Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:29:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên  (Đọc 3078 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 09:13:53 am »

HỒI ỨC CHIẾN TRANH VỊ XUYÊN
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy

(Hoàn chỉnh bản thảo: Đại tá ĐẶNG VIỆT THỦY)

NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG - 2019















Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy - Nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2
Trưởng ban liên lạc CCB toàn quốc Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên




Lời giới thiệu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi. Đất nước ta đã hoàn toàn tự do, độc lập và thống nhất, giang sơn thu về một mối sau 30 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1975).

Hòa bình lập lại trên phạm vi cả nước, mỗi người dân Việt Nam không có nguyện vọng nào hơn là xếp vũ khí lại, bắt đầu xây dựng cuộc sống mới từ trong đổ nát của chiến tranh, khôi phục và xây dựng đất nước, hướng tới một cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc.

Nhưng sau năm 1975 không lâu, nhân dân Việt Nam đã phải đối đầu với cuộc tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Tây Nam do tập đoàn phản động “Khmer Đỏ”, đứng đầu là Pôn-pốt - IêngXa-ri tiến hành với sự hỗ trợ về nhiều mặt của các thế lực bên ngoài. Nghiêm trọng hơn, rạng sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã huy động hơn 60 vạn quân với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, xe bọc thép, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh với hàng nghìn khẩu pháo các loại... mở cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến phía Bắc từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh) với chiều dài hơn 1.400km.

“Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới...” toàn dân tộc Việt Nam lại bắt đầu vào cuộc chiến đấu mới chống quân xâm lược.

Dù Trung Quốc có biện minh dưới chiêu bài “phản kích tự vệ”, nhưng thực chất đây là hành động xâm lược Việt Nam - một quốc gia độc lập, có chủ quyển. Quân và dân Việt Nam đã anh dũng đánh trả để bảo vệ đất nước. Mặc dầu phía Trung Quốc tuyên bố rút quân và đến ngày 18/3/1979 thì rút hết, nhưng trên thực tế, cuộc chiến kéo dài tới 10 năm (1979 - 1989). Đặc biệt ác liệt là Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên (nay là tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang) từ năm 1984 đến năm 1989. Ác liệt đến mức có những ngọn núi đá bị đạn pháo, cối của địch bạt đi tới hơn 3 mét, nhiều ngọn núi đá vỡ trắng như miệng các lò vôi, nên các chiến sĩ ta gọi là “Lò vôi thế kỷ”...

Là người đã trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở phía Bắc, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy đã ghi lại một số sự kiện của cuộc chiến này qua “Hổi ức chiến tranh Vị Xuyên”.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, sinh năm 1931, nhập ngũ năm 1948, là một người lính đã trực tiếp chiến đấu qua các cuộc chiến tranh anh dũng của dân tộc: chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc.

Nguyễn Đức Huy nguyên là Chủ tịch Ủy ban quân quản lâm thời đầu tiên thị xã Quảng Trị (tháng 5/1972), nguyên Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Sư đoàn 325 (năm 1973), Tư lệnh Sư đoàn 325 (năm 1976), Phó Tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô (năm 1983), Phó Tư lệnh - Tham mưu trường Quân khu 2 (năm 1986), Quyền Tư lệnh Quân khu 2 (năm 1993).

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ phía Bắc Tổ quốc, từ đầu năm 1985 đến cuối năm 1989, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở chiến trường Vị Xuyên - Hà Tuyên, ông là Tham mưu trưởng Mặt trận (ông cùng đồng thời làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 2). Hiện nay, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy là Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh toàn quốc Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên.

Cuốn sách “Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên” của Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy gồm có những phần chính:

* Phần mở đầu.

* Chương I: Trung Quốc đem hơn 60 vạn quân xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979.

* Chương II: Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ 2:

A- Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ 2 và hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực ta. (chỉ ghi lại một số trận tiêu biểu)

B- Hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang địa phương Hà Tuyên trên Mặt trận Vị Xuyên.

C- Vị Xuyên - Những dấu ấn không quên.

* Thay cho phần kết: Một số hoạt động sau khi kết thúc chiến tranh.

* Phụ lục: Những bài viết, trả lời phỏng vấn của Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy với các phương tiện truyền thông về chiến tranh bảo vệ phía Bắc và bảo vệ biên giới Vị Xuyên - Hà Tuyên.

Thông qua hồi ức của mình và tư liệu của đồng đội, tác giả mang đến cho bạn đọc một góc nhìn chân thực, khách quan, cụ thể, sinh động về cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, khốc liệt và anh dũng của quân dân ta chống quân Trung Quốc xâm lược. Đặc biệt, tác giả đã cung cấp cho người đọc những tư liệu rất quý, những sự kiện lịch sử tuy đã qua nhưng vẫn còn nóng bỏng, mang hơi thở của chiến trường mà tác giả là người trong cuộc. Trong đó có những trận đánh, chiến dịch vô cùng ác liệt, ta và địch đánh, giữ, giành giật từng cao điểm, từng hang núi, hốc đá, từng mét chiến hào... kể cả những trận thành công và không thành công, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, cách đánh thích hợp để giành thắng lợi, giảm bớt thương vong cho cán bộ và chiến sĩ ta...

Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc đã để lại nhiều hậu quả nặng nề về vật chất và tinh thần, khắc sâu một vết hằn, “một khúc quanh” trong lịch sử quan hệ lâu đời giữa hai nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”. Nỗi đau khổ mà nhân dân hai nước phải gánh chịu trong chiến tranh là bài học xương máu phải được nhận thức đầy đủ. Trong cuộc chiến tranh này Trung Quốc đã gây cho nhân dân Việt Nam nhiều tổn thất về sinh mạng, tài sản và làm tổn thương nghiêm trọng tình hữu nghị Việt - Trung.

Có người nói rằng, cuộc chiến tranh phía Bắc Việt Nam là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Dẫu vậy nó vẫn là lịch sử. Tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là kích động hận thù. Lịch sử không thể bị lãng quên. Con em chúng ta cần biết và có quyển biết lịch sử, biết những gì mà cha ông đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc.

Chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nhưng không được quên quá khứ. Quên quá khứ là có tội với lịch sử, có tội với những người đã đổ máu hy sinh để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Đây cũng là tâm nguyện của tác giả “Hồi ức chiến tranh Vị Xuyên”. Hy vọng cuốn sách sẽ mang đến cho bạn đọc những tư liệu, những thông tin chân thực, bổ ích và cần thiết.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Đại tá - Nhà báo ĐẶNG VIỆT THỦY





Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #1 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 09:16:19 am »

Phần mở đầu


Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta trải qua hơn 30 năm chiến đấu kiên cường đã giành được thắng lợi vĩ đại - Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do đối với dân tộc Việt Nam.

Trung Quốc là nước láng giềng gần gũi “núi liền núi, sông liền sông” của Việt Nam. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, nhân dân hai nước gắn bó mật thiết, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau.

Giai đoạn 1950 - 1964, được coi là giai đoạn thân thiết, hữu nghị nhất của quan hệ Việt - Trung. Hai nước không những là láng giềng gần gũi, hữu nghị truyền thống mà còn chung ý thức hệ, chung nhu cầu đảm bảo an ninh quốc gia. Vì thế Trung Quốc là nước viện trợ hàng đầu cho Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Việt Nam cũng luôn ủng hộ đường lối đối ngoại của Trung Quốc, tuy không ký kết bất kỳ hiệp định đồng minh chính thức nào.

Dù vậy, Bắc Kinh luôn giữ tư tưởng bề trên. Luôn nói “không gây sức ép về chính trị, kinh tế thông qua viện trợ” nhưng Trung Quốc lại muốn Việt Nam thừa nhận vai trò lãnh đạo của nước này đối với phong trào giải phóng dân tộc trong khu vực và thế giới.

Về cuộc kháng chiến của nhân dân ta, Trung Quốc muốn Việt Nam chỉ đánh du kích có giới hạn chống Mỹ để họ dễ bề điều khiển, phục vụ ý đồ bắt tay với Mỹ, trong khi Việt Nam muốn thống nhất đất nước. Việt Nam cũng muốn trực tiếp đàm phán với Mỹ, không qua trung gian và đã đàm phán từ năm 1968. Còn Trung Quốc thì phản đối, muốn Việt Nam tiếp tục chiến tranh và đàm phán theo ý Trung Quốc.

Năm 1972, Tổng thống Mỹ Ních-Xơn tới Bắc Kinh và Trung - Mỹ ra thông cáo chung. Có ý kiến coi hành động này là sự phản bội của Trung Quốc. Cùng với đó, Trung Quốc cắt giảm viện trợ cho Việt Nam nhằm tìm kiếm cơ hội đàm phán với Mỹ.

Sau khi Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973, quan hệ Trung - Xô - Việt phức tạp hơn, lợi ích và xung đột về kinh tế, chính trị đan xen, rạn nứt Việt - Trung ngày càng rõ nét.

Năm 1956 Trung Quốc đem quân đánh chiếm một số hòn đảo ở phía đông quần đảo Hoàng Sa, năm 1974, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự cưỡng chiếm trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trong sự làm ngơ của Mỹ. Một năm sau, Việt Nam và Liên Xô ra Tuyên bố Việt -Xô, xác định quan hệ toàn diện giữa hai Đảng. Tháng 11 năm 1978, Việt Nam và Liên Xô ký Hiệp ước Hữu nghị, hợp tác. Cùng năm đó, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) và được Liên Xô gọi là “tiền đồn đáng tin cậy của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”.

Tuy thái độ và hành động của Trung Quốc như vậy, nhưng ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (năm 1975), nhiều đoàn đại biểu cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam (trong đó có cả Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn), sang thăm Trung Quốc, khẳng định: Việt Nam luôn ghi nhớ và cảm ơn sâu sắc Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc về sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về chính trị, vật chất lẫn tinh thần trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, phía Việt Nam luôn coi trọng việc giữ gìn quan hệ láng giềng hữu nghị hợp tác với Trung Quốc.

Nhưng cũng từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thắng lợi hoàn toàn, quan hệ hai nước dần xấu đi. Đối với Trung Quốc, thắng lợi của Việt Nam không làm cho họ hài lòng, vì theo Tuyên bố Thượng Hải ký năm 1972 giữa Chủ tịch Mao Trạch Đông với Tổng thống Mỹ Ních-xơn thì kết thúc chiến tranh Việt Nam với điều kiện chính quyền quản lý miền Nam Việt Nam là của bốn bên: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Mỹ và Việt Nam cộng hòa.

Thực tế thắng lợi ngày 30/4/1975 là hoàn toàn của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, nước Việt Nam thống nhất dưới sự quản lý chung của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Không khoanh tay ngồi nhìn thắng lợi của nhân dân Việt Nam ngoài ý muốn của Trung Quốc, nên các thế lực “bành trướng” Trung Quốc đã âm mưu phá hoại công cuộc tái thiết xây dựng lại đất nước Việt Nam sau 30 năm bị chiến tranh tàn phá bằng việc chỉ đạo, hỗ trợ cho bọn phản động tay sai “Khmer Đỏ” do Pôn-pốt - Iêng-xa-ri đứng đầu, đem quân đánh phá vào hai tỉnh biên giới của Việt Nam là Kiên Giang và An Giang, chúng đã giết hại dã man hơn 3 vạn đồng bào Việt Nam ở 2 tỉnh này. Đối với đất nước Cam-pu-chia, bọn Khmer Đỏ thực hiện chính sách diệt chủng tàn bạo, hơn 2 triệu dân Cam-pu-chia đã bị bọn “Khmer Đỏ” giết hại.

Cuối năm 1978, đầu năm 1979, khi quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng, xung đột vũ trang nhỏ lẻ ở biên giới liên tục diễn ra, phía Việt Nam vẫn kiên trì kêu gọi Chính phủ Trung Quốc cùng nhau đàm phán giải quyết mọi mâu thuẫn, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đáp lại thiện chí đó, phía Trung Quốc vẫn chủ trương tiến hành đường lối chống Việt Nam, cắt toàn bộ viện trợ đã cam kết, đưa ra nhiều đòi hỏi vô lý khi đàm phán... Mặt khác, phía Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền vu cáo “Việt Nam xâm lược Cam-pu-chia”, “Việt Nam lấn chiếm đất đai, quấy rối biên cương phía Nam Trung Quốc” nhằm đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài nước, từ đó ngang ngược tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Đáp lời kêu gọi của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, bộ đội quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân nước bạn đã giải phóng thủ đô Phnôm Pênh ngày 7/01/1979, lật đổ tập đoàn phản động Pôn-pốt - Iêng-xa-ri, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, mở ra công cuộc hồi sinh đất nước. Nhà cầm quyển Trung Quốc lúc đó cùng với một số nước khác ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự xuất hiện của Quân tình nguyện Việt Nam trên lãnh thổ Cam-pu-chia. Mục đích của họ là muốn chống phá cách mạng Việt Nam, hậu thuẫn cho các thế lực phản động để mưu toan áp đặt lợi ích dân tộc của họ trên bán đảo Đông Dương. Trong khi đó, bối cảnh quốc tế lúc này đang có những diễn biến rất phức tạp khi mâu thuẫn Liên Xô - Trung Quốc gia tăng căng thẳng, quan hệ Trung Quốc - Mỹ tiếp tục có sự cải thiện và cả hai đều coi Liên Xô là “kẻ thù số 1”.

Cũng trong thời gian này, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình sang Mỹ, được Mỹ bật đèn xanh, ngày 17/2/1979 Trung Quốc đã huy động hơn 60 vạn quân với hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và hàng nghìn khẩu pháo, mở cuộc tiến công ồ ạt vào Việt Nam trên toàn tuyến 6 tỉnh phía Bắc Việt Nam, từ Quảng Ninh đến Lai Châu, hòng cứu nguy cho bọn “Khmer Đỏ” đang bị tiêu diệt và tan rã, và thôn tính Việt Nam, buộc Việt Nam phải lệ thuộc vào Trung Quốc. Như vậy, Trung Quốc đã lựa chọn thời điểm tấn công Việt Nam ngay sau chuyến công du Mỹ của Đặng Tiểu Bình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 09:35:00 am »

CHƯƠNG I
Trung Quốc đem hơn 60 vạn quân xâm lược Việt Nam tháng 2 năm 1979



Sau nhiều lần gây ra các vụ khiêu khích quân sự quy mô nhỏ, 5 giờ sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã huy động hơn 60 vạn quân với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, xe bọc thép, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh với hàng nghìn khẩu pháo các loại mở cuộc tiến công xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên toàn tuyến phía Bắc Việt Nam từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái (Quảng Ninh), với chiều dài hơn 1.400 ki lô mét, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất (thời nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa). Bao gồm các tỉnh: Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

“Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, toàn dân tộc ta bước vào cuộc chiến đấu mới” chống quân xâm lược.

Mở cuộc tiến công phía Bắc Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc hướng đến những mục tiêu cơ bản:

Thứ nhất: buộc Việt Nam phải rút Quân tình nguyện ra khỏi Cam-pu-chia, tạo điều kiện cho quân Pôn-pốt hồi phục lực lượng, giữ được những căn cứ còn lại, tiếp tục chống phá chính quyền cách mạng Cam-pu-chia vừa thiết lập.

Thứ hai: tranh thủ sự ủng hộ của một số nước lớn đang chống phá cách mạng Việt Nam (trong đó có Mỹ) để giúp Trung Quốc thực hiện “bốn hiện đại hóa” (nông nghiệp, công nghiệp, quân đội, khoa học - kỹ thuật).

Thứ ba: phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng, kích động bạo loạn, hạ uy thế quân sự, chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế sau chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược năm 1975.

Thứ tư: thị uy sức mạnh đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Từ xưa đến nay, Đông Nam Á vẫn là cái đích Trung Quốc luôn nhắm tới từ nhiều triều đại phong kiến cho đến thời hiện đại. Trung Quốc coi Việt Nam như một trở ngại trên con đường của họ đi xuống Đông Nam Á.
Thứ năm: Thăm dò phản ứng của Liên Xô và dư luận thế giới để chuẩn bị cho những bước phiêu lưu quân sự sau này.

Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam của Trung Quốc thoạt đầu đẩy Việt Nam vào thế “lưỡng đầu thọ địch” và phải trải qua một thử thách vô cùng khó khăn do bị bao vây cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây có thể so sánh với thế “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước khi mới giành được độc lập năm 1945 - 1946. Cuộc tiến công xâm lược Việt Nam của quân đội Trung Quốc cũng làm cho thế giới sửng sốt. Từ chỗ là đồng minh “trong chiến tranh lạnh”, nhà cầm quyền Trung Quốc đã coi Việt Nam là kẻ thù... Những người bình thường trên thế giới không ai nghĩ rằng, một dân tộc như Việt Nam vừa trải qua 30 năm chiến tranh với thương tích đầy mình và có biết bao nhiêu công việc phải làm để xây dựng lại đất nước lại đi khiêu khích rồi xâm lược một nước khác - lại là nước lớn hơn, thậm chí lại là đồng minh trong hai cuộc kháng chiến trước đó, như một số người Trung Quốc cho đến nay vẫn nói rằng cuộc chiến tranh chống Việt Nam của họ chỉ là một “cuộc phản công tự vệ”.

Thực hiện cuộc tiến công xâm lược này những nhà lãnh đạo Trung Quốc lúc đó đã bất chấp pháp lý và đạo lý. Việc Trung Quốc tiếp tay cho Khmer Đỏ tấn công biên giới Tây Nam, điều động hơn 60 vạn quân trực tiếp tiến công lãnh thổ phía Bắc và trước đó là việc đánh chiếm Hoàng Sa đã bộc lộ rõ rệt thực chất và mưu đồ của giới cầm quyển Bắc Kinh.

Bộ chỉ huy phía Trung Quốc khi tiến công xâm lược Việt Nam chủ quan nhận định: với lực lượng quân số, vũ khí trang bị chiếm ưu thế áp đảo hiện tại. Nếu so sánh lực lượng trực tiếp chiến đấu thì bộ binh Trung Quốc đông hơn gấp 4 lần, pháo binh nhiều gấp 5,7 lần, xe tăng, thiết giáp nhiều gấp 9,8 lần..., như tướng Hứa Thế Hữu, chỉ huy cánh đông của Trung Quốc tuyên bố: “Chỉ trong 2-3 ngày quân Trung Quốc sẽ đập nát tuyến phòng thủ biên giới của Việt Nam, và nếu muốn không đến 2 giờ sẽ đánh tới Hà Nội...”. Mặt khác, một bộ phận lớn quân đội Việt Nam lúc này đang thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, lực lượng tăng cường cho lực lượng biên giới sẽ gặp khó khăn. Từ nhận định này, phía Trung Quốc đề ra kế hoạch là nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, địa bàn quan trọng, sau đó tùy tình hình, điều kiện cụ thể có thể phát triển sâu vào nội địa Việt Nam.

Trên mỗi hướng tấn công, quân Trung Quốc thường kết hợp đánh chính diện với vu hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt, phối hợp giữa bộ binh, xe tăng, xe bọc thép và pháo binh, thực hiện đánh phá triệt để toàn diện rất tàn khốc.

Về phía Việt Nam, ngay từ cuối năm 1978, lường định về một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam khẩn trương tăng cường lực lượng củng cố tuyến phòng thủ biên giới phía Bắc. Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc ngày 17/2/1979, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đang đi ngược lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước, đồng thời khẳng định quân và dân Việt Nam không còn con đường nào khác là thực hiện quyển tự vệ chính đáng của mình để đánh trả.

Sau hơn 10 ngày thực hiện ý đồ “đánh nhanh, chiếm nhanh các mục tiêu” theo kế hoạch ban đầu, quân Trung Quốc dựa vào ưu thế quân đông, vũ khí trang bị nhiều và hiện đại đã tiến sâu vào Việt Nam trên một số hướng, có chỗ sâu đến 50 ki lô mét (Lào Cai), san bằng 3 thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Đây là cuộc chiến tranh hủy diệt mà đối phương thực hiện với phương châm “3 sạch”: “cướp sạch, phá sạch, giết sạch”. Điển hình là cuộc tàn sát dã man, đẫm máu của chúng ở thôn Tổng Chúp, xã Trần Hưng Đạo, tỉnh Cao Bằng, ở đây có 43 người chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, bị giặc giết chết rồi đem toàn bộ xác quăng xuống giếng rồi lấy đá lấp lại. Hoặc ở thị xã Lạng Sơn, hơn 100 đồng bào đều là cụ già, phụ nữ, trẻ em, chạy vào ẩn nấp trong pháo đài Lạng Sơn, khi quân Trung Quốc chiếm được thị xã Lạng Sơn, phát hiện có đồng bào ta ẩn nấp trong pháo đài, chúng đã lấy củi, rơm rạ... hun chết tất cả. Trên hướng Lào Cai, khi chiếm được nhà máy tuyển quặng Apatít, chúng đã tháo dỡ lấy đi toàn bộ máy móc của Liên Xô mới viện trợ cho ta để đem về Trung Quốc. Ngoài quân chủ lực, Trung Quốc còn còn đem theo nhiều vạn dân binh, đi tới đâu, có cái gì lấy được thì chúng vơ vét hết mang về Trung Quốc từ lương thực, thực phẩm, gà vịt đến nồi niêu, xoong chảo... Trên đường rút quân, chúng còn phá tất cả cầu cống, các di tích lịch sử, thậm chí cả những cột điện để mắc dây điện thoại chúng cũng dùng đến bộc phá để phá hủy...

Trong những ngày đầu chiến tranh, phía Việt Nam chủ trương không tập trung lực lượng dự bị chiến lược vào quyết chiến sớm, cũng không vội rút lực lượng chủ lực cơ động từ phía Nam ra, mà phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính, có sự bổ sung một bộ phận lực lượng từ tuyến sau lên tăng cường.

Trải qua hơn 10 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm ý định “đánh nhanh, chiếm nhanh” của quân Trung Quốc, buộc đối phương phải tung lực lượng dự bị chiến lược vào tham chiến. Như trên đã nói, với ưu thế quân đông, nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, quân Trung Quốc từng bước tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, lần lượt chiếm một số địa bàn, thị xã quan trọng như: Lào Cai (ngày 19/2) Cao Bằng (ngày 24/2), Cam Đường (ngày 25/2), Lạng Sơn (ngày 5/3).

Trong khi quân Trung Quốc huy động hơn 60 vạn quân xâm lược 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, các lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam phần lớn đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia. Trên 6 tỉnh biên giới chỉ có một số sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn của các quân khu và dân quân du kích. Trên hướng Quảng Ninh có Sư đoàn 328, Lữ đoàn 242, Lạng Sơn có Sư đoàn 3 - Sao Vàng, Sư đoàn 338, Cao Bằng có Sư đoàn 346 và Sư đoàn 311, Lào Cai có Sư đoàn 316, Lai Châu có Sư đoàn 326, còn lại đều là bộ đội địa phương, dân quân, du kích. Trong tay của Bộ Tổng Tư lệnh lúc này chỉ còn Quân đoàn 1 làm nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô và sẵn sàng ứng cứu những nơi xung yếu nhất.

Để huy động và động viên nhân dân cả nước chống quân Trung Quốc xâm lược, ngày 5/3/1979, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tổng động viên lực lượng bảo vệ Tổ quốc,- cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ký lệnh “Tổng động viên” cả nước. Đây có thể nói là lời “Hịch non sông đất nước” thời đại Hồ Chí Minh.

Trong lúc này tại chiến trường Cam-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam và quân đội cách mạng Cam-pu-chia cơ bản đã tiêu diệt và làm tan rã hết quân “Khơ me đỏ” chỉ còn một ít tàn quân chạy sang biên giới Thái Lan chống cự. Vì vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã quyết định điều động gấp Quân đoàn 2, Quân đoàn 3 rút khỏi chiến trường Cam-pu-chia về nước, lên biên giới phía Bắc chiến đấu, yêu cầu cơ động bằng mọi phương tiện vận tải đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường không. Bên cạnh đó ta lại được Liên Xô giúp đỡ phương tiện vận tải đường không để đưa các loại xe, pháo hạng nặng kịp thời cho bộ đội chiến đấu.

Mặt khác, theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (hay còn gọi là Hiệp ước Việt Nam và Liên Xô) được ký kết ngày 3/11/1978 tại Matxcơva, có điều khoản (điều 6) hai bên thỏa thuận: trong trường hợp một trong hai bên bị tiến công hoặc bị đe dọa tiến công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi với nhau, nhằm loại trừ mối đe dọa đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực lúc bấy giờ, Hiệp ước có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh của mỏi nước, góp phần củng cố hòa bình và an ninh ở khu vực và trên thế giới. Căn cứ vào Hiệp ước, để hỗ trợ cho cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nhân dân Việt Nam, Liên Xô đã điều động 54 sư đoàn chủ lực với các phương tiện chiến tranh hiện đại như pháo, xe tăng, tên lửa... áp sát biên giới phía Bắc của Trung Quốc giáp với Mông Cổ, về hải quân Liên Xô cũng điều động một số chiến hạm vào biển Đông để sẵn sàng tham chiến giúp nhân dân Việt Nam.

Cuối tháng 2/1979 lực lượng đầu tiên của Quân đoàn 2 đã có mặt tại tỉnh Thái Nguyên (thuộc địa bàn Quân khu 1). Lúc này tôi vừa học xong lớp bổ túc quân sự cấp cao khóa 2, thì nhận được lệnh của Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2, lệnh cho tôi đưa ngay Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 lên Cao Bằng chiến đấu, phối hợp với lực lượng của Quân khu 1 tiêu diệt lực lượng quân Trung Quốc ở khu vực huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chỉ trong thời gian ngắn Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 đã phối hợp với lực lượng của Quân khu 1 tiêu diệt hết quân địch trong khu vực được giao, bắt sống hơn 20 tên thuộc Quân đoàn 50 đại quân khu Tứ Xuyên (quê hương của Đặng Tiểu Bình).

Được biết theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, ta đã chuẩn bị sẵn trận địa trên 2 khu vực: Đèo Sài Hồ trên trục đường số 1 và trục đường 1B khu vực huyện Bắc Sơn. Nếu quân Trung Quốc thọc sâu vào hai khu vực này ta sẽ sử dụng các quân đoàn chủ lực để tiêu diệt gọn 1 quân đoàn của quân Trung Quốc.

Để tăng cường lực lượng, ngày 2 tháng 3 năm 1979, Bộ Chính trị có Quyết định số 34/QĐ-TW thành lập Quân đoàn 5 thuộc Quân khu 1 (sau đổi thành Quân đoàn 14) trên cơ sở Mặt trận Lạng Sơn nhằm tạo lực lượng mạnh chuẩn bị phản công, Biên chế của Quân đoàn 5 gồm có: năm sư đoàn bộ binh (3, 337, 338, 327, 347), Trung đoàn phòng không 272, Trung đoàn pháo binh 166, Trung đoàn xe tăng 407, Trung đoàn công binh 514, một số đơn vị binh chủng, bảo đảm và cơ quan. Thiếu tướng Hoàng Đan, Tư lệnh Mặt trận Lạng Sơn làm Tư lệnh Quân đoàn, Đại tá Phí Triệu Hàm làm Chính ủy Quân đoàn.

Trong lúc chiến sự trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đang diễn ra, ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành kế hoạch “Dạy cho Việt Nam một bài học” và ra lệnh rút quân về nước.

Ngày 7/3/1979, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân mà không truy kích.

Sau này có ý kiến phân tích nguyên nhân Trung Quốc tuyên bố rút quân vào ngày 5/3/1979 như sau:

Một là, do bị quân và dân Việt Nam đánh cho thất bại nặng nề, nên Trung Quốc buộc phải rút quân. Bên cạnh đó, dư luận quốc tế kịch liệt lên án Trung Quốc trong cuộc chiến tranh này. Chính phủ nhiều nước, nhiều tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể quần chúng trên thế giới đã tổ chức biểu tình, ra Tuyên bố với khẩu hiệu “Không được đụng đến Việt Nam”, đòi “nhà cầm quyền Trung Quốc rút ngay quân đội ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”...

Hai là, Trung Quốc phát hiện Việt Nam đã điều động Quân đoàn 2 và Quân đoàn 3 từ mặt trận Cam-pu-chia về tham gia chiến đấu để bảo vệ phía Bắc Việt Nam. Ai cũng biết rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa trải qua một giai đoạn dài trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,- đây là những quân đoàn thiện chiến đã từng đánh bại những đơn vị sừng sỏ nhất của đế quốc Mỹ và quân ngụy tay sai. Nếu quân Trung Quốc tiếp tục tiến sâu vào đất Việt Nam sẽ bị tiêu diệt lớn, thiệt hại nặng, nên buộc Trung Quốc phải rút quân.

Ba là, Trung Quốc thấy Liên Xô thật sự giúp Việt Nam, sẵn sàng tham chiến, cùng nhân dân Việt Nam chiến đấu để đánh bại cuộc chiếm tranh xâm lược Việt Nam. Mặt khác, nếu cần Liên Xô sẽ mở mặt trận đánh vào biên giới Bắc Trung Quốc giáp với Mông Cổ.

Bốn là, Trung Quốc chỉ giới hạn cuộc chiến tranh xâm lược như vậy, để thử thách ý chí của quân, dân Việt Nam và thử xem hiệu quả của Hiệp ước Việt Nam - Liên Xô vừa được ký cuối năm 1978 như thế nào. Nói cách khác, Trung Quốc coi cuộc tiến công Việt Nam là phép thử với quan hệ Xô -Việt và lôi kéo Mỹ cùng chống lại Liên Xô. Đây cũng là lý do sâu xa của cuộc chiến tranh phía Bắc từ tháng 2/1979.

Trước hành động tuyên bố rút quân của Trung Quốc, để tỏ rõ thiện chí hòa bình, mong muốn khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước, Trung ương Đảng, Chính phủ Việt Nam ra lệnh cho các lực lượng vũ trang và nhân dân vùng biên giới dừng chiến dịch phản công để tạo điều kiện cho quân Trung Quốc rút về nước. Đến ngày 18/3/1979, về cơ bản Trung Quốc hoàn thành việc rút quân khỏi Việt Nam (thực tế còn rải rác thêm các ngày sau đó).

Cuộc chiến đấu bảo vệ phía Bắc của Việt Nam diễn ra trong vòng một tháng (từ 17/2 đến 18/3/1979), nhưng có ý nghĩa thắng lợi rất to lớn, thể hiện trên một số khía cạnh cơ bản: Quân và dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân xâm lược, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng ba trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, xe thiết giáp, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự... buộc đối phương sớm rút quân, qua đó làm thất bại hoàn toàn ý đồ của các nhà cầm quyền Trung Quốc muốn áp đặt lợi ích nước lớn trên bán đảo Đông Dương.

Điều đáng chú ý là, sau khi tuyên bố rút quân, Trung Quốc vẫn duy trì 12 sư đoàn và hàng chục trung đoàn độc lập áp sát biên giới Việt Nam, thường xuyên gây tình hình căng thẳng, tiếp tục lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở mọi quy mô, thực hiện kiểu “chiến tranh phá hoại nhiều mặt”.
Cuộc chiến tranh trên biên giới Việt - Trung diễn ra trong vòng hơn một tháng, được phía Trung Quốc tuyên bố là đã “dạy cho Việt Nam một bài học”, “đánh sập huyền thoại về tài bách chiến bách thắng của quân đội Việt Nam”. Nhưng thực tế thì ngược lại, tờ Nhật báo Phố Wall Mỹ, số ra ngày 6/3/1979, dưới đầu để: “Ai cho ai bài học” đã viết:

“Sau khi tính số lỗ lãi của đòn trừng phạt Việt Nam vừa qua của Trung Quốc, thế giới có thể nhất trí rằng: Trung Quốc đã phải rút khỏi cuộc chiến tranh với uy tín bị tổn thương và mặt mày đầy máu me, thương tích...”.

Tiến công Việt Nam, Trung Quốc thực sự đã tiến hành một cuộc xuất quân xâm lược nhằm phá hoại và làm suy yếu Việt Nam, đánh một đòn nặng vào cơ sở kinh tế, vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, làm cho Việt Nam mất thế ổn định. Hậu quả là nhiều làng mạc, thị xã bị phá trụi. Đường giao thông, các thiết bị sản xuất, các cơ sở y tế, trường học bị phá hoại không hoạt động được. Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Cam Đường bị phá hủy hoàn toàn. 330 làng bản, 735 trường học, 428 bệnh viện và trạm xá, 41 nông trường, 38 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ, 80.000 hecta lương thực và hoa màu bị phá hủy, khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân ở 6 tỉnh biên giới mất nhà cửa. Hàng ngàn người Việt Nam, trong đó chủ yếu là các cụ già, phụ nữ và trẻ em bị chết và bị thương. Ngoài ra còn có nhiều công trình văn hóa, lịch sử, nhiều nhà bảo tàng ở các địa phương cũng bị đối phương phá hủy.

Cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động làm tổn hại mối quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân Việt Nam và Trung Quốc. Đó là một khúc quanh lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, những đau khổ mà nhân dân hai nước phải gánh chịu trong chiến tranh là bài học xương máu phải được nhận thức đầy đủ. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đều không muốn chiến tranh. Người Trung Quốc thường nói “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (cái mà mình không muốn thì đừng gây ra cho người khác). Trong cuộc chiến tranh này, Trung Quốc đã gây ra cho nhân dân Việt Nam nhiều tổn thất về sinh mạng, tài sản và làm tổ thương nghiêm trọng tình hữu nghị Việt - Trung. Cuộc chiến đấu này thêm một lần nữa khẳng định ý chí, sức mạnh bền bỉ của nhân dân Việt Nam quyết tâm vượt mọi khó khăn, thử thách để bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bởi Việt Nam lúc này vừa kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa lâu. năm 1975. Vừa kết thúc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và đang làm nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn-pốt - Iêng-xa-ri, thực hiện công cuộc hồi sinh đất nước. Kinh tế lại đang gặp nhiều khó khăn do chính sách cấm vận của Mỹ. Cuộc chiến tranh bảo vệ phía bắc của Việt Nam góp phần khẳng định đường lối chính trị đúng đắn, sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sắc bén của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương Việt Nam, nhất là trong việc nắm bắt tình hình, đánh giá đúng khả năng hành động của đối phương. Trên cơ sở đó kịp thời chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang và nhân dân chuẩn bị các mặt sẵn sàng đối phó, tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,  xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy đơn vị chiến đấu trên biên giới, tôi nhận được quyết định bổ nhiệm của Bộ Quốc phòng về làm Tư lệnh Sư đoàn 306. Về Sư đoàn 306 được thời gian ngắn, tôi lại được đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2 điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 325. Anh Nguyễn Hữu An còn nói đùa: “Tại sao cậu lại về Sư đoàn 306? Vị trí của cậu là ở Sư đoàn 325 chứ?”. Tôi liền đưa quyết định của Bộ do anh Hoàng Văn Thái – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký bổ nhiệm tôi làm Tư lệnh Sư đoàn 306. Xem xong quyết định của Bộ, anh An nói: “Thôi, cậu cứ về làm Tư lệnh Sư đoàn 325 thay cho Đỗ Phạm, tớ sẽ báo cáo với Bộ thay đổi lại quyết định của cậu!”. Sau đó tôi về làm Tư lệnh Sư đoàn 325, đến năm 1980 tôi được cử đi học lớp lý luận chính trị cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Thành phần tham gia lớp học này là các đồng chí Tư lệnh Quân khu, Quân đoàn, Phó Tổng tham mưu trưởng..., bên dân sự là các đồng chí chủ tịch, bí thư các tỉnh, các đồng chí vụ trưởng, vụ phó các bộ... Sau hơn 6 tháng học tập, kết thúc khóa học tôi được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 354 Quân khu Thủ đô, rồi làm Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô.

Mặc dầu bị thất bại nặng nề trong cuộc xâm lược (tháng 2 năm 1979) vào 6 tỉnh phía Bắc của Việt Nam, nhưng với bàn chất “bành trướng” nước lớn, Trung Quốc vẫn không ngừng từ bỏ âm mưu thôn tính, khuất phục Việt Nam, âm mưu và hành động làm suy yếu, phá hoại công cuộc tái thiết kinh tế của Việt Nam sau hơn 30 năm bị chiến tranh tàn phá, đồng thời không từ bỏ âm mưu lấn chiếm một phần biên giới phía Bắc Việt Nam. Biên giới Việt Nam - Trung Quốc sau sự kiện tháng 2 năm 1979 vẫn luôn căng thẳng. Thường xuyên Trung Quốc dùng pháo, cối bắn vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi phía bên kia còn đưa lực lượng biên phòng hoặc bộ đội địa phương tấn công vào một số đồn biên phòng và trận địa phòng ngự của Việt Nam. Vì thế, đòi hỏi quân và nhân dân ta phải luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đánh trả tất cả các cuộc tấn công lấn chiếm biên giới, những hành động gây hấn, bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 10:17:59 am »

CHƯƠNG II
Trung Quốc mở cuộc tấn công xâm lược Việt Nam lần thứ 2



A- TRUNG QUỐC MỞ CUỘC TẤN CÔNG XÂM LƯỢC VIỆT NAM LẦN THỨ 2 VÀ HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA BỘ ĐỘI CHỦ LỰC TA (CHỈ GHI LẠI MỘT SỐ TRẬN TIÊU BIỂU)

Biết rõ âm mưu thâm độc của Trung Quốc và thế nào họ cũng sẽ tiếp tục gây chiến với Việt Nam, do vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã tổ chức thành lập mới một số đơn vị như: Quân đoàn 26 thuộc Quân khu 1, Quân đoàn 29 thuộc Quân khu 2, Quân đoàn 10 thuộc Quân khu 3 (Quân đoàn 10 chỉ mới có cán bộ khung). Tháng 4 năm 1979 tách tỉnh Quảng Ninh khỏi Quân khu 1 thành lập Đặc khu Quảng Ninh... để có thêm lực lượng sẵn sàng đối phó với âm mưu xâm lược của Trung Quốc.

Trước đó, ngày 26/5/1978, Hội đồng Chính phủ đã ra Sắc lệnh tách các tỉnh thuộc Quân khu Tây Bắc cũ và 3 tỉnh Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên ra khỏi Quân khu 1 để thành lập Quân khu 2. Sáp nhập tỉnh Quảng Ninh và Hà Bắc thuộc Quân khu 3 vào Quân khu 1. Như vậy, Quân khu 1 có các tỉnh Bắc Thái, Quảng Ninh, Hà Bắc và Cao Lạng. Quân khu 2 gồm các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Sơn La và Vĩnh Phú. Đồng chí Đàm Quang Trung là Tư lệnh Quân khu 1. Đồng chí Vũ Lập là Tư lệnh Quân khu 2.

Ngày 29/12/1978, Quốc hội quyết định tái lập hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, Cao Bằng sáp nhập hai huyện Chợ Rã và Ngân Sơn của tỉnh Bắc Thái, Lạng Sơn thêm huyện Đình Lập của Quảng Ninh.

Đối với Quân khu 2, được giao quản lý một địa bàn chiến lược rộng lớn phía Tây Bắc của Việt Nam bao gồm các tỉnh: Hà Tuyên (Hà Giang và Tuyên Quang), Hoàng Liên Sơn (Lào Cai và Yên Bái), Lai Châu (Lai Châu, Điện Biên), Sơn La, Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc và Phú Thọ), với dân số trên 5 triệu người, 51% là đồng bào dân tộc ít người (15 dân tộc), có biên giới với Trung Quốc dài trên 700 ki lô mét.

Lực lượng vũ trang của Quân khu 2 gồm: Quân đoàn 29 có 3 sư đoàn: 316, 345, 355, một số đơn vị binh chủng, các sư đoàn trực thuộc Quân khu: Sư đoàn 313, 314, 356, 411, 326, một số trung đoàn, lữ đoàn binh chủng: Lữ đoàn pháo binh 168, Lữ đoàn phòng không, Lữ đoàn công binh 543, Trung đoàn xe tăng, Trung đoàn đặc công, Trung đoàn thông tin 604, trung đoàn vận tải cơ giới, một số đơn vị binh chủng bảo đảm cho chiến đấu: tiểu đoàn hóa học, đại đội trinh sát kỹ thuật, tiểu đoàn trinh sát pháo binh, tiểu đoàn trinh sát bộ binh, đặc công, một số trường như: Trường quân sự, Trường hạ sĩ quan...

Lực lượng vũ trang địa phương: Các tỉnh có trung đoàn hoặc tiểu đoàn bộ binh địa phương, tiểu đoàn đặc công, lực lượng dân quân, tự vệ, những xã giáp biên giới có trung đội, tiểu đội du kích tập trung... với quân số lên đến hàng vạn dân quân, du kích, tự vệ chiến đấu. Để kịp thời chỉ huy chiến đấu trên các hướng, cơ quan Quân khu 2 tổ chức ra 3 cơ sở chỉ huy: Sở chỉ huy cơ bản, chỉ huy chung đặt tại Yên Bái, sở chỉ huy cánh tây có nhiệm vụ chỉ huy hướng Lào Kay và Lai Châu, đặt tại huyện Bảo Thắng, Sở chỉ huy cánh bắc, chỉ huy chiến đấu tại tỉnh Hà Giang, đặt tại thị xã Hà Giang.

Kể từ năm 1979, trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, ngoài sự kiện ngày 17/2/1979, còn xảy ra ít nhất 5, 6 cuộc đụng độ lớn nữa ở một số địa phương tuy không phải toàn tuyến biên giới cùng lúc. Đó là các cuộc: tháng 7/1980, tháng 5/1981, tháng/1983, tháng 4/1984, kéo dài đến tháng 10/1989. Đến năm 1990, cuộc chiến mới thực sự kết thúc rồi bình thường hóa quan hệ hai nước từ năm 1991. Tất cả đều do phía Trung Quốc gây chiến. Họ không muốn nước Việt Nam được yên ổn trong hòa bình nên dùng mọi thủ đoạn khiêu khích muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”, hoặc có kế hoạch nhằm đạt các mục tiêu chính sách đối ngoại nham hiểm buộc ta phải quy phục họ.

Sau nhiều ngày dùng pháo binh bắn phá ác liệt vào các tỉnh biên giới của Việt Nam, ngày 28/4/1984, Trung Quốc lại mở cuộc tấn công xâm lược lấn chiếm biên giới Việt Nam, đây là cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Trung Quốc vào Việt Nam. Trung Quốc đã lần lượt huy động nhiều đơn vị tổng số khoảng 50 vạn quân từ 8 trong 10 đại quân khu gồm: Quân khu Côn Minh, Nam Kinh, Phúc Châu, Tế Nam, Lan Châu, Thành Đô, Bắc Kinh và Nam Kinh, với hơn 20 sư đoàn bộ binh, 171 trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh, 3 sư đoàn pháo binh và các đơn vị pháo binh của các sư đoàn bộ binh (tổng cộng hơn 400 khẩu pháo lớn các loại), trên 1.000 xe cơ giới phục vụ cho chiến đấu. Lần này Trung Quốc không tấn công trên chính diện rộng, mà tập trung tấn công lấn chiếm một phần đất ở khu vực biên giới huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay là Hà Giang và Tuyên Quang). Với một chính diện khoảng 20 km, sâu khoảng 10 km, mục tiêu là lấn tới bắc suối Thanh Thủy, để vẽ lại đường đường biên giới sâu vào đất Việt Nam khoảng 5 km. Địa hình khu vực này phần lớn là núi đá vôi cao, dốc từ biên giới vào Việt Nam, địa hình bên kia biên giới tương đối thoải mái, ít núi đá, dễ triển khai đội hình lớn khi xảy ra chiến sự. Còn địa hình phía Việt Nam từ suối Thanh Thủy ra biên giới Việt Nam - Trung Quốc dốc ngược lên biên giới, núi đá cao rất khó triển khai đội hình lớn để tấn công địch.
Để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Trung Quốc, trong 5 năm từ 1984 đến 1989 Việt Nam chúng ta cũng đã lần lượt huy động tới hàng chục sư đoàn chủ lực: Sư đoàn 3, 312, 313, 314, 356, 316, 325, 31, 322, 328... các trung đoàn bộ binh địa phương, đặc công, một số trung đoàn, lữ đoàn pháo binh, công binh, hóa học... hàng vạn dân quân, du kích tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên, hàng chục vạn thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến phục vụ cho Mặt trận Vị Xuyên.

Trước khi nói cụ thể về Vị Xuyên, xin được nói đôi nét về tỉnh Hà Giang. Hà Giang là tỉnh miền núi vùng cao biên giới phía Bắc Tổ quốc, phía Bắc giáp hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), có đường biên giới dài gần 280 km qua 7 huyện (34 xã) giáp biên giới, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Năm 1976, hai tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang được sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên, đến năm 1991, tỉnh Hà Tuyên lại được tách thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang địa hình phức tạp, sông suối chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, chia thành 3 vùng: vùng núi đá gồm 4 huyện phía Bắc, vùng núi đất thuộc 2 huyện phía Tây, còn lại là vùng đồi núi thấp.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ tháng 2/1979 đến tháng 10/1989, Hà Giang là địa bàn trọng điểm bị địch tiến hành chiến tranh lấn chiếm và phá hoại nhiều mặt so với toàn tuyến biên giới phía Bắc. Đặc biệt từ năm 1984 đến năm 1986, chiến sự xảy ra ác liệt ở xã Thanh Thủy, Minh Tân, Thanh Đức... thuộc huyện Vị Xuyên, xã Bạch Đích, Phú Lũng thuộc huyện Yên Minh, tại Mặt trận Vị Xuyên đã có hơn một chục sư đoàn bộ binh luân phiên tham gia chiến đấu. Các đơn vị bộ đội chủ lực của bộ và quân khu cùng với bộ đội địa phương, dân quân tự vệ của tỉnh và nhân dân đã quyết tâm chiến đấu giành giật với địch từng chiến hào, từng điểm cao để giữ vững chủ quyển biên giới quốc gia.

Đối với Vị Xuyên - một huyện của tỉnh Hà Giang, có thể nói kể từ sau ngày 18/3/1979, gần chục năm ròng chưa khi nào Vị Xuyên ngớt tiếng pháo, đạn súng cối từ bên kia biên giới rót sang. Từ một địa bàn được xác định là thứ yếu, Vị Xuyên nhanh chóng trở thành điểm nóng, một mặt trận trọng điểm trong chính sách gặm nhấm biên giới Việt Nam của quân Trung Quốc thời điểm đó.

Như trên đã nói, ngày 28/4/1984, quân Trung Quốc lại mở cuộc tấn công lấn chiếm biên giới huyện Vị Xuyên. Địa hình nơi đây phần lớn là núi đá vôi, cao và dốc từ biên giới vào Việt Nam, như các điểm cao: 1509, 772, 685, 1030, 840... xen kẽ một số điểm cao là đồi đất: bình độ 1200, 1100, 233, 400 đất, Đồi Chuối, Đồi Cô Ích..., chia cắt chiến trường thành 2 khu vực đông sông Lô và tây sông Lô bởi con sông Lô chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam. Sâu trong đất Việt Nam khoảng 5 km có suối Thanh Thủy chảy từ phía tây sang đông gặp sông Lô ở ngã ba Thanh Thủy. Sông Lô về mùa khô dòng chảy hẹp, nhưng mùa mưa nước lớn chảy xiết, việc qua lại rất khó khăn. Suối Thanh Thủy bình thường lội qua được, để thuận tiện cho việc đi lại hai bờ suối Thanh Thủy nhân dân đã bắc một vài cầu treo. Dọc bờ suối về phía Bắc có 2 hang lớn: hang Làng Lò và hang Dơi, nơi đây có thể chứa hàng nghìn người. Về đường sá dọc biên giới có đường số 4 được làm từ thời Pháp cai trị, mục đích để cơ động những đạo quân binh để bảo vệ vùng biên giới. Nối liền từ biên giới vào sâu trong nội địa Việt Nam có đường số 2 chạy từ thị xã Hà Giang tới Thủ đô Hà Nội dài trên 300 ki lô mét, đây là con đường độc đạo, hẹp, chủ yếu là đường cấp phối. Có thể nói chiến trường Vị Xuyên, Hà Giang là một vùng rừng núi hẻo lánh, cách biệt với vùng đồng bằng sông Hồng và Thủ đô Hà Nội.

Về địa hình bên kia biên giới phía Trung Quốc là vùng cao nguyên, chủ yếu là đồi đất, cao hơn phía Việt Nam, ở đây thuận tiện cho những binh đoàn lớn triển khai khi xảy ra chiến tranh.

Một câu hỏi được đặt ra là, trên tuyến biên giới dài cả nghìn ki lô mét, tại sao quân Trung Quốc lại chọn Hà Tuyên và lấy Vị Xuyên làm điểm tiến công lấn chiếm sau cuộc chiến tranh tháng 2/1979 mà họ gọi là để “dạy cho Việt Nam một bài học” đã kết thúc?

Thứ nhất, biên giới huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên là địa bàn hẻo lánh, xa Thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa... hơn 300 km, duy nhất chỉ có quốc lộ số 2 chạy từ thị xã Hà Giang tới Hà Nội. Khu vực Vị Xuyên phần lớn là núi đá, cao từ biên giới, thấp dần vào nội địa Việt Nam. Địa hình phía Trung Quốc là vùng cao nguyên rộng, thuận lợi cho việc triển khai đội hình lớn để tấn công Việt Nam. Còn địa hình phía Việt Nam rất khó cho việc triển khai đội hình lớn để phòng thủ và phản công, việc vận chuyển, chi viện các mặt từ phía sau lên mặt trận cũng rất khó khăn.

Thứ hai, mục đích của quân Trung Quốc lúc đó là thu hút càng nhiều càng tốt binh lực của Việt Nam trên tuyến biên giới, tác động tới công cuộc tái thiết kinh tế, làm cho Việt Nam suy yếu. Vị Xuyên là địa bàn “lý tưởng” để thực hiện ý đồ cũng như âm mưu này.

Thứ ba, bản thân phía Trung Quốc rất sợ chiến tranh lan rộng và bùng phát trở lại sẽ ảnh hưởng đến chương trình “bốn hiện đại hóa”. Tạo điểm nóng ở khu vực Vị Xuyên vừa để thu hút được binh lực của đối phương, buộc Việt Nam phải điều chỉnh thế bố trí chiến lược, duy trì một đội quân thường trực lớn tại một địa bàn không phải là trọng điểm, xa hậu phương, khó khăn cho công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, lại vừa không ảnh hưởng đến chương trình “bốn hiện đại hóa” của họ. Mặt khác, đánh vào Vị Xuyên, Trung Quốc cho rằng họ sẽ chủ động được về thời gian, không gian, quy mô, lực lượng cũng như cường độ để thực hiện các cuộc tiến công.

Một vấn đề nữa cần nói rõ thêm là, một trong những lý do mà quân Trung Quốc chọn địa bàn huyện Vị Xuyên để tập trung lực lượng tấn công là nếu như đánh ở Lạng Sơn, Trung Quốc sẽ khó giấu được cuộc chiến tranh xâm lược với dư luận trong nước và quốc tế. Còn ở Hà Giang (Hà Tuyên) là tỉnh hẻo lánh ở biên giới phía Bắc của nước ta, chỉ với một đường độc đạo ít giao lưu với quốc tế, địa hình hiểm trở nên tạo điều kiện thuận lợi để tấn công từ trên cao. Nếu chiếm thành công Hà Giang, quân địch có nhiều cơ hội để lấn sâu hơn vào biên giới nước ta.

Có thể nói rằng, trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở phía Bắc, chống quân Trung Quốc xâm lược, quân và dân ở Vị Xuyên là “những người đi trước về sau”. Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến đấu, với lực lượng vũ trang địa phương là chủ yếu, quân dân nơi đây đã kiên cường bám trụ chiến đấu, bẻ gãy và đẩy lui hàng chục cuộc tiến công của quân Trung Quốc, giữ vững được trận địa phòng ngự...

Mặt trận Vị Xuyên thực sự nóng bỏng từ đầu hè năm 1984. Cuộc tấn công xâm lược Việt Nam lần này Trung Quốc lấy tên là chiến dịch “Kỵ tuyến, bạt điểm”. Bắt đầu từ ngày 2/4/1984 đến 28/4/1984, Trung Quốc đã tổ chức một đợt pháo kích lớn bắn vào đất Việt Nam hơn 28.000 viên đạn pháo. Riêng với biên giới tỉnh Hà Tuyên, tập trung vào khu vực biên giới huyện Vị Xuyên, Trung Quốc đã bắn tới hơn 11.000 quả đạn pháo, sâu vào đất Việt Nam tới thị xã Hà Giang.

Về bộ binh: Từ tháng 1/1984, Trung Quốc đã điều động 5 sư đoàn bộ binh, 5 trung đoàn pháo binh áp sát biên giới tỉnh Hà Tuyên, đối diện với huyện Vị Xuyên có 3 sư đoàn bộ binh thuộc Quân đoàn 14, đối diện với huyện Yên Minh là một sư đoàn bộ binh và một số đơn vị biên phòng.

Trong khi đó về phía Việt Nam, đến trước ngày 28/4/1984, lực lượng phòng ngự trên biên giới Vị Xuyên chỉ có Sư đoàn 313: nhiệm vụ phòng ngự tây Sông Lô do Trung đoàn 122 thuộc Sư đoàn 313 bố trí trên các cao điểm: 1509, 772, 685, 233, 266, phía đông Sông Lô do Trung đoàn 266 Sư đoàn 313 bố trí trên các điểm cao 1030, 840, Si Ca Lá, khu vực Pa Hán.

Bắt đầu từ 5 giờ sáng ngày 28/4/1984, quân Trung Quốc bắn vào các trận địa phòng ngự của ta trên biên giới Vị Xuyên khoảng 12.000 đạn pháo lớn để chi viện cho bộ binh tấn công vào các trận địa phòng ngự của Việt Nam.

Tình hình chiến sự ở phía Tây Sông Lô:

Trên tuyến biên giới Vị Xuyên Tây Sông Lô do quân ta phòng ngự gồm các cao điểm 1509, 772, 266, trong đó điểm cao 1509 có giá trị rất quan trọng về chiến thuật, nếu chiếm được cao điểm 1509 sẽ khống chế được toàn bộ khu vực tới bắc suối Thanh Thủy. Cao điểm 1509 là điểm phân chia ranh giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Địa hình ở đây chia làm 3 mỏm: mỏm 1 cao nhất là đỉnh cao điểm 1509, mỏm 2 gọi là đồi Cây Khô, mỏm 3 là bình độ 1450, trước khi xảy ra chiến tranh là khu vực rừng rậm, đất xen lẫn đá.

Trên cao điểm 1509 lực lượng của ta phòng ngự có Đại đội 6 thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 122 Sư đoàn 313, được tăng cường 1 trung đội súng cối 82mm, 1 khẩu đội ĐKZ 82 và 1 khẩu súng máy 12,7mm. Có một số đồng chí thuộc đài trinh sát pháo binh, trinh sát bộ binh cũng bố trí tại cao điểm 1509.

Bố trí cụ thể: Trung đội 3 + 1 khẩu 12,7mm + 1 ĐKZ 82mm + 1 tiểu đội đại liên + 1 tiểu đội cối 60mm có nhiệm vụ phòng ngự ở mỏm 1 (đỉnh 1509), Trung đội 1 bố trí phòng ngự đồi Cây Khô (mỏm 2), Trung đội 2 phòng ngự ở bình độ 1450 (mỏm 3).

Do đánh giá được giá trị của cao điểm 1509, nên Trung Quốc đã sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh tăng cường, được chi viện ác liệt của pháo binh quyết đánh chiếm điểm bằng được cao điểm 1509.

4 giờ 55 phút ngày 28/4/1984, Trung Quốc bắt đầu bắn pháo chuẩn bị, 5 giờ 35 phút pháo bắn chuyển làn và tiếp tục bắn pháo giấy để nghi binh và tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu trận địa phòng ngự của ta. 5 giờ 30 phút trên hướng thứ yếu chúng sử dụng 2 đại đội bộ binh tiến công đánh chiếm trận địa phòng ngự của Trung đội 3. Nhưng bộ đội ta cảnh giác để địch vào tầm hiệu quả nhất của hỏa lực, quân ta mới đồng loạt nổ súng, quân địch bị thương vong nặng. Tuy vậy, ỷ vào quân đông, địch vẫn tiếp tục tiến công vào trận địa phòng ngự của quân ta, nhưng lại bị quân ta đánh trả quyết liệt, nhiều tên địch đã bị diệt tại trận địa, nên buộc chúng phải dừng lại củng cố đội hình, chờ lực lượng phía sau lên tăng cường. Địch lại dùng hỏa lực súng cối bắn ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta, pháo binh của chúng bắn vào phía nam để khống chế lực lượng phía sau của ta lên tăng cường. Lúc này quân ta đã có một số đồng chí hy sinh và bị thương, nhưng với ý chí kiên cường chiến đấu quyết giữ bằng được trận địa, quân ta đã tiêu diệt nhiều tên của thê đội 2 địch mới vào thay thế.

Trên hướng thứ yếu, địch sử dụng một đại đội bộ binh tấn công vào trận địa của Trung đội 1 ở đồi Cây Khô nhưng bị quân ta đánh trả quyết liệt, nhiều tên phải bỏ mạng ngay trước trận địa. Liên tục trong buổi sáng ngày 28/4/1984 Trung đội bộ binh 1 đã đánh lui 3 đợt tấn công của địch, diệt nhiều tên, buộc chúng phải dừng lại.

Để phối hợp với hướng chủ yếu, thứ yếu tấn công vào trận địa của Trung đội 3 và Trung đội 1, địch cũng sử dụng 1 đại đội bộ binh tấn công vào trận địa phòng ngự của Trung đội 2 - nơi bố trí vị trí của ban chỉ huy Đại đội 6 - nhưng cũng bị quân ta dựa vào công sự trận địa phòng ngự, đánh trả quyết liệt, diệt nhiều tên địch, buộc chúng phải dừng lại củng cố. Đồng thời địch sử dụng pháo binh bắn phá ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta ở cao điểm 1509, với quyết tâm đánh chiếm bằng được trận địa phòng ngự 1509 của ta. Địch đã đưa thê đội 2 vào thay thế toàn bộ thê đội 1 rút ra củng cố. Với lực lượng mới thay thế vào đang sung sức, chúng đồng loạt tấn công trên cả ba hướng vào các trận địa phòng ngự của Đại đội 6. Quân ta vẫn kiên cường chiến đấu, kiên quyết giữ vững trận địa, hàng trăm tên địch đã bị diệt, nhưng ỷ lại vào quân đông, có hỏa lực chi viện mạnh, địch tiếp tục tấn công vào trận địa phòng ngự của ta. Lúc này bên ta quân số hy sinh và bị thương nhiều nên quân địch đã chiếm được trận địa phòng ngự của ta ở mỏm 2 và mỏm 3, quân ta phải co về giữ mỏm 1.

10 giờ 45 phút ngày 28 tháng 4 năm 1984, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 ra lệnh cho Đại đội 5 thực hành phản kích để giữ vững cao điểm 1509, nhưng lực lượng phản kích lên tới mỏm 3 (bình độ 1450) lại phải phối hợp với Trung đội 2 đánh địch vu hồi, do đó chỉ có 1 tiểu đội lên được cao điểm 1509 chi viện cho Trung đội 3 giữ điểm cao 1509. Mặc dầu quân ta chiến đấu rất kiên cường, anh dũng, nhưng quân địch đông áp đảo, ta hy sinh và bị thương tăng, không còn khả năng giữ được cao điểm 1509, nên 15 giờ 30 phút cùng ngày, quân ta được lệnh rút khỏi cao điểm 1509.

Trên hướng bình độ 1450 đánh địch vu hồi, được lực lượng Đại đội 5 đến tăng cường, ta đã đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, diệt tại chỗ nhiều tên, nhưng quân ta cũng hy sinh và bị thương nhiều, không còn khả năng giữ được 1450 nên lực lượng giữ bình độ 1450 cũng được lệnh rút về phòng ngự tại bình độ 1100.

Sau khi đồi Cây Khô (mỏm 2) bị địch chiếm, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đã tổ chức 1 trung đội của Đại đội 7 phản kích nhưng không thành công. Ta bắt sống tên Uông Bân, tiểu đoàn phó của quân Trung Quốc. Hết ngày 28/4/1984 quân Trung Quốc đã chiếm được cao điểm 1509. Ta lui về tổ chức phòng ngự bình độ 1100 tới kết thúc chiến tranh (tháng 10/1989).

Cùng trong ngày 28/4/1984 tình hình chiến sự trên hướng Tây Sông Lô còn có: Trên cao điểm 772, lực lượng phòng ngự của ta ở đây là 1 đại đội bộ binh thiếu của Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 122 Sư đoàn 313.

Trung Quốc đã sử dụng 1 tiểu đoàn bộ binh tăng cường đánh chiếm cao điểm 772.

Trên cao điểm 685, lực lượng phòng ngự của ta có 1 trung đội bộ binh thuộc Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 122 Sư đoàn 313.

Trung Quốc đã sử dụng 1 tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm cao điểm 685. Trên cao điểm 233, lực lượng phòng ngự của ta có 1 trung đội thuộc Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 122 Sư đoàn 313.

Trung Quốc đã sử dụng 1 tiểu đoàn bộ binh đánh chiếm cao điểm 233.

Mặc dù quân ta đã chiến đấu vô cùng anh dũng, giành đi, giật lại từng công sự, từng đoạn chiến hào, giao thông hào, từng mỏm đá... nhưng với lực lượng tấn công của quân Trung Quốc đông hơn ta gấp nhiều lần, lại được hỏa lực pháo binh, súng cối chi viện ác liệt, nên đến hết ngày 30 tháng 4 năm 1984 quân Trung Quốc đã chiếm được tất cả các các điểm cao trên tuyến biên giới: 1509, 772, 685, 266, 233 - Tây Sông Lô. Quân ta thương vong lớn phải lui về tuyến thấp tổ chức phòng ngự để ngăn chặn quân Trung Quốc không cho chúng lấn sâu vào đất ta.

Tình hình chiến sự ở phía Đông Sông Lô:

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 15/5/1984 Trung Quốc đã sử dụng 1 sư đoàn bộ binh dưới sự chi viện ác liệt của pháo binh tấn công vào các cao điểm 1030, 840, Si Ca Lá... do Trung đoàn 266 Sư đoàn 313 phòng ngự, bị tổn thất lớn nên buộc ta phải lui về các cao điểm: 840, 920, 788, khu vực Pa Hán tổ chức phòng ngự ngăn chặn địch.

Sau khi bị quân Trung Quốc chiếm mất toàn bộ các trận địa phòng ngự trên tuyến biên giới cả Tây và Đông Sông Lô, Bộ tư lệnh Quân khu 2 chủ trương: Tiếp tục củng cố các trận địa phòng ngự đang chốt giữ. Kiên quyết chiến đấu ngăn chặn không cho quân địch tiếp tục lấn chiếm sâu vào đất ta, đồng thời các đơn vị củng cố lực lượng, bổ sung quân số, vũ khí, trang bị... từng bước phản kích lấy lại các điềm cao đã mất.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 10:21:47 am »

Chiến dịch “MB 84”


Để đánh chiếm, khôi phục lại một số điểm cao trên tuyến biên giới Vị Xuyên, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 chủ trương tổ chức chiến dịch phản công mang mật danh “MB84”, nhằm phản công lấy lại các cao điểm: 772, 233 Tây Sông Lô và 1030 Đông Sông Lô. Lực lượng sử dụng phản công lấy lại 3 cao điểm trên gồm:

Trung đoàn 876 Sư đoàn 356 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 772.

Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 233.

Trung đoàn 141 Sư đoàn 312 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 1030.

Phương pháp tấn công lần này là thực hiện cách đánh truyền thống: Pháo binh bắn chuẩn bị, bộ binh hoặc đặc công mở cửa mở, sau khi pháo binh bắn chuẩn bị xong, cửa mở đã mở, bộ binh đồng loạt xung phong.

Về phía địch, sau khi đánh chiếm được các trận địa phòng ngự của ta từ ngày 28/4/1984 đến 15/5/1984, chúng đã đưa lực lượng công binh và vật liệu lên phối hợp với lực lượng tại chỗ xây dựng các trận địa đã chiếm thành trận địa liên hoàn, kiên cố, vững chắc, bao gồm hệ thống chiến hào, hố bắn có nắp, hệ thống giao thông hào cơ động toàn trận địa. Một số trận địa quan trọng đã có từ 2 - 3 hàng rào dây thép gai, kết hợp mìn, các phần tử bắn của pháo binh, súng cối cũng đã được chuẩn bị kỹ càng. Pháo binh chiến dịch thường xuyên cả ngày lẫn đêm bắn hàng vạn quả đạn pháo vào các trận địa phòng ngự của ta và các nơi nghi là điểm tập kết người, vật chất và những nơi ta có thể tiếp cận tấn công. Pháo binh của địch còn bắn chặn suốt dọc con đường số 2 đi từ thị xã Hà Giang lên Thanh Thủy gây cho ta rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển vũ khí, đạn dược, vật chất khác lên tập kết tại hang làng Pinh và các địa điểm tập kết ở phía trên.

Trước đó, ngày 11 tháng 6 năm 1984 Sư đoàn 313 đã tổ chức tấn công cao điểm 233 nhưng không thành công.

Quyết định giờ “G” của Chiến dịch “MB84” là 5 giờ sáng ngày 12/7/1984. Đúng giờ “G” các loại pháo binh của các sư đoàn và mặt trận đồng loạt bắn, thời gian bắn là 45 phút.

Sau khi pháo binh bắn chuẩn bị xong, lực lượng mở cửa đã mở được cửa mở. Quân ta đồng loạt tấn công đánh chiếm lại 3 cao điểm:

- Sư đoàn 356: sử dụng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 876 tăng cường tấn công lấy lại điểm cao 772.

Lực lượng địch phòng ngự ờ đây là 1 tiểu đoàn tăng cường và một trận địa cối 100mm. Sau hơn một giờ chiến đấu quyết liệt ta đã chiếm được mỏm D3 và trận địa cối 100mm, quân địch lúc này dựa vào các công sự, chiến hào, giao thông hào đã chuẩn bị sẵn chống trả quyết liệt. Pháo, cối của địch cũng bắn trùm lên đội hình xung phong và lực lượng tiếp sau của quân ta. Mặc dù một số cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, nhưng quân ta vẫn tiếp tục tiến công vào các khu vực trận địa của địch. Trước nguy cơ bị mất trận địa, khoảng 12 giờ ngày 12/7/1984 địch điều lực lượng phía sau lên tăng cường, thực hành phản kích, đẩy ta ra khỏi điểm cao 772.

Kết quả trận đánh: ta đã tiêu diệt được 115 tên địch, phá sập một nhà kho, phá hủy trận địa súng cối 100mm.

Về phía ta: Hơn 100 đồng chí hy sinh (trong đó có 1 đồng chí tiểu đoàn trưởng, 1 tiểu đoàn phó, 3 cán bộ đại đội, 10 cán bộ trung đội, 2 trợ lý cơ quan) (theo tài liệu Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Giang).

- Sư đoàn 316:

Sử dụng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 được tăng cường 1 trung đội đặc công, 1 trung đội hóa học, 1 trung đội công binh, 1 khẩu đội ĐKZ 82mm, 2 khẩu 12,7mm tấn công đánh chiếm điểm cao 233.

Lực lượng địch phòng ngự ở đây có 2 đại đội bộ binh tăng cường.

5 giờ ngày 12/7/1984, sau khi được hỏa lực pháo binh, súng cối chi viện, bộ binh ta đồng loạt xung phong. Quân địch đã lợi dụng các công sự, trận địa đã chuẩn bị sẵn chống trả quyết liệt, đồng thời pháo binh, súng cối của địch cũng bắn trực tiếp vào đội hình xung phong của ta. Mặc dù ta đã có một số thương vong nhưng với quyết tâm chiến đấu cao và đưa lực lượng thê đội 2 vào chiến đấu, ta đã chiếm được gần hết mỏm A của cao điểm 233. Pháo, cối địch lúc này cũng bắn trùm lên đội hình tấn công của quân ta, quân địch còn lại cũng dựa vào công sự đã chuẩn bị sẵn chống trả quyết liệt. Đội hình tấn công của quân ta bị chặn lại. Lúc này địch đã kịp thời đưa thêm một đại đội tăng cường cho lực lượng phòng ngự, thực hành phản kích đẩy quân ta ra khỏi trận địa đã chiếm. Do lực lượng của ta bị tổn thất nặng, khó có thể đánh chiếm được trận địa phòng ngự của địch, nên Mặt trận cho lệnh dừng tấn công, rút bộ đội khỏi trận địa.

Kết quả trận đánh: Ta đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 200 tên địch, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội quân Trung Quốc.

Về phía ta: hơn 150 đồng chí hy sinh. Sau trận chiến đấu này, đồng chí Hoàng Hữu Chuyên, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 29/8/1985. Đây là một tấm gương điển hình về sự hy sinh dũng cảm của cán bộ chiến sĩ tai Mặt trận Vị Xuyên, quyết tâm chiến đấu giữ vững mảnh đất biên cương của Tổ quốc.

Trên hướng Đông Sông Lô:

Bộ tư lệnh Mặt trận giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 312 quân đoàn 1 được tăng cường lên chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên. Trong chiến dịch “MB84”, Sư đoàn 312 có nhiệm vụ đánh chiếm lại cao điểm 1030 - Đông Sông Lô (phía Trung Quốc gọi là Đông Sơn) vào ngày 12/7/1984 để phối hợp với Sư đoàn 356 đánh chiếm lại cao điểm 772 và Sư đoàn 316 đánh chiếm lại cao điểm 233 ở Tây sông Lô.

Lực lượng địch chiếm giữ ở cao điếm 1030 là 1 tiểu đoàn bộ binh. Sư đoàn 312 đã sử dụng Trung đoàn 141 để tấn công đánh chiếm lại cao điểm 1030. Nhưng trận tấn công của Trung đoàn 141 khi mới vào triển khai lực lượng đã bị lộ, quân địch đã tập trung hỏa lực pháo binh, súng cối bắn ác liệt vào đội hình chiến đấu đang triển khai, nên bị thương vong nặng, buộc Trung đoàn 141 phải rút khỏi trận địa, về phía sau củng cố.

Như vậy, việc thực hiện chiến dịch “MB84” ngày 12/7/1984 của 3 sư đoàn: 356, 316, 312 tấn công đánh chiếm lại các cao điểm: 772, 233, 1030 đều không thành công. Quân ta thương vong nặng, có thể nói đây là ngày “đẫm máu nhất”, thương vong nhiều nhất trong cuộc chiến tranh chống lấn chiếm, bảo vệ biên giới Vị Xuyên, Hà Tuyên từ năm 1984 đến năm 1989. Do đó, cán bộ, chiến sĩ ta đã chiến đấu ở Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên gọi ngày 12/7/1984 là ngày “Giỗ trận” các liệt sĩ đã hy sinh tại Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên.

Sau chiến dịch “MB84” không thành công, thương vong lớn, nên tư tưởng của một số cán bộ, chiến sĩ có phần bi quan, thiếu tin tưởng vào cách đánh của mặt trận, cho rằng: “Địch đánh đâu ta mất đó, ta phản kích lấy lại được, nhưng không giữ được...”

Bộ Tư lệnh quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Mặt trận Vị Xuyên cũng rút kinh nghiệm, đánh giá lại chiến dịch “MB84”, thấy rằng: ta nắm địch chưa chắc, có phần còn đánh giá thấp địch, cách đánh chưa phù hợp, công tác chuẩn bị chưa tốt, có phần nóng vội... nên chiến dịch không thành công. Từ đó, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 và Bộ Tư lệnh Mặt trận Vị Xuyên chủ trương thay đổi hẳn cách đánh từ tấn công “Bộ pháo hiệp đồng, đặc công và công binh mở cửa, bộ binh đồng loạt xung phong” theo cách đánh truyền thống sang cách đánh “Bám thắt lưng địch mà đánh, ta với địch xen kẽ... khi có điều kiện tìm mục tiêu phù hợp, dùng lực lượng thích hợp đánh chiếm, đánh đâu chắc đó, đánh chắc giữ chắc...”. Tăng cường công tác bảo đảm các mặt, đặc biệt coi trọng bảo đảm vật chất để củng cố xây dựng trận địa ngay sau khi đã đánh chiếm mục tiêu, hệ thống hỏa lực cũng được tổ chức chặt chẽ, khoa học, chú trọng sử dụng hỏa lực đi cùng như cối 60mm, cối 82mm... Sau khi có chủ trương thay đổi cách đánh, chủ trương này đã đạt được hiệu quả. Cuối năm 1984 đầu năm 1985, ta đã tấn công lấy lại được một số điểm: E5, Cót Ép, 4 hầm, A6... cải thiện thế phòng ngự của ta ở các khu vực cao điểm 685, Bình độ 400 đất, đá, phần lớn trận địa của ta với địch xen kẽ cách nhau 200m - 300m, có nơi như trận địa 4 hầm ta với địch chỉ cách nhau 20m - 30m, nên hạn chế được hỏa lực pháo binh, súng cối của địch, thương vong của ta cũng giảm.

Theo nhận định của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương: “Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nói chung và cuộc chiến tranh lấn chiếm biên giới Vị Xuyên - Hà Tuyên nói riêng, sẽ còn kéo dài nhiều năm...”, đòi hỏi chúng ta, dù phải kéo dài bao nhiêu lâu, khó khăn đến mấy, ta cũng phải đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược này, giữ toàn vẹn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Do đó cần phải có lực lượng tăng cường cho Quân khu 2, đưa các sư đoàn thay nhau lên chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên, vừa để Quân khu 2 có lực lượng chiến đấu lâu dài, vừa để rèn luyện bộ đội tại chiến trường. Đối với cán bộ chỉ huy cũng cần phải điều động những cán bộ có ý chí quyết tâm cao, có kinh nghiệm chiến đấu trong toàn quân lên tăng cường cho Quân khu 2 chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 10:24:12 am »

Đối với tôi (Nguyễn Đức Huy), trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi đã trực tiếp chiến đấu, chỉ huy chiến đấu nhiều năm ờ chiến trường Quảng Trị - Thừa Thiên, một trong những nơi chiến sự nóng bỏng nhất, ác liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Lúc này tôi đang công tác ở Quân khu Thủ đô với cương vị Phó tham mưu trưởng Quân khu. Đầu tháng 2 năm 1985, Bộ Quốc phòng cho người xuống hỏi ý kiến tôi là Bộ Tư lệnh Quân khu 2 muốn yêu cầu đồng chí lên chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên. Hơi bất ngờ vì suốt cả cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc, tôi hoàn toàn chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Ở hậu phương, tất cả việc nuôi dạy con cái đều do một mình vợ tôi đảm nhiệm và sự giúp đỡ của ông bà ngoại. Tôi có 4 người con trai và 1 người con gái nuôi, 2 con trai lớn đang công tác trong quân đội, còn 3 con nhỏ đang học cấp 1, cấp 2 ở thị xã Thái Bình cùng với vợ tôi, lúc đó vợ tôi đang là giáo viên dạy học ở Thái Bình.

Nói về người con gái nuôi, vốn vợ chồng tôi có 4 con trai, không có con gái, nên vợ tôi vẫn ao ước có một đứa con gái để có người tâm sự lúc tuổi già. Năm 1976, Sư đoàn 325 do tôi làm tư lệnh, được giao nhiệm vụ sang giúp đỡ nước bạn Lào. Sư đoàn được giao phụ trách một khu vực rộng lớn ở Nam Lào gồm các tỉnh: Savannakhet, Pắc Xế, A tô pơ, Champasack. Sở chỉ huy cơ bản của của Sư đoàn 325 đóng ở thị trấn Sê Nô tỉnh Sanvanakhet, nơi này vốn là một căn cứ quân sự của Pháp trước kia, có một sân bay nhỏ ở thị trấn Sê Nô. Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa một số Việt kiều từ Việt Nam sang đây để phục vụ cho căn cứ Sê Nô. Một gia đình Việt kiều ở đây có 8 người con, người chồng đã mất, còn người vợ lại bị bệnh tiểu đường đã biến chứng chưa biết chết lúc nào. Gia đình này trước là công nhân làm cho Pháp, vốn rất nghèo, các con lớn đều phải đi ở, lang thang kiếm ăn, ở nhà còn 2 con nhỏ mới 5 tuổi và 3 tuổi. Trước tình cảnh đó, cơ quan Sư đoàn 325 đã đưa hai cháu này về nuôi. Khi biết mình khó qua khỏi, bà mẹ đã mời tôi đến nhà và nhờ tôi nuôi hộ một đứa con. Tôi nhận lời và nuôi đứa con gái nhỏ mới 5 tuổi. Sau này về nước, vợ chồng tôi đã cho cháu ăn học hết cấp 3 phổ thông. Rồi sau đó cháu vào công tác trong quân đội. Cháu đã xây dựng gia đình, chồng cháu là đại tá phi công của quân đội ta. Năm 2017, cháu nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá quân nhân chuyên nghiệp.

Trở lại câu chuyện khi tôi về công tác ở quân khu Thủ đô, cứ nghĩ rằng đây là thời cơ để gia đình được sum họp, mình cũng có điều kiện giúp đỡ vợ nuôi dạy con cái, nên đầu năm 1985 tôi đã chuyển vợ lên Hà Nội. Lúc này nhà ở chưa có, phải ở nhờ một gian nhà khách rộng 15 m2 của Quân khu Thủ đô ở phố Phạm Ngũ Lão, rồi chuẩn bị đưa các con lên Hà Nội học. Hộ khẩu Hà Nội cũng chưa có, nếu mình đi lên biên giới chiến đấu lúc này thì vợ con gặp rất nhiều khó khăn. Ở đây cũng xin nói thêm rằng, trong những năm còn bao cấp, việc nhập hộ khẩu vào Hà Nội vô cùng khó khăn và còn những quy định rất bất cập: “Có nhà ở thì mới được nhập khẩu và có hộ khẩu thì mới được cấp nhà”. Nhưng cuối cùng, tôi xác định: mình là cán bộ cao cấp của quân đội, lại là một đảng viên, có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu trên các chiến trường... giờ đây trước yêu cầu của Đảng, của quân đội, nhất là đi làm nhiệm vụ chiến đấu chống quân xâm lược tại chiến trường biên giới, dù khó khăn đến mấy cũng phải khắc phục để nhận nhiệm vụ, và tôi đã trả lời Bộ Quốc phòng là sẵn sàng nhận nhiệm vụ mà Bộ giao. Sau đó 15 ngày, tôi nhận được quyết định do Đại tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký: tăng cường đồng chí Nguyễn Đức Huy - Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô lên chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên - Hà Tuyên một năm. Cùng lên Vị Xuyên chiến đấu với tôi có 9 cán bộ cơ quan tham mưu của Quân khu Thủ đô.

Đối với vợ tôi, sau khi biết tôi có quyết định điều lên chiến trường Vị Xuyên - Hà Tuyên nên rất băn khoăn. Sau bao nhiêu năm xa cách khi tôi ở chiến trường miền Nam, bây giờ là lúc vợ chồng có điều kiện gần gũi để cùng nhau nuôi dạy con cái, mọi việc gia đình chưa đâu vào đâu thì chồng lại ra mặt trận, lại cảnh một mình nuôi dạy con, lo kinh tế đảm bảo sinh hoạt cho gia đình (như trên đã nói, vợ chồng tôi có 5 người con, 4 trai, một gái, trong đó có 2 người con lớn đang trong quân đội, 3 con còn đang học cấp 1, cấp 2). Kinh tế lúc này rất khó khăn, nhất là sau khi thực hiện chính sách “giá, lương, tiền” năm 1985. Nhưng với bàn lĩnh của một cô giáo, lại quen với cảnh vợ bộ đội một mình nuôi dạy con cái để chồng làm nhiệm vụ chiến đấu giải phóng đất nước, nên vợ tôi đã gạt đi tất cả khó khăn để động viên chồng  tâm ra mặt trận bảo vệ biên cương của Tổ quốc. Sau khi tôi đã lên đường, để khắc phục khó khăn về kinh tế, ngoài tiền lương của giáo viên cấp 2 về hưu, cộng với tiền lương của một đại tá thời bao cấp, không thể đủ chi phí cho 3 con ăn học, nên vợ tôi phải tới các lò bánh mì lấy bánh giao cho các cửa hàng ăn uống bán lấy hoa hồng. Sau gần hai năm bươn trải, rất may mắn được vợ một người bạn công tác ở cơ quan tổ chức Thành ủy Hà Nội, xin cho được một suất bán vé xổ số kiến thiết thủ đô, mỗi ngày cũng thu nhập thêm vài ba nghìn đồng, nên kinh tế cũng đỡ khó khăn hơn. Về nhà ở, sau khi tôi lên biên giới chiến đấu, quân khu Thủ đô cũng cấp cho gia đình tôi một gian nhà cấp 4 diện tích hơn 40 m2 ở khu tập thể 33B Phạm Ngũ Lão. Về hộ khẩu, đồng chí Phạm Tâm Long - Giám đốc công an Hà Nội cũng quyết định cấp hộ khẩu đặc biệt cho gia đình tôi với quyết định: “Nhập khẩu đặc biệt cho gia đình đồng chí Nguyễn Đức Huy vì hiện nay đồng chí Nguyễn Đức Huy đang chiến đấu ở chiến trường Vị Xuyên, Hà Tuyên”.

Có một việc sau khi lên nhận quyết định của Bộ Quốc phòng lên tăng cường chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên với thời hạn một năm, tôi suy nghĩ đã là người chỉ huy chiến đấu ở mặt trận mà lại là cán bộ tăng cường thì làm việc rất khó khăn, ít hiệu quả, do đó tôi đã đề nghị Bộ Quốc phòng cứ quyết định điều hẳn tôi lên Quân khu 2, trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên. Nguyện vọng của tôi đã được đáp ứng, chỉ sau một tuần tôi nhận được quyết định mới của Bộ Quốc phòng: Điều động đồng chí Nguyễn Đức Huy - Phó tham mưu trưởng Quân khu Thủ đô lên làm Phó tham mưu trưởng Quân khu 2 trực tiếp chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên.

Từ đó, tôi đã chiến đấu ở Mặt trận Vị Xuyên suốt những năm chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên - Hà Tuyên. Đầu năm 1987, tôi được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng quân khu 2, được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1993, phụ trách Tư lệnh Quân khu 2 thay anh Đặng Quân Thụy về làm Phó chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1996, tôi được nghỉ hưu ở tuổi 66.

Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2 trực tiếp chỉ huy tác chiến Mặt trận Vị Xuyên đóng quân tại khu nhà cũ của cơ quan Tỉnh ủy Hà Tuyên ở thị xã Hà Giang vì cơ quan này đã chuyển về thị xã Tuyên Quang. Nơi đây cách suối Thanh Thủy gần 20km, từ suối Thanh Thủy lên biên giới Việt Trung từ 3km đến 5km. Đây là khu vực tác chiến ác liệt nhất của Mặt trận Vị Xuyên, có các cao điểm 1509, 772, 266, 685, 233 Tây Sông Lô, phía Đông Sông Lô có các cao điểm 1250, 1030, 1148, (bắc Si Ca Lá, xã Minh Tân), những cao điểm này sau khi tấn công vào biên giới huyện Vị Xuyên từ ngày 28/4 đến 15/5/1984 quân Trung Quốc đã đánh chiếm được tất cà. Để kịp thời chỉ huy tác chiến trên Vị Xuyên, Bộ tư lệnh Quân khu 2 đã tổ chức thêm Sở chỉ huy phía trước đặt tại cao điểm 812, thôn Coóc Nghè. Địa điểm Sở chỉ huy phía trước đặt ở đây rất thuận lợi, có thể quan sát trực tiếp được các hoạt động của địch và của ta khi xảy ra tác chiến cả Tây và Đông Sông Lô. Người chỉ huy Mặt trận Vị Xuyên lúc này là đồng chí Trung tướng Nguyễn Hữu An, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 2. Đồng chí Nguyễn Hữu An trước đây là Tư lệnh Quân đoàn 2 đơn vị đầu tiên đánh chiếm dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, bắt sống toàn bộ nội các Dương Văn Minh phải đầu hàng không điều kiện, cắm lá cờ giải phóng lên nóc dinh Độc Lập, kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dài hơi 30 năm.

Năm 1984, tướng Nguyễn Hữu An được điều lên làm Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Quân khu 2. Có thể nói anh Nguyễn Hữu An là một trong những vị tướng tài giỏi của Quân đội nhân dân Việt Nam, tài đức vẹn toàn. Từ khi Quân đoàn 2 được thành lập ngày 17/5/1974, Sư đoàn 325 của tôi nằm trong đội hình của Quân đoàn 2 mà tôi làm Tư lệnh Sư đoàn 325, trực tiếp dưới quyển chỉ huy của anh Nguyễn Hữu An. Lâu ngày thầy trò mới lại được gặp nhau, lại được cùng chiến đấu tại Mặt trận Vị Xuyên nóng bỏng, tôi rất mừng và phấn khởi. Sau một ngày nghỉ ngơi, tôi được anh Nguyễn Hữu An lúc này đang là Tư lệnh Mặt trận Vị Xuyên trực tiếp giới thiệu tình hình chiến đấu một năm qua và tình hình mặt trận hiện nay.

Có một chuyện sau này tôi mới biết, khi mặt trận cần tăng cường cán bộ các nơi lên chiến đấu ở Vị Xuyên, lúc đó anh Hoàng Đan, Thiếu tướng, nguyên Phó tư lệnh Quân đoàn 2, do có biết tôi đang công tác ở Quân khu Thủ đô, anh Hoàng Đan đã đề xuất với anh Nguyễn Hữu An là “thằng Huy” nó là lính chiến đấu, tại sao lại để nó ở Quân khu Thủ đô, đề nghị với Bộ gọi nó lên trên này. Vì vậy, anh Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã quyết định điều động tôi lên Mặt trận Vị Xuyên cùng các anh chiến đấu. Xin nói thêm rằng, anh Hoàng Đan trước cũng là thủ trưởng trực tiếp của tôi từ khi tôi còn là cán bộ tiểu đoàn cho đến khi làm cán bộ sư đoàn, anh em đối với nhau rất thân thiết, quý mến nhau nên thường gọi nhau là “anh, tôi, thằng”...

Qua giới thiệu của anh Nguyễn Hữu An và sau này tìm hiểu thêm qua các cán bộ cơ quan tham mưu, chính trị... ở Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2, tôi được biết sau chiến dịch “MB84” không thành công, thương vong nhiều, nên tư tưởng của nhiều cán bộ, chiến sĩ bi quan cho rằng: “Địch đánh đâu ta mất đó, ta đánh lại được nhưng không giữ được...”. Vì vậy cần có vài trận đánh có hiệu quả: “Đánh được, rồi giữ được” để xốc lại ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận.

Tại Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2 trực tiếp chỉ huy chiến đấu, lúc này cơ quan tham mưu tiền phương quân khu có các đồng chí đã tham gia chỉ huy từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh biên giới nổ ra như Bùi Quang Thắng, Phó tham mưu trưởng Quân khu 2, đồng chí Thanh - Chủ nhiệm pháo binh Quân khu, đồng chí Toan - Chủ nhiệm công binh Quân khu, đồng chí Long - Trưởng phòng quân báo mặt trận, đồng chí Bách - Chủ nhiệm thông tin... và các đồng chí là trợ lý như: Hứa Thanh Giang, đồng chí Đoàn, đồng chí Hồng trợ lý tác chiến, đồng chí Lợi trợ lý quân báo... nên các đồng chí đã nắm chắc tình hình diễn biến chiến đấu của mặt trận hơn một năm qua. Đây là cũng là thuận lợi đối với tôi khi mới lên chiến trường và cùng làm việc sau này tại Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2.

Theo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tư lệnh mặt trận Nguyễn Hữu An là cần có một trận đánh có kết quả là “Đánh được, giữ được...” để giải quyết tư tưởng bi quan của cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận. Chấp hành ý kiến của đồng chí Tư lệnh Mặt trận, sau khi nghiên cứu bản tổng kết chiến đấu một năm qua, nhất là tổng kết chiến dịch “MB84”, tôi và cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2 đã trực tiếp đi thị sát tại thực địa để nắm chắc tình hình bố trí của địch và ta hiện nay để tìm ra điểm yếu, mạnh, những thành công và không thành công trong các trận đánh vừa qua. Chúng tôi thấy rằng ta nắm địch chưa chắc, ham đánh lớn, chọn cách đánh chưa phù hợp, sau khi chiếm được trận địa địch lại chưa bổ sung quân số, vũ khí, vật chất kịp thời, đặc biệt là vật chất để bộ đội làm công sự... sự hiệp đồng chiến đấu chưa được tổ chức chặt chẽ.

Qua đi thực địa, phân tích thuận lợi và khó khăn, tôi và cơ quan tham mưu đề xuất chọn mục tiêu A6B (địch gọi là cao điểm 211) là mục tiêu tấn công đánh chiếm và phòng giữ vì: địch ở A6B có một trung đội tăng cường, mục tiêu vừa phải, trận địa A6B xa các điểm phòng ngự khác của địch như cao điểm 400 đá khoảng 300m, điểm cao 233 từ 700 - 800m, lại không có chiến hào nối liền vì khu vực này là núi đá. Khi ta đã đánh chiếm được, địch muốn chi viện cho A6B hoặc phản kích lấy lại đểu phải vận động qua một đoạn đường xa, phơi trên mặt đất dễ bị hỏa lực pháo binh, súng cối, nhất là cối 82mm, 60mm và súng bắn thẳng của ta ở các trận địa Đồi Đài, A4, Cót Ép... tiêu diệt.

Đối với quân ta, mục tiêu A6B chỉ cách A6A, Đồi Đài, Cót Ép, Cây Si từ 50m đến 100m, ta có điều kiện bí mật giấu quân, chuẩn bị sẵn các cơ sở vật chất, vũ khí, lực lượng tăng viện... để sẵn tại các trận địa lân cận. Sau khi đánh chiếm được mục tiêu, ta nhanh chóng đưa các lực lượng tăng viện, vật chất các loại đến bổ sung.

Ở đây cũng xin nói thêm về cao điểm A6 (A6A và A6B) một chút. Đồi A6 có một vị trí quan trọng trong thế trận tác chiến phòng ngự. Cao điểm này thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, nằm về phía tây Sông Lô, phía bắc suối Thanh Thủy. Từ điểm cao A6 tiếp giáp phía Bắc là đồi Cây Khô, đồi Cây Chuối, Đồi Đài, đồi Cô Ích. Phía nam là đồi Cây Si, hang Gió, điểm cao 300 đá. Phía đông nam là đồi Đá Pháp. Phía tây là cao điểm 400, 685. Cao điểm A6 cơ bản là núi đá vôi lẫn đất, nằm độc lập, dài khoảng 300m, rộng khoảng 150m. Có hai mỏm: mỏm phía đông nam gọi là A6A do ta chốt giữ, mỏm phía tây bắc gọi là A6B do địch chốt giữ. Cao điểm A6B dài khoảng 50m, rộng khoảng 40m, trên đỉnh có 5 hang nhỏ, phía tây bắc có một khe cạn sâu do địch chiếm giữ và lợi dụng các hang này vừa làm nơi ẩn nấp, vừa làm công sự chiến đấu. Quân ta nhiều lần trinh sát phát hiện thấy các hang trên, đã quy ước đánh số thứ tự từ hang số 4 đến hang số 8, tính xoáy trôn ốc bên phải từ dưới lên. Ta và địch phòng ngự trực tiếp tiếp xúc rất gần, có chỗ cách nhau chừng 50m đến 70m. Cao điểm A6 có vị trí quan trọng về quân sự, cả ta và địch đều dễ dàng quan sát, khống chế được khu vực ngã ba Thanh Thủy, đồng thời bố trí thuận lợi các loại hỏa lực bắn thẳng, chi viện thuận tiện cho các cao điểm khác trong khu vực. Tuy nhiên, do địa hình phía đông trống trải, khi ta tiến công dễ bị địch quan sát, phát hiện và dùng hỏa lực gây thương vong lớn cho ta.

Sau khi phân tích thuận lợi và khó khăn về đánh chiếm và giữ mục tiêu A6B, đồng chí Nguyễn Hữu An đã đã đồng ý và phê chuẩn phương án đánh chiếm và giữ A6B mà cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2 đề xuất. Để chuẩn bị cho trận đánh thắng lợi, Tư lệnh Mặt trận Nguyễn Hữu An đã giao cho tôi (Nguyễn Đức Huy), Phó tham mưu trưởng Quân khu 2 ở tiền phương chuẩn bị: Chọn lực lượng đánh chiếm và giữ A6B là Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 567, Sư đoàn 322 Quân khu 1 do Trung đoàn trưởng Lục Sĩ Dầm chỉ huy sang tăng cường cho Mặt trận Vị Xuyên. Cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2 chọn một khu vực địa hình ở Làng Pinh có địa hình tương tự như A6B để huấn luyện, thời gian huấn luyện 15 ngày, tập các động tác leo trèo núi đá, cách tiếp cận mục tiêu, đánh chiếm các hang hốc đá, tăng cường công sự, tổ chức chiến đẩu đánh địch phản kích, giữ trận địa... Đồng chí Nguyễn Hữu An cũng xuống kiểm tra việc huấn luyện và hướng dẫn thêm các động tác leo trèo và đánh vào hang hốc của địch.

Kết thúc đợt huấn luyện, cả đại đội chỉ chọn 40 đồng chí có ý chí quyết tâm cao, động tác kĩ thuật thành thạo làm lực lượng trực tiếp đánh chiếm, số cán bộ, chiến sĩ còn lại làm lực lượng dự bị. Sau khi đánh chiếm được mục tiêu thì nhanh chóng vào tăng cường giữ trận địa. Để đảm bảo đánh chắc thắng, các đồng chí là mũi trưởng, tổ trưởng trực tiếp đánh chiếm A6B đã 3 lần bí mật tiếp cận mục tiêu đã phân công. Các loại vật chất, vũ khí, đạn dược, bao cát, cây que làm hầm... đều được đưa lên giấu ở các trận địa của ta ở lân cận với A6B, hệ thống hỏa lực chi viện cho việc đánh chiếm và giữ A6B cũng được hiệp đồng chặt chẽ. Có thể nói mục tiêu đánh chiếm và giữ A6B chỉ là một trung đội nhưng công tác chuẩn bị của ta rất kỹ, nên mọi người rất tin tưởng là ta nhất định đánh chiếm và giữ được A6B.

Về cách đánh, lần này ta chủ trương đánh chiếm A6B bằng phương pháp bí mật, khi pháo hỏa bắn chuẩn bị các lực lượng đánh chiếm phải bí mật tiềm nhập sát mục tiêu được phân công. Pháo hỏa bắn chuẩn bị, ta cho bắn vào tất cả các trận địa phòng ngự của địch trên toàn mặt trận, làm cho địch không biết ta sẽ tấn công vào trận địa nào. Riêng mục tiêu A6B ta chỉ bắn vào các trận địa địch ở lân cận như bình độ 400 đá, cao điểm 233, thung lũng cây khô... đồng thời chuẩn bị phần tử đánh chặn quân địch phản kích chi viện cho bộ binh giữ mục tiêu đã chiếm. Cối 60mm, 82mm bắn cách A6B từ 100m đến 200m để bảo đảm cho lực lượng tiến công tiềm nhập mục tiêu được thuận lợi và an toàn.

Hỏa lực để bảo đảm chi viện cho lực lượng giữ trận địa và chi viện cho đánh phản kích cũng được tổ chức chặt chẽ, ngoài hỏa lực pháo binh đánh chặn địch từ xa, các loại hỏa lực bắn thẳng như 12,7mm, đại liên, trung liên, ĐKZ cũng được phân công cụ thể cho từng loại hỏa khí, cối 60mm, 82mm cũng được phân công bắn từng khu vực để tạo thành một lưới lửa dày đặc, có hiệu quả sát thương địch từ xa tới gần để tiêu diệt địch chi viện cho lực lượng chốt giữ đánh địch phản kích.

Khi pháo hỏa bắn chuẩn bị thì các mũi của bộ binh phải bí mật tiếp cận mục tiêu được phân công. Thời gian pháo hỏa bắn chuẩn bị là 50 phút, kết thúc pháo bắn chuẩn bị, các mũi phải lập tức nhảy vào mục tiêu dùng bộc phá, lựu đạn, thủ pháo, súng bắn thẳng để tiêu diệt địch, đánh chiếm ngay trận địa phòng ngự của địch.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2026, 10:27:20 am »

4 giờ 30 phút sáng ngày 31/5/1985, pháo binh, súng cối của ta đồng loạt bắn vào các trận địa phòng ngự của địch trên toàn mặt trận. Pháo binh của Quân khu cũng bắn chế áp các trận địa pháo của địch. Một số hỏa lực bắn thẳng 12,7mm, ĐKZ ở bình độ 1100, Pa Hán... cũng bắn vào các mục tiêu địch ở đối diện để nghi binh đánh lừa địch... Đúng giờ “G” sáng ngày 31/5/1985, trời còn sương mù chưa tan, bộ đội ta bất ngờ đánh vào các mục tiêu được phân công, dùng lựu đạn, thủ pháo, tiểu liên... tiêu diệt địch. Nhiều tên địch chưa hết bàng hoàng, sửng sốt đã bị quân ta tiêu diệt. Chỉ trong vòng 30 phút, quân ta đã tiêu diệt gần hết quân địch, duy chỉ còn hang số 7 do đường cơ động vào đây rất khó khăn, nên số địch trong hang này chống trả quyết liệt, một số đồng chí của ta bị thương vong. Sau ít phút nghiên cứu, quân ta đã tìm được lối tiếp cận hang số 7, lập tức dùng lựu đạn, thủ pháo tiêu diệt nốt quân địch cố thủ trong hang này. Ta bắt sống 1 tên, thu toàn bộ vũ khí, trang bị của địch tại cao điểm A6B, trận đánh toàn thắng.

Ngay sau khi đánh chiếm được mục tiêu A6B, ta nhanh chóng bổ sung quân số, vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm, đặc biệt chuyển ngay những bao cát, vật liệu xây dựng công sự để anh em củng cố, tăng cường công sự, chuẩn bị đánh địch phản kích. Lực lượng vận tải nhanh chóng đưa thương binh, tử sĩ về phía sau cứu chữa và mai táng.

Chiến thắng A6B là một chiến thắng có ý nghĩa rất lớn đối với toàn mặt trận. Đối với quân Trung Quốc đây là một thất bại cay đắng trên mặt trận xâm lược biên giới của Việt Nam. Vì vậy, phía Trung Quốc quyết tâm phản kích lấy lại bằng được A6B (Trung Quốc gọi là cao điểm 211).
Bắt đầu từ sáng ngày 1/6/1985, quân Trung Quốc đã bắn hàng vạn viên đạn đại bác vào các trận địa phòng ngự của Việt Nam, mà tập trung chủ yếu bắn vào khu vực A6B và các trận địa lân cận như Đồi Đài, A6, Cây Si... Khoảng 9 giờ ngày 1/6/1985 Trung Quốc đã sử dụng 1 tiểu đoàn của trung đoàn 595 sư đoàn 199 chia làm 2 cánh: một cánh từ cao điểm 233 theo hướng thung lũng Cây Khô tấn công chính diện, một cánh từ sườn đông bình độ 400 đá đánh vào sườn tây bắc, có một mũi phụ tấn công vào A6 để phản kích lấy lại A6B (cao điểm 211).

Đối với ta, khi phát hiện địch phản kích vào A6B, pháo của Quân khu 2, của Sư đoàn 313 đã tập trung bắn chặn vào đội hình tấn công của địch từ nơi xuất phát là cao điểm 233 và sườn đông bình độ 400, và bắn trực tiếp vào đội hình địch đang vận động ở khu vực đồi Cây Khô. Cối 60mm, 82mm, 12,7mm, ĐKZ và các hỏa lực bẳn thẳng của ta ở các trận địa lân cận: Đồi Đài, Cót Ép, Cây Si, A4... cũng tập trung bắn trực tiếp vào đội hình địch đang vận động để chi viện cho lực lượng A6B giữ trận địa. Các lực lượng chốt giữ cao điểm A6B đã dựa vào công sự trận địa phòng ngự để địch vào thật gần mới tập trung tất cả các loại vũ khí đã có, đặc biệt là cối 60mm bắn trực tiếp vào đội hình địch phản kích, diệt hàng trăm tên địch ngay trước trận địa. Do bị thiệt hại nặng, quân địch buộc phải lui về trận địa xuất phát để chuẩn bị đợt phản kích mới. Sau khi bộ binh địch lùi ra xa, chúng tiếp tục sử dụng pháo binh, súng cối bắn trực tiếp vào A6B và các trận địa lân cận. Sau gần 2 giờ bắn phá vào trận địa của ta, địch tiếp tục tổ chức phản kích lần thứ 2, nhưng với ý chí kiên cường, sự phối hợp hiệp đồng của các trận địa lân cận và pháo binh, súng cối, quân ta đã đánh bại đợt phản kích thứ 2.

Trong ngày 1/6/1985, ta đã đánh bại 5 lần phản kích của địch. Với vị trí của cao điểm A6B (cao điểm 211) rất quan trọng đối với địch, nên liên tục trong 11 ngày tiếp theo, mỗi ngày quân Trung Quốc tổ chức từ 2 đến 3 lần phản kích. Có lần quân Trung Quốc còn cho quân cầm cờ búa liềm để xung phong đánh vào trận địa A6B. Lực lượng chốt giữ A6B của ta đã tổ chức một tiểu đội thực hành phản kích vào mũi tiến công của địch, bắt sống 1 tên trung đội trưởng và 1 lính Trung Quốc. Kết quả hơn 10 ngày hàng nghìn tên địch bị tiêu diệt, ta đã đánh bại hoàn toàn ý chí phản kích của quân Trung Quốc hòng chiếm lại A6B (cao điểm 211) và xóa sổ Trung đoàn 595, Sư đoàn 199 của chúng. Sau 11 ngày phản kích, Trung đoàn 595 Sư đoàn 199 thất bại và bị giải thể, Trung Quốc đánh giá đây là trận thảm bại đau đớn nhất trong cuộc xâm lược lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, Hà Tuyên, Việt Nam (Mạng thiết huyết Trung Quốc viết: “(Stiexue.net) trận huyết chiến cao điểm 211 (A6B) kéo dài 11 ngày, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 595 Sư đoàn 199 bị quân đội Việt Nam đánh tan, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 597 dự bị cũng bị thiệt hại nặng, cả Trung đoàn 595 mất sức chiến đấu phải đưa về phía sau chỉnh đốn và thành lập Trung đoàn 598 thay thế...”).

Với quân ta, sau trận tấn công A6B thắng lợi, đánh lui quân địch liên tục phản kích 11 ngày đêm của 1 trung đoàn quân Trung Quốc, giữ vững trận địa suốt 5 năm cho đến khi Trung Quốc phải rút quân, đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận, củng cố được lòng tin, giải quyết được tư tưởng bi quan “Địch tấn công đâu, ta mất đó, ta đánh chiếm lại được nhưng không giữ được...”. Qua đó, ta rút ra được những bài học có giá trị, chiến đấu trên chiến trường núi đá, ta lại ở thế địa hình bất lợi, địch có hỏa lực mạnh... cần nghiên cứu kỹ khi chọn mục tiêu, cách đánh phù hợp, chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, tổ chức hiệp đóng giữa các loại hỏa lực chặt chẽ, bổ sung hỗ trợ cho nhau, nhất là ta với địch bố trí xen kẽ, có lúc gần như “giáp mặt nhau”. Thấy rõ việc sử dụng cối 82mm và 60mm rất có hiệu quả và kịp thời cho việc giữ chốt và đánh địch phản kích, tấn công. Kịp thời bổ sung quân số, vũ khí, đạn dược, hết sức chú trọng bổ sung vật liệu xây dựng, củng cố trận địa. Sau mỗi trận đánh cần làm tốt công tác rút kinh nghiệm tại chỗ, động viên ý chí quyết tâm đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ... Như vậy, chúng ta sẽ giành được thắng lợi, ít tổn thất.

Sau thất bại thảm hại ở A6B (cao điểm 211) từ ngày 31/5 đến ngày 11/6/1985, hàng ngày quân Trung Quốc vẫn duy trì bắn sang đất Việt Nam tại mặt trận Vị Xuyên hàng vạn viên đạn pháo, cối để phá hoại các trận địa phòng ngự và sát thương sinh lực ta, đồng thời có thời cơ tiếp tục tấn công lấn chiếm thêm vào đất Việt Nam.

Trước ngày 23/9/1985, sau đợt thay quân mới, Trung Quốc đã bắn mỗi ngày hàng vạn viên pháo vào Vị Xuyên cả Đông và Tây Sông Lô, tập trung vào các trận địa Đồi Đài, Cô Ích, Bốn Hầm, bình độ 1100, Pa Hán, Đồi Tròn, thung lũng 840, Si Ca Lá... phá hoại một số công sự và gây thương vong cho ta. Qua theo dõi của cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2, chúng tôi phán đoán đây là đợt bắn phá ác liệt với mục đích chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn nhằm lấn chiếm một số trận địa phòng ngự của ta, đáng chú ý là bình độ 1100 của 1509, Đồi Đài Tây Sông Lô, 840, Pa Hán Đông Sông Lô. Lúc này tôi đang trực tiếp chỉ huy cơ quan tham mưu tiền phương, tôi đã báo cáo với đồng chí Tư lệnh Mặt trận những phán đoán của cơ quan tham mưu tiền phương và đề xuất với Tư lệnh tiền phương, thông báo tình hình địch hoạt động mấy ngày vừa qua, đống thời ra lệnh cho các đơn vị phải theo dõi chặt chẽ các hoạt động của địch ở khu vực mình phụ trách, bộ đội phải ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Pháo binh của quân khu và của các sư đoàn, ngoài việc kiềm chế pháo binh địch, phải chuẩn bị sẵn các phần tử hỏa lực để sẵn sàng chi viện cho bộ binh phòng giữ trận địa, cần chú trọng tập trung một số nơi: Bình độ 1100, Đồi Đài Tây Sông Lô, Pa Hán, thung lũng 840 Đông Sông Lô.

Đúng như dự đoán của cơ quan tham mưu tiền phương, 5 giờ sáng ngày 23/9/1985, sau gần 2 giờ bắn pháo cấp tập vào các trận địa phòng ngự của ta, một sư đoàn bộ binh của Trung Quốc chia làm 2 cánh, cánh chủ yếu từ 1509 vượt qua bình độ 1200 đánh vào trận địa phòng ngự của ta ở bình độ 1100, cánh thứ 2 khoảng 1 tiểu đoàn tấn công vào Đồi Đài, các trận địa trực tiếp tiếp xúc với ta cũng dùng hỏa lực bắn thẳng, cối 60mm, cối 82mm bắn vào các trận địa của ta. Phía Đông Sông Lô có 1 trung đoàn bộ binh địch từ chân cao điểm 1030 tấn công vào cao điểm 840 và trận địa của Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 983 của Sư đoàn 314 tại dãy Pa Hán, 1 tiểu đoàn bộ binh tấn công vào Si Ca Lá. Quân ta đã dựa vào công sự trận địa đánh trả địch quyết liệt, lại được sự chi viện hiệu quả của pháo binh, súng cối, đã tiêu diệt được hàng trăm tên địch trước trận địa, đẩy lui tất cả các đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa. Duy chỉ có trận địa của Trung đội 1 của Đại đội 5, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 983, Sư đoàn 314, mặc dù với ý chí kiên cường, đánh trả quyết liệt quân địch tấn công, hàng chục tên địch đã bị tiêu diệt ngay trước trận địa, nhưng với lực lượng áp đảo của quân địch đến hết ngày 23/9/1985, chúng đã chiếm được toàn bộ trận địa của Trung đội 1, Đại đội 5, Tiểu đoàn 5. Lúc này trên trận địa phòng ngự của Trung đội 1 chỉ còn 2 đồng chí cán bộ đại đội và 3 chiến sĩ đã rút về hang số 2 cố thủ, kiên quyết đánh trả địch. Địch đã dùng lựu đạn và súng B40 bắn vào hang làm 3 chiến sĩ hy sinh, còn 2 cán bộ đại đội lợi dụng đêm tối rút khỏi hang về báo cáo với sư đoàn về tình hình chiến đấu của Trung đội 1 Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 và tình hình bố trí của địch sau khi đã chiếm được trận địa của Trung đội 1. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 314 đã báo cáo với Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2. Cùng lúc cơ quan tham mưu Quân khu 2 cũng nắm được tình hình phía sau của địch, với ý định của chúng sau khi chiếm được một phần trận địa của dãy Pa Hán, sẽ tăng cường lực lượng củng cố trận địa đã chiếm và tiếp tục tiến công đánh chiếm lấy toàn bộ dãy Pa Hán của ta.

Chủ trương của Bộ tư lệnh tiền phương Quân khu 2 lúc này lệnh cho Sư đoàn 314 phải kiên quyết giữ vững bằng được khu vực còn lại của Đại đội 5, Tiểu đoàn 5 ngăn chặn không cho địch phát triển. Để đảm bảo cho Đại đội 5, Tiểu đoàn 5 của Sư đoàn 314 giữ vững các trận địa còn lại, đồng thời chuẩn bị lực lượng thực hành phản kích lấy lại trận địa đã mất, pháo binh của quân khu bắn chặn không cho địch đưa lực lượng từ cao điểm 1030 xuống tăng cường cho lực lượng ở Pa Hán. Ngoài các loại pháo lớn, ta còn cho phóng 12 quả BM24 (phóng bom) làm cho địch rất hoang mang không biết Việt Nam có loại pháo gì mà sức công phá lớn đến thế, đồng thời lệnh cho pháo binh của Sư đoàn 314 tập trung bắn trùm lên trận địa trung đội 1, Đại đội 5 Tiểu đoàn 5 đã mất để sát thương sinh lực địch và không cho chúng củng cố trận địa đã chiếm. Pháo mặt trận bắn chế áp các trận địa pháo địch, bắn phá trận địa của địch ở cao điểm 1250, 1030. Đặc biệt bắn chặn ở khu vực 840, không cho quân địch từ 1030 tăng viện cho quân đã chiếm Pa Hán. Bộ tư lệnh tiền phương còn lệnh cho Sư trưởng Sư đoàn 314 tổ chức 1 đại đội bộ binh từ phía sau lên tăng cường cho Tiểu đoàn 5 để đêm 23 rạng sáng ngày 24/9/1985 thực hành phàn kích lấy lại trận địa đã mất. Nhưng do công tác chuẩn bị của Sư đoàn 314 không kịp nên đêm 23 rạng sáng ngày 24 tháng 9 năm 1985 không thực hành phản kích được. Ngày và đêm 24 tháng 9 ta vẫn duy trì pháo binh, súng cối bắn trùm lên trận địa trung đội 1 Đại đội 5 đã mất và chế áp các trận địa pháo của địch. Qua tin tức của cán bộ và chiến sĩ từ chốt gần hầm số 2 vượt ra báo cáo, ta biết được hầm số 2 là sở chỉ huy đại đội và lực lượng chủ yếu của địch đang tập trung ở đây để chống cự, cố thủ chờ tăng viện.

Chiều ngày 24/9/1985, tôi đã lệnh cho Sư đoàn 314 bắn 4 quả B72 (tên lửa chống tăng của Liên Xô viện trợ) bắn trực tiếp vào hang số 2, tiêu diệt gần hết quân địch trong hang, số còn lại bỏ hang trốn chạy tìm nơi ẩn nấp. Đêm 24/9/1985, Sư đoàn 314 sử dụng một đại đội bộ binh lên tăng cường phản kích, 5 giờ sáng ngày 25/9/1985 dưới sự chi viện mạnh mẽ, hiệu quả của pháo binh, súng cối, sau hơn 1 giờ chiến đấu, toàn bộ quân địch đã bị tiêu diệt, ta lấy lại được trận địa phòng ngự của Đại đội 5, Tiểu đoàn 5. Đồng thời lúc này pháo binh của ta còn bắn trúng đội hình địch tăng viện, diệt hàng trăm tên, số còn lại phải chạy về cao điểm 1030.

Như vậy, đợt tấn công của địch từ ngày 23/9 đến ngày 25/9/1985 đã bị quân ta đập tan, hàng trăm tên địch bị tiêu diệt, các trận địa phòng ngự của ta đều được giữ vững.

Sau một tuần ta lấy lại được trận địa Pa Hán, tôi và cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2 đã xuống kiểm tra trận địa Đại đội 5, Tiểu đoàn 5 thuộc Sư đoàn 314 ở Pa Hán, thấy trận địa ở đây còn sơ sài, chủ yếu dựa vào các hang hốc đá có sẵn, đường giao thông hào từ phía sau ra trận địa phòng ngự phía trước mới đào được những đoạn đứt quãng nên khi địch tấn công chưa tạo được thế liên hoàn, vững chắc để đánh và giữ trận địa, lực lượng phía sau cơ động lên cũng gặp khó khăn. Vì vậy, Tư lệnh mặt trận đã ra lệnh cho Sư đoàn trưởng Sư đoàn 314 trong một tuần phải tăng cường lực lượng, vật chất giúp cho đơn vị phòng ngự xây dựng được trận địa kiên cố, vững chắc, hoàn chỉnh đường giao thông hào từ phía sau lên tới khu vực Pa Hán, tất cả bộ đội đều được cơ động dưới mặt đất, giảm thương vong.

Trên chiến trường Vị Xuyên tình thế bố trí chiến đấu giữa ta và địch là trực tiếp tiếp xúc, xen kẽ, thường chỉ cách nhau từ 200m đến 300m. Có nơi như ở trận địa 4 hầm, cao điểm 685 ta với địch chỉ cách nhau 20m - 30m. Lại có nơi trận địa của ta bố trí trên đỉnh đồi thì địch cũng chiếm hang chân đồi như ở Đồi Đài, vì địa hình ở đây là núi đá vách đứng, ta không thể xuống tiêu diệt được địch, mà địch cũng không thể leo lên đánh chiếm được trận địa của ta.

Khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Vị Xuyên có một khu vực đặc biệt quan trọng mà không thể không nói đến, đó là “Khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp”. Khu vực này nằm trên trục đường quốc lộ số 2 chạy từ thị xã Hà Giang, qua ngã ba Thanh Thủy, Việt Nam tới thị trấn Ma Ni Phố, Trung Quốc, cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc khoảng 20km, phía đông giáp sông Lô chảy từ Trung Quốc sang Việt Nam, phía tây bắc và phía tây cách các cao điểm 233, 400 đá khoảng 800m đến 1000m (các cao điểm này đã bị Trung Quốc chiếm từ ngày 30/4/1984), phía nam cách khoảng 800m là suối Thanh Thủy chảy từ các dãy núi phía tây xã Thanh Đức, hợp lưu với sông Lô tại ngã ba Thanh Thủy. Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp là khu vực núi đá, có một ít là đồi đất cao trên dưới 150m so với mực nước biển, chỉ cách biên giới Việt - Trung trên dưới 3000m, nhô ra án ngữ ngay trục đường số 2 giáp tới sông Lô, phía bắc chạy tới biên giới Việt Nam - Trung Quốc là một cánh đồng rộng, phía nam là một vạt ruộng tương đối phẳng, cách suối Thanh Thủy khoảng 800m, quân địch có thể sử dụng xe tăng vượt qua dãy cao điểm 266 đánh chiếm Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp, sau đó theo trục đường số 2 thọc sâu vào đất Việt Nam. Vì vậy mà ngay từ đầu xảy ra chiến tranh, chúng ta đã đào một con hào chống tăng từ Đồi Đài đến Đá Pháp, và đào một đoạn giao thông hào từ gần hang Dơi tới Đồi Đài dài khoảng 800m, nhưng vì thời gian gấp nên đoạn giao thông hào này chỉ mới đào sâu được từ 70cm đến 80cm, nên đi lại tới Đồi Đài rất dễ thương vong do súng bắn thẳng của địch từ các cao điểm 1250, 1030 khống chế. Ngay từ lần đầu tiên ra kiểm tra trận địa phòng ngự Đồi Đài về, tôi đã điều một đại đội công binh lên đào sâu thêm đoạn giao thông hào này. Chỉ trong một tuần đại đội công binh đã đào sâu thêm từ l,7m đến 2m, do vậy việc đi lại cả ngày lẫn đêm lên Đồi Đài được thuận lợi, giảm thương vong.

Chính vì khu vực Đồi Đài, Đá Pháp có tầm quan trọng như vậy mà ngay từ thời Pháp còn cai trị Việt Nam, họ đã cho xây dựng trên dãy núi đá giáp sông Lô một số lô cốt bê tông cốt thép kiên cố (vào cuối thế kỷ XIX) để phòng thủ cửa khẩu Thanh Thủy, nên bộ đội ta gọi là “Đá Pháp”. Đứng ở đỉnh Đá Pháp có thể nhìn bao quát toàn bộ lòng chảo Thanh Thủy.

Khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Vị Xuyên. Nếu ta giữ vững khu vực này sẽ chặn đứng và đập tan âm mưu lấn chiếm biên giới Việt Nam tới bắc suối Thanh Thủy, chính vì vậy mà suốt 5 năm chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên, nơi đây bộ đội ta đã đánh bại hàng trăm đợt tấn công của địch, diệt và làm bị thương hàng nghìn quân xâm lược. Đối với quân ta, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ đã thương vong để giữ vững khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp.

Một số trận đánh tiêu biểu để giữ khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp của Trung đoàn 567, Sư đoàn 322, Quân khu 1 tăng cường cho Mặt trận Vị Xuyên: Đó là sau khi thay phiên cho đơn vị bạn được 2 ngày, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 567 đã phải chiến đấu liên tục 4 ngày liền để đánh bại hàng sư đoàn địch thay nhau tấn công Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp với nhiều thời điểm khác nhau, lúc chập tối, lúc nửa đêm, lúc mờ sáng, lúc ban trưa... Quân địch đã bắn vào khu vực này hàng vạn quả pháo, cối để chi viện cho bộ binh quyết đánh chiếm bằng được nơi đây. Mặc dầu trận địa của ta một số công sự chiến đấu bị phá hủy hàng chục cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, nhưng với ý chí kiên cường, quyết tâm chiến đấu của các cán bộ, chiến sĩ chốt giữ trận địa, lại được sự chi viện hiệu quả của pháo binh, súng cối, ta đã bẻ gãy hàng chục đợt tấn công của địch, diệt hàng trăm tên ngay trước trận địa. Do tổn thất nặng, quân địch buộc phải kết thúc tấn công, rút về phía sau củng cố.
Tiếp theo, ngày 15/8/1985 Trung đoàn 881, Sư đoàn 314 tăng cường cho Sư đoàn 313 vào thay phiên cho Trung đoàn 567, Sư đoàn 322, lực lượng giữ Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp là Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 881, Sư đoàn 314. Bắt đầu từ đêm 28, ngày 29, 30/8/1985 lực lượng vào thay phiên được bố trí ở Đồi Cô Ích là Đại đội 1, Tiểu đoàn 6, 1 tiểu đội súng cối 60mm, ở Đồi Đài do Đại đội 10, Tiểu đoàn 6, phòng ngự, ở Đá Pháp do Đại đội 9, Tiểu đoàn 6 chốt giữ, được tăng cường 4 khẩu cối 60mm và một số hỏa lực bắn thẳng đại liên, 12,7mm có nhiệm vụ chi viện bằng hỏa lực cho Đồi Đài và Cô ích chiến đấu.

Ngày 2/9/1985 là ngày Quốc khánh của Việt Nam, đúng 5 giờ sáng địch bắn phá ác liệt vào các trận địa phòng ngự của ta ở bắc suối Thanh Thủy và bắn sâu vào khu vực 673, 812, Cóc Nghè, Làng Pinh. Khoảng 8 giờ ngày 2/9/1985 địch cho một trung đoàn bộ binh tấn công vào Đồi Đài, Cô Ích, mỗi mục tiêu chúng sử dụng 2 đại đội bộ binh tấn công, khi xung phong chúng dùng kèn để chỉ huy. Để đánh bại cuộc tấn công của địch, các loại cối 60mm, cối 82mm, đại liên 12,7mm của ta bắn trực tiếp vào đội hình địch xung phong, pháo của sư đoàn bắn chế áp vào các trận địa phòng ngự của địch ờ các cao điểm 266, 233, 400 đá, các trận địa pháo bắn thẳng của địch trên dãy cao điểm 772, 1509, 1030... để chi viện cho bộ đội giữ chốt. Lực lượng phòng ngự của ta dựa vào công sự chiến đấu đã được chuẩn bị, để địch vào cự ly có hiệu quả, dùng tiểu liên, lựu đạn, B40, B41, mìn định hướng... tiêu diệt địch. Hàng trăm tên địch đã bị diệt và bị thương, nhưng chúng ỷ lại vào quân đông, lại được chi viện ác liệt của pháo binh, súng cối, sự thúc ép của chỉ huy, chúng vẫn ồ ạt xông lên, với ý định chiếm bằng được trận địa của ta ở Đồi Đài, Cô Ích. Quân ta mặc dù đã có một số cán bộ, chiến sĩ thương vong nhưng được sự chi viện trực tiếp hỏa lực của cối 60mm, cối 82mm và của pháo binh đã dựa vào công sự, giao thông hào, chiến hào đánh trả quyết liệt quân địch, hàng trăm tên địch tiếp tục bị diệt. Sau hơn 2 giờ tấn công không thành công, lại bị tổn thất nặng, buộc quân địch phải rút về cao điểm 233, 266 và bên kia biên giới để củng cố.

14 giờ chiểu ngày 2/9/1985, sau khi đưa lực lượng phía sau lên thay thế, địch tiếp tục dùng pháo binh, súng cối bắn phá hàng giờ vào khu vực phòng ngự Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp, khu vực ngã ba Thanh Thủy, Pa Hán, bắn chặn đường cơ động phía sau của ta trên trục đường số 2, Nà Cáy, 673, Cóc Nghè... Chúng còn bắn cả pháo truyền đơn nội dung chào mừng Quốc khánh Việt Nam (!). Sau đó địch cho bộ binh tiếp tục tấn công, chúng còn mang theo bộc phá ống, bộc phá khối... hòng đánh chiếm bằng được trận địa phòng ngự của ta, sẽ dùng bộc phá phá hủy các trận địa phòng ngự ở Đồi Đài, Cô Ích. Đợt tấn công kéo dài tới gần 17 giờ ngày 2/9/1985, hơn 200 tên địch chết và bị thương, buộc chúng phải kết thúc đợt tấn công vào khu vực Đồi Đài, Cô Ích. Ta giữ vững được trận địa. Trong trận chiến đấu này, ta có 10 đồng chí hy sinh, 37 đồng chí bị thương.

Cuộc chiến đấu ngày 2/9/1985 thắng lợi, ta đã giữ vững Đồi Đài, Cô Ích. Suốt 5 năm sau đó, khu vực Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp đã bị địch tiếp tục bắn hàng vạn viên đạn pháo, cối, hàng trăm đợt tấn công tiếp theo. Trận địa phòng ngự nhiều lần bị phá hoại, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh, nhưng với ý chí kiên cường, quyết tâm cao, bộ đội ta đã giữ vững trận địa. Trận địa Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp vẫn giữ vững cho đến khi quân địch phải rút hết về bên kia biên giới, kết thúc chiến tranh lấn chiếm biên giới Vị Xuyên.

Có một sự kiện mà chúng ta không thể quên. Do nhiều lần tấn công nhưng không chiếm được trận địa phòng ngự Đồi Đài của ta, nên địch quyết tâm bằng mọi cách để phá hủy trận địa phòng ngự Đồi Đài. Chúng đã bí mật đưa hàng nghìn ki lô gam bộc phá vào hang đá dưới chân trung đội tiền tiêu Đồi Đài của ta mà chúng vẫn chiếm giữ, sau đó chúng cho quân rút hết khỏi hang chân Đồi Đài. Khoảng 20 giờ ngày 11/9/1985, địch cho nổ khối bộc phá hàng nghìn cân, toàn bộ trận địa tiền tiêu của Đồi Đài bị sập, 18 đồng chí của ta đã hy sinh, chỉ còn một đồng chí bị thương, nhưng Đồi Đài của ta vẫn đứng vững.

Do hình thái chiến đấu trực tiếp tiếp xúc, bố trí xen kẽ nên bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra những cuộc tiến công chiếm lĩnh trận địa của nhau để cải thiện thế phòng ngự. Tình hình vô cùng căng thẳng, đòi hỏi quân ta phải luôn sẵn sàng chiến đấu cao. Pháo binh, súng cối thường xuyên bắn phá vào trận địa của nhau, chế áp các trận địa pháo, khống chế các đường cơ động. Vì vậy bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra thương vong.

Sau đợt tấn công quy mô lớn từ ngày 23 đến ngày 25/9/1985, bị thiệt hại nặng, Trung Quốc tập trung vào việc củng cố trận địa, đồng thời tổ chức nhiều cuộc tấn công quy mô nhỏ, đánh vào các mục tiêu trực tiếp tiếp xúc nếu thấy ta sơ hở. Nhưng tất cả các cuộc tấn công nhỏ của địch vào các trận địa phòng ngự của ta đều bị ta đánh bại.

Sang năm 1986, ta với địch chủ yếu sử dụng pháo, súng cối đánh phá các trận địa phòng ngự, sát thương sinh lực của nhau. Đến tháng 10/1986, sau một thời gian dùng pháo binh, súng cối bắn phá vào trận địa phòng ngự của ta, quân địch đặc biệt tập trung bắn vào trận địa bình độ 1100, 1000, Nậm Ngặt. Sáng ngày 14/10/1986, địch sử dụng một tiểu đoàn bộ binh tăng cường từ bình độ 1200 chia làm 2 mũi tiến công vào bình độ 1100 do Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 122, Sư đoàn 313 phòng ngự. Mặc dù quân địch với lực lượng áp đảo, lại được pháo binh, súng cối của chúng chi viện ác liệt nhưng với ý chí kiên cường giữ vững trận địa, quân ta dựa vào công sự, chiến hào, giao thông hào chờ quân địch vào thật gần mới đồng loạt nổ súng. Đồng thời lúc này, pháo binh, súng cối của trung đoàn, sư đoàn chi viện trực tiếp, đánh thắng vào đội hình tiến công của địch, pháo của mặt trận cũng trực tiếp bắn vào trận địa phòng ngự của địch ở cao điểm 1509, 772 và kiềm chế trận địa pháo binh của địch, hàng trăm tên địch bị tiêu diệt ngay trước trận địa. Bị thương vong nặng địch phải lui về bình độ 1200 củng cố, bổ sung lực lượng và dùng pháo, cối bắn phá trực tiếp vào trận địa 1100. Khoảng 10 giờ ngày 14/10/1986, địch tiếp tục tổ chức đợt tấn công mới nhưng lại bị quân ta đánh bại. Trong ngày 14/10/1986, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 122, Sư đoàn 313 đã đánh bại 3 đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa.

Ngày 19/10/1986, quân địch lại đưa 2 tiểu đoàn từ cao điểm 1030 tấn công vào Đồi tròn, cao điểm 920 (đông Sông Lô) do Đại đội 5, Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 818 phòng giữ. Quân ta đã phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị phòng ngự với pháo binh và các đơn vị bạn chiến đấu kiên cường, tiêu diệt hàng trăm tên địch, xác địch bỏ lại ngổn ngang trước trận địa của ta. Ta giữ vững tất cả các trận địa phòng ngự. Đêm 19 tháng 10 năm 1986, được phép của Bộ tư lệnh tiền phương Quân khu 2, với tinh thần nhân đạo của nhân dân Việt Nam, ta thông báo cho địch được phép xuống lấy xác của binh lính chúng về.

Sang năm 1987, (lúc này đồng chí Đặng Quân Thụy, Phó Tư lệnh Quân khu 2 thay đồng chí Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh Mặt trận) ta đã nắm được ý đồ của địch, sau khi thay quân thế nào chúng cũng tổ chức một đợt tấn công quy mô lớn hòng lấn chiếm bằng được một số trận địa phòng ngự quan trọng của ta như cao điểm 1100, Đồi Đài, 4 hầm... Vì vậy, nên mọi công tác chuẩn bị chiến đấu của ta được làm rất tốt. Các trận địa phòng ngự được gia cố vững chắc như các công sự chiến đấu, chiến hào, giao thông hào... Pháo binh kiểm tra lại các phần tử bắn, tăng thêm cơ số đạn, nhất là đạn cối 60mm và 82mm có số lượng dự trữ là 5 cơ số. Bộ đội tại trận địa kiểm tra lại phương án tác chiến và luyện tập theo phương án ngay tại trận địa... Cơ quan tham mưu tiền phương Quân khu 2 tăng cường theo dõi các hoạt động phía sau của địch. Có thể nói trước khi quân địch tổ chức tấn công quy mô lớn lần này, bộ đội ta từ người chiến sĩ đến cán bộ chỉ huy các cấp trong đó có cán bộ trung đoàn, sư đoàn, cơ quan quân khu và các đơn vị bảo đảm, đều được chuẩn bị chu đáo sẵn sàng đánh bại tất cả các cuộc tấn công của địch vào các trận địa phòng ngự của ta.

Đối với quân địch, sau khi thay quân, bắt đầu từ đầu tháng 1/1987 chúng tổ chức những trận bắn pháo quy mô lớn, mỗi ngày chúng bắn tới 2 vạn đến 3 vạn viên đạn pháo lớn vào các trận địa phòng ngự của toàn Mặt trận Vị Xuyên. Sáng ngày 5/1/1987 chúng tập trung bắn ác liệt gần 2 giờ liền vào một số khu vực trọng điểm.

Khoảng 5 giờ sáng ngày 5/1/1987, quân Trung Quốc sử dụng 3 sư đoàn bộ binh đồng loạt tấn công vào các trận địa phòng ngự của ta ở bình độ 1100, 4 hầm, Đồi Đài, Cô Ích, Đá Pháp - tây Sông Lô, một sư đoàn bộ binh tấn công vào cao điểm Đồi Tròn, 840, Si Ca Lá, Pa Hán... đông Sông Lô. Do đã được chuẩn bị sẵn, nên quân ta để cho địch tới thật gần mới nổ súng tiêu diệt, nhiều tên đã bỏ mạng trước trận địa của ta. Bọn địch ỷ thế vào quân đông nên trong ngày 5/1/1987 chúng liên tục tấn công tới 3 lần. Nhưng với ý chí kiên cường, hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh với pháo binh, hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị với nhau, nên ngay trong ngày đầu hàng ngàn tên địch đã bị diệt. Không chịu bỏ cuộc, quân địch còn tổ chức tấn công liên tục trong các ngày 6, 7/1/1987, mỗi ngày 2 đến 3 lần, nhưng đều bị quân ta đánh bại, bị tổn thất nặng. Cuối ngày 7/1/1987, quân địch buộc phải kết thúc cuộc tấn công, toàn bộ các trận địa của ta đều giữ vững.

Sau cuộc tấn công quy mô lớn kéo dài 3 ngày từ 5/1 đến ngày 7/1/1987 bị thất bại, Trung Quốc giảm dần các cuộc tấn công lớn, chỉ còn tổ chức các trận tấn công nhỏ lẻ giữa các trận địa trực tiếp tiếp xúc với nhau, còn lại địch chủ yếu dùng pháo binh, súng cối bắn vào trận địa của ta để phá hoại trận địa và sát thương sinh lực ra. Có thể nói đây là trận tấn công quy mô lớn cuối cùng của Trung Quốc.

Năm 1988, Trung Quốc không tổ chức đợt tấn công quy mô lớn nào vào các trận địa phòng ngự của ta, mà chủ yếu dùng pháo binh bắn phá các trận địa phòng ngự và sát thương sinh lực của ta.

Năm 1989, Trung Quốc ngừng bắn pháo vào Mặt trận Vị Xuyên. Ngày 15/5/1989 kẻ địch bắt đầu nổ mìn phá công sự ở cao điểm 233 và một số nơi khác, bắt đầu rút quân. Cụ thể là, từ 7 giờ sáng ngày 15/5/1989, quân Trung Quốc cho nổ mìn đồng loạt phá bỏ hơn 20 căn hầm kiên cố ở một số điểm cao mà quân Trung Quốc đang chiếm giữ trên lãnh thổ Việt Nam, thuộc tuyến biên giới huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên (nay thuộc tỉnh Hà Giang). Cũng từ ngày đó hai bên đã ngừng bắn trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Đến tháng 10/1989 Trung Quốc rút hết quân khỏi đất Việt Nam, kết thúc 5 năm lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, 10 năm tấn công xâm lược Việt Nam (2/1979 - 10/1989).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #7 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2026, 08:14:55 am »

B- HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƯƠNG HÀ TUYÊN TRÊN MẶT TRẬN VỊ XUYÊN


Song song với lực lượng chủ lực tập trung tác chiến trên Mặt trận Vị Xuyên do Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2 trực tiếp chỉ huy, các lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng biên phòng của tỉnh Hà Tuyên, Bộ tư lệnh Quân khu 2 giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên chỉ huy, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên.

Trong cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, Vị Xuyên là huyện diễn ra cuộc chiến ác liệt nhất. Nhận thức rõ vai trò lịch sử của mình, được sự chỉ đạo chặt chẽ và chi viện từ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân khu 2 cũng như cả nước, Hà Tuyên đã bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới với ý chí quyết tâm cao để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Tất cả hướng về biên giới, dồn sức, dồn lực cho biên giới, đại diện cho cả nước đánh giặc, giữ vững biên cương “Cả nước vì Hà Tuyên và Hà Tuyên vì cả nước”, “Hà Tuyên gọi thanh niên cả nước sẵn sàng lên đường”, “Toàn quân một ý chí, toàn dân một ý chí, quân với dân một ý chí, quyết tâm đánh thắng quân xâm lược...”. Đó là những khẩu hiệu được vang lên thôi thúc mọi người trong suốt 10 năm chiến tranh bảo vệ biên giới Vị Xuyên, Hà Tuyên.

Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tuyên, Ủy ban nhân dân và các ban, ngành đoàn thể của tỉnh và huyện biên giới đã tổ chức ra các cơ quan tiền phương bám sát biên giới, kịp thời chỉ đạo, động viên quân và dân ở tuyến đầu bám trụ, vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất. Ở cấp tỉnh và huyện, thị thành lập ban chỉ huy quân sự thống nhất do các đồng chí bí thư làm trưởng ban. Chỉ huy trưởng quân sự chỉ huy thống nhất các lực lượng trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu và các hoạt động tác chiến khác.

Để đảm bảo chỉ huy kịp thời trên hướng tác chiến quan trọng Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên cũng tổ chức sở chỉ huy tiền phương của tỉnh tại Đồng Văn do đồng chí Trần An, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên trực tiếp chỉ huy. Lực lượng chiến đấu tại khu vực phía bắc tỉnh Hà Tuyên có 1 trung đoàn bộ binh địa phương, 1 tiểu đoàn đặc công. Để có hỏa lực chi viện cho các lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu, Bộ tư lệnh Quân khu 2 tăng cường cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên 1 tiểu đoàn lựu pháo 122mm bố trí tại tại địa bàn huyện Đồng Văn. Các huyện đều có 1 tiểu đoàn bộ binh bộ đội địa phương. Ngoài các lực lượng bộ đội địa phương còn có hàng vạn dân quân, du kích được bố trí thành các trung đội, tiểu đội chiến đấu trực tiếp tại các bản, làng. Trên hướng tây của tỉnh Hà Tuyên gồm các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì, Bắc Quang, Vị Xuyên do sở chỉ huy cơ bản của bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ huy.

Chiến sự trên các địa bàn Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ thường diễn ra nhỏ lẻ. Ngay từ tháng 2/1979, Trung Quốc đã sử dụng các lực lượng biên phòng, một số trung đoàn, tiểu đoàn tấn công đánh chiếm một số trận địa phòng ngự của ta trên tuyến biên giới như các trận địa phòng ngự đồn biên phòng 155 ở Mèo Vạc ngày 17/2/1979, trận địa phòng ngự 1800B xã Xín Chải ngày 11/3/1979, Đồn biên phòng 155 xã Sơn Vị, huyện Mèo Vạc ngày 5/3/1979, trận địa phòng ngự 1800A ngày 11/3/1979, trận địa phòng ngự 1558 xã Xín Chải ngày 13/3/1979, trận địa phòng ngự của bộ đội biên phòng 149 xã Nghĩa Thuận, huyện Quản Bạ ngày 11/3/1979...

Sau khi Trung Quốc chính thức đưa lực lượng chủ lực tấn công vào khu vực biên giới Vị Xuyên, trên địa bàn các huyện biên giới phía bắc tỉnh Hà Tuyên, Trung Quốc cũng tấn công đánh chiếm một số trận địa phòng ngự của bộ đội biên phòng và bộ đội địa phương ta. Ngày 30/4/1984 quân Trung Quốc tấn công trận địa 105 đồn biên phòng xã Bạch Đích, huyện Yên Minh. Có lần tại địa bàn xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, Trung Quốc cho 1 đại đội địa phương lấn chiếm một khu vực ở đây, ta không đưa bộ đội tấn công chiếm lại mà vận động nhân dân xã Lũng Cú dùng lý lẽ đấu tranh suốt 1 tuần lễ buộc Trung Quốc phải rút quân khỏi xã Lũng Cú. Lực lượng dân quân, du kích chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ địa bàn làng xã của mình, truy bắt các toán thám báo, biệt kích thâm nhập vào đất Việt Nam và phối hợp với các lực lượng quân báo, trinh sát của ta thâm nhập nắm tình hình phía sau của địch. Trong 5 năm chiến đấu, các lực lượng vũ trang địa phương đã diệt hàng trăm tên tấn công vào các trận địa của ta ở biên giới, bắt sống được hàng trăm tên thám báo, biệt kích của Trung Quốc thâm nhập vào đất Việt Nam.

Để đảm bảo cung cấp kịp thời lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, nhất là rau xanh cho bộ đội chiến đấu, bên cạnh nguồn do Bộ Quốc phòng cung cấp, tỉnh Hà Tuyên còn thành lập Ban cung cấp của tỉnh do đồng chí Hà Thị Khiết, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên làm trưởng ban. Suốt 5 năm chiến đấu bảo vệ biên giới Hà Tuyên, tỉnh đã huy động hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm của địa phương để cung cấp cho bộ đội chiến đấu trên mặt trận.

Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tuyên, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Vị Xuyên đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với Quân khu 2, trực tiếp là Bộ chỉ huy tiền phương của Quân khu 2 tại Mặt trận Vị Xuyên để lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân chiến đấu, động viên bộ đội. Đồng chí Dy Bí thư tỉnh ủy Hà Tuyên, đồng chí Tuy Bí thư huyện ủy Vị Xuyên thường xuyên có mặt tại chiến trường, các đồng chí đã nhiều lần ra tận chiến hào và vận động các đoàn thể quần chúng của tỉnh như: Hội mẹ chiến sĩ, đoàn thanh niên, phụ nữ, các cháu học sinh lên tận trận địa để tặng quà, chuyển thư từ... động viên bộ đội chiến đấu, huy động hàng vạn dân công hỏa tuyến lên đào hào, vận chuyển vật liệu làm công sự, làm đường, vận chuyển thương binh về phía sau cứu chữa, đưa các tử sĩ về mai táng. Tính cả 5 năm chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên đã huy động tới hơn 10 vạn người phục vụ cho Mặt trận Vị Xuyên.

Các mẹ, các chị ở thị xã Hà Giang khi biết được bộ đội chốt trên Đồi Đài trong điều kiện rất ác liệt, hàng ngày phải hứng chịu hàng ngàn viên đạn pháo, cối bắn vào trận địa, địch liên tục tiến công hòng chiếm bằng được Đồi Đài, nhưng bộ đội ta vẫn kiên cường chiến đấu, tiêu diệt hàng trăm tên địch, giữ vững trận địa, các mẹ đã gửi quà lên tặng các chiến sĩ ở đây. Các mẹ còn hỏi ai là người chỉ huy giữ Đồi Đài, khi biết được đồng chí Nhỏ “Xồm” là người chỉ huy, các mẹ còn gửi riêng gói quà cho đồng chí Nhỏ “Xồm” (sở dĩ đồng chí Nhỏ có tên như vậy là do bận chiến đấu nên không kịp cạo râu). Nhận được quà của các mẹ, các chị gửi lên, cán bộ chiến sĩ ta ai cũng rưng rưng cảm động, thầm hứa với các mẹ, các chị tiếp tục kiên cường chiến đấu để giữ vững trận địa. Công nhân lâm trường Việt Lâm thường xuyên viết thư và lên động viên bộ đội. Không chỉ riêng Hà Giang, mà nhân dân cả nước đều hướng về Mặt trận Vị Xuyên. Hội phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh ra tận mặt trận thăm hỏi và tặng quà cho bộ đội Vị Xuyên. Các đoàn văn công của Tổng cục Chính trị, của Quân khu 2 và một số địa phương cử các tổ văn công xung kích vào tới hang Dơi, hang Làng Lò, Làng Pinh để biểu diễn cho bộ đội xem. Có tổ văn công còn ra tận chốt để biểu diễn động viên bộ đội.

Thị xã Hà Giang còn tổ chức một cửa hàng “Tuyến lửa” của chị em phụ nữ do chị Quý cửa hàng trưởng, chị Bích cửa hàng phó phụ trách, phục vụ bán hàng nhu yếu phẩm, ăn uống suốt ngày đêm 24/24 giờ, cứ bộ đội trên chốt về lúc nào là có ngay bát phở nóng, tuy rằng là phở “không người lái” (phở không có thịt, chỉ có mì chính) vẫn ấm lòng chiến sĩ. Chẳng thế mà sau khi kết thúc chiến tranh, nhiều anh chiến sĩ quê ở Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa... đã kết duyên cùng các cô gái Hà Giang, công nhân lâm trường Việt Lâm, rồi ở lại định cư, sinh ra con cháu tại Hà Giang cho tới nay, coi “Hà Giang mến yêu của ta” là quê hương thứ hai của mình.

Có thể nói, bằng ý chí quyết tâm và tinh thần cách mạng cao nhất, đảng bộ, chính quyến, quân và dân các dân tộc tỉnh Hà Tuyên đã làm tất cả những gì có thể làm được, để cùng quân và dân cả nước tập trung cho biên giới Hà Tuyên nói chung, mặt trận Vị Xuyên nói riêng, bảo vệ biên cương Tổ quốc trong suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt cho đến ngày thắng lợi.

Vị Xuyên thực sự là chiến trường thể hiện lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu quả cảm, sẵn sàng hy sinh chiến đấu quên mình để bảo vệ Tổ quốc của lớp thanh niên kế tiếp truyền thống quang vinh của quân đội ta. Không những thế, Vị Xuyên còn là chiến trường có tầm ảnh hưởng lớn và ý nghĩa sâu sắc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chống chiến tranh xâm lược. Đây cũng là thắng lợi to lớn của quân và dân Hà Tuyên, của các lực lượng vũ trang Quân khu 2 và các đơn vị của Bộ lên tăng cường. Thắng lợi đó cũng thể hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, sự đoàn kết của toàn dân chi viện cho mặt trận Hà Tuyên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #8 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2026, 08:17:52 am »

C - VỊ XUYÊN - NHỮNG DẤU ẤN KHÔNG QUÊN

Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Vị Xuyên có những điều mà nhiều người không hiểu nổi, đó là tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Mặt trận Vị Xuyên. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả nước đều là chiến trường, bất cứ nơi đâu, kể cả Thủ đô Hà Nội cũng đểu phải hứng chịu những trận đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, nhưng chiến đấu trên Mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên rất khác. Đó là không gian chiến tranh chỉ diễn ra một khu vực hẹp trên biên giới huyện Vị Xuyên với chính diện hơn 20km, chiều sâu khoảng 10km - kể từ suối Thanh Thủy ra tới biên giới Việt Nam - Trung Quốc chỉ từ 3km đến 5km. Tại địa bàn này trong 5 năm kể từ tháng 4/1984 đến tháng 10/1989 đã diễn ra một cuộc chiến đấu vô cùng khốc liệt. Hàng ngày quân địch bắn vào phá vào đất Việt Nam từ 3 vạn đến 5 vạn viên đạn pháo lớn, có đợt trong 3 ngày quân địch liên tục bắn tới 15 vạn viên pháo lớn vào các trận địa phòng ngự của ta. Lại có đợt vào tháng 10/1986, khi tôi sang kiểm tra tình hình tác chiến của Sư đoàn 314 đã chứng kiến một đợt pháo của Trung Quốc bắn hàng vạn quả đạn để phá hoại các trận địa phòng ngự của ta và chi viện cho bộ binh tấn công đánh chiếm bình độ 1100 (cao điểm 1509), toàn bộ trận địa phòng ngự của ta ở Tây Sông Lô mịt mù khói đạn. Các trận địa phòng ngự của ta ở các dãy núi đá vôi vỡ trắng như miệng các lò vôi, nên anh em lính gọi là “lò vôi thế kỳ”, đã có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ ta hy sinh.

Chiến trường ác liệt như vậy nhưng ở phía sau chỉ cách suối Thanh Thủy khoảng 10km, cuộc sống ở đây lại rất thanh bình, không có bom đạn, không có mùi thuốc súng. Chợ Hà Giang vẫn họp, bà con mua bán tấp nập, quán cà phê, quán karaôkê vẫn hoạt động bình thường.
Anh em cán bộ, chiến sĩ chiến đấu trên chốt khoảng 1 tuần lại được luân phiên xuống hang Dơi, hang Làng Lò tắm rửa, nghỉ ngơi vài ngày cho lại sức (hang Làng Lò và hang Dơi rộng có sức chứa tới ngàn người ngay bên bờ suối Thanh Thủy) hoặc có điều kiện về tận thị xã Hà Giang để cắt tóc, uống bia, rồi lại vác súng lên chốt chiến đấu, rất ít chiến sĩ bỏ ngũ. Anh em coi việc đào ngũ là một điều rất xấu và sỉ nhục nhất của người lính, họ lên chốt chiến đấu với tâm trạng thoải mái “nhẹ như lông hồng”, đồng đội hy sinh rồi vuốt mắt cho đồng đội, rồi lại cầm súng ra chiến hào chiến đấu với tinh thần “sống bám đá chiến đấu, chết hóa đá, trở thành bất tử”. Tôi nhớ mãi một lẩn tôi đến kiểm tra và thăm anh em chốt ở Bốn Hầm, nơi chỉ cách địch từ 20m đến 30m, chiến đấu xảy ra bất cứ lúc nào. Nơi đây hầu hết chiến sĩ là người Hà Nội, khi anh em thấy tôi đến, anh em đã ôm lấy tôi và nói: “Thủ trưởng ơi! Ở đây chúng em hầu hết là dân Hà Nội, nhiều người cứ nghĩ lính Hà Nội chiến đấu không kiên cường, nhưng thủ trưởng cứ yên tâm, chúng em sẽ đánh bại tất cả các cuộc tấn công lấn chiếm của địch, giữ vững trận địa...”.

Đúng như lời hứa của các chiến sĩ, suốt 5 năm trời cán bộ, chiến sĩ ở chốt Bốn Hầm đã đánh trả hàng trăm trận tấn công của địch, diệt hàng trăm tên, nhiều đồng chí của ta đã anh dũng hy sinh, nhưng chốt Bốn Hầm vẫn giữ vững cho tới khi quân địch phải rút hết về bên kia biên giới.

Lại một chuyện khác, tại chốt phòng ngự Pa Hán sau khi ta phản kích lấy lại được trận địa, mấy ngày sau tôi ra kiểm tra, lúc này là ban đêm, khi đến cửa hang của ban chỉ huy đại đội, tôi thấy tiếng đồng chí cán bộ đại đội nói với hai chiến sĩ, tôi dừng lại cửa hang để xem có chuyện gì. Qua đó biết được hai chiến sĩ kia có mâu thuẫn với nhau, được đại đội trưởng gọi đến và nói: “Chúng ta ở đây chiến đấu, chỉ có đồng đội là ruột thịt, sống chết có nhau, có việc gì mà các em phải mất đoàn kết?...”, thế là hai chiến sĩ ôm lấy nhau khóc và hứa với đại đội trưởng sẽ vui vẻ giải quyết mọi việc để cùng nhau chiến đấu. Đấy, công tác chính trị tại mặt trận là như thế đấy! Đâu cứ phải là đem lý luận ra giảng dạy, lên lớp, mà cần biết cái gì tác động tới tình cảm, lý trí... để khơi dậy tình yêu thương lẫn nhau thì sẽ giải quyết được những va chạm xảy ra giữa các đồng đội để đoàn kết cùng nhau chiến đấu.

Những người lên Mặt trận Vị Xuyên mà phải làm những công việc phục vụ cho chiến đấu như vận tải, nuôi quân... không được trực tiếp cầm súng chiến đấu với địch ở chiến hào, họ cảm thấy đây là một điều “thiệt thòi”, nên có anh lính được phân công làm nuôi quân, đêm mang cơm cho anh em ở khẩu đội súng cối 60mm, cậu ta cứ mê mải loanh quanh bên khẩu cối, cuối cùng khẩn khoản nói với khẩu đội trưởng cối 60mm: “Cho tớ bắn thử một quả!”. Nể tình đồng đội, khẩu đội trưởng đồng ý cho đồng chí nuôi quân bắn một quả, nhưng vì không được huấn luyện, nên khi anh lính bỏ quả đạn vào nòng cối nhưng vai cậu ta lại che lấy miệng khẩu cối, quả đạn cối bay ra khỏi nòng đã xuyên qua vai cậu ấy và bị mắc kẹt ở đấy, thế là lại phải đưa về tuyến sau cấp cứu. Khi được anh em báo cáo, tôi trực tiếp xuống xem và lệnh cho công binh lập tức xuống ngay bệnh viện để tháo quả đạn cối ra khỏi vai cậu ta. Mọi người hồi hộp chờ đợi, nếu chỉ sơ suất một tí, công binh không chốt được ngòi nổ, quả đạn nổ sẽ gây thương vong cho anh lính và tất cả các bác sĩ, y tá có mặt tại đó. Rất may đồng chí công binh đã lấy được quả đạn cối ra khỏi vai người chiến sĩ nuôi quân an toàn. Sau khi thoát nạn, viên đạn cối đã được lấy ra khỏi vai, tuy còn đau nhưng anh chiến sĩ nuôi quân này vẫn tếu táo: “Thế là tớ cũng được trực tiếp chiến đấu rồi đấy!”. Như vậy có thể thấy rằng, được làm người lính trực tiếp cầm súng đánh địch ở ngay chiến hào là một điều rất vinh dự và “hãnh diện”. Sau này có người hỏi tôi là tại sao quả đạn cối xuyên qua vai người chiến sĩ lại không nổ? Vì quả đạn muốn nổ sau khi ra khỏi nòng phải đủ vòng quay ly tâm thì kim hỏa mới đập vào kíp nổ, và quả đạn mới nổ.

Một yếu tố quan trong trong chiến đấu phòng ngự là phải có một hệ thống trận địa liên hoàn, vững chắc, có thể chịu được sức đánh phá ác liệt của pháo binh địch. Rút kinh nghiệm từ cuộc chiến đấu giữ thành cổ Quảng Trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sở dĩ bộ đội ta thương vong lớn chính là vì lúc đó ta không có chủ trương chuyển hẳn vào phòng ngự nên không xây dựng được hệ thống công sự chiến đấu vững chắc, liên hoàn, mà chủ yếu dựa vào nhà cửa tường lũy có sẵn để đối phó với sự đánh phá ác liệt của pháo binh, pháo hạm, bom đạn của không quân địch, kể cả máy bay B52 gây thương vong cao và cuối cùng ta phải rút khỏi thị xã - thành cổ Quảng Trị sau 81 ngày đêm kiên cường chiến đấu. Nhưng cũng tại thị xã Quảng Trị, giai đoạn cuối chiến đấu giữ thành cổ, ta đã chuyển hẳn sang phòng ngự, kiên quyết giữ vững khu vực bắc sông Thạch Hãn là Ái Tử, sân bay Ái Tử, Đông Hà và vùng đất đã giải phóng bắc Quảng Trị.

Ở đây, tôi nhớ lại một vài sự kiện về thời kỳ đó, thời kỳ chiến đấu ở Quảng Trị để rút ra một số kinh nghiệm cho cuộc chiến hiện tại. Cuối tháng 9/1972, tôi được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 18 Sư đoàn 325. Trung đoàn 18 đang đảm nhiệm phòng ngự khu vực trọng yếu của Mặt trận: Khu vực Ái Tử, sân bay Ái Tử, thôn Nhan Biều thuộc xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, đối diện với thị xã - thành cổ Quảng Trị. Trước khi nhận nhiệm vụ, tôi được đồng chí Song Hào, Chính ủy và đồng chí Lê Quang Đạo, Phó chính ủy Mặt trận trực tiếp gặp và giao nhiệm vụ, nói rõ đây là khu vực trọng yếu để bảo vệ bắc sông Thạch Hãn, nên Trung đoàn 18 phải giữ bằng được khu vực phòng ngự sân bay Ái Tử, thôn Ái Tử, nếu mất Ái Tử sẽ mất Đông Hà... Do đó phải xây dựng bằng được trận địa phòng ngự vững chắc, liên hoàn mới có thể hạn chế được thương vong và giữ được trận địa. Chấp hành chỉ thị của đồng chí chính ủy và phó chính ủy Mặt trận, về tới đơn vị tôi đã cùng các đồng chí Đảng ủy - Chỉ huy Trung đoàn 18 hội ý và triển khai ngay, chỉ trong hơn 20 ngày đã tập trung mọi lực lượng xây dựng được trận địa phòng ngự của Trung đoàn 18 thành khu vực phòng ngự liên hoàn, vững chắc. Ngày 2 và 3/11/1972 quân Mỹ ngụy tổ chức cuộc hành quân “Sóng thần 9” cho lực lượng Thủy quân lục chiến vượt sông Thạch Hãn sang đánh chiếm thôn Nhan Biều, Ái Tử, sân bay Ái Tử. Để chi viện cho lực lượng thủy quân lục chiến ngụy chiến đấu, Mỹ ngụy đã bắn hàng vạn viên đạn pháo và pháo hạm, hàng trăm tấn bom của máy bay phản lực và B52 ném xuống trận địa ta, nhưng với ý chí kiên cường chiến đấu, lại có trận địa phòng ngự kiên cố, vững chắc, nên trong 2 ngày 2-3 tháng 11 năm 1972 Trung đoàn 18 đã đập tan cuộc hành quân “Sóng thần 9” của địch, giữ vững khu vực Nhan Biều, Ái Tử, sân bay Ái Tử. Hiệu suất chiến đấu của trận này rất cao, địch bị thiệt hại nặng, gần 400 tên lính thủy quân lục chiến bị diệt, bỏ xác trước trận địa phòng ngự của Trung đoàn 18. Về quân ta, 13 đồng chí bị thương, 7 đồng chí bị hy sinh.

Từ những kinh nghiệm chiến đấu phòng ngự bảo vệ thị xã - thành cổ Quảng Trị năm 1972, để đối phó với hỏa lực mạnh, ác liệt của pháo binh Trung Quốc, Bộ tư lệnh Quân khu 2 và Bộ tư lệnh tiền phương chủ trương phải xây dựng bằng được các trận địa thật kiên cố, vững chắc. Vì vậy, đã tổ chức cho hai lữ đoàn công binh chuyên sản xuất những thanh bê tông để lắp ghép các công sự chiến đấu và nơi nghỉ ngơi cho lực lượng giữ chốt. Hầm nghỉ phải chịu được bắn phá của pháo 122mm, 105mm, công sự chiến đấu phải chịu được bắn phá của cối 60mm và 82mm. Trong các trận địa phòng ngự phải có hệ thống chiến hào, giao thông hào, nối liền trận địa của trung đội với đại đội, nơi có điều kiện thì đào giao thông hào nối hến với các trận địa phòng ngự của tiểu đoàn.

Nhưng vì khu vực tác chiến của mặt trận rộng, yêu cầu xây dựng các công sự chiến đấu, hầm nghỉ cho bộ đội rất lớn, nên hai lữ đoàn công binh sản xuất vật liệu làm công sự chiến đấu không kịp, nhiều nơi mới đáp ứng được 30% - 40% yêu cầu. Sau khi tôi cùng cơ quan tham mưu tiền phương trực tiếp đi thị sát đơn vị thấy nếu chỉ để hai lữ đoàn công binh sản xuất vật liệu cung cấp cho các đơn vị toàn mặt trận xây dựng trận địa thì không thể đáp ứng được yêu cầu. Do đó, cần tập trung một lực lượng lớn của toàn mặt trận, cả phía trước và phía sau, ngoài sản xuất thanh bê tông, cần có nhiều tre, gỗ để bổ sung. Các lực lượng tại chỗ phải tăng cường xây dựng hệ thống chiến hào, giao thông hào liên hoàn trong trận địa phòng ngự trung đội với đại đội, các lực lượng phía sau lên giúp các đơn vị đào hệ thống giao thông hào từ đại đội đến tiểu đoàn về phía sau... Chỉ sau hai tháng phát động đã có hàng chục vạn khúc tre, gỗ và hàng vạn thanh bê tông được sản xuất đưa trực tiếp tới các trận địa phòng ngự phía trước, hàng ngàn công sự chiến đấu, hầm trú ẩn, ngủ nghỉ kiên cố được xây dựng thêm, hàng chục ki lô mét giao thông hào được nối liền từ trận địa phòng ngự của tiểu đoàn về trung đoàn và về phía sau. Có những nơi quan trọng như từ hang Dơi đến trận địa Đồi Đài, Cô Ích mới có giao thông hào nối liền sâu 70cm - 80cm, nên việc cơ động tiếp tế cho trận địa đều phải đi đêm hoặc chạy, rất nguy hiểm, dễ thương vong vì địch trên cao điểm 1025 - 1030 đều có thể bắn trực tiếp để khống chế đoạn giao thông hào này. Tuy vậy, chỉ sau 10 ngày đoạn hào này đã được đào sâu tới 1,80m, cơ động cả ban ngày và ban đêm được dễ dàng. Đoạn đường cơ động từ hang Làng Lò tới trận địa 4 hầm vì là núi đá không đào được hào, công binh đã đưa sắt, đá lên xây dựng đoạn hào nối, nên bộ đội đi lại thuận lợi, an toàn. Trước đây đi từ hang Làng Lò tới Nậm Ngặt, bình độ 900, 1000 đến 1100 đểu phải cơ động trên mặt đất, nay đểu đi lại dưới giao thông hào, nên giảm được thương vong. Sau này có thời gian, bộ đội ta đã đào được một hệ thống giao thông hào hàng trăm ki lô mét nối liền từ Coóc Nghè tới Thanh Thủy, từ cao điểm 840, Pa Hán về phía sau Sở chỉ huy Sư đoàn 314. Sau này anh em gọi là “Chiến hào mùa xuân, chiến hào chiến thắng”.

Về hệ thống hỏa lực của mặt trận, nếu so sánh giữa ta và địch thì địch ưu thế hơn ta rất nhiều kể cả số lượng khẩu pháo, cối đến cơ số đạn. Để chi viện cho bộ binh chiến đấu, Trung Quốc đã huy động tới hơn 400 khẩu pháo lớn, từ 2 đến 3 triệu viên đạn. Còn về phía ta chỉ có hơn 100 khẩu pháo các loại, về đạn cũng rất hạn chế. Hàng ngày Trung Quốc bắn tới hàng vạn viên đạn pháo vào các trận địa của ta. Có những đợt để chi viện cho bộ binh tấn công đánh chiếm các trận địa của ta, quân Trung Quốc đã bắn tới 3 vạn đến 5 vạn viên đạn pháo, cối, hoặc như đợt phản công để lấy lại cao điểm A6B, cao điểm 840, Pa Hán, liên tục trong 3 ngày quân Trung Quốc đã bắn tới 15 vạn viên đạn pháo, cối vào các trận địa của ta. Cả 5 năm lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, quân Trung Quốc đã bắn vào Vị Xuyên hơn 1 triệu 800 nghìn viên đạn pháo.

Còn về Việt Nam, sau khi hoàn toàn giải phóng miền Nam, không còn viện trợ của nước ngoài, nhất là vũ khí đạn dược, mà ta phải tự sản xuất để cung cấp cho mặt trận, nên việc sử dụng đạn pháo lớn phải hết sức tiết kiệm. Thông thường mỗi ngày ta chỉ bắn vài ba ngàn viên để kiềm chế các trận địa pháo của địch, hoặc chi viện cho bộ đội giữ chốt. Nhưng cái mạnh của ta là từ người chỉ huy binh chủng hợp thành đến người chỉ huy trực tiếp sử dụng pháo đều trải qua cuộc chiến tranh chống Mỹ nên có nhiều kinh nghiệm để tổ chức hệ thống hỏa lực pháo binh có hiệu quả. Trong 5 năm chiến đấu tại mặt trận Vị Xuyên ta đã tổ chức được một hệ thống hỏa lực rất khoa học giữa pháo xe kéo, pháo bắn thẳng, bắn cầu vồng, từ pháo lớn đến cối 60mm, cối 82mm hỗ trợ lẫn nhau. Ta đã đưa một số pháo 85mm, cao xạ 37- 2 nòng, Su - 100 lên một số cao điểm, làm hầm kiên cố để bắn thẳng vào các trận địa địch và bắn trực tiếp vào đội hình địch tấn công để chi viện cho bộ binh ta giữ chốt. Việc bố trí trận địa pháo rất khéo léo, kết hợp trận địa thật với trận địa giả, pháo với bộc phá nghi binh nên suốt 5 năm chiến đấu chiến đấu rất ít khẩu pháo của ta bị pháo địch phá hủy. Tôi nhớ có một trận địa 122mm của Sư đoàn 313 bố trí gần đường vào làng Pinh, trận địa pháo này đánh rất có hiệu quả, phá hủy được nhiều trận địa, công sự của địch, đặc biệt chi viện cho bộ đội Sư đoàn 314 giữ chốt và phản kích lấy lại trận địa Pa Hán. Quân địch rất muốn phá hủy trận địa pháo này, nên có lần chúng đã tập trung bắn hàng ngàn viên pháo lớn vào đây, nhưng trận địa pháo của ta vẫn an toàn. Để chi viện kịp thời, có hiệu quả phải nói đến cối 82mm và cối 60mm. Do trận địa của ta với địch là xen kẽ, trực tiếp tiếp xúc, chiến đấu xảy ra bất cứ lúc nào, người chỉ huy từ trung đội đến đại đội có thể sử dụng hỏa lực cối 60mm, cối 82mm kịp thời bố trí ở trận địa để tiêu diệt địch.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #9 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2026, 08:19:40 am »

Nói đến đây, tôi lại nhớ tới một lần đồng chí M. lên thay đồng chí Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh mặt trận. Vì những trận chiến đấu giữa các trận địa trực tiếp tiếp xúc giữa ta và địch liên tục xảy ra, để kịp thời đánh địch giữ vững trận địa, anh em ở chốt phải sử dụng nhiều hỏa lực cối 82mm và cối 60mm. Khi anh em báo cáo về Tư lệnh mặt trận, đồng chí M. không tin và cho rằng vì hoảng loạn nên sử dụng cối 82mm một cách không cần thiết. Do đó, đồng chí M, đã giao cho tôi truyền đạt ý kiến của tư lệnh mặt trận là “không được tự ý sử dụng cối 82mm, nếu muốn sử dụng phải báo cáo, được tư lệnh mặt trận đồng ý mới được bắn cối 82mm”. Nhưng chủ trương này tôi không đồng ý, vì như vậy sẽ chậm mất thời cơ, địch có thể đánh chiếm được trận địa của ta, nên tôi đã đề đạt với đồng chí tư lệnh mặt trận không ra lệnh này. Đồng chí tư lệnh không nghe, cứ lệnh cho trợ lý tác chiến mặt trận phải truyền đạt lệnh trên xuống tất cả các đồng chí trực tiếp chỉ huy giữ chót. Để hạn chế tổn thất do mệnh lệnh này, tôi đã gọi điện cho đồng chí Bùi Như Lạc, Sư đoàn phó Sư đoàn 313 là sẽ có mệnh lệnh trên, nếu các đơn vị chấp hành mệnh lệnh này, sẽ mất trận địa đấy! Đồng chí Lạc chất vấn tôi: “Đồng chí M là tư lệnh hay đồng chí Huy là tư lệnh?”. Tôi trả lời: “Giữ vững trận địa là mệnh lệnh cao nhất!”. Sau đó tôi đã báo cáo lệnh này của đóng chí M. về Tư lệnh Quân khu 2 Vũ Lập, đồng chí Vũ Lập lệnh phải hủy ngay lệnh này của đồng chí M.

Đối với kẻ địch, chúng cũng rất nhạy bén học tập cách bố trí trận địa pháo bắn thẳng của ta, nên sau một tuần quân địch cũng đưa pháo bắn thẳng lên một số điểm cao, làm hầm cho pháo như của Việt Nam. Các trận địa pháo bắn thẳng này đã phát huy tác dụng, gây cho ta một số khó khăn và tổn thất.

Về cách đánh và sử dụng lực lượng chiến đấu cũng có lúc ý kiến của tư lệnh mặt trận và cơ quan tham mưu không thống nhất với nhau, nên có lúc phải đấu tranh quyết liệt. Chẳng hạn như việc tiếp tục chủ trương của đồng chí M. đánh lấy lại cao điểm 685, sử dụng từng trung đoàn và cần thiết sử dụng cả Sư đoàn 356, dùng hình thức đặc công để đánh chiếm lại cao điểm 685. Lúc này tôi đang chỉ huy cơ quan tham mưu tiền phương, với cương vị Tham mưu trưởng mặt trận, tôi không đồng ý với chủ trương này nên tôi đã phân tích với đồng chí tư lệnh mặt trận: đánh theo hình thức chiến thuật đặc công là chỉ đánh chiếm một mục tiêu vừa phải, lực lượng sử dụng thông thường là đại đội hoặc tiểu đoàn, cách đánh phải bí mật, bất ngờ mới giành thắng lợi. Còn đây là cao điểm 685 do một tiểu đoàn địch tăng cường chiếm giữ, lại liền với bình độ 400 đá, cũng do một tiểu đoàn địch chiếm giữ, nếu xảy ra tác chiến, lực lượng địch ở bình độ 400 có thể tăng cường và chi viện cho cao điểm 685. Còn ta nếu muốn đánh chiếm lại cao điểm 685 phải sử dụng cả trung đoàn, và với một trung đoàn là gần 2000 quân với lực lượng đông như thế liệu có tiếp cận bí mật được không? Hay lại chưa vào tới hàng rào địch đã bị lộ, địch sẽ dùng hỏa lực pháo cối và các hỏa lực bắn thẳng sát thương lực lượng của ta khi còn ở ngoài hàng rào của chúng, rồi lại thất bại, thương vong nặng như Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 đánh chiếm cao điểm 1030 (Đông Sơn) ngày 12/7/1984. Sau nhiều lần bàn bạc, tranh luận, cuối cùng đồng chí M, tư lệnh mặt trận phải chấp nhận ý kiến của cơ quan tham mưu tiền phương là không đánh chiếm lại cao điểm 685 như lúc đầu đề ra.

Trong chiến tranh ta phải sử dụng nhiều phương tiện cơ động bằng cơ giới, nên việc đảm bảo đường cơ động cho xe, pháo, bảo đảm tiếp tế vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm... cho bộ đội với khối lượng rất lớn. Bởi vì lực lượng bộ đội trực tiếp chiến đấu, phục vụ chiến đấu thường xuyên với quân số hàng chục vạn người. Nhưng trên địa bàn khu vực tác chiến là vùng rừng núi, rất ít đường vận chuyển bằng cơ giới, mà chủ yếu là đường mòn, khi xảy ra chiến tranh ta mới sử dụng công binh mở rộng thành đường quân sự làm gấp. Hệ thống đường cũ đã làm từ thời Pháp có đường số 4 nối từ Cao Bằng tới Hà Giang, chủ yếu phục vụ cơ động cho đội quân quan binh. Năm 1956 ta làm con đường cơ giới từ Quản Bạ đi Yên Minh, lên Đồng Văn, Mèo Vạc - đường này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là đường “Hạnh Phúc”. Đường số 2 từ Hà Giang đến cửa khẩu Thanh Thủy là đường cũ láng nhựa đã hư hỏng nhiều, xe cơ giới đi lại rất khó khăn. Muốn vận chuyển vũ khí, đạn dược và cơ sở vật chất khác cho Sư đoàn 314 chiến đấu phải đi từ Hà Giang theo đường Hà Giang đi Quản Bạ, tới Km 17 phải đi vào đường quân sự làm gấp dài hơn 10km mới tới Minh Tân. Đường này thường xuyên bị hỏa lực pháo binh của địch bắn phá mà trọng điểm là Ngã 3 Km 17 Quản Bạ - Minh Tân. Khó khăn đặt ra là, nếu tính từ thị xã Hà Giang tới Minh Tân dài tới hơn 40km dưới sự khống chế của pháo binh địch, để đảm bảo vận chuyển được thông suốt, Sư đoàn 314 phải cử ra 1 đại đội công binh của sư đoàn thường xuyên túc trực khắc phục hư hỏng do pháo binh địch bắn phá, hoặc mưa lũ phá hoại. Vì thế việc bảo đảm tiếp tế cho Sư đoàn 314 gặp rất nhiều khó khăn.

Để bảo đảm việc vận chuyển, tiếp tế các mặt cho cánh Đông Sông Lô và cho Sư đoàn 314 đỡ khó khăn, giảm thương vong, tôi và cơ quan công binh tiền phương quân khu đã đi khảo sát làm con đường mới đông cánh đồng xã Phong Quang. Sau khi khảo sát tôi thấy cần thiết phải mở con đường mới thay thế đường quân sự làm gấp từ Km 17 đến Minh Tân. Tôi đã báo cáo và đề xuất với Tư lệnh Quân khu 2 và được phê chuẩn. Tư lệnh Quân khu 2 đã báo cáo với Bộ Quốc phòng xin Bộ tăng cường trung đoàn công binh Quân khu Thủ đô cho Quân khu 2 lên làm tuyến đường này. Trung đoàn công binh của Quân khu Thủ đô đã huy động tất cả các phương tiện cơ giới và người, chỉ trong 2 tháng con đường mới từ Phong Quang đến Sở chỉ huy Sư đoàn 314 đã hoàn thành, bảo đảm các loại xe cơ giới và người cơ động được thuận tiện, rút ngắn cự ly đi Minh Tân chỉ còn 20km, tránh được trọng điểm bắn phá của pháo binh địch ở Km 17. Sau khi có con đường này, ta đã đưa Su-100 (pháo tự hành bắn thẳng) vào hầm đã làm tại khu vực nam dãy Pa Hán làm pháo bắn thẳng, bắn phá vào trận địa phòng ngự của địch ở các cao điểm 1509, 772, 1030 rất có hiệu quả. Đến nay sau khi kết thúc chiến tranh biên giới, con đường này trở thành con đường dân sinh phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân từ Minh Tân tới thành phố Hà Giang rất thuận tiện.

Đường cơ động từ thị xã Hà Giang tới làng Pinh và từ làng Pinh tới cao điểm 812, Coóc Nghè, sở chỉ huy phía trước của Quân khu 2 và sở chỉ huy của các sư đoàn lên chiến đấu thường xuyên được sửa chữa bảo đảm đi lại bằng ô tô được thuận tiện.

Làng Pinh có một vị trí quan trọng về quân sự. Trước đây, Làng Pinh có tên là Bản Pin, sau này qua cách phát âm khác nhau gọi là Làng Pinh. Đây là khu vực có nhiều điểm cao án ngữ phía trước, nằm sát sườn đông nam của cao điểm 615. Điểm cao này có đặc điểm là núi đá cao dựng đứng, che khuất tầm quan sát của địch, nên mọi hoạt động của bộ đội đảm bảo bí mật, kín đáo. Làng Pinh có một hang rất rộng tới vài ngàn mét vuông, nên ở đây được đặt trạm phẫu tiền phương, nơi tập kết vật chất, vũ khí, đạn dược, nơi dừng chân của bộ đội trước khi lên chốt. Khu vực Làng Pinh có một dòng suối nhiều nước chảy quanh năm, nhân dân gọi là suối Làng Pinh, thuận lợi cho các đơn vị sinh hoạt hàng ngày ở đây. Làng Pinh cũng là nơi tiếp nhận thương binh, tử sĩ từ phía trước do các đơn vị vận tải chuyển về và vận chuyển tiếp về tuyến sau.

Có thể nói sự đóng góp của lực lượng công binh các đơn vị, các cấp rất lớn từ việc sản xuất thanh bê tông đến làm hầm và công sự chiến đấu cho bộ đội, làm đường cơ động, đào hệ thống giao thông hào... những việc làm của bộ đội công binh đã góp phần đánh thắng kẻ địch, giữ vững trận địa, giảm thương vong trên toàn mặt trận.

Về đảm bảo vật chất, hậu cần cho bộ đội những năm này rất khó khăn, gạo thiếu phải ăn cả hạt bo bo, rau xanh lại càng khó khăn vì phải đưa từ hậu phương phía sau lên rất xa. Từ Hà Nội và các tỉnh đồng bằng lên tới Hà Giang, đến các chiến sĩ phải hơn 300km - 400km, đường vận chuyển từ miền xuôi lên duy nhất chỉ có con đường số 2 hẹp và hư hỏng nhiều, do đó rau xanh từ phía sau lên đến bếp ăn của chiến sĩ chỉ còn 30% - 40%, số còn lại bị thối phải bỏ. Thức ăn phần lớn là cá mắm khô, rất ít khi có thịt tươi. Anh em ai cũng nhớ mãi câu chuyện liên quan đến thịt, chuyện thật nhưng lại mang yếu tố bi hài. Chuyện thế này: Đồng chí T.H là một đồng chí cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, lên thăm bộ đội ở mặt trận, thấy anh em khổ quá, đồng chí đó đã hứa sẽ cung cấp cho toàn mặt trận từ cán bộ đến chiến sĩ mỗi người một nửa ki lô thịt tươi... Sau khi đồng chí về xuôi, gần một năm sau vẫn không có thịt cấp cho bộ đội như lời hứa, nên sau này trở thành cầu chuyện ‘Tiếu lâm” của chiến sĩ. Tôi đi đến đâu anh em cũng hỏi: “Thủ trưởng ơi! Bao giờ được ăn thịt đồng chí T.H?”... Nước sinh hoạt cũng rất khó khăn, từ trên chốt xuống tới suối Thanh Thủy hay nơi có nước phải đi xa từ 500m đến 1000m, có nơi phải đi mất nửa buổi, nên mỗi ngày mỗi người chỉ được 1 đến 2 lít để sinh hoạt. Sau này Tổng cục Hậu cần đã sản xuất ra khăn ướt lau người để cung cấp cho bộ đội trên chốt. Anh em nuôi quân ở phía sau thường tranh thủ nơi có đất và an toàn để gieo trồng rau xanh bổ sung vào bữa ăn cho bội đội. Ở đây có rất nhiều cây chè cổ, có cây đường kính 20cm - 30cm, anh em đã tranh thủ hái những búp chè trên những đồi chè cổ mà đồng bào chuyển về phía sau bỏ lại để sao thành những gói chè khô. Anh em gọi là “chè chốt” rất ngon, pha nước uống trong khi chờ đánh địch.

Cơ quan của sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2 đóng tại nơi ở và làm việc cũ của tỉnh ủy Hà Giang. Ở đây có một số nhà cũ xây từ thời Pháp, rất nhiều con Dơi về trú ngụ trên trần nhà, nên vài ba tháng anh em công vụ lại mang màn lên quầy bắt lấy 20 - 30 con về làm lông, đem rán lên ăn, mọi người coi đây là “bữa tiệc”. Cũng có lần một cán bộ về Hà Nội lên, vợ đồng chí Nguyễn Hữu An, Tư lệnh mặt trận gửi lên cho đồng chí An một gói quà, đến bữa ăn, đồng chí Nguyễn Hữu An đã mang gói quà đó ra và nói: “Hôm nay tớ khao các cậu một món đặc biệt...”. Khi mở ra, đó là một lọ cà muối và một lọ mắm tôm, ai ăn cũng thấy ngon tuyệt vời. Thế mới biết đâu có phải cứ là sơn hào hải vị mới quý, mà trong lúc khó khăn gian khổ, tình cảm giữa người chỉ huy với cấp dưới mới là quý trọng, thân thương.

Lữ đoàn 168 pháo binh của Quân khu 2 đóng ở Phong Quang, nơi đây rừng rậm, ít người qua lại, trong những khe suối đá có rất nhiều cua, ốc, ba ba... thỉnh thoảng anh em còn bắt được những con ba ba nặng tới 10kg đến 12kg. Đồng chí Nhằn, Lữ trưởng Lữ đoàn 168 lại gọi tôi và đồng chí Hồng Tân, Phó tư lệnh Quân khu 2 sang liên hoan. Có thịt ba ba nhưng lại không có thịt lợn, không có mỡ, anh em đành luộc lên chấm với muối ớt, thế là tuyệt vời rồi.

Cơ quan tiền phương Quân khu 2 ở Hà Giang đã lâu nên mọi người rất thân thiết với nhau, thế rồi có anh Biên, trợ lý quân lực và chị Vân, nuôi quân yêu nhau đã hàng năm, họ muốn làm đám cưới nhưng chưa có gì để làm vài mâm cơm mời anh em chứng kiến. Lúc này cậu cần vụ của tôi nuôi được một con lợn khoảng 20 - 30kg, tôi bảo cậu cần vụ mổ thịt và tặng cho cặp đôi kia 10kg thịt lợn về làm cỗ cưới. Năm tháng qua đi, năm 2017 tôi lên thăm cơ quan Quân khu 2, gặp vợ chồng cô Vân anh Biên đã là thượng tá, có cháu rồi đấy, vợ chồng Biên vẫn coi tôi như cha chú trong nhà.

Trở lại năm 1986, tôi lại được đón Tết, mừng Xuân mới ở chiến trường, từ thị xã Hà Giang trở về phía sau không khí Tết vẫn tưng bừng, băng rôn, áp phích, câu đối đỏ rợp khắp các con đường với những khẩu hiệu: “Quyết tâm đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược”, “Tất cả cho chiến sĩ trên chiến hào đánh thắng”... Khẩu phần được tăng thêm, cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận được cung cấp thịt tươi, có bánh chưng, rượu cam, rượu chanh... Đặc biệt Tết này, bộ đội ta được các mẹ, các chị của Hà Giang mang quà đến tận chiến hào chúc Tết và động viên chiến sĩ trên mặt trận. Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 2 tại thị xã Hà Giang cũng được đại diện Đảng, chính quyền và nhân dân đến chúc Tết. Đến bây giờ, khi chiến tranh đã qua đi, môi khi nhớ lại Tết năm đó, tôi vẫn thấy ấm lòng và nhớ mãi tình cảm của người dân Hà Giang đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi.


*


Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược của các thế lực “bành trướng” Trung Quốc lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, Hà Tuyên kéo dài 5 năm từ tháng 4/1984 đến tháng 10/1989, nếu tính cả từ tháng 2/1979 là 10 năm. Quân dân Việt Nam đã phải chiến đấu với hai cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc vô cùng ác liệt và tàn khốc, riêng trong cuộc chiến tranh xâm lược lấn chiếm biên giới Vị Xuyên, ta đã tiêu diệt hơn 25.000 tên, làm bị thương hàng vạn tên, bắt sống 350 tên lính Trung Quốc, nhưng với ta gần 5000 cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh, hàng ngàn người bị thương, hàng trăm thôn bản, hàng ngàn ngôi nhà của đồng bào ta bị phá hủy.

Mặt trận Vị Xuyên là chiến trường ác liệt chống quân xâm lược, diễn ra trong suốt 10 năm (1979 - 1989), chính tại đây đã được huy động nhiều đơn vị của bộ, các quân khu, quân đoàn, quân binh chủng và bộ đội địa phương, dân quân tự vệ cùng hàng vạn dân công hỏa tuyến của các tỉnh phía sau lên tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Hàng trăm trận chiến đấu đã diễn ra rất quyết liệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ ở trên mọi miền đất nước và đồng bào ta đã hy sinh trên mảnh đất này. Vì vậy, có thể nói chiến trường Vị Xuyên mang tầm vóc to lớn, đại diện cho ý chí, quyết tâm, tinh thần quả cảm của toàn dân tộc để đấu tranh giữ vững mảnh đất biên cương của Tổ quốc. Sau chiến tranh biên giới Tây Nam là chiến tranh ở phía Bắc, trong đó Mặt trận Vị Xuyên là chiến trường trọng điểm, gian khổ và ác liệt nhất (từ 1984 - 1989), nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trực tiếp đánh bại các âm mưu, toan tính và hành động của đối phương hòng bắt ta phải khuất phục.

Trong tác chiến phòng ngự ờ Mặt trận Vị Xuyên, bài học quan trọng ta phải thường xuyên nắm chắc địch về mọi mặt để đánh giá đúng, xác định quyết tâm và xử lý các tình huống trong quá trình chiến đấu chính xác, hiệu quả, không bị động bất ngờ. Đồng thời tăng cường xây dựng ý chí quyết tâm cao, ý thức tổ chức kỷ luật cho bộ đội trong tác chiến phòng ngự bảo vệ Tổ quốc, bởi chiến thắng Vị Xuyên là thắng lợi của sự quyết tâm vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, thể hiện tinh thần chiến đấu anh dũng của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đó là thắng lợi của tinh thần đoàn kết dân tộc, động viên sức người, sức của cho phía trước, tất cả hướng về Hà Tuyên. Trên chiến trường Hà Tuyên, chúng ta còn làm tốt công tác tổ chức chỉ huy hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa các lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ... tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phải luôn thực sự chu đáo cho tác chiến phòng ngự bảo vệ Tổ quốc, đây là nội dung hết sức quan trọng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong thực hiện các biện pháp tác chiến bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của đất nước.

Cuộc chiến đấu ở chiến trường Vị Xuyên kết thúc, cũng đồng thời là dấu mốc kết thúc chiến tranh bảo vệ lãnh thổ phía Bắc của Tổ quốc, một cuộc chiến tranh kéo dài 10 năm (1979- 1989).

Đây là thắng lợi to lớn về chiến lược, về lịch sử trong cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, quân và dân ta đã đánh bại hành động xâm lược lấn chiếm biên giới Việt Nam của các thế lực “bành trướng” Trung Quốc, giữ vững toàn vẹn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam.
Thắng lợi này bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự đoàn kết toàn dân tộc, với ý chí chiến đấu kiên cường của quân dân Việt Nam mà trực tiếp là của các lực lượng vũ trang của Bộ, của Quân khu 2, của quân dân Hà Tuyên, không sợ hy sinh xương máu để chiến thắng kẻ thù.

Đây còn là sự kết nối những chiến thắng to lớn của cha ông từ ngàn năm: Thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung - Nguyễn Huệ, đánh thắng hai đế quốc Pháp, Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giành độc lập tự do dưới thời đại Hồ Chí Minh.

Là những người con của đất Việt, chúng ta rất tự hào với những chiến công hiển hách của cha ông trước kia và sự đóng góp xương máu của các anh hùng liệt sĩ, của quân và dân Việt Nam, trong đó có phần đóng góp của các thế hệ chúng ta ngày nay. Hiện nay tình hình thế giới và Biển Đông đang có những diễn biến vô cùng phức tạp, các thế lực thù địch luôn có âm mưu xâm lược lãnh thổ, biển đảo của Việt Nam, đòi hỏi mỗi công dân Việt Nam phải luôn cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, biển đảo của cha ông để lại, như Bác Hồ đã dạy: “Các vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM