Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:55:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng Trần Văn Trà và những chặng đường lịch sử B2 Thành Đồng  (Đọc 44608 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #80 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 08:47:41 am »

    Tháng 6/1974, Bộ Chỉ huy Miền đã kiểm điểm tình hình mọi mặt của B2 qua một mùa khô thử thách: Thử thách về sức mạnh của đôi bên ta, địch thực tế trên chiến trường, thử thách về ý chí và hiệu quả hành động thực hiện kế hoạch mà cả hai bên đều đã vạch ra sớm từ mùa mưa 1973 và đều cùng nỗ lực giành thắng lợi về mình. Từng cơn mưa đầu mùa đổ xuống như trút nước, báo hiệu một mùa mưa tầm tã như bình thường mọi năm ở B2. Cái nóng bức của trưa hè mệt mỏi đã nhường chỗ cho không khí mát mẻ dễ chịu. Rừng xanh đó đây đã điểm vàng bởi những chùm gùi chín rộ. Chiến sĩ miền Đông còn lạ gì với những trái gùi ngon lành chua chua ngọt ngọt này. Trong lúc thiếu thốn mọi bề, thịt cá hiếm hoi, nó là thực phẩm quý của bộ đội chủ lực đấy. Ngon sao những nồi canh rau chua ngọt mát dạ mát lòng. Trong những cuộc hành quân vào trưa hè nóng bức, mang vác nặng nhọc, anh hãy uống một ly nhỏ nước gùi trong lúc dừng chân 10 phút, anh sẽ có sức đi tiếp tới đích một cách khoan khoái lạ lùng. Vào cuộc họp kiểm điểm tình hình này, mọi người cùng được nếm nước gùi khoan khoái, nhưng cái khoan khoái nhất là kết quả rực rỡ của hoạt động mùa khô của ta trên toàn chiến trường, trong lúc kẻ địch đang bước vào ngưỡng cửa của một thời kỳ thất bại cơ bản. Địch đã hoàn toàn phá sản kế hoạch điên rồ của chúng là lấn chiếm lại các vùng từ trước 29/3/1972, một kế hoạch tham vọng quá đáng, không coi đối phương ra gì, lại biểu lộ rõ nét nhất sự chà đạp lên Hiệp định Paris. Chúng đã thất bại trong kế hoạch bình định các vùng đông dân, vùng chúng kiểm soát không những không ổn định, mà còn bị co hẹp lại. Chúng không cướp được của dân số lúa dự định và cũng không mảy may phong tỏa được kinh tế của đối phương. Trừ căn cứ Đồng Tháp Mười của Quân khu 8 chúng đã lấn chiếm và đóng được 9 đồn bót lớn nhỏ, tất cả các căn cứ lớn khác của đối phương, chúng không đánh được mà cũng không phá được thế ổn định. 60 lõm căn cứ của “Việt cộng” ở miền Đông và bao quanh Sài Gòn vẫn còn nguyên vẹn tuy chúng có gây khó khăn từng lúc. Ngược lại các tuyến phòng ngự thủ đô của chúng đã không được hàn gắn lại mà còn bị chọc thủng thêm cả về phía bắc (đường 7 Rạch Bắp Bến Cát) cả về phía đông (đường 2 Bà Rịa), khiến cho thế phòng ngự càng sơ hở bấp bênh. Chúng không hề giành được chủ động trên chiến trường, mặc dù là chiến trường mà Thiệu đã đánh giá với các tư lệnh vùng của y là thế “mất còn của cả miền Nam”, tức là Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật của chúng. Không những vậy chúng còn sa vào thế bị động phòng ngự, lực lượng bị co kéo khắp nơi. Muốn lấn chiếm bình định vùng Bình Thuận, Ninh Thuận đông dân ven biển thì bị thu hút và thiệt hại trên núi rừng Quảng Đức. Muốn mở rộng kiểm soát và cướp lúa vùng giàu có Hậu Giang thì bị đối phương điều lên và kìm chân ở Kiến Tường, biên giới với Campuchia. Quân đoàn 3 sợ bị hở sườn phía tây, phải điều lực lượng đến 6 chiến đoàn đặc nhiệm đánh phá vùng Quéo Ba, Đức Huệ nên đành phải để mất trở lại đường 2 Bà Rịa làm tuyến phòng thủ giữa Sài Gòn ở đây bị bể, mà hai vùng căn cứ bắc nam đường 2 của đối phương được nối liền. Đã không tập trung được lực lượng đánh chiếm căn cứ Lộc Ninh nổi tiếng của đối phương mà chúng còn bị lúng túng vất vả phòng giữ trung tâm đầu não (!). Tất cả các quân đoàn của địch, từ lúc ấy chỉ có thể có khả năng tập trung lực lượng ở một hướng nào đó nếu các hướng khác không bị đánh. Lực lượng dự bị chiến lược của chúng quá ít, lúc đó chỉ có Lữ 81 biệt kích dù. Các sư đoàn dù và thủy quân lục chiến bị chôn chân ở Trị Thiên xem như không có gì để Bộ Tổng Tham mưu (địch), đúng hơn là để cho Nguyễn Văn Thiệu chuyên quyền tác động đến tình hình của một vùng chiến thuật nào đó khi cần thiết, còn thì quyền hành của cả Bộ Tổng Tham mưu chỉ để mà nhìn sự thất bại cứ lần lượt kéo đến một cách thảm hại. Đây là kết quả của một chủ trương chiến lược ngu xuẩn không đánh giá đúng được mạnh yếu của đôi bên, tham lam muốn giữ từng xã, ấp, từng đồn bót, không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào, rải rác mỏng ra khắp chốn, đến nỗi không còn lực lượng dự bị cơ động.

    Tình trạng này của địch kéo dài cho đến ngày kết thúc chiến tranh, làm cho lực lượng địch đông gấp 3, 4 lần lực lượng ta mà đành bị tiêu diệt từng bộ phận, đi đến bị tiêu diệt hoàn toàn.

    Từ tháng 5, địch cũng đã thấy phần nào thiếu lực lượng dự bị chiến lược, nên chúng đã quyết định rút sư đoàn dù ở Quân đoàn 1 về làm tổng trù bị, nhưng khi thực hiện, chúng cũng chỉ có thể lần lượt rút từng lữ đoàn về Sài Gòn một cách chậm chạp kéo dài. Ngay trong mùa khô này, không phải chưa xuất hiện những sự kiện để cho địch đánh giá được khả năng của chúng đến đâu và đường lối chiến lược của chúng sai lầm đến mức nào. Suốt cả mùa khô, đặc biệt là vào những tháng cuối, lực lượng Vùng 4 chiến thuật của chúng, vùng đồng bằng sông Cửu Long bị thu hút đại bộ phận lên Mỹ Tho và biên giới Kiến Tường - Campuchia, thì ở Hậu Giang, Sư đoàn 21 phải phân tán từng tiểu đoàn vẫn không giữ được tinh thần bọn bảo an và dân vệ. Nhiều đồn bót phải rút chạy, nhiều xã, ấp bị mất. Tư lệnh Vùng 4 buộc phải chủ động rút bỏ một số đồn bót nhỏ cỡ tiểu đội và trung đội để tăng cường cho các đồn bót quan trọng hơn cỡ đại đội trở lên và để đôn quân bù số tiêu hao thiệt hại. Đấy, chỉ khi nào không làm sao được, có nguy cơ cấp bách bị diệt, chúng mới chịu bỏ từng đồn bót, từng xã ấp, và bắt đầu “công việc ấy” từ mùa khô 1974 này ở đồng bằng sông Cửu Long... đến phải bỏ cả vùng Tây Nguyên vào mùa khô 1975 là như vậy đó.

    Chiều hướng sự thất bại của Mỹ - ngụy, và thắng lợi của chúng ta, trong cuộc chiến tranh đã xuất hiện từ mùa khô 1973-1974 cho đến lúc thất bại hoàn toàn là bắt nguồn từ một chiến lược chung sai lầm từ đầu của Mỹ - ngụy, tức là chiến lược phòng ngự trên toàn bộ đất nước, dàn mỏng quân ra giữ không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào theo đường lối “bốn không” của Thiệu.

    Còn về cái quân đội rường cột của chế độ bán nước thì thế nào? Mặc dù Mỹ đã ra sức tăng cường xây dựng và trang bị hòng thay thế được cho quân Mỹ, chất lượng chiến đấu và số lượng của quân đội ngụy vẫn tiếp tục giảm sút. Nếu sau Hiệp định Paris chúng ồ ạt bắt lính, tăng nhanh được quân số cả cho chủ lực và bảo an thì bắt đầu từ tháng 6, 7 trở đi quân số ngày càng tụt. Chúng đã thừa nhận từ tháng 01 đến tháng 5/1974 số quân bị mất trong chiến đấu và đào rã ngũ lên đến trên 10 vạn, đổ đồng mỗi tháng mất trên 2 vạn. Trong lúc đó số thanh niên chúng bắt được để bổ sung chỉ trên một vạn mỗi tháng. Quân đoàn 4 của chúng là nơi thiếu hụt quân số cao nhất, mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 200 quân, có đơn vị chỉ còn 150-180 tên mà không thể nào bổ sung nổi. Tỷ lệ hư hỏng về trang bị lên cao. Trong số trên 1.800 phi cơ các loại, chúng chỉ sử dụng được dưới 1/2. Chúng đã buộc phải đề ra những biện pháp gắt gao như kiểm tra quân số, chống nạn lính ma, lính kiểng 1.  Chỉnh biên cơ quan tổng tham mưu giảm 20% quân số, giải tán các đơn vị không cần thiết, các đơn vị tạp dịch khác. Đôn quân từ dân vệ lên bảo an, từ bảo an lên chủ lực. Tăng cường hành quân vây ráp bắt lính trắng trợn, xông vào chùa chiền bắt cả sư sãi đi lính. Mặc dù vậy, tình thế của chúng vẫn không sáng tí nào mà tiếp tục xuống dốc.

    Còn về ta thì hết mùa khô, ta đã giành lại tất cả các vùng giải phóng như trước 28/01/1973, kể cả vùng Nam Bắc lộ 4 ở Mỹ Tho là nơi mà địch đã lấn chiếm ồ ạt sau Hiệp định. Không những thế, ta còn giải phóng rộng thêm trên 20 xã với khoảng 30 vạn dân, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long. Đó là kết quả những đòn trừng trị của ta, ta đánh tiêu diệt một đồn mới lấn chiếm trái phép thì quân địch hoảng hốt bỏ chạy 4, 5 đồn khác. Ta diệt một tiểu đoàn địch càn quét lấn chiếm vi phạm Hiệp định thì địch bỏ chạy trong phạm vi 3-4 ấp gần đó. Rõ ràng quân ngụy hung hăng khi ta lùi bước, nhưng khi ta kiên quyết đánh trả thì chúng mất hết tinh thần, chạy thoát chết. Ở cả ba vùng lực lượng quần chúng có tổ chức và lực lượng du kích, bộ đội địa phương của ta được phát triển. Vùng tranh chấp đã lấn vào vùng địch kiểm soát ở tất cả các quân khu thuộc B2. Lực lượng chủ lực các quân khu cũng như của Bộ Tư lệnh Miền được tăng cường, rèn luyện và bố trí hợp lý tạo thành một thế trận tấn công lợi hại, đặc biệt là ở miền Đông Nam Bộ và quanh Sài Gòn. Trong lúc ta vẫn giữ vững các khu căn cứ, các lõm du kích ở miền Đông và quanh Sài Gòn thì vùng căn cứ phía sau của ta lại được mở rộng và củng cố vững vàng hơn bao giờ hết. Đó là một vùng giải phóng liên hoàn từ tỉnh Quảng Đức đến Phước Long, Bình Long, Tây Ninh dọc theo biên giới với Campuchia. Căn cứ Lộc Ninh ta được nối liền về phía trước với vùng giải phóng Long Nguyên, Bến Cát rộng rãi, do ta trừng trị diệt đồn Nha Bích trên bờ sông Bé, và đoàn Tống Lê Chân của ngụy trên bờ sông Sài Gòn đã bí mật rút chạy trong đêm. Hai căn cứ biệt kích này của ngụy nằm sâu biệt lập trong vùng giải phóng của ta. Chúng cố duy trì là để làm bàn đạp có giá trị tung gián điệp sâu vào vùng ta, thu thập tin tức tình báo, tung biệt kích đánh phá hành lang kho tàng, cơ quan ta nếu có sơ hở. Nó còn là đầu cầu chiến thuật cho cuộc hành quân lớn đánh chiếm căn cứ của ta sau này. Sau Hiệp định, vấn đề khó khăn cho địch là tiếp tế, thay quân cho 2 vị trí này, vì xung quanh đều là vùng giải phóng của ta. Trên bàn Hội nghị của Ban Liên hợp quân sự bốn bên, rồi sau đó của Ban Liên hợp quân sự hai bên, ta dựa vào Điều 3 (b) Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam, liên tiếp đòi Mỹ - ngụy phải bàn để quy định các hành lang vận tải quân sự, cho bên này có thể đi qua vùng do bên kia kiểm soát khi cần thiết. Nhưng Mỹ - ngụy đều ngoan cố làm ngơ. Có lần vì nhân đạo, mặc dù chưa có quy định, ta đã cho phép trực thăng ngụy đến tải thương ở đồn Tống Lê Chân. Nhưng ta kiên quyết không cho xe quân sự, tàu thuyền quân sự, máy bay vận tải quân sự của địch tiếp tế lương thực, đạn dược cũng như thay quân, đi qua vùng ta khi chưa có thỏa thuận theo như Hiệp định Paris đã quy định. Vào tháng 4/1975, quân địch ở Nha Bích đã liều mạng hành quân mở đường về Chơn Thành nhận tiếp tế, đi qua vùng giải phóng của ta, liền bị Sư đoàn 7 của ta trừng trị và diệt gọn cả bọn hành quân, lẫn bọn trong đồn. Địch biết lỗi đã im thin thít, cắn răng chịu đựng trong sự kiện này. Rút kinh nghiệm từ đợt hành quân trước, quân địch ở Tống Lê Chân đã thừa một đêm tối trời bỏ đồn, len lỏi theo đường rừng, lén lút rút chạy an toàn về vùng chúng. Sau đó địch giở trò vu oan giá họa tuyên truyền rằng ta diệt đồn Tống Lê Chân, vi phạm Hiệp định Paris. Sự việc không đi đến đâu vì không có một bằng chứng nào cả. Nhưng vùng giải phóng phía sau của ta đã mở rộng hoàn chỉnh, căn cứ Lộc Ninh nối đến khu “Tam giác sắt” chỉ cách Sài Gòn trên 30km. Cũng trong mùa khô này, các đường hành lang vận tải của ta từ phía sau ra phía trước, từ đường Trường Sơn về căn cứ miền Đông, rồi từ đó đi các quân khu đều thông suốt. Những nơi xa và khó khăn nhất như ven biển miền Trung thuộc Quân khu 6 và rừng U Minh thuộc Quân khu 9, tân binh bổ sung và hàng hóa vật tư hậu cần đã được đưa đến, có bổ sung, dự trữ.

    Như vậy là qua hết mùa khô 1973-1974, tình thế trên chiến trường B2 giữa ta và địch đã rõ nét. Thế và lực của ta lớn mạnh. Thế và lực của ngụy đang suy sụp tương đối nhanh. Địch bị hãm vào một thế bị động không thể nào xoay ngược lại được vì sức ngày càng xuống mà biện pháp thì cũ kỹ, lúng túng trong một đường lối chính trị, chiến lược hết sức ngoan cố và đầy ảo vọng, tiếp tục phá hoại Hiệp định Paris, tìm cách tiêu diệt hoàn toàn đối phương. Ta bước vào mùa mưa năm 1974 là như vậy đó.

    Không phải chỉ có chúng ta mới đánh giá được tình hình đã chuyển biến từ cuối mùa khô năm 1974 như nói ở trên mà phía Mỹ cũng đã có người cảm thấy tuy chưa thật rõ rệt. Weldon A. Brown đã viết trong phần kết quyển Chiếc trực thăng cuối cùng như sau:

    “David Shipler, phóng viên tờ Thời báo New York, một nhà quan sát có kinh nghiệm ở Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng trước khi Nam Việt Nam sụp đổ đã tuyên bố rằng Thiệu đã bị ảo tưởng về sức mạnh của Mỹ làm cho mù quáng. Shipler nhận xét rằng, trong mùa hè năm 1974, Hà Nội đã bắt đầu tăng cường áp lực trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Trong lúc nguy kịch này, một nhà ngoại giao Mỹ đã dự đoán rằng, nếu Washington cứ tiếp tục trang bị vũ khí cho Sài Gòn mà không thúc ép Sài Gòn hòa giải về chính trị với những người Cộng sản, thì nhất định Washington và Sài Gòn sẽ thất bại trong cuộc chiến tranh này”.

    Đáng khen thay nhà ngoại giao Mỹ nào đó đã thấy được nguyên do và thời kỳ bắt đầu của sự thất bại hoàn toàn không thể tránh khỏi của Mỹ - ngụy.




------------------------------------------------------------------
1. Lính ma là lính có danh sách trong sổ để cho chỉ huy lãnh lương bỏ túi mà không có người thật. Lính kiểng là lính có người thật, nhưng là “con ông cháu cha” hoặc là lo lót tiền cho chỉ huy để được ở văn phòng, làm công việc nhàn hạ ở cơ quan đồn bót mà không hề ra trận, khỏi vất vả, khỏi chết.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #81 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 08:50:42 am »

CHƯƠNG IV
Một mùa mưa chưa từng có



    Thời tiết ở B2 nói chung chia thành hai mùa mưa nắng gần đều nhau, mỗi mùa 6 tháng. Ở rừng núi, mưa sớm và nhiều, ở đồng bằng mưa muộn và ít hơn. Đặc biệt về mùa mưa, nước từ các nguồn sông trên cao đổ về với khối lượng lớn và tốc độ chảy xiết, đọng lại tràn đầy các lưu vực sông ngòi vốn bằng phẳng và thấp, đặc biệt là lưu vực sông Cửu Long, trước khi chậm chạp rút ra Biển Đông. Đồng Tháp Mười, cái túi sâu của đồng bằng, vào mùa khô có thể đi bộ dọc ngang khắp chốn, nhưng mùa mưa, nước về ngập mênh mông như biển, có nơi sâu đến 4-5 thước. Phương tiện đi lại chủ yếu là bằng xuồng ghe. Ở miền Đông Nam Bộ vùng rừng núi tuy đất cao, nhưng nước mưa cũng ngập đầy các trảng, ngập cả đường đi, đất đỏ, sình lầy. Điều kiện thời tiết đất đai như vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động của các binh đoàn tập trung, các binh chủng kỹ thuật. Vì thế, đến mùa mưa, các đơn vị lớn của ta và địch đều buộc phải giảm cường độ hoạt động và lợi dụng thời gian đó để chuẩn bị cho mùa khô tới, tung lực lượng sung sức ra tấn công nhau. Trong bao nhiêu năm chiến tranh, việc ấy đã trở thành quy luật. Nhưng mùa mưa năm 1974 là một mùa mưa khác thường ở B2, chúng ta quyết phá quy luật đó, quyết nỗ lực khẩn trương hành động để tạo ra một thời cơ mới, biến mùa mưa âm u thành bình minh cho một thời kỳ rạng rỡ. Trong Hội nghị tháng 6, Thường vụ Trung ương Cục kiểm điểm tình hình mùa khô năm 1974 và bàn phương hướng sắp tới, đồng chí Phạm Hùng - Bí thư, đã kết luận gọn:

    “Qua mùa khô này, nhân tố mới đã xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không được dừng lại, phải tiếp giành thắng lợi lớn hơn, đẩy địch suy sụp nhanh hơn. Mùa mưa này ta có rất nhiều thuận lợi và nhiều khả năng thắng lớn hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, cho địa phương, cho chủ lực để bước vào mùa khô 1974-1975 với khí thế mạnh, sung sức. Năm 1975, nhất là mùa khô 1975 ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình tạo ra bước ngoặt, một bước ngoặt có tính chất quyết định”.

    Sự tiên đoán của Trung ương Cục như vậy không có gì là thần bí cả. Đó là xuất phát từ thực tế tình hình ta và địch trên chiến trường, là sự phản ánh kết quả hoạt động của hàng triệu đồng chí và đồng bào ở từng thôn ấp; hàng vạn chiến sĩ du kích, địa phương và chủ lực, giành giật với địch từng người dân, từng tấc đất, hàng ngày hàng, giờ trên khắp chiến trường. Đó là kết quả của sự nắm vững mục đích cách mạng của ta, nắm vững phương pháp cách mạng, hiểu rõ ta phải làm gì và đi đến đâu, trong lúc cũng phải hiểu sâu âm mưu và hành động, ý muốn và khả năng của địch.

    Lúc ấy có câu hỏi nêu lên làm cho ta phải suy nghĩ nhiều:

    - Vì sao trước tình hình thua thiệt như vậy mà ngụy quyền Thiệu vẫn một mực ngoan cố giữ đường lối chính trị phản động, phủ nhận thực trạng ở miền Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị. Chúng không chấp nhận có lực lượng thứ ba, không chịu liên hiệp với “Việt cộng” quyết phá bỏ Hiệp định Paris, tiếp tục chiến tranh?

    - Vì sao chúng vẫn khư khư một chiến lược quân sự ngu xuẩn, giữ tất cả, lấn chiếm mọi nơi, cố diệt lực lượng vũ trang giải phóng, thanh toán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam?

    Từ lâu chúng ta đã biết rằng ngụy quyền Thiệu chẳng qua chỉ là tay sai, là công cụ của đế quốc Mỹ. Mọi suy nghĩ của chúng là theo sự hướng dẫn và mọi hành động là theo gậy chỉ huy của quan thầy. Như vậy phải tìm cái gốc là từ âm mưu và chủ trương của Mỹ.

    Trong hồi ký của Westmoreland Một quân nhân tường trình, y đã thú nhận: “Ông (P. Harkins) và các quan chức khác của Mỹ đến Việt Nam để thực hiện chính sách quốc gia đã được định ra ở Washington...”. Còn những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự Nam Việt Nam kể lại trong bản báo cáo soạn thảo cho Ban Quân sự, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, nhan đề Sự sụp đổ của Nam Việt Nam rằng: “Theo Trần Văn Đôn, Đại tướng Viên đã thừa nhận vai trò lệ thuộc của người Nam Việt Nam. Một tướng khác đồng ý rằng các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam đã bị dồn vào việc thi hành các kế hoạch của người Mỹ...”. Không còn gì rõ hơn những lời thốt ra từ miệng của những nhân vật Mỹ - ngụy có chức quyền cao ấy, sau khi đã thất bại hoàn toàn.

    Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta đã mang tính chất rất phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức ngay từ đầu và qua các quá trình diễn biến của nó cho đến ngày nay. Nó không chỉ là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống xâm lược, cũng không chỉ là một cuộc chiến tranh có tính chất giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng trong nước, mà còn phức tạp hơn, là một cuộc chiến tranh thể hiện sự đấu tranh giữa hai thế lực tiến bộ và phản động trên toàn thế giới hội tụ vào chiến trường điểm: Việt Nam! Ngay từ khi Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã chống lại và quyết tâm can thiệp vào Đông Dương, hất cẳng Pháp để tự đảm nhận vai trò sen đầm quốc tế. Âm mưu của Mỹ là chiếm miền Nam Việt Nam làm tuyến đầu chống phe xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội lan rộng, để làm chủ toàn bộ thế giới còn lại (ngoài các nước xã hội chủ nghĩa). Mỹ cho rằng, Việt Nam là một nước nhỏ nhưng ở vào vị trí chiến lược quan trọng của thế giới. Mỹ giàu đôla và vũ khí hiện đại, có khả năng và cần phải thắng phe xã hội chủ nghĩa ở đây mà tránh được đụng độ lớn với Liên Xô, Trung Quốc. Những nhà lãnh đạo nhà nước Mỹ tưởng nước cờ chiến lược ấy là cao, dương dương tự đắc, không nghiên cứu sâu về đất nước và con người Việt Nam, coi thường kinh nghiệm của ông bạn Pháp của họ, bất chấp tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Rốt cục càng bị sa lầy thì lại càng phải leo thang chiến tranh, càng leo thang thì càng hao người tốn của và như một con bạc khát nước, cay cú, cứ lao vô chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Leo thang đến nấc cao cùng rồi thì tất phải xuống thang, nhưng leo thang hay xuống thang cũng đều là những biện pháp để thực hiện chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ, thực hiện âm mưu làm bá chủ hoàn cầu, chống phe xã hội chủ nghĩa. Khi chiến lược “giáng trả ồ ạt” dựa vào độc quyền vũ khí hạt nhân bị phá sản, mà trên thế giới ba dòng thác cách mạng đang tấn công thắng lợi, Mỹ phải chuyển qua chiến lược “Phản ứng linh hoạt” với ba loại chiến tranh đặc biệt, cục bộ và tổng lực để chủ động giành phần thắng trong bất cứ trường hợp nào - đặc biệt là để chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Khi bảo bối này tung ra chiến trường Việt Nam vào năm 1961 thì chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bị đánh bại vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bị phá sản vào năm 1968, nhưng so sánh lực lượng trên thế giới và điều kiện lúc ấy không cho phép Mỹ mở ra chiến tranh tổng lực dùng vũ khí hạt nhân, nên chiến lược “Phản ứng linh hoạt” liền bị tắc tị. Hoang mang lúng túng, Johnson vội vàng đề ra chiến lược “phi Mỹ hóa” hòng rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Nhưng những nhà lãnh đạo và chiến lược gia đế quốc Mỹ không cam tâm chịu nhục thất bại, còn tin rằng nước Mỹ vẫn có thiên chức cầm đầu thế giới, và rất sợ mất Việt Nam thì sẽ mất hàng loạt các nước khác theo thuyết con bài Domino. Do đó, Nixon lên và đề ra cái chiến lược mới gọi là “liên minh tự phòng thủ khu vực”, thực chất là âm mưu huy động lôi kéo lực lượng cả thế giới chống lại phe xã hội chủ nghĩa mà không phải trơ trọi một mình Mỹ. Ở Việt Nam, chúng chữa lại thành “Việt Nam hóa chiến tranh” chứ không phải “phi Mỹ hóa chiến tranh”. Người ta có lý một phần mà nói rằng, Johnson muốn ra khỏi Việt Nam với “phi Mỹ hóa”, còn Nixon muốn ở lại Việt Nam với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thực ra Nixon chưa bị đo ván mất tinh thần như Johnson nên còn cố nắm vững mục tiêu không thay đổi của đế quốc Mỹ. Trước và sau Hiệp định Paris, Mỹ vẫn tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với nội dung là bằng mọi cách làm cho ngụy quyền mạnh, mạnh cả về quân sự, kinh tế và chính trị để đánh bại lực lượng vũ trang giải phóng, tiêu diệt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, giữ miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phụ thuộc Mỹ, chia cắt lâu dài nước Việt Nam chúng ta. Mục đích ấy từ trước đến nay không thay đổi mà chỉ thay đổi biện pháp là dùng xương máu người Việt Nam để thay cho xương máu người Mỹ. Hiệp định Paris mà Mỹ buộc phải ký với nội dung và lời văn đều không lợi cho Mỹ - ngụy, nhưng chúng vẫn ký và tin tưởng là có thể lật ngược được tình hình bằng những thủ đoạn gian ngoan, lật lọng, bằng sức mạnh kinh tế của Mỹ, bằng lối ngoại giao lắt léo thâm độc trên thế giới. Chúng coi Hiệp định Paris chỉ là biện pháp, là chiến thuật trong một giai đoạn chiến lược nhất định thôi. Ký để thi hành những gì có lợi cho Mỹ - ngụy và xuyên tạc phá bỏ những gì không có lợi. Mục đích vẫn là phục vụ cho chiến thắng của chúng. Sức mạnh của vũ khí và đôla mới là thứ pháp lý thực sự của đế quốc Mỹ trên thế giới ngày nay. Chính từ miệng chúng nó đã nói lên sự thật rõ ràng về mưu đồ thâm độc của chúng. Trần Văn Đôn - Trung tướng ngụy Sài Gòn đã kể: “Ông ta (tức Charles Whitehouse, Phó Đại sứ Mỹ cùng đi trong đoàn của Kissinger qua Sài Gòn vào trung tuần tháng 10/1972 để giải thích về Hiệp định Paris và thuyết phục Thiệu ký vào Hiệp định) nói với tôi: “Hiệp định này có mặt tốt, Hiệp định phải được ký kết. Nó chỉ là một mảnh giấy và sẽ không thay đổi được cái gì cả, rồi ngài sẽ thấy”” 1.




------------------------------------------------------------------
1. Trích sách Cuộc chiến tranh không chấm dứt ở Việt Nam, do Nhà xuất bản Presidio Press phát hành năm 1978 tại California (Mỹ) và Luân Đôn (Anh).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #82 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 08:53:41 am »

    Đầu tháng 01/1973, Trần Văn Đỗ và Bùi Diễm cầm đầu phái đoàn đặc biệt của Thiệu qua Washington để tìm hiểu ý đồ của Mỹ, đã tường trình về cho Thiệu rằng, A.L. Johnson - Thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã nói riêng với tôi (tức Diễm): “Tôi với anh là bạn lâu năm, tôi nói với anh lời nói của một người bạn. Thực tế Hoa Kỳ chưa bao giờ thay đổi mục tiêu ở Việt Nam”. Còn trong một bức điện tối mật gửi cho Thiệu cũng thời kỳ đó, Nixon đã viết: “... Nền tự do và độc lập của Việt Nam Cộng hòa vẫn là mục đích tối cao của đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ...”.

    Như vậy đã rõ. Mưu sâu của Nixon - Kissinger là bằng cách ký Hiệp định Paris, Mỹ rút được quân đội về nước, lấy lại được tù binh Mỹ, làm dịu dư luận Mỹ và thế giới, ổn định phần nào nước Mỹ đã bị chia rẽ, yếu kém, mất lòng tin và để củng cố lực lượng quân sự Mỹ đã bị mất thế sẵn sàng thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đồng thời, Mỹ có được một thời kỳ hòa hoãn ở Việt Nam một vài năm để thi hành các thủ đoạn thâm độc:

    1 - Tăng cường trang bị vũ khí và trang bị kỹ thuật hiện đại để xây dựng quân đội ngụy thành một lực lượng mạnh và có hiệu lực đủ sức tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng. Tăng viện trợ, đầu tư phát triển kinh tế cho ngụy quyền Thiệu, làm cho chính quyền Thiệu mà Mỹ công nhận là chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam thành một chính quyền mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế ở Đông Nam Á.

    2 - Viện trợ tái thiết miền Bắc Việt Nam, dùng mồi vật chất kỹ thuật để nhử miền Bắc, xâm nhập lũng đoạn và qua đó hạn chế miền Bắc chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, dùng miền Bắc kìm chế hoạt động ở miền Nam và mưu tính có thể chuyển biến hòa bình ngay cả chế độ miền Bắc.

    3 - Dùng chính sách hòa hoãn trên thế giới theo kiểu Mỹ để gây áp lực và hạn chế sự chi viện của phe xã hội chủ nghĩa cho cả miền Bắc và miền Nam hòng bóp chết cuộc chiến đấu của ta. Thực tế là sau thỏa thuận Thượng Hải: giữ Thiệu, giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ, Trung Quốc đã hạn chế sự chi viện cho Việt Nam, đặc biệt là các loại vũ khí lớn và phương tiện vận tải. Trong quyển hồi ký của mình, Kissinger đã thuật lại về những buổi làm việc của Chu Ân Lai và Nixon: “Cách trình bày của Chu về Việt Nam là một kỳ công về sự nhập nhằng quanh co. Ông phản đối ý kiến của Nixon vì buồn phiền hơn là tức giận. Ông nêu “mối cảm tình” đối với người Bắc Việt Nam, nhưng không nói gì về lợi ích chung nào. Ông rút cái nghĩa vụ ủng hộ Hà Nội không phải từ tình đoàn kết về lý tưởng, càng không phải từ những quyền lợi dân tộc phù hợp, nhưng từ những món nợ lịch sử đối với Việt Nam do quá khứ của đế chế Trung Quốc để lại”...

          “Lập luận chính của ông về việc cần sớm chấm dứt cuộc chiến tranh là ở chỗ nó làm Mỹ sa lầy và làm cho chúng ta tiêu phí nhiều năng lực mà đáng lẽ phải để vào những phần quan trọng hơn của thế giới. Chu chỉ trích lập trường thương lượng của chúng ta theo một cách rất chiếu lệ. Ông đòi hỏi chúng ta phải rút quân khỏi Việt Nam. Ông không hề hỗ trợ cho chương trình chính trị của Hà Nội - và của những người chỉ trích chúng ta - về chính phủ liên hiệp và về việc lật đổ Thiệu”.

          Rồi Kissinger kết luận:

          “Công tác ngoại giao của chúng ta sắp sửa hoàn thành việc cô lập Hà Nội” 1.

          Mỹ thật sự tin tưởng là thủ đoạn chia rẽ các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và chính sách hòa hoãn Mỹ trên thế giới sẽ có hiệu quả.

    4  - Thêm vào các thủ đoạn trên còn phải phô trương sức mạnh nữa bằng cách để một lực lượng quân sự Mỹ mạnh ở Đông Nam Á làm lực lượng răn đe, hù dọa những người yếu bóng vía và hỗ trợ cho bọn ngụy.

    Bằng chính thủ đoạn ấy, dần dần chế độ Thiệu sẽ mạnh, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngày càng suy yếu, Thiệu có khả năng thanh toán đối thủ để độc chiếm miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành một nước phụ thuộc đế quốc Mỹ ở vị trí chiến lược trên bờ tây Thái Bình Dương này.

    Với mưu đồ như vậy, Mỹ tiếp tục tiến hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam trong điều kiện có Hiệp định Paris. Từ tổng thống đến các nhân vật trọng yếu trong chính quyền Mỹ lúc ấy đều nhấn mạnh để khuyến khích Thiệu là Hoa Kỳ luôn bên cạnh Thiệu, sẽ viện trợ mọi mặt cho Thiệu và sẵn sàng lại can thiệp vào miền Nam Việt Nam nếu cần. Thậm chí Kissinger còn hứa với Thiệu trong chuyến qua Sài Gòn tháng 10/1972 là sẽ dùng lực lượng quân sự đánh chiếm miền Bắc Việt Nam qua vĩ tuyến 17 khi có yêu cầu, khi Thiệu bị tấn công. Thiệu quá hí hửng góp bàn nên đổ bộ vào bờ biển gần hơn là đánh từ vĩ tuyến 17 lên. Thiệu và bè lũ tuy có lo lắng về số phận tôi đòi, bị chủ Mỹ sai khiến và không coi ra gì, thế cô, lực yếu, nhưng vẫn tin tưởng bám vào quan thầy, cho rằng nếu chúng có bề gì thì ắt quan thầy không nuốt lời hứa, sẽ chở che, vực dậy. Chuẩn tướng ngụy Lê Trung Trực, trước đây là phụ tá cho tướng ngụy Cao Hảo Hớn, được Thiệu giao chức vụ Chủ tịch Ủy ban liên bộ điều hợp việc ngừng bắn đã thú nhận: “...Mỹ luôn rêu rao rằng sức mạnh của Mỹ là vô địch... Thiệu tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh quân sự của Mỹ và cho rằng Mỹ đã dính líu vào Việt Nam rồi ắt sẽ dính líu đến cùng”.

    Vì tin như vậy nên bè lũ Thiệu mù quáng trước thực tế tình hình, tiếp tục chiến tranh để đạt cho được mong muốn chủ quan của chúng và ý định của chủ. Âm mưu Mỹ và hành động Thiệu là như vậy, không cho ta có chút gì ảo tưởng là tớ thầy chúng sẽ thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định. Không những Mỹ chỉ muốn chiếm miền Nam mà còn ngông cuồng hơn là mong xâm nhập và nắm miền Bắc, chia rẽ và lũng đoạn phe xã hội chủ nghĩa...

    Từ khi ký Hiệp định Paris đến nay đã qua một năm rưỡi. Sự việc diễn biến thực tế ở Việt Nam không theo sự sắp đặt công phu của Mỹ, không giống như kế hoạch mà Nixon - Kissinger đã vạch. Sở dĩ như vậy vì một vế vô cùng quan trọng của kế hoạch mà Nixon - Kissinger không tính ra hay không thể hiểu nổi. Đó là trí thông minh và dũng cảm trong suy nghĩ và hành động của đối phương tác động vào. Nếu như từ năm 1973, chúng ta tin rằng bằng cách này hay cách khác, Hiệp định Paris sẽ được thi hành giống như đã tin hai năm sẽ tổng tuyển cử như hồi Hiệp định Giơnevơ, nếu như ta đánh giá sai sức ta và sức địch, mà có những tả hữu khuynh và sai lầm trong suy nghĩ và hành động thì tình hình không như bây giờ được. Tất nhiên, không thể tránh khỏi những bước chập choạng ban đầu. Nhưng thời gian chập choạng ba, bốn tháng đầu ấy của một giai đoạn chiến lược mới trong một cuộc chiến tranh lâu dài là ngắn ngủi. Nó chưa đủ cho địch lướt lên giành phần thắng. Ngược lại, ta đã cảnh giác, sự chỉ đạo của Đảng ta đã sắc sảo và kịp thời, nhân dân và lực lượng vũ trang ta đã dày dạn trong chiến đấu và đấu tranh cách mạng, nên tình thế ngày nay đã dẫn đến chỗ là ta vươn lên cao mà địch thì thất thế không gượng lại được. Thủ đoạn gian xảo, ác độc của địch chưa kịp và không thể thi thố. Lực lượng quân sự ngụy không mạnh lên được mà đang mất tinh thần và rệu rã. Muốn tăng phòng vệ dân sự đông đảo, xây dựng bảo an mạnh và cơ động để địa phương đủ sức chiếm và giữ mọi nơi, thì nay hai lực lượng này giảm về số lượng, đào rã ngũ nhiều, rút đồn bót, bỏ cơ sở mà chạy. Muốn tập trung quân chính quy thành lực lượng hoàn toàn cơ động, trang bị vũ khí hiện đại, tính năng cao để có thể rút bớt quân số, dành ngân sách cho phát triển kinh tế mà quân sự vẫn mạnh, nhưng nay thì buộc phải gấp rút tăng quân số, tăng đơn vị vẫn không đủ để bố trí giữ các địa phương mà lực lượng cơ động cũng không có. Muốn vùng chúng được mở rộng và ổn định để kêu gọi ngoại quốc đầu tư xây dựng kinh tế nhưng nay thì bị bóp hẹp, không ổn định, không ma nào dám đầu tư vào. Ngân sách thiếu hụt trầm trọng, viện trợ Mỹ phải dồn vào chi tiêu quân sự. Muốn xây dựng một đảng cầm quyền mạnh, “Đảng dân chủ”, nhưng lại buộc người ta phải vào “Đảng ông Thiệu”, gồm toàn bọn cơ hội, bọn đầu cơ buôn bán chính trị đua nhau vào để mong địa vị, leo cao, tha hồ ăn cắp và hối lộ, ức hiếp nhân dân thì làm sao có được một đảng cầm quyền mạnh? Như thế là ngụy quyền Thiệu không mạnh lên về mọi mặt như mưu toan của Mỹ, mà đang yếu toàn diện, quân sự, chính trị, kinh tế..., mọi mặt đang thất thế và xuống dốc.

    Khi mà đế quốc Mỹ đã thất bại, phải rút lui về quân sự, và chuyển qua dùng mọi mưu ma chước quỷ tô đắp lên một “bù nhìn có cỡ” để thay thế, để nắm chắc miền Nam, mà bù nhìn đó đã không đứng vững, bắt đầu ngã quỵ, thì lúc này rất cần một lực đẩy - đủ để đẩy nó lao nhanh xuống vực thẳm, tức là làm cho cả tớ thầy không có cách nào cứu vãn. Đó chính là thời cơ!




------------------------------------------------------------------
1. Hồi ký của Kissinger: Những năm ở Nhà Trắng (White House years), chương “Chuyến đi Trung Quốc của Nixon”, phiên bản đầu tiên do Little, Brown and Co xuất bản tháng 01/1979.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #83 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 08:56:25 am »

    Đánh giá chính xác tình hình này và nhận thức đúng thời điểm là vô cùng quan trọng về chỉ đạo chiến lược ở một chiến trường trọng điểm có tính đại diện cho cả miền Nam.

    V.I. Lênin đã nói: “Cách mạng là khoa học, đồng thời là một nghệ thuật, nó đòi hỏi sự nhạy cảm đối với tình hình và sự ứng phó kịp thời và chủ động đối với những biến đổi của tình hình. Cách mạng luôn luôn là sáng tạo”. Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã đánh giá và nhận thức tình hình biến đổi ấy để chỉ đạo mọi kế hoạch và hoạt động mùa mưa, đồng thời dự kiến kế hoạch 1975, đặc biệt là mùa khô 1974-1975 và báo cáo ra Trung ương.

    Trong cuộc hội nghị tháng 7/1974 của Trung ương Cục, đồng chí Bí thư đã nhấn mạnh: “Ta đặt vấn đề giành thắng lợi quyết định trong năm 1975-1976, nhất là phải nỗ lực trong mùa khô 1974-1975 là nằm trong dự kiến của Nghị quyết 21 Trung ương và Nghị quyết 12 Trung ương Cục, quyết tâm giành thắng lợi quyết định trong vài ba năm tới (1974-1976). Ta phải hoàn thành nhiệm vụ mùa mưa và tích cực chuẩn bị để hoàn thành nhiệm vụ năm 1975. Cần có nỗ lực lớn của toàn Đảng. Ta đặt như vậy là có cơ sở thực tiễn trong tình hình vừa qua, tốc độ diễn biến vừa qua, đặc biệt là trong 4 tháng vừa qua của năm 1974. Sẽ có chỉ thị để các khu, các tỉnh kiểm điểm công tác thực hiện Nghị quyết 12 Trung ương Cục, cố gắng mùa mưa và chuẩn bị thật tốt cho mùa khô 1975 với tinh thần hết sức kiên quyết. Sẽ báo cáo đầy đủ ra Trung ương và đề nghị Trung ương có chỉ đạo kết hợp về đấu tranh ngoại giao, về hiệp đồng trên chiến trường toàn miền Nam”.

    Nội dung mọi mặt hoạt động mùa mưa năm 1974, theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền bao gồm:

    - Tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch bằng phản công và tấn công, mở rộng vùng kiểm soát của ta, phát triển phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đứng lên làm chủ các vùng, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven đô thị. Mở hội nghị tổng kết công tác chống phá bình định toàn B2 vào tháng 9/1974.

    - Tăng cường lực lượng của ta cả về quân sự và chính trị, tạo thế và lực đủ sức làm trọn nhiệm vụ năm 1975. Ta phải mạnh ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh để có thể tự lực mở mảng, mở vùng. Lấy cái mốc, riêng về nắm dân là năm 1960, dân vùng giải phóng và tranh chấp của ta là gần 5 triệu mà ta đã thành công rực rỡ trong cuộc Đồng khởi. Năm 1968, số dân ta nắm là gần 4 triệu thì ta đã giành thắng lợi trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Vậy chỉ tiêu về số dân cho đến hết mùa mưa này ta phải đạt cho được ít nhất là mức của năm 1968 để bước vào mùa khô năm 1975.

    - Tập trung sức đẩy công tác đô thị lên nhanh. Ngày nay mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị tư sản mại bản quan liêu quân phiệt với các tầng lớp nhân dân đang dâng lên gay gắt, nhất là ở đô thị. Ta có điều kiện làm cho quả đấm đô thị mạnh.

    - Nắm vững các lực lượng vũ trang, chăm lo xây dựng, huấn luyện và chiến đấu. Đã tới lúc cả ba thứ quân phải phát triển nhanh, mạnh để hoàn thành nhiệm vụ trọng đại của mình là lực lượng quyết định trực tiếp.

    - Xây dựng tốt vùng giải phóng và căn cứ địa, bảo đảm tốt các hành lang vận tải. Mặc dù mùa mưa có trở ngại và địch cố ngăn chặn, phải bằng mọi biện pháp tăng cường vật chất, hậu cần cho các lực lượng, các hướng, các quân khu để sẵn sàng cho một mùa khô giành thắng lợi lớn.

    - Về công tác lãnh đạo của Đảng phải làm sao phát động được tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và quần chúng. Làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thấy rõ được âm mưu thâm độc của Mỹ - ngụy, thấy rõ thắng lợi mới của ta, nhân tố mới của tình hình mà phấn khởi nỗ lực vươn lên. Trước mưu thâm của địch phải thấy không có con đường nào khác là dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, phải tấn công mạnh giành quyền sống về ta. Mỗi người phải phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình để đạt thắng lợi lớn. Chống hữu khuynh mơ hồ về địch.

    - Các cấp, các ngành phải chấn chỉnh biên chế, tổ chức lề lối làm việc sao cho thích hợp với tình hình mới, gọn nhẹ, sát thực tế, sát cơ sở, có hiệu lực cao nhất.

    Một trong những công tác hết sức khẩn trương trong mùa mưa là công tác chuẩn bị lực lượng quân sự cho mùa khô. Trong lúc các lực lượng đều phải tham gia đánh địch ở cả ba vùng, thực hiện chỉ tiêu các mặt của trên đề ra cho mùa mưa, thì cả ba thứ quân và các cơ quan quân sự đều phải lo chấn chỉnh tổ chức, phát triển đơn vị, huấn luyện nâng cao hiệu lực tác chiến theo nhiệm vụ và hoàn chỉnh thế bố trí trên toàn chiến trường. Kế hoạch xây dựng lực lượng này của Bộ Tư lệnh Miền đã được Trung ương Cục thông qua vào cuối tháng 6 và ngay sau đó phổ biến cho các quân khu, các cấp đến cơ sở. Dự kiến của kế hoạch là động viên các địa phương, tùy khả năng cho phép, mở rộng không hạn chế lực lượng du kích xã, ấp và bộ đội địa phương huyện, có thể huyện có tiểu đoàn và xã có đại đội để tự mình mở mảng mở vùng giải phóng mà không cần sự chi viện của lực lượng tỉnh. Đây là căn cứ vào kinh nghiệm thực tế của huyện Mỹ Xuyên thuộc tỉnh Sóc Trăng và một số nơi thuộc tỉnh Kiến Phong. Những nơi này, trong mùa khô vừa qua, chỉ với lực lượng bản thân, đã đánh trả địch lấn chiếm có kết quả và qua đó mở rộng vùng giải phóng bao gồm nhiều ấp, xã liên hoàn nhau. Ở những nơi đó, khí thế quần chúng nhân dân nổi dậy sôi nổi, tham gia cùng du kích và bộ đội địa phương tấn công địch, tiêu diệt, bức rút và bức hàng nhiều đồn bót do bọn dân vệ và bảo an đóng trong xã.

    Các tỉnh đều phải mở rộng việc vận động thanh niên tòng quân và kết hợp với số tân binh của trên phân phối, bổ sung với tổ chức thành các tiểu đoàn mạnh của tỉnh. Tùy điều kiện, tỉnh có từ một đến bốn tiểu đoàn. Riêng những tỉnh có khả năng và do yêu cầu của nhiệm vụ có thể tổ chức một trung đoàn nhẹ cùng với một vài tiểu đoàn lẻ. Trong thời gian này, trừ Quân khu 6 và Sài Gòn, các quân khu 7, 8, 9 mỗi quân khu đều có một số trung đoàn độc lập trực thuộc. Để chuẩn bị cho Bộ Tư lệnh Quân khu nắm chắc được toàn bộ lực lượng quân sự, chính trị, chỉ huy cuộc tấn công, nổi dậy trong toàn Quân khu, để gọn đầu mối và để có một quả đấm chủ lực mạnh, tháng 8/1974, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập một sư đoàn nhẹ cho mỗi quân khu bằng cách ghép các trung đoàn lẻ lại, tăng cường binh chủng và tổ chức cơ quan chỉ huy sư đoàn do một đồng chí Phó Tư lệnh Quân khu kiêm sư đoàn trưởng. Quân khu 9 tổ chức ra Sư đoàn 4 gồm các trung đoàn 10, 20 và 30 do đồng chí Nguyễn Đình Chức là Sư đoàn trưởng. Quân khu 8 có Sư đoàn 8 do đồng chí Sư đoàn trưởng Sáu Phú 1 chỉ huy và gồm các trung đoàn 18, 24 và 320. Quân khu 7 chỉ có 2 trung đoàn lẻ là Trung đoàn 33 và Trung đoàn 4 tổ chức thành Sư đoàn 6 thiếu do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ (Hai Phong) chỉ huy. Về Quân khu 6, do điều kiện khó khăn của ta về mọi mặt, xa sự chi viện và chỉ huy của trên, thiếu nhân lực, kém về vật chất, vận tải khó khăn, để thích hợp với nhiệm vụ và phương châm phương thức hoạt động ở đây, nên từ trước ta chỉ tổ chức từng tiểu đoàn bộ binh lẻ, các đơn vị đặc công cùng với du kích và các đội vũ trang công tác. Trước tình hình mới và nhiệm vụ sẽ giao cho Quân khu sắp tới, từ tháng 5 đến tháng 6/1974, Bộ Tư lệnh Miền đã ra lệnh ghép các tiểu đoàn bộ binh 186, 840, 15 và các đại đội pháo, thông tin... thành lập ra Trung đoàn tập trung 812, gấp rút huấn luyện và lấy các tỉnh Bình Tuy, Bình Thuận làm chiến trường hoạt động chủ yếu. Do chưa rõ ý định của Miền, nên quân khu chưa thông suốt việc thành lập trung đoàn này. Bộ Tư lệnh Miền một mặt giải thích, một mặt ra lệnh xây dựng ngay trung đoàn để kịp với nhiệm vụ, khỏi lỡ thời cơ. Chính trung đoàn này, năm 1975 đã cùng với lực lượng địa phương tại chỗ kết hợp với lực lượng bạn, giải phóng phần lớn tỉnh Bình Tuy, Lâm Đồng, toàn bộ tỉnh Tuyên Đức và một phần tỉnh Ninh Thuận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân khu. Khu Sài Gòn, ngoài các lực lượng của Miền bố trí và hoạt động ở nội ngoại thành, do điều kiện đặc biệt cũng chỉ tổ chức các tiểu đoàn lẻ như Tiểu đoàn Quyết thắng 1, 2, 3, 4... cùng với các bộ đội địa phương huyện, du kích, an ninh vũ trang, thanh niên vũ trang (sau này mới thành lập Trung đoàn Gia Định). Bộ Tư lệnh Miền đến lúc ấy trực tiếp nắm các sư đoàn 5, 7, 9, các trung đoàn lẻ 201, 205, 16, 271 và Đoàn 27 đặc công, Đoàn 316 biệt động thành, một số binh chủng rất hạn chế. Toàn B2 có 5 tiểu đoàn pháo xe kéo các loại dùng cho cả chiến dịch và chiến đấu, trong đó có 2 tiểu đoàn pháo 105mm, 155mm lấy của địch, đạn rất thiếu, 3 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp không đủ xe và cũng gồm cả xe M41 và M113 lấy của địch; công binh, thông tin thì càng yếu hơn nữa, vỏn vẹn chỉ có một tiểu đoàn công binh vượt sông, không đủ khí tài, một tiểu đoàn công trình, hai tiểu đoàn công binh chiến đấu, ba tiểu đoàn cầu đường, hai tiểu đoàn vô tuyến, một tiểu đoàn hữu tuyến điện... Từ lâu chúng tôi vẫn thường than phiền với các đồng chí ở Bộ Tổng Tư lệnh rằng, lực lượng của chúng tôi ít quá trong lúc phải đảm nhận một chiến trường rộng, trọng điểm như B2, và tất nhiên đã nhiều phen đòi thêm lực lượng, thêm phương tiện khí tài, vũ khí đạn dược. Người chỉ huy nào lại không muốn trong tay mình có lực lượng chiến đấu đủ và có dự bị để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất. Có lẽ vì thế mà một số anh em công tác ở Bộ Tổng Tham mưu phê phán rằng B2 có tư tưởng địa phương, cục bộ, đòi cho mình nhiều lực lượng hơn B1, B3, B4. Chúng tôi đã nghe nhiều. Không phải trực tiếp mà là nghe kể lại những nhận xét thiên lệch đó đến nỗi mỗi lần bàn về lực lượng quân sự chúng tôi thường cười nói vui với nhau: Hãy nghe nhà triết học Hy Lạp Pythagore nói: “Bạn chịu bất công, bạn hãy tự an ủi, khốn nạn thật chính là gây ra bất công”. Và chúng tôi nghiêm trang: người tướng giỏi không nhất thiết lúc nào cũng phải có lực lượng dồi dào mới thắng.





-----------------------------------------------------------------
1. Thượng tá Huỳnh Văn Nhiên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #84 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 10:52:17 am »

    Tuy thế, lúc xét thấy cần thiết, chúng tôi vẫn đề nghị với trên, vẫn đòi tăng thêm lực lượng. Chúng tôi đã quyết tâm thành lập quân đoàn cho B2 bằng cách ghép các sư đoàn 9 và 7 lại cùng một số binh chủng sẵn có và đề nghị với Bộ Tổng Tư lệnh cho thêm chúng tôi một sư đoàn mới và các đơn vị xe tăng và pháo, có mặt ở chiến trường đầu mùa khô để kiện toàn thành một quân đoàn mạnh ở chiến trường quan trọng này. Được Bộ chấp thuận, trong hội nghị quân sự tháng 7/1974, Bộ Tư lệnh Miền đã chính thức công bố thành lập quân đoàn, sau này thành Quân đoàn 4, do đồng chí Hoàng Cầm làm Tư lệnh và đồng chí Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Ngoài ra các trung đoàn lẻ 271, 205 cũng được lập thành Sư đoàn 3 thiếu để tiện việc chỉ huy và do đồng chí Đỗ Quang Hưng làm Sư đoàn trưởng. Sư đoàn 3 cũng như Sư đoàn 5, Trung đoàn 16, 201, Đoàn đặc công 27 và Đoàn biệt động 316 đều trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền để sử dụng ở các hướng cần thiết.

    Việc thành lập quân đoàn ở B2 và các sư đoàn cho các quân khu là một sự chuẩn bị tích cực về lực lượng chủ lực của chiến trường để đáp ứng đòi hỏi của tình hình và chủ trương hoạt động sắp tới của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Nó đã được nhân dân và các ngành các cấp nhiệt liệt hoan nghênh, chăm sóc và giúp đỡ xây dựng. Nó đã cổ vũ quân và dân B2 phấn khởi vươn lên giành thắng lợi lớn. Nó cũng chứng tỏ một thời kỳ phát triển lực lượng lớn chưa bao giờ có của toàn chiến trường B2 không chỉ chủ lực mà cả bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích xã ấp. Cũng không phải chỉ có lực lượng vũ trang được phát triển nhanh trong thời kỳ này mà cả lực lượng đảng ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng cũng lớn mạnh vượt bậc, ngay ở những vùng mà từ lâu nay ta còn rất yếu. Ví dụ như huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, là một huyện vùng yếu, một rẻo đất hẹp nằm giữa hai sông lớn: sông Tiền và sông Hậu. Nơi đó trước ngày 28/01/1973, trong toàn huyện ta chỉ có hai chi bộ Đảng, và quần chúng có tổ chức còn rất ít, tuy rằng nhân dân ở đây tốt, có truyền thống cách mạng từ lâu. Vậy mà đến hết mùa khô năm 1974, ta có được 8 chi bộ nằm trong 11 xã trong tổng số 13 xã. Ta đã xây dựng được hàng trăm du kích mật và đặc biệt là có 79 cơ sở nằm trong 15 toán và liên toán phòng vệ dân sự của địch. Cán bộ của ta có thể đi lại hoạt động và huy động quần chúng đấu tranh khắp các nơi trong huyện. Hay huyện Chợ Gạo thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm ngay phía đông quốc lộ 4 kẹp giữa sông Tiền, kênh Chợ Gạo và hệ sông Vàm Cỏ. Địa thế gây trở ngại nhiều cho cán bộ ta hoạt động ở đây. Huyện có 20 xã. Đã có chi bộ và cơ sở quần chúng trong 18 xã. Tính chung lúc ấy lực lượng quân sự và chính trị của ta có 4.366 người, trong lúc địch có 3.318 bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự. Ta đã đạt ưu thế riêng trong một huyện mà đây là một huyện yếu của ta. Không những thế, một số tề xã và gia đình binh sĩ ngụy đã quyên góp hàng vạn đồng vào quỹ kháng chiến của huyện... Theo số liệu tổng hợp vào cuối tháng 8/1968 thì không thấp hơn nhiều, trong mùa mưa, ta có thể nỗ lực phát triển lên được. Sở dĩ được như vậy vì Trung ương Cục luôn theo dõi và chỉ đạo các khu, tỉnh trực tiếp với các địa phương và qua các chỉ thị từ số 01 đến 08 mà nội dung chủ yếu của từng chỉ thị vẫn là gấp rút tạo thế, tạo lực, thay đổi so sánh lực lượng ta địch. Các chỉ tiêu về phát triển thực lực quân sự, chính trị tại địa phương, về hoạt động chống địch mở rộng vùng giải phóng mà Trung ương Cục và Quân ủy Miền đề ra cho các khu, tỉnh trong mùa khô vừa qua đều đạt và vượt. Trung ương Cục cũng tin chắc rằng, chỉ tiêu đã đặt ra cho mùa mưa trong toàn B2 cũng sẽ vượt xa hơn nữa. Tất cả cán bộ dự hội nghị quân sự tháng 7 đều đã hạ quyết tâm vượt mọi chỉ tiêu cấp trên đã đề ra. Các đồng chí đã nêu ra một tình hình rất mới là quần chúng nhân dân khắp nơi đều có nhận thức về sự suy sụp của địch và thế thắng của ta không khác gì trong nghị quyết của Đảng, chứng tỏ quần chúng đã tiến kịp với sự chỉ đạo của Đảng hay nói một cách khác Đảng và quần chúng đã hòa cùng một nhịp. Những thời kỳ nào như vậy, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, thì cách mạng sẽ có một sức mạnh có thể làm nên tất cả, giải quyết được nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt nổi.

    Trong hội nghị quân sự tháng 7 này, chúng tôi đã phổ biến và quán triệt nghị quyết tháng 4/1974 của Quân ủy Trung ương, nghị quyết này đã được Bộ Chính trị thông qua nhằm căn cứ vào tình hình diễn biến mới nhất vừa qua, bổ sung cho Nghị quyết Trung ương 21. Nghị quyết đã đánh giá về âm mưu Mỹ rất rõ là: “...Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ vẫn là thực hiện “Học thuyết Nixon” áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, biến miền Nam thành một quốc gia riêng biệt thân Mỹ, nhưng chuyển từ chỗ dùng lực lượng quân sự của Mỹ trực tiếp tham chiến là chính, đến chỗ sử dụng ngụy quân, ngụy quyền có sự viện trợ đắc lực của Mỹ về cố vấn quân sự, kinh tế và tài chính...

    Để thực hiện ý đồ nói trên, Mỹ đã có chủ trương nhất quán từ đầu vừa ký Hiệp định lập lại hòa bình, vừa giúp đỡ ngụy quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh”.

    Nghị quyết nhận xét: “Nơi nào ta kiên quyết phản công và tấn công thì chúng lúng túng bị động, gặp khó khăn. Chúng bị đẩy lùi ở Khu 9, bị chặn lại ở Khu 8, tuy có lần được một số ít ở Khu 5, nhưng cũng đã chững lại. Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực khá lớn của địch, giữ vững các lõm giải phóng ở đồng bằng sông Cửu Long, xung quanh Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng và căn cứ địa rộng lớn, duy trì được thế uy hiếp địch về mặt chiến lược”.

    Nghị quyết đã chỉ đạo cụ thể cho các chiến trường: “Hết sức tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng, tăng cường vật chất, tập trung chỉ đạo bảo đảm cho đồng bằng nhất là đồng bằng sông Cửu Long giành được một chuyển biến rõ rệt có lợi cho ta.

    Khu 5 cần đánh giá đúng tình hình, giải quyết tốt tư tưởng cán bộ, phương thức hoạt động, phối hợp chặt chẽ với chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, phối hợp chặt chẽ giữa Tây Nguyên và đồng bằng, đưa phong trào hồi phục lại căn bản như hồi năm 1972 và mở rộng thêm, bảo vệ, hoàn chỉnh từng bước vùng giải phóng căn cứ địa Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng.

    Miền Đông giữ vững các lõm giải phóng xung quanh Sài Gòn, củng cố thành những bàn đạp vững chắc bao vây uy hiếp Sài Gòn ngày càng chặt hơn, củng cố mở rộng hành lang nối liền vùng ven Sài Gòn với vùng giải phóng căn cứ địa rộng lớn.

    Trị Thiên củng cố thế đứng vững chắc ở giáp ranh, luồn sâu xuống đồng bằng, xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở du kích, làm lỏng kìm, tiến lên phối hợp ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận, đưa phong trào lên, tạo lại thế ba vùng, phá thế phân tuyến của địch, thường xuyên uy hiếp địch để giữ chân hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác ở miền Nam. Đồng thời phải giữ vững và ra sức xây dựng vùng giải phóng vững mạnh”.

    Hội nghị còn được phổ biến cặn kẽ sự đánh giá và nhận định tình hình của Trung ương Cục, về kế hoạch mùa mưa và dự kiến hoạt động giành thắng lớn mùa khô 1974-1975 của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Là những cán bộ lặn lội ở chiến trường, thường xuyên tiếp xúc với cơ sở với hiểm nguy qua các thời kỳ diễn biến, anh em hoàn toàn nhất trí đó là chuyển thành sức mạnh tập thể chấp hành nghị quyết Đảng, sức mạnh chuyển tới từng đảng viên, từng quần chúng.

    Ngay sau cuộc hội nghị quân sự, đồng chí Phạm Hùng với danh nghĩa là Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền và là Chính ủy Bộ Tư lệnh Miền đã cùng chúng tôi làm việc cụ thể với từng đoàn cán bộ của từng quân khu, đặc biệt là với đoàn cán bộ của Thành đội Sài Gòn, bàn rõ về việc xây dựng và bố trí các loại lực lượng quân sự và chính trị, bí mật và công khai, cũng như các hình thức hoạt động, nhất là hình thức hoạt động vũ trang ở vùng ven và trong nội thành. Đồng chí đã trực tiếp giải quyết những vướng mắc trong nhận thức của cán bộ thành về việc bố trí các đoàn đặc công sâu vào vùng ven và việc hoạt động quân sự ở các vùng ấy. Nhiều cán bộ đã quan niệm sai là ở vùng ven hiện nay tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng còn yếu, không nên bố trí đặc công và bộ đội địa phương vào vì sợ lộ, sợ địch sẽ càn quét đánh phá làm cho không ổn định để xây dựng cơ sở. Nhất là sợ nếu đặc công hay bộ đội địa phương lại đánh địch ở đây nữa thì sẽ bể hết cơ sở. Không lẽ có lực lượng vũ trang ở đây mà địch đến lại không có đánh? Vì thế mà nêu rằng: “Đánh thế nào để không bể cơ sở”, làm anh em rất lúng túng. Một số nơi đã rút lực lượng vũ trang ra khỏi hay đã thủ tiêu chiến đấu. Đồng chí nhấn mạnh: “Đường lối của Đảng ta là tấn công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng vũ trang và cả bằng lực lượng chính trị. Muốn vậy phải tổ chức và bố trí lực lượng quân sự kết hợp lực lượng quần chúng. Chỉ khác nhau giữa các vùng là cách tổ chức lực lượng ra sao, bố trí loại lực lượng gì. Ta phải đánh địch bằng ba mũi giáp công. Vậy cần nghiên cứu phương thức đánh ba mũi thế nào, ở đâu để giành thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Dứt khoát ta không phải trường kỳ mai phục, càng không thủ tiêu chiến đấu. Trong chiến tranh không thể mong có sự yên ổn để tổ chức lực lượng, mà lực lượng được tổ chức trong hoàn cảnh ổn định giả tạo đó sẽ không có chất lượng. Trong giai đoạn chiến lược hiện nay ta phải vây ép chặt Sài Gòn hơn nữa, phải sẵn sàng phối hợp giữa các vùng để thắng lợi mùa khô tới, không được chậm trễ. Khi cán bộ thông suốt tư tưởng, quan niệm đúng về vấn đề, dũng cảm đấu tranh, kết hợp chặt giữa cấp ủy địa phương với chỉ huy quân sự của cấp trên xuống và tại chỗ, thì sẽ có phương thức đúng. Phải mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm...”.

    Một khâu dám nghĩ và dám làm rất quan trọng không thể nào quên là công tác vận tải, bố trí, tích trữ lương thực, đạn dược cho B2 trong mùa mưa của những chiến sĩ thực sự là “đi trước về sau”, như truyền thống của Nam Bộ kháng chiến. Những chiến sĩ vất vả, gian lao nhưng thầm lặng, vui cái chiến thắng của anh em mà hầu như quên mất cái chiến thắng của mình - đó là chiến sĩ hậu cần! Trong suốt mùa mưa tầm tã, lầy lội, hàng vạn chiến sĩ hậu cần cùng hàng chục vạn lượt nhân dân đã làm việc cả ngày lẫn đêm trên mọi tuyến đường từ phía sau ra phía trước, trên đồng lầy, biển cả và sông nước Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, khắp đồng bằng sông Cửu Long đến núi rừng Khu 7, Khu 6, đến vùng ven và vào đến tận nội đô Sài Gòn. Có lẽ ngành hậu cần B2 đã nói lên rõ nhất mọi thứ kết hợp một cách tài tình trong chiến tranh chống Mỹ của ta: Kết hợp làm cả hậu cần quân đội và hậu phương quốc gia; kết hợp việc tiếp thu cung cấp của trên với việc mua sắm sản xuất tại chỗ; kết hợp hậu cần chuyên môn và hậu cần nhân dân; kết hợp lực lượng quân đội và lực lượng quần chúng, chiến sĩ và dân công, chính quy và du kích; quy mô lớn và nhỏ, công khai và bí mật; bí mật mang vác len lỏi qua các vùng địch ban đêm, bí mật dùng xe cơ giới, tàu thuyền công khai chạy trên các đường và sông, vào cả các đô thị; kết hợp hiện đại và thô sơ (xe bò, xe đạp thồ, xuồng chèo, mang vác...); kết hợp công tác và chiến đấu diệt địch tự bảo vệ mình. Ngay trong cấu tạo thành phần chỉ huy của Cục Hậu cần Miền đã phải có sự kết hợp rất cần thiết để bảo đảm công tác có hiệu quả cao. Đồng chí Tư Khanh 1 - Chính ủy Cục, trước đây là một công nhân xưởng Ba Son, Sài Gòn, quê tỉnh Gia Định, đã sớm tham gia phong trào cách mạng và vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ những năm 1930. Trong chiến tranh chống Pháp, đồng chí là Chỉ huy phó Bộ Chỉ huy quân sự Gia Định. Trong chiến tranh chống Mỹ, trước khi sang ngành hậu cần đồng chí đã là Tư lệnh pháo binh của Miền. Vì vậy, đồng chí hiểu biết về quân sự, rành cả địa phương và người dân Sài Gòn cũng như miền Đông Nam Bộ. Tính trung thực và chân thành, đồng chí thương yêu và lo lắng tận tình cho cán bộ, chiến sĩ, biết phải nuôi dưỡng và bảo đảm thế nào cho bộ đội đánh thắng. Đồng chí Cục trưởng Bùi Phùng, quê ngoại thành Hà Nội, đã từng làm tham mưu ở Tổng cục Hậu cần, có nghiệp vụ công tác thành thạo. Đồng chí Tư Võ 2 - Cục phó, thời chống Pháp là bí thư Tỉnh ủy Long Châu Tiền, đã hoạt động cách mạng nhiều năm vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở đất nước Campuchia, là người có nhiều công lao tạo nguồn vật chất tại chỗ cho ngành. Cán bộ bên dưới cũng có sự bố trí tương tự để kết hợp được tài năng và đạo đức, quen việc và thạo chiến trường, biết tìm của và rõ lòng người. Đề ra công việc to lớn phải đi đôi với tổ chức và chọn người tương xứng mới bảo đảm thành công. Không thể kể hết được mọi thứ kết hợp từ đó tạo ra một sức mạnh tổng hợp làm cho ngành hậu cần B2 đã bảo đảm được mọi cuộc chiến đấu và chiến dịch bất cứ mở ra ở đâu và lúc nào, suốt từ đầu đến cuối chiến tranh. Ngay trong thời kỳ khó khăn thiếu thốn nhất về lương thực đạn dược của B2, đặc biệt là chiến khu A, bắc Biên Hòa, năm 1966, Miền vẫn cắm và giữ ở đó Đoàn hậu cần 81 do đồng chí Mười Thiện 3 phụ trách. Nhờ vậy mà Sư đoàn 9 lúc ấy khi cần tác chiến khu vực này, vẫn có gạo và đạn để đánh mà không cần phải mang theo để khỏi nặng nề, chậm chạp. Nhân một chuyến đi công tác mùa thu năm 1966, tôi ghé thăm Đoàn 81, đồng chí Mười Thiện và anh em vẫn bảo đảm với tôi kiên quyết “bám trụ” bất kể tình hình thế nào. Anh chị em công tác ở đây, ngoài bom đạn và chất độc hóa học tấn công, còn có bệnh sốt rét vàng da cũng là một kẻ thù đáng sợ. Vì vậy mà “hồi chín năm” 4 anh em đã có câu: “Mã Đà, sông Bé, anh hùng tận” (sông Mã Đà chảy ra sông Bé, nơi nổi tiếng là nước độc đã làm chết bao nhiêu chiến sĩ ta vì bệnh sốt rét trong những năm kháng chiến chống Pháp).

    Thần tốc ở đây phải hiểu là lo trước ém sẵn, ở đâu cần ở đó có, lúc nào cần là có ngay. Muốn vậy phải có một suy nghĩ chiến lược dự kiến sớm chính xác, kịp thời, một tổ chức giỏi triển khai trước, có phương pháp, có hiệu năng bao gồm những con người dũng cảm mưu trí. Không có thứ thần tốc để “nước tới chân mới nhảy”, công việc xảy ra rồi mới chạy nhốn chạy nháo, mà chạy thế nào kịp? Mỹ - ngụy có máy bay vận tải nặng nhẹ, trực thăng nhiều mà chạy chết còn không kịp, huống hồ gì tải người, tải hàng đáp ứng với yêu cầu khi thời cơ cấp bách? Hậu cần B2 có thuật “Lót ổ sẵn”. Lót ổ hàng trăm, hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí đạn dược từ trước ở các lõm du kích, các địa bàn mà bộ đội chủ lực, địa phương sẽ đến đó hoạt động khi cần; lót ổ thuốc nổ, súng đạn ở vùng ven đô thị, sát các sân bay, bến cảng, kho tàng của địch, trong nội thành, gần các mục tiêu quan trọng như ở ngay trung tâm Sài Gòn cho lực lượng đặc công biệt động ta sử dụng theo kế hoạch của trên quy định. Không có lực lượng có tổ chức khéo léo tinh vi, không có cán bộ phù hợp, có năng lực phụ trách, không có quần chúng cách mạng thì không thể nào làm nổi những công việc như vậy. Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, trong mùa mưa, hậu cần đã chuyển đến cho các quân khu kể cả Sài Gòn trên 3.000 tấn vũ khí đạn dược; đã cấp phát đủ cho các đơn vị các cơ số đạn và lương thực cần thiết cho chiến đấu và dự trữ thường xuyên; đã tích trữ tại các khu vực sẽ diễn ra chiến đấu mùa khô, chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ gần 30.000 tấn vật chất trong đó có gần 8.000 tấn đạn dược và 1.500 tấn xăng, dầu. Cái đáng nói của hậu cần B2 còn là việc cố tạo ra vật chất tại chỗ, cái gì có thể tạo được, và chỉ yêu cầu trên cung cấp những gì không tạo ra được tại chỗ. Nếu tính trong suốt năm 1973 và cả mùa mưa năm 1974, thì số lượng vật chất hậu cần B2 tự tạo ra được đạt tỷ lệ 73% số nhu cầu của chiến trường. Như vậy, chỉ còn 27% là xin Trung ương cung cấp. Thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, hậu cần đã bảo đảm lượng dự trữ thường xuyên từ 4 đến 6 tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; 3 đến 6 tháng xăng, dầu, và bắt buộc phải có một chiến trường xa xôi, trọng điểm, vô cùng ác liệt là một chiến công có ý nghĩa biết dường nào. Tôi đã gặp họ, những chiến sĩ hậu cần tận tụy trên khắp các ngả đường chiến dịch. Họ hồn nhiên, vui vẻ như bất chấp nặng nhọc hiểm nguy, làm mà không nói. Đầu năm 1975, tôi qua bến Tà Lài, trên sông Đồng Nai, tại Chiến khu A, bắc Biên Hòa, hỏi chuyện một chiến sĩ lái xe chất đầy đạn, người vạm vỡ, lanh lẹn. Đồng chí đang cúi xuống rờ vào bánh xe đã mòn, vội đứng thẳng: “Báo cáo thủ trưởng, em người Hà Bắc, vào chiến trường từ năm 1973, tên là Phạm Văn Miêng”, và đồng chí lái canô đẩy phà sang sông, đã đứng tuổi, người gầy nhưng chắc: “Em ở Cà Mau, tòng quân năm Đồng khởi, tên là Út Đen. Lên trên này mới học thêm, ở nhà chỉ biết lái đuôi tôm đưa vợ đi chợ” - “À đồng chí đã có vợ. Vậy đã có con chưa?” - “Dạ có một trai được ba tuổi thì bọn dân vệ đi càn bắn chết. Sau đó em tòng quân luôn, quyết trả nợ nước thù nhà”. Tôi ngậm ngùi lòng quặn đau. Tôi hỏi tiếp: “Còn đồng chí Miêng thế nào?” - “Em chưa có gia đình, thành công rồi, em tình nguyện ở luôn trong này đấy ạ” - “À ra thế, vậy đã có chú ý đến cô nào chưa?” - “Thưa chưa ạ, bây giờ thì suốt ngày đêm phải dành cho xe đã”... Nhớ năm 1968, khi qua sông Sài Gòn ban đêm, ở một bến đò trong rừng tre xơ xác bom đạn nhưng còn đủ để ngụy trang cho ta từng đoạn..., ở đây tôi đã gặp các cô gái trẻ măng đang vác từng hòm đạn nặng từ thuyền lên chất vào các hầm trên bờ. Tôi đã quen mặt hai cô, cô Thấm và cô Liên, các cô là những chiến sĩ thi đua đã từng về họp mừng công ở căn cứ Miền, tại Cục Hậu cần. Phần lớn các cô này đều ở vùng ven Sài Gòn tòng quân vào công tác ở hậu cần khu Sài Gòn - Gia Định. Các cô nhận ra thủ trưởng mừng quá, xúm quanh hỏi chuyện ríu rít: Bao giờ thì giải phóng Sài Gòn, làng Tân Thới Nhất, Bà Điểm đấy chú? Cô khác chêm vào: Cả làng Tân Hiệp, Hóc Môn nữa, mày chỉ nghĩ đến xã của mày thôi hả - Liệu chúng cháu có được về quê sau Tết không chú? Không biết giờ đây các cô Thấm, cô Liên ấy, các cậu Miêng, cậu Út, ai còn ai mất! Biết bao người, trong đó có chiến sĩ hậu cần, đã ngã xuống trên mảnh đất này. Đồng chí Nguyễn Văn Dung - Chủ nhiệm hậu cần đầu tiên của B2, một công nhân Sài Gòn, đầu tóc hoa râm qua hai mùa kháng chiến, cũng đã hy sinh trong lúc đang đi công tác. Không có phân chia hậu phương, tiền tuyến trong cuộc chiến tranh này. Hậu cần luôn phải xung phong lên tuyến trước, hăng hái đi trước để chuẩn bị và thu dọn chiến trường nên vui vẻ về sau!





------------------------------------------------------------------
1. Thiếu tướng Đào Sơn Tây.
2. Đồng chí Võ Phát.
3. Đại tá Võ Văn Lân hiện là Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu 7.
4. Anh em gọi “Hồi chín năm” là chỉ thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 10:56:06 am »

    Trong tháng 8 và tháng 9/1974, Bộ Tham mưu Miền theo phương hướng của Trung ương Cục vạch ra, và dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền đã xây dựng kế hoạch hoạt động mùa khô 1974-1975, dự kiến giành thắng lợi quyết định trong vài năm tới. Đầu tháng 10, Trung ương Cục đã thảo luận và thông qua kế hoạch này. Trong cuộc họp, từng đồng chí trong Trung ương Cục đã phân tích rõ ràng, cụ thể tình hình chiến trường, cả tình hình chung và đã nhất trí quyết tâm giành thắng lợi quyết định, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976. Năm 1975 là năm bản lề và năm 1976 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh. Cũng không phải đã dễ dàng mà đi đến nhất trí như vậy. Bao nhiêu là đắn đo suy nghĩ, bao nhiêu phân tích lật đi lật lại vấn đề. Mọi người đều nêu rõ về sự suy sụp của cả quân ngụy và ngụy quyền ở các vùng. Ở đô thị cũng đã xuất hiện phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng chống ngụy quyền Thiệu tham nhũng, bất lực, và tình hình đó tác động lại tinh thần quân lính địch không ít. Mọi người đều phân tích thế và lực ta lên mạnh, phát triển đều trên các chiến trường. Du kích xã ấp của ta cũng đã diệt, gỡ được đồn bót địch. Nhưng vẫn lo lắng về một số mặt còn yếu: Lực lượng du kích và địa phương tuy gần đây có phát triển mạnh nhưng chưa đủ mạnh cho một cuộc nổi dậy lật đổ ngụy quyền. Ba đòn chiến lược của ta: chủ lực, nông thôn, đô thị vẫn chưa đều. Đòn đô thị còn yếu... Tuy Mỹ thua buộc phải rút quân khỏi Việt Nam, tình hình nước Mỹ đang rối ren về chính trị, kém sút về kinh tế, tài chính, nhưng cần thiết phải có những biện pháp khôn khéo để hạn chế sự can thiệp của Mỹ, bảo đảm ta thắng lợi nhanh và gọn. Tất cả những lo lắng đó rất đúng. Đó là sự thật và ai nấy đều thấy ta phải nỗ lực lớn, nỗ lực liên tục mới bảo đảm thành công trong thời gian như vậy.

    Điều làm cho mọi người nhất trí cao là xác định xem ta đang ở giai đoạn nào trong cuộc cách mạng, của cuộc chiến tranh, và đều đồng ý như phát biểu của anh Mười Cúc 1 : “Chế độ Thiệu đang suy yếu nghiêm trọng, một mặt do mâu thuẫn bản thân của nó đến lúc phát triển, một mặt do ta tấn công ngày càng mạnh. Ta cần tấn công mạnh và liên tục hơn nữa, không cho chúng dừng lại lấy sức. Ngày nay ta có điều kiện đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần đi đến thắng lợi hoàn toàn, chế độ ngụy không thể chịu nổi qua mùa khô 1975-1976”. Và anh Bảy Cường đã kết luận: “Địch đang khủng hoảng toàn diện, cả ngụy quyền trung ương chứ không phải chỉ một mặt nào, một vùng nào. Ngụy sẽ suy sụp với tốc độ ngày càng nhanh như một chiếc xe lao xuống dốc, không loại trừ đi đến khả năng đột biến. Khuyết nhược điểm ta vẫn còn, nhưng có khả năng và đang trên đà khắc phục. Ta đang giành thắng lợi lớn ngay trong mùa mưa này. Ta có điều kiện chuẩn bị tốt cho mùa khô tới. Ta nhận định rằng, ta có thể hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ vào năm 1976. Năm 1976 là một thời cơ hết sức quan trọng. Nhưng năm 1975 phải thực sự là năm bản lề, nỗ lực giành thắng lợi thì mới tạo điều kiện cho năm 1976 quyết định. Nói năm 1975 nhưng thực chất quyết định là mùa khô 1974-1975. Cần phải nắm vững tinh thần kế hoạch mùa khô mà Trung ương Cục và Quân ủy đã bàn, phải quán triệt ý nghĩa và nội dung mùa khô cho xuống tới dưới, phải quan niệm mùa khô này như một kế hoạch chiến dịch chặt chẽ từ Quân khu 6 đến Quân khu 9, từ chủ lực đến địa phương, từ nông thôn đến rừng núi, đô thị, phải phối hợp rất nhịp nhàng. Lần này hơn hẳn các lần trước, ta có kế hoạch phối hợp và bàn bạc chuẩn bị kỹ từ trên xuống dưới, cả trong quân sự và các cấp đảng bộ. Ta quyết định giành thắng lợi lớn. Do vậy, việc lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy phải chặt chẽ vào mùa khô này, các khu và tỉnh cũng vậy; phải chặt chẽ giữa cấp ủy và cấp quân sự tương đương trong việc chỉ đạo và chỉ huy.

    Ta vừa thực hiện thật tốt kế hoạch mùa khô, đồng thời chuẩn bị hướng phát triển mạnh nếu tình hình diễn biến tốt cho ta, ta phải ráng lên đạt thắng lợi cao nhất, kịp thời ngay trong năm 1975 này”.

    Cũng trong cuộc họp này của Trung ương Cục, chúng tôi đã thảo luận đến trường hợp tình hình diễn biến nhanh, ngụy quân, ngụy quyền có thể suy sụp sớm hơn ta dự kiến, đặc biệt là nếu có xảy ra đột biến về quân sự, chính trị ngay ở Sài Gòn. Trong trường hợp đó, có thể chiến trường B2 phải tự mình tiến hành tấn công cuối cùng vào sào huyệt đầu não của địch, kết thúc chiến tranh, mà không được để lỡ thời cơ. Tôi đã trình bày với Trung ương Cục rằng, chúng tôi sẽ cố gắng đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương và du kích, cũng như các địa phương tăng cường phát triển lực lượng quần chúng cách mạng cho thời cơ ấy. Nhưng về chủ lực thì B2 còn rất yếu, thiếu cả về bộ binh và binh chủng kỹ thuật cho một nhiệm vụ nặng nề như vậy. Tôi đề nghị xin Trung ương cho ngay B2 từ ba đến bốn sư đoàn nữa thì tự mình chúng tôi đảm bảo trận chiến đấu cuối cùng ấy thành công. Xét về khả năng diễn biến có thể của tình hình, về đường lối chiến lược, cách tổ chức bố trí và sử dụng lực lượng của ta, về vị trí và vai trò của chiến trường B2, việc tăng thêm vào giai đoạn này ba, bốn sư đoàn cho chúng ta hoàn toàn hợp lý. Tôi đã trình bày phác họa các hướng tấn công vào Sài Gòn, nói lên sự cần thiết phải có số lực lượng chủ lực như vậy. Sau khi thảo luận, các đồng chí Trung ương Cục đều nhất trí và quyết định xin Trung ương ngay. Nhưng để các sư đoàn ấy đến kịp chiến trường, sẽ yêu cầu Trung ương điều theo lối cuốn chiếu, nghĩa là điều những sư đoàn ở Tây Nguyên vào B2, rồi điều lực lượng Trị Thiên vào thay ở Tây Nguyên, và cứ như thế cho đủ số bố trí ở các chiến trường. Làm như vậy, chúng ta sẽ rút ngắn được thời gian hành quân của các đơn vị.

    Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã báo cáo kế hoạch ra Trung ương và Quân ủy Trung ương và đã đề nghị Bộ Chính trị triệu tập một cuộc họp với đại diện tất cả các chiến trường để bàn kế hoạch thống nhất toàn miền Nam trong giai đoạn quan trọng này.

    Kế hoạch mùa khô 1974-1975 của B2 mà Trung ương Cục đã thông qua thực sự là một kế hoạch chuẩn bị tiến lên tổng tấn công và nổi dậy của B2, kế hoạch tạo điều kiện đi lên giành thắng lợi kết thúc cuộc chiến tranh ở chiến trường trọng điểm này. Vì vậy, nó phải dựa trên cơ sở dự kiến trước một kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy của toàn B2. Thật ra thì kế hoạch dự kiến này chúng tôi đã ôm ấp rất lâu, bắt đầu từ khi chuẩn bị và tiến hành tổng công kích và tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân cho đến ngày nay. Hàng chục năm chiến đấu trên chiến trường này, đánh Pháp rồi đánh Mỹ, cán bộ quân sự chúng tôi đã hầu như thuộc lòng mọi địa hình địa vật, từng làng mạc, sông rạch. Chúng tôi cũng đã nắm rất rõ kẻ địch của mình, cách tổ chức và khả năng tiến hành phòng ngự, phản ứng của chúng trong từng thời kỳ. Nhưng quan trọng hơn là chúng tôi nắm chắc đường lối lãnh đạo của Đảng ta trong cuộc chiến tranh này: Chúng ta đánh địch bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị. Quân sự và chính trị song song tất yếu dẫn đến tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Nhất trí và tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đó, chúng tôi luôn tâm niệm là đến một thời cơ nào đó, dứt khoát phải tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Vì vậy mà sau khi có Nghị quyết Trung ương 9 năm 1963, một nghị quyết vạch rất rõ đường lối đó, chúng tôi ở chiến trường có thành phố Sài Gòn - Gia Định, thủ đô của ngụy quyền, luôn suy nghĩ cách thức tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa như thế nào? Từ năm 1964, B2 đã vạch ra 5 hướng tấn công vào Sài Gòn, rồi tổ chức khu Sài Gòn thành năm phân khu 1, 2, 3, 4, 5 để tổ chức bố trí lực lượng, chỉ đạo cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân. Từ lúc ấy đã xác định các mục tiêu ở nội ngoại thành, tổ chức các loại lực lượng thích hợp để tiến hành đồng loạt, trong đánh bung ra kết hợp với ngoài đánh vào. Tết Mậu Thân đã là một kinh nghiệm thực tế vô cùng quý báu. Nhưng mỗi ngày, cuộc chiến tranh tiến triển bởi nhiều hình thức và quy mô khác nhau cũng là mỗi ngày làm phong phú thêm sự suy nghĩ, làm già dặn thêm những kinh nghiệm. Cho đến ngày nay, chúng tôi lại đứng trước ngưỡng cửa của lần thứ hai, tổng tấn công và nổi dậy ở Sài Gòn cũng như ở toàn B2. Chín muồi qua ngẫm nghĩ nhiều năm, chúng tôi không khó khăn lắm phác họa ra một kế hoạch dứt điểm Sài Gòn và toàn B2 để làm nền cho kế hoạch mùa khô năm 1975 này.

    Đó không phải là một kế hoạch tổng phản công quân địch từ một tuyến nào đó như trong một chiến tranh quy ước thông thường. Không phải dùng lực lượng quân sự thuần túy, những quân đoàn chủ lực hùng mạnh, tiêu diệt và đuổi địch từ Tây Nguyên, hay Quảng Trị vào Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, vào Sài Gòn và truy kích đến tận Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc... Thực ra muốn làm thế cũng không làm được, mà có làm được đi nữa thì cũng có nguy cơ địch co dần quân rồi cụm lại ở một vùng nào đó, dựa vào không, hải quân ưu thế của Mỹ để rồi phản công trở lại. “Phương án Garvin” đã từng dự kiến co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long như vậy đó. Garvin là một tướng lĩnh có hạng của Mỹ, qua Sài Gòn năm 1972 là năm mà Mỹ - ngụy bị đập tơi bời, bị thua nặng từ Quảng Trị đến miền Đông Nam Bộ. Trong bối cảnh ấy, y đã nghĩ ra một phương án chiến lược co dần, rút dần nếu bị thất bại mà khu vực cuối cùng phải bám giữ là Mỹ Tho - Vĩnh Long - Cần Thơ. Y tính toán: “Đồng bằng sông Cửu Long là kho nhân lực, là cuộc sống tính từng giờ cho Sài Gòn, là nhịp đập của “trái tim thủ đô”. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi củng cố lực lượng chi viện cho Sài Gòn, từ đó phát triển tăng cường lực lượng phòng thủ, tạo sức phản kích lại đối phương trong điều kiện xấu nhất”. Hẳn y đã nhớ lại bài học quân ngụy từ Mỹ Tho về cứu Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn năm nào. Y còn nghĩ rằng đồng bằng sông Cửu Long dựa lưng ra biển, ra đảo Côn Sơn, Thổ Chu, Phú Quốc... là thế mạnh, tiện lợi cho Mỹ lại từ đại dương tiến vào. Cái nhìn của những tên thực dân thật không khác nhau. Năm 1946, trong một chỉ thị gửi cho Cao ủy Pháp ở Đông Dương DArgenlieu, Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet đã nhấn mạnh: “... Nam Kỳ là cái trục thực sự của toàn bộ chính sách của chúng ta ở Đông Dương. Chúng ta phải thành công và thành công nhanh ở Nam Kỳ vì rằng tương lai có sự có mặt của nước Pháp hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào thắng lợi hay thất bại của chúng ta ở đây”. DArgenlieu cũng có quan điểm: “...Nam Kỳ là chìa khóa của toàn bộ liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp. Nếu quyền lực Pháp củng cố được ở đây thì liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp sẽ trở thành hiện thực... Không bao giờ được quên tầm quan trọng của bộ phận Nam Kỳ. Bộ phận này là hòn đá tảng trong lâu đài liên bang Đông Dương và là nền tảng của ảnh hưởng của chúng ta” 2. Vào thời kỳ đó, Nguyễn Văn Thiệu đã kịch liệt chống lại phương án Garvin, cho đó là một ngu xuẩn, một sự đầu hàng “Việt cộng”. Nhưng đó là lúc mà Thiệu tưởng vẫn đứng vững, dựa vào cái cọc chống đỡ mạnh mẽ của Mỹ. Còn lúc mà cơ hồ không còn manh giáp thì phương án Garvin là tối ưu rồi còn gì? Báo chí phương Tây đã từng bình luận: “Với số dân xấp xỉ mười triệu ở đồng bằng Nam Bộ, Nguyễn Văn Thiệu chẳng có thể là một vị tổng thống đường hoàng của một quốc gia trong Đông Nam Á có diện tích ngót nghét ba mươi sáu nghìn cây số vuông hay sao?”.

    Nhưng về phần chúng ta, chúng ta đã suy nghĩ tất cả những việc ấy trước hơn Garvin, cả những phương án Garvin chưa nghĩ đến, để chọn một chiến lược thích hợp nhất cho cuộc chiến tranh này.

    Ngay từ đầu, Đảng ta đã chủ trương một kế hoạch chiến lược tổng công kích, tổng khởi nghĩa thần kỳ của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển đến cao độ. Chúng ta tấn công địch bằng lực lượng quân sự tổ chức theo rất nhiều kiểu cách thích hợp, kết hợp với nổi dậy của quần chúng từ nhỏ chí lớn ở khắp các vùng, vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng đô thị. Trước một kẻ địch hoàn toàn chiếm ưu thế trên không, dưới biển, ở sông ngòi, ưu thế về vũ khí và phương tiện hiện đại, cơ động nhanh chóng bằng trực thăng bất cứ ở địa hình nào, hỏa lực hủy diệt dồi dào, thì lực lượng của ta chủ yếu quyết định là lực lượng cắm ngay tại chỗ, ở đâu cũng có lực lượng cách mạng, quân địch đến đâu, ở đâu, cũng đều bị đánh, bị đánh bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng, bằng lực lượng lớn cũng như lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, bằng lực lượng thấy được và lực lượng không thấy được. Ngay chủ lực của ta cũng là chủ lực hoàn toàn cơ động tác chiến, nhưng cơ động trong từng khu vực nhất định, kết hợp chặt chẽ với địa phương, không có thứ chủ lực cơ động toàn chiến trường, tách rời địa phương. Ưu việt của ta là địa phương có tính chất rất quyết định, có trách nhiệm, có quyền hạn, nhưng tất cả địa phương được lãnh đạo thống nhất rất chặt chẽ từ Trung ương. Tết Mậu Thân năm 1968 đã chẳng chứng tỏ điều đó sao? Trong cùng một ngày đêm, dưới một hiệu lệnh phát ra từ Trung ương, hàng trăm thành phố, hàng chục làng mạc, mục tiêu của địch cùng bị tấn công dữ dội đến nỗi quân địch không còn biết đâu mà lần, không co vào đâu, không rút đi đâu được, choáng váng ngay tại chỗ, choáng váng cả ở nước Mỹ. Thần tốc của ta là như vậy, thần tốc bao trùm một không gian rộng, một thời gian ngắn, thần tốc trong hành động chiến đấu, trong chiến dịch và quan trọng hơn là trong một giai đoạn chiến lược, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh. Đừng suy nghĩ đơn giản theo kiểu thần tốc tấn công từ xa bằng những binh đoàn chủ lực cơ động thần kỳ mà rồi không thể nào hiểu nổi thực tế.




-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Nguyễn Văn Linh - Phó Bí thư Trung ương Cục.
2. Theo tư liệu của Phân viện Lịch sử Cục Khoa học Quân sự, Bộ Quốc phòng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 10:59:33 am »

    Nắm vững quan điểm chiến lược này, trong suốt mùa mưa năm 1974, Trung ương Cục và Quân ủy Miền hết sức theo dõi đôn đốc các địa phương phát triển nhanh thực lực quân sự, chính trị của bản thân, tạo thế tạo lực, để từng nơi tự mở mảng mở vùng giải phóng. Và tới tháng 10/1974, Trung ương Cục đã chỉ đạo nhấn mạnh “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh, trong toàn chiến trường B2”. Khẩu hiệu hành động bất hủ đó xuất phát từ quan điểm chiến lược kết hợp tấn công và nổi dậy và từ thực tế đã diễn ra trên chiến trường từ trước, đưa ra đúng vào lúc ấy, đã tạo thành một sức mạnh ghê gớm. B2 làm kế hoạch mùa khô 1974-1975 là dựa trên dự kiến, tự B2 phải tiến hành tổng tấn công và nổi dậy ở Sài Gòn, từ từng quân khu, từng tỉnh phải giải quyết chiến trường của mình, mà không đợi lực lượng của trên, nhưng có hợp đồng trong một kế hoạch chung, chặt chẽ về mục tiêu, về thời gian, và dưới sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất của Trung ương. Kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy dự kiến ở toàn B2, được xác lập trên những yếu tố quan trọng sau đây:

    • Trước mắt nhất, phải bảo đảm không đánh đuổi địch từng tuyến, không để cho địch co cụm chiến lược ở bất cứ vùng nào, ngay ở Sài Gòn, hay ở đồng bằng sông Cửu Long, kể cả ở các đảo ngoài Biển Đông, ngoài vịnh Thái Lan như Garvin đã tính toán. Co cụm ở Sài Gòn thì chúng tôi đã lo ngăn chặn dần từ trước, không để địch xây dựng được những tuyến phòng thủ vững chắc và lần lượt phá dần thế có thể co cụm được quanh Sài Gòn. Co cụm ở đồng bằng sông Cửu Long hay ở hải đảo thì biện pháp có hiệu quả nhất là phải tấn công, nổi dậy kịp thời và mạnh mẽ của lực lượng quân sự, chính trị tại chỗ; và chia cắt chiến lược vùng đồng bằng ra nhiều mảnh, tiêu diệt địch từng khu vực một mà không cho chúng dồn về một nơi nào để cố thủ.

    • Yếu tố thứ hai, phải chia cắt, bao vây, cô lập quân địch cả về mặt chiến dịch và chiến đấu để tiêu diệt chúng không cho chúng tập trung lại, dựa vào nhau, chi viện cho nhau; đầu đuôi không cứu nhau được. Quân địch ở B2 tương đối đông bao gồm lực lượng của hơn hai vùng chiến thuật cộng với lực lượng của biệt khu thủ đô của chúng và lực lượng tổng trù bị. Phải bảo đảm quân địch nào, ở đâu, cũng đều bị đánh cùng một lúc, đông hóa ít, mạnh thành yếu. Muốn làm được như vậy, ta phải nắm vững phương pháp hai chân ba mũi, đánh bất ngờ, kịp thời và liên tục, dồn dập khắp mọi nơi cùng trong một thời gian nhất định.

    • Yếu tố thứ ba, phải triệt hạ chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng. Trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, Mỹ - ngụy dựa chủ yếu vào lực lượng không quân mạnh, khống chế bầu trời, chi viện hỏa lực mạnh từ trên không, cơ động bằng máy bay vận tải và trực thăng. Sau đó đến hải quân, các giang đoàn, cơ giới và pháo binh. Không có không quân chi viện mạnh thì quân ngụy sẽ mất tinh thần chiến đấu nhanh, dễ đi đến tan rã và đầu hàng. Ở B2 có ba sân bay lớn là chỗ dựa cuối cùng, là sức mạnh của chúng, đó là sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Lộ Tẻ (Cần Thơ). Ngoài ra, chúng phải dựa vào các tàu sân bay của Hạm đội 7 Mỹ ngoài khơi. Phải có kế hoạch và có lực lượng đặc biệt bố trí sẵn từ trước, khống chế cho được ở mức tối đa ba sân bay này đi đôi với lực lượng phòng không bảo vệ bầu trời của ta.

    • Yếu tố thứ tư, nằm trong trận tấn công vào đầu não của địch, giải phóng Sài Gòn, nơi được phòng thủ cứng nhất, mạnh nhất, là một trung tâm chính trị, văn hóa, thương mại có nhiều đường bộ nối thông với khắp mọi miền đất nước. Quan trọng nhất là đường 1 và đường xe lửa nối với miền Trung, đường 4 nối với đồng bằng vựa lúa, kho người và cũng là Vùng 4 chiến thuật mà lực lượng quân sự còn tương đối mạnh. Lại có đường 15 và sông Lòng Tàu nối với đại dương qua cảng Vũng Tàu, là hướng quân Mỹ vào cứu nguy hay hướng rút chạy của ngụy về mẫu quốc. Là đầu não chỉ huy chiến tranh nên có đủ mọi đường dây liên lạc với các vùng, các đơn vị, cả với Hạm đội 7 Hoa Kỳ. Muốn giải phóng Sài Gòn, trước hết phải cô lập nó với xung quanh, không có đường co, đường chạy, không dựa vào đâu nhờ chi viện, bị bao vây không có lối thoát, chỉ hỗn loạn và tan vỡ.

    • Yếu tố thứ năm, đánh Sài Gòn phải mạnh, nhanh, gọn; các mục tiêu trọng yếu phải bị chiếm hầu như cùng một lúc mới bảo đảm thắng lợi thần tốc, làm cho địch không còn thì giờ sắp xếp lại việc phòng thủ, củng cố lại lực lượng, dựa vào các cấu trúc phức tạp bên trong, phá hoại, gây đổ nát cho thành phố, gây khó khăn cho bên tấn công. Lại còn vấn đề nữa là không để cho những tay phù thủy chính trị có thời gian, cấu trúc các sân khấu, vá víu các con rối để làm phép ngăn chặn sự thắng lợi của cách mạng. Muốn vậy, ta phải kết hợp chặt chẽ cuộc tấn công như vũ bão từ bên ngoài bằng nhiều hướng với sự đánh phá và nổi dậy từ khắp bên trong. Không thể để ta phải đánh từng đường phố, chiếm từng gian nhà, diệt từng mục tiêu. Bộ đội chủ lực mạnh từ nhiều hướng bên ngoài đánh vào, bộ đội đặc biệt và tinh nhuệ đánh các mục tiêu bên trong, quần chúng nổi dậy chiếm các đường phố, làm chủ các công sở, bảo vệ các nhà máy...; phải làm cho quân địch không còn một chút tinh thần nào, rã toàn bộ. Chúng ta đang làm một cuộc chiến tranh cách mạng ngay trong lòng đồng bào của ta: Đảng đã chỉ cho ta phải nắm vững chiến lược tổng tấn công và nổi dậy. Có tấn công, có nổi dậy, có đánh ngoài vào, có đánh trong ra, đồng loạt. Đó là thần tốc. Để làm được như vậy, Trung ương Cục, Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã nghiên cứu bố trí từng chi bộ từng đảng viên, đoàn viên; từng nòng cốt lãnh đạo; từng tổ quần chúng có tổ chức, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên khắp phố phường, cơ sở quan trọng. Đến cả ngàn cán bộ, đảng viên được rút tỉa từ các cơ quan, được điều động từ các tỉnh đồng bằng để tăng cường đội ngũ lãnh đạo nổi dậy ngay tại thủ đô của ngụy. Lực lượng vũ trang có thanh niên cầm súng, an ninh vũ trang, biệt động đặc công, được giao từng mục tiêu từ trong nội thành ra đến vùng ven, đã được rèn luyện và có truyền thống. Còn các binh đoàn chủ lực từ ngoài đánh vào thì thế nào? Nó rất quyết định cho thành công, cho nên phải mạnh và phải được tính toán thật chi li, ngay trong một trận đánh hợp đồng binh chủng trong chủ lực cũng phải có sự hợp đồng tất cả các thứ lực lượng vũ trang và bán vũ trang, hợp đồng giữa lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng có tổ chức và chưa có tổ chức.

    Kế hoạch dự kiến các binh đoàn chủ lực đánh vào từ năm hướng, đó là căn cứ vào năm mục tiêu trọng yếu nhất trong nội thành cần phải chiếm lĩnh nhanh hầu như cùng một lúc: Căn cứ vào tính chất và cách phân bố các mục tiêu ấy nằm trong thành và liên hệ với ngoại thành. Căn cứ vào địa hình địa vật xung quanh các mục tiêu, xung quanh thành phố. Căn cứ vào cách bố trí phòng thủ của địch và khả năng các bàn đạp xuất phát tấn công của ta... Trong năm hướng ấy thì hướng tây bắc và hướng bắc là thuận lợi hơn cả. Vì địa hình ở cả hai hướng ấy tốt, khô ráo, bằng phẳng, rộng rãi, tiện lợi cho triển khai các binh khí kỹ thuật, cho cơ giới, cho lực lượng lớn của chủ lực. Trong tấn công phải vượt qua đồng bưng Cầu An Hạ, sông Rạch Tra, Lái Thiêu, nhưng các đồng bưng này hẹp, dễ khắc phục. Tuyến xuất phát tấn công tuy phải chiến đấu tạo ra trước cho hoàn chỉnh hơn, nhưng nó nằm ngay ven vùng căn cứ hậu phương rộng rãi của ta, thuận lợi cho cơ động và bố trí lực lượng, cho tiếp tế từ phía sau đến và liên lạc với hậu phương, với chỉ huy sở chiến dịch. Quân địch phòng thủ có chú ý nhiều đến 2 hướng này, vì tiếp giáp với căn cứ ta và chủ lực ta thường xuyên ở đây. Chúng bố trí hai sư đoàn tương đối mạnh, nhưng bị phân tán ra cả chiều rộng và chiều sâu, không thành tuyến có công sự và nối liền bằng đồn bót kiên cố vì đã bị ta phá thủng từ trước rồi. Các mục tiêu trọng yếu mà hai cánh quân này phải chiếm lĩnh không nằm sâu trong nội thành, đường tấn công không phức tạp.

    Hướng đông thì địa lợi, nhưng nhân không hòa. Quần chúng có tổ chức của ta còn yếu. Trung tâm tấn công hướng này sâu hơn các hướng khác vì phải đánh chiếm các mục tiêu lớn và cứng như sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa; và đặc biệt là chỉ huy sở Quân đoàn 3 ngụy là quân đoàn có nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng phòng thủ chủ yếu Sài Gòn. Ta còn phải vượt qua hai con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, tuy đường sá thuận lợi nhưng nếu địch phá các cầu thì rất khó mà tiến vào đến mục tiêu đúng thời gian. Các tuyến xuất phát tấn công ở đây xa với hậu phương căn cứ, việc tải lương thực đạn dược gặp nhiều trở ngại. Hậu phương trực tiếp của cánh thì phải chiến đấu mở ra sớm mới tạo đường tải, xây dựng dự trữ hậu cần được. Vì hiện các vùng này địch còn kiểm soát.

    Hai hướng tây và nam là khó khăn phức tạp nhất. Địa hình ở cả hai hướng này trước khi đến và ngay cả ở tuyến xuất phát tấn công cho vào tới mục tiêu phải chiếm, đều thấp và lầy, bị nhiều sông rạch chia cắt. Đặc biệt là hướng nam, quân đi bộ cũng không thoát ra khỏi đường lộ được, nói gì đến cơ giới, xe pháo. Nước ngọt cũng phải mang theo mới có uống. Xe pháo muốn đến triển khai ở tuyến xuất phát tấn công thì phải vừa đánh địch mở đường, vừa tổ chức cầu phà vượt hệ sông Vàm Cỏ. Tiếp tế từ hậu phương ra vừa xa, vừa trở ngại vì không có đường sá. Nếu không phải là những cán bộ và đơn vị hoạt động nhiều năm ở đây thông thạo địa hình, địa phương và địch thì không thể nào khắc phục được những khó khăn nhiều mặt để thành những hướng tấn công có giá trị. Và khi đã khắc phục được những trở ngại để tấn công thì trở thành những mũi tấn công rất bất ngờ đối với địch và rất lợi hại, bảo đảm cho thành công nhịp nhàng của toàn chiến dịch.

    Hướng tây và hướng đông còn một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cho thắng lợi của chiến dịch là phải bao vây cô lập hoàn toàn Sài Gòn trước khi nổ súng tấn công vào trung tâm thủ đô ngụy. Đó là cắt đứt đường 1 và đường xe lửa ra miền Trung, đường 15 và sông Lòng Tàu ra biển.
    Để bảo đảm cho cả năm hướng tấn công đúng cùng thời gian vào Sài Gòn chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng nhất cùng một lúc trong một kế hoạch chiến dịch hợp đồng chặt chẽ, trong khi mỗi hướng có điều kiện và các đặc điểm khác nhau xa như vậy, đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu từ trước, phải tiến hành trước hàng nhiều tháng trời một số công việc hết sức quan trọng.

    Đó là việc chuẩn bị lực lượng cho hướng tây và nam. Như trên đã nói, hai hướng này cần lực lượng quen thạo địa hình, quen hoạt động ở các vùng bưng lầy sông rạch... Đặc biệt là hướng nam không thể dùng xe và pháo xe kéo mà phải là pháo mang vác. Phải là những đơn vị quen chiến đấu ở địa hình phức tạp, điều kiện khó khăn, mang vác theo mình súng đạn lương thực và chỉ được yểm trợ bằng pháo nhẹ. Chỉ có thể dùng ở đây các đơn vị được tổ chức nhẹ, gọn, từng trung đoàn, biết phân tán, tập trung linh hoạt, biết vượt sông bằng mọi phương tiện tại chỗ, thậm chí không có phương tiện... Phải là những đơn vị quen sống với dân địa phương, biết kết hợp chặt chẽ với du kích và bộ đội địa phương, biết vận động nhân dân cùng chiến đấu và giúp bộ đội chiến đấu. Hướng tây có thể dùng xe, pháo, thậm chí cả xe, pháo nặng nhưng phải quen thạo điều động xe pháo trên địa hình phức tạp, bí mật vượt sông ban đêm và ngụy trang khéo léo... Cả hai hướng này đòi hỏi phải chuẩn bị công phu các đường hành quân từ xa đến nơi trú quân, chuẩn bị nơi tập kết và tuyến triển khai xuất phát tấn công rất khó khăn, có khi xen kẽ với địch. Vấn đề dự trữ hậu cần cho hai hướng này cũng rất gian khổ cả trong công tác vận tải cũng như xây dựng kho tàng, trạm xá quân y và tải thương...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 11:02:22 am »

    Căn cứ vào kế hoạch dự kiến tổng tấn công và nổi dậy trên chiến trường B2 như vậy mà Bộ Tham mưu vạch kế hoạch mùa khô 1974-1975 của B2 mở đầu từ tháng 12/1974, chia là hai đợt:

    - Đợt 1 từ đầu tháng 12/1974 đến đầu tháng 02/1975.

    - Đợt 2 từ tháng 3 đến hết tháng 5/1975.

    Nội dung chủ yếu của kế hoạch mùa khô là: Tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng giải phóng, giành nhiều dân về với cách mạng, mở rộng và hoàn chỉnh vùng căn cứ hậu phương và hành lang nối liền các chiến trường, đặc biệt là căn cứ chính miền Đông và hai cánh Đông, Tây Sài Gòn; tiêu diệt từng tiểu đoàn, chiến đoàn quân ngụy, giải phóng quận lỵ, tiến lên có điều kiện thì giải phóng tỉnh lỵ, tiếp tục tạo thế tạo lực mạnh cho ta; thúc đẩy nhanh sự suy sụp của ngụy và sẵn sàng tạo ra và nắm vững thời cơ giành thắng lợi. Các hướng và mục tiêu đề ra cũng tức là tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho thắng lợi quyết định.

    Đồng bằng sông Cửu Long chọn trọng điểm số một tấn công địch là ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre. Hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh là vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long; có đường 4 và sông Măng Thít là hai đường chiến lược bộ thủy chạy qua. Mở rộng vùng giải phóng và nắm dân ở đây là tạo điều kiện cắt đứt lộ 4, làm chủ sông Măng Thít, khóa chặt hai bến phà Cần Thơ và Mỹ Thuận, tức là cắt toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long ra làm ba mảnh, chặt Vùng 4 chiến thuật địch ra làm nhiều đoạn cô lập nhau. Đây là đòn chiến lược đập tan ảo tưởng của Mỹ - ngụy ngay từ sớm là co cụm chiến lược về đây để phản kích lại, khi bị thua nặng ở các nơi khác. Bến Tre là một tỉnh có địa hình tốt nằm sát với Gò Công, Cần Đước, Cần Giuộc. Thắng lợi của ta ở đây vừa hỗ trợ cho mặt trận Vĩnh Long, Trà Vinh vừa tạo được một bàn đạp tốt cho mũi tấn công vào Sài Gòn từ hướng nam. Để bảo đảm cho hướng tấn công phía nam Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Miền dự kiến tạo cho được hai hướng tiến quân: Một là từ vùng Long Định, Mỹ Tho qua Chợ Gạo, Tân Trụ, Tân An, rồi Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè; hai là từ Bến Tre qua Gò Công rồi Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè đánh vào quận 7 và 8... Cả hai đường tiến quân này đều phải qua những vùng yếu của ta, địch đóng dày đồn bót, địa hình khó khăn, lại xa vùng căn cứ giải phóng. Vì vậy, nếu không hoạt động tạo điều kiện sớm từ nhiều tháng và phải có những đơn vị quen thạo thì khó mà thực hiện được kế hoạch.

    Ngoài ra Khu 9 còn trọng điểm 2 là phải mở rộng vùng căn cứ giải phóng U Minh lên hướng Cần Thơ để chuẩn bị việc khống chế sân bay Lộ Tẻ và đánh vào “Tây đô”, chỉ huy sở Quân đoàn 4 của địch. Khu 8 lấy trọng điểm 2 là mở rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười sát ra lộ 4 để sẵn sàng cắt lộ 4 từ vùng đất Mỹ Tho và đánh diệt các sư đoàn 7 và 9 của ngụy, không cho chúng chi viện cho Sài Gòn. Bộ Tư lệnh Miền còn giao cho Quân khu 8 chuẩn bị các trung đoàn tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn từ phía nam vì chỉ lực lượng của Khu 8 với sự tích cực chuẩn bị của Quân khu mới có điều kiện tiến hành mũi tấn công bất ngờ và lợi hại này. Miền cũng dự kiến có thể điều hai trung đoàn của Quân khu 9 từ Trà Vinh lên tham gia mũi tấn công phía nam Sài Gòn.

    Chủ lực của Miền, của Quân khu 6 và 7 phải đánh mở rộng, hoàn chỉnh các vùng căn cứ, chuẩn bị cho các hướng bắc, tây bắc, đông và tây Sài Gòn, bao vây cô lập và ép sát Sài Gòn ngày càng chặt. Ngay từ đầu mùa khô phải giải phóng đường 14 từ Đồng Xoài lên giáp Quảng Đức là để mở rộng căn cứ của Miền về phía sau giáp Tây Nguyên và nối liền căn cứ Miền về phía đông Sài Gòn, tạo điều kiện mở đường và dự trữ vật chất kỹ thuật sẵn trước cho hướng này. Muốn giải phóng đường 14 thực hiện ý định nói trên, thì ta phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt là Đồng Xoài và khi đã đạt được thì tỉnh lỵ Phước Long hoàn toàn bị cô lập, ta chỉ cần bao vây địch lại đó, chúng không còn tác dụng gì nữa. Nhưng nếu có điều kiện thì ta giải phóng luôn toàn tỉnh Phước Long không chỉ làm cho căn cứ hậu phương hoàn chỉnh mà còn đạt được một tác động về tâm lý và chính trị rất có lợi cho ta. Lực lượng Quân khu 6 và 7 có nhiệm vụ giải phóng các huyện Hoài Đức và Tánh Linh để tạo được một khu vực tập kết cho bộ đội và dự trữ lương thực, đạn dược cho hướng tấn công phía đông Sài Gòn vào chỉ huy sở Quân đoàn 3 rồi vào Sài Gòn. Sau đó hợp đồng với lực lượng của trên cắt đường 1, 20, 15.

    Lực lượng chủ lực của Miền còn phải mở rộng hành lang phía tây tỉnh Tây Ninh, giải phóng vùng Bến Cầu, Quéo Ba thuộc quận Đức Huệ và phía bắc quận Đức Hòa nhằm tạo bàn đạp phong tỏa Sài Gòn từ phía tây, tạo khu vực và tuyến xuất phát tấn công cho hướng tây. Phải diệt điểm núi Bà Đen là cao điểm khống chế toàn bộ phía bắc, tây bắc Sài Gòn; là nơi quan sát các hành động trong vùng căn cứ của ta; là trung tâm thông tin chuyển tiếp của Quân đoàn 3 địch cho tất cả các lực lượng của chúng ở các hướng này. Phải mở rộng và hoàn chỉnh căn cứ của ta về phía trước bằng cách diệt Bình Long, Chơn Thành, Dầu Tiếng, làm chủ đường 26 Tây Ninh để tạo vùng tập kết lực lượng và bàn đạp xuất phát tấn công cho hướng tây bắc và cả hướng bắc nữa.

    Kế hoạch mùa khô 1974-1975 của toàn B2 như vậy thực chất là tiếp tục đánh sụp địch, thay đổi so sánh lực lượng có lợi hơn nữa cho ta, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định; là thiết thực chuẩn bị hoặc cũng có thể nói là bắt đầu vào những công việc của tổng tấn công và nổi dậy của chiến trường, tạo điều kiện cho trận tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch.

    Quân và dân B2 bước vào hoạt động mùa khô với sự nhận thức rất rõ về giai đoạn chiến lược quan trọng này, với lòng tin tưởng ở thắng lợi, với quyết tâm cao và tinh thần phấn khởi. Bộ Tư lệnh Miền đã trực tiếp làm việc với từng quân khu, từng đơn vị, đã lần lượt duyệt kế hoạch của các nơi và kiểm tra sự chuẩn bị mọi mặt. Chưa bao giờ có một chiến cuộc được chuẩn bị chu đáo và công phu như vậy cả về mặt quân sự, chính trị, lực lượng tấn công và lực lượng nổi dậy, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục. Những công việc sôi nổi, bí mật, khẩn trương ấy tiến hành rất tích cực trong suốt mùa mưa năm 1974, một mùa mưa chưa từng có!

    Để động viên bước vào mùa khô mong đợi này, tháng 11/1974, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã gửi cho tất cả cán bộ và chiến sĩ chủ lực, địa phương, du kích thơ động viên, có đoạn viết:

    • “... Quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là trong năm 1975 quyết giành thắng lợi thật to lớn, toàn diện, tạo bước ngoặt có ý nghĩa quyết định làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm cơ sở vững chắc tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

    • “Đối với cả năm 1975, thắng lợi mùa khô 1974-1975 có tính chất quyết định".

    • “... Sống trên mảnh đất thiêng liêng Thành đồng Tổ quốc, quê hương Đồng khởi Nam Kỳ, Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, và bao chiến công rực rỡ, các đồng chí hãy tỏ rõ chí khí anh hùng, quyết ghi mùa khô 1974-1975 vào lịch sử bằng những chiến công thật chói lọi”.

    • “Hãy vượt mọi gian khổ khó khăn, đạp lên đầu thù xốc tới giành thắng lợi!...”.

    Cuối tháng 10, Trung ương Cục nhận được điện của Bộ Chính trị gọi đồng chí Phạm Hùng và tôi ra Hà Nội dự cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng cùng với đại diện các chiến trường toàn miền Nam để bàn phương hướng kế hoạch sắp tới.

    Ngày 13/11/1974, đoàn lên đường. Cũng chính những ngày này, lực lượng toàn B2 nhộn nhịp lên đường đến nơi tập kết bước vào chiến cuộc mùa khô theo kế hoạch. Tôi dặn dò đồng chí Lê Đức Anh - Phó Tư lệnh Miền thay thế tôi trong những ngày tôi vắng mặt, rằng ngoài các điện báo cáo ra bộ như thường lệ, hãy luôn điện cho tôi mọi diễn biến của toàn chiến trường. Tôi sẽ rất phấn khởi nhận được những tin thắng trận nhưng tôi sẽ càng chú ý theo dõi những gì khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch. Đồng chí Đức Anh còn nhắc tôi: “Anh ráng trình bày với Trung ương xin thêm lực lượng cho chiến trường ta, Quân đoàn 4 vẫn què quặt, quá yếu, yếu nhất trong tất cả các quân đoàn. Thế mà nó là chủ lực của chiến trường chủ yếu, không thể nào hiểu nổi”. Tôi hứa sẽ cố hoàn thành nhiệm vụ. Người đi, kẻ ở, ai nấy tràn đầy tin tưởng vào chiến thắng.

    Chúng tôi lại một lần nữa đi dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước, theo Đường 559, đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng lần đi này nhanh hơn trước và ít vất vả hơn nhiều vì chúng tôi toàn đi bằng thuyền máy và xe hơi từ Lộc Ninh cho đến Hà Nội. Đoàn qua miền đông Campuchia, vượt Hạ Lào về đường 9 qua Cam Lộ, Đông Hà, ngay Khu 4 cũ rồi về Hà Nội. “Đường mòn Hồ Chí Minh” ngày nay không còn là đường mòn nữa rồi mà là một hệ thống đường xe hơi vận tải với nhiều đường dọc đường ngang, chi chít, bổ sung bằng các đường sông Mêkông, sông Sêkông..., được tô điểm thêm bằng những đường dây trần thông tin sừng sững trước gió và đường ống xăng dầu men suối, lưng đèo. Đó đây, trạm xăng dầu, xưởng cơ khí, bãi đỗ xe, đoàn bộ, tấp nập hoạt động. Từ đồi này qua đồi khác, các trận địa pháo và tên lửa phòng không, ngụy trang khéo kéo, nòng hướng lên trời ngạo nghễ uy phong. Khác xa rồi thời kỳ tháng 5/1959, ngày khai sinh con đường mòn cho đến những năm đầu 1960, thời kỳ mà tôi còn phụ trách, giao cho đồng chí Võ Bẩm cùng một số anh em “chí cốt”, mò mẫm mở đường, đi phải lần từng bước, về không để một dấu vết, thế mà các đồng chí trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương luôn nhắc nhở dặn dò: “Cẩn thận, bí mật, chắc ăn đấy nhé”.

    Đồng chí Thiếu tướng Võ Bẩm - một đảng viên cộng sản từ những năm 1930, quê Quảng Ngãi, ở Mỹ Lai, ngay nơi từng ghi tội ác trời không dung đất không tha của Mỹ. Tinh thần giác ngộ cách mạng cộng với lòng yêu nước đã làm cho đồng chí có một quyết tâm sắt đá, vững vàng như con người vạm vỡ chắc nịch của đồng chí. Trong những ngày đầu xuyên rừng khai phá, có biết bao gian truân vất vả. Lúc ấy không phải đường mòn mà còn là con đường không được để cho mòn. Mọi cái nặng nề còn nằm gọn trên lưng, trên vai và đôi chân dép cao su của chiến sĩ. Ngày nay, ai qua “Đường mòn Hồ Chí Minh” mà lòng không tràn đầy tin tưởng vào tương lai xán lạn, không thấy được sự phát triển hùng hậu của con đường sống còn, lớn mạnh thần kỳ kiểu Phù đổng Thiên vương với cây tre Việt Nam nghìn đời bất diệt. Cây tre Việt Nam vẫn hiên ngang đứng vững dọc suốt con đường, đã chiến thắng mọi thế lực phản động, mọi bom đạn, chất độc hóa học, khí tài điện tử hay bất kể vũ khí gì nữa sau này.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 02:13:01 pm »

CHƯƠNG V
Giai đoạn mới mở đầu như thế đấy



    Ra đến Hà Nội, trong lúc chưa họp Bộ Chính trị, tôi báo cáo tình hình B2 cho Bộ Tổng Tham mưu và nghe tình hình chung, tình hình các chiến trường khác. Tôi đã thăm dò về khả năng tăng cường thêm lực lượng và vũ khí phương tiện cho B2, điều mà tôi đang lo lắng nhiều, làm sao để chiến trường có thể đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay. Trong suốt dọc đường và ra đến đây, điều không thể dứt khỏi sự suy nghĩ của tôi là thời cơ hiện nay khá thuận lợi, chỉ cần thêm một số lực lượng thì chắc chắn B2 sẽ giành thắng lợi lớn và qua đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình của cuộc chiến tranh trên toàn miền Nam. Đồng chí Lê Ngọc Hiền lúc ấy phụ trách tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu cho biết: Vũ khí, đạn dược dự trữ của ta còn rất mỏng, đặc biệt là vũ khí tấn công cỡ lớn, pháo và cơ giới. Vì vậy, các anh cấp trên chỉ thị phải quy định hết sức chặt chẽ việc cấp phát và sử dụng. Phải lấy của địch mà đánh địch. Về lực lượng, đồng chí chỉ có thể cho biết về số quân bổ sung sắp tới cho các chiến trường. Riêng B2 phải dành 40% số quân được bổ sung cho vùng đồng bằng sông Cửu Long với ý định là tăng cường mạnh lực lượng của tỉnh và huyện. Đi đôi đó phải phát triển nhanh chóng dân quân du kích để cho lực lượng tại chỗ đủ sức đánh địch mà chủ lực quân khu có khả năng tập trung và cơ động nhiều hơn.

    Về kế hoạch năm 1975, đồng chí cho biết Bộ Tổng Tham mưu dự kiến lấy đồng bằng sông Cửu Long làm chiến trường chính, tập trung mọi nỗ lực để phá kế hoạch bình định của địch, giành dân, giành của về cho cách mạng, thay đổi một bước có ý nghĩa tương quan lực lượng có lợi cho ta. Miền Đông Nam Bộ chủ yếu mở hành lang liên hoàn đến các chiến trường và vây ép Sài Gòn chặt hơn. Đòn chủ lực chỉ sử dụng ở Nam Tây Nguyên nhằm mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt và tiêu diệt sinh lực địch. Ta sẽ dành sức cho năm 1976, tiến hành đòn tiêu diệt chiến lược lớn, tiến lên tổng tấn công và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi hoàn toàn.

    Năm 1975 sẽ chia làm ba đợt:

    - Đợt 1: từ tháng 12/1974 đến tháng 02/1975. Đợt này chỉ B2 hoạt động vì B2 đã có kế hoạch sẵn.

    - Đợt 2: là đợt toàn Miền từ tháng 3/1975 đến tháng 6/1975.

    - Đợt 3: từ tháng 8/1975 trở đi là đợt hoạt động nhỏ để chuẩn bị cho năm 1976.

    Nghe phổ biến kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu như vậy, lòng tôi băn khoăn lo lắng là vì tinh thần và nội dung kế hoạch của B2 không phù hợp với kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu. Quân ủy Miền và Trung ương Cục chúng tôi nhận định rằng, tình hình chiến trường đã thay đổi rất cơ bản, thế ta đang lên, ta đang giành nhiều thắng lợi, thế và lực của địch đang đi xuống. Ngụy đang suy sụp. Không cho chúng gượng lại, không để cho Mỹ có thời gian vực chúng lên. Vì vậy năm 1975, ngay từ đầu mùa khô, cả miền Nam phải đánh mạnh và nhất định sẽ thắng to, tạo ra thời cơ mới cho bước quyết định của chiến tranh. Kế hoạch mùa khô của B2 được xây dựng trên tinh thần đó, đã báo cáo ra Trung ương và đề nghị với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có kế hoạch chỉ đạo phối hợp toàn miền Nam. Nay thì chỉ riêng chiến trường B2 hoạt động trong đợt 1, chắc chắn sẽ hạn chế thắng lợi và địch sẽ đối phó dễ hơn. Kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu năm 1975 chỉ đánh nhỏ, phá bình định, mở hành lang và ép Sài Gòn, chuẩn bị cho năm 1976 mới đánh lớn. Tôi suy nghĩ thời cơ không dừng lại đợi chúng ta, nó sẽ qua đi và tình hình lại chuyển biến theo một chiều hướng khác khi không có tác động mạnh mẽ kịp thời của ta.

    Sau đó trong một buổi làm việc riêng với anh Lê Đức Thọ, anh nói với chúng tôi: “Tình hình đã rõ ràng, tương quan lực lượng rõ ràng, chiều hướng cũng rõ ràng, không lật ngược được. Cần có quyết tâm chiến lược hai năm 1975-1976. Thời cơ năm 1976 là rất quan trọng. Cần hết sức đề phòng địch co cụm chiến lược lớn năm 1976.

    Dự trữ vật chất của ta còn rất kém, nhất là vũ khí đạn dược. Tình hình trong nước và ngoài nước cũng rất phức tạp, ta khó mà tăng cường dự trữ chiến lược lên được nhiều. Vì vậy, ta cần phải hạn chế đánh trong năm 1975 để dành sức cho năm 1976 đánh lớn, đạt thắng lợi quyết định. Phải có quyết tâm chiến lược năm 1976 rõ thì mới có hướng chỉ đạo kế hoạch và hoạt động trong năm 1975. Ta không nên và không thể kéo dài mãi cuộc chiến tranh”.

    Vì chưa phải thảo luận nên tôi chỉ trình bày ngắn ý kiến của tôi. Tôi rất đồng ý là địch sẽ cố co cụm khi bị thua nặng, nhưng đề phòng việc này phải bằng nhiều biện pháp, tiến hành từ sớm mới được. Và không nên đặt vấn đề hạn chế đánh năm 1975 để dành sức cho năm 1976, mà ngược lại là phải đánh mạnh năm 1975 mới kết thúc thắng lợi chiến tranh năm 1976 được. Thời cơ đang đến cần nắm thời cơ để tạo thời cơ, ta không thể bỏ lỡ, Trung ương Cục chúng tôi đã thảo luận và nhất trí như vậy, chúng tôi sẽ báo cáo kỹ với Quân ủy Trung ương và Bộ Chính trị.

    Tôi đã nghiên cứu các bức điện của chiến trường gửi cho chúng tôi. Qua điện báo cáo của anh Lê Đức Anh, tôi mới biết rằng chấp hành điện của anh Văn Tiến Dũng và của anh Ba 1, B2 đã điều chỉnh kế hoạch của chủ lực tức là không đánh Đồng Xoài, không dùng chủ lực lớn, pháo lớn và xe tăng mà chỉ đánh nhỏ thôi. Như vậy là các quân khu 6, 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định thuộc B2 vẫn hoạt động theo kế hoạch đã vạch ra lúc tôi còn ở nhà, có điều chỉnh một ít, chỉ riêng chủ lực của Miền vì không đánh lớn, không đánh Đồng Xoài nên chuyển lên đánh khu vực Bù Đăng hay Bù Na trên đường 14 quá về phía bắc. Ngoài ra, Bộ Tổng Tham mưu quyết định điều Sư đoàn 7 và Trung đoàn đặc công 429 của B2 lên chuẩn bị đánh vào Gia Nghĩa trong đợt 2 mùa khô (tháng 3/1975) để phối hợp với hướng chính của chiến dịch do Bộ tổ chức và chỉ huy là Đức Lập (Nam Tây Nguyên). Tôi càng không yên tâm. Vì toàn bộ kế hoạch đợt một mùa khô của B2 là nằm trong một ý định thống nhất toàn chiến trường, không những liên quan chặt chẽ với nhau giữa các hướng đồng bằng và rừng núi, địa phương và chủ lực, mà còn là chuẩn bị tích cực cho đợt 2 mùa khô và cả năm 1975. Điều chỉnh lại kế hoạch và điều động lực lượng như vậy sẽ làm cho kế hoạch của B2 khập khiễng và địch sẽ có điều kiện phản ứng mạnh, nhất là đối với vùng đồng bằng. Vì sao như vậy? Xây dựng kế hoạch chiến cuộc mùa khô 1974-1975 của B2, chúng tôi dựa trên sự nhận định đánh giá tình hình chung giữa ta và địch, thực hiện một bước quan trọng ý định của một giai đoạn chiến lược như phần trước đã nói rõ. Muốn giành thắng lợi ở các hướng chiến trường B2 như ta dự định, kế hoạch phải có những biện pháp kìm chân địch chặt chẽ, không cho chúng tự do cơ động lực lượng đối phó nơi chúng muốn, phải đánh lạc hướng địch, phân tán địch. B2 chúng tôi có hai sư đoàn mạnh là Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 đã từng lập nhiều chiến công đánh ngụy, đánh Mỹ ở miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt, Sư đoàn 9 là sư đoàn chủ lực đầu tiên của miền Nam đã trải qua một đoạn đường dài từ Bình Giã, Bàu Bàng, Dầu Tiếng, Tết Mậu Thân, Lộc Ninh cho đến nay. Địch luôn theo dõi từng hành động của hai sư đoàn này và qua đó mà phán đoán ý đồ và kế hoạch hoạt động của ta. Trong đợt đầu mùa khô, chúng tôi chỉ sử dụng một bộ phận Sư đoàn 7 và các trung đoàn chủ lực lẻ khác, bộ phận còn lại của sư đoàn đứng yên phía Tân Uyên, Phú Giáo thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Sư đoàn 9 thì đứng ở Long Nguyên Bến Cát, chưa hoạt động nhưng có những hành động nghi binh nhằm kìm lực lượng Quân đoàn 3 ở vùng trung tuyến và vùng ven Sài Gòn, không cho chúng điều động đi nơi khác, nhất là phản ứng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào sự phán đoán của địch là mùa khô này ta sẽ đánh giải phóng tỉnh Tây Ninh để lấy thị xã Tây Ninh làm thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, chúng tôi dùng biện pháp nghi binh nhằm làm cho địch tưởng dự đoán của chúng là đúng để chúng kẹt lực lượng lo phòng thủ ở đây. Trong lúc đó, chúng tôi sử dụng một trung đoàn của Sư đoàn 7 được tăng cường một đại đội xe tăng, hai đại đội pháo lớn, bất ngờ diệt điểm Đồng Xoài, và các trung đoàn 271 và 201 cùng địa phương giải phóng đường 14 thuộc phạm vi của Quân đoàn 3 địch. Chúng tôi đã có một trung đoàn khác của Sư đoàn 7 bố trí ngăn chặn trên đường bộ độc nhất từ Phước Vĩnh lên Đồng Xoài và dự kiến kế hoạch sẵn sàng diệt địch phản ứng cả bằng đường không. Điểm Đồng Xoài là then chốt của toàn bộ tỉnh Phước Long cũng như của đoạn đường 14 này vì nó là yết hầu, là cửa ngõ, là con đường sống, nối toàn tỉnh với các vùng của Quân đoàn 3 ngụy. Mất Đồng Xoài thì bộ phận còn lại của tỉnh Phước Long và đường 14 bị cô lập, khốn đốn về tiếp tế mọi mặt cho một tỉnh miền núi nghèo lương thực thực phẩm. Mục đích giải phóng đường 14 của ta là để mở đường hành lang về phía đông vận tải vũ khí đạn dược, lương thực dự trữ ở căn cứ Khu A và đông đường 20, chuẩn bị cho cánh quân sẽ đánh vào Sài Gòn từ phía đông. Hành lang này phải qua Đồng Xoài hay sát đấy về phía bắc. Không giải phóng được Đồng Xoài thì hành lang vẫn bị hạn chế như từ trước, nghĩa là mục đích của kế hoạch không đạt. Ta chiếm được điểm Đồng Xoài thì quân địch bị khốn quẫn ở Phước Long, tạo điều kiện để ta giải phóng toàn tỉnh nếu cần. Như vậy, Đồng Xoài chỉ là một điểm, một quận lỵ, một chi khu tương đối kiên cố, nhưng điểm đó lại là một khâu trong toàn bộ kế hoạch chiến lược thống nhất của B2 vào mùa khô, một trận mở đầu bất ngờ đối với địch và gây phấn khởi cho lực lượng vũ trang của ta. Nay nếu không đánh Đồng Xoài, không mở được đường hành lang về phía đông, lại điều Sư đoàn 7 đi khỏi chiến trường thì rõ ràng kế hoạch của B2 bị ảnh hưởng không nhỏ. Chính vì vậy mà tôi lo lắng nhiều. Tôi vội vàng báo cáo rõ mọi suy nghĩ với anh Phạm Hùng và anh Hai Văn 2. Anh Hai Văn đang có mặt ở Hà Nội nên đã nhập vào đoàn B2 thành ra đoàn chúng tôi gồm có 3 người. Chúng tôi đề nghị họp với Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu để trình bày rõ ý kiến chúng tôi, xin giữ kế hoạch cũ và không điều Sư đoàn 7 lên Tây Nguyên. Cuộc họp được tiến hành ngày 03/12/1974. Tôi đã cố gắng trình bày kế hoạch mùa khô của B2 với mọi lý lẽ, cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, có lẽ không được hùng biện nhưng rõ ràng và tha thiết vì lợi ích riêng của chiến trường cũng như lợi ích chung toàn cục. Có đồng chí chất vấn: Đánh Đồng Xoài, nếu địch đưa lên một sư đoàn để phản ứng lại thì sao? Có thể buộc ta lại phải dùng toàn bộ cả hai sư đoàn 7 và 9 để diệt viện và như thế là kẹt cả chủ lực ta vào ngay đầu mùa khô. Tôi phải trình bày kỹ về trạng thái ta và địch trên toàn chiến trường, mọi phán đoán về địch khi làm kế hoạch, mọi biện pháp bảo đảm thắng lợi, tính chủ động của ta và khẳng định rằng, địch nếu cố gắng phản ứng cũng chỉ có thể đưa tối đa lên Đồng Xoài không quá 1 trung đoàn (sự thực về sau này khi ta đánh Đồng Xoài, địch không đưa lên được một đơn vị nào để cứu nguy, ngay khi đánh tỉnh lỵ Phước Long địch cũng chỉ đưa lên được khoảng trên 200 lính biệt kích dù của Lữ đoàn 81). Sở dĩ tôi dám khẳng định như vậy và không sai với thực tế vì chúng tôi ở B2 đã nắm chắc địch và hiểu rõ địa hình, biết địch phải lên Đồng Xoài, Phước Long bằng đường nào, khả năng lực lượng và khả năng không vận của chúng, khả năng và phương pháp ngăn chặn và đánh diệt của ta. Tôi tin ở sự thành công của kế hoạch kìm giữ địch ở Sài Gòn của chúng tôi. Một người chỉ huy quân sự ở một chiến trường khi trình bày và báo cáo với cấp trên đòi hỏi phải có tinh thần trách nhiệm cao, phải chính xác, rõ ràng và dứt khoát.

    Tôi đã yêu cầu không điều Sư đoàn 7 lên Tây Nguyên vì trong giai đoạn chiến lược hiện nay, chúng tôi cho rằng cần phải điều thêm lực lượng từ các chiến trường khác về miền Đông Nam Bộ, áp sát Sài Gòn chớ không phải điều lực lượng ngược lại, đi xa Sài Gòn. Vấn đề này hoàn toàn không phải là cục bộ địa phương mà là vì lợi ích của giai đoạn chiến lược, của năm 1975. Nếu vì cần quá cho kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu thì tôi đồng ý điều Trung đoàn đặc công 429 lên Gia Nghĩa cũng đủ. Trong hội nghị này, các anh đã đồng ý không điều Sư đoàn 7 mà chỉ điều Trung đoàn 429 3. Tôi rất vui mừng và thầm cảm ơn sự chú ý đến ý kiến cấp dưới. Còn đánh Đồng Xoài thì chưa giải quyết ngã ngũ. Nhiều anh đã đưa ra nhiều lý lẽ nhưng chưa kết luận:

    - Dùng chủ lực ta phải chủ động, đừng để địch kéo ta, tiêu hao và làm kẹt lực lượng ta.

    - Ta đánh cốt tiêu diệt sinh lực địch mà chưa cần giữ đất trong giai đoạn này nên không cần đánh Đồng Xoài.

    - Tình hình năm 1975 chưa có gì khẩn trương. Hãy chững chạc, không đánh Đồng Xoài làm gì.

    - Quyết tâm chiến lược chung năm 1975 là đồng bằng, Gia Nghĩa, hành lang, Trị Thiên - Đà Nẵng.

    - Phải có đòn tiêu diệt lớn lực lượng của địch thì mới có thay đổi tương quan có lợi cho ta, mới có chuyển biến tình hình.

    Anh Phạm Hùng đã tỏ ra không đồng ý với các lý lẽ trên. Anh phát biểu:

    “- Đây không phải chỉ là vấn đề Đồng Xoài mà là cả kế hoạch của B2. Nếu thay đổi sợ ảnh hưởng đến đồng bằng, ảnh hưởng đến phương hướng chung. Ta cần nắm vững rằng, trong cuộc chiến tranh này ta đánh địch bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, ta tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, tiến lên tổng tấn công và tổng nổi dậy. Do đó, phải căn cứ nhiều điều kiện, phải có nhiều phương thức làm chuyển biến tình hình, không nhất thiết chỉ có tiêu diệt sinh lực lớn của địch mới có chuyển biến. Ví như khi ta nắm được mấy triệu dân và làm chủ trên chiến trường cỡ nào cũng là một yếu tố quyết định. Lực lượng quân sự địch còn đông không phải là một dấu hiệu của sự vững mạnh. Chúng ta cần trước tiên thống nhất với nhau về nhận định và đánh giá tình hình hiện nay trên chiến trường, ta đang ở vào giai đoạn nào, rồi mới nói được là nên hoạt động ra sao...”.




-------------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2. Anh Phan Văn Đáng - Thường vụ Trung ương Cục.
3. Về sau Bộ cũng đồng ý điều Trung đoàn 271 thay vì Trung đoàn đặc công 429 cần cho B2. Và Trung đoàn 271 đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng Gia Nghĩa và tỉnh Quảng Đức.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Mười, 2023, 03:02:56 pm »

    Sau cuộc họp này, anh Phạm Hùng, anh Hai Văn và tôi đã trao đổi nhiều lần về đánh giá tình hình, đánh giá giai đoạn chiến lược hiện nay, về kế hoạch chung và riêng của B2, dựa trên cơ sở những thảo luận của Trung ương Cục trước khi đi, để chuẩn bị cho cuộc họp của Bộ Chính trị sắp tới.

    Tôi suy nghĩ, trong chiến tranh, thực hiện được đòn tiêu diệt sinh lực lớn quân địch trong một vài trận đánh hay một vài chiến dịch là một yêu cầu thực sự để làm chuyển biến tình hình. Điều ấy hoàn toàn đúng nếu không nói là điều kiện duy nhất trong cuộc đối đầu giữa hai đội quân chính quy trong một cuộc chiến tranh thông thường. Nhưng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Mỹ xâm lược ngày nay, đường lối của ta không phải là cho một cuộc chiến tranh quy ước thông thường. Tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân tự đứng lên quyết định vận mệnh của mình, Đảng ta đã chủ trương một cuộc chiến tranh cách mạng kết hợp với khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Ta phải dùng lực lượng quân sự kết hợp với lực lượng quần chúng nhân dân. Ta đánh địch bằng cả vũ trang và bằng cả chính trị, binh vận. Ta phải tiến hành song song tấn công và nổi dậy đi đến tổng tấn công và tổng khởi nghĩa. Tính chất của cuộc chiến tranh của ta vừa là chống quân chiến lược từ ngoài vào, vừa là nội chiến chống bọn quân phiệt, mại bản trong nước. Chính vì vậy mà lực lượng nhân dân giác ngộ cách mạng là một sức mạnh đáng kể, một đòn cân chiến lược có giá trị. Cương lĩnh cách mạng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng của ta đã là một hiệu triệu, một ngọn cờ tập hợp quần chúng xông lên xây dựng cuộc đời mới: tự do độc lập và ấm no hạnh phúc. Đó là sức mạnh, là một yếu tố thắng lợi không phải chỉ có tác dụng chuyển biến tình hình. Về chiến lược đã vậy, về chiến dịch, chiến thuật không phải như trong chiến tranh thông thường. Hàng chục năm đánh Mỹ và đánh ngụy, ta đã luôn luôn tìm tòi suy nghĩ, thực nghiệm bằng xương máu và thay đổi cho thích hợp cách đánh thế nào cho có hiệu lực nhất mà đỡ tốn xương máu, gạo đạn..., để ta có thể đánh dài ngày nếu cần và tạo ra thắng lợi quyết định trong từng thời gian tương đối ngắn. Ta không đánh theo cách đánh của địch mà buộc địch đánh theo lối đánh của ta. Ta không thi đua với địch về vật chất kỹ thuật, đơn thuần về sức mạnh quân sự mà là về ý chí quyết tâm, về trí thông minh và lòng dũng cảm, về sự khéo léo và đức tính kiên trì, về lực và cả về thế. Lòng yêu nước và ham muốn tự do, hạnh phúc của nhân dân ta phải thắng dã tâm nô dịch và bóc lột của Mỹ - ngụy. Vì vậy mà nếu cứ suy nghĩ theo lối cũ, chỉ hiểu theo cách đã hiểu trước đây, bước theo đường mòn từng quen thuộc, thì không phù hợp tí nào với những hiện tượng mới, với một cuộc chiến tranh mới, nó không lặp lại nguyên xi cuộc chiến tranh trước đây. Nếu Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền (B2) chúng tôi nhận định rằng ngay sau mùa khô năm 1974, trên toàn bộ chiến trường miền Nam đã có một sự chuyển biến rõ rệt rồi, ta thắng và đi lên, địch bại và đi xuống, để rồi chủ trương phải liên tục tấn công, và làm mọi công tác trong mùa mưa chưa từng có, và cũng để rồi vạch ra một kế hoạch toàn diện cho mùa khô 1974-1975 và cả năm 1975, giành thắng lợi quyết định, thì đó hoàn toàn không quan niệm rằng chỉ khi nào có đòn tiêu diệt sinh lực địch lớn mới có chuyển biến tình hình. Sự chuyển biến tình hình ở đây rõ ràng do rất nhiều yếu tố, vũ trang và chính trị, lực lượng quân sự và lực lượng nhân dân, vật chất và tinh thần, trong nước và ngoài nước, cả phía địch và phía ta, thế và lực. Đến một cái gút nào đó thì lượng sẽ biến thành chất. Chỉ đạo phải nhạy bén thấy được cái gút ấy, hiểu ra cái chất đã hình thành, không phải cứ đợi hay cố tạo cho được đòn tiêu diệt lớn rồi lúc đó mới có chuyển biến.

    Cũng chính vì quan niệm như vậy, và căn cứ vào tình hình thực tế ở chiến trường mà chúng tôi cho rằng, cái gút ấy đã đến rồi, tình hình đã chuyển biến, thời cơ đã rõ, năm 1975 phải tấn công mạnh thì thời cơ sẽ đẻ ra thời cơ và tranh thủ nắm chắc lấy mà giành thắng lợi. Bắt mạch chính xác tình hình thực tế mà chủ trương hoạt động cho phù hợp kịp thời. Đó là vấn đề khoa học và nghệ thuật của lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh và cách mạng. Xem năm 1976 là một thời cơ quan trọng là đúng nhưng chỉ đúng khi ta biết và phải tạo ra trong suốt quá trình năm 1975 và ngay cả trước đó nữa. Thời cơ không tự dưng mà có và vì vậy không ngồi mà đợi thời cơ. Thời cơ có điều kiện khách quan nhưng chủ yếu phải do chủ quan tạo ra.

    Rồi một hôm, sau bữa ăn chiều, tôi đang đi bách bộ ngoài hành lang vừa suy nghĩ miên man thì chuông điện thoại reo. Anh Phạm Hùng rủ tôi, tối nay đến thăm anh Ba ở nhà riêng anh ấy. Tôi vui mừng, đồng ý ngay và hẹn giờ đến nhà anh để cùng đi. Từ hôm ra đến nay, công việc bận rộn, nhiều lo nghĩ, tôi chưa có dịp gặp anh Ba. Đúng mười chín giờ rưỡi, anh Hùng và tôi tới. Anh Ba đã ra cửa, tươi cười đón chúng tôi và kéo vào phòng khách. Anh có vẻ khỏe mạnh, lanh lẹ và rất vui. Không đợi chúng tôi hỏi thăm sức khỏe của anh, anh đã hỏi chúng tôi ra đây, thay đổi thời tiết, có ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Rồi anh hỏi thăm luôn về các anh trong Trung ương Cục, trong Quân ủy Miền và một số anh ở khu, tỉnh mà anh biết. Nhưng đó cũng chỉ là mở đầu câu chuyện, sau đó anh nói ngay vào những công việc đang làm bận rộn đầu óc của mọi người. Đây cũng là đặc tính của anh, khi gặp gỡ cán bộ, anh nói, nói liên tục, nói nhiều như muốn giải thích cặn kẽ cho cán bộ hiểu rõ, hiểu sâu, nhớ kỹ. Có khi trong hội nghị, cán bộ nào đó mới đứng lên phát biểu được một câu gợi ra một ý mà anh chú tâm thì anh nói luôn, nhiều lúc tới 5-7 phút mới dứt, để cho cán bộ kia lại tiếp. Anh nói: “Tình hình tốt lắm, ta thắng nhiều. Ta thắng là vì ta mạnh. Mạnh từ chính trị, từ quân sự, từ nông thôn, từ thành thị, từ người dân, từ cách đánh, đánh kiểu chủ lực, kiểu du kích, kiểu đặc công, kiểu đội quân phụ nữ tóc dài... Phải tổng hợp như vậy mới thắng được. Tổng hợp về chiến lược, về lực lượng, về phương pháp cách mạng. Mỹ đánh ta là chúng sử dụng chiến lược toàn cầu, nó đánh ta và cả phe xã hội chủ nghĩa. Ta cũng phải sử dụng chiến lược toàn cầu. Độc lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau. Ta phải sử dụng lực lượng tổng hợp chung toàn Việt Nam và cả thế giới. Ta phải dùng phương pháp cách mạng tổng hợp, cao nhất, tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, chủ lực, địa phương, du kích, đánh cả ở ba vùng, ba mũi giáp công. Đó là khoa học. Có đường lối đúng phải có phương pháp đúng là như vậy”...

    Về quân sự trong giai đoạn này phải suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ mãi, suy nghĩ cho sáng vấn đề. Năm 1975, ta thắng thế nào? Trong năm 1975 có diễn biến gì về chính trị, về quân sự? Trong đó các anh đã tiêu diệt chi khu được chưa? Có giữ được Rạch Bắp không? Miền Đông bố trí ra sao? Trong giai đoạn này khác với hai năm trước về bao vây Sài Gòn thế nào? Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi. Trong giai đoạn này đánh thế nào? Tiêu diệt và làm chủ, làm chủ và tiêu diệt ra sao? Ta đánh tiêu diệt toàn bộ hay đánh cho tan rã toàn bộ?”.

    Anh nói có tính chất giải thích và đặt một loạt những câu hỏi mà không cần phải trả lời, có lẽ anh cố nêu lên, khêu gợi và hướng dẫn để cán bộ phải suy nghĩ, cố tự giải đáp cho đúng. Nhưng qua đó tôi chú ý là anh quan tâm vấn đề giữ Rạch Bắp, phá co cụm phòng ngự cứng của địch ở Sài Gòn. Anh lo về việc bố trí lực lượng ta ngay ở Sài Gòn và vây Sài Gòn, hình thành một thế trận tấn công vững vàng. Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi, phải, tôi rất thấm thía về câu nói ấy. Trí tuệ, mưu lược, dũng cảm, công phu là ngay từ việc tổ chức và bố trí lực lượng hình thành thế trận chiến lược vững chắc rồi mới nói đến đánh thắng giặc. Binh pháp Tôn Binh thời chiến quốc của nước Trung Hoa xưa cũng đã rất chú trọng về bố trí đội hình, sắp sếp lực lượng. Binh pháp ấy đã ghi: “Người làm tướng chỉ đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự khi biết sắp xếp đội hình thế nào để phát huy được sức mạnh lớn nhất của lực lượng sẵn có trong tay mình; biết thay đổi cho phù hợp với những tình huống diễn biễn khác nhau và biết lợi dụng thời cơ làm cho quân địch bị chia cắt, phân tán, mạnh trở thành yếu và nhiều hóa ra ít”. Người làm tướng thời nay, một thời đại cách mạng và khoa học, có sự lãnh đạo của Đảng mácxít - lêninít, không những phải biết sắp xếp đội hình hợp lý nhất lực lượng có trong tay mà còn phải biết tạo ra lực lượng, tổ chức ra nhiều kiểu lực lượng với nhiều kiểu cách đánh, phải biết kết hợp mọi thứ lực lượng quân sự với cả lực lượng chính trị của quần chúng, lực lượng trong nước và lực lượng ngoài nước, không phải chỉ biết sắp xếp đội hình đánh địch ở phía trước mà cả ở phía sau địch, ngay trong lòng địch. Khoa học quân sự cách mạng ngày nay đã phát triển cao hơn nhiều.

     Nhân lúc anh Hùng nói về triển vọng ta thắng lợi nhiều trong mùa khô này vừa dừng lại, tôi hỏi anh Ba: “Vừa rồi, anh điện vào không cho đánh Đồng Xoài, vì nguyên do thế nào?”. Anh trả lời: “Bộ Tổng Tham mưu báo cáo với tôi là các anh tung cả chủ lực ra đánh ngay từ đầu mùa khô. Đánh Đồng Xoài và tiếp theo một loạt các trận đánh lớn khác, như vậy là không phù hợp. Cần phải đánh thế nào để giữ cho dai sức, trong tình hình hiện nay phải luôn nắm trong tay một lực lượng sung sức để khi có thời cơ, anh mới có điều kiện giành thắng lợi”. Tôi lại trình bày với anh về ý định của chúng tôi và về cách sử dụng lực lượng. Tôi nói: trong đợt đầu mùa khô chúng tôi vẫn nắm vững một lực lượng dự bị mạnh là Sư đoàn 9 và một số trung đoàn khác. Anh Hùng nói thêm vào: “Đánh Đồng Xoài không cần lực lượng lớn đâu và chúng tôi chắc thắng, chúng tôi cũng đã cân nhắc kỹ”. Anh Ba nói: “Nếu đúng như vậy thì cứ đánh chứ có vấn đề gì đâu”. Tôi tưởng tai mình nghe không rõ, liền hỏi lại cho chắc: “Như vậy anh cho chúng tôi giải quyết Đồng Xoài để có hành lang thông về phía đông như kế hoạch chúng tôi đã dự định?”. Anh nói: “Nhưng phải chắc thắng và không sử dụng lực lượng lớn”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi sung sướng quá, chỉ mong về ngay để viết điện chỉ đạo chiến trường cho kịp. Ngay tối hôm ấy tôi đã thảo điện để anh Hùng, anh Hai Văn duyệt, ký gửi cho Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền bảo cứ thực hiện đúng như kế hoạch đã định, tức mở đầu mùa khô của chủ lực bằng trận đánh Đồng Xoài. Nhưng không kịp nữa rồi. Thực hiện chỉ thị của Trung ương, Bộ Tư lệnh B2 đã điều chỉnh kế hoạch không đánh Đồng Xoài mà chỉ dùng lực lượng nhỏ đánh một số điểm nhỏ trên đường 14 vùng Bù Đăng hay Bù Na thôi. Bây giờ không trở lại kế hoạch cũ được nữa. Điện anh Lê Đức Anh ngày 06/12/1974 báo cáo: “Hôm nhận điện anh Ba, chúng tôi họp Quân ủy, điều chỉnh kế hoạch, sắp xếp lại đội hình chiến đấu, điều động xe tăng và pháo 130 ly trở về căn cứ, giải quyết tư tưởng cho bộ đội... Vì vậy, đến ngày 12 hướng đường 14 mới nổ súng được. Trong khi đó thì toàn bộ B2 nổ súng vào đêm 06 rạng sáng 07/12. Nay nếu trở lại kế hoạch cũ thì cũng phải sắp xếp đội hình, điều động xe tăng và giải thích cho bộ đội... Được chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Cục là cứ nên thực hiện kế hoạch điều chỉnh và không lùi ngày tấn công lại. Chúng tôi thực hiện như điện ngày 05/12 đã báo cáo về Bộ, anh Bảy 1, anh Tư 2”.

    Trước đó, khi tôi đã đi khỏi chiến trường, ngày 16/11, thay mặt Bộ Tư lệnh B2, anh Sáu Nam (tức đồng chí Lê Đức Anh) đã điện báo ra Bộ:

    “Nhận điện ngày 24/10 của anh Dũng, xin báo cáo trước một số điểm mà Bộ cần biết gấp...

    Giành thắng lợi tốt trong đợt đầu của mùa khô sẽ tạo thêm điều kiện giành thắng lợi to lớn suốt mùa khô, cả năm 1975, nếu để qua đợt 2 mới tấn công mạnh thì thắng lợi cho cả năm 1975 sẽ bị hạn chế. Vì vậy đề nghị Bộ chấp thuận kế hoạch mà chúng tôi đã dự định...

    Mọi việc sẽ có người (chỉ anh Phạm Hùng và tôi) trực tiếp báo cáo kỹ với Bộ”
.

    Ngày 18/11 anh Sáu Nam lại điện báo cáo:

    “.... Tiếp nhận được điện 484 của anh Dũng có ý kiến của anh Văn 3, nay nhận được Điện 491 của anh Ba. Chúng tôi trao đổi thấy rõ là vì chưa nắm được ý định và kế hoạch lớn của Trung ương và Quân ủy Trung ương đối với chiến trường B2 liên quan với cả chiến trường miền Nam. Trước mắt chúng tôi chấp hành chỉ thị của trên, điều chỉnh kế hoạch như sau:

    1. Đối với khối chủ lực Miền:

    - Trong đợt 1, chủ lực tác chiến nhằm tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút, kìm căng địch để chúng không thể tập trung về đồng bằng và vùng ven, hỗ trợ địa phương giữ lúa, bung dân ra, đồng thời tiếp tục củng cố huấn luyện giữ sức để vào đợt 2 có thể hoạt động mạnh theo yêu cầu phối hợp chiến trường chung như Trung ương chỉ đạo... Trong khi đó tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2 cao điểm nhất, như chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội đánh điểm theo phương hướng sử dụng pháo mang vác, cao nhất là pháo 85 bắn thẳng, không sử dụng xe tăng, pháo 130 ly.

    Xin báo cáo một số điều chỉnh trong kế hoạch đợt 1, đợi sau khi anh Hai Nhã 4 về và anh Tư 5 ra báo cáo, Bộ chỉ đạo thêm chúng tôi sẽ bổ sung.

    Nhưng đề phòng trường hợp anh Tư có thể ra chậm hơn và anh Hai Nhã về chưa kịp, đề nghị Bộ có chỉ đạo gì thêm để chúng tôi triển khai cho kịp”
.

   




-----------------------------------------------------------------
1. Đồng chí Phạm Hùng.
2. Trần Văn Trà.
3. Đồng chí Võ Nguyên Giáp.
4. Đồng chí Thiếu tướng Lương Văn Nho.
5. Trần Văn Trà.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM