Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:50:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Dấu chân người lính  (Đọc 134800 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #60 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 02:35:46 pm »

Mấy ngày sau Kinh trở về sở chỉ huy trung đoàn. Ông và Nhẫn dành phần lớn thời gian vào việc chuẩn bị cho kế hoạch đánh lấn sâu vào Tà Cơn. Kinh bận họp hành lu bù đến nỗi có một lá thư của vợ cũng để quên trong túi áo, mãi mấy ngày sau mới giở ra đọc:

Bố thằng Lữ,

Ông có khỏe không? Có ốm đau gì không? Bữa trước một đồng chí từ trong chiến trường ra đến nhà ta chơi, nói rằng cả ông và thằng Lữ đều ở trung đoàn pháo binh hiện đang đánh nhau ở Khe Sanh.

Ở nhà mọi người đều bình yên và đang tích cực sản xuất để góp phần cùng tiền tuyến chống Mỹ, cứu nước. Thằng Trí vừa nhận được giấy trên gửi xuống cho đi học nước ngoài. ông Kinh ơi, ở nhà mọi việc tôi xin lo liệu lấy được nhưng mong ông hãy bỏ chút thì giờ thỉnh thoảng đến thăm nom thằng Lữ hộ cho tôi, bảo với nó tôi ở nhà nhớ nó lắm. Vắn tắt mấy lời chúc hai bố ông khoẻ mạnh kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!

Kính thư
TRẦN THỊ DẬM


Kinh đọc đi đọc lại hai ba lần, lá thư quá ngắn ngủi như một bức điện tín của vợ, viết bằng phẩm tím trên giấy vở học trò. Kinh cười và nói với Nhẫn rằng từ khi hai người lấy nhau, vợ ông viết cho ông khoảng năm bảy lá thư, lá nào cũng ngắn ngủi khoảng vài ba chục chữ. Tính vợ Kinh như thế nếu chồng ở hậu phương, dù xa nhà và lâu không về chị cũng không hề biên một lá thư nào. Hình như theo quan niệm của nhiều người đàn bà ở quê, thư viết cho chồng bao giờ cũng là dấu hiệu của giặc giã và chiến tranh, và là chút tình cảm của người hậu phương gửi ra tiền tuyến. Vì thế Kinh chỉ có dịp được nhìn thấy nét chữ nắn nót như trẻ con viết tập của bà vợ mình giữa hai trận đánh ở ngoài mặt trận, và đừng hòng bao giờ tìm thấy một chi tiết những công việc cụ thể, những lo toan của người ở nhà.

Vợ chồng Kinh có năm con. Hai đứa con trai mỗi đứa ra đời sau một chiến dịch hồi kháng chiến chống Pháp. Hai đứa con trai lớn từ bé tính nết đã xung khắc nhau. Thằng anh làm việc gì cũng tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng. Thằng em thì can đảm thông minh, hồi bé cầm cái gì cũng đổ vỡ. Kinh còn nhớ một chi tiết buồn cười do vợ kể: thằng Lữ sinh ra đặt nằm trên chiếc chõng tre hàng tiếng đồng hồ sau mà vẫn không thấy cất tiếng khóc. Một ông bác họ nằm nhà ngoài lẳng lặng lôi thằng Trí tới bên cửa buồng, quật cho thằng anh vẫn còn đang ngái ngủ mấy roi. Thằng bé mới sinh nghe thằng anh khóc mới bắt chước mà khóc theo. Vợ Kinh và cả gia đình đều nức nở khen cái thằng bé vừa lọt lòng ra mà đã gan lỳ, mọi người đều đoán nhất định sau này thằng bé lớn lên sẽ đi bộ đội được.

Kinh trao cho Nhẫn cùng đọc bức thư của vợ mình và lá thứ rất dài của thằng Trí . Thằng con trai đầu lòng của ông chắc hẳn lúc này đã đi xa, không còn có mặt ở trong nước nữa. Lá thư dài bốn trang của nó viết trên một thứ giấy giang địa phương tự sản xuất lấy, những tờ giấy màu sạm đen, dày và cứng.

Thư thằng Trí viết cho ông có đoạn:

"…Bố ạ, con viết thư này cho bố sau mấy ngày chúng con được về nghỉ phép ở nhà để ngày mai lên đường trở lại địa điểm tập trung các học sinh đi học nước ngoài.

Vùng ta hồi này địch đánh phá có thưa đi ít nhiều. Các đồng chí cán bộ trên huyện xuống giải thích cho nhân dân, địch đang tập trung lực lượng máy bay để đối phó với ta ở chiến trường Khe Sanh. Năm nay nhân dân chỉ ăn Tết có một ngày rồi đổ ra đồng. Những tin tức Tổng tấn công mùa Xuân đang làm mọi người nức lòng, ai cũng muốn làm việc hết sức để xứng đáng với tiền tuyến. Làng xóm nào cũng như ngày hội chiến thắng cả!

Vùng ta trong năm cấy chậm quá, đáng lẽ có thể cấy nhanh hơn nữa. Tuy vậy ra giêng đã huy động được nhân công để cấy bù vào. Đó là do khí thế chiến thắng của tiền tuyến đã ảnh hưởng tới tinh thần làm việc của mọi người và do việc địch đánh phá thưa hơn. Theo con, việc làm ăn của vùng ta chưa được sắp xếp thật là khoa học và tỉ mỉ, sử dung nhân lực chưa thật có kế hoạch nên hãy còn lãng phí.

Bố ạ, suốt những năm học chống Mỹ, cứu nước, con đã trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp trong xã, điều khiến con nhớ mãi là tinh thần hy sinh vì tiền tuyến của bà con chung quanh, không thể nào kể hết những vất vả hy sinh âm thầm của những người dân yêu nước bình thường giữa những ngày tháng này.

Vừa qua, con ở nhà được năm ngày, ngày hai buổi con chỉ đi cấy với mẹ.

Trong những năm học ở nước ngoài, có lẽ con không được về nước, khi nào học xong mới về một thể để khỏi tốn kém cho Nhà nước. Con đã nói với mẹ điều đó. Từ ngày mặt trận Khe Sanh nổ súng, tin tức chiến thắng ở nhà ta được nghe thường xuyên. Ngày nào nghe loa truyền tin xong, mẹ nhắc tới bố và em Lữ.

Bố, chắc lúc này bố đang đọc thư của con trong hầm chỉ huy hay trong chiến hào ? Con ra đi mà không được gặp bố và em. Chúng con hiểu chúng con phải đi xa đất nước giữa những ngày tháng này là một điều thiệt thòi. Con hứa với bố con sẽ sống và học tập với tinh thần như một chiến sĩ ở ngoài mặt trận. Con sẽ không bao giờ dám quên giữa lúc này, những người thanh niên đầy tài năng và ưu tú nhất cùng lứa tuổi với con đều đang cầm súng chiến đấu ngoài tiền tuyến...

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #61 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 02:41:08 pm »

*
*   *

Cũng như tất cả mọi gia đình Việt Nam chúng ta hiện nay, gia đình chính uỷ Kinh đang tự xé ra, chia nhau mỗi người đi mỗi ngả để gánh vác công việc khác nhau của đất nước.

Trước ngày nhận được thư vợ và con trai đầu lòng ở nhà, Kinh cũng đã biết tin đứa con trai thứ hai của ông. Lữ hiện đang ở trên đài quan sát của trung đoàn pháo binh đặt trên điểm cao 475. Gần như một phần lớn trung đoàn 5 của Kinh đã rải quân dưới chân phía đông đồi 475. Từ các con đường hào trục, chiến sĩ bộ binh ngày nào cũng trông thấy quả đồi "A.1" với ba mỏm cao sừng sững, như một hòn núi lửa đang đang khuất sau làn sương mù.

Đường dây điện thoại từ chỗ Lượng liên lạc với 475 vừa mắc xong thì bị địch đánh đứt tung. Một lần đường dây vừa được nối lại, từ sở chỉ huy trung đoàn, Kinh gọi qua máy của Lượng để xin đài quan sát pháo binh. Ông đề nghị "A.1" cho nói chuyện với Lữ. Không biết một chiến sĩ nào đó ở đầu dây bên kia liền hỏi Kinh bằng giọng hấp tấp như người nói lắp:

- Đồng chí thuộc đơn vị nào?

- Tôi ở nông trường 5 - Kinh đáp - tôi có chút việc riêng muốn gặp đồng chí Lữ.

Cậu chiến sĩ điện thoại "A.1" nghe giọng miền Trung nằng nặng, có lẽ phỏng đoán được liền hấp tấp trả lời:

- Có phải đồng chí là chính uỷ nông trường 5 phải không? Đợi nhé, thủ trưởng đừng bỏ máy, chờ tôi đi gọi đồng chí Lữ!

Kinh cầm ống nghe đợi một hồi lâu vẫn không thấy gì. Cái ống nghe nhẹ tênh. Đường dây lại bị đánh đứt rồi!

Con đường dây điện thoại liên lạc với đài quan sát Sông Cầu đã trở thành mối lo của Nhẫn. Trong những trận đánh sắp tới theo như trong kế hoạch Nhẫn muốn dành cho đơn vị của mình sự yểm hộ đắc lực của pháo binh. Thế mà đường dây liên lạc với họ chỉ dài khoảng vài ba cây số, không thể nào đảm bảo thường xuyên được. Nhẫn bàn bạc với tham mưu trưởng, quyết định giao cho Khuê chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức lại con đường điện thoại này, hẹn trong hai ngày đêm phải hoàn thành.

Khuê chấp hành nhiệm vụ ấy với một tinh thần khẩn trương. Anh trực tiếp đi nghiên cứu thực địa xong rồi mới cho liên lạc triệu tập đồng chí trung đội phó hữu tuyến tới ban tham mưu trung đoàn.

Đồng chí trung đội phó phụ trách đường dây 475 tới gặp Khuê, với một niềm kiêu hãnh ngấm ngầm: "Tao vừa ở chỗ thừa chết thiếu sống bước ra đây! ". Đầu và cánh tay đều quấn băng, da mặt đỏ như người bị bệnh áp huyết cao, anh ta ngồi xếp bằng trên đống dây điện thoại trước hầm tham mưu, thận trọng cong mười ngón tay vấn một điếu thuốc lá sâu kèn. Khi thè lưỡi dấp nước miếng vào lần giấy báo, anh ta mới thèm đá ngang cặp mắt nhìn lướt từ phía trên đầu Khuê, miệng hỏi: "Ông Nhẫn "chửi" chúng tớ ghê lắm thì phải?". Vừa nói anh ta vừa bật lửa châm thuốc hút.

Khuê trải tấm bản đồ một phần hai mười lăm nghìn trước mặt anh trung đội phó, cặp mắt hẹp và sắc sảo hơi ánh lên một tia sáng giễu cợt:

- Cậu nhầm đấy! Anh Nhẫn lại còn nói sẽ đề nghị tặng huân chương cho bộ phận các cậu là đằng khác.

- Thôi đi, cậu xuống ở dưới đơn vị xông pha bom đạn một dạo rồi cậu khắc biết làm một đường dây như đường "A.1" không dễ như cậu ngồi đây quan niệm đâu.

- Vừa ban nãy, mình nói thật đấy - Khuê nghiêm sắc mặt - dù sao thì đấy vẫn là con đường dây điện thoại khó nhất. Nào, cậu cho tớ biết những khó khăn hiện nay của các cậu?

- Khó nhất là người. Tôi đề nghị ban tham mưu cho thêm năm người.

- Hiện giờ còn mấy người?

- Ba thôi, cả tôi nữa.

- Chúng mình sẽ đề nghị tham mưu trưởng bổ sung thêm người - Khuê đáp – Những cậu hữu tuyến đã qua chiến đấu rồi hẳn hoi. Nhưng không có nhiều đâu, vừa đủ cho các cậu đặt hai tổ cố định phụ trách từng đoạn để kịp thời đi chữa khi bị đánh đứt... Còn gì nữa?

- Thứ hai là dây - trung đội phó chỉ cuộn dây điện cháy quăn, đứt nhiều chỗ treo trước cửa hầm - Cậu xem đó!

- Biết rồi (Khuê không nhìn ra). Cậu hãy cho anh em đi nhặt dây của địch mà dùng. Tớ thấy dọc đường 9 còn khối dây của thằng Mỹ để lại, chịu khó tìm có thể có!

- Như thế là không được bổ sung thêm nữa?

Khuê ôn tồn:
- Nếu ở sở chỉ huy còn dây thì mình tiếc với các cậu làm gì. Còn khó khăn gì nữa? Còn vấn đề thằng địch đánh rát quá phải không?

- Tất nhiên! - Anh trung đội phó đáp chủng chẳng.

Khuê nói bình thản:
- Mình sẽ đi với các cậu để tìm một con đường kéo dây tới 475 đảm bảo hơn, sẽ xa hơn con đường cũ, nhưng mình tin là các cậu có thể đảm bảo được.

Đồng chí trung đội phó thông tin tỏ vẻ ngạc nhiên, da mặt càng căng đỏ tía lên:
- Đi theo chúng mình? Bao giờ cậu có thể đi được?

- Đi ngay tối nay. Bảy giờ tối xuất phát được chứ? Mấy tối vừa qua mình đã tranh thủ mò đi trước để xem địa hình - Khuê chỉ bản đồ - Mình đã đi theo con đường này... Mình sẽ dẫn các cậu đi lại thử xem sao.

Từ hôm đó, Nhẫn cùng tham mưu trưởng chăm chú chờ đợi kết quả công việc của Khuê báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn. Sau một đêm và một ngày trôi qua, trung đoàn mới nhận được báo cáo của Lượng: "Bộ phận điện thoại do Khuê dẫn đi rải dây lên được tới chân 475 nhưng đường dây lại vừa bị đánh đứt!"

Vào buổi sớm ngày thứ hai, Nhẫn và Kinh đang hội ý công việc với nhau thì tham mưu trưởng vào với nét mặt buồn rầu:
- Thằng Khuê hy sinh rồi, anh Nhẫn ạ!

Nhẫn và Kinh đều quay về phía tham mưu trưởng.

- Tin ở đâu vậy? - Kinh hỏi.

Tham mưu trưởng rút trong túi áo đặt trước mặt hai người tấm "Chứng minh thư Quân giải phóng" và một vài thứ giấy tờ khác. Tất cả các thứ giấy tờ đúng là của Khuê rồi! Tham mưu trưởng báo cáo vắn tắt: Một cán bộ bên tiểu đoàn công binh sư đoàn bạn vừa tìm thấy một chiến sĩ vóc người bé nhỏ bị bom hy sinh dưới chân 475. Đồng chí đó đã chôn cất chu đáo, vẽ sơ đồ mộ chí và chiếu theo địa chỉ đơn vị gửi các tư trang của đồng chí tử sĩ về cho trung đoàn.

Nhẫn xếp tờ chứng minh thư và các giấy má, cả tấm sơ đồ mộ chí mà ngôi mộ đánh dấu bằng một ngôi sao đỏ vào túi bản đồ riêng bằng mê ca. Anh quay sang báo tham mưu trưởng: "Hãy bảo đại đội trưởng thông tin cho một tổ đi tìm bộ phận rải dây lên 475. Anh lệnh cho đi ngay!" Rồi Nhẫn vẫn bình thản tiếp tục trao đổi công việc với Kinh và sau đó điều khiển cuộc hội ý giao ban như thường lệ.

Kinh bỏ bữa cơm trưa hôm ấy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #62 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 02:45:38 pm »

Sau khi làm việc với một cán bộ tuyên huấn của cơ quan chính trị Mặt trận vừa mới xuống lấy tình hình, Kinh chắp tay sau lưng lững thững dọc con suối dưới chân đồi cửa sở chỉ huy trung đoàn. Gặp cậu chiến sĩ nào Kinh cũng bắt chuyện hình như để khuây khoả. Rồi ông trở về ngồi một mình hồi lâu bên chiếc hầm trước đây chính tay Khuê đã đào cho ông. Kinh trách thầm mình: Có biết bao nhiêu chiến sĩ và cán bộ trung đoàn đã ngã xuống vì nhiệm vụ một cách vinh quang, sao mình quá thương cảm đối với một cậu chiến sĩ quen thuộc gần gũi với mình?

Suốt đêm hầu như Kinh trằn trọc không ngủ. Thế là thằng Khuê hy sinh rồi! Ông tiếc. Giá thằng ấy còn sống nó có thể làm được bao nhiêu việc, cả bây giờ và về sau này nữa. Kinh nghĩ miên man đến những người chiến sĩ của mình trong trung đoàn. Chẳng phải tại đây trên chiến trường, chung quanh ông đang tập hợp những người thanh niên dũng cảm và đầy triển vọng tài năng của đất nước? Có phải đấy chính là điều mà thằng Trí, thằng con trai ông sắp đi học nước ngoài đã phát biểu trong bức thư gửi cho ông? Trong những ngày đang kháng chiến, ai chẳng có thể dễ dàng nhìn thấy tinh thần dũng cảm cũng như sự hy sinh cao quý của những người đang cầm súng đánh giặc. Nhưng còn về sau này, khi thằng con trai của ông từ nước ngoài trở về thì đất nước đã đổi thay, nó sẽ gặp những người anh hùng vô danh hôm nay trong tư thế và địa vị của những người bình thường, lúc ấy nó sẽ nói với họ điều gì phỏng nó có nghĩ như bây giờ?

Gần sáng Kinh nằm trong hầm bên cạnh cậu cần vụ mới, vừa chợp mắt được một lát đã bị đánh thức dậy bởi những loạt bom nổ làm rung chuyển các xà vỉ trên đầu.

Tiếng chuông điện thoại bỗng đổ lanh lảnh.

Kinh nhổm dậy, áp chiếc ống nghe lạnh buốt vào bên tai, cất giọng khàn khàn:
- Kinh đây, đồng chí là ai đấy?

- Khuê đây! Thủ trưởng nói chuyện với cậu Lữ trên 475 đi !

Kinh ngồi bật dậy, chân tay luống cuống, ông cứ rối rít như một đứa trẻ suýt nữa đánh rơi mất chiếc ống nghe. Ông hét vào máy chẳng ra câu kệ gì hết:
- Có thật thằng Khuê, mày thật đấy phải không?

- Khuê đây - Đầu dây bên kia Khuê vẫn nói chậm rãi và bình tĩnh - Thủ trưởng nói chuyện với đồng chí Lữ trên 475 đi!

- Lữ! Con đợi nhé! - Kinh vẫn thét vào máy điện thoại - Khuê nghe đây, thế mà ở nhà tao với anh Nhẫn vừa nhận được tin chính xác là mày đã hy sinh rồi!

Tiếng Khuê cười:
- Tin "phiễu” đấy, thủ trưởng ạ. Tôi đang sống đây! Tôi đang ngồi trong hầm anh Lượng đây mà! Thủ trưởng hãy nói chuyện với cậu Lữ kẻo cậu ấy đang sốt ruột.

- Con chào bố!

Kinh chợt nghe rõ tiếng Lữ, tiếng nói vừa quen vừa lạ của đứa con trai yêu quý chen giữa tiếng nói của Khuê. Kinh bàng hoàng bởi một thứ cảm giác lạ lùng. Ngay phút đầu tiên vừa nghe tiếng nói của con, Kinh cứ tưởng hình như đầu bên kia không phải đứa con của mình, mà chính là một chiến sĩ như tất cả mọi chiến sĩ khác, nghĩa là một người không còn bị phụ thuộc với ông bởi mối quan hệ gia đình nữa.

Lâu lắm Kinh lại mới được nghe cái tiếng rất trong trẻo của Lữ cất lên không phải ở nhà hay trên đường hành quân như những lần trước kia, mà ngay giữa mặt trận, ở đây.

Câu chuyện giữa hai bố con thật sôi nổi và "bốc đồng".

Kinh:
- Trên ấy sống thế nào, hả con?

- Chúng con sống vui vẻ, như ở nhà thôi . Bố có khoẻ không?

- Mày chỉ nói thế, cái thằng này chỉ tếu?

- Thật đấy mà, bố! Hồi đầu hôm chúng con vừa tổ chức một cuộc liên hoan.

- Liên hoan thế nào?

- Mấy đứa trinh sát chúng con hát và ngâm thơ qua máy vô tuyến điện cho anh chị em văn công nghe.

- Con phải biết rằng bố con mình được nói chuyện được với nhau như thế này là nhờ các đồng chí thông tin vượt qua mấy vòng lửa đạn mới mắc được con đường dây này. Có anh em đã hy sinh...

- Con biết. Bố không nhắc con cũng biết vậy. Ở chỗ con không có mảnh đất nào là không có mảnh bom đạn...

- À, anh ngầm khoe chỗ anh là điểm khó khăn ác liệt nhất chứ gì? Mà cũng đúng thế đấy? Người dát gan không "trụ” được trên 475 đâu. Con có sức mà "trụ” được cho hết chiến dịch không?

- Bố cứ yên chí ! Anh em chúng con trên này đều sống quen rồi, tinh thần vững vàng lắm. Bom đạn chẳng đáng xem mùi mẽ gì. Giá vắt cơm hàng ngày nhỉnh nhỉnh hơn một tý thì thật hoàn toàn ung dung!

Kinh hỏi:
- Trên ấy trung đoàn cho mỗi người mấy lạng?

- Lâu nay mỗi người chỉ được ăn mỗi ngày bốn lạng.

- Bốn lạng là có thể sống chiến đấu được rồi! Ngày xưa Nguyễn Trãi, Lê Lợi chỉ "cơm rau cháo giền" mười năm còn đánh giặc lấy lại nước được kia mà!... À này Lữ, mẹ mày vừa gửi thư cho bố.

- Mẹ có nhắc gì con không?

- Mẹ con nói rằng rất nhớ con! Bố sẽ gởi thư của mẹ mày và thư thằng Trí cho mà đọc. Bố con mình nói chuyện thế là đủ, để máy còn làm việc. Bảo với anh em rằng "nông trường 5" ở dưới này gửi lời hỏi thăm tất cả những người chiến sĩ gang thép trên 475 nghe không?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #63 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:01:22 pm »

CHƯƠNG 10

Khuê ngồi sát vách hầm, bên cạnh mấy chiến sĩ điện thoại đang lăn ra ngủ. Anh chăm chú theo dõi câu chuyện trao đổi giữa Lữ và chính uỷ Kinh.

Thỉnh thoảng Khuê mỉm cười: "Ông cụ Kinh nhà mình nói chuyện với con trai cũng chẳng khác gì nói chuyện với bộ đội". Câu chuyện giữa hai cha con người chính uỷ khiến Khuê nhớ lần đầu tiên mình khoác ba lô tới trung đoàn bộ nhận công tác cần vụ, chính uỷ Kinh cũng nói với anh bằng một kiểu cách gần như vậy.

Anh nhìn theo vệt khói đèn dù trắng lởn vởn trên nền trời đang rạng dần. Một ổ súng bắn tỉa bên ngoài hàng rào như vừa thức giấc thỉnh thoảng nổ một phát đánh chát vào phía trong đồn. Trời sáng được một lát thì Lượng và một chiến sĩ trinh sát từ trên hố cảnh giới bò về hầm, hai người dùng mũi dao găm gạt đất trên các khuỷu tay áo. Lượng hỏi Khuê công việc làm con đường dây vừa được hoàn thành. Lượng cười hỏi Khuê:

- Thế mà dưới sở chỉ huy cứ bảo cậu "đi đứt" rồi?

Khuê nói rõ về cái tin ấy:
- Có một cậu cũng là lính thông tin của sư đoàn vừa bổ sung về, cậu ta không có quần áo, tôi cởi chiếc sơ mi và chiếc quần dài của tôi cho cậu ấy mặc để đi chữa dây. Vội quá cũng chẳng xem trong bộ quần áo vừa cởi ra có giấy má đồ đạc gì, cứ thế đưa cho mặc. Hình như cậu ta tên là An, người bé nhỏ, gan và nhanh lắm. Cậu ta chẳng may tí nào, vừa nối xong mối dây, từ trên sườn đồi 475 chạy xuống thì bị một chập pháo. Thế là cậu ta bị hy sinh ngay tại chỗ.

Chờ cho Kinh và Lữ nói chuyện xong.

Khuê đưa ống nói cho Lượng:
- Anh làm việc với đài trưởng "A.1" đi!

Lượng tỏ ý lưỡng lự rồi quyết định:
- Cậu nắm được ý định của anh Nhẫn chắc hơn, cậu cứ nói chuyện với họ thì hơn.

Khuê gọi đài trưởng "A.1" . Hai người thống nhất kế hoạch hiệp đồng giữa tổ trinh sát của Lượng và đài quan sát pháo binh "A.1" . Cuối cùng, một lần nữa Khuê nhắc lại nhiệm vụ của đài "A.1" sẽ phải gọi bắn theo yêu cầu của trung đoàn mình. Đài trưởng "A.1" công nhận nhiệm vụ ấy, nhưng lại tỏ ý hoài nghi về cương vị người đang nói chuyện:

- Hình như đồng chí không phải tham mưu trưởng "nông trường 5"?

- Tôi là phái viên tác chiến của "nông trường 5" - Khuê nhấn mạnh ý kiến vừa phát biểu một lần nữa - Nhiệm vụ phối thuộc giữa hai bên đã được phòng tham mưu Mặt trận quy định và thông báo cho các trung đoàn trưởng. Tôi chỉ làm công việc nhắc lại với đồng chí để sau này khi cần thiết, hai bên tiện làm việc với nhau mà thôi!

Lượng đứng bên cạnh nghe Khuê nói chuyện với đài trưởng pháo binh Sông Cầu bụng nghĩ thầm: Làm sao mà khả năng của hắn tiến nhanh vậy? Bất kỳ nói chuyện với ai hay làm việc gì hắn cũng tỏ ra nắm chắc công việc, lúc nào hắn cũng tin vào khả năng của mình!

Lượng hỏi Khuê:
- Liệu con đường dây mới mắc với "A.1" có thể "họ" đến ngày tổ chức đánh lấn uy hiếp được không?

- Tôi tin anh em điện thoại lần này họ đảm bảo được. Tôi đã phải tìm một con đường dài gấp đôi nhưng chỉ có năm trăm thước chạy qua trọng điểm.

Khuê phát biểu thêm:
- Đáng lý theo nguyên tắc phối thuộc, bên Sông Cầu phải đảm bảo con đường dây này. Nhưng thôi, trước mắt anh bộ binh cần anh pháo binh chứ chưa phải đã đến lúc anh pháo binh cần đến chúng mình, những thằng bộ binh, để bảo vệ cho họ.

"Cái thằng này ghê gớm thật!". Lượng không thể nào nghĩ trước đây chỉ mấy tháng, Khuê còn là một tiểu dội trưởng trong đại đội trinh sát của anh. "Hắn tiến bộ nhanh lắm. Nom hắn vẫn như một thằng bé con vậy mà việc gì khó khăn đến tay hắn cũng làm được như không". Trong hàng ngũ cán bộ đại đội, Lượng đã là một người xông xáo và giầu năng lực, được trung đoàn trưởng vì nể. Nhưng giữa chiến trường, Lượng chưa bao giờ tỏ ra dám coi thường khả năng quân sự của Khuê, người mà có một hồi anh đã coi như một thằng trẻ con!

Một lần hai người nằm trên chốt, Lượng hỏi Khuê:
- Năm nay cậu bao nhiêu tuổi?

- Hai mươi.

- Tớ đoán chắc, đến năm hai mươi nhăm tuổi, cậu có thể làm trung đoàn trưởng được.

- Tôi làm sao được! Anh chỉ nói đùa...

- Tớ nói thật đấy!

Gần đây mỗi khi ngồi với nhau, các câu chuyện trao đổi giữa Lượng và Khuê chỉ đóng khung trong phạm vi công việc chung như vậy. Hai người không hay nói chuyện với nhau những chuyện đời tư như trước kia.

Khuê biết hiện giờ Lượng đang chú ý đến một người đàn bà có chồng mà Khuê có gặp qua một đôi lần. Đó là một người đàn bà đẹp, theo như lời bình phẩm của những tay trinh sát sành sỏi đã từng lăn lộn trên cái địa bàn này từ lâu thì "giá có đi khắp cả thung lũng Khe Sanh cũng không thể tìm dâu ra một bông hoa rừng rực rỡ hơn thế!".

Về phía Khuê, đứng trước tình hình ấy, một phần nào anh thấy hơi tự ái. Từ ngày vào chiến rường, Khuê không nói với Lượng thêm một điều nào về người chị ruột của mình hiện đang làm y tá ở trạm phẫu thuật 25 . Anh nhận được tin ấy và cũng không hề nói với Lượng. Về phía anh, anh muốn đến trạm phẫu thuật thăm chị nhưng lại ngại cái tính uỷ mị và đa cảm của đàn bà. Khuê đã hình dung ra cảnh tượng nếu anh tìm đến, thế nào chị trông thấy anh cũng khóc lóc như một đứa trẻ, và sau đó anh phải ngồi kể lể dòng dài đầu đuôi câu chuyện thương tâm đã xảy ra từ lâu ở nhà. Làm sao anh có thể chịu được những giọt nước mắt nhiều như mưa sa ấy? Chị anh vốn không phải là cô gái ít nước mắt!

Khuê nghĩ thế và với bản tính thích cứng rắn và dứt khoát, anh quyết định không đến thăm và cũng không tìm cách liên lạc gì cả, mặc dầu trạm phẫu thuật chỉ cách trung đoàn 5 khoảng gần một ngày đường.

Tuy vậy, bao giờ Khuê cũng vẫn thấy thương chị. Anh vẫn còn giữ tất cả những kỷ niệm về một người chị dịu dàng và hiền từ trong gia đình. Chị anh, Nết, là một cô gái thông minh và đảm đang, tuy đã thoát ly công tác nhưng vẫn còn mang nặng tư tưởng gia đình. Chị là con gái đầu lòng trong nhà. Con gái đầu lòng nhà nghèo đất đồng chiêm trũng thường vất vả. Bao giờ nghĩ về chị, Khuê cũng nhớ ngay tới lần chị anh ở đơn vị thanh niên xung phong được về phép. Lần đó nhà Khuê vừa bị trận bom đầu tiên. Đêm sáng trăng mờ mờ. Một quả bom rơi đầu hồi nhà khiến nửa mái nhà bay mất, chỉ còn những chiếc rui bằng tre trơ ra như hàng xương, ánh trăng lọt vào giường mấy anh em nằm. Quanh nhà chỗ nào cũng ngửi thấy mùi khét. Quãng nửa đêm, Khuê thấy một người đội nón, mặc áo bộ đội, quần đen, đi giày vải đến đứng bên giường. Cả Khuê và bốn đứa em cùng hét lên: "Chị Nết về! ". Khuê thấy chị mình thấp bé lủn củn, chẳng nhớn hơn được tí nào. Nhưng khi chị bỏ chiếc ba lô con cóc ra, anh ngạc nhiên thấy chị cao lớn và chững chạc, như một người lớn! Thế là mấy anh em liền quây lấy người chị vừa ở "tuyến lửa" về. Cái ba lô của chị to phồng nhưng mở ra chỉ có một bộ quần áo, còn toàn là thư. Chị bắc thang trèo lên ngồi ngất nghểu trên mái nhà như con trai. Lợp lại nhà xong, chị hối hả mang thư đến tận các nhà chúng bạn. Suốt một tuần lễ, cứ thế, có ngày đi bộ sang huyện bạn cách mười lăm, hai mươi cây số. Ngày nào cũng đi đến tối mới về, lại mang đủ thứ quần áo, vải, giày dép, cặp tóc, gương lược. Những thứ người ta gửi mang về xếp đầy một giường, những đứa em hỏi: "Rồi chị mang đi thế nào cho hết?". Chị ngồi gập chân trên giường, chỉ cười: "Làm sao mà tao không mang được, có gì?". Khuê ngắm chị thấy từ hồi đi ra đã lớn phổng phao và đẹp hơn thật. Những đứa em nhỏ cũng biết hỏi đùa: "Hay chị sắp lấy chồng?". Chị cau mày, rơm rớm nước mắt: "Công cha mẹ chưa báo đáp được gì, tao chưa lấy chồng! ". Ngày hết phép, chị lại trở vào "tuyến lửa", người ngập trong đống ba lô và túi dết hành lý. Chị lại đội chiếc nón như hôm mới về, trông cứ lủn củn như đứa bé. Ngày đó tàu hoả vẫn chạy suốt. Chuyến tàu chạy qua làng vào ban đêm để tránh máy bay. Mẹ Khuê và năm anh em cùng kéo nhau ra đứng bên đường tàu. Nết ngồi trên toa hàng chật ních, nhô nửa người ra ngoài cửa sổ khoát nón vẫy rối rít. Trong đêm tối, Khuê đoán lúc ấy giá nhìn được thế nào cả nhà cũng thấy chị mình đang khóc.



Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #64 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:05:55 pm »

Suốt buổi sáng, Khuê nghỉ trong hầm của Lượng. Hai người không hề nhắc đến việc gia đình nhà cửa một lời nào, chỉ bàn cái việc đánh nhau.

Khuê hỏi Lượng:
- Mấy hôm nay, công việc chuẩn bị tác chiến sắp tới, anh làm đến đâu rồi?

- Chúng mình đã nắm khá chắc cái thằng ngụy trước mặt.

- Anh đã biết ý định của anh Nhẫn về việc cử cán bộ chỉ huy trận đánh sắp tới chưa?

- Chưa, chắc là một cậu tiểu đoàn phó nào đó. Bởi vì lực lượng sử dụng lần này chỉ khoảng chừng một đại đội là cùng.

- Hình như anh Nhẫn đã bàn với anh Kinh, sẽ chỉ định anh.

Lượng đột ngột hỏi:
- Cậu có biết một cụ già cao lớn, người địa phương...

- Có ông cụ Phang đã giúp bộ phận trinh sát của anh hồi đầu phải không?

- Thằng con trai ông lão hiện đang ở trong chiến hào bọn ngụy, trước mặt chúng mình đây này!

Khuê cười cười và nhìn Lượng bằng cặp mắt sắc sảo:
- Thế là không khéo lần này anh chạm trán với nó?

*
*   *

Ngày đêm bom đạn vẫn giội trên đồi 475. Các chiến sĩ đài quan sát lại đang gặp thêm khó khăn về tiếp tế lương thực. Trung đoàn đóng ở xa, một vài đơn vị bộ binh trước đây đài thường dựa vào để được cấp gạo đã chuyển đi các chiến trường khác. Sau hôm nói chuyện với Lữ bằng đường điện thoại mới làm, Kinh lệnh cho chủ nhiệm hậu cần trung đoàn mang lên cho anh em pháo binh mấy bì gạo và một ít đồ hộp. Lần đầu tiên Lữ nhận được của bố gửi kèm theo chuyến gạo hai bức thư gia đình cùng một ít thuốc men. Lữ đem chia cho Moan nửa gói thuốc bổ "tăng lực", những viên thuốc bổ màu đỏ bên ngoài bọc đường giống như một thứ kẹo ngọt.

Giữa tháng ba, Cận đưa một số anh em trở về trung đoàn để lĩnh gạo và các thứ thực phẩm khác, lúc quay trở về đài, chỉ sau mấy ngày địa hình đã khác lạ hẳn đi: ở những chỗ trước đây địch ít đánh tới và dưới các khe giữa hai sườn núi mới mấy ngày trước vẫn còn những thân cây hoặc những bụi gai nho nhỏ, bây giờ tất cả đều bị đánh quang hết. Cận bắt được dưới chân đồi 475 một con chim điếc. Một bầy chim có con bé bằng hòn cuội, có con to hơn và tròn trịa như chim cu, lông cũng dày xam xám màu tro. Chúng đậu im trên mấy cái thân cây cháy đứng trơ trụi, giữa một vùng bãi bom B.52 tan hoang. Anh em bộ đội đi lấy gạo về tới sát gần bên cạnh, những con chim vẫn đậu yên. Họ thử nhặt đá ném, những hòn đá rơi đánh chát vào thân cây làm vỡ ra một lớp than nhưng bầy chim vẫn như chẳng nghe thấy gì hết. Chúng bị điếc!

Cận tìm thấy con chim điếc giữa một búi cỏ tranh khô xác. Những lá tranh đài và sắc như gươm đã úa vàng héo rũ xuống, phủ kín một cái hốc đá. Cận đứng nhìn con vật bé nhỏ đứng thu mình trong những đám lá tranh, tận trong hốc đá sâu. Anh ngồi xuống, nhẹ nhàng chìa bàn tay túm lấy đem ủ trong lần áo sợi dệt kim màu xanh sặc mùi mồ hôi và mùi dầu lau súng.

Cận chạy lạch bạch bằng đôi chân ngắn ngủn nom rất buồn cười đến bên cứa hầm máy, gọi rối rít:
- Lữ ơi, tớ mang quà về cho cậu đây này!

Lữ, Moan và mấy cậu trinh sát liền vây lấy Cận lúc ấy vẫn đang khoác trên vai những bao gạo hai chục cân khiến đầu cổ rụt cả lại. Giữa đất này mà kiếm được con chim cũng là điều thú vị. Mọi người ngắm nghía say sưa. Con chim Cận bắt được giống như con chích chòe nhưng bé hơn, sắc lông nhạt hơn, mào cũng nhạt hơn. Con vật đứng trên một chân, giữa cái lòng bàn tay ram rám rất dày của Cận, đưa cặp mắt lồi hơi vàng nhìn những người lính. Con vật xù lông, vẫy vẫy đôi cánh như sắp bay đi nhưng rồi vẫn đứng yên.

- Con này tên là chim gì vậy? - Lữ hỏi.

Tất cả các chiến sĩ xúm vào vỗ tay, huýt sáo rồi tranh luận ầm ĩ về cái tên của nó. Có người nói tên đó là chim "Pơla", có người cho là giống chim "Kirông".

- Chim bông lau đấy! - Cận thủng thẳng đáp.

Cuộc cãi vã thế là chấm dứt, ai nấy đều thống nhất ý kiến với Cận, người nổi tiếng là một nhà thực tiễn về động vật học. Các giống chim trên trời hay cá dưới suối, giống nào Cận cũng hiểu tường tận từ đặc điểm tính nết đến hương vị xương thịt.

- Các cậu này, chim bông lau thì phải thấy nó hót chứ sao không thấy nó hót? - Một cậu có cặp má bầu như con gái, hỏi rất ngây thơ.

- Cậu yên chí - Cận giải thích và trao con vật cho Lữ - Chốc nữa quen với chúng mình, nó sẽ hót cho mà nghe. Nhưng phải kiếm cái gì cho nó đậu, cái gì mềm mại một chút, một cái đọt lau chẳng hạn.

Một anh chàng trinh sát mắt xếch nổi tiếng vui tính cúi xuống nói chuyện với con vật:
- Chúng mình tìm đâu ra một cái gì mềm mại cho "anh bạn" được cái đất này? Dưới đất toàn mảnh bom là mảnh bom thế này ! Phải tập đậu trên cái mảnh bom mà hót chứ, như tớ đây này, lúc nào tớ cũng vui vẻ, cũng hát hò... !

- Cậu hát thì ma quỷ cũng không nghe được !

- Thế mà hôm nọ cu cậu dám hát cho văn công nghe, cứ y như người ta lăn cái thừng tô nô vậy!

Cận tiếp tục giảng giải:
- Người ta đặt tên giống chim này là bông lau bởi vì vào dạo nào các bãi lau trổ bông như cờ thì nó bắt đầu bay về đậu. Nó ưa đậu trên những rừng lau đang trổ hoa. Hồi ở nhà, chúng mình thường cắm nhựa trên các bông lau, hai thanh nhựa buộc chéo nhau, con chim xoè cánh bay tới đậu liền bị dính nhựa, con chim nào cũng dính hai thanh nhựa hai bên cánh. Chúng mình thường chọn con chim nào hót hay nhất làm chim mồi. Nhưng bất kỳ con chim mồi nào cũng không hót hay bằng con chim đã bay cao. Cái anh bông lau đến lạ! Càng bay cao hót càng khỏe và càng hay. Hồi ở nhà, vào mùa tháng năm khi hoa trổ bông, có khi chúng mình đánh được một lồng đầy chật ních, đem về vặt lông tẩm hành mỡ rồi rán lên, thật tuyệt, thịt nó còn thơm hơn thịt chim ngói hay chim cu cơ đấy!

Nhờ có Cận và Moan thỉnh thoảng giới thiệu nên Lữ đã biết thêm nhiều giống chim rừng. Thung lũng Khe Sanh trước đây là xứ sở của các loài chim. Chim đa đa chuyên môn lủi kiếm ăn dưới các lùm cây thấp. Khướu, chim vẹt, bay từng bầy trong các khu rừng rậm và khô ráo, ngày mới vào chiến rường, chỉ sau một trận mưa những người lính đã nghe khướu hót vang động cả rừng núi. Rồi chim sâu. Và một giống chim gì đó chỉ nhỏ bằng hòn cuội, lông cũng trăng trắng xam xám nom chẳng có gì đáng chú ý nhưng tiếng hót của nó còn ồn ào náo nức hơn tất thảy mọi loài chim khác. Ngoài ra còn chim xanh, rất nhiều loại chim xanh, có con mỏ vàng, con mỏ đỏ. Nhưng ở đây chính là xứ sở của các loài chim lớn và quý: Công từ rừng Lào bay về tùng cặp thường đậu trên các vạt đất thấp và bằng phẳng. Các chiến sĩ trinh sát hồi mới vào chiến rường thỉnh thoảng hay đứng nấp sau các bụi cây để mải mê xem một đôi công múa. Ở đây còn là xứ rừng của chim đại bàng: Đại bàng thường đậu trên các đỉnh núi đá. Lữ đã được trông thấy trên đường giao liên cái dáng một con đại bàng đang vỗ cánh trên một chóp núi đứng nghiêng nghiêng, giống như trong bức tranh chỉ còn thấy treo ở các gia đình có người già và các nhà hoạ sĩ bây giờ không còn ai vẽ nữa. Hồi ở nhà, Lữ được đọc một cuốn sách nói mỗi giống chim có một chỗ ở quen thuộc, có giống quen ở rừng, có giống quen ở biển, có giống quen ở thảo nguyên hay vùng đồng bằng. Chim đại bàng là loài chim cánh cứng có thể bay đi khắp nơi. Tuy vậy đại bàng cũng chỉ tìm nơi đậu ở các cánh rừng đại thụ. Ngay giữa những khu rừng đại thụ, nó cũng tìm chỗ đặt chân trên các mỏm núi đá cao, dáng con đại bàng đậu bao giờ cũng im phăng phắc, như một cái mỏm đá trơ trụi.


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #65 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:10:15 pm »

*
*   *

Khoảng một vài tuần, Cận lại trực tiếp dẫn anh em về trung đoàn lĩnh thực phẩm và nhân tiện dự các cuộc họp cần thiết hoặc để hội ý công tác Đảng. Một lần trước khi trở về đài Cận dự một cuộc họp tổ Đảng của trung đội trinh sát.

Giữa một chục đồng chí Đảng viên từ các đài quan sát và các mặt trận trở về ngồi chung quanh ngọn đèn. Mặt trước lán, phía nhìn thẳng xuống suối căng tấm ny lông để che bớt ánh sáng ngọn đèn bão. Các Đảng viên ngồi quây quần trên tấm sạp nứa. So với ngày bắt đầu chiến dịch, trông khuôn mặt người nào cũng dày dạn hơn và đã gầy đi. Mấy tháng qua, họ chia nhau đi chiến đấu và lãnh đạo quần chúng ở các đài quan sát nên ít khi có dịp gặp nhau đông đủ.

Các đảng viên tự kiểm điểm vai trò của mình và nhận định những quần chúng tốt trong trung đội, những anh em có thể đưa vào “diện" chuẩn bị kết nạp.

Cận là người từ lâu đã được tổ Đảng phân công phụ trách Lữ. Sang phần nhận định quần chúng, Cận nhận xét Lữ là quần chúng tốt và anh nêu ý kiến có thể đưa Lữ vào "diện" bồi dưỡng. Anh chỉ phát biểu một vài lời ngắn ngủi rồi lại tiếp tục ngồi bó gối nghe các đồng chí khác.

Tổ trưởng Đảng, một đồng chí đại đội phó phụ trách trung đội trinh sát, tóc húi móng lừa, cổ quấn mảnh vải dù pháo sáng, anh thấy ý kiến của Cận quá vắn tắt nên phải hỏi lại lần nữa:

- Đồng chí Cận nhận định Lữ thế nào?

- Cậu ấy tốt - Cận đáp - Tôi thấy có thể kết nạp được!

Tổ trưởng Đảng muốn biết thêm:
- Đồng chí đã tuyên truyền giáo dục "quần chúng" được mấy lần?

Cận báo cáo thành thật: - Tôi có khuyết điểm... chưa tuyên truyền giáo dục được lần nào cả!

- Trên đấy bận lắm hả? - Một đồng chí thuộc tiểu đội khác hỏi.

- Chẳng phải đâu - Cận trả lời ngượng nghịu - Tôi thì chẳng biết lý luận gì cả, mà quần chúng thì có văn hoá...

- Nhưng quần chúng có mến phục đồng chí không? - Tổ tưởng Đảng gợi ý thêm - Trong chiến đấu và cả trong công tác hằng ngày, đồng chí có gương mẫu trước quần chúng không?

- Về những mặt ấy thì tôi làm được, các đồng chí cứ yên chí !

Tổ Đảng đã nhận định những ý kiến chính xác: Lữ là một đoàn viên có ý thức phấn đấu và rèn luyện, xuất thân gia đình tốt nhưng bản tính hãy còn là một anh học sinh. Tất cả các đồng chí trong tổ cũng đều biết Cận là một đảng viên thuộc thành phần cơ bản vốn nghèo khổ từ bé, tuy trình độ lý luận và văn hóa còn kém nhưng có trình độ giác ngộ giai cấp và chiến đấu hết sức dũng cảm.

Tổ Đảng quyết định giao cho Cận tiếp tục phụ trách quần chúng Lữ, tuyên truyền giáo dục về Đảng cho Lữ.

Từ hôm dự cuộc họp, Cận trở về đơn vị tỏ ra hết sức lo lắng. Anh không biết với trình độ lý luận của mình sẽ ăn nói với quần chúng những chuyện gì? Tuyên truyền giáo dục về Đảng cho quần chúng ư? Vậy thì nói chuyện gì? Cận nhớ trước khi anh được kết nạp vào Đảng, người phụ trách dìu dắt anh cũng chẳng nói với anh nhiều lắm. Lý luận nào đã thuyết phục Cận vào Đảng? - Chính là cuộc đời nghèo khổ của anh, điều đó chẳng cần một thứ lý luận nào cao xa cả. Anh đến với Đảng như một điều tất nhiên, như đời anh phải có Đảng mới có quyền sống và quyền làm người. Anh cần Đảng như người ta cần có cơm ăn, áo mặc và phải có không khí để thở.

Cận là đứa trẻ mồ côi. Năm 1954 kháng chiến kết thúc, anh lên mười một tuổi và vẫn đi ở. Anh chỉ biết gia đình người chủ nhà mà chưa biết họ hàng gia đình nhà mình. Đến hồi "cải cách", Cận mới hoàn toàn được giải phóng. Anh được chia một gian nhà rộng thênh thang trong một toà nhà ngói bảy gian hết sức đẹp đẽ. Anh còn bé ở một mình không tiện nên ra chùa ở chung với vợ chồng "ông sư" ngoài đầu làng. Suốt những năm kháng chiến vị "sư ông" đảng viên trong làng nhiều lần buộc tóc giả lên đầu và xách mã tấu đi chém Tây giữa chợ. Hoà bình lập lại nhà sư để tóc cua và lấy vợ. Vợ nhà sư là một chị gái goá, cũng là đảng viên trong làng, chồng trước làm trung đội trưởng du kích bị Tây bắt mổ bụng. Hai vợ chồng "nhà sư" đã tuyên truyền giáo dục và đứng ra giới thiệu Cận vào Đảng. Ngày ấy, hai người đã nói chuyện với Cận lúc bên cầu ao nhà chùa, lúc bên cái cối xay, tất cả câu chuyện tóm tắt chỉ có một câu: "Đảng là của giai cấp nghèo khổ!..." Cận hiểu câu ấy thấm thía vì chính anh là người của giai cấp nghèo khổ. Biết về mình, bao giờ anh cũng biết trước hết cái điều ấy. Suốt cả quãng đời trẻ thơ, anh chỉ biết có một điều mình nghèo và khổ.

Chẳng phải đối với Cận mà với nhiều người, từ khi Đảng hãy còn hoạt động trong bóng tối, những người đảng viên đầu tiên đã tìm đến những người nghèo khổ để tuyên truyền, phát triển Đảng. Trong ý thức của người nghèo đã sẵn có ý thức Đảng, cũng như cái quả có hạt. Suốt mấy chục năm, hạt giống ươm và nảy mầm trên miếng đất ấy. Những hạt giống đã mọc lên thành rừng cây. Nhưng có điều thực tế là cho đến ngày hôm nay, Đảng đã đào tạo được một thế hệ thanh niên mới. Bàn tay họ đã được cầm bút, con mắt đã được nhìn vào mặt nhiều cuốn sách, tất cả được nuôi nấng lớn lên trong một chế độ xã hội tốt đẹp và công bằng. Đời sống vật chất trong gia đình của họ tuy chưa phải là giàu có nhưng cũng có thể gọi là tạm đủ. Hôm nay, những người thanh niên ấy đang cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Họ đang tìm đến với Đảng bằng những hiểu biết và lý tưởng xã hội đẹp đẽ mà Đảng đã giáo dục cho họ từ khi còn là những thiếu niên mang khăn quàng đỏ.

Vậy thì hôm nay, công việc tuyên truyền giáo dục cho họ sẽ ra sao? Đảng sẽ nói với những người quần chúng trẻ tuổi ấy những điều gì?

Một hôm, Cận xách hai chiếc ống vầu xuống chân dốc lấy nước. Gạn hàng tiếng đồng hồ mới được hai lưng ống vầu. Khi quay trở về, Cận ghé vào hầm máy bảo nhỏ với Lữ :

- Bao giờ rỗi cậu lên chỗ tớ... tớ muốn nói với cậu một việc này...

Lữ hỏi bằng giọng vồn vã:
- Việc gì vậy hả anh?

- Nhưng cậu có rỗi không đã?

- Tôi đang rỗi rãi đây.

Cận bảo Lữ đi theo mình. Tổ trinh sát ở hai cái hầm trên sườn dốc cao nhất. Hầm của Cận xếp đầy những chiếc mặt nạ phòng hơi độc, quần áo ngụy trang, thước đo và bàn đạc. Cận dựa cái ống vầu nước bên bậc cửa, ngồi xuống giữa đống áo ngụy trang ban đêm, bên cạnh một đồng chí trinh sát nằm quay mặt vào bên trong đang ngủ say. Lữ đoán thấy Cận đang sửa soạn nói với mình một câu chuyện rất quan trọng nhưng anh lại mở đầu bằng những chuyện đâu đâu :

- Dạo này đang là tháng hai ta - Cận ngước nhìn ra ngoài bầu trời se lạnh hơi tai tái - Vào vụ này ở nhà quê tớ là mùa đánh cò. Trời lạnh, lại có gió may, đấy chính là mùa cò, vạc! Cậu biết không? Sau ngôi chùa đầu làng mình có một lùm tre rậm lắm. Đêm nào cò cũng về đậu trắng trên các ngọn. Tớ cứ leo lên đấy ngồi, mặt quay về hướng gió, cầm một hòn đá ném ra phía trước mặt. Thế là cả họ hàng nhà cò kêu váng lên, chúng cứ theo chiều gió mà bay giạt đi từng đàn. Tớ chỉ cần quơ hai tay một lúc cũng túm được vài cặp. Họ nhà cò là giống rất lười, chẳng bao giờ chúng chịu bay đậu nơi khác đâu. Chúng kêu váng, bay loạn xạ một lúc lại quay về ngủ chỗ cũ. Mình lại móc túi lấy một hòn đá khác. Cứ thế suốt đêm. Đánh cò bằng cách thô sơ như thế, mỗi đêm cũng kiếm được vài chục con là ít.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #66 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:13:04 pm »

Cận nói "chuyện cò chuyện vạc" một lát rồi mới bắt đầu vào câu chuyện chính:
- Vừa qua mình về đại đội, các đồng chí trong tổ Đảng có ý kiến nhận xét về cậu.

- Các đồng chí thấy tôi thế nào hả anh? - Lữ hồi hộp hỏi Cận.

- Chúng mình nhận xét cậu chiến đấu và công tác được, có ý thức phấn đấu rèn luyện... nhưng tính nết hãy còn "học sinh viển vông" thế nào ấy.

Lữ đáp thành thực:
- Các đồng chí nhận xét khuyết điểm của tôi rất đúng. Tôi biết mình hãy còn non nớt, cần phải thử thách trong công tác và chiến đấu nhiều hơn nữa.

- Cậu được kết nạp Đoàn ở nhà trường phải không?

- Phải.

- Từ bao giờ?

- Từ năm tôi mười sáu.

- Cậu có nguyện vọng vào Đảng không?

- Có. Đấy là nguyện vọng thiết tha nhất của tôi...

Lữ chăm chú nghe Cận phát biểu một hồi. Anh nói chuyện về Đảng, về tôn chỉ mục đích, về vai trò của Đảng viên. Cận càng nói càng tỏ ra lúng túng khó nhọc, như "đánh vật" với chữ nghĩa và các vấn đề khái niệm. Cuối cùng, Cận kết luận:

- Tớ chỉ mong hết chiến dịch này... tớ được giới thiệu cậu vào Đảng.

- Anh cứ tin ở tôi. Tôi hứa sẽ cố gắng! ... Lữ cảm động và cũng trở nên lúng túng. Anh ngồi im. Trong ý thức, anh hiểu đây là chuyện hết sức nghiêm chỉnh và quan trọng đối với cả cuộc đời của mình. Nhưng cũng không phải là chuyện nói cho hay, mà phải biểu lộ ra bằng công việc làm, chăng hạn như Cận...

Hồi ở trên đài Q.4, Cận thường dạy cho Lữ một miếng võ ta. Bất ngờ, Lữ ôm ngang lưng Cận, rất chặt.

- Buông ra! - Cận kêu to và biết rằng Lữ đang muốn tỏ dấu hiệu được gần gũi mình.

Lữ càng xiết chặt hai cánh tay, mặt đỏ bừng:
- Tôi đã "khoá" anh rồi đấy nhé!

- Được nhé, được nhé! - Cận quay nửa người trong tư thế đang ngồi, một cánh tay nhanh nhẹn quờ về sau. Trong một chớp mắt, chỉ bằng một tay, Cận đã vật đánh đét anh chàng Lữ lẻo khoẻo xuống nền đất.

- Thằng tồi! - Trông Cận linh hoạt hẳn lên, và anh mắng Lữ bằng giọng thân mật âu yếm.

Cậu trinh sát viên đang ngủ bên cạnh choàng thức dậy, càu nhàu mấy tiếng rồi díp đôi mắt lại, tiếp tục ngủ ngon lành. Lữ nằm "đo ván" trong góc hầm tối, tự nhiên một giọt nước mắt vỡ từ bên khoé mắt. Không khí ẩm ướt trong hầm khiến Lữ nhớ lại tất cả cảm giác hiu quạnh lúc anh nằm một mình dưới cái khe sâu dạo nào, lúc ấy Cận đang đi tìm anh... Ánh sáng ngoài cửa rọi xiên vào, viền một đường chung quanh cái thân hình chắc lẳn của Cận, y như một vầng hào quang - "Một người thật bình thường sao mà khi đứng trước kẻ thù đã lẫm liệt như vậy?" Một niềm vui phấn chấn tràn ngập tâm hồn Lữ. Niềm hạnh phúc của người ta có khi chỉ vì được đứng bên cạnh một người khác, được dẫn dắt bởi bàn tay một người khác - "Anh Cận, Lữ nằm đó suy nghĩ, những điều quan trọng anh vừa nói, tôi hiểu hết. Có lẽ tôi còn có thể nói hay hơn anh, nhưng làm sao tôi có thể làm như anh? Anh là người chân thực và dũng cảm, một người không quen nói mà chỉ quen nhận lấy những phần việc khó khăn nhất Các đồng chí nhận xét về tôi rất đúng. Tôi vẫn còn chưa thay đổi được dáng dấp một cậu học sinh non nớt hay suy nghĩ viển vông! Tôi đã được tham gia chiến đấu nhưng vẫn chưa được thử sức trong những hoàn cảnh khó khăn nhất Tôi không muốn làm con chim bông lau, nhưng chưa thể trở thành con đại bàng có đôi cánh cứng có thể một mình bay qua giông bão!".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #67 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:16:38 pm »

CHƯƠNG 11

Thằng Kiếm, thằng lính ngụy con trai ông lão Phang vừa gặp một chuyện rủi ro. Thế là con vợ thứ hai của hắn, một người đàn bà tóc quăn lăn đùng ra chết vì một mảnh đạn đại bác 105 ly. Thằng Kiếm chẳng biết khóc lóc vì thương tiếc hay nên nguyền rủa cái con đĩ người lai hay mặc quân phục lính Mỹ ấy?

Thằng Kiếm được phong cấp thượng sĩ từ đầu mùa xuân, từ những ngày "Việt cộng" mới bắt đầu nổ súng bao vây đồn Tà Cơn. Mới cách đây chừng một tháng, tên thiếu úy phụ trách trung đội của hắn, một thằng học sinh trẻ măng nhưng bướng bỉnh, tốt nghiệp sĩ quan Đà Lạt, bị một viên đạn bắn tỉa từ bên ngoài hàng rào bắn trúng bả vai. Thằng Kiếm liền được chỉ định thay thế. Trung đội hắn lên cầm quyền chỉ huy nằm trong một đại đội lính ngụy làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài cho lính thuỷ đánh bộ. Giữa một buổi chiều, hắn đang thét lác một tên lính trong trung đội về tội định đào ngũ thì nhận được tin con vợ hắn chết. Một cái chết đến nhục nhã! Một quả đạn trọng pháo đã bắn trúng giữa nóc chiếc hầm một tên lính Mỹ và con vợ hắn đang ôm nhau ngủ. Bọn lính gác sân bay tìm thấy xác cả hai đứa, không đứa nào còn một mảnh vải trên người. Khi hắn đến, vợ hắn vẫn còn nằm loã lồ, trong tay cầm một chai nước ngọt, giữa một đống bao đựng đất lát hầm dệt bằng sợi hoá học.

Hắn liệm xác con vợ trần truồng và không kịp tắm rửa trong một tấm vải bạt bọn lính gác sân bay thường dùng làm băng ca đưa thương binh. Khi con vợ hắn còn sống nhiều lần nó đã trắng trợn công khai ăn ngủ không biết bao nhiêu thằng đàn ông. Tuy vậy khi nó chết, hắn lại thương tiếc thực sự, như thương tiếc một quãng đời đã qua của hắn. Hắn ngồi úp mặt trong hai bàn tay, bên một dãy tường đất chắn bằng những tấm sắt lát sân bay có những cái lỗ tròn tròn như những con mắt người chết đang nhìn hắn. Làm sao trong cái thế giới Tà Cơn nhiều tiếng động ồn ào của máy móc vậy mà hắn vẫn thấy hiu quạnh? Hắn ngồi yên lặng cạnh nấm mộ mới đắp bên chân dãy tường đất dùng làm bức rào bãi tha ma chung của lính ngụy, chợt nhớ lại những ngày hắn mới được vào quân ngũ, mình bó trong bộ quần áo chẽn của lính biệt kích, tung hoành ngang dọc suốt con dường 9 từ Huội San sang Làng Vây. Đó cũng là ngày hắn mới gặp “nàng Lê-dy" lần đầu tiên dưới một cái tán dù có những chai rượu màu óng ánh. Một đám đông bọn lính ngụy người Kinh cứ vây lấy người con gái ấy, giữa điệu nhạc dậm dựt, cuồng nhiệt như toát ra tù tâm hồn "nàng" (!).

Con vợ thằng Kiếm tên thực là Lai. Bọn Mỹ đặt lại tên là "Lê-dy" . Những thằng lính ngụy ăn chơi từ trong Sài Gòn ra gọi là "Nàng Lê-dy". Đó là một đứa con gái hoang: Mẹ không biết là một người đàn bà ở làng bản nào, bố là một tên lính viễn chinh Pháp đã hiếp người đàn bà tội nghiệp, trong một trường hợp nào đó. Người đàn bà đẻ ra một đứa con gái. Khi lính Mỹ kéo vào vùng đường 9 thì đứa con gái sống lang thang đã ngoài 20 tuổi, được nhận vào làm công việc tiếp tế rượu và nước ngọt cho các đơn vị viễn chinh Mỹ và bọn lính biệt kích người Việt đóng trên đất Lào. "Nàng Lê-dy mắt xanh" , một con đĩ Mỹ, có nước da trắng như đầm đã mê cái tính dũng mãnh man rợ của thằng Kiếm như mê một thứ "mốt" lạ. Chính nó đã cầm tay dắt thằng Kiếm đi vào chốn ăn chơi đầy vẻ kỳ lạ của "thế giới tự do". Nó đã từng phản bội bao nhiêu thằng khác, có thằng là sĩ quan hẳn hoi để đem cuộc đời gắn với thằng Kiếm, một thằng Kiếm được nó đưa đi ăn uống nhảy nhót và xem xinêma. Hắn hiểu dần dần.. Xe cộ, chai nước giải khát Côcacôla, thuốc lá Ruby và Xalem, thuốc ngủ có định giờ... Ngày đó Lê-dy gọi hắn bằng cái biệt hiệu bọn biệt kích ưa thích: "Tướng Kỳ!". Tướng Kỳ là như thế: một thằng lính biệt kích có ria mép xông xáo hùng hổ, một thằng cao bồi Mỹ biết ôm gái trên đầu gối và bắn súng bằng cả hai tay. Lê-dy yêu hắn cũng vì thế, vì hắn khoẻ và dai sức, lại ngổ, không bao giờ thèm suy nghĩ mà chỉ biết hành động. Thằng Kiếm đúng là một "con người của tương lai". Con đĩ đã sống lâu trong doanh trại bọn lính Mỹ nên tính toán rất thực tế. Bám lấy thằng Kiếm, rồi hắn sẽ làm đến cấp đại tá chưa biết chừng! Trong quân đội quốc gia đang cần loại người hành động đơn thuần và quyết liệt như thế.

Tuy vậy, một đứa con gái đĩ chuyên môn phục vụ bọn lính trong doanh trại làm thế nào có thể trung thành với thằng Kiếm? Cũng như hắn, cái thằng sinh trưởng và lớn lên từ bản Chây, làm sao hắn chỉ biết có một mình nàng? Hắn vẫn nhớ Xiêm. Con vợ mới làm sao đẹp và ngoan bằng Xiêm ngày xưa? Thật .ra, hắn đã gần hoàn toàn trở thành một con người khác rồi ! Ngôi nhà sàn vững chãi, ổ gấu chó, chiếc cầu thang bằng gỗ có chín bậc mỗi bậc khi đặt bàn chân lên lại cất lên một tiếng ken két với âm điệu vui tai khác nhau. Khoảng rùng le sau nhà mỗi khi sang hè, lá le khô khảm bạc trắng các cành cây. Mặt đất vang dội tiếng vó ngựa phi lộp cộp, tiếng ngựa hí dài đây đó trong rừng sâu. Những con chó săn lông màu gio, mình dẹt như bị ép lại, cong mình nhảy vun vút trước vó ngựa. Tiếng chó săn sủa trong một góc rừng nào đó, ở bên cạnh nghe mới kích thích làm sao! Thằng Kiếm đã quên hết tất cả mọi kỷ niệm mọi cái gì thân thuộc thuộc về một cuộc sống ở gần gia đình, làng bản. Bây giờ mỗi khi đứng trước một sườn núi, một khóm rừng, lẽ tất nhiên hắn.phải suy nghĩ ngay lập tức đến những câu hỏi : "Việt cộng" có thể nấp ở góc nào ? Rừng thưa hay có gai khiến việc vận động dễ dàng hay khó khăn? Rừng đã được máy bay phun thuốc độc hoá học làm trụi lá hay chưa? Máy bay trinh sát và trực thăng võ trang có thể yểm hộ trên đầu cho hắn đến mức độ nào? Hắn, chính hắn đã sợ từng gốc cây. Chung quanh vùng này, từ phía bắc xuống phía nam, phía sau mỗi gốc cây đều có thể có một mũi súng sẵn sàng nhả đạn vào hầm. Có thể là một tên "Việt cộng", có thể là bố hắn. Gốc cây nào cũng có thể giết hắn. Từ trước tới giờ hắn đã vốn ít suy nghĩ, từ ngày vào lính biệt kích hắn chỉ quen nghĩ bằng những câu hỏi và những cậu trả lời vắn tắt. Ví dụ : Bố là gì? - Bố là người đã đẻ ra hắn và đang thù ghét hắn: - Việt cộng là gì? - Là những người hắn đang đánh nhau, thường sử dụng tiểu liên A.K - Lính biệt kích là gì? - Nguy hiểm nhưng tự do, ít phải mó tay vào cán xẻng để đào công sự. Cũng bằng một cách tương tự như thế, hắn đặt câu hỏi: - Hắn là gì? Hắn là gì? Hắn không trả lời được. Hắn chỉ trả lời được một câu hỏi về người vợ cũ của hắn - Xiêm? Đó là một người con gái đẹp, một người đàn bà đẹp và giản đơn như một người đàn bà bằng cao su hắn có thể vừa hành hạ vừa ôm ấp suốt đời. Còn như Lê-dy tuy là vợ hắn nhưng không bao giờ là của riêng mình hắn, bởi vì đó là con đĩ chung của sĩ quan ngụy, của lính Mỹ, của đủ thứ sĩ quan và binh lính đang tranh thủ sống gấp! Có phải chăng, giữa khi hắn đang chạy trong đám quân thất trận một cách khổ sở, chính bọn sĩ quan đã có công đón vợ hắn vào đồn Tà Cơn? Trước khi con đàn bà tóc xoăn mặc quân phục lính Mỹ ấy chết, chỉ riêng ở chiến hào vòng ngoài, nó đã có hai thằng chồng chính thức : Thằng Kiếm và tên trung uý đại đội trưởng của thằng Kiếm. Tên này là một thằng sĩ quan ngụy có đầy đủ tư cách một tên mật thám giết người. Ngoài ba mươi tuổi, tự xưng là người anh hùng của nền "tân cộng hoà" (đối lập với nền cộng hoà gia đình trị của Ngô Đình Diệm đã bị đánh đổ từ lâu), khuôn mặt lưỡi cày bé choắt, miệng lại rộng và đầy răng vàng, tên đại đội trưởng thường ngoác cái miệng ra tận hai bên mang tai để nói phét bằng giọng ba hoa của một tên mật thám đang chực chăng bẫy. Ngày xưa hắn đã từng làm liên lạc theo một viên đại uý tin cẩn nhất của tướng Dương Văn Minh đi lùng bắt anh em Ngô Đình Diệm, hắn cùng viên đại uý chui xuống một con đường hầm bí mật có nhiều ngách và nhiều cửa tự động, con đường hầm mà khi xây xong, Ngô Đình Nhu đã đem bắn tất cả các tên lính công binh đã tham gia xây dựng. Hai thầy trò hắn tìm thấy anh em Ngô Đình Diệm trong ngách hầm dẫn ra sông Sài Gòn.

- Thật là một buổi tối lịch sử, như xinêma! - Một đêm tên đại đội trưởng ngồi giữa đám lính và hai tên thiếu uý trung đội trưởng, xệch miệng ra ba hoa - Chính bàn tay tao đã gí mũi súng lục vào tận mang tai con "sư tử già" để bắn phát súng kết liễu! Chính con mắt tao đã trông thấy "con sư tử già" giãy chết, mình oằn oại trên nền xi măng của con đường hầm không có lối thoát ấy!

- Vậy con đường hầm hiện nay thì thoát ra lối nào? - Tên trung đội trưởng vừa tốt nghiệp sĩ quan Đà Lạt, mặt non choẹt và bướng bỉnh, bất chợt buông một câu hỏi.

- Con đường hầm nào? Cậu hỏi con đường hầm nào? - Tên đại đội trưởng liền trở mặt, bọt sùi cả hai bên mép - Cậu muốn hỏi con đường của Tổng thống Thiệu và tướng Kỳ hiện nay phải không? Cậu muốn ám chỉ cuộc tấn công đồng loạt của "Việt cộng" đang làm cho cậu run sợ phải không?

- Tôi chỉ muốn nói cái con đường hầm anh và tôi đang ngồi đây - Tên trung đội trưởng trả lời.

- Đây là chiến hào... Cậu thật là thằng sĩ quan "ăn cháo đái bát", thằng phản bội!

- Chui rúc như một bầy chuột mà là chiến hào ư?

Mối mâu thuẫn ngấm ngầm giữa hai tên sĩ quan ngụy lần đó kết thúc bằng lời đe doạ trắng trợn của tên đại đội trưởng - "Tao sẽ báo cáo lên trên bỏ tù mày? Đ.mẹ, tao chỉ muốn lấy bằng chứng trên cái lưỡi của mày thôi, chứ cái đầu óc của mày, tao biết lâu rồi! ".

Thằng Kiếm cũng có mặt trong buổi nói chuyện to tiếng ấy. Hắn bỏ ngoài tai tất cả những cuộc tranh luận như thế hoặc tương tự như thế, giữa bọn chỉ huy cấp trên và bọn lính trong trung đội của hắn. Thật ra hắn không hiểu. Bây giờ, hắn đã có thể nghe và nói thạo tiếng Kinh (một thứ tiếng Kinh pha đôi tiếng Anh thông dụng của bọn lính) nhưng hắn không tài nào hiểu những "chuyện chính trị". Giàng ôi ! Trong chiến hào không những chỉ có đồ ăn nguội và giấc ngủ thảng thốt, những trận pháo kích và phiên cảnh giới. Bao nhiêu là rắc rối từ khi hắn cầm lấy khẩu súng, những điều rắc rối hắn không thể trả lời được. Tên thiếu uý trung đội trưởng của hắn bị một viên đạn bắn tỉa tưởng được thoát chết trở về phía sau, nhưng một hôm, khi tên đại đội trưởng gọi thằng Kiếm tới trao nhiệm vụ phụ trách trung đội, tên đại đội trưởng cho hắn biết "người mà mày thay thế đang nằm trong hầm giam trong kia rồi!".

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #68 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:22:03 pm »

- Vì tội gì vậy? - Thằng Kiếm hỏi lơ đễnh.

- Mày không cần biết - Tên đại đội trưởng bông đùa - mày hãy làm một thằng "mọi cao bồi" như thế rất tốt, rất tốt cho cả mày và cho quân đội quốc gia. Học những thằng hiểu biết mà dại dột để làm gì? Ở trên đời chẳng nên biết nhiều. Mày nên biết mày chỉ là một khẩu súng cực nhanh, là đứa cho cấp trên sai bảo. Về hãy nắm thật chặt cái trung đội ấy. Toàn là những thằng bất trị đang chực rủ nhau đào ngũ hàng loạt về bên Việt cộng cả đấy! Toàn là những thằng cóc có chút "lý tưởng quốc gia" nào cả đâu ! Nhưng tao giảng những chuyện ấy cho mày nghe làm gì nhỉ? Mày chỉ nên nhớ chính tao đề nghị cất nhắc mày, tao coi mày như kẻ đồng sự, đừng quên điều ấy !

"Ở trên đời chẳng nên biết nhiều !... Chính tao đề nghị cất nhắc mày!"... Thằng Kiếm chỉ nhớ kỹ nhất hai câu ấy. Hắn biết tên đại đội trưởng đã đề nghị lên trên cất nhắc hắn. Đừng quên điều ấy ư? Hắn không dám quên, cũng như hắn không quên lời khuyên "Ở trên đời chẳng nên biết nhiều" một lời khuyên đúng đắn hợp với hắn. Duy có một điều hắn đã trót biết và từ lâu, vẫn phải làm như không biết: Tên đại đội trưởng thường công khai ngủ với vợ hắn trong chiếc hầm hai ngăn nằm lùi về phía sau dùng làm sở chỉ huy đại đội.

Hắn căm giận tên đại đội trưởng tím ruột. Từ lâu, hắn mang mối thù ấy trong lòng như cái nòng súng cối mang quả đạn chưa phóng đi. Hắn đã làm ngơ không phải vì khôn ngoan hay dát gan mà vì cái triết lý đúng đắn "Ở đời không nên biết nhiều". Từ ngày được lên chỉ huy trung đội, hắn lại càng phải làm ngơ hơn. Nhiều lần hắn phải bò sát dưới làn pháo kích của "Việt cộng" đến hầm sở chỉ huy để báo cáo công việc, giữa lúc tên đại đội trưởng và con vợ hắn đang ôm nhau ngủ. Cập mắt hắn trắng dã như một kẻ sắp báo thù nhìn chòng chọc vào phía sau tấm vải bạt dùng để nằm khi hành quân dã ngoại, từ trong đó thò ra bốn cái bàn chân : "Giàng ơi, ở đời không nên biết nhiều!". Và hắn càng tím ruột để coi như không biết có chuyện đó!

Từ ngày con đàn bà chết, mối thù của thằng Kiếm đáng lẽ được giải ra mới phải. Không hiểu sao hắn càng thù ghét tên đại đội trưởng. Mối thù hình như đến bây giờ mới là lúc đáng phải trả. Hình như bây giờ mới là lúc tính cách đơn giản và dũng mãnh lên tiếng kêu gọi hắn báo thù. Hắn cần phải rửa mối nhục những lúc phải đứng câm miệng trước tên chỉ huy, lúc phải ôm cái xác con vợ trần như nhộng để chôn trong cái hố đạn đại bác. Bởi vì bây giờ hắn cũng chẳng còn gì nữa! Hắn chỉ còn là một tên "Tướng Kỳ" bất lực và vô duyên, đứng bơ vơ giữa một đám lính mặt mũi lúc nào cũng tái mét vì sợ pháọ kích, sợ bắn tỉa, vì bệnh sốt rét và bệnh kiết lỵ đang hoành hành trong chiến hào. Đến miếng đất hắn cũng không có thể đặt bàn chân và không khí cũng không có để mà thở nữa. Cái hầm đắp đất của hắn, chỉ vừa lọt một người ngồi , đã bị một viên đạn nã trúng làm sập một mảng bên vách. May hôm đó hắn có việc đi ra. ngoài không thì hắn cũng đã chết rồi ! Nhưng hắn còn sống nằm ở đây làm gì. Hắn chạy về bên đất Lào như một con thú bị săn đuổi để trở về đây làm gì? Xét cho cùng hắn vẫn là đứa may mắn giữa nhiều đứa xấu số.Hai lần hắn đã suýt chết trong đồn Huội San và đồn Làng Vây. Đúng là hắn đã chui từ trong đống xác của đồng bọn ra: Nhưng hắn lại chui vào trong đồn Tà Cơn đang bị bao vây chặt này để làm gì? Lòng hắn đang đổ vỡ. Lòng hắn đang chứa chất mối căm thù ghê gớm. Hắn căm thù cái gì? Hắn không biết, "ở đời không nên biết nhiều !". Hắn trút tất cả lòng hận thù lên đầu tên đại đội trưởng. Sự đổ vỡ của niềm tin và mối thù riêng nén lại từ lâu đã choán lấy cả tâm hồn hắn.

Chiều hôm đó, tên đại đội trưởng đến kiểm tra trung đội thằng Kiếm. Tên đại đội trưởng nổi tiếng là ác và nham hiểm nhưng vốn dát gan. Hắn úp chiếc mũ sắt lên đầu trước khi bước ra khỏi hầm. Tên lính đi theo ngắm hắn một thoáng rồi quay mặt cười: Khuôn mặt hắn héo quắt, nom như một quả dưa chuột bỏ trong chiếc mũ sắt. Tuy vậy, cái mồm vốn đã rất rộng lại há to chiếm hết cả khuôn mặt. Mồm hắn cứ há ra như thế nom đến buồn cười khi hắn cầm chiếc ống nhòm quan sát rất lâu về phía chiến hào "Việt cộng" bên ngoài. Hắn quan sát về phía "địch" rất kỹ, sau khi thấy yên tĩnh mới vẫy tay gọi tên lính bò lên trước. Hai đứa cắp súng lủi như hai con chuột trong chiến hào. Hắn bò đi kiểm soát một lượt các hầm ở và ụ súng chiến đấu. Đến trước một cái vị trí quan sát, tên đại đội trưởng bực mình vì không thấy tên lính nào gác cả. Trên một bãi đất lô nhô đầy vỏ hộp và hố đại bác đen xỉn phía trong hàng rào, một hình người đang nằm sấp, đầu đã chui lọt giữa đống dây thép gai. Tên đại đội trưởng trông thấy đế đôi giày của tên lính đào ngũ với những cái đinh đã mòn vẹt sáng loáng như chọc vào mắt.

Hắn giơ súng bắt buộc tên lính bò quay trở về.

- Mày muốn chạy sang với Việt cộng trước mắt tao hử? - Hai cục bọt đã sùi hai bên mép, hắn nắm lấy vạt áo vải xanh trước ngực tên lính vẫn còn lấm láp, lay đi lay lại rồi tiện tay bất ngờ tống một cú đấm.

Tên lính lảo đảo cố đứng thẳng, chắp hai tay lại:
- Thưa ông, tôi bị kiết ly, tôi đang đau bụng định đi ỉa.

- Cầm lấy súng - Tên đại đội trưởng quát - Rồi đứng vào chỗ !

Giá như hoàn cảnh bình thường, với tính cách tàn ác, tên đại đội trưởng không bao giờ chịu xử sự nhũn nhặn đến thế. Hắn sẽ cho ngay một phát đạn vào đầu tên lính đào ngũ rồi bước qua xác mà đi thẳng.

Tên lính ngoan ngoãn cầm khẩu súng đến đứng vào cái vọng gác nửa nổi nửa chìm. Tên đại đội trưởng lại khoát tay cho tên liên lạc tiếp tục bò đi. Hắn kiểm soát một lượt phạm vi bố trí của trung đội thằng Kiếm, khi quay trở về thì thấy tên lính gác ban nãy đã biến mất tích hẳn.

Cái vọng gác với hàng bao bố đựng đất lại bị bỏ trống. Tên đại đội trưởng không nén được cơn giận dữ. Hắn chạy sầm sầm đến trước hầm thằng Kiếm, vừa chạy vừa chửi rủa, tay vung khẩu súng lục.

Thằng Kiếm đang ngồi uống rượu với mấy tên lính trong bóng tối hoàng hôn. Chúng nó bới được nửa chai rượu Uýtky của bọn Mỹ vứt ngoài bãi rác từ bao giờ, đang đem ra uống nhấm nháp. Một thằng đang trang những con bài. Chúng nó uống rượu suông, chơi bài và đang ao ước có một đứa con gái. Tên đại đội trưởng xuất hiện, bao nhiêu tức giận đối với tên lính hai lần đảo ngũ liền đem ra trút lên đầu thằng Kiếm tất cả:

- Mày chỉ huy trung đội thế hử?

- Sao?

- Lính vọng gác vừa bỏ chạy mà ngồi uống rượu - Bàn tay hắn cầm khẩu súng ngắn đặt bên hông - Tao sẽ báo cáo lên trên cách chức mày rồi cho mày vào hầm giam.

Thằng Kiếm dốc ngược chai rượu vào họng, vứt cái chai Uýsky không xuống chân vỡ tan :
- Con vợ tao chết rồi!

- Mặc mẹ con vợ mày! Tao giao cho mày chỉ huy cái trung đội này thế đấy hử?

- Chờ đấy! - Thằng Kiếm đứng nhắc khẩu tiểu liên treo trên đầu xuống. Khi tên đại đội trưởng kịp trông thấy tất cả ý định giết người trên khuôn mặt xám như chì kia thì đã muộn rồi ! Một loạt đạn tiểu liên cực nhanh đã bọc lấy người hắn. Tên đại đội trưởng cầm khẩu súng ngắn trên tay mà đành phải ngã sấp mặt xuống, trong một cái tích tắc không tài nào đối phó kịp. Cái động tác giết người đĩnh đạc và rất nhanh của tên lính biệt kích quen hành động đã chiến thắng !

Cái xác bé nhỏ vận áo Bờludông kaki Mỹ của người anh hùng "tân cộng hoà" nằm đè lên những mảnh chai và mấy cái vỏ đạn vẫn còn bốc khói. Xác tên đại đội trưởng giật lên mấy cái như bị chuột rút, tấm lưng oằn oại vật vã trong lòng chiến hào một hồi, trông vẻ hắn chết giống hệt cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm mà hắn hay kể. Tên liên lạc đi theo nhặt khẩu súng lục đã vấy máu,bắn vào sát bên tại chủ hai viên đạn kết liễu tính mạng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #69 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2009, 03:25:45 pm »

Lát sau, cả thằng Kiếm và đám lính đang uống rượu với hắn đều bàng hoàng. Nên làm gì bây giờ? Tất cả chúng nó có sáu đứa được chứng kiến, kể cả tên liên lạc.

Tên liên lạc đi theo đại đội trưởng, người đáng lý phải kêu lên hoặc làm một việc gì khác, đã bước tới kéo lê cái xác chết đem đặt nằm ngửa lên thành phía sau của chiến hào. Rồi theo sáng kiến của hắn, mấy tên lính trong trung đội dùng cối cá nhân va trung liên nã đạn ra bên ngoài một hồi. Sáu đứa bàn bạc quyết định phao tin : Đại đội trưởng bị súng bắn tỉa bắn chết ngay tại chỗ trong khi đang đi kiểm tra các vọng gác và sự bố trí của các trung đội.

Thằng Kiếm không tin một việc to tát , như thế có thể giấu kín được. Nhưng thây kệ bọn lính muốn làm gì thì làm. Hãy cứ biết là chuyện xảy ra rồi ! Ngày mai hoặc ngày kia, việc hắn giết tên đại đội trưởng vỡ lở ra, hắn sẽ bị xử tử đúng như tội một tên đã giết chỉ huy trong đơn vị.

Mấy ngày sau, thằng Kiếm sống trong trạng thái nơm nớp lo sợ. Bây giờ cái chết có thể đến với hắn từ hai phía. Suốt ngày hắn rúc trong hầm. Bất kỳ một cái nhìn của tên lính nào cũng làm hắn nghi ngờ và hồi hộp lo sợ.

Việc xảy ra được gần một tuần lễ . Không ngờ bọn lính vẫn giữ kín được. Nhưng thằng Kiếm bao giờ cũng thấy y như tên đại đội trưởng còn sống, linh hồn thằng trung úy vẫn theo dõi sau lưng để tìm dịp tố giác hắn. Hắn là một thẳng cao bồi Mỹ nhưng vẫn còn mê tín.

Cuộc bao vây bên ngoài mỗi ngày càng xiết chặt thêm. Cả đại đội quân ngụy ngày đêm nơm nớp nghe tiếng xẻng đang moi rỗng đất dưới chân. Ngày đêm bao giờ cũng có những loạt đạn pháo và đạn bắn thẳng từ bên ngoài bất chợt nã vào. Bây giờ, thằng Kiếm đâm ra chán tất cả, và nghi ngờ sợ hãi đối với tất cả mọi thứ. Chức trung đội trưởng càng khiến hắn chán nản. Hình như tất cả gân cốt trong người hắn đã bị rút đi hết. Hắn cũng chẳng còn ai tin cậy, ngoài vài đứa bạn tâm phúc và cậu liên lạc đại đội mà thằng Kiếm coi như một ân nhân.

- Tao không làm nổi chức trung đội trưởng nữa đâu - Một hôm thằng Kiếm thốt lên tâm sự với tên liên lạc đại đội.

- Trước kia anh hăng và ngổ nhất đại đội này kia mà?

- Trước kia thì làm được, bây giờ thì không làm được nữa!

- Anh sợ Việt cộng rồi à?

- Không sợ nhưng tao chán hết rồi, chán hết tất cả!

- Giá bây giờ anh còn chị ấy...

- Tao cũng chán! Có thằng sĩ quan hay thằng Mỹ nào ngủ với hắn tao cũng không thèm trả thù nữa ! Tao không còn biết ghen nữa. Tao chán hết tất cả rồi!

Lâu nay hắn hay nghĩ đến ngôi nhà bằng gỗ, đến bản Chây với tiếng nai tác, đêm đêm vào những khi tỉnh giấc, hắn hay nghĩ đến cái bậc cầu thang mỗi khi đặt bàn chân lên đều nghe tiếng kêu ken két quen thuộc, giữa những đồ đạc và khung cảnh đó hiện ra cái bóng dáng hiền lành của Xiêm. Đó là một người con gái bao giờ cũng là của hắn, của riêng một mình hắn, một người đàn bà trắng nõn, đẹp khêu gợi mà hắn có thể giày vò, có thể hành hạ và ôm ấp suốt đời!

Một đêm hắn chán ngán ngồi một mình buồn thiu, hồi hộp chợt một đợt pháo thường xuyên từ bên ngoài bắn vào. Hắn ngả lưng ngủ thiếp đi với một giấc mơ tàn ác và sảng khoái được ôm ấp người vợ cũ ở nhà. Tiếp theo là một giấc mơ khủng khiếp: ông lão Phang cầm kiếm chém sả một bên vai hắn, máu toé đỏ lòm cả mặt sàn nhà.

Hắn kêu thét lên một tiếng và bổ choàng dậy. Không biết từ bao giờ bốn chung quanh hắn đạn pháo đã nổ ầm ầm như sét đánh. Chưa đêm nào những loạt đạn pháo kích của “Việt cộng" lại nổ dày và kinh khủng đến như thế! Lửa tràn khắp trong chiến hào. Cả căn cứ Mỹ phía sau cũng chìm ngập trong ánh lửa đại bác.

Hắn gọi bọn lính chung quanh đến thất thanh và không nghe một đứa nào đáp lại cả. Cuối cùng hắn cắp khẩu tiểu liên chạy ra ngoài. Hắn vừa kịp khom lưng chui ra khỏi cửa hầm thì đánh nhoàng một cái ánh chớp khiến hắn tối tăm cả mặt mũi! Một góc hầm sở chỉ huy trung đội đổ sập xuống. Khói xông sặc sụa đầy trong hai lỗ mũi và cuống họng gần tắc thở. Hắn dùng hai bàn tay moi đất đến toé máu. Đất đè trĩu lên người hắn. Khi hắn trườn ra được thì sức đã kiệt. Hắn ngã úp sấp mặt xuống và ngất đi.

Khi hắn tỉnh dậy đã thấy chung quanh đầy cẳng chân và bàn chân đi giày vải, như những lớp sóng tràn qua người. Hắn đau đớn. Mười ngón tay đã bất động. Hắn cố kẹp khẩu súng vào bên nách, dùng khuỷu tay để trườn, khuôn mặt day đi day lại trên mặt đất giữa lòng hào cứng và sắc như một cái bàn chông. Giữa lúc ấy, hắn nghe hình như có tiếng đang gọi tên hắn. Tiếng gọi khiến hắn hoàn toàn tỉnh táo và đã xác định được tình thế nguy hiểm, hết sức nguy hiểm : "Việt cộng" đã vượt qua hàng rào đánh vào chiến hào vòng ngoài của đại đội hắn. Tiếng loa địch vận của "Việt cộng" đang gọi đích tên hắn.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM