Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:33:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884818 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:37:43 am »


Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995), nguyên Tư lệnh Quân khu Đông Bắc, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1.

Ông từng giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến khóa 6, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 6, Đại biểu Quốc hội từ khóa 4 đến khóa 8.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì), Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984)


Thượng tướng Đàm Qung Trung, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi.

Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt và quản thúc tại địa phương. Năm 1941, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh cử đi học ở trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các ông Hoàng Văn Thái (Đại tướng), Vũ Lập (Thượng tướng), Hoàng Minh Thảo (Thượng tướng), Nam Long (Trung tướng)... Ở trường Hoàng Phố, ông được học in litô. Nhân có ông Phạm Văn Đồng sang, ông mạnh dạn xin báo cáo với lãnh tụ Hồ Chí Minh được học quân sự.

Tháng 7/1944, ông chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương và lãnh tụ Hồ Chí Minh ở Tân Trào. Có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc nhằm phối hợp với Việt Minh giải giáp vũ khí của Phát-xít Nhật, ông được chỉ định làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ. Tháng 9 năm 1944, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng và huấn luyện du kích ở vùng biên giới phía Bắc. Ngay sau khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944, ông xin gia nhập.

Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là đại đội trưởng Giải phóng quân tham gia giành chính quyền ở Thái Nguyên. Ngày 2/9/1945, ông được giao chỉ huy cuộc duyệt binh chào mừng ngày Quốc khánh và chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập. Ngày 29/3/1946, ông chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội quốc gia Việt Nam với quân đội Pháp tại vườn hoa Canh Nông, nay là công viên đặt tượng đài Lê-nin.

Ngày 22/9/1946, núp bóng quân Anh quân Pháp trở lại nổ súng xâm lược Nam Bộ. Ông lên đường Nam tiến chi viện cho chiến trường miền Nam và chi đội 4 hay còn gọi là chi đội Đàm Quang Trung. Sau hiệp định sơ bộ về đình chiến, ông ra Bắc và được cử giữ chức Khu trưởng Đặc khu Hà Nội. Tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông lại Nam tiến và là Chỉ huy trưởng mặt trận Quảng Nam Đà Nẵng rồi là Phó Tư lệnh Liên khu 5 kiêm Trung đoàn trưởng Trung đoàn chủ lực của liên khu.

Khi Đại đoàn 312-Đại đoàn chiến thắng được thành lập, ông ra Bắc đảm nhận vị trí Đại đoàn phó. Từ năm 1953 đến năm 1954, ông cùng Đại đoàn của mình tham gia đánh nhiều trận giải phóng Thượng Lào rồi là một trong năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Ngày 1/1/1955, ông vinh dự được chỉ huy cuộc diễu binh chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương về lại Thủ đô sau 9 năm kháng chiến.

Bước vào thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Năm 1955, ông là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 rồi Tư lệnh Quân khu Đông Bắc kiêm Đại đoàn trưởng Đại đoàn 322. Sau đó, ông sang Liên Xô theo học tại Học viện Quân sự mang tên Frunde và là học viên xuất sắc ở đây. Tháng 10/1957, ông có vinh dự tham gia chủ tịch đoàn cuộc mít-tinh trọng thể chào mừng chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ kỉ niệm 40 năm cách mạng tháng 10 Nga.

Trở về nước từ năm 1958 đến năm 1961, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn rồi từ năm 1961 đến năm 1966 ông là Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Từ tháng 8 năm 1966 đến năm 1967, ông là Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương Bộ Quốc phòng tại mặt trận B4 (Quảng Trị). Từ năm 1967 đến năm 1973, ông là Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968, ông chỉ huy bộ đội đánh thành cổ Quảng Trị. Trong thời gian này, ông còn giữ các chức vụ Tư lệnh pháo binh mặt trận có mặt tại chiến trường đường 9 rồi sau đó là Tư lệnh Tăng Thiết giáp. Từ năm 1973 đến năm 1975, ông là Tư lệnh Quân khu 4 thay cho tướng Vương Thừa Vũ.

Đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1 rồi từ năm 1980 đến 1986 là Tư lệnh Quân khu 1. Từ năm 1987 đến năm 1992, ông là Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước kiêm Chủ tịch hội đồng dân tộc. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4 đến 6. Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5. Ông cũng là Đại biểu Quốc hội khóa 4 đến khóa 8.

Thượng tướng Đàm Quang Trung là vị tướng chiến thuật bậc thầy của Việt Nam trong các chiến dịch có sự phối hợp hiệp đồng giữa pháo binh và xe tăng.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam, Trang Thông tin Điện tử Cao Bằng.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:15:03 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:39:59 am »


Thượng tướng Đinh Đức Thiện (1913-17h5’ ngày 20/11/1987), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng Cục kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông cũng từng giữ các chức vụ Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Phó Chủ nhiệm ủy ban kế hoạch nhà nước.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 23.9.2008), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng I, Huân chương Chiến thắng hạng I, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984), Thượng tướng (1986).


Thượng tướng Đinh Đức Thiện, tên thật là Phan Đình Dinh, quê tại xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà Nho, cha ông mất sớm mẹ ông tần tảo nuôi tám anh em ông. Ông có người anh trai là Ngoại giao Lê Đức Thọ và người em trai là Đại tướng Công an Mai Chí Thọ.

Năm 1930 ông tham gia hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam ở Nam Ðịnh. Năm 1931, sau khi được trả tự do, ông vào Sài Gòn hoạt động. Năm 1936, thời kì của phong trào Mặt trận Dân chủ, ông hoạt động tích cực trong Hội ái hữu. Năm 1939, ông được kết nạp vào Ðảng cộng sản Ðông Dương. Tháng 4/1940 ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 2 giam ở nhà lao Nam Ðịnh sau chuyển về nhà lao Hoả Lò Hà Nội. Năm 1942 ông ra tù, tìm bắt liên lạc với Trung ương và tiếp tục hoạt động ở địa phương.

Tháng 4/1944, Trung ương điều động ông lên hoạt động ở Vĩnh Yên nhằm xây dựng cơ sở chính trị và an toàn khu cho Trung ương. Tháng 1/1945, Trung ương quyết định chuyển đoàn công tác do ông đứng đầu thành Tỉnh ủy lâm thời Vĩnh Yên, ông tham gia Ban cán sự Tỉnh uỷ rồi làm Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Yên. Cuối tháng 3-1945, Tỉnh uỷ lâm thời Vĩnh Yên họp hội nghị đầu tiên bàn kế hoạch thi hành Chỉ thị ngày 12-3-1945 của Ban Thường vụ Trung ương: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

Tháng 4 đến tháng 7-1945 nhiều cuộc biểu tình của nhân dân diễn ra ở nhiểu nơi ủng hộ Việt Minh, chuẩn bị khởi nghĩa, đồng thời nhiều cuộc biểu tình phá kho thóc của địch nổ ra tạo nên khí thế cách mạng rất mạnh mẽ. Từ tháng 6/1945 đến 8/1945, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Yên mà đứng đầu là ông, các Uỷ ban dân tộc giải phóng ở các làng xã được thành lập; chuẩn bị lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành lại chính quyền.

Sau cách mạng tháng 8/1945, ông làm bí thư kiêm chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc Giang rồi năm 1947 được Trung ương chỉ định uỷ viên khu 12. Từ năm 1948-1949, ông là Uỷ viên thường vụ Khu uỷ Khu I khu Việt Bắc. 1950 được điều vào quân đội giữ chức Cục trưởng Cục vận tải, vừa là bí thư Ðảng uỷ cục, đồng thời là Ðảng uỷ viên Ðảng uỷ Cục cung cấp. 1954 Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Uỷ viên thường vụ Tổng cục đảm bảo hậu cần tiếp tế kịp thời các chiến dịch, đặc biệt Ðông Xuân 1953-1954 góp phần đảm bảo vận chuyển đáp ứng lương thực chiến dịch Ðiện Biên Phủ.

Thời kì 1957-1964, thời kì của kế hoạch năm năm lần thứ nhất khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ công nghiệp nặng, thường vụ đảng đoàn Bộ công nghiệp và tiếp đó vào năm 1959 kiêm làm Giám đốc, Bí thư Ðảng uỷ Khu gang thép Thái Nguyên-đây là công trình công nghiệp nặng đầu tiên ở nước ta.

Năm 1965, Mỹ đõ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ đồng thời đánh phá ác liệt miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Uỷ viên quân uỷ Trung ương. Ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo quá trình xây dựng Đường Trường Sơn cũng như đoàn 559 và quá trình chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Năm 1969, ông kiêm chức Bộ trưởng, Ðảng đoàn Bộ Cơ khí luyện kim. Năm 1972, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Sau năm 1973, khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam theo hiệp định Paris, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chuẩn bị mọi mặt về lực nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam. Đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu được xây dựng, một khối lượng lớn phương tiện kĩ thuật, bộ đội, công nhân, kĩ sư và thanh niên xung phong được huy động. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ông đã chỉ đạo cán bộ công nhân viên của Bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp cùng với Binh đoàn Trường Sơn.

Năm 1974, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào giai đoạn cuối, Chủ nhiệm và Bí thư Ðảng đoàn Tổng cục hậu cần. Tháng 9/1974 ông là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm và bí thư Ðảng uỷ Tổng cục Kỹ thuật. Xuân 1975 là thành viên bộ phận đại diện quân uỷ Trung ương và bổ Tổng tư lệnh chỉ đạo Chiến dịch giải phóng Tây nguyên và sau đó tham gia bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh trên cương vị Phó Tư lệnh phụ trách Hậu cần và Kỹ thuật.

Miền Nam giải phóng ông được bổ nhiệm làm phó chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước. Năm 1976, ông là Bộ trưởng phụ trách Tổng cục dầu khí, bí thư Ðảng đoàn Tổng cục. Khi đó, dầu khí là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với Việt Nam. Năm 1980, ông là Bộ trưởng kiêm Bí thư ban cán sự Bộ Giao thông Vận tải. Cho đến năm 1982, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội III và được bầu vào uỷ viên chính thức tại đại hội IV.

Trong bất kì một cuộc chiến tranh nào, bài toán hậu cần là một trong những bài toán được đặt ra đầu tiên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược nó là một phần của lực trong tổng quan thế và lực. Và người được giao trọng trách hậu cần phải là người có tài tổ chức, hoạch định chẳng những trước mắt mà còn lâu dài. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã may mắn khi trong kháng chiến chống Pháp có Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp-Đại tá Trần Đăng Ninh và trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước có Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Thượng tướng Đinh Đức Thiện.

Thượng tướng Đinh Đức Thiện còn được mệnh danh là ‘’vị tướng công trường’’, có lẽ nó bắt đầu từ thời kì ông được Trung ương cử đi trực tiếp chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Rồi việc ông thay mặt Trung ương trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh, rồi xây dựng cơ sở vật chất cho ngành dầu khí Việt Nam ngay từ thuở ban đầu…

Ông có một tác phong làm việc hết sức sâu sát, xông xáo trong chỉ đạo giải quyết công việc trên cơ sở thực tế và không ưa hình thức. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông luôn luôn ở tuyến đầu (đường Trường Sơn) trực tiếp chỉ đạo xây dựng và chi viện cho chiến trường. Trước những chiến dịch lớn ông thường có những chuyến đi vượt tuyến nhằm kiểm tra cơ sở hậu cần, các binh trạm trên tuyến đường Trường Sơn ví dụ như Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Có một số câu chuyện về ông rất thú vị, ví dụ như chuyện thời kì ông được cử lên chỉ đạo công trường xây dựng khu gang thép Thái Nguyên. Khi nghe tiếng mìn nổ của kĩ sư ở phía xa, ông cho gọi người kĩ sư lên bảo rằng kĩ thuật đánh mình chưa tốt vì nếu nhồi thuốc nổ tốt thì khi phá đá chỉ có một tiếng ‘’ục’’, như vậy vừa không đạt chỉ tiêu kĩ thuật vừa lãng phí. Sở dĩ ông biết vậy là bản thân ông cũng từng tự tay nhồi thuốc phá đá.

Tướng Đinh Đức Thiện là một người nóng tính, nhưng ông không bao giờ nổi nóng vô cớ. Chính vì vậy khi ông ‘’nổi giận’’ cách tốt nhất là im lặng. Nóng tính nhưng tính ông rất phục thiện. Thời kì 65, khi đó xe ô tô đi trên đường Trường Sơn còn chưa có pháo bảo vệ. Có một tiểu đoàn xe chi viện cho chiến trường miền Nam đi trên đường Trường Sơn bị bom Mỹ phá hỏng hết xe. Ông cho gọi người tiểu đoàn trưởng lên hết sức giận dữ. Người tiểu đoàn trưởng bình tĩnh trả lời đại loại ‘’xe đi không có pháo bảo vệ, lần sau có thể là đến người chứ chẳng nói gì đến xe’’. Ai cũng lo lắng cho người tiểu đoàn trưởng đó. Nhưng tướng Thiện hiểu ra làm lành và bàn với bên pháo binh về kế hoạch bảo vệ xe.

Mùa Xuân 1975, lúc đầu Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm, nếu có thể thì giải phóng ngay trong năm 1975. Để chuẩn bị cho chiến lược này, đòi hỏi hậu cần phải chuẩn bị chiến lược về hậu cần và kĩ thuật hết sức to lớn, toàn diện và lâu dài. Trước những biến đổi mau lẹ của chiến trường, ta chủ trương giải phóng miền Nam trước mùa mưa 1975, đòi hỏi một năng động lớn về chỉ đạo và chỉ huy để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu rất cao về đảm bảo vật chất và kĩ thuật. Mặt khác cuộc tổng tiến công chiến lược lại diễn ra trên địa bàn miền Nam dài và rộng, chiều dài hàng ngàn cây số lại phải đảm bảo các cánh quân, các quân đoàn cơ giới vận động đến đâu thì cơ sở vật chất và hậu cần phải vươn theo đến đó đặc biệt lượng vũ khí cho trận đánh cuối cùng là có khổi lượng lớn, đa dạng…Vì vậy công tác hậu cần kĩ thuật cũng phải có phương thức bảo đảm thần tốc và kịp thời. Tướng Thiện khi đó là Phó tư lệnh chiến dịch chỉ đạo hậu cần đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà theo đúng như câu trả lời của ông trước Trung ương về tình hình chuẩn bị hậu cần kĩ thuật ‘’có thể bắn đến mấy đời’ và lời của ông với cán bộ chiến sĩ ‘’các cậu cứ bắn thật mạnh vào ! Bắn cho chúng nó sợ. Sợ đến ba đời’’. Với tác phong chỉ đạo của mình, ông trực tiếp đến những kho hậu cần vừa chiếm được chỉ đạo lấy trang thiết bị của đối phương trang bị cho bộ đội tiếp tục hành tiến.

Tham khảo : Báo nhân dân số 11886 (22/1/1987)
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:22:19 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:42:02 am »


Trung tướng Đặng Kinh (1922), Nguyên Bí thư Khu ủy Quân khu Tả Ngạn, Tư lệnh Quân khu 3, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1978-1988).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì)…

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Trung tướng Đặng Kinh (tên thật là Đặng Văn Rợp-theo Từ điển Bách khoa Quân sự, một số tài liệu lại ghi là Lê Trung Trực) sinh năm 1922 tại xã Bắc Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Do nhà quá nghèo, năm 11 tuổi ông đã phải đi đội than kiếm sống, ông tự học chữ Nho. Năm 1937, khi 15 tuổi, ông bỏ nghề đội than ở mỏ Hà Lầm thuộc khu mỏ Hồng Quảng và trở thành người liên lạc của nhà cách mạng Tô Hiệu, nguyên Bí thư Thành ủy đầu tiên của thành phố Hải Phòng. Chính nhà cách mạng Tô Hiệu là người đã dìu dắt ông đến với con đường cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc. Vốn liếng tiếng Pháp của tướng Đặng Kinh cũng là do học từ nhà cách mạng Tô Hiệu.

Năm 1941, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản tháng 7 năm 1944. Ngay sau đó, ông nhận lệnh lên Thái Nguyên học quân sự 15 ngày cùng với ông Văn Tiến Dũng (sau này là Đại tướng-xem bài viết về Đại tướng Văn Tiến Dũng). Kể từ đó người công nhân trẻ Đặng Kinh trở thành người chỉ huy quân sự và con đường binh nghiệp gắn bó với ông kể từ đó.

Tháng 11 năm 1944, ở Tân Phong, Kiến Thụy (Hải Phòng) diễn ra một cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của nhà cách mạng Mai Côn-cán bộ xứ ủy. Mặt trận liên tỉnh Hải Phòng-Kiến An được thành lập gồm bảy người trong đó có ông. Đồng thời, cuộc họp đưa ra quyết định đẩy phong trào cách mạng đang phát triển tại Hải Phòng-Kiến An lên thành một cao trào. Ngay sau đó, 5 tháng riêng âm lịch-đúng ngày vua Quang Trung đại phá quân Thanh, mặt trận (trong đó có ông) tổ chức nói chuyện trong hang Núi Voi mà đối tượng là đông đảo người dân đặc biệt là tầng lớp thanh niên.

Ngày 12/7/1945, sau một cuộc mít-tinh tại Kim Sơn, Kiến Thụy mặt trận liên tỉnh tuyên bố thành lập ở đây chính quyền nhân dân đầu tiên của vùng duyên hải. Trước tình hình đó, ngày 4/8/1945, từ Hải Phòng, quân Nhật đưa hai xe Cam-nhông lính có súng cối đánh vào Kim Sơn. Đây cũng là trận chiến đấu đầu tiên ông tham gia và chỉ huy. Phía Việt Nam chỉ có hai khẩu súng trận, hai khẩu súng săn, nhưng súng trận không có đạn, súng săn bắn đạn ria chỉ làm quân Nhật bị thương, dùng mã tấu, võ thuật, nấp sau cổng làng, lũy tre đánh giáp lá cà với quân Nhật đến trưa quân Nhật phải lui. Đó là trận đánh mở đầu cho mô hình làng chiến đấu mà sau này được áp dụng rất thành công trong cuộc kháng chiến 9 năm.

Sau trận đánh, ông Mai Côn đi họp ở Tân Trào, ông cùng các đồng chí của mình ở lại lập một đại đội do ông là chỉ huy, dự định ngày 15/8 giành chính quyền. Đêm ngày 14/8, hai tiểu đội của đại đội bò vào tri phủ Kiến Thụy giành chính quyền thu 12 súng. Ngày hôm sau, 2 tiểu đội trên tiếp tục mang súng lấy được, hành quân sang huyện phủ Tiên Lãng giải tán huyện phủ Tiên Lãng. Ngày 20/8, Hà Nội giành chính quyền, ông và các đồng chí của mình họp quyết định thành lập ủy ban khởi nghĩa. 18 giờ chiều hôm đấy, đội tiến vào dinh tỉnh trưởng Kiến An rồi ngày 23 tiến quân sang Hải Phòng. Chính quyền Kiến An, Hải Phòng đều thuộc về tay nhân dân.

Giữa năm 1946, đại đội tự vệ của tỉnh Kiến An bổ sung cho Vệ quốc đoàn. Tỉnh lại tuyển trong lực lượng tự vệ các huyện để thành lập một tiểu đoàn tự vệ tập trung của tỉnh do ông chỉ huy. Sau đó một thời gian ngắn ông được điều về làm chỉ huy trưởng huyện đội Kiến Thụy kiêm chỉ huy trưởng du kích chiến đấu tỉnh Kiến An.

Ngày 20/11/1946, quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, trở về từ Hải Phòng ông báo cáo với Tỉnh ủy Kiến An để tổ chức luyện quân chuẩn bị chống Pháp. Đồng thời ông xin lãnh đạo tỉnh ủy cho chỉ huy một đại đội sang An Dương, Đường 5, đường sắt để đánh quân Pháp. Ngày 28-11, quân Pháp đưa một đại đội tấn công thăm dò trận địa của đại đội ông đang chốt ở Cam Lộ, Thiết Chanh. Ông đã chỉ huy đại đội đón đánh làm thương vong một nửa và nửa còn lại bỏ chạy. Đại đội ông thu một trung liên, một tiểu liên và 12 khẩu súng trường. Những ngày sau đó cho đến 10-12, đại đội của ông liên tiếp tham chiến và trận cuối cùng trước ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, đại đội ông đánh với một tiểu đoàn quân Pháp, diệt 126, hi sinh 3, bị thương 5 người.

Từ năm 1949 đến năm 1954, ông là Chỉ huy phó rồi Chỉ huy trưởng, Ủy viên thường vụ tỉnh ủy Kiến An. Tháng 5 năm 1954, ông là Chỉ huy trưởng Thành đội Hải Phòng. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã làm cho quân Pháp khiếp sợ suốt một vùng tả ngạn sông Hồng với những chiến công lừng lấy trên đường 5 tạo lên ‘’Sấm đường 5’’. Đặc biệt ông là người chỉ huy trận đánh sân bay Cát Bi. Đây là trận tập kích của 32 bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng). Bằng kĩ thuật tiềm nhập, các chiến sĩ đã vượt qua 2 tuyến phòng thủ của 5 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Âu, Phi) Pháp, dùng bộc phá, phá huỷ 59 máy bay, 1 kho bom. Cùng với trận Gia Lâm, trận Cát Bi gây tổn thất nghiêm trọng cho không quân Pháp, ảnh hưởng lớn đến việc chi viện đường không cho các chiến trường, đặc biệt cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ tháng 1 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu phó rồi Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 328. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1960 đến năm 1965, ông là Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu rồi Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ quốc phòng. Tháng 4 năm 1966, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 4 năm 1968, ông là Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Đất nước thống nhất, tháng 3 năm 1977 ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi về hưu.

Trung tướng Đặng Kinh là một vị tướng có kinh nghiệm tổ chức và chỉ huy chiến tranh du kích trong vùng địch hậu. Cho nên, có thể nói rằng khi nói đến sự áp dụng của chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp thì phải nhắc đến tên tuổi của ông. Nhà nghèo, cho nên lúc còn nhỏ ông ít được học, phải đến khi làm đến chức vụ cao ông mới có điều kiện học để nâng cao trình độ. Lúc đầu ông chọn cấp dưới có trình độ để học, 52 tuổi ông mới học xong chương trình đại học, nhưng ông đã có đến 46 lần giảng dạy cho các chuyên gia quân sự nước ngoài về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân…
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:33:31 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:43:34 am »


Đại tướng Hoàng Văn Thái (1915-2/7/1986), nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam (nay là Quân đội Nhân dân Việt Nam) (1945-1953), nguyên Chủ nhiệm Tổng cụ Quân huấn (1958-1965), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1966-1967), nguyên Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (1967-1973), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1974-1986), nguyên Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương.

Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao nhà nước (1960-1965), Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa V, Đại biểu Quốc hội khóa VII.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng năm 2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất Nhì, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến thắng hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội), Trung tướng (1959), Thượng tướng (1974), Đại tướng (1980).


Đại tướng Hoàng Văn Thái (tên thật là Hoàng Văn Xiêm) quê tại xã Tây An, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong một gia đình nông dân nghèo. Quê ông vốn là một vùng quê giàu truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Hoàng Thiện Thuật, dạy chữ Nho đến cấp hàng tổng, từng tham gia Hội văn thân yêu nước ở địa phương những năm đầu thập kỷ 30, thế kỷ trước.

Trong từng giai đoạn lịch sử, huyện Tiền Hải luôn luôn xuất hiện những nhân vật nổi tiếng đã đi vào lịch sử dân tộc. Đó là tướng Vũ Đức Cát, triều đại Tây Sơn, sau là một trong những tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành. Đó là nhà cải cách Bùi Viện, đề xướng duy tân đất nước dưới triều Nguyễn. Trong phong trào cần vương cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Quang Bích nổi lên là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước căm thù giặc. Đặc biệt là cuộc biểu tình của những người nông dân Tiền Hải ngày 14/10/1930 đã ghi đậm dấu son trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc. Tiếp đó là các ông; Vũ Trọng, Vũ Nhu, Ngô Duy Phớn...những người truyền bá Chủ nghĩa Mác Lê-nin và thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở điạ phương. Tất cả những tấm gương và các hoạt động ấy đã có tác động rất lớn đến tư tưởng và lòng yêu nước của ông. Hơn nữa, Hoàng Văn Xiêm là một học sinh chăm học, ham hiểu biết, nhanh nhẹn giàu nghị lực nên được thầy giáo và các bạn quý mến kết quả là ông đỗ bằng tiểu học Pháp Việt loại ưu.

Năm 13 tuổi ông đã phải bỏ học đi làm thuê rồi đi cắt tóc. Năm 18 tuổi ông là thợ mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) rồi sau đó lên làm thợ tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) và giác ngộ cách mạng.Trở về làng cùng với số đông anh em khác tích cực tham gia tổ chức các hội ở địa phương như: hội hiếu, hội tương tế, hội đá bóng, hội âm nhạc, hội đọc báo...Ông Nguyễn Trung Khuyến, cán bộ lãnh đạo do huyện cử xuống trực tiếp chỉ dẫn hoạt động. Chỉ sau vài tháng số học viên trong làng phát triển nhanh. Hội tương tế lên tới 170 hội viên do ông Lương Thúy làm hội trưởng, Hoàng Văn Xiêm làm thư ký.

Ngoài việc tham gia hoạt động, ông còn cùng với thanh niên trong làng thành lập đoàn thành niên dân chủ, tổ chức ra các hội đá bóng, hội nhạc âm. Khắp các địa phương trong tỉnh, trong huyện, phát triển đội nhạc âm, thu hút thanh niên, học sinh tham gia. Ông thổi kèn rất giỏi, tranh thủ các tối hòa nhạc chuản bị cho những buổi tế lễ, ông cùng các bạn bí mật rải truyền đơn, vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ, hát đồng ca bài hát cách mạng. Hào lý trong làng thấy vậy đều luống cuống lo ngại. Do hăng say, nhiệt tình, sáng tao và dũng cảm hoạt động ở địa phương nên năm 1938, ông được kết nạp vào Đảng trở thành đảng viên trung kiên của chi bộ An Khang.

Cuối năm 1939, địch liên tiếp mở các đợt khủng bố rất dã man, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt. Các tổ chức Đảng chuyển vào hoạt động bí mật. Ông gây dựng lại phong trào đấu tranh của quần chúng An Khang, giác ngộ và đưa vào tổ chức nhiều thanh niên yêu nước như: Nguyễn Hữu Tước, Nguyễn Thế Long, Tô Đình Khảm, Nguyễn Đình Khiêm, Tô Chinh...Say này đều trở thành cán bộ trung cao cấp của Nhà nước và Quân đội.

Giữa năm 1940, sau nhiều năm săn lùng, mật thám Pháp và tay sai bắt được ông Ngô Duy Phớn một trong những người lãnh đạo chủ chốt của phong trào cách mạng ở Tiền Hải và tuyên bố nếu ai khai báo chỗ ở của đảng viên cộng sản sẽ được thưởng thóc và huân chương của chính phủ Pháp. Do chỉ điểm, ông bị bắt giải về phủ Kiến Xương giam giữ. Một lính lệ quen biết bảo lãnh cho ông tại ngoại, chờ ngày xét xử. Chớp thời cơ tổ chức bí mật đưa ông thoát li khỏi địa phương, tiếp tục hoạt động ở nơi khác. Rời quê hương ông lên nhận công tác ở căn cứ Hiệp Hòa, Bắc Giang và dự lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được nghe các ông Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh giảng về chính trị. Tháng 4 năm 1941, ông có mặt ở Bắc Sơn. Cuộc khởi nghĩa vừa nổ ra tại đây và đồng bào các dân tộc đang trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt, chống khủng bố của địch.

Mùa thu 1941, ông được cử đi học trường Quân sự Liễu Châu, Trung Quốc cùng với các ông: Hoàng Minh Thảo, Đàm Quang Trung, Vũ Lập. Trường do Tưởng Giới Thạch tổ chức, hiệu trưởng là Trung tướng Dương Kế Vinh. Học viên của trường là một số thanh niên Hoa kiều ở Thái Lan và thanh niên Việt Nam. Ngoài đoàn Việt Minh, các nhóm Việt Quốc và Việt Cách cũng có người theo học. Thời gian học tập ở trường, ông làm trưởng đoàn Việt Nam và luôn có nhận thức, lý luận cách mạng vững mạnh, phẩm chất đạo đức tốt, doàn kết được mọi người giữ vững quan điểm của mặt trận Việt Minh đồng thời kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của hai nhóm Việt Quốc và Việt Cách.

Cuối năm 1943, khi lãnh tụ Hồ Chí Minh thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch, ông đã trực tiếp được gặp lãnh tụ. Cuối năm 1944, ông được tuyển chọn vào hàng ngũ 34 đội viên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng lễ thành lập đội được tổ chức long trọng. Ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung, ông Hoàng Sâm (sau này là Thiếu tướng, liệt sĩ) làm đội trưởng, Xích Thắng (tức ông Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên, ông Lâm Cẩm Như (tức Lâm Kính) phụ trách công tác chính trị, ông Lộc Văn Lùng (tức Văn Tiên) làm quản lý và ông phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến.Hình người cầm cờ đúng trong hàng ngũ chính là ông với nhiệm vụ tuyên truyền và binh vận.

Sau chiến thắng Phay Khắt, Nà Ngần, đội phát triển thành đại đội, ông được giao công tác trinh sát và lập kế hoạch tác chiến khi đơn vị chuẩn bị đánh đồn Đồng Mu. Khi đó theo lời gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông đã thức trắng đêm sáng tác bài "Phất cờ Nam tiến" - đây là bài hành khúc đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 3 năm 1945, ông chỉ huy cánh quân giành chính quyền ở Chợ Đồn. Trong khi đang tổ chức huấn luyện quân sự ở đây, ông nhận được lệnh của ông Võ Nguyên Giáp bàn giao mọi việc cho những người lãnh đạo địa phương và chuyển quân xuống Chợ Chu (Định Hóa, Tuyên Quang) tổ chức chính quyền xã, huyện của vùng giải phóng đồng thời huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ chiến đấu và các cán bộ đoàn thể. Tháng 4 năm 1945, hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định sát nhập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các lực lượng vũt rang khác thành Việt Nam giải phóng quân (15/5/1945) và quyết định thành lập Trường quân chính kháng Nhật tại Tân Trào do ông phụ trách.

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở Lục An Châu rồi sau đó đưa quân về phối hợp với quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương giành chính quyền ở Tuyên Quang. Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 9 năm 1945 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ thành lập Bộ Tổng tham mưu của Quân đội quốc gia (sau là Quân đội Nhân dân Việt Nam) còn non trẻ và giữ chức Tổng tham mưu trưởng đầu tiên.

Quân Pháp núp bóng quân Anh nhân danh quân đồng minh trở lại xâm lược Việt Nam. Ông trực tiếp chỉ đạo mặt trận Hải Phòng từ 20 đến 27 tháng 11 năm 1946. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tại Hà Nội, ông cùng với ông Võ Nguyên Giáp là những người phê duyệt kế hoạch tác chiến của ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng-Phó Tổng tham mưu trưởng), chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội. Bản thân ông trên cơ sở những kinh nghiệm ở Hải Phòng trong việc chỉ đạo mặt trận Hà Nội để xây dựng thế trận liên hoàn và khu vực tác chiến nhằm kìm giữ, tiêu hao quân Pháp trong lòng thành phố.

Ngày 26/8/1947, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký quyết định đồng chí là Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam kiêm chức Đại đoàn trưởng Đại đoàn Độc Lập. Tháng 1 năm 1948, trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội, ông được phong Thiếu tướng.

Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950), ông là Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch. Trong chiến dịch này, đích thân ông chỉ huy trận đánh then chốt Đông Khê. Trong trận đánh Đông Khê, lúc đầu diễn ra không thuận lợi, ông đã ra tận chiến hào chỉ đạo, động viên bộ đội giữ chốt. Khi quân Pháp đánh chốt, ông ở lại giữ chốt cùng bộ đội. Tiếp theo đó, ông tiếp tục làm Tham mưu trưởng các chiến dịch quan trọng khác như Trung du, Hoàng Hoa Thám (1951).Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch.

Ngày 10/4/1958, ông là Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn theo sắc lệnh 61/SL ngày 10/4 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Tổng cục Quân huấn kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao Nhà nước. Từ năm 1961 đến năm 1963, ông đi học ở Học viện quân sự cấp cao Bắc Kinh, Trung Quốc.

Trong kháng chiến chống Mỹ ông Nam tiến ngay những ngày đầu tiên quân Mỹ thực hiện Chiến tranh cục bộ, năm 1966 ông là Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 5. Từ năm 1967 đến năm 1973 ông là Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Phó bí thư Trung ương cục và Phó bí thư Quân uỷ Quân Giải phóng miền Nam. Đây là thời kì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông đã chỉ đạo chỉ huy nhiều chiến dịch lớn ở Nam Bộ.

Cuối tháng 1 nam 1974, ông ra Bắc nhận chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất, trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện chiến trường và chỉ đạo tác chiến. Qua tám năm làm Tư lệnh 2 chiến trường lớn đánh Mỹ ở miền Nam B2 và khu V, ông có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo tác chiến. Ông đựoc Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao làm kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976. Thời gian chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, toàn bộ công việc của Bộ Tổng tham mưu đựoc yêu tiên cho chiến trường miền Nam. Ông làm việc với cường độ cao, vừa giúp bộ theo dõi, chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường vùa cùng tướng Lê Trọng Tấn hướng dẫn tổ trung tâm hoành thành kế hoạch tác chiến chiến lược. Ông còn cùng các cơ quan của Bộ Quốc phòng nhất là Tổng cục hậu cần đôn đốc, giải quyết những yêu cầu chiến trường...Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giữ trách nhiệm Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng chi viện, ông đã tập trung chỉ đạo chi viện kịp thời cho các chiến trường, góp phần quan trọng đưa cuộc tiến công và nổi dậy đến toàn thắng.

Từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1974 đến năm 1981, ông là Uỷ viên thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá III đến khoá V, đại biểu Quốc hội khoá VII.

Đại tướng Hoàng Văn Thái là một vị tướng hiền hậu, thật thà, giản dị và hết mực khiêm tốn và được cán bộ và chiến sĩ ta hết mực yêu quý. Đặc biệt cán bộ và chiến sĩ Quân khu 5 thường gọi ông trìu mến bằng ‘’ông cụ’’. Khi nghe tin Quân đội chuẩn bị danh sách ba người (ông, ông Nguyễn Chánh, ông Chu Văn Tấn) để đưa ra Chủ tịch nước xét quyết định phong Thượng tướng và giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã xin rút ra khỏi danh sách vì lí do ‘’anh Nguyễn Chánh xứng đáng hơn tôi’’. Hay có truyện sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, khi ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ thành lập Bộ tổng tham mưu, ông đã sử dụng trung úy Hải (sĩ quan quân đội Pháp, sau này là Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm cán bộ của Bộ Tổng tham mưu. Ông được coi là người phụ tá ăn ý, người đồng chí trung thành của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Cũng chính ông là người nghĩ ra cách kí hiệu các cấp của các đơn vị Quân đội bằng các chữ cái (ví dụ : A-Tiểu đội, B-Trung đội, C-Đại đội, D-Tiểu đoàn, E-Trung đoàn, F-Sư đoàn) để cho dễ gọi hơn, Việt hơn và đặc biệt thể hiện sự độc lập đối với những ‘’di sản’’ do người Pháp để lại.

Một điều đặc biệt nữa mà đến giờ nhiều người vẫn nhầm, đó là bài ‘’Phất cao cờ Nam tiên’’ được sáng tác trong thời kì cuối năm 1945 trong phong trào Nam tiến vào Nam chi viện cho cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ. Trong khi bài hát này đúng là sáng tác trong phong trào Nam tiến, nhưng là phong trào Nam tiến trước cách mạng tháng 8 phát triển lực lượng vũ trang từ căn cứ địa Việt Bắc về Đồng Bằng phát triển lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, vào một đêm mùa đông bên cạnh một đống lửa trong rừng sâu của cuối năm 1944 trước ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có mấy ngày. ‘’Cờ giải phóng phất cao đường Nam tiến/ Trời phía Nam dân chúng đang mong chờ/ Tiến bước mau ! Quân giải phóng’’. Và bài hát này cũng vang lên trong những đoàn quân Nam tiến khi quân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, trong bước tiến quân thần tốc và những trận đánh anh dũng của các chi đội Hoàng Đình Giong, chi đội Nam Long, chi đội Vi Dân, chi đội Thu Sơn, chi đội Hữu Thành, chi đội Bắc Bắc. Người sáng tác bài hát không ai khác chính là Đại tướng Hoàng Văn Thái, ông có thể coi là nhạc sĩ quân đội đầu tiên. Còn người viét lời cho bài hát chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Vợ của Đại tướng Hoàng Văn Thái là Trung tá Đàm Thị Loan là một trong ba nữ chiến sĩ trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bà cũng là một trong hai người có vinh dự kéo cờ trong lễ Độc lập tổ chức tại Quảng trường Ba Đình 2/9/1945-người còn lại là Giáo sư Lê Thi. Trong bức ảnh chụp Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, ông là người cầm cờ đội mũ trắng đứng giữa.


Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:23:39 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:48:26 am »


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1/1/1914-6/7/1967), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Bí thư Trung ương cục miền Nam (1965-1967), nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng từng giữ các chức vụ Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1947 rồi các khóa II và III, Bí thư Khu ủy Khu 4, Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng mà không phải qua một cấp bậc trung gian nào-giống như Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1948 và là Đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông là một trong những tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt được Hội Sử học Việt Nam trân trọng đúc tượng đồng-hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tại quê hương ông có một khu tưởng niệm và tượng của ông. Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đều có những con đường mang tên ông.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được mệnh danh là cánh tay phải của Bác Hồ, khi nghe tin ông mất đột ngột Bác lặng đi một lúc. Sau kháng chiến chống Pháp cứu nước nhất là trong những năm đầu xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc, trong những bức hình tư liệu bây giờ còn lưu giữ được, ông luôn ở bên cạnh Bác trong các cuộc họp, hội nghị của Đảng, Quân đội…và đặc biệt ông là người tháp tùng Bác về quê.


Cùng Bác về quê (Làng Sen, Nghệ An 1957)

"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người không ngừng chăm lo tăng cường bản chất cách mạng của quân đội nhân dân và chính anh là một vị tướng tiêu biểu cho bản chất và truyền thống tốt đẹp của quân đội ta" (Nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh)

‘’Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc" (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)

“Anh như con đại bàng bay trên trời cao, có tầm nhìn xa trông rộng lại thấy được những cái rất cụ thể trên mặt đất” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)

"Ngày nghe tin ông Thanh mất, tôi đã khóc. Khóc dữ dội, khóc ghê lắm! Người như vậy mà mất sớm thì tiếc quá, tiếc cho gia đình, tiếc cho dân tộc" (Nhà thơ Hoàng Cầm)

‘’Sáng trong như ngọc một con người" (Nhà thơ Tố Hữu)

"Sau Bác Hồ vĩ đại, một trong những người cộng sản lãnh đạo có đức tài, tâm huyết, khí phách, có sức hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ với quần chúng, đó là anh Nguyễn Chí Thanh!" (Viện trưởng Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng).

‘’Le sauveur de Binh Tri Thien’’ (Cứu tinh của Bình Trị Thiên) (Báo chí bên Pháp và các vùng địch tạm chiến Hà Nội-Sài Gòn).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (tên thật là Nguyễn Chí Vịnh) quê tại Xã Liêm Phò, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong một gia đình trung nông. Năm ông 14 tuổi bố ông mất, do hoàn cảnh gia đình ông phải bỏ học đi làm tá điền giúp mẹ nuôi các em. Năm 16 tuổi ông quen và yêu một cô gái xinh đẹp con một lý trưởng trong làng. Nhưng gia đình nhà gái chê ông nghèo, thân phận thấp cho nên không đồng ý và gả con cho người khác. Năm 17 tuổi ông cùng bạn bè tích cực tham gia phong trào bình dân, chống chính quyền thực dân.

Năm 1934, khi 20 tuổi, ông đi làm thuê và bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1937 đến năm 1938 ông là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Trong thời gian này ông quen bà Nguyễn Thị Cúc (sau này là vợ ông), bà là một người có học gia đình lại khá giá nhưng là cơ sở cách mạng những năm 1924-1925, bố bà là người trước kia thường xuyên lui đến nhà cụ Phan Bội Châu. Bản thân bà cũng có những hoạt động cách mạng từ rất sớm.

Năm 1938, ông bị thực dân Pháp bắt, mặc dù không có chứng cớ nhưng ông vẫn bị toàn tuyên án 2 năm cầm cố và bị đưa về nhà lao Thừa Phủ (Thừa Thiên Huế). Cùng với ông, trong nhà lao Thừa Phủ lúc bấy giờ còn có các ông Tố Hữu, Hoàng Anh và Nguyễn Sơn. Từa năm 1938 đến năm 1945 ông bị thực dân Pháp bắt giam cả thảy ba lần, lần thứ hai ông bị đưa ra giam ở nhà tù Lao Bảo (Quảng Trị) và lần thứ ba ông bị đưa lên Buôn Ma Thuột. Tuy bị giam cầm, tra tấn nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết của người cách mạng, tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân đế quốc và tìm cách vượt ngục thắng lợi để tiếp tục hoạt động, khơi dậy phong trào. Tháng 3/1945, khi đang bị tạm giam ở nhà tù Buôn Mê Thuột, ông cùng những tù nhân chính trị được trả tự do nhờ phong trào đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp. Ra tù, ông tích cực cùng Việt Minh tham gia vận động đồng bào Bình Trị Thiên đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền.

Tháng 8 năm 1945, ông ra Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (tại Tân Trào, Tuyên Quang)-hội nghị quyết định khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được cử vào Tổng bộ Việt Minh và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Bộ. Cái tên Nguyễn Chí Thanh gắn với ông từ đây. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được cử giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế rồi Bí thư Phân khu ủy Bình Trị Thiên. Giữa năm 1946, ông tổ chức lễ cưới với bà Nguyễn Thị Cúc.

Linh hồn của cuộc kháng chiến Bình Trị Thiên

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cuộc chiến ở Huế bắt đầu vào lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc quân Pháp phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu... Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của đối phương, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng.

Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng vừa chiếm được đồng thời thực hiện tất cả các biện pháp để truy bắt những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung. Sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên. Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của quân Pháp, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.

Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng. Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại. Đầu năm 1947, khu vực Bình Trị Thiên đã bị mất trắng vào tay quân Pháp.

Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, ông đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi bộ đội rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế. Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở. Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu. Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 07:54:18 am gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #25 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:49:26 am »

Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch. Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến.

Năm 1948, ông được cử giữ chức Bí thư Khu ủy Khu 4. Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận."

Nhà chính trị

Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc và ngày 11/7/1950, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Bộ tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cũng tháng 2 năm này, tại đại hội lần I Liên đoàn thanh niên Việt Nam ông được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn cho đến năm 1956.

Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông giáo dục cho cán bộ chiến sỹ thấm nhuần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ. Ông đã tổ chức thực hiện sự lãnh đạo có hiệu lực của Đảng đối với quân đội, thực hiện đường lối quân sự của Đảng, tạo ra một bước phát triển mới về sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, liên tục mở các chiến dịch lớn, từ chiến dịch Biên Giới 1950 đến chiến dịch Điện Biên Phủ. Chấp hành chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, ông đã tập trung vào tăng cường bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân. Tập trung xây dựng chế độ lãnh đạo tập thể của Đảng trong các cấp, từ Tổng quân uỷ đến chi bộ đại đội, làm cho công tác tư tưởng vượt lên trên phạm vi của công tác động viên và tác động tâm lý thông thường của con người theo bản năng, phát triển thành công tác giáo dục chủ nghĩa Mác Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, mục tiêu chiến đấu của quân đội.

Với việc thiết lập và xây dựng hệ thống tổ chức công tác đảng - công tác chính trị trong quân đội, ông đã làm rõ các mối quan hệ giữa quân đội với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với bầu bạn quốc tế, trong đó mối liên hệ giữa quân đội với Đảng là mối liên hệ bản chất chi phối các mối quan hệ khác. Chăm lo giáo dục chính trị, tư tưởng quân sự của Đảng thể hiện trong chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; trong giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, giữa tiền tuyến và hậu phương, giữa con người và vũ khí, giữa lãnh đạo và chỉ huy, giữa đạo đức và tài năng của cán bộ... Tất cả đã tạo ra bước ngoặt về xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội Nhân dân.

‘’Khi Đảng cần Đại tướng cũng bị trưng dụng’’ (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh)

Ngày 31/8/1959, ông được phong Quân hàm Đại tướng theo quyết định của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuối năm 1960, tình hình nông nghiệp gặp khó khăn. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, năm 1961, ông được điều từ Quân đội sang phụ trách Trưởng ban nông nghiệp Trung ương cho tới năm 1964. Với một đất nước trước đây gần như thuần nông nghiệp thì đây là một lĩnh vực rất quan trọng, nó tạo tiền đề đầu tiền để phát triển miền Bắc đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch chi viện và giải phóng miền Nam. Là một nhà quản lí có đầu óc tổ chức, ông đã vào Hợp tác xã Đại Phong Quảng Bình rồi Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Yên Bái, Hải Phòng, Lào Cai để nghiên cứu, tìm hiểu cách quản lí và tổ chức rút kinh nghiệm nhằm phát động một phong trào rộng lớn trong nông nghiệp nhằm thi đua với hợp tác xã Đại Phong. Từ mô hình hợp tác xã Đại Phong ông đã nhân lên khắp miền Bắc, nhiều cánh đồng năm tấn xuất hiện khắp nơi tạo nên một diện mạo mới cho miền Bắc nói chung và các tỉnh nông thôn miền Bắc nói riêng. Câu ‘’Sóng duyên hải, Gió Đại Phong, Tiếng trống Bắc Lý’’ là khẩu hiệu, mục tiêu thi đua trên các mặt Công nghiệp-Nông nghiệp-Giáo dục một thời.

Nhà chiến lược quân sự

Bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được điều về lại Quân đội. Năm 1964, ông tình nguyện vào Nam chiến đấu. Từ năm 1965 đến năm 1967, ông là Bí thư Trung ương Cục miền Nam đồng thời là Chính ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng miền Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Lúc này, đế quốc Mỹ đã đưa quân chiến đấu Mỹ và quân đội các nước chư hầu ồ ạt vào trực tiếp tham chiến, xâm lược miền Nam. Đây là thời điểm bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Ông cùng lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam đã nhận rõ: ở vào giai đoạn cuối của "Chiến tranh đặc biệt", nếu ta chỉ phát triển chiến tranh du kích, chỉ đánh địch ở quy mô nhỏ thì không thể giành thắng lợi quyết định được. Bởi vậy, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng lực lượng cách mạng của quần chúng, chúng ta phải coi trọng xây dựng các quả đấm chủ lực, ông đã cùng với Bộ chỉ huy Miền chỉ đạo mở các chiến dịch Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài và hàng loạt trận tiến công đánh bại từng chiến đoàn của chính quyền Sài Gòn cũ, cùng với việc phá rã hàng ngàn "ấp chiến lược", làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - nguỵ.

Quân đội Mỹ ồ ạt vào xâm lược miền Nam, cùng lúc đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh leo thang, dùng không quân và hải quân đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người phát hiện sớm việc chuyển chiến lược của Mỹ. Phát kiến đó đã được Bộ Chính trị chấp nhận và đề ra quyết sách mới. Lúc đó, ông phân tích: Mỹ vào miền Nam trong thế thua, thế bị động về chiến lược; Mỹ có cả một kho vũ khí khổng lồ nhưng lại vấp phải một núi mâu thuẫn; Mỹ là tỷ phú về đô-la, nhưng quân và dân ta lại là tỷ phú về chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Ta có đường lối chiến tranh cách mạng, có chiến thuật đúng, ta sẽ bắt quân Mỹ phải đánh theo cách đánh của ta, nên ta nhất định thắng.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cùng Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo và tổ chức quân và dân miền Nam phát huy tư tưởng chiến lược tiến công trong tình hình nhiệm vụ mới, đánh thắng quân Mỹ ngay từ những trận đầu. Các trận thắng: Núi Thành, Vạn Tường, Bàu Bàng, Nhà đỏ - Bông Trang, Plây - me và thung lũng Ia - đrăng, cuộc hành quân A-ten-bơ-rô và nhất là đánh bại cuộc hành quân tổng lực để "tìm diệt" mang tên Gian-xơn-xi-ti đã làm nức lòng nhân dân cả nước; trực tiếp xây dựng, củng cố niềm tin và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của toàn dân tộc.

Từ thực tế chiến đấu, sự sáng tạo của các đơn vị, các địa phương, ông đã tổng kết thành phương châm chỉ đạo tác chiến, đồng thời cũng là khẩu hiệu hành động cách mạng nổi tiếng, nhanh chóng đi vào lòng người, lan toả thành cao trào cách mạng trên khắp chiến trường như "Nắm thắt lưng địch mà đánh" nó thể hiện tư duy chiến thuật đồng thời cũng là chiến lược ‘’Ở gần, đánh gần’’, "Tìm Mỹ mà đánh, tìm nguỵ mà diệt", lập các "Vành đai diệt Mỹ", thi đua phấn đấu trở thành "Dũng sỹ diệt Mỹ", "Dũng sỹ diệt xe tăng" v.v...Thực hiện tư tưởng này, Quân giải phóng miền Nam đã thật sự chống được ý đồ "phân tuyến" của Mỹ - nguỵ, đã hạn chế đến mức tối đa (có trận đã vô hiệu hoá) hỏa lực phi pháo của đối phương. Ta thắng quân đội Mỹ, và sau này thắng quân của chính quyền Sài Gòn cũ ở giai đoạn "Việt Nam hoá chiến tranh" cũng từ cái tư tưởng "ở gần và đánh gần" này.

Luôn sâu sát thực tế, nắm bắt nhanh nhạy mọi vấn đề, ông đã phân tích và khái quát rât sâu sắc cục diện cuộc chiến, nhất là sau chiến thắng lớn của ta đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Bài viết "Năm bài học phản công chiến lược mùa khô" mang bút danh Trường Sơn của ông đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược.

Kiệt sức vì công việc

Mùa hè năm 1967, ông ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường miền Nam và cùng Bộ chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thiết kế và hoạch định kế hoạch cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Ông mất đột ngột vào ngày 6/7/1967, một ngày trước khi ông lên đường trở lại miền Nam.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là một người có sức khỏe không được tốt. Những năm tháng tù đầy khắp các nhà lao ở miền Trung cộng với những năm kháng chiến gian khổ thiếu thốn, cường độ làm việc cao khiến cho ông bị mắc bệnh phổi-đã có thời gian Trung ương và Bác phải chỉ thị cho ông tạm dừng công việc để đi chữa bệnh. Từ năm 1965 đến 1967, những vất vả và khó khăn của những năm đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước dường như đã vắt kiệt sức khỏe và làm suy yếu trái tim của ‘’người tá điền vóc dáng khỏe mạnh’’ năm nào. Đợt ra Bắc năm 1967, ngày nào ông cũng phải làm việc tới khuya. Đêm cuối cùng trước khi vào Nam ông còn làm việc với tướng Song Hào và tướng Lê Quang Đạo. Đây là một đau thương vô hạn, một tổn thất vô cùng lớn của cách mạng Việt Nam, của chiến sỹ và đồng bào cả nước. Đối với Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền và Quân giải phóng miền Nam thì đây là một tổn thất không gì bù đắp nổi.

Nước da ngăm đen, đôi mắt sáng ngời, tính tình nhân hậu thẳng thắn. Ông là hiện thân của người nông dân mặc áo lính-vị tướng nông dân. Tác phong luôn luôn gần gũi và sâu sát với cán bộ cấp dưới và nhân dân. Có biết bao những câu chuyện kể về ông từ câu chuyện ông cõng lĩnh trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chuyện ông ăn sắn độn khoai với bộ đội hay đến chuyện bà nọ đòi xem mặt Đại tướng. Ông là điển hình của tác phong lãnh đạo giản dị, không xa hoa lãng phí và không bao giờ lên mặt làm ‘’quan cách mạng’’. Xin trích một số câu nói của ông : ‘’Nước ta còn nghèo, miền Nam còn trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc đang kiến thiết và xây dựng, kinh nghiệm xây dựng cuộc sống mới còn chưa nhiều. Tôi cũng đã từng đôi ba lần đi nước ngoài, tôi biết. Những nước phát triển, người ta làm gì cũng tính toán cân nhắc. Phòng khách, buồng ngủ, nhà ăn quy mô to nhỏ, trang trí thế nào là vừa phải. Lịch sự không có nghĩa là xa hoa, lãng phí’’-: “Từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, khó tránh khỏi chớm nở trong bộ đội tư tưởng đòi hưởng thụ. Nhưng mình ở sang quá thì khó gần gũi anh em, mà có khi nói điều cần phải nói cũng khó lọt tai người nghe”-“Mình dù sao cũng còn trẻ, để nhường cho các đồng chí cao tuổi, yếu sức hơn. Nước ta nghèo, nếu cứ bày đặt ra, nhà trên dùng được máy điều hòa nhiệt độ thì nhà dưới cũng dùng được, rồi thi nhau bóc ngắn cắn dài, chết cả”…

Mộ của ông hiện đặt trong nghĩa trang Mai Dịch trong hai hàng chính giữa (ở bên trái nếu đi từ cổng vào), cùng hàng với Bác Tôn, nhà thơ Tố Hữu, Tổng bí thư Lê Duẩn…Một điều đặc biệt là chưa lần nào tôi vào viếng nghĩa trang Mai Dịch mà không thấy trước mộ ông một bó hoa cúc-một tình yêu thủy chung từ lúc hoạt động cách mạng gian lao cho đến khi một người đã khuất còn một người đã bước vào tuổi 90.

Tham khảo : các bài của tác giả Lê Đức Anh; Nguyệt Tú-Nguyệt Tinh, Hoàng Cầm, Bảo tàng Quân sự Việt Nam.

40 năm ngày mất Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (6/7/1967-6/7/2007)
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:19:25 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #26 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:52:25 am »


Thiếu tướng Giáo sư Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp (8/7/1906-17/12/1985), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Giải thưởng nhà nước về Khoa học kĩ thuật-Giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên Viện trưởng Viện Quân y Liên khu 10 rồi Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ trong kháng chiến chống Pháp, nguyên Hiệu trưởng Trường sĩ quan Quân y (nay là Học viện Quân y).

Ông còn giữ các chức vụ : Chủ nhiệm bộ môn giải phẫu Trường Đại học Y Hà Nội (1954-1985), Phó Chủ tịch Tổng hội Y dược Việt Nam, chủ tịch Hội hình thái học Việt Nam (1965-1985). Ông là Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII. Phó chủ nhiệm ủy ban y tế-xã hội của Quốc hội khoá VI, uỷ viên Ban chấp hành trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá III.

Ông cũng từng là giảng viên trường Trường Y Khoa Đông Dương (1932 đến 1945).

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Testut của Viện hàn lâm y học Pháp (1949).

Thiếu tướng (1985)


Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp sinh tại phố Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Ông là con thứ năm của cụ Đỗ Xuân Đạt, khi cụ Lương Văn Can cùng các sĩ phu yêu nước lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục, cụ Đạt tuy không ra dạy nhưng vẫn ủng hộ tài chính cho trường. Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thịnh là một nữ sinh trường Đồng Khánh rồi trường Sư phạm Hà Nội, một người phụ nữ hết lòng vì sự nghiệp của chồng. Bà là một trong những người đầu tiên sáng lập Hội chữ thập đỏ Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch danh dự và bà là Phó Chủ tịch.

Ngay từ hồi nhỏ, ông đã nổi tiếng học trò giỏi nhất trường. Sau khi đậu kì thi tốt nghiệp tiểu học thì những cuốn sách được thưởng cho ông đã chất đầy một tủ. Sau này theo học trường Bưởi, ông cũng là học sinh giỏi, chăm chỉ và khiêm tốn giúp bạn học kém hơn mình. Mỗi tháng được nhận học bổng 8 đồng, ông dùng để nuôi hai em tiếp tục ăn học như mình. Sau khi tốt nghiệp trung học với bằng thành chung loại ưu tú, ông theo học trường Cao đẳng y dược Đông Dương. Ông tính toán như vậy vì chỉ sau bốn năm học thì có thể đi làm để giúp đỡ gia đình. Mùa hè năm 1929, ông tốt nghiệp ra trường và nhận bằng Y sỹ.

Năm 1930 ông kết hôn cùng bà Nguyễn Thị Thịnh rồi sau đó ông được điều lên Bắc Hà (gần Lào Cai bây giờ) làm việc. Thời kì đó, Bắc Hà là nơi mà ánh sáng văn minh chưa rọi đến. Vợ chồng ông đã làm hết sức mình để cải thiện sức khỏe cho người dân còn mê muội. Ngay từ những năm tháng này ông đã có quan niệm: cứu được bệnh nhân thoát khỏi tay tử thần là niềm vui của chính mình. Muốn làm được như vậy thì không thể không nâng cao tay nghề và trình độ hiểu biết của mình về y học.

Cuối Xuân năm 1932, ông cùng vợ theo học hàm thụ trường đại học Tổng hợp Paris. Cũng trong thời gian này, Trường Y khoa Đông Dương đang thi tuyển chọn lấy một trợ lý ngành giải phẫu cho Viện giải phẫu của trường. Thế là với quyết tâm của mình, ông quyết tâm thi. Cuối năm 1932, ông trở về Hà Nội nộp đơn thi và trúng tuyển. Nhờ vậy, ông được chuyển công tác về Hà Nội, phụ việc cho Giáo sư P. Huard - giám đốc của Viện giải phẫu học. Qua năm sau, nhờ có sự chứng nhận và giới thiệu của trường hàm thụ mà vợ chồng được thi tú tài. Cả hai kỳ thi họ đều đậu thủ khoa. Nếu Bác sĩ Hồ Đắc Di là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp bác sĩ phẫu thuật tại Pháp thì ông là người đầu tiên trợ giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập trong khoa phẫu thuật của trường Y khoa Đông Dương.

Thông qua những kinh nghiệm đã thu thập được sau hơn 10 năm làm công việc này, ông đã gây chấn động trong giới y học thời bấy giờ bằng bộ sách Morphologie humaine et anatomie artistique (Hình thái học và giải phẫu thẩm mỹ) in năm 1942. Với bộ sách này ông đã được Viện Hàn Lâm y học nước Pháp đã tặng giải thưởng Testut vào năm 1949. Ngoài ra ông còn công bố nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác. Từ năm 1936, ông đã nghiên cứu về bộ xương người Việt Nam hiện đại và một số sọ hoặc bộ xương người Việt Nam thời cổ. Ngoài ra ông còn nghiên cứu cả về não, mạch máu thần kinh và nội tạng v.v... Hơn mười năm làm việc chăm chỉ, vừa giúp việc cho Viện trưởng vừa tham gia chữa bệnh tại Bệnh viện Phủ Doãn, ông đã hoàn thành chương trình bác sĩ y khoa. Năm 1944, ông được công nhận là giảng viên trường Đại học Y khoa Hà Nội.

Cách mạng tháng tám năm 1945, được chứng kiến giờ phút thiêng liêng tại quảng trường Ba Đình và nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, có sức hấp dẫn và cảm hóa lạ lùng đối với ông, từ đó ông xác định được con đường đi của mình. Bắt đầu từ việc mở các lớp huấn luyện hồng thập tự cho nữ sinh các trường trung học. Ông được cấp trên tín nhiệm cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính lâm thời khu phố Chợ Hôm, Hà Nội. Đầu năm 1946, ông tình nguyện tham gia quân đội được Cục Quân y đưa lên Việt Trì xây dựng bệnh viện quân y chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến. Toàn quốc kháng chiến, ông bỏ lại sau lưng căn biệt thự số 69 phố Trần Xuân Soạn (Hà Nội), bỏ lại những tiện nghi vật chất để lên đường kháng chiến. Sự cương quyết của ông khi đi theo kháng chiến là việc không phải ai cũng làm được, vì bấy giờ ông đang giảng dạy ở Đại Học Y khoa, lại chữa bệnh ở bệnh viện Phủ Doãn và còn có cả phòng mạch tư ở phố Chợ Hôm.

Vào tháng 3/1947 ông cùng gia đình ở Việt Trì. Sau khi Pháp tấn công ông cùng gia đình chạy lên Lâu Thượng rồi nửa đêm chạy ngược sông Lô để qua Bình Sơn (Vĩnh Yên). Ở đây, Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp được giao nhiệm vụ làm giám đốc Quân y viện Liên khu 10. Vào tháng 3/1949, nhiều chiến dịch lớn đã mở để kịp thời đào tạo cán bộ quân y phục vụ chiến trường, Trường Quân y sĩ (Trường sĩ quan quân y, Đại học quân y, Học viện quân y) được thành lập ở cánh rừng Liễn Sơn, xã Hồng Hoa, huyện Tam Dương (Vĩnh Phú). Đầu năm 1950 ông được điều về làm Trưởng phòng Huấn luyện của Cục Quân y. Ông là hiệu trưởng (cho đến năm 1984) kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu đồng thời là giảng viên, ngoài ra, ông còn dạy ở Đại học y khoa Chiêm Hóa (Tuyên Quang) do Bác sĩ Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Tuy bận nhiều việc nhưng ông không ngừng nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình giảng dạy.

Trực tiếp mổ xẻ, băng bó, chăm sóc vết thương cho thương bệnh binh từ chiến trường chuyển về, ông nhận thấy vết thương tứ chi bao giờ cũng chiếm một tỉ lệ lớn, do đó ông đã kịp thời biên soạn quyển Giải phẫu tứ chi và Thực hành y khoa. Tập sách này được xuất bản năm 1952 tại Việt Bắc - nó không chỉ là tài liệu chính giảng dạy trong nhà trường mà còn là cẩm nang quý báu cho cán bộ quân y tham khảo để phục vụ thương binh ngay tại chiến trường. Với tác phẩm này, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi và Chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Từ sự khích lệ này, trong suốt 20 năm (1952-1971) ông đã dành hết tâm lực để hoàn thành bộ sách nghiên cứu về giải phẫu học gồm nhiều tập, với 2000 trang, 900 hình vẽ minh họa có giá trị lâu bền như Giải phẫu bụng, Giải phẫu ngực... đã được Nhà xuất bản y học tái bản nhiều lần. Ngoài ra còn có thể kể đến những tác phẩm y học ông viết trong thời gian chống Pháp như Triệu chứng học, Dược học, Thực hành bệnh viện...

Kháng chiến chống Pháp kết thúc, từ năm 1954 đến năm 1984 ông tiếp tục giữ chức Hiệu trưởng Trường sĩ quan quân y sĩ sau là Trường sĩ quan quân y và nay là Học viện quân y kiêm Chủ nhiệm Bộ môn giải phẫu Đại học Y khoa Hà Nội. Hơn mười năm sau khi ông qua đời, bộ sách y học nổi tiếng của ông được Nhà nước tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về khoa học kỹ thuật đợt đầu tiên cùng với các giáo sư Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng... Ông là Phó Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam từ khi thành lập; sáng lập viên và là Chủ tịch Hội Hình thái học Việt Nam (1965-1985); sáng lập viên Hội Nhân chủng học, chuyên viên đầu ngành giải phẫu học Việt Nam.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp có đầy đủ những phẩm chất của một trí thức đó là tài năng, trí tuệ cũng như trách nhiệm trước nhân dân, thời cuộc và vận mệnh của tổ quốc. Người đã vì tổ quốc mà dàm từ bỏ những vinh quang và đầy đủ vật chất của bản thân để dấn thân vào cuộc trường chinh gian khổ 9 năm cùng dân tộc. Người luôn đặt lợi ích của tổ quốc của toàn dân tộc trên lợi ích của bản thân. Ông không nề hà nhận bất cứ việc gì mà kháng chiến đòi hỏi, từ cấp cứu chiến thương, điều trị thương binh, bệnh binh, phụ trách bệnh viện đến tổ chức đào tạo cán bộ y tế cho quân đội.

Trong thời thuộc Pháp, nước ta không có tên trên bản đồ thế giới, người Pháp coi người Việt Nam là “dân Anamít hèn hạ” thế mà Viện Hàn lâm y học Pháp phải thừa nhận tài năng xuất sắc của Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp. Tên tuổi của một người Việt Nam-Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được đặt ngang tên một người Pháp-giáo sư Pierre Huard trên bìa sách được giải thưởng khoa học của nhà nước Pháp. Một trợ lý giải phẫu người Việt, khi viết chung cuốn sách ấy mới có bằng Y sĩ - Đỗ Xuân Hợp đủ tài năng hợp tác với thầy giáo người Pháp, Giám đốc Viện Giải phẫu đồng thời là Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội-giáo sư Pierre Huard. Ông đã đem lại vinh quang và niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Tác phẩm gây tiếng vang trong giới y học Việt Nam và Pháp, sách gối đầu giường của các nhà nghiên cứu, các thầy giáo, sinh viên các trường đại học. Ở nước ta, thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp lần đầu tiên được nhận giải Tes Tut, cho đến ba mươi năm sau, năm 1980 giáo sư Tôn Thất Tùng là người thứ hai và là người thứ mười trên thế giới được nhận giải này. Nhân cách giáo sư cùng với niềm tự hào dân tộc càng được nhân lên khi giáo sư, tận tâm phục vụ kháng chiến, thiếu thốn đủ điều nhưng lại từ chối việc đến Thủ đô Paris nhận giải thưởng Tes Tut cùng với số tiền thưởng 32.000 USD. Từ một trò nghèo của đất Thăng Long, ông tự học tự nghiên cứu trở thành trợ lý giải phẫu cho giám đốc Viện Giải phẫu Hà Nội... Ông cũng đã miệt mài học tập, nghiên cứu, giảng dạy nghiêm túc trong suốt 10 năm (1932 - 1942) để đạt vinh quang trong khoa học: được nhận giải thưởng y học lớn tầm cỡ thế giới.

Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp được coi là một trong những người lập công đầu đưa tiếng mẹ đẻ vào giảng dạy ở bậc đại học. Ông đã làm một khối lượng công việc khổng lồ: dịch sang tiếng Việt hàng chục nghìn từ y học và giải phẫu học, chính xác và sáng tạo, góp phần làm giàu tiếng Việt ta, tránh dùng nhiều từ gốc Hán.

Trong bộ sách giá trị Anatomie Topographique của Henri Rouvierè - tập nghiên cứu y học về cánh tay con người có chương viết về cơ ghi rõ muscle Do Xuan Hop và chương về dây thần kinh ghi rõ nerf Do Xuan Hop. Bên cạnh đó tên tuổi và công trình nghiên cứu của ông còn được in trong bộ Encyclopédie medicale Francaise (Bách khoa toàn thư y học Pháp).

Trong suốt cuột đời mình (1906 - 1985), Thiếu tướng Đỗ Xuân Hợp là tác giả hoặc đồng tác giả của hơn 100 công trình nghiên cứu và gần 20 cuốn sách chuyên khảo về các lĩnh vực giải phẫu học ngoại khoa, nhân chủng học, khảo cổ học, dân tộc học, mỹ thuật học... rất có giá trị cả về lý thuyết và thực tiễn. Nhưng có lẽ bộ sách giải phẫu học gồm bốn tập (Giải phẫu đại cương và giải phẫu đầu - mặt - cổ, Giải phẫu và thực dụng ngoại khoa chi trên và chi dưới, Giải phẫu ngực, Giải phẫu bụng) vẫn là bộ sách lớn nhất của cả đời ông. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông hoàn thành tập cuối cùng của bộ sách ấy (1971). Ơ nước ta xuất hiện thêm nhiều bộ sách giải phẫu khác viết bằng tiếng Việt. Nhưng có lẽ chưa bộ sách nào vượt được bộ sách của ông về khối lượng, chất lượng bản thảo, cũng như về số lượng bản in.


Tham khảo : Ykhoanet, Trang web Trường Đại học Y Hà Nội.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:17:21 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #27 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:54:12 am »


Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh (1910-6/10/1955), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), nguyên Ủy viên Tổng Quân ủy Quân đội Nhân dân Việt Nam (1950-1955).

Ông từng giữ các chức vụ Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ (1946-1949), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Tên của ông được đặt tên cho một con đường ở Thủ đô Hà Nội. Tháng 7 năm 1956, Bưu điện Việt Nam đã phát hành một bộ tem gồm 4 mẫu hình in chân dung ông.

Huân chương Sao Vàng (truy tặng 6.10.2009), Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…


Chủ nhiệm Trần Đăng Ninh, tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng mọi người thường gọi là ‘Anh đầu to’ hay ‘Anh râu xồm’, sinh ra trong một gia đình nông dân ở thôn Quảng Nguyên, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Lớn lên, ông ra Hà Nội học nghề in và vào làm thợ trong nhà in Lê Văn Tân. Sau đó, do tiếp thu ảnh hưởng của phong trào cách mạng thập niên 30 của thế kỉ 20 và được bạn bè trong giới thợ thuyền dìu dắt, ông sớm giác ngộ và tham gia cách mạng. Đầu những năm 30, ông hoạt động trong phong trào công nhân ngành in.

Năm 1936, ông được cử vào Ban chấp hành Nghiệp đoàn bí mật và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1937 đến năm 1939, ông đã tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc bãi công, bãi thị, mít tinh, đấu tranh chống thuế... nên được giới thiệu tham gia Thành ủy Hà Nội. Năm 1940, ông được cử vào Xứ ủy Bắc Kỳ. Khi cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, ông được phân công tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng, lập Ủy ban Cách mạng, tổ chức du kích, xây dựng căn cứ Ngũ Viễn - Vũ Lăng.

Ngày 11/11/1940, ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 7 cùng các ông Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phan Đăng Lưu…Hội nghị đã khẳng định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc của Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 6 là đúng đắn. Hội nghị chỉ rõ kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật. Quyết định phát triển ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

Tháng 5 năm 1941, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến tháng 7-1941, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm đó, ông bị mật thám bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Năm 1942, bị giam trong Hỏa Lò - Hà Nội, ông vẫn hoạt động chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc nên cuối năm đó bị chuyên lên nhà tù Sơn La. Tại đây, ông đã hoạt động trong tổ chức bí mật của Đảng trong nhà lao, tham gia tổ chức huấn luyện chính trị và quân sự cho anh em chính trị phạm.

Giữa năm 1943, cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu vượt ngục, trốn khỏi nhà tù Sơn La, trở về miền xuôi và hoạt động trong Ban Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ. Cuối năm 1943, ông lại bị bắt lần thứ hai, bị giam trở lại ở nhà tù Hà Nội. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), ông vượt ngục Hỏa Lò trở về tiếp tục hoạt động, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Đây là một cuộc vượt ngục có quy mô lớn gồm khoảng 100 tù chính trị trong đó có ông và các ông Đỗ Mười, Trần Tử Bình.

Ông được cử vào Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ tháng 3 năm 1945 phụ trách Chiến khu Hoàng Hoa Thám, và tháng 8-1945 được cử vào Bộ Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, tham gia Ủy ban Tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân Tân Trào. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông được phân công cùng ông Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân giải phóng, tiến đánh tỉnh lỵ Thái Nguyên và lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa ở Thái Nguyên, sau đó bảo vệ chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội.

Sau cách mạng tháng tám, ông được cử làm Đặc phái viên của Ban chấp hành Trung ương Đảng vào công tác ở Nam Bộ và Trung Bộ nhằm kiểm tra việc thực hiện chủ trương chính sách. Giữa năm 1946, ông được cử lên công tác tại Phú Thọ. Tại đây ông bị Quốc dân đảng bắt giam và định thủ tiêu nhưng ông thoát được.

Ngày 20/11/1946, quân Pháp ngang nhiên nổ súng đánh chiếm Hải Phòng. Ông cùng với ông Nguyễn Lương Bằng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ bí mật ở lại xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Đại Từ, Định Hoá, Phú Lương (Thái Nguyên), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Cạn) làm địa bàn chính…Đồng thời, bố trí địa điểm làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương, Chính phủ ở nhiều địa phương trong tỉnh Hà Tây.

Năm 1947, ông được cử giữ chức vụ Trưởng ban kiểm tra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam kiêm Phó Tổng thanh tra chính phủ. Ông đã xây dựng nền móng tổ chức cho 2 cơ quan, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng về mặt quan điểm, tư tưởng, phương pháp kiểm tra và thanh tra cho cán bộ, trực tiếp chỉ đạo các đoàn kiểm tra, thanh tra phát hiện được những vấn đề cấp thiết, đóng góp vào sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ.

Đầu năm 1950, ông đi cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc thiết đặt quan hệ ngoại giao và yêu cầu các nước bạn chi viện. Giữa năm 1950, ông được cử làm Đặc phái viên Chính phủ phụ trách sửa chữa cầu đường và huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, tiếp sau đó được cử làm Phó bí thư Tổng Quân ủy - cơ quan của Đảng trực tiếp lãnh đạo quân đội và được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục cung cấp (sau là Tổng cục Hậu cần), Ủy viên Tổng quân ủy (1950 - 1955), kiêm Trưởng ban Cung cấp Chiến dịch Biên giới (1950). Ông cũng là người xây dựng nền móng cơ bản cho hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

“Vẻ vang thay: Người con lỗi lạc của quê cha, kẻ sĩ kiên cường, vì nước tổ, tuổi hai chục, lên đường chiến đấu. Lội suối băng ngàn, năm ba mươi, theo Đảng xông pha: Vào sinh ra tử. Súng Bắc Sơn từng rực lửa non xanh. Cờ Tháng Tám thuở ngang trời ráng đỏ. Bền gan vững chí: Kháng chiến trường kỳ, đánh giặc nuôi quân: Chẳng nề gian khổ. Nhân dân oan ức: Trả lại công bằng. Cán bộ quan liêu: Thực thi dân chủ. Tham gia tiền tuyến: Tướng sỹ tin yêu. Phụ trách hậu cần, quân lương no đủ. Điện Biên đại thắng: Chiến tích huy hoàng. Tổ quốc khải hoàn: Công huân rạng rỡ.

Chúng tôi nay:

Nghĩa nặng quê hương, lòng thành ngưỡng mộ. Cùng nhân dân học tập người xưa, giúp con cháu noi theo gương cũ, xây nhà thờ mãi mãi khói hương, dựng bia đá đời đời tưởng nhớ.” (Giáo sư Vũ Khiêu)

Đây là những tình cảm của Giáo sư Vũ Khiêu dành cho ông, được ghi trên văn bia nhà lưu niệm ông tại quê hương. Nhà lưu niệm ông đã được nhà nước trao tặng Bằng di tích lịch sử. Hiện nay ở tỉnh Hà Tây có 2 ngôi trường mang tên ông.


Tham khảo : Báo Hà Tây, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:18:05 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #28 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:56:09 am »


Trung tướng Vương Thừa Vũ (24/12/1910-1980), nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Giám đốc Học viện Quân chính. Ông là Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội mùa Đông 1946 và cũng là Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam-Đại đoàn Quân tiên phong (F308). Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội-Phố Vương Thừa Vũ.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (hạng Nhất, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng,...

Đại tá (1948), Thiếu tướng (1954), Trung tướng (1974)


Trung tướng Vương Thừa Vũ, tên thật là Nguyễn Văn Đồi, quê ở xã Vĩnh Quỳnh huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội. Năm 1937, ông học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, Trung Quốc. Cuối năm 1941, ông về nước và bị thực dân Pháp bắt giam tại Bá Vân Thái Nguyên. Trong thời gian bị tù đầy, ông giác ngộ và bắt đầu những hoạt động cách mạng. Ông tham gia công tác binh vận và huấn luyện quân sự trong nhà tù thực dân.

Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3 năm 1945, ông tham gia bạo động giành chính quyền tại Nghĩa Lộ nhưng không thành. Ông trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa Lộ và lạc vào một bản người dân tộc. Tưởng ông là người làm việc cho Pháp họ định đem xử bắn ông. Nhưng nhờ ông biết tiếng dân tộc giải thích cho họ hiểu. Khi họ hỏi mày họ gì ông khai là họ Vương, từ đó ông lấy tên là Vương Thừa Vũ và cái tên này gắn liền với ông suốt cuộc đời. Sau đó, ông về Bắc Ninh gây dựng cơ sở cách mạng và tham gia huấn luyện quân sự ở chiến khu 2.

Cách mạng tháng 8 thành công, ông được giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy Bảo an binh Hà Nội rồi khu trưởng khu XI Hà Nội. Năm 1946n Trường võ bị Trần Quốc Tuấn mở khóa 1, ông là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn học viên tham gia giảng dạy. Toàn quốc kháng chiến tháng 12 năm 1946, ông được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội nhằm kìm chân quân Pháp tạo điều kiện cho Trung ương rút lui về an toàn khu và đồng bào đi tản cư an toàn. Chính ông là người đề xuất việc chia khu vực tác chiến đồng thời căn cứ vào địa hình, đặc điểm đường phố của Hà Nội, ông đề xuất chiến thuật ‘’độc trùng chiến’’ hay ‘’thuật cang chiến’’. Do vậy, quân và dân Hà Nội thay vì giữ được thành phố 1 tháng mà 2 tháng làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp.

Trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1948, ông giữ chức vụ Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên. Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân tiên phong-Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Phố Đu, Thái Nguyên. Ông được giao nhiệm vụ tổ chức đồng thời là Đại đoàn trưởng đầu tiên rồi trong thời gian đầu tiên thành lập từ năm 1949 đến năm 1951, ông kiêm luôn vai trò Chính ủy Đại đòan.

Ông là chỉ huy các chiến dịch: Sông Lô (5.1949), Đường số 4 (10.1949). Đồng thời trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn quân tiên phong, ông chỉ huy Đại đoàn tham gia các chiến dịch: Biên giới (10.1950), Trung du (12.1950), Đông Bắc (2.1951), Hà Nam Ninh (5.1951), Hoà Bình (10.1951), Tây Bắc (10.1952). Chỉ huy tiến công Bắc Giang, Phả Lại (7.1954).

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ từ 12 tháng 3 đến 7 tháng 5 năm 1954, khi bộ đội Việt Nam chuyển từ ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ sang ‘’đánh chắc thắng chắc’’, ông được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp giao cho nhiệm vụ chỉ huy Đại đoàn tiến sang Lào phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào đánh Pháp đồng thời bít đường tháo chạy của quân Pháp sang Lào.

Sau 9 năm kháng chiến trường kì gian khổ, Đại đoàn của ông được Trung ương và Quân ủy giao cho nhiệm vụ trở về tiếp quản Thủ đô. Chính ông, ở cầu Long Biên, thay mặt Quân đội Việt Nam nhận sự bàn giao Hà Nội của quân đội Pháp. Ngày 10/10 năm 1945, ông, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội chỉ huy bộ đội Việt Nam tiến vào tiếp quản Thủ đô và lễ chào cờ tại Sân vận động Cột Cờ Hà Nội cùng bác sĩ Trần Duy Hưng.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy chiến đấu và huấn luyện chiến đấu. Từ năm 1955 đến năm 1963, ông là Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn. Từ năm 1964 đến năm 1980, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm giám đốc Học viện Quân chính phụ trách huấn luyện bộ đội.

Từ năm 1964 đến năm 1971, đây là thời kì ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông được cử vào kiêm chức Tư lệnh Quân khu 4. Đây cũng là thời kì địa bàn Quân khu 4 bị bắn phá ác liệt nhất bằng đường không và đường biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Ông được quân và dân khu 4 hết sức yêu quý và gọi trìu mến là ‘’ông Cụ’’.

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một vị tướng võ theo đúng nghĩa của nó. Ông rất giỏi võ và đặc biệt là võ Tàu. Trong lễ thành lập Đại đoàn Quân tiên phong, ông đã làm bất ngờ những người có mặt bằng một động tác chào kiếm tuyệt vời. Ông thuộc típ người ít nói và không có năng khiếu nói-chẳng thế mà khi ông được giao nhiệm vụ đọc một bài phát biểu tại một buổi lễ tại Việt Bắc, ông đã bị Bác Hồ ‘’chỉnh’’, một người được mệnh danh là con hùm xám một người hết sức nghiêm khắc. Ông được cán bộ và chiến sĩ hết sức yêu quý nhưng không phải là không sợ.

Tướng Vương Thừa Vũ là một nhà chiến thuật và tổng kết chiến thuật xuất sắc. Chính ông là người đã sáng tạo ra cách đánh hợp lí trong mùa Đông 46 tại Hà Nội đồng thời cũng là người đã tổng kết nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Điện Biên Phủ bằng câu ‘’Vây, Lấn, Tấn, Phá, Triệt, Diệt’’. Ông còn là một người hết sức hâm mộ bóng đá. Trong thời gian ông giữ chức vụ Phó tổng tham mưu trưởng phụ trách huấn luyện, ông thường xuyên xem đội Thế công đá và chỉ đạo đội. Ông có một số tổng kết chiến thuật bóng đá rất thú vị thể hiện dưới hình thức thơ và vè. Ví du :

Về chiến thuật của các cầu thủ ta khi thi đấu với các đối thủ quốc tế cao và to hơn : “Đối tượng cao, to, khoẻ. Ta lấy ngắn trị dài. Ta lấy thấp trị cao. Thấp, ngắn, nhanh, mạnh, chuẩn. Khéo luồn lách thọc sâu”

“Về mặt chiến thuật; điều quan trọng nhất. Hiểu bạn ra sao. Nắm ta thế nào? Sở trường, sở đoản”. Sau đó: “Đội hình dàn ra. Chỉ là cơ bản. Bóng lăn người chuyển. Biến hoá khôn lường. Đánh lừa đối phương. Không sao hiểu nổi”. Khi tổ chức tấn công thì: “Mở rộng hai biên. Xuyên hông luồn nách. Đưa xuống sát vạch. Gần phía khung thành. Bật lên thật nhanh… chớ chuyền loanh quanh. Thời cơ mất hết. Ý ta bạn biết. Sẽ cụm về đông. Ta phá “bê tông”. Càng thêm vất vả”. Có lúc thì: “Phải dùng nhiều người. Làm chủ giữa bãi. Bật tường thẳng lối. Trung lộ tiến quân”. Cũng có lúc: “Hoặc dùng nghi binh. Hút về một hướng. Phía kia lởn vởn. Bất ngờ lao lên. Đón bóng nhanh chân. Sút ngay giành thắng”. Về nguyên tắc chung thì: “Tất cả cách đánh. Đều phải tập trung. Trên hướng tấn công. Xác định chủ yếu”.

Tấn công phải chú ý đến phòng thủ: “Chớ mải tấn công. Mà quên chốt giữ. Phía sau sơ hở. Sẽ dễ bị thua. Chốt giữ của ta. Hình thành tam giác. Nhiều tầng nhiều lớp. Có chiều sâu. Đừng ỷ lại nhau. Chớ lùi quá bước. Có người phía trước. Cản phá kiên cường. Người lót sau lưng. Sẵn sàng hỗ trợ”. Trên sân phải đề cao kỷ luật: “Trên sân thi đấu. Phải có chỉ huy. Lên, xuống, đứng, đi. Nhịp nhàng, đúng hướng. Điều khiển binh tướng. Chặt chẽ vững vàng. Đấu pháp đã bàn. Đồng tâm thực hiện”.

Về phẩm chất, ông viết: “Cầu thủ bóng đá. Phải thật đàng hoàng. Luyện tập thường xuyên. Mới thành tài giỏi. Giữ đạo đức mới. Đẹp mắt, đẹp lòng. Khán giả ước mong. Nhân dân mong đợi”…

Trung tướng Vương Thừa Vũ có 2 người con là sĩ quan Quân đội đã hy sinh là Vương Thiết Căng là sĩ quan pháo binh hy sinh năm 1972 tại Quảng Trị và Vương Thiết Bình là sĩ quan không quân hy sinh năm 1992 khi đang làm công tác huấn luyện. Vợ của ông, bà Lê Thị Hậu ( ?), đã được Chủ tịch nước kí quyết định phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và được chính quyền Hà Nội xây tặng một căn nhà tình nghĩa.

Tham khảo : Từ điển Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:20:10 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #29 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:58:18 am »


Thiếu tướng Hoàng Sâm (1915-1968), Liệt sĩ-Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Khu trưởng Khu II, nguyên Chỉ huy trưởng Mặt trận Tây Tiến, nguyên Khu trưởng Liên khu III, nguyên Tư lệnh các Quân khu Ba, nguyên Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, nguyên Tư lệnh Quân khu Trị Thiên Huế. Ông là Đội trưởng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Tên ông được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội. Ngoài ra, Thiếu tướng Hoàng Sâm còn là Đại biểu Quốc hội khóa 2 và 3.

Huân chương Hồ Chí Minh (truy tặng 1999), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất…

Thiếu tướng (1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội).


Thiếu tướng Hoàng Sâm, tên thật là Trần Văn Kì, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Lê Lợi, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Năm 1927, khi mới 12 tuổi, ông đã rời quê hương sang sinh sống tại Thái Lan. Năm 1928-1929, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín sang hoạt động cách mạng ở Thái Lan, ông được chọn làm liên lạc trong suốt thời gian này. Năm 1933, ông được kết nạp vào Đoàn thanh niên cộng sản, sau đó được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1934, ông bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc tra tấn, hỏi cung. Sau gần một năm giam giữ vì không có chứng cớ cụ thể, ông được thả và bị trục xuất ngay sau đó.

Rời Thái Lan, ông sang Quảng Tây, Trung Quốc, gặp ông Phùng Chí Kiên, tham gia “Điền kiểm quế biên khu du kích đội”- một tổ chức kháng Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc hoạt động ở 3 tỉnh biên giới Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Từ năm 1937 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Cao Bằng, thường trực tỉnh ủy phụ trách cơ quan in ấn và công tác giao thông liên lạc ở biên giới Việt-Trung. Giữa năm 1940, ông học quân sự ở Trường Trương Bội Công, được gặp Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) và được đặt cho bí danh là Hoàng Sâm. Sau đó ông cùng 40 cán bộ ở Cao Bằng từ bỏ Trường Trương Bội Công trở về nước hoạt động.

Cuối năm 1940, ông được dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, lớp học này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các ông Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh trực tiếp giảng dạy. Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về Pác Bó-Cao Bằng và triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Khuổi Nặm (5/1941). Ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tổ chức đường dây qua Lạng Sơn để đón đại biểu về dự hội nghị quan trọng này.

Cuối năm 1941, với bí danh là Trần Sơn Hùng, ông làm đội phó đội vũ trang Cao Bằng tham gia diệt phỉ tạo điều kiện cho các hội cứu quốc quân ở vùng Lục Khu (Hà Quảng) phát triển. Tháng 7/1943, ông được giao nhiệm vụ tổ chức, bảo vệ các tổ xung phong Nam Tiến. Chỉ huy đội vũ trang “Hộ lương, diệt ác” trừng trị Việt gian phản động và các nhóm quân Pháp đang gây tội ác ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ rã.  Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh chọn làm Đội trưởng, trực tiếp chỉ huy các trận đánh Phai Khắt (25/12/1944), Nà Ngần (26/12/1944), Đồng Mu và Nà Ngần lần thứ hai.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp(9/3/1945), Hoàng Sâm chỉ huy giải phóng các châu Ngân Sơn, Chợ rã, phía bắc Bạch Thông, giải tán bộ máy tổng lý, cường hào. Cuối tháng 3/1945, Hoàng Sâm cùng với ông Đàm Quang Trung chỉ huy các đơn vị đánh Nhật ở Phủ Thông, thành lập chính quyền nhân dân cấp xã ở đây. Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, ông chỉ huy đánh Nhật ở Bắc Kan, Thái Nguyên bảo vệ khu giải phóng Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên. Sau trận đánh Thái Nguyên ông đưa đơn vị về Vĩnh Yên tiêu diệt lực lượng Quốc dân Đảng phản động Đỗ Đình Đạo…

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm Chỉ huy trưởng mặt trận Tây Tiến, khu trưởng chiến khu II, chiến khu III. Năm 1948, Hoàng Sâm được phong quân hàm thiếu tướng, sau là đại biểu quốc hội các khoá II và III. Năm 1951-1953, ông là phái viên của Bộ Tổng tham mưu tham gia chiến dịch với các đại đoàn 312, 304. Sau làm Đại đoàn trưởng 304, Chỉ huy trưởng mặt trận Trung-Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chỉ huy tiếp quản Sơn Tây, Hà Đông, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 320 chỉ huy tiếp quản Hải Phòng. Cuối năm 1955, ông làm Tư lệnh quân khu Tả Ngạn, sau đó làm Tư lệnh quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh quân khu III.

Năm 1962, Thiếu tướng Hoàng Sâm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với bí danh Chăn Di…Về nước ông được cử làm Tư lệnh quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 12/1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Bình Trị Thiên. Ông ra đi ở tuổi 53, Hoàng Sâm là tướng tài bà, người học trò được chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy và quý trọng.

Thiếu tướng Hoàng Sâm là một người gan dạ, dũng cảm, tài ba, có biệt tài phí ngựa không cần yên cương, bắn súng ngắn cả hai tay. Cùng với thiếu tướng Lê Quảng Ba, ông đã làm cho các trùm phỉ khét tiếng như Voòng A Sáng, Voòng An Sính, Lý Xìu…đều phải kiêng nể. Các trùm phỉ ở đây thường gọi ông một cách kính trọng là ‘’Cán bộ Trần’’ và tướng Lê Quảng Ba là ‘’Cán bộ Lê’’. Có rất nhiều giai thoại được lưu truyền ở đây ví dụ việc ông cùng với tướng Lê Quảng Ba vào tận sào huyệt của Lý Xìu thi bắn súng, uống rượu, cưỡi ngựa, ném lừu đạn…Chính vì vậy mà uy tín của ông với đông đảo đồng bào dân tộc ở đây rất lớn, đó là một trong những lí do để sau ngày toàn quốc kháng chiến ông được cử chỉ huy bộ đội Tây Tiến lập nhiều chiến công vẫn còn in đậm trong tiềm thức của người dân Tây Bắc.

Tham khảo : Cổng Thông tin Điện tử Cao Bằng, Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:21:45 pm gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM