Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:30:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghĩa Tình Đồng Đội  (Đọc 44055 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #30 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:47:26 pm »

Trong thời gian dài bị bắt, anh đã trải qua 3 trại giam của địch là Quy Nhớn, Phú Tài, Phú Quốc. Ở trong nhà tù của địch, các anh vẫn nêu cao khí tiết của người cách mạng, như không chịu chào cờ “Ba que”, không chịu chào quân cảnh. Vì vậy mà anh đã bị xếp vào loại tù binh có máu mặt cùng với anh La Văn Hậu (trung đoàn 22), Nguyễn Mai (trung đoàn 2), Nguyễn Tâm (tỉnh đội trưởng Khánh Hoà).
   
Anh kể tiếp:
   
Khoảng tháng 2, 3 năm 1972 quân ta tiến đánh các mục tiêu quận Hoài Ân, Phù Mỹ, Bồng Sơn thuộc tỉnh Bình Định, địch chuyển trại tù binh nữ vào Cần Thơ, sau đó ra Phú Quốc. Anh cũng bị chuyển ra đảo Phú Quốc luôn. Chúng đưa anh qua khu KD9, là nơi giam giữ toàn tù binh bị thương nặng. Địch thường gọi là khu “tàn phế”. Đến đây, anh đã được gặp lại một số anh em quen biết và cùng hoạt động với nhau ở tỉnh Quảng Ngãi và nhận nhau là đồng hương. Anh được bầu vào ban lãnh đạo Đảng uỷ (tất nhiên là hoạt động bí mật trong tù). Tưởng là yên ổn để chờ dịp trở về với đồng đội thì một tình huống rắc rối đã xảy ra: Số là trong trại KD9 có đồng chí Hạnh là chiến sĩ trinh sát của D4 bị bắt vào đây. Gặp anh, mừng quá nên Hạnh đã nói: “Đó là thủ trưởng trung đoàn tôi, chứ không phải là giao liên đâu!”. Bọn địch nghe được, anh phải chống chọi mấy tháng trời, chết đi sống lại dưới bàn tay tàn bạo của kẻ thù. Nhưng rồi cũng qua đi. Sau này Hạnh rất ân hận về sự nông nổi của mình… Từ đó anh vẫn mang cái tên Ngô Văn Hiền, sinh hoạt đồng hương với số anh em quê Quảng Ngãi. Ngoài tổ chức chi bộ, chi đoàn, còn có hội đồng hương để quản lý nhau và giúp nhau giữ trọn khí tiết của một quân nhân trong nhà tù của địch. Khoảng tháng 3 – 1973, anh nằm trong số anh chị em được trao trả tại Lộc Ninh.
   
Gặp lại anh, có nhiều người hỏi: “Cái gì tạo cho anh sức mạn để vượt qua những thử thách trong nhà tù đế quốc?”. Anh trả lời: “Trong quân đội có 10 lời thề danh dự, trong đó có ý: khi ra trận mạc quyết chí xung phong, dù đầu rơi máu chảy cũng không lùi bước. Nếu bị quân địch bắt, dù phải chịu cực hình tàn khốc thế nào cũng cương quyết một lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng, không bao giờ phản bội, cung khai…”. Đó là danh dự của người quân nhân cách mạng.
   
Để chứng minh lòng trung thành với Đảng, anh cho biết: “Khi được về lại với đồng đội, quân khu 5 đã công nhận thời gian liên tục của tuổi Đảng, tuổi quân và tặng huân chương chiến công hạng Ba, vì có thành tích giữ bí mật của Đảng, của quân đội trong thời gian bị địch cầm tù.”. Sau đó anh được thăng quân hàm trung tá và được giải quyết chính sách hưu trí.
   
Về tỉnh Bình Định, nơi anh đã sống và chiến đấu, hiện còn nhiều anh chị em cứ gọi: “Chú Hiền ơi! Về Quảng Ngãi mà ở, sao lại ở Quy Nhơn!”… Mặc dù tên anh là Phan Văn Bảy, được sinh ra ở xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định - Họ đã có ý nhắc lại những gì anh khai với địch trước đây. Qua câu chuyện về anh, tôi bồi hồi nhớ lại cái đêm kinh hoàng đó; Cái đêm mà tiểu đoàn tôi vượt qua đường 19 đã bị tổn thất nặng nề. Đêm đó, may mắn tôi thoát chết, còn anh thì bị sa vào tay giặc.
   
Đã 36 năm trôi qua, tôi đã tìm lại được một nhân chứng thực mà tôi đã có lần viết trong cuốn hồi ký mang tự đề “Cuộc chiến đấu tự nguyện” – Nhà xuất bản Thanh Niên – 2005. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn tái bản 2007.

TP.HCM 12 – 2006.
                  
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #31 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:53:39 pm »

ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG LÊ XUÂN CHI

Sau ngày nhập ngũ vào quân đội, cuối năm 1964, tôi được biên chế vào đại đội công binh, thuộc sư đoàn 325 chuẩn bị đi B (vào miền Nam)
   
Đại đội công binh có khoảng 150 người. Đồng chí Lê Xuân Chi làm đại đội trưởng; Trần Hữu Biên – chính trị viên. Hai đồng chí đều quê tỉnh Nghệ An. Hồi đó, chúng tôi đóng quân ở huyện miền núi, Tuyên Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình – huấn luyện để chuẩn bị vào chiến trường miền Nam.
   
Trong đại đội, có một đồng chí trùng họ, trùng tên, cùng ở một huyện và có thể cùng một tuổi với tôi. Để phân biệt nhau, đại đội trưởng Lê Xuân Chi thường gọi tôi là “Hồng đen”, vì tôi có nước da ngăm đen. Còn đồng chí kia có nước da trắng như con gái, nên được đặt cho cái tên “Hồng trắng”. Chỉ một chi tiết nhỏ này mà làm tôi nhớ mãi người đại đội trưởng thân thiết, gần gũi với chúng tôi, cùng đồng cam, cộng khổ, chia xẻ ngọt bùi với chùng tôi trong những năm đầu đánh Mỹ ở chiến trường Khu 5.
   
Anh thuộc lớp người đi trước. Năm 1964, khi tôi nhập ngũ anh đã là đại đội trưởng, mang quân hàm trung úy. Tôi không có ý định so sánh thế hệ này với thế hệ khác, bởi thể hệ nào cũng có những con người làm nên lịch sử của dân tộc và theo quy luật tiến hóa thì thế hệ sau sẽ hoàn chỉnh hơn thế hệ trứơc trên mọi phương diện. Thế hệ thanh niên lúc chúng tôi vào quân đội, một sỹ quan cấp úy như Lê Xuân Chi đã là người đầy quyền uy, là mục tiêu mọi người trong đại đội hướng tới. Tuy nhiên, anh là một người rất hiền từ và quyết đoán bởi tầm hiểu biết rộng cả kiến thức quân sự và đường đời từng trải. Anh có dáng người cao, vai rộng, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, tính tình cởi mở. Cái miệng hơi rộng, hàm răng trên trắng, đều và hơi dô, làm cho khuôn mặt lúc nào cũng như đang cười. Khi anh cười hai đuôi mắt đã có những vết “chân chim” chứng tỏ cuộc đời anh đã trải qua nhiều gian khổ. Cả đại đội đều quý mến anh bởi ngoài những đức tính trên, anh còn là một cán bộ mẫu mực cả về trách nhiệm và cả về kỷ luật. Anh có sức thuyết phục đặc biệt đối với cấp dưới và cùng cấp.
   
Những ngày xây dựng lán trại ở vùng núi Tuyên Hóa, anh thường đi cùng chúng tôi lên rừng đẵn tre, nứa về làm nhà. Anh bày vẽ cho chúng tôi chặt tre, nứa, đẵn gỗ, kết bè đưa xuống suối chở về doanh trại . Anh nói:
   
- Ở trên rừng, cây nứa mọc thẳng, khi chặt một tay phải nắm lấy thân cây, nếu không cây nứa sẽ phóng thẳng xuống có khi bị thủng bụng, hoặc bị xuyên ngang hông, rất nguy hiểm. Khi kéo nứa từ trên núi xuống phải cho phía gốc đi trước và song song với hướng đi của mình…

Vì vậy cánh lính mới chúng tôi đã tránh được những tai nạn, rủi ro.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #32 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:55:32 pm »

Đã từ lâu, tôi muốn ghi lại hình ảnh của anh – ngưởi thủ trưởng đáng kính lúc chúng tôi còn là lính dưới quyền của anh. Không riêng gì đối với anh, tôi muốn lúc đầu óc mình còn minh mẫn, có điều kiện nhắc đến đồng đội càng nhiều càng tốt. Đó là cách tốt nhất để tưởng nhớ đến những người đã ngã xuống, những người đã đi qua các cuộc chiến tranh, làm cho họ sống lại, trở về với những người đang sống và các thế hệ mai sau.... Thời gian còn lại của một đời người khi đầu óc còn minh mẫn mới là đáng quý. Nếu để thời gian qua đi cho đến lúc chỉ còn là cái xác biết cử động, không còn nhớ một cái gì về quá khứ nữa thì thật đáng tiếc… Song, viết về một con người khi chưa biết được đầy đủ về người đó thì đâu phải chuyện dễ. Đại đội trưởng Lê Xuân Chi đã có lần tôi nhắc tên anh trong cuốn hồi ký mang tựa đề “Cuộc chiến đấu tự nguyện”. Anh sống với chúng tôi tại chiến trường miền Nam trong khoảng thời gian chưa đầy 3 năm, từ cuối năm 1964 đến mùa khô năm 1966 – 1967. Tuy thời gian không dài, nhưng anh đã trở thành linh hồn của đại đội công binh Sư đoàn 3 Sao Vàng. Nếu còn sống, nay anh cũng đã gần 80. Anh hy sinh trong một trận bố ráp bằng máy bay trực thăng tại chiến trường khu 5. Trong một lần về thăm lại chiến trường xưa, cuối năm 2006, tôi được biết, hài cốt của anh đã được đưa vào xã An hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, nơi anh đã từng chiến đấu và ngã xuống trước bom đạn của quân thù. Nhừng dòng hồi ức cách đây 40 năm lại đưa tôi về với người đại đội trưởng ấy.
   
Trong hai mùa khô (1965 – 1966 và 1966 – 1967) đế quốc Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam hòng giành thắng lợi quyết định chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Đối tượng tác chiến chủ yếu của sư đoàn 3 Sao Vàng tại tỉnh Bình Định và một phần phía nam tỉnh Quảng Ngãi là sư đoàn không vận số 1 Mỹ. Không một thủ đoạn tàn bạo nào mà kẻ thù không áp dụng trên mảnh đất này. Song song với việc đánh phá và hủy diệt bằng máy bay  B52 ném bom “rải thảm”; rải chất độc hóa học hủy diệt môi trường sống, Sư đoạn không vận số 1 liên tục mở các chiến dịch “tìm diêt” quân ta bằng các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, “Phượng Hoàng vồ mồi”, “Bủa lưới phóng lao”,… ở các vùng rừng núi và vùng giáp ranh. Dưới đồng bằng, được sự giúp sức của Mỹ , ngụy quyền Sài Gòn thực hiện chính sách dồn dân lập ấp chiến lược để “tát nước, bắt cá”, cắt đứt nguồn tiếp tế và mối quan hệ máu thịt quân – dân. Đơn vị chúng tôi bước vào cuộc chiến đấu trực tiếp với bộ binh Mỹ, vô cùng gian khổ ác liệt.

Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch nhất là chiến thuật “Trực thăng vận”, từ người chỉ huy đến chiến sĩ phải tìm cách thích nghi với điều kiện sống và chiến đấu trên chiến trường. Đây là quy luật của cuộc chiến tranh sinh tồn đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ giữa hai lực lượng không cân sức, lợi thế nghiêng hẳn về phía Mỹ. Trước hết, làm thế nào để nâng cao sức cơ động của bộ đội ta, khi mà quân Mỹ dùng máy bay trực thăng bốc quân ở chỗ này, đổ quân ở chỗ nọ, quân tâ chỉ có đôi chân và các trang bị lỉnh kỉnh không phù hợp với tình hình chút nào. Vì vậy, chiếc ba lô “con cóc” dần dần được thay thế bằng chiếc gùi làm từ cái bao cát của Mỹ’ chiếc võng vải bạt nặng nề với cuộn dây đai to gần bằng ngón tay được thay thế bằng chiếc võng vải dù hoặc vải vinilon, khi cuộn lại chỉ bằng một nắm tay và mấy mét dây dù làm dây mắc võng vừa nhẹ, vừa bền; bếp nuôi quân với những nồi niêu, xoong chảo cồng kềnh đã được thay bằng chiếc hăng-gô cho 2-3 người tự lực nấu nướng; hộp sữa gui-gô đeo vào thắt lưng, lúc nào cũng có thức ăn, có khi là ruốc bông, có lúc là cơm dừa kho với mắm cái. Lại còn có cả bông băng, túi cơm, áo mưa, dao găm, cuốc xẻng; chiếc bi đông Tiệp đít lồi nhường chỗ cho chiếc bi đông US (Mỹ). Tất cả “gia tài” của người lính được dàn trải một vong khép lín trên chiếc thắt lưng. Chưa tính đến khẩu súng, bao xe đạn, lựu đạn,… những trang bị không thể thiếu đối với mỗi một người lính…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #33 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2011, 10:57:08 pm »

Trên dây lưng của đại đội trưởng Lê Xuân Chi còn lủng lẳng khẩu súng ngắn K54, hai băng đạn và chiếc xà cột (do Liên Xô viện trợ) lúc nào cũng nằm bên hông trái…
   
Có một lần trên đường hành quân, đội hình đại đội dừng lại bên một bờ suối để ăn trưa. Đang ăn thì máy bay trực thăng Mỹ bay đến quần đảo máy vòng rồi phóng mấy quả rốc két xuống bờ suối. Đại đội được lệnh dàn đội hình lên sườn đồi, sẵn sàng chiến đấu. Sau một hồi bắn phá, máy bay khuất sau ngọn đồi trước mặt, cảnh vật nơi đây trở lại yên tĩnh. Chúng tôi xuống bờ suối để tiếp tục hành quân. Thấy đại đội trưởng đang loay hoay tìm kiếm một vật gì đó xung quanh mấy tảng đá, hỏi mãi, anh mới nói:

- Cái răng! Tau (tiếng địa phương là tao) làm rớt cái răng, không biết hắn ở nơi mô rồi!

Thì ra trên hàm răng hơi to và đều đặn của anh có một chiếc răng giả. Lúc ăn cơm anh tháo ra để trên tảng đá. Máy bay trực thăng lên bắn phá, chiếc răng bị rớt xuống cái khe, chúng tôi tìm mãi mới phát hiện được. Tự dưng lòng tôi trào lên một niềm thương cảm đối với anh - ở nhà anh đã là người cha, người chú, lẽ ra phải được sống quây quần giữa đám con cháu, chúng nó sẽ săn sóc anh trong bữa ăn, giấc ngủ hàng ngày. Thế mà bây giờ… Biết làm sao được, vì đất nước đang chiến tranh.

Đêm Noel năm 1966, Sư đoàn 3 tập kích tiêu diệt gọn tiểu đoàn pháo binh Mỹ tại gò Xuân Sơn, huyện Hoài Ân, Bình Định, Sư đoàn không vận Số 1 Mỹ tức tối đổ quân càn quét khắp nơi kéo dài cho đến mùa khô 1967. Một buổi chiều, trên đường đi công tác về ngang qua huyện Hoài Ân, men theo bìa rừng giáp với huyện An Lão, đồng chí Lê Xuân Chi bị hy sinh để lại cho chúng tôi niềm tiếc thương vô hạn.
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, quân và dân huyện Hoài Ân đã đưa hài cốt của  anh vào nghĩa trang liệt sỹ xã Ân Hảo cùng với các liệt sỹ Trần Khánh Tường, Nguyễn Minh Hiển, Trần Sỹ Mỹ, Hồ Huy Liễu, Nguyễn Văn Trưng… và nhiều đồng chí khác là đồng đội với anh. Anh nằm đó, quê hương anh và người thân đã biết chưa?

Qua bài viết này, chúng tôi, những người may mắn còn sống sau chiến tranh xin gửi lời chia buồn đến gia đình anh.

Mọi thông tin về liệt sỹ Lê Xuân Chi – xin liên hệ: Đoàn Như Hưng (CCB) theo địa chỉ: Đội 2, thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định – hoặc tác giả bài viết này: Nguyễn Văn Hồng – Địa chỉ: Số 212 Cộng Hòa – Phường 12 – Q. Tân Bình – TP.HCM – ĐT: (08) 8105660 – 0913 957777.

TP.HCM – tháng 5 năm 2007.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 10:57:16 am »

TÌM ĐỒNG ĐỘI TRONG
CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM
 VÀ CHIẾN TRƯỜNG QUỐC TẾ

Quân và dân ta đang kiên trì cuộc “trường trinh tìm đồng đội”. Trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, hàng triệu sinh linh chưa được tìm thấy hài cốt và chưa xác định được tên trong các nghĩa trang khắp cả nước. Chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, danh sách liệt sỹ lại càng dài thêm và cuộc tìm kiếm đó lại càng khó khưn, hầu như sẽ không có điểm dừng.

Chúng ta đã phải trả giá cho cuộc chiến tranh biên giới và làm nhiệm vụ quốc tế bằng hàng triệu sinh mạng. Những yếu kém, bất cập trong công tác chính sách thời kỳ chống Mỹ  chậm được khắc phục trong hai cuộc kháng chiến đó. Bên cạnh những kết quả đạt được, nhờ sự nỗ lực của các lực lượng vũ trang các quân khu 5, 7, 9 phối hợp với chính quyền và quân đội cách mạng các nước anh em, đã đưa được hàng ngàn liệt sỹ ở chiến trường quốc tế về nghĩa trang của ta; hiện vẫn còn nhiều trường hợp “chưa được xác đinh”.

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam có những nét đặc thù riêng.

Từ khi cuộc chiến tranh nổ ra và cả những nguyên nhân của nó, đến khi quân ta đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, thời gian là trên 10 năm, cả thế giới đều biết. Nhiều quốc gia, ngay từ đầu đã lên án cuộc chiến tranh lấn chiếm biên giới nước ta do tập đoàn phản động dưới thời Pôn pốt-Iêng Xa Ri phat động và sau 10 năm quốc tế đã chứng kiến cuộc rút quân tình nguyện Việt Nam về nước. Và, chúng ta cũng đã cố gắng làm cho thế giới biết được bản chất của cuộc chiến tranh này.

Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược để giải phóng dân tộc, nhân dân ta đã phải chấp nhận sự hy sinh to lớn, đem lại cho đất nước hòa bình, thống nhất. Càng đau xót hơn khi Tổ Quốc đẫ được thu về một mối, đất nước đã thanh bình, thì hàng vạn người con ưu tú đã phải hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế ở nước láng giềng. Sự hy sinh này vô cùng to lớn, hậu quả thật nặng nề. Việc tìm hài cốt của những người đã hy sinh, giúp đỡ những người bị tàn tật, khó khăn sau chiến tranh là việc làm rất cần thiết và đầy tính nhân đạo. Tiếc rằng những việc làm đó đang còn ở mức khiêm tốn.

Trong những bài viết ngắn dưới đây, tôi xin nêu lên một vài trường hợp, nhằm góp phần xoa dịu những hy sinh, mất mát do chiến tranh gây ra.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 05:56:14 pm »

TÂY TIẾN VĨNH CHINH
MỘT NHÂN CHỨNG THỰC CỦA
CUỘC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM
VÀ NHIỆM VỤ QUỐC TẾ Ở CAMPUCHIA

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia của một bộ phận quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam chưa được nói nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Song, mọi người dân Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đề hiể rằng: Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, đồng thời mang tinh thần quốc tế cao cả đối với nước láng giềng.

Đi tìm những đồng đội trong cuộc chiến tranh này, đồng thời cũng là tìm những nhân chứng lịch sử của một thế hệ sau 30-04-1975, qua đó nói lên rằng truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân ta dù thế hệ nào cũng được giữ vững và phát huy cao độ.

“Tây tiến vĩnh trinh” – nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến là một trong hàng trăm ngàn nhân chứng lịch sử, phản ánh một cách chân thực cuộc chiếnd đấu đày hy sinh gian khổ của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tở Campuchia.

Trần Duy Chiến là một thanh niên sinh ra và lớn lên dưới chế dộ cũ ở miền Nam, tại thành phố Đà Nẵng. Anh chưa được hấp thụ một cách có hệ thống nền giáo dục dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, trong lúc nhân dân ta đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế đã bị kiệt quệ, tình hình trên tuyến biên giới Tây Nam đã có những diễn biến rất phức tạp do chính quyền phản động Pônpốt – Iêng Xa Ri gây ra. Nhận rõ nguy cỏ đất nước bị lâm nguy, Chiến xung phong nhập ngũ vào quân đội. Dù đất nước vừa trải qua một cuộc chiến khốc liệt, nhân dân ta đang được sống trong những ngày hòa bình thật sự, lớp lớp thanh niên vẫn sẵn sàng lên đường đi chiến đấu theo tiếng gọi của Đảng.

Trần Duy Chiến đã thực sự bước vào cuộc chiến tranh, như anh đã viết trong cuốn nhật ký của mình. Điều trước tiên, lúc ra trận, anh nghĩ về mẹ như bao nhiêu người con thân yêu khác của Bà Mẹ Việt Nam, nhưng anh đã biết đưa tình cảm mẹ con quyện vào tình yêu đất nước:

“… Mẹ kính yêu! Rồi mai đây trên vạn nẻo đường đất nước, lúc đứng bên lề biên giới, lúc ngoài biển khơi, lúc trên hải đảo xa xôi, lúc đứng trước mặt quân thù. Hay lúc con gục xuống trên mảnh đất thân yêu của Tổ Quốc … con đều thầm gọi tên mẹ. Lúc đó mẹ sẽ hiện ra trước mặt con như một bà tiên hiền dịu, an ủi con, khuyên nhủ con. Thế là con lại có đầy đủ nghị lực, xông ra phía trước, tiêu diệt quân thù, hay đứng vững trước gió mưa lạnh buốt.

Mẹ thân yêu của con ơi! Mẹ đừng buồn, đừng nhớ và đừng khóc nghe mẹ. Ngày mai đây, khi dân tộc mình thoát khỏi vòng điêu linh chết chóc, đất nước mình thoát khỏi nạn ngoại xâm, lúc đó con sẽ về bên mẹ, để mẹ được nhìn kỹ đứa con của mẹ sinh ra”.


(Nhật ký ngày 4-11-1978)

Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #36 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 09:39:59 pm »

Chiến được bổ sung về tiểu đoàn 2, Trung đoàn 812 thuộc Sư đoàn bộ binh309, chiến đấu ở một nơi khó khăn, gian khổ và ác liệt vào bậc nhất – miền cực Tây Campuchia, tỉnh Bát Tam Băng. Cuộc sống của người lính quân tình nguyện ở một nơi quyết liệt về tình hình địch, khắc nghiệt về thời tiết, thiếu thốn về vật chất và xa hậu phương đã được Trần Duy Chiến ghi lại một cách chân thực trong cuốn nhật ký của anh. Một nhân chứng sống động, đau thương và mất mát, là bản chất của cuộc chiến tranh.
   
“... Giữa đường hành quân tôi ghi vội vào đây vài dòng nhật ký. Đất mới Pai Lin – nơi có rất nhiều kim cương và cũng là nơi đẫm máu những người lính đã ngã xuống, cây cỏ tốt phủ đầu.
   
Ầm,…Ình…
   
Một tiếng nổ, cùng làn hơi mạnh, hất tôi té xuống ngang đường, khẩu cốt 60 đè lên cổ, tay tôi rát rát. Tôi lật vội khẩu cối sang bên, ngồi dậy, đưa tay phải coi. Một miếng mảnh nhỏ ghim vào còn lú ra, coi quanh người không có gì, tôi hoàn hồn cất tiếng hỏi:
   
- Mìn gì?
   
- “Kapêhai”(KP2)
   
- Mấy đứa bị thương?
   
- Bốn đứa!
   
- Có đứa nào chết không?
   
- Thằng Lâm chết, ba thằng Tuất, Ngọc, Được bị thương! – Đồng chí Nhu trả lời tôi.

Tôi bước lên, thấy Lâm bị mìn KP2 ngã nằm trên đường. Mảnh xuyên vào vai, vào đầu rất nhiều, cái xoong và mấy cái túi cóc xung quanh bị trái mìn thổi đi đâu mất. Chưa kịp hoàn hồn thì lại “ầm... ình…”, một trái KP2 vừa nổ cách tôi 5 mét. Tôi không bị gì cả, hơi ép xô tôi ngã xuống đất trong khi tôi ngồi trên chiếc balô. Trái mìn thứ hai đã làm dồng chí Thọ mất cả chân và cũng chết liền sau đó. Ngồi bên tôi, đồng chí Lộc bị thương. Thiệt là ớn cho những con đường ở Pailin…

Chiều hôm qua cũng vậy, đơn vị tôi vừa đến nơi đây tạm dừng để nấu cơm ăn. B1 được qua bên suối để ngủ, ngờ đâu bên ấy đầy mìn. Mới chưa đầy mười phút là đã đụng một trái. Một đồng chí chết, ba người nữa bị thương”. (Nhật ký ngày 21-10-1978)


Tôi không cho rằng: đây là cuốn nhật ký duy nhất được phát hiện trong cuộc chiến tranh “mới” này. Tuy chưa thể phản ánh một cách đầy đủ, sinh động của một bộ phận quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia; song, ở đây chúng ta đã tìm được một liệt sỹ, có đầy đủ phẩm chất và bản lĩnh chính trị của một quân nhân, có thể đại diện những gì đẹp đẽ nhất của một thế hệ. Thế hệ sau 30-4-1975.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #37 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 09:42:59 pm »

Trong phạm vi bài viết nhỏ hẹp này, tôi không thể trích dẫn đầy đủ những nội dung Trần Duy Chiến đã viết trong cuốn nhật ký thấm đẫm máu và nước   mắt của những người chiến sỹ quân tình nguyện trên chiến trường quốc tế - một nhân chứng đầy sức thuyết phục, góp phần nói lên tội ác của cuộc chiến tranh do bọn đao phủ dưới chính quyền Pônpốt phát động chống lại nhận dân ta và nhân dân Campuchia. Đồng thời cũng phản ánh cuộc sống, chiến đấu đầy hy sinh gian khổ của bộ đội ta trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường nước bạn.
   
Với cương vị là những người chỉ huy, lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, chúng tôi rất tự hào với lớp chiến sỹ như Trần Duy Chiến, có những suy nghĩ và hành động đã được thể hiện trong cuốn nhật ký của anh. Xin cảm ơn nhà văn Đặng Vương Hưng, và những người thực hiện đã có công sưu tầm, biên soạn một cách công phu và xuất bản cuốn nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến thật đúng lúc. Mong rằng “sự kiện Trần Duy Chiến” sẽ được tiếp tục trong thời gian tới. Có thể nói cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm cụ quốc tế trên chiến trường Campuchia của một bộ phận quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền an ninh nước nhà, bảo đảm sự tròn vẹn lãnh thổ của tổ quốc thân yêu của chúng ta; thực hiện câu nói bất hủ của Bác: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!”.
   
Sau khi Chiến hy sinh, anh được đồng đội đưa về phía sau mặt trận, tạm thời chôn cất tại nghĩa trang của quân tình nguyện Việt Nam, cạnh sân bay quốc tế tỉnh Bát Tam Băng – Campuchia. Trước khi quân tình nguện hoàn thành nhiệm vụ quốc tế rút về nước, hài cốt của Trần Duy Chiến được đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Bình Dương.
   
Ngày 28-4-2007, theo nguyện vọng của gia đình và cũng là ý nguyện của Trần Duy Chiến, đã có lần anh ghi trong cuốn nhật ký, chúng tôi đã cùng với lãnh đạo quận Sơn Trà, quê anh, tổ chức di dời hài cốt của anh về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng. Anh sẽ được vĩnh viễn nằm lại trên quê hương, bên cạnh đồng đội và người thân của anh.
   
Dưới đây là một số hình ảnh trong lần di dời hài cốt Trần Duy Chiến từ nghĩa trang liệt sỹ tỉnh Bình Dương về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng.

(ảnh)
   
Ngày 20-04-2007 nhà văn Đặng Vương Hưng (người biên soạn và giới thiệu cuốn nhật ký của liệt sỹ Trần Duy Chiến) và tác giả bài viết này (người chỉ huy Sư đoàn 309 lúc Trần Duy Chiến hy sinh), viếng mộ Trần Duy Chiến tại nghĩa trang tỉnh Bình Dương trước khi di dời hài cốt về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng.

(ảnh)
   
Vô cùng thương tiếc liệt sỹ Trần Duy Chiến và các chiến sỹ đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia.

(ảnh)
   
Hài cốt đồng chí Trần Duy Chiến đã được đưa lên khỏi mộ, để chuyển về nghĩa trang thành phố Đà Nẵng (tác giả ngồi giữa cùng với người thân của liệt sỹ).
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2011, 12:07:40 pm »

TÌM NGƯỜI THƯƠNG BINH
MÙ HAI MẮT
   
Đó là Nguyễn Văn Hóa (ảnh), nguyên Phó Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn công binh số 25, thuộc Sư đoàn bộ binh 309.
   
Trong những năm 80 của thế kỷ 20, vì có những thành tích đặc biệt xuất sắc trong nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Tiểu đoàn công binh 25 được tuyên dương là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong thành tích chung của tập thể cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn, chúng tôi ghi nhận sự đóng góp xứng đáng của anh Nguyễn Văn Hóa.
   
Sinh ra và lớn lên ở một huyện miền núi nghèo, Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, Hóa đã có mặt từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cùng với đoàn quân tình nguyện làm nhiệm vụ quốc tế trên đất nước Chùa Tháp.
   
Nhiệm vụ của công binh ở chiến trường rất nặng nề và phức tạp. Bao nhiêu trận đánh cấp Sư đoàn, Trung đoàn, có khi cả Tiểu đoàn đều có sự tham gia của Tiểu đoàn công binh: làm đường cơ động cho xe tăng, pháo binh, dò gỡ mìn địch, khắc phục vật cản cho bộ binh vào chiến đấu, bắc cầu qua sông, qua suối, xây dựng công trình Sở chỉ huy, kho trạm, và cả nhiệm vụ truy quét địch trên địa bàn được phân công…
   
Một đặc trưng của chiến trường Campuchia là mìn. Mìn ở đây gồm nhiều chủng loại, được bố trí rất tinh vi, nham hiểm. Người lính công binh phải thành thạo các động tác phát hiện, dò gỡ trên cơ sở phải nắm chắc nguyên lý cấu tạo của từng loại mìn và am hiểu tường tận thủ đoạn bố trí của địch. Cũng vì không thông thạo những nội dung trên, tỷ lệ thương vong của bộ đội trên chiến trường do mìn địch rất cao. Có nhiều trận đánh không thành, phải trả giá…
   
Tiểu đoàn công binh Sư đoàn 309, đảm nhiệm địa bàn hết sức phức tạp về địa hình, thời tiết với nhiều đơn vị địch trên tuyến biên giới miền cực Tây và Tây bắc tỉnh  Bát Tam Băng.
   
Trong những năm làm nhiệm vụ quốc tế, Nguyễn Văn Hóa đã cùng với tập thể chỉ huy, lãnh đạo Tiểu đoàn 25 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng với những yêu cầu trong chiến đấu, xây dựng và giúp bạn. Nơi nào khó khăn, nơi đó có Hóa cùng tập thể chỉ huy của Tiểu đoàn.
   
Với một đối tượng tác chiến, trước đây là “học trò” của các lực lượng vũ trang ta, trên chiến trường, địch đã tiến hành kiểu chiến tranh du kích, nhằm tiêu hao lực lượng, gây cho ta không những bị loại khỏi vòng chiến đấu trên chiến trường, mà còn là hậu quả lâu dài đối với nhân dân ta, đất nước ta.
   
Để giảm bớt thương vong, người lính trên chiến trường không thể chỉ trải qua những khóa huấn luyện trong nhà trường hay trên bãi tập mà phải tìm những kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu la hết sức quan trọng. Nguyễn Văn Hóa là tấm gương tự học, tự nghiên cứu và truyền đạt những kiến thức cho đồng đội.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2011, 07:06:34 pm »

Những năm đầu của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế, bộ đội ta có bị bất ngờ trước những thủ đoạn của địch trên chiến trường. Hóa đã thu gom nhiều trái mìn “lạ”, anh đã bỏ ra nhiều thời gian công sức để nghiên cứu nguyên lý, cấu tạo của từng loại mìn: mìn đạp nổ, mìn vướng nổ, mìn điện (chạy bằng pin), mìn nhảy cao, mìn nhảy thấp, mìn chống bộ binh, chống xe tăng, …
   
Bước vào “phòng ngủ” của Hóa (là túp lều trong khu vực đóng quân tại chiến trường) ta có cảm tưởng đây là một cái “xưởng chế tạo bom, mìn”. Trong các góc nhà, chỗ nào cũng có mìn, có trái sau khi lấy thuốc nổ ra chỉ còn vỏ; có trái đã tháo kíp; có cả những trái vừa mới đi tháo gỡ trên biên giới về. Tất cả đã bị Hóa làm mất tác dụng và trở thành những “học cụ” (đồ dùng huấn luyện) để truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm cho các lớp chiến sỹ trẻ ngay trên chiến trường.
   
Tích cực mày mò, nghiên cứu, Hóa đã tích lũy nhiều kiến thức, ở nhà trường và cả trong sách vở không thể có đầy đủ được. Kiến thức của Hóa, dĩ nhiên đã trở thành kiến thức của Tiểu đoàn công binh số 25.
   
Ngoài những kiến thức về mìn, chất nổ, để giúp chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng xây dựng tuyến phòng thủ quốc gia dọc biên giới, trong thời gian chuẩn bị, Tiểu đoàn công binh đã tổ chức những lớp tập huấn chuyên môn về mìn và các kiểu dáng công sự, hầm hào, Nguyễn Văn Hóa là một trong những “giáo viên” đào tạo nên đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, sau này đã làm nòng cốt, nhân rộng ra trong các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân tỉnh Bát Tam Băng trong nhiệm vụ xây dựng tuyến phòng thủ quốc gia (K5).
   
Là người chỉ huy, mỗi khi giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Hóa, bao giờ chúng tôi cũng yên tâm. Mùa khô năm 1982 Sư đoàn mở chiến dịch tổng hợp đánh chiếm các căn cứ của địch trên tuyến biên giới Campuchia-  Thái Lan, Tiểu đoàn công binh đã mở hàng chục km đường cơ động. Đêm giao thừa, trong khi nhiều đơn vị ở tuyến sau đang tập trung bên những chiếc radio nghe các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước chúc tết đồng bào ta, theo dõi chương trình đón xuân mới thì trên tuyến biên giới phía Tây tỉnh Bát Tam Băng, Hóa cùng với tiểu đoàn công binh chia nhau từng nắm cơm, từng bi đông nước, đốt đuốc, cưa cây làm đường để đưa pháo vào chiếm lĩnh. Các anh đã gỡ được hàng chục quả mìn chống bộ binh và chống xe tăng, đưa đội hình bước vào triển khai chiến đấu đúng thời gian quy định. Nhờ đó, trận đánh đã giành thắng lợi một cách xuất sắc.
   
Trong một trận khác, khi bộ binh đánh chiếm được căn cứ của một trung đoàn địch đã phát hiện một hang đá chứa gần chục chiếc xe ô tô và hàng trăm xe đạp thồ, trước khi tháo chạy, địch đã bố trí mìn dày đặc xung quanh hang đá, dưới bánh xe, dưới ghế ngồi…
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM