Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Bảy, 2019, 01:54:30 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những âm mưu làm tan rã Liên bang Xô viết  (Đọc 85262 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #90 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:42:57 PM »


Về phía Mỹ thì: “Rô-nan Ri-gân muốn làm cho việc xây dựng về mặt quân sự của nước Mỹ thay đổi khuynh hướng, một khuynh hướng đã coi nhẹ công tác này trong mấy năm nay. Kĩ thuật tương quan về quốc phòng sau này sẽ tương tự như kế hoạch chiến tranh giữa các vì sao, nó cùng với chính sách an ninh kinh tế sẽ nhằm vào Liên Xô. Giữa 3 mặt này sẽ hình thành một mối quan hệ bổ sung cho nhau! - Bi-en Cơ-lắc nhớ lại - Nói thẳng ra là, mục đích của chúng ta là xoay chuyển ưu thế của Liên Xô về phương diện tài nguyên; vì trong tương lai, về phương diện này, năng lực của Liên Xô không thể bằng Mỹ được; hơn nữa ta cần làm cho Liên Xô phải tin rằng, trong vấn đề chạy đua kĩ thuật quyết liệt giữa Mỹ và Liên Xô này thì dứt khoát Liên Xô không thể thắng!” Trước kia, nước Mỹ cho rằng ưu thế kĩ thuật của mình có thể chống chọi trên chiến trường với ưu thế số lượng của Liên Xô. Nay Chính phủ Ri-gân muốn làm cho ưu thế này càng vượt trội hơn nữa. Thông qua việc tăng nhanh tốc độ chạy đua về kĩ thuật thì ưu thế về mặt này của nước Mỹ sẽ biến thành một loại vũ khí rất mạnh.

Cuối năm 1982, Tổng thống đã kém phiếu trong vấn đề ủng hộ tên lửa MX, đó cũng không phải là chuyện mới lạ gì nữa. Trong thời kì 1981 - 1982, Lầu Năm Góc đề nghị thiết kế căn cứ cho 3 loại bãi phóng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa kiểu mới, nhưng 3 loại kế hoạch này đều bị Quốc hội cự tuyệt. Mác Ma-ren nói: “Đường lối cơ bản của ta là, không thể để bất cứ tên lửa nào ở trên mặt đất!”

Sau khi việc biểu quyết đối với tên lửa MX thất bại không lâu, thượng tướng hải quân Giôn Pin-đơ Kơs-tơ đã thảo luận vấn đề này với Mác Phơ-ran. Giôn Pin-đơ Kơs-tơ đã tốt nghiệp Trường sĩ quan Hải quân với thành tích ưu việt. Với đầu óc khoa học sắc sảo, ông kiến nghị Chính phủ Mỹ xem xét về khả năng nghiên cứu, thậm chí bố trí một hệ thống phòng thủ chiến lược. Ngay từ đầu năm 1981, Nhà Trắng vẫn suy nghĩ về ý định này. Khi đó, viên tướng Đan-nil Cây-ưa-mu, người phụ trách “Tổ nghiên cứu biên cương” khi hội kiến với Tổng thống và Ủy ban An ninh quốc gia đã đề xuất ý định này. Tuy các bộ phận hữu quan trong Chính phủ đã thảo luận kĩ vấn đề ấy, nhưng sau không thấy làm gì thêm nữa.

Mấy trợ thủ của Tổng thống luôn khuyên ông, nước Mỹ phải tăng cường chiến lược phòng thủ. Ri-sac A-lơn, cố vấn về chính sách ngoại giao của Tổng thống, mấy năm luôn thông báo với Ri-gân về tình hình tranh luận của vấn đề phản tên lửa đạn đạo. Mác-tanh An-đéc-sơn chuyên gia sự vụ trong nước, khi cùng Ri-gân thăm Bộ Tư lệnh liên hợp phòng không Bắc Mỹ (Mỹ - Ca-na-đa), đã làm cho mọi người thấy được một cách sinh động những nhược điểm tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ so với Liên Xô. Cai-xpa Uyn-pak luôn nhấn mạnh lời thề của ông, khi mới đảm nhiệm chức Bộ trưởng Quốc phòng, tức là nước Mỹ cần xây dựng một hệ thống phòng thủ chiến lược kĩ thuật cao. Ngày 2 tháng 10 năm 1981, Nhà Trắng tổ chức một cuộc hội nghị công bố những thông tin mới về vũ khí chiến lược. Trong hội nghị này Uyn-pak nhấn mạnh: “Hiện nay đã xuất hiện những tiến triển mới rất có tiền đồ. Chúng ta sẽ phải nghiên cứu nó! Nguyên nhân của việc làm này rất rõ. Nếu chúng ta có năng lực tiêu diệt được những tên lửa đến tập kích, tôi cho rằng như vậy tuy cũng chưa thể làm mất đi được sự cân bằng chiến lược hiện nay, nhưng việc làm đó sẽ khiến chúng ta rất vui mừng”.

Mác Phơ-ran nói với Pin-đơ Kơ-xtơ, ông thích chủ ý này và trên thực tế ông cũng đã suy nghĩ rất nhiều về phương hướng đó. “Tôi đã suy nghĩ gần 10 năm rồi, từ khi Ních-sơn và Pho chấp chính, chúng ta đã chạy đua vũ trang cùng người Nga với một phương thức sai lầm”. Mác Phơ-ran nhớ lại: “Về phương diện chất lượng và kĩ thuật, vũ khí chúng ta tương đối có ưu thế. Điều này khiến tôi phải xem xét lại mọi việc làm trước kia. Tôi đã tự hỏi mình, chúng ta nên xác định lại vị trí về chiến lược đầu tư của chúng ta như thế nào? Chúng ta nên sử dụng tài nguyên của chúng ta như thế nào? Tôi cho rằng, nếu chúng ta sử dụng tiền của vào phương diện hệ thống vũ khí tiến công và để tăng thêm số lượng vũ khí thì chẳng bằng chúng ta sử dụng nó vào chỗ chúng ta có ưu thế, về phương diện kĩ thuật thì sẽ càng có hiệu quả hơn! Vì vậy, tôi đã bắt đầu suy nghĩ xem chúng ta có thể đầu tư vào lĩnh vực nào. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần một chiến lược đầu tư về phương diện kĩ thuật cao mà ở đó ta có thể thành công. Pin-đơ Kơ-xtơ đã triệu tập các chuyên gia, những người có đầu óc chiến lược nhất trong giới khoa học quân sự nước Mỹ, để thảo luận, nghiên cứu về những sự chuyển biến về tài nguyên quân sự nước Mỹ, cũng tức là từ việc cứ một mực nhấn mạnh về vũ khí hạt nhân trước đây nay chuyển đến sự coi trọng hệ thống vũ khí chiến lược kĩ thuật cao. Các thành viên của tổ này bao gồm Pao-puê Luân-hat, tướng Ri-sác Pu-uây-duây uỷ viên Ủy ban An ninh quốc gia, An-kin quản lí dự toán văn phòng, Giôn Phút công ty TRW1, Ri-sác Đơ-lao vừa là nhà khoa học, vừa là công trình sư, cùng với tiến sĩ Gióoc-giơ Chi-nơ, cố vấn khoa học của Tổng thống Ri-gân. “Chúng tôi họp thảo luận ở Phòng Tình báo của Nhà Trắng - Pin-đơ Kơ-xtơ nhớ lại - Kết luận của hội nghị này là, từ khi tên lửa chống đạn đạo ra đời thì kĩ thuật này đã có sự tiến triển rất lớn, vì thế chúng ta nên dốc sức vào nghiên cứu chiến lược phòng thủ”. Pin-đơ Kơ-xtơ báo cáo đại thể kết luận của tổ này về vấn đề đó với Mác Phơ-ran, đồng thời chuyển giao cho ông mấy bản luận văn hữu quan về phương diện nghiên cứu khoa học và chính sách.
___________________________________
1. Công ty TRW: một công ty lớn chuyên chế tạo các loại thiết bị và hệ thống hiện đại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #91 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:44:33 PM »


Trong thời kì này, Mác Phơ-ran thảo luận vấn đề chiến lược phòng thủ với Pôn Con-man, Tham mưu trưởng hội nghị liên tịch (JSC). Cơ-man nói hội nghị Tham mưu trưởng liên tịch rất hứng thú với khái niệm chiến lược phòng thủ này, trong đó Thượng tướng hải quân Giêm Oát là người nhiệt tình nhất. Giêm Oát vốn là một học sinh khoa Vật lý có đầu óc, tư duy thứ tự, rành mạch. Ông cho rằng hiện nay trình độ kĩ thuật đã có được sự cải tiến to lớn như vậy, bởi thế nước Mỹ nên từ chiến lược “Cùng bị tiêu huỷ” chuyển sang chiến lược “phòng thủ”.

Sau khi đã trao đổi với Tham mưu trưởng, Pin-đơ Kơ-xtơ và Mác Phơ-ran báo cáo tình hình với Bi-en Cơ-lắc. Cơ-lắc liền bắt tay ngay vào việc. Tháng 12 năm 1982, ông bố trí một cuộc họp bí mật giữa Tổng thống với các thành viên hội nghị liên tịch Tham mưu trưởng. Đó là một cuộc họp bình thường hàng tháng của họ.

Hôm ấy bão tuyết rất lớn. Cơ-lắc vắng mặt, Mác Phơ-ran chủ trì cuộc họp. Vì tình hình đường xá không được tốt nên các thành viên trong hội nghị liên tịch Tham mưu trưởng đều phải đi xe bánh xích đến Nhà Trắng. Đầu tiên, Mác Phơ-ran đưa ra nghị đề hội nghị cần thảo luận. Tham mưu trưởng liên tịch hội nghị kiến nghị, nước Mỹ cần xét đến việc bỏ hoàn toàn sự dựa vào chiến lược “Cùng bị tiêu huỷ” mà cần đi vào nghiên cứu và khai thác “Hệ thống sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI). Đối với chủ ý này Tổng thống lộ vẻ rất vui. Căn cứ vào ý kiến của đại đa số các cố vấn ông quyết định cứ thế mà làm. Thái độ này thể hiện một niềm tin vào đạo đức cực lớn. “Ông cho rằng, chiến lược “Cùng bị tiêu huỷ” quả thật là một hành vi không mấy đạo đức”. Gióoc-giơ Xu-ơn-xư nhớ lại. Ri-gân hỏi mấy viên sĩ quan cao cấp: “Nếu chúng ta bắt đầu từ sự hoàn toàn dựa vào chiến lược tiến công mà không tiến công hạt nhân, rồi chuyển sang dựa vào chiến lược phòng bị nhiều hơn thì tình hình sẽ như thế nào?”

Sau lần gặp nhau trong Hội nghị liên tịch Tham mưu trưởng không lâu, Cơ-lắc và Mác Phơ-răng cùng Pin-đơ Kơ-xtơ trao đổi với nhau nên đẩy mạnh công tác này như thế nào. Mác Phơ-ran kiến nghị: “Trong một lần phát biểu công khai Tổng thống có thể tuyên bố: tư tưởng chiến lược của nước Mỹ sẽ có chuyển biến”.

Kế hoạch nghiên cứu chiến lược hệ thống phòng thủ của nước Mỹ hết sức bí mật. Mãi đến 2 ngày trước khi Tổng thống đọc diễn văn, ông mới bàn bạc với Xu-ơn-xư Uyn-pak và Tham mưu trưởng Hội đồng liên tịch Mác Phơ-ran đã phải dày công cân nhắc từng lời trong một bản tuyên bố về chiến lược phòng thủ tên lửa mà trong lòng thấy tràn ngập niềm vui. Ông sử dụng máy chữ cá nhân chứ không yêu cầu thư kí viết để bảo mật. Gióoc-giơ Chi-uơ-sư duyệt lại lần cuối cùng.

Ngày 23 tháng 3 năm 1983, Tổng thống Ri-gân đọc diễn văn trước đài truyền hình. Ông xúc động tuyên bố trước công chúng toàn quốc, ông có trách nhiệm soạn thảo ra phương châm chỉ đạo chiến lược mới. Nước Mỹ sẽ bắt đầu nghiên cứu “Sáng kiến về chiến lược phòng thủ” (thuật ngữ này là do Pin-đơ Kơ-xtơ đề xuất). Ri-gân cuối cùng tuyên bố: “Điều tôi muốn nói là, tôi sẽ thúc đẩy công tác này với toàn bộ khả năng của mình!” Hai hôm sau, Tổng thống công bố một mệnh lệnh hành chính, ông chỉ thị cho Uy-li-am Cơ-lắc phải soạn thảo một kế hoạch nghiên cứu lâu dài về hệ thống này. Tổng thống cảm thấy hứng thú đối với sáng kiến chiến lược phòng thủ ấy, chủ yếu vì ông cho rằng thế giới sẽ không còn phải đối mặt với sự nguy hiểm hạt nhân nữa; hơn nữa thông qua việc nghiên cứu hệ thống này, nước Mỹ còn có thể gây ra những áp lực lớn hơn cho nền kinh tế Liên Xô. Ví dụ, trong một bản chỉ thị về quyết sách, đối với An ninh quốc gia, về “tiêu chuẩn hiệu ích1 của giá thành”, bản chỉ thị có đánh giá về giá trị của hệ thống này, bản chỉ thị ấy cho rằng giá trị của nó “phải dùng thuật ngữ kinh tế để biểu đạt, nhưng nó lại không chỉ đơn thuần là khái niệm kinh tế”. Điều đó có nghĩa là, giá trị của hệ thống này không chỉ đánh giá từ góc độ chiến lược mà đánh giá từ chỗ, Liên Xô do phải đối phó với hệ thống này mà họ phải chịu sự trừng phạt rất nghiêm khắc về kinh tế.
_____________________________________
1. Hiệu ích: tức hiệu quả và lợi ích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #92 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:45:47 PM »


Bản tuyên bố của Ri-gân đã gây ra một sự chấn động lớn ở Mat-xcơ-va “Tôi nhớ là mấy hôm đó tiết trời tương đối tốt - A-lếch-xan-đơ Pes-mêl-tơ-na nhớ lại - Trong mấy năm đầu Ri-gân cầm quyền, không khí ở Mat-xcơ-va tương đối căng thẳng, nhất là vì nước Mỹ tuyên bố sẽ phát triển hệ thống SDI khiến cho chúng tôi cảm thấy hết sức kinh ngạc”. A-lơn Khuây-tơc, nguyên quan chức ở Phòng Chính trị tâm lí học Cục Tình báo trung ương nói: “SDI làm cho họ sợ muốn chết. Họ đối với năng lực nghiên cứu và khai thác của bản thân nhất định cảm thấy hết sức bất an (khách quan mà nói thì phải là như vậy). Đối với năng lực cạnh tranh về kĩ thuật của chúng ta, họ có thái độ hết sức nghiêm túc”.

Đối với Mác Phơ-ran mà nói, đây không phải là chiến lược phòng thủ, mà là một cuộc chiến về tài nguyên “Nó quả thực quan hệ tới chiến lược đầu tư của chúng ta, mà với nó chúng ta nên xác định lại như thế nào đó!” Ông nhớ lại “Tôi sẽ coi nó như một thuật ngữ kinh tế chứ không phải là một chiến lược quân sự. Bởi vì nó quả thực là một khái niệm về tài nguyên. Tôi đặt mình vào cương vị của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô để nhìn nhận vấn đề này. Nếu nước Mỹ quả thật bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực mà họ đã có được sự tiến triển tốt, như vậy thì họ sẽ có phản ứng như thế nào? Khi chúng ta đầu tư 26 tỉ đôla (dùng SDI) vào phòng thí nghiệm và Công ty, khẳng định họ sẽ có phản ứng nhất định”.

Vì sao Ri-gân lại ủng hộ SDI mạnh mẽ như vậy, điều này đã khiến cho mọi người suy đoán đủ kiểu, phải chăng ông muốn cải biến chiến lược hạt nhân của nước Mỹ? Hoặc là ông coi hệ thống mà Mác Phơ-ran đặt ra đó như một vấn đề tài nguyên? Ri-sác A-lơn, đồng sự lâu ngày của Ri-gân là nguyên cố vấn An ninh quốc gia, nói: “Tôi cho rằng thật ra Ri-gân không phải coi SDI như bức thành có thể bảo vệ cho nước Mỹ, vì hệ thống này không phải là không có kẽ hở. Quan niệm của ông là, việc làm này đầy tính kích thích; vì nếu người Liên Xô thấy chúng ta tiêu hàng đống, hàng đống đô-la vào vấn đề này thì nhất định họ sẽ vào tròng, và mắc lừa”. Đại đa số các quan chức cao cấp của Chính phủ Mỹ đều cho rằng, sở dĩ Ri-gân nhất quyết cho thực thi SDI là vì ông bị khích lệ bởi 2 niềm hi vọng dưới đây; một là muốn cải biến học thuyết chiến tranh hạt nhân của nước Mỹ, hai là muốn cải biến điều kiện cạnh tranh về kĩ thuật quân sự.

Những người lãnh đạo ở Liên Xô coi bài diễn thuyết về SDI của Ri-gân là một loại thách thức về kĩ thuật. Đúng như lời “Báo tin tức” đã viết: “Họ muốn áp đặt cuộc chạy đua vũ trang mang nặng tính hủy diệt lên đầu chúng ta. Họ cho rằng Liên Xô sẽ không thể theo đuổi cuộc chạy đua này đến cùng, vì Liên Xô thiếu tài nguyên, thiếu cả tiềm lực kĩ thuật. Mưu đồ của họ là muốn làm sụp đổ nền kinh tế của nước chúng ta”.

Đối với việc nước Mỹ xây dựng quốc phòng một cách đại quy mô, Mat-xcơ-va tỏ ra hết sức sợ hãi. Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô mệnh lệnh cho Bộ Quốc phòng soạn thảo một kế hoạch 5 năm chế tạo một hệ thống vũ khí mới, để thay thế cho hệ thống vũ khí đã lỗi thời, và họ đã đến bên bờ của sự kích động. Đối với Mat-xcơ-va mà nói, thời kì đầu của thập kỉ 80, về phương diện quân sự là một “thời kì cách mạng”. Nguyên soái Ni-cô-la Ao-car-cốp Tổng Tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, năm 1982 ông đã viết: “Mấy năm nay khoa học sĩ thuật đã phát triển rất nhanh chóng; căn cứ vào nguyên lí vật lí học mới, trong một tương lai gần người ta sẽ chế tạo ra được những thứ vũ khí huỷ diệt mà con người từ trước tới nay chưa từng nghe nói tới; điều đó quả thực đã tạo ra điều kiện tiên quyết”.

Các sĩ quan cao cấp của Liên Xô cho rằng, trước đây kĩ thuật với những bước tiến vùn vụt của nó đã từng 2 lần đưa đến những cuộc “cách mạng” về quân sự. Cuộc cách mạng thứ nhất phát sinh vào những năm 20, khi đó xe tăng và máy bay thay thế kị binh và chiến mã. Cuộc cách mạng thứ hai phát sinh vào nhũng năm 50, sự kết hợp giữa vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo thay thế máy bay oanh tạc và bom thông thường. Trong cuộc cách mạng này, vũ khí quân sự đều đạt tới trình độ phát triển mới mà Mat-xcơ-va đều theo sát bước với sự phát triển của phương Tây.

Hiện nay, cuộc cách mạng quân sự lần thứ ba đang tới, nhưng lần này Mat-xcơ-va lại cảm thấy lo lắng không yên, vì các kĩ thuật mới như kĩ thuật vi điện tử và kĩ thuật máy tính, với sự ứng dụng trong lĩnh vực quân sự của nó là sự thách thức lớn với Liên Xô, vì nó có thể nâng cao chất lượng vũ khí, mà điều này lại không phải là ưu thế của Liên Xô. Do loại vũ khí này rất phức tạp, vì vậy chỉ cần trong quá trình chế tạo có một sơ xuất rất nhỏ là có thể làm cho loại vũ khí đó mất tác dụng. Các thiết bị điện tử trong máy bay chiến đấu MIC - 25 chỉ có bóng điện tử chứ không có bóng bán dẫn. Theo sự dự đoán của Bộ Quốc phòng, về phương diện kĩ thuật máy tính, Mat-xcơ-va lạc hậu hơn Mỹ 10 năm, mà với cách mạng kĩ thuật lần thứ ba thì trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng khác, Liên Xô đều ở phía sau Mỹ. Những lĩnh vực đó bao gồm kĩ thuật truyền cảm quang, kĩ thuật người máy và trí năng, kĩ thuật xử lí tín hiệu, kĩ thuật tàng hình và kĩ thuật tín hiệu vô tuyến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #93 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:46:26 PM »


Trong một tương lai không lâu, triển vọng phát triển về những phương diện hệ thống mới này của Mat-xcơ-va xem ra không được tốt. Về phương diện hệ thống chiến lược phòng ngự của mình, Mat-xcơ-va tuy đã có sự cố gắng trong nhiều năm, tiêu tốn hàng tỉ đô-la, hao phí tâm huyết của hàng chục nghìn nhà khoa học, nhưng họ phải đối mặt với những vấn đề kĩ thuật và cung ứng hậu cần ít có. Thể chế của Liên Xô lại không đề cao tính chủ động và sức sáng tạo của kĩ thuật viên. Đó là một nhân tố “chí tử” trong kinh tế kĩ thuật cao. Họ phải đối mặt với những phiền phức rất lớn, đến nỗi, trên thực tế khiến cho quân đội phải vứt bỏ bất kì một hi vọng nào có thể phát triển được hệ thống vũ khí mới. Tệ hại hơn nữa, họ còn dự tính ứng dụng một số kĩ thuật có sẵn vào trang hệ thống vũ khí của họ.

Về phương diện này với Mỹ thì sự phát triển lại hoàn toàn khác. Nước Mỹ đột nhiên quyết định khai thác và phát triển hệ thống vũ khí kĩ thuật cao, điều này trở thành một sự uy hiếp đối với hệ thống vũ khí lỗi thời, đắt đỏ của Liên Xô. Để có thể ở vị thế cân bằng với phương Tây về mặt quân sự, điện Krem-li đã phải tiến tới một khoản tiền lớn. “Về mặt quân sự, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hình thành thế cân bằng về chiến lược là một trong những thành quả quan trọng nhất mà chúng tôi giành được trong mấy mươi năm qua. – Yu-ri An-đrô-pốp nói - Nhân dân chúng ta đã phải bỏ ra rất nhiều tiền của cùng sức lực, mới có được thế cân bằng này”. Nhưng, giờ đây thế cân bằng này đứng trước một tình huống ngày càng gay cấn!

Năm 1982, nguyên soái Ao-car-cốp trong cuốn “Mãi mãi cảnh giác với sự an nguy trong quốc phòng của Tổ quốc” mà ông là tác giả, đã tỏ rõ sự lo lắng của bản thân đối với sự phát triển nhanh chóng về kĩ thuật quân sự của nước Mỹ. Ông cảnh cáo: “Với hiện trạng này, nếu chúng ta không kịp thời thay đổi quan niệm, về mặt khai thác và phát triển mà hệ thống vũ khí mới lại đình trệ không phát triển lên được thì chúng ta phải đối mặt với hậu quả nghiêm trọng”. Dưới sự lãnh đạo của tướng K.U, Car-ta-sư-fu-xki, Liên Xô đã bí mật tiến hành việc thử vũ khí, coi đó là một sự phản ứng với lời cảnh cáo trên. Các vị chức sắc trong quân đội muốn đánh giá về tính chất nghiêm trọng trong sự thách thức về mặt quân sự của Mỹ đối với Liên Xô xem rút cục nó lớn như thế nào! Để chống đối với sự đang triển khai, hoặc không lâu nữa sẽ triển khai loại vũ khí kĩ thuật cao đời mới, các nhà khoa học quân sự Liên Xô, trong phòng thí nghiệm đối với mỗi loại vũ khí trong kho của họ đã tiến hành đo đạc, thử nghiệm. Kết quả của sự đo đạc, thử nghiệm cuối cùng đã làm các nhà đương cục Liên Xô phải kinh hoàng.

Car-ta-su-fu-xki đoán định, kĩ thuật mới đối với trụ cột thông thường của lực lượng vũ trang Liên Xô - xe tăng, trước đây là một sự uy hiếp cực lớn đối với Mỹ. Nếu nước Mỹ triển khai một lượng lớn hệ thống vũ khí chống xe tăng thì sẽ hình thành một bức tường phòng hộ che chắn không thể xuyên qua được. Để đối phó, Liên Xô sẽ nâng cao chất lượng xe tăng của mình, nhưng cái giá phải trả của sự chạy đua này sẽ rất đắt. Một nhà phân tích bi quan nói: “Nếu như phương Tây bỏ tiền ra để cải tiến vũ khí chống xe tăng của họ thì chúng ta sẽ phải thường xuyên hiện đại hoá bộ đội xe tăng. Kết quả sẽ khiến chúng ta phải tiêu hao rất nhiều tiền của! Nói tóm lại, về phía chúng ta, xe tăng có khả năng sẽ theo gót những con khủng long mà tuyệt diệt.

Cùng với sự biến đổi có tính cách mạng của kĩ thuật, cơ sở công nghiệp kĩ thuật cao của 2 siêu cường sẽ trở thành nhân tố quyết định của lực lượng quân sự! “Sự lo lắng của những người lãnh đạo Liên Xô là sự nhấn mạnh tính quan trọng về kĩ thuật cao của nước Mỹ. Êp-cân-ni Nô-vi-cốp nhớ lại: “Những người lãnh đạo Liên Xô biết rằng họ không thể chạy đua vũ trang với nước Mỹ được, vì cơ sở kĩ thuật của chúng ta bạc nhược. Họ biết rằng trong rất nhiều lĩnh vực, kĩ thuật mới sẽ làm cho hệ thống vũ khí vốn có của Liên Xô trở nên lỗi thời”.

Chính phủ Ri-gân thực thi kế hoạch vũ khí kĩ thuật cao, tức là họ đưa ra một lời thách thức với điện Krem-li. Liên Xô xác định mục tiêu điệp báo mới tức là một sự phản ứng đối với sự thách thức đó. Nhân viên tình báo hải ngoại KGB nhận được chỉ lệnh, yêu cầu họ phải “ưu tiên” thu thập tình báo về kĩ thuật quân sự “đời thứ ba”. Dưới đây là văn kiện của KGB “Bản kê khai chi tiết các hạng mục gửi cho cơ quan tình báo hải ngoại để làm rõ vấn đề chiến lược quân sự ưu tiên của nước Mỹ”. Bản kê khai chi tiết này bao gồm: “Tình huống sử dụng những phát minh và phát hiện quan trọng, cấu tứ và giả tưởng về vấn đề kĩ thuật quân sự chúng ta cần có nó vì những vấn đề này sẽ bảo đảm chắc chắn cho vũ khí hạt nhân chiến lược, chiến thuật và các loại hình cá biệt vũ khí thông thường của nước Mỹ. Một khi thông qua sự cải tạo nâng cấp thì chúng sẽ có được chất lượng mới!”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #94 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:47:57 PM »


Chính phủ Mỹ đồng thời với việc tăng cường chạy đua vũ trang về kĩ thuật cao cũng muốn hạn chế phương Tây xuất khẩu những kĩ thuật có thể giúp Mat-xcơ-va nâng cao sức cạnh tranh. Liên Xô ỷ lại rất nhiều vào sự chuyển nhượng kĩ thuật của phương Tây. Đó là một nhược điểm lớn của họ! Ủy ban An ninh quốc gia của Chính phủ Ri-gân có ý định lợi dụng điểm này. Trong văn kiện bí mật NSDD-66 Chính phủ Mỹ đã khái quát kĩ thuật xuất khẩu thành một bộ phận của “Chiến lược mậu dịch Tam vị nhất thể”. Ngay từ những ngày đầu của Chính phủ khoá này, Cô-xây đã ra sức tranh thủ cho Cục Tình báo trung ương có nhiều quyền lực trong việc ngăn chặn sự chuyển nhượng kĩ thuật cho Liên Xô. Năm 1983, khi “Ủy ban Tình báo chuyển nhượng kĩ thuật” bí mật thành lập ở căn cứ Lăng-lây thì nguyện vọng này của ông được thực hiện. Chức trách duy nhất của ủy ban này là theo dõi hành động tiếp nhận kĩ thuật của Liên Xô. Nó là một trung tâm giao lưu tình báo về nhân lực và các mặt tài nguyên khác của 22 bộ môn trong Chính phủ Liên bang. Đây là lần đầu tiên nước Mỹ theo các bước có hệ thống thu thập và truyền tình báo đi. Những số liệu mà ủy ban này thu thập được đối với Cô-xây mà nói thật là một mỏ vàng! Căn cứ vào những số liệu này, ông có thể theo dõi Liên Xô dự tính thu về những kĩ thuật nào. Điều này sẽ làm ông có thể nắm được những yêu cầu của nền kinh tế Liên Xô. Ông nói với Hep Mai-ê: “Giờ đây tôi đã có thể bắt được đúng mạch của họ!”.

Những kĩ thuật cao bị thất thoát của nước Mỹ đã giảm đi rõ rệt, điều này một phần lớn phải ghi công cho Bộ Quốc phòng và Quốc vụ viện đã thực thi những hạn chế mới đối với những kĩ thuật xuất khẩu. Năm 1973, trong toàn bộ sản phẩm mà Mỹ bán ra cho Liên Xô, sản phẩm kĩ thuật cao chiếm 32,7%, tổng mức tiêu thụ đạt 219 triệu đô-la Mỹ. Đến năm 1983, lượng bán sản phẩm kĩ thuật cao hạ xuống còn 5,4%, tổng mức tiêu thụ chỉ còn 39 triệu đôla Mỹ, một con số nhỏ bé không đáng kể.

Khi các quan chức của Chính phủ Mỹ say sưa kể lại kết quả này. Họ cũng rõ ràng, nếu chỉ có riêng nước Mỹ “ra tay” hạn chế thì hiệu quả sẽ rất có hạn, chỉ có hợp tác với các nước đồng minh thì sự hạn chế kĩ thuật này mới có kết quả. Khi Chính phủ khoá này vừa thành lập, Ri-sác Pua-rơ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã bí mật đi thăm các nước đồng minh, hi vọng có được sự hợp tác với họ. Tuy những cuộc hội đàm giữa 2 bên tiến triển chậm chạp nhưng vẫn thu được một số kết quả rõ rệt.

Hai năm sau chuyến ngoại giao con thoi bí mật này Ủy ban Thống trù Pa-ri bắt đầu thực thi chiến lược liên hợp. Năm 1982, các nước đồng minh họp tại La-za-pi-ni-êl đi đến một nhận định chung có tính tạm thời về vấn đề chuyển nhượng kĩ thuật. Trong mấy năm trước, về vấn đề xuất khẩu sang tập đoàn Liên Xô, các nước thành viên của Ủy ban Thống trù Pa-ri theo đề nghị của nước Mỹ đã khống chế hơn một trăm hạng mục! Nhưng nay nước Mỹ lại có ý định mở rộng thanh đơn1 để khống chế sự xuất khẩu về kĩ thuật, chứ không chỉ đơn thuần dựa vào chính sách khống chế các hàng hoá xuất khẩu có mục đích về quân sự của phương Tây. Mỹ muốn khống chế đối với bất cứ một loại sản phẩm và kĩ thuật xuất khẩu nào quan trọng về chiến lược, thậm chí đối với những kĩ thuật dân dụng không thể xác định được chuẩn xác phạm vi ứng dụng của nó cũng cần khống chế! Nước Mỹ còn muốn làm cho quyền khống chế của Ủy ban Thống trù Pa-ri có tác dụng đối với cả sự xuất khẩu sang nước thứ ba, vì Liên Xô đặc biệt thích thú có được những kĩ thuật nhậy cảm qua phương thức giao dịch này.

Phương thức khống chế này bắt đầu có được hiệu quả rõ rệt. Đến mùa thu năm 1983, nhân viên điều tra hải quan nước Mỹ, có sự hiệp trợ của các đồng sự châu Âu đã tịch thu khoảng 1400 kiện hàng xuất khẩu phi pháp, giá trị tương đương 200 triệu đô-la Mỹ, trong đó có rất nhiều kĩ thuật then chốt có lợi cho sự duy trì ngành công nghiệp Liên Xô.
_____________________________________
1. Thanh đơn: bản liệt kê bảng kê tường tận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #95 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:50:17 PM »


Về phương diện hạn chế Liên Xô xuất khẩu năng lượng sang phương Tây, Chính phủ Mỹ cũng có được sự tiến triển. Mùa xuân năm 1983, quan chức nước Mỹ đã áp đặt một Hiệp nghị với cơ quan năng lượng quốc tế (IEA). Bản hiệp nghị này trên thực tế là hạn chế châu Âu nhập khẩu khí đốt của Liên Xô, yêu cầu Tây Âu không được nhập khẩu vượt quá 30% số năng lượng khối này cần thiết, vì vậy Tây Âu không thể không chuyển hướng tìm những năng lượng khác để thay thế. Hiệp nghị này được kí kết chính thức tháng 5 năm 1983 tại Uy-li-am-sư-pao1 trong hội nghị thượng đỉnh của 7 nước phương Tây. Bản hiệp nghị này đã cắt đứt một nguồn tiền lớn chảy vào điện Krem-li, đồng thời nó cũng là một sách lược ngăn chặn không cho Liên Xô có được ngoại tệ mạnh.

Nước Mỹ sau khi kết thúc sự hoạt động đối với cơ quan năng lượng quốc tế, họ lại tiếp tục chú trọng đến sự xuất khẩu dầu mỏ của Liên Xô. Sự xuất khẩu dầu mỏ là nguồn thu nhập quan trọng của điện Krem-li. Ở một mức độ nào đó, nó chiếm hơn một nửa sự thu nhập ngoại tệ mạnh của Liên Xô! Đầu năm 1983, Bộ Tài chính Mỹ tiến hành một đợt nghiên cứu bí mật, quy mô lớn về vấn để định giá dầu mỏ quốc tế. Bộ Tài chính thường công bố những báo cáo có liên quan với chủ đề này. Đối với việc nghiên cứu trên, Ủy ban An ninh quốc gia rất thích thú! Cô-xây và Uyn-pak có bình luận về những bản báo cáo đó. Việc soạn thảo chúng mất 6 tháng trời, dày tới hàng trăm trang. Nó là một bản tổng hợp số liệu đã gây ấn tượng sâu sắc cho mọi người. Đối với hiện trạng kinh tế của Mỹ và Liên Xô thì giá dầu mỏ thế giới là một nhân tố có tính quyết định quan trọng. Nhưng đối với mỗi một nước lớn siêu cấp thì rút cục nó có ý nghĩa như thế nào?

Bản báo cáo cho rằng, đối với nền kinh tế Mỹ mà nói thì giá dầu mỏ thích hợp nhất là vào khoảng 20 đô-la 1 thùng; so với giá 34 đôla 1 thùng thì thấp hơn rất nhiều. Khi đó nước Mỹ 1 năm phải mua 5 tỉ 5 thùng dầu mỏ trị giá 183 tỉ đôla, trong đó lượng nhập khẩu là 1 tỉ 6 thùng. Nếu giá dầu mỏ trên thị trường quốc tế hạ xuống 20 đôla mỗi thùng thì sẽ làm cho giá thành kinh tế của nước Mỹ mỗi năm giảm đi 71 tỉ 5 đôla. Như vậy có nghĩa là 1% tổng giá trị sản xuất quốc dân chuyển hoá thành sự thu nhập của những người tiêu dùng nước Mỹ. “Giá dầu mỏ tương đối thấp, về bản chất mà nói thì chẳng khác nào một sự giảm thuế” Uyn-pak nhớ lại. Bản báo cáo đoán định, nếu giá dầu mỏ hạ xuống mức 20 đô-la 1 thùng “như vậy thì tổng thể hiện trạng trong nước sẽ chuyển biến rất rõ... Hiệu quả thời kì đầu của sự giảm giá dầu mỏ, tức là sự thu nhập của doanh nghiệp sản xuất dầu mỏ nước ngoài trên thực tế sẽ chuyển vào tay người tiêu dùng nước Mỹ. Điều này sẽ làm cho sự thu nhập và sức mua của nước Mỹ tăng lên rõ rệt... giá dầu mỏ tương đối thấp có nghĩa là sự thu nhập về dầu mỏ sẽ chuyển vào tay nước Mỹ, một nước có quyền chi phối lớn đối với tài nguyên thế giới”. Trong tình hình này, với đời sống kinh tế của nước Mỹ không có mấy ngành trở thành “người thua cuộc” mà những ảnh hưởng đối với các ngành đó cũng rất nhỏ. “Trong các ngành công nghiệp Mỹ chỉ có ngành khai thác mỏ mới là “người thua cuộc” vì hoạt động khoan dò của dầu mỏ và khí đốt sẽ phải chịu giảm. Ngoài ra, các ngành khác đều được lợi một khi giá dầu mỏ hạ”.

Giá dầu hạ, hoặc là do nhu cầu giảm đi (trường hợp này rất ít khi xảy ra), hoặc là do sản lượng tăng lên rõ rệt. Về khả năng sản lượng tăng, báo cáo chỉ ra rằng, nếu A-rập Xau-đi và “các quốc gia khác có trữ lượng dầu mỏ nhiều tăng sản lượng của họ lên, khiến cho sản lượng dầu mỏ thế giới... mỗi ngày tăng khoảng 270 vạn đến 540 vạn thùng, như vậy thì giá dầu thế giới sẽ hạ xuống khoảng 40%, và ảnh hưởng đối với nền kinh tế nói chung của nước Mỹ sẽ rất có lợi”.

Giá dầu hạ, ảnh hưởng của nó đối với nước Mỹ tuy “có lợi rất rõ”, nhưng đối với nền kinh tế Liên Xô sẽ gây ra “ảnh hưởng có tính huỷ diệt”! Bản báo cáo chỉ ra rằng, sự thu nhập ngoại tệ mạnh của Liên Xô dựa rất nhiều vào xuất khẩu năng lượng. Căn cứ vào sự tính toán của Bộ Tài chính, mỗi thùng dầu nếu tăng lên 1 đôla Mỹ, có nghĩa là điện Krem-li sẽ thu được từ nửa tỉ đến 1 tỉ đôla Mỹ ngoại ngạch. Ngược lại, nếu giá dầu hạ xuống có nghĩa là thu nhập của họ sẽ giảm đi. Ngoài ra, họ không giống với các doanh nghiệp sản xuất dầu mỏ khác ở chỗ, Mat-xcơ-va không thể “thông qua việc tăng sản lượng để tăng thu nhập; vì năng lực sản xuất dầu mỏ của Liên Xô đã tới cực hạn.
________________________________________
1. Uy-li-am-sư-pao: thuộc bang Viếc-gi-ni-a nước Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:51:51 PM »


Giống như các bản báo cáo khác của Bộ Tài chính, phần lớn nội dung của bản báo cáo này là bí mật. Nhưng Cơ-lắc, Cô-xây và Uyn-pak đều tin rằng Tổng thống đã nhận được phần trích yếu của bản báo cáo này. Nỗ lực tranh thủ giá dầu sao cho tương đối thấp là chiến lược hết sức hấp dẫn “Đó là chiến lược mua bán “nhất bản vạn lợi - Giôn Pin-đơ Kơ-xtơ nhớ lại - Chúng tôi cố sức tranh thủ giành lại 2 loại kết quả trên”. Nhưng thông tin này đối với Tổng thống không gây được ảnh hưởng gì. “Rô-nan Ri-gân biết rất rõ rằng, sự xuất khẩu năng lượng là nguồn chính yếu thu nhập ngoại tệ mạnh hàng năm của Liên Xô - Bi-en Cơ-lắc nhớ lại - Ông cũng hiểu được rằng nền kinh tế Mỹ sẽ tốt lên, nếu giá dầu mỏ tương đối thấp và ổn định”.

Giá dầu mỏ trên thị trường dầu mỏ thế giới dường như đang hạ xuống. Chỉ mấy tháng trước khi bản báo cáo này công bố, 4 trùm tư bản dầu mỏ nước Mỹ và A-man-ni, Bộ trưởng Dầu mỏ của Xau-đi đã gặp nhau tại Giơ-ne-vơ. A-man-ni triệu tập 4 trùm tư bản dầu mỏ để bàn về giá cả dầu mỏ trên thị trường thế giới. Họ tiến hành cuộc hội đàm phi chính thức riêng với nhau. Trong gian phòng xinh đẹp của khách sạn quốc tế do vị bộ trưởng dầu mỏ này thuê, họ vừa ăn trưa, vừa thưởng thức phong cảnh đẹp qua cửa sổ nhìn ra.

A-man-ni là một nhân vật rất quan trọng trên thị trường dầu mỏ quốc tế. Ông cũng là người bắt buộc phải thi hành quy tắc của OPEC. Chức trách của ông là phải bảo đảm sự khống chế ngặt nghèo đối với sản lượng dầu mỏ, giữ cho giá dầu được ổn định, đồng thời phải làm sao nâng cao tương đối mức thu nhập của dầu mỏ. Vì thế A-rập Xau-đi giữ vai trò một nước sản xuất dầu có tính cơ động. Nước này phải điều tiết sản lượng dầu của bản thân để giữ cho giá dầu được ổn định (hoặc là hạ thấp sản lượng để nâng cao giá dầu, hoặc là giảm bớt sản lượng để hạ thấp giá thành dầu thô). A-man-ni không cần thiết cái ô dù là thành viên Vương thất để bảo vệ cho chức vị của mình. Ông là một thương nhân, hoàn toàn do thông minh, tài trí của riêng mình mà vươn tới tầng lớp cao nhất của xã hội, mà địa vị này chính là cái mà suốt cả chiều dài lịch sử của gia tộc ông rất được coi trọng! Nếu không hoàn thành được sứ mệnh của mình thì ông lập tức xin từ chức; sự việc chỉ đơn giản như vậy thôi!

Trước đây thường là do A-man-ni xác định về đường hướng chính và về điều khoản trong bất cứ một hiệp nghị nào khi ông họp với các trùm tư bản dầu mỏ Mỹ. Nhưng lần này lại do người Mỹ. Họ không một chút khách khí của chủ đạo về đường hướng của cuộc hội đàm, vì sự thiếu hụt dầu mỏ của những năm 70 đã phải nhường lại cho sự quá thừa dầu mỏ ở những năm 80; giá dầu thô nhẹ của Xau-đi thực ra là quá cao, vì vậy các công ty Mỹ đã lỗ rất nhiều!” Chúng tôi có thể chịu 30 đô-la Mỹ, giá mỗi thùng – Kai-lây1 nói với A-ma-ni - Chúng tôi cũng có thể chịu với giá 34 đôla Mỹ mỗi thùng, nhưng chúng tôi không thể trả 34 đôla một thùng trong khi thực chất nó chỉ đáng giá 30 đôla một thùng”. Cuộc hội đàm kết thúc trong bầu không khí lạnh nhạt. Hy vọng của người Mỹ tan thành mây khói!

Các quan chức của Chính phủ Mỹ đã rút ra được bài học trong lần họp này với người bạn của giới dầu mỏ. Cục Tình báo trung ương và các chuyên gia của Ủy ban An ninh quốc gia tổ chức cuộc họp với một vị trùm tư bản có dự cuộc họp mới rồi.

Mặc dầu giá dầu mỏ tương đối thấp đã gây được ảnh hưởng trên thị trường quốc tế, nhưng đủ mọi loại nhân tố chính trị và kinh tế có thể nâng giá dầu mỏ lên dễ như bỡn. Như vậy là vì Mat-xcơ-va thích có được một số thành tựu, điều này là chắc chắn! Cuộc chiến tranh giữa I-ran và I-rắc đã làm cho giá dầu trên thị trường chỉ hơi một chút biến động là không ổn định, nhất là khi 2 nước cấp tiến là I-ran và Li-bi mong muốn ép OPEC nâng cao giá dầu mỏ! Nghĩ tới triển vọng của vấn đề này, nước Mỹ đã phái các quan chức chính phủ đến các quốc gia hữu quan làm công tác tư tưởng để giữ giá dầu trên thị trường được bình ổn. Đầu tháng 2 năm 1983, Chính phủ Mỹ phái 2 quan chức của Bộ Năng lượng đến Luân Đôn gặp Bộ trưởng Bộ Năng lượng Na-chin Lao-sưn. Mục đích chuyến công cán này của họ là cố gắng khuyên Lao-sưn hạ giá dầu thô và tăng sản lượng dầu mỏ của mỏ Bắc Hải. “Chúng tôi nói mỏi miệng, mới thuyết phục được nước Anh tăng sản lượng dầu mỏ, và hạ giá dầu này xuống - Uyn-pak nhớ lại - Liên Xô sẽ đưa khí đốt vào Tây Âu qua đường ống ngay. Nếu giá dầu vẫn ở mức cao thì châu Âu sẽ chuyển sang dùng khí đốt. Như vậy thì Liên Xô sẽ được lợi!” Bi-en Sư-nat cũng nhớ đến việc này: “Chúng tôi coi nước Anh như chất xúc tác trong vấn đề hạ giá dầu mỏ. Mỏ dầu Bắc Hải có năng lực sản xuất làm cho giá dầu hạ xuống rõ rệt”.
_________________________________________
1. Kai-lây: tức Gióoc-giơ Kai-lây, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Công ty Dầu mỏ Mây-phu bang Ca-li-phoóc-ni-a Mỹ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2010, 11:56:02 PM »


Hễ biện pháp nào hạ được giá dầu thì nước Mỹ đều sử dụng; một biện pháp nhẹ nhàng trong đó là đình chỉ việc mua dầu thô dùng cho chiến lược dự trữ dầu (SPR). SPR là sản phẩm của sự cấm vận dầu mỏ do các nước sản xuất dầu A-rập tiến hành trong các năm 1973 - 1974 đối với các nước phương Tây. Mục đích của SPR là cung cấp dầu mỏ dự trữ nếu lại xẩy ra chiến lược khủng hoảng dầu mỏ nữa. Hàng triệu thùng dầu mỏ bắt đầu được chứa trong các hầm ngầm ở bang Lu-y-ri-a-na và bang Tếch-dát vùng ven biển. Quốc hội Mỹ quy định, đến năm 1990 phải dự trữ được 7,5 triệu thùng dầu mỏ. Nhưng, đầu năm 1983, Chính phủ Mỹ tuyên bố phải giảm rất nhiều lượng dầu mua. Quốc hội Mỹ yêu cầu một ngày phải mua 220.000 thùng dầu, nhưng Chính phủ Mỹ dự tính chỉ có thể mua 145.000 thùng. Bi-en Sư-nat trước khi trở thành phó Quốc vụ khanh, đã phụ trách Cục Quản lí hành chính và dự toán nước Mỹ (OMB). Ông đã dự tính số dầu mỏ dự trữ. Ông nói mục đích Chính phủ Mỹ giảm bớt lượng mua dầu mỏ không chỉ cốt để cân bằng dự toán mà còn để giảm bớt lượng nhu cầu về nó, đồng thời hi vọng qua đó sẽ làm cho giá dầu hạ xuống.

Cuối tháng 2, Vương tử Ban-đan của A-rập Xau-đi hội kiến với mấy quan chức cao cấp Mỹ là Cô-xây và Uyn-pak. Ban-đan muốn lập một đường dây liên hệ độc lập với phòng Bầu dục. Ông nói với mấy vị quan chức rằng Quốc vụ viện và Quốc vụ khanh Mỹ Xu-ơn-xư đã thân quá với I-xra-en! A-rập Xau-đi và Chính phủ Mỹ đã xây dựng được sự thân cận với nhau, mối quan hệ đặc biệt này có thể bảo đảm dễ dàng thương lượng mọi việc với các nhân sĩ cánh hữu. “Người A-rập Xau-đi bao giờ cũng coi mối quan hệ với Lầu Năm Góc và Cục Tình báo trung ương là đẹp đẽ nhất - Một quan chức cao cấp của Cục Tình báo trung ương nhớ lại - Còn Quốc vụ viện thì bị họ coi là không có tác dụng”.

Người A-rập Xau-đi hết sức chú trọng tới tin đồn rằng lợi ích của họ bị tổn hại bởi cục thế hiện nay ở Trung Đông. Lê-ba-non (Lebanon) đang ở trong tình trạng bị chia cắt; đồng thời I-ran và I-rắc đang xẩy ra chiến tranh khiến khu vực này lâm vào tình thế hết sức nguy ngập. Sy-ri và I-xra-en đang trong hiện trạng đối chọi quyết liệt với nhau; sự uy hiếp của chủ nghĩa Khô-mê-ni đang bao trùm toàn bộ khu vực Trung Đông.

Ở Ba Lan, cuộc chiến tranh bí mật đang tiếp tục. Tuy từ ngày 30 tháng 12 năm 1982 Chính phủ Ba Lan chính thức kết thúc việc tạm giam các chính trị phạm, nhưng nhà đương cục vẫn cầm tù các phần tử tích cực của Công đoàn Đoàn kết. Những việc bắt bớ gần đây nhất đã trực tiếp nhằm vào các nhà xuất bản bí mật; mục tiêu là loại lực lượng tàn dư của Công đoàn Đoàn kết, đồng thời đề phòng những người được tha ra hoạt động trở lại. Vào ngày Tết dương lịch, Cảnh sát đóng cửa một nhà in bí mật ở gần thành phố Pốt-xđam, bắt đi 15 phần tử tích cực của phong trào Đoàn kết. Trong quá trình lùng sục, Cảnh sát đã đánh hơi thấy dấu vết của ngoại tệ, vì Công đoàn Đoàn kết thiếu nguồn cung ứng thực phẩm, nên họ đành nhập khẩu mọi thứ từ phương Tây. Điều này cần có một số ngoại tệ mạnh.

Sự phân phát các ấn phẩm càng thêm khó khăn. Hai tổ chức bí mật in và phân phát truyền đơn ở Gơ-đan sư-khơ (Gdansh) bị khám xét và tịch biên hết; 2 trung tâm in ấn ở Vác-sa-va và 1 trung tâm ấn loát khác ở Lai-sân-nô (Leszno) cũng bị phát hiện vào đầu năm 1983. Nhưng cùng với Cha-bu-uơ-xki bị bắt, (người phụ trách Ủy ban bãi công của nhà máy đóng tầu Sư-xê-xin1), có lẽ nước hoạt động với quy mô lớn nhất của Công đoàn Đoàn kết có thể bị lộ. Vậy là tổ chức này đã lại mất một người lãnh đạo nữa! Mỗi khi một người lãnh đạo cao cấp của Công đoàn này bị bắt thì những người nắm đường dây cung ứng bí mật ở Oa-sinh-tơn lại lo lắng không yên! Rút cục thì ai là người trong Công đoàn Đoàn kết biết được rằng đã có sự ủng hộ từ Mỹ? Có ai thích bàn luận về những việc này không? Liệu có bất cứ một chứng cứ nào có thể cung cấp cho nhà đương cục để khởi tố không? Trong mấy tháng gần đây, 7 người lãnh đạo của Công đoàn Đoàn kết và 5 người thuộc thành phần trí thức không cùng chính kiến trong Ủy ban hành động của công nhân quốc phòng đều lần lượt bị bắt, nhà đương cục Ba Lan quyết định qua họ để “Sát nhất nhân vạn nhân cụ2. Nhà đương cục lên án những phần tử tích cực của Công đoàn Đoàn kết muốn lật đổ Chính quyền. Điều này có nghĩa là họ có thể bị xử tử hình.

Nhưng, mặc dầu phải chịu những tổn thất đó, Công đoàn Đoàn kết ngược lại so với trước, lại càng có tổ chức hơn. Chu-pik-ep Pu-ak, người lãnh đạo Công đoàn Đoàn kết mới 27 tuổi ở khu vực Vác-sa-va, hiện đang phụ trách vấn đề tài chính của công đoàn này, đồng thời phụ trách việc phân phối các vật phẩm tài trợ của nước ngoài cho các đoàn thể. Anh là người thu gom các nguồn tài trợ đồng thời bảo đảm mối liên hệ giữa khu vục Vác-sa-va với những người lãnh đạo công đoàn ở các khu vục khác để cùng phối hợp lãnh đạo chiến lược chung của phái phản đối. Vích-to Cu-lep-ski phụ trách liên lạc với các tổ chức giáo sư, học sinh, bác sĩ, luật sư và các phần tử trí thức hiện đang xuất bản các báo chí bí mật. Ông là một người có khả năng trong việc giải quyết mọi vấn đề như giúp ban biên tập có được giấy dùng để in các xuất bản phẩm và mực in. Trong những ngày đó, Cu-lep-ski hàng ngày đều làm việc cần cù suốt 18 tiếng đồng hồ.
______________________________________
1. Sư-xê-xin (Szczécin).
2. Sát nhất nhân vạn nhân cụ: giết một người khiến cho vạn người phải sợ!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #98 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2010, 12:01:18 AM »


Công đoàn Đoàn kết bí mật còn lập ra những cơ quan phụ trách công việc hành chính, sắp xếp nơi ở, xe cộ và làm giả các giấy tờ cho các thành viên. Cơ quan này do En-oa Cu-lik và Ca-lat Pi-lin-ski phụ trách. Cu-lik khi đó đang định hoàn thành luận văn tiến sĩ về tác phẩm của Uy-li-am Phu-cơ-na1; còn Pi-lin-ski là nhà toán học. Phái phản đối còn xây dựng một cơ quan an ninh mà thông tin lại nhanh nhậy, đặt tên cho nó là “Cơ quan vệ sinh và an ninh”. Cơ quan này do các chuyên gia an ninh và tình báo lập ra (có một số người đã được Cục Tình báo trung ương huấn luyện), nhiệm vụ chủ yếu của nó là kiểm tra các tin của tình báo và tình hình về tình báo của các Cảnh sát bí mật của Ba Lan. Do có cơ quan này nên Cục Tình báo trung ương mới gửi các công cụ thông tin bí mật sang cho, đồng thời họ còn kiểm tra cả trụ sở để tin chắc rằng những công cụ này được để vào nơi cất giấu thích đáng. Nó là cơ quan chỉ huy, khống chế và thông tin của Công đoàn Đoàn kết bí mật.

Do kế hoạch hành động bí mật của Cục Tình báo trung ương ở Ba Lan tiến triển nhanh chóng, nên năm 1983, Cô-xây yêu cầu tiến hành một lần kiểm tra triệt để toàn bộ kế hoạch. Lần hành động này, ngay từ lúc bắt đầu đã chịu sự khống chế của cơ quan đại diện của Cục Tình báo trung ương đóng ở Phơ-răng-phuốc, với sự phối hợp của trạm tình báo ở Vác-sa-va rồi sau đó cứ theo từng bước mà làm. Nhưng quá trình này rất phiền phức, mãi cho đến nay, nó vẫn chỉ là một lần “thao tác hòm đen” quan trọng. Tức là để cung cấp tiền cho phái phản đối, mỗi năm Cục Tình báo trung ương phải lén lút cho Công đoàn Đoàn kết bí mật hàng triệu đô-la. Nhưng, chỉ có tiền không không thể đủ, nhất là nếu Cục muốn cho Công đoàn Đoàn kết chấp hành triệt để được toàn bộ chỉ thị về Quyết sách An ninh quốc gia số 32 (NSDD - 32) thì đó cũng không phải là chuyện dễ dàng gì. Tổng thống yêu cầu Cục phải cố gắng trong việc ủng hộ Công đoàn Đoàn kết, nên Cô-xây đã tổ chức một đường dây cung cấp bí mật để chuyển các vật tư mà họ thiếu hiếm. Việc này cũng tương tự như sự cung cấp mà cục đã tiến hành ở Áp-ga-ni-xtan, chỉ có khác một điều là chuyển hàng sang Ba Lan không có sự nguy hiểm về sinh mệnh! Ngoài việc sang xuân bắt đầu cung cấp các công cụ thông tin kĩ thuật cao ra, Chính phủ Mỹ còn muốn Công đoàn Đoàn kết bí mật được trang bị máy fax, máy tính, các thiết bị ấn loát tiên tiến cùng nhiều các thiết bị khác. Vì vậy Cục đã cung cấp một số vật tư cho Lao liên - Sản liên. Lao liên - Sản liên đã làm việc này rất đẹp; đã bí mật chuyển các vật tư đó cho Công đoàn Đoàn kết. Giôn Pin-đơ Kơ-xtơ đã định kì gặp mặt các quan chức Lao liên - Sản liên, yêu cầu Iếc-vinh Pu-răng giúp họ một chút để tổ chức công đoàn có thể xây dựng được ở Ba Lan.

Về mặt lén chuyển các công cụ thông tin vào nội địa Ba Lan và việc lén di chuyển các phần tử tích cực của Công đoàn Đoàn kết ở ngoài biên giới Ba Lan thì Thụy Điển là một trạm trung chuyển hữu hiệu nhất, vì nước này và Ba Lan cách nhau không xa. Hơn nữa Thụy Điển và Ba Lan lại có rất nhiều quan hệ về thương nghiệp với nhau. Ngoài ra Thụy Điển lại là một nước trung lập chính thức, vì vậy nhà đương cục Ba Lan càng thêm tin tưởng!

Cô-xây chỉ thị cho trạm tình báo Stốc-khôm của Cục Tình báo trung ương sơ bộ sắp xếp để đến tháng 10 ông sẽ sang thăm các quan chức Thụy Điển. “Kế hoạch của ông là thuyết phục người Thụy Điển tán đồng và giúp Mỹ trong việc ủng hộ Công đoàn Đoàn kết - Một trợ thủ nhớ lại - Không ai tin rằng ông thành công trong việc này!”

Con đường chuyển vật tư đến Ba Lan được coi là rất giản đơn. Thiết bị và cung ứng phẩm sẽ mua bằng tiền của Cục Tình báo trung ương và sẽ hoàn thành việc này ở Bơ-rúc-xen, vì một trong những cơ quan đại diện lớn nhất và hữu hiệu nhất của Công đoàn Đoàn kết đã được đặt tại đây. Các vật tư chiến lược sẽ được chuyển tới Bơ-rúc-xen và được cất giữ trong mấy nhà kho. Những phần tử tích cực của Công đoàn Đoàn kết sẽ bao gói lại những vật tư ấy sau đó sẽ chuyển đến Stốc-khôm. Những công-ten-nơ vật tư này chỉ trong một ngày là đến Thụy Điển rồi những vật tư đó lại được xếp vào các thùng gỗ thưa; những thùng này được đề ngoài là “Linh kiện máy cày”, “Máy công cụ”... Sau đó những thùng này được xếp lên tầu thuỷ chuyển đến hải cảng của Ba.Lan. Trong số những người tham gia vào việc này, hiện nay duy nhất thiếu một thành phần. Đó là sự hợp tác của người Thụy Điển.
_______________________________________
1. Uy-li-am Phu-cơ-na (William Faulkner) (1897 - 1962), nhân vật đại diện của trường phái “Văn học phương Nam”. Tác phẩm của ông phản ánh tình hình lịch sử của xã hội miền Nam nước Mỹ. Ông được giải thưởng Nô-ben năm 1949.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #99 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2010, 08:52:29 PM »


CHƯƠNG MƯỜI MỘT


Trong thời kì đầu chấp chính của Ri-gân, trọng điểm đường lối chính trị của ông đặt vào sự cải biến trạng thái tâm lí về chiến tranh lạnh của mọi người. Đối với Mat-xcơ-va, ông áp dụng biện pháp phòng thủ và mong sẽ có cơ hội để có thể cải biến hướng chạy đua hiện nay. Việc xây dựng cuộc phòng thủ đại quy mô này sẽ do Cai-xpa Uyn-pak phụ trách. Đó là một sự thách thức kĩ thuật nhằm vào chỗ yếu nhất của Mat-xcơ-va. Mat-xcơ-va cũng bắt đầu chú ý đến điểm đó! “Nhìn về tổng thể, Mat-xcơ-va cho rằng, trong quan hệ đối sách về mặt quân sự thì đòn cân đang nghiêng về phía Mỹ, đồng thời Mat-xcơ-va cũng ý thức được về sự tích tụ của “tính tương quan lực lượng”. Xe-rơ-cai Phê-ô-đo-ren-cô, một Trưởng phòng của Sở Nghiên cứu về Mỹ và Ca-na-đa trong Viện Khoa học Liên Xô nhớ lại!

Nhưng, Chính phủ Mỹ không nghĩ rằng có thể ngăn chặn một cách giản đơn đối với ưu thế quân sự của Liên Xô. Tổng thống muốn “đánh” vào lợi ích chính trị của Liên Xô. Điều này sẽ kích động một sự phản ứng tiềm tàng trong toàn bộ phạm vi Liên Xô, một nơi có khả năng trong đó là Ap-ga-ni-xtan!

Cuối tháng 3 năm 1983, Cô-xây quay về Pa-ki-xtan. Theo ước tính, số người bị thương vong trong chiến tranh của Liên Xô là 12 nghìn đến 15 nghìn người. Mùa xuân sắp tới điều này có nghĩa là ở Áp-ga-ni-xtan sẽ xảy ra 2 việc: một là vụ gieo mạ mùa xuân đã đến, hai là lực lượng vũ trang ủng hộ Liên Xô sẽ tiến hành những cuộc tiễu trừ tương đối quy mô đối với quân du kích. Khi tuyết tan, tiết trời ấm dần, quân Chính phủ Áp-ga-ni-xtan và quân đội Liên Xô sẽ lại triển khai hành động để đối phó với du kích Mu-xlim!

Nhưng, năm 1983, có những hành động bí mật ủng hộ quân du kích Mu-xlim của Áp-ga-ni-xtan; nó gần đủ các thành phần, và nó khiến người ta phải kinh ngạc! Bắt đầu từ năm 1981, Cô-xây đã ra mệnh lệnh cho Phòng Hành động của Cục Tình báo trung ương tìm và chiêu mộ những người Áp-ga-ni-xtan ở hải ngoại để giúp việc mở một con đường vận chuyển vũ khí cho quân khởi nghĩa. Đến mùa xuân năm 1982, hơn 100 người Áp-ga-ni-xtan có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí quốc tế bắt đầu được huấn luyện. Ít lâu sau, những người này dưới sự chỉ đạo của các quan chức Cục Tình báo trung ương, phối hợp với các nhân viên hữu quan đi mua vũ khí, đồng thời chuyển những vũ khí này cho quân du kích Mu-xlim.

Cục Tình báo trung ương đã phải mất rất nhiều công sức mới tiến hành chu đáo được kế hoạch Áp-ga-ni-xtan. Tổng thống Zi-a đã dũng cảm cho phép Oa-sinh-tơn coi Pa-ki-xtan như một căn cứ cung ứng hậu cần cho tổ chức chống đối Áp-ga-ni-xtan. Mat-xcơ-va đương nhiên biết rõ lí do du-kích Mu-xlim vì sao có được sự cung ứng đó, vì thế họ đã đưa ra những lời chỉ trích Zi-a. Cô-xây chỉ thị cho các thủ hạ của ông: “Phải bảo vệ ông ta chu đáo!” Sau đó, Cục Tình báo trung ương đã bố trí 6 quan chức phụ trách công việc này. Những súng trường, đạn dược và tên lửa đưa đến tay quân du kích được xếp trong những thùng gỗ thưa, trên thùng có dán nhan đề “Máy truyền hình” và “Thiết bị”. Một số nhân viên tình báo Pa-ki-xtan lái những chiếc xe tải chuyển các thiết bị đó đến khu tập kết quân du kích Mu-xlim Áp-ga-ni-xtan. Nước Mỹ hi vọng những biện pháp này sẽ có thể giúp Zi-a phủ nhận những hành động trên.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM