tội ác. Ngài bộ trưởng lắng nghe tướng Blanc nói mà không ghi chép, vừa rít tẩu thuốc, vừa gật đầu.

Buổi chiều, khi dừng chân ở Nice, ngài Jacquet trên đường ở về Paris đã gặp phái đoàn Pléven. Trong một phòng khách ở sân bay, ông trao đổi cảm tưởng với ngài Pléven và tướng Ely.

- Tôi rất bi quan, ngài Jacquet nói.
- Chúng tôi còn bi quan hơn, ngài Pléven trả lời. Chính vì vậy mà chúng tôi đi sang đó.
__________________________________
1. Ý nói để tiếp sức. - N.D

2. Chỉ quân đội ngụy theo Pháp. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2008, 10:09:24 pm »


Ngày 9 tháng hai 1954


Hôm qua, lần đầu tiên, các chiến binh của trung đoàn 57 mà người ta cho nghỉ ngơi sau khi kéo mấy khẩu pháo lên núi, đã có thể nhìn thấy khu lòng chảo Điện Biên Phủ. Mệt mỏi đến mức họ mơ ước được ngủ một mạch hai mươi bốn tiếng đồng hồ và ăn mấy miếng đường, ấy vậy mà họ đứng ngắm một hồi lâu khoảng không gian tối đen của giải thung lũng, dưới ánh trăng lấp loáng một vài ánh thép bạc, ở đó mười hai tiểu đoàn, ẩn nấp trong các lô cốt, đang chờ đợi họ. Điều gây ấn tượng nhiều nhất đối với đại úy Hiền, từ nhiều năm nay quen sống như một con sói bị săn đuổi, đó là vầng ánh sáng của đường băng sân bay và hệ thống cọc tiêu của nó gồm những bó đuốc đốt bằng ét - xăng, ngọn lửa lay động trước gió, gợi lại cho ông những đống lửa củi nhỏ mà người ta đốt lên trên ngưỡng cửa các ngôi nhà, để tưởng nhớ những người đã khuất.

Biết bao bước chân hành quân và biết bao nỗi gian khổ, cuối cùng đã dắt dẫn họ tới trước trận địa, ở đó quân địch tập trung lại đang thách thức họ. Họ nhớ tới những từ ngữ mà người ta nhắc đi nhắc lại, từ trung đoàn này sang trung đoàn khác, những từ ngữ in trên các tờ truyền đơn của De Castries trong tiếng Việt người ta gọi là Đờ-Cát-Tri, gọi họ là đồ hèn nhát. "Hèn nhát", đó đúng là cái tiếng cuối cùng mà người ta phải nghĩ tới. Họ là những con người giản dị, nhẫn nhục, cuồng tín đến mức quá đáng, sẵn sàng hiến dâng cho những nghĩa vụ lớn trong tương lai, nhưng tuyệt nhiên không hèn nhát; điều đó chứng tỏ là đối phương hiểu sai lệch về họ đến mức nào hoặc là chúng muốn nhục mạ họ. Theo cái cách lặng lẽ và bướng bỉnh của một võ sĩ hạng nhẹ nhảy nhót trước một võ sĩ hạng nặng mà không trực tiếp đối mặt, họ đã tiến lại gần, đã đẩy lùi đối thủ hùng mạnh của họ vào sát sợi dây thừng bao quanh võ đài và sau biết bao đòn né tránh và nghi binh, đang chuẩn bị giáng cho đối thủ một đòn đúng sức của mình, với những khẩu pháo xưa kia đã từng nã đạn vào họ.

Mọi người trong trung đoàn 57 đứng lặng lẽ trước cái hố sâu khổng lồ, bên trên hố sâu ấy những cuộn khói trôi nổi, kéo dài ra về phía những đỉnh núi bàng bạc dưới ánh trăng. Đó chính là nơi họ phải tiến xuống để rửa sạch những nỗi nhục, những bất công và cắm lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ cuối cùng đã mang tới cho họ một Tổ quốc.



Ngày 15 tháng hai 1954


Ở tất cả những ai viếng thăm tập đoàn cứ điểm, đều bắt gặp cùng một nỗi ngạc nhiên trước phong cảnh và địa thế. Mịt mù với hệ thống đường sá và những giải bụi dài mà xe cộcuốn lên phía sau chúng, khu lòng chảo náo nhiệt bởi cuộc sống của một đạo quân nhỏ đang chờ đợi giờ xung phong, chôn xuống đất các vũ khí của nó, thu gom đồ tiếp tế mà người ta ném xuống cho nó, giải ra xung quanh nó những chướng ngại vật, nấu ăn và tắm rửa dưới dòng sông chảy ra từ những ngọn núi rậm rạp cây cối gần nhất. Xa hơn nữa, những đỉnh núi lởm chởm nối tiếp nhau, dâng cao lên cho tới tận đường chân trời ở đó không có dấu hiệu gì của một đối phương hoàn toàn hoà lẫn vào với rừng cây và canh chừng mọi chuyển động phía dưới thung lũng. "Một sân vận động ", theo câu chữ của Robert Guillain, mà Việt Minh chiếm giữ các bậc lên xuống.

- Tất nhiên, một viên đại úy nói với Henri Amouroux, đặc phái viên của tờ báo Tây Nam, họ nhìn thấy chúng tôi rất rõ, thi thoảng nhằm bắn vào chúng tôi, đánh dấu những vật chuẩn trên các con đường. Tất cả những chuyện đó không quá nghiêm trọng.

Henri Amouroux, hơi so vai thụt đầu, bước đi một cách thận trọng tựa như để khỏi thu hút sự chú ý của tất cả những người đang rình mò ở trên cao, tới sở chỉ huy của đại tá Castries, trình diện với ông.

- Anh là nhà báo, Castries nói, vừa khẽ bĩu môi nhìn về hướng tờ báo Le Monde và tờ điểm báo mà ông vừa vứt xuống mặt bàn. Lại thêm một người nữa. Anh có biết là nếu như Robert Guillain quay lại đây, thậm chí ông ta không phải xuống máy bay. Tôi sẽ cho bốn tay súng bảo vệ ông ta. Vậy mà cứ nói là ông ta đã uống rượu cô nhắc của chúng tôi?
- Thưa đại tá, tôi biết Robert Guillain...
- Người đã viết rằng Điện Biên Phủ là một cái hố của bầy sư tử!
- Một hình ảnh, một hình ảnh đơn giản. Vả lại như vậy không có vẻ là thiếu xác thực.
- Nếu thế, Castries hét to, anh cũng giống những người khác, anh cũng thế ư? Vậy thì xin cứ để chúng tôi yên tĩnh làm công việc của chúng tôi. Nếu như quân Việt tấn công, các anh sẽ thấy chúng tôi tiếp đón họ như thế nào. Mọi việc đã sẵn sàng, thưa ông Amouroux, có thế thôi. Mời anh lấy một xe Jeep. Anh cứ đi mà xem.

Từ những gì nhìn thấy được, Henri Amouroux có một cảm giác nửa tin tưởng nửa lo ngại. Anh đã đi ra cứ điểm Anne Marie gặp lại thiếu uý Makowiak, cấp phó của đại úy Guilleminot chỉ huy tiểu đoàn người Thái số 3, đã cùng với họ ẩn nấp trong một căn hầm giống như một nấm mồ, cùng ăn một bữa với họ.

- Chúng tôi đến đây để đi diễu binh và chúng tôi sẽ đi diễu, Guilleminot bình thản nói.
- Ở đâu vậy, thưa đại úy? Henri Amouroux sửng sốt hỏi. Guilleminot khẽ phẩy tay.
- Người ta sẽ diễu binh.

Buổi tối, sau khi Guilleminot tra cứu xong cuốn danh bạ mà anh ta vẫn mang theo cho đến lúc này, trong lúc Amouroux nằm dài trên đệm đang định ngủ thì quân Việt bắn pháo 75. Các sĩ quan mặc quần áo trong bóng tối và bước ra ngoài. Những con chim vẫy cánh trong màn đêm. Những con quạ này, có lẽ tôi đã nhìn thấy chúng bay qua từ đông sang tây khu lòng chảo, mỗi buổi tối, và từ tây sang đông, mỗi buổi sáng theo từng bầy đen kịt và kêu quàng quạc. Đột nhiên, trong vầng sáng của pháo sáng do chiếc Dakota trực canh thả ra, những khẩu tiểu liên do Makowiak chỉ thị mục tiêu cho các xạ thủ, bắt đầu nổ ròn, và pháo binh của tập đoàn cứ điểm nã đạn vào vòng ngoài của một điểm tựa và bắn lên những đỉnh núi, ở đó những đám cháy do bom napan vẫn còn đang bốc lửa. Rồi thì cảnh im lặng trở lại và mọi người quay vào đi ngủ, lại nghe tiếng ễnh ương kêu oàm oạp.

Ngày hôm đó, lúc bình minh, trong màn sương mù, Henri Amouroux tham dự một trận đánh mới do trung tá Langlais tổ chức cùng với ba tiểu đoàn. Guilleminot là người dẫn đường cho anh tới tận bản Ta Po, cách đó hai kilômét, nằm dưới chân ba ngọn đồi của cứ điểm Béatrice. Dân chúng trong bản, còn đang ngái ngủ, vừa ngáp vừa chạy ra khỏi nhà; phụ nữ đã bắt đầu giã gạo.

Đi tìm hiểu thực tế, Henri Amouroux đã tự hỏi mình về những người nông dân có vẻ mặt lãnh đạm ấy và tự hỏi về bản thân có thể là đang xông pha vào những nơi nguy hiểm một cách vô ích. Xuyên qua đám cỏ cao, anh tiến ra sông Nậm Rốm mà người ta lội qua. Đột nhiên những viên đạn rít gió, những phát trái phá rơi xuống, một cha tuyên úy cúi xuống khuôn mặt của một trung úy bị giết chết, khuôn mặt đã bị ruồi khoét nham nhở, trong lúc đó, qua máy bộ đàm, một đại úy gọi trực thăng: “Mặt trời gọi Mặt trời lớn, xin gửi Alouette tới... " và các thương binh từ trong rừng kéo ra, vịn vào vai nhau bước đi. Một bộ phận của tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 đã bị tiêu diệt, và một trung đội trưởng mình đầy máu me bước tới, một mắt bị hỏng, bàn tay vịn trên vai của người dẫn đường, giống như nhà vua Créon.1 Đạn súng cối trút xuống như mưa vào lúc chiếc trực thăng sắp hạ cánh và người ta trả số thương binh quay trở lại trong bản. Theo lời khuyên của cha tuyên úy, Henri Amouroux đi theo họ, đỡ cho một người Italie.

- Tôi, tôi sẽ được tặng huy chương màu vàng, viên trung đội trưởng nói để an ủi. Huy chương màu vàng, đó là huy chương quân sự. Trên khuôn mặt của viên trung úy được khiêng đi trên cáng, người ta đã phủ lên một chiếc mùi xoa màu hồng.

Lại một lần nữa, mục tiêu không đạt được và pháo 75 quân Việt nã vào trận địa.

- À phải, thưa ông Amouroux, Castries nói, người ta bắn vào đầu chúng tôi. Thế thì sao nào? Tôi đội chiếc mũ ca lô đỏ để họ nhìn thấy tôi rõ hơn.

Lúc ăn trưa, chỉ xoay quanh có mỗi câu chuyện về bài báo của Robert Guillain và cái từ ngữ “hố sư tử", vốn đã làm mọi người ở đây bất bình. Ngoài ra, phải chăng người ta đã hiểu rằng đây là cái hố trong đó bầy sư tử chờ đợi trước khi diễn ra những trò xiếc? Được so sánh với bầy sư tử, kể cả bầy sư tử bị nhốt chuồng, chưa bao giờ là một lời nhục mạ.

- Quả thật, một thiếu tá hơi giễu cợt, nói với Henri Amouroux, dân nhà binh chúng tôi không thật thông minh...

Những người chết trong buổi sáng được khiêng lên máy bay dưới làn đạn pháo và trước một đội tiêu binh danh dự nhếch nhác, vội vã làm cho xong việc. Amouroux trở về cùng với mười sáu thương binh. Anh đã nghe thấy một người Tây Ban Nha, đầu gối bị vỡ, rên rỉ suốt chặng đường: "Cái chân của tôi, người ta sắp cắt bỏ nó, cái chân của tôi...". Trên chiếc máy bay Curtis Commando do Henri Bourdens lái, máu chảy thành suối từ những chiếc quan tài.
________________________________
1. Créon: Nhân vật của Sophocle. Là ông vua chuyên chế của xứ Thèbes (Hi Lạp). - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:02:40 pm »


Ngày 16 tháng hai 1954


Mỗi buổi chiều, ở trong tập đoàn cứ điểm, khắp nơi người ta chơi bóng chuyền và đi tắm. Đại uý Capeyron, chiếm giữ vị trí Claudine 5 cùng với một đại đội thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13, nghĩ rằng mình không bỏ qua một hoạt động nào. Cũng như các đồng đội, thậm chí mỗi lúc anh ta càng thêm có cảm tưởng là cuộc chiến tranh đã kết thúc và quân Việt sắp sửa ra đi. Khi những khẩu đại bác của Piroth bất thình lình phá vỡ khung cảnh im lặng để hiệu chỉnh hỏa lực của một bài tập quen thuộc, thậm chí anh ta không hề giật mình. Một đêm nữa bắt đầu trong tiếng ì ì của những chiếc Dakota trực canh đi tuần, những người lính gác chuẩn bị đốt đuốc từ trên các bức tường lũy để quan sát đối phương. Nếu như tiếng còi rú lên, đại úy Capeyron biết đây lại là một cuộc báo động. Nhưng nếu như đây là một trận tấn công? A, ai mà chẳng thấy thích? Cái tiếng kêu thật vui vẻ, thở phào nhẹ nhõm, sẽ bay lên bên trên những căn hầm khốn khổ của Điện Biên Phủ.

Ở Hà Nội, ngài Pléven triệu Cogny, mặt đối mặt, ở Toà nhà nước Pháp vào lúc cuối ngày để hỏi xem ông ta nghĩ gì về khả năng rút ra khỏi cuộc chiến. Cogny tỏ ý đối nghịch với chiến lược của Navarre cũng như cuộc hành binh Atlante.



Ngày 18 tháng hai 1954


Ở Điện Biên Phủ, hôm qua, có một người mới đến bổ sung cho trạm xá số 29, đó là thiếu tá bác sĩ Paul Grauwin. Đây là một nhà giải phẫu tài năng mà sở thích ham muốn phiêu lưu đã dẫn dắt anh vào hàng ngũ của đạo quân viễn chinh.

Cái con người cao lớn của vùng Flandre này, nổi tiếng về sức mạnh thể chất thể hiện trong công việc cũng như lòng hảo tâm. Nằm bên trên một cái cổ và phần thân trên của con bò tót, khuôn mặt của anh rạng rỡ bởi đôi mắt xanh rất hiền dịu ẩn sau đôi kính đầy vẻ khoan dung. Đó là một trong số những con người hiếm hoi mà người ta không thể gặp gỡ mà không yêu quý. Grauwin không bao giờ từ chối bất cứ thứ gì đối với những ai đang đau đớn và kẻ địch duy nhất mà anh biết, đó là nỗi đau đớn. May thay, bác sĩ Grauwin cũng biết quan sát và ghi chép. Được người tiền nhiệm hướng dẫn, anh đã đi thăm nơi bố trí làm phòng mổ, căn hầm của bác sĩ, vách được phủ bằng lớp vải liệm, các gian hồi sức và máy thông tin, kho dự trữ thuốc men và dụng cụ. Cũng như Brigitte Friang, khi đi qua các nơi, anh chỉ đếm được có bốn mươi hai giường nằm.

- Nếu như có một trăm thương binh chuyển tới thì các anh làm thế nào? Anh hỏi bác sĩ tiền nhiệm.
- Lúc nào cũng có máy bay.
- Nếu như sân bay không sử dụng được thì sao?
- Lúc đó, anh sẽ sử dụng khu hầm của đội G. C.M.A.

Nằm ở bên kia đường và một hàng rào thép gai chữ chi, lối đi lại lộ thiên, đó là khu hầm của đội G. C.M.A - tên gọi của một nhóm các đội biệt kích dù hỗn hợp chịu trách nhiệm khai thác tình báo từ các tù binh. Langlais đã gọi nhóm này một cách khinh bỉ là một ổ chấy rận gồm những người Thái và người Mẹo hỗn hợp với khoảng một chục người Âu và do một viên đại úy cũ của các trung đội đặc biệt thời kỳ Thế chiến thứ hai chỉ huy, Langlais đã ra lệnh cho tay đại úy này phải cất chiếc mũ nồi đỏ đi.

- Tôi thấy hình như trạm xá ở quá gần sở chỉ huy, bác sĩ Grauwin vẫn còn nói.
- Đó là do thiếu tướng - bác sĩ Terramorsi bố trí như vậy cho thuận tiện hơn. - Trong trường hợp bị ném bom thì sao?
- Bác sĩ cứ nói đùa, một viên sĩ quan nói. Thử hỏi chúng lấy gì mà ném bom?
- Và nếu như các anh có ba trăm thương binh thì sao? Đến lượt thiếu tướng - bác sĩ Jeansotte hỏi, hôm ấy ông này tháp tùng Navarre trong cuộc kiểm tra mới ở Điện Biên Phủ.

Grauwin im lặng. Việc đó để cho ban chủ nhiệm tài giỏi của Cục Quân y trả lời.

Thiếu tướng - bác sĩ Jeansotte gật đầu trước những thông số về độ dày của trần hầm mà người ta cung cấp cho ông, tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy hệ thống đường giao thông trong khu trạm xá lại lộ thiên và trèo lên trên mặt đất:

- Này anh bạn, nếu như ở đây có đánh nhau to, ông nói với Grauwin, vừa đưa mắt nhìn khoảng mênh mông của tập đoàn cứ điểm, các anh có một bước lùi tới bốn chục năm và riêng mình anh, anh không xoay sở được đâu.

Ngày hôm đó, những tin tức xấu đến tai vị tổng chỉ huy. Các đài thám không đã bắt được một mệnh lệnh quy định năng suất vận chuyển hàng ngày của Việt Minh từ năm mươi tăng lên bảy mươi tấn và người ta đã thu được trên người một tù binh bản vẽ một căn hầm của đại bác. Tướng Cogny nói chuyện đó với đại tá Berteil, ông này tỏ ra rất bị sốc cũng như bản thân Cogny, bởi lẽ các bức không ảnh chưa từng phát hiện được dấu hiệu nào như vậy. Các điều kiện khí tượng, những cây rừng lớn rậm rạp lá, và những thung lũng vách dựng đứng làm phức tạp mọi chuyện. Các phi công máy bay Bearcat đã mạo hiểm lớn, khi bay thấp để chụp ảnh với góc độ nghiêng trong những khu vực mà người ta sợ rằng có bố trí các khẩu đội pháo cao xạ. Bất chấp sự giúp đỡ của các chuyên gia giỏi nhất từ Triều Tiên đến, những người đã khuyến cáo việc chụp xen kẽ ảnh mầu và ảnh đen trắng hoặc sử dụng tia hồng ngoại, cố gắng của những nhà phân tích không ảnh vẫn vô hiệu. Cho đến lúc này, không mảy may có dấu hiệu chứng minh sự có mặt của các khẩu đội pháo đối phương.

Berteil vừa suy nghĩ vừa trả lời Cogny:

- Nếu như thông tin là chính xác thì việc phản pháo có nguy cơ gặp khó khăn.

Piroth, được thông báo, nhún vai:

- Anh phải coi chừng pháo binh đối phương, Berteil bảo Piroth. Quân Việt có sử dụng pháo binh như quân Trung Quốc ở Triều Tiên, đặt pháo trong hầm và bắn thẳng. Có lẽ nếu cẩn thận thì nên che chắn cho các khẩu pháo của anh.
- Đại tá De Castries đã nghĩ đến chuyện đó rồi, Piroth trả lời.

Người ta đã xem xét giả thiết này. Nếu coi như giả thiết đó có giá trị, thì cần có thêm gấp đôi số đầu pháo và tiến hành khối công việc to lớn. Ở Nà Sản, pháo binh trong căn cứ đã bắn lộ thiên và bắt buộc mấy khẩu pháo đối phương phải im tiếng: người ta sẽ làm như Nà Sản. Quân Việt là những lính bộ binh đáng sợ, nhưng pháo binh của họ thì chỉ là trò cười Nhưng nếu như có lực lượng pháo binh đó thì sao? Nếu như nó đã vào vị trí thì sao? "Nếu như cậu không nhìn thấy nó, thử hỏi cậu bắn vào đâu nào?" Castries thường hỏi Piroth như vậy. “Ít nhất ta sẽ thấy nó khi nó nhả đạn. Piroth luôn luôn trả lời như vậy. Và tôi sẽ nghiền nát nó". Castries, vốn không phải là pháo thủ, tin điều đó, nhưng mỗi lần như thế ông lại bặm môi tỏ vẻ phật ý. Để tự trấn an, ông nhắc lại với mình là không quân sẽ bổ khuyết vào chỗ còn yếu kém của việc phản pháo và rằng trận tấn công sẽ kéo dài không lâu.

Gaucher, nếu như ông ta biết sự hiện hữu của những căn hầm pháo đó, có lẽ ông ta sẽ buồn cười. Ngoài ra, người ta tự nhủ là nếu như tài liệu bắt được trên người tên tù binh ấy là xác thực thì đối phương hẳn phải lao vào những công trình hết sức rộng lớn đến nỗi không thể thoát khỏi con mắt của không quân và rằng họ sẽ thiếu thời gian và phương tiện để có thể hoàn thành đúng thời hạn. Không một ai có thể tưởng tượng, kể cả suy luận một cách trừu tượng, rằng những công trình đó, phần lớn, đã làm xong. Và kể cả nếu như quân Việt có thể bố trí các khẩu pháo thành từng trận địa, thử hỏi chúng sẽ bắn được bao nhiêu phát đạn? Một số lượng nhỏ. Chỉ cần chờ đợi tình trạng đối phương hết đạn. Về điểm này, hình như đã có sự nhất trí trong cuộc hội kiến kéo dài hai tiếng đồng hồ giữa Navarre, Cogny và De Castries.

Từ Berlin, người ta báo tin một cuộc hội nghị quốc tế sẽ mở trong tháng năm, ở Genève, để xem xét các vấn đề của châu Á. Không điều gì có thể tin là các sự việc sắp biến đổi một cách thần kỳ, và rằng thông báo về một cuộc hội nghị sẽ đánh tráo được những con súc sắc đang lăn trong một ván bạc, thay đổi được cấu trúc của những căn hầm trong tập đoàn cứ điểm, cỡ nòng các khẩu đại bác của đại tá Piroth hoặc quyết tâm của những con người đang sống trong khu lòng chảo và xung quanh đó. Ngày hôm ấy, ngài Dulles1 có một cuộc nói chuyện riêng với ngài Bidault.2 Ông ta bảo ngài Bidault rằng mình chờ đợi một cuộc tấn công tổng lực ở Đông Dương. Kể cả nếu như chuyện đó là có thực thì chính tướng Navarre là người muốn có Điện Biên Phủ và đã chấp nhận giao chiến ở đó. Đó đúng là nơi mà mọi người mong muốn đương đầu với đối phương. Nếu như có một vài mối bất hoà ở trong đội quân đồn trú thì đó là rất nhiều sĩ quan trẻ đã trách cứ bộ chỉ huy thiếu hăng hái. Những cuộc hội nghị không bao giờ làm cho các nhà quân sự lo ngại khi họ nắm phần thắng trong tầm tay, hoặc giống như Navarre họ tuyên bố rằng họ biết cách thúc đẩy chiến thắng. Mọi cuộc chiến tranh, kể cả sau những chiến thắng, đều kết thúc bằng các hội nghị và trong lúc này sẽ là vô ích khi tính đến một sự chi viện nào khác ngoài sự hi sinh và lòng dũng cảm.

Với thượng nghị sĩ dân chủ Mike Mansfield, người đã có câu hỏi liệu Hoa Kỳ có gửi các đơn vị hải quân và không quân sang Đông Dương, trong trường hợp người Pháp phải chịu áp lực lớn hơn ở đó, hay không? Ngài Ch. E. Wilson, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã trả lời: "Trong lúc này, không có điều gì chứng minh việc nâng cao thêm mức viện trợ hiện tại của Hoa Kỳ là đúng đắn". Và bản thân Tổng thống Eisenhower cũng đã tuyên bố: " Không có ai khác phản đối việc can thiệp nhiều hơn bản thân tôi. Không có điều gì bi thảm hơn đối với chúng ta là phải tham gia vào một cuộc chiến tranh công khai ở Đông Dương. Máy bay, vũ khí, các phái đoàn dân sự và các chuyên gia kỹ thuật, đó là tất cả những gì có thể từ nước Mỹ đến để chi viện cho nước Pháp”. Từ phía Trung Quốc, Việt Minh nhận được không quá một phần mười khối viện trợ của Mỹ đối với Pháp: không có xe lăng, người ta đi bộ, và trên các con đường lớn đường nhỏ hàng vạn chiếc xe đạp tăng lên gấp mười lần tải trọng của những người dân công xe thồ. Nhưng mà lòng tin nằm ở phía nào, và ở phía nào người ta chấp nhận hi sinh vì một mục đích nào đó? Cái tên đức vua Bảo Đại không thuộc trong số những cái tên người ta nêu lên để chiến thắng cái đói cái khát hay nỗi đau đớn. Cái tên ngài Josep Laniel cũng thế.

Ở Điện Biên Phủ, một đám cháy khổng lồ do các máy bay khu trục gây ra trên dãy núi, bốc lửa đỏ rực trong màn đêm. Người ta nói với René Mauriès, đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi rằng: “Bọn họ làm cái gì vậy nhỉ? Giờ đây, người ta đã chán ngấy phải chờ đợi bọn họ kéo đến rồi. Họ hãy chấm dút cái trò đó đi?"
____________________________________
1. Dulles: Lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao của Mỹ. - N.D

2. Bidault: Thủ tướng nước Pháp lúc đó. - N.D
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:10:42 pm »


Ngày 19 tháng hai 1954


Vào lúc 11 giờ, những chiếc máy bay chở phái đoàn Pléven và đoàn tuỳ tùng của các viên tham mưu trưởng cất cánh từ sân bay ở Hà Nội. Một đợt không khí lạnh đã làm cho thời tiết đột ngột xấu đi ở vùng đồng bằng, mưa phùn đã tạnh được vài hôm, nay lại tiếp tục. Ngược lại, trên vùng thượng du, thời tiết tốt. Vài phút sau khi xuất phát, những chiếc Dakota bay vào phía bên trên lớp mây tầng nhấp nhô, từ trong tầng mây đó những ngọn núi tròn đen sẫm hiện ra. Dần dà, những dải thung lũng xuất hiện, tràn ngập ánh nắng, vẫn còn gắn kết với nhau bởi những dải sương mù mảnh mai mà nhiệt độ đang xua tan dần. Bữa ăn trưa được phục vụ trên máy bay và các điềm báo trước là điềm lành. Tướng O’ Daniel, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ ở Đông Dương và là cố vấn quân sự của Tổng thống Eisenhower, lúc ở Washington đã tỏ ý thích thú đối với cái tập đoàn cứ điểm, nhô ra từ lòng đất. Castries đã "có được" ông ta.

Ở Điện Biên Phủ, đơn vị được chỉ định tiến hành nghi lễ chào danh dự các vị bộ trưởng là đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn số 13. Đại úy Capeyron, chỉ huy đại đội, đeo trên ngực tấm huy hiệu vẻ vang của bán lữ đoàn số 13: một chiếc thập tự Lorraine màu xanh trên nền trái lựu đạn huyền thoại. Một tiếng đồng hồ trước khi máy bay hạ cánh, bốn trung đội lê dương đứng xếp hàng, trang phục gọn gàng, râu cạo nhẵn, giầy đánh bóng. Đại úy Capeyron trông thấy một lính dù, cổ quấn chiếc khăn mầu hồng, đầu đội chiếc mũ nồi mầu đỏ từ một chiếc xe Jeep có cắm lá cờ hiệu nhỏ bước xuống. Do vì mới chỉ được nhìn thoáng qua người chỉ huy binh đoàn Gono trong buổi tối Noel, lúc Navarre họp mặt các sĩ quan để nói với họ rằng chiến tranh chắc chắn sắp kết thúc ở đây, cho nên Capeyron tự nhủ: "Đây hẳn là đại tá De Castries". Rồi anh bước lại phía người đó và giơ tay chào.

- Thưa đại tá, anh nói, tôi xin trình diện đại đội của tôi với đại tá?
- Không, Castries đáp lại vừa bắt tay Capeyron. Cứ như thế này, anh cũng đã vất vả rồi. Để một lúc nữa hãy bồng súng chào. "Đây là một tay tử tế, Capeyron nghĩ bụng, và không kiêu căng". Đoàn xe hộ tống đã có ở đây, đội hộ tống đã sẵn sàng. Quả thật, từ hai chiếc Dakota bước ra các quý ngài và những người nổi tiếng. Ngài De Chevigné quay trở lại trong tình thân mật.

Đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi nghe thấy ngài Pléven bảo De Castries:

- Ông biết chứ, ông đại tá, cả nước Pháp đều dồn con mắt vào các ông!

Do tế nhị, Navarre không có ở đây. Sự vắng mặt này thể hiện rõ tính cẩn thận của ông không muốn có tác động gì đến những đánh giá của các nhân vật cao cấp. Để thay mặt mình, ông đã cử tướng Bodet, ông này đội mũ cát két trắng, một mẩu thuốc lá ngậm trong hàng ria mép. Tì tay vào chiếc gậy đua ngựa, điếu thuốc lá ngậm bên mép, tay giơ thẳng về phía đối phương. Castries, con người mà dưới thời đế chế có lẽ trở thành công tước Điện Biên Phủ, giải thích hệ thống tổ chức của tập đoàn cứ điểm với tướng Ely mà năm ngôi sao nổi bật trên vành mũ kêpi và với ngài Pléven, ăn mặc như một ngư dân đánh bắt cua bể, một chiếc mũ rộng vành chùm xuống tận tai. Đứng trước những vách chắn làm bằng những túi chứa đầy đất cát và những đoạn nhô ra có những nòng súng đại liên, Castries, người kỵ binh nổi tiếng về những hành động vô kỷ luật trong doanh trại và những chiến tích trên mặt trận, liệt kê lực lượng của mình, giới thiệu các điểm tựa bằng những cái tên lãng mạn của chúng: Béatrice, Anne Marie, Gabrielle, Eliane, mà người ta đều hình dung là xinh đẹp và mang khuôn mặt của một người phụ nữ yêu quý, những cứ điểm nhô lên bên trên các ngọn núi lạnh giá, ở đó các đơn vị lính lê dương, lính Algérie và lính Marốc đang chiếm giữ. Sau lưng Castries, lồ lộ cái mồm lắm lời của Langlais, đầu đội mũ nồi mầu đỏ, người chỉ huy hai tiểu đoàn quân dù. Thử hỏi ai có thể nghi ngờ được nào?

Trên nóc hầm sở chỉ huy, một vài quan khách ngạc nhiên khi nhìn thấy những chỗ yếu:

- Xin các vị đừng lo, Castries nói, hầm vững chắc đấy!

Trên cứ điểm Béatrice. Ở đó tập trung một bộ phận của tiểu đoàn 3 bán lữ đoàn 13, đội lê dương thực hiện vai trò thường lệ. Chỉ còn thiếu có đội nhạc binh. Tướng Ely kín đáo đề nghị vị bộ trưởng chú ý đến tính thiếu vững chắc của các căn hầm.

- Ông trung tá này, ngài Pléven hỏi Gaucher, cứ tựa như là ông bước đi trên một lớp trứng gà, - tiếc thay, phải chăng cần tính đến lực lượng pháo binh quân Việt, bởi lẽ người ta có nói với tôi là họ có pháo binh.

Gaucher ưỡn ngực, thít chặt chiếc khăn quàng cổ, nhíu đôi lông mày rậm rủ cả xuống hai mắt và đứng nghiêm.

- Thưa bộ trưởng, Gaucher phản ứng, anh em sẽ chiến đấu như ở trận Verdun.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, viên trung úy chỉ huy đại đội mà người ta đến thăm, phát biểu ý kiến mặc dù không có ai hỏi:

- Thưa ngài bộ trưởng, anh ta nói to, sẽ là một thảm họa nếu người ta không chiến đấu. Đây là cơ hội duy nhất để đè bẹp quân Việt.

Chính vì thế, mặc dầu vốn hơi lạnh lùng như một tảng đá, nhưng khéo léo muốn tỏ ra nhã nhặn, dịu dàng và sẵn sàng lắng nghe mọi lời thổ lộ cũng như ban bố những mệnh lệnh, cái nhìn của ông nấp sau đôi kính và những quyền lực vô hạn, ngài Pléven quay lại, dáng vẻ rụt rè, mặc dầu thân hình ông cao lớn, mặc dầu chức vụ quan trọng mà ông đang đảm nhiệm. Tướng Ely không hề nhúc nhích. Phái đoàn tiếp tục bước đi, yên lặng trong một lúc.

- Dù sao, tay đặc phái viên của tờ báo La Dépêche du Midi nói với một viên sĩ quan tham mưu của De Castries, nếu như quân Việt có pháo binh...
- Anh nghĩ xem, cần phải cả một trung đoàn để đẩy một khẩu pháo 75 lên một ngọn núi. Để kéo nó đến đây từ cách xa mấy trăm kilômét, lúc đó, anh tưởng tượng xem cần có đến đám dân công đông như kiến cỏ ấy chứ.

Tuy nhiên. viên thiếu tá Mecquenem, chỉ huy tiểu đoàn bộ binh người Algérie số 7 đóng ở Gabrielle, xin được có cuộc hội kiến với tướng Ely. Trước đây anh ta đã phục vụ trong phái đoàn quân sự ở Washington, dưới quyền tướng Ely, và thiếu tá Keller, tham mưu trưởng của De Castries, có đề nghị xin thay thế anh ta. Mọi việc không phải đều diễn ra tốt đẹp.

- Tôi sẽ gặp anh tối nay. Tướng Ely bảo Mecquenem như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:12:47 pm »


Ở cứ điểm Isabelle, sau một bản báo cáo thận trọng của trung tá Lalande, mà chiếc mũ kêpi lê dương che chở cho một khuôn mặt hiền lành, lễ phép và có kỷ luật, ngài Pléven tìm kiếm xung quanh mình những lời lẽ để động viên tinh thần lạc quan, lúc này đang dần dần bộc lộ một cách dè dặt, nhiều mối lo ngại vẫn còn lẩn khuất. Trở về sở chỉ huy của De Castries, ngài Pléven quay sang nói với vị quốc vụ khanh phụ trách chiến tranh và các viên tướng nhận xét đó của mình. Những câu trả lời đều chung chung, thận trọng hoặc lễ phép. Thử hỏi liệu có ai có thể cho ý kiến trong những điều kiện tương tự? Trời đẹp, đã ấm áp như một ngày xuân. Rất nhiều đôi mắt ẩn mình sau đôi kính râm. Đây không phải là nơi để làm mất tinh thần của đội quân đồn trú, để phủ nhận tác phẩm của những người chịu trách nhiệm về phương châm tác chiến hoặc để đưa ra những câu hỏi về những gì người ta nhìn thấy và không nhìn thấy. Im lặng là vàng và mỗi câu nói có nguy cơ nhanh chóng quay trở lại trong sự bối rối của người đã nói ra. Ngài Pléven là một chính khách quá ư tài giỏi để đâu đến nỗi không hiểu rằng im lặng là cách xử sự duy nhất thích hợp trong một cuộc trao đổi ý nghĩ như thế này. Nhưng đồng thời, ông không thể không biểu thị sự hài lòng mà ông cảm thấy và làm ông yên tâm.

Còn lại một sĩ quan cấp tướng cuối cùng mà sự đồng ý sẽ hoà chung vào sự nhất trí làm rạng rỡ khuôn mặt nhăn nheo của ngài Dejean: tướng Fay, tham mưu trưởng các lực lượng không quân, từ nãy đến giờ vẫn giữ im lặng, nét mặt hơi phụng phịu.

- Còn ông, thưa tướng quân? - Ngài Pléven nói.

Tướng Fay không thật cao lớn. Đây là một con người suy tư, điềm đạm, minh bạch, lo lắng tỉ mỉ đến việc hoàn thành những nhiệm vụ được giao phó, và xa lánh mọi thú đam mê. Vẻ bề ngoài lạnh lùng nhưng lòng hảo tâm của ông hiện ra trên khuôn mặt tròn; người ta có thể chê trách ông một vài nhược điểm vốn bắt nguồn từ việc ông luôn luôn thận trọng không để cho mình phải va chạm một cách vô ích. Ông cân nhắc từng câu nói, ghét nói to, tính toán các cử chỉ, nhưng đôi mắt xanh lơ của ông có thể đắm mình trong một nét cứng rắn vô song. Sở dĩ tướng Navarre đã được yêu cầu bố trí các kế hoạch sát với những gì Navarre có trong tay đó là bởi vì về phần mình, tướng Fay cũng không có đủ nữa: ông không còn đủ các phi đội để sử dụng vào những nhiệm vụ không phục vụ cho tương lai; và rằng chính phủ hạn chế quá mức khoản ngân sách dành cho ông cho nên ông không thể lãng phí.

- Thưa ngài bộ trưởng, Fay nói dịu dàng, tôi rất tiếc là đã không tham gia vào bản hòa tấu ngày hôm nay. Những gì tôi đã nhìn thấy chỉ càng củng cố cho tôi một ý kiến mà tôi sẽ phát biểu một cách thẳng thắn, với ý thức về những trách nhiệm mà tôi đang gánh vác. Ý kiến đó đây: tôi sẽ có lời khuyên với tướng Navarre rằng ông nên lợi dụng quãng thời gian tạm lắng xuống mà ông có được, và lợi dụng khả năng ông vẫn còn có thể sử dụng hai sân bay để rút khỏi nơi đây toàn bộ quân số mà ông có thể, bởi lẽ ông đã thua trận. Chấm hết.

Fay thu mình lại và không chịu nói thêm một tiếng nào. Nỗi sửng sốt chụp xuống ngài Pléven và các sĩ quan lục quân đội ngột quay người lại. Khuôn mặt dài khắc khổ của tướng Ely lạnh tanh. Cogny nhún vai và cười gằn. Người ta vội vã đi ra xe Jeep và đây là một cuộc khởi hành cau có. Bộ mặt của De Castries đột nhiên nhăn nheo như tấm khăn quàng mầu hồng của ông ta.

Trên máy bay, ngài Pléven cúi xuống phía tướng Ely, người đã không thích nghe ý kiến của thiếu tá Mecquenem, và thổ lộ tâm sự riêng của mình:

- Những con người mới đáng khâm phục làm sao ? Họ mong muốn là đối phương tấn công họ. Tôi xin thú thật là tôi không mong muốn như vậy.
- Tôi cũng thế, tướng Ely nói.

Buổi tối, ở Điện Biên Phủ, đặc phái viên tờ báo "La Dépêche du Midi" nhắc lại câu nói của ngài Pléven: "Nước Pháp dồn mọi con mắt vào các anh...".

- Chắc chắn là vì thế, mọi người phản ứng lại, mà hôm nay người ta đã cấm chúng ta không được phơi quần áo lên hàng rào dây thép gai.

Hà Nội, mấy nhà báo được tiếp đón ở Toà nhà nước Pháp. Với Brigitte Friang, khi cô ta hỏi ông là liệu ông có gặp khó khăn trước thông báo sẽ có cuộc hội nghị Genève hay không, ngài Pléven trả lời là Việt Minh không thể nào giành được chiến thắng. Và do vì cô ta hỏi đi hỏi lại mãi, ngài Pléve cắt đứt câu chuyện như sau.

- Này cô, nếu tôi ở vào vị trí của tướng Giáp, tôi sẽ rất lo ngại ngay với việc có thông báo về hội nghị ở Genève.

Ở Sài Gòn, Navarre cũng triệu tập các nhà báo, sau khi đã mắng nhiếc họ, ông lại tìm cách xoa dịu. Ngày hôm đó, Navarre tuyên bố, đặc biệt với một thái độ lạnh lùng đầy quyền lực:

- Việt Minh đã đạt tới đỉnh cao các tham vọng của họ rồi, và vừa mới cho thấy dẫn chứng là họ đã vượt qua những khả năng hậu cần.

Robert Guillain, đặc phái viên của tờ Thế Giới, người đã vừa mới công bố một loạt những bài viết gây ấn tượng về Điện Biên Phủ, sau khi đã đến nước Lào và Hà Nội, bằng cách đi xe lửa qua nước Xiêm, giống như phần lớn các thính giả trong cuộc họp báo đó rất không tán thành ý kiến của Navarre.

- Chúng ta theo đuổi một nghề nghiệp lý thú, anh kêu to lên trước mặt mấy đồng nghiệp. Ngài tổng chỉ huy vừa mới giải thích mọi chuyện với chúng ta theo một chiều, và tôi, một nhà báo đáng thương, tôi xin quả quyết nói rằng ông ta đã phạm phải một sai lầm bi thảm hoặc là ông lừa dối chúng ta. Tôi xin thề là tình hình mà ông giới thiệu với chúng ta, hoàn toàn không giống với thực tế. Điều mà ngài tổng chỉ huy và đám thuộc hạ còn thiếu, đó là cái nhìn khách quan và mới mẻ của chúng ta đối với các biến cố.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:19:51 pm »


Ngày 25 tháng hai 1954


Ngày Pléven đã quay về Sài Gòn ngày 19 tháng hai và cùng với tướng Ely rút lui ra Vũng Tàu với lý do để soạn thảo một báo cáo mà người ta đã biết là sẽ không dẫn đến kết quả gì; sự thực là để trao cho Việt Minh, mà người ta đã hé lộ cho ông biết là họ mong muốn như vậy, cơ hội để chấm dút cuộc chiến bằng một cuộc gặp gỡ bí mật.

Tiếp sau đó. Navarre coi việc thông báo về hội nghị Genève, hội nghị mà ngài Pléven trước hết chỉ coi là một phương tiện thích hợp để tiến tới một giải pháp hoà bình, là một tai họa đối với các kế hoạch của mình. Phải chăng Navarre thiếu những lí lẽ để chứng minh là tướng Giáp lúc đó sẽ nhận được sự viện trợ to lớn hơn hay là những biến cố tiếp sau sẽ giúp đỡ tướng Giáp điều chỉnh những phản ứng mà lúc này chưa hề có? Càng tự tin hơn bao giờ hết và khéo léo tính toán mưu kế, Navarre tự thuyết phục là mình vẫn là hiệp sĩ của thế giới phương Tây. Nhưng mà những ước vọng và những bài biện hộ không thay đổi được lịch sử. Thông báo về Hội nghị Genève cũng không làm thay đổi gì chiến lược của Việt Minh nhiều hơn là cuộc họp ở Berlin đã không gợi ý cho tướng Giáp tóm chặt Navarre ngay tại cái bẫy của chính ông ta. Công việc chuẩn bị cho cuộc bao vây Điện Biên Phủ bắt đầu từ ngày 25 tháng mười một 1953 và cái quyết định tiêu diệt đội quân đồn trú của đạo quân viễn chinh ra đời ngày 6 tháng mười hai sau đó.

Để xua tan những lo ngại mà tướng Ely có thể cảm thấy, Navarre đã bác bỏ ý kiến nhận xét của tướng Fay về mặt kỹ thuật mà ông giả bộ ngạc nhiên vì người ta chưa hề nói cho ông biết bao giờ: theo Navarre, tướng Fay lo ngại rằng các đường băng sân bay ở Điện Biên Phủ không thể sử dụng được vào mùa mưa, nhưng một cuộc điều tra đã xác định được là trong quá khứ, những đường băng ấy chưa bao giờ bị tê liệt quá hai hay ba ngày, những đường cống thoát nước và những tấm ghi sắt càng giảm thiểu nguy cơ đó. Dù sao, kể từ lúc này, không thể nào rút đội quân đồn trú ở Điện Biên Phủ đi mà không phải gánh chịu những tổn thất to lớn.

Tướng Fay không tranh cãi, mặc dầu những nhận xét của ông nằm trong phạm vi chiến thuật và chiến lược. Trước mặt tướng Ely, Navarre tuyên bố với tướng Fay:

- Điện Biên Phủ đã được lựa chọn sau khi đã cân nhắc đủ mọi lí do và chính đây là nơi chúng ta sẽ giành chiến thắng.

Fay không cho là mình bị thua. Ông quay lại nhìn thẳng vào mắt Navarre.

- Anh nghĩ cho kỹ đi, ông bảo Navarre. Tôi rất muốn ở lại đây một tuần lễ, và tự tay mình điều khiển cuộc lui binh. Tôi cam đoan với anh, người ta sẽ bốc lên máy bay tất cả những gì có thể được. Để ủng hộ anh, tôi sẽ không tiếc công tiếc sức và bất cứ thứ gì cần thiết.

Navarre mỉm cười và từ chối lời đề nghị. Lại một lần nữa, đối với ông, ý kiến của một phi công là không đáng kể. Nếu như trí nhớ của ngài Pléven đã không giữ lại chút gì về ý kiến của tướng Fay phản đối việc duy trì tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và nếu như tướng Ely đã không dành cho ý kiến của viên tham mưu trưởng các lực lượng không quân sự chú ý xứng đáng, đó chính là vì ý kiến này đã không được nhào nặn bằng sức mạnh mà một cuộc tranh cãi như vậy đòi hỏi. Ở Điện Biên Phủ, viên tham mưu trưởng không quân đã phát biểu trước mặt ngài bộ trưởng. Ông cho rằng ngài bộ trưởng sẽ phải tỏ rõ ý muốn được tìm hiểu vấn đề đó rõ hơn và ông không dám vượt qua mặt tướng Ely để giáng đòn rõ rệt rằng ông phản đối việc đó, cũng như làm hại người đồng sự Navarre, vượt qua tục lệ thông thường. Bầy sói có thể nhe răng ra với nhau: cần phải có những hoàn cảnh nghiêm trọng hơn để cho chúng cắn xé lẫn nhau.

Từ bản báo cáo Pléven do tướng Ely soạn thảo, không còn lại chút gì liên tưởng đến giải pháp rút lui của tướng Blanc và những góp ý của tướng Fay. Đây là một tài liệu dành cho chính phủ và nó sẽ chứng minh là ngài bộ trưởng các lực lượng vũ trang và viên tham mưu trưởng của hệ thống quốc phòng, thống nhất cùng một chiều hướng suy nghĩ, tuân theo cùng một đường lối. Tản mát trong văn bản, những ý tưởng được phát biểu ra của các thành viên trong phái đoàn hoặc do các nhân vật gặp gỡ được, chỉ phục vụ cho việc chứng minh rằng không có giải pháp bằng vũ lực. Khi mà ngài De Chevigné giờ đây tuyên bố là ông đã yêu cầu bổ sung vào bản báo cáo đó câu sau đây: "Ở Điện Biên Phủ, giới quân sự mong muốn là người ta tấn công. Vị quốc vụ khanh về chiến tranh và bản thân tôi không cùng chia sẻ quan điểm đó... " thì ngài De Chevigné đã lầm và mặc dù tướng Ely không nhảy lên ngồi trên lưng những con quái vật của Navarre, ông cũng đã không dũng cảm để vạch mặt những con quái vật đó. Bản báo cáo không hề giấu giếm rằng tình hình là đáng lo ngại nhưng lại động viên người ta an tâm bởi cái cảm tưởng về cá nhân con người vị tổng chỉ huy: Navarre đang điều hành. Về sau, tướng Ely thì thầm: “Trong vòng ba ngày, Navarre đã thuyết phục được tất cả bọn tôi...".

Lúc đó, ngài Pléven nhảy lên ngồi phía sau vị cố vấn Ely, trên lưng những con quái vật khác loại chạy đường trường, trong một thời gian, đảm bảo cho một đa số vững vàng tại quốc hội: một quân đội Việt Nam1 bao gồm tám trăm nghìn người đầy nhiệt huyết, một sự chi viện như nước chảy của người Mỹ. Sau này, khi ngài Pléven khẳng định rằng không có báo cáo nào với nội dung ý kiến trái ngược của sĩ quan cấp tướng ở Điện Biên Phủ, thì xét về câu chữ, ông không hề lừa dối: ý kiến của tướng Fay chỉ là ý kiến nói miệng. Bản báo cáo duy nhất bất lợi không bao giờ tới được phạm vi chính phủ, và chỉ có chữ ký duy nhất của một đại tá: Nicot.

Về tướng Ely, người ta thường ca ngợi đức khiêm tốn và nhún nhường. Người sĩ quan tốt nghiệp trường Saint Cyr này, đã bỏ hai mươi năm trời để từ cấp trung úy vươn tới cương vị tiểu đoàn trưởng, nhờ vào tính nhún nhường, suốt đời ẩn mình để giữ được cương vị cao nhất trong hệ thống ngạch bậc quân sự. Thử hỏi, ông còn thiếu đức tính nào đây? Ông chỉ uống nước trắng, chỉ đưa ra những đánh giá dè dặt, không bao giờ buộc tội bất cứ ai, bất cứ thứ gì. Trong một cơ chế mà những con người có cá tính chỉ có tương lai trong những cơn bão tố thì ông không dám yêu cầu bất cứ điều gì và không biết từ chối bất cứ điều gì. Nếu như có thêm mấy ngôi sao bám vào tay áo của ông và đột nhiên trong vòng bốn năm đã có thêm bốn ngôi sao, thì chuyện đó là ngoài ý muốn của ông. Nếu như ông tỏ ý có một điều mong muốn nào thì đó là mong muốn không phát biểu ra bất cứ nguyện vọng gì. Ông phục vụ. Là hình ảnh đẹp của một người lính hàn lâm viện, ông tự nuôi dưỡng trong đầu óc những truyền thuyết và chui vào trong bộ áo giáp của những người khác. Câu kinh nhật tụng của ông là câu: "Vinh và nhục của nghề quân sự”, của Alfred de Vigny. Thân hình cao đẹp và thon thả của ông gây ấn tượng; cánh tay phải bị liệt một nửa do một vết thương chiến trận, ông chào bằng bàn tay trái mà ngón cái có vẻ bị gẫy. Trên khuôn mặt nước da mai mái, giống như mặt thuỷ tinh mờ, hiện rõ vẻ nhẫn nhục, trang nghiêm, sự tự chủ và tầm cao những ý tưởng đang ẩn náu bên trong. Liệu có ai tin là ở trong ông có lòng tham vọng? Ông không vật lộn để giành lấy mà chỉ có được khi người ta loại bỏ. Khi không còn ai có mặt để nhận một nhiệm vụ, người ta thấy có Ely. Ông đã đại diện cho quân đội Pháp ở Standing Group của Lầu Năm Góc bởi vì không có một ai muốn nhận một cương vị ở cách xa mặt trời đến như vậy và ông trở thành tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang vào một thời điểm không có một ứng viên nào xuất hiện để đưa dẫn đám ma của cuộc chiến tranh Đông Dương.

Sinh năm 1879 ở Salonique, nơi đó bố ông chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người Pháp bên cạnh những người Thổ Nhĩ Kỳ, ông còn lưu giữ lại từ thời thơ ấu những ảnh hưởng sâu sắc về đạo Thánh vùng Cận Đông, lẽ ra, nếu như ông có năng khiếu về tôn giáo, đã có thể đưa ông trở thành Hồng Y giáo chủ của nhà thờ La Mã. Ông biết chờ đợi, giả bộ lãnh đạm thờ ơ, thoát khỏi đối thủ đúng lúc và quay trở lại bằng những bước chân rón rén khi mà mọi nguy hiểm đã được gạt bỏ. Nếu như ông có viết hồi ký, thì bao giờ đó cũng không chỉ là những bảng vàng danh dự, bởi lẽ ông tự coi mình như là chiến sĩ bảo vệ những nghi thức và truyền thống. Là người giữ cờ, tự bản thân cuốn mình vào trong những đường nếp của lá quốc kỳ, ông tự thấy mình sẵn sàng xả thân để đoàn kết những người anh em đối địch với nhau và hoà giải những người không thể hoà giải được. Phục vụ tất cả các chính phủ với cùng một lòng tận tụy và tính nhẫn nhục, ông không bao giờ biết phản đối; giơ tay ra với mọi người, ông chỉ xung phong phát biểu một ý kiến nếu như ông không bác bỏ một ai; mong muốn tránh né cho những người khác tất cả những mạo hiểm trong nghề nghiệp, ông không thừa nhận cái quyền gánh lấy bất kỳ mạo hiểm nào cho mình. Nếu như ông có thiếu sót thì như vậy đó chỉ do hiểu biết hạn hẹp và nếu như ông đã không dám quở trách Navarre thì ông cũng không dại gì quan tâm đến lập trường sắc sảo của tướng Fay và lựa chọn việc quên đi cái mà ông thấy có vẻ là một mâu thuẫn quá đáng. Lời nói gió bay và do nhu nhược, tướng Fay đã không viết thành văn bản. Ely cứu vãn tương lai, và ngài Pléven tưởng đâu đi theo mình một nguyên soái, thực ra lại chỉ có ở bên cạnh mình một viên tướng như các tông đồ của chúa Jésus. Nhưng mà trong hai người ấy, ai là người giỏi nhất trong khoa nghiên cứu tâm lý đây? Ai biết che giấu sự thật giỏi hơn đây?
________________________________________
1. Chỉ quân đội ngụy theo Pháp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:24:49 pm »


Ngày 28 tháng hai 1954


Không có được những cuộc tiếp xúc bí mật như mong muốn, phái đoàn Pléven quay trở về Paris, mùa xuân đang đến gần, không khí bay bổng, những rạp chiếu bóng và những tiệm cà phê trên các đường phố lớn. Từ cuộc viếng thăm của một vị bộ trưởng đến đây với những quyền lực đầy đủ của chính phủ chỉ còn lại một tấm huy hiệu sĩ quan cao cấp của đội lê dương danh dự đính trên ngực của tướng Navarre.

Ở Điện Biên Phủ, không quân phải ném xuống một khối lượng quá lớn trọng tải nhiều tấn gồm đạn dược và những cuộn dây thép gai để dành một phần trọng tải đó cho việc làm thay đổi tình trạng buồn tẻ của các khẩu phần do hậu cần cung cấp. Không bao giờ có rau, nước khoáng hay nước hoa quả. Rượu mạnh bị cấm và thứ rượu vang ướp lạnh làm đau dạ dầy. Người ta không bán thuốc lá điếu. Lần đầu tiên viên trung sĩ Sammarco thu gom các gói hàng thả dù, một chiếc hòm bị vỡ làm tung toé những chiếc hộp dung tích một lít, có dán nhãn Khẩu phần vang ướp lạnh. Anh ta biết đó là rượu vang và dùng hai nhát dao găm chọc thủng chiếc hộp mà không đọc lời ghi chú: "Pha lẫn với hai lít nước". Khé cổ, đắng chát, thứ nước này tựa như mùi thùng khuy rửa không sạch. Thứ này kém xa thứ rượu vang mầu đỏ tươi xứ Provence và những chai rượu vang Ý có bọc rơm mà ông bố anh mang về trang trại vào những ngày lễ tết. Khi quay về căn hầm, Sammarco ném mình xuống đệm ngủ. Những ngọn đồi mà anh ta không còn nhìn thấy nữa, quay tròn trong đầu óc anh, giống như một bánh xe quay trong công viên không thể nào hãm lại được nữa, những chiếc dù chụp xuống đầu anh và làm anh nghẹt thở.

"Con muốn ta làm gì cho con đây?" Chúa Jésus hỏi người mù trong kinh Phúc âm ngày chủ nhật. "Lạy chúa, xin cho con được nhìn thấy!" Và chúa Jésus bảo người ấy: "Con nhìn đi! Lòng tin đã cứu vớt con".

Nhưng mà, ai có lòng tin đây? Trước khi ra mặt trận, mỗi tiểu đoàn của quân đội nhân dân đã được học chính trị trước mọi bài huấn luyện quân sự. Được tập trung theo từng đại đội, các chiến sĩ được mời kể lại cuộc đời của mình và họ nhận ra rằng cùng một số phận đã gắn kết họ lại với nhau. Hoà lẫn với một số những người con trai các gia đình thành thị và trí thức, sẵn sàng hi sinh cho nền độc lập của nước Việt Nam và hơn tất cả những người khác, được thuyết phục về sự cần thiết phải tiến hành cuộc cách mạng, gần như tất cả bọn họ đều là những nông dân nghèo. Ông cha của họ đã phải lao động để không bị chết đói, đã bị giam cầm hoặc tù đầy. Một số chiến sĩ xưa kia phải đi ở đã bị đánh đập và những ông thầy dậy chữ cáu giận đã bắt họ phải cúi xuống ngửi phân. Trong bầu không khí tụng niệm tôn giáo ngự trị trong các lớp học buổi tối ấy, có ai đó khóc oà lên và những con người đã dày dạn chiến trận lúc đó không thể cầm được nước mắt. Tất cả họ thuộc về cùng một khối những người khổ nhục, sẵn sàng hi sinh cuộc đời mình vì một danh dự, trong cùng một toà chủng viện đau khổ đang tiến bước tới thắng lợi. Và nếu như thắng lợi này chỉ là một chế độ nô lệ mới mà họ không nhìn thấy nỗi bất hạnh thì phải chăng ít nhất là họ đã lựa chọn nó.


Ngày 2 tháng ba 1954


Ngài Pléven, từ ngày hôm qua đã xuống máy bay ở Orly, ngay lập tức cùng với ngài De Chevigné đến chỗ ngài Laniel, ở đó một cuộc họp liên bộ trưởng được triệu tập. Tuyên bố của ngài Pléven với báo chí cho biết niềm tin mà một vị tổng chỉ huy mang tới cho mọi người, vị tổng chỉ huy ấy tin chắc là mùa đông kết thúc mà không mang lại kết quả tích cực nào cho phía đối phương. Tin đồn nhanh chóng nói rằng, họ sợ lộ bí mật, cho nên sẽ không có báo cáo chính thức và rằng các bản tường trình sẽ chỉ diễn ra trong những cuộc họp và trong hội nghị của ủy ban quốc phòng. Tuy nhiên những lời rì rầm lo ngại lan truyền từ miệng này đến tai khác trong các hành lang của toà nhà quốc hội.

Ngài Pléven triệu tướng Salan, trở thành tổng thanh tra của Bộ Quốc phòng kể từ khi ngài Pléven đi sang Đông Dương, đưa cho viên tướng đọc bản báo cáo của mình và bảo: “Ta có thể làm gì để cứu vãn Điện Biên Phủ?".

Vào thời điểm này, ở Hà Nội, một cuộc họp mặt các hiệp sĩ diễn ra tại sân bay Gia Lâm, ở đó Gilles chia tay với các đơn vị quân dù thuộc đạo quân viễn chinh. Sức khoẻ của ông suy sụp; một cơn nhồi máu cơ tim khiến ông kể từ nay không được cử động mạnh, và buộc ông phải trở về Pháp.

Ông không hề có ảo tưởng, bố già Gilles đó. Ông biết rằng từ nay ông chỉ có thể ngồi trong các cơ quan tham mưu và rằng ông sẽ không còn thường xuyên nhảy lên một chiếc Dakota nữa. Để che giấu nỗi xúc động làm ông nghẹt thở, ông ho, khạc nhổ, trao đổi những câu pha trò rẻ tiền với những người bên cạnh, đóng vai trò con người thô lỗ dửng dưng. Ông không biết rằng ông đã mặc lại bộ trang phục da báo và đội chiếc mũ nồi đỏ lần cuối cùng trong cuộc đời. Bằng cái khoát tay rộng, ông gọi lại bên mình trung tá Langlais, nhân dịp này sẽ lại quay lên Điện Biên Phủ, và vẻ mặt lúc này như càng thêm khô khan, thêm căng thẳng. Với đôi mắt xanh lơ, khuôn mặt sứt sẹo, đôi tai vểnh ra, Langlais giống như một thuỷ thủ xứ Bretagne cải trang thành lính dù. Những ý kiến Langlais nêu ra không êm đẹp gì. Langlais khẳng định với Gilles là người ta đã gây ra cho binh đoàn của mình rất nhiều chuyện tệ hại.

- Nhưng mà, rút cục, Gilles hỏi, nếu quân Việt tấn công, thì đứng vững chứ?

Langlais cười hô hố. Vấn đề đó không đặt ra.

- Chúng tôi có mặt ở đó, Langlais nói.

Và ông đưa tay chỉ ra phía các tiểu đoàn đứng tập hợp thành hình vuông dưới một bầu trời mây thấp, mưa phùn đang làm cho đường băng sân bay bóng loáng. Lần lượt chiếc trước chiếc sau, những chiếc Dakota từ từ lăn bánh về điểm cất cánh, tăng thêm sức động cơ, nặng nề vút lên và biến mất vào trong mây, hướng lên Điện Biên Phủ. Gilles đi duyệt các đơn vị, giơ tay chào các lá cờ, dừng lại trước mặt từng sĩ quan và từng lá cờ hiệu của đơn vị, ngắm nhìn khuôn mặt của quân sĩ bằng con mắt nhoè lệ mà không bao giờ người ta phân biệt được thật rõ với con mắt bên kia, nằm bất động trong hốc mắt. Chỉ có một con mắt dịu dàng, dưới vầng trán nặng nề, Gilles gầm gừ trong cổ họng sờ nắn các cánh tay, ghi sâu vào trong trái tim hình ảnh những chàng trai này vốn sẵn sàng quại nhau vì ông.

Một cuộc gặp của các hiệp sĩ ư? Nếu như người ta có hỏi các chàng trai này, rất ít trong số họ có thể trả lời được và một vài sĩ quan sẽ nhún vai: Hiệp sĩ, người bảo vệ các bà vợ góa và những kẻ bị áp bức, những câu chuyện cổ xưa của một đạo quân tiến bước về nấm mồ của Chúa, tất cả đã biến mất bởi quả bom nguyên tử ở Hiroshima và những trại tập trung huỷ diệt của phát xít. Phần đông những người đang có mặt ở đây đã lựa chọn binh chủng quân dù do xu hướng hay là do tình cờ, và mối tình đồng đội là điều mà họ tôn thờ. Họ không nhảy dù vì đức vua Bảo Đại, người mà họ khinh ghét hoặc không biết tới. Langlais, Bigeard, Bréchignac, Botella, Tourret, và tất cả những viên đại úy cá tính khó chịu, lời nói cay độc, đứng nghiêm khi bố già Gilles đi qua, đều chiến đấu duy nhất là để giữ lấy nước Pháp, không để cho nước Pháp phải bước xuống địa ngục. Người ta còn chưa dạy dỗ họ biết cách hành hạ đối phương. Họ tôn trọng đối phương và thậm chí ghen tị với đối phương, bởi lẽ đối phương của họ có ưu thế hơn họ là đi chết để nhìn thấy lá cờ của đối phương thay thế vào vị trí lá cờ của họ: đó là quyền của đối phương. Nghĩa vụ của quân dù, đó là không chịu lùi bước nhường lại vị trí. Họ cũng chẳng có lí lẽ sâu xa gì và điều đó là tốt: lí lẽ hẳn không phải là sở trường của họ. Họ không phải là những người đã gây ra cuộc chiến tranh Đông Dương, cũng không phải là những người xác định lí tưởng phải bảo vệ. Họ được hưởng thụ những quyền tốt hay xấu của cái dân tộc mà họ là những đứa con trai, mặc dù, đôi lúc họ tự cảm thấy là những đứa con hoang. Họ tiến bước bởi vì các chỉ huy của họ bảo là phải đi. Tinh thần của họ không cao hơn tinh thần của người đội trưởng trong bản Kinh Thánh, vốn hẳn không thật thông minh, quả vậy, bởi lẽ họ chỉ là đội trưởng chứ không phải là quan chức hay giáo sư. Điều làm cho họ khác biệt với những người khác, đó là họ không dừng lại trước khi người ta yêu cầu họ dừng lại.

Đêm hôm đó, trung đoàn 57 trượt xuống sườn núi phía tây khu lòng chảo để chiếm lĩnh vị trí xung quanh cứ điểm Isabelle. Đại úy Hiền đã đi xuyên qua bản Phương, hoàn toàn bị đốt cháy. Anh đã dừng lại bên mấy cây bưởi còn sống sót một cách thần kỳ. Trong gia đình anh ngày xưa cũng như trên khắp vùng đồng bằng người ta làm bánh trôi, bánh chay có hương thơm hoa bưởi và kỷ niệm bất ngờ này gần như làm cho đôi mắt của anh nhoà lệ. Anh tự thề với mình sẽ chiến đấu đến cùng để trả lại cuộc sống cho ngôi làng và để cho hương thơm hoa bưởi vào mùa xuân khỏa lấp cái mùi hôi thối từ hậu quả của bom napan.

Kết thúc cuộc duyệt binh ở Gia Lâm, như thường lệ, người ta uống một bình rượu cùng với sĩ quan các quân, binh chủng khác, các cha tuyên úy và các vị tướng. Langlais không dề dà trong bữa tiệc rượu. Trên chiếc máy bay đưa ông trở lại Điện Biên Phủ, trong lòng ông có điều gì đó băn khoăn. Trung tá Denef, cấp phó phụ trách tác chiến của Cogny vốn cũng là một lính dù được chuyển về cơ quan tham mưu, người mà Langlais cho là dương dương tự đắc và cũng không thích gì mình, hôm nay lại đã nồng nhiệt bắt tay ông. Langlais tự hỏi vì đâu lại có cử chỉ nồng nhiệt bất thường ấy của một đồng đội mà mọi thứ đều đối nghịch với ông, sau đó đột nhiên ông hiểu ra rằng Denef đã xử sự tựa như là sẽ không còn gặp lại ông nữa: "Nếu thế, Langlais tự nhủ, họ tưởng là ở Điện Biên Phủ tất cả đều đã toi mạng hay sao?".
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:26:57 pm »


Ngày 4 tháng ba 1954


Ở Điện Biên Phủ, buổi chiều, cùng với Cogny, Navarre đi thăm các điểm tựa chủ yếu. Ông hỏi các chỉ huy trưởng đơn vị và những câu trả lời là thống nhất: người ta vững vàng chờ đợi quân Việt, không một chút do dự.

Navarre cảm thấy điều đó! Hôm qua, ông đã từ chối cuộc hành binh vào Lạng Sơn do Cogny đề nghị, bởi vì ông sợ rằng sẽ phung phí những phương tiện còn lại và thích giữ chúng nguyên vẹn trong tay để sử dụng khi cần thiết. Đối với ông, một trận thắng ở Lạng Sơn sẽ không có tiếng vang đáng kể nào với Điện Biên Phủ, và một trận không thành công ở đó sẽ làm suy yếu Điện Biên Phủ một cách nguy hiểm. Ngoài ra, nếu như bị ấn tượng về trạng thái lạc quan của các tiểu đoàn trưởng và các chỉ huy trưởng binh đoàn, vốn không nắm được toàn bộ vấn đề, thì ông, Navarre, người có trong tay mọi thông tin về đối phương, kể cả những thông tin cho phép phán đoán là đối phương có pháo binh hạng nặng, ông không mong muốn trận đánh xảy ra. Đã quyết định giao chiến và chiến thắng, như ông đã viết nhiều lần, cũng không bắt buộc là ông mong muốn có trận đánh đó nữa. Cho đến lúc này, ông đã gạt bỏ mọi gợi ý là thúc ép tướng Giáp tấn công. Nhưng nếu như tương Giáp tấn công, ông sẽ đánh trả.

Suy đi tính lại một chi tiết cuối cùng, Navarre, vốn hình như ngày càng lo ngại là mình đã để bị cuốn hút vào đây, cho rằng tổ chức của tập đoàn cứ điểm chưa đủ mạnh và đề nghị với Cogny và Castries bố trí một trung tâm phòng ngự nữa, nằm giữa các cứ điểm Claudine và Isabelle, bằng cách tăng cường thêm hai hay ba tiểu đoàn. Isabelle ở phía nam Claudine cách năm kilômét, hoả lực của Isabelle hầu như không yểm trợ được cho cứ điểm Gabrielle. Trên khoảng cách như vậy, những cuộc phản kích xuất phát từ Isabelle khó lòng mà đến được các điểm tựa khác.

Để thảo luận được thoải mái vấn đề đó, không sợ rằng các ý kiến có thể bị lộ ra ngoài, Navarre ra khỏi hầm sở chỉ huy cùng với Cogny, Castries và đại tá Revol. Họ bước lên chiếc xe Jeep, Castries ngồi vào tay lái, và đánh xe ra xa.

Quả thật, Navarre nhắc lại, hình như sẽ là thận trọng, nếu như không bố trí xen thêm lực lượng nào dưới cái hố sâu diện tích dài năm kilômét này, thì ít nhất cũng là đặt thêm những chướng ngại vật mới trên hướng đông bắc, chi viện cho đơn vị người Thái vốn là những người hành quân tốt nhưng lại là những chiến sĩ phòng ngự tồi, và yểm hộ cho cứ điểm Béatrice, cứ điểm sẽ chịu cuộc tấn công đầu tiên. Nếu như, cho đến lúc này tướng Cogny vẫn do dự trong việc xây dựng những điểm tựa mới để khỏi lãng phí quân số của ông trên xứ Bắc Kỳ, phải chăng thời điểm để giải quyết câu chuyện đó đã đến? Sự thật Cogny tin vào sức mạnh của các trận phản kích nhiều hơn là việc tăng thêm các cứ điểm phòng ngự. Đã có cả một hệ thống nhằng nhịt các hàng rào dây thép gai, chui vào đó mọi người sẽ vướng mắc hết.

Trong những điều kiện như vậy, tìm đâu ra chỗ bố trí cho hai hay ba tiểu đoàn tăng thêm nữa đây? Chẳng phải là đứng đầu tập đoàn cứ điểm này đã có một tay kỵ binh nổi tiếng về những đòn đánh trả bất thình lình và con mắt tinh tường, chắc chắn hay sao? Theo ý kiến của Cogny, sức mạnh vô địch của Điện Biên Phủ nằm ở chỗ đó. Hơn nữa, không quân vận tải đã cam kết tiếp tế cho sáu tiểu đoàn, rồi chín, và mười hai. Không thể hơn được nữa, nếu không nó không gánh vác nổi, và mọi kế hoạch tiếp tế cho Điện Biên Phủ sẽ vì thế mà bị đảo lộn hoàn toàn. Dự tính bảy kilô cho một đầu người mỗi ngày, giờ đây định mức cung cấp đã tăng lên chín kilô. Người ta có thể tin tưởng ở Langlais, người chỉ huy hai tiểu đoàn quân dù thuộc lực lượng dự bị. cơ động và đi đến kết luận rằng một trung tâm phòng ngự mới sẽ chỉ làm nặng nề thêm tổng thể của pháo đài. Điều này không có nghĩa là người ta sống mà không có mối lo lắng nhỏ nhoi nào, nhưng mà khi quân Việt bước vào hàng rào dây thép gai, người ta sẽ nghiền nát họ. Đó chính là câu trả lời của chính bản thân Castries.

Navarre vẫn giữ ý kiến: nếu như quân Việt thấy rằng ta bố trí một trung tâm phòng ngự mới, họ sẽ lùi cuộc tấn công, cốt để điều chỉnh kế hoạch của họ, và nếu như từ lùi hoãn này đến lùi hoãn khác, người ta sẽ bước vào mùa mưa, cuộc tấn công Điện Biên Phủ sẽ không diễn ra nữa.

Castries vốn không tin là tướng Giáp lùi hoãn giờ mở màn, lúc đó bèn nói:

- Có nguy cơ là họ không tới và cần phải thúc đẩy họ tấn công để kết thúc nhanh hơn.
- Sẽ đứng vững chứ? Navarre hỏi.
- Sẽ gay go đấy nhưng sẽ đứng vững nếu ngài có hai hay ba tiểu đoàn gửi cho tôi.

Và Cogny nói thêm vào: Không nên làm cho quân Việt thay đổi quyết tâm của họ. Đối với tập đoàn cứ điểm, cuộc vật lộn này sẽ là viễn cảnh của một chiến thắng lớn trong phòng ngự. Sẽ là một thảm họa đối với tinh thần, tư tưởng của quân sĩ nếu như quân Việt không tấn công.

Câu nói này, Cogny không bao giờ chối cãi. Nhưng, cam đoan rằng không vì bất cứ lí do gì ông lại muốn để lộ cho Castries thấy rằng ông có chút nghi ngờ gì đó về tính vững chắc của hệ thống phòng ngự và không cùng chia sẻ với Castries điều mong muốn nhìn thấy quân Việt tấn công, ông khẳng định sở dĩ nói câu đó chỉ vì Castries lắng nghe. Ông cũng vậy, ông những muốn đẩy lùi các kế hoạch của tướng Giáp bằng cách ra những đòn đánh vào các nơi đông đúc dân cư thuộc các hậu cứ của tướng Giáp, bằng việc cắt đút một hay nhiều động mạch chủ của hệ thống tiếp tế của ông ấy ở phía bắc Hà Nội, việc làm mà Navarre kiên quyết từ chối Cogny bởi vì Navarre không tin vào kết quả và bởi vì, chiến dịch Atlante đã làm đóng băng quá nhiều lực lượng dự bị, cho nên Navarre không còn trong tay đủ số tiểu đoàn dù và binh đoàn cơ động để mà mạo hiểm.

Như vậy là Cogny đã nói câu đó. Ông còn khẳng định rằng Navarre không thể nào bị loá mắt trước trạng thái lạc quan tình cờ mà ông giả bộ. Theo Cogny, nếu như làm ra vẻ bắt Navarre cam kết về kế hoạch đó thì thật là một cử chỉ xúc phạm một trăm phần trăm. Liệu có phải sau này ông nhắc lại cuộc trao đổi ý kiến đó để xoá tan mọi mối nghi ngờ chăng? Liệu khi lại mặt đối mặt với nhau ngồi trên máy bay, ông có làm lành với Navarre chăng? Liệu ông có nói: “Lẽ dĩ nhiên, thưa tướng quân, những ý kiến của tôi lúc vừa rồi là để dành cho Castries. Ngài biết rằng tôi vẫn nghĩ cần phải làm mọi việc để cho tướng Giáp không tấn công?" Không. Ông đã im lặng bởi vì người ta đã không thể rút chân ra khỏi cái bẫy đó nữa rồi và rằng Cogny tin là người ta sẽ thắng cuộc.

Giữa Navarre và Cogny, không phải là sự căm ghét. Còn xấu hơn thế? Lòng căm ghét hiện lên trên nét mặt và làm hỏng mọi việc. Người ta biết, khi người ta căm ghét lẫn nhau thì trò chơi của đối phương sẽ dẫn tới đâu. Vào thời điểm này trong mối quan hệ, Navarre và Cogny tìm cách huỷ hoại lẫn nhau mà không một ai trong hai người tự thú nhận với bản thân mình. Trên vẻ bề ngoài của Navarre, người tưởng như luôn luôn nghe thấy Cogny trách móc mình chỉ là cái bóng của De Lattre, người ta có thể nhận thấy những con sóng ngầm của sự đố kỵ, một thoáng khinh bỉ hạ cố, nỗi lo ngại những chuyện phản thùng. Ở Cogny, những tổn thương của lòng tự ái, và nỗi ngờ vực đối với một chỉ huy thiếu kinh nghiệm và luôn luôn có thái độ bí ẩn và lạnh lùng đã tạo ra giữa hai con người ấy cái mà ở những đôi vợ chồng người ta gọi là tính khí không phù hợp. Con bò tót Cogny ghét con báo Navarre. Sai lầm chủ yếu của Cogny là đã không rút lui cùng với Salan và kíp của De Lattre: ở cấp độ này, người ta không thay đổi ông chủ, khi người ta không biết nhau và nhanh chóng phát hiện ra rằng người ta không ưa thích nhau. Do dự, thu tròn những ý nghĩ u ám đằng sau vầng trán, không biết nên xử sự như thế nào, Cogny im lặng, nghiền ngẫm nỗi lo lắng của mình và khép mình trong một nỗi đối nghịch, bề ngoài giả bộ là thái độ tôn kính.

Về phía mình, Navarre lẽ ra có thể hỏi Cogny xem liệu ông ta có giữ nguyên câu trả lời vừa rồi hoặc câu trả lời ấy là để dành cho Castries hơn là cho mình, nhưng ông cũng lại im lặng, quá sung sướng, nếu như ông cảm thấy có một sự hiểu lầm, để có thể sau này đổ lỗi đó cho Cogny. Giữa hai viên tướng là không khí im lặng nặng nề. Tuy rằng họ vẫn còn mời nhau dự bữa ăn tối nhân dịp chào mừng ngài bộ trưởng, nhưng kể từ lúc này họ chỉ còn trao đổi ý kiến với nhau bằng những bản công văn hoặc những bức điện, và tuyệt đối chỉ dùng các công thức theo trật tự trên dưới trong hành văn quân sự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2008, 07:32:10 pm »


Ngày 10 tháng ba 1954


Việc thu được qua sóng vô tuyến những thông báo của Việt Minh cho thấy một kế hoạch cung cấp gạo cho chín mươi nghìn người trên vùng thượng du, trong đó có bảy mươi nghìn người xung quanh Điện Biên Phủ. Một kênh thông tin khác cho Navarre biết rằng cuộc tấn công tập đoàn cứ điểm sẽ diễn ra trong đêm 13 rạng ngày 14: Quân số các đơn vị và những phương tiện của tướng Giáp đã được sơ kết: hai mươi bảy tiểu đoàn bộ binh, hai mươi khẩu pháo 105, mười tám khẩu75, mười sáu và nhanh chóng sau đó là tám mươi khẩu 37, một trăm khẩu đại liên cao xạ cỡ 12 li 7, chưa kể các súng cối. Con số đạn pháo chỉ biết được theo ước tính tối thiểu: 5.000 đạn pháo 75, 15.000 đạn 105, 44.000 đạn 37 cao xạ, 24.000 đạn súng cối trong đó 3.000 đạn cối 120 và người ta biết là hai trăm tấn đạn dược sẽ phải được chuyển tới trong khoảng giữa ngày 8 và 15 tháng ba. Còn về khối lượng tiếp tế, thì đạt tới bảy mươi tấn mỗi ngày. Cơ quan chỉ huy công tác tiếp vận gửi tới hai tấn dược phẩm và các cáng thương.

Liệu Navarre có cảm thấy nghi ngờ về hiệu quả phản pháo của các khẩu 155 của Piroth, đã không phá huỷ được một khẩu pháo nào trong thời gian qua đã nhả đạn vào tập đoàn cứ điểm, và về không quân đã không phát hiện được bất cứ vị trí nào một cách chắc chắn hay không? Ông không hề để lộ ra chút gì về điều đó. Trong mọi trường hợp, tướng Giáp đã giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh hậu cần với số dân công này mà theo ước tính của các cơ quan tham mưu Pháp, trên dọc đường vận chuyển là ăn mất bốn phần năm số gạo vận tải, và hình như ông ta muốn tiêu diệt máy bay ngay tại các sân bay và trên bầu trời Điện Biên Phủ bằng những vũ khí ùn ùn kéo tới mà người ta không sao ngăn cản nổi. Nhưng có lẽ những khẩu pháo 105 của ông ta làm bằng gỗ, như lời nói của viên trung tá Gaucher.



Ngày 11 tháng ba 1954


Đại úy Capeyron có mặt ở Hà Nội, để được chăm sóc điều trị về một mảnh kim khí nhỏ bắn vào mắt. Các bạn đồng ngũ hỏi anh nghĩ thế nào về pháo binh quân Việt.

- Hẳn là họ có một hay hai khẩu pháo, anh trả lời, và phần lớn đạn pháo không nổ. Thật là chuyện nực cười!

Anh lại lên máy bay quay về Điện Biên Phủ, ở đó hai tiểu đoàn dù tấn công mỏm đồi 555, cách cứ điểm Béatrice một kilômét về phía đông, vấp phải lực lượng mạnh và rút về.

Đại úy Capeyron vừa về tới đại đội của mình ở cứ điểm Claudine 5 vào lúc năm giờ chiều, thì một trận hoả lực pháo binh róc xuống khu vực hạ cánh của máy bay. Đến loạt đạn thứ ba, một chiếc Packet, chắc hẳn đỗ ở đó từ mấy hôm trước do một động cơ bị cháy và người ta vừa sửa chữa xong, nằm hơi cách xa các máy bay khác, đã trúng đạn vỗ mặt, mũi máy bay đổ gục xuống, đuôi hai tầng của máy bay chĩa thẳng lên phía các ngọn đồi. Trúng đạn lần thứ hai, máy bay bốc cháy. Một khẩu đại bác duy nhất của khẩu đội trưởng Tư, chỉ với một cơ số đạn ba mươi viên mà không sử dụng hết, được chỉ định để phá huỷ chiếc máy bay. Một chiếc máy bay vận tải khác, một chiếc Curtiss Commando của Công ty Aigle Azur, bị hỏng hóc từ mười lăm ngày nay, không việc gì. Những chiếc khu trục cất cánh, bay về phía những dốc núi có khẩu pháo ẩn náu, nã súng đại liên một cách vu vơ, lượn tròn trên các khe sâu và các đỉnh núi, rồi quay về đỗ xuống, lăn bánh vào trong các ô tròn xung quanh có bao bọc các bao đất, chìm trong đám mây đen của đám cháy. Những chiếc Dakota đang đậu ở đó vội vã bay về Hà Nội. Trận địa cụm pháo trong đó có khẩu pháo của khẩu đội trưởng Tư được bố trí vững vàng trên đoạn đồi dốc mà quân Việt gọi là đồi Xanh, cách đường băng sân bay bốn kilômét. Các khẩu pháo nằm trong hầm, nóc hầm dày hơn hai mét đất; trước và sau khi bắn, lỗ châu mai của căn hầm được bịt kín bằng những bao đất và nguỵ trang kín đáo.

Về việc này nếu như Castries chịu khó, ông ta có thể tra cứu trong tập hồ sơ nghiên cứu những kết luận của phái đoàn Mỹ đến từ Triều Tiên, hai tháng trước đó, đánh giá về vị trí Điện Biên Phủ. Ông ta có thể đọc được một câu lạc quan khiến ông ta thêm an tâm: “Tình hình cho phép xem xét một cách tin tưởng việc tiếp tục tiếp tế bằng đường không cho trung tâm này”.

Giữa lúc những ngọn lửa của chiếc máy bay Packet soi sáng màn đêm của Điện Biên Phủ thì ở Paris, Uỷ ban Quốc phòng họp lại. Ngài Pléven kết thúc bản trình bày của mình bằng một giọng đơn điệu, và đề nghị giao cho tướng Ely, được đô đốc Radford mời, dẫn đầu một phái đoàn thông tin sang Mỹ. Đối với ngài Pléven, cuộc chiến tranh vẫn còn có thể thắng cuộc. Trả lời những tuyên bố tháng hai của ông Hồ Chí Minh, ngài Laniel đã đòi hỏi việc phân bố lại các khu dân cư mà Việt Minh coi như không thể chấp nhận được. Ngài Georges Bidault đề nghị tướng Ely yêu cầu Washington có một cuộc can thiệp của Mỹ chống lại mọi lực lượng không quân được sử dụng chống lại đạo quân viễn chinh. Liệu người ta có thể nghi ngờ rằng tướng Fay lại đã không nhắc lại lời khuyên mà ông đã nói với Navarre và đã không tóm tắt ý tưởng của mình hay không? Kể cả, nếu như cái câu: “Đối với tôi, ở Điện Biên Phủ, chúng ta rơi vào thảm họa" đã không có mặt trong bản báo cáo, thì chủ tịch hội đồng và các bộ trưởng không thể nào đã không nghe thấy câu nói ấy. Lạ lùng hơn nữa là không một ai nhớ tới câu nói ấy bởi lẽ một nhân chứng như tướng Fay bao giờ cũng cân nhắc câu nói và không hề trí trá. Ngài Pléven, gợi ý việc thành lập một uỷ ban chiến tranh thu hẹp chịu trách nhiệm chỉ đạo cuộc chiến tranh, dưới sự chủ trì của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Các kết luận được nhất trí thông qua.

Lần đầu tiên kể từ khởi đầu cuộc chiến, một chính phủ, bị các biến cố thúc ép, đúng như vậy, đã quan tâm đến việc đánh giá những thuận lợi và hậu quả của các kế hoạch tác chiến của viên tổng chỉ huy và trực tiếp cùng với ông ta nghiên cứu các phương sách để thực hiện hoặc sửa đổi các kế hoạch, căn cứ vào đường lối tổng thể. Tính thận trọng của tướng Ely và thái độ mềm dẻo của ngài Pléven đã không thể nào bóp nghẹt được tiếng nói của tướng Fay. Người ta đã không còn có thể rút ra khỏi Điện Biên Phủ, đó là một thực tế. Khẳng định rằng đã không có một ai đề nghị, bất kể mọi chuyện, một giải pháp tuyệt vọng đến như vậy, sau này sẽ tạo ra việc bóp méo sự thật kỳ cục.

Trong những gian hầm rộng rãi, nằm sâu trong lòng đất, trong những nhà ăn tập thể của các trạm xe bố trí dọc con đương tỉnh lộ 41 cũng như trong các ngôi làng ở đó những cư dân chờ cho máy bay bay đi để lao ra các đoạn đường bị đánh phá mang theo cuốc, xẻng, thúng mủng, ngay sau khi bom rơi xuống. Từ mấy ngày nay các chính trị viên đọc đi đọc lại, bản thông cáo của tổng tư lệnh quân đội nhân dân. Những người đàn ông và đàn bà, đứng thẳng lắng nghe và ánh sáng vàng vọt của một ngọn đèn dầu hoả đôi khi soi sáng những khuôn mặt bất động.

Hỡi toàn thể cán bộ và chiến sĩ! Trận Điện Biên Phủ sắp bắt đầu...
… Thời cơ đã điểm để chúng ta chuyển sang tấn công...


Người đọc đọc các câu chữ bằng một giọng khoẻ khoắn, sau đó tính đến tác động đối với cử tọa, đột nhiên đọc một cách căng thẳng. Trận đánh này mà vì nó biết bao mồ hôi và máu đã phải đổ ra, trận đánh đó kia rồi, những quầng đỏ và những ngọn lửa trên bầu trời đang mở rộng trước trận đánh ấy.

- Đánh thắng trận Điện Biên Phủ, sẽ tiêu diệt một bộ phận rất quan trọng các lực lượng ưu tú của quân địch, giải phóng vùng Tây Bắc của đất nước và củng cố hậu phương của chúng ta, việc đó sẽ đảm bảo thành công của cuộc cải cách ruộng đất. Đánh thắng trận Điện Biên Phủ sẽ là phá vỡ hoàn toàn kế hoạch của Navarre, cái kế hoạch đã phải gánh chịu những đòn thất bại nặng nề, giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu của bọn tư bản Pháp - Mỹ, những kẻ đang nuôi dưỡng cuộc chiến tranh. Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ có những tác động hết sức to lớn trong đối nội và đối ngoại và tiếp sức cho phong trào đang kêu gọi trên khắp thế giới cho nền hoà bình ở Đông Dương, nhất là vào thời điểm, bị thất bại liên tiếp, chính phủ nước Pháp cuối cùng đang tìm cánh thương lượng để chấm dứt cuộc chiến. Đây là mệnh lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Chính phủ...

Giọng nói của người đọc gằn rõ từng chữ và các âm tiết đôi khi kéo dài như tiếng đạn rít, đột nhiên run rẩy, rồi dừng lại nghỉ một lát trước khi đọc tiếp:

- Trong lúc trên tất cả các mặt trận, các đơn vị chúng ta đang dũng cảm tấn công quân địch, phối hợp nhịp nhàng với nhau, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ chiến sĩ của tất cả các đơn vị thuộc mọi binh chủng trên khu vực Điện Biên Phủ! Các đồng chí nên biết rằng được tham gia trận đánh lịch sử này là một vinh dự vẻ vang. Quyết tâm tiêu diệt địch, các đồng chí cần luôn luôn nhớ tới khẩu hiệu hành động: tiến lên không ngừng, tiến lên mãi. Hãy chế ngự nỗi sợ hãi và nỗi đau đớn, hãy vượt qua mọi chướng ngại, kết hợp sức mạnh lại, chiến đấu đến cùng tiêu diệt quân địch ở Điện Biên Phủ, giành lấy chiến thắng lớn! Giờ phút vinh quang đã đến. Cán bộ và chiến sĩ của tất cả các đơn vị các binh chủng hãy tiến lên để xứng đáng với lá cờ quyết thắng của Bác Hồ!

Giọng nói đột ngột dừng lại rồi người chính trị viên quyết định đi tới cùng.

Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam - Ký tên: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

"Trước đêm ngày mai, các người sẽ biết hoặc nước Pháp hoặc Việt Minh sẽ mang lại quyền lợi cho dân tộc các người. Không còn là Điện Biên Phủ hay Hà Nội nữa, mà là toàn bộ nước Việt Nam sắp trở thành cái giá phải trả của trận đánh. Cùng một mối nguy hiểm cho người thua trận, cùng một phần thưởng cho kẻ thắng trận ''
. Khi ta thay thế tên gọi của các thành phố và đất nước bằng những cái tên Rome, Carthage, Afrique hoặc Italie thì đây sẽ là bài diễn văn của tướng Annibal đọc ngày hôm trước của trận Zama, hai thế kỷ trước công nguyên đúng như lời thuật lại của Tite Live.

Uỷ ban chiến tranh thu hẹp vừa mới thành lập ở Paris, nếu như được biết về những mối đe dọa tấn công ở Điện Biên Phủ, hẳn đã có thể hỏi tướng Navarre xem liệu ông ta có tính đến việc đặt sở chỉ huy của mình ở Hà Nội hay không. Nhưng mà không có câu hỏi đó. Bản báo cáo của ngài Pléven, về điểm này là đáng yên tâm: Navarre đang chỉ huy. Liệu có ai ngờ vực điều đó? Câu nói ghê gớm của tướng Fay không làm cho bất kỳ một ai mất ngủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM