Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:18:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bác sĩ riêng của Mao  (Đọc 93500 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #60 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:30:10 pm »

Chương 35

Khi hội nghị trung ương đảng lần thứ 7 khoá 8 diễn ra từ ngày 2-4 đến ngày 5-4-1959 ở Thượng Hải. Mao vẫn luôn tỏ ra lạc quan. Lòng tin của ông vào “đại nhảy vọt” và vào công xã nhân dân vẫn không thay đổi - Tuy chiến dịch “đại nhảy vọt” đã vấp phải một số vấn đề nhỏ nhưng có thể giải quyết được. Cơ cấu tổ chức của các công xã phải được hoàn thiện có nghĩa là phải định ra chính sách điều tiết sức lao động giữa các lò luyện kim gia đình và sản xuất nông nghiệp. Mao đã kéo quá nhiều đàn ông khỏe mạnh khỏi công việc đồng áng. Phương thức trả lương ở các công xã được điều chỉnh và các khoản thuế cũng phải được giảm bởi bớt sao cho hợp lý hơn.
Lo ngại lớn nhất của Mao không phải là thiếu lương thực, những chỉ tiêu kế hoạch quá cao hay những lò luyện kim gia đình đã phung phí quá nhiều sức lao động và tạo ra vô số phế phẩm, mà ông lo nhất là tính sáng tạo của quần chúng đã được phong trào “đại nhảy vọt” cởi trói sẽ bị kìm hãm. Nếu ông nhận thức được rằng đất nước sẽ đang tới gần một thảm họa, thì không bao giờ ông để lộ suy nghĩ này. Tôi cũng luôn cho rằng những vấn đề hiện tại chỉ là tạm thời. Đó là hậu quả do khó khăn trong việc liên lạc với các cấp cơ sở ở địa phương. Tôi đồng ý với Mao và bỏ ngoài tai mọi dư luận bên ngoài.
Trong thời gian Hội nghị họp ở Thượng Hải. Mao ở trên đoàn tàu của ông. Vĩ một là ông không ưa cách bài trí trưởng giả trong nơi ở cũ của Silas Hardoon: hai là ông vẫn quan hệ với có Tiểu Lý, y tá đi theo đoàn tàu đặc biệt của ông. Tối nào ông cũng đi với Tiểu Lý đến câu lạc bộ Tân Cương vốn là của Pháp trước đây và bây giờ trở thành nơi đàng điếm sang trọng dành cho các cán bộ cao cấp.
Biết Mao đặc biệt sủng ái giới nữ nên cơ quan an ninh địa phương đã bố trí để Mao gặp các nữ diên viên và nữ danh ca nổi tiếng nhất của Thượng Hải. Thế nhưng Mao chẳng hề để mắt đến những phụ nữ này. Đối với Mao, họ quá già và biết quá nhiều - Mao chỉ thích những cô gái trẻ, thơ ngây vì họ dễ xiêu lòng hơn - Thế là tối tối cơ quan an ninh thành phố Thượng Hải lại phải đưa các thiếu nữ từ các đoàn văn công đến trình diễn cho Mao xem.
Kha Thanh Thế cũng cho trình diễn một vở kinh kịch nữa về Hải Thụy. Năm ngoái, khi Mao ở Trường Sa, câu chuyện về nhân vật này đã từng gây ấn tượng mạnh đối với ông - Trong vở diễn, Hải Thụy đã phải ngồi tù vì ông phái hiện ra một cách trơ trẽn rằng cái tên của vua là Gia Tĩnh lại có nghĩa là vua sẽ đưa nhân dân đến tai họa. Lúc đầu vua dọa sẽ xử trảm Hải Thụy nhưng sau khi đọc lá sớ giải thích của viên quan này lần thứ hai rồi lần thứ ba cuối cùng vua nhận ra rằng Hải Thụy là một người trung thực và cương trực, sẵn sàng quên mình vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy Hải Thụy vẫn bị giam trong ngục, nhưng vua đã bãi bỏ án tử hình đối với ông. Một hôm, người coi ngục mang đến cho Hải Thụy một bữa cơm rất thịnh soạn. Viên quan này tưởng rằng đây là bữa ăn cuối cùng của người tử tù. Nhưng khi ông vừa ăn xong, thì người cai ngục liền chúc mừng ông và báo cho ông biết tin vua đã băng hà. Hải Thụy, người thực sự trung thành với vua, đã buồn đến nỗi ông đã nôn hết những gì ông vừa ăn. Một lần nữa Mao lại thán phục Hải Thụy, Mao bắt đầu quảng bá tư cách của Hải Thụy bằng cách cho in tiểu sử Hải Thụy và phân phát cho những người tham dự Hội nghị. Ông hối thúc họ noi gương Hải Thụy. Sau này ông đề nghị các nhà sử học phải nghiên cứu kỹ hơn nữa về Hải Thụy và các bài viết của họ đã được đăng trên các báo chí cả nước. Ở Thượng Hải và Bắc Kinh người ta đã dàn dựng những vở kịch hiện đại Hải Thụy khiến viên quan đời nhà Minh này trở thành người anh hùng của dân tộc.
Lòng ngưỡng mộ của Mao đối với Hải Thụy cũng tiềm ẩn nỗi trớ trêu - Cũng vì sau này nhân vật Hải Thụy trở thành một biểu tượng chủ yếu của sự bất bình đối với chiến dịch làm trong sạch đảng, chống lại Bành Đức Hoài và đối với việc khởi đầu của cách mạng văn hoá nên tôi thường ngẫm nghĩ ý nghĩa của nhân vật này đối với Mao. Tính khí của Mao thật phức tạp và đầy thuẫn. Cũng như vua, Mao tin là ông không hề làm gì sai trái - Nếu có một quyết định nào sai, thì lỗi không phải ở ông, mà chỉ vì ông nhận được tin tức sai. Vua không hề nhầm lẫn được, nhưng vẫn có thể bị lừa.
Mao đặc biệt thích Hải Thụy vì ba lý do: Hải Thụy chỉ nói sự thật, luôn trung thành với vua và mặc dù bị kết án oan, ông chịu chết không một lời phản kháng để giữ tiếng cho vua và giữ hạnh phúc cho nhân dân. Hải Thụy không đổ lỗi cho vua mỗi khi có việc gì đó không thành, mà quy tội cho bọn quan lại lừa lọc và đồi bại.
Mao cũng muốn người ta luôn nói sự thật với ông. Mặc dù đến nay tôi đã tỉnh ngộ nhưng tôi vẫn thường cho rằng nếu Mao biết được toàn bộ sự thật ngay từ khi chiến dịch bắt đầu thì ông đã ngăn chặn ngay sự tiến triển đày tai họa này từ rất sớm. Tuy nhiên, phải có một Hải Thụy hiện đại có những điều kiện của riêng ông ta thì mới có thể nói cho Mao biết được sự thật. Nhưng Mao lại không thể chấp nhận được sự thật, nếu sự thật đó chứa đựng những lời chỉ trích ông, hoặc bắt nguồn từ những quan chức thâm hiểm, có lẽ, cũng đang thèm khát quyền lực của ông. Cho nên, nói cho ông biết sự thật là nhiệm vụ của những người không có tham vọng chính trị.
Nhưng chỉ có rất ít người như vậy leo đến được chức vụ cao trong bộ máy quyền lực chính trị. Trong thực tế hầu như chẳng có một cán bộ nào không thành kiến, không vụ lợi mà lại dám sẵn sàng đứng ra vì hạnh phúc của đất nước. Vì Mao biết quá rõ lịch sử Trung Quốc với tất cả các cuộc phân tranh quyền lực và các thủ đoạn chính trị - nên ông cũng đã tính đến những âm mưu trong triều đình của ông và chính ông cũng tham gia trò choi này.
Như vậy việc Mao khuyến khích người noi gương Hải Thụy cũng như như việc ông kêu gọi trí thức phê phán đảng đều nằm trong chiến lược có chủ định của riêng ông. Ông muốn nghe sự thật từ những người tuyệt đối trung thành với ông và không hề có tham vọng chính trị. Tuy nhiên việc Mao đề cao Hải Thụy là một xảo thuật để nhử kẻ thù bò ra khỏi hang. Cũng như vua, Mao tự cho mình được độc quyền phán xét xem ai là thuộc hạ trung thành, ai là người chỉ phê phán vua để củng cố quyền lợi của chính người đó. Nhưng lập luận của Mao vẫn có những kẽ hở. Trong khi Mao đánh giá rất cao những ông vua như Tần Thủy Hoàng, vua Trụ, vua Tùy Dạng, những ông vua mà nhân dân căm giận nhất, thì đa số những người đã đọc truyện về Hải Thụy đều coi những ông vua đó và cả vua Gia Tĩnh là những kẻ tàn bạo và bất công. Nhiều thuộc hạ thân tín của Mao tỏ ra sẽ trung thành với Mao như Hải Thụy trung với vua. Mao khẳng định rằng hẳn là những cán bộ cấp dưới đã nói dối vì họ phải chịu “sức ép từ trên xuống” và do đó họ đã phê bình cả những nhân viên của chính họ. Nhưng sức ép đó lại chính do Mao gây ra. Năm 1958, ông quy cho những người đã phê phán ông là hữu khuynh và trừng phạt họ một cách không thương tiếc. Sau đó, ông thường lôi kéo đảng vào những chiến dịch mới và khích cán bộ lãnh đạo phải nâng cao chỉ tiêu sản xuất. Chính ông đã tạo ra bầu không khí khiến các nhà chính trị khác khó có thể nói lên sự thật và các cán bộ cấp cao của đảng vì trung thành hoặc vì sợ ông mà phải theo ông. Mao không nhận thấy sai lầm của chính ông ở những cán bộ lãnh đạo khác của đảng ở đám quan lại đồi bại trong triều đình Gia Tĩnh. Lòng hâm mộ Hải Thụy của ông còn giúp ông đổ lỗi của mình cho người khác. Tuy nhiên, những người như Châu Tiểu Châu lại hiểu lịch sử một cách khác. Họ là những người như Hải Thụy thuộc hạ tin cẩn của Mao, họ đã bị kết tội và bị phạt oan, khiến Mao không còn là một ông vua xứng đáng của họ nữa.
Giữa tháng 4 năm 1959, chúng tôi trở về Bắc Kinh để dự kỳ họp thứ nhất của Đại hội nhân dân toàn quốc khoá hai - tức là Quốc hội ở Trung Quốc. Hội đồng nhân dân - theo chỉ thị của Uỷ ban trung ương đảng, chấp thuận việc Mao xin từ chức Chủ tịch nước và bầu Lưu Thiếu Kỳ lên thay. Còn Chu Đức vẫn tiếp tục điều hành Uỷ ban Thường vụ Hội đồng nhân dân. Tống Khánh Linh và Đổng Bích Vũ được bầu làm phó Chủ tịch nước.
Việc Mao từ chức và bầu Lưu Thiếu Kỳ vào chức vụ trên đã đươc dự định từ lâu và sự thay đổi này cho đến lúc đó vẫn chưa được công bố. Đến lúc này, cả hai chức được goi là “Chủ tịch” - Chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa - đều trong tay Mao và chỉ có một mình Mao có chức danh này. Từ khi bổ nhiệm Lưu Thiếu Kỳ giữ chức Chủ tịch nước ở Trung Quốc nơi mà chức danh được coi là quan trọng, có hai Chủ tịch. Điều này khiến Mao không chịu được. Việc Trung Quốc có hai Chủ tịch trong khi Mao vẫn nắm quyền tối thượng đã kéo theo những hậu quả chính trị mà tôi và đa số nhân dân Trung Quốc lúc đó không thể lường hết được. Thế nhưng trận đấu của Mao để đoạt lại quyền giữ chức Chủ tịch duy nhất của Trung Quốc đã bắt đầu và sẽ được kết thúc bằng sự sụp đổ của Lưu Thiếu Kỳ với việc ông bị phế truất khỏi chức “Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Chúng tôi ở lại Bắc Kinh một tháng và cuối tháng chúng tôi lại lên tàu xuôi xuống miền Nam Trung Quốc.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:31:02 pm »

Chương 36

Tất cả đều đổi thay. Lửa trong những lò luyện kim gia đình đã lụi. Người ta cũng không còn thấy phụ nữ với những bộ quần áo sặc sỡ nữa. Trên các cánh đồng không có một bóng người. Không còn những vụ mùa bội thu. Thành phố Vũ Hán, nơi vẫn do bạn Mao là Vương Nhiệm Trọng lãnh đạo đang lâm vào tình trạng vô vọng.
Như thường lệ, chúng tôi ăn ở nhà khách Mỹ Viên, nhưng lần này chẳng có nhiều thưởng thức. Thỉnh thoảng người ta chiêu đãi chúng tôi món cá. Còn rau xanh thì thật là hiếm hoi. Khắp nơi trong tỉnh người ta chẳng lần nổi thuốc lá hay dăm que diêm, các cửa hàng rỗng tuếch, mọi thứ đều đã bán sạch.
Mới vài tháng trước đây, Vương Nhiệm Trọng, người luôn luôn nịnh bợ Mao còn khoe rằng: ở Hồ Bắc mỗi mẫu người ta sẽ thu hoạch được từ 10 đến 20 nghìn cân lúa (1 cân Trung Quốc = 0, 45 kg ND). Thế mà bây giờ nạn đói đang hoành hành ở đó.
Ở Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam, quê Mao, tình hình có khá hơn, ở đó lương thực cũng không còn nhiều như trước, nhưng không ai bị đói và những quán ăn nhỏ ngoài đường vẫn còn phục vụ được khách hàng. Chúng tôi ở trong nhà khách Vườn Sen tráng lệ, gồm những tòa nhà hiện đại, rất đẹp và có đầm sen bao quanh. Nước trà và thuốc lá ở trong phòng chúng tôi thật nhạt nhẽo và vô vị. Vì quí trọng chúng tôi, nên người ta đã lấy những thứ đó trong kho ra mời. Nhưng các cửa hàng ở đây chưa trống rỗng và trà thuốc lá của vùng này vẫn nổi tiếng là ngon nhất ở Trung Quốc. Ở Hồ Nam chúng tôi còn được ăn thịt. Đó là món giò đã từng làm tỉnh này nổi danh.
Đối với Châu Tiểu Châu sự trái ngược mỉa mai giữa Hồ Nam và Hồ Bắc chẳng có gì lạ. Viên bí thư tỉnh uỷ Hồ Nam này, người đầu tiên cho Mao biết về nhân vật Hải Thụy, đã bị Mao phê phán kịch liệt hồi năm 1957 vì tỉnh của ông không thu hoạch nổi hai vụ một năm. Vương Nhiệm Trọng theo Mao đến Trường Sa. Một hôm, khi La Thụy Khanh, Vương Nhiệm Trọng, Châu Tiểu Châu và tôi ngồi tán chuyện gẫu. Châu không thể kìm được nữa bắt đầu châm chọc Vương. Ông hỏi cay độc: “Năm ngoái Triết Giang được khen vì đã đóng góp lương thực rất nhiều cho nhà nước phải không? Còn Hồ Nam lại bị khiển trách. Nhưng bây giờ các đồng chí thử nhìn Hồ Bắc xem. Ở đó ngay cả trà và thuốc lá tồn kho cũng chẳng còn. Các đồng chí đã xài hết cả số dự trữ rồi. Tuy chúng tôi nghèo nhưng ít ra chúng tôi vẫn còn dự trữ được”.
Vương Nhiệm Trọng lặng lẽ ngoảnh mặt đi, trong khi tất cả chúng tôi lúng túng lặng thinh. Nhưng Châu đã nói đúng, ngay ở ngoài phố người ta đã đủ thấy sự khác biệt. Ở Hồ Nam vẫn còn có cái để mà ăn.
Mao quyết định tới thăm làng cũ Thiếu Sơn của ông. Từ năm 1927 tới nay nghĩa là đã 32 năm nay ông chưa về thăm làng.
Việc trở lại Thiếu Sơn sẽ giúp Mao hiểu rõ sự thật. Ở Thiếu Sơn sẽ chẳng có những màn kịch được dàn dựng chu đáo.
Ông chẳng tin những cán bộ lãnh đạo - ông biết nơi này quá rõ và ông sẽ phát hiện ra ngay bất cứ mưu đồ nào nhằm qua mặt ông. Vả lại dân làng sẽ cởi mở chuyện trò với ông, họ vốn là những người chất phác, chân thật. Còn Mao cảm thấy dường như ông không có gì xa lạ đối với họ. Ông tin vào những người nông dân.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #62 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:31:44 pm »

Chương 37

Vào ngày 25 tháng 6, một ngày nắng chói chang và nóng như thiêu như đốt, chúng tôi rời Trường Sa.
Chúng tôi đi bằng ô tô trên những con đường làng bụi bặm, không lát gạch. Xe của chúng tôi không có máy điều hòa nhiệt độ, nên bụi luôn qua các cửa kính xe đang mở. Đã thế, mồ hôi chúng tôi tuôn ra như tắm và hai tiếng sau, khi chúng tôi tới trụ sở huyện Hướng Đan, nhìn chúng tôi tới, người ta cứ tưỏng chúng tôi vừa ở đầm lày chui lên - Bí thư huyện uỷ của Hướng Đan là Hoa Quốc Phong đã nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi. Đó là lần đầu tiên Mao cũng như tôi gặp người đàn ông mà 15 năm sau trở thành người kế nhiệm ông - Chúng tôi nghỉ ngơi một lúc ở Hướng Đan và trò chuyện với Hoa. Hoa Quốc Phong không đi tháp tùng chúng tôi vì Mao sợ rằng dân làng Thiếu Sơn sẽ không dám nói hết sự thật khi có người lãnh đạo huyện của họ đi cùng.
Làng Thiếu Sơn cách huyện lỵ Hướng Đan chừng 40 phút ôtô. Mao nghỉ lại ở một nhà trọ cũ nằm trên một quả đồi, trước đây là của những người truyền đạo Thiên chúa. Tôi ngủ trong một ngôi trường nằm dưới chân quả đồi. Đêm đến không khí thật ngột ngạt. Nằm trong màn, tôi cảm thấy chiếc giường tôi đang nằm chật chội đến nỗi tôi không tài nào chợp mắt nổi.
Khoảng 5 giờ sáng. Lý Ẩm Kiều gọi tôi dậy. Cả Mao cũng không ngủ được, ông muốn tôi cùng đi dạo với ông. Chúng tôi gặp nhau trước cửa nhà trọ của ông và chúng tôi cùng đi xuống đồi với La Thụy Khanh, Vương Nhiệm Trọng, Châu Tiểu Châu và một dám vệ sĩ. Mao đứng lại trước một nấm mộ nằm giữa rừng thông. Đến khi ông cúi xuống có vẻ kính cẩn, tôi mới biết rằng chúng tôi đang đứng trước ngôi mộ của cha mẹ ông. Thẩm Đông, một người trong đám vệ sĩ nhanh nhẹn hái một bó hoa rừng và Mao đặt bó hoa lên trên mộ, rồi vái ba vái. Mọi người vái theo ông. Mao nói: “Ở đây có một tấm bia đá, sau bao nhiêu năm nó đã biến mất rồi”. La Thụy Khanh đề nghi nên cho sửa sang lại ngôi mộ nhưng Mao không đồng ý.
- Tôi đến tìm thấy chỗ này là đủ rồi”. (Trong cuốn phim về Mao khi Mao thăm Thiếu Sơn lần thứ hai. Mao thấy một tấm bia đá đã được dựng lên).
Chúng tôi liếp tục đi xuống đồi, đến ngôi nhà của gia đình Mao. Mao lại dừng lại ngạc nhiên nhìn quanh và hình như ông muốn tìm kiếm một cái gì đó. Chỗ này trước kia có mói bệ thờ Phật mà Mao vẫn thường kể. Trước bệ thờ này thân mẫu ông thường ra đó đốt hương rồi lấy tro để cho Mao ăn mỗi khi con bà đau ốm và bà tin rằng con trai bà sẽ khỏi bệnh. Cũng như tấm bia đá, chiếc bệ thờ nhỏ đó đã không còn nữa. Mấy tháng trước đây, khi các công xã được thành lập, người ta đã dỡ bệ thờ, bởi vì người ta cần gạch để xây lò luyện kim gia đình và ván gỗ để đốt lò.
Mao lặng đi. Ông rất buồn vì chiếc bệ thờ đã bị phá. Ông nói:
- Tiếc thật, đáng lẽ người ta đừng nên động đến bệ thờ. Những người nông dân đáng thương không có điều kiện đi khám bệnh sẽ có thể đến đây cầu trời và ăn tàn hương. Bệ thờ sẽ mang lại cho họ niềm hy vọng. Con người cần được giúp đỡ và an ủi.
Tôi cười, nhưng ông coi đó là việc nghiêm túc
- Đồng chí đừng coi thường tác dụng của tàn hương.
Ông nhắc lại, theo ông thuốc chỉ dùng cho những căn bệnh có thể điều trị được.
- Ngược lại, tàn hương mang đến cho người ta sức mạnh để cưỡng lại bệnh. Đồng chí là bác sĩ, đồng chí phải rằng tâm lý đóng một vai trò quan trọng như thế nào chứ?
Chúng tôi vào thăm ngôi nhà của gia đình Mao. Bấy giờ ngôi nhà đã trống rỗng - Sự sùng bái Mao mới chỉ manh nha, nên ngôi nhà vẫn ở không có gì thay đổi. Những dụng cụ làm ruộng cũ kỹ vẫn sạch sẽ, xếp thành hàng dưói hiên nhà. Người ta chỉ có thể đọc được những dòng chữ cho biết đây là ngôi nhà mà Mao đã sống thời thơ ấu trên một thanh gỗ bắc ngang ở cửa ra vào. Ngôi nhà được xây theo kiểu đặc trưng của vùng này, nhà tranh vách đất đơn sơ. Với tám căn phòng quanh một chiếc sân. Chắc hẳn ngôi nhà là của một phú nông.
Thửa ruộng đã từng là của thân phụ Mao được một người làm công cày cấy trước kia, bây giờ thuộc về công xã nhân dân - Ngay sau nhà là một cái ao có cây cối bao quanh. Mao nói:
- Tôi thường bơi ở đây và đây cũng là nơi để cho những con bò uống nước- Mao kể về thời thơ ấu của ông - Cha tôi rất nghiêm khắc. Ông thường nện chúng tôi. Một lần ông định vụt cho tôi mấy roi, nhưng tôi trốn được. Ông đuổi tôi quanh ao và chửi rủa tôi là thằng con bất hiếu. Tôi cũng cãi lại: chính người cha tàn nhẫn mới là người đáng trách.
Mao kể thân mẫu của ông là một phụ nữ xỏi lởi và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Bà cùng với Mao và người em trai của Mao hợp thành một “mặt trận thống nhất” chống lại thân phụ của Mao.
- Cha tôi mất đã lâu. nếu ông còn sống đến ngày nay hẳn người ta đã quy ông là phú nông và đấu tố ông rồi.
Ông đi thăm họ hàng để tận mắt thấy được kế hoạch “đại nhảy vọt” tác động đến họ như thế nào. Chỉ có phụ nữ và trẻ em ở nhà. Còn đàn ông đi làm ở những lò luyện kim xa nhà hoặc ở những đập nước. Thoại nhìn, Mao đã có thể cảm nhận được cuộc sống của các gia đình ở Thiếu Sơn khó khăn như thế nào. Tất cả nồi, chảo đều bị ném vào lò luyện kim, trong làng người ta chẳng giữ lại được cái nào. Mọi người phải đến ăn ở căng tin công cộng, bởi vì họ lấy đâu ra nồi để nấu. Nhưng giá mà có nồi niêu, họ cũng không thể nấu ăn được, bởi vì những cái bếp bằng đất của họ cũng đã bị phá đi để làm phân bón cho đồng ruộng. Buổi chiều, Mao cùng đi tắm với mọi người tại hồ chứa nước mới xây ở Thiếu Sơn và chuyện trò với nhân dân địa phương về công trình thủy lợi này. Mọi người đều phê phán công trình trên. Bí thư đảng uỷ công xã đã ép mọi người phải hoàn thành hồ chứa nước này quá gấp nên tronh hồ đã xuất hiện một chỗ rỉ nước. Ngoài ra sức chứa của hồ quá ít ỏi đến nỗi mỗi khi mưa xuống. người ta phải xả bớt nước để nước khỏi tràn ra ngoài.
Những người lãnh đạo công xã gọi người của họ từ nơi làm việc về và Mao đã mời họ khoảng 50 người đi ăn tối trong một quán trọ. Họ đều phàn nàn về những căng-tin công cộng. Các cụ già không thích vào đó vì họ thường bị thanh niên chen lấn. Còn những người trẻ tuổi không thích đến đó vì họ không bao giờ được ăn uống no nê. Những trận đấm đá tranh nhau miếng ăn xảy ra liên miên và trong những cuộc ẩu đả đồ ăn thức uống vung vãi tứ lung.
Mao hỏi dò mọi người về lò luyện kim gia đình. Ông chỉ nghe thấy những lời than phiền. Ở khu vực này chẳng có quặng, mỏ gì. Người ta phải khai thác những loại than kém phẩm chất tại chỗ để đốt lò. Đã vậy vì không có quặng sắt nên chỉ còn cách duy nhất để hoàn thành chỉ thị là sung công tài sản của nông dàn. Cho nên thành phẩm ra lò chỉ là những cục sắt vô dụng. Khi Mao ngừng hỏi, căn phòng chìm trong yên lặng. Một bầu không khí ảm đạm trùm lên tất cả chúng tôi. Kế hoạch “đại nhảy vọt” Thiếu Sơn đã không thành công. Mao nói:
- Nếu ở căng-tin các đồng chí không được ăn no, thì tốt hơn là hãy đóng cửa căng-tin. Nếu không thì chỉ lãng phí lương thực. Còn đập nước, theo tôi, mỗi làng cũng chẳng cần có hồ dự trữ nước riêng của mình làm gì. Nếu xây những hồ chứa nước không đúng quy cách thì có ngày gặp họa. Và nếu các đồng chí không luyện được thép có chất lượng cao thì tốt hơn các đồng chí đừng nên làm nữa.
Những lời nói của Mao đã hợp pháp hoá việc Thiếu Sơn là làng đầu tiên ở Trung Quốc giải tán các nhà ăn công cộng, đình chỉ việc xây dựng các hồ chứa nước và dỡ bỏ dần những lò luyện kim. Những lời nói của Mao tuy chưa được công bố, nhưng được mau chóng truyền miệng lan đi khắp nơi Chẳng bao lâu, ở nhiều nơi những công trình trên đã bị đình chỉ.
Chuyến viếng thăm làng Thiếu Sơn đã đưa Mao trở lại với thực tế. Đến khi chúng tôi trở lại Vũ Hán, niềm cao hứng của Mao đã tiêu tan. Nhưng ông luôn luôn khẳng định rằng những chương trình chính trị như trên về cơ bản vẫn đúng, có điều người ta phải thực hiện chúng một cách từ từ hơn. Ngay đến lúc này ông cũng không muốn làm nguội đi lòng nhiệt tình của quần chúng. Vấn đề là ở cán bộ. Làm sao người ta có thể đưa những người cán bộ trở lại với thực tế mà không làm tổn hại đến tinh thần của họ, hoặc không tạo ra một bàu không khí nặng nề trong dân chúng? Đó là vấn đề tuyên truyền: Làm sao người ta có thể động viên được cả cán bộ cũng như nông dân mà vẫn làm cho họ đứng vững được. Mao quyết định triệu tập một cuộc họp để bàn về tuyên truyên. Cuọc họp diễn ra ở Vũ Hán.
Ngày 28-6-1959 chúng tôi gặp nhau ở Vũ Hán, nơi có tiết trời nóng như thiêu như đốt. Vương Nhiệm Trọng đề nghị nên họp ở nơi có khí hậu dễ chịu hơn. Ông đề nghị họp ở Thanh Đảo, địa điểm của cuộc họp hồi mùa hè năm 1957, nhưng Mao nhớ đến lần ông bị cảm nặng ở đó nên ông đã từ chối.
Kha Thanh Thế, thị trưởng thành phố Thượng Hải đề nghị địa điểm họp ở Lư Sơn, nơi nghỉ mát nổi tiếng ở vùng núi gần sông Dương Tử thuộc tỉnh Giang Tây và cũng là nơi Tưởng Giới Thạch thường triệu tập các cuộc họp của Quốc dân đảng, ở độ cao 1500 mét, tiết trời chắc sẽ mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra, từ Vũ Hán đến Lư Sơn cũng không xa lắm người ta chỉ cần đi tàu thủy dọc sông Dương Tử là tới. Quan trọng là nhiều cán bộ lãnh đạo đảng đã có mặt ở Vũ Hán, nên việc đưa họ đến Lư Sơn không thành vấn đề. Mao đồng đề nghị này. Đảng sẽ họp ở Lư Sơn.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #63 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:32:40 pm »

Chương 38

Tại những nơi khác ở Trung Quốc tình hình còn tệ hơn ở Thiếu Sơn. Nạn đói khủng khiếp lan ra khắp cả nước. Ở tỉnh An Huy, nơi lần đầu tiên bí thư tỉnh uỷ Tăng Huy Sinh chỉ cho Mao xem những lò luyện kim gia đình, bị tàn phá hết sức nặng nề, cũng như ở tỉnh Hà Nam mà chúng tôi đã đến thăm vào tháng 8-1958 để thị sát những công xã nhân dân mới được thành lập. Tại một vài nơi hẻo lánh, mật độ dân số thưa thớt, chẳng hạn như ở Cam Túc đã có dân bị chết đói. Nông dân ở tỉnh Tứ Xuyên cũng bị chết đói. Tứ Xuyên là tỉnh đông dân, rộng hơn nhìèu tỉnh khác và được coi là vựa lúa của Trung Quốc. Tại đây tháng ba năm 1958 Mao đã tuyên truyền kế hoạch của ông là trong 15 năm tới Trung Quốc sẽ vượt nước Anh. Như trong lịch sử thường xảy ra, hàng chục nghìn nông dân đã bỏ làng ra đi vì nạn đói.
Trên đường đến Lư Sơn, tôi nghe được tất cả những điều này khi tôi cùng với Mao, những người cộng tác của ông và những cán bộ lãnh đạo các tỉnh xuôi theo dòng Dương Tử hùng vĩ. Điền Gia Anh cũng ở trên tàu, ông còn nhớ như in chuyến thanh tra kéo dài sáu tháng ở Hà Nam và Tứ Xuyên theo lệnh của Mao. Trên boong tàu, tôi đứng bên cạnh ông, Lâm Khắc và Vương Kính Tiên, người giữ chức vụ của Uông Đông Hưng, chịu trách nhiệm bảo vệ Mao. Điền Gia Anh đã mô tả nạn đói khủng khiếp ở Tứ Xuyên. Chỉ tiêu sản lượng thép hết sức lạc quan trong năm 1959 được giảm từ 20 triệu tấn xuống 13 triệu tấn. Nhưng vẫn còn 60 triệu nông dân và những người khỏe mạnh làm việc ở những lò luyện thép, mà lẽ ra người ta cần họ làm việc ngoài cánh đồng. Việc phung phí lực lượng lao động này đã gây ra hậu quả thật trầm trọng. Tình hình trở nên bi đát hơn.
Đĩen Gia Anh không chỉ khổ tâm vì nhiều người bị chết mà trước hết ông lấy làm buồn rầu về việc nhiều cán bộ cao cấp đã tìm cách che đậy tình trạng khủng hoảng. Tờ bản tin ngày càng trở nên vô nghĩa được phổ biến rộng rãi. Nhưng những con người dối trá vẫn còn, trong khi người ta lại công kích những người dám nói ra sự thật.
Cuộc trò chuyện luôn đề cập đến Mao. Ông là một triết gia vĩ đại, một người lính vĩ đại, một nhà chính trị vĩ đại, nhưng ông là một nhà kinh tế tồi một cách đáng sợ. Ông say mê đối với công trình vĩ đại và ông đã mất đi sự liên hệ với nhân dân cũng như ông đã quên mất tác phong làm việc vẫn thường được tuyên truyền: sự thật chứng tỏ tính khiêm nhường và và sự chu đáo trong công việc. Đây có lẽ là những nguyên nhân sâu xa đối với những vấn đề kinh tế của đất nước.
Mặc dù tôi biết rằng, tình hình kinh tế rất tồi, nhưng tôi không biết nạn đói đã lan ra khắp cả nước và hàng triệu người đã bị chết đói. Và tôi cũng rất ngạc nhiên khi người ta phê bình Mao. Thường thì Điền Gia Anh rất cẩn trọng và thành thật. Nhưng bây giờ anh ta lại thành thật nói như vậy trong một nhóm người tin cậy và điều đó cũng nguy hiểm. Sự phát hiện của Vương Kính Tiên bình thường đã làm cho tôi ngạc nhiên rồi. Vương chịu trách nhiệm về sức khỏe của Chủ tịch và với bè bạn ông là người dè dặt. Còn tôi thì im lặng như Lâm Khắc.
Kha Thanh Thế, Vương Nhiệm Trọng và Lý Tinh Toàn, bí thư thứ nhất tỉnh uỷ tỉnh Tứ Xuyên, đã đến nhập cuộc để nghe cuộc tranh cãi sôi nổi của chúng tôi. Điền Gia Anh nói: “Chúng tôi nói đến những khó khăn về lương thực, thực phẩm. Mọi người sẽ bị chết đói mất”. Lý Tinh Toàn đáp: “Trung Quốc là một đất nước rộng lớn. Dưới triều đại nào mà chẳng có người bị chết đói?”. Ông ta có lý. Những nạn đói xảy ra lặp đi lặp lại là một phần của lịch sử Trung Hoa. Nhưng năm 1959, Trung Quốc đang ở giai đoạn giữa của kế hoạch “đại nhảy vọt”. Thậm chí, trong khi nhiều người bị chết đói thì những lời tuyên truyền chính thức vẫn khẳng định một cách viển vông. Vương Nhiệm Trọng nói và nhắc lại lời Mao chủ tịch: “Mọi người vẫn tỏ ra hăng say với công việc hơn trước đây”. Cả hai vị bí thư tỉnh uỷ này đều hoàn toàn ủng hộ đường lối của Mao.
Kha Thanh Thế cũng ngả theo chính sách của Mao:
- Một số người chỉ chú ý đến những việc nhỏ mà không nhìn ra những việc lớn. Họ luôn nhìn sự tiêu cực trên bề mặt và có lẽ họ đã ca thán về mọi vấn đề. Chủ tịch cho rằng, những người như vậy dù có đứng trước dãy núi nhưng có lẽ vẫn chưa nhận ra nó.
Trước khi đến Lư Sơn trận tuyến đã rõ ràng. Vương Nhiệm Trọng, Lý Tinh Toàn và Kha Thanh Thế bị Mao ép: hoặc là tăng sản lượng hoặc là mất chức. Đúng ra, họ đã trở thành vật tế thần của Mao vì họ đã không linh động giải quyết những vấn đề kinh tế của mình và trung ương đã mớm những số liệu thống kê kinh tế thiếu thực tế nhằm ca ngợi kế hoạch “đại nhảy vọt”, vì họ biết chắc rằng ở đó người ta muốn nghe điều gì. Họ được những cán bộ trung ương như La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn ủng hộ. Mặc dù phạm vi công việc chính thức của họ không phải là kinh tế nhưng những người này đã quen với sự ghen tị về chính trị của Mao, sau khi đã có lần họ bị Mao chỉ trích. Bây giờ họ không dám làm gì để chọc tức Mao...
Những người phê bình Mao chủ yếu có hai thái độ. Một là đại diện của những người lập kế hoạch như Bạch Nhất Ba, chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế nhà nước và Lý Phú Xuân, người được giao chức chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch nhà nước. Họ có nhiệm vụ phải thực hiện bằng được những chỉ tiêu về sản lượng và lập những kế hoạch phù hợp. Khi bắt đầu thực hiện kế hoạch “đại nhảy vọt”, Bạch Nhất Ba đã khước từ việc quy định những chỉ tiêu không thực tế về sản lượng. Nhưng sau đó dưới áp lực của Mao ông đã phải nhượng bộ. Khi Bạch nhận ra được hết mức độ của cuộc khủng hoảng, ông đã ra lệnh cho ban tham mưu của ông chuẩn bị sẵn một bản tường trình tỉ mỉ và trung thực. Nhưng vì ông cảm thấy Mao rất khó chịu với những lời chỉ trích, nên ông không dám liều trình bày bản báo cáo với Mao. Trong một hội nghị bằng điện thoại, ông đã uỷ nhiệm cho những người dưới quyền ông ở khắp đất nước phải hoàn thành vượt mức sản lượng kế hoạch. Ông chắc rằng những kế hoạch kinh tế táo bạo của Mao sẽ thất bại, nhưng ông không dám cả gan thách thức Mao chủ tịch. Chẳng khác gì Lý Phú Xuân, Bạch Nhất Ba chưa bao giờ công khai chỉ trích kế hoạch “đại nhảy vọt”.
Nhóm người phê bình thứ hai là những người phụ trách các cuộc thanh tra ở các tỉnh và họ biết được cuộc thảm họa từ những nguồn tin đáng tin cậy. Họ không những là các nhà kinh tế - kế hoạch, mà còn chịu trách nhiệm thi hành kế hoạch dồ sộ của Mao. Nhưng họ biết cuộc khủng khoảng của đất nước sẽ trầm trọng ra sao. Những thư ký chính trị của Mao - Điền Gia Anh. Hồ Kiều Mục và Trần Bá Đạt- cũng thuộc nhóm này. Nhiệm vụ của họ là thuật lại trung thực những bản báo cáo.
Khi những người chỉ trích trao đổi với nhau, họ đều nhất trí với nhau rằng, hầu như những con số vượt chỉ tiêu sản lượng đã được báo cáo hầu như không đúng. Trong thực tế, những con số đó rất thấp và đủ cho Mao bị thất sủng. Phần lớn họ là những kẻ xu thời. Ngay cả những người như Điền Gia Anh đã từng tham gia thanh tra, hoặc như Châu Tiểu Châu, người đã không những thấy được mức độ của cuộc khủng hoảng không chỉ ở địa phương của mình và đã chỉ trích cuộc “đại nhảy vọt” mà còn chỉ trích cả Mao. Trên tàu, Điền Gia Anh đã sẵn sàng tranh luận với Lâm Khắc về những vấn đề của đất nước, nhưng những người trung thành với Mao, như Kha Thanh Thế và Lý Tinh Toàn, đã tập hợp chúng tôi lại, nên ông ta im lặng.
Ngày 1-7-1959, chúng tôi ghé vào Cửu Giang thuộc tỉnh Giang Tây. Uông Đông Hưng, người đã ở lại Giang Tây để “cải tạo”, được đề bạt làm phó tỉnh. lên tàu chào chúng tôi. Ông bảo đảm với Mao rằng. Ông có mối quan hệ mật thiết với quần chúng và từ kinh nghiệm này ông đã học được nhiều điều quan trọng. Chủ tịch rất vui. Ông nói:
- Chỉ những cán bộ cao cấp thường không chịu rèn luyện. Chúng ta phải sửa lại, mỗi người làm việc ở trung ương, thỉnh thoảng cần phải xuống làm việc ở các cơ quan của tỉnh.
Con đường từ Cửu Giang đến Lư Sơn được lát gạch rất tốt. Và sau hơn một giờ đồng hồ chúng tôi đã đến vùng nghỉ mát mở rộng ở những dãy núi. Dương Thượng Côn, bí thư thứ nhất của đảng, Phương Chí Xuân, Chủ tịch Hội nghị đại biểu nhân dân tỉnh Giang Tây và phó tỉnh Uông Đông Hưng đã lo việc tiếp đón chăm sóc các vị lãnh đạo đảng. Trong khi Uông thi hành những biện pháp an ninh bảo vệ Mao, ông đã va chạm với Vương Kính Tiên. Vương vờ không tuân lệnh Uông Đông Hưng, vì đã lâu Uông Đông Hưng không ở cùng Mao, và do đó ông không hiểu Chủ tịch. Uông Đông Hưng không bao giờ tha thứ cho sự xúc phạm này và về sau Vương Kính Tiên đã phải trả giá.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #64 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:32:53 pm »

Mao sống trong một biệt thự hai tầng của Tưởng Giới Thạch. Tôi được thu xếp ở trong một ngôi nhà gần đó. Ở đây lạnh và ẩm. Chúng tôi ở trên cao, nên những đám mây có thể ùa vào phòng tôi nếu tôi mở cửa sổ.
Hôm 2-7-1959, một ngày sau khi chúng tôi đến. Mao triệu tập Bộ chính trị họp mở rộng. Ông đặt tên cho cuộc họp là “cuộc gặp của các ông tiên”. Chúng tôi giống như nhữg ông tiên sống giữa những đám mây, chẳng bận tâm lo lắng gì. Mao không muốn nội dung cuộc họp cứng nhắc. Những người lãnh đạo của đảng nên nói ra tất cả những gì còn chất chứa trong lòng. Ông đưa ra 19 điểm để tranh luận và ông khuyến khích những người tham dự cuộc họp nói công khai.
Bắt đầu cuộc họp, chủ tịch biết, sẽ có vấn đề đối với kế hoạch “đại nhảy vọt”. Nhưng ông cho rằng, người ta đã sẵn sàng thi hành những biện pháp giải quyết những vấn đề đó, ông không có lý do gì để lo ngại. Trong bài diễn văn ngắn chào mừng, ông đã ca ngợi thành quả của kế hoạch “đại nhảy vọt”, ám chỉ đến những khó khăn, ông nói rằng ông hy vọng những người tham dự cuộc họp biết đánh giá sức mạnh và tính sáng tạo của dân tộc Trung Hoa.
Mao luôn tin tưởng kế hoạch “đại nhảy vọt” sẽ không đổ vỡ. Tôi không lạ gì vào thời điểm của câu nói này, ông đã thông tin tình hình thực tế như thế nào. Chuyến về thăm quê của ông rõ rằng đã làm cho ông cố gắng. Nhưng tôi nghĩ vào ngày 2-7-1959, ông vẫn còn chưa rõ tình hình khủng hoảng đã tới mức độ nào và ông vẫn nghĩ rằng, đảng đã làm tất cả để làm chủ tình thế.
Trong “cuộc họp của các ông tiên”, một mặt những đề nghị giải quyết vấn đề cần được tranh luận. Nhưng mặt khác cũng phải tìm ra cách giữ vững sự nhiệt tình của quần chúng. Khẩu hiệu của Mao kêu gọi nhân dân đơn giản là: “Công việc vẫn còn nhiều khó khăn!”
Những điều tôi ghi nhận được là ông đã nói:
- Đôi khi tôi tự hỏi mình: Nếu sản lượng của chúng ta tăng nhanh như vậy, thì tại sao việc cung cấp lương thực, thực phẩm lại tôi tệ đến thế Tại sao nhân dân không có xà phòng và diêm? Tại sao phụ nữ không mua được trâm cài tóc. Chúng ta không thể giải thích được tình hình, nên chúng ta hoàn toàn không muốn liều lĩnh. Chúng ta phải kiên trì chịu dựng cuộc khủng hoảng và tiếp tục phát huy quyết tâm và sức mạnh to lớn của chúng ta. Năm tới việc cung cấp sẽ được cải thiện tết hơn. Sau đó, chúng ta sẽ làm rõ mọi vấn đề. Tóm lại, cần khẳng định rằng, tình hình chung là tốt đẹp. Trong những lĩnh vực khác còn nhiều vấn đề, nhưng tương lại xán lạn dang ở trước mặt chúng ta.
Ngay sau khi ông nói, các nhà chính trị đã tự phân thành những nhóm nhỏ theo địa lý Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông, Nam và Tây Nam - để thảo luận những vấn đề của từng địa phương. Buổi tối tôi nghe thấy Mao nói rằng, cuộc họp sẽ kéo dài khoảng hai tuần. Ông tỏ ra dễ chịu và tâm trạng rất sảng khoái. Ông muốn đi thanh tra một vòng vì Lư Son là một vùng núi non hùng vĩ có vẻ đẹp nổi tiếng.
Bác sỹ Vương Thọ Tống, giám đốc bệnh viện ở Giang Tây, tốt nghiệp đại học y tại Nhật Bản đã bố trí một bệnh viện dành cho những người tham dự cuộc họp, kể cả những người tùy tùng. Vì vậy, ông đã nhận về nhiều cô hộ lý trẻ và khỏe từ các viện điều dưỡng gần đó trong vùng Lư Sơn. Ban lãnh đạo đảng của tỉnh đã tổ chức một buổi tối vui chơi giải trí và tuân theo lệnh Mao họ đã bố trí một buổi khiêu vũ say sưa với sự trình diễn của ban nhạc và đội khiêu vũ của tỉnh Giang Tây. Những cô hộ lý trẻ cũng đến dự buổi khiêu vũ và một vài ngày sau Mao thường đổi đi đổi lại giữa hai hộ lý là Trọng và Ngọc, một người trong nhóm khiêu vũ. Chủ tịch đã không cố giấu sự lộn xộn đó của ông.
Cuộc họp diễn ra thuận lợi và Mao vui vẻ đùa rằng, ông đã gọi điện cho Giang Thanh ở Bắc Đới Hà yêu cầu bà đừng đến. Có lẽ, ông sẽ gặp bà sau khi cuộc họp kết thúc.
Năm ngày sau khi chúng tôi có mặt ở Lư Sơn, một cuộc tranh cãi gay gắt đã xảy ra trong Nhóm Một. Lý Ẩm Kiều giận tôi và Lâm Khắc, có lẽ vì ông ta phải phục vụ hai “nhà trí thức”. Ngôi nhà mà tôi và Lâm Khắc được thu xếp cho ở trong đó không có điện thoại và nếu Chủ tịch có gọi chúng tôi thì Lý Ẩm Kiều phải cử một vệ sỹ đến đó đón chúng tôi. Nhưng người bảo vệ bực mình vì phải chạy đi chạy lại, nên đã đề nghị chúng tôi dọn đến ở trong văn phòng tại tầng trệt của biệt thự dành cho Mao. Chúng tôi từ chối vì ở đó chật chội và không mưốn chứng kiến cảnh những nữ khách của Mao thường ra vào. Ngoài ra chúng tôi còn ngại Mao có thể nghi chúng tôi làm gián điệp. Tuy nhiên sự bất đồng ý kiến đã gây ra mối bất hòa sâu sắc trong nội bộ Nhóm Một. Đó là một cuộc chiến của những người nông dân chống lại những người trí thức, trong đó một bên là Lý Ẩm Kiều và những người vệ sỹ, còn bên kia là Lâm Khắc và tôi.
Từ khi đến Lư Sơn. Mao cảm thấy ăn không ngon miệng. Người đầu bếp của ông là Lỷ Hí Vũ đã nấu cho ông những món ăn không ngon. Lý Ẩm Kiều đề nghị tôi giải quyết vấn đề này. Tôi trả lời, việc ăn uống của Mao không thuộc thẩm quyền của tôi và ông ta đã phê bình tôi là kiêu căng và quy trách nhiệm cho tôi. Chúng tôi cãi nhau mấy hôm và đã hoàn toàn quên đi chuyện đó trong cuộc họp đảng.
Điền Gia Anh đã kéo tôi trở lại với thực tế chính trị. Một hôm anh ta hỏi tôi:
- Đồng chí có biết trong cuộc họp quan trọng ở Lư Sơn không khí căng thẳng cũng kém “cuộc họp nhỏ” của đồng chí không?
Lúc đầu, tôi tưởng anh ta nói đùa. Bắt đầu cuộc họp, Mao thoải mái và vui vẻ như thế. Còn tôi thì bận với “cuộc họp nhỏ” ở Lư Sơn, trong nội bộ Nhóm Một, nên tôi không để ý. Những tâm trạng của Mao đã thay đổi, ông không còn hay nói và thường tỏ ra ưu tư. Ông cố tìm hiểu mọi việc và đó là nguyên nhân khiến ông ăn không ngon. Những cuộc thảo luận của các nhóm cán bộ địa phương kéo dài đã nhiều ngày. Mao không tham dự vào những cuộc thảo luận đó, nhưng ông được báo cáo và thông tin về kết quả của những cuộc thảo luận. Khi mỗi nhóm thảo luận, mọi người đã công khai phát biểu ý kiến và đã than phiền về sự khai gian những con số thống kê sản lượng. Họ nói nạn đói đã lan ra khắp các vùng của đất nước, trong khi rất ít người tham dự cuộc họp được đọc báo cáo.
Như một khán giả. Mao có thể phân biệt chính xác quan điểm của từng cán bộ cao cấp đối với kế hoạch “đại nhảy vọt”. Những người chỉ trích ông đã tính lầm. Họ phát biểu công khai và quên rằng Mao đã nói là tình hình vẫn tốt đẹp và mọi vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Bây giờ họ mới giải thích sự im lặng của ông như là tán thành, trong khi những người đối lập thường bực tức đối với Mao. Ông thường nhấn mạnh, ông luôn hành động công khai và không hề có một âm mưu nào cả. Quan điểm của ông rõ rằng là kéo cuộc họp mở đầu vào các cuộc tranh luận. Nhưng có cái gì đó đã hoàn toàn sai lầm. “Cuộc họp của các ông tiên” của Mao đã tan thành mây khói và những điều chẳng lành sẽ còn xảy ra.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #65 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:34:10 pm »

Chương 39

Ngày 10-7-1959, ngày họp thứ 8 ở Lư Sơn. Mao triệu tập một cuộc gặp gỡ với những người lãnh đạo địa phương. Ông nhấn mạnh, đảng chỉ có thể giải quyết các vấn đề của mình bằng sự thống nhất về tư tưởng. Đường lối chung - kế hoạch “đại nhảy vọt” nhằm mục đích đuổi kịp nước Anh trong vòng 15 năm tới - vẫn luôn luôn đúng đắn. Trong những năm qua, chúng ta đã thu được nhiều thành quả. Mặc dù xảy ra một số trục trặc, nhưng điều đó không đáng kể. Mao hỏi: “Mỗi người có 10 ngón tay phải không? Chúng ta cần 9 ngón để đếm những thành quả của chúng ta và có mỗi một ngón là sai lầm.
Ông cảnh cáo tư tưởng cho rằng Trung Quốc đang đứng trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa cộng sản. Dựa vào mức độ phát triển hiện nay, người ta chỉ nên coi công xã nhân dân là một loại hình hợp tác xã nông nghiệp thuần túy, phát triển ở mức độ cao chứ chưa phải là một tổ chức theo kiểu chủ nghĩa cộng sản. Tất cả mọi người - từ cán bộ cho đến người dân bình thường - đã có quá nhiều ảo vọng về công xã nhân dân. Trong khi làm cách mạng, chúng ta phải, trả giá” đáng kể. Đất nước đã mất khoảng hai tỉ nhân dân tệ để làm các lò luyện kim. Nhưng bù lại nhân dân cả nước đã học được cách luyện thép. Số nên tỉ này thực ra được coi như khoản chi phí để học một nghề thủ công.
Mao không đợi người ta bình luận về lời phát biểu của mình, rời khỏi phòng họp ngay. Tôi phải đi theo ông. Nhưng sau đó Điền Gia Anh kể với tôi rằng, bài phát biểu của Mao đã làm mọi người lặng đi. Người ta hiểu đó là lời cảnh cáo đối với những ai còn muốn lên tiếng chỉ trích kế hoạch “đại nhảy vọt”.
Tuy nhiên, Bành Đức Hoài vẫn tiếp tục cuộc tranh luận một cách kín đáo. Với tư cách cá nhân, ngày 14-7-1959 ông đã gửi cho Mao một lá thư viết tay khá dài. Mặc dù lúc đầu tôi không biết nội dung của lá thư, nhưng tôi nghĩ, nó đã làm cho Mao rất bực bội. Ông trằn trọc cả đêm. Sau này tôi được đọc lá thư đó. Đoạn đầu Bành ca ngợi thành tựu của kế hoạch “đại nhảy vọt”, sự tăng trưởng mạnh mẽ của sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Ông đề cập đến công xã nhân dân và bày tỏ rằng những thiếu sót của chúng đã được khắc phục bởi những chính sách mới về tổ chức từ tháng 11-1958. Theo đánh giá của ông, những lò luyện kim gia đình có những mặt tích cực và tiêu cực. Chúng đã huy động tìm kiếm những khoáng sản cần thiết cho việc luyện thép trong cả nước. Nhiều người lĩnh hội được kỹ thuật mới và cán bộ được trau đồi thêm khả năng tổ chức của họ. Đó là mặt tích cực. Mặt khác, một số lượng lớn người được huy động tìm kiếm khoáng sản đã dẫn đến tình trạng phung phí quá nhiều sức lao động. Đó là mặt tiêu cực. Bành Đức Hoài còn cho rằng tiêu cực nhiều hơn tích cực.
Trong phần thứ hai của lá thư. Bành Đức Hoài nhấn mạnh đến việc cân thiết phải rút kinh nghiệm từ kế hoạch “đại nhảy vọt” ông diễn giải rằng, kế hoạch này đã khuyến khích những khuynh hướng quá tả: bóp méo ghê gớm những con số thống kê trong sản xuất và sự lạc quan tếu. Cuối thư, ông kêu gọi trong tương lai, đảng phải phân định rạch ròi đúng sai, và nâng nhận thức về tư tưởng lên một mức độ cao hơn. Tuy nhiên, ông không muốn đổ lỗi cho một cá nhân nào, bởi vì điều đó có thể ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất và những chính sách sau này của đảng.
Lá thư thật chân thành, sâu sắc và đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Bành Đức Hoài không phải là một chính trị gia, mà là một người chất phác, mau miệng, một chiến sĩ can đảm, không thể thực hiện được một âm mưu chính trị nào, ông chỉ nói lên sự thật, trong khi những người khác thường nói dối. Khác với đa số cán bộ lãnh đạo của đảng lúc đó là ông không sợ Mao.
Ngày 16-7-1959, mặc độc chiếc quần ngủ trắng, chân đi dép, không tất. Mao đã họp với Uỷ ban thường vụ Bộ chính trị tại biệt thự của ông. Lưu Thiếu Kỳ. Chu Ân Lai, Chu Đức và Trần Vân là những thành viên duy nhất của Uỷ ban đang có mặt ở Lư Sơn lúc đó. Đặng Tiểu Bình đang nằm trong Bệnh viện Bắc Kinh, vì ngày 2-5-1959 ông bị trượt ngã và gãy chân trong khi ông chơi bi-a tại Câu lạc bộ dành cho cán bộ cao cấp ở phía bắc Trung Nam Hải. Tôi đưa ông đến bệnh viện để người ta bó bột cho ông. Đặng nằm bệnh viện vài tuần và lúc nào cũng được một cô y tá trẻ trông nom. Thực ra, người ta cử cô y tá này từ Thượng Hải đến để làm việc cho Mao. Theo lời Thạch Thụ Hán, chánh văn phòng y tế trung ương cho tôi biết, thì người phụ nữ trẻ này đã có thai trong thời gian làm việc ở đây, nên có rất sợ vợ Đặng. Người ta đã đuổi cô ta về Thượng Hải và ép cô phải phá thai.
Lâm Bưu vắng mặt trong cuộc họp. Ông vẫn mắc bệnh suy nhược thần kinh và ốm đau luôn. Sau này, tôi được biết ông rất sợ nước, sợ gió và sợ lạnh. Mây mù, những cơn mưa thường xuyên và gió lộng ở Lư Sơn sẽ làm ông rất khó chịu. Trong cuộc họp của Uỷ ban thường vụ còn có các nhân viên của Mao tham dự. Mao tuyên bố, đã từ lâu bọn hữu khuynh không phải là đảng viên vẫn chỉ trích kế hoạch “đại nhảy vọt” và bây giờ ngay cả trong đảng, những tiếng chỉ trích cũng ngày một nhiều hơn. Một số người cho rằng “đại nhảy vọt” là lợi bất cập hại. Ví như bức thư của Bành Đức Hoài cho thấy ông ta thuộc nhóm người này. Mao nói, ông sẽ đưa thư của Bành cho những người tham dự hội nghị đảng ở Lư Sơn xem, để họ có thể tự đánh giá được nội dung của nó. Ông còn dọa, nếu đảng bị chia bè kéo cánh, ông sẽ thành lập một đảng mới của nông dân. Nếu quân đội bị phân hoá, ông cũng sẽ xây dựng một đội quân khác.
Các uỷ viên của Uỷ ban thường vụ Bộ chính trị bắt đầu thảo luận về bức thư của Bành. Mao đã chỉ cho họ thấy hết ý nghĩa quan trọng của sự việc này, nên các đồng chí của ông rất dè đặt nêu ý kiến. Sau cuộc họp này, lá thư của Bành được gửi đến đảng bộ địa phương các cấp để thảo luận. Rất ít người dám đồng tình với Bành, nhưng cũng có một vài người tỏ ra can đảm. Ngày 19-7-1959, Hoàng Khắc Thành, tổng tham mưu trưởng và cũng là bạn thân của Bành, liên kết với Châu Tiểu Châu, bí thư thứ nhất tỉnh Hồ Nam, người đã từ lâu lo ngại về cuộc khủng hoảng kinh tế, đã lên tiếng ủng hộ Bành Đức Hoài. Cả hai đều ca ngợi dụng ý của lá thư, tuy một số đoạn trong thư lời lẽ khá gay gắt.
Cả Lý Thụy người mới trở thành một trong những thư ký chính trị của Mao - cũng cho rằng, lá thư của Bành đã giải quyết được những vấn đề của kế hoạch “đại nhảy vọt” và phá tan bầu không khí tù hãm cản trở những lời phê bình thảng thắn, thậm chí ở ngay cả trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của đảng.
Ngày 21-7-1959, thứ trưởng Bộ ngoại giao Trương Văn Điền, người đã được đào tạo ở Liên Xô, đã công kích quyết liệt phong cách lãnh đạo của Mao và kế hoạch “đại nhảy vọt” trong một bài phát biểu dài. Trong những năm 30 trước đây, sau khi học ở Liên Xô về, Trương là một thành viên trong phe của Vương Minh, chống lại sợ lãnh đạo của Mao. Tuy vậy, về sau ông lại theo Mao và tỏ ra rất trung thành với Mao. Ông làm đại sứ ở Liên Xô trong một thời gian dài. Nhưng sau năm 1949 ông không còn được giữ chức vụ quan trọng nào nữa.
Trương Văn Điền nói: một số người toan biến chủ nghĩa cộng sản thành hiện thực khi họ áp dụng cơ chế bao cấp, thành lập các nhà ăn công cộng ở các công xã nhưng ông lại có cái nhìn khác. Ông ủng hộ một chính sách tìm sự thật trong thực tế. Điều này nói dễ hơn làm, như chính Mao chủ tịch thường nói. Trương gián tiếp làm mọi người nghĩ rằng, lời nói và việc làm của Mao không khớp nhau. Trương Văn Điền giảng giải: “Mao chủ tịch thường dạy chúng ta rằng chúng ta phải can đảm có những suy nghĩ khác với suy nghĩ của Chủ tịch. Chủ tịch kêu gọi chúng ta hãy kéo vua khỏi ngựa. mặc dù vì thế chúng ta có thể bị mất đầu như chơi. Lời nói này bao hàm ý tốt, nhưng ai mà chẳng sợ mất đầu”.
Cuối cùng, Trương lên tiếng ủng hộ tinh thần dân chủ và tự do bày tỏ ý kiến:
- Chúng ta phải tạo ra một bầu không khí sôi nổi, lành mạnh, trong đó mọi người có thể công khai nói ra những suy nghĩ của mình. Chỉ có như vậy. chúng ta mới phát huy được tinh thần đấu tranh. Cán bộ lãnh đạo phải có phong cách làm việc và môi trường mà những vấn đề thuộc về nguyên tắc không kìm hãm và cản trở họ phát huy sáng kiến. Bức thư của Bành Đức Hoài nhắc nhở chúng ta hãy thu thập và phân tích những kinh nghiệm của chính mình. Chủ đích này của bức thư là rất quí.
Những thành viên khác trong nhóm của Trương Văn Điền, đặc biệt là những người như Kha Thanh Thế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Thượng Hải, Tăng Huy Sinh, bí thư thứ nhất tỉnh An Huy và Trụ Đông, bí thư thứ nhất tỉnh Sơn Đông rất khó chịu với bài nói của ông, nên họ ngắt lời ông liên tục, bác bỏ những lập luận của ông và trách cứ ông, vì ông đã trực tiếp công kích Mao. Trương Văn Điền đáp lại rằng chẳng thà nói lên sự thật rồi chết còn hơn là sống thảm hại như một vật vô tri, vô giác.
Ngày 23-7-1959, Mao lại triệu tập một cuộc họp mở rộng toàn thể Bộ chính trị. Ông quả quyết, hiện nay có một số thành phần ở trong và ngoài đảng đang cấu kết với nhau để công kích sự lãnh đạo của đảng. Một số kẻ ngoài đảng là bọn hữu khuynh và bây giờ có cả một số đảng viên cũng đứng về phe chúng. Mao còn nói:
- Tôi có một lời khuyên đối với những đồng chí này: khi phát biểu các đồng chí phải biết mình đang đi về hướng nào. Các đồng chí không được mềm lòng trước cuộc khủng hoảng. Một số đồng chí đã không đứng vững được trong giông tố. Họ không đứng vững, mà lắc qua lắc lại như nông dân trong một điều nhảy mô tả cảnh cấy lúa. Họ tỏ ra thiếu tin tưởng và bi quan giống hệt bọn tư sản vậy. Họ chưa phải là bọn hữu khuynh, nhưng họ ngày càng xích gần lại với chúng một cách đáng sợ
Mao bác bỏ từng điểm trong lá thư của Bành Đức Hoài và nhấn mạnh đến những ý kiến của Bành về tình trạng lạc quan tếu và đến việc ông ta quả quyết là chúng ta đã thất bại nhiều hơn là thắng lợi. Bầu không khí cuộc họp ngày càng trở nên căng thẳng. Trong khi Mao phát biểu, Bành Đức Hoài ngồi im ở hàng ghế sau cùng của phòng họp. Ông đã cảm thấy nóng mặt. Trước lúc Mao lên phát biểu. Bành đã chất vấn Chủ tịch tại sao lại phân phát bức thư của Bành cho những người tham dự cuộc họp mà không được sự đồng ý của ông, bởi vì lá thư này được gửi đến địa chỉ của Mao với tư cách cá nhân. Mao quỉ quyệt trả lời rằng, Bành đã không cấm ông làm chuyện đó Bành tức đến lặng người.
Sau khi Mao phát biểu xong, Bành lẻn nhanh ra ngoài. Tôi cùng với đoàn tùy tùng của Mao rời khỏi phòng họp và khi ra ngoài, chúng tôi chạm trán Bành. Mao lập tức lên tiếng:
- Đồng chí Bành, chúng ta đâu có phải kẻ thù, còn phải nói chuyện với nhau nữa đấy.
Nhưng Bành đã mất bình tĩnh:
- Có gì mà nói nữa!
- Mặt ông đỏ lên, ông vung cánh tay phải lên khỏi đầu và làm một động tác như đánh một đối thủ tưởng tượng.
Lập tức dàn đồng ca từ những người chống đối vang lên buộc tội Bành ông. Chỉ huy dàn đồng ca dĩ nhiên là Mao chủ tịch. Bản án đưa ra rất nghiêm khắc: Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành, Châu Tiểu Châu, Trương Văn Điền bị quy là hữu khuynh. Sau đó Mao quyết định triệu tập đại hội toàn thể Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản khoá 8. Cuộc hội thảo lần này cũng tổ chức ở Lư Sơn, sau này đi vào lịch sử đảng cộng sản như là hội nghị Lư Sơn. Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước; để rảnh tay hành động chống Bành Đức Hoài, Mao xiết chặt sự ủng hộ của ban lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc.
Hôm sau Giang Thanh xuất hiện ở Lư Sơn. Trước đó bà gọi cho chồng nói là rất lo cho ông. Mao cảm động bà và cho phép Giang Thanh tới. Thật là lạ lùng, song quả là ông muốn gặp Giang Thanh.
Sáng 24-7-1959 Diệp Tử Long, Uông Đông Hưng và tôi ra sân bay đón đệ nhất phu nhân Trung Quốc. Vừa rời khỏi ghế, Giang Thanh đã hỏi ngay sức khoẻ Mao. Giọng bà đanh và chẳng báo trước điều gì tốt lành cả. Tôi nói vừa rồi, lãnh tụ ăn không ngon và mấy hôm nay không ăn được những món mà đầu bếp riêng Lý Hỉ Vũ nấu. Tôi nói thêm là vấn đề đã được Uông Đông Hưng cố gắng giải quyết bằng cách gọi một đầu bếp cừ khôi từ Nam Xương. Mao đã ăn ngon miệng, món xúp rùa, một trong những đặc sản do đầu bếp mới nấu đã làm cho Chủ tịch hài lòng.
Giang Thanh tới Lư Sơn không chỉ để gần Mao. Người ta đưa bà đến vì mục đích chính trị. Điều này cũng dễ nhận ra do cử chỉ và thái độ của bà. Bà ta bỗng nhiên quên hết bệnh tật của mình, và không còn uể oải nữa. Thường thường sau khi đến nơi bà tỏ ra mệt mỏi và đi ngủ ngay. Nhưng lần này những sự kiện diễn ra ở đây làm bà trở nên sôi nổi khác thường.
Vì Mao vẫn còn ngủ, Giang Thanh đến gặp Lâm Bưu. Lâm Bưu cũng vừa mới tới vài tiếng đồng hồ, ông được đưa xuống chân núi nơi đó đỡ lạnh hơn. Giang Thanh nói chuyện với Lâm Bưu chừng hai tiếng, sau đó bà lại quay lên núi gặp các nhân vật chóp bu còn lại - Chu Ân Lai và vợ Đặng Dĩnh Siêu, phó thủ tướng Lý Phú Xuân và cô vợ đẹp của ông là Thái Trang, và cuối cùng tất nhiên với thị trưởng Thượng Hải Kha Thanh Thế, một người bạn mới quen và là người cùng chí hướng.
Trước đây Giang Thanh hiếm dính dáng vào chính trị. Hồi còn ở Diên An, trong thời gian cưới Mao, Bộ chính trị đã đưa ra một điều kiện khá nghiêm là vợ lãnh tụ không được tham gia chính trị. Vì thế Giang Thanh nhẩy vào sân khấu chính trị với thuận tình của chồng mình. Việc bà ta bất ngờ xuất hiện ở Lư Sơn và ngay sau khi rời máy bay đã gặp ngay các nhà lãnh đạo cao cấp đất nước chứng tỏ rằng Mao gặp khó khăn nghiêm trọng về chính trị. Việc Giang Thanh xuất hiện được xem như là bà muốn bảo vệ chồng. Bà kết thúc cuộc “viếng thăm chính thức:” vào buổi chiều. Lúc ấy Mao cũng vừa dậy.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #66 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:35:12 pm »

Sớm hôm sau Giang Thanh mời tôi, nói:
- Tôi đến đây vì tôi rất lo sức khoẻ của Chủ tịch. Nhưng hôm qua tôi vui mừng thấy là ông hoàn toàn sảng khoái đầu óc và không phàn nàn về sức khoẻ. Tôi tin là trong việc này có công của đồng chí. Chiều qua Lâm Bưu cho tôi biết là mấy hôm rồi Chủ tịch không ăn được. Đồng chí đừng quên là bác sĩ riêng còn cần phải theo dõi cả thức ăn cho Chủ tịch nữa. Vì thế đồng chí nên thường xuyên xuống nhà bếp để mắt xem nhà bếp nấu có thực hiện tốt nhiệm vụ của mình không.
Tôi hiểu Lý đã kịp qua bà phàn nàn tôi. Nhưng tôi là bác sĩ điều trị, không phải là bác sĩ dinh dưỡng và không dính líu gì đến công việc theo dõi nồi niêu xoong chảo ở nhà bếp. Tôi chỉ phải theo dõi sức khoẻ của Mao, nếu Mao ăn không ngon miệng thì đó không phải là bệnh mà lỗi là thức ăn, tôi hoàn toàn chẳng việc gì mà phải lo cả. Trách nhiệm này thuộc về người khác, nói riêng ra là đầu bếp Lý.
Tất nhiên tôi đã nói hết tất cả cho Mao, và bây giờ ông đã chỉnh vợ ông. Để trả lời lời răn của bà vợ ông chỉ nói là tất cả các vấn đề về ngon miệng trong ăn uống đã giải quyết tốt đẹp. Bà ấy vẫn bướng bỉnh, cảnh cáo tôi:
- Bác sĩ Lý, đồng chí là một người trí thức, có học. Đồng chí hoàn toàn không giống với Lý Ẩm Kiều. Đồng chí đừng để kẻ thù của chúng ta sử dụng đồng chí như hạt cát trong bàn cờ chính trị. Hãy cảnh giác và thận trọng và cố gắng ít động chạm với chính trị trong khi nói chuyện với những người khác kể cả bạn thân của đồng chí.
Tôi nghe lời cảnh cáo của bà như là sự nhắc nhở của bà tránh bảo vệ tôi khỏi cơn lốc chính trị đang nung nấu chín muồi ở Lư Sơn. Giang Thanh rõ ràng không muốn tôi tiếp xúc với các đối thủ của Mao chẳng hạn Điền Gia Anh, bạn tôi. Giang hiểu rõ là trong trường hợp chống lại Mao thì tôi, người gần gũi Mao nhất sẽ trở thành vũ khí lợi hại trong tay kẻ thù của lãnh tụ.Ngày 2-8-1959, sau khi khai mạc phiên họp toàn thể lần thứ 8 của đảng cộng sản Trung Quốc khoá tám, Mao ra đòn với các đối thủ của mình.
- Khi chúng ta đến Lư Sơn, tình hình tỏ ra là ổn định. Chúng ta đã quyết định trao đổi ý kiến với nhau một cách cởi mở và thẳng thắn và thậm chí không có ý định những cuộc va chạm nảy lửa. Tất cả mọi người đều phát biểu mang tính xây dựng, phiên họp của chúng ta giống như “phiên họp các ông tiên”. Tuy nhiên dần dà mới lo lắng rằng một số người đã cư sử hết sức lạ lùng và không thể nói một cái gì đó. Tương tự như là cuộc thảo luận yên lành của chúng ta đối với họ không phải theo lý trí. Họ đã không ngần ngại bới móc bản chất các vấn đề chúng ta đang thảo luận, rõ rằng là họ chờ đợi cơ hội để mà đánh đổ đường lối chung của đảng bắt thỏa hiệp với ý đồ của họ.
Trong cuộc hội thảo này của chúng ta dần dần đã xuất hiện sự rạn nứt lớn. Mười tháng trở lại đây chúng tôi đã phải đấu tranh với khuynh hữu trong đảng. Giờ đây tình hình biến chuyển đột ngột, chúng ta lại phải đương đầu với các phần tử hữu khuynh. Họ tấn công một cách điên cuồng vào đảng và những người lãnh đạo đảng và phủ màn khói lên những thành quả của nhân dân Trung Quốc và những thành tích không ai chối cãi được trong việc đi lên chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Lưu ý Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc trong ngày đầu tiên họp toàn thể, Mao vẫn giữ giọng đó trong các bài nói tiếp theo. Ông kêu gọi những người tham gia hội nghị kết án nhóm “chống đảng” và gọi Bành Đức Hoài là kẻ thù của đảng và nhân dân. Rõ rằng là tất cả những lời bào chữa của những người phía Bành Đức Hoài, có lẽ không gây được ấn tượng, đã không cứu nổi việc ông phó thủ tướng. Tu tưởng của bưc thư của Bành Đức Hoài gửi Mao đã bị bóp méo đến mức không nhận ra. Phó thủ tướng và bộ trưởng quốc phòng không phát biểu một lời nào chống đảng, chống Mao, tuy nhiên lãnh tụ đưa ra bức thư này như là một bằng chứng của âm mưu thâm độc nào đấy. Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Trung Quốc yêu cầu Bành Đức Hoài và những người ủng hộ ông phải giải thích khi nào và với mục đích gì họ đã tham gia âm mưu chống đảng.
Về sau trong cuộc nói chuyện với Mao tôi hiểu tất cả những thủ thuật của Mao với bức thư của Bành Đức Hoài và sự bóp méo bức thư là một bản chất điển hình đối với chiến lược của Mao.
Ông nói với tôi chẳng hề dấu diếm gì:
- Lịch sử thường cách xa chân lý.
Tôi tình cờ nhớ lại cuộc nói chuyện trên tàu thuỷ mà chúng tôi bơi dọc dsông Lư Giang hồi nọ. Khi đó qua Điền Gia Anh tôi lần đầu tiên biết được nạn đói ở tỉnh Tứ Xuyên, còn Vương Kính Tiên thì cung cấp cho chúng tôi biết về các ngón làm tình của lãnh tụ. Bây giờ tất cả cuộc nói chuyện này trên boong tầu thuỷ có một ý nghĩa mới sâu sắc. Ba thư ký của Mao: Điền Gia Anh, Tràn Bá Đạt và Hồ Kiều Mục đã được đưa xuống Tứ Xuyên, Phúc Kiến và An Huy. Mao mơ ước nghe từ họ về những thành tựu xuất sắc của chính sách thiên tài của ông “đại nhảy vọt”. Tuy nhiên, thay cho điều này thì ba ông thư ký lại đem đến những tin buồn về sự tan rã của đất nước và nạn đói. Bản báo cáo của ba thư ký chứa đựng một cách thẳng thắn chi tiết đau khổ khủng khiếp của dân Trung Quốc. Các bí thư đảng của tỉnh là Lý Tinh Toàn, Diệp Phổ, và Tăng Huy Sinh vẫn chễm chệ trên ghế quyền lực. Họ đến Lư Sơn để bảo vệ bản thân khỏi cơn lôi đình của Mao và Ban chấp hành đảng cộng sản Trung Quốc.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #67 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:35:24 pm »

Ba ông vua tỉnh này đã lựa chọn phương thức bảo vệ bằng cách tấn công vô liêm sỉ và không thương tiếc vào bản báo cáo của ba thư ký lãnh tụ.
Sau lời phát biểu của Mao, người này nối người kia lên bục công kích những người bị buộc tội, Kha Thanh thế, Vương Nhiệm Trọng, Đào Chú và cuối cùng là bộ trưởng công an La Thụy Khanh. Họ như những con hổ dữ, chửi bới Bành Đức Hoài và những người ủng hộ ông, trong đó người ta nghe thấy không ít lần nhắc đến tên Điền Gia Anh.
La Thụy Khanh chỉ tay vào Điền Gia Anh, phê phán kịch liệt:
- Đồng chí chỉ mang đến chuyện bậy bạ. Ai cho phép đồng chí quyền đem những ý kiến ấy đến hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương.
Sau chuyến đi về quê Mao, La Thụy Khanh trở thành người bảo vệ ông chủ mình.
Lý Thụy, viên thư ký mới của Mao cũng phát biểu. Khi Lý Thụy nói đôi ba câu phân bua, thì Chu Ân Lai thô bạo cắt ngang:
- Đây là hội nghị Ban chấp hành trung ương đảng. Đồng chí không phải là Uỷ viên trung ương vì thế không có quyền phát biểu.
Sự giận dữ đã được hâm nóng thêm, và phê bình lại hoàn toàn được thả cương. Ba ông thư ký Trần Bá Đạt, Hồ Kiều Mục, Điền Gia Anh bị treo lơ lửng trên đầu sự trừng phạt nghiêm khắc. Họ bị buộc tôi vào việc tổ chức “chống đảng”.
Cuối cùng thì như thường lệ, Mao phát biểu, phán quyết của ông vang lên ngày 11 tháng 8, được coi là bản phán quyết tối hậu và khắc nghiệt. Ông phán:
- Bành Đức Hoài và đồng bọn đã không theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản. Bọn họ chỉ là những người dân chủ tư sản chui vào đảng với cái vỏ mác-xít. Trần Bá Đạt, Hồ Kiều Mục, Điền Gia Anh là những người tép riu trong đảng, tôi tin là họ sẽ nhận ra khuyết điểm để sửa chữa để xứng đáng đứng trong hàng ngũ chúng ta. Đảng cần các đồng chí ấy, tuy nhiên về Lý Thụy, thư ký mới, tôi không thể nói điều gì nữa. Đồng chí này vào đảng chưa lâu và thái độ của đồng chí ấy mới là đáng ngạc nhiên.
Sau lời phát biểu của Mao, mọi người lại nghĩ rằng Trần Bá Đạt, Hồ Kiều Mục, Điền Gia Anh là đúng, còn Lý Thụy bị liệt vào “khối chống đảng”.
La Thụy Khanh bồi thêm Lý Thụy:
- Đồng chí hoàn toàn quên rằng số phận tốt đẹp đang mở ra cho đồng chí. Đảng đã tin đồng chí, tạo điều kiện để đồng chí phục vụ tốt lãnh tụ. Thay vì giữ được ưu đãi và thanh dan, đồng chí lại vạch lưng lãnh tụ. Tôi đã nghe về sự mâu thuẫn ngu xuẩn của đồng chí, khi đồng chí theo đuôi kẻ khác. Mỗi người trong số các đồng chí định trút trách nhiệm xuống đầu người khác. Vương Kính Tiên cũng liên quan tới việc bình luận quá nhiều, tính quá thái của đồng chí này đã tiếp tay cho các phần tử chống đảng. Chúng tôi sẽ nói tỷ mỷ về điều này sau khi quay về Bắc Kinh.
La Thụy Khanh đã công thức hoá cho chúng tôi những quy tắc quan trọng, mà chúng tôi cần phải đọc nó như luật pháp. Đó là những người ở gần lãnh tụ phải biết im lặng về tất cả những gì liên quan tới đời tư lãnh tụ hoặc các sự kiện xảy ra trong Nhóm Một.
Tôi cảm thấy rằng việc này cũng chưa xong được và một số người có thể bị khai trừ, có khi tệ hơn là bị buộc tội không trung thành với lãnh tụ.
Trong phiên họp quyết định ngày 16 tháng 8, những người tham gia được phát các tài liệu trong đó Mao viết rằng hội nghị Lư Sơn đi vào lịch sử Trung Quốc như một biểu tượng của sự đấu tranh không khoan nhượng với phái hữu. Mao nói:
- Đây không phải là cái gì khác, đó là cuộc đấu tranh giai cấp thực sự, cuộc đấu tranh không sống còn giữa hai tầng lớp mạnh nhất: vô sản và tư sản. Cuộc đấu tranh này chưa hẳn đã dịu đi sau mười năm chiến thắng của chúng ta.
Những lời này đã đẩy Bành Đức Hoài và những người theo ông vào vị thế tư sản, kẻ thù của đất nước.
Hội nghị đã thông qua văn bản kết án những hoạt động chống đảng của phó thủ tướng và đi trệch đường lối chung của đảng là chính sách “đại nhảy vọt”.
Đảng đã phát động trong cả nước chiến dịch chống phái hữu. Bây giờ hàng ngũ phái hữu lại được bổ xung cả những quan chức đảng và nhà nước, những người từng chia xẻ quan điểm với Bành Đức Hoài về “đại nhảy vọt”. Đảng nói họ bị nhiễm căn bệnh mới, căn bệnh “thân hữu”.
Quyết định của lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc làm tôi bối rối không sao hiểu được.
Người ta quy tội Bành Đức Hoài một người trung thực là kẻ thù giai cấp, là thành trì của phái hữu. Tôi biết rõ rằng Bành Đức Hoài chưa bao giờ là kẻ thù của đảng và tôi luôn luôn thấy trong ông một con người và một người cộng sản nghiêm túc và tư cách.
Anh bạn Điền Gia Anh của tôi rơi vào búa rìu báo chí. Chưa lâu tôi đã được nghe những lời thẳng thắn của ông trên tàu thuỷ bơi dọc sông Dương tử, dù sao thì tôi cũng thoát khỏi nguy hiểm.
Tôi khá thận trọng khi ăn nói. Có thể tính ngây thơ giải thích sự im lặng của mình.
Mao tin tôi và tôi cũng nghi ngờ về sự chân thật của ông. Vì thế sự phê bình lãnh tụ tôi xem như là không phải đạo.
Tuy thế những việc xảy ra ở Lư Sơn làm tôi đau lòng.
Các cuộc cãi vã đấu đá nhau liên miên của các nhân vật quanh lãnh tụ đã làm tôi mệt mỏi.
Tất cả những điều đó ảnh hưởng đến sức khoẻ của tôi. Cơn bệnh loét dạ dày bắt đầu hành tôi. Tôi bị đau nặng, không thể ăn gì cả trừ hoa quả và nước quả ép. Một thời gian sau bắt đầu chẩy máu bên trong. Thuốc thang có trong tay không giúp gì được tôi. Tôi yếu đi nhiều và sút cân nhanh chóng.
Giám đốc bệnh viện địa phương Vương Thâu Tiên khuyên tôi rời Lư Sơn về chữa ở Nam Xương. Nhưng tôi lại lo rằng chuyện tôi bỏ đi khiến người ta đánh giá là tôi tránh tội. Mọi người cho rằng tôi cũng bị dây vào vụ tai tiếng chính trị ở hội nghị Lư Sơn, vì tôi là bạn của Điền Gia Anh.
Mao luôn để ý những người của ông đang ở đâu trong thời gian hội nghị, xem họ có nghe những lời phát biểu của ông và những người khác trong các buổi thảo luận hay không. Từ đó ông sẽ phán đoán được sự trung thành của chúng tôi đối với ông và đảng. Ông cần sự ủng hộ không nói bằng lời của chúng tôi. Nếu tôi kể cho ông nghe về bệnh của mình, liệu ông có tin tôi hay không - trước đây tôi chưa hề kể hoặc phàn nàn với ông về điều này. Tôi mà bỏ Lư Sơn thì Mao sẽ nghi ngờ rằng tôi có một cái gì đó liên quan tới Bành Đức Hoài và có uẩn khúc về chính trị. Điều đó rất logic. Người ta quy tội Bành là phần tử chống đảng, còn tôi chẳng nói gì cả, xuất thân từ gia đình tư sản. Vì thế khôn ngoan nhất là tôi không kể cho Mao về chứng bệnh chảy máu dạ dầy, cố gắng tự chữa bằng cách ăn kiêng và thuốc.
Tuy nhiên việc chảy máu dạ dày vẫn không ngừng lại. Các cuộc họp hàng ngày 12 tiếng liền, ở đó tôi cần phải chịu đựng cơn đau trong dạ dày cộng với những cơn mất ngủ và đau đớn về đêm đã dẫn đến tôi bị yếu hẳn và bị ngất những ngày cuối hội nghị.
Ai đó đã nói với Hồ Kiều Mục về bệnh tật của tôi. Chúng tôi không gặp nhau gần tuần lễ. Khi nhìn thấy thân hình tôi, ông thất kinh. Hồ Kiều Mục khuyên tôi nên đi viện chữa, theo kinh nghiệm của ông thì khi chảy máu dạ dày thì nên chữa ngay, không nên chần chừ. Khi biết những băn khoăn của tôi, ông hứa sẽ nói chuyện với Mao để có giải quyết cho tôi rời Lư Sơn.
Hồ Kiều Mục ngay sau đó gặp Mao. Khi biết tôi bị bệnh dằn vặt. Mao đồng ý gửi tôi cấp tốc về Bắc Kinh điều trị. Phó cục trưởng bảo vệ sức khoẻ được giao nhiệm vụ gửi tôi tới chỗ tốt nhất để điều trị.
Từ Xương Giang về Bắc Kinh thường xuyên có máy bay. Máy bay chở tài liệu và người của đảng. Tôi được xếp bay trong một chuyến. Diệp Tử Long đi kèm tôi.
Trong ngày khởi hành tôi từ biệt Giang Thanh. Cảnh đẹp ở Lư Sơn tạo cho bà thi thố khả năng chụp ảnh của mình, và khi tôi tới thì bà đang thích thú với các tầm hình mình chụp. Nhìn thấy tôi Giang Thanh nói là bà và Chủ tịch vài tuần nay bận tối mắt tối mũi và không biết tôi bị bệnh nặng thế. Bà rất mong tôi lưu lại đến khi kết thúc kỳ họp và bay về Bắc Kinh cùng vợ chồng bà.
Để củng cố và động viên tôi, Giang Thanh không bỏ lỡ cơ hội nhắc lại rằng Mao rất tin tôi và rằng hai vợ chồng bà cư xử với tôi với một tấm lòng thành thật và quan tâm.
Rất tiếc là những lời ca tụng của bà không làm tôi bớt đau. Tôi lịch sự đáp lại:
- Tôi cảm thấy rằng bệnh tật của tôi đã gây phiền toái cho bà và Mao, vì thế tốt nhất là tôi nên quay về thủ đô.
Giang Thanh tán thành. Tôi nói thêm rằng khi tôi vắng mặt thì bác sĩ Hoàng Thụ Trạch sẽ thay tôi đảm nhiệm.
Tôi đề nghị Giang Thanh thay mặt tôi cám ơn lãnh tụ, nhưng Giang Thanh từ chối, nói là tôi tự làm việc đó.
Mao nằm trên giường và đọc sách sử đời Minh. Dường như ông thích đọc tiểu sử nhân vật Hải Thụy, người dám nói sự thật cho vua của mình.
Tôi giải thích rằng công việc của tôi bây giờ sẽ do Hoàng Thụ Trạch đảm nhiệm. Mao không phản ứng gì và nói rằng tôi nên chữa ở bệnh viện Bắc Kinh. Bệnh viện này dành cho hạng cao cấp. Những người lãnh đạo đảng và nhà nước có tiêu chuẩn được chữa trong đó thấp nhất là thứ trưởng và một số “nhân vật dân chủ” có chức vụ cao, thí dụ như Quách Mạt Nhược.
Bản thân bệnh viện được người Đức xây dựng từ đầu thế kỷ và đội ngũ và trang bị của nó là tốt nhất Trung Quốc.
Mao bày tỏ hy vọng tôi nhanh chóng bình phục và nhắc tôi không kể cho ai biết về sự kiện hội nghị Lư Sơn.
Khi biết phải thay tôi, Hoàng Thụ Trạch rất lo, nhưng ông ta không còn lối thoát. Tôi giao lại cho ông hồ sơ bệnh của Mao, tóm tắt sức khoẻ lãnh tụ và khuyên ông ta nên chú ý những gì trước tiên phải làm. Ông cám ơn tôi về sự chân thành và gọi điện cho cục trưởng bảo vệ sức khoẻ Thạch Thụ Hán và giám đốc bệnh viện Bắc Kinh Cơ Túc Hoa đề nghị họ đón tôi ở sân bay thủ đô.
Tôi chia tay La Thụy Khanh và Dương Thượng Côn. La Thụy Khanh cũng như Mao khuyên tôi nên giữ gìn sức khoẻ và thực hiện mọi yêu cầu của bác sĩ. Ngoài ra ông nhắc tôi về tình hình phức tạp trong nước. Ông đe tôi:
- Tất cả cái gì đồng chí nghe được ở đây, tạm thời phải giữ bí mật, khi nào cần, thì đảng sẽ cho nhân dân thấy hết sự thật.
Dương Thượng Côn gắn bệnh của tôi với chứng căng thẳng, do tôi thường xuyên va chạm và cãi cọ trong thời gian gần đây với Lý Ẩm Kiều. Ông nói:
- Nhóm Một giống như một hộp thuốc vẽ lớn. Không ai được ở trong đó mà không phải chọn một màu nhất định. Đồng chí đã được nghe rất nhiều ở Lư Sơn. Tôi đề nghị đồng chí, nếu có dịp, tới thăm đồng chí Đặng Tiểu Bình. Đồng chí ấy cũng vừa ra viện. Tôi rất muốn đồng chí kể cho Đặng Tiểu Bình nghe về tiểu hội nghị Lư Sơn.
Những lời này là bất ngờ với tôi. Mao và La Thụy Khanh nhắc nhở tôi im lặng, thì Dương Thượng Côn lại muốn cho sếp của ông biết. Mao và La Thụy Khanh đã căn dặn tôi phải giữ bí mật về tất cả những gì xảy ra ở Lư Sơn. Nhưng tôi biết, tôi phải im lặng để tránh cho mình những rắc rối. Bệnh viện Bắc Kinh sẽ là lá chắn che chở tôi trước cơn lốc chính trị. Các nhà lãnh đạo đảng cũng thường dùng bệnh viện này làm nơi điều trị những vết thương chính trị của họ. Tôi dự tính sẽ ở lại đó càng lâu càng tốt, để chuẩn bị cho việc tôi rút khỏi Nhóm Một, và trở thành bác sĩ phẫu thuật cứu người.
Uông Đông Hưng và Chủ tịch hội đồng nhân dân Giang Tây là Phương Chí Xuân tiễn tôi ra sân bay và tặng tôi khá nhiều quà: một chiếc giỏ to đựng đầy hoa quả, những hộp chè Lư Sơn và mười chai rượu vang của tỉnh Giang Tây. Vì bị viêm dạ dày nên tôi không được uống rượu vang, nhưng Uông nói tôi nên đem về tặng bạn bè.
Khi chiếc ô tô lăn bánh trên con đường núi gập ghềnh và dần dần xa nơi hội nghị họp, tôi lại càng cảm thấy căng thẳng. Tôi đã bỏ lại sau lưng sự phân hoá đang tiềm ẩn trong nội bộ đảng. Giấc mơ về Trung Quốc và về đảng của tôi đã biến mất. Hình ảnh của Mao tôi đã tan vỡ. Hy vọng duy nhất của tôi là có thể tự cứu được mình thoát khỏi tai họa này. Chúng tôi đi càng xa Lư Sơn bao nhiêu, thì chứng đau dạ dày càng đỡ hành hạ tôi bấy nhiêu. Ở Lư Sơn tôi không tài nào chợp mắt được, nhưng khi máy bay cất cánh tôi bắt đầu thiếp đi, Khi máy bay hạ cánh ở Bắc Kinh, tôi vẫn còn ngủ li bì. Tôi là hành khách duy nhất.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #68 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:35:49 pm »

Chương 40

Lý Liên, Thạch Thụ Hán và Cơ Túc Hoa ra đón tôi ở sân bay. Trước khi tôi vào bệnh viện trình diện, tôi và Lý Liên ghé qua thăm mẹ tôi. Cuộc khủng hoảng kinh tế đang gia tăng khiến cho hoàn cảnh của gia đình tôi tồi tệ đi Mẹ tôi già đi trông thấy. Cụ vẫn bị huyết áp cao. Ngoài ra, cụ còn bị yếu tim. Hàng ngày cụ chỉ ăn một bữa - không chỉ vì thiếu thốn thực phẩm mà do cụ chẳng muốn ăn nữa. Đã thế cụ lại phải trông nom hai đứa con trai tôi vì vợ tôi đi làm từ sáng sớm và về nhà rất muộn còn tôi thường vắng mặt ở Bắc Kinh. Mẹ tôi lo lắng cho bệnh tình của tôi. Tôi là đứa con trai duy nhất của cụ, nên cụ rất thương tôi và lúc nào cũng lo cho tôi. Tôi không muốn mẹ tôi phải bận lòng, nên tôi chỉ ngồi lại với cụ vài phút rồi vào viện.
Khối u ở dạ dày của tôi không phải u ác tính. Ngô Tiếp, vị giáo sư cũ của tôi bây giờ giữ chức Trưởng khoa Nội, đã cam kết với tôi rằng, tôi sẽ mau chóng bình phục mà không cần phẫu thuật, nếu tôi nghe theo lời ông: ăn kiêng và dùng thuốc. Chỉ sau ba ngày tôi đã cảm thấy những dấu hiệu tốt hơn. Dạ dày tôi đã bớt cháy máu và tôi đã cảm thấy khá hơn. Nhưng một quí phu nhân ở phòng bên cạnh, vợ của một thứ trưởng Bộ y tế làm tôi rất khó chịu. Bà ta biết tôi là bác sĩ riêng của Mao, nên đã tìm đủ mọi cách để moi bằng được những chi tiết về mối quan hệ của Mao và Giang Thanh. Người đàn bà này quấy rầy tôi đến nỗi cuối cùng Cơ Túc Hoa, giám đốc bệnh viện, đã phải chuyển tôi sang phòng khác.
Trong khi sức khỏe của tôi đang dần dần phục hồi, thì mẹ tôi lại phải vào nằm trong bệnh viện Đồng Nhân gần đó vì một cơn đau tim. Cơn đau này không nghiêm trọng lắm, nhưng mẹ tôi phi nằm lại trong bệnh viện hàng tuần liền để dưỡng sức. Một bà cô trông coi hai đứa con trai tôi, còn Lý Liên hết đạp xe đến bệnh viện tôi nằm rồi lại đạp xe đến bệnh viện mẹ tôi nằm. Tôi cảm thấy đã khỏe khoắn hơn và có thể thỉnh thoảng ra khỏi bệnh viện để cùng với Lý Liên đi thăm mẹ tôi. Bệnh viện trở thành nơi ẩn nấp của tôi. Chiến địch chống bọn “cơ hội hữu khuynh” vừa được phát động và tôi chẳng muốn bị cuốn hút vào. Bành Chân, thị trưởng thành phố Bắc Kinh tỏ ra là một người hăng hái hưởng ứng chiến dịch này. Ông cho treo khắp các phố phường những lá cờ đỏ to tướng và những khẩu hiệu vừa cũ, vừa mới như: “Mao chủ tịch muôn năm!”, “Đường lối chung muôn năm!”, “Công xã nhân dân muôn năm!”, “Đại nhảy vọt muôn năm!”
Người anh của tôi đang làm việc ở Bộ y tế đã trở thành nạn nhân của phong trào này. Hồi đó tôi không liên lạc gì với anh ấy. Lý Liên muốn tôi dò hỏi tình hình của anh ấy trong Bộ y tế xem sao. Nến làm thế, thì chỉ tổ làm người ta để ý đến tôi. Tôi không muốn dính vào chính trị một tí nào. Tôi muốn rời khỏỉ Nhóm Một.
Ở đó không chỉ có Mao, người làm cho tôi không chịu đựng nổi công việc tôi đang làm, mà còn có Diệp Tử Long và Lý Ẩm Kiều. Họ là những kẻ thô lỗ và ác độc. Họ càng làm việc lâu trong Nhóm Một, họ càng đồi bại. Vụ bê bối của Diệp Tử Long với một người bạn gái cũ ở tỉnh Vũ Hán năm 1958. Còn Lý Ẩm Kiều cũng bắt đầu lao vào một mối tình chớp nhoáng.
Tôi không tán thành lối cư xử và sự thiển cận của họ, tôi khinh bỉ cả hai người. Nhưng họ luôn sai khiến và làm nhục tôi bằng cách bắt tôi không chỉ chăm sóc sức khỏe cho Mao, mà còn phải quan tâm đến cả khẩu vị của Mao. Tôi còn phải làm người hòa giải các cuộc cãi cọ xảy ra liên miên và vô nghĩa giữa Giang Thanh và các cô y tá của bà ta. Ở tuổi trạc tứ tưần, tôi thấy mình đang lâm vào ngõ cụt của nghề nghiệp. Lẽ ra, tôi nên làm một nhà phẫu thuật thì tốt hơn.
Cơ Túc Hoa mách cho tôi một chỗ làm ở bệnh viện Bắc Kinh. Tôi sẽ nhận việc điều hành phòng y tế trong bệnh viện và theo dõi tình hình sức khỏe của các cán bộ cấp cao. Nhưng điều này có nghĩa là thay vì ở Trung Nam Hải tôi sẽ phải đương đầu với những mưu mô chính trị ở bệnh viện, vì tình hình ở bệnh viện cũng chẳng khác gì. Tôi thích làm việc ở Thượng Hải hay Nam Kinh hơn.
Đầu tháng 9 Mao về Bắc Kinh và sau đó ít lâu Lý Ẩm Kiều và La Quảng Lộ, một thư ký riêng của Mao, tôi thăm tôi. Họ thuyết phục tôi nên rời bệnh viện. Sắp đến lễ quốc khánh Trung Quốc lần thứ mười. Có lẽ ngày lễ này sẽ được tổ chức rất to. Trong mười tháng qua, hàng triệu người đã bỏ sức để thực hiện nhiệm vụ của Mao giao là phải hoàn thành mười công trình lớn đúng vào dịp kỷ niệm ngày lễ này. Toàn dân Bắc Kinh đã phải làm phu phục dịch cho vị hoàng đế Trung Hoa ở thế kỷ hai mươi. Cũng như Tần Thủy Hoàng đã cho xây Vạn lý trường thành và về sau mỗi một ông vua đều cho xây cho riêng mình một công trình vĩ đại, Mao đã buộc phải xây xong mười công trình lớn để chào mừng mười năm ngày thành lập chính quyền của ông. Quảng trường Thiên An Môn với Đại lễ đường khổng lồ và Viện bảo tàng Lịch sử Trung Quốc được mở rộng cả hai bên, đến nỗi hiện nay nó có thể chứa được nửa triệu người. Cuộc diễu binh và bắn pháo hoa sẽ được làm rầm rộ nhất trong lịch sử Trung Quốc cận đại. Lý Ẩm Kiều và La Quảng Lộ không muốn tôi bỏ lỡ sự kiện vĩ đại này.
Nhưng tôi không theo Mao ra quảng trường Thiên An Môn. Ngày quốc khánh lần thứ mười đã tới và trôi qua khi tôi còn ở trong viện. Trong khi mẹ tôi nằm bệnh viện Đồng Nhân, vào một ngày cuối tháng 11 khi bà đang tắm nước nóng như thường ngày, thì bỗng nhiên cụ bị bất tỉnh nhân sự. Khi tôi đến khoa Hồi sức cấp cứu của bệnh viện, thì huyết áp của bà đã tụt xuống thấp, cực kỳ nguy hiểm. Các bác sĩ đã bó tay. Vài giờ sau cụ tôi ra đi, không kịp gặp mặt hai đứa cháu. Chúng tôi không mai táng cụ. Với sự giúp đỡ của Phòng y tế trung ương sau khi cụ mất ba ngày, chúng tôi đã cho hỏa táng thi hài cụ. Tôi đem bình tro về nhà và để trên bàn làm việc của tôi, vì tôi không muốn chôn bình tro ở nghĩa trang Bắc Bảo Sơn. Nếu tôi xin được việc tại một bệnh viện nào đó ở Nam Kinh hoặc ở Thượng Hải, tôi sẽ mang theo bình tro của mẹ tôi.
Sau khi mẹ tôi mất, việc giữ lại 5 căn phòng trong ngôi nhà ở trong thành phố đối với chúng tôi trở nên khó khăn hơn. Tôi muốn rời Trung Nam Hải và chuyển về ở trong ngôi nhà của mẹ tôi. Nhưng La Đạo Nhương, người phụ trách mới của Phòng An ninh đã không đồng ý, ông ta tưởng tôi muốn bỏ Nhóm Một. Là bác sĩ riêng của Mao, tôi phải sống ở Trung Nam Hải. La đề nghị tôi chuyển cả gia đình vào ở trong Trung Nam Hải và hứa sẽ cho tôi thêm một phòng cho hai đứa con trai tôi:
- Đồng chí nghĩ kỹ đi, bác sĩ Lý ạ. Khi đồng chí về Nhóm Một, đồng chí phải đi công tác liên miên. Cho nên nếu vợ con đồng chí ở lại ngôi nhà của mẹ đồng chí, đồng chí sẽ chẳng còn cuộc sống gia đình nữa đâu.
La nói đúng. Tôi và Lý Liên chẳng còn cách nào khác là chuyển cả nhà vào Trung Nam Hải. Đứa con lớn của chúng tôi đã có thể đạp xe đi học, còn đứa bé hồi đó mới ba tuổi hàng ngày chúng tôi sẽ gửi nó nhà trẻ ở Bắc Hải. cuối tuần thì đón cháu về nhà. Hai chúng tôi và đứa lớn có thể ăn ở nhà ăn công cộng ở Trung Nam Hải.
Theo đề nghị của Lý Liên, tôi ra viện một thời gian ngắn để giúp gia đình chuyển nhà, rồi sau đó lại vào viện. Lý liên thường đến thăm tôi vào những ngày cuối tuần. Cô cho cả hai đứa con đi theo. Tôi sắp phải quay về Nhóm Một và cô muốn nhìn thấy tôi trong trạng thái hoàn toàn bình phục trước khi tôi lại phải chịu đựng những căng thẳng của công việc.
Sở nhà đất Bắc Kinh phát hiện ra ngay các căn phòng của mẹ tôi bỏ không và đòi chúng tôi nhượng lại toàn bộ ngôi nhà. Không còn cách nào khác. Sau mười năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và sau hơn một thập kỷ, từ khi tôi còn là một thanh niên có lý tưởng trở về để phục vụ đất nước tôi đã trở thành một thành viên của giai cấp vô sản, khi Nhà nước đã sung công toàn bộ tài sản của gia đình tôi.
Tinh thần tôi dường như bị suy sụp. Đối với một người có lý tưởng, việc ti bỏ ngôi nhà thừa kế từ thế hệ này sang thế hệ khác rất đỗi thân thiết của gia đình tôi không phải là dễ dàng. Sau khi người Nhật xâm lược Trung Quốc, tôi và mẹ tôi đã phải chạy đến Tô Châu và xa quê hương suốt 17 năm. Nhưng tôi đã sống thời thơ ấu trong ngôi nhà này và sau khi trở về Trung Quốc ngôi nhà này đã chứng kiến rất nhiều kỷ niệm đẹp đẽ trong đời tôi. Pháo đài cuối cùng của sự ấm cúng, bình yên và hòa thuận của chúng tôi, nơi duy nhất chúng tôi được tự do nói cười và đùa nghịch, đã vĩnh viễn không còn nữa.
Logged
ngao5
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 756


« Trả lời #69 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2010, 04:36:19 pm »

Chương 41

Cuối tháng 12-1959, tôi nhận được lệnh trở về Nhóm Một. Hứa Vân Bích, thứ trưởng Bộ y tế đã đến thăm tôi ông nói chuyện với bác sĩ điều trị của tôi tên là Ngô Tiếp về trường hợp của tôi. Khi Lý Ẩm Kiều định lôi tôi ra khỏi viện, Ngô Tiếp nói tôi cần phải nghỉ thêm một thời gian nữa. Chỉ khi thứ trưởng Bộ y tế đến, Ngô Tiếp mới đồng ý để cho tôi xuất viện. Tôi muốn ở lại bệnh viện nhưng Hứa không chịu. Mẹ của Hoàng Thụ Trạch, người thay thế tôi vừa mới mất. Cho nên Hoàng phải về Thiên Tân lo mai táng mẹ ông. Vì thế Nhóm Một đang cần tôi.
Tôi vẫn tiếp tục khước từ.
Nhưng sự bình phục của tôi lại bao hàm một ý nghĩa chính trị. Hứa cảnh cáo tôi:
- Chiến dịch chống bọn cơ hội hữu khuynh đang lan đi như cơn lốc. Nếu đồng chí thực sự chẳng bệnh tật gì nghiêm trọng mà cứ ở trong bệnh viện thì thật khó coi.
Rõ rằng đây là một vụ tống tiền chính trị. Trong thời gian bốn tháng tôi nằm viện, tình hình đã thay đổi khá nhiều. Bành Đức Hoài bị cách chức trong quân đội. Cấp phó của ông là Tổng tham mưn trưởng Hoàng Khắc Thành cũng mất chức luôn. La Thụy Khanh được bổ nhiệm thay thế Hoàng. Lâm Bưu thay chỗ Bành và giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Quân uỷ trung ương và Thứ trưởng bộ công an. Nhiều người tự hỏi: tại sao Mao lại để cho một người già yếu như vậy đảm nhận nhiều trọng đến thế.
Công việc đầu tiên mà Lâm Bưu làm với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng là công kích người tiền nhiệm của ông trong cuộc họp của Quân uỷ. Ông coi Bành là “kẻ thù của đảng” và “thiên hữu”. Sau đó, ông quay sang tấn công nguyên soái Chu Đức, ông mỉa mai nói về Chu, người đã từng cùng Mao sáng lập ra hồng quân: “Với tư cách Tổng tư lệnh đồng chí Chu đã làm được những gì? Đồng chí ấy chưa tham gia một trận đánh lớn nào, mà cũng chẳng có được một thắng lợi lớn nào”. Bài phát biểu của Lâm đã được Mao cho phép. Vậy là Chủ tịch đã quay lưng lại với Chu Đức, người bạn chiến đấu cũ của mình.
Nếu tôi cứ ở lại bệnh viện, có thể Hứa Vẫn Bích sẽ quy cho tôi ủng hộ Bành Đức Hoài. Biết đâu tôi lại là nạn nhân của chiến dịch chống bọn cơ hội hữu khuynh. Tôi hứa với Hứa là tôi sẽ ra viện khi nào làm xong thủ tục giấy tờ. Nhưng Hứa cam đoan với tôi rằng, lời nói của ông, với tư cách là Thứ trưởng bộ Y tế, cũng đủ để bệnh viện đồng ý cho tôi xuất viện.
Ngay ngày hôm sau tôi trở về Nhóm Một.
Mao đang ở Hàng Châu. Vương Kính Tiên yêu cầu tôi phải tới đó càng sớm càng tốt.
Ngày 22-12-1959, tôi lên máy bay cùng với Lý Ẩm Kiều. Trên đường, chúng tôi gặp phải bão tuyết và lốc lớn, nên chúng tôi buộc phải hạ cánh ở Nam Kinh. Cơn bão di chuyển về hướng Nam, phía Hàng Châu. Nếu chúng tôi bay tiếp tục bay sẽ rất nguy hiểm. Trưởng Ban An ninh tỉnh Giang Tô điều một chiếc ô tô đến chở chúng tôi đến chỗ Mao. Sáng hôm sau chúng tôi lên đường. Tuyết rơi dày đặc. Xe đi rất chậm về hướng Hàng Châu. Khoảng ba giờ chiều chúng tôi mới đến nơi. Mao vẫn ngủ. Mãi đến tối chúng tôi mới gặp nhau.
Mao nhìn tôi bằng cặp mắt ủ rũ vẻ mệt mỏi. Ông ho liên tục. Ông hỏi:
- Tôi ốm từ mấy hôm nay. Còn đồng chí?
- Tôi đã khỏe, thưa Chủ tịch. Hình như Chủ tịch bị cảm lạnh.
- Tôi cũng chẳng biết. Có điều tôi thấy không được khỏe.
- Đế tôi khám cho Chủ tịch.
Mao bị sốt nhẹ, nhưng tim, huyết áp và mạch đập vẫn bình thường. Ông bị cảm và viêm phế quản nặng. Mao muốn bình phục sớm, vì sắp có một cuộc họp đảng mới. Tôi đề nghị Mao hãy dùng kháng sinh để chống bệnh viêm phế quản và một vài loại thuốc chống cảm lạnh khác. Mao đồng ý.
Tối hôm sau bệnh trạng của Mao khá hơn rõ rệt. Nhiệt độ của ông trở lại bình thường và ông không còn ho nữa. Ông tỏ ra vui vẻ và nói đùa: “Đúng là ông bác sĩ kiêu kỳ của tôi có thần được”.
Ngày sinh nhật lần thứ 66 của Chủ tịch sắp đến. Tôi đưa cho Mao một tin của Giang Hoa, bí thư thứ nhất ở Triết Giang, ông ta mời Mao đến dự tiệc. Mao từ chối vì ông cần nghỉ ngơi, ông đề nghị Nhóm Một đi dự tiệc và về báo cáo lại với ông. Đồng thời. Ông cũng cảnh cáo chúng tôi không được quá lãng phí, không nên tổ chức mừng sinh nhật ông, mà chỉ nên chuyện trò giải trí với nhau thôi. Vì nạn đói mà Mao đang bị mất thể diện, nên ông không muốn sống xa hoa trong khi nhân dân đang lầm than, khổ cực.
Những cán bộ khác của đảng ít thông cảm với hoàn cảnh của nhân dân hơn. Diệp Tử Long, người đặc biệt thích ăn ngon, định sẽ chuốc rượu cho Vương Phương, trưởng Ban An ninh Triết Giang đến say mèm. Khi tôi đem giấy mời đến cho ông, ông nói có vẻ biết ơn: “Bác sĩ ạ, đồng chí đã quan tâm chu đáo đến tất cả chúng tôi quá”.
Hôm sau, ngày 26-12 là sinh nhật Mao. Toàn bộ những người giúp việc của ông đã đến chúc mừng ông. Mao đã hoàn toàn bình phục và tỏ ra rất phấn khởi. Ông cảm ơn tôi vì tôi đã chữa cho ông khỏi bệnh. Sau đó chúng tôi chụp ảnh chung. Bữa tiệc tối hôm đó có cả thảy 8 bàn, mỗi bàn có 10 người. Toàn bộ ban lãnh đạo cao cấp của tỉnh Triết Giang đã đến dự. Giang Hoa, bí thư thứ nhất tỉnh Triết Giang và Vương Phương, trưởng Ban An ninh tỉnh thay mặt quan khách vội vàng đến chỗ Mao để chúc mừng ông.
Lời cảnh cáo đừng nên hưởng thụi quá đáng của Mao đã không được đếm xỉa. Bữa tiệc này là bữa tiệc tốn kém nhất so với những bữa tiệc mà tôi đã từng được tham dự trong suốt đời tôi. Người ta dọn ra bàn những món đặc sản đắt giá nhất, hiếm nhất, quí nhất mà Trung Quốc có. Chúng tôi được ăn món xúp yến chính hiệu nấu với thịt chim bồ câu non, một trong những món ăn quí hiếm nhất của Trung Quốc, được ăn món xúp vây cá mập nấu trong nói đất đặc biệt và cũng là một món đặc sản đắt tiền. Không có món ăn nào sánh được với hai món đặc sản này. Tuy nhiên, các món khác cũng không kém phần hấp dẫn. Cả rượu vang cũng là thứ tuyệt hảo và Diệp Tử Long phải cố gắng đến quá sức mình để chuốc cho Vương Phương say.
Trong bữa tiệc, Vương Kính Tiên thì thầm với tôi: “Chúng ta lấy làm xấu hổ vì trong khi rất nhiều người đang chết đói chúng ta lại tiệc tùng như thế này.
Tôi đồng ý. Phía bên ngoài bức tường che chở Nhóm Một và giới lãnh đạo cao cấp đặc quyền đặc lợi của đất nước, rất nhiều nông dân Trung Quốc đang chết đói. Vụ mùa năm 1959 còn tệ hơn cả năm trước. Hàng triệu người chết và con số nạn nhân tăng lên gấp bội một khi nạn đói tràn qua. Trong khi đó, tôi với Lâm Khắc, Vương Kính Tiên, Diệp Tử Long và Lý Ẩm Kiều cùng toàn thể cán bộ lãnh đạo cao cấp của tỉnh Triết Giang lại đang ăn mừng ngày sinh lần thứ 66 của vị hoàng đế Mao vắng mặt tại đây. Những chiếc bàn trĩu nặng còng xuống bởi những món sơn hào, hải vị.
Viên trưởng Ban An ninh tỉnh say khướt, ngã lăn quay ra đất. Tôi cảm thấy mình thật đáng trách. Nhưng tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Nếu tôi từ chối không tham dự bữa tiệc, tôi sẽ gặp rắc rối về chính trị. “Kẻ nào đơn thương độc mã, kẻ đó sẽ bị bắn hạ”. Lâm Khắc thường trích dẫn câu đó của văn hào Lỗ Tấn. “Nếu muốn bảo toàn tính mạng trong Nhóm Một, chúng ta phải cưỡng lại lương tâm của chúng ta”. Nếu tôi muốn được sống theo lương tâm mình, tôi chỉ có một cách duy nhất là rời khỏi Nhóm Một. Nhưng cứ lần nào định bỏ, lần đó tôi lại không thành. Tôi sống trong một thế giói cách biệt. Trong Nhóm Một không hề có luật lệ, luật pháp. Đó là một thiên đường, không bị một cái gì bó buộc ngoài việc bị phụ thuộc vào tâm trạng của Mao và những người còn đôi chút lương tâm thì thường bị dằn vặt bởi cảm giác có tội.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM