Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:47:14 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Yamamoto và những trận đánh lịch sử trên Thái Bình Dương (Quyển 1 + 2)  (Đọc 127513 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:12:48 pm »


Tuần dương hạm Jintsu và khu trục hạm Hatsukaze và chiếc tàu của tôi rời lực lượng đặc nhiệm để hướng đến cửa vịnh Davao kết hợp với bốn khu trục hạm vừa trở về sau chuyến đi không kết quả. Tất cả các tàu gặp nhau vào lúc 2 giờ. Tôi đã sửng sốt khi nghe đài phát thanh công bố kết quả vượt mức của hai cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng và phi trường Clark. Không thể nào ngờ được đó là sự thật hoàn toàn.

Tuy nhiên, tôi tỉnh táo ngay do sự xuất hiện của một oanh tạc cơ B24. Chiếc phi cơ bay cao khoảng 30.000 bộ và hình như đã phát hiện các chiếc tàu của chúng tôi. Đề đốc Tanaka quyết định thi hành kế nghi binh trước khi kết hợp với hàng không mẫu hạm Ryujo, nhằm đủ ngăn ngừa oanh tạc cơ Hoa Kỳ khám phá ra sự hiện diện của hàng không mẫu hạm nầy. Chúng tôi đổi hướng 180 độ và chay với tốc độ 18 hải lý một giờ, sau đó đổi hướng 90 độ và gia tăng tốc lực lên 21 hải lý, trước khi xoay trở lại 60 độ để gặp gỡ Ryujo.

Chiếc B24 vẫn bay trên đầu, nhưng không có ý định tấn công, và cuối cùng chiếc phi cơ mất dấu các tàu của chúng tôi trước khi chúng tôi hướng về vị trí sơ khởi. Chiếc oanh tạc cơ nầy là một bí ẩn khác đối với chúng tôi. Không sao biết được nó xuất phát từ đâu và định làm gì?

Vào lúc chúng tôi trở lại phía Đông San Augustin 50 dậm, tôi và Hạm Trưởng khu trục hạm Hatsukaze nhận được lịnh mới. Theo đó, chúng tôi chay đến Legaspi để kết hợp với tuần dương hạm Nachi và Myoko luc đó đang di chuyển phía trước chúng tôi. Hàng không mẫu hạm Ryujo và hai khu trục hạm hộ tống đã hướng về Palau, và soái hạm Jintsu của đề đốc Tanaka cùng bốn chiếc khu trục hạm chạy tiếp sau.

Tôi ở trong hải phận Legaspi một tuần lễ với nhiệm vụ tuần tiểu và chống lại các tàu ngầm cũng các tàu trên mặt bieetn mang quân tăng viện của Hoa Kỳ. Không thấy gì hết, nhiệm vụ thật đáng chán, nhưng tất cả chúng tôi đều biết sự giữ gìn khu vực hậu phương nầy rất quan yếu, có tánh cách hổ trợ cho cuộc hành quân đổ bộ chánh của Nhựt ở Luzon.

Trong khi thi hành nhiệm vụ nầy, khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 5 giờ 10 chiều ngày 9 tháng 12, thích thú duy nhứt của tôi là hiệu thính viên theo dõi một công điện đánh đi từ tiềm thủy đỉnh I65 báo cáo việc phát hiện hai chiến hạm Anh Quốc đáng hướng mũi về đoàn tàu chuyển quân đổ bộ của Nhựt đến Mã Lai Á. Sau đó, truyền tin của tôi chuyển đến các báo cáo tin tức về cuộc tấn công của Nhựt chống lại thiết giáp hạm Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse của Anh. Mồ hôi đổ như tắm khi tôi đọc hết công điện này sang công điện khác liên quan đến cuộc tấn công cách tàu của tôi 1.000 dậm nầy.

Thoạt đầu cuộc tấn công đã gây cho tôi cảm giác phức tạp. Đó là cảm giác lẫn lộn kính nể và cảm phục mức độ dàn trận nhanh chóng của hải quân Anh, đồng thời tôi bổng thấy hăng hái chiến đấu và mong muốn thử sức ngay với kẻ thù. Nhưng ý nghĩ tham dự vào trận đánh diễn ra chỉ có tánh cách ước muốn thuần túy, vì tôi không thể nào rời bỏ nhiệm vụ riêng ở đây.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:13:27 pm »


Khi các báo cáo sơ khởi của cuộc tấn công vào các tàu chiến Anh được gởi đi, tôi đã quan tâm rất nhiều. Lúc đó Nhựt chỉ có một khu trục hạm và hai thiết giáp hạm trong hải phận Mã Lai Á. Đó là hai chiếc Haruna và Kirishima, cả hai đều 27.500 tấn. Được đóng năm 1912 và 1913, đó là hai chiến hạm nhiều tuổi nhứt còn hoạt động trong Hải Quân Hoàng Gia. Tôi đã nghĩ hai chiếc tàu nầy không thể chịu đựng nổi bất kì một va chạm nhỏ nào với thiết giáp hạm Prince of Wales “không thể chìm” và Repulse “võ trang tận răng” của Anh Quốc.

Trận bão “công điện” từ vùng phụ cận Mã Lai Á thổi đến hổn loạn. Đề Đốc Shintaro Hashimoto (Tư Lịnh phân đội 3 khu trục hạm) báo cáo rằng các chiến hạm của ông gặp khó khăn khi chạm trán sơ khởi với các chiến hạm Anh. Tiềm thủy đỉnh I62 lúc 4 giờ 30 sáng qua báo cáo thứ 10 cho biết đã mất dấu hai chiến hạm Anh vì gặp phải mưa bão dữ dội. Sau đó, liên lạc vô tuyến dẫm chân lên nhau, và các hệ thống truyền thanh cũng nghe không rõ.

Điều đáng lấy làm lạ là lúc ấy không có một chiến hạm nào của Hoa Kỳ xuất trận để chống lại chúng tôi ở Phi Luật Tân. Hiện thời chỉ có hải quân Anh quần thảo với chúng tôi trên tất cả các hải phận trong khu vực. Bầu trời bổng nhiên quang đang vào lúc 2 giờ trưa, và chúng tôi bắt được công điện nầy: “Không có phi cơ hộ nào được nhìn thấy bay trên các tàu chiến Anh.”. Sau đó thêm nhiều công điện dồn dập cho biết diễn tiến của cuộc tấn công:

“ Không đoàn 22 (Nhựt) oanh tạc thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 20.”

“ Thiết giáp hạm địch bị trúng thủy lôi do phi cơ thả xuống lúc 2 giờ 30.”

“ Thủy lôi của phi cơ trúng trực tiếp vào tuần dương hạm địch lúc 2 giờ 4, và hiện chiếc tàu này nghiêng hẳn về tả mạn.”

“ Một trong năm khu trục hạm địch bốc cháy.”

“ Một thiết giáp hạm địch nổ tung và chìm lúc 2 giờ 50.”

Bây giờ tôi ngơ ngác, không tin những gì đã xảy ra. Phi cơ Nhựt đã đánh chìm hai chiếc Prince of Wales và Repulse!

Tôi không bao giờ tin tưởng thành công của cuộc tấn công Trân Châu Cảng là do khả năng hoàn toàn của không quân, bởi vì lúc ấy địch quân bị đánh trong lúc bất ngờ. Trong tư cách một chuyên viên khu trục hạm, cái nhìn của tôi quá hạn hẹp. Nhưng bây giờ tôi thật sự xúc động qua chiến thắng mà tôi đang theo dõi. Tôi không ngờ khả năng của phi cơ Nhựt đã đạt đến mức ấy.
Nhưng sự cố chấp của tôi vẫn không thay đổi, ngay cả sau trận đánh ngoạn mục Mã Lai Á, với niềm tin bị lung lay chút ít của tôi. Tôi tin rằng hoạt động của phi cơ thường bị vấn đề thời tiết gây trở ngại, các tàu chiến vẫn phải giữ vai trò then chốt, bất chấp mọi thời tiết. Vì đó, trong khi tôi bắt buộc phải tin phi cơ đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh, tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng các khu trục hạm mới thực sự giải quyết các trận đánh trên mặt biển.

Sự bướng bỉnh nầy có thể là một thái độ tốt, vì nó gây cho tôi niềm tin đặt vào các khu trục hạm, khiến tôi càng thêm cố gắng “ghi điểm chiến thắng” trong cuộc chiến Thái Bình Dương, và vẫn còn sống sót sau nhiều trận đánh dữ dội nhứt.


Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:18:23 pm »


3
Vào ngày 15 tháng 2, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt hài lòng về diễn tiến êm đẹp của cuộc hành quân đổ bộ ở Luzon, và xét thấy không cần thiết phải duy trì các cuộc tuần tiểu ở hải phận Legaspi nữa nên đã ra lịnh cho các tàu của chúng tôi trở về Palau. Một cuộc phản công của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đã bị chặn đứng vào thời gian đó. Trong khi lấy nhiên liệu ở Palau, chúng tôi được lịnh hộ tống các tàu chuyển vận đổ bộ lên Davao.

Bảy giờ sáng ngày 17 tháng 12, một đoàn tàu chia ra làm 3 nhóm chuyển vận một trung đoàn bộ binh rời khỏi Palau. Bảy khu trục hạm và hai tuần tiểu đỉnh nhỏ giữ nhiệm vụ hộ tống. Trong chiếc tuần dương hạm Jintsu, Đề đốc Tanaka chỉ huy cuộc hành quân.

Bốn mươi lăm phút sau khi rời khỏi Palau, lúc đang đứng trên đài chỉ huy, nhân viên sonar của tôi báo cáo phát hiện một chiếc tiềm thủy đỉnh cách 2000 thước ở 90 độ hữu mạn. Sự phát hiện nầy giống như những gì đã xảy ra vào “Ngày X”. Bây giờ thì không còn sự lượng lự nào nữa. Chúng tôi tiến đến cách mục tiêu 1000 thước, gia tăng tốc độ lên 21 hải lý, thải xuống 6 trái thủy lôi nổ ngầm, đoan xoay hướng 230 độ và thả thêm sáu trái nữa. Các thủy lôi bùng nổ cách tàu 30 thước. Chúng tôi quan sát mặt nước, không có chứng cớ nào cho thấy cuộc tấn công của chúng tôi có hiệu quả. Tôi cho khu trục hạm của tôi chạy lên phải của nhóm tàu chuyển vận thứ hai và giữ vị trí hộ tống như cũ. Đoàn tàu chạy với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi.

Vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, khu trục hạm Kuroshio chạy ở phía phải của nhóm thứ nhứt báo cáo: “Phát hiện tiềm thủy đỉnh địch quân. Phối hợp với phi cơ tuần thám, chúng tôi đã tấn công chiếc tàu với thủy lôi nổ ngầm. Một khoảng dầu rộng lớn nổi lên mặt nước. Chúng tôi xem như tiềm thủy đỉnh đã bị đánh chìm.”

Công điện nầy đã gây sự “đố kỵ” cho chúng tôi trên chiếc Amatsukaze. Tôi lặng lẽ trao công điện cho các sĩ quan của tôi xem. Họ kêu lên một cách thất vọng. Trước bình minh ngày 20 tháng 12, đoàn tàu tiến vô Vịnh Davao mà không gặp sự ngăn chặn của phi cơ hoặc chiến hạm nào của địch quân. Một cuộc hành quân đổ bộ không phải mới mẻ đối với tôi. Cách năm năm trước đây tôi đã từng nếm mùi hỏa lực của địch quân ở Thượng Hải. Trong cuộc hành quân ở Davao nầy, chúng tôi được lịnh không nổ súng, trừ phi bị thách thức. Chúng tôi muốn chiếm Davao mà khỏi phải đụng chạm và càng ít sự hủy diệt càng tốt. Hai nhóm tàu đã đổ quân một cách thành công.

Các tàu hộ tống chạy chầm chậm trong vòng hải cảng yên tỉnh và hiền hòa. Từ chiếc Amatsukaze, một trung đội của chúng tôi xuống một chiếc cano, đảm trách nhiệm vụ giải giới và bắt giữ tất cả các tàu buôn nhỏ đang đậu trong hải cảng. Nhưng khoảng vài phút sau, 200 địch quân thình lình xuất hiện trên bến tàu và xả súng bắn vào trung đội của chúng tôi đang đi trên chiếc ca nô. Một số thủy thủ bị trúng đạn.

Tôi hét: “ Các pháo khẩu tả mạn khai hỏa”. Câu này giống như tôi đã hét trong cuộc đổ bộ Thượng Hải. Một sự lập lại đần độn mà chính tôi phải rủa thầm.

Sáu khẩu trọng pháo 122 ly xoay nòng và khai hỏa. Không một quả đạn nào trúng ngay vào địch quân chỉ cách 2000 thước, nhưng họ vẫn phân tán và bỏ chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng một địch quan nào.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #33 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:19:09 pm »


“Ngừng bắn!” tôi ra lịnh. Nhưng một quả đạn đã bay ra khỏi nồng súng và một chiếc tàu dầu đậu cách bờ 50 thước bị trúng đạn bùng cháy.

Diễn biến cuộc hành quân nầy khác xa sư hy vọng của tôi. Tôi đã lâp lại một số lỗi lầm vụng về. Tôi không còn làm một chuyên viên khu trục hạm hàng đầu nữa, nhưng là một gã thấp trí và ngu dốt.

Lúc đó, chiếc ca nô trở về với một xác chết. Ngày hôm sau, tôi thi hành đủ lễ tống táng cho Trung Sỹ Tsuneo Horie, thủy thủ đầu tiên của tôi ngã xuống trong cuộc chiến. Chiếc tàu dầu cháy suốt ba ngày ba đêm.

Sau cuộc đổ bộ, chúng tôi bận rộn suốt cả tuần với công việc giải thoát các cư dân trong Nhựt khu vực. Rất may là chỉ có một vài người Nhựt đã bị tập trung ngay khi bắt đầu cuộc chiến.
Không lâu trước đó, các báo cáo thương vong trên một số khu trục hạm khác đã đến chúng tôi. Các khu trục hạm nầy tham dự hành quân ở đảo Wake, tỏ ra còn tồi tệ hơn những gì chúng tôi đã làm ở Davao. Vào ngày 11 tháng 12, khu trục hạm Kisaragi bị các phi cơ của hải quân Hoa Kỳ đóng ở Wake đánh chìm. Cùng ngày, khu trục hạm Hayate, một đồng đội cảu Kisaragi, cũng bị các pháo đội phòng duyên của Hoa Kỳ triệt hạ. Làm sao mà hai chiếc tàu này lại vụng về như vậy.

( Chiếc Kisaragi, 1400 tấn đóng năm 1924 đã tham dự vào Lực Lượng Đặc Nhiệm tấn công Trân Châu Cảng, bị bốn chiến đấu cơ F4F Wildcat từ đảo Wake tấn công bằng bơm 50kg, một trong bốn quả thả trúng sườn phần nằm chìm dưới nước và nổ tung bên dưới tàu và chìm cấp kì, trước đó vài giờ chiếc Hayate, một khu trục hạm 1400 tấn đóng cùng thời với Kisaragi nhưng không cùng lớp, bị các khẩu pháo phòng duyên 127 ly của Hoa Kỳ trên đảo Wake bắn hạ, Hayate trúng 2 phát và chìm với 168 thủy thủ đoàn.)

Nhưng tôi biết còn nhiều chiến hạm khác vụng về hơn khu trục hạm Shinonome chạm phải một trái mìn và chìm ở Miri, Borneo. Báo cáo không thể xác định loại mìn mà chiếc tàu nầy chạm phải là của Nhựt hay của Hòa Lan.

Vào ngày 24 tháng 12, tôi muốn nổi khùng khi nghe tin khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh tấn công bằng thủy lôi và cũng chìm gần Borneo. Đúng là một con mèo bị một con chuột nuốt. Sau đó chúng tôi biết được chiếc tiềm thủy đỉnh đạt được chiến công này là chiếc K16 của Hòa Lan.

(Hai khu trục hạm Shinonome và Sagiri cùng lớp Fubuki, trọng tải 2000 tấn, chiếc Shinonome chạm phải mìn và chím với tất cả thủy thủ đoàn. Chiếc Sagiri bị trúng thủy lôi từ tiềm thủy đỉnh KXVI của Hòa Lan và chìm với 121 người thuộc tiềm thủy đỉnh đoàn, 120 người sống sót được khu trục hạm “đàn chị” Shirakumo cứu thoát).

Nhưng tin khu trục hạm Kuroshio thuộc phân đội của tôi đã thành công trong việc đánh chìm một tiềm thủy đỉnh của địch quân đã gây phấn khởi và gở thể diện cho chúng tôi phần nào. Nhưng ngày 23 tháng 12, chiếc tàu nầy đã “ngủ quên” và bị một chiếc phi cơ xuất hiện thình lình tấn công. Rõ ràng Kuroshio không tin là có phi cơ Đồng Minh hoạt động quanh quẩn khu vực. Chiếc phi cơ, một pháo đài B17, xà xuống dội một loạt bom, và một trong những trái bom đã trung ngay chiếc tàu gây nhiều thương vong.

Câu chuyện nầy không được tiết lộ ra ngoài, nó đã bị chôn vùi hẳn giữa những chiến công ngoạn mục của Nhật Bản được quảng bá rộng rãi vào thời gian ấy. Nghe được các tin tức nầy tôi càng thêm rầu rĩ. Người thường nói chiến tranh là một loạt những sai lầm, nhưng những sai lầm của Nhật Bản không thể nào chấp nhận được. Những thiệt hại như thế đã khiến tôi giận dữ tột độ, và tên Hạm Trưởng do dự, đắn đo một tháng trước đây không còn trong tôi nữa. Tôi trở thành một người mới, hung tợn và dứt khoát.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #34 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:19:44 pm »


Sự sai lầm của chúng tôi cứ tiếp tục trong suốt tháng ngày đầu của cuộc chiến. Một việc xảy ra vào ngày 4 tháng 1 năm 1942 khiến tôi điên tiết. Vào ngày đó, 14 chiến hạm quan trọng, bao gồm hầu hết lực lượng trên biển của Nhật nằm trong khu vực, đậu ở hải cảng nhỏ Malalag trên bờ Tây Vịnh Davao. Hải khẩu thật nhỏ hẹp và Đề Đốc Tư Lịnh đã ra lịnh đóng lại bằng một màn lưới chống tiềm thủy đỉnh.

Lúc đang dùng bữa trưa, tôi nghe tiếng la của thủy thủ canh gác: “Phi cơ tấn công!”. Chúng tôi nhìn lên trời và thấy 9 oanh tạc cơ 4 máy đang bay trên cao độ 30.000 bộ. Chúng tôi biết đây là loại B17, các pháo đài bay, bởi thời gian đó Nhật chỉ có loại “tàu bay” Kawanishi bốn máy.
Sĩ quan và thủy thủ chạy ùa vào vị trí chiến đấu. Nhưng mà chay vào vị trí chiến đấu để làm gì? Chúng tôi bó tay trước hải hải khẩu nhỏ bé đã bị đóng kín. Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là đứng nhìn. Các khẩu súng của chúng tôi không thể nào chạm tới các pháo đài bay đó, và lúc đó cũng không có chiến đấu cơ nào của Nhật cất cánh nghinh chiến.

Tôi khoanh tay nhìn những quả bom được trút xuống. Rất may là các oanh tạc cơ Hoa Kỳ, hiển nhiên là mới đến Java, không mang theo bom hạng nặng và nhắm mục tiêu không chính xác. Một quả bom 250 cân Anh trúng thẳng vào tháp súng thứ hai của tuần dương hạm Myoko đậu chính giữa hải cảng, gây cho hơn 20 người chết và 40 người khác bị thương. Mảnh của quả bom này văng qua chiếc tàu chở thủy phi cơ Chitose đậu cách đó 500 thước và phá hủy 5 phi cơ trên sàn tàu. Không một phi cơ nào của Nhật cất cánh để truy đuổi các oanh tạc cơ địch.

Khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cạnh bãi biển và không thể nhấc một tấc nào để tránh các quả bom rơi xuống. Chúng tôi đã thoát được nhờ may mắn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn rầu hơn ngày hôm đó, khi dõi theo tuần dương hạm Myoko, một đồng đội của tôi từ ngày X (tức ngày phát động cuộc hành quân), “khập khểnh” rời khỏi Vịnh Davao trên đường trở về Nhật để sửa chửa.

Chúng tôi không thể nào chấp nhận được loại ngu xuẩn nầy.

(Tuần Dương Hạm hạng nặng Myoko, trọng tải 13.300 tấn, dài 204 m và có thể đạt tốc độ 36 hải lý (67km/h), đóng tháng 10 năm 1924 và hoàn tất vào tháng 7 năm 1931, trang bị 10 pháo khẩu 203 ly, hỏa lực mạnh nhất của một tuần dương hạm vào thời đó, đây là chiếc đầu tiên của class nầy, ba chiếc được hoàn tất sau đó là Nachi, Ashigara và Haguro. Chiến hạm nầy tham gia tất cả các trận đánh lớn trên Thái Bình Dương và sống sót sau cuộc chiến. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Myoko đầu hàng quân Anh ở Singapore và đến ngày 7 tháng 6 năm 1946 nó bị quân Anh đánh đắm hủy tàu ở eo biển Malacca.

Số phận của tàu chở thủy phi cơ Chitose, nguyên là một tàu chở thủy phi cơ được hạ thủy vào năm 1936, nó được cải biến thành một tàu sân bay hạng nhẹ vào năm 1943. Nó bị đánh đắm trong Trận chiến vịnh Leyte vào ngày 25 tháng 10 năm 1944 khi tham gia chiến dịch Sho ichi Go, Chitose nằm trong lực lượng “chim mồi” do Đô Đốc Ozawa chỉ huy, Chitose bị đánh chìm bởi ngư lôi trong đợt tấn công thứ nhất của Lực lượng Đặc nhiệm TF 38 do máy bay cất cánh từ tàu sân bay Essex ngoài khơi mũi Engano. Ngoài ra còn một chiếc tàu nữa cũng mang tên Chitose nhưng là tuần dương hạm. )

Tin nầy thật đáng buồn. Vợ tôi thuộc gia đình lương thiện, tôi chắc nàng không quen với “cái loại” nầy. Để giải buồn tôi uống liên tiếp nhiều ly sa kê.

Có một gói hàng do người bạn thâm niên nhứt của tôi hiện sống ở Osaka gởi đến. Trong đó là một cái áo lót với 1.000 mảnh vãi đủ màu sắt được khâu lại bằng tay. Theo cổ tục, cái áo lót nầy đối với người Nhựt chẳng khác nào lá bùa hộ mạng chống được vũ khí của kẻ thù. Trong thơ, bà vợ của bạn tôi cho biết bà ta đã đứng ở một góc phố để nài nĩ 999 người đàn bà khác mỗi người cho một mãnh vải. Cảm kích tôi mặc ngay chiếc áo lót vào mình cho dù tôi không tin tưởng cổ tục dị đoan nầy.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười, 2010, 01:25:18 pm gửi bởi cuckoovn » Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #35 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:22:52 pm »


4
Vào tháng Giêng năm 1942, tôi tham dự cuộc đổ bộ East Indie (một nhóm đảo thuộc Hòa Lan), để hổ trợ cho các cuộc hành quân đổ bộ ở Menado và Kendari. Cả hai cuộc đổ bộ đều không gặp chống đối quan trọng nào của hải quân phòng thủ địa phương, nhưng khả năng không yểm nghèo nàn của chúng tôi là một điềm xấu báo trước tương lai, hải quân Nhật không đủ phi cơ để bao che các cuộc đổ bộ, và chúng tôi nhận thấy một số phi cơ được lái bởi những tay mơ. Không được huấn luyện đúng mức, những phi công kém khả năng nầy thường báo cáo chiếc “tầu ma”. Oanh tạc mấy con cá voi mà họ tưởng lầm là tiềm thủy đỉnh, và còn bắn rơi cả vận tải cơ bạn trong lúc xảy ra các cuộc không chiến hổn loạn.

Tôi lại gặp thêm một vố không hài lòng nữa trong việc săn đuổi một tiềm thủy đỉnh. Vào đêm 31 tháng Giêng, trong khi hộ tống đoàn tàu chuyển vận quân đổ bộ lên đảo Ambon ở vịnh Bill, với đèn pha, toi phát hiện dấu vết một tàu ngầm xuất hiện trên biển. Ba quả đạn nổ ngầm được thả xuống nhưng không trunsng, và chiếc tàu ngầm cao bay xa chạy.

Tiếc rẽ, tôi báo hiệu sự thất bại của chúng tôi cho các chiến hạm khác, cho biết chiếc tàu ngầm có thể chưa bị tổn hại, và vì đó, không chừng nó sẽ quay trở lại. Mồ hôi tôi tươm suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi lo ngại tiềm thủy đỉnh địch sẽ chọn mục tiên dễ dàng nhất là các chuyển vận hạm chở quân nặng nề chậm chạp để tấn công. Chúng tôi tăng cường thêm máy sonar để theo dõi, nhưng không còn phát hiện dấu vết của chiếc tàu lặn đâu nữa. Tuy vậy sự bồn chồn lo lắng của tôi cho đến 1 giờ khuya mới hết, tức là lúc đoàn tàu của chúng tôi đã đến điểm đổ bộ.

Cuộc đổ bộ bắt đầu vào lúc 1 giờ 20 khuya ngày 1 tháng 2, và không hề có bất kì một cuộc pháo kích nào của các chiến hạm Nhật để dọn đường trước đó. Việc nầy không theo đúng sự sắp xếp. Sau khi chúng tôi tấn công chiếc tàu ngầm thì thế nào địch quân cũng biết và đã báo động toàn thể. Tôi nghĩ trong tình trạng đó, nếu cuộc đổ bộ không được dọn đường trước là một việc vô lý.

Tuy nhiên, không có lịnh pháo kích nào được soái hạm ban ra. Sau đó Đề Đốc Tanaka có giải thích với tôi sỡ dĩ ông bỏ qua không dọn đường cho cuộc đổ bộ là vì ông đo lường sự yếu kém của địch quân, cho dù họ có chuẩn bị trước đi nữa, Tanaka cũng cho biết một lí do khác đó là việc “tiết kiệm đạn càng nhiều càng tốt”. Lý do nầy chắc khiến người Mỹ buồn cười, nhưng đó là một sự thật không thể chối cải. Trong việc theo đuổi cuộc chiến vĩ đại đó, hai chữ “tiết kiệm” luôn luôn được nhắc nhở bên tai chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đã lấy làm “khó hiểu” khi biết Hoa Kỳ đã dội bom xối xả và pháo kích như mưa để dọn đường cho các cuộc đổ quân của họ.

Các xạ thủ hải quân được huấn luyện tác xạ với các quả đạn pháo thông thường. Loại đạn tầm hướng, như Hoa Kỳ đã sử dụng, chúng tôi hoàn toàn không có, và việc nầy cũng là lý do không chính xác của chúng tôi trong khi tấn công tiềm thủy đỉnh.

Lực lượng đổ bộ, như tôi dự liệu, đã bị hỏa lực từ đất liền của địch quân chận đứng ngay trên bãi biển. Trung tá hải quân Konosuke Ieki, chỉ huy cuộc đổ bộ, đã báo cáo vào lúc 2 giờ khuya: “chúng tôi bị chận đứng hẳn và cuộc đổ bộ khó xúc tiến.” Nhưng ông không yêu cầu oanh kích dọn đường.

Trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, tôi lồng lộn với nổi bực tức. Tình thế tồi tệ mọi phương diện. Cuối cùng, lúc 3 giờ 20, lực lượng đổ bộ cho biết đầu cầu đã được thiết lập an toàn. Nhưng lại thêm rắc rối đang chờ họ phía trước. Lúc 5 giờ sáng: “ Hỏa lực địch quân từ các công sự kiên cố chụp lên hai bên cạnh sườn chúng tôi.”
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #36 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:23:54 pm »


Và liền ngay đó, báo cáo cho biết Trung Tá Ieki đã đền nợ nước. Thật đáng buồn cười. Tại sao ông lại chết như vậy? Một cuộc oanh kích và hỏa lực yểm trợ sơ khởi của các tàu chiến sẽ tiết kiệm được đời sống của ông ta và nhiều người khác nữa. Ngu dốt! Ngu dốt!

Tiếp theo sau tin buồn này là lịnh của Đô Đốc Raizo Tanaka: “ Tất cả các tàu hộ tống tiến vào bờ để nhặt thương vong.”. Amatsukaze “lãnh được” 30 xác chết và 90 người bị thương. Trong khi cuộc chiến đấu trên bộ không có lối thoát. Hiện thời chiến hạm không thể nào khai hỏa vì tình trạng hổn đấu của đôi bên. Cuối cùng, vào sáng hôm sau, thủy phi cơ từ chiếc Chitose được thả xuống và cất cánh đến tấn công các công sự kiên cố của địch. Không có một chiến đấu cơ hoặc oanh tạc cơ nào của các hàng không mẫu hạm Hiryu và Soryu xuất hiện. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao lại có sự khiếm khuyết phối hợp hành động như vây.

Các thủy phi cơ cất cánh mỗi lần 6 chiếc, do các phi công giỏi lái, đã tấn công chính xác các vị trí đặt súng của địch quân. Sau đó, thủy phi cơ của chúng tôi nghinh chiến với các oanh tạc cơ của địch quân bay đến từ East Indie và bắn hạ được hai chiếc. Nhựt không thiệt hại chiếc nào. Hai trăm quân phòng thủ Úc Đại Lợi – Hòa Lan, đã đầu hàng vào buổi chiều đầu tiên của cuộc đổ bộ, tức ngày 1 tháng 2 năm 1942, và tất cả đều bị bắt làm tù binh. Quân phòng thủ bị bắt cho biết họ có gài 70 quả thủy lôi tại hải cảng chánh ở phía Bắc của đảo Ambon. Suốt một tuần, các trục lôi hạm của chúng tôi đã lãnh nhiệm vụ vớt những quả thủy lôi nầy. Ba chiếc đã chạm phải thủy lôi và chìm chung với toàn thể thủy thủ đoàn.

Hai ngày sau cuộc đầu hàng, một chuyển vận hạm Nhựt chạy gần hải khẩu đã báo hiệu: “Tàu đang bị tấn công bằng thủy lôi từ hướng biển”. Nhưng rất may là không có trái thủy lôi nào trúng mục tiên, dù vậy chúng tôi vẫn náo động, và khu trục hạm của tôi được phái đi lập tức. Tôi đoán các trái thủy lôi có lẽ do chiếc tiềm thủy đỉnh đã thoát khỏi tay tôi ba ngày trước đây phóng ra. Tôi quyết tìm cho ra và đánh chìm chiếc tàu nầy.

Năm tiếng đồng hồ, Amatsukaze đã lướt trên mặt biển với tốc độ 11 hải lý. Nếu tàu chạy nhanh hơn, các máy sonar của chúng tôi sẽ vô hiệu, nhưng chạy chậm như thế nầy thì lại là miếng mồi ngon đối với tiềm thủy đỉnh, cho dù một chiếc khu trục hạm được võ trang mọi loại vũ khí chống tàu ngầm hữu hiệu nhứt. Tôi nghĩ đó là lí do khu trục hạm Sagiri bị một tiềm thủy đỉnh đánh chìm gần Borneo vào tháng 12 vừa qua.

Nhưng một khi chạy chậm chạp để theo dấu đối thủ, một khu trục hạm luôn luôn đề phòng. Vì vậy, nếu bất kì một tiềm thủy đỉnh nào bị hấp dẫn bởi tốc độ đầy quyến rũ của Amatsukaze tôi sẵn sàng tiếp đón. Nhưng chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào cho đến khi giờ thứ năm chậm chạp trôi qua, tình thế bổng nhiên sôi động bất ngờ.

Lúc 9 giờ 31 tôi, một nhân viên sonar mừng quýnh la lên: “Tàu ngầm! Cách 2.400 thước, ở 10 độ tả mạn.”

Tôi ra lịnh: “Mọi người vào vị trí chiến đấu! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm! Tám trái! Độ sâu 50 thước.”

Sĩ quan sonar nói một câu có ca có kệ theo nghề nghiệp: “ Tiềm Thủy Đỉnh địch cách 1.800 thước, 40 độ tả mạn.”

Hướng tiến của Amatsukaze được điều chỉnh theo gốc độ mới. Lúc 9 giờ 53, sĩ quan sonar kêu lên đầy thất vọng: “Mất dấu chiếc tàu”

Tin nầy gây nên một sự yên lặng kỳ lạ. Tôi đoán ngay là chiếc tiềm thủy đỉnh đã biến vào một góc mù, và hai chiếc tàu đã cùng chạy một hướng.
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #37 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:24:28 pm »


Trong thời gian nầy, các máy dò tàu ngầm của người Nhựt hoạt động dựa trên nguyên tắc phát hiện ra các luồng sóng âm thanh và tính ra khoảng cách của mục tiêu qua các luồng sóng dội lại. Phương cách nầy không đủ bén nhạy để bắt tiếng động do các máy móc tàu ngầm tạo ra.

Trong đầu tôi lúc ấy tràn ngập các bài toán về trắc giác và khoảng cách. Tôi ngẩm nghĩ: “Chiếc tàu ngầm bây giờ phải ở 180 độ, di chuyển 9 hải lý, cách 1.000 thước và sâu khoảng 30 thước.”. Tôi ra lịnh gia tăng tốc độ của Amatsukaze lên 21 hải lý và liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Tôi vẻ ngay đường cong di chuyển của hai chiếc tàu trong trí. Lúc 9 giờ 68 phút, 8 trái thủy lôi nổ ngầm được phóng ra khi tôi tin chiếc tiềm thủy đỉnh đang nằm ngay phía dưới.

Chiếc Amatsukaze giảm tốc độ và xoay lại, và một loạt thủy lôi khác được thả xuống. Trong đêm tối, mùi dầu diesel bổng bốc lên nồng nặc, nhưng chúng tôi không thể nhìn thấy một vật gì cả.

Mùi dầu bốc lên mạnh mẽ hơn. Chúng tôi biết rõ chiến thuật xông hương của các tiềm thủy đỉnh khi bị tấn công. Trong khi lẩn tránh, các tàu nầy thường xả dầu ra, nhằm đánh lừa những kẻ săn đuổi ngở rằng chúng đã bị đánh chìm. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi quần nát khu vực, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào.

Bốn ngày trôi qua, không hề có một tin tức nào khác về chiếc tàu nầy. Hiển nhiên là tôi đã ghi được một “điểm thẳng”. Tôi nhận thấy có rất ít thực tế trong cuộc chiến gây được sự phấn khởi. Tôi đã học hỏi khác nhiều trong cuộc hành quân Ambon.

Vào ngày 9 tháng 2, trong nhiệm vụ hộ tống chuyển vận hạm Kirishima Maru và di tản một số thương vong của các trận đánh Ambon, tôi trở lại Davao, chuyến đi êm ả.

Davao hoàn toàn yên tỉnh. Những cuộc xung đột ở Phi Luật Tân hiện tại giới hạn ở bán đảo Bataan, và đảo Corregidor. Các mặt trận khác kéo xa về hướng Nam. Hơn một tháng, Davao chẳng thấy bóng dáng phi cơ địch nào.

Hàng đống thơ từ của gia đình đang chờ đợi chúng tôi. Trong số cũng có nhiều kiện hàng và những “món quà êm ái” của một số thân thuộc và bạn bè dân sự ở quê hương gởi đến.

Khi về đến Davao, lần đầu tiên trong suốt 20 ngày, tôi được tắm rữa một bữa thỏa thích. Khi một khu trục hạm đang thi hành nhiệm vụ, kể cả Hạm Trưởng cũng không dám xài phí nước nôi. Sau khi ra lịnh cho thủy thủ tự do tắm rửa, tôi trở vào cabin nằm một cách thoải mái. Gian hàng trên tàu cũng được mở cửa để bán rượu, kẹo và vật dụng linh tinh khác cho thủy thủ. Thủy thủ được chỉ được phép mua và uống rượu mạn trên tàu với sự ưng thuận của hạm trưởng.

Cho dù phòng ngủ của tôi nhỏ bé, nhưng vẫn là chổ tốt nhứt trên tàu. Gian phòng rộng không đầy 4 thước vuông trám đầy một cái giường ngủ, một bàn tròn nhỏ, một bàn rửa mặt, một tủ quần áo, một ghế bành và một ghế đẩu. Trên bàn đặt một tấm ảnh toàn thể gia đình tôi.

Murata, một thủy thủ trẻ đến giao thơ cho tôi kèm theo nhiều gói hàng nhỏ khác. Tôi hỏi: “Anh có nhận được thơ không, Murata?”. “Dạ có, thưa hạm trưởng.” Hắn hớn hở chào tôi và quay bước.

Tôi xem một lá thơ do vợ tôi gởi đề ngày 4 tháng giêng. Nàng cho tôi biết các con và nàng vẫn vui mạnh. Tuy nhiên, câu tái bút nàng báo cho tôi một tin khá phiền “Hôm kia, em dẫn các con lên Đông Kinh để thăm bà con, khi em trở về nhà ở Kamakura thì thấy cửa đóng, và người tớ gái đã biến mất với một số đồ đạc có giá trị của chúng ta.”
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #38 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:25:47 pm »


Thơ của người anh báo một tin buồn khác. Con trai trưởng của anh tôi, Shigeyoshi Hashimoto, 25 tuổi, một sĩ quan phục vụ trong Sư Đoàn 4 Bộ Binh, đã chết vì bịnh lao vào tháng 12. Đứa cháu nầy đã được tôi đặt nhiều hi vọng. Tôi nhắm mắt và cầu nguyện cho linh hồn của nó. Xúc động sâu xa, tôi không xem thơ nữa, sau khi uống thêm vài ly rượu, tôi thả bước lên đài chỉ huy. Hôm nay là một ngày đẹp trời.

Hải cảng đẹp mắt dưới ánh nắng rực rở của miền nhiệt đới. Viên sĩ quan đang ngồi nhìn lên bờ biển mơ màng. Hắn đứng dậy chào tôi. Tôi nói: “Hảy bảo cho mọi người biết tôi “xả tàu” ngày mai. Thủy thủ sẽ lên bờ mỗi nhóm 3 người và được ba giờ tự do.”
Đôi mắt viên Đại úy ánh lên nổi thích thú và lập tức loan truyền tin vui nầy. Suốt 50 ngày qua, không một ai trong số 300 thủy thủ của tôi được lên bờ, thành thử lịnh của tôi đã được đón nhận một cách ồn ào.

Tôi trở về cabin và mở một lá thơ khác. Bức thơ nầy đến từ Kure, nhưng tên người ngoài phong bì hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Thơ viết: “Tôi là Hinaniku, một trong những vũ nữ hành nghề tại hộp đêm mà trước chiến tranh ông thường lui tới.” Tôi kêu trời. Tôi, một người cha của ba đứa trẻ, chắc chắn không bao giờ liệu trước một bức thơ tình của một vũ nữ như thế nầy. Bức thơ tràn ngập những lời lẽ yêu thương tầm thường, chỉ có câu kết thúc đáng lưu ý: “Bà chủ hộp đêm luôn luôn nhắc với tôi về việc ông, vì ra đi bất thình lình, nên đã quên thanh toán khoảng tiền thiếu. Lúc nào thấy thuận tiện, xin ông gởi trả số tiền nầy, chúng tôi rất lấy làm hân hạnh.” Dĩ nhiên câu nầy khiến tôi đỏ mặt. Tôi chán tôi vô cùng. Bổng nhiên tôi muốn say, và tôi hạ gục thêm một chai sa kê nữa.

Gói hàng cuối cùng từ Hiroshima gởi đến, tôi đoán biết là một “món quà êm ái” do chữ viết non nót của người gởi. Học sinh Nhật Bản thường gởi những món quà nhỏ và một vài giòng chữ cho các quân nhân ở tiền tuyến mà chúng chưa hề quen biết. Món quà của tôi gồm một bức ảnh chụp thắng cảnh ở Hiroshima, một bức họa do chính tay người gởi vẻ, một số phong bì và giấy viết thơ, và kèm theo mấy dòng chữ: “Em là một nữ sinh 9 tuổi ở Hiroshima. Tất cả chúng em ở đây đều chăm học. Vì lợi ích của tổ quốc, chúng em thành tâm cầu chúc ông sẽ cố gắng chiến đấu.”
Đây là bức thơ duy nhất gây cho tôi sự xúc động thật sưh. Tôi thôi uống rượu và bắt đầu viết thơ trả lời cho cô bé không quen biết ở Hiroshima: “ Cô bé thân mến của tôi. Tôi cảm ơn em rất nhiều về món quà mà em đã gởi tới cho tôi. Tôi là hạm trưởng của một khu trục hạm. Tôi hân hoan và sung sướng nhận lời cầu chúc của em.”

Ngày hôm sau tôi lên bờ cùng với nhóm thủy thủ được tự do ba tiếng đồng hồ đầu tiên. Thật dễ chịu khi nhìn thấy phố xá Davao không bị chiến tranh tàn phá. Thủy thủ của tôi vầy đoàn với những thủy thủ của các tàu khác đang buông neo trong hải cảng. Các bà nội trợ Nhật trong thành phố đã lập ra nhiều địa điểm tiếp đãi binh sĩ đồng hương với hàng chữ: “Xin tự tiện dùng trà và café. Quà mọn của những người đồng hương với các bạn.”

Người Phi Luật Tân cũng dạo chơi nhàn nhã trên các đường phố. Trai thanh gái lịch ăn mặc chải chuốc đi lại dập dìu. Tuy nhiên, tôi đã chú ý và ngạc nhiên khi thấy tất cả đều đi chân không. Trên đường phố Nhật Bản không người nào đi chân không cả, dù giàu hay nghèo ai ai cũng mang giày hoặc guốc. Cảnh trước mắt lạ lùng đối với tôi.

Các rạp hát đều chiếu mấy cuốn phim mới nhứt của người Mỹ. Tôi chú ý hàng chữ trên tấm biển treo trước một vài căn nhà dọc theo đường phố: “Trung Tâm giải trí của quân đội Nhật Bản ”. Nhiều thủy thủ và binh sĩ đứng nối đuôi phía dưới những căn nhà nầy. Đây là những ổ điếm của người Nhựt, Triều Tiên và Okinawa đã di chuyển theo chân quân đội Nhật,

Tôi nhận thấy đám đông đang xếp hàng có vẽ hơi khó chịu, hiển nhiên là do sự hiện diện của tôi. Tôi nói với viên Đại Úy đi cùng với tôi: “Cứ tự tiện ở đây. Tôi phải đến Tổng Hành Dinh. Trưa tôi sẽ gặp lại anh. Hãy thận trọng, mấy ông sếp lớn của chúng ta đang có mặt ở bến tàu.”
“Dạ, dạ thưa Trung Tá,” Viên Đại úy mỉm cười.

Khi tôi bỏ đi, nhóm lính phía sau la to một cách vui vẻ: “Hoan hô! Hạm trưởng của chúng ta muôn năm!.”
Logged
cuckoovn
Thành viên
*
Bài viết: 371


Súng không lau súng mau han rỉ


« Trả lời #39 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2010, 01:31:06 pm »

5
Vào ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1942, tôi tham dự trận đánh ở biển Java. Đây là một trong vài trận hải chiến quan trọng hồi đệ nhị thế chiến, được xem là vang danh, nhưng không hề có một chiến đấu cơ nào tham chiến. Vì vậy, trận hải chiến nầy đáng được mô tả và phân tích đầy đủ.

Đã có nhiều quyển sách của các tác giả Đồng Minh cũng Nhật Bản viết về câu chuyện nầy. Hầu hết các quyển sách của Đồng Minh được viết gấp rút ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nên các tác giả hình như đã vượt quá giới hạn của chứng liệu lịch sử và sự khách quan. Còn về phía Nhật Bản cũng chẳng hơn gì, các quyển sách được viết ra đều gây cảm giác không trung thực và chính xác. Nhưng một phần khác là do các chỉ huy trưởng bại trận và thối chí, họ không đủ can đảm cung cấp những chi tiết khách quan của các trận đánh mà họ đã tham gia.

Hầu hết các sĩ quan chỉ huy chiến hạm Đồng Minh tham dự cuộc hải chiến ở biển Java đều đã chết trận, vì vậy khó thể thâu thập được tất cả chi tiêu bên phía Đồng Minh.

Đề đốc Takeo Takagi, Tư Lịnh Nhựt trong cuộc hải chiến nầy, đã thiệt mạng ở Saipan vào năm 1944. Hai sĩ quan trong bộ tham mưu ông còn sống sót, đó là Tham Mưu Trưởng của ông, Đại Tá Nagasawa, hiện là Thủy Sư Đô Đốc, Tổng Tư Lịnh Tân Hải Quân Nhật Bản, và phụ tá của Nagasawa là Thiếu Tá Kotaro Ishikawa từng là sĩ quan tình báo của Takagi. Trước khi viết chương nầy tôi đã đến gặp và thảo luận khá lâu với hai nhân vật nầy cũng như một số người còn sống sót có liên quan đến trận đánh ở biển Java.

Trong trận đánh nầy, thoạt đầu lực lượng Đồng Minh bao gồm ba tuần dương hạm hạng nặng, hai tuần dương hạm hạng nhẹ và 11 khu trục hạm cố gắng bao vây và tiêu diệt 41 chuyển vận hạm chạy chậm chạp vì chở cả một sư đoàn bộ binh, và các tàu hộ tống của Nhựt, gồm 10 khu trục hạm và 2 tuần dương hạm hạng nhẹ. Ngoài ra Nhựt còn có hai tuần dương hạm hạng nặng được cắt đặt trong cuộc chuyển vận nầy, nhưng cả hai chỉ lẻo đẻo cách phía sau 150 dậm.

Với tất cả lợi thế và lực lượng vượt trội, nhưng Đồng Minh không đánh chìm được một chiếc tàu nào của Nhựt. Theo ý kiến của tôi thì tinh thần là yếu tố thực sự quyết định cuộc đụng độ nầy, và có thể lấy yếu tố nầy để so sánh với cuộc đụng độ ở Vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944 sau nầy, Tư Lịnh Phó Đô Đốc Takeo Kurita, đã đóng một vai trò giống hệt như vai trò mà Hạm Đội của Đề Đốc Hòa Lan K.W.F.M Dorman đã đóng trong trận đánh ở biển Java.

Ở vịnh Leyte, Phó Đô Đốc Kurita đã dồn hẳn bốn hàng không mẫu hạm của Đồng Minh vào rọ và ông chỉ còn giơ tay đấm xuống nữa là xong. Nhưng chỉ vì một chút ngần ngừ, ông đã mất dịp may bằng vàng. Đó là những gì mà hạm đội Đồng Minh đã vấp phải ở Java.

Kurita đến Leyte với sự quyết tâm, nhưng đồng thời ông cũng ý thức là ông không hề có một cơ may nào chiến thắng trước lực lượng ưu việt của địch quân. Đó là nguyên nhân gây ra sự ngần ngừ khi ông giơ cú đấm để giáng xuống.

Vào tháng 2 năm 1942, một không khí tuyệt vọng bao trùm các sĩ quan Đồng Minh ở Surabaya. Họ thấy có ít hoặc không có dịp may tồn tại. Mười lăm tàu chiến thuộc Hạm Đội Đồng Minh vô đây vá víu lại các vết thương, và tất cả đều biết số phận thực sự được định đoạt trong vòng một tuần lễ, khi quả đấm cuối cùng của Nhựt giáng xuống.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM