ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 04:58:09 pm » |
|
Mỗi ngày qua đi, tin tức lại xấu thêm, vì thế tôi nghĩ đến chuyện đảo chính nhưng thực tế bảo toi là “không thể được”. Nếu đảo chính thất bại thì sẽ khuấy động hận thù, dẫn đến hỗn loạn và kẻ thủ lợi sẽ chỉ là cộng sản mà thôi. Martin cũng có thái độ cho thấy rất rõ là chúng tôi sẽ gặp rắc rối nếu Uỷ ban cứu nguy dân tộc tiến hành những biện pháp lật đổ Thiệu.
Quả thật Martin đã bắn tin cho tôi biết. Khi tướng Minh, tư lệnh không quân (không có họ hàng gì với Minh lớn) tới thăm tôi. Trước kia, chính tôi đã bổ nhiệm tướng Minh vào chức vụ này. Chúng tôi thảo luận về sự cần thiết phải có một sự thay đổi-nói cách khác, phải tống khứ Thiệu-Minh nói: “Ông vẫn là “xếp” của tôi, tôi sẽ theo ông dù ông làm bất cứ việc gì. Nhưng xin báo để ông biết: nếu ông có quyết định làm gì thì phải hết sức thận trọng, nếu không họ sẽ giết ông trước”.
Tôi đáp: “Ông thành thật lắm. Chắc ông còn biết nhiều chuyện nữa chứ? Sao không nói chi tiết cho tôi biết?”.
Minh nói: “Martin đang theo dõi ông đấy. Người Mỹ cho người đến thuyết phục tôi đừng cộng tác với ông nếu ông ra tay hành động. Người của Martin còn tìm cách mua chuộc cả tôi nữa. Họ bảo nếu tôi biết điều thì chúng ta có thua trận họ cũng sẽ đưa tôi và gia đình tôi ra khỏi nước và chu cấp cho chúng tôi đến mãn đời”.
Chỉ vài ngày sau người ta làm cho tôi hiểu rõ lời cảnh cáo ấy một cách trực tiếp hơn, khi một anh phi công của tôi xồng xộc vào phòng tôi, vừa thở hổn hển vừa thuật lại câu chuyện kỳ quái. Anh ta thấy một người có vẻ khả nghi đi vào vòng đai của căn cứ, bèn hô đứng lại. Người kia phóng chạy. Anh phi công đuổi theo, cản chân cho hắn vấp ngã. Nhưng hỏi mới biết là hắn có giấy phép ra vào hợp lệ.
-“Thế thì tại sao anh lại bỏ chạy?” anh phi công hỏi, và vì nghi ngờ, dẫn hắn vào phòng gác. Giấy phép đặc biệt của hắn do cơ quan an ninh cấp hoàn toàn hợp lệ, nhưng chắc có cái gì lôi thôi đây.
Tôi hỏi: “Người ấy đâu?”
“Ở ngoài kia”.
“Được lắm, đưa hắn vào đây”.
Sau khi thẩm vấn, hắn thú nhận: “Phần đông chúng tôi ủng hộ thiếu tướng, nhưng chúng tôi làm dưới quyền trung tướng Quang, ông ấy sai chúng tôi đến đây. Tôi không làm sao được. Tôi có vợ, có con”.
Tôi ghi địa chỉ của hắn và hứa sẽ đi lĩnh hắn về, giữ lại căn cứ cho hắn được an toàn. Lúc đó hắn mới thổ lộ chuyện mình. Thì ra tướng Quang đã lập âm mưu ám sát tôi nếu tôi tỏ ra quá nguy hiểm.
Đặng Văn Quang là người mà trước kia tôi đã sa thải vì tội tham nhũng. Thiệu phục hồi chức vụ cho Quang và bây giờ Quang là cố vấn đặc biệt về an ninh của Thiệu. Không biết làm cách nào mà ông ta có được 15 tấm giấy phép đặc biệt thường chỉ cấp cho nhân viên an ninh trong căn cứ. Ông ta đã trao giấy phép ấy cho những người được chỉ định để giết tôi vào đúng lúc mà cộng sản đang kéo về Sài Gòn và an ninh trở thành một vấn đề sống còn.
Anh chàng cầm bằng là sát nhân ấy nói với tôi: “Người ta báo chúng tôi đợi lệnh” nhưng tôi xin thiếu tướng hãy ở trong nhà. Thiếu tướng mà đi ra ngoài là có thể bị ám sát đó”.
Chúng tôi mở một cuộc “hành quân" quy mô và tóm trọn bọn ám sát. Chúng tôi không công bố gì về chuyện này cốt để cho Quang yên trí không ngờ rằng mình đã bị hố. Một buổi sáng, tướng Timmes gọi giây nói, hỏi tôi buổi chiều ông ta có thể đến thăm tôi được không. Timmes nói tiếp với giọng tự nhiên “Tôi dẫn theo một viên chức cao cấp” có được không?” (Tôi nhớ mãi năm tiếng “một viên chức cao cấp”).
“Được chứ”, tôi đáp, nghĩ rằng có lẽ người đứng đầu CIA đến Sài Gòn và muốn ghé thăm tôi chăng.
Đúng 3 giờ chiều Timmes đến, và người cùng đi với ông ta hoá ra là đại sứ Martin. Lâu nay không gặp Martin, tôi kinh ngạc trước sự thay đổi vóc dáng của con người đang đứng ở ngưỡng cửa nhà tôi. Vẫn còn bị hậu quả của bệnh viêm phổi hành, Martin hình như sọm hẳn đi. Đôi mắt ông ta trũng sâu, đỏ ngầu quanh vành mi. Ông ta vẫn còn vẻ kiêu căng và trước hết là tự phụ-một đặc điểm lộ rõ ngay trong những lời nói đầu tiên của ông ta. Và những lời lẽ ấy thật lạ lùng.
Ông ta nói như thể hạ mình: “Chắc ông lấy làm ngạc nhiên khi thấy một người như tôi tới nhà ông”. Ý chừng Martin nhận thấy phản ứng của tôi-một phản ứng thương hại hơn là tức giận-vì khi tôi mời hai người uống trà thì ông ta nói trước kia ông cũng là phi công. Có lẽ ông ta muốn phá tan bầu không khí lạnh nhạt. Dù sao chúng tôi cũng trò chuyện trong hai giờ, và đây là đầu tiên chúng tôi thảo luận triệt để những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối phó. Tôi thấy ông ta nếu không dễ mến thì ít nhất cũng thực tế-hay tôi tưởng thế.
Khi Martin hỏi tôi về Thiệu tôi nói: “Uỷ ban chúng tôi chỉ muốn một điều là Thiệu phải từ chức và thay bằng một chính phủ mạnh, có hiệu lực, để tổ chức chiến đấu chống cộng sản”.
Ông ta muốn thăm dò vì ông hỏi một cách thận trọng “Thưa thiếu tướng, tôi xin hỏi một câu có tính chất giả thuyết!: nếu như ông có thể lập chính phủ, ông sẽ đối xử với tổng thống Thiệu như thế nào?”.
Đó là một câu hỏi kỳ quặc. Tôi thật thà đáp: “Tôi căm ghét ông ấy, và tôi biết ông ấy có ảnh hưởng xấu đối với vận mệnh của đất nước tôi, nhưng tôi không có ý định trả thù một người như Thiệu. Nếu tôi thay Thiệu, tôi sẽ để cho ông ấy ra đi. Nói cho đúng ra, phán xét Thiệu và chính phủ của ông ấy là nhiệm vụ của nhân dân. Đó không phải là vấn đề của tôi. Tôi chỉ muốn có chính quyền để tổ chức vào chiến đấu”.
Martin còn hỏi tôi đã suy nghĩ về việc thành lập một chính phủ mới chưa. Tôi trả lời là có và nêu ra một số tên. “Nếu chúng tôi có được một chính phủ như tôi mong muốn-tôi nói tiếp-chỉ trong ít ngày tôi có thể tổ chức kháng chiến có hiệu quả. Nhưng tình thế không cho phép chúng tôi trì hoãn nữa. Mỗi ngày qua đi là một ngày đến gần thảm bại hơn”.
Martin nói: “Thiếu tướng nói đến chiến đấu. Nhưng nói và làm khác nhau rất xa. Tôi biết là ông có rất nhiều tin tức-nhưng ông sẽ chiến đấu bằng cái gì? Xin hãy nghĩ đến những mất mát của các ông chỉ riêng ở Đà Nẵng thôi”.
Tôi giải thích: “Những thất bại ở Đà Nẵng có thể là tai hại và chắc chắn chúng tôi đã mất một kho dự trữ khổng lồ ở ngoài đó, nhưng theo tin tức của tôi thì chúng tôi còn súng đạn đủ dùng trong 3 tháng. Tôi biết rằng chúng tôi có thể cầm cự được-không phải mãi mãi nhưng đủ để tạo ra một không khí mới, giúp chúng tôi ở trong thế mạnh khi thương thuyết hoà bình”.
Martin hỏi: “Vậy thì bằng cách nào?”
Timmes có mang theo một tấm bản đồ và chúng tôi trải nó trên sàn nhà. Tôi vạch một đường cắt ngang từ Nhà Trắng, ngay ở phía bắc vịnh Cam Ranh, đại khái là vĩ tuyến 13.
-“Chúng tôi phải chặn đứng cộng sản ở đây”. Tôi đưa đầu bút chì đi theo đường đã vạch. “Nếu chúng tôi có thể cầm chân địch tại đây, đồng thời có một ban lãnh đạo mới và mạnh, một bầu không khí mới, thì tôi cam đoan với ông là sẽ được toàn dân ủng hộ. Khi ấy chúng tôi sẽ ở trong thế mạnh để tiến hành thương thuyết hoà bình với quân thù”.
-“Liệu binh sĩ có chiến đấu không?” Martin hỏi.
-“Dĩ nhiên là có”. Tôi quả quyết với ông ta như thế, và kể cho ông ta nghe về những sĩ quan từ Đà Nẵng về đến nhà tôi đang khao khát phục thù. Tôi nói thêm rằng, bất chấp những lời tường thuật của báo chí, người Việt Nam không phải là những kẻ hèn nhát. “Vả chăng-tôi hỏi-còn có sự lựa chọn nào khác đâu?”.
Sau hai giờ, Martin đứng dậy ra về. Ông ta nói: “Tôi nghĩ là ông có lý”.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 04:58:44 pm » |
|
Ông ta không thực sự hứa hẹn sẽ ủng hộ tôi, nhưng ông ta quả có ngụ ý là Thiệu phải từ chức. Ông ta đã hỏi tôi sẽ đặt những người như thế nào vào chính phủ mới. Ra tới cửa ông ta còn nói thêm: “Ông cũng biết không phải là dễ. Xin cho tôi vài ngày-rồi tôi sẽ liệu xem có thể thu xếp như thế nào".
Tôi chỉ không cho Martin biết một tin độc nhất: đó là Uỷ ban của chúng tôi đã có kế hoạch dùng không quân lực lượng nhảy dù, lực lượng đặc biệt để đảo chính Thiệu vào giờ chót nếu cần, mặc dầu tôi vẫn hy vọng rằng việc ấy sẽ không cần thiết. Tuy giờ đây mọi sự đã thay đổi.
Tôi hân hoan báo tin ấy cho ban tham mưu thân cận của tôi và nói thêm: “Điều phải làm trước tiên là huỷ bỏ vụ đảo chính đã dự định”.
Như một gáo nước lạnh dội vào đầu tôi, một người phụ tá của tôi cảnh cáo: “Không tin được Martin. Martin có thể chơi trò hai mang để lừa gạt chúng ta”. Tôi không tin như thế, nhưng người phụ tá lại nói rằng Martin đến chỉ cốt ru ngủ để chúng tôi đừng hành động. Người ấy hỏi: “Tại sao ông ta lại bất ngờ đến thăm ông?” Đó chẳng qua chỉ là một cách để ngăn chặn đảo chính. Nếu đại sứ Mỹ đứng sau lưng chúng ta thì chúng ta cần gì phải đảo chính nữa?”.
Một người phụ tá khác đưa ra ý kiến là chính Thiệu yêu cầu Martin đến thăm tôi để dò xét sức mạnh của phong trào của chúng tôi. Điều này xem chừng lắt léo và tôi không thích đa nghi-mặc dù tôi biết Thiệu sợ bị ám sát đến nỗi mỗi đêm phải ngủ ở một nhà khác. Nhưng vì còn hồ nghi nên tôi không thể vội buộc tội Martin. Tôi cứ tạm cho rằng mặc dù tin tức mỗi ngày một xấu hơn. Các thị trấn ở ven biển lần lượt thất thủ và địch đã tới cửa ngõ Sài Gòn.
Đến ngày 20 tháng 4 tin tức của tôi như sau: 15 sư đoàn Bắc Việt-khoảng 150.000 người-đã đến gần vòng đai phòng thủ ngoài cùng của Sài Gòn. Một số đơn vị khác len lỏi dọc theo quốc lộ 1 tiến về Biên Hoà căn cứ không quân lớn thứ hai của chúng tôi. Ngoài ra còn có 3 sư đoàn cộng quân khác đã vượt biên giới Campuchia để tham gia tấn công lần chót.
Tại Xuân Lộc, ở phía đông bắc Sài Gòn, quân đội của chúng tôi đã cầm cự một cách anh dũng, bất kể mọi khó khăn, trong gần hai tuần, và ít nhất hệ thống tin mật riêng của tôi cũng đã góp phần tiêu diệt một số quân địch. Số là tôi được tin chúng tôi hiện có trên đất Việt Nam vài quả bom 5 tấn chưa dùng đến. Trước đây Việt Nam chưa từng được viện trợ loại bom nào lớn và có sức phá huỷ mạnh như thế. Nhưng có hai vấn đề đặt ra: chúng tôi không có giá bom lớn để chở bom 5 tấn, và chỉ được sử dụng loại bom này khi có lệnh viết của bộ tổng tham mưu.
Đại tá Vũ Văn Ước, chỉ huy trung tâm hành quân không quân vẫn hàng ngày liên lạc với tôi, đề nghị làm một cái giá bom mới trên máy bay C130 cũ kỹ của chúng tôi. Một nhân vật cao cấp bảo là việc ấy không thể làm được. Tôi phải điện thoại cho một người quen, xin hủy bỏ lệnh ấy. Các nhân viên bảo quản Việt Nam đã làm việc suốt đêm để hoàn thành một giá bom và quả bom đầu tiên được thả xuống Xuân Lộc.
Chúng tôi muốn thả tiếp nhiều quả nữa. Nhưng mỗi lần phải xin giấy phép của bộ tổng tham mưu, và đại tá Ước than phiền rằng khi ông ta có mục tiêu rất tốt thì lại không có giấy phép. Cuối cùng tôi gọi giây nói cho một người bạn ở bộ tổng tham mưu, kể rõ sự việc, và nhấn mạnh rằng yếu tố thời gian cực kỳ quan trnjg. Những ngày cuối cùng ấy hỗn loạn đến nỗi chẳng ai muốn ra lệnh cho ai, và rốt cục một người không còn làm công tác quân sự như tôi phải gọi giây nói. Người bạn tôi nói: “Không có gì trở ngại. Anh muốn sử dụng bom lúc nào cũng được”.
Việc làm của chúng tôi không làm thay đổi kết quả cuộc chiến, nhưng có lẽ một vài người trong chúng tôi cũng cảm thấy phần nào thoả mãn với thành tích khiêm tốn của chính mình là đánh lại được kẻ địch mà chúng tôi căm thù dù rằng đã quá trễ. Bởi vì giờ đây hồi kết thúc đang chồm tới phía chúng ta.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 05:00:16 pm » |
|
Sài Gòn cơn hấp hối Chúng tôi đã bỏ ý định đảo chính để hạ bệ tổng thống Thiệu vì tin đại sứ Mỹ, nhưng giờ phút trôi qua, tâm trạng nôn nóng hành động ban đầu của chúng tôi bắt đầu nhường chỗ cho những ngờ vực day dứt. Đường giây nói riêng nối liền nhà tôi và toà đại sứ Mỹ trở nên im lặng một cách lạ kỳ. Những chuyện trò hàng ngày qua điện thoại của Timmes-lúc nào cũng khích lệ-tự dưng khô cạn đi một cách khó hiểu. Các bạn đồng sự của tôi ở trong Uỷ ban cứu nguy dân tộc cùng lúc càng làm áp lực mạnh hơn đòi tôi phải có hành động quyết liệt. Cuối cùng, không thể trì hoãn được nữa, tôi nhắc điện thoại gọi Timmes và hỏi thẳng: “Có gì xảy ra vậy?”. Nói cho đúng, Timmes không lẩn tránh câu hỏi của tôi, nhưng hình như ông ta có ngập ngừng. Tuy rằng đưa ra một kết luận về một câu chuyện qua điện thoại không phải là đã “hay hợp lý” nhưng tôi có cảm tưởng là ông ta bối rối. Ông ta nói: Trong lúc này chúng tôi bị bó tay. Khó vô cùng, tế nhị vô cùng. Xin ông cắt giây nói, chờ chúng tôi sẽ cho ông biết sau”. Rõ ràng là có một cái gì là lạ đang xảy ra nhất là khi tôi được biết rằng thái độ của Martin trở nên kỳ quặc. Càng ngày ông ta càng đóng vai trò của một César ngạo mạn. Trong khi Washington thúc giục ông ta chuẩn bị di tản quy mô, ai cũng thấy là ông ta coi thường lệnh ấy, vì ông ta nghĩ rằng một chương trình di tản quá vội vã sẽ làm thương tổn phẩm giá của nước Mỹ cũng như phẩm giá của cá nhân ông ta. Người Mỹ đối xử với đồng bào của họ ở Sài Gòn như thế nào, đó là việc riêng của họ. Nhưng hàng trăm người Việt Nam làm việc cho Mỹ, lĩnh lương của Mỹ, chắc chắn sẽ không thoát chết nếu Sài Gòn thất thủ. Người ta đã hứa là sẽ đưa tất cả những người ấy đến nơi an toàn. Martin đã khoe khoang: “Nếu người Mỹ phải ra đi, tôi sẽ đem theo một triệu người Việt Nam". Washington ra lệnh cho ông ta làm đúng như thế trong những bức điện mà ông ta đã cố tình lờ đi. Và chính mắt tôi đã nhìn thấy kết quả ở căn cứ không quân. Mỗi ngày hàng chục máy bay vận tải cỡ lớn của Mỹ, chở đầy đồ tiếp liệu quý giá, bay qua cửa sổ nhà tôi trước khi đáp xuống. Nhưng hầu hết những máy bay ấy lúc bay đi đều gần như trống rỗng trong khi chúng có thể chở những món hàng quí hơn đến nơi an toàn. Quả tình Martin có cố gắng thuyết phục phó thủ tướng Phan Quang Đán cho phép di tản các trẻ mồ côi nhưng đó là nhằm mục đích tuyên truyền, bởi vì trong một bức thư gửi cho Đán, Martin viết: “Việc di tản này… sẽ làm cho dư luận Mỹ thay đổi có lợi cho Việt Nam". Và ông ta giải thích là một khi tới Mỹ các trẻ mồ côi sẽ xuất hiện trên máy truyền hình và “tác dụng sẽ khủng khiếp”. Trên thực tế Martin hy vọng thuyết phục được quốc hội Mỹ đảo ngược nghị quyết bác bỏ viện trợ vũ khí cho Việt Nam. Để hậu thuẫn cho kế hoạch của mình, Martin gửi về Mỹ vô vàn vô số hình ảnh về những sự tàn ác của cộng sản và những câu chuyện khích động nhằm mục đích làm thổn thức trái tim của nhân dân Mỹ, đồng thời ông ta trấn an chúng tôi: “Cứ bình tĩnh, Sài Gòn không hề lâm nguy”. Điều đó tin hơn nữa là đúng vào lúc nguy cấp như vậy Martin chỉ thị cho nhân viên toà đại sứ biên soạn một bản nghiên cứu tỉ mỉ, về công tác tuyên truyền của chính phủ Việt Nam: Con người này không phải chỉ là ngu xuẩn. Ông ta điên mất rồi. Đột nhiên những người đầu mối liên lạc của tôi ở trong chính phủ cho biết qua hệ thống tin mật là Thiệu sắp sửa được lệnh từ chức. Một người nói: “Không cần nghi ngờ gì nữa. Bây giờ ta chỉ còn đang tìm cách làm thế nào cho không ai bị mất mặt mà thôi”. Tôi biết là người cho tin nói đúng. Nhưng thế thì tại sao Martin không gọi giây nói cho tôi để tôi chuẩn bị cho Uỷ ban cứu nguy dân tộc hành động? Ngờ vực tăng lên, tôi đề nghị đem kế hoạch đảo chính chống Thiệu của chúng tôi ra xem xét lại. Và chính vì kế hoạch này mà rốt cục tôi biết được cái trò hai mặt của Martin. Bất ngờ Timmes đến nhà tôi và gần như vô tình nói ra một cái tên làm cho tôi nắm được đầu mối thứ nhất. Timmes hỏi tôi: “Có đúng là một số tướng người Bắc như ông đa âm mưu đảo chính không?”. Phản ứng tức khắc của tôi là nghĩ rằng đã có sự tiết lộ, nhưng tôi chưa kịp trả lời thì Timmes lại nói tiếp một câu lạ thường, một vài tiếng thôi song cũng đủ để miễn cho tôi khỏi phải quyết định là nên hay không nên nói dối. “Tôi muốn nói một hành động chống Minh Lớn”. Tôi sửng sốt. Xét cho cùng, Minh Lớn đã ra khỏi chính quyền từ lâu. Tôi thốt lên: “Tôi không hay biết gì-nhưng tại sao lại Minh? Ông ta đâu phải là tổng thống. Tại sao người ta lại chống Minh là người không ở trong chính quyền?”. Timmes trả lời: “Vậy thì tôi nghĩ là tôi phải thưa với thiếu tướng rằng nếu ông quả có hành động chống Minh thì Washington và Hà Nội sẽ trách cứ ông về bất cứ điều gì xảy ra sau này”. Giây phút ấy tôi mới vỡ lẽ ra rằng Martin đã lặng lẽ sử dụng Uỷ ban cứu nguy dân tộc như một bức bình phong trong không ta đặt kế hoạch gạt Thiệu ra và thay bằng Minh Lớn để thương thuyết với cộng sản. Ghê tởm là tức giận, tôi nói với Timmes “Nếu Minh Lớn làm tổng thống, Việt Nam sẽ sụp đổ trong 24 giờ. Tại sao cộng sản lại thương thuyết với Minh? Ông ta hiện nay không được lòng dân và sẽ chẳng bao giờ được lòng dân”. Timmes ra về, và tôi tự hỏi phải chăng người Mỹ ngây thơ đến độ tin rằng Minh Lớn có thể thương thuyết với cộng sản. Nhưng Martin đâu có ngây thơ. Kissinger cũng thế. Có lẽ nước cờ quái đản này là bộ phận của một chính sách đã được vạch ra một cách cẩn thận. Có lẽ người Mỹ hiểu rằng đã tới hồi kết thúc-mặc dù đến lúc đó tôi vẫn không tin như vậy-nên họ quyết định bỏ rơi chúng tôi, và bằng cách đặt một người không có chút khả năng trí tuệ vào chức vụ tổng thống, họ muốn đổ cái lỗi cuối cùng lên đầu chúng tôi thay vì chia sẻ nó với chúng tôi. Chính Martin đã ra lệnh cho Minh Lớn, điều này không còn nghi ngờ gì nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 05:01:48 pm » |
|
Nhưng Minh Lớn không trở thành tổng thống ngay, mà phải chờ vài ngày. Bởi vì một việc hoàn toàn không dự kiến đã xảy ra. Với ý tưởng kỳ dị là tôn trọng nghi thức, Martin buộc Thiệu phải từ chức nhưng lại thay Thiệu bằng ông phó tổng thống.
Tôi không bao giờ quên cái lúc mà ông Thiệu, 52 tuổi, tuyên bố với nhân dân Việt Nam rằng ông bị bắt buộc phải từ chức. Hai trăm người vừa bạn vừa đồng chí chen chúc trong căn nhà của tôi để nghe bài diễn văn thống thiết dài cả tiếng đồng hồ của con người mà Martin đã ủng hộ, con người đã để cho cộng sản vào đến ngoại ô thủ đô. Trong khi theo dõi máy truyền hình, chúng tôi nghe thấy tiếng súng đại bác.
Tôi cảm thấy xấu hổ. Xấu hổ vì thấy một nhà lãnh đạo Việt Nam có thể sử dụng Thiệu như đã xử sự trong bài diễn văn của ông ta. Nhìn màn ảnh truyền hình, nhìn Thiệu mặc áo sơ mi cổ bẻ bỏ ngoài quần, tôi sực nhớ lại ngày Johnson tán thành lời tôi đề nghị thiết lập hệ thống truyền hình ở Việt Nam. Tôi cảm thấy gần như ân hận đã thảo luận vấn đề truyền hình với Johnson, khi thấy Thiệu giờ đây giơ mặt ra trước màn ảnh trách móc Mỹ thiết quyết tâm. Trong một tràng đả kích những người đã giữ ông ta ở lại chức vụ, Thiệu lên án Mỹ không làm tròn nhiệm vụ.
Ông ta nói rằng tiến sĩ Kissinger đã lừa ông ta ký hiệp định hoà bình Paris và sau đó đã nuốt lời bằng cách không chịu viện trợ quân sự cho miền Nam Việt Nam. Chúng tôi thua bởi vì Mỹ không tiếp tế bổ sung cho quân đội và ngừng viện trợ. “Các ông bỏ chạy và để mặc chúng tôi làm cái việc mà các ông làm không xong. Chúng tôi không có gì hết, thế mà các ông lại muốn chúng tôi hoàn thành cái điều mà các ông hoàn thành nốt”. Ông ta giận dữ buộc tội như vậy. “Khi ký kết hiệp định hoà bình, Mỹ đã thoả thuận thay thế để trang bị trên cơ bản một đổi một. Nhưng Mỹ không giữ lời. Ngày nay còn ai có thể tin được lời hứa hẹn của Mỹ nữa không?”.
Và đây là điều bất ngờ. Kế vị Thiệu là phó tổng thống Trần Văn Hương. Ôi, ông già Hương chân tình, người đã tặng tôi 200.000 đồng làm quà cưới vợ. Lúc này mắt ông ta đã kém đến nỗi gần như không thấy chữ nữa. Khi Hương trở thành tổng thống, tôi cho rằng Minh Lớn đang chực sẵn đằng sau.
Tiếp theo là một tuần lễ kinh hoàng và hỗn loạn. Hương là một con số không. Người ta chẳng làm được gì để ngăn chặn cuộc tiến quân vũ bão của địch. Đến ngày 26 tháng 4, cộng sản đã cắt đứt đường liên lạc giữa Sài Gòn với nguồn cung cấp thực phẩm chính và với Vũng Tàu, hải cảng duy nhất còn lại, cách thủ đô 45 dặm về phía đông bắc. Họ cũng đã hai lần thả bom giữa trung tâm Sài Gòn như muốn cho chúng tôi nếm trước những gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi không đầu hàng.
Tuy tuyệt vọng, tôi vẫn quyết gắng sức lần chót bằng cách yêu cầu Hương bổ nhiệm tôi chỉ huy quân đội. Tất cả chúng tôi ai cũng muốn chiến đấu, nhưng nếu không được ủng hộ thì cũng chẳng làm nên trò trống gì. Dũng cảm không dính dáng gì đến chuyện này mà can đảm cũng chẳng ăn nhập vào đâu. Máy bay không thể bay được nếu người ta không đặt kế hoạch và làm việc như một tập thể với nhiều người ở dưới đất hơn ở trên trời. Muốn chiến đấu dù chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi cần phải chiến đấu một cách “chính thức”. Tôi quyết định lái xe đến dinh tổng thống ở Sài Gòn, và đã phải mất hơn một giờ mới đến được trung tâm thành phố. Cảnh tượng trước mắt làm tôi kinh sợ: đó là một không khí xấu nhưng lại giả tạo. Tai hoạ sắp đổ xuống đôi khi làm cho người ta trở nên bất cần, cho nên giờ đây hình như không ai ý thức được nạn diệt vong, mà lại có vẻ vui nhộn, bồn chồn: sự vui vẻ quyết tâm của một cơn bệnh hoảng sợ trước khi bị đưa vào phòng mổ.
Với hy vọng gặp một sĩ quan cao cấp Mỹ để hỏi những tin tức mới nhất, tôi ghé câu lạc bộ thể thao, một câu lạc bộ bơi lội và quần vợt nổi tiếng ở Sài Gòn có từ thời thuộc địa nhưng trong thập niên vừa qua trở thành nơi lui tới của các nhân vật chóp bu Mỹ. Sự thay đổi bất ngờ đến nỗi tôi tưởng mình lùi lại 20 năm trước. Không có người Mỹ nào, không có cô gái Việt Nam nào xinh đẹp nào tắm nắng cạnh hồ bơi như mọi khi. Thay vào đó, câu lạc bộ thể thao đã lại trở thành câu lạc bộ của người Pháp. Martin đã dàn xếp với đại sứ Pháp Jean Paul Martin, nhờ ông này làm trung gian giữa miền Bắc và miền Nam khi cần. Với “quyền hạn này”, việc đầu tiên mà người Pháp làm là lấy lại cái câu lạc bộ thể thao thân yêu của họ. Họ hân hoan ngồi đó, uống rượu “pecnô” pha với “cat-xít”. Không thể tin được rằng dĩ vãng tưởng đã vĩnh viễn mất đi nay lại trở về với họ.
Nhưng đối với những nơi khác ở Sài Gòn, không có gì ngoài nước mắt và kinh hoàng. Tôi thấy bằng chứng của sự cướp bóc ở chợ, gần Sở Thú và tại một cửa hàng quân đội (căngtin) của Mỹ mà chủ nhân đã bỏ đi hoặc dân chúng đã phá cửa xông vào không biết giả thuyết nào đúng. Một đám dông đang rỡ hàng rào giây thép gai. Nhiều người mồ hôi nhễ nhại khuân những tủ lạnh chất lên xe ba bánh; những người khác mang những thùng thuốc lá, và cả kẹo cao su. Bên vệ đường là một đống thùng đựng những hộp xà phòng bột. Ý chừng người ta cho món hàng này là vô dụng. Tôi thấy một cái xe ba bánh chở đầy những lọ là thoạt tiên tôi không biết là lọ gì. Một lọ rơi xuống quệt trúng vào xe “díp” của tôi. Tôi phanh xe lại, nhặt lên: chau đựng những quả anh đào ngâm nước muối của người Mỹ thường nhắm với rượu “cốc tai”. Nhiều trẻ em chạy ra chạy vào tìm những gói thuốc lá và kẹo cao su trong khi những người lớn làm việc như điên, nhặt nhạnh bất cứ thứ gì rơi vào tay họ (ý chừng họ tích trữ cho tương lai): thịt đông lạnh, kẹo, chanh sôcôla.
Dưới phố tôi thấy một anh lính xắn tay áo và hãnh diện khoe hai cánh tay với người bạn. Hai cánh tay anh ta đeo đầy đồng hồ lên đến tận khuỷu tay. Khi vòng một góc phố, tôi phải ngưng xe lại một lát và thấy một đứa trẻ ngồi trên một cái xe ba bánh, cổ đeo lủng lẳng một cái gì giống như một máy ảnh đắt tiền. Nhưng nó còn một cái gì khác nữa-một khẩu súng lục và một cây súng tiểu liên. Cạnh toà đại sứ Mỹ những người hôi của đang khiêng đi những tấm thảm, bồn tắm bằng sứ, trường kỷ, và cả những tủ đựng hồ sơ.
Khắp nơi mùi hôi thối xông lên-mùi nước sông trộn lẫn với mùi gia vị, cống rãnh lộ thiên không vét sạch, cá khô, mùi của những thùng rượu uýt-ki bị vỡ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 05:04:32 pm » |
|
Sài Gòn luôn luôn là một thành phố ồn ào, nhưng không bao giờ lại huyên náo như bây giờ, với những đường phố đông đúc, những tiếng người trong không khí nóng bức và đằng sau tất cả, như tiếng đài vặn nhỏ, là tiếng rền buồn thảm-tiếng rền của đại bác.
Ngay khi tới dinh Độc lập, tôi được đưa vào gặp tổng thống Hương, tôi nói: “Xin tổng thống bổ nhiệm tôi làm tư lệnh quân lực. Xin cho tôi một chức vụ chính thức để tôi có thể nêu cao danh dự của Việt Nam“.
Hương là một cụ già kề miệng lỗ, ông trả lời tôi, giọng ngập ngừng và the thé: “Tôi không thẻ làm như vậy được. Một người đã từng làm phó tổng thống và thủ tướng không thể đột nhiên trở lại làm tư lệnh quân lực. Không thể được, nhưng có lẽ vài ngày nữa tôi có thể bổ nhiệm thiếu tướng làm phụ tá đặc biệt về quân sự".
Tôi kêu lên: “nhưng tổng thống không thể đợi được vài ngày đâu. Tôi không cần nghi thức. Tôi muốn lãnh đạo quân đội ngay bây giờ”.
Hương lắc đầu-và điều này có nghĩa là không một người nào trong chúng tôi có thể chiến đấu được. Thật vậy, cuộc chiến đã kết thúc bởi vì các phi công dũng cảm của tôi không thể cất cánh được khi không có ai ra lệnh yểm trợ cho họ. Và một khi Bộ Tổng tham mưu thấy là đã đến hồi tàn cuộc, thì chẳng còn có ai muốn ra lệnh cho ai nữa. Hương làm tổng thống được một tuần. Và Martin, sau khi đã tôn trọng những chi tiết nghi thức tế nhị bằng cách cho phó tổng thống kế tục tổng thống, thấy là đã đến lúc làm lễ nhậm chức cho Minh Lớn, người được Martin che chở. Người ta quyết định thay Hương vào ngày 23. Ngày 27, Minh Lớn, 59 tuổi, yêu cầu hai viện của quốc hội chính thức chỉ định ông ta đúng vào lúc cộng sản biểu lộ sự phản đối của họ bằng cách cho ba máy bay phản lực bắt được của chúng tôi ở một phi trường phía bắc bay đến bắn phá dinh tổng thống, chứng tỏ rõ ràng là họ không muốn thương thuyết với Minh Lớn, mà chỉ muốn chiếm Sài Gòn bằng vũ lực.
Tối hôm ấy tôi nói chuyện với Von Marbod thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ và yêu cầu ông ta giúp đỡ chúng tôi chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long. Lời yêu cầu này bị bác bỏ. Sáng hôm sau, Mai và các con tôi đi Honolulu trên chiếc máy bay quân sự cuối cùng của Mỹ cất cánh rời căn cứ không quân Sài Gòn. Vợ tôi chỉ có 20 phút để xếp vali sau bữa điểm tâm, và tôi cũng không có mặt để mà chia tay.
Đến ba giờ chiều, anh phi công trước đây đã báo cho tôi biết có những tên sát nhân xâm nhập căn cứ theo lệnh của Quang, lại đến tìm tôi với một tin giật gân. Thiệu đã bỏ chạy, như chúng tôi biết, nhưng trong lúc vội vàng đã bỏ quên Quang, kẻ đồng loã với mình trong tội ác.
Anh phi công nói: “Quang hiện ở Bộ tổng tham mưu, và người ta bảo tôi là hắn ta tức giận điên cuồng. Thiệu đã hứa cho hắn đi theo nhưng rồi lại ra đi mà không cho hắn biết”.
Một sĩ quan cấp uý nói lớn: “Thưa thiếu tướng, chúng tôi có thể bắt hắn đem hành hình được không?”.
Tôi đáp: “Hãy bắt hắn, nhưng đừng hành hình. Phải có toà án xét xử đàng hoàng”. Số mệnh đã cho phép Quang trốn thoát, anh sĩ quan trẻ tuổi cùng với một người bạn nhảy lên xe díp để phóng đến Bộ Tổng tham mưu cách đó nửa dặm thì hai chiếc máy bay của cộng sản nhào xuống căn cứ ném bom. Hai người ấy không ra khỏi được căn cứ và sau đó không ai gặp Quang ở Sài Gòn nữa. Theo tôi biết thì hiện nay Quang sống ở Canada.
Hai chiếc máy bay nói trên mở đầu cho một cuộc tấn công tập trung vào sân bay. Cộng sản biết rằng mất sân bay thì Sài Gòn cũng mất. Quả bom hạng nặng đầu tiên rơi cách nhà tôi 300 mét Anh. Lúc ấy có gần 400 người tụ tập ở đó hay trên những bãi đất quanh đó. Đấy là những gia đình binh sĩ chờ xin chỗ máy bay. Nhiều người quyết định ngủ đêm ngay tại văn phòng hay trong những căn nhà gần bên. Quang cảnh giống như một trại tị nạn. Lúc những quả bom đầu tiên làm rung chuyển nhà tôi, một anh phi công chạy vào phòng khách kêu lớn: “tôi cất cánh đây”.
Tôi cũng hét lên: “Đống ý. Đi đi”.
Anh ta lao đến chiếc máy bay chiến đấu thả bom gần nhất. Tôi phóng lên một xe díp cùng với một thiếu tá và lái ra đường băng xem thiệt hại tới mức nào. Căn cứ vắng vẻ im lặng, khác lạ trái ngược hẳn với quang cảnh nhộn nhịp ngày thường. Ai nấy đều chạy vào hầm trú ẩn, và xe díp của chúng tôi và vật duy nhất mà người ta thấy di chuyển. Các phi công cộng sản chắc đã phát hiện ra chúng tôi vì máy bay ở trên cao lượn vòng vòng rồi bắt đầu bắn xuống chúng tôi. Lúc nhảy xuống một cái hố, tôi nhìn thấy lửa toé ra từ những họng súng nhằm vào xe díp.
Hàng chục máy bay của chúng tôi bị phá huỷ trên mặt đất. Điện bị cắt đứt. Chúng tôi không liên lạc với bộ tổng tham mưu nữa. Những người ở trong nhà phải thắp nến ăn cơm.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 05:06:01 pm » |
|
Khoảng 9 giờ 30 tối, cộng sản bắt đầu nã súng cối và tên lửa, và đến 11 giờ đêm thì không còn thể nào khoanh tay ngồi nhìn được nữa.
Tôi nói với vài anh phi công và một anh hoa tiêu: “Chúng ta hãy bay lên xem sao”. Chúng tôi lao ra máy bay trực trăng của tôi, cất cánh và bay lên vòng vòng chỗ này chỗ nọ. Chỗ nào cũng có đám cháy, những ngọn lửa, liếm đến gần sát vòng ngoài căn cứ không quân, và chúng tôi có thể dễ dàng nhận ra những vị trí chiến đấu chính của cộng sản vì hễ nghe thấy tiếng máy bay lên thẳng của tôi là họ nổ súng.
Dàn tên lửa lớn nhất hình như đặt gần đài phát thanh. Không một máy bay nào có thể cất cánh từ những đường băng của sân bay đã bị bom khoét nhiều hố sâu, nhưng từ trên không tôi đã liên lạc được với căn cứ không quân ở đồng bằng sông Cửu Long. Tại đây người ta chất bom 750 pao lên bốn cái máy bay. Khi những máy bay này đến thì không còn thì giờ để chọn tên mật mã nữa. Tôi hét trong radio: “Đây là thiếu tướng Kỳ. Hãy tìm ra vị trí tên lửa và tiêu diệt nó đi”.
Từ trong máy bay lên thẳng tôi theo dõi họ bay vào vị trí, hướng dẫn họ lúc sang bên trái một chút, lúc sang bên phải một chút, cho đến khi họ tới đúng mục tiêu. Họ đã tiêu diệt được dàn tên lửa lớn nhất.
Khi hết xăng, tôi xoay sở đáp xuống khi xăng Shell ở Nhà Bè, ngoài thành phố để đổ đầy xăng. Tại đây đã có hàng chục máy bay lên thẳng xếp hàng chờ đổ xăng. Bây giờ thì ai cũng chờ kết cục. Tôi có cảm giác kỳ lạ khi nhìn các bạn cũ-những phi công và hoa tiêu đã cùng tôi chiến đấu bao nhiêu năm trời. Hầu hết đều mất liên lạc với bộ chỉ huy của họ và chờ tôi chỉ đạo. Đối với những người đã hết bom đạn tôi bảo họ đổ đầy xăng rồi bay trở lại Cần Thơ. Đối với những người còn bom đạn, tôi bảo họ quay về Sài Gòn nhả hết bom và bắn hết đạn lên đầu quân địch lúc này đã tiến đến sát hàng rào Tân Sơn Nhất, căn cứ không quân của tôi: rồi sau đó cũng sẽ bay đi Cần Thơ.
Tôi bay trở lại bộ tư lệnh không quân ở Tân Sơn Nhất, một cảnh cực kỳ hỗn loạn bày ra trước mắt. Toàn bộ bộ tư lệnh gồm khoảng 100 sĩ quan, tướng, đại tá và thiếu tá, tập họp ở văn phòng tư lệnh. Tôi nhận thấy có cả vài tướng lục quân nữa. Ông tư lệnh không quân cho tôi biết là người Mỹ đã cho lệnh di tản tất cả máy bay F5 sang Thái Lan và Philippin. Bộ tham mưu của chúng ta đang chờ tại văn phòng để người Mỹ lo liệu việc di tản họ.
Ngày 29, trời vừa bình minh cộng sản đã bắt đầu nã pháo lớn 130mm vào đường băng của căn cứ. Quân địch bị trúng kho nhiên liệu chính và chỉ vài phút sau khói đen quyện đầu vào dầy đặc toả thành một đám mây khổng lồ. Nhiều máy bay đậu trên mặt đất nổ tung giữa những ánh lửa màu cam. Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc tấn công cuối cùng đã mở màn. Chắc chắn cộng sản biết nếu họ tiêu diệt được căn cứ không quân thì Sài Gòn sẽ chẳng còn gì.
Thế nhưng tôi vẫn chờ ở nhà, ngay cả khi tôi đã bắt đầu nghe thấy tiếng đạn đại liên lốp đốp-hình như quân địch đang ở trong một nghĩa địa cách đó chừng nửa dặm. Trong lúc tôi còn đang cân nhắc xem phải làm gì thì một cái ôtô xuất hiện ở cổng. Tôi ngạc nhiên thấy xe cắm cờ Mỹ và người bước xuống là đại sứ Martin. Thoạt tiên tôi đoán là ông ta đến gặp tôi nhưng đương nhiên là không phải, vì ông ta không biết lúc đó tôi ở đâu. Về sau tôi nghe nói ông ta phải mất hai giờ để đi từ toà đại sứ đến đây, và ông ta đi xe đến sân bay cùng với tướng Homer Smith vì không tin rằng máy bay không thể đáp xuống căn cứ được nữa-điều này có nghĩa là người Mỹ không thể tổ chức di tản trên quy mô lớn được nữa mà sẽ phải đưa người ra khỏi Việt Nam bằng máy bay lên thẳng, khiến cho Martin không giữ được lời hứa sẽ di tản tất cả những người Việt Nam có quan hệ với toà đại sứ.
Martin chỉ ở lại vài phút và tôi có thể tưởng tượng được nỗi niềm tuyệt vọng của ông ta sau khi lái chiếc xe díp chạy vòng quanh sân bay và thấy rằng sân bay không sử dụng được nữa. Rồi ông ta cùng tướng Smith leo lên xe của họ.
Dù tình thế đã tuyệt vọng tôi vẫn níu lấy một hy vọng nào đó. Trèo lên máy bay lên thẳng của tôi, tôi bay đến bộ tổng tham mưu. Có lẽ tôi sẽ liên lạc được với những đơn vị khác, và thuyết phục họ tổ chức lại hàng ngũ để chiến đấu. Nhưng Bộ Tổng tham mưu người ta nói với tôi là tổng tham mưu trưởng đã từ chức và rời Việt Nam hai ngày trước đó. Khu nhà này trước kia tấp nập hàng nghìn sĩ quan và binh sĩ giờ đây vắng ngắt. Tôi lên văn phòng tổng tham mưu trưởng và thấy tướng ba sao Đồng Văn Khuyên ngồi đó, làm quyền tổng tham mưu trưởng. Tôi cố gắng liên lạc với hải quân và các đơn vị khác nhưng không có kết quả. Tội nghiệp tướng Khuyên! Ông ta bơ vơ có một mình. Đến 11 giờ 30 sáng, nhìn lên bầu trời Sài Gòn tôi thấy đầy máy bay của hãng hàng không Mỹ. Điều này có nghĩa là cuộc di tản các viên chức Mỹ và Việt Nam bắt đầu.
Lúc ấy tôi mới biết rằng mọi hy vọng đã tiêu tan. Tôi gọi về bộ tư lệnh không quân. Bộ tham mưu đã di chuyển đến văn phòng tuỳ viên quân lực Mỹ và đang được di tản. Tôi cũng quyết định ra đi. Lúc bước xuống cầu thang, tôi gặp tướng Trưởng, cựu tư lệnh vùng I chiến thuật.
Tôi hỏi: “Anh làm gì ở đây?” Trưởng đáp: “Tôi không biết phải làm gì nữa”. Gia đình Trưởng đã di tản từ nhiều ngày trước vì thế tôi bảo ông ta: ”Vậy thì hãy đi với tôi”.
Tôi tập hợp được chừng sáu bảy phi công và tất cả chúng tôi ngồi chen chúc trong máy bay lên thẳng của tôi. Rồi tôi nổ máy. Tôi chỉ kịp nhìn lại căn nhà của mình, nơi đó bao nhiêu điều đã xảy ra, và mới sáng hôm qua đây còn vang tiếng cười của các con tôi. Chúng tôi bay trên thủ đô và nhìn xuống phố xá nhan nhản những bóng người chạy lăng xăng với những ngọn lửa màu cam của các đám cháy chấm phá cây đổ. Vì chúng tôi bay ra biển nên hình ảnh ấy trôi qua nhanh chóng-hình ảnh cuối cùng của Sài Gòn thân yêu. Tầu thuyền đủ cỡ, đủ loại dường như che kín mặt biển xanh, từ những thuyền chèo tay nhỏ xíu đến những tàu sân bay. Tôi dùng radio bắt tần số cấp cứu và liên lạc được với tàu sân bay Midway của Mỹ đang đậu ngoài khơi. Những giọng nói đầy thiện ý hướng dẫn tôi đáp xuống boong tàu.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
ptlinh
Admin Độc lập

Bài viết: 4021
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2010, 05:06:52 pm » |
|
Đô đốc Harris chỉ huy tàu Midway là một người bạn cũ mà trước kia tôi đã tặng thưởng huy chương vì lòng dũng cảm và công lao giúp đỡ Việt Nam. Ông ta ra đón chào tôi, bắt tay tôi và hỏi: “Ông có mạnh khoẻ không?”, nhưng không nói dứt câu vì chợt nhìn thấy bộ mặt tôi. Dù cố gắng hết sức để mặc tôi trong một khắc đồng hồ rồi đưa tôi sang tàu chỉ huy Blue Ridge bằng một máy bay lên thẳng cũ kỹ.
Trước khi bước lên máy bay của Mỹ tôi thấy còn một việc cuối cùng phải làm. Tôi trở lại máy bay lên thẳng của tôi, tháo khẩu súng lục đang đeo đặt xuống ghế phi công. Tôi sực nghĩ ra rằng, với tư cách là khách của một nước khác, có thể tôi sẽ phải trao súng cho người ta, và tôi mường tượng cái cung cách một viên tướng bại trận phải nộp kiếm. Tình trạng của tôi không hoàn toàn giống như thế, tuy nhiên tôi vẫn muốn tránh phải làm cái cử chỉ tượng trưng đó.
Tôi không thích tỏ ra vô ơn nhưng quả thật, lòng mến khách ban đầu trên tàu Blue Ridge có hơi khác, so với tàu Midway. Khi mười bốn người chúng tôi-toàn là sĩ quan cao cấp-bước ra khỏi máy bay thì một đại tá Mỹ mở miệng chào chúng tôi bằng những tiếng quát lớn: “Tất cả các ông lại đây”. Ông ta dẫn chúng tôi đến một cái bàn và nói: “Các ông cảm phiền cho chúng tôi khám người”.
Khám được nửa người chúng tôi thì có người nói thầm điều gì đó với ông ta. Ông ta thấp giọng nói với tôi: “Xin ông đi theo tôi”. Ông ta đưa tôi vào một buồng ngủ nhỏ và hỏi: “Ông từ đâu tới? Sài Gòn phải không”. Tôi gật đầu. Cuối cùng ông ta thốt ra: “Ông là ông Kỳ phải không?”. Tôi gật đầu,
Đêm ấy sau khi tôi đã gặp viên sĩ quan chỉ huy tàu, ông đại tá Mỹ đến xin lỗi tôi. Tôi nói rằng tôi biết rõ là hiện nay ở mọi nơi đều có sự lẫn lộn và ngay cả sự nghi ngờ. Nhưng không sao nhịn được, tôi lại nói thêm: “Tôi hiểu rằng ông có thể nghi ngờ, nhưng xét cho cùng, chúng tôi đã hy sinh tất cả cho cuộc chiến tranh này. Chúng tôi có thể đã thua, nhưng không phải chỉ riêng chúng tôi thua-người Mỹ các ông cũng thua. Điều mà tôi không sao hiểu được là tại sao ông lại đối xử với tôi và các sĩ quan đi cùng tôi như ông đã làm? Dẫu sao chúng ta cũng là bạn chiến đấu. Chúng tôi không phải là cộng sản, ông biết mà”.
Martin cũng xuống tàu Blue Ridge. Ông ta rời toà đại sứ vội vàng đến nỗi bỏ quên cả tấm ảnh của Nixon. Bức ảnh có chữ ký và dòng chữ đề tặng: “Để ghi nhớ sự nghiệp to lớn của ông ở Đông Dương”. Cùng đi với Martin có các phóng viên. Các phóng viên lập tức yêu cầu tôi họp báo. Martin cho viên sĩ quan báo chí của ông ta đến buồng tôi để thuyết phục tôi đừng họp báo. Nhưng sự thuyết phục ấy không cần thiết vì chính tôi cũng không muốn nói chuyện với ai.
Đêm ấy là đêm đầu tiên từ nhiều năm nay tôi phải uống một viên thuốc ngủ. Khi hoi xin vài viên thuốc ngủ tôi nghĩ là viên sĩ quan quân y sẽ cho tôi một lọ nhỏ. Nhưng chắc hẳn người này cho rằng tình trạng chán nản của tôi có thể đưa tới tự tử, nên ông y sĩ mới thận trọng đưa cho tôi một viên thuốc với một cốc nước và đứng chờ tôi uống xong. Tôi không có ý định tự tử, mặc dù hôm sau khi đứng trên boong tàu cao ngất nhìn xuống biển, xa xa là bờ biển Việt Nam, có đôi lúc tôi chợt nghĩ nhảy ào xuống là xong hết.
Điều tôi thấy khó hiểu nhất là cuộc chiến đã kết thúc quá nhanh. Dĩ nhiên là trong những tuần trước tin tức rất xấu, nhưng mới cách đây chưa đầy một tuần tôi còn yêu cầu chính phủ để cho tôi tiếp tục chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long, không phải để thắng-chúng tôi đã mất mát quá nhiều, làm sao còn thắng được nữa-nhưng là để có thể thương thuyết trên thế mạnh. Mới một tuần trước đây thôi tôi còn cho rằng không thể chấm dứt mau chóng như thế được.
Ngay cả khi nhìn thấy ông ta đứng cạnh một cửa hầm trên boong tàu, vai khoác một cái áo tắm xanh, đôi mắt trúng sâu, tôi cũng không lại gần. Ông ta đang ăn một quả táo.
Một trong những người Việt Nam làm việc cho toà đại sứ được di tản đi đến gần Martin và Martin nói lẩm bẩm vài lời. Người kia bỏ đi. Đó là người hầu của Martin đa dẫn con chó xù của ông đại sứ đi dạo chơi.
Tiếng nhộn nhịp và ầm ĩ của một con tàu lớn bỗng lắng xuống khi hệ thống loa phóng thanh trên tàu vang lên câu nói quá quen thuộc với giới hải quân: “Bây giờ hãy nghe đây”. Sau đó là tiếng ông mục sư tuyên uý của tàu:
"Hỡi các anh em, các anh em đã giải thoát những đứa con sinh sau đẻ muộn nhất của dân tộc Do Thái. Bây giờ tôi muốn các anh em hãy cầu nguyện cho Việt Nam, và sau đó tôi muốn rằng tất cả các anh em hay vui đùa đôi chút”.
|
|
|
|
|
Logged
|
Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn
|
|
|
|