Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:54:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Tập 5  (Đọc 10945 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2022, 02:06:26 pm »

5. Tư tưởng đánh địch một cách tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt, mưu trí sáng tạo, bí mật, bất ngờ

Tư tưởng này thể hiện rất rõ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Đương đầu với kẻ thù thường lớn mạnh hơn mình, nhiều trường hợp lớn gấp nhiều lần, lại rất tàn bạo, xảo quyệt, trong chủ trương, tổ chức, chỉ đạo và thực hành tác chiến, ông cha ta đều chú trọng tránh chỗ mạnh của địch, tìm chỗ yếu của chúng, lấy cái mạnh của mình mà đánh. Cách đánh đó khiến địch không thể phát huy được sở trường, ưu thế của chúng, những điểm yếu, chỗ yếu chí mạng của chúng lại liên tục bị khoét sâu, ngày càng trầm trọng. Trái lại, ta có thể phát huy mọi lợi thế, sức mạnh của mình một cách thích hợp, có thể tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch mọi nơi, mọi lúc. Từ xa xưa, trong đánh địch, trong kháng chiến trường kỳ, quân và dân Việt Nam luôn thể hiện tinh thần tiến công địch một cách kiên quyết, không quản ngại hy sinh, gian khổ, luôn xây dựng và thể hiện một quyết tâm rất cao, có ý chí kiên trì, bền bỉ đi đến thắng lợi cuối cùng. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, tuỳ tình huống cụ thể về địch, về ta, về địa hình, thời tiết, thậm chí còn do bối cảnh quốc tế, đi đôi với tính kiên quyết, ta đã thể hiện tính linh hoạt.


Trần Quốc Tuấn nói: "Quân kỳ suy biến, như vị kỳ nhiên, tùy thời chế nghi", nghĩa là phải xem xét biến hóa của địch mà đánh, tùy cơ ứng biến. Nguyễn Trãi cũng viết: "Việc bịnh cốt phải mau chóng như thần, máy then đóng mở, như bánh xe chuyển, như đám mây bay, trong khoảng chốc lát, chợt nóng, chợt lạnh, thay đổi khôn lường"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn, Sđd, tr.1101).


Tiềm lực kinh tế - quốc phòng của ta nhỏ yếu, dân số và quân số ít, nên chủ trương "lấy ít địch nhiều", "nhỏ thắng lớn". Cũng vì thực trạng và thực lực như thế, quân và dân Việt Nam phải thấm nhuần tư tưởng tiến công. Các cuộc chiến chống ngoại xâm lặp đi lặp lại trong tình thế và phương thức đó mà hình thành nên một trường phái quân sự Việt Nam: lấy nhỏ đánh lớn. Lấy nhỏ đánh (và phải thắng) lớn nên phải đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế - thời. Đó là kết tinh của ý chí - trí tuệ - bản lĩnh Việt Nam. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi lại cách đánh của Nguyễn Huệ: "Hành binh như bay, tiến quân rất gấp, đi lại vựn vụt, mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp". Bí mật, bất ngờ là một trong những nhân tố quan trọng để tạo thành thế mạnh, vì hành binh nhanh chóng và bất ngờ khiến cho địch không kịp phòng bị, không kịp trở tay, chưa thể phát huy sức mạnh của chúng thì đã bị ta tiêu diệt.


Kháng chiến của ta trong thời hiện đại là kháng chiến toàn dân. Nhân dân là kho vô tận về sự mưu trí và sức sáng tạo. Vấn đề ở chỗ biết cách động viên, phát huy được sức sáng tạo của nhân dân. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tinh thần chủ động, năng động của quân và dân ta như có sức cộng hưởng, làm tăng lên rất nhiều hiệu quả của những kế sách chiến lược. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, quân và dân ta đã vận dụng sáng tạo các cách đánh tập kích, phục kích, những cách đánh đặc thù kiểu đặc công, biệt động; đặt hầm chông, bẫy nỏ, dùng ong vò vẽ... trên đất liền và nhiều hình thức được vận dụng trên chiến trường sông, biển và cả trên không, đạt hiệu suất chiến đấu cao.


Trong thời hiện đại, kế sách - phương châm "đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế - thời" kết hợp chặt chẽ, liên thông và tương thông các yếu tố lực - thế - thời - mưu được Bộ thống soái tối cao và Quân đội nhân dân Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. Trong Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo phân tán địch ra 5 hướng chiến trường, biến nắm đấm chủ lực của địch được tập trung về đồng bằng Bắc Bộ trở thành bàn tay xòe đế ta tiêu diệt. Trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975, ta căn cứ vào thế bố trí binh lực địch thể hiện ý định "mạnh ở hai đầu", mưu kế chiến lược của Bộ thống soái của ta là bày ra một hình thế dàn trận chiến lược - bày binh bố trận ghìm địch ở hai đầu chiến tuyến Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để phá vỡ Tây Nguyên1 (Xem Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo: Bàn về nghệ thuật quân sự, Sđd, tr.161), cả ba chiến trường, chiến trường Tây Nguyên, chiến trường Huế - Đà Nẵng và chiến trường Đông Nam Bộ/Sài Gòn phối hợp nhịp nhàng. Cách bày thế trận của ta khiến khi Tây Nguyên bị tiến công, địch không có lực lượng tổng dự bị cơ động chiến lược ứng cứu.


Đại thắng mùa Xuân 1975 kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng là thắng lợi tuyệt vời của nghệ thuật quân sự Việt Nam, được tôi luyện và thể hiện trong thực tiễn.

Được tích hợp bởi các yếu tố từ mục tiêu chiến đấu, tổ chức và sử dụng lực lượng, phương thức triển khai và cách đánh, nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại mang tính tổng hợp cao, tạo nên sức mạnh tổng hợp lớn, giành thắng lợi.


Hình thành và phát triển trong cuộc chiến tranh cách mạng, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được nâng lên một tầm cao mới, trở thành nghệ thuật quân sự hiện đại Việt Nam - xét cả về bản chất, quy mô, cường độ cuộc chiến; cả về vũ khí và phương tiện chiến tranh cũng như việc giải quyết vấn đề chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật và kỹ thuật. Đó là nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt, nghệ thuật kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, kết hợp các nhân tố lực - thế - thời, đánh địch một cách bất ngờ, tạo nên sức mạnh đánh thắng lực lượng quân sự địch và các chiến lược chiến tranh của chúng, qua đó, góp phần quan trọng đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù, hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước. Đó là biểu hiện rực rỡ của bản lĩnh và trí tuệ người Việt Nam trong thời đại mới.


Tư tưởng về chiến tranh nhân dân và tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự Việt Nam nảy sinh và được kiểm nghiệm trong thực tế trở thành di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:35:16 pm »

Chương IV
TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA,
HẬU PHƯƠNG CHIẾN TRANH VÀ TƯ TƯỞNG QUỐC PHÒNG


I- TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA, HẬU PHƯƠNG CHIẾN TRANH

Căn cứ địa, hậu phương là nơi tích lũy và phát triển lực lượng về mọi mặt, nơi cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, nơi xuất phát để mở rộng kháng chiến, từng bước tiến đến giành thắng lợi. Bất cứ một cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nào, nếu không có căn cứ địa, hậu phương vững chắc thì không thể giành thắng lợi được, ở Việt Nam, từ xưa tới nay, vấn đề căn cứ địa, hậu phương luôn giữ vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong chiến tranh chống ngoại xâm. Vì thế, xây dựng và phát triển căn cứ địa, hậu phương luôn là vấn đề chiến lược trọng yếu trong tư tưởng quân sự của những nhà lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh.


Tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở Việt Nam bao gồm nhiều quan điểm tiến bộ, luôn có giá trị thực tiễn. Dưới đây là một số quan điểm, tư tưởng chủ yếu:


1. Dựa vào dân để xây dựng căn cứ địa, hậu phương, từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh

Từ quan điểm coi trọng dân, coi trọng vai trò của sức dân, "Lật thuyền mới biết dân như nước", hay quan điểm "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", "Có dân là có tất cả", "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"..., hầu hết những người lãnh đạo khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam xưa nay đều có ý thức triệt để dựa vào dân để tiến hành chiến tranh, để xây dựng căn cứ địa, hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến.


Sau khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, quân thù thường sử dụng quân đội và chính quyền đô hộ do chúng dựng lên để thống trị, áp bức, đàn áp, bóc lột, vơ vét tài nguyên, của cải của nhân dân Việt Nam. Bên cạnh cuộc xâm lược lãnh thổ là cuộc "xâm lược văn hóa" - nhiều thế lực xâm lược Việt Nam có chủ ý đồng hóa dân tộc Việt Nam, hủy hoại nền văn hóa và những truyền thống lâu đời, hòng diệt tận gốc ý thức dân tộc của nhân dân Việt Nam. Ách xâm lược đi liền với những nỗi thống khổ đè nặng lên đời sống nhân dân Việt Nam. Từ dặm trường lịch sử nhiều "tai ương, địch họa" và từ khát vọng hòa bình, nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng đứng lên chiến đấu chống ngoại xâm. Chính vì vậy, trong lịch sử, cho dù kẻ xâm lược đã chiếm đóng Việt Nam và áp đặt ách cai trị thì chúng vẫn không thể khuất phục được ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam, không thể can thiệp sâu tới đời sống, văn hóa truyền thống trong hầu hết các làng xã và những vùng nông thôn rộng lớn. Chính đó là nơi nuôi dưỡng và tích lũy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, của ý thức dân tộc, của lối sống và bản sắc văn hóa Việt Nam. Đó cũng chính là cơ sở cho những lãnh tụ nghĩa quân, những người lãnh đạo kháng chiến dựa vào để xây dựng đất đứng chân, tổ chức lực lượng và động viên nhân dân cùng chiến đấu.


Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến thế kỷ X, nạn ngoại xâm kéo dài hơn một nghìn năm, họa "vong thân", nhà tan, nước mất tưởng chừng dân tộc Việt Nam không thể vượt qua được. Chính quyền đô hộ đã được áp đặt trên cả nước, quân thù thực hiện âm mưu đồng hóa hết sức thâm độc hòng biến nước ta thành quận, huyện của chúng. Song dân tộc Việt Nam đã vượt qua tất cả. Nhiều cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đã nổ ra gây tổn thất lớn cho quân thù. Những lãnh tụ nghĩa quân thời bấy giờ đã biết dựa vào dân, dựa vào các làng bản để xây dựng căn cứ khởi nghĩa. Hai Bà Trưng đã dựa vào các căn cứ Mê Linh, Chu Diên để phát động khởi nghĩa, được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã phát triển thành một phong trào chống ách đô hộ diễn ra rộng khắp, tiến lên đánh đuổi quân thù, giải phóng 65 huyện thành trong cả nước. Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt xây dựng căn cứ ở núi Nưa, Bồ Điển, nơi quê hương mình để chống quân Ngô, cởi ách nô lệ. Lý Bí dựa căn cứ Thái Bình để khởi nghĩa và sau đó xây dựng căn cứ Chu Diên để chống quân xâm lược. Triệu Quang Phục dựa vào dân vùng Khoái Châu (Hưng Yên), xây dựng căn cứ kháng chiến ở đầm Dạ Trạch đánh bại quân Lương. Mai Thúc Loan được đông đảo dân chúng quê hương mình ủng hộ đã xây dựng căn cứ địa ở Sa Nam làm nên nghiệp đế, tiến quân ra Bắc, hạ thành Tống Bình, giành quyền tự chủ trong nhiều năm. Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng lập căn cứ địa ở Đường Lâm, nơi quê hương bản quán và nhờ nhân dân ở đây hưởng ứng, ông tiến quân giải phóng thành Tống Bình. Khúc Thừa Dụ kiên trì xây dựng lực lượng ở căn cứ Hồng Châu (Hưng Yên) và nhằm lúc chính quyền đô hộ nhà Đường suy yếu, tiến lên giành quyền tự chủ đất nước. Tất cả những cuộc khởi nghĩa nói trên đều dựa vào sự ủng hộ của nhân dân vùng nông thôn để xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng, mở rộng vùng giải phóng, chống lại ách đô hộ của ngoại bang.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:35:55 pm »

Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, buổi đầu Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã dựa vào vùng núi rừng Lam Sơn làm căn cứ địa, sau phát triển xây dựng đất đứng chân ở Nghệ An, mở ra một bước phát triển quyết định giành thắng lợi. Ngay từ khi mới dựng cờ khởi nghĩa, Lê Lợi - lãnh tụ tối cao của nghĩa quân đã nhận thấy không thể thắng lợi nhanh chóng trước quân Minh hùng mạnh, mà phải tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ. Vì vậy, Lê Lợi cho rằng, công tác xây dựng căn cứ địa, xây dựng đất đứng chân là hết sức bức thiết, đặt lên hàng đầu và có tính quyết định thành bại của cuộc đấu tranh. Căn cứ Lam Sơn đã được chú ý xây dựng từ buổi đầu nhen nhóm phong trào khởi nghĩa. Căn cứ Lam Sơn hội đủ các yếu tố nhân hòa, địa lợi. Không chỉ nơi đây là quê hương của vị thủ lĩnh, mà chủ yếu Lê Lợi rất có uy tín trong vùng và được nhân dân địa phương hết lòng hưởng ứng. Cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Lam Sơn là một vùng rừng núi rậm rạp. Làng ở Lam Sơn là nơi khai hoang lập ấp của ông tổ ba đời của Lê Lợi. Trải qua các đời ông nội là Lê Đinh, rồi cha là Lê Khoáng, cơ nghiệp dòng họ Lê đã phát triển, con cháu ngày càng đông, tôi tớ ngày càng nhiều. Người dân Lam Sơn ngày một đông đúc với nhiều nghề cổ truyền như nghề nông, nghề đánh cá, nghề rừng. Xung quanh Lam Sơn thời kỳ này đã có nhiều xóm làng thuộc huyện Lương Giang và huyện Cổ Lôi, cũng là những nơi gia tộc Lê Lợi có quan hệ họ hàng, bạn bè gắn bó. Đó là quê hương của nhiều tướng lĩnh đã từng tham gia Hội thề Lũng Nhai với Lê Lợi...


Địa thế miền thượng du Thanh Hóa rất hiểm trở, nhân dân địa phương hết lòng giúp đỡ nghĩa quân Lam Sơn. Đó là căn cứ và khu vực hoạt động rất thuận lợi cho nghĩa quân Lam Sơn trong buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, khi lực lượng còn non yếu. Dựa vào dân, dựa vào địa thế của núi rừng, nghĩa quân đã chống trả thành công nhiều cuộc vây quét lớn của địch, đã tiêu hao một phần sinh lực quân Minh và khi cần thiết có thể rút lui để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, đến năm 1423, khi nghĩa quân đã phát triển đến mức độ nhất định, thì địa bàn hoạt động ở miền thượng du Thanh Hóa trở nên chật hẹp. Lê Lợi nhận thấy nếu tiếp tục bám trụ ở vùng rừng núi sẽ hạn chế việc phát triển lực lượng, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lớn lao của nghĩa quân. Nếu tiến xuống trung du và đồng bằng đông dân nhiều của thì có thể giải quyết được vấn đề cung cấp lương thực, đồng thời việc phát triển lực lượng cũng thuận lợi hơn. Qua thực tiễn của cuộc chiến đấu, bằng kinh nghiệm của bản thân, Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các tướng lĩnh Lam Sơn nhận thức được điều đó và hoàn toàn nhất trí với kế hoạch sáng suốt của tướng Nguyễn Chích: Tiến quân vào Nghệ An để xây dựng đất đứng chần, xây dựng căn cứ địa mới, mở rộng địa bàn, đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống quân thù.


Vào nửa cuối kỷ XVIII, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn ban đầu xây dựng căn cứ địa ở vùng Tây Sơn Thượng đạo và Tây Sơn Hạ đạo, dựa vào sự ủng hộ nhiệt tình của đồng bào các dân tộc vùng quê hương của anh em Nguyễn Nhạc để xây dựng căn cứ, rồi phát triển mở rộng xuống miền xuôi, giải phóng vùng đồng bằng, chiếm thành Quy Nhơn. Chỉ hai năm sau, đến năm 1773, quân Tây Sơn đã giải phóng được nhiều vùng và cả một dải từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi trở thành căn cứ địa vững chắc của nghĩa quân. Từ đây nghĩa quân Tây Sơn có điều kiện phát triển sang một giai đoạn mới: Tiến quân vào Nam đánh bại thế lực họ Nguyễn, tiến quân ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh, đặt cơ sở thống nhất đất nước, đánh tan các đạo quân xâm lược Xiêm và Thanh, bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Đặc điểm chung của tư tưởng về xây dựng căn cứ địa thời phong kiến là đều dựa vào: Một là, cơ sở địa phương của thủ lĩnh nghĩa quân, thường là nơi thủ lĩnh quân sự sinh ra, trưởng thành; hai là, uy tín cá nhân của thủ lĩnh quân sự có tác động đến sự hương ứng của quần chúng; ba là, từ một căn cứ địa, theo sự thành công quân sự của nghĩa quân, càng ngày càng mở rộng. Đó cũng là những đặc điểm phản ánh khá rõ tính chất tự phát quân sự của các lực lượng quân sự thời phong kiến.


Bước sang thế kỷ XX, tư tưởng xây dựng căn cứ địa ở Việt Nam càng hoàn chỉnh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau nhiều năm bôn ba khắp các châu lục để tìm đường giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, tháng 1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người chọn Pác Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm "đại bản doanh" và chọn tỉnh Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa đầu tiên để lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước. Người cho rằng, căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng có phong trào từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phát triển xuống Thái Nguyên và xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được... Với tư tưởng đúng đắn, sáng tạo đó, với tầm nhìn của một vị lãnh tụ, Người cho rằng Cao Bằng là nơi hội tụ đủ những điều kiện cần thiết để xây dựng một căn cứ địa cách mạng buổi đầu của công cuộc giải phóng dân tộc. Là một tỉnh địa đầu biên giới, trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhân dân các dân tộc Cao Bằng vừa phải đấu tranh vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh sống, đồng thời phải luôn luôn cảnh giác chống lại các thế lực xâm lược ngoại bang và tay sai của chúng để tồn tại và bảo vệ giống nòi, bảo vệ quê hương, làng bản. Vì vậy, nhân dân các dân tộc anh em ở Cao Bằng mang đầy đủ bản sắc tốt đẹp là anh dũng, kiên cường, thật thà, chất phác, thủy chung không khuất phục bất kỳ một sức mạnh nào. Nhất là, khi được Đảng giác ngộ, giáo dục thì truyền thống ấy càng được nhân lên gấp bội và sâu sắc hơn. Đây chính là cái nền nhân dân được giác ngộ, qua thử thách mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng đó chính là một bảo đảm cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:36:30 pm »

Cũng trong thời kỳ này, Đảng Cộng sản Việt Nam còn xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai. Cũng như Cao Bằng, căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai là nơi có cơ sở đảng, cơ sở quần chúng và phong trào cách mạng phát triển tương đối mạnh hơn các nơi khác. Năm 1943, Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng thêm một trung tâm căn cứ địa nữa là Đại Từ - Định Hóa - Sơn Dương - Yên Sơn. Các trung tâm căn cứ địa dần dần được mỏ rộng và nối liền nhau, thành căn cứ địa Việt Bắc rộng lớn bao gồm 6 tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái và một số vùng thuộc địa phận các tỉnh lân cận. Lúc ban đầu xây dựng, các trung tâm căn cứ địa mới chỉ có cơ sở đảng, cơ sở quần chúng cách mạng và một lực lượng nhỏ tự vệ và du kích trang bị những vũ khí thô sơ, chưa có chính quyền cách mạng. Dựa trên sự giác ngộ, sự phát triển của các cơ sở quần chúng, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng và trưởng thành, lực lượng vũ trang cách mạng thoát ly không ngừng lớn mạnh. Trước cao trào kháng Nhật cứu nước, ở căn cứ địa Việt Bắc bắt đầu có tổ chức đảng, Mặt trận Việt Minh và một số đơn vị lực lượng vũ trang thoát ly. Trong cao trào, nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần nổ ra, chính quyền cách mạng các địa phương ra đời từ xã, huyện cho đến tỉnh, rồi khu giải phóng được thành lập. Như vậy, khu giải phóng được thành lập trên nền tảng căn cứ địa cách mạng, từ chưa hoàn chỉnh dần trở nên hoàn chỉnh, có Đảng lãnh đạo, có Mặt trận Việt Minh, có các tổ chức quần chúng, có chính quyền cách mạng và lực lượng vũ trang cách mạng. Căn cứ địa Việt Bắc được xây dựng lớn mạnh về mọi mặt, trở thành "đại bản doanh" của cách mạng Việt Nam.


Như vậy, kế thừa và phát huy truyền thống xây dựng căn cứ địa chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám, Trung ương Đảng đề ra đường lối, chính sách về xây dựng căn cứ địa cách mạng và đã không ngừng hoàn thiện đường lối, tích cực chỉ đạo xây dựng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Trong xây dựng căn cứ địa cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Triệt để dựa vào nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh của toàn dân. Đảng xác định chỗ dựa vững chắc nhất của cách mạng là quần chúng nhân dân, là tinh thần yêu nước, lòng trung thành vô hạn của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Đảng chủ trương xây dựng cơ sở chính trị (gồm cơ sở đảng và cơ sở quần chúng), động viên nhân dân ở vùng sau lưng địch sẵn sàng ủng hộ, tham gia kháng chiến. Đây là một tư tưởng lớn, có tầm quan trọng hàng đầu, bởi vì có cơ sở chính trị vững mạnh, Đảng mới có chỗ dựa lãnh đạo quần chúng tiến hành kháng chiến thắng lợi. Thực tiễn trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chứng tỏ, một khi nhân dân đã đồng tâm nhất trí đứng lên kháng chiến hoặc hướng về kháng chiến thì bất cứ ở đâu cũng là cơ sở, là căn cứ cách mạng. Đó là nhân tố đầu tiên bảo đảm thắng lợi.


Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, việc xây dựng căn cứ địa Việt Bắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đặc biệt quan tâm. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự liệu trước thực dân Pháp sẽ quay lại xâm lược Việt Nam. Vì thế, trước khi về Thủ đô, Người đã đặt việc tiếp tục xây dựng, tăng cường căn cứ địa Việt Bắc thành một nhiệm vụ quan trọng để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến sau đó.


Trên chiến trường chính Bắc Bộ, sau các chiến dịch Thu - Đông Việt Bắc (1947), giải phóng biên giới Cao - Lạng (1950) và giải phóng Hòa Bình (1952), căn cứ địa Việt Bắc thực sự đã được củng cố vững chắc và mở rộng đến các tỉnh trung du Bắc Bộ, sát vùng rừng núi và trung du Liên khu III. Các căn cứ địa khác cũng được hình thành ở Liên khu IV, Liên khu V và Nam Bộ. Đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, vùng tự do và vùng căn cứ của ta từ Bắc đến Nam đã chiếm hơn 70% diện tích đất nước và hơn 50% số dân. Hậu phương kháng chiến đã vô cùng lớn mạnh.


Bên cạnh các vùng tự do rộng lớn làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến, các cơ sở chính trị, các khu du kích và căn cứ du kích ở vùng sau lưng địch từng bước cũng được hình thành và phát triển. Với sự xuất hiện của các căn cứ du kích, các căn cứ địa cách mạng mới được hình thành và mở rộng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trong vùng tạm chiếm, lực lượng to lớn của nhân dân và du kích ta giông như kho thuốc súng trong bụng địch. Ta khéo củng cố và phát triển lực lượng ấy thì giặc Pháp sẽ vỡ bụng mà chết". Chỉ có như vậy, chúng ta mới có điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích, từng bước giành lấy thắng lợi cuối cùng.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, do điều kiện trong nước và quốc tế có nhiều điểm khác trước, nên ngay từ đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định miền Bắc là nền tảng cho cách mạng cả nước, sớm định hướng xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa, là cơ sở đầu tiên cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến ở miền Nam. Sau hòa bình, các lực lượng vũ trang miền Nam tập kết ra miền Bắc, các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến trở thành vùng bị chính quyền tay sai Mỹ kiểm soát. Thời kỳ đầu, ta chủ trương dựa vào dân để giữ gìn lực lượng, giữ gìn các cơ sở cách mạng đã có, từng bước củng cố và xây dựng thêm các cơ sở mới. Từ tháng 6-1956, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang, xây dựng căn cứ làm chỗ dựa; do vậy, một số căn cứ địa cách mạng mới đã được xây dựng. Từ năm 1958, một số "làng rừng" ở U Minh được tổ chức lại thành căn cứ chiến đấu. Những căn cứ có từ kháng chiến chống Pháp như Chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười, Rừng Sác... được xây dựng lại. Các "khu bất hợp pháp" ở vùng rừng núi Liên khu V cũng được tổ chức thành các căn cứ địa cách mạng. Do đó, cơ quan lãnh đạo địa phương có nơi đứng chân an toàn, các đơn vị vũ trang có chỗ dựa để xây dựng và chiến đấu. Sau Đồng khởi, nhân dân giành được quyền làm chủ ở một số địa phương. Các căn cứ địa cách mạng được mở rộng và củng cố, nối liền với nhau thành vùng giải phóng, hoặc căn cứ địa ở các chiến trường. Chiến tranh cách mạng phát triển đòi hỏi phải có căn cứ địa vững chắc, có căn cứ hậu cần với dự trữ nhân lực và vật lực bảo đảm đủ phục vụ nhu cầu tác chiến lớn. Vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ với hạt nhân là căn cứ địa (chiến khu) từ thời kháng chiến chống Pháp, có các căn cứ hậu cần trên từng địa bàn; vùng giải phóng Tây Nguyên với các căn cứ hậu cần trên từng hướng tác chiến, đã bảo đảm cho khối chủ lực mở nhiều cuộc tiến công. Liên khu V và đồng bằng sông cửu Long xây dựng được nhiều căn cứ địa trên từng địa bàn riêng biệt. Đến cuối cuộc kháng chiến, vùng giải phóng được mở rộng, nối liền các căn cứ địa từ Trị - Thiên đến Liên khu V, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, vây quanh thành phố Sài Gòn; có tuyến nối với đồng bằng sông Cửu Long, trở thành hậu phương chiến lược tại chỗ vững chắc trên chiến trường miền Nam.


Tóm lại, trong chiến tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định: Một là, chỗ dựa vững chắc nhất chính là các tổ chức quần chúng cách mạng, là lòng yêu nước của nhân dân. Hai là, dựa vào dân xây dựng cơ sở chính trị ở khắp nơi. Ba là, trên căn bản như vậy, xây dựng căn cứ địa - hậu phương cách mạng. Đi đôi với việc xây dựng cơ sở chính trị, chúng ta tiến lên xây dựng các khu du kích, các căn cứ địa cách mạng được hình thành và phát triển. Từ căn cứ du kích phát triển thành các vùng hậu phương ổn định, hậu phương vững chắc trong chiến tranh. Sau khi có những vùng giải phóng rộng lớn làm hậu phương ổn định, Đảng chủ trương vẫn tiếp tục phát triển căn cứ du kích ở sau lưng địch, từng bước mở rộng căn cứ địa, hậu phương. Đó là tư tưởng lãnh đạo xây dựng, phát triển căn cứ địa, hậu phương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dựa vào dân, nhất là nhân dân ở những vùng có truyền thống đấu tranh yêu nước, cách mạng, để xây dựng căn cứ địa, hậu phương. Có thể nói, đặc trưng quan trọng nhất của tư tưởng quân sự Việt Nam hiện đại về xây dựng căn cứ địa hậu phương chính là đường lối vận động quần chúng và xây dựng mặt trận chính trị trong nhân dân.


Việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương được tiến hành từng bước, từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ chưa hoàn chỉnh đến ngày càng hoàn chỉnh luôn là một quan điểm tư tưởng đúng đần, phù hợp với điều kiện khởi nghĩa và chiến tranh ở Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:37:48 pm »

2. Dựa vào địa hình hiểm trở, dựa vào các vùng nông thôn rừng núi để xây dựng căn cứ địa, hậu phương xuống vùng nông thôn đồng bằng và đô thị - những nơi giàu sức người, sức của

Khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh vệ quốc ở Việt Nam từ xưa tới nay đều dựa vào sức mạnh toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang - quân đội chủ yếu xuất thân từ nông dân và tiến hành đánh địch trên mọi vùng đất nước. Nói cách khác, lực lượng tiến hành khởi nghĩa - kháng chiến đa phần xuất thân từ nông dân. Do vậy, kết hợp xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở nông thôn (cả nông thôn rừng núi và nông thôn đồng bằng) với ở đô thị luôn là một quan điểm tư tưởng tiến bộ, phù hợp với điều kiện chiến tranh ở Việt Nam.


Trong lịch sử, mỗi khi dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu giành hoặc bảo vệ độc lập, tự do, ông cha ta đều biết thiết lập chỗ đứng chân, xây dựng "đất căn bản" của mình với tư tưởng chú trọng dựa vào các yếu tố nhân hòa và địa lợi, chủ yếu dựa vào nông thôn, khi thì chọn rừng núi, khi dựa vào nơi hiểm yếu ở vùng đồng bằng, hoặc từ rừng núi tiến xuống đồng bằng, khai thác sức người, sức của trong nhân dân để xây dựng và phát triển lực lượng.


Thời chống Bắc thuộc, Hai Bà Trưng dựa vào vùng rừng núi Cấm Khê (Ba Vì) làm căn cứ để kháng chiến chống quân xâm lược Đông Hán; Triệu Việt Vương dựa vào Đầm Dạ Trạch, một vùng đầm nước đầy lau sậy hiểm trở ở Khoái Châu (Hưng Yên) tiến hành kháng chiến trường kỳ, rồi sau đó chớp thời cơ phản công đánh đuổi quân Lương. Phùng Hưng dựa vào vùng Đường Lâm (Sơn Tây) mà làm nên nghiệp lớn. Mai Thúc Loan dựa vào đồi núi vùng Sa Nam (Nghệ An) xây dựng căn cứ địa chống lại ách thống trị của nhà Đường, tiến tới giải phóng Tống Bình, làm chủ đất nước.


Trong giai đoạn Cần Vương chống Pháp, nhiều lãnh tụ nghĩa quân đã xây dựng căn cứ địa ở vùng núi rừng hiểm trở. Phan Đình Phùng lấy núi Vũ Quang (Hương Khê, Hà Tĩnh) làm căn cứ khởi nghĩa; Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước đã xây dựng đất đứng chân ở miền rừng núi xứ Thanh; Đinh Công Tráng xây dựng căn cứ Hùng Lĩnh (Thanh Hóa). Trên vùng thượng du Tây Bắc có các căn cứ chống Pháp của nghĩa quân Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp và Đốc Ngữ. Hoàng Đình Kinh có căn cứ ở Hữu Lũng (Lạng Sơn)... Bên cạnh đó, cũng có những lãnh tụ nghĩa quân xây dựng căn cứ của mình tại vùng đầm lầy, như Nguyễn Thiện Thuật ở Bãi Sậy (Hưng Yên). Tất cả họ đều có tư tưởng dựa vào nơi hiểm yếu để lập căn cứ địa.


Những cuộc khởi nghĩa lớn thường buổi đầu xây dựng căn cứ ở vùng rừng núi hiểm trở, nơi cơ sở chính quyển địch yếu, nơi quân thù gặp khó khăn trong các cuộc hành quân đàn áp; nhưng đến khi cuộc khởi nghĩa đã phát triển, khi nhu cầu cung cấp sức người, sức của lớn hơn, thì nghĩa quân mở rộng căn cứ địa xuống miền xuôi, dựa vào nhân lực, vật lực ở vùng đồng bằng để phát triển lực lượng. Tư tưởng này biểu hiện rõ nét nhất trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Buổi đầu dựa vào căn cứ Lam Sơn ở núi rừng Thanh Hóa, sau phát triển xây dựng đất đứng chân ở Nghệ An và cả vùng nông thôn rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lãnh đạo cũng xuất phát từ căn cứ buổi đầu ở núi rừng Bình Định, rồi phát triển xây dựng căn cứ địa ở vùng trung du và đồng bằng miền Trung, từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận. Từ những căn cứ địa như vậy, lực lượng nghĩa quân Lam Sơn cũng như nghĩa quân Tây Sơn đã nhanh chóng phát triển lớn mạnh và giành được thắng lợi. Trong nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây, ông cha ta đã biết dựng "đất căn bản" ở vùng rừng núi, đồng thời cũng đã thấy rõ ý nghĩa quan trọng của việc phát triển từ rừng núi về đồng bằng. Như Nguyễn Trãi đã từng viết:

   "Nghĩa kỳ nhất hướng trung nguyên chỉ,
   Miếu toán tiên tri đại sự thành"

   (Một khi cờ nghĩa đã hướng về đồng bằng, thì có thể thấy trước việc lớn sẽ thành công).

Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, từ năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn Cao Bằng làm căn cứ địa buổi đầu; tiếp đến lại chọn vùng Bắc Sơn - Vũ Nhai mở rộng căn cứ địa và sau đó ít năm, căn cứ địa cách mạng đã được lan ra cả vùng rừng núi Việt Bắc, gồm sáu tỉnh gần vùng biên giới phía Việt - Trung. Đảng Cộng sản Việt Nam chọn những vùng này làm căn cứ địa cho cách mạng cả nước, vì nơi đây là vùng rừng núi và trung du, có vị thế chiến lược trọng yếu "tiến có thể đánh, lui có thể giữ", có đường giao thông liên lạc thuận tiện cả trong nước và quốc tế; nơi có cơ sở cách mạng sớm, và phong trào quần chúng mạnh mẽ. Việt Bắc cũng là vùng cơ cấu chính quyền địch mỏng, yếu và lỏng lẻo, có lợi cho hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng, bất lợi cho hoạt động của chính quyền và quân địch.


Trong cuộc chiến tranh cách mạng 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là dựa vào vùng nông thôn (cả rừng núi và đồng bằng) để xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng các căn cứ địa cách mạng. Vùng nông thôn là nơi có cả một lực lượng cách mạng đông đảo, vì nông dân chiếm 90% dân số. Dưới ách áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân và phong kiến, nông dân nước ta rất khổ cực, nên rất thiết tha với khẩu hiệu độc lập, tự do và ruộng đất, quyết tâm đi theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Nông thôn Việt Nam, từ trong truyền thống, có nền kinh tế tự cung tự cấp, không bị lệ thuộc nhiều vào thành thị, lại có địa hình thuận lợi cho hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang cách mạng trong điều kiện địch mạnh hơn ta về quân số và trang bị kỹ thuật. Nông thôn cũng là địa bàn mà bộ máy thống trị của địch yếu hoặc tương đối yếu, có nhiều sơ hở - đây là hạn chế căn bản của mọi kẻ xâm lược. Trong điều kiện như vậy, mặt trận chính trị và mặt trận quân sự vững chắc của cách mạng Việt Nam phải là nông thôn. Chỉ có coi trọng việc phát động và tổ chức quần chúng nông dân, xây dựng nông thôn thành căn cứ địa vững chắc, thành hậu phương vững chắc của chiến tranh thì mới bảo toàn và phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang để từng bước mở rộng lực lượng, thay đổi cục diện chiến trường, cuối cùng chiến thắng kẻ thù lớn mạnh.


Trong công tác xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở nông thôn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đúng vị trí và tác dụng của cả nông thôn rừng núi và nông thôn đồng bằng. Nông thôn rừng núi có địa thế hiểm yếu, là địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự. Ở đây, nhân dân các dân tộc rất trung thành với cách mạng, cũng chính là nơi địch yếu và sơ hở, trên địa bàn đó có thể hạn chế chỗ mạnh của địch. Dựa vào địa thế, quân đội và nhân dân có thể tích lũy và phát triển lực lượng, có thể kiên trì chiến đấu lâu dài ngay trong những trường hợp khó khăn nhất và lấy đó làm bàn đạp vững chắc phát triển xuống đồng bằng. Thực tiễn trong Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã chứng minh nông thôn rừng núi là căn cứ địa vững chắc nhất của cách mạng và chiến tranh cách mạng ở Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:38:32 pm »

Nông thôn đồng bằng tuy địa thế không hiểm trở như ở vùng rừng núi, nhưng lại là những nơi có khả năng cung cấp nhân lực, vật lực, có mạng lưới giao thông phát triển và là nơi tiếp giáp với thành thị, do đó là một địa bàn chiến lược quan trọng. Bởi vậy, đi đôi với việc xây dựng và củng cố căn cứ địa, hậu phương ở các vùng rừng núi, Đảng Cộng sản Việt Nam hết sức coi trọng xây dựng và củng cố căn cứ địa, hậu phương ở vùng đồng bằng. Chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mình là chính, nên việc tranh thủ và dựa vào nhân dân các vùng đồng bằng để xây dựng căn cứ địa có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Có như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam mới động viên được đông đảo nhân dân tham gia khởi nghĩa và chiến tranh, mới đẩy mạnh được chiến tranh du kích ở khắp nơi, kể cả vùng xung yếu gần các thành thị và các đường giao thông quan trọng, mới giải quyết được nguồn nhân lực, vật lực dồi dào để đáp ứng kịp thời những nhu cầu ngày càng lớn của chiến tranh. Chỉ có như vậy, quân và dân Việt Nam mới phá tan được âm mưu bắt người, cướp của của địch, đánh bại chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" hay chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của quân thù.


Quan điểm trên đây được thể hiện ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Việt Nam không thể có căn cứ địa rộng rãi và vững chắc... Những căn cứ địa ở Việt Nam đều có thể bị địch đánh xuyên mũi dùi vào hoặc bao vây. Nhưng Việt Nam đã có một mặt trận đoàn kết toàn dân, nhân dân đã được hưởng chế độ dân chủ rộng rãi và liều chết giữ vững chế độ ấy... nên Việt Nam vẫn có thể kháng chiến và nắm chắc thắng lợi bằng cách mở mặt trận ở bất cứ nơi nào có bóng địch, đánh ngay cả ở sau lưng địch, trong ruột địch và tổ chức căn cứ địa không những ở rừng núi mà cả ở đồng bằng"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr.180).


Trong bối cảnh đó, ngoài việc củng cố căn cứ địa Việt Bắc, quân và dân Việt Nam đã ra sức giữ vững những vùng tự do rộng lớn ở Liên khu IV, Liên khu V, bao gồm cả vùng rừng núi và vùng đồng bằng; giữ vững cả một vùng đồng bằng rộng lớn ở miền Tây Nam Bộ. Ngay tại đồng bằng Bắc Bộ là nơi địch tập trung nhiều quân nhất, nhưng đến nàm 1953, tướng Nava cũng phải thừa nhận: "Trong 7.000 làng thì đã có trên 5.000 làng hoàn toàn hoặc ít nhiều do Việt Minh kiểm soát"1 (Henri Nava: Đông Dương hấp hối, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004). Điều đó đã nói lên một thực tế rằng, quân đội Việt Nam hoàn toàn có khả năng đứng vững ở đồng bằng trong hoàn cảnh bị bao vây, vì căn cứ địa, hậu phương của Việt Nam không phải ở nơi nào khác mà ở ngay trong lòng đồng bào vốn luôn luôn hướng về cách mạng. Tuy vậy, ngay từ đầu cuộc kháng chiến, trong thế tương quan bất lợi, mặc dầu Việt Nam chủ trương rút khỏi thành thị để đứng chân vững chắc, xây dựng căn cứ địa ở nông thôn rừng núi, song không phải vì thế mà bỏ rơi trận tuyến thành thị mà vẫn chủ trương duy trì, phát triển các cơ sở chính trị ở thành thị để tiến hành đấu tranh làm rối loạn hậu phương địch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc xã hội chủ nghĩa là hậu phương lớn của tiền tuyến miền Nam, do đó xây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh là một vấn đề chiến lược quyết định thắng lợi của cách mạng cả nước. Khi cả nước có chiến tranh, miền Bắc vừa là căn cứ địa cách mạng của cả nước, vừa là hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lại vừa là tiền tuyến trực tiếp chiến đấu ác liệt chống máy bay và tàu chiến Mỹ. Tại miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đánh địch trên cả ba vùng chiến lược, nhưng việc xây dựng căn cứ địa vẫn chủ yếu dựa vào vùng nông thôn, cả ở rừng núi và đồng bằng. Việc xây dựng căn cứ địa - vùng giải phóng trên các chiến trường được tiến hành từng bước, với quy mô và hình thức thích hợp tùy thuộc vào so sánh lực lượng giữa ta và địch, trên từng vùng, địa bàn. Chủ trương của Đảng là kết hợp xây dựng cơ sở chính trị ở khắp nơi, xây dựng căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở các vùng giải phóng, trước hết là vùng núi, nơi hiểm yếu như ở Tây Nguyên, sau đó phát triển đến các vùng nông thôn đồng bằng, ở vùng rừng núi, ở các căn cứ (chiến khu) từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, ta có điều kiện mở rộng và phát triển thành vùng giải phóng trên các địa bàn chiến lược quan trọng như miền Đông Nam Bộ...


Ở vùng nông thôn đồng bằng đông dân, nhiều của, Đảng chủ trương xây dựng và phát triển căn cứ địa gắn liền với việc không ngừng mở rộng ra vùng tranh chấp giữa ta và địch, đấu tranh chính trị đi đôi với đấu tranh vũ trang, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất; tạo và mở rộng nguồn động viên nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến, đi đôi với hạn chế, phá kế hoạch khai thác nhân lực, vật lực của địch. Căn cứ địa được xây dựng vững chắc ở đồng bằng sông Cửu Long, có những căn cứ nằm sát trục đường giao thông quan trọng.


Ở sâu trong các vùng địch kiểm soát chặt chẽ, có những "căn cứ lõm" là nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo, chỉ huy, của cơ sở hậu cần. Chẳng hạn như "căn cứ lõm" Đá Mặn nằm sát sân bay Nước Mặn ở Quảng Nam - Đà Năng của lính thủy đánh bộ Mỹ. Các "căn cứ lõm" bảo đảm cho các vành đai diệt Mỹ như Chu Lai, Củ Chi, Bình Đức... đều ở gần các căn cứ lớn của quân Mỹ.


Trong khi nêu cao vị trí quan trọng của nông thôn thì trong tư tưởng của Đảng ta cũng luôn xác định vị trí quan trọng của thành thị. Thành thị là nơi tập trung cơ quan đầu não của địch, đồng thời là nơi tập trung đông đảo công nhân, nhân dân lao động, trí thức tiến bộ và học sinh, những tầng lớp có tinh thần yêu nước cao. Phong trào đấu tranh của quần chúng ở thành thị nếu được đẩy mạnh thì sẽ có tiếng vang lớn. Mọi biến cố ở thành thị sẽ có sự cộng hưởng rất lớn, mà trước hết sẽ làm rối loạn ngay tại sào huyệt, hậu phương của địch. Bởi vậy, đi đôi với việc xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở nông thôn, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng hết sức coi trọng xây dựng cơ sở chính trị ở thành thị. Có cơ sở chính trị vững chắc ở thành thị thì khi có thời cơ thuận lợi, chúng ta mới huy động được đông đảo quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa tại sào huyệt kẻ thù. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở ngay trong các đô thị, kể cả Sài Gòn, cũng có nhiều cơ sở cách mạng, nơi đứng chân của lãnh đạo, chỉ huy, nơi giấu cán bộ, giấu quân, là nơi chuẩn bị và dự trữ vũ khí, đạn dược cho các trận đánh lớn quyết định diễn ra trong thành phố.


Như vậy, quan điểm xây dựng căn cứ địa ở các vùng nông thôn cả ở rừng núi và đồng bằng là một quan điểm xuyên suốt, được vận dụng thành công trong cả hai cuộc kháng chiến. Nông thôn là chỗ dựa và trận địa vững chắc, lâu dài của kháng chiến ở Việt Nam. Dựa chắc vào nông thôn, xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh ở nông thôn rừng núi và đồng bằng là một tư tưởng lớn, một yêu cầu có tính chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Kết hợp xây dựng căn cứ địa, hậu phương ở cả nông thôn và thành thị cũng là một quy luật về xây dựng căn cứ địa, hậu phương trong chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:39:38 pm »

3. Kết hợp xây dựng căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở khắp nơi với xây dựng căn cứ địa, hậu phương chung của cả nước; tranh thủ hậu phương quốc tế

Ở Việt Nam, trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc, buổi đầu thường xây dựng các căn cứ địa tại chỗ, những vùng có địa thế hiểm yếu, xa các căn cứ địch, rồi phát triển từng bước, tạo thành một căn cứ liên hoàn trong từng vùng và tiến tới phạm vi cả nước, trong đó thường có các căn cứ chính (trung tâm), không ngừng mở rộng và hình thành một hệ thống căn cứ địa, hậu phương ổn định để cung cấp sức ngươi, sức của cho chiến tranh. Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, hậu phương chiến tranh trước hết là hậu phương chung của cả nước. Khi địch tiến công, quân và dân Việt Nam thường dựa vào những vùng nhân dân có truyền thống đấu tranh kiên cường, nơi có vị trí chiến lược làm đất căn bản, chỗ dựa của kháng chiến. Như thế, trong điều kiện "lòng dân" hướng về kháng chiến, thì cả nước vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương.


Thế kỷ XIII, vương triều Trần tiến hành ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên, trước sau đều dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, dựa vào sự chuẩn bị hậu phương chung của cả nước. Có những lúc quân thù đã chiếm cả kinh đô Thăng Long và nhiều địa bàn trọng yếu, khiến cả triều đình và quân đội phải rút lui để bảo toàn lực lượng, khó khăn nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai năm 1285. Dự tính trước những khó khăn đó, triều đình nhà Trần đã xây dựng những cơ sở kháng chiến của mình. Đó là các lộ Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình), những vùng đất bản bộ, nơi quê hương bản quán của nhà Trần; đó là vùng Hoan - Ái (Thanh Hóa và Nghệ An), nơi nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm. Nhờ đó mà ngay trong gian khó, vua Trần Nhân Tông vẫn làm thơ rằng: "Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh" (Cối Kê chuyện cũ chắc ngươi còn nhớ, châu Hoan và châu Diễn vẫn còn mười vạn quân). Chính vì vậy, khi lâm nguy, triều đình nhà Trần đã có nơi nương dựa an toàn, để từ đó, vừa bảo vệ mình vừa phát triển lực lượng, chờ thời cơ phản công giành thắng lợi.


Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trong giai đoạn đầu đã dựa vào nguồn cung cấp nhân lực, vật lực của nhân dân tại vùng rừng núi Thanh Hóa, nơi nghĩa quân xây dựng căn cứ địa đầu tiên cho sự nghiệp đấu tranh của mình. Từ năm 1424, căn cứ địa của nghĩa quân được mở rộng sang đất Nghệ An, rồi vùng giải phóng từng bước phát triển cả vùng lãnh thổ phía Nam từ Thanh Hóa vào tận Tân Bình, Thuận Hóa. Càng chiến đấu, khu căn cứ, hậu phương của nghĩa quân càng mở rộng. Đến cuối năm 1426, hầu hết đất nước đã được giải phóng. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ một đốm lửa của núi rừng Thanh Hóa đã phát triển thành một cuộc chiến tranh giải phóng có quy mô toàn quốc. Tuy rằng, lúc đó quân Minh vẫn còn hơn mười vạn đóng giữ trong các thành như Đông Đô, Tây Đô, Nghệ An, Xương Giang, Chí Linh, Cổ Lộng, Tam Giang, Điêu Diêu, Thị Cầu, Khâu Ôn,... và ở phương Bắc nhà Minh đang ráo riết điều động viện binh để đưa sang cứu nguy cho đạo quân xâm lược, nhưng Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã bắt tay vào xây dựng một chính quyền độc lập làm công cụ mạnh mẽ cho việc củng cố hậu phương và tăng cường lực lượng. Đất nước được chia thành bốn đạo, đứng đầu mỗi đạo có các tổng tri. ở miền núi đặt quan thủ ngữ, đoàn luyện và ban chức tước cho các tù trưởng có công đánh giặc. Lê Lợi đẩy mạnh việc huy động nhân lực và vật lực cho giai đoạn quyết định của cuộc chiến tranh. Việc xây dựng được một bộ máy chính quyền các cấp lúc đó đã đánh dấu một bước phát triển lớn của nghĩa quân, một thắng lợi rất quan trọng của cuộc khởi nghĩa. Lực lượng nghĩa quân phát triển nhanh chóng. Lương thực, vũ khí cũng được sắm sửa và chuẩn bị đầy đủ. Ngoài việc xây dựng chính quyền và tăng cường lực lượng vũ trang, Lê Lợi còn bước đầu ban hành một số chính sách về kinh tế, xã hội nhằm củng cố hậu phương vững chắc hơn nữa. Hậu phương của cuộc chiến tranh đã được mở rộng trên toàn quốc. Đó là một nhân tố có ý nghĩa quyết định để nghĩa quân cùng với toàn dân tiến lên giành thắng lợi to lớn, đưa cuộc chiến tranh giải phóng đến thắng lợi.


Trong thời hiện đại, để phù hợp vồi quy luật phát triển hậu phương của chiến tranh nhân dân và nhằm khai thác, động viên, phát huy cao độ lực lượng mọi mặt của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương kết hợp xây dựng hậu phương tại chỗ với xây dựng hậu phương chung của cả nước.


Trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám, căn cứ địa Việt Bắc đã có tác dụng lớn đối với việc đẩy mạnh phong trào cách mạng trong cả nước. Đó là chỗ dựa vững chắc để Trung ương Đảng triển khai các hoạt động quy mô lớn nhằm xúc tiến mạnh mẽ công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trên phạm vi cả nước. Dựa vào căn cứ địa Việt Bắc, Đảng đã xây dựng được những đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên; hoạt động thắng lợi của các đơn vị đó đã gây nên thanh thế ngày càng lớn cho cách mạng, cổ vũ nhân dân cả nước sẵn sàng nổi dậy giành lấy chính quyền.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngoài căn cứ địa Việt Bắc, chúng ta còn có nhiều vùng tự do rộng lớn ở Liên khu IV, Liên khu V và miền Tây Nam Bộ đi đôi với một hệ thống căn cứ du kích ở vùng sau lưng địch. Những vùng đó đã được xây dựng và củng cố một cách toàn diện, không những phát huy được tác dụng to lớn của hậu phương tại chỗ mà còn có sự chi viện nhất định cho các chiến trường khác. Nhờ vậy mà chúng ta huy động được tối đa sức người, sức của để thỏa mãn nhu cầu ngày càng lớn của tiền tuyến, đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chủ trương của Đảng ta là kết hợp các căn cứ địa, hậu phương tại chỗ ở miền Nam với hậu phương chung cả nước là miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sự kết hợp đó bảo đảm phát huy sức mạnh của cả dân tộc Việt Nam, cả chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chế độ dân chủ nhân dân ở các vùng giải phóng ở miền Nam. Ở đây chúng ta thấy biểu hiện rõ ý nghĩa to lớn của tư tưởng kết hợp tăng cường xây dựng hậu phương lớn miền Bắc với tăng cường xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền Nam. Lúc đầu, một số địa phương miền Nam chưa thật chú ý xây dựng và phát triển căn cứ địa, hậu phương tại chỗ, nên khi tình hình chuyển biến phức tạp, đã gặp nhiều khó khăn, nhất là về mặt bảo đảm lương thực và một số mặt khác về hậu cần, đồng thời ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng sức dân. Đến khi nhiều nơi thực hiện tốt chủ trương của Đảng thì có chuyển biến tốt, các đơn vị đã tự túc được trên 50% lương thực, như Tây Nguyên, Trị - Thiên... ở vùng đồng bằng do ta làm chủ, ta đã phát triển sản xuất. Hậu phương tại chỗ do đó đã phát huy tác dụng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:40:10 pm »

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh cách mạng, mang đặc trưng của chiến tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX: Một là, nhiệm vụ tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chính quyền dân tộc mới, thay đổi chế độ. Hai là, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là bộ phận của nhiệm vụ cách mạng. Ba là, mỗi quốc gia tiến hành chiến tranh giải phóng đều thuộc về một phong trào tiến bộ nhất định của thế giới trong bối cảnh thế giới căn bản chia làm "hai đối cực" là các nước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa. Do đó, Việt Nam tiến hành chiến tranh chống xâm lược, không thể không dựa vào hậu phương quốc tế, vào sự giúp đỡ của bạn bè và nhân dân tiến bộ trên thế giới. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Như thế, khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam không chỉ dựa vào hậu phương trong nước, mà còn có thể dựa vào hậu phương quốc tế rộng lớn.


Từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp, ngay khi còn xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương dựa vào thế đứng có lợi ở biên giới Việt - Trung để tranh thủ sự chi viện của quốc tế. Bấy giờ, nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến trong điều kiện hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành và ngày càng củng cố. Đặc biệt, khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi đã làm cho căn cứ địa, hậu phương chung của Việt Nam từ chỗ bị bao vây bốn phía đã được nối liền một dải với hệ thống xã hội chủ nghĩa. Điều đó tạo điều kiện cho chúng ta có thể tiếp nhận được sự viện trợ trực tiếp về vật chất của các nước anh em để tăng cường tiềm lực hậu phương, đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi.


Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam cùng với hai nước bạn Lào và Campuchia sát cánh với nhau chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược, ở Lào, bọn phản động tay sai đế quốc Mỹ từ khi giành được chính quyền đã ra sức chống phá cách mạng Lào. Với tư tưởng chỉ đạo "giúp bạn là tự giúp mình", Việt Nam đã giúp nhân dân Lào xây dựng lực lượng cách mạng, giúp xây dựng và giữ vững căn cứ địa - vùng giải phóng. Việt Nam giúp Lào mở rộng và củng cố các căn cứ, tạo thành thế hai bên cùng có thế đứng vững, dựa lưng vào nhau. Trên cơ sở này, quân và dân Việt Nam xây dựng tuyến giao thông vận tải quân sự chiến lược đông - tây Trường Sơn, nối liền hậu phương miền Bắc với các chiến trường của ta ở miền Nam, tới các căn cứ cách mạng của Lào và Campuchia. Với Campuchia, quân và dân Việt Nam tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của chính quyền trung lập của Vương quốc. Từ đó, Việt Nam thu mua được vật chất, nhất là lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến trường Nam Bộ và Tây Nguyên; cũng như sử dụng được cảng Xihanúcvin để tiếp nhận một số hàng viện trợ theo đường biển quốc tế. Chính nhờ con đường này mà Việt Nam kịp thời chuyển được một số lớn súng đạn tới chiến trường để đánh bại cuộc hành quân Gianxơn Xity của Mỹ năm 1967. Quân và dân Việt Nam đã chi viện vật chất, kỹ thuật và giúp cách mạng Campuchia đánh bại các cuộc hành quân của Mỹ, mở rộng vùng giải phóng; và cũng đã dựa vào đó thu mua tại chỗ một phần lương thực, thực phẩm để cung cấp cho chiến trường Nam Bộ.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia dần dần hình thành. Căn cứ địa, vùng giải phóng miền Nam và các căn cứ địa, vùng giải phóng của cách mạng Lào và Campuchia đã dựa lưng vào nhau, tạo nên thế trận hậu phương vững chắc của chiến trường cách mạng cả ba nước Đông Dương.


Như vậy, Việt Nam có căn cứ địa cách mạng, hậu phương lớn miền Bắc, lại có hậu phương tại chỗ ở miền Nam. Hậu phương tại chỗ ở miền Nam còn gắn liền với căn cứ địa cách mạng của hai nước láng giềng. Nối liền căn cứ địa, hậu phương miền Bắc với hậu phương tại chỗ miền Nam và căn cứ địa cách mạng của Lào và Campuchia, là tuyến vận tải quân sự đứng vững trên địa bàn đông - tây Trường Sơn, tạo thành một hệ thống căn cứ địa, hậu phương liên hoàn, ngày càng rộng lớn, vững mạnh.


Chủ trương kháng chiến dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự viện trợ của hậu phương quốc tế càng được phát huy trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Hệ thống xã hội chủ nghĩa phát triển lớn mạnh bao gồm nhiều nước với hơn một tỷ dân, có một lực lượng kinh tế hùng hậu. Đó là chỗ dựa vững mạnh, là căn cứ địa chung của cách mạng toàn thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam.


Nhờ có đường lối quốc tế đúng đắn, ta đã đoàn kết và tranh thủ được sự giúp đỡ của nhân dân các nước anh em, bè bạn năm châu. Có thể nói, sự viện trợ về vật chất và tinh thần của các nước đối với cuộc kháng chiến của chúng ta là vô cùng to lớn và hiệu quả. Chúng ta dựa vào tiềm lực của đất nước Việt Nam là chính, đồng thời dựa vào tiềm lực của các nước anh em để tiến hành kháng chiến. Đó cũng là một nhân tố rất quan trọng có tác dụng tăng cường mạnh mẽ lực lượng chiến đấu của quân và dân Việt Nam nhằm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.


Có hậu phương trong nước ngày càng vững mạnh, bao gồm hậu phương chung và hậu phương tại chỗ, lại dựa vào hậu phương quốc tế rộng lớn, nhân dân ta đã phát huy đến mức cao nhất tiềm lực kinh tế và quân sự của đất nước mình, đồng thời tận dụng được những điều kiện thuận lợi của thời đại để đưa cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đến thắng lợi hoàn toàn. Quan điểm tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương nói trên luôn luôn đúng đắn và có giá trị thực tiễn to lớn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:42:58 pm »

4. Xây dựng căn cứ địa, hậu phương vững mạnh toàn diện

Đối với khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng căn cứ địa, hậu phương từ không đến có, thì việc thành lập những căn cứ địa đầu tiên mới chỉ là thắng lợi bước đầu. Để củng cố và phát triển thắng lợi đó, trong tư tưởng lãnh đạo, chỉ đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng và phát triển căn cứ địa, hậu phương về mọi mặt để các căn cứ địa, hậu phương luôn đứng vững được trong mọi thử thách và ngày càng phát huy tác dụng to lớn đối với chiến tranh. Thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo đó không chỉ làm cho căn cứ địa, hậu phương vững mạnh để chi viện ngày càng đắc lực cho tiền tuyến, mà còn phát huy được ảnh hưởng tốt đối với nhân dân các vùng địch còn kiểm soát, cổ vũ và thúc đẩy họ đứng lên đấu tranh, biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta, làm cho căn cứ địa, hậu phương của ta ngày một mở rộng và phát triển. Theo quan điểm chiến tranh nhân dân, sự vững mạnh của căn cứ địa, hậu phương dựa trên các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, địa lý. Nhận rõ tầm quan trọng của các nhân tố đó, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng và củng cố căn cứ địa, hậu phương một cách toàn diện.


Về chính trị, trong khi nhiều nước trên thế giới coi xây dựng căn cứ địa về mặt quân sự là quan trọng nhất, thì Đảng Cộng sản Việt Nam coi việc xây dựng và củng cố căn cứ địa, hậu phương về mặt chính trị là nhiệm vụ hàng đầu; bởi sự vững chắc của căn cứ địa, hậu phương trước hết phải dựa vào sự giác ngộ cách mạng, sự nhất trí về chính trị, tinh thần của nhân dân, dựa vào sự vững chắc của các tổ chức chính trị của quần chúng cách mạng đó. Tinh thần yêu nước, ý thức chính trị của quần chúng với tính ưu việt của chế độ là động lực, là nền tảng cho sự phát triển vững chắc của căn cứ địa, hậu phương chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.281).


Quan điểm xây dựng căn cứ địa, hậu phương về chính trị hàm chứa nhiều nội dung. Trước hết là phải ra sức tuyên truyền, giáo dục quần chúng nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ mới, nâng cao chí căm thù giặc và tinh thần cảnh giác cách mạng; động viên và tổ chức nhân dân hăng hái tham gia mọi hoạt động xây dựng và củng cố căn cứ địa, hậu phương; luôn luôn sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ, phát triển căn cứ địa, hậu phương. Bên cạnh đó, Đảng chủ trương không ngừng phát triển và củng cố tổ chức đảng, tăng cường sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng đối với mọi hoạt động của căn cứ địa, hậu phương; xây dựng cơ sở đảng vững mạnh làm tham mưu cho phong trào đấu tranh ở địa phương. Ngoài ra, Đảng xác định phải ra sức củng cố khối liên minh công nông, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, lấy đó làm cơ sở để xây dựng và phát triển mọi mặt của lực lượng cách mạng trong căn cứ địa, hậu phương. Xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, thực hiện quyền tự do, dân chủ đối với nhân dân, đồng thời kiên quyết trấn áp mọi phần tử phản cách mạng... cũng là những nhiệm vụ được quan tâm chặt chẽ. Để tổ chức nhiệm vụ chính trị một cách hiệu quả tại địa phương, Đảng cũng vận động quần chúng chấp hành đầy đủ các chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đối với những người có công với cách mạng và những người lầm đường về với cách mạng; thực hiện tốt chính sách ruộng đất, giảm tô, giảm tức, mang lại quyền lợi cho nông dân - có như vậy mới phát huy được tính tích cực của đông đảo quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng.


Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng và không ngừng củng cố sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong nhân dân. Nhờ thực hiện tốt quan điểm xây dựng căn cứ địa, hậu phương về mặt chính trị, tại các căn cứ địa, hậu phương chung và hậu phương tại chỗ, nhân dân Việt Nam đã hăng hái tham gia kháng chiến kiến quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự đã phát huy được vai trò to lớn của căn cứ địa đối với cuộc kháng chiến.


Về quân sự, trong tư tưởng chỉ đạo cũng như trong hoạt động thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng xây dựng căn cứ địa, hậu phương về mặt quân sự. Trong công tác xây dựng về quân sự thì việc vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân và bố trí thế trận một cách hợp lý là những yếu tố quan trọng giúp cho căn cứ địa, hậu phương có sức mạnh đánh bại mọi cuộc hành quân lấn chiếm, càn quét hoặc tiến công với mọi quy mô của địch; đồng thời làm bàn đạp xuất phát cho lực lượng vũ trang mở các cuộc phản công, tiến công vào tận sào huyệt của kẻ thù.


Trong truyền thống quân sự Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV), xây dựng hậu phương nói chung và xây dựng lực lượng vũ trang nói riêng theo chính sách "ngụ binh ư nông"; nghĩa là "gửi binh trong nông", gắn giữa "việc binh" và "việc nông", để vừa có đủ lực lượng sản xuất vừa có được một quân số thường trực hợp lý, bảo đảm kết hợp tốt giữa sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Kế thừa truyền thống đó, trong thời hiện đại, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương trên cơ sở động viên, tổ chức quần chúng mà xây dựng ba thứ quân một cách cân đối và hợp lý: phát triển rộng rãi dân quân tự vệ, ra sức xây dựng bộ đội địa phương vững mạnh, đồng thời xây dựng bộ đội chủ lực tinh nhuệ và cơ động, với số lượng thích hợp, bảo đảm vừa có đủ lực lượng chiến đấu bảo vệ căn cứ địa, hậu phương, vừa để số người thoát ly sản xuất không quá nhiều, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2022, 04:44:05 pm »

Chiến tranh càng leo thang, yêu cầu cơ động về lực lượng vận chuyển phương tiện chiến tranh trên các chiến trường và yêu cầu tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương ra tiền tuyến ngày càng cao. Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng căn cứ địa, hậu phương về quân sự còn bao gồm cả việc tổ chức chính quyền một cách hợp lý trong từng căn cứ địa cũng như trong hệ thống liên hoàn nhiều căn cứ địa. Đảng xác định cần có kế hoạch cải tạo địa hình, xây dựng làng, xã chiến đấu, xây dựng các tuyến hậu cần chiến lược và chiến dịch, làm cho căn cứ địa, hậu phương thực sự trở thành những căn cứ xuất phát tiến công vững chắc không chỉ của lực lượng tại chỗ mà cả của lực lượng cơ động chiến lược. Đảng cũng chú trọng xây dựng mạng đường giao thông chiến lược, chiến dịch, hệ thống kho tàng vật tư dự trữ ngày càng hoàn chỉnh, để bảo đảm việc cơ động lực lượng, phương tiện và tiếp tế vận chuyển trên các chiến trường cũng như việc tiếp nhận sức người, sức của từ hậu phương chung đến hậu phương tại chỗ thực hiện được thuận lợi. Công tác chuẩn bị cho nhân dân và các lực lượng vũ trang trong căn cứ địa, hậu phương sẵn sàng đánh bại mọi cuộc hành quân lấn chiếm, càn quét, hoặc tiến công của địch... cũng được đảm bảo. Trong giai đoạn cuối của mỗi cuộc kháng chiến, xây dựng căn cứ địa, hậu phương về quân sự còn bao gồm cả việc bố trí thế trận phòng không, phòng hóa, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, v.v...


Về kinh tế, xây dựng căn cứ địa, hậu phương về mặt kinh tế luôn là một khâu hết sức quan trọng. Trong lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm, ông cha ta thường chủ trương vừa cày ruộng vừa đánh giặc; động viên nhân dân trong các vùng giải phóng chăm lo sản xuất, tích trữ lương thực, cung cấp cho các đội quân con em mình đánh giặc. Chính sách nông binh, chính sách đồn điền luôn được vận dụng thành công.


Trong hoàn cảnh chiến tranh hiện đại, quan điểm trên càng được coi trọng, bởi vì có phát triển được kinh tế ở căn cứ địa, hậu phương (cả ở hậu phương chung và hậu phương tại chỗ), thì mới có điều kiện để duy trì và phát triển tiềm lực chiến tranh, xây dựng căn cứ hậu cần tại chỗ, để đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vật chất ngày càng lớn của chiến tranh, thực hiện đánh lâu dài, càng đánh càng mạnh.


Kinh tế ở căn cứ địa, hậu phương được phát triển thì mới có điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, làm cho tình hình mọi mặt của vùng giải phóng đều hơn hẳn các vùng địch còn kiểm soát. Có như vậy mới thiết thực nêu cao được uy tín, ảnh hưởng của chế độ mới, làm cho nhân dân càng tin tưởng và quyết tâm phấn đấu để xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, hậu phương, đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng.


Tùy theo điều kiện cụ thể ở từng địa phương, từng vùng và từng thời kỳ mà đặt kế hoạch xây dựng kinh tế cho phù hợp. Trên cơ sở cải tạo từng bước quan hệ sản xuất để đẩy mạnh sản xuất trong căn cứ địa, hậu phương.


Trong quá trình xây dựng căn cứ địa, hậu phương, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của nhân dân và lực lượng vũ trang; nhưng đồng thời cũng tranh thủ phát triển các ngành sản xuất thủ công nghiệp và công nghiệp; đặc biệt quan tâm đến xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng với quy mô và trình độ thích hợp để đáp ứng nhu cầu về trang bị vũ khí, phương tiện quân sự trong các bước phát triển của chiến tranh. Khi xây dựng căn cứ địa, hậu phương về kinh tế cần nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh là chính, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đồng thời tranh thủ tối đa và và sử dụng hiệu quả, hợp lý sự giúp đỡ quốc tế...


Xây dựng căn cứ địa, hậu phương về kinh tế trong điều kiện chiến tranh không chỉ đơn thuần là phát triển kinh tế một chiều mà còn phải có sự kết hợp tốt giữa hai mặt "xây" và "chống", như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế của ta; đồng thời đấu tranh kinh tế với địch"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.173), làm cho kinh tế của ta không ngừng lớn mạnh, kinh tế của địch không ngừng suy yếu.


Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quán triệt quan điểm tư tưởng xây dựng căn cứ địa, hậu phương về kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp thích hợp nhằm khuyến khích phong trào tăng gia sản xuất trong nhân dân; động viên sức người, sức của một cách hợp lý; bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, đáp ứng được cả nhu cầu trước mắt và bồi dưỡng sức dân để kháng chiến trường kỳ. Đi đôi với việc phát triển sản xuất, phải thường xuyên thực hành tiết kiệm. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã kịp thời có những chủ trương đúng đắn và kiên quyết để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu bao vây, cấm vận về kinh tế của kẻ thù; vừa bảo vệ được các hoạt động xây dựng kinh tế của ta, vừa hạn chế và vô hiệu hóa được các hoạt động phá hoại kinh tế của địch.


Về văn hóa, xã hội, cùng với xây dựng căn cứ địa, hậu phương về chính trị, quân sự và kinh tế, thì xây dựng căn cứ địa, hậu phương về văn hóa, xã hội cũng là một nội dung quan trọng góp phần làm cho các nội dung tư tưởng nêu trên được hiện thực hóa một cách có hiệu quả và bền vững; làm cho căn cứ địa, hậu phương vững chắc hơn. Văn hóa mà chúng ta chủ trương xây dựng, đó là một nền văn hóa gắn liền với kháng chiến, phục vụ kháng chiến, phục vụ đời sống của các tầng lớp nhân dân, do đó "văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.368).


Xây dựng căn cứ địa, hậu phương về văn hóa cũng đồng nghĩa với việc quét sạch tàn tích văn hóa ngu dân và những tệ nạn xã hội do địch để lại, xây dựng nền văn hóa cách mạng theo phương châm "dân tộc, khoa học và đại chúng", thực hiện "nếp sống mới" trong mọi mặt sinh hoạt xã hội. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi "giết giặc đói, giết giặc dốt và giặc ngoại xâm". Dưới sự lãnh đạo của Người, Đảng đã động viên toàn dân triệt để xóa nạn mù chữ, phát triển phong trào bổ túc văn hóa, từng bước cải cách chế độ giáo dục để nâng cao trình độ văn hóa của đông đảo quần chúng và đào tạo những lớp người mới, những cán bộ mới cho cách mạng. Cùng với đó là đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, nghệ thuật nhằm nâng cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, yêu chế độ mới của người dân; quan tâm phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; tổ chức cứu tế xã hội, đề cao tinh thần "nhường cơm sẻ áo" cho nhau trong nhân dân; thường xuyên phát động phong trào thi đua yêu nước trong mọi tầng lớp, mọi cấp, mọi ngành; nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động viên mọi người dốc hết tinh thần và lực lượng cho sự nghiệp đánh giặc, cứu nước... Làm tốt những việc đó, một mặt là nhằm động viên quân và dân ở căn cứ địa, ở hậu phương lớn của cả nước cũng như hậu phương tại chỗ, hăng hái lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu; mặt khác, nhằm góp phần củng cố chế độ mới - chế độ ưu việt của dân, do dân và vì dân.


Quá trình xây dựng, củng cố căn cứ địa, hậu phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975) cũng đồng thời là quá trình xây dựng yà củng cố chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân ngay trong chiến tranh và ngược lại, xây dựng và củng cố chế độ mới trong chiến tranh cũng chính là góp phần củng cố căn cứ địa, hậu phương vững mạnh, vả lại, xây dựng chế độ xã hội mới trong chiến tranh còn tạo nền tảng vững chắc để xây dựng, kiến thiết đất nước sau khi chiến tranh kết thúc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM