Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:43:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vùng biên ải  (Đọc 90630 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #130 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 02:34:41 pm »

PHẦN NĂM
NƠI ẤY, TA CẦM Ô ĐỨNG ĐỢI MÌNH

I

Cầu treo bị phá. Bám vào lưng ngựa, Đắc qua sông Chảy. Cho ngựa lên bờ ăn cỏ, anh ngụp vùng vẫy một hồi dưới sông - lâu lắm rồi có được tắm rửa, bơi lội thoả thích đâu - rồi mới lên bờ tìm ngựa, ngược dốc lên Pa Kha. 

Từ bờ sông nhìn lên, Pa Kha sặc sỡ như một bức tranh bột màu. Nắng trưa vàng óng. Đồi núi xa xa tạo một ảo giác chập chờn. Những nương chàm ra hoa muộn trắng ngời và không gian ngan ngát làn hương thảo mộc, nguyên sơ, dễ chịu. Thấp thoáng đó đây những mái nâu, tường đá sau hàng thông xanh vàng ánh lớp chồi non, thoáng chút mơ màng vì ngọn khói lam êm ả bốc cao toả rộng. 

Lâu lắm rồi mới lại được thấy thị trấn trong cảnh thanh bình như thế. Nghĩ mà ứa nước mắt. Cảm động và kiêu hãnh xiết bao, khi được là người trực tiếp thực hiện cái sứ mệnh cao quý của thế hệ là ra mặt trận, một cách sống có ý nghĩa nhất.

Nhận ra những thiếu sót của mình, Đắc đã tự nguyện đảm nhiệm một công việc nặng nề và gian khổ, anh muốn được trực tiếp sữa chữa, bù đắp những thiệt thòi của Cách mạng do anh gây nên; phần khác cũng là để làm một cuộc cách mạng nữa ở trong bản thân mình. Anh phải gột rửa cho kỳ hết những rơi rớt của tính bốc đồng, thói chủ quan, những tật xấu mà anh sẽ nhớ mãi, cho đến những ngày cuối đời, để xứng đáng là người chiến sĩ, nhân vật trung tâm của thời kỳ này.

Năm tháng trời qua, Đắc đã góp phần xứng đáng. Cá tính của anh đã không phản lại sự nghiệp của anh. Nhiệt tình của anh đã được nhân lên cũng như tài năng quân sự của anh càng được bộc lộ rõ rệt trong ánh sáng của đường lối, chính sách chung do Chính trực tiếp truyền đạt. Pha Linh, cái ổ phỉ qui mô lớn nhất của miền đông đã bị đánh tan. Đó là một cuộc chiến đấu căng thẳng, quyết liệt nhất mà anh tham dự với tư cách người chỉ huy chủ yếu. Hơn một nghìn tên phỉ và bọn Tàu trắng. Hàng chục lô cốt, bốt gác, tháp canh. Hàng chục kho vũ khí đạn dược. Đánh vỗ mặt, đánh cạnh sườn. Khi vây úp, lúc phục đón, khi gọi hàng, chủ lực cùng quân du kích và đồng bào đã làm rã cái ổ địch nguy hiểm nhất vùng biên địa phía tây này.

Giờ thì cuộc chiến đấu cũng vẫn còn tiếp diễn. Bọn đầu sỏ Châu Quán Lồ rã ra, tản mát đi các nơi, chưa chịu đầu hàng, nhưng dẫu sao thì cuộc sống cũng đã sang một trang mới. Cục diện toàn tỉnh cũng vậy. Anh phải trở về Pa Kha theo yêu cầu của Chính để phụ trách công việc toàn châu.

Dừng ngựa ở đầu thị trấn, Đắc trìu mến nhìn cái thị trấn nhỏ xinh đang thiêm thiếp trong nắng hanh vàng. Mấy dãy phố dọc ngang vắng vẻ. Khói ủ những mái gianh. Những bức tường đá xám đỏ lấp loáng bóng nước từ cái bể nước ở giữa sân chợ hắt lên. Trên sân chợ, ngổn ngang mấy cái vì kèo, chắc là sắp dựng lại chợ. Tròn tròn những mặt nong óng ánh màu hạt ngô vàng, và trắng xanh màu ý dĩ. Ong vo ve bên giậu mắt cáo lấp ló mấu đoá hoa thuốc phiện tím biếc, đa tình. 

Bùi ngùi chiêm ngưỡng cảnh thị trấn lúc ban trưa, Đắc bỗng thấy thoảng bay tới khứu giác một mùi hương trầm thơm ngát và rất nhẹ. Anh quay lại và nhận ra mình đang đứng trước khu nghĩa trang liệt sĩ. Nghĩa trang mới lập, gom về đây hơn năm chục đồng chí đã hi sinh, trong đó có cả hài cốt Tích anh đã tìm thấy và gửi ngựa đưa về. 

Xuống ngựa, định vào thăm nghĩa trang, nhưng Đắc chợt dừng lại. Hương khói từ hàng mộ thứ hai toả ra mỗi lúc một đậm, ở đó một phụ nữ trẻ, áo đen đang xoã tóc ngồi ủ rũ, buồn rầu. 

Không muốn làm kinh động giây phút tưởng niệm thành kính của người nọ, Đắc lên ngựa.

“Sẽ có một ngày nàng đi qua các hàng mộ chí tìm ta...”. Anh nhớ tới một câu thơ cùng mối tình riêng rất buồn của mình và đứng lặng trên mình ngựa. 

“Ồ, vẫn là chàng học sinh tiểu tư sản!” Anh nghĩ thầm, tự trách mình và vội vàng giật cương ngựa.

Con ngựa bạch khua móng rộn rã trên con đường lát đá. Ngoặt vào phố chính, nơi có trụ sở ban cán sự, Đắc nhận ra một trung đội chiến sĩ toàn áo chàm, áo đen, mũ lưỡi trai đang đứng dàn hàng đôi trong bóng râm của căn nhà kho dài thượt. 

Ghìm ngựa đi chậm lại, anh nhận ra tiếng chiến sĩ Tếnh rất rắn rỏi và sôi nổi: 

- Các đồng chí chú ý. Thuỷ tổ của súng trường là loại súng kíp nạp đạn đằng trước, bắn bằng thuốc đen, khi bắn phải châm lửa. Còn đây là súng trường Mĩ kiểu 1917, đạn 7 li 62. Đây là các-bin Mỹ tự động nạp đạn. Còn đây nữa là ga-răng M1. Cái này là mát, kiểu 1919, cỡ đạn 7 li 5... Thằng Châu Quán Lồ nó hay dùng súng này... 

“A! Đại đội độc lập đã thành lập cho chủ lực rảnh tay rút đi chiến dịch theo lệnh của ông Chính đây. Chà, ông Chính... đúng là con người của thời đại”. Đắc nghĩ, nhảy xuống buộc ngựa, rồi đi lên trụ sở.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #131 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 02:55:34 pm »

II
 

- Ôi! Anh Đắc - Khả nhảy tâng tâng. 

Đắc bỏ mũ: 

- Có gì mà vui thế đồng chí Khả? 

- Anh ngồi đây, anh Đắc! Đang mong anh quá. Là tôi nghe bọn phỉ ở lớp cải tạo nó tố khổ chuyện Tây bắt lính - Khả kéo nghế, dọn khay nước, liến thoắng - Trông anh dày dạn, quắc thước hẳn đi. Nghe nói, bên ấy gay go chẳng kém bên này. Anh Chính về tuần trước rồi, anh ạ. 

- Anh ấy đã đỡ nhiều chưa? 

- Vết thương mới khép miệng. Nhưng Trung ương gọi về báo cáo gấp. Về gần hết rồi. Cô Dung cũng về rồi. Chủ lực rút, chỉ để lại mấy anh thôi. - Khả gãi gáy - à, anh Na đã có quyết định chính thức... đề bạt phó ban cán sự. Còn tôi... đáng nhẽ cũng rút về tỉnh, nhưng anh Chính bảo... phải ở lại giúp anh lập... ban huyện uỷ, với lại để... 

Đắc ngồi xuông ghế cười, mủm mỉm: 

- Đừng vội!

- Nhất trí với anh. Tôi mà ham chức thì tôi về tỉnh rồi chứ - Khả liếm môi - Tình hình phấn khởi lám, anh Đắc ạ. Anh Chính vừa gọi điện vào. Giặc Pháp đã rút khỏi Hoà Bình, hiện nó ra sức càn quét vùng đồng bằng Liên khu 3, trung du, nhằm ứng cứu và chia sẻ lực lượng ta. Còn ở tỉnh ta, nói chung các ổ phỉ lớn ở Pha Linh, Pa Kha, Sa Pa, Bảo Thắng, Than Uyên... đều đã bị ta ăn gỏi cả rồi. Bang tá Lương Văn Phàng ở Bát Xát bị bắt. Sếp séc-xiông Pò Giàng Chẩu bị bắn. Vàng Lao Lầu ở Sa Pa cũng vậy... Giải phóng hơn sáu chục xã, hơn hai vạn dân, anh ạ. Nói chung là bây giờ chỉ còn bọn đầu sỏ. Can Chư Sủ còn thằng Lử. Pha Linh còn Châu Quán Lồ. Thằng Tây cay lắm. Vừa rồi nó thả dù biệt kích xuống Xeo Mi Ti, thả điện đài xuống Hô Mù Chải bên miền tây... Nó đang kích bọn tàn phỉ. Nó tưởng chủ lực rút thì ta rỗng ruột mà.

Đắc thở một hơi nhè nhẹ, nhấp một chén trà, đứng dậy vươn vai, đi tới khuôn cửa sổ. Dưới phố, trung đội chiến sĩ địa phương vẫn đang tập tháo lắp loại súng trường. 

Khả ôm một cái chăn mời Đắc lên gác nghỉ ngơi. Cái gác rộng thênh thang, bụi bặm vì lâu ngày không có ai dọn dẹp. 

Đẩy hai cánh cửa sổ, bỗng nghe thấy ô cửa sổ xanh ỏ căn nhà bên vẳng sang một tiếng hát nữ buồn thê thảm, anh liền quay lại: 

- Ông Khả này, cái thằng Vận đốn mạt ấy giờ nó thế nào rồi?  

Khả đang quét sàn, ngẩng lên:

- Báo cáo anh, khéo nó chết mất xác ở đâu rồi cũng nên. Nghe nói là nó thoát đòn hội chợ ở Can Chư Sủ xong là đi Tả Van Chư, vào một nhà người Hmông xin ăn rồi cướp thuốc phiện của người ta... 

Đắc lại nghênh nghênh tai: 

- Ơ, ai hát ấy nhỉ? 

- Cô Nguyệt đấy mà anh. Tội nghiệp cô ta quá cơ! 

- Không, đồng ca cơ... Cái gì... Dân làng ơi! Người Hmông mình bao đời sống lầm than. Vì loài hổ ác dạ tham tàn... Dân ca Hmông à? 

Khả toét miệng: 

- Phỉ dự lớp cải tạo đấy, anh ạ. Phỉ cũng tập hát mới hay chứ. Bài “Toàn dân tiễu phỉ” cậu Quang Ngọc sáng tác đấy. 

- Quang Ngọc đâu rồi? 

- Ông nhạc sĩ mê dân ca Hmông tình nguyện ở lại Can Chư Sủ rồi, anh ạ. 

Đắc đi ra hiên. Cùng lúc tai anh nghe thấy cả hai tiếng hát. Tiếng hát của người phụ nữ ở nhà bên. Tiếng hát của lớp phỉ cải tạo. Tiếng hát đồng ca đã dứt một lúc lâu. Còn bài hát Ca khúc nghê thường ở bên ô cửa sổ xanh cứ âm ỉ, lê thê mãi. Sao nó để lại dư vang trong lòng anh ghê gớm thế!

“Khốn khổ, Thuý cũng vậy. Những tâm tình bơ vơ, lạc lõng, đáng thương. Thuý không có gan chờ đợi mình. Cũng là một sự khát khao tầm thường của nhân loại, hừ, chiến tranh...”. 

Đắc nghĩ, đi xuống nhà dưới, ra cửa. 

Khả vừa ngồi vào bàn máy, nghển ra:

- Anh đi đâu đấy, anh Đắc? 

- Tôi xuống lớp cải tạo phỉ. 

Nắng chiều rớt, hồng nhợt. Những mái nhà nhấp nhô. Đưa tay xoa mặt, Đắc ra khỏi những ảo ảnh chập chờn...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #132 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 03:12:56 pm »

III
 

Căn nhà đá dài nguyên là kho muối của thổ ti Hoàng Văn Chao. Tường được xăm đá tảng, hơi ẩm và tối. Nhưng rộng thênh. Trổ thêm mấy cửa sổ, giờ nó thành hội trường lớn. Bước vào lòng căn nhà, Đắc bị quáng bóng tối. Anh chớp chớp mắt, đứng lại và có cảm giác bị bất ngờ: Đông quá! Có đến mấy trăm người. Mấy trăm con người đang ngồi xệp dưới đất kia hôm qua còn cầm súng bắn vào mình, còn trốn chui trốn lủi trong hang đá, góc rừng. Mấy trăm con người, xanh đen lòng nhà, lộn xộn tóc dài, hoa roi, trọc lốc, bù xù, cờm cợp, đủ hết các lứa tuổi, từ đứa trẻ dại tới ông già râu bạc. Tất cả đều rách rưới, hôi hám, mặt ai nấy đều tăm tối, ngờ nghệch, thiếu hẳn đi cái sáng láng của tư duy. Tách từng người ra, họ có tên tuổi, diện mạo, tính nết riêng, nhưng tập hợp lại mới thấy họ chỉ có chung một khuôn mặt, ô hợp, mê muội, bán khai. 

Trên cái nền đá mới tôn cao làm bục nói, có hai người. Một là Giống nặng nề, phục phịch và một người đàn ông nữa, vẻ lanh lẹn, sắc sảo.  Giống nói, giọng ngập ngừng: 

- Vàng A Chảo nó nói: Lử gọi nó ra lính, khi ấy nó đang đi cày nương. Con đàn bà Tây khám người nó bảo tốt, chọn nó vào lính rồi cho nó về Hà Nội học nhảy dù. Tập nhảy dù. Tập trượt. Tập cài dù. Tập mở dù. Tập ngã để không dập đầu xuống đất. Tập sai bị đánh, bị đá...

Mấy trăm gương mặt cùng nghếch lên. Người tên Chảo nói tiếp, nhưng tiếng nói mỗi lúc một méo đi. Rồi anh ta bỗng ngồi thụp xuống, hai tay úp mặt, tu tu khóc. Giống giơ tay ra hiệu mọi người yên lặng để anh phiên dịch lại bằng tiếng Kinh. Cả mấy trăm khuôn mặt phỉ đều gục cả xuống, và dường như cùng lúc, tiếng khóc như dàn đồng ca âm ỉ nổi lên khi người tên Chảo dứt lời kể khổ. 

- Chảo nó bảo - Giọng Giống tròng trành, mặt Giống hoen nước - Nó đã về nhà, Lử lại bắt nó lên rừng - ở rừng, cơm không có ăn. Khổ lắm! Một hôm, có người làng lên tìm, bảo: Con mày ốm đấy. Xin Lử, Lử không cho về. Tuần lễ sau, lẻn về thì thấy nhà vắng tanh. Thấy một con chó đang tha cái đầu con nó ở sân. Vợ nó phát điên, chạy lên rừng, ngã xuống vực, giờ chưa tìm thấy... 

Tiếng Giống chìm nổi rồi chìm hẳn. Tiếng khóc giờ nổi lên càng nức nở. Người ta gục trên đầu gối. Người ta đập đầu xuống đất. Người ta lăn trên nền nhà. Ai  oán, xót xa, tiếng khóc như từ tiền kiếp thê thảm vọng về.

Na kín đáo chùi mắt. 

Mắt Đắc khô lạnh đăm đăm. Còn những khổ đau nào nữa đang quằn quại ở khối người đông đảo kia? 

Kìa, thay chỗ Chảo là một ông già hom hem, lưng còng, mồm dẩu, đầu đội vành khăn to. Ông già vừa nói được mấy câu đã mếu xệch miệng như đứa trẻ bị đòn. 

- Cụ Cư Tráng Hoà ở Tả Van Chư nó nói nó đã sáu mươi tám tuổi - Giống dịch ra tiếng Kinh ngắc ngứ.

Na quay lại với Đắc: 

- Trong lớp có ngót ba mươi cụ trên sáu mươi tuổi bị bọn trùm phỉ mê hoặc, xúi giục cầm súng chống ta, anh ạ. 

Đắc cắn môi. Ông cụ bằng tuổi ông nội Đắc. Ông nội anh, mặc quần đũi, áo the đen ngồi trên cái tràng kể đọc Kinh Dịch và thơ La Phông Ten. 

Giọng Giống bỗng cao vống lên: 

- Cụ Hoà nó nói: Châu Quán Lồ bảo theo nó thì tha hồ nhiều gạo ăn, nhiều vải mặc. Thế là cụ Hoà cầm một khẩu súng, đeo một cái địu đi đánh Pa Kha. Một hôm có một bộ đội đi trong rừng. Cụ Hoà nó thấy bộ đội có đôi giày mới, thế là vác dao ra chém. 

- Trời! 

Na kêu lên một tiếng khẽ. Đắc đi xuống phía sau hội trường. Không ai để ý đến anh. Đám người nọ vẫn vật vờ kể lể nỗi thống khổ của đoạn đời lầm lỡ.

Lại một người nữa lên tố khổ. Lại một người nữa. Cái khổ, cái tội, chẳng ai giống ai, mà cũng chẳng khác nhau. Kìa, một chú bé. Mười ba tuổi, trán dô, choắt người, cao chưa bằng khẩu súng. Lồ ngồi trên ngựa hét: “Đất Hmông của người Hmông ta”. Chú bé nhảy cỡn lên. Được bắn thằng Kinh là thích rồi. Giết cả thằng Kinh đen là chủ tịch Seng nữa. Chính chú bé cầm một tảng đá nện vào đầu Seng, đầu Seng vỡ, óc Seng phọt ra bắn vào áo chú những vụn thịt đo đỏ trăng trắng. Kia là một gã trung niên. Gã có hiểu mô tê gì đâu là tự trị. Nhưng bọn sảo quán bảo: “Đánh Kinh lấy tự trị. Đánh Thổ lấy ruộng. Đánh thị trấn lấy muối”. Hắn tưởng tự trị cũng tương tự như một mảnh ruộng, một tạ muối... Thế là hắn lên ngựa... Lại một gã khác. Gã nói gã tin Lồ là người trời, theo Lồ vì Lồ có ngọc trời. Gã giữ súng máy, gã hẹn sẽ bắn chết một trăm người Kinh để Lồ phong cho chức sảo quán.

Vậy là trong cái đám người hỗn độn nọ, đã đủ mặt các hạng người tiêu biểu cho những lầm lỡ ngu xuẩn, những dục vọng hèn hạ của con người: thói đố kị, sự ghen ghét, lòng cuồng tín mê sảng về dòng họ, dân tộc, đầu óc lãnh chúa, mộng bá quyền hoà trộn với tính vụ lợi, thèm khát kim tiền của cải do đói khổ triền miên từ tiền kiếp ám ảnh. Tham vọng huỷ diệt lương tri đã được kích động. Sự khiếp hãi trước bạo lực và tính qui phục dễ dàng, bắt nguồn từ lòng sùng bái lãnh chúa, thủ lĩnh bộ tộc một cách thô sơ và mê muội, đã dọn đường cho tội ác.

Chao ôi! Con người bé nhỏ khốn khổ! Trong tay các thế lực hắc ám, họ là một con số vô nghĩa lí, là các đống thịt lót đường. Họ hèn mọn, bèo bọt, luẩn quẩn, không lối thoát. Phải mau mau giằng họ ra khỏi nanh vuốt của thú dữ. Con người đã biến thành ma vương, quỉ sứ, phải trở lại thành người, phải bước vào kỷ nguyên tự do, tự mình làm chủ lấy vận mệnh của mình, con người phải trong sạch, đẹp đẽ lên.

Đắc nghĩ, hào hùng và giận dữ. 

Đi tới cạnh Na, anh nói khe khẽ: 

- Đồng chí cho anh em tiếp tục kể khổ. Xong, tổng kết, phân tích rõ nguyên nhân cho anh em hiểu rõ. Đặc biệt cần cho anh em thấy âm mưu thâm độc của bọn đế quốc. à, anh em ăn uống thế nào? 

- Báo cáo anh, quân nhu bên chủ lực có để lại kha khá gạo. Còn đồ hộp thì Tây thả dù lấy được còn nhiều. 

- Săn sóc anh em chu đáo nhé. Thôi, mình về. Tối nay, ta họp ban cán sự. 

Đắc bước ra ngoài. Gió chiều lạnh tê mặt. Anh giụi giụi hai con mắt; tưởng như anh vừa thấy lại những hình ảnh của một thế kỷ đã qua.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #133 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2010, 03:24:28 pm »

*
Bước vào trụ sở ban cán sự, Đắc xô ngay vào Khả đang chạy ra.  

- Úi! Anh Đắc! một ca hiếm có chưa từng thấy!  

- Cái gì thế?  

- Thằng vệ sĩ của Châu Quán Lồ nó về hàng ta.  

Đắc bước vào nhà. “Thằng vệ sĩ của Châu Quán Lồ. Có thật thế không?”. Giữa phòng Khả, một gã thiếu niên mặc áo lanh chàm, đội mũ Nhật đang ngồi. Tay nó cầm cái cờ trắng. Người nó ướt rượt. Quái, lá cờ là một chiếc khăn tay thêu đôi chim và một hàng chữ: “Thương nhớ anh, người chiến sĩ hùng anh”. Nó còn trẻ, cao nhong nhỏng, mặt như chưa hề vương tội lỗi, má lông tơ, hai mắt cách xa nhau, van vát. Nét nào phản ánh sự cuồng nhiệt háo hức của nó?  

Đắc kéo cái ghế, ngồi trước mặt gã thiếu niên:  

- Tên là gì?  

Gã ngẩng lên, tiếng Kinh rất rành rọt:  

- Dạ, tên em là Phừ.  

- Bao nhiêu tuổi?

- Dạ, em mười bảy.

Mười bảy! Mười bảy! Dư trí khôn rồi, đâu có còn là lứa tuổi ngu dại? Đúng là thế. Không đợi Đắc nói, nó đã tiếp:  

- Em cũng họ Châu, cùng làng với ông Lồ. Em thích ông Lồ. Vì ông làm quan to, tài giỏi mà không xa cách mọi người. Ông Lồ bảo gì, ai cũng làm theo. Em theo ông ấy làm vệ sĩ. Nhưng dần dần không thích ông ấy nữa.  

- Tại sao không thích?  

Tên vệ sĩ cúi đầu:  

- Ông ấy ác quá. Bắn chết một đứa trẻ trên núi Chè Can Chư Sủ.  

- Ô! - Khả kêu.

- Giết chết người lại giấu đi. Lại lấy chị dâu nó làm vợ. Ông ấy còn giết chủ tịch Seng, ác lắm. Một anh bộ đội đưa thư đến cho ông ấy, ông ấy cũng giết. Ông ấy làm cho em khinh.  

- Bộ đội tên là Tích có phải không?  

- Em không biết.  

- Kể tỉ mỉ xem...  

Gã thiếu niên vừa nói vừa tìm chữ. Mặt Đắc đỏ sậm. Có thể tin nó được. Những chi tiết đều khớp với những gì Đắc đã thu nhận được hôm rồi bên Pha Linh.  

- Thế chú có ý định bỏ Lồ từ bao giờ? Đắc hất hàm.  

Gã thiếu niên liếm mép:

- Từ lúc Lồ giết đứa bé ở núi Chè Can Chư Sủ. Nhưng thật lòng là lúc Lồ giết anh bộ đội. Em khiêng xác anh ấy đi chôn, thấy cái khăn trắng này. Khăn này anh ấy dùng để đi vào Pha Linh. Em cất cái khăn đi.  

- Sao không sang hàng lúc bấy giờ?  

- Lúc ấy Lồ canh gác nghiêm lắm, đi sao được ạ!  

- Đợi cho nó tan rồi mới sang hàng à?  

- Không phải thế. Em tìm cách chạy rồi, nhưng không được. Cuối cùng em phải liều. Không thể sống với ông ấy được. Cô Seo Váy yêu ông ấy. Ông ấy lại nghi ngờ cô ấy. Lại nghe mụ A Linh.  

“Hay là gã ghen với Lồ?” Đắc thoáng nghĩ, lại bỏ qua.  

- Thế A Linh là người thế nào?  

- A Linh thâm lắm.  

Đắc gật đầu:

- Được rồi, thế Lồ có ngọc trời cho không?  

- Làm gì có.  

- Có, nó giấu ở trong nách ấy, chú không biết thì có.  

- Đâu! Em tắm với ông ấy luôn mà. Nách chỉ có lông thôi.  

Đắc cười:

- Dạ, bị bộ đội đánh, quân ông ấy tan tác. Các sảo quán đứa chết, đứa bỏ chạy. Chỉ còn ông ấy với Seo Say, A Linh và Sùng Seo Lùng cùng một ít quân chạy về Ô Tô Chải. Rồi xuống sông Chảy... Nhưng em đoán...  

- Đoán thế nào?  

- Thế nào Lồ cũng về quê. Có chết cũng chết ở đất quê. Ông ấy vẫn bảo thế.

Keng keng keng... Kẻng báo động máy bay trên đỉnh núi chợt giật liên hồi. Ngoài phố, tiếng chân người chạy thình thịch. Đắc bảo Khả đưa gã vệ sĩ xuống gặp Na, dặn Na bố trí cho gã kể hết tội Lồ cho anh em lớp cải tạo nghe. Rồi anh gập cái khăn tay trắng - vật lưu niệm cuối cùng của Tích, cho vào túi ngực, đi ra cửa. 

Phía tây trong ráng chiều đỏ ong, có tiếng máy bay ầm ì. Nó đánh thị trấn? Đắc chạy ngược lên núi, phía nghĩa trang liệt sĩ. Vụt qua đỉnh núi, hai cái cổ ngỗng lượn vòng. Nó đánh thị trấn thật rồi. Đắc cúi đầu. Một chiếc máy bay đã lao xuống. Tằng tằng tằng... 

Hết loạt đạn, anh ngẩng lên. Có thể thằng giặc muốn đánh lạc hướng. Anh nghĩ. Bỗng giật thót mình. Dọc theo sông Chảy, một chiếc đa-cô-ta gần như tắt máy, lừ lừ bay như con diều hâu đang dang cánh giữa hai triền núi lam. 

“Nó đi tìm Châu Quán Lồ!”. Anh nghĩ, lại chúi đầu xuông dưới hầm tránh đợt oanh kích tiếp theo của chiếc máy bay thứ hai. 

Ngẩng lên lần này, anh không nhìn thấy chiếc đa-cô-ta đâu nữa. Nó đã mất hút. Anh chú ý tới một hiện tượng khác, cũng rất lạ: một bóng phụ nữ áo đen, giữa lúc máy bay gào rít, chạy lên nghĩa trang. 

Lát sau, máy bay giặc đi, anh nhìn thấy người phụ nữ nọ ngồi im bên một nấm mồ, y hệt cảnh tượng hôm nào anh đã gặp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #134 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 07:56:32 am »

IV  


Nàng vẫn đến bên anh đều đặn ngày hai bận. Buổi sáng lúc bình minh hé và buổi chiều, hoàng hôn hung đỏ màu lá chết. Nàng đến với anh đều đặn, kể cả khi thời tiết thất thường, bất chấp cả lúc bom rơi đạn nổ. 

Đó là những thời khắc thiêng liêng nhất của đời nàng. Nàng sửa sang phần mộ anh. Nàng dựng mộ chí cho anh. Nàng thắp hương, đặt hoa trước mộ anh. Anh không chết. Anh vẫn sống mãi trong tâm khảm nàng. Đó là những giờ phút nàng sống lại với quá khứ đẹp đẽ, trong trắng nhất của đời nàng. Nàng bồi hồi sung sướng và nhỏ lệ sám hối về sự phản bội của mình. Nàng van xin anh tha thứ cho nàng. 

Chiến tranh lại đến với cái thị trấn đã xác xơ vì giành giật này rồi. Máy bay Pháp vài ngày lại oanh tạc một lần. Giữa những phút ngớt tiếng bom đạn lại xôn xao bao tin đồn thất thiệt. Phỉ Châu Quán Lồ lại nổi dậy chỗ này chỗ kia. Nàng linh cảm thấy đời mình lại sắp rơi vào một cơn sóng gió mới.

Đó là những ngày khắc khoải nhất của Nguyệt. Từ buổi sa vào tay Vận, bỏ lại mối tình với anh chiến sĩ Tích, rồi sau cuộc chạy trốn mà không thành, nàng đã trở thành một người đàn bà tuyệt vọng và thụ động. Tự coi mình là người qua tay Vận gây nên cái chết vô nghĩa lí cho Tích, vả chăng mọi người trong thị trấn cũng đều nghĩ thế, nàng thấy mình thật ê chề xấu xa. Vận đồi bại, mấy tháng nay mất hình mất dạng. Nhưng, nàng hiểu, nó chưa chết thì nó còn về. Nó sẽ còn quay về đây, vì nó còn ham muốn, vì nàng là vợ nó. Lúc hỗn loạn là lúc nhe nanh vuốt của bọn bất lương. Thành ra, nàng sợ hãi khi máy bay Pháp bắt đầu bắn phá thị trấn. Nàng sợ Vận sẽ trở về. 

Và Vận đã trở về!

Điều nàng nghĩ tới và cố xua đi đã thành sự thật. 

Bẽ bàng thay, ấy là một đêm, sau buổi nàng thắp hương trên mộ Tích và ngồi với anh thật lâu vì tiên cảm thấy cuộc chia ly đã sắp tới gần, nàng giật bắn mình vì những tiếng gõ cửa gấp gáp.

Vận đã về. Cái thằng dùng đủ mưu chước để chiếm nàng làm vợ, chưa chết. Thoát khỏi đòn thù của dân Can Chư Sủ, hắn đã chạy qua những đâu; bò lê, rúc ráy ở những bụi bờ nào, gây ra những chuyện kinh thiên động địa gì nữa, nàng không biết, nhưng giờ đây hắn xuất hiện trước mắt nàng thì thật là trơ tráo, gan lì và hôi sặc. Tóc hắn dài đến vai. Râu hắn tua tủa. Mắt hắn hun hút, trắng dã, áo hắn mặc là cái áo lính ngụy, với bốn năm cái túi căng phồng thuốc phiện. Vồ lấy nàng, đè rập nàng ngay trên sàn nhà, bất chấp cái thai bốn tháng của nàng, hắn chỉ dừng cuộc hành lạc khi đã thoả mãn cơn khát thèm. 

- Sửa soạn đi, Nguyệt. Ta đi ngay đêm nay em ạ.

Chồm dậy, từ xác thân, phó mặc cho số kiếp của Nguyệt, Vận nói. Nguyệt lẳng lặng thu dọn đồ đạc. Bạc vàng, thuốc phiện đã ních đầy vào hai cái tay nải. Hắn vuốt má nàng.

- Vui lên chứ em. Bồng lai tiên cảnh ở phía trước chúng ta rồi.

Nguyệt không nói, nàng dửng dưng. ờ thì đi. Nguyệt đã được cởi thoát khỏi danh dự, mộng ước và cả bản năng hổ thẹn của đàn bà rồi. Nàng sẽ đi với hắn. Trước hết là để thoát khỏi nơi đây. Mảnh đất này sao để lại cho nàng nhiều tủi hờn, đau xót quá. Nàng không muốn nhìn thấy nó nữa, tuy nàng sẽ nhớ mãi nó. Từ nơi xa, nàng sẽ nhớ về nó. Từ nơi xa, nàng sẽ sống một cuộc đời khác. Không phải là bồng lai tiên cảnh đâu. Nàng không thể sống với cái đứa đã hủy hoại đời nàng. Nó không phải là chồng nàng. Nàng  dựa vào nó để đi qua một đoạn đường chông gai. Rồi nàng với nó sẽ chỉ là hai đứa chung vốn mở một cửa hàng. Rồi nàng sẽ tách khỏi nó. Nàng sẽ nương nhờ nơi cửa Phật từ bi để sống với đời thanh tịnh, không ước muốn, thèm khát, nàng chỉ sống với những kỷ niệm như những đốm sáng lung linh của một mối tình đầu với Tích mà thôi. Nàng sẽ như thế. Như các cô gái lỡ thời, tuyệt vọng trong các tiểu thuyết lãng mạn nàng đã được đọc từ hồi còn đi học ở Hà Nội.

Nghĩ vậy, nên Nguyệt lẳng lặng theo Vận. Qua nghĩa trang, nàng đưa mắt biệt li Tích rồi cắm cúi bước. 

Trời đêm không sao, giá lạnh. Chốc chốc lại một tiếng súng nổ vu vơ. Họ đi chậm vì len lỏi giữa các khe núi. Mỗi người một tay nải. Vận mặc bộ quần áo bà ba gụ. Nguyệt, quần áo đen, thêm cái áo len xanh. Trông họ giống như một cặp vợ chồng tản cư.

Đi được một quãng, Vận dừng chân, nghe ngóng. Lần này, hắn có vẻ tinh khôn và thông thạo. Trời sáng, hai người nghỉ lại. Tối mới lại lên đường. Đi đêm, đường lại là đường tắt, đường rừng, nên thật sự họ cũng không thật hiểu rõ là đã đi được bao nhiêu đường đất và hiện ở đâu. 

Tảng sáng ngày thứ ba, đang đi Vận bỗng dừng lại. Có tiếng nước xô ào ạt. Vận leo lên một cành cây rồi tụt xuống: 

- Ta sắp thoát rồi, em ơi! Sông Chảy kia rồi. 

Không thấy Nguyệt hưởng ứng, hắn quay lại. Mặt  Nguyệt nhợt nhạt. Nàng đã kiệt sức. 

- Em mệt quá. 

- Mệt thế nào? - Vận gầm ghè. 

Nguyệt vội lắc đầu. 

- Không... đỡ rồi... Nhưng em sờ sợ thế nào ấy. 

Vận nhìn lướt bụng Nguyệt, mắt đỏ cặn: 

- Cô mà dở chứng ở đây thì cô giết tôi. 

- Thôi đi... 

- Cái gì? Hay là cô muốn quay lại? 

- Mặt mũi nào mà quay lại nữa!

- Hừ, tao biết bụng dạ mày rồi 

- Anh ăn nói lạ nhỉ? 

- Chứ lại không à. Lôi thôi, ông bắn tan xác. 

- Trời ôi! 

- Kêu nữa đi, con đĩ. Ông thừa biết mày đã mất trinh với thằng Tích. Mày đã tằng tịu với bao nhiêu thằng rồi? 

Vận xô lại, giang tay. 

Nguyệt ngã giúi xuống đất. Sợ hãi, Vận vội cúi xuống đỡ nàng thì nàng gạt tay hắn, đứng lên. 

- Anh không được giở cái thói vũ phu với tôi. Bằng không thì anh đi đường anh, tôi đi đường tôi... 

Vận xẹp người. Hắn hiểu: Đừng nên quá đà. 

- Thôi, anh nóng, đừng giận anh. Em phải hiểu là anh đang rất lo lắng. Giờ ta ghé vào đây làm lán nghỉ. Rồi anh tìm đường đi tiếp.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #135 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 08:09:31 am »

Họ dựng lán trong một góc rừng vầu. Ăn gạo rang xong, trời sáng hẳn. Vận đi. 

Đi được một quãng, ra khỏi chỗ rừng rậm, Vận bỗng ngồi xuống, nghiêng nghé nhìn lên trời.   

Có tiếng máy bay rền rền. Hắn thụp đầu xuống. Rè rè... tiếng động cơ dội vang mặt đất. Một chiếc đa-cô-ta sà qua mái rừng, thấp đến nỗi lá vầu tung lên phơi phới. Hắn ngẩng lên, nhận thấy chiếc máy bay đã vòng trở lại và bên kia khu rừng, gần chỗ hắn ngồi, bỗng bục một tiếng súng nổ, và vút lên trời một vệt sáng xanh. 

“Chết thôi, rơi vào ổ phỉ rồi”. 

Vận vùng trở lại lán, mặt cắt không còn hột máu. 

- Nguyệt ơi, làm thế nào bây giờ? Tiên sư thằng thổ phỉ, nó tràn cả ra đây rồi. 

Nguyệt cuống cuồng. Nàng ngã lên ngã xuống, mệt đứt hơi. 

- Nhanh lên, con khốn nạn, mày hại ông! 

Được một quãng, Vận quay lại rít. Nhưng hắn bỗng đứng khựng người. Hai cái tay nải rơi bịch xuống đất. Nguyệt thét lên một tiếng, mặt dại đờ. 

Trước mặt, bên trái, bên phải hai người, tựa như từ dưới đất mọc lên, gần mười tên phỉ áo đen, quần đen, dăng hàng chắn lối.

- Em lạy các ông, em cắn rơm cắn cỏ em lạy các ông. Vợ chồng chúng em là dân làm ăn buôn bán... - Vận quỳ xuống đất, líu lưỡi. Một tên phỉ béo lùn tiến đến, điềm nhiên xách hai cái tay nải lên, thọc tay vào. Nguyệt đứng cứng ngắc. Thật hay mê ngủ đây? Tiếng máy bay vỡ cả nhĩ. 

Tên phỉ béo, lùn xói vào mặt Nguyệt: 

- Tằng chếnh  (Tiếng chửi). Sao chúng mày nhiều vàng bạc thế? 

- Sảo quán Lùng! Có cả thuốc phiện! - Một tên đổ cái tay nải, kêu. 

- Há! Thuốc phiện! 

- Đ.mẹ, nó ăn cướp. Thằng Kinh ăn cướp! 

Bọn phỉ lao nhao.Một thằng trai trẻ nắm tóc, giật ngược mặt Vận lên: 

- Tôi nhận được mặt thằng này. 

- Nó là gì? 

- Nó là Việt Minh. Nó giết người ở Hầu Thào! 

- Hú! Trói chúng nó lại! 

Bỗng tên béo lùn quay cổ lại: 

- Na nủ Lồ! Bắt được hai tên Việt Minh.

Lồ từ bờ xuối đi lên. Mặt Lồ hầm hè, đỏ gắt. Hai sườn khệnh nệnh hai khẩu côn. Đã gần tháng nay, Lồ và đám tàn quân chạy khỏi Pha Linh thất thủ, ẩn náu, hoạt động ở khu rừng bên bờ sông Chảy này. Trong hắn giờ là một khối thuốc nổ. 

- Trói chặt nó lại. Cả con đàn bà kia nữa. 

Lồ quát. Không để ý Nguyệt đã khụyu chân ngất xỉu. Hắn ngước con mắt độc nhất giận giận giữ lên trời: 

- Đ. mẹ thằng Tây. Sao nó không thả dù. Bắn súng hiệu nữa đi. 

- Đốt lửa na nủ Lồ nhé! 

- Không được đốt lửa! Tìm chỗ trống, trải hai mảnh vải chéo nhau xuống. 

Trên trời, chiếc đa-cô-ta đang nới rộng vòng liệng...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #136 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 08:28:23 am »

V
 

Chiếc đa-cô-ta liệng vòng. Tên hoa tiêu quay lại:  

- Thưa thiếu tá, vẫn chưa tìm thấy ám hiệu ba đống lửa.

- Tăng độ cao lên! Bay về Lao Pao Chải!  

Phơ-rô-pông đáp, ngó xuống lỗ cửa tròn. Rừng ngờm ngợp. Núi lừng lững những lượm sóng. Máy bay lên cao. Đôi cánh nó rung rung, vùn vụt bay ngược lại những dải mây trắng. Đất rừng càng thăm thẳm, mịt mùng. Mắt Phơ-rô-pông như hai ngọn đèn xanh săm soi.  

Lao Pao Chải, quê Lồ, một bãi cỏ xanh rờn. Dê ngựa chạy nhốn nháo. Không có lửa đốt. Không một tín hiệu chào đón. Lồ đâu?  

Chiếc máy bay bỏ đất quê Lồ, vòng trở lại. Phơ-rô-pông nhận ra từng vẻ quen thuộc của mỗi xóm làng. Hắn đã mòn gót giày ở xứ này. Chiếc máy bay cũng đã hàng trăm lần bay đến những nơi này. Tả Van Chư, một thung lũng hình ngôi sao. Lũng Phìn, một rẻo đất phẳng. Trấn Pa Kha như cái mu rùa. Can Chư Sủ, bãi đá trơ trọi, nơi Phơ-rô-pông đã đến chơi hội leo núi và sau đó là cuộc tình với Seo Váy mặt trắng ngực bụ như đầm. Quen thuộc cả dưới cánh bay mà nay trở nên xa lạ: không một bóng hình chờ đợi.

Vòng lượn của chiếc đa-cô-ta nới rộng hơn. Sông Chảy mất hút. Đất mênh mông như đại dương. Phơ-rô-pông đưa mắt. Đã có thể hình dung ra tất cả những gì đang hiện ra dưới hai sải cánh đuya-ra rồi. Lao Cai và Sơn La... Long Chẹng và Huổi Sai của đất Ai Lao. Miền Nam đất Tàu. La-si-ô, Chiềng Rài, Chiềng Mai, đông bắc Miến Điện, bắc Thái Lan. Những cái đinh chốt của một vùng tam giác, cái tam giác vàng, choán toàn triền núi cao biên giới của năm nước! Chao ôi! Đức Chúa Trời quyền năng và cao cả, người an bài sao mà khéo vậy: nơi đây năm triệu dân Hmông sống tập trung theo từng dòng họ, chẳng theo về một Tổ quốc nào nhất định. Đức Chúa Trời tinh khôn và ghê gớm, người đã dùng quyền phép gì để khiến nơi đây sản ra thứ sản vật trứ danh độc đáo nhất hoàn cầu: thuốc phiện! Ôi, thuốc phiện, vàng từ thực vật chảy ra. Vàng mang sắc đen!

Chao ôi! Khu tam giác vàng! Tưởng như đã có thể ngửi  thấy mùi thơm say say của khói thuốc đọng trong các tầng mây của xứ sở này! ở đây, một ki-lô-gam cái sản phẩm ưu đẳng độc nhất vô nhị đó chỉ có bốn mươi đô-la. Thế mà tới Băng Cốc, Sài Gòn, Hồng Kông... qua chế biến thành moóc-phin, giá nó đã đội lên năm mươi đô-la, còn thành hê-rô-in thì vọt lên hai nghìn rưỡi đô-la. Và ở Mĩ, của quý ấy năm mươi nghìn đô-la một ki-lô-gam cũng vẫn là rẻ.

Người Mĩ đã ngửi thấy hơi nha phiến này từ lâu rồi. Cuối 1950, họ đã xin với Cao uỷ Pháp ở Đông Dương cho phép một phái đoàn của họ tới đây để học tập kinh nghiệm tổ chức các lực lượng vũ trang của các dân tộc thiểu số. Chẳng hiểu có phải vì vị cây dây cuốn mà đại tướng Đờ-lát đờ Tát-xi-nhi lại nhiệt liệt hoanh nghênh và chỉ thị cho thiếu tá Tờ-ranh-ki-ê, bạn đồng khóa của Phơ-rô-pông, chỉ huy cơ quan tình báo đối ngoại và phản gián SDECE ở Đông Dương, phải cộng tác chặt chẽ với phái đoàn Hoa Kì này? Họ đã ở Đông Dương sáu tuần, đi thị sát các vùng biên giới và nghe cả Phơ-rô-pông thuyết minh về cách tổ chức “nghĩa binh” Hmông.

Phơ-rô-pông đã thấy ngay lúc đó là tướng Đờ-lát ngu! Người Mĩ chỉ là những tên moi móc, đánh cắp tài liệu thôi. Họ thực dụng lắm. Họ không bỏ qua vùng tam giác vàng này đâu.

Quả nhiên, người Mĩ đã tuyên bố: “Bỏ tất cả ở đây được, trừ người Hmông”. Vậy là rõ rồi. Người Hmông! Cái đám dân ở ngã tư ngã năm biên giới này, những anh nông dân canh tác thứ cây vàng, những lưỡi lê xung kích sẵn sàng nổi loạn thành một lực lượng vô cùng lợi hại vì họ đã có sẵn có mối hờn căm của kẻ chiến bại và hiện vô tổ quốc, vô lãnh thổ, không thủ lĩnh! Người Hmông, Phơ-rô-pông đã nhìn ra chân dung họ. Người Pháp đã thấy vai trò của họ. Dòng họ Tu-bi và gã hạ sĩ quan Vàng Pao đã được nuôi dưỡng ở Ai Lao. Và Châu Quán Lồ đã được phong thủ lĩnh khối “nghĩa quân” rẻo biên cương Trung - Việt.

Nhanh tay lên! Tam giác vàng, miếng mồi ngon béo đã ở trước mõm các thế lực. Người Mĩ đã thọc tay vào dân Mẹo ở Ai Lao. Người Anh khôn ngoan lõi đời chinh phục Miến Điện xong đã kịp thời truyền đạo Crix-tô cho các bộ lạc Mẹo ở xứ này, rồi lại bỏ tiền của làm con đường rồng rắn một nghìn ba trăm cây số từ đất Miến sang đất Tàu, ròng rã từ 1937 đến cuối 1939 mới xong. Tàu trắng thèm rỏ dãi nha phiến xứ này, hẳn rồi.

Chiếc máy bay lại thu hẹp vòng lượn.  

Những ý nghĩ trên lại một lần nữa thiêu đốt Phơ-rô-pông. Y gằm mặt xuống lỗ cửa tưởng như muốn gào gọi trong không gian bao la: Châu Quán Lồ, ngươi ở đâu?

Châu Quán  Lồ! Ngươi ở đâu? Châu  Quán  Lồ! Người sẽ là vua, chúa cai quản cả xứ tam giác vàng này! Nhưng giờ người ở đâu? Châu Quán Lồ! Ngựa bất kham! át chủ bài! Hãy đốt ba đống lửa lên như lời răn dạy để cha các ngươì thả đồ ăn thức uống, súng ống đạn dược và những lời ban khen xuống cho các người. Hỡi Châu Quán Lồ!

Phơ-rô-pông đứng dậy, Mặt hắn dài nhão ra. Vô lý quá thể! Tại sao Pha Linh, Can Chư Sủ lại có thể rã ra nhanh như thế được? Chòm râu vàng suộm như bị cháy của hắn cứ giật giật liên hồi.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Ba, 2010, 08:35:14 am gửi bởi hoi_ls » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #137 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 08:39:07 am »

*
Đó là chiếc máy bay của GCMA. Người ta có thể nhận ra  trên nó, trong chuyến bay, có đủ các thành phần tiêu biểu của tổ chức này. Các sĩ quan quân báo, các sĩ quan tình báo của lục quân, của lính nhảy dù. Các đại biểu của ngụy quân, ngụy quyền và Quốc dân đảng Trung Hoa. 

Nỗi buồn bực của Phơ-rô-pông càng tăng khi y nhận ra rằng bọn cùng đi với y không hề tỏ ra sốt sắng như y đối với cuộc tìm kiếm Châu Quán Lồ.

Ở đuôi máy bay, tri trâu La Văn Đờ đang thì thầm cái gì với gã Lý Kiêu Đương cao lều nghều như con đà điểu. Tất cả lũ thổ ty Phơ-rô-pông đem đi, giờ đã đánh bài lảng cả. Ba anh em Nông Vĩnh Yêng mê mải đường doanh nghiệp. Hoàng Văn Chao và con y vùi đầu vào tài sửu, tổ tôm cùng bọn nhà thổ trong các xóm bình khang. Chỉ còn lại Lý Kiêu Đương và La Văn Đờ. Ôi, Đờ, thủ lĩnh già nua, dẫu y có mộng vương mộng bá thì lực cũng bất tòng tâm rồi. Phải là Châu Quán Lồ! 

“Hỡi Châu Quán Lồ! Chẳng lẽ tình hình lại bi đát đến thế này ư?” 

Cạnh Phơ-rô-pông sôi sục, Xì Xám Mần nhơn nhơn vui vẻ trong cơn say mơ màng. Xì Xám Mần, cũng lại một khối mỡ bùng nhùng, viên chỉ huy quân đoàn 99 Tưởng Giới Thạch. Y sẽ nhảy xuống với Lồ để thu thập lại mấy ngàn lính đã tan rã ở vùng này. Sao y lại có thể dửng dưng như thế nhỉ? Ôi, chao, y hát, giọng lí nhí phát ra từ cái cổ béo nứt. Hết bài “Hà nhật quân tái lai” lại lảm nhảm mấy câu Tảo hành lạc:

Hôm nay có rượu, hôm nay say
Ngày mai không tiền mai hãy hay
Trời đất xoay vần ta chẳng quản
Hãy tận hưởng cảnh đời nguyệt hoa.


Khốn nạn! Không lẽ Phơ-rô-pông lại quát tháo, chửi bới bọn chúng. 

Phơ-rô-pông cố ghìm nén cơn giận. Y lại cúi xuống ô cửa nhỏ. Lòng y quặn thắt. Và những ý nghĩ lại sùng sục sôi cháy trong đầu. 

“Châu Quán Lồ ơi! Nếu ngươi có mệnh hệ nào... ôi thôi... Ta không dám nghĩ đến nỗi tuyệt vọng ghê gớm ấy. Hãy bật lửa lên, Châu Quán Lồ. Hay là ngươi giận ta? Ta biết dòng máu ngang tàng, rừng rú của ngươi. Ngươi còn không thèm đến dự cuộc ăn thề khi chia tay của ta kia mà? Nhưng, ngươi hiểu lầm ta, hiểu lầm người Pháp cha đẻ của ngươi. Ta đã dốc lòng với ngươi. Ta cũng như ngươi, một dòng máu Hmông, cuồng tín, bất chấp...”. 

- Thưa ngài... 

Có tiếng nói ở phía sau. Viên thiếu tá quay lại. La Văn Đờ vừa từ đuôi máy bay đi lên, tay vịn vào thành ghế. 

- Tôi e rằng... na nủ đã gặp nguy biến... 

- Không! Phơ-rô-pông gạt phắt. 

- Tôi chỉ ngại na nủ nóng nảy.

- Chính vì vậy mà ngài đã phải để bà ba ỏ lại để kìm na nủ - Phơ-rô-pông nhếch mép, cay nghiệt. 

- Dạ, thưa không - Đờ lắc đầu, lạnh nhạt - Đó chỉ là vì mối tình riêng, thuần tuý là tình. Ngài xem... tôi đã có tuổi.

Phơ-rô-pông hất đầu, quay đi. Hừ! Khốn nạn! Các ngươi đầy bụng âm mưu nham hiểm. Ta còn lạ gì. Các ngươi, các ngươi đang muốn bán tên Hmông chột này cho ai, ta còn lạ gì. Thôi đi! Các ngươi đừng có hòng. Lồ là của ta! Lồ là một minh chứng cho thuyết lý của ta: xứ Hmông thuộc về một lớp trai Hmông tài năng lỗi lạc, dân dã, hoang dại. Không phải là thời của ngươi nữa rồi, hỡi súc thịt già kia ơi! 

Phơ-rô-pông đã tới cực điểm cay cú. May thay lúc đó, đúng lúc đó, tên hoa tiêu reo: 

- Thưa thiếu tá, đã bắt được ám hiệu! 

- Đâu? Đâu?... 

Y chõ mắt xuống ô cửa tròn. Dưới đất, giữa khoảng rừng trống, có hai tấm vải bắt chéo hình chữ thập.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #138 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 09:27:00 am »

*
- Sao không thả dù, hả? - Tiếng Lồ cộc cằn trong máy nói. 

- Chào na nủ thân mến - Phơ-rô-pông thở phào, đưa tay quệt mồ hôi trán - Đó chỉ là vì lí do kỹ thuật. 

- Thả ngay xuống đi! Chúng tôi đói đã hai tuần nay rồi. 

Phơ-rô-pông nhún vai, mỉm cười: 

- Sẽ thả ngay. Sẽ thả ngay. Na nủ có khoẻ không? 

- Tổ chim bị phá còn cái trứng nào lành được. 

- Tôi hiểu. Tôi hiểu. Hiện giờ thế nào? 

- Chúng tôi còn độ 100 người. 

- Những anh em khác đâu? 

- Tan tác hết rồi. Các sảo quán bị chết, bị bắt gần hết. Giờ chỉ còn Sùng Seo Lùng cạnh tôi. Súng còn nhưng đạn sắp hết. Điện đài to bị hỏng. Lương thực thì phải đi cướp mới có ăn. 

- Chúng tôi sẽ đảm bảo tiếp tế đầy đủ.

- Phải cho máy bay lên nhiều nữa thì quân lính tôi mới khỏi hoang mang. Hiện thời ngày nào cũng có đứa bỏ trốn về hàng Việt Minh. Thằng vệ sĩ của tôi cũng bỏ tôi rồi. A lô! Có nghe rõ không? 

Hình như có tiếng súng bắn lên. Chiếc máy bay rướn lên cao, lảng ra xa. Lồ gào trong ống nói. Lát sau nghe tiếng Phơ-rô-pông ráo riết: 

- Na nủ nghe tôi dặn: Không được ngồi một chỗ. Phải đánh du kích! Thuận lợi thì quấy rối. Có điều kiện thì chiếm loang rộng, tạo thế liên hoàn... A lô! Có biết ông Giàng A Lử ở đâu không? Quan hai Lử hiện ở đâu? Cho tôi nói chuyện với sảo quán Lùng.

Máy đột ngột tắt. Phơ-rô-pông lắc đầu cười mép. Lồ là thế đấy. Máy bay sà xuống thấp, từ đuôi nó đã tung ra những chấm dù trắng loá. Lát sau, những chấm dù nở, to phình, lửng lơ. Lẫn trong đám dù ấy có một cái dù đỏ và hai cái dù xanh. Đó là dù thả viên sĩ quan quân đội Tưởng: Xì Xám Mần và hai nhân viên điện đài.


VI
 

A Linh ngồi, chân quặp về một phía, áp xuống phiến đá Lồ ngồi. Hai cái lông mày nhỏ ti vỏng lên như râu con xén tóc, nhay nháy: 

- Họ thả xuống 11 cối 60 li, 2 đại liên, 49 trung liên, 25 tiểu liên, 500 súng trường, 20 vạn đạn, 5 vô tuyến điện, na nủ à. Còn gạo, đồ hộp... đúng 50 dù. 

Lồ kéo cái vật áo lanh phẩy lên mặt. Hừ! Thật là một cuộc tiếp tế vĩ đại! 

Người đàn bà cười khanh khách: 

- Đừng buồn nữa nhé, hổ tướng của em. 

- Nhưng mà tôi bực ông Phơ-rô-pông. Ông ấy hỏi thằng Lử! Hứ! Ông ấy dặn tôi không được ngồi một chỗ, phải đánh du kích... Coi tôi không bằng con chó, cho ăn rồi bắt đi săn. 

- Hé hé... 

Ả đàn bà cười nghiêng vành môi, xoè cái quạt lụa, phẩy vào mặt Lồ. Lồ thế đó. Chạm tự ái là bất kham ngay. Y như con ngựa hay, nhưng hay cắn hay đá chủ. Chủ nó là ai? Chủ nó là kẻ biết hóa thân vào chính nó kia, làm sao cho nó phi theo ý thích của nó, bằng chân của nó mà lại đưa chủ tới đích. A Linh nghĩ.

- Na nủ à... Đông có hoà với Tôn Quyền, bắc mới cự với Tào Tháo được chứ. Người Tây khác mình, có như mình với người Hán là hạt đỗ trong quả đỗ được đâu. 

Lồ quay đi, hỉ mũi. ả đàn bà vừa nói gì. Lồ hiểu lơ mơ. Hắn làu bàu: 

- Nó còn thả cái gì nữa? 

- Một cái bản đồ. 

Ả đàn bà mở tấm giấy gập, xoè trên phiến đá. Lồ ngồi lui lại, con mắt lành chúc xuống. A! Cái bản đồ xứ Hmông. Cái tam giác vàng người Tây hay nói tới. Đường này đi Ai Lao. Xứ Hmông ta bao la.

Nhưng Lồ bỗng giật ngửa cổ ngẩng dậy. A Linh vừa làm một động tác hết sức bất thần. Ả kéo xoạt cái bản đồ về mình, vò lại trong đôi tay đầy ụ những nhẫn vàng, nhẫn ngọc. 

- Kìa! Sao lại thế? 

Ả đàn bà không trả lời, xoẹt cái bật lửa.

- Sao lại đốt? 

Lồ kêu thảng thốt. Lửa đã ôm trọn cái bản đồ. 

- Không cần! - Thả cái cuộn lửa xuống đất, ả đàn bà ngửa cổ, cười rung bầu ngực.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #139 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2010, 09:40:12 am »

Lồ liếm môi, bứt rứt, quay mặt đi, thở hắt ra. “Hừ, nó không muốn mình chạy sang Ai Lao. Cũng y như nó đã xé lá thư của Việt Minh, nó không muốn mình liên hệ với họ”. 

A Linh vẫn cười. Cười nghiêng ngả, vui thú. Ghê gớm thật, đã có ả đàn bà nào như ả chưa? Giờ thì chẳng giấu giếm gì nữa. A Linh đây, cái mặt son phấn kiều diễm, lộng lẫy. A Linh đây. Vợ ba tri châu La Văn Đờ. Nhân tình na nủ Châu Quán Lồ. Tất cả chỉ là cái vỏ bên ngoài thôi. Ả là một đại biểu cỡ lớn của một thế lực! 

Chao ôi! Thế mới biết sự di truyền của dòng giống thật là ghê gớm. Mười sáu tuổi, học sơ trung xong, con một viên quan lại cấp Trung ương Quốc dân đảng Tàu, ngụ tại Côn Minh. Tươi trẻ vô tư như đoá hoa. Chối từ tất cả các lời cầu hôn của các chàng trai quyền quý, những sĩ quan cao cấp của Tưởng thống chế tốt nghiệp từ bên Mĩ về. Nhưng lại tự nguyện đi làm vợ ba tri châu La Văn Đờ cổ lỗ. Thế là có ý đồ gì, ngoài mộng ước trở thành một Lữ Hậu, một Võ Tắc Thiên?

Tất nhiên từ khi ấy, nghĩa là từ lúc vào vai vợ ba tri châu La Văn Đờ, ả đã thực hiện việc liên kết chặt chẽ với các thế lực quân phiệt Hoa Nam lúc này đang muốn thâu tóm các bộ lạc Hmông ở biên giới để thực hiện mộng bành trướng lãnh thổ rồi. Còn cũng là tất nhiên, bây giờ, ả nhất quyết trở thành chủ nhân của cái con tuấn mã ương ngạnh là Lồ này. Phải lôi được Lồ về cái tàu ngựa của nước Tàu. Xì Xám Mần xuống đây là để tạo thêm sức kéo với ả. Và phải làm nhanh việc này, vì đây là thời cơ có một không hai. Người Tây ở xa, Lồ đang ở thế quẫn. Với A Linh, bợn cợn chăng là giờ đây ả thấy cạnh Lồ còn có Seo Say gái Hmông thuần giống. ả ghen chăng? Không! ả hiểu sức quyến rũ mãnh liệt của đàn bà với những kẻ như Lồ.

- Na nủ đừng nghĩ sai nhé. - Không cười cợt nữa. A Linh nhìn Lồ, âu yếm - Đốt bản đồ đi, không ông Xì Xám Mần nghĩ xấu về ta. 

- Ông Mần đâu? 

- Sảo quán Lùng dẫn đi xem hai tên Kinh mới bị ta bắt. Na nủ đừng nghĩ khác nhé. Lúc này, lửa phải nương oai gio, gió phải tựa thế lửa mà. 

Cái bản đồ cháy hết. Tàn than cuộn cong queo, lăn trên đá, rồi theo gió cuốn hút vào cửa hang, để lại một sợi khói vẩn vơ. 

Nhìn sợi khói, Lồ nao nao: 

- Tôi buồn nhất là thằng Phừ bỏ tôi. 

- Người Hán tôi có câu: Đại gian tựa tín, đại nịnh tựa trung. Kẻ gian xảo tột độ thì bề ngoài không khác kẻ tín nghĩa.

- Hừ! Nó phản tôi à? 

- Thì thế. Nhưng na nủ đừng buồn. Mà na nủ không phải là người buồn nhất đâu. 

- Ai? 

- Đoán xem. Phừ đi, ai buồn nhất? 

- Ai? 

- Cô Seo Say của na nủ!

- Hả! 

Lồ thét, mồm há hốc, con mắt chột căng nở. Dưới suối, Sùng Seo Lùng, phó của Lồ đang cùng Xì Xám Mần đi lên. Lùng vừa đi vừa chùi lưỡi dao đầy máu vào vạt áo bạt.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM