Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 05:31:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhìn từ đồng đội và người thân  (Đọc 3257 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:12:54 pm »

THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ
NHÂN CÁCH MỘT CON NGƯỜI

Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ


Tháng 10 năm 1969, Trung đoàn 88 từ đội hình Sư đoàn bộ binh 9 tăng cường cho Quân khu 8. Đoàn cán bộ chúng tôi đi về chiến trường trước để nghiên cứu các mục tiêu quân sự ở các tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong Mỹ Tho còn đại bộ phận đóng quân ở Tà Lu, xóm phố Tân Lèo (nay là Vĩnh Hưng, tỉnh Long An) để chuẩn bị đánh chi khu Long Khốt, hướng dẫn đoàn chúng tôi về đồng bằng là đồng chí Ba Mỳ - Phó Tư lệnh Quân khu. Tháng 11 năm 1969, đoàn chúng tôi tới kinh Ba Gò Tháp thuộc huyện Mỹ An - Kiến Phong, ở tại bờ bao Trà Kính, ở miền Đông thì quen đánh địch xong là về cứ tha hồ phơi phóng, về đồng bằng chưa biết như thế nào, chỉ được phổ biến là hạn chế tiếp xúc với dân, vì nói tiếng Bắc là kẻ địch sẽ tập trung đánh phá và truy quét sẽ bị thiệt hại lớn khi chưa chiến đấu thực sự.


Qua bốn đêm hành quân, quần áo lấm lem, tôi mang giặt và phơi lên các cây trâm bầu quanh bờ ao. Đang phơi thì có cán bộ to cao khoảng trên 30 tuổi kéo xuống và nói: Tôi phơi quần áo có gió sẽ khô, còn giờ này cấm phơi quần áo, nấu nướng không để có khói. Rồi anh tự giới thiệu là Sáu Phú cán bộ tác chiến của quân khu, nay về quân khu họp. Anh hỏi tôi là cán bộ gì ở đây? tôi trả lời là cán bộ tiểu đoàn; anh hỏi tiếp: Là cán bộ tiểu đoàn đã được phổ biến quy định ở chiến trường đồng bằng chưa? tôi nói có phổ biến nghe để biết, còn thực tế chưa xảy ra, mà ở đây có gì đâu. Anh Sáu Phú nói: Ừ cứ chờ đó, sẽ biết có gì.


Đến 10 giờ ngày 4 tháng 11 năm 1969, khu kinh Ba Gò Tháp trên bầu trời xuất hiện một chiếc L19 bay nhiều vòng rất thấp, tôi còn nhìn kỹ cả tên phi công ngồi trong buồng lái. Đến 12 giờ trưa anh Sáu Phú gọi anh Hai Nhu - Huyện đội phó Mỹ An và có tôi đang ở đó. Anh Sáu Phú nói với anh Hai Nhu tối nay cậu đưa đoàn cán bộ này về kênh Chuối ngay, để tụi nó ở đây ngày mai thương vong hết có gì liên lạc với tôi ở kênh Bùi Đứng nhà Sáu Kỳ. Đến tối, anh Hai Nhu đưa tôi và đoàn cán bộ Trung đoàn 88 về kênh Chuối. Tôi hỏi kênh Bùi Đứng nhà ông Sáu Kỳ ở đâu vậy?, anh Hai Nhu nói kênh Bùi Đứng là điểm liên lạc báo cáo cho anh Sáu Kỳ là cơ sở của ta có tiếng nói như mấy ông, ông ấy vào đây từ năm 1954 ở gò Bắc Ky, toàn dân Công giáo.


Đến 5 giờ sáng ngày 5 tháng 11 năm 1969, anh Hai Nhu lại, tất cả dậy ngay, xuống xuồng đi theo tôi trước khi trời sáng, theo lệnh của anh Sáu Phú. Tôi hỏi đi đâu?, anh Hai Nhu nói về kênh Kháng Chiến gần nhà tôi. Đến 9 giờ tôi nghe có tiếng trực thăng và pháo bắn vào khu vực chúng tôi mới ở tối hôm qua. Tiếp đó là trực thăng đổ xuống kênh Chuối và đánh vào kênh Ba Gò Tháp, không thấy gì chúng lại đi dọc kênh Ba Gò Tháp đụng du kích, hai bên nổ súng. Anh Hai Nhu bảo tôi dìm xuồng bỏ luôn, tất cả lội kênh theo tôi. Đến 13 giờ quân địch rút, chúng tôi thoát nạn.


Đến 18 giờ thì anh Sáu Phú xuất hiện, anh Hai Nhu gọi tôi đến và nói: cậu thấy đồng bằng chưa? Tôi im lặng không dám trả lời, anh nói luôn tại sao nó đổ quân xuống đấy? Vì nó biết ta đang chuyển quân từ Campuchia xuống, điểm dừng chân là ở kinh Ba Gò Tháp. Các cậu xuống xuồng lênh đênh trên kênh không ngụy trang nên L19 quan sát phát hiện là nó đổ quân đánh phá ngay. Anh Sáu Phú nói: từ nay trở đi còn ở Mỹ An nhất cử nhất động phải theo chỉ đạo của anh Nhu. Sau đó ông gọi riêng tôi ra nói quần áo các cậu lúc nào cũng ở bọc nilon, có động di chuyển nhanh mới được, không được mua hàng trên các ghe chở qua, mua gì cứ nói với Hai Nhu, khi nấu cơm thật sớm và thật tối, buổi trưa thì nghiêm cấm.


Bằng hiểu biết tường tận tình hình ở chiến trường đồng bằng và bằng cách lấy thực tiễn để giáo dục, cảnh tỉnh cho đoàn cán bộ của Trung đoàn 88 mới từ chiến trường rừng núi xuống. Trong đó tôi là người phụ trách, đã cho tôi một bài học rất sâu sắc và rất cảm phục đức tính sâu sát, tỉ mỉ, thương yêu anh em của anh Sáu Phú. Từ đó tôi cũng ngầm quan sát, học tập ở anh nhiều tác phong chỉ huy quân sự rất bản lĩnh mà cũng đầy nhân ái với cấp dưới.


Tháng 3 năm 1970, ở Campuchia, Lon No chính Xihanúc, lúc đó tôi gặp anh Sáu Phú cùng đồng chí Tăng Thiên Kim (Tư Chương) - Tham trưởng quân khu đến thông qua kế hoạch tác chiến của trung đoàn tại kinh Phèn thuộc địa bàn chi khu Kiến Văn (Cao Lãnh ngày nay). Gặp anh tôi nhận ra ngay, anh cười bắt tay tôi và hỏi làm gì, tôi nói lại vẫn như cũ, và anh hỏi trận này anh ở khu vực nào, tôi nói đánh chi khu Kiến Văn trên quốc lộ 30 và chặn quân ngụy Sài Gòn không cho tiến Campuchia. Anh nói với tôi mục đích chính là vậy, nhưng đánh chi khu để dụ sư đoàn 7 ngụy đến ứng cứu để ta tiêu diệt chủ lực địch tại khu vực Xẻo Quýt giữ chân chủ lực địch ở đây càng lâu càng tốt, tôi hiểu thêm được ý định của trên.


Tháng 6 năm 1970, tôi với cương vị là Tiểu đoàn trưởng, chiến trường lúc này vô cùng ác liệt trung đoàn rút bớt Ban chỉ huy về Campuchia thành lập trung đoàn mới, nòng cốt còn lại là Tiểu đoàn 9, còn Tiểu đoàn 8 tăng cường cho Kiến Phong; Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 10 phân tán hoạt động trên địa bàn Mỹ Tho.


Tháng 1 năm 1971, toàn bộ trung đoàn từ Campuchia xuống lại đồng bằng Nam Bộ, đại bộ phận cán bộ được về lại trung đoàn; lực lượng quân khu có 3 trung đoàn chủ lực: Trung đoàn bộ binh 1, Trung đoàn bộ binh 320, Trung đoàn bộ binh 88 và nhiều tiểu đoàn trực thuộc như pháo binh, đặc công.


Hội nghị quân chính tổ chức tại xã Long Tiên; đồng chí Lê Quốc Sản (Tám Phương) - Tư lệnh Quân khu 8, giới thiệu anh Sáu Phú có bí danh mới là anh Chín Vàng - Tham mưu trưởng tiền phương quân khu. Khi hội nghị giải lao, tôi tìm gặp anh để nói chuyện, anh nói bây giờ đồng chí là tiểu đoàn trưởng bộ binh, cho nên tổ chức đánh là khác so với miền Đông, không có thời gian tâm sự, anh hẹn tối đến chỗ anh trao đổi thêm.


Đúng hẹn, tôi đến gặp anh tại ấp 3 Cái Sơn, anh phổ biến kinh nghiệm ở đồng bằng kinh rạch nhiều thế này cơ động đều bằng xuồng, nên đóng quân phải phân tán, khi có nhiệm vụ thì tập trung lại, phải quan hệ chặt chẽ với du kích, chỉ có vậy mới đỡ thiệt hại.


Cách đánh dùng kinh nghiệm thực tế ở chiến trường nhiều hơn dùng sách vở... Những lời dặn của anh, tôi mang theo trong lòng suốt 5 năm giữ vị trí tiểu đoàn trưởng và tất cả các trận đánh lớn của quân khu tổ chức trên các địa bàn mà tôi tham gia lúc nào cũng có mặt anh ở tại Sở chỉ huy của trung đoàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:14:26 pm »

Bộ Tư lệnh Quân khu 8 trong giai đoạn này không tổ chức sở chỉ huy cố định mà phân tán theo các hướng chiến dịch, trọng điểm là nam - bắc lộ 4 từ đông huyện Cái Bè và toàn bộ huyện Cai Lậy, tây thành phố Mỹ Tho giao cho anh phụ trách; là người chỉ huy cao nhất về quân sự ở mặt trận này nhiệm vụ là tiêu diệt nhiều sinh lực dịch mở rộng vùng giải phóng là chủ yếu, diệt sinh lực địch phải là chủ lực...


Anh quyết định tổ chức vây đồn diệt viện, chọn điểm là chi khu Vĩnh Kim, diệt viện chọn đông - tây lộ Đông Hòa từ quốc lộ 4 và Bàng Long, lộ 28 vào Tiêu diệt chi khu Vĩnh Kim (có tên Sầm Giang) vì nằm sâu cách quốc lộ 4 từ 3 đến 4 km, cách sông Tiền 500 đến 800 m, chỉ có đánh chi khu này thì địch buộc phải cơ động lực lượng chủ lực giải tỏa, nếu địch mất chi khu Vĩnh Kim thì vùng giải phóng của ta lớn, nối liền Cái Bè sẽ bao vây uy hiếp trực tiếp thành phố Mỹ Tho từ hướng tây mà trực tiếp là căn cứ Đồng Tâm đại bản doanh liên hợp quân sự của Mỹ, ngụy, nòng cốt là sư đoàn 7 ngụy.


Ta đánh Vĩnh Kim là yết hầu địch phải can thiệp ngay sẽ có B52 rải thảm, khi đó nhân dân sẽ thiệt hại lớn, nhận định như vậy, còn diễn biến sẽ có thay đổi. Ngoài không quân, bộ binh địch sẽ chi viện 2 hướng. Hướng chủ yếu vẫn là quốc lộ 4 tiện đường cơ động, đường hành quân của chúng là đông - tây lộ Đông Hòa, lực lượng phải từ 1 trung đoàn trở lên. Cánh quân thứ 2 chi viện giải tỏa cho Vĩnh Kim sẽ đổ quân từ Bàng Long, lộ 28 đánh vào, quân địch biết ta đánh Vĩnh Kim là lực lượng lớn, nếu giải tỏa phải có lực lượng đông, khơi ngòi đánh Vĩnh Kim giao cho tiểu đoàn của tôi vây lấn, còn đánh trong trung tâm chi khu giao cho Tiểu đoàn đặc công 269 của quân khu.


Sau khi nhận định tình hình và bố trí lực lượng Trung đoàn bộ binh 1 (thiếu) và Trung đoàn bộ binh 88 (thiếu) đánh địch chi viện từ quốc lộ 4 theo lộ Đông Hòa vào giải cứu, còn phía nam từ Bàng Long vào giao cho Tiểu đoàn 514 của tỉnh. Đúng 2 giờ sáng ngày 8 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn đặc công 269 mở đầu và tiểu đoàn của tôi tiến hành vây lấn sau 2 ngày, quả nhiên địch điều động lực lượng giải cứu như nhận định của anh Sáu Phú và B52 cũng rải thảm xuống Bàng Long nhưng dân ở ngoai đồng nên không thiệt hại. Ta đã đánh thiệt hại lực lượng cơ động của sư đoàn 7 ngụy vào ứng cứu là trung đoàn 10 và trung đoàn 12, ta tiếp tục bao vây dụ địch, cách đánh của ta làm cho địch bị động đối phó lực lượng ta hoàn thành tốt nhiệm vụ vừa diệt được nhiều sinh lực địch, vừa gỡ nhiều đồn bót. Từ tháng 7 năm 1973 mặt trận nam - bắc lộ 4 địa bàn Cai Lậy ta gần như làm chủ, có vùng giải phóng rộng nối liền từ đông huyện Cái Bè đến sông Bảo Định - tây thành phố Mỹ Tho. Địch đã điều động lực lượng là sư đoàn 9 ngụy và nhiều tiểu đoàn bảo an từ Sa Đéc lên tăng cường cho Mỹ Tho, chủ lực địch có trung đoàn 14 của sư đoàn 9 ngụy và biệt động quân từ biên giới; Chương Thiện, vùng 4 chiến thuật đưa về Đồng Tâm. Tháng 1 năm 1974, ta nhận được tin địch sẽ đánh vào khu vực này để giảm áp lực cho tuyến đường huyết mạch là quốc lộ 4.


Nhận định của anh Sáu Phú ở mặt trận này quốc lộ 4 ta gần như làm chủ, đây là đường huyết mạch từ vùng 4 chiến thuật lên Tiền Giang về Sài Gòn, nên quân địch phải giành lại thế chủ động. Quân địch muốn giành thế chủ động, đẩy lực lựợng ta ra khỏi khu vực này, không thể đổ quân từ quốc lộ 4 đánh vào, vì đã nhiều lần đánh vào đều bị lự lượng ta đánh thiệt hại nặng phải tháo chạy. Sáu Phú phán đoán địch sẽ đổ quân trên lộ 28 và từ đó qua Bà Dừa vào xẻo Lá, Đìa Đưng, qua cánh đồng Sáu Não vào Long Tiên, Long Khánh ra quốc lộ 4. Quân địch biết vùng này là vùng 20 tháng 7 căn cứ của ta, sư đoàn 7 đã nếm mùi thất bại, nay sư đoàn 9 ngụy ở Chương Thiện mới lên. Chỉ huy địch sẽ sử dụng lực lượng này vào khu vực trên và anh quyết định điều Tiểu đoàn 10A do anh Ba Tôn chỉ huy (sau này là Tham mưu phó Quân khu 7), còn toàn bộ Trung đoàn 88 tăng cường thêm lực lượng của địa phương tham gia trận phục kích. Quy mô sử dụng lực lượng của địch đúng như nhận định của anh. Ngày 12 tháng 2 năm 1974, quân địch hành quân để giải tỏa quốc lộ 4 đang bị ta uy hiếp ngày và đêm, chính cánh đồng Sáu Não, Tiểu đoàn 10A của Trung đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn bộ binh 88 cùng lực lượng vũ trang huyện Cai Lậy đã chôn vùi gần hết trung đoàn 14 sư đoàn 9 ngụy chỉ còn một số tên sống sót, còn tên trung đoàn trưởng phải đóng giả làm dân, chạy ra được Cai Lậy.


Trận đánh tiêu diệt trung đoàn 14 của sư đoàn 9 ngụy từ miền Tây lên ở cánh đồng Sáu Não - Long Tiên và hoạt động trên quốc lộ 4, tên tuổi của anh lan tỏa làm cho kẻ địch khiếp sợ; nắm thời cơ này quân khu chỉ đạo cho cơ quan địch vận in rất nhiều truyền đơn ký tên của anh, rải khắp nơi làm cho lính bảo an rất sợ, nhiều đồn tự tan rã và bỏ ngũ.


Đối với Thiếu tướng Trần Minh Phú, tôi rất trân trọng anh về tài chỉ huy quân sự đánh giặc. Từ kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường Khu 8, anh đã nâng lên vận dụng rất sáng tạo, vừa có bài bản khoa học nhưng cũng rất bản lĩnh và tính quyết đoán cao của anh ở chiến trường đã đem đến cho đơn vị nhiều chiến công rực rỡ. Một người chỉ huy quân sự có bản lĩnh vững vàng và ý chí rất cao nhưng anh luôn dành tấm lòng ưu ái với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn bộ binh 88. Trong đó, đối với tôi đã được anh trực tiếp chỉ huy và trở thành những kỷ niệm không bao giờ phai mờ, suốt cả thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và lật cho ngụy nhào. Anh Sáu Phú là một cán bộ chỉ huy giàu tình cảm, anh xuống từng đại đội để phổ biến kinh nghiệm chiến đấu, đến từng trạm xá để thăm thương binh; đối với liệt sĩ, anh căn dặn: "Ghi tên tuổi bỏ trong lọ Pinicilin an táng cùng thi hài anh em, ở đồng nước này dễ mục lắm, để sau này hòa bình người thân dễ tìm phần mộ. Tôi có thời kỳ ra Bắc tập kết có đến thăm một số nghĩa trang còn nhiều liệt sĩ vô danh lắm".


Đối với cán bộ trẻ như chúng tôi lúc bấy giờ rất mến phục anh Sáu Phú, thích được gần anh để anh truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu. Chúng tôi tự nghĩ đây là trường học mà anh là thầy, mà hiện nay trưởng thành là một cán bộ tham mưu cấp chiến dịch, tôi tiếp tục nghiên cứu các chiến lệ chiến trên chiến trường Nam Bộ, đặc biệt là Quân khu 8 thấy rõ các kiến thức quân sự thời chống Mỹ là vô cùng phong phú, nó đã tạo nên thành tích chiến đấu của các đơn vị lực lượng vũ trang Quân khu 8. Trong đó có phần đóng góp công lao rất lớn của anh Sáu Phú.


Mỗi khi nhớ về Thiếu tướng Trần Minh Phú trong tâm trí tôi lại hiện lên một người chỉ huy mẫu mực, tình nghĩa thủy chung. Nay anh Sáu Phú đã đi xa về cõi vĩnh hằng trong lòng đất mẹ, những chiến công và cuộc đời chiến đấu của anh mãi mãi được nhân dân và đồng đội xếp vào hàng những người con ưu tú của quê hương "Đồng khởi" Bến Tre anh hùng.


TP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2008
Trần Ngọc Thổ
(Tám Thổ)
Nguyên Tham mưu trưởng Quân khu 7
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:16:09 pm »

NHỚ ANH SÁU PHÚ
MỘT TÀI NĂNG QUÂN SỰ, MỘT TẤM LÒNG

Thiếu tướng Nguyễn Đồng Thoại


Năm 2003, được tin anh vĩnh viễn ra đi, tôi ở xa không trực tiếp về tiễn đưa anh được, mãi hai tháng sau mới tới thắp được nén nhang vĩnh biệt. Nhìn hình anh trên ngôi mộ xây cạnh vườn nhà, tôi vẫn cứ bàng hoàng thấy như anh vẫn còn sống nói chuyện nước, chuyện nhà, chuyện "tếu táo" giữa đời thường.


Tôi biết và quen anh hơi muộn, mãi mùa thu 1971 mới gặp nhau lần đầu, rồi cùng chiến đấu bên nhau trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972, trên chiến trường Khu 8, Mỹ Tho - Đồng Tháp và sau đó trong những ngày chiến đấu ở Tà Sanh trên chiến trường Campuchia, làm cho tôi càng yêu mến, tôn trọng đối với anh. Cùng với những kỷ niệm về tình bạn chiến đấu của hai người sinh ra trên hai miền Bắc và Nam của Tổ quốc, vẫn sâu sắc, nguyên vẹn.


Tôi không có ý định viết lại về cuộc đời anh Sáu Phú vì điều đó là không thể. Tôi cũng không có ý định đề cao anh quá đáng, vì cũng như bạn bè chiến đấu cùng thời, anh có thành tích chiến đấu rất đáng trân trọng, song vì là một con người, anh cũng có ưu, có khuyết nhược điểm như mọi người.


Song, nói gì thì nói, thời đánh Mỹ suốt từ trận Ấp Bắc, chiến công vang dội cả nước, cho đến khi tiến vào giải phóng thành phố Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm, góp vào toàn thắng của cả dân tộc, anh luôn bám chặt chiến trường, cùng đồng bào đồng chí anh hùng của Khu 8 nói chung và Mỹ Tho, Bến Tre, Đồng Tháp nói riêng vượt qua muôn vàn gian lao thử thách và hy sinh cực lớn, lập nên chiến công hiển hách. Và, trong đội ngũ đó, anh đã nổi lên như một nòng cốt, một người chỉ huy giỏi, một thủ lĩnh kiên cường, được bạn bè, đồng chí tin tưởng, nhân dân thương yêu, kẻ thù khiếp sợ. Anh xứng đáng được ghi tên vào lịch sử của chiến trường Khu 8 quê hương yêu dấu của anh và của cả miền Nam.


Từ năm 1990, đến khi anh vĩnh viễn ra đi mỗi lần về Quân khu 9 công tác, gặp anh lúc ở cơ quan lúc ở nhà riêng gần cầu Bà Lâm, huyện Cái Bè - Mỹ Tho, tôi đều khuyên anh nên viết hồi ký chiến đấu song anh đều "ừ", cười trừ, rồi "đánh trống lảng". Biết tâm lý của anh rất ngại mọi người, nhất là các bạn bè cùng trang lứa nghĩ là làm vậy để "đề cao cá nhân" có lúc tôi đã hơi nặng lời phê phán anh: "Thiếu trách nhiệm". Nói thế, song anh vẫn chẳng giận tôi và chỉ cười.


Tôi cãi lý với anh: Chiến thắng là của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, không phải chỉ là của một cá nhân, dù cho là ai, song đóng góp của mỗi người, nhất là những con người điển hình, lại là dẫn chứng sinh động cho cái chung đó. Miễn là mình viết để làm sao con cháu mình qua chuyện riêng của mình mà hiểu cho hết giá trị của chiến thắng đó biết rõ tình hình chung và biết được cả công lao của cả một thế hệ bạn bè, đồng chí cùng mình "lập nghiệp lớn". Có ai cấm anh qua kể chuyện đời mình để viết về những đóng góp của thế hệ trước của anh như các anh Tám Phương (Lê Quốc Sản), Năm Thanh (Dương Cự Tẩm), Bảy Sĩ (Nguyễn Văn Sĩ), Ba Mì, Tư Chương (Tăng Thiên Kim) v.v... và các bạn bè đồng trang lứa với anh, như các anh Mười Thi, Tám Tàu, Bảy Trực, Ba Đào, Mười Phục, Tám Vị, Hai Điệp, Tư Tươi, Ba Cang, Năm Nhơn, Năm Sương, Ba Phong, Tư Đấu, Xích Điểu; các cấp dưới Sáu Lưỡng các chị Tám Nghề, Thủy Tiên, Năm Tâm v.v... Còn nữa, cũng có thể qua anh, các thế hệ sau biết còn có cả loạt con em miền Bắc đã cùng sống chết với đồng bào Mỹ Tho như các anh Ba Ty, Trần Long, Tám Nghiệp, Tám Tường, Năm Phán, Tám Thổ, Tư Vinh v.v... Có người đã vĩnh viễn nằm lại như anh Ba Ty người anh hùng của Điện Biên Phủ. Ở Khu 8 này ai có điều kiện viết rõ hơn anh?


Và còn dân nữa chứ! Biết bao nhiêu ở cơ sở, bao nhiêu gương anh hùng cần được nêu lên. Ông cha ta dạy con cháu trong học hành phải tôn sư trọng đạo "không thầy đố mày làm nên". Đối với một người cán bộ quân đội cách mạng, quân đội nhân dân như ta mà "không có dân thì đố mày làm nên chiến thắng". Riêng với anh, không có dân đùm bọc che chở "cái gáo" cũng chẳng còn. Bị tôi cãi lý, dồn dập, anh cười lớn, giơ hai tay lên nói "xin chịu thua" và "sẽ làm". Thế rồi chần chừ mãi, cuối cùng anh ra đi không để lại một dòng nào cho con cháu và đời sau, thật vô cùng đáng tiếc.


Nay được thư ngỏ của Ban Biên tập, cơ quan đại diện Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Cần Thơ yêu cầu viết bài góp vào tập sách viết về anh. Với khả năng và hoàn cảnh của mình, tôi chỉ dám kể lai một số kỷ niệm sâu sắc trong thời gian ngắn ở gần nhau, từ đó đã nảy sinh tình bạn của chúng tôi kéo dài mấy chục năm sau. Qua đó, tôi có thể thêm một vài nét minh họa về anh, về một số khía cạnh của anh mà tôi cảm nhận được.


Vào mùa thu 1971, trên chiến trường miền Nam ta đã giành thắng lợi cực kỳ to lớn, bước đầu đánh một đòn quyết định vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ: Các thắng lợi đánh tan tác các cuộc hành quân lớn của địch ở Đường 9, Nam Lào, ở Đắc Tô - Tân Cảnh ở Tây Nguyên và trực tiếp hơn là thắng lợi đập tan cuộc hành quân lớn của quân đoàn 3 ngụy đánh vào Xuông Chúp - Đầm Be - Sơ-Lông thuộc tỉnh Kông Pông Chàm (trong đó, Đỗ Cao Trí - Tư lệnh quân đoàn 3 ngụy tử nạn) đã làm nức lòng toàn quân và dân ta trên khắp miền Nam và cả nước.


Cả Đông Dương đã trở thành một chiến trường. Căn cứ hậu phương chiến lược được mở rộng. Bốn tỉnh Đông Bắc Campuchia (Rattara Kiri, Mondul Kiri, Stưng Treng và Kratie) hoàn toàn giải phóng, ở các tỉnh khác trên toàn quốc Campuchia, vùng nông thôn rộng lớn bao la, hoàn toàn do ta và bạn làm chủ.


Hậu phương của Quân khu 8 dựa hẳn vào vùng nông thôn của hai tỉnh Xwairiêng và Prây Veng. Tuy địch cố ngăn chặn ta trên đoạn Mộc Bài - Xwairiêng thuộc quốc lộ 1 Đông Dương, song tác hại không đáng kể. Việc chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc cho chiến trường Nam Bộ nói chung và Khu 8 nói riêng, chưa bao giờ thuận lợi như vậy.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:17:05 pm »

Tuy tình hình cụ thể ở đồng bằng Nam Bộ lại hoàn toàn khác hẳn. Sau thất bại Tết Mậu Thân 1968, địch đã tập trung mọi nỗ lực cao nhất, dùng lực lượng, phương tiện tổng hợp và phương thức tiến hành cũng rất tổng hợp để lấn chiếm, bình định vùng đồng bằng Nam Bộ, trong đó các tỉnh Long An, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre là những trọng điểm ác liệt nhất. Chúng đã gây cho nhân dân ta những tổn thất vô cùng to lớn.


Về phía ta, do chỉ đạo đối phó chưa thích hợp và kịp thời, nên lực lượng cách mạng cũng bị tổn thất, vùng giải phóng khá rộng, cuối năm 1967 ở đồng bằng đã bị líp lại, chúng bắt lính, dồn dân, kìm kẹp dân gay gắt. Chỉ tính riêng địch cắm trên đất Mỹ Tho (chưa tính Gò Công) đã là 664 đồn bót, Bến Tre khoảng trên 1.300. Tuy nhiên các lực lượng quân dân chính - đảng của các tỉnh và Khu (trừ Gò Công) đã bám trụ kiên cường. Lực lượng giữa ta và địch bố trí xen kẽ, "cài răng lược đến tận đầu giường". Xóm làng xơ xác, tan hoang, đến đâu cũng chỉ gặp đông nhất là đàn bà góa chồng. Chỉ riêng một con kênh nhỏ Bà Trần, huyện Cai Lậy có khoảng hơn ba chục "nóc gia" đã có 64 đàn bà trẻ góa chồng. Có cô mới hai mươi tuổi đã góa "ba đời chồng". Phương châm "dựa vào dân" được một số anh em nói cà rỡn là "Dựa hẳn vào đàn bà góa", mới nghe "tưởng như đùa" nhưng nghĩ sâu xa thì thực là đau lòng xót dạ.


Tình hình đó được khái quát trong một câu phát biểu của chị Tám Nghề - nguyên Chính trị viên huyện Cai Lậy thời đó, trong hội nghị dân quân Khu 8, sau khi được nghe thông báo tỷ mỷ về thắng lợi "Đường 9 - Nam Lào" như sau: "Nhìn về toàn quốc thì phát nôn, nhìn về nông thôn mà phát ớn" (nôn đây là nôn nóng).


Chị Tám Nghề vốn là một cán bộ chỉ huy kiên cường, dũng cảm, đã bám trụ ở chiến trường Cai Lậy suốt từ thời chiến thắng Ấp Bắc nên nắm rất chắc tình hình. Phát biểu của chị đã phản ánh đúng thực trạng chiến trường đầu năm 1971.

Trong hoàn cảnh đó, suốt từ sau Tết Mậu Thân, anh Sáu Phú là một trong số những người không rời chiến trường trọng điểm, bám trụ, đánh trả địch, giữ dân giữ đất, giữ phong trào và cho tới hè 1971, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trên cơ sở những thắng lợi của năm 1971, Trung ương Đảng ta ra quyết định mở cuộc tấn công chiến lược năm 1972, nhằm tiêu diệt lớn quân ngụy, giải phóng một số vùng trọng điểm ở Trị Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, đồng thời mở các chiến dịch tấn công tổng hợp lớn ở đồng bằng từ Trị Thiên, Khu 5 đến Nam Bộ, nhằm đập tan chiến lươc bình định nông thôn của địch, kết hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam "thực hiện vế đầu bài thơ chúc Tết của Bác trước lúc ra đi: "đánh cho Mỹ cút". Thực hiện nhiệm vụ đc ở Nam Bộ, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở hai hướng tấn công chiến lược:

- Ở miền Đông Nam Bộ là đòn tấn công bằng lực lượng chủ lực Miền nhằm tiêu diệt lớn chủ lực địch, giải phóng Lộc Ninh - An Lộc (Hớn Quản).

- Ở đồng bằng Nam Bộ mở một số chiến dịch tấn công tổng hợp đánh phá bình định, mở ra vùng giải phóng lớn ở đồng bằng. Đây được coi là nhiệm vụ trọng điểm, hướng trọng điểm là ở Quân khu 8 tập trung ở các tỉnh Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Tường, Kiến Phong (nay là tỉnh Đồng Tháp).

- Chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc "Nguyễn Huệ".

- Bộ Chỉ huy Miền lập 2 Sở chỉ huy tiền phương Một Sở chỉ huy tiền phương ở hướng Lộc Ninh Bình Long để chỉ huy khối chủ lực do anh Tư Chi (Trần Văn Trà) - Phó Tư lệnh Quân giải phóng Tư lệnh. Sở chỉ huy tiền phương ở hướng Khu 8 do đồng chí Hoàng Văn Thái - Phó Bí thư Trung ương Cục - Tư lệnh Quân giải phóng đích thân chỉ đạo cơ quan Sở chỉ huy tiền phương Miền xuống đứng cạnh Sở chỉ huy cơ bản của Quân khu 8.


Quân khu 8 cũng tổ chức Sở chỉ huy tiền phương xuống tại chiến trường do Tư lệnh quân khu trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy. Anh Sáu Phú - Tham mưu Pho quân khu được chỉ định làm Tham mưu trưởng Sở chỉ huy tiền phương. Ngoài ra anh Bảy Trực và tôi là hai phái viên của Miền đi theo Sở chỉ huy tiền phương quân khu sau một thời gian ngắn được chỉ định làm Tham mưu phó (tăng cường). Riêng tôi có nhiệm vụ khi về phải chắp bút chỉnh văn bản tổng kết chiến dịch, nên cần phải bám chặt Tư lệnh và Tham mưu trưởng Sở chỉ huy tiền phương để nắm mọi tư liệu về ý định, quyết tâm kế hoạch và các tình huống chỉ đạo, chỉ huy của chiến dịch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:18:28 pm »

Tôi và anh Sáu Phú quen rồi thân với nhau từ đấy. Chuyện về chiến dịch thì dài dài, tôi chỉ kể một vài tình huống để lại kỷ niệm sâu sắc trong tôi về anh:

1- Cứu Tư lệnh quân khu thoát hiểm:

Tôi theo anh Tư Chương (Tăng Thiên Kim) - phó Tư lệnh Quân khu 8 xuống chiến trường vào đợt cuối tới Sở chỉ huy tiền phương quân khu, đặt tai kênh "Bùi Bích" vùng 4 Kiến Tường, vào ngày N-2 (tức là trước ngày mở màn chiến dịch hai ngày). Cùng vừa lúc đó, đoàn của Tư lệnh quân khu do anh Sáu Phú dẫn đi chuẩn bị chiến trường cũng vừa về tôi và suýt chết.


Chuyện xảy ra là:

Đoàn chuẩn bị chiến trường đi trước gần hai tháng sau khi bàn bạc với các Tỉnh ủy Đồng Tháp, Mỹ Tho về kế hoạch nổi dậy trong chiến dịch và kiểm tra các phương án tác chiến và chuẩn bị của lực lượng vũ trang xong thì quay về Sở chỉ huy chiến dịch chuẩn bị cho ngày nổ súng mở màn chiến dịch. Trên đường về khi vượt quốc lộ 4 gặp khó cho nên hơi gấp thời gian, tới bắc Cái Bè phải ghé vào nghỉ ở một "cứ" của Tỉnh đội Mỹ Tho, lúc đó có "Mười T" Tham mưu trưởng Tỉnh đội ở đó. "Mười T" tham gia bộ đội cũng đã lâu, có trình độ, song do dao động tinh thần lại bị địch dùng tiền, gái mua chuộc đã đầu hàng và được bí mật gài lại trong đội ngũ ta.


Khi thấy đoàn Tư lệnh quân khu tới, hắn đón tiếp rất niềm nở, chu đáo, tự tay hắn dẫn Tư lệnh quân khu và anh Sáu Phú tới hai hầm bí mật chỉ có hắn biết, dặn nếu có "động" cứ xuống đấy, việc tổ chức chiến đấu bảo vệ ở trên sẽ do hắn lo người quá mệt, ăn uống xong phân tán đi nghỉ và ngủ say. Nhưng riêng anh Sáu Phú thì không.


Nửa đêm, anh sang lán của "Mười T" để tra thì không thấy hắn ở đó. Hỏi số anh em ở cứ thì được biết là hắn và tổ điện đài của hắn (cũng là người của địch gài) đã bơi xuồng đi. Anh em biết nhưng không rõ đi đâu và cũng không dám hỏi.

Chột dạ, anh đánh thức tổ trinh sát kỹ thuât dậy, và mở máy nghe các mạng vô tuyên điện của địch thì thấy chúng đang báo động và điều quân gấp trong đêm và qua sự cơ động của địch rõ ràng chúng đang tập trung mọi lực lượng có thể vào khu vực này nhằm một mục tiêu theo chúng là cực kỳ quan trọng. Thế là đã rõ! anh báo cáo gấp Tư lệnh và đưa tất cả lực lượng của đoàn và của căn cứ vào sẵn sàng chiến đấu. Tình hình cực kỳ nguy cấp. Nếu nổ súng chống càn, thì lực lượng quá mỏng, hơn nữa cái mạnh nhất là hệ thống vật cản bằng mìn (trái) thì có Mười T trực tiếp dẫn, địch không còn sợ nữa. Rút xuống hầm bí mật thì coi như "nộp mạng" cho địch. Anh báo cáo Tư lệnh quân khu và xử trí cực nhanh: Cho anh em ở "cứ" mở một đường mới qua bãi mìn dày đặc là hướng địch bất ngờ nhất, rồi nhanh chóng lọt vây ra ngoài.


Gỡ mìn trong đêm khá lâu, khi lọt được ra ngoài thì trời đã hửng sáng, nhìn rõ mặt người. Song toàn đoàn đã nhanh chóng long kinh (bò theo mương), cũng may lúa đã lên cao nên có lúc chỉ cách địch không quá 100 mét, song chúng vẫn không phát hiện được). Ra khỏi vòng vây mà lại phải đi ban ngày trong vùng địch, ta xen kẽ, đồn bót dày đặc, song do anh em trinh sát thạo đường và người chỉ huy giỏi, đoàn đã đến được vị trí đóng quân của Trung đoàn 88 an toàn.


Kể lại chuyện cho tôi nghe, anh Tám Phương - Tư lệnh quân khu kết luận: "Thật là may. Nếu không có Sáu Phú thì tình hình xảy ra chưa biết thế nào?" Tôi hỏi lại anh Sáu thì anh cười xòa nói: "Đấy là chuyện thường tình ở vùng địch hậu mà!".

Còn tên phản bội Mười T thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bắt vì bị địch bỏ rơi đã phải ra tòa án quân sự cách mạng của Quân khu 8 và đã bị đền tội xứng đáng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:19:46 pm »

2- Lật cánh chiến dịch:

Đầu tháng 3 năm 1972, chiến dịch bắt đầu cùng với tất cả các chiến trường toàn quốc. Kế hoạch của chiến dịch trên hướng Quân khu 8 tóm gọn lại là:

Khối chủ lực quân khu gồm 3 trung đoàn bộ binh và các đơn vị hỏa lực, binh chủng tập trung vào khu vực vùng 4 Kiến Tường và kênh Dương Văn Dương tiến hành bao vây đánh lấn đồn Kinh Quân, diệt các đồn bót nhỏ ở kênh Dương Văn Dương và ở hệ thống đồn nhỏ vùng 4 Kiến Tường, kéo cho được các lực lượng cơ động của địch đến cứu viện, tiêu diệt một bộ phận quan trọng của chúng tạo điều kiện cho các vùng đông dân ở Cai Lậy, Cái Bè dùng các lực lượng quân sự, chính trị, binh vận tấn công và nổi dậy, đập tan hệ thống kìm kẹp của địch, mở ra các mảng, vùng giải phóng lớn.


Tuy nhiên, cho đến hết đợt 1 (tháng 3 năm 1972), trong khi ở các chiến trường khác, thắng lợi thì trên hướng Quân khu 8, kết quả còn rất hạn chế. Tuy ta có diệt được một số lượng lớn quân cơ động địch, song việc mở mảng, mở vùng giải phóng ở Mỹ Tho, Bến Tre coi như "giẫm chân tại chỗ" mặc dù các cấp ủy, các cơ quan quân sự địa phương và nhân dân đã "ráng hết sức" song vấn đề chính là "so sánh lực lượng tổng hợp" vẫn còn bất lợi.


Trong một cuộc hội ý của anh Sáu Phú và ba anh Tham mưu phó, chúng tôi (sau này khi nhắc lại kỷ niệm xưa, anh vẫn hay nói đùa "bè lũ bốn tên chúng ta"), anh hỏi tôi: "Sĩ phu Bắc Hà, nghĩ sao?". Vì là dân "tân binh của chiến trường" tôi cũng hết sức dè dặt chỉ nêu cảm nghĩ của mình "có lẽ chọn hướng đột phá chiến dịch của chủ lực chưa trúng". Chủ lực đánh ở một nơi dân thưa, phong trào thấp, mở vùng, mở mảng lại ở nơi khác, lực lượng kìm kẹp của địch còn khá mạnh, có muốn nổi dậy cũng khó. Còn nên chọn ở đâu thì tôi chưa dám khẳng định. Anh vỗ đùi nói lớn: "Đúng, đúng lắm". Ngay từ khi chuẩn bị, tôi đã nghĩ như anh và đề nghị chọn điểm đột phá là ở "vùng 20 tháng 7" song không được chấp nhận. Lần này phải đề nghị lại, "lật cánh" xuống 20 tháng 7. Anh Bảy Trực giơ cả hai tay lên cười tán thành. Biết tôi còn lớ ngớ, anh Bảy Trực vốn quê cha đất tổ tại xã Song Thuận đã giải thích cho tôi rõ đây là vùng nam lộ 4, giáp sông Tiền mà vào dịp 20 tháng 7 năm 1963 đã nổi dậy đập tan hệ thống ấp chiến lược của địch, mở ra vùng giải phóng lớn đầu tiên của Mỹ Tho, nên mới mang tên đó. Phong trào cách mạng ở đây rất cao, song địch tập trung lực lượng để kìm dân khá mạnh, đồn bót dày đặc, nếu có chủ lực hỗ trợ, dân sẽ vùng lên.


Phương án "lật cánh" được các anh chỉ đạo cơ quan hoàn thành trong có 1 ngày và trình lên trên, được Bộ Tư lệnh chiến dịch chấp nhận và được khẩn trương thực hiện ngay cho kịp đợt 2 của cuộc tấn công trên toàn Miền.

Bây giờ nói lại nghe giản đơn, song lúc đó công việc bề bộn như núi. Tham mưu trưởng của Sở chỉ huy tiền phương lại là người phải gánh phần nặng nhất, song nhìn anh vẫn chững chạc, đàng hoàng, các chỉ huy đơn vị nhiều người cùng trang lứa với anh, song rất tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành răm rắp. Tư cách người chỉ huy lớn của anh bộc lộ khá rõ, mặc dù anh cư xử vẫn rất đơn giản, mộc mạc, chân tình.


Có điều đối với tôi là rất lạ, khác với ở chủ lực, khi ra lệnh là theo địa danh tọa độ trên bản đồ, song anh thì lại chỉ thị tọa độ bằng tên dân:

- Đơn vị X về khu vực bà "Hai Đầm già", đơn vị Y về chỗ "Bà Tư Đua", đơn vị N về chỗ bà "Tám Bướu", hậu cần về chỗ "nách Bà Tư Nở", pháo binh về chỗ nhà các cô "Tám, Chín, Mười tòng teng", đặc công về kinh "Ông Mười L" v.v... và v.v... Tôi vốn cần ghi để về tổng kết, song nghe "ù cả tai", phải nhờ anh Bảy Trực khoanh nhanh trên bản đồ.

Điều ngạc nhiên là khi nhìn lại đó là một đội hình chiến dịch rất hợp lý. Rõ ràng là trình độ nắm địa hình và dân vào loại đặc biệt.

Về kế hoạch tác chiến cụ thể tóm lại như sau:

a. Lần lượt diệt 2 cứ điểm khống chế yếu khu Ba Dừa, chi khu Vĩnh Kim để kéo viện ra tiêu diệt lớn, gây nên "cú sốc" lớn cho hệ thống kìm kẹp của địch.

b. Huy động tổng lực lượng quân sự, chính trị địa phương có sự yểm trợ một phần của chủ lực, bao vây diệt, bức rút, bức hàng hàng loạt các đồn bót lẻ của địch ở tất cả các thôn, xã liên quan.

Ở mỗi nơi đánh xong việc lớn, chủ lực lại di chuyển đi đánh các đồn bót khác, để kéo lực lượng viện binh của địch đi theo, chỉ để lại một tiểu đoàn hỗ trợ cho địa phương.

c. Hướng phát triển sau khi mở mảng, mở vùng ở 20 tháng 7 thì sang Chợ Lách, Bến Tre và về nam Cái Bè (hệ thống kênh Băng Rầy).

d. Ở Bắc Cai Lậy, lực lượng của Tỉnh đội Mỹ Tho diệt địch ở Mỹ Phước Tây, một căn cứ khá lớn, sau đó phân tán sẽ mở mảng, mở vùng suốt từ Nhị Mỹ cho đến đồn Chùa Phật Đá, Sáu Âu trên kinh Nguyễn Tấn Thành.

đ. Lực lượng chủ lực của Miền sẽ tăng cường xuống vùng 4 Kiến Tường và bắc Cái Bè, Sư đoàn 5 và Trung đoàn 24, để hỗ trợ phá cho tan hệ thống bình định của địch ở Kiến Tường và Mỹ Tho.


Diễn biến đợt 2 đạt kết quả thật bất ngờ. Chỉ trong vòng trên dưới mười ngày, hệ thống kìm kẹp của địch bị tan vỡ hàng loạt do đòn tấn công tổng hợp của mọi lực lượng "điểm đúng huyệt".

Ngoài hai đồn lớn mang tính khống chế yếu khu Ba Dừa và chi khu Vĩnh Kim hơn hai trăm đồn bót lớn nhỏ bị diệt, bị tan vỡ, bỏ chạy hoặc ra hàng.

Ở bắc Cai Lậy, lực lượng của Tỉnh đội Mỹ Tho do anh Tám Tàu (Nguyễn Văn Thành) chỉ huy cũng diệt gọn căn cứ Mỹ Phước Tây, diệt, bức hàng, bức chạy hàng loạt đồn bót từ lộ 4 đến Chùa Phật Đá, Sáu Âu trên kinh Nguyễn Tấn Thành, mở ra vùng gải phóng rộng lớn, kết hợp với vùng giải phóng 20 tháng 7 uy hiếp nặng quốc lộ 4. Số dân được giải phóng của cả tỉnh ước trên dưới 200 ngàn.


Cùng lúc đó, Miền cũng tăng cường Sư đoàn bộ binh 5 và Trung đoàn bộ binh 24 xuống Mỹ Tho, mở toang vùng bắc Cái Bè, tạo nên một hình thái chiến trường hoàn toàn đảo ngược. Thành quả bình định của địch ở trọng điểm Khu 8 suốt trong ba năm 1969 đến 1971 đã bị đập tan hoang. Trừ các đường lớn và kênh ngòi lớn ở dạng tranh chấp (ban ngày của địch ban đêm là của ta), các mảng, vùng giải phóng lớn đã được khôi phục.


Thành công đó là của cả một tập thể, song dấu ấn cá nhân của anh Sáu Phú là không thể phủ nhận.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:20:35 pm »

3- Chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị và binh vận:

Trách nhiệm chính của Tham mưu trưởng Sáu Phú là tổ chức chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị chủ lực của quân khu tác chiến. Việc phối hợp với địa phương để chỉ đạo đấu tranh chính trị và binh vận do các đồng chí Tư lệnh phó khác đảm nhiệm. Tuy nhiên khi có thời cơ, anh rất nhạy bén, chỉ đạo kết hợp cả ba mũi giáp công và đạt kết quả tốt, lớn nhất là sau trận Vĩnh Kim.


Ta diệt gọn căn cứ Vĩnh Kim (lúc đó là một chi khu). Chắc chắn địch sẽ phản ứng lớn để tái chiếm. Ta cũng gài thế diệt viện lớn. Vị trí chỉ huy của anh và một bộ phận nhẹ nằm sát ngay Sở chỉ huy của Trung đoàn Đồng Tháp 1, đơn vị chủ công. Tuy đã bố trí rất kín, song cả ngày hôm sau, vẫn có các má, các chị đi chợ về, ghé xuồng vào báo tin về lực lượng đich đang điều về đóng dài trên quốc lộ 4. Tin còn nhanh hơn của quân báo điện về và khá chính xác. Tuy nhiên vào buổi chiều tà, có một má trạc trên 70 tuổi miệng nhai trầu bỏm bẻm vào đòi gặp cho được Sáu Phú. Anh ra tiếp và được má cho biết: trong 4 tiểu đoàn đã tập trung (và sẽ còn nữa) có hai tiểu đoàn toàn con em dân "Đông Hòa, Tây Hòa" chúng sẽ lùa bọn này đi đầu để hứng đạn. Bọn bay có đánh thì cũng phải "nương nhẹ tay" một chút. Nói xong má ra về ngay.


Đông Hòa, Tây Hòa là hai thôn lớn sát sông Tiền nam đồn Vĩnh Kim là nơi cơ sở cách mạng rất mạnh, song do 3 năm bị kìm kẹp, thanh niên (có cả du kích, cơ sở cũ) bị bắt đi lính. Nay nó làm vậy là để cho "ta lại diệt ta". Nếu ta không đánh thì bọn sư 7 chủ lực ngụy sẽ dễ dàng, theo sau vào tái chiếm lại Vĩnh Kim, mà nếu đã nổ súng thì còn làm sao "nương nhẹ tay" cho được.


Rất nhanh và quyết đoán, anh cho mời ngay đại diện Huyện ủy và chi bộ xã (lúc đó ở cùng khu vực) tới bàn. Sau khi phân tích rõ âm mưu địch, anh yêu cầu địa phương tung hết cán bộ xuống Đông Hòa, Tây Hòa đến từng gia đình có con em ở hai tiểu đoàn trên vận động bà con nhanh chóng ra lộ 4 với cớ thăm con em, thông báo tình hình quê hương đã giải phóng và tìm mọi cách giúp anh em bỏ trốn về nhà hoặc phản chiến. Mọi người hăng hái đi ngay. Triển khai xong, anh cho người về báo cáo Tư lệnh, lúc đó đang ở chỗ anh Chín Hải (Lê Văn Thẩm) thư Tỉnh ủy để thống nhất chỉ đạo chung.


Kết quả cũng lại hết sức bất ngờ. Vì xót thương con cháu, các má, các chị ở Đông Hòa, Tây Hòa ào ạt đốt đèn măng sông, dùng xuồng, dùng xe kéo ra lộ 4, mặc pháo địch vẫn bắn nhiều về đêm. Cán bộ binh vận của ta cũng đi theo để nắm tình hình và chỉ đạo tại chỗ.


Theo lời kể của cán bộ địch vận của huyện có mặt tại chỗ thì lúc đó cả một đoạn quốc lộ 4 dài từ kênh Long Định đến xã Hữu Đạo náo loạn chưa từng có. Bà con kêu gào, khóc lóc đòi con em về vì "Sáu Phú nó đã kéo quân về mấy chục ngàn, súng lớn súng nhỏ dữ dằn lắm, nếu đánh với nó, chắc chết". Lúc đầu bọn sĩ quan hùng hổ, có đứa còn rút súng ngắn bắn chỉ thiên để hù dọa, song vẫn không có hiệu quả. Một tên đại úy chĩa súng vào ngực một người hăng hái nhất dọa bắn, thì ngay lập tức bị một cái vỗ vai rất mạnh. Một anh lính trẻ kè nòng súng vào sườn tên sĩ quan nói cộc lốc: "nè đại úy, bà già tôi đó!". Tất cả lính chung quanh cũng nhìn nó hầm hầm. Biết rằng, nếu làm quá sẽ được "lãnh đủ" đạn của lính mình, tên đại úy giơ hai tay lên trời, bất lực bỏ đi, các sĩ quan khác thấy nguy cũng bỏ đi nốt.


Như rắn mất đầu, cả hai tiểu đoàn bảo an bị rã ngũ, mất sức chiến đấu. Cuộc càn dự kiến vào sáng hôm sau bị hoãn lại. Chúng phải điều động lực lượng biệt động ở nơi khác đến thay thế, nhưng hai hôm sau lực lượng chiếm lại Vĩnh Kim vừa chạm súng với ta đã mất tinh thần, tháo chạy.


Trong thành công này, cũng có dấu ấn của anh Sáu Phú.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:22:03 pm »

4- Sau Vĩnh Kim, chủ lực của Miền xuống. Các anh Bảy Cống (Đồng Văn Cống), Hai Nghiêm, Ba Thắng đều xuống theo Sở chỉ huy nhẹ của R (Bộ Tư lệnh Miền), tôi được lệnh rời Sở chỉ huy tiền phương Khu 8 về đi với các anh đó. Chia tay nhau má rất bịn rịn. Tuy ở cạnh nhau tính tròn 4 tháng, khói lửa chiến đấu ngút trời, nhưng tưởng như đã ở cùng nhau nhiều năm.


Chúng tôi thân nhau vì lý tưởng chung, song cũng có một phần giống nhau là cả hai đều là hội viên của "Hội những người thích đùa".

Sau này, có nhiều đồng chí trẻ và cả con trai tôi nữa biết danh "Sáu Phú" một vị tướng trận mạc nổi tiếng đều ít nhiều có hình tượng: Đó là một con người "mặt sắt đen sì" hoặc là "hét ra lửa". Tôi cười và cải chính lại: "Đó là vị tướng có diện mạo đẹp trai, uy nghi, mặt đẹp, mắt to, lông mày xếch, tiếng nói sang sảng, khi chỉ huy chiến đấu thì rất đường bệ, song trong đời thường lạ rất hiền, yêu dân, thương lính và thích đùa rỡn, rất có duyên, nói theo tiến Bắc là rất "hóm hỉnh", kể chuyện tiếu lâm và nói lái là bậc thầy". Nếu sinh vào thời bình, mà diễn "hài" thì các nghệ sĩ Bảo Quốc, Vân Dung, Hồng Vân chắc đều phải tôn là "sư phụ". Anh không chỉ đùa rỡn khôi hài trong đời thường, mà cả trong lúc chiến đấu ác liệt và đôi khi cả trong hội nghị đang bàn những vấn đề lớn và khi mọi người cười rũ thì mặt anh vẫn tỉnh khô. Xin kể lại một vài chuyện vui nho nhỏ để các bạn trẻ và cả các con, các cháu anh hiểu thêm phần nào về tính cách của anh.


Vở hài kịch trên sóng vô tuyến "PRC 25":

Đó là vào khoảng cuối tháng 3 năm 1972, sau khi các lực lượng bảo an của Kiến Tường và Định Tường vào giải vây cho Kinh Quận bị ta tiêu diệt nặng, địch đưa lực lượng sư đoàn 7 vào cuộc. Lực lượng tiến vào khoảng 1 trung đoàn.

Vì là chủ lực, chúng được phi pháo yểm trợ mạnh hơn, song lại không thạo địa hình bằng bọn bảo an, tiến chậm hơn song tiến rất có bài bản để chống bị phục kích, về ta, anh Sáu Phú cũng quyết định đưa gần hết hai trung đoàn bộ binh với hỏa lực đi cùng thật mạnh để tiêu diệt chúng. Tạo thế mãi từ 3 giờ sáng đến 11 giờ mới hình thành thế bao vây hoàn chỉnh, các lực lượng của ta mới chiếm lĩnh tuyến xuất phát tấn công xong. Cái khó nhất là giai đoạn tiếp cận để xung phong, vì đội hình địch đi dài hàng cây số, song toàn đi giữa đồng trống muốn xung phong được thì bộ đội phải "long kinh" khá xa, nếu bị địch phát hiện sớm dùng pháo bắn chặn quyết liệt thì coi như "hỏng ăn".


Nguy hiểm nhất là chiếc máy bay trinh sát, nó vòng đi lượn lại trên đầu để chỉ điểm cho pháo bắn yểm trợ và quan sát động tĩnh của quân ta. Chúng tôi theo dõi diễn biến khá căng thẳng, cơm mang đến cũng chẳng ai muốn ăn. Giữa lúc đó, đồng chí trinh sát kỹ thuật, gỡ tai nghe nói: "Thưa, thằng sư trưởng sư 7 đang ở trên máy bay để chỉ điểm cho pháo bắn". Anh Sáu bảo: Đưa máy đây cho mình. Thế là "màn hài kịch" bắt đầu. Đã qua mấy chục năm, tôi chỉ còn nhớ ý chính của màn kịch đó. Nếu mà ghi âm được để lại cho đời sau thì vui biết mấy!


Tên sư trưởng sư 7 của quân ngụy, vốn có duyên nợ với Sáu Phú. Năm 1963 lúc còn là đại úy đồn trưởng, thì đồn của nó bị Tiểu đoàn Ấp Bắc (261) do Tiểu đoàn trưởng Sáu Phú chỉ huy, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Riêng hắn do chui xuống "cầu tiêu" ẩn nấp, thoát được. Bốn năm sau, là chỉ huy trung đoàn hắn cũng suýt chết, bỏ cả xe M113 tháo chạy, mất cả mũ mão, lon, sao. Và bây giờ năm 1972 gặp lại nhau. Vì vậy hắn hận Sáu Phú tận xương tủy và cũng sợ Sáu Phú như sợ cọp. Khi anh Sáu vừa mở máy kêu tên hắn, hắn đã nhận ra ngay. Câu đầu tiên của hắn: "Sáu Phú hả, tên Việt cộng mắc dịch". Anh cười tủm tỉm nhìn chúng tôi, vừa trả lời trên máy "Ừ, ông cố nội mày đây, nhưng sao đến giờ đầu mày vẫn còn thúi vậy?".


Qua giọng nói của hắn biết hắn cay cú lắm dùng đủ các loại từ xấu xa chửi rủa. Ngược lại vẫn tươi cười nhìn chúng tôi, khi thấy chừng hắn đã mỏi mồm lại chêm một câu thật đau, làm cho hắn lại phát điên, phát cuồng. Quá giận mất khôn, hắn tắt luôn tần số liên lạc với pháo và bọn bộ binh ở dưới mặt đất để tham gia vào cuộc cãi, chửi lộn bậy. Còn anh miệng và tai vẫn đối phó với hắn song dùng "ký hiệu tay" cho anh Tám Kiều và các sĩ quan tác chiến đang ôm điện thoại đôn đốc các mũi tiến công tiếp cận nhanh để chiếm lĩnh tuyến xuất phát xung phong.


Khi mọi việc chuẩn bị đã xong, anh Tám Kiều xin cho lệnh nổ súng, anh gật đầu. Thế là tất cả hỏa lực đi cùng, cối, ĐKZ, trung liên, đại liên dội lửa vào đội hình địch. Quân ta chia nhiều mũi xung phong đánh tan tác đội hình địch suốt chiều dài mấy cây số. Tiếng súng bộ binh, lựu đạn rền vang. Chỉ cần nghe tiếng AK nổ cũng đã đoán được quân ta đã làm chủ được chiến trường.


Khi đó tên sư trưởng biết bị mắc lừa, vội đổi tần số để về chỉ huy quân, thì anh lại cho dò tần số và lại chen ngay vào khiêu khích nó. Khác với lúc đầu nó cố gắng ít nói, tránh trả lời để còn lo việc cứu nguy cho quân lính đang chạy tan tác. Thì anh lại nói liên tục, nói rất đau, khiến nó không thể không nổi điên. Khi dò tần số vô tuyến điện, bắt được tần số pháo, anh hạ lệnh "Ngừng bắn", khi gặp quân kêu cứu thì anh nói "Còn đánh chác mẹ gì nữa, phất cờ trắng mà đầu hàng di". Bọn địch thì chẳng biết ai ra lệnh nhưng tên sư trưởng thì quýnh hẳn hoi. Tiếng hắn gào trong máy: "thằng Sáu Phú đấy, nó phá đấy không được nghe".


Màn hài kịch đó làm cho các "thính giả bất đắc dĩ" chúng tôi cười rũ rượi nhưng riêng anh chỉ cười tủm tỉm.

Tôi viết cũng đã dài. Như mở đầu tôi đã viết, cuộc đời chiến đấu của anh rất dài và rất phong phú, tôi chỉ trực tiếp ở cạnh anh bốn tháng, vì vậy chỉ dám góp một vài chuyện nhỏ để thêm phần minh họa về anh.

Thời gian đã trên 36 năm, tuổi đã cao, trí nhớ suy giảm, tài liệu gốc không có, chắc chắn khi kể lại có thể có thiếu sót. Rất mong các anh, chị ở chiến trường Khu 8 cũ, khi đọc nếu thấy có sai sót xin lượng thứ và đính chính lại cho.

Để kết thúc cho bài viết của mình, tôi có gọi điện cho đồng chí Nguyễn Hữu Nguyên, một đồng đội cựu chiến binh hiện ở thành phố Hồ Chí Minh cho tôi một nhận xét về anh Sáu Phú.

Anh Nguyên quê gốc Hà Nội, từ năm 1965 đến 1975 chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 88 Sư đoàn 308 trên chiến trường miền Nam, đặc biệt năm từ 1970 đến 1972 đều ở Mỹ Tho, biết nhiều về anh Sáu Phú. Sau 1978 anh chuyển sang làm sử, học sử và nay trở thành một tiến sĩ sử học được nhiều người biết đến ở thành phố Hồ Chí Minh


Khi nghe câu hỏi của tôi, anh từ tốn trả lời một ngôn ngữ rất "học giả": "Đánh giá về anh Sá Phú ư? Theo em (anh kém tôi 12 tuổi) trong kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của dần tộc ta anh Sáu Phú là một trong những con cá kình có lẽ là cá lớn nhất của dòng sông Tiền".


Tất nhiên, "mọi sự so sánh đều khập khiễng" song riêng tôi, tôi hoàn toàn tán thành "lời so sánh" của anh Nguyên, và coi nó là một nén nhang kính viếng hương hồn anh và là một món quà tinh thần kính tặng chị Sáu và các con cháu của anh Sáu Phú và chỉ nhắn các cháu "hãy tự hào và sống xứng đáng với ông cha mình".


Hà Nội, tháng 9 năm 2008
Nguyễn Đồng Thoại
Nguyên Phó Cục trưởng Cục Tác chiến
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Tám, 2026, 08:23:42 pm »

THIẾU TƯỚNG TRẦN MINH PHÚ
NGƯỜI CHỈ HUY ĐỂ LẠI CHO TÔI NHIỀU KỶ NIỆM ĐẸP


Trung tướng Trần Phi Hổ


Thời kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tôi chiến đấu công tác ở miền. Tây Nam Bộ (Khu 9 cũ) đồng chí Sáu Phú hoạt động ở chiến trường miền Trung Nam Bộ (Khu 8 cũ), do vậy chưa được quen biết nhau. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hai quân khu sáp nhập và những năm tháng chiến đấu bảo vệ biên giới Tây - Nam của Tổ quốc; làm nhiệm vụ giúp bạn ở Campuchia, tôi chỉ được nghe đồng chí Trần Minh Phú, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Mặt trận 979 là một cán bộ quân sự có tài chỉ huy đánh giặc nhưng vẫn chưa một lần gặp mặt.


Mùa khô năm 1984 - 1985 tôi vừa nhận chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 Sư đoàn bộ binh 339, thì khoảng tháng 7 năm 1984 trung đoàn nhận lệnh của quân khu và Mặt trận 979 nhanh chóng hành quân từ tây đèo Đá trên đường 56 (Pua Sát) về hướng biên giới Campuchia - Thái Lan đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979 ở Năm Nhà nhận nhiệm vụ chiến đấu đánh dịch, khôi phục các trận địa phòng ngự ở đồi Không Tên, điểm cao 954 và 1004... do Trung đoàn 14 bạn chốt giữ bị địch đánh chiếm, uy hiếp trực tiếp đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận 979.


Khi tôi được anh em liên lạc và tác chiến đưa đến Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận thì ấn tượng đầu tiên gây cho tôi sự chú ý là dưới tán che phủ kín đáo của tầng tầng lớp lớp cây rừng hiện ra một khu công sự, hầm hào, lán trại rất ngăn nắp và kiên cố. Nhưng ấn tượng mạnh hơn và gây cho tôi sự bất ngờ thú vị là đồng chí Sáu Phú - Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Mặt trận 979. Là người chỉ huy cao nhất tại Sở chỉ huy tiền phương, đồng chí Sáu Phú với dáng người cao to, trắng trẻo, vận quân phục gọn gàng phong thái rất uy nghiêm bước ra đón và bắt tay tôi, đồng thời hướng dẫn tôi đi ngay vào Chỉ huy sở để làm việc. Ở tại cơ quan chỉ huy tiền phương Mặt trận trong rừng sâu xa xôi mà tác phong của ông vẫn chính quy nghiêm trúc nhưng lại tạo cho tôi một cảm giác rất gần gũi, không thấy có khoảng cách.


Tình hình chiến sự rất gấp nên ông và tôi không có thời gian trò chuyện, ông tiến về phía tấm bản đồ quân sự vừa chỉ và nói về tình hình địch, tình hình ta và những diễn biến chiến đấu thời gian gần đây những tình huống sẽ xảy ra và yêu cầu nhiệm vụ của Trung đoàn bộ binh 9 của tôi.


Tôi chăm chú lắng nghe và ghi chép vào sổ và như nuốt lấy từng lời của ông, cách nói và diễn đạt của ông rất ấn tượng, ngắn gọn nhưng đầy đủ, súc tích và dễ hiểu. Tôi có cảm nghĩ với ánh mắt nhìn nghiêng, chiếu những tia nhìn về phía tôi, vừa giao nhiệm vụ ông vừa có ý thăm dò, quan sát xem người Trung đoàn trưởng có vẻ còn rất trẻ (lúc này tôi mới ngoài 28 tuổi, bị sốt rét da trắng xanh, nặng 45 kg giống như cậu học sinh trung học) mà ông chưa hề biết về tôi trước đó. Để xem người chỉ huy cấp dưới (lần đầu mới gặp) có khả năng hoàn thành nhiệm vụ ra sao?


Tuy có cảm giác bị ông thăm dò về ý chí quyết tâm nhưng sao tôi lại thấy như được khích lệ động viên muốn được báo cáo giãi bày chứ không bị lúng túng. Cảm xúc của tôi lúc ấy thật khó tả, chỉ biết như ở ông một người chỉ huy cấp trên đã truyền sang cho tôi một nghị lực tinh thần mới; tôi đứng lên và báo cáo:

- Thưa thủ trưởng lần đầu tiên được gặp thủ trưởng và đây cũng là lần đầu tiên thủ trưởng được gặp và chỉ huy Trung đoàn bộ binh 9 chiến đấu (vì trước đó Sư doàn 339 hoạt động ở mặt trận khác).

Đơn vị chúng tôi đã chiến đấu nhiều trận với đối tượng địch ở đây và chúng cũng biết rất rõ về phiên hiệu khả năng tác chiến của Trung đoàn 9, nên từ khi nhận được lệnh của chỉ huy chiến dịch điều trung đoàn vào khu vực này, dọc đường hành quân tôi đã cho thông tin tắt hết máy VTĐ liên lạc chỉ huy đơn vị hành quân bằng hợp đồng ký ám hiệu, do đó vẫn giữ được tuyệt đối bí mật.


Tôi xin hứa với Thủ trưởng, đơn vị sẽ hoà thành nhiệm vụ cùng với các đơn vị bạn đánh bật bọn địch ra khỏi khu vực các điểm cao mà chúng đang chiếm giữ. Sau đó tôi trình bày kế hoạch tác chiến của trung đoàn và hướng sử dụng lực lượng (Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 5 thiếu 1 đại đội) vào các mũi tiến công.


Nghe tôi báo cáo xong, đồng chí Sáu Phú hỏi: Kế hoạch triển khai như vậy, đơn vị đồng chí có những khó khăn trở ngại gì không? Đồng chí có bảo đảm bộ đội chiến đấu giành thắng lợi không?

Tôi báo cáo về tình hình tư tưởng quyết tâm của đơn vị và một số khó khăn về sức khỏe bộ đội, bị sốt rét rất nhiều, nhưng hiện tại anh em đã hồi phục khá, chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh và đơn vị có sở trường chiến đấu vận động tiến công tốt nên tôi tin là đơn vị sẽ hoàn thành nhiệm vụ.


Đồng chí Sáu Phú tỏ vẻ yên tâm, nở một nụ cười rất ấn tượng và động viên tôi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Kết quả sau hai ngày chiến đấu tại các điểm cao 954, 1500, 1004 và đồi Không Tên Trung đoàn 9 đã hoàn thành tốt nhiệm vu chiến đấu thắng lợi có nhiều nguyên nhân, nhưng tại đợt hoạt động này, tôi có cảm nhận chính từ phong cách, tài năng chỉ huy và lòng tin vào cấp dưới một cách có cơ sở khoa học quân sự đồng chí Sáu Phú đã truyền cho chúng tôi niềm tin và sức mạnh để vượt qua khó khăn và chiến đấu thắng lợi.


Trong đợt hoạt động ở phía tây đường 56, khu vực giáp biên giới Campuchia - Thái Lan từ tháng 17 đến tháng 10 năm 1984 tôi còn có nhiều lần trực tiếp nhận nhiệm vụ và liên lạc bằng điện đài với đồng chí Sáu Phú để chỉ huy đơn vị chiến đấu, cả lúc luồn sâu vào căn cứ của địch đánh những trận kết quả hiệu suất rất cao, thu nhiều vũ khí còn mới tinh của địch. Tôi đã nhận được ở đồng chí Sáu Phú một tình cảm lớn lao, sâu đậm


Thời gian này tôi bị sốt rét rất nặng, trước khi vào chiến dịch đã bị "đái huyết cầu tố" điều trị mới ổn định, nhưng da còn xanh. Những lần gặp sau một đợt hoạt động. Đồng chí Sáu Phú đều quan tâm hỏi thăm sức khỏe của tôi. Tôi nhớ mãi lần đến Sở chỉ huy ông ân cần rót cho tôi một cốc nước nấu với sâm rừng pha chút đường, khuyên tôi nên dùng để bồi bổ sức khỏe và hướng dẫn anh em đơn vị tranh thủ lúc rảnh rỗi tìm đào sâm rừng phơi khô, nấu nước cho bộ đội uống để tăng cường sức khỏe.


Thật sự lúc này tôi không còn cảm thấy ôn một vị chỉ huy quân sự "khét tiếng" nữa mà như người chú, người cha chăm lo đến những đứa con, đứa cháu trìu mến. Tác phong, đức tính giản dị chân thành của ông cộng với những tài năng quân sự, bề dày trận mạc mà ông trải qua đã cảm hóa, thuyết phục lớp cán bộ, chỉ huy cấp dưới của ông. Chúng tôi luôn lấy hình ảnh của ông như một tấm gương "thần tượng" để mà phấn đấu noi theo.


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia trở về Tổ quốc, từ năm 1990 ông với cương vị Phó Tư lệnh Quân khu 9, còn tôi được đề bạt Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 339 (từ năm 1994 chuyển thành Sư đoàn Cool. Lúc nào có dịp gặp nhau chủ yếu trong mối quan hệ công tác, ông đều dành cho đơn vị và cá nhân tôi một tình cảm thật đẹp và ấm áp.


Tôi nhớ năm 1992 khi đơn vị về đóng quân ở căn cứ Trần Quốc Toản (Cao Lãnh - Đồng Tháp), cơ sở vật chất đời sống bộ đội vô cùng khó khăn. Tôi đề xuất với Ban chỉ huy sư đoàn về Cà Mau (quê tôi) xin đất cho đơn vị nuôi tôm cải thiện đời sống. Lúc này đồng chí Tư Châu - Sư đoàn trưởng, đồng chí Chín Chí - Phó Sư đoàn trưởng về Chính trị - Bí thư Đảng ủy sư đoàn, nhưng không ai dám quyết định. Gặp lúc đồng chí Sáu Phú - Phó Tư lệnh quân khu xuống kiểm tra huấn luyện, chúng tôi báo cáo ý định sản xuất tôm ở Cà Mau, ông nghe xong là tỏ thái độ đồng tình và khuyến khích sư đoàn nên làm vì đây công việc có ích cho đơn vị, sản xuất làm ra của chất cho xã hội, không có gì phải lo. Ông còn kể chuyện năm 1976 - 1977, lãnh đạo Sư đoàn 8 ra khai hoang phục hóa Đồng Tháp Mười sản xuất lúa gạo cho đất nước, với bao nhiêu vất vả khó khăn và 7 những ý kiến trái ngược nhau, nhưng điều quan trọng là hiệu quả kinh tế xã hội.


Ngày sư đoàn sáp nhập thành Sư đoàn 8 về căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho cũng vậy. Ông cùng với đồng chí Tư lệnh quân khu Nguyễn Đệ (Ba Trung) xuống động viên khích lệ sư đoàn trồng vườn cây ăn trái với mấy chục nghìn gốc xoài, nhãn phủ xanh doanh trai và có thu nhập từ nguồn trái cây. Đến nay vườn cây vẫn đang cho kết quả tốt.


Đối với Thiếu tướng Trần Minh Phú, ông là một cán bộ quân sự có tài chỉ huy đánh giặc, là cán bộ "Quân sự - Chính trị" song toàn. Trong cuộc sống đời thường, ông sống rất giản dị và nhân văn, thương yêu hết mực chiến sĩ và cán bộ cấp dưới. Ông đã bao lần rơi nước mắt khi cán bộ, chiến sĩ dưới quyền hy sinh. Với bạn bè, làng xóm, anh em ông sống rất mực nghĩa tình, thủy chung.


Đối với tôi, Thiếu tướng Trần Minh Phú mãi mãi là tấm gương, là người cha, người chú lớp người đi trước đầy trách nhiệm với thế hệ đi sau, mặc dù ông đã đi xa (từ trần năm 2003), cũng từ tấm gương của ông đã nuôi dưỡng niềm tin và trách nhiệm cho tôi và biết bao đồng chí khác noi theo, yêu mến sư nghiệp cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, ra sức phấn đấu trưởng thành được như ngày hôm nay. Thật sự có công của những người chỉ huy cấp trên như ông, đây là một kỷ niệm đẹp không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi.


Trần Phi Hổ (Ba Hổ)
Tư lệnh Quân khu 9
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2026, 08:28:26 pm »

NGƯỜI CHÚ, NGƯỜI ANH, NGƯỜI CHỈ HUY MÀ TÔI VÔ CÙNG NGƯỠNG MỘ

Thiếu tướng Nguyên Văn Lưỡng


Tôi nhập ngũ vào lực lượng vũ trang tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) năm 1963. Qua một thời gian liên tục chiến đấu công tác, năm 1969 tôi được đề bạt chức Đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 514C. Hồi ấy tôi còn rất trẻ, tuổi mới mười tám đôi mươi, nghe cán bộ cấp Khu xuống vừa mừng, vừa lo, vì nghe nói "cán bộ Mùa Thu" khó tính lắm. Lúc này đồng chí Sáu Phú là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1. Mới chỉ nghe về người chỉ huy quân chủ lực Khu tài về chỉ huy đánh giặc đã "mê" lắm rồi, dù tôi là chỉ huy cấp nhỏ ở địa phương. Cuối năm 1969 tôi được gặp anh trong chiến đấu, trong hội nghị và cả trong cuộc sống, công tác. Từ đó đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp về "anh mà chú". Không chỉ có thế, chính anh đã dành tình thương của người đi trước dìu dắt tôi, chỉ bảo cách đánh, phong cách làm người chỉ huy, vì tôi còn quá trẻ, mà theo anh là cần đặc biệt dạy dỗ. Chính sự quan tâm dạy dỗ của anh và các anh, các chú đã thôi thúc tôi từ trong lửa đạn và cuộc sống của người chiến chinh để phấn đấu và trưởng thành như ngày hôm nay.


Lần đầu tôi được gặp đồng chí Sáu Phú trong cuộc hội nghị của Quân khu 8, triển khai kế hoạch mở chiến dịch ABC.

Chiều hôm ấy chú Tám Thành (Nguyễn Văn Thành, Tỉnh đội trưởng tỉnh Mỹ Tho) cùng một chú khác (trong đó có tôi) đến trước 14 giờ, địa điểm họp là rạch Cả Han, xã Mỹ Đức Tây, huyện Cái Bè trong một khu vườn rậm rạp, được xây dựng hầm hào cẩn thận, bố trí phòng họp nghiêm trang và rất bí mật. Đang ngồi chờ đợi thì có một người cao to trắng trẻo, tóc cắt cao đi trước, phía sau một người thâm thấp đeo kính cận tay cầm máy chụp hình xuất hiện; gặp nhau các chú, các anh mừng rỡ hỏi chào Người cao to quay sang tôi và hỏi: Chú em mày là bảo vệ các anh Tỉnh đội Mỹ Tho à? Chú Tám Thành liền đỡ lời, báo 2 anh đây là đồng chí Sáu Lưỡng tác chiến Tỉnh đội đó. Người cao to nói ngay: có ai nói chú này là cán bộ chỉ huy không mấy ông?; người đeo kính nói: vậy tao với chú mày cùng nghề Tác chiến nhưng tao Tác chiến lớn, chú mày Tác chiến nhỏ. Các anh, các chú đều cười khà. Tôi thì vừa mừng, vừa sợ không biết mình phải nói gì. Qua trò chuyện trao đổi tôi được biết người to, cao, trắng trẻo, tóc hớt cao là chú Sáu Phú - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Tháp 1, người đeo kính là chú Tám Kiều - tác chiến Quân khu 8.


Thành phần hội nghị có nhiều chú trong Bộ Tư lệnh tham dự như: chú Tám Phương (Lê Quốc Sản) chú Ba Thắng và các chú trong cơ quan quân khu mà tôi chưa được biết bao giờ. Gặp các chú, các anh lãnh đạo chỉ huy là một vinh dự lớn đối với tôi, đồng thời rất vui mừng thấy các anh, các chú thật uy nghi, chững chạc, nghiêm túc, nhưng rất cởi mở, thân tình. Tôi được nghe kể nhiều chuyện về chú Sáu Phú, Ba Cang, Tám Kiều, Võ Hoàng Tiến...


Trong hội nghị, Bộ Tư lệnh Quân khu 8 phân tích chỉ đạo chuyển phương thức tác chiến với chủ trương mở cao điểm tiến công tổng hợp lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt đặc biệt là vai trò của bộ đội tập trung Quân khu 8 cùng lực lượng vũ trang địa phương trong đánh địch tạm chiếm vùng giải phóng. Dự hội nghị này tôi là trợ lý tác chiến Tỉnh đội Mỹ Tho đi phục vụ thủ trưởng.


Vào hội nghị hình như chú Sáu Phú có để ý về tôi, một trợ lý tác chiến "còn rất trẻ" bởi lẽ lúc bấy giờ phần lớn là cán bộ lớn tuổi, có độ dày kinh nghiệm còn tôi thì quá nhỏ. Nghỉ giải lao chú Sáu Phú đến bên tôi hỏi thăm tình hình Ban Tham mưu Tỉnh đội và cơ quan Tác chiến được mấy người? Tôi phụ trách mảng công tác gì? Tôi báo cáo chú! nè bộ đội không gọi là chú cháu, mà phải gọi bằng anh; anh là Sáu Phú. Tôi vừa sợ nhưng cũng rất vui và tôi gọi bằng anh Sáu Phú từ đó. Đang trò chuyện C4 chú trong Bộ Tư lệnh đi qua, anh Sáu Phú giới thiệu. Đây là thằng Sáu Lưỡng Tác chiến Mỹ Tho, trong hội nghị này nó thuộc loại "tí hon". Chú Ba Thắng bắt tay tôi rồi ân cần bảo: "Chú là cán bộ rất trẻ, tốt lắm, cô" gắng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ". Nghe nói vậy, lòng tôi như mở hội.


Trở về Tỉnh đội triển khai nhiệm vụ cho các đơn vị, địa phương, tôi được đề bạt giữ chức Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 514C. Cùng đoàn cán bộ của tỉnh chuẩn bị chiến trường đông lộ 12, bắc lộ 4 (thường gọi mảng 3 Cai Lậy bắc). Tôi được biết có đoàn cán bộ Trung đoàn Đồng Tháp 1 cũng đi chuẩn bị chiến trường phía tây lộ 12. Như vậy bắc lộ 4 từ hướng đông lên: phía trước là bộ đội địa phương, phía sau là lực lượng tập trung của Khu, chúng tôi rất phấn khởi. Đột nhiên tình hình diễn biến hết sức phức tạp, địch tổ chức đánh phá ác liệt vào những khu vực dự kiến Sở chỉ huy, các khu trú quân, nhưng rất may lực lượng ta chưa triển khai theo kế hoạch. Cũng thời gian này trên thông báo: Mười T, Tỉnh đội phó Tham mưu trưởng Tỉnh đội do hèn nhát ra chiêu hồi đầu hàng địch, chỉ điểm cho địch đánh phá ác liệt. Các cơ quan, đơn vị căn cứ tình hình thực tế để luồn lách, tránh địch đánh phá. Tiểu đoàn 514C được lệnh nhanh chóng cơ động rời mảng 3 xuống đông kênh Nguyễn Tấn Thành thuộc Châu Thành bắc. Sở chỉ huy quân khu cũng phải phân tán. Sau khi đầu hàng, Mười T đã cung cấp cho địch mọi tình hình, trong đó có cách đánh của ta để địch đối phó bước đầu có hiệu quả (có lúc ta lúng túng trước diễn biến của tình hình). Là một cán bộ trực tiếp chiến trường, anh Sáu Phú chủ động nghiên cứu nhiều phương thức đấu tranh, kết hợp giữa tác chiến với vận động quân chúng; thực hiện 2 chân (quân sự chính trị); 3 mũi (quân sự, chính trị, binh vận) để từ thế bị động giành lại thế chủ động và tiến công địch. Lấy kết quả đánh địch trên chiến trường để chứng minh một cách sinh động những quan điểm tư tưởng và phương thức tác chiến mà anh đã nêu ra. Để đạt được nhận thức và thống nhất cao là một quá trình, vì vậy trên chiến trường Mỹ Tho vào cao điểm sau các địa phương khác gần 2 tháng. Trước tình hình trên, việc đưa ra phương án tác chiến cách đánh..., bàn và thuyết phục lãnh đạo địa phương tin vào cách đánh ở thời điểm này không phải là dễ dàng. Bằng lý lẽ khách quan, khoa học và đặc biệt bằng ý chí và niềm tin của mình, anh đã thuyết phục được mọi người. Mỗi lần phối hợp với địa phương anh đều nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ tình hình các mặt ta, địch trên chiến trường. Bằng cảm quan nhạy bén và bản lĩnh chỉ huy của mình; anh đã làm cho lãnh đạo quân, dân, chính, đảng ở địa phương và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tin yêu. Riêng tôi thì đầy cảm phục về phương pháp chỉ huy mà mãi sau này tôi mới nhận thức một cách đầy đủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM