Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:50:57 pm » |
|
ĐẨM DẠ TRẠCH, vùng đầm lầy ở xã Dạ Trạch, h. Khoái Châu. t. Hưng Yên ngày nay; nằm bên tả ngạn Sông Hồng, đông nam Hà Nội khoảng 30km. Nguyên có tên là đầm Nhất Dạ (có nguồn gốc từ truyền thuyết đầm hình thành trong một đêm sau khi Chứ Đồng Tử cùng lâu đài thành quách bay về trời). Lợi dụng địa hình hiểm trở, lau sậy rậm rạp, ở giữa có khu đất cao ráo, Triệu Quang Phục dùng ĐDT làm căn cứ chống quân xâm lược nhà Lương (547-550). Ban ngày nghĩa quân ẩn nấp trong đầm, ban đêm dùng thuyền độc mộc vượt đầm đi đánh giặc. Dân đương thời tôn gọi ông là Dạ Trạch Vương. Tkl9, ĐDT thuộc vùng căn cứ Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật. Hiện nay đầm đã bị phủ sa bồi lấp không còn dấu tích; chỉ còn lại gò đất cao (nơi có đền thờ Chử Đồng Tử. trong đền có bài vị thờ Triệu Việt Vương Quang Phục) ở thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch. ĐẦM MỰC, đầm nước thuộc địa phận làng Quỳnh Đô, tổng Cổ Điển, h. Thanh Trì, phủ Thường Tín, lộ Sơn Nam Thượng, trẫn Sơn Nam; nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh (tây bắc Ngọc Hồi, tây nam thị trấn Văn Điển), h. Thanh Trì, Hà Nội. Trong trận Ngọc Hồi - Đầm Mực (30.1.1789), tại cánh đồng gần ĐM, cánh quân Tây Sơn do dô dốc Bảo chỉ huy mai phục, chặn diệt gọn quân Thanh do Trương Triều Long chỉ huy ở Ngọc Hồi trên đường rút chạy về Thăng Long. ĐẤT QUỐC PHÒNG, đất chuyên dùng được nhà nước giao cho các đơn vị LLVT quân lí, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Nhà nước CHXHCN VN quy định ĐQP gồm các loại: đất đóng quân, căn cứ QS, công trình phòng thủ quốc gia, trận địa, công trình đặc biệt, ga QS, cảng QS, công trình công nghiệp, khoa học kĩ thuật phục vụ quốc phòng, quốc phòng kết hợp với làm kinh tế, kho tàng, trường bắn. thao trường, nhà trường, bệnh viện, trại an dưỡng... ĐẦU ĐẠN, phần viên đạn được bắn tới mục tiêu, dùng để tiêu diệt sinh lực, phá hủy các phương tiện kĩ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác (chiếu sáng, tạo khói, rải truyền đơn...). ĐĐ gồm: thân, vật nhồi và ngòi nổ. Thân làm bằng kim loại, chứa vật nhồi, liên kết các bộ phận và tạo mảnh. Vật nhồi thường là thuốc nổ, có thể là các loại thuốc khác (lượng nổ hạt nhân, hóa học, thuốc cháy, thuốc tạo khói, thuốc chiếu sáng...), hoặc các vật (mũi tên, các viên bi, đạn con, đạn ghém, truyền đơn...). Ngòi nổ được lắp trong hầu hết các loại ĐĐ (pháo, cối, phản lực, DKZ, tên lửa...). ĐĐ có thể là một khối kim loại đặc không nhồi thuốc. a. đầu đạn thường; b. đầu đạn vạch đường; c. đầu đạn xuyên cháy 1. lớp vỏ; 2. áo chỉ; 3. lõi; 4. cốc; 5. thành phần vạch đường; 6. thành phấn đốt cháy ĐẨU ĐẠN TÊN LỬA, phần chiến đấu của tên lửa, trực tiếp sát thương mục tiêu bằng năng lượng nổ và mảnh. Gồm: thân, vật nhồi, ngòi nổ và thiết bị an toàn. Thân chứa chất nhồi, liên kết các bộ phận của đầu đạn và tạo mảnh. Theo chất nhồi, có : ĐĐTL hạt nhân, ĐĐTL hóa học, ĐĐTL sinh học, ĐĐTL thông thường. Ngày nay ĐĐTL được hoàn thiện theo hướng: tăng uy lực, độ chính xác, độ tin cậy và khả năng điều khiển. Hiệu quả của ĐĐTL đặc trưng bằng vùng sát thương (bán kính sát thương).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:52:16 pm » |
|
ĐẦU HÀNG, chịu thua, chấm dứt kháng cự và tuân thủ mọi yêu cầu của đối phương. Theo quy mô, có: ĐH toàn bộ (một bên tham chiến), ĐH bộ phận (từng đơn vị, từng mặt trận) và ĐH cá nhân. Theo tính chất, có: ĐH vô điều kiện (chấp nhận ĐH không đưa ra đòi hỏi), ĐH có điều kiện (do một hoặc các bên đặt ra hoặc theo điều kiện thỏa thuận giữa các bên tham chiến). Bên ĐH không có quyền bình đẳng với bên chiến thắng, thông thường bên ĐH phải trao trả tù binh, giao nộp vũ khí, phương tiện KTQS, các căn cứ QS và tiềm lực vật chất có liên quan tới hoạt động QS cho đối phương. Sự ĐH của các nước Đức, Nhật trong CTTG-II (1945) và chính quyền Dương Văn Minh ở miền Nam VN (1975) là ĐH vô điều kiện.
ĐẦU MẨU, điểm dân cư tại km 24 QL 9, tây thị trấn Cam Lộ 10km, nay thuộc xã Cam Thành, h. Cam Lộ, t. Quáng Trị. Trong KCCM, QĐ Sài Gòn xây dựng căn cứ tại đây nhằm án ngữ QL 9 từ Đông Hà đi Khe Sanh do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 56 chốt giữ; bị Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 tiến công diệt gọn trong trận Đầu Mầu (31.3.1972).
ĐẦU MỐI GIAO THÔNG ĐƯỜNG KHÔNG, căn cứ sân bay lớn, thành phần của hệ thống giao thông vận tải đường không. Gồm tổ hợp các công trình và thiết bị bảo đảm, phục vụ cho việc theo dõi, chỉ huy, dẫn đường máy bay trong phạm vi vùng trời được phân công; kiểm tra, sửa chữa, bảo dưỡng kĩ thuật hàng không, vận chuyển hàng hóa, hành khách trên mặt đất... cho nhiều đường bay từ sân bay tới các sân bay khác ở trong nước, ngoài nước và ngược lại. Tùy theo tính chất, cấp độ sân bay, lưu lượng máy bay cất, hạ cánh, lưu lượng hành khách, hàng hóa vận chuyển hàng năm để xác định ĐMGTĐK: lớn, vừa, quan trọng. Ở VN, sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng là những ĐMGTĐK lớn.
ĐẨU MỐI LIÊN LẠC MẬT MÃ, vị trí triển khai lực lượng kĩ thuật mật mã để làm nhiệm vụ mã hóa các bức điện mật ở dạng chữ rõ và giải mã các bức điện đã được mã hóa. ĐMLLMM thường bố trí ở cơ quan tham mưu, SCH các cấp với các nhân viên và phương tiện kĩ thuật mật mã thích hợp. Có thể bố trí ĐMLLMM thường xuyên hoặc đột xuất, tăng cường tùy theo yêu cầu và nhiệm vụ tác chiến.
ĐẦU THÚ, tự ra trình diện, thú nhận và thành khẩn khai báo những hoạt động chống đối, hành vi phạm tội trước cơ quan (tổ chức) có thẩm quyền hoặc đối phương. ĐT có loại: phản bội do bất mãn, cầu an, chạy sang đối phương; cùng đường, không lối thoát; hối cải nhận ra sai lầm, tội lỗi; giác ngộ chính trị, thấy được chính nghĩa, tiến bộ... ĐT của loại phản bội thường được đối phương khai thác triệt để, gây nhiều tổn hại cho CM. Người ĐT về với chính nghĩa sẽ được CM, nhân dân khoan hổng. Điều 46 (điểm o và p), Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1999) quy định: người phạm tội tự thú hoặc thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
ĐẤU TRANH BẤT HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh của các lực lượng chính trị đối lập nằm ngoài khuôn khổ luật pháp nhà nước. Diễn ra trên các lĩnh vực: đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, đấu tranh kinh tế... Quá trình tiến hành không để chính quyền của giai cấp thống trị biết được ý đồ, kế hoạch, lực lượng, bảo đảm cuộc đấu tranh đạt được mục tiêu đề ra nhưng không bị đàn áp, khủng bố và tránh tổn thất lực lượng.
ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, 1) hình thức đấu tranh cơ bản và quan trọng nhất của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc (cùng với hai hình thức đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng)-, hình thức đấu tranh cao nhất của giai cấp vô sản trong xã hội TBCN nhằm giành chính quyền nhà nước; 2) phương pháp đấu tranh có tổ chức của đông đảo quần chúng nhân dân không vũ trang (bãi công, bãi chợ, bãi khóa, mít tinh, biểu tình thị uy...) chống lại chính quyền nhà nước nhằm những mục đích nhất định. Ở VN, trong KCCP và đặc biệt là KCCM ở miền Nam, ĐTCT được tiến hành với nhiều hình thức phong phú: hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp; kết hợp với đấu tranh vũ trang và cùng với đấu tranh vũ trang trở thành một trong hai hình thức bạo lực cơ bản có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của chiến tranh. Nét nổi bật của ĐTCT trong KCCM ở miền Nam là đã hình thành các đội quân chính trị với bộ phận xung kích là đội quân tóc dài.
ĐẤU TRANH CỦA CA THA TOOC VÀ VI XE NHU (1907-09), nổi dậy của nhân dân Campuchia ở t. Báttambang, Puốc Xát do Ca Tha Tooc và Vi Xe Nhu lãnh đạo chống thực dân Pháp. 7.1907 theo hiệp ước Pháp - Xiêm (23.3.1907), Pháp đem quân chiếm đóng các tỉnh Báttambang và Puổc Xát. Phía Ca Tha Tooc, tinh trưởng Báttambang sử dụng LLVT chống lại. Tiếp theo, Vi Xe Nhu, một viên quan khác cũng chiêu mộ nghĩa quân tiến hành khởi nghĩa. Phong trào có lúc lan rộng xuống vùng Côngpông Chàm, Côngpông Xpư. 1908 nghĩa quân hoạt động mạnh, bằng các cuộc phục kích quân Pháp, tiến công thị trấn Môngcônbôrây (nam Xixôphôn)... Đầu 1909 nhiều cuộc chiến đấu tiếp tục diễn ra ác liệt. Nghĩa quân thắng nhiều trận nhưng do lực lượng nhỏ. lại bị tiêu hao dần nên tan rã (khoảng giữa 1909). Cuộc nổi dậy đã gây cho thực dân Pháp những tổn thất nặng nề, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Campuchia những năm đầu tk 20.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:53:56 pm » |
|
ĐẤU TRANH CỦA ĐÔ DƯƠNG, CHƯ BÁ (43-44), đấu tranh của nhân dân Cửu Chân (nay là Thanh Hóa), dưới sự lãnh đạo của Đô Dương và Chu Bá chống quân xâm lược Đông Hán (TQ). Sau khi cuộc kháng chiến chống Đông Hán (42-43) thất bại, một bộ phận nghĩa quân do Đô Dương, Chu Bá chỉ huy rút vào Cửu Chân cùng các .thủ lĩnh và nhân dân địa phương tiếp tục chiến đấu. 11.43, tướng Đông Hán là Mã Viện đem quân chia hai đường thủy, bộ dọc theo lưu vực Sông Đáy, qua dãy Tam Điệp (t. Ninh Bình) tiến vào đánh dẹp. Các trận kịch chiến diễn ra ở Võ Công (nay thuộc nam Ninh Bình), Dư Phát và nhất là ở Cư Phong (nay thuộc Thanh Hóa). Tuy gây cho địch nhiều tổn thất nhưng do lực lượng ít, nghĩa quân bị Mã Viện đánh bại (hàng nghìn người bị giết, hàng trăm thủ lĩnh bị đày sang Linh Lăng TQ).
ĐẤU TRANH CỦA NHÂN DÂN PALEXTIN, đấu tranh chống Ixraen xâm lược và chiếm đóng, nhằm giành quyền tự quyết, thiết lập nhà nước Palextin có chủ quyền. Nghị quyết 181 (29.11.1947) của Đại hội đồng LHQ chia Palextin thành hai quốc gia độc lập Arập và Do Thái làm nảy sinh cuộc chiến tranh Ixraen - Arập (1948-49), dẫn đến hậu quả là Ixraen chiếm 6.700km2 đất đai của người Arập do LHQ quy định và 900.000 người Arập Palextin buộc phải rời bỏ tổ quốc, sống lưu vong. Trước hành động xâm lược, chiếm đóng của Ixraen, nhân dân Palextin được sự ủng hộ giúp đỡ trực tiếp của các nước Arập đã tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài vì các quyền dân tộc cơ bản của mình. 1958 phong trào Anphata, tiền thân của LLVT và là tổ chức CM đầu tiên của nhân dân Palextin ra đời. Tiếp đó, 5.1964 Tổ chức giải phóng Palextin (PLO) được thành lập do Yatxơ Araphat đứng đầu cùng phong trào Anphata phát động cuộc đấu tranh vũ trang chống xâm lược (1.1965) đã đưa cuộc kháng chiến của Palextin bước sang giai đoạn mới mà bước ngoặt quan trọng là cuộc nổi dậy của nhân dân Palextin ở các vùng bị chiếm đóng từ 1987. Ngày 15.11.1988 nhà nước Palextin tuyên bố thành lập, được hơn 100 nước trên thế giới công nhận. Trước sự phát triển của phong trào kháng chiến Palextin, 10.1991 chính phủ Ixraen buộc phải tiến hành đàm phán với các nước Arập để giải quyết tranh chấp. Sau mười một vòng đàm phán, hiệp định hòa bình được kí kết 13.9.1993 tại Oasinhtơn với việc Ixraen buộc phải trao quyền tự trị cho nhân dân Palextin ở dải Gada và tp Giêricô thuộc bờ tây sông Gioocđan, tạo bước đột phá tích cực để giải quyết vấn đề Palextin trong tiến trình dàn xếp hòa bình ở Trung Đông. Trên cơ sở đó, 20.1.1996 cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở Palextin được tiến hành bầu ra Hội đồng lập pháp (quốc hội) và Hội đồng hành pháp (nhà nước) Palextin do chủ tịch PLO Araphat làm tổng thống, chính thức khảng định quyền làm chủ của nhân dân Palextin trên đất nước của mình sau gần 50 năm bị Ixraen chiếm đóng.
ĐẤU TRANH ĐIỆN TỬ nh TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ
ĐẤU TRANH GIAI CẤP, đấu tranh giữa những giai cấp có lợi ích đối lập nhau, không thể điều hòa nhằm mục tiêu giành hoặc giữ quyền lực kinh tế và chính trị; một trong những động lực phát triển quan trọng nhất của các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp đối kháng. Lịch sử xã hội loài người đã diễn ra những cuộc ĐTGC giữa nô lệ với chủ nô, nông dân với địa chú, vô sản với tư sản. ĐTGC dẫn đến cách mạng xà hội. Trong xã hội TBCN, giai cấp vô sản liên minh với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp lao động khác tiến hành cuộc ĐTGC chống giai cấp tư sản dưới ba hình thức cơ bản: đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế và đấu tranh tư tướng, trong đó đấu tranh chính trị là hình thức đấu tranh cao nhất nhằm lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản, thiết lập nền thống trị của giai cấp vô sản, từng bước cải tạo xã hội cũ (TBCN), xây dựng xã hội mới (XHCN), tiến tới thủ tiêu giai cấp đối kháng. ĐTGC trong thời đại ngày nay đang diễn ra rất quyết liệt, phức tạp, đan xen với đấu tranh dân tộc, xung đột tôn giáo, đấu tranh ngăn ngừa những hiểm họa đe dọa sự sống còn của toàn nhân loại. ĐTGC giữ vai trò định hướng chính trị và quyết định tính chất các cuộc đấu tranh của thời đại.
ĐẤU TRANH GIÀNH TỰ CHỦ CỦA KHÚC THỪA DỤ (905-06), đấu tranh của người Việt ở Giao Châu (VN) do Khúc Thừa Dụ lãnh đạo chống ách đô hộ nhà Đường (TQ). Khoảng giữa 905, nhân lúc triều đại phong kiến nhà Đường ở chính quốc sắp tiêu vong, chính quyền đô hộ ở Giao Châu hoang mang, bất lực, không còn người cẩm đầu (tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị cách chức), Khúc Thừa Dụ - một hào trường ở Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương) được nhân dân ủng hộ, nhanh chóng tập hợp lực lượng đánh đuổi quân đô hộ, chiếm thành Đại La (nay là Hà Nội), tự xưng tiết độ sứ nắm quyền cai quản đất nước. Trước sự việc đó, 7.2.906 nhà Đường buộc phải công nhận và phong Khúc Thừa Dụ làm tĩnh hải quân tiết độ sứ đồng bình chương sự, về cơ bản chấm dứt ách thống trị hơn một nghìn năm của các triều đại phong kiến nước ngoài đối với nước ta.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:55:37 pm » |
|
ĐẤU TRANH HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh trong khuôn khổ luật pháp nhà nước. ĐTHP thường diễn ra ôn hòa. được tiến hành công khai bằng các hình thức: mít tinh, biểu tình, bãi công, đình công, bãi thị, bãi khóa, đấu tranh nghị trường, tranh luận trên các phương tiện thông tin đại chúng... hoặc kết hợp các hình thức để tạo ra sức mạnh tổng hợp; nhằm thực hiện từng phần hoặc toàn bộ mục tiêu chiến lược của cuộc đấu tranh.
ĐẤU TRANH KINH TẾ, hình thức cơ bản của đấu tranh giai cấp vì lợi ích kinh tế của các giai cấp, các tập đoàn xã hội, các khối kinh tế, các quốc gia. ĐTKT trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh nhằm duy trì và phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo các nguồn lực cho chiến tranh, hạn chế đến mức thấp nhất sự phá hoại về kinh tế của đối phương, đồng thời kiềm chế, gây tổn hại, làm suy yếu kinh tế đối phương. ĐTKT khác với chiến tranh kinh tế và cạnh tranh kinh tế trong nền kinh tế thị trường.
ĐẤU TRANH KINH TẾ TRONG CHIẾN TRANH, đấu tranh nhằm duy trì và phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm nhu cầu vật chất cho chiến tranh, kiềm chế và làm suy yếu nền kinh tế của đối phương. ĐTKTTCT gồm nhiều biện pháp gắn liền với đấu tranh QS, chính trị, tư tưởng, ngoại giao,... trong đó đấu tranh vũ trang làm suy yếu tiềm lực kinh tế của đối phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
ĐẤU TRANH NỬA HỢP PHÁP, phương pháp đấu tranh của các lực lượng chính trị đối lập được tiến hành không công khai hoàn toàn trong khuôn khổ luật pháp nhà nước. ĐTNHP thường sử dụng các phương tiện thõng tin đại chúng, nghị trường, các hoạt động tuyên truyền, hội thảo, kiến nghị... với nội dung chủ yếu đòi dân sinh, dân chủ... nhằm vận động, giáo dục, tập hợp và tập dượt lực lượng. Quá trình tổ chức ĐTNHP phải lựa chọn hình thức và khẩu hiệu đấu tranh hợp lí, có chừng mực, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng rút vào hoạt động bí mật, chống bị đàn áp, khủng bố.
ĐẤU TRANH QUÂN SỰ, hình thức dấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc có sử dụng lực lượng QS và biện pháp QS. Thời bình ĐTQS thể hiện ở việc xây dựng thực lực quân sự đủ mạnh, đồng thời tăng cường củng cố tiềm lực quân sự, tiềm lực quốc phòng, tạo thế bố trí chiến lược về kinh tế và quốc phòng để giành ưu thế QS và quyền chủ động trong mọi tình huống. Thời chiến ĐTQS được tiến hành kết hợp với các hình thức đấu tranh khác (chính trị, kinh tế, ngoại giao, tâm lí...) tạo thành sức mạnh tổng hợp để chiến thắng đối phương.
ĐẤU TRANH SAU PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG, phong trào đấu tranh của nhân dân VN chống Pháp trong những năm cuối tk 19. Sau khi phong trào Cần Vương (1885- 95) thất bại, nhìn chung trên cả nước không còn những cuộc khởi nghĩa lớn như trước, nhưng nhân dân nhiều nơi dưới sự lãnh đạo của các văn thân yêu nước vẫn tiếp tục đấu tranh chống chính sách bình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Bên cạnh hoạt động vũ trang của nghĩa quân Đề Thám (x. khởi nghĩa Yên Thế 1884-1913) và các nhóm nghĩa quân ở vùng núi phía bắc, có ba cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của Võ Trứ và Trần Cao Vân ở Bình Định, Phú Yên (1898), Kì Đồng và Mạc Đĩnh Phúc ở vùng duyên hải Bắc Kì (x. khởi nghĩa Mạc Đình Phúc - Kì Đồng, 1897), Vương Quốc Chính ở Sơn Tây, Hà Đông (x. khởi nghĩa Vương Quốc Chính, 1898); ở Nam Kì cũng xuất hiện phong trào đạo Ông Trần tại Bà Rịa, các tổ chức Thiên Địa hội tại lục tỉnh... Nét đáng chú ý của phong trào thời kì này là những người lãnh đạo đều dựa vào mê tín, tôn giáo để thu hút lực lượng yêu nước nên nhanh chóng bị dập tắt. ĐTSPTCV tuy là phong trào tự phát của nhân dân, nhưng đã để lại những bài học kinh nghiệm cho lớp người sau tìm đường đấu tranh cứu nước.
ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, hình thức đấu tranh cơ bản của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng và đời sống tinh thần nhằm bảo vệ hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, loại bỏ hệ tư tưởng đối lập (hoặc ngược lại). ĐTTT xuất hiện từ khi xã hội có giai cấp đối kháng và mang tính giai cấp sâu sắc. Thời đại hiện nay, ĐTTT chủ yếu diễn ra giữa hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản.
ĐẤU TRANH VŨ TRANG, hình thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc bằng sử dụng LLVT và biện pháp QS nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định; hình thức đặc trưng của chiến tranh, giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc tiêu diệt lực lượng QS của đối phương. Ở VN trong KCCP và KCCM, ĐTVT và đấu tranh chính trị là hai hình thức cơ bản của bạo lực CM, được kết hợp chặt chẽ với nhau; đi đôi với nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng QS của địch, ĐTVT còn có nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ dân, giành dân, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chính trị và nổi dậy giành quyền làm chủ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:57:11 pm » |
|
ĐÈN RÙA, đèn điện gắn trong hộp hạn chế ánh sáng, có hình khum như mu rùa, lắp ở phía trước xe vận tải, để chiếu sáng đường, tránh máy bay địch phát hiện. ĐR thường chỉ có vùng ánh sáng 5-10m trước đầu xe, bảo đảm cho xe chạy tốc độ chậm. ĐR có trong KCCP và sử dụng rộng rãi trong KCCM.
ĐENTA (A. Delta), lớp tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đường đạn chiến lược của LX, gồm 43 chiếc (18 Đ-I, 4 Đ-II, 14 Đ-III, 7 Đ-IV). Hạ thủy 1972-90. Tính năng từ Đ-I tới Đ-IV: lượng choán nước nổi 8.700, 9.700, 10.000, 10.750t; lượng choán nước ngầm: 10.200, 11.300, 11.700, 12.150t; kích thước 140 (155,160,166) X 12 X 8,7m; thiết bị động lực: 2 lò phản ứng hạt nhân tổng công suất 160MW, 2 tuabin tổng công suất 27,5MW, 2 chân vịt; tốc độ đi ngầm 24-25 hải lí/h (45km/h), đi nổi 19 hải lí/h (35km/h); độ lặn sâu 300m; quân số 120-130. Trang bị tên lửa: Đ-I mang 12 và Đ-II mang 16 tên lửa SS-N-8 (hai tầng, nhiên liệu lỏng, dẫn đường quán tính thiên văn, sai số trúng đích 400m, có hai kiểu: Mod 1 - tầm 7.800km, đầu đạn hạt nhân l,2Mt, Mod 2 - tẩm 9.100km. mang 2 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu 800kt); Đ-III mang 16 tên lửa SS-N-18, hai tầng, nhiên liệu lỏng, dẫn đường quân tính thiên văn, sai số trúng đích 900m, có ba kiểu: Mod 1 (tầm 6.500km, mang 3 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu 200kt), Mod 2 (tầm 8.000km, mang đầu đạn 450kt), Mod 3 (tầm 6.500km, mang 7 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu l00kt). Đ-IV mang 16 tên lửa SS-N-23, ba tầng nhiên liệu lỏng, dẫn đường quân tính thiên văn, sai số trúng đích 500m, tầm 8.300km, mang 10 đầu đạn tự tìm mục tiêu, mỗi đầu l00kt. Trang bị ngư lôi : từ Đ-I đến Đ-III có 6 ống phóng với 18 ngư lôi kiểu 53 (tự dẫn, tầm phóng 20km với tốc độ 45 hải lí/h, đầu đạn 400kg hoặc hạt nhân công suất nhỏ), Đ-IV có 4 ống phóng 533mm và 2 ống phóng 650mm với 18 ngư lôi kiểu 53 và 65 (tự dẫn, tầm phóng 50km với tốc độ 50 hải lí/h (92km/h), đầu đạn 900kg hoặc hạt nhân công suất nhò). Đ hiện thuộc hải quân Nga (4 chiếc Đ-I đã bị loại khỏi trang bị trong năm 1992-93).
ĐÈO, nơi đường bộ vượt qua một dãy núi hoặc hệ núi; thường là nơi tương đối thấp và thuận tiện cho việc làm đường như các yên ngựa, sườn dốc của dãy núi. Độ dài. độ dốc và độ cao của Đ phụ thuộc điều kiện địa hình cụ thể tại chỗ vượt. Các Đ lớn có thể dài hàng chục kilômét (đèo Lũng Lô trên đường 379 vượt dãy Hoàng Liên Sơn giữa Yên Bái và Sơn La dài 15km, Đ Hải Vân trên QL 1 qua dãy Bạch Mã giữa Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng dài 21km), cao hàng trăm đến hàng nghìn mét (Đ qua dãy Himalaya có độ cao gần 6.000m). Đường Đ thường hiểm trở, quanh co, khúc khuỷu. Khi lập kế hoạch, tổ chức và thực hành tác chiến ở vùng núi, cần đặc biệt chú ý đặc điểm của các Đ phải vượt qua.
ĐÈO AN KHÊ, đèo trên QL 19 (Quy Nhơn, t. Bình Định - cửa khẩu Lệ Thanh, t. Gia Lai), vượt qua dãy Trường Sơn tại ranh giới giữa tx An Khê (t. Gia Lai) và h. Tây Sơn (t. Bình Định), đông thị trấn An Khê cũ 13km. Dài 8km (km59- km67), độ dốc 8%, hai bên là núi cao, địa hình trống trải, nhiều cua gấp.
ĐÈO BÔNG LAU, đèo trên QL 4A (Đồng Đăng - Cao Bằng), dài 9km (km 56-km 65), qua các núi Pha Bon và Khau Piao. thuộc địa phận các xã Chi Lăng, Tri Phương và Chí Minh, h. Tràng Định. t. Lạng Sơn (cg đèo Lũng Phầy). Trong KCCP, tại đây diễn ra nhiều trận phục kích các đoàn xe QS Pháp từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, tiêu biểu là trận Bông Lau - Lũng Phầy (25.4.1949) của Tiểu đoàn 23 bộ đội chủ lực (Tiểu đoàn Lũng Phầy) phối hợp với 3 tiểu đoàn bộ binh Liên khu I và trận Lũng Phày (3.9.1949) của Trung đoàn bộ binh 174.
ĐÈO CẢ (đèo Đại Lãnh), đèo trên QL 1, vượt qua dãy núi Đại Lãnh (cg dãy Vọng Phu, một nhánh của dãy Trường Sơn nhô ra Biển Đông), ranh giới hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà, nam tx Tuy Hoà 29km. Dài llkm(km 1.358-km 1.369), độ dốc 9%, cao 333m, vách taluy cao, nhiều vòng cua hẹp. Mặt đường đèo rộng 8m. rải bê tông nhựa. Dưới chân đèo là Vũng Rô.
ĐÈO CÙ MÔNG, đèo trên QL 1, tại ranh giới hai tỉnh Bình Định, Phú Yên. Dài 6km (km 1.243-km 1.249), độ cao đỉnh đèo 245m, độ dốc 9%. Đường dốc, nhiều cua gấp, hai bên là núi cao, dễ gây ra tai nạn giao thông.
ĐÈO HẢI VÀN X. HẢI VÂN
ĐÈO LŨNG LÔ, đèo trên QL 37 (đường 379 cũ) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (t. Yên Bái) và Phù Yên (t. Sơn La), đông bắc thị trấn Phù Yên 33km. Dài 15km (km 349-km 364), độ dốc 10%. Trong KCCP, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954) qua đèo này.
ĐÈO MÃ PHỤC, đèo ở h. Hà Quảng, t. Cao Bằng, trên QL 3, đông bắc tx Cao Bằng 22km. dài 4km (từ km 292 đến km 296), độ dốc 9%, mặt đường rộng 4-4,5m rải nhựa, hai bên là rừng núi cao.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 06:59:00 pm » |
|
ĐÈO MAĐRẮC (M’ Đrắc, Phượng Hoàng), đèo trên QL 26, tại ranh giới hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hoà. Dài llkm (km 25-km 36), cao 560m, độ dốc 7-10%. Đường núi nhấp nhô. vách taluy cao, vực sâu, đường nhiều cua hẹp. 29.3-1.4.1975, Sư đoàn 10 QGP Tây Nguyên được tăng cường xe tăng và pháo binh, tiến công Lữ đoàn dù 3 QĐ Sài Gòn chốt ở khu vực đèo, diệt và bắt làm tù binh 3.800 quân, thu 24 pháo 105 và 155mm, 84 xe QS và nhiều vũ khí trang bị khác (xt trận đèo Mađrắc, 29.3-1.4.1975).
ĐÈO MANG GIANG, đèo trên QL 19 (Quy Nhơn, t. Bình Định - cửa khẩu Lệ Thanh, t. Gia Lai), thuộc địa phận h. Mang Yang, t. Gia Lai, đông Plây Cu 55km. Dài 5km (km 108-km 113), độ dốc 7%. Tháng 6.1954 ở đông ĐMG diễn ra trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100 của quân Pháp.
ĐÈO MÈO VẠC, đèo trên QL 4C, ở tây bắc huyện lị Mèo Vạc, t. Hà Giang 2km. Dài 2km (km 164-km 166), có 5 tầng dốc, độ dốc 9-10%. Mùa mưa đi lại khó khăn.
ĐÈO MỤ GIẠ, đèo trên QL 12A, thuộc h. Tuyên Hóa, t. Quảng Bình, sát biên giới Việt - Lào, trong hệ thống núi Giăng Màn thuộc dãy Trường Sơn. Nằm trên trục đường quan trọng của hệ thống Đường mòn Hồ Chí Minh trong KCCM, trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mĩ. Bị máy bay B-52 ném bom rải thảm nhiều lần nhưng vẫn bảo đảm giao thông thông suốt.
ĐÈO NGANG, đèo trên QL 1, vượt qua dãy Hoành Sơn, tại ranh giới hai tinh Hà Tĩnh, Quảng Bình. Dài 2km (km 594- km 596), độ cao đỉnh đèo 256m, độ dốc 8-9%. Đường đèo quanh co, vòng cua hẹp, vách taluy cao. Tk 17, các chúa Trịnh cho xây dựng trên ĐN nhiều công trình phòng thủ. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), nhà Nguyễn xây dựng Hoành Sơn Quan, hiện còn di tích trên đỉnh đèo.
ĐÈO NHÔNG, đèo trên QL 1, thuộc h. Phù Mĩ. t. Bình Định, bắc huyện lị Phù Mĩ 7km. Tại ĐN, trong KCCP đã diễn ra trận Đèo Nhông (7-8.2.1965) của Trung đoàn 2 Quân khu 5 vào 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe thiết giáp MI 13 QĐ Sài Gòn, diệt hơn 600 địch, phá hủy 10 xe M113.
ĐÈO PHA DIN X. PHA ĐIN
ĐỂ BẠT, cử giữ chức vụ cao hơn hoặc phong, thăng quân hàm đối với cán bộ, công chức hoặc quân nhân... Người được ĐB phải có đủ các điều kiện quy định trong các văn bản pháp quy; được thực hiện theo một quy định chung đối với QĐ thực hiện theo Luật sĩ quan QĐNDVN và phân cấp của Đảng ủy QS trung ương (trừ những cấp thuộc thẩm quyền của chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ).
“ĐỂ CƯONG CÁCH MẠNG MlỂN NAM”, văn kiện do Lê Duẩn soạn thảo 8.1956, xác định những vấn đề cơ bản về đường lối và phương pháp tiến hành CM ở miền Nam trong những năm đầu KCCM. Nội dung cơ bản: khẳng định đối tượng của CM là đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm (do Mĩ dựng lên); nhiệm vụ của CM cả nước là củng cố vững chắc miền Bắc, đẩy mạnh đấu tranh CM ở miền Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thể giới, hoàn thành CM DTDC, thống nhất đất nước, tiến lên CNXH, trong đó CM miền Bác là cơ sở, CM miền Nam là bộ phận của CM cả nước. Đối với CM miền Nam, đề cương chi rõ phải bằng con đường CM, thực hiện nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, phong kiến, thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân, cùng miền Bắc xây dựng một nước VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ; về phương pháp, phải dựa vào sức mạnh quần chúng, tập hợp lực lượng, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang. Ngoài ra, “ĐCCMMN” cũng nêu lên những bài học kinh nghiệm chủ yếu của cách mạng tháng Tám 1945 vận dụng vào CM miền Nam, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng và Mặt trận dân tộc thống nhất. “ĐCCMMN” có ý nghĩa lớn, góp phần trực tiếp hướng dẫn phong trào CM miền Nam vượt qua khó khăn trong những năm đầu chống Mĩ, làm cơ sở cho BCHTƯ ĐLĐ VN (khóa II) ra nghị quyết Trung ương XV (1.1959) lãnh đạo CM miền Nam.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG CÔNG BINH trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm công binh với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tám tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chúng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm công binh (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); khả năng chiến đấu (bảo đảm) của đơn vị công binh trong biên chế và táng cường; nhiệm vụ bảo đảm công binh; dự kiến sử dụng lực lượng (lực lượng bảo đảm công binh cho cấp mình, lực lượng tăng cường, lực lượng dự bị và hướng sử dụng); biện pháp bảo đảm công binh; thời gian tiến hành; những kiến nghị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 07:05:43 pm » |
|
ĐỀ ĐẠT SỬ DỤNG HẢI QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện hải quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến hoặc để hiệp đồng tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chùng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung ĐĐSDHQ gồm: kết luận về đánh giá tình hình có liên quan đến hải quân (địch, ta, thời tiết, khí tượng - thủy văn); nhiệm vụ của hải quân (khu vực tác chiến chủ yếu, bổ trợ; trinh sát nắm tình hình trên biển; đối tượng, mục tiêu tiến công); tổ chức và bố trí lực lượng; tổ chức các đòn đột kích hỏa lực (pháo, tên lửa bờ biển, tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu pháo) và các hành động tác chiến khác; nhiệm vụ thả thủy lôi; các biện pháp bảo đảm.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HÓA HỌC trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm hóa học với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm hóa học
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HẢI QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện hải quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến hoặc để hiệp đồng tác chiến; được tiến hành sau khi ngưctì chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung ĐĐSDHQ gồm: kết luận về đánh giá tình hình có liên quan đến hải quân (địch, ta, thời tiết, khí tượng - thủy văn); nhiệm vụ của hải quân (khu vực tác chiến chủ yếu, bổ trợ; trinh sát nắm tình hình trên biển; đối tượng, mục tiêu tiến công); tổ chức và bố trí lực lượng; tổ chức các đòn đột kích hỏa lực (pháo, tên lửa bờ biển, tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu pháo) và các hành động tác chiến khác: nhiệm vụ thá thủy lôi; các biện pháp bảo đảm.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG HÓA HỌC trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm hóa học với người chỉ huy binh chùng hợp thành về những nội dung cần thiết dê làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình liên quan đến bảo đảm hóa học (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); nhiệm vụ và các biện pháp bảo đảm hóa học chủ yếu (dự đoán và dự toán khả năng địch tập kích hóa học, tổ chức quan sát, trinh sát, thông báo, báo động hóa học, bảo đảm trang bị khí tài phòng hóa, khắc phục hậu quả hóa học, sử dụng vũ khí khói, lửa); tổ chức, sử dụng, bố trí lực lượng hóa học; cấp phát khí tài phòng hóa; thông tin liên lạc thông báo, báo động hóa học; những kiến nghị.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG KHÔNG QUÂN trong tác chiến, báo cáo của đại diện không quân với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá kết luận không quân dịch, không quân ta, địa hình, thời tiết có liên quan; dề nghị nhiệm vụ không quân và sù dụng lực lượng vào các nhiệm vụ cụ thể; tổ chức chỉ huy và hiệp đồng; một số biện pháp bảo đảm chủ yếu; thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG PHÁO BINH trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm pháo binh với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: đánh giá tình hình có liên quan đến sử dụng pháo binh (địch, ta, địa phương, địa hình, thời tiết, kết luận về thuận lợi, khó khăn); nhiệm vụ pháo binh; dự kiến tổ chức và bố trí lực lượng pháo binh; tổ chức hỏa lực pháo binh; dự kiến thời gian cơ động chiếm lĩnh, di chuyển pháo binh; dự kiến phân chia đạn; những biện pháp chủ yếu về chỉ huy, bảo đảm; những kiến nghị.
ĐỂ ĐẠT SỬ DỤNG PHÒNG KHÔNG trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm phòng không với người chỉ huy binh chủng hợp thành về những nội dung cần thiết để làm cơ sở hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung gồm: khả năng hoạt động của không quân địch (lực lượng máy bay địch có thể huy động, khả năng xuất kích trong ngày, máy bay chiến thuật đánh nhỏ lẻ và trinh sát, hướng chủ yếu bay vào đánh phá, lực lượng và khu vực đổ bộ đường không, thủ đoạn đánh phá chủ yếu); khả năng phòng không (lực lượng, trình độ, hiệu quả chiến đấu, kết luận) của ta; ý định sử dụng lực lượng phòng không (nhiệm vụ, mục tiêu phòng không cần tập trung bảo vệ, sử dụng lực lượng, chỉ đạo phòng không cấp dưới và địa phương, tổ chức chỉ huy); những kiến nghị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 07:08:44 pm » |
|
ĐỀ ĐẠT SỬ DỤNG TĂNG THIẾT GIÁP trong tác chiến, báo cáo của chủ nhiệm tăng thiết giáp với người chỉ huy binh chủng hợp thành về nội dung cần thiết để làm cơ sở cho người chỉ huy hạ quyết tâm tác chiến; được tiến hành sau khi người chỉ huy binh chủng hợp thành công bố ý định tác chiến. Nội dung: đánh giá tình hình địch có liên quan đến sử dụng tăng thiết giáp (lực lượng tăng thiết giáp và vũ khí chống tăng); lực lượng tăng thiết giáp hiện có, chất lượng, trình độ kĩ - chiến thuật, tổ chức biên chế, khả năng chiến đấu ; địa hình, thời tiết; thuận lợi, khó khăn; ý định sử dụng tăng thiết giáp (hướng, khu vực, cách đánh, tổ chức, sử dụng và bố trí lực lượng, tổ chức trận địa; chuẩn bị và bảo đảm cho tăng thiết giáp chiến đấu; những kiến nghị.
ĐỀ ĐỐC (cổ), 1) chức quan võ cấp cao trong QĐ một số triều đại phong kiến VN. Được đặt ra từ thời Hậu Lê (1428- 1788), dưới đô đốc; để phong cho những võ tướng có công lớn; phẩm trật ở hàng chánh nhị phẩm. Dưới triều Nguyễn (1802-1945), ĐĐ là chức quan quản lí việc binh ở kinh đô, tỉnh lớn hoặc lực lượng thủy quân ở kinh đô. Ở kinh đô, ĐĐ kiêm chỉ huy lực lượng bảo vệ kinh thành nên còn gọi là kinh thành ĐĐ (phẩm trật hàng tòng nhị phẩm); Ở các tỉnh lớn như Gia Định, Hà Nội, An Giang... ĐĐ (chánh tam phẩm) cùng với tổng đốc (quan dầu tỉnh) chịu trách nhiệm về những việc binh hệ trọng trong tỉnh; ĐĐ chỉ huy lực lượng thủy quân gọi là ĐĐ thủy quân (chánh nhị phẩm); 2) bậc quân hàm sĩ quan hải quân cấp cao trong QĐ Sài Gòn tương đương thiếu tướng trong lục quân, không quân, thường giữ chức vụ tư lệnh hoặc phó tư lệnh hải quân.
ĐỀ LĨNH (cổ), chức quan chỉ huy quân tứ sương thời Hậu Lê. Được đặt ra từ 1510 (đời vua Lê Tương Dực, năm Hồng Thuận thứ 1). Có chức chưởng ĐL, đồng ĐL, phó ĐL, đều là võ quan ở hàng chánh nhị phẩm và tòng nhị phẩm. Đến thời Trung Hưng (từ vua Lê Trang Tông đến vua Lê Chiêu Thống, 1533-1788) đồng ĐL được trao cho quan văn, coi việc quân bốn mặt thành cùng với chưởng ĐL. 1703-12, chức ĐL không chỉ giới hạn trong việc chỉ huy quân tứ sương canh gác thành mà có thể kiêm coi việc trấn thủ các thành khác.
ĐỀ MỤC HUẤN LUYỆN, gọi chung những phần nội dung của khoa mục huấn luyện trong chương trình huấn luyện. Vd: khoa mục huấn luyện điều lệnh được chia thành các ĐMHL: điều lệnh quản lí bộ đội, điều lệnh đội ngũ... và được tổ chức huấn luyện cơ bản theo trình tự.
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, đối tượng cần khảo sát, tổng hợp tìm ra những tính chất, quy luật mới và đề xuất các giải pháp hữu ích hoặc khái quát thành lí luận để hoàn thiện nhận thức, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con người. Có thể là một công trình độc lập hoặc là thành phần của chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ. Tên của ĐTNCKHCN phải ngắn gọn và làm rõ đối tượng nghiên cứu. ĐTNCKHCN do một người hoặc một nhóm người thực hiện.
ĐỆ TỨ CHIẾN KHU nh CHIẾN KHU ĐÔNG TRlỂU
ĐỂN BÙ THIỆT HẠI CHIẾN TRANH, thanh toán tổn thất chiến tranh do nước tiến hành chiến tranh xâm lược gây ra đối với nước bị xâm lược bằng tiền hoặc giá trị vât chất tương xứng. Mức độ ĐBTHCT có thể là toàn bộ hoặc một phần giá trị thiệt hại vật chất trong chiến tranh được xác định trong các điều ước quốc tế. Hiệp ước hòa bình Vecxây (1919) quy định nước Đức phải ĐBTHCT cho các nước chiến thắng mọi thiệt hại do cuộc xâm lược của họ gây ra trong CTTG-I. Trách nhiệm ĐBTHCT do phát xít Đức gây ra trong CTTG-II được quy định tại hội nghị Crưm (4-11.2.1945) và hội nghị Pôtxđam (17.7-2.8.1945). Tại điều 21 chương 8 của hiệp định Pari 1973 về Việt Nam, Mĩ cam kết sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở VN và toàn Đông Dương, nhưng đến nay Mĩ vẫn chưa thực hiện cam kết đó.
ĐỂN ƠN ĐÁP NGHĨA, phong trào toàn dân VN chăm sóc, giúp đỡ người có công với sự nghiệp CM giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Khởi đầu từ tp Hồ Chí Minh sau thắng lợi của cuộc KCCM, đến cuối những năm 80 (tk 20) trở thành phong trào của cả nước. Được thể chế hóa bằng: pháp lệnh “ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” do ủy ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN ban hành 29.8.1994; các nghị định của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách ưu đãi đối với người hoạt động CM, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ CM; Điều lệ xây dựng và quản lí Quỹ ĐƠĐN. Các cơ quan, đơn vị kinh tế, các đoàn thể, tổ chức xã hội và cá nhân trong cả nước đã tận tình tham gia phong trào ĐƠĐN. 100% Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng... Phong trào đã phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tăng cường đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 07:10:20 pm » |
|
ĐI QUA KHÔNG GÂY HẠI TRONG LÃNH HẢI, người hoặc phương tiện (tàu, thuyền) của nước ngoài đi qua lãnh hải một nước nhưng không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia đó. Các hành động được coi là đi qua gây hại trong lãnh hải khi: đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực và những hành động khác trái với hiến chương Liên hợp quốc để chống lại độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; luyện tập, diễn tập QS; thu thập tình báo, tuyên truyền phương hại đến quốc phòng, an ninh; phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện QS; xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái pháp luật và quy định về hải quan, thuế, y tế và nhập cư; cố ý gây ô nhiêm nghiêm trọng; đánh bắt hải sản; nghiên cứu, đo đạc; làm rối loạn hoạt động của các hệ thống giao thông, liên lạc, trang thiết bị hay công trình khác... và các hoạt động khác không liên quan trực tiếp đến việc đi qua. Tàu, thuyền của tất cả các quốc gia có biển hoặc không có biển đều được hưởng quyền ĐQKGHTLH. Khi thực hiện ĐQKGHTLH, các tàu ngầm và phương tiện đi ngầm của nước ngoài phải đi nổi và treo cờ quốc gia, tàu, thuyền có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở các chất phóng xạ, các chất vốn nguy hiểm hay độc hại phải mang đầy đủ tài liệu và áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của điều ước quốc tế hoặc bắt buộc đi theo các tuyến đường quy định. Quốc gia có lãnh hải, khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể phân chia, bố trí các tuyến đường, luồng giao thông trong lãnh hải, đồng thời ghi rõ lên hải đồ và công bố để các tàu, thuyền nước ngoài tuân thủ; định ra các luật và quy định phù hợp liên quan đến quyền ĐQKGHTLH; thi hành các biện pháp cần thiết để ngăn cản hành vi đi qua có gây hại; không cản trở quyền ĐQKGHTLH; trường hợp cần thiết (bảo đảm an ninh, thử vũ khí, diễn tập QS...) có thể tạm thời đình chỉ thực hiện quyền ĐQKGHTLH tại một số khu vực; thông báo mọi nguy hiểm về hàng hải cho tàu, thuyền nước ngoài.
ĐĨA BAY nh VẬT THỂ BAY KHÔNG XÁC ĐỊNH
ĐỊA BÀN* X. LA BÀN TỪ
ĐỊA BÀN**, khu vực địa lí xác định đối với một hoạt động nào đó, vd: ĐB chiến dịch, ĐB đóng quân, ĐB dân cư...
ĐỊA BÀN TÁC CHIẾN, địa bàn** diễn ra các hoạt động tác chiến của lực lượng các bèn tham chiến. Theo quy mô tác chiến, có ĐBTC: chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Địa bàn chiến lược là một bộ phận của chiến trường có bố trí các cụm LLVT, có các mục tiêu chiến lược quan trọng, các trung tâm kinh tế, chính trị, công nghiệp QS... để tiến hành tác chiến chiến lược. Xác định ĐBTC phải căn cứ vào ý định, nhiệm vụ tác chiến, tình hình địch, biên chế của các lực lượng tham gia tác chiến, điều kiện địa hình và các điều kiện khác.
ĐỊA CHẤT QUÂN SỰ, ngành địa chất ứng dụng, nghiên cứu cấu tạo địa chất của địa hình, điều kiện địa chất thủy vãn... nhằm bảo đảm cho hoạt động tác chiến. Cung cấp các yếu tố địa chất để bảo đảm cho việc bố trí và xây dựng công trình QS, sân bay, đường và cầu QS, đánh giá khả năng vận động trên địa hình đối với các binh chủng, tìm kiếm và thăm dò nguồn nước ngầm, vật liệu xây dựng tự nhiên...
ĐỊA ĐẠO, đường hầm quân sự ở những nơi đất cứng và ổn định, mực nước ngầm thấp, có khẩu độ hẹp, nhưng rất dài và có nhiều nhánh, có thể nhiều tầng, thường không lát nóc, lát vách. ĐĐ vừa có tác dụng phòng tránh, che giấu lực lượng, cất giấu phương tiện vật chất, vừa giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ trong cơ động lực lượng đánh địch, nên nhân dân và LLVT địa phương thường dùng để bám trụ lâu dài và hoạt động chiến đấu trong vùng địch chiếm hoặc ở vùng sát địch (x. địa đạo Cù Chi, địa đạo Vịnh Mốc).
ĐỊA ĐẠO CỦ CHI, địa đạo ở h. Củ Chi, tây bắc tp Hồ Chí Minh 30km. Được đào từ 1946 ở các xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An, lúc đầu là những đoạn đường hầm ngắn để trú ẩn, cất giấu tài liệu và đường liên lạc dưới đất nối các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, sau trở thành địa đạo, dài 17km. Trong KCCM được phát triển thành hệ thống với tổng chiều dài khoảng 200km. Gồm một tuyến chính rộng 0,6-0,7m, cao 0,8-0,9m (đủ cho người đi khom), nóc hầm dày 3-4m, chịu được xe tăng 50t và đạn pháo. Nhiều nơi địa đạo có cấu trúc ba tầng, có nhiều trục phụ nối với trục chính bằng cửa đóng kín, khi cần mới mở cửa thông, nên khó phát hiện được cả hệ thống; có những đường nhánh đi đến từng hầm bí mật, phòng làm việc của cơ quan, hội trường, bệnh viện...; nhiều lỗ thông hơi, chiếu sáng, giếng nước, nhà vệ sinh và các ngõ cụt dẫn đến bãi mìn... QĐ Mĩ và Sài Gòn nhiều lần càn quét nhằm phá địa đạo nhưng đều thất bại. Trong đợt quân địch càn 12 ngày đêm (8-19.1.1966) ở 6 xã Củ Chi, quân Mĩ sử dụng 8.000 quân, 200 máy bay, 600 xe QS, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn xe tăng..., quân và dân Củ Chi dựa vào hệ thống địa đạo, đã diệt 1.600 địch, bắn rơi 84 máy bay, phá hủy 77 xe tăng, xe thiết giáp. Sau đó Mĩ dùng các biện pháp bơm nước vào địa đạo ở Hố Bò, Phú Mĩ Hưng; lập các đội “chuột cống” để phá địa đạo. Đầu 1967, trong cuộc càn Xêđa Phôn, Mĩ sử dụng 600 lính công binh, 500 xe ủi đất, cùng với xe tăng, súng phun lửa, vũ khí hóa học, nhưng chỉ phá được 9km địa đạo. ĐĐCC nay là khu di tích lịch sử. Huyện Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép thành đồng”. 14 xã, 25 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Ah LLVTND, 778 người được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mĩ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Giangtvx
Trung tá

Bài viết: 25560
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 07:11:49 pm » |
|
ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC, địa đạo ở thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, h. Vĩnh Linh. t. Quàng Trị. Được đào từ 1966 đến 1967. Gồm ba tầng, có bậc thang lên xuống lượn xoắn ốc. Các tầng 1 và 2 đều có giếng nước, nhà vệ sinh... Trục chính dài 2.034m, nằm sâu dưới mặt đất 20-28m, rộng l-l,2m, cao l,5-4,lm, trong khu vực có dt khoảng lkm2. Hai bên vách cứ cách 3m được khoét một hầm làm nhà ở. Khu trung tâm có hội trường 150 chỗ, bệnh xá, nhà hộ sinh. Nhiều trục nhánh với 11 cửa thông ra biển hoặc lên mặt đất. Là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt của cuộc KCCM (lúc đồng nhất có khoảng 1.200 người sinh sống), kho chứa hàng tiếp tế cho chiến trường miền Nam và đảo Cồn cỏ. ĐĐVM nay là khu di tích lịch sử. Từ 1966 đến 1972, Mĩ đã trút xuống đây hơn 9.000t bom đạn.
ĐỊA HÌNH, phần mặt đất với các yếu tố trên bể mật của nó: dáng đất, chất đất, thủy hệ, lớp phú thực vật, đường giao thông, điểm dân cư, các địa vật... Trong QS, ĐH được đánh giá theo đặc điểm của dáng đất, khả năng cơ động, điều kiện quan sát, ngụy trang và theo điểu kiện tự nhiên khác.
ĐỊA HÌNH HỌC KHÔNG ẢNH. bộ môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu các phương pháp lập bản đồ địa hình từ ảnh hàng không. Có quan hệ với nhiều ngành và bộ môn khoa học khác như địa lí, cơ khí chế tạo máy, bay chụp ảnh... Các phương pháp của ĐHHKA (xt đo vẽ địa hình bằng ánh hảng không) cho phép lập ra các bản đồ với thời gian sản xuất nhanh, độ chính xác cao và đang trở thành phương pháp chính để biên vẽ bản đồ địa hình.
ĐỊA HÌNH HỌC QUÂN SỰ, bộ môn khoa học chuyên ngành QS, nghiên cứu các phương pháp và phương tiện đánh giá địa hình, đo đạc và định hướng trên thực địa để bảo đảm cho hoạt động tác chiến của bộ đội. ĐHHQS là môn học trong các trường QS, một nội dung huấn luyện chuyên ngành cấp chiến lược và chiến dịch.
ĐỊA LÍ QUÂN SỰ, ngành địa lí nghiên cứu những điều kiện chính trị - QS, kinh tế - QS, điều kiện tự nhiên và thiết bị tác chiến của các chiến trường, các nước, khu vực, hướng chiến lược và ảnh hưởng của những điều kiện đó đối với việc chuẩn bị và tiến hành chiến tranh. ĐLQS có quan hệ chặt chẽ với khoa học quân sự, gồm lí luận chung về ĐLQS, ĐLQS đất nước. ĐLQS các chiến trường. Lí luận chung về ĐLQS nghiên cứu nhiệm vụ, nội dung và phương pháp nghiên cứu của ĐLQS. ĐLQS đất nước nghiên cứu vị trí địa lí và vị trí chiến lược của nước mình đối với các nước khác, giữa các nước có liên quan với nhau; các điều kiện tự nhiên và các nguồn dự trữ; chế độ xã hội và nhà nước; cơ cấu và trình độ phát triển sản xuất, thành phần và sự phân bố dân cư; việc thiết bị tác chiến của đất nước, tình hình phòng thủ dân sự, đánh giá tiềm lực QS của .đất nước, trình độ sẵn sàng chuyển sang kinh tế thời chiến. ĐLQS chiến trường nghiên cứu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến tác chiến của các LLVT, thành phán và vai trò của mỗi chiến trường, trình độ thiết bị và dung lượng chiến trường.
ĐỊA LÍ QUÂN Y, chuyên ngành y học QS nghiên cứu ảnh hường của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, y học. thú y trên vùng lãnh thổ đối với sức khỏe của LLVT, công tác tổ chức bảo đảm quân y nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho LLVT trong thời bình và thời chiến.
ĐỊA LÔI (cũ) X. MÌN
ĐỊA LÔI CHIẾN (cũ), tác chiến bằng mìn và phương tiện nổ khác nhằm sát thương sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh, hạn chế đối phương cơ động, vận chuyển. ĐLC có thể tiến hành trong các hình thức tác chiến của các LLVT và toàn dân, thường được tiến hành độc lập. Hiện nay thuật ngữ ĐLC ít được sử dụng.
ĐỊA PHƯƠNG QUÂN, bộ phận của QĐ Sài Gòn, đồng thời là thành phần chủ yếu của lực lượng lãnh thổ, có nhiệm vụ chủ yếu là tác chiến chống chiến tranh du kích CM, bảo vệ an ninh nông thôn, bảo vệ lực lượng bình định. Được tổ chức 7.5.1964 trên cơ sở lực lượng bảo an (x. Bảo an đoàn). Hình thành hệ thống chỉ huy và điều hành từ trung ương đến quận, bao gồm: BTL ĐPQ trung ương, bộ chỉ huy ĐPQ vùng chiến thuật, ban chỉ huy ĐPQ tỉnh và sĩ quan phụ trách ĐPQ quận. Đơn vị tổ chức cao nhất của ĐPQ là tiểu đoàn ở các tỉnh và một số tiểu đoàn độc lập (phụ trách an ninh ở Sài Gòn, các sân bay lớn, các nhà máy quan trọng) và phổ biến là đại đội ở tất cả các quận. ĐPQ được trang bị, huấn luyện, tiếp vận như một đơn vị chủ lực cùng cấp và được hưởng quy chế riêng. Là lực lượng được chính quyền Sài Gòn quan tâm phát triển (từ 132.000 năm 1965 đến 319.000 năm 1972). Chịu thương vong cao nhất trong chiến tranh (riêng 1972, chết 19.600). Tan rã hoàn toàn 4.1975.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|