Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:29:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình tranh chấp giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020  (Đọc 2293 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:26:59 pm »

- Tên sách: Quá trình tranh chấp giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020
-Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế, TS. Bùi Đức An
-Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia Sự thật
-Năm xuất bản: 2021
-Người số hóa: macbupda, hqnd



LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Nằm ở vị trí địa - chính trị quan trọng trên Biển Đông, quần đảo Trường Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Nhiều năm gần đây, một số quốc gia và vùng lãnh thổ đã liên tục thể hiện yêu sách chủ quyền đối với quần đảo này, khiến vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên trên Biển Đông nói chung và ở quần đảo Trường Sa nói riêng ngày càng diễn biến phức tạp, khó đoán định, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.


Trước thực trạng đó, Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đã kiên quyết, kiên trì khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa bằng các chứng cứ lịch sử và căn cứ pháp lý vững chắc, đồng thời chủ trương giải quyết tranh chấp với các bên liên quan bằng đàm phán hòa bình, trên nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982) và các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trên Biển Đông.


Để góp phần vào nỗ lực chung của Đảng và Nhà nước ta cùng tuyên truyền nâng cao ý thức của nhân dân về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020 do PGS.TS. Nguyễn Thị Quế và TS. Bùi Đức An đồng chủ biên.


Sở dĩ các tác giả chọn mốc thời gian phân tích từ năm 1988 là bởi thực tế rằng, từ thời điểm này, tình hình thế giới và khu vực biến chuyển khó lường, các bên yêu sách chủ quyền bắt đầu triển khai những hành động ngày càng quyết liệt nhằm hiện thực hóa tham vọng và tối đa hóa lợi ích của mình trên Biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa nói riêng, xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến các lực lượng chấp pháp và ngư dân Việt Nam hoạt động ở vùng biển này.


Trong cuốn sách này, các tác giả đã từng bước giải nghĩa những thuật ngữ, khái niệm liên quan đến tranh chấp chủ quyền; lý giải nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa, thực trạng tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, nhất là từ năm 1988 đến 2020; dự báo các kịch bản tranh chấp có thể xảy ra đến năm 2028; đồng thời đề xuất giải pháp giải quyết các tranh chấp đó, với nỗ lực tối cao là giảm thiểu nguy cơ xảy ra va chạm, xung đột, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, góp phần quan trọng giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.


Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 5 năm 2021
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:29:02 pm »

LỜI MỞ ĐẦU


Quần đảo Trường Sa nằm ở trung tâm của Biển Đông, có vị trí địa - chính trị đặc biệt quan trọng, án ngữ phần lớn các tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng hàng đầu thế giới đi qua khu vực này. Bên nào kiểm soát, khống chế được quần đảo Trường Sa sẽ giành quyền kiểm soát tất cả các tuyến giao thông hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông, tác động trực tiếp đến trật tự khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thậm chí đến trật tự thế giới. Chính vì vậy, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng phức tạp, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm nóng nhất về an ninh ở khu vực Đông Nam Á. Sau nhiều nỗ lực của các nước liên quan, ASEAN và cộng đồng quốc tế, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo này không những không giải quyết được một cách triệt để mà còn ngày càng trầm trọng, phức tạp hơn, đe dọa phá vỡ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, cản trở giao thương quốc tế qua Biển Đông.


Những biến động mới của tình hình thế giới và khu vực, cũng như sự gia tăng yêu sách và hoạt động khẳng định chủ quyền của các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng đe dọa trực tiếp đến chủ quyền và lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông. Trên thực tế, trước năm 1988, mặc dù nhiều nước đã tuyên bố chủ quyền, thậm chí đưa lực lượng đến xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa, nhưng quy mô, tính chất của các tuyên bố và hoạt động xâm chiếm này chưa thực sự gay gắt, phức tạp. Tuy nhiên, từ năm 1988 đến 2020, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng diễn biến phức tạp, tác động nhiều mặt đến chủ quyền và lợi ích của Việt Nam cũng như môi trường an ninh trong khu vực. Đặc biệt, năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực, xâm chiếm một số đảo đá, bãi cạn ở quần đảo Trường Sa (Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Xu Bi, Ga Ven, Gạc Ma) thuộc chủ quyền của Việt Nam, khiến 64 cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh anh dũng trong khi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đất nước ở khu vực này. Từ đó, tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đã thực sự trở thành "điểm nóng" của khu vực, khiến cộng đồng quốc tế hết sức quan ngại. Tuy nhiên, bất chấp phản ứng của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn tiếp tục triển khai nhiều hoạt động để khẳng định và thực thi cái gọi là chủ quyền của nước này ở quần đảo Trường Sa, như: xâm chiếm bãi Vành Khăn (1995); đưa ra yêu sách "đường lưỡi bò" (2009), yêu sách "Tứ Sa" (2017); mở rộng diện tích và xây dựng quy mô lớn ở quần đảo Trường Sa (2014-2016); thành lập hai đơn vị hành chính cấp quận/huyện trực thuộc cái gọi là thành phố Tam Sa" (2020),... Bên cạnh đó, các bên có tranh chấp khác cũng triển khai nhiều hoạt động để đòi "chủ quyền" ở quần đảo Trường Sa, trong đó Đài Loan (Trung Quốc)* (Trong phạm vi cuốn sách này, khi nói đến "Đài Loan" là chỉ "Đài Loan (Trung Quốc)" (BT)) thường xuyên điều lực lượng đến cắm cờ khẳng định chủ quyền ở đá Bàn Than; Philippin kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài thường trực (PCA) (2013), tiến hành một số hoạt động xây dựng ở đảo Thị Tứ (2020); Malaixia đệ trình báo cáo lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (CLCS) về thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý bao trùm phần lớn các đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa (2019),...


Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến nhanh và phức tạp, các nước lớn ngoài khu vực, như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Nga, Ấn Độ ngày càng quan tâm, thậm chí can dự sâu rộng vào vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của họ và thực hiện các toan tính chiến lược lớn đối với khu vực. Điều này mở ra nhiều triển vọng mới, song cũng mang đến không ít thách thức trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa và tác động trực tiếp đến môi trường hòa bình, ổn định của khu vực.


Đối với Việt Nam, quần đảo Trường Sa là khu vực có vị trí địa - chính trị vô cùng quan trọng, là "cửa ngõ" kết nối Việt Nam với khu vực và thế giới, là "một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam"1 (Nguyễn Thái Anh - Quốc Dũng: Quan điểm của Đảng, Nhà nước Chính phủ, Quốc hội về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, Nxb. Văn học Hà Nội 2014, tr.21,31) và "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa"2 (Tham khảo https://dangcongsan.vn/bien-dao-viet-nam/hoang-sa-va-truong-sa-la-của-viet-nam-553850.html). Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các bên có tranh chấp ngày càng đẩy mạnh hoạt động khẳng định "chủ quyền" ở quần đảo Trường Sa và vùng biển liên quan, đe dọa trực tiếp, lâu dài đến chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở khu vực này.


Cuốn sách chuyên khảo Quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020 của PGS.TS. Nguyễn Thị Quế và TS. Bùi Đức An sẽ đi sâu luận giải, làm rõ nguồn gốc, bản chất, thực trạng quá trình tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020, đồng thời đánh giá tác động, dự báo các kịch bản có thể xảy ra đối với tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa đến năm 2028, từ đó đưa ra các khuyến nghị về giải pháp để thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực.


Cuốn sách gồm 3 chương. Chương 1 trình bày một số vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa và lý thuyết quan hệ quốc tế liên quan đến tranh chấp chủ quyền; phân tích khái quát tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa trước năm 1988 và nguồn gốc, những nhân tố tác động đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở đây. Chương 2 làm rõ quan điểm, yêu sách chủ quyền của các bên và thực trạng tranh chấp chủ quyền giữa các bên đối với một số đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm ở quần đảo Trường Sa từ năm 1988 đến 2020; tác động của tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa đối với thế giới, khu vực và Việt Nam. Chương 3 tập trung nghiên cứu, dự báo các nhân tố tác động, từ đó dự báo kịch bản có thể xảy ra trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa thời gian tới; đưa ra các giải pháp góp phần giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở quần đảo Trường Sa và một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong thúc đẩy giải quyết tranh chấp, bảo vệ tối đa chủ quyền và lợi ích của Việt Nam trên quần đảo này, giữ vững môi trường hòa bình,ổn định trong khu vực.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:32:54 pm »

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:36:19 pm »

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN GIỮA CÁC BÊN Ở QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
TỪ NĂM 1988 ĐẾN 2020


1.Cơ sở lý luận

1.1. Một số khái niệm về biển, đảo và tranh chấp biển, đảo

"Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước... Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của một hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác... Những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa"1 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 101).


"Bãi cạn lúc chìm lúc nổi là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước, khi toàn bộ hoặc một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải... Khi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì chúng không có lãnh hải riêng"1 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Sdd, tr. 29-30, 50).


"Quần đảo là một nhóm các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo các vùng nước nối giữa và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử". "Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1"2 (Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, Sdd, tr. 29-30, 50). Theo đó, quần đảo chỉ được thiết lập bởi quốc gia quần đảo và có vùng nội thủy, vùng nước quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được hoạch định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982. Trong đó, vùng nước quần đảo là vùng biển nằm bên trong của đường cơ sở quần đảo dùng để tính chiều rộng lãnh hải và do quốc gia quần đảo ấn định; các vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia quần đảo đều được tính từ đường cơ sở của quần đảo.


Quần đảo Trường Sa là tên gọi riêng của Việt Nam, còn người Pháp gọi là lies Spratly, người Nhật Bản gọi là Nansa shotõ; người Anh, người Mỹ và tên quốc tế là Spratly Islands; Trung Quốc và Đài Loan gọi toàn bộ khu vực phía nam "đường lưỡi bò" là "Quần đảo Nam Sa" bao trùm toàn bộ quần đảo Trường Sa và một số vùng biển lân cận, trong đó có khu vực nhà giàn DK-1; Philippin gọi phần phía Tây, Tây Bắc của quần đảo Trường Sa là "Nhóm đảo Kalayaan". Đó là những dãy đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm nằm trong khu vực 06°30 - 12°00 vĩ Bắc và 111°30’ - 117°20’ kinh Đông, cách Cam Ranh, Việt Nam khoảng 450 km về phía Đông, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc khoảng 1.100 km về phía Nam. Quần đảo Trường Sa có trên 100 đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, được đặt tên và chia thành 8 cụm, gồm Song Tử, Sinh Tồn, Thị Tứ, Trường Sa, Loại Ta, Thám Hiểm, Nam Yết, Bình Nguyên, nằm trải trên một vùng biển rộng lớn khoảng 160.000 - 180.000 km2, với tổng diện tích nổi khoảng 10km2, trong đó đảo lớn nhất là Ba Bình, rộng khoảng 0,6 km; Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 - 6 m lúc triều xuống)1 (Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quá trình khai phá xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Savà Trường Sa, Nxb. Quàn đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 111).


Luật biển Việt Nam năm 2012 "quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam" (Điều 1). "Nhà nước [Việt Nam] thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam", trong đó có quần đảo Trường Sa và chế độ pháp lý của quần đảo Trường Sa "được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này" (Điều 21), nhưng nếu "khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thi áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó" (khoản 2, Điều 2). Như vậy, việc xác định chế độ pháp lý của quần đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc quần đảo này tuân theo Luật biển Việt Nam năm 2012 và các quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trong đó có UNCLOS 1982.


Theo phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực trong vụ Philippin kiện Trung Quốc năm 2016, các đảo, đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm, bãi ngầm ở quần đảo Trường Sa "không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất", không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có đủ tiêu chuẩn là "đảo" theo UNCLOS 1982. Các thực thể ở quần đảo Trường Sa tối đa chỉ được hưởng quy chế pháp lý của "đảo đá theo UNCLOS 1982, nghĩa là tối đa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa1 (Tham khảo https://vnexpress.net/toan-van-thong-cao-phan-quyet-của-toa-trong-tai-ve-duong-luoi-bo-3435347-p2.html).


Tranh chấp là "giành giật, giằng co cái không rõ thuộc về bên nào"2 (Nguyễn Như Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998, tr.1685), hay là "đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên"3 (Nguyễn Hữu Chiến: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2008, tr. 1268).


Theo bản tiếng Anh phán quyết của Tòa án thương trực Công lý quốc tế (PCIJ), tiền thân của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), ngày 30/8/1924 trong vụ Mavrommatis Palestine Concessions giữa Hy Lạp và Anh: "Một tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên". Trong bản tiếng Pháp, phán quyết này nêu rõ, "một tranh chấp là một sự bất đồng, mâu thuẫn về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên"4 (Tham khảo https://iuscogens-vie.org/2017/12/24/54/).


Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền tối cao của một quốc gia đối với lãnh thổ của mình. Lãnh thổ quốc gia bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng lòng đất và vùng trời. Chủ quyền quốc gia được thể hiện rõ trên bốn quyền cơ bản là: quyền sở hữu đặc quyền một lãnh thổ cụ thể; thẩm quyền với dân cư xác định; thẩm quyền chính trị để cai trị trên lãnh thổ mà không có sự can thiệp của nước ngoài; khả năng điều tiết mọi hoạt động trên lãnh thổ1 (Xem Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, PGS.TS. Nguyễn Bá Diên: Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2013, tr.31-32).


Như vậy, tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa là tranh chấp chủ quyền nảy sinh do xung đột về quan điểm, pháp lý giữa 5 nước, 6 bên gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Brunây và Đài Loan, trong việc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với các đảo đá, bãi cạn lúc chìm lúc nổi ở khu vực quần đảo Trường Sa.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:38:50 pm »

1.2. Tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa dưới góc độ tiếp cận của một số trường phái lý thuyết quan hệ quốc tế

a) Chủ nghĩa hiện thực

Chủ nghĩa hiện thực cho rằng, "các quốc gia lo lắng về lợi ích của mình thường xuyên cạnh tranh nhau vì quyền lực hoặc an ninh" và tranh chấp, xung đột, chiến tranh là "tình trạng tự nhiên trong môi trường chính trị quốc tế, cách chắc chắn nhất để loại bỏ chiến tranh là loại bỏ chính trị quốc tế". Khi bàn về nguyên tắc chung của chính quyền, George Washington cho rằng, "lợi ích là nguyên tắc chỉ đạo", còn Max Weber nhận xét, "lợi ích trực tiếp chi phối hành vi của con người"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2017, tr. 41). Khi bàn về sức mạnh quốc gia, sĩ quan và nhà sử học hải quân Mỹ Alfred Thayer Mahan (1840-1914) cho rằng, sức mạnh trên biển mới giúp các nước trở thành cường quốc chứ không phải sức mạnh trên đất liền. Việc Trung Quốc theo đuổi mục tiêu phát triển thành cường quốc biển cũng khôngnằm ngoài luận thuyết này1 (Tham khảo http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/5965-ban-ve-chien-luoc-cuong-quoc-bien-của-trung-quoc-sau-dai-hoi-18).


Theo đó, xét cho cùng thì nguyên nhân dẫn đến tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng là vì lợi ích, và vì lợi ích mà các bên cạnh tranh nhau về quyền lực và an ninh. Trở lại lịch sử, khi khoa học, kỹ thuật, công nghệ chưa phát triển, các quốc gia, vùng lãnh thổ chưa nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của quần đảo Trường Sa, lợi ích và các mối đe dọa về lợi ích, an ninh từ khu vực quần đảo Trường Sa đến các nước ven biển còn ít, thì các cuộc xung đột, va chạm ở quần đảo Trường Sa gần như không có. Khi khoa học, kỹ thuật, công nghệ phát triển, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tư duy của các nước về vai trò của biển và đại dương có sự thay đổi. Các nước trong và ngoài khu vực ngày càng nhận thức rõ vị trí địa - chính trị, địa - chiến lược vô cùng quan trọng của quần đảo Trường Sa đối với sự phát triển và ảnh hưởng của quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Các mối đe dọa về chủ quyền, lợi ích quốc gia đến từ hướng biển cũng được các nước nhận thức rõ ràng hơn. Chủ quyền, lợi ích ở quần đảo Trường Sa ngày càng được các nước quan tâm hơn. Tuy nhiên, cũng chính vì thế mà tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày một gia tăng, phức tạp, khó giải quyết, nhất là từ năm 1988 đến nay.


Tiếp cận từ góc độ của các học giả theo trường phái chủ nghĩa hiện thực, hành vi của quốc gia trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng xuất phát từ sự lo sợ về nhau, "nghĩ về nhau với sự nghi ngờ, lo ngại rằng chiến tranh sắp bùng nổ và dự liệu hiểm nguy, có một khoảng rất ít dành cho sự tin cậy giữa các nước"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 67). Các bên có tranh chấp luôn lo lắng đến chủ quyền và lợi ích của mình ở quần đảo Trường Sa, nghi ngại các bên còn lại có thể có các hành động gây phương hại đến chủ quyền và lợi ích của mình, nên không ngừng gia tăng các hoạt động để bảo vệ chủ quyền, lợi ích trên quần đảo này. Tuy nhiên, chính các hoạt động này lại càng làm gia tăng sự nghi ngờ lẫn nhau, là một trong những nguyên nhân cốt lõi khiên tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa ngày càng diễn biến phức tạp. Trong đó, Trung Quốc lo ngại các bên lôi kéo các nước ngoài khu vực, nhất là Mỹ và đồng minh, vào vấn đề Biển Đông để bao vây, kiềm chế, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc về mặt tổng thể ngày một cứng rắn hơn, quyết liệt hơn trong cản phá hoạt động của các bên và ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ và đồng minh vào vấn đề Biển Đông, nhất là đối với khu vực quần đảo Trường Sa. Các bên còn lại thì nghi ngại rằng, các tuyên bố và hành động của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa và vùng biển lân cận sẽ ảnh hưởng đến chủ quyền và lợi ích của mình nên cũng tiến hành nhiều biện pháp, cách thức khác nhau nhằm "cân bằng quyền lực", bảo vệ chủ quyền, lợi ích ở khu vực này. Điều này dẫn đến sự chạy đua quyền lực, vũ trang trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, coi sức mạnh quân sự, quốc phòng là một trong những trụ cột của an ninh quốc gia, là cách thức để hỗ trợ tìm kiếm giải pháp hòa bình trong giải quyết tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Hệ lụy là, tranh chấp chủ quyền ở đây ngày càng diễn biến phức tạp, khó giải quyết cho dù các bên đã tiến hành nhiều cuộc trao đổi, đàm phán vềvấn đề này.


Tuy nhiên, các học giả theo trường phái chủ nghĩa hiện thực còn cho rằng, trong quan hệ quốc tế, hòa bình, hợp tác chỉ là tạm thời, được duy trì chỉ vì lợi ích ích kỷ của các nước và không có sự hợp tác giữa các nước lớn, vì "suy cho cùng, các nước lớn sống trong một thế giới cạnh tranh là chính, trong đó các nước coi nhau là kẻ thù thực sự hoặc tiềm tàng, và do đó giành giật sức mạnh từ tay người khác". Nguyên nhân là, khi tính toán đến hợp tác, các quốc gia đều phải tính đến lợi ích tương đối hoặc lợi ích tuyệt đối của họ, lo lắng về tối đa hóa lợi ích của họ nhưng không lo nhiều đến lợi ích của bên kia, thậm chí "còn so bì phần lợi của mình lớn/bé thế nào với phần của nước khác"1 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 83, 11, 119-140). Biện pháp duy nhất buộc các nước phải hợp tác với nhau là duy trì sự cân bằng quyền lực giữa các quốc gia bằng sức mạnh, ngăn chặn bất cứ quốc gia nào nắm ưu thế quyền lực là cách phòng ngừa xung đột tốt nhất trong quan hệ quốc tế.


Theo đó, trong giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các bên luôn lo lắng về chủ quyền và lợi ích ở đây sẽ được phân chia như thế nào và làm thế nào để giành được chủ quyền và lợi ích lớn hơn khiến vấn đề hợp tác giữa các bên trong giải quyết tranh chấp ở đây gặp khó khăn và khó có kết quả thực chất.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #5 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:41:12 pm »

b) Chủ nghĩa tự do

Các học giả của chủ nghĩa tự do cho rằng, các quốc gia "lo lắng về quyền lực là cùng thứ hạng so với tính toán về kinh tế và chính trị" và luôn có sự "phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp"- công cụ để giải quyết các mối quan hệ quốc tế không chỉ có quyền lực kinh tế, sức mạnh quân sự, mà còn nhiều công cụ khác, trong đó "sự phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp đóng vai trò quan trọng và sự hợp tác được thể chế hóa đang trở thành quy chuẩn"2 (Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd, tr. 83, 11, 119-140).


Theo đó, đối với tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các bên luôn "phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp" và có thể "hợp tác" với nhau để cùng tìm kiếm các giải pháp nhằm kiềm chế và kiểm soát xung đột, tranh chấp, chiến tranh và không nhất thiết phải sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế.


Cách tiếp cận dưới góc độ của các học giả tự do về"sự phụ thuộc lẫn nhau một cách phức hợp" trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa có ba đặc trưng cơ bản sau:

Một là, các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng, mang đến nhiều kênh kết nối xã hội đa dạng từ các liên hệ chính thức và không chính thức giữa các thành viên chính phủ tới các ràng buộc không chính thức giữa các tầng lớp ưu tú phi chính phủ của các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Hai là, chương trình nghị sự giữa các bên bao gồm nhiều vấn đề và không được sắp xếp theo một hệ thống thứ bậc rõ ràng hoặc nhất quán, và an ninh không phải là mục đích duy nhất tối thượng trong quan hệ giữa các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Ba là, sức mạnh quân sự không phải là công cụ hàng đầu để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa, các quyền lực khác mới là trọng tâm.

Luận giải về vấn đề hợp tác trong chính trị quốc tế, các học giả theo chủ nghĩa tự do cho rằng, hòa bình, hợp tác là bản chất, là thuộc tính khách quan thường trực của nền chính trị thế giới. Chiến tranh, xung đột là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật, không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới, và cách tốt nhất để chữa trị "căn bệnh" xung đột và chiến tranh trong quan hệ quốc tế là hợp tác. Từ cách luận giải này, có thể thấy rằng vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa cũng là hiện tượng phi lý, phản tự nhiên, là cái bất bình thường, phản quy luật và không phải là thuộc tính thường trực của nền chính trị thế giới và cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo này là hợp tác. Sử dụng các biện pháp quân sự, răn đe quân sự, gây sức ép về kinh tế không phải là công cụ hàng đầu để giải quyết tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa thay vào đó các quyền lực khác mới là trọng tâm, trong đó hợp tác tìm kiếm các giải pháp nhằm quản lý xung đột, ngăn chặn nguy cơ xảy ra chiến tranh và các quan hệ xuyên quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng.


c) Chủ nghĩa kiến tạo

Các học giả theo chủ nghĩa kiến tạo cho rằng, bản sắc các chuẩn tắc, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và tạo nên ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị - xã hội; hành vi của các quốc gia được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể, bản sắc xã hội và chỉ có nghĩa trong một bối cảnh xã hội liên chủ quan; bản sắc và lợi ích trong chính trị quốc tế là rất cần thiết, là biến số trung tâm, là sản phẩm của thực tiễn xã hội; sức mạnh của thực tiễn xã hội nằm ở khả năng tái tạo nhận thức liên chủ quan (intersubjective) vốn cấu thành nên cả cấu trúc xã hội lẫn chủ thể1 (Xem Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sđd tr.11, 258-262).


Theo đó, hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội, được cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương, chính sách và cách thức ứng xử của các bên, trong đó vai trò của giới lãnh đạo là quan trọng hàng đầu. Do vậy, khi nghiên cứu, đánh giá các vấn đề liên quan cần gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể của các yếu tố liên quan, trong đó có tình hình thế giới, khu vực và các bên có tranh chấp.


Tiếp cận từ góc độ của các học giả theo chủ nghĩa kiến tạo về "bản sắc và lợi ích" trong tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, thì "bản sắc" củng "rất cần thiết", nó bao hàm những ưu tiên và hành vi tương ứng" của các bên và "lợi ích là biến số trung tâm". Việc nhận thức về hành vi của các bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng tùy theo bản sắc mà quốc gia đó gán cho quốc gia khác và nó cũng tái lập bản sắc của chính bên nhận thức thông qua thực tiễn xã hội hằng ngày1 (Xem Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng, TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh (Đồng chủ biên): Lý luận quan hệ quốc tế, Sdd, tr. 259-260). Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá về hành vi của mỗi bên trong tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cần phải gắn với "bản sắc" và lợi ích của họ trong bối cảnh thực tiễn xã hội cụ thể, vì mỗi quốc gia có một bản sắc riêng và bản sắc này sẽ định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi. Thông qua việc quan sát các hành vi có thể thấy rõ được bản sắc của các bên trong tranh chấpchủ quyềnở quần đảo Trường Sa. Hay nói cách khác, thực tiễn tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa không chỉ tái tạo bản sắc của các bên mà còn tái tạo cả một cấu trúc xã hội dựa trên thực tiễn tranh chấp và hành vi có liên quan của các bên. Điều này được tạo ra bởi niềm tin của giới tinh hoa, chuẩn mực tập thể và bản sắc xã hội, được cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương chính sách và cách ứng xử của các bên đối với tranh chấpchủ quyền ở quần đảo Trường Sa.


Tựu trung lại, có thể thấy rằng, xét đến cùng thì bản chất tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa là sự tranh giành lợi ích giữa các bên. Do đó, nội dung cuốn sách này sẽ tiếp cận chủ yếu dựa vào các luận thuyết của chủ nghĩa hiện thực, thông qua làm rõ quyền lực và lợi ích quốc gia để phân tích, luận giải nguồn gốc, bản chất của các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa cũng như tác động của vấn đề này đối với Việt Nam và khu vực, từ đó đánh giá, dự báo tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa đến năm 2028. Bên cạnh đó, các tác giả cũng sẽ sử dụng một số luận thuyết của chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo để làm sâu sắc một số vấn đề nghiên cứu cụ thể, từ đó tìm ra các giải pháp giải quyết tranh chấp, quản lý xung đột ở quần đảo Trường Sa, bảo vệ tối đa chủ quyền, lợi ích trên biển, đảo của Việt Nam, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #6 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:43:46 pm »

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa

a) Vai trò chiến lược của biển và đại dương

Trong lịch sử phát triển của thế giới, biển và đại dương luôn giữ vai trò chiến lược đặc biệt quan trọng.

Thứ nhất, về yếu tố tự nhiên, biển và đại dương có vai trò quan trọng sống còn đối với đời sống con người. Chiếm 2/3 diện tích vỏ trái đất, biển và đại dương không những là môi trường sống của hàng vạn loài động, thực vật, cung cấp lượng tài nguyên vô cùng quan trọng cho con người, mà còn là một cỗ máy điều hoà nhiệt độ khổng lồ cho nhân loại, cung cấp nguồn hơi nước vô tận cho khí quyển, sinh ra mây, mưa để duy trì cuộc sống của con người và tất cả các loài sinh vật, đồng thời là nơi dự trữ cuối cùng về tài nguyên thiên nhiên1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2014, tr.302). Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ..., nhu cầu về tài nguyên của các nước trên thế giới cũng ngày một gia tăng, trong khi nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng bị khai thác cạn kiệt. Do đó, việc hướng ra đại dương, tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới để phát triển là nhu cầu tất yếu khách quan đối với các nước ven biển cũng như tất cả các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học - công nghệ đã giúp các quốc gia nâng cao khả năng khám phá, khai thác các nguồn tài nguyên ở biển và đại dương, nhất là các nước lớn, các nước có trình độ khoa học - công nghệ phát triển hơn, làm nảy sinh nhiều va chạm, tranh chấp mới liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các đảo, đá, bãi ngầm lúc chìm lúc nổi, vùng trời, vùng nước, vùng đáy biển và đại dương.


Thứ hai, về kinh tế, thương mại, biển và đại dương có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, thương mại thế giới. Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng và quý giá với trữ lượng lớn, biển và đại dương không chỉ là nơi cung ứng các vật phẩm có giá trị giúp nuôi sống, tạo công ăn việc làm cho hàng tỷ người trên trái đất, mà còn mang lại lợi ích kinh tế, chính trị to lớn cho các quốc gia ven biển. Bao phủ khoảng 2/3 diện tích bề mặt trái đất1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Sđd, tr.298), biển và đại dương là nơi kết nối giao thông đường thủy thuận lợi nhất giữa các châu lục, có ý nghĩa to lớn trong thúc đẩy phát triển thương mại, nhất là khi trình độ khoa học còn chưa thực sự bứt phá. Với lợi thế không bị chia cắt theo địa giới quốc gia, có thể tận dụng sức gió và sự chuyến động của các dòng hải lưu, việc vận chuyển hàng hóa thương mại thông qua các tuyến giao thông hàng hải đã mang lại những lợi ích kinh tế to lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có ngành công nghiệp đóng tàu phát triển.


Thứ ba, về chính trị, quân sự, biển và đại dương đã giúp con người khám phá ra các châu lục trên thế giới, tạo điều kiện cho các quốc gia có lực lượng hải quân phát triển đi xâm chiếm các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và mở rộng thuộc địa ra ngoài khu vực, thậm chí trên toàn thế giới. Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện đại, khả năng chinh phục và tác chiến trên mặt biển của các cường quốc biển ngày càng cao, mọi hoạt động tập trung, di chuyển quân, bố trí lực lượng chiến lược,... đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ và chính xác của vệ tinh quân sự do các cường quốc phóng lên. Việc xây dựng các căn cứ quân sự dưới đáy biển, đại dương và sự phát triển các loại vũ khí, phương tiện, trang bị có thể hoạt động, di chuyển dưới mặt nước biển phần nào đã mang lại những lợi thế nhất định cho các nước ven biển và các nước lớn, các nước có tham vọng "lãnh đạo" thế giới. Việc tận dụng những lợi thế của biển và đại dương đã tạo nhiều lợi thế chiến lược cho các quốc gia ven biển, các quốc gia có lực lượng hải quân phát triển trong tác chiến trên biển để bảo vệ chủ quyền, lợi ích và tham vọng của họ ở biển và đại dương.


Thứ tư, về thực tiễn phát triển của nhân loại, phần lớn các quốc gia có những bước phát triển đột phá, trở thành các cường quốc trên thế giới đều gắn liền với biển và đại dương, như các nước cộng hòa hàng hải ở miền Bắc và miền Trung bán đảo Italia ở thế kỷ XIV-XV, Anh thế kỷ XVII-XVIII, Nhật Bản vào nửa cuối thế kỷ XX, hay Mỹ, Xingapo hiện nay1 (Xem Nguyễn Thị Quế: Địa chính trị thế giới, Sđd, tr.306). Các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cũng dần nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của biển và đại dương đối với sự phát triển của đất nước, nên đã đưa ra nhiều tuyên bố khẳng định chủ quyền, lợi ích ở quần đảo Trường Sa, thậm chí đưa lực lượng đến chiếm đóng một số thực thể ở khu vực này, khiến vấn đề tranh chấp chủ quyền ở đây ngày càng diễn biến phức tạp.


Như vậy, có thể thấy rằng, biển và đại dương luôn có vai trò hết sức quan trọng đối với nhân loại và sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển, trong đó có các bên tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Điều này vừa thúc đẩy các quốc gia tìm tòi, sáng tạo cách thức khai thác biển, vừa làm gia tăng căng thẳng ở quần đảo Trường Sa khi các bên coi trọng quá mức chủ quyền và lợi ích của mình mà không quan chiếu đến chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác. Vì thế, các quốc gia có biển, nhất là các bên có tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Trường Sa cần xem xét, nhận thức một cách toàn diện vị trí, vai trò của biển và đại dương đối với sự phát triển của quốc gia mình, đồng thời quan tâm đến chủ quyền, lợi ích của các quốc gia khác, từ đó điều chỉnh yêu sách của mình cho phù hợp thực tiễn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #7 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:47:34 pm »

b) Tầm quan trọng đặc biệt của quần đảo Trường Sa đối với các nước trong và ngoài khu vực

Quần đảo Trường Sa nằm ở khu vực có vị trí địa - chiến lược đặc biệt quan trọng giữa Biển Đông, là cầu nối giữa các nước Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên) với các nước trên thế giới. Các đảo đá, bãi cạn lúc chìm lúc nổi và vùng nước lân cận ở khu vực quần đảo Trường Sa có vai trò đặc biệt quan trọng, là nơi án ngữ hầu hết các tuyến đường giao thông đường biển huyết mạch đi qua Biển Đông. Đặc biệt về quân sự, quần đảo Trường Sa là một khu vực có ý nghĩa và vai trò chiến lược, quyết định việc kiểm soát toàn bộ các tuyến giao thông hàng hải đi qua Biển Đông. Do có hàng trăm đảo đá, bãi cạn lúc chìm lúc nổi và vô số các mỏm đá ngầm nằm sâu dưới mực nước biển ở khu vực có độ muối đậm đặc cao nên khu vực này có vị trí tối quan trọng bởi hạn chế được sự theo dõi của các thiết bị định vị thủy âm, tạo điều kiện cho tàu ngầm hoạt động thuận lợi. Vì vậy, đây thực sự là một vùng nguy hiểm đối với các tàu thuyền thương mại thông thường, nhưng cũng chính là nơi có nhiều tuyếnhàng hải bí mật cả trên mặt nước lẫn ngầm sâu dưới mực nước biển mà nhiều cường quốc lớn đã khám phá và đưa vào sử dụng phục vụ mục đích quân sự, trong đó có Anh, Nhật Bản và Mỹ. Hải quân Anh đã phát hiện ra một tuyến đường an toàn đi qua khu vực này theo hướng Bắc - Nam1 (David Hancox and Victor Prescott: Secret Hydrographic Surveys in the Spratly Islands, London, England, 1999, p.26).


Bên cạnh vị trí địa - chiến lược, quần đảo Trường Sa là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, về tài nguyên sinh vật, theo số liệu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2004, tổng trữ lượng các loài hải sản tại khu vực quần đảo Trường Sa có khoảng 181.584 tấn và có khả năng cho phép khai thác khoảng 89.464 tấn, trong đó trữ lượng cá đáy và gần đáy ở khu vực này khoảng 124.897 tấn và khả năng khai thác cho phép đạt tới 62.244 tấn. Lượng cá nổi sống ở tầng nước sâu và gần đáy biển chiếm 23,84%, tương đương khoảng 14.838 tấn và lượng cá đáy chiếm 76,16%, tương đương khoảng 42.406 tấn. Riêng cá nổi sống trong tầng nước cách mặt nước 45 m có khoảng 56.705 tấn và khả năng khai thác cho phép lên tới 27.220 tấn2 (Nguyễn Việt Long: Lẽ phải - Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2013, tr.31), trong đó có nhiều loại cho sản lượng và giá trị kinh tế cao như: mực nang, cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá thu ngàng, hàu, hải sâm,... về tài nguyên phi sinh vật, vì nhiều lý do khác nhau, các đánh giá về trữ lượng nguồn tài nguyên phi sinh vật ở khu vực quần đảo Trường Sa cũng khác nhau, đặc biệt là những đánh giá liên quan đến trữ lượng dầu khí, khí đốt. Năm 1988, các nhà địa chất Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa khoảng 2-16 tỷ thùng. Tuy nhiên, theo công trình "điều tra nghiên cứu khoa học tổng hợp về quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) và vùng biển phụ cận" do Trung Quốc công bố năm 2003 vùng biển này có trữ lượng khoảng 41 tỷ 90 nghìn tấn dầu, 8-19 tỷ m3 khí đốt, trong đó trữ lượng dầu mỏ có khả nàng khai thác khoảng 1 tỷ 180 triệu tấn; 330 tỷ m3 khí đốt; 3,1 tỷ tấn khoáng sản khác và nguồn năng lượng có thể tái sinh có trữ lượng lên tới 630 kW1 (Nguyễn Việt Long: Lê phải - Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Sđd, tr.32). Theo nguồn tài liệu của Nga, trữ lượng dầu khí ở khu vực này khoảng 10 tỷ tấn và một lượng lớn băng cháy với trữ lượng ngang bằng trữ lượng dầu khí, được coi là nguồn năng lượng tiềm năng, thay thế dầu khí trong tương lai gần với trữ lượng tương đương 10 tỷ tấn dầu mỏ quy đổi. Ngoài ra, phần đáy của khu vực quần đảo Trường Sa còn có nhiều quặng kim loại quý như than, thiếc, titan, silicat, nitro, kali, mangan, cobalt,... cung cấp nguồn nguyên liệu quan trọng cho quá trình phát triển công nghiệp của các nước trong khu vực.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #8 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:50:02 pm »

Đối với Trung Quốc

Quần đảo Trường Sa được coi là cầu nối quan trọng của Trung Quốc với các nước trên thế giới, là hành lang trên biển giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là khu vực trung tâm của Biển Đông, nơi Trung Quốc cho là có "lợi ích cốt lõi"2 (Tham khảo http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1347-trung-quoc-tranh-luan-ve-loi-ich-cot-loi-bien-dong), là lối thoát chiến lược để mở rộng không gian sinh tồn. Hiện thực hóa tham vọng cường quốc biển, cường quốc thế giới của họ, cụ thể:


Xét về yếu tố địa - chính trị, quần đảo Trường Sa có vai trò đặc biệt quan trọng để Trung Quốc hiện thực hóa tham vọng cường quốc biển, cường quốc thế giới. Muốn trở thành cường quốc thế giới, Trung Quốc phải mở rộng không gian sinh tồn. Tuy nhiên, nếu mở rộng lên phía Bắc, Trung Quốc phải đối mặt với vùng khí hậu khắc nghiệt, đối mặt với Nga, một siêu cường về quân sự; phát triển sang phía Tây và Tây Nam, là vùng rừng núi hiểm trở, không thuận tiện cho việc giao thương; hướng sang phía Đông là Nhật Bản, Đài Loan, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc - đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và không thuận tiện cho quá trình lưu thông thương mại với khu vực và thế giới. Trong khi đó ở phía Nam là các quốc gia nhỏ, yếu, không có mối quan hệ bền chặt với các siêu cường trên thế giới nhưng lại có một vùng biển "màu mỡ", đầy tiềm năng, có thể đáp ứng những nhu cầu phát triển hiện tại và tương lai của Trung Quốc. Mặt khác, trong lịch sử phát triển của thế giới gần đây, phần lớn các nước trở thành siêu cường trên thế giới đều là các cường quốc biển. Chính vì vậy, phát triển xuống phía Nam, giành quyền kiểm soát Biển Đông, mở rộng "không gian sinh tồn", phát triển lực lượng hải quân hùng mạnh, thực hiện tham vọng cường quốc biển là mục tiêu chiến lược của các thế hệ lãnh đạo sau này của Trung Quốc Tuy nhiên, muốn giành quyền kiểm soát Biển Đông, Trung Quốc phải giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa nằm ở khu vực trung tâm của Biển Đông.


Xét về giá trị kinh tế, giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa, Trung Quốc sẽ có được nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và dồi dào, đặc biệt là dầu khí. Sau gần 4 thập kỷ bùng nổ về kinh tế, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc ngày càng trở nên cấp bách, là một thách thức lớn đối với các thế hệ lãnh đạo của Trung Quốc. Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự báo, đến năm 2030, mỗi ngày Trung Quốc sẽ cần nhập khẩu gần 11 triệu thùng dầu mỏ. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ buộc phải nhập khẩu 80% lượng dầu mỏ phục vụ tiêu dùng trong nước1 (Tham khảo http://www.inas.gov.vn/205-nhu-cau-nang-luong-của-trung-quoc.html). "Cơn khát" năng lượng thực sự khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc lo lắng và tích cực tìm kiếm nguồn năng lượng ở khắp các châu lục trên thế giới, đặc biệt là Trung Đông và Bắc Phi. Tuy nhiên, phần lớn các nguồn năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc ở khu vực này đều đi qua Biển Đông, chi phí vận chuyển lớn, vấn đề an ninh, an toàn hàng hải phức tạp,... Trong khi đó, quần đảo Trường Sa là một trong những khu vực được các chuyên gia Nga đánh giá có tiềm năng rất lớn về tài nguyên băng cháy - nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần1 (Xem Trương Minh Ngọc: Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài Nxb. Thông tin và truyền thông, Hà Nội, 2013, tr. 24). Do đó, nếu kiểm soát được khu vực quần đảo Trường Sa, Trung Quốc sẽ làm chủ được nguồn tài nguyên quý giá đó, đáp ứng "cơn khát" năng lượng hiện tại và tương lai của Trung Quốc.


Xét về giao thông hàng hải, giành quyền kiểm soát khu vực quần đảo Trường Sa, Trung Quốc sẽ kiểm soát được nhiều tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng nhất thế giới đi qua Biển Đông kiểm soát được tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á, kiểm soát được con đường vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung Cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc2 (Truy cập http://nghiencuubiendong.vn). Nếu kiểm soát được khu vực quần đảo Trường Sa, làm chủ được các tuyến đường thương mại trên Biển Đông, Trung Quốc vừa có thể bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các đoàn vận chuyển dầu của mình từ Trung Đông Bắc Phi về, vừa áp đặt được ý chí chính trị của mình đối với các nước trong và ngoài khu vực có các hoạt động giao thương vận chuyển liên quan đến các tuyến hàng hải trên Biển Đông kiềm chế được Nhật Bản, Hàn Quốc, làm thất bại chiến lược "xoay trục châu Á - Thái Bình Dương" và chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ, đồng thời tăng cường và mở rộng tầm ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực đối với các nước ASEAN.


Xét về ý nghĩa chiến lược, khống chế, làm chủ được khu vực quần đảo Trường Sa là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để Trung Quốc thực hiện được tham vọng nước lớn, hiện thực hóa Giấc mơ Trung Quốc. Ngược lại, nếu mất quyền kiểm soát ở khu vực này, Trung Quốc có thể bị phong tỏa các tuyến giao thông huyết mạch qua Biển Đông, nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc bị gián đoạn, nền kinh tế, xã hội của Trung Quốc sẽ bị tác động nghiêm trọng. Chính vì vậy, trong nhiều năm gần đây, Trung Quốc đã và đang nỗ lực thúc đẩy nhiều hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ Biển Đông, trong đó có việc gia tăng các hoạt động nhằm kiểm soát toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa Việc bồi đắp, mở rộng các đảo đá, bãi cạn lúc chìm lúc nổi và xây dựng các cơ sở hạ tầng với quy mô lớn chưa từng có của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa không nằm ngoài tham vọng nâng cao năng lực làm chủ, kiểm soát toàn bộ khu vực này, phục vụ ý đồ chiến lược, tham vọng toàn cầu của quốc gia này.


Chính vì vậy, từ khi cải cách mở cửa đến nay, các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc ngày càng ý thức rõ vai trò to lớn của khu vực quần đảo Trường Sa đối với chiến lược phát triển đất nước. Để thực hiện ý đồ kiểm soát toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa và các tuyến giao thông hàng hải trên Biển Đông, năm 1988, Trung Quốc đã đưa lực lượng quân sự đến đánh chiếm bãi đá Châu Viên, Gạc Ma, Ga Ven, Ken Nan, Xu Bi1 (Xem Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, t.13, tr.371) thuộc khu vực này nhằm kiểm soát các tuyến đường hàng hải đi qua khu vực phía Tây quần đảo Trường Sa theo tuyến Đông - Tây; năm 1995, Trung Quốc xâm chiếm đá Vành Khăn để kiểm soát các tuyến hàng hải phía Đông quần đảo Trường Sa theo tuyến Bắc - Nam; từ năm 2014 đến 2016, Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng quy mô lớn trên các đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm chiếm đóng được ở quần đảo này nhằm thực hiện ý đồ khống chế toàn bộ khu vực cũng như các tuyến đường giao thông hàng hải qua Biển Đông.
Logged
hqnd
Thành viên
*
Bài viết: 239


« Trả lời #9 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2026, 08:52:02 pm »

Đối với Việt Nam và các bên có tranh chấp khác

Quần đảo Trường Sa có vai trò vô cùng quan trọng, cả về kinh tế, chính trị - xã hội và quốc phòng - an ninh, là cửa ngõ của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ để kết nối với khu vực và thế giới.

Về kinh tế, quần đảo Trường Sa với vị trí chiến lược ở trung tâm của Biển Đông, là nơi có các tuyến giao thông hàng hải, hàng không huyết mạch, thông thương giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Nếu xây dựng một số cảng biển thương mại, dịch vụ ở quần đảo Trường Sa và kết nối chúng với hệ thống các cảng biển dày đặc ven bờ sẽ mang đến những lợi ích kinh tế vô cùng lớn cho Việt Nam và các bên có tranh chấp ở đây, nhất là các vùng ven biển, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy, phát triển kinh tế, thương mại đối với các nước trên thế giới, giúp hàng hóa của các bên thông thương với thế giới, hội nhập nhanh và sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, nếu biết khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao ở quần đảo Trường Sa, các bên cũng sẽ thu được những lợi ích kinh tế to lớn, nhất là về thủy hải sản, dầu khí, khí đốt và băng cháy.


Về chính trị - xã hội, quần đảo Trường Sa không những là cửa ngõ đặc biệt quan trọng để các bên hội nhập trong khu vực và với thế giới, mà còn gắn liền với vấn đề chính trị, xã hội của các nước, vùng lãnh thổ có liên quan. Chủ quyền lãnh thổ luôn là vấn đề hết sức nhạy cảm đối với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Do vấn đề lịch sử để lại, các bên liên quan đều tuyên bố khẳng định "chủ quyền" và lợi ích ở quần đảo Trường Sa. Theo đó, những diễn biến trong tranh chấp chủ quyền giữa các bên ở quần đảo Trường Sa sẽ tác động trực tiếp, nhiều mặt đến tình hình chính trị, xã hội nội bộ của mỗi bên. Nếu tình trạng tranh chấp này được kiểm soát tốt, quần đảo Trường Sa trở thành một khu vực hòa bình, phát triển sẽ giúp các bên giữ vững an ninh chính trị, ổn định xã hội trong nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Ngược lại, nếu xảy ra va chạm, xung đột ở quần đảo Trường Sa, sẽ tác động tiêu cực trực tiếp đến tình hình an ninh chính trị, xã hội của tất cả các bên có tranh chấp khác ở quần đảo Trường Sa.


Về quốc phòng, an ninh, nếu Biển Đông là phên dậu, là chiến lũy bảo vệ các nước ven Biển Đông, thì quần đảo Trường Sa chính là tiền duyên phòng ngự, là pháo đài đặc biệt quan trọng góp phần ngăn chặn sự xâm lược của ngoại bang từ hướng biển, bảo vệ độc lập, chủ quyền của các quốc gia, vùng lãnh thổ có tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Nếu quần đảo Trường Sa bị quốc gia bá quyền xâm chiếm hoặc kiểm soát toàn bộ và xây dựng các căn cứ quân sự chiến lược, thì toàn bộ lãnh thổ của Brunây, Philippin, Malaixia và các tỉnh miền Trung, miền Nam Việt Nam sẽ bị đe dọa trực tiếp, tác động lớn đến an ninh, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Thậm chí, nếu Trung Quốc triển khai các hệ thống tên lửa tầm trung (tầm bắn 1.000 - 3.500 km) trên một số bãi đá chiếm đóng được ở quần đảo Trường Sa (Chữ Thập, Xu Bi, Vành Khăn) thì toàn bộ khu vực Đông Nam Á đều nằm trong phạm vi kiểm soát của hỏa lực này.
Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM