Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Bảy, 2019, 11:16:17 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng  (Đọc 2417 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:33:42 AM »

Đợt 1 chiến dịch kết thúc. Chiến thắng diệt chi đoàn xe bọc thép địch trên đường số 2 của Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận.

Đêm 22 tháng 12, một chuyến tàu biển chở 44 tấn vũ khí từ miền Bắc vào bến Lộc An (Bà Rịa) bổ sung kịp thời súng, đạn cho các đơn vị tham gia chiến dịch.

Ngày 27 tháng 12, Trung đoàn 1 sử dụng Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 phối hợp với Đại đội 445 bộ đội địa phương tiến công “ấp chiến lược” Bình Giã lần thứ hai, mở màn đợt hai chiến dịch.

Ngày 28 tháng 12 năm 1964, từ sáng sớm, một máy bay trinh sát địch đã quần lượt trên không phận khu vực chiến dịch. Trời trong xanh, rất “lý tưởng” cho một cuộc đổ bộ đường không.

Gần về trưa, bầu trời bỗng rung lên bởi nhiều đợt bom nổ. Đài quan sát báo về sở chỉ huy: “Địch ném bom dọn bãi chuẩn bị đổ bộ”. Chỉ lát sau từ chân trời phía nam, những chiếc trực thăng chở quân đã uất hiện rõ dần. Súng máy xao xạ, súng đại liên và các loại súng bộ binh khác của trung đoàn cùng nhả đạn. Toàn bộ tốp đi đầu, tiếp đến là tốp thứ hai, 12 máy bay lên thẳng, có năm chiếc chở quân địch trúng đạn, nằm phơi xác trên khu vực bãi đổ bộ. Những tốp đi sau vột dạt ra xa, tăng độ cao và tháo lui.

Bầu trời im ắng trở lại. Trung đoàn 1 đã thực hiện được phương án không cho địch đổ quân xuống bãi 1 (đông bắc “ấp chiến lược” Bình Giã). Nhưng chúng sẽ còn tiếp tục cuộc hành quân giải tỏa hay chịu bỏ dở? Bộ chỉ huy chiến dịch thống nhất nhận định: địch chưa đến mức chịu thua, do đó phải chuẩn bị tình huống tiếp theo: đánh quân đổ bộ ở bãi 2 (đông nam “ấp chiến lược” Bình Giã 400 mét).

Hơn một giờ sau, các “con phượng hoàng” lại bay đến Bình Giã, đổ tiểu đoàn 33 biệt động quân xuống các đồng trũng (bãi 2), nơi Trung đoàn 1 đã bố trí lực lượng cách đó 500 mét. Khi tốp lính đi đầu đến mép vườn cao su, các tốp sau vừa tiếp đất thì bộ đội ta đồng loạt nhả đạn, tạo thế bao vây hai bên sườn, dồn địch vào thế bất lợi. Tiểu đoàn địch phơi mình trên bãi trống, nhanh chóng bị chia cắt và tiêu diệt.

Tiếp theo trận diệt chi đoàn xe M113 địch trên đường số 2 của Trung đoàn 2 trận diệt tiểu đoàn 33 biệt động quân, bắn rơi 18 máy bay lên thẳng đổ bộ quân của địch ở khu vực Bình Giã của Trung đoàn 1 là chiến thắng giòn giã thứ hai của chiến dịch Bình Giã. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam và trong phạm vi một chiến dịch, hai biện pháp chiến thuật chủ yếu trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là “thiết xa vận” và “trực thăng vận”, nhưng cách đánh được Mỹ - ngụy khoe khoang là rất “tân kỳ” đã bị bộ đội ta đánh bại.

Tiểu đoàn 4 lính thủy đánh bộ mang tên “Cá kình biển Đông” là đơn vị “anh chị” trong số 9 tiểu đoàn tổng dự bị của quân ngụy lúc bấy giờ. Tiểu đoàn này chưa hề biết thua trận. Tổn thất đáng kể nhất của nó là trong một cuộc hành quân bị vướng mìn làm năm tên lính bị thương. Là lực lượng dự bị chiến lược, thường vào tham chiến khi trận đánh đã đến lúc kết thúc, chúng rất huênh hoang và chủ quan.

Ra khỏi máy bay, lính địch triển khai đội hình chiến đấu nhanh, có bài bản. Những sắc áo rằn ri, những khẩu súng máy nép mình sau các gốc cây cao su, các mô đất. Chúng đã phát hiện đối phương nhưng chưa nổ súng ngay. Bộ đội ta muốn chờ địch đến thật gần nên cũng chưa nổ súng. Đánh gần sẽ làm giảm đáng kể hỏa lực phi pháo địch, đánh địch trong rừng cao su phải biết dựa vào từng gốc cây, không thể xung phong ồ ạt. Đó là bài học xương máu mà cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã rút ra được qua một số trận đánh trong rừng cao su với quân địch có hỏa lực mạnh hơn.

Khoảng hơn 4 giờ chiều, tiếng súng bắn đầu nổ và ngày càng mãnh liệt. Trung đoàn 1 đã gặp một đối thủ mạnh, được huấn luyện khá thành thạo cách đánh ở địa hình rừng. Chúng biết lợi dụng các vật che chắn để tổ chức các cụm hỏa lực vào dựa vào hàng trăm gốc cây cao su làm vật che đỡ chóng trả các mũi tiến công của ta. Có phân đội của ta phải bí mật luồn ra phía sau diệt ổ súng máy rồi mới chia cắt địch thành từng tốp nhỏ để tiêu diệt. Trận đánh kéo dài vì trang bị của bộ đội ta chỉ có súng trường và súng máy do các nước Anh, Pháp, Mỹ sản xuất trước đây. Nhiều khẩu đội súng máy cao xạ 12,76 và ĐKZ đã hạ nòng, cùng bộ binh diệt địch. Cho đến gần 6 giờ chiều, khi đại đội làm nhiệm vụ bọc hậu thọc vào đúng vị trí chỉ huy của địch, diệt tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng và nhiều sĩ quan ngụy khác, sức chiến đấu của địch mới lụi dần.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:35:31 AM »

Tiểu đoàn 4 không còn trở về Sóng Thần (Thủ Đức, Sài Gòn), căn cứ của lính thủy đánh bộ ngụy. Con “cá kình biển Đông” mãi mãi nằm lại trong rừng cao su Xuân Sơn. Bộ tổng tham mưu ngụy, Lầu năm góc, tướng bốn sao Oétmolen chỉ huy đội quân Mỹ xâm lược miền Nam không muốn tin vào kết cục bị thảm đó. Mấy chục tên lính thoát chết, trốn lủi chạy khỏi Bình Giã. Về đến Sài Gòn, chúng cố chứng minh rằng chúng là đội quân thiện chiến, dày dạn chiến trận, nhưng đã thua vì “Việt cộng” rất mạnh.

Trong khi Trung đoàn 1 liên tục chiến đấu ở khu vực Bình Giã, Trung đoàn 2 phục kích, sẵn sàng đánh cơ giới địch trên đường bộ. Trong bảy ngày ém quân, mỗi cán bộ chiến sĩ chúng tôi đã ăn hết 21 vắt cơm và bảy lần thay lá ngụy trang kiên trì giữ bí mật cho trận đánh.

Ngày 1 tháng 1 năm 1965, địch cho một số xe cơ giới theo đường số 2 lên Bình Giã cứu bọn tàn quân. Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi chặn đánh địch ở gần núi Cóc Tiên, diệt 10 xe. Hai ngày sau (ngày 3 tháng 1 năm 1965), chúng tôi lại vận động phục kích trên đoạn đường từ Bà Rịa lên Đức Thạnh, diệt 170 tên lính ngụy, phá hủy 18 xe (có 2 xe tăng, 6 xe bọc thép M113). Đây là trận đánh cuối cùng của chiến dịch Bình Giã.

Sau chiến thắng Bình Giã, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 lại hành quân trở về Chiến khu Đ. Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, cá cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Miền cùng Đảng ủy, Ban chỉ huy hai trung đoàn tổ chức cho các đơn vị tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, bổ sung quân số, trang bị, bồi dưỡng sức khoẻ, đồng thời mở nhiều lớp học tập về tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam, nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và huấn luyện bổ sung về kỹ thuật, chiến thuật. Trung đoàn bộ binh 3 mới ổn định tổ chức biên chế và Trung đoàn bộ binh 4 (Quân khu 7) mới thành lập cũng học tập và huấn luyện với Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2. Thời gian củng cố, huấn luyện của các đơn vị được hơn 2 tháng.

Giữa năm 1965, tiêng súng tiến công địch của quân và dân miền Trung Trung Bộ rộ lên ở Việt An, ở Đèo Nhông – Dương Liễu và ở Ba Gia.

Ngày 28 tháng 5, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam vận động tập kích tiêu diệt một đại đội Mỹ ở Núi Thành.

Trên miền Bắc, quân và dân các tỉnh Quân khu 4 giáng trả mạnh mẽ hành động chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi tại chỗ hàng chục máy bay phản lực hiện đại.

Trong không khí sôi sục của cả nước ra quân đánh Mỹ, đầu tháng 5 năm 1965, các đơn vị thuộc khối chủ lực miền gồm 4 trung đoàn bộ binh, Đoàn 80 pháo binh, các đội thanh niên xung phong và lực lượng của ngành hậu cần lại lên đường đi chiến dịch.

Mục đích cuộc ra quân lần này là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, đẩy mạnh chiến tranh du kích và hỗ trợ quần chúng phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ của Miền với nam Tây Nguyên, tạo điều kiện mở rộng đường vận tải chiến lược từ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ. Hướng chính của chiến dịch là địa bàn hai tỉnh Bình Long, Phước Long. Hướng phối hợp là năm tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa. Bộ chỉ huy chiến dịch được thành lập do Thiếu tướng Lê Trọng tấn, Phó tư lệnh Miền làm chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Trần Độ, Phó chính ủy Miền làm Chính ủy và đại tá Hoàng Cầm làm Phó Tư lệnh.

Đêm 10 rạng ngày 11 tháng 5 năm 1965, chiến dịch Sông Bé – Phước Long(1) bắt đầu nổ súng.

Hướng chính, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, Tiểu đoàn 840 chủ lực Quân khu 6 được tăng cường một trung đội đặc công, sáu khẩu ĐKZ 75, ba khẩu 12,7 tiến công thị xã Phước Long lúc 0 giờ 45 phút. Sau khi chiếm được một số mục tiêu trong thị xã: khu truyền tin, khu cảnh sát, khu huấn luyện, cư xá Mỹ, bộ đội ta trụ lại đánh lui sáu đợt xung phong của địch, diệt 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 36 biệt động quân, bắn rơi 13 máy bay. Chiều ngày 11 tháng 5, các đơn vị rút ra đánh địch ở vòng ngoài.


(1) Sông Bé – Phước Long là tên chiến dịch trong kế hoạch ban đầu. Sau này tên gọi phổ biến là chiến dịch Đồng Xoài do ý nghĩa quan trọng và tiếng vang lớn của trận then chốt chiến dịch diễn ra ở Đồng Xoài.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:36:19 AM »

Cùng thời gian Trung đoàn 1 đánh Phước Long, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 chúng tôi tiến công chi khu quân sự Phước Bình. Đây là một cứ điểm nằm trên trục đường số 2 cách thị xã Phước Long 9km về phía nam do 2 đại đội bảo an và dân vệ phòng giữ. Xung quanh chi khu có các dinh điền, “ấp chiến lược”. khi bị ta tiến công quân địch ở đây có thể gọi pháo ở Phước Long hoặc máy bay đến chi viện. Do chưa bị ta đánh lần nào nên sĩ quan, binh lính địch đều chủ quan. Trước trận đánh, trinh sát của tiểu đoàn và trung đoàn đã nghiên cứu nắm chắc địa hình xung quanh chi khu, hệ thống công sự, vật chướng ngại ở tiền duyên và tung thâm, nắm được một phần quy luật hoạt động của địch. Công tác hậu cần khắc phục nhiều khó khăn, bảo đảm được các yêu cầu của đơn vị về đạn, thuốc nổ, bộc phá.

Công tác chính trị xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ quyết tâm cao trong chiến đấu. Quá trình hành quân tiếp cận, các phân đội đều giữ được bí mật, an toàn. Sau 3 phút pháo bắn chế áp, tiểu đoàn trưởng phát hiện quân địch trong chi khu bị tê liệt, đã lệnh cho các mũi chớp thời cơ đánh bộc phá, nổ mình ĐH10 mở cửa, thọc sâu chiếm lĩnh các mục tiêu. Đại đội 7 chiếm được đầu cầu, nhanh chóng phát triển, diệt lô cốt mẹ. Đại đội 6 đánh chiếm nhà quận trưởng, phát triển sang khống chế sân bay. Đại đội 8 mở được ba lớp rào thì phát hiện các đơn vị bạn đã chiếm đầu cầu. Đại đội trưởng xử lý linh hoạt cho dừng bộc phá, tổ chức cho bộ đội vượt qua lớp rào cuối cùng, đánh chiếm nhà lính số 3, bắt liên lạc với Đại đội 6. Bị mất chỉ huy ngay từ đầu, bị bộ đội ta chế áp, chia cắt, quân địch không kịp đối phó, nhanh chóng bị tiêu diệt.

Đây là một trận công kiên xuất sắc, trong 25 phút, một tiểu đoàn của ta đã đánh chiếm được một chi khu quân sự, diệt và bắt toàn bộ quân địch. Diệt 140 tên, bắt 105 tên, thu 221 khẩu súng và nhiều đồ dùng quân sự. Tiểu đoàn 5 chỉ có ba chiến sĩ bị thương nhẹ.

Những năm sau này, khi nhớ lại trận Phước Bình, đồng chí Hoàng Cầm – Phó Tư lệnh chiến dịch cho rằng đây là một trong những trận đánh “ngon” nhất mà ông được chứng kiến.

Đợt một chiến dịch mở đầu bằng những thắng lợi giòn giã. Mỹ - ngụy phải mở các cuộc hành quân giải tỏa bằng đường bộ và cơ động bằng máy bay lên thẳng, đổ quân xuống Phước Long và Phước Bình. Do phán đoán khu vực đổ quân của địch không chính xác, các trận đánh quân viện trong cuối tháng 5 ít hiệu quả.

Ngày 9 tháng 6 năm 1965, chiến dịch bước vào đợt 2. Bộ chỉ huy chiến dịch xác định nhiệm vụ then chốt và mục tiêu của đợt này là tiêu diệt chi khu Đồng Xoài, sau đó khống chế, buộc địch phải đổ quân xuống khu vực ta đã chuẩn bị và tập trung lực lượng tiêu diệt lớn quân địch.

Chi khu quân sự Đồng Xoài (địch gọi là Đôn Luân) thuộc tỉnh Phước Long nằm ở ngã tư bốn con đường: liên tỉnh lộ 13, liên tỉnh lộ 1, quốc lộ 14 và đường số 2. Đây là một điểm của tứ giác Đồng Xoài – Phước Long – Chơn Thành – Bình Long trong hệ thống phòng thủ ngoài của địch ở phía bắc Sài Gòn, một điểm khống chế các đường giao thông huyết mạch nối liền miền Đông Nam Bộ với nam Tây Nguyên và Campuchia.

Lực lượng địch ở Đồng Xoài có bốn đại đội biệt kích, một đại đội bảo an, một đại đội dân vệ, hai trung đội cảnh sát, một chi đội cơ giới (7 xe), 2 khẩu pháo 105 và nhiều loại hỏa lực khác. Chúng xây dựng năm lô cốt chính, nhiều hầm ngầm và hệ thống công sự bảo vệ từng khu vực. Từ sau khi ta đánh thị xã Phước Long và chi khu Phước Bình, địch tăng cường tuần tra, đêm đêm báo động. Mỗi lần báo động (kéo dài 5 đến 10 phút), tất cả các loại hỏa lực trong chi khu đều bắn ra dồn dập và mãnh liệt như một trận đánh thực sự.

Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 2 (do Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm, Chính ủy Nguyễn Văn Quang, Tham mưu trưởng Trần Soa, Chủ nhiệm chính trị Phan Khéo chỉ huy tiêu diệt chi khu Đồng Xoài, sau đó trụ lại không cho địch đổ quân bằng máy bay lên thẳng xuống chi khu mà buộc chúng phải đổ xuống phía bắc, nơi Trung đoàn 1 đã bố trí lực lượng đón sẵn.

Để bảo đảm đánh chắc thắng, Trung đoàn 2 được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3, 1 tiểu đoàn pháo binh của Miền (4 khẩu sơn pháo 75, một đại đội ĐKZ 75 (67 khẩu), một đại đội súng máy 12,7 ly, một đại đội cối 82 ly và một đại đội súng phun lửa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:38:51 AM »

Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn đề ra tư tưởng chỉ đạo tác chiến là “tiến công kiên quyết”. Toàn trung đoàn náo nức không khí ra trận, thi đua lập công giành cờ “Quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.



Bàn phương án đánh Đồng Xoài
Trong ảnh: Người cầm bút: Trương Văn Đàng

Đối với cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi, nhiều người tự viết khẩu hiệu dán lên nón, lên báng súng và cả bao xe đạn trước ngực với nội dung: “Quyết tử giải phóng Đồng Xoài”, “Bị thương nặng không kêu la, bị thương nhẹ không rời trận địa”, “Quyết tâm dứt điểm Đồng Xoài, không dứt điểm không về”…

Chứng kiến hình ảnh mang khí thế quyết tử của chiến sĩ trước khi xung trận như vậy, cả Ban chỉ huy Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 2 chúng tôi rất tự hào về cán bộ chiến sĩ đơn vị mình. Tôi cố nén xúc động, nói nhỏ với chính trị viên tiểu đoàn: “Anh em mình thật gan góc quá!”.

Trưa ngày 9 tháng 6, Tiểu đoàn 4 chúng tôi rời vị trí tập kết, hành quân chiếm lĩnh trận địa. Một cụ già đi làm nương, thấy bộ đội ta hành quân về hướng Đồng Xoài đã đón đường khuyên can:

- Các chú đi đánh Đồng Xoài phải không? Thôi đừng đánh nữa, đánh không nổi đâu. Nó mới tăng quân đông lắm!

Các chiến sĩ vui vẻ trả lời:

- Nó càng đông thì mình diệt nó càng nhiều. Nó đông mấy chúng cháu cũng đánh thắng. Cụ đừng lo.

Theo phương án chiến đấu, thời điểm nổ súng là 24 giờ nhưng vào lúc 22 giờ 40 phút, địch bắn 2 quả pháo 105 ly, sau đó hầu như toàn bộ lực lượng trong chi khu bắn dữ đội về hướng Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đang tiếp cận. Có thể đây chỉ là một cuộc báo động mà đêm nào địch cũng tiến hành. Nhưng thấy địch bắn mạnh, mũi đi đầu của Tiểu đoàn 5 tưởng đoàn đã cho đánh nên lệnh cho ĐKZ và đại liên bắn vào các mục tiêu đã được phân công.

Mười phút sau, Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng. Trên tất cả các hướng, các chiến sĩ xung kích anh dũng xông lên mở cửa. Địch cho cơ giới ra chặn và tập trung hỏa lực vào những nơi phát hiện bộ đội ta tiến công. Bộ binh địch ném lựu đạn và dùng súng phóng lựu vào các cửa mở.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:39:47 AM »

Tiểu đoàn 4 chúng tôi phần lớn các chiến sĩ đánh bộc phá bị thương và hy sinh. Một số trận địa pháo bắn thẳng bị trúng đạn địch, pháo bị hỏng. Có khẩu đội đã bắn gần hết đạn. Đại đội trưởng hy sinh và Chính trị viên Đại đội 2 gẫy cả hai chân.

Sau 20 tiến công, bộ đội ta mới mở được hai đến ba lớp hàng rào, chưa mũi nào vào được chi khu. Tôi trực tiếp xuống kiểm tra đơn vị mở cửa và xốc lại lực lượng, chuẩn bị đột phá lần thứ hai và cử Tham mưu trưởng Tiểu đoàn xuống trực tiếp chỉ huy mũi chủ yếu. Tôi điều trợ lý tham mưu Quách Thanh Quang (Hai Quang) xuống làm Đại đội phó Đại đội 2, đưa khẩu sơn pháo 75 lên gần hơn, điều thêm đạn cho các hỏa khí bắn thẳng và đưa các tổ bộc phá dự bị lên thay; đồng thời lệnh cho anh Tạ Quang Tỷ, Đại đội trưởng Đại đội 1 và đồng chí Hà Văn Cheo, trợ lý chính trị tiểu đoàn sang làm Đại đội trưởng và Chính trị viên Đại đội 2, đơn vị chủ công.

Một giờ sáng ngày 10 tháng 6, các mũi tổ chức đột phá lần hai. Rút kinh nghiệm đợt 1 tôi điều các khẩu đội hỏa lực: sơn pháo 75, ĐKZ75, trọng liên 12,7 ly, đại liên, súng phun lửa… lên gần hơn, tập trung chế áp các hỏa điểm địch. Có khẩu đội đưa súng lên sát hàng rào, bờ tường công sự chi viện cho bộ binh đánh chiếm đầu cầu.

Hết bộc phá mà hàng rào vẫn còn, bộ đội ta vượt, chui qua hàng rào vào căn cứ địch. Sơn pháo 75, ĐKZ 57 và ĐKZ 75, súng cối hết đạn thì dùng súng phun nửa, trung liên bắn kiềm chế địch cho bộ đội mở cửa.

Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ hội ý chi ủy ở ngay tuyến xuất phát xung phong, phân công cán bộ xuống từng mũi, động viên và tổ chức bộ đội lên sát hàng rào để khi bộc phá nổi sẽ chớp thời cơ xung phong. Hỏa lực của đại đội chỉ còn một quả đạn ĐKZ 75, một ống bộc phá sào, 100 viên đạn 12,7 ly được sử dụng cho viện cho mũi chủ yếu.

Bộc phá vừa nổ, đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ dẫn đầu đơn vị xông lên chiếm được đồn địch. Bị thương vào cánh tay, anh tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu và cùng đồng đội đưa thương binh, tử sĩ về phía sau

Sau trận đánh này, các chiến sĩ trong đại đội tặng đại đội trưởng của mình danh hiệu thứ hai “Đại đội trưởng đột phá”.

Vừa tổ chức xong mũi đột phá thì tôi nhận được báo cáo của Đại đội 3 bằng máy bộ đàm:

- Đại đội đang đánh quyết liệt với 1 đại đội biệt kích của địch án ngữ, cách ấp chiến lược Đồng Xoài 500 mét về phía bắc. Ta đã đánh chiếm được 1 công sự, Chính trị viên đại đội Phan Văn Mạnh hy sinh, Đại đội trưởng Lê Minh Liên và Đại đội phó Nguyễn Văn Hiền bị thương nặng.

Nghe báo cáo xong, tôi ra lệnh cho Chính trị viên phó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ứng (Út Ứng) và trợ lý tham mưu Hai Quang sang củng cố và trực tiếp chỉ huy Đại đội 3 tiếp tục đánh bọn biệt kích, sau đó phát triển sang ấp chiến lược Đồng Xoài.

Tôi dặn:

- Chiếm xong ấp chiến lược thì báo cáo về tiểu đoàn, đánh không được đừng báo cáo mà cũng đừng trở về đây gặp tôi…!

Gần 01 giờ sáng ngày 10 tháng 6, ấp chiến lược Đồng Xoài được Đại đội 3 Tiểu đoàn 4 chúng tôi giải phóng hoàn toàn. Ta bắt sống 60 tù binh gồm cả lính dân vệ, bảo an và biệt kích.

Khi biết được đại đội của Bảy Tỷ đã đột phá thành công, tôi ra lệnh bằng điện thoại cho Út Ứng và Hai Quang củng cố Đại đội 3 thành một mũi đánh cặp theo quốc lộ 14, mở cửa từ hướng đông, đánh thẳng vào sở chỉ huy quận trưởng, bắt liên lạc với Bảy Tỷ.

Chấp hành mệnh lệnh, Đại đội 3 xốc lại đội hình còn sáu tay súng bộ binh, hỏa lực có một khẩu ĐKZ và một đại liên vừa thu được của địch với rất nhiều đạn. Hai Quang cùng Trần Văn Tảo (sau này là Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân đoàn 4) dùng thủ pháo mở rào, đại đội xông lên diệt ngay chiếc “bù lu” (lại xe nồi đồng, bánh hơi, có pháo tự hành 70 ly) ngay cửa mở. Toàn đại đội nhanh chóng thọc sâu và phát triển vào tung thâm bắt liên lạc được với Bảy Tỷ.

Đến 05 giờ sáng ngày 10 tháng 6 ta chiếm được phần lớn các mục tiêu trong chi khu Đồng Xoài, làm chủ hoàn toàn khu biệt động quân, bảo an và khu hành chính.

Cho đến gần sáng ngày 10 tháng 6, bộ đội ta đã chiếm lĩnh phần lớn các mục tiêu trong chi khu. Tiểu đoàn 4 làm chủ khu biệt động quân, Tiểu đoàn 5 chiếm khu bảo an và khu hành chính. Theo phương án chiến đấu, các đơn vị trụ lại, đào công sự, sẵn sàng đánh quân địch phản kích.

Trời sáng, hàng chục máy bay phản lực hiện đại cất cánh từ hạm đội 7 và các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất đến nem bom phá, bom napan vào các khu vực chúng nghi là trận địa ta, nhất là ở phía tây, tây bắc chi khu. Một số công sự bị sập. Thêm nhiều chiến sĩ hy sinh và bị thương vì bom địch. Nhiều căn nhà trong chi khu trúng bom, bốc cháy dữ dội. Bộ đội ta phải đào công sự ẩn nấp dọc theo các bờ tường, lấy ngay súng và đạn của địch bắn trả máy bay địch, kiên quyết giữ vững trận địa, không cho địch đổ quân bằng máy bay lên thẳng và phản kích chiếm lại các khu vực đã mất.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:41:23 AM »

Trời nắng gay gắt. Cơm và nước uống không kịp đưa ra các chiến hào. Gạo rang và các bi đông nước còn lại đều phải dành cho thương binh, nhưng tất cả cán bộ, chiến sĩ đều đứng vững trên trận địa, dưới mưa bom của địch.

Khoảng 3 giờ chiều, địch dùng trực thăng đổ tiểu đoàn 52 biệt động quân xuống đông bắc chi khu. Tôi lệnh cho Đại đội 3 nhanh chóng tổ chức chặn đánh. Sau 30 phút chiến đấu, Đại đội 3 diệt gần hết một đại đội, số còn lại bỏ chạy tán loạn. Trước tình hình không thể cứu vãn được nữa, địch cho máy bay ném bom xuống trung tâm chi khu và khu biệt động quân. Nhiều tên địch còn sống sót trong chi khu đã bị trúng bom. Số chạy ra ngoài bị Tiểu đoàn 4 chúng tôi bắt hầu hết. Hai xe “bù lu” chạy về hướng Phước Vĩnh bị bộ đội, dân công tải thương chặn bắt ở dốc Tà Bế - nơi 18 năm về trước, ngày 19 tháng 12 năm 1947, quân và dân Biên Hòa đã đánh trận giao thông xuất sắc, diệt quân Pháp xâm lược.

Ngày 11 tháng 6 năm 1965, bộ đội ta thu dọn chiến trường và rút khỏi trận địa.

Trận then chốt Đồng Xoài trong chiến dịch Sông Bé - Phước Long kết thúc sau gần ba ngày đêm chiến đấu ác liệt. Ta diệt 608 tên địch, có 42 cố vấn Mỹ bỏ xác tại trận. Bốn đại độit biệt kích, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105 ly, 1 trung đội cảnh sát, 1 chi đội cơ giới bị tiêu diệt. Ta thu 148 khẩu súng và gần hai vạn viên đạn các loại, bắn rơi 7 máy bay.

Trung đoàn 2 cũng bị tổn thất khả nặng: 134 cán bộ chiến sĩ hy sinh, 290 đồng chí bị thương.

Trận then chốt Đồng Xoài còn một kết quả lớn thứ hai, đó là ngay sau khi dứt điểm các mục tiêu chủ yếu trong chi khu, Trung đoàn 2 và các đơn vị được tăng cường đã anh dũng trụ lại, đánh địch phản kích, khống chế đường không, buộc địch phải đổ quân xuống khu vực ta đã lựa chọn, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiêu diệt địch.

Như vậy cả về mặt tiêu diệt địch, đánh chiếm mục tiêu và chuẩn bị cho trận đánh tiếp theo, Trung đoàn 2 đều thực hiện xuất sắc, theo đúng quy định của Bộ chỉ huy chiến dịch. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chính ủy Miền nhận định: Ta đã diệt được Đồng Xoài thì có thể diệt được các căn cứ chi khu khác ở miền Đông Nam Bộ.

Từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965, chiến dịch Sông Bé – Phước Long bước vào đợt chiến đấu thứ ba. Theo sự phân công của Bộ chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 tiếp tục hoạt động ở khu vực Phước Long, Trung đoàn 2 có sở trường đánh cơ giới chuyển về hoạt động trên đường 13. Sau hai đợt chiến đấu liên tiếp, cả ba trung đoàn đều bị tiêu hao. Quân số, vũ khí mới được bổ sung một phần. Thời gian nghỉ ngơi, củng cố chưa được 20 ngày. Nhưng từ cán bộ đến chiến sĩ đều quyết tâm rất cao. Chiến thắng giòn giã, càng đánh càng thắng lớn trong hai đợt trước có sức cổ vũ lớn đối với đơn vị.

Với truyền thống “Đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”, Trung đoàn 2 đã mở đầu đợt ba chiến dịch bằng một chiến công xuất sắc.

Đêm 15 tháng 7 năm 1965, Tiểu đoàn 4 chúng tôi phối hợp một bộ phận Tiểu đoàn tập kích cụm bộ binh cơ giới của trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy tại Bàu Bàng diệt 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe cơ giới và sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn này, bắt sống tên trung đoàn trưởng.

Nhân dân Bàu Bàng được bổ đội ta giải phóng khỏi ách kìm kẹp của địch trong “ấp chiến lược” từ mấy tháng trước đã tận tình giúp đỡ, động viên bộ đội trong quá trình chuẩn bị và diễn biến trận đánh.

Đáp lại sự giúp đỡ và niềm tin của nhân dân, bộ đội ta nhắc nhau không bắn vào nhà dân, hết sức bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.

Từ Đường Long (Bến Cát) đến Bình Giã, Đồng Xoài, các Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 cùng các đơn vị binh chủng khác thuộc khối chủ lực Miền đã trưởng thành nhanh chóng về trình độ chiến đấu. Bốn trận công kiên, hai trận vận động phục kích đánh quân viện, năm trận đánh giao thông, một trận tập kích dã ngoại trong chiến dịch Đồng Xoài đều thắng lợi giòn giã. Đơn vị nào cũng lập công xuất sắc. Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 được thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.

Chiến thắng Sông Bé – Phước Long cùng những con người làm nên chiến thắng sống mãi cùng non sông đất nước. Trung đoàn 2, đơn vị chiến thắng trong trận then chốt của chiến dịch – trận tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài, được Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền trao cờ thưởng luân lưu “Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” và được tặng danh hiệu vẻ vang: “Trung đoàn Đồng Xoài”.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Năm, 2019, 08:23:32 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 24 Tháng Năm, 2019, 07:44:25 AM »

*

Từ đầu năm 1965, trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, đồng thời đưa quân viễn chinh Mỹ vào tham chiến ở miền Nam. Tháng 7 năm 1965, tổng thống Giônxơn chính thức thông qua quyết định tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Một kế hoạch chiến tranh mới gồm ba giai đoạn(1), do tướng Oétmolen – Tư lệnh Bộ chỉ huy lục quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đề ra bắt đầu được thực hiện từ mùa hè năm 1965. Mục tiêu, lực lượng và biện pháp chủ yếu của kế hoạch này là dùng quân viễn chinh Mỹ, tìm diệt bộ đội chủ lực quân giải phóng ở chiến trường, “đánh gãy xương sống Việt cộng”.

Đánh giá đúng âm mưu và hành động xâm lược mới của đế quốc Mỹ, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 3 năm 1965) đã đề ra chủ trương: “Động viên quân và dân cả nước phát triển thế chủ động tiến công địch. Nhanh chóng mở rộng bộ đội thường trực, tăng cường sức mạnh quốc phòng…”.

Tháng 5 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh động viên thời chiến. Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Bác kêu gọi: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”(2).

Đáp lời kêu gọi thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của Bác, quân đội ta đã phát triển đặc biệt nhanh chóng về quân số và tổ chức lực lượng trên cả hai miền Nam, Bắc. Ở miền Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định tập trung các trung đoàn chủ lực ở Tây Nguyên, Quân khu 5 và miền Đông Nam Bộ để thành lập các sư đoàn chủ lực cơ động. Quyết định thành lập Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5 ở miền Đông Nam Bộ đã được thông báo chính thức tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Đồng Xoài (tháng 8 năm 1965).

Ngày 2 tháng 9 năm 1965, tại một khu rừng bên bời suối Nhung, huyện Phước Thành (tỉnh Bình Long, nay thuộc tỉnh Bình Phước), Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 9 “Sư đoàn chủ lực cơ động trực thuộc Miền, hoạt động chủ yếu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ”. Để giữ bí mật, sư đoàn mang mật danh “Công trường 9”. Trong đội hình Sư đoàn 9 có 3 trung đoàn bộ binh (1, 2 và 3), một số tiểu đoàn, đại đội binh chủng, bảo đảm và phục vụ, 3 cơ quan (tham mưu, chính trị, hậu cần).

Trong đội hình của Sư đoàn 9 có cán bộ, chiến sĩ quê ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều cán bộ quê ở miền Nam hoặc quen thuộc chiến trường miền Nam, được tổ chức thành các trung đoàn chủ lực trên miền Bắc rồi hành quân vào chiến trường. Có những thanh niên nặng lòng căm thù Mỹ - Diệm, trưởng thành lên trong phong trào Đồng khởi ở các địa phương rồi gia nhập quân giải phóng. Lại có những cán bộ mới lần đầu đặt chân lên đất miền Đông. Nhưng tất cả những con người ấy đã đứng trong đội hình chiến đấu của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, những đơn vị chủ lực đầu tiên, đã từ trong gian lao, anh dũng của miền Đông những năm đầu chống Mỹ mà trưởng thành lên và nay tập hợp thành một sức mạnh mới.

Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân đội ta tổ chức được hai đơn vị cấp sư đoàn. Về chức năng, nhiệm vụ, Sư đoàn 9 là một sư đoàn chủ lực cơ động của Bộ, nhưng ra đời và hoạt động ở chiến trường miền Đông, trực thuộc sự lãnh đạo và chỉ huy của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Sư đoàn 9 là con đẻ của nhân dân miền Đông, một sư đoàn chủ lực cơ động tại chỗ của chiến trường Đông Nam Bộ.


(1) Gai đoạn 1: ngăn chặn chiều hướng thua của quân ngụy.
(2) Hồ Chí Minh: Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội, 1970, tr. 362.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2019, 02:01:26 PM »

CHƯƠNG HAI
NHỮNG NĂM ĐÁNH MỸ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Quân Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam mùa hè năm 1965 là một bước ngoặt lớn trong chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Tàu chiến, máy bay vận tải cỡ lớn của Mỹ tới tấp đổ quân xuống các bến cảng, các sân bay. Lính Mỹ xuất hiện ngày càng nhiều trên các đường phố, các căn cứ, với đủ mặt các đơn vị lừng danh của quân đội Hoa Kỳ.

Trong lịch sử 200 năm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đây là một trong những lần Mỹ huy động lực lượng quân sự lớn nhất vào một cuộc chiến tranh ở ngoài nước Mỹ.

Quân Mỹ vào miền Nam nước ta làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường. Hỏa lực bom, pháo tăng lên đột ngột. Chiến sự diễn biến sôi động và ngày càng ác liệt. Quân ngụy có chỗ dựa trực tiếp là đội quân viễn chinh Mỹ, tạm thời vượt qua nguy cơ sụp đổ. Chúng lùi về giữ tuyến trong làm nhiệm vụ giữ địa bàn và hỗ trợ kế hoạch “bình định” nông thôn. Quân Mỹ là lực lượng cơ động, nhiệm vụ chính là mở các cuộc hành quân “tìm diệt” bộ đội chủ lực của ta.

Sau chiến thắng Đồng Xoài, khí thế chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta trên chiến trường miền Đông lên rất cao. Trên đà thắng lợi và phát triển quyền chủ động tiến công địch, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương mở chiến dịch tiến công địch ở khu vực Dầu Tiếng trong Đông Xuân 1965 – 1966 nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, hỗ trợ các lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ Dầu Một và vùng Bắc Sài Gòn mở rộng vùng giải phóng. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến dịch, các đơn vị đều phải sẵn sàng phương án, nếu quân Mỹ ra sẽ kịp thời chuyển sang đánh Mỹ.

Đầu tháng 10 năm 1965, trong khi đi chuẩn bị chiến trường, tổ trinh sát của Trung đoàn 2 chúng tôi do Lê Chiến Thắng chỉ huy bất ngờ gặp quân Mỹ đang càn quét ở khu vực Lai Khê. Với hai quả mìn ĐH10 và súng bộ binh, các chiến sĩ ta dũng cảm tiến công, diệt và làm bị thương gần một trung đội Mỹ rồi rút lui an toàn. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên của Sư đoàn 9.

Phát hiện nhiều đơn vị chủ lực ta hoạt động ở phía bắc, tây bắc Sài Gòn, tướng Oét-mo-len quyết định sử dụng sư đoàn 1 bộ binh “anh cả đỏ” mở cuộc hành quân “tìm diệt”.

Ngày 10 tháng 11 năm 1965, hai tiểu đoàn bộ binh tăng cường thuộc lữ đoàn 3 của sư đoàn này xuất phát từ Lai Khê, theo đường 13 hành quân lên phía bắc. Chiều hôm đó, một tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn thiết giáp, một đại đội pháo binh và sở chỉ huy nhẹ lữ đoàn đóng quân ở một bãi trống tây bắc “ấp chiến lược” Bàu Bàng. Một tiểu đoàn bộ binh và một chi đoàn xe thiết giáp đóng quân ở nam “ấp chiến lược” Đồng Sổ. Chúng đóng quân dã ngoại thành từng cụm, hình vòng, liên kết với nhau, được sự chi viện hỏa lực của các trận địa pháo binh và không quân. Mỗi cụm lấy cơ giới làm nòng cốt, tuyến ngoài có bộ binh làm nhiệm vụ cảnh giới; tuyến trung là các cụm nhỏ, kết hợp bộ binh và cơ giới. Nếu tuyến bộ binh bên ngoài bị chọc thủng, bộ binh ở tuyến trong sẽ dựa vào cơ giới và phát huy hỏa lực của cơ giới để chống lại ta. Ban ngày chúng phòng ngự tương đối rộng, ban đêm thu hẹp đội hình để giữ bí mật, bất ngờ và bảo vệ cho nhau. Cụm thứ nhất chuyển từ bắc xuống nam Bàu Bàng 200 mét. Cụm thứ hai chuyển từ nam lên bắc Đồng Sổ.

Lúc này, Trung đoàn 2 đang tiếp tục thực hiện kế hoạch chuẩn bị để đánh Dầu Tiếng. Trong phương án chiến đấu, Ban chỉ huy Trung đoàn đã dự kiến tình huống quân Mỹ nống ra đường 13, đường 16 và mở màn chiến dịch có thể là một trận tập kích hoặc phục kích quân Mỹ chứ không nhất thiết là trận tiến công quận lỵ Dầu Tiếng.

Sáng ngày 11 tháng 11, nhận được tin của trinh sát Trung đoàn 2 về cuộc hành quân của quân Mỹ, Đảng ủy và chỉ huy Sư đoàn 9 hạ quyết tâm sử dụng Trung đoàn 2, tăng cường Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, hai đại đội bộ binh Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 3 và phần lớn pháo, cối của sư đoàn vận động, tập kích tiêu diệt cụm quân địch ở bắc Bàu Bàng trong đêm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2019, 02:03:07 PM »

Chiều tối hôm đó, nghe trinh sát báo tin địch đã thay đổi lực lượng và thế bố trí. Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp bổ sung quyết tâm: dù địch có thay đổi vị trí nhưng di chuyển không xa, lực lượng địch đông (2 tiểu đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng), nhưng chúng đóng quân dã ngoại ở trảng trống, công sự sơ sài, có nhiều sơ hở. Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm quyết định sử dụng lực lượng toàn sư đoàn diệt cả hai cụm quân địch, dù sáng cũng đánh, kiên quyết dứt điểm.

24 giờ đêm 11 rạng ngày 12, Sư đoàn trưởng giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng giữa các đơn vị. Tình hình hết sức khẩn trương. Đơn vị ở xa mất bảy giờ, đơn vị ở gần địch cũng mất bốn giờ hành quân mới đến vị trí chiếm lĩnh. Bộ đội phải chạy bộ. Có đơn vị giao nhiệm vụ cho các tổ, mũi ngay trên đường hành quân, tranh thủ lúc nghỉ và lợi dụng ánh trăng, dùng que vẽ sơ đồ lên mặt đường để bàn phương án chiến đấu. Do phải hành quân gấp, phần lớn các ban chỉ huy trung đoàn không liên lạc được với tiểu đoàn của mình. Sư đoàn chỉ liên lạc được với Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1, nhưng tin vào nhiệm vụ đã giao cụ thể cho các đơn vị, quyết tâm chiến đấu rất cao của bộ đội và truyền thống hiệp đồng theo tiếng súng, Sư đoàn trưởng lệnh cho Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 nổ súng lúc 5 giờ 3 phút ngày 12 tháng 11. Nhận được lệnh mũi đột phá nhanh chóng vượt qua tuyến bộ binh phía ngoài, sau đó phát triển, diệt bộ binh và cơ giới ở tuyến trong.

Nghe tiếng súng của đơn vị bạn, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 đột phá qua đường 13, chia cắt cụm phía bắc với cụm phía nam của địch. Bị ta đánh bất ngờ, quân địch lúng túng, sau 30 phút mới tổ chức được hỏa lực và cơ giới chống trả. Từ các hướng, bộ đội ta nhanh chóng thọc sâu, chia cắt quân địch thành từng cụm nhỏ để tiêu diệt. Một trung đội của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1 đánh trúng sở chỉ huy địch. Mất chỉ huy, quân Mỹ trở nên rối loạn. Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 2 đánh cắt ngang cụm quân địch ở Đồng Sổ và Bàu Bàng rồi tỏa ra hai bên, bao vây, chia cắt, không cho địch dàn trận đánh theo kiểu chính quy. Kết hợp xung lực và hỏa lực diệt từng xe cơ giới, từng cụm nhỏ quân địch, tạo thế xen kẽ, đánh gần, hạn chế hỏa lực pháo binh và không quân địch, bộ đội ta nhanh chóng đẩy quân Mỹ vào thế bị động, dẫn đến tan vỡ từng mảng và bị tiêu diệt từng cụm. Trận đánh kết thúc lúc 8 giờ 40 phút ngày 12 tháng 11.

Hai tiểu đoàn, hai chi đoàn xe thiết giáp Mỹ (khoảng hơn 2.000 tên) bị loại khỏi vòng chiến đấu. Bộ đội ta phá hủy 39 xe (phần lớn là xe tăng, xe bọc thép), 8 khẩu pháo, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự. Sư đoàn 9 có 109 cán bộ chiến sĩ hy sinh, 200 đồng chí bị thương. Tỷ lệ thương vong là địch năm, ta một.

Sư đoàn bộ binh 1 “anh cả đỏ” Mỹ bị thua và thua lớn ngay trong trận đầu ra quân trên chiến trường Việt Nam. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Sài Gòn sử dụng sư đoàn này làm lực lượng đột kích mạnh với ý định tiêu diệt một đơn vị chủ lực Quân giải phóng để gây thanh thế, giành quyền chủ động ngay trong bước mở đầu mùa khô 1965-1966. Nhưng khi chúng tạm dừng, tổ chức đóng quân dã ngoại vể bảo vệ lực lượng trong đêm, chúng tôi đã đánh trước, giành quyền chủ động về phía mình, phát huy cách đánh vận động tập kích táo bạo, bất ngờ, chia cắt và đánh gần để hạn chế chỗ mạnh của quân Mỹ, đánh đòn tiêu diệt xuất sắc, một trận đánh phủ đầu, hạ uy thế của “quân lực Hoa Kỳ”.

Thắng lợi của trận đánh là kết quả của quá trình xây dựng quyết tâm đánh Mỹ, tạo nên sự nhất trí cao trong các đơn vị. Đây là kết quả tích lũy của quá trình giáo dục lòng yêu nước, chí căm thù giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Đồng thời là kết quả sự phân tích khoa học, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của quân Mỹ, phát huy dân chủ về quân sự, phát động cán bộ, chiến sĩ hiến kế diệt Mỹ. Do thời gian chuẩn bị cho một trận tập kích thường rất gấp, tôi nghĩ chỉ có một quá trình xây dựng thường xuyên, đến trước trận đánh cán bộ chỉ huy quán triệt thêm, bổ sung những yêu cầu mới thì có thể giành thắng lợi.



Họp mặt kỷ niệm 40 năm chiến thắng Bàu Bàng
Trong ảnh từ trái qua phải thứ hai Trương Văn Đàng
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8527


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2019, 02:05:05 PM »

Lần đầu tiên Sư đoàn 9 đánh đội hình cấp sư đoàn, và cũng là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân đội ta đánh tập trung quy mô sư đoàn. Qua trận này, sư đoàn tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm về tổ chức, chỉ huy chiến đấu, xây dựng tinh thần chủ động, tích cực tiến công tiêu diệt địch, phát huy cách đánh bất ngờ, thọc sâu, chia cắt, “bám thắt lưng địch mà diệt” trong chiến thuật vận động tập kích quân địch lâm thời phòng ngự ban đêm. Sau trận đánh, quyết tâm đánh Mỹ và niềm tin thắng Mỹ lên rất cao trong các đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đều khẳng định: với quyết tâm cao, tinh thần tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch và cách đánh thích hợp, sư đoàn hoàn toàn có khả năng tiêu diệt các đơn vị lớn quân Mỹ - ngụy có cơ giới và phi pháo chi viện.

Cùng với Vạn Tường, Plây Me, trận Bàu Bàng của Sư đoàn 9 là những chiến thắng lớn, mở đầu trang sử đánh Mỹ hào hùng của quân và dân ta trên chiến trường. Nó cổ vũ mạnh mẽ phong trào thi đua đánh giặc Mỹ xâm lược, góp phần khẳng định quyết tâm: Dám đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh Mỹ.

Mười ngày sau trận Bàu Bàng, ngày 21 tháng 11 năm 1965, phát hiện một đoàn xe cơ giới gồm hơn 300 chiếc của quân Mỹ đang hành quân trên đoạn đường từ Căm Xe đến Dầu Tiếng, Ban chỉ huy Trung đoàn 2 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 4 chúng tôi chặn đánh đoàn xe. Tôi giao nhiệm vụ cho Đại đội 1 chặn đầu, Đại đội 2 khóa đuôi.

Chúng tôi cho bộ đội cắt đường, xuyên rừng, vượt qua nhiều bãi bom B-52, chia cắt một khúc trong đoàn xe lớn của địch. Đại đội 1 bắn cháy một xe, chặn đầu. Đại đội 2 do Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ chỉ huy bắn cháy một chiếc khác, khóa đuôi. Một đoạn của đoàn xe bị ùn lại, nhân cơ hội đội hình xe của địch rối loạn, các chiến sĩ ta thi nhau dùng hỏa lực và thủ pháo vừa diệt xe địch vừa chặn đoàn xe đi sau đang tràn tới, tạo điều kiện cho đơn vị bạn diệt địch.

Sau khi phá hủy hơn 20 xe, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ, Tiểu đoàn 4 rút khỏi trận địa an toàn.

Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ được các chiến sĩ yêu mến, khân phục, tặng danh hiệu thứ ba: “Đại đội trưởng khóa đuôi”.

Trong khi đó, ở khu vực Dầu Tiếng, các cán bộ tham mưu, chiến sĩ trinh sát của sư đoàn vẫn kiên trì chuẩn bị các trận đánh quân ngụy theo kế hoạch.

Trung tuần tháng 11, trung đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy mở nhiều cuộc hành quân càn quét các làng 10, 18, 21, 22; tiếp đó càn vào các làng 2, 6, 14 nhằm thăm dò lực lượng ta, hỗ trợ bảo an, dân vệ giữ “ấp chiến lược”, bảo vệ các đường giao thông huyết mạch.

Ngày 21 tháng 11 năm 1965, Trung đoàn 3 vận động tập kích cụm quân ngụy ở làng 10, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bộ binh, phá hủy 26 xe quân sự (có 10 xe bọc thép M113).

Chiều ngày 26 tháng 11, được trinh sát báo tin quân ngụy đang ở làng 14, chỉ huy Trung đoàn 1 lập tức ra lệnh cho bộ đội xuất kích. Trên đường hành quân, phát hiện địch đã di chuyển đến làng 18, đóng quân dã ngoại ở gần làng 32, 33, chỉ huy trung đoàn nhanh chóng cho trinh sát bám sát tình hình, làm công tác chuẩn bị chiến đấu trong quá trình chiếm lĩnh trận địa. Tranh thủ lúc địch chủ quan, sơ hở, chưa củng cố công sự, trung đoàn quyết định tập trung toàn bộ lực lượng đánh nhanh, đánh mạnh tiêu diệt quân địch ngay trong đêm 26 rạng ngày 27 tháng 11 năm 1965.

Tiểu đoàn 2 đột kích hướng chủ yếu: Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 tiến công hai bên sườn và tạo thế bao vây chia cắt, không cho địch tháo chạy. Từ 5 giờ đến 12 giờ trưa ngày 27 tháng 11, trung đoàn 1 đã tiến công dũng mãnh, thực hiện chia cắt, đánh gần, tiêu diệt từng cụm quân địch; sau đó trụ lại dưới hỏa lực phi pháo ác liệt của chúng, đánh lui nhiều đợt phản xung phong của của địch, diệt 2 tiểu đoàn (1 và 3), tiêu hao nặng tiểu đoàn 4 và toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy.

Trận này ta diệt và bắt 1.200 tên, trong đó có tên trung tá trung đoàn trưởng, tên thiếu tá trung đoàn phó. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, một trung đoàn của ta diệt một trung đoàn chủ lực ngụy trong một trận chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM