Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:27:01 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào trong KCCM  (Đọc 19442 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2021, 02:01:39 pm »

Đoàn 565, chỉ huy Bộ tư lệnh và tổ chức biên chế các cơ quan vẫn giữ nguyên. Lực lượng chuyên gia gồm hai trung đoàn (27 và 29).


Bộ chỉ huy Đoàn 968 lúc đầu có các đồng chí: thượng tá Hà Tuấn Khanh - Tư lệnh; thượng tá Hoàng Biển Sơn - Phó tư lệnh, thượng tá Phạm Sinh - Chính ủy; thượng tá Nguyễn Lệnh - Phó chính ủy. Đoàn 968 đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy trực tiếp của Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 4. Các đơn vị tình nguyện thuộc Bộ tư lệnh Đoàn 968 gồm 5 tiểu đoàn bộ binh (1, 2, 3, 4, 5), Đại đội S4 đặc công, Đại đội 5 cao xạ, Đại đội 6 pháo hỗn hợp, các đại đội công binh, thông tin, trinh sát, vận tải và Đội điều trị 49 quân y.


Các đơn vị đứng trong đội hình Đoàn 968 quân tình nguyện có kinh nghiệm và truyền thống xây dựng, chiến đấu ở vùng Quân khu 4 và Nam Lào. Tiểu đoàn 1 bộ binh trước đó mang phiên hiệu Tiểu đoàn 927 trực thuộc Quân khu 4. Tiểu đoàn 2 vốn gốc là tiểu đoàn công binh được chuyển thành tiểu đoàn bộ binh cơ giới và huấn luyện đặc công ở Quân khu Việt Bắc. Tiểu đoàn 3, tiểu đoàn độc lập trực thuộc Quân khu 4, cuổì năm 1963 trong đội hình Sư đoàn 341 tham gia bảo vệ Vĩnh Linh. Tháng 12 năm 1965, Bộ tư lệnh Quân khu 4 điều Tiểu đoàn 3 tách đội hình Sư đoàn 341 hành quân sang Hạ Lào chiến đấu, công tác tại tỉnh Át-ta-pư thuộc đoàn chuyên gia quân sự Nam Lào. Tiểu đoàn 4, trước đây nguyên là Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 thuộc Quân khu 4, tháng 10 năm 1965 tiểu đoàn nhận nhiệm vụ sang Lào làm nhiệm vụ quốc tế trên địa bàn các tỉnh Trung Lào. Tiểu đoàn 5 cũng trong đội hình Trung đoàn 27 thuộc Quân khu 4.


Các đơn vị binh chủng đặc công, cao xạ, pháo binh, thông tin, trinh sát, công binh và một số đơn vị phục vụ, bảo đảm được Bộ Tham mưu Quân khu 4 tổ chức biên chế, đảm bảo cho hoạt động chiến đấu của Đoàn. Đại đội S4 đặc công được huấn luyện cơ bản, năm 1967 đã có mặt chiến đấu ở Trung, Hạ Lào. Đội điều trị 49 quân y được thành lập từ đầu năm 1966 gồm 3 đội phẫu thuật của Quân khu 4 hợp thành.


Ngày 10 tháng 9 năm 1968, ban cán sự Đoàn 968 họp buôi đầu tiên tại khu vực Bản Boi, huyện Mường Phin, tỉnh Xa Vẳn Na Khệt. Đồng chí Hà Tuấn Khanh - Tư lệnh Đoàn chủ trì hội nghị đã phân tích kỹ đặc điểm tình hình địch, tình hình ta trên chiến trường và nhấn mạnh nhiệm vụ, xác định quyết tâm của Đoàn là: Bảo vệ tuyến hành lang chiến lược 559, giữ vững vùng giải phóng, phát triển thế tiến công địch, kiên quyết đánh bại âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng của địch trên địa bàn được giao.


Hội nghị thống nhất một số nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là: Khẩn trương ổn định biên chế, tổ chức, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ quốc tế, chấp hành chính sách dân tộc trên đất bạn, làm tốt công tác nuôi quân và quản lý bộ đội, chuẩn bị cho hoạt động chiến đấu trong mùa khô sắp tới. Các đơn vị trong Đoàn hoạt động trên địa bàn từ đường số 9 Xa Vẳn Na Khệt tới các tỉnh Át-ta-pư, Sa-ra-van ở Hạ Lào.


Sở chỉ huy và cơ quan Đoàn bộ đóng tại Bản Boi, cách nam Mường Phin 8 km. Tiểu đoàn 1 đóng ở khu vực Lầu Ngam, Tha Teng. Tiểu đoàn 2 ở phía đông cao nguyên Bô-lô-ven và tỉnh Tà-vên-oọc. Tiểu đoàn 3 chốt giữ khu vực Át-ta-pư. Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 ở khu vực đường số 9. Đại đội S4 đặc công chuyển đến khu vực Tha Teng, Bản Phồn. Các đơn vị binh chủng sẵn sàng phối hợp chiến đấu trên các mũi, các hướng theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.


Sau khi ổn định tổ chức biên chế, các đơn vị thuộc Đoàn 968 khẩn trương xây dựng hầm hào, công sự phòng chống phi, pháo địch, tích cực huấn luyện theo phương án tác chiến, học tập chính trị, huấn luyện bổ sung chiến thuật và kỹ thuật chiến đấu. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vừa huấn luyện, vừa làm công tác sẵn sàng chiến đấu.


Ngày 3 tháng 8 năm 1968, Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp Hội nghị lần thứ 16 đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh kháng chiến trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh: Mỹ - ngụy đã bị thất bại, cách mạng Lào giành được nhiều thắng lợi to lớn. Chúng ta phải tiếp tục tiến công địch, ra sức xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở vùng địch hậu, mở rộng đấu tranh cả ba mặt: quân sự, chính trị, ngoại giao để củng cố thắng lợi đã giành được, nỗ lực vươn lên giành thắng lợi có tính chất quyết định, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển trong giai đoạn cách mạng mới.


Quán triệt Nghị quyết Trung ương Đảng Nhân dân Lào lần thứ 16, trung tuần tháng 8 năm 1968, Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Lào quyết định tổ chức Hội nghị quân chính bàn về cách đánh, nhằm tiếp tục tiến công địch giành thắng lợi lớn hơn.


Dự kiến trước tình hình phát triển của cuộc kháng chiến ở Lào, trong bối cảnh chung của chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là chiến trường miền Nam Việt Nam, ngày 12 tháng 11 năm 1968, Quân ủy Trung ương ta chỉ thị cho Quân khu 4, Quân khu Tây Bắc và Đoàn 959 về nhiệm vụ giúp bạn trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh một số chủ trương lớn:

1- Tiếp tục phát huy thế chủ động tấn công địch, đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng trên cả ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao.

2- Đánh mạnh vào hai lực lượng chiến lược của địch, giải phóng thêm một số vùng trọng điểm, tạo thành thế liên hoàn.

3- Ra sức giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, tạo điều kiện để bạn có thể hoàn thành nhiệm vụ trong bất kỳ tình huống nào.

Trên cơ sở Nghị quyết 16 của Trung ương Đảng bạn và chỉ thị của Quân ủy Trung ương ta, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào khẩn trương cùng bạn nghiên cứu tình hình chiến trường, dự kiên các tình huống, các khu vực địch có khả năng tiến công, chuẩn bị các phương án tác chiến và bố trí lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Đoàn chuyên gia quân sự cơ quan Trung ương tổ chức nghiên cứu, chuẩn bị nội dung giúp   bạn một số vấn đề chủ yếu về kế hoạch chiến đấu, chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, giải quyết phỉ, xây dựng lực lượng vũ trang, nâng cao chất lượng chiến đấu của ba thứ quân, tăng cường lực lượng đưa vào địch hậu, đẩy mạnh hoạt động vùng sau lưng địch.


Các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tổ chức học tập, quán triệt tình hình nhiệm vụ chính trị, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tương, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức tư tưởng, hành động của cán bộ, chiến sĩ, phù hợp với yêu cầu tình hình nhiệm vụ mới. Trong hai năm 1967-1968, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã giúp bạn củng cố vùng giải phóng, mở nhiều đợt tiến công vào cả hai lực lượng chiến lược của địch (quân chủ lực và quân đặc biệt) trên khắp các chiến trường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hồi và giải phóng nhiều vùng xung yếu (riêng Đông-Xuân 1967-1968, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 tên địch, giải phóng 16 vạn dân, 1.300 làng). Nhiều “khu chấn hưng”, “làng đoàn kết”, “khu tị nạn” - một hình thức trại giam trá hình của địch ở Na Con Phang, Huội Coong (Át-ta-pư), khu Lầu Ngam (Sa-ra-van) bị ta phá bung. Chiến tranh du kích của nhân dân các bộ tộc Lào phát triển ở khu giải phóng và một số vùng địch tạm kiểm soát, góp phần làm thất bại nặng nề chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào.


Từ năm 1965 đến năm 1968, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã tích cực giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh các hoạt động tác chiến tiêu diệt địch, củng cố vùng giải phóng; giữ vững và phát triển chiến tranh du kích ở vùng địch hậu. Với tinh thần quốc tế vô sản, cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã phối hợp với bạn khắc phục khó khăn, gian khổ, anh dũng chiến đấu, đánh bại một bước “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, góp phần phát triển thế chủ động tiến công của cách mạng Lào lên một bước mới. Tuy bị thất bại nặng nể, nhưng Mỹ vẫn ngoan cố tăng cường thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt" ở Lào lên mức cao nhất. Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tiếp tục đoàn kết, phối hợp với quân giải phóng nhân dân Lào và nhân dân các bộ tộc Lào phát huy thế chủ động tiến công địch, quyết tâm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi to lớn hơn nữa. 
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:57:18 pm »

Chương bốn
CÙNG VỚI QUÂN DÂN LÀO ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN
ĐÁNH BẠI "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT TĂNG CƯỜNG" CỦA MỸ VÀ TAY SAI

(1969-1972)


I. GIÚP BẠN XÂY DỰNG, CỦNG CỐ THẾ TRẬN ĐÁNH ĐỊCH, BẢO VỆ VÙNG GIẢI PHÓNG VÀ TIỄU PHỈ (1969-1970)

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 của quân dân miền Nam, tình hình chiến trường ba nước Đông Dương có bước chuyển biến mới ngày càng có lợi cho các lực lượng cách mạng. Ở Việt Nam chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, đế quốc Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ ta ở Pa-ri (Pháp). Đối với Lào và Cam-pu-chia, chính quyền tay sai thân Mỹ xâu xé, lục đục, hình thành nhiều phe phái. Đế quốc Mỹ tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lược hai nước này theo phương thức và hạn độ thích hợp, nhằm phối hợp với chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam; đồng thời đàn áp cách mạng Lào và cách mạng Cam-pu-chia.


Trong khi đó, các lực lượng cách mạng ngày càng được củng cố với nhiều vùng giải phóng rộng lớn. Cùng với cuộc đấu tranh đang diễn ra sôi động ở ba nước Đông Dương, phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc ở các nước châu Phi, châu Mỹ la tinh cũng có bước phát triển mạnh mẽ.


Trước tình hình đó, tháng giêng năm 1969, sau khi thay Giôn-xơn làm tổng thống nước Mỹ, Ních-Xơn đã đề ra chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Ních-Xơn” dựa trên ba nguyên tắc sức mạnh của Mỹ, chia sẻ trách nhiệm và thương lượng trên thế mạnh.


Cùng với việc tiến hành chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" ở Việt Nam, ở Lào chính quyền Ních-Xơn tăng cường viện trợ quân sự cho các lực lượng tay sai thân Mỹ, tích cực phát triển quân ngụy Lào, nhất là lực lượng đặc biệt của Vàng Pao. Tăng cường không quân đánh phá tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam và trực tiếp chi viện cho quân ngụy Lào trong các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Đặc biệt là công khai đưa quân Thái Lan và quân ngụy Sài Gòn vào chiến đấu ở chiến trường Lào, thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào.


Chiến trường Lào từ trước đến nay luôn có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với chiến trường ba nước Đông Dương. Trong bối cảnh đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ra toàn bán đảo Đông Dương, Lào càng trở thành địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.


Xác định đúng tầm quan trọng của chiến trường Lào, trên cơ sở Nghị quyết 16 của Trung ương Đảng bạn, cuối năm 1968 và đầu năm 1969, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ta đã có một số cuộc gặp gỡ trao đối với Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao Lào. Sau khi thống nhát các nội dung giúp bạn trên lĩnh vực quân sự, Bộ Quốc phòng ta đã chỉ thị cho Đoàn 959, Quân khu Việt Bắc và Quân khu 4 thực hiện tốt các chủ trương giúp bạn, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Tiếp tục giúp bạn phát huy thế chủ động tiến công địch. Đẩy mạnh đấu tranh ở cả hai vùng (nông thôn và thành thị), trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.

2. Giúp bạn củng cố vững chắc các địa bàn đứng chân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Tập trung đánh mạnh vào hai lực lượng chiến lược của địch (lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân chủ lực Viêng Chăn), giải phóng thêm một số vùng trọng điểm, tạo điều kiện mở rộng vùng giải phóng thành thê liên hoàn rộng lớn.

3. Tăng cường giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang và bán vũ trang, nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội chủ lực, sẵn sàng hoàn thành các nhiệm vụ đánh địch bảo vệ vùng giải phóng trong mọi tình huống.


Căn cứ vào nhiệm vụ được Bộ và các quân khu giao, các đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam hoạt động tại Lào tích cực giúp bạn triển khai các kế hoạch chiến đấu chống địch lấn chiếm, tiễu phỉ, củng cố các đơn vị hiện có của bạn, xây dựng thêm một số đơn vị chủ lực, huấn luyện nâng cao sức mạnh chiến đấu của ba thứ quân, đưa lực lượng vào trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch; đồng thời giúp bạn chuẩn bị một số nội dung tiến hành hội nghị quân sự toàn quân.


Theo nhiệm vụ được giao, trong thời gian này, Đoàn 959 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ làm chuyên gia quân sự giúp Trung ương Đảng, cơ quan Quân ủy Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào. Đoàn 463 giúp cơ quan Bộ tư lệnh Quân khu và các tiểu đoàn, đơn vị kỹ thuật ở Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đoàn 565 giúp bạn ở Nam Lào.    Khác với các đoàn chuyên gia quân sự 959, 463, 565 (nhiệm vụ chủ yếu là giúp bạn hoạch định triển khai thực hiện các nội dung huấn luyện, xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức hiệp đồng tác chiến và hướng dẫn bạn trong các ngành chuyên môn kỹ thuật), các đoàn 335, 766, 866, 968 quân tình nguyện chủ yếu giúp bạn, cùng với bạn chiến đấu chống địch càn quét lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, tiêu diệt các hang ổ của bọn phỉ. Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 766 làm nhiệm vụ chiến đấu ở căn cứ địa Sầm Nưa. Đoàn 866 chiến đấu ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đoàn 335 làm nhiệm vụ bảo vệ, củng cố vùng giải phóng Bắc Lào. Đoàn 968 làm nhiệm vụ chiến đấu ở vùng Nam Lào. Ngoài ra, các đơn vị quân tình nguyện còn trực tiếp giúp bạn huấn luyện và xây cơ sở cách mạng trên các địa bàn được phân công.


Bên cạnh lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ giúp bạn xây dựng, chiến đấu thường xuyên liên tục, tại Lào còn có các đơn vị quân chủ lực Việt Nam như các sư đoàn 316, 312, 338 và một số đơn vị binh chủng được lệnh sang phối hợp chiến đấu trong các chiến dịch lớn theo yêu cầu của bạn. Đây là lực lượng hoạt động tuy không thường xuyên nhưng đã góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Khi đế quốc Mỹ thực hiện "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào, sự phối hợp của ba lực lượng trên của ta tại chiến trường Lào ngày càng trở nên gắn bó và hiệu quả.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:58:06 pm »

Tháng 2 năm 1969, khi địch tập trung 11 tiểu đoàn mở cuộc hành quân Xa Ma Khi I tiến công ra vùng giải phóng Pa Thí - một vị trí quan trọng nằm sát biên giới Việt - Lào nhằm uy hiếp căn cứ địa cách mạng Sầm Nưa của bạn và phá công tác chuẩn bị cho chiến dịch "Toàn Thắng" của ta, theo chức năng nhiệm vụ được giao, Đoàn 959 tập trung giúp bạn xây dựng phương án đánh địch ở Pa Thí. Trên cơ sở đề xuất của Đoàn 959, được sự nhất trí của Quân ủy và Bộ Quốc phòng hai nước, liên quân Lào - Việt quyết định mở chiến dịch phản công đánh địch ở Pa Thí. Lực lượng tham gia chiến dịch về phía Việt Nam có hai trung đoàn 148 và 174 (Sư đoàn 316), các trung đoàn quân tình nguyện 766, 866. Phía bạn có các tiểu đoàn 613, 705, 585 và bộ đội địa phương, dân quân du kích tỉnh Sầm Nưa.


Sau một thời gian gấp rút hoàn thành công tác chuẩn bị chiến đấu, ngày 1 tháng 3 năm 1969, Sư đoàn 316 nổ súng tiến công địch ở Sầm Nưa, tiêu diệt sở chỉ huy địch và các vị trí Phu Sam Sun, Hủa Phạ, điểm cao 1420, các đơn vị của Đoàn 766 và Đoàn 866 làm nhiệm vụ bao vây và chôt chặn chiến dịch. Sau 5 ngày tiến công, ta và bạn loại khỏi chiến đấu 500 tên địch, tiêu diệt hai đại đội của BS210, xoá sổ căn cứ phỉ ở Mường Hiểm - Na Khang, tiêu diệt cụm cứ điểm Tham La - Na Khang, Sở chỉ huy phân khu Sầm Nưa. Giải phóng hơn 1.000 km2 với gần 5.000 dân. Vàng Pao dùng máy bay lên thẳng tăng viện hai tiểu đoàn, hòng phản kích giành lại các điểm đã mất nhưng bị quân ta chặn đánh quyết liệt phải tháo chạy. Ta tiếp tục phát triển tiến công đánh phá vị trí Buôm Lọng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Khu vực Mường Hiềm - Na Khang được giải phóng hoàn toàn, lần đầu tiên đường số 6 và đường số 217 được khai thông nối liền hai tỉnh Sầm Nưa và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Bị thất bại ở Pa Thí - Na Khang với gần 40% lực lượng cơ động của Vàng Pao bị tiêu diệt, cố vấn Mỹ và bọn tay sai ngụy Lào vẫn tiếp tục âm mưu mở rộng chiến tranh đánh chiếm vùng giải phóng. Cuối tháng 3 năm 1969, dưới sự chỉ huy của CIA thông qua bộ chỉ huy phối hợp Mỹ - Thái - Vàng Pao, địch tập trung 22 tiểu đoàn quân đặc biệt Vàng Pao, 1.200 quân của lực lượng phản động Coong Le, được sự chi viện của hai tiểu đoàn pháo binh Thái Lan, 5 đại đội máy bay cường kích và hơn 100 máy bay trực thăng của Mỹ mở cuộc hành quân Xa Ma Khi II ra phía nam Cánh Đồng Chum. Địch hy vọng chiếm được Cánh Đồng Chum - chìa khoá của nước Lào, chúng sẽ tạo được thế mạnh có lợi uy hiếp miền Bắc Việt Nam từ phía tây, buộc ta phải phân tán lực lượng đối phó, ngăn chặn quá trình chi viện của hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam và cách mạng Lào, nhất là sự phối hợp chiến đấu giữa chiến trường Việt Nam với chiến trường Lào. Sau khi xem xét cụ thể tình hình địch, ta trên chiến trường và kiến nghị của Đoàn 959, hai Quân ủy Lào và Việt Nam quyết định sử dụng các đơn vị vừa tham gia chiến dịch Tham La - Na Khang, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 335, 3 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ và 6 tiểu đoàn bộ binh của Quân khu Cánh Đồng Chum mở đợt tiến công tiêu diệt địch, khôi phục lại khu vực phía nam Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Sau 20 ngày đêm chiến đấu, ta đánh thiệt hại nặng hơn 10 tiểu đoàn địch, buộc quân ngụy Lào phải tháo chạy khỏi khu vực chúng vừa lấn chiếm. Trong đợt hoạt động này, Đoàn 463 được lệnh giúp bạn đẩy mạnh các hoạt động sau lưng địch, Đoàn đã phối hợp chặt chè với các lực lượng trung lập yêu nước Lào, Tiểu đoàn 701 Pa-thét Lào và đội du kích Mường Khun bám đánh địch ở Phu Khe, Bản Nhuôn, Bản Kinh, tiêu hao các BS103; BS210 và BV24 địch1 (BS, BV: Phiên hiệu đơn vị tương đương tiểu đoàn của ta).


Trong thời gian này, Trung đoàn 866 sử dụng Tiểu đoàn 924 luồn sâu vào Phum Tày, Phum Nưa. Rạng sáng ngày 15 tháng 4 năm 1969, Tiểu đoàn 924 và các đơn vị tăng cường (Đại đội bộ binh 24 và Đại đội hoả lực 67) nổ súng đánh chiếm trường đào tạo sĩ quan ngụy Lào ở Mường Chà. Trong trận này, ta diệt 35 tên địch, thu một số súng đạn và đồ dùng quân sự. Sau trận đánh, tiểu đoàn ở lại hơn một tháng giúp bạn củng cố các cơ sơ cách mạng ở Phum Tày, Phum Nưa (huyện Bô Li Khăm Xay). Các đơn vị còn lại của hai trung đoàn 866 và 766 hoạt động ở trung tâm Cánh Đồng Chum, chốt giữ các điểm cao ở Phu Keng, Bản Hoi, Bản Ang, bảo vệ các đường vận chuyển của ta xung quanh khu vực Cánh Đồng Chum.


Ở Bắc Lào, Trung đoàn 335 (thiếu 1 tiểu đoàn) sử dụng lực lượng nhỏ cùng các tiểu đoàn, đại đội địa phương của bạn tổ chức các đội công tác, các đội vũ trang tuyên truyền đi phát động nhân dân thu phục phỉ, truy quét lực lượng phản động ngầm hoạt động ở khu vực giáp ranh ba tỉnh Bắc Lào, triệt phá các hang ổ của bọn phỉ ở Nậm Miêng, Pa Mao, Khăm Ngừm; đồng thời giúp bạn tuyển quân, huấn luyện lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền cơ sơ. Cuối tháng 4 năm 1969, Trung đoàn 335 tổ chức 8 đội vũ trang xuống các địa phương giúp bạn. Riêng đại đội đặc công và đại đội hoả lực của trung đoàn tổ chức một số trận đánh vào các kho tàng, sân bay Luông Phra Băng, phá hủy hai kho đạn, một kho xăng và 4 máy bay T28 của địch.


Ở Nam Lào, sau khi thực hiện việc chia tách Đoàn chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Nam Lào thành hai lực lượng (chuyên gia quân sự 565 và quân tình nguyện 968), từ đầu năm 1969, ta tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giúp bạn đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng, xây dựng cơ sơ cách mạng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân. Do Nam Lào có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng (phía đông của Nam Lào tựa lưng vào dãy Trường Sơn tiêp giáp các tỉnh thuộc Quân khu 4 và Quân khu 5 của Việt Nam), nơi có tuyến vận tải chiến lược của ta đi qua, nên sau khi ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, đế quốc Mỹ đã tập trung phần lớn bom đạn đánh phá tuyến vận chuyển; đồng thời mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm ra khu vực này hòng phá các kho tàng, cơ sở hậu cần của ta. Sự đánh phá điên cuồng của địch đã gây cho ta và bạn nhiều khó khăn, ở nhiều nơi, lực lượng của ta và bạn bị bật ra khỏi dân. Tình hình vận chuyển từ miền Bắc vào miền Nam cuối năm 1968, đầu năm 1969 đạt thấp, đã ảnh hương không nhỏ đến các kế hoạch tác chiến của ta trên các chiến trường.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:58:47 pm »

Trước tình hình đó, cuối năm 1968 và đầu năm 1969, được sự ủy nhiệm của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Thiếu tướng Trần Quý Hai - Phó Tổng tham mưu trưởng vào Quân khu 4 cùng với Bộ tư lệnh Quân khu giao nhiệm vụ cho lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động ở khu vực Nam Lào:

1- Giữ vững và mở rộng tuyến vận tải chiến lược, cùng lực lượng vũ trang bạn tiến công có trọng điểm bằng những phương thức thích hợp để tạo bàn đạp đưa lực lượng áp sát các căn cứ lớn, tạo điều kiện giải phóng một loạt vị trí dọc đường hành lang chiến lược Bắc - Nam. Đánh thông đường vận chuyển của ta từ Trung Lào vào nam đường 9 và phát triển sâu vào Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

2- Tích cực giúp bạn củng cố vùng giải phóng, chống lấn chiếm, ra sức tiễu phỉ, thu phục phỉ.

3- Đẩy mạnh xây dựng căn cứ kháng chiến của bạn ở Nam Lào, tiến lên giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven, tạo thời cơ để giành thắng lợi quyết định.


Thực hiện chủ trương của trên, mùa khô 1968-1969, các đoàn 565, 968 đã phối hợp với Quân khu Nam Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng thị trấn Tha Teng, thị xã Sa-ra-van, nhằm tạo bàn đạp tiến công giải phóng thị xã Pắk Xoòng, thị xã Át-ta-pư khi có thời cơ.


Ngay trong trận đánh đầu tiên, các đơn vị của Đoàn 968 đã nhanh chóng chiếm được Tha Teng, nhưng sau đó địch tập trung hoả lực phi pháo đánh phá dữ dội và cho bộ binh liên tục phản kích hòng chiếm lại vị trí quan trọng này. Để bảo tồn lực lượng, ta và bạn chuyển sang vây ép Tha Teng; đồng thời đẩy mạnh hoạt động đánh địch trên các hướng nam đường số 9 (khu vực Keng Koọc, Huội Mừn, Tùm Lan), bắc thị xã Át-ta-pư, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang Quân khu Nam Lào, các đơn vị của Đoàn 565 tích cực bám địa bàn giúp bộ đội địa phương, dân quân du kích bạn tổ chức nhiều trận đánh sâu trong lòng địch đạt hiệu quả cao. Ngày 26 tháng 1 năm 1969, được sự phối hợp chặt chẽ của chuyên gia ta, du kích địa phương đã cùng các tiểu đoàn 11, 12 quân giải phóng nhân dân Lào đánh địch ở bản Xoọc Nhầy diệt 27 tên, làm bị thương 7 tên, bắt 3 tên; phá hủy 1 xe GMC, thu 25 súng các loại. Được sự giúp đỡ của chuyên gia ta, hai trung đội du kích Lầu Ngam và hai tiểu đoàn chủ lực của Quân khu Nam Lào cơ động đánh địch bảo vệ an toàn hành lang Noọng Bùa đi Bưng Xây. Du kích xã On, Mừn Thẹ, Keng Bốc liên tục bám đánh địch ở đồi 300, Sen vẳng, Huội San. Bộ đội địa phương Lào vây ép tiêu hao nhiều sinh lực địch ở Phù Xa Phong, Bô Đô Pha. Chuyên gia ta còn giúp bạn tổ chức phối hợp với lực lượng của Tiểu đoàn 2 (Đoàn 968) đánh một số trận ở ngoại vi Pắk Xoòng, cắt đương số 23, không cho địch cơ động từ Pắk Xoòng tới Tha Teng.


Nắm chắc tình hình địch, ta trên địa bàn chiến dịch, đầu tháng 3 năm 1969, lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 565 và Đoàn 968 đề xuất thống nhất với bạn phương án tác chiến; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của Bộ tư lệnh Quân khu 4. Thực hiện phương án tác chiến đã được Bộ tư lệnh Quân khu 4 thông qua và bạn nhất trí, Đoàn 968 sử dụng lực lượng chủ yếu phối hợp với các tiểu đoàn 11, 12 (bộ binh), 16 cao xạ, 19 pháo binh của quân giải phóng nhân dân Lào cơ động đánh địch trên đường số 23 Pắk Xế đi Pắk Xoòng, vùng địch hậu Pắk Xế, pháo kích thị xã Sa-ra-van. Chuyên gia quân sự giúp bạn đẩy mạnh hoạt động quân sự ở hai huyện Phu Vông, Na Khôn Pên, đưa lực lượng vào áp sát thị xã Pắk Xoòng, thị trấn Keng Koọc, thị trấn Lầu Ngam. Mục tiêu đặt ra của ta và bạn trên hướng này là chọc thủng tuyến Xê Đôn, giải phóng một nửa tỉnh Sa-ra-van, phát triển đánh địch ở Phà Lan, Đồng Hến, đẩy lùi lực lượng địch trên tuyến phòng ngự của chúng ở đường số 9 đến Xê Săng Xoi. Ở các khu vực Keng Nhao, Phù Luông, Phù Khi Mắc, ta sử dụng khoảng một tiểu đoàn phối hợp với bạn đánh địch; đồng thời sử dụng từng bộ phận của Tiểu đoàn 2 thay nhau kìm chế, vây ép Tha Teng và Phù Chuôm, sẵn sàng đánh chiếm cứ điểm Tha Teng khi có thời cơ.


Từ giữa tháng 3 đến đầu tháng 4 năm 1969, lực lượng ta và bạn trên các hướng liên tục chủ động tiến công địch và giành nhiều thắng lợi. Địch lâm vào thế bị động đối phó không còn đủ sức tiếp viện cho Tha Teng. Chớp thời cơ, rạng sáng ngày 3 tháng 4 năm 1969, các đơn vị ta và bạn chuyển từ vây ép sang tiến công căn cứ Tha Teng. Ta dùng 300 quả đạn ĐKZ, cối 120 bắn phá hoại cứ điểm A1, A2 tạo điều kiện cho xung kích dùng bộc phá liên tục phá sập các lô cốt, công sự ở vòng ngoài, sau đó dùng hoả lực bắn thẳng chi viện cho xung lực đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ. Trận này, ta diệt 30 tên, thu hơn 100 súng các loại. Sau khi làm chủ thị trấn, ta tiếp tục truy quét tàn quân địch tới sát Pắk Xế.


Trong gần 4 tháng đánh địch tại mặt trận Tha Teng, các đoàn 565, 968 đã phối hợp với quân dân Lào trên địa bàn tác chiến, loại khỏi chiến đấu 1.022 tên địch, bắn cháy 13 máy bay, phá hủy 32 xe quân sự, thu hàng trăm khẩu súng và nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Giải phóng gần một vạn dân gồm 537 bản, mở rộng vùng giải phóng Nam Lào liên hoàn từ đông đường số 9 xuống tỉnh At-ta-pư. Tạo điều kiện uy hiếp địch trên các thị xã Pắk Xoòng, Sa-ra-van, At-ta-pư, góp phần bảo vệ, giữ vũng hành lang tuyến vận tải chiến lược của ta qua địa bàn Trung - Hạ Lào.


Sau những thất bại trong đợt hoạt động nống lấn ra khu vực Phu Khe - Xiêng Khoảng, để tăng cường lực lượng bảo vệ sào huyệt Sảm Thông - Loong Chẹng và thực hiện âm mưu lấn chiếm khu vực Cánh Đồng Chum. Đầu tháng 6 năm 1969, địch mở cuộc hành quân Xa Ma Khi III tiến công từ Mường Sủi ra Phu Luông, Phu Cút nhằm chiếm các điểm cao có giá trị chiến thuật đề phòng ta tiến công Sảm Thông - Loong Chẹng; đồng thời tiến công ra Phu Than Leng, Bản Tôn hỗ trợ cho hướng chính, sử dụng lực lượng phỉ ở Buôm Lọng lấn ra Phu Khiêu, Phu Ma Lao, Phu Sản, phối hợp với bọn phỉ ở Sen Chồ và không quản đánh phá đường số 7 nhằm phá chuẩn bị tiến công của ta.


Về phía ta, sau khi phối hợp chặt chẽ với bạn đập tan các cuộc hành quân Xa Ma Khi I, II, chuyên gia và các đơn vị quân tình nguyện ta hoạt động trên địa bàn Bắc Lào đã tích luỹ được một số kinh nghiệm đồi phó với kiểu “chiến tranh đặc biệt tăng cường” của đế quốc Mỹ. Qua các trận đánh 6 tháng đầu năm 1969, phối hợp tác chiến giữa ta và bạn đã có những tiến bộ. Quá trình đánh địch lấn chiếm, ta và bạn đã khéo nghi binh đánh lạc hướng chú ý của địch; đồng thời tích cực chuẩn bị mọi mặt để chuẩn bị tiến công Mường Sủi - một cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 02:59:44 pm »

Thực hiện quyết tâm của Quân ủy Trung ương Việt Nam và Lào, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại ý chí lấn chiếm vùng giải phóng của chúng, giúp bạn Lào mở rộng vùng giải phóng nối liền Sầm Nưa với Xiêng Khoảng tạo thế uy hiếp sào huyệt địch ở Sảm Thông - Loong Chẹng, ngày 23 tháng 6 năm 1969 liên quân Việt - Lào mở chiến dịch Mường Sủi. Lực lượng địch tại khu vực Mường Sủi có 13 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 6 tiểu đoàn Vàng Pao, 3 cụm pháo binh, 3 đại đội xe tăng và một số lực lượng hỗn hợp Thái Lan), do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Khi tác chiến được không quân Mỹ chi viện mạnh.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch có Sư đoàn 316 (thiếu 1 trung đoàn), một số tiểu đoàn quân tình nguyện của hai đoàn 766 và 866, 3 tiểu đoàn đặc công của Bộ, 2 tiểu đoàn cối 120 ly, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ly, 2 đại đội xe tăng, 1 tiểu đoàn vận tải. Bạn Lào có 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn 12,7 ly, 1 đại đội 14,5 ly, 1 trung đội xe tăng và 1 đại đội cối do lực lượng nữ phụ trách.


Bộ chỉ huy chiến dịch do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy; phía bạn Lào có đồng chí Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum tham gia phối hợp chỉ đạo tác chiến. Do tầm quan trọng của chiến dịch, Đoàn 959 thành lập tổ công tác giúp cán bộ cơ quan bạn xây dựng các phương án hiệp đồng tác chiến với quân tình nguyện và bộ đội chủ lực Việt Nam tham gia chiến dịch. Phương án này sau đó đã được đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon - Tổng chỉ huy quân giải phóng nhân dân Lào thông qua tại sở chỉ huy dã chiến ở Phu Lênh (Khang Khay).


Phân tích tình hình địch ta trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chú trọng đến hệ thống công sự trận địa khá kiên cố và hoả lực chi viện mạnh của địch ở cứ điểm Mường Sủi, các đồng chí chuyên gia và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam với nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường Bắc Lào đã đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch vận dụng rộng rãi cách đánh đặc công, dùng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ diệt các mục tiêu quan trọng trong cứ điểm, tạo điều kiện cho bộ binh đánh địch ngoài công sự, kết hợp đánh điểm với diệt viện khi có thời cơ kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch vận và đấu tranh chính trị.


Sau các trận chiến đấu nhỏ nghi binh và tạo thế chiến dịch, đêm 23 rạng ngày 24 tháng 6 năm 1969, trên các hướng, các đơn vị của ta và bạn đồng loạt nổ súng tiến công địch. Ở hướng chính, các mục tiêu quan trọng của địch ở Noọng Tâng, Phu Xô, Nậm Xoong lần lượt bị đặc công, bộ binh ta tiêu diệt. Sân bay Mường Sủi bị khống chế. Trong ngày 24 tháng 6, toàn bộ lực lượng địch ở Phu Xuông, điểm cao 1313 hoảng sợ bỏ chạy. Quân địch ở Bản Khai bị uy hiếp mạnh.


Trên hướng phối hợp (đường 7), ta đánh chiếm được các điểm cao gần ngã ba Sa La Phu Khun. Trong các ngày từ 28 tháng 6 đến 1 tháng 7 năm 1969, ta tiếp tục truy quét tàn quân địch làm chủ khu vực Mường Sủi, phát triển chiến đấu về hướng Phu Viêng - ngã ba Sa La Phu Khun, tạo thế uy hiếp Sảm Thông - Long Chẹng. Kết thúc chiến dịch, liên quân Việt - Lào loại khỏi chiến đấu 897 tên địch, diệt và bắt gọn cơ quan chỉ huy của địch ở Mường Sủi, làm thiệt hại 5 trong số 9 tiểu đoàn của chúng. Phá hủy hầu hết các trận địa và tiêu diêt nhiều lực lượng pháo binh hỗn hợp Lào - Thái, khôi phục toàn bộ khu vực Phu Khe - Xiêng Khoảng - Căng Xẻng, giải phóng một địa bàn quan trọng với hơn 4.000 dân, nối liền vùng giải phóng hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng với 4 tỉnh Bắc Lào. Tạo thế uy hiếp Luông Phra Băng, Viêng Chăn.


Chiến dịch Mường Sủi thắng lợi đà góp phần quan trọng tạo điều kiện để quân dân Bắc Lào xây dựng phát triển lực lượng vũ trang, củng cố vùng giải phóng; đồng thời tạo điều kiện phối hợp tốt với chiến trường miền Nam Việt Nam đợt hè năm 1969. Bộ chỉ huy chiến dịch phía Việt Nam đánh giá: “Đây là một chiến dịch hiệp đồng tác chiến giữa ta và bạn đã đạt kết quả tốt”1 (Tóm tắt các chiến dịch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2001, tr. 567). Đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon nêu rõ: "Mường Sủi là một hệ thống phòng ngự khá vững chắc, lại được pháo binh Thái Lan và Mỹ trực tiếp chi viện. Thế mà trong một thời gian ngắn lại đang giữa mùa mưa lũ, liên quân Việt - Lào đã nhanh chóng đập tan cụm phòng ngự của địch. Điều đó chứng tỏ khả năng hiện nay của ta có thể đánh bại “cuộc chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mỹ ở Lào”2 (Huỳnh Đắc Hương - Chung một chiến hào, tr. 99). Thắng lợi của chiến dịch Mường Sủi có phần đóng góp công sức không nhỏ của các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động trên địa bàn Bắc Lào.


Sau chiến dịch Mường Sủi, Quân ủy và Bộ chỉ huy tối cao Lào triệu tập Hội nghị quân sự tại Viêng Xay (Húa Phằn) để rút kinh nghiệm chiến đấu, công tác xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang và bàn công tác huấn luyện quân sự, cách đánh của lực lượng vũ trang trong điều kiện mới. Hội nghị nêu rõ với sự giúp đỡ của chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam mùa khô 1968-1969, lực lượng dân quân du kích Lào đã phát triển được gần 3.000 người, trong đó phụ nữ tham gia ngày càng đông (1.076 người). Nhiều nơi nữ du kích bắn máy bay giỏi, bắn rơi cả máy bay phản lực như ở Xiêng Khoảng, miền Đông. Phong trào nhân dân tham gia phục vụ tiền tuyến rất sôi nôi. Trong sáu tháng đầu năm 1969 có 4.144 người tình nguyện đi dân công phục vụ hoả tuyến, 1.007 người trực tiếp cùng bộ đội chiến đấu, bảo vệ vùng giải phóng.


Ngày 17 tháng 7 năm 1969, hội nghị kết thúc, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Tổng Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Lào đến thăm và nói chuyện với các đại biểu dự hội nghị. Sau khi điểm qua những thắng lợi to lớn của quân dân Lào trong mấy năm qua và sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng Lào từ sau hội nghị quân chính năm 1967 đến nay, đồng chí nhấn mạnh một số việc trước mắt của các lực lượng vũ trang:

1- Phải quán triệt tư tương tích cực chủ động tiến công áp sát địch mà đánh, lấy ít đánh nhiều, đánh chắc thắng, đánh địch phải đi đôi với bảo vệ dân.

2- Vận dụng thành thạo mọi cách đánh phù hợp với đặc điểm chiến trường và điều kiện của Lào.

3- Huấn luyện quân sự phải sát thực tế chiến trường và đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ chiến đấu.

4- Tích cực xây dựng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là bộ đội chủ lực đảm bảo chiến đấu trước mắt và lâu dài.


Trong suốt thời gian chuẩn bị và những ngày diễn ra hội nghị, Đoàn 959 đã tập trung giúp bạn chuẩn bị mọi mặt cho hội nghị. Từ thực tế chiến trường, ta đã giúp bạn tổng kết rút ra những kết luận bổ ích về nguyên tắc xây dựng phát triển lực lượng, tổ chức huấn luyện, chiến đấu, góp phần để hội nghị toàn quân của bạn thành công tốt đẹp.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 03:00:41 pm »

Sau hội nghị toàn quân, để giúp bạn triển khai các nhiệm vụ đã được Hội nghị toàn quân xác định, Đoàn 959 đã cử một số cán bộ cùng cán bộ ba cơ quan bạn xuống các quân khu và tỉnh đội giúp bạn mở các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày cho cán bộ chỉ huy các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào. Cách làm trên của chuyên gia quân sự Việt Nam được Bộ chỉ huy tối cao và chỉ huy các đơn vị bạn rất ủng hộ, coi đó là phương pháp bồi dưỡng thiết thực có hiệu quả phù hợp với trình độ cán bộ của bạn và điều kiện chiến trường. Riêng chuyên gia giúp bạn ở các trường đã dựa vào nội dung của hội nghị quân sự toàn quân để biên soạn điều chỉnh một số nội dung giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu của các lực lượng vũ trang ba thứ quân.


Trong thời gian này, tại Hà Nội, đoàn cán bộ đại diện Quân ủy Trung ương Việt Nam, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đã hội đàm với đoàn cán bộ Quân ủy Trung ương Lào về phương hướng hoạt động của lực lượng vũ trang hai nước trong mùa khô 1969-1970 và những năm tiếp theo ở chiến trường Lào. Trên cơ sở nhận định âm mưu của Mỹ đối với chiến trường ba nước Đông Dương, nhất là các thủ đoạn của chúng trong “chiến tranh đặc biệt tăng cường” ở Lào, Hội nghị đã nhấn mạnh bốn vấn đề lớn về tác chiến cần thực hiện trong thời gian tới:

1. Kiên quyết truy quét phỉ làm trong sạch vùng giải phóng.

2. Tập trung lực lượng đánh địch lấn chiếm, giữ vững các địa bàn trọng điểm.

3. Đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch hậu buộc địch phải co về đối phó không để chúng rảnh tay tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân càn quét.

4. Tăng cường lực lượng bảo vệ tuyến hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, bảo đảm chi viện cho các chiến trường thông suốt trong mọi tình huống.


Để thực hiện các chủ trương trên, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Lào được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ta giao nhiệm vụ tiếp tục giúp bạn đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng các đơn vị cơ sở vững mạnh làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; đồng thời ra sức củng cố vùng giải phóng tạo thế liên hoàn bao vây cô lập các vùng địch tạm chiếm, tạo điều kiện và thời cơ tiến tới giải phóng nhiều vùng rộng lớn.


Sau cuộc hội đàm này, chấp hành chủ trương của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Quân khu 4 đã ra nghị quyết và Quyết định số 38/QKU thành lập Đảng bộ lực lượng tình nguyện của quân khu tại Nam Lào và chỉ định 5 đồng chí1 (Năm đồng chí gồm: Phạm Sinh - Phó Bí thư; các đồng chí Hoàng Biền Sơn, Đinh Dư, Nguyễn Hào, Trần Văn Cẩn là Đảng ủy viên) vào Đảng ủy Đoàn 968 thay cho ban cán sự đoàn trước đó. Thượng tá Hoàng Biền Sơn được cử giữ chức Tư lệnh Đoàn 968 thay đồng chí Hà Tuấn Khanh nhận nhiệm vụ mới.


Trong năm 1969, các đơn vị của Đoàn 968 hoạt động tại khu vực Nam Lào được bố trí: Tiểu đoàn 1 cùng Tiểu đoàn 609 (quân giải phóng nhân dân Lào) hoạt động ở Lầu Ngam, Tiểu đoàn 2 chốt giữ Tha Teng, Tiểu đoàn 3 vây địch ở Át-ta-pư, Tiểu đoàn 4 hoạt động dọc đường số 13, Tiểu đoàn 5 cùng Tiểu đoàn 18 (quân giải phóng nhân dân Lào) đánh địch ở bắc đường số 9. Tại chiến trường Bắc Lào, ta và bạn cũng có sự điều chỉnh lực lượng: các đơn vị của Quân khu Cánh Đồng Chum tập trung về Mường Khừng củng cố huấn luyện, lực lượng chủ lực Việt Nam rút ra biên giới để chấn chỉnh, bổ sung quân số do đã chiến đấu liên tục suốt mùa khô. Trên địa bàn Cánh Đồng Chum chỉ còn 3 tiểu đoàn của các đoàn 766; 866 và một số đơn vị bộ đội địa phương chốt giữ.


Lợi dụng mùa mưa và lực lượng ta đang rút ra củng cố, cuối tháng 7 năm 1969, Mỹ và ngụy Lào huy động 16 tiểu đoàn, 52 đại đội quân đặc biệt Vàng Pao cùng 5.000 quân Thái Lan, một số phân đội pháo binh, xe tăng được không quân Mỹ chi viện hoả lực mở cuộc hành quân “Cù Kiệt” tiến công vào địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Phối hợp ở Nam Lào, quân phái hữu huy động 5 tiểu đoàn đánh ra thị trấn Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt). Mở cuộc hành quân này, địch còn âm mưu uy hiếp miền Bắc Việt Nam, thu hút một bộ phận chủ lực ta, làm giảm sự chi viện của miền Bắc. Đây là cuộc hành quân lớn điển hình của “Học thuyết Ních-Xơn” ở Lào theo công thức quân ngụy cộng với hậu cần và hoả lực tối đa của không quân Mỹ1 (Trong chiến dịch này, đế quốc Mỹ đã sử dụng 120 đến 150 lần chiếc máy bay chiến thuật hoạt động trong một ngày. Lần đầu tiên, Mỹ dùng máy bay chiến lược B-52 đánh phá ở chiến trường Thượng Lào).


Ngay từ khi địch mới mở cuộc hành quân, Đoàn 959 đã cử một bộ phận chuyên gia đi cùng đoàn cán bộ ba cơ quan Tổng cục của bạn xuống tăng cường cho các đơn vị cơ sở. Toàn bộ chuyên gia của Quân khu Cánh Đồng Chum, Tỉnh đội Xiêng Khoảng và các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam đã sát cánh với các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào chiến đấu ngoan cường chặn địch, loại khỏi chiến đấu hơn 2.000 tên. Nhưng do lực lượng ta và địch quá chênh lệch, đến cuối tháng 8 năm 1969, sau khi tăng cường thêm lực lượng lên tổng cộng khoảng 40 tiểu đoàn, địch đã chiếm được toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi ra đến Bản Ban, Noọng Hét sát biên giới Việt Lào. Đi đôi với đánh phá vùng giải phóng của bạn, địch còn ra sức giành dân. Chúng dùng trực thăng chuyển 1.500 người đưa về tập trung ở gần bờ sông Mê Kông, làm cho nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng và nhiều nơi khác lo sợ bỏ trốn vào rừng, hoặc chạy lánh nạn sang vùng biên giới Việt - Lào.


Ngày 11 tháng 9, Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào ra tuyên bố về việc lực lượng phái hữu đưa quân đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẳng định: Đây là sự vi phạm nghiêm trọng hiệp định ba phái đã ký ở Đuy Rích về Cánh Đồng Chum; tố cáo những tội ác của quân phái hữu đối với nhân dân vùng giải phóng Lào; đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế đoàn kết với nhân dân các bộ tộc Lào chống âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ.


Ngày 12 tháng 9 năm 1969, Quân ủy Trung ương ta giao nhiệm vụ cho Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ chỉ huy quân giải phóng nhân dân Lào mở chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (còn gọi là chiến dịch 139 hay chiến dịch Toàn Thắng). Chiến dịch này do Quân khu Tây Bắc chỉ huy. Đồng chí Vũ Lập được chỉ định làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy. Phía bạn Lào có đồng chí Xi Phon - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum tham gia Bộ chỉ huy chiến dịch làm Phó tư lệnh về quân sự.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 03:02:35 pm »

Trung tuần tháng 9 năm 1969, ngoài một số đơn vị đã có mặt ở Cánh Đồng Chum, các đơn vị chủ lực Việt Nam tham gia chiến dịch lần lượt hành quân vào chiến trường. Ngày 13 tháng 9 năm 1969, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ và chỉ thị cho các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam thực hiện nhiệm vụ Quốc tế đối với bạn Lào.


Cuối tháng 9 năm 1969, tại Khe Trì (Kỳ Sơn - Nghệ An), Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức phổ biến tình hình nhiệm vụ cho các đơn vị. Để nắm chắc công tác hiệp đồng chiến đấu, Đoàn 959 cử cán bộ theo đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon và đồng chí Xi Phon - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum dự hội nghị. Bộ tư lệnh chiến dịch xác định nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch là:

1. Tiêu diệt đại bộ phận lực lượng đặc biệt Vàng Pao, khôi phục khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giải phóng Sảm Thông - Loong Chẹng.    

2. Giành lại dân, giúp bạn ổn định sinh hoạt, sản xuất và củng cố lực lượng vũ trang.

3. Xây dựng vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tạo thế và lực mới cho cách mạng Lào.


Phát biểu ý kiến tại hội nghị, đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tính chất phức tạp và quyết liệt của chiến dịch. Đồng chí căn dặn các đơn vị phải có kế hoạch bảo đảm vững chắc địa bàn sau giải phóng. Bảo đảm tốt công tác hậu cần trong điều kiện địch tập trung không quân đánh phá, làm tốt công tác địch vận và bảo vệ dân.


Trên cơ sở ý kiến đề xuất của đoàn chuyên gia và chỉ huy các đơn vị quân tình nguyện ở Cánh Đồng Chum, ta và bạn thống nhất phương châm chỉ đạo tác chiến là:

1. Vận dụng rộng rãi các hình thức chiến thuật kết hợp chặt chẽ giữa bộ binh và các binh chủng, thực hiện đánh nhỏ, đánh vừa tạo điều kiện đánh lớn, tiêu diệt từng cụm phòng ngự địch.

2. Kết hợp giữa đánh chính diện với thọc sâu, bao vây chia cắt về chiến dịch, lấy đánh địch ngoài công sự là chủ yếu.

3. Tích cực làm tốt công tác địch vận, nhất là với người H'Mông trong lực lượng đặc biệt của Vàng Pao, làm tốt công tác bảo vệ dân trên địa bàn tác chiến và vùng giải phóng.


Lực lượng địch tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có 23 tiểu đoàn (trong đó có 16 tiểu đoàn chủ lực), 52 đại đội độc lập, 20 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, 12 khẩu cối 106,7 ly, 10 xe tăng, khi chiến đấu được không quân chi viện khoảng 120 lần chiếc máy bay/ngày.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 2 sư đoàn bộ binh (312 và 316), 2 tiểu đoàn (7 và 924) của Trung đoàn 866, 1 trung đoàn pháo, 1 đại đội xe tăng, 12 đội đặc công, 4 tiểu đoàn công binh, 5 tiểu đoàn phòng không. Phía bạn Lào có 10 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội tự vệ cơ quan và 1 đai đội xe tăng.


Do lực lượng tham gia chiến dịch của ta và bạn tương đối đông, nhiều binh chủng, nên lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 959 đề nghị với Bộ tư lệnh chiến dịch yêu cầu các đơn vị chú trọng quán triệt công tác giáo dục bộ đội ta và bạn, xây dựng tinh thần đoàn kết hiệp đồng chiến đấu; đồng thời có kế hoạch hướng dẫn cụ thể giúp bạn sử dụng lực lượng tác chiến, sơ tán nhân dân, ổn định sinh hoạt, đảm bảo sản xuất.


Sau khi Bộ tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị, theo chức năng, chuyên gia quân sự ta ở Trung ương và bộ phận chuyên gia ở Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng phân công nhau đến từng đơn vị giúp bạn khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch từ họp Đảng ủy, họp chi bộ, họp các ban chỉ huy quán triệt nhiệm vụ yêu cầu chiến dịch, tổ chức trinh sát nắm địch, xây dựng phương án tác chiến đến đảm bảo cơ sở vật chất, tổ chức giúp dân sơ tán v.v... Mặc dù lực lượng chuyên gia không nhiều, nhưng ta vẫn cử ra một bộ phận cùng bạn thu gom số dân chạy ra rừng, động viên bà con tương trợ giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, phòng tránh máy bay và bọn phỉ quấy phá. Để giải quyết chỗ ăn ở cho số dân chạy ra biên giới Việt Nam, đoàn chuyên gia ta đã xin ý kiến chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; đồng thời cử cán bộ trực tiếp liên hệ với các huyện ủy, Tỉnh ủy Nghệ An, Hà Tĩnh yêu cầu các địa phương giúp đỡ bạn nơi ăn ở. Với tinh thần nhường cơm sẻ áo, nhân dân Mường Xén, Kỳ Sơn đã nhận giúp đỡ 1.600 cán bộ và nhân dân bạn chạy sang lánh nạn ở khu vực này. Sau khi lo cho bà con có nơi ăn chốn ở, đoàn chuyên gia tiếp tục cử người cùng chính quyền các địa phương làm kế hoạch bảo đảm an ninh biên giới, phòng chống địch trà trộn. Ngoài nhiệm vụ giúp bạn, chuyên gia và một số cán bộ quân tình nguyện đã chiến đấu lâu năm trên chiến trường Bắc Lào, thông thạo địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được cử dẫn đường giúp các đơn vị chủ lực của ta mới sang chiến đấu ở Cánh Đồng Chum đưa quân vào chiếm lĩnh các vị trí tập kết an toàn. Những công việc thầm lặng này đã góp phần tạo lên sức mạnh chiến đấu to lớn của liên quân Việt - Lào.

Ngày 25 tháng 10 năm 1969, chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bắt đầu. Trong đợt I (từ 25-1-1969 đến 10-2-1970), ta đánh địch ở Mương Khừng, Phu Phựng, Lạt Buộc, tập kích thị xã Xiêng Khoảng, Phu Chông Vông, Then Phun, Keo Hom, Sen Chồ và hàng loạt vị trí khác của địch ở Cánh Đồng Chum. Trong đợt chiến đấu này ta và bạn loại khỏi vòng chiến đấu 3.161 tên địch, diệt 2 tiểu đoàn (BV24, BV27), đánh thiệt hại 5 tiểu đoàn (BS209, BS206, BV21, 12 BI, SGU3) và hai đại đội (AC11, AC1a), buộc địch từ thế nống lấn phải co về phòng ngự bị động.


Vào đợt hai (từ ngày 11 đến ngày 25 tháng 2 năm 1970), ta lần lượt làm chủ các mục tiêu ở Phu Huột, Noọng Pẹt, Phu Then Neng, điểm cao 1505, U Bo, Nậm Ô, Kô Xi. Sau khi quét sạch địch ở khu vực từ Noọng Pẹt đến Phu Khiêu, ta tiếp tục đánh địch ở đèo Bưởi, Phu Mu Lao, Mô Phương, sau đó đánh chiếm toàn bộ khu trung tâm Cánh Đồng Chum. Trong đợt này, ta và bạn loại khỏi chiến đấu 1.300 tên địch, diệt 3 tiểu đoàn (BV20, BV24, BV27) mới bổ sung, đánh thiệt hại nặng 5 tiểu đoàn khôi phục toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi mở thông đường vận chuyển ra các hướng.


Phát huy thắng lợi vào đợt ba, đêm 26 rạng ngày 27 tháng 2, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 và đặc công của Bộ tập kích tiêu diệt các vị trí của địch ở Phu Pha Xạt, Phu Khi Mốt, sau đó phát triển về Mường Mốt, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm bản Na, Xăn Luông, sân bay Huội San, Hin Tặng, Thẩm Lửng, Hin Dặm, Sảm Thông, Buôm Lọng, Keo Bon, Phu Xa Bốt, Phu Hồng Xinh, Nậm Cheng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 03:03:41 pm »

Ngày 25 tháng 4 năm 1970, chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta và bạn tiêu diệt 5 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn, loại khỏi chiến đấu 6.668 tên địch, bắn rơi và phá hủy 117 máy bay, thu 597 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch, giải phóng một vùng rộng khoảng 6.000 km2 với hơn 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi, Sảm Thông, nam Căng Xẻng - Sen Chồ với Sầm Nưa và 4 tỉnh Bắc Lào.


Thắng lợi của chiến dịch phản công này, liên quân Việt - Lào đã đánh bại cuộc hành quân "Cù Kiệt" - cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và tay sai trên chiến trường Lào. Đây là đòn giáng mạnh vào lực lượng đặc biệt - lực lượng nòng cốt chủ yếu của Mỹ ở Lào lúc bấy giờ, bước đầu đánh bại “Học thuyết Ních-Xơn” ở Lào, góp phần tạo nên chuyển biên mới về tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng Lào.


Trong suốt quá trình chiến dịch, chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vừa giúp bạn tổ chức các trận đánh ở phía trước, vừa giúp bạn giải quyết tốt nhiệm vụ hiệp đồng bảo đảm chiến đấu và trực tiếp chiến đấu ở những nơi khó khăn phức tạp nhất. Tinh thần tận tụy, dũng cảm, đoàn kết nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình của chuyên gia quân sự và quân tình nguyện Việt Nam đã được đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon, thay mặt Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao quân giải phóng nhân dân Lào khẳng định trong Hội nghị tổng kết của quân khu sau chiến dịch: “Sự hy sinh chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam là vô cùng to lớn... đâu cần chuyên gia có, đâu khó có chuyên gia... Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ mối tình ruột thịt Lào - Việt, ghi nhớ công ơn Bác Hồ”1 (Bài phát biểu của đồng chí Khăm-tày Xi-phan-đon trong hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đánh bại chiến dịch "Cù Kiệt" của địch đầu tháng 5-1970, lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam).


Phối hợp chặt chẽ với chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Bắc Lào), Trung đoàn 335 cùng chuyên gia và lực lượng bạn ở các tỉnh Sầm Nưa, Luông Phra Băng, Nậm Thà, U Đôm Xay, đẩy mạnh hoạt động truy quét phỉ làm trong sạch vùng giải phóng. Tháng 3 năm 1970, khi địch mở cuộc hành quân Xay-a-vông lấn chiếm Phu Sang Nam với ý định chiếm vùng này làm bàn đạp tiến công ra Nậm Bạc, Trung đoàn 335 đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào, đập tan cuộc hành quân của địch, tiêu diệt 130 tên, thu nhiều súng đạn. Ngoài ra, trung đoàn còn nhiều lần tập kích bằng đặc công và hoả lực vào sân bay Luông Phra Băng phá hủy và phá hỏng 6 máy bay T28 và L19, góp phần hạn chế hoạt động của không quân địch.


Ở Trung, Hạ Lào, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam cũng tích cực đẩy mạnh các hoạt động giúp bạn đánh địch giành nhiều thắng lợi. Khi địch tập trung quân đánh ra Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt) Đoàn 968 được tăng cường Tiểu đoàn 46 địa phương Quảng Bình được lệnh phối hợp với các đơn vị Quân khu Trung Lào mở đợt tấn công quân địch ở Mường Phin, phá thế liên hoàn của địch ở Xa Vẳn Na Khệt, chia cắt đường 9. Sau gần hai tháng chiến đấu phối hợp với quân dân Trung Lào, Đoàn 968 đã giải phóng thị trấn Mường Phin, hành lang Mường Phin - Na Kha Nô - Tăng Vai - Bun Xạng chạy dọc tỉnh lộ số 11, phía nam đường 9 với chiều dài khoảng 70 km. Phát huy thắng lợi, đầu năm 1970, ta và bạn tiếp tục tiến công căn cứ Tha Teng, truy kích địch đến giáp thị xã Xa Vẳn Na Khệt.


Để thực hiện nhiệm vụ tiến công giải phóng thị xã Át-ta-pư tiến tới giải phóng thị xã Sa-ra-van, mở rộng vùng giải phóng Hạ Lào, tháng 3 năm 1970, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam và Lào quyết định thành lập Mặt trận X (mật danh của chiến dịch giải phóng thị xã Át-ta-pư), do đại tá Hoàng Kiện - Phó tư lệnh Quân khu 4 làm Tư lệnh kiêm Chính ủy mặt trận. Lực lượng thuộc Mặt trận X có 2 tiểu đoàn bộ binh (2 và 3), Đại đội S4 đặc công của Đoàn 968; Trung đoàn 24 Mặt trận B3 (Tây Nguyên - Việt Nam) sang phối thuộc và lực lượng vũ trang của bạn ở Hạ Lào. Các lực lượng còn lại của Đoàn 968 làm nhiệm vụ chốt giữ địa bàn, Tiểu đoàn 1 hoạt động ở khu vực Lầu Ngam (Sa-ra-van), các tiểu đoàn 4, 5 kìm giữ giam chân địch trên hướng đường số 9 (Xa Vẳn Na Khệt), ngăn chặn không cho địch từ Trung Lào xuống Hạ Lào; đồng thời chuẩn bị các mặt bảo đảm cho Đoàn 968 cùng bạn tiến công giải phóng thị xã Sa-ra-van khi có thời cơ.


3 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1970, Đại đội đặc công S4 và Trung đoàn 24 nổ súng tiến công thị xã Mường Mày (tỉnh Át-ta-pư). Đến 10 giờ ngày 29 tháng 4, ta hoàn toàn làm chủ thị xã, loại khỏi vòng chiến đấu 1 tiểu đoàn, 5 đại đội địch, diệt 200 tên, bắt hơn 700 tên, bắn rơi 2 trực thăng, thu hàng trăm súng các loại. Tàn quân địch phải co về căn cứ PS38 (In Thi), LS165 (Nậm Tiếng), Kông Hăng, dãy Phù Chuôm phía tây bắc thị xã.


Mặc dù bị tổn thất nặng trong các cuộc hành quân đánh phá ra vùng giải phóng, nhưng được Mỹ tăng cường viện trợ quân sự và huấn luyện, quân ngụy Lào vẫn có sự phát triển nhanh chóng về quân số và trang bị. Từ những toán biệt kích thổ phỉ, những đơn vị quân ngầm AC dưới sự huấn luyện của cố vấn Mỹ, quân ngụy Lào đã phát triển từ hơn 30 vạn tên đầu năm 1969, lên gần 60 vạn đầu năm 1970. Chúng tổ chức hơn 150 tiểu đoàn, trong đó 2 phần 3 là các tiểu đoàn đặc biệt. Để chỉ huy quân ngụy Lào, Mỹ đã thành lập một ban tác chiến nằm trong đại sứ quán Mỹ tại Lào để điều hành, về không quân chúng lập ra cơ quan USAID chỉ huy hai đại đội máy bay Air American và Air-con-ti-nent (khoảng 60 máy bay các loại) để hỗ trợ quân ngụy Lào trong các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Ngoài ra, Mỹ còn tiếp tục đưa hàng chục tiểu đoàn quân Thái Lan vào Lào, biến lực lượng này thành lực lượng chiến đấu nòng cốt của Mỹ tại chiến trường Lào. Ngày 6 tháng 3 năm 1970, tổng thống Mỹ Ních-Xơn tuyên bố về tình hình Lào, khẳng định Mỹ tiếp tục ủng hộ chính quyền Viêng Chăn. Đế quốc Mỹ hứa hợp tác đầy đủ, sẽ tiếp tục những cố gắng đàn áp, ngăn chặn phong trào cách mạng Lào bằng không quân. Được Mỹ tiếp tay, quân ngụy Lào tiếp tục mở các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của các lực lượng vũ trang yêu nước Lào; đồng thời Mỹ tiếp tục dùng không quân mở nhiều đợt đánh phá tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2021, 03:04:34 pm »

Kịp thời nắm bắt các âm mưu thủ đoạn chiến tranh mới của địch, ngày 7 tháng 5 năm 1970, Thường trực Quân ủy Trung ương ta họp ra nghị quyết xác định phương hướng giúp đỡ cách mạng Lào nhấn mạnh: Phải tiếp tục hoàn chỉnh thế trận liên hoàn vùng giải phóng Bắc Lào, mở rộng vùng giải phóng Trung, Hạ Lào xây dựng thành căn cứ địa vững chắc; đồng thời chuẩn bị tốt mọi mặt sẵn sàng đánh bại các âm mưu của địch tiến công ra hành lang vận chuyển chiến lược, bảo vệ vững chắc cơ sở vật chất kỹ thuật, kho tàng của ta ở khu vực này. Đi đôi với sẵn sàng chiến đấu đập tan các hành động tiến công của địch ra khu vực hành lang vận chuyển chiến lược phải đẩy mạnh mọi hoạt động nhằm giải phóng khu vực Sa-ra-van, tiến tới làm chủ hoàn toàn cao nguyên Bô-lô-ven. Đẩy mạnh hoạt động mọi mặt ra giáp sông Mê Kông với phương thức thích hợp nhằm mở rộng quyền làm chủ vùng nông thôn. Trên cơ sở xác định chiến trường Trung, Hạ Lào sắp tới sẽ là chiến trường trọng điểm, Bộ Tổng tham mưu chỉ thị cho Đoàn 968 phải nhanh chóng giải phóng thị xã Sa-ra-van, Noọng Bùa, Bản Khoọc.


Ngày 19 tháng 5 năm 1970, chấp hành chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh Quân khu 4 thành lập Mặt trận Z (mật danh của chiến dịch giải phóng thị xã Sa-ra-van), do đồng chí Hoàng Biền Sơn - Đoàn trưởng 968 làm Tư lệnh. Các đơn vị trong Mặt trận Z có 4 tiểu đoàn bộ binh (1, 4, 5, 46), Đại đội S4 đặc công và các đơn vị binh chủng. Bạn Lào có Tiểu đoàn 12 chủ lực, bộ đội tỉnh Sa-ra-van và dân quân du kích địa phương.


Thị xã Sa-ra-van nằm ở trung tâm Nam Lào (thuộc vùng 4 chiến thuật của quân ngụy Lào) là nơi địch huấn luyện và tung lực lượng đặc biệt ra đánh phá vùng giải phóng, phá hoại hành lang vận chuyển chiến lược Bắc - Nam của ta. Địch sử dụng 2 căn cứ Bản Khoọc (cách đông bắc thị xã 6 km) và Noọng Bùa (cách đông nam thị xã 12 km) làm hành lang bảo vệ vòng ngoài thị xã. Hai căn cứ này đều có sân bay dã chiến để cung cấp hậu cần và phương tiện chiến đấu. Xung quanh thị xã có những điểm cao rất lợi hại như Phù Cà Tê (1508), Phù Khống (976), Phù Pa Xúc, các điểm cao 351, 466, 405. Lực lượng địch trong thị xã Sa-ra-van có tiểu đoàn BV43, tiểu đoàn dù, một số đơn vị lính đặc biệt SDU. Trong hai ngày 24 và 25 tháng 5 năm 1970, chuyên gia Nam Lào, Ban cán sự Mặt trận Z và cán bộ chỉ huy các đơn vị Lào họp bàn thông qua quyết tâm giải phóng thị xã Sa-ra-van. Căn cứ vào tình hình bố phòng của địch, ý kiến đề xuất của đoàn chuyên gia và bạn Lào, ban cán sự Mặt trận Z quyết định phương châm tác chiến là: Kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến với địch vận, lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính nhưng cũng coi trọng nhiệm vụ giữ đất giành dân. Thực hiện luồn sâu, đánh hiểm, đánh dứt điểm, đánh chắc thắng, đánh địch phải đi đôi với bảo vệ dân và giải phóng triệt để thị xã.


Thực hiện ý định đó, 2 giờ sáng ngày 9 tháng 6 năm 1970, Đại đội đặc công S4 và Tiểu đoàn 1 đánh các mục tiêu trong thị xã. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt. Địch bắn trả rất dữ dội nhưng do làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, quán triệt tinh thần chiến đấu cao trong các đơn vị và có phương án xử lý kịp thời, nên tất cả các hướng đều đánh chiếm được mục tiêu quy định. Rạng sáng ngày 9 tháng 6, ta hoàn toàn làm chủ sân bay và thị xã Sa-ra-van. Trong các ngày tiếp theo, ta tiếp tục tiêu diệt quân địch ở cứ điểm Bản Khoọc, Noọng Bùa, đập tan các đợt phản kích của địch hòng chiếm lại thị xã Sa-ra-van. Trong đợt chiến đấu từ ngày 9 đến ngày 25 tháng 6, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã cùng các đơn vị của Quân khu Nam Lào loại khỏi chiến đấu 657 tên ngụy Lào, gọi hàng 250 tên, bắn rơi 2 máy bay, thu và phá hủy hơn 700 súng các loại, 187 xe ô tô và nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch. Giải phóng một khu vực rộng khoảng 3.600 km2 với 80 bản và trên 1 vạn dân.


Đánh giá thắng lợi ở Sa-ra-van, Quân ủy Trung ương ta khẳng định: “Lực lượng tình nguyện Mặt trận Z đã phối hợp cùng bạn đánh nhanh gọn, chiến thắng giòn giã, giải phóng hoàn toàn thị xã Sa-ra-van. Chiến thắng có giá trị về mặt chiến thuật và một phần về chiến dịch. Thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đó đã góp phần vào thắng lợi chung toàn cục trên chiến trường ba nước Đông Dương, đẩy Mỹ và tay sai vào thế bị động và lúng túng”1 (Lịch sử Sư đoàn bộ binh 968 (1968-2003). Nxb Quân đội nhân dân, H. 2003, tr. 97). Đồng chí Khăm Chăn - Ủy viên Khu ủy Quân khu Nam Lào cho rằng: "Đây là một thắng lợi lịch sử có ý nghĩa trong nước và quốc tế tiêu diệt nhiều địch, thắng lợi cả chính trị và quân sự, giải phóng được vùng đất đai rộng lớn. Sau Át-ta-pư, giải phóng một thị xã thứ hai ở vùng chiến thuật 4 Lào mà thực dân đế quốc đã đô hộ hàng trăm năm nay".


Ghi nhận những chiến công của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Nam Lào, được sự ủy nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã long trọng trao Huân chương Quân công hạng nhì cho toàn mặt trận, Huân chương Chiến công hạng nhất cho Đại đội S4 đặc công, Đại đội 2 Tiểu đoàn 1, các đại đội 9, 10 Tiểu đoàn 4 và tập thê trung đội súng máy cao xạ thuộc Đoàn 968 quân tình nguyện Việt Nam ở Nam Lào.


Cùng với hoạt động quân sự sôi động trên chiến trường, chuyên gia quân sự ta ở Lào còn phối hợp chặt chẽ với chuyên gia các ngành dân sự giúp bạn đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh chính trị, làm thất bại nhiều âm mưu thủ đoạn của địch đồng thời đưa ra các giải pháp chính trị kịp thời. Ngày 6 tháng 3 năm 1970, Trung ương bạn công bố 5 điểm để giải quyết vấn đề Lào và cử phái viên của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch mặt trận yêu nước vào Viêng Chăn trao công hàm 5 điểm cho Thủ tướng Phu-ma. Đây là một đòn tiến công chính trị kịp thời làm cho địch càng bị động.


Tháng 4 tháng 1970, sau khi hội nghị cấp cao nhân dân ba nước Đông Dương thống nhất cương lĩnh đấu tranh, chuyên gia ta đã phối hợp chặt chẽ với bạn kịp thời soạn thảo các tài liệu giáo dục bộ đội nâng cao nhận thức chính trị, đoàn kết hiệp đồng chiến đấu chống các âm mưu xuyên tạc chia rẽ của kẻ thù. Hoạt động của các chuyên gia quân sự giúp bạn xây dựng lực lượng ở các tỉnh vùng sâu, vùng xa gặp không ít khó khăn nguy hiểm. Có đội công tác, có đồng chí chuyên gia ta bị bọn phỉ phục kích bắt cóc sát hại. Sinh hoạt vật chất, tinh thần vô cùng thiếu thốn khó khăn. Nhưng vượt lên mọi gian khó, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta dù công tác giúp bạn ở các cơ quan Trung ương hay trong các đội tuyên truyền vũ trang ở cơ sở vẫn ngày đêm sát cánh cùng bạn kiên trì vận động quần chúng, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển các lực lượng vũ trang, tham gia sản xuất và chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, công tác tận tụy, hết lòng chăm lo giúp đỡ nhân dân bạn của quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã khắc sâu trong tâm khảm cán bộ, chiến sĩ nhân dân các bộ tộc Lào.


Với tinh thần vượt khó và chiến đấu dũng cảm đó, trong năm 1969 và nửa đầu năm 1970, các đơn vị quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam ở Lào đã sát cánh chiến đấu cùng quân dân bạn vượt qua nhiều khó khăn thử thách. Mặc dù địch tăng cường hoả lực và bộ binh đánh phá hành lang chiến lược và vùng giải phóng, ta vẫn giúp bạn vừa giữ vững được địa bàn đứng chân, vừa mở các chiến dịch tiến công tiêu diệt quân địch ở Pa Thí- Na Khang, Mường Sủi, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sa-ra-van, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, củng cố thế trận, tạo điều kiện để quân dân Lào tiếp tục xây dựng phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng củng cố chính quyền cách mạng, góp phần đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2021, 02:58:22 pm »

II. CÙNG QUÂN DÂN LÀO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG VŨ TRANG BA THỨ QUÂN, ĐẨY MẠNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN ĐÁNH BẠI "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT TĂNG CƯỜNG” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1970-1972)

Sau chiến thắng mùa khô 1969-1970 và trước những âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ ở Lào và các nước Đông Dương, ngày 25 tháng 6 năm 1970 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Lào họp nhận định: “Tình hình diễn biến rất phức tạp, quyết liệt, nhưng Mỹ ít có khả năng chuyển chiến tranh đặc biệt lên chiến tranh cục bộ ở Lào... nếu Mỹ có đưa quân Thái Lan vào thêm nữa thì cũng vẫn nằm trong phạm vi của “chiến tranh đặc biệt tăng cường”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào, bản tiếng Việt lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tr. 212).


Phân tích tình hình địch, ta trên chiến trường, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào xác định nhiệm vụ trong hai năm tới của cách mạng Lào là:

1. Động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đấu tranh bền bỉ lâu dài, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, bảo vệ phát huy thắng lợi đã giành được, phát huy thế chủ động tấn công địch về mọi mặt.

2. Ra sức củng cố vùng giải phóng, giữ thế liên hoàn, khi có thời cơ thì mở rộng vùng giải phóng ở những vùng chiến lược, những vùng đông dân.

3. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng về mọi mặt, làm cho lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh vững chắc.

4. Tăng cường đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân Cam-pu-chia anh em trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai phản động.

5. Tích cực chuẩn bị về mọi mặt để chuyển hướng đấu tranh khi tình hình có sự chuyển biến mới.


Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhân dân Lào cũng nhấn mạnh hướng Trung, Hạ Lào trong hai năm tới sẽ càng trở lên đặc biệt quan trọng vì liên quan trực tiếp đến tuyến vận tải chiến lược 559 của Việt Nam.    


Để kịp thời giúp bạn triển khai các chủ trương mà nghị quyết Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Lào đề ra, ngày 15 tháng 7 năm 1970, Bộ Quốc phòng ta ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (trên cơ sở biên chế tổ chức của Đoàn 959 có bổ sung một số lực lượng) gọi tắt là Bộ tư lệnh 959, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Bộ tư lệnh 959 có quyền hạn tương đương Bộ tư lệnh Quân khu, có nhiệm vụ: Thống nhất lãnh đạo, chỉ huy, quản lý mọi lực lượng vũ trang và chuyên gia quân sự của ta ở khu vực trung tâm, bao gồm các tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, Viêng Chăn, Bô Li Khăm Xay. Làm chuyên gia quân sự bên cạnh Bộ chỉ huy tối cao Lào. Các lực lượng thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của Bộ tư lệnh 959 gồm:

1. Các đơn vị bảo đảm và phục vụ của Đoàn 95 cũ, Trường Xuân Thanh, Khung huấn luyện tân binh cho bạn.

2. Các chuyên gia và chỉ huy quân tình nguyện ở các tỉnh thuộc khu trung tâm, phân đoàn chuyên gia Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

3. Sư đoàn 316, các đơn vị tình nguyện và các đơn vị binh chủng nguyên thuộc Quân khu Tây Bắc nhưng đã điều sang hoạt động ở Lào.

4. Các đơn vị binh chủng do Bộ điều sang phối thuộc cho Bộ chỉ huy Cánh Đồng Chum (gồm một số tiểu đoàn pháo binh cơ giới, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội xe tăng, 1 trung đội trinh sát kỹ thuật).


Riêng chuyên gia quân sự và quân tình nguyện ở Nam Lào theo kiến nghị của Bộ tư lệnh quân tình nguyện, ngày 29 tháng 7 năm 1970, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 119/QĐ chuyển giao lực lượng tình nguyện Nam Lào (Đoàn 968) trước đây do Bộ tư lệnh Quân khu 4 chỉ huy nay thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Bộ tư lệnh 559. Đại tá Hoàng Kiện - Phó tư lệnh cùng đồng chí Hoàng Thế Thiện - Phó Chính ủy Đoàn 559 trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của quân tình nguyện vùng Hạ Lào. Bộ Quốc phòng tăng cường 50 cán bộ sang chỉ huy và chiến đấu ở Mặt trận Hạ Lào; đồng thời Bộ Tổng tham mưu điều Trung đoàn 9 thuộc Mặt trận Trị Thiên tăng cường cho Đoàn 968 đáp ứng tình hình mới ở Nam Lào.


Lợi dụng lúc ta điều chỉnh lực lượng, mùa khô năm 1970, quân ngụy Viên Chăn phối hợp với quân Thái Lan tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét các căn cứ du kích của ta ở vùng Xi Phăn Đon (nam Pắk Xế), mở cuộc hành quân “Kăn Nha Kiệt” đánh vào hành lang Tạt Ha, Mường Noọng, Mường Phin (Xa Vẳn Na Khệt); cuộc hành quân "Tha Nông Kiệt" với lực lượng 17 tiểu đoàn đánh vào Tha Thôm, Tha Viêng, hòng chiếm lại vùng Xiêng Khoảng, tạo thế lấn chiếm lại Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 3 quân Thái Lan được đưa vào cao nguyên Bô-lô-ven để hỗ trợ cho Sa-ra-van, nhưng các cuộc hành quân càn quét lấn chiếm của địch đều bị lực lượng bộ đội địa phương, du kích và chủ lực Lào ở từng khu vực kết hợp với quân tình nguyện Việt Nam ngăn chặn và đánh thiệt hại nặng. Ta diệt gần 4.500 tên địch, bắn rơi 30 máy bay; trong đó riêng khu vực nam Xiêng Khoảng, ta diệt hơn 3.000 tên địch, bắn rơi 24 máy bay. Địch phải bỏ dở các cuộc hành quân, không thực hiện được ý đồ đánh phá, lấn chiếm địa bàn để tạo thế cho hoạt động mùa khô 1970-1971.


Bị thất bại nặng ở chiến trường ba nước Đông Dương, bị nhân dân Mỹ và dư luận tiến bộ thế giới phản đối mạnh mẽ, ngày 7 tháng 10 năm 1970, tổng thống Mỹ Ních-Xơn buộc phải tuyên bố về kế hoạch lập lại hoà bình ở Đông Dương. Riêng đối với Lào tuy chưa muốn ngồi vào bàn đàm phán nhưng Ních-Xơn đã thúc đẩy Xu-va-na Phu-ma xúc tiến quan hệ với lực lượng yêu nước Lào. Những động thái này cho thấy thế và lực của Mỹ cùng bọn tay sai trên chiến trường Lào đã có những dấu hiệu sa sút.


Trước tình hình đó, ngày 30 tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương Lào ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch quân sự mùa khô 1970-1971 xác định: "Phải nêu cao vai trò của ba thứ quân, phải phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, giữa hai vùng chiến lược (vùng giải phóng và vùng sau lưng địch)... Chủ động tiến công địch mạnh mẽ và liên tục, nhằm vào cả hai lực lượng chiến lược của địch, trước hết là nhằm vào lực lượng đặc biệt, đồng thời phải đánh thiệt hại nặng quân Thái Lan, đánh phá các cơ sở hậu cần, kỹ thuật của địch... Phải bảo vệ củng cố, xây dựng vững chắc vùng giải phóng đi đôi với việc đẩy mạnh hoạt động bằng các hình thức thích hợp ở vùng đối phương tạm kiểm soát... Chuẩn bị sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn và một số quân Mỹ, quân Thái Lan vào Trung, Hạ Lào và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Nam Việt Nam và Cam-pu-chia, sẵn sàng đón thời cơ giành thắng lợi lớn hơn”1 (Lịch sử Quân đội nhân dân Lào - bản tiếng Việt, lưu tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, tr. 213).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM