Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:54:26 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ngọn cờ cách mạng công khai cắm tại Sài Gòn 1955-1958  (Đọc 10928 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2023, 02:37:51 pm »


3. Quê hương tôi, một mối tình

Được trở về quê hương khiến tôi vô cùng hạnh phúc. Có điều là vì sự an toàn của đồng bào mà chúng tôi không được tiếp xúc, trò chuyện và giao tiếp. Mối liên hệ tình cảm chỉ có thể biểu hiện qua ánh mắt, sắc mặt, nụ cười hay vài cử chỉ đơn giản, được biểu lộ trong phạm vi hạn hẹp. Có lẽ do sống xa đồng bào và ăn ở trong vòng rào nên chúng tôi có cảm giác bị ức chế vì phải đè nén tình cảm của mình đến mức xót xa cao độ.

Chúng tôi đã tìm đủ mọi cách để kín đáo biểu thị tấm lòng của mình đối với đồng bào. Và ngược lại, đồng bào cũng tìm đủ mọi cách để bày tỏ tình yêu thương đối với anh bộ đội Cụ Hồ, với từng cá nhân và với cả Phái đoàn. Nói đúng hơn đó là tình yêu thương, là lòng tin đối với Đảng, với Chính phủ và Bác Hồ.

Chúng tôi làm quen dễ dàng và nhanh chóng các em nhỏ, có cả những em bé độ 6 - 7 tuổi. Có hôm, một em đánh xe ngựa đến thẳng trước cổng xin phép bọn cảnh binh cho vào sân để cắt cỏ cho ngựa ăn. Tên cảnh binh lưỡng lự, nhưng đây là chuyện bình thường tự nhiên. Cỏ cắt bỏ, cho ngựa ăn thì có gì lạ. Cảnh binh hỏi ý kiến anh Sơn Việt và cho phép vào. Về sau không phải một em mà ba bốn em. Tôi còn nhớ rõ, em Ba đánh xe ngựa, em Lai lưng gù, em Cảnh, em Kháng (nay là Phó giám đốc Bưu điện thành phố Hồ Chí Minh). Lúc đầu, các em cắt cỏ, sau đó rủ nhau đá banh với chúng tôi, rồi lượm mận, lượm thị... rồi vào nhà xem sách báo, rồi nói chuyện ngoài đường phố, chỗ nào có nổ lựu đạn, rải truyền đơn, có biểu tình... Tết, thì mang quà vào. Có em bé gái cho cả con chó kiểng rất đẹp. Được vài hôm thì các anh lãnh đạo không cho phép các em vào nữa vì sợ liên lụy đến đồng bào. Tuy ở ngoài rào, các em vẫn đùa giỡn với chúng tôi. Nhất là các tối thứ bảy, chủ nhật các em tập trung ở góc rào xem phim khá đông, lôi kéo cả người lớn và bọn mật thám. Có khi chiếu phim đến khuya mà bọn chúng không giải tán được.

Trong số các em nhỏ, có một em gái trạc 14 tuổi, thường bận quần đen, áo túi trắng, sáng nào cũng đi gánh nước, rồi về thay quần áo đi học bằng xe đạp. Đến trưa, đi mua nước đá, rồi xế chiều lại đi gánh nước, hai thùng nước nặng trĩu trên vai. Ngày nào cũng vậy, kể cả ngày chủ nhật. Nhưng mỗi lần đi qua hay đi ngược lại trước trụ sở, thì thế nào cũng dành cho chúng tôi ánh mắt tươi cười và gương mặt thật rực rỡ. Nụ cười, tình cảm và tấm lòng trong trắng này dành cho cả Phái đoàn, cho cách mạng, cho Bác Hồ, chứ không riêng cho ai. Còn khi nào đi ngang mà không thấy em cười, là “có động”, mật thám ở đâu đó hoặc có chuyện gì ngoài phố. Hết ngày này đến tháng nọ, chúng tôi quen chờ em đi qua và nhận một nụ cười. Tôi và các anh bàn nhau. Đây là con nhà lao động, biết thương cha mẹ, biết lo cho gia đình nhất định có cảm tình với cách mạng. Để tìm hiểu rõ hơn, tôi đoán giờ em đi qua, đứng gần tường rào, vào chỗ thật trống trải, mặt thì ngó về hướng trụ sở. Đến khi thấy em đi qua, hỏi nhỏ, bâng quơ: “Tên gì, nhà ở đâu, cha mẹ anh chị em ra sao...” Mỗi ngày một câu, dần dần ghép lại thì đại khái hình dung được. “Em tên Bảy, là con út, mẹ bán bánh cho học trò, cha đau yếu. Có anh thứ năm đi tập kết, vợ anh năm làm dâu ở nhà. Một anh thứ sáu, thường đi chiếc xe Vespa chở chị dâu đi làm hàng ngày. Em Bảy còn cho các anh trong Phái đoàn hình ảnh của gia đình.

Chúng tôi cho đây là một gia đình tốt. Có dịp ra Hà Nội công tác tôi tìm cách hỏi thăm tin tức anh thứ năm của em. Nhờ có người giúp đỡ, tôi tìm được anh Nguyễn Hữu Anh, đảng viên, tù binh vừa được trao trả, công tác tại Bộ Công nghiệp làm Đội trưởng đội xe Sở Địa chất. Tôi đến gặp, đưa ảnh và cho biết tin tức gia đình. Khi trở lại Sài Gòn, tôi báo cáo với các anh và được phép chuyển thư. Thư gửi vào gói với cục đá, ném qua rào, là việc làm không khó. Còn thư gửi ra cho em Bảy, phải khéo ngụy trang bằng lá cây hay bao thuốc lá, rồi đợi đúng lúc, đúng thời cơ vứt ra đường. Mọi việc trót lọt, bọn chúng không phát hiện được.

Nhưng... có điều lạ. Một hôm khi đứng gác trước cửa nhà, tôi nghe tiếng “chéo” của viên đạn bay gần, tiếp theo là tiếng nổ của súng ngắn. Tôi nhìn ra đường, thấy bóng một người mặc complet đi xe vespa ngang qua. Có phải anh Sáu không? Viên đạn bay cao trên mui xe hơi đang đậu trước nhà. Một lần khác, khi tôi đang đứng ở trước sân cỏ, thấy một người đi Vespa hình dạng giống anh Sáu, ngang qua trụ sở. Tôi nhìn, mỉm cười xã giao. Không ngờ rằng anh này ngó vào tôi và chửi: “Đồ Ba Tàu (Ba Tàu là tiếng chửi người Hoa). Tôi ngạc nhiên và trao đổi với anh Nghĩa, cũng là lính trực. Anh Nghĩa nói là có xảy ra chuyện ấy với anh. Có một hôm, tôi đang trèo lên tường trước cổng trụ sở để sửa đèn bảo vệ, có tên cảnh binh đứng gác dưới chân thang. Tôi thấy em Bảy đi xe đạp từ ngoài đường vào hẻm. Tôi nhìn có lẽ với vẻ mặt thân thiện. Tên cảnh binh quay ngoặt lại và ngó thẳng vào em Bảy. Còn em Bảy thì không tỏ ra cử chỉ gì. Tôi nghĩ, lộ rồi thế nào bọn chúng cũng làm khó cho gia đình. Đến chiều, không thấy em Bảy đi ngang qua như thường lệ, cả ngày hôm sau cũng vậy. Tôi ân hận quá. Nhưng đến ngày thứ ba, thì mọi việc trở lại bình thường.

Như vậy là thế nào? Chuyện này cần phải suy nghĩ. Ta hay địch, cần cảnh giác.

Thế nhưng trong cơ quan, nhiều người cũng biết có chuyện một em bé gái tên là Bảy hay đi ngang qua và cười với các anh, chuyện chuyển thư... Có người gọi đùa, là cô dâu của Phái đoàn. Tôi chỉ cười. Tuy nhiên, việc chuyển thư cho gia đình vẫn cứ tiếp tục. Lúc đầu tôi báo cáo đầy đủ, về sau thì thất thường nhưng vẫn không gián đoạn việc chuyển thư cho gia đình em Bảy.

Cho đến khi trở ra Hà Nội công tác, tôi nhờ được các bạn Việt kiều giúp đỡ chuyển thư từ Hà Nội - Phnômpênh - Sài Gòn hay Hà Nội - Paris - Sài Gòn. Tôi vẫn muốn biết tin tức và sự an toàn của gia đình. Lý do chuyển thư là giúp anh Năm, nhưng cũng có kèm đôi chữ hỏi thăm, về sau, thư viết riêng mà gửi chung, cho đến khi chỉ còn có thư của tôi. Mỗi tuần có đến hai bức thư. Tôi có thể chấm dứt mọi việc, anh Năm có thể tự liên lạc với gia đình, nhưng có điều gì đó ràng buộc mà tôi không gỡ ra được, một nhu cầu mà tôi không thể thiếu. Bức thư của em Bảy với những lời hỏi thăm đơn giản nhưng đối với tôi quý báu vô cùng. Tình thương quê hương và đồng bào dần dần đã chuyển thành tình yêu, ngọt ngào, say đắm với hương vị quê nhà trong mỗi nét chữ của em Bảy mà tôi cảm nhận được, từng bước đã làm tôi mơ mộng. Hình ảnh của em Bảy là niềm vui, niềm động viên và hy vọng mà còn làm tấm lá chắn, giữ cho tôi không vấp ngã. Khi tôi học ở Liên Xô, tấm ảnh của em Bảy treo trên đầu giường là vật trang trí, mà còn để ngăn chặn từ xa, cho các cô đầm Nga biết rằng: Xin đừng đến với tôi vì trái tim tôi đã có chủ rồi. Tốt nghiệp xong trở về nước, cha mẹ tôi và bạn bè mối mai nhiều đám nhưng tôi không thể đồng ý. Mọi lời khuyên bảo thực dụng không thể nào làm tôi nản lòng với “Cô dâu của Phái đoàn, tuy không hẹn ước, nhưng là tình duyên”.

Năm 1964, khi cuộc chiến tranh trở nên tàn khốc, miền Nam đang rực lửa căm thù, tôi tin rằng em Bảy đang cùng với đồng bào đứng lên chống giặc. Cô bé học sinh trước đây thường hay cười với anh bộ đội Cụ Hồ không thể nào đứng ngoài cuộc chiến này được. Tôi ao ước được trở về quê hương cùng em tham gia chiến đấu. Tôi làm đơn tình nguyện. Đơn không được chấp nhận, vì: Tôi là thầy giáo đại học, lại là người miền Nam phải được tiếp tục đi học cho xây dựng sau hòa bình. Tôi không chịu thua, tiếp tục xin đi chiến đấu. Một lần không được, hai lần, ba lần. Cuối cùng, nhờ anh Nguyễn Văn Vịnh, người chính ủy cũ, đã nói giúp để tổ chức cho phép tôi đi chiến trường, trở về “Ông Cụ”. Tôi được vào Trường 105 ở Sơn Tây để học tập, thử thách và chuẩn bị vượt Trường Sơn, theo đường mòn Hồ Chí Minh.

Sau hơn một tháng rèn luyện tôi lên đường, ba lô trên vai vượt các đỉnh núi cao ngất trời, ngày đi đêm nghỉ, đói không đủ ăn, khát không nước uống, sốt rét với lách số 3, lê lết trong 6 tháng ròng có lúc tưởng phải bỏ cuộc. Tôi đi ra trận tuyến mà chân không lùi, lòng không sờn, vẫn luôn luôn tin rằng sẽ tìm thấy em Bảy trong khói lửa chiến tranh. Trước mặt tôi là quê hương, là cuộc sống, là hương vị mà tôi hằng mong ước. Mặc cho sốt rét, bom đạn, thú rừng và chết chóc, hình ảnh của Sài Gòn với cô học sinh đi ngang qua trụ sở Phái đoàn, cười tươi để chào anh lính Cụ Hồ, thôi thúc tôi đi đến nơi mà tôi mong muốn:

- “Sài Gòn 1968 - chiến dịch Quang Trung với Tết Mậu Thân”, tôi đã trở lại nơi ở cũ, trong một thành phố rực lửa căm hờn. Cũng vẫn xóm nghèo xưa với những người dân lao động mà trước đây đã chào đón chúng tôi bằng những nụ cười hiền hòa, thì nay đang giúp đỡ bộ đội đánh vào tận sào huyệt quân thù.

Nhưng rồi tôi lại phải ra khỏi thành phố một lần nữa, với nhiều hy sinh mất mát, với bao nỗi buồn phiền, đau xót. Cho đến khi trở lại rừng miền Đông, tôi nhờ được người tìm đến gia đình em Bảy.

Rồi buổi gặp mặt đầu tiên trên đất biên giới, thì trước mặt tôi không phải là em bé học sinh luôn luôn cười tươi mà là một cô gái xinh đẹp của Sài Gòn hoa lệ, tóc dài thướt tha, mắt đen trong sáng, má hồng môi son. Và còn hơn thế nữa... lại là một chiến sĩ trên trận tuyến chống Mỹ của phong trào Sài Gòn, là đồng chí, là bạn chiến đấu cùng chiến hào với tôi, đã từng vào tù ra khám Mỹ ngụy.

- “Chào em Bảy, con dâu của Phái đoàn”.

Những dòng lệ bấy lâu nay được nén chặt trong lòng, đang tuôn trào vì hạnh phúc. Một mùa xuân vĩnh viễn đã đến.

Chúng tôi báo cáo với tổ chức và được phép làm lễ cưới vào đầu năm 1969, trong rừng già Tây Ninh, lúc mai vàng nở rộ.

Một hôm, trong rừng sâu, tôi tình cờ gặp anh Kính từ biên giới vượt sang khu căn cứ. Anh Kính là người đầu tiên của Phái đoàn mà bao năm nay tôi mới gặp lại. Mừng quá, có biết bao nhiêu chuyện xảy ra từ buổi chia tay ở Sài Gòn, buồn vui lẫn lộn.

Nhưng khi cả tôi và anh Kính chưa kịp nói với nhau những lời thăm hỏi thì câu đầu tiên mà tôi thốt ra là:

- “Em Bảy đã xuống đây rồi!”.

Câu nói đó đã từ trong đáy lòng tuôn ra, chứa đựng tất cả mọi ý nghĩa.

Cho đến ngày 30-4-1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi mới thật sự trở lại Sài Gòn.

Tôi đã tìm đến khu nhà cũ, còn in đậm dấu vết xưa Phái đoàn Sài Gòn có anh bộ đội đang đứng gác trước cổng, để sống những ngày cuối cùng. Vì đó là quê hương của tôi. Giờ đây chúng tôi sống hạnh phúc thanh thản cùng với ba đứa con trai, như đã từng mong ước khi xa cách, với niềm tin sẽ có ngày gặp lại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #21 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 08:59:39 am »


CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI SĨ QUAN HẬU CẦN

NGUYỄN VĂN THƠM


1. Đi tiền trạm

Tôi được phân công làm sĩ quan liên lạc đi trước vào Sài Gòn làm việc với Phái đoàn Pháp bên cạnh Ủy ban Quốc tế, để chuẩn bị chỗ làm việc và ăn ở của Phái đoàn ta. Tôi lấy bí danh là Đại úy Sơn Việt. Cùng đi với tôi có anh Kha (Tự), làm phiên dịch.

Chúng tôi lên đường vào đầu tháng 3 năm 1955.

Lúc đến sân bay Tân Sơn Nhất, vừa bước ra khỏi cửa máy bay nhìn xuống đã thấy có 8 cảnh binh Pháp đứng chờ sẵn ở hai bên cầu thang máy bay. Chúng tôi thong thả bước xuống. Khi vừa chạm đất, có một sĩ quan Pháp đến trước mặt tôi chào và tự giới thiệu là Đại úy Moulonguet, sĩ quan liên lạc có nhiệm vụ đón và đưa chúng tôi về chỗ nghĩ ngơi để sáng mai sẽ làm việc. Tôi đáp lễ và cũng tự giới thiệu. Tôi và Moulonguer bắt tay nhau, nói vài câu xã giao, thăm hỏi sức khỏe, nói về thời tiết nóng bức ở Sài Gòn... Có 2 tốp người đứng gần đó, trong đó có một nhóm đeo kính râm là mật thám. Chúng soi mói nhìn chúng tôi. Ngoài ra, còn khoảng 20 người, dường như là công nhân sân bay. Họ đi đứng không yên, miệng xì xào, không biết họ nói với nhau những gì. Họ nhìn chúng tôi có vẻ ngạc nhiên nhưng đầy thiện cảm. Dường như họ muốn lại gần chúng tôi, nhưng ngần ngại... Chúng tôi chậm rãi bước lên chiếc xe du lịch đang chờ sẵn. Tôi hỏi:

- “À, còn hành lý của chúng tôi ?”

- “Xin các Ông cho thẻ hành lý, chúng tôi sẽ lãnh và mang về chỗ nghỉ của các Ông”.

Chúng tôi rời khỏi sân bay, có một xe jeep dẫn đầu và một xe khác khóa đuôi để bảo vệ. Xe chạy rất nhanh vì chúng sợ nhân dân thành phố này biết sự có mặt của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đoàn xe dừng trước khách sạn Galliéni, tại ngã tư đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo và Huỳnh Quang Tiên). Đây là một căn nhà dài 20 mét, một lầu chia thành 6 căn phòng ở mặt tiền và 4 căn phòng ở phía trong. Dưới đất là nhà ăn, phía sau là nhà bếp. Trước đây khách sạn này là nhà tắm công cộng mỗi lần tắm phải trả 2 xu.

Xuống xe tôi hỏi đùa:

- “Này Đại úy, anh cho chúng tôi ở nơi đây là để tắm mát chớ gì?”.

- “Không phải vậy đâu, chúng tôi bố trí để các Ông tạm, nghỉ. Ở đây có bộ phận Phái đoàn Ba Lan bên cạnh các Ông”.

Thật vậy, có bốn đồng chí cán bộ trong Phái đoàn Ba Lan, hai đồng chí ở một phòng. Chúng tôi và các đồng chí Ba Lan thường gặp nhau lúc ở trong phòng, khi ở ngoài bàn ăn. Các đồng chí cho biết mọi việc đều ổn cả. Nhưng vị trí của chúng tôi khác hơn nên phái cảnh giác. Qua theo dõi, chúng tôi biết bọn mật thám có mặt thường xuyên và theo sát chúng tôi.

Ngày hôm sau, lúc 8 giờ, Đại úy Moulonguet đến gặp chúng tôi để bàn về chương trình làm việc. Chúng tôi đặt ngay vấn đề phải tìm gấp nơi đặt trụ sở cho Phái đoàn ta có thể sớm vào làm việc. Ông ta ra vẻ suy nghĩ và trả lời.

- “Vâng, tôi sẽ cố gắng”.

- “Về công việc thì chúng tôi cần đến Ủy ban Quốc tế, gặp ông Chủ tịch, các Trưởng đoàn Ba Lan và Canada. Giờ giấc sẽ báo sau”.

- “Vâng, các ông đi ngay bây giờ cũng được, chúng tôi sẵn sàng đưa đón”.

- “Vậy thì đúng 10 giờ, xin cho xe đến đón”.

Chúng tôi hội ý thống nhất, ngày đầu chỉ đến thăm xã giao Ủy ban Quốc tế. Khi nào gặp khó khăn mới nhờ họ giúp đỡ. Chúng tôi điện thoại xin gặp đồng chí Trưởng đoàn Ba Lan. Việc này được thực hiện hoàn hảo, an toàn. Những ngày sau đó, chúng tôi đã gặp đủ, từ ông Chủ tịch đến các ông Trưởng đoàn khác trong Ủy ban Quốc tế. Tất cả đều hài lòng về sự có mặt của Phái đoàn ta ở Sài Gòn, động viên chúng tôi khắc phục khó khăn và hứa sẽ lưu ý giúp đỡ. Riêng Trưởng đoàn Ba Lan còn dặn dò chúng tôi cảnh giác với bọn phản động. Đồng chí nói:

- “Chúng không để các đồng chí yên đâu. Tôi sẽ nói với các đồng chí Ba Lan ở khách sạn giúp đỡ các đồng chí khi cần”.

Cảnh binh Pháp chỉ làm nhiệm vụ đưa đón chúng tôi. Chúng thờ ơ với trách nhiệm bảo vệ an toàn. Có lần đến ngã tư gặp đèn đỏ, xe phải ngừng. Vài tên côn đồ đang đứng gần đó, thấy chúng tôi, chúng chửi bới thô tục, thậm chí còn ném đá vào xe. Đôi khi không có đá, chúng ném bất cứ vật gì có được vào chúng tôi. Nhặt được mảnh giấy, chúng dùng 2 tay vò lia lịa rồi ném vội. Bọn cảnh binh pháp vẫn lặng lẽ ngồi trên xe, không làm bất cứ điều gì để ngăn chặn. Chúng chỉ chờ đèn xanh bật lên để xe chạy. Trước tình hình như vậy, chúng tôi phải luôn cảnh giác đề phòng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #22 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:00:25 am »


Ở đây được 12 ngày. Một đêm khoảng 22 giờ, chúng tôi đang ở trong phòng và đã đóng cửa. Bỗng nghe tiếng chửi bới. Tôi mở hé cửa sổ quan sát, thấy một tốp khoảng 20 tên vác thang ập vào tường rồi trèo lên lầu, ngay nơi ở của các đồng chí Ba Lan, vì phòng này còn đèn để sáng, cách chúng tôi 2 phòng. Bọn phản động vào được phòng các đồng chí Ba Lan, chúng vừa ẩu đả vừa kêu la ầm ĩ.

Có 4 phòng liền nhau và tắt đèn nên chúng tưởng không có người ở. Độ 20 phút sau thì chúng rút lui, có một đồng chí Ba Lan bị thương nhẹ ở tay.

Sáng hôm sau Đại úy Moulonguet đến đón chúng tòi sớm hơn mọi khi. Y bước nhanh lên cầu thang có vẻ lo lắng. Y hỏi thăm vụ phá rối đêm qua của bọn lưu manh.

Tôi hỏi:

- “Anh đưa chúng tôi đến đây và tổ chức đánh phá chúng tôi, có phải thế không? Anh không bảo vệ được an toàn cho chúng tôi, không bố trí cảnh binh canh gác. Và như vậy anh đã vi phạm cam kết của Phái đoàn Pháp với Phái đoàn Việt Nam. Anh phải tìm ngay chỗ khác thật an toàn và có bảo vệ thường trực 24/24 cho chúng tôi”.

- “Xin các ông thông cảm, chúng tôi không bao giờ làm việc bậy ấy đâu”.

- “Vậy chớ ai tổ chức ?”.

Im lặng một lúc, rồi y nói tránh sang chuyện khác:

- “Xin các ông cho biết chương trình đi công tác ngày hôm nay?”

- “Tôi muốn anh bố trí chỗ ở khác cho chúng tôi, bảo đảm thật an toàn. Vì vậy hôm nay dành thời gian cho anh chuẩn bị làm việc đó. Anh còn nhiệm vụ tìm nơi đặt trụ sở của Phái đoàn Việt Nam. Ngày vào sắp đến, nếu anh trì hoãn thì Phái đoàn Pháp phải chịu trách nhiệm. Từ ngày hôm nay, tôi thấy cần có cảnh binh trực tại khách sạn”.

Qua ngày thứ 15, Đại úy Moulonguet đến gặp chúng tôi vào 22 giờ đêm để xin chúng tôi dời chỗ ở. Y thông báo cho chúng tôi là chuẩn bị đi ngay. Tôi hỏi:

- “Đi đâu ?”
 
- “Đến trung tâm thành phố. Tại chỗ này chúng tôi có thể bảo vệ được các Ông. Bọn côn đồ không leo trèo, không ném đá vào được”.

Vẫn 2 xe jeep cảnh binh chờ dưới đường. Chúng đưa chúng tôi đến khách sạn Continental rồi vội vã đưa chúng tôi lên phòng. Chúng tôi quan sát kỹ không thấy có gì lạ, tìm chỗ không thể đặt máy nghe trộm để hội ý. Chúng tôi nhận định chúng sợ đồng bào Sài Gòn biết sự có mặt của Quân đội Nhân dân Việt Nam hơn là sợ sự gây rốì của bọn phản động. Cách bố trí kiểm soát người ra vào của khách sạn đã giúp cảnh binh nhẹ phần canh gác. Chúng chỉ còn nhiệm vụ bảo vệ chúng tôi lúc đi công tác. Chúng bố trí thêm một xe jeep và có 4 cảnh binh thường trực ở cửa khách sạn. Khi chúng tôi đi công tác, như thường lệ có 2 xe jeep đến. Còn chiếc xe thường trực nổ máy chạy lạng lách vòng vèo để phá vòng vây của bọn côn đồ mở đường cho đoàn xe thoát đi. Lúc trở về chúng cũng làm như vậy. Bọn côn đồ ở các nơi tập trung đến đây ngày càng đông. Người đi đường thấy lạ mắt cũng dừng chân đứng xem. Thậm chí các loại xe hơi, xe đạp... cũng ngừng lại xem cho đến khi đoàn xe thoát đi. Còn khi chúng tôi trở về, vào khuất bên trong khách sạn thì người xem mới lần lượt giải tán. Mỗi khi ra đi hay trở về khách sạn, chúng tôi đều bị bọn phản động tay thì ném gạch đá còn miệng thì gầm thét chửi bới không ngớt. Mười ngày ở đây, bọn cảnh binh thấy bảo vệ chúng tôi khó khăn nên xin cho dời chỗ khác một lần nữa.

Hôm sau lúc 4 giờ sáng, Đại úy Moulonguet đột ngột đến phòng chúng tôi và nói:

- “Tôi xin lỗi và mong các Ông thông cảm cho phép dời các Ông đến chỗ khác”.

- “Nhưng không được xa thành phố và phải có người bảo vệ chúng tôi”.

Lúc này bọn phản động còn đang ngủ, đường phố vắng người, chúng tôi ra đi rất yên tĩnh. Chúng tôi đến một villa không lớn lắm, nằm trong hẻm rộng ở quận ba mà xe tải vào được. Cách khoảng 30m, tôi nhìn thấy có cơ quan quân sự treo cờ Mỹ có chòi canh trước cửa nên cương quyết không chấp nhận. Sau khi nài nỉ không kết quả, chúng đưa chúng tôi trở lại khách sạn Continental.

Qua ngày hôm sau, chúng đưa chúng tôi xem villa nằm trên đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu). Villa này của Bardouillet, chủ hãng rượu Bình Tây đang nghỉ ở Pháp, còn để lại bồi bếp có cả lái xe để trông nom nhà cửa, chăm sóc vườn tược. Chúng tôi không đồng ý vì có người ngoài ở chung. Vùng này không có đồng bào lao động mà chỉ toàn là villa nhà giàu và người nước ngoài.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #23 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:01:18 am »


Ba hôm sau, Đại úy Moulonguet vui mừng ra mặt báo cho chúng tôi biết, đã tìm được nhà cho Phái đoàn Việt Nam. Y mời chúng tôi đi xem ngay. Đây là một villa nằm ở đoạn giữa đường Chi Lăng (nay là Phan Đăng Lưu). Để vào nhà phải rẽ vào con đường đất nhỏ (nay là đường Trần Kế Xương), rồi đi chừng 10 mét. Villa tuy không mới nhưng đạt yêu cầu. Điện tích nhà khoảng 200 mét vuông, có tường rào bằng gạch bên hông nhà, còn phía trước là hàng rào song sắt, phía sau là hàng rào lưới B40. Trước nhà có vườn hoa, sau nhà có sân rộng, có dãy nhà phụ dành cho những người phục vụ, bên cạnh có gara để ôtô. Mặc dầu đây không phải là trung tâm, nhưng cũng nằm sát nách thành phố nhưng nhà bỏ trống, không có tiện nghi. Tôi nói ngay với Đại úy Moulonguet:

- “Tôi chấp nhận nhà này, nhưng còn tiện nghi bên trong thì sao? Theo thỏa thuận ở Hà Nội, phía Pháp lo về vật chất như ăn ở đi lại của Phái đoàn Việt Nam. Vậy thì anh lo luôn”. Tôi nói bừa chứ không biết có đúng như vậy không. Đại úy Moulonguet đáp:

- “Tôi chỉ có nhiệm vụ tìm nhà cho Phái đoàn Việt Nam, bảo vệ đưa đón các ông đi làm việc. Còn phần vật chất, tôi chưa nhận được chỉ thị của cấp trên. Hơn nữa, như các Ông biết, quân đội chúng tôi không có các thứ ấy. Nếu các Ông có yêu cầu, tôi có thể giải quyết cho các Ông giường sắt, nệm và mùng”.

Tôi thoáng nghĩ, đây là cơ hội để phá âm mưu cầm chân không cho chúng tôi ra phố nên đáp:

- “Chúng tôi nhận những thứ đó, còn các nhu cầu cần thiết khác, chúng tôi sẽ tự đi mua. Bây giờ anh cho người đến làm vệ sinh chung quanh nhà, quét vôi bên trong và bên ngoài, cho điện nước và mắc điện thoại”.

Qua nhiều lần giới thiệu nhà làm trụ sở cho Phái đoàn ta mà không đạt yêu cầu làm tôi suy nghĩ: “Phải chăng đây là một âm mưu phá hoại, hay muốn phủi tay để giao trách nhiệm cho chính quyền miền Nam. Nếu thật sự như vậy, chúng tôi cần tiếp tục đấu tranh, tìm biện pháp để Phái đoàn ta vào được trước khi xảy ra những diễn biến xấu”. Không ngờ sự việc thuận lợi, đến sớm hơn dự tính.

Qua ngày hôm sau, mọi việc đều được thực hiện. Chúng chở đến 20 giường sắt, nệm, mùng... Trong thời gian này chúng tôi đi mua sắm bàn ghế và các tiện nghi khác. Vì phía Pháp không thỏa mãn được các yêu cầu mà ta đặt ra, nên khi chúng tôi ra phố mua bán chúng không dám gây khó khăn. Còn chúng tôi cố tránh không làm gì quá mức để chúng nghi ngờ, hết sức thận trọng cố gắng làm sao không trở ngại cho sự chuẩn bị cơ sở vật chất đủ điều kiện đón tiếp Phái đoàn ta sớm vào Sài Gòn.

Chúng tôi đến đường Chasseloup Laubat (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi tập trung bán đồ gỗ, vào xem các cửa hàng. Chỉ có 2 cửa hàng là Công Thành và Vũ Bản có hàng tốt (hiện nay các cửa hàng này vẫn còn). Việc mua bán giao tận nhà là bình thường. Nhưng làm sao cho êm, không để chính quyền Sài Gòn có cớ gây khó dễ và cũng không để đồng bào tập trung quá đông. Bộ quân phục của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã khơi dậy biết bao nhiêu tình cảm. Có người muốn chạy đến ôm choàng chúng tôi, có người đứng nhìn không chớp mắt. Chúng tôi vào thẳng trong tiệm và tự giới thiệu:

- “Chúng tôi là Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Hà Nội vào”.

Rồi tôi chỉ các thứ hàng đã chọn, ghi địa chỉ giao hàng. Sau đó trả tiền mà không mặc cả, lấy hóa đơn, rồi ra về bình thường như mọi người khác. Chúng tôi cố gắng giảm số lần đi ra phố, tránh lặp lại ngày giờ, đi không theo quy luật.

Sau 3 ngày, hai anh Vũ Bản và Công Thành cho chở bàn ghế và các thứ khác đến trự sở Phái đoàn ta. Cùng đi có 4 công nhân bốc xếp. Khi họ đến cổng, thấy bọn cảnh binh Pháp đứng gác và bên cạnh có bọn công an chìm đang rình mò, nên họ lo lắng, đi đứng, ăn nói mất tự nhiên. Cho đến khi vào nhà độ 10 phút sau, họ mới định thần, ăn nói vui vẻ. Anh Vũ Bản kê sát tai tôi nói nhỏ:

- “Chúng tôi làm theo lệnh của Công đoàn. Ngoài số bàn ghế này nếu còn thiếu cần bổ sung thứ gì cứ cho chúng tôi biết, sẽ làm thêm”.

Tôi không biết lệnh của Công đoàn là thế nào, nhưng có thể cơ sở ở đây đã biết có Phái đoàn ta sẽ vào Sài Gòn.

Lúc này anh em công nhân khuân vác bàn ghế và sửa chữa nhà ra vào trụ sở khá đông, bọn cảnh binh Pháp không ngăn chặn hỏi han gì. Chỉ có công an ngụy thường xuyên chặn người lại xét giấy tờ, tìm hiểu lai lịch rồi mới cho đi mà không bắt bớ.

Hôm sau anh Vũ Bản đến một mình, mang theo một số dụng cụ cho văn phòng, như hộc có ngăn để thẻ ghi tài liệu, hộp gỗ hình chữ nhật để hồ sơ, v.v.. Sau vài câu thăm hỏi xã giao, anh nói:

- “Tôi xin tặng các ông chiếc ôtô của tôi, để các ông có phương tiện đi làm việc”.

Rồi anh ra về mặc dầu chúng tôi đã hết lời từ chối. Mấy hôm sau chúng tôi khéo léo tìm cách nhắc nhở anh nên cảnh giác và cảm ơn.

Trong thời gian này, bọn Pháp đang bàn giao miền Nam cho Mỹ - Diệm. Chúng chỉ chờ ngày rút về nước. Còn bọn ngụy thì chống lại sự có mặt của Phái đoàn ta ở Sài Gòn. Tôi nghĩ, khi phía Pháp bàn giao việc bảo vệ Phái đoàn ta cho chính quyền Sài Gòn, hẳn là chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn.

Ngày 20-4-1955, chúng tôi hoàn thành việc sửa sang nhà cửa, mua sắm bàn ghế dọn dẹp các phòng cho khang trang đẹp đẽ và gọn gàng. Tôi ngắm nhìn ngôi nhà, bên ngoài cũng như bên trong, thấy dáng vẻ lịch sự vừa ý, đủ điều kiện cho 20 người ăn ở và làm việc, sẵn sàng để đón Phái đoàn ta.

Chúng tôi nhận được tin, ngày 17-5-1955, Phái đoàn ta sẽ vào Sài Gòn. Phía Pháp cũng biết. Họ báo tin mừng cho chúng tôi, chuẩn bị xe để ra sân bay Tân Sơn Nhất đón. Lần này chúng tăng cường lực lượng bảo vệ nhiều hơn lần đón chúng tôi. Có tất cả 6 ôtô, 3 xe jeep cảnh binh, 2 xe GMC có băng ngồi để chở cán bộ và 1 xe du lịch cho trưởng đoàn. Có 10 cảnh binh theo hộ tống không tính số lái xe. Chúng đứng theo hình vòng cung hướng về chỗ máy bay đang đậu để làm hàng rào bảo vệ. Khi xuống máy bay, Phái đoàn đi thẳng đến đoàn xe đang chờ. Phía sau vòng cung là bọn công an đủ loại, chìm nổi, nội ngoại tuyến đứng rải rác gần 20 tên. Các đồng chí chúng ta vừa xuống cầu thang thì bọn chúng ùa ra nhìn mặt từng người. Ngoài ra còn có các công nhân bốc xếp, số nhân viên đang làm việc đi ngang qua cũng ghé lại xem.

Phái đoàn ta về đến trụ sở an toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #24 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:02:35 am »


2. Ổn định nơi ăn ở

Phái đoàn ta, từ sân bay về ngay trụ sở (nay là số 87A đường Trần Kế Xương, P.7, Q. Phú Nhuận). Tuy nhà cửa sơ bộ có trang bị, nhưng cũng còn nhiều việc phải làm. Tôi được phân công lo công tác quản trị, lo cơm áo gạo tiền cho cơ quan ngoài nhiệm vụ sĩ quan liên lạc. Tôi suy nghĩ rất nhiều về nhiệm vụ khó khăn phức tạp này. Còn biết bao nhiêu công việc mà tôi chưa thể hình dung nổi. Tôi nghĩ phải bàn bạc tập thể và cùng nhau làm thì mới hoàn thành được.

Việc đầu tiên là thiết lập hệ thống đèn bảo vệ chung quanh vòng rào và 4 góc tường, mắc thêm đường dây điện cho máy điện dự phòng để luôn có ánh sáng khi bị cắt điện mạng, kịp thời đối phó khi có sự cố. Cần mua thêm 1 chiếc xe hơi ngoài chiếc Vedette mà ông Vũ Bản đã tặng cho cơ quan, để giải quyết việc đi lại, làm việc và đi chợ.

Lúc Phái đoàn ta mới vào, việc đi chợ tiếp phẩm cũng dễ dàng. Nhưng phải luôn có dự trữ lương thực và thực phẩm, luôn có dự phòng 3 bao gạo, thịt cá hộp đủ cho một tháng ăn. Anh em trồng được 5 liếp cải, xu hào, rau muống và làm chuồng nuôi gà. Trong nhà nuôi 5 con chó giữ nhà. Để dự trữ nước uống, tôi cho xây hồ chứa nước cỡ 2 mét khối, dưới hầm rượu. Để có gạch xây, chúng tôi đào số gạch cũ của nền nhà. Khi xây xong, tôi nối ống cao su đưa nước từ nhà bếp sang đổ đầy hồ. Để có thể leo lên trần nhà khi cần phải chiến đấu trong những tình huống khẩn cấp, tôi tự tạo thang dây, vì không thể mua thang tre sợ lộ bí mật. Sau đó giấu thang tự tạo trên trần nhà.   -

Tôi đóng các thùng gỗ chuẩn bị sẵn sàng khi phải di dời địa điểm. Nhưng để có đủ ván đóng thùng và giữ bí mật, tôi bàn với ông chủ cửa hàng Thái Thạch mỗi khi giao rượu, nước ngọt thì đóng thùng to thêm ván cho dư thừa. Cửa hàng Thái Thạch nằm trên đường Tự Do, thường xuyên cung cấp cho cơ quan các loại rượu, nước ngọt. Vì có cảm tình với ta, nên ông Thái Thạch đồng ý, thực hiện việc đóng thùng thừa ván được nhiều lần an toàn. Số ván có được, đủ để đóng thùng cho máy nổ, điện đài, tủ lạnh và các vật dụng khác. Sau đó, các thùng được đánh dấu và cất giữ phía sau nhà. Còn các thứ chưa dùng đến thì cho vào thùng, để sẵn dưới hầm rượu. Nhờ có chuấn bị như thế nên khi có lệnh rút ra Hà Nội mọi thứ đều được chuẩn bị nhanh chóng và gọn gàng.


3. Người làm vườn

Cơ quan cần có người làm cỏ trong sân và chăm sóc hoa kiểng. Tôi mời Đại úy Moulonguet đến nhờ tìm giúp một anh làm vườn. Qua ngày sau ông ta dẫn đến một người. Tôi nhận mà không hỏi giấy tờ gì cả vì biết trước chúng sẽ đưa người của bọn công an. Nhìn kỹ anh này, tôi thấy không phải người lao động chân tay. Anh ta mặc sơ mi trắng, quần tây dài màu nâu, chân đi giày, tóc chải bóng mượt, không đội nón. Tôi hỏi:

- “Anh có mang theo dụng cụ làm cỏ hay không ?”

- “Dạ,... không”.

- Tôi đã nói với họ tìm người làm cỏ, lẽ ra họ phải cho anh mượn dụng cụ chớ. Thôi, lỡ rồi, anh tạm lấy con dao phay của tôi mà làm tạm, vừa dẫy cỏ vừa nhổ. Đường đi rải sạn cũng dễ làm thôi. Ngày mai anh hỏi lại. Phải có dụng cụ mới làm được”.

Theo dõi suốt buổi sáng tôi thấy chốc chốc anh ta đứng dậy rồi ngồi xuống. Có lúc anh duỗi thẳng chân mặt rồi chân trái và liên tục lấy khăn lau mặt. Trời đang nắng nóng. Có lúc anh tự động vào bóng mát đứng nghỉ.

Buổi chiều anh đến đúng giờ. Tôi nói:

- “Bây giờ là một giờ rưỡi trưa, còn nắng nóng lắm. Anh vào trong sân có bóng mát, đào cho tôi bốn lỗ, mỗi lỗ bề mặt là một thước vuông, sâu 5 tấc, tại chỗ tôi có cắm cây làm dấu. Anh đem đất đổ dựa tường. Đào xong lỗ này tôi sẽ chỉ chỗ để tiếp tục đào”.

Độ một giờ sau tôi trở lại mang theo một cái thúng, để anh bỏ đất vào. Tôi hỏi:

- “Bỏ đất đầy đến miệng thúng, anh có mang đi được không?

- “Dạ được”

- “Đào đến đâu, hốt hết đất đến đó. Dọn cho sạch sân”.

Tôi xem anh làm, thấy anh lúng túng. Bưng thúng đất mà không biết làm sao để đem đi đổ. Khi bước đi, anh mất thăng bằng. Đi độ hai thước, anh đặt thúng xuống đất, nghỉ một chút, rồi bê đi tiếp một đoạn ngắn hơn lần trước, lại đặt thúng xuống đất, thở hổn hển. Sau đó đi tiếp và đổ đất vào đúng chỗ đã định. Khi anh trở lại chỗ đào đất, tôi dặn:

- “Sáng mai trời mát, anh tiếp tục làm cỏ, còn chiều thì đào đất. Nhưng anh nên bỏ giày, đi dép hoặc giày cao su”.

Sự thật, tôi muốn xem bàn chân của anh. Theo tôi, anh không phải là người lao động.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #25 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:03:07 am »


Hôm sau, tôi tranh thủ gần anh nhiều hơn. Khi tôi bắt tay anh, tôi có cảm giác tay mềm như bột, da mặt khá mịn. Tôi gợi ý về chuyện làm ăn nhưng anh chỉ nói đời sống khó khăn giá cả ở các chợ đều tăng cao, mà không nói một tí nào về nghề nghiệp. Sáng nay anh vẫn tiếp tục làm cỏ. Khi nắng nóng, tôi mang cho anh một chai nước ngọt và cốc có nước đá. Tôi gợi ý anh nói chuyện.

- “Tại sao trưa anh không về nhà ăn cơm rồi nghỉ?”.

- “Vì nhà xa, về rồi không kịp trở lại giờ làm. Tôi ăn quán đỡ, chiều về nhà ăn cơm tối”.

- “Trưa nay tôi cho phép anh nghỉ ở đây. Sau khi ăn cơm xong đúng 12 giờ anh trở lại”. Tôi đứng trong nhà đón anh và để anh nghỉ trên hành lang nối liền nhà trước với nhà sau. Tại đây có bàn dài, có thể nằm nghỉ được. Tôi nói:

- “Anh nằm nghỉ ở đây rất yên tĩnh thoải mái”.

Tôi thấy anh quan sát, cặp mắt đảo quanh lia lịa. Rồi anh thấy dây ăngten điện đài. Cho nên nằm không được bao lâu, anh ngồi dậy và đi ra sau nhà. Thấy vậy từ nhà trên tôi chạy xuống, vòng chặn đầu anh ta. Tôi hỏi:

- “Anh đi đâu?”.

- “Dạ, tôi đi kiếm toa lét”.

- “Anh đi tìm không đúng hướng. Anh trở lại, tôi chỉ chỗ cho anh”.

Khi trở vào nhà, thì đã 1 giờ 15 nên anh đi luôn ra sân cỏ. Tôi thấy anh vẫn mang giày. Khoảng 3 giờ tôi đem cho anh chai nước ngọt và cốc đá. Nhân tiện anh ngồi nghỉ, tôi đến cạnh anh và nói:

- “Chiều nay anh làm hết hai buổi. Công việc còn lại, ngày mai anh không thể kết thúc được. Vậy anh có cách nào làm nhanh hơn không ?”.

- “Tôi chỉ biết cố gắng và làm hết sức mình, không biết còn cách nào khác nữa”.

- “Do đế giày cứng nên anh bước không vững. Anh hãy cởi giày ra lấy đôi dép cao su của tôi để đi, xem có nhanh hơn không”.

Tôi vừa nói vừa kéo đôi giày anh đang mang cho tuột ra và tìm cách chạm vào chân anh. Rồi tôi giúp đỡ thúng đất lên và động viên anh:

- “Nếu anh thấy đi giày tiện thì hãy mang giày trở lại để đi đổ đất”.

Qua lần quan sát này, tôi thấy hai bàn chân của anh trắng phau, gót đỏ hồng. Đúng, anh không phải là người lao động.

Ngày hôm sau anh xin nghỉ vì vợ ốm. Tôi cho xe đưa đồng chí Mạnh là y sĩ cơ quan đến tận nhà để khám và trị bệnh cho vợ anh. Khi đồng chí Mạnh trở về, tôi hỏi thăm tình hình. Được biết vợ chồng anh rất cảm động và cảm ơn chúng ta. Nhưng theo mô tả thì nhà anh không phải thuộc loại nhà của dân lao động.

Qua nhiều ngày theo dõi tôi khắng định, anh là mật thám. Tôi hỏi thẳng và anh đã thú nhận. Vậy có nên trả lại ngay cho Moulonguet hay không? Tôi nghĩ nên giữ anh thêm vài ngày để vừa giáo dục vừa cảnh cáo. Tôi gọi anh đến và nói:

- “Hôm rồi anh có nhận là mật vụ. Anh hãy cho biết thêm trước khi vào đây anh làm việc ở đâu, người chỉ huy trực tiếp của anh là ai? Anh phải khai báo rõ ràng và chân chật, không được khai gian”.

- “Dạ, tôi xin khai thật không giấu giếm thêm bớt. Trước khi vào đây tôi làm ở phòng nhì Tổng nha cảnh sát, Người chỉ huy trực tiếp của tôi là Trung úy Đào”.

- “Trung ý Đào bảo anh vào cơ quan Phái đoàn để làm gì ?”

- “Vào đây các Ông phân công gì thì cứ làm không được từ chối. Thứ hai là phải nhìn chung quanh nhà thấy có gì lạ không? Hệ thống canh gác bố trí ra sao? Lực lượng cảnh sát có bao nhiêu người, đổi ca vào giờ nào? Tìm hiểu nhà ở, ai ở phòng nào nhất là vị trí của phòng điện đài, phòng của Ông chỉ huy Phái đoàn?”

- “Anh đã cung cấp cho Trung úy Đào những tin tức gì?”

- “Trung úy Đào yêu cầu nhiều việc quá. Muốn trả lời đầy đủ phải mất cả tháng. Mỗi buổi chiều tôi phải báo cáo và trong hai buổi chiều vừa rồi, tôi đã báo cáo như sau:

Nhà có bố trí lính canh gác đi chung quanh tường rào khu nhà. Đi tới rồi đi trở lại. Sáng thấy có một người, chiều có người khác thay thế ở phía trước và bên trong nhà. Trên nóc nhà thấy có cần ăngten, nhưng không biết điện đài đặt ở đâu. Vì chỉ có nhổ cỏ và đào đất nên không biết thêm được việc gì khác. Tôi chỉ có báo cáo như vậy, ngoài ra không nói gì hơn”.

- “Nếu anh được vào nhà, chắc anh sẽ báo cáo nhiều hơn cho Trung úy Đào chứ gì ?”

- “Dạ chắc thế, tôi không làm gì khác được. Ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Với tấm lòng thành thật tôi không dám nói dối hay giấu giếm các ông điều gì. Cũng vì miếng cơm manh áo để nuôi vợ con, nên tôi phải mắc nghiệp này. Xin các ông tha tội. Tôi và vợ con tôi cám ơn các ông suốt đời”.

Cuối cùng tôi bảo:

- “Sáng mai cho anh nghỉ việc”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #26 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:04:13 am »


4. Đổi tiền

Chính phủ giao nhiệm vụ đột xuất cho Phái đoàn ta, đổi bạc Đông Dương ra bạc Việt Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm phát hành. Tôi bay ra Hà Nội, đến ngân hàng Trung ương nhận 17 triệu đồng bạc Đông Dương. Ngân hàng đã đóng gói sẵn trong hai thùng gỗ. Tôi hỏi:

- “Sáng sớm mai, tôi phải trở vào Sài Gòn, làm sao tôi đếm kịp?”.

- “Đồng chí khỏi lo. Giấy bạc đã được bó sẵn từng bó 100.000 đồng. Nếu vào trong đó đếm lại thấy thiếu, thì xin chữ ký của thủ trưởng xác nhận là được”.

Sáng sớm hôm sau, có hai cán bộ ngân hàng mang hai thùng bạc đưa tôi ra sân bay.

Đổi bạc trong tình hình căng thắng giữa Phái đoàn ta với phía Sài Gòn chắc chắn là không dễ dàng. Nhưng yêu cầu phải được sớm thực hiện vì ngày ngưng đổi bạc đã đến gần rồi. Các anh lãnh đạo Phái đoàn rất băn khoăn lo lắng. Đặt vấn đề này với đối phương như thế nào đây, biện pháp tiến hành ra sao để trót lọt?

Chúng tôi suy nghĩ tìm biện pháp giải quyết mà chưa thấy lối ra. Một ngày rồi hai ba ngày trôi qua cũng chưa nhúc nhích. Phải đấu tranh ra sao, phải nhờ ai đây? Không thể dựa vào Ủy ban Quốc tế được vì việc này không liên quan gì đến Hiệp định Giơnevơ. Còn nếu đấu tranh thì chúng ta không có cơ sở pháp lý. Chúng tôi nghĩ, Pháp rút đi, đồng bạc mới của Việt Nam thay cho bạc Đông Dương là đúng lý không thể đấu tranh. Vấn đề là vì sao chúng ta phải đổi số bạc lớn như thế. Đề nghị anh Long là trung tá, thay mặt cho trưởng Phái đoàn ta đến gặp trực tiếp với trưởng Phái đoàn chính quyền Sài Gòn để thương lượng là thất sách.

Năm ngày đã trôi qua. Cái khó ló cái khôn, tôi nghĩ mình cứ đến trực tiếp ngân hàng hay kho bạc tranh thủ thì có thế được việc. Sau khi cân nhắc tôi quyết định đến ngân hàng trước tiên. Họp nhóm 3 người có đồng chí Ý là bảo vệ, đồng chí Nghĩa là lái xe, tôi phổ biến kế hoạch đi đổi tiền, nói rõ nhiệm vụ từng người, những khó khăn phức tạp có thể xảy ra và cách đối phó. Tôi phân công cụ thể, hướng dẫn từng động tác, cách đi đứng, cách xách valy tiền. Tôi yêu cầu phái bình tĩnh để xử lý trong mọi tình huống.

Sau khi báo cáo kế hoạch cho đồng chí Long và được chấp thuận cho thực hiện, tôi chuẩn bị giấy giới thiệu với nội dung như sau: “Đại úy Sơn Việt sĩ quan liên lạc của Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đến ngân hàng, đổi bạc Đông Dương ngân hàng lấy tiền Ngân hàng Quốc gia để trả lương cho lính”. Giấy giới thiệu được đóng dấu và chữ ký của đồng chí Long.

Hôm sau đúng 8 giờ, chúng tôi từ trụ sở Phái đoàn ta đi thẳng đến Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Ngồi trên xe tôi hỏi:

- “Anh em ta đã chuẩn bị tốt chưa, sẵn sàng chưa? Nhớ bình tĩnh, cảnh giác, thận trọng”.

Xe đậu trước Ngân hàng. Tôi và đồng chí Ý chậm rãi bước lên bậc thang. Khi đến cửa Ngân hàng, tôi ngoái lại nhìn phía sau thấy xe và đồng chí Nghĩa vẫn ở yên tại chỗ. Còn ba tên cảnh sát đi theo chúng tôi vẫn bám sát.

Vào Ngân hàng tôi đi thẳng đến phòng Giám đốc. Tôi gõ cửa và đẩy cửa bước vào.

- “Xin chào ông Giám đốc. Tôi có một việc sẽ làm ông mất chút thời giờ. Tôi xin lỗi trước. Tôi tin rằng ông sẽ vui lòng giúp đỡ”.

Tôi vui vẻ lên tiếng chào hỏi và trao cho ông giấy giới thiệu. Ông Giám đốc vừa chào đáp lễ vừa chỉ tay mời tôi ngồi. Khi ông mở tờ giấy giới thiệu, tôi nhìn nét mặt ông, theo dõi sự diễn biến sắc thái như thế nào nhưng không thấy có phản ứng khi ông đọc giấy giới thiệu. Đọc xong, ông để tờ giấy lên bàn và cầm bút phê vào giấy. Tôi mở mắt thật to nhìn vào chữ mà ông đang viết. Cuối cùng tôi đọc được hàng chữ: “Chấp thuận cho đổi” với chữ ký nguệch ngoạc, không rõ tên gì. Ông nói:

- “Ông vui lòng cầm tờ giấy này sang quầy đổi bạc, các cô sẽ giải quyết cho ông”.

Tôi rất mừng đứng dậy cảm ơn, chào ông và nói:

- “Rất mong được gặp lại ông trong dịp khác”.

Tôi chưa biết ông là người như thế nào mà có thể giải quyết đổi bạc cho ta mau lẹ dễ dàng như thế. Tại sao ông không chút đắn đo?

Bước ra khỏi phòng Giám đốc, tôi ra hiệu cho đồng chí Ý mang valy tiền vào. Trong lúc này bọn cảnh sát đứng trước cửa phòng không biết tôi vào đây làm gì. Chúng xầm xì, đùn đẩy nhau, rồi có một tên đi theo đồng chí Ý, còn tên kia bám theo tôi đến quầy đổi tiền. Đứng trước quầy tôi thấy có nhiều cô đang làm việc. Tôi đến chỗ cô gần nhất và đưa giấy giới thiệu có lời phê của ông Giám đốc, nhờ cô giúp làm nhanh. Cô ta nói:

- “Xin ông đưa tiền đến đây”.

Tôi chưa kịp trả lời thì vừa lúc đó đồng chí Ý mang valy tiền đến và đưa luôn vào quầy.

- “Xin ông cho biết có bao nhiêu tiền?”

- “Mười bảy triệu đồng. Bó sẵn mỗi bó là 100.000 đồng. Khi giao lại giấy bạc mới, xin cũng tính theo bó. Nếu lô tiền của tôi có thiếu, xin các cô vui lòng gọi điện thoại theo số có ghi trong giấy giới thiệu. Tôi sẽ đến và giải quyết ngay tại chỗ”.

Nói hết câu, tôi nhìn ra phía sau thấy tên cảnh sát đứng gần tôi nghe lén. Tôi liền nói:

- “Anh không được phép đứng gần tôi. Chúng tôi nói chuyện công khai, anh không cần phải nghe làm gì”

Trong khi chờ đổi tiền, tôi cứ nghĩ mãi về thái độ của ông Giám đốc Ngân hàng. Ông là người như thế nào? Đến khi valy tiền được đưa ra, dòng suy nghĩ này mới chấm dứt. Đồng chí Ý bước tới nhận valy và chúng tôi xuống xe trở về nhà an toàn với niềm vui mừng đã thực hiện được một công việc tưởng chừng như không thể làm nổi.

Khoảng 2 giờ sau khi chúng tôi đã về đến nhà, tên trung úy cảnh binh xin vào gặp:

- “Tôi có báo cáo lên ông Hoàng Thụy Nam, trưởng Phái đoàn chúng tôi rằng sáng nay ông Đại úy đến Ngân hàng đổi tiền. Ông bảo tôi sang hỏi ông có đi nữa hay không? Nếu còn, thì xin hãy giao tiền cho chúng tôi đi đổi, vì ông đi như vậy rất nguy hiểm, lực lượng chúng tôi không bảo vệ nổi. Nếu xảy ra điều gì, chúng tôi sẽ bị khiển trách”.

- “Nhờ anh báo lại với ông Hoàng Thụy Nam rằng tôi cảm ơn ông về sự quan tâm này, tiền của chúng tôi chỉ có bấy nhiêu và đã đổi xong rồi”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #27 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:04:48 am »


5. Một vụ khiêu khích

Như thường lệ, trưa nào tôi cũng đi một vòng chung quanh rào xem có hiện tượng gì lạ không, hoạt động của cảnh binh, công an ngụy có gì cần chú ý. Hôm nay tôi thấy có hiện tượng lạ. Có mấy nhóm người ngồi cách nhau khoảng 2 mét, lưng dựa vào tường ở góc đường vào trụ sở. Họ ở phía trước chòi gác khoảng 6 mét mà bọn công an không xua đuổi. Khoảng nửa giờ sau tôi thấy chúng không thay đổi vị trí. Có lẽ đây là bọn công an mới đến thay cho bọn cũ. Cũng có thể đây là lực lượng được tăng cường nên chúng ngồi yên như vậy. Khoảng 4 giờ chiều, người tập hợp trước cổng trụ sở mỗi lúc một thêm đông. Rõ ràng chúng đang chuẩn bị tổ chức mít tinh phản đối. Anh em trong Phái đoàn được lệnh chuẩn bị sẵn sàng. Tôi ra gặp Đại úy Moulonguet. Ông ta cho tôi biết là có bọn xấu đến quấy rối. Tôi hỏi:

- “Còn lực lượng bảo vệ của anh ở đâu mà để tình hình diễn ra như thế này?”

- “Chúng nó đông quá, tôi đã xin tăng cường thêm lực lượng bảo vệ nhưng chưa đến”.

Lúc này có khoảng 100 tên, chiếm một đoạn đường Chi Lăng, trước ngã ba rẽ vào nhà trụ sở Phái đoàn ta. Một số khác bao vây chung quanh trụ sở. Chúng chở đến hai xe GMC đá xanh, đổ ngay tại cửa ngõ, chuẩn bị ném vào nhà chúng ta. Bọn cảnh binh Pháp chỉ để 5 - 6 tên đứng gác cổng. Còn lính dù tuần tra phía trong được tăng cường thêm. Chúng đặt súng trung liên ở 4 góc tường rào và chĩa nòng súng ra phía ngoài.

Đến chiều, có khoảng một đại đội bộ binh kéo đến trên các xe GMC. Có hai thiết giáp có gắn súng đại bác 20 ly chĩa thẳng vào trụ sở Phái đoàn. Còn bọn lính thì chạy rầm rập chiếm các vị trí chiến đấu giương súng về phía ngôi nhà sẵn sàng nhả đạn. Chúng ngăn chặn không cho lưu thông từ đường Chi Lăng đến cổng trụ sở Phái đoàn. Bọn chúng bắt đầu hò hét, chửi bới, đòi Phái đoàn rút về Bắc... Rồi chúng ném đá vào trụ sở như mưa. Có nhóm nhảy lên tường rào nhưng không vượt qua được. Còn bọn khác xô đẩy cổng, làm một cánh cửa đổ xuống, nhưng không tên nào dám vượt qua cửa rào đã bị đổ. Trong cơ quan các đồng chí chúng ta cũng sẵn sàng nếu có nổ súng.

Trong khi đó, bọn cảnh binh Pháp mở lối qua rào B40, để mời chúng tôi lên xe đi nơi khác. Tôi từ chối vừa nói nhỏ nhẹ vừa cười với chúng:

- “Chúng tôi không đi đâu hết, đã có cách giải quyết. Còn các anh có trách nhiệm bảo vệ Phái đoàn, cần làm đúng theo quy định đã được ký kết”.

Đại úy Moulonguet nhăn mặt nhíu mày. Rồi sau đó quay lưng ra về.

Bên ngoài bọn phản động vẫn tiếp tục hò hét, chửi bới, ném đá. Các xe thiết giáp vẫn nổ máy gầm rú, còn bọn lính vẫn ở nguyên vị trí cũ. Có lẽ chúng đang chờ lệnh. Tôi tin chắc rằng chỉ còn có lệnh rút lui mà thôi. Ngay từ đầu, khi chúng mới vừa kéo đến thì chúng ta cũng đoán được rằng, chúng chỉ dọa dẫm thế thôi chứ chưa dám làm gì.

Hơn 7 giờ tối, chúng lần lượt rút lui. Một số nán lại, viết các khẩu hiệu phản động lên các bức tường rào và nhà dân. Còn bọn cảnh binh thì sửa lại cánh cửa bị đổ.

Sáng hôm sau, chúng tôi thấy các khẩu hiệu phản động nhất đã bị ai đó xóa bỏ. Chúng viết lại, rồi bị xóa... đôi ba lần như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #28 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2023, 09:05:37 am »


6. Một chuyến đi đặc biệt

Một buổi sáng khi ăn nhẹ xong, anh Phạm Hùng gọi tôi vào phòng làm việc. Anh đứng dậy đi đi lại lại, chỉ ghế mời tôi ngồi và uống trà. Tôi lo lắng không hiểu mình có khuyết điểm gì đây. Anh hớp ngụm trà, rồi đứng dậy đi lại chỗ móc quần áo, thò tay vào túi áo trên lấy ra mằnh giấy nhỏ.

Trở lại ghế ngồi, anh chậm rãi nói:

- “Tôi sắp trở về Hà Nội. Trước khi đi, anh bố trí cho tôi thăm Ba Son, Bến tàu và đi vòng thành phố trên vài con đường lớn”.

- “Xin anh nói rõ là đi thăm như thế nào? Nếu làm thủ tục chắc tụi nó không chịu đâu”.

- “Tôi nói đi thăm là đi trên đường phố cho tôi nhìn kỹ lại Ba Son, Bến tàu chứ không phải vào bên trong cơ sở, không như các anh phải vào trong các cửa hàng. Còn đi phố, cũng để xem qua mà thôi. Như vậy đã rõ chưa?”

- “Xin anh cho tôi suy nghĩ. Tôi sẽ vạch kế hoạch và trình lên anh trước khi thực hiện”.

Theo yêu cầu mà anh nêu ra, việc đi phố xem chỗ này chỗ nọ về mặt bảo vệ không khó lắm.

Sau đó một tuần, tôi trình bày kế hoạch đi trên phố, có cả phần bảo vệ. Anh Hai chấp thuận kế hoạch và hỏi:

- “Ngày mai có đi được không?”

- “Dạ được, tùy anh có rảnh hay không”.

Như thường lệ, tôi báo cho cảnh binh biết đúng 9 giờ chúng tôi sẽ đi phố.

Lúc 9 giờ kém 5, xe nhà đã ra trước cửa. Nhìn ra cổng tôi thấy xe cảnh binh và công an cũng sẵn sàng. Đúng 9 giờ, đồng chí Ý mở cửa xe cho anh bước lên xe ngồi bên phải, tôi ngồi bên trái, đồng chí Ý ngồi ghế trước với đồng chí Tòng lái xe. Tôi nhắc đồng chí Tòng chạy như bình thường theo con đường đã phổ biến. Chúng tôi tập trung chú ý phía trước. Phía sau chúng tôi là xe của hiến binh và cảnh sát.

Dọc đường từ nhà đến ngã tư Norodom (nay là đường Lê Duẩn), tôi giới thiệu cho anh những nơi cần biết như trường Mỹ thuật Gia Định, Tòa bô Gia Định (nay là trụ sở Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh), chợ Bà Chiểu... Đến đây tôi nhắc đồng chí Tòng cho xe chạy chậm vì qua ngã tư Norodom là gặp ngay ranh giới của xưởng Ba Son ở phía trái chạy dài cho đến mé sông Sài Gòn.

Trên xe, tôi thấy anh chỉ ngồi nhìn và lặng lẽ nghe tôi nói. Khi đến Ba Son, anh chăm chú nhìn kỹ hơn. Tôi giữ yên lặng tôn trọng sự suy nghĩ của anh. Gần đến góc đường xuống bờ sông, tôi báo cho anh biết đã hết khu vực Ba Son. Khi xe qua khỏi mấy chiếc tàu to đang đậu ở ụ chờ sửa chữa, nhìn thấy cảng Sài Gòn, có nhiều tàu đang bốc hàng. Trên bến sông Bạch Đằng không có người ngồi hóng mát. Chỉ có bến đò Thủ Thiêm là vẫn đông người qua lại. Đồng chí Tòng lái xe vòng lên đường Bonard (nay là Lê Lợi), chạy qua chợ Bến Thành ra Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng), rồi về thẳng đường Chi Lăng, trụ sở Phái đoàn.

Đó là tấm lòng của anh, người chiến sĩ cách mạng hoạt động trong lòng Sài Gòn, anh muốn ghi lại tất cả những hình ảnh quen thuộc và đầy kỷ niệm trước khi tạm biệt Sài Gòn trở về Hà Nội.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2023, 08:31:28 am »


7. Những cơ hội tiếp xúc với đồng bào Sài Gòn

Một buổi chiều, khi mới vào Sài Gòn, tôi đi mua một chiếc xe du lịch để sử dụng đi công tác. Cùng đi với tôi có 3 cảnh binh. Chúng tôi chủ trương mua xe Pháp, không mua xe Mỹ. Chúng tôi đến công ty Citroen ở 30 đường Espagne. Vừa bước vào cửa hãng, mấy anh công nhân đứng gần đó trân trân nhìn chúng tôi, thấy quân phục chúng tôi khác hẳn với quân đội Sài Gòn. Chúng tôi đến chỗ trưng bày xe. Anh em công nhân ngưng làm việc, đứng tập trung nhìn chúng tôi. Đối với họ, là chuyện lạ: Có hai người ăn mặc trang phục khác thường lại có 3 cảnh binh Pháp đi theo hộ tống. Có một người Việt Nam đứng tuổi ăn mặc chỉnh tề, từ một căn phòng đi thẳng đến chúng tôi. Ông tự giới thiệu là Giám đốc, mời chúng tôi vào văn phòng. Ông giới thiệu ngắn gọn công ty Citroen, đưa cho chúng tôi xem ảnh các loại xe mới của năm 1954, mời chúng tôi đi xem xe. Có 3 loại: Traction thường, traction 15 và traction DI mới nhất có thể lội qua được những nơi ngập nước cỡ 0,50m. Ông cũng giới thiệu tính năng và tiện nghi của xe. Có 2 công nhân thao tác theo lời giới thiệu của ông. Tôi nói:

- “Tôi mua xe cho Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam. Theo ý ông, nên mua loại nào?”.

Ông mỉm cười và nói:

- “Việc chọn lựa là do các ông. Chúng tôi sẽ làm vừa lòng các ông”.

- “Thôi được, chúng tôi chọn chiếc Traction avant 15. Còn màu gì sẽ cho ông biết sau”.

Như vậy là hôm đó tất cả nhân viên công ty Citroen và gia đình họ đều biết sự có mặt của Phái đoàn ta ở Sài Gòn.

Mấy ngày hôm sau chúng tôi đi mua bảo hiểm ở công ty “Le secours”, nằm tại góc đường Charner và Espagne. Lần đi này chúng tôi cũng mặc quân phục. Khi đi ngang qua dãy bàn làm việc của nhân viên để đến phòng Giám đốc, mọi người thấy lạ nhìn chúng tôi và trao đổi thì thầm với nhau. Chắc rồi họ cũng biết vì trên mũ lưỡi trai của chúng tôi, có phù hiệu nền đỏ sao vàng.

Sau khi chỉnh trang nội thất trụ sở Phái đoàn, chúng tôi đến mấy kiosque bán hoa tươi ở đường Charner mua hoa trang trí phòng khách. Lần này chúng tôi ăn mặc thường phục, có xe công an ngụy hộ tống. Xe đậu cách chỗ bán độ 50 m. Chúng tôi xuống xe đi bộ. Đến kiosque đầu tiên tôi hơi lúng túng, không biết nên chọn hoa nào để đặt ở phòng khách. Chị bán hoa chào mời:

- “Mua hoa đi ông ơi, hoa Đà Lạt mới về”.

Chị lấy mấy cành hoa đưa lên giới thiệu. Không chần chừ nữa, tôi nói:

- “Chị chọn cho tôi một số hoa loại lâu tàn để chưng ở phòng khách”.

Chị nhẹ tay lấy giấy bóng cuộn bó hoa trên 20 cành có nhiều thứ, kèm số lá măng và tính 10.000 đồng. Chúng tôi sang kiosque khác, mua một bó nữa có vài loại hoa khác giá 12.000 đồng.

Có lần chúng tôi ghé bên kia đường Charner (nay là Nguyễn Huệ) mua hai bó hoa ở hai nơi khác nhau.

Bỗng nhiên có một anh chủ cửa hàng hoa đi thẳng đến có vẻ mừng rỡ và nói:

- “Xin lỗi, có phải ông ở Phái đoàn từ Hà Nội vào không?”

- “Đúng, chúng tôi ở trong Phái đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam vào thường trú ở đây để làm việc với Ủy ban Quốc tế, đấu tranh cho hòa bình thống nhất nước nhà”.

Ngày 1-9-1955, chúng tôi đi mua hoa chuẩn bị cho Quốc khánh 2-9. Như thường lệ, xe đậu ở xa và chúng tôi đi bộ đến cửa hàng hoa. Lần này khác hơn các lần trước, từ bên kia lề đường Charner (Nguyễn Huệ), có bốn chị cầm bốn bó hoa, băng qua đường rồi tập trung cùng các anh chị đứng bên này đường. Tôi giật mình. Trong số 8 người cầm hoa có anh mà tôi đã gặp lần trước. Anh nói với vẻ đầy xúc động:

- “Được biết các ông rồi, xin cho anh chị em chúng tôi tặng Phái đoàn mấy bó hoa để chưng trong ngày Quốc khánh”.

Một chị nói với nụ cười rất tươi:

- “Bó hoa của tôi xin kính tặng cụ Hồ Chí Minh. Ngày mai là ngày Quốc khánh, xin kính chúc các ông đã đến với anh chị em chúng tôi...”

Hai chúng tôi ôm hoa tươi chẳng khác nào các nghệ sĩ vừa thành công một bài hát trên sân khấu mà lòng tràn ngập niềm vui.

Về đến nhà chúng tôi có kiểm điếm rút kinh nghiệm không thấy có gì sai. Trong tình hình đó không nhận hoa cũng không được. Nhớ lại thái độ bọn cảnh sát trong lúc đó cũng bình thường nên chúng tôi yên tâm.

Để bảo vệ bà con bán hoa và tránh nhận hoa biếu, tôi không đi mua nữa mà giao lại cho anh Mười Tuân kết hợp đi chợ Bến Thành, ghé đường Charner (Nguyễn Huệ) mua luôn. Mấy lần đầu, đồng bào không để ý nên việc mua bán vẫn bình thường. Nhưng sau đó, vì thấy lần nào cũng có xe cảnh sát hộ tống đi theo thì biết là mấy ông Phái đoàn rồi. Đồng bào lại để hoa trong xe, trên mui xe, trên đầu xe và không lấy tiền. Anh Mười Tuân cứ để lại trên sạp 10.000 đồng mỗi bó rồi lên xe đi ngay.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM