Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:28:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp  (Đọc 164103 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #180 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2008, 11:24:27 am »

Cha Tơranhcăng đến Điện Biên Phủ từ giữa tháng hai. Thay vì đi theo những giao thông hào đứt quãng và đụng vào những đống dây kẽm gai, tuyên úy đi trên một đường ngoằn ngoèo dẫn đến đại đội 4 pháo mà những hốc chứa đạn là mục tiêu của địch và hốc này kết tiếp theo hốc kia bị phân rã, vứt những quả đạn trơ lên nền đất lạnh lẽo. Đến bờ một đường hào sâu nối liền với các trận địa pháo, cha tuyên úy ngập ngừng rồi nhảy xuống đáy hào nhìn không rõ. Các pháo thủ người châu Phi đang ngồi xổm, thậm chí nằm trên đất sét đợi pháo kích chấm dứt. Họ giãn ra nhường lối cho cha tuyên úy, cha bước vào căn hầm trú ẩn lặng lẽ. Bay xê đang cầm điện thoại, chắc là báo cáo với sở chỉ huy hỏa lực. Sáu người Pháp đang ở đó, cánh tay lủng lẳng, vô ích.

“Áo quần và mặt mũi của họ bám đầy một loại bụi xám làm cho những người còn đứng cũng như người đã nằm xuống dưới đất ngày càng giống nhau, cha Tơranhcăng viết. Vả lại ở đây không còn phân biệt được người da vàng, da đen, da trắng nữa, tất cả chúng ta đều thuộc giống xám nhạt của sự kinh hoàng và sự khốn khổ".

Ở gian sát cạnh "phòng" Bruynbrúc, những người bị thương nhẹ ngồi lưng dựa vào vách. Chẳng ai nói một câu. Sau khi nhìn vết thương kinh sợ, linh mục quỳ xuống ở đầu giường. Trong hơi thở, Bruynbrúc cảm ơn cha đã đến và bắt đầu xưng tội. Cha Tơranhcăng ngăn lại và nói với anh, những tội lỗi của anh đã được tha thứ vì anh đã hối tiếc. Quan trọng hơn là anh đã được miễn tội - cha đã cho anh - và chịu lễ ban thánh thể.

"Tôi có mang những bánh thánh đến...", tuyên úy nói thêm.

Ông chỉ cho anh một miếng nhỏ bởi vì bánh thánh rất hiếm mà nhu cầu thì lại quá nhiều. Ở phía ngoài, khi một quả đạn nổ, một đám bụi xám rất mịn rơi từ mái xuống và những con mắt lo lắng lại ngước lên nhìn. Cha Tơranhcăng đã đọc tên người sĩ quan trên cái hòm con đặt ở đầu giường - Bruynbrúc - và im lặng cầu nguyện bên cạnh con người đang bị vết thương cày xới. Ở Điện Biên Phủ, từ khi anh ngăn chặn được Việt Minh bằng các khẩu pháo của anh ngày 30-3, tất cả mọi người đều biết anh. Một người y tá đến tiêm cho anh một ống moócphin. Những người khiêng cáng đi theo anh làm anh kêu lên đau đớn khi họ muốn dìu anh gần như ở tư thế đứng, dựa vào lưng của Bay xê, để đi qua cửa chật hẹp của hầm trú ẩn, để đặt anh nằm lên cái cáng đặt trong đường hào di đến cửa hầm trú ẩn. Tình trạng sức khỏe của anh đáng lo ngại đến mức anh được chuyển thẳng đến phòng mổ nơi bác sĩ Ginđrây vừa mới thực hiện xong một ca mổ. Mi mắt bị sạm đi vì quá mệt mỏi, đôi mắt của nhà giải phẫu trẻ tuổi bị đỏ lên và lồi ra. "Anh vừa nói là Bruynbrúc, trung úy Pôn Bruynbrúc của đại đội 4 pháo binh?” ông hỏi người ý tá có ý hoài nghi.

Ông quen Bruynbrúc? Họ cùng ở một trung đoàn pháo binh ở Xutxơ ở Tuynidi năm 1952, rồi gặp lại nhau ở Mác xây, năm sau, ngồi với nhau một tối cuối cùng trước khi lên tàu sang Đông Dương. Chiến tranh đã chia cách họ. Ginđrây thậm chí không biết là Pôn chỉ huy một đại đội pháo bắn cách trạm giải phẫu của ông không đến hai trăm mét. Ông chăm chú khám vết thương của người bạn và cái bĩu môi của ông biết trước là tình hình dễ xấu đi.

“Không còn gì để làm nữa, mà cũng chẳng còn hy vọng, Ginđrây viết cho Giêra Bruynbrúc, em của Pôn. Tuy nhiên, anh ấy đã nhận ra tôi, đã nói với tôi vài lời: "ông bạn thân đáng thương của tôi, tôi... " Tôi không hiểu anh nói gì ở đoạn sau. Anh bình tĩnh, không đau đớn nữa, nhưng mắt anh đã mờ đi. Tôi quỳ xuống bên anh, đờ đẫn và vái anh và tôi gọi tuyên úy, cha đã làm lễ lâm chung cho anh. Anh chết trong tay tôi, tôi ôm anh mà khóc, vuốt mắt cho anh, đặt tay anh chéo vào nhau và làm những việc cần thiết để mai táng anh”. (Chú thích: Sinh năm 1926, Pôn Bruynbrúc vào học Xanh Xia 1948. Được cử sang Đông Dương 1-1953. Bổ nhiệm vào tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa, anh ở vùng châu thổ sông Hồng rối Nà Sản ngày 4-12 kế tục đại úy Công bơ ở đại đội 4 pháo. Không vận cùng đơn vị anh lên Điện Biên Phủ ngày 25-12.)
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #181 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:12:44 pm »

Chương XII
TIỂU ĐOÀN 2 DÙ NGOẠI QUỐC TRƯỚC HUYGHÉT I

Tháng tư ở Isaben cũng khó chịu đựng như ở phân khu trung tâm. Nằm trên tả ngạn dòng sông Nậm Rốm, vị trí nhô lên bên hữu ngạn một cục bướu, điểm tựa của trung uý Uyem, nối liền với vị trí chính bằng cầu Xuđra. Từ ngày 13 tháng 3, Lalăng hiểu rằng một ngày nào đó, không thể vượt qua cầu dưới hỏa lực. "Chúng tôi ở cách gần 100 mét ở phía nam đường băng dự bị, Uyem viết, và những lính Thái của tôi đã quen cuộc sống dưới đất khi cuộc tấn công diễn ra đêm 30 rạng ngày 31-3...”.

Cùng một lúc khi họ tấn công vào cát cứ điểm Đôminíc và các cứ điểm Êlian, Việt Minh nghi binh ở điểm tựa của Uyem giả vờ như tổng tấn công. Được pháo và cối của trung uý đanlơ chi viện tốt, lính Thái chịu đựng hai cuộc xung phong và Việt Minh không vượt qua hàng rào kẽm gai.

Ý nghĩ không thay đổi của Lalăng là làm giảm bớt sức ép của Việt Minh, đừng để bị bóp nghẹt và ngày 6-4, được tin là đường hào của Việt Minh đã đến chân hàng rào ở mặt tây, ông chuẩn bị một cuộc hành quân giao cho đại uý Giăngxênhen thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri. Giăngxênhen tập hợp đại đội 6 của đại uý Buýtsiazô, đại đội 5 của trung uý Tymăng và một đơn vị của tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 Angiêri với đại uý Giăngđơrơ; ông lại huy động xe tăng của Prêô. Một cuộc chiến đấu ngắn và ác liệt nhưng đạt kết quả dương: hơn 50 Việt Minh bị giết và khoảng 300 mét đường hào bị bít lại. Nhưng cái gì cũng phải có giá? 23 người bị giết và bị thương trong đó 8 hạ sĩ quan và trung uý Giắc Thuyô mất một mắt. Bốn ngày sau, ngày 10-4, một đường hào mới của Việt Minh cắt ngang sân bay.

Biến động lớn vào ngày 13. Hai đại đội của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri lấp các đường hào ở phía bắc Isaben nhưng công việc kết thúc bằng một cuộc đấu súng quyết liệt. Có một người chết và chín người bị thương trong đó có hai sĩ quan; trung uý Benhabít bị thương nhẹ còn trung uý Rô be Đavan bị một loạt đạn ở bụng và người ta lo đến tính mạng của anh. Trung uý Clêmăng kế chân Rô be Đavan. Đêm đêm hỏa lực của Việt Minh tiếp tục quấy nhiễu, chuông báo động bị tấn công và khi trời đã sáng, phải đi lấp lại hào. Những cuộc bắn cối hạng nặng không giảm bớt. Mất ngủ không còn chịu được nữa.

Ngày 15 ở điểm tựa Uyem, được đặt tên lại là điểm tựa "sân bay”, đại uý Đêdirê thuộc tiểu đoàn 3 Thái, bị thương và trung uý Xiôvơ thay thế ông. Ngày hôm sau, hành quân mới ở bên ngoài với hai đại đội lê dương và các xe tăng. Quân Việt Minh rút đi và mặt đất được san bằng hàng trăm mét. Binh sĩ là thợ đắp đất hơn là lính. Sơ kết trong ngày: 3 người bị giết và 11 bị thương. Ngày 17, thêm 1 người bị giết và 7 người bị thương. Cuộc sống thường nhật ở Isaben.

Ngày 19, lính lê dương của đại đội 10 tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh nước ngoài (đại uý Mazô), công kích các hào khác. Việt Minh đánh trả bằng súng cối với một nhịp độ mà những người bảo vệ Isaben chưa từng biết. Đại đội 10 rút và Việt Minh đang vui mừng thì khoảng 17 giờ, được Prêô và các xe tăng Shaffee chi viện, đại đội 11 của đại uý Phuốcniê tung lại cuộc tấn công. Lần này, Việt Minh rút lui để lại 20 người chết. Nhưng 7 lê dương bị thương làm phình quân số của bệnh xá. Cùng ngày, trung uý Uyem ghi: "Thiếu tiếp tế chúng tôi ăn bữa ăn nóng cuối cùng".

Đêm 19 rạng ngày 20, vẫn khó mà ngủ được, chuông kêu luôn. Sự quấy nhiễu bằng pháo kéo dài hơn bốn giờ và súng cối lại bắn tiếp. Trong ngày, các cuộc bắn pháo thưa hơn nhưng đột ngột tiếp tục lại, làm hao tổn sức chống đỡ của thần kinh các cựu chiến binh. Đến 21 giờ, trung uý Xiôvơ chờ đội để được thay phiên bởi trung uý Mônla Đuy Giuốcđanh thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri nhưng việc chuẩn bị để tấn công ban đêm thôi thúc và anh quyết định ở lại đến nửa đêm. Một đội trưởng đội tuần tra thông báo Việt Minh đang lăm le tiếp cận. Máy điện thoại để ở bên ngoài, có một tấm kim loại bảo vệ, đằng sau đó đắp hai, ba mét khối đất. Xiôvơ ra khỏi hầm trú ẩn để báo cáo. Anh ra lệnh cho trung sĩ Bácđô bắn cối vào phía trước các hào. Bácđô bắn một chục quả, nhưng lại gần Xiôvơ để xin chỉ thị mới thì Việt Minh bắn ĐKZ 75.

"Một đòn chí mạng, Bácđô viết, một quả 75 trúng ngay vào tấm biển, một vừng sáng lớn, một tiếng nổ cực kỳ dữ dội và tôi bị sức ép đẩy vào đáy hầm và cảm thấy bỏng ở vai”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #182 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:13:48 pm »

Bácđơ nghe tiếng kêu vội vã lao tới người hầu cận của trung uý Xiôvơ, đùi bị một mảnh đạn chọc thủng; anh băng bó tạm cho anh ta và ngạc nhiên không thấy trung uý đâu liền trở lại chỗ đống đổ nát.

“Tôi không thấy ai trong đường hào, anh viết cho Xêxin Xiơvơ chị dâu của trung uý, và như một cái máy tôi chạy vào hầm trú ẩn. Anh đang ở đó, sức ép của đạn nổ đã ném anh nằm sõng soài bên cạnh giường tôi, không một cử động, không một tiếng rên. Mạch còn đập, bốn người lính Angiêri đặt anh lên một cái cáng và đưa anh đến trạm giải phẫu”. (Chú thích: Sinh năm 1927, nhập ngũ ở sư đoàn thiết giáp số 2 tháng 7-1943. Vào học Xanh Mai xen. Thiếu uý ngạch sĩ quan dự bị 1-1951, đi Đông Dương, đến Sài Gòn 5-1952 - Bổ nhiệm về tiểu đoàn 3 Thái, cấp trung uý (dự bị), Xiôvơ ở Nà Sản, trước khi không vận lên Điện Biên Phủ tháng 12.)

Trong những căn buồng dưới đất toát lên mùi xác chết và mùi áo quần bẩn như ở chỗ bác sĩ Grauuyn, bác sĩ Rêdiô đã mổ cho Xiôvơ nhưng hôm sau anh đã chết trong tình trạng vẫn bất tỉnh.

Vào giữa tháng tư, tinh thần những người phòng thủ tập đoàn cứ điểm được nâng lên đầy ấn tượng khi một sự ban phát quân hàm đúng lúc đã diễn ra nhằm một mặt để khen thưởng những người thâm niên, mặt khác để khích lệ những người dũng cảm. Địa vị nào, vinh dự ấy... đại tá Đờ Caxtơri nhận những chiếc sao thiếu tướng, Lăng le, người mất ngủ, Lalăng, bị bao vây ở Isaben, được thăng cấp đại tá và Điện Biên Phủ thêm ba trung tá mới: Biga - điều hiển nhiên, Xêganh Pajít và Vayăng. Những đại uý được lên thiếu tá là Giăngxênhen của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri, Turê thuộc tiểu đoàn 8 xung kích, Thômát thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa và Viơle, phó chỉ huy tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc. Trung uý bác sĩ Đờ Các pho (tiểu đoàn 8 dù thuộc địa) được thăng cấp đại uý "bằng phong trực tiếp", Ba rô thuộc tiểu đoàn 3 Thái và Vécđaghê (tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc) được thăng cấp đại uý. Những thầy thuốc khác được đánh giá là còn quá trẻ để được thăng cấp và "sẽ được những phần thưởng quân sự". Prêmiliơ (tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 Ma rốc), Riviê (tiểu đoàn 6 dù thuộc địa) và Giuốcđăng (tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù) "sẽ được đề nghị trong danh sách đặc biệt".
Các trung uý được thăng cấp đại uý: Bach thuộc tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương 13, Buốcgiơ thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, Lơglăng  thuộc sở chỉ huy của Lăng le và Pica của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh ngoại quốc. Ở chỗ quân dù: Đềmông và Bayi thuộc tiểu đoàn 8 dù thuộc địa, cùng Lơ Buđéc, Tơráp, Uynđơ, Lơ Pa thuộc tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, Brăngđông và Luyxiani ở tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc. Sự chỉ huy của anh ở Êlian 2 xứng đáng để trung uý Nicốt được nhận chiếc lon thứ ba. Cuối cùng, những thượng sĩ nhất trẻ tuổi đã có gù vai (thành cấp thành sĩ quan): Buliê (tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù), Đêmulanh (tiểu đoàn 8 xung kích) và Erô (tiểu đoàn 6 dù thuộc địa), chỉ nêu tên đến đây thôi.

Khen thưởng và thăng cấp đi đôi, tuy nhiên làm sao mà khác được khi hằng ngày, những dòng người bỉ thương ùn lại trước các trạm giải phẫu. Grauuyn và Lơ Đamany bắt đầu phàn nàn về sự trì trệ của chỉ huy. Các cuộc thăng cấp đặc biệt là một chuyện nhưng trong giả thuyết mà mỗi người lính được thăng cấp hạ sĩ nhất hoặc trung sĩ, thì chất lượng vẫn như thế còn số lượng chiến binh chẳng tăng thêm được bao nhiêu. Vấn đề ưu tiên là tiếp tế thực phẩm cho trận đánh.

Sáng ngày 17-4, một loạt bốn quả 105 rơi xuống một đoạn mương, ở đó một trung đội của đại đội 31, tiểu đoàn 3 công binh, đại đội của đại uý Escăng đang làm việc. Tiếng kêu la đau đớn của những người bị thương. Chỉ có một người không nói năng gì, nhưng nằm ở đáy mương; lại cũng là một sĩ quan dự bị, trung uý Pulanh. Anh bị giết vì một mảnh đạn lớn bằng bàn tay. (Chú thích: Sinh tháng 7-1930, Misen Pulanh được gọi nhập ngũ năm 1950 ở Trung đoàn 5 công binh. Học trường sĩ quan dự bị ở Ăng giê. Tình nguyện với tư cách sĩ quan dự bị, xuống tàu đi Đông Dương tháng 7. Bổ nhiệm về đại đội 31 công binh, trung uý (dự bị) tháng 10-1953, được không vận lên Điện Biên Phủ.)

Thiếu tá Clêmăngxông, chỉ huy tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc lo lắng cho Huy ghét 6. Có hợp lý không khi nhốt đại uý Biza cùng các lính dù người Việt của ông và trung uý Phơrăngxoa cùng các lính lê dương của anh ở trong điểm tựa mà mỗi đêm Việt Minh lại đào những đường hào mới hướng vào đó? Từ ngày Huy ghét 7 sụp đổ, trung uý Huyginanh bị bắt, Việt Minh đã thay đổi chiến thuật. Dù quan trọng như thế nào chăng nữa, mà không tự cung cấp được lương thực thực phẩm và nước uống thì một cứ điểm cũng sẽ bị loại bỏ. Để tiếp tế Huy ghét 6, phải cầu cứu Biga bởi vì bây giờ phải can thiệp bằng vũ lực chứ không phải là việc lao động tiếp tế đơn giản.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #183 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:14:40 pm »

“Ngày 15-4, Biza nhớ lại, đoàn mang can đựng nước bị cối bắn dữ dội, trong số 37 tù nhân và người bị giam quân sự làm lao động vận tải, 28 người bị giết và bị thương, chỉ có 5 can trong số 20 can là đem được đến nơi. Về mặt đạn dược, chúng tôi được tiếp tế tốt về đạn súng trường, súng máy nhưng kho lựu đạn và đạn cối thì không đủ. Về lương thực thực phẩm chúng tôi có nhiều kiện hàng thả dù rơi ở bên trong hàng rào và bên ngoài nhưng việc thu lượm chỉ có làm dưới làn đạn. Ngược lại, chúng tôi thiếu nước vì, trái với truyền thuyết, đến cuối tháng tư mới có mưa”.

Biza biết được qua các liên lạc rađiô, Việt Minh không chỉ đi nhặt các kiện hàng tiếp tế cho ông mà họ còn cố cô lập điểm tựa và những đường hào mới đã cắt đường mòn Pa vi ở đoạn nằm giữa Huy ghét 1 và Huy ghét 6 (Chú thích: Đêm ngày 11 rạng ngày 12-4, Việt Minh đã gài mìn bằng nhựa tổng hợp bakêlít không thể rà được, giữa Huy ghét 6 và Huy ghét 1 (Phiếu của GONO số 208 ngày 12-4).). Việt Minh còn đào những giao thông hào về hướng Huy ghét 1 có tính chất phô trương đến mức điểm tựa của Biza thì chưa bị đánh mà mục tiêu sắp tới của Việt Minh đã được chỉ định.

Tối thứ bảy 17-4, có quyết định sơ tán. Caxtơri, Lăng le, Biga đều đồng ý: không thể tiếp tục để binh sĩ bị thương vong để tiếp tế nước cho một cứ điểm biệt lập. "Củ khoai nóng" được chuyển cho Clêmăngxông. Ông này truyền lệnh cho Biza. Thực tế, quyền tự do hành động dành cho ông, ông sẽ chọn giải pháp thích hợp nhất. Cờ trắng dĩ nhiên là bị loại trừ và, thực ra, một sự tin cậy hoàn toàn đã dành cho Biza, là người từ khi đến Điện Biên Phủ đã tỏ ra "là được tin cậy". Còn về người bị thương, người ta hy vọng các bác sĩ Việt Minh sẽ chăm lo cho họ.

Cuộc nói chuyện trên rađiô giữa Clêmăngxông và Biza, theo lời đồn, là bằng tiếng Anh để đề phòng nghe trộm. Về căn bản, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc cho Biza biết là ông có toàn quyền và không ai dược chỉ trích gì nếu ông hạ vũ khí. Tuy nhiên đại uý trả lời là ông sẽ cố gắng thoát ra bằng các phương tiện của mình. Ông yêu cầu một uỷ ban tiếp nhận ở phía bên kia chiến hào Việt Minh mà ông phải vượt qua. Clêmăngxông hứa sẽ làm mọi việc cần thiết và cuộc nói chuyện dừng lại ở đó.

Ý tưởng của Biza đơn giản: Trong lúc Việt Minh đang bận đánh nhau với lính dù của Biga hoặc tiểu đoàn dù ngoại quốc của Ghirô, hướng về phía nam, quân đồn trú Huy ghét 6 tìm vị trí thuận lợi và theo những đường dẫn được đặt cọc tiêu trong bãi mìn, lao tới hướng nam, ở sau lưng Việt Minh đang bận ngăn chặn lối đi qua của lính dù từ Huy ghét 1 đến.

Với giác quan sắc bén về thực tế, Biza không để bị lừa: sẽ có những tổn thất. Ông có hỏi ý kiến trung uý Phơrăngxoa? Các sĩ quan của ông? Hình như ông đã có sự quyết định "trong sự cô đơn của lương tâm mình".

Do bị tổn thất, được tổ chức lại thành hai đại đội do các đại uý Mác tanh và Biêng vô chỉ huy, tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc leo lên Huy ghét 1 lúc 20 giờ ngày 17-4. Nhiệm vụ đơn giản là: Kìm hãm Việt Minh, hỗ trợ cho quân đồn trú Huy ghét 6 lợi dụng lúc mờ sáng ngày 18 để chạy đến với quân lê dương đi đón họ. Chúng ta nói hoàn toàn lý thuyết. Người của Ghirô sẽ trải qua một đêm khó khăn bởi vì Việt Minh đã củng cố hệ thống đường hào ở phía tây Huy ghét 1 bằng các lô cốt, bắn súng cối hạng nặng và dùng súng máy bắn là là mặt đất mỗi khi quân lê dương toan tiến lên dưới tên lửa chiếu sáng.
Những hành động tấn công ở quy mô tiểu đội chiến đấu được tung ra dưới làn đạn dày đặc và cái giá phải trả cho phép hy vọng rằng Biza có thể thực hiện được kế hoạch của mình. Tiểu đoàn dù ngoại quốc đã có 17 người bị giết và 78 người bị thương trong đó có 5 sĩ quan: Mác tanh, Phuốcniê, Brăngđông, Rúc và Stabenrát. Thế là nhiều rồi.

Cũng đêm đó, một đại đội của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đã đi tới những địa điểm hành động. Đại đội chỉ có hai sĩ quan, trung uý Lơ Pa và một sĩ quan dự bị, thiếu uý Lêcuyê, một người Pháp ở Angiêri. Lêcuyê là "một anh chàng gan dạ đầy hăng hái", Lơ Pa đã đặt anh ta ở mũi nhọn của đội hình chiến đấu. Đầu tiên anh dùng đường mương, sau đó, như Clêđíc khi phản kích vào Huy ghét 5 đã cắt ngang đường băng hạ cánh. Nhiệm vụ: đạt tới hàng rào kẽm gai đầu tiên của Huy ghét 6.
Một ý tưởng phi lý?
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #184 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:15:54 pm »

Việt Minh bám trụ vững chắc trên các vị trí do các phu đào đất của họ xây dựng và các cuộc đấu súng vẫn tiếp diễn, làm sáng cả trời đêm và buộc các bộ đội phải hướng vào phía nam. Và lại vẫn những làn đạn là là mặt đất ngăn cản không cho ngẩng đầu lên trước khi nhảy vọt. Ở bờ dốc thoải phía trước, nơi trung uý Anlerơ cho bắn cối của tiểu đoàn 6, trung đội đi đầu đã mất phần chủ yếu của nó:

“Hai trinh sát của tôi và trung sĩ của tiểu đội mũi nhọn vừa bị những làn đạn bắn gục, chúng tôi như bị đóng đinh trên các tấm kim loại của đường băng, Lêcuyê kể. Đạn vạch đường đi cao hơn mặt đất chưa đến 50 cm. Không thể vận động! Khi những quả đạn đầu tiên của Anlerơ đã nổ, tôi muốn hiệu chỉnh đường bắn và trong bóng tối, tôi tìm báo vụ viên của tôi. Anh vừa mới bị giết cách tôi gần hai mét. Theo quán tính, tôi ngẩng đầu lên và đã bị trúng một viên đạn, nó gây nên một tiếng động lớn. Tôi vẫn còn tỉnh để nhận rõ rằng mình vừa bị câm - không kêu cứu được - vừa bị tê liệt. Một cuộc đi xuống địa ngục chậm rãi đã bắt đầu. (Chú thích: Sinh năm 1929 ở Angiêri, Alanh Lêcuyê cưới Hêliét và sinh được một con trai một tháng trước khi sang Đông Dương. Anh được phiên hiệu vào trung đoàn 9 dù của trung tá Brêsinhắc.) Ở sở chỉ huy của mình, Lơ Pa giận dữ vì không bắt được liên lạc bằng rađiô với trung đội đi đầu của ông. Khoảng hai giờ sáng, những tiếng nổ nối tiếp nhau và hai xe tăng, chiếc Đuômông và Muynhudơ, trút những băng đạn 12 li 7 để "ra oai”, tuy nhiên vẫn thận trọng tránh tiến lên để dùng đại bác quét các chiến hào đầu tiên. Trong bóng tối, chúng rất dễ bị tổn thương, thiếu uý Mengien chỉ huy các xe tăng hiểu rằng các tổ SKZ đang đợi trong bóng tối để cho các xe tăng đến đúng tầm súng của họ. Một rốc két đã nổ trên lá chắn dày của chiếc Muynhudơ”.

Đầu đầy máu, Lêcuyê nằm trên tấm PSP. Viên đạn đã làm vỡ sọ và gây thương tổn ở não. Bình thường thì viên sĩ quan trẻ đáng lẽ đã chết rồi, nhưng anh đã sống sót qua đêm này, một đêm không ngừng bị đạn vạch đường xiên rạch.

“Khi đạn trúng vào, anh viết, cái mũ sắt của tôi đã bị giật và quai mũ suýt làm tôi ngạt thở, tôi bị choáng váng nhưng không thấy bị đau. Tôi giẫy giụa chống lại để giữ tỉnh táo. Kiệt sức vì vết thương, vì mất máu mặc dù lấy hết nghị lực song tôi vẫn bị ngất đi". 

Hai người đồng đội cuối cùng đã nắm được tay anh và cố kéo anh chạy dưới làn đạn mà không nhận thấy một chân anh không còn tuân theo sự điều khiển của não.

“Họ đặt tôi cạnh Lơ Pa, anh nói với tôi vài lời để làm yên lòng tôi. Trời vẫn còn tối. Tôi bị rét cóng. Rồi tôi thấy mình ở trên mui xe Jeep, rồi trên một cái cáng, trong một đường hào kín. Trời đã sáng, mặt trời rọi chiếu. Tôi chỉ ý thức được trong giây lát rồi nhanh chóng đi vào hư vô. Khi họ đến chỗ phân loại, Grauuyn nhìn vết thương, ông nói với hai người lính dù: "Trung uý của các anh chỉ còn sống được hai giờ nữa thôi!" Cho rằng mình không còn làm được gì nữa, Grauuyn quay sang những người bị thương khác đang ùn lại trước nơi phân loại. Câu nói ngắn ngủi và tàn nhẫn vẫn ve ve như tiếng kêu của một con nhặng xanh trong đầu Lêcuyê: "Lẽ ra anh ấy đã chết! Còn hai giờ nữa để sống "

Vào đêm 17 rạng ngày 18, những tiếng vọng của trận đánh ban đêm làm yên lòng những người phòng thủ Huy ghét 6: Việt Minh đang bận mặt phía nam vậy thì có thể xuất hiện sau lưng họ và chạy đến những người bạn được bố trí đến đón mình. Tuy nhiên vẫn hy vọng họ không bóp cò khi những người sống sót của một đơn vị đồn trú chỉ còn vẻn vẹn hơn 150 người chạy đến. Đạn dược đã được đem chôn và tất cả những cái gì có thể phá hủy đều đã được làm. Biza đã cử hai trung đội đi trinh sát nhưng họ đã trở về thêm sáu người bị thương. Hai hạ sĩ quan chỉ huy họ, Lơ Gan và Văngđru, báo tin một đường hào mới của Việt Minh đã chặn đường rút lui.

Sương mù chưa tan hết khi Biza ra hiệu lệnh cho cuộc xuất chinh phi thường. Chết hoặc bị bắt! Đứng gần ông, là Vanhbécgiê, Lagácđơ, sĩ quan hên lạc và xa hơn một chút là Cuốc đét thuộc tiểu đoàn 2 Thái, trung đội của thiếu uý Latan thuộc đoàn bảo an đang bắt liên lạc với trung uý Phơrăngxoa thuộc tiểu đoàn 2 bộ binh ngoại quốc. "việc rút đi sẽ rất gay go, Biza dự kiến, nó sẽ làm tổn thất đến một nửa quân số quân đồn trú của tôi".

Hiếm khi những người vọt ra từ đám mù lại chạy nhanh đến thế. Nhưng tất cả Việt Minh đầu không ngoảnh về phía nam, một số trong đó chắc là bị bất ngờ, tuy nhiên họ không mất nhiều thời gian để quay lại và nổ súng. Lính lê dương và lính dù người Việt đi qua bằng sức mạnh, lựu đạn tung lên, những người ngã xuống, những người khác nhảy qua trên các đường hào của Việt Minh.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #185 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:16:59 pm »

“Có một lúc chúng tôi bị bao vây bởi những làn đạn súng tự động đang bắn vào một đường mòn mà chúng tôi phải vượt qua, Latan kể. Nấp sau một mô đất, tôi ở gần trung uý Phơrăngxoa. Bỗng nhiên, anh bị một viên đạn trúng cổ họng. Tôi vòng tay đỡ lấy đầu anh và gọi trung sĩ Tuốcne là người đã qua đào tạo y tá, nhưng anh cũng không thể làm gì được. Tôi cảm thấy thần chết đã tìm đến anh qua sự suy sụp của thân thể và khi bàn tay anh đang túm chặt lấy áo tôi bỗng buông ra. (Chú thích: Sinh năm 1923. Giăng Phơrăngxoa là lực lượng Pháp ở trong nước năm 1944. Vào học trường Cao đẳng quân sự binh chủng hợp thành. Thiếu uý tháng 12-1946. Được chỉ định đi Đông Dương tháng 6-1948. Trung uý Phơrăngxoa trở về Pháp tháng 2-1951. Trở lại Đông Dương nhiệm kì hai. Bổ nhiệm về tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, tháng 10-1953 được không vận cùng tiểu đoàn lên Điện Biên Phủ.) Tuốcne nói với tôi: "Thế là hết!" và một lát sau anh ấy đã chết. Tôi nói với trung sĩ Rốtxốtti, báo vụ viên và chúng tôi lại ra đi ... Khi nhảy qua vị trí Việt Minh, những người đang ở đó giãn ra khi chúng tôi đến, tôi mất thăng bằng và ngã ngửa vào trong hào, dưới con mắt sững sờ của một bộ đội Việt Minh, anh ta liền tẩu thoát nhanh hơn cú bắn các bin của tôi. Một lính lê dương không rõ tên thấy tôi, liền kéo tôi lên”.

Vanhbécgiê vượt qua chướng ngại vật, La gác đi trước anh, Cuốc đét gặp lại "với một nhóm riêng biệt, có phần nào bị thọt". Trung sĩ nhất Văngdru bị bắt làm tù binh và chết trong thời gian bị bắt, trung sĩ nhất Gan má bị thủng đạn, hạ sĩ nhất Lavô mất một cánh tay. Chắc là người ta có thể nói kế hoạch đã thành công nhưng với cái giá 80 người chết và bị thương. Một nửa quân số. Với 2 người chết trong đó có trung uý Phơrăngxoa và 18 người bị thương, các lê dương của tiểu đoàn 2 bộ binh ngoại quốc sống sót tìm lại chỗ của họ ở tiểu đoàn Clêmăngxông trong lúc lính dù người Việt đến Êlian 4, ở điểm tựa này Biza khôi phục lại hai trung đội và giao cho Lơ Gan và trung sĩ Phoátxốt.

Ở tiểu đoàn dù ngoại quốc, trừ "Lu lu" Mác tanh gửi đến chỗ bác sĩ Grauuyn, các sĩ quan bị thương không nặng. Rúc, mà người tùy tùng La Hốt đã bị giết, chỉ bị những mảnh nhỏ trên vai và mặt, Phuốcniê bị một viên đạn vào vai, còn một viên đạn khác xuyên mũ sắt của Stabenrát, làm rách một mảng da đầu. Băng bó xong, "Slab" đến hầm trú ẩn cùng ở với trung uý Đômigô . Bữa ăn trưa của lễ Phục sinh, anh đầu bếp người Việt của họ dành cho họ một sự bất ngờ: trứng ốp la và mỗi người một con gà quay. Chẳng ai hỏi gà này lấy ở đâu ra.

Ở phía bên kia đường băng, trong cái mương, nơi đang diễn ra một số hoạt động liên lạc và thay quân, cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn. Các cuộc đấu pháo giữa hai bên đã gia tăng.

“Đã gần hai giờ, chúng tôi trở về với vị trí gần máy bay Quyếctít Commăngđô, hạ sĩ Ítxe của tiểu đoàn 8 xung kích viết và chúng tôi được lệnh trở lên lại bằng đường con mương. Đó là buổi tối, vào khoảng 21 giờ. Tôi rơi vào một vụ nổ lớn, dữ dội, khi bụi đã tan đi, chân trái tôi đã bị xé nát. Thật không thể tin được! Và trung sĩ Prâynhông cõng tôi đến trạm cấp cứu của trung uý bác sĩ Cácfo. Bác sĩ nói với tôi? "Cậu bé ơi, cậu bị nặng đấy!" Tôi trả lời ông là tôi biết phần dưới cẳng chân của tôi bị xé nát. Ông hỏi tuổi tôi. Tôi mới đầy 20 tuổi. Ông cho dẫn tôi đến trạm giải phẫu, ở đây bác sĩ Hanz đã mổ cho tôi rồi người ta đưa tôi đến hầm trú quân y của tiểu đoàn 8, bên cạnh hạ sĩ nhất Lơgaréc”.

Trên chiếc cáng, Lêcuyê đang hấp hối, được đặt ở phía ngoài nơi phân loại, ở đây bác sĩ Grauuyn làm chủ lễ, một nhà xác ở ngoài trời gồm những chiếc cáng không tên và trên đó, những người đã chết đang bị lũ ruồi tấn công cùng những người mà tử thần rình ở đầu giường sắp bắt đi, dường như chờ đợi sự can thiệp kín đáo của số mệnh.

“Tôi nhớ rất rõ mình đã thức tỉnh trên một chiếc cáng, trong một đường hào, Lêcuyê nói. Tôi đã sờ lên người mình chiếc áo nhảy dù đã cứng vì máu khô đọng và không bị quấn băng ở đầu mặc dầu tôi nhớ rằng đầu tôi đã bị thương. Tôi thất vọng: Tôi đã không được săn sóc. Tại sao? Tôi rất bực bội, tôi ở đâu? Tôi cầm lấy chân một người đi qua. Anh ta cúi xuống người tôi, nói với tôi. Với những tác động mạnh của tay trái tôi cố gắng truyền đạt với anh ta. Một lúc sau, kiệt sức, tôi được đưa đến một nơi nhân đạo hơn, trước cửa phòng mổ, nhận biết được nhờ ánh điện mạnh”.

Ở đó vừa mới kết thúc một ca mổ, Grauuvn ra lệnh cho trung sĩ Đơđông đặt Lêcuyê dưới đèn không có bóng (đèn mổ). Ông cố thử làm cái việc mà không thể làm được.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #186 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:18:00 pm »

Lêcuyê :

“Một cơn đau ghê gớm đánh thức tôi. Tôi ở trong phòng mổ được chiếu sáng mạnh, hạ sĩ Xioni cắt tóc của tôi và Gimơrie Đờ Gala cởi giày cho tôi... Grauuyn ở cạnh bàn. Tôi ra hiệu với ông bằng ba ngón tay yêu cầu tiêm thuốc giảm đau cho tôi và làm cho tôi ngủ được”.

Người bị thương không còn gì để mất nữa, cần phải thử... với sự đồng ý của chính Lêcuyê, Grauuyn đã phẫu thuật và mặc dầu có những dự đoán bi quan nhất, điều kì diệu đã xảy ra đối với người bị thương, nằm dài ở một nơi hôi thối, tranh tối tranh sáng, gọi là "những hầm mộ", đã bình phục, dần dần, từ thế giới bóng tối bước sang thế giới những người sống: "sau những ngày dài đau đớn và không ngừng rên rỉ, Lêcuyê nhớ lại, cuộc sống đã giành lại những quyền của nó, sự minh mẫn của tôi ngày càng rõ nét hơn".

Bị bại liệt một phần, viên sĩ quan trẻ đã mất tiếng nói và không thể tự mình ăn uống. Nhưng tình đồng đội đã được phát huy cao độ và những người bị thương xung quanh anh đã quên nỗi đau của bản thân để giúp anh vượt qua nỗi đau của mình. Anh ở bên cạnh một người bạn thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù, trung sĩ nhất Lacốt. Biga đến thăm anh, cha Hanhrích cũng vậy và Giơnơviê Đờ Gala mỗi buổi sáng đều đến đầu giường anh. Nhưng Giơnơviê, có nơi nào trong những căn hầm hôi thối mà hàng ngàn mùi xông lên làm buồn nôn lại không có mặt cô và nụ cười của cô là một phần của đơn thuốc bác sĩ Grauuyn.

Bị súng cối của Việt Minh pháo kích và mỗi đêm lại bị vài mét hào mới đào của Việt Minh xiết chặt, Huy ghét 1 đã thành mục tiêu tự nhiên, mà đối với Việt Minh đây là mục tiêu kế tiếp Huy ghét 6. Mờ sáng ngày 18 một làn đạn 105 của pháp hiệu chỉnh kém, đã lấy mất một sĩ quan nữa của điểm tựa.

“Khi loạt đạn bắn tới, trung úy Cudanh chứng minh, tôi không có đủ thời giờ để hiểu rằng loạt đạn đó dành cho chúng tôi và tôi có cảm giác như bị tiêu tan với đường hào mà tôi đang ở đó giống như nó lún sâu xuống đất. Tôi bị đắm không phải giữa biển khơi mà ngay trên đất liền. Tôi bị ngạt, tôi cố thở nhưng mỗi lần hít vào chỉ thấy đất đầy mồm. Tôi nghĩ rằng mình sẽ chết ngạt bởi vì tôi càng cố gắng thì lại càng thấy vô hiệu. May thay, các hạ sĩ quan của tôi khi thấy tôi biến mất, đã đào bới, đào bới... Họ kéo tôi ra khỏi nhà tù đất sét, nhưng tôi đã ở trong trạng thái bị sốc đến mức người ta phải đưa tôi đến bệnh xá, nơi tôi gặp lại trung uý Spôgiô”

Đại uý Buốcgiơ chỉ huy Huy ghét 1 sinh năm 1925 ở Ain. Con trai một người sen đầm, thiếu sinh quân cũ, ông đã qua nhiệm kỳ thứ nhất từ 1947 đến 1950 và đã lấy vợ lúc trở về. Một năm sau ông lại lên tàu đi làm nhiệm kỳ hai và chỉ huy đại đội 4 của tiểu đoàn Clêmăngxông. Từ nay ông là sĩ quan duy nhất. Trung uý Đêboóc, được bổ nhiệm làm sĩ quan liên lạc và quan sát, đã bị giết vì mảnh đạn. (Chú thích: Sinh năm 1927, Gabrien nhập ngũ tháng 9-1944 ở Tơroay; xuất ngũ là trung sĩ tháng 8-1945. Sau 15 tháng dân sự, tái ngũ với thời hạn 4 năm, đậu bằng nhảy dù và ra trường Xanh Xia với cấp thiếu uý năm 1951. Trung uý ở trung đoàn pháo 32, sang Đông Dương rồi được điều về tiểu đoàn 3, trung đoàn 10 pháo thuộc địa ở Điện Biên Phủ.)

Buốcgiơ đã củng cố điểm tựa thành một công trình vững chắc, được trang bị 16 súng tự động bố trí trong hầm trú ẩn.

“Các lỗ châu mai nằm sát đất, vũ khí chỉ có thể bắn ở chiều cao 40cm, mỗi điểm quanh chúng tôi chịu hỏa lực của ít nhất ba vũ khí tự động. Hệ thống hàng rào có chiều sâu khoảng 30 mét và địa hình bằng phẳng không cho phép Việt Minh xung phong. Vả lại hỏa lực chi viện của pháo 105 đã được dự kiến và hiệu chirnh chung quanh chúng tôi”.

Chịu pháo kích ngày và ddêm, bị xiết chặt ngày càng gần hơn - hai đường hào của Việt Minh đã chạm vào hàng đầu tiên của rào kẽm gai, kiệt sức vì mất ngủ, lính lê dương đã mất đi cái phong thái vững vàng vốn có của họ.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #187 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:19:11 pm »

Buốcgiơ:

“Những ngày cuối cùng ở Huy ghét 1 thật là gay go. Mỗi đêm, Việt Minh cố thâm nhập vào hàng rào kẽm gai và tôi luôn luôn có một đội dự bị được trang bị tiểu liên, mỗi lính lê dương đeo một vòng lựu đạn quanh cổ. Một phần ba quân số ở vị trí chiến đấu ban ngày và hai phần ba ban đêm. Tôi còn lương thực vì, trước ngày 13-3, tôi đã dự trữ 10 ngày. Chỉ có nước là phải phân phối theo hạn định và chừng nào điều đó còn có thể làm được, mỗi đêm tôi cử một đội lao công gồm những tù nhân, người bị giam quân sự cùng với lính lê dương mang can đi lấy nước về”.

Cuộc thay quân đã được dự tính nhưng Clêmăngxông không còn nhiều người và đại đội 4 của tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn 12 lê dương ngoại quốc (đại uý Sơvaliê) được chỉ định để thay thế Buốcgiơ. Anh lại phải trở về vị trí! Là học viên võ bị Xanh Xia (khóa "Sáclơ đơ Phu Côn"), Sơvaliê cũng là thiếu sinh quân cũ. Anh hy vọng cuộc thay quân sẽ được thực hiện một cách bất ngờ nhưng, trong hoàn cảnh này, mỗi cử động nhỏ đều bị nhanh chóng theo dõi. Sơvaliê bị đặt dưới hỏa lực dày đặc và đụng phải những đường hào cần dùng hỏa lực rút ngắn lại, điều đó làm cho anh đến Huy ghét 1 sau hơn sáu giờ nỗ lực và bị những tổn thất. Theo Buốcgiơ cuộc thay quân diễn ra khó khăn một phần do trời tối, một phần do hỏa lực địch rất dữ dội

“Cuộc thay quân chỉ có thể bắt đầu từ 4 - 5 giờ sáng, làm từng trung đội, đến nỗi khi tôi rời điểm tựa với 3 người lính lê dương cuối cùng thì trời đã sáng rõ. Một khẩu súng máy của Việt Minh phục kích gần Quyếctít Commăngđô đã bắn vào hàng rào kẽm gai và tôi không nhớ đã phải nằm xuống bao nhiêu lần để tránh các loạt đạn. Vừa lúc, tôi đã đến một đoạn hào đào dở dang dọc Huyghét 2 và . . . ngất đi vì kiệt sức”.

Một đại đội của tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc, đại đội của trung uý Galôpanh, bảo vệ đoàn tù nhân mang các túi hòm và can. Ở đơn vị lính Ma rốc đang hối hả này, thượng sĩ nhất Serông đã bị giết, thiếu uý Misen Phốc bị thương cùng nhiều lính Ma rốc. Những người khác đi theo trung uý Galôpanh; anh đi như không nghe tiếng đạn súng cối cho đến khi anh ngã xuống không một lời rên rỉ. Bệnh xá gần nhất là nơi mà Vécđaghê (tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc) và Staécman (tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc 13) làm việc. Lính Ma rốc mang người bị thương đến và Vécđaghê đã khám cho Galôpanh. Mới thoạt nhìn, bác sĩ cho rằng đó là một vết rách nhẹ do một mảnh đạn nhỏ gây nên. Galôpanh khỏe mạnh chắc là sẽ mau lành thôi. Tuy nhiên tình trạng của viên sĩ quan đã làm bác sĩ lo lắng.

“Điều làm tôi ngạc nhiên và suy nghĩ nhiều, bác sĩ Vécđaghê viết cho Ăngđrê Galôpanh, anh của người bị thương, là sự mất cân đối giữa tính trầm trọng thực sự của vết thương và vẻ ngoài nhẹ nhàng của nó. Quả vậy tôi chỉ phát hiện được một lỗ rất nhỏ của viên đạn vào vùng thắt lưng. Tuy nhiên, khi đến Huy ghét, viên sĩ quan đã ở trong trạng thái sốc do thiếu máu rất nặng và có vẻ như mất ý thức, tôi không thể chuyện trò với anh ta. Các cố gắng của chúng tôi về phục hồi chức năng để có thể đưa anh ấy đến trạm giải phẫu trở thành vô ích và anh đã tắt thở. Có thể là mảnh đạn, tuy nhỏ nhưng đã làm thương tổn mạch máu bụng, gây ra chảy máu trong”. (Chú thích: Sinh năm 1924 Angiêri, Sáclơ Galôpanh được gọi nhập ngũ năm 1943 vào pháo binh. Được chỉ định đi Đông Dương, trung uý tháng 10-1952, xuống tàu tháng 11. Không vận lên Điện Biên Phủ với tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc.)

Có phải Galôpanh mất ở bệnh xá tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc không" Bác sĩ Prêmiliơ của tiểu đoàn 4 Ma rốc giải thích:

“Ở chỗ bác sĩ Vécđaghê, Prêmiliơ viết, trước hết ông ấy đã phải nâng huyết áp đã xuống rất thấp do bị chảy máu trong trầm trọng. Huyết áp đã được nâng lên đến 10 và người ta đã có thể khiêng Galôpanh đến trạm giải phẫu. Chúng tôi hy vọng sẽ mổ cho anh nhưng máu lại tiếp tục chảy và mặc dầu đã được tiếp máu cả đêm nhưng cũng không thể can thiệp được nữa, người bị thương đã quá yếu không được phép gây mê”.

Galôpanh là người cơ đốc giáo và Prêmiliơ cho mời cha Gheri "đến làm lễ xá tội cho viên sĩ quan đã bất tỉnh". Galôpanh mất sáng 20-4, việc mai táng anh giao cho một đội lao công trực thuộc trạm giải phẫu của Grauuyn.

Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #188 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2008, 06:20:07 pm »

Một bằng chứng khác, bằng chứng đầu tiên mà gia đình nhận được, bổ sung cho hai việc kia. Đó là việc Giơnơviê đờ Ga la, khi trở về Pháp, đã viết thư cho vợ Galôpanh ngày 14- 7-1954. Cô giải thích rằng cô quen viên sĩ quan khi đi xem những mảnh vụn của chiếc máy bay bị bắn rơi ngày 14-4. Bảy người trên máy bay đã chết còn Galôpanh ở điểm tựa gần nhất, đã lo việc chôn cất họ.

“Anh ấy nhận ra tôi đầu tiên khi người ta đưa anh vừa bị thương đến, ngày 19-4, cô viết. Lúc đó anh còn tỉnh. Anh nhắc lại việc chôn cất các phi công. Anh bị thương ở lưng bởi một mảnh đạn cối, anh hỏi tôi vết thương có nặng không. Tôi đã làm yên lòng anh vì tôi hy vọng rằng thể trạng khỏe mạnh của anh sẽ thắng, nhưng không ngờ vết thương của anh lại trầm trọng hơn tôi tưởng và mặc dù đã được chăm sóc bằng mọi cách, anh đã mất trong đêm”.

Vécđaghê tỏ ý thận trọng: "Trong tình trạng mà Galôpanh rời trạm cấp cứu của tôi, tôi không nghĩ được rằng anh lại có thể gợi đến những kỷ niệm với cô Đờ Ga la. Trước sự thất bại của nỗ lực để giải sốc bằng các phương tiện tại chỗ, tôi quyết định đưa anh đi đến Hanz, lúc đó anh hấp hối nhưng vẫn còn thở".

Thiếu quân số, GONO không do dự tập hợp lại những đơn vị chưa bao giờ đặt chân đến mặt tây. Vì thế trung uý Philôđô đang phòng ngự ở Đôminíc 3 với tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri, nhận được lệnh cử hai trung đội đến phân khu trung tâm. Khi đêm xuống, mỗi đường hào có quang cảnh nhộn nhịp như một đại lộ và dưới quyền của trung uý Giắccơlin, lính bộ binh thuộc địa luồn lách trong cái mê cung mà lính lê dương và tù nhân quân sự mang ba lô và can đi ngược chiều nhau.
Lính Angiêri thức đêm dể đào hào liên lạc ở một nơi mà họ đã được chỉ dẫn, chắc là ở hướng Huy ghét 1 nhưng sáng hôm sau, một nửa trong số họ, bị giết, bị thương, không trở về Đôminíc 3. Trung sĩ nhất BônÔpêra báo cáo với Philôđô là thượng sĩ nhất Ôxvan và trung uý Giắccơlin bị thương và được bác sĩ chăm sóc. (Chú thích: Sinh năm 1927, Clốt Giắccơlin nhập ngũ tháng 11-1946. Được cử sang Đông Dương ngày 2-12-1953. Đầu tháng 1-1954, bổ nhiệm về tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri ở Điện Biên Phủ.) Các lính bộ binh thuộc địa đã trở về Đôminíc 3 bởi vì đường hào mà họ đào đã trở nên vô ích. Thượng sĩ nhất Ôxvan đã xuất hiện trong ngày với một con mắt được băng bó rất khéo, nhưng các vết thương của Giắccơlin là những vết tử thương và anh đã chết ở trạm cấp cứu của bác sĩ Staécman. Nhảy dù xuống trong đêm, trung uý Phơrăngxoa Đuybua thay thế Giắccơlin ngay, không có thời gian chuẩn bị.

Ngày hôm sau, một đơn vị của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa được phái di bảo vệ một đường hào liên lạc mà lính lê dương và tù nhân quân sự đào giữa Huy ghét 2 và Huy ghét 1, một đường hào để bảo đảm tiếp tế cho đại đội Sơvaliê. Một hoạt động thất bại và phải trả giá, 11 người bị chết và 14 người bị thương của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa. Nhảy dù xuống ngày 12-4, trung uý Blăng đã bị giết (Chú thích: Sinh năm 1927, Emê Blăng được gọi nhập ngũ 1947. Tình nguyện sang Đông Dương, lên đường ngày 14-12-1953. Trung uý tháng 5 ở tiểu đoàn 1 dù thuộc địa, chuyển sang tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ngày 11-4-1954. Ngày hôm sau nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.). Với anh, chiến dịch chỉ kéo dài vẻn vẹn chín ngày.

Ở Huy ghét 1, Sơvaliê ở trong một vị trí có cả Biza ở Huy ghét 6. Điểm tựa đầy những hố đạn vì những cuộc pháo kích và lính lê dương lại phải giăng lại dây kẽm gai, sửa sang lại những đường hào bị phá hủy, dựng lại các lô cốt và chôn những quả mìn mới. Một công việc lao động vô ích, mất sức mà mỗi người phải đảm nhiệm với tinh thần chịu đựng căng thẳng. Tổn thất quá lớn, người ta không tiếp tế Huy ghét 1 nữa, và đại dội Sơvaliê buộc phải tiến hành một cuộc chiến đấu đơn độc mà kết cục cũng có thể biết trước được.

“Từ những hào chiến đấu đã tiến sát các công sự phòng ngự của ta, trung uý Vâyơ thuộc sở chỉ huy bán lữ đoàn 13 viết, Việt Minh tấn công và tràn vào điểm tựa. Liên lạc rađiô đã ngừng và hai hoặc ba giờ sau, các cuộc bắn phá và các tiếng nổ đã giảm. Vào lúc này, người ta chẳng biết gì về tình hình cuộc đụng độ. Một lính lê dương duy nhất đã trở về phòng tuyến của chúng ta nhưng anh ta bị sốc đến mức chẳng có được thông tin gì chính xác cụ thể”.
Logged
Đánh đông dẹp bắc
Thành viên
*
Bài viết: 595



« Trả lời #189 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2008, 09:59:13 pm »

Về sau khi các tù binh trở về, vài người lê dương của Huy ghét 1 xác định rằng khi đợt tấn công của Việt Minh áp sát sở chỉ huy, đã vang lên một tiếng nổ lớn làm cho người ta phỏng đoán rằng kho đạn nổ. Phải chăng chính người chỉ huy điểm tựa đã cho nổ kho đạn? Theo trung uý đờ Vâyơ, em rể của ông, "một điều chắc chắn duy nhất: đại uý Sơvaliê không ở trong số tù binh nhưng không ai dám khẳng định rằng ông đã chết” (Chú thích: Sinh năm 1921, Giắc Sơvaliê tốt nghiệp Xanh Xia năm 1942. Tháng 1-1948 đi Đông Dương. Qua nhiều đơn vị, cuối nhiệm kỳ, công tác ở Phòng 3 phân khu Biên Hòa. Hồi hương tháng 6-1950. Tháng 7 đại uý ở trung đoàn- bộ binh 151. Tháng 1-1954 trở lại Đông Dương. Bổ nhiệm vào tiểu đoàn 1, bán lữ đoàn lê dương ngoại quốc ở Điện Biên Phủ.)

Sau khi thức cả đêm bên cạnh các máy rađiô để theo dõi cuộc chiến đấu thất vọng của Sơvaliê, Biga báo cáo với Đờ Caxtơri mà sự phản ứng đã làm ông bất ngờ. Tướng Đờ Caxtơri muốn giành lại Huy ghét 1. Biga không có chút hăng hái nào và, ăn uống kém, ông cần có vài giờ để ngủ. "Được, Caxtơri nói, Lăng le sẽ đảm nhiệm việc đó".

Lăng le cũng chẳng mặn mà gì hơn "Bruynô vì ông nghĩ hy sinh người mình trong một cuộc phản kích mà kết cục không chắc chắn. Quan điểm của ông đơn giản: đơn vị duy nhất sẵn sàng hành động là tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc của Liêdenphen, đã mất một phần ba quân số trong đó có hai sĩ quan Đờlaphông và Phơragôna. Giả thiết là quân dù lê dương chiếm lại được Huy ghét 1, vậy đơn vị nào thay thế đại đội Sơvaliê? Vấn đề không phải chỉ chiếm lại mà phải giữ được nó. Caxtơri không nhất trí: Cuộc phản kích phải khởi động vào đầu buổi chiều sao cho mọi việc phải đạt được trước 16 giờ, điều đó làm cho Lăng le chỉ có những thời hạn rất ngắn ngủi để "lên kế hoạch" hành động tác chiến. Tư lệnh. GONO đã được Cônhi bật đèn xanh, ông hứa cho không quân chi viện cho Lăng le. Pháo binh được huy động còn Hécvuiét được yêu cầu cho một trung đội xe tăng đến giúp Lăng le. Lăng le phải làm sao để bộ binh đến điểm hẹn.

Đại uý Cayô không rời rađiô; ông cần có sự hợp tác của trung tá Vayăng về pháo binh và sự hợp tác của thiếu tá Ghêranh về chi viện không quân. Ghêranh còn bất ngờ vì được triệu tập đến dự giao ban nhiệm vụ của Lăng le vì ông không hài lòng lắm về mối quan hệ giữa ông và phân khu trung tâm. Nói về cuộc phản kích, ông viết trong báo cáo: "Một hành động tấn công duy nhất được dàn dựng thực sự với không quân và pháo binh, là mưu toan chiếm lại Huy ghét 1. Thời gian xác định chỉ được sự tôn trọng của không quân và pháo binh”.

Câu nói ngắn đó cho thấy điểm yếu nằm ở đâu. Cũng như đám lính dù của bảo an đoàn ngày 15-3, các lê dương của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc cũng có một quãng đường đi như vậy, giữa muôn ngàn vết thương của Điện Biên Phủ mà có những kẻ cao giọng nhận xét rằng tiểu đoàn chẳng bao giờ đến vị trí xuất phát đúng giờ đã hẹn. Ngay cả Liêdenphen, đến chỗ Galuê, phó chỉ huy của ông, ở Huy ghét 2, cũng cho rằng các đại đội của ông không có đủ thời gian để đến tập kết. Chúng phải được thay thế và sự vận động đó sinh ra nhiều cuộc đi đi lại lại trong giao thông hào, không thể thoát được con mắt quan sát của Việt Minh. Lăng le không muốn nghe gì cả, ông đã nhận được lệnh, ông phải thi hành. Ít khả năng là các xe tăng được chỉ định để chi viện cho hành động tác chiến sẽ thay đổi được tiến trình của sự việc. Từ khi Ba dây nằm lại trên đỉnh Êlian 2, trung đội xe tăng Mănggien chỉ còn có Đuômông và Muynhudơ.

Khó khăn thực sự là sự phối hợp đồng bộ oanh kích của không quân, pháo kích của pháo binh và sức chiến đấu của bộ binh. Người ta đã biết là máy bay chỉ thực hiện một cuộc oanh kích và pháo thủ đã cảnh báo là họ không lãng phí đạn, đến giờ đã định họ sẽ bắn nhưng họ không có ý định "diễn lại vòng hai". Vậy thì Lăng le và Cayô phải lập một thời gian biểu chặt chẽ về các hành động hợp đồng tác chiến theo trật tự không quân, pháo binh, xe tăng và tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc. Thế mà, đáng lẽ căn cứ để tính là giờ đến thực tế của bộ binh và hành động của không quân, pháo binh phải phụ thuộc vào giờ thực tế này, thì lại bắt lính lê dương phải thích nghi với giờ giấc của các cuộc chi viện hỏa lực không quân và pháo binh. Và qua lời của Liêdenphen, họ nói rằng giờ phản kích phải chậm lại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM