Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười Một, 2019, 01:00:21 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Chiến khu XI  (Đọc 3811 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #10 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 08:56:16 AM »

Từ tháng 8 năm 1946, Bộ cùng với đồng chí Khu trưởng Lê Quảng Ba làm kế hoạch. Khi đồng chí Vương Thừa Vũ về làm Khu trưởng thay đồng chí Lê Quảng Ba, việc làm kế hoạch khẩn trương hơn, trong đó vấn đề mấu chốt nhất là cách đánh.


Có ý kiến cho là nên đồng loạt đánh Pháp ở Thành Hà Nội như ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đã làm. Ý kiến đó không được chấp nhận vì so sánh lực lượng quân sự của ta với Pháp thì bất lợi hơn so sánh lực lượng quân Nhật với Pháp tháng 3 năm 1945. Đánh vào Thành Hà Nội là phải đánh vào một mục tiêu rất lớn ta không thể thực hiện được. Một chuyên gia người Nhật theo ta tên là Ái Việt để nghị trên đường Hà Nội - Hà Đông xây dựng 3 phòng tuyến trận địa để ngăn chặn địch, mỗi phòng tuyến cách nhau từ 2 đến 3 km. Phương án này cũng không được chấp nhận vì Hội nghị cán bộ Trung ương từ cuối tháng 7 đầu tháng 8 đã rút kinh nghiệm là: Xung quanh Sài Gòn quân ta đã lập trận địa rải mành mành nhưng không chặn nổi địch, nên kết quả là đem lực lượng tiêu phí vào việc giữ thành phố1 (Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.151). Hơn nữa phương án này chỉ đơn thuần phòng ngự và cũng không đủ người và cơ sở vật chất để thực hiện. Cách đánh của ta là phải chủ động tiến công địch.


Ta phải bảo toàn thực lực mới kháng chiến được lâu dài. Vì thế, nhiệm vụ chiến lược của chiến cuộc mở đầu kháng chiến toàn quốc được nêu trong chỉ thị Toàn dân kháng chiến được công bố ngày 22 tháng 12 năm 1946 là: "Tích cực tiêu hao tiêu diệt địch, ngăn chặn làm chậm bước tiến của chúng, vạn bất đắc dĩ phải rút khỏi một số thành phố sau khi đã đánh địch quyết liệt ở đó để bảo toàn thực lực kháng chiến lâu dài"2 (Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.151).


Nhưng ta cũng không thể bị động để địch chiếm dễ dàng thành phố, mà phải cố nắm quyền chủ động, tích cực tiêu hao tiêu diệt chúng, ngăn chặn chúng một thời gian để tạo điều kiện chuyển cả nước sang thời chiến. Sài Gòn, các thành phố, thị xã miền Nam, Hải Phòng, Lạng Sơn lúc đầu chưa có kinh nghiệm, nên chỉ đánh địch trong nội thành được mấy ngày. Trong khi đó, việc giữ Hà Nội một thời gian càng dài càng tốt có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng.


Trung tuần tháng 11 năm 1946, tại biệt thự Villa des saules3 (Tiếng Pháp, nghĩa là Biệt thự Cây Liễu, ở khu vực công ty cơ khí Hà Nội, gần Cầu Mới, Ngã Tư Sở hiện nay), trong buổi làm việc với đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp và Bí thư Khu ủy - Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội Nguyễn Văn Trân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi:

- Nếu vạn nhất không tránh được chiến tranh thì Hà Nội có thể giữ được bao lâu?

Đồng chí Bí thư Khu ủy XI hứa với Bác "quân và dân Hà Nội sẽ cố gắng đến mức cao nhất". Đồng chí Tổng chỉ huy nêu quyết tâm giữ ít nhất nửa tháng1 (Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996).

Tuy nhiên, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp, Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và các đồng chí Bí thư Khu ủy Nguyễn Văn Trân, Chỉ huy trưởng Chiến khu XI Vương Thừa Vũ đều thống nhất với nhau cố gắng giữ được một tháng hoặc lâu hơn càng tốt.


Để ngăn chặn địch dài ngày, vấn để cần giải quyết là làm thế nào để hạn chế ưu thế về xe tăng - thiết giáp của địch trong thành phố. Kinh nghiệm đánh địch ở Sài Gòn cho biết dân đã quăng bàn, ghế, sập, tủ, giường, xe cộ, ngả cây, ngả cột điện... để làm chướng ngại vật trên đường phố, nhưng chỉ chặn địch được một thời gian ngắn. Ta sẽ vận dụng kinh nghiệm quý này nhưng phải nghĩ thêm cách khác để có thể chặn địch lâu hơn.


Bộ Tổng Tham mưu đề nghị bước đầu nên theo cách làm trên, tức là sẽ đắp ụ đất (ba-ri-cát, sẽ gọi là chiến lũy đường phố), đóng cọc, đào hầm hố chống tăng nhiều tầng lớp kết hợp ngả cây, ngả cột điện, quăng đồ đạc ra đường.


Khi chưa nổ ra chiến tranh, địch còn được phép đi lại, ta chưa đắp chiến lũy và lập chướng ngại trên mọi đường phố nhưng cần dự kiến nơi làm và chuẩn bị sẵn đất, bao cát, cọc, dụng cụ, nhân lực, phân công cụ thể. Cây cối và cột điên thì khoan sẵn lỗ, khi tác chiến sẽ tra thuốc nổ vào để phá. Nhưng chỗ nào làm trước được vẫn cứ làm.


Vì trên các đường phố sẽ xây chỉến lũy, đặt chướng ngại nên để tiện việc cơ động và liên lạc, Bộ Tổng Tham mưu đề ra cần đục thông tường nhà nọ sang nhà kia.

Một vấn đề rất quan trọng nữa được đồng chí Tổng chỉ huy nêu lên vào cuối tháng 8 năm 1946 với Bộ Tổng Tham mưu và Khu XI là cần chọn một số khu vực có thể tổ chức trụ lại đánh dài ngày. Trong tháng 9 và tháng 10, Phòng Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu đã cùng Khu đặc biệt Hà Nội đi nghiên cứu tại thực địa một số khu vực của Hà Nội.


Sau khi Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đi nghiên cứu với Khu trưởng Khu XI, vào cuối tháng 11 năm 1946 khu vực được chọn là khu vực bắc hồ Hoàn Kiếm, thuộc Liên khu 1, tức khu vực phố cổ của Hà Nội thuộc quận Hoàn Kiếm ngày nay. Khu vực này có điều kiện về địa hình, địa vật đáp ứng việc trụ lại đánh dài ngày trong lòng thành phố.


Đồng chí Tổng chỉ huy còn nhắc Hà Nội phải chọn những nhà cửa, kiến trúc ở các vị trí khống chế được những quãng đường hiểm yếu để đặt hỏa lực, bố trí lực lượng. Những nơi chưa bố trí lực lượng cũng cần chuẩn bị thiết bị sẵn. Đó là một trong những kinh nghiệm đánh Nhật ở Thái Nguyên hồi tháng 8 năm 1945.


Ngoài ra Bộ còn giao cho cơ quan tham mưu Hà Nội phải tìm hiểu hệ thống cống ngầm để có thể lợi dụng khi tác chiến. Đồng chí Tham mưu chủ nhiệm Hoàng Văn Khánh đã hai lần tổ chức 2 đoàn chui vào hệ thống cống với mục đích tìm đường tiếp tế và rút lui cho Liên khu 1 và sử dụng trong quá trình tác chiến nhưng không đạt đứợc ý định đề ra.


Vấn đề mấu chốt Bộ Tổng chỉ huy yêu cầu là phải nắm cho được quyền chủ động, làm cho địch bị động. Căn cứ vào sự chỉ đạo đó, từ cuối tháng 11 năm 1946, Khu trưỏng Khu XI Vương Thừa Vũ, vừa về nhận nhiệm vụ đã khẩn trương làm kế hoạch tác chiến cụ thể.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #11 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 08:58:49 AM »

Ngày 14 tháng 12 năm 1946, kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy Chiến khu XI được Bộ Tổng chỉ huy thông qua lần cuối1 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.37).


Trong kế hoạch, ta phán đoán địch sẽ đem quân từ cửa Bắc của thành tiến theo đường Phan Đình Phùng, Hàng Đậu ra chiếm cầu Long Biên đồng thời với quân từ Gia Lâm đánh sang nhằm làm chủ con đường huyết mạch này. Địch cũng từ Cửa Nam của Thành Hà Nội theo đường Cột Cờ, Tràng Thi, Tràng Tiền và từ Đồn Thủy theo đường Lê Thánh Tông lên cùng với cánh quân cửa Nam ra, đánh chiếm khu Bắc Bộ Phủ, Tòa Thị chính. Địch cũng có thể từ Cửa Nam theo đường Hàng Lọng và từ Đồn Thủy theo đường Trần Hưng Đạo tiến ra nhằm nối thông với ga Hàng Cỏ và ngã tư Khâm Thiên. Địch ở Gia Lâm cũng có thể vượt sông sang tăng viện cho Hà Nội.


Ý định tác chiến của ta là nắm quyền chủ động, dùng lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, Tự vệ Thành bất ngờ tiến công đồng loạt nhiều vị trí địch trước khi chúng tiến công ta, đặc biệt phải bất ngờ tiêu diệt ngay từ đầu các ổ chiến đấu độc lập của địch tại các khu phố, làm chúng bị động, đồng thời tích cực ngăn chặn và hạn chế sự tiến công ồ ạt, đánh nhanh thắng nhanh của chúng.


Sau ba ngày tác chiến thì:

- Cắm lại một lực lượng trong lòng thành phố ở Liên khu 1 chặn đánh dài ngày ở sau lưng địch. Các lực lượng của Liên khu 2 và Liên khu 3 kiên quyết chặn đánh địch từ trong tiến ra và lui dần, đêm luồn vào đánh du kích làm cho địch lâm vào thế trước sau đều bị ta chặn đánh phải phân tán lực lượng không thể đánh chiếm nhanh chóng thành phố.

- Phối hợp chặt chẽ các lực lượng Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ Thành, Công an xung phong, các đội cảm tử đánh tăng, các tổ du kích đặc biệt, bám sát địch chặn đánh địch khắp nơi để tiêu hao chúng làm chúng hoang mang, luôn luôn phải bị động chống đỡ.

- Vận dụng các chiến thuật đánh trong thành phố để chặn cuộc tiến công của địch, kết hợp tiến công với phòng ngự tiêu hao tiêu diệt chúng.


Căn cứ vào ý định tác chiến đó, Bộ chỉ huy Khu XI ra mệnh lệnh tác chiến cho các liên khu và các đơn vị như sau:

1. Liên khu 1:

Do đồng chí Nguyễn Hữu Mai làm Bí thư Liên khu ủy, đồng chí Lê Trung Toản làm Phó bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí Hoàng Siêu Hải làm ủy viên quân sự. Lực lượng có 2 tiểu đoàn Vệ quốc quân (145, 101), 5 đội quyết tử đánh tăng, một số tổ du kích đặc biệt, 1 đại đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu, 7 đội Tự vệ Thành của 7 khu hành chính, 1 trung đội Công an xung phong, có nhiệm vụ:

a) Tiểu đoàn 101 sử dụng một đại đội Vệ quốc đoàn, một trung đội Tự vệ chiến đấu chặn đánh địch quyết liệt bảo vệ Bắc Bộ Phủ, Nhà Hát Lớn, Tòa Thị chính, nhà Bưu điện, gây cho địch tổn thất lớn. Nếu cuối cùng không giữ nổi thì phá các nơi này và rút vào Liên khu 1 giữ dài ngày; phải đánh một trận quyết liệt ở Bắc Bộ Phủ không cho địch chiếm dễ dàng nơi này.

b) Tiểu đoàn 145: Cùng đội công nhân xung phong tiêu diệt địch và phá triệt để nhà máy điện, nhà máy nước, cầu Long Biên... cùng tự vệ tiêu diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

Chủ lực của tiểu đoàn tiến công kiên quyết tiêu diệt bằng được địch ở trường Bưởi, sau đó cấp tốc chuyển sang tiến công Phủ Toàn quyền.

c) 5 đội quyết tử đánh tăng phục sẵn ở một số đường trong liên khu mà xe tăng địch có thể đi qua được. Khi gặp tăng kiên quyết phá cho bằng được.

2. Liên khu 2:

Do đồng chí Nguyễn Văn Đào làm Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí Trần Vĩ làm ủy viên quân sự. Lực lượng có 2 tiểu đoàn Vệ quốc quân (77, 212), 4 đội quyết tử đánh tăng, một số trung đội công an xung phong, có nhiệm vụ:

a) Tiểu đoàn 77 được tăng cường một đại đội của tiểu đoàn 56 Hà Đông chiến đấu bảo vệ trại Vệ quốc đoàn trung ương, Bộ Quốc phòng, Ty Liêm phóng, nhà pha Hỏa Lò, tiêu diệt địch ở nhà dầu Shell Khâm Thiên, cùng tự vệ diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

Chủ lực của tiểu đoàn chặn đánh địch từ Đồn Thủy tiến sang ga Hàng Cỏ (theo đường Trần Hưng Đạo) gặp quân trong Thành đánh xuống.

b) Tiểu đoàn 212 tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt địch ở Đồn Thủy, ở Stai-quai (Phà Đen), ở Viện Pa-xtơ, một bộ phận bố trí ở trường Đại học Dược (phố Lê Thánh Tông) đánh địch từ Đồn Thủy lên Bắc Bộ Phủ, xong cấp tốc về làm lực lượng dự bị ở khu vực trường mồ côi, Lò Lợn, Ô Cầu Dền.

c) 4 đội quyết tử đánh tăng phục sẵn ở một số đường trong liên khu để kiên quyết đánh tăng đi qua.


3. Liên khu 3:

Do đồng chí Đỗ Trình làm Bí thư Liên khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, đồng chí An Giao, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 523 làm ủy viên quân sự. Lực lượng có một tiểu đoàn Vệ quốc quân (523), 4 đội quyết tử đánh tăng, một số tổ du kích đặc biệt, 5 đội tự vệ Thành của 5 khu hành chính. Trong đó:

a) Tiểu đoàn 523 cùng các đội quyết tử đánh tăng và đội tự vệ chiến đấu chặn các ngã đầu phố Hàng Bột, Cửa Nam, nhà Đúc Tiền, ngã tư Khâm Thiên, đánh các đoàn xe địch tiến công, tiêu diệt địch ở nhà ga, nhà Đê-lê-vô, cùng lực lượng tự vệ tiêu diệt các ổ chiến đấu độc lập của địch.

b) 4 đội quyết tử chống tăng phục sẵn ở một số đường đê kiên quyết diệt tăng.


4. Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu:

Do đồng chí Nguyễn Anh Bảo chỉ huy. Trừ 1 đại đội đã giao cho Liên khu 1. Còn 5 trung đội được giao nhiệm vụ như sau:

a) Trung đội Ký Con bảo vệ khu Đấu Xảo thuộc Liên khu 2.

b) Trung đội Phó Đức Chính bảo vệ Đài phát thanh Bạch Mai và giúp xây dựng khu căn cứ Bạch Mai thuộc Liên khu 2.

c) Trung đội Trần Quốc Toản tách một tiểu đội tăng cường cho trung đội Vệ quốc đoàn của Tiểu đoàn 101 bảo vệ Nhà Hát Lớn. Còn chủ lực đánh địch tiến từ Thành ra Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền, xong sẽ phối thuộc cho Liên khu 2.

d) Trung đội Tô Hiệu đánh diệt địch ở nhà Lơ-mét, chặn đánh địch từ Cột Cờ đến.

đ) Trung đội Hà Huy Tập giao cho Liên khu 3 chủ yếu đánh địch trên đường Khâm Thiên.


5. Tự vệ Thành:

Phối hợp với Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu đánh các vị trí địch trong từng tiểu khu, diệt các ổ tác chiến độc lập, phá hoại một số nhà máy, cắt dây điện thoại, đặc biệt là tiếp tục đắp ụ, chiến lũy, xây công sự, đào đường, ngả cây, ngả cột điện, thiết lập chướng ngại đường phố, phá các đường sá ra ngoài thành, tổ chức cho dân tản cư, tổ chức đội trừ gian, diệt thổ phỉ, tổ chức tiếp tế, tải thương.


6. 36 tổ du kích đặc biệt:
Bố trí ở các ngã ba, ngã tư, các khu vực gần nơi địch đóng, các điểm địch hay đi lại để quấy rối, bắn tỉa, phục kích nhằm tiêu hao địch làm chúng hoang mang không dám đi lùng sục ta.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #12 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 08:54:55 AM »

Trong mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Khu có hướng dẫn khi tiến công phải vận dụng tập kích, phục kích, quấy rối, đánh địa lôi, khi phòng ngự phải giữ từng nhà, từng đường phố, liên hoàn hỗ trợ để cơ động đánh địch, tránh mạnh đánh yếu, làm công sự lợi dụng địa hình địa vật để chặn địch. Nếu bị vây thì tập trung lực lượng đột phá một mặt, một gọng kìm mà thoát. Rút lui phải có tổ chức, phân lực, phân đoạn mà rút, rút xong đánh vào sau lưng địch.


Trong những ngày chưa nổ súng, tổ chức nghi binh: sáng đưa quân từ ngoại thành và Hà Đông vào, tối bí mật đưa ra làm địch không phán đoán được ta.

Phải tuyệt đốĩ giữ bí mật, bắt ngay bọn Việt gian, thổ phỉ.

Về thông tin liên lạc, Khu XI liên lạc với Liên khu 1 bằng vô tuyến điện, với Liên khu 2, Liên khu 3 và các tiểu đoàn của 2 liên khu này bằng điện thoại và thông tin vận động.

Sở chỉ huy mặt trận bố trí từ Ngã Tư Vọng đến sân bay Bạch Mai.

Chuẩn bị lương thực - thực phẩm cho 2 tháng. Riêng Liên khu 1 chuẩn bị dài hơn.

Tổ chức các đội tải thương, hệ thống trạm cứu thương và trạm quân y tiền phương, trạm thu dung, trạm tiếp thu nhận lương thực đạn dược, trạm sửa chữa súng đạn.

In ấn truyền đơn, báo chí, làm công tác dân vận, Hoa vận, địch vận.

Lệnh nổ súng: Phá nhà máy điện, đèn tắt toàn thành phố là báo động, 4 pháo đài cùng bắn vào thành là nổ súng. Vì pháo có thể không bảo đảm bắn kịp thời nên lấy tín hiệu tắt đèn là chủ yếu.

Mọi công tác chuẩn bị xong vào ngày 18 tháng 12 năm 1946.


Trong khi Chính phủ ta chủ trương giữ gìn hòa bình, quân Pháp không ngừng khiêu khích và gây chiến với quân dân ta. Cuộc chiến tranh từ Nam Bộ cuối năm 1945 đã lan rộng ở nhiều nơi, từ Nam ra Bắc. Là một thành phố có cảng biển quan trọng của miền bắc, Hải Phòng chỉ cách Hà Nội hơn 100km, giao thông đường bộ, đường sắt đều rất thuận lợi. Những diễn biến phức tạp do quân Pháp gây ra tại đây đều lập tức lan truyền về Hà Nội. Tiếp theo những hành động ngang ngược của chúng trước đây, sáng ngày 20 tháng 11 năm 1946 Va-luy, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương ra lệnh: "Thiết lập quyền kiểm soát thuế quan tại cảng Hải Phòng". Công an và nhân viên thuế quan của ta tại đây đang làm nhiệm vụ đã bị quân Pháp xả súng, làm chết ba người. Sự phẫn nộ của quân dân Hải Phòng đã tới đỉnh điểm. 20 giờ 30 phút cùng ngày, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Hải Phòng đã bùng nổ.

Trước hành động dã man của quân Pháp tại Hải Phòng, quân và dân Hà Nội vô cùng căm phẫn. Nhiều cuộc mít tinh, hội họp, nhiều bài báo lên án hành động của chúng và kêu gọi ủng hộ quân dân Hải Phòng kháng chiến. 9 giờ sáng ngày 24 tháng 11, một đoàn đại biểu Ủy ban hành chính thành phố và Tự vệ Hà Nội đã xuống thăm hỏi và tặng quà cán bộ, chiến sĩ mặt trận Hải Phòng tại chiến lũy khu vực Lạc Viên. Tấm lòng của đồng bào, đồng chí Thủ đô càng cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân Hải Phòng, quyết tâm giáng cho địch những đòn đích đáng1 (Quận Ngô Quyền - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Ban chỉ huy quân sự Ngô Quyền xuất bản, 1989, tr.73).


Tại Hà Nội nhiều công tác chuẩn bị cho kháng chiến càng được thực hiện khẩn trương hơn.

Việc bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước được tiến hành sớm và trong điều kiện rất khó khăn phức tạp, nhiều kẻ thù âm mưu đánh đổ chế độ mới. Quân Tưởng đến với ý đồ "diệt Cộng cầm Hồ". Quân Pháp vào với âm mưu "kết thúc bằng một màn đảo chính". Việt quốc, Việt cách đều có lực lượng vũ trang riêng cũng muốn đảo chính để giành chính quyền. Bọn tay sai của Pháp muốn giúp chủ cũ lật đổ chính phủ cách mạng.


Ta chỉ sử dụng một tiểu đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về để bảo vệ Bắc Bộ Phủ nơi làm việc của Bác, bảo vệ cơ quan Bộ Quốc phòng, cơ quan Bộ Tổng Tham mưu. Việc bảo vệ các cơ quan khác ở Hà Nội giao cho Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu vừa được thành lập. Lực lượng bảo vệ của ta rất yếu và rất mỏng. Khi một bộ phận Vệ quốc đoàn phải rút ra ngoài thành để tránh xung đột với quân Tưởng, thì việc bảo vệ các cơ quan chủ yếu do Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu đảm nhiệm, cho nên lực lượng càng yếu và mỏng hơn. Thế nhưng ta đã làm tốt việc này.


Việc bảo vệ lãnh tụ rất được coi trọng. Bộ đội, tự vệ chiến đấu cùng công an Hà Nội được giao làm nhiệm vụ này. Đồng chí Trần Việt Hùng, Khu phó Khu XI được phân công chuyên trách công tác này. Theo yêu cầu của trên, Khu ủy và Bộ chỉ huy Khu XI đã giới thiệu nhiều đồng chí tin cậy để tăng cường vào lực lượng bảo vệ Bác. Trong đó, các đồng chí Nguyễn Chương và Tạ Quang Chiến, thuộc Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu được chọn làm vệ sĩ bảo vệ Bác Hồ. Nhiều đồng chí tốt trong công nhân, tự vệ được tăng cường cho đại đội 1 tiểu đoàn 101 bảo vệ Bắc Bộ Phủ. Tuy Bác có một nơi ở công khai ở số 8 Lê Thái Tổ nhưng nơi nghỉ tối của Bác lại được chọn ở nhiều nơi. Trong đó có một cơ sở bí mật, gần cầu Mới (Ngã Tư Sở), thường gọi là biệt thự Cây Liễu, bốn người tin cẩn được đồng chí Trần Việt Hùng, Chỉ huy phó Chiến khu XI, trực tiếp chọn lựa để bảo vệ nơi này. Một cơ sở khác cạnh đê La Thành thuộc khu vực Cống Vị, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng1 (Thời gian này Thường vụ Trung ương giao cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng và đồng chí Trần Đăng Ninh phụ trách công tác bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh) lựa chọn, Bác cũng thường bí mật về làm việc và nghỉ đêm. Vị trí này được giao cho các đồng chí Lê Thủ, Nguyễn Thế Mỹ, Đặng Văn Mỹ và Trần Minh Trung thuộc Đội Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu bảo vệ.


Khi thấy chiến tranh khó tránh khỏi, vấn đề chọn các ATK (an toàn khu) để kịp thời di chuyển các cơ quan lãnh đạo là rất cần thiết. Sau khi ở Pháp về, Bác giao việc này cho đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng phụ trách. Đồng chí Trần Đăng Ninh đã lấy một số cán bộ của Hà Nội và Bộ Tổng Tham mưu tổ chức thành nhiều tổ "công tác đội" đi tìm ATK trong phạm vi các huyện Hoài Đức, Thanh Trì, Chương Mỹ của tỉnh Hà Đông, các huyện Quốc Oai, Thạch Thất của tỉnh Sơn Tây. Một số đội được phái lên tìm các ATK ở Việt Bắc. ATK của Trung ương và của Hà Nội được khoanh riêng. Các tổ "công tác đội" theo sự giới thiệu của các tỉnh ủy, huyện ủy nói trên tìm đến các thôn xóm có cơ sở mạnh, phân chia từng, nhà cho từng bộ phận cơ quan đóng. Đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp tìm ATK cho Thường vụ và Bác ở. Các làng Vạn Phúc, Đại Mỗ, Tây Mỗ, Chúc Sơn, Chùa Thầy và nhiều thôn xóm khác được chọn.


Khi tình hình trở nên căng thẳng, các bộ trưởng, thứ trưởng đã được Ủy ban kháng chiến Hà Nội tổ chức chuyển ra vùng Thái Hà Ấp, Hoàn Long.

Trước khi kháng chiến bùng, nổ, toàn bộ các cơ quan đảng, quân, dân, chính của Trung ương và của Hà Nội, các lãnh tụ đều đã bí mật di chuyển đến các ATK. Những cơ quan không liên quan đến việc chỉ đạo kháng chiến ở Hà Nội thì chuyển lên Bắc Cạn, Tuyên Quang.


Bác, Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng Tham mưu đã luân chuyển đến các khu ATK trong vành đai cách Hà Nội từ 10 đến 25km để trực tiếp chỉ đạo Hà Nội kháng chiến trong hơn 2 tháng rồi mới chuyển lên Việt Bắc.

Ngày 5 tháng 12 năm 1946 cơ quan Bộ Tổng Tham mưu cũng bắt đầu di chuyển từ số nhà 16 phố Nguyễn Du ra Thái Hà Ấp.

Bản thân các cơ quan của Hà Nội cũng di chuyển đến các ATK trong vành đai gần hơn để lãnh đạo và chỉ huy Hà Nội tác chiến.

Quân địch tìm mọi cách phát hiện cơ quan đầu não của ta để oanh tạc hoặc đem quân tiến công. Nhưng dựa vào dân, ta đã bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não bảo vệ được các lãnh tụ nên đã duy trì được sự lãnh đạo chỉ huy liên tục kịp thời.

Hà Nội đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Chính phủ, tuy việc này chủ yếu do Bộ và Trung ương đảm nhiệm.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #13 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 08:59:20 AM »

Nhiệm vụ động viên toàn dân Hà Nội sẵn sàng tham gia kháng chiến được Trung ương và Thành ủy Hà Nội hết sức chú ý. Chúng ta rất coi trọng động viên lòng yêu nước, luôn kịp thời vạch bộ mặt xâm lược của kẻ thù, giáo dục ý thức quốc phòng, tinh thần cách mạng cho toàn thể nhân dân Hà Nội.


Trước những hành động khiêu khích ngày càng tăng của bọn thực dân, Hà Nội sôi sục căm thù. Nhưng để kéo dài thời gian hòa hoãn, tránh hành vi manh động để chuẩn bị được tốt hơn, Thành ủy đã chỉ dẫn cho dân phải bình tĩnh, phải nín nhịn chờ lệnh Chính phủ. Kế hoạch chiến đấu được các khu phố thực hiện rất khẩn trương. Nhiều người hăng hái tham gia xây dựng chiến lũy. Đồng bào ngoài việc đóng góp dụng cụ: cuốc, xẻng, xà beng, cọc sắt, đắp lũy, đào hào, còn tích cực lập những đội cứu thương, hoả thực và dự trữ lương thực để chiến đấu. Bộ mặt thành phố thay đổi từng ngày. Những đường phố xinh đẹp trở thành thành lũy. Tự vệ, thanh niên các khu phố tích cực dựng cọc sắt, đào chiến hào, khoét lỗ ở những thân cây chuẩn bị đặt mìn. Quân Pháp không biết rằng chính những hành động gây hấn của chúng đã thúc đẩy công tác chuẩn bị chiến đấu tại Hà Nội được thực hiện khẩn trương hơn.


Sau khi địch gây chiến đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn vào ngày 20 tháng 11 năm 1946 thì ngày 21 tháng 11 năm 1946 báo chí Hà Nội đã đăng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) như sau:

"... Hỡi toàn quốc đồng bào! Những hành động của Pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam rất có thể lan rộng. Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Hãy sẵn sàng chiến đấu để tự vệ bất cứ nơi nào và chỗ nào! Mỗi người dân Việt Nam lúc này phải hăng hái gánh nhiệm vụ thiêng liêng: bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Đoàn kết, phấn đấu, chúng ta nhất định sẽ thắng"1 (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.149).


Ngày 8 tháng 12, với danh nghĩa Thành bộ Việt Minh, Khu ủy Khu XI chính thức kêu gọi nhân dân Thủ đô sẵn sàng chiến đấu cao độ.

Khu ủy XI và Ủy ban bảo vệ các cấp của Hà Nội sóm coi trọng tổ chức việc tản cư dân để bảo vệ tính mạng tài sản của dân. Rút kinh nghiệm trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, một số nước không tổ chức tốt việc tản cư cho dân tại các đô thị lớn nên khi mặt trận lan tới, tình trạng tản cư lộn xộn của dân đã cản trở hành động phòng thủ của quân đội, vì thế Khu ủy phân công một khu ủy viên, đồng chí Tạ Hoàng Cơ tổ chức, chỉ đạo việc tản cư. Ủy ban tản cư các cấp được thành lập trong chính quyền các cấp. Kế hoạch tản cư của Ủy ban bảo vệ và Bộ chỉ huy Chiến khu XI dự kiến dân tại khu vực Liên khu 1 sẽ rút theo đường Phúc Xá lên Nhật Tân, Chèm, Vẽ; dân tại Liên khu 2 sẽ rút theo đường Bạch Mai, Quỳnh Lôi, Văn Điển; dân tại Liên khu 3 sẽ rút ra theo đường Ô Chợ Dừa, Ngã Tư sở. Nhân dân tản cư về đâu sẽ được các ủy ban các xã sở tại tiếp đón, bố trí nơi ăn, ở chu đáo. Những người ở lại đều phải đăng ký tên để khi chiến tranh xảy ra có thể tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu.


Bác Hồ và Thường vụ rất chú ý chỉ đạo việc tản cư. Bác gửi thư cho đồng bào tản cư, trong đó nói: "Tản cư là yêu nước", "Tản cư cũng là kháng chiến". Người kêu gọi đồng bào các địa phương hết sức giúp đỡ đồng bào tản cư. "'Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng". Bác và Thường vụ Trung ương nhắc nhở phải chú ý việc tổ chức tản cư cho các nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ. Thường vụ giao cho Hà Nội danh sách các vị cần phải giúp đỡ tản cư. Với lòng yêu nước được nâng lên, lại được sự giúp đỡ của tổ chức, tuyệt đại bộ phận các vị đã ra vùng hậu phương căn cứ địa.


Khó khăn nhất là việc động viên nhân dân đi tản cư. Ta có thể vận động những người già và trẻ em đi tản cư trưốc. Nhưng đối với các người đang buôn bán, nhất là buôn bán lớn và gia đình khá giả, không phải họ dễ dàng bỏ lại toàn bộ gia sản để tản cư. Ngoài ra, còn có đông đảo nhân dân lao động làm thuê gánh mướn, kiếm ăn hàng ngày, chưa thể tản cư ngay. Ta cần tổ chức họ lại để khi nổ súng thì đưa họ ra.


Nhiệm vụ di chuyển các kho tàng nhà máy, nguyên vật liệu được làm sớm hơn, từ tháng 8 năm 1946. Sau khi về nước, Bác giao việc này cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng chỉ đạo. Bác và Thường vụ chỉ thị phải chuẩn bị gạo muối, thuốc men, vải vóc, đưa máy móc, nguyên vật liệu, nhà in, đài phát thanh, kho bạc... ra ATK. Gạo phải chuẩn bị ở nông thôn. Muối phải đưa từ biển lên. Còn các thứ khác thì đưa từ thành phố, thị xã, đặc biệt đưa từ Hà Nội ra.


Đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã chỉ đạo Hà Nội tổ chức di chuyển hàng nghìn tấn máy móc, nguyên vật liệu, các thiết bị chủ yếu của các xưởng A-vi-a (Aviat), Boa-lô (Boillot)... về Chi Nê và sau đó đưa tiếp lên Việt Bắc.


Chi bộ nhà máy xe lửa Gia Lâm lãnh đạo công nhân đưa hàng trăm loại máy móc và nhiều tấn sắt thép vật liệu khác lên Phú Thọ, Yên Bái. Các thiết bị của xưởng làm thuốc nổ ở Đông Anh được chở lên Tuyên Quang, Bắc Cạn.


Có thể nói, các xưởng quân giới được hình thành ở Việt Bắc sau này có phần đóng góp quan trọng của Hà Nội cả về máy móc, con người và nguyên vật liệu.

Nhà máy in báo Đảng và nhiều nhà in khác được đưa vào căn cứ địa kịp thời. Kho bạc và nhà in giấy bạc tài chính được chuyển ra Chi Nê, sau đó đưa lên Việt Bắc. Đài tiếng nói Việt Nam ở Bạch Mai, được chuyển một bộ phận ra Chùa Trầm, một bộ phận lên Bắc Cạn. Bộ phận ra Chùa Trầm sau cũng đưa lên Bắc Cạn. Trường Đại học Y - Dược di chuyển lên chiến khu với đầy đủ thiết bị, tài liệu, sinh viên và thầy giáo. Một số bệnh viện, quân y viện, trạm xá được đưa về Vân Đình, Cự Đà, Khúc Thủy.


Bác Hồ và cơ quan Trung ương lúc đầu di chuyển đến khu vực ngã tư Canh (từ ngày 26 tháng 11 đến ngày 2 tháng 12 năm 1946), sau chuyển đến Vạn Phúc (từ ngày 3 tháng 12 đến ngày 19 tháng 12 năm 1946). Từ bên ngoài, Người chăm chú theo dõi và chỉ đạo công cuộc chuẩn bị kháng chiến của cả nước, đặc biệt là những diễn biến mới ở Thủ đô.


Sau này, khoảng tháng 5 năm 1947, toàn bộ cơ quan trung ương của đảng, quân, dân, chính đã lên đến Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn. Thủ đô đã chuyển lên Việt Bắc.

Hà Nội đã góp phần hết sức quan trọng vào việc "thiên đô". Đó là một thắng lợi hết sức to lớn.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #14 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 09:05:14 AM »

Từ đầu tháng 12 năm 1946 công tác chuẩn bị tác chiến của Hà Nội được tiến hành gấp rút hơn.

Tại cơ quan Khu ủy và Bộ chỉ huy Chiến khu XI, công việc hết sức khẩn trương. Đồng chí Trần Quốc Hoàn, phái viên của Trung ương bên cạnh Khu ủy XI mỗi lần đi họp trên về phổ biến nghị quyết ngay. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, Bí thư Khu ủy phân công Đảng ủy xong tự mình đi kiểm tra và chỉ đạo cụ thể. Đồng chí Vương Thừa Vũ triệu tập các liên khu, các đơn vị khẩn trương thực hiện về mặt quân sự. Mọi việc tiến hành khẩn trương. Hình ảnh Chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ đầu húi cua, da ngăm đen, đôi mắt suy tư, sinh hoạt nghiêm túc, chỉ huy quyết đoán, nhưng rất dân chủ, lắng nghe ý kiến cấp dưới, suốt ngày lăn lộn ở các mặt trận trong thành phố về đến sở chỉ huy lại cặm cụi vào tấm bản đồ bày binh bố trận còn in trong ký ức của nhiều người.


Do thực tế chiến đấu, cán bộ chỉ huy và lãnh đạo các địa bàn được điều chỉnh lại. Ta rút bớt lực lượng đã phân công ra gác ở các nơi, để tăng cương lực lượng tập trung, nhưng lực lượng này vẫn ít quá. 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn vẫn còn phải bố trí canh gác rải rác ở 65 địa điểm, phần lớn là từ một nửa tiểu đội đến một trung đội. Chỉ có vài nơi như Bắc Bộ Phủ có 1 đại đội, ở Quần Ngựa có 2 đại đội. Các đơn vị tự vệ chiến đấu cũng ở tình trạng tương tự. Các đội tự vệ chiến đấu được bố trí về các khu phố. Việc bố trí cán bộ Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu về các khu phố có tác dụng thiết thực giúp các đơn vị tự vệ xí nghiệp, Tự vệ Thành xây dựng kế hoạch và phương án tác chiến ở các khu phố.


Trước khi nổ súng mấy ngày, theo chỉ thị của Bộ, Trung đoàn 13 Hà Đông thuộc Chiến khu II đã đưa 3 đại đội 1, 3, 5 của tiểu đoàn 56 vào tăng cường cho Hà Nội. Bộ chỉ huy Chiến khu đã bổ sung cho một số nơi xung yếu nhưng lực lượng của ta còn mỏng. Đại đội 1 do đồng chí Nguyễn Thế Mộn làm đại đội trưởng, tăng cường cho tiểu đoàn 145 bố trí đánh địch ở Ngọc Hà - Đội Cấn, có nhiệm vụ tiến công nhà máy bia Ô-men (tức công ty bia Hà Nội, trên đường Hoàng Hoa Thám ngày nay) và đánh địch nống ra đường Đội Cấn. Đại đội 3 do đồng chí Nguyễn Công Tâm làm đại đội trưởng, tăng cường cho tiểu đoàn 523, bố trí ở phố Khâm Thiên, tham gia đánh địch ở nhà ga Hàng Cỏ và nhà dầu Shell Khâm Thiên. Đại đội 5 do đồng chí Nguyễn Mẫn làm đại đội trưởng tăng cường cho tiểu đoàn 212 bố trí ở ngã tư Ô Cầu Dền, sẵn sàng đánh địch nống ra phía nam.


Cơ quan tham mưu Bộ chỉ huy Chiến khu XI, các ban chỉ huy tiểu đoàn, đại đội Vệ quốc đoàn, tự vệ đi đến từng khu vực, từng nhà hướng dẫn bộ đội và tự vệ cách bố trí lực lượng, cách tập kích địch bất ngờ, cách chiến đấu phòng ngự từng nhà, từng đường phố, nơi xây dựng công sự, nơi đắp chiến lũy, nơi đào hầm đào hố, đào giao thông hào, nơi bố trí hỏa lực. Trong kế hoạch tác chiến, Liên khu 1 phải làm nhiệm vụ cố thủ chiến đấu độc lập dài ngày trong vòng vây địch, vì vậy Bộ chỉ huy Khu XI đã tổ chức đảm bảo cho Liên khu 1 khá lớn lượng dự trữ của mình gồm hàng chục tấn lương thực thực phẩm, 1 vạn viên đạn, 500 quả lựu đạn, 100 chai xăng cơ-rếp, 1 máy vô tuyến thu phát. Khối lượng này tương đương với một nửa lượng dự trữ của toàn bộ Mặt trận Hà Nội.


Ủy ban kháng chiến Khu XI cử đồng chí Trần Quốc Cư làm trưởng ban phá hoại của khu. Một tiểu đoàn công binh được xây dựng do đồng chí Lê Khắc làm tiểu đoàn trưởng để đảm nhiệm việc phá hoại, phối hợp cùng trung đoàn công binh của Bộ do đồng chí Hoàng Đạo Thúy làm trung đoàn trưởng. Một kế hoạch phá hoại khá cụ thể được xác định sẵn để khi có lệnh là thực hiện. Ngày 9 tháng 12 năm 1946, sau khi có chỉ thị phá hoại của Bộ Tổng Tham mưu, công tác phá hoại được triển khai khá tích cực.
Các trục đường ra ngoại ô bắt đầu đắp ụ đất chữ chi nhiều tầng nhưng vẫn để xe qua lại. Riêng đối với trục đường Hàng Bột, đường di chuyển của cơ quan Trung ươnp mãi đến ngày 19 tháng 12, đồng chí Nguyễn Văn Trân mới lệnh cho đắp ụ ở đầu đường và đắp ở ngã tư Khâm Thiên.


Trên khu vực dự kiến sẽ trụ lại dài ngày ở Liên khu 1, ụ đất được đắp chặn ngang các phố quân Pháp không qua lại hay ít qua lại và đắp ụ chữ chi ở những phố quân Pháp còn qua lại.

Tự vệ và nhân dân các khu dùng xe tay kéo, xe bò, xe ô tô chở đất cát, hoặc bao đất, bao cát xếp sẵn ở nhiều hè phố.

Công nhân xe lửa, xe điện chuẩn bị sẵn các toa đổ đầy đá để khi nổ súng thì đẩy đến chặn ngang đường.

Trong nhiều nhà, ở vị trí hiểm yếu đã đục lỗ châu mai, đào hố chiến đấu. Ở nhiều ban công cũng xếp bao cát để có thể đặt súng bắn dọc đường phố.

Nhiều cây cối được cưa dở hoặc đục lỗ sẵn, khi tác chiến có thể ngả được ngay để chặn đường. Tủ, bàn, ghế được khiêng ra vỉa hè. Tường của nhiều nhà được đục thông từ nhà nọ sang nhà kia, nhất là ở Liên khu 1.


Các tổ phá hoại công nhân đã có kế hoạch và chuẩn bị thuốc nổ, bom để phá nhà máy điện, nhà máy nước, nhà ga, cầu Long Biên, các kho tàng, nhà máy do Pháp làm chủ, đài phát thanh Bạch Mai. Để phá cầu Long Biên, trước đây quân Pháp đã khoét rỗng trụ cầu số 10 và số 15 để đặt bom sẵn sàng phá cầu khi quân Nhật tiến vào xâm lược Đông Dương. Tận dụng sự chuẩn bị đó của quân Pháp, tự vệ khu Phúc Xá đã nghiên cứu chuyển một quả bom nặng 100kg vào trụ số 10, sẵn sàng phá cầu khi có lệnh. Quả bom được một xưởng quân giới của ta tại số 1 Hàng Đậu nghiên cứu chế tạo. Đồng chí Quýnh và Phạm Lê Ninh, công nhân xưởng quân giới tham gia vận chuyển và sẵn sàng trực tiếp đánh bom1 (Chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.85, 86. Trích tư liệu của đồng chí Minh Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an. Đồng chí Phạm Lê Ninh sau này là Cục phó Cục Cảnh vệ Bộ Công an).


Vệ quốc đoàn cũng chuẩn bị sẵn phương tiện để phá các dinh thự, công sở ở các đường Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Hàng Bài và trục Cửa Nam, Tràng Thi, Tràng Tiền do đường rộng, ít dân nên việc đắp ụ chưa làm được nhiều.


Ở Cửa Nam ta đào sẵn một đường ngầm chôn bom để đánh xe địch tiến về Bắc Bộ Phủ. Từ Bắc Bộ Phủ sang khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, từ trại Vệ quốc đoàn trung ương sang rạp Ma-giét-xtíc ta đều bí mật đào đường hầm đặt bom sẵn để khi có lệnh là cho nổ bom, nhưng đào ra đến đường thì gặp cống chặn ngang không đào tiếp được. Từ trại Vệ quốc đoàn trung ương sang nhà Vĩnh Thụy (51 Trần Hưng Đạo), ta đào một đường giao thông ngầm nhưng không đào được.


Địch lồng lộn. Chúng đòi ta phải phá các ụ đất và cho xe ra húc đổ nhiều ụ. Nhưng ngày địch phá, đêm ta đắp lại. Các bệnh viện được chuyển ra Văn Điển, Cự Đà, Khúc Thủy. Điện thoại được mắc từ sở chỉ huy Khu XI đến các sở chỉ huy Liên khu 2, Liên khu 3 và các tiểu đoàn. Đó là một số máy ta thu nhặt được. Hà Nội chỉ có hai máy vô tuyến điện do tìm kiếm, gom góp một số linh kiện cũ lắp lại, đặt ở Sở chỉ huy Chiến khu và Liên khu 1.


Nhân dân và bộ đội đã dự trữ lương thực, thực phẩm. Các đội tiếp tế đội cứu thương, đội tuyên truyền được tổ chức gấp. Ủy ban tản cư hoạt động ráo riết vận động đồng bào đi tản cư. Cơ quan các cấp bí mật rút ra các ATK.

Tự vệ các tiểu khu đã kịp thời bắt giữ và đưa ra ngoài thành phố hàng trăm tên mật thám, Việt gian, phản động các loại tay sai của địch.

Công tác động viên tinh thần được tiến hành mạnh mẽ. Các đội quyết tử quân làm lễ tuyên thệ. Công tác chính trị ở các đơn vị bộ đội, tự vệ, công an và cả với dân, với các đoàn thể quần chúng được tiến hành mạnh mẽ nhằm khơi sâu lòng căm thù giặc và ý chí "thà chết không chịu làm nô lệ", "thà chết vinh còn hơn sống nhục", cả Hà Nội sôi sục căm thù, Ủy ban kháng chiến kêu gọi đồng bào phải bình tĩnh, nín nhịn, chờ lệnh.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 09:12:30 AM »

Ngày 16 tháng 12 năm 1946 tại nơi di chuyển của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội ở Mọc Quan Nhân, gần Ngã Tư Sở, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, đã đến kiểm tra và trực tiếp nghe Bộ chỉ huy Mặt trận báo cáo toàn bộ công tác chuẩn bị tác chiến. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Tổng chỉ huy đã căn dặn Bộ chỉ huy Mặt trận:

"... Phải hết sức tỉnh táo, hết sức kỷ luật đề phòng sự khiêu khích, nếu quân Pháp trở mặt đánh ta thì chiến đấu phải hết sức kiên cường. Vận dụng chiến thuật phải hết sức linh hoạt nhưng phải bảo tồn lực lượng..."1 (Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Hà Nội, 1986, tr.116).


Đồng chí Tổng chỉ huy đã cùng Bộ chỉ huy Mặt trận đến kiểm tra pháo đài Láng, thăm hỏi động viên các pháo thủ. Sau đó các đồng chí trong Đảng ủy, Bộ chỉ huy Mặt trận và Ủy ban bảo vệ thành phô tiếp tục chia nhau đi kiểm tra một số nơi để động viên nhân dân, bộ đội, tự vệ, công an xung phong chuẩn bị chiến đấu.


Cùng ngày, bọn trùm thực dân Pháp ở Đông Dương gồm: Đác-giăng-li-e, Va-luy, Moóc-li-e, Xanh-tơ-ny... hội họp với nhau ở Hải Phòng để bàn tính việc đánh chiếm Thủ đô Hà Nội.

Sáng ngày 17 tháng 12 năm 1946, từ 7 giờ đến 12 giờ, máy bay thám thính của địch bay lượn, quần đảo trên bầu trời thành phố. Trong khi đó, theo lệnh của Moóc-li-e va Xanh-tơ-ny, quân Pháp đã cho xe húc đến phá ụ đất của tự vệ phố Lò Đúc và bắn súng bừa bãi vào đồng bào ta. 11 giờ 30 phút chúng cho quân đến bao vây trụ sở công an phố Hàng Đậu. 12 giờ chúng đốt nhà dân ở khu phố Trúc Bạch và phá các ụ chiến đấu của tự vệ phố Hàng Bún và phố Yên Ninh. Bị tự vệ ta đối phó lại, chúng đã nã đại bác vào hai phố trên. Sau đó chúng cho một tiểu đoàn xuất kích mở cuộc tàn sát vào phố Hàng Bún, bao vây tiến công trụ sở của tự vệ, thẳng tay bắn giết đốt phá, làm 43 đồng bào ta bị chết, trong đó có cả các cụ già và em bé, bắt 15 người đem vào Thành.


Trước tình hình ấy, trong hai tuần đầu tháng 12 các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng đã nhiều lần hội ý, tổ chức họp bất thường tại làng Vạn Phúc (Hà Đông), do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì. Các cuộc họp đã phân tích tình hình của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của quân và dân ta, cuối cùng đi đến quyết định: Động viên sức người sức của, của cả dân tộc tiến hành cuộc chiến tranh yêu nước chính nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời định ra những nội dung cơ bản về đường lối kháng chiến1 (Thư ký của Bác Hồ kể chuyện, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.46-49).


Cũng ngày 18 tháng 12 năm 1946, không khí ở Hà Nội vô cùng ngột ngạt, căng thẳng vì những hành động khiêu khích có tính toán của thực dân Pháp.

Ngay từ sáng sớm, chúng cho một đại đội lính dù đến bao vây, lục soát, xả súng bắn vào dân thường các phố: Hàng Khoai, Đồng Xuân. Bao vây đe dọa đồn công an ta ở phố Hàng Đậu. 11 giờ, đại úy Sa-ti-ông, sĩ quan liên kiểm Pháp chuyển cho ta một bức thư, trong thư chúng viết: "Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở đây bắt buộc phải dùng những phương tiện để bảo đảm sự an toàn của quân đội, của thường dân Pháp và của ngoại kiều... Những thứ gì có thể làm cản trở sự đi lại của quân đội Pháp sẽ phải huỷ bỏ". Chúng còn báo trước là sẽ đến đóng quân tại trụ sở Bộ Giao thông công chính1 (Nay là trụ sở cơ quan thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số nhà 164 Trần Quang Khải). Không đợi ta trả lời, lính Pháp có xe tăng đi cùng đến phá công sự của ta ở phố Hàng Bún và kéo quân đến chiếm đóng trụ sở Bộ Giao thông công chính. 16 giờ cùng ngày, chúng gửi tiếp "Tối hậu thư" thứ hai, láo xược đòi làm nhiệm vụ trị an vì công an Hà Nội không làm tròn nhiệm vụ.


Tình hình đã thật sự khẩn cấp. Bộ chỉ huy Chiến khu XI đã ra Mệnh lệnh chuẩn bị chiến đấu2 (Thủ đô Hà Nội-Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Hà Nội, 1986, tr.117) cho toàn thể lực lượng vũ trang thủ đô. Nội dung như sau:

"Gửi toàn thể vệ quốc đoàn, dẫn quân tự vệ và công an xung phong toàn thành”.

Mấy ngày nay, địch đã có một âm mưu khởi hấn.

Chứng cứ là chúng đã chuẩn bị gấp về quân sự như đặt súng ở các phố, các nhà tư nhân và vận chuyển lương thực khí giới đã tích trữ ở các nơi đó. Chúng chuyển quân về tập trung ở các nơi như: Nhà thương Đồn Thủy, trường Bưởi, khách sạn Mê-tơ-rô-pôn.

Gần đây, ngày 17 tháng 12 năm 1946 chúng đã vây bắt các tự vệ phố Hàng Bún. Ngày 18 tháng 12 năm 1946 chúng chiếm Sở Tài chính và đòi tước vũ khí của cả bộ đội ta. Hơn nữa chúng hạ tối hậu thư cho Chính phủ ta hạn tới 20 tháng 12 năm 1946 sẽ tước hết quyền trị an.

Những sự chuẩn bị ráo riết và hành động khiêu khích của chúng như vậy là một triệu chứng mà chúng sắp đánh úp ta thực sự.

Chúng ta vỉ danh dự của Tổ quốc, vì quyền lợi của dân tộc. Chúng ta quyết không chịu lùi bước.

Vậy chúng tôi hạ lệnh cho toàn thể vệ quốc đoàn, tự vệ toàn thành và công an xung phong từ giờ phút này phải chuẩn bị gấp để chờ lệnh. Bất kỳ giờ phút nào, nếu chúng tôi hạ lệnh: Toàn thể bộ đội cũng như tự vệ, công an phải triệt để tiến công vào vị trí địch như nhiệm vụ của từng đơn vị đã định trong kế hoạch.

Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1946

Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI
                                         
Bộ chỉ huy Chiến khu XI
NGUYỄN VĂN TRÂN
                                         
VƯƠNG THỪA VŨ, TRẦN ĐỘ
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 09:16:08 AM »

Quân dân Hà Nội sẵn sàng chờ lệnh. Cơ quan tham mưu Bộ chỉ huy Khu XI lúc này bận rộn suốt ngày đêm, lo nắm tình hình địch, kiểm tra công việc chuẩn bị của các tiểu đoàn, nắm lực lượng các nơi, nắm lực lượng cứu thương, tiếp tế các nơi, nắm lực lượng hậu cần của ta, bố trí lại hệ thống tiếp tế, thông tin liên lạc.


Kế hoạch chiến đấu được các khu phố thực hiện rất khẩn trương. Thanh niên hăng hái tham gia xây dựng chiến lũy. Tự vệ tiến hành ngả cây, cột đèn, khoét lỗ ở những thân cây chuẩn bị đặt mìn. Đêm đêm Hà Nội ầm ầm tiếng búa đục tường, thông từ nhà nọ sang nhà kia để đảm bảo sự cơ động lực lượng của ta.


Cuộc chiến đấu sắp tới là một thử thách rất lớn với lực lượng vũ trang non trẻ của chúng ta. Công tác chính trị đã được chú ý ở các liên khu, các đơn vị, đặc biệt ở các đơn vị có nhiệm vụ đánh xe tăng và xe cơ giới địch. Việc dùng bom ba càng lao vào xe tăng sẽ dẫn đến hy sinh khó tránh khỏi. Điều đó đòi hỏi một ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần hy sinh to lớn. Vì vậy, theo đề nghị của đồng chí Trần Độ, Chính trị ủy viên Chiến khu XI, Đảng ủy Khu XI đồng ý tổ chức các buổi lễ đội quyết tử cho các đơn vị quyết tử quân. Ngày 18 tháng 12, các đơn vị quyết tử của Liên khu 3 làm lễ tuyên thệ tại đình làng Mọc Quan Nhân, thề "Quyết tử để bảo vệ Tổ quốc, quyết sống chết với Thủ đô. Cùng ngày tại cây đa Nhà Bò1 (Nay là nhà hộ sinh phố Lò Đúc), các đơn vị tự vệ Liên khu 2 tổ chức lễ quyết tử: "Thề sống chết với Thủ đô". Đồng chí Nguyễn Văn Trân, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ thành phố và đồng chí Trần Độ, Chính trị ủy viên Khu XI đã tới dự. Từ đó lần lượt nhiều buổi lễ quyết tử được tổ chức tại các đơn vị chủ lực và đơn vị tự vệ.


Từ đầu tháng 12 vấn đề hiệu lệnh chiến đấu cho toàn thành phố cũng được đặt ra đối với lãnh đạo Khu ủy và Bộ chỉ huy Chiến khu XI. Muốn giành được yếu tố bất ngờ đối với địch, các lực lượng ta phải hành động thống nhất trong toàn thành phố khi có lệnh. Pháo đài Láng được quyết định nổ súng làm hiệu lệnh mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc.


Đây là một pháo đài nằm tại phường Láng Thượng, quận Đông Đa ngày nay, được Pháp xây dựng từ trong chiến tranh thế giới thứ hai, để phòng thủ bắn máy bay Nhật. Đến giữa năm 1940 chúng xây bệ đặt 4 khẩu pháo cao xạ 75mm của Đức, là loại súng tối tân nhất lúc bấy giờ và cố định súng vào bệ bê tông. Trong pháo đài có đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn. Ngoài pháo cao xạ, có 2 khẩu đại liên hốt-kít, 1 trung liên bơ-ren và một số súng trường để trợ thủ và bảo vệ cho pháo. Quân số có 1 đại đội lính Pháp và lính khố đỏ do một viên quan hai Pháp chỉ huy. Phía lính khố đỏ người Việt có viên đội Nguyễn Ưng Gia cai quản. Cách mạng Tháng Tám thành công, pháo đài Láng về tay Quân giải phóng, Nguyễn Ưng Gia tình nguyện đi theo cách mạng. Ta bố trí tại đây 44 người, chia thành 3 khẩu đội. Bốn khẩu pháo cao xạ đã bị mất nhiểu bộ phận được tu sửa lắp lại thành 2 khẩu nên pháo đài Láng chỉ 2 khẩu đội có súng với khoảng 400-500 viên đạn. Nhân dân Láng Trung phát hiện còn một hầm chứa 200 viên đạn do địch chôn giấu ở gần đó đã chuyển cho pháo đài. Anh em pháo thủ đa số là bộ binh và thanh niên mới nhập ngũ chưa biết đến pháo được các đồng chí cũ huấn luyện. Với tinh thần yêu nước, quyết tâm giết giặc, anh em đã nhanh chóng thực hiện được các thao tác chính xác theo lệnh của chỉ huy, điều khiển 2 khẩu pháo cao xạ làm pháo bắn mục tiêu mặt đất.


Tuy nhiên đề phòng hiệu lệnh súng nổ vì lí do nào đó không thực hiện được và thông tin liên lạc phục vụ chỉ huy gặp khó khăn, những hiệu lệnh khác cũng đã được Khu ủy và Bộ chỉ huy Chiến khu XI tính đến. Sau khi cân nhắc, các đồng chí đều nhận thấy không có gì nhanh chóng, tức thòi và rộng khắp hơn là làm mất điện trong toàn thành phố và sau đó là nổ pháo đại bác vào doanh trại địch. Đèn tắt và tiếng pháo nổ ầm vang sẽ là tín hiệu cho giờ G bắt đầu. Muốn làm mất điện trong toàn thành phố, ngay lập tức chỉ có cách phá máy phát điện tại nhà máy điện Yên Phụ, nơi cung cấp điện cho toàn thành phố. Để thực hiện ý tưởng này, đồng chí Nguyễn Văn Trân, Bí thư Thành ủy đã bí mật trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Giang, một đảng viên công nhân làm việc trong nhà máy điện Yên Phụ, trung tâm cung cấp điện cho toàn thành phô Hà Nội bằng mọi cách phải thực hiện tắt điện khi giờ G đến. Buổi giao nhiệm vụ còn có các đồng chí Trần Quốc Hoàn, Vương Thừa Vũ và Trần Độ cùng dự. Nhà máy điện Yên Phụ là một mục tiêu lực lượng tiếp phòng quân hai bên phải bảo vệ. Vì vậy, tại đây ta và địch cùng gác chung, cả bên trong, bên ngoài nhà máy rất cẩn mật. Đồng chí Nguyễn Giang suy tính, chỉ có phá tuyếc-bin là hiểm nhất, địch không thể khôi phục ngay được. Đồng chí Giang đề nghị, đồng chí cùng với đồng chí Dung, công nhân trong nhà máy, dùng a-xít và mìn phá huỷ các tuyếc-bin này. Phương án đã được duyệt.


Chiến tranh như một đám mây đen đang vẩn đục trên bầu trời Thủ đô Hà Nội. Trong những ngày này Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tại làng Vạn Phúc, gần thị xã Hà Đông bình tĩnh xử trí các tình huống cuối cùng nhằm cứu vãn hòa bình. Trong một tuyên bố với báo Pa-ri - Sài Gòn ngày 13 tháng 12, Bác viết: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập... Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm, chúng tôi sẽ làm. Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm, cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do”. Chính vì vậy khi những kẻ hiếu chiến trong giới thực dân ở Đông Dương tổ chức khiêu khích, gây chiến, Người vẫn nhắc nhở đồng bào bình tĩnh và bằng mọi cách liên lạc với phía Pháp để giải quyết bất đồng. Lần này, trước liên tiếp các vụ tấn công của địch gây đổ máu cho đồng bào ta, trong một nỗ lực cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi thư cho Xanh-tơ-ny yêu cầu ông ta tiếp xúc với đại diện của Chính phủ ta để tìm giải pháp cải thiện bầu không khí hiện tại. Cũng trong đêm 18, thực hiện chủ trương của Thường vụ Trung ương Đảng về phát động toàn dân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Người đã viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.


Sáng ngày 19 tháng 12 năm 1946, không đếm xỉa gì đến thiện chí hòa bình của ta, thực dân Pháp lại gửi tiếp cho ta một "Tối hậu thư" nữa, đòi ta phải đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến, đòi tước vũ khí của lực lượng vũ trang ta. Sau đó chúng đe dọa: Nếu những yêu cầu trên trong vòng 24 giò không được thực hiện, quân Pháp sẽ hành động. Đi đôi với những hành động khiêu khích liên tục trong hai ngày, với ba "tối hậu thư" trên, thực dân Pháp đã xâm phạm thô bạo chủ quyền và an ninh quốc gia của nước Việt Nam độc lập.


Dã tâm xâm lược nước ta của thực dân Pháp đã lộ rõ. Không thể nhân nhượng được nữa. Đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác Hồ kể lại, khi được nghe báo cáo về việc Xanh-tơ-ny tỏ thái độ dứt khoát không tiếp ông Hoàng Minh Giám, phái viên của Chính phủ ta tới đề nghị tiếp tục thương lượng tháo gỡ nguy cơ chiến tranh, "Bác đã trầm ngâm một lúc, bước thêm mấy bước đến chiếc bàn có để bản thảo Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến sẽ thông qua Thường vụ Trung ương Đảng, rồi nói khẽ, nhưng rõ ràng, dứt khoát: "Hừ! Thì đánh"1 (Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Vũ Kỳ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.50).


Rõ ràng người gây ra cuộc chiến tranh này không ai khác hơn là giới thực dân hiếu chiến Pháp ở Đông Dương.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2019, 09:23:46 AM »

Trưa ngày 19 tháng 12 năm 1946, Thường vụ Trung ương Đảng thông báo tình hình tại Hà Nội cho các đồng chí bí thư tỉnh ủy và chỉ huy trưởng 12 chiến khu trong cả nước: Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ, công an ta. Chính phủ ta đã bác tối hậu thư ấy. Như vậy chỉ trong vòng 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương "Tất cả hãy sẵn sàng"2 (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.37).


Quyết giành quyền chủ động trong chiến tranh, phá tan ngay từ đầu âm mưu đánh úp của thực dân Pháp, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy quyết định cuộc tổng tiến công sẽ bắt đầu vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946.


Bộ Tổng Tham mưu nhanh chóng chuyển mệnh lệnh nổ súng xuống các đơn vị, các địa phương.
Nhận được chỉ thị, không khí chuẩn bị chiến đấu khẩn trương hẳn lên khắp mọi nơi trong cả nước.
Chiều ngày 19 tháng 12, Bộ Chỉ huy Chiến khu XI đã ra Mệnh lệnh tấn công cho lực lượng vũ trang toàn thành phố. Bộ chỉ huy Chiến khu XI đã triệu tập khẩn cấp chỉ huy các tiểu đoàn về sở chỉ huy phổ biến nhiệm vụ. Toàn văn mệnh lệnh như sau:


Mệnh lệnh tấn công1 (Lê Trung Toản, Quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh, Nxb Hà Nội, 2000, tr.131-134)

Gửi các tiểu đoàn 101, 523, 212, 77,145, Đội quyết tủ Tự vệ Thành, Công an xung phong.

Địch, bộ binh có chừng hơn 6.000, cùng xe tăng, đại bác, phi cơ, vũ khí tối tân, mạnh hơn ta, hiện giờ này chúng đang mở đầu cuộc khởi hấn bằng những vụ bao vây các đầu phố, phá ụ bắn giết công an, tự vệ, tước vũ khí của ta.


Nhiệm vụ của ta là phải kịch liệt kháng chiến để tự vệ, quyết chiến với địch để bảo tồn lãnh thổ và Tổ quốc, giữ danh dự thượng võ của Quân đội cũng như của Dân quân, Tự vệ Việt Nam.

1. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 145, ở phía tây bắc thành phố chiếu theo kế hoạch đã định, phối hợp với công nhân xung phong để triệt đê phá hủy các điểm như cầu Long Biên, nhà máy điện, nhà máy nước, nhà dầu xăng. Còn các ổ đề kháng nhỏ, điểm nào điểm ấy nhất tề xung phong vào các ổ chiến đấu của địch.

Chủ lực của tiểu đoàn nhằm thẳng vào trường Bưởi, là một trọng điểm của địch mà công kích, quyết phải tiêu diệt cho bằng được. Sau khi chiếm được điểm đó rồi tiểu đoàn cấp tốc chuyển hướng để tấn công vào Phủ Toàn quyền.


2. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 523 ở phía tây nam thành phố theo kế hoạch đã định, đem toàn chủ lực chẹn giữ các ngả, đầu phố nhà dầu Shell ở ngã tư Khâm Thiên, nhà ga, đầu phố Hàng Bột, Cửa Nam, Nhà đúc tiền để tiến công vào các ổ chiến đấu của địch và phối hợp với những tổ quyết tử toàn Liên khu 3 đánh đoàn xe của địch thục ra các ngả đầu phố.


3. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 77 giữ trại Vệ quốc đoàn trung ương, Ty Liêm phóng, Hỏa Lò, chiếu theo kế hoạch đã định. Tiểu đoàn phải kịch liệt cho tiêu diệt các ổ chiến đấu của địch. Chủ lực của tiểu đoàn phải chẹn đường tiến của địch từ nhà thương Đồn Thủy qua Tràng Tiền để đánh ra Cửa Nam và phố nhà ga, khi chúng liên lạc vói quân trong Thành tiến ra.


4. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 101 chặn đánh địch để giữ các điểm: nhà Bắc Bộ Phủ, Tòa Thị chính, nhà Bưu điện.

Khi tình thế biến chuyển không thể giữ được các điểm đó thì tiểu đoàn tự cho rút vào Liên khu 1 để củng cố và chống giữ cho đến cùng. Có gì thay đổi phải chờ mệnh lệnh mới được hành động.

Trước khi rút vào Liên khu 1, thì các điểm kia phải phá hủy cho tan tành.

Phương pháp rút và cách thức củng cố Liên khu 1, tiểu đoàn căn cứ vào kế hoạch đã định mà thi hành và luôn luôn báo cáo bằng vô tuyến điện về khu.


5. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 212 làm tổng đội dự bị của toàn khu. Vị trí ở trường mồ côi Xanh Ma-ri, Lò Lợn, ngã tư Cầu Dền. Hễ khi tiếng súng bắt đầu nổ thì tiểu đoàn tập trung lực lượng tiến công mãnh liệt vào Đồn Thủy để tiêu diệt cứ điểm chính của địch. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ rồi, tiểu đoàn lại cấp tốc tập hợp về vị trí như trong kế hoạch đã định.


6. Đội tự vệ xung phong, liên lạc với bộ đội ở Ty Liêm phóng, phải kịch liệt chiến đấu với địch để giữ lấy nhà Đấu Xảo và nhà Việt Điền. Nếu không chống cự nổi thì phải rút ra ngoài như đã định trước.


7. Các đội quyết tử ở các liên khu phối hợp với các đơn vị bộ đội để chẹn đánh các đầu phố. Khi xe tăng của địch tiến qua phố nào thì phải quyết tử xông ra phá hủy cho bằng được.


8. Vị trí của Bộ chỉ huy ở Bạch Mai, Ngã Tư Sở, tùy thời di động để đôn đốc các mặt trận.


9. Về liên lạc, tiểu đoàn 101 liên lạc bằng vô tuyến điện với khu, còn các tiểu đoàn khác liên lạc bằng điện thoại và đặt các trạm liên lạc với khu.

10. Ám hiệu: Máy đèn tắt tức là báo động. Đại bác ở Láng bắn tức là khởi chiến. Khi đó, toàn thể phải nhất tề tấn công lập tức.


Mệnh lệnh này ra, các ông tiểu đoàn trưởng, Đội dân quân tự vệ, Đội quyết tử và Công an toàn thành phải triệt để tuân theo và thi hành.

Khu 11, ngày 19 tháng 12 năm 1946, hồi.... giờ

Chính trị ủy viên
                                               
Khu trưởng
TRẦN ĐỘ   
                                               
VƯƠNG THỪA VŨ


Một không khí chiến đấu hừng hực trong mỗi con ngươi với lòng căm thù giặc sâu sắc, một quyết tâm chiến đấu đến cùng bảo vệ Thủ đô yêu dấu.


Buổi sáng ngày 19 tháng 12, tuy chưa được phổ biến mệnh lệnh chiến đấu, nhưng công tác chuẩn bị tại Hà Nội đã rất khẩn trương, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã triệu tập cán bộ tự vệ phổ biến tình hình. Cuộc họp đã biến thành lễ tuyên thệ. Đại diện hơn 8.000 đội viên Tự vệ Thành, những người chỉ huy tự vệ các liên khu, khu phố thề trước quốc kỳ và ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Nghiêm chỉnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Chính phủ.   

- Tự vệ Thành sống chết với Thủ đô.

Tại Bắc Bộ Phủ, tiểu đoàn 101 làm lễ nhận danh hiệu "Đội quyết tử của Thủ đô".

Sau khi phổ biến mệnh lệnh, các đồng chí lãnh đạo chỉ huy Chiến khu chia nhau đi kiểm tra, đôn đốc các đơn vị. Đồng chí Tấn Dương, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Chiến khu XI cùng đồng chí Phạm Văn Đôn, đại đội trưởng pháo binh tới pháo đài Láng thông báo tình hình, truyền đạt mệnh lệnh của Chỉ huy trưởng Chiến khu XI: Pháo đài phải hoàn tất công tác chuẩn bị và sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu.


17 giờ chiều ngày 19 tháng 12, đồng chí Nguyễn Giang, người phụ trách phá máy phát điện tại nhà máy điện Yên Phụ nhận được hai chai a-xít và hai quả mìn theo đúng kế hoạch. Đồng chí Trần Quốc Cư, Thành ủy viên phụ trách công tác phá hoại ra lệnh: Đúng 20 giờ phá máy. Mọi việc được chuẩn bị hết sức bí mật.


Cũng vào khoảng 17 giờ, đồng chí Nguyễn Văn Trân, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Khu XI đã phổ biến quyết định của trên cho các đồng chí chủ tịch Ủy ban bảo vệ Liên khu, thông báo quyết định vào lúc 20 giờ ta sẽ khởi sự tác chiến. Bắt đầu kháng chiến thì Ủy ban bảo vệ các liên khu đổi là Ủy ban kháng chiến. Chủ tịch Ủy ban kháng chiến chịu trách nhiệm tổ chức kháng chiến trên địa bàn theo kế hoạch của Ủy ban kháng chiến thành phố và Bộ chỉ huy Chiến khu XI.


18 giờ, đồng chí Nguyễn Tấn Dương, Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Khu XI và đồng chí Phạm Văn Đôn, đại đội trưởng pháo binh truyền đạt mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến khu cho chỉ huy trưởng pháo đài Láng - Nguyễn Ưng Gia: Đúng 20 giờ, sau khi đèn điện thành phố tắt, pháo đài nổ súng bắn phát pháo lệnh đầu tiên vào sở chỉ huy quân đội Pháp trong Thành. Pháo binh non trẻ của quân đội ta đã sẵn sàng chờ lệnh.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #18 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2019, 10:23:05 AM »

Chương 3
60 NGÀY ĐÊM KHÁNG CHIẾN


1. Đánh địch trong nội thành (19.12.1946 - 23.12.1946)

20 giờ 03 phút, theo đúng lệnh của các đồng chí Nguyễn Văn Trân, Vương Thừa Vũ giao cho, tổ công nhân xung phong gồm 3 đồng chí (Giang, Dung, Thăng) do đồng chí Nguyễn Giang (tức Quý) làm tổ trưởng đã nổ mìn phá máy điện. Điện toàn thành phố phụt tắt. Pháo đài Láng bắn phát đạn đầu tiên. Tiếp đó đại bác ở các pháo đài Xuân Canh, Xuân Tảo cùng nhả đạn vào các mục tiêu đã định trước.
Tiếng đại bác rền vang bầu trờ Thủ đô. Lửa khói mù mịt báo hiệu cuộc Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các lực lượng vũ trang Thủ đô đồng loạt tiến công các vị trí đóng quân của giặc Pháp trong toàn thành phố.


Tại Liên khu 1, ở nhà máy đèn Bò Hồ, đồng chí Phúc Anh, trung đội trưởng Vệ quốc đoàn cùng đơn vị bất ngờ nổ súng tiến công trung đội lính Pháp gác chung với ta. Chín tên lính Pháp bị tiêu diệt, bọn còn lại tháo chạy.


Ở Bắc Bộ Phủ, các chiến sĩ đại đội 1 tiểu đoàn 101 giật quả bom 250kg chôn sẵn dưới nền nhà khách sạn Mê-tơ-rô-pôn1 (Nay là khách sạn Thống Nhất phố Ngô Quyền), nhưng bom không nổ. Từ Bắc Bộ Phủ chiến sĩ ta xuất kích tiến công khách sạn. Bọn địch chống cự quyết liệt. Ta xung phong mấy lần đều bị cản lại. Hai bên nằm tại chỗ nổ súng chế áp lẫn nhau.


Ở phía tây hồ Hoàn Kiếm, trung đội Vệ quốc đoàn bảo vệ nhà ở và nhà làm việc của Bác Hồ tại số 8 phố Lê Thái Tổ (đổì diện với nhà Thủy Tạ), phối hợp với tự vệ thành các phố Hàng Trống, Hàng Hành, Bảo Khánh tập kích nhà ở của viên tướng Pháp Moóc-li-e2 (Nay là trụ sở báo Nhân dân, số 71 phố Hàng Trống). Quân Pháp ở trong Thành phải cho xe bọc thép đến cứu. Chiếc xe chở Xanh-tơ-ny chạy từ phố Nhà Thờ qua phố Nhà Chung đến đầu phố Tràng Thi thì trúng mìn của ta, xe bốc cháy, Xanh-tơ-ny và tuỳ tùng bị trọng thương.


Ở Cửa Đông, ba chiến sĩ tự vệ khu phố Đông Thành lọt vào Thành Hà Nội, dùng lựu đạn, chai cháy đốt một số kho tàng.

Trung đội Vệ quốc đoàn gác ở Bãi Giữa cùng tự vệ khu Phúc Xá cho nổ bom phá trụ cầu số 10 cầu Long Biên. Hòa cùng tiếng súng pháo của ta nổ ran ở khắp nơi lúc 20 giờ ngày 19, một tiếng nổ lớn vang lên, rung cả cây cầu. Tuy nhiên lượng nổ có hạn, chỉ đủ sức làm sạt một góc trụ cầu. Bọn địch gác chung hoảng hốt tản ra, nhưng sau đó chúng trụ lại chống trả. Quân ta rút lên Bãi Giữa. Trong lúc đó trung đội Vệ quốc đoàn gác chung với địch ở vị trí phía đông cầu Long Biên, chưa nhận được lệnh nổ súng của ta, bị địch đánh trước phải rút lui và nhập vào bộ đội


Gia Lâm. Kế hoạch diệt địch, phá cầu Long Biên không thực hiện được.

Trong đêm đầu tiên này, đáng chú ý là nhiều vị trí nhỏ biệt lập của quân Pháp đã bị các đơn vị bộ đội và tự vệ lựa chọn để tiêu diệt, vì vừa khả năng chiến đấu của quân ta. Trận tiêu diệt ổ chiến đấu của địch ở số 4 Kinh Dương Vương (nay là phố Thi Sách) là một điển hình. Đây là ngôi nhà hai tầng, mặt tiền hướng ra đường, trước nhà có hàng rào sắt, trong đó có 4 tên lính đóng giữ. Ta có một tiểu đội tự vệ 9 người do tiểu đội trưởng Nguyễn Trọng Việt chỉ huy. Khi đèn thành phố tắt, pháo ta bắn vào Thành, toàn tiểu đội từ bên đường đối diện xung phong tiến qua đường, bám vào dãy hàng rào sắt trước nhà, chưa kịp vượt vào sân thì địch từ trên gác ném nhiều lựu đạn xuống. Ta hy sinh 1, bị thương 1. Ta buộc phải tạm ngừng tiến công để giải quyết thương vong, chờ lệnh trên nhưng vẫn khống chế không cho địch rút.


Được nhân dân giúp đỡ, hầu hết các ổ đề kháng bí mật do Pháp kiều, Việt gian, thổ phỉ xây dựng tại các khu phố Tây và trung tâm thành phố, nhanh chóng bị tiêu diệt.

Ta còn đánh địch đóng ở nhà in IDEO, nhà máy gạch SATIC, nơi địch sửa chữa xe quân sự, ở nhà thuyền Hồ Tây, ở cơ quan tình báo Ngọc Hà, đánh bật địch khỏi nhà máy bia Ô-men, nhà máy nước. Tuy nhiên tại các vị trí này ta chỉ tiêu diệt được một bộ phận địch trong lúc chúng bất ngờ. Sau khi trấn tĩnh lại, số đông địch co cụm trên gác các nhà cao tầng ra sức chống trả, ta không đánh lên được.


Ở Liên khu 2 ta cũng tiến công tiêu diệt nhiều ổ chiến đấu độc lập của địch. Từ Hoả Lò và Quân y viện (nay là Bệnh viện C, phố Tràng Thi) ta tiến công tiêu diệt địch ở Viện Ra-đi-um (nay là Bệnh viện K). Một bộ phận của Tiểu đoàn 77 cùng tự vệ đánh vào nhà đại tá La-mi (nay là Sứ quán Pháp). Địch đang ăn tiệc. Xanh-tơ-ny cũng đến dự, vội vàng cho xe thiết giáp đến cứu, dọc đường lại bị quân ta đánh bị thương. Ta làm chủ khu nhà này.


Một tiểu đội của tiểu đoàn 212 cùng tự vệ đánh địch ở Nha khí tượng thủy văn. Địch tăng cường một trung đội có xe tăng, thiết giáp đến đánh tập hậu, ta chống trả quyết liệt, đại bộ phận đã anh dũng hy sinh.


Trung đội Vệ quốc đoàn ở Ty liên kiểm Việt - Pháp ở số 21 Mai Hắc Đế (nay là phố Bà Triệu) có 2 tiểu đội đang ngồi xe đi tuần với Pháp. Khi có tín hiệu đèn tắt, xe địch hướng thẳng vào Thành, thấy tình hình bất lợi, khi chạy qua cầu chui Cửa Đông, một số anh em liều lĩnh vọt khỏi xe, bám cầu nhảy xuống. Số còn lại trên xe bị địch bắt đưa vào Thành. Tại Ty liên kiểm, bộ phận của ta ở lại không đi tuần cùng với Pháp, không nhận được lệnh của ta, đã bị địch tấn công, 4 đồng chí hy sinh, 3 đồng chí chạy được vào trại Vệ quốc đoàn.


Một bộ phận của tiểu đoàn 212 cũng đã tổ chức tập kích vào một vị trí của địch tại Viện Pát-xtơ. Đây là một dinh thự ba tầng kiên cố dài khoảng 100m, phía sau có nhiều nhà phụ, phía tây là đường Lò Đúc. Địch đã đưa hai tiểu đội trang bị đầy đủ súng trường, tiểu liên, một trung liên, một đại liên đến đóng. Đây là một vị trí thuận tiện để địch có thể điều khiển, nắm tình hình và tiếp tế cho các ổ chiến đấu độc lập trên địa bàn Liên khu 2. Liên khu đã sử dụng 2 trung đội của đại đội 14 và 1 tiểu đội quyết tử thuộc tiểu đoàn 212 do đại đội trưởng Lê Tập chỉ huy để tập kích tiêu diệt địch. Đèn tắt, từ vườn hoa Pát-xtơ, ta nổ súng tiến công chính diện vào công viện, đồng thời mũi thứ yếu từ phía tây (phố Lò Đúc) cũng đồng loạt đánh sang. Tuy nhiên, ở cả hai hướng đều vấp phải sự kháng cự quyết liệt của địch ngay từ ngoài hàng rào, không thể nào tiến vào được. Bỗng ở hướng thứ yếu, tiểu đội trưởng Ngô Thế Du (vốn là một người lính ở Thượng Hải về) phát hiện có một cống ngầm dẫn vào phía tây của dinh thự. Lập tức đồng chí thăm dò rồi tổ chức cho anh em chui vào bật nắp cống lên sân, đồng loạt ném lựu đạn đánh địch. Địch hốt hoảng tháo chạy sang Đồn Thủy. Ta hoàn toàn làm chủ vị trí này, thu nhiều chiến lợi phẩm.


Bên cạnh những trận đánh vào các vị trí nhỏ, lẻ, ở Liên khu 2 cũng có trận tiến công vị trí tập trung lớn của địch. Một đại đội của tiểu đoàn 212 và một đại đội của tiểu đoàn 77 tiến công địch ở Đồn Thủy lúc 20 giờ 30 phút. Cùng với Thành Hà Nội, đây là một căn cứ quân sự lớn của địch, được phòng thủ nghiêm ngặt, xung quanh có tường vây. Sau nhiều giờ nổ súng, ta không tiến vào được. Tới 2 giờ sáng ngày 20 tháng 12 ta buộc phải rút.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #19 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2019, 10:26:16 AM »

Tại Liên khu 3, theo hiệu lệnh chiến đấu Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Công an xung phong cùng đồng bào đã tiến công, uy hiếp địch ở sở xe điện, Nhà giặt, đánh bật địch ra khỏi Nhà máy bia Ô-men1 (Nay là nhà máy bia Hà Nội). Ở nhà Đê-lê-vô2 (Nay là các nhà số 3, 5, 7, 9 phố Cát Linh); ta vừa kiên quyết tiến công, vừa kêu gọi địch hạ vũ khí đầu hàng. Nhưng dựa vào công sự kiên cố, hoả lực mạnh địch vẫn ngoan cố chống cự. Sau nhiều giờ chiến đấu, ta tiêu diệt một bộ phận địch. Sáng ngày 20 tháng 12 số còn lại dùng một xe ô tô cắm cờ hồng thập tự tháo chạy. Anh em không kịp bắn, địch chạy thoát.


Nhìn chung trên toàn thành phố, ngay từ phút đầu nổ súng, các lực lượng vũ trang Thủ đô đã hoàn toàn làm chủ tình thế. Hai mươi mốt vị trí đóng quân của quân Pháp đều bị tiến công làm chúng rất lúng túng trong việc đối phó. Với ưu thế về lực lượng, trang bị, lại chiếm đóng sẵn những vị trí lợi thế về quân sự, thực dân Pháp hy vọng có thể nhanh chóng và bất ngờ tiêu diệt lực lượng vũ trang Thủ đô, chụp bắt các cơ quan đầu não lãnh đạo chỉ huy kháng chiến của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Nhưng chúng đã bị bất ngờ khi ta chủ động nổ súng tiến công trước. Tướng Xa-lăng phải thừa nhận: "Việc chi viện của cơ giới và thiết giáp trở nên khó khăn... các đơn vị thiết giáp không thể ứng cứu kịp thời cho quân Pháp ở những nơi cuộc chiến đấu ác liệt đang diễn ra... Mỗi vị trí, mỗi đơn vị, mỗi căn nhà đều bị cô lập trong nhiều giờ, không có sự chỉ huy của cấp trên...".


Tuy nhiên, vì đã có kế hoạch đảo chính vào sáng ngày 20, nên sau khi ta nổ súng, địch lập tức hình thành bốn cánh quân lần lượt từ trong Thành tiến ra đánh chiếm một số mục tiêu trọng yếu.


Cánh quân thứ nhất có khoảng 300 lính lê dương, 18 xe tăng, xe bọc thép theo đường Cột Cờ, Tràng Thi đánh chiếm đồn công an Hàng Trống, Nhà Hát Lớn và khu vực Bắc Bộ Phủ.


Cánh quân thứ hai theo phố Hàng Lọng1 (Nay là phố Lê Duẩn) chiếm ga Hàng Cỏ, bao vây tiến công đại đội tự vệ của ta tại khu Đấu Xảo, cứu viện cho bọn ở nhà dầu Shell.


Cánh quân thứ ba có hơn 30 xe quân sự tiến đánh đầu cầu Long Biên. Một bộ phận theo thế gọng kìm vòng lên đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) chiếm nhà máy điện, nhà máy nước Yên Phụ, phong toả khu Trúc Bạch sau đó đánh thốc xuống đầu cầu.


Cánh quân thứ tư tiến theo hai hướng, một bộ phận lên phố Hàng Đậu phối hợp với cánh quân thứ ba đánh chiếm cầu Long Biên, bộ phận còn lại thọc qua Phùng Hưng xuống chi viện cho cánh quân bao vây Bắc Bộ Phủ.


Trên cả bốn hướng, các cánh quân địch đều bị bộ đội, tự vệ và nhân dân Thủ đô chặn đánh.

Tại ngã năm vườn hoa cửa Nam, quân ta giật bom, nổ mìn, xả súng vào đội hình địch. Đồng chí Hoàng Châu giật quả bom 150kg lật nhào một xe bọc thép. Bằng lựu đạn, chai cháy quân ta đã phá huỷ 3 xe quân sự.


Ở đầu phố Hàng Lọng, quân ta bất ngò nổ súng mãnh liệt từ bãi chướng ngại chặn xe cơ giới địch. Không kịp đối phó, một xe tăng địch bị phá huỷ, hai xe vận tải bị bắn hỏng, không vượt qua được đầu phố Hàng Lọng, địch phải đi vòng tiến công Toà án Hoả Lò, Viện Ra-đi-um. Rạng sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946 quân địch mới đến được khu Đấu Xảo. Sau nhiều giờ chiến đấu, các chiến sĩ tự vệ chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng.


Cánh quân Pháp định qua phố Hàng Đậu tiến đánh đầu cầu Long Biên bị trung đội công an đồn Hàng Đậu, bộ đội Vệ quốc đoàn phối hợp với tự vệ và nhân dân các phố Hàng Than, Hàng Đậu nổ súng chặn đứng. Đường Hàng Đậu từ tháp nước tròn đến đầu cầu Long Biên chỉ khoảng 300m rộng hơn 30m là quãng đường giao thông huyết mạch ở phía bắc Hà Nội. Kiến trúc hai bên đường phố là dãy nhà gạch một tầng, xen kẽ có một số nhà hai tầng. Đường ngang giữa phố có ngõ Hồng Phúc thông lên phía bắc (Yên Phụ) và phố Nguyễn Thiếp thông xuống phía nam (Đồng Xuân). Đường Hàng Đậu rất ít cây cối. Đây là đường quân Pháp được phép đi lại sang Gia Lâm, cho nên khi chưa có chiến sự ta chưa thể đào đắp và xây dựng trước các chướng ngại hoặc ngả cây cối chặn ngang đường. Ta phán đoán, khi nổ súng, việc đầu tiên của địch là phải chiếm quãng đường cửa ngõ hiểm yếu này để nối thông qua cầu Long Biên sang sân bay Gia Lâm và xuống cảng Hải Phòng.


Ở Hàng Đậu ta có một trung đội tự vệ công nhân 20 người, có 10 súng trường các loại, 1 khẩu trung liên, 1 khẩu thôm-sơn, 1 khẩu sten, một số lựu đạn, mìn, chai cháy và dao găm. Đơn vị có 3 đảng viên trong tổng số 7 đảng viên của chi bộ Đồng Xuân. Đầu phố Hàng Đậu (phía đầu cầu Long Biên) ta có 1 trung đội Vệ quốc đoàn đóng tại nhà số 1. Khi chiến đấu chỉ có một lực lượng nhỏ tham gia. Cuối phố (phía bốt tròn vườn hoa Hàng Đậu) có 1 trung đội công an xung phong đóng ở đồn công an tại ngã tư Hàng Đậu - Hàng Giấy. Nhiệm vụ của tự vệ Hàng Đậu là hiệp đồng với công an và Vệ quốc đoàn ngăn chặn không cho địch đánh chiếm con đường huyết mạch này. Từ tháng 11 năm 1946, công tác chuẩn bị được đẩy mạnh. Việc đào hào, đắp ụ, đục thông tường từ nhà nọ sang nhà kia được thực hiện tích cực. Việc làm chướng ngại vật ngoài đường đã được tính toán, chuẩn bị vật liệu, có lệnh sẽ làm gấp. Tự vệ đã đào một hào sâu ở ngã ba Hồng Phúc - Hàng Đậu, đào ngang ra giữa đường Hàng Đậu ngay trước các nhà số 34, 36, 38 (phía bên số lẻ). Bên số chẵn vẫn để xe cộ chạy được. Pháp cho xe ủi đến san lấp ban ngày, đêm ta lại đào và chôn cọc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM