Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:28:56 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972  (Đọc 3944 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2025, 08:58:46 pm »

- Tên sách: Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972
- Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
- Năm xuất bản: 2002
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI NÓI ĐẦU


Trong chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972, Sư đoàn bộ binh 7 được Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ: luồn sâu chia cắt, chốt chặn chiến dịch dọc theo đường 13 từ cầu Cần Lê xuống bắc Chơn Thành kiên quyết tiêu diệt quân tiếp viện cũng như quân tháo chạy.


Thực hiện tư tưởng là "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày, không cho xe dưới lên, trên xuống". Đồng thời vận dụng linh hoạt cách đánh, kết hợp tốt giữa phòng ngự và tiến công, đánh thiệt hại nặng quân địch buộc chúng phải rút chạy khỏi khu vực tác chiến. Vì vậy, gần 150 ngày đêm địch tập trung lớn lực lượng bộ binh, bộ binh cơ giới, thiết giáp - xe tăng, pháo binh, máy bay,... nhằm giải tỏa đoạn đường dài 20km từ Tàu Ô đến nam Chơn Thành để tiếp viện cho thị trấn An Lộc (Bình Long). Nhưng chúng không thể vượt qua được trận địa chốt chặn của Sư đoàn 7.


Chiến thắng trong chốt chặn đường 13 (Tàu Ô - Binh Long) của Sư đoàn bộ binh 7 đã góp phần chặn địch và tiêu hao địch về mặt chiến dịch tạo thế thuận lợi cho chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" giành thắng lợi. Đặc biệt là góp phần giữ vững hai huyện Lộc Ninh và Bù Đốp mới được giải phóng.


Năm 1988, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức tổng kết lại chiến dịch Nguyễn Huệ, rút ra những vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Tuy nhiên, việc tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ còn phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung làm rõ thêm về ý nghĩa và tầm vóc của thắng lợi đó, cũng như nghệ thuật tổ chức, phương pháp chiến đấu giữa tiến công và phòng ngự; phòng ngự và tiến công để rút ra những bài học thiết thực đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Thực hiện công văn số 407/CV ngày 14 tháng 9 năm 2001 gửi Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, công văn số 579/CV ngày 18 tháng 12 năm 2001 gửi Tỉnh ủy Bình Dương, Tỉnh ủy Bình Phước của Tư lệnh Quân đoàn 4 và kế hoạch số 533/KH ngày 20 tháng 12 năm 2001 của Phó tư lệnh - TMT Quân đoàn 4. Ngày 14 tháng 6 năm 2002, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 phối hợp với tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước tổ chức cuộc hội thảo khoa học: "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972".


Hội thảo đã nhận được nhiều bài tham luận quí của các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, của các nhân chứng và các nhà nghiên cứu lịch sử.

Nội dung các bài tham luận đã tập trung làm rõ thêm về tổng quan chiến dịch Nguyễn Huệ, diễn biến chốt chặn trên đường 13 (Tàu Ô), làm rõ thêm vấn đề về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật, rút ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức, chỉ huy, bố trí, sử dụng lực lượng, vận dụng cách đánh, công tác lãnh đạo, chỉ đạo... đề xuất những vấn đề nghiên cứu có thể vận dụng trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972, 36 năm thành lập Sư đoàn bộ binh 7 (13-6-1966 - 13-6-2002) và kỷ niệm 28 năm thành lập Quân đoàn 4 (20-7-1974 - 20-7-2002). Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 và Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước, được sự giúp đỡ của Viện Lịch sử Quân sự tổ chức tuyển chọn, nghiên cứu, biên soạn và xuất bản cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long" trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972".


Do điều kiện thời gian ngắn và trình độ của những người thực hiện có hạn, chắc chắn cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phê bình của các đồng chí và bạn đọc.

Tháng 6 năm 2002
BAN BIÊN SOẠN
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:16:41 pm »

CHIẾN THẮNG TÀU Ô - BÌNH LONG
TRONG CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ NĂM 1972

Lời khai mạc của
Thiếu tướng NGUYỄN NĂNG NGUYỄN
Tư lệnh Quân đoàn 4


Kính thưa các đồng chí đại biểu về dự hội thảo!

Tôi vui mừng và xúc động thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 nhiệt liệt chào mừng các đồng chí đại biểu, các cựu chiến binh Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, cơ quan bộ, các quân khu quân đoàn, viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường Quân đội, các cơ quan thông tấn, báo chí, đài phát thanh, truyền hình; đặc biệt là các vị đại biểu đại diện Đảng bộ chính quyền và nhân dân địa phương hai tỉnh Bình Phước và Bình Dương đã từng gắn bó máu thịt với cán bộ chiến sĩ Quân đoàn 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng như trực tiếp phối hợp chiến đấu trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, đã về dự cuộc hội thảo lịch sử "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.


Kính thưa các đồng chí!

Cuộc Hội thảo khoa học lần này, đúng vào dịp kỷ niệm 36 năm ngày thành lập Sư đoàn bộ binh 7 (13-6- 1966 - 13-6-2002), kỷ niệm 30 năm ngày quân và dân miền Đông Nam Bộ nổ súng tiến công cụm cứ điểm Xa Mát mở màn chiến dịch mang tên người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Và cũng là dịp hướng tới ngày kỷ niệm 28 năm thành lập Quân đoàn 4 (20-7-1974 - 20-7-2002). Nhân dịp này một lần nữa chúng ta tưởng nhớ anh linh các anh hùng liệt sĩ, các đồng chí, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, hy sinh, góp công to lớn vào thắng lợi của chiến dịch.


Thưa các đồng chí!

Đến đầu năm 1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chính quyền Ních-Xơn đã được thể nghiệm trên chiến trường miền Nam Việt Nam vừa được ba năm. Trong quãng thời gian đó, mặc dù bị ta tiến công và đánh trả quyết liệt, địch cũng đã giành được những lợi thế nhất định qua kết quả thực hiện chương trình "bình định", về phía ta, vùng giải phóng bị thu hẹp chiến trường bị chia cắt, bộ đội chủ lực bị dồn sang bên kia biên giới, bộ đội địa phương và dân quân du kích ngày càng bị giảm sút.


Mặc dù vậy, cục diện chiến trường lúc này không phải chỉ có thuận lợi về phía địch. Nếu ở miền Nam ta tạm thời gặp khó khăn và bất lợi thì thế chiến lược chung của ta trên chiến trường ba nước Đông Dương lại phát triển thuận lợi hơn bao giờ hết. Nhất là dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền các đơn vị chủ lực của ta cùng lực lượng bạn đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn mang tên "Toàn thắng 1/71" của địch sang Cam-pu-chia đã góp phần làm cho tình hình cách mạng Cam-pu-chia phát triển vượt bậc. Bàn đạp chiến lược của ta ở hướng Tây Nam được củng cố và mở rộng, đồng thời phối hợp với các chiến dịch phản công ở Đường 9 Nam Lào và Tây Nguyên đã tạo được nhiều khu vực giải phóng rộng lớn bên kia dải Trường Sơn và đông bắc Cam-pu-chia. Hành lang chiến dịch Bắc Nam thông suốt, thế liên hoàn giữa ba nước Đông Dương phát triển tốt.


Đặc biệt, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, do nhu cầu của cuộc chiến tranh, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã quyết định thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Miền, lấy mật danh là Đoàn 301. Lực lượng do Đoàn 301 trực tiếp chỉ huy có ba Sư đoàn 9, 7, 5 bộ binh và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, phục vụ khác. Như vậy trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, một bộ chỉ huy và cơ quan tương đương cấp quân đoàn được thành lập. Đây là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng trong nhiều năm, được củng cố và phát triển đứng chân trên các bàn đạp chiến lược dọc biên giới, hình thành thế uy hiếp địch về mặt chiến lược từ phía tây xuống. Cùng với tác chiến trên chiến trường, cuộc đấu tranh về ngoại giao ở Hội nghị Pa-ri giữa ta và địch kéo dài gần bốn năm đang đi vào giai đoạn kết thúc. Thực tế trên đây đã đặt ra cho ta phải có những nỗ lực vượt bậc để đưa cuộc chiến tranh đi đến bước ngoặt có lợi.


Về phía ta, Bộ Chính trị khẳng định: "Ta không đánh giá thấp những chỗ mạnh hiện nay của địch, không coi thường những khó khăn địch đã và còn gây cho ta, cũng như những khuyết điểm, nhược điểm của ta. Nhưng ta có cơ sở khẳng định rằng chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đã thất bại một bước nghiêm trọng và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Phương hướng lớn của Bộ Chính trị đề ra cuối năm 1971 và cả năm 1972 là "Mở nhiều chiến dịch lớn trên toàn Đông Dương, hướng tiến công chính là chiến trường miền Nam, đồng thời đẩy mạnh đánh phá "bình định" ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, giành lại thế chủ động chiến lược trên chiến trường miền Nam, tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam và Đông Dương". Trên cơ sở đó, tháng 8 năm 1971 Bộ Chính trị ra nghị quyết: mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng như ở miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng.


Từ bối cảnh trên đã phản ánh rõ tính tất yếu mở chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, phối hợp chặt chẽ với các hướng chiến lược khác trên toàn miền, trên cơ sở đó làm hậu thuẫn vững chắc cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trên bàn Hội nghị Pa-ri.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:17:21 pm »

Kính thưa các đồng chí!

Từ ngày 1 tháng 4 năm 1972, khi ta nổ súng tiến công cụm cứ điểm Xa Mát trên hướng thứ yếu, nghi binh đường số 22, đến ngày 19 tháng 1 năm 1973, khi ta thực hiện trận đánh sau cùng tiêu diệt chiến đoàn 8 ở Dầu Tiếng, chiến dịch Nguyễn Huệ đã kéo dài gần 10 tháng liên tục chiến đấu với bao xương máu của đồng chí, đồng bào ta đổ xuống và cuối cùng thắng lợi đã được khẳng định bằng kết quả giành được về nhiều mặt, đáp ứng được yêu cầu của chiến lược đề ra.


Với chiến dịch Nguyễn Huệ lần đầu tiên miền Đông Nam Bộ giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu bắc Sài Gòn, mở mảng, mở vùng ở bắc Bình Dương, uy hiếp cửa ngõ vào Sài Gòn. Đặc biệt với thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ, ta đã thực sự làm thay đổi cục diện chiến trường miền Đông Nam Bộ, giành lại quyền chủ động chiến lược, tạo thế đứng chân vững chắc cho bộ đội chủ lực Miền ở chiến trường miền Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc, đẩy được phong trào chiến tranh nhân dân phát triển cao hơn trước.


Đối với Quân đoàn 4, mặc dù đến ngày 20 tháng 7 năm 1974 mới được thành lập, nhưng tiền thân của Quân đoàn lại chính là Đoàn 301. Do vậy, thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ do Đoàn 301 tổ chức chỉ huy cũng là thắng lợi của Quân đoàn 4. Có thể nói từ chiến dịch Nguyễn Huệ đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm để Quân đoàn 4 giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long sau này.


Kính thưa các đồng chí!

Năm 1988, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam được sự giúp đỡ của nhiều cán bộ từng phụ trách những mặt công tác khác nhau, trực tiếp tham gia chiến dịch cung cấp tư liệu, kết hợp với các tài liệu tổng kết của ta (và cả của địch) đã tổ chức tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ rút ra những vấn đề nghệ thuật chiến dịch, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, việc tổng kết lại chiến dịch Nguyễn Huệ cũng còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, nhất là làm rõ thêm các hình thức chiến thuật chủ yếu mà bộ đội ta đã vận dụng trong quá trình tiến công. Hơn nữa, với chiến dịch Nguyễn Huệ, lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến trường B2 tiến hành một chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn tương đương cấp quân đoàn tăng cường. Thực tế diễn ra hết sức phức tạp và có phần khác thường: không gian mở rộng chiến dịch gồm bốn tỉnh (Tây Ninh, Phước Long, Bình Long và Bình Dương), thời gian thực hành chiến dịch kéo dài 10 tháng, diễn biến chiến dịch biến đổi qua nhiều đợt, nhiều tình huống, nhiều giai đoạn với nhiều tính chât khác nhau. Vì vậy, đặt ra là chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu rút ra những bài học thực tiễn vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Với giá trị thực tiễn đó, hôm nay Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 phối hợp cùng tỉnh Bình Dương, Bình Phước, huyện Bình Long tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972".

Mục đích hội thảo nhằm thu thập thêm tư liệu và những ý kiến đánh giá nhằm làm rõ hơn về tầm vóc của thắng lợi, về giá trị đóng góp vào kho tàng nghệ thuật quân sự cách mạng Việt nam của cuộc chiến đấu tiến công Bình Long và chốt chặn Tàu Ô trong chiến dịch Nguyễn Huệ. Từ đó, bổ sung đầy đủ hơn lịch sử chiến dịch Nguyễn Huệ nói chung và tổng kết chốt chặn trên đường 13 (Tàu Ô) của Sư đoàn bộ binh 7 nói riêng, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trên cơ sở đó, tôi đề nghị các đại biểu trong tham luận hay phát biểu của mình hãy phân tích làm rõ thêm ba vấn đề:

- Một là: có ý kiến cho rằng chiến thuật chốt chặn chiến dịch dọc đường 13 (Tàu Ô - Xóm Ruộng) của Sư đoàn 7 trong chiến dịch Nguyễn Huệ, thực chất cũng là chiến thuật phòng ngự cấp sư đoàn, nhưng có ý kiến lại nói trong kháng chiến chống Mỹ chúng ta chưa vận dụng chiến thuật phòng ngự cấp sư đoàn? Vậy đâu là chốt chặn hay phòng ngự?

- Hai là: việc tổ chức, sử dụng lực lượng và cách đánh trong chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng của Sư đoàn 7 có thể nghiên cứu, vận dụng vào cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hiện nay, và nếu có thì ở vấn đề gì?

- Ba là: nhiệm vụ chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 là hỗ trợ tạo thế cho Sư đoàn 9 tiến công Bình Long, hay còn tạo thế giữ vững các khu vực trong toàn chiến dịch Nguyễn Huệ, nhất là góp phần giữ vững vùng mới giải phóng Lộc Ninh.

Làm rõ được ba vấn đề trên sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất những vấn đề nghiên cứu khoa học phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục, biên soạn tài liệu huấn luyện cho bộ đội trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Với tinh thần đó, rất mong nhận được nhiêu tham luận quý báu của các vị đại biểu. Thay mặt Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 tôi xin tuyên bố: khai mạc hội thảo khoa học "Chiến thắng Tàu Ô - Xóm Ruộng trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972".

N.N.N
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:18:07 pm »

LỜI CHÀO MỪNG
CỦA THƯỜNG TRỰC HUYỆN ỦY BÌNH LONG


Kính thưa các đại biểu!

Thay mặt Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Bình Long tôi vô cùng phấn khởi và vinh dự cùng với các đồng chí dự hội thảo hôm nay. Xin chuyển đến các vị tướng lĩnh, sĩ quan các vị đại biểu lời chào mừng nồng nhiệt nhất của Đảng bộ và nhân dân trong huyện. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ và nhân dân huyện Bình Long đã đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bình Long có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ tây bắc Sài Gòn, là một trong những cánh cửa thép của chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ. Nơi đây đã từng là chiến trường ác liệt của mùa hè đỏ lửa năm 1972, mặt trận nóng bỏng trên quốc lộ 13 và 14.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cùng với lực lượng chủ lực, quân và dân trong huyện đã làm nên những chiến công lừng lẫy, mỗi tên đất, tên rừng, con sông, con suối, trục đường lộ... đã trở thành địa danh lịch sử, thấm máu đào, ghi dấu biết bao chiến công oanh liệt.


Hôm nay Đảng bộ và nhân dân Bình Long rất tự hào được đón các đồng chí đã từng chiến đấu trên chiến trường Bình Long đón các đại biểu của cơ quan bộ, quân khu, quân đoàn, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường Quân đội, cùng các đại biểu đại diện cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Bình Phước, Bình Dương - nơi đã từng kề vai, sát cánh, gắn bó máu thịt với Quân đoàn 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, về dự hội thảo "Chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972". Đây là dịp để các đồng chí trở lại nơi chiến trường xưa, một địa danh ghi đậm dấu ấn mà mỗi đồng chí đã từng tham gia chiến đấu không thể nào quên được trong ký ức. Được đón tiếp các đồng chí, chúng tôi rất bồi hồi xúc động, như được đón những người thân trở về quê hương. Nhân dịp này Đảng bộ và nhân dân Bình Long xin được cùng tất cả các đồng chí tưởng nhớ đến các liệt sĩ và đồng bào đã anh dũng hy sinh góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, làm hồi sinh sức sống, xây dựng quê hương Bình Long giàu đẹp hôm nay.


Kính thưa các đồng chí!

Do chiến tranh ác liệt nên Bình Long hầu như bị phá hủy hoàn toàn. Phát huy truyền thống quý báu trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau khi được giải phóng, Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, đối phó âm mưu phá hoại của kẻ thù.


Hai mươi bảy năm là khoảng thời gian ngắn so với lịch sử tồn tại và phát triển của một huyện đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những hậu quả do chiến tranh để lại đối với Bình Long tưởng chừng không thể nào khắc phục được. Nhưng sau 27 năm không ngừng phấn đấu xây dựng, Bình Long đã và đang đổi thịt thay da, từ đống hoang tàn đổ nát, ngày nay màu xanh được phủ kín trên vùng đất này, mang lại sức sống mới trên quê hương Bình Long.


Phát huy tiềm năng và thế mạnh ở địa phương, huyện đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế ngày càng ổn định và vững chắc; đáp ứng yêu cầu cơ bản của nhân dân về văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững; hệ thống chính trị ngày được củng cố đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày được nâng lên.


Những đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Bình Long trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao và phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là niềm vinh dự lớn lao, là sự ghi công sâu sắc của Tổ quốc đối với sự hi sinh cống hiến xương máu, mồ hôi, nước mắt trên mọi trận tuyến của cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các dân tộc trên đất Bình Long.


Phát huy truyền thống cách mạng, Đảng bộ huyện Bình Long đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Một lần nữa thay mặt Đảng bộ và nhân dân Bình Long tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đơn vị bộ đội chủ lực, đặc biệt là đối với Sư đoàn 7 đã có đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ trên quê hương Bình Long.


Kính chúc sức khỏe các vị đại biểu và các vị khách quý.

Chúc hội thảo thành công tốt đẹp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:19:20 pm »

CHIẾN DỊCH NGUYỄN HUỆ 1972
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trung tướng LÊ NAM PHONG
Nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7


Hôm nay chúng ta hội thảo về một đề tài khoa học mang tính lịch sử, có ý nghĩa và giá trị đặc biệt, nhằm nghiên cứu và tổng kết một cách sâu sắc, đầy đủ hơn về chiến thắng Tàu Ô - Bình Long trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972 để rút ra những bài học và kinh nghiệm quý báu bổ sung vào kho tàng của nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.


Là một cán bộ trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 7, một trong các đơn vị chủ công tham gia chiến dịch, có mặt từ đầu cho đến kết thúc chiến dịch, tôi xin trình bày tóm tắt một số ý kiến như sau:


I. Bối cảnh và sự ra đời tất yếu của chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" năm 1972.

Năm 1972, sau thất bại trong cuộc hành quân "Toàn thắng 1-71" và cuộc hành quân "Chen la 2" địch buộc phải bỏ tuyến phòng thủ phía bắc biên giới, co lực lượng về phía nam biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Việc điều chỉnh thế bố trí, địch muốn lấy đường 22 làm hướng phòng ngự chủ yếu để thực hiện ý đồ chiến thuật phòng thủ từ xa là nhằm "ngăn chặn cuộc tiến công Xuân - Hè 1972" của quân ta. Chúng huy động 10 trung đoàn bộ binh, 4 thiết đoàn xe tăng thiết giáp mở cuộc hành quân "Toàn thắng 72B".


Như vậy ý đồ chiến lược và thủ đoạn chiến dịch của địch đã lộ rõ. Căn cứ vào tình hình đó Bộ Tư lệnh và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch tiến công trên hướng bắc Sài Gòn, đánh lớn từ tuyến biên giới đến tuyến trung gian lấy đường 13 làm hướng chủ yếu. Mục đích nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chủ lực ngụy, giải phóng vùng chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với việc khôi phục, mở rộng và củng cố vững chắc chỗ đứng chân của bộ đội chủ lực Miền. "Chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ" mang tên người anh hùng dân tộc áo vải biểu thị được ý chí quyết chiến quyết thắng của quân đội ta lúc bấy giờ.


Chúng ta mở đầu chiến dịch bằng khu quyết chiến trên địa bàn từ ngã ba đường 13 (bắc cầu Cần Lê) lên bắc Lộc Ninh với sự phối hợp tuần tự của 3 Sư đoàn 5, 7, 9 của bộ đội chủ lực Miền và sau đó là sự phối hợp tổng hợp cùng bộ đội địa phương và quân dân du kích trong suốt thời gian 150 ngày đêm chiến đấu, quần nhau với kẻ thù trong một tình thế không cân bằng về tương quan lực lượng và chúng ta đã thắng.


Mở đầu chiến dịch khu quyết chiến then chốt thuộc Sư đoàn 5, tăng cường Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) nằm từ ngã ba đường 13 lên Lộc Ninh. Sư đoàn 7 luồn sâu chốt chặn bao vây chia cắt dọc theo đường 13 từ cầu Cần Lê xuống bắc Chơn Thành và địa bàn khu quyết chiến trung tâm từ ngã ba đường 17 xuống bắc Chơn Thành (trong đó có thị xã Bình Long thuộc Sư đoàn 9). Hướng thứ 2 trên đường 22 chờ thời cơ phối hợp tác chiến. Như vậy chiến trường đã hình thành một vùng rộng lớn đan trải, kéo dài, mở rộng sang hai phía của quốc lộ 13 từ thị xã Bình Long ngược lên bắc Lộc Ninh, phía tây đến Lai Khê - Bến Cát, tổng chiều dài gần trăm cây số. Hai bên đường 13 là rãnh sâu, phía tây có trục đường sắt cũ đi từ Bình Dương lên Bình Long hai bên rừng già xen kẽ rừng le, rừng chuối (ở phía bắc Chơn Thành). Phía nam Tân Khai và Chơn Thành có trảng tranh, địa hình phía nam Chơn Thành có rừng già cách xa đường từ 1 đến 2km; ven đường trống trải, địa hình thấp, nhiều đoạn ngập nước, đoạn Bầu Bàng bìa rừng gần mép đường hơn (500m - 1000m) chỉ có đoạn cống Ông Tề trở xuống địa hình bằng phẳng cao đều, xe cơ giới cơ động dễ dàng.


Nhìn chung địa bàn có đặc điểm địa lý như vậy, sẽ đóng vai trò quyết định cho thủ đoạn chiến tranh và hành động tổ chức thực hành các mưu kế chiến thuật. Nhất là trong xây dựng nghệ thuật tác chiến với chiến thuật chốt chặn của quân ta.

Quân địch với phương hướng phòng ngự từ xa, chủ động tổ chức hành quân chiến lược với ý định phá thế chuẩn bị của quân ta.

Khi mở màn chiến dịch địch huy động lực lượng giải tỏa đường 13 tăng viện giải tỏa An Lộc từ 5 tháng 4 đến 28 tháng 8 năm 1972. Chúng đưa lên Lai Khê - Chơn Thành 3 sư đoàn, gồm sư đoàn dù (lữ 2), sư đoàn 21, sư đoàn 25 sau tăng dần theo giai đoạn các lực lượng của trung đoàn 15 sư đoàn 9 ngụy, 3 chi đoàn thiết giáp, các chiến đoàn 1/ trung đoàn 2 thiết giáp; chiến đoàn 1/ sư đoàn 18 thiết giáp; chiến đoàn 5 biệt động quân; 3 tiểu đoàn quân biên phòng ... Và chúng duy trì lực lượng trực tiếp mở đường, một sư đoàn được tăng cường (sư bộ binh 21, sau đó là sư đoàn bộ binh 25).


Như vậy quân địch đã tập trung lực lượng lớn và tăng cường áp lực cao trên chiến trường...

Thời điểm này chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ ở Việt Nam đã đi vào giai đoạn cuối và sắp chui vào ngõ cụt.

So sánh lực lượng trên chiến trường, nhìn về cục diện chiến lược chung ta đang vững vàng phát triển và mạnh dần hơn so với địch; chiến trường ba nước Đông Dương và hành lang chiến lược Bắc-Nam vào thế liên hoàn, phát triển tốt.

Như vậy chiến dịch Nguyễn Huệ ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Đông Nam Bộ năm 1972 là một tất yếu lịch sử, một yêu cầu cấp bách
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:20:41 pm »

II. Những bài học kinh nghiệm

1. Tổ chức chỉ đạo chiến dịch, vận dụng linh hoạt chiến thuật trong từng tình thế cụ thể của chiến trường.

Là người cán bộ chỉ huy xuất thân từ người lính chiến đấu, qua chiến dịch Nguyễn Huệ, đặc biệt trong khi làm nhiệm vụ chốt chặn luồn sâu chia cắt bao vây của Sư đoàn 7, tôi có một số ý kiến như sau:

Trong bất kỳ một cuộc chiến đấu nào, ngoài những yếu tố như mưu trí, dũng cảm, thông minh, linh hoạt sáng tạo, bí mật bất ngờ của từng cán bộ chiến sĩ của các đơn vị thì khâu quyết định sống còn để mang lại chiến thắng cho trận đánh là: sự nhất quán tuyệt đối, giữa tư tưởng chiến lược với ý đồ chiến dịch và thực hành chiến thuật từ người chỉ huy tối cao đến chiến sĩ cấp thấp nhất phải quán triệt trước phương châm tác chiến, mục tiêu chiến đấu trong chiến dịch củng như từng trận đánh. Cấp lãnh đạo chiến dịch phải sâu sát với thực tế mọi diễn biến của tình huống tác chiến cụ thể. Bộ tham mưu phải tùy theo thực tế chiến trường để có kế hoạch chỉ huy tác chiến sâu sát cho từng đơn vị. Phải có một "quãng mở" cho sự điều tiết tác chiến theo phương chăm "thiên biến vạn hóa" của cán bộ chiến sĩ cấp dưới tùy theo tình thế cụ thể đặt ra cho họ. Họ phải hành động thế nào? Tìm cách đánh thế nào? Thậm chí họ phải được quyền chủ động giải quyết linh hoạt trong những tình thế bất cập!


Ở chiến dịch Nguyễn Huệ, điển hình là việc điều Sư đoàn 5 xuống đồng bằng.

Sau khi Sư đoàn 7 làm nhiệm vụ chốt chặn kết hợp với đánh vận động chia cắt địch trên đường 13 tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển tiến công các mục tiêu then chốt. Sư đoàn 9 không dứt điểm được An Lộc (là mục tiêu chủ yếu) nên chúng ta phải chuyển sang bao vây kiềm chế địch trong thị xã. Nhưng rõ ràng việc chốt chặn khu vực Tàu Ô - Xóm Ruộng lúc bấy giờ có tác dụng to lớn, quan trọng, mang tính quyết định làm thay đổi cục diện và cán cân lực lượng giữa ta và địch trên đường 13, giành lại được quyền chủ động, tạo thế vững chắc cho vùng giải phóng.


Khi đánh vào Hớn Quản - An Lộc (ở giai đoạn 2), địch đã điều động quân làm thay đổi tương quan lực lượng: sư đoàn 5 về Hớn Quản và lữ đoàn dù về Núi Gió. Bấy giờ cấp chiến dịch không kịp thời ra lệnh để tạo cho các đơn vị mau lẹ phản kích, thoát ra ngoài, đánh thọc sâu, bao vây chia cắt để giảm thương vong và có hiệu quả chiến đấu cao. Ngay trong tình thế mất cân bằng lực lượng đó, cấp chiến dịch lại điều Sư đoàn 5 (công trường 5) xuống đồng bằng sông Cửu Long.


Vì thế quân ta bị phân tán lực lượng, làm suy giảm sức chiến đấu, cán cân lực lượng càng bị chao đảo, giữa lúc chiến trường An Lộc - Hớn Quản đang gay go, sôi động, quyết liệt, mất còn...


2. Vấn đề chỉ đạo chiến lược, tổ chức chiến dịch và sáng tạo chiến thuật trong tác chiến trên chiến trường.

Thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", với tiềm lực, sức mạnh quân sự khổng lồ của mình, đế quốc Mỹ lập nên công thức: "người Việt Nam + vũ khí Mỹ". Ngoài ra còn tiến hành những thủ đoạn về sách lược chính trị xảo quyệt hòng giành ưu thế tuyệt đối ở cả trên hai bình diện quân sự và chính trị.


Nhưng thật sự trên chiến trường sau mùa khô 1970 - 1971 cục diện chiến tranh đang vận động và biến đổi nhanh.

Sau thất bại của cuộc "hành quân Lam Sơn 719" và "hành quân toàn thắng 1-71" ở đông bắc Cam-pu-chia. Công thức quân chủ lực cơ động ngụy Sài Gòn cộng hỏa lực yểm trợ của Mỹ và chịu sự chỉ huy của Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" bước đầu bị đánh bại. Dù vậy, chúng vẫn ngoan cố, hiếu chiến, ỷ vào tiềm lực, tiếp tục hiện đại hóa quân ngụy Sài Gòn phát triển số lượng nâng cao chất lượng tác chiến và khả năng cơ động chiến đấu. Ở Cam-pu-chia chúng tăng quân ngụy Lon Non lên 170.000 tên tổ chức lên đến 63 lữ đoàn. Được không quân, hải quân, lực lượng pháo binh, xe tăng, xe bọc thép hỗ trợ chúng cũng đã tổ chức cuộc hành quân chiến lược "Chen-la 2" để đánh phá hậu phương và kế hoạch chuẩn bị mùa khô của quân dân ta. Mỹ trực tiếp chỉ huy, dùng đến cả máy bay chiến lược B52, đưa cuộc hành quân này làm điển hình cho chương trình "Khơ-me hóa chiến tranh". Cuối cùng đến đầu tháng 12 năm 1971 cuộc hành quân "Chen-la 2" một cuộc hành quân điển hình của công thức quân đội Lon Non + hỏa lực + không quân Mỹ trong chương trình "Khơ-me hóa chiến tranh" bị đánh bại và hoàn toàn sụp đổ...


Những diễn biến trên chiến trường ba nước Đông Dương chứng tỏ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đang thất bại về chỉ đạo chiến lược quân sự, buộc chúng tiếp tục điều chỉnh tổ chức lại thế trận trên khắp các chiến trường để đối phó với quân ta. Chính trong bối cảnh chính trị, quân sự và ngoại giao lúc đó mà "chiến dịch Nguyễn Huệ 1972" của chúng ta xuất hiện.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:21:34 pm »

Kết thúc chiến dịch thắng lợi, chúng ta đã đạt được kết quả to lớn và quan trọng:

Một là: đập tan hoàn toàn ý đồ tiến công lấn chiếm vùng căn cứ giải phóng của ta tại chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Hai là: Tiếp tục làm lung lay học thuyết Ních-Xơn và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" đánh bại từng phần, từng bước ngăn chặn quân địch lấn chiếm hòng bình định và tràn ngập lãnh thổ; củng cố và mở rộng vùng căn cứ cách mạng tạo tiền đề vững chắc cho quân chủ lực Miền đứng vững trên địa bàn chiến lược miền Đông Nam Bộ, đảm bảo an toàn cho Sở Chỉ huy Miền và cơ quan đầu não của Đảng đóng trên địa bàn.


Ba là: trong chiến dịch tiến công "Nguyễn Huệ" chúng ta đã ứng dụng linh hoạt và thành công phương thức tác chiến: lấy chiến thuật chốt chặn ngăn địch giữ vững trận địa kết hợp với đánh vận động luồn sâu, bao vây chia cắt. Đánh liên tục ngày và đêm, chủ động tiến công chiếm lĩnh trận địa của địch, cắt đội hình chốt đường của địch và ngăn cản có hiệu lực quân tiếp viện. Như vậy về cơ bản khi thực hành chiến thuật chúng ta đã kết hợp có hiệu quả vừa chặn chốt vừa phải tổ chức tiến công vận động, bao vây chia cắt địch. Đó là hình thái vừa thủ vừa công, lấy công làm thủ, có kết quả.


Bốn là: trong chiến dịch Nguyễn Huệ, cuộc đọ sức giữa người và vũ khí là một vấn đề sâu sắc có tầm rộng và có ý nghĩa sâu. Về người, chúng ta phải nhìn về số lượng và chất lượng. Quân ta ít nhưng quyết tâm chiến đấu cao, tinh thần anh dũng chiến đấu, quả cảm hy sinh không sợ gian khổ khó khăn, không lùi bước trước kẻ thù, tất cả mang ý chí quyết chiến quyết thắng, đoàn kết son sắt, trung thành và tin tưởng ở sự lãnh đạo của cấp trên. Về cán bộ chỉ huy từ cấp chiến dịch đến cấp cơ sở cho đến từng đại đội trung đội, đều mưu trí, linh hoạt thông minh và sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao trước quân đội, trước Đảng, trước quyền lợi thiêng liêng của Tổ quốc.


Rất nhiều tướng lĩnh chỉ huy, sĩ quan các cấp có công đóng góp to lớn thể hiện tài trí và sự thông minh sáng tạo, kiên trì mẫn cán trong thừa hành nhiệm vụ. Họ đoàn kết hòa đồng, thành một khôi cùng chiến sĩ làm nên một sức mạnh tinh thần cực kỳ to lớn có tác dụng đến thành bại của từng trận đánh, từng giai đoạn chiến đấu của quân đội trước kẻ thù hung dữ và mạnh hơn ta về vũ khí, hỏa lực, về phương tiện kỹ thuật chiến tranh...


Ngoài ra chiến dịch Nguyễn Huệ còn là sự thể hiện tài năng và sự sáng suốt trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và tổ chức thực hành chiến dịch của cấp chiến lược là Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, của cấp chiến dịch là Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Năm là: trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972 chúng ta đã thắng địch cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, do đó sự thất bại của Mỹ - ngụy là tất yếu.

Cuộc đọ sức ác liệt kéo dài 150 ngày đêm trên một vùng chiến trường rộng lớn, trên địa hình phức tạp khó khăn, trong thế so sánh lực lượng không cân bằng, tại sao chúng ta đánh thắng được Mỹ-ngụy?

Những thống kê cơ bản về các chỉ số quân lực, trang bị, vũ khí, phương tiện chiến tranh của đôi bên giữa ta và địch trong giai đoạn đó đã làm cho nhiều nhà phân tích và lý luận quân sự nước ngoài; các chính khách chính trị; các nhà báo, các tướng soái quân đội các nước hết sức kinh ngạc. Họ không hình dung được tại sao Việt cộng có thể liên tục đánh thắng, đè bẹp đội quân ngụy được Mỹ trang bị huấn luyện và trực tiếp chỉ huy, đập tan ý chí xâm lược của một quân đội hùng cường bậc nhất thế giới.


Yếu tố quyết định thành bại của chiến tranh (nói chung) và chiến dịch (nói riêng) là sự kết hợp, đan kết cả ba khâu chiến lược, chiến dịch, chiến thuật thành một khối thống nhất, bền vững để thực hành chỉ đạo chiến tranh và tổ chức tác chiến có hiệu quả từ trên xuống dưới.


Nhìn về cả ba bình diện, giữa ta và địch trong bối cảnh 1972: Với ta tư tưởng chủ đạo tiến công địch để phòng ngự căn cứ, lây chốt chặn phòng ngự làm bàn đạp tiến công. Khi tổ chức, phát động chiến dịch ta cũng nhằm vào mục tiêu tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch, giải phóng khu vực chiến lược, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở nông thôn đồng bằng, phối hợp cùng các chiến trường, các chiến dịch tiến công của quân ta ở Trị Thiên và bắc Tây Nguyên. Quân địch bất ngờ rơi vào thế bị động nhưng chúng cũng lập tức điều chỉnh, triển khai chiến lược đối phó. Như vậy là cuộc đối đầu về hai hình thái chiến dịch, thể hiện hai tư tưởng, hai lý luận về chỉ đạo chiến tranh, đã hình thành, về cơ bản cả hai chiến lược đều lấy tiến công làm chủ đạo. Lấy tiến công lữ đoàn làm phương tiện để áp dụng các thủ đoạn chiến đấu, vì vậy nó nảy sinh lần lượt các loại hình chiến thuật của đôi bên. Ngay khi địch bị mắc sai lầm về hướng phòng thủ, chủ quan sơ suất, địch bị ta tiến công đánh chiếm Lộc Ninh, chúng buộc phải chuyển vào thế tổ chức phòng thủ, chọn "An Lộc làm tuyến đầu chặn sức tiến công của Cộng sản". Nhưng sau khi địch được tăng viện, chỉnh đốn chiến trường với sự có mặt của chiến đoàn 7 và 8, liên đoàn biệt động quân 3, cùng tàn quân của chiến đoàn 52, cho đến khi lữ đoàn dù 1 tham chiến, và chiến đoàn 8 ngụy lên được An Lộc, có trung đoàn thiết giáp đi theo sư đoàn 21 từ miền Tây Nam Bộ, chúng đã tập kích vào mặt trận đường 13 An Lộc - Bình Long, thì bắt đầu có diễn biến, chiến sự tiếp tục giằng co rồi thay đổi. Sau khi ta không tranh thủ được kịp thời cơ, nên địch tăng cường phòng ngự, sử dụng kịp B52, đẩy quân ta vào thế từng bước thử thách lớn. Về phía ta chỉ đạo chiến dịch cũng được cấp chiến lược cho chọn thị xã Bình Long làm khu quyết chiến. Với phương châm đánh vững chắc nhưng phải khẩn trương!


Ở thời điểm này, địch đã buộc được chúng ta phải đối mặt tham chiến trong thị xã Bình Long, điều này theo tôi là sự phát triển ngoài dự tính, tuy vậy nó vẫn là một yếu tố khách quan tất yếu của diễn biến chiến trường. Nên nếu nhìn về một thời gian ngắn, lúc này chúng ta lại rơi vào thế bị động, từ tiến công phải chuyển sang đánh bao vây, lấn chiếm ngoại vi, dùng đến bộ đội đặc biệt tinh nhuệ đánh vào trung tâm thị xã, phối hợp lại các hướng tiến công tiêu diệt quân địch, đánh chiếm thị xã... Thực tế, tình huống đặt ra nhiệm vụ cấp bách là chặn viện, chặn địch đổ bộ đường không ...


Ý đồ chiến lược và thực hành chiến dịch, tổ chức chiến thuật của phía chúng ta đã thể hiện rõ. Ngày 11 tháng 5 ta mở đợt tiến công thị xã An Lộc đã phải trải qua 70 ngày đêm vây hãm địch, giằng co, quyết liệt trong những điều kiện vô cùng gian khổ ác liệt, quân số, trang bị tổn thất nặng nề sau 33 ngày đầu tiến công, mãi tới ngày 30 tháng 7 năm 1972 chúng ta mới kết thúc thắng lợi trên mặt trận này!


Ở mặt trận Bình Long trước đó những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972 chúng ta vẫn bao vây, kìm hãm, gây áp lực và phía Sư đoàn 7 phải kiên cường chốt chặn trên đường 13. Trên một địa bàn nhỏ hẹp dài 2 km, ngang 1 km địch đã tăng cường 5 chiến đoàn cố thủ tương đương hai sư đoàn với quân số trên 8.400 tên. Hỏa lực chi viện của không quân tăng 5 lần. Lúc bấy giờ trên đường 13, Sư đoàn 7 chặn được địch nhưng chưa có trận tiêu diệt lớn quyết định, không đủ sức chặn viện đường không. Trong tình hình đó Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo không tiếp tục tiến công Bình Long mà chuyển sang bao vây, cô lập thị xã đem lực lượng mạnh vận động tiến công ngoài công sự trên đường 13, đồng thời lại chuyển một bộ phận lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long.


Sau đó, mặc dù cuộc tiến công trên mặt trận Bình Long ngàv 13 và 15 tháng 4 của ta bị thất bại, chưa có đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, chính xác, Bộ Tư lệnh chiến dịch lại hạ quyết tâm - ra lệnh tiến công Bình Long một lần nữa.

3 giờ sáng ngày 11 tháng 5 Sư đoàn 9 mở đợt tiến công mới vào Hớn Quản. Quân địch được hỏa lực không quân chi viện, phá hủy nhiều xe tăng của ta khi mở cửa. Ta không nắm địa hình trong thị xã, xác định lệch hướng nên mũi chủ yếu đánh sai mục tiêu và bị tổn thất nặng nề. Do vậy chúng ta không dứt điểm được Bình Long đã làm hạn chế và ảnh hưởng đến bước phát triển của chiến dịch.


Tuy vậy, dù cho diễn biến phức tạp thua thắng trong từng trận đánh, cán cân lực lượng chao đảo, thay đổi ở mỗi thời đoạn của chiến dịch nhưng cuối cùng chúng ta đã thắng địch về cả ba mặt chiến lược, chiến dịch, chiến thuật.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:22:53 pm »

3. Chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, nơi quân ta áp dụng thành công các thủ đoạn chiến đấu linh động, biến hóa và sáng tạo sử dụng có hiệu quả chiến thuật chốt chặn và vận dụng cách đánh, các hình thức tiến công bao vây, chia cắt địch ngoài cơ sở trú quân.

Trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, suốt 150 ngày đêm đánh giặc, đối đầu với một kẻ thù mạnh hơn chúng ta rất nhiều về tiềm lực, quân số, trang bị kỹ thuật chiến tranh, vũ khí, khí tài hiện đại, có mảy bay B52, pháo binh, xe tăng, thiết giáp với số lượng bom đạn sử dụng ào ạt, khốc liệt. Bộ đội chủ lực Miền với các Sư đoàn 5, 7, 9 dựa vào quyết tâm, nhiệt huyết và tinh thần yêu nước vô song đã thông minh mưu trí và sáng tạo sử dụng linh hoạt các hình thức thủ đoạn chiến tranh theo từng qui mô, từng hoàn cảnh cụ thể của chiến trường áp dụng linh động và biến hóa chiến thuật chốt chặn trong phòng ngự, thọc sâu bao vây chia cắt trong vận động tiến công ngoài công sự ...


Khi được giao nhiệm vụ, Sư đoàn 7 thực hành đánh địch trên đường 13. Đã tổ chức chốt đánh ngăn chặn bộ binh, bộ binh cơ giới thuộc các lực lượng dự bị của địch (đặc biệt là cơ giới tăng viện), đồng thời thu hút, kiềm chế ngăn chặn được lực lượng địch lên giải tỏa theo trục đường 13, diệt gọn từng chi đoàn thiết giáp, tiểu đoàn bộ binh với tư tưởng chỉ đạo là chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngáy... Sư đoàn 7 mở màn chiến dịch, Sư 9 làm lực lượng dự bị của chiến dịch, củng cố nhiệm vụ nghi binh thu hút kìm giữ địch, khi có thời cơ cũng sẽ phát triển xuống phía nam đánh địch. Trước khi vào cuộc và sau diễn biến ban đầu chúng ta đã tổ chức hình thức phòng ngự chốt cứng, chặn đứng quân thù, giữ vững trận địa kéo dài 5 tháng trên điểm nóng chốt chặn chiến dịch ở Tàu Ô (Trung đoàn 165 chốt Ngọc Lầu từ 5 tháng 4 đến 15 tháng 5, trung đoàn 209 chốt Tàu Ô từ 15 tháng 5 đến 28 tháng 8 ).


Trong khi kẻ địch tổ chức chỉ đạo tác chiến với phương châm đánh nhanh, giải quyết chiến trường nhanh. Chúng sử dụng lực lượng đông và lớn cũng nảy sinh nhiều sơ hở, do địa bàn rộng, dọc đường 13 chúng phân tán, bị động không có điều kiện tập trung lực lượng để thực hiện phương châm đề ra.


Quân ta có quyết tâm chiến đấu cao, kiên cường bám công sự trận địa, tiến lên tiêu diệt địch rộng khắp phía trước, bên sườn phía sau và có khi cả bên trong trận địa, xây dựng tinh thần đoàn kết trong nguy nan thử thách đã làm nên sức mạnh vô song trong chiến đấu chốt chặn đường 13 (Tàu Ô - Xóm Ruộng).


Trong chiến dịch Nguyễn Huệ chúng ta có mưu lược biết tổ chức tạo thế, cài thế chia cắt địch.

Thực hiện chốt chặn trên đường 13 của Sư đoàn 7 có giá trị và ý nghĩa lớn về nghệ thuật tác chiến trong chiến dịch của quân đội ta. Tạo thế, cài thế là phương thức tối ưu, là nội dung chủ yếu nhằm thực hiện thành công mục đích vừa chốt chặn vừa vận động đánh địch để chớp thời cơ chiếm lây đồn bốt giặc, trục địch ra khỏi khu vực chiến thuật (từ nam Bình Long xuống bắc Chơn Thành) là hành vi cơ bản để giành thế, giữ quyền chủ động đảm bảo cho quá trình phát triển chiến dịch thuận lợi.


Nghệ thuật chỉ đạo tạo thế có hiệu ứng lớn buộc địch rơi vào thế bị bao vây chia cắt, bị phân tán lực lượng để quân ta đủ điều kiện tập trung lực lượng đủ mạnh, có thể đánh thắng địch ở những trận tiến công quyết định.

Khi nhất quán với phương thức tạo thế, cài thế chúng ta đã xác định đúng trận địa chốt để xây dựng thế trận bền vững, hợp lý.

Trong chiến dịch Nguyễn Huệ việc chọn trận địa xây dựng thế trận chốt chặn chiến dịch được thực hiện một cách hoàn chỉnh, khoa học và chính xác.

Có điểm chốt chặn chủ yếu, thứ yếu, bổ trợ và có các trận địa cơ động nhằm mục đích vận động tiến công kể cả bao vây, chia cắt và vu hồi đối phương ngoài công sự phòng ngự của mình.

Việc chọn trận địa chốt chặn trên đường 13 lập tuyến phòng ngự liên hoàn vững chắc dọc theo chiều dài từ biên giới xuống đông bắc Sài Gòn là ta đã cắm được những mũi dao sắc lợi hại vào huyết mạch chiến lược sống còn của địch ở hướng bắc. Nhờ đánh giá đúng tầm quan trọng của nhiệm vụ này, chúng ta đã nghiên cứu khảo sát, chu đáo sát thực chiến trường và phù hợp địa hình từng khu vực chiến thuật.


Khi đã lựa chọn xác định đúng, các đơn vị tham chiến đã tổ chức xây dựng thành công thế trận ngăn chặn, chia cắt địch trên những vị trí liên hoàn thuận lợi.

Thế trận chốt chặn bao gồm tổng thể các trận địa lớn nhỏ và vừa, xây dựng   nên một lũy thép phòng ngự chiến lược trên đường 13 là một sáng tạo của tư duy quân sự, rất khoa học. Có lực lượng Cơ động bổ trợ phía trước, bên sườn và cả sau lưng địch. Sư đoàn 7 lựa chọn đúng vị trí chiến lược của tuyến và điểm chốt chặn, xây dựng khu ngăn chặn (đoạn từ bắc Chơn Thành 4 km đến bắc Tàu Ô 3 km với tổng chiều dài tác chiến là 10 km) lấy Tàu Ô là trung tâm chủ yếu trong khu vực chốt chặn chiến lược.

Tổ chức trận địa và cấu trúc đội hình chốt trên đường 13 là một sáng tạo chiến thuật về cách đánh cũng như về từng thủ đoạn biến hóa, áp dụng cho từng tình huống khác nhau. Đó là một bài học có giá trị về chiến thuật phòng ngự kết hợp tiến công mở.

Nhìn lại quá trình tác chiến tổ chức chốt chặn và vận động tiến công trong chiến dịch Nguyễn Huệ, chúng ta phải chú ý đến tính chất giao thoa uyển chuyển giữa phòng ngự công sự và vận động tiến công vu hồi hai cách đánh, hai chiến thuật này lần đầu tiên trên chiến trường chống Mỹ, ngụy được áp dụng một cách thường xuyên, sâu rộng, rầm rộ. Là một bài học thực tiễn thể nghiệm lý luận quân sự cách mạng của chúng ta, sáng tạo cách đánh giặc, tìm cách đánh thích hợp nhất so với lực lượng tương quan và đặc điểm chiến sự trong từng lúc từng thời kỳ của hàng chuỗi, hàng loạt trận đánh, do ta chủ động cũng có khi do địch tạo thế, tạo tiền đề buộc ta phải đánh, phải dùng cách đánh nào? Chủ yếu cũng phải dựa vào các cụm chốt cơ bản.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:24:06 pm »

Khi cấu trúc đội hình và sử dụng đội hình trong tác chiến ở đường 13 chúng ta áp dụng mô hình tam giác hoặc bằng bậc thang cấp, tổ chức 3 cụm chốt điển hình thông dụng:

- Cụm 1 (bắc ngã ba Xóm Ruộng 800m) có một tiểu đoàn chốt giữ; 2 chốt cơ bản do 2 đại đội giữ; 22 chốt bổ trợ do 1 đại đội và tiểu đoàn bộ giữ.

- Cụm 2 (bắc Tàu Ô 300m) tổ chức như cụm 1; đây là cụm then chốt có độ cao nhất trong khu vực, có thể sử dụng hỏa lực để uy hiếp, bắn chặn địch ở phía sau cụm 1.

- Cụm 3 (bắc và nam cống Ông Tề 500m) tổ chức như cụm 1.

Ngoài ra còn tổ chức cụm bổ trợ ở giữa cụm 1 và cụm 3 để chi viện khi cần ứng cứu. Như vậy tổ chức cụm theo dạng cấu trúc này đã hoàn chỉnh một trận địa liên hoàn phòng ngự, có khả năng co cụm và cũng có khả năng mở ra vận động tiến công khi cần thiết.


Sử dụng lực lượng phù hợp với tiềm năng dung lượng cụm chốt trên trận địa là một yêu cầu chiến thuật quan trọng và cần thiết để phát huy sức mạnh tôi đa của phòng ngự chiến dịch.

Thực hành chốt chặn đề ra yêu cầu cơ bản về sử dụng thế nào cho hợp lý hỏa lực, binh lực phương tiện chiến đấu, vũ khí bổ trợ. Qua thực tế ở đường 13, Sư đoàn 7 đã sử dụng một trung đoàn (+d) để đối đầu với một sư đoàn ngụy được tăng cường xe tăng, thiết giáp và thời gian kéo dài 5 tháng. Đây là một kỳ tích mang dấu ấn anh hùng bất khuất, quyết chiến quyết thắng của bộ đội ta.


Những thủ đoạn khôn khéo và cách đánh mưu trí sử dụng lực lượng hợp lý là những đặc điểm nổi bật cần tổng kết nghiên cứu ở chốt chặn Ngọc Lầu và đặc biệt trên cụm chốt chặn Tàu Ô năm 1972 như:

- Lực lượng bộ binh ở mỗi cụm chốt là một tiểu đoàn hoặc 1 tiểu đoàn thiếu, mỗi trung đoàn có 1 tiểu đoàn dự bị cơ động giữ phía sau.

- Khi ta bị đánh phá bằng pháo binh và không quân mạnh cường độ tiến công của địch tăng cao, chúng thay đổi thủ đoạn tác chiến giải tỏa đường 13, chúng ta đã giảm lực lượng ở các chốt cơ bản, chuyển nhanh sang đánh vận động, sát thương địch, giảm thương vong cho ta. Đó là một bài học tốt.

- Khéo tổ chức đánh lẻ, đánh nhỏ sử dụng linh hoạt đặc công, công binh, trinh sát đánh vào đội hình tiến công chính của địch ...

- Khi bị uy hiếp kiềm chế bằng hỏa lực để tránh sức tiến công mạnh của địch vào căn cứ và trận chốt chặn phòng ngự. Ta đã mau lẹ luồn sâu đánh vào sau lưng địch tập kích vào các vị trí chỉ huy, trận địa pháo, kho xăng dầu đạn dược... tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, kiềm chân địch, phân tán được lực lượng tiến công chủ đạo của chúng.


Vận dụng cách đánh trong chốt chặn chiến dịch là yêu cầu hàng đầu về mục tiêu và phương thức của chiến thuật, là biểu hiện khả năng chỉ đạo nghệ thuật chiến tranh của cán bộ sĩ quan các cấp trực tiếp tham chiến.

Chốt chặn dài ngày với qui mô liên hoàn vững chắc của nhiều trận địa trải trên địa bàn kéo dài 5 đến 10 km lại phải chiến đấu với nhiều đối tượng, quân chủng, binh chủng khác nhau của địch trong điều kiện ác liệt, khó khăn, nên việc vận dụng chiến thuật để đánh thắng và làm tan rã mọi thủ đoạn của địch giành thế chủ động trên chiến trường ở đường 13 là một yêu cầu cấp thiết.


Nội dung tư tưởng chỉ đạo phương châm "chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày" mang nội dung có ý nghĩa là phòng ngự. Nhưng nếu chỉ thụ động phòng ngự thì ta sẽ bị địch uy hiếp bóp nghẹt. Do đó ta chọn cách đánh mang thêm ý nghĩa có nội dung thực sự là "tiến công chiến thuật" vận dụng đánh địch cả phía trước, vùng bọc hai bên sườn và sau lưng chúng. Ta biết tận dụng lợi thế địa hình, công sự, vật cản cộng hỏa lực tạo thành thế đánh, thế giữ vững chắc. Chúng ta khéo kết hợp chặt chẽ hai cách đánh phòng ngự và tiến công, tiến công và vu hồi, bao vây chia cắt làm địch phải phân tán lực lượng tạo điều kiện cho ta giữ vững được trận địa.


Các lực lượng của từng tiểu đoàn, trung đoàn đều đã được sử dụng thích hợp tùy lúc, tùy thời cơ để vừa chốt chặn vừa phục kích, tập kích tiêu hao địch, nên ta có khả năng 1 chống 3, 1 chống được 5 đến 10 lần lực lượng địch vì vậy chúng không thể nào giải tỏa được mặt đường 13.


Nhờ chỉ đạo cách đánh thực hành chiến thuật linh hoạt khoa học, táo bạo bất ngờ kiên cường, mưu trí và dũng cảm mà Sư đoàn 7 anh hùng đã lần lượt đánh tan tác các chiến đoàn, sư đoàn quân ngụy và đập tan sức mạnh vũ khí của Mỹ trên đường 13. Cuối cùng địch phải kéo sư đoàn 25 về đối phó và bỏ hẳn ý định giải; tỏa đường 13 trên đoạn Tàu Ô - Xóm Ruộng.


Tàu Ô - Xóm Ruộng là điểm thử vàng của chiến tranh cách mạng cũng là trận địa nảy sinh đã và sẽ còn được nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quý báu về chiến lược, chiến thuật về tài nghệ chỉ huy của cán bộ quân đội cách mạng chúng ta.

Như vậy khi nghiên cứu về nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật trong tiến công và phòng ngự rút ra những bài học thực tiễn theo tôi cần phải tách thành hai đề tài nghiên cứu, mặc dù "vây ép Bình Long" và "chốt chặn Tàu Ô - Xóm Ruộng" có mối quan hệ hữu cơ và có logic thống nhất xét về mặt hiệu quả chiến tranh và tác động chiến trường.


Nhưng nghiên cứu "vây ép Bình Long" chủ yếu theo trọng tâm chiến thuật tiến công, vây ép; chia cắt, vu hồi. Còn "chốt chặn Tàu Ô" ta sẽ đi sâu nghiên cứu mối quan hệ thống nhất giữa chiến thuật phòng ngự chiến dịch và vận động tiến công chiến thuật, ở đây ta cần đi sâu phân tích làm rõ một vấn đề dễ tranh cãi là "chốt chặn Tàu Ô" là hình thức phòng ngự chiến lược hay là thủ đoạn tác chiến phòng ngự chiến dịch bằng cách sử dụng linh hoạt các phương thức tác chiến chiến thuật khác nhau. Hay chúng ta phải xác định đó là hình thức phòng ngự chiến dịch kết hợp vận động tiến công?


Có xác định được nội dung ý nghĩa chính xác thì chúng ta mới có điều kiện tổng hợp các sự kiện-diễn biến chiến trường suốt qua 150 ngày đêm, từ đó mới đúc kết được kinh nghiệm và xây dựng bổ sung và lý luận khoa học quân sự, cách mạng Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2026, 10:24:48 pm »

III - Một số đề nghị

Ở mặt trận Bình Long những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972, chúng ta vẫn đang bao vây, kìm hãm gây sức ép và áp lực đối với địch. Khi sư đoàn 7 đang phải kiên cường chốt chặn trên đường 13 đối phó với 5 chiến đoàn địch được tăng cường cố thủ (tương đương 2 sư đoàn) với quân số trên 8.000 tên. Hỏa lực không quân địch tăng vọt chi viện gấp 5 lần, trên một địa bàn nhỏ hẹp (dài 2 km, chiều ngang 1 km). Tuy Sư đoàn 7 chặn được địch trên bộ nhưng không đủ sức chặn viện đường không, chưa có trận tiêu diệt địch lớn.


Trong khi đó Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo không tiếp tục tiến công Bình Long mà chuyển sang bao vây để nhằm cô lập thị xã, đem lực lượng mạnh vận động tiến công ngoài công sự trên đường 13; đồng thời chuyển một bộ phận lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long (Sư đoàn 5).


Điều này tôi mong các đồng chí cùng tham gia nghiên cứu khách quan và thẳng thắn đánh giá đúng, sai để rút kinh nghiệm và tìm ra bài học cho việc tổ chức chỉ đạo chiến dịch và thực hành chiến dịch, đồng thời dùng phương pháp khoa học lịch sử để soi sáng chỉ đạo chiến dịch của cấp chiến lược như thế nào trong những hoàn cảnh như thế.


Ngoài ra có một bài học nữa cần phải xem xét thêm đó là:

Việc Bộ Tư lệnh chiến dịch đánh giá, cân nhắc, nhận định không rõ ràng nguyên nhân thất bại trong cuộc tiến công ngày 13 và ngày 15 tháng 4 năm 1972 của quân ta trên mặt trận Bình Long, do đó lại hạ quyết tâm chiến lược, ra lệnh tiến công Bình Long một lần nữa. Vì vậy ngày 11 tháng 5 năm 1972 do sai lầm đó mà quân ta lại bị tổn hại nặng nề về người và vũ khí. Chúng ta vẫn không dứt điểm được Bình Long làm ảnh hưởng và hạn chế đến chiến dịch.


Đây không phải lỗi lầm và trách nhiệm của cấp sư đoàn hay của các trung đoàn mà là sai lầm của cấp chỉ đạo chiến dịch, tổ chức tiến công Bình Long lần thứ 2.

Thưa các đồng chí!

Trong Hội thảo tôi mong muốn chúng ta sẽ thu được những kết quả cụ thể bằng cách thẳng thắn khách quan nhìn nhận đánh giá mọi sự kiện chiến tranh trong chiến dịch Bình Long, để khi tổng kết rút kinh nghiệm lần này sẽ đóng góp thiết thực vào kho tàng lý luận quân sự cách mạng tạo điều kiện xây dựng hệ thống tài liệu giáo khoa quân sự bổ ích cho các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ nối tiếp chúng ta.

L.N.P
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM