Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:38:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cánh đồng phía tây  (Đọc 24306 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:37:11 pm »

    Lát sau Hà Giao trở về tiểu đoàn. Ra tới con đường mòn trục, anh chợt gặp một nhóm ba người: một nam giới và hai phụ nữ, một chị đã đứng tuổi, búi tó, mặc áo len cộc tay màu huyết dụ còn chị kia rất trẻ, tóc để xõa ngang vai, mang một chiếc áo khoác màu xanh, vẻ đẹp của người phụ nữ như một ánh chớp ngay tức khắc làm cho Hà Giao như choáng đi. Anh ngờ ngợ.

     - Các đồng chí có phải phái đoàn phụ nữ đến thăm đơn vị không?

     - Dạ phải -  người đàn ông trong đoàn phụ nữ tươi cười đáp - Phiền anh làm ơn chỉ giúp cho lối vào e2.

     Hà Giao rối rít, sốt sắng:

     - Đấy, đấy! Anh và các chị đi lối này, tới rồi, không còn xa nữa đâu.

     Khi đoàn đại biểu đi khuất, Hà Giao vẫn còn đứng ngẩn. Càng tiếc lại càng tức cái thằng cha kiêu căng, độc đoán, cá nhân. Trời ơi, giá mà nó không gạt đi, thì có phải là được đón tiếp người đẹp không...

     Nhóm ba người được lính gác đưa vào tận cửa hầm của ông Quý.

     - Anh Văn Túc vào trước đi. Tôi và cô Lệ chờ ngoài này - Chị búi tó nói.

     - Ấy sao lại thế. Cùng vào chứ.

     Ông Quý đang cắm cúi đọc một tài liệu. Ba người cùng bước vào. Ông không khỏi như bàng hoàng. Ông đang chuẩn bị tinh thần để đón tiếp một đoàn đông hơn. Không ngờ họ xé lẻ đi thành từng tổ. Nhưng còn bất ngờ hơn: trong đoàn lại có người đẹp đến như thế. Cứ tưởng toàn là mấy bà sồn sồn. Ông hoá ra lúng túng, gần như thiếu tự tin, kể cả vụng về trước người đàn bà quá đẹp mà dường như ông ít khi thấy được.

     Sau khi trao đổi ý kiến, dù rất tiếc rẻ, ông Quý cũng không có cớ gì để giữ “phái đoàn”' ở lại. Mấy hôm nay, chỉ trong giây phút này ông mới như quên đi niềm vui có con trai mới sinh. Ông chỉ thị cho cán bộ ban chính trị phải trực tiếp đưa đoàn xuống d1 của Phan Đức. Không những thế, để bảo vệ đoàn, ông còn cho cơ quan tham mưu cắt một tổ vệ binh tháp tùng. Nhưng ông cũng không ngờ, trước khi rời sở chỉ huy, người đẹp nhất trong đoàn đã đột ngột hỏi:

     - Thưa anh, nhưng sao các anh không cho đoàn chúng em xuống đơn vị của anh Dũng?

     - Chị biết Dũng của chúng tôi ư? - Ông Quý ngạc nhiên.

     - Dạ, em có quen anh ấy.

     Ông Quý trở nên bối rối:

     - Thưa chị, thật ra lúc đầu chúng tôi cũng có kế hoạch như vậy. Nhưng anh ấy xin thôi. Vì tiểu đoàn anh ấy đang bận chiều nay...

     - Anh ấy xin thôi ạ?

     - Vâng.

     - Vậy cũng được. Không sao cả ạ. Chúng em thế nào cũng có dịp gặp nhau. Xin anh đừng bận tâm.

     Ông Quý vẫn chưa hết băn khoăn. Khi cả ba người quay ra, ông bỗng thoáng linh cảm thấy một điều gì không bình thường trong chuyện này, mà ông đã không sớm để ý ngay từ đầu.

     Trên đường đi, Văn Túc vẫn luôn luôn ở bên Nguyệt Lệ như tất cả mọi khi. Anh ghé tai cô:

     - Này, tươi lên một tí chứ! Ai lại xuống đơn vị mà mặt mũi cứ như bị thế kia hả?

     Nguyệt Lệ cúi đầu im lặng. Văn Túc nghiêm trang hơn:

     - Tôi hiểu cả rồi. Nhưng mà dẫu sao cô vẫn không nên như thế. Mọi việc sẽ giải quyết sau. Bây giờ là ta xuống với các chiến sĩ, cô hiểu không?

     Đến lúc ấy, Nguyệt Lệ không thể không nói, cô gần như nghẹn ngào:

     - Tôi không ngờ anh ấy đã khinh ghét, thậm chí căm hờn tôi đến thế. Anh ấy không thèm gặp mặt tôi nữa....

     - Tôi đã bảo là mọi chuyện sẽ giải quyết sau mà! Cô cứ vui lên. Cô phải tươi lên mới được! Cô đừng quên cô là đại biểu nhá.

     Văn Túc đã được Nguyệt Lệ kể cho nghe về cuộc gặp gỡ bất ngờ ở khe Trăn, và cả những kỷ niệm cũ không sao quên. Cô cũng chẳng giấu anh cả tình trạng hiện nay của cuộc sống lứa đôi giữa cô và Hồng Đăng. Cô tin Văn Túc, coi anh như một người anh. Mặc dầu hơi ba hoa, nhưng anh vô cùng trung thực và tốt bụng. Chị Tâm, người đi cùng, tuy cũng khá thân, nhưng cũng chỉ được Nguyệt Lệ cho biết đôi chút thoáng qua. Tuy cùng giới, nhưng Nguyệt Lệ không bao giờ hoàn toàn tin ở giới mình. Cô biết: với nhau, những người đàn bà thường khe khắt và hẹp hòi, nhiều khi không thể hiểu nổi.

     Văn Túc nói tiếp, vẻ chắc chắn và khẳng định:

    - Cô cứ yên trí. Tôi đã có một kế hoạch rồi: sau khi xuống d1 xong, ta trở về đại đoàn, gặp bà Lợi đang chờ ta ở đó, xin xuống tiếp e3. Cô hiểu không. Ở đó tôi có quen một anh tiểu đoàn trưởng, anh Lê Phong. Tôi mới được biết Lê Phong là bạn rất thân của anh Dũng. Tôi sẽ nói chuyện với Lê Phong và nhờ anh ấy làm trung gian... hòa giải.

    - Không! Để làm gì? Không! - Lệ gạt đi.

    - Cô gái ơi là cô gái! Cô phải nghe tôi mới được chứ! Trong bất cứ cuộc va chạm giận hờn nào trên đời này đều phải có một bên tỉnh táo và biết nhường nhịn. Cứ cương cả thì sẽ không bao giờ giải quyết được việc gì hết.

    - Không! Anh Túc ạ. Không. Tôi không yêu cầu anh làm thế.

    - Cô nói thế không được đâu.

    - Đã bảo là không mà, anh Văn Túc. Vô ích, chính anh ấy cũng đã không muốn thế. Và cả số phận cũng đã an bài.

    - Nói bậy nào! Cô cứ mặc tôi.

    Dưới tiểu đoàn, Phan Đức và mọi người đã đợi sẵn. Nhóm đại biểu phụ nữ tới. Cuộc đón tiếp hết sức nồng nhiệt, mặc dầu không có gì hết, từ hoa tươi đến bánh kẹo. Phan Đức cùng chính trị viên tiểu đoàn đưa các đại biểu xuống tận đại đội chủ công của tiểu đoàn. Ở đây, toàn đại đội cũng đã tập hợp để đón đoàn. Cuộc tập hợp khá đặc biệt đối với khách: bộ đội không ngồi tập trung trên bãi cỏ, càng không có hội trường, mà từng trung đội đứng rải trong những giao thông hào dài dích dắc, hình chữ chi. Hào khá sâu, kể cả các gờ đất ở hai miệng hào, lính đứng phải lút đầu. Chính trị viên đứng trên mặt đất, bên một công sự cá nhân. Khi đoàn đại biểu phụ nữ tới, tất cả cùng giơ tay, bàn tay từ các giao thông hào như những đàn bướm kéo dài cùng bay tung tăng lên rối rít, đẹp mắt lạ thường, đến nỗi cả ba người: Chị Tâm, Văn Túc, và Nguyệt Lệ đều cùng đứng dậy ngây ra và rớm lệ. Phan Đức khiêm tốn giảng giải:

     - Ở đây là mặt trận, chúng tôi không dám cho bộ đội tập trung trên mặt đất như ở hậu phương, xin thông cảm cho.

     - Không! Không! Đúng là ở mặt trận. Chúng tôi chưa bao giờ được dự một cuộc đón tiếp hết sức thú vị như thế này - Chị Tâm nói.

     Văn Túc bao giờ cũng là người lắm sáng kiến. Anh bỗng cất tiếng đề nghị:

     - Thế này nhá, xin các đồng chí chỉ huy cho phép đoàn chúng tôi được cùng xuống giao thông hào với anh em, để bắt tay. Tới đây rồi mà không xuống được hào, không bắt được tay từng chiến sĩ là không thể yên tâm, các đồng chí ạ!

     Ý kiến ấy được chấp nhận ngay với tất cả niềm phấn khởi, vui vẻ của mọi người. Thế là cả ba người cùng chạy lại phía các chiến sĩ. Chỉ vừa chạm tới mép hào, ba người đã được gần như tất cả những cánh tay tua tủa vươn lên đón, cùng với tiếng hò reo cực kỳ vui vẻ. Nguyệt Lệ bám theo chị Tâm và Văn Túc đi dọc các chiến sĩ hào, siết chặt tay từng chiến sĩ. Hào hẹp, mọi người, cả chiến sĩ cả đại biểu, đều phải vai chen vai, cánh thích cánh. Nhưng tất cả những sự va chạm, thậm chí cọ xát ấy đều không hề gợi lên một ý nghĩ thầm lén kể cả những kích thích xác thịt nào. Tất cả chỉ thấy chan hòa ánh sáng, chỉ thấy dào dạt những tình cảm tươi đẹp, thân thiết tuyệt vời mà chưa bao giờ họ được có. Tất nhiên, Nguyệt Lệ là người được bắt tay nhiều nhất, ân cần, thân thiết nhất. Có anh chiến sĩ đã như không nén được, ghé sát tai cô thì thầm: “Trời ơi, chị đẹp quá! Em được trông thấy chị, lại còn được bắt tay chị như thế này, ngày mai dù em chết cũng không còn nuối tiếc điều gì”... Cứ như thế, cuộc thăm hỏi bắt tay kéo dài mãi, đoàn cán bộ phụ nữ vẫn chưa được các chiến sĩ chịu cho lên mặt đất, đến nỗi anh chỉ huy đại đội phải nhắc nhở thật to:

    - Thôi, xin các đồng chí để cho các đại biểu lên, còn nói chuyện với chúng ta nữa chứ!

    - Không cần! Không cần gì nữa! Gặp được các đại biểu như thế này là quá đủ rồi. Bao nhiêu lời nói lúc này cũng là thừa - Một anh cán bộ trung đội nào đó phấn khởi đáp to. Lập tức tất cả các chiến sĩ đểu hò reo vang ầm, hưởng ứng câu nói rất hợp ý ấy.

    Không thể nào dứt ra về ngay được, cả nhóm ba người đều vui lòng nhận lời ở lại tiểu đoàn tới sáng hôm sau. Đêm ấy, bên ngọn đèn bão trong hầm chỉ huy tiểu đoàn, mọi người cùng quây quần nói chuyện uống trà gạo rang cho tới khuya. Sau đó chị Tâm và Nguyệt Lệ được thu xếp ngủ ở dưới hầm tiểu đoàn trưởng, còn Văn Túc cùng ngủ chung với Phan Đức ở một hầm bên cạnh.

    Đã gần nửa đêm, hai chị em vẫn còn thao thức mãi. Giường bằng tre nứa ghép lại, tuy đã được trải tới hai lớp vải dù vẫn còn thấy mấp mô, lượn sóng. Gối là hai chiếc ba lô lính. Căn hầm tối om, ẩm lạnh, đầy mùi dầu súng, thuốc nổ, cả mùi mồ hôi người. Nhìn qua cửa hầm, một mảng trời loang lổ mây đen, lẫn ánh trăng suông lúc mờ lúc tỏ, và cả ánh sáng của đèn dù chập chờn ma quái. Thêm nữa, chốc chốc lại đỏ rực lên ánh lửa. Trong khi đó tiếng máy bay ì ầm xa, gần dường như không lúc nào ngớt, cùng tiếng trọng pháo và bom đêm liên hồi rung chuyển.

        Lần đầu tiên trong đời, Nguyệt Lệ được ngủ qua đêm trong một căn hầm ở trận địa như thế này. Cô nằm nép vào chị Tâm, vừa sợ hãi vừa xót thương, xót thương cho cuộc sống của những người chiến sĩ mà bây giờ cô mới hiểu rõ và cụ thể được phần nào. “Nằm miền cát trắng, ngủ cùng rêu xanh..” Ôi, người lính xưa trong Chinh Phụ Ngâm đã như thế, nay xem ra họ còn khổ cực và phải chịu đựng mọi ác liệt hơn nhiều... Ôi đêm nay anh đang ở đâu? Anh cũng đang trằn trọc trên một chiếc giường khổ ải như thế này, hay anh cũng đang ở ngoài cánh đồng, dưới đèn dù và pháo sáng, dưới những trái bom hoặc những loạt đạn pháo ác hiểm bất ngờ?... Càng ở lại Điện Biên thêm ngày nào, em càng thấy rõ hơn bao giờ hết: em yêu anh, yêu anh không biết là chừng nào, và cũng càng thấy rõ thêm: em quả là đã có lỗi không thể nào tha thứ. Em đã làm cho cuộc sống của anh thêm biết bao đau khổ. Anh yêu ơi, nhưng biết làm thế nào bây giờ? Em phải làm gì để chuộc lại mọi tội tình? Và nhất là cần làm gì để có thể vơi bớt cho anh những đau khổ, làm dịu đi những vết thương lớn nhỏ trên thân thể cũng như trong tâm hồn anh?... Anh yêu ơi, có lẽ em chỉ có con đường chết. Chết để giãi bầy, chết để tạ từ, và cũng là để giải thoát cho cuộc sống hiện tại của chính em, cái cuộc sống mà em đã lầm tưởng rằng chỉ cần có nghĩa cũng là đủ để sống...

     Ánh đèn dù vẫn chấp chới quay tròn hắt lại. Tiếng máy bay vẫn xa gần. Tiếng trọng pháo của cả đôi bên ta, địch, chốc chốc vẫn gầm lên rung chuyển tới cả căn hầm. “Ngủ đi em” - Chị Tâm thi thoảng lại khe khẽ nhắc. Cũng thi thoảng, lại thấy bóng anh chiến sĩ nhẹ nhàng đi qua cửa hầm, và thấy cả cái bóng của tiểu đoàn trưởng Phan Đức với chiếc mũ bê-rê đội sụp quá trán, cùng chiếc áo veste Canadienne rộng và đôi giầy cao cổ, đế cao su đầy răng cưa, thu được của quân dù lê dương. Mỗi lần đi ngang qua, anh lại ngó đầu, có ý nhìn xem hai người khách có ngủ ngon hay không. Nom thấy Đức, hình ảnh Dũng lại càng trở nên sừng sững trong đầu óc Nguyệt Lệ. Anh yêu ơi, thôi xin đừng giận hờn, căm ghét nữa. Mà dù anh có căm ghét em cho tới suốt cuộc đời thì em cũng chỉ càng yêu anh, yêu anh cho đến chết. Phải, chỉ có cái chết may ra mới có thể biện minh và giải thoát được cho em...

     Mãi sau đó, Nguyệt Lệ mệt quá mới chợp mắt được một lúc. Nhưng bỗng tiếng trọng pháo lại rền lên dữ dội, và lần này nghe nhiều hơn trước gấp bội. Cả căn hầm rung chuyển khá mạnh. Nguyệt Lệ và chị Tâm cùng choàng dậy. Vô cùng kinh hãi, hai người chưa biết nên chạy ra hay cứ ngồi đấy và có nên gọi ai không, thì Phan Đức đã cầm chiếc đèn pin đầu bọc vải xanh che bớt sáng, ngó đầu vào ân cần:

     - Các chị cứ bình tĩnh! Xa đấy!

     - Nhưng chúng bắn cái gì thế? Bắn ở đâu vậy anh?

     - Tôi vừa điện lên trung đoàn hỏi, được biết: bên trung đoàn 3 có đụng với tụi nó.

     Nguyệt Lệ không kịp nghĩ hỏi ngay:

     - Không phải bên anh Dũng chứ anh?

     - Không! Không! Bên trung đoàn 3. Nếu nó bắn ở trận địa của d2 anh Dũng còn nghe dữ hơn nhiều. Các chị cứ ngủ đi. Yên trí.

     Nguyệt Lệ thở trút, từ từ hạ lưng xuống. Nhưng từ đó không sao ngủ được nữa.

     Đúng là có đụng độ quân tuần tiễu thám báo của địch với các tổ canh gác xa của tiểu đoàn Lê Phong thuộc trung đoàn 3. Trung đoàn này ở quá lên phía bắc, đầu sân bay Mường Thanh. Trung đoàn 3 với trung đoàn 2 cùng có nhiệm vụ đào giao thông hào và chiến hào ở cánh đồng phía tây sân bay và khu trung tâm Mường Thanh. Chính diện của hai e nhằm thẳng vào tiểu khu ngoại vi tây bắc của địch. Chúng đã đặt tên là Huygette. Tiểu khu này có năm cứ điểm ở nhô ra xa nhẩt là Huygette 7.

    Tiểu đoàn của Lê Phong cách đây ít ngày, cũng như mọi đơn vị khác, thường bị địch ở H7 bất ngờ ra lấp hào, hoặc gài mìn. Có đêm chúng còn táo bạo đánh chiếm cả những đoạn hào ta mới đào. Sau rút kinh nghiệm, và áp dụng cả sáng kiến của tiểu đoàn Dũng, Lê Phong đã có tổ chức canh gác từ xa, và có kế hoạch tác chiến đầy đủ để chống lại mọi hành động phá hoại của địch. Đêm nay, không phải đêm đầu tiên có đụng độ. Nhưng cũng có cái khác: lực lượng tuần tiễu phá hoại của địch đêm nay không phải là ngụy Thái hoặc bọn dù ngụy Việt Nam, mà là lê dương. Bọn này thấy súng nổ, không bỏ chạy, mà phục ngay xuống, tổ chức chống trả liền. Ngổ ngáo, bắn một chập, thấy rõ lực lượng đối phương nhỏ hơn, chúng bèn xung phong. Bên ta chỉ có một tiểu đội. Anh em bắn rất mạnh. Bọn lê dương đổ khá nhiều. Nhưng chúng nó xông lên như những con gấu ngựa, các chiến sĩ ta, cả cựu binh và tân binh cùng một loạt giương lê, chồm dậy...

    Đợt tấn công của địch đã bị đẩy lui, pháo địch nã xuống dồn dập. Tiểu đoàn trưởng Lê Phong nghe đại đội trưởng Núi báo về:

    - Báo cáo, địch chuẩn bị rút về H7.

    Lê Phong nhíu mày hỏi lại:

    - Rút hay chuẩn bị đợt tấn công khác? Xem lại!

    - Báo cáo, thấy chúng đang kéo thương binh về phía sau, có một thằng cũng chạy lui.

    - Cứ quan sát lại đi!

    Quả nhiên, chỉ mấy phút sau lại thấy tiếng tiểu liên Thompson của địch nổ ran, rồi tiếng đại đội trưởng Núi vang lên trong máy nói:

    - Báo cáo, địch lại tấn lên. Đông lắm. Chúng tràn qua tổ 2...

    Phong quát to:

    - Điều ngay tiểu đội phía sau vòng “khuýp” vào sườn chúng nó!

    Tiếng tiểu liên và lựu đạn lại tràn ngập, quyết liệt. Mười lăm phút sau, Núi lại báo cáo về:

    - Địch đã rút chạy. Chúng đã mang hết thương binh và bắt đi cả một thương binh của ta.

    - Sao? Ai? - Lê Phong như thét lên.

    - Báo cáo, đêm tối quá, chưa rõ ai, nhưng đó là một tân binh, người Yên Phong, Bắc Ninh.

    Phong ném ống tổ hợp xuống, vẫy một liên lạc, đoạn băng lên phía trước.

    Anh cùng đại đội trưởng ra tận nơi vừa xẩy ra tác chiến. Các thương binh của ta vẫn còn đó, y tá đang hối hả băng bó. Đã xác định rõ, đúng là một tân binh quê Bắc Ninh bị mất tích.

    - Tìm kỹ chung quanh đây chưa? - Lê Phong hỏi.

    - Đã! Nhưng không thấy.

    Giả thuyết anh tân binh bị địch bắt đã được gần như khẳng định. Phong ngồi thừ người trong một đoạn hào sụt lở. Anh bỗng như vùng dậy, lệnh cho Núi tổ chức ngay một tiểu đội gồm những người thiện chiến truy đuổi, nhằm cứu bằng được tân binh, đồng thời cũng mạo hiểm vào sâu để nắm tình hình địch cùng địa hình trong đó...

     - Báo cáo, xin cho giới hạn.

     Lê Phong cắn môi suy nghĩ, rồi khoát tay:

     - Cứ tiến vào sâu! Có điều kiện bí mật tiến sát sân bay càng tốt, nhưng phải hết sức thận trọng. Càng vào là càng khó đấy. Nó như bát quái trận đồ...

     - Rõ! Tôi xin trực tiếp chỉ huy tổ này.

     - Rất tốt.

     Trong khi quá cay cú vì bị mất một chiến sĩ, Lê Phong đã quên cả việc báo cáo xin phép trung đoàn về hành động hết sức táo bạo mà vô cùng nguy hiểm này.

     Tổ truy đuổi đã được chuẩn bị xong. Ngoài Núi còn có một đội trưởng được gọi là tay tiểu liên số một của đại đội, và một anh tổ trưởng ba người trước kia ở nhà chuyên câu cá trộm ban đêm, mắt rất tinh, nhìn trong bóng tối giỏi như cú mèo. Một anh nữa người miền núi có biệt tài nhận phương hướng đến mức bịt mắt anh ta lại rồi vứt vào rừng sâu, hôm sau anh ta đã mò về được. Tên là Lã Văn Lềnh.

     Tất cả đơn vị như nín thờ theo dõi tổ biệt động chìm dần trong bóng tối trước mặt. Phong xem đồng hồ: đã 4 rưỡi sáng. Lúc đó lại chợt nghe tiếng máy bay từ xa, rồi chỉ mấy phút sau đã nghe rõ hơn một chiếc vận tải. Nó bay vào rừng trời Mường Thanh, lượn tròn, dường như có ý thả dù, như mọi đêm. Nhưng có lúc lại có cảm giác như nó đang gắng tìm tín hiệu trên đường băng để hạ cánh. Từ sau màn 1, pháo và cao xạ ta đã xuống được cánh đồng, sân bay của địch đã liên tục bị bắn phá khống chế. Ngoài việc phải tăng cường thả dù ban ngày, bọn Pháp đã phải thả dù cả ban đêm để tránh các lưới lửa của ta. Việc hạ cánh máy bay dường như chỉ tranh thủ các buổi sáng sớm khi còn sương mù, khi mà pháo và cối ta không quan sát được rõ mục tiêu trên đường băng. Tuy vậy, nhiều chiếc máy bay hạ cánh xuống vẫn cứ bị pháo cối ta bắn cháy hoặc phá hủy, dù chỉ bắn gần như hú họa trong sương mù. Gần đây, bọn Pháp đã buộc phải cho máy bay hạ cánh cả ban đêm, vì nhu cầu cấp bách. Nhưng yếu tố an toàn hết sức mỏng manh vì các đèn bên đường băng đã bị phá hủy hầu hết. Chỉ còn một vài chiếc được ngụy trang rất kỹ để làm cọc tiêu.

      Chiếc vận tải vẫn ì ì. Pháo cao xạ và các trận địa súng máy của ta lại bắn lên như pháo hoa đầy trời. Nhưng cũng lạ, lại nghe có thêm tiếng máy bav nữa. Lần này chiếc vận tải mới tới hình như không lượn nhiều mà như đang muốn sà xuống thấp. Lê Phong chau mày nhìn lên bầu trời màu trứng thối loe lóe đạn lửa, lẩm bẩm:

      - Mẹ kiếp, khéo “thằng này” tranh thủ hạ cánh chắc?

      - Trời, tức quá, giá mà quân ta có ra-đa hoặc đèn pha chiếu sáng lúc này thì chúng nó phải chết! - Anh tác huấn đứng bên Phong thốt lên.

      Phong phán đoán không sai. Đêm nay, bọn Pháp bắt đầu áp dụng một chiến thuật mới: nghi binh. Chúng đã cho một chiếc DC3 chỉ chuyên lượn trên cao để thu hút sự chú ý của cao xạ và pháo binh ta, trong khi đó bất thần một chiếc khác bay ở tốc độ thấp, lén đột ngột hạ cánh. Mặt khác, dưới đất, đã được quy định và báo trước, các xe tải mở sẵn máy, khi thấy máy bay bắt đầu chạm bánh xuống đường băng (đã được công binh người Ma-rốc sáng sáng liều mạng ra sửa lại) là các xe ô tô tải cũng đồng thời xuất phát từ Mường Thanh chạy song song với máy bay đang còn bon bon trên đường băng. Khi máy bay dừng lại, xe tải gí đít vào liền, để bốc dỡ hàng cho mau, sau đó còn đưa bọn thương binh lên. Chúng nằm chờ trên các hố đầy bùn và cứt đái bên khu cất giấu máy bay trước đây...

     Đúng như Phong đoán, chiếc máy bay vận tải thứ hai đã khôn ngoan sà được xuống đúng đường băng. Tên phi công chỉ còn biết kêu lên sung sướng: “Lạy chúa, con đã được cứu mạng”. Trên chiếc máy bay này không chỉ có đạn dược, thuốc men mà đặc biệt còn có cả một sĩ quan bị đưa lên đây để thay thế cho số đã bị giết chết, hoặc bổ sung tăng cường, nhưng trung tá Ducrix sẽ làm sĩ quan tham mưu mới cho De Castries, trung tá Lemeunier sẽ chỉ huy GM9 (binh đoàn cơ động số 9) - Đây là viên sĩ quan lê dương đã ở Việt Nam từ hồi Pháp còn thống chế Pétain - và viên trung tá Vaillant sẽ đảm nhiệm chỉ huy pháo binh tập đoàn cứ điểm thay cho viên trung tá Piroth tự tử sau màn 1 chiến dịch vì đã quá huênh hoang là “sẽ bịt được mõm pháo Việt Minh”.

     Toán sĩ quan bổ sung khá may mắn. Chúng vừa toài ra khỏi máy bay, nhảy đại xuống những chiếc xe ra đón, thì cũng là lúc tổ biệt động của Núi đã luồn vào được tới con hào thoát nước chạy dọc sân bay.

    Tới kênh thoát nước cũng là lúc cực kỳ hồi hộp. Một người trong tổ bỗng vấp phải một vật gì ấm ấm, mềm mềm. Anh kinh hãi rút chân lại, và ngó nhìn xuống: một cái xác người. Một chiến sĩ ta. Run bắn, anh quay lại vẫy tay ra hiệu gọi Núi tới. Núi trườn lên. Anh đã nhận ra anh chiến sĩ tân binh của mình. Núi gục mặt xuống ngực người tử sĩ. Anh phát hiện thêm: ngoài hai chân đã bị đạn đẫm máu, trên ngực anh chiến sĩ còn có một con dao găm cắm ngập. Trời ơi!... Hẳn là chúng kéo anh về được đến đây nhưng bị chống cự dữ quá, chúng đã hạ sát anh một cách man rợ, hèn hạ...

    Một loạt hỏa châu từ các cao điểm phía đông bắn vọt lên. Ánh sáng ma trơi hắt lại. Núi ngẩng lên. Anh nhìn thấy chiếc Dakota hiện lên to đùng, khá rõ trên đường băng phía trước, chỉ cách anh chừng một trăm mét. Một phản ứng hết sức mau lẹ và quyết liệt của người chiến sĩ khi vào trận đẩy Núi bật ngay dậy, với tư thế quỳ bắn. Và không kịp suy nghĩ đôi hồi, anh nghiến răng, kẹp khẩu trung liên vào nách, lia một hơi dài hết sạch băng đạn. Đoạn anh quay lại, vẫy tay ra hiệu cho cả tổ cùng khiêng tử sĩ, rút chạy.

    - Lềnh và cú mèo, lại dẫn đường! Tôi đánh bảo vệ đuôi. Mau!

    Chiếc máy bay địch đã nổ như một trái bom lớn. Một quả cầu lửa bùng lên làm cho cả đất trời đỏ khè.

     Phải tới mười phút sau pháo địch mới kịp phản ứng. Chúng bắn tràn lan ra cánh đồng. Đó chính là những loạt pháo đã đánh thức Nguyệt Lệ và chị Tâm dậy.

     ... Qua ngày hôm sau, khi vừa tranh thủ chợp mắt được một lúc, trỗi dậy, tiểu đoàn trưởng Lê Phong (của trung đoàn 3) đã thấy báo có thấy phái đoàn phụ nữ tới thăm đơn vị. Anh chỉ kịp dốc nước ở bi-đông đánh răng và rửa mặt thật nhanh, rồi thay vội bộ quần áo còn đầy bùn đất, sau đó chạy ra.

     Nhóm ba người Văn Túc, chị Tâm và Nguyệt Lệ cùng siết chặt tay anh. Cả ba cùng nhận thấy Lê Phong mảnh mai, khá trắng trẻo, và có vẻ chân thành khiêm tốn hết sức dễ mến.

     - Anh là anh Lê Phong ạ? - Văn Túc chào.

     - Dạ, thưa phải.

     - Hình như anh là bạn của anh Dũng bên trung đoàn 2 phải không?

     - Dạ đúng. Bạn rất thân là đằng khác nữa.

     - Vậy thì hay quá! Trong đoàn tôi cũng có một người là... bạn quen với anh Dũng từ lâu.

     Phong mừng rỡ:

     - Ôi thế thì rất tuyệt! - Lê Phong siết chặt tay Nguyệt Lệ một lần nữa.

     Cuộc đón tiếp của bộ đội tiểu đoàn Lê Phong cũng tương tự như tiểu đoàn của Phan Đức, và cũng không kém phần nồng nhiệt thân thiết. Do đó, đoàn cũng ở lại. Đêm ấy, chị Tâm và Nguyệt Lệ lại cùng ngủ một hầm, và Văn Túc cùng Lê Phong ở một hầm khác. Nguyệt Lệ lại thao thức đến khuya. Trong vô vàn câu hỏi trong đầu cô, có một câu hỏi nóng bỏng nhất. “Không rõ Văn Túc đã nói gì với Lê Phong về chuyện Dũng?”.

     Hôm sau, trên đường về cơ quan đại đoàn để gặp lại bà Lợi, không đợi Nguyệt Lệ phải hỏi, Văn Túc đã nói trước:

     - Trò chuyện gần suốt đêm cô ạ! Té ra Lê Phong quen thân với anh Dũng từ 1947, khi hai người cùng học một lớp quân chính của một trung đoàn chủ lực của Bộ, học ở trên Tam Đảo sau đó chuyển xuống Me đồi Vĩnh Yên. Học xong, mỗi anh về một đơn vị, ít khi gặp nhau. Cho tới hè 1948 anh Dũng được gọi đi bổ sung cho chiến trường miền Nam, thì mất liên lạc hẳn. Mãi 1953, anh Dũng mới trở ra Bắc và được về đại đoàn này, từ đó hai người bạn lại gặp mặt nhau...

     Nguyệt Lệ đã quá sốt ruột với câu chuyện dài dòng này. Văn Túc chừng hiểu ý. Anh mỉm cười:

     - ... Còn đêm qua, tôi cũng đã nói hết mọi chuyện với anh ấy rồi. Anh ấy tỏ vẻ ngạc nhiên và xúc động lắm. Anh ấy hứa sẽ gặp Dũng để, theo lời Phong, “Cạo cho cậu ấy một trận”. Anh ấy tin là Dũng sẽ nghe anh ấy. Tuy nhiên, ông Phong cũng không giấu giếm là sẽ vất vả, vì cũng theo lời ông ta: “Tay Dũng quả là bây giờ có phần thô bạo, và cực đoan, rất khác trước”...

     Nguyệt Lệ cúi đầu, mái tóc xõa che kín nửa khuôn mặt. Trái tim cô lại nghẹn ngào và cả xao xuyến y như một con chim nhỏ trong lồng đang nhao nhác vừa sợ hãi vừa thoáng mừng khi thấy một nan lồng hé mở.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #11 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:41:27 pm »

6


     Mưa. Mưa lúc lai rai, lúc ào ạt, đã kéo dài mấy ngày nay. Tất cả các cứ điểm, các tiền đồn báo động, đều phôn về chỉ huy sở Trung tâm báo là các hầm hố, chiến hào đều đã ngập nước. Sĩ quan, binh lính đều đã như những bầy chuột lúc nhúc trong trăm ngàn chiếc hố sũng sịu. Các trận địa pháo cũng trở thành những hố nước nhỏ, ngập tới ngang ống chân pháo thủ. Các đường hào sụt lở khá nhiều, có đoạn đã trở thành suối đục ngầu. Đáng sợ hơn nữa là khu hầm quân y; ở đó đã trở thành một cái gì đó như địa ngục. Nước đã tràn vào nhiều hầm, mấp mé các cáng thương binh. Các bác sĩ, y sĩ phải đứng mổ trong bùn nước. Cứt đái, bông băng nổi lềnh bềnh, không sao thu dọn hết. Nhiều nắp hầm làm vội hoặc làm dối đã bị dột, nước mưa nhỏ xuống mặt thương binh, mà không còn chỗ để di chuyển.

     Mãi tới xế chiều nay mưa mới tạm dứt hạt, nhưng bầu trời vẫn nặng trĩu mây đen, tưởng như chỉ có thể cắm cây sào chọc tới được, và chỉ cần chọc một cái là mưa lại đổ xuống tức khắc. Tuy vậy, tạnh được một lúc đã là may. Tối nay, ở nghĩa địa mới trong khu trung tâm lại có thể chôn cất các sĩ quan và binh lính chết do pháo Việt Nam hoặc do các trận dụng độ ngoài các chiến hào từ đông sang tây Mường Thanh. Cha tuyên úy Trinquard mang quân hàm trung úy chủ trì lễ an táng này. Trong ba cha tuyên úy ở đây, chỉ còn có cha này còn khỏe mạnh hơn cả. Hai cha khác đều đã đổ xuống ốm vì khí hậu, vì kiệt sức, vì tinh thần suy sụp nữa.

       Trong lúc chạng vạng tối ấy, giữa căn hầm chỉ huy kiên cố của mình, đại tá De Castries đang ngồi rất cô đơn, trầm lặng trước chiếc bàn đầy giấy tờ và những chiếc máy điện thoại cùng ra-đi-ô viễn thông. Một ngọn đèn điện treo trên trần hầm buông xuống một làn ánh sáng đỏ xuộm. Xăng nhớt thiếu nhiều rồi, cả tập đoàn cứ điểm đã phải hết sức hạn chế, chỉ có sở chỉ huy và khu quân y được phép dùng điện cả ngày đêm. De Castries ngồi đấy, chiếc mũ sắt trên đầu, quần soóc, áo sơ mi mở gần hết cúc để phanh bộ ngực đầy lông. Không khí trong hầm ngột ngạt. Từ sau khi các điểm tựa trọng yếu ở phía bắc: Béastrice (Him Lam), Grabrielle (đồi Độc Lập) thất thủ và Anne Marie phải bỏ chạy (Bản Kéo), De Castries đã gần như bỏ hẳn chiếc mũ calot đỏ, và cả chiếc khăn quàng đỏ điệu đàng kiêu hãnh trước đây. Và, như các sĩ quan trong căn cứ nhận xét, ông ta cũng hầu như rất ít khi ra khỏi hầm; mọi dáng vẻ kiêu dũng thường ngày của viên chỉ huy đã từng được danh tướng De Lattre de Tassigni gọi vui cùng các sĩ quan giỏi khác là “Các thống chế của tôi”, nay cũng không còn thấy nữa. Ông ta trở nên ít nói và gần như đau ốm. Còn nhớ tháng trước, khi tập đoàn cứ điểm chưa bị tấn công, các nhà báo đã liên tiếp lên viết bài, đưa tin: “De Castries tràn đầy sức sống...”. Cũng mới cách đây nửa tháng ông đã đấm tay xuống bàn tức giận khi một anh phóng viên của tờ Le monde dám gọi tập đoàn cứ điểm này là “Cái hố sư tử” (có ý giễu là ở vào vị thế bất lợi, hoặc tử địa). De Castries đã gần như quát lên: “Anh hãy chờ xem!”. Cũng dạo đó Ó Daniel, một viên tướng Mỹ đi lên đây với tư cách đồng minh, để quan sát và góp ý xây dựng căn cứ khổng lồ này, De Castries đã nói với Ó Daniel như dao chém đá: “Đây không những là một pháo đài bất khả xâm phạm mà còn sẽ là một cái cối xay thịt (Việt Minh)”...

       Bây giờ De Castries trở nên không quyết đoán như mọi khi, và mọi phản ứng của ông ta cũng dường như không còn sắc bén. Có lẽ vì thế, mới cách đây hai hôm, đã xảy ra ở đây một sự việc có thể coi như một cuộc đảo chính. (Vì danh dự sĩ diện, De Castries đã không dám điện rõ về Hà Nội thực chất của vấn đề, mà chỉ tường trình như một sự phân công mới cho hợp với tình hình, và do chính De Castries chủ động đề xuất). Sự kiện ấy như sau: Viên trung tá Langlais chỉ huy tiểu đoàn 6 quân dù thuộc địa (6éBPC) cùng hầu hết sĩ quan dù bàn bạc với nhau rồi đột ngột cùng ồ ạt kéo vào sở chỉ huy, yêu cầu De Castries phải trao quyền chỉ huy tác chiến toàn bộ căn cứ cho Langlais và trao cho Bigeard chuyên trách chỉ huy các cuộc phản kích. De Castries buộc chấp hành mọi yêu sách. De Castries chỉ còn giữ chức chỉ huy chung chung và chịu trách nhiệm về pháp lý trước Bộ chỉ huy tối cao Pháp. Như vậy, Langlais đã thực sự tiếm quyền, với cương vị như một chỉ huy phó toàn tập đoàn cứ điểm. Tuy rất đau, rất căm, nhưng De Castries cũng thấy như trút được một phần gánh nặng. Cũng vì thế, thêm nữa với sự khôn ngoan trước thế yếu của mình, De Castries đã đồng ý với bọn Langlais, Bigeard là vẫn giữ, dù bề ngoài, một tình “thân hữu”. Cuộc “đảo chính” ấy mới xảy ra ngày 22 tháng 3 năm 1954.

     Bây giờ De Castries đang ngồi đó âm thầm, xem lại những tấm không ảnh mới nhất vừa được một chiếc Dakota liều mạng hạ cánh hồi 5 giờ 30 phút lúc sương mù còn dày đặc mang tới. Đã 52 tuổi, chưa chịu đeo kính, nhưng để xem các bức không ảnh, De Castries phải dùng kính lúp để có thể phân biệt được từng chi tiết. Ông ta cúi xuống, khuôn mặt dài, càng như dài thêm. Chiếc kính lúp rà đi rà lại chầm chậm. Không còn nghi ngờ gì nữa, các chiến hào của đối phương cứ mỗi đêm lại tiến vào thêm được một đoạn dài, và cũng rõ ràng, so sánh với những bức không ảnh trước, tốc độ đào hào của “họ” cũng mỗi đêm một tăng. Tốc độ ấy nói lên điều gì? Họ quyết đánh. Tốc độ ấy còn nói thêm điều gì nữa? Lực lượng của “họ” đã được bổ sung.

     Những bức không ảnh giống như các tấm ảnh khí tượng chụp từ trên không bởi khinh khí cầu cũng đã báo trước khá rõ: cơn bão lớn thứ hai đang tới gần. Không còn mơ hồ gì nữa với ảo tưởng là quân Việt chỉ đào hào để bao vây nhằm giữ chân quân Pháp tại đây, để rồi họ sẽ bí mật rút chủ lực, quay về đánh phá ở đồng bằng. Nhưng cũng lạ là trung tướng Cogni chỉ huy trưởng lực lượng Pháp toàn Bắc Bộ đồng thời được đại tướng Navarre giao cho chỉ huy Điện Biên Phủ, tuần trước vẫn còn hỏi lại: “Hãy thử xem có phải họ đang muốn trói chân ta, để rồi lên kéo về choảng ở vùng châu thổ sông Hồng không?”. Mãi gần đây cưỡi máy bay lên đây thị sát, và chắc cũng đã liên tục được xem các bức không ảnh, Cogni mới có chỉ thị lại “Họ đang chuẩn bị đợt tấn công thứ hai đấy! Các anh phải chuẩn bị! Các anh cũng phải có giao thông giữa các cứ điểm với nhau và với khu trung tâm. Hầm hố của các anh lại phải được xây đắp lại cho thật tốt...”.

     Nhưng cái gọi là “đợt tấn công thứ hai” sắp tới sẽ diễn ra bao giờ, và thế nào? Có như đợt vừa rồi không? Họ tập trung mỗi đêm dứt một cứ điểm, hay còn dưới một dạng, một chiến thuật gì mới nữa? Với quân Việt, De Castries đã hiểu: sức mạnh của họ còn cả ở sự khôn ngoan. Họ luôn luôn biết thay đổi và phát triển. Langlais và cả Bigeard cho rằng “họ” sẽ lại đánh theo kiểu trước. De Castries lại nghĩ khác. Trong lúc De Castries xem lại bức không ảnh và có ý chờ Langlais cùng Bigeard (ông đã cho gọi từ hồi chiều) thì cha tuyên úy Trinquard đang từ nghĩa trang dã chiến của quân Pháp mới lập ở bên bờ sông Nậm Rốm, quay trở về. Ông cũng đội mũ sắt Mỹ, cũng mặc áo trận Mỹ, và mang giày nhảy dù Mỹ. Chỉ có khác, ở cổ ông lủng lẳng một cây thánh giá to. Trinquard mệt mỏi bước đi loạng choạng trong giao thông hào lõng bõng bùn nước. Ông vừa đi vừa lảm nhảm một mình bằng tiếng La tinh: Circum cludere me gemi tus mortis (Những tiếng kêu than của chết chóc vây quanh ta) và Exsurge, Domine adjeva nos el libera nos (Xin Chúa đứng lên để cứu vớt chúng tôi). Lòng hào chật hẹp, chốc chốc ông lại vấp một thùng đạn, hoặc một cây súng gãy chìm dưới nước, bùn, suýt ngã, phải bám vội, mười đầu ngón tay cắm ngập vào hai bên vách hào nhão nhoét. Ông tiếp tục vừa đi vừa lảm nhảm. Ông bỗng giật bắn người. Từ một hố cá nhân đào bên vách hào, một bóng đen xổ ra. Trời đã tối, ông phải căng mắt mới nhận ra một người đàn bà mặc quần đùi, áo sơ mi mở phanh hết cúc để nhô ra cả một chiếc soutient gorge đen và hai bầu vú cực to nhưng đã chảy xệ. Cha tuyên úy đã biết đó là ai. Cô là một gái điếm Algérienne, thuộc bộ lạc Ouled Nails được đưa đến đây cùng mấy cô điếm Việt để “giải sầu” cho lính. Cô điếm cũng đã nhận ra cha tuyên úy chứ không phải là một sĩ quan nào khác. Nhưng không bỏ, cô còn cười ré lên, và ôm chầm lấy cha, áp hẳn cả hai bầu vú vào ngực cha, ưỡn phần dưới của bụng mình, kỳ cọ, day, ấn mãi vào cha. “Lạy chúa tôi! Con quỷ! Con quỷ!”. Cha cuống cuồng cầu Chúa và gỡ mãi. Lát sau, cô điếm mới chịu buông ra và cười ré lên, hàm răng trắng lóe: “Đùa thôi, cha! Xem lúc đạn bom này con lợn của cha thế nào?”. Rồi đẩy cha đi, cô điếm nói tiếp: “Vậy mà con lợn vẫn sống. Được đấy, cha! Khi nào cần, gọi con, nghe! Gratuit, không lấy tiền của cha đâu mà ngại!” - “Ôi, con quỷ, con quỷ!... ”. Cha tuyên úy tiếp tục rên rỉ. Chúng nó, bọn điếm ấy, có một khu hầm riêng, cớ sao lại đi lung tung tản mác như vậy? Ôi, hẳn lại do pháo kích. Pháo kích đã làm đảo lộn tất cả, đã chôn vùi tất cả, đã chôn vùi tất cả!...

     Cha lại loạng choạng lần đi. Tới một đoạn khác, lại chợt nghe có tiếng thở hào hển và cả những tiếng rên, rú nho nhỏ tắc nghẹn ở một hầm trú ẩn khoét vào vách hào. Tuy sợ, nhưng cha vẫn đánh bạo ngó vào: Một bộ mông trắng nhễu đang nhấp nhổm trên một người đàn bà cũng đang trần truồng nằm trên mấy hòm súng kê cao khỏi mặt bùn. Cha vội nhắm mắt quay đi. Cũng lúc đó người đàn ông bỗng bật lên mấy tiếng líu ríu. Bấy giờ cha mới hiểu rõ: đó là vợ chồng một tên lính Mẹo đang làm tình với nhau. Tên lính Mẹo thuộc một trung đội thám báo đặc biệt, trực tiếp báo cáo mọi tình hình với Hà Nội, không cần thông qua De Castries. Bọn lính Mẹo được quyền mang theo cả bàn đèn thuốc phiện và vợ con vào căn cứ. Trước khi nổ ra cuộc chiến tranh ở đây, bọn này chuyên bí mật luồn rừng, đi xa, nắm tình hình đối phương. Chúng khá được việc. Nhưng từ khi chiến sự trở nên ác liệt, căn cứ bị bao vây, chúng đã trở nên vô dụng. Thiếu quân số, Langlais đã yêu cầu chúng cầm súng ra chiến đấu; nhưng tất cả đã từ chối. Tức điên lên, Langlais đã cho lệnh đuổi hết chúng khỏi khu hầm khá kiên cố được xây cất riêng. Hầm ấy nay đã được trao cho quân y để làm hầm thương binh. Từ bữa đó, bọn thám báo đặc biệt này tản mác trong khắp khu trung tâm, chui rúc đâu không ai rõ. Chỉ thấy đêm chúng xuất hiện như những bóng ma đi nhặt dù tiếp tế. Cả mấy tên sĩ quan Pháp chỉ huy chúng cũng vậy, biến mất, và thi thoảng mới nom thấy chúng với quần áo lếch thếch, râu ria như rừng.

     Lát sau Trinquard đã mò tới dược sở chỉ huy De Castries, xin vào. Tên lính gác dã nhận ra ông là ai, nó gật đầu, chỉ tay vào phía trong. Một sĩ quan trẻ trực ở một cánh hầm nhỏ, bắt ông ngồi chờ để vào xin chỉ thị. De Castries đồng ý cho cha tuyên úy vào, mặc dầu không có hẹn trước.

     - Thế nào cha, tôi được báo cáo là cha chủ trì lễ an táng sĩ tử tối nay phải không?

     - Trình đại tá, đúng như vậy, và mọi việc đã xong.

     - Cha uống gì, ca cao hay nước ngọt?

     - Cảm ơn đại tá, tôi không uống gì, tôi chỉ xin đại tá cho phép trình một việc.

     - Cha nói đi, tôi nghe đây.

     Trinquard bỗng rấn lệ và như mếu máo:

     - Trình đại tá, thế là hết! Vâng, thế là hết! Từ ngày mai...

     - Sao, cha? - De Castries chăm chú.

     - Trình đại tá, tất cả đất trong nghĩa trang, thậm chí cả vùng chung quanh đã hết cả. Từ đêm mai, theo ý các sĩ quan, sẽ phải chôn chung các xác vào một hố lớn. Nếu cứ hố một, như hiện nay, sẽ không còn đất để chiến đấu nữa.

     - Đến thế kia ư? - De Castries không khỏi thốt lên kinh ngạc.

     - Và, trình đại tá, quan tài cũng đã hết sạch. Đêm nay, phải bó chúng nó bằng vải dù đem chôn. Đại tá hãy thử tưởng tượng xem: trong tối tăm, cứ phải ném từng bó người xuống những cái hố đầy bùn nước, không một ngọn nến, không một nhành hoa... Thê thảm quá, trình dại tá. Xin dại tá hãy yêu cầu Hà Nội gửi thêm cho nhiều quan tài nữa...

    - Lạy Chúa! Tất cả những nỗi khó khăn của tôi hiện nay, cha có hiểu cho không? Tiếp tế người và vũ khí là yêu cầu sống còn lúc này của cả hàng vạn con người lúc này, vẫn còn chưa đủ. Kế đó là lương thực, thuốc men cũng là những yêu cầu cực kỳ cấp thiết, vậy mà vẫn nhỏ giọt. Chắc cha cũng đã tận mắt thấy rõ. Vậy bây giờ lại còn yêu cầu quan tài nữa thì sao cho xuể hở cha?

    Những chiếc quan tài của cha tuyên úy Trinquard quả là đã làm De Castries đau đầu không kém các bức ảnh chiến hào đối phương. Cầu hàng không, niềm tin mạnh mẽ, vững chắc của không riêng De Castries mà cả Bộ chỉ huy Bắc Bộ, thậm chí cả Bộ chỉ huy tối cao toàn Đông Dương cho đến lúc này đã rõ ràng là quá rệu rã. Sự xuất hiện của trọng pháo Việt Nam ở đây đã là một bất ngờ quá lớn, nhưng cao xạ 37 và đại liên phòng không cũng là một bất ngờ chết người. Bây giờ sân bay đã bị khống chế từ xa, không còn có thể hạ cánh tự do được nữa. Chỉ còn có thể, ít ra cho tới lúc này, lừa lừa những lúc pháo và cao xạ đối phương tạm ngừng trong giây lát, thì liều lướt xuống trong điểu kiện an toàn vô cùng tồi tệ. Hoặc lén hạ cánh vào những buổi sáng sương mù còn dày, pháo đối phương không nhìn rõ được mục tiêu. Nhưng nói chung là rất hãn hữu, và thường vẫn cứ bị bắn cháy, bắn hỏng. Các máy bay hạ cánh xuống được cái đường băng vá víu kinh khủng này chỉ là loại Dakota, chuyên chở không được nhiều cho lắm. Máy bay lớn hơn, những chiếc Pakettes của Mỹ (hai thân) bay nhanh hơn, chở được nhiều hơn, làm sao xuống được đường băng này? Tuy nhiên hai loại này cũng đang có chuyện: chúng đều do phi công Mỹ lái (giả danh là phi công dân dụng làm theo hợp đồng với Bộ chỉ huy Pháp ở Việt Nam). Nay đã có chiếc bị cao xạ Việt Nam bắn hạ và nhiều chiếc khác bị thương, bọn Mỹ đang đòi ngừng hợp đồng không chịu lên Điện Biên Phủ nữa. Nghe nói tướng Cogni và cả tướng Navarre đang cố dàn xếp, mặt khác các đơn vị đang hứa cố vét tất cả các loại máy bay vận tải trên toàn cõi Đông Dương để tăng cường tiếp tế cho De Castries. Song le, các vị cũng không giấu một điều: không còn mấy. Bên chính quốc cũng đang rất thiếu thốn. Vậy mà Trinquard lại đòi gửi thêm cả quan tài!... Y như một điều mỉa mai vậy...

     - ... Cha ơi, cha có hiểu không, chúng ta đang cần tới từng chiếc đinh ốc để sửa chữa máy bay và súng pháo. Chúng ta đang cần tới từng đôi pin để đêm đêm cho lính công binh ra sửa đường băng sân bay dưới hỏa pháo của địch. Chúng ta đang cần tới từng lít máu tươi để cứu thương binh... mà vẫn còn chưa có đủ, vậy nói gì đến quan tài nữa, thưa cha?

     Cha tuyên úy Trinquard lau hai giọt nước mắt, lặng lẽ cáo từ, quay ra. Vừa lúc đó Langlais và Bigeard cùng xồng xộc kéo vào, không cần báo qua anh sĩ quan trực bên ngoài.

     De Castries đẩy ghế đứng dậy. Mỉm cười, ông mềm mỏng và cả thầm nhẫn nhục, cất tiếng thân mật chào trước:

     - Chào hai “con cừu non” của tôi! (Một lối gọi thân mật của người Pháp).

     Hai viên sĩ quan đáp lại:

     - Chào Christian! (Tên gọi thân mật của De Castries)

     - Hai bạn ngồi! Hai bạn uống gì nào? Cognac cả nhé?

     - OK - Langlais đáp kiểu Mỹ bỗ bã.

     Bigeard cũng đồng ý như vậy.

     Langlais cầm ly rượu, ngửa cổ làm một hơi hết sạch, sau đó hếch cái mặt xương xẩu và rắn đanh như đá đẽo lên. Năm nay đã 44 tuổi nhưng anh ta vẫn còn đầy vẻ cường tráng. Bigeard ít tuổi hơn, người cũng tầm thước hơn, nhưng nếu Langlais đầy vẻ tàn bạo, Bigeard có dáng bộ khá oai dũng và ngang tàng. Anh ta có một cặp mắt xanh trong veo và dữ như mắt cọp. Cả hai vẫn luôn luôn đội mũ bê-rê đỏ, như muốn phô diễn với mọi người sự can đảm kể cả lòng kiêu hãnh của mình.

     - Uống nữa đi, và chúng ta sẽ trở lại vấn đề chiến hào cùng ý đồ hành động của đối phương sắp tới - De Castries nói.

     Langlais đốt một điếu thuốc lá, khoanh tay, vắt tréo chân, mắt nhìn sang nơi khác, bình thản một cách cao ngạo và xấc xược.

        - Vâng, xin đại tá cứ nói. Chúng ta vào việc rồi dấy! - Bigeard giục. De Castries cố bỏ qua thái độ của Langlais, ông ta cất tiếng thong thả:

        - Hôm qua tôi và hai bạn mới nhất trí được với nhau là đối phương đang phát triển chiến hào ngày càng mạnh, mặc dầu không đêm nào chúng ta không cho quân ra cản phá, san lấp. Nhưng chúng ta chưa có thì giờ để bàn tiếp: Ý đồ của địch sẽ như thế nào? Họ sẽ tung ra đợt chiến đấu lớn thứ hai hay không? Và nếu có, sẽ là bao giờ? Sự kéo dài tương đối im lặng này của chiến trường nói lên điều gì? Le gars de Pierre (tên gọi thân mật của Langlais) và Bruno ạ, chúng ta cần phải hiểu rõ, hiểu đúng cả những điều ấy...

        Langlais ném mẩu thuốc lá vào gạt tàn, quay lại, giọng rắn căng:

        - Chúng sẽ đánh! Phải, chỉ có thế thôi. Kẻ nào bảo chúng chỉ bao vây rồi bí mật rút lực lượng về đồng bằng là không đúng. Chúng sẽ lại đánh lớn. Sự im lặng tạm thời này chỉ là một cơn bão ngủ!

        Bigeard cũng gật đầu:

        - Đúng thế, trình đại tá, chúng ta không thể không tin rằng “họ” đang chuẩn bị cho một cú lớn. Vậy dứt khoát chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa mọi sự chuẩn bị, đúng như tướng Cogni và cả đại tướng Navarre đã có lệnh.

        De Castries thở dài nhè nhẹ:

        - Rất hay là chúng ta cùng có ý kiến giống nhau. Tôi cũng vậy, tôi cũng thấy hiển nhiên quân địch đang có ý đẩy chiến hào tới tận các cứ điểm của chúng ta để có thể xung phong với cự ly hết sức ngắn.

     Langlais bật xen vào:

     - Họ đang thực hiện kiểu trận địa chiến như hồi thế chiến thứ nhất...

     De Castries lắc đầu:

     - Theo tôi có lẽ không phải thế, Le gars de Pierre ạ! Đây là các trận địa chiến hào cơ động, nhằm tấn công, khác với chiến thuật trận địa chiến xưa với các tuyến chiến hào phòng ngự, bao vây cố định, cứng nhắc!...

     Một cái gì đó chạy lướt trên khuôn mặt gãy lưỡi cày và như đá đẽo của Langlais. Y cắt ngang lời De Castries:

     - Tôi không đồng ý với ngài, trình đại tá.

     Vẫn mểm mỏng và khôn khéo biết cần tiếp tục nín nhịn lúc này, De Castries nhẹ nhàng:

     - Nhưng mà thôi, Le gars de Pierre ạ, về học thuật, chúng ta hãy gác nó lại, bạn đồng ý chứ? Đang nước sôi lửa bỏng, chúng ta chỉ cần thống nhất được với nhau là quân thù đang ráo riết chuẩn bị để tung ra đợt tấn công lớn thứ hai, thế là đã quá đủ rồi...

     Bigeard cũng có vẻ không đồng tình với Langlais:

     - Tôi đồng ý với đại tá là chúng ta hãy trở lại vấn để nóng bỏng trước mắt. Câu hỏi lớn được đặt ra: Chúng ta phải làm gì bây giờ?

        Như dược Bigeard khích lệ, De Castries bớt dè dặt hơn:

        - Đúng vậy! Chúng ta phải làm gì nữa đây? Vừa qua hai bạn đã thấy chúng ta cũng đã cho binh lính đào hào giao thông giữa các điểm tựa với nhau và giữa điểm tựa với Trung tâm chỉ huy. Chúng ta củng đã cho sửa sang, tăng cường hầm hố chiến đấu. Các bãi kẽm gai đã được mở rộng gấp đôi, và tất cả đã được gài mìn. Hơn thế nữa chúng ta đã liên tục cho quân ra lấp hào và phục kích địch... Vậy ta còn phải tiếp tục làm gì?

        Langlais thôi không tranh cãi về chuyện “trận địa chiến kiểu cổ hay kiểu mới” nữa. Anh ta và Bigeard đồng ý với De Castries là tập đoàn cứ điểm đã và đang làm được nhiều việc cần thiết cấp bách. Để tiếp tục chuẩn bị đón đợt tấn công mới, cả hai đều nhấn mạnh vấn đề tiếp tế. Cả hai đều yêu cầu De Castries phải kêu gào Hà Nội mạnh hơn nữa, kêu gào cả với Bộ chỉ huy tối cao.

        - Thưa đại tá - Bigeard nói - Người ta muốn binh đội ở đây phải dám chết vì danh dự nước Pháp, nhưng tại sao người ta lại không dám đủ can đảm để tập trung những phương tiện cần thiết cho nó?

        - Đúng! Thượng cấp không thể có bất cứ lý do nào do dự trước tình hình này - Langlais cau có - Và, nếu như giục được người Mỹ sớm thực thi kế hoạch ném bom ồ ạt thì tình hình sẽ có thể lật ngược được hết sức mau lẹ.

        De Castries bao giờ cũng tỏ ra có chừng mực, mặc dầu ông hiểu các “hổ tướng” đã cho ông ta là bạc nhược:

     - Nhưng, Le gars de Pierre ạ, chưa có thể biết bao giờ cái kế hoạch Mỹ ấy sẽ được thực thi. Cũng chưa thể biết thượng cấp của chúng ta sẽ còn có thể làm gì hơn cho chúng ta, trong khi đó, thì chúng ta vẫn phải chiến đấu từng giờ, từng phút ở đây với nguy cơ của đợt tấn công mới của địch đang lơ lửng ở trước mắt, thậm chí đang mỗi ngày một gần kề ở trước mặt!

     Langlais mím môi suy nghĩ, rồi như thở hắt ra:

     -    Thôi được, tạm gạt sang bên vấn đề Mỹ, kể cả sự chi viện lớn hơn nữa của Sài Gòn và Hà Nội. Ta bàn về sự nỗ lực trước mắt của chính ta phải có ở đây để cải thiện tình hình. Theo tôi, trước hết là phải dùng lực lượng bản thân kết hợp với không quân đánh mạnh ra, phá cái thế bao vây, vào gần của địch. Đồng thời củng cố chiến hào, hầm hố kiên cố hơn nữa, cố gắng giữ vững không cho tình thế xấu hơn. Có thế mới chờ được kế hoạch “Diều hâu” của Mỹ, chí ít cũng chờ được tăng viện tốt hơn nữa của Hà Nội.

     Ngừng lại một chút để uống thêm một hớp rượu, có lẽ để lấy thêm phần khí thế, Langlais tiếp:

     - Thật vậy, phải đánh mạnh và đánh mạnh!

     Nói đoạn, hai con mắt nhọn sắc của Langlais như phóng thẳng vào mặt De Castries và cả Bigeard. Biết Langlais vẫn còn hăng, De Castries chưa tiện nói ngay cố ý nhường lời cho Bigeard. Đôi mắt xanh biếc trong veo như mắt cọp, bật sáng, Bigeard nói gọn:

     - Tôi đồng ý với Le gars de Pierre!

     Đến lúc ấy De Castries buộc phải bày tỏ ý kiến của mình:

     - Đánh ra, cũng là tích cực phòng ngự. Mà củng cố trận địa ngăn chặn bằng mọi giá không cho quân thù tiến lên cũng là phòng ngự quyết chiến. Nhưng ta thử xem lại: suốt gần 10 đêm ngày vừa qua chúng ta đều đã có đánh ra, nhưng rất ít hiệu quả, nếu không nói là không có hiệu quả, trong khi đó lực lượng ta lại bị tiêu hao, vì bản thân quân ta cũng phải phơi mình trên cánh đồng trống trải, đâu phải chỉ có đối phương? Bị tiêu hao dần mòn trong khi đó tiếp vận chỉ nhỏ giọt. Hẳn hai bạn đều biết hôm qua chúng ta yêu cầu ném xuống 100 lính, thì chỉ được có 35, chưa kể một số tên nhảy xuống đã què chân gãy cẳng thành thương binh, thành gánh nặng thêm cho chúng ta...

     Cả hai viên “hổ tướng” đều im lặng. De Castries đã nói hoàn toàn đúng sự thật. Thật vậy, từ bữa nắm quyền chỉ huy tác chiến toàn căn cứ, Langlais đã biết rõ hơn sự thiệt hại hàng ngày. Mới hai hôm nay thôi, lác đác cộng lại đã hơn 50 tên vừa chết vừa bị thương. De Castries đã có lý: đánh mạnh ra, nhưng thương vong sẽ ra sao? Và đã đánh ra, phải đánh trên nhiều điểm xung yếu, và phải đánh liên tục, vậy có dám tung những tiểu đoàn dự trữ cuối cùng ra hay không? Ngược lại cứ để tình trạng như thế này tới lúc chiến hào địch vào tới hàng rào, mà tiếp viện vẫn không đủ, nhất là cái gọi là kế hoạch “Diều hâu” vẫn chưa được thực thi, thì sự thể sẽ ra sao, khi đối phương đột ngột mở đợt tấn công thứ hai?

     Cuối cùng đâm ra bí cả với nhau. Chủ động đánh mạnh ra, hay chỉ cố gắng phòng ngự trong hầm hố thôi? Thảo luận đi thảo luận lại, vẫn cứ thấy bí. Cả ba còn đang ngồi đấy, chợt có ánh lửa đỏ khé chiếu hắt vào trong hầm, rồi tiếng pháo nổ dồn dập phía bắc sân bay. Langlais và cả Bigeard cùng vội vã nhào ra. Cả một vầng trời đỏ rực, và cả một dòng sông lửa đang cuồn cuộn, ngoằn ngoèo chảy ở phía trước. Cảnh tượng hãi hùng và kỳ lạ chưa từng có.

     - Cái gì thế? - Langlais thét lên.

     Một sĩ quan, mình trần, nhễ nhại mồ hôi và nước bùn, chạy lại:

     - Trình trung tá, các phuy xăng ở dưới sông Nậm Rốm trúng đạn pháo địch bốc cháy hết rồi.

     - Lạy Chúa tôi!...

     Langlais đã hiểu ra. Mới cách đây vài hôm, thấy các máy bay hạ cánh ban đêm khó khăn và nguy hiểm quá, vì hệ thống đèn hiệu đã hỏng hoặc bị bắn phá, dùng đèn pin không ăn thua, Langlais đã có sáng kiến thả một phuy xăng xuống sông Nậm Rốm, đêm đêm đốt lên làm một vị trí chuẩn bổ trợ, cho máy bay hạ cánh, nhưng không ngờ chỉ mới được có hai đêm, té ra trên dòng sông còn có nhiều phuy xăng khác trôi nổi mà không ai để ý...

     Trong lúc đó De Castries lại ngồi cô đơn, buồn bã. Ông vặn núm chiếc ra-đi-ô ở đầu giường. Đúng giờ đài “Con nhạn” của quân đội Pháp ở trong thành Hà Nội. Một giọng nữ đầy mồm lưỡi cất lên: “Đây là buổi phát thanh dành riêng cho các chiến binh và sĩ quan đang chiến đấu ở pháo đài Điện Biên Phủ oai hùng. Thưa quý bạn, tối nay chúng tôi xin đọc hầu quý bạn một tiểu thuyết nổi tiếng của Pháp trước đây: cuốn Bí mật thành Paris. Thưa quý bạn, đây là một tiểu thuyết bi thảm...”. De Castries, tắt vội chiếc đài. Ngả người, nằm xuống, gối đầu lên hai cùi tay, ông thở dài: “Ôi, tụi tao cũng đang sống trong quá khứ thừa bi thảm đây, còn cần gì thêm bi thảm nữa!”...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #12 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:46:52 pm »

*


    Lại mưa lai rai. Hà Nội âm thầm, ướt át, ủ rũ. Các đường phố vắng hoe. Thi thoảng mới có vài chiếc xe nhà binh Pháp chạy hối hả, nước bắn tung tóe. Mấy chiếc xích lô ế khách lơ vơ, ngơ ngác ở các ngã tư, ngã ba. Trên cột cờ của thành cổ, lá cờ tam tài ướt sũng rũ xuống như con gà bị cắt tiết. Cây cầu Doumer nhấp nhô, mờ chìm trong mưa xa. Dòng sông Hồng mùa nước cạn, phẳng lặng, trễ nải trôi xuôi. Tại quán rượu Pháp ở đầu phố Tràng Tiền mọi khi còn có khá đông Tây, đầm ra vào, hoặc uống cà phê hoặc uống rượu, ở quanh những chiếc bàn nhỏ bầy ở ngoài trời, kín cả vỉa hè, phong cách đặc Pháp, nay cũng lác đác chỉ có mấy anh nhà báo quốc tế ngồi tán gẫu ở phòng trong. Họ đang trao đổi với nhau những tờ báo mới nhận được qua đường máy bay. Tờ “Le monde” với hàng chữ tít lớn chạy kín cả trang báo: “Điện Biên Phủ đang nghẹt thở”, tờ “Le point”: “Navarre và Cogni đang bối rối: giữ hay bỏ?'; Tờ “L’ Humanité”: “Điện Biên Phủ: một sai lầm lớn về chính trị và cả quân sự”. Tờ “France soir”: “Bao giờ thì đợt 2”...

     Một chiếc xe gíp có vũ trang bỗng rú lên, chạy ngang qua; liên sau đó là một chiếc xe Citroen bóng lộn êm ái lướt theo. Một anh nhà báo tinh mắt, bật dậy:

     - Ồ, tướng Cogni!

     - Ông ta đi đâu vậy hả? - Một anh khác trông với theo, hỏi.

     Một anh khác cất tiếng bâng quơ:

     - Mà này, trước khi có chiến sự trên đó, tướng Navarre ra Hà Nội xoành xoạch. Bây giờ ông cứ ngồi tịt trong Sài Gòn hả?

     Họ đã nhận ra đúng là Cogni. Ông ta vừa từ nhà thương Đồn Thủy thăm sĩ quan binh lính từ Điện Biên Phủ về. Nhưng các nhà báo đã không biết được: Navarre vừa bí mật bay ra Hà Nội. Cogni đang đi tới gặp vị chỉ huy tối cao của mình.

     Hai chiếc xe qua Tràng Thi, lướt ngang thành cột cờ, rẽ vào đường đôi để chạy ra phía Hồ Tây. Hai chiếc xe đỗ lại trước một biệt thự không lớn lắm nhưng sang trọng. Đây là nhà tạm trú của tướng bốn sao Navarre đã được rà mìn, và tổ chức canh gác cực kỳ nghiêm mật cả công khai và bí mật. Mưa vẫn lắc rắc rơi. Mặt hồ càng như bao la và buồn chết lặng. Cogni xuống xe theo một viên sĩ quan tùy tùng của Navarre bước nhanh lên thềm, rồi đi vào phòng trong, nơi làm việc của Navarre. Căn phòng được trang trí hoàn toàn theo phong cách của thời vua Louis thứ XIV Pháp. Mùi nước hoa hết sức đắt tiền phảng phất đâu đây làm tôn thêm vẻ quý phái của ngôi nhà. Cogni đã chuẩn bị sẵn sàng để bước vào cuộc gặp gỡ mà ông biết trước là sẽ có thể gay gắt, chí ít cũng kém vui khác hẳn với cuộc gặp gỡ hồi tháng 2 vừa qua ông và Navarre đã cùng nhau lên thị sát “căn cứ quân sự Điện Biên Phủ”. Navarre không thích một chút nào hình ảnh con nhím mà một số báo chí hay ví von. Theo Navarre, “Con nhím” là của Saland trước đây. Căn cứ Điện Biên Phủ không phải thế, nó là bàn đạp tấn công, là trung tâm đề kháng cho miền Tây Bắc Việt Nam và cả miền Thượng Lào; nó còn là cái bẫy nhử chủ lực Việt Nam tới để nghiền nát. Cogni thật ra không thích cái “pháo đài” này, vì nó ngốn quá nhiều quân của Bắc Bộ, chiến trường mà ông ta chịu trách nhiệm. Nhưng khi lên thấy căn cứ quân sự Điện Biên to lớn, hùng mạnh quá, đến nỗi tướng Mỹ O’ Daniel lên coi cũng phải nức nở khen, thì Cogni cũng trở nên hào hứng, tán thành. Mặt khác cũng còn vì phải nể và chiều ý Navarre, người đã quyết xây dựng căn cứ này, như dám đánh cá cả danh tiếng và sự nghiệp của mình vào đó. Nay thì mọi việc đã rất phức tạp, chẳng còn gì là vui. Cái căn cứ quân sự khổng lồ này tưởng là hút quân chủ lực Việt Nam lại mà đánh; nay hóa ra chính nó đã trở thành cái xoáy nước kinh khủng nuốt mất bao nhiêu lực lượng của đồng bằng ném vào đó. Sự va chạm giữa Navarre và Cogni cũng bắt đầu từ đó. Cogni luôn phàn nàn về sự tốn kém của Điện Biên Phủ, không những thế còn nói với một vài chính khách Pháp: đó là một sai lầm của Navarre. Cũng không hiểu vì sao những lời nói ấy đều đến tai Navarre. Ông ta đã có thư trách về việc này. Không những trách mà xem ra ông còn có ý nghi ngờ Cogni phản ông, muốn hạ uy tín của ông trước chính phủ Pháp. Cogni đã có thư phúc trần. Nhưng xem ra vẫn chưa xong. Lần này ra Hà Nội, ngoài công việc cấp bách phải giải quyết cho Điện Biên Phủ, hẳn ông ta sẽ “đì” Cogni về cái chuyện mà ông ta gọi là “đâm dao sau lưng” ông ta đây! Được để xem sao!

    Navarre đang ngồi trước bàn làm việc. Ông mang một bộ áo dạ rất sang. Nhưng vẻ sang trọng có lẽ chính lại là ở gương mặt trí thức rất sáng sủa và điềm đạm của ông ta.

    Cogni cao lớn như hộ pháp, đứng nghiêm, ưỡn ngực, xòe ngửa bàn tay đưa lên vành mũ chào, hết sức đúng quy cách. Navarre đẩy ghế đứng dậy, đưa tay ra. Miệng mỉm cười nhưng ánh mắt vẫn lạnh. Cogni cũng đáp lại bằng một thái độ lịch sự nhưng cũng khá nhạt nhẽo. Cogni vốn là viên tướng lâu năm ở chiến trường này. Ông tự coi không có bất cứ ai có thể không tôn trọng sự dày dạn và cả công lao to lớn của ông ở xứ sở này, kể cả những vinh quang ông đã mang về cho nước Pháp. Ông cũng tự nghĩ, ông không biết sợ một ai hết, ngoài sợ sự thật.

    - Trung tướng khỏe chứ? - Navarre hỏi.

    - Trình đại tướng, cảm ơn, tôi vẫn khỏe!

    Chỉ chào hỏi mấy câu vắn tắt, hai người bắt đầu làm việc.

    - ... Tôi đã nhận được tất cả các báo cáo của trung tướng về đồng bằng và nhất là Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã có thư và mệnh lệnh gửi ra. Trung tướng nhận được đủ chứ? - Navarre hỏi.

     Cogni chú ý tới hai từ “mệnh lệnh” rất có tình của Navarre. Ông ta muốn phủ đầu mình bằng cấp chức bề trên đây. Cogni thấy khó chịu hơn là e ngại.

     Navarre tiếp tục nói giọng đều đều, nhưng khá vang, đầy vẻ quyền uy và trí tuệ:

     - Tôi ra nhanh chuyến này, mục đích để nắm thêm tình hình và bàn với ông về một số chủ trương cấp bách...

     Dẫu sao vẫn phải lịch sự, Cogni đáp:

     - Tôi rất mừng được gặp lại đại tướng, và sẵn sàng đón nhận mọi mệnh lệnh của đại tướng.

     - Trước hết, tôi muốn nói với ông đôi điều rằng: những chuyện không hay đã xảy ra giữa chúng ta chung quanh vấn đề Điện Biên Phủ cần thiết hay không cần thiết? Điện Biên Phủ, chỉ là quyết định của Navarre hay nó có nguồn gốc từ Paris?... Trung tướng ạ, tôi không có ý định trao đổi như vậy hôm nay. Tôi muốn gác nó lại đã. Với tư cách và trách nhiệm của những người lính chiến, tôi muốn ông và tôi cùng đấu trí, hợp lực để đối phó với tình thế hiện nay một cách hết mình đã. Tôi nghĩ đó là thái độ đúng nhất và cần có của chúng ta hôm nay...

     Cũng không ngờ Navarre đã có thái độ như vậy, Cogni bớt căng thẳng, khó chịu. Ông ta thầm nghĩ: Đúng là một viên tướng đã từng làm tình báo. Ông ta đã khá khôn ngoan biết tránh các vấn đề hóc búa dễ dẫn tới va chạm. Cogni bèn đọc bức điện mới nhất của De Castries vê cuộc họp giữa ông ta và Langlais, Bigeard, mà nội dung nổi bật là yêu cầu tăng viện lớn hơn nữa, sau đó là biểu thị tinh thần sẵn sàng đánh đến cùng của tất cả sĩ quan trên Điện Biên Phủ.

     Navarre ngồi nghe chăm chú. Rồi ông khẽ nhún vai:

     - Họ lại kêu gào! Tôi đã đề nghị, đến nỗi có báo đã viết rằng: Navarre kêu gào tiếp viện đã làm cho cả chính phủ Laniél phải hoảng sợ. Vậy còn kêu gào đến đâu nữa?

     Rồi nhìn thẳng vào Cogni, Navarre tiếp:

     - Chính ông cũng đã biết đấy, ông trung tướng: không phải chỉ xin chính phủ, tôi đã vét phần lớn quân dù từ phía nam ra cho ông từ sau Grabielle thất thủ. Tôi cũng đã chỉ thị cho ông tuyển mộ cả lính tình nguyện nữa. Chỉ cần huấn luyện chúng nhảy dù được một lần là đủ. Cái đội quân này, báo chí đã giễu là “Lính dù một nhảy”. Ông vẫn nhớ đúng thế chứ, trung tướng?

     - Thưa đúng.

     - Nhưng dẫu sao, hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định nhấn mạnh thêm với trung tướng là phải lấy quân tình nguyện mạnh hơn nữa. Vâng, lấy mạnh hơn nữa! Không có tình nguyện, trung tướng phải cho vây ráp. Phải, hãy vây ráp tất cả những ai có thể vây ráp, từ nông thôn tới thành phố, nhất là các thành phố, bọn vô công rồi nghề hãy còn nhiều, và cả học sinh, sinh viên nữa, cho tất cả vào cái đội quân “lính dù một nhảy” ấy. Ô hợp cũng phải chịu.

     - Rõ, trình đại tướng.

     - Còn máy bay, tôi đã yêu cầu ông cao ủy De Jean gặp đại sứ Mỹ (ở Sài Gòn) khẩn thiết xin cấp tốc thêm B26, và cả C47. Donalt Heath đã nhận lời và hứa sẽ xin Lầu năm góc lấy căn cứ Clark (Philippine) gửi sang ngay. Còn cái Vautour của Mỹ, nhân đây tôi cũng nói cho trung tướng biết: cho tới nay không phải chỉ có tổng trưởng quốc phòng Pleven, mà cả thủ tướng Laniel cũng đang ráo riết hối thúc. Thủ tướng ta còn vận động cả thủ tướng Anh Churchill. Nhưng theo tôi biết: tất cả hãy còn phải xem lại đã...

       - Thưa vì sao, đại tướng? - Cogni chăm chú.

       - Có những điều rất tế nhị: người Mỹ một mặt đang giúp ta, nhưng cũng đang có ý muốn hất cẳng ta để nhảy vào Đông Dương. Họ đã không thắng được ở Triều Tiên, họ rất cần phải vào Đông Dương, theo chiến lược chống cộng toàn cầu của họ. Và vì lợi ích kinh tế riêng của họ nữa. Vì vậy chưa chắc cái Vautour sẽ được thực hiện. Tôi linh cảm thấy thế. Họ sẽ mặc ta thất thế trong hội nghị Genève sắp tới. Và đó sẽ là cơ hội để họ sẽ nhảy vào Việt Nam và Đông Dương một cách dễ dàng...

       - Trình đại tướng, tôi dã hiểu hơn! Chà, nó ra thế!

       - Thật vậy, trung tướng. Thử hỏi: nếu Mỹ thực thi kế hoạch này, tạo một cơn hồng thủy bom đạn hủy diệt sẽ làm thất bại quân Việt, và chúng ta người Pháp sẽ thắng ở đây thì Mỹ sẽ được lợi lộc gì? Hay là cứ dể cho chúng ta chìm dần đi, rồi chú Sam sẽ vào thay thế?...

       - Còn ông Churchill? Thưa, dại tướng?

       - Ông ta là một vĩ nhân, cực kỳ thông minh, khôn khéo, về công khai ông ta sẽ tỏ ra đồng ý với kế hoạch ném bom này của Mỹ nhưng chính là đồng ý để cho Mỹ sẽ dần dần vào thay thế Pháp sau hội nghị Genève. Churchill, con cáo già ấy quá biết nước Pháp của chúng ta đã kiệt quệ lắm rồi.

       - Sự phân tích rất sâu sắc, thưa đại tướng.

       - Thôi, bây giờ ta lại trở về với chúng ta. Theo điện mới nhận của De Castries, ông ta và các sĩ quan vẫn cam kết đánh tới cùng với điều kiện tăng viện mạnh, phải không? Thái độ họ, theo trung tướng thế nào?

       - Thưa, tôi nghĩ cũng chỉ có cách ấy, không thể khác.

       - Tôi cũng thấy như vậy. Nhưng cũng cần nói rõ hơn, giữa tôi và trung tướng, thực tế Điện Biên Phủ đang đặt ra trước mắt chúng ta ba kịch bản chứ không phải chỉ có một, trung tướng ạ...

       - Tôi xin nghe đây, thưa đại tướng!

       - Kịch bản thứ nhất như ta vừa nói: Đánh để cố thủ. Nhưng kịch bản thứ hai lại có thể là: Điện Biên cố cầm cự, trong khi đó Bộ chỉ huy Bắc Bộ Việt Nam với sự chi viện của Bộ chỉ huy tối cao, tung ra những cuộc hành quân lớn, đánh vào các vùng hậu phương quan trọng của địch, ví dụ Thái Nguyên hoặc Yên Bái. Chủ lực địch sẽ phải rút về. Điện Biên sẽ được giải tỏa. Còn kịch bản thứ ba: binh đội đồn trú ở Điện Biên Phủ sẽ bỏ lại tất cả: thương binh và vũ khí, cho nhẹ, bí mật chia thành mấy đường rút chạy sang Lào với lực lượng của đại tá Crevecoeur từ Lào hỗ trợ, rồi sẽ tính quay trở lại nếu có điều kiện cho phép.

     Cogni ngồi thẳng người dậy, hai mắt mở to. Navarre vẫn thật tỉnh táo, ngay cả trong những lúc bối rối nhất. Và ông ta cũng thật dũng cảm đã dám nói ra cả ba điều suy nghĩ tối quan trọng ấy với Cogni, người mà ông ta vẫn đang nghi là phản lại ông ta. Tất nhiên cả ba phương án ấy đối với Cogni không phải hoàn toàn mới lạ, vì chính Cogni cũng đã âm thầm nghĩ tới những gì dó tuy không giống hắn, nhưng tương tự. Chỉ có khác là Cogni chưa hề dám hé ra với bất cứ ai, càng không dám tham khảo Navarre.

     - Trung tướng ạ, trong ba kịch bản ấy, tôi có thể nói ngay ý kiến tôi: chỉ có phương án 1. Còn rút? Chúng ta không sợ tổn hại tới danh dự, nhưng biết chắc rằng sẽ không thể dược. Quân địch đã bao vây chặt. Hơn nữa họ đã xuống cánh đồng. Không thể đi lọt được với một binh đội lớn. Ngoài ra, chúng ta cũng đã có kinh nghiệm mới đây: binh đội đồn trú ở Lai Châu rút về Điện Biên đã bị họ bám suốt dọc đường như thế nào, nhất là trận Mường Pồn. Còn kịch bản thứ hai, thật ra nêu lên cũng chỉ để cho hết nhẽ, chứ không thể thực hiện nổi. Quân đâu nữa? Máy bay đâu nữa? Ta vốn cũng đã có những kinh nghiệm năm 1950, khi chiến cuộc lớn nổ ra trên dường số 4 biên giới Trung - Việt, chúng ta cũng đã có cuộc hành quân giải tỏa lên Thái Nguyên, nhưng chẳng kết quả gì. Ông Hồ Chí Minh đã thực hiện một kiểu chiến tranh là “chiến tranh nhân dân” với ba thứ quân. Ông ấy không bao giờ bị động, mà trái lại. Tập trung lực lượng đi đánh đâu, ông ấy vẫn có lực lượng chiến đấu tại chỗ.

     - Trình đại tướng, còn tôi, hoàn toàn nhất trí với đại tướng: chỉ có đánh, tiếp tục đánh! - Cogni đáp, không đợi phải hỏi.

     Navarre gật đầu, vẻ mặt vẫn điềm đạm:

     - Nhưng đánh thế nào? Hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định trao đổi kỹ với trung tướng về chuyện này đây...

     - Tôi xin nghe.

     - Nhìn chung, tôi thấy các sĩ quan, chiến binh của chúng ta không tồi. Lê dương, dù, vẫn là những đơn vị tuyệt vời. Cho đến cả lính thuộc địa như Algériens, Marocains, Sénegalais... thậm chí cả quân dù Việt Nam (ngụy) cũng khá. Chỉ riêng việc chỉ huy nói chung là có những điều chưa tốt...

     Cogni lắng nghe. Ông ta lại nóng mặt. Navarre nói tới việc chỉ huy hẳn không phải chỉ nói riêng tới De Castries. Mặt Cogni lại nóng lên...

     - Điều chưa tốt là: phản kích quá yếu ớt. Tôi không hiểu tại sao vậy, trong khi lòng dũng cảm của tất cả mọi người có thừa.

     Cogni cười nhạt:

     - Trình đại tướng: mới hôm kia họ đã có một trận phản kích quyết liệt, phá được hào, diệt được bốn pháo 75, nhiều ĐKZ và bộ binh địch, khai thông được đường từ Mường Thanh xuống Hồng Cúm.

     Navarre vẫn không thay đổi sắc mặt:

     - Phải! Tôi đã được báo cáo. Nhưng đó mới chỉ là một trận, và mới là một chiến thắng đầu tiên. Tôi còn biết thêm: trung tá Langlais ngay hôm đó đã ngồi xe Jeep chạy xuống tận Hồng Cúm để gặp Lalande. Anh ta thật dũng cảm. Nhưng anh ta cần hiểu nhiều hơn nữa: Hồng Cúm tuy quan trọng thật, nhưng còn cấp bách hơn là sườn phía đông và phía tây Mường Thanh đang bị uy hiếp lớn. Địch dã đào chiến hào khắp cánh đồng, và đã đưa cả cao xạ nhẹ vào theo sát bộ binh, làm khó dễ cho các máy bay ta rất nhiều...

     Mắt Cogni càng đỏ hơn lên:

     - Trình đại tướng, tôi đã có dự kiến sẽ lệnh cho họ phải đánh mạnh, nhằm giải tỏa sườn phía tây và trục bằng được những trận địa cao xạ nhỏ ấy đi.

     - Rất tốt.

     - Nhưng, việc phản kích mạnh có nghĩa là lực lượng phải lớn. Mà dự bị đội của De Castries thì chẳng còn là bao, thưa đại tướng.

     - Tôi biết. Tôi không có ý định bảo họ dốc túi để đánh tràn lan, phản kích tràn lan khắp bốn phía như nhau. Nhưng tôi yêu cầu họ phải mạnh dạn tập trung lực lượng để phản kích có trọng điểm. Có như vậy mới ngăn chặn được, không để cho địch tiến sâu hơn nữa vào các hiểm huyệt của mình. Vừa qua, những người của chúng ta ở Điện Biên Phủ mới chỉ phản kích bằng các phân đội nhỏ vừa, chỉ là gãi ghẻ, mà lại hao tổn thêm binh lực. Chỉ gãi ghẻ kẻ thù rồi ngôi kêu gào tăng viện. Phải bắt họ tiến lên, đánh mạnh hơn nữa.

     - Tôi sẽ chỉ thị cho họ thực hiện ngay ý kiến của đại tướng.

     - Trung tướng ạ, tuy nhiên tôi vẫn còn muốn nói rõ thêm: tôi chỉ hy vọng sự phản kích mạnh sẽ ngăn chặn được địch, không cho tiến nhanh mà thôi. Tôi không có ảo tưởng lật lại thế cờ dễ dàng, chính vì vậy tôi muốn nói điều sau rổt với trung tướng hôm nay, mà cũng là điều có thể coi là phương châm hệ trọng nhất...

     - Phương châm chỉ đạo toàn cuộc ở Điện Biên Phủ hôm nay?

     - Phải! Tôi yêu cầu phản kích mạnh chủ yếu để trì hoãn bước tiến của địch, cũng có nghĩa là tôi muốn chúng ta thực hiện bằng mọi cách, kể cả phản kích lớn như vừa nói, nhằm thực hiện việc kéo dài, hoặc nói cách khác, làm chậm cuộc chiến đấu lại...

     - Làm chậm cuộc chiến lại?

     - Phải! Cố cho sang đầu tháng 5, làm sao địch chưa mở được cuộc tấn công mới. Lúc đó hội nghị Genève sẽ họp. Hội nghị họp khi mặt trận Điện Biên Phủ chưa ngã ngủ. Cán cân chắc chắn sẽ lệch về phía ta. Trung tướng ạ, tôi đồ chừng rằng, nếu tôi không lầm, Cụ Hồ và ông Giáp đang rất muốn đánh nhanh để giành lấy chiến thắng. Họ cũng đang chịu áp lực của hội nghị Genève. Họ có thể lo các nước lớn, kể cả đồng minh của họ sẽ mà cả với nhau trên lưng họ.

     Thế là đã rõ: Navarre đã tung ra phương châm chỉ đạo tác chiến mới cho Điện Biên: đánh kéo dài, làm chậm cuộc tấn công của quân Việt Nam, không cho mở đợt 2 sớm trước đầu tháng 5-1954. Để thực hiện phương châm và ý đồ này: các trận phản kích phải lớn phải mạnh hơn ở những trọng điểm, kết hợp với việc tăng cường giội bom xuống tất cả núi rừng bốn chung quanh Mường Thanh, nhất là các trận địa pháo binh, cao xạ Việt Nam, trong khi đó vẫn cứ hy vọng và chờ đợi kế hoạch Giội bom tràn ngập, hủy diệt của Mỹ, cái kế hoạch “Diều hâu” có thể có cả nguyên tử.

        Cogni đứng dậy giơ tay chào rồi xin cáo lui. Navarre bắt tay viên trung tướng. Không khí có phần bớt lạnh lẽo hơn lúc đầu gặp nhau. Tuy nhiên lúc tiễn Cogni ra cửa, Navarre vẫn không quên nhắc lại:

        - Còn những chuyện rắc rối giữa chúng ta, như tôi đã nói: sẽ có dịp làm cho sáng tỏ. Trước mắt, chúng ta hãy cùng chiến đấu đã. Hãy tạm quên mọi chuyện di, và đừng có xì xầm, đừng có bô báo nhau sau lưng nữa.

        Nghe nói vậy, Cogni lại muốn lộn tiết. Chiếc Citroen lại lộn về qua phố Quán Thánh. Bất chợt quay ra, nhìn qua cửa xe, Cogni nhìn thấy một chiếc cổng lớn với hai trụ cao xây theo kiểu cổ Việt Nam, phía trong cổng là một khuôn viên khá rộng, cuối khuôn viên là một tòa biệt thự kiểu miền Provence nước Pháp. Cogni nhận ra dó là nhà viên tri phủ Đặng Văn Khiết, nay đang là một Ủy viên Ban điều hành lực lượng “Quân thứ hành chính báo động” của chính quyển bù nhìn Bảo Đại (GAMO) cơ quan này đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Đây là một lực lượng rất lợi hại, chuyên tung các đội xuống các địa phương tổ chức thực hiện việc tảo trừ các cơ sở cách mạng, rồi lập chính quyền tề ngụy tại địa phương. Đã hơn một lần, Cogni và Nguyễn Hữu Trí được Khiết mời tới tòa biệt thự này dự tiệc và nhảy. Cogni lại sực nhớ tới việc phải vây ráp bắt “quân tình nguyện” mà Navarre vừa nói. Cogni thầm nhủ: “Việc này có lẽ cũng phải có sự tham gia của lũ này đây”. Và ông ta dự định sẽ gặp Khiết một buổi, có lẽ ngay ngày mai.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #13 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2023, 01:49:37 pm »

*


     Đặng Văn Khiết đang ngồi nói chuyện với người con cả là trưởng phòng thông tin Phủ Thủ hiến Bắc Việt, và người con trai thứ hai vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Mặc âu phục, đầu chải lật láng bóng, râu ria nhẵn thín, Đặng Văn Khiết có dáng vẻ một nhà thầu khoán, khác hẳn với tám năm trước đây khi còn làm “quan phụ mẫu” ở một phủ nọ thuộc một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, quanh năm chỉ áo gấm, bài ngà, giày đen Gia Định, quần chúc bâu ống xớ, khăn xếp, và một hàng ria nhỏ trên mép. Ba cha con đang nói chuyện về Điện Biên Phủ, thời sự nóng bỏng nhất hiện nay.

     Anh con cả cho biết:

     - Papa ạ, tụi phi công về nói: dù thả suốt ngày, xanh đỏ trắng vàng đầy trời, nhưng rơi xuống phía Việt Minh tới non nửa. Còn việc hạ cánh thì càng ngày càng cực kỳ khó. Mới hôm qua một thằng liều hạ cánh xuống được một lúc, nhưng khi sửa soạn cất cánh lại bị bắn cháy. Cái sân bay giờ thành cái nghĩa trang máy bay rồi. Papa ạ, bây giờ không thằng nào muốn bay lên đó nữa, nhận lệnh nhiều thằng khóc như cha chết...

    - Hỏng! Hỏng thật rồi! - Đặng Văn Khiết lẩm bẩm.

    Người con cả tiếp:

    - Con có quen một thằng nhà báo Mỹ, thằng Nelson. Khá thân. Nó vừa tiết lộ cho biết: Mỹ đang tìm cách để hất cẳng Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Nó nói trước là cái Điện Biên này nhất định sẽ thất thủ về tay Việt Minh.

    Đặng Văn Khiết kinh ngạc:

    - Sao? Người Mỹ đang tích cực chuẩn bị một kế hoạch ném bom hủy diệt ở Điện Biên để cứu người Pháp cơ mà?

    - Không đâu, thằng Nelson nói với con là kế hoạch làm ra vẻ hết lòng vậy thôi, nhưng nó sẽ bị bác bỏ. Pháp mà thua, tất sẽ phải ra, vậy thì Mỹ sẽ vào. Vậy đấy papa ạ. Papa cũng liệu mà “chuyển buồm, chuyển gió” đi. Pháp sắp hết thời rồi.

    Người em cứ ngồi trố mắt nghe người anh nói, tới lúc đó mới xen vào:

    - Em thấy các nước lớn đồng minh với nhau, họ đàng hoàng lắm. Làm gì có chuyện lừa gạt nhau như vậy?

    Người anh cười khẩy:

    - Em làm nghề khoa học, em không hiểu gì hết. Làm gì có chuyện đàng hoàng!

    Đặng Văn Khiết thở ngắn, thở dài:

    - Thời thế đang biến chuyển thật. Nhưng ta nên thế nào đây cho phải? Mà việc này là vô cùng quan trọng. Lỡ một cái là chết ráo.

    Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta bỗng bật lên:

    - Phải coi lại tử vi, các con ạ!

    Người con cả cho là phải. Người con thứ hai lặng thinh. Đặng Văn Khiết vui mừng tiếp:

    - Ta nhớ ra rồi các con ạ, phải nhờ ông Tú An ở Gia Lộc mới được. Từ khi rời nơi ấy, đã hơn tám năm nay, ta chưa gặp được ông thầy nào uyên thâm như ông Tú An. Các con ạ, đúng, đúng phải mời ông cụ Tú lên đây xem giúp cho.

    Người con cả cười rộ:

    - Papa như mơ ngủ. Việt Minh đang đánh khắp đồng bằng. Đường số 5 liên tục bị mìn và bị đánh “độn thổ”. Cụ Tú lên đây sao được?

    Đặng Văn Khiết ngớ ra:

    - Ừ nhỉ, ba quên!

    Người con cả mỉm cười, nói thêm:

    - Vả lại, nếu có yên, mời, cụ ấy vị tẫt đã chịu đi. Papa hẳn chưa quên là khi trước làm quan phụ mẫu tại chỗ, papa cho mời mà cụ có chịu đi đâu. Rốt cuộc papa phải đích thân đến tận nhà. Cái ông cụ này kỳ cục đã nổi tiếng cả một vùng. Đến như công sứ có bà vợ người Việt mê tử vi và lại đang ốm, chữa thuốc Tây mãi không khỏi, cũng cho mời ông cụ lên, vừa để chữa bệnh, vừa xem tử vi cho bà sứ. Ông cụ cũng nhất định không chịu đi. Bảo: “Tôi chữa bệnh cứu người, ai tôi cũng chữa. Tử vi cũng vậy, ai cần xem, tôi xem giúp, không có phân biệt quan lại hay thứ dân. Nhưng ai cần thì tới, tôi không đi đâu cả”. Ông sứ dã cho lính về đốt nhà, và bắt trói đem đi...

    Thấy con trai kể lại chuyện vui cũ, nhưng có chi tiết sai, Đặng Văn Khiết chữa lại:

    - Không, ông Tú nổi giận lên, tự cầm lửa đốt nhà mình chứ! Dân làng phải tới chữa mãi mới cứu được, không thì ra tro.

    Người con cả vui vẻ hỏi lại:

    - Nhưng lính có trói và khiêng ông cụ lên ô tô, phải không papa?

    - Đúng. Nhưng lên tới tỉnh, ông Tú vẫn dứt khoát không chữa, không xem. Bảo đã hành hung như giặc cướp thì không phải là người cho cụ cứu giúp nữa. Và thách: bắn cứ bắn, giết cứ giết. Ông sứ thấy ông cụ là người có tiếng, cũng khó xử sau đành phải tha cho về.

    Người con cả lại cười rộ:

    - Đấy, con người như vậy mà bảo mời lên, mời làm sao được.

    Đặng Văn Khiết nói:

    - Ta đã có cách rồi: ta sẽ gửi lá số về cho thằng Phồn là tỉnh trưởng. Nó là cai cơ của ta trước đây. Nó sẽ cho người đưa xuống huyện nhờ ông Tú coi. Ta cũng sẽ có thư kèm theo với tình xưa nghĩa cũ...

    Cả hai người con cho rằng chỉ có cách ấy may được.

     Ba hôm sau, một tiểu đội bảo an do một viên thiếu úy kéo về một thôn ở ngay sát huyện ly. Mọi người xôn xao, không hiểu có chuyện gì. Ông cụ đang nằm co ro như con mèo hen trên tấm phản gỗ trước bàn thờ gia tiên. Lính vào, cụ vẫn cứ nằm, không mời ngồi, cũng không cho nước uống.

     - Các chú về bắt tôi, hay có chuyện gì? - Cụ hỏi.

     Viên thiếu úy khá lễ phép:

     - Cụ có thư của quan lớn Đặng Văn Khiết trên Hà Nội gửi về.

     Ông cụ nheo nheo mắt, nghĩ ngợi:

     - Đặng Văn Khiết nào nhỉ?

     Mãi sau ông cụ mới gật đầu, chép miệng:

     - À nhớ ra rồi: ông phủ Kiết họ Đặng. Nhưng mà này, bây giờ ông ấy làm gì nhỉ?

     Viên thiếu úy đáp:

     - Cháu không biết. Cháu chỉ được lệnh cấp trên đưa thư và một lá số tử vi về cho cụ. Ngoài ra không biết gì cả.

     Ông Tú đỡ lấy phong thư, mở ra xem. Cụ bà từ trong buồng nhẹ nhàng bước ra, ghé ngồi bên cụ ông, thì thầm:

     - Có phải thư lão phủ Khiết không? Tám năm rồi mà lão ấy còn nhớ tới nhà này cũng lạ. Ông ạ, tôi hay đi chợ, nghe người ta nói lão này bây giờ đâu như làm to lắm trên Hà Nội.

     Cụ ông ngừng đọc, hạ kính xuống:

     - Làm to?

     Nhưng rồi tiếp tục đọc. Xong, cụ đặt bức thư và lá số xuống hất hàm bảo viên thiếu úy:

     - Thôi được, các chú cứ về. Khi nào xong, tôi sẽ nhắn xuống lấy. Bây giờ chưa xem được!

     Viên thiếu úy phân vân:

     - Vậy cụ không viết cho vài chữ ư?

     - Không cần, các chú cứ về, bảo ông Phồn là tôi bận lắm. Khi nào rảnh xem xong sẽ báo.

     Khi đám lính bảo an quay ra, người trong xóm đã bu đấy ngoài cổng. Người đoán: có lẽ lính về bắt ông cụ, vì có người con thứ ba đi kháng chiến, nghe đâu là bộ đội Việt Bắc. Người lại cho là lính nghi trong nhà có hầm bí mật...

     Khi đám lính đi khỏi, ông cụ lại ngả mình xuống phản. Cụ chẳng bận gì hết, nhưng cụ đang rất buồn phiền. Thời cuộc càng rối ren, nóng bỏng, cụ lại càng buồn, càng nhớ thằng Dũng của cụ. Nhà có ba người con trai, hai người con gái. Nhưng cụ chỉ yêu thương và đặt nhiều hy vọng ở Dũng hơn cả, mặc dầu coi số nó cụ biết rất long đong, vất vả. Dũng đã học hết trung học, đỗ xong, mới lên ban tú tài thứ nhất. Nhưng năm học đang dở dang thì kháng chiến bùng nổ. Dũng xin đi bộ đội. Anh đóng quân ở Quảng Yên. Nghe nói đã cùng bộ đội Ký con ra đánh ngoài đảo Cô Tô. Nhưng chết gần hết, cả đại đội chỉ còn có gần mười anh, trong số đó có Dũng, bơi dược từ đảo vào bờ, sống sót. Sau đó anh lên Thái Nguyên. Từ đó gia đình không còn tin tức gì về Dũng nữa. Người đồn anh đã hy sinh. Người bảo anh vẫn còn sống nhưng ở Nam Bộ. Gần đây, lại có người nói: Dũng đang đánh nhau trên Điện Biên Phủ... Đúng là trong ba đứa con, chỉ có nó là có tư chất khá nhất và cũng có chí nhất. Vậy nay nó ở đâu, còn hay mất?... Còn hai người con trai kia chỉ an phận thủ thường. Anh lớn trước dạy học ở tỉnh, kháng chiến, cũng tản cư được một dạo, sau khổ quá, đem vợ con về, xin mãi mới được dạy ở trường làng. Người con thứ hai làm ở ty Dây thép ở tỉnh được vài tháng thì bị động viên đi lính Bảo Đại. Cũng mới được vài tháng làm lính truyền tin, thì bị bộ đội kháng chiến đánh vào Phát Diệm, bắt sống. Cải tạo ở ngoài khu tự do gần một năm, anh này được thả về. Bây giờ ở nhà chạy xe bò. Thế đấy! Cuộc chiến đã làm đảo lộn tới tận đáy cùng của xã hội, đã xáo trộn tất cả đời sống của mọi gia đình... Con người đã và đang chịu biết bao thử thách, đau khổ. Ai vững thì sống, ai may thì sướng, đó là cái quy luật chung, nhưng cũng không khỏi có biết bao oan trái, nghịch cảnh, phi lý mà con người phải chịu đựng hoặc không sao tránh được. Đen, đỏ, sáng, tối, còn dang lẫn lộn, thực giả đang còn khó phân. Ai cũng nói mình là phải, là tốt. Thậm chí đến như Bảo Đại cũng long trọng tuyên bố mình là người yêu nước, cho tới Đặng Văn Khiết, như trong thư vừa đọc, cũng bày tỏ mình là người nhân hậu, ăn ở với mọi người như bát nước đầy... Cụ Tú buồn lắm. Cụ chỉ cầu mong sao cho các con cụ nhất là Dũng sẽ trở về và sẽ có được một cuộc sống yên ổn. Thế là đủ, nhưng cứ như lá số đặc biệt của Dũng thì Dũng đã chết tới ba lần. Và còn có thể chết nữa... Lúc thì do gươm đao, nhưng có lúc lại không phải thế. Cụ đang còn ngẫm xem.

        Cụ bà từ trong buồng lại bước ra:

        - Mặc xác nhà lão ta! Ông đừng xem, có mà thừa hơi!

        Cụ Tú cười buồn:

        - Ấy không, cứ xem chứ. Để biết thêm việc đời bà ạ! Tôi vừa mới lướt qua, cái số này thật kinh khủng: vô tài vô đức, quỷ quyệt khôn lường mà nó được làm nên tới khanh tướng.

        Rồi cụ tiếp:

        - Nhưng thế mới là chuyện đời bà ạ. Chứ cứ ai nhân đức, ai tài ba thì rồi cũng được vinh hiển cả, thì còn nói gì! Không đâu! Thời nào cũng thế cả. Rồi bà xem: vẫn còn thằng còng làm cho thằng ngay ăn, thằng dốt dạy bảo người sáng, quân giả dối, quỷ quyệt lại làm nên ông to bà lớn...

        Bà cụ lắc đầu:

        - Tôi không hiểu. Tôi chỉ van ông xem kỹ lại cái số cho thằng Dũng, xem nó thế nào...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #14 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:39:24 am »

7


     Chiều rồi mà tiếng máy bay vẫn vang động trên bầu trời. Dũng phải áp chặt ống tổ hợp vào tai mới nghe rõ tiếng trung đoàn trưởng Lê Thâu. Anh hỏi:

     - Alô, họp ạ?

     - Phải! Cậu lên ngay đây, rồi cùng bọn mình lên “ép”. Tối nay ta ngủ trên đó. Mai họp. Các cấp trưởng, từ tiểu đoàn trở lên. Sơ kết mười ngày đào chiến hào.

     - Rõ! Nhưng báo cáo anh từ chỗ tôi có thể cắt rừng lên “ép”. Anh cho phép tôi đi lối ấy được không? Để còn có thì giờ bàn giao công việc ở nhà.

     - Có thể đi tắt hả?

     - Vâng. Tôi đã xoi được một lỗi, tuy vất vả một tí, phải đi qua hai cái đèo...

     - Cậu vẫn là tay luồn rừng có hạng đấy nhỉ! Thôi được, ta sẽ gặp nhau trên đó. Nhưng cậu đã nhận được cái lệnh trưa nay rồi chứ?

     - Đã. Anh cứ yên tâm.

     Lệnh hồi trưa mói nhận được là phải đưa một đại đội ra thay thế cho một đơn vị của trung đoàn 1 ở cánh phải, phía nam, để bên đó đi nhận nhiệm vụ mới.

     Ông Thâu tiếp:

     - Bên Xã Đệ cũng có một đơn vị ra đấy, nhiệm vụ cũng như thế. Đoạn ấy là chỗ tiếp giáp trận địa của hai trung đoàn, cậu biết chưa?

     - Có. Tôi đã ra chỗ ấy vài lần.

     - Thôi được, chuẩn bị xong, đi luôn nhé! Trên này bọn mình sắp sửa đi đây.

     Dũng bỏ ống tổ hợp xuống, gọi Báu, bảo mời ngay Hà Giao về để bàn giao công việc. Báu vọt đi như một chiếc pháo chuột. Nhưng 15, rồi 20, rồi 30 phút sau mới thấy tiểu đoàn phó Hà Giao trở về. Anh vừa bước vào hầm đã nồng lên mùi rượu. Dũng hỏi:

     - Lại tí tửu rồi hả?

     Giao cười lúng túng, tay vuốt vuốt mái tóc chải gọng kính kiểu công tử xứ quê:

     - À, tay Thỉnh đại đội trưởng của trung đoàn vận tải vừa ghé qua. Hắn có bi đông “quốc lủi”, ép mấy hớp, nể quá.

     - Có sao đâu. Này, tôi vừa có lệnh lên “ép” họp, vậy ông ở nhà lo công việc đưa quân ra thay thế trận địa nhá!

     Dũng vừa nói vừa mở bản đồ. Anh chỉ khu vực chiến hào của đơn vị bạn, rồi dùng chì đỏ khoanh lại:

    - Đây, chỗ này! Bên phải ta là quân của Xã Đệ. Họ cũng sẽ thay thế cho quân bạn. Tối nay ra. Mọi việc bàn giao trận địa phải hoàn tất trước nửa đêm, để cho bạn rút và ta còn có thời gian triển khai lực lượng. Chỗ này ông biết rồi chứ?

    Hà Giao ấp úng:

    - Cũng... cũng một lần...

    Rồi anh lại hỏi rất nhanh sang vấn đề khác:

    - Thế anh định cho “xê” nào ra?

    -  Mình đang đợi ông để trao đổi đây. Theo mình nên cho xê cậu Niên đi, xê của Lanh xồm, và xê của cậu Thìn cứ để đấy. Không nên xáo trộn.

    Hà Giao gật gù:

    - Vâng, thế cũng được.

    - Vậy ông nên xuống ngay với cậu Niên, giúp nó chuẩn bị, và trực tiếp kiểm tra mọi mặt từ xẻng cuốc tới vũ khí, từ kế hoạch đào hào tới các phương án đánh quân quấy rối hoặc quân phản kích.

    Hà Giao nhăn nhó:

    - Ngần ấy việc mà chỉ còn có non buổi chiều nay! Hơn nữa lần này là ra chỗ mới, hoàn toàn chưa biết thực địa. Vậy làm sao đã có kế hoạch tác chiến ngay được?

    - Đúng là quá gấp. Nhiệm vụ cũng rất mới nữa. Nhưng phải chấp hành thôi. Chắc trên “ép” đã có những dự kiến về kế hoạch chung, mình chưa được biết đấy thôi. Vậy chỉ có cách phải gắng mà khắc phục. Tốt nhất ông nên đi luôn với thằng Niên ra đó đêm nay, rồi cùng nó vạch ra kế hoạch ngay trên thực địa.

    Hà Giao lại lúng túng:

    - Cũng được. Được, anh cứ mặc tôi, nói vậy chứ mọi việc sẽ ổn cả thôi.

    Dũng gấp bản đồ lại. Nhưng chưa thật yên tâm, anh nói thêm:

    - Khu vực này địch ít ra, chưa có đụng mạnh bao giờ. Nhưng cũng chớ có chủ quan. Ông nên lấy thằng Báu cùng đi. Nó thuộc khu vực này hơn cánh ta nhiều. Mọi đêm ra trận địa, nó hay chạy vung xích chó, có đêm rông cả sang khu vực của e bạn...

    - Được! Được! Thôi, anh cứ sửa soạn đi đi. Mọi việc tôi lo. Cứ yên trí.

    Dũng nhét vội quyển sổ công tác vào túi dết, rồi chạy xuống khu bếp “Hoàng Cầm” xin “anh nuôi” nắm cơm và một nhúm muối vừng. Sau đó, mở địa bàn, định lại hướng một chút, anh bắt đầu xuyên vào rừng, đi phăng phăng. Càng vào sâu, rừng càng rậm, vì ít bom đạn hơn ở phía ngoài. Lác đác lại hiện ra những cây ban hoa nở trắng xóa. Màu hoa trinh trắng và hồn nhiên lạ lùng. Dũng vừa đi vừa với tay ngắt một vài bông. Lòng anh thanh thản. Trong giây lát anh như quên mình đang đi trên mặt trận, mà đang qua một cánh rừng yên tĩnh nào đó ở hậu phương. Cảm giác nhẹ nhàng thư thái đưa dắt anh trở về với những kỷ niệm xa xôi. Cũng những cánh rừng biếc xanh như thế này... Cũng những dòng suối nhỏ trong vắt, róc rách trôi êm đềm giữa hai bờ sỏi đá như thế này... Anh đã bao lần băng qua, để tới ngôi trường gần thị xã ấy tìm gặp em. Đã bao lần anh gội mưa, đã bao lần anh tắm nắng... Lần nào anh cũng vừa đi vừa thầm gọi tên em: "... Nguyệt Lệ ơi, em đã tan trường, hay vẫn còn trong lớp? Anh đây! Anh đến tìm em, hỡi tình yêu của anh, hạnh phúc của anh, cuộc sống của anh...”. Đã bao lần những tiếng gọi thiết tha nồng cháy ấy tràn ngập trái tim non trẻ ngây thơ, trong trắng của anh...

     Một hồi lâu sau, anh bắt ra được con đường mòn dẫn tới sở chỉ huy của đại đoàn. Ở đây quang đãng hơn, nhiều ánh sáng hơn. Cũng vừa lúc đó một đoàn cán bộ năm sáu người đang từ phía dưới đi lên, về phía đại đoàn. Đó là đoàn cán bộ của trung đoàn 3 cũng về họp. Mọi người nhận ra Dũng, hoan hỉ siết chặt tay anh. Tiểu đoàn trưởng Lê Phong bị tụt giầy từ phía sau đã chạy lên kịp. Anh như vồ lấy Dũng. Hai người bạn ôm riết lấy nhau, đấm vào lưng nhau thùm thụp. Mới có vài tuần chưa gặp nhau mà cứ tưởng như đã vài năm.

     - Dũng “cháy”! Dũng “cháy”!

     - Thằng “Phải gió”! - Dũng đã quen gọi đùa bạn như vậy.

     - Chà, mày tọp đi có đến dăm cân không?

     - Mày cũng yếu tợn, nhưng vẫn “công tử” lắm nhỉ!

     Đôi bạn ríu rít như hai cậu học trò nhỏ. Họ cùng đi tụt lại sau đoàn cán bộ, để trò chuyện được thoải mái.

       Tới một đoạn suối kín đáo, ông trung đoàn trưởng cho mọi người tranh thủ ngồi nghỉ. Dũng và Phong lại tìm một chỗ khuất xa, cùng ngồi. Tới đây, Lê Phong mới nhận thấy có lẽ là lúc thuận tiện nhất để nói với Dũng những điều mình muốn nói ngay từ lúc đầu. Anh lựa lời để vào chuyện:

       - Này, vừa qua chỗ mình có một phái đoàn phụ nữ tới thăm, Dũng ạ...

       Đôi mắt Dũng chợt như lóe sáng. Phong hiểu ngay: Cái thằng “trời đánh” thế là đã hiểu rồi. Không điều gì nó không sớm hiểu. Rất nhiều khi, nhiều chuyện mới chỉ nói có nửa lời nó đã biết rõ hết, huống chi bây giờ lại là chuyện của chính nó. Phong thấy tốt nhất là đi thẳng ngay vào vấn đề:

       - Dũng, sao mày lại thế nhỉ? Tao lạ quá.

       Mặt Dũng tối lại. Anh buồn bã nhìn xuống dòng suối đang lấp lánh len lỏi giữa những hòn đá lớn.

       - Mày nghĩ thế nào vậy? - Lê Phong tiếp tục nói - Thật vậy, tao không hiểu mày nghĩ thế nào mà xử sự như thế, một khi mày đã được biết rõ cảnh ngộ của “en” 1. Một cảnh ngộ thật đáng... cảm thông, và cũng đáng dược kính trọng nữa...

       Bấy giờ Dũng mới quay lại, giọng hết sức mệt mỏi:

       - Thôi mày! Tao không muốn nhắc lại chuyện ấy nữa.

       - Không được! Mày không nhắc, nhưng tao biết trong đầu mày thì vẫn như có tảng đá không vứt đi được. Còn phía “en” thì rõ ràng là vô cùng đau khổ, vừa bị hiểu lầm vừa bị hắt hủi, thậm chí như bị xúc phạm. Tao nói thật, Dũng ạ, vừa qua, mày đã tỏ ra vừa thô bạo vừa hết sức cực đoan, vô lý.

    Dũng trừng mắt:

    - Vậy mày bảo tao phải như thế nào? Lịch sự cảm thông? Không! Mày không hiểu được tao đâu.

    - Sao tao lại không hiểu được mày?

    - Không! Trong chuyện này thì không. Mày hiểu sao nổi nỗi đau băm vằm, nỗi đau nghiền nát, kể cả nỗi căm hờn thiêu đốt hết cả ruột gan tao...

    - Nhưng đó là trước đây, khi mày còn chưa biết rõ mọi sự thật. Còn bây giờ thì...

    - Không! Mày cả tin lắm. Nhưng có lẽ chính cái yếu điểm này của mày lại là cái hay nhất của mày mà tao rất thích. Mày cả tin lắm. Nước mắt đàn bà... Nước mắt, nỉ non, và thanh minh, và giãi bày nữa... Không! Trái tim mày chưa một lần khô héo, chưa có một vết xước qua, mày vẫn còn thiên thần con trẻ. Mày mới chỉ bị nghe những lời dối trá vặt vãnh trong cuộc đời, chứ chưa một lần bị phản bội. Tâm hồn mày vẫn còn là một áng mây hồng tuyệt vời cao quý...

    Phong thấy lòng mình thực sự xót xa:

    - Dũng ơi, cuộc chiến khốc liệt, gian lao đã làm cho mày trở nên cay nghiệt, hoài nghi và buồn bã đến vậy sao?...

    - Không! Tao như con thú bị thương càng trở nên tinh khôn hơn và mau lẹ hơn, như một đứa trẻ bị dối lừa đã trở nên biết cảnh giác và khôn lớn.

       - Nhưng mày không còn biết tha thứ và xót thương nữa sao, chứ chưa nói tới yêu thương? Tao biết có lẽ mày còn tất cả, nhưng đáng buồn là những cái đó đang bị nỗi đau và hận thù vùi lấp...

       - Có thể đúng. Những cái xấu đã vùi lấp đi hết cả.

       - Dũng ơi, quả thật tao cũng không ngờ đòn roi của số phận đã quá nghiệt ngã đối với mày để đến nông nỗi này. Tao không biết nói gì nữa, tao chỉ còn biết van mày hãy tỉnh táo hơn...

       - Tỉnh táo là thế nào? Mà mày muốn gì ở tao vậy? Ừ thì hãy giả dụ là tao có thể tin, hoặc sẽ tin cô ta. Nhưng để rồi làm gì? Cô ta đã là vợ một người mà ít ra người đó cũng đã một thời có đóng góp tử tế. Vậy tao không có quyền, và cũng tuyệt đối không bao giờ muốn xen vào cuộc đời của họ. Không, tao không là thằng điên, cũng không là kẻ mất dậy...

       - Khoan! Tao không hề có ý định gì khác là chỉ nói tới một sự cảm thông, và một tình bạn tốt đẹp trong sạch được chắp nối lại...

       Dũng nhếch mép, không rõ anh cười hay nhăn nhó:

       - Không! Không làm gì có cái đó. Với đàn bà chỉ có: một là yêu, yêu cho đến chết, hai là căm hờn, căm hờn cũng cho đến chết, vậy thôi, Phong ạ.

    Phong buồn bã:

    - Mày vẫn cực đoan như vậy, thôi còn nói được gì nữa?

    Và nhìn bạn, đôi mắt càng tràn ngập xót thương, Phong lại cố gắng một lần nữa:

    - Nhưng, Dũng ơi, dẫu sao thì cũng phải cho phép con người ta một lần lầm lỗi, và cũng cho họ được một lần hối hận chứ?

    Dũng lắc đầu:

    - Sự hối hận của đàn bà ư? Không bao giờ có thật ở trên đời này hết. Mày hãy tin như thế, và rồi mày sẽ biết.

    Vừa lúc đó ông trung đoàn trưởng đứng dậy gọi to:

    - Thôi, ta lại đi tiếp, các bạn!

    Dũng và Phong cùng phủi quần đứng dậy. Phong vẫn còn cố níu kéo:

    - Chưa xong đâu đấy! Tối nay, tao sẽ còn phải “đấu” cho đến khi nào mày thật tỉnh ra mới thôi.

    Mặt Dũng như có mưa sa...




------------------------------------------------------------------
1. Nàng - Elle (tiếng Pháp).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:41:57 am »

*


    Tối đó, tới hơn tám giờ, đại đội của Niên vẫn chưa xuất phát được, vì một số anh em đi lấy gạo về muộn, còn phải đợi cho ăn cơm xong. Thêm nữa, lại có hai sự cố xảy ra: dại đội trưởng Niên ốm lai rai từ mấy hôm trước cứ cố giấu nay lên cơn sốt rét đùng đùng, đắp tới bốn, năm chiếc chăn vẫn cứ rung lên bần bật. Mọi việc trước mắt phải bàn giao lại cho đại đội phó Noãn. Việc ấy vừa ổn thì có chuyện khác: Tiếp, một tân binh, đánh mất súng. Cả trung đội, rồi cả đại đội nháo cả lên. Sợ quá, anh tân binh cứ ngồi khóc hu hu. Mãi sau, Cốc với biệt danh “Cốc mò”, một cựu binh có biệt tài tìm kiếm, và có một trí nhớ khá đặc biệt, chợt nghĩ ra: “Lúc nãy nó đi “hố mèo”, khéo để quên ngoài đó chăng?”. Nói đoạn, Cốc kéo Tiếp đi tìm. Quả nhiên, cây súng dựng bên một gốc cây vẫn còn nguyên đó. Tiếp mừng quá chỉ còn thiếu sụp xuống lạy anh bạn cựu binh của mình một lạy. Cả đại đội cùng thở trút. Nhưng lúc đó đã là hơn chín giờ tối. Hà Giao không xuống. Tất cả mọi việc, anh ta chỉ dặn dò qua điện thoại. Anh ta mắc bận vì đại đội trưởng vận tải Thỉnh lại mang tới hai bi đông rượu và cả một đùi chó (không rõ anh ta kiếm đâu ra). Hà Giao đã cho gọi cả Bổng cán bộ tác huấn và cả mấy người khác cùng quê tới đánh chén, bù khú. Vui quá, Giao đã quên không cho Báu xuống dẫn đường cho đơn vị như Dũng đã dặn.

       Mười giờ, đại đội phó Noãn mới cho quân lên đường được. Anh thực sự bối rối vì không thuộc lối ra trận địa đơn vị bạn. Chỉ biết phương hướng chung chung trên bản đồ, mà đọc bản đồ anh chưa thạo. Lại lất phất mấy hàng mưa. Ra khỏi rừng, đi theo đường hào trục quen thuộc cũ, cũng không có gì trở ngại lắm, nhưng khi bắt đầu rẽ về hướng trận địa trung đoàn bạn, mới bắt đầu rắc rối. Nhiều ngã ba, nhiều giao thông hào phụ ngang, dọc. Đại đội di chuyển chậm chạp. Vừa đi vừa phải lẩn mò tự tìm lấy đường. Có chỗ phải dừng lại chờ người ở phía trước đi tới để hỏi thăm.

    Ruột gan như có lửa đốt, Noãn rẽ mọi người, lên đầu hàng quân. Nhưng chính anh cũng không khỏi lúng túng. Chợt có một chiến sĩ ở phía sau cũng lách anh em, tiến lên phăng phăng. Anh đến bên Noãn:

    - Báo cáo đại đội phó, để em dẫn đường cho! Khu vực này em đã có lần đi qua, em biết.

    Noãn cố nhìn cho rõ anh lính trẻ đứng trước mặt mình. Đêm, lòng hào tối quá. Thoạt tiên anh chỉ thấy một khuôn mặt nhỏ, trẻ măng dưới vành mũ nan, và một cây súng cá nhân khoác vai, cùng một chùm lựu đạn lủng lẳng ở quanh bụng anh ta. Nhưng rồi Noãn đã nhận ra:

    - À, Bùi Minh!

    Đó là một tân binh mới được bổ sung cách đây có mười ngày. Tuy là tân binh nhưng cũng có thể coi như một thứ cựu binh, vì Minh vốn là một thiếu sinh quân đã được tập trung học văn hóa và cả quân sự từ mấy năm nay. Bùi Minh là con một liệt sĩ trong trận Sông Lô năm 1947. Nhà nghèo, phải mò cua bắt ốc kiếm sống. Năm 1950 đại đoàn hành quân qua vùng đó, đã đem Bùi Minh vể nuôi dưỡng trong đội Thiếu sinh quân. Năm nay vừa tròn 18 tuổi, Bùi Minh xin được ra đơn vị chiến đấu... Chỉ mới mười ngày sống trong đại đội, Minh đã sớm được anh em chú ý về tinh thần hăng hái và trí thông minh; lại có nhiều “biệt tài” như múa hát, đánh đàn. Đúng là một chiến sĩ có văn hóa.

    Bùi Minh đã xuất hiện rất đúng lúc. Noãn mừng rỡ:

        - Vậy cậu đi trước đi! Mẹ kiếp, tớ không còn biết đường nào mà lần nữa, cứ như bàn cờ cả thế này!

        Ghì chặt báng súng vào bên sườn, Bùi Minh vọt đi như một mũi tên bắn. Noãn nhìn theo sung sướng “Mẹ kiếp, tân binh thằng nào cũng như thế này cả thì nhẹ cho mình quá”.

        Vừa bước đi được dăm bước, Noãn nghe có tiếng báo cáo từ phía sau vọng lên:

        - Báo cáo có một tân binh bị choáng. Y tá Hoàng xin ở lại săn sóc rồi đuổi theo sau.

        - Mẹ kiếp, lại chuyện gì nữa thế này, khổ quá! - Noãn lật đật quay lại. Trong một hàm ếch tối om có mấy người đang lúi húi. Tuy chỉ nhìn sau lưng, Noãn cũng đã nhận ra chính trị viên Phạm Tá và cả y tá Hoàng.

        - Cậu nào đấy? - Noãn cất tiếng hỏi.

        Phạm Tá nhìn ra:

        - “Cốc mò”! Cậu này có lẽ dầm bùn nước quá nhiều, lúc chiều đã hâm hấp sốt...

        Lập tức có tiếng léo nhéo trong hàm ếch vọng ra, giọng xứ Nghệ:

        - Em chỉ chóng mặt một tí, ngồi xuống cho tỉnh chứ có sao đâu ạ.

        Y tá Hoàng vẫn đang vừa xoa bóp vừa bôi dầu chống lạnh cho Cốc.

        - Thì cậu cũng cứ nằm yên một tí đã nào...

       Y tá Hoàng còn rất trẻ, nhưng được cả đại đội rất mến. Anh em thường gọi là “Bác sĩ Hoàng”. Năm ngoái, trong chiến dịch Nghĩa Lộ, Hoàng không những đã cứu được rất nhiều thương binh mà còn bộc lộ một đặc tính: ham đánh không kém gì các chiến binh. Từ đó anh em lại gọi vui là “Bác - chiến - sĩ - Hoàng”.

       Phạm Tá chui ra khỏi hàm ếch tươi cười:

       - May, không sao cả. Một lúc nữa cậu ấy lại đi được thôi. Ta lên trước đi anh.

       Phạm Tá vốn trước kia cũng là cán bộ quân sự nhưng sau tổ chức thấy anh tính nết rất đằm, sâu sát chiến sĩ và sống rất giản dị, gương mẫu nên đã điều anh sang ngạch chính trị.

       Phạm Tá vừa đi vừa nho nhỏ với Noãn:

       - Tôi sợ ta ra chậm quá anh ạ.

       Noãn gật đầu:

       - Chậm thì rõ rồi.

       - Tôi lo anh em đơn vị bạn người ta sẽ phê bình cho. Không những thế, ra muộn, chân ướt chân ráo, địa hình lại hoàn toàn mới mẻ, không hiểu sẽ xoay xở ra sao đây?

       Noãn là một cán bộ gan dạ, xốc vác, nhưng không có những suy nghĩ xa, rộng như Phạm Tá. Anh thường chỉ quen nhìn thấy những việc trước mắt. Anh chỉ đang lo việc đường sá. Anh mừng rỡ thấy Bùi Minh đã trở lại.

       - Báo cáo, em đã tìm thấy trận địa của bên ấy rồi.

     - Tốt quá! Đi! Đi mau!

     - Nhưng...

     - Nhưng sao?

     - Họ rút hết rồi.

     Noãn tròn xoe mắt:

     - Thế thì bỏ mẹ. Chúng nó rút tiệt rồi hả?

     - Báo cáo, chỉ còn một anh trung đội trưởng ở lại để chờ ta đến bàn giao.

     Noãn thở phào:

     - Vậy thì còn đỡ. Mẹ kiếp, tưởng chúng nó đi ráo thì còn biết mô tê răng rứa nào mà lần.

     Cả đại đội được lệnh đi gấp như chạy. Bùn nước oàm oạp, tung tóe.

     Xem đồng hồ tay. Đúng 04 giờ 5 phút sáng, Noãn và trung đội đi đầu mới tới trận địa đơn vị bạn. Một bóng người đang đứng dậy, vẻ bồn chồn, sốt ruột, ở một ngã ba giao thông hào còn khá nông mới tới ngang ngực. Vừa nom thấy bọn Noãn, cái bóng nọ đã vội ré lên:

     - Các bố sao ra muộn thế?

     Nghe đã lộn cả ruột, nhưng Noãn cố nén và vặn lại:

     - Có nhiều lý do. Nhưng sao các anh lại rút trước, không đợi bọn tôi?

     Anh trung đội trưởng nọ (đã biết chắc anh ta là như thế) càu nhàu:

     - Lý do, lý do! Còn rút nhanh rút chậm thì anh về hỏi chóp bu của tôi. Nào, có muốn nghe bàn giao thì tôi nói, không thì thôi.

     Đã muốn đấm cho “tên” trung đội trưởng nọ một quả đấm thì Phạm Tá lên, Noãn đành nén lại.

     Đúng là anh trung đội trưởng nọ rất sốt ruột muốn đi cho sớm. Anh nói rất qua loa về tình hình giao thông hào và tình hình địch. Nhưng có lẽ thật ra anh ta cũng chẳng biết gì nhiều. Hỏi mười điều, chỉ trả lời ú ớ được có dăm ba. Không thể không nổi cáu lên, Noãn vung tay quát:

     - Thôi, cho anh chuồn!

     Rồi nhìn quanh, anh nhăn nhó:

     - Thế này còn là vất vả to! Hình như anh em bên ấy cũng mới ra đây thì phải. Còn bang bách quá. Mẹ kiếp, chiến hào gì mới chỉ che được cái...

     Phạm Tá cười:

     - Nơi tiếp giáp mà! Tôi thấy các con đường, chỗ tiếp giáp của các huyện, nhất là các tỉnh thường cũng như thế này cả. Bên này ỷ lại bên kia. Nhưng thôi, anh cho anh em triển khai công việc đi, kẻo sáng rồi. Phải đào tiếp, đào gấp ngay hào phía trước đã, nhất là đắp ngay các ụ súng trung liênvà ĐKZ...

     Noãn quay đi. Tiếng anh ra lệnh lay động cả chiến hào. Phạm Tá cũng cầm lấy một cái xẻng. Trong thầm tâm anh nỗi lo lắng ban nãy lại càng tăng. Nhìn trận dịa còn dang dở như thế này làm sao mà yên tâm được? Địch đánh ra, khéo không kịp trở tay. Làm thế nào bây giờ? Phải chăng cần cấp tốc hội ý chi ủy để lãnh đạo tư tưởng, ổn định và động viên tinh thần anh em? Chẳng lẽ mình còn lo như vậy, mà họ không có chút gì băn khoăn lúc này hay sao?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:43:20 am »

*


     Chiều hôm trước, trong sở chỉ huy Pháp ở Mường Thanh đã có một quyết định quan trọng. Có điện của tướng Cogni. Một mặt ông ta động viên, một mặt hạ lệnh cho De Castries phải tổ chức phản kích mạnh mẽ ra các chiến hào đối phương để nới lỏng vòng vây và tiêu diệt các trận địa cao xạ, nhất là súng máy cao xạ đối phương đã vào rất gẩn sân bay và khu trung tâm. Chấp hành lệnh đó, De Castries đã vạch ra một kế hoạch. Ông ta cho mời Bigeard tới. Anh ta đứng nghiêm, ưỡn ngực, xòe bàn tay đưa lên mũ, đôi mắt xanh như mắt beo nhìn rất thẳng.

     - Bruno! Tốt lắm! Tôi đang đợi anh đây. Có trọng trách mới giao cho anh. - De Castries đẩy ghế dứng dậy, vui vẻ chìa tay ra.

     - Trình đại tá, tôi xin nghe!

     - Anh sẽ chỉ huy một trận phản kích lớn ở phía tây. Phải, tôi đã chọn. Phía tây, khu vực bản Ong Pét. Bộ binh địch và một trận địa cao xạ, phòng không...

     De Castries vẫy Bigeard lại gần. Ông ta mở tấm bản đồ khu đề kháng Huygette với những ký hiệu xanh đỏ chi chít, dày đặc...

     Lát sau, Bigeard ngẩng lên, đứng lui lại một bước:

     - Tôi đã rõ, trình đại tá. Nhưng xin phép hỏi rõ thêm: vì sao lại khu vực này mà không ở phía đông?

     De Castries mỉm cười:

     - Phía đông và phía tây đều đang nhiều nguy hiểm cả. Nhưng dẫu sao phía đông vẫn còn các cao điểm rất mạnh của ta, lại có sông Nậm Rốm ngăn trở. Còn ở phía tây: đồng bằng trống trải, các chiến hào đối phương đã mở rộng và vào gần tới các cứ điểm của ta. Sân bay, nơi đang vô cùng thân thiết cho việc tiếp tế và tăng viện, rõ ràng đang bị uy hiếp. Đối phương tuy đã khống chế nó bằng hỏa lực từ sau Beatrice và Gabrielle và Anna Marie, nhưng dẫu sao ta vẫn thi thoảng bất ngờ hạ cánh được máy bay, và việc thả dù vẫn còn có một khu vực khá rộng. Nay tôi không muốn tình hình ở đó xấu hơn nữa, thậm chí còn muốn cải thiện hơn... Hiểu chứ? Tôi rất hy vọng ở thiếu tá.

     - Rõ! - Bigeard lại dập gót giầy, đáp. (Anh ta rất mừng là cái gót chân bị thương từ trước Điện Biên Phủ làm cho anh ta phải đi tập tễnh, chống can, nay được các bác sĩ của tập đoàn cứ điểm tích cực chữa đã gần như khỏi hẳn. Chiếc can đã quẳng đi rồi).

     - Vậy nhé, Bruno! Anh hãy tìm bộ binh và nhất là cao xạ của “tụi nó” cho tôi nhé!

     - Rõ! Thưa, bao giờ?

     - Ngay ngày mai. Anh hãy lấy những phương tiện cần thiết. Hãy thắng cho giòn giã! Anh được toàn quyền trong trận này.

     - Cảm ơn đại tá!

     Bigeard xin quay lui. Chỉ một lúc sau anh ta đã trở lại với kế hoạch tác chiến khá cụ thể với phương châm chung là: dùng lực lượng mạnh áp đảo, tấn công thật bất ngờ, lợi dụng triệt để sương mù buổi sáng. Thời gian để dánh chiếm mục tiêu: hai giờ. Lực lượng sử dụng như sau: 8é Choc (tiểu doàn 8 xung kích dù) do Touret chỉ huy, 1é BEF (tiểu đoàn 1 dù lê dương) do Guiraud chỉ huy, và 6é BPC (tiểu đoàn 6 quân dù thuộc dịa) do Thomas chỉ huy. Một đại đội xe tăng do Corette chỉ huy. Còn pháo yểm trợ sẽ do các cụm pháo 105, 155 ở Mường Thanh, kể cả pháo ở Hồng Cúm. Máy bay: hai phi đội - một ném bom, một cường kích - liên tục chi viện từ sau giờ nổ súng của pháo binh ba mươi phút, chủ yếu đánh vào tuyến sau của đối phương để ngăn chặn và tiêu diệt quân tiếp viện từ trong rừng ra. Giờ nổ súng: 5 giờ 30 phút. Lúc đó 8é Choc và 6é BPC đã phải tập kết xong xuôi ở sau bản Cháy để sẵn sàng bước vào chiến đấu. 1é BEFP lùi ở phía sau, làm dự bị đội. Cùng lúc đó, quân của các cứ điểm Huygette 1, Huygette 7 sau khi hoàn tất nhiệm vụ đón quân phản kích ra khu vực tập kết cũng sẵn sàng yểm trợ bằng hỏa lực ngăn chặn không cho đối phương truy đuổi trong trường hợp xấu nhất là trận đánh bị đẩy lui.

     Kế hoạch này đã được Langlais hoàn toàn đồng ý.

     - ... Bruno, tôi chỉ bổ sung kế hoạch này có một điểm là: “Chúc chiến thắng!” - De Castries lại mỉm cười, và siết chặt tay “người hùng thứ hai” của căn cứ Bigeard không khỏi vui vui trước lời khen tế nhị này. De Castries tiếp:

     - Và nếu tôi có muốn nhấn mạnh điều thích thú nhất của tôi, thì đó là quyết định của anh: đánh bất ngờ. Hay lắm! Sức mạnh của một con cọp không phải chỉ ở móng vuốt của nó mà còn ở sự tinh khôn. Nó thường chụp lấy con mồi một cách bất ngờ, nhanh gọn nhất.

     Bigeard trở về hầm của mình. Một cuộc hội ý cấp tốc giữa anh ta và các viên sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn pháo, tăng. Các sĩ quan không yểm cũng được triệu tập. Đúng là một brieffìng (Hội ý phổ biến nhiệm vụ tác chiến); chỉ 30 phút là xong. Các viên sĩ quan lục tục quay lui. Bigeard nhìn theo họ. Tuy rất tin trận đánh sẽ thắng, nhưng anh ta vẫn không thật hào hứng. Nhìn vào toàn cuộc ở đây, anh ta vẫn thấy có rất nhiều nguy cơ. Tuy chỉ là một thiếu tá nhưng anh ta cũng có đầu óc suy nghĩ khác với nhiều viên sĩ quan đồng cấp. Họ chỉ biết hùng hục như “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy”. Phản kích lớn, phản kích mạnh để giải tỏa... Đúng rồi. Nhưng cho tới hôm nay “người ta” mới mạnh bạo làm việc đó. Sao không kiên quyết phản kích ngay từ Beatrice và Gabrielle, phản kích mạnh mẽ ngay từ đó? De Castries đã bị các sĩ quan dù ép phải “phản công lại”, giao cho Langlais chỉ huy trực tiếp tác chiến trên toàn căn cứ vì thấy Langlais can đảm hơn, ngổ ngáo hơn, kiên quyết hơn. Nhưng Langlais cũng có những nhược điểm là nhiều khi quá bốc dồng. Bigeard không có mặt ở đây ngay từ trận đầu, vì bị thương từ hồi tháng 10 năm trước (khi nhảy xuống đây, thiết lập căn cứ). Phải sau khi trận chiến mở màn, Beatrice, và Gabrielle thất thủ, Bigeard mới được lệnh cấp tốc cùng tiểu đoàn 6 dù thuộc địa khá nổi tiếng của anh ta nhảy xuống đây để tăng viện. Nhưng lẽ ra, theo ý Bigeard, tiểu đoàn này phải được tung ngay vào các trận phản kích, thì Langlais lại bắt phân tán phòng ngự tăng cường cho các cứ điểm ở khu đông. Bigeard cho thế là sử dụng tồi, là lại đi vào vết xe do dự của De Castries. Hôm nay Bigeard mới được sử dụng vào đúng sở trường và cả sở thích của mình. Sẽ có chiến thắng - Bigeard tin như thế - Nhưng liệu sẽ còn phải phản kích bao nhiêu trận? Và còn phải làm những gì nữa, thì mới mong có thể xoay chuyển được tình thế này?

       ... Đúng như kế hoạch, sáng hôm sau, khi sương mù còn dày đặc, các đơn vị tham chiến đã bí mật xuất phát. Để tránh mọi tiếng ồn, riêng xe tăng vẫn còn nằm im trong các hố chôn sâu, chỉ để chừa các tháp pháo. Bigeard cũng đã ngồi trên một chiếc xe Jeep, đầu đội mũ sắt, hai bên có hai vệ sĩ “trang bị đến tận răng”. Anh ta cũng không khỏi ít nhiều hồi hộp. Trước mắt anh ta là những đơn vị thiện chiến của đối phương. Anh ta đã được nghe nói thế...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:45:01 am »

*


       Trong lúc dại dội phó Noãn và chính trị viên Phạm Tá cùng các chiến sĩ vẫn còn đang lăn như trâu trong các chiến hào, ra sức đào sâu thêm và xây đắp các ụ súng máy cùng ĐKZ. Nhô lên về phía trước, vẫn mới chỉ có chiến hào đủ bố trí cho một trung đội. Về phía cánh phải, một đại đội thuộc tiểu đoàn của Xã Đệ cũng đang hì hục đào, cuốc...

    Đồng hồ đã chỉ 5 giờ sáng. Sương mù vẫn như mây như khói. Đứng cách nhau mười mét không nhìn thấy rõ mặt. Đã thấy thấm mệt, chính trị viên Phạm Tá dừng tay xẻng, quay lại phía trung đội trưởng Nguyễn Công:

    - Còn điếu thuốc nào không cậu?

    Nguyễn Công vui vẻ móc túi:

    - May còn một điếu đây anh.

    Hai anh em cùng hút chung, phà khói khoan khoái. Phạm Tá rất mến Công. Mới hai mươi tuổi, tốt nghiệp Lục quân, chàng trai xứ Nghệ này đang có cả một tương lai rộng mở trước mặt. Chỉ huy trung đội 1, Công được tất cả anh em vừa yêu vừa tin cậy. Đưa trung đội 1 lên phía trước, Phạm Tá và Noãn có ý trông đợi rất nhiều ở anh trung đội trưởng trẻ này. Tuy nhiên, cũng còn vì đây là trung đội có nhiều chiến sĩ cũ khá vững, thêm nữa, các tân binh cũng có nhiều anh rất nhanh nhẹn, hăng hái, như Bùi Minh, chú thiếu sinh quân mới lớn: như Cốc mò, anh chàng vui tính tháo vát, và cả Tiếp anh chàng đi “hố mèo” để quên mất súng nhưng thường ngày cũng là tay rất chịu khó và thông minh...

    Trong khi Phạm Tá đang cùng chia hơi thuốc lá với trung đội trưởng Nguyễn Công, đại đội phó Noãn ngồi ở một ngã ba giao thông hào, một tay cầm ống tổ hợp điện thoại báo cáo với Hà Giao, còn tay kia giơ cao cho y tá Nguyễn Hoàng băng bó. Một lưỡi xẻng khá sắc của một chiến sĩ khi đào hào vung lên đã lỡ làm rách một vệt dài ở bắp tay trái của đại đội phó.

     - Mẹ kiếp, mày buộc sơ sơ thôi là đủ. Buộc gì mà khiếp thế Hoàng? A, anh Hà Giao ơi, tôi muốn báo cáo, nếu sáng mai anh có ra đây anh cho tụi quân khí nó đem ra thêm thủ pháo và lựu đạn nữa thì tốt quá... Chưa chắc anh đã ra ạ?... Vâng, thôi được nhưng anh bận thì cho tụi quân khí nó đem ra cho chúng tôi, được không?... Cần ngay... Sao ạ? Chưa có triệu chứng gì tụi nó chú ý khu vực này ạ?... Yên tâm ạ?... Vâng, nhưng báo cáo thực với anh: ra ngoài này, có tài thánh mới yên tâm được anh ạ... Vâng... vâng, nói vậy chứ chúng tôi có rối gì lắm đâu... Anh Phạm Tá đã hội ý Đảng rồi...

     Ném trả ống tổ hợp cho cậu chiến sĩ thông tin, Noãn chống tay đứng dậy. Anh đi tới bên Bùi Minh.

     - Này Minh, lúc nãy cậu chỉ cái bản ở phía trước kia là bản Pe Luông hả?

     - Em thấy các anh ấy, nhất là cánh quân báo, trinh sát họ vẫn gọi thế.

     - Sao bản đồ lại ghi bản Ong Bẹt, Ông Bụt gì đó?

     - Em cũng không biết nữa.

     - Tan sương không hiểu có nhìn thấy rõ không nhỉ?

     - Hơn ba trăm mét, cánh trinh sát bảo thế. Nhưng bằng mắt thường không thấy rõ đâu đại đội phó ạ. Có ống nhòm mới thấy loi nhoi mấy cái cột nhà cháy, vài bụi tre còn sót lại.

     - Mẹ kiếp, ổn định trận địa, tối mai tớ với cậu, ta mò vào trinh sát cái bản ấy xem sao. Rồi từ đó, có thời cơ ta mò sâu vào thêm nữa nắm tình hình, Minh ạ!

     - Hay quá. Đại đội phó chớ quên em đấy nhá!

     Noãn quay trở lại vị trí chỉ huy của đại đội, nơi có anh chiến sĩ thông tin vẫn còn ngồi đấy với chiếc máy nói. Lại nhớ tới câu chuyện Hà Giao tiểu đoàn phó. “Mẹ kiếp”, Noãn lại buông câu chửi thề quen miệng. Anh nhớ tới Dũng. Thật vậy, những lúc có nhiệm vụ đột xuất, rối bận như thế này giá có Dũng ở nhà thì hay biết mấy!...

     Đồng hồ trên tay Noãn chỉ 5 giờ 25 phút.

     Sương mù vẫn còn trắng xóa.

     Trận địa vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng cuốc thình thịch tiếp tục nổi lên cùng tiếng thở phì phò của các chiến sĩ.

     Chợt từ phía Mường Thanh rền lên những tiếng pháo nổ từ đầu nòng như những hồi sấm dài. Rồi những làn đạn rít lên xé trên không trung. Tiếp đó là những chớp lửa nhoáng lên tới tấp trên khắp dải tiền duyên trận địa quân ta. Tất cả đất trời như nổ, vỡ tan tành. Những làn sóng đất cát và bùn non cùng cuốn lên cao ngất với khói lửa mỗi lúc một thêm tràn ngập. Trong khoảnh khắc, các chiến hào ta chìm ngập và biến mất trong một biển lửa.

     - Địch đánh đấy!... -  Đại đội phó Noãn chỉ kịp thét lên như vậy, thì đã bị sóng xung kích đánh gục ngay tại chỗ, bên chiếc máy điện thoại. Anh cố nghiến răng chồm dậy, hai con mắt nhắm nghiền vì đất bùn nhét chặt, miệng đã ộc ra một vũng máu. Đưa tay lên bịt chặt lấy miệng, anh cố mở mắt để nhìn sang bên thì thấy anh chiến sĩ thông tin đã nằm vật ở đó, ngang sườn gần như nát bét. Chiếc máy thông tin cũng chỉ còn là những mảnh sắt vụn. Noãn lại cố gượng chạy lên phía trước. Chiến hào như một đường hầm ngập khói. Chân anh liên tục vấp phải các chiến sĩ hoặc bị thương hoặc đã hy sinh nằm đấy.

     - Công! Công!... - Anh gào lên trong tiếng pháo địch tiếp tục nã tới.

     - Báo cáo, anh Công đã hy sinh!... - Một tiếng đáp lại như lạc giọng.

     - Trời ơi!... - Noãn hộc lên. Anh càng cố băng nhanh lên phía trung đội 1.

     - Báo cáo, anh Phạm Tá cũng bị thương!...

     - Chết rồi! Chết tôi rồi! - Noãn lại kêu lên kinh hoàng.

     Anh đã tới được trung đội 1. Các chiến sĩ đều đang ngồi như chôn trong các hàm ếch. Nhưng các chiến sĩ có nhiệm vụ cảnh giới vẫn còn đang bám chặt lấy thành hào, phơi mình dưới cơn bão lửa, thép.

     - Đại đội phó lên đây làm gì? Nó đang bắn kinh khủng như thế này! - Một giọng trẻ lanh lảnh thét lên.

     Noãn quệt đất cát trên mặt. Anh nhận ra Bùi Minh, anh chiến sĩ thiếu sinh quân.

     - Anh Công đâu? Anh Tá đâu, em? Trời ơi, sao sớm bị vậy?

     Bùi Minh chỉ về phía tay trái. Noãn chạy lom khom trong chiến hào, miệng anh lại trào tiếp một đợt máu. Anh quỳ xuống. Công đây rồi! Người trung đội trưởng trẻ tuổi đầy tin cậy của anh đây rồi! Công nằm giữa lòng hào, hai tay dang ra, một nửa khuôn mặt anh không còn nữa. Cả vầng ngực anh cũng đã gần như bị băm nát. Gần đó là chính trị viên Phạm Tá. Thoáng nom thấy Noãn, Tá đang nằm trong một hàm ếch, cố nhoài ra. Y tá Nguyễn Hoàng hốt hoảng vội kéo anh lại. Phạm Tá thều thào:

     - Để tôi... trao đổi ý kiến... với anh Noãn...

     Tá đã bị thương vào đầu và cả hai chân. Y tá Hoàng buộc phải xốc nách kéo anh ra khỏi miệng hàm ếch một chút. Bấy giờ mới nom thấy hai vệt máu ở hai mép Noãn, y tá Hoàng bật kêu lên rụng rời:

     - Ôi anh Noãn, cả anh cũng bị thương rồi ư?

     Noãn gạt y tá Hoàng ra, không cho xem xét vế thương của mình vội. Anh ôm lấy Tá. Trên đôi môi đã gần như trắng bệch của Tá hé một nụ cười méo mó:

     - Noãn ơi, bọn mình... đen quá... cả hai thằng... đều bị ngay... từ đầu thế này... nhất là... mất ngay cậu Công... Đau quá...

     - Anh Tá! - Noãn nức nở khóc - Anh Tá ơi...

     - Noãn ơi, trực tiếp đi... trực tiếp đi... Noãn! Nhắc nhở đảng viên: một tấc không lùi.

     - Vâng. Anh cứ yên trí. Tôi còn sống thì...

     Hai bàn tay đầy bùn và cả máu của hai người bạn, và cũng là hai người chỉ huy cùng quờ quạng tìm nhau và siết chặt... Khói và sương mù. Sương mù và khói. Chiến hào vẫn mờ mịt. Pháo địch tiếp tục nã tới.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:48:01 am »

*


     Từ phía sau nhìn lên, lúc dùng ống nhòm, lúc bằng mắt thường, Bigeard thấy trong lòng trào lên một niềm vui ít có. Từ khi bước vào đời chiến trận cho tới giờ, anh ta chưa khi nào được nhìn thấy một trận địa pháo hỏa chuẩn bị kinh hồn như thế này. 12 khẩu 105 ly, 4 khẩu 155 ly và 12 cối 120 ly. Cuộc tàn sát thật tuyệt vời. Y như trong phim ảnh. Anh ta cầm ống nói ra-di-ô đưa lên miệng:

     - Touret! Touret! Bruno đây, nghe rõ trả lời!

     - Guiraud! Guiraud! Bruno đây, nghe rõ trả lời!

     - Thomas! Thomas! Bruno đây, nghe rõ trả lời!

     Tất cả ba tên chỉ huy ba tiểu đoàn đều trả lời: đã sẵn sàng. Bigeard nhếch môi cười. Niềm khoan khoái càng tràn ngập. Bắt chước Langlais, hắn dõng dạc và hào hứng ra lệnh:

     - Tiến lên “các chàng trai”! (Langlais vẫn thường gọi lính dù bằng cái từ thân mật và đầy sức kích động ấy).

     Đoạn, liếc nhìn giờ trên chiếc đồng hồ nơi cổ tay đầy lông lá, hắn bắt đầu yêu cầu pháo chuyển làn bắn sâu vào tuyến hai đối phương, rồi gọi về sở chỉ huy hỏi máy bay từ Hà Nội và Cát Bi đã bắt đầu cất cánh chưa? Khi được trả lời: “chưa” vì trời Điện Biên - Sơn La đang còn đầy mây. Bigeard nhổ một bãi nước bọt, chửi thề một câu thật tục tĩu. Hắn tức giận gào lên trong máy bộ đàm:

     - Tiến lên các chàng trai! Dũng cảm tiến lên các chàng trai! Không đợi máy bay nữa!

     Hắn gọi tới xe tăng. Bọn này đã tiến lên sát phía sau ngôi làng cháy.

     - “Nỗi kinh hoàng!”, “Nỗi kinh hoàng”! Tiến lên yểm trợ cho bộ binh!

     Bằng ống nhòm, hắn thấy các khối thép tiếp tục chuyển động, nhích lên phía các đơn vị lê đương ở xa xa, đang tiến thành hai mũi. Hắn thầm cảm ơn Chúa: pháo đối phương vẫn chưa kịp phản ứng. Hắn thầm tự khen đã tính toán chính xác: hắn cho đánh bất ngờ chính là để cho pháo đối phương không kịp chuyển mục tiêu. Hắn biết: pháo đối phương tuy mạnh nhưng có nhược điểm về trình độ kỹ thuật là chuyển mục tiêu thường chậm. Đó là chưa kể trường hợp các đường dây điện thoại bị băm nát họ sẽ càng chậm. Đối phương chưa có được những phương tiện vô tuyến truyền tin như quân đội Pháp.

     Nhưng niềm vui, hào hứng của hắn không được bao lâu. Đã nghe thấy tiếng súng máy, tiếng súng cối và ĐKZ từ phía trước vọng lại, mỗi lúc một thêm gay gắt. Bồn chồn, Bigeard lại gọi các tiểu đoàn trưởng lê dương. Và hắn dã được đáp lại:

     - ... Bruno! Bruno! - Tiếng của Guiraud vọng về nhòe nhoẹt trong tiếng súng lớn, nhỏ như pháo ran - Địch chưa bị quét sạch. Có phản ứng mạnh, rất mạnh...

     Bigeard hiểu tình thế đã không hoàn toàn thuận lợi như hắn tưởng. Xe tăng cũng báo cáo về là đang bị các ổ ĐKZ bắn cản rất dữ. Bigeard mở phanh áo ngực vì cảm thấy quá bức bối. Hắn căng thẳng chờ đợi. Hắn lại ngước nhìn bầu trời đầy mây. Hắn lại chửi thề. Máy bay vẫn chưa thấy đâu, chỉ thấy những chiếc xe cấp cứu từ trong sương mù tan loãng đang hối hả từ phía trước chạy về...

     Nhưng đột nhiên từ máy VTĐ bật vang lên:

     - Bruno! Bruno! Trung úy Vigouroux cùng các binh sĩ đã tới được chiến hào...

     Trái tim Bigeard như vỡ tung ra vì sung sướng.

     - Bruno! Bruno! Tôi, Vigouroux đây! Tôi đã tới được mục tiêu 1 ở...

     Nhưng cũng vừa tới đó tiếng nói im bặt, và như có một tiếng gì đó đổ vỡ hoặc một vật gì đó tung lên...


*

     Chính là Tiếp, anh tân binh đi hố mèo để quên súng, đã bắn phát súng dó. Phát súng đã giết chết Vigouroux khi nó vừa nhảy đại được xuống chiến hào ta, ngồi nép vào một ngách í ố những gì đó trong máy bộ dàm... Nhưng cũng ngay lúc đó lại một loạt lê dương tiếp tục ào ạt nhảy xuống chiến hào. Đạn Thompson choang choác. Tiếp chỉ còn kịp nhào xuống, tối mắt tối mày. Một bàn tay nào đó bỗng đẩy vai Tiếp, cùng một tiếng nói khò khè:

     - Chạy hả? Bắn đi chứ! Tiểu liên đây!... Tiếp! Đánh... đánh nữa đi mày. Đừng sợ!

    Thì ra Cốc mò. Cốc chỉ bị thương nằm đó, chưa chết. Tiếp run rẩy đỡ lấy cây tiểu liên của anh cựu binh, và cố rướn người lên, lia liền một băng dài. Tất cả mọi việc đã xảy ra chỉ trong có tích tắc. Bọn lê dương còn đang lom khom quan sát, chưa dám tiến lên đã lãnh đủ cả băng dạn. Chúng gục xuống, xác chồng cả lên anh em thương binh, tử sĩ của ta. Tuy nhiên, trong khói đạn mù mịt lại lố nhố hiện lên những bóng lê dương cao lớn dữ tợn ở cánh trái. Lại Thompson và lựu đạn. Anh chiến sĩ trẻ của chúng ta chưa kịp thay băng đạn bỗng oằn người, và lần này thì gục hẳn xuống lưng Cốc. Bọn lê dương toan xông lên, để tiến sâu thêm vào trận địa của ta, nhưng lại có một loạt đạn xả tới. Mấy tên râu ria xồm xoàm, cởi trần như trâu đi đầu gục liền. Cả một đoạn chiến hào đã gần như bị lấp kín xác người.

    Đó là loạt tiểu liên quất ra từ một ngã ba giao thông hào ở phía trong. Bùi Minh và y tá Hoàng đang ở đó. Khói tràn ngập. Bùi Minh thay băng xong, quay lại, như thét lên trong tiếng súng hỗn loạn khắp bốn phía:

    - Anh Hoàng! Kiếm thêm cho em vài băng đạn! Mau lên! Cả thủ pháo và lựu đạn nữa.

    - Có đây! Có ngay!

    Y tá Hoàng nhoài người sang hai bên, vơ vội những băng đạn và lựu đạn của thương binh, tử sĩ, đem lại cho Bùi Minh. Cả người anh đã như tắm máu. Nhảy qua một tử sĩ, anh hãi hùng vấp phải xác thứ hai. Đó là đại đội phó Noãn. Noãn đã bị thương tới lần thứ hai. Anh phải nằm để động viên và tiếp tục chỉ huy các chiến sĩ. Nhưng rồi một trái lựu đạn của bọn địch đã ném trúng chỗ anh... Không còn có tiếng nói của anh nữa, nhưng xác anh vẫn còn đấy, Noãn vẫn như còn sống, đang tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu của đơn vị.

     - Còn anh Tá đâu? - Bùi Minh hỏi.

     - Mình đưa anh về được phía trong một chút rồi. Anh ấy đang mê man.

     Hoàng đáp, rồi nghiêm trang nói tiếp:

     - Bùi Minh ạ, chỉ còn hai anh em mình ở đây thôi. Cậu cứ bình tĩnh. Tớ sẽ cùng với cậu, sống ta cùng sống, chết ta cùng chết ở đây...

     - Anh Hoàng! Anh đừng lo, em không bỏ trận địa đâu.

     Bùi Minh gật đầu; liếc nhìn bốn chung quanh, anh thấy cả trung đội đúng là đã gần như không còn ai nữa, trừ anh và y tá Hoàng, trong khi đó địch đã tràn được vào hầu hết chiến hào tiền duyên. Chúng đang lố nhố cả ở bên phải, cả ở bên trái. Để mặc cho y tá Hoàng tiếp tục đi thu lượm các băng đạn và thủ pháo, Minh cầm cây tiểu liên tiếp tục thoắt di chuyển từ chỗ này sang thoắt chạy chỗ khác. Anh bắn từng loạt ngắn ba viên một, quyết không để cho tụi lê dương tiến vào được gần hơn nữa.

     Nhưng bỗng nghe có tiếng xe tăng. ĐKZ ta hỏng hết cả rồi. Bọn cọp sắt như được tự do tiến lên. Đạn 37 ly của chúng nổ tơi bời bốn chung quanh Minh. Y tá Hoàng vừa ôm được một số băng đạn và thủ pháo chạy lại thì cũng vừa lúc một phát 37 ly nổ rầm ngay gần phía trái anh lính trẻ. Hoàng nghe “ối” một tiếng trong một đám khói mù. Anh nhào tới. Bùi Minh đã ngã vật dưới lòng hào. Kinh hãi, Hoàng kêu lên:

    - Minh ơi!...

    Nhưng trái tim anh như vỡ ra vì mừng: Bùi Minh đã loạng choạng tự đứng dậy được, hai tay ôm chặt lấy mặt. Hoàng vội gỡ tay Minh ra: hai mắt Minh đỏ lòm những máu. Minh kêu lên khe khẽ, nhưng vô cùng đau dớn:

    - Anh Hoàng ơi! Em... em... mù mắt rồi...

    Không còn một cuộn băng nào nữa, Hoàng phải tháo băng trên đầu một tử sĩ lấy mảnh băng đã đầy máu cuống cuồng buộc vội vết thương cho Bùi Minh:

    - Không sao đâu Minh! Không sao đâu! Để mình băng cho. Rồi sẽ khỏi.

    Tiếng súng tiểu liên Thompson lại rít lên. Tụi lê dương lại í ố gọi nhau. Bàn tay đầy máu của Minh cầm lấy cây súng quờ quạo đưa cho Hoàng:

    - Anh Hoàng, súng đây! Anh bắn đi! Chúng nó lại vào đấy.

    Hoàng chụp vội lấy cây tiểu liên của Bùi Minh. Anh giương súng lên, quét từng băng dài.

    Bùi Minh nói trong hơi thở hào hển, đau đớn:

    - Hay lắm! Nhưng anh bắn nhịp ngắn thôi, còn phải để dành đạn.

     - Anh cũng nên di chuyển luôn, kẻo chúng truy lại đúng chỗ đấy.

     Như một cái máy, Hoàng làm theo mọi lời chỉ dẫn của Bùi Minh. Nhưng cũng chỉ sau đó một lát, đến lượt y tá Hoàng kêu lên một tiếng rồi ngã ngồi xuống. Minh sợ hãi, hai tay lại quờ quạng.

     - Anh Hoàng! Anh làm sao thế?

     Hoàng cố bò lết lại phía Bùi Minh. Cả hai cánh tay anh đều đã dính đạn.

     - Minh ơi mình gãy hết tay rồi. Kìa, chúng nó lại đang xông vào! Làm thế nào bây giờ?...

     Minh hiểu: tình thế đã hiểm nghèo đến bậc nào. Anh bỗng đưa hai tay ra, run rẩy:

     - Anh Hoàng, đưa súng đây cho em!

     - Nhưng mà cậu... làm gì?

     - Anh còn mắt, anh quan sát và chỉ mục tiêu cho em. Em còn tay, em bắn được. Em sẽ bắn.

     Hoàng hiểu rồi. Anh vội vã dứng dậy. Hai anh em cùng đứng sát bên nhau, tựa vào vách hào. Hoàng bắt đầu quan sát:

     - ... Minh! Minh! Bên trái, bên trái. Không, một tí thôi. Đấy, chúng nó đang thò đầu lên đấy! Bắn đi!

     Một nhịp tiểu liên. Những chiếc mũ sắt dang nhấp nhô vụt biến mất.

     - ... Minh! Bên phải nữa! Nữa, nữa! Đấy, chúng nó đấy, né đi!

     Lại một nhịp tiểu liên nữa nổ xé.

     Cứ như thế, hai người chiến sĩ, một mù, một què cùng dựa vào nhau chiến đấu. Họ tiếp tục giữ vững mẩu chiến hào còn lại. Họ đang vẽ lên một quang cảnh mà có lẽ mãi mãi về sau này, đời đời con cháu ta sẽ còn nhắc, như nhắc lại những huyền thoại tuyệt vời của dân tộc...

     - Minh! Chuẩn bị thủ pháo! Xe tăng nó đang lao tới đấy. Thẳng trước mặt. Thẳng trước mặt. Thủ pháo đây! Ném!...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2023, 10:52:22 am »

*


     Trong lúc đó ở mũi tấn công cánh trái, quân dù và xe tăng cũng đã đột phá dược trận địa của quân Xã Đệ sau hơn ba giờ đồng hồ kịch chiến. Bây giờ hai chiếc M24 như hai con quái vật khổng lồ gầm rít dẫn đầu lũ bộ binh tràn qua chiến hào ta, bỏ lại chiếc M24 đã bị bắn gục nằm trơ trên cánh đồng cùng một chiếc khác vẫn đang cháy ngùn ngụt ở trước chiến hào đại đội Noãn. Vừa xông lên, vừa liên tục nã 37 ly, hai chiếc xe tăng lúc chồm lên lúc chúi xuống. Chúng chà xích lên cả các xác tử sĩ của ta. Không còn tiếng súng ở đây nữa. Nhưng vẫn còn những loạt đại liên từ tuyến sau bắn lên. Đạn choang choang phóng vào hai bên thành chiếc xe tăng nảy lửa như hoa cà hoa cải. Nhưng hai khối thép man rợ ấy vẫn cứ tiến phăng phăng trên cánh đồng đầy cây chó đẻ đang bốc cháy. Những khẩu đại liên đang bắn ra không ngừng ấy là những khẩu đại liên cao xạ của Quýnh và Ngô Hạnh.

    Từ 5 giờ 30 phút sáng, sau khi các trận địa của bộ binh ở phía trước bị pháo địch bắn phá, đến lượt trận địa cao xạ phòng không cũng chìm ngập trong khói lửa. Xuyên qua các làn khói vần vụ, tiếng chỉ huy của Quýnh luôn luôn vang lên dõng dạc. Gương mặt rắn rỏi của chính trị viên Ngô Hạnh cũng luôn luôn hiện lên ở bên cạnh các pháo thủ. Họ như thấy mình vẫn luôn luôn có một chỗ dựa vững chắc.

    Đã tới lúc các chiến sĩ cảnh giới phía trước réo lên:

    - Xe tăng! Xe tăng đã tới!

    Liền đó là đạn 37 trên các tháp pháo của hai chiếc M24 nã vào xối xả. Các pháo thủ bỗng nghe thấy một tiếng nổ lớn ở phía hầm chỉ huy. Tiếp đó là tiếng người nào đó, có lẽ là liên lạc viên Hỉ, gọi như thét lên:

    - Anh Thuyên ơi! Anh y tá Thuyên! Anh Quýnh...

    Thế là hiểu rồi. Ôi anh Quýnh! Anh Quýnh thân yêu của chúng em... Y tá Thuyên đang băng bó cho hai pháo thủ khẩu đội 1, bàng hoàng xách túi cấp cứu chạy về sở chỉ huy. Chính trị viên Ngô Hạnh cũng tái xanh, chạy theo Thuyên. Lát sau, trong khói đạn tơi bời, tiếng Ngô Hạnh cất lên, vẫn cái giọng xứ Huế không sao trộn được của anh:

    - Đồng chí Bàn lên thay anh Quýnh chỉ huy toàn đại đội!

    Trung dội trưởng Bàn cao lớn, to khỏe như đô vật dang mím chặt môi đứng bên một cây đại liên phòng không chỉ huy bắn, nghe gọi vội nhào đi luôn. Nhưng chỉ được mấy bước anh đã ôm chầm lấy đầu. Máu trào ra. Tuy nhiên, may sao, đó chỉ là một mảnh đạn nhẹ. Một tay ôm đầu, tay kia vịn vách hào, anh tiếp tục chạy thẳng lên hầm chỉ huy đại đội. Từ lúc đó, lại vang lên những khẩu lệnh với cái giọng ồm ồm rất quen thuộc của Bàn...

     Bộ binh địch đã bị cắt lại. Hai chiếc xe tăng không dám tiếp tục tiến. Chúng dừng lại và nã pháo, như hai chiếc lô cốt thép, cách trận địa chừng một trăm mét.

     Tuy nhiên, tình thế đã tới lúc quá hiểm nghèo đối với các chiến sĩ phòng không: Bàn bị thương lần thứ hai, hơn thế nữa: đạn đại liên đã hết sạch. Chỉ còn lại vài khẩu tiểu liên và một số lựu đạn. Trong giây phút đó, tiếng của chính trị viên Ngô Hạnh lại cất lên, nhưng dường như không phải mệnh lệnh, mà là một lời hiệu triệu bất tử:

     - Tất cả các đồng chí! Hãy sẵn sàng tiêu diệt bộ binh dịch! Ai có tiểu liên dùng tiểu liên, ai có lựu đạn dùng lựu dạn. Còn tất cả anh em hãy lấy kìm búa sửa chữa súng pháo ra!... Quyết không để mất trận địa!

     Và thế là trong các ụ súng pháo, các chiến sĩ và cán bộ phòng không cùng bắt đầu chia nhau từng quả lựu đạn và mở tất cả các hòm đồ. Anh cầm lấy một chiếc lắc lê, anh nhặt lên một chiếc mỏ lết...

     Đó cũng là lúc bọn Pháp đã nhận được ra: hỏa lực đối phương đã kiệt quệ. Hai chiếc xe tăng địch tiếp tục xông lên.

     Chỉ trong khoảnh khắc, trận địa phòng không đã bị tràn ngập. Hai chiếc xe tăng như hai con vật điên, lồng lộn, chạy vòng bên tả, chạy vòng bên hữu, khắp trận dịa. Trong lúc đó bọn lính dù cũng la hét, ào ạt nhảy vào các ụ pháo. Cuộc tử chiến bắt đấu diễn ra như chưa bao giờ từng có. Một tên thiếu úy dù vừa nhô ra khỏi một ngách hào thì một nhát búa đã bổ xuống, ở kế bên, một thằng dù đang đè một chiến sĩ nhỏ bé của ta, định bóp cổ, anh chiến sĩ dùng hết tàn lực bật được đẩu lên, và cắn chặt ngay vào cổ họng của nó. Cũng chỉ cách đó vài mét, một tên lính dù khác chồm lại phía một người thương binh ta. Anh vừa cố ngẩng đầu lên, thằng lính dù đã gí nòng Thompson vào giữa mặt anh siết cò. Người chiến sĩ ngã vật ngửa. Đó chính là chính trị viên Ngô Hạnh...


*


     Cuộc họp của đại đoàn vừa mới bắt đầu thì một cán bộ tham mưu hấp tấp chạy vào. Gần như quên cả lễ tiết phải đứng nghiêm chào như mọi khi, anh đưa ngay mảnh giấy ghi điện cho đại đoàn trưởng Vũ Hùng. Ông cầm lấy bức diện, nhíu đôi lông mày rậm xếch, đọc lướt rất nhanh:

     - Hả, địch đánh lớn?

     - Báo cáo, chắc chắn là như vậy. Các đài quan sát đều báo về...

     - Chỗ tiếp giáp của trung đoàn 2 và trung đoàn 1?

     - Báo cáo đúng chỗ đó.

     - Lực lượng chúng bao nhiêu?

     - Báo cáo, chưa rõ. Dưới trung doàn cũng chưa nắm được. Tất cả mới do đài quan sát báo về là chủ yếu.

     Mặt sắt lại, ông quay về phía các cán bộ đã ngồi quây quần đầy đủ phía trước:

     - Hoãn cuộc họp! Đồng chí Thâu, đồng chí Quý đưa cán bộ trở về ngay! Tôi sẽ trực tiếp với các anh trong trận này.

     - Rõ!

     Ông Thâu đứng bật dậy. Ông Quý cũng vội vã khoác túi dết lên vai. Vẻ lo lắng hiện rõ trên gương mặt hai người chỉ huy trung đoàn. Không khí nghiêm trọng khác thường. Cuộc họp giải tán ngay khi mới bắt đầu.

    Vẫy ông Thâu và ông Quý cùng trung đoàn trưởng pháo binh ở lại, đại đoàn trưởng Vũ Hùng cất tiếng nói, giọng ông sang sảng đầy quyền uy và sức mạnh:

    - Về nắm ngay tình hình! Nắm cho chắc! Và tổ chức phản công khôi phục trận địa! Phải khôi phục bằng được. Các anh hiểu chưa?

    - Rõ! - Ông Thâu dường như hơi run. Bao giờ cũng vậy, đứng trước người chỉ huy nổi tiếng nghiêm khắc và rất quyết liệt này, ông Thâu luôn luôn cảm thấy một sự kính nể rất sâu xa xen lẫn sợ hãi.

    - Ngay chiều hôm nay. Các anh hiểu chứ? Nếu nắm chưa chắc tình hình, chuẩn bị chưa kịp, thì phải đánh ngay trong đêm. Không để cho chúng kịp trở tay. Hiểu chứ? Phương châm: nhanh chóng tiếp cận để hạn chế phi pháo.

    - Rõ.

    Ông Thâu lại đáp, vẫn đầy xúc động.

    - Thôi được, các anh về đi! Liên lạc đường dây và cả VTĐ. Các anh bắt đầu liên lạc với tôi 24 trên 24 giờ. Nào, bây giờ pháo, lại đây...

    Đoàn của ông Thâu quay trở về, đi như chạy. Không còn ai đủ sức nói với nhau điều gì, chỉ còn có thở. Ông Thâu và Dũng luôn luôn dẫn dầu:

    - Về đường tắt cho nhanh đi anh! Vất vả một chút nhưng gần hơn nhiều.

    - Cậu lại muốn đi con đường tắt của cậu?

    - Vâng.

    - Thì đi!

    Mọi người luồn rừng, ào ạt như một đoàn thợ săn đang ráo riết đuổi một con mồi. Máy bay địch đã lên. Chúng đang gầm rú ngoài cánh đồng xa xa. Tiếng bom nổ rung chuyển.

    Tuy đã cắt rừng, đi tắt, nhưng phải ngót hai giờ sau mới về tới trung đoàn bộ. Ở đây tất cả đang rối như canh hẹ. Ông Quý đề nghị trước hết phải hội ý cấp tốc thường vụ Đảng ủy trung đoàn.

    Dũng dược mời tham dự. Tham mưu trưởng trung đoàn cho biết: Hà Giao và Lẫm tiểu đoàn phó của Xã Đệ báo cáo hết sức bập bõm, nhưng kết hợp với trinh sát trung đoàn, cũng đã có thể biết là địch có khoảng ba tiểu đoàn bộ binh cùng hai đại đội xe tăng, chưa kể pháo và máy bay yểm trợ. Chúng đã chiếm được có lẽ toàn bộ trận địa của hai đại đội ta, cùng một trận địa phòng không ở phía sau. Chúng đang tiếp tục tàn sát thương binh và phá hủy vũ khí khí tài của quân ta ở ngoài đó...

    - Thế là thế nào? - Ông Quý băn khoăn hỏi.

    Tham mưu trưởng bối rối, im lặng.

    - Chúng đang tiếp tục tàn sát anh em ta, hay là vẫn còn có lực lượng chống trả? Và chúng có ý định đánh xong sẽ rút, hay ở lại củng cố, để tiếp tục đánh mở rộng khu vực đã chiếm được? - Ông Quý hỏi tiếp.

    Cuộc hội ý trở nên sôi nổi. Có ngườởi cho là địch sẽ rút ngay. Có người khẳng định chúng sẽ củng cố các trận địa để đánh tiếp, đẩy lui vòng vây ta. Có người đề nghị kết thúc nhanh cuộc hội ý và cho phản công ngay. Có người nói nên chuẩn bị thật tốt, để tối sẽ đánh, tránh được máy bay địch đang làm chủ trên bầu trời... Ông Quý quay về phía Dũng. Anh không phải là ủy viên thường vụ, mà chỉ là được mời tham dự theo cách mở rộng. Vì vậy, trái với mọi khi, anh chưa tiện nói, chỉ ngồi nghe.

    - Còn đồng chí Dũng, thế nào, đồng chí có ý kiến gì? - Ông Quý hỏi không phải là chiếu lệ, mà bằng một giọng hoàn toàn chân thực. Ông biết: tuy hay có những ý kiến rất ngang, nhưng anh tiểu đoàn trưởng này cũng thường có những ý kiến độc đáo, thậm chí có khi có cả tính xoay chuyển, nhất là trong các tình huống hóc búa.

    Dũng ngồi thẳng dậy, đôi mắt anh bật sáng long lanh:

    - Báo cáo, theo tôi, đánh thôi! Điều rất đơn giản là đại đoàn ngừng cả cuộc họp, cho chúng ta về, chính là để đánh ngay. Còn để đến tối, đó chỉ là ý kiến có tính dự phòng trong hoàn cảnh tồi tệ nhất.

    - Rất đúng! Tôi cũng nghĩ thế! - Ông mừng quá. Ông rất không đồng ý với những ai đang muốn viện vào việc chuẩn bị để lui cuộc phản công lại đến tối. Ông đã có chỗ dựa, mà chỗ dựa lại là một con người đã dầy dạn lửa dạn, mặc dầu tính nết còn có những điều chưa dược tất cả mọi người cảm mến.

    Dũng xin nói thêm:

    - Báo cáo, chuẩn bị là rất cần, nhưng chuẩn bị đánh cứ điểm khác, mà chuẩn bị đánh phản kích khác. Lúc này phải rất nhanh. Thời gian và thời cơ là tối quan trọng. Địch chưa hoàn toàn làm chủ trận dịa, và theo báo cáo của tham mưu trưởng, tôi nghĩ rằng ta vẫn có thể còn lực lượng kháng cự ở ngoài đó...

    Hầu hết đểu đồng ý với Dũng. Cuộc hội ý kết thúc rất nhanh chóng. Trận phản kích sẽ được tiến hành thành hai mũi song song, một mũi do Dũng chỉ huy, một do Xã Đệ, có pháo binh trung đoàn và đại đoàn yểm trợ. Thêm nữa, pháo mặt trận cũng sẽ được yêu cầu tập trung chế áp các trận dịa pháo địch và cao xạ thì sẽ đánh hất máy bay dịch khỏi khu vực tác chiến. Đúng 14 giờ cuộc phản kích sẽ bắt đầu.

    Dũng và Xã Đệ về trước. Hai người chỉ kịp đấm vào lưng nhau một đấm để chào và cũng là lời hứa hẹn cùng vào lửa. Tuy nhiên, vẫn quen bô lô, Xã Đệ vừa chạy vừa nói với theo:

    - Mẹ kiếp, tụi nó ở nhà, nhất là thằng Lẫm nhà tớ, đánh đấm cứ như c...! Cũng như thằng Hà Giao bên cậu, xứ ra xớ rớ cứ như xẩm sờ ...

    Đang căng thẳng, Dũng cũng không khỏi bật cười.

    Dũng về đến tiểu đoàn, Hà Giao vẫn đang ngồi đấy. Anh ta gần như giật mình. Dũng yêu cầu họp ngay tiểu đoàn ủy và các cán bộ tham mưu, chính trị. Dũng yêu cầu Hà Giao báo cáo vắn tắt lại mọi việc đã xảy ra. Ngồi nghe cái giọng ấp úng và vẻ mặt đầy sợ hãi của anh ta, Dũng đang rất giận nhưng cũng phải thở dài: con người này té ra cũng không còn đáng để cho mình giận nữa...

     Rất nhanh, mọi công việc tổ chức và chuẩn bị được triển khai cấp tốc. Dũng đã đưa ra một phương án tác chiến được toàn thể mọi người chấp nhận: cần quân tinh nhuệ hơn quân đông. Có nghĩa là không xin trung đoàn tăng viện quân số. Đánh gần, để tránh phi pháo tối đa. Đánh trong chiến hào, cần tăng cường rất nhiều lựu đạn, thủ pháo. Và sẵn sàng để đánh giáp lá cà.

     13 giờ. Các phân đội phản kích dã tập trung đầy đủ trong một cánh rừng thưa. Ai nấy nai nịt rất gọn gàng, lựu đạn, thủ pháo đeo đầy trước ngực và quanh bụng. Người nào cũng có lưỡi lê bên sườn. Các khẩu đội ĐKZ đem theo cơ số gấp đôi. Cối 80, cối 60 ly cũng đã dược lệnh đem theo rất nhiều đạn.

     Đứng trước hàng quân đầy khí thế, Dũng không khỏi sung sướng, và tin tưởng. Chỉ có một gương mặt thảm hại luôn luôn như ám quẻ bên anh, đó là Hà Giao. Sau khi kết thúc cuộc họp, Dũng đã nghiêm nghị nói riêng với anh ta: “Đánh xong trận này, ông sẽ phải trả lời nhiều điều trước Đảng ủy tiểu đoàn và cả cấp trên nữa. Nhưng bây giờ ông hãy cùng tôi và anh em vào trận nghiêm chỉnh đã!”... Lúc này, đứng trước hàng quân, Dũng rất muốn nói với anh em những lời khảng khái, những câu cổ vũ thật mạnh mẽ. Nhưng rút cục vốn không quen làm như thế bao giờ, anh chỉ thốt lên được mấy câu cụt lủn:

     - Các đồng chí! Chúng ta có nhiệm vụ khôi phục lại trận địa, và cứu anh em ta còn ở ngoài dó. Bây giờ ta lên đường!

     Cũng không ngờ câu nói quá đơn giản vậy mà tất cả các chiến sĩ lại cùng như bùng lên, hò reo vang dậy, tựa hồ như họ vừa được nghe một bài hịch tràn đầy khí phách và ngùn ngụt sức thôi thúc, cổ xúy. Dũng bỗng rớm nước mắt.

     ... Đúng 14 giờ, tiến rất đẹp dưới hỏa lực yểm trợ của pháo binh, các mũi chính diện và vu hồi của tiểu đoàn Dũng, và cả Xã Đệ đã áp sát địch. Thương vong không đáng kể. Công tác cấp cứu, tải thương đã được thực hiện một cách gần như tuyệt vời. Quân ta như những làn sóng tràn ngập vào các chiến hào. Tất cả lưỡi lê giương lên. Tiếng reo hò mênh mang. Ngay tức khắc, Dũng đã có mặt ở trận địa phòng không, mục tiêu đầu tiên được đánh chiếm lại.

      Dũng tới hầm chỉ huy. Đạn pháo địch đã phá tan nát cả nắp hầm. Quýnh vẫn còn nằm dấy, miệng anh hơi há ra như đang còn muốn nói điều gì. Và thật là kỳ lạ, hai mắt anh vẫn mở trừng trừng, y như người còn sống. Dũng gục đầu xuống ngực bạn. Hàm răng anh nghiến chặt lại cho khỏi bật ra những tiếng nức nở. Bàn tay run rẩy, anh cố vuốt cho đôi mắt bạn nhắm lại, nhưng đôi mắt vẫn cứ mở trừng trừng.

     - Ta đi thôi anh Dũng! - Báu đến bên anh tự lúc nào, cất tiếng giục.

     Biết không thể dừng lại ở đây lâu, Dũng kéo một miếng vải bạt đắp lên cho bạn, rồi tiếp tục chạy lên phía trước. Báu và tổ thông tin rầm rập nối theo anh. Mọi người cùng băng qua những vạt ruộng đầy cây chó đẻ đã cháy loang lổ từng mảng lớn; băng qua chiếc xe tăng mới bị anh em phòng không dùng thủ pháo đánh đứt tung cả hai xích, vẫn còn nằm đó. Vừa chạy, Dũng và anh em vừa liên tục phải nhảy tránh những xác lính dù và lê dương như vẫn còn nóng hổi. Một cái lon thiếu úy, hai cái lon trung úy trong đám xác chết...

     - Ô, anh Dũng, lại một thằng đại úy nữa này!

     - Mặc nó đấy. Tiến lên mau các em!

     Cách đánh đã tỏ ra rất có hiệu lực. Mũi chính diện do đại đội Thìn phụ trách đã đánh mạnh, mũi vu hồi của Lanh xồm thọc vào sườn địch cũng rất nhanh và hết sức quyết liệt. Hà Giao ở cánh đó. Anh ta đã có cơ hội khỏa lấp những gì mà anh đang vô cùng lo lắng.

     Đại đội của Thìn vừa chiếm lại được toàn bộ trận địa, Dũng cũng đã có mặt ngay. Trong khói đạn còn mờ mịt, anh thấy các chiến sĩ đang xúm xít ở một ngã ba giao thông hào đã lở vỡ bời bời, đất đỏ xen lẫn đất đen thuốc súng và be bét máu người. Dũng vội chạy lại. Mọi người đang vừa cười vừa khóc, vây quanh hai chiến sĩ: một người hai tay đã bị thương không có băng bó, còn người kia ngang mắt là một mảnh vải đầy máu và đất bùn.

    - Ai thế? Bùi Minh và y tá Hoàng có phải không? - Dũng hỏi ngay.

    Đại đội trưởng Thìn kể vắn tắt lại những gì mà anh đã thấy khi tràn được vào chiến hào này. Anh đã thấy người mù và người què đang cùng dựa vào nhau chiến đấu. Ngã ba chiến hào của họ đã bị băm nát từ lâu mà vẫn không hề bị mất, dù chỉ trong giây phút.

    Dũng chỉ còn biết ôm lấy hai chiến sĩ của mình. Vừa lúc đó một chiếc máy bay rú lên như ma quỷ, xẹt qua. Báu chỉ kịp cầm áo Dũng kéo giật xuống thì một trái bom đã nổ rung chuyển ở phía trước, không quá năm mươi mét. Đất, cát cuốn lên, rồi đổ ập, trùm lấy mọi người. Chiếc máy bay bay đi. Dũng vuốt đất cát trên mặt, ngẩng nhìn lên, anh chợt bắt gặp một mảng trời xanh, xanh ngăn ngắt, đẹp tuyệt trần. Có lẽ lần đầu tiên, ở đây, anh mới thấy được một mảng trời xanh như vậy, xanh như một giấc mơ...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM