Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười Một, 2019, 01:57:41 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 104228 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 09:09:59 AM »

Đầu năm 1946, một số đơn vị vũ trang vùng ven gồm bộ đội Dương Văn Dương, bộ đội Tô Kí, bộ đội Đào Sơn Tây phối hợp với bộ đội Biên Hòa của Huỳnh Văn Nghệ và bộ đội Thủ Dầu Một của Huỳnh Kim Trương tấn công quân địch trong thị xã Biên Hòa. Đây là trận đánh do khu bộ trưởng Khu 7 tổ chức nhằm gây tiếng vang trong tình hình địch đang mạnh. Giữa đêm 1 tháng 1, từ nhiều hướng, quân ta bất ngờ tập kích các trạm gác, công sở, nhà lao đầu cầu. Sau một lúc lúng túng, quân Pháp tổ chức phản kích. Chúng cố thủ trong các thành, các công sự kiên cố, dùng hỏa lực mạnh bắn khống chế lực lượng tiến công. Quân ta buộc phải rút lui sau khi diệt một số tên Pháp, bắn cháy nhà lồng chợ và một vài công sở của địch. Trận đánh không thu được kết quả lớn, nhưng có tác dụng khích lệ tinh thần đồng bào ở Biên Hòa và vùng ven thành phố.

Ở nội thành, từ đầu năm, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử Quốc hội khóa I diễn ra thầm lặng nhưng rất khẩn trương. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, 40.000 cử tri nội thành (chiếm 82% tổng số cử tri) đã bỏ phiếu bầu những đai biểu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Khu phố nào cũng có thùng phiếu lưu động được cán bộ chiến sĩ đưa tới từng hẻm để đồng bào bỏ phiếu. Kết quả, tại khu vực thành phố, các đại biểu Tôn Đức Thắng, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Đôn Văn, Nguyễn Văn Tư trúng cử đại biểu Quốc hội. Trong cuộc bầu cử này, 38 cán bộ hi sinh. Đồng chí Nguyễn Văn Tư, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Sài Gòn, hi sinh trong khi làm nhiệm vụ chỉ đạo bầu cử. Thắng lợi của cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 biểu thị lòng tin tưởng sắt đá vào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ kháng chiến, vào con đường tranh đấu cho độc lập thống nhất của đồng bào thành phố Sài Gòn.

Cũng trong ngày 6 tháng 1, ban Trinh sát quân chính thành được thành lập. Thanh viên bao gồm các đồng chí vừa tốt nghiệp khóa học quân chính Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1945. Trong thời gian này, thực dân Pháp tiếp tục tiến đánh các tỉnh còn lại ở Nam Bộ. Trước đó, vào cuối năm 1945, tiếp tay cho Pháp, Mĩ cho 8 tàu chiến chở sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9è DIC) của tướng Valluy và một tiểu đoàn dù gồm 500 tên đến Sài Gòn. Từ ngày 5 tháng 1 đến ngày 8 tháng 2 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm thị xã Sóc Trăng, Trà Vinh, Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau, Bến Tre và Bà Rịa.

Đồng thời với việc mở rộng phạm vi chiếm đóng, thực dân Pháp bắt đầu tuyển ngụy quân, ráo riết tập hợp bọn tay sai thành lập bộ máy cai trị bù nhìn ở các địa phương. Cơ quan Phòng Nhì Pháp ra sức tổ chức mạng lưới tình báo, gián điệp, do thám, chỉ điểm đế từng hẻm phố, xóm ấp, vừa thực hiện thủ đoạn nhằm phát triển cơ sở trong tri thức, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên chúa giáo, lực lượng vũ trang Bình Xuyên và một số thanh niên Cộng hòa vệ binh. Tháng 2 năm 1946, sau nhiều lần thất bại trong cuộc vận động trí thức Sài Gòn hợp tác, Cédille mới lập được “Hội đồng tư vấn Nam Kì” gồm 12 người, trong đó có 8 người Việt thì 7 người mang quốc tích Pháp! Hội đồng tư vấn gấp gáp bầu Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng chính phủ “Cộng hòa Nam Kì”.

Ngày 5 tháng 2 năm 1946, đoàn tàu chở sư đoàn bộ binh thuộc địa số 3 (3è DIC) do Nyo chỉ huy cập bến Sài Gòn. D’Argenlieu và Leclerc chủ trương khẩn trương hoàn tất việc chiếm đóng vùng nông thôn Nam Bộ. Chúng tổ chức các cuộc hành quân “bình định” khắp nơi. Hệ thống đồn bót của địch giăng khắp.

Ngày 6 tháng 2 năm 1946, Leclerc ra thông báo tuyên bố: “Cuộc hành quân đánh chiếm Nam Kì và Nam Trung Bộ đã hoàn tất”. Tuy vậy, thực dân Pháp gặp rất nhiều khó khăn. Tác giả cuốn Biên niên chiến tranh Đông Dương nhận định: “Đó là một ảo tưởng của một tên tướng được giao nhiệm vụ chiếm đất đai, tự cho là sức mệnh đã hoàn thành. Dùng sức mạnh bằng chiến xa, tàu chiến đi qua mà không hề chiếm được. Sư đoàn số 9 ((9è DIC) có nhiệm vụ truy quét đẩy lùi các toán Việt Minh, nhưng không tiêu diệt được họ, thời gian và sức mạnh ấy không đủ để nó tác động đến dân chúng, quân số quá ít không đủ để kiểm soát toàn bộ lãnh thổ 1/400 người hay 1/7 km2). Những cuộc hành quân bằng cơ giới, tàu đổ bộ được pháo binh yểm trợ, bao vây khép chặt lại một vùng rồi lục soát bắn giết. Quân lính phải đi theo bờ ruộng ngoằn nghèo, chậm chạp. Dưới trời nắng gay gắt của khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt, xung quanh là những làng mạc, cánh đồng hoang vắng, sự có mặt vô hình của kẻ thù đột nhiên xuất hiện bắn mấy loạt nổ vào đội hình, quân lính hoảng hốt nhảy xuống ruộng, bì bõm trong bùn ngập đến đầu, đến cổ, để chống lại vu vơ với kẻ thù im lặng. Vào đến xóm làng tưởng kẻ thù rút vào đó, đến nơi chỉ thấy có người già, trẻ em còn lại. Cuộc tiến quân nặng nề vì phải cõng vác những kẻ bị thương trên lưng, trên vai… Chỉ trong hai tháng mà sư đoàn số 9 ((9è DIC) làm nhiệm vụ truy quét bảo vệ toàn Sài Gòn đã mất 1/8 quân số chết và bị thương. Một cuộc chiến tranh lạ lùng, vô lối nhưng đó lại là một cuộc chiến tranh thực sự mà hành động của họ mang lại nhiều tổn thất nặng nề cho quân đội Pháp. Đến tháng 2 năm 1946, sư đoàn 3 bộ binh thuộc địa ((3è DIC) thay thế cho sư đoàn 9è DIC. Cuộc hành quân tái chiếm đã kết thúc, nhưng cuộc bình định vẫn tiếp tục không biết đến bao giờ”(1).

Trong thực tế đến tháng 2 năm 1946, quân Pháp chỉ chiếm đóng được thành phố Sài Gòn, các thị trấn trọng yếu và đường giao thông chiến lược. Phần lớn lực lượng phải phân tán để đóng giữ các địa phương. Hoạt động quân sự tập trung vào việc xây dựng và củng cố các căn cứ không quân, kho tàng hậu cần, hệ thống đồn bót và thiết bị bảo vệ xung quanh căn cứ quân sự, hành quân tuần tiễu đường giao thông và tổ chức không thường xuyên các cuộc tấn công vào căn cứ nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Vùng nông thôn ngoại thành, về cơ bản, vẫn do ta làm chủ.


(1) Xem Lịch sử cuộc chiến tranh chống Pháp ở miền Đông Nam Bộ (tài liệu đánh máy) Phòng Khoa học - Lịch sử quân sự Quân khu 7, tr. 29-30.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 09:13:03 AM »

Các căn cứ địa kháng chiến lần lượt ra đời, tạo thành một hệ thống chiến khu bao quanh thành phố.

Chiến khu An Phú Đông nằm ở phía Đông Bắc thành phố, gồm vùng đất thuộc hai xã An Phú Đông và Thạnh Lộc (quận Gò Vấp). Cách Sài Gòn 4km đường chim bay, cách Gò Vấp 1km đường bộ, nằm về phía hữu ngạn, lọt giữa một bên phía Đông là sông Sài Gòn, một bên là Rạch Cát chảy vòng từ phía Tây lên phía Bắc, An Phú Đông và Thạnh Lộc như một cù lao có dáng hình bầu dục rộng khoảng 10km2. Đây là vùng địa hình có vườn cây và đồng ruộng, sông rạch, bờ mương chằng chịt, xung quanh có bờ bao nước sông vào ra theo thủy triều lên xuống của sông Sài Gòn. Đất đai màu mỡ, vườn cây, đặc biệt là cây ăn trái xanh tốt, trù phú. Dân cư tập trung đông đúc. Từ đây, có thể giao lưu thuận tiện về phía Tây Bắc Thạnh Lộc đến Quới Xuân, Nhị Bình, Bình Lí, Tân Mĩ (Hóc Môn) sang phía Đông sông Sài Gòn các xã Vĩnh Phú, Tam Bình nối liền lên xã Tân Đông Hiệp (Dĩ An); phía Đông Nam có Hiệp Bình, Bình Lợi nối liền với xã Bình Hòa và Thạnh Mĩ Tây.

Thực hiện chủ trương “lập những khu căn cứ kháng chiến ngay ở ngoại ô, phụ cận Sài Gòn”, “Không rút đi xa, cố bám đất, bám dân, làm chiến tranh du kích, làm chiến tranh nhân dân”(1) của tỉnh ủy Gia Định đề ra từ đầu cuộc kháng chiến, sau ngày 5 tháng 10 năm 1945, đại bộ phận các cơ quan quân, dân, chính, đảng và sở chỉ huy các đơn vị vũ trang tỉnh Gia Định và quận Gò Vấp chuyển lần về An Phú Đông - Thạnh Lộc. Kế đến, sở chỉ huy mặt trận tiền tuyến miền Đông, trụ sở Tổng công đoàn Nam Bộ, liên hiệp công đoàn Sài Gòn và nhiều tổ chức kháng chiến khác, kể cả Ủy ban kháng chiến xã Hanh Thông cũng lần lượt rút về đây xây dựng căn cứ.

Nhân dân An Phú Đông - Thạnh Lộc sau khi lập trạm đón tiếp từng đoàn người tản cư từ thành phố ra, lại nhanh chóng bắt tay vào việc tiếp tế, bố trí nơi trú đóng của các cơ quan, đơn vị. Nhân dân ấp Đông Nhứt chọn những ngôi nhà khang trang nhất, những gian rộng rãi, kể cả chỗ gần nơi thờ cúng thiêng liêng, bàn tủ, giường chiếu và tiện nghi có thể có được giành cho cán bộ, chiến sĩ ăn ở, làm việc. Thanh niên phụ nữ các ấp tham gia tiếp tế, cấp dưỡng. Nam giới từ 18 đến 50 tuổi luân phiên canh gác những nơi xung yếu ven sông Sài Gòn và những giao lộ dẫn vào xã. Các trạm gác được lập dọc theo bờ sông Sài Gòn từ Vàm Thuận đến Thạnh Lộc, nối báo với nhau bằng tín hiệu mõ, tù và. Các công sự, ụ chiến đấu được đào khắp các nơi.

Tại đây, Tỉnh ủy Gia Định, Ủy ban kháng chiến tỉnh (do Nguyễn Văn Dung và Nguyễn Văn Công làm chủ tịch và phó chủ tịch) đã đề ra những chủ trương, chỉ đạo cuộc kháng chiến trong những tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946. Tổng công đoàn Nam Bộ (do Lí Chính Thắng làm tổng thư kí) lập trạm đón tiếp công nhân từ thành ra. Tại nhà ông Tư Quyền làm thân hào làng Thạnh Phú, tòa soạn báo Cảm tử xuất bản 4000 tờ mỗi số (mối tháng 6, 7 số) bí mật đem vào phát hành trong thành phố và gửi đi các tỉnh Nam Bộ. Xưởng vũ khí gần nhà ông Mười Bò và trong chòi giữ thơm của ông Mười Nguyễn mỗi ngày nhồi được 50 viên đạn, sản xuất 50 lựu đạn, và một số vũ khí thô sơ khác. Cũng từ đây, các đơn vị vũ trang Lí Thường Kiệt, Kí Con, Trần Cao Vân, Quang Trung, Nguyễn An Ninh… xuất phát đi hoạt động đán giặc ở Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Tân Định.

Giặc Pháp nhiều lần đưa quân tấn công An Phú Đông hòng tiêu diệt cơ quan đầu não và các lực lượng kháng chiến ở đây. Trong cuộc càn đầu tiên vào căn cứ này ngày 15 tháng 12 năm 1945, quân Pháp cùng quân Anh, Ấn có pháo binh, máy bay, tàu chiến yểm trợ bao vây chặt ấp Đông Nhứt. Hàng ngàn tên sục vào một khu vực nhỏ lục soát, bắn giết, đốt phá, từ sáng sớm đến 1 giờ chiều. Chúng đốt phá hơn 30 nhà dân, phá hủy hơn một nửa số lương thực thực phẩm, doanh trại, kho tàng, ghe xuồng, bắt đi 35 thanh niên và 10 cụ già. Sau trận càn, Pháp đóng chung quanh An Phú Đông một loạt đồn bốt: đồn Bình Lợi, bót ông Dầu, bót Bình Phước, bót Lập Be, bót Vĩnh Phú (Lái Thiêu), bót Bến Cát, Bót An Nhơn, bót Ba Thôn, chốt trục giao thông Gò Vấp đi Nhị Bình và Lái Thiêu.

Thực hiện chỉ thị của khu về xây dựng căn cứ địa, hội nghị cán bộ tỉnh Gia Định tại vườn Cau Đỏ, xã Thạnh Lộc (ngày 25 tháng 12 năm 1945) quyết định chính thức thành lập chiến khu An Phú Đông, lấy hai xã An Phú Đông và Thạnh Lộc làm trung tâm căn cứ, mở rộng phạm vi cơ động về phía sau: Quới Xuân, Tân Thới Hiệp, nối liền với Nhị Bình, Đông Thạnh, Bình Lí, Tân Mĩ, tạo thành một hành lang thuận tiện di chuyển bảo toàn lực lượng và chặn đánh địch. Cán bộ chiến sĩ bám lại. Các cơ quan kháng chiến tiếp tục hoạt động. Nhân dân sáng tạo nhiều cách đánh địch, xây dựng hệ thống phòng thủ trên mặt đất và hầm hào bí mật, hầm hào chìm dưới nước (hầm cá trê).

Cụm danh từ “Chiến khu An Phú Đông” cùng với những câu thơ của nhà thơ Xuân Miễn trở thành biểu tượng của cuộc chiến đấu gian khổ những ngày đầu kháng chiến ở ngoại vi Sài Gòn(2).


(1) Xem Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tr. 361.
(2) Thơ An Phú Đông của Xuân Miễn năm 1946 có những câu:
“Bạn đã từng nghe An Phú Đông
Một làng nho nhỏ ở ven sông.
Một năm chinh chiến! Ôi chinh chiến!
Sóng nước Sài Gòn nhuộm máu hồng.
Từ đấy đất này vang tiếng súng
Âm thầm mưa gió… bóng quân đi
Trên đường gặp lại bao nhiêu mộ
Của những người đi chẳng trở về
An Phú Đông! Đây An Phú Đông!
Trả lời tiếng gọi của non sông
Trẻ già đã biết hi sinh hết.
Biết trả thù chung đổ máu hồng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2012, 09:16:18 AM »

Chiến khu Rừng Sác ở phía Đông Nam thành phố, là một vùng rừng đước, chà là ngập mặn rộng đến 600 héc ta, phía Bắc là khu lòng chảo Nhơn Trạch, phía Đông là quốc lộ 15, phía Tây là sông Soài rạp, phía Nam kéo dài sát biển Đông. Rừng Sác là nơi tập hợp của hàng trăm sông rạch lớn nhỏ, chằng chịt ngang dọc ngoằn ngoèo như mạng nhện, tạo nên những đảo triều lúp xúp nổi giữa mênh mông nước (diện tích mặt sông rạch chiếm 1/4 diệt tích toàn Rừng Sác). Quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống sông rạch ở Rừng Sác là sông Lòng Tàu - tên gọi gộp nhiều đoạn sông dài 45km nối biển Đông ở cửa biển Gành Rái đến ngã ba sông Đồng Tranh, sông Nhà Bè vào Cảng Sài Gòn, một cửa biển quốc tế, cái “cuống họng” của Sài Gòn và Nam Bộ. Phủ lên Rừng Sác là cả một vùng cây ngập mặn như mắm, bần, đước, dà, chà là, dừa nước… đan níu nhau từng từng lớp lớp, tạo nên những “đám lá tối trời”, những “mái nhà”, hang động. Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm cho Rừng Sác rở thành một khu vực cực kì hiểm trở, một “trận đồ bát quái”. Trận đồ bát quái” này lại nằm kế cận thành phố Sài Gòn, bao bọc xung quanh con đường thủy chiến lược - Lòng Tàu - nối liền Sài Gòn với quốc tế.

Rừng Sác vì thế, từ những thế kỉ trước đã được Nguyễn Huệ, rồi Trương Định chọn làm căn cứ địa. Trước Cách mạng Tháng Tám, nơi đây là địa bàn trú ẩn của những người có chí khí khai sơn phá thạch, khuấy nước chọc trời, cát cứ một cõi; những người trốn lính, phu, thuế, cờ bạc, hút chích bị chính quyền thực dân truy nã; những người là hảo hớn giang hồ, đảng cướp lưu manh, bị xã hội dồn đến chân tường, sông ngoài vòng pháp luật.

Cuối tháng 11 năm 1945, sau khi mặt trận Rạch Đỉa - Cây Khô (Nhà Bè) bị vỡ, bộ chỉ huy mặt trận số 4 rút xuống Rừng Sác. Bộ đội Dương Văn Dương (gồm cả lực lượng Nhà Bè, Thủ Thiêm, Tân Thuận…) về Phước An - một xã thuộc quận Long Thành, phân nửa nằm trên đất liền phía Nam lòng chảo Nhơn Trạch, phân nửa là Rừng Sác ngập nước. Sở chỉ huy và các đơn vị chiến đấu đóng rải rác trong các ấp Bà Trường, Bàu Bàng, Vũng Gấm… Bộ đội Nguyễn Văn Mạnh về đứng chân ở khu vực Bà Trao - Núi Nứa. Bộ đội Tư Hoạch cũng rút về Rừng Sác.

Chấp hành chỉ thị của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình, 22 giờ đêm ngày 5 tháng 2 năm 1946 (tức mồng 3 tết Bính Tuất), hai phần ba lực lượng liên chi đội 2 - 3 vượt sông Soài Rạp, hành quân xuống chi viện cho Bến Tre. Cùng lúc, lực lượng ở lại đồng loạt tập kích tàu thuyền trên sông Soài Rạp và các cứ điểm đồn bót tại Vàm Sát, Rạch Rào, Đồng Tròn, Rạch Cốc để thu hút địch. Cùng thời gian này, bộ đội Tám Mạnh và Tư Hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang Cần Đước, Cần Giuộc đồng loạt tập kích 12 vị trí của giặc ở vùng phía Nam thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Số quân còn lại của liên chi đội 2 - 3 chia làm hai bộ phận trụ lại Rừng Sác xây dựng căn cứ: Bộ phận thứ nhất gồm bộ đội Mười Đen và lực lượng còn lại của 6 đơn vị chiến đấu chia quân đứng chân trên khu vực Rừng Giồng giữa lòng chảo Nhơn Trạch, do Đinh Văn Nhị chỉ huy. Bộ phận thứ hai đóng quân dưới Rừng Sác vùng ngập nước gồm các bộ phận binh công xưởng, tàu kéo, ghe thuyền, trọng pháo, quân y viện, kho tàng đặt tại Rạch Xu, Rạch Vàm Tượng, do Dương Văn Hà (em Dương Văn Dương) chỉ huy. Công tác xây dựng căn cứ địa được xúc tiến khẩn trương, có kế hoạch chu đáo.

Sau khi Bến Tre thất thủ, Dương Văn Dương hi sinh(1). Bộ đội liên chi đội 2 - 3 do Trần Văn Đối giữ quyền chỉ huy quay về Rừng Sác. Đêm 24 rạng ngày 25 tháng 2 năm 1946, đoàn quân về đến Rừng Sác. Cuối tháng 2, Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) đưa bộ đội Phú Thọ từ căn cứ Vườn Thơm xuống Rừng Sác. Từ đây Rừng Sác trở thành căn cứ chủ yếu của bộ đội Bình Xuyên(2).

Cùng với bộ đội Bình Xuyên, tại Rừng Sác, còn có hàng chục tổ chức kháng chiến về đứng chân hoạt động như các bộ phận hậu cứ cơ quan lãnh đạo các tỉnh Chợ Lớn, Bà Rịa, Thị xã Cấp, các cơ quan kháng chiến Sài Gòn (liên hiệp công đoàn, công tác Thành, công an xung phong…), các cơ quan quân dân chính đảng các quận Nhà Bè (Gia Định), Cần Giuộc, Cần Đước (Chợ Lớn), Hòa Tân (Gò Công) và cơ quan kháng chiến các xã đất liền ven phía Tây sông Soài Rạp…(3)

Đến cuối tháng 2 năm 1946, Rừng Sác trở thành một căn cứ sôi động ở ngoại vi Đông Nam thành phố. Tại đây, bộ đội tỏa ra hoạt động đánh địch khắp nơi: tập kích huyện lị Nhà Bè, huyện lị Cần Guộc, đánh đồn bót dọc sông Lòng Tàu, dọc liên tỉnh lộ 19, phục kích diệt tàu ghe của địch trên các sông rạch.

Căn cứ Bình Mĩ: ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình thuộc quận Hóc Môn nằm cập theo sông Sài Gòn bên tả ngạn (liền ranh bên hữu ngạn sông Sài Gòn với căn cứ An Sơn, An Thạnh, Phú Cường, thuộc Lái Thiêu tỉnh Thủ Dầu Một). Phía Bắc có tỉnh lộ 8 từ Đức Hòa chạy qua quốc lộ 1 đến bến đò sông Sài Gòn sang thị xã Thủ Dầu Một. Phía Tây có đường 15 từ Sài Gòn qua Hóc Môn lên Bến Cỏ đến bến đò Bến Súc, đường số 5 chạy xéo qua từ cầu Xáng đến Bình Mĩ giáp tỉnh lộ 8. Phía Tây Nam là sông Rạch Tra chảy qua cầu Xáng, cầu Bông (nay là ranh giới thiên nhiên giữa hai huyện Củ Chi và Hóc Môn). Theo phía Bắc có thể phát triển nối với Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Hòa Phú, An Phú xã, Khu 5(4), xa hơn nữa là Bến Cát, Trảng Bàng; từ phía Tây, căn cứ nối qua Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Tân An Hội, đền Giồng, Ông Hòa, Bàu Công (Đức Hòa).

Đứng chân tại căn cứ Bình Mĩ, ngoài các cơ quan kháng chiến và các lực lượng vũ trang huyện Hóc Môn, có Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Nhân dân Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình tích cực phá hoại cắt đứt các đường bộ, đào hầm hào, rào làng chiến đấu, tuần gác chống càn bảo vệ căn cứ. Trong tháng 2 năm 1946, cầu Rạch Tra trên sông Sài Gòn - cửa ngõ đi vào Bình Mĩ - bị ta phá sập. Dọc các ngã đi vào căn cứ đều được cắm chông, đắp ô ụ. Trên quốc lộ 22, nhân dân và du kích đào hố, chặt đổ cây cao su dọc ven đường làm ngáng trở giao thông địch.

Căn cứ Vườn Thơm: ở phía Tây thành phố, cách trung tâm Sài Gòn 10km, án ngữ trên hành lang nối Sài Gòn với chiến khu Đồng Tháp Mười, thuộc đất Trung Quận và một phần quận Đức Hòa của các xã Hậu Thanh, Đức Hòa Hạ (tỉnh Chợ Lớn)(5). Toàn bộ căn cứ gồm 6 xã trung tâm (Tân Tạo, Tân Nhật, Tân Bửu, Lương Hòa, Hậu Thạnh Hạ, Đức Hòa Hạ với điểm trung tâm là Trụ Năm Thôn) và 9 xã ngoại vi (Bình Trị Đông, Tân Kiên, An Lạc, Tân Túc, Mĩ Yên, Thanh Hà, Long Hiệp, Long Phú, An Thạnh) với diện tích khoảng gần 200km2. Đất Vườn Thơm là chiếc gạch nối giữa vùng giồng cao của miền Đông Nam Bộ với vùng trũng thấp của Đồng Tháp Mười, chủ yếu là đất bưng biền, kinh rạch, hố trấp, sinh lầy, lại có đất vườn với những vườn mía, vườn thơm (vườn thơm nhiều thành tên đất), rừng cây mù u, cây trám, dừa nước đan ken dày đặc. Bưng Bà Lác, Vinh Lộc, Bình Thủy (về phía Bắc), sông Vàm Cỏ Đông (về phía Tây) đường số 10 (Chợ Lớn đi Đức Hòa), kinh Xáng, kinh Bà Hom, kinh cầu An Hạ, kinh Bà Vụ rồi Bàu Cỏ, Láng Le… là những địa danh của căn cứ Vườn Thơm trở thành quen thuộc trong lịch sử chống ngoại xâm của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn.

Từ đầu năm 1946, bộ đội chiến đấu ở mặt trận phía Tây, Ban chấp hành Mặt trận Việt Minh và các cơ quan kháng chiến của Sài Gòn, Chợ Lớn, của Trung Quận và vùng phụ cận rút về đây, trụ bám, xây dựng căn cứ, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Dựa vào địa thế nhiều bưng trấn kinh rạch và cỏ lạc phức tạp, rậm rạp, khuất khúc bất ngờ, quân và dân tại Vườn Thơm, dưới sự chỉ đạo của trưởng ban căn cứ địa Nguyễn Văn Thơm, tiến hành đào vét kinh mương ngòi lạc, mở đường đi ngang dọc ở trong căn cứ, đồng thời dựng kè cản, đắp đập trên các kinh lớn, đào hầm hào khắp nơi, vừa để trú giấu lực lượng vừa để chống địch cơ động càn quét. Căn cứ Vườn Thơm đứng vững cho đến năm 1949, được coi là một địa bàn cơ động nhất vào nội thành.

Ngoài những căn cứ kể trên, còn hàng loạt căn cứ nhỏ khác nằm rải rác bao quanh thành phố. Đó là các điểm trú đóng quân, ém giấu lực lượng, nơi cất giữ hoặc chuyển tiếp cơ sở vật chất, kho tàng công xưởng của các địa phương từ xã đến huyện, tỉnh, thành phố, đồng thời là điểm xuất phát đánh địch trong nội thành và các khu vực ngoại vi thành phố. Đáng ghi lại là khu vực các xã Phú Thọ Hòa, Bình Hưng Hòa, Tân Hòa, Vĩnh Lộc, Bưng Sáu xã. Sự hình thành hệ thống căn cứ bao quanh thành phố biểu thị quyết tâm kháng chiến lâu dài của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định; nó tạo điều kiện cho nhiệm vụ xây dựng lực lượng mọi mặt để tiến hành cuộc kháng chiến đang ngày càng mở rộng quy mô trên các chiến trường.


(1) Dương Văn Dương bị máy bay địch bắn chết tại sở chỉ huy cuộc hành quân đóng ở ấp Bình Khương, xã Châu Bình ngày 17 tháng 2 năm 1946. Ông được Chính phủ truy tặng quân hàm Thiếu tướng và Hồ Chủ tịch gửi thư chia buồn với gia quyến. Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam Bộ đặt tên Dương Văn Dương cho một con kinh lớn ở trung tâm chiếm khu Đồng Tháp Mười, thay cho tên cũ là Lagrange (tên một chủ tỉnh người Pháp ở Tân An).
(2) Bình Xuyên vốn là địa danh một ấp thuộc xã Chánh Hưng thuộc quận Cần Giuộc, vũng sình lầy, dân thưa, là “giang sơn” riêng của những người bất phục tùng chế độ thực dân phong kiến, giới giang hồ và các đảng viên hoạt động bí mật, được Dương Văn Dương đặt tên cho bộ đội của ông gọi là bộ đội Bình Xuyên. Bộ đội Bình Xuyên chính gốc chỉ gồm bộ đội Dương Văn Dương và bộ đội Chánh hưng của Nguyễn Văn Mạnh - Mai Văn Vĩnh. Về sau, đặc biệt từ Hội nghị Đa Phước trở đi (tháng 11 năm 1945), các đơn vị vũ trang có thành phần xuất thân là những “anh chị” giang hồ đứng chân hoạt động trên địa bàn Rừng Sác, gia nhập vào bộ đội “chính gốc” hoặc tự nhận là bộ đội Bình Xuyên, đều được mọi người gọi chung là bộ đội Bình Xuyên.
(3) Theo Lương Văn Nho (chiến khu Rừng Sác, NXB Đồng Nai 1983, tr. 47) có gần 100 bộ phận đứng chân ở căn cứ Rừng Sác.
(4) Đầu năm 1946, ta chia Hóc Môn làm 5 khu quân sự, mỗi khu có một ban chỉ huy quân sự khu. Khu 1: khu vực thị trấn Hóc Môn và các xã Tân Thới Nhất, Tân Thới Nhì, Tân Thới Tam, Xuân Thới Thượng. Khu 2: Bình Lí, Tân Mĩ, Mĩ Bình, Nhị Bình, Đông Thạnh. Khu 3: Hòa Phú, An Phú xã, Tân Thạnh Đông. Tân Thạnh Tây. Khu 4: Tân Phú Trung, Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Phước Hiệp, Thái Mĩ. Khu 5: Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Phú Mĩ Hưng, Trung Lập, Nhuận Đức (các khu 3, 4, 5 thuộc huyện Củ Chi ngày nay).
(5) Tỉnh Chợ Lớn lúc ngày gồm các quận: Trung Quận (thuộc Bình Chánh ngày nay), Cần Đước, Cần Giuộc, Đức Hòa (Long An ngày nay).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:12:22 PM »

*
*   *

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, thực hiện chủ trương “Hòa để tiến”, Chính phủ ta kí kết với Pháp Hiệp định sơ bộ. Theo Hiệp định này, chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Nước Việt Nam có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Việc thống nhất đất nước sẽ được quyết định bằng một cuộc trưng cầu ý dân… Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí chờ cuộc đàm phán nhằm thực hiện toàn bộ các điểu khoản đã được kí kết.

Ngay ngày hôm sau (ngày 7 tháng 3 năm 1946), Hồ Chủ tịch viết giấy ủy nhiệm hai đồng chí Hoàng Quốc Việt và Huỳnh Văn Tiểng về Nam Bộ (đi cùng đoàn đại biểu Pháp) “đặng giải thích và thi hành bản hiệp định”.

Ngày 10 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào chiến sĩ ở Nam Bộ, giải thích ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định và kêu gọi nhân dân đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ. Người viết:

“Tôi xin báo để đồng bào và anh em chiến sĩ các bộ đội biết rằng: Việc điều đình giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp đã đi đến một kết quả đầu tiên là hai bên đình chiến ngay để mở đường cho những cuộc đàm phán chính thức sau này. Đối với nước Việt Nam ta, sự kí kết đã có một kết quả hay là nước Pháp đã thừa nhận nước Việt Nam là một nước tự chủ.

Ấy cũng là nhờ sự đấu tranh anh dũng của tất cả đồng bào toàn quốc, nhất là đồng bào Nam Bộ và Nam Trung Bộ và của cả thảy anh em chiến sĩ khắp các mặt trận trong sáu tháng liền. Trong giờ phút này, tôi kính cẩn cúi đầu chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hi sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hi sinh đó không phải là uổng.

Không phải là uổng, vì đây là:

1. Bước đầu của cuộc đàm phán để đi đến thắng lợi.

2. Cuộc đàm phán đầu tiên đã gây dựng được những điều kiện chính trị mà chúng ta phải biết lợi dụng để đạt tới các mục đích Việt Nam hoàn toàn độc lập.

3. Muốn như vậy, Chính phủ cần được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân. Cho nên trong thời kì đình chiến này nhất là trong lúc quân đội hai bên cần phải đứng lại trên vị trí hiện thời, sự chuẩn bị, sự củng cố lực lượng, sự tôn trọng kỉ luật là cần thiết hơn lúc nào hết. Và rồi đây, sau khi hòa bình đã thỏa hiệp được, thì tinh thần phấn đấu của anh em vẫn là những lực lượng quý báu để đảm bảo cho nền độc lập hoàn toàn của nước nhà sau này.

Chúng ta cần phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc. Sự kiến thiết, sự tranh đấu chưa kết thúc, tinh thần hăng hái của đồng bào sẽ không bao giờ phải e là không có cơ hội hoạt động nữa.

Trong giai đoạn mới của lịch sử nước nhà hiện nay, tinh thần đoàn kết của anh em sẽ đưa lại những kết quả tốt đẹp hơn nữa”(1).

Tại Nam Bộ, đến ngày 5 tháng 3 năm 1946, đơn vị cuối cùng của quân Anh rút khỏi Sài Gòn, để lại cho Pháp nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh. Quân Pháp đã “hoàn thành” việc chiếm đóng và đang ráo riết xúc tiến thành lập hệ thống chính quyền bù nhìn tay sai từ trung ương xuống xã ấp, xây dựng cơ sở xã hội chính trị cho chúng, bước đầu trở lại hoạt động sản xuất khai thác thuộc địa, chủ yếu ở hai ngành kinh tế: cao su ở miền Đông và lúa gạo ở miền Tây.

Tuy kí kết, nhưng thực dân Pháp cố tình không thực hiện Hiệp định 6-3. Cédille Ủy viên cộng hòa Pháp ở Nam Bộ ra tuyên ngôn đại ý: Hiệp định mới được kí kết không dính dấp gì đến Nam Bộ (!). Hội đồng tư vấn do Pháp mới đề cử ra ở Nam Bộ họp phiên đầu tiên chấp thuận bản kiến nghị của thủ tướng ngụy quyền Nguyễn Văn Thinh yêu cầu Pháp “để cho cuộc tự trị của Nam Kì nguyên vẹn” và viện lí do tình hình còn rối ren chưa thể tổ chức cuộc trưng cầu dân ý theo quy định của Hiệp định sơ bộ. Tướng Nyo vừa lên thay Valluy làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại miền Nam Việt Nam (tháng 3 năm 1946) ra lệnh tăng cường các hoạt động chia rẽ Nam - Bắc, vận động tách Nam Bộ thành một xứ tự trị có chính phủ, nghị viện quân đội và tài chính riêng.

Tại Sài Gòn, đơn vị chuyền tay nhau đọc các bài viết vạch trần âm mưu và thái độ lật lọng của Pháp đăng trên báo Chống Xâm Lăng, Cảm Tử. Nhiều tờ báo xuất bản công khai ở Sài Gòn cũng lên tiếng chỉ trích Pháp, dòi Pháp phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định.

Nhằm xoa dịu tình hình, đánh lừa dư luận quần chúng, tạo bầu không khí chính trị có lợi trong việc thành lập chính phủ “Nam Kì tự trị”(2), tướng Nyo đề nghị đàm phán với ta. Biết rõ âm mưu của giặc, nhưng cần tranh thủ thời gian ngừng bắn để củng cố lực lượng và tỏ rõ thiện chí, ta đồng ý đàm phán.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, t. 4, tr. 114-115.
(2) Ngày 26 tháng 3 năm 1946, do “thủ tướng” Thinh không lập được nội các, D’Argenlieu cho ra đời cái gọi là “chính phủ lâm thời Nam Kì tự trị” chuẩn bị cho việc thành lập chính thức chính phủ Nam Kì riêng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:13:23 PM »

Ngày 10 tháng 4 năm 1946, tại miếu Bà Cô, một địa điểm bên bờ sông Đồng Nai (xã Thiện Tân, Vĩnh Cửu, Biên Hòa), cuộc đàm phán bắt đầu. Phía Pháp do đại tá Peyler làm trưởng đoàn. Phía ta gồm Đặng Ngọc Tốt (trưởng đoàn), Phạm Thiều (phái viên chính trị), Lâm Thái Hòa (phái viên quân sự), Lê Đình Chi (phiên dịch). Tại cuộc đàm phán, thực dân Pháp đưa ra luận điểm không công nhận Vệ quốc đoàn Khu 7 là một bộ phận của quân đội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đòi ta phải giải giới. Phía ta kiên quyết phản bác luận điệu xuyên tạc vô lí của phái đoàn Pháp, chứng minh sự hiện diện hợp pháp của Vệ quốc đoàn, lên án địch vi phạm về điều khoản ngừng bắn và âm mưu của chúng trong việc thành lập chính phủ lâm thời Nam Kì tự trị. Cuộc đàm phán thất bại. Bằng cuộc đấu tranh trực diện, ta chứng minh cho thực dân Pháp và dư luận rộng rãi biết lập trường chính nghĩa, tinh thần sẵn sàng thương lượng nhưng kiên kiên quyết kháng chiến của ta, đồng thời vạc trần bản chất xâm lược phi nghĩa và thủ đoạn chính trị nhằm đánh lừa dư luận của chúng.

Những ngày tháng hai và tháng ba năm 1946, ta gặp nhiều khó khăn. Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng thiếu sự chặt chẽ, hệ thống, do một số nơi quán triệt không đầy đủ sách lược “giải tán Đảng” (từ tháng 11 năm 1945) và do dời chuyển phân tán căn cứ. Các đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn và nhiều cán bộ cao cấp khác ra Hà Nội hoặc do Trung ương triệu tập hoặc tự đi đi để báo cáo tình hình. Dù vậy, những cán bộ ở lại, cấp ủy Đảng địa phương vẫn năng động phân tích tình hình, tiếp nhận sự lãnh đạo của Trung ương qua nhiều con đường khác nhau, đề ra nhiệm vụ cụ thể cho đơn vị mình một cách linh hoạt thích hợp.

Tranh thủ thời gian hòa hoãn sau ngày 6 tháng 3, các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định khẩn trương chấn chỉnh tổ chức, củng cố và phát triển lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh chính trị chống âm mưu của địch.

Trong tháng 3 năm 1946, Thành bộ Việt Minh Sài Gòn được thành lập do Nguyễn Thọ Chân làm bí thư, các ủy viên gồm Tạ Văn Hảo, Hoàng Quốc Tân, Huỳnh Tấn Phát. Như vậy, thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn lúc này có hai tổ chức Đảng dùng song song tồn tại: Thành bộ Việt Minh (vùng Sài Gòn, do Nguyễn Thọ Chân làm bí thư) và Ban cán sự Đảng mặt trận số 4, cũng gọi là Ủy ban Việt Minh (vùng Chợ Lớn, do Trịnh Đình Trọng làm bí thư). Tháng 5 năm 1946, Ủy ban Việt Minh và Thành bộ Việt Minh hợp nhất lại, thành lập Thành ủy lâm thời Sài Gòn - Chợ Lớn. Thành ủy gồm các đồng chí Trịnh Đình Trọng (bí thư), Nguyễn Thọ Chân (phó bí thư) và Nguyễn Văn Chi.

Tại Gia Định vẫn tồn tại hai tỉnh ủy Tiền Phong và Giải Phóng. Tỉnh ủy Tiền Phong đề ra chủ trương: củng cố và phát triển lực lượng vũ trang ở các địa phương, đồng thời đẩy mạnh xây dựng chính quyền các cấp trên cơ sở phải do Đảng lãnh đạo; trong xây dựng lực lượng vũ trang ưu tiên tăng cường cán bộ và phương tiện để tăng cường sức mạnh cho bộ đội; điều một số cán bộ của tỉnh xuống xây dựng củng cố phong trào ở các huyện còn gặp nhiều khó khăn như Thủ Đức, Nhà Bè; tổ chức đường dây liên lạc với cấp lãnh đạo Nam Bộ để nhận chỉ thị trực tiếp của trên. Tháng 9 năm 1946, hai tỉnh ủy Tiền Phong và Giải Phóng tiến hành hội nghị hợp nhất tại xã Tân Thới Hiệp (Gò Vấp). Hội nghị bầu một tỉnh ủy thống nhất của Gia Định gồm 11 người (Phạm Văn Chiêu, Phạm Văn Khung, Tô Kí, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Bảo, Huỳnh Văn Thới, Phạm Văn Năm, Nguyễn Oắng, Phạm Văn Giáo, Võ Văn Thời, Trịnh Thị Miểng), do Trần Văn Thời sau đó vài tháng là Phạm Văn Chiêu làm bí thư.

Từ sau Hiệp định ngày 6 tháng 3, Đảng chủ trương đưa nhân dân và cán bộ quân, dân, chính, đảng trở lại nội thành, đồng thời chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến ngay tại sào huyệt địch.

Lần lượt, đồng bào tản cư ra ngoại ô và các tỉnh trở về thành phố. Lẫn trong đoàn người trở về, nhiều cán bộ, đảng viên, đội viên vũ trang đã trở về từng khu phố, nhà máy, bệnh viện, công sở để tổ chức xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang.

Từng bước ta gầy dựng, củng cố lại tổ chức Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc từ cơ sở đường phố, xí nghiệp lên đến hộ, quận. Các ban chấp hành của Mặt trận Việt Minh và đoàn thể cứu quốc được bầu mới. Nhiều nhân sĩ, trí thức uy tín được mời tham gia. Nhiều tờ báo kháng chiến ra đời và lưu hành đều đặn đến tận cơ sở trong khắp thành phố. Đặc biệt, báo Cảm Tử của Tổng công đoàn Nam Bộ (Lí Chính Thắng làm chủ bút) và báo Thông Tin Kháng Chiến sau đổi là Chống Xâm Lăng của Mặt trận Việt Minh Sài Gòn - Chợ Lớn (Trịnh Đình Trọng làm chủ bút) được nhân dân náo nức đón đọc và quý trọng, trở thành tiếng nói chính thức của cơ quan lãnh đạo kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Ngoài ra, trong thành phố còn lưu hành các tờ báo kháng chiến khác như Vệ Quốc, Tiền Đạo, Kèn Gọi Lính, Tổ Quốc, Tiếng Súng Kháng Địch… từ các tỉnh chuyển về. Các tờ báo nói tên đã kịp thời tuyên truyền về công cuộc kháng chiến, hướng dẫn nhận thức và hành động, khích lệ đồng bào thành phố hang hái ủng hộ và tham gia kháng chiến, đập lại các luận điệu phản động, cơ hội của các tờ báo Pháp cho xuất bản công khai ở Sài Gòn như “Phục Hưng”, “Tương Lai”, “Tiếng Gọi”…

Trong điều kiện thành phố vừa bị chiếm đóng, tổ chức Đảng và cơ sở cách mạng chưa mạnh và phát triển sâu rộng đến từng cơ sở, báo Cám Tử, Chống Xâm Lăng và nhiều tờ báo kháng chiến khác đã thực sự giữ một vai trò quan trọng trong công tác vận động xây dựng phong trào ở thành phố ngay trong những ngày cuối năm 1945, đầu năm 1946.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:14:57 PM »

Phong trào kháng chiến trong nội thành từng bước được hồi phục. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh, nhân dân lao động, công nhân ổn định cuộc sống, hình thành mạng lưới cơ sở nuôi giấu cán bộ và vận động quyên góp vận chuyển máy móc, dụng cụ y tế, văn phòng ra căn cứ. Mặt khác, ta cảnh giác đấu tranh với địch đang thi hành chinh sách hai mặt: vừa mị dân, lôi kéo trí thức công nhân lành nghề về hợp tác với chúng, vừa củng chố hệ thống đồn bót xây dựng bộ máy tề điệp, tăng cường khủng bố đàn áp những người bị tình nghi và gia đình có người thân đi kháng chiến.

Lực lượng vũ trang chuyên trách hoạt động nội thành phát triển một bước. Sau nhóm trinh sát Quân chính (do khu bộ trưởng Khu 7 Nguyễn Bình thành lập từ tháng 1 năm 1946), các đội trinh sát quân sự, đội cảm tử lần lượt ra đời. Một trung đội vũ trang lấy biệt danh trung đội cảm tử Nguyễn Bình I được phái về hoạt động và gây dựng cơ sở. Tháng 3, Khu bộ trưởng thành lập tiếp một ban trinh sát vũ trang lấy từ số anh em chi đội 1 gốc thành phố tăng cường cho nhóm trinh sát Quân chính và nhóm Hùng Vương thành ban trinh sát vũ trang số 1. Một số chiến sĩ thanh niên Tiền phong đoàn Nguyễn Huệ ở hộ 10 cùng một số chiến sĩ trong tổ chức trinh sát của bộ đội Lê Văn Viễn ở ngoại ô hợp thành ban trinh sát vũ trang số 2. Một số anh em trinh sát của công đoàn xung phong và tự vệ chiến đấu Tân Xuân Hòa hoạt động ở Tân Sơn Nhất hợp thành trung đội cảm tử Nguyễn Bình II. Ban ám sát quận Tân Bình thành lập từ tháng 1 năm 1946 sáp nhập vào trung đội cảm tử Nguyễn Bình I.

Sau khi trực tiếp đi thị sát ở Sài Gòn về, tháng 4 năm 1946, khu bộ trưởng Nguyễn Bình quyết định đổi các loại đơn vị vũ trang nội thành thành các Ban công tác, giải tán tất cả các đơn vị vũ trang tự lập khác, giải thể Đội quốc gia tự vệ Cuộc của chi đội 4, thành lập đội trinh sát quân sự chi đội 4. Các ban Công tác Thành lần lượt ra đời:

Ban trinh sát Quân chính thu nhận thêm các nhóm Hùng Vương, ban Vô hình, ban Ám sát, ban Trừ gian, đội Cảm tử… thành Ban công tác số 1. Ban công tác số 1 do Nguyễn Đình Chính làm chỉ huy trưởng, hoạt động chủ yếu trong nội thành Sài Gòn, tập trung ở khu vực quận I, chợ Bến Thành, Tân Định, Đa Kao, Phú Nhuận.

Ban trinh sát vũ trang số 2 thu nhận thêm đảng Dao găm cùng một số thanh niên ở ngoại ô Sài Gòn thành Ban công tác số 2. Ban công tác số 2 do Nguyễn Văn Tôn (Hai Tôn) chỉ huy, hoạt động chủ yếu ở khu vực chợ Thiếc, Phú Thọ, Cầu Tre, xã Bình Trị Đông.

Ban công tác liên xã Tân Sơn Nhị - Bà Quẹo lấy từ du kích liên xã, lập thành Ban công tác số 3. Ban công tác số 3 do Nguyễn Văn Hâm (Sáu Hâm) làm chỉ huy trưởng, hoạt động trên địa bàn hai xã, sau phát triển ra Tân Sơn Nhất, Tân Bình, Phú Nhuận.

Cùng thời gian này, theo chỉ thị của Khu bộ trưởng Khu 7, cơ quan Ban chỉ huy quân sự Thành Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập. Ban chỉ huy gồm các đồng chí Đặng Kim Thành (chỉ huy trưởng), Nguyễn Xuân Diệu, Vũ Kiều Chinh (Nguyễn Mạnh Liên) và Trịnh Văn Hà, Nguyễn Văn Tư (chỉ huy phó). Các ban công tác Thành được đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của tổ chức này.

Sang táng 5 năm 1946, Ban công tác số 4 được thành lập. Thành phần chủ yếu là công nhân các nghiệp đoàn, thợ thủ công, lao động tự do và anh em tự vệ chiến đấu trong tổ chức Liên hiệp công đoàn Thành. Ban công tác số 4 lúc đầu do Triệu Cải chỉ huy, hoạt động ở khu vực Gò Vấp, Bà Chiểu, Phú Nhuận, Phú Thọ, Chợ Thiếc.

Ban công tác số 5 thành lập trong những ngày đầu tháng 6 năm 1946, gồm lực lượng thuộc ban trinh sát quân sự của chi đội 4 tách ra. Các thanh niên nông dân vùng Hóc Môn, Bà Điểm, công nhân và lao động tự do ở vùng Chợ Lớn, hộ 17, 18. Các đồng chí Nguyễn Văn Phân (Sáu Phân), Nguyễn Văn Xình (Sáu Xình) phụ trách Ban công tác này.

Một bộ phận của Ban công tác số 2 và Ban công tác số 3 tách ra thành lập Ban công tác số 6. Ban công tác số 6 do Nguyễn Văn Nam làm chỉ huy trưởng, hoạt động rải rác ở vùng Trường đua Phú Thọ, Bình Thới, đường Frédéric - Drouhte, cầu Ông Lãnh, Vĩnh Hội…

“Ban công tác” trở thành loại tổ chức vũ trang đặc biệt của Sài Gòn - Chợ Lớn có nhiệm vụ quân sự chính trị rõ ràng, vừa tác chiến đánh địch, đặc biệt là loại trừ các tên tay sai phản động, các tên thực dân Pháp hiểm độc, phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật của địch, vừa tuyên truyền vận động nhân dân, kể cả những người bị địch lôi kéo, giữ vững thanh thế cách mạng, phát triển lực lượng của ta. Tổ chức của mỗi ban công tác thông thường gồm ban chỉ huy và bộ phận văn phòng, tiểu ban bài trừ (có 3 tiểu đội: trinh sát, điều tra, ám sát), tiểu ban phá hoại, tiểu ban liên lạc, tiểu ban quân nhu. Ngoài ra có hai tiểu đội trực thuộc: tiểu đội công tác đặc biệt làm nhiệm vụ tình báo, phản gián và tiểu đội du kích vũ trang làm nhiệm vụ hỗ trợ cho tiểu ban phá hoại và tiểu ban liên lạc. Tất cả 6 ban chịu sự chỉ đạo trực tiếp của khu bộ trưởng Khu 7 thông qua một đại diện: đồng chí Nguyễn Văn Hâm, trưởng ban công tác số 3.

Song song với việc tổ chức các ban công tác Thành, lực lượng tự vệ Thành cũng sớm được triển khai xây dựng theo từng địa bàn dân cư và sĩ nghiệp. Cuối tháng 6 năm 1946, tại một khách sạn tại Chợ Lớn, hơn 20 cán bộ (phần lớn từ trường Quân chính Khu 7 lần lượt về hoạt động nghiên cứu địa bàn và đã từng bước xây dựng được một số lực lượng tự vệ nội thành) họp hội nghị. Hội nghị quyết định sắp xếp những cơ sở lực lượng tự vệ ở các hộ(1), xí nghiệp, công sở lại xây dựng thành 15 khu và đội tự vệ. Mỗi khu (địa bàn dân cư) và đội (đường phố, xí nghiệp) là một trung đội(2) Ngoài ra còn có 2 trung đội nữ là Minh Khai (chiến đấu), Mê Linh (liên lạc) cùng một trung đội thiếu niên mang tên Tiểu Quỷ. Tất cả những khu và đội tự vệ đều trực thuộc và chịu sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy quân sự Thành, từ tháng 11 năm 1946 lấy tên là Thành hộ tự vệ.

Ngoài lực lượng các ban công tác và tự vệ Thành, còn có lực lượng các nghiệp đoàn Lê Phụng Hiểu (một tổ chức nửa vũ trang của Liên hiệp công đoàn Thành vừa làm nhiệm vụ vận động công nhân vừa làm nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, chiến đấu ở khu vực cầu Chữ Y, nhà đèn Chợ Quán, vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội…) và các đội công an xung phong (tổ chức vũ trang chuyên hoạt động quân sự của Ty công an Thành) và các đội hoạt động ven thành phố và trên các chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Cũng trong thời gian này, khu bộ trưởng Khu 7 chính thức công nhận Ban tình báo Sài Gòn - Chợ Lớn - do Cao Văn Tây (tức Ba Cóc) chỉ huy. Ban này tự đặt tên là Ban công tác Đặc biệt, thường gọi tắt là CTĐB, về sau đổi tên là Ban thông tin (cũng gọi tắt là BTT) để tránh bị địch theo dõi.

Đến mùa thu năm 1946, trong nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn đã có một hệ thống tổ chức lực lượng vũ trang khá mạnh và phát triển rộng khắp.


(1) Lúc này nội thành Sài Gòn - Chợ Lớn có 18 hộ.
(2) - Khu mang các tên gọi: Võ Nhai, Đình Cả, Bắc Sơn, Bạch Đằng, Lạc An, Lam Sơn, Tây Hồ, Hóc Môn.
- Đội mang các tên gọi: Lê Lợi, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Kí Con, Tô Hiệu, Thái Văn Lung.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:17:30 PM »

Ở vùng ngoại thành, tiếp sau chi đôi 2, 3, 4, lần lượt các bộ đội khác được tổ chức lại, phát triển thành các chi đội 6, 12, 13…

Tại tỉnh Gia Định, đầu tháng 3 năm 1946, chấp hành quyết định của khu bộ trưởng Khu 7, Tỉnh và Ủy ban kháng chiến của tỉnh Gia Định đã triệu tập hội nghị quân sự tại chiến khu An Phú Đông nhằm thống nhất lực lượng vũ trang xây dựng thành chi đội. Bộ đội Gò Vấp, Dĩ An, Thủ Đức hợp nhất lại thành chi đội 6. Ban chỉ huy chi đội gồm Nguyễn Văn Dung (chỉ huy trưởng), Phạm Văn Khung (Bí thư tỉnh ủy trực tiếp kiêm chính trị viên), Nguyễn Văn Công (chỉ huy phó). Các chiến sĩ hầu hết là công nhân từ các đội công đoàn xung phong, công nhân nhà máy xe lửa Dĩ An, nông dân ngoại thành vùng Đông Bắc thành phố và học sinh trí thức từng tham gia chiến đấu ở mặt trận tiền tuyến miền Đông. Chi đội gồm 3 đại đội(1), mang phiên hiệu 5, 10, 15. Đại đội 5 do Hứa Văn Yến làm đại đội trưởng, Trần Đình Xu đại đội phó. Đại đội 10 do Trần Thắng Minh làm đại đội trưởng, Đào Sơn Tây đại đội phó. Đại đội 15 do Thái Văn Lung làm đại đội trưởng, Tạ Nhựt Từ làm đại đội phó. Ngoài ra, chi đội 6 còn tổ chức nhiều đội trinh sát vũ trang hoạt động trong nội thành và xây dựng mạng lưới hậu cần, tổ chức “Hội ủng hộ chiến sĩ” có đến hàng trăm cơ sở.

Cùng thời gian này, bộ đội Nguyễn Văn Mạnh (đóng ở chiến khu Rừng Sác xây dựng thành chi đội 7, do Mai Văn Vĩnh làm chi đội trưởng.

Lực lượng vũ trang Cao Đài (đóng ở khu vực Trung Hòa, Củ Chi và Cây Sơn, Trảng Bàng) được sự đồng ý của khu bộ trưởng Khu 7 cũng xây dựng thành chi đội, lấy phiên hiệu chi đội 8. Ban chỉ huy gồm Mười Bạch, Lâm Văn Phát, Đặng Quang Dương(2).

Bộ đội Lê Văn Viễn (đóng ở chiến khu Rừng Sác) xây dựng thành chi đội 9, do Lê Văn Viễn làm chi đội trưởng.

Tại căn cứ Bình Mĩ, lực lượng còn lại của Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa(3) xây dựng thành chi đội 12. Ban chỉ huy chi đội gồm Tô Kí (chỉ huy trưởng), Huỳnh Tấn Chúa (chỉ huy phó), Hoàng Tế Thế (chính trị chỉ đạo viên). Thành phần của chi đội hầu hết là công nhân và nông dân ngoại thành, trong đó có nhiều đảng viên trước Cách mạng Tháng Tám và chiến sĩ tham gia Nam Kì Khởi nghĩa năm 1940. Chi đội gồm 3 đại đội hoạt động ở khu vực Hóc Môn, Gò Vấp, Trảng Bàng.

Chi đội 13 thành lập trên cơ sở lực lượng công đoàn Sài Gòn, do Đặng Văn Thìn (Mười Thìn) làm chi đội trưởng. Hầu hết các chiến sĩ của chi đội là anh em công nhân từng tham gia chiến đấu ngay từ ngày đầu chống Pháp trong mặt trận nội đô, mặt trận tiền tuyến miền Đông và một số ở mặt trận phía Tây.

Tại Cần Giuộc, bộ đội Cần Giuộc xây dựng thành tiểu đoàn lấy phiên hiệu Nguyễn An Ninh. Đây là đơn vị vũ trang đầu tiên được gọi là tiểu đoàn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Bộ đội Cần Giuộc thành lập ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công do đồng chí Trương Văn Bang (từng giữ chức vụ Bí thư Xứ ủy Nam Kì) chỉ huy. Chiến đấu độc lập trên địa bàn phía Nam thành phố, bộ đội Cần Giuộc ngay từ đầu đã thể hiện bản chất bộ đội cách mạng, vừa chiến đấu vừa tuyên truyền xây dựng chính quyền, đoàn thể kháng chiến, xây dựng tình đoàn kết quân dân, được nhân dân địa phương yêu mến, gọi là “bộ đội Đỏ”. Tiểu đoàn Nguyễn An Ninh gồm 3 đại đội do Trương Văn Bang làm chỉ huy trưởng, Lưu Quang Tuyến làm chính trị viên.

Ngoài ra, xung quanh Sài Gòn có các chi đội 15 (một phần lực lượng Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, hoạt động ở khu vực Trung Huyện, phía Nam Đức Hòa, phía Bắc Cần Đước do Huỳnh Văn Một làm chi đội trưởng); chi đội 21 (đóng ở Lí Nhơn, Rừng Sác, do Nguyễn Văn Hoạnh làm chi đội trưởng); chi đội 25 (đóng ở phía Bắc Đức Hòa, phía Tây Trảng Bàng, do Tư Ti làm chi đội trưởng).

Đến giữa năm 1946, về hình thức, các chi đội đã xây dựng xong trên toàn chiến trường Nam Bộ. Trong số 17 chi đội và một tiểu đoàn ở miền Đông Nam Bộ(4), xung quanh Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có 11 chi đội và 1 tiểu đoàn đứng chân hoạt động. Đó là các chi đội 6, 12, 13, 15, tiểu đoàn Nguyễn An Ninh và 7 chi đội thuộc lực lượng Bình Xuyên 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25.

Việc hình thành và phát triển các tổ chức vũ trang nội và ngoại thành đã tạo điều kiện đặc biệt quan trọng cho quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định tiến hành đấu tranh vũ trang trong bối cảnh đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích toàn dân và toàn diện ngay sau ngày địch vi phạm Hiệp định sơ bộ. Mặc dù thành phần một số đơn vị bộ đội còn phức tạp, chất lượng về chính trị chưa cao, bộ đội thiếu những hiểu biết cơ bản về tri thức quân sự và trang bị vũ khí, sự hình thành các tổ chức vũ trang nói trên đã đặt tiền đề quan trọng cho quá trình xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang một cách thích hợp, có hiệu quả ở nội thành và vùng ven thành phố, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.


(1) Mỗi đại đội tương đương một tiểu đoàn ngày nay.
(2) Nhằm tranh thủ, lôi kéo một số đơn vị vũ trang có thành phần phức tạp về hàng ngũ kháng chiến, mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân, thêm bạn bớt thù, khu bộ trưởng Nguyễn Bình chấp thuận và cho phiên hiệu chi đội 8 cùng một số chi đội khác. Nhưng sau khi thành lập không lâu, Bạch, Phát đầu hàng Pháp, biến lực lượng vũ trang Cao Đài thành tay sai cho giặc chống lại kháng chiến.
(3) Tháng 3 năm 1946, đồng chí Lê Duẩn trên đường ra Hà Nội đến sở chỉ huy Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Tại đây, đồng chí đã phổ biến tình hình và cử đồng chí Trần Văn Trà về Khu 8 xây dựng lực lượng kháng chiến. Đồng chí Trần Văn Trà đưa hai phân đội (lấy từ Giải phóng quân liên quận) về Đồng Tháp Mười. Hai phân đội này trở thành một bộ phận của chi đội 14.
(4) Toàn Nam Bộ có 25 chi đội. 17 chi đội ở miền Đông Nam Bộ. Trừ 11 chi đội kể trên, còn lại gồm: chi đội 1, Thủ Dầu Một), chi đội 10 (Biên Hòa), chi đội 11 (Tây Ninh), chi đội 16 (Bà Rịa), chi đội 5 (Quân khu Đông Thành), chi đội 8 (Cao Đài).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:19:26 PM »

*
*   *

Vừa xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang, ta vừa tích cực đánh địch, dần dần phối hợp gắn bó phong trào nội đô với chiến đấu ở vùng ven thành phố.

Mặc dầu có Hiệp định sơ bộ, từ tháng 3 năm 1946, quân địch vẫn không ngừng tổ chức các cuộc hành quân càn quét quy mô lớn vào các chiến khu của ta. 6 giờ sáng ngày 1 tháng 3 năm 1946 tại An Phú Đông, trong khi các đơn vị bộ đội chi đội 6 chuẩn bị dự lễ thành lập chi đội thì quân địch kéo đến càn quét. Hơn 1000 lính Pháp, đủ binh chủng, bất ngờ bao vây và tấn công ta từ bốn mặt. Hàng chục tàu chiến án ngữ mặt sông Sài Gòn. Các vị trí hiểm yếu bến đò Bến Cát, An Nhơn, đường 13, đường Gò Vấp - Lái Thiêu bị bộ binh và xe thiết giáp khóa chặt. Pháo 105 li đặt ở sân bay Tân Sơn Nhất và súng cối các loại dưới tàu chiến bắn tới tấp vào căn cứ dọn đường cho bộ binh. Trên trời, bốn chiếc máy bay “cồng cộc” (Spitfire) gầm rú nhả đạn như mưa vào các nhà dân ở ven sông từ cầu lớn đến bến đò Phước Bình. Đây là cuộc càn quét lớn nhất của địch vào thời gian này ở khu vực vùng ven thành phố.

Rút kinh nghiệm từ cuộc chống càn lần trước, đồng bào rút xuống các hầm hào đã chuẩn bị sẵn. Các đơn vị Vệ quốc đoàn chi đội 6 bố trí ở các nơi xung yếu như cầu Rạch Giá, cầu Chùa, cầu Rạch Tâm, cầu Kinh… lợi dụng địa hình cây cối rậm rạp, sông rạch chằng chịt, dựa vào hệ thống công sự phòng thủ có sẵn. Bộ đội và du kích chờ địch đến gần sát mới nổ súng, diệt gọn từng toán, vừa chặn đánh địch chính diện, vừa linh hoạt vận động bọc đánh địch xuyên hông, gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Càng về chiều, do bị đánh bất ngờ và địa hình phức tạp, đội hình địch bị rối loạn. Các mũi tiến công của chúng đều bị bẻ gãy. Quân địch tránh né đụng độ, tìm cách đánh mở đường đến điểm tập trung để vượt sông Sài Gòn, bỏ mặc số tử vong.

5 giờ chiều cùng ngày, quân địch rút khỏi An Phú Đông, để lại hàng chục xác chết, 30 nhà dân bị đốt, 10 dân thường bị giết, một số phụ nữ bị chúng hãm hiếp và 20 chiến sĩ của ta đã anh dũng hi sinh. Mặc dù có tổn thất, cuộc chống càn đã giành được thắng lợi lớn. Nó chứng tỏ tinh thần quyết chiến của quân và dân ta tại địa bàn An Phú Đông, một chiến khu dù nhỏ vẫn tồn tại kiên cường ngay sát nách quân địch. Đây cũng là cuộc chiến đấu ra quân thắng lợi đầu tiên của lực lượng Vệ quốc đoàn chi đội 6.

Ngày 9 tháng 3 năm 1946, địch huy động trên 1000 quân có tàu chiến, máy bay và pháo binh yểm trợ mở cuộc tấn công lớn xuống Rừng Sác, khu vực Phước An, Phước Thọ, Phước Long. Chi đội 7 do Mai Văn Vĩnh chỉ huy vận động ra lộ 19 chặn đánh đại đội Âu Phi hành quân bằng xe GMC tại cầu Lò Rèn. Sau hơn 2 tiếng giao tranh quyết liệt, trước sự phản kích có hỏa lực mạnh của địch, quân ta rút lui, củng cố lại lực lượng, chờ lúc địch loay hoay sửa cầu cho xe qua liền chia làm hai mũi bất ngờ tập kích từ phía sau tới. Quân địch bị đánh bất ngờ không kịp chống cự, bỏ chạy tán loạn. Bộ đội ta truy kích diệt gọn đại đội Âu Phi. Tại Phước Thọ, hơn một trung đội thám sát địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Sau lệnh xung phong, bộ đội ào lên mặt đường, bắt sống 5 tên, diệt gần một trung đội Âu Phi. Duy nhất chỉ còn tên Việt gian Nguyễn Văn Rô (Cai Rô) thoát chết, lủi xuống Rừng Sác, đến nửa đêm mới chạy được về đồn Phước Thiền.

Trên đường 15, cánh quân thứ hai bị chi đội 2 Bình Xuyên cùng tự vệ hai xã Tuy Long, Tập Phước chặn đánh. Ta diệt và làm bị thương 35 tên lính Âu Phi, phá hủy hai xe quân sự. Hai cánh quân khác từ Bà Rịa lên và từ Sài Gòn qua phà Cát Lái đều lọt vào trận địa phục kích của liên chi đội 2 - 3 Bình Xuyên. Trận đánh kéo dài suốt ngày 9 tháng 3, tới chiều tối, địch vẫn không tiến được, buộc phải rút quân đem theo nhiều xác chết.

Cuộc hành quân càn quét (ngay sau 5 ngày kí Hiệp định sơ bộ) của địch bị giáng một đòn nặng nề ở chiến khu phía Nam thành phố.

Tại phía Bắc Cần Đước, ngày 11 tháng 3 năm 1946, chi đội 15 bố trí phục kích đánh chìm 1 đoàn tàu địch gồm 1 tàu kéo, 1 xà lan, 3 ghe chài chở quân Pháp và lính ngụy. Ta diệt 17 tên Pháp, thu nhiều vũ khí, đạn dược, lương thực.

Tại khu vực phía Bắc Thủ Đức - Dĩ An, ngày 15 tháng 4 năm 1946, bộ đội đại đội 10 (chi đội 6) phục kích chặn đánh cuộc hành quân của một trung đoàn địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

Trong khi tiếng súng đánh địch của các chi đội Vệ quốc đoàn rền vang xung quanh thành phố thì trong nội đô, cùng với việc xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, các ban công tác, tự vệ Thành, đội trinh sát, công an xung phong đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền, đánh phá kho tàng, diệt bọn Việt gian phản động, trừng trị bọn gián điệp, phản bội, bọn thực dân gian ác.

Trưa ngày 29 tháng 3 năm 1946, lực lượng công tác Thành đã trừng trị tên Trần Tấn Phát, Ủy viên hội đồng tư vấn Nam Kì, một trong những tên cầm đầu hoạt động tuyên truyền cho thuyết phân li “Nam Kì tự trị”. Báo [/i]Phục Hưng thứ Bảy[/i] ra ngày 30 tháng 3 năm 1946 sau khi đưa tin về cái chết của Phát đã lên tiếng ca ngợi Trần Tấn Phát là một “chiến sĩ chính trị” “đã tận tâm phục vụ cho Pháp quốc”(1).

Đầu tháng 4 năm 1946, đội trinh sát vũ trang chi đội 4 đột nhập nhà tên De Lique ở đường Mac Mahon giết chết 3 tên, bắn nhiều tên khác bị thương trong lúc chúng đang dự tiệc, thu 4 súng và 6 lựu đạn.

Ngày 8 tháng 4 năm 1946, chiến sĩ cảm tử đã đột nhập đốt cháy kho đạn đường Docteur Angier cạnh đài phát thanh. Đây là kho đạn và thuốc súng lớn nhất của Pháp ở Nam Đông Dương lúc bấy giờ, mỗi bề dài vài trăm mét, do lính Âu Phi luân phiên canh gác. 10 giờ sáng, một tiếng nổ long trời phát ra từ kho và làm cả kho đạn nổ đến chập tới ngày 11 tháng 4 mới chấm dứt. Đài phát thanh vá nhiều phố xá kế cận bị sập. Trụ sở bộ chỉ huy của trường Leclerc “nát như cám”. 600 tấn bom đạn, thuốc nổ và 40 tên lính Pháp “thành mây khói”. Phía ta những chiến sĩ đi phá kho bom không ai trở về. Báo Tin Điển ra thứ ba ngày 9 tháng 4 năm 1946 đưa tin: “Một tai nạn dữ dội… kho đạn Sài Gòn (đường Docteru Angier tả ngạn kinh Avalache) phát nổ. Tai nạn có thể kéo dài đến nhiều ngày”(2). Trong một bài diễn văn đọc chiều ngày 8 tháng 4 năm 1946 tại Sài Gòn, Cédille than vãn: “Tôi không ngờ đã có một tai nạn ghê gớm như vậy xảy ra ở Sài Gòn…”(3)


(1) Xem báo Phục Hưng, thứ Bảy ngày 30 tháng 3 năm 1946 - Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
(2) Xem báo Tin Điển ra thứ Ba ngày 9 tháng 4 năm 1946 - Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, t.1.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:22:17 PM »

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, nữ trinh sát quân chinh Nguyễn Thị Lan (biệt danh Lan Mê Linh) bắn gục tên bồi bút Hiền Sĩ, chủ nhiệm gờ báo phản động Phục Hưng giữa ban ngày tại khu vực chợ Bến Thành trên đại lộ Bonard. Phục Hưng là tờ báo phản động, công cụ tuyên truyền đắc lực cho âm mưu chia cắt đất nước, thành lập chính phủ Nam Kì tự trị. Hiền Sĩ đã bị ta cảnh cáo nhiều lần và kết án tử hình vắng mặt. Chị Lan Mê Linh vừa học xong khóa Hồ Chí Minh trường Quân chính Khu 7, mới 17 tuổi, được giao nhiệm vụ thi hành bản án. Sau một thời gian liên tục bám sát theo dõi, chị quyết định giết tên Hiền Sĩ ngay chỗ đông người để trấn áp bọn Việt gian bán nước khác. Khi Hiền Sĩ từ tòa soạn báo đi ra đường chưa kịp lên xe, chị đã chờ sẵn, bình tĩnh rút khẩu súng ngắn 6,35 li bắn liên tiếp 3 phát. Hiền Sĩ ôm ngực bỏ chạy lảo đảo, 2 tên vệ sĩ xông lại chụp bắt chị. Trung đội Âu Phi mũ đỏ đi tuần tra đậu xe bên kia đường, nghe tiếng súng nổ, ập tới khi Lan Mê Linh đang dùng súng đập vào thái dương tên bồi bút. Lan Mê Linh bị bắt, nhưng tiếng súng của chị là một đòn cảnh cáo đối với bọn tay sai bán nước, cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân Sài Gòn, đặc biệt trong giới thanh niên học sinh và sinh viên.

Tháng 5 năm 1946, anh Nguyễn Đình Chính (tức Chính Heo) cùng một chiến sĩ thuộc Ban công tác số 1 đột nhập nhà tên Việt gian Nguyễn Thượng Hiền ở số 218 đường Lagrandière, giết chết tên này cùng 5 đồng bọn, sau đó rút lui an toàn. Hiền là một tên phản bội cách mạng chuyên dẫn giặc đi lùng bắt cán bộ của ta. Hắn được Pháp trọng dụng và bố trí canh gác bảo vệ rất chu đáo. Cái chết của Hiền và tay chân, cùng với vụ xử tên Hiền Sĩ đã làm cho bọn Việt gian tay sai chùn lại, không dám ngang nhiên chống phá kháng chiến như trước.

Trước tình hình cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát triển và dư luận thúc bách, chính phủ Pháp buộc phải chấp nhận mở cuộc đàm phán chính thức với ta. Cũng dịp này, theo lời mời của chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm Pháp. Trước khi đi, sáng ngày 31 tháng 5 năm 1946 tại Hà Nội, Người gửi thư cho đồng bào Nam Bộ. Trong thư Hồ Chủ tịch khẳng định: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi”(1).

Trong khi buộc phải nhận đàm phán chính thức với ta, thực dân Pháp vẫn ra sức phá hoại hiệp định đã kí kết, đeo đuổi âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, chính phủ Cộng hòa Nam Kì tự trị do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm thủ tướng ra đời. Trong buổi lễ ra mắt chính phủ tổ chức trước Nhà thờ Đức Bà, các quan chức Pháp, Việt, binh lính và dân thường tổng cộng không quá 100 người đứng nghe thủ tướng Nguyễn Văn Thinh tuyên thệ bằng tiếng Pháp! Để hợp thức hóa chính phủ này, ngày 3 tháng 6, Ủy viên cộng hòa Pháp Cédille kí với Nguyễn Văn Thịnh một “hiệp ước”, theo đó Cédille công nhận ”Nam Kì quốc” là một chính phủ tự trị, một “Nam Kì tự do” có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp! Thinh cam kết bảo vệ quyền lợi của Pháp ở Nam Bộ.

Tháng 6 năm 1945, đại tá Edward G. Lansdale thuộc tổ chức CIA Mĩ tới Sài Gòn, cầm đầu đội gián điệp “hoạt động bán quân sự” và “chiến tranh tâm lí chính trị” tại Việt Nam.

Nằm trong chương trình bình định vùng đã chiếm đóng, thực dân Pháp ráo riết xúc tiến việc thành lập “Mặt trận quốc gia liên minh” thâu gộp các đảng phái phản động, bọn tay sai đầu hàng phản bội thành một lực lượng chống phá cách mạng tạo cơ sở xã hội cho chính phủ bù nhìn, phá mặt trận đoàn kết dân tộc ta. Từ đầu năm 1946, Bazin, giám đốc Sở mật thám Liên bang Đông Dương đã có kế hoạch từng bước lôi kéo nắm lực lượng giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên. Tháng 5 năm 1946, Trần Quang Vinh (một chức sắc cao cấp của Tòa thánh Tây Ninh, Bộ trưởng quốc phòng thời kì phát xít Nhật chiếm đóng Việt Nam) về hàng Pháp. Ngày 28 tháng 8 năm 1946, giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc được Pháp đưa về nước (trước đó Phạm Công Tắc bị Pháp đày ở Madagascar). 5000 thanh niên Cao Đài được Pháp gấp rút huấn luyện, trang bị, xây dựng thành quân đội, một tổ chức vũ trang, thực chất là ngụy quân.

Tại Chiến khu Rừng Sác, Lại Hữu Tài được cơ quan Phòng Nhì Pháp cài vào chi đội 9, làm nhiệm vụ lung lạc, lôi kéo chi đội trưởng Bảy Viễn. Tài được Bảy Viễn cử giữ chức thư kí văn phòng chi đội trưởng. Lại Hữu Tài cùng anh ruột là Lại Văn Sang ra sức mua chuộc, lôi kéo một số người trong ban chỉ huy chi đội 9 và các chi đội khác. Trung tuần tháng 6 năm 1946, dưới sự đạo diễn của Tài, Lê Văn Viễn nhân danh chi đội trưởng 9 mời chi đội trưởng, chi đội phó các chi đội 2, 3, 4, 7, 21, 25 đến Ba Giồng họp hội nghị bàn việc lập “liên quân các chi đội” nhằm “thống nhất và tăng cường lực lượng đánh Pháp”. Chính trị viên các chi đội là đảng viên cốt cán không được mời họp. Tại hội nghị, các đại biểu đã quyết định thành lập liên khu Bình Xuyên bao gồm lực lượng các chi đội 2, 3, 4, 7, 9, 21, 25 và cử Lê Văn Viễn làm tổng chỉ huy. Danh từ Bình Xuyên vốn chỉ bộ đội Dương Văn Dương (liên chi 2 - 3) và bộ đội Nguyễn Văn Mạnh (chi đội 7) nay được dùng để chỉ luôn cho các chi đội nêu trên. Cuối tháng 6 năm 1946, nhằm “giữ” liên khu Bình Xuyên, khu bộ trưởng Nguyễn Bình ra quyết định chấp thuận kết quả hội nghị Ba Giồng và bổ nhiệm Lê Văn Viễn giữ chức khu bộ phó Khu 7. Từ đây, dưới sự đạo diễn của anh em Tài, Sang và một số nhân viên Phòng Nhì Pháp, “Tổng hành dinh khu bộ phó” Bảy Viễn và “Bộ tham mưu liên khu Bình Xuyên” thường xuyên phát ra những chỉ thị, mệnh lệnh làm phương hại đến công cuộc kháng chiến, từng bước biến chiến khu Rừng Sác thành “chiến khu ma” và trong nội bộ Bình Xuyên bắt đầu nảy sinh sự phân hóa giữa một bên là một số ít quen thói giang hồ hưởng lạc bị địch lợi dụng và một bên là đại đa số cán bộ chiến sĩ một lòng đi theo kháng chiến.


(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, sđd, tr. 139.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2012, 02:22:54 PM »

Tháng 11 năm 1946, tại Chiến khu Đồng Tháp Mười, theo sáng kiến của đồng chí Ung Văn Khiêm (đại diện Xứ ủy Tiền Phong) và đồng chí Trần Văn Trà (đại diện Xứ ủy Giải Phóng), hội nghị Xứ ủy mở rộng được triệu tập. Hội nghị đã củng cố lại và bổ sung Ban chấp hành Xứ ủy lâm thời Nam Bộ gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Kỉnh, Hoàng Dư Khương, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Thuận, Trần Văn Trà. Đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh phụ trách thường trực Xứ ủy. Hội nghị cũng củng cố lại các Liên tỉnh ủy miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Đồng chí Nguyễn Đức Thuận được chỉ định làm Bí thư liên tỉnh ủy miền Đông.

Hội nghị Xứ ủy tháng 1 năm 1946 có ý nghĩa quan trọng: thống nhất sự lãnh đạo của Đảng về một khối và có hệ thống thống nhất từ xứ đến cơ sở, xóa bỏ tình trạng phân liệt Tiền Phong, Giải Phóng, Việt Minh cũ, Việt Minh mới trong tổ chức Đảng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp Nam Bộ tới tỉnh, huyện, xã từ đây được duy trì một cách đều đặn và có hệ thống. Chiến khu Đồng Tháp Mười trở thành “thủ đô kháng chiến” ở Nam Bộ.

Sau Hội nghị Xứ ủy, cuộc kháng chiến của ta trên các chiến trường phát triển có nền nếp và nhịp nhàng hơn. Công tác xây dựng, phát triển Đảng bắt đầu được chú ý. Chính quyền nhân dân và đoàn thể cứu quốc được khôi phục và củng cố. Ủy ban nhân dân Nam Bộ do Phạm Văn Bạch làm Chủ tịch, Phạm Ngọc Thuần giữ chức Phó chủ tịch kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ (thành lập từ tháng 8 năm 1946). Ủy ban được củng cố lại, gồm Ung Văn Khiêm - ủy viên nội vụ, Diệp Ba - ủy viên công an, Phạm Thiều - ủy viên tuyên truyền, Nguyễn Bình - ủy viên quân sự, Kha Vạn Cân - ủy viên kinh tế, Nguyễn Thành Vĩnh - ủy viên tài chính, Nguyễn Văn Hưởng - ủy viên y tế, Huỳnh Phú Sổ - ủy viên đặc biệt.

Cũng trong tháng 11 năm 1946, ngày mùng 7, tại Chiến khu An Phú Đông, một cuộc hội nghị cán bộ của Tổng công đoàn Nam Bộ được triệu tập để bầu lại cơ quan lãnh đạo, đổi tên Tổng công đoàn Nam Bộ thành Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Bộ, thống nhất tổ chức theo điều lệ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Lưu được bầu làm thư kí thay đồng chí Lí Chinh Thắng hi sinh ngày 30 tháng 9 năm 1946. Ngày 25 tháng 11 năm 1946, các tổ chức công đoàn ở Sài Gòn và tổ chức công nhân cứu quốc thống nhất lại thành Liên hiệp nghiệp đoàn Sài Gòn - Chợ Lớn bao gồm gần 200 nghiệp đoàn cơ sở với gần 25.000 đoàn viên. Hệ thống thành công của công đoàn thành phố chia thành các khu:

- Khu Sài Gòn từ hộ 1 đến hộ 6: Về sau chia thành 2 quận: quận 1 gồm hộ 1 đến hộ 3, quận 2 từ hộ 4 đến hộ 6.

- Khu Chợ Lớn từ hộ 7 đến hộ 18, về sau chia thành quận 3, quận 4 và quận 6.

- Liên khu Tân Bình gồm Thị Nghè, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nguyên thuộc tỉnh Gia Định được giao sang thành phố. Về sau đổi thành quận 5 gồm hộ 19 (Thị Nghè), hộ 20 (Bình Hòa), hộ 21 (Phú Nhuận), hộ 22 (Bình Lợi Trung). Toàn thành phố có 6 quận, 22 hộ.

Mùa thu năm 1946, lực lượng vũ trang nội thành được chấn chỉnh thêm một bước nữa. Các ban công tác, đội tự vệ Thành, công an xung phong, và đội trinh sát vũ trang các chi đội phân khu vực hoạt động. Các bộ phận vũ trang vùng ven đô của sáu ban công tác Thành phối hợp lại, lập một đơn vị vũ trang lấy tên là “Liên tác chiến đấu quân” do Hoàng Gia Nhi làm chỉ huy trưởng.

Liên tác chiến đấu quân gồm 4 trung đội, được trang bị hỏa lực mạnh, có súng liên thanh, làm nhiệm vụ bảo vệ các khu vực căn cứ bàn đạp, chống giặc càn quét khủng bố, bảo vệ các đường giao thông liên lạc từ thành phố ra vùng ven, yểm trợ cho các tổ chức của ban công tác tác chiến đánh địch trong nội đô.

Phong trào kháng chiến diễn ra khắp các tỉnh Nam Bộ và ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định làm cho địch lâm vào tình thế lúng túng. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh và bình định Nam Kì trong thời gian ngắn không thực hiện được. Tướng Nyo gặp khó khăn trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa tập trung lực lượng tiến hành các cuộc hành quân tiêu diệt đối phương và dàn trải quân số củng cố các vị trí chiếm đóng thực hành bình định. Ngày 10 tháng 11 năm 1946, Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự tử. Pháp đưa Nguyễn Văn Xuân lên làm thủ tướng chính phủ bù nhìn, nhưng sau đó lại đưa Lê Văn Hoạch lên thay. Ngày 13 tháng 11 năm 1946, đại tá Cédille bị bãi chức. Torès thuộc phái bảo hoàng sang thay làm ủy viên cộng hòa Pháp ở Nam Việt Nam. Chính sách Nam Kì tự trị của Pháp chỉ có giá trị trên hình thức. Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn ráo riết leo thang chiến tranh, từng bước mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn quốc.

Ngày 17 tháng 12 năm 1946, nắm biết lực lượng chi đội 6 lưu động gồm hai đại đội 5 và 15 đứng chân tại khu vực hai xã Trung Lập và An Nhơn Tây (khu 5 Hóc Môn), địch tổ chức một cuộc càn lớn. Toàn bộ lực lượng bán lữ đoàn Lê dương số 13 (13è DBLE) đóng tại ngã ba Thành Quan Năm (Hóc Môn) và lực lượng chiếm đóng tại sở Mây Sắc và bót Cầu Trắng (Hố Bò) được huy động vào cuộc càn. Ý định của địch là dùng lực lượng ở Mây Sắc, cầu Trắng đánh tan đại đội 1, đại đội 2 của chi đội 12 tại khu vực này, sau đó triển khai đội hình phục kích từ Xóm Trại đến Ba Sòng đón lõng lực lượng chi đội 6; lực lượng bán lữ đoàn Lê dương số 13 có pháo binh bắn yểm trợ và máy bay trinh sát dẫn đường dồn lực lượng chi đội 6 qua đồng ruộng Ba Sòng, hợp với lực lượng Mây Sắc, Cầu Trắng diệt gọn quân ta tại đây. Tất cả đặt dưới sự chỉ huy của tên De Sarigné, đại tá chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương 13.

Từ 5 giờ sáng, địch dùng xe cơ giới chở lực lượng 13e DBLE đổ thành 3 cụm trên đường 7. Từ đây, chúng chia làm 3 mũi tiến vào các mục tiêu đã chọn: từ Trung Hòa theo đường đất vào Tầm Lanh, tư ngã tư Trung Huyện băng ruộng vào ấp Trung Hưng, hai mũi này hợp điểm tại Xóm Ràng, nơi chi đội 6 đóng chỉ huy sở. Mũi dự bị từ đường 7 dùng cơ giới cơ động đánh thọc sườn lực lượng của ta từ Xóm Ràng về Bàu Đưng, Rừng Làng.

5 giờ 15 phút, ở hướng Xóm Trại, Ba Sòng, hai đại đội thuộc chi đội 12 do Hai Bứa, Tư Thược chỉ huy chặn đánh lực lượng địch từ sở Mây Sắc và bót Cầu Trắng ra. Bộ đội ta dựa vào các vật che khuất chờ địch đến gần mới nổ súng diệt gọn từng toán. Quân địch không tiến lên được, buộc phải quay đầu rút chạy về bót.
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Ba, 2012, 09:29:51 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM