Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:51:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bên kia biên giới  (Đọc 47143 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #20 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 10:15:08 am »

Mạc cũng xem thư, cười cái giọng ông tướng của Điềm, rồi bâng khuâng nhìn Tiến. Cán bộ không thiếu, nhưng phụ trách một trung đội vừa tác chiến vừa trực tiếp nắm cơ sở như B.8 không phải dễ. Anh thầm mong Tiến xung phong ở lại đợt nữa, đợi có người thay hẵng về.

Trong khi ấy Tiến lười biếng ngả lưng trên võng, cười một mình. Thằng Điềm thế mà khá, nó vẫn nhớ bạn. Ừ, về nước nghỉ một thời gian, thăm bố và hai em, tẩm bổ cho lại người, với lại xem qua cái cô Xuân thế nào. Khó tính như Điềm mà xếp loại A, hẳn phải xinh lắm. Tiến lim dim mắt, cố tưởng tượng mặt mũi một cô gái Bình Định thật kháu. Nhưng anh chỉ hình dung được một đôi mắt to, cái mồm be bé và cái mũi hơi hớt, tất cả đều là của một cô gái Lào, của Bua-kham... Giá Kham là người Việt nhỉ... Tiến xấu hổ ngầm, ngồi lên hỏi Mạc:

- Anh biết tôi thèm gì nhất không?

- Cô Xuân hả?

- Bậy... Tôi thèm nghe một em bé nói tiếng Việt. Chắc là dễ thương lắm. Năm năm rồi, nghe toàn giọng anh em bộ đội mình nặng trịch, nhớ tiếng trẻ con quá. Tôi về nước, có bao nhiêu tiền trút ra mua kẹo chia cho thiếu nhi, để chúng nó bi bô suốt ngày mình nghe...

Mạc trầm ngâm cuộn điếu thuốc bằng lá chuối khô:

- Đúng, mình cũng nhớ... Hôm trước có mấy cô Việt-kiều trong đội Đời Sống Mới đến bàn công tác, mình nghe cứ như chim hót ríu tít. Thảo luận xong, các ả phê bình mình ngủ gật. Mình bảo: “Tôi nhắm mắt để thưởng thức tiếng Việt, các chị nói hay quá”. Thế là cười trừ, hòa cả làng.

Tiến phá lên cười thích thú.

Chiều nay trung đội 8 họp để bình nghị luân lưu, nhưng Mạc bận không dự. Bắt tay Tiến, anh ngần ngừ định nói: “Cậu về, chúng mình lúng túng nhiều đấy”. Nhưng rồi anh lặng im bỏ đi, vẫn lo lo và tiêng tiếc. Mạc về dự phiên tòa đặc biệt của ủy ban xử thằng Cụt, do phò Phun làm chánh án.

Tòa án quyết định xử bắn. Nhân dân không ngớt kêu ca : “Tội nó phải xẻ từng miếng thịt mới đáng. Hay là cho voi xé xác càng đỡ tốn đạn”. Một ông lão ở xa ngót hai chục cây số đánh voi đến định xin một miếng thịt thằng Cụt, lúc về cứ bô bô: “Phò Phun còn thương hại nó, xin miếng thịt không cho”.

Trên đường về nơi trung đội 8 trú quân, Mạc vẫn chưa hết băn khoăn. Nhưng vẻ mặt buồn xo của Tiến khiến anh chú ý ngay. Vô lý, không lẽ nào nào bình trượt vì Tiến ở Lào lâu hơn nhiều anh em khác. Hay là sắp về, nhớ anh em?

Mạc đến vỗ vai Tiến:

- Phấn khởi mà về. Vài tháng lại lên chứ bao nhiêu?

Tiến vẫn lì sì, không tươi như lúc trưa. Mạc kéo anh em ra hỏi mới biết sự tình. Thì ra với tiêu chuẩn luân lưu mười phần trăm quân số, trung đội 8 chỉ được về phép bốn người, nhưng sàng đi lọc lại vẫn tòi ra năm. Tiến được ghi đầu danh sách. Riêng Mộc lên Lào sau nhưng gia đình phải chuyện rắc rối: mẹ chồng nàng dâu xô xát nặng, vợ bắn tin sắp lấy người khác và không nhận con, Mộc muốn về dàn xếp. Tiến bỏ đi nằm một lúc lâu, hút liền ba điếu thuốc lá, rồi trở lại hội nghị tuyên bố nhường cho Mộc đi phép.

Mạc nghe chuyện cũng bứt rứt không yên, cảm thấy như mình đã ích kỷ, ngầm níu Tiến ở lại hay sao ấy. Anh đến hỏi:

- Vì sao cậu nhường hả?

Im lặng. Mạc nhắc lại câu hỏi. Tiến không nhìn anh, càu nhàu:

- Nhà cửa thằng Mộc ra như thế, anh bảo tôi tranh với nó à?

- Không phải tranh, nhưng mà...

- Ở hai thâm niên còn được, huống hồ mấy tháng. Tôi có mất tinh thần đâu.

Biết Tiến đang buồn và đang đấu tranh rất găng, Mạc không hỏi nữa. Anh thở dài, móc túi cho Tiến hai chục đồng Đông-dương, tiền mới bán chiếc đồng hồ.

Một lát sau, Tiến kéo Mộc ra bờ suối:

- Mày còn tiền về đường không?

Mộc cười tươi:

- Hết. Cần khi gì, được về là khoái rồi. Anh coi như vợ tôi nó...

- Ngu lắm, đi một tháng đường núi lấy gì mà ăn? Tao cho mày một chục... thôi cầm cả hai chục, kiếm vài con gà làm lương khô.

- À, cái võng thằng An tôi đưa lại anh Thiết. Ảnh nặng cân, võng xi-ta cũ không chịu nổi. Anh “quan điểm” nhường cho về, tôi cũng mừng...

Trong ngày hôm nay, Mộc-cóc nói nhiều hơn cả một tuần về trước. Mộc không nén được nỗi mừng bồng bột, làm Tiến cũng vui lây.

Sau buổi liên hoan chay tiễn đưa, Tiến thức đến khuya viết giúp thư cho sáu đồng chí đứt liên lạc với gia đình từ lâu, để gửi Mộc mang về. Thư gửi cho ủy ban xã, chi bộ địa phương, cho bà con nhờ tìm hộ địa chỉ gia đình siêu bạt, cộng tất cả non hai chục lá thư. Hỏi nhiều nơi may ra có người biết mách hộ. Huy viết giúp một lúc hai mắt đã díp lại, bỏ đi ngủ.

Hai giờ sáng, bìm bịp đã mấy lần gọi trở canh, Mộc hé chăn ra vẫn thấy mái tóc bù xù của Tiến cúi dưới ánh cà-boong nhấp nhoà, khói bám trên trán anh những vệt muội xám. Kê quyển vở trên đùi, anh viết theo lời đồng chí ngồi bên cạnh đang kể ngập ngừng như hổ ngươi:

- Ba năm tôi không được thư. Anh hỏi dùm tôi: nghe nói vợ tôi hắn lấy chồng ngụy binh rồi, thiệt không? Mà thôi, đừng viết rứa họ cười. Ờ... Anh cứ hỏi: Vợ tôi còn ở thôn 6 Mỹ Hòa không, có chi đặc biệt không. Nói khéo khéo chút là họ hiểu ý. Đừng hỏi kỹ quá họ lại quan niệm, anh hỉ?

Mộc thở dài kéo chăn trùm kín đầu. Mộc thấy thương Tiến da diết hơn bao giờ hết.

Sáng hôm sau, Mộc lên đường về Việt Nam với một tập thư dày. Trung đội 8 lại chia từng tổ, trở lên vùng Hàng Rào. Lần này họ gấp rút vận động nhân dân lập làng kháng chiến. Trên khu nhận định địch sắp càn quét một đợt rất dữ và lâu ở Xây-thả-von, chỗ xung yếu của phòng tuyến quốc lộ 13 và sông Nạm-khoỏng. Cơ sở chính trị và du kích vùng Hàng Rào đã lớn mạnh, có thể công khai đấu tranh vũ trang với Pháp.

Bẵng đi nửa tháng, khi không còn ai nhắc đến anh em luân lưu về Việt nữa, Tiến nhận được lá thư của tiểu đội trưởng Chỉnh báo tin dữ:

“Chuyến liên lạc đưa họ về Việt rơi vào ổ phục kích giữa rừng La-ve.

Chỉnh bị thương ở đùi phải trở lại nằm bệnh xá khu bộ. Mộc hy sinh tại chỗ, trước khi chết còn dập lựu đạn giết hai tên địch. Chúng chặt xác Mộc ra từng mảnh ném xuống đầm, mang đầu về bêu cửa đồn. Trạm liên lạc khu bộ đã cử một tổ đi mò xác chôn cất.

Đọc xong thư, suốt một ngày Tiến không nói không cười. Huy lủi ra rừng khóc một lúc, rồi lấy tất cả thư nhà ra đọc lại, Thiết lau chùi mãi khẩu Bờ-ren đầu bạc, lẩm nhẩm những gì hàng giờ không rõ.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #21 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 01:55:00 pm »

*

- Lập làng kháng chiến à? Sao lại lập làng kháng chiến?

Tất cả tổ It-xa-la bí mật làng Na-bua ngơ ngác nhìn Tiến rồi nhìn nhau. Giữa lúc đồn Suối-đỏ vừa bị nuốt gọn, lính địch hoang mang đào ngũ liên tiếp, làng Na- bua vừa đấu tranh giành lại được bốn người Pháp bắt đi lính, tại sao giữa lúc ấy mặt trận It-xa-la huyện lại chỉ thị cho vùng Hàng Rào lập kháng chiến? Tại sao anh Tiến sát với tình hình Na-bua nhất cũng khuyên họ rút vào Núi-hoa đánh Pháp?

Tiến vẫn dẽ dàng phân tích:

- Trên khu nhận định chắc phải đúng. Pháp định càn rất mạnh, rất lâu, nó định diệt hết chúng ta đấy. Ít nhất nó cũng đưa đến hàng nghìn quân...

- Thố! Anh nói thật chứ?

- Thật. Và nó càn ít nhất nửa tháng. Nó định đóng hai đồn giữa vùng ta, ở Na-bua và Kha-nứa. Đầu mùa mưa, khi ta cấy lúa thì chúng càn.
Xẩy lắc đầu không tin. Hai chị lớn tuổi trong tổ bàn gì với nhau rì rầm, dáng lo sợ. Riêng Đeng gật gù, chưa phản đối hẳn. Đánh du kích bí mật lén lút chả thích, công khai đọ sức với Pháp thú hơn. Nhưng Đeng còn ngại vào ở núi thì hội hè khó khăn, mất cả vui chơi. Để xem cô Bua Kham có chịu vào không đã...

Đến chiều tối cuộc họp vẫn chưa kết quả. Xẩy đứng dậy phủi đít, giọng nặng trình trịch:

- Mỗi chốc bỏ làng chạy vào núi không phải dễ. Phải bỏ đi một nửa ruộng xa, làm rẫy thay vào, mà dân làng không quen làm rẫy. Giếng nước mặn Xê-liên chỉ nấu được muối vào mùa nắng, đến mùa mưa phải ăn nhạt à? Lại còn bông vải thuốc men... Người khỏe không nói làm gì, nhưng còn người ốm đau, cụ già. Trẻ con... Không được đâu. Các ông trên khu chỉ khéo doạ. Địch kiếm đâu ra hàng nghìn quân? Lấy gì ăn mà càn nửa tháng? Con cá sấu hai hàm răng ta bẻ mất một, chỉ còn cái đồn Núi-qủy nho nhoe. Chả khó khăn gì...

Tiến nén bực dọc, chêm vào một câu phương ngôn:

- Muốn dễ bị khó, muốn khổ được nhàn.

Xẩy cáu kỉnh vặc lại:

- Chúng tôi không sợ khó sợ khổ đâu. Pháp nó bắt người cướp của cực nhục lắm rồi. Nhưng mười đồng cân bên kia sông chớ vội nghe mà lội đi tìm, hai đồng cân lọt vào tay xin hãy cầm cho vững. Ở làng như bây giờ đấu tranh mạnh Pháp cũng phải kiềng mặt. Vào chiến khu trong Núi-hoa chắc đâu là chống nổi Pháp?

- Làng Pa-thôn bên cạnh ta đấy vào kháng chiến rồi...

- Làng Pa-thôn khác. Cả một vùng ao đầm mênh mông, Pháp hóa thành chim mới lọt vào được. Hay như trên Bô-lô-ven núi dốc ngược, rừng bịt bùng mới có cái thế chống giữ. Còn địa thế như vùng ta đừng hòng!

- Bởi thế ta mới vào núi...

- Chúng tôi không phải người thiểu số, ở núi chết đói mất thôi.

- Anh Xẩy ạ...

- Anh không sát tình hình nên không biết. Anh cứ báo cáo lên cấp trên rằng là tổ It-xa-la Na-bua không thông cái việc lập làng kháng chiến. Tôi cũng viết báo cáo gửi cho bên Mặt trận, không ai trách anh đâu mà lo.

Tổ It-xa-la chui ra khỏi lều, tản từng nhóm hai ba người, chia thành nhiều ngả băng rừng về làng.

Từ nãy đến giờ, Thiết, Huy và Bân chỉ ngồi nghe bàn cãi. Lý luận đến như ông Tiến mà không thuyết phục nổi nữa là tay non. Thiết thở dài đánh sượt, bật lửa châm cà-boong:

- Tụi mình lãnh cái làng khó nhai nhứt hạng!

Tiến ra ngoài lều ngồi phịch xuống một thân cây mục, muỗi ùa đến vo ve không buồn xua. Lầu đầu tiên từ ngày về Na-bua, ý kiến của anh bị bác một cách quyết liệt.

Chiến thắng Suối-đỏ thổi qua Xây-thả-von một luồng gió phấn khởi, thổi bùng lửa đấu tranh chống Pháp từ khu căn cứ du kích đến vùng sau lưng địch. Nhưng bọn gián điệp đã kịp thả trong gió ấy một làn hơi độc: “Bộ đội lớn sắp đánh Núi-qủy, Xây-thả-von giải phóng đến nơi rồi!”. Nhân dân mừng khấp khởi. Nào ai chịu tin rằng lực lượng diệt đồn Suối-đỏ là bộ đội Lào - Việt góp nhặt trong ba huyện, tổng cộng chưa đầy hai đại đội, được cơ sở làng Suối-đỏ và nhân mối ngụy binh làm nội ứng, đã táo bạo kỳ tập một đại đội trong đồn giữa ban ngày!

Các làng cơ sở khá đã kịp thời nhận ra âm mưu địch, hối hả rào làng kháng chiến, chuẩn bị chông bẫy. Riêng cái làng Na-bua này cứ nhơn nhơn lạc quan tếu, há miệng chờ sung, đợi “bộ đội lớn” đến hốt đồn Núi Quỷ. Nguy nhất là toàn tổ It-xa-la đều chung tâm lý ỷ lại như thế. Trong khi ấy địch đang tập trung quân, sắp mở cuộc tấn công tiêu diệt cơ sở kháng chiến Xây-thả- von.

Tiến hậm hực như người bị đòn mà không biết kêu ai, cứ hờn dỗi một mình. Nói thế nào cho họ hiểu bây giờ?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #22 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 01:57:59 pm »

Tiếng lội suối róc rách vẳng đến. Một bóng nhỏ chầm chậm trèo lên dốc, rẽ lá đi về phía lều. Tiến thổi phụt ngọn lửa cà-boong, căng mắt nhìn ra, khẩu tiểu liên lăm lăm.

- Bua Kham!

Đúng Kham thật.

Các anh chị It-xa-la đi họp không cho Kham theo, vì còn nghi ngờ liên lạc với Phủi. Kham nghe nói anh Tiến về, bụng tự nhiên nóng như lửa đốt. Muốn gửi hộp sữa gói thuốc lá ra biếu anh, nhưng nhớ lời chú Xẩy mỉa mai hôm nọ, Kham không dám. Đợi khi các anh chị tan họp về làng, Kham mới lẩn lút ra lán bí mật. Mọi hôm cha Kham về làng vẫn ở đấy. Tuy biết anh Tiến chỉ bị thương nhẹ và biết mình bị ngờ vực, nhưng Kham bị một sức vô hình nào lôi đi, không cưỡng được.

Kham đứng trước mặt Tiến, nhìn xuống đất, ngón chân cái di di một mảnh lá:

- Em ra tiếp tế... tưởng cha em về...

Kham nói dối rất vụng. Như mọi người dân quê khác, Kham ghét nói dối cũng ngang ghét ăn cắp. Nhưng may các anh Việt không để ý. Họ xuýt xoa khen Kham chịu khó, thắp cà-boong ăn cơm với cá nướng Kham mang đến, tán chuyện và cười rúc rích. Anh Tiến nói chuyện đánh đồn rất vui. Kham cười to, anh lại xuỵt một cái, rồi cười theo.

- Đến cách cổng đồn mấy thước thì lộ. Bộ đội xông vào địch bắn ra như mưa. Anh Cầu trúng đạn giữa ngực, ngã sấp...

Kham tái mặt, phải vịn tay vào cột. Eo ơi, sao lại đánh liều lĩnh thế! Rồi Kham lại mừng rơn, vì anh Tiến chỉ trúng đạn một tý thôi. Chắc đau lắm... Kham nhìn các anh bộ đội ngồi quanh, thấy ai cũng cao lớn thêm lên hàng thước, oai vệ quá.

Đến khi Thiết giục về kẻo lộ, Kham mới bần thần đứng dậy:

- Vâng, em về thôi...

- Kham không sợ ma à? Dám về không?

Tự nhiên Kham rủn người. Từ chiều đến giờ, Kham quên cả sợ ma. Không nhớ đến thì thôi, đã nhớ thì hồn vía lên mây sạch. Trong rừng lúc nhúc những ma lớn bé, đủ các loại phỉ-lôộc, phỉ hà, phỉ-coòng-còi. Ban đêm đúng giờ âm thịnh chúng kéo nhau từng đàn đi nghễu nghện...

Thấy Kham giương mắt hãi hùng nhìn vào bóng đêm, Tiến phì cười:

- Cậu nào đưa hộ con bé về làng tí?

Bân và Huy nhao nhao đùn cho Tiến; Thiết tủm tỉm không nói. Đeo khẩu súng, vớ lấy dao và gầu, Tiến cầm cà-boong đi ra với Kham:

- Thôi được, tớ đi soi cá một thể, kiếm tí tươi.

Sau lưng Tiến, anh em bấm nhau cười ranh mãnh. Lúc ấy Tiến mới nhớ ra chúng nó tinh quái, đẩy cho mình đi với cô gái chưa chồng, trong một đêm không trăng. Anh ngần ngừ dừng lại, rồi chậc lưỡi, bước thẳng. Bụng ông ngay thẳng, ông cóc sợ.

*

Con cá quả lừ lừ nổi lên đớp bọt nước. Mắt nó nhìn ánh lửa đăm đăm, vây và đuôi phe phẩy. Phập! Cái bụng trắng hếu phơi ngửa, máu loang sẫm nước.

Kham nhặt con cá gần đứt đôi bỏ vào gầu. Súng đeo sau lưng, tay soi đuốc, Tiến dò dẫm chém hết con này đến con khác. Tóm được cả một chú rùa to, thức ăn quý của người Lào. Thôi gửi về cho lão Xẩy nhắm rượu. Bực vì Xẩy gàn bướng, nhưng Tiến vẫn mến anh chàng tính thẳng ruột ngựa và gan lì, đấu tranh với địch chả biết sợ là gì. Còn hai con trê bằng bắp tay để biếu ông cụ Pứ, làm món cá sống băm sền sệt cũng để nhắm rượu. Rượu vào lời ra, ông lão phù thủy hẳn lại nhắc đến anh Việt xỏ tai và gán thêm cho anh cái phép độn thổ vào đồn.

Trong khi Tiến nghĩ miên man về cá với rùa, Kham nhìn anh không chớp mắt. Kham vừa tìm ra một điều lạ. Khi nhìn thảng, khuôn mặt Tiến trông như già và nghiêm nghị. Nhưng khi nhìn một bên, trông anh có vẻ tươi tinh và rất trẻ. Quái nhỉ! Kham càng nhìn càng thấy rõ rệt như thế.

Kham vẫn chưa hiểu vì sao lại tha thiết muốn gặp anh Tiến, muốn nghe anh nói, và khi bị anh trêu thì thẹn thò. Đối với các anh Việt khác, Kham đùa rất nghịch ngợm như tất cả các cô gái Lào thường đùa.

- Anh thích ở nước Lào không?

- Thích chứ.

- Anh thích lấy vợ Lào không, em hỏi cho?

- Ai ưng mà lấy?

- Em ưng, anh lấy em nhé? Bao giờ cưới nào?

Thế là cả lũ xúm lại trêu anh kia đến đỏ mặt tía tai. Nhưng tất cả chị em đều biết bộ đội Việt không mấy khi lấy vợ Lào. Họ thường nói dối là có vợ rồi, hoặc bảo đến độc lập sẽ hay, hoặc phân trần rằng bên nước Việt phong tục buộc vợ phải về nhà chồng, không hợp với người Lào. Bạn gái với nhau thủ thỉ, kể cũng lắm cô yêu anh Việt ra trò, phải theo chồng về nước Việt cũng cứ lấy. Bởi họ chăm chỉ, làm ruộng đánh giặc đều giỏi, lại ăn nói khôn ngoan, từ già đến trẻ ai cũng mến chuộng họ.

Kham nghĩ đến anh Tiến lại ngạc nhiên. Giữa Kham với anh Tiến cái gì cũng trái ngược. Kham sợ Pháp, sợ ma, sợ trăm nghìn thứ, còn anh chả sợ tí gì. Kham thích chơi hội, múa hát, diện đẹp thì anh lại không thích. Bảo anh là ông sư cũng chả đúng, vì ông sư sướng nhất làng mà anh chịu khổ trăm chiều. Hình như anh không phải thày tu, cũng không giống người trần tục, mà là một thứ người đặc biệt, khó kiếm lắm. Đúng anh là khôn kẹo - con Người Ngọc trong cổ tích - không cha mẹ tự dưng sinh giữa cõi đời. Kham nhớ mồn một câu chuyện chú Xẩy kể, đúng vào ngày Kham gặp anh Tiến, biết It-xa-la. Nhiều lúc Kham tưởng tượng thấy mình đang sống lại kiếp trước, với ba anh em chung sức đánh Hổ tinh...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #23 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 02:00:58 pm »

Tiến chém hụt một con cá, rồi con nữa. Kham cười khúc khích. Đi ngược suối đã khá xa, đến quãng này nước sâu khó chém. Một đôi cá quả ung dung dạo qua. Tiến hớt hải chém hụt, đà tay mạnh quá xuýt ngã chúi, nước tóe lên tắt phụt ngọn cà-boong. Kham cười ròn rã, tiếng cười trong lanh lảnh đập vào vách đá càng dội to. Tiến bật lửa châm cà-boong, gắt gỏng:

- Con gái gì mà cười đổ nhà đổ cây... Biệt kích đến bắn chết cả hai bây giờ.

Kham bưng miệng nhưng vẫn cười phì phì qua kẽ tay:

- Cá có đôi, anh chém làm gì?

- Có im không? Biệt kích...

- Người có đôi, biệt kích bắn cũng chả được. Đấy, anh chém có trúng đâu!

- Ừ nhỉ!

Tiến bật cười làm tắt lửa lần nữa. Trăng lên muộn đã nhô lên khỏi rặng dừa mé cuối làng. Có trăng cá không chịu đuốc, mà gầu cá đã nặng trĩu tay. Tiến ngồi xuống tảng đá bên bờ suối nghỉ một lát, súng đặt ngang đùi.

Ánh trăng lan nhanh qua đồng cỏ, dãi rập rờn trên rặng cây cà-đon dọc bờ suối, lấp lánh gợn vàng trên dòng nước.

- Anh Tiến kể chuyện nước Việt em nghe đi. Chuyện anh nữa.

Tiến dựa lưng vào tảng đá, ngửa đầu, Trời sâu thẳm, xanh nhạt và sáng. Mây gợn trắng chụm thành bông hoa đại, phơn phớt một thoảng vàng trên các cánh. Mùi hoa cỏ phảng phất, hay là hương thơm của đoá hoa trên trời? Điệu khèn như hơi thở đứt quãng vướng trong gió... Tiến lim dim mắt, từng thớ thịt dãn ra nhẹ lâng lâng.

Kham im lặng nghe anh con trai Việt kể chuyện.

Ai cũng nói nước Việt rừng ít ruộng nhiều, anh lại bảo nhiều người Việt thiếu ruộng. À bởi có những người giầu chiếm đất rồi cho thuê lấy thóc. Bảo họ nhường bớt chỗ thừa, họ không chịu. Vô lý quá! Cha anh Tiến không cày cấy, chỉ gọt toàn bánh xe bằng sắt. Lạ nhỉ, thế mà cũng có người mua. Thì ra anh Tiến cũng là người dân thường, cũng nghèo thôi, không có nốt ruồi đỏ trên sống lưng. Nhưng anh được ông cụ cao tuổi đứng đầu nước Việt Nam dạy bảo nên chóng khôn ngoan hiểu biết. Kham đoán phò Hồ Chí Minh trước kia tu đến chức A-chan-khu hay cao hơn nữa.

Rồi Kham kể lại những lời dè bỉu ngờ vực của các anh chị It-xa-la, và nỗi buồn tủi của mình. Anh Tiến an ủi, khuyên nhủ. Anh thấy Kham là người tốt, thông minh, chịu khó. Anh khuyên Kham nên nhận công tác tiếp tế và đưa tin cho It-xa-la. Anh cười chú Xẩy khi nghe nói chú giao cho Kham vận động thằng Mắt mèo: “Sức con gái mà giao việc như chất hàng lên lưng voi!” Kham lại nhận ra một điều mới lạ nữa: nói chuyện kháng chiến như anh Tiến nghe rất vui, y như bàn công việc nhà. Cha Kham mỗi lần giải thích cái gì cho vợ con cũng mắng phủ đầu: “Mẹ con bà ngu lắm!”. Kham chối cả tai, và nghĩ chính trị là chuyện gì cao xa lắm, công tác kháng chiến là những việc ghê gớm lắm, chứ có biết đâu...
Kham mừng khấp khởi, nhưng hỏi gặng:

- Tiếp tế đưa tin cũng là kháng chiến chứ anh nhỉ?

Trăng lên đã thắng đỉnh đầu. Mây đen từng tảng tròn dần dần ùn kín chân trời, chớp xa nhay nháy. Hai người ngồi im, không biết nói gì thêm mà cũng chưa muốn về.

Tiến nhìn Kham đang suy nghĩ, hai tay bó gối. Lần đầu tiên anh ngắm kỹ Kham từng nét, không sợ bị để ý.

Khuôn mặt Kham không cân đối. Đôi mắt to quá khổ, mồm bé chum chúm, khi cười hở cái răng nhọn. Nhưng Kham vẫn đẹp và có duyên, cái duyên rất hồn nhiên của một người không biết giấu giếm tình cảm.

Trăng chảy như làn sữa trắng đục trên má, trên cánh tay trần của cô gái. Một chấm nốt ruồi ló giữa khóe cổ áo sơ mi... Tiến rờn rợn, chợt nghĩ đến anh em cùng tổ: “Hỏng, hỏng to! Dẫn con gái chưa chồng đi quá nửa đêm, chúng nó biết thì tha hồ tai tiếng, chuyện một đồn mười!”. Ban nãy Kham đòi ở lại soi cá, Tiến từ chối không được, và thực ra cũng chỉ từ chối lấy lệ...

Ngẩng đầu lên, Kham bắt gặp Tiến đang nhìn mình chăm chắm. Anh vội ngó lên trời, hút lấy hút đế điếu thuốc lá chưa kịp châm. Kham hiểu, mỉm cười rạo rực. Chờ đợi...

Tiến vụt thấy sợ Kham, sợ cả mình. Anh nói hối hả để cắt đứt cái phút nguy hiểm:

- Đi về em!

Kham buồn rầu đứng dậy. Quả con người kỳ lạ, không có tí gì gọi là tình cảm. Con trai Lào gặp gái, dù yêu hay không yêu cũng biết buông đôi câu tán tỉnh...

Đoạn đường hai cây số mới đi mươi bước đã hết. Quãng suối lội đầu làng sao hôm nay đá trơn quá, phải có một người nắm tay Kham mới qua được. Về đến cổng làng, Kham dừng lại thủ thỉ:

- Anh đến thăm em luôn, anh nhé!

Một câu chớm trên đầu lưỡi Tiến, rất âu yếm và tình tứ. Anh vội nuốt nó vào bụng, vớ ngay một câu khác tình cờ bay ngang:

- Địch sắp càn lớn em ạ...

Dọc đường trở về trại bí mật, Tiến băn khoăn như vừa làm một việc gì rất sai trái. Nhưng chỉ mấy phút sau anh lại thấy nhớ Kham lạ lùng. Rồi quay ra trách mình lười may vá giặt giũ, để ban nãy phải ngồi bên Kham với bộ xi-ta rách và bốc mùi chua khăn khẳn. Lại ngồi trên gió mới chết chứ. Chắc cô ả cười Tiến vụng về và ở bẩn. Người ta tự nhiên như anh em, có gì đâu. Chẳng qua là “mến anh bộ đội”, nếu yêu thì ai đi giấu làm gì.

Tiến mù tịt về tâm lý phụ nữ, nên không thể đoán được Kham nghĩ gì về mình. Hơn nữa các cô gái Lào lại còn nghịch sát sàn sạt gấp mười, chứ không ý tứ như Kham hôm nay. Tiến thở dài, kết luận rằng từ nay xin chừa mơ ước hão.

Kham bắt đầu nhận với tổ It-xa-la đi đưa tin và tiếp tế cho bộ đội, nhưng không gặp Tiến nữa. Sau mấy lần họp với tổ It-xa-la và bàn riêng với Xẩy về việc lập làng kháng chiến không kết quả, Tiến phải tạm giao cơ sở Na-bua lại cho tổ Thiết. Anh đi kiểm tra công tác chuẩn bị chống càn với phò Phun.

Vùng Hàng Rào biến thành một bãi chông bẫy lớn. Chỉ còn lại lác đác những làng chưa công khai đánh Pháp như Na-bua, Pà-đăm, Hạt-luỗng... những hòn cù lao chênh vênh giữa biển khơi đang dập dồn nổi sóng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #24 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 02:04:04 pm »

VI

Trong bức công văn tối mật của viên thiếu tướng Tổng chỉ huy các lực lượng chiếm đóng toàn Lào gửi cho đại tá Di-nác-đô, có những lời nhọn sắc như gai châm vào mắt:

Tôi không rõ vì sao ông đã để cho vùng Nam Pạc-xê biến thành nơi Đất Hứa của bọn phiến loạn It-xa-la và Việt-minh. Liên tiếp các đoàn xe đi qua Xây-thả-von bị tấn công, rồi tai nạn tột cùng là cứ điểm Suối-đỏ bị tiêu diệt bởi một lực lượng địch không hơn là bao. Tôi cần biết các sĩ quan dưới quyền tôi đã hết năng lực giữ chức vụ hay chưa.

Trong cuộc hội nghị các viên tá úy toàn Liên khu Nam-Lào, đại tá Di-nác-đô đay nghiến, chửi mắng, dằn dỗi cho bõ cái hận bị quan trên xát xà phòng. Viên trung tá chỉ huy khu Hạ-Lào ngồi lặng cá. Tất cả các sĩ quan có mặt đều thất sắc, cảm thấy như có lưỡi gươm Đa-mô-cơ-lét đang treo lủng lẳng trên đầu bằng một sợi tóc.

Chỉ riêng trung úy Đờ La-ru-giê không sợ. Giữa lúc đại tá thét ra khói lửa, hắn vẫn cố ý làm ra vẻ lơ đãng, đăm chiêu. Thỉnh thoảng hắn lật sổ tay vờ tìm một điều ghi chép, kỳ thực chỉ xem vụng mấy chiếc ảnh đầm cởi truồng loại mới, vú mông ngồn ngộn. Khi còn là thiếu úy Phòng Nhì thuộc bộ tư lệnh Nam-Lào, hắn đã nắm được tính nết của Di-nác-đô đến đầu ngón tay. Mãi đến nay hắn mới có dịp vận dụng cái hiểu biết tâm lý ấy bằng một kế hoạch khá tinh vi.

Tiếng đập bàn đánh sầm:

- Ông trung úy! Khi quan trên nói, cấp dưới phải thế nào?

Đờ La-ru-giê đứng nghiêm, cúi mặt. Đôi mắt mèo xanh lè lia một ánh vui. Đợi cơn thịnh nộ tạm ngớt, hắn rụt rè tiếng:

- Thưa đại tá, tôi mải suy nghĩ về một kế hoạch mới, khả dĩ bình định được cái vùng Xây-thả-von quỷ ám ấy...

- Ngồi xuống! Trước khi học nói, ông cần phải học nín lặng và nghe.

Mắt- mèo ngồi xuống, cười thầm đắc thắng bước đầu.

Viên trung tá đứng lên phát biểu. Mồ hôi lấm tấm trên gáy lão bóng nhẫy, béo núc ních. Lão rên xiết về nỗi tiếp tế vũ khí nhỏ giọt, lương phát chậm, dân chúng mất mùa không nộp đủ thóc, binh lính Lào trong hàng ngũ Pháp là một lũ thằn lằn. Lão vung hai tay, thống thiết chữa lại câu nói lịch sử của Ác-si- mét:

- Cho tôi một tiểu đoàn Âu-Phi, tôi sẽ quét sạch Xây thả-von!

Mắt-mèo liếc nhanh, thấy Di-nác-đô gõ gõ đầu ngón tay xuống bàn, đúng triệu chứng của một cơn bực tức mới đang ùn lên cổ. Các sĩ quan khác nói cũng đều không đúng ý quan ngài. Mắt-mèo hồi hộp đợi với cảm giác của người sắp mở một tiếng bạc lớn.

- Còn ông trung úy thiếu kỷ luật kia, kế hoạch gì, ông thử nói xem!

Mắt-mèo lễ phép trình bày ý kiến.

Hắn cho rằng một số ông chỉ huy đã đánh giá thấp ảnh hưởng chính trị của bọn phiến loạn và Việt-minh trong dân chúng. Lực lượng quân sự chúng yếu, nhưng chúng bám dân dai như đỉa đói, sau lưng chúng có Mốt- cu và Bắc-kinh. Bởi thế cần đề cao chiến tranh tâm lý lên hơn nữa. Phải cắt rời địch ra khỏi dân chúng. Muốn thế thì trước hết phải cắt rời phiến loạn It-xa-la ra khỏi Việt-minh. Vấn đề này quan trọng bậc nhất.

Hắn hết sức tán thành ông trung tá gọi lính Lào trong hàng ngũ Pháp là lũ thằn lằn. Nhưng những nơi mà sư tử không nhảy đến được, loài thằn lằn có thể bò đến. Lính Lào nuôi ít tốn kém, lại nhiều khả năng đánh đường rừng hơn lính Âu-Phi, ta phải tận dụng...

Cuối cùng, hắn đề nghị thay đổi chiến thuật hành binh. Hắn xòe bàn tay trên mặt bàn đẩy từ từ về phía trước, cào cấu một lúc rồi nắm chặt lại như tóm một vật gì.

- Chiến thuật càn nhanh thọc sâu rất tốt, nhưng áp dụng ở Xây-thả-von không hợp. Ở đây phải càn thật lâu, quét thật kỹ, tung quân Lào ra đánh du kích, và kết hợp với tuyên truyền ly gián kẻ thù. Với chút ít hiểu biết về địa thế và địch tình ở Xây-thả-von, tôi đề nghị mở một cuộc hành binh kiểu con bạch tuộc...

Trong khi phát biểu, Mắt-mèo liếc thấy hai lần đại tá rút mùi-xoa lau mũi, lẩm bẩm: “Ồ, tưởng gì! Biết rồi!”. Rõ ra quan ngài muốn giấu sự vừa ý. Hắn thầm cảm ơn những người bạn quý ở cơ quan tham mưu liên khu đã bí mật báo cho hắn biết bản chỉ thị “càn lâu quét kỹ” của thiếu tướng mới gửi về.

Mười hai ngày sau cuộc hội nghị, Đờ La-ru-giê nhận được mệnh lệnh của bộ tổng chỉ huy đề bạt hắn lên đại úy, và đặc cử hắn làm tham mưu trưởng chiến dịch “Thuồng luồng”. Hắn phớn phở nhưng không ngạc nhiên. Di-nác-đô phải thua thâm hắn, nhưng quả ngài là vị quan thầy chí nghĩa chí tình!

Thế rồi trận càn quét lớn nhất và dai dẳng nhất trong lịch sử kháng chiến của khu Hạ-Lào đổ ụp xuống Xây-thả-von, sau vụ cày cấy.

Pháp muốn bẻ gẫy nát lưỡi dao bầu kê vào yết hầu con đường 13 chiến lược, cuống họng của loàn Lào. Chúng cố bám lấy đường 13 và sông Mê-kông để giữ Trung Thượng Lào đang bị uy hiếp mạnh, và tiếp tế cho Điện Biên Phủ vừa nhảy dù chiếm đóng.

Trong vùng cơ sở kháng chiến trên dưới một vạn dân, Pháp tập trung ba tiểu đoàn tiến từng bước chậm chạp, đóng cứ điểm lưu động, tung những cánh quân nhỏ sục khắp các ngõ ngách. Với chiến thuật mới, địch giống như con thuồng luồng khổng lồ xuất hiện trong nạn hồng thủy, nặng nề lê thân từ làng này sang làng khác, thọc những chiếc vòi ngoằng ngoẵng tìm máu tươi. Một đàn ruồi nhặng vo ve chung quanh nó: bọn gián điệp lần lượt thò đầu ra ánh sáng.

Bộ đội, du kích và nhân dân Xây-thả-von đang quần nhau với con thuồng luồng ấy. Một trận đấu sức lực và tinh thần kéo dài ác liệt. Trong những ngày đầu chống càn, các lực lượng kháng chiến bị dồn ép và tiêu hao liên tiếp, như một người chảy máu qua tất cả các lỗ chân lông, mà vẫn không chịu ngã quy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #25 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2012, 02:10:21 pm »

*

Làng Na-bua bị chiếm làm chỉ huy sở ngay từ đầu trận càn quét.

Vừa bước vào làng, Mắt-mèo cho công bố ngay nghiêm lệnh: “Ai ra rừng liên lạc với phiến loạn sẽ bị xử bắn. Gia đình nào dọn ra ở trại làm ruộng phải trở về làng ngay tức khắc”.

Nửa giờ sau, hắn đứng lên nói trước dân làng bằng tiếng Lào chỉ hơi sai dấu:

- Kính thưa các bậc cha mẹ, anh chị, các bạn thân mến! Quân đội Pháp - Lào mở cuộc hành binh lớn tảo trừ bọn tàn quân Việt minh cộng sản. Chúng thua to bên Việt Nam, phải chạy sang cướp bóc nhân dân Lào để mưu sống sót. Chúng tôi tha thiết kêu gọi bà con làng ta, ai có chồng con theo phiến loạn It-xa-la hãy nhắn gọi về. Người Lào không bắn giết người Lào cùng máu mủ. Hãy chung sức tiêu diệt bọn Keo1  sang xâm lược...

Diễn thuyết xong, hắn vào chùa lạy sư ông đủ ba lạy và quỳ trao tặng phẩm. Vừa lúc ấy nhân dân ùa đến kêu xin ông lớn can thiệp. Bọn quan quân sục tìm gái hỗn loạn, bắn trâu liên tiếp, bắt lợn gà mổ ăn khắp nơi.

Mắt mèo quát lính pha ca-cao mời mọi người, móc túi đền tiền ba con gà, hứa sẽ xét đền trâu lợn sau. Hắn vò đầu bứt tai vì không đủ tang chứng để trị tội lính: “Nếu đến kịp, tôi sẽ bắn chết tại chỗ để làm gương!”.

Nhưng hôm sau, rồi hôm sau nữa, không ai còn cắn răng chịu nổi. Dân làng ùn ùn kéo đến vây quanh nhà ông quan ba. Xẩy đứng lên chất vấn gay gắt, buộc ông lớn ra lệnh chấm dứt ngay hành động cướp bóc, hãm hiếp. Anh nói toang toang không chút kiêng nể.

Mắt-mèo vui vẻ bắt tay Xẩy, cảm ơn đồng bào chịu khó đến cho hắn biết sự thật, và lập tức hạ lệnh trói một tên lính ngờ nghệch nhất đám, can tội ăn cắp mấy quả trứng. Hắn lên đạn súng lục, trợn mắt vung vẩy khẩu súng khiến dân làng hoảng sợ tránh dạt ra. Hắn quát dữ dội:

- Mày là người Lào lại cướp của người Lào! Đồng bào khổ đến cùng cực vì bọn Keo, mày mù không thấy à? Tao tha mạng lần này làm phúc. Cút ngay! Hai ngày tù cơm muối!

Rồi hắn quay lại gườm gườm ngó quân lính:

- Còn chúng mày nữa, đồ toi cơm! Liệu hồn, cứ giở trò quỷ ác với đồng bào, tao cho máy bay đến ném bom giết sạch!

Nhân dân khiếp đảm ra về , thấp thỏm sợ ông lớn giận lính thì cả làng không sống sót. Ngay đêm hôm ấy Xẩy và hai người nữa dẫn đầu cuộc đấu tranh bị một bọn mặc quần áo thường bắt cóc đi mất. Dân làng đến sáng mới biết.

Trong một buổi họp làng, Phủi xin phát biểu, hắn thưa gửi rất nhỏ nhẹ, hiền lành:

- Thời buổi này dân ta thật khó sống. Người Việt mạnh. Người Pháp cũng mạnh. Dân Lào nằm giữa hai thớt cối đá, vụng xoay trở một chút là bị nghiến nhừ xương. Người Pháp cũng ăn ở với ta phải chăng. Chỉ vì đến vùng ta thường bị bộ đội với du kích đánh nên họ buộc lòng phải làm dữ, chứ tôi nghĩ không trêu voi thì bao giờ voi đuổi. Chung quy chỉ dân làng bị tai vạ... Tôi nghĩ thương anh em It-xa-la cùng máu mủ người Lào, quá tin người Việt nên ngày nay chịu khổ, lại làm dân làng khổ lây.

Đôi cụ già khen Phủi biết nghĩ xa. Một số khác cho là hắn mất tinh thần, vì vài hôm lại có lính đến áp giải hắn sang nhà tên Mắt-mèo. Chỉ có các hội viên It-xa-la bí mật biết hắn là gián điệp, giận đến tím mặt mà không dám lên tiếng. Họ chỉ còn hai người vỏn vẹn. Sau khi Xẩy bị bắt, bảy hội viên It-xa-la hoang mang bỏ trốn ra rừng không thấy về.

Hai mẹ con Bua Kham sống như cá nằm trốc thớt.

Trong cảnh hỗn độn ghê gớm này; Kham không còn biết mình sống hay chết nữa. Mẹ giấu Kham trong buồng cài chặt then, đón ông cụ Pứ bị Pháp đuổi nhà đến ở chung cho đỡ sợ, suốt ngày ru rú. Nhà thóc hai trăm mừn2  đã bị cướp gần hết. Con lợn con gà cuối cùng bị lính Pháp nướng ăn ngay dưới sàn, vất xương  lông thối đến lộn mửa. Thôi đành mẹ con cùng chết đói!

Súng nổ ngoài rừng ngày một nhiều. Bộ đội và du kích đánh to. Nhiều đêm lính Pháp thét inh, chạy rầm rập, bắn súng cối ra rừng như sấm bão. Kham nằm trong buồng, ruột gan như xát muối.

Cha Kham tóc gần bạc trắng, liệu có thoát nổi Pháp cắt tai xẻo mũi không? Anh Thiết, anh Đeng không người tiếp tế, sức đâu mà đánh giặc? Kham nghĩ nhiều nhất đến anh bộ đội Việt đã từng an ủi khuyên nhủ Kham, cũng như giúp dân làng Na-bua giành từng con gà bát gạo với địch... Giờ đây Kham mới hiểu lòng mình. Kham yêu anh Tiến mất rồi. Yêu đắm đuối, sôi nổi như tất cả những cô gái lần đầu biết yêu.

----------------------------------------------------------
(1) Con sâu. Xuyên tạc tiếng Khôn-kẹo (Người Ngọc) chỉ người Việt.
(2) Một mừn: 12 ki-lô.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #26 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:31:21 pm »

Phủi liên tiếp đến gặp Kham. Bị từ chối khéo nhiều phen, cuối cùng hắn phát khùng:

- Tôi hỏi cô phải nói dứt khoát. Cô chịu làm vợ tôi không thì bảo? Lão Mắt-mèo thèm cô lắm rồi, nhưng còn nể mặt tôi. Lấy tôi thì được giầu sang, nhàn rỗi, không sợ Pháp nó hiếp. Cô muốn sao?

Giận quá không kìm nổi, Kham chửi hắn: “Đồ đểu!”. Một cái tát hất Kham ngã chúi. Bà con hô hoán rầm lên, Phủi phải bỏ về. Kham lau máu mũi, vào buồng đốt tập thư dày lót dưới nệm bông. Đốt cả quyển vở chép bài hát, vì có một bài Phủi chép tặng: Tha kem đeng đeng, noọng xảo pòm tua chốp chưa (xoa son đo đỏ, cô em trang điểm thật xinh).

Kham ghê tởm Phủi, ghê tởm cả mình. Những lời âu yếm trong đêm soi cá còn vẳng bên tai: “ Anh mong em cố gắng tiến bộ...”. Suốt một đêm Kham không ngủ. Sáng hôm sau còn tờ mờ đất, Kham chạy đi tìm các anh chị It-xa-la, tìm mãi mới gặp chị Thoong. Chị run đây đẩy từ chối khi nghe Kham rủ đi tìm bộ đội. Kham đành một mình băng rừng đi tìm cha, tìm anh Tiến. Sợ mất vía, nhưng Kham không chịu nổi cái lo lắng nung đốt ngày đêm nữa. Phải gặp anh, hay biết rõ tin anh, rồi ra sao thì ra. Mẹ Kham can không được, chỉ sụt sịt khấn vái cho con thoát tai nạn.

Cũng từ hôm ấy. Phủi liên tiếp dẫn Pháp đi lùng bắt cán bộ và du kích, không giấu mặt như trước. Nhưng hắn vẫn không mách với Mắt-mèo về gia đình ông cụ Phun. Hắn vẫn mong chiếm được con người đẹp nhất Na-bua.

Trong trại bí mật của trung đội Lào, Vi-xiên bắt tay Tiến, lắc mạnh:

- Cảm ơn đồng chí nhé. Tôi đỡ lo nhiều rồi.

Nghe Vi-xiên cảm ơn, Tiến ngượng nghịu nói lảng:

- Sau này có gì khó khăn ta bàn thêm anh nhé. Lúc nào xong việc anh lại cho tổ đồng chí Gành trở về bên tôi.

Khác với trung đội 8, bộ đội It-xa-la vẫn được tập trung, đánh lưu động để học tập trong chiến đấu. Gần đây lại tuyển thêm một số tân binh, chuẩn bị tổ chức đại đội. Vi-xiên rất lúng túng về biên chế và huấn luyện. Ban Xây-dựng rút Tiến và đưa Gành về giúp anh, đến nay công việc tạm ổn. Tân binh đang học động tác xung phong, sắp ra chiến đấu được.

Tiến ra về, Vi-xiên còn gọi giật:

- Nghe nói trung đội anh hết gạo phải không?

- Chưa...

- Hai trăm rưởi mừn thóc kháng chiến, các anh chỉ nhận tám chục mừn, còn bao nhiêu nhường chúng tôi cả. Ăn đã hơn tháng, làm gì còn!

- Thôi được, để tôi hỏi xem...

- Đến thẳng kho tôi mà lấy. Ghi mảnh giấy bỏ lại là đủ.

Trung đội 8 đang đói thật. Nhưng càn quét còn dài, phải nhường gạo cho anh em It-xa-la. Thà ăn măng trừ bữa chứ không để anh em Lào đói, thói quen xưa nay vẫn như thế.

Rời trại bí mật, Tiến vòng rừng đi lên Na-bua.

Trong trận càn, Tiến không trực tiếp phụ trách Na- bua nhưng vẫn theo dõi tình hình. Nghe tin cơ sở It-xa-la ở đây hầu như tan rã, Tiến hết sức lo lắng và bực dọc. Công phu xây dựng hơn năm trời, có thể chóng sụp đổ như thế chăng? Tiến còn một nỗi nghi kỵ khác dày vò anh: Trong số hội viên It-xa-la hẳn phải có kẻ phản bội hoặc gián điệp của Pháp khai báo, nên Xẩy mới bị bắt gọn ngay từ ngày đầu Pháp chiếm làng. Nhưng điểm lại từng người trong tổ It-xa-la, anh không nghĩ ra người nào có thể là gián điệp hoặc phản bội.

Theo dấu vạc thưa thớt trên vỏ cây, Tiến lần về phía Tây-nam. Cơn nắng nhạt sau mấy ngày mưa hơ bùn dẻo sánh lại nhầy nhụa, bết vào đế dép nặng trịch. Những cây dầu rái há hốc miệng lỗ khoét lấy nhựa đen ngòm, bốc mùi hăng hắc pha trong hơi đất. Thoáng bóng mấy người quây quần sau một thân cây to. Một tà áo trắng...

Kham mang cơm đến tiếp tế cho tổ Thiết, còn nán lại kể chuyện đấu tranh trong làng đòi bỏ lệnh cấm ra rừng. Nghe tiếng chân lại gần, mọi người đứng phắt dậy. Kham buột mồm kêu hơi to: “Anh Tiến!” rồi bước nhanh lên mấy bước. Mắt Kham ướt sáng, má phớt hồng, mừng rỡ và e thẹn. Tiến đứng sững ngạc nhiên. Giữa những cảnh chết chóc tàn phá của trận càn, Kham hiện ra đột ngột quá, tươi thắm quá. Rừng âm u vụt sáng. Tiến ngây ngất nhìn Kham, người nhẹ thênh, tất cả mệt nhọc tan biến...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #27 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:34:00 pm »

Huy bấm Thiết, cười hi hí. Tiến giật mình luống cuống. Anh bước thẳng qua trước mặt Kham, đến ngồi bên Thiết, hỏi như cái máy:

- Tình hình ra sao?

Thiết lắc đầu buồn bã. Bố trí chung quanh chỉ huy sở, địch ra vào như đi chợ mà không đánh được. Phục ngả này chúng đi ngả khác, toàn băng rừng. Tổ du kích của Đeng phối hợp bị tụt hẫng mãi đâm chán, rút đi đâu mất. Bua Kham liều chết trốn ra báo tin mấy lần đều sai sự thật, nói một đằng địch đi một nẻo. Anh em dầm mưa dãi nắng nhược người, sắp ốm liệt cả.

- Sao, cậu bảo sao? Bua Kham báo tin sai à?

Gáy Tiến nong nóng. Anh biết Kham đang nhìn anh, vì nói tên Bua Kham rõ quá. Thiết gật đầu, tay sờ soạng gãi nách:

- Không hiểu tại sao... Thằng Bân hắn nói: “Con Kham đi tìm lão Tiến chứ đưa tin khỉ gì. Mai cho mười đầu máy xe lửa kéo, tao cũng không đi dầm mưa nữa”. Cái thằng bất mãn trường kỳ...

Tiến bối rối ngó quanh. Bân ngồi tựa lưng vào gốc cây đằng xa, úp mũ trên mặt hình như ngủ, nhưng cũng có thể đang cười chế nhạo. Tự nhiên Tiến đâm bực với Kham. Không ý tứ gì cả, thăm hỏi lộ liễu để anh em nói bậy. Đưa tin sai bét be, làm tội người ta bố trí mục xương. Bao nhiêu tội lỗi Tiến trút cả cho cô gái đưa tin.

Anh quay lại hỏi sẵng:

- Tôi hỏi Kham một tí. Lại đây!

Kham ngồi im, cúi gầm xuống đất. Chợt thấy mình thô lỗ, Tiến dịu giọng:

- Thế Kham hỏi ai mà biết địch ra?

- Em hỏi bọn lính. Một hôm chính thằng quan ba nói.

Môi Kham có dấu răng cắn lõm xuống. Giận đầy ruột. Lọt qua vòng vây của Pháp, xuýt bị hiếp, bị bắn, ra tìm anh để nghe cái giọng kẻ cả ấy à! Không thèm hỏi qua lấy một câu gọi là vui vẻ. Kham ức quá, không muốn mở miệng nữa, chỉ dấm dẳn cho bõ ghét.

- Thế sao lại không đúng sự thật?

- Biết đâu được.

- Không biết thì báo làm gì?

Kham nghẹn cổ không thốt nên lời. Thấy Kham biến sắc, Tiến bồn chồn, vừa giận vừa thương. Nếu không có Thiết ngồi bên, hẳn anh đã đến cầm tay Kham xin lỗi, dỗ dành, và thăm hỏi mấy câu cho đỡ nhớ. Nhưng trước mặt người thứ ba, anh không thể êm nhẹ với phụ nữ, nhất là với Kham. Anh nói rất nghiêm khắc, đồng thời lại kinh sợ khi nghe giọng mình quá cộc cằn:

- Thằng quan ba nói, cô cũng tin à?

- Ừ, tin đấy.

- Tin thằng Phủi nữa chứ?

- Thằng Phủi cũng tin. Nói đúng thì tin chứ sao!

Tiến cười mũi, cay đắng:

- Ra thế đấy. Cô muốn chúng tôi ốm chết rục cả...

- Cho anh nói, tôi không cần!

Tiến đứng dậy đi mấy bước. Một ý nghĩ quái gở vụt đến như chớp lóe; hay là... hay là địch tổ chức cho Kham ra? Tiến rùng mình với ý nghĩ ấy, không dám nhìn Kham.

Con người nhát như cáy bỗng chốc trở nên dũng cảm khác thường, một mình luồn qua lưới địch tìm bộ đội, có thể tin được không? Tổ It-xa-la nghi ngờ đã lâu. Tằng tịu với thằng Phủi. Báo tin sai bét. Cả Tiến nữa, cũng bị mê hoặc. Mỹ nhân kế... Nhanh như điện, ngần ấy vấn đề từ trong tối nhảy vọt ra, xỏ xâu vào với nhau thành một chuỗi dài rất ăn khớp, giống như trong một chuyện ma, những đốt xương rời rạc nhảy lên chắp vào nhau thành hình người.

Tiến vịn tay lên thân cây, cố trấn tĩnh. Anh buột mồm nói trống không:

- Vô lý!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #28 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:38:04 pm »

Để buộc mình phải sáng suốt, Tiến lật ngược lại ý nghĩ ấy. Anh tự hỏi mình gay gắt, xem có phải vì ghen với Phủi mà nghi oan cho Kham. Nhưng cái khám phá vừa rồi sáng như ban ngày, không ngờ vực vào đâu được nữa. Rõ ràng Tiến không nghĩ quẩn, không ghen.

Kham vẫn nhìn xuống đất, ngón tay xé lá run run. Thiết đánh bật lửa châm điếu thuốc. Chợt nhớ ra, anh nói chậm rãi:

- Hôm tê, địch tìm vô đốt chỗ trại cũ của bọn tôi rồi. Phải cất trại mới lợp lá chuối, dột ướt hết.

Tiếng sét cuối cùng đã nổ.

Tiến tái mặt. Ngoài tổ anh và tổ It-xa-la, chỉ riêng Kham biết trại bí mật. Nếu một hội viên It-xa-la phản bội, thì cả tổ đã bị bắt. Đằng này Kham chỉ biết Xẩy và Đeng trong buổi họp đầu, nên Xẩy rơi vào tay địch và trại bị đốt. Trước mắt Tiến không còn em Kham ngây thơ và tin cậy nào nữa, chỉ có một con nữ gián điệp quỷ quyệt ra vào Pạc-xê với nhân tình hàng năm nay, đóng kịch tài bậc nhất. Một con quỷ sứ!

Tiến đứng như chôn chân trước mặt Kham tay mân mê nòng khẩu tiểu liên lạnh ngắt. Anh thở gấp, chưa nói gì.

Thiết lặng lẽ đến chỗ Bân và Huy, cười thầm thương hại hai cô cậu gặp nhau cứ ngơ ngơ ngác ngác. Hồi còn trẻ, Thiết đối xử với con gái không đến nỗi vụng dại như Tiến. Anh cố ý vắng mặt cho họ tự nhiên với nhau một tí kẻo tội, và xuỵt Huy đang chỉ trỏ nhấm nháy: “Huy! Mi chuyên môn nghĩ bậy!”.

Kham gục đầu trên hai cánh tay. Đôi vai tròn nhỏ rung rung. Phút im lặng ngột ngạt.

Xốc quai súng lên vai, Tiến hít mạnh, bỏ đi. Bộ đội Việt không có quyền bắt và xử người Lào, đành thả cho nó về. Nhưng chính quyền và bộ đội It-xa-la còn đó, nó thoát đàng trời! Anh tự nhắc thầm điều ấy một cách hết sức dữ tợn, để vùi dập chút mừng rỡ chợt lóe lên khi anh nhớ ra cái nguyên tắc “không được xâm phạm chủ quyền người Lào”.

Đi được mấy bước, anh bất giác quay lại. Kham hấp tấp gạt lá bước ra đường như người chạy trốn.

- Thôi rút về. Không liên lạc với nó nữa.

Thiết tưởng mình nghe lầm, trố mắt hỏi gặng:

- Sao lại thôi không nhận tin nữa?

Tiến buông cộc lốc:

- Cứ về nghỉ ngơi tắm giặt, rồi đi chuẩn bị hầm chông sẵn. Bố trí lâu một chỗ có ngày bị úp mất mạng.

Để tránh bị hỏi dồn, Tiến thoăn thoắt bó đi. Được một quãng khá xa, anh mới ngồi xuống ngả lưng vào thân cây, hai tay buông xuôi, tưởng chừng toàn thân rã rời từng mảnh. Lần đầu tiên trong đời Tiến hai mươi ba tuổi anh cảm thấy không muốn sống nữa.

Trong khi ấy Kham loanh quanh như người mất hồn, không biết mình đang đi đâu, làm gì. Mãi đến quá trưa mới về đến quãng suối đầu làng. Cũng chỗ lội này Kham vịn tay một người trong đêm trăng... Kham cắn môi đến chảy máu, tạt vào rừng tránh chỗ lính gác. Vừa may một toán địch trong làng kéo ra, giày đinh lộc ngộc. Đứng trong bụi rậm, Kham hồi hộp nhìn ra. Hàng quân ka-ki xanh xám kéo dài mãi. A thằng Phủi... cả thằng Mắt-mèo! Chúng nó mang quân thọc xuống Kha-tạy, đúng con đường anh Thiết đang chặn đánh!

Kham ngồi thin thít đợi tiếng mìn, bốc một nắm đất cầu khẩn Nang tho-la-ni 1  phù hộ cho các anh giết được cả hai thằng một lúc, đừng vương tên bay đạn lạc. Nghĩ đến Tiến, Kham lại giận ứ lên cổ. Lần này địch ra đúng như Kham báo tin, đánh xong Kham mới bảo cho mà hết hoạnh họe! Cứ gọi là không thèm nói với nữa, đến nhà không thèm tiếp, ghét mặt...

Nhưng lâu lắm, lâu lắm súng mìn vẫn không nổ. Kham đợi tiếng mìn như người sắp chết đuối đợi kẻ ném cho mảnh ván. Đến khi mặt trời nghiêng đầu dòm chéo qua cành lá, tiếng nổ mới vọng đến. Nhưng lại là tiếng súng cối uỳnh uỳnh dóng đôi phía Kha-tạy. Địch đã lọt qua chỗ bộ đội chặn đánh sáu ngày liền, và vừa rút bỏ vì không tin Kham. Đôi mắt long tròn xoe, tròng đen tụ giữa còn bé tí, đôi mắt của Tiến lại hiện ra như một lời buộc tội...

Kham nuốt nước bọt ừng ực, vất mạnh hòn đá: “Bá! Hơi đâu mà nghĩ đến cái người không ra gì...”. Kham đứng dậy, bước mấy bước, rỏi đột ngột bưng mặt khóc to, khóc nấc lên từng hồi dài như tất cả máu trong người chảy thành nước mắt.


-----------------------------------------------------------------------
(1) Bà Đất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #29 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2012, 02:41:35 pm »

VII

Trong ba ngày, Tiến tìm đến từng tổ của B.8 đang nắm du kích chặn các ngả đường rừng. Cơ sở It-xa-la lãnh đạo nhân dân đánh Pháp khá vững. Pháp tấn công vào làng kháng chiến Thông-nọi ba lần, bị lưới chông bẫy chằng chịt hất lùi không vào lọt. Du kích Pa- thôn anh dũng nhất đã chèo thuyền len lỏi trong các bưng (đầm lầy) đánh úp các bộ phận tiếp tế của địch. Trong khi ấy, bộ đội It-xa-la bất thần hiện ra, diệt gọn một toán quân nhỏ và biến đi như chớp.

Một liên lạc viên của huyện lùng ra Tiến, mời về họp Chi ủy. Tiến còn ở nán lại đánh với anh em một trận “chim sẻ” nữa, rồi về sau một mình.

Lạc rừng mãi đến gần trưa Tiến mới tìm ra đường vào bưng Pa-thôn. Chỗ giấu thuyền đây rồi.

Nhìn quanh không thấy dấu vết khả nghi, Tiến xắn  quần lội xuống nước, đi dò dẫm theo bờ cỏ rậm độ mươi thước. Chiếc thuyền độc mộc dìm dưới nước đục ngầu vẫn còn nguyên. Anh khua chân hất những tảng đá chất trong lòng thuyền ra ngoài, kéo một đầu thuyền lên cao, mím môi đẩy mạnh. Đuôi thuyền đẽo bẹt hình đuôi cá nổi dềnh lên, nước đựng trong thuyền ùa ra tung tóe. Đẩy lui tới năm sáu lần cho nước ra gần hết, anh rút cây sào trong bụi rậm, nhảy lên thuyền. Hai con đỉa bầy nhầy bằng ngón tay cái đeo bên bẹn. Anh rứt mạnh từng con ném lên bờ, những vết cắn ba khía chụm hình tam giác ri rỉ máu. Thuyền rẽ nước luồn qua các bụi cây.

Vừa lúc ấy tiếng giày khua đá lốc cốc tới gần. Một toán lính đỏ ập đến, lố nhố mũ cao-bồi bấm khu bẹp vành. “Dút! Dút!” (Đứng lại). Mấy băng súng máy xả theo, chém lá rào rào. Chậm mất rồi, bóng áo xi-ta mất hút vào trong bưng, không tăm dạng.

Bưng Pa-thôn dài bảy tám cây số là một chiến khu rất tốt. Trong bưng nhiều gò đất um tùm; rải rác trên mặt nước nhô lên những lùm cây tròn như bát xô đầy. Nhà bí mật và kho lúa nhan nhản; làng kháng chiến Pa-thôn cũng ở đây. Pháp biết rõ nhưng không vào lọt, chỉ ném những toán quân nhỏ ngày đêm lùng lội bên ngoài.

Bước lên nhà bí mật của ông trưởng thôn, Tiến cau mày khó chịu.

Trong nhà chỉ có một mình đồng chí Mạc nằm dài trên võng ngáy dòn. Ngủ ra dáng cái ngủ, súng nổ xé tai không biết. Ông bí thư liên chi sướng thật... Nhưng bước lại gần, Tiến biết mình nghĩ bậy. Trong giấc ngủ, khuôn mặt vốn luôn luôn tươi tỉnh của Mạc đượm một vẻ đau đớn phiền muộn khác thường. Đôi mắt lõm sâu, trũng xuống thành bọc dăn deo, dưới mi hằn thêm những nếp nhăn mới. Môi mím chặt dưới cái mũi gẫy. Khăn vẫn quấn sù sù trên cổ. Nhìn một em bé ngủ, người nghèo tình cảm nhất cũng muốn cúi hôn đôi má phinh phính, hay ấn ngón tay trỏ vào bàn tay em nắm chặt, ngây thơ và tin tưởng cả trong mơ. Nhưng vẻ mặt người lớn ngủ chỉ gây cho người khác một ý nghĩ thương hại.

Tiến buộc võng bên cạnh Mạc, nằm xuống lim dim mắt. Nỗi buồn chán lạ lùng cứ lẩn khuất đâu đây, xua đi một lát lại về ám ảnh, trùm chung quanh Tiến một tấm màn đen kịt.

Tiến đã trót yêu một đứa gián điệp. Nhiều lúc anh cố tình không nhìn nhận mình yêu Kham. Nhưng khốn nỗi không yêu sao lại nhớ khổ nhớ sở, lo cuống lo cuồng trong nửa tháng nay. Ừ thì có yêu, nhưng giờ mình dứt khoát thôi, thôi hẳn. Chẳng qua chỉ là một phút hoa mắt, mê say... Nghĩ đến mình bị sa vào mỹ nhân kế, Tiến uất người lên, mắng mình sao không cho nó một phát rảnh nợ. Kỷ luật là cùng chứ quái gì!

Rồi Tiến tẩn mẩn viện ra những lý lẽ hiệu nghiệm nhất để chứng minh rằng yêu Kham là một sự rồ dại. Yêu làm quái gì, có lấy được cóc đâu. Ngôn ngữ bất đồng, thủy thổ bất hợp. Địch tuyên truyền người Việt sang lấy vợ Lào để đồng hóa dân Lào, nói thối thế cũng có kẻ tin. Đánh giặc sống chết như trở bàn tay, còn đi tơ tưởng này nọ, không biết xấu...

Nhưng sau một hồi hùng biện với mình, Tiến lại thấy hiện ra đôi mắt to quá khổ, đen lay láy ướt nhòa, nhìn anh van lơn và uất ức. Trong đôi mắt ấy Tiến không thể tìm thấy một chút giả dối. Nếu Tiến lầm lẫn, Kham tuyệt vọng thì... Tiến hoảng sợ ngồi lên, lay Mạc mấy cái. Mạc ậm ừ, nói lúng búng như nhai bột:

- Gạo tiền hết rồi. Còn muối Xê-liên.

Anh lại ngáy pho pho. Tiến thương hại, không đánh thức nữa. Anh vớ tập giấy đủ cỡ trên bụng Mạc, tò mò lật xem để đỡ nghĩ quẩn. Báo cáo của B.8, của các đội xây dựng, các đội xung phong công tác vùng sau lưng địch, các tổ trinh sát, tổ sản xuất, bệnh xá, trạm liên lạc mấy chục đơn vị đều réo bốn tiếng: gạo - tiền - muối - đạn. Tình hình cung cấp Tiến đã biết rõ. Đạn được mấy thùng Việt Nam gởi lên hết veo ngay. Tiền cũng cạn. Liên khu 5 đánh Cửu An Tú Thủy được tiền Đông Dương, gửi lên cho Hạ Lào đâu nửa triệu. Chính ủy tình nguyện quân ra trung ương họp, xin được nửa triệu. Như muối bỏ biển. Đến cuối năm 1953 rồi, lính Hạ Lào vẫn không biết đồng phụ cấp tròn vuông ra sao, và tiêu chuẩn cung cấp là cái gì.

Tiến chợt thấy cuốn sổ tay bìa cứng bọc vải đen rơi dưới đất, lật trang giữa. Anh nhặt lên, đọc hú họa một dòng đầu trang: ... giáo dục của Lũy còn nhiều chỗ lệch. Lũy nghiêm khắc đúng mức đối với khuyết điểm, nhưng lại coi thường ưu điểm và thành tích của cấp dưới...”. Đúng cuốn sổ ghi chép hàng ngày của Mạc, đi  đâu cũng độn to phềnh túi quần. Đôi người đồn đại, nửa đùa nửa thật: “Tao vô phúc vào sổ đen ông Mạc rồi. Đời đi đứt!” Tiến khép quyển sổ định đặt trả trên bụng Mạc. Nhưng rồi tò mò muốn biết những điều ghê gớm trong “sổ đen”, anh lại lật ra đọc lướt nhanh, mang tai hơi nóng. Mạc vẫn phì phò trên võng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM