Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:52:21 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trong Vòng Lửa ( Dốc núi )  (Đọc 36837 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 10:36:48 am »

Xấu hổ quá, tôi cũng "Bố chắc" gọi Táp ná hay Táp lá.. Grin Nhưng có lẽ là Táp Ná thì đúng hơn, đợi rằm tháng 7 này tôi về quê hỏi cho chính xác để trả lời bạn nhé.
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 10:39:52 am »

...Nghe anh Bàng dặn, tôi ậm ừ để anh yên tâm. Nhớ lại hôm ở Nà Nghiềng tôi cũng thấy sởn gai ốc. Hôm đó khi trời vừa mới nhá nhem tối, tôi, thằng Quý và hai chiến sĩ đã tụt xuống núi. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm cách trở lại vị trí kho quân khí của tiểu đoàn để tìm đạn súng bộ binh và lựu đạn chuẩn bị cho cuộc phá vây. Chúng tôi lần mò theo con mương nước mà hôm trước đã theo nó để rút ra. Bọn địch đã chiếm được thị trấn đổ nát không còn quân ta. Lực lượng của chúng còn lại phòng ngự thưa hơn. Sau khi tìm được mấy hòm đạn AK, tôi bảo:
- Vào bản kiếm cái gì ăn đã, đói lắm rồi!
- Nhưng lỡ chạm bọn địch thì sao?
Thằng Quý gàn. Tôi nói:
- Đừng sợ! Bọn chúng tưởng quân ta đã rút hết rồi nên để lại rất ít lực lượng ở thị trấn. Ta vào bản Nà Nghiềng xem kiếm được cái gì ăn rồi rút luôn.
Đúng như tôi nghĩ, bản chẳng có một bóng người. Bầu trời sáng lờ mờ. Ánh trăng xuyên qua làn sương mù dày đặc. Các lối đi trong bản cây cối bị đạn bắn đổ ngổn ngang. Chúng tôi phải lách người len lỏi trong đống đổ nát. Trong cảnh hoang vắng chết chóc, sương rơi ướt vai áo làm cho chúng tôi càng thấy lạnh lẽo, cô quạnh. Vừa lặng lẽ bước đi tôi vừa chú ý quan sát, nghe ngóng. Chúng tôi leo lên một ngôi nhà sàn kiếm được một ít ngô thì nghe tiếng chạy huỳnh huỵch dưới gầm sàn. Tôi hỏi:
- Thằng nào chạy đi đâu đấy?
- Không... không... phải quân ta, bọn địch đấy!
Tiếng thằng Quý líu cả lưỡi đi vì sợ. Tôi vội nhô ra nhìn xuống gầm sàn. Bóng mấy tên lính địch đang vác súng cối chạy qua vườn chuối vào gầm ngôi nhà sàn mà chúng tôi đang ở trên. Bỏ mẹ rồi, tôi nghĩ bọn này từ đâu xông vào bản vậy. Vào đến gầm ngôi nhà sàn, chúng dừng lại soi đèn pin loang loáng. Hình như chúng định nghỉ đêm dưới gầm nhà. Một thằng trải tấm bạt ra nền đất. Có ánh đèn chiếu ngược lên sàn. Chúng tôi phải nằm ép người xuống sạp nứa không dám thở mạnh. Tôi nghĩ, nếu mà mấy thằng này leo lên nhà thì mình toi mạng hẳn. Tôi lần thắt lưng tìm quả lựu đạn mỏ vịt. Tôi đã tính đến tình huống xấu nhất là sẽ thả quả lựu đạn xuống đầu bọn địch rồi nhảy xuống đất tháo chạy. Tôi khe khẽ sờ tay thằng Quý vỗ vỗ ra hiệu cho nó. Thằng quý hơi gật gật đầu vẻ hiểu ý định của tôi.
Tôi và mấy chiến sĩ vẫn nằm. Dưới gầm nhà sàn tiếng bọn địch trao đổi với nhau rì rầm. Không hiểu bọn chúng nói với nhau cái gì. Đột nhiên có một tiếng hô khẩu lệnh. Chắc là tiếng của thằng chỉ huy khẩu đội. Mấy thằng đang nằm ngồi vội bật dậy. Chúng nhanh chóng thu khẩu cối và trang bị vác lên vai. Hình như bọn này lại chuẩn bị cơ động. Đúng vậy. Bọn chúng chui ra phía bên trái ngôi nhà, lối đường ra thị trấn. Tôi kéo tay thằng Quý thì thào:
- Mày và hai thằng nhanh chóng rút ngay ra phía mương nước để tao xử lý mấy tên địch này nhé!
- Nguy hiểm lắm! Đi ngay thôi anh ơi!
Mặc cho Quý gàn, tôi nhỏm dậy lao ra phía đầu nhà. Mấy tên địch đang lui cui vác súng chạy xuống dốc. Tôi rút chốt quả lựu đạn tung theo. Khi tiếng nổ vang lên thì tôi đã chạm chân xuống đất. Tôi lao luôn về phía mương nước.
Sau tiếng nổ, từ các vị trí phòng ngự tiếng súng của bọn địch bắn rầm rầm vào bản Nà Nghiềng. Chúng tôi chạy hút hơi ra theo con mương ra cánh đồng để vượt lên núi. Cũng may là không vấp phải toán lính địch nào chặn đường. Bọn địch chỉ từ các điểm cao đổ đạn vào bản Nà Nghiềng và sang phía núi đá.
Đến điểm hẹn ở chân núi đá tôi đã thấy Quý và hai chiến sĩ đang chờ ở đó. Thằng Quý hổn hển hỏi:
- Mấy thằng giặc ấy chắc toi hết cả chứ anh?
- Tao cũng chẳng kịp nhìn xem nó có chết hay không! Chạy một phen hết cả hơi mới ra đến đây đấy.
- Anh liều lĩnh quá!
Một chiến sĩ nói. Tôi bảo:
- Thôi rút lên núi ngay. Cấm không được thằng nào báo cáo việc này với chỉ huy tiểu đoàn nhé!         
Cũng may hôm ấy không xảy ra thương vong gì. Việc chúng tôi mang được mấy hòm đạn về còn được tiểu đoàn trưởng biểu dương nữa... Ấy thế mà anh Bàng lại biết chuyện. Chắc là anh lại nghe thằng Quý bép xép.
Gói ruốc của anh Bàng tôi đã giữ suốt thời gian trong vòng vây. Khi nào thật cần thiết chúng tôi mới chia nhau một nhúm lấy chất muối để đánh lừa cái lưỡi. Cuộc hành quân trên dãy núi đá thật gian khổ. Đôi chân rã rời vì lao núi suốt ngày đêm. Cái đói, cái khát rồi những lần giặc đuổi chạy đến hút hơi, thở không kịp tôi càng thấy giá trị của gối ruốc bông ấy.
Chính trị viên Hoàng là một người điềm tĩnh. Sự điềm tĩnh của anh khiến những người bĩnh tĩnh nhất nhiều khi cũng hoang mang. Những lúc tình hình gấp gáp, tình huống lâm nguy nhất anh vẫn không rối trí, nét mặt không thay đổi. Tôi còn nhớ hôm sở chỉ huy của tiểu đoàn bị bao vây vòng trong, vòng ngoài, bộ binh địch bu đen như kiến, xe tăng của chúng châu nòng pháo bắn liên tục vào cửa hang. Khói bụi xộc vào cái hang núi thẳng đuột từ cửa chính phun ra phía cửa phụ, cuồn cuộn như khói trong ống khói. Nhiều người tưởng ngạt thở đến nơi rồi. Bộ binh địch bắt đầu đeo bám vào vách đá leo lên gần cửa hang. Trong hang có người đã buột miệng kêu lên những tiếng tuyệt vọng.
Trong khi đó chính trị viên Hoàng vẫn bình tĩnh như không. Lúc này anh là người chỉ huy cao nhất tại sở chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng Thêm đêm hôm trước đi kiểm tra trận địa của đại đội 4 chưa thấy trở về. Có lẽ anh bị mắc kẹt trên núi do mũi tiến quân của bọn địch lên mỏm Đầu Bò cắt ngang con đường độc đạo từ hang chỉ huy tiểu đoàn lên vị trí bố trí hoả lực của đại đội 4.
Chính trị viên Hoàng hỏi bộ phận thông tin của chúng tôi:
- Vẫn giữ được liên lạc bằng vô tuyến với các đơn vị chứ?
- Vâng ạ!
Anh Cường, tiểu đội trưởng tiểu đội vô tuyến sóng cực ngắn đáp.
- Cố gắng giữ liên lạc nhé! Mất liên lạc lúc này là mất luôn trận địa đấy.
- Báo cáo! Đại đội 2 xin hoả lực bắn mạnh vào toạ độ M ạ!
- Hả! Hỏi lại ngay, bắn vào đấy tức là bắn thẳng vào trận địa của đại đội 2 đang phòng ngự à?
Anh Hoàng lệnh cho bộ phận thông tin điện hỏi lại. Chiến sĩ thông tin vô tuyến sau khi kiểm tra lại thông tin từ đại đội 2 lập tức báo cáo:
- Bọn địch đã tràn lên trận địa phòng ngự của đại đội 2 rồi. Đại đội trưỏng Bổn xin pháo bắn trùm lên trận địa của đơn vị ạ!
Chính trị viên Hoàng hơi nhíu mày. Tình hình thật là nguy ngập. Cả hang chỉ huy tiểu đoàn ắng hẳn đi. Theo lệnh của chính trị viên tiểu đoàn, số anh em thông tin chúng tôi chỉ để lại một chiến sĩ vô tuyến còn thì tất cả ra cửa hang chính tham gia chặn địch cùng các chiến sĩ đang phòng ngự ở đây. Tôi và thằng Minh lựa lúc bọn địch ngớt bắn một chút nhao ra tụt ngay xuống gộp đá to bên trái cửa hang. Trợ lý tham mưu Thọ đang chỉ huy bộ phận chiến đấu ở đây. Vừa nhìn thấy tôi, anh Thọ đã quát:
- Thâm thấp cái đầu xuống kẻo bọn nó mượn mất cái đội nón bây giờ!
Tôi thở hổn hển hỏi lại:
- Tình hình thế nào hả anh?
- Nó đông bỏ mẹ, cứ đà này không biết có giữ được đến tối không! Mày nhìn mà xem kìa!
Tôi hơi nhô người lên nhìn theo tay anh chỉ. Phía trước trận địa của đại đội 2 hàng chục chiếc xe tăng của địch đang lổm ngổm bò vào. Hai chiếc xe tăng đang sục đầu xuống dòng suối vượt sang thị trấn. Còn trên cánh đồng dưới chân đồn công an vũ trang hơn chục chiếc xe tăng địch đang chĩa nòng pháo hướng lên chỗ chúng tôi đang phòng ngự. Bộ binh địch vừa đánh lên trận địa của đại đội 2, vừa tổ chức bắn vào khu đồi cửa hàng thực phẩm. Đội hình tiến công của chúng hướng về phía hang chỉ huy của tiểu đoàn.
Trợ lý Thọ hỏi:
- Mày kiểm tra xem có viên đạn lửa nào không đưa cho tao. Có mấy thằng đang nấp sau cái cây rơm dưới chân núi kia. Kiếm tao viên đạn lửa tao bắn cháy cái cây rơm, dọa cho chúng nó một phen...

(còn nữa)
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
huonghn76
Thành viên
*
Bài viết: 1166


WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 11:34:10 am »

Câu chuyện của bác sinh động và mùi mẫn quá. 17.02.1979 bọn tôi chiến đấu ở tuyến Lạng Sơn nhưng chuyện tẻ nhạt hơn chuyện của bác nhiều . Chúc bác sức khoẻ và viết đều cho bọn tôi học tập.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2012, 12:14:12 pm gửi bởi huonghn76 » Logged
thinhe677f346
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 573


Thịnh e677/f346 cùng phu nhân.


« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 11:55:31 am »

@ Mr . Ngan...cho tôi hỏi bạn vì bạn ở trên đó bản Táp Ná..hay là Táp Lá...đành rằng nó là ở huyện Thông Nông...vậy đọc thế nào cho chuẩn Ná hay Lá...tôi thường gọi là Táp Lá..rượu ngon nổi tiếng tỉnh Cao Bằng
____________________________________________________________________________
_Ná hay Lá gì cũng được nhưng nó lằm ở Huyện Thông Nông có con đường đi tắt về Nguyên Bình. Nói tóm lại là ngày đó quân TQ đánh xuống Thông Nông đến trưa ngày 17/2 chúng đã chiếm được rồi đến triều tối thì chúng xuống đến Mỏ Sắt rồi đánh thốc lên Hà Quảng lên E 246 bị cô lập hoàn toàn và lằm trong vòng vây của quân TQ lên E 246 phải vượt dẫy núi đá rút qua Xã Đa Thông xuống Thông Nông rồi đi đường Táp Lá về Nhuyên Bình nói chung là E 246 đi sau quân TQ năm 81 bọn tôi lên đi vào con đường Nội Phan con đường đi tắt xuống dỉnh dèo Mã Quỷnh vẫn thấy mộ của lính E 246 lằm dải dác ở các sườn đồi ( Huyện Thông Nông ngày đó chưa có Quân Chủ Lực phòng ngự lên quân TQ đi xuống như chỗ không người ).
Logged

Biên cương có giặc ta quyết giữ
Hậu phương yên bình gắng dựng xây.!
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 01:42:23 pm »

Táp Ná,  Grin
Logged

Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2012, 03:42:11 pm »

...Tôi định nhô lên để quan sát thì anh Thọ kéo ngồi thụp xuống:
- Mày muốn chết à. Chúng nó bắn tỉa lợi hại lắm.
Tôi nghiêng người tìm băng đạn trong bao-xe đưa cho anh Thọ. Trong băng có mấy viên đạn có vạch sơn màu đỏ. Anh Thọ thay băng đạn mới. Anh bò sang bên trái gộp đá tìm vị trí thuận lợi điểm xạ liền mấy loạt vào cái cây rơm ở chân dốc núi. Rơm khô bốc cháy rần rật. Mấy tên lính đặc nhiệm của địch chạy toé ra, rạt về phía sau.
Tôi và anh Thọ đang khoái trí cười ngặt nghẽo thì một trận pháo kích dữ dội của địch trùm lên cả quả núi hang chỉ huy. Khói bụi, đất đá văng mù mịt. Anh Thọ quát:
- Tất cả rút vào trong hang tránh pháo ngay!
Các chiến sĩ ở hai bên cửa hang vội nhào vào trong hang. Tôi vừa lao lên thì đạp luôn vào một hòn đá đã bị đạn địch bắn lỏng chân. Hòn đá trượt xuôi kéo tôi tụt theo xuống một đoạn. Tôi cố toài người bò lên dốc. Đá tảng từ trên đỉnh núi lăn tồng tộc xuống như bẫy đá tuột dây. Anh Thọ gào lên:
- Hà ơi! Cố leo lên hang ngay, nhanh lên.
Tôi cố miết mũi giày vào vách đá nhao lên. Chật vật một lát tôi cũng bám vào được một mô đá sát cửa hang. Anh Thọ giơ tay cho tôi bám rồi kéo vào hang. Tôi vừa nhào người lăn được vào trong cửa hang thì một quả đạn pháo địch choảng đúng ngay sát cửa hang. Khó bụi mù mịt cuồn cuộn xộc vào trong hang. Hú vía. "Mẹ kiếp! Chỉ chậm vài giây thì mình tan xác với chúng nó!". Tôi lẩm bẩm.
Anh Thọ bảo:
- Cố giữ được đến tối là yên tâm.
- Sao lại chỉ cần giữ đến tối hả anh?
- Đó là mệnh lệnh của chính trị viên Hoàng.
Tôi nhìn vào giữa hang. Chính trị viên Hoàng tay chắp sau lưng đi đi lại lại có vẻ anh đang phải suy tính điều gì đó rất căng thẳng. X
Có điện từ xê 2. Bọn địch tổ chức tấn công vào trận địa rất ác liệt. Khả năng không giữ nổi nữa. Đại đội hoả lực đã cạn kiệt đạn cối 82 nên cũng chả chi viện cho đại đội 2 được nữa. Chính trị viên Hoàng quyết định thành lập một tiểu đội cơ động chiến đấu chi viện cho đại đội 2. Đó là các chiến sĩ thông tin, trinh sát, vận tải đang có mặt trong hang. Trọng, tiểu đội phó truyền đạt được chỉ định chỉ huy. Trọng dẫn năm chiến sĩ tụt cửa hang phụ vòng phía sườn trái mỏm núi tụt xuống núi đánh địch chi viện chia lửa cho đại đội 2. Bộ phận chiến đấu nhỏ nhoi của Trọng ôm B41 vận động dọc theo con mương nhỏ phía trước nhà bưu điện thị trấn. Họ lợi dụng các bờ ruộng bò ra giữa cánh đồng để chặn bắn những chiếc xe tăng của bọn địch đang vượt qua con suối cạn đánh tạt sườn bên trái đại đội 2.
Với hai khẩu B41 và vài quả đạn năm chiến sĩ cảm tử ấy đã bắn cháy, bắn đứt xích ba chiếc xe tăng của bọn địch khi chúng vừa nhô lên khỏi dòng suối cạn. Tuy nhiên, thấy hoả lực của ta bất ngờ giữa cánh đồng, bọn bộ binh giặc từ các ngõ ngách trong thị trấn lao ra bắn xối xả. Từ trên cửa hang chúng tôi nhìn rất rõ từng chiến sĩ trong tiểu đội cảm tử ngã gục giữa cánh đồng. Cảnh những người lính đau đớn giãy giụa trước khi chết trông thật xót thương và đau nhói trong tim. Có một người bị thương, cánh tay đỏ máu cứ giơ lên hướng lên phía cửa hang vẫy vẫy có vẻ cầu cứu nhưng chúng tôi không thể xuống được. Cái chết đến với anh ấy thật chậm chạp. Anh chết ngay trước mắt chúng tôi.
Trên mỏm đồi đại đội 2 chốt giữ súng vẫn nổ. Như thế là đại đội 2 vẫn giữ vững được trận địa. Sau này tôi mới biết để giữ vững trận địa trong vòng hai tiếng đồng hồ chờ trời tối gần một nửa đại đội 2 đã hy sinh. Trong đó có Trần Công Tân, người bạn thân cùng nhập ngũ với tôi. Gần một nửa đại đội hy sinh, cái giá thật đắt, thật đau. Vị trí chỉ huy tiểu đoàn của chúng tôi được bảo vệ đến tối là nhờ một nửa đại đội 2 và những chiến sĩ tiểu đội cảm tử hy sinh như thế.
Chính trị viên Hoàng căn dặn trung đội trưởng trung đội vận tải:
- Bằng mọi giá tối nay cũng phải lấy cho được thi hài năm đồng chí đưa đi mai táng nhé!
Trung đội trưởng Hanh hứa nhất định sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Anh Hoàng cũng dặn tôi điện ngay cho chỉ huy đại đội 2 bằng mọi cách phải chôn cất hoặc đem các liệt sĩ, đưa thương binh ra khỏi trận địa. Đại đội 2 là đơn vị cuối cùng của tiểu đoàn rút lui ra khỏi thị trấn Sóc Giang. Họ đã chiến đấu kiên cường nơi cửa ngõ thị trấn cho các đơn vị rút đi.
Cuộc rút lui của đại đội 2 vô cùng gian khổ. Bởi gần như trên lưng tất cả những người lính đại đội 2 rút ra khỏi trận địa là xác một người đồng đội của họ. Những cái xác được buộc chặt trên lưng người lính chiến. Họ phải vừa cõng đồng đội vừa đánh địch trên đường máu rút lui. Có nhiều viên đạn, mảnh pháo giặc đã không găm được vào thân thể người còn sống nhờ những người đã chết vẫn chở che cho họ trong một cuộc phá vây vượt ra khỏi cái thị trấn biên giới hoang tàn nhung nhúc những tên xâm lược.
Chúng tôi đón các chiến sĩ của đại đội 2 ở chân núi đá lối lên Lũng Mật. Nhìn đội hình những người từ trong vòng lửa vượt ra tơi tả, trên lưng cõng liệt sĩ, chính trị viên Hoàng ngậm ngùi nói với chúng tôi:
- Họ đã chết cho chúng ta sống để rút lui an toàn đấy! Không được một ai quên điều này...
Chúng tôi lầm lũi đi trong đêm đầy gió bấc. Cái lạnh lùng của sương gió, cái chết chóc của chiến tranh vây bủa xung quanh. Và, cái chết luôn đồng hành cùng chúng tôi suốt chặng đường chinh chiến gian lao. Lời căn dặn của chính trị viên Hoàng khiến tôi cứ thấy nao nao trong lòng. Nhìn những thi thể đồng đội tả tơi đẫm máu và lấm láp đầy bùn đất, tôi cứ nghĩ mãi về số phận của con người trong chiến tranh. Nó nhỏ nhoi và mong manh quá. Nhưng nó cũng thật là bi hùng, vĩ đại quá. Cái chết chẳng còn là gì so với những con người đã dám đối mặt với nó trong từng trận đánh giữa vòng đạn lửa tơi bời.
Tôi chợt nhớ tới Mai. Em cũng đã hoá thân vào trời đất bao la trong một trận đánh không cân sức. Em đã đi rất xa, rất xa rồi. Nhưng hơi thở của em vẫn đang ấm nóng ở trên vai tôi. Em như đang ở đâu đây cùng những người lính chiến. Đôi mắt sáng trong của em như vẫn dõi theo tiếp sức cho tôi suốt chặng đường hành quân đầy gian khổ.
Dọc lối mòn ngược lên đỉnh núi, những mô đá lô nhô trong đêm trông tựa như những nấm mồ liệt sĩ lạnh lẽo nhưng điềm đĩnh kiên gan trấn trạch ở nơi biên ải...
Tôi và Lam cùng nhập ngũ, lại là người cùng làng. Lam kém tôi một tuổi. Nếu xét về  họ hàng xa bắn "ba tầm súng đại bác" thì Lam còn phải gọi tôi là anh họ. Nhưng vì cùng lớn lên chung ngõ, học với nhau từ lớp một cho đến hết cấp ba nên chúng tôi cứ mày tao quen rồi. Khi cùng học phổ thông, Lam học môn toán rất giỏi. Nhiều lần nếu không có nó cho nhìn bài thì chỉ còn nước nộp giấy trắng.
         Tôi chỉ bực tính tình Lam nhút nhát, hay sợ ma. Ngày xưa ở làng quê không có điện. Đêm đến quanh năm ánh đèn dầu lù mù. Buổi tối ngồi học chúng tôi cũng chỉ có ánh sáng của những cái đèn dầu nhỏ như hạt đỗ. Đêm đến xóm làng âm u. Đường làng tối om. Tối nào học nhóm nếu tôi đi qua cổng không gọi thì Lam không dám đi. Con đường sang xóm bên với các bạn cùng nhóm phải đi qua một bãi tha ma chi chít mả cũ, mả mới có những con đom đóm to bằng hạt ngô bay chập chờn xanh lét, các vàng thằng Lam cũng chả dám một mình đi qua. Ban ngày vắng người nếu không có tôi đi cùng là nó phải đi vòng xa thêm mấy cây số để đến lớp.
         Vào bộ đội tôi và thằng Lam vẫn ở cùng tiểu đội. Sau thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, nhờ năng nổ, xông xáo, xung phong nhận các nhiệm vụ nên tôi được bổ nhiệm giữ chức vụ tiểu đội phó. Còn thằng Lam đã là quân nhân rồi mà mãi cũng không bớt được cái tính nhút nhát. Những ca gác đêm một mình một vị trí, hay đi chuyển công văn khẩn qua cánh rừng hoang vắng là nó rất ngại. Nhiều lần tôi phải xin đổi phiên gác cho nó, tránh bớt những thời điểm đêm khuya thanh vắng hay các vị trí đứng gác gần bãi tha ma hoặc chỗ ngôi miếu cổ cạnh doanh trại.
         Khi đơn vị hành quân lên tuyến trước, tôi và Lam đều được biên chế vào tiểu đội thông tin hữu tuyến do anh Bùi làm tiểu đội trường.
         Thằng Lam vẫn có ước mơ làm sinh viên đại học. Nó bảo tôi: "Khi nào ra quân nhất định sẽ thi vào đại học. Em sẽ học ngành nông nghiệp để tìm ra một giống lúa mới có năng xuất thật cao phù hợp với vùng đất phèn chua, lầy thụt quê mình". Tôi bảo: "Mày chỉ viển vông, chiến tranh, đánh nhau đến nơi rồi còn học hành gì nữa! Vứt mẹ mấy cuốn sách đi mà đeo thêm vài cân gạo...". Thằng Lam im lặng không tranh cãi với tôi nữa. Nó và thằng Đan gặp nhau lúc nào là cũng thấy bàn về định luật Niu-tơn và bài toán của Ga-loa chưa giải được...
         Tình hình biên giới căng thẳng, chiến tranh có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi sự chuẩn bị cho cuộc chiến đều rất khẩn trương. Để phòng tình huống xấu xảy ra trong chiến đấu, mỗi người chúng tôi đều có một mã số riêng thêu trên nắp túi áo bên trái và in vào mảnh giấy nhỏ bằng ba đầu ngón tay ép plastic để trong túi quần, túi áo. Một hôm nhận quân trang chiến đấu gồm các loại tăng, võng, bi đông về, tiểu đội trưởng Bùi tập trung cả tiểu đội lại cấp phát cho mọi người. Còn một cuộn vải cuối cùng anh bảo:
         - Đây là hai tấm vải dùng để khâm liệm, gói ghém liệt sĩ! Tiểu đội giao cho đồng chí Tự tiểu đội phó và đồng chí Lam mỗi người giữ một cái.
         Nghe vậy cả tiểu đội đều lặng đi. Thằng Lam mặt tái mét, cắt không còn giọt máu. Tôi cũng hơi thảng thốt nhưng định thần được ngay. Chiến tranh là như vậy. Khi nó chưa nổ ra thì công tác chuẩn bị phải thật chu đáo, tỷ mỷ đến mức tối đa để người chiến sĩ khi vào trận có thể chiến đấu tốt nhất và xử lý tốt nhất mọi tình huống sẽ xảy ra.
         Vừa nghe tiểu đội trưởng Bùi nói, thằng Lam chối đây đẩy:
         - Em không... không giữ cái đấy đâu...
(còn nữa)
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2012, 08:45:36 am »

...Nhìn mặt thằng Lam tái dại, đôi mắt lộ vẻ hoảng hốt và như sắp phát khóc tôi thấy thương nó quá. Anh em khác trong tiểu đội cũng ngại phải giữ tấm vải liệm nên tìm cách lảng đi. Tôi ngần ngừ rồi nói:
        - Thôi được! Nếu không ai muốn giữ thì tôi xin nhận cầm một tấm vải liệm.
         Giọng tôi cũng hơi run run. Anh Bùi bảo:
 - Đồng chí Tự, tiểu đội phó sẽ nhận quản lý một cái, cái còn lại giao cho đồng chí Hà.
 Tôi nhận tấm vải. Tôi trải tấm vải liệm ra để gấp lại cho gọn. Đó là một tấm vải mỏng gần giống cái vỏ chăn đơn nhưng người ta chỉ may kín hai cạnh, để hở hai cạnh. Tấm vải có đính sẵn ba giải dây vải ở giữa và hai đầu. Khi dùng khâm liệm thì chỉ cần đặt xác người vào gấp lại, dùng ba giải dây may sẵn đó để bó buộc ngang lưng, buộc cổ và buộc chân, vừa nhanh vừa gọn.
        Tôi nhét tấm vải liệm vào ba lô đeo về ở.
        Từ lúc tôi mang cái ba lô về nhà ở, thằng Lam vội vàng ôm chăn chiếu chuyển ra một góc nhà sàn nằm. Lâu nay nó vẫn nằm cạnh tôi. Cũng từ ấy không bao giờ thấy nó lục ba lô của tôi tìm lương khô hay lấy kem đánh răng nữa.
        Chiến tranh nổ ra. Những trận đánh vô cùng ác liệt. Quân địch bị tiêu diệt nhiều sinh lực nhưng đơn vị chúng tôi cũng bị nhiều tổn thất. Sau một tuần bị bao vây trong thị trấn Sóc Giang, tiểu đoàn chúng tôi gần cạn hết đạn dược, lương thực, nước uống, quân số bị tiêu hao. Đêm hôm trước khi xảy ra trận đánh ở mỏm Đầu Bò anh Bùi căn dặn chúng tôi:
 - Ngày mai sau khi dụ bọn địch vào bãi mìn chúng ta sẽ rút đi. Nhớ là cố gắng đem hết súng đạn, lương thực. Cái gì không cần thiết thì bỏ lại vì khi đột phá vòng vây chúng ta sẽ phải vượt qua suối và leo lên một vách núi dựng đứng rất khó đi và nguy hiểm.
  Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị chiến đấu và chuẩn bị rút lui. Quần áo ngoài bộ đang mặc trên người thì thêm một bộ để thay đổi, chỉ đem theo tăng võng, chăn màn vứt bớt, hai cái khăn mặt, hai đôi tất vừa mới phát cũng vứt một, giữ một cho đỡ nặng. Giấy tờ, nhật ký, sổ sách ghi chép chúng tôi đốt hết đi để đề phòng khi phá vây bị bắt lọt vào tay bọn địch. Trong túi quần, túi áo, trong ba lô chỉ còn có những mảnh giấy ghi mã số riêng của từng người để lỡ ai hy sinh thì chôn theo đánh dấu mộ phần.
  Nhưng sau trận đánh ở mỏm Đầu Bò anh Bùi ở lại chặn giặc cho chúng tôi rút đi. Sau trận huyết chiến ở hang chỉ huy tiểu đoàn phải rút chạy lên Lũng Mật, anh em tiểu đội phân tán mỗi người một đơn vị thì tôi và Lam vẫn cùng ở một bộ phận với nhau.
  Còn nhớ đêm rút lui tôi được giao giao nhiệm vụ cùng trợ lý tham mưu Thọ chỉ huy bộ phận đi cuối cùng khoá đuôi đội hình, sẵn sàng lập thành một chốt đánh chặn địch truy kích cho đơn vị rút lui an toàn. Tôi dặn anh em trong bộ phận:
 - Nhớ bám sát nhau! Lúc qua bản Nà Nghiềng phải hết sức nhẹ nhàng tránh gây tiếng động chó sủa, bọn địch phát hiện.
 Tôi kéo tay thằng Lam khẽ dặn:
 - Đi sát ngay sau tao nhé!
 - Vâng! A... n... h... cứ... yên... tâm.
 - Sao mày có vẻ run lập cập thế?
 - Em thấy hơi sợ...
 - Không việc gì đâu, đừng lo.
 Tôi động viên thằng Lam. Suốt tuần vừa rồi nó được phân công trực máy điện thoại ở trong hang sở chỉ huy chưa phải trực tiếp đánh trận nào.
 Đúng như chỉ huy tiểu đoàn đã tính toán. Đơn vị chúng tôi bí mật vượt qua vòng vây của địch một cách an toàn. Chúng tôi phải mất gần như suốt đêm mới vượt qua được vách núi cheo leo, đá tai mèo sắc như dao để lên Lũng Mật. Trời sáng rõ. Sương mù tan. Nhìn xuống dưới cánh đồng thấy rõ cả xe tăng và bộ binh địch đang lúc nhúc hành quân. Thỉnh thoảng tiếng pháo lại nổ chói tai vì bắn vào vách đá và gây nên những vọng âm mãi mới tan làm màng nhĩ tai u u rất khó chịu.
 Chúng tôi được lệnh dừng lại nghỉ. Trời rét lắm lại ở núi đá nên càng thêm lạnh buốt. Tôi vội cùng anh em tìm những khe đá hơi bằng phẳng rải tăng võng ra để nằm tranh thủ ngủ để tối đến còn hành quân tiếp hoặc xuống bản tìm kiếm lương thực. Chợt thấy thằng Lam đang ôm súng ngồi co ro ở một góc khe đá tôi bảo:
 - Mày tìm chỗ phẳng nằm mà ngủ một lát đi chứ! Tối nay còn đi lấy gạo đấy.
 - Lúc vượt qua suối vì đỡ anh thương binh trượt ngã, cái ba lô của em bị trôi mất rồi.
 - Thế thì nằm vào đây với tao cho khỏi rét mà ngủ.
 Thằng Lam vừa chui vào nằm xuống cạnh tôi đã bật ngay dậy vẻ hốt hoảng:
 - Anh... anh... dám đắp bằng tấm vải liệm à?
 Thì ra nó vừa nằm xuống thì cái dây buộc của tấm vải liệm loằng ngoằng vướng ngay vào cổ. Tôi phì cười:
 - Đó chỉ là một tấm vải thôi, việc gì mà sợ! Nằm xuống cạnh tao đi cho ấm!
 Lam lùi ra ngồi dựa vào một mô đá và chối đây đẩy:
 - Thôi... thôi... anh cứ ngủ đi... em... em chịu thôi...
 Tôi cáu vì cái tính nhút nhát của nó:
 - Thế thì mặc xác mày!
 Nói vậy nhưng tôi cũng không ngủ được. Tôi lồm cồm ngồi dậy lột cái võng đang rải ném cho nó. Đoạn, tôi chui hẳn vào trong tấm vải liệm, nửa rải, nửa đắp rồi ngủ thiếp đi vì mệt.
 Đơn vị chúng tôi cứ ban ngày thì ẩn nấp trong các thung lũng, khe đá, buổi tối thì chuyển quân sang vị trí khác tránh sự truy kích của bọn địch và tổ chức cho các bộ phận đột nhập xuống bản tìm lương thực. Nhiều hôm chạm địch không lấy được lương thực mà còn tổn thất thêm lực lượng. Quân số của đơn vị cứ vơi dần sau những chặng hành quân gian khổ trên vách đá núi cao đói rét và bị địch đuổi đánh. Một số anh em lực lượng thanh niên xung phong bị thất lạc chạy lên núi cũng nhập luôn vào đội hình đơn vị chúng tôi.
 Sau trận đơn vị bị lực lượng tinh nhuệ của địch tập kích vào đội hình trú quân thì cả hai tấm vải liệm của tiểu đội tôi đều được sử dụng hết. Cũng từ sau hôm ấy thằng Lam mới dám nằm gần tôi. Hai đứa đắp chung một cái võng mỏng manh. Lúc tạnh thì tăng rải làm chiếu, võng làm chăn cho ấm. Lúc mưa thì rải võng làm chiếu, tăng làm chăn đắp cho khỏi ướt. Mùa Xuân năm ấy sao mà mưa rét nhiều đến thế. Cái rét, cái đói hành hạ chúng tôi ngày càng khốn khổ. Rồi cả cái võng hai đứa đắp chung ấy cũng không còn. Chúng tôi không nỡ để một cô thanh niên xung phong nằm xuống không có cái gì bó buộc.
 Một buổi sáng còn sương muối còn mù mịt khắp các khe núi tiểu đội phó Tự đã gọi tôi:
 - Hà ơi đi ngay!
 - Đi đâu!
 - Đi xuống bản Nà Sác! Bộ phận của thằng Lam tối hôm qua xuống bản tìm kiếm lương thực đến giờ vẫn chưa thấy về! Có chuyện không hay rồi.
 Tôi vội vàng xách súng cùng tiểu đội phó Tự và một chiến sĩ trinh sát tiểu đoàn tụt xuống dốc núi. Chúng tôi tìm được chiến sĩ Lai nằm gục ở chân dốc. Cái ba lô gạo nó đeo trên lưng thấm máu. Lai bị thương nhẹ vào đùi nhưng vì đói quá nên lả đi không leo lên núi được. Lai thều thào cho chúng tôi biết hai người vào bản lấy được ít gạo, ngô quay ra thì gặp địch. Lam đã dừng lại chặn địch và bảo Lai rút lui. Lam đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Lam bị bọn địch bắn chết bên bờ suối.
...
(còn nữa)
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #27 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2012, 02:31:39 pm »

...  Mãi đến tối chúng tôi mới tiếp cận được chỗ Nam hy sinh. Chúng tôi đưa Nam qua suối, rửa mặt cho nó. Chúng tôi dùng dây võng buộc chặt Lam vào người để leo lên vách đá tai mèo. Mấy anh em chúng tôi thay nhau cõng nó lên trên núi.
  Chúng tôi dùng xẻng bộ binh cố đào một cái huyệt chỉ sâu như một cái rãnh trong khe đá rồi đặt Lam xuống. Không còn một tấm vải liệm nào để bó buộc cho nó. Trước khi lấp đất, tôi lục tìm trong cóc ba lô lấy ra cái khăn mặt duy nhất của mình phủ lên mặt cho Lam để cát bụi khỏi rơi vào mắt nó.
  Sau này, Lam đã được đưa về quê hương. Hài cốt của nó được gói trong tấm vải liệm bằng lụa và đặt trong hộp gỗ sạ hương phủ quân kỳ mai táng trong nghĩa trang liệt sĩ của huyện. Lam đã trở về với quê hương với gia đình, làng xóm như thế. Chiến tranh lùi xa rồi nhiều người sẽ lãng quên vì cuộc mưu sinh thường nhật. Nhưng câu chuyện về Lam và tấm vải liệm thì tôi sẽ mãi chẳng bao giờ quên.
Trời đã về khuya. Gió bắc thổi mạnh. Cái lạnh nơi biên ải như càng lạnh lẽo hơn trong đêm chiến tranh đầy bom đạn và chết chóc. Tiếng pháo của bọn giặc thỉnh thoảng lại nổ oành oành vọng vào vách đá tạo thành âm thanh man dại nối dài không dứt. Những đốm lửa bùng lên chỗ đầu đạn rơi tạo nên những ánh sáng chập chờn, ma quái.
Số các chiến sĩ mới được bổ sung về cơ quan tiểu đoàn bộ đã có mặt tập kết ở tràn ruộng phía sau mỏm núi đá. Tôi được phân công giúp trợ lý tham mưu Thọ đi nhận quân cho tiểu đoàn bộ. Tôi và trợ lý tham mưu Thọ phải lần từng bước đi hết hàng quân để nhận mặt từng chiến sĩ mới. Đến cuối đội hình tôi chợt giật mình ngạc nhiên nhận ra một người trong số tân binh đang đứng trước mặt mình. Tôi khẽ kêu lên:
- Thầy Thám! Sao thầy lại ở đây?
- Ơ... - Thầy Thám cũng ngạc nhiên: - Tôi... tôi hiện đang là quân nhân mà!
- Thầy nhập ngũ từ bao giờ, mà sao lại lên tận trên này?
- Tôi nhập ngũ ngay sau khi có lệnh tổng động viên...
Tôi chợt hiểu. Gần tháng trời nay khi chiến tranh nổ ra, chúng tôi lăn lộn chiến đấu trong vòng vây hãm của quân thù. Cái sống, cái chết cận kề. Ngày giữ chốt, đêm đi phản kích giành lại điểm tựa hoặc lần mò xuống các bản làng tìm lương thực, lấy nước, thông tin chúng tôi mù mờ chả rõ ràng gì ngoài mệnh lệnh chiến đấu. Trung đội bị tổn thất, cầm cự mãi nhiều khi tưởng không giữ nổi trận địa nữa. Ở tuyến trước chúng tôi không biết là ngay sau khi chiến tranh nổ ra đã có lệnh tổng động viên. Nhiều người như thầy Thám được gọi nhập ngũ, huấn luyện sơ sài rồi được đưa ngay lên tuyến trước bổ sung vào các đơn vị chiến đấu đã bị hao hụt quân số. Tôi hỏi:
- Thầy đã biết sử dụng những loại súng nào?
- Chỉ biết mỗi súng AK, đã được bắn bài 1, ba viên trúng bia được hai viên, đủ điểm đạt yêu cầu...
Có tiếng cười khùng khục trong hàng quân. Trợ lý tham mưu Thọ động viên các chiến sĩ mới:
         - Các đồng chí yên tâm, anh em chiến sĩ cũ sẽ hướng dẫn thêm cho các đồng chí sử dụng các loại vũ khí trang bị khác, nhất là các loại hỏa lực đơn vị ta được trang bị như cối 60, trung liên, đại liên, B40, B41...
 Sau khi trợ lý Thọ đọc biên chế số anh em chiến sĩ mới về các tiểu đội, tôi gặp lại thầy Thám và dặn:
 - Thầy nhớ phải thật cẩn thận nhé!
 - Anh cứ yên tâm...
 Nghe thầy nói như vậy nhưng tôi vẫn không yên lòng. Nhìn cặp kính cận dày cộp trên mắt thầy tôi cứ thấy lo lo cho thầy. Từ ngày lâm trận rồi tôi mới hiểu, chiến tranh khác hẳn những miêu tả trong những bài thơ ca viết về nó mà thầy từng giảng cho chúng tôi nghe ngày còn đi học.
 Đó là năm cuối cùng tôi học cấp 3. Thầy Thám về trường tôi công tác. Thầy còn rất trẻ, có lẽ chỉ hơn cánh học sinh cuối cấp chúng tôi vài tuổi. Là giáo viên mới ra trường, thầy Thám được phân công dạy các lớp dưới. Nhưng thầy vốn là một học sinh giỏi văn, từng đoạt giải nhì môn văn toàn miền Bắc nên thầy được hiệu trưởng phân công kèm cặp, phụ đạo thêm cho nhóm học sinh giỏi môn văn của khối lớp 10 chúng tôi. Thầy giảng văn rất hay. Thầy sinh hoạt cùng chi đoàn lớp tôi. Giữa tôi và thầy có nhiều kỷ niệm vui buồn. Thầy giúp tôi rất nhiều trong quá trình học tập và tiếp cận với văn học. Nhiều bài văn, bài thơ của tôi được thầy góp ý để sửa chữa, có bài được đăng báo từ ngày ấy. Nhưng cũng có một chuyện buồn nho nhỏ mà tôi thầm oán trách thầy mãi.
 Lần  vào khoảng cuối mùa đông năm 1973. Hôm đó chi đoàn lớp tôi tổ chức lao động lấy tiền mua sách vở giúp các bạn nghèo và mua sổ tay, giấy pơ-luya, tem thư tặng các bạn sắp lên đường nhập ngũ. Chúng tôi tiến hành đào đãi sỏi ở dưới sông Phó Đáy đem lên bán cho công trường khai thác cát sỏi. Thấy việc đãi cát ở giữa dòng sông cạn rất vất vả và năng xuất thấp, tôi và mấy bạn nữa vào sát bờ sông phía bên lở để moi sỏi. Ở những chỗ ấy sỏi nhiều, chả phải đãi lâu mất thời gian, chỉ việc cào sỏi vào rổ sảo khua khua qua nước cho sạch đất là gánh lên bờ. Giữa lúc chúng tôi đang mải mê làm thì thầy Thám hết tiết dạy buổi chiều ra sông tham gia cùng lao động với chúng tôi. Thấy cách mà chúng tôi lấy sỏi thầy hốt hoảng kêu lên:
 - Dừng lại ngay, các bạn khai thác sỏi kiểu này rất nguy hiểm!
 - Không việc gì đâu thầy ơi!
 - Không là thế nào! Cứ moi sâu vào bờ thành một cái hầm ếch như thế này, bờ sông bất ngờ sụp xuống nguy hiểm lắm!
 - Thầy yên tâm! Khi nào bờ sông sắp sập thì nó phải kêu răng rắc chứ, lúc đó chạy vẫn kịp.
 Nhưng đất sập thì làm gì có chuyện kêu "răng rắc" như cây sắp gãy, nhà sắp đổ. Giữa lúc tôi và thầy còn đang tranh luận thì bờ sông sụp xuống thật. Thấy đất vụn đột  nhiên rơi lả tả tôi hét to:
 - Đất sập đấy... chạy... chạy... ngay...
 Tôi và mấy bạn nữa vội lao ra ngoài hầm ếch khai thác sỏi. Riêng cô bé Lương đang mải mê moi sỏi thì không để ý. Thầy Thám vội lao vào kéo Lương ra khỏi hầm ếch. Một tảng đất to ụp xuống. Lương bị đất đè chẹn ngang người, mặt úp xuống mặt sông cạn. Tôi nhào đến cố nâng đầu Lương lên cho khỏi bị ngạt nước. Trong khi đó thì thầy Thám và các bạn khác ra sức moi đất để lôi cô bé ra khỏi nơi nguy hiểm. Khi chúng tôi đưa được cô bé Lương chạy ra xa thì cả một đoạn bờ sông đổ sập xuống. Thật hú vía. Không ai việc gì nhưng tất cả bị một phen sợ hãi. Buổi lao động phải bỏ dở chừng vì gần như toàn bộ quang gánh, cuốc xẻng đều bị đất sập vùi lấp hết.
 Buổi sinh hoạt chi đoàn sau đó tôi bị thầy Thám phê bình rất gay gắt vì tổ chức cho đoàn viên lao động mất an tòan. Cũng kể từ đó tôi không ưa gì thầy Thám nữa. Khi tôi lên đường nhập ngũ thì thầy cũng được chuyển về trường chuyên của tỉnh. Không ngờ hôm nay tôi gặp lại thầy ở nơi biên giới xa xôi này.   
 Nhận chiến sĩ mới xong, một số được bổ sung ngay vào các bộ phận chiến đấu trấn giữ điểm chốt ngăn chặn quân giặc từ phía biên giới tràn xuống thị trấn Sóc Giang. Tình hình chiến sự ngày càng ác liệt. Trong số chiến sĩ mới bổ sung về đơn vị có người chưa đủ một ngày có tên trong biên chế của trung đội thì đã hy sinh. Thầy Thám qua mấy trận vẫn bình yên. Một lần gặp tôi thầy khoe:
 - Tôi đã biết cách sử dụng súng phóng lựư M79 và súng chống tăng B41 rồi đấy!
 Tôi dặn:
 - Trong chiến đấu thầy phải thật cẩn thận, nhớ lấy đoạn dây dù buộc cặp kính cận đeo vào cổ cho chắc kẻo đạn pháo nổ gần văng mất kính coi như bị mù đấy!
 Thầy Thám cười bắt tay tôi rồi rẽ vào một ngách chiến hào. Nhìn theo hút thầy tôi chợt nghĩ: "Sau trận này trở lại trường, thầy mà giảng về văn học chiến tranh sẽ còn hay hơn nữa...".
...
(còn nữa )
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
tung677
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 608



« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2012, 11:04:13 pm »

Tôi vừa giới thiệu các bài viết này...cho các CCB E 246 F346 ( khu vực Hà Nội,đã từng là quân của e 246 qua từng thời kỳ )...là đơn vị trực tiếp đánh trả quân TQ xâm lược trong loạt bài viết này nhiều bác vừa đọc vừa khóc...các bác rất mong được đọc tiếp,qua tôi chuyển lời đến Mr .Ngan lời cảm ơn trân thành nhất .
Logged
Mr.Ngan
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 540



« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Tám, 2012, 08:56:54 am »

Cảm ơn bạn Tunge677 nhiều, tôi sẽ cố gắng pót hết câu chuyện để nhiều người biết đến cuộc chiến 30 ngày tàn khốc và máu lửa, hoành tráng và bi thương xảy ra trên mảnh đất Cao Bằng thân thương cách đây hơn 30 năm giữa ta và thằng bạn láng giềng đầy hiểm độc.
Logged

HOA SIM BIÊN GIỚI
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM