Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:29:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng những ngày đầu thành lập  (Đọc 2664 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #40 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:10:38 pm »

13. Pháo đài Láng

Pháo đài Láng cũ nằm ở địa bàn phường Láng Thượng, quận Đống Đa hiện nay, xưa thuộc xã Yên Lãng, tên nôm là làng Kẻ Láng, một làng cổ ven đô bên bờ sông Tô Lịch, phía tây Thủ đô. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ (tháng 9-1939), thực dân Pháp cắm 5 mẫu ruộng ở cách đồng Dập và khu vực gò Ma thuộc thôn Trung để lập pháo đài với mục đích bảo vệ phía tây Hà Nội chống phong trào cách mạng và bắn máy bay Nhật. Đến giữa năm 1940, chúng xây bệ đặt 4 khẩu pháo cao xạ 75 ly mua của Đức, là loại súng tối tân nhất lúc bấy giờ và cố định súng vào bệ bê tông. Tháng 9 năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương và Nhật buộc Pháp phải dùng pháo đài Láng để bắn máy bay Mỹ đến ném bom Hà Nội.


Trong pháo đài có xây đài chỉ huy, hầm trú ẩn, hầm để đạn. Ngoài pháo cao xạ, có 2 khẩu đại liên kiểu Hốt-kít, 1 khẩu trung liên Bren và một số súng trường để trợ thủ và bảo vệ cho pháo. Quân số có một đại đội lính Pháp và lính khố đỏ. Cách mạng Tháng Tám thành công, pháo đài Láng đã về tay Quân giải phóng.


Pháo đài Láng của ta có 44 người thành lập một trung đội gồm 3 khẩu đội, 4 khẩu cao xạ thời kỳ thuộc Pháp đã bị mất nhiều bộ phận, nhưng được xưởng sửa chữa pháo đạn ở Hà Nội tu sửa, lắp thành 2 khẩu, nên pháo đài chỉ có 2 khẩu đội có súng. Trong pháo đài, lúc quân Tưởng trao cho ta chỉ còn lại 400 - 500 viên đạn. Nhân dân Láng Trung phát hiện một hầm chứa 200 viên đạn do địch chôn giấu ở gò Ma đã chuyển cho trung đội. Anh em pháo thủ đa số là bộ binh và thanh niên mới nhập ngũ, chưa biết đến pháo, được các đồng chí cũ tổ chức huấn luyện. Với tinh thần yêu nước, quyết tâm giết giặc, anh em đã nhanh chóng thực hiện được các thao tác chính xác theo lệnh của chỉ huy, điều khiển hai khẩu cao xạ (chuyên dùng để bắn máy bay trên trời) làm pháo bắn mục tiêu mặt đất.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, pháo đài nhận được lệnh của đồng chí Vương Thừa Vũ là phải hoàn tất mọi công việc chuẩn bị chiến đấu.

Gần 18 giờ, pháo đài lại nhận được lệnh của Ban chỉ huy mặt trận Hà Nội (đồng chí Vương Thừa Vũ) là đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 khi thấy đèn điện thành phố tắt hãy nổ súng bắn phát pháo lệnh đầu tiên vào sở chỉ huy quân đội Pháp đóng trong thành, làm hiệu lệnh cho toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Cơm chiều xong, toàn trung đội đã ở vị trí chiến đấu. Đêm đó là 27 tháng 11 âm lịch, lúc 20 giờ thấy trời tối hơn và thấy các đám chớp loé ở xa, trung đội trưởng đã ra lệnh "chuẩn bị chiến đấu, mục tiêu, hướng, tầm, cự ly, bắn đạn lửa". Khi các khẩu đội thực hiện các thao tác cắt ngòi nổ, quay hướng, tầm, nạp đạn xong, đồng chí trung đội trưởng cầm khăn trắng chém xuống và hô to "bắn". Những viên đạn lửa bay vút lên, hướng về phía thành Hà Nội. Kim đồng hồ ở pháo đài lúc đó chỉ 20 giờ 3 phút.


Cả 2 khẩu đội đã cùng nổ súng một lúc đêm 19 tháng 12 năm 1946, còn tiểu đội dự bị phối hợp với dân quân Yên Lãng, bảo vệ vòng ngoài ngăn chặn bọn Việt gian tay sai của giặc Pháp lẻn vào gần pháo đài do thám.

Ngày 22 tháng 12 năm 1946, pháo đài Láng đã hạ được một máy bay trinh sát địch nên sau đó Pháp cho pháo binh bắn bừa bãi vào Láng và máy bay đến ném bom vào pháo đài nhiều lần, có một quả đạn đã trúng vào trận địa của ta làm ba đồng chí hy sinh.

Ngoài thành tích bắn trúng đích trong thành đêm 19 tháng 12, như: bắn chặn địch, bắn rơi một máy bay, pháo đài Láng đã bắn phối hợp với các trận đánh của quân dân mặt trận Hà Nội. Nhưng cuộc chiến đấu ngày càng khó khăn. Sau các trận bắn pháo và ném bom dữ dội của địch, ban chỉ huy pháo đài phải rút ra đền Ngọ thuộc thôn Thượng. Nhân dân được huy động vào đắp lại ụ pháo và làm một trận địa giả ở cánh đồng thôn Hạ. Không có điện, ban đêm anh em phải đốt rơm để lấy ánh sáng nhìn vào kính ngắm, ăn uống hoàn toàn nhờ vào nhân dân nuôi. Đội tiếp tế Yên Lãng nhiều khi phải gánh cơm tiếp tế cho bộ đội dưới làn pháo địch.


Chiến đấu được nửa tháng thì hết đạn. Đại đội pháo được điều thêm một khẩu sơn pháo 75 ly có bánh xe do ô tô kéo về. Lúc này địch được tăng viện đã đánh ra các cửa ô, chiếm được khu vực Nhà Tiền (Kim Mã) lợi dụng các nhà cao tầng để chỉ điểm cho pháo địch bắn vào pháo đài.


Ngày 10 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy mặt trận Hà Nội lệnh cho trung đội phá pháo rút về Hà Đông. Nhân dân Láng biết tin đã đến tiễn đưa và gói cơm nắm cho các chiến sĩ. Ngày 11 tháng 1 năm 1947, bộ đội pháo đài rút qua sông Tô Lịch về Mễ Trì, Hữu Từ (Hà Đông) mang theo khẩu pháo có bánh xe mới tăng cường và tháo cơ bản các khẩu cao xạ chôn ở bệ bê tông. Sau khi rút khỏi thành phố, trung đội pháo đài Láng còn được điều về Yên Duyên dùng khẩu sơn pháo bắn vào sân bay Bạch Mai, đài phát thanh Vọng và khu Ngã Tư Sở, cho đến ngày 15 tháng 1 mới rút về Hữu Lê.


Trung đội pháo đài Láng từ lúc thành lập (29-6-1946) cho đến khi rút khỏi thành phố, cũng như toàn đại đội pháo binh Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ vinh quang của mình, bắn phát pháo lệnh mở màn cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp, là câu trả lời đanh thép đối với bức tối hậu thư của chúng, về một dân tộc quyết đứng lên đánh lại một kẻ thù mạnh hơn gấp bội lần về trang bị vũ khí. Pháo binh non trẻ của ta ở Hà Nội lúc bấy giờ chỉ có 7 khẩu thu được của địch đã phối hợp với các trận chiến đấu của bộ đội, nhân dân Thủ đô thực hiện nhiệm vụ kìm chân địch tạo thời gian cho cả nước củng cố và xây dựng lực lượng để rồi đánh bại kẻ thù xâm lược.


Cán bộ, chiến sĩ đại đội pháo binh Hà Nội cũng là nòng cốt để sau khi rút khỏi thành phố, xây dựng nên các phân đội pháo binh, rồi đại đoàn pháo binh, hiệp đồng chiến đấu với bộ binh trong mọi chiến dịch để năm 1954 trở về giải phóng Thủ đô.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #41 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:11:29 pm »

14. Pháo đài Xuân Canh

Khoảng tháng 6 năm 1946, trên đưa về làng Xuân Canh xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội một khẩu pháo đặt trên vạt đất trống cạnh chùa làng gần ngã ba nơi sông Đuống gặp sông Hồng. Vì pháo đặt ở địa phận làng Xuân Canh nên được mang luôn tên là pháo đài Xuân Canh cho dễ gọi, dễ nhớ. Gọi là pháo đài nhưng thực ra chỉ có một khẩu đội pháo. Khẩu đội có 9 người, tháng 10 năm đó, pháo đài tuyển thêm quân. Đây là loại pháo cao xạ bắn máy bay cỡ nòng 75mm còn gọi là DCA75. DCA là 3 chữ viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Defencecontre Avion (phòng thủ bắn máy bay). Khẩu này và một khẩu nữa cùng loại do Pháp chế tạo, được đưa sang để bố trí bảo vệ cầu "Pôn Đume" (tức cầu Long Biên), khi có chiến tranh. Tháng 3 năm 1945, Nhật làm đảo chính Pháp chiếm được 2 khẩu pháo này. Sau khi Nhật thua trận phải đầu hàng không điều kiện, ta làm Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cướp chính quyền, cách mạng tước lại từ tay bọn Nhật 2 khẩu pháo này để bước đầu xây dựng lực lượng pháo binh của quân đội ta, chuẩn bị đối phó với thực dân Pháp đang rắp tâm quay lại xâm lược nước ta một lần nữa.


Biên chế của pháo đài Xuân Canh, ngoài một khẩu pháo, còn có một tiểu đội trọng liên 12,7mm để bắn máy bay, bảo vệ pháo đài cùng một số anh em hậu cần, tiếp đạn thông tin... tổng quân số khoảng ba chục người. Pháo DCA tuy cỡ nòng chỉ có 75mm nhưng là loại pháo bắn máy bay nên nòng dài lắm, có thế mới với được cao, bắn được xa do đó đạn cũng dài và nặng. Pháo cao, pháo thủ ta, mỗi khi nạp đạn phải kê một hòm gỗ đứng lên mới đủ tầm tay đưa đạn vào nòng.


Năm đó, pháo đài Láng và pháo đài Xuân Canh được đặt dưới sự chỉ huy chung của đội trưởng Phạm Văn Đôn, đội phó Doãn Tuế và đồng chí Trương Thành Phao làm chính trị viên. Tối 19 tháng 12 năm 1946, khoảng 20 giờ pháo đài được lệnh phát hỏa. Theo các phần tử xạ kích đã đo đạc sẵn trên bản đồ, pháo cứ nhằm hướng Cửa Bắc khu trong thành của địch mà nhả đạn. Cự ly bắn chỉ có 5.000 mét. Tuy đêm tối không quan sát được nhưng anh em ở pháo đài đều tin là đạn sẽ bắn trúng mục tiêu. Quả vậy, hôm sau trong thành báo ra đạn pháo của ta từ hai phía Láng và Xuân Canh bắn vào đều trúng khu vực Cửa Bắc trong thành Hà Nội, nơi quân Pháp đồn trú khi chúng đóng quân ở Hà Nội theo các điều khoản của Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946. Sau khi bị pháo ta bắn, ngay đêm đó và ngày hôm sau, địch không phản ứng gì. Những ngày cuối tháng 12 và đầu tháng 1 năm 1947, pháo đài Xuân Canh còn nhiều lần tiếp tục bắn vào thành Hà Nội, mỗi lần chỉ vài quả đạn nhằm mục đích uy hiếp địch, hỗ trợ về mặt tinh thần cho quân và dân Liên khu 1 đấu. Thế là bọn Pháp phát hiện ra nơi đặt pháo của ta ở Xuân Canh, mấy lần chúng dùng tàu chiến ngược sông Hồng lên đánh phá trận địa. Ta phải dùng trọng liên 12,7mm kết hợp với lực lượng dân quân đánh lui địch, bảo vệ được pháo đài. Quân Pháp còn dùng pháo bắn vào trận địa ta, dùng máy bay tới oanh tạc, làm hai đồng chí xạ thủ súng 12,7mm trúng đạn địch hy sinh tại trận địa.


Đến sau Tết Đinh Hợi đầu năm 1947, pháo đài Xuân Canh mới chấm dứt hoạt động. Pháo được đưa lên Việt Bắc để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Pháo nặng 5.080 kg. Hồi đó chưa có xe kéo, cần cẩu như bây giờ nên anh em phải dùng mấy con trâu đực thật khoẻ kết hợp với sức lực của mấy chục con người mới đưa được pháo xuống thuyền. Từ đó pháo ngược sông Lô lên Đoan Hùng, Phú Thọ, Tuyên Quang để đánh tàu địch những trận sau này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #42 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:12:06 pm »

15. Phòng ngự ở bệnh viện Bạch Mai

Từ 19 tháng 12 năm 1946, Tiểu đoàn 64 được Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội điều về chốt giữ khu vực Bệnh viện Bạch Mai và một phần đài phát thanh. Đơn vị có nhiệm vụ ngăn chặn quân Pháp nống ra vùng ngoại ô, bảo vệ đoạn đường số 1 từ Kim Liên trở vào cho các cơ quan Đảng, Chính phủ và nhân dân rút ra, bảo vệ con đường vận chuyển hàng hóa, máy móc, trang thiết bị cần thiết cho cuộc kháng chiến lâu dài. Trận tuyến là bàn đạp cho các đơn vị bạn đánh vào nội thành.


Nhiệm vụ thì nặng mà bộ đội thì chưa được huấn luyện kỹ. Lương thực, thực phẩm phải tự lo. Vũ khí thì ngoài một số khẩu mút-cơ-tông ra, chủ yếu là lựu đạn, dao găm, đạn súng cối các cỡ (có đạn mà không có súng). Cả tiểu đoàn chỉ có hai khẩu đại liên là hỏa lực chính. Nguồn tiếp viện bổ sung lại không có nên phải thực hiện phương châm cướp súng giặc đánh giặc và nghiên cứu sử dụng đạn súng cối và cách đánh xe tăng cơ giới bằng vũ khí tự tạo. Khi thì độc lập tác chiến, khi thì phối hợp với các đơn vị bạn, với tự vệ đánh thọc sâu vào nội thành, chia lửa với toàn mặt trận, đã góp phần kìm chân giặc, đánh tan ý đồ "tốc chiến, tốc thắng" chiếm Hà Nội trong 24 giờ của Bộ chỉ huy quân xâm lược Pháp. Giặc ở nhà dầu Sell trong phố Khâm Thiên như nằm trong túi, bị ta đánh cho ba đòn đột kích, chúng đau đến nỗi ngót hai chục ngày sau vẫn không nống ra được đến 100m đường. Khi được tiếp viện từ nội thành, bọn địch lại liều mạng nống ra thì lần nào cũng bị chặn lại ở ngã ba Kim Liên, phải bỏ xác lính và các ở đầu làng Trung Tự, ở gốc si đầu đê làng Kim Liên.


Không chọc thủng được phía này, giặc Pháp định lấn ra từ phía Đông Dương học xá (nay là Trường Đại học Bách Khoa). Lần thứ nhất chúng bị quân ta phục kích, chết một số, phải quay lại; lần thứ hai phải bỏ cả lính chết trận và súng đạn chạy tháo thân.


Sáng sớm ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch tấn công vào bệnh viện Bạch Mai, có cả pháo binh và không quân yểm trợ. Chúng từ nội thành theo đường số 1 đánh xuống, lại từ phía Phà Đen đánh vào, từ Đông Dương học xá bắn sang. Nhưng các mũi tiến công của chúng đều bị các ổ đề kháng của quân ta trên toàn tuyến chặn lại. Địch phải cho pháo binh và máy bay bắn phá dọn đường, củng cố lại đội hình rồi mới mở đợt tiến công mới. Nhưng đến cổng bệnh viện chúng lại bị đánh bật ra. Chiếc xe mở đường bị cháy bịt luôn lối vào. Giằng co đến gần trưa hôm đó, bọn giặc lại phải ngừng tấn công. Mãi tới chiều, sau khi được bổ sung quân số, xe pháo, súng đạn, bọn địch mới đồng loạt tấn công từ các hướng. Chờ địch đến đúng tầm mới giao chiến, Tiểu đoàn 64 đã gây cho chúng thiệt hại lớn. Nhưng đến khoảng gần 4 giờ chiều, bọn địch đã hình thành thế bao vây cả ba mặt bắc, đông, nam và một phần hướng tây. Lúc này tiểu đoàn cũng đã hao tổn đạn dược, hỏa lực chính là hai khẩu đại liên thì đã hỏng, lại có nhiều thương binh nặng. Theo kế hoạch đã định trước, tiểu đoàn trưởng hạ lệnh rút lui để bảo toàn lực lượng. Đại đội 4 và trung đội cảm tử nhận nhiệm vụ ở lại chặn địch cho đơn vị rút, rồi sẽ ra sau. Đêm ấy địch hý hửng ăn mừng chiến thắng. Nhưng trung đội cảm tử từ đường cống ngầm bất ngờ vọt lên đánh quấy rối gây cho địch vô cùng hoảng sợ.


Đến sáng 16 tháng 1 năm 1947, theo phương án đã quy định đơn vị mới rút ra, người khoẻ có nhiệm vụ dìu thương binh, vác tử sĩ còn phần đông phải mang ra cho hết số súng chiến lợi phẩm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #43 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:12:42 pm »

16. Trận Đồng Xuân

Khu Đồng Xuân thuộc Liên khu 1 rất rộng. Từ chân đê (đường Trần Nhật Duật) qua cầu là con đường nối liền Liên khu 1 với hậu phương của ta. Cũng ở khu vực này, địch phải sống chết bảo vệ con đường huyết mạch qua phố Hàng Đậu lên cầu có con đường xe lửa qua phố Hàng Giấy sang Gia Lâm tới cảng Hải Phòng. Khu Đồng Xuân có gần 1 vạn Hoa kiều và vài trăm Ấn kiều.


Ngày 20 tháng 12 năm 1946, Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân chính thức hoạt động, trụ sở tại số 7 Hàng Đường.

Ngày 6 tháng 1 năm 1947, Hà Nội thành lập Trung đoàn Thủ Đô, khu Đồng Xuân được gọi là Tiểu đoàn quyết tử 101 Đồng Xuân. Quân số gồm 6 đại đội tự vệ, 1 trung đội Vệ quốc đoàn, 1 trung đội công an xung phong, tổng số trên 1.000 chiến sĩ.

Ngày 14 tháng 1 năm 1947, khu Đồng Xuân cử đại biểu đến rạp Tố Như dự buổi lễ "Tuyên thệ quyết tử".

Lực lượng Tiểu đoàn 101 trước ngày 14 tháng 2 năm 1947 chỉ còn 5 trung đội gồm 128 người (không có biên chế đại đội): 1 trung đội giữ chợ Đồng Xuân; 1 trung đội giữ Ô Quan Chưởng - Trần Nhật Duật; 1 trung đội giữ phố Hàng Gạo (trước chợ); 1 trung đội giữ Hàng Mã, Hàng Đồng, Hàng Lược; 1 trung đội tại tiểu đoàn bộ gồm các ban quân báo, quân nhu, quân y.


4 giờ 30 phút sáng 14 tháng 2 năm 1947, một đồng chí của ta đã hy sinh sau khi diệt 3 biệt kích Pháp mò vào chợ. Được tin ban chỉ huy tiểu đoàn họp ngay. Đang hội ý, 5 giờ sáng pháo binh địch cùng hơn 20 phi cơ ném bom, nã pháo dồn dập vào chỉ huy sở và toàn khu. Sau đợt pháo kích, hơn 20 xe tăng cùng gần 500 lính lê dương mũ đỏ chia 3 mũi tấn công: Hướng chủ yếu qua sân bóng Lơpagiơ vào sau chợ, một hướng qua Hàng Giấy vào phố Hàng Gạo, một hướng qua Trần Nhật Duật vào Ô Quan Chưởng.


Sau 3 đợt tấn công ác liệt, tới 15 xe tăng địch mới chốt giữ 2 địa điểm: ngã tư Nguyễn Thiệp, phố Hàng Chiếu (trước nhà Vạn Bảo) và ngã tư Hàng Chiếu - Hàng Đường; chỉ còn cách tiểu đoàn bộ con đường phố Hàng Chiếu. 22 giờ được trung đoàn chi viện 20 chiến sĩ, Chủ tịch khu đã giao cho các trung đội trưởng tổ chức phản công buộc địch rút toàn bộ trở lại nguyên vị trí ban đầu. Một đồng chí bị thương nặng, sau hy sinh. Kết quả trận đánh: Địch thương vong trên 200 tên, 4 xe tăng bị tiêu diệt.


Trận đánh ngày 14 tháng 2 năm 1947, Chi bộ khu phố Đồng Xuân đã lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 101 kiên cường, chống trả một đội quân chính quy, hiệp đồng binh chủng hiện đại, tấn công nhiều giờ toàn khu Đồng Xuân. Chúng ta quân số ít, vũ khí thô sơ, chiến đấu không chỉ đánh bằng tinh thần quyết tử, mà còn bằng tài trí thông minh, phán đoán đúng hướng tấn công của địch để bài binh bố trận chính xác, phân công chỉ huy đối phó kịp thời; dựng nhiều trận địa giả, buộc địch khi lọt vào chợ như lạc vào mê hồn trận bị tiêu diệt hết tên này đến tên khác, tạo điều kiện cho Trung đoàn Thủ Đô làm nên "kỳ tích" rút lui bảo toàn lực lượng, buộc tướng địch Xa-lăng phải thán phục thốt lên: "Một cuộc rút lui thần kỳ!".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #44 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:13:59 pm »

17. Đoàn quân mang danh chiến tích của một thành phố

Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ trên phạm vi cả nước (19-12-1946), tương quan lực lượng quân sự giữa ta và Pháp ở Nam Định chênh lệch rõ rệt. Quân tiếp phòng Pháp ở đây là tiểu đoàn 2/6eRIC được tăng cường thêm một đơn vị công binh, pháo binh, thiết giáp với quân số khoảng 800 tên, được trang bị đầy đủ do thiếu tá Dobooval chỉ huy. Phần lớn sĩ quan chỉ huy của chúng từ thiếu uý trở lên đều được đào tạo ở trường võ bị Xanh Xia nổi tiếng. Về phía ta, Trung đoàn 34 (phiên hiệu đầu tiên của Lữ đoàn 45 ngày nay), được thành lập ngày 22 tháng 8 năm 1945 với quân số khoảng 1.500 cán bộ, chiến sĩ bao gồm dân quân, du kích đã hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám tại các chiến khu Lạc Quần (Nam Định) và chiến khu Ninh Bình, tiểu đoàn Nam tiến và bốn đại đội Tây Tiên. Số còn lại, khi chiến sự nổ ra ở Nam Định, trang bị chỉ một ít súng bộ binh đã lạc hậu, lựu đạn, mìn, bom ba càng, mã tấu, kiếm, cả trung đoàn chỉ có 1 khẩu pháo 75mm.


Sau một tuần chiến đấu, ta và địch ở thế giằng co. Địch cố thủ trong trại Ca-rô và khu nhà máy dệt. Ta liên tục dùng lực lượng nhỏ quấy rối chúng cả ngày lẫn đêm, đánh địch ở từng cụm, cố gắng chia cắt, cô lập địch. Nhiều trận đột kích táo bạo, bất ngờ của ta bằng lực lượng nhỏ tiêu hao sinh lực địch làm chúng hoang mang, luôn luôn bị căng thẳng phải liên tiếp xin tăng viện.


Ngày 3 và 4 tháng 1 năm 1947, trên thông báo cho trung đoàn biết: ngoài cửa Ba Lạt có nhiều tàu chiến Pháp qua lại, nhiều lần số tàu chiến này chạy tận vào cửa sông Hồng. Cũng thời gian này, máy bay địch bay lượn thám thính, bắn phá liên tục khu vực nội thành, ném bom xuống nhà ga phố Năng Tĩnh, phố Cửa Đông và khu vực nhà máy chiếu. Sáng 5 tháng 1, tàu chiến địch tấn công vào ngã ba sông Ninh Cơ, vượt cửa sông rồi chạy ra biển. Đêm hôm đó, sương muối lạnh buốt, trăng sáng như ban ngày tạo điều kiện cho ta quan sát địch dễ dàng. 21 giờ, máy bay địch ném bom xuống phố cổng Hậu. Máy bay Đa-cô-ta lượn nhiều vòng trên sân vận động nhà máy dệt (hồi đó sân vận động này gọi là bãi bóng Cô-tông-canh). Mấy phút sau địch bắt đầu thả dù.


Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69 ra lệnh qua điện thoại cho các đại đội trưởng "đánh mạnh vào lực lượng địch đang nhảy dù hoặc tiếp đất. Súng máy tập trung hỏa lực vào các cửa máy bay đang thả quân. Súng trường bắn thẳng vào những tên đang lơ lửng. Bộ binh và tự vệ dùng lựu đạn, mã tấu xông ra tiêu diêt địch vừa tiếp đất, khi chúng chưa bắt liên lạc được với bọn bị bao vây". Toàn thành phố rền vang tiếng súng, tiếng gầm rú của máy bay và tiếng hô xung phong của bộ đội ta. Đèn phát sáng của địch, ánh đạn, lửa, ánh chớp của bom nổ sáng rực cả một góc trời. Đại đội 15, Đại đội 17 và Đại đội 11 bố trí tại phố Bên Thóc, phố Năng Tĩnh và khu nhà máy chiếu là đơn vị phải đương đầu quyết liệt với số quân tiếp viện đông đảo và có ưu thế về trang bị của quân Pháp.


Trận đánh quân nhảy dù kéo dài đến 1 giờ sáng ngày 6 tháng 1 mới kết thúc. Một phần ba quân tiếp viện bị quân ta đánh thương vong và phải dồn vào trại Ca-rô. Mờ sáng ngày 6 tháng 1, sương mù còn dày đặc trên thành phố thì một tàu chiến và 3 ca-nô của địch đã tiến vào cửa sông Đào. Đại đội 9 phối hợp với Đại đội 11 dựa vào chiến hào trên bờ sông và những công sự có sẵn đánh địch đổ bộ. Một bộ phận nhỏ của Đại đội 11 đã linh hoạt tràn ra chặn cổng nhà máy dệt không cho chúng lợi dụng có quân tiếp viện để chiếm lại khu vực nhà máy chiếu. Một lực lượng quan trọng của địch từ cổng Chủ Sói có xe thiết giáp yểm trợ tiến ra bị Đại đội 12 dùng đại liên và bom ba càng chặn lại. Trong khi đó một bộ phận quân ta bao vây chặt quân địch đóng tại nhà băng không cho chúng chạy thoát về nhà máy dệt.


Đại đội 10 và Đại đội 12 thuộc Tiểu đoàn 75, mặc dù bị lực lượng tăng viện của địch dựa vào hỏa lực mạnh và quân số đông gấp bội kiềm chế mạnh nhưng vẫn giữ vững được trận địa, nhất là khu Cửa Đông, một phố chính của thành phố. Một số chiến sĩ thuộc các đơn vị chủ lực và tự vệ dù bị thương vẫn không rời trận địa. Khi hết đạn, anh em dùng mã tấu, dao găm và một số lựu đạn còn lại tiêu diệt những tên địch liều mạng xông vào trận địa. Hơn mười chiến sĩ cảm tử quân đã ôm bom ba càng lao vào xe tăng, xe bọc thép của địch. Trung đội súng cối 81mm của Tiểu đoàn 75, tuy số đạn có hạn, nhưng vẫn bắn kịp thời và chính xác vào đội hình địch nên có hiệu quả tốt.


Gần 7 giờ sáng, trời bớt sương mù. Tiếng súng càng nổ dữ dội ở phía Đò Quan. Mặt trời càng lên cao, chiến sự càng trở nên quyết liệt. Lúc này không thể phân biệt được tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng cối của ta hay địch. Ta với địch tranh chấp với nhau từng gốc cây, từng mảng tường, từng góc nhà đổ nát ở bên Bến Thóc, khu Đò Quan, khu Năng Tĩnh. Một chiếc xe của địch chạy từ phía đông nhà Chủ Sói bắn ra xối xả từ phía nhà Hậu Cung. Bóng một chiến sĩ ôm bom ba càng lao vút ra. Trong phút chốc chiếc xe trở thành đám khói lớn sau một tiếng nổ dữ dội. Máy bay địch kéo hết đợt này đến đợt khác, khi 2 chiếc, khi 4 chiếc lao xuống bắn liên thanh, ném bom quanh khu vực nhà máy dệt. Cột cờ, một di tích cổ của Nam Định cũng bị trúng bom.


Đến trưa tiếng súng thưa dần rồi im hẳn, quân địch rút vào cố thủ trong trại Ca-rô và nhà máy dệt. Buổi chiều, nhiều tốp máy bay địch vẫn còn đến ném bom. 21 giờ ngày 6 tháng 1, ban chính trị của trung đoàn ra thông báo chiến thắng. Thông báo này được đăng đầy đủ trên báo Nam Định kháng chiến, số ra ngày 7 tháng 1 năm 1947: ta bắn chìm 1 ca-nô trên sông Đào, tiêu diệt và làm bị thương một phần ba quân tiếp viện. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ đã dùng lựu đạn, một nữ cứu thương trẻ đã dùng chai thuốc đập vào đầu rồi đâm chết một lính Âu - Phi, thu một tiểu liên Mas. Ta thu một số dù, một số lương thực và súng đạn đáng kể. Tiểu đoàn 75 đã đánh địch hoàn toàn ra khỏi nhà máy tơ, mở rộng phạm vi kiểm soát của ta, thu hẹp vòng bao vây của địch mặc dù chúng được tăng viện.


Trong trận chiến đấu hai ngày 5 và 6 tháng 1 năm 1947, Trung đoàn 34 cũng bị thương vong một số. Đồng chí tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 69 đã anh dũng hy sinh khi chỉ huy đơn vị đánh quân đổ bộ lên bến Đò Quan. Khẩu sơn pháo của ta cũng bị phá hủy sau khi hết đạn.


Cuộc chiến đấu từ đêm ngày 5 đến hết ngày 6 tháng 1 năm 1947 của quân và dân thành phố Nam Định là một trận thắng lớn, toàn diện trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Nó gián tiếp cổ vũ cho quân và dân Thủ đô kéo dài cuộc chiến đấu ở Liên khu 1 và quanh ngoại thành Hà Nội, tạo điều kiện cho quân và dân ta có thời gian chuẩn bị, đúc rút kinh nghiệm chiến đấu, bố trí lực lượng để tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ.


Chiều ngày 7 tháng 1 năm 1947, tại nhà ông Lý Lầm, thôn Vĩnh Trường, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, đồng chí Đỗ Mười - Bí thư tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Nam Định và đồng chí Hà Kế Tấn - Trung đoàn trưởng kiêm chính trị viên, đã họp với đại diện các đơn vị và một số cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong trận đánh và công bố: Bác Hồ thay mặt cho Quốc hội và Chính phủ quyết định tặng cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 34 danh hiệu cao quý "Tất Thắng".


Trung đoàn Tất Thắng sau này là Lữ đoàn pháo binh 45 Anh hùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #45 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2026, 09:14:52 pm »

18. Cự Đà - một trận quyết tử

Sau khi các đơn vị chiến đấu của ta rút ra khỏi Thủ đô, các đơn vị chiến đấu tại Liên khu 3 được tổ chức lại, đáng chú ý là sự thành lập Trung đoàn Thăng Long (27-2-1947) với nhiệm vụ chiến đấu ở phía tây và nam Hà Nội. Tiểu đoàn 523 của trung đoàn có nhiệm vụ đánh địch tiến ra huyện Thanh Oai bố trí các đại đội ở các làng hai bên bờ sông Nhuệ, sử dụng một trung đội có kinh nghiệm chiến đấu trong phố để bảo vệ Cự Đà - Khúc Thủy (Hà Đông).


Trung đội bộ có 5 người đóng ở Cự Đà. Vũ khí có 11 quả lựu đạn, một khẩu súng trường với 2 viên đạn đum đum, một khẩu tiểu liên Sten với một băng đạn. Còn 3 tiểu đội đóng quân ở Khúc Thủy.

Sáng 27 tháng 3 năm 1947, khoảng 9 giờ, một đại đội Pháp và lê dương tiến từ phía Hậu Lương, có xe tăng dẫn đường đã đến gần chợ Cự Đà. Ban chỉ huy không kịp điều các tiểu đội nên quyết tâm cố thủ ngay tại nhà trung đội bộ để chặn địch.

Từ 10 giờ sáng, cuộc chiến ác liệt diễn ra, khi địch phá được cổng định xông vào thì quả lựu đạn đầu tiên của ta ném từ trên gác gây thương vong gần một chục tên, một số bỏ chạy về phía chợ.

Chúng không dám tiến theo đường cái nữa mà luồn qua các lỗ đục ở tường để lọt vào dãy nhà ngang tập trung mọi loại hoả lực, cả pháo trên xe tăng, bắn như đổ đạn vào ngôi nhà, phá thủng hai mảnh tường sát mái. Rồi chúng thúc bọn mũ đỏ vào chiếm tầng dưới.


Khi bọn này tập trung ở sân nhà, cạnh bể nước chuẩn bị đánh chiếm nhà bếp thì một quả lựu đạn do ta ném qua khe cửa sổ con ở cầu thang, ít nhất cũng dăm bảy tên bị tiêu diệt. Địch bắn và ném lựu đạn lên gác 2 để yểm trợ cho việc lấy xác và tải thương. Rồi chúng lại tiếp tục tấn công chiếm tầng dưới. Đồng chí trung đội phó và một đồng chí nữa của ta đánh trả quyết liệt và đã hy sinh anh dũng. Chúng chiếm được bếp tầng dưới, đang tập trung chuẩn bị xung phong lên gác, thì bị lựu đạn của ta ném qua khe sàn quật ngã cả chục tên. Vài tên còn lại bỏ chạy về phía chợ kêu cứu.


Một trung đội lính mũ đỏ kéo đến tiếp viện, liều mạng hết đợt này đến đợt khác leo qua xác chết, tiến vào cầu thang, nhưng đều bị đẩy lùi bằng lựu đạn. Có lần chúng tung lựu đạn lên cầu thang. Ta bắt được ném trả lại. Hai tên mũ đỏ xông lên cầu thang, bị một đồng chí lia băng súng Sten ngã gục (sau đó súng hóc). Địch phía sau hoảng hốt kêu lên: "Việt Minh có tiểu liên! Đốt nhà! Chúng dồn các đồ gỗ vào chân cầu thang rồi tưới xăng đốt. Khói lửa mịt mù cả tầng hai. Hai đồng chí của ta còn lại buộc phải lên sân thượng, nấp mình trên đó, sẵn sàng dùng quả lựu đạn cuối cùng để diệt bọn liều lĩnh trèo lên mái.


Cho đến 5 giờ chiều, hai đồng chí người đã rã rời căng thẳng vì địch vẫn sục tìm xem Việt Minh còn ẩn nấp ở đâu... Đến 8 giờ tối, một tốp chiến sĩ của ta mang đuốc sáng rực đến tìm xác và chôn cất, Ban chỉ huy trung đội. Họ vui mừng khôn xiết khi thấy hai đồng chí của ta còn sống.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #46 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2026, 07:52:40 pm »

19. Trận "tao ngộ chiến" ngày ấy

Sau ngày quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới (7-10-1947), theo quyết định của Hiệu ủy, công tác huấn luyện của Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn tạm ngừng. Trường được biên chế tạm thời thành Trung đoàn 79 do đồng chí Hoàng Đạo Thuý làm đoàn trưởng, đồng chí Lê Đình làm Chính trị viên, có nhiệm vụ chiến đấu để tự bảo vệ mình và giúp đỡ một số cơ quan khác như Bộ Tài chính, Cục Quân nhu, Cục Quân giới... Căn cứ vào nhiệm vụ đó, các bộ phận của nhà trường rời Bắc Cạn, lên chợ Rã, về Bản Thí, Đầm Hồng... Trên đường hành quân, cán bộ, học viên đã tích cực tuyên truyền tin chiến thắng, hướng dẫn nhân dân cất giấu tài sản, giúp đỡ địa phương cách bố phòng, đánh địch để bảo vệ bản, làng.


Đêm 17 tháng 10, đại đội do đồng chí Phan Phác chỉ huy, hành quân bằng Goòng về tối gần Đầm Hồng thì xuống xe, tiếp tục hành quân bộ. Đại đội có ba trung đội. Cả đại đội chỉ có một khẩu đại liên với vẻn vẹn 22 viên đạn và 11 khẩu súng trường, mỗi khẩu có 7 viên đạn.


Khi đơn vị tới gần chiếc cầu sắt bắc qua một con suối cạn (km 4 Đầm Hồng - Bản Thí) thì được nhân dân báo tin có một đại đội quân Pháp đi theo đường rừng đang ở phía bên kia con suối một quãng không xa. Nhận được tin đó, đại đội nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Trung đội có súng máy bố trí lưng chừng đồi, sát cầu. Hai trung đội khác dàn quân trên bãi nổi, khúc quanh của con suối.


Khi ta vừa triển khai song đội hình thì quân Pháp đã kéo nhau tới lô nhô ở phía bên kia cầu (cầu đã bị ta phá hỏng, chỉ còn lại 2 thanh dầm cầu dọc), lúc đó khoảng 8, 9 giờ sáng. Vì súng đạn ít, nên ta động viên nhau chờ địch tới thật gần mới nổ súng để thực hiện "mỗi viên đạn một quân thù". Tới lúc địch dồn đội hình lên và có gần hai chục tên được lệnh vượt suối, lực lượng ta lập tức nổ súng. Địch bị bất ngờ, một số tên trúng đạn, đứa chết, đứa bị thương kêu la inh ỏi. Khẩu đại liên bắn được hai loạt thì bị đạn hóc, địch xua quân lên định cướp súng. Tức thì 11 khẩu súng trường đồng loạt nhả đạn, tên chỉ huy cùng một số tên nữa bị chết và bị thương. Số còn lại mất tinh thần, hoảng loạn tháo chạy về hướng Chiêm Hoá.


Trận đánh diễn ra khoảng 20 phút, nhưng cán bộ, học viên nhà trường đã nêu kỷ lục xạ kích: 72 viên đạn, diệt và làm bị thương 38 tên địch. Trong trận này ta có một đồng chí học viên khoá 10 (khoá 3) Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn sau khi lập thành tích xuất sắc: ba viên đạn diệt 3 tên địch đã hy sinh anh dũng.


Đây là một chiến công lớn của cán bộ, học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, làm cho cán bộ, học viên càng tin tưởng về kỹ chiến thuật đã học, có thêm kinh nghiệm huấn luyện, xây đắp nên truyền thống của trường. Chiến công đó góp phần vào thắng lợi chung của quân dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #47 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2026, 07:54:36 pm »

II. NHỮNG TRẬN ĐÁNH BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP CỦA QUÂN, DÂN MIỀN TRUNG VÀ NAM BỘ

1. Trận bao vây quân Pháp 101 ngày đêm tại Nha Trang

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn - Chợ Lán, mở rộng chiếm đóng các tỉnh Nam Bộ và chuẩn bị tiến công các tỉnh Nam Trung Bộ.

Đầu tháng 10 năm 1945, địch đưa thiết giáp hạm Richeliơ tới phong tỏa vùng biển Khánh Hoà.

Trung tuần tháng 10 địch đổ bộ gần 1.000 quân lên bãi biển trước khách sạn Bô Rivagiơ (nay là khách sạn Hải Yến), đồng thời tổ chức chiếm các vị trí then chốt trong thị xã, tăng cường một số phương tiện chiến tranh.

Tình hình Nha Trang được Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Trung Bộ đặc biệt quan tâm theo dõi. Xứ ủy nhận định và ra chỉ thị: Thực dân Pháp xâm chiếm Nha Trang là uy hiếp trực tiếp con đường chi viện của các lực lượng miền Bắc, miền Trung vào Nam Bộ. Cho nên vây chặt giặc Pháp tại Nha Trang để giữ được con đường chi viện cho Nam Bộ là một yêu cầu bức thiết mà Trung ương đã đặt ra cho Đảng bộ và chính quyền cách mạng miền Trung, trực tiếp là Đảng bộ và quân, dân Khánh Hòa, Nha Trang.


Quán triệt nhiệm vụ của cấp trên, lãnh đạo chính quyền tỉnh, Mặt trận Việt Minh và Ban chỉ huy quân sự tỉnh chủ trương dùng lực lượng vũ trang tại chỗ chủ động tấn công một số mục tiêu quan trọng trong thị xã sau đó rút ra cùng lực lượng bên ngoài tổ chức phòng tuyến bao vây giam chân quân địch không cho chúng mở rộng diện chiếm đóng, kiên quyết giữ vững giao thông Bắc - Nam, bảo đảm thông suốt con đường chi viện cho Nam Bộ.


3 giờ sáng ngày 23 tháng 10 năm 1945, lệnh tấn công được phát ra. Một loạt các vị trí quân địch bị lực lượng ta tấn công: ga xe lửa, nhà đèn, khu kho Bình Tân... Tại ga xe lửa, cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt. Đây là cuộc chiến đấu có sự chuẩn bị chu đáo, mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Khánh Hòa và Nam Trung Bộ.


Phòng tuyến đầu tiên được hình thành là phòng tuyến Chợ Mới - Bơrơten, gồm phòng tuyến phía Bắc: Khu vực đồi La San, cầu Xóm Bóng, Tháp Bà lên đến hầm xe lửa số 1. Phòng tuyến phía tây từ bến đò Kim Bồng nam bờ sông Cái theo dọc tuyến đường sắt cắt ngang quốc lộ 1 khu vực Chợ Mới xuống phía tây nam qua vùng Thái Thông, Thủy Tú tới dãy Đồng Bò. Phòng tuyến được thiết kế tương đối kiên cố. Trên phòng tuyến này bộ đội ta đã chiến đấu nhiều trận, đánh lui tất cả các cuộc phản kích mở vây của quân Pháp.


Trong hai ngày 22 và 23 tháng 11, quân Pháp tung lực lượng lớn có trọng pháo yểm trợ tấn công phòng tuyến Chợ Mới - Bơrơten. Toàn bộ lực lượng ta lui về phía sau lập phòng tuyến mới: phòng tuyến Cây Đa, Quán Giếng cách Nha Trang 6km về phía tây tiếp tục cuộc bao vây giặc Pháp.


Diễn biến chiến trường ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Mặt trận Nha Trang được Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Trung ương đã điều nhiều đơn vị bộ đội Nam tiến chi viện cho Mặt trận Nha Trang: Lê Trung Đình (Quảng Ngãi), Thuận Hoá, Nghệ An, Quảng Trị, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội... sát cánh cùng quân dân Nha Trang - Khánh Hòa chiến đấu. Trung ương cũng cử các phái viên đến Nha Trang để nắm bắt tình hình.


Cuối tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái đoàn Chính phủ do đồng chí Lê Văn Hiến dẫn đầu đến Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa để tìm hiểu tình hình, phổ biến một số chính sách, chủ trương của Chính phủ và thư của Bác Hồ "gửi các chiến sĩ cùng đồng bào Nam Bộ và phía Nam Trung Bộ".


Cuối tháng Giêng năm 1946, đồng chí Võ Nguyên Giáp vào kiểm tra tình hình mặt trận miền Nam. Ngày 27 tháng 1 năm 1946, đồng chí tới thị sát Mặt trận Nha Trang. Đồng chí đã đề xuất sự chuyển hướng của Mặt trận Nha Trang. Đồng chí cho rằng sắp tới thực dân Pháp sẽ tăng viện, mở cuộc tấn công mới, ta cần thấy trước và điều chỉnh ngay sự bố trí và cách tác chiến, không thể giữ mãi các phòng tuyến hiện nay mà phải chủ động rút ra một bộ phận chủ lực, chỉ để một bộ phận nhỏ bám sát địch, sẽ tổ chức những đơn vị cơ động đánh địch bằng các hình thức tập kích, phục kích tiêu hao sinh lực địch, cho biệt động hoặc du kích thâm nhập đánh phá, toàn dân đánh giặc, mọi vùng, mọi làng đều trở thành làng xã chiến đấu. Đồng thời tỉnh nên chủ động xây dựng căn cứ kháng chiến ở vùng Đồng Trăng.


Ngày 27 tháng 1 năm 1946, địch tập trung lực lượng lớn hành quân cơ giới có xe thiết giáp dẫn đường mở cuộc tấn công từ Đà Lạt theo đường 20 xuống thị xã Phan Rang. Ngày 28 tháng 1 từ Phan Rang địch mở cuộc hành quân ra Ba Ngòi (Cam Ranh). Ngày 27 tháng 1, một lực lượng lớn khác của địch từ Buôn Ma Thuột theo đường 21 kéo xuống Ninh Hoà, hình thành thế gọng kìm từ hai hướng để giải vây cho Nha Trang.


Ngày 29 tháng 1, từ hai cánh quân hướng bắc và hướng nam, địch đồng loạt mở cuộc hành quân vào Nha Trang và ra thành Diên Khánh, dọc đường tiến quân, đoàn xe cơ giới của địch bị bộ đội, du kích ta đánh kìm chân tại nhiều nơi.

Ngày 1 tháng 2, trước sức ép của địch do so sánh quân sự không cân sức, đồng thời để bảo toàn lực lượng chuẩn bị cho phương hướng kháng chiến lâu dài, toàn bộ lực lượng ta trên các phòng tuyến và ở thành Khánh Hoà (Diên Khánh) rút ra Tứ Thôn Đại Điền và lên căn cứ Đồng Trăng.


Cuộc chiến đấu bao vây quân Pháp 101 ngày đêm tại Mặt trận Nha Trang chấm dứt. Ý nghĩa lớn lao của Mặt trận Nha Trang là thể hiện ý chí đấu tranh giải phóng và lòng yêu nước nồng nàn, khao khát độc lập tự do của mọi tầng lớp nhân dân Khánh Hòa; Mặt trận Nha Trang là cuộc hội quân của cả nước, là điểm hội tụ của tình yêu thương gắn bó Bắc - Nam, tình quân dân đậm đà thắm thiết; Mặt trận Nha Trang giam chân quân địch trong một không gian nhỏ hẹp với một thời gian ngắn để đảm bảo cho cả một không gian rộng lớn xung quanh có thời gian xây dựng, là một thắng lợi có ý nghĩa to lớn đã làm phá sản âm mưu chiến lược của thực dân Pháp là "Đánh nhanh, thắng nhanh" mở rộng chiến tranh ra miền Nam Trung Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #48 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2026, 07:56:04 pm »

2. Phú Yên chuẩn bị cho trường kỳ kháng chiến

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Nam Bộ bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Để động viên đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ kiên quyết đứng lên kháng chiến, giữ vững độc lập, tự do, Bác Hồ có thư "Gửi đồng bào Nam Bộ": "Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của toàn dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc đấu tranh của chúng ta là chính nghĩa".


Năm 1946, Pháp từ Sài Gòn hành quân lên đánh chiếm Đà Lạt. Rồi từ Đà Lạt chúng thọc xuống đánh chiếm Phan Rang - Tháp Chàm. Lúc đó, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch, trụ sở đóng tại thị xã Tuy Hòa. Đồng chí Nguyễn Sơn cử một phái đoàn đi kiểm tra mặt trận suốt dọc tuyến miền Trung. Trên địa bàn dài và hẹp này, tiếng súng kháng chiến đã và đang sôi động, âm vang suối ngày đêm.


Ngày 27 tháng 1 năm 1946, mặt trận Ninh Hòa bị vỡ, địch từ Buôn Ma Thuột đánh xuống. Lực lượng của chúng khá mạnh. Lúc ấy, Nha Trang đã bị giặc chiếm và giặc Pháp từ Nha Trang đánh ra. Một mũi khác, địch đánh từ Đà Lạt xuống Phan Rang, xuyên qua Ba Ngòi. Cả một vùng trời đất đầy khói lửa, tiếng súng nổ loạn xạ. Đồng bào ta gồng gánh hối hả, vội vã tản cư vào cánh rừng, vào sâu trong núi, vào các thôn xóm khuất nẻo mà mọi người nghĩ là có thể an toàn.


Những ngày dữ dội ấy là gần Tết Bính Tuất rồi. Đêm tháng Chạp, trời lạnh và tối đen như mực. Trong không khí căng thẳng ấy, bà con ta vẫn lo cái tết sao cho đầm ấm, tuy hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Bộ đội ta được sưởi ấm trong tình quân dân cá nước, được hưởng cái tết tiền phương của vùng đất miền Trung nóng bỏng. Lực lượng công vận tỉnh làm việc cật lực, không kể ngày đêm, vì tình hình lúc ấy quá căng thẳng và không ai có thể lường hết những diễn biến phức tạp có thể xảy ra.


Tình hình ngày càng căng thẳng, vì giặc Pháp đang cố nông ra vùng tự do. Cuộc kháng chiến, đi qua những ngày đầu tiên, chúng ta đã biết chắc là phải kháng chiến trường kỳ. Đối với giặc Pháp, một loại kẻ thù quen, chúng thông thuộc địa hình, thậm chí, hiểu biết khá tường tận những phong tục, tập quán của một SCI địa phương. Muốn đánh thắng chúng, ngoài tinh thần, ý chí, chiến lược, sách lược... còn phải tính đến những khả năng khác, những khả năng tạo nên sức mạnh vật chất cho cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta.


Chính vì vậy, tỉnh Phú Yên phải tính đến việc thành lập binh công xưởng. Có binh công xưởng mới "chế tạo" được vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường. Nhưng lúc ấy, Phú Yên còn tay trắng, không có máy móc, dụng cụ để "nấu bột thành hồ". Nguyên liệu cũng hiếm, nhưng còn có thể kiếm được. Lấy thanh ray mà rèn vũ khí, bóc thành cầu mà làm cuốc xẻng. Còn than đốt sẽ không thiếu. Bao nhiêu cánh rừng bạt ngàn sẽ cho gỗ và gỗ sẽ cho than. Chất đốt đối với Phú Yên có thể gọi là giàu có.


Vậy phải tìm được một cỗ máy tiện, mà máy này, có thể phải ra tận Hà Nội mới kiếm được. Bài toán được đặt ra rất nghiêm túc nhưng có đủ yếu tố để giải đáp. Tỉnh đã cử người ra Hà Nội để tìm mua, chỉ một tuần lễ đã mua được "cỗ máy" như dự định.

Phú Yên thành lập binh công xưởng. Đêm đêm, trong rừng sâu, ngọn lửa lò sáng rực, tiếng máy chạy, tiếng búa nện, tiếng cười vui âm vang một góc núi rừng. Cùng với Hà Nội và cả nước, Phú Yên đang tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ nhưng nhất định thắng lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #49 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2026, 07:56:47 pm »

3. Thế trận ở Đèo Cả sau ngày Nam Bộ kháng chiến

Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, âm mưu của Pháp muốn trong vòng vài tháng đánh chiếm xong Nam Bộ, Nam Trung Bộ, trong đó có tỉnh Phú Yên.

Thực hiện chủ trương của Xứ ủy Trung Kỳ: "Tích cực đánh tiêu hao ngăn chặn địch từng bước, bảo tồn lực lượng ta, cố giữ cho được một vùng tự do để làm căn cứ kháng chiến lâu dài", tỉnh Phú Yên đã chuẩn bị lực lượng, thế trận tại mặt trận Đèo Cả ngăn chặn quân Pháp từ phía nam ra. Ban chỉ huy quân sự tỉnh điều tiểu đoàn Cao Thắng và đại đội tự vệ huyện Tuy Hòa lên lập phòng tuyến chiến đấu tại mặt trận Đèo Cả. Huyện Tuy Hòa cũng huy động hàng ngàn dân công lên mặt trận cùng bộ đội đào phá mặt đường, xây dựng giao thông hào, ụ chiến đấu, xây vật chướng ngại trên đường 1, các con đường mòn Đèo Cả, bịt các miệng hầm xe lửa...


Đúng như nhận định của ta, sau khi đánh chiếm xong Nha Trang, tháng 12 năm 1945, Pháp đưa quân ra đánh chiếm thị trấn Ninh Hòa, Vạn Giã làm bàn đạp tiến ra Phú Yên. Chúng cho quân chiếm các tuyến chiến đấu của ta tại mặt trận Đèo Cả như: Tu Bông, đèo Cổ Mã, núi Bà, Đại Lãnh cửa sông Đà Nông..., nhưng đều bị bộ đội ta đánh lui, giữ vững mặt trận. Trong thời gian sau đó, quân Pháp nhiều lần dùng hoả lực phi pháo, xe tăng, bộ binh tấn công lên Đèo Cả mà vẫn bị thất bại, bị thương vong phải quay về Nha Trang củng cố.


Trong lúc này, thời gian là lực lượng vô cùng quý giá. Mặt trận Đèo Cả được giữ vững đã giúp cho các tỉnh phía sau xây dựng tiềm lực kháng chiến và cổ suý cho tinh thần kháng chiến kiến quốc của nhân dân ta.

Không cam chịu thất bại và ngang ngược xé bỏ Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, quân Pháp lại tiến công lên các trận địa ở Tu Bông, đèo Cổ Mã nhưng đều bị bộ đội ta giữ mặt trận Đèo Cả đánh bại, diệt nhiều tên, thu vũ khí... Đến tận ngày 13 tháng 1 năm 1947, chúng dùng lực lượng quá đông, lại có phi pháo mạnh, đánh ra suốt 3 ngày liền với nhiều mũi, nhiều hướng chính diện và vu hồi... làm cho bộ đội ta bị thương vong lớn, đạn và lựu đạn hết, nhiều nơi anh em phải đánh giáp lá cà với địch để giữ từng ụ chiến đấu, nhưng do quá lệch về lực lượng và vũ khí ngày 16 tháng 1 ta phải rút theo đường biển Phú Khê và đường núi về phía sau.


Chọc thủng được mặt trận Đèo Cả, quân Pháp tiến ra phía nam cầu Đà Nẵng. Nhờ thực hiện triệt để chủ trương tiêu thổ kháng chiến, nên đường sá, cầu cống đều bị nhân dân ta phá buộc Pháp phải tiến rất chậm. Ngày 18 tháng 1 năm 1947, chúng co cụm ở thị trấn Phú Lâm và lúc 14 giờ ngày 19 tháng 1 năm 1947, bộ đội ta tấn công địch giữa ban ngày vào Phú Lâm, cầu Hòa Thạch, Bám Nham... giải phóng toàn bộ vùng nông thôn từ Phú Lâm đốn bắc cầu Hòa Thạch. Từ đó trở đi vùng nông thôn rộng lớn phía nam huyện Tuy Hòa được bảo vệ vững chắc làm cho nhân dân Phú Yên yên tâm phấn khởi tham gia mọi công tác kháng chiến.


Vùng tự do rộng lớn của tỉnh Phú Yên, gồm rừng núi, đồng bằng, ven biển, vùng đồng lúa Tuy Hòa là kho nhân tài, vật lực đã đóng góp rất có hiệu quả với chiến trường cực Nam Trung Bộ. Nhân dân Phú Yên đã bảo vệ và khôi phục công trình thủy nông đập Đồng Cam, Bàu Súng, đắp đập Liên Hương Mỹ đủ nước tưới quanh năm cho hàng trăm mẫu ruộng. Cũng nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng và Bác Hồ, nhân dân Phú Yên triệt để thực hiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Do vậy mà tỉnh không những có đủ lương thực ăn mà còn đóng thuế nông nghiệp nuôi bộ đội, nuôi các cơ quan tỉnh huyện, các xưởng quân giới của Phú Yên và tỉnh bạn. Năm 1947, nhân dân đóng góp được 230 tấn lúa, 750 tấn gạo, 180 tấn muối cho Nhà nước và còn giúp các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa 304 tân gạo. Nhân dân còn góp hàng vạn ngày công khôi phục đường sắt, đường quốc lộ 1 từ An Tôm (Quảng Nam) đến La Hai (Phú Yên) dài gần 300km để vận chuyển cho kháng chiến. Cũng chính nơi đây đã sản sinh và là nguồn bổ sung quân số cho các xưởng quân giới, các trung đoan 79, 80, 83, tiểu đoàn Ba Dương. Nơi trú quân huân luyẹn, cung cấp nhân tài, vật lực, là tiền đồn phía nam của vùng tự do Liên khu 5.


Trong 9 năm kháng chiến chống pháp, sự hình thành vùng tự do liên hoàn từ Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, nam Quảng Nam có thành tích đóng góp xứng đáng của quân dân mặt trận Đèo Cả nói riêng và nhân dân Phú Yên nói chung. Bằng những thành tích của mình, mặt trận Đèo Cả đã kìm chân giặc Pháp một thời gian dài, giúp cho ta xây dựng và bảo vệ được vùng tự do Nam - Ngãi - Bình - Phú thành căn cứ địa, hậu phương trực tiêp không chỉ của Nam Trung Bộ mà còn cả chiến trường Hạ Lào, đông bắc Campuchia.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM