Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:07:58 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước  (Đọc 129237 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #140 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 10:29:28 pm »


Tuy nhiên, địch vẫn cố phao tin viện binh của chúng sắp tới và danh tướng Trương Phụ của chúng lại cầm quân sang đánh chiếm Việt Nam, nhằm trấn tĩnh tinh thần binh sĩ chúng và gây hoang mang lo ngại trong nhân dân ta. Để đập tan luận điệu phao tin lừa bịp của địch, Nguyễn Trãi viết cho địch một bức thư, phân tích rõ so sánh lực lượng giữa ta và địch, những lúng túng khó khăn bên nước chúng và sự thất bại không thể tránh được nếu viện binh của chúng kéo sang. Trong thư, ông viết:

"... Ta nghe cái điều đáng quý ở người tuấn kiệt là biết thời thế, hiểu sự biến mà thôi. Xem ta ngày xưa còn ở Khả Lam, đất chẳng qua có một thành, quân chẳng qua cố một lữ, mà thường bị quân của bọn Mã Kỳ, Chu Kiệt áp bức sau ta lại chạy lên núi Chí Linh, đất Lão Qua để đợi thời dấy việc, cơm ăn thì sớm tối không được hai bữa, áo mặc thì đông hè chỉ có một manh, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giới thì thật tay không, thân thích, con em, bè bạn thì mỗi người phân tán một nơi, không được sum họp. Thế mà bấy giờ bọn Phương Chính, Mã Kỳ, Vương Thành, Phùng Quý lại hết năm này đến năm khác đem quân tiến đánh. Quân lính của ta đêm ngày bố trí, không phút nghỉ ngơi. Song gặp khốn mà lại hay, càng đánh lại càng được, đi đến đâu đánh tan đấy, như phá vật nát, như bẻ cành khô. Thế chẳng phải là lòng trời đấy ư? Ngày nay vận trời tuần hoàn đi rồi lại lại. Nên chi ngày trước thì cơm ăn không được hai bữa mà nay thì lương thực tích trữ, ăn được ba mươi năm; trước thì quân bất quá vài trăm người, mà nay thì binh phụ tử ở Thanh Hoá gần hai vạn người, quân có tiếng là tinh tráng, dũng cảm ở Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa, cũng đến vài vạn người, quân đồng tâm đồng lực ở các lộ Giao Châu không dưới mười vạn, còn các chiến sĩ khác cũng chẳng dưới ba chục vạn người; trước thì thầy bạn, thân thích phân tán các nơi, mà nay thì những kẻ sĩ trí mưu tài thức theo về đông đúc, không khác gì cây rừng xúm xít, răng lược khít nhau; trước thì khí giới tay không mà nay thì thuyền chiến ngất mây, áo giáp rực sáng, tên đạn chất đống, thuốc súng đầy kho. So trước với giờ mạnh hay yếu đủ biết rõ được. Huống hồ ở nước ngươi, quốc chúa liền năm tử táng1, cốt nhục tàn hại lẫn nhau, Bắc khấu2 xâm lăng, đại thần lấn át, gia dĩ lúa má mất luôn, thổ mộc3 làm mãi, chính lệnh hà khắc, giặc cướp như ong. Từ niên hiệu Hồng Vũ4 đến nay, độc vũ cùng binh5, trong nước tổn hao, nhân dân mệt nhọc; trời làm táng loạn chính là lúc này. Ngươi còn không hiểu thời biến, lại nghe lời bọn Phương Mã6 làm kế công thủ. Hẳn nếu giỏi công thủ thì sao không đánh ngay ta lúc ở Khả Lam hãy còn nhỏ yếu, mà bây giờ lại giương vây khoác lác thế ư? Sao không biết nghĩ lắm thế? Huống lại bưng bít tai mắt người ta, đặt điều lừa dối, nói phao là viện binh sắp đến, Trương Phụ lại sang. Ngươi sao không biết nghĩ, ngày nay dẫu có mười vạn viện binh, thì có dám vượt cửa quan không? Nếu dốc quân cả nước kéo sang, hoặc độ ba bốn mươi vạn người, thì sao ngươi không liệu, nước ngươi ngày nay quả vô sự chăng? Hay ở chốn kẽ vách còn có việc chăng? Còn như Trương Phụ ngày trước, bất quá nhất thời hú họa thành công thôi. Bấy giờ họ Hồ thoán đoạt, người cả nước coi tựa kẻ thù, dân chúng chống lại, thân thích phân ly, Trương Phụ chỉ vì may nhàn chỗ hở ấy mà nên công đấy thôi. Ngươi sao không nghĩ, ta đây binh tượng nhiều, tâm lực đều dù có trăm bọn Trương Phụ cũng chẳng làm gì nổi! Phương chi nước ngươi tình thế nguy ngập như thế, nay lại sai Trương Phụ đem ba bốn mươi vạn quân ra nước ngoài, liệu triều đình ngươi có yên tâm được chăng? Nay tính giùm các ông chẳng gì bằng cùng Thái đô đốc đem quân về nước là hơn cả. Nếu không thế thì một khi cờ ta trở, trống ta nổi, các ông ăn năn chẳng kịp đâu..."7.

Thế của ta lúc này đúng như trong thư của Nguyễn Trãi đã nói, là thế của người chiến thắng. Quân dân ta đã đánh thắng quân địch bị giam giữ trong thành, quân dân ta sẽ đánh thắng viện binh địch, hy vọng cuối cùng của bọn bại tướng Vương Thông. Quân dân ta đánh thắng địch không những bằng quân sự, mà còn đánh thắng địch bằng chính trị và ngoại giao.

Quân dân ta nhất định sẽ mau chóng tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Đường lối kết thúc chiến tranh, Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân đã nắm vững trong tay.
____________________________________
1. Năm 1424 vua Minh Thành Tổ chết, năm 1426 con là Minh Nhân Tôn chết.
2. Người Mông Cổ đánh vào phía bắc nước Minh.
3. Công việc xây dựng dinh thự, cung điện, thành trì.
4. Hồng Vũ là niên hiệu Minh Thái Tổ (1368 - 1398).
5. Độc vũ cùng binh: hiếu chiến, luôn luôn gây chiến tranh.
6. Phương Chính và Mã Kỳ.
7. Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch. tr. 52 - 54.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #141 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:35:04 pm »


CHƯƠNG VII

ĐƯỜNG LỐI KẾT THÚC CHIẾN TRANH:
ĐÈ BẸP Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA ĐỊCH
BẰNG TIẾN CÔNG QUÂN SỰ QUYẾT LIỆT,
KẾT HỢP DỤ HÀNG VÀ ĐÀM PHÁN HÒA BÌNH

Trong chiến tranh giải phóng, chừng nào ý chí xâm lược của địch chưa bị đè bẹp hoàn toàn thì chiến tranh chưa kết thúc. Biện pháp hàng đầu để đè bẹp ý chí xâm lược của địch là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, đánh cho quân địch ngã gục, đánh cho chúng hết ảo tưởng chiến thắng quân sự, càng kéo dài chiến tranh càng bị đánh đau, càng thất bại lớn. Chỉ như thế, ý chí xâm lược của địch mới bị đè bẹp hẳn.

Bọn tướng địch Vương Thông và quân đội chiếm đóng của chúng đã bị đánh cho đại bại, đành chịu giam chân trong thành lũy trơ trọi, nhưng chúng vẫn chưa đầu hàng, chúng hy vọng viện binh sẽ tới cứu chúng: Nếu viện binh của chúng bị đánh tan, thì hy vọng cuối cùng của chúng cũng tiêu tan thành mây khói, bọn Vương Thông và quân đội chiếm đóng của chúng thế tất phải đầu hàng, và đầu hàng không điều kiện để được bảo toàn tính mệnh ra về. Đánh tan viện binh địch, không những đè bẹp hẳn được ý chí xâm lược của quân địch trên chiến trường Việt Nam mà còn đè bẹp cả ý chí xâm lược của bọn vua chúa nhà Minh. Và chỉ đè bẹp ý chí xâm lược của bọn này thì chiến tranh mới thật sự kết thúc. Bọn bại tướng Trần Trí và đạo quân xâm lược của y đã bị giam chân ở các thành, viện binh Vương Thông đã thất bại thảm hại, phải chịu chung số phận với bọn Trần Trí, đành bó tay trong thành Đông Quan. Nếu viện binh Liễu Thăng sắp tới cũng bị đại bại nốt, thì khả năng tiếp tục chiến tranh của bọn vua tôi nhà Minh sẽ không còn. Điều động mấy chục vạn quân nữa để lập thành một đạo viện binh khác đưa sang Việt Nam, dù không phải là tuyệt đối không thể có được, thì cũng không phải là việc dễ dàng, nhanh chóng. Và tới khi nào đó, đưa được viện binh khác sang thì phần thắng chưa chắc, mà điều chắc chắn là nếu tiếp tục chiến tranh, không điều đình giao hảo với quân dân Việt Nam thì không thể cứu được hàng chục vạn tướng sĩ, binh lính của chúng đương bị giam giữ ở Việt Nam thoát chết trở về nước. Thế của địch, nếu viện binh Liễu Thăng bị tiêu diệt, là thế phải ngừng chiến tranh, phải từ bỏ âm mưu xâm lược và chiếm đóng lâu dài nước ta. Cho nên, sau khi tiêu diệt được viện binh Liễu Thăng, thì thắng bại trên chiến trường sẽ rõ rệt, những điều kiện kết thúc chiến tranh sẽ xuất hiện đầy đủ, đối với quân địch trong các thành, hành động quân sự quyết liệt để tiêu diệt chúng là không cần thiết. Không đánh, địch trong các thành cũng sẽ phải hàng, Nguyễn Trãi đã nói "bất chiến tự khuất" (không chiến trận mà địch phải khuất) chính là thế đó. Buộc địch phải hàng rồi tha cho hàng chục vạn hàng binh được thoát chết trở về nước vừa là một hành động nhân đạo vừa là đường lối tốt nhất để chấm dứt chiến tranh một cách lâu dài và gây lại những quan hệ bình thường giữa hai nước. Như Nguyễn Trãi đã nói:

      Nghĩ kế nước nhà trường cửu, tha cho mười vạn hàng binh
      Gây lại hòa hảo cho hai nước, dập tắt chiến tranh cho muôn đời

                                                (Chí Linh sơn phú)

Đó chính là đường lối kết thúc chiến tranh vô cùng tài giỏi của Nguyễn Trãi và các lãnh tụ Lam Sơn. Hành động quân sự quyết liệt, đánh thật mạnh, tiêu diệt viện binh địch để đè bẹp ý chí xâm lược của địch. Dụ hàng quân địch trong các thành, đàm phán hòa bình với triều đình nhà Minh để chấm dứt chiến tranh lâu dài với địch. Đó là những phương châm hành động để tiến tới kết thúc chiến tranh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #142 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:37:56 pm »


Ngay từ khi viện binh địch chưa tới, với lời nói quả quyết của người chiến thắng, nhà chiến lược thiên tài Nguyễn Trãi đã viết thư cho bọn Vương Thông trong thành Đông Quan vạch rõ lẽ tất thắng của ta và khẳng định chiến tranh sẽ kết thúc theo ý định của ta. Ông viết:

"Thư bảo cho tổng binh ngươi biết:

Cổ nhân có nói: "Giặc đến lúc cùng, chớ nên đuổi sát". Nay ta định đem ba bốn mươi vạn quân vây bốn thành của ngươi, chỉ e chim cùng thì mổ, thú cùng thì vồ, cho nên ta không đem quân toàn thắng cùng quân tất tử để tranh cái thắng của lũ trẻ con vậy, tuy nhiên, dù tiểu địch giữ vững đến đâu, kết cục vẫn bị đại địch bắt được
1. Phàm lấy sức nặng ngàn cân đè lên trứng chim, thì chưa hề có trứng nào không vỡ nát. Cái chuyện đánh thành hãy gác một bên, hoặc giả buông lỏng cho bè lũ ngươi, không để ý đến. Ta hãy cởi giáp nghỉ binh, vỗ nuôi sĩ tốt, vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, sửa rèn khí giới, luyện tập binh tượng dạy bảo những phương pháp ngồi, dậy, tiến, lui, lại hun đúc bằng những điều nhân nghĩa, khiến ai cũng hết lòng thành, thân với kẻ trên, chết cho người trưởng. Đem quân ấy ra đối phó với dịch, thì kẻ nào theo ý hướng ta sẽ sống, kẻ nào trái ý hướng ta sẽ chết. Tất cả cái mà ta trông cậy là thế mà thôi. Một ngày kia nước ngươi nhân việc nước hơi thư, lòng tham lại mống, hoặc lại đem ba bốn vạn quân sang, thì ta đối phó thực ung dung lắm. Đến như bọn ngươi, không đánh mà tự cầm tù thì chẳng phải nói nữa!..."2.

Lời thư thể hiện lòng tin tưởng tuyệt đối của Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân vào sức mạnh tất thắng của quân dân ta. Ông gọi địch là kẻ yếu, là tiểu địch và khẳng định quân dân ta là kẻ mạnh, là đại địch theo lối nói của binh pháp cổ - đại địch nhất định bắt sống tiểu địch, viện binh địch nhất định bị đánh tan, quân địch trong thành nhất định bị cầm tù.

Để tiến tới những thành công rực rỡ đó, các lãnh tụ nghĩa quân cho thi hành một số biện pháp tích cực như Nguyễn Trãi đã nói rõ trong thư gửi Vương Thông. Tất cả những biện pháp đó đều nhằm củng cố hậu phương, động viên tinh thần xung phong giết giặc cứu nước của toàn dân, tăng cường sức chiến đấu của quân đội, chuẩn bị đầy đủ cho những trận quyết chiến chiến lược tiêu diệt viện binh địch, khi chúng sang tới nơi.
_________________________________________
1. Ý nói là kẻ yếu mà cố chống giữ thì sẽ bị kẻ mạnh bắt sống.
2. Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, tr. 56 - 57.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #143 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:45:56 pm »


ĐỘNG VIÊN TINH THẦN
XUNG PHONG GIẾT GIẶC CỦA TOÀN DÂN,
TĂNG CƯỜNG SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI,
BẢO ĐẢM TRẬT TỰ AN NINH TRÊN CẢ NƯỚC


Nguyễn Trãi là người yêu nước, yêu dân và rất mực nhân nghĩa. Tư tưởng nhân nghĩa, một lòng vì nước vì dân của ông bao trùm lên mọi hoạt động và cũng là xuất phát điểm của mọi hoạt động của ông. Trong khi Nguyễn Trãi cùng các lãnh tụ nghĩa quân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đánh giặc cứu nước, ông vẫn không lúc nào ngừng thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của ông trong cả hai sự nghiệp đánh giặc và dựng nước của dân tộc ta thời đó. Tư tưởng nhân nghĩa đậm nét dân chủ của ông đã góp phần tích cực vào việc động viên tinh thần xung phong giết giặc cứu nước của toàn dân và thúc đẩy mọi người đem hết khả năng mình cống hiến vào sự nghiệp xây dựng đất nước, sau mấy chục năm bị địch tàn phá. Để củng cố hậu phương, động viên tinh thần và huy động mọi khả năng của nhân dân, đẩy mạnh cuộc chiến tranh mau tới kết thúc, Nguyễn Trãi đặc biệt chú trọng kêu gọi nhân dân cả nước hãy nâng cao quyết tâm hơn nữa, đem hết sức mình hoàn thành sự nghiệp chung của dân tộc. Chỉ có nhân dân cả nước làm chủ vận mệnh của đất nước mình, cùng tăng cường nỗ lực chiến đấu thì sự nghiệp đánh giặc cứu nước mới nhanh chóng hoàn thành. Trước hết, Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi làm hịch truyền đi khắp nước để động viên tinh thần yêu nước, khơi sâu lòng căm thù giặc và nâng cao ý chí quyết chiến quyết thắng của quân đội và nhân dân. Trong lời hịch của Nguyễn Trãi, có đoạn viết:

"Giặc mạnh chưa trừ diệt hết, dân sinh chưa được thỏa thuê, các người có yên tâm không. Xưa kia họ Hồ lỗi đạo, người Minh thừa cơ kéo sang xâm lược, bắt dân ta phải chịu thuế nặng sưu cao, hình phạt hà khắc. Các người đều mắc vào vòng bạo ngược của chúng nên mới cùng nhau đứng dậy, chống kẻ thù địch. Bây giờ công việc đã gần thành tựu, các người nên cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang! Và, chỉ phải dùng sức khó nhọc một năm mà được hưởng vui sướng thái bình muôn thuở. Các người hãy cố gắng lên”1.

Lời động viên thật thiết tha, như lôi cuốn mọi người hăng hái xông lên diệt giặc!

Nguyễn Trãi không chỉ động viên tinh thần, ý chí của quân dân, mà chân thành kêu gọi mọi người đem hết tài năng ra giúp nước. Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi, viết chiếu cầu hiền gửi khắp các quan chức, lời lẽ thật khiêm tốn:

"Ta không có tài cán gì khác đâu, vậy mà phải gánh vác trách nhiệm nặng nề này e không kham nổi cho nên sẵn sàng khiêm tốn cầu hiền cùng lo mưu toan việc lớn để cứu vớt nhân dân. Vậy hễ thấy có những người hiền lương chân chính, trí dũng siêu quần thì cho phép mọi người được làm việc tiến cử hoặc chính người hiền ấy được tự tiến lấy, ta tất sẽ ban cho quan to, tước lớn" 2.

Thành thực mong muốn những người có tài, có đức trong nhân dân ra bàn việc nước. Nguyễn Trãi lại làm dụ cầu hiền gửi tới nhân dân cả nước, lời lẽ rất thiết tha:

"Hiện nay các thành đã phá, duy còn thành Đông Quan là chưa hạ. Vì thế ta nằm không yên giấc, ăn không biết ngon, sớm hôm nghĩ héo ruột gan, song bên cạnh ta chưa có người giúp đỡ. Tuy ta làm chủ tướng nhưng xét lại mình ta một là già ốm, bất tài, hai là sức học nông cạn, ba là gánh nặng khó nổi... Cho nên ta nhún mình lấy lòng thành khuyên các hào kiệt cùng nhau hết sức, cứu giúp muôn dân, chớ có giấu tài ẩn mình để cho thiên hạ bị lầm than mãi mãi. Hoặc có người nào tiết cao như Tứ Hạo3, ẩn trốn như Tử Phòng4, cũng hãy nên vì dân cứu nạn, đợi khi thành công rồi có muốn được thoả chí xưa, lại về rừng núi, ta không ngăn giữ"5.
__________________________________
1. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch. t. VIII, tr. 48.
2. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch. t. VIII, tr. 45.
3. Tứ Hạo chỉ bốn ẩn sĩ ở cuối đời Tần đầu đời Hán là: Đông Viên Công, Ý Lý Quý, Hạ Hoàng Công và Lộc Lý tiên sinh, tránh loạn sống ẩn dật tại núi Thường Sơn. Hán Cao Tổ mời ra giúp việc không được.
4. Tử Phòng tức Trương Lương giúp Hán Cao Tổ định xong thiên hạ thì lui về ở ẩn.
5. Đại Việt sử ký toàn thư, bản địch, t. III, tr. 37 - 38.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #144 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:49:57 pm »


Ngay từ khi đại quân Lam Sơn mới tiến ra Đông Quan, Nguyễn Trãi đã nhiều lần làm chiếu động viên, kêu gọi nhân dân tham gia đánh giặc cứu nước, và các lãnh tụ Lam Sơn đã từng "hạ lệnh cho các tướng hiệu và quân ở các lộ tìm kiếm người có tài lược trí dũng làm nổi các chức quan trọng như tư mã, thượng tướng đều tiến cử một người"1 ban quan chức thủ ngự, đoàn luyện và tước trung phẩm cho các tù trưởng, phụ đạo các miền thiểu số. Nay lại "hạ lệnh cho các lộ tiến cử những người hiền lương, phương chính, trí dũng, anh kiệt, gọi đến hỏi cho trả lời để bổ dùng. Ai ẩn giấu che bịt thì phải giáng chức hoặc bãi chức"2.

Những người yêu nước, những hào kiệt, hiền tài ở các nơi đều nô nức tới cửa quân xin giúp nước. Những tăng đạo, phụ lão ở các nơi hưởng ứng nghĩa quân thì quan ở các lộ được lệnh xét xem những người tuổi già có đức hạnh đều cấp cho quan tước3. Tháng 6 năm 1427, một hào kiệt người châu Bố Chính (thuộc Quảng Bình ngày nay) là Nguyễn Tử Hoan có công hiến kế được phong làm quân sư4. Cũng trong tháng này, phụ đạo châu Gia Hưng là Xa Khả Tham, một hào kiệt đã lãnh đạo nghĩa quân áo đỏ đánh quân Minh ở miền Tây Bắc trong hàng chục năm liền, nay cũng đem quân bản bộ tới gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, được các lãnh tụ Lam Sơn đãi ngộ rất trọng hậu và được phong chức lớn: nhập nội tư không, đồng bình chương sự, cầm quyền cai trị miền Đà Giang. Các con Xa Khả Tham là Xa Lộc, Xa Hát, Xa Bàn, Xa Điểm đều được phong đại tướng quân. Mấy cha con đều được ban họ Lê là họ của lãnh tụ Lê Lợi. Hai tháng sau, Lê Khả Tham tặng nghĩa quân 3 con voi cùng nhiều thứ quý như vàng bạc, chiêng đồng. Một tháng sau nữa, các lãnh tụ Lam Sơn hạ lệnh cho các nơi chế xe đánh thành, làm đồ đánh giặc, và có lẽ Lê Khả Tham đã có nhiều công trong việc này nên được thưởng 20 tấm lụa và 10 con ngựa.

Thanh niên trai tráng lại càng hưởng ứng mạnh mẽ những lời kêu gọi của các lãnh tụ nghĩa quân. Tinh thần quyết chiến quyết thắng của cả nước càng được động viên mạnh, thì nhân dân khắp nơi nô nức tòng quân ngày càng nhiều. Trong không khí phấn khởi lập công của toàn dân, tháng 6 năm 1427, Lê Lợi hạ lệnh tuyển quân: những người cường tráng tinh nhuệ được gia nhập quân đội, mỗi thiếu uý được phép lựa lấy 200 người để tăng cường đội ngũ của mình. Tháng 9 năm 1427, khi viện binh Liễu Thăng sắp tới biên giới, Lê Lợi, lại một lần nữa hạ lệnh cho nhân dân các lộ đến dinh Bồ Đề, để chọn lấy người mạnh khoẻ sung vào quân ngũ.
________________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 29.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 34.
3, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 38.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #145 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:53:33 pm »


Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân đặc biệt chú trọng động viên tinh thần quân đội. Tháng 5 năm 1427, Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi, viết dụ gửi các tướng hiệu quân nhân 14 vệ quân thiết đột, lời lẽ rất chân tình:

"Có thể cùng lòng liều chết để phá giặc, là sức của các ngươi, còn xếp đặt mưu hoạch, áo cơm, khen thưởng thì do ở ta, bọn các ngươi chớ ngại khó nhọc, chớ lo nghèo thiếu. Bao giờ thấy vợ con ta nghèo thiếu, thì vợ con các ngươi mới nghèo thiếu. Mong các ngươi một lòng đánh giặc, chớ có phiền não"1

Để động viên toàn quân, Nguyễn Trãi viết gửi cho các tướng và quân nhân lời hứa hẹn như sau:

"Giặc Minh tàn ngược dân ta hơn hai chục năm. Buổi đầu quân ta hơn mấy vạn, hiện nay có 35 vạn quân, đợi khi phá được thành Đông Quan, sẽ cho 25 vạn người về làm ruộng, chỉ để lại 10 vạn làm quân để phòng việc nước. Một nhà 3 người thì 1 người làm quân, phàm phu dịch đều tha cho 3 năm”2.

Tháng 8 năm 1427, Nguyễn Trãi lại gửi cho các tướng lĩnh lời dụ, vừa động viên vừa ra lệnh:

"Người cầm quân lính phải chăm đánh dẹp, người giữ chuyên chở, phải chăm vận lương, vào núi xẻ ván, nấu cát làm muối ngăn giữ thủy bộ, chặt bắt gian phi, đều phải quên mình hết sức, cùng nhau tính việc diệt giặc..."3.

Nguyễn Trãi là người lúc nào cũng quan tâm đến toàn quân. Những đơn vị quân đội làm nhiệm vụ ở xa cũng như ở gần, ông đều ân cần săn sóc. Trong khi bận rộn rất nhiều công việc ở Đông Đô để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu quyết liệt sắp tới, Nguyễn Trãi vẫn không quên nghĩ tới những đạo quân ở xa đương làm nhiệm vụ bảo vệ dân ở Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá.
_____________________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 35 - 36.
2, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t III, tr. 36, 40 - 41.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #146 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2016, 09:59:22 pm »


Với các tướng hiệu quân nhân ở Tân Bình, Thuận Hóa1 ông gửi lời dụ, trong có những đoạn như:

"Bỏ mình báo nước là đại tiết của nhân thần: định công ban thưởng là ân điển của Nhà nước. Nay bọn ngươi có lòng chung nghĩa, có khí dũng cảm, đánh những kẻ nhà vua căm ghét, mấy lần công trạng rỡ ràng. Xưa bản triều ta2 đương lúc hưng thịnh thời tiên hoàng, Chiêm Thành trái mệnh, xâm lấn biên ấp nước ta, ông cha các ngươi đã hết lòng gắng sức, lo báo nước nhà, đánh đuổi giặc Chiêm, thu về bờ cõi, tiếng thơm công lớn, sử sách lưu truyền. Nay giặc Minh cuồng bạo, làm điều bất đạo, trái với lòng trời, độc vũ cùng binh, cốt rộng thêm đất, sinh dân khổ sở hơn hai mươi năm. Song vận trời tuần hoàn, đi rồi lại lại. Nghĩa binh nổi dậy, cuốn chiếu đuổi tràn, trong mấy tháng trời, khôi phục đất cũ. Duy một thành Đông Quan, tướng giặc Vương Thông, hồn đã lìa xác, còn chút hơi tàn, mà chỉ chực lại hung hăng giương cánh... Nay bọn ngươi lấy chức phận phiên thần, biết nghĩ đến công nghiệp của ông cha ngày trước, tận trung với nước, cùng lòng hợp sức mưu rửa quốc sỉ, đã đánh là lấy được, đến đâu là lập công. Trung thành như thế thật đáng thưởng khen. Vậy sai ban thưởng để đền công lao. Các ngươi cố đi"3.

Đối với các tướng hiệu quân nhân ở Thanh Hóa, Nghệ An, là những người đã tham gia chiến đấu từ lâu năm và cũng đã sống lâu năm trong kỷ luật của quân nhân, Nguyễn Trãi lại động viên theo một tinh thần khác:

"Ta khởi nghĩa ở đất các ngươi, nay muốn thành công, mong các ngươi giữ chung thuỷ một lòng đá vàng một tiết, để toàn cái tiết quân thần, phụ tử. Ta biết các ngươi đều là người tài trong nước, nhưng ngày trước về thời Hưng Khánh, Trùng Quang4, chỉ uổng hư danh, không thành công nghiệp, đó là vì nhiều người nắm quyền, đại thần không biết, liền các ngươi chỉ phí sức thôi. Nay thiên hạ đã nhất thống, ta với các ngươi, nghĩa như cha con, mong cùng hết lòng để thu lại bờ cõi. Xưa nay khanh tướng phong hầu tưởng cũng như các ngươi chẳng khác. Hãy chỉnh đội ngũ của các ngươi, hãy luyện quân lính của các ngươi. Dẹp xong quân tàn khấu, sẽ chia nửa quân cho về làm ruộng. Nay trời mượn tay ta, việc không đừng được, ai theo mệnh ta thì phá giặc, sống mà có công, ai không theo mệnh ta thì chết chẳng được gì. Mỗi đội đều sao viết lệnh này ra một bản, ngày đọc hai ba lần cho quân nhân đều biết "5.
_____________________________________
1. Bức thư này trong Quân trung từ mệnh tập ghi là gửi cho tướng hiệu quân nhân Thanh Hóa, Nghệ An, nhưng trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi là gửi cho tướng hiệu quân nhân Tân Bình, Thuận Hóa. Xem nội dung thư, thấy Đại Việt sử ký toàn thư và Phủ biên tạp lục ghi như thế là đúng. Tân Bình, Thuận Hóa ở liền sát Chiêm Thành, đủ nhiều lần chống đánh lại những hành động xâm lấn của người Chiêm.
2. Chỉ nhà Trần theo danh nghĩa nhà vua lúc ấy là Trần Cao.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 41-42. Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, tr. 57 - 58.
4. Hưng Khánh là niên hiệu của Giản Định đế Trần Ngỗi (1407 - 1408), Trùng Quang là niên hiệu của Trần Quí Khoáng (1409 - 1413).
5. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 36. Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, tr. 58.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #147 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2016, 09:26:03 pm »


Đối với quân sĩ, các lãnh tụ Lam Sơn không chỉ động viên tinh thần, mà còn chú ý khen thưởng, khuyến khích, kể cả khuyến khích vật chất. Đối với "ba quân, người nào có thể liều mình vì nước, tinh thông võ nghệ, có sức mạnh dạn, không nề sống chết đều cấp cho văn bằng tuyển vào làm thị vệ ở Nội phủ"1 tức là những đơn vị tinh nhuệ, có tín nhiệm và được trọng đãi. Đối với các tướng lĩnh, từ tháng 3 năm 1427, ra lệnh "các tướng hiệu bắt đầu tính công bằng sự lập công mới: đại thần đến chức thiếu úy mà có công lao to được thưởng phù vàng thì được ăn lộc một quận, chức chấp lệnh mà có công thì được ăn lộc một ấp2, các đốc tướng quân nhân cũng được ăn lộc một quận, một ấp theo thứ bậc khác nhau. Người nào không có công, không được thưởng gì, đều giáng làm thường dân"3.

Để nâng cao hơn nữa tinh thần chiến đấu của quân đội ngoài việc động viên, khuyến khích, khen thưởng còn cần có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh. Tháng 4 năm 1427, nghĩa quân mở duyệt binh lớn ở Vĩnh Động (nay là Kim Động, Hải Hưng) và diễn tập thuỷ chiến. Trong duyệt binh và diễn tập, một võ quan là chánh đốc Nguyễn Liên, kỷ luật không nghiêm minh, để hàng ngũ không chỉnh tề, khí giới không giữ gìn cẩn thận, bị quân luật phải xử chém để làm gương trong toàn quân. Nhân việc đó các lãnh tụ nghĩa quân ban bố liên tiếp nhiều điều quân luật, quân lệnh để đề cao thêm nữa tính kỷ luật trong quân đội. Nhưng trước khi thi hành muốn tránh những trường hợp các tướng lĩnh có thể lạm dụng quyền trên làm sai luật lệnh, các lãnh tụ nghĩa quân đã ra lệnh cho các thiếu úy và chấp lệnh: "Đối với quân nhân can phạm pháp luật trong lúc thường, không được tự tiện chuyên quyền mà giết, chỉ trừ khi kẻ nào ra trận mà trái lệnh, thì được phép xử trí bằng quân pháp”4.

Sau đó các lãnh tụ nghĩa quân ban bố mười điều "quân luật":

      1. Làm huyên náo trong quân;
      2. Trong quân kinh động hão, nói càn những điều họa phúc làm dao động lòng quân;
      3. Khi ra trận nghe tiếng trống, trông thấy cờ hiệu, mà giả cách không nghe, không thấy, dùng dằng không tiến;
      4. Khi ra trận, trông thấy cờ đỗ quân, nghe thanh la đỗ quân, mà không đứng lại;
      5. Khi nghe tiếng chiêng lui quân mà cường không lui;
      6. Canh phòng túc trực không siêng, hoặc ngủ say bỏ canh, bỏ hàng ngũ ngầm trốn về;
      7. Say mê nữ sắc, thả riêng cho người họ nhà vợ không đương quân dịch;
      8. Bán thả quân nhân cùng là che giấu không biên vào quân;
      9. Đem lòng ưa ghét riêng mà điên đảo công tội của người;.
      10. Cùng mọi người không hoà, gian ác, trộm cắp.
      - Trở lên mười điều, người nào can phạm đều chém
5.

Các lãnh tụ lại đề ra ba điều để răn chung tất cả các quan văn võ:
      1. Chớ vô tình;
      2. Chớ lừa dối;
      3. Chớ gian tham
6;
_________________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 32.
2. Tức là được thu thuế của nhân dân các quận hay ấp làm bổng lộc. Bổng lộc cao hay thấp là tùy theo số dân trong quận hay ấp được ban cấp nhiều hay ít.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 32.
4. Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, t. VIII, tr. 46.
5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 36 - 37.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #148 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2016, 09:32:09 pm »


Tháng 6 năm 1427, các lãnh tụ định rõ hiệu lệnh cho các tướng lĩnh:

"Phàm khi nào nghe tiếng súng mà không có tiếng chiêng thì các tướng phải đến ngay để nghe lệnh; hoặc nghe 2, 3 tiếng súng và 2, 3 tiếng chiêng thế là có sự cảnh cấp, các chấp lệnh và đốc tướng phải chỉnh bị ngay hàng ngữ, mà thiếu uý thì đến ngay quân dinh nghe lệnh"1.

Để bảo đảm đạo đức liêm chính của người làm tướng, các lãnh tụ nghĩa quân ra lệnh:

"Các tướng hiệu lớn nhỏ phải làm tờ cung kết là không gian tham nhận của đút lót, không lấy vợ là người trong bản lộ, không chiếm giữ người họ hàng của quân nhân để sai khiến riêng"2.

Tháng 8 năm 1427, các lãnh tụ lại bổ sung thêm mấy điều luật lệnh cho quân nhân khi ra trận:

"Các quân ra trận, hoặc toán 50 người toán 100 người, tự lui chạy riêng mà bỏ lại 1, 2 người không cứu, thì chém cả toán, không may có người chết tại trận, mà cùng nhau góp sức khiêng xác ra ngoài thì được tha tội"3.

Một đạo quân quyết chiến quyết thắng phải là một đạo quân mạnh về tinh thần, mạnh về thể chất, mạnh về tổ chức, mạnh cả về trình độ chiến đấu và trang bị kỹ thuật, đúng như Nguyễn Trãi đã chủ trương:

"...vỗ nuôi sĩ tốt, vời đón hiền giả, thu dụng nhân tài, sửa rèn khí giới, luyện tập binh tượng, dạy bảo những phương pháp ngồi, dậy, tiến, lui, lại hun đúc bằng những điều nhân nghĩa, khiến ai cũng hết lòng thành, thân với kẻ trên, chết cho người trưởng. Đạo quân ấy ra đối phó với địch thì kẻ nào theo ý hướng ta sẽ sống, kẻ nào trái ý hướng ta sẽ chết"4.

Cho nên trong thời gian này, các lãnh tụ nghĩa quân không lấy việc ra quân chiến đấu là chính, như Nguyễn Trãi đã nói "Ta hãy cởi giáp nghỉ binh"5 mà lấy việc tập luyện binh sĩ là chính. Ngoài việc rèn luyện hàng ngày, nghĩa quân luôn luôn tổ chức tập trận, không những tập đánh trên bộ mà tập đánh cả trên sông, ngoài biển. Thật ra, đánh mấy thành địch còn lại thì thuỷ chiến là không cần thiết, nhưng nghĩa quân chủ trương rèn luyện toàn diện, chuẩn bị chiến đấu, đánh thắng viện binh địch bất kỳ chúng tiến vào bằng đường nào, đường bộ hay đường sông, đường biển.
_______________________________________
1-3. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 38, 39, 40.
4, 5. Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, bản dịch, tr. 56 - 57.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #149 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2016, 09:40:13 pm »


Việc chế tạo, chuẩn bị các vũ khí và phương tiện chiến đấu được các lãnh tụ nghĩa quân rất chú trọng và nhân dân nhiệt tình góp sức. Từ những ngày đầu năm 1427, công việc chế xe đánh thành, làm thuyền chiến, chế súng "cổn dương" được tiến hành thường xuyên. Nhân dân các địa phương tích cực cung cấp nguyên vật liệu và phương tiện chiến đấu. Nhân dân lộ Yên Bang cung cấp tên bằng tre và gỗ làm cọc dùng cho thủy chiến. Nhân dân huyện Tân Phúc (nay là Đa Phúc, Vĩnh Phú) mở lò rèn sắt. Nhân dân các trấn Thái Nguyên, Lạng Sơn cung cấp vỏ gai.

Đi đôi với việc phát triển lực lượng, tăng cường sức chiến đấu của quân đội là việc củng cố hậu phương vững mạnh, ổn định đời sống nhân dân, phát triển sản xuất và bảo đảm trật tự an ninh xã hội.

Tháng 5 năm 1427 Lê Lợi hạ lệnh cho tất cả những ai trong nhân dân bị giặc cướp phá phải xiêu giạt, phiêu tán đi các nơi, đều trở về quê cũ làm ruộng: "Người nào không có điền sản thì cho được buôn bán. Người nào bỏ nghề nghiệp thì xử tội nặng"1. Để bảo vệ trồng trọt, từ đầu năm 1427, các lãnh tụ nghĩa quân ra lệnh cấm chặt hoa quả, cây cối và cướp bóc tài sản. Để tăng cường sức sản xuất, tháng 5 năm 1427, các lãnh tụ hạ lệnh cấm lối sống du thủ du thực, "những người lớn khoẻ mà chưa vào sổ quân dân, du thủ du thực, không có sai dịch, người nào bắt được hạng ấy đưa đến quân môn thì thưởng cho tước một tư”2.

Trong điều kiện chiến tranh chưa chấm dứt, giặc xâm lược còn ở trong nước, việc giữ vững trật tự an ninh xã hội là rất cần thiết. Từ tháng 4 năm 1427, các lãnh tụ nghĩa quân hạ lệnh "Cấm những kẻ xưng là đồng cốt tà thuật, giả tiếng là thần, đem lời bịa đặt mê hoặc lòng người"3 và "kẻ nào huyễn hoặc các châu huyện thì bắt giải đến quân môn để chém"4. Tháng sau lại hạ lệnh cho "các nơi quan yếu cấm giữ cho nghiêm, xét hỏi những người dị dạng, cùng là xét thư từ việc quân bốn mặt biên giới thật hay giả"5. Để tẩy trừ mọi ảnh hưởng vết tích của thời kỳ quân Minh thống trị các lãnh tụ nghĩa quân hạ lệnh cho nhân dân "tiếp tục nộp những văn bằng khám hợp và ấn tín của thời giặc Ngô”6
___________________________________
1-5. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 34, 35.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, t. III, tr. 38.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM