Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:02:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam  (Đọc 18702 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #50 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2023, 09:30:20 pm »

12. LỜI KÊU GỌI CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Về Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bỉnh ở Việt Nam (Ngày 28 tháng 1 năm 1973)

Đồng bào và chiến sĩ thân mến,

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi mở ra một bước ngoặt mới của cách mạng Vỉệt Nam. Hỉệp định đã được ký kết là cơ sở chính trị và pháp lý đảm bảo các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, đảm bảo quyền tự quyết thiêng liêng của đồng bào ta ở miền Nam. Thắng lợi này là cơ sở để nhân dân ta tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.


Cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam còn phải vượt qua nhiều khó khăn trở ngại. Những thế lực quân phiệt, phát xít, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới, đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc ta, vẫn chưa từ bỏ những âm mưu phá hoại hòa bình, ngăn trở con đường độc lập, tự do của nhân dân ta.


Vì vậy, nhiệm vụ trước mắt của đồng bào ta ở cả hai miền là: Tăng cường đoàn kết, luôn luôn để cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố những thắng lợi đã đạt được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc.


Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa long trọng tuyên bố sẽ thi hành nghiêm chỉnh và triệt để mọi điều khoản của Hiệp định Pari, và đòi hỏi các bên tham gia ký kết đều tôn trọng và thực hỉện đầy đủ Hiệp định ấy. Đây là cuộc đấu tranh rất quan trọng, đồng thời rất gian khổ và phức tạp mà mọi tầng lớp đồng bào ta, mọi người yêu nước ở miền Nam đều phải đóng góp phần tích cực của mình.


Cuộc chiến tranh xâm lược của các nước đế quốc kế tiếp nhau ròng rã hơn ba mươi năm trên đất nước ta đã để lại những hậu quả rất nặng nề. Đồng bào miền Nam nhất định sẽ cùng nhau đoàn kết, thương yêu nhau như con một nhà, xóa bỏ thù hằn nghi kỵ, không phân biệt giàu nghèo, chính kiến, tôn giáo, dân tộc, chung lòng chung sức đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện độc lập thật sự, thực hiện các quyền tự do dân chủ và hòa hợp dân tộc, hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng lại đất nước, đem lại ấm no, hạnh phúc cho toàn dân.


Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Thống nhất Tổ quốc là nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân ta ở cả hai miền. Trên con đường đi tới đoàn tụ mọi người Việt Nam trong lòng Tổ quốc thân yêu, chúng ta hãy sớm cùng nhau xây dựng lại các quan hệ bình thường giữa hai miền, thỏa mãn những nguyện vọng thiết tha sum họp các gia đình, cùng nhau phấn đấu cho tương lai tươi sáng của dân tộc.

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004, tr. 10, 16)
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #51 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2023, 09:33:38 pm »

13. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ 21 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới (Ngày 13 tháng 10 năm 1973)

Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Hiện nay, phương hướng chủ động tích cực, có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng của cả nước là luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình và chính nghĩa, đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, buộc địch phải thỉ hành Hiệp định để thắng địch.


Vấn đề giành dân, giành quyền làm chủ, phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới.

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là: tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết nhân dân, đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giai cấp tư sản mại bản và bọn địa chủ phong kiến, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phát xít, tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, đang thống trị trong vùng địch kiểm soát; đẩy lùi và thắng địch từng bước; đi đến xóa bỏ chính quyền tay sai của Mỹ, xóa bỏ chế độ thực dân kiểu mớỉ, thiết lập một chính quyền dân tộc dân chủ thực sự, thực hiện hòa hợp dân tộc, thoát li hẳn sự lệ thuộc vào Mỹ, thực hiện một miền Nam Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập, phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.


Hoàn thành nhiệm vụ đó cũng là thực hiện chọn vẹn di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.


Kẻ thù chính của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phát xít, tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ, đại biểu quyền lợi cho giai cấp tư sản mại bản và bọn địa chủ phong kiến thản Mỹ phản động nhất. Đế quốc Mỹ là kẻ chủ mưu và là chỗ dựa của bọn tay sai đang thống trị trong vùng chưa giải phóng ở miền Nam. Tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phát xít là công cụ đắc lực của Mỹ để thực hiện chủ nghĩa thực dân mớỉ. Chúng có đặc quyền đặc lợi, có ý thức giai cấp phản động sâu sắc, đang ra sức kìm kẹp, đàn áp, bóc lột quần chúng, điên cuồng chống lại nguyện vọng hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thỉện dân sinh, hòa hợp dân tộc của toàn dân. Do đó, tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phát xít, tay sai Mỹ là kẻ thù trực tiếp mà cách mạng miền Nam phải nhằm vào để đánh đổ.


Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là:

Đoàn kết toàn dân, đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao một cách hết sức chủ động, linh hoạt tùy theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp giữa các mặt trận đó cho thích hợp, để buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Parỉ về Việt Nam, không ngừng giữ vững và phát triển lực lượng của cách mạng về mọi mặt, thắng địch từng bước và chủ động trong mọi tình huống, đưa cách mạng miền Nam tiến lên.


Phải lấy khẩu hiệu hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa hợp dân tộc, để tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, dân chủ. Chú trọng củng cố liên minh công nông, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, đồng thời tích cực tranh thủ lực lượng thứ ba. Lấy khẩu hiệu hòa bình và hòa hợp dân tộc để phân hóa hàng ngũ địch, cô lập tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu, quân phiệt, phát xít của Nguyễn Văn Thiệu.


Địch đang dùng hành động quân sự vi phạm Hiệp định một cách có hệ thống, ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định các vùng đồng bằng, vùng giáp ranh; phải phối hợp với ba thứ quân, ba mũi giáp công, giữa ba vùng, giữa các chiến trường để thực hiện phản công và tiến công địch, đánh địch những đòn thật đau, không để cho địch lấn chiếm vùng giải phóng của ta và bình định, mở rộng vùng kiểm soát của chúng; phải thu hồi những vùng đã bị địch lấn chiếm, thu hẹp vùng kiểm soát của địch; ở nơi có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng của ta.


Tăng cường chỉ đạo, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, từng bước tiến lên thành cao trào cách mạng ở thành thị, kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh cách mạng mạnh mẽ ở các vùng nông thôn, đẩy mạnh giành dân và giành quyền làm chủ, đẩy lùi và làm thất bại mọi thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa của địch. Vận động và lãnh đạo quần chúng nắm vững pháp lý của Hiệp định để đấu tranh đòi địch phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, phải ngừng bắn; phải công nhận thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội; hai vùng kiểm soát, và ba lực lượng chính trị; phải thả hết tù chính trị thi hành các quyền tự do dân chủ, chống chế độ kìm kẹp, khủng bố, thanh lọc và bóc lột, vơ vét.


Cuộc đấu tranh với địch trên mặt trận chính trị và mặt trận quân sự phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Ta phải tận dụng hai diễn đàn đấu tranh ngoại giao hiện nay là diễn đàn Ban Liên hiệp quân sự hai bên và diễn đàn Hội nghị hiệp thương hai bên ở Pari, phát huy vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời, đồng thời tận dụng vai trò của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đấu tranh một cách sắc bén với địch, nhằm phối hợp với đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự ở chiến trường, từng bước buộc địch phải thi hành các điều khoản của Hiệp định và tranh thủ dư luận trong nước cũng như ngoài nước ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.


Cuộc đấu tranh trên ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao để thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam có tác dụng tích cực đối với chiều hướng phát triển của tình hình miền Nam trong giai đoạn mới. Giữa ta và địch sẽ diễn ra một trạng thái giằng co rất quyết liệt và phức tạp. Ta phải rất cảnh giác, kiên quyết, bền bỉ, khôn khéo, nắm vững phương hướng chung là ta phải mạnh trên cả ba mặt trận để thắng địch, buộc địch phải thi hành Hiệp định, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn.

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2004, tr.210,232-261)
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #52 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:08:44 pm »

II- BẢNG VÀNG TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM(1954-1975)

- 36 ĐƠN VỊ ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

- 23 ĐỒNG CHÍ ĐƯỢC PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN.

- 12 TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC TẶNG THƯỞNG HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP HẠNG NHẤT, NHÌ, BA.

- 108 TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN ĐƯỢC TẶNG THƯỞNG HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG HẠNG NHẤT, NHÌ, BA.

- 210 ĐỒNG CHÍ ĐƯỢC TẶNG DANH HIỆU DŨNG SĨ DIỆT MỸ.

- 604 ĐỒNG CHÍ ĐÃ ANH DŨNG HY SINH TRONG KHI LÀM NHIỆM VỤ.


III.DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO BAN AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM VÀ ĐOÀN 180

1.CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO BAN AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM

Đồng chí PHAN VĂN ĐÁNG Trưởng Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (1962-1967); Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, IV, V; Phó Bí thư Trung ương cục miền Nam (1960-1975).

Đồng chí PHẠM THÁI BƯỜNG Trưởng Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (1968-1974);

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1960).

Đồng chí NGUYỄN QUANG VIỆT Phó Trưởng ban, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (1968-1970); Thứ trưởng Bộ Công an (1960-1982)

Đồng chí CAO ĐĂNG CHIẾM Phó Trưởng ban, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (1960-1975); Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV; ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V, VI; Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an (1976-1991).

Đồng chí LÂM VĂN THÊ Phó Trưởng ban, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (1968-1975) - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V, VI; Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1987-1990).


2.CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO ĐOÀN 180 AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM

Trung tướng LÊ THANH (Tám Lê Thanh) Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 70, Đoàn 180 Nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Đồng chí NGUYỄN TƯƠNG LAI (Tám Lai) Chính ủy Đoàn 180.

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN BIÊN Ban Chỉ huy, Đoàn 180 Nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Đại tá PHAN VĂN HUẤN (Sáu Huấn)

Đoàn 180, Chỉ huy trưởng D; Nguyên Phó Cục trưởng Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng.

Thiếu tướng TRƯƠNG VĂN THANH Đại đội D1, Đoàn 180 An ninh vũ trang; Nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Đại tá TRƯƠNG VĂN TÙNG (Sáu Tùng) Phó Trưởng tiểu ban An ninh vũ trang, Phó chỉ huy Đoàn 180

Đồng chí HUỲNH VĂN NGHỆ Chỉ huy trưởng Ban ATK (năm (1967).


IV.MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM

Đoàn đại biểu An ninh vũ trang miền Nam thăm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, tại Hà Nội.

Những chiến sĩ thi đua và dũng sĩ diệt Mỹ thuộc Tiểu đoàn 2, Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam, năm 1970.

Đơn vị C3, D1, Đoàn 180 An ninh vũ trang bàn triển khai kế hoạch bảo vệ mục tiêu.

Ban An ninh vũ trang thuộc Ban An ninh Trung ương cục miền Nam huấn luyện sử dụng súng AK cho du kích cơ quan.

Tiểu ban An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy 8.

Tượng đài An ninh vũ trang miền Nam, trong Khu di tích Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, tại Tân Biên, Tây Ninh.


MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT

Đồng chí Trung tướng Bùi Quang Bền, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, Chủ tịch Hội đồng Nghiệm thu cấp Bộ đề tài "Tổng kết lịch sử công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)" chụp ảnh lưu niệm cùng Hội đồng và Ban chủ nhiệm đề tài, ngày 3-6-2014.


Các đại biểu dự Hội thảo khoa học "Tổng kết lịch sử công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)" tại trụ sở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Tp. Hồ Chí Minh, ngày 27-8-2013.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #53 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:11:45 pm »

V-10 SỰ KIỆN LỊCH SỬ TIÊU BIỂU CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM

1.Ngày 25 tháng 1 năm 1960

Phối hợp đánh địch tại cứ điểm Tua Hai

Ngày 25-1-1960, cùng với phong trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam, lực lượng bảo vệ Xứ uỷ do đồng chí Lê Thanh, Tám Xuyến, Mai Chí Thọ chỉ huy phối hợp với lực lượng vũ trang miền Đông tổ chức đánh địch tại cứ điểm quân sự Tua Hai. Trong trận này, ta đã tiêu diệt 500 tên địch, thu 1.500 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác. Chiến thắng Tua Hai đã mở rộng và phát triển căn cứ cách mạng, giải phóng 2/3 xã trên địa bàn Bắc Tây Ninh, tạo khí thế cho phong trào Đồng khởi, xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Nam.


2.Ngày 8 đến 19-1-1966

Góp phần làm thất bại cuộc hành quân CRIMP của Mỹ và chính quyền Sài Gòn

Từ giữa năm 1965 đến tháng 10-1966, Mỹ tiến hành cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ Nhất. Chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét trong đó có cuộc hành quân CRIMP (Cái bẫy) đánh vào căn cứ Củ Chỉ cách Sài Gòn 30 km về phía Tây Bắc, hòng tìm diệt Khu uỷ và Bộ Chỉ huy quân sự Sài Gòn - Gia Định.


Để mở đường cho cuộc càn quét, máy bay Mỹ, kế cả B52 ném bom liên tục, pháo binh địch ở Trảng Bàng, Bến Cát, Phú Hoà Đông, Trung Hoà (Sài Gòn - Gia Định) bắn liên tục xuống 6 xã ở Củ Chi suốt 20 ngày đêm. Tiếp đó, chúng huy động 20.000 quân đánh vào xã An Nhơn và xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.


Sáng 8-1-1966, hàng trăm máy bay lên thẳng địch đổ quân xuống Mỹ Hưng, Nhuận Đức. Chúng chia thành nhiều mũi tấn công, tạo thành gọng kìm dồn ta vào vùng Hố Bò để tiêu diệt. Sau những đợt oanh kích dữ dội của pháo binh, xe tăng, súng phun lửa, lực lượng bộ binh địch ồ ạt tiến vào chiếm lĩnh mục tiêu, bao vây căn cứ Khu uỷ. Nhưng mỗi bước tiến của chúng đều bị lực lượng an ninh vũ trang cùng quân và dân địa phương đánh trả quyết liệt, gây cho chúng nhiều thất bại.


Trong cuộc chiến đấu này, lực lượng An ninh vũ trang đã kiên cường chặn đánh, kìm chân địch, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Khu uỷ. Đồng chí Lẽ Văn Lẽn (Ba Lẽn) chỉ huy đơn vị đà mưu trí chia lực lượng làm hai cánh: một cánh cùng bộ đội quân khu và du kích chiến đấu kìm chân địch; một cánh phá vòng vây đưa các đồng chí lãnh đạo Khu uỷ về căn cứ dự bị. Đồng chí Lê Văn Lên với 15 viên đạn cabin đã diệt 15 tên Mỹ. Trong 3 ngày chiến đấu, đơn vị An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ dã cùng du kích địa phương, bộ đội bắn rơi nhiều máy bay, diệt hàng trăm tên địch, bẻ gãy hàng chục đợt tấn công của địch.


Cùng thời gian này, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ Văn phòng Khu uỷ, do đồng chí Võ Văn Vân chỉ huy đã kiên trì đợi địch đến gần mới nổ súng, gây cho chúng nhiều thiệt hại, bảo vệ an toàn cán bộ của Văn phòng Khu uỷ.

Bị thất bại nặng nề, ngày 19-1-1966, địch buộc phải rút quân. Trong 12 ngày đêm, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ cùng quân và dân Củ Chi đánh 257 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương 1.600 tên địch, bắn rơi tại chỗ 84 máy bay, phá huỷ 56 xe quân sự.


3.Từ ngày 8-1 đến 26-1-1967

Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam tham gia chiến đấu bẻ gãy cuộc hành quân Xêđaphôn của địch

Từ tháng 10-1966 đến giữa năm 1967, địch đổi chiến lược "tìm và diệt" sang chiến lược "hai gọng kìm (tìm diệt và bình định)" trong mùa khô 1966-1967. Chúng tập trung lực lượng đánh vào miền Đông Nam Bộ, nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan Trung ương cục, Bộ Tư lệnh miền, Mặt trận dân tộc giải phóng, phá căn cứ kháng chiến của ta.


Ngày 8-1-1967, địch huy động 6 lữ đoàn (trên 30.000 tên) với khoảng 400 xe tăng, xe bọc thép, 80 tàu chiến, 100 đại bác và nhiều máy bay kể cả B52 mở cuộc hành quân mang tẽn Xêđaphôn đánh vào "Tam giác sắt", gồm Bến Cát (Thủ Dầu Một), Tràng Bảng (Tây Ninh), Củ Chi (Sài Gòn - Gia Định).


Tham gia chiến đấu chống cuộc hành quân của địch, lực lượng An ninh Thủ Dầu Một tổ chức một lực lượng phối hợp với bộ đội và du kích bám đánh địch. Bộ phận An ninh vũ trang đã bảo vệ, đưa cơ quan lãnh đạo tỉnh ra khỏi khu vực địch càn quét; 20 cán bộ, chiến sĩ bám trụ chiến đấu suốt 6 ngày đêm, đẩy lùi hàng chục đợt tấn công của địch, diệt 15 tên, bắn bị thương khoảng 20 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng. Một số cơ quan bị kẹt lại trong đó có bộ phận cơ quan Chủ tịch Mặt trận Huỳnh Tấn Phát ở An Tây, lực lượng an ninh đã bố trí đưa ra an toàn vào ngày hôm sau.


Cùng với lực lượng vũ trang quân khu và du kích Củ Chỉ, tiểu đoàn Vinh Quang do đồng chí Võ Văn Vân phụ trách đã bố trí một bộ phận cùng lực lượng bảo vệ Văn phòng Khu uỷ phối hợp với Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 7 của quân khu bảo vệ Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định, góp phần tiêu diệt 500 tên địch, bắn cháy 18 xe bọc thép. Phát hiện được nơi làm việc của Khu uỷ, địch tập trung hoả lực tiến công, các chiến sĩ An ninh vũ trang đã phối hợp với dân quân du kích đánh bật 15 đợt tấn công của địch, diệt 90 tên, bắn rơi 1 máy bay, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo xuống phía Nam Củ Chỉ.


Trong trận chiến ác liệt này, nhiều đồng chí đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm để bảo vệ căn cứ. Đồng chí Võ Văn Vân đã có sáng kiến dùng đạn pháo lép chế tạo thành mìn diệt 3 xe tăng địch; lực lượng An ninh phân khu 1 do đồng chí Bùi Quang Hảo chỉ huy bám trụ chiến đấu, dẫn đường cho bộ đội chủ lực (Đoàn I Quyết thắng) tập kích vào sau lưng địch; đồng chí Hảo đã nhanh chóng tập hợp 6 đội dukích của 6 xã phía Nam Củ Chi, gồm 120 người lập một căn cứ dự bị cho Khu uỷ Sài Gòn - Gia Định, đưa cán bộ và thương binh về căn cứ an toàn.


Tại Bưng Còng, Rạch Kiến, địch phát hiện căn cứ của Văn phòng Khu uỷ, tổ chức bao vây dày đặc. Lực lượng bảo vệ căn cứ chỉ có 3 chiến sĩ vẫn dũng cảm đánh địch, bắn cháy 1 xe Jép, diệt 4 tên địch, đưa cán bộ ta ra khỏi vòng vây của chúng.

Trong cuộc chiến đấu này, lực lượng An ninh Sài Gòn - Gia Định, Thủ Dầu Một đã góp phần cùng quân và dân địa phương bẻ gãy cuộc hành quân Xêđaphôn của địch. Ngày 26-1-1967, địch buộc phải rút quân, lực lượng An ninh vũ trang đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn các cơ quan lãnh đạo của ta.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #54 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:14:59 pm »

4.Từ ngày 22-2 đến 1641967 An ninh vũ trang Trung ương cục và Tây Ninh cùng quân giải phóng đánh bại cuộc hành quân Gianxơnxity của địch

Sau những thất bại liên tiếp của các cuộc hành quân, càn quét, đêm 22-2-1967, địch mở cuộc hành quân lớn mang tên Gianxơnxity nhằm phá huỷ căn cứ kháng chiến của quân và dân miền Nam ở Bắc Tây Ninh. Địch đã huy động 45.000 quân tinh nhuệ, 11.000 xe cơ giới, 200 khẩu pháo, 600 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh khác đánh thẳng vào căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Quân uỷ Miền ở huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.


Trước đó, chúng trút hàng trăm tấn bom đạn, chất độc hoá học xuống căn cứ Bời Lời, Phước Chỉ (Tràng Bàng), Bàu Gòn (Dương Minh Châu), Trà Vong (Châu Thành) nhằm phát quang địa hình, tạo thành vành đai trắng. Cuối tháng 2-1966, địch dùng máy bay chiến lược B52 rải thảm, xe tăng 60 tấn dọn đường, trung đoàn thiết giáp E11 tiến công, có máy bay chiến đấu và phi pháo bắn phá yểm trợ, dùng máy bay lên thẳng đổ quân bao vây căn cứ, trong đó có lực lượng bọc kín phía biên giới Campuchia.


Do ta nắm trước được âm mưu của địch, Trung ương Cục đã chỉ đạo Quân uỷ, Bộ Tư lệnh miền, chỉ huy các đơn vị địa phương chuẩn bị trước, bố trí thành 13 trận địa chính. Đoàn 180, Ban Căn cứ Trung ương cục tập trung vào nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não, bảo vệ cán bộ, tài liệu. Lực lượng An ninh Trung ương cục chia thành 2 lực lượng: Một lực lượng bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục và di chuyển cơ quan lên biên giới; một lực lượng ở lại trực tiếp chiến đấu do đồng chí Ngô Quang Nghĩa và đồng chí Chín Cát chỉ huy. Lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ C66 phối hợp với An ninh Tây Ninh, du kích, tự vệ cơ quan đánh địch.


Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, lực lượng An ninh vũ trang đã chiến đấu ngoan cường trên nhiều mặt trận, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Ngày 16-4-1967, địch buộc phải rút quân, chấp nhận sự thất bại. Trong cuộc chiến đấu này, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.300 tên địch, phá huỷ 119 máy bay. Riêng lực lượng An ninh cùng du kích Tà Đạt diệt 800 tên Mỹ, 49 xe cơ giới, 5 máy bay; Tại Sóc Ky diệt 680 tên Mỹ, 31 xe cơ giới, 10 máy bay. Các lực lượng an ninh và tự vệ đã bảo vệ được an toàn cán bộ lãnh đạo và tài liệu. Ta hy sinh 280 đồng chí (trong đó có 38 tự vệ cơ quan); Ban An ninh Trung ương Cục có đồng chí Trơn hy sinh và một đồng chí khác bị thương.


Thất bại của trận càn Gỉanxơncỉty là một thất bại lớn của Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam.


5.Ngày 31 tháng 1 năm 1968 Lực lượng An ninh vũ trang chiến đấu bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương 2

Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, một bộ phận của Bộ Tư lệnh Tiền phương 2 gồm các đồng chí Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Nguyễn Hộ (Tám Yến), Võ Văn Trúc (Hai Trúc) và một số cán bộ của các ban, ngành tiến vào Sài Gòn từ hướng Tây Nam. Một phân đội An ninh vũ trang gồm 12 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Phạm Minh Trung, Trung đội trưởng và các đồng chí Lê Văn Tăng, Phạm Ngọc Lợi, Trung đội phó chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư lệnh Tiền phương 2.


Ngày 31-1-1968 (mồng 2 Tết), đoàn xuất phát từ Bắc Bình Chánh vào áp sát Trường đua Phú Thọ Hòa (Quận 11). Bị địch phát hiện, đồng chí Võ Văn Kiệt lệnh cho đoàn rút về Cầu Tre; đồng chí Hai Trúc phân công phân đội An ninh vũ trang ở lại chiến đấu giam chân địch. Bộ Tư lệnh tiền phương vừa rút thì một tiểu đoàn biệt động, cảnh sát dã chiến địch có xe cơ giới yểm trợ ồ ạt tấn công vào Trường đua Phú Thọ Hòa. 12 chiến sĩ An ninh vũ trang phục kích tại ngã tư đường Trần Quốc Toản-Âu Cơ đánh trả quyết liệt từ mồng 2 đến mồng 4 Tết, diệt 50 tên bắn cháy 5 xe tăng và 5 xe cơ giới của địch. Địch tăng cường lực lượng, mở cuộc phản kích lần 2, các chiến sĩ An ninh vũ trang diệt thêm 70 tên và phá hủy 7 xe cơ giới của địch Đến ngày mồng 5 Tết, địch tăng cường thêm 1 tiểu đoàn biệt động, 1 trung đội cảnh sát dã chiến, trong khi đó 10 đồng chí An ninh vũ trang đã anh dũng hy sinh, 2 đồng chí Trung và Tăng phải lui về phòng ngự ở nghĩa địa Phú Thọ Hoà. Sau một ngày đêm chiến đấu anh dũng, hai đồng chí đã làm tiêu hao nhiều tên địch, bắn cháy 1 xe tăng bắn hỏng 1 xe khác. Địch tiếp tục huy động lực lượng, dùng máy bay, pháo kích xối xả vào trận địa. Cả hai đồng chí bị thương nặng và bị địch bắt sống. Địch dùng mọi biện pháp để tra tấn hết sức dã man, dùng mọi thu đoạn để mua chuộc, dụ dỗ nhưng không đạt được kết quả. Cuối cùng chúng đưa 2 đồng chí đi thủ tiêu.


12 cán bộ, chiến sĩ phân đội an ninh vũ trang An ninh Sài Gòn - Gia Định đã chiến đấu dũng cảm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và anh dũng hy sinh.


6.Tháng 12 năm 1967

An ninh vũ trang Khu 6 chiến đấu chống địch càn quét

Tháng 12-1967, địch sử dụng 18 tiểu đoàn có máy bay và pháo binh yểm trợ đã tấn công vào căn cứ Khu uỷ 6. Đội An ninh vũ trang của An ninh khu 6 và Đội C15 do đồng chí Đinh Chuông phụ trách chặn đánh địch. Trên 30 cán bộ, chiến sĩ ta chiến đấu suốt ngày đêm, đánh lui 6 đợt tấn công của địch, bảo vệ an toàn Khu uỷ. Riêng tiểu đội do đồng chí Đinh Chuông phụ trách chặn đánh 1 tiểu đoàn Mỹ, không cho chúng vượt qua chiếc cầu nhỏ, diệt 55 tên.


7.Ngày 17 tháng 10 năm 1969

Tiêu diệt toán biệt kích Xuyên Sơn xâm nhập căn cứ

Để tăng cường lực lượng điều tra phá hoại căn cứ Trung ương cục ở Tây Ninh, tháng 10-1969, địch điều động Tiểu đoàn biệt kích Xuyên Sơn từ chiến trường Quảng Trị - Tây Nguyên vào tăng cường cho cứ điểm quân sự Thiện Ngôn (Tây Ninh). Đây là một tiểu đoàn tinh nhuệ, gồm những người Thượng, được đào tạo huấn luyện bài bản, trang bị vũ khí hiện đại, có khả năng hoạt động tốt ở khu vực rừng núi.


Ngày 17-10-1969, khi địch vừa cắt rừng xâm nhập vào vùng căn cứ thì bị Trung đội 9, Đại đội 3 do đồng chí Nguyễn Văn Hớn (Sáu Hớn) chỉ huy phát hiện. Ta chủ động đón đánh, diệt và làm bị thương 38 tên, buộc chúng phải tháo chạy. Được lệnh của Ban chỉ huy, Tiểu đoàn 2 An ninh vũ trang thuộc Đoàn 180 cho một trung đội truy lùng, diệt gọn số biệt kích đang ẩn náu ở bắc Bàu Lùng Tung, diệt 49 tên.


Đây là thắng lợi đầu tiên của ta khi phải đối phó với đội quân đặc biệt tinh nhuệ của địch xâm nhập vào căn cứ ở Tây Ninh.


8.Ngày 3 tháng 3 năm 1975

Phối hợp chiến đấu tiêu diệt chi khu quân sự Mỏ Công Để đưa lãnh đạo của Trung ương cục về giải phóng Sài Gòn - Gia Định, đêm 22 rạng sáng ngày 3-3-1975 Tiểu đoàn 2 (D2) Đoàn 180 đã tổ chức điều tra nắm tình hình chi khu quân sự Mỏ Công của địch tại Tây Ninh. Trong đêm Tiểu đoàn 2 (Đoàn 180), do đồng chí Đặng Văn Thu chỉ huy đã phối hợp với lực lượng Trinh sát vũ trang và Huyện đội Tân Biên đánh Chỉ khu quân sự Mỏ Công của địch.


Đúng 4 giờ 20 phút, sáng ngày 23-3-1975, ta nổ súng chiếm vị trí đầu cầu rồi đánh chiếm Chi khu quân sự Mỏ Công. Trong trận đánh này, ta diệt 26 tên địch, bắt sống 38 tên, thu 4 khẩu đại liên, 3 súng cối, 120 súng các loại, 5 tấn đạn và nhiều tài liệu quan trọng; giải phóng hoàn toàn 10 km trục lộ 22 và hơn 10.000 dân.


Trong trận đánh này, hàng chục cán bộ của ta đã anh dũng hy sinh, trong đó có đồng chí Phạm Thành Lượng bị thương đến 4 lần vẫn dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.


9.Từ năm 1960 đến năm 1975

Bảo vệ Ban An ninh Trung ương cục miền Nam di chuyển địa điểm

Do yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn Trung ương cục và các ban, ngành quan trọng, lực lượng An ninh vũ trang thường xuyên phải bảo vệ các đợt di chuyển căn cứ, chuyên địa điểm làm việc. Từ năm 1960 đến ngày 30-4-1975, Đoàn 180 An ninh vũ trang đã bảo vệ an toàn căn cứ của Ban An ninh Trung ương cục phải di chuyển 8 lần và lúc nào cũng ở vòng ngoài để án ngữ bảo vệ căn cứ Thường vụ Trung ương cục.

1.Năm 1960: Mới thành lập, đóng tại Chàng Riệc (Tây Ninh).

2.Năm 1961: Chuyển sang Mã Đà, thuộc chiến khu D (Sông Bé - Đồng Nai).

3.Cuối năm 1961 đến 1963: Đóng tại khu rừng Trảng Tà Xia (xã Tân Binh, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).

4.Cuối năm 1968 đến giữa 1969: Đóng tại Trảng Dầu (Đông lộ 22; Xa Mát, Tân Biên, Tây Ninh).

5.Cuối năm 1969: đóng tại Đập Đá, Trảng Tầm Phô (gần cửa khẩu Xa Mát, Tân Biên, Tây Ninh).

6.Tháng 5-1970: Đóng trong rừng, cạnh Trảng Tà Đạt (xã Tản Phú, Tán Biên, Tây Ninh).

7.Từ tháng 6-1970 đến cuối năm 1972: Đóng tại khu rừng Phum Compsơ (huyện Đầm Be, Công Pông Chàm, Campuchia)

8.Năm 1973-1975: Chuyển về Trảng Bảy Bàu (xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).

10. Từ năm 1960 đến năm 1974

Xây dựng căn cứ và bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo

Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, lực lượng An ninh vũ trang đã khắc phục khó khăn, gian khổ, xây dựng căn cứ, đào hầm hào, địa đạo, bảo đảm nơi làm việc an toàn cho cơ quan và các đồng chí lãnh đạo. Từ năm 1960 đến năm 1974, Tiểu đoàn 1 bảo vệ Trung ương cục đã xây dựng 1.650 hầm kiên cố, rộng 2m, dài 25m, đào đắp 5.000m3 đất đá.


Đại đội 32, Tiểu đoàn 10 An ninh vũ trang Trung Trung Bộ bỏ ra hàng vạn ngày công làm 857 nhà tránh, nhà ở, nhà hầm, đào gần 1.000 hầm hào kiên cố và một địa đạo dài 850m xuyên qua núi Thành để bảo vệ Khu uỷ.

Cùng với công tác bảo vệ lãnh đạo ỏ căn cứ, các đơn vị An ninh vũ trang còn thường xuyên đưa đón hàng nghìn lượt cán bộ, chuyển tài liệu, vận chuyển hàng hoá vật tư phục vụ chiến đấu. Nhiều cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chấp nhận sự hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #55 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:16:39 pm »

VI.KẾT QUẢ CÔNG TÁC CỦA ĐOÀN 180 AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM VÀ NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

1.KẾT QUÀ CÔNG TÁC CỦA ĐOÀN 180 AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để bảo vệ an toàn cơ quan đầu não Trung ương cục, Đoàn 180 An ninh vũ trang luôn chủ động triển khai các phương án bảo vệ, sẵn sàng chiến đấu chống máy bay địch ném bom, đánh phá, chống biệt kích, đổ bộ, chống đột nhập vào căn cứ. Trong 8 lần di chuyển căn cứ Trung ương cục, đơn vị luôn xây dựng phương án bảo vệ cho mỗi đồng chí lãnh đạo từ 1 đến 3 địa điểm dự bị, đồng thời khẩn trương xây dựng căn cứ mới. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhưng đơn vị đã xây dựng 1.350 căn nhà ở và làm việc, 1.650 căn hầm kiên cố, đào trên 100 giếng nước, mở 200 km đường rừng, đào hơn 10.000m giao thông hào, hàng trăm công sự, làm được 10 cây cầu, vót cắm 2 triệu mũi chông và 500 cọc chống trực thăng đổ bộ. Tiêu biểu nhất là cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 đã làm căn hầm đặc biệt phục vụ cho cấp ủy làm việc trong giai đoạn máy bay B52 Mỹ oanh tạc ác liệt nhất, với 4.000m3 đất được đắp lên cao 10m (gọi đây là căn cử Núi Đất ở Nam Rum Đuôn). Ngoài ra, Đoàn 180 còn xây dựng các phương án phối hợp với lực lượng các địa phương bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục 33 lần di chuyển căn cứ, 1.277 chuyến đi công tác vào vùng địch hậu cùng hàng trăm hội nghị. Đoàn 180 cũng đã xây dựng nhiều kế hoạch phương án bảo vệ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế đối với Đảng nhân dân cách mạng Campuchia sang lập cứ suốt 10 năm (1963-1973). Ngoài ra, Đoàn 180 còn triển khai các phương án bảo vệ an toàn các đoàn khách, phóng viên quốc tế như Cu Ba, Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô, Pháp vào thăm vùng giải phóng.


Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, hơn 400 cán bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.

2.NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ CỦA ĐOÀN 180 AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM

Với những thành tích xuất sắc đã đạt được, Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam được Đảng và Nhà nước tặng thưởng:

- 970 Huân chương, 64 Huy chương các loại;

- Đoàn 180 An ninh vũ trang và 04 đơn vị trực thuộc cùng 3 cán bộ chiến sĩ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

- 400 cán bộ, chiến sỹ được tặng các danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ, Dũng sỹ diệt cơ giới, Dũng sỹ diệt máy bay, Dũng sỹ Quyết thắng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #56 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:28:08 pm »

VII. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC BAN AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM VÀ AN NINH KHU

1. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BAN BẢO VỆ AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC (Tháng 8-1962)



2. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC BAN AN NINH MIỀN NAM (Năm 1969)


3.TỔ CHỨC BỘ MÁY NHA AN NINH - NĂM 1970 (Thuộc Bộ Nội vụ - Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam)



4. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU V (Năm 1965)



5. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU VIII (Năm 1968)



6. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU VIII (Năm 1973)



7. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU IX (Năm 1965)



8. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU IX (Năm 1972)



9. SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC AN NINH KHU ĐÔNG NAM BỘ (Năm 1973)



10. ĐOÀN 180 AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM (Từ năm 1954 đến năm 1975)


Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #57 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:29:42 pm »

VIII.   DANH SÁCH CÁC NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ NHÀ KHOA HỌC, CÁN BỘ CÔNG AN ĐÃ CUNG CẤP TƯ LIỆU VÀ GÓP Ý CHO ĐỀ TÀI

1. Đ/c Thiếu tướng Phạm Quốc Hùng, nguyên Tư lệnh K10

2. Đ/c Trung tướng Nguyễn Xuân Sinh, Tư lệnh K10

3. Đ/c Thiếu tướng Trương Văn Thanh, nguyên Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng

4. Đ/c Thiếu tướng, TS Đỗ Văn Thuyết, nguyên Viện trưởng X25

5. Đ/c Đại tá Lê Anh Xô, Phó Tư lệnh K10

6. Đ/c Đại tá Nguyễn Giao Thiệp, Phó Tư lệnh K10

7. Đ/c Đại tá, TS Nguyễn Xuân Ngọc, Phó Viện trưởng X25

8. Đ/c Đại tá Vũ Ngọc Dũng, Phó Viện trưởng X25

9. Đ/c Đại tá, TS Phan Thanh Long, Phó Viện trưởng X25

10. Đ/c Đại tá Đào Quang Sử, Phó Tư lệnh K10

11. Đ/c Đoàn Phước Truyền, AHLLVTND, nguyên cán bộ Đoàn 180

12. Đ/c Đại tá Trần Văn Năm, Anh hùng LLVTND, nguyên B trưởng Đoàn 180;

13. Đ/c Ngô Thanh Nguyên, Anh hùng LLVTND, nguyên cán bộ Đoàn 180;

14. Đ/c Đại tá Nguyễn Phong Giang, nguyên Cục phó Cục Chính trị BĐBP

15. Đ/c Nguyễn Phước Tấn, nguyên B trưởng Đoàn 180 An ninh vũ trang

16. Đ/c Đại tá Huỳnh Minh Phụng, nguyên Cục phó Cục Chính trí, Bộ Công an

17. Đ/c Đại tá Trương Quang Khả, Trường phòng 180-K10

18. Đ/c Đại tá Nguyễn Đức Lâm, Phó trưởng phòng 180-K10

19. Đ/c Đại tá, ThS Vũ Kim Dung, Trưởng Ban 4-X25

20. Đ/c Thượng tá, ThS Lê Ngọc Khánh, Phó trưởng Phòng 1-X25

21. Đ/c Thiếu tá, TS Đỗ Văn Dũng, Phó trưởng ban 4-X25

22. Đ/c Thượng tá Nguyễn Đức Quý, Phó trưởng Phòng 1-K10

23. Đ/c Trung tá Huỳnh Nhi, cán bộ nghiên cứu lịch sử Phòng 180-K10
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1136



« Trả lời #58 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2026, 09:37:13 pm »

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1.An ninh khu Sài Gòn, Biên bản số 177/BB họp giữa Ban An ninh R với đồng chí 10 N, ngày 7 và 8-1972, tư liệu A93.

2.An ninh Khu II, Dự thảo Nghị quyết, tình hình nhiệm vụ công tác an ninh 1967-1968 của Khu II.

3.An ninh Khu II, Dự thảo Nghị quyết số 30/A, về công tác an ninh Khu II (từ 10-1974 đến hết 1975), tư liệu A93.

4.An ninh T1, Báo cáo tổng kết tình hình và công tác an ninh TI từ 1963-1966, tư liệu A93.

5.An ninh X97, Biên bản họp Ban lãnh đạo, ngày 12-7-1971, tư liệu A93.

6.An ninh X97, Biên bản họp Ban lãnh đạo, tư liệu A93.

7.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Âm mưu của công an,cảnh sát, gián điệp sắp tới và một số vấn đề chỉ đạo công tác an ninh phục vụ nhiệm vụ trung tâm đánh bại bình định, tư liệu A93.

8.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Báo cáo tình hình và công tác an ninh bảo vệ năm 1962 và đề án an ninh bảo vệ 1963, tư liệu A93.

9.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Báo cáo tổng kết tình hình và công tác từ 1972 - 7-1973, tư liệu A93.

10.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 2/CTAN, Về tích cực khẩn trương củng cố xây dựng lực lượng, kiện toàn bộ máy chỉ đạo chỉ huy an ninh các cấp có căn cứ vững mạnh đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tấn công địch, bảo vệ ta, phục vụ công tác trung tâm đánh bại bình định, tư liệu A93.

11.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 12/CTNT, ngày 3-5-1968, về việc triển khai Nghị quyết ngày 7-4-1968 của TV Năm Trường, tư liệu A93.

12.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 17/CTNT, ngày 9-6-1968, Về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang, tư liệu A93.67. Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 17/CTNT, ngày 9-6-1968, Về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang, tư liệu A93.

13.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 41, Tãng cường canh gác giữ vững nguyên tắc bảo mật phòng gian bảo vệ chủ trương ý đồ chiến lược và tài liệu mật, bảo vệ nội bộ, cơ quan, đơn vị, tư liệu A93.

14.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Chỉ thị số 105/ VP, Về việc tăng cường công tác an ninh đánh bại âm mưu của địch, xây dựng căn cứ vững mạnh, tư liệu A93.

15.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Đánh giá về bình định, những bài học kinh nghiệm của các chiến lược gia Mỹ, ngụy qua các thời kỳ, tư liệu A93.

16.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Để án công tác an ninh năm 1966-1967, tư liệu A93.

17.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Đề cương báo cáo tình hình công tác an ninh với A Hải và Thường vụ Khu ủy 5, năm 1972, tư liệu A93.

18.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Một số ý kiến góp vào việc xây dựng kế hoạch công tác an ninh từ 1964-1965, tư liệu A93.

19.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Nghị quyết Hội nghị An ninh miền Nam lần thứ 2, tư liệu A93.

20.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Nghị quyết về công tác bảo vệ các cơ quan M40, tư liệu A93.

21.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Tài liệu tham khảo tình hình địch (1954-1974), tư liệu X25.

22.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Tình hình từng vùng nông thôn trong binh định và chống phá bình định giữa ta và địch, tư liệu A93.

23.Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Về tổ chức chính quyền Cộng sản tại Việt Nam (Tài liệu địch), tư liệu A93.

24.Ban An ninh vũ trang miền Nam, Trung đoàn 1, Báo cáo thành tích đơn vị Đại đội 1, tư liệu A93.

25.Ban Chỉ đạo tổng kết, Tổng kết lịch sử An ninh Khu 9 thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2010.

26.Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2000.

27.Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 1996.

28.Ban Liên lạc Đoàn 180, Một thời để nhớ, tập 2, Công ty in Sài Gòn giải phóng, Thành phố Hồ Chi Minh, 2010.

29.Ban Nghiên cứu tổng kết lịch sử Công an nhân dân, An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 1995.

30.Ban Nghiên cứu tổng kết lịch sử công an nhân dân, Lịch sử Công an nhân dân Việt Nam (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2000.

31.Bộ tư lệnh Cảnh vệ, Cảnh vệ Công an nhân dân Việt Nam - Lịch sử biên niên (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 1997.

32.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Khái quát quá trình chiến đấu và trưởng thành của Trung đoàn 180 - Những bài học kinh nghiệm được rút ra (1956-1998), tư liệu K10.

33.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Tổng kết lịch sử công tác cảnh vệ Công an nhân dân Việt Nam (1941-2005), Nxb Công an nhân dân, HN, 2010

34.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Chỉ thị số 8/CTAT-CV, Những vấn đề cơ bản về công tác và xây dựng lực lượng cảnh vệ, cận vệ, tư liệu A93.

35.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Chỉ thị về những vấn đề cơ bản về công tác xây dựng lực lượng cảnh vệ, cận vệ, tư liệu A93.

36.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Dự thảo kế hoạch lập phương án cảnh vệ cán bộ lãnh tụ, tư liệu A93.

37.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Một số vấn đề cơ bản trong công tác cảnh vệ, tư liệu A93.

38.Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Tài liệu học tập công tác bảo vệ tiếp cận, tư liệu A93.

39.B4, Chỉ thị số 05/CT, Về việc xây dựng căn cứ, tư liệu A93.

40.B4, Chỉ thị số 1731 B4, Về công tác bảo vệ cơ quan, bảo vệ nội bộ, tư liệu A93.

41.Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Công an Thành phố Hồ Chí Minh - Biên niên sự kiện lịch sử (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002.

42.Công an tỉnh Kiên Giang, Biên niên sự kiện lịch sử Công an nhân dân tỉnh Kiên Giang (1945-1975), xí nghiệp in Hồ Văn Tẩu, thành phố Rạch Giá, Kiên Giang.

43.Công an tỉnh Phú Yên, Công an nhân dân Phú Yên - Lịch sử biên niên sự kiện lịch sử (1945-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2000.

44.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 22 (1962), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001.

45.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 23 (1962), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002.

46.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 24 (1963), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002.

47.Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 25 (1964), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002.

48.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 26 (1965), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002.

49.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 27 (1966), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2002.

50.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 28 (1967), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

51.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 29 (1968), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

52.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 30 (1969), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

53.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31 (1970), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

54.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 32 (1971), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

55.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 33 (1972), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

56.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 34 (1973), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

57.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng,Toàn tập, tập 35 (1974), Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2003.

58.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 36 (1975), Nxb Chính trị Quốc gia,HN, 2003.

59.Đoàn 180 An ninh vũ trang, Công văn số 162/P2-V15 Về việc đề nghị kỷ niệm ngày truyền thống, tư liệu A93.

60.Đoàn 180 An ninh vũ trang, Dự thảo lần thứ nhất Biên niên sự kiện giai đoạn 1 (từ 1954-1960), giai đoạn 2 (1961-1975) tư liệu A93.

61.Đoàn 180 Công an nhân dân vũ trang, Tiểu đoàn 2, Bản tóm tắt thành tích, tư liệu A93.

62.Phan Văn Khi, Đoàn 180, tư liệu A93.

63.Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam (1954-1975), Nxb Chính trị Quốc gia,HN, 2002.

64.Nguyễn Hồng Long, Nghĩ lại về công tác bảo vệ lãnh tụ trong chiến tranh, tư liệu A93.

65.Tám Be, Về đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương cục, tư liệu A93.

66.Thường vụ KBN, Nghị quyết số 165/TV-KBN, ngày 24-4-1972, Về những vấn đề cơ bản về công tác an ninh, tư liệu A93.

67.Tiểu đoàn 1 An ninh vũ trang, Báo cáo một số thành tích tiêu biểu qua 15 năm bảo vệ và chiến đấu, tư liệu A93.

68.Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân - Biên niên sự kiện (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2001.

69.Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Tổng kết lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân (1945-2000), Nxb Công an nhân dân, HN, 2010.

70.TVL72, Chỉ thị số 18/CT72, Về công tác bảo vệ nội bộ, tư liệu A93.

71.TV T4, Chỉ thị số 27/CTNT, ngày 2-2-1964, Hướng dẫn công tác trị an, tư liệu A93.

72.TVL72, Chỉ thị số 24/CT72, tháng 8-1972, Về nhiệm vụ và tổ chức của lực lượng vũ trang bảo vệ, tư liệu A93.

73.Văn phòng Trung ương Đảng, Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương cục miền Nam (1945-1975), Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

74.Viện Lịch sử Công an, Biên niên sự kiện lịch sử An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954- 1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2005.

75.Viện Lịch sử Công an, Lịch sử An ninh Trung Nam Bộ - Khu 8 thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2010.

76.Viện Lịch sử Công an, Lịch sử An ninh khu Đông Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2010.

77.Viện Lịch sử Công an, Lịch sử khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb Công an nhân dân, HN.2008.

78.Viện Lịch sử Công an, Lịch sử khu VI thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1962-1975), Nxb Công an nhân dân, HN, 2007.

79.Viện Lịch sử công an, Những văn bản của Trung ương cục về an ninh trật tự thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tập I (1954-1965), tập II (1965-1975), tư liệu X25.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM