Thiếu tướng Trần Thế Môn (1915 – 19h 12.12.2009) từng giữ các chức vụ : Chính ủy Binh chủng Công binh, Chính ủy Quân khu Tây Bắc, Phó Chính ủy Quân khu 4, Chính ủy Mặt trận B3 (Tây Nguyên), Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương.
Ngoài ra ông còn từng giữ chức vụ : Phó Chánh án Tòa án Nhân dâp cấp cao.
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng…
Thiếu tướng 1974.Thiếu tướng Trần Thế Môn sinh tại xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Do hoàn cảnh gia đình, 18 tuổi (1938), ông thoát ly ra đình xuống Hải Phòng làm thợ (sửa chữa tầu thủy, toa xe lửa). Đầu tiên ông làm thợ gò, rèn cho xưởng Xô-va-giơ, một xưởng cơ khí sửa chữa tàu thủy, rồi chuyển sang nghề hàn. Với tính chịu khó và thông minh, ông được các thợ bậc cao mến phục và truyền nghề. Sau một thời gian học hỏi và tự mày mò, ông không thua kém gì những người thợ làm lâu năm và đạt được trình độ hàn xi-lanh, một kĩ thuật rất khó đòi hỏi độ chính xác và độ khéo léo cao.
Năm 1936, ông bắt đầu tham gia cách mạng ở thành phố Hải Phòng. Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt trong lúc đang cùng anh em công nhân đấu tranh đòi tăng lương, giảm thuế; tháng 11 năm 1940, ông được ông Lương Khánh Thiện, Xứ ủy viên phụ trách miền duyên hải (Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai) chính thức tuyên bố kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đầu tháng 1 năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai, lần này, và đưa về giam tại Hà Nội. Trước Tòa án binh của thực dân Pháp, ông cùng các đồng chí của mình giữ vững khí tiết cách mạng, phản bác lại những lời cáo buộc của kẻ thù. Tòa Đại hình Pháp kết án ông 10 năm tù khổ sai. Tháng 7 năm 1941, thực dân Pháp đày ải tù cộng sản lên Nhà tù Sơn La. Đây là vùng ma thiêng, nước độc, kẻ thù muốn dùng sự khổ cực, đói rét, bệnh tật để giết hại anh em tù cộng sản. Đầu năm 1943, thực dân Pháp phân tán số bị giam giữ ở nhà tù Sơn La đi các nhà tù khác, hơn 100 người (trong đó có ông) bị đưa về nhà tù Chợ Chu, Thái Nguyên. Hơn một năm ở ngục tù Chợ Chu là thời gian đấu tranh quyết liệt với kẻ địch. Đầu năm 1944, chi bộ nhà tù Chợ Chu quyết định 12 đảng viên, cán bộ cách mạng (Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Trung Đỉnh, Trần Công Bình, Chu Nhữ, Lê Hiến Mai, Vũ Phong, Nhị Quý, Trần Tùng, Hoàng Bá Sơn, Nguyễn Kháng, Trần Thế Môn) vượt ngục trở về với Đảng, bổ sung lực lượng cho Phân khu Nguyễn Huệ.
Ngày 2 tháng 10 năm 1944, sau khi vượt ngục, ông được Đảng phân công về tăng cường cho Cứu quốc quân III, hoạt động ở khu vực Chợ Chu (Định Hóa), Đại Từ (Thái Nguyên), Sơn Dương và Yên Sơn (Tuyên Quang), thuộc Phân khu Nguyễn Huệ và sau đó tham gia vào đội quân chủ lực của cách mạng. Trong thời gian này, ông cùng đồng bào các dân tộc tham gia khởi nghĩa Thanh La. Chỉ trong một ngày đêm 10 tháng 3 năm 1945, toàn bộ chính quyền tay sai bị dẹp tan, chính quyền cách mạng được thành lập. Khởi nghĩa Thanh La và Sơn Dương được coi là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi sớm trên toàn quốc, mở đầu cho phong trào khởi nghĩa từng phần, tiến tới khởi nghĩa trên một vùng rộng lớn từ Yên Sơn, Na Hang, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên)… hình thành một vùng giải phóng rộng lớn nối liền với Chợ Đồn, Phủ Thông (Bắc Kạn), khu vực này sau đó vinh dự được Bác Hồ, Trung ương Đảng chọn làm Khu giải phóng Việt Minh, với Châu Tự Do (Sơn Dương, Tuyên Quang) làm trung tâm và Tân Trào trở thành Thủ đô cách mạng của cả nước.
Tháng 5 năm 1945, ông nhận nhiệm vụ từ ông Song Hào, nghiên cứu trận địa tại Đèo Chắn để chặn đánh quân Nhật, không cho chúng tiến vào Tân Trào, nơi Bác Hồ mới chuyển từ Cao Bằng xuống để tiện chỉ đạo phong trào cách mạng. Với chỉ khoảng 20 người, ông và các đồng chí của mình đã chỉ huy bố trí lực lượng tại đèo Chắn, bẻ gãy cuộc càn của địch, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn Tân Trào, bảo vệ được Trung ương Đảng và Bác Hồ.
Trong những ngày Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông phụ trách một đội quân tham gia giành chính quyền ở thị xã Tuyên Quang. Từ đêm 17 đến 21 tháng 8 năm 1945, các lực lượng vũ trang đã phối hợp chặt chẽ với nhau, tiến đánh các đồn bốt, trại bảo an và đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, thị xã Tuyên Quang hoàn toàn giải phóng. Thời gian tiếp theo, ông được điều động đi nhiều đơn vị, làm Chỉ huy trưởng lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ. Tại đây, ngày 30 tháng 8 năm 1945, ông tham gia thành lập Chi đội giải phóng quân Trần Quốc Toản (Phú Thọ) và trực tiếp làm Chi đội trưởng. Đây là một trong những trung đoàn ra đời sớm của quân đội ta. Tháng 9 năm 1945, theo Chỉ thị của Bộ tư lệnh Chiến khu I, hợp nhất Trung đoàn Âu Cơ (Yên Bái) và Chi đội Trần Quốc Toản thành Trung đoàn 81 Phú Yên (Phú Thọ-Yên Bái), ông được giao nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng.
Đến tháng 4 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Bắc-Bắc, cũng là đơn vị hợp nhất của Bắc Ninh và Bắc Giang. Tháng 10 năm 1946, ông được điều về Trung đoàn 115 Phú Yên làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Trung đoàn. Trung đoàn có nhiệm vụ đánh quân địch ở phía tây tỉnh Yên Bái, ngăn không cho địch từ Sơn La đánh sang, bảo vệ sườn phía tây Việt Bắc và tạo điều kiện cho hậu phương chuẩn bị chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Trung đoàn 15 là đơn vị khởi đầu tham gia đánh thực dân Pháp ở miền Tây Tổ quốc khi chúng từ Bắc Lào xâm nhập vào.
Sau thời kỳ này, tháng 1 năm 1948, ông làm việc ở Tổng Thanh tra quân đội; tháng 2 năm 1950, ông làm Phó đoàn thanh tra của Bộ Tổng tư lệnh đi kiểm tra Nam Bộ. Sau đó ông về công tác ở Cục Dân quân.
Năm 1956, ông làm Chính ủy Cục Công binh. Sau đó ông trở lại Sơn La lần thứ hai với cương vị là Chính ủy Quân khu Tây Bắc, rồi vào làm Phó chính ủy Quân khu 4.
Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), ngoài 50 tuổi, ông được giao nhiệm vụ trở lại chiến trường. Tháng 8 năm 1966, ông vào chiến trường và nhận quyết định công tác ở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Tháng 10 năm 1967, ông được phân công làm Chính ủy Mặt trận B3 (Tây Nguyên) thay ông Chu Huy Mân về Khu 5 nhận công tác mới. Ông Hoàng Minh Thảo lúc này đang là Tư lệnh Mặt trận. Gần 7 năm ở chiến trường (đến tháng 12-1973), ông đã cùng các lãnh đạo trong Bộ tư lệnh Mặt trận B3 lãnh đạo, chỉ huy các chiến dịch Đắc Tô-Tân Cảnh (1967), Đắc Tô II (1969); Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968; Chiến dịch Thu Đông 1968 và Xuân Hè 1969; Chiến dịch Đông Xuân năm 1970, Chiến dịch tiến công chiến lược năm 1972…
Đầu năm 1974, ông trở lại làm Chính ủy Binh chủng Công binh lần thứ hai. Năm 1977, ông được điều về Tòa án quân sự Trung ương làm Chánh án đồng thời là Phó Chánh án Toàn án Nhân dân tối cao cho đến khi về hưu, năm 1979.
Theo Báo Quân đội Nhân dân (online), Bạn Trỗi