Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:24:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 164098 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #170 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:08:17 am »

Hai đại đội đến thay quân mà Tơráp vừa nói đến thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù và Brêsinhắc đã đợi đến sáng ngày 10-4 để ra lệnh. Đại đội 4 của đại úy Minô đã rời Huy ghét 6 từ hôm trước để nhường chỗ cho trung úy Phơrăngxoa và chiếm lĩnh Êlian 2. Nó không phải đi xa. Đại đội 3 của đại úy Sáclơ ở Đôminíc 3, cứ điểm này luôn luôn ở dưới sự đe dọa của một cuộc tấn công của Việt Minh.

"Súng cối lại súng cối, Ruytơ nhận xét. Một, hai, ba - cậu sụt sịt và nhất là trước cái chết cửa Anphơrét. Thật khó khăn!"

Từ khi đến đây vào đêm ngày 3 rạng ngày 4-4, Sáclơ chỉ nhận được một mệnh lệnh: bố trí một trung đội làm đội dự bị phản kích trên sườn đồi đối diện và đào một tuyến hào thứ hai: "Cuối buổi sáng ngày 10, Sáclơ viết, tôi nhận được lệnh phải sẵn sàng đi đến Êlian 1 mà tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đang chiến đấu để giành lại. Tôi sẽ được thay quân ở Đôminíc 3 bởi một đại đội của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc vừa nhảy xuống trong đêm và chúng tôi bắt đầu xuất phát vào giữa chiều".

Trong lúc đỉnh Êlian 1 đang rực lửa, Sáclơ kéo người của mình về phía chỏm núi đang bị bao phủ khói lửa và tiếng nổ:

“Cuộc tiến quân được thực kiện hầu như lộ liễu, đại úy bình luận, bởi vì Êlian 1 chỉ nối liền với phân khu trung tâm bằng một đường hào chật hẹp và không sâu, lại luôn bị pháo và cối địch nã vào. Thỉnh thoảng chúng tôi lại phải ra khỏi hào bộc lộ mình để tránh giẫm người bị thương của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đang chờ người đến cáng”.

Ruyte, phó chỉ huy của ông cũng giữ những ấn tượng mạnh mẽ như vậy trong chuyến vượt đồi lên A1.

“Một con đường gồ ghề tối tăm, từng người tiến lên dưới trận mưa đá bằng đạn cối 120. Chóp núi thẳng đứng đã bị biến dạng. Đường hào đầy xác chết của cả hai bên và những mảnh thịt người. Một mùi kinh sợ. Ky và êkíp của hắn ngồi chết dí trong các hố, tôi thật muốn giết chúng. Chúng tôi tới đỉnh, ở đây hàng chục đạn cối 120 nổ sát mũi chúng tôi..”.

Trên cao điểm vào cuối buổi chiều, các mệnh lệnh được thi hành nhanh chóng vì lính dù của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đã bị tổn thất và chẳng muốn chậm rãi làm gì. Việt Minh tiếp cận ở khắp nơi và quả đồi chỉ chiếm lại được một nửa. Bố trí quân ngay sát địch. Sau 5 giờ rưỡi chiều, thời điểm mà người ta không mong đợi gì ở sự chi viện của không quân, khi địch nã pháo và cối dữ dội, đạn gây ra những sóng chấn động kinh khủng. "Mảnh đạn hình như không nguy hiểm lắm, Sáclơ nhớ lại, nhưng đất bị nghiền vụn như tro, rất khó đào hầm hố. Nhiều binh sĩ của tôi chỉ ẩn một nửa người trong hầm hố mà chẳng bị thương nặng và đại đội Minô đã đến vào chập tối".

Một trung đội trưởng của Mioô - thượng sĩ nhất Bulie viết dưới làn đạn cối chết người mà Việt Minh bắn canh chừng trên đường tiến ở những điểm bắt buộc phải đi qua: "Phải biết chớp thời cơ và chạy qua giữa hai loạt đạn; khi đã đến chân đồi rồi thì vượt an toàn. Chúng tôi cũng mất một số người .. ".

Một khi đã đến đồi rồi và các mệnh lệnh đã nhận được, lính dù thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù có cảm giác đang ở 40 năm về trước, hồi chiến tranh 1914-1918.

“Việt Minh cách chúng tôi 40 mét, Ruyte quan sát Barô bị vùi vì một quả 120 nổ chậm và đã chết. Picôlô, phó chỉ huy của tôi, cũng biến mất nhưng tôi vẫn kịp đào anh lên. Tàn nhẫn thay, một chấn động mạnh ở bắp chân, do một quả cối 120 mặc dầu nổ cách đó hơn 25 mét. Tôi bị thương, mất bảy ngày! Quả thật là đang ở trong một địa ngục. . . Trung sĩ nhất Picôlô lên nắm quyền chỉ huy, Rơ ve và Mác tanh dìu tôi đến xe cứu thương đang kiên cường chờ tôi trên đường”.

Sáclơ nhận thấy hào chiến đấu của mình có nơi rất gần hào chiến đấu của địch, cũng giống như ở mặt trận Vécđoong năm 1916, hai bên đánh nhau bằng lựu đạn mà mục đích duy nhất là làm tan rã tinh thần chiến đấu của địch, đồng thời gây thiệt hại tối đa cho chúng.

Ở GONO, các thông tin đã được gửi về Hà Nội rồi từ Hà Nội lại được chuyển tiếp vào Sài Gòn (phiếu 196 ngày 10-4 hồi 18 giờ):

“Tình hình lúc 12 giờ: đỉnh của Êlian 1 đã bị kiểm soát lúc 11 giờ 30 sau những trận đánh ác liệt. Việt Minh còn giữ một vài lô cốt trên mặt bắc (...). Nhiệm vụ trở nên khó khăn vì thiếu máy bay, nhất là để vô hiệu hóa Đôminíc 2”.

Tình hình lúc 14 giờ: phần lớn Êlian 1 đã ở trong tay chúng ta sau những trận đánh cực kỳ khốc liệt. Bờ dốc đông bắc không bị chiếm vì hỏa lực ta đã tập trung đánh tại đây. Pháo binh của Việt Minh có phản ứng rất mãnh liệt (...) tổn thất khá nặng nề về người của ta đang được thống kê.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #171 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:09:14 am »

Các sĩ quan của tiểu đoàn 6 đã phải trả giá đắt cho trận tấn công Êlian 1. Lơ Roa, Coócbinơ và Combaynâyrơ đều bị thương. Thống kê sơ bộ tổn thất: 60 người của tiểu đoàn 6 dù thuộc đia bị loại khỏi cuộc chiến... một bản kê chọn lọc hơn xác định tổn thất là 13 người bị giết trong đó có 1 sĩ quan, 42 người bị thương trong đó có 3 sĩ quan và 7 người mất tích trong đó có 6 người Việt mất tinh thần vì hỏa lực pháo đã chạy sang hàng Việt Minh. Ở Êlian 1, đêm mồng 10 rạng ngày 11 hẳn sẽ là dài và khi đại úy Sáclơ muốn thiết lập liên lạc radiô với sở chỉ huy Brêsinhắc, một sĩ quan Việt Minh bắt được tần số đã trả lời ông: "Tiếp tục chiến đấu cũng vô ích thôi, các anh đã bị bao vây, hãy đầu hàng đi, nhân dân Việt Nam không căm ghét các anh đâu”.

Sáclơ di chuyển sở chỉ huy của mình được vài mét thì nhận thấy rằng mình đang ở trong đường chuẩn xạ kích của một ĐKZ, ông nói: "Được sao hay vậy, với những khẩu súng tìm được trên trận địa, những mảnh ván và sau này là những xác chết, chúng tôi cố chèn, chống để đất khỏi sụp đổ lên người chúng tôi. Tôi thay đổi các kế hoạch hỏa lực và chuẩn bị những kho lựu đạn cho những tay ném lựu đạn sừng sỏ. Chúng tôi tiếp cận địch và đêm được đánh dấu bằng những tiếng lựu đạn nổ rền do chúng tôi tiêu thụ khá nhiều”.

Ở đại đội Minô sự xúc động cũng rất mạnh mẽ và thượng sĩ nhất Buliê chẳng có thì giờ tham gia các trận chiến đấu ban đêm sẽ làm cho ngọn đồi bốc lửa:

“Sau khi hoàng hôn xuống được một lúc, Minô viết, tôi nghiệm thu một chuyến tiếp tế lựu đạn. Sau khi chia ra nhiều phần, tôi báo cho các trung đội đến nhận. Trung sĩ Mác tanh phó trung đội trưởng của Le đến đầu tiên: Lúc đó đã gần 9 giờ đêm, bỗng một viên đạn SKZ rơi vào chúng tôi. Tôi cảm thấy một sức nóng dữ dội! Mác tanh, một hạ sĩ nhất và một người Việt bị giết chết ngay cạnh tôi. Hai chân và bàn tay trái bị đâm thủng nhiều chỗ, tôi ngã vật xuống. Giữa những đường đạn mỗi lúc lại dầy thêm, tôi đã qua đêm trong một cái hố, cố dùng bàn tay phải cào đất cho hố sâu thêm”.

Trong đêm đầu tiên trên Êlian 1, hai đại đội của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù đã có 9 người bị giết và 4 người bị mất tích. Từ sáng sớm ngày 11 những người bị thương được chở đi bằng cáng. Đến trạm giải phẫu của bác sĩ Grauuyn, Buliê nhận được "tin xấu nhất trong đời mình". Trải qua một đêm trên trận địa, nguy cơ bị hoại thư sình hơi là nghiêm trọng và ý kiến bác sĩ Grauuyn là phải cắt cụt hai chân. Khoa giải phẫu quân sự có kỷ luật rất triệt để:

“Trước sự bướng bỉnh của tôi không chịu cắt chân, Buliê kể, Grauuyn trao tôi cho bác sĩ Ginđrây. Cũng là thiếu sinh quân như tôi, Ginđrây sẽ làm mọi việc để cứu tôi, ông ấy quả thực quá bận rộn và tôi tự hỏi bao giờ thì ông ấy mới được ngủ nhưng ông đã mổ cho tôi, tháo dây buộc vết thương, nắn chỗ gãy xương hở và đặt chân tôi vào cái mà ông gọi là nẹp krame. Tôi cứ ở trong tình trạng đó khoảng 15 ngày và khi mọi nguy cơ bị hoại thư đã tránh được, tôi được bó bột và chuyển đến một hầm trú ẩn cũ của liên đoàn biệt kích hỗn hợp không vận, tại đây tôi gặp trung úy Đơ Cacơray thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc bị cưa một chân và trung úy Ruyte ở đơn vị Sáclơ”.

Buổi chiều ngày 11, ngày Hội Cành, Lăng le và Brêsinhắc, đầy tinh thần táo bạo bình tĩnh leo lên Êlian 1, ở đó lính dù đang cố gắng hòa lẫn với đất bẩn để tàng hình. Lăng le biết mình đang nói gì, kể rằng hai mươi ngày chiến đấu sắp nối tiếp nhau trên Êlian 1 "biến đỉnh núi thành một hỗn hợp ghê tởm bùn và xác chết, ở đó sẽ không thể đào được một hầm trú ẩn nữa". Sáclơ van xin hai sĩ quan không nên nán lâu ở đây vì ông nói: "Các cuộc bắn phá bằng súng cối nối tiếp nhau, tôi không muốn sơ tán các vị ấy trên một chiếc cáng".

Lại tiếp tục và hiểu rằng đêm tối là người tiếp tay cho mình, Việt Minh tung ra một cuộc phản kích, bắt đầu bằng "một cuộc pháo hỏa chuẩn bị rất ác liệt cùng với việc quấy rối khu vực các sở chỉ huy và các khẩu pháo của ta". Với thái độ dè dặt, phiếu 206 thảo ra ở Hà Nội trên cơ sở những thông tin của GONO, ít phản ánh tinh thần kiên trì bám trụ của các chiến binh. Quân dù của Brêsinhắc và bộ binh địch bắn giết nhau mà chẳng có ý định chiến thuật gì đặc biệt, vài mét giao thông hào... thật là một sự điên rồ chết người?
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #172 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:10:33 am »

Các trận giáp lá cà mau lẹ bất chấp những làn đạn ngăn chặn, phiếu 206 ghi. Một cuộc phản kích trên đỉnh lúc 20 giờ. Tình hình lộn xộn, lẫn lộn trên cứ điểm. Các đơn vị của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù ắo lúc bị địch tràn ngập, đã hình thành nhiều ốc đảo đề kháng ngăn chặn quân địch.

Mắt đỏ kè vì mất ngủ, thần kinh căng thẳng, lính dù của Brêsinhắc hiểu rằng họ phải cầm cự cho đến sáng trước khi được không quân chi viện và có thể được thay phiên. Lạy Chúa, một đêm, thật là dài? Những nỗi đau phải nén chịu để giữ cho được vài mẫu đất trên một đỉnh đồi mà đất đã biến thành tro, Sáclơ kể:

“Một cơn hồng thủy sắt, lửa ập xuống trận địa, người ta có cảm giác toàn bộ điểm tựa đã biến mất trong mây bụi. Tôi dùng rađiô yêu cầu pháo bắn chặn như họ đã định trước. Tôi xách tiểu liên đi tìm một trung đội của đơn vị tôi làm nhiệm vụ phản kích. Bỗng nhiên một cái gì đó như thực phẩm đóng hộp (lựu đạn tăng cường bánh chất nổ) ném vào tôi. Người tôi bị nhấc lên khỏi mặt đất. Tôi đứng dậy, cánh tay đã bị gãy. Tôi cố đi đến sở chỉ huy của Minô, ông ấy làm cho tôi một ga rô, tôi giao quyền chỉ huy cho ông, hi vọng rằng tôi có thể một mình đi đến trạm cấp cứu gần nhất ... Tôi bị mất máu và thỉnh thoảng phải dừng lại để nới ga rô và thở. Đường hào nối Êlian 1 với điểm tựa trung tâm bị hỏa lực pháo địch kiểm soát, một viên đạn cối nổ gần tôi hất tôi ngã xuống. Tưởng đôi chân mình đã nát vụn rồi, tôi bình tĩnh chờ cái chết thì một người lính bị thương đụng vào tôi: "Xin lỗi đại úy”. Thế là tôi còn sống. Anh buộc chặn ga rô lại cho tôi và hai người chúng tôi cùng đi, người này dìu người kia, trong giao thông hào mà mưa đã biến thành sình lầy. Đến nửa đêm, chúng tôi tới trạm giải phẫu của bác sĩ Viđan, tôi ngã quỵ vì kiệt sức. Sáng sớm hôm sau tôi tỉnh dậy với cánh tay bó thạch cao; trạm quân y đã quá tải không thể giữ thương binh lại. Thế là tôi lại phải ra đi. Tôi ngạc nhiên thấy một phụ nữ đến gần tôi, cô cởi mũ sắt của mình đội lên đầu tôi rồi cầm tay tôi dắt tôi đi đến một hầm trú ẩn. Người phụ nữ đó là Giơnơvievơ đờ Ga la”.

Hai lần bị mảnh đạn cối trong các trận đánh ở Huy ghét 6, Minô ở lại một mình trên cứ điểm Êlian 1 cùng với những tàn binh của hai đại đội. Dầu bị tổn thất song họ vẫn bám trụ chiến đấu hết sức mình ở cái nghĩa trang kỳ lạ này. Ở đấy người ta thấy những chiến binh đào xác chết lên ném lên trên bờ hào rồi thay vào chỗ của những xác chết đó ở trong hố đầy những đàn ruồi bâu bám quấy nhiễu họ. Các hạ sĩ quan của Minô hỗ trợ ông rất đắc lực vì nếu trung úy Suybrêgít, thượng sĩ nhất Buliê đã bị thương thì Rêbrôin và Le đã may mắn sống sót. Ở đậi đội Sáclơ, trung sĩ nhất Picôlô bị thương rồi đến lượt Sô lê và thiếu úy Girácđê. "Tất cả những binh sĩ người Việt đều chuồn...!", Ruyte viết.

Trung úy Ghi nhông bị một viên đạn súng phóng lựu ở cự li gần bắn vào mất nửa mặt, đã chết trong ngày 12, ít lâu sau trung sĩ Giápphơrơ cũng tử trận. Giao thông hào, hầm trú ẩn, các vị trí xạ kích đều khó nhận ra đến nỗi người ta tự hỏi loại hình chiến đấu có thể còn phải tiến hành trên đồi là loại gì. Lo lắng, Biga yêu cầu Ghirô đưa trung úy Mác tanh và đại đội 3 của tiểu đoàn dù ngoại quốc leo lên. Một trung đội của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đã lên trước họ, đó là trung đội của trung úy Phơrơmông đã chiến dấu ở Êlian 1 ngày 31- 3. Phó chỉ huy của anh là trung sĩ nhất Xôtơrô ghi vào nhật ký: "Ngày 11-4, chúng tôi đi tăng viện cho tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù. Một khúc xương khó nhai. Tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc lại ở bên cạnh chúng tôi”.

Súng cối của địch vẫn chưa thôi cày xới trên đồi và chẳng ai có thể giơ ngón tay út lên (tỏ ý đã biết hết - ND) với những người chết đang bổ sung thêm vào số người chết cũ trên vị trí. Nơi đây, tiếp sau mỗi tia chớp, mặt đất lại run rẩy, dường như chính đất cũng phản ứng vì đã bị hành hạ như thế. Giống như những cái bóng, lính lê dương vượt qua sườn của trung đội thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc dịa, ở đây Phơrơmông ra hiệu cho hạ sĩ Raguiô đưa máy để tổ hợp cho mình. Anh gọi Bruynô:

"Tôi liên lạc với anh ấy trên vô tuyến điện, Biga thuật lại, anh ấy đã hoàn thành nhiệm vụ, tôi nói với anh ấy: "Bây giờ vị trí do đơn vị lê dương đảm nhiệm... anh hãy trở về đại đội của mình!". Anh trả lời: "Tôi đã liên lạc với đơn vị lê dương, cũng còn vài thằng đểu nữa phải giải quyết”. Vài giây sau, anh đã chết".

Xôtơrô nói cụ thể hơn: "Trung úy bị chết lúc 1 giờ 10".

Viên hạ sĩ quan tập hợp các trung đội bị tản mát dưới hỏa lực súng cối và báo cáo về cuộc rút quân. Các hạ sĩ Phơrétxơ và Raguiô bọc thi hài trung úy Phơrơmông (Chú thích: Sinh tháng 3-1924, Ginlơ đờ Phơrơmông đờ Boayơ tốt nghiệp Xanh Xia 1950. Trung úy 10-1952. Đi Đông Dương tháng 11. Nhảy dù xuống Điện Biên Phủ trong hành quân Hải li. Theo tiểu đoàn sang Lào; nhảy dù lần 2 xuống Điện Biên Phủ cùng Biga ngày 16-3-1954.)  trong một miếng vải bạt lều để chôn cất anh trên vị trí của tiểu đoàn 6. Trung úy Đatanh thu thập đồ đạc cá nhân của anh để sau này đưa lại cho bố mẹ anh.
Trên đỉnh đồi bây giờ người chết lại nhiều hơn người sống. Việt Minh phải chịu khuất phục trước tinh thần quyết chiến của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù và hỏa lực dày đặc của lính lê dương của Lulu Mác tanh. Được yểm trợ bằng tất cả các pháo của họ, Việt Minh bắt đầu rút.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #173 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:11:30 am »

Phiếu 208 từ Hà Nội gửi vào Sài Gòn ngày 12-4 lúc 11 giờ 15; đã làm một bản sơ kết tình hình:

“Quân Việt Minh tấn công cứ điểm Êlian 1 đã rút từ 7 giờ sáng hôm nay. Cuộc tiếp cận của địch đã bị đẩy ra xa. Những đơn vị Việt Minh khiêng người bị thương và người chết đi về phía đông bắc là khu vực mà pháo ta chỉ kiểm soát từng phần. Tổn thất phía ta chưa được thống kê nhưng nặng nề, nhất là ở hai đại đội thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù chiếm giữ Êlian 1 (...). Tổn thất của Việt Minh quan trọng. Cuộc tấn công của Việt Minh do các tiểu đoàn 215 và 431 thực hiện. Cuộc tấn công này chỉ bị đẩy lùi nhờ sự can thiệp của pháo binh ta”.

Ở tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù, đại đội Sáclơ đã mất không chỉ đại úy đại đội trưởng mà còn mất cả trung úy Ghinhông (Chú thích: Sinh tháng 7-1926, Lanh Ghi nhông tốt nghiệp Xanh Xia. Đến Sài Gòn tháng 6-1953. được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù, nhảy xuống Điện Biên Phủ ngày 3- 4-1954.) và hai trung sĩ Ivơ Clêmăng và Pie Râynô. Trung sĩ nhất Hônmierơ, các trung sĩ Bêqhê, Môngtanhvin và Xêvenlếc đã mất tích, khó tìm được vì rất giống các thi thể khác ngổn ngang trên đỉnh đồi. Tổng cộng 10 người bị chết và 21 người mất tích. Ngoài trung úy Ruyte mà Buliê tìm thấy trong hầm trú ẩn, 65 quân dù, trong đó có 7 hạ sĩ quan, đã bị thương. Số này bổ sung vào số 9 người bị chết và 4 mất tích hôm trước. Được đánh giá là "tươi mới" hai ngày trước, các đại đội của Sáclơ và Minô bây giờ đã là "kiểu loại Điện Biên Phủ", nghĩa là chỉ còn lại một nhúm người sống sót đang ngủ đứng. Quân của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa cũng ở trong tình trạng đó :

“Chúng tôi trở xuống cái vị trí nghỉ ngơi của chúng tôi (nếu có thể gọi như vậy.), trung úy Tơráp kể. Tôi chỉ còn không quá 30 người và tôi là sĩ quan cuối cùng còn lành lặn. Vì bị tổn thất, đại đội của Uynđơ phải giải tán và một phần quân số giao cho tôi. Việt Minh để cho chúng tôi được yên ổn đến cuối tháng. Điều đó không thể xem là nghỉ ngơi vì đêm nào cũng vậy có những cuộc phản kích cục bộ. Mặc dầu mệt lử vì cái kiểu giáp lá cà thường xuyên đó, binh sĩ của tôi vẫn là những người nổi bật. Khi cầm lại được súng, thương binh nhẹ lại quay về vị trí chiến đấu”.

Ba mươi mốt tuổi, cao 1,82 mét, Đại úy Đờlaphông chỉ huy đại đội 7 của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc. Ở Xêtíp, nơi họ đã qua trước khi sang Đông Dương, những Tuyếcxi, Garanh, Lơcốc, Nêne, phần lớn là sĩ quan đều nghĩ rằng anh sẽ sống độc thân. Dáng oai vệ của anh nổi bật đến mức Hôsa bạn anh đã gọi anh là "Sáclơ - con người tuyệt vời", "Xêtíp chẳng có gì ghê gớm cả ... Các sĩ quan đã lấy vợ ở đó và tuy mới đến mà con đã được mời dự hai đám cưới", trung úy Béctơrăng - tử trận ngày 22-3, viết thư cho bố mẹ năm 1951.
Tuy nhiên, tháng 9-1952, Đờlaphông cưới cô em họ Săng tan Gơvanh, con gái của một cựu học viên võ bị Xanh Xia. Họ đi Xêtíp và Săng tan hội nhập vào "nhóm tiểu đoàn 3 dù ngoại quốc", đơn vị này có rất nhiều chàng trai chưa vợ, quấn quanh họ là các bà mẹ có con gái đến tuổi lấy chồng của thành phố ba mươi sáu ngàn dân này. Săng tan vừa mới kịp khâu cho anh chiếc lon thứ ba - lấy từ mũ Kê pi của bố cô là tướng không quân - thì anh được tin sắp phải lên đường sang Đông Dương với nhiệm kỳ hai. Sự chia tay còn khó khăn hơn khi Săng tan đang chờ một đứa con ra đời. Đờlaphông đi trên tàu Athốt II ngược sông Sài Gòn ngày 17- 11-1953. Đã quá chậm để tham gia vào kế hoạch "Hải li". Được bổ nhiệm vào tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, Đờlaphông thay thế trung úy Lơ Cua Grăngmedông ở đại đội 7, ở lại làm phó chỉ huy của ông. Sĩ quan thứ ba của đại đội 7 là một người tốt nghiệp võ bị Xanh Xia, tóc vàng nâu, mắt xanh, đó là Phơragôna, chưa đến 25 tuổi. Hay quen nói về nhiệm vụ: "Anh không quen với những cuộc hành quân dài nữa”. Sáclơ thú nhận với Săng tan ngày 14-12. Ba ngày sau: "Bọn anh đang tham gia hoạt động tác chiến nhưng không chạm địch. Thời tiết thật ghê tởm: mưa phùn và bùn lầy. Anh không rõ ăn Noen ở đâu nhưng đã có kế hoạch tiếp tế, khi cần họ sẽ thả dù cho bọn anh. Một viên đường cho Bruytuýt nhé!" (ngày 17-12).
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #174 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:12:47 am »

Trước khi lên đường, Sáclơ đã tặng cho Săng tan một con vật nuôi, trong một chuồng chó, họ đã chọn được một con chó Bốc xe có tên là Bruytuýt. Trong tất cả các bức thư gửi về cho vợ, Sáclơ luôn kết thúc với câu "Một viên đường cho Bruytuýt", hoặc "Vuốt ve Bruytuýt”. Theo các dòng thư người ta lần theo sự di chuyển của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc cũng sát sao và chính xác như trong nhật ký của tiểu đoàn. Các tin tức về tiểu đoàn anh em - tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc buồn bã hơn. Sáclơ nói cho Săng tan biết về cái chết của Nêve và vết thương của Brăngđông. Cuối tháng giêng, sau ba ngày thư giãn ở Sài Gòn, Sáclơ nói đến một cuộc chạm súng: "Lơ Cua đã để mất cơ hội và bây giờ bọn anh đang ở trên một mỏm đồi có quang cảnh tuyệt vời. Đồ tiếp tế đã được thả dù nhưng không có thư. Trời nóng. Bọn anh đen chùi chũi như những người da đen". Không yên tâm, Sáclơ viết thêm; "Anh băn khoăn không biết em đã vào bệnh viện chưa....” .

Ngày 13-2, anh được tin mình đã được làm cha từ ngày thứ năm 4-2: "Cuối cùng anh đã nhận được một tin lớn, Sáclơ viết. Anh thật hài lòng. Trước đó, anh đã lo sợ mọi việc không diễn ra suôn sẻ". Một tuần sau, anh nhận được bức điện báo tin bé Patơrixia đã chào đời: "Bức điện có lẽ cuốc bộ đến đây", anh nói đùa. Gạt chiến tranh sang một bên, anh cố trấn tĩnh người vợ trẻ đang ở nhà bố mẹ đẻ, trong nỗi lo âu: "Từ khi anh về tiểu đoàn, thực ra anh chưa bắn lấy một phát súng. Đó là điều mà người ta gọi là chính sách bảo toàn quân số" (ngày 18-2) (Chú thích: Đại úy Đờlaphông mất người anh là Giắccơ ở Đông Dương năm 1947. Hạ sĩ nhất thuộc bán lữ đoàn thuộc địa biệt kích dù thứ nhất SAS, sinh ngày 30-7-1925, bị chết ngày 18-12-1947 trong một, trận đánh vào Thái Nguyên.).

Săng tan tha thiết hỏi anh liệu có được về nhà vào dịp cuối năm không, và đầu tháng ba anh gửi cho cô một câu trả lời nước đôi "nếu các lời đồn đại ở đây được xác minh thì có nhiều cơ may đấy, trừ khi chính em lại sang đây". Rốt cuộc, thiếu tá Liêdenphen và phó chỉ huy của anh là đại úy Galue đưa vợ sang là đúng.

Ngày 25-3, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc trở về Hà Nội nghỉ ngơi sau khi đã được trang bị lại, Sáclơ cung cấp tin tức về những người cũ ở Xêtíp. Ở Điện Biên Phủ, Tuyếcxi và Béctơrăng đã bị giết, Cabirô có thể sẽ mất một chân, Đômigô bị thương lần thứ ba, Đềmedierơ bị thương ở mặt... Ngày 2-4, Sáclơ gửi một bức thư mà Săng tan không biết rằng đó là thư cuối cùng. Tiểu đoàn đi canh gác sân bay còn Sáclơ thì đi xem phim "Những người đẹp trong đêm". Sáclơ chúc mừng lễ sinh nhật bé Patơrixia và gửi nụ hôn nồng nhiệt đến hai mẹ con. Tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc được điều lên Điện Biên Phủ.

Các đại úy Galue và Píccatô, trung úy bác sĩ Mađơlen nhảy dù đợt đầu cùng với thiếu tá Liêdenphen và đại đội 7. Tùy thuộc vào thời gian, những sự cố có thể xảy ra và mức độ dữ dội của hỏa lực phòng không địch, đại đội 5 của Bi rê, đại đội 6 của Bulanhghiê, rồi đại đội 8 của Pêtơrô sẽ nối theo nhau nhảy xuống tập đoàn cứ điểm. Đại tá Xôvanhắc và trung tá Baxtiani của liên đoàn 1 không vận đến dự cuộc họp giao nhiệm vụ cuối cùng và chào họ trước khi lên đường.

Thứ bảy ngày 10-4, trời còn tối khi những toán đầu tiên nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên lấm tấm hàng ngàn ánh đèn. Một máy bay suýt nữa phải quay trở về. May thay, trung úy Phơragôna của đại đội 7 phải nhảy ở đầu toán nhảy dù nhưng người thả bị ngất xỉu, Phơra Gông "lập tức thay thế, Liêdenphen kể, tự mình đảm nhiệm việc thả dù, anh cho binh sĩ đơn vị mình xếp thành hàng một ra cửa máy bay để anh thả xuống còn anh nhảy cuối cùng".

Đại đội 7 có 137 lính lê dương, khi xuống đất ba người bị chết, một người bị thương. Trung sĩ nhất Kôđơree và túi đựng đại bác không giật 57 li đã biến mất vào khu vực Việt Minh; dù của trung sĩ Patơri bị đạn cháy bắn xuyên đã bốc cháy; đại úy Bulanhghiê nhảy đầu chúi xuống mình đường hào nhưng đã tháo được dù. Một trong số những người bị thương đầu tiên là người tùy tùng của ông Hanhzơ Hát, về sau bị cưa hai tay và một chân nhưng vẫn còn sống, lấy vợ hai lần, li dị hai lần và có hai con. Trung sĩ nhất Kơmenxây của đại đội Piccatô bị gãy xương cụt ở bờ một đường hào khác nhưng nếu trừ hai máy bay phải quay trở lại vì "sự cố kỹ thuật" thì mọi việc đều ổn và tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã tập hợp lại. Tổng cộng bảy trăm mười chín người, điều đó chỉ ra rằng 40 quân nhân nhảy dù không thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc mà thuộc những đơn vị tăng viện.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #175 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:14:16 am »

Trung úy Nômura thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc được mệnh danh là "Đô đốc" để nhớ đến ông nội của anh là đô đốc Hạm đội Hoàng gia Nhật Bản, đi tìm bạn anh là Đờlaphông đến Đông Dương cùng với anh trên tàu Athốt II. Vì được ở những đơn vị khác nhau cho nên hai người bị chia cách nhưng việc thả dù tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã tập hợp họ lại trong một chiến dịch:

"Một người lính lê dương nói với tôi, Sáclơ đã đến trong đêm ngày 9 rạng ngày 10, Nômura viết cho Săngtan, "Đại úy đã nhảy xuống trước mặt tôi, một người khác khẳng định. Tôi gọi đi các hướng và với tất cả các bạn mà tôi gặp, tôi nhờ họ tìm hộ Lơ Sáclơ đã đến chỗ Phuốcniê, đang nhấm nháp một ngụm rượu. Tôi chỉ được gặp lại anh vào buổi sáng và tôi đã tập hợp trong sở chỉ huy của tôi tốp bạn cũ gồm Mác tanh "chó bông", Brăngđông "vú em" và những người khác”.

Đại đội Sáclơ thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù rời cứ điểm Đôminíc 3 vào cuối buổi sáng ngày 10 để thay phiên cho tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ở Êlian 1, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc phải thay thế đại đội Sáclơ. Liêdenphen chỉ định đại đội 7 và trong khi mọi người đang chuẩn bị, ông yêu cầu Đờlaphông đi theo ông để nhận biết các địa điểm. Đi theo một người dẫn đường, hai sĩ quan và một trung sĩ rađiô đì dưới một đường đạn ngoằn ngoèo đến Đôminíc 3. Họ tiếp xúc với thiếu tá Sênen của tiểu đoàn 2 Thái và việc bố trí đại đội 7 được dự kiến vào cuối buổi chiều.

“Ngày 10-4 đó, Liêphenden viết thư cho Săng tan Đờlaphông, hỏa lực địch dày đặc vì địch muốn chống lại một cuộc phản kích vào Êlian 1. Cối hạng nặng của địch bắn không ngừng. Trinh sát thực địa xong, chúng tôi theo đường hào trở về địa điểm chờ, theo trật tự như sau: người dẫn đường, tôi, đại úy Đờlaphông và nhân viên rađiô. Cách điểm xuất phát của chúng tôi vài trăm mét, một quả đạn cối nổ ngang tầm chúng tôi trên bờ hào. Bị hất xuống mặt đất, tôi đứng dậy nhìn ra phía sau thấy Đờlaphông nằm dài, bất tỉnh, một bàn tay đặt lên mũ sắt, đúng vào đầu anh. Chúng tôi mang anh đến trạm giải phẫu và anh đã được sơ cứu. Lúc đó đã 11 giờ 30. Hai giờ sau anh đã mất trong tình trạng bất tỉnh”.

Ngay cả trước khi chiến đấu, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đã mất người sĩ quan đầu tiên, cái chết này đã làm cho bạn bè ông đau ốm, dường như số mệnh đã khước từ không ban cho ông sự may mắn. (Chú thích:  Sinh năm 1923, Sáclơ Đơlaphông cùng tiểu đoàn dù ngoại quốc xuống tàu đi Đông Dương tháng 10-1948. Hồi hương vì sức khỏe tháng 7-1950. Trở lại Sài Gòn 11-1953. Được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, cùng tiểu đoàn dù này nhảy xuống Điện Biên Phủ.)

Vấn đề người bị thương vẫn còn nguyên vẹn; việc giải phóng các hầm trú ẩn lấy chỗ cho thương binh ở là điều không thể làm được nữa: Điện Biên Phủ không thể giãn rộng ra. Lăng le đã cưỡng bức giải phóng mấy căn phòng hầm mà hai sĩ quan của Liên đoàn biệt kích hỗn hợp không vận (LĐBKHHKV) và các nhân viên người Mèo cùng gia đình họ ở khép kín lấy lý do là họ trực thuộc tổng chỉ huy, tuy nhiên vấn đề vẫn tồn tại là: giải quyết người bị thương như thế nào? Rồi người ta sẽ mau chóng thấy những người đang hấp hối bị vứt lại trong các hào hoặc hố đạn, khi mà vào lúc cao điểm của những tháng xót xa năm 1916, những người tải thương vẫn có thể sơ tán phần lớn người bị thương về phía sau. Lăng le bị xúc động mạnh: "Người bị thương tràn đầy các hầm trú ẩn và trạm giải phẫu không đáp ứng đủ và ùn lại trong các đường hào giữa các chiến binh, trong những điều kiện kinh khủng".

Trong báo cáo, ông nhấn mạnh đến sự "gia tăng tai họa" do tình trạng quá tải trong bệnh xá và trạm giải phẫu: "những người bị thương là tấn bi kịch tuyệt đối của chiến dịch này. Nếu người ta hỏi tôi: "Anh thích cái gì? Sơ tán người bị thương hay được nhận một tiểu đoàn nhảy dù đến tăng viện?" thì tôi sẽ trả lời: "Yêu cầu sơ tán người bị thương”.

Tử thần mở rộng cửa đón tiếp mọi người ở Điện Biên Phủ và đằng sau đám rước màu đen của hắn, danh sách người bị thương kéo dài. Tháng 4 còn lâu mới kết thúc, chẳng cần phải ám chỉ những cuộc tấn công sắp tới của Việt Minh đã hiện lên trên những tấm ảnh chụp từ trên không sáng sáng lại thả xuống cho Bộ chỉ huy GONO, có thể là những cuộc pháo kích sẽ không dừng lại. Ngày ngày và đêm đêm, bất cứ vào giờ giấc nào, chẳng có mục đích chính xác, cũng như thường lệ, chẳng cần tìm kiếm mục tiêu, cối và pháo 105 vẫn nã đều vào Điện Biên Phủ. Chu vi phòng ngự đã giảm bớt đến mức thật hiếm hoi có những quả đạn bắn tới mà lại không trúng một cái xe, một hầm trú ẩn kém chống đỡ, một xe tăng ngụy trang vụng về, một khẩu đội pháo quá lộ liễu và những con người . . .
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #176 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:15:27 am »

Buổi sáng, trong sương mù đang tan biến dần, những người cáng thương và những người tình nguyện sơ tán người bị thương, không phải về phía sau - vì chẳng còn hậu phương nào nữa - mà đến bệnh xá hoặc trạm giải phẫu gần nhất. Đó là khi mà không phải bản thân người bị thương phải lê lết bò trong bùn lầy đến cửa hầm trú ẩn, ở đây - họ bám lấy ý nghĩ phi lý này - họ sẽ tránh được sự sát thương của làn đạn địch. Chúng ta hãy đọc những dòng sau đây của đại úy của bác sĩ Hanz:

“Đó là một đoàn dài những cáng thương hoặc những người cưỡi trên lưng của các đồng đội khỏe mạnh, tất cả những người bị thương đang bị xóc và rên rỉ này trong một cuộc chạy tới trạm giải phẫu đi qua những hố đạn bùn lầy, những quả đạn nổ và những hào chữ chi nửa sụt lở. . . những người chết có thể tìm tới, được vùi bằng vài xẻng đất... người ta lao vào cửa trạm giải phẫu trong khi pháo binh địch đã khai hỏa dữ dội; một buổi sáng, một quả đạn phá hủy tổ máy phát điện, việc phân loại người bị thương đã diễn ra trong bóng tối gần như hoàn toàn. Việc nổi dậy của nhóm thông tin đã phô bày một cảnh tượng kỳ lạ: khoảng bốn chục người bị thương nửa trần truồng nằm trên cáng đặt dưới đất trong bùn lầy, khoảng hai mươi người khác bị thương nhẹ hơn còn chen chúc ở cửa vào; họ ngồi xổm dọc các vách hào và chờ đợi. . .”

Bị thương ngày 5-4 trong cuộc phản kích vào Huy ghét 6 ở sân bay, trung úy Đờphơlin thuộc tiểu đoàn 8 xung kích tự cho là được ưu đãi. Vết thương gãy xương đùi của anh làm bác sĩ Ginđrây lo ngại, ông đã phải cho theo dõi tình trạng sức khỏe của anh.

“Tôi được đặt lên một cái giường dùng làm "phòng đợi" cho các bác sĩ giải phẫu, Đơphơlin nhớ lại. Trước mắt tôi là trung úy Rôlanh thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc. Chúng tôi nói chuyện với nhau làm cho việc chờ đợi dễ chịu hơn. Grauuyn đưa cho tôi cái đệm hơi của ông và trên đầu giường tôi là cái thùng đựng đồ đạc cá nhân của tôi và các quyển sách. Chúng tôi chỉ cách "phòng ăn" các thầy thuốc hai bước và lươn có người qua lại. Ngày thật là dài nhưng chúng tôi hiểu ngày còn dài hơn đối với những người bị thương không còn được hưởng điều kiện ăn ở tốt như chúng tôi”.

Khi đã được mổ rồi, đã được băng bó hoặc bó bột, một số sĩ quan muốn quay trở lại tiểu đoàn của mình, ở đó đồng đội của họ luôn luôn tìm được cho họ "một chỗ nhỏ trong bóng râm”. Đó là trường hợp của trung úy Xanh lăng ở đơn vị cối hạng nặng của đội lê dương. Anh yêu cầu được ở với tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, tiểu đoàn gốc gác của anh và anh còn đưa một người bạn từ trung đoàn 4 Ma rốc về - trung úy Đờ Xanh Hie, bị gãy bàn chân nặng.

“Chúng tôi chọn làm chỗ ở là một cái hố có một chiều 2,5 mét một chiều 2 mét, bên trên phủ bằng vài khúc củi, cành cây và đất. Hầm trú ẩn này có thể giúp chúng tôi chống được mảnh đạn nhưng không thể chống được một quả đạn. Người ta vào hầm bằng một cầu thang giả. Hai chiếc ghế dài bằng đất vừa làm giường vừa làm ghế, khó đứng dậy được và khi trời mưa, điều đó ngày càng trở nên thường xuyên hơn, nước đọng lại giữa hai ghế. Chúng tôi chẳng ai bước đi được chúng lôi chỉ ở trong hầm, ăn uống và sinh hoạt đều do các binh sĩ lê dương còn khỏe mạnh hơn giúp đỡ".
 
Chúng tôi đoán là tình hình bên ngoài rất xấu nhưng tôi không muốn nghĩ đến một kết cục không thể tránh khỏi. Xanh Hile đã tham gia cuộc chiến tranh sau cùng có đầu óc thực tế hơn. (Chú thích: Sinh năm 1913, Giăng đờ la He Xanh Hile tình nguyện sang Đông Dương, 1 năm sau đến Đông Dương. Được bổ nhiệm về tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc, bị thương vì mìn.)

Ở Isaben nơi trung úy bác sĩ Rêsiô đặt trạm giải phẫu, cũng có những khó khăn như vậy. Trung úy Lơgubê, chỉ huy đội biệt kích của tiểu đoàn 3 Thái, đã bị thương ngày 9-4.

Chúng tôi có nhiều việc, anh nói, ngoài những cuộc xuất kích, tuần tra, trạm quan sát lại phải thu thập các vật thả dù. Việc thu nhặt chỉ thực hiện được với những tốp nhỏ 4-6 người nếu không thì sẽ bị địch bắn. Công việc chán ngấy này có một cái lỗi: những kiện thực phẩm bị vỡ cho phép chúng tôi đói thì được ăn trong khi trung tâm của Isaben đã được phân phối hạn dùng. Ngày 9-4, phó chỉ huy của tôi, trung sĩ Anbe mời hai người bạn, trung sĩ nhất Giuyếckê và trung sĩ Mugítsencô, cùng ăn. Hầm trú ẩn của chúng tôi quá chật hẹp, bốn người chúng tôi ngồi ăn trong đường hào. Bỗng nhiên, tổ thu nhặt, phía trước hàng rào kẽm gai, bị một loạt đạn cối. Tôi ra ngoài để gọi to, bảo anh em hãy "nằm bẹp" vài phút... Một quả đạn nổ gần tôi và tôi bị trúng nhiều mảnh đạn ở cẳng chân và ở hông, nhưng không vào chỗ hiểm nào.
Trong hào, Anbe và Mugítsencô bị chết ngay, Giuyếckê bị trọng thương ở bụng. Người ta cáng tôi bất tỉnh đến trạm giải phẫu và trong một tháng tôi phải mổ đến ba lần.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #177 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:20:59 am »

Đại tá Đờ Caxtơri đặt câu hỏi: nếu Việt Minh chấp nhận lấy người bị thương của họ bị bắt làm tù binh?

- Ông có bắt tù binh? Họ nói gì? Chủ tịch ủy ban điều tra hỏi ông.

- Họ chẳng nói bao nhiêu. Ngài biết đấy, đó là những người cứng rắn.

- Ông không biết được gì qua họ?

- Không.

- Các sĩ quan, ông cũng có bắt được họ chứ?

- Không, dầu thế nào đi nữa họ cũng không tự bộc lộ, ngược lại... Chúng tôi có 50 đến 60 tù binh ở đoạn cuối, bên trong trung tâm đề kháng. Chúng tôi cũng có nhiều người bị thương của Việt Minh mà chúng tôi đã chăm sóc.

Ý nghĩ của tư lệnh GONO là tung ra một lời kêu gọi đối với địch trên rađiô, đề xuất với Việt Minh là sẽ trả cho họ những bộ đội Việt Minh bị thương. Đưa ra đề nghị này vào hôm trước của cuộc phản kích vào Êlian 1 có thể là điều không khôn khéo lắm, Việt Minh sẽ cảnh giác. Sau một hồi lâu im lặng, một thông điệp bằng rađiô do "Trung đoàn trưởng trung đoàn Quân đội nhân dân ở đông Điện Biên Phủ" ký, do phòng nhì của đại úy Noen bắt được: "Chúng tôi đã nhận được lời kêu gọi về vấn đề người bị thương. Chúng tôi đang đợi chỉ thị cấp trên (nguyên văn) và hy vọng có thể trả lời các ông ngày mai về giờ hẹn gặp".

Ngày 10, trong lúc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa chiếm Êlian 1, rađiô Việt Minh đưa ra một câu trả lời mà Caxtơri không ngờ tới, Việt Minh gợi ý về một cuộc trao đổi người bị thương số lượng đổi số lượng. Caxtơri không thể từ chối những người bị thương của chính mình. Nhưng Việt Minh thêm một chi tiết mà người ta cảm thấy là một cuộc mai phục: họ dự kiến hai địa điểm trả người bị thương. Cảnh giác Caxtơri cho trả lời là sự trao đổi chỉ làm ở một địa điểm cách hai kilômét về phía bắc, trên đường mòn. Trong một thông báo gửi về Hà Nội "để thông báo", tư lệnh GONO nêu lên những lý do về sự lựa chọn của ông "Địa điểm mà Việt Minh đề nghị là một khu vực gài mìn dày đặc và Đôminíc 2 phải bị pháo kích ngày 11 và 12-4".
Việt Minh từ chối các phản đề nghị của Pháp và những cuộc nói chuyện đã chấm dứt như nó đã bắt đầu.

Bị một vố ngày 5-4 trước Huy ghét 6, Việt Minh không từ bỏ.

“Tôi có cảm giác rằng chúng ta không thể giữ được lâu dài nữa vì tôi đang bị gặm dần. Caxtơri bình luận. Với Việt Minh, giai đoạn của những cuộc tấn công lớn đã qua... và bây giờ họ đang gặm gần nhất là ở phần tây và tây bắc của căn cứ, bằng cách đào những đường ngầm, những đường hào để tiến sát gần vị trí của. ta... Không gian bị co lại, việc tiếp tế bằng thả dù ngày càng khó khăn hơn và tôi có cảm giác rằng chúng ta không thể thoát ra khỏi nếu không có một hành động từ bên ngoài. Tôi đã nhiều lần hỏi tướng Cônhi (nếu không muốn nói là hằng ngày): "Vậy, lối thoát là thế nào? Tôi chẳng bao giờ có được một câu trả lời chính xác, ngay cả bản thân ông ấy cũng có thể không biết và ông đã nấp vào sau sự việc là tổng chỉ huy phải quyết định. Một lần tôi có nghe ông nói "người ta đang chuẩn bị điều gì đó". Tôi hiểu đó là vấn đề chi viện của không quân Mỹ, nhưng rất mơ hồ. Và tôi nhớ đã nói với ông ấy vào một ngày mà có lẽ tôi bị kích động hơn thường lệ: "Thực ra, chúng tôi chỉ còn việc chờ đợi ngừng bắn, đó là vận may duy nhất của chúng tôi để thoát ra khỏi tình thế.”

Trên các cứ điểm sân bay, thiếu tá Clêmăngxông đã tiến hành việc sắp xếp lại lực lượng. Trung đội học sinh sĩ quan của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 13 đã được giải thể và một đại đội truyền thống của tiểu đoàn 3, bán lữ đoàn 13, tiểu đoàn đã bị cán nát ở Bêatơrít - được giao cho đại úy Phi líp, có trung úy Lơglô, người thoát nạn ở Huy ghét 6, làm phó chỉ huy. Từ Êlian 2 xuống với quân số ba đại đội nhỏ của tiểu đoàn Ma rốc, thiếu tá Nicôla lấy một khu vực phòng ngự ở phía tây và Clêmăngxông cho Huy ghét 4 trở thành Li ly 3. Lính Ma rốc cũng được bố trí ở Clôdin 1, trở thành Lily 1 và xây dựng giữa hai khu vực đó một điểm tựa mới, Lily 2. Như vậy, từ Giuynông ở đông nam qua Clôdin và Lily, tính kín đáo của mặt tây hầu như được bảo đảm cho đến Huy ghét ở tây bắc. Chính ở đó, chỗ đại úy Biza, là mắt xích yếu nhất.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #178 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:21:58 am »

Ngày 11-4, để ra oai cho Huy ghét 1, Clêmăngxông ra lệnh cho trung úy Buốcgiơ đi trinh sát về phía tây. Buốcgiơ cử ba trung đội nhỏ với hai sĩ quan: trung úy Spôgiơ và trung úy Lơglo, tách từ đại đội Phi líp. Mặc dầu có hai xe tăng chi viện, song Spôgiơ rơi vào một kẻ địch bướng bỉnh và ẩn nấp vững chắc, lại có hỏa lực mạnh buộc quân lê dương phải rút lui, Spôgiơ được dẫn về với một con mắt bị nổ và với anh trận đánh đã kết thúc; còn Lơgrô, người ta không rõ anh ở đâu. Trung sĩ Pốtchiê là người cuối cùng nhìn thấy lúc anh còn sống.

“Cách vị trí xuất phát của chúng tôi 800 mét, Pốtchiê viết, một người cũ của Bêatơrít, một đơn vị mạnh của Việt Minh đã bộc lộ cách chúng tôi khoảng sáu mươi mét, trung úy Lơgrô ra lệnh xung phong. Nấp trong một đường hào, chúng tôi bị chặn lại, cách vị trí của Việt Minh 20 mét. Trung úy dẫn đầu đơn vị và khi tôi đưa mắt tìm anh để biết ý định của anh như thế nào, anh đã nằm sõng soài cách tôi khoảng 5-6 mét. Tôi bò đến chỗ anh. Anh bị thương ở đùi bên trái - một vết thương sâu ở bên trong đùi - và báo vụ viên của anh cũng đã chết bên cạnh anh. Tôi làm ga rô cho anh bằng cuộn băng cá nhân, trong lúc một hạ sĩ nhất chặn giữ Việt Minh đang phản kích và ném lựu đạn. Tôi muốn đưa anh ra phía sau nhưng trung úy ra lệnh cho tôi tập hợp trung đội lại để tiếp tục tân công, không cần lo lắng cho anh. (Chú thích: Báo cáo của trung sĩ Pie Pốtchiê viết ngày 25-4-1955 ở Si di Ben Abe. Hăng ri Lơgrô sinh năm 1928. Đến tháng 7-1953 được cử đi Đông Dương, đến Sài Gòn ngày 13-10. Bổ nhiệm vế tiểu đoàn 13, bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc 13 rồi huấn luyện viên trung đội học viên sĩ quan, bị thương vì lựu đạn gài. Cuối 1953 được không vận lên Điện Biên Phủ cùng bán lữ đoàn 13.)

Pốtchiê kéo Lơgrô vào sau một mô đất để tránh đạn cho anh và cùng vài lính lê dương, trở lại chiến đấu, thoát khi bị bắt và dẫn một chục người trở về Huy ghét 1. Chẳng ai gặp lại Lơgrô và người ta cũng chẳng bao giờ được biết liệu có phải một quả đạn đã kết liễu đời anh hoặc có phải Việt Minh, coi như anh đã chết, bỏ anh lại trên trận địa. Những ngày hôm sau, nhiều đội tuần tra đã rà như chải lược dày "vùng ruộng khô chỉ có những con suối nhỏ ấy. Vô hiệu”.

Chưa đầy hai mươi bốn giờ sau khi Spôgiơ bị loại khỏi cuộc chơi và Lơgrô của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc
bị mất tích, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc mất một sĩ quan thứ hai và vẫn là đại đội 7 bị đánh. Đại úy Đờlaphông không hết lời khen với thiếu úy Phơragona và với Lơ Cua Grăngmedông, ba sĩ quan là một kíp vững chắc. Đờlaphông bị giết ngày đầu tiên, Phơragôna cùng một số phận vào vài ngày sau. Trong bức thư do thiếu tá Liêdenphen viết cho ông Phơragôna bố: "Đại đội 7 trèo lên sườn đồi trước khi trời tối để thay phiên cho một đơn vị dày dạn thử thách, trên một vị trí nổi tiếng là ảm đạm: Êlian 1. Cuộc thay phiên tiến hành tinh tế, khéo léo vì hai bên đối địch chỉ cách nhau gần 50 mét và không ngừng quấy nhiễu nhau. Tuy nhiên việc bố trí trung đội Phơragôna đã được thực hiện tốt với ít tổn thất. Suốt đêm, hỏa lực tiếp tục, cối, pháo 105 và đại bác không giật, thêm vào đó là vũ khí nhẹ bộ binh và lựu đạn. Phơragôna cảnh giác đề phòng một phần ngày 12-4 rồi anh xuống sở chỉ huy của trung úy Lơ Cua để báo cáo trước khi về chỗ nghỉ, chính ở chỗ này một quả đạn cối đã làm anh tử thương" (Chú thích: Sinh tháng 7-1929, D.Phơragôna đi Đông Dương, được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc. Cùng tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 9-4.)

Một quả đạn cối. Như Đờlaphông. Các lính lê dương của anh đã quấn Phơragôna bằng một trong vô số chiếc dù ngổn ngang trên mặt đất và đưa anh đến trạm giải phẫu của bác sĩ Viđan. ông không làm gì được nữa, vì "cậu bé Phơragôna", như Liêdenphen vẫn gọi anh, đã chết. Đêm ấy, đại dội 7 đã phải trả giá đắt: 9 người bị giết trong đó có Phơragôna và 21 người bị thương trong đó có thiếu úy Morăng mới nhảy dù xuống. Ngày hôm sau 13-4, đại đội 7 lại bị thêm 4 người chết và 11 người bị thương. Mệt lả và ngủ đứng, lính lê dương sẽ được thay thế bởi đại đội 6 của đại úy Bulanhghiê .

Trước Huy ghét 6, áp lực đang tăng lên và cứ điểm ngày đêm bị những đòn pháo kích không chịu nổi. Dưới tác động của đại úy Biza, đơn vị đồn trú đã tổ chức thu lượm và mai táng các tử thi nằm ngổn ngang trên cứ điểm. Xung quanh cứ điểm hệ thống hàng rào đã được khôi phục rồi xây dựng thành hai lớp, mìn được bố trí để chống địch tiếp cận. Tuy nhiên, cứ điểm vẫn bị cô lập ở phía tây bắc của đường mòn và người ta có thể tự hỏi quân số giao cho Biza có ích lợi hơn ở nơi khác không. Khó khăn mà họ phải chịu khi bị bao vây kéo dài là thiếu nước. Biza đã cho đào một cái giếng nhưng nước không dùng được. Cũng như lương thực, nước phải mang từ ngoài vào bằng những cái can. Việt Minh hiểu rõ điều đó và họ vừa bắn phá cứ điểm vừa bắn phá con đường nối liền cứ điểm với tuyến hai. Sự liên lạc chỉ có thể thực hiện bằng cách ban đêm cắt nhanh đường băng hạ cánh, sử dụng cái mương đã bị gài mìn một phần hoặc đường mòn Pa vi bị những đường hào của Việt Minh đi qua. Trong cả ba trường hợp, rủi ro đều cao.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #179 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:23:29 am »

Ngày thứ hai 12-4 là một ngày xấu. Ở chỗ lính dù người Việt cũng như ở chỗ lính lê dương của trung úy Phơrănoơxoa. Nhưng từ ngày 13-3, có những ngày tốt đẹp ở Điện Biên Phủ không"I Thi.êu úy Thiên, trung đội trường ở bảo an đoàn dã bị đại bác không giật 57 li bắn chết. Đến trưa, sau bữa ăn, một quả đạn 120 li nổ trong một đường hào gần sở chỉ huy. Lần này trung úy Mô rít Mêríc bị thương và trung úy Rastuin bị giết ngay tại chỗ. Rastuin đáng thương muốn làm yên tâm vợ là Pirét đang mang thai đứa con thứ ba, đã viết thư cho vợ ngày 24-3:

“Sự suy nghĩ của em luôn ở trong đầu anh và anh phát ốm lên khi hiểu rằng nỗi lo âu của em sâu sắc biết chừng nào. Dó là điều mà anh khổ tâm nhất. Tuy nhiên anh có lòng tin trọn vẹn và em biệt đấy anh có những binh lính. Những binh lính tốt lành. Vả chăng, số mệnh của chúng ta ở trong tay của Chúa. Điều gì Chúa muốn xây thì sẽ đến. Một lần nữa, anh rất tin.

Anh kết thức bằng câu "anh ôm hôn các con". Pirét Rastuin không chờ đợi cái tang này; cô đã từng có nỗi đau của mình khi bố mẹ cô, ông bà cô và bà dì đã mất cả ngl~rời lẫn của cải năm 1940, khi những cơn lũ dặc biệt đã tàn phá vùng Amêlilê Banh nơi họ sống. (Chú thích: Sianh năm 1924, Giắccơ Rastuin tốt nghiệp Xanh Xia năm 1947. Với cấp thiếu úy, anh chọn đội lê dương. Tháng 2-1949 rời Xi di Ben Abe đi Pa ri để sang Đông Dương. Tháng 11 về Oócli để đi nhiệm kỳ 2 ở Đông Dương. Bổ nhiệm về tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, cùng tiểu đoàn không vận lên Điện Biên Phủ.)
Với hai người bị chết và một người bị thương đã được sơ tán, ổ đề kháng số 6 mất ba sĩ quan trong ngày 12.

Clêmăngxông, mà nguồn dự trữ nhân lực không phải là không thể cạn kiệt, không có khả năng để lấp những chỗ hổng và ngày 14 chỉ cử được mỗi một sĩ quan có sẵn, trung úy Êríc Vainơbécgiê. Là sĩ quan dự bị cũ của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, anh trở thành phó của trung úy Phơrăngxoa, còn Phơrăngxoa thì lại là người phó của Biza.

Ở các pháo thủ của tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa, trung úy Bruynbrúc ngày 20-3 viết thư cho em là Môritxơ với giọng thư rất lạc quan: "Mọi việc rất tốt đẹp, tinh thần rất cao, anh nghĩ rằng bọn anh sẽ giữ vững. Em hãy giữ lấy vài bài cắt trên báo vì anh muốn đọc khi công việc này kết thúc".

Buổi tối, Bruynbrúc viết vài chữ cho em gái Alíc và như thường lệ, anh chỉ viết những chuyện tầm thường. Alíc mới dọn đến một căn hộ mới ở Ru be, anh yêu cầu cô nên chọn lọc đồ đạc của anh "và nhất là mang đi tất cả các sách của anh, những sách đó sẽ có ích cho anh sau này". Anh thêm ba dòng với một giọng dè dặt có chủ ý: "ở đây mọi việc đều suôn sẻ, tinh thần rất tốt, các anh đầy quyết tâm và người của anh tuyệt vời. Em đừng quá lo lắng, như vậy chẳng có ích gì, anh tin ở số mệnh của anh”.

Đúng là anh có sự tự tin nhưng cuối thư anh trìu mến dặn dò Alíc: "Khi nào buồn, em cứ sử dụng tất cả những gì anh có”. Anh đã ở tháng thứ mười ba trong nhiệm kỳ công tác.

"Khi nào buồn... Ngày thứ ba 13-4. Khi có một đợt pháo kích vào đại đội 4 pháo binh. Một quả đạn chui vào hầm sở chỉ huy dưới mặt đất và nổ với một sức mạnh và tiếng vang làm vỡ cả tường bằng đất sét. Mảnh đạn cắm vào ghế, vũ khí và các đài phát. Thượng sĩ Mo rô bị thương, một đồ họa viên và một báo vụ viên bị co cứng cơ, thượng sĩ nhất Poatơvanh bị vùi một nửa dưới vách ngăn bị đổ, phải mất hai giờ mới khôi phục được trí nhớ. Thiếu úy Bay xê, sĩ quan phó, cũng bị sốc, nhưng nhanh chóng hồi phục, ngạc nhiên thấy mình không bị mảnh đạn nào. Phải đợi khói và bụi tan đi mới thấy được tình hình chính xác. Trong không khí yên tĩnh còn ít nhiều bị nhiễu loạn bởi những tiếng đạn nổ ở xa xa, có những tiếng nói gần như thì thào: "Bay xê... tôi bị thương...".

Những lời đó nghe không được rõ lắm. Nhờ ánh sáng ban ngày dọi xuống từ một lỗ thủng trên mái. Bay xe nhận ra thân thể cấp trên của mình, nằm dài trên mặt đất, bất động. Với sự giúp đỡ của hai pháo thủ ở sở chỉ huy, Bay xê cố gắng kéo người bị thương đến giường của anh nhưng nỗ lực đó làm cho người bị thương rên rỉ: "Cái lưng... Bruynbrúc thều thào. Bị thương. . . Ở lưng. . . " .

Thận trọng đến cực độ, họ nâng anh lên cái phản nằm và để anh nằm sấp. Một vết thương sâu cắt phần dưới lưng anh và có khả năng là thận đã bị thương, có thể bị cắt. Làm thế nào để chữa một vết thương như vậy" Chẳng ai dám liều lĩnh. Bay xê kiểm tra xem máy điện thoại có hoạt động nữa không, rồi yên tâm, anh gọi bệnh xá, nói rõ tình hình, yêu cầu cử gấp đến một thầy thuốc và những người khiêng cáng. Người thầy thuốc, đừng có mong, chỉ có các y tá đến, có thể là một y tá thôi, anh này chẳng làm được gì và chỉ đưa Bruynbrúc đến chờ phân loại của bác sĩ Grauuyn. Để chu đáo hơn, sau đó Bay xê gọi sở chỉ huy của phân khu và thiếu tá Va đô cầm máy nghe, phó đại đội trưởng pháo báo cáo. Va đô nghe qua đã hiểu ngay, ông ngoảnh lại nói với cha Tơranhcăng đang ở trong hầm: "Thưa cha tuyên úy, cần đến chỗ Bruynbrúc ở đại đội 4 pháo, anh ấy bị thương”. Rồi nói vào máy với Bay xê: "Được rồi, cha tuyên úy sẽ đến".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM