Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:56:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 884783 lần)
0 Thành viên và 5 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #260 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2009, 08:45:22 pm »

Thiếu tướng Trinh Thanh Vân nghỉ hưu tháng 4/1993 sao lại được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 10/ 1994? Mà ông này sinh năm 1934 thì năm 1993 chắc chưa hưu được?

Bài về Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân em dựa trên tài liệu của Quân chủng Phòng không Không quân, không thấy có đính chính gì cho nên em chắc là không sai đâu. Đại tá về hưu thì hưởng lương Thiếu tướng, về hưu 1 năm mới được phong hàm Thiếu tướng em thấy cũng không có gì lạ cả bác ạ.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #261 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 06:05:23 pm »


Trung tướng Đỗ Quang Hưng (1929-9h 15' 30/05/2009) quê tại xã Long Điền, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Ông từng giữ các chức vụ: quyền Tư lệnh Quân khu 7, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh.

Huân chương Độc lập hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Quân kỳ quyết thắng; Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Bảy, 2009, 06:53:40 pm gửi bởi DepTraiDeu » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
nhatminhdl54
Thành viên
*
Bài viết: 60


« Trả lời #262 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:09:55 pm »


Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân (05.04.1934), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu Thủ đô.
.....
Tháng 1 năm 1965, ông chuyển sang giữ chức vụ chính trị viên Đại đôi 805 Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh ; 12.1968, trợ lý Chính trị và Đảng vũ Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1970, chính trị viên Tiểu đoàn 2 Lữ đoàn 364 Pháo binh (Bộ Tư lệnh B5) ; 9.1971, Phó Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 45 Pháo binh, Phó Chính ủy Lữ đoàn 45 ; 10.1972, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 354 ; 1.1974, chuyển về làm Trưởng Phòng Tổ chức Cục Chính trị Quân khu Thủ đô.

Tháng 3 năm 1979, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 8.1981, Phó Tư lệnh Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Thủ đô ; 10.1987, Phó Tư lệnh Chính trị Quân khu Thủ đô, Bí thư Đảng ủy Quân khu cho đến khi nghỉ hưu tháng 4 năm 1993.


Thiếu tướng Trịnh Thanh Vân là Đại biểu Quốc hội khóa XI và là Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hà Nội (1.2000). Từ ngày 19 tháng 5 năm 2000, ông là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội.
@panphilov: bạn nên xem lại một số mốc thời gian trong đoạn tôi đánh dấu đỏ.
1. "...Quý II năm 1979, Quân đoàn được lệnh thành lập khung Sư đoàn 354 để chuyển cho đơn vị bạn (Tháng 10 năm 1979, Sư đoàn 354 dược bàn giao cho Quân khu Thủ đô). "
(Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003) http://www.quansuvn.net/index.php?topic=140.90 )
2. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, theo sắc lệnh 28-LCT, Quân khu Thủ đô được thành lập trên cơ sở Bộ tư lệnh Thủ đô, quản lý về mặt quân sự địa bàn thành phố Hà Nội. Năm 1999, địa bàn của Quân khu Thủ đô bổ sung bao gồm cả tỉnh Hà Tây.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Bảy, 2009, 07:13:20 pm gửi bởi nhatminhdl54 » Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #263 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2009, 05:55:19 pm »

@panphilov: bạn nên xem lại một số mốc thời gian trong đoạn tôi đánh dấu đỏ.
1. "...Quý II năm 1979, Quân đoàn được lệnh thành lập khung Sư đoàn 354 để chuyển cho đơn vị bạn (Tháng 10 năm 1979, Sư đoàn 354 dược bàn giao cho Quân khu Thủ đô). "
(Lịch sử Quân đoàn 1 (1973-2003) http://www.quansuvn.net/index.php?topic=140.90 )
2. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, theo sắc lệnh 28-LCT, Quân khu Thủ đô được thành lập trên cơ sở Bộ tư lệnh Thủ đô, quản lý về mặt quân sự địa bàn thành phố Hà Nội. Năm 1999, địa bàn của Quân khu Thủ đô bổ sung bao gồm cả tỉnh Hà Tây.

Thông tin về Thiếu tướng Trần Thanh Vân em lấy trong cuốn Thủ trưởng và Tưỡng lĩnh Quân chủng PK KQ. Trong cuốn này thì họ ghi như vậy, trong thông tin về Sư 354 họ có mở ngoặc ra là (Quân đoàn 1), em bỏ chi tiết này vì thời điểm đó Quân đoàn chưa được thành lập.

Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #264 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2009, 02:40:03 am »


Đại tá Trần Quang Hùng (bí danh : Trần Quang Hâu, 12.1921 – 01.12.1997), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Giám đốc Trường Quân chính Khu 10.

Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Chiên sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Đại tá (10.1973).


Đại tá Trần Quang Hùng quê tại xã Lệ Chi, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia Cách mạng năm 1941, nhập ngũ tháng 3 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 5 năm 1945 (chính thức tháng 7 năm 1945).

Tháng 3 năm 1945, ông là cán sự châu Tuyên Hóa ; 6.1945, chính trị viên trung đội ; 8.1945, chính trị viên phó ; 9.1945, đại đội phó ; năm 1946, ông giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng.

Năm 1949, ông được bổ nhiệm chức vụ giám đốc Trường Quân chính Khu 10 ; 1950, chuyển sang làm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 Vĩnh Phúc ; 1953, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 392 Trung đoàn 367.

Tháng 11 năm 1956, ông giữ chức vụ trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 240 Đại đoàn 367 ; 10.1960, trung đoàn trưởng Trung đoàn 240 Bộ Tư lệnh Phòng không ; 8.11962, theo học tại Học viện Trung cao Quân sự ; 3.1964, được bổ nhiệm giữ chức vụ Chủ nhiệm Chỉ huy sở Phòng không Quân khu 3.

Tháng 6 năm 1966, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Phòng không Quân khu 3 ; 4.1968, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, quyền Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1974, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân cho tới khi về hưu. Đại tá Trần Quang Hùng mất ngày 1 tháng 12 năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #265 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2009, 03:03:44 am »


Đại tá Trần Kim Ngọc (bí danh : Ngân Giang, 18.01.1928-13.07.2004), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Trang bị Kỹ thuật Quân chủng Phòng không, Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (10.1981).


Đại tá Trần Kim Ngọc quê tại xã Đông Khê, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Ông tham gia Cách mạng trước tháng 8 năm 1945, nhập ngũ tháng 10 năm 1945 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 4 năm 1949 (chính thức tháng 11 năm 1949).

Tháng 10 năm 1945, ông là nhân viên xưởng Quân giới  Trung đoàn Tuyên Quang ; 1.1947, phụ trách vận chuyển vũ khí lên Bắc Kạn ; 4.1948, phụ trách xây dựng công trình 161 Cục Quân giới ; 12.1948, là kỹ thuật viên kiêm đốc công xưởng 150 Cục Quân giới ; 11.1950, cán bộ kỹ thuật hàn gò xưởng 71 Cục Quân giới ; 1.1953, được cử đi học pháo cao xạ 37 mm ở Trung Quốc ; 9.1953, về nước là trợ lý quân khí kiêm chủ nhiệm công trình xa Trung đoàn 367 ; 1.1954, phụ trách chính trị viên Bộ phận Hậu cần tiền phương Trung đoàn 367 phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 4.1954, trợ lý Quân khí Tiểu đoàn 394 Trung đoàn 367 phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ ; 10.1954, chủ nhiệm quân khí  Trung đoàn 689 Đại đoàn 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ Chủ nhiệm Quân khí Trung đoàn 681 Đại đòan 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 8.1958, theo học văn hóa tại Trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 1.1959, học pháo cao xạ 57 mm Bộ Tư lệnh Phòng không ; 9.1960, Chủ nhiệm Hậu cần Trung đòan 230 Bộ Tư lệnh Phòng không.

Tháng 7 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Phó Phòng Quân giới Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Trưởng Phòng Quân giới Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1972, Cục Phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1974, đi học bổ túc kỹ thuật tại Trường Cao đẳng Ô-đéc-xa thuộc Liên Xô ; 8.1975, về nước tiếp tục giữ chức vụ Cục phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 5 năm 1977, khi Quân chủng Phòng không Không quân tách thành Quân chủng Phòng không và Quân chủng Không quân, ông được cử giữ chức vụ Cục Phó Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không ; 8.1979, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không Không quân ; 8.1980, Phó Tư lệnh về trang bị kỹ thuật kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Phòng không cho đến tháng 7 năm 1986 thì thôi giữ chức Chủ nhiệm Kỹ thuật. Đại tá Trần Kim Ngọc nghỉ hưu ngày 20 tháng 11 năm 1989 và mất tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #266 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2009, 04:13:23 am »


Đại tá Nguyễn Văn Điện (bí danh : Hùng Vân, 15.10.1928 – 1994), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không.

Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì thế hệ trẻ, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.

Đại tá (9.1979).


Đại tá Nguyễn Văn Điện quê tại xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia Cách mạng tháng 10 năm 1943, nhập ngũ ngày 22 tháng 12 năm 1944 và là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2 tháng 2 năm 1948 (chính thức ngày 19 tháng 8 năm 1948).

Tháng 10 năm 1943, ông giác ngộ Cách mạng và là tổ trưởng Thiếu nhi cứu quốc tại quê nhà. Tháng 11 năm 1944, ông làm liên lạc cho nhiều nhà cách mạng trong đó có ông Đàm Quang Trung. Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Giải phóng quân Cao Bằng.

Từ tháng 10 năm 1946, ông lần lượt trưởng thành từ chiến sĩ, tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 665 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 (Cao Bằng) ; 8.1948, đại đội trưởng Đại đội 665 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 72 ; 9.1949, tiểu đội trưởng, trung đội phó công tác tại Liên khu bộ Việt Bắc ; 8.1950, trung đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 55 Trung đoàn 74 ; 3.1951, được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân ; 12.1952, đại đội phó Tiểu đoàn 169 Bộ Tổng Tư lệnh ; 2.1953, phụ trách đại đội trưởng Đại đội 75 Tiểu đoàn Phòng không 681 Bộ Tổng Tư lệnh ; 3.1954, đại đội phó Đại đội 75 Tiểu đoàn Phòng không 681 Bộ Tổng Tư lệnh ; 9.1954, đại đội trưởng Đại đội 2 Trung đoàn 681 Đại đoàn 367.

Tháng 12 năm 1955, ông là đại đội phó Đại đội 2 Trung đoàn 681 Đại đoàn 367 ; 2.1957, tham mưu trưởng Tiểu đoàn 82 Trung đoàn Pháo Phòng không 220 (Trung đoàn 681) Đại đoàn 367 ; 8.1958, trợ lý tác chiến Phòng Tham mưu Bộ Tư lệnh Phòng không ; 8.1964, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự.

Tháng 4 năm 1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 220 Sư đoàn 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1965, tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo phòng không 222 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1965, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 222 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, trung đoàn phó Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1967, trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo Phòng không 240 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 7.1971, phó tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 8 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không ; 8.1979, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, Phó Tư lệnh về hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Phòng không cho đến tháng 7 năm 1986 thì thôi kiêm Chủ nhiệm Hậu cần. Đại tá Nguyễn Văn Điện nghỉ hưu ngày 15 tháng 1 năm 1990 tại Hà Nội.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #267 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2009, 04:36:59 am »



Đại tá Mai Đức Toại (bí danh : Mai Đức Nhân, 15.05.1931), từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Không quân.

Huân chương Quân công hạng Ba, 4 Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, 3 Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đại tá (12.1980).


Đại tá Mai Đức Toại quê tại thôn Ngũ Kiên, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Cách mạng tháng 1 năm 1949, nhập ngũ ngày 18 tháng 10 năm 1950 và là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 10 năm 1949 (chính thức ngày 26 tháng 4 năm 1950).

Tháng 1 năm 1949, ông làm liên lạc du kích và văn thư xã đội ; 10.1950, là chiến sĩ Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 44 Liên khu 4 ; 18.1.1951, tiểu đội phó, tiểu đội trưởng, trung đội phó rồi trung đội trưởng cán sự chính trị Trung đoàn 363, cán sự chính trị Tiểu đoàn 130 Trung đoàn 209 Đại đoàn 312.

Tháng 5 năm 1955, ông là Trợ lý tổ chức Trung đoàn 209, trợ lý tổ chức Đại đoàn 312 ; 9.1958, đi học tại trường Văn hóa Quân đội ở Lạng Sơn ; 8.1959, học viên bay Trường Hàng không số 1 ở Cát Bi, Hải Phòng ; 26.1.1960, học viên Trường Hàng không số 3 Trung Quốc, bay I-ắc 18, Mig 15, Mig 17, bay khoa mục chiến đấu ở Dương Thôn và Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc) ; 4.1965, đại đội trưởng Đại đội 1, chủ nhiệm kỹ thuật bay Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 923 về nước tham gia chiến đấu.

Tháng 3 năm 1968, ông là trung đoàn phó Trung đoàn KHông quân 925 đào tạo huấn luyện phi công Mig 17 khoa mục chiến đấu ở Tường Vân, Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc) chuyển lại Mig 19 tại căn cứ Trường Không quân số 1 ở Tế Nam (Trung Quốc) ; 10.1969, trung đoàn phó, trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 925, về nước tổ chức Trung đoàn Không quân 925 chiến đấu trên loại máy bay Mig 19 ; 6.1973, tham mưu trưởng Binh chủng Không quân rồi được cử đi học tại Học viện Không quân Ga-ga-rin của Liên Xô ; 9.1974, tham mưu trưởng Binh chủng Không quân ; 3.1975, trưởng phòng không quân, Trưởng phòng Tác chiến Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 4 năm 1976, ông là Sư đoàn phó, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370 (Đà Nẵng) ; 14.7.1978, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371 ; 25.8/1979, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan chỉ huy kỹ thuật Không quân ; 16.8.1980, Phó Tư lệnh Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần Quân chủng Không quân ; 8.1982, được cử đi học tại Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng ; 18.12.1983, được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân chủng Không quân cho đến khi nghỉ hưu ngày 12 tháng 11 năm 1990.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
nhatminhdl54
Thành viên
*
Bài viết: 60


« Trả lời #268 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2009, 10:41:05 pm »

Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Nhớ lễ phong tướng 60 năm trước
Theo QĐND - Thứ Sáu, 01/02/2008
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/89/70/78/78/78/26003/Default.aspx
Ngày 19-1-1948, Hội đồng Chính phủ họp.

Sau chiến thắng Việt Bắc, Bác đã bàn với Trung ương nhân dịp này để động viên tinh thần bộ đội, đánh dấu sự trưởng thành của lực lượng vũ trang qua hơn hai năm chiến đấu, cần thành lập Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam, phong quân hàm cho một số cán bộ quân đội và tặng thưởng huân chương cho những người đã lập được chiến công. Chủ trương của Đảng được toàn thể thành viên trong hội đồng Chính phủ hoan nghênh.

Ngày 20-1-1948, Bác ký sắc lệnh phong quân hàm cho một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội. Tôi được trao quân hàm Đại tướng. Các anh Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Đối với Nam Bộ, quân và dân Nam Bộ chiến đấu sớm nhất, đã hơn hai năm; Bác và Trung ương đã cân nhắc; cuối cùng, đi tới quyết định phong quân hàm Trung tướng cho anh Nguyễn Bình. Ngoài ra một số cán bộ cấp cục hoặc chỉ huy các liên khu được phong cấp đại tá. Việc phong quân hàm chỉ mới tiến hành trong những cán bộ chủ chốt, chưa thực hiện với toàn quân.

Hội đồng Chính phủ dự định tổ chức lễ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 27-5-1948.

Mấy ngày này trời mưa rất to.

Ngày 27-5, trời vẫn mưa, các sông suối nước lớn không qua lại được. Các đại biểu chưa đến đủ. Cụ Bùi Bằng Đoàn, đại diện Quốc hội, cũng chưa đến được. Hội đồng Chính phủ tranh thủ họp phiên toàn thể để giải quyết một số vấn đề quan trọng: đánh giá tình hình trong nước, âm mưu của bọn thực dân phản động Pháp, nhất là âm mưu chia rẽ của bọn chúng và cách đối phó; lập quy chế công chức mới thay cho chế độ công chức thời thuộc Pháp và giao cho Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính nghiên cứu thang lương công chức; ra sắc lệnh thành lập Ban thi đua toàn quốc và chọn ngày 19-6-1948, ngày kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến làm ngày phát động phong trào thi đua ái quốc.

Cuộc họp kéo dài tới nửa đêm vẫn chưa xong, phải tiếp tục họp vào sáng hôm sau.

Ngày 28-5-1948, vào lúc 1 giờ chiều, lễ phong quân hàm được tổ chức trọng thể.

Một hội trường mới dựng bên dòng suối lớn, dưới tán cây rừng, dựa vào sườn núi, vách mới đan còn thơm mùi nứa. Phía trong, đặt một bàn thờ Tổ quốc trang hoàng giản dị, có cờ đỏ sao vàng và lọ hoa cắm một chùm hoa núi; xung quanh là các băng đỏ ghi khẩu hiệu: “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Bác và cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban thường trực Quốc hội, đứng hai bên bàn thờ, các thành viên Chính phủ đứng trước bàn thờ. Bác, tay cầm sắc lệnh, gọi tôi lên. Bằng giọng nghiêm trang và xúc động, Bác nói: “Hôm nay, thay mặt Chính phủ và nhân dân...” rồi bỗng ngừng lời, rút khăn tay lau nước mắt. Giây phút đó làm cho cả hội trường vô cùng xúc động. Lát sau, Bác nói tiếp: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho…”. Bác trao cho tôi sắc lệnh. Cụ trưởng Ban thường trực thay mặt Quốc hội, anh Phan Anh thay mặt Hội đồng Chính phủ phát biểu chúc mừng. Anh Tạ Quang Bửu thay mặt Bộ Quốc phòng bày tỏ lời chúc mừng và lời hứa của toàn thể bộ đội sẽ nêu cao tinh thần chiến đấu anh dũng dưới sự chỉ huy của Đại tướng. Tôi xúc động phát biểu mấy lời, tự đáy lòng vô cùng nhớ tiếc các anh hùng liệt sĩ, chân thành biết ơn Bác, Quốc hội và Chính phủ đã dành cho tôi vinh dự cao cả. Tôi hứa sẽ đem hết tinh thần và nghị lực làm tròn nhiệm vụ, góp phần khiêm tốn của mình vào sự nghiệp đấu tranh cho độc lập và thống nhất của Tổ quốc.

Sau buổi lễ, chúng tôi ngồi quây quần bên Bác. Bác nói: Việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác hôm nay là kết quả biết bao hy sinh chiến đấu của đồng bào, đồng chí… Các thế hệ đi trước chiến đấu cho độc lập mà sự nghiệp không thành, nhắm mắt vẫn còn chưa thấy độc lập tự do. Chúng ta ngày nay may mắn hơn, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn. Nghĩ tới hàng nghìn, hàng vạn người đã ngã xuống cho ngày hôm nay, chúng ta càng phải cố gắng giành cho được độc lập, tự do để thỏa mãn vong linh những người đã khuất… Cuộc nói chuyện trở thành buổi ôn lại truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống cách mạng của dân tộc ta.

Sau đó các thành viên Chính phủ chụp chung một bức ảnh kỷ niệm.

Khi sự việc này được công bố trên đài Tiếng nói Việt Nam, một phóng viên phương Tây hỏi Bác vì sao một lúc phong nhiều tướng tá như vậy, việc phong cấp này được tiến hành dựa theo những tiêu chuẩn nào. Bác trả lời giản dị: Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng.

Tháng 8 năm đó, tại Hội nghị quân sự lần thứ năm, Bác nói về “Tư cách một người tướng”: “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: Trí, Dũng, Nhân, Liêm, Trung”. Đối với kỷ luật: “Mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm tới mỗi đội viên… Báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng, thiết thực… Phải thưởng phạt cho công minh… Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt. Ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ”. Đối với binh sĩ thì: “từ lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn tới cái ăn, cái mặc, nhất thiết phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy, họ cũng vui lòng đi, khi bảo đánh, họ sẽ hăng hái đánh… Bộ đội ta tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu”. Đối với dân “bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi”. Đối với địch thì “tuyệt đối chớ khinh địch… Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại”.

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (12-1992). Ảnh: TRẦN HỒNG
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2009, 10:46:52 pm gửi bởi nhatminhdl54 » Logged
binhyen1960
Moderator
*
Bài viết: 3862


HOT nhất forum năm 2009


« Trả lời #269 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2009, 11:56:41 am »

    Chẳng có lời nhận xét nào hơn.
 Những người hùng của một quân đội anh hùng .
 Những người con của một dân tộc anh hùng .
Logged

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM