Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:40:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến dịch Biên giới  (Đọc 25547 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #50 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 09:46:07 pm »

10-10-50

                  Bắt được thằng Hai Tu, tỉnh trưởng Cao Bằng.
                  Một thằng Tây mặt bị eclat (mảnh) lựu đạn, hỏi có thể gửi thư cho nhà được không. Hắn nói hắn có ba con, và gạt nước mắt như đứa trẻ, ệu ạo nói: Khi tôi sang, chúng nó có bảo là sang đánh nhau đâu, sang để bình định.
                  Ông cụ Thổ sung sướng được về. Bị bắt ở Trùng Khánh tám tháng, vì có con đi bộ đội và cán bộ. Giặc bắt giặt giũ. Vớ được cái đồng hồ ba kim. Gặp bộ đội anh Trang, anh ấy mượn để đi đánh giặc, cụ cho mượn.
                  Súng vứt nhiều quá. Anh nhiếp ảnh đi cũng vớ được khẩu súng máy: mas.

MỘT VÀI GƯƠNG ANH DŨNG

                  1- Anh b trưởng c 9 bị thương vào mông đạn còn mắc ở trong, được Bộ chỉ huy cho về, anh vẫn không muốn về và đề nghị cho ở lại để tiếp tục chiến đấu. Bộ chỉ huy hạ lệnh anh phải về nghỉ. Trước khi về, anh tập trung các cán bộ lại xung quanh trao nhiệm vụ, anh không quên trao lại kế hoạch lập công của đơn vị mình:
                  - Tiếc rằng tôi bị thương sớm quá thành thử kế hoạch lập công dự định chưa thực hiện được đến đâu, mong các đồng chí tiếp tục cho tới thành công để giữ lấy lời hứa danh dự của đơn vị ta.
                  - Chúng tôi nhất quyết thay đồng chí thực hiện bằng được và trả thù cho vết thương của đồng chí.
                  2- Một lục sao(1), tiếp tế cơm nước ở c 9, chị vừa trẻ, vừa vui tính, dáng người nhỏ nhắn, nhưng cũng thoăn thoắt bước nhanh không kém vệ chiến(2). Tàu bay bắn lu bù, bom vỡ trời. Chị vẫn thản nhiên ngồi nấp bên các anh vệ vui vẻ chuyện trò. Quân ta xung phong lên núi, đại bác, đạn liên thanh như xả vào mặt. Các anh chiến đấu vượt lên trước đuổi giặc. Chị lặng lẽ theo sau, cũng bò, cũng tiến, mang cơm nắm cho các anh. Thế rồi đơn vị ấy thắng trận trở về. Đi sau những anh chiến đấu, người ta lại thấy chị đều bước vẻ mặt hớn hở hồng hồng.
                  3- Đạn liên thanh rú trên đầu. Tiểu đội trưởng T nhanh nhẹn tiến lên đỉnh đồi gặp một tên giặc. Hai bên vật nhau. Nhưng vì yếu hơn, T bị tên giặc giằng súng bắn chết. Một đội viên chạy lại ôm lấy tên đó, cả hai cùng lăn xuống hố. Tiếng ằng ặc ở dưới vẳng lên. Đội viên 2 xông đến miệng hố chĩa súng bắn chết giặc. Lúc ấy một thằng nữa ở hố bên lẻn ra sau giơ báng súng nện vào đầu hai đội viên. Tiểu đội trưởng Lực vừa lên kịp, ba phát súng nổ. Tên giặc gục xuống. Sau đồi ba lê dương mặt đỏ gay vừa chạy lại, súng bắn lia lịa. Chín phát súng nổ ba tên ngã. Ba tên nữa chạy lên. Lực ngang nhiên đợi. Một loạt súng rít lên. Ba tên giặc gục lên nhau. Súng giặc ở đồi bên bắn sang tới tấp. Lực ngoảnh lại, các đội viên bị đạn gần hết.
                  Anh biết không tiến được nữa, ném liền mấy quả lựu đạn, bắn một loạt súng rồi lùi lại định vác khẩu trung liên nhưng nặng quá, anh đành rút xuống, súng địch vẫn ríu rít quanh người.


BAN CHỈ HUY E GHI CÔNG

                  - Anh Nguyễn Huy Riểu chính trị viên c can đảm nắm vững bộ đội, trong khi bộ đội bị thương vong, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ. C còn 15 người vẫn xung phong. Anh bị thương sau khi dũng cảm làm nhiệm vụ.
                  - Anh Phan Đề Yêm c phó, bình tĩnh dẫn bộ đội, xung phong lên sát địch trong mấy đợt, bị thương ở bả vai.
                  - Anh Nguyễn Văn Hạ b trưởng - bình tĩnh dẫn bộ đội lên xung phong tiêu diệt địch và bị thương vào mặt.
                  - Anh Nguyễn Văn Các chiến đấu viên rất gan dạ, sau khi đã ném lựu đạn làm cho hai Tây chết, anh nhảy bổ lên xung phong để cướp súng, nhưng bị thương ngay vì mảnh lựu đạn của địch ném vào mạng sườn bên phải.
                  - Đội viên Dương Văn Dung, tổ trưởng đã bình tĩnh, gương mẫu nắm vững tinh thần anh em trong khi giáp lá cà và giao chiến với địch.

                  Chị Hồng
                  Trong hang giải phẫu, chị thoăn thoắt đi lại, chị làm được tất cả mọi việc, nhanh, trọn vẹn, chăm chỉ. Lúc này chị bón cơm cho anh em thương binh, bị đạn vào tay, lúc khác đã thấy chị rửa ráy chân tay cho một anh khác. Chị sẵn sàng dùng khăn mặt của mình để lau cọ cho anh em.


ĐIỆN HỒ CHỦ TỊCH GỬI CÁC CHIẾN SĨ
                  Cùng toàn thể chiến sĩ thân mến,
                  Trong chiến dịch này, toàn thể bộ đội và nhân dân ta đã cố gắng gây được thành tích khá như khôi phục lại Đông Khê, bức địch phải rút khỏi Cao Bằng.
                  Hiện nay tình thế rất lợi cho ta, vậy các chiến sĩ cần phải quyết tâm tiêu diệt địch cho kỳ hết để tranh lấy toàn thắng.
                  Bác theo rõi cuộc chiến đấu anh dũng của các chú từng giờ. Bác sẽ có phần thưởng đặc biệt cho những bộ đội và chiến sĩ nào, đơn vị nào lập chiến công nhiều nhất.
                  Nào chiến sĩ nào, đơn vị nào hứa tới Bác quyết giật giải Anh hùng Cao Bắc Lạng và đơn vị kiểu mẩu.
                  Bác chờ các chủ trả lời ngay.
                  Chào thân ái và quyết thắng.
                  6-10.


LỜI ĐẠI TƯỚNG GỬI CÁC ĐƠN VỊ

                  Có tin hồi 10 giờ hôm qua 3-10, dịch rút khỏi Cao Bằng, chưa rõ đi đường nào, nhưng rất có thể về phía Thất Khê trì vậy Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho F28(3) lợi dụng điều kiện của ta hôm nay mà tích cực hành động tranh thủ từng giờ từng phút giải quyết được nhanh chóng để kịp thời khuếch trương chiến quả và không cho quân dịch cứu vãn tình thế nguy ngập của chúng hôm nay.
                  Bộ Tổng tư lệnh kêu gọi toàn thể chiến sĩ phát huy đến cùng tinh thần xung phong anh dũng chiến đấu quả cảm, hoàn thành nhiệm vụ lớn của E(?) và bảo đảm cho cuộc chiến đấu được toàn thắng, cơ hội này là một cơ hội hiếm có để quân ta lập công to trên chiến trường biên giới.
                  Chúng ta nắm lấy và lợi dụng triệt để.


(1). Tiếng Tày, có nghĩa là con gái.
(2). Chiến sĩ Vệ quốc quân.
(3). Có thể là mật số của f 308 (Đại đoàn 308).


10-10-50 (?)

                 Vận động chiến: Bộ đội truy kích giặc. Cấp dưỡng truy kích bộ đội.
                  Chấn: con người hào phóng.
                  Anh em cấp dưỡng cũng biết Haut les mains (Giơ tay lên). Anh em vắt dây trèo lên, ném lựu đạn xuống hang chết hàng trung đội. Có anh rơi xuống vực nát sọ.
                  Một anh tù binh ra hàng dẫn bộ đội vào hang bị Tây bắt, anh kia lợi dụng mình là tù Tây không để ý lẻn đến giết thằng Tây.
                  Bộ đội cầm nắm cơm truy kích. Tây ra hàng. Do đấy bộ đội cứ cầm nắm cơm đi. Allez, venez manger (Nào, ra ăn đi). Le Page [cho người ra] hỏi: Người tiếp nhận tôi đầu hàng là cấp nào. Trần Đăng Khiêm, c trưởng lên bắt nó bỏ vũ khí. Nó yêu cầu phải là những người ngang cấp. Xuống núi thì ta tước võ khí.
                  Cho bươm bướm lên các núi để địch vận dụ Tây ra
                  Tối, hai vệ binh bắt được một Tây trâng tráo và hai Việt gian. Tây nói không có nationalité (quốc tịch), khẩu súng ấy của tôi, v.v... Sợ chết và muốn tâng công.
                  Bộ đội đuổi giặc, gặp giặc ở đâu là đặt chỉ huy sở ở đấy.
                  Ông cụ chủ không bán gà, nhưng nấu nước mời, lấy mỡ trả tiền không nhận.
                  - Nó nghĩ gì, những thằng Tabor(1) ngu ngốc, râu xồm? Nó có nghĩ đến xứ có cây đat(2), có bãi sa mạc của nó không? Mỗi khi một đứa chết, chúng hướng về phương Tây mà vái lậy. Bao giờ khai thông khối óc cho họ?


(1). Lính Marôc trong đội quân viễn chinh của Pháp.
(2). Dattier. Chà là.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #51 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 09:58:23 pm »

11-10-50

                  Tin giặc rút Thất Khê. Hôm qua 4 chiếc đến, rồi lại 4 chiếc đacôta khác đến. Có lẽ là để đem bộ đội Tây đi.
                  Tin Lao Kay [địch] cũng rút, sau khi ném bom xuống Hồ Kiều. TN (Thái Nguyên): giặc càn quét dữ. Lo cho tài liệu.

                  [Thư của trung úy Bros Roger gửi Lusette]
                  Ma chère Lusette.
                  Je suis prisonnier, c'est une affaire peu intéressante. Je n'ai plus rien que ce que j'ai sur moi.
                  Je n'ai su comme survivants de mon équipe et prisonniers que Milou - Golbes (?) - Devaud - Vernay - Fernandez.
                  Je suis avec le colonel Charton et d'autres officiers. Fais toi rapatrier d'urgence et attends moi en France.(...)
                  Il faudrait que tu essaie d'intervenir pour nous faire par venir par les organismes officiels — ce qui serait nécessaire - voir la croix rouge.
                  Pour moi fais moi parvenir pipe. Tabac, interieurs chauds, jeux de bridge. Enfin tu verras.
                  Fais moi parvenir qq. petits mots par le (...) canal.
                  Voila (...) tout le monde jusqu'à ce qu'on s'occupe de nous.
                                          Bon baiser
               (...)
                                       Le Lt Bros Roger du 3e(1)
                  Gặp Charton. Nó trâng tráo. Không chịu cho chụp ảnh, nói: Tôi không xinh như Le Page. Và để tay lên mũi khình bỉ.
                  Một đám khố đỏ bên một đống súng cướp được. Một thằng đội đã đi lính với Pháp từ 1928. Một thằng đội thông ngôn răng vàng nói đã có ra bộ đội nhưng không được tuyển vì đau tim, sau lại xin đi học y tá cũng không được. Lương được 2800, coi kho. Xin nói chuyện riêng với Lê Vinh Quốc, muốn Chính phủ tha cho về Lạng Sơn tìm vợ con và làm tay trong cho mình. Láu lỉnh và ngờ nghệch. Một anh khố đỏ rưng rưng nước mắt xin vào Vệ quốc quân. Hỏi có muốn vào bộ đội không, đa số xin vào. Một anh áo complet gris (com lê xám), chỉ xin về Cao Bằng, đón vợ con ở Lạng Sơn về. Vì khi rút Cao Bằng, giặc không phá phách, và bắt đàn bà trẻ con lên máy bay trở về Lạng Sơn, còn thanh niên thì bắt đi theo.
                  Có một chiếc xe ô tô của ta ở Đông Khê về Cao Bằng chở thương binh. Mấy thằng Tây trốn trong rừng tưởng xe nó, chạy ra bám lên. Chúng bị kéo vào và biết rằng mình đã bị cầm tù.
                  Trần Độ gọi dây nói cho Lê Vinh Quốc:
                     Ai đưa Tây đến chốn này
                     Bên kia 28 bên này, 73 (2).
                  * Ông cụ đi mua gà mua trứng cho không được. Được tin mai bộ đội đi, cụ kinh ngạc: Bộ đội đi thì cụ nó buồn, buồn hai, ba ngày mới hết mà. Rồi ông cụ cho sắn nướng, đi sao chè để pha chè. Trong khi ấy thì nhà bên cạnh bộ đội và dân cãi nhau về một cái ca mất.
                  * Chấn: tát một anh thổi capote (bao cao su) của Tây.
                  Quân ta đuổi Tây. Nó lên một bước là đuổi một bước. Không cần gì.
                  Chiến lợi phẩm bừa bãi: lột đồng hồ, áo, ba lô của Tây. Nó trần như nhộng. Có anh bắt được lừa, giao cho cấp dưỡng để nó thồ cơm cho anh em, rồi cấp dưỡng lại bị người khác lấy mất lừa. Tuy nhiều chiến sĩ trực tiếp đuổi giặc thì ít giữ chiến lợi phẩm.
                  Có thể viết một vở kịch vui về bộ đội đuổi Tây. Hình ảnh Chấn. Có đội viên lúc hấp hối muốn gặp Chấn vì yêu mến.
                  Cảnh trộ Tây:
                  Nắm cơm: Camarades francais, venez manger (Các bạn Pháp, đến đây ăn nào).
                  Thơ :
                  Đói cơm đuổi giặc
                  Giặc lại chạy tràn
                  Mình cẩn đuổi tràn
                  Tụi giặc đâm lo
                  Mình cũng hóa no.

 
                  Lusette thân yêu,Anh bị bắt làm tù binh, một việc chẳng lý thú gì. Anh chẳng còn lại gì ngoài những thứ mang trên người.
                 ་Trong đội của anh, anh chỉ biết những người còn sống sót và bị bắt làm tù binh là Millou, Golbes (?), Devaud, Vemay và Fernandez.
                 Anh đang bị giam giữ cùng với đại tá Charton và một số sĩ quan khác.
                 Em hãy sớm hồi hương và đợi anh ở Pháp. (...)
                 Em phải cố can thiệp để người ta gửi đến cho bọn anh thông qua các tổ chức chính thống - điều này là cần thiết - hoặc là qua tổ chức chữ thập đỏ.
                 Về phần anh thì làm sao để chuyển đến cho anh chiếc tẩu. Thuốc lá, các đồ lót ấm, bộ bài bridge. Rồi em sẽ thấy.
                 Hãy làm sao để gửi đến cho anh vài ba chữ thông qua kênh (...)
                 Đây là (...) tất cả mọi người cho đến khi người ta quan tâm đến bọn anh.

                        
Hôn em
               (...)
                  
Trung úy Bros Roger thuộc binh đoàn 3

(1).    Lusette thân yêu,
(2). 28: Tiểu đoàn 28 thuộc Trung đoàn 88. Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân tiên phong). 73, mật số của 209 (Trung đoàn Sông Lô).


12-10-50

                  Giặc rút được TK (Thất Khê).
                  Diệt đồn bản N. trong 10 phút.
                  Diệt đồn Nà Cạn và Nà Lạm.
                  Đêm 9-10. Diệt Bản Trại, phá cầu Bản Trại.
                  Diệt một c ở Na Sầm.
                  Khu 3 diệt 20 đồn.
                  304 lên Thái [Nguyên] đánh.
                  * Lúc trở về Cốc Xá, anh em gặp dân chúng, hát bài của Phạm Duy:
                     Bộ đội đã ghé về đây
                     Quân dân nắm tay vui vầy.
                  Ngày hôm nay Bố Bạch vẫn bắn súng bừa bãi, vui như Tết.


*

                  Lấy của bộ đội nhiều, không làm gì cho bộ đội.
                  Chấn phàn nàn bị kỷ luật. Con người sắc mắc, không chịu khuất, không sợ cấp trên. Không ăn ý với Hồng Sơn(1), qua Tùy nói thẳng với Hồng Sơn là không phục. Thích văn nghệ. Thích ai thì thích ra mặt, không thích ai thì không thích ra mặt. Không có tình cảm lẫn lộn.
                  Cũng nói về Đảng: tư sản hóa.


*
                 Trong cả cái mớ hỗn độn của Đông Bắc, không biết cái nào là cái chính. Mung lung trong đầu óc. Chỉ thấy rõ rệt nhất là cảnh Bố Bạch.
                  Tụi Tây nói chuyện với nhau rằng ta có cả ĐKZ. Một thằng nói: Tàu chứ gì. Thằng khác trả lời: Không. Fabrication locale (tự chế tạo lấy).
                  Báo tin giặc rút TK (Thất Khê), Lao Kay, một thằng rún vai nói:
                  - Alors, c'est l'offensive générale (Thế là tổng công kích).


(1). Hồng Sơn: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36.
Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #52 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:09:27 pm »

13-10-50

                  Lên đường đi TK (Thất Khê). Xác ngựa và một xác Tây đen trần truồng, thối.
                  Lâu ngày giam hãm trong rừng, được trông thấy đường cái, lòng nhẹ nhẹ. Lại những lán, những hố. Qua Bông Lau, những xác ô tô năm xưa. Một xe mới bị rớt, những quãng đường bộc lôi phá. Cuộc chiến đấu ác liệt.
                  Nảy ý kiến viết về con đường số 4.
                  Bộ đội đi như nước. Lại thấy bóng dân công.
                  Đồn Bản Ne trên đỉnh. Bộ đội ta đóng. Hòm đạn, một chiếc 105 nằm rúc bên đường. Những vỏ đồ hộp. Gần TK (Thất Khê). Trên đỉnh núi, một lũ tây đen do dự không dám xuống. Một Tabor, một Đức gọi chúng. Lâu lâu chúng xuống, quần ướt [như] chuột lột. Không biết gì, ngơ ngác, đeo súng sau vai. Anh bộ đội tước súng, một thằng chỉ vào mồm xin ăn.
                  Bóng TK (Thất Khê) giữa thung lũng, lúa vàng. Bộ đội mua củ đậu. Những người dân đạo xóm đạo. Những đồn ngoại vi đỏ kệch. Một đồn vuông. Không có cờ. Một đàn quạ đen, lượn trên trời muốn mưa, rồi đậu trên hàng rào tre. Cầu Bông Lau quằn nghiêng.
                  Vào TK. 84 chiếm đóng. Vành trăng liềm. Đàn quạ bay quanh. Xóm lạnh lẽo. Một mả binh lính REI(1). Những ruộng trong thị trấn ép trong hàng dây thép gai. Một ngọn nến trong một nhà công giáo.
                  Ủy ban thu dọn chiến trường. Những quân trang ngổn ngang. Vài cái dù giấy chung quanh đồn. Mấy cái casemate (hầm) trắng mắt ngang mặt đất.
                  Cầu: suối chảy lặng lẽ.
                  Ô tô chạy đêm. Xe gip. Ngựa, lừa các cố vấn.
                  Hôm nay Cụ và Hưng tới. Không được tới gặp.
                  Tin giặc rút TN (Thái Nguyên), và đêm nay rút NS (Na Sầm). Rút TN 10 giờ hôm qua.
                  * Bộ đội đi, thỉnh thoảng bắn súng.
                  Dũng 84 nói chuyện: đói. Đuổi giặc qua một ruộng sắn, mừng lấy ăn, viết giấy treo: Bộ đội ăn, nếu tính tiền viết thư cho d 3, nếu không thì ủng hộ bộ đội, cám ơn.
                  Gặp Le Page. Nó ôm lấy khóc: Không muốn chiến tranh.
                  Tù binh ở TK đông ngang bộ đội và dân chúng. Chúng ở một camp (trại). Nấu nướng. Bộ đội cho là nó không muốn đi. Chủ quan.


(1). Trung đoàn bộ binh lê dương (viết tắt của các chữ tiếng Pháp Regiment étranger d'infanterie).

14-10-50

                  Đồn Khâu Tích – Hang Mạ – Chấp Giao.
                  Rất nhiều tù binh. Họ không muốn về (theo chủ quan của bộ đội). Một thằng múc nước, đổ cho mình rửa tay.
                  Tối qua, sau bữa tiệc [với] Hưng, đạn nổ do sự sơ suất của mình. Cháy nhiều. Đêm vẫn còn nô
                  Nằm ngủ tại một nhà thương. Có cửa kính sần, khá văn minh. Có sân - quang cảnh sân nhà tỉnh lẻ hồi xưa nay rất hiếm. Đêm nằm trằn trọc, nghĩ tới chiến lợi phẩm. Và công việc.
                  Tâm hồn cán bộ khổ vì chiến lợi phẩm. Ăn vương vãi, quần áo vứt. Có người không phải cấp chỉ huy hớp một ít rượu. Một hộp bơ phì bên đường. Bẽn lẽn vì chiến lợi phẩm. Thu vén vì chiến lợi phẩm. Con người hạ thấp quá. Bỏ công bỏ việc vì chiến lợi phẩm. Tìm cách để có chiến lợi phẩm, v.v...
                  J. Moch(1) báo cáo ở Mỹ về tình hình Đông Khê, xin tích cực viện trợ, vì: mặc dầu do Việt Minh làm, nhưng sự giúp đỡ của Giải phóng quân đã rõ rệt. Mỹ nói: Đồng ý tăng viện, nhưng không can thiệp bằng súng(2)


(1). Jules Moch. Thủ tướng Pháp trong một thời gian rất ngắn.
(2). Tiếp theo tác giả dành gần bốn trang ghi lời kể của Trần Giang, Tiểu đoàn 84 với nhiều chi tiết về chiến dịch.


15-10

                 Buổi sáng: tiếng xe ô tô chạy. Một quang cảnh mới lạ trong nước.
                  Vào nhà một người trước thợ bạc, sau về Trùng Khánh làm buvette (mở quầy rượu). Nói nhiều.
                  Không thấy thú trong một đô thị mới được giải phóng.
                  Gặp Hưng. Kết quả: 200%.
                  Hưng có gặp Le Page nói:
                  - Nếu có junction(1)…
                  - Cũng có jonction, nhưng jonction với các anh.
                  Sultan(2) đòi hồi hương Tabor.
                  - Hắn phải làm trước mới phải.
                  Đối với Charton, ghẻ lạnh.
                  - Mettez-vous là (Ngồi đấy).

             
Thông cáo của Ủy ban kháng chiến
               hành chính huyện Tràng Định

                  Thị trấn Thất Khê đã giải phóng. Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Trường Định thông cáo cho toàn thể nhân dân kể cả người Hoa kiều trong và ngoài phố được biết.
                  1- Tất cả các tầng lớp nhân dân trong vùng mới giải phóng đều được hoàn toàn bảo đảm tính mạng và tài sản nếu xét ra người đó không có phương hại đến công cuộc kháng chiến của toàn dân. Người nào có công sẽ được khen thưởng tùy theo thành tích mình.
                  2- Chỉ trừng trị những tên đầu sỏ Việt gian, đặc vụ và tịch thu tài sản bọn ấy sau khi đã chia phần cho vợ con chúng.
                  3- Các người vì sinh kế hoặc vì lầm đường, làm việc cho Pháp như: ngụy binh, viên chức, v.v... nếu biết hối lỗi, mau đem tội lỗi của mình ra thú với các nhà chức trách địa c phương. Chính phủ và nhân dân sẵn sàng khoan hồng hoặc tha thứ cho. Người nào có tài năng cẩn được trọng dụng như thường.
                  4- Tất cả mọi người nhất là các viên chức có nhiệm vụ:
                  - Giữ gìn của công, cấm xâm phạm hoặc phá hoại.
                  - Không ai được lấy làm của riêng những của cải, võ khí của Việt gian và của địch còn sót lại.
                  - Khai báo tất cả những kho tàng, tài sản của Việt gian, Pháp và các công ti buôn bán của chúng.
                  - Tố cáo những người lợi dụng hoặc giấu giếm.
                  - Khai quang thành phố giữ vệ sinh chung.
                  - Giúp các nhà chức trách thu dọn các thứ như: tài liệu, số sách, tài sản, võ khí của địch, Việt gian và lùng bắt bọn phản động đặc vụ còn lẩn trốn.
                  5- Đồng bào trong thị trấn phải trở lại làm ăn như thường và tuân theo mệnh lệnh của Chính phủ.
                  6- Kẻ nào có hành động, hoặc cố ý phá hoại an ninh và trật tự chung sẽ bị trừng trị theo quân pháp.

                  
Tràng Định ngày 12-10-1950
               Ủy ban kháng chiến hành chính huyện
                  Chủ tịch: Hoàng Cương Chính

(1). Y nói nếu Le Page hội quân được với Charton thì sẽ ra sao,
(2). Vua Marôc, nước có binh lính tham gia các đơn vị Tabor của Pháp.


Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #53 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:26:40 pm »

Chiều 15

                 Máy bay lượn. Dân chúng tụm năm tụm ba nói chuyện. Hôm nay vẫn chưa cho đi lại, buôn bán như thường. Sợ trên nét mặt. Hai chữ Chủ tịch... kẻ dở. Ảnh Cụ, Đại tướng. Ảnh Mao. Thông cáo. Hiệu triệu. Máy bay lượn. Dân chúng càng sợ. Vài bóng dáng công an.
                 Cần phải làm vui và trật tự trở lại ngay để yên lòng dân.
                 Làng Khuổi Dạ bỏ không. Bộ đội tới đóng. Tù binh giải về. Thổi cơm. Vui vẻ. Tấp nập.
                 Bộ đội hôm nay được gặp Bác.
                 Vẫn lẻ tẻ vài tiếng súng. Vào Khiêm. Nói: Như Tết. Có thuốc lá. Cơm nước cẩn thận. Chuyện gặp Le Page, ý thức địch vận. Thấy cây động là vây. Bắn súng gọi hàng ngay. Venez manger, camarades (Lại dây ăn đi, các bạn). Có đứa xuống. Oui, camarades marocains (Vâng, các bạn Marôc). Cho ăn. Cho gọi. Hô anh em không được bắn để cho chúng nó nghe. Le Page chạy lại ôm và hôn: Capitaine, je suis à votre disposition (Đại úy, tôi xin phục tùng ngài). Đói đã năm ngày. Những võ quan khác cũng hôn. Bộ đội hăng, nhưng khi thấy Tây thì đưa nắm cơm của mình cho. Chúng cũng biết lòng tốt của mình và cảm phục vì sự đối đãi của mình.
                 - Ông xem bộ đội tôi sau khi đã thắng rồi thì rất hiền lành, đấy họ chia cơm cho các anh đấy, mà họ đói đã hai hôm nay. Thế là bộ đội tất thắng.

                 Cụ đến thăm bộ đội. Ăn mặc xuềnh xoàng, dép đứt quai sau. Hỏi bộ đội có khỏe không, có đói không? Vấn đề ỉa bậy. Rồi nói đến chiến thắng vừa rồi vì nhân dân - vì chỉ huy kiên quyết. Cần phải giúp dân. Cán bộ cũng phải quét tước: dân càng tin. Đi cho bộ đội xem quà tặng: sao bằng ngọc, chân dung. Ăn nói dễ hiểu, vui. Khăn mặt quàng vai. Cố gắng để Bác bảo đi thì đi, bảo đánh là đánh, đánh là thắng. Bộ đội tất thắng. Hôn TD(1). Tây rất sợ thằng què. Vậy hôn thằng què.
                 Một đội viên biếu quà đoạt được trong đồn: giấy và mề đay. Ngồi trên cỏ bên ba dù, nơi Tabor ra hàng nhiều.


(1). Có lẽ là Thái Dũng. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, bị thương cụt một bên tay (Pháp gọi là Commandant Manchot - Chỉ huy cụt tay).

16-10-50

                 Mưa. Lên đường về Cao Bằng. Nguyên Hồng thu vén. Những bộ đội đi về. Anh em 23. Tới Đông Khê. Hoang tàn. Ướt sũng không chỗ nằm. Gặp mấy thằng Đức. Chẳng biết gì. Chúng ngu quá. Chỉ mong được về, và lĩnh lương cho vợ.
                 Xác Tây đen người ta đã đốt. Trơ những mảnh xương trắng giữa gỗ và than.


17-10-50

                 Con đường chiến thắng trở về. Không có nơi trú.

18-10-50

                 Một dãy xe giặc đốt. Nòng 105, 12.7 li. Đạn lẫn với lá khô. Bọn tài xế đang chữa, chắp vá. Hôm qua đã chạy được ba xe về Cao Bằng. Dân công tải ngựa đầy đồ hộp cho phái đoàn. Càng phá hoại ngổn ngang khó đi.
                 Đêm nằm lo cho tác phẩm. Tiếc ít xin chiến lợi phẩm. Nghĩ đến Cương. Mong mỏi một quán hàng.
                 Cao Bằng lụt. Bùn ngập chân. Dân chúng ngơ ngác về, không có nhà. Những dân càn quét: phá đồ hộp, lấy bút máy, đồng hồ sang. Thiếu tổ chức: chưa có sự sống trong thành phố. Cục vận tải: vài anh tài xế. Đạn nhiều quá: trong chuồng xí cũng có đạn. Ăn ở hỗn độn: ỉa cả trong buồng. Có cái bẩn lạnh lẽo của những nơi không người.


19-10-50

                 Cả ngày không làm gì. Nguyên Hồng tới. Thành phố vẫn chết. Ngồi ở nhà thương. Tin giặc ở TN (Thái Nguyên) bị giết 6, 7 trăm. Tin cuối cùng. Nó rút Thái Bình. Bộ đội về nghỉ ở QU (Quảng Uyên).
                 Gặp bọn Linh, Mạc Phi. Sực nhớ phải viết kịch(1).


(1). Linh: Hoàng Tích Linh, nhà viết kịch, Mạc Phi: nhà văn, từng là chính trị viên đoàn kịch Chiến thắng - có lẽ trong câu chuyện của các ông khi gặp nhau có nói nhiều đến kịch.

20-10-50


                 Dân đến các nhà moi trong bùn ra những đồ vật ngập trong bùn. Nói: Của toàn dân, chúng tôi lấy đi.
                 Bến đò đi Cao Bình nước sông chảy mạnh, mảng trôi người.


21-10-50

                 Tin giặc rút Na Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lạng Giai.
                 Do đấy Đại hội chiến thắng ở Cao Bằng tổ chức nhỏ(?). Vẫn bẩn. Đoàn thể huy động một vạn nhân công để chữa tỉnh.
                 Bác:
                 - Biếu áo tù binh.
                 - Hôm gặp bộ đội, nhân danh Chính phủ khen ngợi các chú đã chiến thắng.
                 Giặc truy điệu. Pléven(1) báo cáo 70 sĩ quan, 100 hạ sĩ quan, 2500 quân bị tiêu diệt. Chúng truy điệu. Trong lịch sử chinh phục, chưa bao giờ một chương thất bại thảm hại thế. Hà Nội cũng truy điệu. Dân chúng hoang mang: chúng phải hô hào bình tĩnh vì tình thế không có gì là nghiêm trọng.


(1). Thủ tướng Pháp.

22-10-50

                 Mán đỏ sửa đường ở gần thị xã. Một anh Mán đội khăn, đi giầy săng đá. Có những người đi càn quét muộn gánh cối đá, các mảnh sắt. Hôm mới vào tỉnh, An(1) gặp một người đội mũ sắt, khoác áo tơi, đi giầy đế đinh, quát. Có tiếng phụ nữ trả lời: Em đấy.
                 Dân công Bắc Giang hôm nay trở về, hỏi đường. Họ đi đã 3 tháng 10 ngày. Đeo rọ. Chả có chiến lợi phẩm, họ mang mỗi người vài chai không.
                 Mạc thép: con dao con để cắt lúa nếp.
                 Mạc liềm: cắt lúa tẻ.
                 Ăn loỏng: để đập lúa.


(1). Có thể là Vũ Năng An, người đã được nói đến trong nhật ký 6-8-1950.

23-10-50

                Đò tổ chức kém. Mảng ít. Mà nhiều người sang ứ lại.

                 Chuyện tù binh:
                 - Allioux gà cách trị tù binh: Vous navez quà lui couper la ration de tabac (Các anh chỉ việc cắt khẩu phần thuốc lá của nó)
                 Allioux muốn vào cạo đầu, thằng Tây nói: Không được vào. Tôi còn đợi lệnh capitaine (đại úy) Việt Minh.
                 - Một lũ tù binh ngồi, lại có đoàn tù binh khác, họ nói: C'est toute la compagnie (Đủ cả đại đội). Lại có đoàn tù binh khác, họ nói: Mais c'est tout le bataillon (Đủ cả tiểu đoàn chứ!).
                 - Tiếng vang của súng cối trong núi càng làm Tây rợn. Nó làm cho [Tây nghĩ] rằng hỏa lực mình nhiều và dữ. Tây chết vì đạn, và còn bị đá giết nữa.
                 Khiêm hạ lệnh lấy tất cả giấy má làm loa địch vận.
                 - Sau Đông Khê, sự chỉ huy khó khăn. Đánh Đông Khê khó, Cao Bằng công sự kiên cố, rút cục: công viện.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #54 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:41:40 pm »

24-10-50

                 Tình bằng hữu khi lẳng nhẵng thành buồn cười: Tô Hoài - Nam Cao.
                  Trăng 12, 13.
                  Tiệc liên hoan. Cố vấn. Tỉnh Đảng [bộ]. Các cấp từ d trở lên. Sự khó chịu cho Văn nghệ. Đảng viên cho đến để biết không khí. Lê bảo ăn ở nhà. Khinh rẻ văn nghệ quá. Bực mình về. Đạo bảo: Đây là nhiệm vụ!
                  Hưng:
                  Thắng vì:
                        - nhân dân
                        - sự đoàn kết giữa mặt trận dân chủ .
                        - sự trực tiếp chỉ huy của Hồ Chủ tịch.
                  Hứa:
                  - Không chủ quan.
                  - Phê bình và tự phê bình: xứng người quân nhân cách mạng, cộng sản.
                  Kiên quyết chỉ huy: yếu tố của trận thắng. Cảm phục những chiến sĩ anh dũng. Những chiến sĩ bị thương mong chóng lành mạnh. Thương tiếc những tử sĩ.
                  Nâng cốc. Đồng(1) nâng cốc. Đùa: Phải kiểm thảo Hồ Chủ tịch vì không săn sóc mình, hẹn trong ba tháng phải có vợ. Vậy: Phạt. Bác: Quyết nghị ấy chủ quan. Nếu là cán bộ phụ nữ thì mới đúng.
                  Tám đacôta, tám cổ ngỗng chiều tà, bóng trăng ném bom thị xã lúc sắp tổ chức Đại hội chiến thắng. Bộ đội chết 4, 5 chục. Vẫn tổ chức. Tổng tư lệnh nói: Nó định phá, nhưng chúng ta nhất định tổ chức - giọng tức bực. Bắt bộ đội chờ lâu: bệnh của Đại tướng. Đáng lý phải có mặt ngay để trấn tĩnh dân tâm.


(1). Có thể là Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

25-10-50

                  Sáng sớm sương mờ, máy bay giặc lại thả bom.
                  Nói chuyện với Song Ninh(1): người thổ Cao Bằng, đẻ ở Mongcay, học ở Hà Giang. Người thùy mị, có duyên thầm. Cùng Nghiêm(2) đi đường bản Tuấn (?) về. Những ảnh khiêu dâm của Nghiêm.
                  Bến đò yên tĩnh. Một phụ nữ phê bình.
                  - Chính phủ chủ quan. Phải tổ chức lễ chiến thắng ở chỗ khác mới phải.
                  Các văn nghệ sĩ chờ lệnh của Đạo, không có việc, nóng về, nằm ngổn ngang ở bản Thành, chuyện gẫu. Tình thần mỏi mệt. Đọc thư Thi và Bạch(3); sôi nổi việc viết. Lo ngay ngáy không thành công.
                  Đêm trăng rất đẹp. Họp anh em bàn về tập san. Nam Cao cáu một cách vô lý. Đi uống cà phê. 80 đ một cốc. Chán quá.


(1). Văn công lên phục vụ chiến dịch.
(2). Có thể là họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm.
(3). Thi: Nguyễn Đình Thi. Bạch: Nguyễn Tuân.


[size=103pt]26-10-50[/size]

                 Một đoàn tù binh do hai vệ quốc quân nhỏ bé dẫn đi trong một buổi chiều, giữa đồng lúa rộng của Hòa An. Vừa đi vừa hát. Một vài thằng ủ rũ.
                  Bác sang thăm thương binh ở Thủy Khẩu. Vào vén màn từng người xem. Anh em còn ngủ. Bác trở ra. Sau biết tin Cụ Hồ đến, chạy cả ra. Bác nói, rồi ứa nước mắt, ngoảnh mặt đi lâu lâu 5 phút, rồi mới tiếp tục nói chuyện. Về nói:
                  - Trông thấy các cháu có đứa 17, 18 tuổi mà đã bị cưa, cụt, không sao đành lòng được.
                  Tối. Hưng nói chuyện về chiến dịch. Vui. Ngã ngửa ra: mình không biết gì về chiến dịch cả.


27-10-50

                  Lại trở về CB (Cao Bằng). Sau khi ăn đồ hộp với Khoa ở LS (Lạng Sơn).
                  Văn Chung(1) nói chuyện thằng Đức được trao trả viết thư nói:
                  a- Bộ đội Việt Nam đánh xong thì lành như đàn bà.
                  b- Dân chúng cả phụ nữ cáng thương bình Âu ra TK (Thất Khê), những con người to khỏe. Thật là dân tộc nhân đạo, không phải là kịch.
                  Huard(2) dự buổi hòa nhạc. Ngạc nhiên có cả những người trước ở TK mà vẫn hát được những bài cách mạng.
                  Dự định thu thập tài liệu viết về Chiến dịch Cao Bắc Lạng.
                  * Một máy bay, rồi 2, 3. Nghĩ tới thằng phi công đang ném bom tàn sát. Nghĩ đến những tù binh vừa bắt được: hèn hạ, khóc lóc. Căm thù thằng phi công.


(1). Nhạc sĩ Văn Chung.
(2). Bác sĩ Pháp, đại diện Chữ thập đỏ lên nhận tù binh Pháp do ta trao trả.


28-10-50

                 Những chiến sĩ quán ở Cao Bằng, Lạng Sơn được nghỉ một tuần lễ về quê hương thăm gia đình. Mùa gặt, đầm ấm chiến thắng.

                  Vào nhà một gia đình nghèo. Có một đứa trẻ nghịch, nó cũng bập bẹ vài câu Tiến quân ca. Người chị đun nước. Nói cám ơn. Chị nói: Cám ơn gì, nước lã đun sôi đấy. Chị nói chè Thái mới ngon.
                  Chủ nhà: con cháu một ông huyện cũ. Có một ông già người nhà đến chơi. Bàn chuyện Tây đã rút Hanoi, Haiphong. Nông nghiệp vi bản. Muốn có truyện đọc, thích Truyện Kiều, ngâm hai câu Kiều. Hỏi không biết người ta đeo cái gì tròn ở túi, hình người beo béo, tròn tròn. Có phải Staline không?
                  - Molotov(1).
                  - Staline.
                  - Staline mà béo tròn thế à?
                  * Chuyện một ủy viên kháng chiến. Có 4 Tabor đến nộp súng hàng. Tước súng. Không có người [giải họ đi]. Viết thư giới thiệu 4 đồng chí này do tôi tước vũ khí, đến với ủy ban kháng chiến.
                  Chuyện Huard đến TK (Thất Khê), nhận tù binh. Hà Nội sôi nổi, có đầm đi đón chồng. TK dạ hội mời Huard. Ta giải thích, thành chửi thực dân hai tiếng. Hôm nay chúng ta giao thương binh, nhưng ngày mai có lẽ lại chính những phi công này sẽ ném bom TK. Vậy bà con phải chuẩn bị.
                  Nhiều thằng không muốn về. Tây địch vận nói: Võ quan Pháp đòi về, để các anh ở lại để chúng nó về với gia đình nó. Bọn lính la: Allioux au poteau! (Treo cổ thằng Allioux lên!) Tranh nhau lên tàu bay. Cất cánh còn vẫy tay cảm động. Có thằng cảm động vì sự săn sóc của Tâm Trung: Nếu tôi còn ở đây, tôi sẽ lấy chị.


(1). Molotov. Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô.

29-10-50


                 Cần phải gây niềm vui cho mình trong sáng tác. Viết bài cho ST (Sự thật) ì ạch.

31-10-50

                 Nam Cao đi với Tô Hoài. Nguyên Hồng về với cần vụ. Ngày về lẻ tẻ không vui.
                  Cùng với Chính Hữu đi về đường An Lại, gặp bộ đội. Đắt. 200 đ một bữa cơm, 50 đ bát phở. Mà tồi.
                  (...)
                   Đường An Lại vắng người. Lẻ tẻ một vài bộ đội. Vài con ngựa. Dân chúng thưa thớt. Nhà mình ngủ có sập hồi lên nay thấy thấp thoáng bóng người. Một bên nhà đã trát đất mới. Nhiều nhà dựng dọc đường, nhưng cũng nhiều cái dọn đi. Nhớ ngày rộn rịp.
                  Đường mùa thu. Suối xanh chảy giữa hai bờ cây thấp thoáng. Một cái chuồng lợn bé xíu nằm giữa hai hòn đá bỏ không, mái gianh xiêu vẹo. Vài người Nùng làm lạp xường. Một người mẹ bên bếp nhà lều, vạch vú cho đứa con ốm, bên đứa con gái khóc đòi luộc khoai.
                  Mưa, vào nhà một người mới hồi cư. Bố nằm quay chăn giữa nhà trước bếp âm ỉ than không khói, gian buồng trong đáng lẽ đóng và lủng củng áo quần, màn: người con gái đắp chăn nằm. Tường lở nên nhà sáng. Trong cùng: mấy quả bí đỏ, một quả đã bổ, những miếng bí thái rồi trong sọt. Một hộp thuốc lá bên điếu cày. Trên ghế, một vỏ hộp cá. Trong một gian nhà: cót thóc và thóc. Ngoài: bàn vuông, bàn thờ bỏ không. Thóc trên cót giữa nhà. Một bó vừng trong xó. Cái quạt thóc sạch, cối xay sạch, cối đá xay bột sạch không có hột thóc nào. [Khẩu hiệu trên] Xà: Hồ Chủ tịch muôn năm - Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm. Trên ban thờ - có lẽ đây là một thày mo – câu đối đỏ còn: Gia tân mãn thất. Một chiếc chén trên bàn vuông. Dựa vào vách, bốn cái sọt, lá đã khô, xâu trong một đòn gánh bằng thân cây, một cái nón: vết tích cần vụ. Yên tĩnh không tiếng động. Nhà bên vài tiếng phụ nữ. Mưa ngoài nặng. Mấy chữ: Tôi có lời hỏi thăm, bên cạnh mấy chữ nho nguệch ngoạc.
                  * Cảnh một chiến sĩ về thăm nhà giữa lúc bố mẹ hồi cư đang dọn nhà. Vui.
Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #55 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:49:11 pm »

1-11-50

                Nghĩ kịch cho Đại hội.
                 Khải hoàn môn: cột gỗ, bện rơm trước đèo Mã Phục: Hoan hô các chiến sĩ chiến thắng.
                 Biểu ngữ vào đá: Pây vận tải se khả sắc, dịch: Đi vận tải để giết giặc.
                 Sau chiến thắng, cảnh buôn bán chiến lợi phẩm.
                 (...)


2-11-50

                 [Trung đoàn] 36 bắt đầu huấn luyện ngụy binh. Họ phần nhiều xin ở lại.
                 * Thương binh vui. Hát chèo. Một anh xin Chấn ngồi xuống nghe: [anh bị thương khi] đào hố đặt mortier 82 (đất đỏ chưa kịp ngụy trang) rồi bị bom phi cơ.
                 Một lính 18 tuổi, hai tháng lấy vợ. Bị thương tay. Lên bàn mổ, thấy kìm, kéo, chạy ra một xó, họ kéo lên bàn, trói chân, chị cứu thương sát ngực vào người khó chịu. Chỉ lo giá lớn tuổi thì không sao, nhưng mới 18, mà lại bảo ba năm mới được ngủ với vợ. Một anh plâtré (bó bột) tay, nói: Tôi có cái thắc mắc, là buổi sáng nó cứ dậm dật.
                 * Không phải vấn đề tài liệu. Trước hết phải biết không khí, còn thì phải suy nghĩ, phát triển. Cứ chép nguyên tài liệu, thì mất cả sáng kiến, sáng tạo, suy nghĩ: không còn có tác phẩm nữa.


3-11-50

                Mưa mù mịt. Nghĩ đến cuộc tranh đấu còn gay go với đế quốc, đến Triều Tiên: thấy thèm cảnh gia đình yên ấm. Bộ đội sắp đi chiến dịch khác.
                 (...)

4-11-50

                Bộ đội hành quân đi chiến dịch.
                 Tới [Trung đoàn] 102. Trời vẫn mưa.
                 Nói chuyện về Cương với Chấn. Càng thấy rõ cái cảnh bị thảm của Cương. Chấn có ý kiến: Không nên quá hi sinh cho một người mà có hại cho sự nghiệp. Bệnh lao nguy hiểm lắm. Hoang mang. Hết Cương tức là hết người mình yêu. Tuổi già đuổi nhanh.
                 Ngại cái cảnh hai anh em lủi thủi ra về. Đường từ đây đi Ngân Sơn không có nhà cửa hàng quán gì.
                 Phòng chính trị ở một nhà dân chúng chia đôi: một nửa nhà chủ, một nửa nhà chủ dành cho một gia đình tản cư. Nhà này đông con: 4. Vợ chồng đã già. Tốt, không biết tiếng phổ thông. Luộc khoai biếu cơ quan. Thích hộp và thùng.

                 [Địch] Rút Na Sầm, quan tư không kịp đem cả chó berger. Trên bàn một tờ giấy gài kim. Il y a loin de la coupe aux lèvres. Votre succès n'est que passager. Nous reviendrons (Miếng ăn đến miệng mà còn rơi. Chiến thắng của các anh chỉ là tạm thời. Chúng tôi sẽ trở lại).


6-11-50 (?)

                Sáng rét. Trở dậy, bộ đội hát các thứ bài hát hùng, mơ.
                 Trên ruộng, sau nhà hai tốp tập thể thao: 1, 1, 2, 3, có người đứng trên sân tập.
                 Sau trận đánh, cảnh bộ đội buồn. Không có kịch, nhạc, ciné. Chiến thắng do đó không tưng bừng. Vắng thư nhà. Thư gửi về chưa được. Vì cũng không biết gia đình phiêu dạt đâu. Gia đình phần đông ở nơi bị chiếm.


6-11-50

                 Uống rượu với Vũ Lăng. Anh chàng nhớ TN (Thái Nguyên) và người yêu. Vũ Yên hồn nhiên. Chỉ nói chuyện quân sự. Anh em nói đùa làm mối cho một quân y sĩ. Gặp ở Ba Giăng, bóp chuông, nàng quay lại, [Vũ Yên] cúi đầu đạp nhanh không dám nhìn. Nói đến chuyện ấy chỉ mỉm cười.
                 Ngồi bên bếp lửa, nói chuyện với Vũ Lăng. Về Đảng, về đàn bà. Vũ Lăng thấy mệt. Đã hết hạn đầu quân hai năm rồi. Chiến dịch liên miên. Giận về nỗi 102 không được đề bạt(1). [Tiểu đoàn] 54 hi sinh nhiều. Năm ngoái Tết, khi tập hợp, c 101 còn ngót 100. Yên méo mồm khóc. E bộ chỉ giết có hai con chó chia ăn. Đã lâu không được hưởng một cái Tết cho ra trò.
                 (...)
                 Đi ngủ sớm, nằm trên thùng thóc, chăn dạ co quắp với một người lính trong Ban chỉ huy. Cùng Lăng nói chuyện về tình hình VN (văn nghệ). Đọc: Những kẻ lạc loài của Nguyễn Minh Loan, một sản phẩm lạc hậu về hình thức cũng như về nội dung của văn chương thực dân trong Hà Nội. Lăng, Dũng. say sưa với việc thành lập Đại đoàn Thủ đô. Dũng đi khai hội khuya mới về.


(1). 102: Trung đoàn 102, tức Trung đoàn Thủ đô, mà Vũ Yên, Vũ Lăng là cán bộ chỉ huy.

7-11-50

                Rét buốt. 11 năm trước, ngày cưới của ta đây. Đêm rét, một tay thừa, nhớ cảnh gối đầu tay vợ.
                 Những kẻ lạc loài đầu độc quá. Nó nhắc tuổi trẻ xa lắc, không còn lấy lại được, và những cảnh trụy lạc, xác thịt ghê gớm. Kháng chiến thiếu sách quá rồi. Cần phải chấm dứt tình trạng này.

                 Họp hội nghị kiểm thảo công tác chính trị với 102. Nhiều câu chuyện hay, anh dũng, cảm động. Chiều, dự buổi liên hoan của Tham mưu 102. Nói chuyện về Cụ Hồ. Về nhà chung quanh bếp lửa, nói chuyện về Bình Trị Thiên với Lăng, Dũng, Khôi, Chính Hữu. Lăng buồn rũ, suốt mấy hôm nay làm việc uể oải. Nhớ nhà, nhớ người yêu.
                 Uống rượu, ăn đồ hộp, cà phê đêm không ngủ được. Trằn trọc. Vấn đề sự nghiệp văn chương. Còn bao nhiêu tuổi nữa mà cứ lần chần mãi thế này? Tác phẩm dự định nhiều quá. Rồi kịch cho Đại hội. Vấn đề Cương. Muốn ôm ngay lấy chị, được nói những lời âu yếm.
                 Đêm không lạnh mấy. Chỉ nghe thấy ngựa phá dưới sàn. Anh em ngủ cả. Cảm thấy tin ở mình. Tin rằng mình có thể sáng tác một cái gì lớn. Miễn là tổ chức cho hợp lý. Tiểu thuyết série (liên hoàn). Kịch trilogie (bộ ba). Cái gì cũng được. Không hay, nhưng phải lớn. Tin ở những cái mình dự định viết. Phơi phới vì những nhân vật, những cảnh đã ăm ắp trong đầu. Vui lắm. Nhưng cũng lại rất lo. Lo vì tư tưởng kém. Lý luận kém. Trông thấy Dũng khai hội, chỉ huy một Trung đoàn(1) có thành tích, mới có 26 tuổi, xưa kia chỉ là một chú bé tầm thường, càng thấy thèm tuổi trẻ. Sợ cho mình. Con người đang xuống chăng? 40 tuổi rồi. Viết làm sao xuể những tác phẩm dự định?
                 Cố gắng. Thu xếp thì giờ mà tích cực làm một cái gì đi. Chưa có một tác phẩm nào khá cả. Phải có những tác phẩm khá mới được.
                 Nhớ Cương, thương Cương. Tha thiết muốn được về ngay để trông thấy Cương. Cảm thấy thú cái việc Hồng Trang, Tâm Trung biết câu chuyện này(2).
                 Tác phẩm! Một cái gì lớn lao quá. Ta mơ mộng năm nay một tác phẩm dày dặn. Ta muốn có một vở kịch khá to.
                 Trời rét ngọt. Phảng phất một cảnh gia đình êm ấm. Tiếng trẻ. Bếp lửa. Mỏi mệt đầu óc quá. Ôi những tin đưa đến sốt ruột: giặc rút Hòa Bình. Hoang mang vô cùng.
                 Phải nghiên cứu cho bộ đội cách tự động giải trí. Trò chơi, nhẩy múa. Hát mãi mỏi lắm rồi. Họ cũng không có hào hứng gì trong việc hát nữa.
                 Sắp sửa lên đường về. Trong lòng rộn rịp. Gặp Lành, Thi, Mãi, Châu. Câu chuyện ở nhà. Câu chuyện Đông Bắc, câu chuyện sáng tác. Và cái cảnh tương đối yên ổn, tập trung những dự định, những cái mắt thấy, tai nghe, ý nghĩ trong chiến dịch. Ta muốn về, về nhanh hơn nữa. Ta mong một chốn tương đối yên ổn để viết. Và gặp Cương, nói chuyện với Cương, giúp đỡ Cương. Cùng Cương ở chung, sáng tác.
                 Trung đoàn bộ. Bộ đội ngồi khâu. Một tiếp tế [viên] được chính trị viên cho đôi giầy Tây đi đi lại lại trên sàn rung chuyển. Mong có một đôi bí tất len. Đã khá được trang bị, họ không đến nỗi bi lắm. Trông bộ đội mà thêm tin tưởng. Bộ đội đã có Cao Bắc Lạng. Văn nghệ nhất định cũng phải có Cao Bắc Lạng. Ta nhất định phải có tác phẩm cho kháng chiến, cho chiến dịch.


(1). Thái Dũng, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88.
(2). Chuyện tình cảm của Nguyễn Huy Tưởng với người phụ nữ tên là Cương được nhắc đến nhiều lần trong nhật ký. (Nguyễn Huy Tưởng đã bị mất liên lạc với vợ từ nhiều năm sau những ngày lưu lạc hồi đầu toàn quốc kháng chiến).

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #56 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:54:32 pm »

Thay lời bạt 

VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN HUY TƯỞNG
VÀ CÁC VĂN NGHỆ SĨ ĐÀN ANH KHÁC
TRONG CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI
SIÊU HẢI

                  Tháng 7 năm 1950, tôi đang nằm viện điều trị thương hàn thì được anh em rỉ tai nói nhỏ ta sắp mở chiến dịch lớn hướng biên giới Cao Bằng - Lạng Sơn. Anh Xuân Phong, người bạn từ hồi đánh bi đánh đáo ở Hà Nội còn cho biết: “Pháo binh các cậu được trang bị pháo đạn mới, lại thêm cả lừa ngựa để thồ pháo nữa. Oách lắm!”
                  Thế là tôi lên gặp ngay bác sĩ viện trưởng Nguyễn Văn Hiếu khẩn khoản xỉn cho về đơn vị và cuối cùng đã được bác sĩ Hiếu đồng ý.
                  Tôi ra khỏi viện, như chim sổ lồng, ba lô trên vai, mấy chục đồng bạc “tài chính” trong túi, không một bạn đồng hành, không vũ khí phòng thân. Đường đi đuổi theo đơn vị qua bốn tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Cao Bằng, vừa đi vừa hỏi đường, ăn ngủ nhờ vào đồng bào. Mà đúng như vậy. Gần tối tìm đến một nhà dân nói chưa ăn cơm và xin được ngủ lại. Thế là đồng bào có gì cho ăn nấy, hôm thì bát cháo bẹ ngô, bữa thì mấy khúc sắn luộc.
                  Một hôm gần ngã ba “Cây đa nước chảy” ở thị xã Tuyên Quang bỗng dưng tôi gặp anh Tố Hữu. Nhà thơ đi thư thái một mình, không ba lô túi xách. Anh Tố Hữu đã một lần cùng anh Nguyễn Đình Thi xuống “thâm nhập” trung đội pháo binh của tôi đầu năm 1948. Lúc đó đơn vị còn hừng hực khí thế chiến thắng Sông Lô. Hai văn nghệ sĩ tất nhiên được nghe chúng tôi kể các trận chiến oai hùng pha chút lãng mạn lôi cuốn cả hai anh. Ngược lại, một đêm ngồi quanh bếp lửa, chúng tôi được nghe nhà thơ kể về chuyến vượt ngục của mình. Nhà thơ giả con gái, “chít khăn vuông che nửa mặt, tay cầm mấy thẻ hương đi lễ chùa...” Và những trận mưa roi vọt của bọn cai ngục: “... Mình nhỏ nhắn thường được anh em đẩy vào giữa che cho mình.” Hai anh ở với đơn vị chúng tôi bốn ngày. Trong bốn ngày ấy, anh Tố Hữu đã hoàn thành hai bài thơ Bà bủ và Bầm. Anh Thi sáng tác bài hát ngắn Voi ăn kẹo…
                  Gặp nhau, anh Tố Hữu choàng vai tôi vỗ vỗ, cười rất tươi. Rồi nhận ra áo quần tôi còn dính bụi đường, anh hỏi: “Đi đâu đấy?” Tôi đáp là đang gấp rút đuổi theo đơn vị, lỡ chuyến này, tiếc lắm! Tất nhiên tôi hỏi thăm ngay các anh Nguyễn Huy Tưởng, Tô Ngọc Vân, Nguyên Hồng... - Anh Tưởng, Nguyễn Tuân, - Tố Hữu đáp, - đang ở cơ quan Trung ương Hội chuẩn bị cho ra số tạp chí mới.
                   Tạm biệt anh, tôi lại rảo bước trên đường. Vừa đi vừa suy đoán về “số tạp chí mới”? Liên tưởng luôn đến “Tạp chí Văn Nghệ số đặc biệt Sông Thao” đã được ra mắt bạn đọc sau chiến dịch Sông Thao thắng lớn của ta, trong có nhiều bài rất hay của các cây bút đàn anh, chen chân vào được có bài Voi đi của tôi, anh Tưởng đã chủ trì bộ phận biên tập.
                  Sau hơn chục ngày kiên trì hăm hở trên đường, rồi tôi cũng mò tới xã Nà Tấu, huyện Quảng Uyên, Cao Bằng. Đã ngửi thấy mùi chiến dịch rồi. Bộ đội đi lại đông, hối hả. Chưa biết còn phải tìm đơn vị ở đâu, mệt mỏi, tôi vào một quán nhỏ bên đường mua quả mắc coọc ăn. Bất ngờ có tiếng hỏi: “Có phải thủ trưởng là Siêu Hải không?” Thế là đã bắt liên lạc với anh bạn pháo binh nối khố Đỗ Thiện. Thấy tôi lấm láp bơ phờ, Đỗ Thiện khao tôi cốc cà phê và cốc kem trứng. Tôi cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác qua các mẩu chuyện rỉ tai của Đỗ Thiện: Nào là Đại đội 301 của tôi đã được trang bị hai khẩu sơn pháo có đủ kính ngắm, tê lê mét đo độ xa, cả máy điện thoại nữa... Lại có đàn lừa thồ pháo anh em đỡ phải khiêng vác “oằn lưng, vẹo sườn” như trước. Đã có quyết định thành lập Trung đoàn sơn pháo dự bị của Bộ Tổng tư lệnh. Anh Đỗ Thiện lúc này đã được điều lên làm trợ lý tham mưu của Trung đoàn sơn pháo...
                  Tôi về tới đại đội cũ, cán bộ chiến sĩ mừng rỡ là đơn vị đã có chỉ huy. Đặc biệt là anh Trương Thành Phao, Chính trị viên Đại đội 301 như được sẻ nửa trách nhiệm đang đề nặng lên vai: Đại đội 301 nhận nhiệm vụ pháo chi viện chung toàn mặt trận. Chiến dịch đánh lớn, sẽ thương vong nhiều...
                  Tôi thật quá bất ngờ và phấn khởi khi nhận được cú điện thoại là có nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên trong chiến dịch này sẽ đi với pháo binh, với Đại đội 301. Điện thoại còn nhắc nhẹ là phải coi hai văn nghệ sĩ này là thượng khách. Anh Tưởng và tôi đã giáp mặt, thắm thiết tình cảm. Còn họa sĩ Dương Bích Liên lúc nào cũng như lúc nào nhỏ nhẹ như con gái. Anh Phao, chính trị viên, bí thư chi bộ còn coi anh Tưởng như một đồng chí lãnh đạo cấp trên. Hai văn nghệ sĩ và hai cán bộ chỉ huy quân sự chuyện trò cởi mở tâm đắc. Tôi thuật lại lần gặp anh Tố Hữu vừa rồi ở Tuyên Quang. Ngẫm nghĩ giây lát anh Tưởng hỏi lại tôi: “Anh Lành (Tố Hữu) không nói với anh là tôi lên đây?”
                  - Đúng thế, - tôi đáp, - lúc gặp Đỗ Thiện tôi mới biết là anh đã lên đây rồi.
                  Ít ngày sau qua các cuộc họp trong tiểu đoàn, họp chung với cán bộ bộ binh, qua những lời lẽ kín kín hở hở tôi mới được biết tầm quan trọng của chiến dịch này. Nó sẽ nối liền Việt Bắc cũng như cả Việt Nam ta với phe xã hội chủ nghĩa. Căn cứ địa Việt Bắc sẽ vươn tới tận đông Béc lanh. Vì vậy, phải quyết tâm phá toang vòng vây địch từ Cao Bằng tới Lạng Sơn. Quan trọng là vậy nên ngoài Đại tướng Tổng tư lệnh, đích thâm Bác Hồ cũng lần đầu tiên đi chỉ đạo chiến dịch. “Thảo nào mà anh Tố Hữu bí mật thế, tôi nghĩ. Các văn nghệ sĩ cựu trào như anh Nguyễn Huy Tưởng cũng xuất trận. Sẽ lại có số tạp chí đặc biệt Chiến thắng Biên giới như số đặc biệt Sông Thao năm ngoái (1949). Chưa biết chừng sẽ có ngay một đầu sách về chiến dịch to lớn này”.
                  Tiện đây tôi muốn nhắc lại một kỷ niệm khác về anh Nguyễn Huy Tưởng. Sau chiến thắng Biên giới, Trung đoàn sơn pháo 675 của chúng tôi được thành lập đã cùng các Đại đoàn 308, 304 tham gia chiến đấu trên nhiều hướng. Tôi nhớ vào khoảng tháng 8 năm 1951, các đơn vị thuộc Đại đoàn 308 và pháo binh chúng tôi hành quân từ Thanh Hóa ngược lên Việt Bắc. Giặc Pháp theo dõi, tích cực cho máy bay bắn phá dọc đường, gây căng thẳng cho cán bộ chiến sĩ ta. Hôm đó tôi đứng ở bến đò Phương Lâm, Hòa Bình chỉ huy trung đội pháo ta khẩn trương vượt sông.
                  Một cánh tay bỗng đặt lên vai tôi và giọng nói lộ vẻ rất hân hoan: “Chef militaire đây rồi!” (Chỉ huy quân sự đây rồi). Tôi không ngờ là được gặp anh Tưởng giữa cuộc hành quân đang bị máy bay rượt đuổi. Chúng tôi đón tiếp anh như vị thượng khách thân tình. Còn anh như tìm thấy một bảo đảm chắc chắn là cùng ăn nghỉ, cùng hành quân trong đội hình bộ đội ta. Theo lời anh kể lại, anh từ Việt Bắc đi công tác Liên khu Ba và chỉ đi có một mình. Khi xuống lại đúng vào dịp bộ đội ta mở chiến dịch, máy bay giặc đuổi theo người đi xe đạp, đi bộ trên đường lộ. Xong việc ngược lên Việt Bắc lại đúng vào lúc bộ đội ta học tập củng cố ở Thanh Hóa xong hành quân lên Việt Bắc. Bộ đội đêm đi ngày nghỉ. Còn anh vẫn đi ban ngày, dọc đường lại bị máy bay bắn phá vào những nơi nghi ngờ bộ đội ta ẩn náu. “... Có những kẻ, anh Tưởng kể, không rõ có phải là bọn chỉ điểm cho máy bay địch không mà thấy nó đun bếp thổi cơm, khói um cả lên. Mình đến can ngăn nó, nó còn sừng sộ dọa đánh. Thế là mình lại phải ba chân bốn cẳng đi thật nhanh rõ xa.” Anh Tưởng phải chuyển đi vào ban đêm, nhập vào một đơn vị nào đó cho bảo đảm. Lại gặp phiền toái vì chiến sĩ ta cũng luôn cảnh giác với bọn chỉ điểm nên có một người lạ nào xen vào đội hình một tiểu đội thôi cũng bị anh em phát hiện gạt sang một bên. Trên hai tuần lễ hành quân, chúng tôi lại có dịp hàn huyên vui vẻ thân tình trong mối quan hệ nhà văn với quân đội và ngược lại. Những kỷ niệm đó đến nay vẫn tươi rói trong ký ức của tôi về anh Tưởng...


*
*   *

                 Chưa vàọ cuộc chiến mà tất cả ai ai cũng cảm thấy mình đã là người thắng trận. Dốc cao như thấp xuống, suối sâu hóa ra nông. Đỉnh núi sương mù chưa kịp giăng đã bị gió xua tan. Bản làng vốn vắng vẻ heo hút nay rộn ràng tiếng chày giã gạo, tiếng chân người ra vào tấp nập. Nhiều đêm anh Tưởng và chúng tôi thức giấc, nhìn qua cửa sổ nhà sàn thấy từng vầng sáng xanh của đèn pha ô tô vận tải nối đuôi nhau trên đường lớn mà say sưa rạo rực. Hết ô tô lại lắng nghe tiếng rào rào của đàn lừa thồ pháo ăn đêm, nhai cỏ trộn ngô hạt rất vui tai. Có một cái gì vui vầy từ ngày đại đội tiếp nhận đàn lừa gồm 8 con, đủ ba thồ dây da chằng buộc. Bảy con đánh số từ 1 đến 7 khi hành quân thồ trên lưng 7 bộ phận pháo tháo rời. Còn con thứ 8 thồ mấy bao tải ngô và cỏ khô. Anh em đặt tên cho con số 8 là “nàng tích lương”. Điều vui vẻ nữa là anh tiểu đội trưởng tiểu đội lừa lại có họ tên là Lỗ Súc(1). Lỗ Súc được bổ sung về Đại đội 301 từ cuối 1948. Khỏe mạnh, xốc vác, cười luôn miệng, mỗi lần cười để lộ chiếc răng nanh bịt vàng nom rất hồn nhiên, ngồ ngộ. Nhìn Súc khiêng pháo thật đúng với một câu cửa miệng thân thương của các chiến sĩ bộ binh trợ chiến: “Pháo binh ăn no vác nặng, khiêng pháo trầy vai”. Đàn lừa về, cả đại đội đều nhất loạt giơ tay bầu Lỗ Súc phụ trách tiểu đội lừa. Thế là nghiễm nhiên Lỗ Súc nhận chức vụ tiểu đội trưởng.
                   Anh Nguyễn Huy Tưởng đến với đại đội chúng tôi nhận thấy ngay cái tình của người lính pháo với đàn lừa. Mỗi chiến sĩ chăm sóc một con lừa, tưới tắm, chải lông, xén bờm, gọt móng, đóng đinh móng lừa. Các chiến sĩ yêu quý lừa như những con trâu cày ruộng của mình. Cỏ tươi, cỏ khô đến giờ cho ăn luôn luôn được bỏ vào đầy máng bằng bạt căng dài cho cả đàn cùng ăn. Đàn lừa béo tròn, lông mượt bóng nhẫy. Nhà văn Huy Tưởng đã sáng tạo ra cụm từ “pháo Siêu Hải, lừa Lỗ Súc”, và anh nói thêm: “Nay mai về Thái Nguyên duyệt binh, rồi cả ở Hà Nội giải phóng nữa xem có nhiều cô nàng mê mẩn không nào?” Nghe xong, tất cả mọi người phá lên cười. Và hình như chỉ có anh Tưởng mỗi lần phát ra cụm từ trên kết hợp với cử chỉ, nụ cười và cặp mí hơi nheo nheo mơ màng của anh mới làm bật lên những nụ cười giòn tan.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 10:57:13 pm »

                Không ngờ, “pháo Siêu Hải, lừa Lỗ Súc” đã được tham gia buổi diễu binh mừng chiến thắng, nhưng không phải ở Hà Nội hay Thái Nguyên mà ngay tại thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng, vào một đêm trăng rất sáng hạ tuần tháng 11 năm 1950. Lẽ ra buổi lễ diễn ra sớm hơn nhưng vì bị máy bay giặc đến quấy rối nên phải lùi lại quá nửa đêm. Sau đội hình các đơn vị bộ binh, trợ chiến đến đội hình pháo binh. Tôi đi đầu đội hình, sải những bước dài chiến thắng rầm rập trên mặt đường nhựa. Tới lễ đài, tôi hô to: “Bên trái, chào!” cùng lúc đặt bàn tay lên vành mũ ca lô. Tôi nhận ngay ra Đại tướng Tổng tư lệnh kiêm Tư lệnh trưởng và Chính ủy chiến dịch Võ Nguyên Giáp đứng giữa các tướng lĩnh và các vị lãnh đạo. Cố nhìn xem có anh Tưởng trên lễ đài không nhưng nhịp hành quân nhanh nên không tìm thấy. Chỉ thấy trên lễ đài có nhiều cánh tay chỉ chỉ trỏ trỏ con lừa số 1 thồ trên lưng cái nòng pháo, con số 4 thồ cái máy hãm lùi... ngật ngưỡng theo nhịp bước của những chú lừa mà cán bộ, chiến sĩ pháo binh chúng tôi âu yếm gọi là “những chiến sĩ không biết nói”.

*
*   *

                  Tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Khê là trận mở màn cho chiến dịch giải phóng Biên giới. Theo kế hoạch tác chiến, Trung đoàn 174 có pháo đi cùng yểm hộ đánh từ phía bắc xuống, Trung đoàn 209 cũng có pháo đi cùng yểm hộ đánh từ phía nam lên, hai mũi cùng hợp lực tiêu diệt toàn bộ cụm cứ điểm từ các đồn ngoại vị đến trung tâm. Đại đoàn Quân Tiên Phong (308), quả đấm thép của Bộ, chưa vội xuất trận đợi thời cơ khuếch trương chiến quả. Riêng Đại đội 301 của Tiểu đoàn 40 pháo binh trong biên chế của Đại đoàn 308 được sử dụng làm pháo chi viện chung cho trận đánh. Cán bộ, chiến sĩ từ pháo thủ, giám mã, nuôi quân coi đây là một vinh dự và một trách nhiệm nặng nề.
                  Liên chi bộ d 40 họp xong, đến lượt chi bộ c 301 họp hạ quyết tâm quyết chiến quyết thắng. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên được mời dự. Anh Tưởng đến với pháo binh từ những năm đầu kháng chiến toàn quốc. Cán bộ chỉ huy đơn vị hầu hết là thanh niên, học sinh “tiểu tư sản” hoặc là cựu pháo thủ trong quân đội thuộc địa Pháp. Lần anh Tưởng và anh Hoài Thanh đến với Tiểu đoàn 40 pháo binh hai năm trước đó, hai anh còn phân vân chưa rõ đồng chí Chính trị viên và Trưởng ban Chính trị tiểu đoàn đã là đảng viên chưa? Hai anh phải lựa lời vòng vo một lúc để thăm dò đã. Khi thấy đúng rồi mới đưa giấy giới thiệu. Đi cùng với pháo binh dự các trận Xú Đá, Ba Khe, Gốc Báng trên đường Yên Bái - Nghĩa Lộ năm 1948, hai anh càng mến yêu các chiến sĩ “vai sắt, chân đồng” và rất có cảm tình với các cán bộ chỉ huy - những học sinh “tiểu tư sản” mưu trí sáng tạo đã biến những khẩu pháo cũ trơ trụi không kính ngắm, ni vô, bảng bắn... thành những vũ khí lợi hại khiến quân thù phải khiếp sợ.
                  - Sao các anh không kết nạp họ vào Đảng, họ đều xứng đáng cả... Các anh còn có điều gì ngần ngại?... - đó là những lời lẽ của anh Nguyễn Huy Tưởng trong nhiều lần gặp gỡ, trao đổi chân tình với bí thư liên chi Tiểu đoàn pháo binh 40, và các bí thư chi bộ đại đội.
                  Cuộc họp chi bộ trước trận Đông Khê hôm đó bầng bầng khí thế chiến thắng, đoàn kết, tin tưởng. Nhiều đồng chí đã hạ quyết tâm xong, anh Tưởng được mời lên phát biểu.
                  - Mấy lần trước, - anh Tưởng nói, - tôi thấy chi bộ ta còn thưa thớt, nay thêm nhiều khuôn mặt kiên nghị mới, bảo tôi không mừng vui sao được. Vui hơn nữa là người bạn rất thân của tôi, anh Siêu Hải, cũng đã thành đảng viên...
                  Đến đây tôi đưa mắt lên nhìn anh, cái nhìn như muốn nói: Đánh đấm sầy vẩy mãi rồi đấy anh ạ.
                  Đến lượt họa sĩ Dương Bích Liên được mời phát biểu. Tôi đã gặp anh Dương Bích Liên từ cuộc Hội nghị tranh luận Văn nghệ Việt Bắc tháng 9 năm 1949 và còn nhớ buổi anh được đề nghị phát biểu quan điểm của mình về phương châm cho các văn nghệ sĩ “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”. Dương Bích Liên đứng lên, ấp a ấp úng. Tôi ngồi cạnh anh, nghe rõ lời nhắc khe khẽ rất Nguyễn Tuân: “Bình tĩnh, bình tĩnh!” Buổi nay cũng vậy, Dương Bích Liên ngập ngừng giây lâu mới nói nhỏ nhẹ đại ý là: “Đi thực tế xuống cơ sở thấy bộ đội vui quá, đánh giặc mà hào hứng như trẩy hội. Tôi ký họa được khá nhiều cảnh, khẩu pháo, đàn lừa. Và quay sang tôi anh nói tiếp: Đại đội trưởng của các đồng chí cũng vẽ nhiều đấy, trong sổ tay, đẹp lắm”.
                  Cuộc họp chi bộ 301 chuẩn bị kết thúc thì anh Nguyễn Huy Tưởng lại đứng dậy. Anh chỉ lá cờ búa liềm treo giữa gian chính nhà sàn nói lời nhận xét đại ý là chỉ trương riêng cờ Đảng trong cuộc họp chi bộ là chưa đủ. Đảng là của giai cấp công nhân mà giai cấp công nhân cũng nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, không thể quên được lá cờ của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam.
                  Bí thư chi bộ 301 Trương Thành Phao gật đầu tiếp thu vui vẻ.

*
*   *

                  Đến lúc này tôi còn nhớ đã được đọc trong Tạp chí Văn Nghệ số Chiến thắng Cao Lạng những trang viết của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng về cuộc hành quân chiếm lĩnh trận địa trên dãy cao điểm phía đông cụm cứ điểm Đông Khê vào đêm 15 rạng ngày 16 tháng 9 năm 1950, được gọi là “ngày N” (ngày nổ súng mở màn chiến dịch). Một đêm hành quân không trăng không sao tối đen như mực, đường mòn độc đạo lởm khởm, lên lên xuống xuống, bốn năm con suối sâu nước chảy xiết. Đội hình hành quân dài dằng dặc. Các chiến sĩ pháo binh - ở đây là Đại đội pháo 301 - trở lại cái cảnh đòn dây nhũng nhẵng, gậy chống lưng oằn tháo rời pháo ra khiêng từng bộ phận. Vì vậy, đội hình đã dài càng dài thêm. Gặp con suối sâu, một đoạn đường nhỏ hẹp khó đi lập tức xảy ra cảnh dồn toa, ách tắc, ngột ngạt, hơi thở phì phò.
                  Hai anh Nguyễn Huy Tưởng và Dương Bích Liên đi trong đội hình Đại đội 301. Trước ngày xuất trận, muốn có điều gì đó để nhớ lâu tôi nói với anh Tưởng là sẽ mời nhau điếu thuốc lá tại công sự pháo. Anh Tưởng đồng tình, cố gửi mua được bao thuốc “Con cú”. Những lúc bị dồn toa ách tắc, bao thuốc cũ đã hết, nhà văn thèm thuốc quá nhưng vẫn cố nhịn để dành bao thuốc nguyên để tặng tôi tại công sự pháo. Về phần tôi, gần 3 giờ sáng tôi phải bứt đi trước cùng với một số anh em vác cuốc xẻng lên đào công sự, mắc dây điện thoại với sở chỉ huy trận đánh...
                  Rạng sáng, chưa nhìn rõ mặt người, hai khẩu pháo của trung đội 1 và 2 đã tới trận địa. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và họa sĩ Dương Bích Liên bám theo anh em khiêng các bộ phận pháo từ chân dốc vượt qua sườn khuất khá cao sang bên này dốc, cách vài chục bước chân là tới trận địa của Đại đội 301. Tôi đang tranh thủ hất đất lên miệng gờ công sự thì bắt gặp bóng dáng của hai văn nghệ sĩ đã đến bên công sự.
                  Có tiếng của anh Tưởng:
                  - Siêu Hải đấy à, thuốc lá đây.
                  Tôi nhận bao thuốc còn nguyên vẹn trong tay anh. Tôi xé vỏ bao định rút ra vài điếu rồi trao lại anh. Nhưng cả hai bàn tay tôi đào công sự còn bám đầy đất vụn nên lúng túng để tuột bao thuốc xuống. Anh chiến sĩ thông tin giúp tôi tìm bao thuốc dưới đáy công sự vừa mới đào xới còn lổn nhổn đất hòn, lại tối nhờ nhờ.
                  - Nó biến đâu mà nhanh thế, - tiếng của anh chiến sĩ thông tin.
                  - Thôi, thôi, cánh mình đi đây, - anh Tưởng vừa nói vừa chìa tay về phía tôi đang đứng dưới công sự.
                  - Tay bẩn, tay bẩn! - tôi vừa nói vừa xua hai tay.
                  Anh Tưởng nắm luôn được cánh tay trái tôi, cùng lúc Dương Bích Liên tóm tay phải, lắc lắc.
                  - Nhất định thắng nhé, viết luôn đi nhé. - Anh Tưởng nói xong, Dương Bích Liên nối lời: Cả vẽ nữa chứ, chúc thành công!
                  Cuối cùng bao thuốc lá của anh Tưởng đã tìm thấy, thì ra nó rơi trúng cán xẻng của tôi bắn vào hố hàm ếch thành công sự. Tôi chia cho một số anh em cùng hút, khói thuốc lẫn trong màn sương giăng quanh mọi người. Trời sáng dần. Cụm cứ điểm Đông Khê nhờ nhờ trong sương mù. Qua ống nhòm tôi với hai anh Đình Nạp, trung đội trưởng trung đội 1 và Trọng Dần, trung đội trưởng trung đội 2 đã thống nhất với nhau mục tiêu phải tiêu diệt, tốc độ bắn và số đạn tiêu thụ. Có tiếng điện thoại réo gọi tôi vào cầm máy. Tôi nhận ra giọng nói đầu bên kia là đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng quân đội ta lúc đó đảm nhiệm Chỉ huy trưởng trận Đông Khê mở màn cho chiến dịch. Đồng chí Hoàng Văn Thái ra lệnh cho tôi chuẩn bị bắn. Tôi đề nghị xin lùi lại ít phút vì sương còn mờ lắm.
                  - Cho thêm hai phút, - tiếng của Chỉ huy trưởng trận Đông Khê.
                  Tôi hạ lệnh cho hai trung đội pháo 1 và 2: Chuẩn bị... Bắn!
                  Trong cuốn sổ tay ghi chép nhanh của cố nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng ghi rõ: “6 giờ 30 Siêu Hải hô. Bắn!”
                  Và anh đã không quên ghi lại cảm xúc của mình, theo lối của một người “viết sử bằng văn chương”(2) “Giờ lịch sử chạy một cách thong thả”...

               
Tháng 10 năm 2004
               
S.H

(1). Trong nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng viết là Xúc.
(2). Chữ dùng của nhà sử học Dương Trung Quốc.

Logged
loiho000
Thành viên
*
Bài viết: 162


« Trả lời #58 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2017, 11:03:34 pm »

Đây là ebook dạng PRC dành cho ai muốn tải về đọc:
https://drive.google.com/open?id=0B8pjhdNvuCbdUWhlVkhVNVNHd2c
P/S: trong ebook có phần bảng tra đối với 1 số tên người, tên đơn vị, địa danh
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM