thongdiepthoigian
Thành viên

Bài viết: 618
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2026, 09:05:28 pm » |
|
Trung tuần tháng 10 năm 1954, quân ta lần lượt về tiếp quản Thủ đô. Cục Quân lực hành quân bộ từ Sơn Tây qua thị trấn Phùng đến Cầu Giấy rồi tập kết tại chùa Láng, kiểm tra lại quân số, sau đó vào thành Hoàng Diệu.
Cục Quân lực ở tạm dãy nhà cạnh đường Nguyễn Tri Phương. Nhà này có lắp kính toàn bộ các cửa phía trước, chưa có tên gọi, nên anh em gọi là Nhà Kính, ở đây một thời gian, Cục Quân lực chuyển vào làm việc tại Khu A - tên gọi dành cho khu làm việc của Bộ Tổng tham mưu và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cục Quân lực ở góc tây nam của Khu A. Trạm tiếp đón 60 do anh Nguyễn Văn Nhung làm Trưởng ban. Tháng 10 năm 1954, trạm tiếp quản Nhà thương Võ Tánh (cạnh chùa Bích Câu, phố Hàng Bột (Tôn Đức Thắng bây giờ). Sau một tháng trạm chuyển về nhà thờ Liễu Giai, phố Đội Cấn, Hà Nội. Cùng ở có cả Trạm 50 Tổng cục Chính trị và Trạm 70 của Tổng cục Hậu cần. Cuối năm 1956, ba trạm này hợp nhất làm một lấy tên là Trạm 66, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
Thời gian này, Cục trưởng vẫn là tôi, Cục phó là anh Phan Phúc Tường, anh Hồng Long (anh Hồng Long là Cục phó kiêm Trưởng phòng Cán bộ. Năm 1956 phòng Cán bộ nâng cấp thành Cục Cán bộ, tách khỏi Cục Quân lực trực thuộc Bộ Tổng tham mưu). Cuối năm 1955, anh Phan Phúc Tường có quyết định chuyển công tác khác, anh Phan Thêm được điều về làm Cục phó. Phòng Tổ chức biên chế do anh Văn Giang làm Trưởng phòng (sau này tách thành hai phòng là phòng Tổ chức, do anh Văn Giang làm Trưởng phòng; phòng Biên chế, do anh Đỗ Đức làm Trưởng phòng). Phòng Quân số, do anh Dương Quốc Cầm làm Trưởng phòng (anh Võ Lương là trưởng phòng đầu tiên). Phòng Trang bị do anh Tống Thái làm Trưởng phòng. Phòng Cần vụ quân đội do anh Trần Quang Đẩu làm Trưởng phòng (Trưởng phòng đầu tiên là anh Văn Lê). Phòng Cần vụ quân đội sau đổi thành phòng Điều lệnh rồi chuyển sang Cục Quân huấn - Bộ Tổng tham mưu. Phòng Bổ sung phục viên, do anh Nguyễn Hữu Giáp làm Trưởng phòng. Phòng Thống kê do anh Trần Thịnh làm Trưởng phòng. Ban Hành chính do anh Tô Hào làm Trưởng ban và anh Thái Văn Nghiệp là chính trị hiệp lý viên.
Một công việc không kém phần quan trọng của Cục Quân lực thời gian này là tham gia tổ chức lễ duyệt binh mừng thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác trở về Hà Nội, đồng thời biểu dương sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang ta, biểu tượng sự đoàn kết mạnh mẽ của toàn dân chung quanh Đảng, Bác Hồ.
Cục Quân lực đã nỗ lực ngày đêm góp sức vào thành công của lễ duyệt binh này, thông qua việc điều động quân số và trang bị trong toàn lực lượng vũ trang. Lực lượng duyệt binh có đủ đại diện các thành phần binh chủng của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích cả ba miền. Riêng về trang bị, chúng tôi phải điều chỉnh, sắp xếp thay đổi để tất cả các loại vũ khí, xe cộ dùng trong duyệt binh đều là chiến lợi phẩm thu được từ khắp các chiến trường. Đặc biệt là từ Điện Biên Phủ. Chúng tôi cử anh Ngô Song, phòng Trang bị, thường trực tại Ban Tổ chức - Bộ Tổng tham mưu để chăm lo về khâu trang bị, từ khi tập dượt cho đến khi tiến hành lễ duyệt binh chính thức.
Ngày 1 tháng 1 năm 1955, lễ duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội được tổ chức. Trên lễ đài có Bác, các đồng chí trong Bộ Chính trị, Chính phủ, đại biểu các chính đảng và tôn giáo. Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp duyệt các đơn vị và đọc nhật lệnh cho toàn quân. Tiếp đó Đại đoàn 308, một số đơn vị đại diện cho các chiến trường Tây Bắc, Đông Bắc, Trung Du, Đồng bằng, Liên khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào và Cam-pu-chia, đại diện các đại đoàn pháo binh, phòng không, các đơn vị dân quân du kích diễu qua lễ đài rồi tỏa đi một số đường phố Thủ đô. Sau khối quân đội là khối các cơ quan, đoàn thể, các ngành và nhân dân.
Đây là cuộc duyệt binh đầu tiên của quân đội ta. Do được chuẩn bị và luyện tập chu đáo, lễ duyệt binh ngày 1 tháng 1 năm 1955 diễn ra tốt đẹp, trật tự, an toàn.
Trở lại vấn đề về xây dựng quân đội, Quân ủy Trung ương căn cứ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương xác định kế hoạch xây dựng quân đội 1 năm, 2 năm rồi 5 năm (1955 - 1959). Nội dung xây dựng lực lượng là: Phải đi từ quân đội đơn thuần là bộ binh, đến quân đội có đủ các binh chủng, quân chủng. Xây dựng một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại, có bộ binh, pháo binh và một số binh chủng bảo đảm đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các binh, quân chủng như thiết giáp, không quân, hải quân để sang kế hoạch sau sẽ thực hiện hiện đại hóa lên một trình độ cao hơn. Cụ thể: Giảm tổng quân số; chấn chỉnh tổ chức biên chế; cải tiến trang bị vũ khí; xúc tiến đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng các trường quân sự; kiện toàn cơ quan tham mưu các cấp; thực hiện các điều lệnh; huấn luyện chính quy về quân sự, chính trị, văn hóa và thể lực; đẩy mạnh công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học quân sự; xây dựng và nâng cao cơ sở vật chất; xây dựng các binh chủng chính quy, tương đối hiện đại đồng thời tham gia xây dựng kinh tế; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị.
Cục Quân lực đã lập kế hoạch xây dựng lực lượng quân đội và được Bộ duyệt. Kế hoạch 1 năm (7.1954 - 6.1955); Kế hoạch 2 năm (9.1954 - 9.1956); Kế hoạch 5 năm (1955 - 1959).
Từ ngày 3 đến ngày 12 tháng 3 năm 1955, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 (mở rộng). Hội nghị kết luận: "Đế quốc Mỹ đang trực tiếp can thiệp vào Việt Nam ngày càng sâu, kẻ thù trước mắt hiện nay của chúng ta là đế quốc Mỹ, kẻ thù đầu sỏ nguy hiểm nhất". Để chiến thắng đế quốc Mỹ đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một quân đội hùng mạnh tiến lên chính quy hóa, hiện đại hóa.
Chấp hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng và ý kiến chỉ đạo của Tổng Quân ủy, rút kinh nghiệm gần một năm thực hiện kế hoạch xây dựng quân đội (7.1954 - 6.1955), Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần bổ sung một số nội dung cho phù hợp với sự phát triển của tình hình, điều chỉnh kế hoạch 1 năm thành kế hoạch 2 năm.
Với kế hoạch điều chỉnh 2 năm, tổng quân số dự định là 30 vạn, tổ chức biên chế chủ yếu là lục quân gồm bộ đội chính quy (chủ lực) và bộ đội địa phương. Chủ trương xây dựng bộ binh gồm 12 đại đoàn, 14 trung đoàn độc lập, 3 trung đoàn và 1 tiểu đoàn biên phòng, 2 trung đoàn và 2 tiểu đoàn phòng thủ bờ biển. Pháo binh có 3 đại đoàn lựu pháo, 2 trung đoàn dã pháo, 1 tiểu đoàn hỏa tiễn. Công binh có 4 đoàn công trình vượt sông, 2 đoàn công trình đường sắt. Duy trì Trung đoàn 151 và 3 tiểu đoàn độc lập hiện có. Bộ đội vận tải có 3 trung đoàn ô tô, 1 đến 2 đoàn thuyền và ca nô, 1 trung đoàn cơ giới. Bộ đội bảo vệ gồm các trung đoàn trực thuộc Bộ và bộ đội bảo vệ các tỉnh. Với không quân, thành lập Cục Hàng không. Với hải quân, thành lập Cục Phòng thủ bờ biển.
|