Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:28:16 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Sư đoàn 3 Sao Vàng - Tập 3  (Đọc 46563 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2017, 05:58:22 pm »


        Trước khi vào cuộc, tôi hỏi thăm đêm qua họ có ngủ được không, ăn uống thế nào, có điều gì phàn nàn không? Hai tù binh tỏ lời cảm ơn và không có điều gì đề đạt. Tách riêng từng người, tôi hỏi Nguyễn Vĩnh Nghi trước. Nghi sinh năm 1927, đã có vợ và 2 con, đậu tú tài, sau đó học sĩ quan, đã qua các cấp từ úy đến tá rồi đến cấp trung tướng. Gần đây nhất, giữ chức Tư lệnh Vùng 4 (đồng bằng sông Cửu Long). Do không ăn cánh với Thiệu và phạm tội tham nhũng, bị Thiệu điều về làm Giám đốc trường bộ binh Long Thành, sau đó về làm phó cho Tư lệnh Vùng 3, do trung tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy..

        Sau một vài câu hỏi có tính chất thủ tục ban đầu và trấn an tư tưởng bằng cách nhắc lại một số điều trong chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng, tôi đi ngay vào vấn đề. Tôi cũng không quên nói rõ tình hình chiến sự gần đây và hình thái quân sự hai bên để Nghi nhận rõ thêm tình hình tuyệt vọng của phía Sài Gòn. Tôi nói:

        -   Ông Nghi! Ông thấy đấy, chúng tôi đang lợi thế, sớm muộn sẽ tiến công Sài Gòn. Khi chúng tôi vào Sài Gòn, liệu Mỹ có nhảy vào không và nhảy bằng cách nào?

        -   Xin lỗi ông – Vĩnh Nghi đáp – Đây là một vấn đề thuộc lĩnh vực chiến lược, một vấn đề thuộc cấp trên.

        -   Nhưng ông là tướng, lẽ nào ông không có tầm nhìn và không có ý kiến của riêng mình?

        -   Nếu ông muốn hỏi ý kiến cá nhân thì tôi cũng có thể trả lời. Tôi thấy người Mỹ hứa nhiều, nhưng chẳng làm bao nhiêu. Nói một cách khác, Mỹ ít giữ lời hứa với bạn bè mỗi lúc đụng chạm tới quyền lợi của họ. Vả lại, nước Mỹ cũng đang bê bối lắm. Làm bạn với Mỹ thật khó.

        -   Cám ơn ông đã nói thật suy nghĩ của mình. Thế về Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu? Chúng tôi được biết, gần đây ông ta không còn được tín nhiệm trong hàng ngũ tướng lĩnh? Trước tình hình nghiêm trọng như hiện nay mà ông Thiệu là người chịu trách nhiệm chính, ông có nghĩ đến việc ông Thiệu từ chức hoặc bị đánh đổ không? Nếu trường hợp đó xẩy ra, theo ông, ai là người có khả năng lên thay ông Thiệu?

        -   Tôi nghĩ rằng, tình hình đã đến mức nghiêm trọng mà tướng lĩnh chúng tôi thì mỗi người có cách suy nghĩ riêng, có chỗ dựa riêng, khó đồng tâm nhất trí. Hiện nay chỉ có ông Thiệu là người duy nhất đoàn kết được các tướng lĩnh và Quốc dân đồng bào. Nếu ông Thiệu bó tay thì coi như mọi việc đã kết thúc.

        Nói xong, Vĩnh Nghi nhìn sang một phía khác, cặp mắt lơ đễnh, hình như không muốn nói thêm điều gì. Tôi thấy cần phải đánh vào lòng tự ái của Nghi, khêu gợi sự chống đối của hắn ta đối với Thiệu, người đã hạ bệ mình. Tôi nói:

        -   Ông Nghi! Kể thật khó lý giải vì sao một người như ông, nguyên Tư lệnh Vùng 4, một vùng giàu có, có vị trí chiến lược quan trọng mà phải về làm phó cho ông Toàn, cũng là Tư lệnh một Vùng?

        Hình như hiểu rõ ý đồ của tôi, Vĩnh Nghi nhẹ cười và nói vắn tắt:

        -   Tôi là một quân nhân. Tôi chỉ biết chấp hành lệnh trên.

        -   Theo ý ông thì tại sao Phan Rang bị thất thủ nhanh như vậy trong lúc các ông đã tuyên bố tử thủ tại Phan Rang?

        -   Đối với người chỉ huy từng trải như ông, điều đó cũng dễ hiểu thôi. Sở dĩ Phan Rang thất thủ nhanh vì 3 lẽ: Một là binh lính mất tinh thần, không chịu chiến đấu. Hai là, chúng tôi thiếu tiếp liệu, thiếu vũ khí, đạn dược cần thiết. Ba là, chúng tôi thiếu thời gian. Xin lỗi ông, nếu chậm một tháng nữa các ông mới tới thì tình hình có thể khác.

        Đánh vào tự ái của Nghi không được, tôi chuyển sang phương pháp khác. Tôi rót nước, đưa thuốc lá mời Nghi nhưng Nghi từ chối hút thuốc, chỉ uống nước.

        -   Chúng ta có thể kết thúc cuộc nói chuyện tại đây. Ông có đề nghị gì không?

        -   Hiện nay, tôi là một tù binh, tính mạng nằm trong tay các ông. Yêu cầu các ông tuân theo đúng luật pháp quốc tế về vấn đề tù binh mà hiệp định Giơ-ne-vơ đã quy định. Nếu các ông làm khác đi thì tôi xin chịu cả, xin đừng làm hại gia đình, vợ con tôi. Xin cám ơn các ông.

        Tôi được dịp nói rõ để Nghi an lòng:

        - Ông thấy đấy, chúng tôi đối xử với tù binh rất nhân đạo. Từ khi ông bị bắt đến giờ, chúng tôi đối đãi với ông chắc không có gì đáng để ông phàn nàn. Nhưng tôi cũng khuyên ông một điều: phải nhận rõ mình là người có tội với dân tộc, với nhân dân, phải biết ăn năn, hối lỗi, thành thật khai báo để lập công chuộc tội. Ông có sớm được về với vợ con gia đình là tùy thuộc thái độ của ông. Ông sẽ được về tuyến sau.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tư, 2017, 06:08:33 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2017, 06:09:19 pm »


        Đến đây, Vĩnh Nghi hơi chột dạ, hình như muốn nói gì thêm. Tôi không bỏ lỡ dịp tốt:

        - Tôi còn ít thời gian. Nếu ông muốn chúng tôi sẽ trao đổi thêm về thế cuộc. Không rõ các ông đánh giá thế nào về chúng tôi?

        - Tôi cũng không có nhiều thông tin. Bộ Tổng Tham mưu cũng chẳng mấy thông báo, chỉ biết là các ông có một số lực lượng mới chuyển từ miền Bắc vào, có ý định đánh chiếm Sài Gòn theo hai hướng, đường 1 và đường 22, sử dụng lực lượng có sẵn tại chỗ là chủ yếu.

        - Ông có thể phân tích đôi điều về trận chiến sắp tới nếu xảy ra không?

        - Thật là khó nói lúc chưa có đủ các yếu tố. Về các ông thế nào thì tôi chưa được rõ lắm, tôi chỉ nói về phía chúng tôi. Chúng tôi đang ở thế yếu. Cách phòng thủ Sài Gòn hiện nay là phòng thủ từ xa theo hình vòng cung từ Gò Dầu Hạ, Lai Khê, Biên Hòa, Xuân Lộc, lực lượng mỗi hướng có khoảng một Sư đoàn. Còn trong nội đô thì không có chủ lực, không tổ chức phòng ngự kiên cố, chỉ có lực lượng cảnh sát, địa phương quân, nhân dân tự vệ... Nếu các ông diệt được lực lượng án ngữ vòng ngoài, khống chế và làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa và chiếm được hai mục tiêu quan trọng là Bộ Tổng Tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám của quân dù thì các ông sẽ làm chủ Sài Gòn, Sài Gòn sẽ sụp đổ nhanh.

        Thấy thái độ của Vĩnh Nghi đã có chuyển và đã nói ra được những điều mà cả cơ quan tham mưu chiến lược của ta cũng đang cần biết, tôi bèn tranh thủ “lấn sân” luôn:

        - Ông có nhận xét gì về tác dụng của các sân bay trong hoàn cảnh hiện nay không?

        - Hiện nay lực lượng bị căng mỏng, lực lượng trù bị còn ít nên phía chúng tôi chủ yếu dựa vào không quân của bốn sân bay Thành Sơn, Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Nay sân bay Thành Sơn đã bị mất, chỉ còn lại ba cái mà quan trọng nhất là sân bay Biên Hòa vì toàn bộ máy bay F5 và A37 đều được sửa chữa và bảo trì tại đây, còn sân bay Tân Sơn Nhất và Cần Thơ không có kỹ thuật để bảo trì hai loại phản lực này. Muốn khống chế sân bay, dùng pháo bắn từng đợt cũng tốt, nhưng trong lúc này tôi sợ nhất lối bắn liên tục kéo dài của các ông, cứ 15-30 phút bắn một đợt, mỗi đợt vài phát vào hai đầu đường băng. Như vậy thợ máy không dám ra bảo dưỡng và lắp bom, máy bay không dám cất cánh.

        - Còn kho tàng, nên phá hủy cái nào? Chiếm giữ cái nào?

        Sau một giây lát suy nghĩ, Vĩnh Nghi trả lời:

        - Hiện nay kho Cái Bè và kho Cát Lái là quan trọng nhất. Kho Cái Bè chứa xăng dầu, kho Cát Lái chứa đạn dược. Kho Long Bình chứa hàng hóa và một số vật tư, thiết bị máy móc. Còn chiếm cái nào, phá cái nào là tùy các ông.

        Tôi gật đầu hỏi chủ bài cuối cùng:

        - Vùng 4, vùng chiến thuật quan trọng, xưa kia nằm dưới quyền của ông có thể là nơi tử thủ cuối cùng của quân đội Cộng hòa hay không?

        - Không, trăm ngàn lần không. Tôi chưa bao giờ nghe nói kế hoạch này và tôi tin là không có, vì Vùng 4 không chuẩn bị cơ sở tiếp tế và hậu cần.

        Trước khi ra về, tôi nói với Nghi:

        - Ông sẽ được đối xử tử tế theo đúng chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sẽ được đưa về tuyến sau. Tôi cũng mong ông tiếp tục suy ngẫm về quá khứ và thời cuộc để có hành động tức thời, có lợi cho dân, cho nước, chuộc lại phần nào lỗi lầm đã qua.

        Vĩnh Nghi không đáp, chỉ cúi đầu chào tôi.

        Trở lại Sở Chỉ huy, tôi báo cáo lại với đồng chí Lê Trọng Tấn toàn bộ diễn biến cuộc hỏi cung. Sau giây lát trầm ngâm suy nghĩ, đồng chí vui vẻ nói: “Thế là đã rõ. Ngụy quyền dao động, lục đục. Ngụy quân mất sức chiến đấu, khó lòng chống đỡ nổi cuộc tiến công vũ bão của chúng ta. Mỹ cũng đang gặp bê bối không dễ gì quay trở lại can thiệp. Thế là an tâm thực hiện kế hoạch đã định, giải phóng miền Nam. Còn các mục tiêu chiến dịch và cách đánh vào Sài Gòn mà Vĩnh Nghi đã nêu lên, cơ quan Tham mưu cần nghiên cứu thêm để bổ sung kế hoạch tác chiến cho đầy đủ”.

        Các mục tiêu mà Nghi đề cập đến đúng là những mục tiêu hiểm yếu mà trong kế hoạch tác chiến của ta đã xác định, còn cách đánh táo bạo khôn ngoan để giảm bớt thiệt hại cho dân thường, để thành phố khỏi đổ nát thì làm sao mà tướng Nghi hình dung ra được.

        Bản cung của tướng Nghi, theo chỉ thị của đồng chí Lê Trọng Tấn đã được điện gấp về Tổng Hành dinh ở Hà Nội để cơ quan đầu não có thêm cơ sở đánh giá tình hình, vững tâm thực hiện kế hoạch giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam.

Tháng 4, năm 2005       
L.P.L.                 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2017, 06:15:44 pm »


GIẢI PHÓNG BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thiếu tướng Nguyễn Minh Ninh                       
Nguyên Chính trị viên tỉnh đội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.       

        Đầu tháng 4-1975, anh Tư Lạc tỉnh đội trưởng Bà Rịa – Long Khánh được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ chỉ huy Mặt trận Xuân Lộc, anh Tư Hy được điều về Cấp để lãnh đạo mặt trận Vũng Tàu. Ban chỉ huy Tỉnh đội chỉ còn lại tôi là Chính trị viên và anh Tám Còn, Tỉnh đội phó. Sở chỉ huy cơ bản lúc này đang ở Cô Nhi, suối Thề, nhưng để tiện việc phối thuộc với mặt trận Xuân Lộc, được phép của Quân khu và Tỉnh ủy, chúng tôi đã đặt Sở chỉ huy tiền phương ở xã Cẩm Mỹ, đồng thời điều Tiểu đoàn 445 của Tỉnh ra chốt chặt ở ven lộ 1, đoạn cuối sông Cát, rừng Lá phía đông Xuân Lộc nhằm ngăn chặn tàn quân địch từ Xuân Lộc tháo chạy ra hướng Bắc.

        Khi chiến dịch Xuân Lộc gần kết thúc thì tàn quân địch tháo chạy theo lộ 1 vào Dầu Giây và lộ 2 vào Bà Rịa, Vũng Tàu. Anh Út Đặng ở Tham mưu Quân khu xuống giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang Bà Rịa tổ chức chặn địch trên lộ 2 (phía nam Xuân Lộc), đó là chiều ngày 19 tháng 4 năm 1975. Không để lỡ thời cơ, ngay đêm ấy, các lực lượng của tỉnh đã khẩn trương cơ động về bao vây các đồn bốt địch ở đồn điền cao su ông Quế, đồn Con Rắn ở Cẩm Mỹ, các đồn điền ở Kim Long, Bình Giã, Đức Thạnh, Chi khu Long Lễ ở Hòa Long. Mục đích là mở thông đường, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực tiến công giải phóng Bà Rịa và Vũng Tàu. Qua máy bộ đàm, tôi ra lệnh điều tiểu đoàn 445 về cua chữ S trên lộ 2 và mời các anh Tám Tổng, tiểu đoàn trưởng, Hai Khanh, chính trị viên về gấp cua chữ S nhận nhiệm vụ cụ thể. Phải nói, trận địa phục kích ở cua chữ S rất lợi hại, bởi ở đây, đường vừa quanh co lại lắm dốc đèo, địa hình rất thuận tiện cho việc bố trí hỏa lực.

        Chiều 20 tháng 4, tất cả các lực lượng đều tập kết đúng vị trí được phân công. Bố trí xong thế trận, tôi thấy thanh thản trong lòng nên chiều 21 tháng 4 mới cùng anh Út Đặng dùng xe máy xuyên qua các rừng cao su kiểm tra tất cả các trận địa, đồng thời vào thăm các cơ sở cách mạng trong đồn điền cao su. Tới đâu chúng tôi cũng được chứng kiến không khí hồ hởi của nhân dân chờ đón quân giải phóng và nhất là lòng khao khát được giết giặc, thể hiện trên từng cặp mắt của người công nhân cao su, những chiến sĩ dân quân, du kích ở khắp các địa phương.

        Nhá nhem tối, chia tay anh Út Đặng ở Tây Lộ, tôi phóng như bay về Sở chỉ huy tiền phương ở Cẩm Mỹ, lòng mừng vui khấp khởi.

        Trời tối hẳn, có việc đột xuất, tôi nói Út Lép, em trai tôi, dùng xe Hon Đa 67 quay lại phía tây lộ 2 làm nhiệm vụ. 23 giờ, Út Lép chạy bộ về, xộc vào Sở chỉ huy, vừa thở vừa nói: “Anh Năm ơi. Xe tăng địch xuống quá trời, có tới hàng trăm chiếc.”. Sao không nghe súng nổ ở cua chữ S. Tôi băn khoăn tự hỏi và cũng rất nhanh tự trả lời: Chắc chắn anh em quá mệt nên đã ngủ quên. Tôi ghé tai áp đất, nghe đất rung chuyển rất mạnh. “Nhiều xe lắm”, tôi thầm nghĩ và nhanh chóng trèo lên một điểm cao quan sát. Trước mắt tôi, trong đêm tối mịt mùng, một vệt sáng đèn gầm của đủ các cỡ xe vạch một vệt dài mấy cây số, đoạn đầu đã vượt qua cua chữ S. Việt sáng như con rắn khổng lồ đang lén lút trườn về hướng Bà Rịa.

        Tôi đánh thức Tám Còn, anh bật dậy rất nhanh, mở bộ đàm liên lạc với tiểu đoàn 445 ở cua chữ S nhưng không được, mạng điện thoại hữu tuyến chưa triển khai xong. Không được phép chậm trễ, anh Tám Còn cắt rừng phóng như bay tới cua chữ S. Một chiến sĩ liên lạc dùng xe máy xuyên qua rừng cao su, lao về phía nam, nơi đó, ở phía đông Xà Bang, có đại đội 41 của huyện Châu Đức do đại đội Châu Kền chỉ huy, thông báo sẵn sàng chiến đấu.

        Tại Sở chỉ huy, lòng tôi bồn chồn, vừa lo vừa tiếc vì đã lỡ thời cơ diệt địch, để sổng một lực lượng lớn xe pháo và binh lính địch...

        Bỗng các cỡ súng ở Xà Bang đua nhau nổ. Tôi reo lên: “ 41 giỏi lắm! Châu Kền khá lắm!”. Liền sau đó, tiếng súng của tiểu đoàn 445 nổ dồn dập như đáp lời kêu gọi hợp đồng của đại đội 41. Thế là suốt một tuyến dài mấy cây số trên lộ 2, từ cua chữ S vào tới Xà Bang, tiểu đoàn 445 đánh vào, đại đội 41 đánh ra, đội hình địch bị rối loạn. Xác địch, xác xe ngổn ngang. Cuộc chiến đấu kéo dài tới sáng ngày 22 tháng 4. Tàn quân địch bỏ xe pháo xô đẩy nhau chạy tháo thân về phía nam để tới Bà Rịa, Long Hải, Vũng Tàu. Đông nhất là đám tàn quân chạy vào rừng phía tây lộ 2 để về Cẩm Đường, Bình Sơn, Nhơn Trạch, Long Thành và căn cứ Nước Trong. 10 xe tăng và hàng chục xe quân sự bị bắn cháy, hơn 100 tên bị bắt sống, trong đó có tên đại tá Phạm Văn Phúc, tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2017, 06:16:08 pm »


        Chiều 22 tháng 4, theo lệnh trên, tôi giải Phạm Văn Phúc về Xuân Lộc. Đồng thời, đón Sư đoàn 3 của đại tá Trần Bá Khuê hành quân qua ngả 3 Tân Phong theo lộ 2 tiến vào Cẩm Mỹ. Những ngày này, dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, nhiều cán bộ đã được cử vào nội thị, nội thành vận động quần chúng chuẩn bị mọi mặt để nổi dậy khởi nghĩa phối hợp với bộ đội, giải phóng quê hương..

        Chiều 25 tháng 4, đại quân ta đã tới đập nước xã Châu Pha. Pháo địch từ các trận địa ở Núi Đất, Phước Hòa và máy bay địch quần lượn oanh tạc vào đội hình hành quân của Sư đoàn 3 và các đơn vị phối thuộc. Nhưng đoàn quân vẫn tiến lên và các cỗ pháo mặt đất, pháo phòng không của ta đã buộc các trận địa pháo địch im tiếng, máy bay địch tháo chạy.

        Ngày 26 tháng 4, trong lúc Sư đoàn 3 đang tiến về thị xã Bà Rịa thì các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn tỉnh cũng vùng lên giành quyền làm chủ khắp nơi, giải phóng thị trấn Long Điền, Đất Đỏ, Phước Bửu...

        Đúng 17 giờ ngày 26 tháng 4, pháo binh của Sư đoàn 3-Sao Vàng đồng loạt nã đạn vào thị xã Bà Rịa và chi khu Phước Thãnh. Khi pháo chuyển làn, bộ binh và xe tăng ta ào ạt tiến công. Được lực lượng biệt động thị xã dẫn đường, bộ đội ta liên tiếp đập tan các cụm đề kháng của địch. Cuộc chiến đấu ở thị xã Bà Rịa và quận lỵ Đức Thãnh kéo dài suốt đêm 26 đến sáng ngày 27. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh. Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1975, thị xã Bà Rịa và tất cả các huyện Long đất, Xuyên Mộc, các thị trấn Long Điền, Đất Đỏ, Phước Bửu được hoàn toàn giải phóng.

        Mờ sáng 28 tháng 4, tôi và anh Trần Bá Khuê, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 dùng 2 xe jeep theo lộ 15 chạy xuống Vũng Tàu để nghiên cứu tình hình chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Xe tôi chạy trước, do Út Lép lái. Vừa leo đến đỉnh cầu, Út Lép vội vàng quật xe quay đầu lại. Thì ra bọn địch đã đánh sập cầu để cản bước tiến của quân ta. Chúng lập một điểm phòng ngự mạnh ở phía nam cầu. Bộ đội Sư đoàn 3 đã hy sinh khá nhiều trong những trận đánh để vượt sông Dinh. Đội hình tiến công bị chặn lại. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu qua Phước Tỉnh dùng ghe thuyền của dân vượt Cửa Lấp sang mũi Hải Đăng. Đại đội 12 đặc công nước của Vũng Tàu cùng phân đội L22 bí mật vượt sông Dinh trong đêm 28-4 đánh chiếm tàu trọng tải 10 ngàn tấn của địch ở cảng Rạch Dừa, chiếm cầu Rạch Bà, đánh dọc lộ 15 ngược lên cầu Cỏ May. Bị bất ngờ, hầu hết các ổ đề kháng ở tuyến này của địch tháo chạy. Quá nửa đêm 28-4 rạng ngày 29, Tiểu đoàn 3 của Sư đoàn 3 vượt sông Dinh nơi cầu Cỏ May đánh chiếm phía nam cầu. Địch vẫn kháng cự. Trong khi đó, ở hướng Cửa Lấp, Trung đoàn 12 đã vượt sông an toàn, đánh chiếm căn cứ Chí Linh, tiến công cụm phòng ngự Phước Thành. Bị cô lập, bọn địch ở cụm phòng ngự cầu Cỏ May hoang mang dao động. Chớp thời cơ, Tiểu đoàn 3 đã giáng đòn quyết định đánh tan tác bọn địch tại đây, hoàn toàn làm chủ đầu cầu phía Nam.

        Sáng 29-4, lực lượng còn lại của Sư đoàn 3 và Tiểu đoàn 445 của Tỉnh dùng ghe thuyền vượt sông Dinh nơi cầu Cỏ May tiến xuống Vũng Tàu và ngay trong đêm ấy, các hướng tiến công của quân ta đã vào tới Trung tâm thành phố.

        Sáng 30-4, ta chiếm Tòa Thị chính. Cờ giải phóng tung bay khắp phố phường. Anh Phạm Văn Hy, bí thư thành ủy, kiêm Chủ tịch ủy ban quân quản Thành phố đọc nhật lệnh kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền nạp vũ khí và cổ vũ nhân dân truy bắt tàn quân địch, dọn dẹp phố phường, ổn định cuộc sống.

        Hàng vạn tàn quân địch từ miền Trung, từ Xuân Lộc, Bà Rịa dồn về Vũng Tàu chen chúc ẩn nấp khắp các nhà thờ, chùa chiền, trường học để tìm đường chạy ra biển, bỏ lại trên bờ đủ lại xe pháo, súng đạn, chen lấn, tranh giành nhau cướp tàu thuyền của dân tháo chạy. Một số nơi, do bọn chỉ huy ác ôn, chúng ngoan cố chống cự đến cùng buộc ta phải dùng sức mạnh đè bẹp như ở khách sạn Palas. Đó cũng là lúc tôi dẫn tiểu đoàn 445 tới chiếm sân bay Vũng Tàu.

        Cùng với bộ binh, hải quân ta từ miền trung theo đường biển đã vào tới Vũng Tàu. Ngày 1 tháng 5 năm 1975, tàu chiến hải quân ta đã đưa Tiểu đoàn 445 của tỉnh và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12 của Sư đoàn 3- Sao Vàng vượt biển ra giải phóng và tiếp quản Côn Đảo.

        BÀ RỊA – VŨNG TÀU HOÀN TOÀN GIẢI PHÓNG.

Tháng 4, năm 2005         
Hoàng Minh Mẫn ghi.       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2017, 06:23:00 pm »


        Đại tá Đồng Sỹ Tài,   
        Nguyên Chính ủy E12-F3- Sao Vàng,
        Nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu I.

        Ông là người hết sức tâm huyết với lịch sử và truyền thông Sư đoàn, có nhiều kỷ niệm sâu sắc về Sư đoàn, nhất là với trung đoàn 12. Xin trích đăng một số bài viết của Ông.


CÓ NHỮNG TRẬN ĐÁNH NHƯ THẾ

        Cuối năm 1967, Trung đoàn 12 được lệnh biệt phái vào khu Đông tỉnh Bình Định để chuẩn bị cho Tổng tiến công Xuân Mậu Thân (1968). Lúc đó, tôi là chính trị viên Đại đội 53, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 12. Không một ai biết về quy mô chiến dịch xuân 1968, nhưng ai cũng biết vào khu Đồng là vào giữa vùng địch kiểm soát, vào một vùng mà bọn địch tuyên truyền rằng chúng đã đuổi sạch Cộng sản, “bình định” xong vùng nông thôn trù phú sát phía bắc thị xã Quy Nhơn.

        Nhìn bề ngoài thì đúng như vậy thật. Lúc đó, cả vùng đất phía đông Phù Cát, phía bắc Quy Nhơn hầu như là một vùng trắng. Làng xóm không còn nhà cửa, cây dại mọc um tùm. Ngoài đồng chỉ có cỏ với cỏ, có nơi cỏ ngập đầu người. Mùa khô, nước rút xuống sông, để lại từng hố bom, tôm cá nhiều vô kể, làm mồi cho chó và mèo hoang. Vùng đất mà chúng nói có thể đặt vào lồng kính để minh chứng cho sự thành công của chiến lược “bình định” nông thôn là như thế đó. Dân cư bị chúng dồn vào các ấp ven trục lộ và quanh thị trấn, thị tứ như chợ Gốm, Phù Ly, Đề Dy, Đập Đá v.v....

        Giữa khu Đông mênh mông đó, tạo hóa đã kiến tạo nên một ngọn núi cao 318m, gọi là Núi Bà, trên đỉnh có một hòn đá rất lớn mà nhân dân gọi là Hòn Vọng Phu. Núi Bà nằm gọn trọng địa phận huyện Phù Cát, sát bờ biển Đông, cây cối lúp xúp ở lưng chừng núi. Trên đỉnh là cỏ tranh, chỉ các khe suối là có cây cối tương đối cao. Điều kỳ diệu là có rất nhiều hang đá, có những hang đá liên hoàn suốt một con suối, nước ngầm chảy dưới hang. Có những khu vực, đá tảng rất to nhưng lại nằm xen giữa cây cối um tùm... Đúng là thiên nhiên đã ban tặng cho Cách mạng một khu căn cứ lý tưởng để đương đầu với bom đạn giặc Mỹ. Không có Núi Bà thì cơ sở Cách mạng Khu Đông tỉnh Bình Định không thể tồn tại được.

        Địch rất biết sự lợi hại của địa thế Núi Bà nên suốt 2 năm 1966-1967 càn đi quét lại không biết bao nhiêu lần. Nhưng địch càn phía trước ta lại vòng phía sau, địch càn phía Tây ta lại vòng ra phía Đông v.v... chúng không sao quét sạch được cơ sở của ta. Khi chúng tôi vào Núi Bà thỉnh thoảng lại gặp những hang đá sặc mùi chất độc hóa học, trong đó có rất nhiều xương người ngổn ngang. Hỏi ra mới biết đó là những gia đình đồng bào không chịu khuất phục chế độ Ngụy, lên núi, lấy các hang đá làm nhà. Bọn Nam Triều Tiên càn quét kêu gọi đầu hàng không được đã ném lựu đạn hóa học vào giết chết cả gia đình họ ....

        Bên trong sự hoang tàn đầy vẻ chết chóc ấy, lúc bấy giờ đã sục sôi một cuộc bạo động Cách mạng. Đêm đêm, từng tổ chiến sỹ trinh sát, từng tổ chiến sỹ giao liên, từng tổ chiến sỹ thông tin âm thầm dẫn các đoàn quân từ các ngả tiến vào Núi Bà. Họ đi xuyên qua các tuyến bố phòng bằng mìn của địch, có khi đi sát căn cứ bọn Nam Triều Tiên để vào Núi Bà. Phải mất một tháng, Trung đoàn 12 mới đưa hết đội hình vào các vị trí đóng quân ở Núi Bà.

        Từ các nguồn tình báo và phát hiện một số dấu vết do ta để lại qua các cuộc hành quân, bọn Nam Triều Tiên tổ chức cuộc càn lớn, cỡ trung đoàn vào Núi Bà để truy quét, tiêu diệt, đẩy lực lượng ta ra khỏi dãy núi lợi hại này.

        Theo quy luật, thông thường trước mỗi cuộc càn, địch cho ném bom, bắn pháo cực kỳ dã man rồi mới đổ quân. Nhưng lần này, có lẽ chúng định đánh bất ngờ nên chỉ bắn pháo vài tiếng đồng hồ vào các khu vực nghi vấn rồi ào ạt đổ quân xuống vùng Sơn Lại Sứ, một khu vực khá bằng phẳng ở mạn phía tây núi Bà. Ở đây chỉ có những gộp đá nửa nổi nửa chìm chen lẫn các bụi cây lúp xúp. Từ đây, chúng chia quân đi lùng sục, phục kích các con đường mòn ta hành quân di chuyển. Ta chủ trương chỉ đánh nhỏ lẻ như du kích để bảo tồn lực lượng và bí mật quân chủ lực. Bọn Nam Triều Tiên ranh ma, chỉ qua tiếng súng đã biết chủ lực ta xuất hiện. Thế là chúng tăng thêm quân và tăng những đợt ném bom, bắn phá vào các khe đá nghi ngờ ta giấu quân.

        Tại trạm Mật, thôn Tân Hóa, xã Cát Hanh, nơi đứng chân của Tiểu đoàn 4, địch đã ném bom suốt 2 ngày liền. Một con suối dày đặc hang đá to lớn bị bom nghiền nát như bãi đã vôi. Bụi đá bốc lên mù mịt. Chưa đánh trận nào mà Tiểu đoàn 4 đã thiệt hại nặng nề. Đồng chí Chính ủy Trung đoàn 12, Lê Hoài Thanh hôm đó hành quân cùng Tiểu đoàn 4 đã bị thương nặng, may nhờ có chiến sỹ cần vụ Lê Huy Liệu dũng cảm cõng ra khỏi vòng vây quân Nam Triều Tiên mới thoát nạn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2017, 10:59:16 am »


        Tiểu đoàn 5 được lệnh cơ động đánh vào sau lưng địch để kéo giãn chúng ra. Địch lại thêm quân đối phó với Tiểu đoàn 5. Đại đội 51, Đại đội 52 (Tiểu đoàn 5) đã đánh một trận tao ngộ chiến ở Sơn Lại Sứ, tiêu diệt gần hết một Đại đội Nam Triều Tiên, bắt sống 5 tên lính Nam Hàn (nhưng ta khó khăn trong việc dẫn dắt và nuôi tù binh nên đã nhét truyền đơn vào túi chúng rồi phóng thích tại trận).

        Đại đội 53 của tôi lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ Bệnh xá Trung đoàn. Suốt 3 ngày liền đánh địch bật khỏi suối đá để bảo vệ thương binh. Đơn vị rơi vào tình trạng hết gạo ăn. Cả đại đội gần 60 người chỉ còn nửa ruột nghé gạo ( khoảng 3kg). Thấy bộ đội đánh giặc bị đói, đồng chí Phúc, Chính trị viên Bệnh xá cử người mang sang chi viện cho Đại đội nửa ruột nghé gạo (khoảng 3kg). Anh chuyển lời cho tôi rằng: một miếng khi đói bằng một gói khi no. Đây là tấm lòng của anh em thương binh, mong các anh đánh thắng giặc thì gần 20 thương binh của Bệnh xá mới bảo đảm an toàn.

        Như vậy, cả Đại đội có khoảng 6kg gạo. Nếu nấu cơm không được mỗi người một bát, nhưng lúc đó cũng không thể nổi lửa để nấu cơm vì địch ở xung quanh, lại chiếm các mỏm núi nên rất dễ bị chúng phát hiện.

        Tôi phải triệu tập Chi bộ họp chớp nhoáng, chuyên đề bàn cách lãnh đạo bộ đội giữ vững ý chí chiến đấu và bàn phương hướng sử dụng số gạo thế nào cho có hiệu quả. Chi bộ lúc đó có 5 đảng viên, gồm tôi, đồng chí Xanh, đại đội trưởng, đồng chí Vinh, đại đội phó, đồng chí Thăng, tiểu đội trưởng Tiểu đội hỏa lực thượng liên và đồng chí Thoảng, trung đội trưởng. Rà xét quyết tâm chiến đấu ai cũng yên lòng vì bộ đội vẫn vững vàng, nhưng trong tâm tư ai cũng lo hết gạo, bộ đội sẽ mất sức chiến đấu. Giữa khu chiến, bên ngoài không tiếp tế lương thực vào được. Tôi nêu vấn đề: chỉ có tích cực đánh địch mới bảo vệ được mình, đẩy chúng ra mới có đường sống. Chi bộ biểu quyết và tinh thần đó đã được tất cả cán bộ chiến sỹ nhất trí. “Hết gạo cũng đánh, đánh để có đường đi lấy gạo”. Đó là quyết tâm của mọi người lúc ấy. Trước mắt, số gạo hiện còn 6kg, phải sử dụng thế nào đây? Sau khi thảo luận, Chi bộ nhất trí, mỗi người mỗi bữa được 2 thìa gạo nhai sống để lấy chất bột, còn lại là tìm rau rừng (rau diếp dại), lá rừng (lá bứa, lá giang), quả rừng (sim, ổi) để ăn. Anh em thương binh và bộ phận hỏa lực tiêu chuẩn khá hơn chút ít. Đúng là “tình thế như thế nên đành phải thế” không còn cách nào hơn.

        Đồng chí Đỗ Đức Xanh. Đại đội trưởng (quê Thanh Miện, Hải Dương) đã qua cương vị Trung đội trưởng, Đại đội phó phụ trách hậu cần, vốn có tác phong tỉ mỉ, chặt chẽ, giờ đây được giao nhiệm vụ quản lý và phân phát số gạo đúng Nghị quyết Chi bộ. Ai cũng yên tâm.

        Suốt một tuần lễ sau đó, Đại đội tôi liên tục chiến đấu 5 trận với một tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên. Khi bọn địch chủ động đánh vào Đại đội thì Đại đội lại luồn lách ra nơi khác để chúng đánh vào chỗ trống. Khi địch dừng lại phục kích thì ta lại chủ động tập kích. Tuy đánh nhỏ lẻ cỡ Đại đội, Trung đội nhưng ta hoàn toàn chủ động theo cách đánh của mình, làm cho tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên bị tiêu hao đáng kể. Những trận đánh của Đại đội tôi và Tiểu đoàn 5 đã có tác dụng kéo dãn địch ra, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 cùng các lực lượng của Tỉnh tiến sâu vào phía Nam, chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968.

        Sau đợt chiến đấu, Đại đội rút kinh nghiệm. Ai cũng phấn khởi vì đã vượt qua được thử thách khắc nghiệt ban đầu để trụ đứng ở khu Đông Bình Định. đồng chí Trần Văn Soạn, một sinh viên khoa Văn Trường đại học Sư Phạm đã làm 4 câu thơ khá thú vị:

                                                Bảy ngày 5 trận có sao đâu
                                                Thắng trận như xưa thắng trận đầu
                                                Gạo hết, rau rừng ăn lót dạ
                                                Bảy ngày 5 trận đã sao đâu!

        Ngày xưa, các cụ ta có câu “Bảy ngày 3 bão biết cây cứng mềm”. Vận vào Đại đội tôi trong đợt hoạt động này “Bảy ngày 5 trận” có lẽ phải cứng hơn sắt thép.

        Đối với tôi, đó là một trong những kỷ niệm không bao giờ quên. Không có những người lính như thế thì không thể có những trận đánh như thế. Và nhờ đó mà cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta mới toàn thắng!

Thái Bình, tháng 6 năm 2009         
Đ.S.T                     
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2017, 11:06:50 am »


MÁ HƯƠNG

        Tên “Cái” của má là gì chúng tôi cũng chẳng ai hay, mọi người trong đơn vị thường gọi má là má Hương và cũng có người gọi là má Ngọc. Hương là tên người chồng của má, ông tham gia kháng chiến hồi 1949-1950, là cán bộ huyện An Lão. Sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, ông cùng đoàn cán bộ của tỉnh ra tập kết ở miền Bắc. Còn Ngọc là tên người con trai duy nhất của ông bà, khi ông đi tập kết, Ngọc mới được 2 tuổi.

        Chúng tôi nghe má kể lại, khoảng từ năm 1957 đến cuối 1959, bọn chính quyền Nguỵ ở cơ sở ra sức bắt bớ giam cầm, tra tấn những người trong các gia đình mà chúng gọi là “Kháng chiến cũ”. Đối với má, mỗi năm cũng phải 3, 4 lần chúng gọi lên quận giam giữ, tra hỏi, đánh đập, bắt phải khai báo về việc liên lạc với chồng và bắt má làm giấy li khai ông Hương, vì ông hoạt động kháng chiến, là “phản bội Quốc gia”. Mỗi lần chúng tra tấn, thân hình má tím bầm ngày càng tiều tuỵ, có lần chết đi sống lại. Nhờ có sự giác ngộ cao độ về lòng căm thù bè lũ cướp nước và bọn bán nước, má Hương tỏ ra là người “bướng bỉnh”, chẳng bao giờ khai ra một điều gì có hại cho Cách mạng. Bọn mật vụ cứ nghe tên má ở thôn Long Khánh là chúng đã “ngán ngẩm” rồi, chúng bảo “Con mụ này ngoan cố” lắm, đánh mấy cũng không hề khai báo được chút gì, cũng không làm giấy li khai “Cộng sản”.

        Từ cuối năm 1972 trở đi, đơn vị chúng tôi lấy thôn Long Khánh làm hậu cứ. Thôn Long Khánh nằm sát trục đường chiến lược số 5 từ Bình Định qua Quảng Ngãi, cách thị trấn, quận lỵ An Lão chừng 4,5km. Sau chiến dịch, đơn vị lại về đây củng cố rút kinh nghiệm và chuẩn bị mọi mặt cho những trận đánh tiếp sau. Ở nhà má Hương, bọn tôi được má chăm sóc quý mến như chính đứa con má sanh ra.

        Mỗi khi ở mặt trận về, má chú ý xem, những đứa nào trong số chúng tôi vắng mặt. Đứa nào vắng là má đã “nghi nghi” rồi. Má nói “đánh nhau thì phải mất mát tránh sao khỏi, cầu mong cho tụi bay tai qua nạn khỏi là má mừng rồi”.

        Bao giờ cũng vậy, mỗi khi chúng tôi từ trận địa về, má cũng nấu nồi xôi hoặc bí lắm cũng luộc mấy củ mì (sắn), thắp hương khấn tổ tiên rồi gọi tất cả bọn tôi tới “liên hoan”, má gọi đó là “Mừng thắng lợi”. Má bảo “Nhà má nghèo lắm, không có gì giúp các con bằng vật chất, má chỉ có tinh thần và giúp được việc gì thì má sẵn lòng”.

        Bữa “liên hoan” hôm nay thiếu thằng Quyết, má hơi buồn. Má bảo: “Tụi bay giấu má chứ thằng Quyết nó hi sinh rồi. Tội nghiệp cho nó, có được mai táng tử tế không”. Tối đó má lại nấu xôi và cắt một nải chuối đã ương ương ngoài vườn. Xôi chuối đặt lên một cái bàn nhỏ thắp hương, má lầm bầm khấn khấn, vái vái hương hồn thằng Quyết. Sau đó má lại gọi mọi người đến ăn, má bảo không ăn là chê của má, là có tội với người đã ra đi. Tụi bay phải ăn, có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít cho má vui.

        Quyết là lớp thanh niên còn rất trẻ, quê ở Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc (cũ). Học xong phổ thông tình nguyện vào Nam chiến đấu, được bổ sung về đơn vị. Hiền lành, chịu khó lại bảnh trai, cả đơn vị ai cũng quý mến. Đặc biệt má Hương thì coi Quyết như đứa con đẻ ra, có cái gì cũng dành phần “thằng Út”. Làm vườn về kiếm được củ mì (sắn) cho vào bếp nướng cũng dành cho thằng Út. Má bảo má không có con gái, nhưng sau thắng lợi, nếu thằng Út nó ưng thì má làm mai đứa cháu gái của má cho, rồi ở đây với má.

        Chúng tôi ở nhà má, ngày nào cũng vậy, má ra vườn, lên nương, ra bờ suối hái đủ thứ rau: rau muống, rau dền, rau tàu bay, rau sắn, rau dệu v.v... gọi là rau tập tàng hàng rổ mang về cho nuôi quân. Má bảo để “bồi dưỡng” cho tụi nó. Chiều đến cầm cái giỏ, má lại “lang thang” đi ra gần thị trấn An Lão để nghe ngóng và nắm tình hình, vì ở cái thị trấn miền núi này có các “bà buôn” từ thị trấn Bồng Sơn và thị xã Quy Nhơn về. Địch có làm gì là các bà nắm được hết, bởi ta có cơ sở ở vùng tạm chiếm cung cấp tin tức qua hệ thống các “bà buôn”. Cứ như thế hết ngày này qua ngày khác, công việc của má cứ đều đều, có nhiều tin má cung cấp rất có giá trị, giúp cho ta chủ động đối phó với địch, vừa giành thắng lợi vừa bớt tổn thất. Mọi người phong cho má danh hiệu “Trinh sát làng”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2017, 11:07:34 am »


        Ngọc là đứa con trai duy nhất của má. Khi ba Hương đi tập kết, Ngọc mới 2 tuổi chưa biết gì, lúc chúng tôi về ở nhà má thì Ngọc đã ở tuổi thanh niên. Ngọc hăng hái hoạt động, đã tham gia làm liên lạc cho xã đội. Ban đêm tham gia tuần tra, canh gác để bảo vệ vùng giải phóng. Khi có công văn của xã đội, dù khó khăn mấy Ngọc cũng hoàn thành. Đã mấy lần Ngọc gặp tôi nằng nặc xin vào Bộ đội Giải phóng, Ngọc nói: “Ở nhà buồn lắm, nhất là khi bộ đội hành quân đi thì buồn ơi là buồn”. Nhưng khốn nỗi, má Hương có chồng đi tập kết, ở nhà má chỉ có mỗi mình Ngọc nên các anh ở xã có ý định giữ Ngọc ở lại hoạt động để bồi dưỡng nguồn Xã Đội trưởng khi cần và lại nữa, để má đỡ trống vắng. Vì theo các đơn vị ở địa phương cho biết thì Ngọc là một trong số thanh niên trung kiên của địa phương. Hỏi ý kiến má thì má chỉ trả lời: “Tao chỉ có mình nó. Bọn bay muốn làm sao cũng được. Vào Quân Giải phóng cũng được, ở nhà hoạt động cũng được, miễn sao nó xứng đáng với ba nó ngoài kia, nó hoạt động tốt là má mừng”.

        Những lúc yên tĩnh, má ngồi nhai trầu và giãi bày tâm sự, má bảo: “giá như nó chấp hành đúng Hiệp định thì đâu đến nỗi. Chỉ hai năm sau hiệp thương thống nhất đất nước làm sao tụi tao phải khổ thế này, tụi bay làm gì phải ngoài ấy vào đây mà gian khổ, hi sinh như vậy. Tất cả là do bọn cướp nước và quân bán nước mà thôi”. Trầm ngâm một lúc, má nói tiếp: “Các con có biết không, cái thôn Long Khánh này rất rộng, người rất đông, đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú như thế mà bây giờ thì trông thật hoang tàn, chỉ còn lưa thưa mươi lăm gia đình. Ruộng đất thì hoang hoá, cây cối thì bom pháo, chất độc hoá học nó làm trụi sạch trơn. Ôi, không đánh thì nó cũng làm khổ dân mình, cho nên phải đánh. Cụ Hồ đã dạy phải quyết giành lấy Độc lập, Tự do kia mà. Đánh thì hao người tốn của, có hao người tốn của thì mới mong có ngày hoà bình. Má chỉ mong sao đến ngày đó, lúc đó có chết cũng sướng”. Nghe những lời tâm sự của má, lòng chúng tôi như nghẹn lại. Vâng thưa má, chúng con hiểu, phải đánh để giành lấy độc lập tự do, mất độc lập tự do là mất tất cả.

        Thế rồi chiến dịch Xuân Hè 1975 đến, chúng tôi lại ra đi. Trước ngày chúng tôi lên đường, má lại nấu xôi, lần này má nấu xôi trộn dừa nạc. Cúng tổ tiên xong má lại gọi tất cả vào ăn, thằng nào vắng má để phần. Vừa ăn má vừa dặn dò: “Các con ra trận nhớ về đông đủ nghe, tụi bay đi má buồn lắm đó. Má dặn điều này, ra trận đánh nhau phải cẩn thận đó nghe, cẩn thận không bao giờ thừa, má chỉ mong thắng trận trở về đông đủ là má mừng rồi...”. Chúng tôi đều im lặng, thấm từng lời má nói. Chính má đã lo cho chúng tôi tất cả, má lo cho chúng tôi như đứa con đẻ của mình. Bỗng tôi lại nhớ đến bài thơ của nhà thơ Tố Hữu:

                                      “Bao bà cụ từ tâm làm mẹ
                                      Yêu quý con như đẻ con ra”


        Lại nhớ đến người mẹ già của tôi ở miền quê xa xôi, chắc giờ đây mẹ cũng trông mong tôi “chân cứng đá mềm” và lại nữa, mong đến ngày toàn thắng trở về. Thế là chiến dịch Xuân Hè 1975 ấy, chúng tôi đi và cứ thế đi mãi cho tới chân trời góc biển, đến nơi tận cùng Tổ quốc, vì “vận nước” đã đến rồi. Thời cơ bao nhiêu năm cuộc chiến đấu đầy hi sinh gian khổ, ngày thắng lợi hoàn toàn đã đến rồi, không thể chần chừ được nữa. Giải  phóng xong Bình Định chúng tôi được vinh dự tham gia chiến dịch cuối cùng mang tên Bác – Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị bạn đánh đuổi giặc như thế “chẻ tre”. Ngày 30-4, lúc 11 giờ 30 phút, Sài Gòn giải phóng, cờ Cách mạng phần phật bay trên nóc toà nhà “Dinh độc lập” thì đạo quân của chúng tôi có mặt tại thành phố Vũng Tàu, thành phố xinh đẹp trên bờ biển Đông ấy, dưới ánh nắng vàng rực rỡ hoà quyện với màu xanh của biển cả đã chứng kiến sự thất bại thảm hại của chế độ Nguỵ Sài Gòn do đế quốc Mỹ đã dựng lên. Hôm nay, đầy đường đầy bãi, đâu đâu cũng thấy giày đinh, mũ sắt, vũ khí trang bị vứt ngổn ngang toàn của Mỹ, đã trở thành bãi rác khổng lồ. Sau ngày đó chúng tôi cùng nhân dân dọn dẹp để khỏi ô uế mùi chiến tranh, dọn để mảnh đất này mãi mãi xanh tươi, cho nước biển Đông này mãi mãi trong xanh.

        Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi lại về làng Long Khánh, về thăm má Hương. Vừa đến đầu làng, thì bà con trong thôn ùa ra đón, ai ai cũng mừng mừng tủi tủi. Riêng má Hương, đôi mắt đỏ hoe, má hỏi cụ thể từng người có khỏe không, có đứa nào sao không. Bây giờ hết giặc rồi, tụi bay có về với má, với bà con ở cái làng Long Khánh này nữa không. Chắc giải phóng rồi tụi bay về phố xá ở chứ gì? Má vừa nói vừa suy ngẫm những điều gì sâu kín.

        Thế là từ đó chúng tôi xa má Hương, xa làng Long Khánh thân yêu ấy. Chính má và mảnh đất ấy đã bao năm chở che nuôi dưỡng chúng tôi, tạo cho chúng tôi sức mạnh và niềm tin tất thắng. Tôi còn nhớ đã nhiều lần, đồng chí Nguyễn Trọng Dy, Chính uỷ trung đoàn tôi thường nói với mọi người trong đơn vị: “Mỗi suy nghĩ, mỗi việc làm của các bà má miền Nam nói chung và má Hương ở thôn Long Khánh nói riêng làm cho chúng ta cứng cáp hơn, vững vàng hơn trong cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ này. Đó chính là sức mạnh tinh thần chỉ có cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có”. Thời gian đã 35 năm rồi, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, nhưng hình ảnh má Hương và thôn Long Khánh thân yêu không bao giờ tôi quên được.

Thái Bình, tháng 5 năm 2009       
Đ.S.T                       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2017, 11:13:05 am »


VỀ HOÀI CHÂU – MẢNH ĐẤT ANH HÙNG!

        Mùa thu này chúng tôi về lại Bình Định. Bình Định – mảnh đất ấy đối với chúng tôi- những người lính Sư đoàn 3 anh hùng không thể nào quên, nhiều người trong chúng tôi đều nói: “ đây là quê hương thứ hai...”. Còn tôi, gần 11 năm gắn bó với mảnh đất này, những năm tháng đánh Mỹ đầy khó khăn, gian khổ ấy, chính nơi đây là điểm tựa cho tâm hồn và ý chí của tôi, chính nơi đây đã che chở, đùm bọc, nuôi dưỡng tôi và đồng đội của tôi. Thật vậy, đồng bào, đồng chí ở đây không tiếc một thứ gì khi chúng tôi cần đến cho cuộc chiến đấu sống mái với quân thù.

        Về Bình Định, chúng tôi lại về cùng cát trắng Hoài Châu, mảnh đất có Đồi 9, Đồi 10, những địa danh đã in sâu trong trí nhớ chúng tôi. Những năm chống Mỹ cứu nước của thế kỷ 20, chính nơi đây là khu vực giành đi giật lại với kẻ thù. Bởi lẽ chiếm được xã Hoài Châu, chiếm được Đồi 9, Đồi 10 sẽ khống chế cả một vùng rộng lớn từ Đông sang Tây, là tai mắt để bảo vệ đoạn đường số một, cửa ngõ phía Bắc của tỉnh Bình Định, là bàn đạp để tấn công các xã phía Tây và Tây Nam huyện Hoài Nhơn, khống chế và uy hiếp hậu cứ của Sư Đoàn 3, của lực lượng vũ trang tỉnh ở An Lão, Hoài Ân...Vì vậy, Đồi 9, Đồi 10 xã Hoài Châu vừa có ý nghĩa chiến thuật vừa có ý nghĩa chiến dịch, đối với cả ta và địch. Những năm tháng đánh Mỹ, quân và dân nơi đây đã bền bỉ anh hùng chiến đấu “ một tấc không đi, một ly không rời”, quyết không để kẻ thù chiếm được Đồi 9, Đồi 10 và xã Hoài Châu nói chung. Đã có biết bao chiến sỹ Sư đoàn 3, lực lượng vũ trang địa phương và đồng bào nơi đây đã thấm đẫm mồ hôi, xương máu để giữ cho được mảnh đất quan trọng này hàng mấy chục năm trời cho đến ngày toàn thắng.

        Chả thế mà xã Hoài Châu đã được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý “ Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Xã Hoài Châu trước đây, nay chia thành 2 xã là xã Hoài Châu Bắc và xã Hoài Châu, chỉ có khoảng 8000 dân mà trong hai cuộc chiến tranh đã có tới 1752 liệt sỹ, hàng trăm thương bệnh binh, 154 bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 3 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Có thể nói, đây là một trong những xã có số lượng liệt sỹ, thương binh, bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhiều nhất của tỉnh Bình Định. Chúng tôi về thăm Nhà Truyền thống nhân dân của thôn Liễu An, chỉ một thôn đã có danh sách 236 liệt sỹ, 22 bà mẹ Việt Nam Anh hùng được khắc trang trọng trên bia đá. Nhà Truyền thống này là sáng kiến của các cụ trong thôn đã nghỉ hưu, tổ chức quyên góp và xây dựng. Ông Phan Thanh Bình, trong thời kỳ đánh Mỹ là Tỉnh Đội trưởng nói với chúng tôi: “ Thiết nghĩ, có bạc tỷ để lại rồi cũng hết, xây dựng một công trình đền ơn đáp nghĩa thế này thì có thể lưu lại cho con cháu mãi mãi sau này...” Nghĩa trang đặt ở chân Đồi 10 là nơi yên nghỉ của gần ngàn con em trong xã và các nơi được quy tụ về đây. Hàng năm, vào ngày lễ, ngày tết đồng bào trong xã lại đến đây thắp hương để tưởng nhớ những liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả của dân tộc. Chúng tôi đến thắp hương tại nghĩa trang này, hàng ngàn bà con đang làm nhiệm vụ nâng cấp, sửa chữa. Tôi hỏi một chị chừng 30 tuổi, chị nói: “ nâng cấp sửa chữa để chuẩn bị cho năm 2007, kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sỹ, đây là việc làm “ đền ơn đáp nghĩa” các chú ạ...”

        Nhân dịp này, chúng tôi ghé thăm nhà bà Nhương, người mà trong những năm đánh Mỹ, lúc hiểm nghèo bà đã dành sữa của mình nuôi thương binh Sư đoàn 3 - Nguyễn Văn Bình. Đến đây chúng tôi cảm thấy như một phòng truyền thống thu nhỏ, phòng nhà ngoài hai gian, xung quanh tường trang trọng treo 5 bằng Tổ quốc ghi công, một bằng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và nhiều huân, huy chương, phần thưởng cao quý Nhà nước trao tặng. Bà khiêm tốn nói: “ ở đây có nhiều gia đình, chứ không riêng nhà chị có số người hy sinh thế này đâu...”

        Về lại Hoài Châu hôm nay, cảnh và người đã thay đổi hẳn, nhà xây lợp ngói, nhà mái bằng san sát. Chợ Hoài Châu ngay chân Đồi 10, hằng ngày người khắp nơi tấp nập mua bán những sản vật do chính bàn tay lao động của người dân ở đây làm ra. Các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, bưu điện văn hóa, bệnh xá ... được xây dựng khang trang, đường giao thông liên thôn, liên xã theo phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm” được mở rộng và bê tông hóa, đời sống về mọi mặt của nhân dân được nâng lên, an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm, không trộm cắp, không có người nghiện hút, không có người nhiễm HIV...Vườn tược, đồng ruộng xưa kia hoang tàn, đứng làng này trông sang làng khác mồn một, nay vườn dừa, ruộng lúa, ngô, khoai xanh như một tấm thảm tận từ chân núi Thành Sơn ra bãi biển Tam Quan. Ai mới đến đây không thể biết vùng đất này đã từng có chiến tranh tàn khốc. Tôi để ý xem có còn “chứng tích” gì của chiến tranh để lại. Thấy tôi đăm chiêu, chị Quốc- người thôn Quy Thuận nói ngay: “ trước đây thì bom cày đạn xới tan hoang là như vậy, bây giờ chỉ còn một mảng tường khoảng chừng hơn 2m2 của nhà thờ Quy Thuận”. Nhà thờ Quy Thuận là một trong những nhà thờ lớn ở vùng này, là nơi tôn nghiêm dành cho đồng bào theo đạo Thiên chúa đến cầu nguyện, thế mà trải qua chiến tranh, nay chỉ còn lại duy nhất một mảng tường nhỏ. Phải chăng mảng tường nhỏ ấy đã nói lên tất cả, là chứng tích của chiến tranh, là tội ác của kẻ thù, phải chăng mảng tường ấy phải được giữ lại, giữ lại nó sẽ là tài liệu sống để giáo dục con cháu chúng ta hôm nay và mai sau.

        Về Hoài Châu, chúng tôi được dự “ Lễ hội Đồi 10” do Huyện ủy , UBND huyện Hoài Nhơn cùng với xã Hoài Châu Bắc tổ chức, đón nhận “ Di tích lịch sử Đồi 10 - cấp Nhà nước” trong chống Mỹ cứu nuớc. Chúng tôi được gặp lại nhiều gương mặt thân thương trước đây đã cùng nhau “nằm gai nếm mật”, gặp lại bà con, cô bác nơi đây sau hơn 30 năm xa cách. Trong buổi hội ngộ thân tình này, chúng tôi vừa vui vừa bùi ngùi khó tả. Vui vì Hoài Châu đang đổi mới và phát triển, vui vì được gặp lại những người thân lâu nay mong đợi...xen lẫn những niềm vui ấy, chúng tôi không khỏi bùi ngùi nhớ tới các đồng chí, đồng đội, đồng bào đã cùng chúng tôi chiến đấu, nay đất nước hòa bình thì họ không còn nữa, họ mãi mãi nằm dưới lòng đất mẹ để cho mảnh đất này mãi mãi tươi xanh...Chúng tôi tự nhủ: vinh quang này mãi mãi thuộc về họ, mọi người chúng tôi và tất cả chúng ta mãi mãi biết ơn họ, nguyện làm những việc thiết thực để “ Đền ơn đáp nghĩa”, thiết thực kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sỹ ( 27/7/1947- 27/7/2007).

T
hái Bình, năm 2007       
Đ.S.T                 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2017, 11:22:15 am »


HOÀI CHÂU - NHỮNG NGÀY SAU HIỆP ĐỊNH PARIS NĂM 1973

        Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, phản bội lòng mong mỏi của nhân dân ta được sống trong hòa bình sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn khốc, Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Ngụy Sài Gòn đã điên cuồng gào thét chiến tranh. Hiệp định Paris về Việt Nam đã bị Thiệu xé toang ngay từ khi chữ ký chưa ráo mực, súng vẫn nổ, máu vẫn đổ sau ngày 28 tháng Giêng – ngày Hiệp định Paris có hiệu lực...

        Cũng như các nơi khác trên địa bàn tỉnh Bình Định, nơi Sư đoàn 3 đứng chân hoạt động, chiến sự vẫn tiếp diễn, máu của chiến sỹ và đồng bào ta vẫn đổ.

        Sáng ngày 28-1, tên Nguyễn Văn Toàn – Tư lệnh Quân đoàn 2 Ngụy đã ra lệnh cho Sư đoàn 22 bộ binh, một liên đoàn biệt động cùng năm chi đoàn xe bọc thép, bốn tiểu đoàn pháo binh và toàn bộ lực lượng không quân ở ba sân bay trong tỉnh mở ba cuộc tấn công ồ ạt vào ba khu vực Nam Bồng Sơn – Bắc Phù Mỹ, Bắc Bồng Sơn – Nam Đệ Đức và Bắc Tam Quan – Nam Bình Đê nhằm khai thông đường số 1 và giành lại hai cửa biển là Tam Quan và cảng biển Sa Huỳnh. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra liên tục và quyết liệt.

        Trong lúc những trận đánh ác liệt đang diễn ra ở cầu Vợi – Lại Khánh và các nơi khác thì trên Đồi 9, Đồi 10 thuộc xã Hoài Châu (Hoài Nhơn), bọn địch vẫn tỏ ra “chấp hành nghiêm túc” Hiệp định Paris. Ở những khu vực đó, Sư đoàn 3 - Sao Vàng và địa phương chủ trương mở các cuộc tiếp xúc giữa ta và địch, dựng cổng chào, dựng cờ hòa hợp. Thông qua các cuộc tiếp xúc này, ta đã trao cho các sỹ quan Ngụy những văn bản về Hiệp định Paris, những chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam... Đồng thời cũng trao cho chúng những tài liệu tố cáo hành động vi phạm của quân đội Ngụy Sài Gòn, kêu gọi họ hãy chấp hành đúng những quy định của Hiệp định để nhân dân yên ổn trong cảnh hòa bình làm ăn sinh sống...

        Qua nhiều buổi tiếp xúc, bọn sỹ quan, binh lính ở đây đã phân biệt được bản chất hai chế độ và dần dần trở thành nỗi ám ảnh trong tư tưởng họ. Trạm tiếp xúc ở Đồi 9, Đồi 10 đã không dừng lại ở các nhà “hòa hợp” với mấy tên sỹ quan tâm lý chiến của địch, đồng bào còn tổ chức thành từng tốp năm người, bảy người gồm những bà, những chị có trình độ vừa thuyết phục vừa nắm được lý lẽ để “trả miếng” bọn chúng. Khi gặp địch cản lại, các bà nói: “Tụi tui đi làm điều nhơn, điều nghĩa chớ có đi chiếm chốt của các ổng đâu mà các ổng cản bà con tui” hoặc “Tụi tui toàn đàn bà con gái, tay không có súng ống, mần chi các ổng phải sợ...”. Cứ như thế, đồng bào Hoài Châu, Hoài Sơn bền bỉ đấu tranh làm cho binh lính trong các đồn bốt ngán ngẩm bỏ bê công việc. Bọn chỉ huy phải tính đến việc thay thế bọn lính khác về vùng này để bảo đảm “sự trong sạch” hàng ngũ của chúng. Để hỗ trợ cho mũi đấu tranh chính trị, Sư đoàn với địa phương đầu tư vào đây nhiều cụm loa pin, loa tay tạo thành hệ thống truyền thanh thường xuyên từ Quy Thuận đến Chương Hòa, nói lên tiếng nói chính nghĩa của dân tộc, tố cáo hành động vi phạm của địch... Bằng sức mạnh của mũi đấu tranh chính trị của nhân dân, bọn địch lúng túng hoảng hốt. Đến cuối tháng 7-1973, bọn chúng bị thất bại trước lý lẽ vô cùng sắc bén và thiết thực của đồng bào, chúng buộc phải cắt đứt quan hệ, đình chỉ các cuộc tiếp xúc và tình hình từ đó trở nên căng thẳng...

        Những ngày yên ả sau Hiệp định ngắn ngủi, các chiến sỹ Trung đoàn 12 vừa ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực củng cố các tuyến phòng thủ. Ngày đêm các chiến sỹ cùng với hàng trăm người dân ở vùng cát trắng này hăng hái xây dựng công sự, hầm kèo, hào chiến đấu. Hầm trú ẩn cho nhân dân cũng được sửa chữa và xây dựng mới. Tất cả đều chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới sẽ lại bắt đầu. Công việc bề bộn, khẩn trương nhưng ai nấy đều vui vẻ và tin tưởng. Những khẩu hiệu “Chốt là nhà, trận địa là quê hương” được kẻ vẽ đậm nét trên vách hầm, tường nhà... Cuối tháng 7- nghĩa là sau ba tháng tạm thời hòa hoãn, địch tuyên bố chấm dứt những cuộc gặp gỡ,chúng đơn phương gây xung đột với ta ở vùng cát trắng này.

        Đầu tháng 8, toàn bộ quân chủ lực Ngụy đang phòng thủ chốt giữ trên tuyến Hoài Ân được lệnh rút ra giao cho lực lượng Bảo An, chi đoàn 23, thiết đoàn 14 kéo về tập kết ở căn cứ Đệ Đức. Tất cả những hiện tượng ấy cùng với việc địch tuyên bố chấm dứt những cuộc tiếp xúc là bằng chứng chúng đang ráo riết chuẩn bị âm mưu mới ở phía Bắc huyện Hoài Nhơn – nơi Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 bảo vệ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM