Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:55:22 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bộ Tổng Tham mưu Xô-viết trong chiến tranh  (Đọc 141089 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #250 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:32:21 am »

Đội đổ bộ của Liên Xô đến 19 giờ thì hạ cánh xuống sân bay Cáp Nhĩ Tân, và đã nhanh chóng chiếm toàn bộ khu vực sân bay. Lát sau, tướng Kh. Ha-ta, tham mưu trưởng đạo quân Quan Đông, có một số sĩ quan hộ tống, cũng tới đấy. Ha-ta báo cáo với thiếu tướng đặc mệnh rằng, các đơn vị quân Nhật ở vùng Cáp Nhĩ Tân đã rối loạn và bộ tham mưu hầu như không chỉ huy được nữa. G. A. Sê-la-khốp yêu cầu quân Nhật phải đầu hàng không điều kiện, và trao cho Ha-ta bức tối hậu thư sau đây:

“1. Để tránh đổ máu vô ích, Bộ tư lệnh quân đội Liên Xô yêu cầu đình chỉ ngay việc chống cự và bắt tay vào việc tổ chức đầu hàng, vì vậy hai tiếng đồng hồ sau phải đệ trình những số liệu về biên chế chiến đấu và quân số của các đơn vị quân đội khu vực Cáp Nhĩ Tân;

2. Các tướng lĩnh và sĩ quan Đạo quân Quan Đông, nếu tình nguyện đầu hàng thì trước khi Bộ tư lệnh Liên Xô có chỉ thị đặc biệt riêng, đều được phép mang bên mình vũ khí lạnh và ở lại những nơi đang ở của mình;

3. Bộ chỉ huy Nhật chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc bảo vệ và tổ chức giao nộp các trang bị, đạn dược, kho tàng, căn cứ và tài sản quân sự khác trước khi các đơn vị bộ đội Liên Xô đến;

4. Trước khi bộ đội Liên Xô đến, việc giữ gìn trật tự cần thiết trong thành phố Cáp Nhĩ Tân và những vùng ngoại ô giao cho các đơn vị quân Nhật. Vì vậy, cho phép một bộ phận những phân đội được vũ trang do sĩ quan Nhật chỉ huy, làm nhiệm vụ trên;

5. Những mục tiêu quan trọng nhất ở Cáp Nhĩ Tân và ở các vùng ngoại ô, như: sân bay, những cầu trên sông Tùng Hoa, đầu mối đường sắt, điện báo, cơ quan bưu điện, ngân hàng và những mục tiêu quan trọng khác, các phân đội đổ bộ sẽ chiếm lĩnh ngay;

6. Để thông nhất những vấn đề có liên quan tới việc đầu hàng và tước vũ khí toàn bộ Đạo quân Quan Đông trên lãnh thổ Màn Châu, tôi đề nghị trung tướng Ha-ta - tham mưu trưởng Đạo quân Quan Đông, Mi-i-ắc-ca-va - lãnh sự Nhật ở Cáp Nhĩ Tân, và những nhân vật khác tùy theo Bộ chỉ huy Nhật xét thấy cần thiết, đúng 7 giờ ngày 19 tháng Tám phải đáp máy bay của đội đổ bộ Liên Xô tới sở chỉ huy của tư lệnh phương diện quân Viễn Đông 1”.


Ha-ta xin ba tiếng đồng hồ “để chuẩn bị những tài liệu cần thiết". Đề nghị ấy được chấp nhận. Hồi 23 giờ U. Mi-ki-ô, tư lệnh tập đoàn quân 4 của Nhật gửi tới bản mệnh lệnh xin đầu hàng của tất cả các đơn vị quân Nhật ở Mãn Châu, danh sách các tướng lĩnh và quân số, biên chế trong khu vực thành phố Cáp Nhĩ Tân. Bấy giờ, C. A. Sê-la-khốp đã ở trong ngôi nhà của lãnh sự quán Liên Xô. Lãnh sự G. I. Páp-lư-tsép của ta cũng có mặt ở đây. Còn các chiến sĩ đổ bộ đã chiếm lĩnh tất cả các cầu và những mục tiêu quan trọng khác trong thành phố.

Ngày 19 tháng Tám, Ha-ta, Mi-i-ắc-ca-va và các tướng lĩnh, sĩ quan Nhật đi cùng, đã tới sở chỉ huy của K. A. Mê-rét-xcốp. A. M. Va-xi-lép-xki, Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô ở Viễn Đông, cũng tới đây. Đồng chí đích thân quy định cho bọn Nhật cách thức đầu hàng của Đạo quân Quan Đông. Việc đầu hàng làm tù binh và tước vũ khí của tất cả các đơn vị phải kết thúc xong trước 12 giờ ngày 20 tháng Tám.

Trong lúc đang tiến hành những cuộc trao đổi trên thì các đội đổ bộ đường không của Liên Xô vẫn tiếp tục đổ quân xuống một số cứ điểm quan trọng trên đất Mãn Châu.

Sáng sớm ngày 19 thảng Tám, đại tá đặc mệnh I. T. Ác-tê-men-cô từ phương diện quân Da-bai-can bay thẳng tới Trường Xuân nơi bố trí bộ tham mưu của đạo quân Quan Đông. Đồng chí có nhiệm vụ tiếp nhận sự đầu hàng cua các đơn vị đồn trú ở Trường Xuân và tất cả những đơn vị quân Nhật đang đóng ở những vùng ngoại ô thành phố. Đi cùng với đại tá có 4 sĩ quan và 6 chiến sĩ, không kể 5 chiếc máy bay tiêm kích theo hộ tống.

Các máy bay Liên Xô xuất hiện bất ngờ trên sân bay trung tâm ở Trường Xuân, nơi đang đỗ gần 300 máy bay địch. Máy bay của ta lượn mấy vòng rồi hạ cánh, chiếm lĩnh đường bay và khống chế sân bay một lát trong tầm hỏa lực của mình. Sau khi thấy tình hình không có gì đáng ngại, Ác-tê-men-cô ra tín hiệu cho đội đổ bộ để bay tới Trường Xuân còn đồng chí thì tới trực tiếp gặp tư lệnh Đạo quân Quan đông
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #251 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:33:07 am »

Trong phòng làm việc của I-a-ma-đa đang có cuộc họp. Đồng chí sĩ quan Liên Xô cắt ngang cuộc họp và trao cho quân Nhật Bản yêu cầu phải đầu hàng ngay và không điều kiện. Viên tư lệnh trưởng im lặng. Đến lúc các máy bay chở quân đổ bộ và những máy bay ném bom của ta xuất hiện trên bầu trời thành phố thì y mới trổ tài ăn nói. I-a-ma-đa mưu toan đặt những điều kiện trước cho mình. Nhưng I. T. Ác-tê-men-cô, theo đúng những điều đã hướng dẫn, bác bỏ thẳng những điều kiện ấy và kiên quyết yêu cầu phải đầu hàng ngay. Viên tư lệnh tự tháo kiếm ra trước tiên và trao cho đại tá đặc mệnh, nhận mình là tù binh của Quân đội Liên Xô. Tiếp theo, tất cả các tướng lĩnh khác đang ở trong phòng họp cùng làm như vậy.

Đến 11 giờ, toàn đội đổ bộ đứng đầu là thiếu tá cận vệ P. N. Áp-ra-men-cô, Anh hùng Liên Xô, đổ bộ an toàn xuống sân bay. Thành phần đội đổ bộ gồm những sĩ quan và chiến sĩ của lữ đoàn cơ giới cận vệ 30. Các chiến sĩ đổ bộ thay thế đội bảo vệ sân bay của địch, chiếm lĩnh phòng ngự vòng tròn và bắt đầu tước vũ khí các đơn vị quân Nhật và quân Mãn Châu.

Còn trong phòng làm việc của I-a-ma-đa, mọi việc cũng tuần tự diễn ra như sau: tư lệnh Đạo quân Quan Đông và thủ tướng Mãn Châu Quốc lần lượt ký biên bản đầu hàng.

Tối ngày 19 tháng Tám, lá cờ Nhật trên nóc ngôi nhà bộ tham mưu Đạo quân Quan Đông bị hạ xuống và cờ Liên Xô được treo lên. Các phân đội đổ bộ chiếm lĩnh đầu mối đường sắt, nhà ngân hàng, bưu điện, đài vô tuyến và điện báo. Các đơn vị quân địch rút ra khỏi thành phố. Ngôi nhà bố trí Ác-tê-men-cô cùng ban tham mưu được vội vã thành lập do một trung đội võ sĩ đạo đặc biệt bảo vệ. Nhưng đứng gác ở cửa ra vào không phải là một người lính, mà là một cậu bé còn rất trẻ, cháu trai của I-a-ma-đa. Theo tục lệ cổ của Nhật Bản, những người thân cận nhất của chủ nhà thường giữ gìn sự yên tĩnh cho khách; người cháu trai của viên tư lệnh đứng gác là bằng chứng và là sự bảo đảm cho an ninh của các đại diện xô-viết. Sáng ngày 20 tháng Tám, những chi đội phái đi trước của tập đoàn quân cận vệ 6 cùng tiến vào Trường Xuân.

Ngày 19 tháng Tám, hồi 13 giờ 15 phút, 225 người dũng cảm chọn trong tập đoàn quân xe tăng cận vệ 6 này, đổ bộ xuống Thẩm Dương. Thiếu tướng A. Đ. Pri-tu-la, chủ nhiệm chính trị của bộ tư lệnh phương diện quân Da-bai-can cùng đi với đội đổ bộ, với tư cách là thiếu tướng đặc mệnh.

Những sự kiện diễn ra ở đây có khác ở Trường Xuân đôi chút. Đại biểu của “Hoàng đế” Mãn Châu Quốc và giám binh Nhật ra đón các chiến sĩ đổ bộ. Trong lúc xem xét các ngôi nhà trong sân bay, bỗng có người phát hiện ra chính "hoàng đế” Phổ Nghi đang ở trong một ngôi nhà, ông ta tình cờ bị hãm ở đây. Các “ông chủ” Nhật Bản của đất nước này ra lệnh cho ông ta phải sang Nhật, nhưng chưa có máy bay đến chở, và Phổ Nghi cùng với đám tùy tùng đang ở sân bay, đợi chuyến bay đó, thì đúng lúc các chiến sĩ đổ bộ của ta hạ xuống.

Phổ Nghi đề nghị ngay là đừng tiết lộ ông ta cho bọn Nhật biết, sau đó chảy dòng nước mắt cá sấu khóc tình cảnh bị áp bức của nhân dân địa phương trong thời quân Nhật chiếm đóng. Sau cùng, ông ta trao cho thiếu tướng đặc mệnh của ta bức thông điệp, đoạn cuối có câu nguyên văn như sau: “Với lòng tôn kính sâu xa ngưỡng vọng tới Đại nguyên soái Liên Xô Xta-lin, tôi xin bày tỏ với Ngài lòng biết ơn chân thành và chúc Ngài sức khỏe dồi dào”.

Tình hình ở Thẩm Dương rất phức tạp. Dân số thành phố tới 1700000 người, trong đó có 70000 người Nhật, chưa kể quân đội của chúng rút về đây và gần một nghìn rưởi kiều dân Nga trắng. Trong thành phố có lãnh sự quán Đức và cả “thủ lĩnh” của những tổ chức phát-xít Đức. Có 180 xí nghiệp công nghiệp các loại, kể cả những xưởng sửa chữa máy bay và xe tăng, đang hoạt động. Chủ nhân những xí nghiệp ấy đều là Nhật và chúng đã chạy trốn hết.

Một thành phố như vậy mới có 225 chiến sĩ đổ bộ tới làm nhiệm vụ thì thật không đủ sức. Ngày hôm sau, phải cử viện binh tới. Nhưng dầu sao thì bây giờ quân số của Liên Xô đóng trong thành phố cũng chỉ có tất cả 1000 người, mà phải tước khí giới của 50000 quân Nhật. Không có việc gì đáng tiếc xảy ra cả, nhưng bận rộn và căng thẳng vô cùng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #252 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:34:33 am »

Từ ngày 20 tháng Tám, bộ tư lệnh quân quản của Liên Xô đứng đầu là thiếu tướng A. I. Cốp-tun - Xtan-kê-vích, bắt đầu hoạt động ở Thẩm Dương.

Không phải là không có chuyện nực cười. Ngày hôm sau, khi các đơn vị bộ đội của ta đã chiếm lĩnh Thẩm Dương. thì thấy máy bay Mỹ xuất hiện ngay trên bầu trời trung tâm thành phố và ném truyền đơn của viên tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung Quốc gửi tới các sĩ quan quân đội Nhật. Truyền đơn nói rằng: bộ tư lệnh quân đội Mỹ muốn liên lạc với các chiến sĩ và sĩ quan của quân đội các nước đồng minh bị Nhật bắt làm tù binh, xin cho những đại biểu của mình hạ cánh xuống sân bay Thẩm Dương; thêm nữa còn có lời nói đón rằng, những đại biểu này xuống không theo đuổi một mục đích nào khác và đề nghị là nếu dưới đất ưng thuận thì cho “rải vải trắng ra sân bay”. Các chiến sĩ của ta trải vải trắng ra và máy bay Mỹ đỗ xuống. Các đại biểu xuống tới nơi đều xiết bao kinh ngạc, khi thấy ra đón họ lại là những quân nhân xô-viết.

Bên phía ta cũng xảy ra những trường hợp “đặc biệt”. Tình hình thành phố như vậy, nên không ai có thể cam đoan là bảo đảm được an toàn cho Phổ Nghi và những người tùy tùng của ông ta. Để tránh mọi việc bất ngờ có thể xảy ra: các chiến sĩ đổ bộ của chúng ta đã đút ngài Phổ Nghi vào sau những chấn song sắt để bảo vệ cho được chắc chắn. Việc đó được báo cáo lên A. M. Va-xi-lép-xki và Va-xi-lép-xki điện xuống là phải bỏ ngay cái kiểu giam giữ người như vậy và lệnh giải thích cho mọi người hiểu là cần đối xử với những nhân vật như vậy ra làm sao.

Các chiến sĩ đổ bộ đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ yếu của mình là bắt Đạo quân Quan Đông sớm phải đầu hàng. Những hành động táo bạo và chính xác của các chiến sĩ đổ bộ đã bảo vệ được những xí nghiệp công nghiệp, nhà máy điện, các công trình thông tin liên lạc, đường sắt và nhiều mục tiêu quân sự khác, giúp cho việc nhanh chóng khôi phục lại trật tự trong nhân dân, loại trừ được nhiều manh tâm phiêu lưu chính trị khác.

Khi quân Nhật ở Mãn Châu bắt đầu hạ vũ khí, Đại bản doanh liền ra ngay quyết định: những khu vực nào mà địch đã đầu hàng thì phải ngừng bắn ngay. Tuy nhiên, các tập đoàn quân và sư đoàn Liên Xô vẫn tiếp tục tiến quân tới nhưng khu vực đã định. Những chi đội mạnh phái đi trước hoạt động ở phía trước. Theo sau là những lực lượng chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp nhận cho quân địch đầu hàng.

Bộ đội ta tiến vào lãnh thổ Triều Tiên. Các đội đổ bộ đường biển chiếm lĩnh những hải cảng quan trọng nhất của Triều Tiên. Các chiến sĩ xô-viết đã tới mảnh đất của cảng Lữ Thuận, là mảnh đất thiêng liêng đối với họ.

Việc đánh tan Đạo quân Quan Đông đã thành hiện thực. Riêng ở Xa-kha-lin, tại một vài nơi địch vẫn tiếp tục chống cự đến ngày 25 - 26 tháng Tám; còn ở quần đảo Cu-rin thì các đội đổ bộ đường biển mãi đến ngày cuối tháng Tám mới tiếp nhận xong việc quân Nhật đầu hàng.

Sau khi kết thúc những hành động chiến đấu, chúng tôi trong Bộ tổng tham mưu mới được giải đáp đầy đủ về một vấn đề mà chúng tôi vô cùng lo ngại là: chúng ta có giành được thế bất ngờ không? Sự thật lịch sử đã giải đáp câu hỏi đó và các tướng Nhật bị bắt làm tù binh đã xác nhận những sự thật lịch sử ấy. Quân địch thật không ngờ cuộc tiến công của ta lại mở ra trong tháng Tám; chúng cho rằng có mở được thì cũng phải lâu hơn nhiều. Vì vậy, công việc chuẩn bị những tuyến phòng ngự không những ở hướng Da-bai-can, hướng miền Duyên hải đều tiến hành chậm, mà cả trên tuyến Sư-pin-gay - Thẩm Dương, theo ý kiến của bọn Nhật là những nơi sẽ diễn ra những sự kiện chủ yếu, cũng làm chậm nốt. Tướng Mi-ki-ô, tư lệnh tập đoàn quân 4 của Nhật bị bắt làm tù binh, khai rằng việc thiết bị những tuyến phòng ngự phải tới tháng Mười 1945 mới có thể làm xong. Và tướng Xi- mít-du, nguyên tư lệnh tập đoàn quân 5, cũng tuyên bố là việc xây dựng những trận địa phòng ngự của chúng đang còn dở dang.

Những lời khai của phó tham mưu trưởng Đạo quân Quan cũng cùng có những điểm đặc biệt.

- Việc Liên Xô tuyên bố chiến tranh ngày 8 tháng Tám thực là hoàn toàn bất ngờ đối với bộ tư lệnh Đạo quân Quan Đông - tên thiếu tướng M. Tô-mô-ca-xu tuyên bố như vậy.

Chúng lại còn bị bất ngờ cả về quy mô, tốc độ tiến công và hướng đột kích nữa.

- Chúng tôi không ngờ cuộc tiến công của quân Nga lại nhanh đến vậy. - Xi-mít-du thú nhận. - Hơn nữa chúng tôi cũng không ngờ là quân Nga sẽ vượt qua được miền rừng rậm ấy.

Vì vậy, tất cả những gì chúng ta mong đợi và toàn bộ tổng hợp những biện pháp ta đã áp dụng, đều tỏ ra hoàn toàn đúng đắn.

Ngày 2 tháng Chín 1945, trên thiết giáp hạm “Mít-xu-ri”, chính phủ Nhật ký biên bản đầu hàng không điều kiện. Tham gia ký biên bản, về phía Liên Xô có trung tướng C. N. Đê-rê-vi-an-cô, đại diện của ta tại quân đội đồng minh ở Viễn Đông

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Trong cuộc chiến tranh này, Liên Xô đảm đương trọng trách quyết định và đã hoàn thành vai trò chủ yếu trong việc tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt điên cuồng không những chỉ ở phương Tây mà cả ở phương Đông nữa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #253 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:36:30 am »

Chương Mười Sáu
Dành cho những người chiến thắng và các anh hùng:

Đảng và nhân dân ngợi khen những người con xứng đáng. - Bàn về những phần thưởng hàng đầu và những chiến sĩ có công đầu. - Nhật lệnh chào mừng đầu tiên. - Loạt súng chào ở Mát-xcơ-va, lịch sử và sự kế tục truyền thống. - Duyệt binh Chiến thắng. - Tiệc ở Cung lớn điện Crem-li. - Vài lời về những vị chỉ huy quân sự.

Việc gì cũng có lúc phải kết thúc và tôi đã đi tới phần cuối tập hồi ký của mình viết về bốn năm chiến tranh. Tôi mong muốn được kết thúc tập hối ký này bằng những dòng chữ nói về những con người đã lấy ngực mình ra bảo vệ Tổ quốc Xô-viết

Vì lẽ ấy mà đã có chương này, hơi khác với các chương khác đôi chút. Trong chương này, hồi ức của tác giả quyện chặt với những tư liệu giới thiệu rõ nét việc Đảng và Chính phủ đã ghi công một cách xứng đáng chiến công của các anh hùng và những người chiến thắng. Tôi lại phải tham khảo những tư liệu có nói tới Bộ tổng tham mưu và trong chừng mực nào đó, đã phản ánh một phần những công việc hàng ngày của Bộ tổng tham mưu.

Chúng tôi, trong Bộ tổng tham mưu, khi xây dựng kế hoạch các chiến dịch, theo dõi diễn biến và phân tích kết cục các chiến dịch ấy, đã tiếp xúc với đông đảo quần chúng bộ đội với khả năng chiến đấu của các tập đoàn chiến dịch lớn mà ta cần phải sử dụng tốt nhất đế chiến thắng quân thù theo đúng tất cả những nguyên tắc và quy luật của chiến tranh. Dường như ở đây khó mà có thể lo nghĩ được tới từng người một. Mới nhìn, thì Bộ tổng tham mưu là một cơ quan cách xa người chiến sĩ và người chỉ huy đơn vị.
Không có gì phải tranh luận nữa, đúng là giữa các đơn vị bộ đội với Bộ tổng tham mưu có những điểm khác nhau về tình hình và đặc điểm hoạt động. Và, tất nhiên lại còn khác xa nữa. Nhưng, trong thực tế thì giữa bộ đội với Bộ tổng tham mưu lại không có gì ngăn cách.

Ở đây ta không đề cập tới vấn đề sâu xa của triết học về vai trò con người trong chiến tranh, nhưng tôi cần phải nói là chưa bao giờ chúng tôi cảm thấy thấm thía rằng mọi dự định và kế hoạch của chúng tôi, rốt cuộc phải phụ thuộc vào người chiến sĩ xô-viết, phụ thuộc vào khát vọng chiến thắng kẻ thù của họ. Qua những dòng chữ ít ỏi trong các thông báo tác chiến và báo cáo chiến đấu ngắn gọn, cuộc sống đã nhắc nhở chúng tôi hàng ngày nhớ đến những điều ấy Những khái niệm như “gan dạ”, “dũng cảm", “anh hùng” mà Bộ tổng tham mưu hằng cảm thụ được, như sờ thấy, như trông thấy, cả bằng mắt lẫn bằng tay.

 
*
*   *

Ngày 24 tháng Sáu 1941, Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sán (b) toàn Liên bang đã quyết nghị thành lập Phòng Thông tin Liên Xô, một cơ quan thông tấn riêng về tình hình các mặt trận và tinh thần dũng cảm của bộ đội ta. Nhiều nơi gửi tài liệu đến đây và một trong nhưng nơi đó là Cục tác chiến Bộ tổng tham mưu. Đảng giao cho chúng tôi trách nhiệm chuẩn bị tài liệu cho Phòng Thông tin Liên Xô củng cố mối liên hệ giữa chúng tôi với bộ đội thêm chặt chẽ, buộc chúng tôi phải chú ý đến con người đang xông lên chiến đấu vì Đảng và sẵn sàng xả thân vì tự do, độc lập của đất nước thân yêu của mình và của nhân dân mình.

Mặc dầu tình hình trong thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh rất gay go, Đảng vẫn không quên thưởng công cho các anh hùng. Ngay trong những trận chiến đấu đầu tiên chống bọn phát-xít Đức xâm lược. Xô-viết tối cao Liên Xô đã tặng thưởng huân chương và huy chương cho những quân nhân có thành tích xuất sắc, và một số quân nhân lập nên những chiến công vẻ vang nhất đã được tặng thưởng danh hiệu cao quý: Anh hùng Liên Xô.

Nhưng. thủ tục khen thưởng áp dụng trong thời bình đã tỏ ra không phù hợp với thời chiến, với đặc điểm của tập thể quần chúng anh hùng. Vi vậy, Đoàn chủ tịch Xô-viểt tối cao đã ra sắc lệnh ngày 18 tháng Tám 1941 sửa đổi thủ tục ấy. Hội đồng quân sự các phương diện quân, các hạm đội và các tập đoàn quân độc lập được quyền thay mặt cơ quan tối cao của chính quyền nhà nước trao huân chương và huy chương trực tiếp trong quân đội đang tác chiến, tại vị trí công tác của những quân nhân được khen thưởng.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #254 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:37:57 am »

Nhưng biện pháp này cũng vẫn còn chưa tốt vì phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi văn kiện khen thưởng từ đơn vị đến Mát-xcơ-va và từ Mát-xcơ-va trở về đơn vị. Từ ngày 22 tháng Mười năm ấy, các hội đồng quân sự không những chỉ được quyền trao tặng, mà còn được quyền thay mặt Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô tự xét lấy việc khen thưởng. Sau này, để khỏi sót những người xứng đáng mà chưa được khen thưởng, Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao lại ra sắc lệnh ngày 10 tháng Mười một 1942, trao quyền khen thưởng tới cấp quân đoàn trưởng, sư đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng, trung đoàn trưởng, và về sau tới tư lệnh các binh chủng.

Trong năm đầu chiến tranh, có ba loại huân chương - Lê-nin, Cờ đỏ, Sao đỏ - và nhiều huy chương tặng thưởng cho bộ đội. Trong thời gian chiến tranh, nói chung đã tặng thưởng tất cả 8800 Huân chương Lê-nin, 238000 Huân chương Cờ đỏ và 2811000 Huân chương Sao đỏ.

Về sau, thấy cần phải nêu rõ chiến công của chiến sĩ và của người chỉ huy trong chiến đấu chống chính quân phát-xít Đức xâm lược, nên ngày 20 tháng Năm 1942, đã đặt ra một loại huân chương mới, Huân chương Chiến tranh giữ nước hạng nhất và hạng nhì để tặng thưởng cho sĩ quan và chiến sĩ. 

Ngày 29 tháng Bảy 1942, lại đặt ra Huân chương Xu-vô-rốp (Xu-vô-rốp A. V. - danh tướng Nga (1730 - 1800), nổi tiếng về chiến lược, không bao giờ bại trận, thường thắng quân địch đông hơn mình nhiều. - ND.) và Huân chương Cu-tu-dôp (Cu-tu-dốp M. I. - danh tướng Nga (1745-1813), Tổng tư lệnh quân đội Nga trong cuộc Chiến tranh giữ nước chống Na-pô-lê-ông năm 1912. -ND.), cả hai huân chương đều có ba hạng: nhất, nhì và ba, và Huân chương A-lếch-xan-đrơ Nép-xki (A-lêch-xan-đrơ Nép-xki - anh hùng dân tộc Nga (1220- 1263), công tước Nốp-gô-rốt, đã chiến thắng quân Thụy Điển xâm lược (1240), quân Đức xâm lược (1242), mở đầu lịch sử quân sự vẻ vang của dân tộc Nga. - ND.). Những huân chương này chỉ tặng cho các đồng chí chỉ huy, hơn nữa Huân chương Xu-vô-rốp hạng nhất chỉ dành tặng cho “...các tư lệnh và phó tư lệnh phương diện quân và tập đoàn quân, các tham mưu trưởng, các cục trưởng và trưởng ban tác chiến, chủ nhiệm binh chủng (pháo binh, không quân, xe tăng thiết giáp và súng cối) của phương diện quân và tập đoàn quân).

Trong những năm chiến tranh, tổng số các loại huân chương đã khen thưởng như sau: Huân chương Chiến tranh giữ nước hạng nhất 324800, hạng nhì 951000; Huân chương A-lếch-xan-đrơ Nép-xki 40000; Huân chương Xu-vô-rốp hạng nhất 340, hạng nhì 2100, hạng ba 3000; Huân chương Cu-tu-dôp hạng nhất 570, hạng nhì 2570, hạng ba 2200.

Tháng Mười 1943, khi nổ ra những trận chiến đấu ác liệt giải phóng U-crai-na, đã đặt ra Huân chương Bốc-đan Khơ-men-nít-xki (Bốc-đan Khơ-men-nit-xki - anh hùng dân tộc U-crai-na, nhà chính trị và chỉ huy quân sự lỗi lạc đã lãnh đạo nhân dân U-crai-na khởi nghĩa chống phong kiến Ba Lan, giành độc lập (1648) và thống nhất với dân tộc Nga (1654). - ND.) cũng có ba hạng. Những huân chương này tặng thưởng cho các tướng lĩnh, cán bộ chỉ huy và chiến sĩ Quân đội Liên Xô, các đồng chí chỉ huy du kích và các chiến sĩ du kích. Số huân chương đã tặng thưởng như sau: hạng nhất 200, hạng nhì 1450, hạng ba 5400.

Ngày 3 tháng Ba 1944, Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô lại đặt ra Huân chương U-sa-cốp (U-sa-cốp Ph. Ph. - đô đốc hải quân Nga, người sáng lập chiến thuật hải quân Nga, nổi tiếng trong các trận hải chiến, đã dùng chiến hạm đánh chiếm pháo đài của quân Pháp ở Coóc-phu (1799). - ND..) và Huân chương Na-khi-môp (Na-khi-môp P. X. - đô đốc hải quân Nga đã chiến thắng một hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ ở trận hải chiến Xi-nôp, trong cuộc Chiến tranh Chum (1853 - 1856) chống quân xâm lược cả ba nước Anh - Pháp - Thổ - ND.), mỗi huân chương có hai hạng, và cả những huy chương cũng mang tên hai đô đốc hải quân ấy để tặng thưởng riêng cho hải quân. Quy chế tặng thưởng như sau: các huân chương thì dành cho các đô đốc, tướng lĩnh và sĩ quan Hải quân, còn huy chương thì tặng thưởng cho hạ sĩ quan và các chiến sĩ Hải quân. Trong thời gian chiến tranh đã tặng thưởng như sau: Huân chương U-sa-nốp hạng nhất 30, hạng nhì 180; Huân chương Na-khi-môp hạng nhất 70 và hạng nhì 450. Huy chương U-sa-cốp 14000, Huy chương Na-khi-môp 12800.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #255 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:38:38 am »

Trong các huân chương và huy chương tặng thưởng trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang gồm ba hạng, đặt ra ngày 8 tháng Mười một 1943, có một giá trị đặc biệt. Trong không quân, huân chương này dùng cho các chiến sĩ không quân, quân hàm thiếu úy. Việc thưởng huân chương này tiến hành tuần tự bắt đầu từ hạng ba rồi lên các hạng trên. Hơn nữa, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất phải do Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô tặng thưởng.

Có 2200 người đã được tặng cả ba hạng huân chương này. Trong đó có ba đồng chí: I. G. Đra-tsen-cô, A. V. A-lô-sin và P. Kh. Đu-bin-đa, cả ba còn được tặng cả danh hiệu Anh hùng Liên Xô (Năm 1980 mọi người lại được biết đến tên tuổi của vị anh hùng thứ tư là N. I. Cu-dơ-nét-xốp, người đã được tặng thưởng cả ba hạng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang. - BT. ). Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhì đã tặng cho 46000 quân nhân, và hạng ba cho 868000 người.

Ngày 8 tháng Mười một 1943, Đoàn chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô đặt ra huân chương cao cấp cho quân đội là Huân chương “Chiến thắng”, để tặng thưởng các tướng soái đã tiến hành những chiến dịch quy mô lớn thắng lợi. Các đồng chí được tặng thưởng huân chương này là A. I. An-tô-nốp, L. A. Gô-vô-rốp, I. X. Cô-nép, R. I-a. Ma-li-nôp-xki, K. A. Mê-rét-xcốp, C. C. Rô-cô-xốp-xki, X. C. Ti-mô-sen-cô, Ph. I. Tôn-bu-khin. Được tặng thưởng hai lần Huân chương “Chiến thắng” là các đồng chí: A. M. Va-xi-lép-xki, Gh. C. Giu-cốp và I. V. Xta-lin.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh, chủ nghĩa anh hùng đã và vẫn là nét đặc trưng của các chiến sĩ ta, nét ấy trực tiếp gắn liền với nguồn gốc chủ yếu của những chiến công: lòng yêu nước nồng nàn của con người xô-viết. Không nên trách các chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đã đảm nhận những trận chiến đấu gay go đầu tiên chống quân phát-xít mà không được tặng thưởng. Khì rút lui từ biên giới về các chiến sĩ ta đã không tiếc sức lực và ngay cả tính mạng mình để quần nhau với địch. Tiêu diệt được những đạo quân lớn của Hít-le, họ đã chặn đứng địch và phá tan uy lực bộ máy chiến tranh của Đế chề thứ ba.

Do nhiều nguyên nhân - và trước hết là do ta không còn bụng dạ nào để nghĩ tới việc khen thưởng nữa - nên năm 1941 mới có hơn 32700 quân nhân được tặng thưởng; năm 1942 đã gần 395000. Năm 1943 là năm đánh dấu những thắng lợi rực rỡ của Quân đội Liên Xô, nên cũng có đặc điểm là số người được tặng thưởng tăng vọt lên, tới 2050000. Năm 1944, con số này lại còn tăng hơn nữa, tới 4300000. Năm 1945, chiến sự diễn biến chưa đầy sáu tháng, nhưng số lần tặng thưởng vượt quá 5470000, trong số này có 3530000 lần tặng thưởng do các trung đoàn trưởng ký lệnh, nghĩa là việc khen thưởng đã tiến hành trực tiếp trên chiến trường.

Căn cứ vào số liệu ngày 1 tháng Chín 1948, thì riêng tổng số lần tặng thưởng huân chương vì có chiến công và dũng cảm trong các trận chiến đấu chống quân phát-xít Đức xâm lược và bọn đế quốc Nhật, đã vượt quá 5300000. Số người được tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô là 11603 người, trong đó có 87 nữ. Có 98 quân nhân được tuyên dương hai lần Anh hùng; và ba lần Anh hùng thì có ba đồng chí: Gh. C. Giu-côp, I. N. Cô-de-đúp, A. I. Pô-crư-skin (A. I. Pô-crư-skin là phi công lái máy bay chiến đấu đã hoàn thành 550 nhiệm vụ chiến đấu, dự 156 trận không chiến và hạ 59 máy bay địch, hiện là thượng tướng không quân Liên Xô và tác giả cuốn hồi ký “Bầu trời chiến tranh". - ND. ).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #256 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:39:23 am »

Rất nhiều người được tặng thưởng các huy chương "Vì lòng dũng cảm” và “Có chiến công”. Huy chương thứ nhất đã tặng thưởng 4230000 lần và thứ hai 3320000 lần.

Hầu như không một ai bị bỏ quên. Theo chỉ thị của Đại bản doanh, Bộ dân ủy quốc phòng đã nghiên cứu tỉ mỉ và ra những mệnh lệnh đặc biệt, công bố tổ chức khen thưởng những đồng chí có công tiêu diệt máy bay và xe tăng địch, cứu thương binh và mang được vũ khí ra khỏi trận địa, có thành tích vượt sông. Đối với những người có thành tích thật xuất sắc khi vượt những sông hồ rộng, thì Đại bản doanh đề nghị tuyên dương Anh hùng Liên Xô, và tặng những huân chương khen thưởng chiến công, kể cả Huân chương Xu-vô-rốp và Huân chương Cu-tu-dốp.

Nhưng sau khi ngừng bắn, lại phát hiện ra là có nhiều người lao động bình thường đã phục vụ trong chiến tranh nhưng chưa được đền bù thích đáng, nên trong năm 1946 đã khen thưởng 240 000 người có công trong thời kỳ chiến tranh, năm 1947 - 408000 người, năm 1948 - 4000 người nữa; và việc khen thưởng còn tiếp tục cho đến ngày nay, cụ thể là đợt khen thưởng nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày kết thúc thắng lợi cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại. Những chiến sĩ đã từng đổ máu trong chiến đấu đều được đặc biệt tôn trọng; trong những năm sau chiến tranh đã khen thưởng như vậy hơn 840000 người.

Trong năm 1942 đã đặt ra những Huy chương “Phòng thủ Lê-nin-grát”, “Phòng thủ Ô-đét-xa”, “Phòng thủ Xê-va-xtô-pôn”, “Phòng thủ Xta-lin-grát”. Năm 1944 lại bổ sung thêm ba thứ huy chương nữa là “Phòng thủ Mát-xcơ-va”, “Phòng thủ Cáp-ca-dơ” và “Phòng thủ Da-pô-li-a-riê xô-viết” và cuối cùng, sau chiến tranh khá lâu, ngày 21 tháng sáu 1961, lại đặt ra thêm Huy chương “Phòng thủ Ki-ép”.

Được tặng thưởng các huy chương trên là những đồng chí đã tham gia phòng thủ Lê-nin-grát gồm hơn 930000 người, Mát-xcơ-va - 477000, Ô-đét-xa - gần 25000, Xê-va-xtô-pôn - hơn 39000, Xta-lin-grát - 707000, Ki-ép - 62000. Cáp-ca-dơ - 580000, Da-pô-li-a-riê - hơn 307000. Ngoài ra, hơn 6716000 người được tặng thưởng những Huy chương “Chiếm Bu-đa-pét”, “Chiếm Cơ-ních-xbe”, “Chiếm Viên”, “Chiếm Béc-lin", “Giải phóng Bê-ô-grát”, “Giải phóng Vác-sa-va” và “Giải phóng Pra-ha”.

Những huy chương đặc biệt cũng được đặt ra để kỷ niệm ngày toàn thằng nước Đức phát-xít và nước Nhật quân phiệt. Huy chương “Chiến thắng Đức trong Chiến tranh giữ nước vĩ đại 1941 – 1945” đã tặng thưởng cho khoảng 13666000 người và Huy chương “Chiến thắng Nhật” tặng cho 1725000 người.
Cuối cùng, hơn 127000 nam, nữ du kích có thành tích thật xuất sắc và cả những đồng chí tổ chức và lãnh đạo phong trào du kích, đã được tặng thưởng những huy chương đặc biệt “Tặng người du kích trong cuộc Chiến tranh giữ nước” hạng nhất và hạng nhì.

Nói chung, số người tham gia cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại được khen thưởng đã vượt quá 35234000 người.

*
*   *

Từ năm 1943, bắt đầu tặng thưởng huân chương cho cả những binh đoàn và binh đội đang tác chiến và cho Hải quân. Trong thời gian chiến tranh, đã tặng thưởng tất cả hơn 10900 huân chương như thế, trong số đó có hơn 200 Huân chương Lê-nin, 3270 Huân chương Cờ đỏ, 3 Huân chương Xu-vô-rốp hạng nhất, 8 Huân chương U-sa-côp hạng nhất, 3 Huân chương Cu-tu-dốp hạng nhất, 10 Huân chương Bốc-đan Khơ-men-nít-xki hạng nhất, 5 Huân chương Na-khi-mốp hạng nhất, 676 Huân chương Xu-vô-rôp hạng nhì, 13 Huân chương U-sa-côp hạng nhì, hơn 530 Huân chương Cu-tu-dôp hạng nhì, 850 Huân chương Bốc-đan Khơ-men-nít-xki hạng nhì, 2 Huân chương Na-khi-môp hạng nhì, 849 Huân chương Xu-vô-rốp hạng ba, 1060 Huân chương Cu-tu-dốp hạng ba, 216 Huân chương Bôc-đan Khơ-men-nít-xki hạng ba, hơn 1480 Huân chương A-lêch-xan-đrơ Nép-xki, 7 Huân chương Chiến tranh giữ nước hạng nhất, hơn 1740 Huy chương Sao đỏ.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #257 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:40:30 am »

Lại còn có những biện pháp khác nhằm động viên bộ đội tác chiến thắng lợi, do khôn khéo biết tìm cách đánh.

Ngay trong năm 1941, trong điều kiện quân ta đang rút lui và gặp rất nhiều khó khăn, đã nổi bật bốn sư đoàn bộ binh 100, 127, 153 và 161. Các sư đoàn này, hành động trên hướng chiến lược chủ yếu, đã nhiều lần tổ chức phản kích quyết liệt vào quân địch đang điên dại vọt tới Mát-xcơ-va. Vì lập nhiều công trạng trong chiến đấu, có tổ chức và kỷ luật biết bố trí đội hình rất mẫu mực, nên các sư đoàn này được bộ trưởng Bộ dân ủy quốc phòng ra mệnh lệnh ngày 18 tháng Chín tặng thưởng danh hiệu cận vệ. Từ ấy, các sư đoàn  bộ binh 100, 127, 153 và 161 được mang tên là những sư đoàn bộ binh cận vệ 1, 2, 3 và 4. 
Những đơn vị cận vệ xô-viết ra đời như thế đó.

Một chế độ đặc biệt được quy định cho các đơn vị cận vệ: toàn thể sĩ quan, cán bộ chỉ huy của đơn vị được trả lương gấp rưỡi, còn chiến sĩ thì gấp đôi. Các chiến sĩ cận vệ được đeo huy hiệu riêng trên ngực, còn các binh đội và binh đoàn thì có cờ cận vệ riêng.

Sau này, ngày 16 tháng Tư 1943, Đại bản doanh lại quy định chế độ sử dụng các đơn vị cận vệ. Các sư đoàn cận vệ dày kinh nghiệm hơn và trung kiên hơn các sư đoàn khác nên được sử dụng để giải quyết những nhiệm vụ quan trọng nhất trong các chiến dịch tiến công, còn trong chiến đấu phòng ngự thì để phản kích vào quân địch. Như vậy thật là hợp lý về mọi mặt, mà chủ yếu là đã củng cố hơn nữa uy tín cho danh hiệu cận vệ, mặc dù cho đến ngày đó, danh hiệu ấy vẫn tượng trưng cho lòng dũng cảm của chiến sĩ và là vinh dự cao quý của bộ đội.

Đến năm 1943, lại có thêm một hình thức khen thưởng mới nữa cho những binh đội, binh đoàn và liên binh đoàn lớn có thành tích xuất sắc nhất. Như mọi người đều biết, đó là năm xảy ra bước ngoặt cơ bản trong toàn bộ cuộc chiến tranh. Ngay từ đầu năm, ở những khu vực quan trọng nhất trên mặt trận Xô - Đức, quân đội Hít-le đã suy sụp. Tập đoàn xung kích của địch bị bao vây và tiêu diệt trong bãi tuyết ở Xta-lin-grát. Sau khi đánh tan quân địch ở Vô-rô-ne-giơ, Quân đội tiên Xô đã tiến tới những cửa ngõ bên ngoài của Khác-cốp và đến ngưỡng cửa khu Đôn-bát. Từ đấy, bắt đầu đuổi hàng loạt quân chiếm đóng ra khỏi đất nước Liên Xô. Để ghi lại những thắng lợi đã giành được, Đại bản doanh đề nghị Bộ tổng tham mưu chuẩn bị nhật lệnh chào mừng gửi các đơn vị bộ đội của tám phương diện quân.

Đây là bản nhật lệnh chào mừng đầu tiên của Tổng tư lệnh tối cao trong lịch sử cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, đề ngày 25 tháng Giêng 1943. Mang tính chất chào mừng chung, trong bản nhật lệnh ấy không nêu phiên hiệu các binh đoàn đã đạt được những thành tích xuất sắc, cũng như không nêu tên họ các đồng chí chỉ huy trưởng các binh đoàn, tên các đồng chí tư lệnh các tập đoàn quân, phương diện quân. Nội dung bản nhật lệnh rất gọn:

“Kết quả hai tháng tiến công của Hồng quân là đã chọc thủng được một chính diện phòng ngự rộng của quân đội phát-xít Đức, tiêu diệt 102 sư đoàn địch, bắt hơn 200000 tù binh, thu 13000 khẩu pháo và nhiều khí tài khác, tiến lên phía trước sâu 400 ki-lô-mét. Quân đội ta đã giành được thắng lợi to lớn. Cuộc tiến công của quân đội ta đang tiếp tục.

Tôi chúc mừng các chiến sĩ, các đồng chí chỉ huy và cán bộ chính trị của các phương diện quân Tây - Nam, Nam, Sông Đôn, Bắc Cáp-ca-dơ, Vô-rô-ne-giơ, Ca-li-nin, Vôn-khốp và Lê-nin-grát đã chiến thắng quân phát-xít Đức xâm lược và quân chư hầu của chúng: Ru-ma-ni, I-ta-li-a, Hung ở Xta-lin-grát, ở vùng sông Đôn, ở Bắc Cáp-ca-dơ, ở Vô-rô-ne-giơ, ở khu vực Vê-li-ki-ê Lu-ki, phía Nam hồ La-đô-ga.

Tôi cám ơn các bộ tư lệnh và bộ đội dũng cảm đã đánh tan quân đội của Hít-le ở cửa ngõ Xta-lin-grát, đã giải vây cho Lê-nin-grát, đã đuổi quân chiếm đóng Đức, giải phóng các thành phố: Can-tê-mi-rốp-ca, Bê-lô-vốt-xcơ, Mô-rô-dốp-xki, Min-lê-rô-vô, Xta-rô-ben-xcơ, Cô-ten-ni-cô-vô, Di-mốp-ni-ki, Ê-li-xta, Xan-xcơ Mô-dơ-đốc, Nan-tsích, Mi-ne-ran-nư-e Vô-dơ, Pi-a-ti-goóc-xcơ, Xta-vrô-pôn, Ác-ma-via, Va-lui-ki, Rốt-xô-sơ, Ô-xtơ-rô-gô-giơ-xcơ, Vê-li-ki-ê Lu-ki, Lít-xen-bua, Vô-rô-ne-giơ, và nhiều thành phần khác, cùng với hàng nghìn vùng dân cư trù mật”.


Kết thúc bản nhật lệnh là lời kêu gọi hoàn thành nhiệm vụ trước mắt:

“Tiến lên, tiêu diệt quân Đức chiếm đóng và đuổi chúng ra khỏi biên giới Tổ quốc ta !”

Văn kiện này được công bố trên tất cả các báo chí và phát đi nhiều lượt trên đài phát thanh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #258 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:41:18 am »

Một tuần lễ sau, vào rạng ngày 3 tháng Hai 1943, đại diện Đại bản doanh - nguyên soái pháo binh N. N. Vô-rô-nốp - và tư lệnh phương diện quân sông Đôn - thượng tướng C. C. Rô-cô-xốp-xki - báo cáo đã thanh toán xong  quân địch bị bao vây ở khu vực Xta-lin-grát. Tổng tư lệnh tối cao ra lệnh điện trả lời tức khắc cho các đồng chí đó. Bức điện được thảo ngay và sửa chữa xong, có nội dung như sau:

“Tôi chúc mừng các đồng chí và bộ đội phương diện quân Sông Đôn đã hoàn thành thắng lợi việc tiêu diệt các đơn vị quân địch bị vây ở Xta-lin-grát. Tôi cám ơn tất cả các chiến sĩ, các đồng chí chỉ huy và cán bộ chính tri phương diện quân sông Đôn vì đã chiến đấu rất xuất sắc”.

Sáng ngày 3 tháng Hai, theo sáng kiến của Bộ tổng tham mưu, bức điện trên không phải sửa chữa thêm bớt gì, được dùng làm nhật lệnh của Tổng tư lệnh tối cao.

Thời gian trôi qua, chiến tranh vẫn tiếp tục. Ngày 5 tháng Bảy 1943, quân địch bắt đầu tiến công, mở đầu giai đoạn phòng ngự trong chiến dịch nổi tiếng ở Cuốc-xcơ. Hết ngày 23 tháng Bảy, bộ đội ta đã đánh bật quân Hít-le về những tuyến cũ và hoàn toàn khôi phục được hình thái mặt trận lúc ban đầu

Như thường lệ, trước khi báo cáo thường kỳ cho Tổng tư lệnh tối cao, quyền Tổng tham mưu trưởng A. I. An-tô-nôp có đánh giá tình huống và rút ra kết luận: nhiệm vụ phòng ngự của ta đã được hoàn thành thắng lợi, cuộc tiến công của những lực lượng chủ yếu của quân đội phát-xít Đức trên hướng Ô-ri-ôn -Cuôc-xcơ đã bị phá sản hoàn toàn, cả kế hoạch toàn bộ chiến cục mùa hè của địch cũng bị chôn vùi. Nhiệm vụ mới được đặt ra là tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch và phát triển tiến công theo kế hoạch mà Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã định. 

Tất cả những vấn đề trên, Bộ tổng tham mưu đã báo cáo cho I. V. Xta-lin vào rạng ngày 24 tháng Bảy và đến sáng thì Tổng tư lệnh tối cao gọi dây nói tới Bộ tổng tham mưu và lệnh cho chúng tôi phải chuẩn bị ngay bản nhật lệnh chào mừng các đơn vị bộ đội đã đánh thắng địch trong chiến dịch Cuốc xcơ. Đây là bản nhật lệnh thứ ba thuộc loại này. Đến trưa, chúng tôi làm xong bản dự thảo gửi các tư lệnh phương diện quân Trung tâm, Vô-rô-ne-giơ và Bri-an-xcơ là: đại tướng C. C. Rô-cô-xốp-xki, đ tướng N. Ph. Va-tu-tin và thượng tướng M. M. Pô-pop.

Khoảng 16 giờ, An-tô-nốp và tôi được lệnh triệu tập tới Đại bản doanh. Xta-lin rất vui. Đồng chí không nghe báo cáo tình hình của chúng tôi (vì không căn báo cáo, đồng chí cũng đã biết) mà yêu cầu chúng tôi đọc ngay bản dự thảo nhật lệnh.

Phần mở đầu văn kiện, do chúng tôi chuẩn bị, nêu rõ kết quả chiến lược quan trọng nhất mà Quân đội Liên Xô đã giành được: “Hôm qua, 23 tháng Bảy, bộ đội chúng ta đã thu nhiều thằng lợi trong chiến đấu, đã bẻ gãy hoàn toàn cuộc tiến công tháng Bảy của quân Đức từ những khu vực phía Nam Ô-ri-ôn và phía Bắc Bê-lơ-gô-rốt về hướng Cuốc-xcơ”.

Sau đó, chúng tôi thông báo vắn tắt tình hình địch: “Từ sáng ngày 5 tháng Bảy, quân đội phát-xít Đức đã sử dụng nhiều lực lượng xe tăng và bộ binh, được rất nhiều máy bay chi viện, chuyển sang tiến công trên những hướng Ô-ri-ôn - Cuốc-xcơ và Bê-lơ-gô-rốt - Cuốc-xcơ. Quân Đức đã tung những lực lượng chủ yếu của chúng tập trung ở các khu vực Ô-ri-ôn và Bê-lơ-gô-rot để tiến công bộ đội ta".

Tổng tư lệnh tối cao không có ý kiến gì về phần mở đầu bản nhật lệnh, nên chúng tôi lại tiếp tục đọc:

“Về phía địch, tham gia tiến công có tất cả 17 sư đoàn xe tăng, 3 sư đoàn cơ giới và 18 sư đoàn bộ binh Đức.

Sau khi đã tập trung những lực lượng trên tại những địa đoạn hẹp ngoài mặt trận, bộ chỉ huy Đức dự định mở những mũi đột kích tập trung từ phía Bắc và phía Nam tiến công theo hướng chung tới Cuốc-xcơ, chọc thủng phòng ngự của ta, bao vây và tiêu diệt bộ đội ta đang bố trí tại vòng cung chỗ lồi Cuốc-xcơ,”
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #259 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2011, 09:42:08 am »

Sau đó chúng tôi nói rằng cuộc tiến công của quân Đức không làm cho bộ đội ta bị bất ngờ. Bộ đội ta đã sẵn sàng, không những chỉ để đánh lui cuộc tiến công của quân Đức, mà còn để giáng những đòn phản kích mạnh. Đến đây, chúng tôi dẫn ra những số liệu cụ thể:

“Quân địch mới chọc vào phòng ngự ta trên hướng Ô-ri ôn - Cuốc-xcơ, sâu được 9 ki-lô-mét, và trên hướng Bê-lơ-gô-rôt - Cuôc-xcơ chừng 15 đến 35 ki-lô-mét, đã phải trả giá bằng những tổn thất lớn về sinh lực và khí tài. Bộ đội ta đã làm cho những sư đoàn tinh nhuệ của quân Đức bị tiêu hao và kiệt quệ trong những trận chiến đấu ác liệt; bằng những cuộc phản kích quyết liệt tiếp theo, không những đã đánh bật quân địch trở lại và khôi phục hoàn toàn hình thái mặt trận đã chiếm lĩnh trước ngày 5 tháng Bảy, mà còn chọc thủng tuyến phòng ngự địch, tiến sâu về phía Ô-ri-ôn từ 15 đến 25 ki-lô-mét”.

Chúng tôi sang phần kết luận: “Như vậy là kế hoạch tiến công mùa hè của quân Đức đã hoàn toàn phá sản". Tổng tư lệnh tối cao cho ngừng đọc và bổ sung vào như sau: “Điều đó đã vạch trần cái thuyết cho rằng mùa hè quân Đức tiến công bao giờ cũng thắng lợi và quân đội xô-viết thì bắt buộc phải rút lui; cái thuyết ấy là hoang đường”.

- Cần phải nói như vậy chứ. - Đồng chí giải thích. - Bọn phát-xít, đứng đầu là Gơ-ben, sau mùa đông thất bại ở Mát-xcơ-va, vẫn duy trì cái thuyết hoang đường này.

Sau đó, bản nhật lệnh nêu tên những đơn vị bộ đội có thành tích xuất sắc và tên họ các tư lệnh tập đoàn quân. Đoạn cuối của bản nhật lệnh lần này, không giống như những nhật lệnh lần trước. Ở đây chúng tôi không thể không tưởng nhớ tới những đồng chí đã xả thân cho cuộc chiến thắng. Nhật lệnh kết thúc như sau: 

“Tôi chúc mừng các đồng chí và bộ đội của các đồng chí đã hoàn thành thắng lợi việc đánh tan cuộc tiến công mùa hè của quân Đức. Tôi cám ơn tất cả các chiến sĩ, các cấp chỉ huy và cán bộ chính trị trong bộ đội do các đồng chí lãnh đạo đã tác chiến thật xuất sắc.

Vinh quang muôn đời thuộc về những anh hùng đã hy sinh trên chiến trường trong cuộc đấu tranh vì tự do và vinh dự của Tổ quốc chúng ta".

Nhật lệnh được ký ngay, rồi đài phát thanh truyền đi tức khắc. Đại bản doanh hài lòng về bán nhật lệnh ấy. Các đồng chí đề nghị chúng tôi sau này cứ viết nhật lệnh theo thể thức đó, tức là nhật lệnh gửi cho các tư lệnh phương diện quân, có nêu rõ tên họ các đồng chí tư lệnh tập đoàn quân, các đồng chí chỉ huy bộ đội có thành tích xuất sắc, trình bày vắn tắt kết quả của trận đánh. Đoạn cuối trong bản nhật lệnh nói về những anh hùng đã hy sinh thì vẫn giữ nguyên, rồi được hoàn chỉnh dần và cuối cùng thì như sau:

“Vinh quang muôn đời thuộc về những anh hùng đã hy sinh trong cuộc đấu tranh vì tự do và độc lập của Tổ quốc chúng ta! Quân Đức xâm lược phải chết!”.

Nhật lệnh ban hành trong dịp kết thúc thắng lợi toàn bộ cuộc chiến tranh có đoạn cuối này, nhưng bỏ câu “Quân Đức xâm lược phải chết”

Ngày 5 tháng Tám 1943, khi chiếm được Ô-ri-ôn và Bê-lơ-gô-rốt, Đại bản doanh nảy ra ý định mới. Khi tư lệnh các phương diện quân vừa báo cáo lên Tổng tư lệnh tối cao là đã chiếm được những thành phố trên (các tư lệnh phương diện quân bao giờ cũng muốn báo cáo trực tiếp ngay cho Tổng tư lệnh tối cao về những chiến thắng như thế), thì tướng An-tô-nốp và tôi được lệnh triệu tập tới Đại bản doanh. Xta-lin vừa đi công tác ở phương diện quân Ca-li-nin về. Tất cả các đồng chí ủy viên còn lại trong Đại bản doanh đều được triệu tập đến họp đông đủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM