Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:54:53 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh Liên Xô  (Đọc 82930 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 07:58:35 pm »


Trung tướng P. S. Bilaonov (17/10/1919-28/05/1996)

Trung tướng Bilaonov Pavel Semenovich sinh ngày 17 tháng 10 năm 1919 tại thành phố Shimanovsk vùng Amur trong một gia đình lao động người Osetin. Ông là thành viên của Đảng Cộng sản từ năm 1942. Tốt nghiệp trường cấp 2 tại thành phố Ordzhonikidze sau đó ông làm chỉ huy đội tàu tại nhà máy Electrozinc.

Năm 1937, ông nhập ngũ. Năm 1939, ông tốt nghiệp Trường bộ binh của thành phố và được bổ nhiệm giữ chức vụ trung đội trưởng súng máy tại thành phố Eyske. Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 từ tháng 4 năm 1942, ông chiến đấu tại các Phương diện quân Stalingrad, Ukrainian số 2.

Chiến đấu tại mặt trận Leningrad trên cương vị sĩ quan tham mưu của Sư đoàn súng trường số 193, ông tham gia vào các trận chiến đấu tại Ozhestochennykh, chọc thúc tuyến phòng thủ của phát xít, giải phóng các trang trại lớn. Sau đó, phối hợp với bộ đội tăng đột kích vào các làng Platonov, Golubinovskogo, thượng Buzinovka. Trong trận chiến đó, đơn vị của ông chỉ huy đã diệt 300 và bắt làm tù binh 1200 binh lính và sĩ quan phát xít. Tháng 12 năm 1942, ông được đề cử giữ chức vụ tham mưu trưởng trung đoàn súng trường và sau đó là trung đoàn trưởng của trung đoàn này.

Trung đoàn do ông chỉ huy đã tham gia chiến đấu với quân phát xít trong vùng ‘’5 ngọn đồi’’, một vị trí kiên cố của quân phát xít, quét sạch chúng ra khỏi vị trí này. Quân phát xít đã chịu những tổn thất nặng nề về người và vũ khí đồng thời ông cũng bị thương nặng những kiên quyết ở lại chỉ huy bộ đội chiến đấu.

Trong quá trình vượt sống Dniester, một phần sư đoàn do ông chỉ huy đã tách ra khỏi đội hình sư đoàn bộ. Tối ngày 24 tháng 3 năm 1944, trung đoàn do ông chỉ huy là một trong những đơn vị đầu tiên vượt sông Dniester tại khu vực làng Lipchany của vùng Mogilev-Podolsk Vinnitsa. Ngay sau khi vượt qua được sông, đơn vị do ông chỉ huy đã làm chủ một trong những vị trí phòng thủ kiên cố của quân phát xít. Trong vòng 24 giờ, trung đoàn đã tiêu diệt 3 xe tăng, 60 cơ giới với nhiều đạn dược và vũ khí, bắt làm tù binh 150 tên phát xít.

Ngày 13 tháng 9 năm 1944, vì những thành tích nổi bật trong quá trình chỉ huy bộ đội vượt sông Dniester và giữ chốt tại bờ phải cùng với sự dũng cảm cá nhân và chủ nghĩa anh hùng Thiếu tá P. S. Bilaonovu được phong tặng danh hiệu Anh hùng cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng theo quyết định kí ngày 13 tháng 9 năm 1944 của Xôviết tối cao.

Sau chiến tranh, năm 1950 ông tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze. Năm 1961, ốt nghiệp Học viện quân sự Bộ tổng tham mưu và năm 1969 tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp tại học viện này. Từ năm 1980, Trung tướng P. S. Bilaonov nghỉ hưu tại Kiev. Ông mất ngày 28 tháng 5 năm 1996 và được chôn cất tại nghĩa trang quân sự Lukyanovskom.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, Huân chương Suvorov hạng Ba, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng 3 cùng nhiều Huy chương khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 08:01:19 pm »


Thượng tướng A. G. Shevtsov (17/10/1918-28/04/1988)

Thượng tướng Shevtsov Alexander Grigorevich sinh ngày 17 tháng 10 năm 1918 tại thành phố Shebekino thuộc vùng Belgorod trong một gia đình lao động người Nga. Học hết lớp 10 và là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1941.

Năm 1937, ông nhập ngũ. Năm 1940, tốt nghiệp khóa học đào tạo phi công của Trường không quân Chuguevskoe. Ông tham gia cuộc chiến tranh vệ quốc ngay từ những ngày đầu tiên, tháng 6 năm 1941. Chiến đấu trong đội hình các phương diện quân Leningrad, Bryansk và Baltic số 1. Năm 1943, ông tham gia chiến dịch phản công lớn của Hồng quân tại vòng cung Kursk, rồi tham gia giải phóng các nước cộng hòa vùng Baltic khỏi ách chiếm đóng của quân phát xít Đức, có mặt trong đội hình Hồng quân đột kích vào Koenigsberg.

Tháng 8 năm 1943, hoa tiêu của Trung đoàn không quân tiêm kích số 171, Đại úy A. G. Shevtsov đã hoàn thành 220 nhiệm vụ chiến đấu, trong 47 trận không chiến ông tự mình bắn hạ 10 máy bay và cùng phi đội bắn rơi 6 máy bay khác của quân phát xít.

Khi được cử đến tham chiến trên bầu trời của Leningrad, ông đã bắn hạ 2 máy bay chiến đấu của kẻ thù. Sau đó, ông được cử bay trinh sát xung quanh thành phố. Tại khu vực quận Luga, ông đụng độ với các máy bay ném bom phát xít đang tiến về Leningrad. Ngay lập tức, ông cho máy bay của mình tiến thẳng về phía kẻ thù, nhanh chóng áp sát tấn công tiêu diệt chúng. Ngày 8 tháng 9 năm 1943, do những hành động chiến đấu dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng xuất hiện trong các rận không chiến với quân phát xít Đức xâm lược, ông được Xôviết tối cao Liên Xô phong tặng danh hiệu Anh hùng cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Cho đến kết thúc chiến tranh, ông đã tiến hành thành công 300 phi vụ không chiến, và tự mình bắn rơi 15 maý bay của kẻ thù.

Sau khi chến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong Không quân. Năm 1949, ông hoàn thành các khóa học tại Học viện quân sự mang tên Frunze. Năm 1951, ông là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân cường kích tại Bắc Triều Tiên. Năm 1956, ông hoàn thành khóa học tại Học viện quân sự Bộ Tổng tham mưu.

Từ năm 1966 đến 1976, ông là Tham mưu trưởng – Phó tư lệnh thứ nhất của Quân chủng tên lửa chiến lược. Ông là Ủy viên Xôviết tối cao Nga nhiệm kỳ 5 và Xôviết tối cao Ukraine nhiệm kỳ 6. Từ năm 1976, Thượng tướng A. G. Shevtsov chuyển ngạch dự bị. Ông sống tại Matxcova và mất tại đó vào ngày 28 tháng 4 năm 1988, mộ của ông đặt tại nghĩa trang Kuntsevskom của Matxcova.

Ông đã được tặng thưởng 3 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Alexander Nevskiy, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, 2 Huân chương Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng 3, nhiều huy chương và các huân chương của các nước trên thế giới.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Mười, 2008, 08:04:53 pm »


Thượng tướng S. G. Trofimenko (22/09/1899-16/10/1953)

Thượng tướng Trofimenko Sergey Georgievich sinh ngày 22 tháng 9 năm 1899 tại thành phố Bryansk trong một gia đình thợ người Nga. Lúc còn nhỏ ông đã tốt nghiệp lớp 10. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản từ năm 1918.

Ông nhập ngũ vào năm 1919. Năm 1926, ông hoàn thành các khóa học quân sự ngắn, năm 1932 tốt nghiệp Học viện quân sự mang tên Frunze, năm 1937 tốt nghiệp Học viện Bộ tổng tham mưu và năm 1949 tốt nghiệp khóa học sĩ quan cao cấp tại Học viện này.

Từ năm 1918 đến 1923, ông tham gia chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trước các lực lượng bảo hoàng với sự giúp sức của 14 nước đế quốc, trưởng thành từ binh nhì lên tới trung đội trưởng rồi chỉ huy phó một đơn vị súng máy. Năm 1924, ông là ủy viên quân sự của trung đoàn súng trường, rồi tiểu đoàn trưởng. Tháng 5 năm 1932, ông là tham mưu trưởng sư đoàn súng trường, năm 1935, ông là trưởng phòng tác chiến bộ tham mưu Volga, sau đó là Quân khu Kiev. Từ tháng 7 năm 1938, ông là Tham mưu trưởng Tập đoàn quân Zhitomir, từ tháng 9 năm 1939, Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 5 trực thuộc Quân khu đặc biệt Kiev.

Ông đã tham gia vào cuộc hành quân giải phóng Tây Ukraine vào năm 1939. Trên cương vị Tham mưu phó của Tập đoàn quân số 7, ông cùng đơn vị được điều đến mặt trận với lực lượng bạch vệ Ba Lan vào năm 1939 và 1940.

Từ tháng 8 năm 1940, ông là Tham mưu trưởng Hồng quân tại khu vực Bắc Caucasian, từ tháng 1 năm 1941, ông là Tư lệnh các lực lượng vũ trang của các quân khu Trung Á.

Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Tướnng S. G. Trofimenko lần lượt đảm nhiệm các chức vụ : phụ trách tác chiến (1941-1942), tư lệnh các Tập đoàn quân 32 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1942), 7 (từ tháng 7 năm 1942 đến tháng 1 năm 1943) trực thuộc Phương diện quân Karelian và Tập đoàn quân số 27 (từ tháng 1 năm 1943 đến cuối cuộc chiến vệ quốc) tại Tây Bắc, Voronezh, Phương diện quân Ukrainian số 1, 2 và 3.

Các đơn vị dưới sự chỉ huy của ông đã tham gia vào các chiến dịch tấn công tại Karelia, tham gia trận phản công tại vòng cung Kursk, tham gia giải phong Ukraine, rồi tới các chiến dịch tại Yassy-Kishinev, Debretsnskoy, Budapest, Balatonskoy và Viennese.

Do những thành tích chỉ huy trong các chiến dịch quân sự, ông đã được lưu vào sổ khen thưởng của Tư lệnh tối cao, Đại nguyên soái I. V. Stalin. Ngày 13 tháng 9 năm 1944, Trung tướng S. G. Trofimenko được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng. Ngay sau đó, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Sau chiến tranh, ông giữ chức Tư lệnh Hồng quân tại các quân khu Tbilisskiy (1945-1946), Belorrussian (1946-1949) và Bắc Caucasian (1949-1953). Ông được bầu làm Phó Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô các nhiệm kỳ 2 và 3. Ông mất ngày 16 tháng 10 năm 1953 tại Matxcova và yên nghỉ trong nghĩa trang Novodevichem.

Ông đã được Đảng và nhà nước Liên Xô tặng thưởng 4 Huân chương Lenine, 3 Huân chương Suvorov hạng Nhất, 2 Huân chương Kutuzov hạng Nhất, Huân chương Bogdan Khmelnitskogo hạng Nhất và nhiều huy chương khác.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #33 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 10:34:55 pm »


Đô đốc Y. A. Sysoyev (03/05/1927-16/10/2003)

Đô đốc Sysoyev Yuri Alexandrovich sinh ngày 3 tháng 5 năm 1927 tại thành phố Leningrad (năm 1965 là thành phố Anh hùng, từ năm 1991 là thành phố Saint Peterburg) trong một gia đình lao động người Nga. Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1951.

Tốt nghiệp lớp 10 của Trường dự bị Hải quân Leningrad, sau đó ông phục vụ tại hạm đội Hải quân từ năm 1945. Năm 1949, ông tốt nghiệp Trường cao đẳng hải quân mang tên Frunze và được điều về Hạm đội Baltic, trưởng thành từ thủy thủ tàu ngầm nhỏ loại M-31 tới chỉ huy tầu ngầm hạng trung S-264.

Tháng 7 năm 1961, sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chỉ huy tàu ngầm APL ‘’K-133’’, và tháng 1 năm 1962 là chỉ huy tầu ngầm APL thuộc dự án 627 ‘’K-181’’ của Hạm đội biển Bắc.

Từ 25.9 tới 4.10.1963, tàu ngầm dưới sự chỉ huy của Đại úy cấp 2 Y. A. Sysoyev đã hoàn thành chuyến đi phối hợp xuyên qua lớp băng ở Bắc Cực và 6 giờ 45 phút ngày 29.9.1963, lần đầu tiên trong lịch sử, nổi lên đúng vào điểm cực bắc. 6 phút sau đó, chỉ huy của tàu ‘’K-181” dời khoang chỉ huy lên đài chỉ huy của thuyền trưởng và là lần đầu tiên của lịch sử hoạt động của tàu ngầm thế giới, một người ra khỏi tầu ngầm và đặt chân lên điểm cực bắc của Trái đất. Tiếp theo đó, theo mệnh lện từ xa của Đô đốc chỉ huy Hạm đội biển Bắc V.A. Kasatonov, các thủy thủ của tàu đã tiến hành dựng tại điểm cực Bắc cờ của Hải quân và Nhà nước Liên bang Cộng hòa Xôviết, khẳng định chủ quyền lãnh thổ.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ngày 18 tháng 2 năm 1964, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Năm 1968, ông hoàn thành khóa học tại Học viện Bộ tổng tham mưu và lần lượt chỉ huy hiệp đồng tác chiến của các đơn vị tàu ngầm tại Hạm đội Thái Bình Dương và Biển Bắc.

Từ tháng 12.1070 đến tháng 12.1974, ông chỉ huy Liên đội tàu ngầm Diesel số 6 tại Hạm đội Cờ đỏ Thái Bình Dương.

Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc. Từ năm 1974 đến 1976, ông chỉ huy Đội tàu ngầm số 3 của Hạm đội Cờ đỏ Biển Bắc. Ngày 13.2.1976, ông được phong quân hàm Phó Đô đốc.

Năm 1975, ông hoàn thành khóa học tại học viển, và năm 1976 ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Hải quân Liên Xô.

Năm 1985, ông được phong quân hàm Đô đốc Hải quân. Từ năm 1990, ông chuyển ngạch sang dự bị và nghỉ hưu. Ông sống tại thành phố Matxcova anh hùng và mất tại đây vào ngày 16.10.2003. Phần mộ của ông được đặt tại nghĩa trang Troekurovskom. 

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, Các Huân chương Lao động cờ đỏ, Sao đỏ, Huân chương vì sự nghiệp phục vụ tổ quốc của Hồng quân hạng Nhì và hạng Ba, cùng nhiều Huy chương. Ông còn được tặng thưởng Huân chương 9.9.1944 của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Bulgarie.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
rongxanh
Thành viên
*
Bài viết: 2085

Mơ về nơi xa lắm.


« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2008, 08:09:43 am »

Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!
Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #35 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2008, 05:14:42 pm »

Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!

Hic, một số quân đội các nước Captain là Đại tá hải quân. Cái đó dịch thế nào thì phải căn cứ vào hệ thống quân hàm của mỗi quốc gia ạ. Em cứ dịch sát nghĩa như thế. Captain, Captain 2em classe, Captain 1er classe. Nó tương ứng với Rear Adimral, Vice Admiral rồi Admiral ở quân hàm đô đốc.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2008, 01:12:47 pm »

Quân hàm sĩ quan Hải quân Liên Xô (Tiếng Nga - Tiếng Anh - Tiếng Việt)


Младший лейтенант - Junior lieutenant - Thiếu úy


Лейтенант - Lieutenant - Trung úy


Старший лейтенант - Senior lieutenant - Thượng úy


Капитан лейтенант - Captain lieutenant - Đại úy


Капитан 3-го ранга - Captain 3rd class - Thiếu tá


Капитан 2-го ранга - Captain 2nd class - Trung tá


Капитан 1-го ранга - Captain 1st class - Đại tá


Ngày 22.2.1971, Đại ủy Hải quân hạng Nhất đã được phong quân hàm Chuẩn đô đốc.
=========
Cái này không chính xác!
Năm 1963 đã là đại úy, năm này có lẽ là đại tá (3 sao)!

Hic, một số quân đội các nước Captain là Đại tá hải quân. Cái đó dịch thế nào thì phải căn cứ vào hệ thống quân hàm của mỗi quốc gia ạ. Em cứ dịch sát nghĩa như thế. Captain, Captain 2em classe, Captain 1er classe. Nó tương ứng với Rear Adimral, Vice Admiral rồi Admiral ở quân hàm đô đốc.

Cái này không phải là có lẽ, mà là chính xác. Năm 1963 đã là Đại úy cấp 2 (Капитан 2-го ранга) thì ông đã là Trung tá rồi. 8 năm sau thì lên tướng

Trong Hải quân Liên Xô, Captain có nghĩa là thuyền trưởng, vì vậy phải dịch là Thuyền trưởng hạng 3, hạng 2, hạng 1. Tùy nghĩa mới tương đương cấp Thiếu, Trung hay Đại tá. Nếu không, ta sẽ có cái nghĩa buồn cười với các cấp Thiếu úy Hải quân thành Trung úy nhỏ, Thượng úy Hải quân thành Trung úy lớn, và Đại úy Hải quân thành Đại úy Trung úy  Grin
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười, 2008, 01:30:03 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2008, 09:02:18 pm »

Cái này cũng phức tạp phết các bác nhỉ  Grin

Em đưa ra một ví dụ nữa, trong quân đội Pháp chẳng hạn:

- Général de brigade
- Général de division
- Général de corp
- Général de l'armé

Nếu dịch tương đương sang bên Quân đội mình thì tương đương với: Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng, Đại tướng với Mỹ thì lại là Chuẩn tướng, Thiếu tướng, Trung tướng, Đại tướng nhưng mà nhìn vào bản chất cái anh Trung tướng bên họ khác với bên mình. Họ phân cấp theo đơn vị mà họ chỉ huy, ví dụ chỉ huy sư đoàn thì họ gọi là Trung tướng trong khi nhà mình chỉ Thượng tá hay Đại tá. Cho nên để hiểu rõ tốt nhất là đặt vào số quân họ chỉ huy.

Lại nữa là nhiều nước hệ thống quân hàm của Hải Lục Không quân nó không giống nhau, khó dịch tương đương lắm. Pháp chẳng hạn họ phải nói là trung úy lục quân (lieutenant) hay trung úy hải quân (lieutenant de vaisseau) vì họ suy tương đương ra là trung úy hải quân tương đương với đại úy lục quân ở chỗ: một đằng chỉ huy 1 đại đội, một đằng chỉ huy một thuyền.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Mười Một, 2008, 04:48:59 am »


Thiếu tướng F. P. Paliy (05.06.1916)

Thiếu tướng Paliy Fedor Prokofevich sinh ngày 24 tháng 5 (lịch Nga, tức ngày 5 tháng 6) năm 1916 tại Kobrinovo bây giờ là vùng Talnoskogo thuộc Cherkass trong một gia đình nông dân người Ukrainian. Đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1943. Năm 1930, ông tốt nghiệp lớp 7 cấp 2 và vào học trường kỹ thuật nông nghiệp năm 1935.

Ông gia nhập Hồng quân vào năm 1935. Năm 1937, tốt nghiệp Trường Không quân Kachinskuyu. Tham gia chiến tranh thế giới thứ 2 từ tháng 6.1941, ông chiến đấu tại các Phương diện quân Tây Nam, Stalingrad, Nam, Ukraine số 4, Belorussian số 3.

Ngày 26.6.1941, Phi đội trưởng Phi đội 86 của trung đoàn không quân ném bom Paliy tham gia chỉ huy đội hình 9 máy bay ném bom của Hồng quân phá hủy các khẩu đội pháo phòng không của phát-xít. Mặc dù bản thân phi đội là mục tiêu tấn công của các máy bay tiêm kích của kẻ thù, nhưng ông vẫn bình tĩnh chỉ huy phi đội đẩy lùi tất cả các cuộc tấn công của phát-xít và bỏ bom chính xác vào mục tiêu. Trong cuộc tấn công này, ông đã bị thương lần thứ nhất. Nhưng ông vẫn cố gắng chịu đựng vết thương và hướng dẫn đồng đội trở về sân bay và hạ cánh an toàn. Sau một thời gian ngắn điều trị, ông quay trở lại đơn vị và tiếp tục chiến đấu.

Trong thời gian diễn ra chiến dịch Stalingrad, ông đã làm lên một chiến công hiếm có trong trận không chiến ở khu vực hồ Tsatsa. Ở đây, phi đội 9 chiếc máy bay ném bom do ông chỉ huy đã làm chủ trận không chiến với 18 máy bay chiến đấu của kẻ thù. Mặc dù bị đạn của kẻ thù làm cháy cánh máy bay do ông điều khiển, nhưng ông vẫn tiếp tục trận chiến đến cùng. Chỉ khi ba chiếc máy bay chiến đấu của quân phát-xít bị tiêu diệt, và sáu chiến khác sau khi bị hư hỏng phải tháo chạy. Trong trận đánh này, phi đội máy bay ném bom của ông đã về đến sân bay an toàn. Trong quá trình tham gia chiến dịch Stalingrad, ông đã được tặng thưởng huy chương Nagrazhden.

Trong những trận chiến ở hạ lưu sông Dnepr, ông đã thực hiện thành công 60 nhiệm vụ chiến đấu, đột nhập vào những vùng bị địch chiếm đóng ở Donets và Taganrog. Cùng thời gian này, ông đã được tặng thưởng huân chương Nagrazhden hạng Nhì và huân chương Alexander Nevskiy.

Tháng 12 năm 1944, ông nhận chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn máy bay ném bom cận vệ số 135. Mặc dù là trung đoàn trưởng, nhưng không lần nào ông không bay hỗ trợ các phi đội ném bom kẻ thù.

Cho đến tháng 4 năm 1945, trung đoàn trưởng của Trung đoàn máy bay ném bom cận vệ số 135 (Sư đoàn máy bay ném bom cận vệ số 6, Quân đoàn Không quân số 1, Phương diện quân Belorussian số 3) của thiếu tá Paliy đã hoàn thành 168 nhiệm vụ chiến đấu bay thấp tấn công vào các sân bay, phòng tuyến, hành lang hành quân…của kẻ thù.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô kí ngày 19 tháng 4 năm 1945, ông được phong tặgn danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông phục vụ tại lãnh thổ Đông Prussia. Năm 1947, ông hoàn thành khóa học nâng cao về bay chiến thuật cao cấp. Năm 1958, tốt nghiệp các khóa học cao cấp của Học viện quân sự Bộ Tổng tham mưu. Năm 1961, thiếu tướng F.P. Paliy chuyển sang ngạch dự bị và sống tại Zhivet thành phố Cherkassy.

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Lenine, 2 Huân chương Alexander Nevskiy, 2 Huân chương Vệ quốc hạng Nhất, Huân chương Sao đỏ và nhiều huy chương.




Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2008, 02:34:19 am »


Thiếu tướng A.V. Zhukov (01.11.1900-04.01.1980)

Thiếu tướng Zhukov Andrey Vasilyevich sinh ngày 1 tháng 11 năm 1900 tại Leshcheevka bây giờ là Sergachskogo thuộc vùng Nizhniy-Novogorod trong một gia đình nông dân Nga.

Năm 1919, ông tình nguyện nhập ngũ tham gia chiến đấu bảo vệ nhà nước cách mạng Xôviết non trẻ. Suốt những năm đầu thập niên 20, ông tham gia tiễu trừ các nhóm phản loạn tại vùng Trung Á. Năm 1929, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1932, ông tốt nghiệp các khóa học đào tạo sĩ quan tăng thiết giáp và phục vụ trong binh chủng này.

Ông trực tiếp tham gia vào chiến tranh vệ quốc từ tháng 5 năm 1942. Từng chiến đấu tại khu vực xung quanh Stalingrad, Ukraine, Moldavia tham gia giải phóng Rumania, Bulgaria, Hungary, Czechoslovakia. Vai trò của Đại tá Zhukov trong các trận đánh giải phóng Hungary là hết sức nổi trội.

Trên cương vị Lữ đoàn trưởng, ông đã khéo léo chỉ huy Lữ đoàn 63 cơ giới hóa (trực thuộc Tập đoàn quân cơ giới hóa số 7, Phương diện quân Ukraine số 2) phối hợp với các đơn vị khác trong quá trình diễn ra chiến dịch Debretsenskoy. Từ ngày 6 đến 25 tháng 10 năm 1944, Lữ đoàn dưới sự chỉ huy của ông đã giáng cho quân thù những đòn gây tổn hại lớn về người và vũ khí. Vượt qua quãng đường 200 km bất ngờ tấn công vào phía sau quân phát xít, tham gia giải phóng toàn bộ vùng sau lưng địch rồi tham gia giải phóng các thành phố Oradya của Rumania.

Theo quyết định của Xôviết tối cao Liên Xô ký ngày 28 tháng 4 năm 1944, ông được phong danh hiệu Anh hùng Liên Xô cùng với Huân chương Lenine và Huy chương Sao vàng.

Ngày 9 tháng 4 năm 1945, ông bị thương nặng. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục phục vụ trong lực lượng vũ trang, binh chủng tăng thiết giáp. Năm 1956, ông nghỉ hưu với quân hàm Thiếu tướng và sống tại thành phố Matxcova anh hùng. Ông mất ngày 4 tháng 1 năm 1970 và được chôn cất tại nghĩa trang Lyudinskom của thành phố.

Ông đã được tặng thưởng 2 Huân chương Lenine, 4 Huân chương Suvorov hạng nhì, Huân chương Kutuzov hạng Nhì, Huân chương Sao đỏ và nhiều huy chương.

Họ của ông đã được đặt tên cho một ngôi trường ở Matxcova, trường Leshcheevaskaya và Sosnovskaya của vùng Sergachskogo, đường phố tại các thành phố Maxcova và Leshcheevka.



Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM