Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:08:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 52526 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #100 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:21:19 am »

TRẬN PHẢN ĐỘT KÍCH QUYẾT ĐỊNH Ở
KHU VỰC CÁNH ĐỒNG CĂNG XẺNG
(26.10.1972)

Đại tá, ThS ĐỖ MẠNH CƯỜNG
Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Trong tác chiến phòng ngự cũng như trong chiến dịch phòng ngự việc tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, sát thương lớn quân địch, chặn đứng cuộc tiến công của chúng, giữ vững trận địa luôn luôn phải đi liền với hành động phản kích và phản đột kích của bản thân lực lượng làm nhiệm vụ phòng ngự; kết hợp cả những đòn phản công, tiến công của lực lượng cấp trên ở các hướng quan trọng. Nói cách khác, "phản đột kích là cơ động một bộ phận hoặc đại bộ phận lực lượng cơ động chiến dịch kết hợp với lực lượng phòng thủ và các lực lượng chiến dịch khác thực hành tiến công tiêu diệt bộ phận trọng yêu trong đội hình tiến công của địch, khi chúng có nhiều sơ hở, phá thế tiến công của chúng ở trong hoặc trước các khu vực phòng ngự cơ bản, hoàn thành mục đích của chiến dịch phòng ngự"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Phản đột kích trong chiến đầu phòng ngự; Tài liệu tham khảo chuyên đề, số 7-1979, tr. 33). Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, trận phản đột kích quyết định ở khu vực cánh đồng Căng Xẻng (26.10.1972) có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi chung của chiến dịch; một trận đánh điển hình, tiêu biểu cho tác chiến phản đột kích trong chiến dịch phòng ngự.


1. Tình hình địch, ta trước trận đánh

Bước vào đợt 4 của chiến dịch (1.10 - 15.11.1972) sau thất bại trong 3 đợt tiến công trực tiếp vào Cánh Đồng Chum hy vọng đánh chiếm địa bàn chiến lược này trở nên rất khó khăn nhưng do bị sức ép về chính trị, Mỳ và tay sai tập trung nỗ lực caò nhất, dốc mọi lực lượng có thể huy động vào cuộc tiến công cuối cùng với mục tiêu hạn chế là đánh chiếm cho được một phần phía Nam Cánh Đồng Chum, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán giữa hai bên vàọ ngày 15 tháng 10 năm 1972. Địch điều động 60 tiểu đoàn ngụy Lào và quân Thái Lạn vào đợt chiến đấu này, trong đó có trên 20 tiểu đoàn tập trung tiến công vào hướng Nam (khu vực cánh đông Căng Xẻng) là hướng chủ yếu mới1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 54-55. Hiện nay, viết về nội dung này còn chưa có sự thống nhất về số lượng quân địch và cách thức diễn đạt. Cụ thể: Trong cuốn sách Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 Quản tình nguyện và 463, 565 Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 75 viết: "Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ và tay sai tập trung cao mọi nỗ lực, dốc mọi lực lượng vào cuộc tiến công cuối cùng với mục tiêu hạn chế là đánh chiếm bằng được khu vực phía Nam Cánh Đồng Chum (thực chất là "đánh chiếm cho được một phẩn phía Nam Cánh Đồng Chum),... Hơn 60 tiểu đoàn ngụy Lào và Thái Lan (con số cụ thể là "60 tiểu đoàn ngụy Lào và Thái Lan")... Riêng hướng Nam Cánh Đồng Chum được coi là hướng chủ yếu (trước đó, hướng chủ yếu là Tây Bắc Cánh Đồng Chum, đến đợt tiến công cuối cùng của địch, hướng Nam Cánh Đồng Chum (khu vực cánh đồng Căng Xẻng) là "hướng chủ yếu mới"). Đặc biệt, trong đợt tiến công này, để xốc lại tinh thần binh lính, địch đã tận dụng mọi biện pháp tác động tâm lý như: Treo cờ, gắn huy hiệu Cánh Đồng Chum, đặt giải thưởng 50.000 kíp Làọ cho đơn vị nào chiếm được một mục tiêu..., hy vọng qua đó có thể vực dậy tinh thần chiến đấu vốn đã suy sụp nghiêm trọng trong hàng ngũ quân địch khi đó.


Tuy nhiên, sau thất bại trong trận đầu tiến công từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 10 năm 19722 (Kết quả, ta diệt 635 tên địch, đánh thiệt hại nặng GM 23, bắn rơi 3 máy bay, đẩy lùi địch một bước, tạo thế có lợi cho trận phản đột kích quyết định. Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđđ, tr. 57), địch không từ bỏ ý định đánh chiếm khu vực cánh đồng Căng Xẻng, chúng tiếp tục bổ sung quân số, điều thêm 2 tiểu đoàn Thái Lan ra Nậm Cọ, lập trận địa pháo binh 105mm và tổ chức đợt tiến công mới dưới sự chi viện mạnh mẽ của hỏa lực không quân và pháo binh. Nhờ đó, trong 3 ngày (21 - 23.10), địch phát triển chiếm các điểm cao 1172, 1236, 1239, Bản Xưa và dự tính đánh Phu Seo, rồi tiến lên Bản Ngua, Phu Tâng. Đến ngày 25 tháng 10, địch đã tổ chức được đội hình tiến công, với lực lượng và nhiệm vụ cụ thể: GM 30 và một số tiểu đoàn độc lập đánh chiếm Na Van, Điểm cao 1213, Bản Xưa, Xiêng Nưa, rồi phát triển tiến công Phu Seo; GM 32 và GM 23 đánh chiếm lần lượt các điểm cao 1228, 1239, 1129 để chuẩn bị tấn công Phu Tâng; Tiểu đoàn biệt kích luồn rừng về hướng Phu Khê; 2 tiểu đoàn Thái Lan (BC616, BC618) chốt giữ Điểm cao 1236, chuẩn bị lên chốt giữ Điểm cao 1239 thay chân GM 32 và GM 23; 1 tiểu đoàn Thái Lan chốt giữ Cha Ho; GM 21 và GM 26 chốt giữ khu vực Nậm Cọ, Peo Khoang, Điểm cao 1243; GM 15 và 2 tiểu đoàn Thái Lan làm lực lượng dự bị, đứng chân ở Khang Kho.


Về phía ta, sau 3 đợt đánh thắng các cuộc tiến công của địch, thế chủ động trên chiến trường đã thuộc về ta. Tinh thần và khí thế bộ đội đang lên; các đơn vị đã kịp thời rút kinh nghiệm chiến đấu, chấn chỉnh, bổ sung lực lượng. Theo đó, Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C được Bộ Tư lệnh tăng cường cho Mặt trận Cánh Đồng Chum vào đứng chân ở Bản Ban.


Trước tình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương: Dùng lực lượng thích hợp diệt một bộ phận quan trọng địch, ngăn chặn và kịp thời bẻ gãy các mũi tiến công của chúng, tạo thế, tạo thời cơ tiến hành trận phản đột kích then chốt chiến dịch, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công cuối cùng của địch. Thực hiện chủ trương trên, ta tổ chức sử dụng lực lượng gồm: Một bộ phận Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 335 + Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 cùng lực lượng tại chỗ triển khai đánh nhỏ ngăn chặn và tạo thế; điều động Trung đoàn 335 (thiếu Tiểu đoàn 3) và Trung đoàn 148 (thiếu Tiểu đoàn 5) về đứng sẵn ở hai phía Đông và Tây cánh đồng Căng Xẻng và khi thời cơ xuất hiện, hiệp đồng với lực lượng tại chỗ tiến hành phản đột kích tiêu diệt địch.


Trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng sự phát triển của tình hình địch, ta trên chiến trường, nhất là việc địch bổ sung quân số, tăng cường vũ khí trang bị, ngay trong quá trình địch tấn công, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã hạ quyết tâm: Khẩn trương chuẩn bị đánh trận phản đột kích, trận then chốt quyết định của chiến dịch. Một mặt, chỉ đạo việc đánh ngăn chặn tạo thế; mặt khác, điều động và triển khai lực lượng theo kế hoạch đánh lớn. Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy các hướng phản đột kích và cử cán bộ đốc chiến xuống Trung đoàn 148 và Trung đoàn 335.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #101 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:22:19 am »

2. Diễn biến trận đánh

Sau 7 ngày chặn đánh các mũi tấn công của địch, thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, 3 giờ 10 phút ngày 26 tháng 10 năm 1972, Trung đoàn 335 cùng với Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 924 Trung đoàn 866 và 1 đại đội xe tăng - thiết giáp, được 2 cụm pháo binh chiến dịch trực tiếp chi viện, bất ngờ nổ súng đồng loạt vào đội hình quân địch đang tập trung trước các mục tiêu dự định tiến công. Theo kế hoạch, Trung đoàn 335 được tăng cường Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 từ Phu Hủa Sang đánh vào Cha Ho, Bản Phồn, Điểm cao 1388, chia cắt đội hình địch, hình thành thế bao vây không cho địch rút chạy về Nậm Cọ, Khang Kho.


Trung đoàn 148 từ Phu Seo đánh xuống Bản Xưa, Na Van, Điểm cao 1236, Điểm cao 1172, cắt đường lui về Phu Huột. Tiểu đoàn 924 Trung đoàn 866 cùng đại đội tăng (có 5 xe tăng và 3 xe thiết giáp) từ Phu Tâng đánh chiếm 2 điểm cao 1239 và 1228, rồi thọc xuống phía Nam, phá vỡ đội hình địch, dồn chúng vào khu quyết chiến Cha Ho, Bản Hai, Bản Phồn, phối hợp với Trung đoàn 148 và Trung đoàn 355 họp vây diệt địch.


Bị chặn đánh bẩt ngờ, địch rối loạn ngay từ phút đầu, tháo chạy về phía Nam; đồng thời, dùng không quân ngăn chặn các mũi tiến công của ta, yểm hộ cho bộ binh rút chạy. Ta bám sát, đánh xen kẽ với địch rất quyết liệt; một bộ phận của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 đã chặn đứng được GM 23 và GM 32 tại Bản Phồn, diệt hàng trăm tên, tạo điều kiện có lợi cho đơn vị bạn (Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 diệt hơn 300 tên địch tại Na Van, Na Hung; 1 phân đội súng máy cao xạ hạ 2 máy bay, diệt 70 địch tại Điểm cao 1236).


Trên đường truy kích địch rút chạy, xe tăng ta không vượt được ngầm Cha Ho, phải quay lại.

Đến đêm 26 tháng 10, địch phân tán luồn rừng chạy về Nậm Cọ, Khang Kho; đáng chú ý, có bộ phận quân địch (gồm cả quân ngụy Lào và quân Thái Lan) chạy nhầm vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 335 ở Đông Bản Phồn 5km, bị ta diệt gọn (khoảng 200 tên).


Nhờ có sự chủ động, nhạy bén nắm bắt tình hình địch, chuẩn bị chu đáo, Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời hạ quyết tâm tiến hành trận phản đột kích quyết định, tổ chức sử dụng lực lượng hợp lý nên trận đánh đã giành được thắng lợi lớn trong ngày 26 tháng 10 năm 1972. Kết quả, ta diệt 1.240 tên địch (bắt 79 tên), thu hơn 1.500 súng các loại (21 khẩu cối và ĐKZ)1 (Hiện nay, về số quân địch bị bắt trong trận phản đột kích quyết định ngày 26 tháng 10 năm 1972 còn có sự sai lệch trong một số sách đã xuất bản. Sách Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, xuất bản năm 1977, tr. 82 và cuốn Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sdd, tr. 59 đều viết là "bắt 79 tên". Tuy nhiên, trong sách Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 Quân tình nguyện và 463. 565 Chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975), Sđd, tr. 76 viết "bắt 80 tên"). Thắng lợi của trận phản đột kích quyết định đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân ta, đẩy địch lâm vào tình trạng bị động, hoang mang, mất tinh thần chiến đấu. Sau thắng lợi của trận phản đột kích quyết định, khu vực cánh đồng Căng Xẻng hoàn toàn do ta làm chủ, kế hoạch tiến công đánh chiếm một phần khu vực phía Nam Cánh Đồng Chum của địch bị phá sản, kéo theo sự thất bại hoàn toàn cuộc tiến công hòng giành lại địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1972 của quân địch.


3. Một số kinh nghiệm

Thắng lợi của trận phản đột kích quyết định ngày 26 tháng 10 năm 1972 đã tạo bước quyết định kết thúc thắng lợi hoàn toàn của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972). Trận đánh điển hình trong tác chiến phòng ngự của Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng Quân giải phóng nhân dân Lào để lại kinh nghiệm quý, thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, lực lượng cơ động chiến dịch phải mạnh mới đủ sức phản đột kích và tiến hành thắng lợi trận phản đột kích quyết định. Trong chiến dịch này, lúc đầu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng 2 trung đoàn bộ binh phòng ngự, 2 trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ cơ động; mỗi trung đoàn phòng ngự dùng 1 tiểu đoàn làm lực lượng cơ động. Như vậy, ta có 6 tiểu đoàn phòng giữ, 8 tiểu đoàn cơ động. Tuy nhiên, trong diễn biến thực tiễn của chiến dịch, lực lượng cơ động của các trung đoàn phòng ngự không đủ sức phản kích đẩy lùi địch trong phạm vi đảm trách nên cấp chiến dịch phải xé lẻ một bộ phận cơ động chiến dịch tăng cường cho từng khu vực, cụ thể như: Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 vào chiến đấu ở khu Trung gian trong đợt 1; Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 335 phải tăng cường để giữ chốt Phu Học; Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 335 tăng cường cho cụm chốt Phu Hủa Sang... Do đó, lực lượng cơ động chiến dịch không tập trung được, vẫn bị phân tán. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho lực lượng ta ở các trận phản đột kích chưa đủ mạnh để thắng giòn giã hơn. Nhận thức được vấn đề này, tháng 10 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tăng cường Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C làm lực lượng cơ động chiến dịch và nhờ đó thường xuyên nắm được 2 trung đoàn nên mới có đủ lực lượng mạnh tiến hành thắng lợi trận phản đột kích quyết định ở hướng Nam (khu vực cánh đồng Căng Xẻng) để kết thúc chiến dịch.


Thứ hai, phải nắm chắc và sử dụng hiệu quả lực lượng dự bị. Trong điều kiện lực lượng ta có hạn, địa bàn phòng ngự rộng, địch tiến công từ nhiều hướng cùng một lúc, khả năng cơ động cao, có thể chuyển hướng và thay đổi so sánh lực lượng tại chỗ một cách bất ngờ, việc nắm chắc và sử dụng lực lượng dự bị có ý nghĩa hết sức quan trọng. Phải thường xuyên tính toán việc luân phiên chiến đấu, củng cố lực lượng dự bị cơ động bảo đảm cho các trận then chốt thắng lợi cũng như để phát triển tiến công, phản công tiếp theo. Các lực lượng dự bị phải bố trí ở những địa bàn có lợi kịp thời năm tình hình địch, tổ chức chiến đấu nhanh và đưa vào làm nhiệm vụ ở thời cơ có lợi nhất; phải có biện pháp bảo đảm lực lượng dự bị sung sức trước khi vào chiến đấu và bảo đảm cơ động chiếm lĩnh trận địa kịp thời. Trận phản đột kích quyết định ngày 26 tháng 10 năm 1972 ở khu vực cánh đồng Căng Xẻng ta dùng 2 trung đoàn (thiếu) dự bị chiến dịch, 8 xe tăng - thiết giáp 8 pháo xe kéo, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ và gần 2 tiểu đoàn phòng ngự ở Phu Tâng, Phu Seo, Phu Hủa Sang.


Thứ ba, dùng hỏa lực mạnh để tiêu diệt địch. Trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Hồng quân Xôviết, nhiệm vụ tiêu diệt địch bằng hỏa lực mạnh chủ yếu là sử dụng nhiều pháo binh và băng cách kéo thêm thời gian pháo chuẩn bị. Mật độ pháo trong nhiều trận phản đột kích là từ 60 - 80 khẩu pháo trên 1km chính diện và thời gian pháo chuẩn bị trước phản đột kích thường từ 15-30 phút1 (Thiếu tướng, GS, TSKH N. G. Pô-pốp, Phản đột kích trong các chiến dịch phòng ngự hiện đại, tr. 13, in trong; Quân đội nhân dân Việt Nam, Phản đột kích trong chiến đấu phòng ngự, Tài liệu tham khảo chuyên đề, số 7-1979). Trong các trận phản đột kích của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, ta đã tập trung từ 70 đến 80% số pháo của chiến dịch để chi viện chiến đấu, trung bình mỗi trận đã sử dụng từ 1.000 - 1.200 viên đạn pháo (trận dùng nhiều nhất từ 1.600 - 1.900 viên các loại), phù hợp với khả năng củng cố cao của ta lúc đó. Đặc biệt, trong trận phản đột kích quyết định ở khu vực cánh đồng Căng Xẻng, ta đã sử dụng đại đội xe tăng - thiết giáp tiến công chính điện, thực hiện thọc sâu chia cắt, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt địch. Trong trận này, sử dụng xe tăng - thiết giáp thực sự đã tạo ra sức đột kích mạnh, nhưng do không làm tốt công tác bảo đảm vượt ngầm Cha Ho nên đã hạn chế kết quả trong trận truy kích địch. Điều này lặp lại trong trận phản đột kích Cửa Việt (1.1973). Mặc dù trận đánh giành được thắng lợi lớn, nhưng công tác tổ chức vượt sông bằng phà chưa chu đáo và nếu như có kế hoạch về thời gian đưa đội dự bị sang sớm hơn thì ngày 31 tháng 1 năm 1973 ta đã có thêm 8 xe tăng T-59 của Đại đội 1 Trung đoàn 203 và 3 xe thiết giáp còn lại của Tiểu đoàn 66 vào tham gia chiến đấu1 (Trần Hạnh, Bộ binh cơ giới trong trận phản đột kích Cửa Việt (từ 26 đến 31.1.1973), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3-1996, tr. 35).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #102 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:11:29 pm »

CHIẾN DỊCH CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 VỚI CỤC DIỆN "ĐÁNH - ĐÀM"

Thượng tá, ThS LÊ QUANG LẠNG
Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nét nổi bật trong đường lối lãnh đạo cũng như quá trình tổ chức lực lượng, triển khai thế trận và phương pháp tiến công địch chính là kết hợp giữa các mặt đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao. Cùng với việc giành thắng lợi từng bước, ta đã kết hợp ngày càng chặt chẽ, hiệu quả, toàn diện các mặt đấu tranh, đặc biệt là việc hình thành cục diện "đánh - đàm" (vừa tiến công quân sự trên chiến trường, vừa đấu tranh trên bàn đàm phán) được mở ra vào giữa năm 1968 sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Xuân - Hè của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam.


Cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán ngay từ đầu đã diễn ra phức tạp, gay go. Dù vậy, ta luôn giành thế chủ động tiến công địch trên mặt trận này, gắn cuộc đấu tranh ngoại giao với các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, từng bước làm thất bại các mục tiêu của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đàm phán trên thế mạnh của Mỹ.


Cục diện "đánh - đàm" càng gắn bó chặt chẽ, nhịp nhàng, hiệu quả hơn sau những thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương trong hai năm 1970 - 1971. Kết quả đấu tranh quân sự trong thời điểm này đã tạo cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta một tình thế thuận lợi mới. Chúng ta có điều kiện kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, tiếp tục phát huy quyền chủ động tiến công giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược lớn hơn trong năm 1972.


Vào tháng 5 năm 1971, trên cơ sở nắm chắc tình hình ngụy quyền, ngụy quân ngày càng suy yếu, đế quốc Mỹ lúng túng, bế tắc về chiến lược1 (Tháng 3 năm 1971, Mỹ - ngụy thất bại trong cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Dường 9 - Nam Lào; cùng với thất bại ở Đông Bắc Campuchia, Thượng và Hạ Lào, các chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên, Khu 5, Nam Bộ) và năm 1972 là thời điểm bầu cử tổng thống Mỹ, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) chủ trương: "Nắm thời cơ lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của Mỹ ở Lào - Campuchia, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua".


Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 20, khóa III chủ trương: "Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ cần kíp của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta là: với tinh thần kiên trì kháng chiến cho đến thắng lợi, phải động viên toàn lực, cố gắng vượt bậc, kịp thời nẳm vững những thời cơ thuận lợi và tạo nên thời cơ mới; Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn chiến trường miền Nam là chiến trường chính; Đồng thời đoàn kết, phối hợp chiến đấu chặt chẽ với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, đẩy mạnh tiến công địch trên các chiến trường nước bạn; Đánh bại chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, đánh bại học thuyết Níchxơn trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam và trên cả bán đảo Đông Dương giành thắng lợi to lớn, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta mà chúng có thể chấp nhận được"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 37).


Như thế, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của liên quân Việt Nam - Lào nằm trong tổng thể cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Chiến dịch này chẳng những có nhiệm vụ: "không để địch lấn chiếm lại (Cánh Đồng Chum) trong mùa mưa 1972"2 (Trước đó, từ tháng 9 năm 1969 đẹn tháng 12 năm 1971, trên địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Bắc Lào) đã diễn ra quy luật mùa khô ta đánh chiếm, làm chủ; nhưng đến mùa mưa, địch lại nống ra, chiếm lại. Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 -1975 Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 435), bảo vệ sườn phải cho chiến dịch tiến công của quân và dân ta ở Tây Nguyên và Trị - Thiên, mà còn là hướng tiến công quan trọng, tiếp tục phá âm mưu "mở rộng chiến tranh" của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, qua đó tạo thế cộng hưởng cho cục diện "đánh - đàm" trong năm 1972.


Cuối tháng 3 năm 1972, trong lúc liên quân Việt Nam - Lào đang chuyển hóa thế trận chiến dịch tiến công sang thế trận chiến dịch phòng ngự, quân và dân ta ở miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược trên ba hướng Trị - Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, trong đó Trị - Thiên là hướng tiến công chủ yếu, Tây Nguyên Đông Nam Bộ là hướng phối hợp quan trọng. Đồng thời với các chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trên địa bàn Khu 8, Khu 5, ta mở chiến dịch tiến công tổng hợp, tiêu hao sinh lực địch, đánh phá bình định, giải phóng địa bàn, giải phóng dân.


Cuộc tiến công đồng loạt, mạnh mẽ của ta trên chiến trường miền Nam đã khiến cho Mỹ - ngụy bất ngờ về thời gian, quy mô phương pháp tác chiến. Đế quốc Mỹ phải sử dụng không quân, pháo binh "Mỹ hóa" trở lại, chi viện ồ ạt cho quân đội Sài Gòn hòng làm giảm sức tiến công của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam, đồng thời sử dụng không quân, hải quân đánh phá các cơ sở quân sự, dân sự, hệ thống đê điều, kể cả Hà Nội, Hải Phòng, phong tỏa cửa sông, cảng biển trên miền Bắc (hành quân Lainơbếchcơ I1 (Xem: James S. Olson, Dictionary of the Vietnam War, Greenwood Press, New York, Westport, Connecticut, London, 1988, p. 338-339) - 6.4.1972). Hành động của Mỹ đã khiến cho đàm phản đi vào bế tắc2 (Nhận định, đánh giá đúng tình hình, ngày 17 tháng 4 năm 1972, thay mặt Bộ Chính trị, các đồng chí Lê Đức Thọ và Nguyễn Duy Trinh điện cho đồng chí Xuân Thủy (tại Pari), nêu rõ: "Việc Mỹ ném bom lại Hà Nội - Hài Phòng, đó là bước leo thang rất nghiêm trọng để cứu vãn tình thế đang suy sụp ở miền Nam và gây áp lực đối với ta. Hành động này không chứng tỏ chúng mạnh mà còn làm rõ thêm chỗ yếu nhưng liều lĩnh của Níchxơn. Bộ Chính trị đã thảo luận và quyết định tiến hành cuộc chiến đấu ở miền Nam như kế hoạch đã định và có kế hoạch mọi mặt đối phó với cuộc chiến tranh không quân, hải quân đối với miền Bắc để đánh bại Mỹ. Chúng càng thua đau ở miền Nam thì việc đánh phá miền Bắc sẽ ác liệt hơn... Cho nên hiện nay tại Pari ta vẫn đấu tranh vừa lên án Mỹ và đòi Mỹ chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc vừa đòi Mỹ họp lại Hội nghị Pari như thường lệ. Ta vạch rõ nếu Mỹ tiếp tục ném bom và đánh phá miền Bắc và tiếp tục ngừng không thời hạn Hội nghị Pari thì Mỹ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm". Dẫn theo: Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, Nxb Công an nhâo dân - Công ty Văn hóa phương Nam phối hợp thực hiện, Hà Nội, 2002, tr. 430), trong lúc đó, phong trào chống chiến tranh Việt Nam trên thế giới tiếp tục dâng cao, đặc biệt là ở ngay trong lòng nước Mỹ3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiền chống Mỹ, cứu nước ¡954 - 1975, Tập VII: Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, I là Nội, 2013, tr. 397).


Trên chiến trường, trong các đợt tiến công đầu tiên, quân và dân ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá vỡ nhiều cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng ngự vòng ngoài vững chắc của địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, như Quảng Trị (2.5.1972), Lộc Ninh (7.4.1972), Đắk Tô - Tân Cảnh (24.4.1972), tạo thế đứng cho chủ lực ta trên chiến trường; đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ, hiệu quả cho phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị lên cao, tạo ra so sánh lực lượng ở trường miền Nam và trên toàn Đông Dương có sự thay đổi lớn... Thắng lợi của ta trên mặt trận quân sự và chính trị tác động mạnh đến cục diện "đánh - đàm" tại Hội nghị Pari.


Hòa chung với cuộc tiến công trên chiến trường miền Nam, từ cuối tháng 4 đến ngày 21 tháng 5 năm 1972, liên quân Việt Nam - Lào tác chiến chặn địch và tạo thế. Đến ngày 21 tháng 5, các đơn vị thay phiên xong và triển khai bố trí theo nhiệm vụ mới của chiến dịch phòng ngự. Từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 10 tháng 8 năm 1972, địch tiến công ra khu trung gian (Hin Tặng), chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum. Ta kiên quyết ngăn chặn, tiêu hao địch, tổ chức đánh vào sau lưng, giữ vững khu trung gian. Thành công của ta đã làm đảo lộn kế hoạch tiến công của địch, tạo điều kiện để ta và Bạn tổ chức phòng ngự hoàn chỉnh ở khu trung tâm Cánh Đồng Chum và tiếp tục bổ sung, sẵn sàng đánh địch tiến công lớn1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Sdd, tr. 437).


Cục diện chung sau chiến thắng Xuân - Hè của ta tạo ra khả năng mới: Mỹ thất bại nặng nề trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đối mặt với nhiều khó khăn ở trong nước và quốc tế, sức ép bầu cử cuối năm 1972, do đó, trên bàn đàm phán Mỹ đứng trước sức ép phải tìm cách ra khỏi cuộc chiến tranh. Trong cuộc gặp riêng ngày 2 tháng 5 năm 1972 (cuộc gặp riêng lần thứ 13 giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy với Kítxinhgiơ), Mỹ đã đề nghị 2 bên sẽ ra tuyên bố sẽ có những cố gắng nghiêm chỉnh trong đàm phán để đi đến giải quyết vấn đề Việt Nam trong năm 1972. Cuộc gặp diễn ra căng thẳng và tiếp tục đi vào bế tắc. Từ thực tế này, phía ta nhận định: "1. Hiện nay, ta đang thắng lớn nhưng chưa đến mức buộc Mỹ phải buông con bài Việt Nam và Đông Dương. Mỹ còn ra sức tăng cường lực lượng ở miền Nam và tăng cường đánh phá miền Bắc, ngăn chặn ta đánh Huế và Kon Tum... làm cho cuộc tiến công của ta chậm lại, tạo điều kiện cho Mỹ củng cố lại thế phòng ngự để làm chủ bài mặc cả với ta lúc họ buộc phải đi vào giải quyết... 2. Ta tiếp tục thực hiện ý đồ quân sự và chính trị trên chiến trường, có như vậy mới có cơ sở để đạt một giải pháp vững chắc, đề phòng và đánh trả tốt việc đánh phá miền Bắc..."1 (Dẫn theo: Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, Sđd, tr. 440).


Phát huy thế chủ động chiến lược, cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1972, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta có những điều chỉnh về mặt tác chiến, vừa tiến công, phản công địch bảo vệ vùng giải phóng, vừa tích cực hỗ trợ cho phong trào chống phá địch bình định (Đông Nam Bộ, Khu 5, Khu 8, Khu 9)... Lúc này, trong diễn biến tiếp theo trên chiến trường Bắc Lào, địch tập trung hơn 40 tiểu đoàn, mở cuộc tiến công vào Cánh Đồng Chum, bất ngờ đổ quân ở hướng Tây Bắc, hình thành hướng tiến công chủ yếu thọc vào Cánh Đồng Chum. Từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 10 tháng 9 năm 1972, liên quân Việt Nam - Lào lần lượt bẻ gãy các mũi tiến công của địch, tập trung lực lượng đánh bại cánh quân địch trên hướng chủ yếu, phá thế tiến công của chúng, giữ vững trận địa phòng ngự. Bị thất bại trên hướng chính Tây Bắc, không thực hiện được việc đánh hiểm và bất ngờ địch phải tăng cường lực lượng, lấy hướng Tây làm chủ yếu, tiến công từ ngoài vào cùng với các hướng khác. Tuy nhiên trong 20 ngày chiến đấu liên tục (11.9 - 30.9.1972), ta tổ chức trận phản đột kích, bẻ gãy cánh quân phía Tây của địch, chiếm Phu Thông, Bản Thang, phát triển xuống dãy điểm cao 1276 1244 1294 và Bản Khổng.


Trong thế bị thúc ép về chính trị và mùa mưa sắp hết, địch dốc sức tập trung mở đợt tiến công mới với ý định là đánh chiếm cho được Nam Cánh Đồng Chum. Từ ngày 1 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, ta phát huy thế thắng, tập trung đánh trận phản đột kích thứ ba - trận then chốt quyết định của chiến dịch trên hướng Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch ra Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #103 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:13:07 pm »

Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch phòng ngự đầu tiên của Quân tình nguyện Việt Nam với Quân giải phóng nhân dân Lào. Thắng lợi của chiến dịch này có ý nghĩa quan trọng, phá vỡ hoạt động "giành đi, giật lại" giữa liên quân Việt Nam - Lào và địch trên chiến trường Bắc Lào, giữ vững vùng giải phóng và mở rộng hành lang chiến lược, căn cứ kháng chiến của ba nước Đông Dương1 (Vào ngày 11 tháng 10 năm 1972, một cuộc họp dài nhất trong các cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ kéo dài 16 giờ liền (từ 9 giờ 30 phút ngày 11 tháng 10 đến 2 giờ sáng ngày hôm sau). Cuộc họp hôm trước đã giải quyết được nhiều vấn đề lớn. Chiều hướng của Kítxinhgiơ tỏ ra cùng muốn giải quyết. Còn lại hai vấn đề lớn: vấn đề Lào và bồi thường chiến tranh. Lúc này cuộc nói chuyện giữa hai phái ở Lào cũng đã tiến triển tốt. Qua trao đổi với ta các bạn Lào đồng ý xúc tiến nhanh hơn cuộc nói chuyện ở Viêng Chăn để có thể thực hiện việc ngừng bắn ở Lào cùng một lúc với ngừng bắn ở Việt Nam. Lê Đức Thọ chủ động nói ngay: "Đối chiếu những lời phát biểu của ông cố vấn với bản dự thảo của chúng tôi, chúng tôi thấy chúng ta đã đạt được nhiều điểm quan trọng. Nhưng còn hai vấn đề lớn tồn tại giữa chúng tôi và các ông. Chúng tôi rất quan tâm đến việc Mỹ có trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh. Đó là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong Hiệp định của chúng tôi. Đồng thời ông cố vấn quan tâm đến một vấn đề lớn, tức là vấn đề Lào. Nêu ông cố vấn giải quyết một cách thỏa đáng về vấn đề hàn gắn vết thương chiến tranh thì chúng tôi cũng có sự hiểu biết về vấn đề Lào. Một khi ở Việt Nam đã ngừng bắn mà ở Lào còn chiến tranh thì các ông e ngại rằng chúng tôi sẽ dùng con đường Hồ Chí Minh để thâm nhập vào Lào và Campuchia và tiếp tế cho lực lượng ở miền Nam Việt Nam và những cái mà các ông gọi là chiến khu ở Lào và Campuchia". Kítxinhgiơ trả lời: Đúng như vậy". Xem: Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris, Sđd, tr. 514).


Vào thời điểm này, cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam đã diễn ra hơn nửa năm1 (Trong giai đoạn này diễn ra cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã - Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm 28.6 - 16-9.1972). Mặc dù không giữ được vị trí này, nhưng cuộc chiến anh dũng, ngoan cường của quân và dân ta tại mặt trận này đã góp phần quan trọng trong tiêu hao lực lượng địch, chặn các cuộc tiến công phản kích hòng chiếm lại vùng đã bị ta giải phóng, đồng thời góp phần tạo thế cho cục diện đánh - đàm. Theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pari, Kítxinhgiơ có nói (đại ý): Đứng về mặt quân sự mà nói thì cả hai bên đánh nhau để giữ một cái Thành cổ như vậy thì không ai lại đánh như thế cả. Trả lời Kítxinhgiơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: "Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ, còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế". Dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ (tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 739) và giành được thắng lợi lớn làm thay đổi cục diện chiến tranh. Trên miền Bắc, quân và dân ta đã đánh thắng một bước quan trọng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ, đồng thời vẫn không ngừng tăng cường sức người, sức của cho các chiến trường, tiếp tục phát triển cuộc tiến công chiến lược.


Tại Hội nghị Pari, cuộc đàm phán giữa ta và Mỹ đến lúc này vẫn không tiến triển. Để thúc đẩy đàm phán, trong cuộc gặp riêng với phái đoàn Mỹ ngày 8 tháng 10 năm 1972, phái đoàn ta đã đưa ra "Dự thảo hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam". Dự thảo Hiệp định là một đề nghị hòa bình dưới dạng văn bản hiệp định gồm các điều khoản của mọi vấn đề trong giải pháp2 (Khắc Huỳnh, Từ đàm phán Paris đến Đại thắng mùa Xuân 1975, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4-2005, tr. 32)... Phía Mỹ thừa nhận bản dự thảo hiệp định do ta đưa ra là một sáng kiến đưa cuộc thương lượng mau chóng đi tới một giải pháp. Ngày 17 tháng 10, ta và Mỹ thỏa thuận về hầu hết các nội dung dự thảo Hiệp định và 2 bên thông qua văn bản. Ngày ký Hiệp định được thỏa thuận là ngày 22 tháng 10 sẽ ký tắt tại Hà Nội, sau đó, ngày 31 tháng 10 ký chính thức tại Pari. Tuy nhiên, Mỹ cố tình dây dưa, đòi sửa nhiều điều khoản, không thực hiện các cam kết. Ý định của Níchxơn là muốn vượt qua cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào cuối tháng 11, chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mới, giành thế mạnh cả về quân sự và ngoại giao, ép ta nhân nhượng theo những điều kiện có lợi cho Mỹ.


Thực tế, dù Mỹ tiếp tục tăng cường trợ giúp chính quyền và quân đội Sài Gòn, leo thang đánh phá miền Bắc bằng cuộc tập kích chiến lược đường không (hành quân Lainơbếchcơ II) trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 (18 - 29.12.1972), nhưng trước thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, trực tiếp là chiến công xuất sắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng cùng với sức ép của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới, buổi chiều ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ buộc phải ký chính thức "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam". Như vậy là, cuộc đấu trí, đấu lý gay go, căng thẳng trên bàn đàm phán Pari giữa ta và Mỹ diễn ra trong gần 5 năm (5.1968- 1.1973).


Thắng lợi của ta tại Hội nghị Pari là kết quả tổng hợp quá trình đấu tranh của quân và dân ta trên cả ba mặt trận: Quân sự, chính trị và ngoại giao; cũng là thắng lợi của sự phối hợp chiến lược của ba nước Đông Dương. Với Hiệp định Pari, Mỹ buộc phải chấm dứt chiến tranh, rút khỏi Việt Nam và Đông Dương, chấm dứt dính líu quân sự. Chính quyền Sài Gòn mất chỗ dựa, bị suy yếu và lún sâu vào khủng hoảng. Mỹ phải lùi về chiến lược, rút lui về quân sự khỏi Đông Dương1 (Nguyễn Đình Bin (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 266) trong khi ta vẫn giữ nguyên lực chính trị và vũ trang trên các chiến trường.


Với Hiệp định Pari, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu "đánh cho Mỹ cút", tạo ra sự thay đổi căn bản trong so sánh lực lượng giữa ta và địch, mở ra khả năng mới để quân và dân ta tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đẩy mạnh công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ tới thắng lợi hoàn toàn.


Như vậy, trên các chặng đường của cuộc chống Mỹ, cứu nước, để đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, cùng với đấu tranh quân sự, chính trị, mặt trận đấu tranh ngoại giao giữ vai trò quan trọng. Trong cục diện "đánh - đàm", mặt trận đấu tranh ngoại giao của ta phối hợp nhịp nhàng, có hiệu quả với đòn tiến công quân sự, chính trị trên chiến trường giành thắng lợi toàn diện. Qua cuộc đấu trí, đấu lực với Mỹ, ngoại giao ta đã trưởng thành nhanh chóng và thực sự trở thành đòn tiến công lợi hại chống lại kẻ thù có sức mạnh to lớn. Những kinh nghiệm và bài học về đấu tranh ngoại giao có giá trị từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã, đang và sẽ là nhân tố quan trọng trong công tác đối ngoại, ngoại giao, trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #104 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:14:21 pm »

CHIẾN THUẬT TIẾN CÔNG TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ
CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại tá LÊ TRÙNG DƯƠNG
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Mùa mưa năm 1972, Quân tình nguyện Việt Nam1 (Lực lượng gồm: 2 trung đoàn bộ binh (174 và 148) thuộc Sư đoàn 316; 2 trung đoàn bộ binh độc lập (866 và 335); 2 tiểu đoàn đặc công (41 và 27); Tiểu đoàn Pháo binh 42; 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm; 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 và 12,7mm; 1 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp và 2 tiểu đoàn công binh (15 và 25). Đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường Trung đoàn Bộ binh 88 thuộc Sư đoàn 308C) phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5- 15.11.1972). Đây là chiến dịch phòng ngự có chuẩn bị trước, hoàn chỉnh cả về mặt tổ chức và thực hành tác chiến phòng ngự cấp chiến dịch sau thắng lợi của chiến dịch tiến công ngay trước đó2 (Kết luận của Đại tướng Hoàng Văn Thái tại Hội nghị khoa học Tổng kết các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ (Đợt 2, từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 30 tháng 10 năm 1985); dẫn theo: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Mấy vấn đề về Tổng kết chiến tranh và viết lịch sử quân sự (những bài nói và viết chọn lọc của Đại tướng Hoàng Văn Thái - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ năm 1980 - 1986), Hà Nội, 1987, tr. 233), về nghệ thuật tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã hạ quyết tâm sớm và dứt khoát, tổ chức thế trận và sử dụng lực lượng khá hoàn chỉnh, kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến phòng ngự với tác chiến tiến công, đánh cả phía trước, phía sau, bên sườn, phá thế tiến công, liên tục tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giữ vững những khu vực phòng ngự then chốt; đồng thời nắm chắc thời cơ, sử dụng tập trung lực lượng cơ động của chiến dịch với quy mô phù hợp, đánh thắng các trận then chốt, then chốt quyết định bằng chiến thuật tiến công hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt lớn lực lượng và bẻ gãy từng đợt tiến công, từng cánh quân chủ yếu, đánh bại hoàn toàn âm mưu, thủ đoạn và mọi nỗ lực tiến công cao nhất của địch, giữ vững khu vực phòng ngự được giao. Có thể khẳng định, thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đánh dấu bước phát triển khá hoàn chỉnh về nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch phòng ngự; trong đó, việc chỉ đạo vận dụng chiến thuật tiến công trong chiến dịch phòng ngự có đóng góp quan trọng vào sự phát triển nghệ thuật chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


1. Quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi tư tưởng chỉ đạo "Kết hợp chặt chẽ giữa tác chiến phòng ngự với tác chiến tiến công trong chiến dịch phòng ngự"

Trên chiến trường Thượng Lào, khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn có giá trị chiến lược quan trọng đối với cà ta và địch. Vì vậy, từ năm 1969 trở đi, tại khu vực này hoạt động của địch đã trở thành quy luật, sau khi bị ta và bạn đánh bật ra vào mùa khô, thì đến mùa mưa chúng lại nống ra đánh chiếm lại. Để chấm dứt tình trạng trên, sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972, ta và bạn quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết không cho địch lấn chiếm lại trong mùa mưa năm 1972. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định: "Quán triệt tư tưởng tiến công trong tác chiến phòng ngự; lập thế, tạo thời cơ, giành chủ động; vận dụng sáng tạo mọi cách đánh thật linh hoạt: Kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh rộng rãi, đánh từ xa, đánh cả phía trước, phía sau, phát huy tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt địch"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 25). Quán triệt tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó, ta chủ động và sớm triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị, hạ quyết tâm chiến dịch phòng ngự, tổ chức chặt chẽ các khu vực phòng ngự then chốt, lấy các điểm tựa, cụm điểm tựa vững chắc làm nòng cốt, phát huy sở trường, khả năng chiến đấu cao nhất của các lực lượng để vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật tiến công nhằm tiêu diệt nhiều sinh lực địch ngoài công sự, bẻ gãy các hướng mũi tiến công của địch, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ vững khu vực phòng ngự.


Trên cơ sở thế trận phòng ngự vững chắc, liên hoàn và quán triệt sâu sắc tư tưởng tích cực tiến công, ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch diễn ra, ta luôn giữ vững quyền chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự với tiến công, kịp thời ngăn chặn, kìm chân, phá thế tiến công và liên tục tiêu hao, tiêu diệt địch, bẻ gãy từng cánh quân, đánh bại từng đợt tiến công lớn của địch. Trong quá trình đó, ta đã vận dụng linh hoạt và kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức chiến thuật tiến công: Phục kích, tập kích, vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp chốt, truy kích địch rút chạy ở mọi quy mô khác nhau. Đặc biệt, lực lượng đặc công của ta đã luân phiên luồn sâu bí mật tập kích, đánh phá các sở chỉ huy, kho tàng, sân bay, trung tâm thông tin của địch, làm rối loạn chỉ huy hiệp đồng và gây cho địch nhiều tổn thất. Thông qua hoạt động tác chiến tiến công rộng khắp, đánh cả phía trước, bên sườn, sau lưng địch, ta đã giữ vững khu trung gian, làm thất bại ý đồ đánh chiếm bàn đạp tiến công và làm đảo lộn kế hoạch tiến công của địch; đồng thời, tích cực lập thế trận và tạo thời cơ để lực lượng cơ động (Trung đoàn 335 được tăng cường xe tăng, pháo binh) phối hợp với lực lượng của bạn, thực hiện thắng lợi trận then chốt thứ nhất, tiêu diệt 2 GM mạnh nhất (21, 26) và bẻ gãy hoàn toàn cánh quân chủ yếu đổ bộ đường không xuống khu vực Điểm cao 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km), đánh bại ý đồ bất ngờ mở một hướng tiến công từ phía Tây Bắc thọc sâu vào trung tâm Cánh Đồng Chum của địch. Suốt quá trình sau đó, ta luôn chủ động, kịp thời điều chỉnh, bổ sung các kế hoạch, biện pháp tác chiến tiến công, kết hợp chặt chẽ với phòng ngự của các chốt, cụm chốt, lần lượt đánh bại từng đợt chuyển hướng tiến công, từng cánh quân lớn của địch từ hướng Tây và hướng Nam, thực hiện thắng lợi trận then chốt quyết định, tiêu diệt lớn lực lượng và đánh bại mọi nỗ lực, cố gắng cuối cùng của địch ở cánh đồng Căng Xẻng (26.10), tạo ra thế mạnh áp đảo trong truy kích, đánh bật toàn bộ quân địch ra khỏi bàn đạp phía Nam Cánh Đồng Chum, tạo điều kiện kết thúc chiến dịch phòng ngự trong điều kiện có lợi.


Như vậy, trong suốt quá trình diễn ra Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, sự kết hợp khéo léo giữa 2 loại hình tác chiến phòng ngự và tiến công được thể hiện tập trung ở cả cấp chiến dịch và cấp chiến thuật; qua đó chứng minh sự tích cực, chủ động tiến công tiêu diệt địch là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ vững chắc trận địa phòng ngự; ngược lại, tổ chức phòng ngự vững chắc, chiến đấu ngoan cường, kiên quyết đẩy lui địch tiến công, tạo điều kiện và thời cơ để tiêu diệt địch. Đây thực sự là bước phát triển mới cả về lý luận và thực hành nghệ thuật tác chiến "phòng ngự tích cực" của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #105 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:15:14 pm »

2. Chủ động, tích cực  lập thế trận linh hoạt nhằm thực hiện thắng lợi chiến thuật tiến công trong chiến dịch phòng ngự

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến dịch, căn cứ vào địa hình khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và đánh giá khả năng hoạt động của địch trong mùa mưa năm 1972, khi kết thúc chiến dịch tiến công, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chủ động rút một số đơn vị về phía sau và nhanh chóng tổ chức chuẩn bị, lập thế trận chiến dịch phòng ngự. Trên cơ sở tận dụng thế có lợi của địa hình, ta tích cực xây dựng hệ thống công sự, vật cản, kết hợp chặt chẽ với tổ chức sử dụng, bố trí lực lượng hiểm hóc, bất ngờ, có chiều sâu, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành thế trận linh hoạt cả trong phòng ngự và tiến công. Trên toàn địa bàn chiến dịch hình thành 5 khu vực phòng ngự; trong đó, khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu; khu Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; khu trung gian (Hin Tặng) là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước rất quan trọng của hướng phòng ngự chủ yếu; 2 khu vực Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là những khu vực phòng ngự phối hợp, bảo vệ hai bên sườn chiến dịch. Để đảm bảo vừa phòng ngự vững chắc, vừa chủ động tiến công tiêu diệt địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức các lực lượng tham gia chiến dịch thành 2 lực lượng phòng ngự và cơ động tiến công. Lực lượng phòng ngự gồm 2 trung đoàn bộ binh (866, 174) được tăng cường binh khí kỹ thuật; lực lượng cơ động tiến công gồm 2 trung đoàn (148, 335). Đối với lực lượng xe tăng, thiết giáp và lực lượng pháo bịnh xe kéo, ngoài số tăng cường cho 2 trung đoàn 174 và 866 sô còn lại do Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy để chi viện chung; Tiểu đoàn Đặc công 41 bố trí ở Na Bầu, luân phiên luồn sâu đánh phá kho tàng, sân bay, sở chỉ huy địch ở Loong Chẹng, Tôm Tiêng1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật đánh trận then chốt chiến dịch của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (¡945- 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 443). Với cách tổ chức sử dụng lực lượng như vậy, ta đã kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngự với tiến công, lập thế trận linh hoạt đê vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật tiến công tiêu diệt địch, giữ vững trận địa phòng ngự.


Về bố trí lực lượng phòng ngự, Trung đoàn 866 được tăng cường 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo binh xe kéo, đảm nhiệm phòng ngự ở khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum và Noọng Pẹt; 4 tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự giữ các cụm chốt ở Phu Tâng, Phu Tôn, Phu Seo, Phu Hủa Sang, Phu Keng, Phu Thông, Phu Học, Bản Khổng; 1 tiểu đoàn làm lực lượng cơ động, bố trí ở Đông Nam Phu Hè; các đơn vị hỏa lực pháo binh, xe tăng bố trí ở Bản Quay do Trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Mỗi tiểu đoàn bộ binh làm nhiệm vụ phòng ngự tổ chức và sử dụng lực lượng cũng khác nhau: Tiểu đoàn 924 và Tiểu đoàn 6 sử dụng 2 đại đội phòng ngự, 1 đại đội cơ động tiến công; Tiểu đoàn 5 sử dụng 1 đại đội phòng ngự, 2 đại đội làm lực lượng cơ động tiến công; Tiểu đoàn 7 sử dụng 2 đại đội phòng ngự, 1 trung đội cơ động tiến công. Trung đoàn 174 được tăng cường 1 đại đội pháo binh xe kéo, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm (thiếu), đảm nhiệm phòng ngự khu trung gian; trong đó, 2 tiểu đoàn và 1 đại đội làm nhiệm vụ phòng ngự xây dựng các chốt cấp đại đội ở Phu Phaxay và các điêm cao 2063, 1800, 1978, 1516, hình thành 2 cụm chốt cấp tiểu đoàn; mỗi cụm chốt tiểu đoàn đều sử dụng 1 đại đội cơ động tiến công. Trung đoàn tổ chức 1 tiểu đoàn (thiếu) cùng bộ phận hỏa lực pháo binh trên tăng cường làm lực lượng cơ động tiến công chi viện chung, bố trí ở phía Đông Hin Tặng, sẵn sàng đánh địch trên các hướng. Như vậy, ta tổ chức bố trí, sử dụng lực lượng phòng ngự rất linh hoạt, xen kẽ giữa phòng ngự và cơ động tiến công, tạo thành thế liên hoàn, hỗ trợ và chi viện cho nhau, mỗi cấp đều có lực lượng cơ động để chủ động tiến công tiêu diệt địch từ xa tới gần.


Đối với lực lượng cơ động tiến công của chiến dịch, Trung đoàn 148 triển khai ở Bắc Noọng Tai, Tây Nam Phu Keng Luông, Xiềng Nưa, thực hiện nhiệm vụ cơ động đánh địch trên hướng Đông Nam và hướng Nam Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 335 triển khai ở Noọng Pẹt, Phu Học, thực hiện nhiệm vụ đánh địch trên hướng Bắc, Tây Bắc Cánh Đồng Chum và sẵn sàng cơ động xuống hướng Nam phối hợp cùng Trung đoàn 148 đánh các trận then chốt lớn của chiến dịch. Đến tháng 10 năm 1972, Bộ bổ sung thêm Trung đoàn 88 thuộc Sư đoàn Bộ binh 308C1 (Bộ Quốc phòng, Học viện Lục quân, Tổng kết chiến dịch phòng ngự trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 17) để bảo đảm lực lượng đủ mạnh đánh thắng trận then chốt quyết định ở cánh đồng Căng Xẻng, kết thúc chiến dịch.


Trong quá trình tác chiến, hệ thống công sự, trận địa trên toàn khu vực phòng ngự được bộ đội ta tích cực, chủ động củng cố vững chắc, hình thành nhiều cụm, tuyến liên hoàn, có chiều sâu, đảm bảo đánh địch nhiều hướng, từ xa tới gần; đồng thời, hệ thống đường cơ động ngày càng hoàn chỉnh, bảo đảm cho lực lượng cơ động tiến công, xe tăng, pháo binh, phòng không, cùng các phương tiện cơ giới nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu và có thể phân tán hoặc tập trung lực lượng khi cần thiết. Đặc biệt, ta đã đánh giá đúng và phát huy cao độ khả năng, sở trường chiến đấu của từng thành phần lực lượng để sử dụng, lập thế trận tiến công một cách hợp lý, ngay cả các tiểu đoàn, trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự cũng chủ động tổ chức bộ phận cơ động tiến công. Biểu hiện tập trung nhất là việc sử dụng Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ phòng ngự ở khu trung gian, đưa Trung đoàn 335 ra làm nhiệm vụ cơ động tiến công, đã phát huy được sở trường, kinh nghiệm, khả năng tác chiến của từng trung đoàn. Trung đoàn 174 chiến đấu quyết liệt, chặn đứng mũi tiến công của địch suốt 179 ngày đêm, giữ vững khu trung gian; Trung đoàn 335 phát huy khả năng thông thuộc địa hình, vận động tiến công kết hợp chặt chẽ với các thủ đoạn bao vây, thọc sâu, chia cắt, đạt hiệu suất chiến đấu cao trong các trận đánh then chốt mà ít tổn thất, thương vong.


Có thể khẳng định, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã phát huy tinh thần chủ động tiến công, tích cực lập thế trận, phát huy khả năng, sở trường vận dụng chiến thuật, thủ đoạn chiến đấu tiến công của từng đơn vị tiêu diệt địch, đạt hiệu suất chiến đấu cao, trực tiếp đánh bại, bè gãy nhiều đợt tiến công quy mô lớn của địch từ mọi hướng, giữ vững trận địa phòng ngự.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #106 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:15:54 pm »

3. Khéo léo kết hợp giữa đánh nhỏ, đánh vừa với đánh lớn theo phương hướng tác chiến hiệp đồng binh chủng

Trên cơ sở lập thế trận hiểm hóc, vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu, hiệp đồng chặt chẽ, hỗ trợ, chi viện lẫn nhau, các thành phần lực lượng của chiến dịch đã chủ động tiến công, tìm địch mà đánh bằng nhiều cách đánh khác nhau. Lực lượng phòng ngự đánh địch từ xa đến gần bằng chiến thuật phục kích, bắn tỉa, bí mật tập kích, tập kích hỏa lực vào quân địch trú quân ban đêm hoặc co cụm lực lượng; sử dụng hỏa lực kết hợp với chưởng ngại vật đánh địch trước tiền duyên phòng ngự, phối hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động các cấp đánh vào bên sườn, phía sau đội hình tiến công của địch; đồng thời, kiên quyết phản kích với quy mô phù hợp, đánh địch đột nhập, khôi phục trận địa phòng ngự. Lực lượng cơ động tiến công của chiến dịch cũng vận dụng rộng rãi cách đánh nhỏ, đánh vừa, kiềm chế trận địa pháo binh, khống chế bãi đổ bộ của máy bay lên thẳng và khả năng đánh phá của không quân địch, nên ta đã kịp thời ngăn chặn, kìm chân, buộc địch phải sớm bộc lộ đội hình và rơi vào thế bị động đối phó. Với tinh thần chủ động, tích cực tiến công, ta đã phát huy sở trường cách đánh nhỏ lè, rộng khắp của các thành phần lực lượng chiến dịch, số trận đánh cấp trung đội, đại đội chiếm tới 80% tổng số trận đánh toàn chiến dịch1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 87). Chính vì vậy, tuy địch đánh phá ác liệt, dài ngày và liên tục tổ chức nhiều đợt tiến công lớn, nhưng ta vần giữ vững các chốt, cụm chốt trọng yếu ở Phu Phaxay, Phu Hủa Sang, Phu Học..., tạo được thế xen kẽ và bàn đạp có lợi để triển khai lực lượng với quy mô thích hợp, tiến hành thắng lợi các trận phản kích, phản đột kích khi thời cơ xuất hiện, đánh bại hoàn toàn các cuộc tiến công của địch.


Điểm nổi bật về kết hợp chặt chẽ giữa đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là ta đã theo dõi nắm chắc đối tượng tác chiến chủ yếu, chớp thời cơ, sử dụng tập trung lực lượng cơ động, tiến hành thắng lợi một số trận then chốt, then chốt quyết định bằng chiến thuật tiến công hiệp đồng binh chủng. Ở trận then chốt thứ nhất (30.8 - 3.9), ta vừa kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi 4 GM địch tiến công từ 3 hướng (Đông Nam, Tây và Đông Bắc), vừa theo dõi chặt chẽ 2 GM (21 và 26) mạnh nhất của địch; khi chúng đổ bộ đường không xuống khu vực Điểm cao 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km), hình thành hướng tiến công chủ yếu từ phía Tây Bắc, bất ngờ thọc sâu, hòng nhanh chóng đánh chiếm khu trung tâm Cánh Đồng Chum. Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ động sử dụng lực lượng cơ động của Trung đoàn 335 (thiếu 1 tiểu đoàn) hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng phòng ngự tại chỗ của Trung đoàn 866 và 2 tiểu đoàn (701 và 20) của bạn, được tăng cường 1 đại đội xe tăng (4 xe) và hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện, vận động tiến công kết hợp phục kích, tập kích và các thủ đoạn chiến đấu bao vây, chia cắt, đón lõng, đánh thiệt hại nặng 2 GM (21 và 26) ở khu vực Khang Mường, Điểm cao 1202, bẻ gãy hoàn toàn cánh quân chủ yếu của địch. Tiếp đó, trong 20 ngày chiến đấu liên tục (11 - 30.9), liên quân Việt - Lào ngăn chặn các đợt tiến công mới từ hướng Tây của địch, đồng thời sử dụng Trung đoàn 148 (thiếu 1 tiểu đoàn) phối hợp cùng Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn B của Trung đoàn 866, đẩy lùi cuộc tiến công của địch và đánh chiếm lại Phu Thông, Bản Thang và các điểm cao 1244, 1294, 1276, khôi phục trận địa phòng ngự. Đặc biệt, trận then chốt quyết định ở cánh đồng Căng Xẻng (26.10), ta đã sử dụng lực lượng quy mô sư đoàn (thiếu)1 (Gồm 2 trung đoàn (335 và 148), được tăng cường Tiểu đoàn 924 của Trung đoàn 866, Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 88, 1 đại đội xe tăng và 2 cụm pháo binh chiến dịch chi viện hỏa lực) thực hiện tiến công hiệp đồng binh chủng phá vỡ đội hình của 6 GM (15, 23, 26, 30, 32, 21), 2 tiểu đoàn đặc biệt Thái Lan (616, 618) có pháo binh, không quân yểm trợ triển khai tiến công, dồn chúng vào khu quyết chiến Cha Ho - Bản Hai - Bản Phồn, tiêu diệt từng cụm quân, rồi tổ chức truy kích, quét địch ra khỏi các bàn đạp phía Nam Cánh Đồng Chum, đánh bại mọi nỗ lực, cố gắng cao nhất của địch hòng chiếm lại Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1972.


Như vậy, trong suốt quá trình tổ chức chuẩn bị và thực hành Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta đã thường xuyên quán triệt sâu sắc và thực hiện thắng lợi tư tưởng chỉ đạo tác chiến, tích cực, chủ động lập thế trận phòng ngự kết hợp chặt chẽ với tiến công, lấy tiến công tiêu diệt địch rộng khắp bằng đánh nhỏ, đánh vừa, đánh cả phía trước, bên sườn, sau lưng, phá thế tiến công của địch làm nhiệm vụ chính để hỗ trợ lực lượng phòng ngự; đồng thời, nắm chắc thời cơ, sử dụng tập trung lực lượng cơ động chiến dịch với quy mô phù hợp, phát huy sức mạnh tổng hợp, sở trường chiến đấu của mọi thành phần lực lượng trong thực hiện chiến thuật tiến công hiệp đồng binh chủng, đánh thắng các trận then chốt, then chốt quyết định, kết thúc chiến dịch trong điều kiện có lợi. Có thể khẳng định, việc tổ chức thục hiện thắng lợi chiến thuật tiến công trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã đóng góp trong việc phát triển hoàn thiện về nghệ thuật chiến dịch phòng ngự của Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những kinh nghiệm về lập thế trận, nghệ thuật bố trí, sử dụng lực lượng cơ động để vận dụng linh hoạt chiến thuật tiến công trong tác chiến phòng ngự của chiến dịch này đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng phù hợp vào trong công tác huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng phương án tác chiến phòng thủ quân khu, tỉnh (thành phố), phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp các thành phần lực lượng trong thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #107 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:23:36 pm »

CÁC HÌNH THỨC CHIẾN THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Đại tá, TS NGUYỄN VĂN ĐIỀN
Phó Trưởng phòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo,
Viện Lịch sử quân Sự - Bộ Quốc phòng


Sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972, Quân đội nhân dân Việt Nam cùng với Quân giải phóng nhân dân Lào chủ động tổ chức chiến dịch phòng ngự, nhằm kiên quyết giữ vững khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, không để địch lấn chiếm lại trong mùa mưa 1972. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm có: 2 trung đoàn bộ binh (174, 148) thuộc Sư đoàn 316; 2 trung đoàn bộ binh độc lập (335, 866), 2 tiểu đoàn đặc công (41, 27); 1 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp; Tiểu đoàn Pháo binh 42; 2 tiểu đoàn pháo phòng không 37mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 14,5 và 12,7mm; 2 tiểu đoàn công binh (15, 25). Đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn Bộ binh 88 Sư đoàn 308C. Lực lượng của bạn có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 593). Chiến dịch diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, chia thành 4 đợt:


Đợt 1, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 10 tháng 8: Ta kiên quyết ngăn chặn các đợt tiến công hòng đánh chiếm bàn đạp và tổ chức đánh phá sau lưng địch, phản kích khôi phục trận địa, giữ vững khu trung gian. Đợt 2, từ ngày 11 tháng 8 đến ngày 10 tháng 9, ta lần lượt bẻ gãy các hướng mũi tiến công của 40 tiểu đoàn địch; đồng thời, sử dụng tập trung lực lượng cơ động đánh thiệt hại nặng 2 GM (21, 26), bẻ gãy cánh quân chủ yếu đổ bộ đường không xuống khu vực Điểm cao 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km) hòng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm khu trung tâm Cánh Đồng Chum từ hướng Tây Bắc của địch, giành thắng lợi trận then chốt thứ nhất của chiến dịch, giữ vững trận địa phòng ngự. Đợt 3, từ ngày 11 đến ngày 30 tháng 9, ta liên tiếp bẻ gãy các hướng mũi tiến công từ phía Tây của địch, phản kích đánh chiếm lại Phu Thông, Bản Thang và các điểm cao 1276, 1244, 1294, khôi phục trận địa phòng ngợ. Đợt 4, từ ngày 1 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11, ta giữ vững quyền chủ động, tập trung lực lượng cơ động quy mô sư đoàn (thiếu) đánh trận phản đột kích, tiêu diệt lớn lực lượng địch ở khu vực cánh đồng Căng Xẻng, giành thắng lợi trận then chốt quyết định, quét sạch quân địch ra khòi các bàn đạp phía Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum.


Như vậy, sau gần 6 tháng tích cực, chủ động, kiên cường chiến đấu, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã đánh bại hoàn toàn các đợt tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum. Trong chiến dịch này, ta đã chủ động chuyển vào phòng ngự, lập thế trận hiểm hóc, liên hoàn, vững chắc, tận dụng triệt để thế thiên hiểm của địa hình để xây dựng công sự trận địa phòng ngự kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật bố trí, sử dụng lực lượng, phát huy sở trường, khả năng chiến đấu phòng ngự và tiến công của mọi thành phần lực lượng tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn để thực hiện thắng lợi mục đích chiến lược giao. Trong suốt quá trình tác chiến, "Bộ đội ta đã biết vận dụng sáng tạo, kết hợp khéo léo giữa phòng ngự trận địa với phản kích, liên tục tiến công tiêu diệt địch để giữ vững trận địa; sử dụng lực lượng thích hợp trong thời điểm thích hợp để đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng những trận then chốt giành thắng lợi quyết định; thực hiện phương châm càng đánh càng trưởng thành, mặc dù thời gian chiến đấu kéo dài, tính ác liệt cao, điều kiện tiếp tế, đảm bảo cơ sở vật chất khó khăn"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 449). Có thể khẳng định, Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đánh dấu bước phát triển phong phú về việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật trong chiến dịch phòng ngự của Quân đội ta.


1. Chiến thuật phòng ngự: Đối tượng tác chiến của phòng ngự là quân địch chủ động tiến công. Trước khi tiến công bao giờ địch cũng dùng hỏa lực rất mạnh đánh phá ác liệt trận địa phòng ngự của ta; khi thực hành tiến công, chúng sử dụng bộ binh, xe tăng tiến theo nhiều hướng chính diện kết hợp với vu hồi đánh vào bên sườn, phía sau, đổ bộ đường không thọc sâu, chia cắt đội hình phòng ngự, hòng nhanh chóng đánh chiếm những mục tiêu chủ yếu; nếu tiến công không thành, địch có thể lùi ra, dùng hỏa lực không quân, pháo binh bắn phá trực tiếp rồi tiếp tục các đợt tiến công khác, chúng thường chuyển hướng tiến công hòng đánh vào nơi ta phòng ngự sơ hở; khi chiếm được một phần trận địa, địch nhanh chóng củng cố để tạo bàn đạp tiếp tục tiến công. Chính vì vậy, để phòng ngự thắng lợi, đánh bại tiến công của địch, ta phải: Xây dựng một thế trận phòng ngự hoàn chỉnh, dựa vào trận địa phòng ngự vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu; tích cực đánh địch từ xa đến gần; kiên quyết phản kích khi địch đột nhập trận địa; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả ba thứ quân, các binh chủng để đánh địch bằng mọi phương thức, đánh ở cả phía trước, bên sườn và phía sau, nhằm phá thế tiến công hoàn chỉnh của địch, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, tạo điều kiện chuyển sang phản công, tiến công1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944 - 1975), Tập II, Sđd, tr. 733).


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta đã xác định khu trung gian (Hin Tặng) là khu vực phòng ngự cơ bản rất quan trọng của hướng phòng ngự chủ yếu; đồng thời, sử dụng Trung đoàn 174 là đơn vị mạnh, có trình độ và kinh nghiệm chiến đấu phòng ngự để giữ khu trung gian. Trung đoàn đã chủ động tận dụng lợi thế của địa hình, xây dựng công sự trận địa từng chốt đại đội, hình thành 3 cụm chốt tiểu đoàn và liên kết các cụm chốt tiểu đoàn với nhau tạo thành khu vực phòng ngự then chốt vững chắc ở Hin Tặng, Phu Phaxay, các điểm cao 1900A và 1900B. Các tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự đều sử dụng 2 đại đội giữ chốt, 1 đại đội cơ động, liên kết chặt chẽ với thế bố trí tiểu đoàn cơ động của trung đoàn và lực lượng xe tăng, pháo binh, phòng không được tăng cường, tạo thành thế xen kẽ giữa phòng ngự và cơ động tiến công; do vậy, trong suốt quá trình 179 ngày đêm chiến đấu, các lực lượng của Trung đoàn 174 đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chiến thuật phòng ngự, liên tục bám sát đánh địch từ xa đến gần, ngăn chặn, kìm chân, phá thế tiến công của địch và kiên quyết phản kích đánh bật địch ra khỏi.khu trung gian, tiêu hao nhiều sinh lực và đánh bại ý đồ đánh chiếm bàn đạp tiến công của địch, buộc chúng phải nhiều lần thay đổi hướng tiến công, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động của chiến dịch đánh những trận then chốt tiêu diệt lớn sinh lực, bẻ gãy hoàn toàn các đợt tiến công quy mô lớn của địch.


Ở khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, xác định là khu vực phòng ngự then chốt không được để mất, do vậy ta đã tăng cường lực lượng, phát triển Trung đoàn 866 thành 5 tiểu đoàn và 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh xe kéo; trong đó, sử dụng 4 tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự giữ 4 cụm chốt chủ yếu ở Phu Tâng, Phu Tôn; Phu Seo, Phu Hủa Sang; Phu Keng, Phu Thông; Phu Khế, Bản Khổng; 1 tiểu đoàn làm lực lượng cơ động, bố trí ở Đông Nam Phu Hè; các đơn vị hỏa lực pháo binh, xe tăng bố trí ở Bản Quay do Trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn 924 và Tiểu đoàn 6 sử dụng 2 đại đội phòng ngự, 1 đại đội cơ động tiến công; Tiểu đoàn 5 sử dụng 1 đại đội phòng ngự, 2 đại đội làm lực lượng cơ động tiến công; Tiểu đoàn 7 sử dụng 2 đại đội phòng ngự, 1 trung đội cơ động tiến công. Chính nhở cách tổ chức phòng ngự thành từng chốt đại đội, cụm chốt tiểu đoàn làm nòng cốt, có khả năng khống chế toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum và liên kết với thế bố trí, sử dụng lực lượng cơ động tiến công linh hoạt, nên các đại đội, tiểu đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng cơ động các cấp, chủ động tìm địch mà đánh, thực hiện đánh địch từ xa đến gần, thể hiện rõ nét chiến thuật phòng ngự khu vực rất tích cực. Đồng thời, ta đã hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng của bạn tổ chức một số chốt trọng điểm xung quanh khu vực Mường Sủi và phía Nam, Tây Nam thị xã Xiêng Khoảng để cùng phối hợp chiến đấu. Qua đó, đã tạo thế trận và thời cơ có lợi, sử dụng tập trung lực lượng cơ động đủ mạnh, thực hiện thắng lợi các trận then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch, đánh bại mọi nỗ lực, cố gắng cao nhất của địch hòng chiếm lại Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1972.


Để thực hiện thắng lợi cách đánh phòng ngự khu vực, ngoài lực lượng phòng ngự của 2 trung đoàn (866 và 174), Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn sử dụng 2 trung đoàn (335 và 148) được tăng cường xe tăng, pháo binh làm lực lượng cơ động tiến công, vừa sẵn sàng chi viện đánh địch trên các hướng, vừa bảo vệ hai bên sườn khu vực phòng ngự chủ yếu. Trong đó, Trung đoàn 335 triển khai ở Phu Học, Noọng Pẹt, đảm nhiệm đánh địch trên hướng Bắc, Tây Bắc Cánh Đồng Chum; Trung đoàn 148 triển khai ở Bắc Noọng Tai, Tây Nam Phu Keng Luông, Xiềng Nưa, làm nhiệm vụ cơ động đánh địch trên hướng Đông Nam và Nam Cánh Đồng Chum. Do vậy, thế bố trí, sử dụng lực lượng ở các khu vực phòng ngự cấp trung đoàn đã liên kết chặt chẽ với lực lượng cơ động và hỏa lực, tạo thành thế trận phòng ngự vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu, có khả năng chi viện, hỗ trợ lẫn nhau trong chiến đấu.


Như vậy, việc xây dựng thế trận và thực tiễn vận dụng chiến thuật phòng ngự khu vực trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã vượt qua nhận thức về chiến thuật phòng ngự trước đó, hoạt động tác chiến phòng ngự không còn sự bó hẹp trong các điổm tựa, cụm điểm tựa để giữ trận địa mà đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên quyết cố thủ, giữ vững trận địa với liên tục cơ động tiến công, đánh địch rộng khắp từ xa đến gần ở mọi quy mô, đánh tiêu hao sinh lực, phá thế tiến công hoàn chỉnh của địch, kiên quyết phản kích đánh bật quân địch ra khỏi trận địa. Cơ động tiến công, liên tục đánh cả phía trước, bên sườn, sau lưng địch là biện pháp hiệu quả nhất để thực hiện thắng lợi chiến thuật phòng ngự khu vực, giữ vững những khu vực phòng ngự then chốt theo mục đích chiến dịch đề ra.


2. Chiến thuật phục kích: Trên cơ sở thế trận phòng ngự khu vực hoàn chỉnh được thiết lập, các thành phần lực lượng tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt chiến thuật phục kích, phát huy sở trường lối đánh nhỏ lẻ, rộng khắp, quy mô các trận đánh phục kích, vận động phục kích chủ yếu ở cấp trung đội, đại đội và được tiến hành sớm, nhằm ngăn chặn, kìm chân, tiêu hao sinh lực địch cơ động triển khai lực lượng, buộc các hướng mũi tiến công của địch phải sớm bộc lộ và bị động đối phó ở thế bất lợi. Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ phòng ngự giữ các chốt, cụm chốt ở Phu Phaxay, các điểm cao 2063, 1978, đã thường xuyên đưa lực lượng ra phía trước, thoát ly khỏi trận địa, phối hợp với Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 đánh địch từ xa đến gần bằng chiến thuật phục kích, vận động phục kích, tạo điều kiện chợ lực lượng phía sau xây dựng công sự trận địa ngày càng vững chắc. Chính những hoạt, động tác chiến đánh địch từ xa, kết hợp chặt chẽ hỏa lực với chướng ngại vật, phục kích địch cơ động triển khai lực lượng, đã tạo thế cho lực lượng phòng ngự của Trung đoàn 174 đánh bại ý đồ đánh chiếm bàn đạp khu trung gian của địch buộc chủng phải chuyển hướng tiến công sang các hướng khác. Trong suốt quá trình sau đó, chiến thuật phục kích, vận động phục kích được các đơn vị phòng ngự phối hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động tiến công, vận dụng linh hoạt, nổi bật là những trận phục kích liên tiếp ở khu vực đồi Năm Mỏm của 2 tiểu đoàn (7 và Cool Trung đoàn 866, đánh bại ý đồ chuyển hướng tiến công của địch, giữ vững khu vực phòng ngự chủ yếu. Như vậy, trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến thuật phục kích được các thành phân, lực lượng chiến dịch vận dụng phù hợp cả trong phòng ngự và cơ động tiến công, đạt hiệu suất chiến đấu cao và đóng góp quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #108 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:24:24 pm »

3. Chiến thuật tập kích: Thực hiện cách đánh chung của chiến dịch, ta đã tích cực, chủ động đánh ngăn chặn địch từ xa, kiên cường bám giữ các chốt trọng yếu, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, tiêu hao sinh lực và làm suy yếu sức tiến công của địch, tạo điều kiện và thời cơ có lợi để tập trung lực lượng cơ động phản kích, phản đột kích, đánh tiêu diệt, giành thắng lợi trong những trận then chốt, then chốt quyết định. Trong đó, hình thức chiến thuật tập kích được ta vận dụng rộng rãi, phù hợp với khả năng, sở trường của từng thành phần lực lượng. Tiểu đoàn Đặc công 41, luân phiên đưa lực lượng luồn sâu bí mật tập kích vào các Sở Chỉ huy, sân bay, kho tàng nằm sâu trong căn cứ địch ờ Loong Chẹng, Tôm Tiêng. Pháo binh vừa kiềm chế các trận địa pháo, các bãi đổ quân, bốc quân, vận chuyển tiếp tế của địch, vừa tổ chức tập kích hỏa lực vào những khu vực địch co cụm, tập trung lực lượng ngoài công sự và đặc biệt là đã phát huy hỏa lực phủ đầu, chi viện hiệu quả cho bộ binh trong các trận phản kích, phản đột kích. Lực lượng cơ động tiến công đã hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng phòng ngự và hỏa lực, vận dụng rộng rãi chiến thuật tập kích trong nhiều trận phản kích đánh bật quân địch đột nhập ở Phu Hủa Sang, Phu Phaxay, Phu Thông, Bản Thang, Hin Đăm, Thẩm Lửng, các điểm cao 1900B, 1800, 1202,... khôi phục trận địa phòng ngự. Đặc biệt, trong các trận phản đột kích ở Đông Bắc Phu Keng (30.Cool, cánh đồng Căng Xẻng (26.10), ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh cường tập bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng kết hợp chặt chẽ với các thủ đoạn chiến đấu bao vây, chia cắt, đón lõng, tiêu diệt gọn nhiều sinh lực địch, trực tiếp đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Như vậy, chiến thuật tập kích trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được bộ đội ta vận dụng rộng rãi ở các quy mô khác nhau, có nhiều sáng tạo, phù hợp với địa hình rừng núi, đạt hiệu suất chiến đấu cao.


4. Chiến thuật vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp chốt: Phát huy sở trường cách đánh vận động, các lực lượng phòng ngự giữ chốt và lực lượng cơ động tiến công các cấp đã liên tục bám sát diễn biến chiến đấu, kịp thời phát hiện chính xác lực lượng, cánh quân chủ yếu của địch; đồng thời, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng phòng ngự và cơ động, kiên quyết ngăn chặn, kìm chân bộ binh, khống chế máy bay địch, tăng cường lực lượng để chiến đấu tạo thế, đánh chiếm bàn đạp và nhanh chỏng cơ động lực lượng, hình thành thế bao vây, chia cắt, đón lõng, tiêu diệt gọn quân địch. Trong các trận đánh then chốt, then chốt quyết định của chiến dịch, ta đều vận dụng sáng tạo chiến thuật vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp chốt, thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt lớn quân địch, tạo điều kiện thúc đẩy chiến dịch phát triển. Ở trận then chốt thứ nhất (30, 31.Cool, ta vừa kiên quyết ngăn chặn tiến công của GM 31 cùng một số tiểu đoàn ngụy Lào ở khu trung gian, vừa theo dõi và phát hiện chính xác 2 GM (21 và 26) của địch bất ngờ đô bộ đường không xuống khu vực Điểm cao 1098, hòng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm trung tâm Cánh Đồng Chum, do vậy ta đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, phương án tác chiến, dùng 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 335 vào chiến đấu tạo thế, đánh chiếm bàn đạp ở khu vực Phu San; đồng thời, sử dụng tập trung Trung đoàn 335 (thiếu) được tăng cường xe tăng, pháo binh, nhanh chóng vận động tiến công kết hợp với các chốt của Trung đoàn 866 và lực lượng của bạn, tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Khang Mường Điểm cao 1202. Trong trận then chốt quyết định (26.10), ta đã sử dụng lực lượng 2 trung đoàn (335 và 148), được tăng cường Tiểu đoàn 924 của Trung đoàn 866, Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 88, một đại đội xe tăng và 2 cụm pháo binh chiến dịch chi viện hỏa lực thực hiện chiến thuật vận động tiến công hiệp đồng binh chủng từ 3 hướng, bao bây, thọc sâu, chia cắt, nhanh chóng phá vỡ đội hình địch, dồn chúng vào khu quyết chiến Cha Ho - Bản Phồn, tiêu diệt từng cụm quân và quét sạch địch ra khỏi các bàn đạp phía Nam Cánh Đồng Chum.


5. Chiến thuật truy kích: Thực hiện các trận phản đột kích ở đợt 2 và đợt 4 chiến dịch, ta đã vận dụng kết hợp các hình thức chiến thuật tiến công, trong đó chiến thuật truy kích được thực hiện khi quân địch đang ở thế tan vỡ, rút chạy. Ở trận then chốt thứ nhất, từ ngày 31 tháng 8 đến ngày 3 tháng 9 năm 1972, quân ta phối hợp với lực lượng của Bạn lùng sục, truy kích quân địch ở khu vực Khang Mường, bẻ gãy hoàn toàn ý đồ bất ngờ mở một hướng tiến công thọc sâu đánh chiếm trung tâm Cánh Đồng Chum của địch, ở trận then chốt quyết định, khi phát hiện quân địch lợi dụng đêm tối (26.10) luồn rừng tháo chạy về Nậm Cọ, Khang Kho, Trung đoàn 335 cùng một bộ phận của Tiểu đoàn 924 đã nhanh chóng hình thành thế họp vây, tiêu diệt hàng trăm tên địch ở khu vực Bản Phồn, tạo điều kiện cho Trung đoàn 148 tiếp tục truy kích địch ra khỏi các bàn đạp phía Nam Cánh Đồng Chum. Như vậy, chiến thuật truy kích được vận dụng và phát huy trong giai đoạn cuối của những trận then chốt, then chốt quyết định, nhằm thực hiện triệt để mục đích chiến dịch phòng ngự.


Có thể khẳng định, nghệ thuật chỉ đạo và thực tiễn vận dụng các hình thức chiến thuật: Phòng ngự, phục kích, tập kích, vận động tiến công, vận động tiến công kết hợp chốt, truy kích trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đã đóng góp quan trọng vào bước phát triển mới về nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch phòng ngự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #109 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2024, 09:28:46 pm »

BẢO ĐẢM CÔNG TRÌNH TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ
CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại tá, ThS NGUYỄN HỒNG HẢI
Phó Trưởng phòng Tổng kết chiến tranh,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Bảo đảm công trình chiến dịch là một nội dung quan trọng trong tác chiến nói chung, trong tác chiến phòng ngự nói riêng nhằm tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc, bảo vệ lực lượng, phương tiện, nâng cao và duy trì sức chiến đấu liên tục, dài ngày của các lực lượng tham gia chiến đấu; thực hành ngăn chặn, tiêu hao, làm chậm tốc độ tiến công của địch, phối hợp và tạo điều kiện cùng lực lượng cơ động của cấp trên đánh bại địch tiến công, giữ vững địa bàn. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972) là một trong những chiến dịch phòng ngự có mức độ bảo đảm công trình hoàn chỉnh của Quân đội ta đến thời điểm này. Mặc dù, từ lúc chuyển sang phòng ngự chỉ trên 1 tháng, thời gian không nhiều, nhưng bộ đội ta đã tiến hành xây dựng được một thế trận phòng ngự liên hoàn, có chiều sâu và vững chắc. Nhờ đó, trong gần 6 tháng chiến đấu kiên cường, các lực lượng tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã đánh bại nhiều đợt tiến công quy mô lớn của địch giữ vững vùng giải phóng, tạo thế liên hoàn, vững chắc giữa các vùng căn cứ địa của bạn Lào; đồng thời, bảo vệ sườn phải cho 2 chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


1. Bảo đảm công trình trong quá trình chuẩn bị chiến dịch

Ngay sau Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum và tiến sâu vào Sảm Thông - Loong Chẹng, để giữ vững vùng giải phóng và phối hợp với các chiến trường khác, liên quân Việt Nam - Lào quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, không để địch lấn chiếm lại trong mùa mưa năm 1972. Địa bàn phòng ngự chiến dịch được tổ chức tại khu tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (dài 60km, rộng 50km), được chia thành 5 khu vực: Khu trung tâm (Cánh Đồng Chum), khu trung gian (Hin Tặng), khu thứ yếu (Noọng Pẹt) và 2 khu tác chiến phối hợp (Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng), mỗi khu vực có một số cụm chốt. Lực lượng tham gia phòng ngự gồm 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh (20 khẩu), 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp (18 xe), 2 tiểu đoàn công binh (25, 15). Lực lượng bạn Lào tham gia ở khu vực này có 7 tiểu đoàn bộ binh và 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội công binh, cùng một số đại đội, trung đội địa phương.


Để tổ chức trận địa phòng ngự trên một không gian rộng, lực lượng tham gia lớn (từ 12.000 đến 13.000 người), nhiệm vụ chủ yếu trong bảo đảm công trình chính là xây dựng hệ thống đường cơ động cho bộ binh, cơ giới, công sự, trận địa, sở chỉ huy chiến dịch, các chốt (gồm công sự cho bộ binh, binh khí kỹ thuật, hào chiến đấu, hào giao thông, công trình phòng tránh và bảo đảm khác...), tạo thành khu vực phòng ngự liên hoàn, có chiều sâu, vững chắc, có tính cơ động linh hoạt để vừa phản đột kích trước tiền duyên cũng như chủ động tiến công địch ở khu vực trung gian. Do đó, ngay từ đầu tháng 4 năm 1972, trên cơ sở nhiệm vụ được giao và phán đoán tình hình địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết tâm "nhanh chóng tổ chức lại thế trận từ tiến công sang phòng ngự về chiến dịch, hình thành các khu vực phòng ngự liên hoàn có thế trận vững chắc, có chính diện và chiều sâu thích hợp"1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 436). Theo đó các lực lượng bảo đảm và tham gia chiến dịch tích cực làm tốt mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch.


Về bảo đảm đường cơ động, vận chuyển chiến dịch

Có thể nhận thấy, trong tác chiến phòng ngự, "không có đường cơ động không thể nói hiệp đồng tác chiến nhịp nhàng theo một kế hoạch thống nhất"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến phòng ngự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 536). Do đó, việc tổ chức xây dựng và bảo đảm mạng đường sá trong tác chiến phòng ngự có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực tiễn Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho thấy, do vị trí địa lý tự nhiên, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một cao nguyên rộng lớn, có nhiều địa hình phức tạp, có nơi khá bằng phẳng, trống trải với những lòng chảo rộng, có nơi núi cao, rừng rậm hiểm trở, nên việc cơ động lực lượng, tiếp tế vô cùng khó khăn. Nhìn chung, mạng lưới đường sá nơi đây kém phát triển. Từ biên giới tỉnh Nghệ An vào Cánh Đồng Chum có 2 trục đường cơ giới. Đường số 7A là đường chủ yếu từ Mường Xén qua Bản Ban - Noọng Pẹt - Khang Khay - Bản Áng - Mường Sủi về ngã ba Sa La Phu Khun giáp với Đường số 13. Đường số 7B từ Mường Xén đến thị xã Xiêng Khoảng nối với Đường số 4A là đường ta mới hoàn thành năm 1971 để phục vụ cho chiến dịch tiến công, đường xấu dễ hư hỏng.


Từ Cánh Đồng Chum vào khu trung tâm có đường dã chiến đã được tu sửa, nhưng cơ động vẫn bị hạn chế. Ngoài ra, tại khu vực trung tâm vẫn còn có nhiều đường quân sự làm gấp ngang dọc nối liền với các trục đường lớn. Trong mùa khô, cơ giới và binh khí kỹ thuật cơ động thuận lợi, nhưng mùa mưa thì đường bị tắc vì khe suối nước lũ lớn, đi lại hạn chế. Hơn nữa, việc tổ chức phòng ngự trên chiến trường nước bạn, xa hậu phương, chiến tranh nhân dân chưa phát triển đặt ra nhiều vấn đề càng gay gắt hơn.


Từ đặc điểm của hệ thống đường sá như vậy, để đảm bảo cơ động lực lượng chiến đấu trên từng địa bàn trong mọi tình huống, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao cho các tiểu đoàn công binh đảm nhiệm thi công các đường cơ động cho cơ giới, tổ chức bảo vệ những nơi xung yếu. Tiểu đoàn Công binh 25 thuộc Mặt trận, Trung đoàn Công binh vượt sông 239 khôi phục và bảo đảm Đường số 7B; Trung đoàn Công binh 216 và công binh 2 binh trạm 11,13 bảo đảm Đường số 7A. Các trung đoàn bộ binh tự đảm nhiệm đường cơ động của mình theo phương hướng tác chiến, tổ chức những tuyến đường bí mật để cơ động triển khai lực lượng. Quán triệt nhiệm vụ, các đơn vị chạy đua với thời gian, tích cực chuẩn bị theo nhiệm vụ và kế hoạch được giao. Do vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, đến trước khi địch tiến công Cánh Đồng Chum, ta đã củng cố và phát triển được các tuyến đường nối liền giữa các khu vực phòng ngự (khoảng 300km) vừa bảo đảm vận chuyển trước mắt, vừa bảo đảm cho việc cơ động lực lượng trong chiến đấu. Các trung đoàn đã tích cực chuẩn bị đường cơ động cho đơn vị mình. Riêng Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) đã tự làm 2 con đường cơ động dài 40km với 80 chiếc cầu nhỏ qua các khe suối để đảm bảo cơ động cho hướng Nam; Trung đoàn 866 làm nhiều đường cơ động và bắc cầu giây cáp qua sông Nậm Khô1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, Viện Khoa học quân sự, 1987, tr. 52). Trung đoàn 355 cũng làm được 30km hào giao thông và đường cơ động phục vụ tốt nhất cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu đánh địch.


Bảo đảm tổ chức xây dựng khu vực phòng ngự, trận địa phòng ngự

Nhằm ngăn chặn các mũi tiến công của địch, chia cắt bao vây, giam chân địch, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực cơ động tiến công tiêu diệt quân địch, bên cạnh việc làm đường cơ động, vận chuyển chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức xây dựng trận địa phòng ngự gồm: Khu trung tâm Cánh Đồng Chum tổ chức thành 4 cụm chốt, bao gồm cụm Phu Tâng (1661), Phu Tôn (1344) là cụm chốt then chốt nhất của khu vực phòng thủ chủ yếu, cũng là cụm then chốt có tầm quan trọng của chiến dịch. Tại Phu Tâng có công sự đường hầm. Cụm Phu Xao (1654) - Phu Hủa Sang (1782) là cụm chốt đảm nhiệm hướng chủ yếu. Cụm Phu Keng (1473) - Phu Thông (1358) là cụm chốt đảm nhiệm hướng thứ yếu, tại Phu Keng có công sự đường hầm. Khu trung gian tổ chức thành 3 cụm chốt: Cụm 1800 - 1978 - 1512 - Hin Đăm - Thẩm Lửng; Cụm Phu Pha Xay bao gồm các chốt trên các điểm cao 1863, 1804, 2063; Cụm 1.900A - 1.900B. Khu Noọng Pẹt tổ chức thành 2 cụm chốt: Cụm chốt Phu Học (1678) là then chốt nhất ở khu vực phòng ngự này, có cấu trúc quân sự đường hầm; Cụm Phu Nốc Cốc (tổ chức sẵn, khi cần mới cơ động lực lượng đến chiếm giữ). Khu Mường Sủi hoàn toàn do bạn đảm nhiệm phòng ngự tổ chức chốt ở một số trọng điểm quanh Mường Sủi, Phu Xô, Phu Kụt. Khu vực thị xã Xiêng Khoảng chia thành hai nơi: Bạn tổ chức một số chốt ở phía Tây Nam và Nam thị xã (Phu Ca Pó - 1296 - 1136); ta có cụm chốt Phu Khê ở phía Tây Nam và một số chốt chuẩn bị sẵn, chưa có lực lượng ở các điểm cao phía Bắc thị xã.


Để bảo đảm chiến đấu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch bố trí Sở Chỉ huy cơ bản ở Phu Nhu. Ngoài ra, còn thành lập Sở Chỉ huy tiền phương trực tiếp chỉ huy khi đánh các trận then chốt bằng hiệp đồng binh chủng. Hệ thống thông tin chỉ huy kết hợp hiện đại với thô sơ. Hệ thống đài chỉ huy được triển khai hoàn chỉnh (ở Phu Pha Xay, Bắc Khang Kho, Phu Tăng, Phu Keng, Phu Khé, Phu Học và các đài quan sát bổ trợ Phu Tôn, Phu Hè, Phu Xan) bảo đảm nắm chắc tình hình địch. Lực lượng phòng không bố trí có trọng điểm bảo vệ các cụm pháo, các trục giao thông vận chuyển chính, sẵn sàng chi viện cho bộ binh, xe tăng đánh địch ở các khu vực dự kiến. Trên từng điểm chốt, lúc đầu ta xây dựng công sự dã chiến, sau đó từng bước củng cố, nâng dân thành công sự vững chắc, gồm có: Công sự chiến đấu, hào giao thông, hầm trú ẩn, hầm nghỉ ngơi, sinh hoạt, hầm dự trữ vật chât, hầm cho thương binh...


Với khối lượng công việc to lớn như vậy, nếu không có phương pháp tổ chức và tinh thần lao động quên mình thì trong điều kiện bình thường cũng khó có thể hoàn thành. Trong điều kiện địch tăng cường đánh phá ác liệt và mùa mưa cũng đã bắt đầu, muôn hoàn thành tốt khối công việc đồ sộ đó đòi hỏi các đơn vị bảo đảm và tham gia chiến dịch phải nỗ lực rất lớn, cùng bạn đưa ra những giải pháp đúng đắn, sáng tạo, kịp thời hiệu quả. Đe huy động sức mạnh tại chỗ, qua đề xuất của các đoàn 959, 463 ở Cánh Đồng Chum, bạn đã huy động một lực lượng lớn dân quân du kích và nhân dân địa phương đảm bảo được phần lớn tre gỗ, tôn đưa đến các đơn vị; đồng thời, giúp hàng nghìn ngày công, cùng bộ đội xây dựng công sự, trận địa đảm bảo đúng thời gian và chất lượng. Chì trong một thời gian ngắn, trên cơ sở các công sự đã xây dựng trước đó, trong quá trình chiến đấu giành giật ở địa bàn này, ta đã khẩn trương đẩy mạnh việc cấu trúc các công trình theo yêu cầu của nhiệm vụ chiến đấu phòng ngự trận địa. Theo đó, ta xây dựng được 658m đường hầm xuyên núi ở Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học; nhiều công sự kiên cố ở các chốt và cụm chốt trọng yếu1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, 1977, tr. 51). Riêng ở khu vực trung gian, do thời gian hạn chế và địch triển khai tiến công sớm, ta không làm đường hầm, nhưng đã tranh thủ cải tạo các hang đá làm hầm nghỉ ngơi, làm kho tàng. Trong quá trình diễn tập thực binh, bộ binh đã kết hợp xây dựng một số hầm, hào tránh máy bay, tránh pháo địch trên đường cơ động, một số công sự chốt và trận địa triển khai ở những khu vực dự kiến sẽ diễn ra các trận đánh then chốt của chiến dịch. Không những vậy các công trình chốt và cụm chốt được xây dựng đúng với quyet tâm phòng ngự: Phòng ngự có chiều sâu, cỏ khu vực phòng ngự chủ yếu và các khu vực phòng ngự khác, phòng ngự vững chac linh hoạt, tích cực bảo đảm thế tiến công, phản kích và đột kích, bảo đảm phát huy được sức mạnh của lực lượng phòng ngự tại chỗ với lực lượng phòng ngự cơ động chiến dịch.


Bảo đảm ngụy trang công trình vờ nghi trang chiến dịch

Trong bất cứ một chiến dịch nào, dù tiến công hay phòng ngự, việc bảo đảm ngụy trang công trình và nghi trang chiến dịch có một ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần tạo ra thế bất ngờ cho địch. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, để bảo đảm bí mật, bất ngờ trong chiến đấu, công tác ngụy trang công trình và nghi trang chiến dịch được bộ đội ta và bạn tích cực thực hiện, góp phần ngụy trang cho mình và các phương tiện chiến đấu, tránh sự tập trung đánh phá của địch. Mặc dù lúc này, công tác bảo đảm ngụy trang công trình và nghi trang chiến dịch còn đơn giản và chưa phát triển thành những hoạt động có tính chiến dịch, nhưng ta đã biết lợi dụng vào điều kiện tự nhiên như địa hình núi cao, rừng rậm, cây xanh, các hang hốc đá để che giấu lực lượng và công trình; nhiều đoạn đường đã được ngụy trang kín đáo bằng cây xanh, giữ được bí mật trong thời gian nhất định. Đồng thời, để bảo đảm sức chịu đựng cao hơn cho các công trình, trận địa phòng ngự, ta cũng thực hiện được một khối lượng không nhỏ các công trình dự bị, trận địa giả, góp phần đánh lạc hướng của địch.


Ngoài ra, ta đã kịp thời cải tạo tận dụng các hang đá làm công trình phòng tránh, tận dụng công sự sẵn có trước đây (do địch và ta làm), có biện pháp phá hoại các công trình vững chắc, nếu bị địch chiếm.


Với sự nỗ lực của các đơn vị tham gia chiến dịch, cùng với sự giúp đỡ của bạn, đến cuổi tháng 5 năm 1972, mọi công tác tổ chức chuẩn bị, bố trí đội hình, xây dựng công sự, trận địa phòng ngự và công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho chiến dịch của bộ đội đã căn bản hoàn thành, lúc này mùa mưa cũng vừa tới. Đây là thời điểm địch mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh Đồng Chum.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM